CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Lm. Anmai, CSsR
LỜI TỰA
Có những cuộc chiến diễn ra ngoài chiến trường, người ta có thể nhìn thấy tiếng súng, những vết thương, những người thắng và những kẻ bại. Nhưng cũng có một cuộc chiến âm thầm hơn, dai dẳng hơn và, theo một nghĩa nào đó, quyết định hơn tất cả những cuộc chiến bên ngoài: cuộc chiến diễn ra trong chính tâm hồn con người. Không ai hoàn toàn đứng ngoài cuộc chiến ấy. Người trẻ cũng chiến đấu. Người già cũng chiến đấu. Người mới bắt đầu bước vào đời sống thiêng liêng cũng chiến đấu, mà người đã nhiều năm cầu nguyện, sống đời tận hiến hay phục vụ Hội Thánh cũng không được miễn trừ. Bao lâu còn sống trong thân phận con người mỏng giòn này, bao lâu còn mang trong mình những vết thương do tội nguyên tổ, những khuynh hướng lệch lạc, những ham muốn chưa được thanh luyện, những sợ hãi, tự ái, kiêu căng, nóng giận, lười biếng, tìm mình và những thứ quyến luyến rất khó nhận ra, bấy lâu cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn. Có khi nó dữ dội như một cơn bão. Có khi nó chỉ là một tiếng thì thầm rất nhẹ của cám dỗ. Có khi nó hiện ra rõ ràng trong một tội lỗi mà chúng ta biết phải tránh. Nhưng cũng có khi nó khoác chiếc áo của sự đạo đức, của nhiệt thành, của lý lẽ, của quyền lợi, của lòng tự trọng, thậm chí của một điều xem ra hoàn toàn tốt đẹp. Chính vì thế, cuộc chiến linh hồn không chỉ đòi hỏi lòng can đảm; nó còn đòi hỏi ánh sáng, sự tỉnh thức, khiêm nhường, phân định và, trên hết, một lòng tín thác sâu xa vào ân sủng của Thiên Chúa.
Tập sách CUỘC CHIẾN LINH HỒN được viết từ thao thức ấy. Những trang này không nhằm tạo nên một học thuyết mới về đời sống thiêng liêng, càng không muốn trình bày một con đường khác bên cạnh Tin Mừng. Trái lại, tất cả chỉ muốn đưa linh hồn trở lại với một chân lý rất cũ mà bao thế hệ các thánh đã sống: muốn thuộc trọn về Đức Kitô, con người phải chấp nhận để ân sủng của Người chiến đấu trong chính nơi sâu kín nhất của lòng mình. Con đường nên thánh không phải là con đường của những cảm giác đẹp, những giây phút sốt sắng nhất thời hay những dự định lớn lao mà không bao giờ đi xuống tới những góc tối cụ thể của bản thân. Nên thánh là để cho Đức Kitô từng ngày chiếm lấy lý trí, ý chí, trí nhớ, tình cảm, giác quan, cách suy nghĩ, cách phản ứng, cách yêu thương, cách chịu đựng và cả cách đứng dậy sau những lần sa ngã. Bởi thế, cuộc chiến linh hồn trước hết không phải là một cuộc chiến để trở thành một con người mạnh mẽ hơn theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng là một cuộc chiến để cái tôi cũ dần dần chết đi và Đức Kitô được lớn lên trong chúng ta.
Tinh thần của cuốn sách này được gợi hứng cách đặc biệt từ truyền thống cổ điển về chiến đấu thiêng liêng, nhất là tinh thần của The Spiritual Combat gắn với tên tuổi Lorenzo Scupoli, nhưng những suy tư trong các chương được đặt vào nhịp sống cụ thể của người Kitô hữu hôm nay. Con người hôm nay sống giữa rất nhiều tiếng động. Chúng ta có nhiều phương tiện để liên lạc nhưng lại dễ mất khả năng đi vào chiều sâu. Chúng ta biết rất nhiều điều nhưng chưa chắc đã biết mình. Chúng ta có thể đọc hàng trăm bài suy niệm, nghe vô số bài giảng, theo dõi rất nhiều người nói về đời sống thiêng liêng, nhưng vẫn bất lực trước một cơn nóng giận quen thuộc, một chút tự ái khi bị góp ý, một nỗi ganh tị khi thấy người khác được trọng dụng, một ham muốn được nhìn nhận, một sự lười biếng trong bổn phận, một sự bất khiết kín đáo trong trí tưởng tượng, một nỗi chán nản kéo dài sau những lần thất bại. Người ta có thể nói rất hay về Chúa mà vẫn chưa để Chúa bước vào những vùng ấy. Người ta có thể làm rất nhiều việc cho Chúa mà lại chưa chịu để Chúa làm việc trong chính mình. Và đó là một trong những nghịch lý đau đớn nhất của đời sống thiêng liêng.
Vì thế, những chương đầu của tập sách đưa linh hồn trở về với các nền tảng. Trước khi nói đến những chiến thuật cụ thể, chúng ta phải biết mình đang chiến đấu với ai, chiến đấu ở đâu và chiến đấu bằng sức mạnh nào. Kẻ thù đầu tiên không phải là người làm ta khó chịu. Kẻ thù sâu xa cũng không phải chỉ là hoàn cảnh bất lợi. Chiến trường thật sự nằm ngay trong lòng ta. Đó là nơi ân sủng và ý riêng gặp nhau; nơi tiếng Chúa và tiếng của đam mê tranh nhau quyền hướng dẫn; nơi con người phải quyết định mỗi ngày mình sẽ thuộc về ai. Bởi vậy, một trong những bài học nền tảng nhất của toàn bộ cuộc chiến là bất tín nhiệm vào chính mình. Điều này không có nghĩa là khinh ghét bản thân hay phủ nhận những khả năng Thiên Chúa đã ban. Bất tín nhiệm vào mình nghĩa là nhận ra rằng tự sức riêng, ta không thể cứu mình, không thể bảo đảm mình sẽ trung thành, cũng không thể chiến thắng tội lỗi chỉ bằng những quyết tâm của ý chí. Biết mình yếu không phải là bi quan. Trái lại, đó là bước đầu để có thể tín thác thật sự vào Thiên Chúa. Chỉ khi bàn tay ta chịu buông khỏi chính mình, ta mới thực sự nắm lấy bàn tay Người.
Bên cạnh sự bất tín nhiệm vào bản thân là sự tín thác vào Thiên Chúa. Hai thái độ này phải luôn đi cùng nhau. Chỉ bất tín nhiệm vào mình mà không tín thác vào Chúa sẽ dẫn đến sợ hãi và tuyệt vọng. Chỉ nói tín thác vào Chúa mà không nhận biết sự yếu đuối của mình lại dễ trở thành một thứ tự tin đạo đức giả tạo. Người chiến đấu đúng cách là người càng thấy mình mong manh bao nhiêu càng chạy đến với Chúa mạnh mẽ bấy nhiêu. Khi sa ngã, người ấy không nằm lại để tự kết án. Khi chiến thắng, người ấy không tự hào vì biết chiến thắng là hoa trái của ân sủng. Khi bị cám dỗ, người ấy không hoảng sợ, nhưng cũng không xem thường. Khi yếu đuối, người ấy kêu cầu. Khi bình an, người ấy tạ ơn. Khi không hiểu con đường phía trước, người ấy vẫn bước vì biết Đấng dẫn đường không bao giờ lầm.
Từ những nền tảng ấy, cuốn sách đi dần vào các năng lực của linh hồn và thân xác: lý trí cần được soi sáng, ý chí cần được huấn luyện, trí nhớ cần được thanh luyện, trí tưởng tượng cần được canh giữ, các giác quan cần được điều độ, những chuyển động đầu tiên của đam mê cần được nhận diện trước khi chúng trở thành hành vi. Có những thất bại lớn bắt đầu từ những nhượng bộ rất nhỏ. Một ánh mắt không được canh giữ, một lời nói không được kìm lại, một ý nghĩ được nuôi dưỡng quá lâu, một lần trì hoãn bổn phận, một chút thích được khen, một phản ứng tự vệ khi bị sửa bảo — tất cả có thể trở thành những khe nhỏ qua đó ý riêng và đam mê đi vào. Đời sống thiêng liêng vì thế không chỉ được quyết định trong những giờ cầu nguyện trang trọng, nhưng trong hàng trăm lựa chọn âm thầm mỗi ngày. Chính nơi đó, con người hoặc mở rộng lãnh địa cho ân sủng, hoặc nhường đất cho con người cũ.
Nhưng tập sách này không muốn biến đời sống Kitô hữu thành một thứ căng thẳng thường trực, như thể chúng ta phải luôn soi xét mình với đôi mắt đầy sợ hãi. Cuộc chiến của người môn đệ Đức Kitô là một cuộc chiến được bao bọc bởi lòng thương xót. Chúng ta chiến đấu không phải để được Thiên Chúa yêu, nhưng bởi vì chúng ta đã được Người yêu. Chúng ta cố gắng không phải để mua lấy ơn cứu độ, nhưng vì ơn cứu độ đã được ban nhưng không trong Đức Giêsu Kitô và đang muốn sinh hoa trái trong đời sống ta. Thập giá đứng ở trung tâm cuộc chiến này. Ở đó, chúng ta nhìn thấy sự nghiêm trọng của tội lỗi, nhưng đồng thời cũng nhìn thấy lòng thương xót lớn hơn tội lỗi. Ở đó, mọi kiêu căng bị đập tan, bởi ta nhận ra rằng Con Thiên Chúa đã phải hiến mạng vì ta. Nhưng cũng ở đó, mọi tuyệt vọng bị đánh bại, vì nếu Người đã yêu ta đến mức ấy, làm sao ta có thể nghĩ rằng Người sẽ bỏ rơi ta khi ta chân thành trở về?
Cuộc chiến linh hồn cũng không phải cuộc chiến của một người cô độc. Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong ta. Đức Maria đứng bên những người con đang chiến đấu. Các thánh đã đi qua con đường này trước chúng ta. Các thiên thần phục vụ chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Hội Thánh trao cho chúng ta Lời Chúa, các bí tích, nhất là Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải, sự hướng dẫn thiêng liêng, đời sống cộng đoàn và kho tàng kinh nghiệm của biết bao thế hệ. Một linh hồn tưởng rằng mình có thể tự chiến đấu một mình rất dễ trở thành con mồi của chính sự kiêu ngạo thiêng liêng. Chúng ta cần Chúa. Chúng ta cần Hội Thánh. Chúng ta cần anh chị em. Chúng ta cần những người có thể nói cho ta sự thật khi chính ta không còn nhìn rõ mình.
Càng đi sâu vào những chương sau, cuộc chiến càng trở nên tinh tế hơn. Không còn chỉ là tránh một tội rõ ràng, nhưng là nhận diện những ảo tưởng thiêng liêng, sự tìm mình ngay trong việc đạo đức, khát vọng được nhìn nhận trong công việc tông đồ, ý riêng núp dưới danh nghĩa nhiệt thành, sự so sánh, sự cầu toàn, những mong muốn kiểm soát, những thất vọng khi Chúa không làm theo điều ta dự tính. Đến một lúc, linh hồn nhận ra rằng cuộc chiến lớn nhất không chỉ là từ bỏ điều xấu, mà còn là từ bỏ cả quyền đòi Thiên Chúa phải dẫn mình theo con đường mình thích. Đó là lúc sự vâng phục, phó thác và thánh ý Chúa trở thành những đề tài không còn lý thuyết. Phó thác thật sự bắt đầu khi điều xảy ra không giống điều ta cầu xin. Vâng phục thật sự bắt đầu khi ý của người khác cắt ngang ý riêng của ta. Khiêm nhường thật sự bắt đầu khi ta bị hiểu lầm mà không còn quá bận tâm bảo vệ hình ảnh của mình. Đức tin thật sự bắt đầu khi ánh sáng cảm giác tắt đi mà ta vẫn tiếp tục bước.
Đặc biệt, những chương cuối đưa cuộc chiến về với cùng đích của nó. Người Kitô hữu không chiến đấu mãi mãi. Chúng ta là khách lữ hành. Có một quê hương. Có một ngày vũ khí sẽ được đặt xuống. Có một giờ phút sau cùng trong đó tất cả những lựa chọn nhỏ bé của đời sống sẽ gặp nhau. Ý thức về cái chết trong truyền thống Kitô giáo không nhằm làm con người u ám, nhưng giúp họ sống thật hơn. Ai nhớ mình sẽ ra đi thì bớt tranh giành những điều không đáng. Ai biết đời mình hữu hạn sẽ không dễ phí những năm tháng quý giá vào hờn giận, ganh tị hay những cuộc hơn thua vô nghĩa. Ai hướng về quê trời sẽ biết sử dụng của cải mà không làm nô lệ cho của cải, yêu con người mà không biến họ thành thần tượng, làm việc hết lòng nhưng không đồng hóa giá trị bản thân với thành công. Và người ấy dần dần học được điều đẹp nhất: sống từng ngày như một lời tạ ơn.
Bởi thế, cuộc chiến linh hồn không kết thúc bằng tiếng reo của cái tôi đã chiến thắng. Nó kết thúc bằng lời ca tụng Thiên Chúa. Một linh hồn trưởng thành không đứng trước Chúa và nói: “Con đã thắng.” Linh hồn ấy chỉ có thể thưa: “Lạy Chúa, nếu con còn đứng đây, ấy là vì Chúa đã gìn giữ con. Nếu con đã đứng dậy sau những lần sa ngã, ấy là vì lòng thương xót Chúa. Nếu con đã làm được một điều tốt đẹp nào, ấy là vì ân sủng Chúa đi trước, đồng hành và hoàn tất trong con.” Khi ấy, cuộc chiến đã sinh hoa trái chín muồi: sự khiêm nhường, lòng biết ơn, bình an, niềm hy vọng và một tình yêu không còn muốn giữ gì cho mình.
Tôi mong người đọc đừng đọc cuốn sách này chỉ để biết thêm một số điều về đời sống thiêng liêng. Xin hãy đọc như người đang bước vào chính cuộc chiến của mình. Có thể một chương sẽ chạm đến một vết thương ta chưa muốn nhìn. Có thể một trang làm ta nhận ra một hình thức tự ái đã sống cùng ta nhiều năm. Có thể một đoạn khiến ta thấy mình cần trở lại với Bí tích Hòa Giải, cần xin lỗi một người, cần từ bỏ một thói quen, cần thay đổi một cách cầu nguyện, cần thôi kiểm soát, cần đứng dậy sau một thất bại tưởng như không còn hy vọng. Nếu điều ấy xảy ra, đừng sợ. Ánh sáng của Chúa không soi vào bóng tối để làm ta nhục nhã, nhưng để chữa lành.
Và nếu trong hành trình ấy, con lại ngã, hãy nhớ một điều xuyên suốt toàn bộ cuốn sách này: đừng nằm lại. Đừng dùng sự yếu đuối của mình làm lý do để bỏ cuộc. Đừng biến một lần thất bại thành một bản án cho cả cuộc đời. Kẻ thù rất vui khi nó không thể làm ta phạm tội nặng nhưng lại có thể làm ta nản lòng. Một linh hồn khiêm nhường biết rằng mình có thể ngã. Một linh hồn tín thác biết rằng mình luôn có thể trở về. Người chiến thắng sau cùng không nhất thiết là người chưa từng ngã, nhưng là người đã để cho Chúa nâng mình dậy mỗi lần ngã và vẫn bước tiếp cho đến cuối đường.
Hỡi linh hồn đang cầm cuốn sách này trên tay, cuộc chiến của con có thể còn dài. Có những điều hôm nay con chưa thắng được. Có những vết thương phải mất nhiều năm để ân sủng chữa lành. Có những góc sâu của bản thân con chưa hề biết đến. Đừng vì thế mà sợ hãi. Thiên Chúa biết con từ trước khi con biết chính mình. Người không bắt đầu công trình trong con rồi bỏ dở giữa đường. Phần của con là trung tín với ân sủng hôm nay, chiến đấu trận chiến hôm nay, làm bổn phận hôm nay, yêu người ở trước mặt hôm nay, đứng dậy trong ngày hôm nay. Ngày mai sẽ có ân sủng của ngày mai.
Ước gì những trang sách này không làm con nặng thêm, nhưng giúp con nhìn cuộc chiến với đôi mắt mới. Ước gì con vừa nghiêm túc với tội lỗi, vừa dịu dàng với sự yếu đuối của mình; vừa tỉnh thức trước những cạm bẫy, vừa bình an vì biết mình đang ở trong tay Chúa; vừa chiến đấu đến cùng, vừa hiểu rằng chiến thắng không do sức mạnh của con mà do ân sủng.
Và đến ngày cuộc chiến kết thúc, khi mọi tiếng động của đời này đã lắng xuống, khi những đam mê không còn khuấy động, khi những cám dỗ không còn quyền chạm đến con, khi người lữ hành cuối cùng được bước qua ngưỡng cửa nhà Cha, ước gì trên môi con chỉ còn một lời:
“Lạy Chúa, tất cả là hồng ân.”
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 1
SỰ HOÀN THIỆN KITÔ GIÁO THẬT SỰ LÀ GÌ? VÀ TẠI SAO PHẢI CHIẾN ĐẤU ĐẾN CHẾT MỚI ĐẠT ĐƯỢC
Có lẽ một trong những ngộ nhận lớn nhất của đời sống đạo là người ta rất dễ đồng hóa sự thánh thiện với những gì người khác có thể nhìn thấy được. Một người đi lễ đều, đọc nhiều kinh, lần chuỗi mỗi ngày, ăn chay nghiêm túc, làm việc bác ái, nói năng nhỏ nhẹ, tham gia nhiều công việc của giáo xứ, biết nhiều giáo lý, thuộc nhiều câu Kinh Thánh, có thể nói chuyện đạo đức rất hay, được nhiều người quý mến và gọi là người tốt, người sốt sắng, người thánh thiện, thì tự nhiên người ta nghĩ người ấy đã tiến rất xa trên đường trọn lành. Chính người ấy đôi khi cũng nghĩ như vậy về mình. Và từ chỗ ấy, một trong những ảo tưởng tinh vi nhất của đời sống thiêng liêng bắt đầu hình thành. Ta có thể làm rất nhiều việc thuộc về Thiên Chúa mà lòng mình vẫn chưa thật sự thuộc về Thiên Chúa. Ta có thể cầu nguyện rất nhiều mà vẫn âm thầm tìm mình trong lời cầu nguyện. Ta có thể hy sinh rất nhiều mà vẫn mong được biết đến, được công nhận, được cảm phục. Ta có thể phục vụ rất hăng say mà lại rất khó chịu khi người khác không làm theo ý ta. Ta có thể nói về sự khiêm nhường mà không chịu nổi một lời phê bình. Ta có thể nói về thánh ý Chúa nhưng lại đau khổ dữ dội chỉ vì một chương trình của mình bị thay đổi. Ta có thể rao giảng về từ bỏ mà lòng vẫn ôm chặt danh dự, ảnh hưởng, thành công, tình cảm, sự an toàn và những dự tính riêng. Bởi thế, vấn đề của đời sống Kitô hữu không phải trước hết là tôi đã làm được bao nhiêu việc lành, nhưng là trong tất cả những việc ấy, cái tôi của tôi đã chết được bao nhiêu. Không phải tôi đã nói về Chúa bao nhiêu, nhưng Thiên Chúa đã thật sự chiếm hữu trái tim tôi đến mức nào. Không phải người khác nghĩ tôi là ai, mà là trước mặt Thiên Chúa, tôi còn đang bám lấy điều gì ngoài Ngài.
Sự hoàn thiện Kitô giáo không phải là một lớp sơn đạo đức phủ lên con người cũ. Nó cũng không phải là việc trang điểm cho bản ngã bằng những nhân đức dễ nhìn thấy. Nó là một cuộc biến đổi tận căn. Nó chạm tới tận trung tâm của con người, nơi ta lựa chọn ai là chủ đời mình: Thiên Chúa hay chính mình. Nói cách khác, sự hoàn thiện bắt đầu khi con người từ từ đi đến một nhận thức vừa sáng chói vừa đau đớn: Thiên Chúa là tất cả, còn tôi, tự sức mình, chẳng là gì cả. Đây không phải là thái độ tự khinh miệt bệnh hoạn, càng không phải là phủ nhận phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Người Kitô hữu không được phép coi mình là đồ bỏ đi, bởi chính Thiên Chúa đã tạo dựng, yêu thương và cứu chuộc mình bằng giá máu Con Một của Ngài. Nhưng càng nhận ra mình được yêu vô cùng, ta càng nhận ra rằng tất cả những gì tốt đẹp nơi mình đều là quà tặng. Sự sống này không do ta tự ban cho mình. Khả năng yêu thương không do ta tự phát minh. Đức tin không do ta tự tạo. Ơn gọi, tài năng, sức khỏe, trí tuệ, cơ hội, người tốt bên cạnh, những lần được nâng dậy sau vấp ngã, ngay cả một ý nghĩ tốt vừa lóe lên trong lòng, tất cả đều đi trước bởi ân sủng. Nếu Thiên Chúa rút bàn tay nâng đỡ, con người rất mong manh. Nếu Ngài để ta hoàn toàn cho sức riêng mình, ta không biết mình có thể ngã xa đến đâu. Vì vậy, biết mình là hư vô không phải là ghét sự hiện hữu của mình, mà là biết sự thật về mình: tôi là thụ tạo, không phải Đấng Tạo Hóa; tôi là người được cứu, không phải Đấng Cứu Độ; tôi là người lãnh nhận, không phải nguồn mạch; tôi sống nhờ ân sủng, không sống nhờ sức riêng.
Chính ở đây, đời sống thiêng liêng bước sang một ngã rẽ quyết định. Khi chưa biết Thiên Chúa là tất cả, ta còn muốn chia ngai với Ngài. Ta muốn Chúa làm Chúa, nhưng trong những điều lớn thôi; còn những chuyện nhỏ, xin Chúa để ta quyết. Ta muốn xin ý Chúa, miễn là ý Chúa không đi quá xa khỏi ý mình. Ta nói “xin vâng”, nhưng trong sâu thẳm lại thêm một điều kiện không nói thành lời: miễn là điều ấy không làm con mất quá nhiều. Ta xin Chúa dẫn đường, nhưng đã vẽ sẵn con đường muốn Ngài dẫn. Ta xin Chúa dùng mình, nhưng mong Ngài dùng theo cách khiến mình được quý mến. Ta xin Chúa cho mình trở nên thánh, nhưng lại muốn nên thánh mà không bị bẻ gãy, không bị hiểu lầm, không phải chờ đợi, không phải mất mát, không phải chịu những người làm mình khó chịu, không phải từ bỏ những điều mình thích. Một thứ thánh thiện như vậy không tồn tại. Không có Phục Sinh nào không đi qua Thập Giá. Không có con người mới nào xuất hiện mà con người cũ vẫn được nuông chiều nguyên vẹn. Không có đời sống hoàn toàn thuộc về Chúa mà ý riêng vẫn ngồi trên ngai.
Bởi vậy, lời “biết Thiên Chúa là tất cả và biết mình là hư vô” nghe thì đơn giản nhưng thật ra là cả một cuộc cách mạng nội tâm. Khi Thiên Chúa thực sự là tất cả, ta không còn hỏi trước hết: việc này có lợi cho tôi không, có làm tôi dễ chịu không, có giữ được danh dự tôi không, có giúp tôi được công nhận không. Ta bắt đầu hỏi: việc này có đẹp lòng Chúa không? Có giúp tôi yêu Ngài hơn không? Có làm tôi tự do hơn trước chính mình không? Có đưa tôi đến gần sự thật, bác ái, khiêm nhường và vâng phục hơn không? Một linh hồn tiến trên đường trọn lành không nhất thiết là người luôn cảm thấy mình sốt sắng, nhưng là người càng ngày càng ít thuộc về ý riêng. Họ có thể vẫn yếu đuối, vẫn có lúc sợ, vẫn có lúc buồn, vẫn trải qua những cuộc chiến rất dữ dội trong lòng; nhưng giữa tất cả những điều ấy, họ học nói một lời rất khó: “Lạy Chúa, không phải điều con muốn, nhưng điều Chúa muốn.”
Khi một người bắt đầu thật sự nhận ra sự cao cả và lòng tốt vô tận của Thiên Chúa, tình yêu của họ cũng dần thay đổi. Ban đầu ta yêu Chúa vì Chúa ban nhiều điều tốt cho ta. Ta cầu xin bình an, sức khỏe, công việc thuận lợi, gia đình yên ổn, được che chở khỏi tai họa. Điều đó không sai. Một đứa trẻ đến với cha vì cần được bảo vệ cũng chẳng có gì đáng trách. Nhưng tình yêu phải lớn lên. Đến một lúc nào đó, linh hồn được mời gọi đi xa hơn: yêu Thiên Chúa vì chính Ngài đáng yêu. Yêu Ngài ngay cả khi điều ta xin chưa được nhận lời. Yêu Ngài khi đời sống trở nên khó hiểu. Yêu Ngài khi cầu nguyện khô khan. Yêu Ngài khi người khác hiểu lầm ta. Yêu Ngài khi bệnh tật đến. Yêu Ngài khi chương trình bị phá vỡ. Yêu Ngài khi một cánh cửa đóng lại. Yêu Ngài khi Ngài không giải thích. Và nếu phải chọn giữa việc giữ lấy một điều gì đó cho mình với việc làm đẹp lòng Ngài, linh hồn dần dần có khả năng nói: “Con chọn Chúa.”
Đó là lý do các thánh có thể nói đến chuyện sẵn sàng chết vì Thiên Chúa. Nhưng cái chết vì Chúa không chỉ là tử đạo đổ máu. Có một thứ tử đạo âm thầm diễn ra từng ngày, rất ít người thấy, đôi khi chẳng ai biết. Đó là chết đi cho một câu đáp trả sắc bén khi mình bị xúc phạm. Chết đi cho nhu cầu phải chứng minh rằng mình đúng. Chết đi cho ước muốn được khen. Chết đi cho sự ghen tị trước thành công của người khác. Chết đi cho một tình cảm không đúng chỗ. Chết đi cho thói quen muốn kiểm soát mọi người. Chết đi cho việc phải được người khác hiểu mình. Chết đi cho một kế hoạch mình rất yêu quý khi nhận ra Chúa đang dẫn sang hướng khác. Có những cái chết chỉ diễn ra trong vài giây, nhưng nếu trung thành, chúng trở thành những nhát đục âm thầm làm nên một vị thánh.
Tuy nhiên, ở đây phải hiểu cho đúng điều đôi khi được gọi là “ghét bỏ chính mình”. Kitô giáo không dạy ta ghét con người mà Thiên Chúa yêu. Thiên Chúa không tạo dựng ta để rồi đòi ta khinh miệt chính bản thân. Điều phải ghét là cái tôi ích kỷ, cái tôi muốn chiếm chỗ Thiên Chúa, cái tôi luôn đòi được phục vụ, cái tôi muốn tất cả xoay quanh mình. Ta phải ghét trong mình điều đang phá hủy khả năng yêu của mình. Một người nghiện rượu phải ghét cơn nghiện, chứ không ghét sự sống của mình. Một linh hồn muốn nên thánh phải ghét tội lỗi, sự kiêu ngạo, tính ích kỷ, sự dối trá và mọi điều khiến mình xa Chúa, chứ không ghét chính con người mà Chúa Giêsu đã chết để cứu chuộc. Nhưng cái tôi cũ rất khéo ngụy trang. Nó có thể khoác áo đạo đức. Nó có thể biến cả việc phục vụ Chúa thành cách để tìm danh dự. Nó có thể khiến ta mong người khác nghĩ mình khiêm nhường. Nó có thể khiến ta tự hào vì mình không tự hào. Nó có thể khiến ta thích được coi là người biết từ bỏ. Vì thế, cuộc chiến này tinh vi hơn bất cứ cuộc chiến bên ngoài nào.
Trong con người thật sự có một sự giằng co sâu xa. Thánh Phaolô đã diễn tả kinh nghiệm này khi nói về cuộc xung đột giữa xác thịt và Thần Khí. Không nên hiểu “xác thịt” đơn giản là thân xác, vì thân xác cũng do Thiên Chúa dựng nên và được mời gọi tham dự vào vinh quang. Xác thịt ở đây là con người khi khép kín vào chính mình, khi muốn sống không cần Thiên Chúa, khi để những ham muốn mất trật tự điều khiển. Còn đời sống theo Thần Khí là để Thiên Chúa từng bước sắp đặt lại mọi sự trong ta theo đúng trật tự của tình yêu. Cuộc chiến ấy kéo dài cho đến chết. Không ai có thể nói: tôi đã chiến thắng hoàn toàn, giờ không còn phải canh giữ nữa. Người càng tiến sâu trong đời sống thiêng liêng càng thấy mình cần tỉnh thức. Không phải vì họ bi quan, nhưng vì họ đã hiểu bản chất của trái tim con người. Một tia kiêu ngạo có thể len vào giữa một việc tốt. Một chút tự mãn có thể mọc lên sau một thành công thiêng liêng. Một lời khen có thể đánh thức điều tưởng đã chết từ lâu. Một thất bại có thể cho ta thấy mình vẫn còn bám vào bản thân nhiều đến mức nào.
Và thế là ta hiểu tại sao đời sống Kitô hữu phải là một cuộc chiến liên tục. Không phải chiến đấu với người khác, nhưng trước hết chiến đấu với chính mình. Thật dễ nhận ra khuyết điểm của người bên cạnh, thật khó nhận ra động lực kín đáo trong lòng mình. Ta có thể thắng một cuộc tranh luận nhưng thua chính sự kiêu ngạo. Ta có thể khiến người khác im tiếng nhưng lại để nóng giận làm chủ mình. Ta có thể sửa được một người mà đánh mất sự hiền lành. Ta có thể bảo vệ một nguyên tắc tốt bằng một tinh thần rất xấu. Vì thế, chiến trường chính không ở bên ngoài. Nó nằm trong trái tim. Người Kitô hữu trưởng thành dần dần thôi hỏi: “Ai làm tôi khổ?” và bắt đầu hỏi: “Điều gì trong tôi đang bị đụng tới mà khiến tôi phản ứng như thế?” Có khi sự khó chịu của người khác trở thành tấm gương cho thấy lòng tự ái của ta. Có khi một thất bại cho ta thấy mình đã thần tượng hóa thành công. Có khi việc bị quên lãng làm lộ ra cơn đói được chú ý. Có khi một sự bất công thật sự xảy ra, nhưng chính cách ta đối diện nó lại cho thấy ta đang thuộc về Chúa đến đâu.
Cuộc chiến ấy không thương xót theo nghĩa là ta không được thương lượng với tội lỗi. Có những thứ càng nhân nhượng càng lớn mạnh. Một ý nghĩ xấu được nuôi dưỡng sẽ trở thành ham muốn; ham muốn được chiều theo sẽ thành thói quen; thói quen lâu ngày có thể thành xiềng xích. Một chút kiêu ngạo nếu cứ được bào chữa sẽ thành cách sống. Một chút tham lam nếu luôn có lý do biện minh sẽ dần chiếm trái tim. Một sự dính bén tình cảm nếu không được đặt lại trật tự có thể kéo cả đời sống ra khỏi thánh ý Chúa. Vì thế, với điều gì rõ ràng là tội, ta không thương lượng. Với điều gì rõ ràng kéo ta xa Chúa, phải có can đảm cắt bỏ. Điều này có thể đau. Nhưng bác sĩ cắt bỏ phần hoại tử không phải vì ghét bệnh nhân mà vì muốn cứu bệnh nhân. Thiên Chúa đôi khi cũng cho phép những cuộc cắt tỉa rất sâu trong đời ta vì Ngài muốn cứu tự do của ta.
Để chiến thắng cuộc chiến ấy, khí giới thứ nhất là sự bất tín nhiệm vào chính mình. Đây là điều rất trái với não trạng thời nay. Người ta thường được dạy: hãy tin vào chính mình, hãy tin rằng bạn có thể làm bất cứ điều gì, hãy dựa vào sức mạnh bên trong. Những lời ấy có thể hữu ích trong một số hoàn cảnh tự nhiên, nhưng trong đời sống thiêng liêng, nếu hiểu tuyệt đối, chúng vô cùng nguy hiểm. Không phải vì con người không có khả năng làm điều tốt, nhưng bởi một người nghĩ rằng mình đủ sức đứng vững sẽ rất dễ ngã. Thánh Phêrô là một ví dụ đau đớn. Ông đã thật lòng yêu Chúa khi nói rằng dù mọi người bỏ Chúa, ông sẽ không bỏ. Có lẽ ông hoàn toàn thành thật. Nhưng ông chưa biết mình. Và chỉ vài giờ sau, trước một câu hỏi của người đầy tớ gái, lời hứa tưởng như bằng thép tan vỡ. Ba lần ông chối Thầy. Đôi khi Thiên Chúa cho phép ta vấp ngã không phải để hủy diệt ta, nhưng để phá tan một ảo tưởng còn nguy hiểm hơn cả sự yếu đuối: ảo tưởng rằng ta mạnh.
Bất tín nhiệm chính mình có nghĩa là không bao giờ coi thường dịp tội. Không nói: chuyện đó không thể xảy ra với tôi. Không nói: tôi đủ trưởng thành rồi, không sao đâu. Không nói: tôi đã cầu nguyện nhiều năm, tôi biết giới hạn của mình. Một linh hồn khôn ngoan biết tránh lửa thay vì thử xem mình chịu nóng được bao lâu. Họ không khoe sự mạnh mẽ bằng việc đứng sát vực thẳm. Họ biết mình yếu nên tìm những hàng rào cần thiết. Họ biết một mình có thể sai nên sẵn sàng lắng nghe lời khuyên. Họ biết tình cảm có thể làm mờ lý trí nên cầu xin ánh sáng trước những quyết định quan trọng. Họ biết sự tự ái có thể biến dạng cái nhìn nên không vội cho rằng mình luôn là nạn nhân. Đây không phải hèn nhát. Đây là sự khiêm nhường của người biết thực tế.
Nhưng nếu chỉ bất tín nhiệm mình mà thôi, ta sẽ rơi vào tuyệt vọng. Vì thế, khí giới thứ hai phải luôn đi kèm: tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Tôi không tin vào sức riêng tôi, nhưng tôi tin vào ân sủng của Chúa. Tôi yếu, nhưng Chúa mạnh. Tôi dễ đổi thay, nhưng Chúa trung tín. Tôi có thể thất bại, nhưng lòng thương xót của Chúa không cạn. Tôi có thể rơi xuống rất sâu, nhưng không có vực thẳm nào sâu hơn bàn tay Ngài. Đời sống thiêng liêng là sống giữa hai xác tín ấy. Nếu chỉ thấy mình yếu, ta tuyệt vọng. Nếu chỉ thấy Chúa mạnh mà không nhìn nhận sự yếu đuối của mình, ta trở nên liều lĩnh và tự phụ. Trưởng thành là biết cúi đầu nói: “Lạy Chúa, nếu không có Chúa con chẳng làm gì được”, rồi ngay lập tức ngẩng lên nói: “Nhưng với Chúa, con sẽ bắt đầu lại.”
Tín thác vào Thiên Chúa đặc biệt quan trọng sau khi sa ngã. Có người phạm một lỗi rồi mất hàng ngày để cay cú với bản thân. Tưởng đó là ăn năn, thật ra nhiều lúc chỉ là lòng kiêu ngạo bị tổn thương. Ta buồn không hẳn vì đã xúc phạm Chúa, nhưng vì phát hiện ra mình không tốt như mình tưởng. Người khiêm nhường thật không ngạc nhiên quá mức về sự yếu đuối của mình. Họ đau vì tội, họ sám hối thật, họ sửa chữa điều cần sửa, nhưng không dành quá nhiều thời gian nhìn chằm chằm vào mình. Họ quay về với Chúa. Họ nói: “Lạy Chúa, con lại ngã. Con biết con yếu. Xin tha thứ và nâng con dậy. Con bắt đầu lại.” Rồi họ đứng lên. Ma quỷ rất thích hai điều: khiến người chưa ngã trở nên tự phụ, và khiến người đã ngã trở nên tuyệt vọng. Ân sủng thì làm ngược lại: khiến người đang đứng biết khiêm nhường, và khiến người đang nằm có can đảm đứng lên.
Khí giới thứ ba là luyện tập đúng đắn các năng lực hồn xác. Đời sống thánh thiện không chỉ nằm trong những giờ cầu nguyện. Nó được xây bằng cách ta nhìn, nghe, nói, tưởng tượng, nhớ, suy nghĩ, ăn uống, nghỉ ngơi, làm việc, sử dụng thời gian và phản ứng trước những kích thích rất nhỏ. Đôi mắt nếu muốn nhìn gì thì nhìn, đôi tai muốn nghe gì thì nghe, miệng muốn nói gì thì nói, trí tưởng tượng muốn chạy đâu thì chạy, điện thoại muốn mở lúc nào thì mở, cảm xúc muốn kéo đi đâu thì đi, thì linh hồn rất khó có tự do thật. Người không thể nói “không” với một nhu cầu rất nhỏ thường sẽ rất khó nói “không” khi cám dỗ lớn đến. Chính vì thế, những hy sinh nhỏ có giá trị rất lớn. Không phải vì Thiên Chúa vui thích nhìn ta đau khổ, mà vì mỗi lần ta tự nguyện từ bỏ một điều hợp pháp vì một lý do cao hơn, ý chí của ta được huấn luyện để trở nên tự do.
Có thể bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức chẳng ai nghĩ đó là việc thiêng liêng. Muốn đáp lại ngay thì im vài giây. Muốn kể một chuyện không cần thiết về người khác thì thôi. Muốn mở điện thoại vô thức thì đặt xuống. Muốn được khen thì làm một điều tốt mà không để ai biết. Muốn ăn thêm chỉ vì thích thì dừng lại một chút. Muốn nói lời cuối cùng trong một cuộc tranh luận thì nhường cho người khác. Muốn giải thích để bảo vệ hình ảnh mình thì xét xem có thật sự cần không. Những việc ấy chẳng tạo ra tiếng vang, nhưng chúng tạo ra con người. Một linh hồn được huấn luyện trong những điều nhỏ sẽ có sức đứng vững khi điều lớn tới.
Đặc biệt cần luyện trí khôn và ý chí. Trí khôn phải tập nhìn sự vật dưới ánh sáng Thiên Chúa thay vì chỉ theo cảm xúc. Không phải điều làm tôi khó chịu đều là điều xấu. Không phải điều làm tôi vui đều là điều tốt. Có những viên thuốc đắng cứu mạng và có những chén mật ngọt chứa độc. Người trưởng thành thiêng liêng phải hỏi điều gì dẫn đến sự sống lâu dài, chứ không chỉ điều gì làm mình dễ chịu ngay lúc này. Ý chí cũng phải được huấn luyện để chọn điều tốt dù cảm xúc chưa muốn. Nếu chỉ cầu nguyện khi có hứng, chỉ bác ái khi dễ chịu, chỉ vâng phục khi đồng ý, chỉ tha thứ khi cảm xúc đã nguôi, ta vẫn còn là nô lệ của tâm trạng. Tình yêu Kitô giáo sâu hơn cảm xúc. Có những ngày ta quỳ cầu nguyện mà tâm hồn hoàn toàn khô khan, nhưng chính việc trung thành ở lại trước Chúa lại có thể quý giá hơn rất nhiều giờ cầu nguyện đầy cảm xúc.
Khí giới thứ tư là cầu nguyện, và có thể nói đây là hơi thở của toàn bộ cuộc chiến. Không cầu nguyện, mọi quyết tâm rất nhanh sẽ trở thành một dự án tự hoàn thiện bản thân. Người ta có thể rèn kỷ luật, điều chỉnh thói quen, luyện ý chí, đọc sách, đặt mục tiêu và trở thành một con người rất mạnh mà vẫn chưa trở thành một vị thánh. Bởi thánh thiện không phải chỉ là con người tốt hơn; thánh thiện là con người được kết hợp với Thiên Chúa. Cầu nguyện giữ cho mọi nỗ lực của ta ở trong mối tương quan ấy. Tôi không chiến đấu để chứng minh tôi mạnh. Tôi chiến đấu vì yêu Chúa. Tôi không hy sinh để trở thành một phiên bản đáng nể hơn của mình. Tôi hy sinh để trái tim rộng chỗ hơn cho Ngài. Tôi không từ bỏ ý riêng chỉ để rèn nghị lực. Tôi từ bỏ vì muốn thánh ý Chúa được thực hiện.
Cầu nguyện trong cuộc chiến không cần lúc nào cũng dài. Có khi chỉ là một tiếng kêu từ đáy lòng: “Lạy Chúa Giêsu, xin cứu con.” “Lạy Chúa, con đang giận.” “Lạy Chúa, con đang rất muốn trả đũa.” “Lạy Chúa, con sợ.” “Lạy Chúa, con đang bị cuốn vào điều không tốt.” “Xin chiến đấu trong con.” Những lời cầu nguyện ngắn như vậy nếu chân thành có thể trở thành những mũi tên xuyên qua bóng tối. Điều quan trọng là học đưa Chúa vào đúng nơi mình đang chiến đấu, chứ không chỉ gặp Ngài sau khi trận chiến đã xong. Nhiều người cầu nguyện rất tốt trong nhà thờ, nhưng khi bị xúc phạm thì chiến đấu một mình; khi bị cám dỗ thì chiến đấu một mình; khi thất vọng thì chiến đấu một mình. Hãy tập mời Chúa vào giữa cơn giận, giữa nỗi sợ, giữa sự ghen tị, giữa cám dỗ, giữa những phút yếu lòng. Chính đó mới là nơi ân sủng muốn hoạt động.
Và phải nhớ rằng sự hoàn thiện không đạt được trong một ngày. Có những người đọc một cuốn sách thiêng liêng, nghe một bài giảng mạnh, tham dự một cuộc tĩnh tâm rồi quyết định từ nay sẽ thay đổi hoàn toàn. Vài tuần sau họ thất vọng vì vẫn thấy mình cũ. Đời sống thiêng liêng hiếm khi vận hành bằng những cú nhảy liên tục. Nó giống một cái cây. Ta tưới mỗi ngày nhưng không nghe tiếng nó lớn. Có những tháng tưởng chẳng có gì thay đổi. Nhưng rồi một ngày ta nhận ra trước đây một lời xúc phạm khiến mình giận ba ngày, bây giờ chỉ còn ba giờ. Trước đây phải được công nhận mới vui, bây giờ làm âm thầm cũng thấy bình an. Trước đây thất bại khiến mình muốn bỏ cuộc, bây giờ biết quay về với Chúa nhanh hơn. Đó là ân sủng đang lớn.
Đừng khinh thường những chiến thắng nhỏ. Mỗi lần ta thắng chính mình một chút, Nước Thiên Chúa mở rộng thêm một chút trong lòng. Mỗi lần ta chọn thinh lặng thay vì làm tổn thương người khác, chọn tha thứ thay vì giữ hận, chọn trung thành thay vì buông xuôi, chọn cầu nguyện thay vì chìm trong lo lắng, chọn sự thật thay vì bảo vệ hình ảnh, chọn bổn phận thay vì lười biếng, chọn Chúa thay vì cái tôi, một phần con người cũ chết đi và con người mới được sinh ra.
Nhưng cũng đừng sợ những lần thất bại. Có những người vì yêu sự hoàn thiện mà trở nên ám ảnh với sự hoàn hảo của chính mình. Họ không chịu nổi khi thấy mình yếu. Họ muốn tiến bộ thật nhanh. Họ muốn một ngày nào đó không còn phải chiến đấu nữa. Nhưng chính mong muốn ấy đôi khi lại là một hình thức tinh vi của kiêu ngạo. Thiên Chúa có thể cho phép một khuyết điểm làm ta khổ nhiều năm không phải vì Ngài không nghe lời cầu nguyện, nhưng vì trong cuộc chiến với khuyết điểm ấy, ta học được sự khiêm nhường mà nếu chiến thắng quá nhanh, có lẽ ta không bao giờ học được. Có khi điều quý nhất Thiên Chúa ban cho ta không phải là chiến thắng ngay, nhưng là sự kiên trì. Không phải là cảm giác mình mạnh, nhưng là kinh nghiệm ngày nào cũng cần Ngài.
Cho nên, “chiến đấu đến chết” không có nghĩa là sống căng thẳng, luôn sợ hãi, luôn nhìn mình bằng ánh mắt nghiệt ngã. Trái lại, người chiến đấu đúng cách càng ngày càng bình an, bởi họ không còn ngạc nhiên về cuộc chiến. Họ biết đời này là chiến trường, không phải nơi nghỉ cuối cùng. Họ biết có cám dỗ không có nghĩa là mình xấu. Họ biết phải chiến đấu không có nghĩa là Thiên Chúa xa mình. Chính việc chiến đấu có thể là dấu hiệu ta đang sống. Xác chết không chiến đấu. Một linh hồn hoàn toàn đầu hàng tội lỗi cũng chẳng còn xung đột. Nỗi đau của cuộc chiến đôi khi chính là bằng chứng rằng ân sủng đang chống lại điều gì đó trong ta.
Cuối cùng, tất cả có thể quy về một câu hỏi rất đơn giản mà ta nên hỏi mình mỗi ngày: hôm nay ai đang làm chủ tôi? Ý riêng của tôi hay Thiên Chúa? Nếu ai xúc phạm, ai quyết định câu trả lời của tôi: lòng tự ái hay Chúa? Nếu có một cơ hội được nổi bật, ai quyết định tôi chọn gì: nhu cầu được nhìn thấy hay Chúa? Khi đời sống trái ý, ai có tiếng nói cuối cùng: sự thất vọng hay niềm tín thác? Khi phải lựa chọn giữa điều dễ và điều đúng, tôi nghe ai? Sự hoàn thiện Kitô giáo được xây từ hàng ngàn câu trả lời rất nhỏ như vậy.
Và có lẽ đến cuối đời, ta sẽ nhận ra mình đã dành cả cuộc đời để học một điều duy nhất: để Thiên Chúa là Thiên Chúa, và chấp nhận mình là thụ tạo được yêu. Khi ấy ta không còn cần bảo vệ bản thân quá nhiều nữa, bởi đời mình nằm trong tay Ngài. Không cần chứng minh mình hơn người, bởi giá trị của mình đến từ tình yêu Ngài. Không cần kiểm soát mọi sự, bởi có một Đấng Quan Phòng. Không cần cay đắng khi bị quên lãng, bởi Thiên Chúa thấy. Không cần tuyệt vọng khi yếu đuối, bởi ân sủng đủ cho ta. Không cần bám lấy ý riêng, bởi điều Ngài muốn cuối cùng vẫn tốt hơn điều ta có thể tự nghĩ ra.
Bốn khí giới phải luôn ở bên ta: đừng quá tin mình; hãy hoàn toàn tin Chúa; hãy tập cho mọi năng lực trong con người biết phục vụ sự thật và tình yêu; và hãy cầu nguyện không ngừng. Nếu thiếu bất tín nhiệm mình, ta sẽ tự phụ. Nếu thiếu tín thác Chúa, ta sẽ tuyệt vọng. Nếu thiếu luyện tập, các quyết tâm chỉ là những ước muốn đẹp. Nếu thiếu cầu nguyện, tất cả sẽ trở thành công trình của cái tôi. Nhưng khi bốn điều ấy đi cùng nhau, một đời sống mới bắt đầu hình thành: khiêm nhường mà mạnh mẽ, nghèo khó mà tự do, yếu đuối mà đầy hy vọng.
Cuộc chiến sẽ kéo dài đến hơi thở cuối cùng. Có thể đến ngày cuối đời ta vẫn còn phải nói: “Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con yếu đuối.” Nhưng đó không phải là thất bại. Có khi đó chính là sự hoàn thiện sâu nhất: một con người không còn dựa vào mình nữa, chỉ còn rơi hoàn toàn vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Và nếu phải tóm lại con đường nên thánh bằng một lời, có lẽ chỉ cần thế này: mỗi ngày chết đi một chút cho cái tôi, để Đức Kitô sống thêm một chút trong ta; mỗi ngày bớt nói “con muốn”, để có thể nói thật hơn “xin ý Cha được thể hiện”; mỗi ngày bớt cậy mình, để cậy Chúa hơn; mỗi ngày bước vào cuộc chiến không phải với sự cay nghiệt, nhưng với niềm xác tín rằng Đấng đã gọi ta nên thánh cũng chính là Đấng sẽ ban đủ ân sủng để hoàn tất điều Ngài đã khởi sự.
CHƯƠNG 2
SỰ BẤT TÍN NHIỆM VÀO CHÍNH MÌNH – KHÍ GIỚI ĐẦU TIÊN VÀ NỀN TẢNG NHẤT
Hỡi linh hồn đang thật lòng muốn thuộc trọn về Thiên Chúa, hãy nghe cho kỹ điều này, bởi nếu con không hiểu nó, tất cả những quyết tâm đẹp đẽ của con rất có thể sẽ chỉ là những lâu đài được xây trên cát: khí giới đầu tiên của người muốn chiến đấu trong đời sống thiêng liêng không phải là sức mạnh, không phải là ý chí, không phải là lòng can đảm tự nhiên, cũng không phải là một thứ nhiệt tình bừng cháy sau một lần tĩnh tâm hay sau một biến cố đánh động tâm hồn; khí giới đầu tiên chính là sự bất tín nhiệm vào chính mình. Không có khí giới này, con bước vào trận chiến mà chưa biết kẻ thù nguy hiểm nhất đang ở đâu. Con tưởng kẻ thù ở bên ngoài, trong thế gian, trong những người làm con khó chịu, trong những hoàn cảnh khiến con sa sút, trong những cám dỗ bất ngờ, nhưng con chưa nhận ra rằng có một kẻ thù tinh vi hơn đang trú ngay trong lòng con: đó là sự tự tin nơi chính mình, là ảo tưởng rằng mình đã đủ mạnh, đủ khôn ngoan, đủ kinh nghiệm, đủ trưởng thành, đủ đạo đức để không còn dễ dàng sa ngã nữa. Bao lâu ảo tưởng ấy còn sống, bấy lâu ma quỷ chưa cần đánh mạnh. Nó chỉ cần để con tự đứng bằng đôi chân của con, để con tự tin vào những kinh nghiệm đạo đức của con, để con nhớ lại những lần mình đã chiến thắng mà quên rằng mọi chiến thắng ấy đều là ơn Chúa, rồi nó chờ đúng lúc con mất cảnh giác. Và khi con ngã, con ngạc nhiên: “Tại sao tôi lại có thể làm như thế? Tại sao sau bao nhiêu năm sống đạo, tôi vẫn còn nóng giận như vậy? Tại sao tôi đã cầu nguyện nhiều mà vẫn còn tự ái? Tại sao tôi đã hứa với Chúa bao lần mà vẫn trở lại cùng một tội?” Câu trả lời nhiều khi rất đơn giản: bởi vì trong một góc sâu kín nào đó của tâm hồn, con vẫn còn tin rằng mình có thể tự mình nên thánh.
Con người mang trong mình một khuynh hướng rất lạ: yếu đuối nhưng lại thích nghĩ mình mạnh, giới hạn nhưng lại thích nghĩ mình hiểu biết, dễ thay đổi nhưng lại tin chắc vào những quyết định của mình, đã từng sa ngã hàng trăm lần nhưng vẫn có thể nói với chính mình rằng: “Lần này thì chắc chắn tôi không ngã nữa.” Chúng ta rất dễ nhìn thấy sự mong manh của người khác nhưng lại rất khó tin vào sự mong manh của chính mình. Ta thấy một người nổi nóng và nghĩ rằng nếu là ta, ta sẽ bình tĩnh hơn. Ta thấy một người vì tiền mà thay đổi và nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ như thế. Ta nghe một câu chuyện phản bội và nghĩ rằng mình không thể làm điều ấy. Ta thấy một người bỏ cầu nguyện và tự nhủ mình yêu Chúa đủ để không bao giờ bỏ Chúa. Nhưng rồi cuộc đời có những giờ phút mà tất cả những gì ta tưởng mình là bỗng sụp xuống. Chỉ một câu nói đụng vào tự ái cũng có thể làm ta mất bình an cả ngày. Chỉ một lời khen cũng đủ làm lòng kiêu ngạo âm thầm phồng lên. Chỉ một ánh nhìn, một ký ức, một hình ảnh cũng có thể khuấy dậy những đam mê tưởng đã chết. Chỉ vài ngày mệt mỏi cũng đủ khiến những quyết tâm cầu nguyện trở nên nguội lạnh. Chỉ một chút thành công cũng có thể khiến ta quên rằng mình đã từng bất lực đến mức nào. Chỉ một thất bại nhỏ cũng có thể làm ta chán nản, bởi sâu xa ta không chịu nổi sự thật rằng mình không mạnh như mình tưởng.
Bởi thế, sự bất tín nhiệm vào chính mình không phải là một thái độ bi quan, cũng không phải là khinh ghét bản thân, càng không phải là phủ nhận phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Kitô giáo không dạy con người tự coi mình là đồ vô dụng để rồi sống trong mặc cảm và sợ hãi. Người Kitô hữu biết mình được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được Đức Kitô cứu chuộc bằng chính Máu Người, được gọi làm con Thiên Chúa, được mời gọi nên thánh và được trao một phẩm giá không gì trên trần gian có thể mua được. Nhưng chính vì nhìn nhận phẩm giá ấy mà người Kitô hữu càng phải phân biệt rõ: những gì tốt lành nơi tôi đều là quà tặng; còn nếu bị tách khỏi nguồn mạch là Thiên Chúa, tôi chỉ còn lại sự mong manh của mình. Một cành nho đẹp đến đâu mà lìa cây thì cũng khô. Một ngọn đèn sáng đến đâu mà không còn dầu thì cũng tắt. Một dòng sông rộng đến đâu mà bị cắt khỏi nguồn thì rồi cũng cạn. Linh hồn cũng vậy. Không ai yếu vì nhìn nhận mình cần Thiên Chúa. Trái lại, chính người dám nhìn nhận sự bất lực của mình mới bắt đầu trở nên mạnh, bởi từ giây phút ấy người đó không còn đặt nền móng trên chính mình nữa.
Có một câu rất khó để con người kiêu ngạo chấp nhận, nhưng lại là cánh cửa đi vào đời sống thiêng liêng đích thực: tự sức mình, con chẳng làm được gì. Không phải con chẳng làm được gì theo nghĩa con không có trí khôn, không có tự do, không có trách nhiệm. Không. Con phải quyết định, phải chiến đấu, phải cộng tác, phải đứng lên, phải từ bỏ, phải luyện tập, phải kiên trì. Nhưng ngay cả khả năng muốn điều tốt, sức mạnh để thực hiện điều tốt và lòng trung thành để đi đến cùng cũng đều cần được nâng đỡ bởi ân sủng. Con có thể bắt đầu ngày mới với lòng sốt sắng, rồi đến trưa đã mệt mỏi và chiều đã nổi giận. Con có thể bước ra khỏi tòa giải tội với quyết tâm sẽ không bao giờ phạm lại lỗi cũ, rồi ít ngày sau chính lỗi ấy lại xuất hiện. Con có thể rất khiêm nhường khi không ai xúc phạm mình, rất hiền lành khi mọi người chiều ý mình, rất quảng đại khi không phải hy sinh điều gì đáng kể, rất thanh sạch khi chưa gặp cám dỗ mạnh, rất bình an khi cuộc đời đang thuận lợi. Nhưng chỉ khi bị chạm đúng vào nơi đau nhất, ta mới biết lòng mình thực sự đang ở đâu.
Đừng vội tin mình hiền lành khi chưa ai làm con tổn thương. Đừng vội tin mình khiêm nhường khi chưa bị xem thường. Đừng vội tin mình không tham tiền khi chưa đứng trước một khoản lợi lớn. Đừng vội tin mình đã tha thứ khi chưa phải gặp lại người đã làm mình đau. Đừng vội tin mình thanh sạch khi chưa đi qua những giờ cô đơn. Đừng vội tin mình tín thác khi mọi chuyện còn nằm trong tầm kiểm soát. Đừng vội tin mình yêu Chúa hơn mọi sự nếu chưa từng phải chọn giữa ý Chúa và một điều con hết sức yêu thích. Đời sống thiêng liêng không được chứng minh trong những giờ phút dễ dàng. Nó được phơi bày trong những lúc ta bị thử thách, bởi thử thách không nhất thiết làm ta trở nên xấu hơn; nhiều khi nó chỉ làm lộ ra những gì vốn đã ẩn trong ta.
Sự bất tín nhiệm vào chính mình vì thế trước hết là một sự tỉnh thức. Nó là khả năng nhìn bản thân mà không tô son điểm phấn. Nó không nói: “Tôi là người tệ hại nhất.” Câu nói ấy đôi khi cũng có thể là một kiểu kiêu ngạo ngược, bởi ta vẫn đang quá bận tâm về mình. Sự bất tín nhiệm chân thật chỉ bình thản nhìn nhận: “Tôi có thể sa ngã. Tôi có thể phản bội điều tôi đang tin. Tôi có thể trở thành người mà hôm nay tôi nghĩ mình không bao giờ trở thành, nếu Chúa không gìn giữ tôi và nếu tôi không cộng tác với ơn Người.” Đây không phải là sự sợ hãi bệnh hoạn. Đây là sự sáng suốt. Người biết mình có thể ngã thì bước cẩn thận. Người nghĩ mình không thể ngã mới đi sát bờ vực.
Hãy nhìn thánh Phêrô. Ông yêu Đức Giêsu, điều đó không thể nghi ngờ. Ông đã bỏ thuyền, bỏ lưới, đi theo Thầy. Ông đã sống bên Thầy, nghe Thầy giảng, thấy những phép lạ mà hàng triệu người sau này chỉ có thể đọc lại trong Tin Mừng. Ông đã tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Ông đã từng nói những lời rất đẹp và rất mạnh. Trong bữa Tiệc Ly, ông còn quả quyết rằng dù mọi người có vấp ngã, ông cũng không. Ông tin vào tình yêu của mình dành cho Chúa. Nhưng bi kịch chính là ở đó: ông không chỉ yêu Chúa, ông còn tin quá nhiều vào sức mạnh tình yêu của chính mình. Ông chưa biết mình. Và Chúa để ông đi qua đêm tối ấy, không phải để hủy diệt ông, nhưng để cứu ông khỏi một Phêrô nguy hiểm hơn: Phêrô tự tin. Sau tiếng gà gáy, Phêrô bước ra ngoài và khóc. Những giọt nước mắt ấy không chỉ khóc vì ông đã chối Thầy; chúng còn khóc vì một hình ảnh giả về chính mình đã chết. Từ đêm đó, Phêrô bắt đầu biết rằng mình có thể yếu đến mức nào. Và chính người đã từng nói “dù mọi người bỏ Thầy, con cũng không” về sau mới có thể trở thành người mục tử thực sự, bởi ông không còn dựa vào lòng nhiệt thành của mình nữa. Người từng ngã mới biết cách cầm tay người khác khi họ ngã. Người từng thấy sự yếu đuối của mình mới bớt khắc nghiệt trước sự yếu đuối của anh em.
Đó cũng là lý do đôi khi Thiên Chúa cho phép con nhìn thấy sự yếu đuối của mình một cách đau đớn. Có những lần con cầu xin mãi mà một khuyết điểm vẫn còn. Có những cơn cám dỗ tưởng đã vượt qua lại trở về. Có những vết thương tưởng đã lành bỗng đau lại. Có một tính xấu mà con đã chiến đấu nhiều năm nhưng vẫn thấy nó ẩn núp đâu đó trong lòng. Con thất vọng và tự hỏi: “Tại sao Chúa không lấy nó đi?” Có thể Chúa sẽ lấy. Nhưng cũng có thể trước khi cất nó đi, Chúa muốn dùng chính cuộc chiến ấy để cất khỏi con một căn bệnh sâu hơn: sự tự mãn. Nếu con chiến thắng quá dễ dàng, con có thể tưởng mình là người thánh thiện. Nếu mọi cám dỗ biến mất ngay khi con cầu nguyện, con có thể bắt đầu tin vào sức cầu nguyện của mình hơn là tin vào Thiên Chúa. Nếu mọi khuyết điểm đều được sửa trong vài tháng, con có thể trở nên kiêu ngạo mà không biết. Vì thế có những lúc Chúa cho phép ta chạm tới giới hạn của mình để ta học một bài mà sách vở không thể dạy: không có Người, tôi thật sự bất lực.
Nhưng phải cẩn thận. Có một cạm bẫy ở đây. Khi thấy mình yếu, linh hồn có thể đi từ tự tin sang tuyệt vọng. Đó không phải là điều Thiên Chúa muốn. Ma quỷ rất tinh ranh. Khi con chưa sa ngã, nó nói: “Không sao đâu, con mạnh mà. Chuyện nhỏ thôi. Con kiểm soát được.” Nhưng khi con đã sa ngã, nó lập tức đổi giọng: “Thấy chưa? Con chẳng ra gì. Con sẽ chẳng bao giờ thay đổi. Cầu nguyện có ích gì? Xưng tội bao lần rồi vẫn thế. Thôi bỏ đi.” Trước cám dỗ, nó làm con tự tin; sau cám dỗ, nó làm con tuyệt vọng. Cả hai đều có cùng một mục tiêu: kéo mắt con ra khỏi Thiên Chúa và đóng chặt con trong cái tôi của mình.
Sự bất tín nhiệm đúng nghĩa không bao giờ dẫn đến tuyệt vọng, bởi nó luôn đi đôi với sự tín nhiệm tuyệt đối vào Thiên Chúa. Con càng biết mình yếu, con càng phải chạy đến với Người. Con càng khám phá mình bất lực, con càng phải bám vào Người. Nếu chỉ biết mình yếu mà không biết Chúa mạnh, con sẽ tuyệt vọng. Nếu chỉ nghĩ Chúa mạnh mà không biết mình yếu, con sẽ liều lĩnh. Đời sống thiêng liêng trưởng thành đứng trên cả hai chân: không tin vào mình và hoàn toàn tin vào Chúa. Một bên giữ con khỏi kiêu ngạo, bên kia giữ con khỏi thất vọng.
Bởi vậy, mỗi buổi sáng khi vừa thức dậy, trước khi tâm trí bị cuốn vào công việc, điện thoại, tin nhắn, những điều phải giải quyết, con hãy dành một khoảnh khắc để đặt sự thật này trước mặt mình. Không cần những lời hoa mỹ. Có khi chỉ cần quỳ xuống và nói chậm rãi: “Lạy Chúa, hôm nay con có thể sa ngã nếu Chúa không giữ con. Con có thể nói điều làm người khác đau. Con có thể kiêu ngạo. Con có thể nóng giận. Con có thể tìm mình trong công việc của Chúa. Con có thể quên Chúa giữa những việc mang danh nghĩa phục vụ Chúa. Con có thể yêu lời khen hơn yêu chân lý. Con có thể chạy theo ý riêng và gọi đó là ý Chúa. Xin đừng để con dựa vào mình. Xin giữ con.” Một lời cầu nguyện như thế không làm con yếu đi. Nó đặt con đúng chỗ. Nó giúp con bắt đầu ngày sống như một người con chứ không như một kẻ tự cứu mình.
Và đừng chỉ cầu nguyện như thế vào buổi sáng. Hãy biến sự bất tín nhiệm này thành hơi thở của linh hồn. Khi sắp bước vào một cuộc nói chuyện khó khăn, hãy thầm nói: “Lạy Chúa, xin giữ miệng con.” Khi con bắt đầu được người ta ca ngợi, hãy nói: “Lạy Chúa, xin giữ lòng con.” Khi con đang thành công, hãy nói: “Lạy Chúa, xin đừng để con quên mình là ai.” Khi một cám dỗ cũ quay trở lại, đừng đứng đó tự thương lượng với nó. Hãy chạy ngay đến Chúa: “Lạy Chúa, con không thắng nổi đâu. Xin chiến đấu trong con.” Khi giận dữ dâng lên, đừng nghĩ: “Tôi phải bình tĩnh.” Hãy nói: “Lạy Chúa, con đang mất bình an. Xin giữ con khỏi nói điều con sẽ hối tiếc.” Khi một ý tưởng bất chính xuất hiện, đừng thử xem mình mạnh tới đâu. Đừng đứng ở cửa cám dỗ để chứng minh rằng mình có thể chống lại. Người khôn ngoan không chơi với lửa để chứng minh rằng tay mình không cháy. Hãy tránh ngay điều cần tránh, đổi hoàn cảnh nếu có thể, hướng trí về Chúa, và nhận rằng sự trong sạch không phải là chiến tích của ý chí nhưng là hoa trái của ân sủng được con người trung thành cộng tác.
Một trong những dấu hiệu rõ nhất của người còn quá tin vào mình là họ thích thử giới hạn của mình. Họ đi sát cám dỗ rồi nói: “Tôi kiểm soát được.” Họ giữ những mối tương quan không lành mạnh rồi nói: “Chỉ là bạn bè.” Họ đọc, xem, nghe những điều làm tâm hồn xao động rồi nói: “Tôi đủ trưởng thành.” Họ để mình rơi vào những cuộc tranh luận vô ích rồi nói: “Tôi chỉ bảo vệ sự thật.” Họ làm việc quá sức rồi nghĩ: “Tôi chịu được.” Họ nhận quá nhiều trách nhiệm rồi nói: “Không có tôi không xong.” Họ cầu nguyện ít đi vì nghĩ rằng mình đã sống đời thiêng liêng đủ lâu. Đó là lúc nguy hiểm nhất. Một người mới tập đi thường rất cẩn thận. Người ngã nặng nhiều khi cũng trở nên cẩn thận. Nhưng người đã đi được một đoạn dài rất dễ mất cảnh giác.
Có những người đã sống đạo hàng chục năm nhưng vẫn có thể sa vào những sai lầm mà họ từng nghĩ chỉ người non nớt mới phạm. Có người đã giảng cho người khác về khiêm nhường rồi chính mình bị lòng kiêu ngạo đánh ngã. Có người đã dạy người khác về sự trong sạch rồi lại mất cảnh giác. Có người đã khuyên người khác phó thác nhưng khi thử thách đến lại hoảng loạn. Điều đó không chứng minh rằng tất cả những năm tháng trước đều giả dối. Nó chỉ chứng minh rằng con người không bao giờ được phép nghỉ canh gác. Bao lâu còn mang thân phận này, không ai có thể nói: “Tôi đã xong rồi. Tôi không còn phải chiến đấu nữa.”
Con đừng sợ sự thật ấy. Nó không làm đời sống thiêng liêng trở nên u ám. Trái lại, nó làm con tự do. Bởi khi không còn phải chứng minh rằng mình mạnh, con được phép yếu trước mặt Chúa. Khi không cần duy trì hình ảnh một người hoàn hảo, con có thể thật lòng ăn năn. Khi không nghĩ mình phải tự cứu mình, con biết kêu xin. Khi thôi dựa vào thành tích thiêng liêng, con bắt đầu hiểu ân sủng là gì. Điều đáng sợ không phải là yếu. Điều đáng sợ là yếu mà không biết mình yếu. Một người bệnh biết mình bệnh sẽ tìm thầy thuốc. Một người bệnh mà tưởng mình khỏe mới có thể chết vì không chịu chữa trị.
Nhiều người rất đau khi Chúa cho họ thấy những góc tối trong tâm hồn. Họ đã từng nghĩ mình quảng đại, nhưng một ngày họ phát hiện mình rất ích kỷ. Họ từng nghĩ mình hiền lành, nhưng một biến cố cho thấy trong họ có một sự dữ dội không ngờ. Họ từng nghĩ mình không quan tâm đến danh dự, nhưng một lời chê đã làm họ mất ngủ. Họ từng tưởng mình yêu người nghèo, nhưng khi phải sống gần người nghèo, chịu những bất tiện của người nghèo, họ mới nhận ra tình yêu của mình vẫn còn nhiều điều kiện. Họ từng nghĩ mình chỉ làm mọi sự vì Chúa, nhưng khi công việc không được ghi nhận, họ buồn bực, cay đắng và muốn bỏ cuộc. Đừng quá hoảng sợ khi những điều ấy xảy ra. Có thể con không trở nên xấu hơn; có thể Chúa chỉ đang bật đèn trong một căn phòng mà trước đây con chưa nhìn thấy.
Ánh sáng đôi khi làm ta đau. Khi căn phòng tối, ta không thấy bụi. Khi ánh nắng chiếu vào, ta mới thấy từng hạt bụi bay trong không khí. Không phải ánh sáng làm căn phòng bẩn. Ánh sáng chỉ cho thấy sự thật. Cũng vậy, khi con đến gần Chúa hơn, con có thể thấy mình tệ hơn trước. Đó không nhất thiết là dấu hiệu con đang lùi lại. Có khi đó chính là dấu hiệu con đang được soi sáng sâu hơn. Người ở xa ánh sáng rất dễ thấy mình sạch. Người ở gần ánh sáng mới nhìn thấy từng vết nhỏ. Các thánh thường nói về sự bất xứng của mình không phải vì họ bệnh hoạn hay giả khiêm nhường, nhưng bởi họ đã đứng rất gần ánh sáng của Thiên Chúa. Đứng trước đại dương, con mới thấy chiếc bình của mình nhỏ. Đứng trước sự thánh thiện vô tận, con mới hiểu mình chẳng có gì để tự hào.
Và từ đó, một thái độ rất đẹp sẽ sinh ra: lòng thương xót đối với người khác. Người quá tin vào mình thường rất dễ xét đoán. Họ thấy một người ngã và nghĩ: “Sao lại yếu như vậy?” Họ thấy một người lặp đi lặp lại cùng một lỗi và nghĩ: “Sao không sửa đi?” Họ thấy một người sống rối ren và nói: “Nếu là tôi, tôi đã khác.” Nhưng người đã thật sự biết mình không còn nói như thế dễ dàng nữa. Họ biết rằng nếu Chúa rút tay ra, họ cũng có thể rơi xuống vực sâu. Họ không bao che tội lỗi, nhưng họ không khinh người tội lỗi. Họ có thể mạnh mẽ với điều sai nhưng dịu dàng với người sai. Họ hiểu rằng giữa mình và người đang nằm dưới đất đôi khi chỉ cách nhau một điều: ân sủng đã giữ mình đứng.
Sự bất tín nhiệm vào chính mình còn phải đi vào cả những công việc tốt lành. Đây là một chỗ rất tinh tế. Con có thể không phạm một tội rõ ràng, nhưng lại âm thầm chiếm hữu những việc của Chúa. Con làm một công việc mục vụ, một sứ mạng, một dự án tốt, một chương trình giúp ích cho người khác. Ban đầu con cầu nguyện rất nhiều. Con biết mình cần Chúa. Nhưng khi công việc bắt đầu thành công, khi người ta khen, khi con thấy mình có năng lực, lời cầu nguyện dần trở thành thứ phụ. Con vẫn nói về Chúa nhưng trong sâu thẳm, con bắt đầu nghĩ mình biết phải làm thế nào. Và đây là thứ kiêu ngạo rất nguy hiểm: làm việc cho Chúa nhưng không còn cần Chúa.
Con hãy nhớ: không phải chỉ trong những công việc xấu ta mới có thể mất Chúa. Ta cũng có thể mất Chúa trong những việc rất đạo đức. Có người quá bận phục vụ Chúa đến mức không còn thời giờ ở với Chúa. Có người quá bận giảng về cầu nguyện đến mức chính mình không cầu nguyện. Có người quá bận giúp người khác trở nên thánh thiện đến mức không còn để Chúa đụng vào những góc chưa hoán cải của mình. Khi ấy công việc thiêng liêng trở thành một thứ áo choàng che cái tôi. Và chính lúc ấy sự bất tín nhiệm vào mình phải trở lại: “Lạy Chúa, ngay cả việc tốt này cũng có thể bị con làm hỏng. Ngay cả trong việc phục vụ Chúa, con cũng có thể tìm chính mình. Xin thanh luyện ý hướng con.”
Đừng tưởng rằng sự bất tín nhiệm vào chính mình sẽ hình thành trong một ngày. Nó thường được học qua rất nhiều lần thất bại. Có những bài học Chúa dạy bằng Lời Người. Có những bài khác chúng ta chỉ chịu học sau khi đã đập đầu vào chính giới hạn của mình nhiều lần. Khi con đã hứa quá nhiều rồi lại thất hứa, khi con đã tự tin quá nhiều rồi lại sa ngã, khi con đã lên kế hoạch rất kỹ mà mọi sự vẫn đổ vỡ, khi con đã nghĩ mình hiểu người khác mà rồi phát hiện mình đã phán đoán sai, khi con đã tưởng mình kiểm soát được đời mình và một biến cố bất ngờ làm mọi thứ đảo lộn, dần dần linh hồn bắt đầu bớt cứng. Nó thôi nói: “Tôi biết.” Nó bắt đầu nói: “Lạy Chúa, xin chỉ cho con.” Nó thôi nói: “Tôi làm được.” Nó bắt đầu nói: “Xin Chúa giúp con.” Nó thôi nói: “Chuyện đó không thể xảy ra với tôi.” Nó bắt đầu nói: “Xin gìn giữ con khỏi sự dữ.”
Đó là một bước trưởng thành rất lớn. Người trưởng thành thiêng liêng không phải là người lúc nào cũng chắc chắn về mình. Nhiều khi chính người non nớt mới quá chắc chắn. Người trưởng thành biết sự phức tạp của lòng người. Họ biết ý hướng hôm nay trong sáng nhưng ngày mai có thể bị pha trộn. Họ biết một quyết định tốt vẫn cần được cầu nguyện và phân định. Họ biết cảm xúc mạnh không đồng nghĩa với tiếng Chúa. Họ biết mình có thể tự lừa mình bằng những lý do rất đạo đức. Vì thế họ chậm hơn trong việc khẳng định, cẩn thận hơn trong xét đoán, khiêm tốn hơn trong quyết định và thường xuyên trở lại với cầu nguyện.
Hãy tập nghi ngờ chính mình cách lành mạnh, đặc biệt khi một điều nào đó làm cái tôi của con được thỏa mãn quá dễ dàng. Khi con rất muốn một điều và đồng thời tin chắc đó là ý Chúa, hãy cẩn thận. Khi con đang giận một người và thấy hàng chục lý do đạo đức để lên án họ, hãy cẩn thận. Khi con được khen và trong lòng muốn nghe thêm, hãy cẩn thận. Khi con thành công và bắt đầu nghĩ mình hiểu bí quyết, hãy cẩn thận. Khi con thất bại và kết luận rằng mọi thứ vô nghĩa, cũng hãy cẩn thận. Không phải cảm giác mạnh nào cũng là sự thật. Không phải suy nghĩ đầu tiên nào cũng đáng tin. Không phải điều hợp ý con cũng là ý Chúa.
Sự bất tín nhiệm vào mình đòi ta phải biết dừng lại. Trước một phản ứng mạnh, hãy dừng. Trước khi gửi một tin nhắn trong cơn giận, hãy dừng. Trước khi đáp trả một lời xúc phạm, hãy dừng. Trước khi quyết định một điều quan trọng trong lúc cảm xúc đang cao, hãy dừng. Khoảng dừng nhỏ ấy có thể là chỗ ân sủng bước vào. Bao nhiêu điều đáng tiếc đã xảy ra chỉ vì con người tin ngay vào phản ứng đầu tiên của mình. Một câu nói được giữ lại trong mười giây có thể cứu một tương quan nhiều năm. Một quyết định được cầu nguyện thêm một đêm có thể tránh một sai lầm kéo dài nhiều tháng. Người bất tín nhiệm mình không sống trong do dự; họ chỉ không thần thánh hóa cảm xúc và ý riêng.
Và nếu con đã ngã, đây là lúc sự bất tín nhiệm phải trở nên tinh tuyền nhất. Đừng ngạc nhiên quá mức về tội của con như thể con vừa phát hiện một điều không thể tưởng tượng. Nỗi ngạc nhiên thái quá đôi khi là dấu hiệu rằng trước đó con vẫn tưởng mình tốt hơn. Hãy đau buồn vì đã làm mất lòng Chúa, hãy thành thật nhận lỗi, hãy sửa điều cần sửa, hãy đi xưng tội khi cần, nhưng đừng ngồi nhìn sự sa ngã của mình đến mức quên mất lòng thương xót. Hãy nói: “Lạy Chúa, đây chính là con khi rời xa Chúa. Con đã thấy rồi. Xin đừng để con phí phạm cả sự sa ngã này. Xin dùng nó để làm con khiêm nhường hơn, cẩn trọng hơn, thương người hơn và bám lấy Chúa hơn.”
Có những lần một sa ngã được ăn năn thật lòng lại dạy linh hồn nhiều hơn mười chiến thắng mà người ta âm thầm tự hào. Dĩ nhiên, không ai được phép phạm tội để học khiêm nhường. Nhưng nếu vì yếu đuối mà con đã ngã, đừng trao luôn cú ngã ấy cho ma quỷ. Hãy trao nó cho Chúa. Để lòng thương xót biến chính thất bại thành trường học. Để điều đã làm con xấu hổ khiến con bớt xét đoán. Để điều đã làm con đau khiến con cẩn thận. Để ký ức về sự yếu đuối khiến con không bao giờ còn dám nhìn một người tội lỗi từ trên cao.
Có lẽ một ngày nào đó, sau rất nhiều năm chiến đấu, con sẽ hiểu rằng Chúa đã cứu con không chỉ khỏi những tội mà con đã phạm, nhưng còn khỏi vô số tội con đã không phạm chỉ vì Người đã giữ con. Có những vực sâu con chưa từng rơi xuống không phải vì con cao thượng hơn người khác, nhưng vì bàn tay vô hình đã ngăn con lại. Có những cơ hội phạm tội đã không đến. Có những hoàn cảnh nguy hiểm đã được lấy đi. Có những lời cảnh tỉnh con đã nghe đúng lúc. Có những người đã xuất hiện để kéo con lại. Có những ân sủng con chẳng hề nhận ra. Khi hiểu điều đó, con sẽ không còn tự hào nhiều về sự “tốt lành” của mình nữa. Con chỉ biết cúi đầu mà nói: “Nếu hôm nay con còn đứng, ấy là vì Chúa đã giữ con.”
Vì thế, hỡi linh hồn, đừng xây đời sống thiêng liêng trên cảm giác mình mạnh. Hãy xây nó trên sự trung thành của Thiên Chúa. Đừng nói: “Tôi sẽ không bao giờ phản bội.” Hãy nói: “Lạy Chúa, xin giữ con trung thành.” Đừng nói: “Tôi đã thắng được tật xấu này.” Hãy nói: “Tạ ơn Chúa đã cho con chiến thắng hôm nay; xin giữ con ngày mai.” Đừng nói: “Tôi biết mình.” Hãy nói: “Lạy Chúa, xin cho con biết mình dưới ánh sáng của Chúa.” Đừng nói: “Tôi có thể chịu được.” Hãy nói: “Xin ban cho con sức mạnh cần thiết khi thử thách đến.”
Mỗi ngày hãy học nhìn mình như một người nghèo đứng trước cửa lòng thương xót. Người nghèo không khoe túi mình đầy. Họ đưa bàn tay trống ra. Đó là tư thế đẹp nhất của linh hồn trước Thiên Chúa: đôi tay trống. Trống để nhận. Yếu để được nâng. Nghèo để được làm giàu. Bất lực để quyền năng Thiên Chúa có chỗ hoạt động.
Một ngày kia, con sẽ nhận ra nghịch lý kỳ diệu này: chính khi con thôi tin vào sức mình, con mới bắt đầu có sức mạnh thật sự. Chính khi con nhận rằng mình có thể ngã, con mới học cách đứng vững. Chính khi con thôi cố tỏ ra mạnh trước mặt Chúa, Người mới có thể trở thành sức mạnh của con.
Vì thế, mỗi sáng hãy nói với Người: “Lạy Chúa, hôm nay con không biết điều gì sẽ xảy đến. Con không biết người nào sẽ làm con tổn thương. Con không biết cám dỗ nào sẽ xuất hiện. Con không biết lúc nào sự tự ái của con sẽ bị đụng tới. Con không biết lúc nào sự mệt mỏi sẽ làm con mất kiên nhẫn. Con không biết lúc nào con sẽ muốn tìm mình trong lời khen, trong thành công hay trong sự chú ý của người khác. Nhưng Chúa biết. Con xin trao ngày hôm nay vào tay Chúa. Xin đừng để con tin vào sức riêng. Xin đừng để con đi trước Chúa. Xin đừng để con nghĩ rằng vì hôm qua con đã thắng nên hôm nay con chắc chắn sẽ thắng. Xin giữ con từng giờ, từng phút, từng ý nghĩ, từng lời nói. Và nếu con yếu, xin cho con biết chạy đến với Chúa trước khi chạy theo cám dỗ.”
Rồi trong ngày, khi cảm thấy mình đang “ổn”, hãy càng khiêm tốn. Khi người ta khen con, hãy trở về với Chúa. Khi con làm được một việc tốt, hãy tạ ơn. Khi con chiến thắng một cơn cám dỗ, hãy tạ ơn. Khi con giữ được bình tĩnh trong một hoàn cảnh khó, hãy tạ ơn. Khi con có sức cầu nguyện, hãy tạ ơn. Khi con cảm thấy yêu Chúa, hãy tạ ơn. Đừng chiếm lấy bất cứ điều gì như của riêng con. Hãy trả mọi vinh quang về cho nguồn mạch của nó.
Và tối đến, trước khi ngủ, hãy nhìn lại ngày sống với sự bình thản. Nếu con đã làm tốt, đừng tự hào. Hãy nói: “Tạ ơn Chúa đã làm điều ấy trong con.” Nếu con đã thất bại, đừng tuyệt vọng. Hãy nói: “Lạy Chúa, con lại thấy mình yếu thế nào. Xin tha thứ và ngày mai xin đừng để con đi một mình.” Cứ như thế, từng ngày, sự bất tín nhiệm vào bản thân sẽ không làm con nhỏ bé theo nghĩa tiêu cực; nó sẽ làm cái tôi giả tạo nhỏ lại để chỗ cho Thiên Chúa lớn lên.
Đừng sợ phải trở thành một người luôn cần Chúa. Đó chính là điều đẹp nhất có thể xảy ra cho linh hồn. Đừng mong một ngày nào đó con mạnh đến mức không cần cầu nguyện nữa. Đừng mong một ngày nào đó con trưởng thành đến mức không còn phải canh giữ lòng mình nữa. Đừng mong một ngày nào đó con thánh thiện đến mức có thể bước đi mà không nắm tay Chúa. Sự thánh thiện không phải là ngày ta thôi cần Chúa. Sự thánh thiện là ngày ta hiểu sâu đến mức không còn muốn sống một giây nào ngoài Người.
Hãy để sự bất tín nhiệm vào chính mình trở thành khí giới đầu tiên. Không phải một ý nghĩ thỉnh thoảng xuất hiện, nhưng là một thái độ nền tảng. Hãy mang nó vào cầu nguyện. Mang nó vào công việc. Mang nó vào những tương quan. Mang nó vào thành công. Mang nó vào thất bại. Mang nó vào cả những giờ phút mà con thấy mình sốt sắng nhất. Hãy học nói với Chúa bằng trái tim của một người không còn ảo tưởng về mình nhưng cũng không sợ hãi, bởi biết mình đang ở trong tay Người:
“Lạy Chúa, con không tin vào sức riêng của con. Con biết lòng con có thể đổi thay. Con biết quyết tâm của con có thể yếu đi. Con biết con có thể ngã ở chính nơi con tưởng mình mạnh nhất. Nhưng con tin Chúa. Con tin ân sủng Chúa mạnh hơn sự yếu đuối của con. Con tin lòng thương xót Chúa lớn hơn tội lỗi của con. Con tin bàn tay Chúa đủ mạnh để giữ con. Xin đừng để con rời khỏi bàn tay ấy. Nếu con phải chiến đấu, xin chiến đấu trong con. Nếu con phải chịu thử thách, xin đứng bên con. Nếu con phải đi qua bóng tối, xin đừng để con bước một mình. Và nếu con ngã, xin cho con biết đứng dậy ngay, không nhìn mình mãi, nhưng nhìn lên Chúa.”
Đó là khởi đầu của chiến thắng.
Không phải khi con nói: “Tôi mạnh.”
Nhưng khi con cúi đầu thú nhận:
“Lạy Chúa, con yếu. Chính vì thế, con cần Chúa trong mọi sự.”
Và từ giây phút linh hồn thật sự hiểu điều ấy, cuộc chiến thiêng liêng mới bắt đầu trên nền móng đúng đắn. Bởi người không còn tin vào mình nữa cuối cùng mới có thể đặt trọn niềm tin vào Đấng duy nhất không bao giờ phản bội, không bao giờ yếu đi, không bao giờ thay đổi và không bao giờ bỏ rơi người chạy đến với Người.
CHƯƠNG 3
SỰ TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA – KHÍ GIỚI THỨ HAI
Hỡi linh hồn, sau khi đã học bài học đầu tiên là đừng tín nhiệm vào chính mình, con phải lập tức học bài học thứ hai, và phải học cho đến tận cùng, nếu không con sẽ ngã vào một vực thẳm khác còn đáng sợ hơn cả sự tự phụ: đó là tuyệt vọng. Bởi vì khi một người bắt đầu nhìn thấy sự yếu đuối thật của mình, thấy mình mong manh đến mức nào, thấy những quyết tâm của mình dễ tan vỡ đến mức nào, thấy chỉ một lời nói cũng đủ làm mình nổi giận, chỉ một ánh mắt cũng đủ làm mình xao động, chỉ một chút trái ý cũng đủ làm mình mất bình an, chỉ một cơn mệt mỏi cũng đủ làm mình buông xuôi, chỉ một ký ức cũ cũng đủ kéo mình trở về với những yếu đuối tưởng đã chết từ lâu, người ấy rất dễ đi từ chỗ kiêu ngạo sang chỗ thất vọng. Hôm qua còn tưởng mình mạnh, hôm nay lại nghĩ mình hết thuốc chữa. Hôm qua còn nghĩ mình sẽ nên thánh rất nhanh, hôm nay lại kết luận rằng mình không thể nào nên thánh. Hôm qua còn tự tin vào sức mình, hôm nay lại ghê sợ chính mình. Cả hai thái độ ấy đều sai. Cả hai đều phát xuất từ việc linh hồn còn nhìn quá nhiều vào mình. Khi tự phụ, con nhìn vào sức riêng và nghĩ rằng con đủ mạnh. Khi tuyệt vọng, con cũng nhìn vào sức riêng và kết luận rằng con quá yếu. Nhưng đời sống thiêng liêng không bắt đầu từ câu hỏi: “Tôi mạnh đến đâu?”, mà từ câu hỏi: “Thiên Chúa của tôi là Đấng nào?” Không phải con có thể làm gì, nhưng là Chúa có thể làm gì trong con. Không phải con có giữ mình khỏi sa ngã mãi mãi được không, nhưng là Chúa có đủ quyền năng để gìn giữ con không. Không phải những vết thương của con sâu đến đâu, nhưng là lòng thương xót của Chúa sâu hơn đến đâu. Không phải bóng tối trong con dày đặc đến mức nào, nhưng là ánh sáng của Người mạnh đến mức nào. Chính ở đây xuất hiện khí giới thứ hai của cuộc chiến thiêng liêng: sự tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Nếu sự bất tín nhiệm vào mình giúp con buông thanh gươm kiêu ngạo xuống, thì sự tín thác vào Thiên Chúa trao vào tay con thanh gươm của hy vọng. Nếu sự bất tín nhiệm vào mình khiến con thôi cậy dựa vào sức riêng, thì sự tín thác vào Chúa khiến con đứng dậy bằng sức mạnh không phải của con. Nếu khí giới thứ nhất làm con nhận ra rằng mình chẳng là gì, khí giới thứ hai làm con khám phá rằng Thiên Chúa là tất cả. Và từ hai chân lý ấy, linh hồn mới bắt đầu bước đi trên con đường thật của sự thánh thiện: tôi không thể, nhưng Thiên Chúa có thể; tôi yếu đuối, nhưng Người mạnh mẽ; tôi bất lực, nhưng Người toàn năng; tôi dễ đổi thay, nhưng Người trung tín; tôi nghèo nàn, nhưng Người giàu lòng thương xót; tôi có thể phản bội Người, nhưng Người không bao giờ phản bội tình yêu của Người dành cho tôi.
Tín thác vào Thiên Chúa không phải là một cảm xúc êm đềm. Có những người chỉ nghĩ mình tín thác khi lòng cảm thấy bình an, khi cầu nguyện thấy sốt sắng, khi mọi chuyện xuôi thuận, khi bệnh tật được chữa lành, khi công việc thành công, khi lời cầu xin được đáp đúng ý mình. Nhưng đó chưa chắc đã là tín thác. Nhiều khi đó chỉ là sự an tâm vì mọi sự đang diễn ra theo ý mình. Tín thác thật bắt đầu khi mọi sự không còn diễn ra như con muốn. Tín thác thật xuất hiện khi con cầu nguyện mà trời dường như im lặng; khi con cố gắng mà vẫn thất bại; khi con đã quyết tâm mà lại sa ngã; khi con đã xin ơn bình an mà lòng vẫn nổi sóng; khi con đã xin được chữa lành mà bệnh vẫn còn; khi con đã xin Chúa mở một cánh cửa nhưng trước mặt lại chỉ thấy những cánh cửa đóng kín. Chính lúc ấy, câu hỏi được đặt ra không còn là: “Tôi có cảm thấy Chúa gần không?”, mà là: “Tôi có tin Chúa vẫn đang ở đây không?” Không còn là: “Tôi có hiểu việc Chúa làm không?”, mà là: “Tôi có tin Người tốt lành ngay cả khi tôi không hiểu không?” Không còn là: “Tôi thấy đường đi chưa?”, mà là: “Tôi có dám đặt chân xuống bước tiếp chỉ vì Người đang nắm tay tôi không?” Tín thác không phải là nhìn thấy rồi mới bước. Tín thác là bước vì biết Đấng gọi mình là Đấng trung tín. Tín thác không phải là có câu trả lời cho mọi câu hỏi. Tín thác là biết rằng dù mình không có câu trả lời, Thiên Chúa vẫn có. Tín thác không phải là chắc chắn rằng đời sẽ diễn ra theo điều mình mong muốn. Tín thác là chắc chắn rằng dù đời diễn ra thế nào, không điều gì có thể tách mình ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa nếu mình tiếp tục bám lấy Người.
Hãy nhớ lời Thánh Phaolô: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13). Người không nói: “Tôi có thể làm được mọi sự vì tôi đã rất mạnh.” Người cũng không nói: “Tôi làm được mọi sự vì tôi đã đạt tới một trình độ thiêng liêng cao.” Không. Bí mật nằm trong mấy chữ: “trong Đấng ban sức mạnh cho tôi.” Đây là sự khác biệt giữa đời sống thiêng liêng thật và thứ đạo đức dựa trên ý chí. Người sống bằng ý chí nói: “Tôi sẽ cố hơn. Tôi sẽ mạnh hơn. Tôi sẽ tự kiểm soát. Tôi sẽ không để mình ngã nữa.” Người sống bằng tín thác nói: “Lạy Chúa, con sẽ cố gắng, nhưng con biết sức mạnh của con đến từ Chúa. Con sẽ chiến đấu, nhưng con biết chiến thắng không phải do cánh tay con. Con sẽ tỉnh thức, nhưng con biết chính Chúa gìn giữ con. Con sẽ đứng lên, nhưng con đứng bằng bàn tay Chúa nâng đỡ.” Một người có thể làm cùng một việc bên ngoài nhưng nội tâm hoàn toàn khác. Hai người cùng chống lại một cám dỗ. Một người nghiến răng tự nhủ: “Ta không được thua.” Người kia khiêm tốn thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con đang yếu. Nếu Chúa không giữ con, con sẽ ngã. Xin ở lại với con.” Bên ngoài có thể chẳng ai thấy khác biệt, nhưng trong thế giới thiêng liêng, đó là hai con đường hoàn toàn khác nhau. Một con đường nuôi lớn bản ngã; con đường kia làm lớn lên lòng tín thác. Một con đường khiến người ta kiêu căng khi thắng và tuyệt vọng khi thua; con đường kia khiến người ta biết ơn khi thắng và chạy về với lòng thương xót khi thua.
Con hãy hiểu cho thật rõ: Thiên Chúa không đòi con phải trở nên mạnh rồi mới đến với Người. Người muốn con đến với Người trong chính sự yếu đuối của con. Người không nói: “Khi nào con hết cám dỗ thì hãy đến với Ta.” Người nói: “Khi con bị cám dỗ, hãy chạy đến với Ta.” Người không nói: “Khi nào con sạch mọi tội thì Ta mới yêu con.” Chính vì con là tội nhân mà Đức Kitô đã đến. Chính vì con bị thương mà Người là Thầy Thuốc. Chính vì con lạc mất mà Người là Mục Tử đi tìm. Chính vì con không thể tự cứu mình mà Người là Đấng Cứu Độ. Nếu con có thể tự cứu mình, thập giá của Đức Kitô trở thành dư thừa. Nếu con có thể tự làm cho mình nên thánh, ân sủng trở thành một thứ trang sức không cần thiết. Nhưng Tin Mừng nói điều ngược lại: con được cứu bởi ân sủng, con được sống bởi ân sủng, con chiến đấu bởi ân sủng, con đứng vững bởi ân sủng, con trở về sau sa ngã cũng bởi ân sủng. Ngay cả tiếng kêu của con: “Lạy Chúa, xin cứu con” cũng đã là một ân sủng, bởi nếu Người không âm thầm đánh động lòng con, có khi con đã chẳng muốn trở về.
Có một sự tinh tế rất nguy hiểm trong đời sống thiêng liêng: nhiều người nói rằng họ tín thác vào Chúa, nhưng thực ra họ chỉ tín thác vào Chúa sau khi đã kiểm tra xem mình còn đủ sức hay không. Khi còn thấy mình sốt sắng, họ tin. Khi còn giữ được kỷ luật, họ tin. Khi còn cầu nguyện đều, họ tin. Khi cảm thấy mình tiến bộ, họ tin. Nhưng khi một ngày họ ngã thật đau, khi một thói xấu cũ trở lại, khi tâm trí đầy những ý nghĩ mà họ ghê sợ, khi lòng trở nên khô khan, khi cầu nguyện chẳng còn cảm giác gì, họ lập tức nghĩ: “Chúa đã bỏ tôi.” Không, điều đã mất không phải là Chúa. Điều đã mất là cảm giác tự tin nơi chính mình. Và nhiều khi Thiên Chúa cho phép cảm giác đó sụp xuống để con học một bài học mà con không thể học trong những ngày thuận lợi: Người đáng được tín thác không phải vì con tốt, mà vì Người tốt; không phải vì con trung tín, mà vì Người trung tín; không phải vì con xứng đáng, mà vì Người là Cha; không phải vì con không bao giờ ngã, mà vì mỗi lần con ngã Người vẫn có thể nâng con dậy.
Sự tín thác này phải đi xa đến mức nào? Phải đi đến mức ngay cả khi linh hồn cảm thấy mình đang chìm, nó vẫn không buông Chúa. Hãy nhớ Thánh Phêrô trên mặt biển. Khi ông nhìn vào Đức Giêsu, ông bước được trên nước. Khi ông nhìn gió và sóng, ông bắt đầu chìm. Và lúc chìm, ông không có một bài thần học dài. Ông chỉ có một tiếng kêu ngắn: “Lạy Chúa, xin cứu con!” Chính tiếng kêu đó đủ để bàn tay Đức Giêsu lập tức nắm lấy ông. Hỡi linh hồn, trong nhiều giờ phút của cuộc chiến, con cũng không cần nói nhiều. Khi cám dỗ đang mạnh, đừng ngồi phân tích nó quá lâu. Khi nỗi sợ đang bóp nghẹt lòng, đừng tranh luận với nó mãi. Khi một ý nghĩ đen tối cứ quay trở lại, đừng lấy sức mình mà vật lộn cho đến kiệt sức. Hãy quay mắt về Chúa. Hãy gọi tên Người. Hãy nói chậm rãi, dù lòng con không cảm thấy gì: “Lạy Chúa Giêsu, xin cứu con.” “Lạy Chúa, chính Chúa chiến đấu cho con.” “Con không thể, nhưng Chúa có thể.” “Con thuộc về Chúa.” “Xin đừng để con lìa xa Chúa.” Có khi lời cầu ấy phải lặp lại mười lần, một trăm lần, một nghìn lần. Không sao. Một đứa trẻ sợ hãi cũng gọi mẹ nhiều lần. Linh hồn đang chiến đấu cũng có quyền kêu cầu Cha mình nhiều lần. Đừng nghĩ rằng Chúa mệt vì nghe con kêu. Chúa không giống con người. Tình yêu của Người không kiệt sức. Lòng thương xót của Người không có giới hạn mà con có thể dùng hết.
Mỗi khi bị cám dỗ, thay vì chỉ cố gắng bằng ý chí, hãy lập tức hướng mắt về Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Hãy nhìn Người trên thập giá. Nhìn những bàn tay bị đóng đinh. Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Nhìn Đấng đã đi đến cùng của tình yêu. Rồi con hãy tự hỏi: “Một Thiên Chúa đã chết cho tôi như thế, chẳng lẽ lại bỏ tôi một mình trong cuộc chiến này sao?” Hãy nói với Người: “Lạy Chúa, chính Chúa sẽ chiến đấu cho con. Con chỉ là kẻ bất lực. Xin Chúa chiến thắng trong con.” Câu ấy không phải là một phép thuật. Không phải cứ đọc lên là mọi cám dỗ biến mất. Có khi cám dỗ vẫn còn. Có khi cuộc chiến kéo dài. Có khi con phải chịu một sự quấy nhiễu dai dẳng nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Nhưng điều thay đổi là vị trí nội tâm của con. Trước đây con chiến đấu một mình. Bây giờ con chiến đấu trong Chúa. Trước đây con nhìn vào cơn bão. Bây giờ con nhìn vào Đấng đang ở trong thuyền. Trước đây con nghĩ chiến thắng có nghĩa là không bao giờ cảm thấy yếu đuối. Bây giờ con hiểu rằng chiến thắng nhiều khi chỉ là trong lúc yếu đuối nhất, con vẫn không rời tay Chúa.
Đừng lầm tưởng rằng tín thác loại bỏ nỗ lực. Đây là một trong những hiểu lầm tai hại. Có người nói: “Nếu mọi sự là do ơn Chúa, vậy tôi cứ để Chúa làm, tôi không cần chiến đấu.” Đó không phải tín thác; đó là lười biếng đội lốt đạo đức. Ân sủng không giết chết tự do của con. Ân sủng chữa lành, nâng đỡ và làm cho tự do ấy có khả năng cộng tác với Thiên Chúa. Người nông dân tín thác vào Chúa vẫn phải cày đất, gieo hạt, nhổ cỏ. Người bệnh tín thác vào Chúa vẫn uống thuốc, nghỉ ngơi, điều trị. Người muốn thắng một đam mê phải tránh dịp tội, giữ gìn giác quan, điều chỉnh nếp sống, kiểm soát những hoàn cảnh khiến mình dễ ngã, tập các nhân đức ngược lại với thói xấu của mình. Nhưng mọi nỗ lực ấy phải được đặt trong một xác tín căn bản: “Không có Chúa, tất cả những điều này chẳng đủ.” Con khóa cửa, nhưng Chúa mới gìn giữ ngôi nhà. Con chèo thuyền, nhưng Chúa mới ban gió. Con chiến đấu, nhưng Chúa mới ban chiến thắng. Con gieo hạt, nhưng Chúa mới làm cho mọc lên. Đó là nỗ lực đúng đắn: nỗ lực của một người cộng tác với ân sủng, chứ không phải của một người muốn thay thế ân sủng.
Một dấu hiệu cho thấy con đang dựa quá nhiều vào mình là con dễ bực bội khi thất bại. Hãy quan sát chính mình. Tại sao một lần sa ngã lại làm con mất bình an đến vậy? Có phải chỉ vì con đã xúc phạm Chúa không? Hay sâu xa hơn, vì con thất vọng rằng “mình lại có thể yếu như thế”? Có khi cái đau nhất không phải là đã làm buồn lòng Chúa, mà là hình ảnh đẹp con dựng lên về mình bị vỡ. Ta tưởng mình đã trưởng thành. Ta tưởng ta đã qua giai đoạn đó. Ta tưởng ta khá hơn người khác. Rồi chỉ một biến cố nhỏ làm tất cả sụp xuống. Nếu lúc ấy con nổi giận với chính mình, ghê tởm chính mình, muốn bỏ cuộc, hãy coi chừng: lòng tự ái bị thương có thể đang giả dạng lòng thống hối. Người thật sự khiêm nhường sau khi ngã sẽ đau vì đã xúc phạm tình yêu Chúa, nhưng đồng thời rất nhanh chóng quay về với Người. Người ấy nói: “Lạy Chúa, con đã thấy rồi. Không có Chúa con là như thế đó. Xin tha thứ cho con. Xin nâng con dậy. Con lại bắt đầu.” Còn lòng kiêu ngạo sau khi ngã thường ngồi lại thật lâu để than khóc về chính mình: “Sao tôi có thể như thế? Sao tôi tệ như thế? Bao nhiêu năm tu tập mà vẫn vậy sao?” Nghe có vẻ khiêm nhường, nhưng trọng tâm vẫn là “tôi”. Tín thác kéo mắt con ra khỏi cái tôi ấy và đặt nó lại trên khuôn mặt Đức Kitô.
Có những linh hồn nghĩ rằng phải cảm thấy xứng đáng rồi mới dám tin tưởng. Nhưng đó là một nghịch lý vô lý. Nếu con xứng đáng rồi mới cần lòng thương xót, thì lòng thương xót không còn là lòng thương xót. Đứa con hoang đàng trở về không phải vì nó đã trở nên xứng đáng trong chuồng heo. Nó trở về vì nó nhớ đến nhà Cha. Người trộm lành không có một đời sống công chính để trình bày trước Đức Giêsu. Anh chỉ có một lời cầu xin vào phút cuối: “Khi Ngài vào Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và anh nghe được lời mà cả đời anh không dám mơ: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Hãy để điều đó khắc sâu vào linh hồn con: tín thác không dựa trên thành tích của con; tín thác dựa trên lòng thương xót của Chúa. Điều ấy không có nghĩa là coi nhẹ tội lỗi. Trái lại, càng tín thác thật, con càng ghét tội, vì con hiểu tội làm tổn thương một tình yêu lớn lao đến thế. Nhưng con ghét tội mà không tuyệt vọng về người tội lỗi. Con chống lại tội lỗi, nhưng không bỏ rơi chính mình, vì Thiên Chúa chưa bỏ con.
Ma quỷ có hai chiến thuật rất cũ. Trước khi con phạm tội, nó làm tội có vẻ nhỏ: “Không sao đâu. Chỉ một lần thôi. Ai cũng vậy. Chúa nhân từ mà.” Nhưng sau khi con phạm tội, nó lập tức đổi giọng: “Xong rồi. Mày quá tệ. Mày giả hình. Mày không thể thay đổi. Chúa chán mày rồi.” Hãy nhận ra trò lừa ấy. Trước tội, nó muốn con coi thường sự công chính của Chúa. Sau tội, nó muốn con nghi ngờ lòng thương xót của Người. Con phải chống lại cả hai. Trước cám dỗ, hãy nghiêm túc: “Tội này có thể làm tôi xa Chúa, tôi không chơi với nó.” Sau sa ngã, hãy tín thác: “Tội tôi lớn, nhưng lòng thương xót Chúa lớn hơn. Tôi sẽ đứng dậy.” Đừng để ma quỷ được lợi cả hai lần. Nếu nó đã lừa được con ngã, đừng cho nó lừa con nằm lại. Một người ngã mà đứng lên ngay có thể tiến nhanh hơn người chưa ngã nhưng đầy tự mãn. Nhiều linh hồn đã nên thánh không phải vì chưa từng chiến đấu, mà vì mỗi lần bị quật xuống họ lại nắm lấy tay Chúa mà đứng dậy.
Tín thác còn được thử luyện cách đặc biệt trong những thời kỳ khô khan. Có những lúc con cầu nguyện mà không cảm thấy Chúa. Trước đây, một câu Thánh Kinh đủ làm con xúc động; nay đọc đi đọc lại mà lòng như đá. Trước đây, bước vào nhà thờ con thấy bình an; nay ngồi trước Nhà Tạm mà tâm trí chỉ đầy phân tán. Trước đây, con dễ cảm nhận lòng thương xót; nay chỉ thấy mình tội lỗi và xa cách. Đừng vội kết luận rằng đời sống thiêng liêng của con đã chết. Rễ cây thường lớn sâu trong mùa mà trên mặt đất chẳng thấy gì. Thiên Chúa có thể đang làm nơi con một công việc tinh tế hơn: thanh luyện đức tin khỏi cảm giác. Người dạy con yêu Người không phải vì sự ngọt ngào Người ban, mà vì chính Người. Người dạy con cầu nguyện không phải vì cầu nguyện làm con dễ chịu, mà vì Người xứng đáng được yêu. Người dạy con ở lại không phải vì lòng con cảm thấy có ánh sáng, mà vì Người đã hứa ở lại với con. Trong những giờ ấy, một lời nguyện khô khan nhưng trung tín có khi quý hơn rất nhiều những giờ cầu nguyện đầy cảm xúc. Một câu “Lạy Chúa, con vẫn tin” được nói trong bóng tối có thể là một hành vi đức tin tinh tuyền mà những ngày sáng sủa không thể tạo ra.
Có lúc tín thác phải đi qua một cánh cửa rất hẹp: chấp nhận rằng Chúa có thể cứu con theo một cách khác với cách con mong. Con xin Chúa cất đi một thập giá; Người cho con sức mang nó. Con xin Người thay đổi một người; Người bắt đầu bằng việc thay đổi con. Con xin Người giải quyết một hoàn cảnh; Người để hoàn cảnh ấy tồn tại nhưng ban cho con một trái tim mới để sống trong đó. Con xin Người cho chiến thắng lập tức; Người dẫn con qua một cuộc chiến dài để dạy con khiêm nhường. Con xin khỏi yếu đuối; Người có thể để một sự yếu đuối nào đó tồn tại đủ lâu để con không bao giờ còn kiêu căng. Thánh Phaolô đã xin Chúa cất “cái dằm” khỏi mình, nhưng câu trả lời ông nhận được là: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Đó là một mầu nhiệm lớn. Có những chiến thắng của Thiên Chúa không hệ tại việc làm con không còn yếu, mà làm cho ngay trong sự yếu đuối ấy, con không còn xa Người. Có những phép lạ không phải là thập giá biến mất, mà là con mang được thập giá với bình an. Có những giải thoát không phải là cơn bão chấm dứt, mà là giữa cơn bão con không còn sợ như trước, vì đã biết Ai đang ở cùng mình.
Vì thế, đừng đo lòng trung tín của Chúa bằng cảm giác hiện tại. Đừng đo tình yêu của Người bằng những thuận lợi con đang có. Đừng đo sự hiện diện của Người bằng việc lời cầu xin đã được đáp chưa. Thập giá trên đồi Canvê là bằng chứng vĩnh viễn rằng Người yêu con. Khi mọi cảm giác phản đối, hãy nhìn thập giá. Khi lương tâm bị cám dỗ nghi ngờ lòng thương xót, hãy nhìn thập giá. Khi con nghĩ mình bị quên lãng, hãy nhìn thập giá. Khi cuộc đời dường như nói rằng Thiên Chúa không quan tâm, hãy nhìn thập giá và hỏi: “Một Đấng đã để mình bị đâm thâu vì tôi có thể không quan tâm đến tôi sao?” Có thể con chưa hiểu đường lối của Người, nhưng con không còn quyền nghi ngờ tình yêu ấy. Thập giá đã nói quá rõ.
Tín thác còn có nghĩa là trao cho Chúa cả tương lai mà con không kiểm soát được. Nhiều linh hồn không bị hành hạ vì điều đang xảy ra, mà vì hàng trăm điều có thể xảy ra. “Nếu ngày mai tôi bệnh thì sao? Nếu tôi thất bại thì sao? Nếu người này bỏ tôi thì sao? Nếu tôi mất công việc thì sao? Nếu tôi không đủ sức chịu đựng thì sao?” Con đang đau vì những thập giá chưa tồn tại. Con đang dùng ơn của hôm nay để mang những gánh nặng của ngày mai, trong khi ơn cho ngày mai chưa được ban vì ngày mai chưa đến. Thiên Chúa ban manna mỗi ngày. Người không hứa cho con sức chịu đựng tất cả đau khổ có thể xảy ra trong hai mươi năm tới ngay hôm nay. Người hứa ban ơn cần thiết khi giờ ấy đến. Vì vậy hãy học nói: “Lạy Chúa, con không biết ngày mai, nhưng Chúa biết. Nếu ngày mai có thập giá, xin ngày mai Chúa ban sức cho con. Hôm nay con chỉ xin đủ ơn để sống hôm nay.” Đây không phải sống vô trách nhiệm. Đây là từ bỏ ảo tưởng kiểm soát. Con có thể chuẩn bị điều cần chuẩn bị, nhưng sau đó hãy để tương lai trong tay Chúa. Bởi vì tương lai trong trí tưởng tượng của con thường đáng sợ hơn tương lai thật mà Thiên Chúa sẽ cùng con bước qua.
Càng trưởng thành trong tín thác, con càng bớt cần kiểm soát mọi thứ. Không phải vì con trở nên thụ động, mà vì con biết mình không phải Thiên Chúa. Có biết bao đau khổ phát sinh từ việc ta muốn kiểm soát suy nghĩ của người khác về mình, muốn kiểm soát kết quả công việc, muốn kiểm soát sức khỏe, muốn kiểm soát tương lai, muốn kiểm soát những người mình yêu, muốn kiểm soát cả cách Thiên Chúa phải trả lời lời cầu nguyện. Khi sự việc không đi đúng kế hoạch, lòng ta nổi loạn. Nhưng tín thác dạy con một sự tự do kỳ lạ: làm điều mình phải làm hết lòng, rồi buông kết quả vào tay Chúa. Con gieo, Người cho mọc. Con phục vụ, Người quyết định hoa trái. Con yêu thương, nhưng con không thể ép người khác thay đổi. Con cầu nguyện, nhưng con không ra lệnh cho Thiên Chúa. Con chăm sóc thân thể, nhưng con không làm chủ sự sống. Con hoạch định, nhưng con biết chỉ có Chúa là Chủ của ngày mai. Người tín thác vẫn làm việc rất nghiêm túc, nhưng trong lòng có một khoảng tự do: “Được hay không được, thành hay bại, được hiểu hay bị hiểu lầm, nếu tôi đã làm điều phải làm trước mặt Chúa, tôi trao phần còn lại cho Người.”
Đặc biệt trong cuộc chiến với một thói xấu lâu năm, tín thác phải trở thành hơi thở. Có những đam mê không biến mất sau một quyết tâm. Có những nết xấu đã ăn rễ nhiều năm. Có những vết thương tâm hồn làm ta phản ứng gần như theo bản năng. Đừng vì thế mà nản chí. Thiên Chúa thường chữa lành từng lớp. Người có thể cho con thấy cùng một sự yếu đuối nhiều lần, không phải để làm nhục con vô ích, nhưng để con đi xuống sâu hơn trong khiêm nhường và đi lên cao hơn trong tín thác. Mỗi lần chiến đấu, dù chưa toàn thắng, con vẫn đang học một điều. Mỗi lần con từ chối một cám dỗ dù chỉ được vài phút, ý chí con đang được huấn luyện. Mỗi lần con ngã rồi trở lại ngay, lòng tín thác đang mạnh hơn. Đừng chỉ nhìn kết quả cuối cùng. Hãy nhìn sự trung tín từng ngày. Thiên Chúa có thể đang làm một công trình rất chậm mà rất sâu.
Con cũng phải học tín thác sau những thất bại đáng xấu hổ. Đây là lúc khó nhất. Khi con phạm một lỗi mà chính con từng phán xét người khác; khi con trở lại một tội mà đã xưng nhiều lần; khi con làm điều mà trước đó đã hứa với Chúa rằng sẽ không bao giờ làm nữa; lúc ấy lòng tự ái bị đập vỡ. Con muốn trốn. Nhưng hãy nhớ Adam đã trốn sau khi phạm tội. Còn con, nhờ Đức Kitô, phải làm ngược lại: vừa ngã là chạy về phía Chúa. Đừng đợi đến khi con cảm thấy khá hơn mới cầu nguyện. Đừng đợi đến khi lòng bớt xấu hổ mới vào nhà thờ. Đừng đợi đến khi con có thể trình bày một khuôn mặt dễ coi hơn. Hãy đến như con đang là. “Lạy Chúa, con vừa làm điều con ghét. Con chẳng có gì để biện hộ. Xin thương xót con.” Một lời thú nhận như thế đẹp lòng Chúa hơn một ngàn lời tự bào chữa. Và rồi, nếu có thể lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, hãy đến. Đừng biến sự xấu hổ thành một lý do xa các bí tích. Chính người bệnh mới cần thầy thuốc.
Tín thác thật còn giúp con không quá bận tâm về mình. Đây là điều nghe có vẻ lạ. Ta tưởng người thiêng liêng phải liên tục kiểm tra nội tâm, nhưng nếu kiểm tra quá mức, con có thể rơi vào một kiểu quy ngã thiêng liêng: cả ngày chỉ nghĩ xem mình tốt hay xấu, tiến hay lùi, sốt sắng hay khô khan, thánh thiện hay tội lỗi. Cuối cùng, dù nội dung có vẻ đạo đức, trung tâm vẫn là bản thân. Tín thác giải thoát con khỏi vòng quay ấy. Con nhìn Chúa nhiều hơn. Con làm bổn phận. Con yêu người trước mặt. Con cầu nguyện như có thể. Con sửa điều cần sửa. Rồi con tiếp tục bước đi. Đứa trẻ đi với cha không cần mỗi phút phải kiểm tra xem mình có đủ sức đi hết con đường không. Nó chỉ cần nắm tay cha và bước tiếp.
Và đừng quên: sự tín thác được lớn lên nhờ thực hành, không chỉ nhờ hiểu biết. Con có thể đọc hàng trăm cuốn sách về tín thác mà vẫn lo âu như cũ nếu không bắt đầu trao cho Chúa những điều cụ thể. Hôm nay, khi một chuyện trái ý xảy đến, thay vì than phiền ngay, hãy nói: “Lạy Chúa, con nhận chuyện này từ tay Chúa, xin chỉ con cách sống nó.” Khi phải chờ đợi một kết quả, thay vì kiểm tra liên tục, hãy nói: “Con đã làm phần của con. Phần còn lại thuộc về Chúa.” Khi bị hiểu lầm, thay vì lao đi chứng minh mình đúng bằng mọi giá, hãy nói: “Lạy Chúa, Chúa biết sự thật. Xin gìn giữ lòng con.” Khi bị cám dỗ, thay vì hoảng sợ, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin chiến đấu trong con.” Khi vừa sa ngã, thay vì nằm đó tự kết án, hãy nói: “Lạy Chúa, con lại cần lòng thương xót của Chúa.” Từng hành vi nhỏ như thế tạo thành một thói quen thánh thiện của linh hồn.
Có thể một ngày nào đó con sẽ hiểu rằng chính những giai đoạn yếu đuối nhất lại dạy con tín thác sâu nhất. Khi mọi sự thuận lợi, người ta rất dễ nói: “Con tin Chúa.” Nhưng khi không còn gì để bám, khi trí khôn không hiểu, khi cảm xúc không nâng đỡ, khi con người không giúp được, khi sức riêng đã cạn, mà con vẫn thì thầm: “Lạy Chúa, con tin nơi Chúa,” đó là một lời cầu nguyện có sức nặng lớn lao. Có những giờ phút Thiên Chúa để cho tất cả những chiếc nạng của con gãy đi để con khám phá cánh tay Người. Có những lúc Người để con thấy mình nghèo đến tận cùng để con hiểu sự giàu có của Người. Có những lúc Người cho con nếm sự bất lực để con học được thế nào là quyền năng của ân sủng. Và rồi một ngày con sẽ không còn nói: “Tôi mạnh nên tôi đứng vững,” nhưng sẽ nói: “Nếu tôi còn đứng đây, đó là vì Chúa đã giữ tôi.”
Hỡi linh hồn, hãy ghi nhớ điều này như một nguyên tắc cho suốt cuộc chiến: càng thấy mình yếu, càng phải tín thác mạnh hơn. Đừng dùng sự yếu đuối làm bằng chứng chống lại lòng thương xót. Hãy dùng nó làm lý do để chạy nhanh hơn đến lòng thương xót. Đừng nói: “Tôi yếu quá nên không thể đến với Chúa.” Hãy nói: “Chính vì tôi yếu nên tôi phải đến với Chúa.” Đừng nói: “Tôi đã ngã quá nhiều nên Chúa chắc không còn kiên nhẫn.” Hãy nói: “Tôi đã ngã quá nhiều nên tôi càng cần biết lòng kiên nhẫn của Chúa lớn đến đâu.” Đừng nói: “Tôi không cảm thấy đức tin.” Hãy nói: “Dù không cảm thấy, tôi vẫn chọn tin.” Đừng nói: “Tôi không thấy đường.” Hãy nói: “Người biết đường.” Đừng nói: “Tôi không biết ngày mai sẽ thế nào.” Hãy nói: “Ngày mai đã ở trong tay Cha tôi.”
Và khi cuộc chiến trở nên dữ dội, khi cám dỗ đến dồn dập, khi con thấy bản thân như một thành trì sắp bị phá, đừng hoảng. Hãy thu tâm lại. Hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Đừng tranh luận nhiều với bóng tối. Hãy gọi Ánh Sáng. Đừng đo sức kẻ thù. Hãy nhớ quyền năng của Đấng đang ở bên con. Hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con không tín nhiệm vào sức riêng của con. Con không cậy vào quyết tâm của con. Con không cậy vào kinh nghiệm của con. Con không cậy vào sự sốt sắng của con. Con cậy vào Chúa. Chính Chúa đã gọi con. Chính Chúa đã cứu con. Chính Chúa đã đưa con đi đến đây. Xin Chúa tiếp tục công trình của Chúa trong con. Nếu con phải chiến đấu, xin cho con chiến đấu trong Chúa. Nếu con phải chịu đau, xin cho con chịu trong Chúa. Nếu con ngã, xin kéo con đứng dậy. Nếu con thắng, xin giữ con khỏi kiêu ngạo. Xin đừng để con bao giờ lìa khỏi tay Chúa.”
Rồi con cứ bước. Không cần biết mình sẽ mạnh đến đâu ngày mai. Chỉ cần trung thành hôm nay. Không cần hứa với Chúa những lời quá lớn lao. Chỉ cần nắm lấy Người trong giây phút này. Đời sống thánh thiện không được xây bằng những cơn hăng hái lớn lao nhưng bằng hàng ngàn hành vi tín thác nhỏ bé. Mỗi ngày một chút. Mỗi cám dỗ một lời kêu cầu. Mỗi thất bại một lần đứng dậy. Mỗi nỗi sợ một lần trao phó. Mỗi bất an một lần quay mắt về thập giá. Dần dần, linh hồn sẽ học được một bí mật kỳ diệu: mình vẫn yếu như thế, nhưng không còn sợ sự yếu đuối của mình như trước, bởi đã biết một Đấng mạnh hơn đang ở cùng mình.
Đến lúc ấy con sẽ hiểu rằng bình an không đến từ việc chắc chắn mình sẽ không bao giờ ngã. Bình an đến từ việc biết rằng nếu ngã, con biết phải chạy về đâu. Hy vọng không đến từ việc thấy mình đã hoàn thiện. Hy vọng đến từ việc biết rằng Đấng đang hoàn thiện con không bỏ dở công trình của Người. Sự can đảm không đến từ việc không còn sợ hãi. Nó đến từ việc giữa sợ hãi, con vẫn tin rằng bàn tay Chúa mạnh hơn bàn tay đang kéo con xuống.
Vậy hãy giữ thật chặt hai khí giới đầu tiên này, đừng bao giờ tách chúng ra: bất tín nhiệm vào mình và tín thác vào Thiên Chúa. Nếu chỉ bất tín nhiệm vào mình, con sẽ gục xuống trong thất vọng. Nếu chỉ nói tín thác vào Chúa mà vẫn âm thầm tự mãn về mình, con sẽ sống trong ảo tưởng. Nhưng khi hai điều ấy đi cùng nhau, linh hồn được đặt vào đúng chỗ của nó: nhỏ bé trước mặt Thiên Chúa, nhưng không sợ hãi; yếu đuối, nhưng đầy hy vọng; nghèo nàn, nhưng được ôm trong sự giàu có của ân sủng; biết mình có thể ngã bất cứ lúc nào, nhưng cũng biết chẳng có vực sâu nào sâu hơn lòng thương xót của Thiên Chúa.
Hỡi linh hồn, đừng sợ vì con yếu. Chỉ sợ khi con yếu mà lại không chạy đến Chúa. Đừng sợ vì cuộc chiến dài. Chỉ sợ khi con muốn chiến đấu một mình. Đừng sợ vì những cám dỗ mạnh. Chỉ sợ khi con quên Đấng mạnh hơn mọi cám dỗ. Và đừng bao giờ để những thất bại trong quá khứ trở thành lời tiên tri cho tương lai. Quá khứ nói rằng con yếu. Thập giá nói rằng con được yêu. Quá khứ nói rằng con đã ngã. Phục Sinh nói rằng Thiên Chúa có thể dựng người chết đứng lên. Quá khứ nói rằng con đã nhiều lần bất trung. Tin Mừng nói rằng Người vẫn trung tín. Vậy từ hôm nay, mỗi khi lòng con run sợ, hãy lập lại cho đến khi câu ấy trở thành nhịp thở của linh hồn: “Con không thể, nhưng Chúa có thể. Con không mạnh, nhưng Chúa mạnh. Con không biết đường, nhưng Chúa biết. Con không giữ nổi chính mình, nhưng Chúa có thể giữ con. Lạy Chúa Giêsu, xin chiến đấu cho con, xin chiến thắng trong con, và xin đừng bao giờ để con rời khỏi Chúa.”
Đó là khí giới thứ hai. Và người nào học được cách sử dụng khí giới ấy sẽ dần khám phá một điều mà thế gian không thể hiểu: sức mạnh lớn nhất của linh hồn không nằm ở chỗ nó cảm thấy mình mạnh, nhưng ở chỗ giữa tất cả sự yếu đuối của mình, nó biết dựa hoàn toàn vào Thiên Chúa.
CHƯƠNG 4
LÀM SAO BIẾT MÌNH ĐANG SỐNG TRONG SỰ BẤT TÍN NHIỆM VÀ TÍN THÁC THẬT?
Có một điều rất dễ lầm trong đời sống thiêng liêng: chúng ta có thể nói rất nhiều về sự khiêm nhường, có thể thường xuyên thú nhận rằng mình yếu đuối, có thể đọc những lời kinh rất hay về sự phó thác, có thể nhiều lần thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con chẳng làm được gì nếu không có Chúa”, nhưng tất cả những lời ấy vẫn chưa đủ để chứng minh rằng chúng ta thật sự đã bất tín nhiệm vào chính mình và thật sự tín thác vào Thiên Chúa. Bởi vì con người có thể nói mình yếu mà trong sâu thẳm vẫn tin mình mạnh; có thể nói mình phó thác mà thực ra vẫn muốn tự mình kiểm soát mọi sự; có thể xin Chúa giúp nhưng trong lòng lại ngầm nghĩ rằng điều quyết định cuối cùng vẫn là khả năng, ý chí, kinh nghiệm và sự khôn ngoan của mình. Vì thế, muốn biết một linh hồn đang đứng ở đâu trên con đường này, đừng chỉ nhìn lúc nó cầu nguyện sốt sắng, đừng chỉ nhìn lúc nó thắng được một cơn cám dỗ, cũng đừng chỉ nhìn khi mọi việc đang thuận lợi. Hãy nhìn nó vào lúc nó sa ngã. Chính sau một lần vấp ngã, sự thật trong lòng người thường lộ ra rõ hơn bất cứ lúc nào khác. Khi chưa sa ngã, ai cũng có thể tưởng mình khiêm nhường. Khi chưa thất bại, ai cũng có thể nói mình hoàn toàn cậy dựa vào Chúa. Nhưng khi đã phạm một lỗi mà mình từng thề sẽ không bao giờ phạm nữa, khi đã nổi nóng sau bao nhiêu lần quyết tâm hiền lành, khi đã buông một lời làm đau người khác dù trước đó vừa cầu xin Chúa giữ miệng lưỡi mình, khi lại quay về với một thói quen xấu mà mình tưởng đã thắng được, khi sau bao ngày sốt sắng bỗng thấy tâm hồn khô khan, ích kỷ, nguội lạnh và đầy những điều mình không muốn thấy nơi chính mình, thì lúc ấy linh hồn mới thực sự biết nền móng của mình đang đặt ở đâu. Nếu nền móng đặt trên chính mình, sự sa ngã sẽ làm cả căn nhà rung chuyển. Nếu nền móng đặt trên Thiên Chúa, sự sa ngã tuy làm linh hồn đau đớn, hổ thẹn và thống hối, nhưng không thể làm nó tuyệt vọng.
Dấu hiệu rõ ràng nhất của một linh hồn đang học sống trong sự bất tín nhiệm là thế này: khi sa ngã, nó không ngạc nhiên quá mức về sự yếu đuối của mình. Nó buồn vì đã xúc phạm đến Chúa, nhưng không kinh ngạc như thể một điều không thể tưởng tượng vừa xảy ra. Nó đau vì đã làm Chúa buồn, nhưng không nói trong lòng: “Sao tôi lại có thể như thế được? Sao tôi lại tệ đến thế? Tôi tưởng tôi đã khác rồi chứ!” Chính những câu nói tưởng như là biểu hiện của lòng thống hối ấy nhiều khi lại che giấu một thứ kiêu ngạo rất tinh vi. “Sao tôi lại có thể làm như vậy?” Nghĩa là trong sâu thẳm, tôi đã từng nghĩ rằng tôi không thể như vậy. “Tôi tưởng tôi đã khá hơn rồi.” Nghĩa là tôi đã lén đặt niềm tin nơi sự tiến bộ của mình. “Bao nhiêu năm sống đạo mà tôi vẫn còn thế này sao?” Nghĩa là tôi đã tưởng thời gian, kinh nghiệm và những việc đạo đức đủ làm cho tôi đứng vững. Chính vì thế, có những người sau khi phạm một lỗi nhỏ lại xao động hơn cả khi người khác phạm một lỗi lớn. Không hẳn vì họ yêu Chúa nhiều hơn, nhưng có khi vì hình ảnh đẹp về chính mình vừa bị tổn thương. Họ không chịu nổi việc phải nhìn thấy mình yếu như thế. Họ đau không chỉ vì đã làm điều sai, mà còn vì cái “tôi tốt lành” mà họ âm thầm xây dựng bấy lâu bỗng bị nứt ra. Sự bất tín nhiệm thật thì khác. Nó đã biết từ trước rằng nếu Chúa không giữ, mình có thể sa vào bất cứ điều gì. Nó không dùng sự yếu đuối ấy để dễ dãi với tội lỗi, nhưng nó không ảo tưởng về chính mình. Vì thế, khi ngã, nó thưa: “Lạy Chúa, đây chính là con khi không có Chúa. Con đã thấy rồi. Con không còn gì để khoe nữa. Xin Chúa thương con.” Và rồi nó đứng dậy.
Đây là một điều phải ghi thật sâu trong lòng: một linh hồn thật sự bất tín nhiệm vào mình không phải là linh hồn không bao giờ ngã, nhưng là linh hồn mỗi lần ngã lại càng ít dựa vào mình hơn. Một linh hồn thật sự tín thác vào Chúa không phải là linh hồn không bao giờ khóc sau khi phạm tội, nhưng là linh hồn dù khóc vẫn không rời mắt khỏi lòng thương xót. Có thứ nước mắt dẫn người ta đến với Chúa, nhưng cũng có thứ nước mắt chỉ làm người ta quay cuồng quanh chính mình. Có thứ đau buồn là của Thánh Thần, làm tâm hồn mềm ra, khiêm tốn hơn, dịu dàng hơn, sẵn sàng trở về hơn. Nhưng cũng có thứ đau buồn phát sinh từ tự ái bị thương, khiến người ta cáu gắt với bản thân, chán ghét chính mình, mất bình an, muốn trừng phạt mình, muốn buông xuôi, hoặc muốn lập tức chứng minh rằng mình vẫn còn tốt. Hai thứ đau buồn ấy bề ngoài có thể giống nhau, nhưng hoa trái thì hoàn toàn khác. Đau buồn đến từ Thiên Chúa làm người ta trở về. Đau buồn của lòng kiêu ngạo làm người ta đóng kín. Đau buồn thánh thiện nói: “Con đã phạm tội. Lạy Chúa, xin thương xót con.” Đau buồn của tự ái nói: “Tôi thật không thể chấp nhận nổi chính tôi.” Một bên nhìn lên Thiên Chúa. Một bên chỉ nhìn vào cái tôi bị vỡ.
Vì thế, sau mỗi lần sa ngã, hãy nhìn thật kỹ phản ứng đầu tiên trong lòng mình. Nếu con lập tức tuyệt vọng, nếu con nghĩ mọi sự đã hỏng, nếu con thấy không còn muốn cầu nguyện nữa, nếu con tránh Chúa vì xấu hổ, nếu con nghĩ rằng sau những gì mình vừa làm thì Chúa chắc cũng không muốn nghe mình, con phải hiểu rằng ở một nơi nào đó trong lòng, con vẫn đang dựa vào chính mình. Bởi nếu con thực sự đã biết mình yếu, thì việc thấy mình yếu không thể là một khám phá làm con sụp đổ. Nếu con thực sự đã đặt hy vọng nơi lòng thương xót Chúa, thì tội lỗi của con tuy đáng ghét, tuy phải ăn năn, tuy phải sửa đổi, nhưng không thể lớn hơn lòng thương xót của Ngài. Có người tưởng tuyệt vọng sau khi phạm tội là dấu chỉ của một lương tâm tế nhị. Không hẳn. Đôi khi đó chỉ là một hình thức khác của kiêu ngạo. Người khiêm nhường thật không kinh ngạc vì mình có khả năng sa ngã; họ chỉ kinh ngạc vì Thiên Chúa vẫn còn kiên nhẫn với họ. Người khiêm nhường thật không nói: “Tôi không thể tha thứ cho mình.” Họ biết vấn đề không phải là họ có tha thứ cho chính mình hay không, nhưng là họ có để Thiên Chúa tha thứ cho họ hay không. Và người khiêm nhường thật không ngồi mãi bên đống tro của thất bại để than khóc cho hình ảnh đã mất về mình. Họ đứng dậy, phủi bụi, quỳ xuống, xưng thú điều mình đã làm, xin ơn tha thứ, rồi tiếp tục bước đi.
Nhưng cũng có một thái cực khác, tinh vi không kém: đó là bào chữa cho mình. Có những linh hồn khi phạm lỗi không tuyệt vọng, nhưng cũng không nhận lỗi cách đơn sơ. Họ tìm ngay một lý do. “Tại người ấy làm tôi nóng.” “Tại hôm nay tôi mệt.” “Tại người ta cư xử quá đáng.” “Tại hoàn cảnh như vậy ai mà chẳng thế.” “Tại tôi bị tổn thương trước.” “Tôi đâu có cố ý.” Những điều ấy có thể phần nào đúng. Hoàn cảnh có ảnh hưởng. Thể xác mệt mỏi có thể làm ta dễ cáu. Những vết thương quá khứ có thể khiến phản ứng của ta mạnh hơn. Người khác có thể thật sự đã sai. Nhưng một linh hồn muốn sống trong chân lý phải học phân biệt giữa việc hiểu nguyên nhân và việc bào chữa. Hiểu nguyên nhân giúp ta sửa mình. Bào chữa giúp ta trốn khỏi sự thật. Người khiêm nhường có thể nói: “Tôi mệt nên tôi dễ nổi nóng hơn, nhưng lời tôi nói vẫn là lời tôi đã chọn nói. Lạy Chúa, xin tha cho con.” Người tự bảo vệ mình lại nói: “Nếu họ không làm thế thì tôi đã chẳng nổi nóng.” Câu thứ nhất dẫn đến hoán cải. Câu thứ hai chuyển trách nhiệm sang người khác.
Bào chữa là dấu hiệu của một cái tôi vẫn muốn giữ lấy hình ảnh tốt đẹp của mình bằng mọi giá. Chúng ta không thích bị nhìn thấy là sai, ngay cả trước mặt chính mình. Thế nên ta dựng lên đủ thứ lập luận để chứng minh rằng lỗi của mình “cũng có lý do”. Nhưng Thiên Chúa không cần ta bảo vệ danh dự của mình trước mặt Ngài. Ngài đã biết hết. Ngài biết hoàn cảnh, biết những vết thương, biết mức độ tự do của ta, biết từng yếu tố mà chính ta còn chưa hiểu. Ngài không phải một quan tòa bất công cần ta tranh luận để được giảm án. Điều Ngài chờ đợi chỉ là sự thật. “Vâng, lạy Chúa, con đã sai.” Chỉ một câu ấy thôi, nếu nói bằng một trái tim thật, đã giải thoát linh hồn khỏi biết bao vòng quanh vô ích. Chúng ta mệt mỏi rất nhiều không phải vì nhận lỗi, mà vì cố chứng minh mình không hoàn toàn có lỗi. Khi ta thôi tự bào chữa, lòng ta nhẹ đi. Khi ta thôi dựng hàng rào bảo vệ cái tôi, ân sủng bắt đầu đi vào.
Rồi còn một dấu hiệu nữa tưởng rất tốt nhưng thực ra rất đáng đề phòng: sau khi sa ngã, linh hồn nói với mình: “Lần sau tôi sẽ cố gắng hơn.” Câu nói ấy không phải lúc nào cũng sai. Dĩ nhiên đời sống thiêng liêng đòi hỏi nỗ lực. Không ai có thể lấy sự tín thác làm cớ để lười biếng. Nhưng vấn đề nằm ở chữ “tôi”. “Lần sau tôi sẽ cẩn thận hơn. Tôi sẽ không để chuyện này tái diễn. Tôi sẽ mạnh hơn. Tôi sẽ kiểm soát mình.” Nếu đó là toàn bộ kế hoạch, linh hồn đang xây lại đúng căn nhà vừa sập bằng chính vật liệu đã làm nó sập. Nó vừa được chứng minh rằng sức riêng không đủ, nhưng thay vì chạy đến với Chúa, nó chỉ quyết tâm dùng sức riêng nhiều hơn. Điều ấy giống như một người vừa ngã xuống nước vì không biết bơi, sau khi được kéo lên lại nói: “Lần sau tôi sẽ quẫy tay mạnh hơn.” Không. Điều cần học trước hết không phải là quẫy mạnh hơn, nhưng là biết bám vào bàn tay cứu mình.
Người thật sự tín thác sẽ nói khác: “Lạy Chúa, lần này con lại thấy rõ rằng nếu Chúa không giữ con, con sẽ ngã. Xin đừng để con rời tay Chúa. Con sẽ làm phần của con, con sẽ tránh dịp tội, con sẽ tỉnh thức, con sẽ sửa điều cần sửa, nhưng con không tin vào những quyết tâm của con nữa. Con tin vào Chúa.” Đó là một sự thay đổi rất nhỏ trong ngôn ngữ nhưng rất lớn trong linh hồn. Trước kia: “Con nhất định sẽ không ngã nữa.” Bây giờ: “Lạy Chúa, xin giữ con để con khỏi ngã.” Trước kia: “Con sẽ thắng cám dỗ này.” Bây giờ: “Lạy Chúa, xin chiến đấu trong con.” Trước kia: “Con phải trở nên tốt hơn.” Bây giờ: “Lạy Chúa, xin làm nơi con điều con không thể tự làm.” Và nghịch lý là chính khi không còn tin thái quá vào mình, con người lại bắt đầu chiến đấu mạnh mẽ hơn, bền bỉ hơn, thực tế hơn, bởi họ không còn phí sức để bảo vệ hình ảnh của mình. Họ chỉ còn một việc: cộng tác với ân sủng.
Hãy để ý điều này nữa: một linh hồn biết bất tín nhiệm vào mình và tín thác vào Chúa thường có một sự bình an rất đặc biệt ngay giữa sự thống hối. Đây không phải thứ bình an của người coi nhẹ tội lỗi. Không phải bình an giả tạo của người nói: “Không sao đâu, ai cũng yếu mà.” Không phải. Tội vẫn là tội. Điều sai vẫn phải gọi là sai. Có những hậu quả phải sửa. Có những lời xin lỗi phải nói. Có những dịp tội phải cắt bỏ. Có những thói quen phải chiến đấu rất lâu. Nhưng bên dưới tất cả những đau đớn ấy vẫn có một sự bình an: “Chúa vẫn còn đây.” Tôi đã ngã, nhưng Chúa không ngã. Tôi đã đổi thay, nhưng lòng thương xót Chúa không đổi thay. Tôi bất trung, nhưng Ngài vẫn trung tín. Tôi không giữ được lời mình hứa, nhưng Ngài vẫn giữ lời Ngài đã hứa. Chính sự bình an ấy là dấu hiệu rất quý. Nó không làm linh hồn lười biếng; trái lại, nó làm linh hồn đủ sức để đứng lên.
Ma quỷ rất sợ kiểu linh hồn này. Nó không sợ mấy những người chưa bao giờ ngã, bởi có khi những người ấy chỉ chưa gặp đủ thử thách. Nó sợ những người ngã mà biết đứng lên ngay. Nó sợ một linh hồn không dùng thất bại để rời khỏi Thiên Chúa, nhưng biến chính thất bại thành lý do để chạy đến gần Thiên Chúa hơn. Nó cám dỗ con phạm tội, nhưng nếu con phạm tội rồi lại khiêm tốn hơn, cậy trông hơn, bám Chúa hơn, thì âm mưu của nó bị đảo ngược. Nó muốn lần sa ngã ấy làm con xa Chúa. Nhưng nếu con dùng chính lần sa ngã ấy để khám phá sâu hơn sự yếu đuối của mình và lòng thương xót của Ngài, thì điều ma quỷ định dùng để phá con lại trở thành một trường học của sự khiêm nhường. Điều này không có nghĩa là ta được phép coi nhẹ việc sa ngã. Không bao giờ được cố tình phạm tội rồi nói rằng sau đó mình sẽ học khiêm nhường. Đó là xúc phạm đến ân sủng. Nhưng khi sự sa ngã đã xảy ra, điều khôn ngoan nhất là không cho phép ma quỷ hưởng thêm một chiến thắng thứ hai bằng cách đẩy ta vào tuyệt vọng.
Nhiều khi chiến thắng thứ hai của ma quỷ còn nguy hiểm hơn chiến thắng thứ nhất. Chiến thắng thứ nhất là làm ta phạm lỗi. Chiến thắng thứ hai là làm ta nghĩ rằng vì đã phạm lỗi nên không còn xứng đáng trở về. Nó thì thầm: “Thôi, mày giả hình lắm. Vừa mới cầu nguyện xong mà lại như vậy. Thôi đừng cầu nguyện nữa.” Hoặc: “Bao nhiêu lần rồi mà vẫn tái phạm, Chúa cũng chán mày thôi.” Hoặc: “Mày không thay đổi được đâu.” Những lời ấy nghe như sự thật vì chúng dựa vào một phần sự thật: đúng, ta yếu; đúng, ta đã tái phạm; đúng, ta đã không trung thành. Nhưng kết luận của ma quỷ là dối trá. Từ “con yếu” nó dẫn đến “hãy xa Chúa”. Còn Thánh Thần từ cùng một sự thật ấy lại dẫn đến: “Vì con yếu, hãy đến gần Chúa hơn.” Đây là hai hướng hoàn toàn trái ngược. Ma quỷ dùng sự thật về sự yếu đuối của ta để gieo tuyệt vọng. Thiên Chúa dùng chính sự thật ấy để dạy ta khiêm nhường và tín thác.
Hãy nhớ dụ ngôn người con hoang đàng. Điều cứu người con ấy không phải là một bản kế hoạch hoàn hảo để từ nay sống không sai lỗi nữa. Điều cứu anh trước hết là quyết định đứng dậy và trở về nhà cha. “Tôi sẽ trỗi dậy và đi về cùng cha tôi.” Đó là bước quan trọng. Người con có thể còn bẩn, còn mùi chuồng heo, còn xấu hổ, còn không biết cha sẽ phản ứng thế nào; nhưng anh quay về. Người cha chạy ra. Đây chính là hình ảnh của đời sống thiêng liêng. Sau khi phạm tội, đừng ngồi trong chuồng heo phân tích mãi xem tại sao mình lại rơi xuống đó. Hãy đứng dậy. Có thời gian để xét mình, có thời gian để hiểu nguyên nhân, có thời gian để sửa đổi. Nhưng việc đầu tiên vẫn là trở về với Cha. Đừng đợi đến khi cảm thấy xứng đáng mới trở về, vì chính việc trở về mới làm con được phục hồi.
Thánh Phêrô cũng là một trường học lớn về điều này. Ông đã từng tin vào chính mình rất nhiều. Khi Chúa nói các môn đệ sẽ vấp ngã, ông quả quyết: dù mọi người có vấp ngã, con cũng không. Khi Chúa báo ông sẽ chối Thầy, ông còn mạnh mẽ hơn: dù phải chết với Thầy, con cũng không chối. Những lời ấy xuất phát từ tình yêu thật, nhưng tình yêu ấy còn pha rất nhiều tự tin. Phêrô chưa biết Phêrô. Và Chúa để cho một cô đầy tớ làm điều mà cả đạo binh Rôma chưa chắc làm được: khiến vị tông đồ mạnh miệng ấy run sợ và chối Thầy. Ba lần. Nhưng điều kỳ diệu là sau biến cố đó, Phêrô không còn là một Phêrô tự tin như trước. Ông vẫn yêu Chúa, thậm chí yêu sâu hơn, nhưng tình yêu ấy đã đi qua nước mắt. Sau này khi Chúa hỏi: “Con có yêu Thầy không?”, Phêrô không còn nói như người bảo đảm chắc chắn cho tương lai của mình. Ông thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Ông trao việc biết lòng mình cho Chúa. Chính ở đó, Phêrô trở nên vững hơn. Không phải vì ông tin mình hơn, nhưng vì ông không còn tin mình như trước.
Vì thế, nếu muốn biết mình đang tiến bộ trong sự bất tín nhiệm và tín thác hay chưa, hãy hỏi: sau mỗi lần ngã, tôi đi về đâu? Tôi quay vào trong mình để nghiền ngẫm sự thất bại, hay quay lên Chúa? Tôi có để nỗi xấu hổ làm mình trốn tránh Chúa không? Tôi có trì hoãn việc cầu nguyện vì cảm thấy mình “không xứng” không? Tôi có đợi đến khi tâm hồn khá hơn rồi mới đến với Chúa không? Nếu có, ta vẫn chưa hiểu lòng thương xót. Người bệnh không cần khỏe rồi mới đến thầy thuốc. Người bẩn không cần sạch rồi mới bước vào dòng nước. Kẻ tội lỗi không cần trở nên tốt trước rồi mới đến với Đấng Cứu Độ. Chính vì không thể tự cứu mình nên mới cần Đấng Cứu Độ.
Có người nói: “Nhưng nếu cứ nghĩ Chúa sẽ tha, chẳng phải tôi sẽ dễ phạm tội hơn sao?” Không. Người thật sự chạm đến lòng thương xót không trở nên dễ dãi với tội. Ngược lại, họ ghét tội sâu hơn, không phải vì tội làm họ mất hình ảnh tốt đẹp trước mặt mình, nhưng vì tội làm tổn thương tình yêu đã tha thứ cho họ quá nhiều. Một đứa con chỉ sợ hình phạt có thể ngừng làm điều xấu khi roi còn giơ lên. Nhưng một đứa con biết mình được yêu sẽ đau vì đã làm buồn người yêu mình. Tín thác không làm giảm sự thống hối. Tín thác làm sự thống hối trở nên tinh ròng. Ta không còn chỉ hối tiếc vì mình thất bại; ta đau vì đã không đáp lại một tình yêu quá lớn.
Một dấu hiệu khác của tín thác thật là linh hồn không đo lòng thương xót Chúa bằng cảm xúc của mình. Có những ngày sau khi xưng tội, ta vẫn cảm thấy nặng. Có những lỗi dù đã được tha vẫn còn làm ta xấu hổ khi nhớ lại. Có những quá khứ không dễ biến mất khỏi trí nhớ. Nếu lúc ấy ta nói: “Tôi vẫn thấy dơ bẩn, vậy chắc Chúa chưa tha”, thì ta đang đặt cảm xúc của mình cao hơn lời Chúa. Tín thác thật là dám tin điều Thiên Chúa nói ngay cả khi cảm xúc chưa theo kịp. Nếu đã thành tâm sám hối, đã lãnh nhận bí tích hòa giải trong những điều cần thiết, đã trở về, thì hãy để Chúa là Chúa. Đừng bắt Ngài phải tha theo cảm giác của ta. Có khi Thiên Chúa đã tha từ lâu mà ta vẫn cứ tự dựng một nhà tù rồi ngồi trong đó, gọi sự tự kết án của mình là khiêm nhường. Không. Khiêm nhường không phải là phủ nhận điều Thiên Chúa đã làm. Khiêm nhường là tin Ngài hơn tin cảm giác của mình.
Sự bất tín nhiệm thật cũng làm người ta bớt phán xét người khác. Đây là một phép thử rất thực tế. Ai đã thật sự biết mình yếu sẽ khó còn ngạc nhiên thái quá trước sự yếu đuối của anh em. Không phải họ gọi xấu là tốt, nhưng họ không còn dễ dàng nói: “Sao người ấy có thể làm như vậy?” Bởi họ biết trong một hoàn cảnh khác, nếu không có ơn Chúa, chính họ cũng có thể làm điều tương tự, thậm chí tệ hơn. Khi ta còn khắt khe quá mức với người khác, nhiều khi đó là dấu hiệu ta chưa thật sự nhìn thấy đáy yếu đuối của mình. Người đã nhiều lần được Chúa kéo lên khỏi hố sẽ ít đứng trên miệng hố mà ném đá xuống người đang nằm dưới đó. Họ có thể cảnh báo, có thể sửa dạy, có thể nói sự thật, nhưng trong giọng nói sẽ có lòng thương. Bởi họ biết mình sống được đến hôm nay không phải do mình giỏi hơn, mà vì đã được giữ.
Và sự tín thác thật cũng khiến linh hồn biết bắt đầu lại rất nhanh. Một trong những nghệ thuật quan trọng nhất của đời sống thiêng liêng là nghệ thuật bắt đầu lại. Chúng ta thích những đường thẳng đẹp đẽ: quyết tâm, tiến bộ, chiến thắng, thánh thiện. Nhưng con đường thực tế thường ngoằn ngoèo hơn: quyết tâm rồi ngã, đứng dậy rồi tiến, lại ngã, lại đứng dậy. Có lúc ta tưởng mình đang đi lùi, nhưng chính việc biết đứng lên mỗi lần ngã đã là một tiến bộ rất lớn. Đứa trẻ tập đi không học bằng cách không bao giờ ngã; nó học bằng cách ngã rồi đứng dậy đủ nhiều lần. Cha nó không đuổi nó ra khỏi nhà vì nó ngã lần thứ mười. Người cha vui vì nó vẫn đưa tay ra để được nâng dậy. Đời sống với Chúa cũng thế. Thiên Chúa không ngạc nhiên vì sự yếu đuối của con. Chỉ có con mới ngạc nhiên. Ngài biết con được dựng nên từ bụi đất. Ngài biết mọi giới hạn. Điều Ngài muốn là mỗi lần ngã, con đừng chạy khỏi tay Ngài.
Đừng tự đặt cho mình một điều kiện rằng: “Tôi chỉ có thể bình an khi tôi đã sửa được hết.” Nếu thế, có lẽ con sẽ không bao giờ bình an trên đời này. Bình an Kitô giáo không phải là phần thưởng cuối cùng dành cho người đã hoàn hảo. Bình an là hoa trái của việc đặt mình trong tay Thiên Chúa ngay khi còn bất toàn. Con có thể vừa chiến đấu với một thói quen xấu vừa bình an. Con có thể vừa khóc vì một lỗi lầm vừa bình an. Con có thể đang trong quá trình sửa mình mà vẫn bình an, bởi bình an không phát xuất từ việc “tôi đã tốt”, mà từ việc “Chúa vẫn tốt”. Đó là khác biệt rất lớn.
Cũng đừng nghĩ rằng tín thác nghĩa là thụ động. Một người thật sự tín thác không nói: “Chúa sẽ lo hết, tôi khỏi làm gì.” Không. Sau khi ngã, họ sẽ xem lại vì sao mình ngã, dịp nào dẫn mình đến đó, sự bất cẩn nào phải sửa, mối quan hệ nào cần điều chỉnh, thói quen nào cần cắt bỏ. Nếu thường nổi nóng vì quá mệt, họ phải học nghỉ ngơi đúng mức. Nếu thường sa vào một cám dỗ vì cứ bước vào cùng một hoàn cảnh, họ phải tránh hoàn cảnh ấy. Nếu điện thoại là cửa ngõ khiến tâm trí tán loạn hay rơi vào những điều xấu, họ phải đặt giới hạn. Nếu một mối quan hệ làm mình ngày càng xa Chúa, họ phải can đảm xét lại. Tín thác không thay thế sự khôn ngoan. Ân sủng không xóa trách nhiệm. Nhưng khác biệt là người tín thác làm những điều ấy không phải với tâm thế: “Tôi sẽ tự cứu mình”, mà là: “Lạy Chúa, con muốn cộng tác với Chúa.”
Điều đẹp nhất là khi những lần sa ngã dần dần làm linh hồn dịu lại. Trước kia, mỗi khi thất bại, nó nổi giận với chính mình. Sau này, nó biết buồn nhưng không hung dữ với bản thân. Trước kia, nó mất hàng ngày để lấy lại bình an. Sau này, chỉ cần một lời: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con”, nó đã biết đường trở về. Trước kia, nó sợ phải nhìn sự thật về mình. Sau này, nó có thể nhìn thẳng mà không sụp đổ, bởi phía sau sự thật về bản thân là một sự thật còn lớn hơn: Chúa yêu nó. Đây là trưởng thành thiêng liêng. Không phải trở nên mù trước tội, nhưng đủ tin vào tình yêu Chúa để dám nhìn tội mà không chạy trốn.
Có một lời rất nên tập nói sau mỗi lần sa ngã: “Lạy Chúa, con không ngạc nhiên vì con yếu; con chỉ ngạc nhiên vì Chúa vẫn thương con.” Câu ấy có thể chữa rất nhiều sự kiêu ngạo. Bởi ta thường ngạc nhiên sai chỗ. Ta ngạc nhiên vì mình xấu, trong khi đáng lẽ phải ngạc nhiên vì Chúa tốt. Ta sửng sốt vì mình thất hứa, trong khi đáng lẽ phải sửng sốt vì Chúa vẫn trung thành. Ta cứ nhìn mãi vào vực sâu của mình, trong khi vực sâu của lòng thương xót còn lớn hơn nhiều. Nếu cứ nhìn vào mình, hoặc ta sẽ kiêu ngạo khi thấy mình khá, hoặc ta sẽ tuyệt vọng khi thấy mình tệ. Chỉ khi nhìn vào Chúa, ta mới vừa khiêm nhường vừa bình an.
Vậy hãy tự xét mình bằng một câu rất đơn sơ: sau một lần sa ngã, tôi trở nên khiêm nhường hơn hay cay đắng hơn? Nếu khiêm nhường hơn, có thể ân sủng đang làm việc. Tôi cậy dựa vào Chúa hơn hay lại lập thêm những quyết tâm dựa vào ý chí? Nếu cậy dựa vào Chúa hơn, con đường đang đúng. Tôi thương người yếu đuối hơn hay khắt khe hơn? Nếu thương hơn, có lẽ tôi đã học được điều gì đó về bản thân. Tôi trở về cầu nguyện nhanh hơn hay trốn tránh Chúa lâu hơn? Nếu trở về nhanh hơn, lòng tín thác đang lớn lên.
Cuối cùng, đừng đo sự tiến bộ thiêng liêng chỉ bằng số lần con không ngã. Hãy đo bằng tốc độ con trở về với Chúa sau khi ngã; bằng mức độ con bớt ngạc nhiên về sự yếu đuối của mình; bằng mức độ con ít bào chữa hơn; bằng mức độ con bớt tự tin vào những lời hứa của mình và cậy dựa nhiều hơn vào ân sủng; bằng mức độ trái tim con trở nên mềm mại hơn trước lỗi lầm của tha nhân; bằng mức độ con có thể nói trong sự thật: “Con đã sai, nhưng con vẫn tin Chúa yêu con và vẫn có thể làm lại cuộc đời con.” Đó mới là dấu hiệu của sự bất tín nhiệm và tín thác thật.
Hỡi linh hồn, lần tới nếu con lại ngã, đừng nằm đó quá lâu. Đừng tranh luận với chính mình. Đừng dựng tòa án trong đầu rồi vừa làm công tố viên, vừa làm quan tòa, vừa tự tuyên án. Hãy nhìn lỗi của con trong ánh sáng của Chúa. Nhận nó. Ghét nó. Xin tha thứ. Sửa điều phải sửa. Rồi đứng lên. Nếu phải khóc, hãy khóc dưới chân Chúa chứ đừng khóc một mình trong bóng tối của tự ái. Nếu phải hổ thẹn, hãy hổ thẹn trong vòng tay Đấng vẫn gọi con là con. Nếu phải bắt đầu lại một nghìn lần, hãy bắt đầu lại một nghìn lần. Chúa không mỏi mệt vì phải nâng con dậy. Điều đáng sợ không phải là con ngã lần nữa; điều đáng sợ là một ngày nào đó con không còn muốn đưa tay cho Ngài nữa.
Và mỗi khi lòng con bị cám dỗ nghĩ: “Lần này tôi sẽ mạnh hơn”, hãy đổi câu ấy thành một lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, lần này xin Chúa giữ con gần Chúa hơn.” Mỗi khi con muốn nói: “Tôi sẽ không bao giờ phạm lỗi ấy nữa”, hãy thưa: “Lạy Chúa, nếu Chúa không giữ con, con vẫn có thể ngã; xin đừng để con rời khỏi Chúa.” Mỗi khi con nghe tiếng tuyệt vọng nói: “Mày lại thất bại rồi”, hãy đáp: “Đúng, tôi đã thất bại, nhưng Chúa của tôi chưa thất bại.” Mỗi khi tự ái muốn kéo con xuống vì hình ảnh đẹp về con đã bị vỡ, hãy để nó vỡ đi. Có khi chính lúc ấy con mới bắt đầu gặp được con người thật của mình, và cũng chính lúc ấy con mới bắt đầu gặp thật sự Đấng Cứu Độ.
Bởi sau cùng, Chúa không cần con đến với Ngài với một bản thành tích đẹp. Ngài cần sự thật của con. Sự thật rằng con yếu. Sự thật rằng con có thể phản bội chính những quyết tâm tốt đẹp nhất của mình. Sự thật rằng không có Ngài con chẳng đứng vững được bao lâu. Nhưng cùng với sự thật ấy còn có một sự thật khác mà con phải giữ chặt cho đến chết: lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn sự yếu đuối của con. Ân sủng của Ngài sâu hơn vực thẳm của con. Sự trung tín của Ngài bền hơn tất cả những lần con bất trung. Vì thế, con có thể khiêm nhường mà không tuyệt vọng, thống hối mà không tự hủy, nhìn nhận mình yếu mà không bỏ cuộc, bởi đời sống thiêng liêng của con không đặt trên lời hứa rằng “con sẽ không bao giờ ngã nữa”, nhưng đặt trên lời xác tín này: dù con ngã, con sẽ lại chạy về với Chúa; và dù con yếu đến đâu, Chúa vẫn là sức mạnh của con.
CHƯƠNG 5
SAI LẦM CỦA NHIỀU NGƯỜI: COI SỰ HÈN NHÁT LÀ NHÂN ĐỨC
Có một sự lầm lẫn rất tinh vi trong đời sống thiêng liêng, tinh vi đến mức nhiều người mang nó trong mình rất lâu mà vẫn tưởng mình đang sống một nhân đức tốt đẹp. Đó là sự lầm lẫn giữa khiêm nhường và hèn nhát, giữa phó thác và buông xuôi, giữa nhận biết giới hạn của mình và lấy giới hạn ấy làm lý do để không chiến đấu nữa. Hỡi linh hồn, con phải hết sức cẩn thận ở điểm này, bởi vì ma quỷ không phải lúc nào cũng cám dỗ con bằng những điều rõ ràng xấu xa. Có những lúc nó không bảo con phạm tội. Nó cũng không xúi con chống lại Thiên Chúa cách công khai. Nó chỉ gieo vào lòng con một thứ suy nghĩ nghe rất đạo đức: “Con yếu lắm, thôi đừng cố nữa.” “Con không đủ sức đâu, hãy biết thân phận mình.” “Chuyện này vượt quá khả năng của con.” “Con đã thất bại quá nhiều lần rồi, tốt nhất là đừng hy vọng gì nữa.” “Nếu Chúa muốn thì Chúa làm, còn con thì chẳng làm được gì.” Nghe qua, tất cả những câu ấy dường như có vẻ khiêm tốn. Người nói những câu ấy có thể cúi đầu, có thể thở dài, có thể nhìn nhận sự yếu đuối của mình, thậm chí có thể nói rất nhiều về sự bất lực của con người và quyền năng của Thiên Chúa. Nhưng phía sau những lời tưởng như đạo đức ấy, đôi khi lại ẩn giấu một điều hoàn toàn khác: linh hồn không muốn chiến đấu nữa. Nó sợ cố gắng. Nó sợ bị thương. Nó sợ thất bại. Nó sợ phải trả giá. Nó sợ bị từ chối. Nó sợ phải bắt đầu lại. Nó sợ phải bước vào cuộc chiến mà không biết mình có thắng hay không. Và vì không muốn nhận mình là người đang sợ, nó khoác cho nỗi sợ ấy một chiếc áo đẹp hơn rồi gọi đó là “khiêm nhường”. Đây là một trong những sự tự lừa dối nguy hiểm nhất của đời sống nội tâm.
Khiêm nhường thật không bao giờ làm con người trở nên tê liệt. Khiêm nhường thật có thể khiến người ta cúi xuống, nhưng không bao giờ khiến người ta nằm lì dưới đất. Khiêm nhường thật khiến người ta biết mình yếu, nhưng chính vì biết mình yếu nên họ càng bám chặt lấy Thiên Chúa. Khiêm nhường thật không nói: “Tôi yếu nên tôi không làm.” Khiêm nhường thật nói: “Tôi yếu, vì thế tôi không dám làm một mình. Nhưng nếu Chúa muốn, nếu Chúa ở với tôi, tôi sẽ bước.” Đó là sự khác biệt rất lớn. Hèn nhát nhìn thấy sự yếu đuối của mình rồi quay lưng trước bổn phận. Khiêm nhường nhìn thấy sự yếu đuối của mình rồi đưa tay tìm sức mạnh nơi Thiên Chúa. Hèn nhát nói: “Tôi không thể.” Khiêm nhường nói: “Một mình tôi không thể, nhưng trong Chúa tôi sẽ cố gắng.” Hèn nhát trốn khỏi chiến trường. Khiêm nhường bước vào chiến trường với đôi chân run rẩy nhưng với đôi mắt hướng về Chúa. Hèn nhát muốn chắc chắn rằng mình sẽ thắng rồi mới bắt đầu. Khiêm nhường biết mình có thể thất bại, vẫn bắt đầu vì biết rằng điều quan trọng không phải là mình không bao giờ ngã, mà là mình không bao giờ ngừng đứng dậy dưới bàn tay Thiên Chúa. Chính ở đây, chúng ta phải phân biệt thật rõ, bởi nếu không, có khi cả đời chúng ta tưởng rằng mình khiêm nhường, trong khi thực ra chỉ đang sợ hãi.
Con hãy nhìn vào chính đời sống mình. Biết bao lần con đã nói: “Con không làm được.” Nhưng con có thực sự không làm được, hay chỉ là con không muốn trả cái giá để làm? Biết bao lần con đã nói: “Con yếu lắm.” Nhưng sự yếu ấy có thật sự khiến con chạy đến với Chúa, hay chỉ được dùng như một lý do để con khỏi phải thay đổi? Biết bao lần con nói: “Con đã cố gắng nhiều rồi.” Nhưng liệu con đã cố gắng trong ơn Chúa, hay chỉ thử vài lần bằng sức mình rồi thất vọng? Biết bao lần con nói: “Có lẽ Chúa không muốn.” Nhưng có thật Chúa không muốn, hay chỉ vì con không muốn bước qua nỗi sợ? Có những linh hồn rất nhanh chóng dùng hai chữ “ý Chúa” để che đậy sự thiếu can đảm của mình. Một công việc khó khăn vừa xuất hiện, họ lập tức nói: “Nếu Chúa muốn thì tự nhiên mọi sự sẽ thuận lợi.” Nhưng đời sống của các thánh cho thấy điều ngược lại. Có rất nhiều điều Chúa muốn mà con đường đi đến lại đầy thập giá. Có rất nhiều việc đúng ý Chúa nhưng không hề dễ dàng. Có rất nhiều sứ mạng đến từ Chúa nhưng lại khiến người được gọi phải run sợ, phải chiến đấu, phải khóc, phải chịu hiểu lầm, phải bước đi trong đêm tối. Nếu cứ dùng sự thuận lợi làm dấu chỉ duy nhất của ý Chúa, có lẽ chẳng mấy ai trong các thánh đã có thể đi đến cùng con đường của mình.
Hãy nhớ Môsê. Khi được Thiên Chúa gọi, ông lập tức thấy mình không đủ khả năng. Ông nói mình không biết ăn nói. Ông sợ dân không nghe mình. Ông thấy mình quá nhỏ bé trước sứ mạng quá lớn. Những điều ông nói không sai. Ông thực sự có giới hạn. Nhưng Thiên Chúa không bảo ông: “Con nói đúng, vậy thôi khỏi đi.” Ngược lại, Thiên Chúa nói với ông bằng một lời có sức thay đổi tất cả: “Ta sẽ ở với ngươi.” Đó chính là câu trả lời của Thiên Chúa cho mọi sự bất lực của con người. Chúa không luôn luôn cất đi giới hạn của chúng ta trước khi sai chúng ta lên đường. Nhiều khi Ngài để nguyên sự yếu đuối ấy, nhưng ban cho chúng ta chính sự hiện diện của Ngài. Ngài không bảo Môsê rằng ông bỗng trở thành người hùng biện. Ngài không bảo Giêrêmia rằng ông sẽ không còn sợ. Ngài không bảo các Tông đồ rằng họ sẽ không bao giờ gặp bão. Ngài chỉ nói: “Đừng sợ, có Ta ở với con.” Khiêm nhường thật là tin vào lời đó. Hèn nhát thì chỉ nhìn vào mình. Khiêm nhường nhìn vào mình rồi nhìn lên Chúa. Hèn nhát dừng lại ở câu: “Con yếu.” Khiêm nhường đi thêm một bước: “Nhưng Chúa mạnh.” Chính bước thứ hai ấy làm nên tất cả.
Có một điều rất đáng sợ: con người có thể dùng chính sự bất tín nhiệm vào mình một cách sai lạc. Trong đời sống thiêng liêng, chúng ta cần biết rằng tự sức mình, chúng ta chẳng làm được gì. Đó là chân lý. Nhưng chân lý ấy chỉ là một nửa. Nếu con chỉ biết mình yếu mà không biết Chúa mạnh, con sẽ tuyệt vọng. Nếu con chỉ biết mình hư vô mà không biết Thiên Chúa là tất cả, con sẽ nằm yên trong hư vô của mình. Nếu con chỉ nói “tôi chẳng làm được gì” mà không nói tiếp “nhưng Chúa có thể làm mọi sự trong tôi”, thì sự khiêm nhường của con chưa đi đến cùng. Một người thật sự khiêm nhường không bao giờ tự phụ, nhưng cũng không bao giờ coi thường quyền năng của ân sủng. Khi con nói rằng con không thể thay đổi một tật xấu nào cả, con phải tự hỏi: con đang nhìn nhận sự yếu đuối của mình hay đang vô tình phủ nhận sức mạnh của Thiên Chúa? Khi con nói rằng bản tính mình là vậy, không sửa được đâu, con đang khiêm nhường hay đang biến quá khứ thành định mệnh? Khi con nói rằng mình đã nóng tính từ nhỏ nên không thể hiền hơn, rằng mình vốn ích kỷ nên chẳng thể quảng đại, rằng mình vốn yếu đuối trước một cám dỗ nên chắc cả đời vẫn thế, thì con cần cẩn thận. Đừng biến sự yếu đuối thành một thần tượng. Đừng trao cho nó quyền lớn hơn ân sủng. Đừng nói về vết thương của mình như thể Thiên Chúa không còn quyền chữa lành.
Sự hèn nhát thường không xuất hiện dưới hình thức quá rõ ràng. Nó hiếm khi nói thẳng: “Tôi sợ.” Nó thường tìm một lý do đẹp để hợp thức hóa nỗi sợ ấy. Có người nói: “Tôi chỉ muốn sống bình an.” Thật ra họ sợ mọi xáo trộn cần thiết cho sự thay đổi. Có người nói: “Tôi không thích tranh đấu.” Thật ra họ sợ phải đối diện với sự thật. Có người nói: “Tôi tôn trọng người khác.” Nhưng thực ra họ không dám nói một lời cần nói. Có người nói: “Tôi chấp nhận con người mình.” Nhưng thực ra họ không muốn sửa đổi những tính xấu đã làm khổ người khác từ lâu. Có người nói: “Tôi phó thác cho Chúa.” Nhưng thực ra họ đã ngừng cầu nguyện, ngừng cố gắng, ngừng tìm kiếm giải pháp, ngừng làm phần việc của mình. Hỡi linh hồn, con đừng nhầm lẫn những điều đó. Phó thác không phải là khoanh tay. Phó thác là làm hết phần của mình rồi trao kết quả cho Chúa. Phó thác là chiến đấu với tất cả lòng trung thành nhưng không chiếm lấy quyền quyết định kết quả. Phó thác là gieo hạt, tưới nước, nhổ cỏ, canh giữ, rồi tin rằng sự sống cuối cùng đến từ Thiên Chúa. Người phó thác thật có thể rất vất vả. Người ấy có thể làm việc đến kiệt sức, cầu nguyện đến rơi nước mắt, cố gắng từng ngày, sửa mình từng chút, xin lỗi khi sai, bắt đầu lại khi ngã, nhưng trong tất cả những điều ấy, lòng họ không bám vào thành công của chính mình. Họ làm hết sức vì tình yêu, còn kết quả họ để trong tay Chúa.
Hèn nhát thì khác. Hèn nhát muốn dùng Thiên Chúa như một lý do để không phải làm phần việc của mình. Nó nói: “Nếu Chúa muốn tôi hết tật xấu này, Chúa sẽ cất nó đi.” Nhưng Chúa thường muốn con cộng tác. Nó nói: “Nếu Chúa muốn gia đình tôi tốt hơn, Chúa sẽ thay đổi người kia.” Nhưng Chúa có thể đang chờ con thay đổi cách nói chuyện, cách lắng nghe, cách tha thứ. Nó nói: “Nếu Chúa muốn tôi nên thánh, Chúa sẽ làm.” Đúng, Chúa sẽ làm, nhưng Chúa không làm con nên thánh như người ta đẽo một khúc gỗ vô tri. Ngài muốn tự do của con. Ngài muốn lời “xin vâng” của con. Ngài muốn từng lựa chọn nhỏ mỗi ngày của con. Ngài muốn con chống lại cơn nóng giận khi nó vừa xuất hiện. Ngài muốn con rời khỏi một dịp tội dù lòng con còn tiếc. Ngài muốn con đóng màn hình lại khi điều xấu đang lôi kéo. Ngài muốn con cắn môi thay vì nói lời làm tổn thương người khác. Ngài muốn con đứng lên cầu nguyện khi thân xác muốn nằm thêm. Ngài muốn con làm hòa trước ngay cả khi cái tôi nói rằng “người kia phải xin lỗi trước”. Đó là chiến đấu. Và không ai có thể bước trên đường thánh thiện mà không chiến đấu.
Có những người sợ đau khổ đến mức họ gọi sự tránh né của mình là khôn ngoan. Hễ thấy việc gì có thể làm mình đau là lùi lại. Hễ thấy một mối tương quan đòi hỏi hy sinh là tránh. Hễ thấy một trách nhiệm nặng là bỏ. Hễ thấy một lời sửa bảo có thể làm mình mất lòng người khác là im lặng. Hễ thấy một con đường tốt nhưng dài và khó là chọn một con đường dễ hơn rồi tự an ủi: “Chúa hiểu mà.” Dĩ nhiên Chúa hiểu. Chúa hiểu sự yếu đuối của chúng ta hơn chúng ta hiểu chính mình. Nhưng tình yêu của Chúa không phải là thứ tình yêu dung túng cho sự hèn nhát. Chúa thương Phêrô khi ông bước trên mặt nước rồi chìm xuống. Chúa đưa tay kéo ông lên. Nhưng hãy để ý: Phêrô đã bước ra khỏi thuyền. Ông đã dám đặt chân trên sóng. Ông đã dám làm điều không thể bằng lời của Đức Kitô. Ông yếu, ông sợ, ông chìm, nhưng ông đã bước. Có lẽ điều đáng buồn không phải là một Phêrô bước ra rồi chìm. Điều đáng buồn hơn là một Phêrô suốt đời ngồi trong thuyền, nhìn Chúa đi trên mặt nước, rồi tự nói với mình: “Tôi biết thân phận tôi, tôi khiêm nhường nên tôi không bước.”
Đừng sợ sự yếu đuối của con. Hãy sợ việc con dùng sự yếu đuối ấy như một cái cớ. Đừng sợ con run. Can đảm không phải là không run. Can đảm là vẫn bước khi đang run. Đừng sợ con không chắc mình sẽ thành công. Đức tin không phải là bảo đảm rằng điều con muốn sẽ xảy ra; đức tin là tin rằng Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa ngay cả khi điều con mong không xảy ra. Đừng sợ thất bại. Hãy sợ một đời sống không dám thử làm điều tốt vì quá sợ thất bại. Có những thất bại làm con người lớn lên. Có những lần ngã khiến linh hồn khiêm nhường hơn. Có những cánh cửa đóng lại để con nhận ra mình đã dựa quá nhiều vào sức riêng. Có những đêm tối được Chúa dùng để thanh luyện đức tin. Người khiêm nhường không yêu thất bại, nhưng họ cũng không coi thất bại là tận thế. Họ biết rằng Thiên Chúa có thể dùng cả những đổ vỡ để đưa họ đến chỗ sâu hơn.
Một linh hồn hèn nhát thường quá quan tâm đến việc bảo vệ hình ảnh của mình. Nó sợ bắt đầu vì sợ người ta thấy mình vụng về. Nó sợ học vì sợ người ta thấy mình chưa biết. Nó sợ xin lỗi vì sợ bị xem là yếu. Nó sợ hỏi vì sợ người ta nghĩ mình thiếu hiểu biết. Nó sợ thử vì sợ thất bại. Nó sợ yêu vì sợ bị tổn thương. Nó sợ phục vụ vì sợ bị lợi dụng. Nó sợ dấn thân vì sợ mất sự thoải mái. Rồi để che đi tất cả những nỗi sợ ấy, nó có thể dùng một giọng rất khiêm tốn: “Tôi đâu có tài gì.” “Tôi chẳng xứng đáng.” “Tôi không phải người thích hợp.” Có khi đúng. Có khi người ấy thực sự không phải người thích hợp. Nhưng cũng có khi đó chỉ là lòng tự ái đang mặc chiếc áo khiêm nhường. Bởi một điều rất lạ: người thực sự khiêm nhường không quá bận tâm việc mình có trông giỏi giang hay không. Vì họ không cần bảo vệ một hình ảnh hoàn hảo về mình. Nếu vụng về thì nhận mình vụng về. Nếu không biết thì học. Nếu sai thì sửa. Nếu ngã thì đứng lên. Người kiêu ngạo sợ thất bại vì thất bại phá vỡ hình ảnh của họ. Người khiêm nhường có thể thất bại mà không bị phá hủy, bởi nền tảng của họ không nằm trong thành tích của mình.
Đức Maria là một mẫu gương tuyệt vời của sự khiêm nhường không hèn nhát. Khi sứ thần đến, Mẹ không tự cho mình mạnh mẽ. Mẹ không nói: “Tôi đủ sức làm Mẹ Đấng Cứu Thế.” Mẹ hỏi vì không hiểu. Mẹ nhìn nhận sự nhỏ bé của mình. Nhưng khi nhận ra thánh ý Thiên Chúa, Mẹ thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Đó không phải lời của một người yếu đuối theo nghĩa hèn nhát. Đó là một lời can đảm vô cùng. Mẹ không biết mọi chi tiết của tương lai. Mẹ không được đưa cho một bản kế hoạch giải thích từng biến cố sẽ xảy ra. Mẹ không được hứa rằng sẽ không đau. Mẹ chỉ được trao một lời hứa về Thiên Chúa. Và Mẹ bước vào một cuộc đời mà rồi sẽ có Bêlem, có trốn sang Ai Cập, có những năm tháng âm thầm, có sự khó hiểu trước cuộc đời của Con, có con đường lên Núi Sọ, có tiếng búa đóng đinh, có trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu. Khiêm nhường của Đức Maria không làm Mẹ chạy khỏi thập giá. Chính khiêm nhường làm Mẹ đủ tự do để thưa “xin vâng” trước điều lớn hơn sức mình.
Đức Giêsu cũng cho chúng ta thấy rõ rằng sự dịu dàng không phải là hèn nhát, sự hiền lành không phải là yếu đuối. Người hiền lành nhưng dám đối diện những kẻ giả hình. Người thương xót nhưng dám nói sự thật. Người không tìm đau khổ, nhưng khi giờ của thập giá đến, Người không trốn. Tại vườn Cây Dầu, Đức Giêsu không đóng vai một người không biết sợ. Tin Mừng cho chúng ta thấy nỗi đau của Người sâu đến mức mồ hôi như máu. Người cầu xin: “Nếu có thể được, xin cất chén này khỏi con.” Nhưng ngay sau đó: “Đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Chính đây là can đảm thánh thiện. Không phải không cảm thấy nỗi sợ, nhưng đặt sự vâng phục lớn hơn nỗi sợ. Không phải không muốn tránh đau khổ, nhưng sẵn sàng đón nhận nếu tình yêu đòi hỏi. Nếu con nghĩ rằng can đảm là không còn cảm giác sợ hãi, con sẽ chờ cả đời mà không bao giờ can đảm. Bởi can đảm thường chỉ xuất hiện đúng lúc con hành động dù vẫn còn sợ.
Nhiều người chờ đến khi mình cảm thấy mạnh rồi mới chiến đấu với một đam mê. Họ nói: “Khi nào tôi bớt yếu, tôi sẽ bắt đầu.” Nhưng làm sao con bớt yếu nếu con không bắt đầu? Người tập đi không đợi đến lúc đôi chân mạnh rồi mới đứng. Chính việc đứng lên, ngã xuống, đứng lên lại làm chân mạnh. Một nhân đức cũng vậy. Con không đợi đến lúc mình trở nên hiền lành rồi mới kiềm một lời nóng giận. Chính những lần kiềm lại trong đau đớn làm con dần trở nên hiền lành. Con không đợi đến khi mình hoàn toàn trong sạch rồi mới tránh dịp tội. Chính những lần quay mắt đi, những lần đóng cửa lại, những lần kêu tên Chúa trong cám dỗ làm tâm hồn con dần được thanh luyện. Con không đợi đến khi hết ích kỷ mới cho đi. Chính việc cho đi dù lòng còn tiếc làm trái tim được mở rộng. Con không đợi đến khi yêu kẻ thù rồi mới cầu nguyện cho họ. Chính việc cầu nguyện cho người mình chưa thể yêu là con đường làm trái tim từ từ được chữa lành. Đời sống thiêng liêng không phải là chờ cảm xúc phù hợp rồi mới hành động. Rất nhiều khi phải hành động trong đức tin trước, rồi cảm xúc mới từ từ đi theo.
Có một kiểu hèn nhát khác còn khó nhận ra hơn: sợ nhìn thấy sự thật về chính mình. Có người không dám xét mình thật sâu, vì sợ phát hiện những động cơ xấu. Không dám nghe người khác góp ý, vì sợ bị chạm tự ái. Không dám đi xưng tội sau một thời gian dài, vì xấu hổ. Không dám xin giúp đỡ, vì sợ người khác biết mình đang chiến đấu. Không dám đối diện với một vết thương quá khứ, nên cứ để nó âm thầm điều khiển hiện tại. Rồi họ gọi đó là “để mọi sự cho Chúa”. Nhưng Chúa thường chữa lành chúng ta bằng cách đưa chúng ta vào sự thật. Ân sủng không lớn lên trong nơi ta cứ cố giữ bóng tối. Khiêm nhường là dám để ánh sáng soi vào. Khiêm nhường là nói: “Vâng, đó là tôi. Tôi đã sai. Tôi yếu ở chỗ này. Tôi đang bị trói ở đây. Tôi cần giúp đỡ.” Câu nói ấy có thể đau, nhưng nó giải thoát. Hèn nhát luôn cần che đậy. Khiêm nhường không cần che đậy, vì biết rằng mình được yêu ngay cả khi sự thật về mình không đẹp.
Hỡi linh hồn, đôi khi con phải tự hỏi rất nghiêm túc: điều gì đang thực sự ngăn con tiến lên? Có phải con thiếu ân sủng không? Hay con đang thiếu một quyết định? Có phải Chúa không giúp con? Hay con vẫn muốn giữ lại một phần đời sống không muốn trao cho Chúa? Có phải con không thể thay đổi? Hay con vẫn đang nuôi dưỡng chính điều mình cầu xin được giải thoát? Con cầu xin khỏi nóng giận, nhưng con vẫn nghiền ngẫm những xúc phạm người khác làm cho mình. Con cầu xin khỏi bất khiết, nhưng vẫn để mình ở gần những hình ảnh, những nơi chốn, những tình huống làm lòng bốc cháy. Con cầu xin khỏi nói hành, nhưng mỗi ngày vẫn ngồi trong những cuộc chuyện trò nuôi dưỡng sự tò mò và xét đoán. Con cầu xin có đời sống cầu nguyện, nhưng không chịu cắt bớt những giờ vô nghĩa trên màn hình. Con xin Chúa ban bình an, nhưng nhất định không chịu tha thứ. Rồi khi không thay đổi, con kết luận: “Con yếu quá.” Không, có những lúc vấn đề không chỉ là yếu. Có những lúc con chưa muốn chiến đấu thật sự. Phân biệt được điều ấy là một ân huệ lớn.
Chiến đấu không có nghĩa là hung hăng với chính mình. Cũng không có nghĩa là sống trong căng thẳng, lúc nào cũng quan sát mình với sợ hãi. Cuộc chiến thiêng liêng không phải là một cuộc hành xác của bản ngã để chứng minh mình mạnh. Ngược lại, càng tiến sâu, linh hồn càng chiến đấu trong bình an. Nó biết kẻ thù mạnh, nhưng biết Chúa mạnh hơn. Nó biết mình có thể ngã, nhưng biết lòng thương xót luôn mở. Nó không quá kinh ngạc khi thấy mình yếu. Nó không còn nói: “Sao tôi lại có thể như thế?” bởi câu nói ấy nhiều khi chứa kiêu ngạo, như thể trước đó ta tưởng mình phải khá hơn. Linh hồn khiêm nhường nói: “Lạy Chúa, con thấy rồi. Không có Chúa, con thật sự yếu như thế. Xin đừng để con lìa khỏi Chúa.” Và rồi nó đứng lên. Không kịch tính. Không tự kết án. Không nằm đó phân tích mãi sự thất bại. Nó đi xưng tội nếu cần, xin lỗi nếu phải, sửa điều có thể sửa, rồi tiếp tục bước. Đó là sức mạnh của khiêm nhường.
Có người nghĩ rằng người thánh thiện là người không bao giờ sợ. Không phải. Có lẽ người thánh thiện vẫn sợ rất nhiều, nhưng họ không trao quyền quyết định cho nỗi sợ. Các vị tử đạo chắc chắn cảm thấy đau đớn. Những nhà truyền giáo bước vào vùng đất xa lạ chắc chắn có lúc lo lắng. Những người rời bỏ mọi sự để theo tiếng gọi chắc chắn có những đêm trăn trở. Những người dám tha thứ cho kẻ làm mình đau có thể phải chiến đấu với từng dòng ký ức. Những người đứng lên sau tai tiếng, thất bại, mất mát có thể có những ngày chỉ muốn biến mất. Nhưng họ tiếp tục đi. Điều làm họ lớn không phải là trái tim bằng đá, mà là một trái tim mong manh biết tựa vào Thiên Chúa.
Vậy con đừng đợi ngày mình trở thành một người khác rồi mới sống điều Chúa muốn. Hãy bắt đầu với chính con người yếu đuối này. Hãy đem cho Chúa chính sự nhút nhát này. Chính tính dễ nản này. Chính những vết thương này. Chính những lần thất bại này. Chúa không đòi con trở thành mạnh mẽ trước rồi mới đến với Ngài. Ngài muốn con đến để Ngài trở thành sức mạnh của con. Khi con nói: “Con sợ”, hãy nói tiếp: “Nhưng con sẽ bước cùng Chúa.” Khi con nói: “Con không biết phải làm thế nào”, hãy nói tiếp: “Xin Chúa dẫn từng bước.” Khi con nói: “Con có thể thất bại”, hãy nói tiếp: “Nhưng con không muốn vì sợ thất bại mà từ chối điều thiện.” Khi con nói: “Con yếu”, hãy nói tiếp: “Chính vì thế con càng cần Chúa.”
Con cũng phải cẩn thận với một thứ hèn nhát núp dưới cái gọi là “không muốn làm phiền ai”. Có lúc con cần xin người khác giúp. Có lúc phải mở lòng với một linh hướng. Có lúc phải tìm đến một người khôn ngoan. Có lúc phải thưa với cộng đoàn rằng mình đang gặp khó khăn. Nhưng vì xấu hổ, con nói: “Thôi, tôi tự chịu được.” Đó có thể không phải là sức mạnh, mà là tự ái. Người khiêm nhường không ngại cần đến người khác. Thiên Chúa đã dựng nên Hội Thánh, dựng nên cộng đoàn, dựng nên tình huynh đệ, bởi Ngài không muốn chúng ta chiến đấu một mình. Một người té xuống hố mà từ chối bàn tay đưa xuống vì muốn chứng minh mình tự leo lên được không phải là người mạnh mẽ. Người ấy chỉ đang để kiêu ngạo làm cho mình đau lâu hơn.
Và cũng đừng gọi sự thụ động là kiên nhẫn. Kiên nhẫn là tiếp tục làm điều phải làm dù kết quả chưa đến. Thụ động là không làm gì rồi chờ phép lạ. Kiên nhẫn của người nông dân là gieo, tưới, chăm sóc và chờ mùa. Nếu anh ta không gieo gì mà ngồi trước cánh đồng trống, nói “tôi phó thác cho trời”, đó không phải kiên nhẫn. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Con xin được tự do khỏi một thói quen xấu thì phải thay đổi môi trường, phải tránh dịp, phải đặt kỷ luật, phải cầu nguyện, phải bắt đầu lại. Con xin gia đình bình an thì phải học nói lời nhỏ nhẹ, phải biết im đúng lúc, phải xin lỗi, phải bỏ cách tranh thắng. Con xin làm người cầu nguyện thì phải dành thời gian thật. Con xin sống nghèo khó thì phải học từ bỏ một số tiện nghi. Con xin nên thánh mà không muốn từ bỏ điều gì thì đó chỉ là một ước muốn đẹp chứ chưa phải một quyết tâm.
Đừng sợ những quyết tâm nhỏ. Ma quỷ đôi khi làm con nhìn cả con đường rồi nản. Nó bảo: “Cả đời mày không thể sống như thế đâu.” Nhưng Chúa không đòi con sống cả đời trong một phút. Chúa cho con hôm nay. Hôm nay đừng nói lời ấy. Hôm nay tha thứ thêm một chút. Hôm nay cầu nguyện thêm mười phút. Hôm nay tắt điều đang làm con sa ngã. Hôm nay làm một việc mà con đã trì hoãn. Hôm nay xin lỗi. Hôm nay bắt đầu lại. Ngày mai có ơn của ngày mai. Hèn nhát nhìn cả ngọn núi rồi ngồi xuống. Khiêm nhường nhìn bước chân trước mặt và nói: “Lạy Chúa, con đi bước này với Chúa.”
Một người có thể rất mạnh trong mắt người đời mà lại rất hèn nhát trong đời sống thiêng liêng. Họ dám quyết định những chuyện lớn, dám kinh doanh, dám đối đầu, dám tranh luận, nhưng không dám xin lỗi vợ mình. Không dám nhận lỗi với con cái. Không dám thú nhận một tật xấu. Không dám đi xưng tội. Không dám ngồi yên trước Chúa để nhìn vào khoảng trống trong lòng. Ngược lại, có một người bên ngoài rất hiền, rất ít nói, có vẻ yếu, nhưng họ dám chịu một lời xúc phạm mà không trả đũa, dám nói thật khi nói thật có thể làm họ thiệt thòi, dám trung thành với bổn phận khi chẳng ai nhìn thấy, dám tha thứ sau nhiều năm bị tổn thương. Người ấy mới thật sự mạnh. Sức mạnh thiêng liêng không đo bằng tiếng nói lớn hay khả năng thắng người khác. Nó được đo bằng khả năng thắng chính mình trong ân sủng Thiên Chúa.
Hãy tập ghét sự hèn nhát không phải bằng thái độ khinh bỉ bản thân, nhưng bằng tình yêu đối với ơn gọi Thiên Chúa ban cho con. Con được dựng nên cho những điều lớn hơn sự an toàn nhỏ bé của mình. Chúa không cứu con chỉ để con sống một đời co ro, cố tránh mọi vết thương. Người gọi con bước ra. Có thể chỉ là bước ra khỏi một thói quen. Có thể là bước ra khỏi một mối quan hệ độc hại. Có thể là bước ra khỏi sự tự thương hại. Có thể là bước ra khỏi những năm tháng trì hoãn. Có thể là bước ra để phục vụ. Có thể là bước vào một sứ mạng mà con đã né tránh lâu nay. Có thể đơn giản là bước ra khỏi chính mình để nhìn thấy một người đang cần con.
Sẽ có lúc con ngã. Chắc chắn. Nếu con thật sự chiến đấu, sẽ có những lần con thua. Nhưng một người lính bị thương chưa phải là người thua trận. Chỉ khi người ấy bỏ chiến trường mới thực sự thua. Trong đời sống thiêng liêng, thất bại lớn nhất không phải là sa ngã. Thất bại lớn nhất là thôi không đứng dậy. Vì thế, sau mỗi lần ngã, đừng nói: “Con không đủ sức nên thôi.” Hãy nói: “Lạy Chúa, con lại thấy rõ con không đủ sức. Xin Chúa cho con bắt đầu lại.” Sự lặp lại ấy có thể khiến con xấu hổ, nhưng chính nó đào sâu khiêm nhường. Có những vị thánh đã phải chiến đấu với cùng một khuyết điểm trong nhiều năm. Điều làm họ nên thánh không phải là việc họ chưa từng thấy mình yếu, mà là họ không ngừng trao sự yếu ấy cho Chúa.
Cuối cùng, hỡi linh hồn, con hãy nhớ một nguyên tắc rất đơn giản nhưng có thể cứu con khỏi biết bao ảo tưởng: nếu điều con gọi là khiêm nhường làm con gần Chúa hơn, can đảm hơn trong điều thiện, trung thành hơn với bổn phận, dễ xin lỗi hơn, dễ bắt đầu lại hơn, thì đó có thể là khiêm nhường thật. Nhưng nếu nó làm con thu mình lại, ngừng chiến đấu, ngừng hy vọng, ngừng cố gắng, ngừng cầu nguyện và lấy sự yếu đuối làm nơi trú ẩn, thì hãy nghi ngờ nó. Thiên Chúa không bao giờ dẫn linh hồn vào một thứ khiêm nhường làm nó bất động. Khiêm nhường của Tin Mừng luôn mở cửa cho ân sủng. Và ân sủng luôn thúc đẩy con người đi tới.
Vậy khi con yếu, đừng giả vờ mạnh. Nhưng cũng đừng vì yếu mà đầu hàng. Khi con sợ, đừng xấu hổ vì sợ. Nhưng đừng để nỗi sợ làm chủ. Khi con không biết, hãy xin ánh sáng. Khi con không đủ sức, hãy xin sức mạnh. Khi con thất bại, hãy trở lại với lòng thương xót. Khi con bị thương, hãy để Chúa băng bó. Và rồi, dù chậm, dù run, dù phải chống gậy, hãy tiếp tục bước. Bởi sự thánh thiện không thuộc về những người chưa bao giờ yếu đuối. Nó thuộc về những người đã học được một bí mật: càng nhận ra mình yếu, càng bám lấy Đấng mạnh mẽ; càng thấy mình nhỏ bé, càng để Thiên Chúa lớn lên; càng biết mình không thể tự cứu lấy mình, càng can đảm trao đời mình cho Đấng Cứu Độ. Đó mới là khiêm nhường. Đó mới là phó thác. Và đó cũng chính là sự can đảm sâu xa nhất của người Kitô hữu.
CHƯƠNG 6: NHỮNG CÁCH CỤ THỂ ĐỂ NUÔI DƯỠNG SỰ BẤT TÍN NHIỆM VÀ TÍN THÁC
Có những chân lý thiêng liêng ta nghe một lần là hiểu, nhưng phải sống cả đời mới thấm. Sự bất tín nhiệm vào chính mình và sự tín thác vào Thiên Chúa cũng như thế. Ta có thể đọc rất nhiều sách nói về lòng khiêm nhường, có thể thuộc lòng những lời đẹp đẽ về phó thác, có thể nói rất dễ rằng “con chẳng làm được gì nếu không có Chúa”, nhưng từ câu nói ấy đến một đời sống thật sự không dựa vào mình là một khoảng đường rất dài. Bởi vì cái tôi của con người không chết sau một bài suy niệm. Nó không biến mất chỉ vì ta đã nhận ra nó. Nó có thể im lặng một lúc rồi trở lại dưới một hình thức khác tinh vi hơn. Có khi ta không còn khoe khoang bằng lời, nhưng lại âm thầm tin vào sự khôn ngoan của mình. Có khi ta không còn tự hào vì tài năng, nhưng lại cậy vào kinh nghiệm. Có khi ta nói mình yếu đuối, nhưng sâu bên trong vẫn nghĩ rằng nếu mình cố thêm một chút, sắp xếp kỹ thêm một chút, đề phòng tốt thêm một chút, thì mọi chuyện sẽ ổn. Có khi ta cầu nguyện rất nhiều, nhưng trong thực tế vẫn hành động như thể kết quả hoàn toàn tùy thuộc vào mình. Chính vì thế, sự bất tín nhiệm vào bản thân và sự tín thác vào Thiên Chúa không thể chỉ là một tư tưởng để hiểu, mà phải trở thành một tập luyện hằng ngày, một kỷ luật nội tâm, một lối sống được xây bằng những hành vi rất nhỏ, rất âm thầm, rất cụ thể. Nếu không tập từng ngày, ta sẽ trở về với bản năng cũ là dựa vào mình; và nếu không liên tục hướng về Chúa, ta sẽ rất dễ rơi vào một trong hai vực sâu: hoặc tự mãn khi thành công, hoặc tuyệt vọng khi thất bại.
Một trong những cách quan trọng nhất để nuôi dưỡng đời sống này là mỗi tối phải biết xét mình, nhưng không chỉ xét mình theo cách thông thường là hôm nay tôi đã phạm những tội gì, đã nói sai điều gì, đã thiếu bổn phận ở đâu. Những điều đó dĩ nhiên vẫn cần thiết. Nhưng còn một cuộc xét mình sâu hơn, tế nhị hơn, đụng đến tận gốc của đời sống thiêng liêng: hôm nay, trong những việc tôi đã làm, tôi đã dựa vào Thiên Chúa bao nhiêu, và đã dựa vào chính mình bao nhiêu? Câu hỏi ấy có thể làm lộ ra những căn bệnh mà một cuộc xét mình chỉ dừng ở hành vi bên ngoài không bao giờ thấy được. Có thể hôm nay ta không phạm một lỗi nào nghiêm trọng, không gây gổ với ai, không nói điều xấu, vẫn làm đủ việc, vẫn chu toàn bổn phận, thậm chí còn làm được nhiều điều tốt; nhưng nếu mọi việc ấy được làm trong một tâm thế căng cứng, tự lực, muốn kiểm soát, muốn chứng minh, muốn thành công bằng sức riêng, thì bên dưới cái vẻ tốt lành ấy vẫn có một cái tôi rất mạnh đang âm thầm đứng ở trung tâm. Ta có thể làm việc cho Chúa mà không thực sự dựa vào Chúa. Ta có thể phục vụ Giáo Hội mà lòng vẫn bị điều khiển bởi ý riêng. Ta có thể nói về sự quan phòng mà cả ngày lại lo đến mất bình an khi một điều nhỏ không diễn ra đúng ý. Ta có thể dạy người khác phó thác mà chính mình lại hoảng hốt khi một kế hoạch thất bại. Ta có thể khuyên người khác tin Chúa, trong khi lòng mình vẫn chỉ yên khi mọi thứ còn nằm trong tầm tay. Vì vậy, cuối mỗi ngày cần có một khoảng lặng để hỏi thật: hôm nay tôi đã sống như một người con trong tay Cha, hay như một người phải tự gánh cả thế giới trên vai?
Hãy nhìn lại buổi sáng. Khi vừa thức dậy, điều gì xuất hiện đầu tiên trong lòng ta? Công việc? Lo lắng? Những việc phải giải quyết? Những người phải gặp? Những khoản phải lo? Hay một lời thầm thĩ: “Lạy Chúa, ngày hôm nay là của Chúa. Con không biết điều gì đang chờ con, nhưng con xin nhận tất cả từ tay Chúa”? Rất nhiều khi ta bắt đầu ngày sống bằng sự tự lực mà không hề nhận ra. Ta mở mắt là đầu óc đã chạy. Ta tính toán. Ta dự kiến. Ta lo trước. Ta xây những kịch bản. Ta tưởng tượng những rắc rối. Và rồi ta bước vào ngày mới với một nội tâm đã căng lên trước khi bất cứ chuyện gì xảy ra. Đó là dấu hiệu ta đang sống như thể mình phải tự bảo đảm mọi sự. Một linh hồn biết bất tín nhiệm vào mình sẽ bắt đầu khác. Không phải là không lập kế hoạch. Không phải là sống tùy tiện. Nhưng trước khi lập kế hoạch, nó trao chính mình cho Chúa. Trước khi dùng trí khôn, nó nhìn nhận trí khôn ấy là quà tặng. Trước khi dùng sức lực, nó biết sức lực ấy có thể tan biến trong một phút. Trước khi bước ra khỏi phòng, nó biết rằng không phải ý chí mạnh sẽ giữ mình trung thành, mà là ân sủng Chúa. Nó có thể nói rất đơn sơ: “Lạy Chúa, hôm nay nếu Chúa không giữ con, con sẽ ngã. Nếu Chúa không soi sáng, con sẽ sai. Nếu Chúa không làm việc trong con, những gì con làm dù có vẻ đẹp cũng có thể trở thành chuyện của cái tôi. Xin Chúa đi trước con.”
Rồi cuối ngày, hãy nhìn lại những lúc mình bực bội. Sự bực bội thường là một cửa sổ mở ra cho ta thấy mình đang cậy vào ai. Tại sao ta bực? Vì người khác làm không đúng ý mình. Vì công việc không chạy theo kế hoạch. Vì người ta không hiểu mình. Vì mình bị chậm trễ. Vì một điều đáng lẽ phải dễ lại trở nên phức tạp. Vì ai đó không đáp lại như ta mong. Đằng sau những bực bội ấy thường có một niềm tin vô thức rằng mọi sự phải diễn ra theo điều mình thấy là đúng. Ta nghĩ mình biết cách tốt nhất. Ta nghĩ kế hoạch của mình hợp lý. Ta nghĩ người kia phải hiểu. Ta nghĩ kết quả phải đến. Và khi thực tế phá vỡ những dự tính đó, ta mất bình an. Chính lúc ấy, nếu biết tỉnh thức, ta sẽ thấy một phần cái tôi của mình bị lộ ra. Không phải mọi bực bội đều là tội nặng, nhưng nó có thể cho ta biết mình đang bám vào đâu. Hãy hỏi: “Tại sao chuyện này làm tôi mất bình an đến thế? Có phải vì tôi đang muốn làm chủ kết quả không? Có phải tôi đang tin rằng chỉ có cách của tôi mới đúng không? Có phải tôi đang quên rằng Chúa vẫn có thể làm việc ngay trong điều trái ý này không?” Một câu hỏi như vậy nếu được đặt mỗi tối, lâu ngày sẽ làm linh hồn trở nên tinh tế. Ta bắt đầu nhận ra không chỉ những tội lộ liễu, mà cả những chuyển động rất kín của sự tự cậy.
Hãy nhìn lại những lúc thành công. Đây cũng là một cuộc xét mình rất cần thiết. Khi một việc tốt đẹp xảy ra, phản ứng đầu tiên trong lòng ta là gì? Ta có kín đáo tự hài lòng rằng “mình làm được” không? Ta có thấy mình hơn người không? Ta có muốn người khác biết công sức của mình không? Ta có hơi buồn nếu tên mình không được nhắc đến không? Ta có khó chịu nếu người khác được khen nhiều hơn không? Những cảm xúc ấy nhỏ thôi, đôi khi chỉ thoáng qua, nhưng chúng nói rất nhiều. Chúng cho thấy ta vẫn đang chiếm hữu những điều vốn là ân huệ. Một linh hồn lớn lên trong sự bất tín nhiệm vào mình sẽ tập trả lại mọi thành công cho Chúa. Không phải bằng một câu đạo đức ngoài miệng, nhưng trong tận đáy lòng phải biết rằng: nếu hôm nay mình nói được một lời hay, đó là vì Chúa cho trí óc còn sáng; nếu mình làm được một việc tốt, đó là vì Chúa đã cho cơ hội, sức khỏe, hoàn cảnh, con người, thời gian; nếu mình vượt qua được một cám dỗ, đó là vì Chúa đã gìn giữ; nếu mình kiên nhẫn được một lần, đó là vì ân sủng đã nâng mình lên trên bản năng tự nhiên. Người thật sự bất tín nhiệm vào mình không phủ nhận điều tốt nơi mình, nhưng không chiếm lấy điều tốt ấy làm tài sản riêng. Họ nhận nó như người nghèo nhận một món quà. Họ biết món quà đẹp, họ vui, nhưng họ biết nó đến từ đâu.
Rồi hãy nhìn lại những lúc thất bại. Đây là lúc quan trọng hơn cả. Khi mình làm sai, khi một quyết tâm đổ vỡ, khi lại nổi nóng, lại sa vào một thói quen cũ, lại yếu đuối, lại nói điều mình đã hứa sẽ không nói, phản ứng trong lòng ta là gì? Có người buồn vì đã xúc phạm đến Chúa. Nhưng cũng có người buồn chủ yếu vì hình ảnh tốt đẹp về chính mình bị đập vỡ. Hai nỗi buồn ấy bên ngoài có thể giống nhau, nhưng bên trong rất khác. Nếu ta buồn vì thấy mình không tốt như mình tưởng, ta sẽ dễ chán nản, xấu hổ quá mức, tự ghét mình, rồi quyết tâm bằng một thứ ý chí căng cứng: “Lần sau nhất định tôi sẽ không như thế nữa.” Nhưng nếu nỗi buồn phát xuất từ lòng yêu Chúa, ta sẽ khiêm tốn hơn. Ta đau vì đã làm điều không đẹp lòng Người, nhưng đồng thời ta nhận ra một chân lý: “Đây chính là con người của tôi nếu Chúa không gìn giữ.” Và lạ lùng thay, từ chính sự sa ngã ấy, sự bất tín nhiệm vào mình lại được đào sâu và sự tín thác nơi Chúa có thể lớn hơn. Người khôn ngoan trong đời sống thiêng liêng không phí phạm cả những lần ngã. Họ biến chúng thành bài học khiêm nhường. Họ không yêu tội lỗi, nhưng biết dùng chính sự yếu đuối đã xảy ra để phá vỡ ảo tưởng về sức riêng. Họ nói: “Lạy Chúa, con đã tưởng mình mạnh. Hôm nay con thấy mình không mạnh. Xin cảm tạ Chúa vì đã cho con thấy sự thật. Xin tha thứ cho con và xin đừng để con rời tay Chúa.”
Một thực hành khác rất cần là tập xin Chúa giúp trước những việc nhỏ, chứ đừng chỉ chạy đến với Chúa khi gặp chuyện lớn. Ta thường có một thứ phân chia vô thức: chuyện lớn thì cần Chúa, chuyện nhỏ thì tự làm. Khi bệnh nặng ta cầu nguyện. Khi khủng hoảng ta cầu nguyện. Khi không còn đường nào ta mới phó thác. Nhưng những việc thường ngày thì ta tự xử lý. Chính thói quen đó âm thầm huấn luyện linh hồn sống độc lập với Chúa. Muốn xây dựng tín thác, phải làm ngược lại. Trước một cuộc gặp, hãy xin Chúa giúp. Trước một cuộc điện thoại khó, xin Chúa cho lời nói đúng. Trước khi trả lời một tin nhắn làm mình khó chịu, xin Chúa giữ tâm mình. Trước một bài giảng, một buổi dạy, một cuộc họp, một chuyến đi, một quyết định, một cuộc đối thoại trong gia đình, một công việc rất quen thuộc, hãy tập nói: “Lạy Chúa, xin ở với con.” Có thể chỉ một câu thôi. Không cần cảm xúc. Không cần kéo dài. Nhưng hành vi nhỏ ấy nhắc linh hồn rằng mình không phải nguồn sức mạnh của chính mình.
Cũng vậy, sau mỗi việc hãy tập tạ ơn. Xin trước việc làm nuôi dưỡng sự tín thác. Tạ ơn sau việc làm nuôi dưỡng sự bất tín nhiệm vào mình, vì nó nhắc ta rằng điều tốt vừa xảy ra không hoàn toàn thuộc về ta. Người nào tập sống như thế sẽ dần dần có một nhịp thở thiêng liêng: xin Chúa trước khi làm, cảm tạ Chúa sau khi làm. Cả ngày sống trở thành một cuộc đối thoại. Và khi điều không thành, cũng vẫn cảm tạ. Không phải cảm tạ vì thất bại tự nó là tốt, nhưng cảm tạ vì Chúa vẫn ở đó, vì Chúa có thể dùng cả điều ấy, vì ta không cần hiểu mọi sự mới có thể tin. Đây là một mức tín thác cao hơn: cảm tạ không chỉ khi mình được như ý, mà còn khi ý mình bị bẻ gãy.
Hãy tập nghi ngờ những tiếng nói tự phụ trong lòng. Khi trong đầu xuất hiện câu: “Chuyện này tôi biết rồi”, hãy thận trọng. Khi nghĩ: “Việc này dễ, tôi không thể sai được”, hãy thận trọng. Khi nghĩ: “Tôi đã vượt qua chuyện này rồi, nó không còn nguy hiểm với tôi nữa”, càng phải thận trọng. Có nhiều thất bại lớn bắt đầu từ một chút tự tin vô ý thức như thế. Người biết mình yếu không sống trong sợ hãi, nhưng sống tỉnh thức. Họ biết rằng một đam mê tưởng đã chết có thể sống lại. Một vết thương tưởng đã lành có thể đau trở lại. Một cám dỗ tưởng đã vượt qua có thể tìm một cánh cửa khác. Vì thế họ không khinh thường nguy hiểm. Họ không thử sức mình. Họ không cố đứng gần bờ vực để chứng minh mình mạnh. Họ tránh những hoàn cảnh biết rõ sẽ làm mình yếu. Đó không phải hèn nhát. Đó là khôn ngoan. Người không biết bơi mà tránh dòng nước xiết không phải vì người ấy hèn, nhưng vì người ấy biết sự thật về mình.
Đặc biệt, khi bị cám dỗ, đừng đối thoại quá lâu với cám dỗ bằng sức riêng. Có những linh hồn thua trận không phải vì cám dỗ quá mạnh, mà vì họ đứng đó tranh luận với nó quá lâu. Họ nghĩ mình có thể lý luận, có thể kiểm soát, có thể thử xem đến đâu. Nhưng cám dỗ càng được chú ý càng có sức. Khi thấy mình bị kéo về điều xấu, hãy lập tức hướng sang Chúa. Không cần chờ cho lòng mình đạo đức. Không cần chờ cảm thấy xứng đáng. Có thể chỉ nói: “Lạy Chúa Giêsu, cứu con.” “Lạy Chúa, con không chống nổi nếu không có Chúa.” “Xin Chúa chiến đấu trong con.” Những lời ngắn ấy có giá trị không phải vì tự chúng là công thức thần kỳ, nhưng vì chúng chuyển điểm tựa của linh hồn từ bản thân sang Thiên Chúa. Cám dỗ muốn ta nhìn vào nó hoặc nhìn vào sức mình. Đức tin khiến ta nhìn lên Chúa.
Một thực hành rất quý nữa là tập chấp nhận những giới hạn của mình mà không nổi loạn. Người cậy vào mình thường rất khó chịu với giới hạn. Ta muốn làm nhiều hơn sức khỏe cho phép. Ta muốn mọi người hiểu mình. Ta muốn trí nhớ tốt hơn. Ta muốn tuổi tác không ảnh hưởng đến mình. Ta muốn thân xác luôn nghe lời. Ta muốn tinh thần luôn sáng. Ta muốn cầu nguyện lúc nào cũng sốt sắng. Ta muốn mình không bao giờ mệt. Nhưng chính những giới hạn ấy đôi khi là trường học mà Thiên Chúa dùng để dạy ta bất tín nhiệm vào mình. Một cơn mệt có thể dạy ta rằng sức khỏe không phải của riêng ta. Một lần quên có thể dạy ta rằng trí óc không phải tuyệt đối. Một lần bất lực trước tình huống có thể dạy ta rằng ta không phải Đấng Cứu Thế. Một lần bị hiểu lầm có thể dạy ta rằng danh dự của mình không cần được bảo vệ bằng mọi giá. Một kế hoạch bị phá vỡ có thể dạy ta rằng tương lai không nằm trong tay ta. Nếu biết đón nhận, rất nhiều điều gây khó chịu mỗi ngày sẽ trở thành những bài tập thiêng liêng vô cùng quý giá.
Ta cũng cần tập để người khác giúp mình. Đây là một cách rất thực tế để phá vỡ tự mãn. Có người sẵn sàng giúp cả thế giới nhưng lại không muốn ai giúp mình. Họ thấy cho đi thì dễ, nhận lãnh thì khó. Đôi khi bên dưới vẻ quảng đại ấy là một thứ kiêu hãnh tinh tế: tôi muốn là người mạnh, người hữu ích, người giải quyết. Tôi không muốn người khác thấy tôi yếu, thấy tôi cần. Nhưng đời sống Kitô hữu không phải là cuộc thi xem ai ít cần người khác nhất. Thiên Chúa đã tạo nên chúng ta để nương tựa vào nhau. Biết nói “xin giúp tôi” cũng là một hành vi khiêm nhường. Biết đón nhận một lời khuyên cũng là bất tín nhiệm vào phán đoán riêng. Biết nhận một sự sửa lỗi mà không lập tức tự vệ là một cuộc chiến rất lớn với cái tôi. Có những lúc Chúa không trực tiếp cho ta câu trả lời, nhưng gửi câu trả lời qua miệng một người khác. Nếu vì tự ái mà ta không nghe, ta có thể bỏ lỡ ân sủng.
Hãy tập im lặng trước nhu cầu phải tự biện minh. Đây là một bài học khó. Khi bị hiểu sai, bản năng tự nhiên muốn giải thích ngay. Khi bị phê bình, ta muốn chứng minh mình đúng. Khi ai đó nghĩ không tốt về mình, ta cảm thấy phải sửa lại hình ảnh ấy. Dĩ nhiên có những trường hợp vì sự thật, vì trách nhiệm, vì ích chung, ta phải lên tiếng. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp ta nói chỉ vì cái tôi không chịu được việc bị nhìn sai. Nếu mỗi lần như vậy ta có thể dừng lại và hỏi: “Tôi đang bảo vệ sự thật, hay đang bảo vệ hình ảnh về mình?”, ta sẽ học được rất nhiều. Đôi khi Chúa cho phép một hiểu lầm nhỏ để ta thấy mình còn lệ thuộc vào cái nhìn người đời đến mức nào. Và nếu có thể âm thầm chịu một chút thiệt thòi mà không cay đắng, ta đang học tín thác: Chúa biết sự thật, thế là đủ.
Một điều nữa là mỗi ngày hãy dành thời gian chiêm ngắm những thuộc tính của Thiên Chúa. Ta khó tín thác nếu ta chỉ nhìn vào sự yếu đuối của mình. Bất tín nhiệm vào mình mà không nhìn lên Chúa sẽ trở thành nặng nề. Vì thế phải đồng thời nuôi dưỡng sự hiểu biết về lòng tốt, quyền năng, sự trung tín, lòng thương xót và sự quan phòng của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại những lần Chúa đã cứu mình. Hãy nhớ những cánh cửa tưởng đóng mà rồi được mở. Hãy nhớ những điều ngày xưa ta lo đến mất ngủ mà cuối cùng cũng trôi qua. Hãy nhớ những người Chúa đã gửi đến đúng lúc. Hãy nhớ những lần mình tưởng không chịu nổi nhưng rồi vẫn đi qua được. Ký ức về lòng trung tín của Thiên Chúa là lương thực cho niềm tín thác hôm nay. Dân Israel trong Cựu Ước thường được mời gọi nhớ lại những việc Chúa đã làm, bởi vì con người rất mau quên. Ta cũng thế. Khi khó khăn đến, ta dễ nghĩ đây là lần đầu tiên mình bị bỏ giữa biển. Nhưng không. Nếu nhìn lại, sẽ thấy con thuyền đời ta đã nhiều lần gặp sóng mà vẫn được đưa tới bờ.
Có thể làm một việc rất cụ thể: mỗi tối ngoài việc xét mình, hãy ghi lại một điều cho thấy hôm nay Chúa đã chăm sóc mình. Có thể rất nhỏ. Một cuộc gặp đúng lúc. Một lời an ủi. Một việc tưởng khó nhưng lại được giải quyết. Một người giúp đỡ. Một sức mạnh bất ngờ để chịu đựng. Một bình an đến giữa lúc lẽ ra phải rối. Một cơn cám dỗ đã qua. Một tai nạn đã tránh được. Một khoảnh khắc cầu nguyện khô khan nhưng mình vẫn trung thành ngồi đó. Sau một thời gian, những ghi chép nhỏ này sẽ trở thành một lịch sử của lòng thương xót. Những ngày tối tăm, hãy mở lại. Ta sẽ thấy: Đấng đã giữ mình hôm qua vẫn là Đấng giữ mình hôm nay.
Buổi tối, khi xét mình, ta có thể đặt vài câu hỏi thật đơn sơ nhưng sắc bén: Hôm nay lúc nào tôi mất bình an nhất? Vì sao? Hôm nay có điều gì tôi đã cố kiểm soát quá mức? Có việc gì tôi đã làm mà quên cầu xin Chúa? Có thành công nào làm tôi âm thầm tự mãn? Có thất bại nào làm tôi chán nản quá mức vì tôi đã kỳ vọng vào mình? Có lời phê bình nào làm tôi đau vì đụng đến cái tôi? Có lúc nào tôi khinh thường một cám dỗ vì tưởng mình đủ mạnh? Có khi nào tôi cầu nguyện thật sự từ sự nghèo khó của mình? Có lúc nào tôi cảm nhận rõ rằng nếu Chúa không nâng đỡ, tôi không thể làm được? Và cuối cùng: hôm nay điều gì Chúa muốn dùng để dạy tôi rằng tôi cần Người?
Đừng biến việc xét mình thành một tòa án nơi mình vừa là bị cáo vừa là quan tòa. Mục đích xét mình không phải để mỗi tối tự đánh đập tâm hồn. Mục đích là để nhìn sự thật dưới ánh sáng lòng thương xót. Một cuộc xét mình tốt luôn kết thúc bằng việc quay về với Chúa. Nếu sau khi xét mình, ta chỉ thấy mình tệ và đi ngủ trong chán nản, ta chưa xét mình theo tinh thần Tin Mừng. Hãy nhìn lỗi, nhưng nhìn lỗi trong ánh mắt Chúa. Hãy nhận mình yếu, rồi thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con lại thấy con nghèo. Con đã dựa vào con quá nhiều. Con đã quên Chúa nhiều lần. Con đã muốn điều khiển. Con đã tự ái. Con đã tự tin vào sức riêng. Xin tha thứ cho con. Nhưng con không muốn ở lại trong sự xấu hổ. Con chạy đến với Chúa. Ngày mai xin Chúa dạy con dựa vào Chúa hơn hôm nay.” Đó mới là hoa trái của xét mình.
Và sáng hôm sau, đừng bắt đầu bằng một lời hứa kiêu ngạo rằng “hôm nay tôi sẽ làm tốt hơn”. Hãy bắt đầu bằng lời cầu xin khiêm tốn: “Hôm nay xin Chúa làm cho con điều con không thể tự làm.” Có một khác biệt rất lớn giữa quyết tâm và tín thác. Quyết tâm là cần thiết, nhưng nếu quyết tâm tách khỏi ân sủng, nó rất dễ trở thành tự lực. Ta vẫn phải quyết tâm không nói lời ấy, không đi vào dịp ấy, không chiều theo thói quen ấy, phải thực hiện bổn phận ấy, nhưng trong lòng luôn biết rằng ý chí mình không phải thành trì cuối cùng. Ta quyết tâm trong khi nắm tay Chúa. Ta chiến đấu nhưng chiến đấu như người biết sức thắng không phát xuất từ mình.
Hãy tập dâng trước cho Chúa cả những thất bại có thể xảy ra. Điều này nghe lạ nhưng rất hữu ích. Có người phó thác thành công cho Chúa, nhưng lại không chịu nổi ý nghĩ mình có thể thất bại. Họ cầu nguyện: “Xin Chúa cho việc này thành công.” Nhưng tín thác sâu hơn là: “Lạy Chúa, con sẽ làm hết sức con, nhưng nếu Chúa cho phép kết quả khác điều con mong, xin cũng cho con nhận điều ấy từ tay Chúa.” Đây không phải là thái độ buông xuôi. Ngược lại, nó giải phóng con người khỏi sự nô lệ cho kết quả. Ta làm hết sức mà không thờ lạy thành công. Ta cố gắng mà không biến kế hoạch thành thần tượng. Ta cầu xin mà không ra điều kiện với Chúa. Ta biết điều mình muốn, nhưng vẫn để Chúa có quyền muốn khác.
Một cách rất sâu để nuôi dưỡng bất tín nhiệm vào mình là tập đón nhận những lần bị hạ xuống. Không ai thích bị hạ. Không ai thích khi mình không còn là người giỏi nhất, được trọng dụng nhất, được lắng nghe nhất, được nhớ đến nhất. Nhưng chính những hoàn cảnh ấy là nơi linh hồn được thanh luyện. Khi người khác được chọn thay vì mình, khi công lao của mình không được biết, khi ý kiến mình không được theo, khi người trẻ hơn làm tốt hơn, khi sức khỏe làm mình phải lùi lại, khi thời gian khiến mình không còn làm được như trước, thì cái tôi đau. Nhưng nếu trong đau đớn ấy ta có thể nói: “Lạy Chúa, nếu việc này giúp con biết con chỉ là tôi tớ, xin cho con đón nhận”, ta đang tiến rất xa trong tự do nội tâm.
Đừng tìm những thử thách đặc biệt. Cuộc sống hằng ngày đã đủ. Một người nói trái ý, một cánh cửa đóng, một cơ thể mệt, một kế hoạch đổi, một món đồ hỏng, một cuộc gọi đến không đúng lúc, một người chậm trễ, một lời chê, một thất bại nhỏ, một việc làm không ai biết. Những điều ấy là phòng tập của linh hồn. Mỗi lần như vậy có hai con đường: hoặc cái tôi nổi lên đòi mọi sự phải phục vụ mình, hoặc linh hồn thưa: “Lạy Chúa, con nhận điều này như cơ hội để bớt tin vào con và tin vào Chúa hơn.” Chính trong những chuyện nhỏ, linh hồn được chuẩn bị cho những giờ lớn. Không ai có thể bỗng nhiên tín thác khi một biến cố kinh khủng xảy ra nếu suốt bao năm họ chưa tập phó thác trong những điều nhỏ.
Cũng đừng đo mức tín thác bằng cảm xúc. Có những lúc ta nói “con tín thác” nhưng lòng vẫn run. Điều đó không có nghĩa là ta không tín thác. Tín thác không phải lúc nào cũng là cảm giác bình an ngọt ngào. Có khi tín thác là vẫn bước đi trong lúc lòng sợ. Có khi là vẫn cầu nguyện dù không cảm thấy gì. Có khi là không bỏ bổn phận dù đầu óc đầy lo âu. Có khi là không tìm cách bất chính để cứu mình mặc dù mọi thứ dường như đang đổ. Có khi là nói: “Con không hiểu, nhưng con vẫn ở lại với Chúa.” Đừng đòi mình phải cảm thấy mạnh mới tin. Chính lúc yếu mà vẫn quay về với Chúa, đức tin mới trở nên thật.
Hãy tập nói với Chúa về sự yếu đuối của mình một cách cụ thể. Đừng chỉ nói chung chung “con yếu đuối”. Hãy nói thật: “Lạy Chúa, con rất dễ tự ái ở điểm này. Con rất yếu trước lời khen. Con rất sợ bị bỏ quên. Con dễ nóng với người ấy. Con rất khó tha thứ chuyện kia. Con đang ghen. Con đang lo. Con đang muốn kiểm soát. Con đang sợ thất bại.” Cầu nguyện cụ thể làm ta nghèo thật trước mặt Chúa. Và chỉ người nghèo mới biết xin. Một trong những lý do ta ít nhận được ơn là vì ta ít thật sự xin. Ta thường xin bằng môi nhưng lòng vẫn giữ một kế hoạch dự phòng: nếu Chúa không làm, ta sẽ tự làm. Còn lời xin của người bất tín nhiệm vào mình là lời xin của người biết mình thật sự cần.
Nhưng hãy nhớ: bất tín nhiệm vào mình không có nghĩa là coi thường chính mình. Thiên Chúa không dạy ta khinh ghét những khả năng Người đã ban. Nếu có trí tuệ, hãy dùng. Nếu có tài năng, hãy phát triển. Nếu có kinh nghiệm, hãy vận dụng. Nếu có sức khỏe, hãy làm việc. Nếu có cơ hội, hãy nắm lấy. Sự khác biệt nằm ở chỗ: ta dùng tất cả như người quản lý, không như chủ nhân tuyệt đối. Ta không nói: “Tôi chẳng có gì nên tôi không làm gì.” Đó có thể là lười biếng giả dạng khiêm nhường. Khiêm nhường thật nói: “Tôi có những gì Chúa ban, tôi sẽ dùng hết sức vì Chúa, nhưng tôi không đặt niềm tin cuối cùng nơi những thứ ấy.”
Cũng cần tập tín thác ngay cả trong đời sống thiêng liêng. Đây là nơi rất nhiều người bị mắc bẫy. Họ cậy vào số giờ cầu nguyện, cậy vào việc đạo đức, cậy vào những năm tu luyện, cậy vào kinh nghiệm mục vụ, cậy vào chức vụ, cậy vào kiến thức thần học, cậy vào những lần đã vượt cám dỗ. Nhưng chẳng có điều nào trong đó bảo đảm một người sẽ trung thành đến cuối. Một người có thể sống đạo đức nhiều năm rồi ngã nếu rời ân sủng. Một người có thể hiểu rất sâu về đời sống thiêng liêng nhưng vẫn thua một đam mê rất đơn giản. Chính vì vậy, càng đi lâu với Chúa càng phải khiêm tốn. Không phải càng lâu càng nghĩ mình vững, nhưng càng nhận ra mình được giữ bởi một bàn tay. Các thánh không phải là những người cuối đời nói: “Bây giờ tôi đủ mạnh rồi.” Họ thường càng nên thánh càng thấy mình cần lòng thương xót.
Một dấu hiệu rất đẹp của sự trưởng thành là linh hồn ngày càng bớt ngạc nhiên trước sự yếu đuối của mình, nhưng lại ngày càng kinh ngạc trước lòng thương xót của Chúa. Khi còn non nớt, ta ngạc nhiên: “Sao tôi lại có thể như thế?” Vì trong thâm tâm ta vẫn có một hình ảnh khá cao về mình. Khi trưởng thành hơn, ta nói: “Nếu không có ơn Chúa, tôi còn có thể tệ hơn thế.” Không phải để biện minh cho tội, nhưng để không còn sống trong ảo tưởng. Và đồng thời ta kinh ngạc: “Vậy mà Chúa vẫn không bỏ tôi. Vậy mà Chúa vẫn gọi. Vẫn tha thứ. Vẫn cho bắt đầu lại.” Đó là điểm gặp nhau của hai khí giới: càng bất tín nhiệm vào mình, càng có chỗ để tín thác vào Chúa.
Mỗi tối trước khi ngủ, có thể kết thúc ngày sống bằng một hành vi đơn sơ. Nhìn lại tất cả những gì đã qua, tốt và xấu, thành công và thất bại, rồi đặt tất cả vào tay Chúa. Những gì tốt, trả lại cho Chúa: “Đó là ơn Chúa.” Những gì xấu, xin Chúa thanh tẩy: “Đó là sự nghèo nàn của con.” Những gì chưa giải quyết, trao cho Chúa: “Đêm nay con không thể làm gì thêm.” Những người mình lo, trao cho Chúa: “Họ là con của Chúa trước khi là người con yêu.” Những chuyện ngày mai, trao cho Chúa: “Ngày mai chưa thuộc về con.” Và rồi ngủ. Ngủ cũng là một hành vi tín thác. Mỗi đêm ta buông quyền kiểm soát. Ta không biết trong lúc mình ngủ thế giới sẽ xảy ra điều gì. Ta không giữ cho tim mình đập bằng ý chí. Ta không điều khiển hơi thở. Ta không biết chắc sáng mai mình có thức dậy không. Thế mà ta nằm xuống. Cuộc sống Kitô hữu, theo một nghĩa nào đó, chính là học cách nằm xuống trong tay Thiên Chúa như thế.
Hỡi linh hồn, đừng mong một ngày nào đó con sẽ đạt tới mức không còn yếu đuối nữa rồi mới tín thác. Ngày ấy sẽ không đến ở đời này. Con sẽ luôn cần Chúa. Và đó không phải là một điều đáng xấu hổ. Đó là vinh dự của thụ tạo: được sống nhờ Đấng đã dựng nên mình. Con chim không xấu hổ vì cần không khí. Cây không xấu hổ vì cần đất và nước. Đứa trẻ không xấu hổ vì cần vòng tay cha mẹ. Tại sao linh hồn lại xấu hổ vì cần Thiên Chúa? Điều làm ta khổ không phải là ta yếu, nhưng là ta yếu mà lại muốn sống như thể mình mạnh. Điều làm ta thất vọng không phải vì ta cần ơn Chúa, nhưng vì ta đã tưởng mình không cần đến mức ấy.
Vậy từ hôm nay, hãy tập một đời sống rất đơn sơ. Buổi sáng: “Lạy Chúa, không có Chúa con không làm được gì.” Trước mỗi việc: “Xin Chúa giúp con.” Khi thành công: “Tạ ơn Chúa.” Khi thất bại: “Xin thương xót con.” Khi bị cám dỗ: “Xin Chúa chiến đấu cho con.” Khi trái ý: “Xin cho ý Chúa được nên trọn.” Khi sợ hãi: “Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa.” Khi bị hạ xuống: “Xin cho con nhỏ lại.” Khi được khen: “Mọi sự tốt lành đều bởi Chúa.” Khi đêm xuống: “Con trao lại cho Chúa tất cả.” Cứ thế. Ngày này qua ngày khác. Không ồn ào. Không cần những cảm xúc lớn. Những hành vi nhỏ nhưng trung thành ấy sẽ đào trong linh hồn một con đường. Và đến một ngày, khi biến cố lớn xảy ra, ta sẽ thấy lòng mình tự nhiên chạy về đúng nơi nó đã quen chạy đến mỗi ngày: trái tim của Thiên Chúa.
Có thể ta sẽ còn nhiều lần quên. Có ngày đến tối mới nhận ra từ sáng đến chiều mình đã sống gần như hoàn toàn bằng sức riêng. Đừng nản. Chính việc nhận ra cũng đã là một ân huệ. Hãy nói: “Lạy Chúa, hôm nay con lại quên Chúa. Nhưng bây giờ con trở về.” Không bao giờ là quá muộn để bắt đầu tín thác lại. Có thể mười lần trong một ngày con tự cậy, thì mười lần hãy quay lại. Có thể một trăm lần tâm trí muốn kiểm soát, thì một trăm lần hãy đặt xuống. Đời sống thiêng liêng không được xây bằng việc không bao giờ phải bắt đầu lại, nhưng bằng lòng trung thành bắt đầu lại mỗi khi nhận ra mình đã đi sai.
Rồi dần dần, một sự bình an khác sẽ lớn lên. Không phải thứ bình an vì mọi chuyện đang ổn, nhưng bình an vì mình không còn bắt mọi chuyện phải ổn mới có thể sống. Không phải bình an vì mình chắc mình đủ sức, nhưng vì mình biết có Đấng đủ sức. Không phải bình an vì tương lai rõ ràng, nhưng vì Đấng nắm tương lai là Cha. Không phải bình an vì ta sẽ không ngã nữa, nhưng vì ngay cả nếu ngã, ta biết phải chạy về đâu. Đó là sự bình an của người đã thôi xây đời mình trên cát của sức riêng và bắt đầu đặt nền trên đá là lòng trung tín của Thiên Chúa.
Và khi ấy, cuộc xét mình mỗi tối sẽ không còn là một việc nặng nề, nhưng trở thành một cuộc gặp. Ta ngồi trước Chúa và nhìn lại ngày sống như một đứa trẻ ngồi bên Cha kể lại chuyện trong ngày. “Chỗ này con đã tự tin quá. Chỗ kia con đã sợ. Lúc ấy con đã quên Chúa. Việc này Chúa đã giúp con. Chuyện kia con vẫn chưa hiểu. Người ấy con vẫn khó tha thứ. Ngày mai con lại cần Chúa.” Đơn sơ như vậy thôi. Chính sự đơn sơ ấy sẽ làm linh hồn mềm lại. Và một linh hồn mềm trong tay Chúa thì Chúa có thể dẫn đi rất xa.
Cuối cùng, hãy nhớ điều này: mục đích của sự bất tín nhiệm vào chính mình không phải là làm con trở thành một con người rụt rè, nhút nhát, luôn sợ mình sai. Mục đích là làm con tự do khỏi ảo tưởng phải tự cứu lấy mình. Và mục đích của sự tín thác vào Thiên Chúa không phải là làm con thụ động, nhưng làm con can đảm hơn, bởi vì từ nay con không chiến đấu một mình. Người cậy vào mình chỉ dám đi đến giới hạn sức mình. Người cậy vào Chúa có thể đi xa hơn, bởi vì họ biết quyền năng của Thiên Chúa bắt đầu tỏ hiện chính nơi sự yếu đuối của họ. Vì thế, đừng sợ nhận mình yếu. Chỉ sợ một điều: yếu mà không chạy đến với Chúa. Đừng sợ mình nghèo. Chỉ sợ mình nghèo mà tưởng mình giàu. Đừng sợ những lần phải bắt đầu lại. Chỉ sợ một ngày nào đó con không còn muốn trở về.
Mỗi tối, hãy hỏi mình một câu có lẽ đủ để tóm tất cả chương này: “Hôm nay, tôi đã sống nhờ sức mình, hay đã sống nhờ Thiên Chúa?” Nếu câu trả lời làm con xấu hổ, hãy khiêm tốn. Nếu câu trả lời làm con vui, hãy tạ ơn. Nếu con nhận ra mình đã dựa vào mình quá nhiều, đừng tuyệt vọng. Chính lúc ấy hãy nhìn lên Chúa và thưa: “Lạy Chúa, con lại thấy rõ con là ai. Và chính vì biết con là ai, con càng muốn biết Chúa là ai. Con yếu, nhưng Chúa mạnh. Con thay đổi, nhưng Chúa trung tín. Con dễ ngã, nhưng lòng thương xót Chúa không mệt mỏi nâng con lên. Xin đừng để con dựa vào con. Xin dạy con mỗi ngày biết nghèo hơn trước mặt Chúa, nhỏ hơn trong chính mắt mình, và tín thác hơn vào tình yêu của Chúa. Con không xin Chúa làm cho con cảm thấy mạnh. Con chỉ xin một điều: trong mọi hoàn cảnh, xin đừng để con rời bàn tay Chúa.”**
CHƯƠNG 7: VIỆC LUYỆN TẬP LÝ TRÍ – CANH GIỮ LÝ TRÍ KHỎI SỰ TÒ MÒ VÔ ÍCH VÀ KHỎI NHỮNG PHÁN ĐOÁN SAI LẦM
Hỡi linh hồn, nếu con muốn tiến vào đời sống nội tâm cách nghiêm túc, nếu con thật sự muốn thuộc về Thiên Chúa chứ không chỉ muốn có một vài cảm xúc đạo đức, con phải học một việc rất khó nhưng vô cùng cần thiết: luyện tập lý trí của con. Người ta thường nghĩ cuộc chiến thiêng liêng chỉ diễn ra nơi những đam mê của thân xác, nơi những ham muốn rõ ràng, nơi cơn nóng giận, lòng tham, tính kiêu ngạo hay những cám dỗ dễ nhận thấy. Nhưng có một chiến trường âm thầm hơn, tinh vi hơn, và nhiều khi nguy hiểm hơn tất cả những chiến trường ấy: đó là trí óc của con. Chính nơi đó, biết bao cuộc chiến đã thua trước khi con kịp nhận ra mình đang chiến đấu. Chính nơi đó, những ý tưởng được hình thành, những phán đoán được đưa ra, những nghi ngờ được nuôi dưỡng, những so sánh được thực hiện, những chuyện không cần biết lại được tìm hiểu, những điều chưa đủ bằng chứng lại được kết luận. Và rồi từ một tư tưởng sai, cả tâm hồn có thể bị kéo lệch đi; từ một sự tò mò tưởng như vô hại, sự bình an có thể bị đánh mất; từ một phán đoán hấp tấp về người khác, đức ái có thể bị tổn thương; từ một ý tưởng mà con tin chắc là đúng, con có thể tự dựng nên cả một thế giới không có thật rồi đau khổ, giận dữ, buồn phiền, xét đoán, trách móc trong chính cái thế giới do đầu óc mình tạo ra. Vì thế, ai muốn nên thánh mà không luyện tập lý trí thì giống như người muốn giữ một khu vườn sạch đẹp nhưng lại bỏ ngỏ cánh cổng lớn nhất. Con có thể canh chừng đôi mắt, canh chừng miệng lưỡi, canh chừng những hành động bên ngoài, nhưng nếu không canh chừng trí óc, mọi thứ có thể bị đầu độc từ bên trong. Ma quỷ không nhất thiết phải khiến con phạm ngay một tội lớn; nhiều lúc nó chỉ cần làm cho con suy nghĩ sai. Một khi con suy nghĩ sai, con sẽ cảm nhận sai; khi cảm nhận sai, con dễ phản ứng sai; và khi đã phản ứng sai nhiều lần, con sẽ dần hình thành một lối sống xa tinh thần của Tin Mừng mà vẫn tưởng mình có lý.
Điều đầu tiên cần phải canh giữ là sự tò mò vô ích. Không phải mọi khát vọng hiểu biết đều xấu. Thiên Chúa ban lý trí để con tìm kiếm chân lý, học hỏi điều tốt, hiểu biết đức tin, hiểu người khác, hiểu chính mình và nhận ra dấu vết của Ngài trong công trình tạo dựng. Nhưng có một thứ tò mò không làm con khôn ngoan hơn mà chỉ làm tâm trí con tán loạn hơn. Đó là muốn biết những điều không thuộc trách nhiệm của mình, không giúp mình yêu Chúa hơn, không giúp mình chu toàn bổn phận tốt hơn, không giúp mình phục vụ ai, nhưng chỉ thỏa mãn cái ham muốn được biết. Người này đang nghĩ gì về mình? Người kia nói gì về mình? Chuyện trong gia đình nọ thực chất ra sao? Tại sao người đó được giao việc ấy? Ai nói câu kia? Hai người ấy có chuyện gì? Vì sao người này không còn thân với người kia? Ai đúng ai sai trong chuyện mà mình chẳng liên quan gì? Một lời bóng gió vừa nghe được lập tức trở thành cái móc kéo trí óc chạy theo hàng chục giả thuyết. Một mẩu tin chưa rõ lập tức được nối với những mẩu tin khác để thành câu chuyện hoàn chỉnh. Một ánh mắt, một thái độ, một câu nói ngắn cũng có thể trở thành nguyên liệu cho những giờ suy đoán. Con tưởng đó chỉ là suy nghĩ, nhưng thực ra lòng con đã rời khỏi Thiên Chúa để đi lang thang trong đời sống của người khác.
Sự tò mò vô ích nguy hiểm ở chỗ nó thường đội lốt một lý do rất hợp lý. Con có thể nói rằng mình chỉ muốn hiểu rõ để khỏi hiểu lầm. Nhưng nhiều khi càng tìm hiểu, con càng hiểu lầm. Con có thể nói mình chỉ muốn biết để cầu nguyện cho người ta. Nhưng nếu thực sự chỉ để cầu nguyện, nhiều chuyện con không cần biết chi tiết đến thế. Thiên Chúa biết đủ rồi. Con chỉ cần biết người ấy đang đau khổ là đủ để cầu xin cho họ, đâu cần phải đào đến tận từng nguyên nhân, từng lời nói, từng lỗi lầm, từng tình tiết riêng tư. Con có thể nói mình cần biết để có trách nhiệm, nhưng hãy tự hỏi thật: điều này có thực sự thuộc trách nhiệm của con không? Hay chỉ vì trí óc con không chịu nổi việc có một điều gì đó xảy ra mà mình không biết? Có những người bị một cơn đói thông tin âm thầm hành hạ. Họ phải biết mọi chuyện đang diễn ra. Họ sợ bỏ sót điều gì. Họ luôn muốn cập nhật. Họ muốn biết ai nói gì, ai gặp ai, chuyện nào đang xảy ra, người ta đang bàn gì. Nhưng càng biết nhiều, tâm hồn càng nặng. Càng nghe nhiều, lòng càng khó bình an. Càng gom nhiều chuyện vào trí óc, càng ít chỗ cho Thiên Chúa. Có những linh hồn cầu nguyện không sâu không phải vì họ thiếu thiện chí, nhưng vì đầu óc họ quá đông người. Khi quỳ trước Nhà Tạm, họ mang theo cả một đám đông trong trí nhớ: lời người này, chuyện người kia, tin tức nọ, tranh luận kia, lỗi lầm của người khác, những điều chưa hiểu, những việc đang muốn biết. Chúa ở trước mặt, nhưng trí óc họ vẫn chạy khắp nơi.
Hỡi linh hồn, con cần biết rằng một trong những hình thức nghèo khó thiêng liêng rất quý giá là chấp nhận không biết. Có những điều con không cần biết. Có những điều biết cũng chẳng làm con tốt hơn. Có những điều Thiên Chúa không giao cho con. Có những bí mật không thuộc về con. Có những câu hỏi phải để đó mà không cần trả lời. Có những chuyện người khác làm, con chẳng cần hiểu hết. Có những biến cố xảy ra mà lý do thật chỉ Thiên Chúa biết. Biết dừng trí óc trước cánh cửa đóng kín là một hành vi khiêm nhường. Người kiêu ngạo muốn hiểu tất cả. Người khiêm nhường có thể nói: “Con không biết.” Người thích kiểm soát muốn giải thích mọi sự. Người tín thác có thể nói: “Chúa biết.” Người bất an muốn thu thập mọi thông tin để cảm thấy mình an toàn. Người sống trong Chúa dần học cách bình an ngay cả khi còn rất nhiều điều chưa rõ. Không phải vì họ thờ ơ, nhưng vì họ biết giới hạn của mình. Một trí óc trưởng thành không phải là trí óc chứa nhiều thông tin, nhưng là trí óc biết điều gì đáng suy nghĩ và điều gì phải buông bỏ.
Con hãy thử nhìn lại một ngày của mình. Bao nhiêu điều đi qua tâm trí là thật sự cần thiết? Bao nhiêu chuyện con đã suy nghĩ mà không thay đổi được gì? Bao nhiêu lần con mở một câu chuyện chỉ vì tò mò rồi sau đó lòng mất bình an? Bao nhiêu lần con nghe một điều về người khác mà giá như không nghe thì tốt hơn? Bao nhiêu lần một tin tức làm con bận trí cả ngày nhưng chẳng giúp con sống bổn phận hiện tại tốt hơn? Bao nhiêu lần con vào cầu nguyện mà đầu óc còn đang tiếp tục một cuộc đối thoại tưởng tượng với người không có mặt? Có một sự lãng phí đời sống rất lớn mà ít ai nhận ra: lãng phí sức mạnh của trí óc cho những điều không sinh ích. Sức chú ý là một ân huệ. Mỗi ngày con chỉ có một lượng giới hạn. Nếu con phung phí nó cho những chuyện vô ích, con sẽ không còn đủ sức để nhìn vào điều chính yếu. Vì thế, canh giữ lý trí không chỉ là tránh điều xấu; đó còn là giữ sức cho điều tốt.
Nhưng còn một nguy hiểm khác sâu hơn sự tò mò: phán đoán sai lầm về mọi sự, đặc biệt là phán đoán về tha nhân. Con người rất dễ tin vào cách nhìn của mình. Chúng ta thấy một phần rồi tưởng đã thấy toàn bộ. Chúng ta nghe một câu rồi tưởng đã hiểu cả lòng người. Chúng ta nhìn một hành động rồi kết luận về cả nhân cách. Người ấy không chào mình, liền nghĩ họ coi thường mình. Người kia trả lời ngắn, liền nghĩ họ khó chịu. Một người được khen, ta nghĩ họ đang tìm tiếng. Một người im lặng, ta nghĩ họ kiêu. Một người hoạt bát, ta nghĩ họ thích phô trương. Một người dè dặt, ta nghĩ họ thiếu tình cảm. Người làm nhiều thì ta nghi họ ham thành tích. Người làm ít thì ta cho rằng họ lười. Có khi người khác làm cách nào cũng không thoát khỏi cái tòa án trong đầu mình. Điều đáng sợ là những phán đoán ấy thường diễn ra rất nhanh đến mức ta không nhận ra mình đang xét đoán. Ta chỉ nghĩ: “Rõ ràng là như vậy.” Nhưng cái “rõ ràng” ấy rất có thể chỉ rõ ràng trong trí óc ta.
Con phải nhớ rằng con không nhìn thấy lòng người. Con không biết tất cả những gì họ đã trải qua. Con không biết họ đang phải mang vết thương nào. Con không biết đêm qua họ có ngủ được không. Con không biết họ vừa nhận một tin gì. Con không biết họ đang chiến đấu với cám dỗ nào. Con không biết họ đã cố gắng bao nhiêu trước khi thất bại. Con không biết những giọt nước mắt nào đã rơi khi không ai thấy. Con chỉ thấy một hành vi xảy ra trong vài phút rồi muốn dùng nó để định nghĩa cả một con người. Thiên Chúa thì khác. Ngài nhìn cả hành trình. Ngài thấy nguyên nhân, hoàn cảnh, vết thương, sự yếu đuối, thiện chí, mức độ hiểu biết và tự do của người đó. Ngài biết những điều con không bao giờ biết được. Bởi vậy, mỗi lần con vội vàng phán xét một người, hãy nhớ rằng con đang xử một vụ án mà mình chỉ có trong tay một phần rất nhỏ hồ sơ.
Không có nghĩa là con phải gọi điều xấu là điều tốt. Đức ái không phải là mù quáng. Có những hành vi khách quan là sai, có những bất công phải được nhận diện, có những trách nhiệm phải được phân định, có những trường hợp người có bổn phận phải đưa ra nhận định. Nhưng một việc là nhận định hành vi, một việc khác là kết án con người. Con có thể nói: “Việc này không đúng,” mà không cần nói: “Con người này xấu.” Con có thể thấy một sai lầm mà vẫn giữ lòng thương. Con có thể đặt ranh giới mà không nuôi thù hận. Con có thể thi hành công lý mà không vui sướng trước việc người khác bị hạ xuống. Con có thể sửa lỗi mà không khinh thường. Sự khác biệt ấy rất quan trọng. Khi con có trách nhiệm phải phán đoán một sự việc, hãy chỉ đi xa đến mức trách nhiệm đòi hỏi; đừng bước thêm một bước vào khu vực Thiên Chúa không trao cho con.
Lý trí cũng cần được canh giữ khỏi khuynh hướng giải thích mọi sự theo cái tôi. Đây là căn bệnh rất phổ biến. Một điều xảy ra, và lập tức con đặt mình vào trung tâm. Người ta im lặng: “Có phải vì mình không?” Họ tổ chức việc gì mà không hỏi con: “Có phải họ cố ý loại mình?” Một người thay đổi thái độ: “Chắc họ nghe ai nói gì về mình.” Một cuộc gặp bị hoãn: “Họ không coi trọng mình.” Một bài nói có câu nào đó chạm tới mình: “Chắc đang ám chỉ mình.” Cái tôi có khả năng biến thế giới thành sân khấu mà trong đó mọi nhân vật đều đang phản ứng với mình. Thật ra, phần lớn thời gian, người khác cũng đang bận với chính cuộc đời của họ. Không phải mọi im lặng đều nhắm đến con. Không phải mọi khoảng cách đều là sự từ chối. Không phải mọi bất tiện đều là xúc phạm. Không phải mọi lời nói chung đều là lời ám chỉ riêng. Một tâm hồn bình an là tâm hồn thôi đòi hỏi mọi sự phải liên hệ đến mình.
Hãy cảnh giác cả với những cuộc đối thoại tưởng tượng. Có khi một người nói với con chỉ một câu, nhưng trong đầu con lại tiếp tục nói chuyện với họ hàng giờ. Con nghĩ họ sẽ nói câu này, con sẽ đáp câu kia. Con hình dung cuộc tranh luận, chuẩn bị lý lẽ, dựng ra những phản ứng chưa bao giờ xảy ra, rồi con giận thật, buồn thật, mệt thật vì một cuộc nói chuyện chưa từng tồn tại. Trí óc con tạo ra lửa rồi chính lòng con bị đốt bởi ngọn lửa ấy. Hãy học cắt đứt những chuỗi suy nghĩ đó khi nhận ra chúng không dẫn đến chân lý, đức ái hay bổn phận. Đừng nuôi chúng chỉ vì chúng đem lại cho cái tôi cảm giác rằng mình đang thắng trong một cuộc tranh luận. Có những trận chiến chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng; người khôn ngoan không bước vào.
Một hình thức phán đoán sai khác là đọc hiện tại bằng vết thương quá khứ. Nếu con từng bị phản bội, con dễ nhìn sự chậm trễ của người khác như dấu hiệu họ sắp bỏ mình. Nếu từng bị coi thường, con dễ nghe một câu bình thường thành lời xúc phạm. Nếu từng bị lừa dối, con dễ nghi ngờ ngay cả người chân thành. Nếu từng thất bại, con dễ coi một khó khăn nhỏ như bằng chứng rằng mình sẽ thất bại lần nữa. Những ký ức chưa được chữa lành có thể trở thành cặp kính làm biến dạng mọi sự. Vì vậy, luyện tập lý trí không chỉ là học thêm điều mới mà còn là học nghi ngờ chính những kết luận quá nhanh của mình. Có những lúc con phải tự hỏi: “Điều này thực sự đang xảy ra, hay tôi đang nhìn nó qua một vết thương cũ?” Câu hỏi ấy có thể cứu con khỏi nhiều phản ứng bất công.
Con cũng phải đề phòng việc tuyệt đối hóa cảm xúc. Cảm thấy không có nghĩa là đúng. Con cảm thấy bị bỏ rơi chưa chắc là người khác đã bỏ rơi con. Con cảm thấy không được tôn trọng chưa chắc họ có ý khinh con. Con cảm thấy Thiên Chúa xa vắng chưa chắc Ngài đã rời xa. Con cảm thấy mình vô dụng chưa chắc đó là sự thật. Cảm xúc là thật theo nghĩa con đang thực sự cảm thấy nó, nhưng điều nó nói về thực tại chưa chắc đúng. Một linh hồn trưởng thành không khinh thường cảm xúc nhưng cũng không để cảm xúc ngồi lên ngai của chân lý. Con có thể nói: “Tôi đang buồn,” mà không kết luận: “Mọi sự đều vô nghĩa.” Con có thể nói: “Tôi đang sợ,” mà không kết luận: “Điều tồi tệ chắc chắn sẽ xảy ra.” Con có thể nói: “Tôi đang thấy Chúa xa,” mà vẫn tin: “Ngài đang ở đây.”
Luyện tập lý trí còn có nghĩa là học suy nghĩ chậm lại. Nhiều sai lầm phát sinh vì chúng ta kết luận quá nhanh. Một tin vừa nghe đã phản ứng. Một lời vừa đọc đã nổi giận. Một chuyện vừa xảy ra đã phán quyết. Nhưng người yêu chân lý không sợ phải chờ. Họ biết rằng sự thật không cần họ hấp tấp bảo vệ bằng những kết luận thiếu dữ kiện. Có khi chỉ cần qua một đêm, cái nhìn đã khác. Có khi chỉ cần nghe thêm một phía, toàn bộ câu chuyện thay đổi. Có khi chỉ cần hỏi một câu trực tiếp, hàng giờ suy đoán tan biến. Có khi chỉ cần cầu nguyện trước khi nói, con tránh được một lời làm tổn thương người khác trong nhiều năm. Nhiều điều đáng tiếc trong đời không xảy ra vì con người xấu, mà vì họ phản ứng trước khi hiểu.
Khi nghe một điều tiêu cực về người khác, hãy tập đừng lập tức tin. Khi thấy một hành vi khó hiểu, hãy tập chọn cách giải thích khoan dung nhất mà sự thật cho phép. Khi không có đủ dữ kiện, hãy giữ trí óc ở trạng thái chưa kết luận. Đây là một khổ chế rất lớn. Cái tôi ghét tình trạng lửng lơ. Nó muốn phán ngay để cảm thấy mình thông minh, sắc bén, sáng suốt. Nhưng khiêm nhường có thể chấp nhận: “Tôi chưa biết đủ để kết luận.” Câu ấy có thể là một trong những câu thánh thiện nhất của lý trí.
Con cũng đừng tưởng rằng chỉ có phán đoán tiêu cực mới nguy hiểm. Có những ảo tưởng tích cực cũng làm con sai lạc. Con có thể lý tưởng hóa một người, tin rằng họ hoàn hảo, đặt lên họ những kỳ vọng mà họ không thể mang nổi, rồi một ngày thất vọng cay đắng chỉ vì họ hóa ra cũng là người. Con có thể lý tưởng hóa chính mình, nghĩ mình có khả năng hơn thực tế, có sức chịu đựng hơn thực tế, thánh thiện hơn thực tế. Con có thể lý tưởng hóa một công việc, nghĩ rằng nếu đạt được điều ấy mình sẽ hoàn toàn bình an. Con có thể lý tưởng hóa tương lai, tưởng rằng chỉ cần hoàn cảnh đổi khác mọi vấn đề nội tâm sẽ biến mất. Lý trí cần yêu sự thật, không phải những hình ảnh đẹp do mình dựng nên. Chân lý đôi khi rất bình thường, rất không hào nhoáng, nhưng chân lý giải thoát.
Hãy chú ý đến cả thói quen so sánh. So sánh là một hình thức sử dụng lý trí sai hướng. Con nhìn đời người khác từ bên ngoài rồi đem so với đời mình từ bên trong. Con thấy thành quả của họ nhưng biết hết những yếu đuối của mình. Con thấy nụ cười của họ nhưng sống trọn trong những lo âu của mình. Con thấy đoạn đường họ đang đứng mà không biết đoạn đường họ đã phải đi. Kết quả là hoặc con ghen tị, hoặc con tự ti, hoặc con kiêu ngạo. Cả ba đều làm tâm hồn mất tự do. Thiên Chúa không hỏi tại sao con không phải là người kia. Ngài hỏi con đã làm gì với phần đời Ngài trao cho con. Lý trí lành mạnh không liên tục đo mình bằng người khác, nhưng đo mình bằng ánh sáng của thánh ý Thiên Chúa.
Một trí óc không được rèn luyện cũng dễ sa vào suy diễn về tương lai. Chưa có gì xảy ra, nhưng con đã sống trong hàng chục viễn cảnh xấu. Nếu việc này thất bại thì sao? Nếu người kia thay đổi thì sao? Nếu bệnh tật đến thì sao? Nếu mất công việc thì sao? Nếu tuổi già thế này thì sao? Nếu mai kia không ai bên cạnh thì sao? Trí óc có thể đi hàng năm về phía trước, gom mọi khả năng đau khổ rồi bắt trái tim chịu tất cả ngay hôm nay. Nhưng ơn Chúa chỉ được ban cho ngày hôm nay. Nếu ngày mai có thập giá, ngày mai sẽ có ơn. Con không được trao sức để mang trước mười cây thập giá tưởng tượng. Nhiều người kiệt sức không phải vì điều đang xảy ra quá nặng, mà vì đang mang thêm vô số điều chưa xảy ra.
Hãy tập đưa trí óc về với hiện tại. Hôm nay Chúa đòi gì nơi con? Việc trước mắt là gì? Người trước mặt cần gì? Nghĩa vụ hiện tại của con là gì? Một câu hỏi đơn sơ như vậy có thể giải thoát con khỏi vô số suy nghĩ vô ích. Đời sống thánh thiện rất cụ thể. Thiên Chúa không thường dẫn con bằng những bản đồ cho mười năm tới. Ngài thường cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Cái tôi muốn biết cả con đường; đức tin chấp nhận bước với ngọn đèn đủ soi một đoạn ngắn.
Luyện tập lý trí còn là biết chọn điều mình đưa vào trí óc. Những gì con đọc, nghe và xem đều để lại dấu vết. Nếu mỗi ngày con đưa vào mình những tranh cãi, giật gân, xúc phạm, nghi ngờ, scandal, những hình ảnh kích động, những lời cay độc, đừng ngạc nhiên khi đầu óc trở nên ồn ào. Con không thể ăn toàn thức ăn độc rồi mong cơ thể khỏe mạnh; cũng không thể nuôi trí óc bằng những thứ hỗn loạn rồi mong tâm hồn dễ cầu nguyện. Hãy chọn lọc. Không phải điều gì đúng cũng cần con đọc. Không phải điều gì có thật cũng cần con biết. Không phải cuộc tranh luận nào con cũng phải theo. Không phải tin tức nào con cũng cần cập nhật từng giờ. Có khi bảo vệ sự bình an nội tâm đòi con tắt đi, rời khỏi, không đọc tiếp, không nghe tiếp. Đó không phải trốn tránh thế giới; đó là biết mình đang được giao một linh hồn để gìn giữ.
Nhưng con cũng phải canh chừng một cám dỗ tinh vi: dùng kiến thức thiêng liêng để thay thế đời sống thiêng liêng. Có người đọc rất nhiều sách đạo đức, biết nhiều giáo huấn, nghe nhiều bài giảng, thuộc nhiều câu Kinh Thánh, có thể nói rất hay về cầu nguyện, khiêm nhường, phó thác, nhưng chính họ lại ít cầu nguyện, khó khiêm nhường và không biết phó thác. Trí óc thu thập ánh sáng nhưng ý chí không bước theo ánh sáng ấy. Kiến thức như vậy có thể làm tăng sự kiêu ngạo thay vì tăng sự thánh thiện. Con có thể biết cả một thư viện về sự khiêm nhường nhưng vẫn tự ái vì một lời chạm nhẹ. Con có thể đọc mười cuốn sách về phó thác nhưng mất bình an khi một kế hoạch bị đổi. Con có thể nghiên cứu sâu về đức ái nhưng vẫn không tha thứ một người sống cạnh mình. Kiến thức chỉ sinh ích khi đi xuống trái tim và đi ra đời sống.
Đừng đọc chỉ để biết thêm. Hãy đọc để được biến đổi. Đôi khi một câu được sống trọn vẹn quý hơn một trăm trang được đọc vội. Nếu một điều đánh động con, hãy ở lại với nó. Đừng lập tức chạy tìm điều mới. Người ta thường nghiện cái mới cả trong đời sống thiêng liêng. Bài giảng mới, sách mới, phương pháp mới, linh đạo mới, câu chuyện mới, nhưng linh hồn vẫn cũ vì không có gì được thực hành đến nơi đến chốn. Thiên Chúa không đòi con biết vô số chân lý; Ngài muốn con sống những chân lý đã biết.
Lý trí phải được luyện để quy phục chân lý, chứ không bắt chân lý phải phục vụ cái tôi. Có khi con đã quyết định trước điều mình muốn tin, rồi chỉ tìm những lý lẽ củng cố nó. Con thích một người thì mọi việc họ làm đều dễ được giải thích tốt. Con không thích một người thì cùng một hành vi lại bị giải thích xấu. Con muốn làm một điều thì rất dễ tìm lý do để nói rằng đó là ý Chúa. Con không muốn làm một điều thì rất dễ tìm lý do để nói rằng hoàn cảnh chưa thuận tiện. Đây là nơi con cần sự trung thực sâu sắc. Đừng hỏi chỉ: “Tôi có lý không?” Hãy hỏi: “Điều gì là sự thật trước mặt Chúa?” Hai câu ấy không phải lúc nào cũng cho cùng một câu trả lời.
Có lúc con phải nghi ngờ chính sự chắc chắn của mình. Người nguy hiểm nhất không phải lúc nào cũng là người không biết, nhưng có khi là người tin tuyệt đối rằng mình biết. Một chút khiêm nhường trí thức cứu được biết bao tương quan. Hãy để trong lòng một khoảng cho khả năng rằng mình có thể hiểu sai. Câu “có thể tôi chưa thấy hết” không làm con yếu đi; nó làm con gần chân lý hơn. Người càng trưởng thành càng ít vội vàng tuyệt đối hóa quan điểm của mình. Họ biết cuộc sống có nhiều chiều, lòng người phức tạp và hoàn cảnh thường chứa những yếu tố mà mắt thường không thấy.
Khi bị người khác xúc phạm hoặc đối xử bất công, sự luyện tập lý trí càng quan trọng. Lúc ấy cảm xúc sẽ đưa ra những lời giải thích rất nhanh: họ cố tình làm nhục tôi; họ chưa bao giờ tôn trọng tôi; họ luôn luôn như vậy; không ai hiểu tôi; mọi người đều chống lại tôi. Hãy cẩn thận với những chữ như “luôn luôn”, “không bao giờ”, “tất cả”, “không ai”. Cảm xúc mạnh rất thích những từ tuyệt đối. Nhưng chân lý thường cụ thể hơn. Có thể người ấy đã làm sai hôm nay, nhưng không có nghĩa toàn bộ con người họ là sai. Có thể con đang bị tổn thương, nhưng không có nghĩa cả đời con chỉ là bị tổn thương. Có thể hôm nay con không được hiểu, nhưng không có nghĩa không ai từng hiểu con. Đưa mọi sự trở về kích thước thật của nó là một cách giữ bình an.
Và khi chính con phạm lỗi, lý trí cũng có thể làm con khổ bằng hai thái cực. Một là biện minh: “Tôi làm thế vì người kia trước.” “Ai ở hoàn cảnh tôi cũng vậy.” “Chuyện này đâu nghiêm trọng.” Hai là kết án chính mình: “Tôi chẳng ra gì.” “Tôi không bao giờ thay đổi.” “Tôi thất bại hoàn toàn.” Cả hai đều sai. Chân lý khiêm nhường nằm ở giữa: “Tôi đã sai. Tôi chịu trách nhiệm. Nhưng tôi vẫn là người được Thiên Chúa yêu và có thể bắt đầu lại nhờ ân sủng.” Một lý trí được thanh luyện không che giấu lỗi lầm nhưng cũng không phóng đại nó thành tuyệt vọng.
Hỡi linh hồn, con hãy tập một thói quen quý giá: đặt mọi tư tưởng dưới ánh sáng Thiên Chúa. Khi một ý nghĩ cứ quay đi quay lại, hãy hỏi: ý nghĩ này dẫn tôi đến bình an, khiêm nhường, bác ái, trách nhiệm và tín thác hơn, hay dẫn tôi đến cay đắng, tự thương hại, kiêu ngạo, nghi ngờ và xáo trộn? Không phải cứ điều làm con khó chịu là xấu; có những sự thật đau nhưng cần thiết. Nhưng chân lý của Thiên Chúa, ngay khi sửa con, cuối cùng vẫn mở ra con đường sống. Tiếng của kẻ thù thường đóng mọi cửa: “Hết rồi. Không còn gì. Mày vô dụng. Người kia xấu xa. Không thể tha thứ. Không thể thay đổi.” Còn Thiên Chúa nói sự thật nhưng luôn kèm theo lời mời trở về.
Hãy học phân biệt giữa suy nghĩ có mục đích và nghiền ngẫm vô ích. Suy nghĩ có mục đích dẫn đến một quyết định, một hành động, một lời cầu nguyện, một sự hiểu biết rõ hơn. Nghiền ngẫm vô ích chỉ quay quanh cùng một điểm. Nếu một vấn đề cần giải quyết, hãy dành thời gian thích hợp để suy xét, cầu nguyện, xin ý kiến nếu cần, rồi quyết định. Nhưng đừng mang nó đi suốt ngày như người cầm một viên đá trong tay mà không chịu đặt xuống. Sau khi đã làm điều mình có thể, hãy trao phần còn lại cho Chúa. Nhiều sự mệt mỏi tinh thần phát sinh vì ta cứ tiếp tục suy nghĩ về một điều sau khi suy nghĩ không còn đem lại ích lợi nào.
Đặc biệt, đừng dùng trí óc để đào bới quá khứ một cách vô ích. Có những chuyện cần nhìn lại để học bài học, để xin lỗi, để sửa chữa, để chữa lành. Nhưng có những chuyện đã được thú nhận, đã được tha, đã được xử lý, mà con vẫn quay lại như người cứ đào một ngôi mộ cũ. “Giá như ngày đó…” “Nếu tôi đã…” “Tại sao tôi lại…” Những câu ấy có thể kéo dài hàng năm. Quá khứ là trường học, không phải nhà tù. Hãy lấy bài học và bước đi. Nếu Chúa đã tha, đừng tỏ ra nghiêm khắc hơn Chúa bằng cách tiếp tục kết án mình.
Canh giữ lý trí còn đòi con biết giữ sự thinh lặng nội tâm. Không phải thinh lặng là không có ý nghĩ, nhưng là không chạy theo mọi ý nghĩ. Ý nghĩ có thể đến mà con không cần tiếp nó vào nhà. Một ký ức đến, con nhận ra rồi để nó đi. Một nghi ngờ xuất hiện, con không nhất thiết phải điều tra. Một hình ảnh hiện lên, con không cần xây câu chuyện chung quanh. Một lời xúc phạm cũ quay lại, con có thể nói: “Tôi đã trao chuyện này cho Chúa,” rồi trở về bổn phận hiện tại. Trí óc giống như một cánh cửa; không phải người nào gõ cũng phải mở.
Con sẽ không đạt được sự canh giữ ấy trong một ngày. Đầu óc vốn quen chạy sẽ tiếp tục chạy. Nhưng đừng nản. Mỗi lần nhận ra mình đang đi lang thang, hãy nhẹ nhàng đưa nó trở về. Đừng cáu với chính mình. Đừng biến việc luyện trí thành một cuộc chiến căng thẳng. Điều Chúa muốn không phải một cái đầu trống rỗng, nhưng một trí óc tự do để có thể hướng về điều cần thiết. Khi con nhận ra mình đang tò mò chuyện không thuộc về mình, hãy dừng. Khi nhận ra đang xét đoán, hãy cầu xin Chúa chúc lành cho người đó. Khi đang tưởng tượng tương lai xấu, hãy trở về với ngày hôm nay. Khi đang nghiền ngẫm quá khứ, hãy tạ ơn vì bài học rồi bước tiếp. Khi đầu óc quá ồn, hãy gọi tên Chúa Giêsu thật chậm.
Một thực hành rất hữu ích là trước mỗi điều con muốn biết, hãy hỏi: “Biết điều này có giúp tôi yêu Chúa và yêu người hơn không?” Nếu không, có khi tốt hơn là không biết. Trước mỗi nhận định về người khác, hỏi: “Tôi có đủ dữ kiện để kết luận không?” Trước mỗi suy đoán, hỏi: “Đây là sự thật hay chỉ là câu chuyện tôi đang tự kể?” Trước mỗi lo âu, hỏi: “Điều này đang xảy ra bây giờ hay chỉ có thể xảy ra?” Trước mỗi tranh luận, hỏi: “Tôi muốn tìm sự thật hay chỉ muốn thắng?” Những câu hỏi ấy giống như hàng rào giữ lý trí khỏi lao xuống những con đường tối.
Và trên hết, hãy đặt trí óc dưới chân Đức Kitô. Lý trí không phải kẻ thù của đức tin. Lý trí là quà tặng, nhưng quà tặng ấy cần được thanh luyện. Trí óc con không được dựng nên để trở thành một nhà máy sản xuất lo âu, phán đoán và giả thuyết. Nó được dựng nên để nhận biết chân lý, để chiêm ngắm điều thiện, để phân định thánh ý Thiên Chúa và để hướng dẫn con sống khôn ngoan. Khi được thanh luyện, lý trí trở thành một khí cụ tuyệt đẹp của đời sống thiêng liêng. Nó giúp con nhìn sự vật đúng kích thước, nhìn người khác với lòng khoan dung, nhìn chính mình trong sự thật, nhìn tương lai bằng đức cậy và nhìn quá khứ dưới ánh sáng lòng thương xót.
Con hãy nhớ: ma quỷ rất thích một trí óc hoặc quá tò mò hoặc quá chắc chắn về những điều nó không thật sự biết. Nó thích làm con bận tâm chuyện người khác để con quên sửa mình. Nó thích làm con phân tích mọi người để con quên xét mình. Nó thích làm con lo chuyện ngày mai để con bỏ mất bổn phận hôm nay. Nó thích làm con ôn chuyện hôm qua để con không sống được giây phút hiện tại. Nó thích làm con nghĩ rằng phải hiểu hết mới có thể bình an. Nhưng Chúa dạy con một con đường khác: có những điều hãy tìm hiểu; có những điều hãy phân định; có những điều hãy hỏi; và cũng có rất nhiều điều hãy trao vào tay Ngài.
Nếu có ai hiểu lầm con mà con không thể giải thích, hãy để Chúa biết. Nếu có chuyện con không hiểu được, hãy để Chúa biết. Nếu có người hành xử khiến con bối rối, hãy cầu nguyện cho họ trước khi phán xét họ. Nếu tương lai còn mịt mờ, hãy tin rằng Chúa đã ở đó trước con. Nếu quá khứ còn đau, hãy để lòng thương xót Ngài nói lời cuối cùng. Con không cần phải có câu trả lời cho mọi câu hỏi mới có thể sống bình an. Nhiều khi bình an bắt đầu chính từ giây phút con thôi đòi một câu trả lời.
Một ngày kia, khi lý trí đã được tập luyện trong trường học của khiêm nhường và tín thác, con sẽ thấy một điều rất đẹp: những chuyện từng làm con mất ngủ không còn dễ kéo con đi; những lời người khác nói không còn làm con dựng cả một thế giới suy đoán; những điều không biết không còn làm con bất an; những sai lầm của người khác không còn lập tức biến thành bản án; những biến cố trái ý không còn bị con giải thích ngay là dấu hiệu Chúa bỏ rơi. Con sẽ bắt đầu sống nhẹ hơn. Không phải vì đời ít phức tạp, nhưng vì con không còn thêm vào đời những phức tạp do trí óc mình tạo ra.
Và đó là một tự do lớn. Tự do khỏi nhu cầu phải biết mọi sự. Tự do khỏi nhu cầu phải hiểu mọi người. Tự do khỏi nhu cầu phải giải thích mọi biến cố. Tự do khỏi nhu cầu phải chứng minh mình đúng. Tự do khỏi nhu cầu phải đoán trước tương lai. Tự do khỏi nhu cầu phải xét xử người khác. Một trí óc như thế có chỗ cho Thiên Chúa. Một tâm hồn như thế dễ cầu nguyện. Một con người như thế có thể sống giữa rất nhiều điều chưa rõ mà vẫn bình an, bởi vì có một điều họ biết chắc: Thiên Chúa biết tất cả, và như thế là đủ.
Hỡi linh hồn, mỗi khi trí óc con muốn chạy vào những vùng không thuộc về mình, hãy kéo nó trở về và nói: “Điều này Chúa không giao cho tôi.” Mỗi khi con muốn xét đoán người khác, hãy nói: “Tôi không biết hết lòng họ.” Mỗi khi con muốn kết luận về tương lai, hãy nói: “Ngày mai thuộc về Chúa.” Mỗi khi con bị ám ảnh bởi quá khứ, hãy nói: “Lòng thương xót lớn hơn lỗi lầm của tôi.” Mỗi khi con muốn tìm hiểu chỉ vì tò mò, hãy hỏi: “Điều này có làm tôi thánh thiện hơn không?” Và mỗi khi con không biết phải nghĩ gì, hãy trở về với một sự thật rất đơn sơ: Chúa là Chúa, còn tôi chỉ là thụ tạo. Tôi không cần hiểu hết. Tôi chỉ cần trung thành với ánh sáng Chúa ban cho tôi hôm nay.
Đừng khinh thường cuộc chiến này. Một ý nghĩ nhỏ được canh giữ có thể cứu con khỏi một lời nói sai. Một phán đoán được đình lại có thể cứu một tương quan. Một sự tò mò bị từ bỏ có thể giữ lại bình an. Một giả thuyết bị buông xuống có thể giúp con ngủ yên. Một lần con chọn nghĩ tốt cho người khác có thể làm đức ái lớn lên. Một lần con thú nhận “tôi không biết” có thể làm lòng khiêm nhường bén rễ. Một lần con trao câu hỏi không có đáp án cho Chúa có thể trở thành một hành vi đức tin rất đẹp.
Vì sau cùng, sự thánh thiện không hệ tại việc đầu óc con biết bao nhiêu, nhưng hệ tại việc con để chân lý làm chủ đầu óc mình đến đâu. Không hệ tại việc con hiểu được bao nhiêu bí mật của người khác, nhưng hệ tại việc con hiểu được sự nghèo khó của chính mình. Không hệ tại việc con có thể phân tích mọi sự, nhưng hệ tại việc con có đủ khiêm nhường để dừng lại trước những điều vượt quá giới hạn. Không hệ tại việc con có câu trả lời cho tất cả, nhưng hệ tại việc ngay giữa những điều chưa có câu trả lời, con vẫn có thể nói với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, Chúa biết. Và con tin Chúa.”
Đó là sự trưởng thành của lý trí trong đời sống thiêng liêng: biết tìm chân lý, biết dừng trước điều vô ích, biết nghi ngờ những phán đoán hấp tấp của mình, biết từ chối sự tò mò, biết nhìn người khác bằng lòng thương xót, biết đặt cảm xúc dưới ánh sáng sự thật, biết trao quá khứ cho lòng thương xót, trao tương lai cho sự quan phòng, và trao những điều mình không hiểu cho sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa.
Khi con làm được như thế, lý trí không còn là nơi sinh ra hàng ngàn nỗi bất an nữa. Nó trở thành một căn phòng yên tĩnh, nơi sự thật có thể lên tiếng, nơi đức tin có thể bén rễ, nơi bình an có thể ở lại, và nơi Thiên Chúa có thể dẫn con đi mà không phải liên tục tranh đấu với những tiếng ồn do chính con tạo nên.
Hãy canh giữ trí óc của con, hỡi linh hồn. Bởi rất nhiều khi, trước khi mất bình an trong trái tim, con đã đánh mất nó trong một ý nghĩ. Trước khi nói một lời làm tổn thương người khác, con đã xét đoán họ trong trí. Trước khi tuyệt vọng, con đã tin một điều không thật. Trước khi ghen tị, con đã so sánh. Trước khi sợ hãi, con đã dựng một tương lai chưa đến. Trước khi oán giận, con đã kể cho mình nghe đi nghe lại một câu chuyện chỉ có một phía. Vì vậy, hãy giữ cửa. Không phải mọi tư tưởng đều đáng được tin. Không phải mọi câu hỏi đều cần được trả lời. Không phải mọi chuyện đều cần được biết. Không phải mọi hành vi của người khác đều cần được giải thích. Không phải mọi cảm giác đều là chân lý.
Và khi con không còn biết phải làm gì với những gì đang chạy trong đầu mình, hãy đơn sơ trở về với Đức Giêsu chịu đóng đinh. Nhìn Ngài. Ở lại với Ngài. Gọi tên Ngài. Hãy để sự hiện diện của Ngài làm lắng xuống những cuộc tranh luận bên trong. Hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin thanh luyện trí con. Xin đừng để con chạy theo điều vô ích. Xin đừng để con phán xét điều con không biết. Xin cho con yêu chân lý hơn yêu ý riêng. Xin cho con biết im lặng trước điều không thuộc về con, biết khoan dung với điều con chưa hiểu, biết nghĩ tốt khi có thể nghĩ tốt, biết đợi khi chưa đủ ánh sáng, biết trao cho Chúa điều vượt sức con. Xin giữ tâm trí con trong sự thật của Chúa.”
Rồi hãy bình an. Con không cần kiểm soát thế giới bằng suy nghĩ của mình. Con không cần mang mọi câu chuyện vào đầu. Con không cần hiểu hết lòng người. Con không cần biết trước ngày mai. Con chỉ cần giữ trí óc đủ trong sạch để nhận ra tiếng Chúa, đủ khiêm nhường để không tin mọi kết luận của mình, đủ bình an để không chạy theo mọi tò mò, và đủ tín thác để khi đứng trước điều không hiểu, con có thể cúi đầu mà thưa: “Lạy Chúa, con không biết. Nhưng Chúa biết. Thế là đủ cho con.”
CHƯƠNG 8: NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHIẾN CHÚNG TA KHÔNG NHẬN ĐỊNH ĐÚNG
Có những lúc chúng ta rất tin rằng mình đang nhìn sự việc đúng, đang phán đoán đúng, đang chọn lựa đúng, đang bênh vực điều đúng, thậm chí đang bảo vệ chân lý. Chúng ta có thể nói rất mạnh, rất chắc chắn, rất dứt khoát. Chúng ta có thể đưa ra đủ lý lẽ để chứng minh rằng mình không sai. Nhưng điều đáng sợ nhất trong đời sống nội tâm không phải là lúc ta biết mình đang sai; điều đáng sợ nhất là lúc ta sai mà lại tưởng mình đúng, lúc lòng mình đã bị một tình cảm nào đó kéo lệch đi mà trí khôn vẫn tìm ra đủ lý do để biện minh cho sự lệch lạc ấy. Con người ít khi cố tình chọn điều mình biết rõ là xấu. Phần lớn những sai lầm dai dẳng của chúng ta đều khoác một chiếc áo rất đẹp. Sự thiên vị khoác áo tình nghĩa. Sự tự ái khoác áo danh dự. Sự sợ mất mặt khoác áo trách nhiệm. Sự muốn được khen khoác áo nhiệt thành. Và bởi chúng khoác những chiếc áo đẹp như thế nên người ta rất khó nhận ra chúng. Có khi người ngoài đã nhìn thấy từ lâu, nhưng chính người mang nó lại không thấy. Có khi người khác chỉ cần nghe vài câu đã nhận ra ta đang giận, đang tự ái, đang thiên vị, đang muốn thắng, nhưng ta vẫn khăng khăng rằng mình chỉ đang “bảo vệ lẽ phải”. Chính vì vậy, nhận định không chỉ là chuyện trí óc sáng hay tối, hiểu biết nhiều hay ít. Nhận định trước hết là chuyện của một con tim có tự do hay không. Một trí khôn rất sắc bén vẫn có thể nhận định sai nếu con tim đang bị trói buộc. Một người rất thông minh vẫn có thể nhìn lệch nếu trong lòng đang yêu một điều quá mức, ghét một người quá sâu, sợ mất một vị trí, sợ bị chê, sợ bị tổn thương, hoặc đang khát được người khác công nhận. Nhiều khi không phải chúng ta không biết đâu là điều đúng; chúng ta chỉ không muốn điều đúng ấy đúng, bởi nếu nó đúng thì ta phải thay đổi, phải nhận lỗi, phải mất một chút danh dự, phải từ bỏ một người mình thiên vị, phải chấp nhận một người mình không ưa, phải buông một quyền lợi, phải bước xuống khỏi vị trí mình đang muốn giữ. Và từ đó, cả một tiến trình tự lừa mình bắt đầu.
Nguyên nhân đầu tiên làm cho nhận định của chúng ta trở nên lệch lạc là tình cảm thiên vị. Tình cảm tự nó không xấu. Không ai sống mà không có tình cảm. Chúng ta yêu người này hơn người kia, gần gũi người này hơn người khác, dễ thông cảm với người này và khó cảm thông với người kia. Đó là điều rất người. Vấn đề bắt đầu khi tình cảm không còn đứng dưới ánh sáng của sự thật mà bắt sự thật phải phục vụ nó. Khi ta yêu ai quá mức, ta dễ coi nhẹ lỗi của người ấy. Khi ta không ưa ai, ta dễ phóng đại lỗi của họ. Cùng một hành vi, nếu người mình thương làm thì ta nói: “Chắc họ có lý do.” Nếu người mình không thích làm thì ta nói: “Biết ngay mà, bản chất họ là thế.” Cùng một câu nói, nếu phát ra từ người gần gũi, ta tìm cách giải thích theo nghĩa tốt; nếu phát ra từ người từng làm ta tổn thương, ta lập tức nghe nó theo nghĩa xấu nhất. Đó là lúc tình cảm đã trở thành chiếc kính màu đặt trước mắt. Mọi sự vẫn ở đó, nhưng màu sắc đã thay đổi. Đáng sợ hơn nữa là người mang kính màu thường không biết mình đang mang kính. Họ tưởng thế giới thật sự có màu như thế.
Trong đời sống chung, trong gia đình, trong cộng đoàn, trong công việc, ngay cả trong những môi trường đạo đức, sự thiên vị có thể làm hỏng rất nhiều điều. Một người lãnh trách nhiệm có thể tưởng mình đang “nâng đỡ người yếu” nhưng thật ra đang dung túng cho người mình quý. Có thể tưởng mình “nghiêm khắc vì ích chung” nhưng thật ra chỉ nghiêm khắc với người mình không ưa. Có thể thấy một người phạm lỗi và lập tức quy kết cả con người họ, trong khi một người khác phạm cùng một lỗi thì lại được giải thích bằng đủ thứ hoàn cảnh. Nếu cứ sống như thế lâu ngày, ta sẽ mất dần khả năng nhìn người khác theo sự thật. Ta không còn gặp con người thật nữa; ta chỉ gặp hình ảnh của họ qua tình cảm của mình. Người mình thích thì gần như điều gì cũng dễ chấp nhận. Người mình ghét thì điều gì cũng trở thành bằng chứng chống lại họ. Khi ấy, điều ta gọi là “phân định” nhiều khi chỉ là tình cảm đang khoác áo lý trí.
Muốn nhận định đúng, người ta phải học một việc rất khó: tách điều mình cảm thấy khỏi điều thực sự đang xảy ra. Tôi có thể không thích một người, nhưng điều người ấy nói vẫn có thể đúng. Tôi có thể rất quý một người, nhưng việc người ấy làm vẫn có thể sai. Tôi có thể bị tổn thương bởi một lời nói, nhưng không có nghĩa người nói cố tình xúc phạm tôi. Tôi có thể cảm thấy bất an trước một quyết định, nhưng cảm giác bất an ấy chưa chắc là dấu chỉ quyết định đó sai. Có những bất an đến từ lương tâm, nhưng cũng có những bất an chỉ đến từ việc cái tôi đang bị đụng chạm. Có những bình an là bình an của Chúa, nhưng cũng có thứ “bình an” chỉ vì mọi việc đang diễn ra đúng ý mình. Nếu không phân biệt được điều ấy, ta rất dễ gọi cảm xúc của mình là tiếng Chúa, gọi sở thích của mình là ý Chúa, gọi sự khó chịu của mình là “ơn phân định”, rồi từ đó có thể làm người khác đau mà vẫn tưởng mình đang trung thành với điều thiện.
Nguyên nhân thứ hai còn tinh vi hơn: sự tự ái. Tự ái là một trong những tiếng nói mạnh nhất nhưng kín đáo nhất trong tâm hồn con người. Nó không luôn luôn hét lớn. Nhiều khi nó chỉ thì thầm: “Người ta coi thường mình.” “Họ không tôn trọng mình.” “Tại sao họ nói với mình như vậy?” “Mình đã làm bao nhiêu mà chẳng ai ghi nhận.” “Nếu mình nhận sai thì người ta nghĩ gì?” “Nếu mình lùi thì hóa ra mình thua sao?” Chính những câu rất nhỏ ấy có thể âm thầm bẻ cong phán đoán của chúng ta. Có những chuyện ban đầu rất đơn giản, chỉ cần một lời xin lỗi là xong, nhưng vì tự ái chen vào nên trở thành cuộc chiến kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Hai người có thể cùng biết mình cần làm hòa, nhưng không ai bước trước vì mỗi người đều chờ người kia. Có người biết mình nói hơi nặng nhưng không xin lỗi vì sợ mất uy. Có người biết quyết định trước đây của mình không còn phù hợp nhưng không dám sửa vì sợ người khác nói mình đã sai. Có người cố bảo vệ một ý kiến đến cùng không còn vì ý kiến ấy đúng, mà chỉ vì nó là “ý kiến của tôi”. Từ lúc đó, ta không còn bảo vệ chân lý; ta đang bảo vệ chính mình.
Tự ái rất khéo dùng lý trí làm luật sư cho nó. Một khi bị chạm tự ái, trí khôn thường bắt đầu thu thập chứng cứ để chứng minh rằng người kia sai và mình đúng. Ta nhớ rất rõ tất cả những lần người ấy làm mình khó chịu, nhưng quên tất cả những lần họ đã tử tế. Ta nhớ từng lời họ nói sai, nhưng không nhớ mình đã nói gì trước đó. Ta kể câu chuyện với người khác theo cách mà mình trở thành nạn nhân hoàn toàn vô tội. Không hẳn ta cố tình nói dối; chính tâm trí đã lựa chọn những chi tiết phù hợp với cảm xúc của mình. Bởi vậy, một trong những câu hỏi quan trọng nhất khi phân định không phải chỉ là: “Ai đúng, ai sai?” mà còn là: “Cái tôi của tôi đang bị đụng ở điểm nào?” Có khi chỉ cần thành thật trả lời câu ấy, ta sẽ thấy cả câu chuyện khác đi.
Một dấu hiệu rất rõ của tự ái là chúng ta đau không chỉ vì điều xấu xảy ra, mà còn đau vì “người ta nghĩ gì về mình”. Nếu một việc sai được sửa nhưng không ai biết đó là lỗi của ta, ta thấy nhẹ. Nhưng nếu phải công khai nhận lỗi, ta thấy nặng. Như thế, điều làm ta đau không hoàn toàn là lỗi, mà là hình ảnh của ta trong mắt người khác bị tổn thương. Ta muốn trở thành người tốt, nhưng nhiều lúc còn muốn được nhìn nhận là người tốt hơn cả việc thực sự trở nên tốt. Hai điều ấy rất gần nhau mà cũng rất khác nhau. Người thực sự muốn nên tốt sẽ chấp nhận được sửa. Người chủ yếu muốn mình được xem là tốt sẽ khó chịu khi bị góp ý. Người yêu sự thật có thể đau khi nghe sự thật nhưng cuối cùng biết ơn người nói. Người yêu hình ảnh của mình sẽ tìm đủ cách chứng minh rằng người góp ý mới là người có vấn đề.
Đi liền với tự ái là sự sợ mất mặt. Đây là một sức mạnh rất lớn chi phối hành vi con người. Chúng ta sợ thất bại trước mặt người khác, sợ bị xem thường, sợ người khác biết mình không giỏi như họ tưởng, không mạnh như họ nghĩ, không thánh thiện như hình ảnh ta đã tạo ra. Vì thế nhiều người tiếp tục đi trên một con đường sai chỉ vì quay lại thì “mất mặt”. Họ biết quyết định ấy sai nhưng vẫn cố. Biết lời mình nói không đúng nhưng không rút lại. Biết mình đã hiểu lầm nhưng không muốn thừa nhận. Biết cần xin lỗi nhưng trì hoãn. Biết mình cần hỏi người khác vì không biết, nhưng lại sợ bị đánh giá là thiếu hiểu biết. Kết quả là để giữ một chút thể diện, người ta có thể phải trả một cái giá rất lớn.
Có một nghịch lý: người càng sợ mất mặt thường càng dễ mất bình an. Bởi cả đời họ phải canh giữ hình ảnh của mình. Họ không được phép yếu. Không được phép sai. Không được phép thất bại. Không được phép bị hiểu lầm. Không được phép để người khác vượt mình. Họ phải kiểm soát cách người khác nhìn mình, nhưng đó lại là điều không thể kiểm soát. Vì thế đời sống trở nên mệt mỏi. Một lời nhận xét cũng có thể làm họ mất ngủ. Một ánh mắt lạnh cũng đủ khiến họ nghĩ ngợi. Một lời khen dành cho người khác có thể làm họ thấy mình bị lu mờ. Một sự góp ý chân thành lại được cảm nhận như một cuộc tấn công. Khi tâm hồn bị sự sợ mất mặt điều khiển, việc nhận định gần như không còn tự do nữa, bởi câu hỏi chính không còn là “điều nào đúng?” mà là “điều nào giúp tôi không bị mất giá trước người khác?”
Người thực sự tự do có thể nói: “Tôi đã sai.” Đó là một câu rất ngắn nhưng cần rất nhiều sức mạnh nội tâm. Người yếu thường phải tự vệ. Người mạnh có thể nhận lỗi. Người bất an phải luôn chứng minh mình. Người bình an không cần lúc nào cũng thắng. Có lúc, bước tiến lớn nhất trong đời sống thiêng liêng không phải là làm được một điều phi thường mà chỉ là đủ khiêm tốn để nói với ai đó: “Tôi đã hiểu sai anh.” “Tôi đã nói quá lời.” “Tôi đã thiên vị.” “Tôi đã quyết định không đúng.” Những câu ấy làm cái tôi đau, nhưng lại làm linh hồn khỏe. Vì mỗi lần ta thành thật nhận một sự thật bất lợi cho mình, ta cắt đứt một sợi dây đang trói mình vào hư danh.
Nguyên nhân thứ tư là sự muốn được khen. Không phải mọi niềm vui khi được khen đều xấu. Con người cần sự khích lệ. Một lời công nhận đúng lúc có thể nâng đỡ người đang mệt mỏi. Nhưng vấn đề bắt đầu khi ta không còn chỉ vui vì được khen mà bắt đầu sống để được khen. Khi ấy, ánh mắt người khác trở thành chiếc la bàn của đời ta. Ai khen thì ta gần. Ai góp ý thì ta xa. Việc nào được nhìn thấy thì ta hăng hái. Việc âm thầm thì ta chán. Khi đứng trước đám đông ta nhiệt thành; khi không ai biết tới, ta dễ buông. Ta chọn những việc có khả năng tạo ấn tượng hơn những việc thực sự cần thiết. Ta nói điều người khác thích nghe thay vì điều cần nói. Ta ngại giữ một lập trường đúng nếu biết nó sẽ làm mình bị mất thiện cảm. Đó là lúc khát vọng được công nhận âm thầm thao túng sự nhận định.
Người sống lệ thuộc vào lời khen rất khó phân định ý Chúa, bởi họ thường phân định dựa trên phản ứng của người khác. Nhiều người khen thì cho là mình đúng. Bị phản đối thì nghĩ mình sai. Nhưng chân lý không được quyết định bằng số tiếng vỗ tay. Có những việc đúng mà chẳng ai khen. Có những việc sai lại được rất nhiều người tung hô. Có những con đường Chúa muốn ta đi lại khiến người khác không hiểu. Có những bổn phận phải âm thầm làm suốt nhiều năm mà chẳng ai biết. Nếu một người chỉ có thể trung thành khi được nhìn nhận, lòng trung thành ấy còn rất mong manh. Chúng ta cần học làm điều tốt ngay cả khi không ai thấy, học nói sự thật ngay cả khi không ai vỗ tay, học phục vụ ngay cả khi tên mình không được nhắc tới, học nhường công cho người khác mà lòng vẫn bình an. Đó là những bài học rất khó, nhưng chúng thanh luyện con tim để ta có thể nhận định bằng ánh sáng thay vì bằng tiếng khen.
Có một câu hỏi giúp chúng ta nhận ra mình có bị lời khen chi phối hay không: “Nếu việc này hoàn toàn không ai biết tôi làm, tôi còn muốn làm không?” Nếu câu trả lời thay đổi quá nhiều, ta nên coi chừng. Hoặc: “Nếu người khác được khen về việc mà tôi đã góp công rất nhiều, lòng tôi phản ứng ra sao?” Nếu lập tức thấy khó chịu, muốn giải thích phần mình, muốn người ta biết mình đã làm gì, đó là dấu hiệu cho thấy cái tôi vẫn đang tìm thức ăn. Cái tôi rất đói. Nó ăn lời khen, sự chú ý, sự công nhận, địa vị, danh tiếng, số người ủng hộ. Và nếu không tập cho nó nhịn, nó sẽ ngày càng đòi nhiều hơn.
Bốn điều này – thiên vị, tự ái, sợ mất mặt, muốn được khen – thường không xuất hiện riêng lẻ. Chúng kết hợp với nhau. Ta thiên vị một người vì người ấy thường khen ta. Ta ghét một người vì họ từng làm ta mất mặt. Ta bảo vệ một quyết định vì sợ nhận sai. Ta không muốn nghe một lời góp ý vì tự ái. Ta chọn đứng về phía một nhóm vì sợ mất sự ủng hộ. Ta im lặng trước một điều cần nói vì không muốn mất thiện cảm. Ta nói mạnh về một điều không hẳn vì chân lý mà vì muốn chứng minh mình có lập trường. Tâm hồn con người rất phức tạp. Có những động cơ pha trộn mà chính ta cũng không nhận ra. Ta có thể làm một việc vừa vì Chúa vừa vì mình. Có thể nói một câu vừa vì sự thật vừa vì tự ái. Có thể giúp một người vừa vì yêu thương vừa vì muốn được biết ơn. Không nên vì thế mà tuyệt vọng. Điều cần thiết là thành thật. Chúa không đòi ta ngay lập tức có những động cơ hoàn toàn tinh tuyền. Ngài chỉ cần ta không bảo vệ sự giả dối trong lòng mình.
Muốn nhận định đúng, trước hết phải tập nghi ngờ chính phản ứng đầu tiên của mình, nhất là khi phản ứng ấy quá mạnh. Khi ta cực kỳ thích một quyết định, hãy hỏi tại sao. Khi ta cực kỳ ghét một người, hãy hỏi tại sao. Khi nghe một lời góp ý mà trong lòng bốc nóng lên ngay, đừng vội trả lời. Khi rất muốn chứng minh rằng mình đúng, hãy coi chừng. Khi thấy mình cần người khác công nhận ngay, hãy dừng lại. Những cảm xúc mạnh không nhất thiết sai, nhưng chúng có thể che khuất cái nhìn. Một ly nước bị khuấy đục thì không thể soi rõ đáy. Tâm hồn đang giận, đang tự ái, đang sợ, đang ham được khen cũng như thế. Đôi khi quyết định khôn ngoan nhất là chưa quyết định ngay.
Trong những lúc bị đụng chạm, một khoảng im lặng có thể cứu cả một mối quan hệ. Đừng trả lời khi cơn tự ái đang nói. Đừng gửi một tin nhắn khi lòng đang nóng. Đừng đưa ra quyết định quan trọng ngay sau khi bị xúc phạm. Đừng vội kết luận về một người chỉ vì một hành động làm mình khó chịu. Hãy để lòng lắng xuống. Có những điều ban đêm tưởng rất nghiêm trọng, sáng hôm sau nhìn lại thấy chẳng đáng bao nhiêu. Không phải sự việc thay đổi; chính lòng ta đã lắng hơn. Khi nước lắng, ta mới thấy rõ.
Một phương thế rất cần thiết nữa là học hỏi ý kiến người không đứng trong cảm xúc của mình. Người khôn ngoan không phải là người không bao giờ sai, nhưng là người biết mình có thể sai. Vì biết mình có thể bị thiên vị, họ sẵn sàng hỏi người khác: “Anh thấy tôi có đang phản ứng quá không?” “Theo chị, tôi có đang bị tự ái không?” “Nếu bỏ cảm tình cá nhân ra, việc này nên nhìn thế nào?” Dĩ nhiên không phải hỏi bất cứ ai. Cần tìm người đủ tự do để không chỉ nói điều ta thích nghe. Có những người tìm lời khuyên nhưng thật ra chỉ muốn tìm người đồng ý. Họ kể câu chuyện cho năm người, bốn người góp ý ngược lại thì không nghe, đến người thứ năm nói đúng ý mình thì lập tức bảo: “Đấy, tôi cũng nghĩ thế.” Như vậy không phải tìm ánh sáng; đó là đi tìm đồng minh.
Muốn nhận định đúng, cần có lòng yêu sự thật hơn yêu chính mình. Đây là một đòi hỏi lớn. Bởi sự thật đôi khi làm ta mất mặt. Sự thật đôi khi buộc ta xin lỗi người mình không thích. Sự thật đôi khi cho thấy người từng chống mình lại đúng ở một điểm nào đó. Sự thật đôi khi buộc ta thay đổi một quyết định đã công bố. Sự thật có thể khiến ta phải bước xuống, phải im lặng, phải thừa nhận rằng mình không biết. Nhưng chỉ người yêu sự thật như thế mới thực sự tự do. Chừng nào ta còn đặt danh dự mình cao hơn sự thật, ta chưa thể nhận định cách trong sáng. Chừng nào ta còn cần mình phải đúng bằng mọi giá, ta vẫn còn nguy hiểm.
Đời sống thiêng liêng chân thật không làm người ta trở thành người luôn đúng; nó làm người ta trở thành người càng ngày càng sẵn sàng được sửa. Người càng gần Chúa càng ít sợ sự thật về mình. Họ có thể nhìn thấy những giới hạn, những động cơ không trong sạch, những vết thương, những đố kỵ, những tự ái của mình mà không cần chạy trốn. Bởi họ biết giá trị của mình không nằm ở chỗ mình hoàn hảo, cũng không nằm ở việc người khác nghĩ gì về mình. Nếu tôi biết mình được Thiên Chúa yêu, tôi không còn phải sống cả đời để xin tình yêu từ lời khen của người khác. Nếu tôi biết phẩm giá của mình đến từ Chúa, một lời chê không thể phá hủy tôi. Nếu tôi biết mình là thụ tạo giới hạn, tôi không cần xấu hổ khi nói “tôi không biết”. Nếu tôi biết mình cần lòng thương xót mỗi ngày, tôi không còn quá kinh ngạc khi thấy mình sai.
Chính niềm tin vào lòng thương xót của Chúa giải thoát con người khỏi nhu cầu bảo vệ hình ảnh. Người không biết mình được yêu sẽ luôn cố chứng minh mình đáng yêu. Người không biết mình có giá trị sẽ luôn phải tìm người xác nhận giá trị ấy. Người không biết mình được tha thứ sẽ rất sợ nhận lỗi. Nhưng khi một linh hồn thực sự sống trước mặt Chúa, nó bắt đầu có một sự bình an khác. Nó có thể nói: “Lạy Chúa, con đã sai.” Và thế là đủ. Nó không cần viết một bản biện hộ dài để giữ thể diện với Chúa. Bởi Chúa đã biết tất cả trước khi nó thú nhận. Điều Ngài chờ không phải là lời giải thích, mà là một con tim thật.
Vì thế, trước mỗi quyết định quan trọng, có lẽ ta nên hỏi mình vài câu rất đơn sơ nhưng rất sắc bén: Nếu không có tình cảm riêng, tôi có nhìn việc này như vậy không? Nếu người thực hiện hành vi này là một người tôi yêu quý, tôi có đánh giá nặng như hiện tại không? Nếu người ấy là người tôi không thích, tôi có còn bênh vực như thế không? Nếu quyết định này khiến tôi mất mặt, tôi có còn cho nó là đúng không? Nếu chẳng ai khen, tôi có còn muốn làm không? Nếu người khác được công nhận thay vì tôi, tôi có còn vui vì việc tốt đã được thực hiện không? Nếu sau này tôi phát hiện mình sai, tôi có đủ tự do để đổi ý không? Những câu hỏi ấy có thể làm đau, nhưng đó là nỗi đau của ánh sáng đi vào một căn phòng đã đóng lâu ngày.
Đừng quá tin vào mình khi lòng đang bị tổn thương. Đừng quá tin vào mình khi đang được tung hô. Đừng quá tin vào mình khi một người ta rất thích đang liên quan đến sự việc. Đừng quá tin vào mình khi một người ta rất ghét đang đứng ở phía đối diện. Trong những lúc ấy, ta cần khiêm nhường hơn bình thường. Ta cần cầu nguyện nhiều hơn, im lặng hơn, nghe nhiều hơn, và chậm kết luận hơn.
Có người nghĩ cầu nguyện là xin Chúa cho mình thắng. Không. Một trong những lời cầu nguyện trưởng thành nhất là: “Lạy Chúa, nếu con sai, xin cho con thấy con sai.” Câu ấy khó hơn rất nhiều so với lời xin: “Xin Chúa chứng minh con đúng.” Hãy thử cầu nguyện thật lòng: “Lạy Chúa, nếu con đang thiên vị, xin lột chiếc kính ấy khỏi mắt con. Nếu con đang tự ái, xin cho con nhận ra. Nếu con đang bảo vệ danh dự mình hơn bảo vệ chân lý, xin đánh động con. Nếu con đang làm điều này chỉ vì muốn được khen, xin thanh luyện lòng con. Con không xin Chúa đứng về phía con; con xin cho con đứng về phía sự thật.” Một linh hồn biết cầu như thế đã đi rất xa trên con đường tự do.
Ta cũng cần nhớ rằng không phải mọi lời phê bình đều đúng, không phải mọi người phản đối ta đều có lý, và khiêm nhường không có nghĩa là luôn cho người khác đúng. Có lúc phải đứng vững trước một đám đông. Có lúc phải nói một điều không được lòng ai. Có lúc chính việc sợ bị xem là kiêu ngạo lại khiến ta không dám bảo vệ điều đúng. Nhận định trưởng thành không phải là luôn nhường, nhưng là có khả năng phân biệt: tôi đang đứng vững vì sự thật hay vì cái tôi? Tôi đang im lặng vì hiền lành hay vì sợ mất thiện cảm? Tôi đang lên tiếng vì trách nhiệm hay vì muốn chứng tỏ mình? Chỉ một câu hỏi như thế thôi đã có thể mở ra rất nhiều ánh sáng.
Cuối cùng, điều làm cho nhận định trong sáng không phải là một kỹ thuật tinh vi mà là một đời sống được thanh luyện mỗi ngày. Mỗi lần ta chấp nhận người khác được khen mà mình không được nhắc đến, lòng ta tự do thêm một chút. Mỗi lần ta dám nhận lỗi, cái tôi yếu đi một chút. Mỗi lần ta công bằng với người mình không thích, tình cảm thiên vị mất quyền lực một chút. Mỗi lần ta dám chọn điều đúng dù biết sẽ mất mặt, chân lý trở nên quý hơn hình ảnh của mình một chút. Mỗi lần ta làm một việc tốt âm thầm mà không ai biết, sự khát khao được khen được chữa lành một chút. Chính những điều rất nhỏ ấy chuẩn bị cho những quyết định lớn.
Có thể cả đời chúng ta vẫn còn thiên vị, còn tự ái, còn sợ mất mặt, còn thích được khen. Đừng ngạc nhiên. Đó là cuộc chiến lâu dài. Điều quan trọng không phải là không bao giờ cảm thấy những điều ấy, nhưng là đừng để chúng ngồi vào ghế thẩm phán trong tâm hồn. Chúng có thể lên tiếng, nhưng không được quyền ra phán quyết. Tình cảm có thể nói: “Tôi không thích người này”, nhưng lý trí được soi sáng phải nói: “Dù vậy, tôi vẫn phải công bằng.” Tự ái có thể nói: “Đừng nhận lỗi”, nhưng lòng khiêm nhường phải nói: “Sai thì nhận.” Sự sợ mất mặt có thể nói: “Cố giữ quyết định cũ đi”, nhưng sự thật phải nói: “Nếu sai thì đổi.” Khát vọng được khen có thể nói: “Làm việc nào người ta thấy”, nhưng tình yêu phải nói: “Hãy làm điều cần làm, dù chẳng ai biết.”
Một ngày nào đó, khi ta đủ tự do để không cần thắng mọi cuộc tranh luận, không cần được nhìn nhận trong mọi việc, không cần bảo vệ hình ảnh của mình mọi lúc, không cần thiên vị người làm mình dễ chịu, không cần ghét người làm mình khó chịu, lúc ấy ánh sáng trong tâm hồn sẽ khác. Ta sẽ nhìn mọi sự đơn giản hơn. Người đúng thì nhận là đúng, dù ta không thích họ. Người sai thì nhận là sai, dù ta yêu họ. Mình sai thì nhận mình sai. Mình đúng cũng không cần ồn ào để chứng minh. Ta sẽ không còn phải bóp méo sự thật để bảo vệ bản thân nữa.
Và có lẽ đó là một trong những dấu chỉ đẹp nhất của sự trưởng thành nội tâm: không còn quá bận tâm xem mình có được nhìn nhận là đúng hay không, nhưng chỉ thao thức làm sao để mình thật sự đứng về phía điều đúng trước mặt Thiên Chúa. Khi đạt đến đó, sự nhận định mới bắt đầu trở nên trong sáng. Không phải vì ta đã trở thành người không thể sai, nhưng vì ta không còn sợ khám phá ra mình sai. Không phải vì ta đã hết mọi tình cảm thiên vị, nhưng vì ta không để tình cảm cai trị sự thật. Không phải vì ta không còn tự ái, nhưng vì ta biết đưa tự ái xuống khỏi ngai. Không phải vì ta không còn cần lời động viên, nhưng vì lời khen không còn là thức ăn quyết định đời mình. Không phải vì ta không còn sợ mất mặt, nhưng vì ta đã bắt đầu hiểu rằng mất một chút thể diện trước người đời chẳng đáng gì so với việc đánh mất sự thật trong lòng mình.
Hỡi linh hồn, nếu con muốn thấy rõ, đừng chỉ xin Chúa thay đổi hoàn cảnh. Hãy xin Ngài thanh luyện đôi mắt con. Đừng chỉ xin Ngài cho con biết người khác đúng hay sai. Hãy xin Ngài cho con nhận ra điều gì trong lòng con đang làm méo mó cái nhìn. Có thể vấn đề không nằm ở sự việc trước mặt mà nằm ở vết thương bên trong. Có thể con không giận vì chuyện lớn, nhưng vì cái tôi bị chạm. Có thể con không quyết liệt vì chân lý, nhưng vì sợ thua. Có thể con không bảo vệ người ấy vì công bằng, nhưng vì thiên vị. Có thể con không hăng say vì lòng mến, nhưng vì khát được nhìn nhận. Đừng sợ khi thấy những điều ấy. Ánh sáng không đến để làm nhục con. Ánh sáng đến để giải thoát con.
Hãy tập sống trước mặt Thiên Chúa hơn là trước mặt dư luận. Hãy tập hỏi: “Chúa nghĩ gì?” trước khi hỏi: “Người ta nghĩ gì?” Hãy tập vui khi sự thật được sáng tỏ ngay cả khi sự thật ấy bất lợi cho mình. Hãy tập biết ơn người dám sửa mình. Hãy tập làm những việc chẳng ai biết. Hãy tập để người khác được nổi bật mà lòng mình vẫn bình an. Hãy tập nói “tôi sai” mà không thấy mình bị hạ thấp. Hãy tập nói “anh đúng” ngay cả với người mình không thích. Từng việc nhỏ như thế sẽ làm đôi mắt nội tâm trong hơn.
Và rồi, từ từ, con sẽ khám phá một thứ tự do rất lạ: con không còn cần phải luôn luôn bảo vệ mình. Con có thể để Chúa bảo vệ con. Con không còn cần nắm giữ hình ảnh của mình trong mắt mọi người. Con chỉ cần giữ một lương tâm ngay thẳng trước mặt Ngài. Con không còn phải chiến đấu để chứng minh mình hơn người. Con chỉ cần chiến đấu để lòng mình đừng phản bội sự thật. Đó là lúc sự phân định không còn là một trò chơi của cái tôi, nhưng trở thành hành vi của một linh hồn đang thực sự tìm thánh ý Thiên Chúa.
CHƯƠNG 9: PHẢI CANH GIỮ LÝ TRÍ KHỎI VIỆC XÉT ĐOÁN NGƯỜI KHÁC
Một trong những cuộc chiến âm thầm nhất của đời sống thiêng liêng không diễn ra ở bên ngoài, không ồn ào như những cơn cám dỗ dữ dội, cũng không làm người ta dễ dàng nhận ra như một lỗi lầm công khai, nhưng lại len lỏi rất sâu trong trí khôn, trong cách nhìn, trong cách nghĩ, trong cách ta âm thầm đánh giá một người khác. Đó là sự xét đoán. Người ta có thể giữ được đôi tay khỏi làm điều xấu, giữ được miệng khỏi nói những lời nặng nề, giữ được đời sống bên ngoài xem ra rất đàng hoàng, nhưng trong lòng lại dựng lên biết bao tòa án. Mỗi ngày có biết bao người được đưa ra xét xử trong trí ta mà họ không hề hay biết. Ta nhìn một nét mặt rồi kết luận về một con người. Ta nghe một câu nói rồi phán đoán cả một tấm lòng. Ta thấy một hành động rồi nghĩ rằng mình đã hiểu động cơ sâu kín của người ấy. Ta nghe một câu chuyện qua người thứ ba rồi tự cho mình quyền phân định ai đúng ai sai. Ta thấy một người thành công thì nghi họ kiêu ngạo. Thấy một người thất bại thì nghĩ họ bất tài. Thấy một người im lặng thì cho rằng họ lạnh lùng. Thấy một người nói nhiều thì bảo họ khoe khoang. Thấy một người nghiêm khắc thì cho là thiếu tình thương. Thấy một người dịu dàng thì lại nghĩ họ giả tạo. Hình như lý trí của con người rất dễ tìm được bằng chứng để bảo vệ điều mình đã muốn tin về người khác. Và chính nơi ấy, nếu không tỉnh thức, linh hồn sẽ mất dần sự trong sáng mà chính mình cũng không biết.
Hỡi linh hồn, con phải hiểu rằng xét đoán người khác không chỉ là một lỗi của lời nói. Nó bắt đầu từ cái nhìn của trí khôn. Miệng có thể chưa nói, nhưng lòng đã kết án. Người khác có thể chưa bị tổn thương vì lời của con, nhưng chính linh hồn con đã bị tổn thương bởi cách con nhìn họ. Khi con quen nhìn người khác bằng sự nghi ngờ, con sẽ dần dần mất khả năng nhìn bằng lòng thương xót. Khi con quen tìm lỗi nơi người khác, con sẽ dần trở nên mù trước lỗi của chính mình. Khi con quen giải thích mọi sự theo hướng xấu, tâm hồn con sẽ không còn bình an, bởi đi đâu con cũng thấy những điều đáng phàn nàn, đáng khó chịu, đáng lên án. Một linh hồn thích xét đoán sẽ rất khó sống trong bình an, bởi nó mang theo trong mình một cái cân lúc nào cũng đo người này, cân người kia, so sánh người nọ với người khác, rồi âm thầm quyết định ai tốt hơn ai, ai đáng kính hơn ai, ai đáng bị coi thường hơn ai. Trong khi đó, người thực sự bước đi với Thiên Chúa càng ngày càng bớt thích làm quan tòa, bởi càng đứng gần ánh sáng của Chúa, họ càng nhìn thấy vực sâu yếu đuối của chính mình.
Đây là một điều rất đáng sợ: người hay xét đoán thường không nhận ra mình đang xét đoán. Họ nghĩ mình chỉ “nhận xét cho đúng”. Họ nói rằng mình “chỉ nhìn sự thật”. Họ cho rằng mình “có kinh nghiệm nên biết người”. Họ tin rằng mình có khả năng đọc được tâm lý, hiểu được lòng người, biết ai chân thành, ai giả dối, ai tốt, ai xấu. Và càng tin vào khả năng ấy, họ càng dễ trở nên cứng cỏi. Họ không còn đặt câu hỏi: “Có thể mình đã hiểu sai không?” Họ không còn nghĩ: “Có thể người ấy đang chịu một nỗi đau mà mình không biết.” Họ cũng ít khi tự hỏi: “Nếu mình sống trong hoàn cảnh của họ, liệu mình có khá hơn không?” Một khi trí khôn đã đóng khung một người trong một nhận định, ta bắt đầu nhìn mọi điều của người ấy qua cái khung đó. Nếu ta đã cho họ là kiêu ngạo, thì ngay cả khi họ làm điều tốt, ta cũng bảo họ muốn được khen. Nếu ta đã cho họ là ích kỷ, thì khi họ giúp người, ta vẫn nghĩ chắc họ có dụng ý. Nếu ta đã không ưa một người, ta có thể tìm được một trăm lý do để biện minh cho sự không ưa ấy. Đó là sự nguy hiểm của xét đoán: nó không chỉ làm ta sai về người khác, mà còn làm ta tin rằng cái sai của mình là sự thật.
Vì thế, phải canh giữ lý trí. Canh giữ lý trí không có nghĩa là trở nên ngây thơ, không phân biệt được đúng sai, không nhận ra điều nguy hiểm, cũng không phải là nhắm mắt trước sự dữ. Đức tin không dạy con người sống thiếu khôn ngoan. Có những hành vi thực sự sai, có những tình huống phải được phân định, có những trách nhiệm buộc ta phải đánh giá sự việc để bảo vệ người yếu thế, bảo vệ cộng đoàn, bảo vệ sự thật. Nhưng khác biệt rất lớn giữa việc phân định một hành vi và việc kết án một con người. Ta có thể nói một hành động là sai mà không cần tuyên bố người thực hiện hành động ấy là người xấu. Ta có thể thấy một lời nói gây tổn thương mà không cần tự cho mình biết hết ý hướng trong lòng người nói. Ta có thể thận trọng trước một người mà không nuôi lòng khinh miệt họ. Ta có thể đặt giới hạn mà không cần căm ghét. Ta có thể không đồng ý mà vẫn giữ lòng kính trọng. Đó chính là sự trưởng thành của một linh hồn biết sống trong chân lý và bác ái.
Mỗi lần con muốn xét đoán người khác, hãy lập tức quay về xét mình. Đây là một khí giới rất mạnh. Đừng để tâm trí tiếp tục chạy theo những suy đoán về người kia. Hãy quay ánh sáng lại phía mình và hỏi: “Còn tôi thì sao?” Con thấy một người thiếu kiên nhẫn, hãy hỏi: “Tôi đã bao lần làm người khác mệt mỏi vì sự nóng nảy của mình?” Con thấy một người ham được chú ý, hãy hỏi: “Tôi có thực sự tự do trước lời khen không?” Con thấy một người ích kỷ, hãy hỏi: “Có bao lần tôi chỉ nghĩ đến sự thuận tiện của mình?” Con thấy một người đạo đức nhưng còn nhiều khuyết điểm, hãy hỏi: “Nếu người khác nhìn kỹ đời tôi như tôi đang nhìn người ấy, họ sẽ thấy những gì?” Con thấy một người sa ngã, hãy hỏi: “Nếu Chúa rút ơn nâng đỡ khỏi tôi một giây thôi, liệu tôi có đứng vững không?” Chỉ cần thành thật với mình như thế, lòng kiêu ngạo sẽ bắt đầu dịu xuống. Bởi rất nhiều lần ta xét đoán không phải vì ta yêu sự thật, nhưng vì việc nhìn thấy lỗi của người khác khiến ta tạm quên lỗi của mình.
Có một thứ khoái cảm tinh vi khi con người nói về lỗi của người khác. Nó làm ta cảm thấy mình cao hơn một chút. Ta kể lại sự yếu đuối của một người và trong lòng kín đáo nghĩ rằng mình không đến nỗi như họ. Ta phân tích một thất bại của người khác rồi tự thấy mình khôn ngoan hơn. Ta nhìn một người sa ngã và cảm thấy yên tâm về sự ngay thẳng của mình. Nhưng đó là một sự bình an giả. Bởi người thánh thiện thật không vui khi thấy người khác sai. Họ đau. Họ cầu nguyện. Họ sợ cho chính mình. Họ hiểu rằng khoảng cách giữa một người đang đứng và một người đang ngã đôi khi chỉ là một khoảnh khắc thiếu ơn Chúa. Người biết mình yếu đuối sẽ không đứng trên bờ mà khinh người đang chìm. Họ sẽ biết rằng chính mình cũng chỉ đang được giữ nổi nhờ bàn tay Thiên Chúa.
Hãy nhớ lời của Chúa Giêsu: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán.” Lời ấy không chỉ là một lời khuyên đạo đức nhẹ nhàng. Nó đụng đến tận căn bệnh sâu nhất của lòng kiêu ngạo: con người muốn ngồi vào vị trí chỉ thuộc về Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới biết trọn vẹn một con người. Chỉ Ngài biết một người đã đi qua những gì. Chỉ Ngài biết những giọt nước mắt chưa từng được ai thấy. Chỉ Ngài biết những trận chiến thầm kín đang diễn ra trong lòng họ. Chỉ Ngài biết mức độ ánh sáng họ đã nhận được, những thương tích họ mang từ quá khứ, những giới hạn của tính khí, giáo dục, hoàn cảnh, sức khỏe, những cám dỗ mà họ phải chịu, những lần họ đã cố gắng mà không ai biết. Ta thấy một lát cắt nhỏ rồi kết luận cả cuộc đời. Ta nghe một câu chuyện vài phút rồi tưởng mình hiểu cả một con người đã sống mấy chục năm. Đó là một sự liều lĩnh khủng khiếp của trí khôn.
Có khi người mà con đang xét đoán đã khóc trước mặt Chúa đêm qua vì chính lỗi lầm mà con đang khinh thường họ. Có khi người mà con cho là khô khan lại đang cố gắng sống qua một ngày với một trái tim tan nát. Có khi người con cho là lười biếng đang chiến đấu với một sự kiệt quệ mà không ai biết. Có khi người con cho là lạnh lùng đã từng trao hết lòng mình rồi bị tổn thương đến mức họ không còn dễ mở lòng. Có khi người con cho là vô ơn đang mang trong mình một cuộc chiến quá lớn nên không biết diễn tả lòng biết ơn thế nào. Có khi người con nghĩ là kiêu ngạo lại chỉ đang vụng về trong cách giao tiếp. Và cũng có khi người con thấy thật sự có lỗi. Nhưng ngay cả khi họ có lỗi, con vẫn không biết trọn vẹn mức trách nhiệm của họ trước Thiên Chúa. Điều con biết về người khác luôn ít hơn điều con tưởng.
Ngược lại, điều con cần biết về chính mình lại thường nhiều hơn điều con muốn biết. Đó là lý do tại sao ma quỷ rất thích làm cho ta bận rộn với lỗi của người khác. Chừng nào con còn chăm chú nhìn sang nhà bên cạnh, con sẽ chưa quét căn phòng của mình. Chừng nào con còn bận phân tích sự kiêu ngạo của người khác, con có thể không nhận ra sự kiêu ngạo đang ẩn trong chính cách con phân tích họ. Chừng nào con còn bận tố cáo sự ích kỷ của một người, con có thể quên mất sự ích kỷ đang khiến con thiếu cảm thông. Chừng nào con còn bận phê bình sự nóng nảy của người khác, con có thể không thấy sự cay nghiệt trong lòng mình. Đôi khi điều làm ta khó chịu nhất nơi người khác lại chính là chiếc gương phản chiếu một phần bóng tối mà ta không muốn nhìn nơi mình.
Cho nên mỗi lần thấy lòng mình bắt đầu nổi lên một sự phê phán, hãy biến nó thành lời mời gọi trở về. Hãy nói thầm: “Lạy Chúa, xin cho con nhìn lại chính con.” Đó là một thói quen thiêng liêng rất quý. Không cần tranh luận với mọi ý nghĩ. Không cần cố chứng minh rằng người kia tốt. Chỉ cần trở về. “Tôi có điều gì phải sửa hôm nay?” “Tôi đã làm ai buồn?” “Tôi đang thiếu bác ái ở đâu?” “Tôi có đang tự mãn không?” “Tôi có đang tìm thấy một niềm vui kín đáo khi người khác bị hạ xuống không?” Những câu hỏi ấy làm tâm hồn khiêm tốn rất nhanh.
Có người sẽ nói: “Nhưng người ấy rõ ràng sai mà.” Có thể đúng. Người ấy có thể sai thật. Nhưng vấn đề của con không phải lúc nào cũng là xác định họ sai hay đúng. Vấn đề là: cái sai của họ đang làm gì trong lòng con? Nó có khiến con cầu nguyện cho họ không, hay khiến con khinh họ? Nó có làm con đau vì một người anh em đang yếu đuối không, hay làm con hả hê vì mình có vẻ tốt hơn? Nó có thúc đẩy con tìm cách giúp đỡ không, hay trở thành đề tài cho con kể với người khác? Một lỗi của người khác có thể trở thành cơ hội để con lớn lên trong tình thương, nhưng cũng có thể trở thành cái bẫy làm con rơi vào kiêu ngạo. Sai lầm của họ chưa chắc làm con mất Chúa; nhưng cách con phản ứng với sai lầm ấy có thể làm lòng con xa Chúa.
Thật kỳ lạ, chúng ta thường rất nghiêm khắc với những tội mà mình ít phạm, nhưng lại rất dễ dàng với những tội mình quen phạm. Người ít nóng giận có thể khắt khe với người nóng tính. Người sống trật tự có thể thiếu cảm thông với người bừa bộn. Người mạnh mẽ có thể coi thường người nhạy cảm. Người quyết đoán có thể phán xét người do dự. Người có khả năng giao tiếp tốt có thể cho rằng người vụng về là thiếu thiện chí. Ta lấy ơn riêng của mình làm tiêu chuẩn để đo sự yếu đuối của người khác, mà quên rằng điều ta làm dễ dàng có thể là một cuộc chiến rất lớn đối với họ. Và điều họ làm được dễ dàng có khi lại là điều ta đang thất bại. Nếu Thiên Chúa chỉ xét ta theo những ân huệ Ngài ban cho người khác, có lẽ không ai trong chúng ta đứng vững.
Một dấu hiệu của sự trưởng thành thiêng liêng là càng ngày càng ít ngạc nhiên trước sự yếu đuối của người khác và càng ngày càng cảnh giác trước sự yếu đuối của mình. Người mới bắt đầu thường nghĩ: “Sao người ấy có thể làm như vậy?” Người đã sống lâu với chính mình và với lòng thương xót Chúa sẽ nói: “Nếu không có ơn Chúa, tôi cũng có thể như thế, thậm chí tệ hơn.” Câu ấy không phải là giả bộ khiêm nhường. Nó là một chân lý. Không ai trong chúng ta tự mình bảo đảm được lòng trung thành ngày mai. Phêrô đã từng quả quyết rằng dù mọi người có bỏ Chúa, ông cũng không bỏ. Chỉ vài giờ sau, ông đã chối Thầy ba lần. Sự kiện ấy được lưu lại không phải để chúng ta khinh Phêrô, nhưng để chúng ta sợ sự tự tin nơi chính mình.
Nếu con muốn chiến thắng thói xét đoán, đừng chỉ cố gắng “không nghĩ xấu”. Hãy học nhìn người khác dưới ánh sáng lòng thương xót. Khi thấy một khuyết điểm, hãy nhớ rằng con chỉ nhìn thấy một phần. Khi nghe một câu chuyện bất lợi về ai, đừng vội nhận nó làm sự thật toàn bộ. Khi ai đó làm con thất vọng, hãy cho phép mình đau nhưng đừng để nỗi đau biến thành bản án. Khi một người cư xử tệ, hãy phân biệt rõ hành vi và con người. Một hành vi đáng trách không khiến một con người mất phẩm giá. Một sai lầm nghiêm trọng cũng không cho con quyền phủ nhận khả năng hoán cải của họ. Nếu Thiên Chúa vẫn còn kiên nhẫn với một người, con là ai mà đóng cánh cửa hy vọng lại?
Đừng quên rằng có những người hôm nay đang sống rất đẹp đã từng có một quá khứ khiến người khác khinh chê. Có những vị thánh đã từng là những tội nhân lớn. Nếu ai đó gặp Augustinô khi ngài còn đang sống trong những đam mê của tuổi trẻ và kết luận: “Con người này chẳng nên trò trống gì,” thì họ đã xét đoán sai một vị đại thánh của tương lai. Nếu ai chỉ nhìn Phêrô ở sân dinh thượng tế, họ sẽ thấy một người hèn nhát chối Thầy. Nhưng Chúa Giêsu nhìn xa hơn giây phút ấy và thấy một người sẽ củng cố anh em mình. Nếu ai chỉ nhìn người trộm lành trong phần lớn cuộc đời ông, họ có thể chỉ thấy một tội phạm. Nhưng vào những phút cuối cùng, một cánh cửa thiên đàng lại mở ra. Vì thế, đừng đóng dấu lên một người khi Thiên Chúa vẫn đang viết câu chuyện của họ.
Cũng đừng quên rằng chính con cần được người khác nhìn bằng lòng thương xót như thế. Có lẽ có những ngày con đã cư xử không đúng với con người thật sâu xa của mình. Có lúc con mệt nên nóng. Có lúc con đau nên khép kín. Có lúc con sợ nên phản ứng vụng về. Có lúc con ích kỷ. Có lúc con hiểu sai. Có lúc con phạm tội mà chính con cũng xấu hổ khi nhớ lại. Nếu người khác lấy đúng khoảnh khắc tệ nhất ấy để định nghĩa toàn bộ con người con, con có thấy công bằng không? Nếu không, con cũng đừng làm điều ấy với họ.
Mỗi tối, thay vì kiểm điểm xem hôm nay ai đã làm con khó chịu, hãy hỏi xem hôm nay con đã nhìn ai thiếu lòng thương xót. Có thể con không nói gì, nhưng một cái nhìn khinh miệt đã xuất hiện. Có thể con giữ im lặng, nhưng trong lòng con đã kể cho chính mình một câu chuyện rất xấu về người kia. Có thể con mỉm cười bên ngoài, nhưng trong lòng lại mong họ thất bại để chứng minh mình đúng. Những điều ấy cần được đem ra ánh sáng. Không phải để con tự hành hạ mình, nhưng để xin Chúa thanh tẩy cái nhìn. Một trái tim trong sạch không phải là trái tim không nhận thấy khuyết điểm, nhưng là trái tim nhìn thấy khuyết điểm mà vẫn không ngừng yêu.
Hãy cẩn thận đặc biệt với những cuộc trò chuyện về người vắng mặt. Rất nhiều xét đoán được nuôi lớn trong những cuộc nói chuyện tưởng như vô hại. Một người bắt đầu: “Tôi không muốn nói xấu đâu, nhưng…” và sau chữ “nhưng” ấy có khi là cả một câu chuyện dài. Ta nói rằng mình chỉ chia sẻ để “cầu nguyện”, nhưng lại kể những chi tiết không cần thiết. Ta bảo rằng mình chỉ muốn “tìm lời khuyên”, nhưng lại tìm người vốn sẵn đồng tình với ta. Ta kể lỗi của người khác bằng giọng đau buồn, nhưng sâu trong lòng lại có chút thỏa mãn vì mình được ở phía đúng. Những điều này rất tinh vi. Người muốn tiến sâu trong đời sống nội tâm phải có sự thanh sạch trong lời nói, và sự thanh sạch ấy bắt đầu từ sự thanh sạch trong suy nghĩ.
Một nguyên tắc rất quý là: nếu điều con sắp nói về một người không giúp ích gì cho người nghe, không giúp ích gì cho người bị nói đến, và không cần thiết vì trách nhiệm, thì tốt hơn nên giữ im lặng. Im lặng nhiều khi cứu linh hồn khỏi biết bao lỗi. Không phải mọi điều đúng đều phải được nói. Không phải mọi lỗi của người khác đều cần được kể. Có những điều phải được che phủ bằng bác ái. Thánh Kinh nói tình yêu che phủ muôn vàn tội lỗi không có nghĩa là dung túng sự dữ, nhưng là không biến lỗi của người khác thành món ăn cho sự tò mò, khinh miệt hay đàm tiếu.
Khi con bị người khác làm tổn thương, việc không xét đoán lại càng khó. Lúc ấy con có dữ kiện thật: họ đã nói câu ấy, đã làm việc ấy. Vết thương là thật. Nhưng hãy coi chừng việc từ hành vi ấy đi đến kết luận về toàn bộ tâm hồn họ. “Họ làm tôi tổn thương” là một sự kiện. “Họ là người xấu” đã là một bản án. “Họ đã phản bội lòng tin của tôi” có thể là sự thật. “Họ không bao giờ có chút chân thành nào” lại là điều con không chắc biết. Hãy giữ lấy sự thật cần thiết để bảo vệ mình, nhưng đừng thêm vào đó những điều mà chỉ Thiên Chúa biết.
Có lúc bác ái đòi con phải đối diện với lỗi của người khác. Không xét đoán không có nghĩa là hèn nhát. Nếu con có trách nhiệm với một người, con có thể cần nói thẳng. Nhưng hãy nói với họ, đừng chỉ nói về họ. Hãy sửa lỗi với mong muốn họ tốt hơn, chứ không để chứng minh con đúng. Hãy nói điều cần nói rồi dừng lại. Đừng moi lại quá khứ, đừng gom mọi lỗi thành một bản cáo trạng, đừng dùng sự thật như một vũ khí để làm người khác nhục nhã. Sự thật đến từ Thiên Chúa luôn đi cùng bác ái. Một sự thật không có tình yêu có thể trở thành một lưỡi dao.
Nếu con muốn biết mình đang sửa lỗi vì bác ái hay vì tự ái, hãy tự hỏi: “Nếu người này thay đổi và trở nên tốt đẹp hơn tôi, tôi có vui không?” Nếu câu trả lời trong lòng là không, có lẽ điều con đang bảo vệ không chỉ là sự thật mà còn là cái tôi. Hoặc hãy hỏi: “Tôi có cầu nguyện cho người này nhiều như tôi nói về lỗi của họ không?” Nếu con dành một giờ để kể về một người nhưng không dành nổi một phút để cầu nguyện cho họ, thì hãy nghi ngờ sự trong sáng của động cơ mình.
Một cách rất hữu hiệu để chữa bệnh xét đoán là tập tìm điều tốt nơi những người làm con khó chịu. Không phải bịa ra điều tốt, nhưng nhìn công bằng. Không một con người nào chỉ có khuyết điểm. Người nóng tính có thể rất quảng đại. Người ít nói có thể rất trung thành. Người vụng về có thể rất chân thành. Người làm con tổn thương có thể vẫn có những điều đáng quý. Khi con chỉ nhìn một lỗi rồi che khuất toàn bộ con người, đó không còn là sự thật nữa. Sự thật phải toàn diện. Bác ái giúp con nhìn rộng hơn.
Hãy học cầu nguyện cho người con dễ xét đoán nhất. Đừng chờ đến khi cảm thấy thương họ mới cầu nguyện. Hãy bắt đầu khi lòng con còn khô cứng. Hãy nói đơn sơ: “Lạy Chúa, xin chúc lành cho người ấy. Xin làm cho họ nên thánh. Xin chữa lành những điều trong họ cần được chữa lành. Và xin chữa trong con điều khiến con không thể yêu họ.” Cầu nguyện thật lâu cho một người sẽ làm con khó tiếp tục khinh họ. Bởi khi con đem họ đến trước mặt Chúa, con bắt đầu nhớ rằng họ cũng là một linh hồn được Đức Kitô đổ máu cứu chuộc.
Đức Giêsu trên thập giá là trường học cao nhất của việc không xét đoán. Trước mặt Ngài là những người đóng đinh Ngài, nhạo cười Ngài, bỏ rơi Ngài. Ngài có đầy đủ quyền để kết án. Ngài biết rõ lòng họ hơn bất cứ ai. Nhưng lời phát ra lại là: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Điều đáng kinh ngạc là Đức Giêsu còn tìm một lý do để bào chữa cho những kẻ đang làm đau mình. Còn chúng ta thì ngược lại: nhiều khi ta tìm lý do để kết án ngay cả người đang muốn làm điều tốt. Chúng ta giải thích điều mơ hồ theo hướng xấu, trong khi Chúa Giêsu giải thích ngay cả điều xấu trong ánh sáng của lòng thương xót.
Nếu con muốn trở nên giống Đức Kitô, hãy tập bênh vực người khác trong lòng mình. Khi tâm trí nói: “Người ấy chắc cố tình,” hãy trả lời: “Có thể không.” Khi tâm trí nói: “Họ lúc nào cũng như vậy,” hãy nói: “Tôi không biết hết.” Khi tâm trí bảo: “Họ không bao giờ thay đổi đâu,” hãy nói: “Ơn Chúa có thể làm điều tôi không thể tưởng tượng.” Không cần biến điều xấu thành tốt. Chỉ cần từ chối tự đặt mình vào vị trí của Thiên Chúa.
Một linh hồn khiêm nhường có một nguyên tắc rất đơn giản: nghiêm với mình, rộng với người. Còn lòng kiêu ngạo thường làm điều ngược lại: rộng với mình, nghiêm với người. Khi mình sai, ta có một trăm lý do: vì mệt, vì áp lực, vì không ai hiểu mình, vì hoàn cảnh khó khăn. Khi người khác sai, ta chỉ có một kết luận: vì họ xấu. Khi mình nổi nóng, ta nói “tôi chỉ phản ứng vì bị dồn ép”. Khi người khác nổi nóng, ta nói “bản chất người ấy nóng nảy”. Khi mình quên, đó là sơ suất; khi người khác quên, đó là vô trách nhiệm. Khi mình im lặng, đó là khôn ngoan; khi người khác im lặng, đó là kiêu căng. Hãy nhìn xem cái tôi khéo léo đến mức nào.
Bởi vậy, mỗi lần con nhận ra mình đang xét đoán, đừng hoảng sợ, cũng đừng tự lên án mình quá mức. Hãy dùng chính lúc ấy như tiếng chuông gọi con trở về khiêm nhường. “Lạy Chúa, con lại muốn làm quan tòa. Xin thương xót con.” Rồi nhìn lại mình. Có thể con sẽ phát hiện rằng điều làm con tức nhất nơi người kia là điều con chưa tha thứ nơi chính mình. Có thể con đang mệt nên dễ khó chịu. Có thể lòng tự ái vừa bị đụng chạm. Có thể con đang ghen. Có thể con đang sợ mất vị trí, sợ bị xem thường, sợ người kia được yêu quý hơn. Khi xét mình thật sâu, ta thường nhận ra rằng rất nhiều bản án của ta về người khác nói nhiều về tình trạng lòng ta hơn về con người của họ.
Đừng biến việc xét mình thành tự ghét mình. Xét mình theo tinh thần Kitô giáo không phải là ngồi đếm tội trong bóng tối, nhưng là đem lòng mình đến trước ánh sáng. Con nhìn thấy sự yếu đuối để chạy đến lòng thương xót, chứ không phải để tuyệt vọng. Mục đích của việc quay về xét mình là làm con nhỏ lại, dịu lại, thương người hơn. Nếu sau khi xét mình con trở nên cay nghiệt với chính mình, con vẫn chưa hiểu lòng Chúa. Khiêm nhường thật luôn đi cùng lòng tín thác.
Một người càng ý thức mình được tha thứ nhiều, càng dễ tha thứ cho người khác. Một người càng nhớ Chúa đã kiên nhẫn với mình bao nhiêu, càng khó mất kiên nhẫn với anh em. Con hãy nghĩ lại cả cuộc đời con. Có bao nhiêu lần Chúa có thể đã bỏ con mà Ngài không bỏ. Bao nhiêu lần con hứa rồi thất hứa. Bao nhiêu lần con biết điều tốt mà không làm. Bao nhiêu lần con quay lại với cùng một lỗi. Nếu Thiên Chúa đối xử với con theo sự nóng vội mà con thường dành cho người khác, con sẽ ở đâu? Nghĩ như vậy không để con buồn, nhưng để con biết thương.
Có một sự tự do lớn lao khi con từ bỏ nhiệm vụ xét đoán mọi người. Con không còn phải biết hết ai đúng, ai sai. Con không còn phải sửa hết mọi người. Con không còn phải mang cả thế giới lên chiếc cân của mình. Con làm điều thuộc bổn phận, còn phần sâu kín của linh hồn người khác, con trao cho Thiên Chúa. Con sẽ nhẹ hơn rất nhiều. Rất nhiều mệt mỏi trong đời không đến từ công việc của ta, nhưng đến từ những công việc ta tự nhận mà Chúa không giao: phân tích người này, kết luận người kia, đo động cơ người nọ. Hãy trả những việc ấy lại cho Thiên Chúa.
Khi người khác được khen, đừng vội tìm lỗi để làm giảm giá trị của lời khen ấy. Đây cũng là một hình thức xét đoán rất phổ biến. Một người được yêu mến, ta nói: “Nếu người ta biết hết thì…” Một người làm được điều tốt, ta nghĩ: “Chắc cũng có mục đích.” Một người được trao trách nhiệm, ta âm thầm tìm lý do tại sao họ không xứng. Đằng sau đó thường là lòng ghen. Hãy gọi đúng tên nó và đem nó đến với Chúa. Đừng che lòng ghen dưới lớp áo “phân định”. Khi người khác được chúc phúc, hãy tập nói: “Tạ ơn Chúa.” Khả năng vui với điều tốt của người khác là dấu hiệu của một trái tim tự do.
Cũng vậy, khi người con không thích gặp thất bại, hãy canh chừng một niềm vui tối tăm rất nhỏ trong lòng: “Tôi biết mà.” Hãy dập tắt ngay. Đừng nuôi nó. Không có gì giống tinh thần Đức Kitô trong việc vui trước sự sa ngã của anh em. Nếu họ sai, hãy đau vì họ. Nếu họ bị hạ nhục, đừng ném thêm đá. Một ngày nào đó, có thể con sẽ ở đúng vị trí ấy và sẽ hiểu giá trị của một bàn tay không kết án.
Trong đời sống cộng đoàn, gia đình, giáo xứ hay bất cứ môi trường nào, thói xét đoán có sức phá hoại ghê gớm. Nó làm người ta sống cạnh nhau nhưng không còn tin nhau. Một câu chuyện được truyền qua nhiều miệng sẽ biến dạng. Một lời nhận xét ban đầu tưởng nhẹ nhàng có thể trở thành một nhãn dán đi theo một người rất lâu. Có những người mang tiếng xấu nhiều năm chỉ vì một sự việc mà chẳng ai còn biết chính xác bắt đầu từ đâu. Bởi vậy, hãy rất thận trọng khi con trao cho người khác một nhận định về một người vắng mặt. Lời của con có thể trở thành đôi mắt qua đó họ nhìn người ấy. Đừng tạo ra một định kiến trong lòng người khác.
Nếu đã lỡ nói điều bất lợi về ai, hãy cố gắng sửa lại nếu có thể. Nếu con đã kể một câu chuyện thiếu công bằng, hãy can đảm nói: “Có lẽ tôi đã nói quá.” Nếu con phát hiện điều mình kể là sai, đừng chỉ âm thầm hối hận; hãy đính chính với những người đã nghe. Danh dự của một người cũng quý giá. Nhiều người sẵn sàng trả lại tiền đã lấy của người khác, nhưng ít người nghĩ đến việc trả lại danh dự đã bị mình làm tổn thương.
Trong đời thiêng liêng, hãy tập một kỷ luật nhỏ: mỗi khi nhận thấy một khuyết điểm nơi ai, hãy lập tức cầu nguyện một lời cho người ấy và xét một lỗi nơi mình. Thấy ai kiêu ngạo: “Lạy Chúa, xin chúc lành cho họ, và xin cứu con khỏi kiêu ngạo.” Thấy ai nóng giận: “Xin cho họ bình an, và xin chữa sự nóng nảy trong con.” Thấy ai yếu đuối: “Xin nâng họ dậy, và xin đừng để con tự phụ.” Làm như thế lâu ngày, những gì trước đây là dịp xét đoán sẽ trở thành dịp nên thánh.
Và có lẽ một ngày con sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng những người làm con khó chịu nhất lại là những người Thiên Chúa dùng nhiều nhất để cho con thấy chính mình. Người thiếu kiên nhẫn dạy con kiên nhẫn. Người không biết ơn dạy con yêu mà không đòi đáp lại. Người hiểu lầm con dạy con tìm sự công nhận nơi Chúa hơn nơi loài người. Người phê bình con dạy con biết phân biệt giữa lòng tự ái và chân lý. Người làm con đau có thể trở thành một trường học của lòng thương xót. Khi ấy, thay vì hỏi: “Tại sao Chúa để người này ở trong đời con?” con sẽ bắt đầu hỏi: “Chúa muốn con học gì qua người này?”
Hỡi linh hồn, đừng phí đời mình vào việc canh chừng lỗi của thiên hạ. Con còn một khu vườn rất lớn cần chăm sóc: linh hồn con. Cỏ dại trong đó còn nhiều. Đất còn cần cày. Hạt giống cần tưới. Nếu con thật sự bận rộn với việc nên thánh của chính mình, con sẽ ít thời gian hơn để làm quan tòa người khác. Các thánh không nên thánh vì họ tìm ra thật nhiều lỗi nơi người khác, nhưng vì họ không ngừng để Chúa thanh luyện chính mình.
Hãy để Thiên Chúa làm Quan Tòa. Con hãy làm người anh em. Hãy để Chúa xét xử. Con hãy thương xót. Hãy để Chúa biết mọi bí mật. Con hãy sống khiêm nhường trước điều mình không biết. Khi cần nói sự thật, hãy nói với lòng run sợ của người biết mình cũng có thể sai. Khi cần sửa lỗi, hãy sửa như một người tội lỗi đang nâng một người tội lỗi khác đứng lên. Khi phải đối diện với sự dữ, hãy mạnh mẽ nhưng đừng để lòng mình nhiễm độc bởi khinh miệt.
Sau cùng, mỗi khi con muốn xét đoán ai đó, hãy nhìn lên thập giá. Ở đó có một Đấng vô tội đang chịu chết cho những kẻ có tội. Ở đó công lý và lòng thương xót gặp nhau. Ở đó con sẽ nhớ rằng người con đang xét đoán cũng là một người mà Đức Kitô đã chết cho. Và con cũng vậy. Cả hai cùng cần một dòng Máu. Cả hai cùng sống nhờ một lòng thương xót. Cả hai đều không có gì để khoe ngoài ân sủng.
Vậy nên, khi ý nghĩ xét đoán vừa xuất hiện, hãy lập tức quay về và nói: “Lạy Chúa, xin cho con thấy mình trước khi con nhìn lỗi người. Xin cho con nhớ những lần Chúa đã tha thứ cho con trước khi con kết án anh em. Xin cho con nghiêm khắc với tội của con nhưng dịu dàng với sự yếu đuối của người khác. Xin giữ trí con khỏi tò mò về điều không thuộc bổn phận, giữ miệng con khỏi nói điều không cần thiết, giữ lòng con khỏi khinh thường bất cứ ai. Nếu người anh em của con sai, xin cho con biết cầu nguyện. Nếu họ ngã, xin cho con biết nâng. Nếu họ làm con đau, xin cho con biết trao nỗi đau ấy cho Chúa. Và nếu con phải sửa họ, xin cho con sửa trong tình yêu, chứ không trong tự ái.”
Ngày nào con thôi bận làm quan tòa của người khác, ngày ấy lòng con bắt đầu rộng ra. Ngày nào con biết dùng lỗi người khác để nhắc mình khiêm nhường, ngày ấy mọi gặp gỡ đều có thể trở thành một ơn. Và ngày nào con nhìn một người sa ngã mà lòng chỉ còn biết thốt lên: “Lạy Chúa, xin thương họ, và cũng xin thương con,” ngày ấy con đã đi được một đoạn rất xa trên con đường của lòng thương xót. Bởi cuối cùng, điều giữ chúng ta ở lại trong bàn tay Thiên Chúa không phải là vì chúng ta tốt hơn ai, nhưng chỉ vì lòng thương xót của Ngài vẫn còn nâng đỡ chúng ta từng ngày.
Xin đừng quên: mỗi lần muốn nhìn sâu vào lỗi của một người, hãy quay ánh mắt ấy về lòng mình trước. Có thể con sẽ thấy ở đó đủ việc để làm cho đến hết đời. Và khi đã thấy sự nghèo nàn của mình dưới ánh sáng Thiên Chúa, con sẽ không còn nhiều đá trong tay để ném người khác nữa. Con sẽ chỉ còn đôi tay trống, đôi tay của một người cũng đang cần được cứu. Chính đôi tay trống ấy mới có thể chắp lại để cầu nguyện, mới có thể mở ra để nâng một người anh em, và mới có thể đón lấy lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
CHƯƠNG 10: LUYỆN TẬP Ý CHÍ – CHỈ TÌM LÀM VUI LÒNG THIÊN CHÚA
Có một lúc nào đó trên con đường thiêng liêng, linh hồn phải đi tới một câu hỏi rất thật, rất sâu và cũng rất đau: Tại sao tôi làm điều này? Tôi cầu nguyện vì yêu Chúa, hay vì tôi muốn được bình an? Tôi phục vụ vì Chúa muốn, hay vì tôi thích cảm giác mình hữu ích? Tôi hy sinh vì lòng mến, hay vì trong thâm tâm tôi muốn được người ta nhìn nhận? Tôi nhẫn nhịn vì muốn nên giống Đức Kitô, hay vì sợ người khác nghĩ xấu về mình? Tôi làm việc thiện vì Thiên Chúa, hay vì tôi thích thấy mình là người tốt? Câu hỏi ấy nhỏ thôi, nhưng nếu dám để nó đi thật sâu vào lòng, nó có thể làm sụp đổ cả một thế giới đạo đức mà ta đã âm thầm xây dựng quanh cái tôi của mình. Bởi vì con người có thể làm rất nhiều việc tốt mà vẫn chưa thật sự thuộc về Thiên Chúa. Có thể cầu nguyện nhiều mà vẫn tìm mình. Có thể hy sinh nhiều mà vẫn yêu mình. Có thể phục vụ người nghèo, chăm sóc người bệnh, giảng dạy, làm việc tông đồ, sống kỷ luật, chịu đựng thiếu thốn, mà tận đáy lòng vẫn còn một tiếng nói rất nhỏ nhưng rất dai dẳng: “Tôi muốn người ta biết. Tôi muốn người ta hiểu. Tôi muốn được nhìn nhận. Tôi muốn thấy mình có giá trị. Tôi muốn cảm thấy mình đang nên thánh.” Chính vì thế, việc luyện tập ý chí không đơn giản chỉ là tập cho mình mạnh hơn, kiên trì hơn, chịu khó hơn hay làm chủ bản thân tốt hơn. Người đời cũng có thể làm những điều ấy. Một vận động viên có thể ép mình tập luyện đến kiệt sức. Một doanh nhân có thể kỷ luật bản thân vô cùng nghiêm khắc. Một người tham vọng có thể từ bỏ rất nhiều thú vui để đạt tới mục tiêu. Một người muốn được ngưỡng mộ có thể chịu đựng vô số khó nhọc để xây dựng hình ảnh của mình. Ý chí Kitô giáo không được luyện tập chỉ để trở thành một ý chí cứng cỏi. Nó được luyện tập để trở thành một ý chí thuộc về Thiên Chúa, mềm mại trong tay Người, sẵn sàng muốn điều Người muốn, từ bỏ điều Người không muốn, làm điều phải làm dù không thích, và thôi làm điều mình rất thích khi nhận ra điều ấy không đẹp lòng Người. Đó mới là cuộc chiến thật sự. Không phải cuộc chiến để thắng người khác. Không phải cuộc chiến để chứng minh mình hơn người khác. Nhưng là cuộc chiến để ý riêng trong ta mỗi ngày nhỏ lại, để thánh ý Thiên Chúa mỗi ngày có thêm chỗ trong đời mình.
Hỡi linh hồn, con hãy ghi thật sâu điều này: mọi hành động bên trong lẫn bên ngoài của con phải dần dần quy về một mục đích duy nhất: làm vui lòng Thiên Chúa. Không phải vì con thích. Không phải vì việc ấy hợp với tính khí của con. Không phải vì nó đem lại cho con sự an ủi. Không phải vì người ta sẽ khen con là đạo đức, hy sinh, quảng đại hay thánh thiện. Không phải vì con sẽ được biết đến. Không phải vì con muốn thấy mình tiến bộ. Không phải thậm chí chỉ vì con sợ hình phạt hay mong phần thưởng. Nhưng trước hết và trên hết: vì Thiên Chúa muốn như vậy, và vì con yêu Người. Đây là một sự thanh luyện rất sâu. Bởi cái tôi của chúng ta tinh vi hơn chúng ta tưởng. Nó không chỉ xuất hiện trong tội lỗi rõ ràng. Nó có thể khoác áo nhân đức. Nó có thể đi vào nhà thờ với chúng ta. Nó có thể quỳ bên cạnh chúng ta khi chúng ta cầu nguyện. Nó có thể bước lên bục giảng. Nó có thể đứng bên giường người bệnh. Nó có thể có mặt trong những công việc bác ái. Nó có thể ẩn dưới những lời rất đạo đức. Và điều đáng sợ nhất là nhiều khi chúng ta không nhận ra nó. Ta tưởng mình đang tìm Chúa, nhưng thực ra ta đang tìm cảm giác về Chúa. Ta tưởng mình đang yêu Chúa, nhưng nhiều lúc ta chỉ yêu những ơn an ủi Chúa ban. Ta tưởng mình đang phục vụ Hội Thánh, nhưng có khi ta chỉ thích được cần đến. Ta tưởng mình hy sinh vì người khác, nhưng sâu xa ta mong họ nhớ ơn. Ta tưởng mình khiêm nhường, nhưng lại đau nhói khi không ai nhìn thấy sự khiêm nhường ấy. Ta tưởng mình đã bỏ mình, nhưng lại buồn bực khi người ta không đánh giá đúng sự bỏ mình của ta. Chính ở đây, việc luyện tập ý chí bắt đầu trở nên rất thật: tôi có thể làm điều tốt khi không ai biết không? Tôi có thể tiếp tục trung thành khi không được khen không? Tôi có thể phục vụ khi không được cảm ơn không? Tôi có thể cầu nguyện khi không cảm thấy gì không? Tôi có thể vâng lời khi điều được yêu cầu trái với sở thích của tôi không? Tôi có thể chấp nhận một công việc nhỏ bé khi tôi nghĩ mình có khả năng làm việc lớn hơn không? Tôi có thể để người khác được nổi bật trong khi mình âm thầm đứng phía sau không? Tôi có thể bị hiểu lầm mà vẫn giữ được lòng bình an nếu tôi biết mình đang cố làm điều đẹp lòng Chúa không?
Đó là những câu hỏi phơi bày chất lượng thật của ý chí. Khi điều ta làm còn đem lại niềm vui, danh dự, sự công nhận, cảm giác thành công, ta chưa biết chắc mình yêu Thiên Chúa đến đâu. Nhưng khi mọi sự nâng đỡ bị rút đi, khi việc bổn phận trở nên khô khan, khi người khác không hiểu, khi chẳng ai khen, khi không thấy kết quả, khi ta chỉ còn một lý do duy nhất để tiếp tục: “Lạy Chúa, vì Chúa muốn con làm điều này”, lúc đó tình yêu bắt đầu được tinh luyện. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh không phải vì thích mất ngủ. Một người cha đi làm trong mệt mỏi không phải vì ngày nào cũng thấy công việc thú vị. Một linh mục trung thành với bổn phận không phải vì mọi ngày đều có cảm hứng. Một tu sĩ giữ giờ kinh không phải vì lần nào cầu nguyện cũng ngọt ngào. Một người tín hữu tha thứ không phải vì vết thương đã hết đau. Một người giữ mình khỏi tội không phải vì cám dỗ đã biến mất. Chính khi cảm xúc không nâng đỡ mà ý chí vẫn chọn điều thiện vì Thiên Chúa, một tầng sâu mới của tự do được mở ra. Tình yêu đích thực không phủ nhận cảm xúc, nhưng nó không làm nô lệ cho cảm xúc. Nó có thể nói: “Con đang mệt, nhưng con vẫn làm bổn phận này vì Chúa.” “Con đang tổn thương, nhưng con sẽ không trả đũa vì Chúa.” “Con không được ai ghi nhận, nhưng con vẫn tiếp tục vì Chúa thấy.” “Con không cảm thấy hứng thú cầu nguyện, nhưng con vẫn ngồi lại với Chúa.” “Con muốn nói lời này để bảo vệ mình, nhưng con sẽ im vì điều ấy đẹp lòng Chúa hơn.” “Con muốn bỏ cuộc, nhưng con sẽ đi thêm một bước vì con tin đó là điều Chúa muốn.” Chính những chọn lựa nhỏ ấy, được lặp đi lặp lại mỗi ngày, từ từ bẻ gãy sự độc tài của cái tôi.
Có người nghĩ rằng sống theo thánh ý Chúa là chuyện dành cho những quyết định lớn: đi tu hay lập gia đình, chọn nghề gì, đi đâu, làm sứ vụ nào. Không. Thánh ý Thiên Chúa phần lớn được giấu trong những điều rất nhỏ. Người muốn con thức dậy và chu toàn bổn phận của ngày hôm nay. Người muốn con nói một lời hiền hòa thay vì lời làm tổn thương. Người muốn con lắng nghe người đang cần con, dù lúc ấy con không có hứng. Người muốn con làm cho tử tế một việc không ai nhìn thấy. Người muốn con dừng lại trước một lời nói xấu. Người muốn con đừng tìm cách thắng trong mọi cuộc tranh luận. Người muốn con đừng nuôi một sự oán giận chỉ vì con cho rằng mình có lý. Người muốn con biết xin lỗi. Người muốn con giữ lời hứa. Người muốn con trung thực trong một chuyện nhỏ mà nếu gian dối có lẽ chẳng ai phát hiện. Người muốn con chu toàn bổn phận khi lòng đang chán. Người muốn con đón nhận một con người khó chịu với lòng bác ái hơn một chút. Người muốn con từ bỏ một thú vui không xấu tự nó nhưng đang chiếm quá nhiều chỗ trong lòng. Người muốn con biết dừng lại, biết thinh lặng, biết nhường, biết chờ, biết chịu đựng, biết bắt đầu lại. Đó là nơi ý chí được luyện. Ý chí không được rèn trong những khoảnh khắc phi thường trước hết, nhưng trong hàng ngàn chọn lựa bé nhỏ chẳng ai ghi nhận. Và chính những chọn lựa bé nhỏ ấy làm nên hướng đi của cả cuộc đời.
Con đừng chờ đến khi có một thử thách lớn mới tập bỏ ý riêng. Nếu mỗi ngày con đều chiều theo mình trong những chuyện nhỏ, đến khi thập giá lớn đến, con sẽ không có sức. Người luôn phải ăn món mình thích, đến lúc cần chấp nhận thiếu thốn sẽ khổ sở. Người luôn phải được nghe lời dễ chịu, đến khi bị góp ý sẽ nổi giận. Người luôn phải làm theo cách mình muốn, đến lúc cần vâng phục sẽ phản ứng. Người luôn phải được nhìn nhận, đến khi bị quên lãng sẽ cay đắng. Người luôn tìm an ủi trong cầu nguyện, đến lúc Chúa để linh hồn đi qua khô khan sẽ tưởng rằng Chúa bỏ mình. Vì thế, hãy luyện ý chí từ những điều nhỏ: đôi khi ăn món mình không thích mà không than phiền; đôi khi nhường cho người khác một điều mình muốn; đôi khi im đi một lời không cần nói; đôi khi trì hoãn một thú vui vô hại để nhắc mình rằng mình không phải nô lệ cho sở thích; đôi khi làm ngay một bổn phận mình đang muốn trì hoãn; đôi khi chọn chỗ ít thuận tiện hơn; đôi khi chịu một sự bất tiện nhỏ mà không làm ầm lên; đôi khi để người khác có phần hơn mình; đôi khi làm một việc tốt mà không kể cho ai. Không phải để tự hành hạ mình, cũng không phải để trở thành một con người khắc khổ kỳ quặc, nhưng để dạy cho ý chí một bài học quý giá: “Mày không phải là ông chủ tối cao. Thiên Chúa mới là Chúa.”
Sự tự do của người Kitô hữu không phải là muốn gì làm nấy. Đó chỉ là một hình thức nô lệ tinh vi cho ham muốn. Người tự do thật là người có thể muốn điều thiện ngay cả khi bản năng không muốn; có thể từ bỏ một điều dễ chịu khi lương tâm nói phải từ bỏ; có thể trung thành khi cảm xúc đã nguội; có thể bước đi khi không còn được thúc đẩy bởi sự hứng khởi. Hãy nhìn Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu. Người không giả vờ rằng thập giá dễ chịu. Người không nói rằng Người thích đau khổ. Người run sợ, buồn sầu đến chết được, và cầu xin: “Nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người không dừng lại ở đó. Người đi đến trung tâm của đời sống làm Con: “Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Đó là đỉnh cao của ý chí được hoàn toàn hiến dâng. Không phải không có ý riêng, nhưng đem ý riêng đặt dưới tình yêu đối với ý Cha. Không phải không cảm thấy đau, nhưng chọn yêu giữa đau đớn. Không phải không có sự giằng co, nhưng trong giằng co vẫn thưa vâng. Toàn bộ đời sống thiêng liêng cuối cùng cũng quy về đây: từ “con muốn” đến “Chúa muốn”; từ “điều này hợp ý con” đến “điều gì đẹp lòng Chúa?”; từ “tại sao chuyện này xảy đến cho con?” đến “lạy Chúa, trong hoàn cảnh này Chúa muốn con sống thế nào?”
Có một sự khác biệt rất lớn giữa việc làm điều lành vì mình thấy dễ chịu và làm điều lành vì Thiên Chúa. Khi làm vì dễ chịu, chỉ cần cảm giác đổi thay, ta sẽ đổi theo. Khi làm vì được khen, chỉ cần không ai biết, lòng nhiệt thành sẽ giảm xuống. Khi làm vì thành công, chỉ cần thất bại, ta sẽ nản. Khi làm vì được người ta yêu quý, chỉ cần bị hiểu lầm, ta sẽ cay đắng. Khi làm vì muốn cảm thấy mình thánh thiện, chỉ cần thấy mình yếu đuối, ta sẽ thất vọng về chính mình. Nhưng nếu làm vì Thiên Chúa, ta có một điểm tựa nằm ngoài những đổi thay ấy. Người ta có hiểu hay không, Chúa hiểu. Người ta có ghi nhận hay không, Chúa biết. Công việc có thành công trước mắt hay không, điều quan trọng là ta có trung thành với điều Chúa giao hay không. Ta có được an ủi hay không, Chúa vẫn đáng yêu. Ta có cảm thấy mạnh hay yếu, Chúa vẫn là Chúa. Đây là một tự do kỳ diệu. Người chỉ tìm làm vui lòng Chúa dần dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào cái nhìn của người đời. Họ không còn phải chạy theo lời khen. Họ không bị hủy hoại bởi lời chê. Họ biết lắng nghe góp ý, nhưng không sống bằng sự công nhận. Họ có thể vui khi được yêu mến, nhưng không xem sự yêu mến của con người là điều kiện để tiếp tục làm điều đúng. Họ không cần thắng trong mọi tranh luận. Họ không cần chứng minh mình luôn có lý. Họ không cần người khác hiểu hết những hy sinh của họ. Họ sống trước mặt Thiên Chúa.
Nhưng phải thành thật nhìn nhận: đạt tới sự trong sạch của ý hướng này không dễ. Ý riêng chết rất chậm. Nó có thể bị từ chối ở cửa trước rồi lẻn vào cửa sau. Ta nói: “Con làm vì Chúa”, nhưng rồi buồn cả ngày vì chẳng ai cảm ơn. Ta nói: “Con không cần được khen”, nhưng lòng lập tức phấn chấn khi có người ca ngợi. Ta nói: “Con chỉ muốn phục vụ”, nhưng khi người khác được giao việc thay mình, ta khó chịu. Ta nói: “Con không tìm danh dự”, nhưng khi tên mình bị bỏ quên, ta thấy bị xúc phạm. Đừng hoảng sợ khi phát hiện những điều đó. Đó không phải là lý do để tuyệt vọng; đó là ánh sáng giúp con biết mình còn phải thanh luyện ở đâu. Điều nguy hiểm không phải là nhận ra cái tôi của mình. Điều nguy hiểm là không chịu nhận ra nó. Khi phát hiện một ý hướng pha trộn, hãy đem nó ra trước mặt Chúa rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con thấy trong việc này con còn tìm mình. Con muốn được khen. Con muốn được công nhận. Con buồn khi bị bỏ quên. Xin thanh luyện lòng con. Con không thể tự làm cho trái tim mình tinh sạch, nhưng con muốn dâng cả sự ô uế này cho Chúa.” Chính lời cầu nguyện thành thật ấy đã là một hành vi từ bỏ mình.
Và con cũng đừng hiểu lầm rằng phải chờ đến khi ý hướng hoàn toàn tinh sạch mới được làm việc thiện. Nếu vậy, chẳng ai trong chúng ta làm được gì. Ý hướng con người thường pha trộn. Ta vừa yêu Chúa vừa yêu mình. Ta vừa muốn phục vụ vừa muốn được ghi nhận. Ta vừa quảng đại vừa có những mong đợi âm thầm. Điều phải làm không phải là ngồi đó phân tích mình đến tê liệt, nhưng là liên tục hướng lại lòng về Thiên Chúa. Trước một công việc, hãy nói: “Lạy Chúa, con làm việc này vì Chúa.” Trong khi làm, nếu nhận ra mình đang tìm tiếng khen, hãy chỉnh lại: “Không, lạy Chúa, cho Chúa thôi.” Sau khi làm xong, nếu người ta khen, hãy dâng lời khen ấy lại cho Người; nếu người ta chê, hãy học điều cần học rồi bình an. Như người cầm lái phải liên tục chỉnh hướng vì gió và dòng nước làm thuyền lệch đi, linh hồn cũng phải không ngừng chỉnh hướng của ý chí. Không phải một lần là xong. Có khi trong một việc nhỏ, con phải chỉnh lại ý hướng mười lần. Không sao. Mỗi lần như thế là một lần con chọn Chúa.
Điều này đặc biệt quan trọng trong cầu nguyện. Có những ngày con đến với Chúa và cảm thấy lòng ấm áp, Lời Chúa đánh động, Thánh lễ sâu sắc, giờ chầu ngọt ngào. Hãy tạ ơn. Nhưng đừng tưởng đó là thước đo của tình yêu. Có những ngày con ngồi trước Nhà Tạm mà lòng khô như đá, trí lang thang, tâm hồn nặng nề, chẳng cảm nhận được gì. Chính lúc ấy, nếu con vẫn ở lại vì Người, giờ cầu nguyện ấy có thể quý hơn rất nhiều. Bởi con không còn ở lại vì phần thưởng cảm xúc. Con ở lại vì Chúa là Chúa. Người yêu thật không chỉ tìm người mình yêu khi cuộc gặp gỡ đem lại cảm giác dễ chịu. Người yêu thật có thể ở bên cạnh trong im lặng, trong mệt mỏi, trong đêm tối. Thiên Chúa đôi khi rút bớt những an ủi thiêng liêng không phải vì Người xa linh hồn, nhưng để tình yêu được tinh sạch hơn. Người hỏi: “Con tìm Ta hay con tìm cảm giác mà Ta ban?” Đó là câu hỏi đau nhưng cần thiết.
Trong việc phục vụ cũng vậy. Có những công việc ta rất thích vì hợp khả năng, được nhiều người biết, thấy kết quả nhanh. Nhưng cũng có những công việc rất tầm thường, âm thầm, lặp đi lặp lại, chẳng ai để ý. Chính ở đó ý chí được thử. Quét một căn phòng, trả lời một người khó tính, chuẩn bị một việc nhỏ, chăm sóc một người già hay quên, lắng nghe một câu chuyện đã nghe nhiều lần, hoàn thành một trách nhiệm không hấp dẫn, sửa lại một lỗi chẳng ai thấy, giữ một lời hứa không ai kiểm tra. Nếu làm những việc ấy với tình yêu, chúng trở thành của lễ. Trước mặt Chúa, giá trị của một việc không được đo trước hết bằng tiếng vang nó tạo ra, nhưng bằng tình yêu và sự vâng phục chứa trong nó. Một việc bé nhỏ được làm hoàn toàn vì Chúa có thể quý giá hơn một công việc lớn lao được làm để tìm mình.
Cũng cần luyện ý chí trong những lúc bị trái ý. Đây là trường học rất thật. Khi mọi người đồng ý với con, con khó biết mình có khiêm nhường hay không. Khi chương trình diễn ra như dự tính, con khó biết mình có phó thác hay không. Khi được đối xử công bằng, con khó biết lòng bác ái của mình mạnh đến đâu. Nhưng khi ai đó làm trái ý, khi công việc bị đổi, khi kế hoạch thất bại, khi người ta chọn cách khác với cách con muốn, khi con bị gián đoạn đúng lúc đang bận, khi một biến cố bất ngờ làm đảo lộn ngày sống, điều gì bật ra từ lòng con? Bực bội? Cay đắng? Mất bình an? Muốn kiểm soát mọi thứ? Chính những phản ứng ấy cho thấy ý riêng còn đang ngồi trên ngai. Người luyện tập ý chí sẽ dần học cách dừng lại và hỏi: “Trong chuyện này, điều Chúa muốn nơi tôi là gì?” Có khi Người muốn ta sửa một sai lầm. Có khi phải lên tiếng. Có khi phải quyết đoán. Nhưng cũng có khi điều Chúa muốn đơn giản là ta chấp nhận rằng đời không diễn ra theo ý mình. Một tâm hồn trưởng thành không coi mọi trái ý là thảm họa. Nó biết rằng nhiều lúc chính những điều không theo kế hoạch lại là chiếc đục Thiên Chúa dùng để đẽo bớt cái tôi.
Có một thứ đạo đức rất nguy hiểm: chỉ làm điều thiện khi điều thiện ấy phù hợp với bản tính mình. Người thích yên tĩnh thì cho rằng thinh lặng là nhân đức lớn nhất. Người hoạt bát thì cho rằng hoạt động là điều quan trọng nhất. Người mạnh mẽ thì ca ngợi sự cương quyết. Người dịu dàng thì coi sự mềm mỏng là tiêu chuẩn tuyệt đối. Người thích cầu nguyện thì có thể xem nhẹ công việc thực tế. Người thích hoạt động lại có thể coi giờ cầu nguyện là mất thời gian. Rồi mỗi người vô thức biến sở thích của mình thành ý Chúa. Chính vì thế cần một sự phân định thật thà. Điều tôi đang làm là điều Thiên Chúa muốn, hay chỉ là điều tôi thích rồi gắn nhãn “ý Chúa” lên đó? Sự vâng phục đích thực nhiều khi buộc ta đi ngược tính khí. Người nóng cần tập dịu lại. Người nhút nhát có lúc phải can đảm lên tiếng. Người thích hoạt động phải học ngồi yên trước mặt Chúa. Người thích ở một mình có lúc phải bước ra phục vụ cộng đoàn. Người hay nói phải tập im lặng. Người khép kín phải học chia sẻ. Người cứng cỏi phải học dịu dàng. Người dễ dãi phải học cương quyết. Như vậy ý chí không còn phục vụ tính khí, nhưng phục vụ điều thiện.
Con cũng hãy tập một câu hỏi rất đơn giản trước những chọn lựa hằng ngày: “Điều gì làm vui lòng Chúa hơn?” Không phải “tôi thích gì hơn?” Không phải “điều nào dễ hơn?” Không phải “điều nào khiến tôi trông tốt hơn?” Nhưng “điều gì làm vui lòng Chúa hơn?” Có khi câu trả lời rất rõ. Có khi phải cầu nguyện và phân định. Có khi cả hai lựa chọn đều tốt, và con được tự do chọn. Nhưng chính việc đặt câu hỏi ấy đã dần làm cho Thiên Chúa trở thành trung tâm. Buổi sáng khi thức dậy: “Lạy Chúa, hôm nay con muốn sống để làm vui lòng Chúa.” Trước khi nói một lời khó: “Lời này có làm vui lòng Chúa không?” Trước khi phản ứng trong cơn giận: “Phản ứng này có giống Chúa Giêsu không?” Trước khi khoe một điều: “Con đang muốn tôn vinh Chúa hay muốn người ta ngưỡng mộ con?” Trước khi bỏ một bổn phận vì mệt: “Chúa muốn con nghỉ vì thực sự cần nghỉ, hay con đang chiều sự lười biếng?” Trước khi nhận một công việc: “Con nhận vì Chúa muốn, hay vì con muốn được nổi bật?” Những câu hỏi ấy dần dần tạo thành một bản năng thiêng liêng mới.
Tuy nhiên, chớ biến đời sống thiêng liêng thành một trạng thái căng thẳng, lúc nào cũng soi xét mình đến lo âu. Thiên Chúa không phải một ông chủ khó tính đứng nhìn mọi động tác của con để bắt lỗi. Người là Cha. Làm vui lòng Thiên Chúa không phải là sống trong sợ hãi rằng chỉ một sai sót nhỏ sẽ khiến Người nổi giận. Làm vui lòng Người là sống như một người con yêu Cha mình và muốn đáp lại tình yêu ấy. Một đứa con yêu mẹ có thể làm một việc rất nhỏ chỉ vì biết mẹ vui. Nó chẳng cần ai thưởng. Niềm vui của mẹ đã đủ. Tình yêu với Thiên Chúa cũng phải dần trở nên như thế. “Lạy Chúa, chẳng ai biết việc này, nhưng Chúa biết, vậy là đủ.” “Chẳng ai cảm ơn con, nhưng nếu Chúa vui, vậy là đủ.” “Con không được điều mình muốn, nhưng nếu điều này đưa con gần Chúa hơn, vậy là đủ.” Khi một linh hồn có thể nói “vậy là đủ” với Thiên Chúa, linh hồn ấy đã bắt đầu nếm một thứ tự do mà thế gian không thể hiểu.
Và nếu muốn biết mình đã tiến được bao xa trên con đường này, đừng nhìn vào những cảm xúc cao đẹp, nhưng hãy nhìn vào phản ứng khi ý mình không được thỏa mãn. Nếu bị từ chối mà con nổi giận dữ dội, có thể ý riêng vẫn còn rất mạnh. Nếu không được khen mà con mất hết hứng làm việc, có thể con chưa hoàn toàn làm vì Chúa. Nếu bị đổi nhiệm vụ mà lòng đầy cay đắng, có thể con đang yêu công việc hơn yêu Đấng giao công việc. Nếu cầu nguyện khô khan là con lập tức bỏ, có thể con đang yêu sự an ủi hơn yêu Thiên Chúa. Nếu người khác thành công làm con khó chịu, có thể con đang tìm chính mình trong điều thiện. Những dấu hiệu ấy không phải để kết án, nhưng để chữa trị. Hãy nhìn chúng bình tĩnh. Mỗi lần phát hiện, hãy khiêm tốn nói: “Lạy Chúa, đây là chỗ con chưa tự do. Xin Chúa giải thoát con.”
Sẽ có những lúc con làm đúng mà vẫn bị hiểu sai. Đây là một thử thách rất mạnh đối với ý chí. Ta muốn không chỉ làm điều tốt, mà còn muốn người khác biết rằng ta đã làm điều tốt. Ta muốn không chỉ có lương tâm ngay thẳng, mà còn muốn danh tiếng mình cũng được bảo vệ. Dĩ nhiên, đôi lúc phải giải thích để tránh gây thiệt hại hay gương xấu. Nhưng có những lúc chẳng cần. Và nếu Thiên Chúa cho phép một chút hiểu lầm để ta học sống chỉ trước mặt Người, đó có thể là một ân huệ đau đớn. Chúa Giêsu đã từng bị hiểu lầm, bị vu cáo, bị gán cho những ý định xấu. Người không dành cả đời để thanh minh mọi lời người ta nói về mình. Người sống trước mặt Cha. Có những bình an chỉ đến khi con thôi cố gắng kiểm soát hình ảnh của mình trong mắt mọi người. Hãy làm điều đúng, sửa điều sai, xin lỗi khi cần, giải thích khi bổn phận đòi hỏi, rồi phần còn lại trao cho Chúa. Người biết sự thật.
Sau cùng, việc luyện tập ý chí không nhằm làm con thành một con người lạnh lùng, không cảm xúc, chỉ biết nghiến răng làm bổn phận. Không. Mục tiêu của nó là tình yêu. Ý chí được thanh luyện để có thể yêu sâu hơn. Vì tình yêu không chỉ là cảm thấy. Tình yêu là chọn điều tốt cho người mình yêu. Khi con làm điều đẹp lòng Thiên Chúa dù khó, đó là tình yêu. Khi con từ bỏ một tội quen thuộc vì không muốn xúc phạm Người, đó là tình yêu. Khi con trung thành trong bóng tối, đó là tình yêu. Khi con tiếp tục cầu nguyện dù chẳng cảm thấy gì, đó là tình yêu. Khi con phục vụ mà không được ghi nhận, đó là tình yêu. Khi con chấp nhận một thánh ý khó hiểu mà vẫn nói “con tin Chúa”, đó là tình yêu. Những hành vi ấy có thể không gây xúc động, không có nước mắt, không có cảm giác cao siêu, nhưng chúng làm cho linh hồn bén rễ sâu vào Thiên Chúa.
Hỡi linh hồn, hãy bắt đầu lại ngay hôm nay. Đừng đợi mình trở nên thánh thiện rồi mới sống cho Chúa. Hãy lấy chính những việc nhỏ bé của ngày hôm nay làm trường tập ý chí. Khi thức dậy, hãy dâng ngày sống: “Lạy Chúa, xin cho mọi điều con nghĩ, con nói, con làm hôm nay đều hướng về một điều duy nhất: làm vui lòng Chúa.” Khi một việc trái ý đến, đừng vội than phiền. Hãy hỏi: “Chúa muốn con sống khoảnh khắc này thế nào?” Khi được khen, hãy âm thầm trả vinh quang cho Chúa. Khi bị chê, hãy xem điều gì đúng để sửa, còn điều bất công thì trao cho Người. Khi làm việc tốt, đừng luôn tìm người biết. Khi được an ủi, hãy tạ ơn nhưng đừng bám víu. Khi khô khan, hãy trung thành. Khi thất bại, đừng bỏ cuộc. Khi thành công, đừng chiếm hữu. Khi người khác hơn mình, hãy vui nếu điều ấy làm vinh danh Chúa. Khi phải chọn giữa ý mình và điều con biết rõ là bổn phận, hãy chọn bổn phận. Mỗi lần chọn như thế, một sợi dây trói buộc cái tôi bị cắt đi.
Rồi sẽ đến một ngày, không phải vì con đã hoàn hảo, nhưng vì con đã tập đi tập lại con đường này rất nhiều lần, con sẽ thấy trong lòng mình xuất hiện một sự đơn sơ mới. Con bớt hỏi: “Tôi được gì?” Con bớt bận tâm: “Người ta nghĩ gì về tôi?” Con bớt cần được công nhận. Con bớt sợ bị quên lãng. Và câu hỏi trở nên đơn giản hơn: “Chúa muốn gì?” Khi ấy, con có thể làm việc lớn mà không kiêu, làm việc nhỏ mà không tủi, được khen mà không say, bị chê mà không sụp đổ, thành công mà không chiếm hữu, thất bại mà không tuyệt vọng. Bởi vì niềm vui sâu nhất của con không còn nằm trong kết quả, trong cảm giác hay trong ánh mắt người đời. Nó nằm trong một xác tín rất nhỏ nhưng rất mạnh: “Con đã cố làm điều đẹp lòng Chúa.”
Và nếu cuối ngày, con nhìn lại thấy mình đã thất bại nhiều lần, đã tìm mình trong nhiều việc, đã chiều ý riêng, đã bực bội, đã mong được khen, đừng nản. Hãy trở về. Hãy nói với Chúa rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con lại tìm con thay vì tìm Chúa. Xin tha thứ cho con. Ngày mai con bắt đầu lại.” Đừng biến cả việc luyện tập ý chí thành một công trình tự hoàn thiện bằng sức riêng. Chính Chúa mới là Đấng uốn lòng con. Chính ân sủng của Người mới làm cho ý con có thể nên một với ý Người. Phần con là cộng tác, là tỉnh thức, là đứng dậy, là chọn lại, là không ngừng trao chìa khóa của đời mình cho Người.
Cuối cùng, sự thánh thiện không phải là làm được tất cả những gì mình muốn làm cho Chúa, nhưng là để Chúa làm nơi mình tất cả những gì Người muốn. Không phải là thực hiện chương trình của mình thật xuất sắc rồi dâng nó cho Thiên Chúa, nhưng là để chương trình của Thiên Chúa trở thành chương trình của mình. Không phải là nói: “Lạy Chúa, xin giúp con hoàn thành điều con đã quyết định”, mà ngày càng có thể nói: “Lạy Chúa, xin cho con muốn điều Chúa muốn, làm điều Chúa muốn, theo cách Chúa muốn, vào lúc Chúa muốn, và nếu Chúa không muốn, xin cho con đủ tự do để buông bỏ.” Khi linh hồn sống được như thế, nó đã bước vào một sự bình an rất sâu. Vì từ đó, thành công hay thất bại không còn là câu hỏi cuối cùng. Được biết đến hay bị quên lãng không còn là chuyện quan trọng nhất. Được an ủi hay bị khô khan không còn quyết định lòng trung thành. Chỉ còn một điều đáng kể: Thiên Chúa có vui lòng không?
Và nếu Thiên Chúa vui lòng, thì thế là đủ.
CHƯƠNG 11
NHỮNG SUY XÉT ĐỂ HƯỚNG Ý CHÍ CHỈ TÌM KIẾM VIỆC LÀM VUI LÒNG THIÊN CHÚA TRONG MỌI SỰ
Hỡi linh hồn đang thật lòng muốn thuộc về Thiên Chúa, nếu con đã hiểu rằng cuộc chiến thiêng liêng không chỉ diễn ra nơi những cám dỗ lớn lao, nơi những sa ngã rõ ràng, nơi những đam mê dữ dội, nhưng còn diễn ra âm thầm hơn rất nhiều trong chính những động lực sâu kín thúc đẩy con hành động, thì con hãy biết rằng con đang được dẫn đến một nơi rất sâu trong đời sống nội tâm. Có những người đã bỏ được nhiều tội lỗi bên ngoài, đã tập được nhiều nhân đức, đã biết cầu nguyện, biết hy sinh, biết phục vụ, biết giữ mình khỏi những điều xấu xa, nhưng họ vẫn chưa bước vào tận trung tâm của cuộc chiến, bởi vì họ chưa đặt câu hỏi quyết liệt này với chính mình: Tôi đang làm tất cả những điều ấy vì ai? Câu hỏi ấy nghe rất đơn sơ, nhưng nếu con can đảm để cho nó soi vào mọi góc tối của lòng mình, con sẽ thấy biết bao điều mà trước đây con tưởng hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa lại còn pha trộn rất nhiều với chính mình. Con cầu nguyện, nhưng có khi con muốn được nếm sự ngọt ngào. Con hy sinh, nhưng có khi con mong người khác nhìn thấy. Con phục vụ, nhưng có khi con muốn được cần đến. Con im lặng, nhưng có khi con muốn người khác cho rằng con khiêm nhường. Con nói lời tốt lành, nhưng có khi con muốn được xem là đạo đức. Con chịu một sự bất công, nhưng trong tận đáy lòng con vẫn muốn một ngày nào đó người khác phải nhận ra rằng con đúng. Con làm việc cho Chúa, nhưng có khi điều làm con vui nhất không phải là Chúa được vinh danh, mà là công việc của con thành công. Con nói mình tìm ý Chúa, nhưng nhiều khi con chỉ tìm một ý Chúa trùng với ý mình. Chính ở đây, hỡi linh hồn, công việc thanh luyện ý chí bắt đầu trở nên tinh tế, đau đớn nhưng cũng đẹp đẽ hơn bao giờ hết. Chúa không chỉ muốn con trao cho Ngài những việc con làm; Ngài muốn cả lý do khiến con làm những việc ấy. Chúa không chỉ muốn bàn tay của con, nhưng muốn trái tim con. Chúa không chỉ muốn hành động bên ngoài, nhưng muốn ý định nằm phía sau hành động. Chúa không chỉ muốn con làm điều tốt; Ngài muốn con làm điều tốt vì yêu Ngài. Và đến một ngày, nếu con trung thành, Ngài sẽ dẫn con đến sự đơn sơ cao quý này: con không còn hỏi việc ấy có đem lại cho con niềm vui hay không, có được ai biết đến hay không, có mang lại kết quả như con mong đợi hay không, có làm con thấy mình hữu ích hay không; con chỉ còn hỏi: “Điều này có đẹp lòng Chúa không?” Khi câu hỏi ấy dần dần trở thành trung tâm mọi lựa chọn của con, đời sống thiêng liêng của con sẽ bắt đầu đổi khác từ nền móng.
Suy xét đầu tiên con phải khắc sâu vào lòng mình là điều này: Thiên Chúa là Đấng duy nhất xứng đáng được yêu mến vì chính Ngài. Mọi tạo vật, dù tốt đẹp đến đâu, đều chỉ là thụ tạo. Một người có thể yêu con rất nhiều, nhưng người ấy vẫn hữu hạn. Một người có thể hiểu con sâu sắc, nhưng không thể hiểu con hoàn toàn. Một người có thể ở lại bên con nhiều năm, nhưng một ngày nào đó họ cũng phải rời khỏi thế gian này. Danh tiếng có thể làm con vui hôm nay rồi biến mất ngày mai. Thành công có thể đưa con lên rất cao rồi một biến cố nhỏ cũng đủ làm tất cả sụp đổ. Sức khỏe hôm nay còn mạnh, ngày mai có thể yếu đi. Trí tuệ có thể minh mẫn rồi theo tuổi tác cũng trở nên mỏi mệt. Những cảm xúc sốt sắng trong cầu nguyện có thể làm con tưởng mình ở rất gần Chúa, nhưng chỉ một thời gian sau, tất cả có thể trở nên khô khan đến mức con không còn cảm thấy gì. Những người hôm nay ngợi khen con có thể ngày mai hiểu lầm con. Những người hôm nay cần con có thể ngày mai không còn nhớ đến con. Những công việc con dành bao nhiêu năm xây dựng có thể một ngày được trao cho người khác. Những gì con tưởng là vững chắc nhất trên đời đều mang trong mình dấu vết của sự chóng qua. Chỉ có Thiên Chúa không qua đi. Chỉ có Ngài không thay đổi. Chỉ có Ngài không bao giờ cạn kiệt. Chỉ có Ngài không cần một điều gì từ con để trở thành Thiên Chúa, nhưng lại yêu con bằng một tình yêu vượt quá mọi điều con có thể hiểu. Bởi vậy, khi con làm một việc chỉ vì Chúa, con đặt hành động ấy trên nền đá không thể lay chuyển. Khi con chịu một đau khổ chỉ vì Chúa, đau khổ ấy không vô nghĩa. Khi con làm một việc nhỏ mà không ai biết chỉ vì Chúa, việc nhỏ ấy bước vào cõi đời đời. Khi con từ bỏ một lời nói để làm đẹp lòng Chúa, việc ấy có thể chẳng ai thấy, nhưng Thiên Chúa thấy. Khi con thức dậy trong mệt mỏi mà vẫn làm bổn phận chỉ vì Chúa, Ngài biết. Khi con không được an ủi mà vẫn trung thành cầu nguyện, Ngài biết. Khi con bị quên lãng mà vẫn tiếp tục yêu thương, Ngài biết. Khi con chịu một lời hiểu lầm mà không tìm cách biện minh cho mình vì cảm thấy Chúa muốn con im lặng, Ngài biết. Và một ánh mắt của Thiên Chúa đáng giá hơn tất cả những tiếng vỗ tay của thế gian cộng lại.
Hãy suy nghĩ thật lâu điều này: nếu con đang sống chỉ để được Thiên Chúa vui lòng, ai có thể lấy mất niềm vui sâu xa ấy khỏi con? Người ta có thể lấy mất chức vụ của con, nhưng không thể ngăn con yêu Chúa. Người ta có thể lấy mất lời khen, nhưng không thể ngăn con làm đẹp lòng Chúa. Người ta có thể hiểu sai con, nhưng nếu lương tâm con ngay thẳng trước mặt Chúa, sự hiểu sai ấy không thể chạm đến trung tâm linh hồn con. Người ta có thể đặt con ở một nơi âm thầm, có thể không giao cho con những việc lớn, có thể không hỏi ý kiến con, có thể không biết đến những hy sinh của con; nhưng nếu con chỉ tìm Chúa, tất cả những điều ấy lại có thể trở thành cơ hội tuyệt vời để ý chí được thanh luyện. Thật ra, nhiều khi Chúa phải để cho những điểm tựa khác lần lượt bị lấy khỏi chúng ta chính vì Ngài muốn xem chúng ta có thật sự yêu Ngài hay không. Có lúc Ngài để lời khen biến mất. Có lúc Ngài để công việc không sinh hoa trái như ta mong. Có lúc Ngài để những người ta phục vụ không biết ơn. Có lúc Ngài để lời cầu nguyện trở nên khô khan. Có lúc Ngài để sức khỏe giảm sút. Có lúc Ngài để ta nếm sự cô độc. Không nhất thiết vì ta đã làm gì sai, nhưng vì Ngài muốn thanh luyện câu hỏi sâu nhất trong lòng ta: “Nếu Ta không cho con những phần thưởng con mong, con còn muốn thuộc về Ta không?” Đây là một câu hỏi đau, nhưng là câu hỏi của tình yêu. Một đứa trẻ có thể yêu người cha vì những món quà; nhưng tình yêu trưởng thành yêu người cha vì chính người cha. Một linh hồn mới bắt đầu có thể yêu Chúa vì những an ủi Ngài ban; nhưng một linh hồn trưởng thành dần học yêu Chúa cả khi Chúa không cho nó cảm thấy gì. Một linh hồn non yếu có thể hăng say khi công việc thành công; nhưng một linh hồn đã được thanh luyện vẫn trung thành khi thất bại, vì điều nó tìm không phải là thành công mà là thánh ý.
Bởi vậy, hỡi linh hồn, mỗi ngày con hãy tập hỏi mình: “Nếu tất cả những gì làm tôi vui quanh việc này đều bị lấy đi, tôi còn muốn làm nó chỉ vì Chúa không?” Nếu ngày mai không còn ai khen con, con có còn làm không? Nếu người con giúp không biết ơn, con có còn giúp không? Nếu bài giảng con chuẩn bị rất kỹ nhưng chẳng ai nhớ đến, con có còn giảng với tất cả tình yêu không? Nếu lời cầu nguyện của con hoàn toàn khô khan, con có còn quỳ trước Chúa không? Nếu việc phục vụ khiến con mệt mà chẳng mang lại cảm giác thành tựu nào, con có còn làm vì biết đó là bổn phận Chúa trao không? Nếu con bị hiểu lầm trong chính việc tốt mình làm, con có còn giữ lòng bình an không? Nếu con phải nhường chỗ cho một người khác và thấy họ làm tốt hơn mình, con có thể vui vì công việc của Chúa tiến triển không? Những câu hỏi ấy không để làm con sợ hãi. Chúng giống như lửa thử vàng. Chúng cho con thấy trong tình yêu của con còn bao nhiêu pha trộn. Và đừng hoảng hốt khi phát hiện những pha trộn ấy. Thấy được bệnh đã là bắt đầu chữa bệnh. Thấy được ý riêng đang chen vào đã là một ân sủng. Điều nguy hiểm không phải là con còn bất toàn; điều nguy hiểm là con nghĩ mình đã tinh tuyền và không còn để Chúa soi sáng.
Suy xét thứ hai: Chúa Giêsu đã sống trọn cuộc đời chỉ để làm vui lòng Chúa Cha. Nếu con muốn biết một ý chí hoàn toàn thanh sạch trông như thế nào, hãy nhìn Đức Giêsu. Từ Bêlem đến Nazareth, từ Nazareth đến những nẻo đường Galilê, từ những ngày được dân chúng tìm kiếm đến những giờ phút bị bỏ rơi, từ những phép lạ làm đám đông kinh ngạc đến đêm cô đơn tại vườn Cây Dầu, từ tiếng reo hò “Hoan hô Con vua Đavít” đến tiếng la hét “Đóng đinh nó vào thập giá”, có một sợi chỉ duy nhất chạy xuyên suốt đời Ngài: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” Lương thực là điều con người sống nhờ. Đức Giêsu muốn nói rằng Ngài sống bằng thánh ý Chúa Cha. Ý Cha không phải một phần trong đời Ngài. Ý Cha là hơi thở của Ngài, là lương thực của Ngài, là điều định hướng toàn bộ cuộc đời Ngài. Ngài không chọn nơi mình sinh ra. Ngài không chọn sự nghèo khó của máng cỏ như một người tìm một kinh nghiệm thiêng liêng đặc biệt. Ngài đón nhận nó vì đó là con đường Cha muốn. Ngài sống ba mươi năm âm thầm ở Nazareth, trong khi nếu xét theo cách của loài người, Ngài có thể làm biết bao điều lớn lao hơn. Nhưng Ngài không sốt ruột. Ngài không cảm thấy ba mươi năm âm thầm là thời gian phí phạm, bởi vì đối với Ngài, làm một chiếc bàn trong xưởng mộc theo ý Cha cũng quý như giảng cho hàng ngàn người nếu đó là điều Cha muốn trong giờ ấy.
Hỡi linh hồn, con có hiểu bài học này sâu đến mức nào? Chúng ta thường nghĩ chỉ những việc lớn mới làm Chúa vui lòng. Chúng ta thích những việc thấy được kết quả, những việc có tiếng vang, những việc khiến mình cảm thấy đời mình có ý nghĩa. Nhưng Đức Giêsu đã thánh hóa ba mươi năm âm thầm trước khi sống ba năm công khai. Nghĩa là trước mắt Thiên Chúa, không phải độ lớn của công việc quyết định giá trị của nó, nhưng mức độ công việc ấy hòa hợp với thánh ý. Một người lau một căn phòng vì yêu Chúa có thể đẹp lòng Ngài hơn một người đứng trước hàng ngàn người nhưng trong lòng đầy tìm kiếm chính mình. Một người âm thầm chăm sóc một bệnh nhân, không ai biết, có thể đang dâng lên Thiên Chúa một của lễ tinh tuyền hơn một công trình được cả xã hội ca ngợi. Một linh mục ngồi thật lâu nghe một người đau khổ dù chẳng ai biết đến có thể làm vui lòng Chúa hơn một thành tựu mục vụ nổi bật nếu thành tựu ấy bị pha quá nhiều bởi nhu cầu được công nhận. Thiên Chúa không bị lóa mắt bởi sự lớn lao bên ngoài. Ngài nhìn vào trái tim. Ngài nhìn lý do. Ngài nhìn tình yêu. Ngài nhìn xem trong điều con làm, ai đang ở trung tâm: Ngài hay con.
Hãy nhìn Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu. Chính ở đó, sự thanh sạch tuyệt đối của ý chí Ngài sáng lên giữa bóng tối kinh khủng nhất. “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Nhưng đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Đức Giêsu không giả vờ rằng đau khổ là dễ chịu. Ngài không phủ nhận nỗi kinh hoàng của thập giá. Ngài không gọi cay đắng là ngọt ngào. Ngài không phải một con người mất cảm giác. Ngài run sợ, buồn sầu đến chết được, mồ hôi như máu rơi xuống đất; nhưng ở nơi sâu nhất của ý chí, Ngài trao tất cả cho Cha. Đây chính là khuôn mẫu cho con. Làm vui lòng Chúa không có nghĩa là con luôn thích điều Chúa muốn. Có những lúc con không thích chút nào. Có những lúc thánh ý đi ngược hoàn toàn với ước muốn tự nhiên của con. Có những lúc con muốn được ở lại mà Chúa muốn con ra đi. Có những lúc con muốn nói mà Chúa mời con im lặng. Có những lúc con muốn được hiểu mà Chúa để con bị hiểu lầm. Có những lúc con muốn thành công mà Chúa cho con trải nghiệm thất bại. Có những lúc con muốn được an ủi mà Chúa đưa con vào đêm tối. Có những lúc con muốn sức khỏe mà Chúa chỉ trao đủ sức cho từng ngày. Có những lúc con muốn thấy hoa trái, nhưng Chúa bảo con cứ gieo rồi để người khác gặt. Tình yêu không phải là luôn thích những gì xảy ra. Tình yêu là có thể nói giữa nước mắt: “Lạy Cha, con không hiểu, con không thích, con đang đau, nhưng nếu đây là con đường Cha cho phép và muốn con đi qua, xin cho ý Cha nên trọn.”
Hãy nhìn lên Thánh Giá. Ở đó con sẽ hiểu thế nào là một đời không giữ lại gì cho mình. Đức Giêsu không giữ danh dự. Không giữ sự tiện nghi. Không giữ thân thể nguyên vẹn. Không giữ quyền được hiểu. Không giữ quyền được người ta biết ơn. Không giữ ngay cả cảm giác được Chúa Cha gần gũi, khi Ngài thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Nhưng trong tất cả, Ngài vẫn yêu. Ngài vẫn trao mình. Ngài vẫn vâng phục. Ngài vẫn nói tiếng cuối cùng của tín thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Hỡi linh hồn, nếu con muốn thanh luyện ý chí, đừng chỉ đọc những lý thuyết về ý hướng ngay lành. Hãy đứng dưới chân Thánh Giá. Hãy nhìn thật lâu Đấng chịu đóng đinh. Rồi hãy hỏi: “Trong đời con, điều gì con vẫn đang giữ lại?” Có thể con đã cho Chúa rất nhiều, nhưng vẫn giữ lại nhu cầu phải được người khác tôn trọng. Có thể con đã làm biết bao việc, nhưng vẫn giữ lại quyền được thành công. Có thể con đã sống hy sinh, nhưng vẫn giữ lại ước muốn được người khác biết đến những hy sinh ấy. Có thể con đã nói mình thuộc về Chúa, nhưng vẫn giữ lại quyền quyết định tương lai theo ý mình. Có thể con sẵn sàng vâng phục miễn là điều được yêu cầu hợp với suy nghĩ của con. Có thể con sẵn sàng phục vụ miễn là được phục vụ trong lĩnh vực con thích. Có thể con sẵn sàng sống âm thầm một thời gian, nhưng trong lòng vẫn mong có ngày được đưa ra ánh sáng. Hãy đem tất cả những điều ấy đến chân Thập Giá và nói với Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã không giữ gì cho Chúa. Xin dạy con cũng đừng giữ lại cho mình ngay cả động lực sâu kín nhất.”
Suy xét thứ ba: mọi động lực khác, dù xem ra tốt đẹp, đều cần được thanh luyện để Thiên Chúa thật sự trở thành trung tâm. Ở đây con phải rất tinh tế, bởi vì cái tôi của con biết ẩn mình dưới những hình thức đạo đức. Cái tôi không phải lúc nào cũng nói: “Tôi muốn nổi tiếng.” Đôi khi nó nói: “Tôi muốn công việc của Chúa được thành công”, nhưng sâu dưới câu ấy lại là: “Và tôi muốn chính tôi là người làm cho nó thành công.” Cái tôi không phải lúc nào cũng nói: “Tôi muốn được khen.” Đôi khi nó nói: “Tôi chỉ mong người ta hiểu thiện ý của tôi”, nhưng sâu hơn lại là sự đau đớn vì hình ảnh của mình bị tổn thương. Cái tôi không phải lúc nào cũng đòi vị trí đầu tiên. Nó có thể chấp nhận đứng hàng thứ hai miễn là người ta biết nó khiêm nhường. Nó có thể hy sinh miễn là có người nhận ra nó đã hy sinh. Nó có thể im lặng miễn là sự im lặng ấy làm người khác nể phục. Nó có thể nghèo khó miễn là được xem là một người sống nghèo khó. Nó có thể chấp nhận bị quên, nhưng lại âm thầm mong một ngày người ta khám phá ra mình đã bị quên oan uổng thế nào. Ý riêng thật tinh tế. Vì vậy đời sống thiêng liêng trưởng thành đòi hỏi một sự thật thà lớn lao với chính mình.
Con đừng vội kết luận rằng vì động lực của con chưa hoàn toàn tinh tuyền nên mọi việc con làm đều vô giá trị. Không. Thiên Chúa là Cha, Ngài biết chúng ta đang trên đường. Một đứa trẻ bước về phía cha dù bước chân còn vụng về vẫn làm cha vui. Một linh hồn phục vụ Chúa với tình yêu còn pha trộn vẫn được Ngài dẫn dắt. Nhưng điều quan trọng là con đừng yêu sự pha trộn ấy. Đừng biện minh cho nó. Đừng làm hòa với nó. Đừng nói: “Ai mà chẳng vậy.” Có thể ai cũng vậy, nhưng con được gọi nên thánh. Có thể cái tôi luôn tìm cách chen vào, nhưng mỗi lần nhận ra nó, con hãy nhẹ nhàng đẩy nó sang một bên và đặt Chúa lại ở giữa. Trước khi làm một việc tốt, con có thể thấy mình mong được người ta biết đến. Hãy nói: “Lạy Chúa, con thấy trong lòng con đang tìm người khác. Xin thanh luyện con. Con vẫn làm việc này, nhưng xin cho con làm vì Chúa.” Khi bị người khác khen, con thấy lòng mình thích thú. Không cần hoảng sợ vì cảm giác ấy. Hãy nhận ra và dâng nó: “Lạy Chúa, lời khen này dễ làm con quên Chúa. Xin nhận lấy nó. Mọi sự tốt lành đều bởi Chúa.” Khi bị chê, con thấy lòng mình bực bội quá mức. Hãy nhận ra ở đó cái tôi bị thương. Đừng vội tìm cách chữa cái tôi bằng việc biện minh. Hãy nói: “Lạy Chúa, con đau vì con còn yêu hình ảnh của mình. Xin dùng sự đau này để làm con tự do hơn.”
Có một dấu chỉ rất rõ cho biết hành động của con còn bị pha trộn bởi ý riêng: con dễ mất bình an khi kết quả không như mình mong. Nếu con nói rằng con làm chỉ vì Chúa, nhưng khi thất bại con hoàn toàn suy sụp, hãy nhìn lại. Có thể điều con tìm không chỉ là Chúa, mà còn là cảm giác thành công. Nếu con phục vụ một người và khi họ không biết ơn con, con nổi giận, hãy nhìn lại. Có thể con không chỉ muốn cho họ điều tốt, mà còn muốn họ công nhận mình là người tốt. Nếu con trình bày một ý kiến và khi người khác không chấp nhận, con day dứt nhiều ngày, hãy nhìn lại. Có thể con không chỉ muốn chân lý được đón nhận, mà còn muốn chính mình được nhìn nhận là đúng. Nếu con bị chuyển khỏi một công việc và cảm thấy như cả đời mình mất ý nghĩa, hãy nhìn lại. Có thể con đã đồng hóa quá sâu giá trị bản thân với công việc ấy. Người chỉ tìm Chúa cũng có thể buồn khi thất bại, cũng có thể đau khi bị hiểu lầm, cũng có thể tiếc một công việc mình yêu; nhưng ở đáy sâu vẫn có một điểm bình an: “Nếu Chúa được vui lòng trong điều này, thế là đủ.” Điểm bình an ấy ban đầu có thể rất nhỏ, nhỏ như một hạt giống nằm dưới lớp đất dày, nhưng nếu con nuôi dưỡng nó, nó sẽ lớn lên thành một tự do kỳ diệu.
Hãy tập phân biệt giữa làm điều tốt vì yêu Chúa và làm điều tốt vì yêu cảm giác mình đang là người tốt. Hai điều ấy bên ngoài có thể giống nhau, nhưng bên trong rất khác. Người yêu Chúa làm việc thiện rồi có thể quên nó đi. Người yêu hình ảnh mình là người tốt thường nhớ rất lâu những gì mình đã làm. Người yêu Chúa có thể vui khi người khác làm tốt hơn mình. Người yêu hình ảnh bản thân cảm thấy bị đe dọa bởi tài năng của người khác. Người yêu Chúa có thể chấp nhận bị sửa sai nếu điều ấy giúp mình nên tốt hơn. Người yêu chính mình thường tìm cách bảo vệ hình ảnh. Người yêu Chúa có thể làm những việc không ai thấy. Người yêu tiếng khen cần một khán giả. Người yêu Chúa có thể dừng một công việc tốt nếu nhận ra Chúa muốn mình dừng. Người yêu công việc của mình sẽ bám lấy nó ngay cả khi đã đến lúc trao lại. Đây là những phép thử rất quý. Đừng sợ chúng. Mỗi lần những điều ấy xảy ra, Chúa đang đưa cho con một tấm gương để nhìn thấy lòng mình.
Suy xét thứ tư: thanh luyện động lực là công việc của cả đời. Con đừng tưởng rằng sau vài tháng tập luyện, con sẽ đạt đến tình trạng mọi hành động đều hoàn toàn tinh tuyền. Nếu con mong như vậy, chính sự mong muốn ấy có khi cũng chứa một thứ kiêu ngạo thiêng liêng. Chúng ta muốn trở nên tinh tuyền thật nhanh vì chúng ta không chịu nổi việc nhìn thấy mình bất toàn. Nhưng Thiên Chúa không vội như chúng ta. Ngài có thể để con trải qua nhiều năm mới nhận ra một lớp ý riêng mà trước đây con không hề thấy. Có những người lúc mới bắt đầu đời sống thiêng liêng chiến đấu với những tội rõ ràng. Sau đó họ chiến đấu với những đam mê tinh tế hơn. Rồi sau nữa, Chúa cho họ thấy ngay trong những việc tốt lành vẫn còn biết bao sự quy về bản thân. Càng đi vào ánh sáng, ta càng thấy những hạt bụi nhỏ mà trước đây trong bóng tối ta không nhìn thấy. Điều đó không có nghĩa là con ngày càng tệ. Có thể ngược lại: ánh sáng đang mạnh hơn.
Khi con bắt đầu thấy mình ích kỷ hơn, kiêu ngạo hơn, ham được nhìn nhận hơn những gì con từng nghĩ, đừng vội thất vọng. Có thể Chúa chỉ đang cho con thấy điều đã có sẵn từ lâu. Trước đây căn phòng tối nên con tưởng sạch. Bây giờ mặt trời chiếu vào và con thấy bụi bay khắp nơi. Đừng trách ánh sáng. Hãy cảm ơn ánh sáng. Đừng nói: “Sau bao nhiêu năm mà tôi vẫn như thế.” Hãy nói: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa vì hôm nay con thấy thêm một điều cần được chữa lành.” Cái nguy hiểm nhất không phải là có bụi, mà là không nhìn thấy bụi. Không phải là có ý riêng, mà là gọi ý riêng là ý Chúa. Không phải là có lòng ham danh, mà là khoác cho lòng ham danh một chiếc áo gọi là “vì lợi ích chung”. Không phải là muốn được khen, mà là tin rằng mình hoàn toàn không cần lời khen. Khi Chúa lột những ảo tưởng ấy khỏi con, có thể con sẽ thấy đau, nhưng đó là một cuộc giải phẫu của tình yêu.
Có khi con sẽ nhận ra rằng ngay cả trong việc muốn nên thánh cũng có một chút ích kỷ: con muốn nên thánh để cảm thấy mình tốt, để an tâm về mình, để nhìn thấy mình tiến bộ. Hãy trao cả ước muốn ấy cho Chúa. Hãy học muốn nên thánh không phải để trở thành một người đáng ngưỡng mộ, nhưng để Thiên Chúa được vui lòng và được vinh danh nơi con. Có khi con muốn cầu nguyện sâu hơn không chỉ vì muốn gặp Chúa, mà còn vì muốn có những kinh nghiệm thiêng liêng đặc biệt. Hãy trao điều đó. Có khi con muốn thắng một thói xấu vì con xấu hổ khi thấy mình yếu. Hãy thanh luyện nó thành: “Lạy Chúa, con muốn thắng không phải để tự hào về sức mạnh mình, nhưng để trái tim con tự do hơn cho Chúa.” Có khi con muốn trở nên kiên nhẫn vì con ghét cảm giác mình thất bại. Hãy đổi thành: “Lạy Chúa, xin làm con kiên nhẫn vì Chúa là Đấng hiền lành và con muốn nên giống Chúa.” Cứ như vậy, từng động lực một được đưa vào ánh sáng, được đặt trước mặt Chúa, được thanh luyện không phải bằng bạo lực nhưng bằng tình yêu.
Và ở đây con phải học một điều rất quan trọng: đừng chờ đến khi động lực hoàn toàn tinh tuyền mới hành động. Nếu con chờ, có khi con sẽ chẳng làm gì. Con vẫn còn là một con người pha trộn. Tình yêu của con còn yếu. Ý chí của con còn lẫn lộn. Nhưng con có thể dâng chính sự lẫn lộn ấy. Giả sử con đang chuẩn bị làm một việc bác ái và con nhận thấy trong lòng mình có một chút mong được người khác khen. Đừng nói: “Vậy tôi không làm nữa.” Hãy nói: “Lạy Chúa, con thấy sự ham được khen này. Con không muốn nó cai trị con. Con đặt nó dưới chân Chúa và con vẫn làm điều tốt này vì Chúa.” Chính hành vi ấy đã là thanh luyện. Hoặc khi con đang cầu nguyện mà thấy mình chỉ muốn tìm sự bình an dễ chịu, đừng bỏ cầu nguyện vì nghĩ động lực không tinh tuyền. Hãy nói: “Lạy Chúa, con muốn được an ủi, nhưng ngay cả khi Chúa không cho con chút an ủi nào, con vẫn muốn ở đây với Chúa.” Rồi ở lại. Đó là tình yêu đang lớn lên.
Con hãy nhớ: tình yêu tinh tuyền không hình thành bằng một quyết định lớn duy nhất, nhưng bằng hàng ngàn quyết định nhỏ trong những chuyện rất bình thường. Buổi sáng chuông báo thức reo, con muốn ngủ thêm, nhưng bổn phận gọi con dậy: con có thể đứng lên và nói “vì Chúa”. Một người nói với con bằng giọng khó chịu, con muốn đáp trả: con có thể giữ lại một lời và nói “vì Chúa”. Con làm một việc rất tốt nhưng chẳng ai chú ý: con có thể chống lại sự buồn bực và nói “Chúa thấy là đủ”. Người khác được khen về điều mà con cũng đã góp phần: con có thể vui với họ và nói “vinh quang thuộc về Chúa”. Một công việc con đầu tư nhiều công sức cuối cùng không đạt kết quả: con có thể đau, nhưng dâng sự thất bại ấy và nói “con đã làm vì Chúa, kết quả thuộc về Chúa”. Một người hiểu lầm con: nếu lương tâm cho phép im lặng, con có thể không chạy đi tìm người minh oan cho mình ngay và nói “Chúa biết sự thật là đủ”. Chính những việc nhỏ như thế dần dần cắt đứt những sợi dây vô hình đang trói ý chí con vào cái tôi.
Hỡi linh hồn, hãy coi chừng một chiếc bẫy khác rất tinh tế: làm điều tốt để tìm cảm giác mình đang làm Chúa vui lòng. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng ngay cả sự hài lòng thiêng liêng cũng có thể trở thành một thứ sở hữu. Có lúc con làm một điều hy sinh và cảm thấy rất bình an, rất vui. Hãy tạ ơn Chúa. Nhưng nếu ngày mai con làm một hy sinh tương tự mà chỉ cảm thấy khô khan, đừng cho rằng việc ấy kém giá trị. Có khi nó còn tinh tuyền hơn, bởi vì hôm nay con không nhận được “phần thưởng cảm xúc”. Có lúc con cầu nguyện và cảm nhận Chúa gần gũi. Hãy biết ơn. Nhưng nếu một ngày khác con quỳ xuống và chỉ thấy lạnh lẽo, trống rỗng, đừng bỏ đi. Chính lúc đó con có cơ hội nói bằng hành động: “Lạy Chúa, con không ở đây vì cảm giác về Chúa. Con ở đây vì Chúa.” Một tình yêu chỉ tồn tại khi được cảm thấy thì còn mong manh. Một tình yêu vẫn trung thành khi không cảm thấy gì đã bắt đầu bước vào sự trưởng thành.
Chúa đôi khi sẽ để con trải qua những giai đoạn mà mọi động lực phụ trợ dường như bị lấy mất. Con cầu nguyện nhưng không an ủi. Con phục vụ nhưng không được biết ơn. Con cố gắng nhưng không thấy tiến bộ. Con làm điều đúng nhưng vẫn bị hiểu lầm. Con trung thành nhưng chẳng thấy kết quả. Đừng nghĩ Ngài bỏ con. Có thể Ngài đang làm một việc sâu hơn tất cả những điều con có thể thấy: Ngài đang hỏi ý chí con, “Con còn chọn Ta không, khi Ta không cho con gì ngoài chính Ta?” Nếu con có thể trả lời, dù yếu ớt: “Lạy Chúa, con chọn Chúa”, thì đó là một hành vi tình yêu rất lớn. Có những lúc một câu “con chọn Chúa” được nói trong bóng tối quý hơn hàng trăm lời sốt sắng được nói trong lúc đầy an ủi.
Hãy suy xét thêm điều này: mọi sự trên đời sẽ trở nên nhẹ hơn khi con không còn đòi nó phải phục vụ cái tôi của con. Lời khen trở nên nhẹ vì con không cần nó để sống. Tiếng chê cũng nhẹ vì nó không thể lấy Chúa khỏi con. Thành công trở nên nhẹ vì con biết nó là quà tặng chứ không phải căn tính. Thất bại cũng nhẹ hơn vì con hiểu kết quả nằm trong tay Chúa. Được trọng dụng không làm con quá phấn khích. Bị quên lãng không làm con sụp đổ. Có nhiều thì con dùng nhiều cho Chúa. Có ít thì con dùng ít cho Chúa. Khỏe mạnh thì con phục vụ bằng sức khỏe. Đau yếu thì con phục vụ bằng sự nhẫn nại. Nói được thì con nói vì Chúa. Phải im lặng thì con im vì Chúa. Đi được thì con đi. Phải ở lại thì con ở. Làm việc lớn cũng được. Làm việc nhỏ cũng được. Được thấy cũng được. Không ai thấy cũng được. Miễn là Chúa được vui lòng. Ôi, sự tự do này lớn biết bao! Phần lớn những mệt mỏi của chúng ta không đến từ công việc, nhưng đến từ việc phải bảo vệ cái tôi trong khi làm việc. Ta mệt vì phải chứng minh. Mệt vì phải so sánh. Mệt vì phải được công nhận. Mệt vì phải thắng. Mệt vì phải đúng. Mệt vì phải được hiểu. Mệt vì phải giữ hình ảnh. Khi con bắt đầu chỉ sống cho ánh mắt Chúa, biết bao gánh nặng rơi xuống.
Con sẽ dần hiểu rằng có một thứ tử đạo âm thầm trong đời sống thường ngày: tử đạo của ý riêng. Không có máu chảy, không có đám đông chứng kiến, nhưng mỗi ngày cái tôi phải chết một chút. Chết khi người khác được chọn thay vì con. Chết khi ý kiến của con không được nghe theo. Chết khi một việc con yêu thích bị lấy đi. Chết khi con phải làm điều rất bình thường trong lúc lòng muốn làm điều lớn lao. Chết khi con bị chê mà không thể giải thích. Chết khi một người trẻ hơn làm tốt hơn con. Chết khi con phải thừa nhận mình sai. Chết khi phải xin lỗi trước. Chết khi phải nhường. Chết khi phải chấp nhận rằng đời này có những điều con sẽ không bao giờ hiểu. Nhưng mỗi cái chết ấy, nếu được kết hợp với Đức Kitô, lại mở ra một khoảng trống để Chúa sống trong con. Cái tôi nhỏ lại thì tự do lớn lên. Ý riêng nhỏ lại thì thánh ý Chúa có chỗ lớn lên. Nhu cầu được thấy nhỏ lại thì ánh mắt Thiên Chúa trở nên đủ hơn.
Và đừng bao giờ nghĩ rằng sống để làm vui lòng Thiên Chúa sẽ khiến con trở nên lạnh lùng với con người. Ngược lại. Khi con không còn cần người khác để nuôi cái tôi của mình, con mới có thể yêu họ thật sự. Khi con không cần họ khen, con có thể phục vụ họ mà không đòi trả công. Khi con không cần họ đồng ý với mình, con có thể lắng nghe họ sâu hơn. Khi con không cần họ nhận ra công lao của mình, con có thể làm điều tốt trong âm thầm. Khi con không dùng người khác để cảm thấy mình quan trọng, con mới bắt đầu nhìn họ như họ là. Tình yêu đối với Thiên Chúa không làm tình yêu con người nhỏ lại; nó thanh luyện tình yêu ấy khỏi sự chiếm hữu, đòi hỏi và thao túng. Con sẽ yêu người khác không phải vì họ làm con vui, nhưng vì Chúa yêu họ. Con sẽ kiên nhẫn với họ không phải vì họ xứng đáng theo tiêu chuẩn của con, nhưng vì con muốn làm vui lòng Chúa. Con sẽ tha thứ không phải vì vết thương không đau, nhưng vì trái tim Đức Kitô đang mời con đi xa hơn cái tôi bị tổn thương.
Hãy đặc biệt canh giữ mình trong những việc thiêng liêng, bởi vì ở đó cái tôi khó nhận diện nhất. Một người có thể ham tiền và biết mình ham tiền. Nhưng một người ham được nhìn nhận là đạo đức có thể không bao giờ nhận ra. Một người có thể tranh giành một chức vụ đời và thấy rõ tham vọng của mình. Nhưng một người tranh giành ảnh hưởng trong việc đạo có thể dễ dàng gọi tham vọng ấy là “lòng nhiệt thành”. Một người có thể tức giận vì mất lợi ích vật chất và biết mình ích kỷ. Nhưng một người tức giận vì chương trình mục vụ của mình không được chấp nhận có thể tự thuyết phục rằng mình đang đau vì “việc Chúa”. Hỡi linh hồn, hãy thường xuyên hỏi mình: “Nếu công việc này vẫn thành công nhưng không còn tên tôi trong đó, tôi có vui không?” “Nếu người khác thực hiện điều tôi mong muốn tốt hơn tôi, tôi có tạ ơn Chúa được không?” “Nếu ý Chúa được thực hiện qua một người tôi không thích, tôi có chấp nhận không?” “Nếu tôi phải lùi lại để người khác tiến lên, lòng tôi có bình an không?” Những câu hỏi ấy như những mũi kim chạm vào các chỗ đau của cái tôi. Chính vì đau nên chúng quý.
Có lẽ con sẽ thấy rằng mình chưa đạt được sự tự do ấy. Không sao. Điều quan trọng là con biết hướng đi. Không ai leo núi bằng một bước. Mỗi lần con chọn Chúa hơn một chút, ý chí con được uốn lại. Mỗi lần con chọn im lặng thay vì bảo vệ cái tôi, một mắt xích bị bẻ gãy. Mỗi lần con vui vì điều tốt xảy đến qua người khác, một căn bệnh ganh tị yếu đi. Mỗi lần con làm việc mà không kể công, tình yêu tinh tuyền lớn lên. Mỗi lần con chịu một thất bại mà vẫn nói “tạ ơn Chúa”, con đang tập không đồng hóa giá trị của mình với kết quả. Mỗi lần con cầu nguyện trong khô khan, con đang học yêu Thiên Chúa hơn những ơn của Thiên Chúa. Mỗi lần con từ bỏ một điều hợp pháp vì cảm thấy Chúa mời gọi, ý chí con mềm hơn trong tay Ngài.
Thực hành đầu tiên con nên tập mỗi ngày rất đơn sơ: trước những hành động quan trọng, hãy dừng lại một khoảnh khắc và xác định lại ý hướng. Không cần dài. Một hơi thở cũng đủ. Trước khi bước vào một cuộc gặp: “Lạy Chúa, vì Chúa.” Trước khi bắt đầu cầu nguyện: “Không phải để tìm cảm giác, nhưng để ở với Chúa.” Trước khi phục vụ: “Không phải để được biết đến, nhưng vì Chúa yêu người này.” Trước khi nói một lời sửa dạy: “Không phải để thắng, nhưng để điều tốt được thực hiện.” Trước khi làm một việc khó: “Chỉ vì Chúa.” Những lời ngắn ấy giống như kim la bàn. Chúng đưa con trở về đúng hướng khi ý chí bắt đầu lệch đi.
Thực hành thứ hai: sau mỗi hành động, đừng quá phân tích, nhưng hãy nhìn lại trong ánh sáng Chúa. “Tôi vừa làm vì ai?” Có khi con sẽ thấy một hành động khá trong sáng. Hãy tạ ơn Chúa. Có khi con nhận ra mình đã tìm mình rất nhiều. Đừng đánh đập bản thân. Hãy khiêm tốn nói: “Lạy Chúa, con lại chen vào chỗ của Chúa. Xin tha thứ và thanh luyện con.” Rồi đi tiếp. Cái tôi rất thích hai thái cực: hoặc tự mãn, hoặc tuyệt vọng. Khi thấy mình làm tốt, nó tự hào. Khi thấy mình làm dở, nó chán nản. Cả hai đều vẫn xoay quanh bản thân. Khiêm nhường thì khác: làm tốt, tạ ơn Chúa; làm dở, xin Chúa thương; rồi tiếp tục bước.
Thực hành thứ ba: mỗi tối hãy xét mình không chỉ về điều đã làm, nhưng về động lực. Hôm nay con đã vui nhất vì điều gì? Đã đau nhất vì điều gì? Đã tức giận nhất khi chuyện gì xảy ra? Đã thất vọng nhất ở đâu? Những cảm xúc mạnh thường chỉ cho con thấy nơi cái tôi đang bám vào. Nếu con buồn quá mức vì bị bỏ quên, có thể con đang bám vào sự công nhận. Nếu con giận quá mức vì ý mình không được theo, có thể con đang bám vào quyền kiểm soát. Nếu con ghen khi người khác được khen, có thể con đang bám vào vị trí. Nếu con mất hết nhiệt tâm khi không còn ai nhìn thấy, có thể con đã sống nhiều cho ánh mắt người đời. Đừng kết án mình. Chỉ cần nhìn, gọi đúng tên và dâng lên. Hãy nói: “Lạy Chúa, hôm nay con thấy mình cần lời khen quá nhiều. Xin làm con tự do.” “Lạy Chúa, hôm nay con thấy mình khó chịu khi người khác hơn con. Xin dạy con vui vì vinh quang của Chúa.” “Lạy Chúa, hôm nay con thất vọng vì việc không thành. Xin nhắc con rằng con là đầy tớ, không phải chủ mùa gặt.”
Con cũng có thể thực hành một điều rất mạnh: cố ý làm một vài việc tốt mà không để ai biết. Đừng nói. Đừng kể. Đừng để lại dấu vết để được khám phá. Chỉ Chúa biết. Đây là một trường học tuyệt vời cho ý chí. Làm một điều tốt rồi chôn nó giữa con và Chúa. Cầu nguyện cho một người mà không nói cho họ biết. Giúp một người nhưng tránh để tên mình xuất hiện nếu điều đó có thể. Chịu một hy sinh nhỏ mà không kể. Nhường một điều mà không làm vẻ cao thượng. Khi cái tôi không nhận được phần thưởng xã hội, nó sẽ phản ứng. Con sẽ cảm thấy một thôi thúc muốn ai đó biết. Chính lúc ấy hãy mỉm cười với Chúa trong lòng: “Chỉ Chúa biết là đủ.” Những hành động kín đáo ấy có sức thanh luyện kỳ diệu.
Hãy tập cả điều ngược lại: khi được khen, đừng giả vờ phủ nhận mọi điều tốt nơi mình. Khiêm nhường không phải nói dối. Nếu con đã làm một việc tốt và người ta cảm ơn, con có thể đơn sơ nhận lời cảm ơn. Nhưng trong lòng hãy lập tức trả vinh quang về nguồn: “Lạy Chúa, nếu có gì tốt, chính Chúa đã ban sức.” Đừng nuốt lấy lời khen như kẻ đói ăn. Đừng nhai lại nó cả ngày. Đừng kể lại cho người khác rằng người này người kia đã khen mình. Hãy để nó đi qua linh hồn như ánh nắng đi qua cửa kính, không bị giữ lại. Và khi bị chê, cũng đừng vội nuốt lấy tiếng chê như một bản án. Hãy hỏi: “Trong điều họ nói có sự thật nào Chúa muốn con nghe không?” Nếu có, sửa mình. Nếu không, phó thác. Cả lời khen lẫn tiếng chê đều trở nên nhỏ khi con sống dưới ánh mắt Chúa.
Một ngày kia, con sẽ nhận thấy một điều rất đẹp: càng tìm làm vui lòng Thiên Chúa, con càng bớt bị người đời điều khiển. Người ta không còn dễ kéo con lên bằng lời khen hay đẩy con xuống bằng tiếng chê. Người ta không còn dễ mua sự nhiệt thành của con bằng sự công nhận. Người ta không còn dễ làm con bỏ cuộc bằng sự vô ơn. Con có một trung tâm bên trong mà chỉ Thiên Chúa chạm được. Con vẫn yêu người khác, vẫn lắng nghe lời góp ý, vẫn biết ơn khi được khích lệ; nhưng con không sống nhờ chúng. Một người tự do như thế thật bình an. Không phải thứ bình an vì đời không có sóng, nhưng bình an vì chiếc neo đã được thả sâu vào Thiên Chúa.
Hỡi linh hồn, con hãy nhớ rằng cuối đời, rất nhiều điều hôm nay làm con bận tâm sẽ trở nên nhỏ bé. Ai khen con bao nhiêu, ai hiểu lầm con thế nào, công việc nào mang tên con, ai được nhớ đến, ai bị quên đi — tất cả rồi sẽ đi qua. Một ngày con sẽ đứng trước Thiên Chúa. Và khi ấy, điều quan trọng không phải là người đời đã nghĩ con là ai, nhưng con đã là ai trước mặt Ngài. Không phải con đã làm bao nhiêu việc lớn, nhưng bao nhiêu việc con làm bằng tình yêu. Không phải con được bao nhiêu người biết đến, nhưng con có thật sự biết và yêu Thiên Chúa không. Không phải bao nhiêu người đã vui lòng với con, nhưng con có tìm làm đẹp lòng Đấng đã tạo dựng, cứu chuộc và yêu con đến cùng hay không.
Vậy mỗi sáng, khi mở mắt, trước khi những tiếng nói của thế gian đi vào tâm trí, con hãy dâng ngày mới bằng một lời rất đơn sơ: “Lạy Chúa, hôm nay con chỉ xin một điều: trong tất cả những gì con nghĩ, nói, làm và chịu, xin cho con tìm làm vui lòng Chúa.” Rồi trong ngày, khi rối trí, trở lại câu ấy. Khi phải lựa chọn, trở lại câu ấy. Khi bị cám dỗ bởi lời khen, trở lại câu ấy. Khi bị thương vì tiếng chê, trở lại câu ấy. Khi thành công, trở lại câu ấy. Khi thất bại, trở lại câu ấy. Khi được an ủi, trở lại câu ấy. Khi khô khan, trở lại câu ấy. Khi khỏe mạnh, khi đau yếu, khi được người ta cần đến, khi bị bỏ quên, khi lòng đầy ánh sáng, khi đêm tối phủ xuống — chỉ một câu: “Lạy Chúa, miễn là Chúa vui lòng.”
Nếu con kiên trì sống như thế, từ từ cả đời con sẽ được đơn giản hóa. Không phải đơn giản vì không còn trách nhiệm, nhưng vì giữa hàng trăm việc chỉ còn một mục đích. Không phải đơn giản vì không còn lựa chọn khó khăn, nhưng vì có một tiêu chuẩn cuối cùng. Không phải đơn giản vì con luôn biết rõ thánh ý, nhưng vì khi đã nhận ra điều Chúa muốn, con không còn mặc cả quá nhiều. Và rồi, trong sâu thẳm, con sẽ hiểu thế nào là lời của một linh hồn thật sự tự do: được Chúa yêu là đủ, được Chúa biết là đủ, được Chúa vui lòng là đủ.
Khi ấy, con có thể bước qua thế gian này rất nhẹ. Người ta trao cho con vinh dự, con dâng cho Chúa. Người ta lấy vinh dự khỏi con, con vẫn có Chúa. Người ta trao cho con công việc, con làm vì Chúa. Người ta bảo con dừng, con dừng vì Chúa. Người ta nhớ đến con, con tạ ơn. Người ta quên con, con cũng tạ ơn. Sức khỏe cho phép con làm nhiều, con làm nhiều. Bệnh tật chỉ cho con nằm yên, con nằm yên mà yêu Chúa. Ngày sáng, con bước trong ánh sáng. Đêm tối, con bước trong đức tin. Được hiểu, con không bám lấy. Bị hiểu lầm, con không sụp đổ. Thành công không làm con say. Thất bại không làm con chết. Vì kho tàng của con không còn nằm trong những điều ấy.
Đó là một trong những chiến thắng lớn nhất của cuộc chiến thiêng liêng: không phải chiến thắng người khác, nhưng chiến thắng nhu cầu phải sống cho người khác nhìn thấy; không phải làm được những điều phi thường, nhưng làm những điều bình thường bằng một tình yêu phi thường; không phải trở thành người không còn cảm xúc, nhưng trở thành người mà cảm xúc không còn quyết định lòng trung thành; không phải không còn ý riêng, nhưng mỗi ngày biết đặt ý riêng xuống dưới chân Thiên Chúa.
Hỡi linh hồn, con đừng xin Chúa chỉ ban cho con những hoàn cảnh thuận lợi để làm đẹp lòng Ngài. Hãy xin điều lớn hơn: xin cho con có một ý chí yêu Ngài đến mức trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể làm đẹp lòng Ngài. Vì nếu Chúa cho con hoàn cảnh dễ dàng mà ý chí con còn quy về mình, con vẫn chưa tự do. Nhưng nếu Chúa để con đi qua những hoàn cảnh khó khăn mà trong đó ý chí con dần dần học nói “vâng”, thì chính những hoàn cảnh ấy lại trở thành lò luyện vàng.
Và cuối cùng, nếu một ngày con cảm thấy mình chẳng còn gì để dâng Chúa — không sức lực, không thành công, không cảm xúc sốt sắng, không công việc lớn, không danh tiếng, không điều gì đáng kể — con hãy nhớ rằng con vẫn còn một lễ vật cuối cùng mà Thiên Chúa luôn mong đợi: ý chí của con. Con có thể nói: “Lạy Chúa, con chẳng còn gì, nhưng con muốn điều Chúa muốn.” Nếu con nói câu ấy thật lòng, con đã dâng rất nhiều. Có lẽ con đã dâng thứ lớn nhất.
Xin cho đến cuối đời, giữa mọi thay đổi, mọi mất mát, mọi thành công và thất bại, mọi ánh sáng và bóng tối, trong con chỉ còn ngày càng rõ một khát vọng: “Lạy Chúa, đừng để con sống cho chính mình nữa. Đừng để con yêu những ơn Chúa hơn yêu chính Chúa. Đừng để con tìm ánh mắt người đời hơn ánh mắt Chúa. Đừng để con chọn điều dễ chịu hơn điều đẹp lòng Chúa. Xin thanh luyện từng động lực trong con, từng ước muốn, từng dự tính, từng lời nói, từng công việc, từng hy sinh, cho đến khi cả đời con chỉ còn là một câu thưa vâng âm thầm nhưng trọn vẹn: Chúa muốn gì, con muốn điều ấy. Chúa vui điều gì, con chọn điều ấy. Chúa được vinh danh ở đâu, xin cho con ở đó, dù con được nhìn thấy hay bị quên lãng. Và nếu cuối cùng chẳng ai biết con đã sống thế nào, chỉ cần Chúa biết, chỉ cần Chúa vui lòng, thế là đủ cho con.”
CHƯƠNG 12
SỰ ĐỐI NGHỊCH GIỮA HAI BẢN TÍNH TRONG CON NGƯỜI
Hỡi linh hồn đang muốn bước vào con đường chiến đấu thật sự, có một điều con phải hiểu cho thật sâu, vì nếu không hiểu điều này, con sẽ không hiểu chính mình, không hiểu những mâu thuẫn đang diễn ra trong lòng mình, không hiểu tại sao có những lúc con muốn cầu nguyện mà đồng thời lại muốn bỏ cầu nguyện, muốn sống thánh thiện mà đồng thời lại yêu sự dễ dãi, muốn thuộc trọn về Thiên Chúa mà đồng thời lại không muốn từ bỏ một vài góc nhỏ trong đời sống riêng tư của mình. Trong con không chỉ có một khuynh hướng. Trong con đang diễn ra một cuộc tranh chấp âm thầm, dai dẳng, đôi khi dữ dội, giữa con người cũ và con người mới, giữa những gì thuộc về xác thịt và những gì thuộc về Thánh Thần, giữa cái tôi muốn giữ lấy chính mình và ân sủng muốn đưa con ra khỏi chính mình để sống cho Thiên Chúa. Cuộc chiến ấy không xảy ra ở đâu xa. Nó không chỉ xảy ra trong những cơn cám dỗ lớn, trong những giây phút khủng hoảng, trong những quyết định quan trọng. Nó xảy ra ngay khi con vừa thức dậy buổi sáng. Nó xảy ra khi con chọn nằm thêm vài phút hay đứng dậy làm điều phải làm. Nó xảy ra khi một người nói với con một câu không vừa ý. Nó xảy ra khi con phải chọn im lặng hay trả đũa. Nó xảy ra khi con có một giờ rảnh và phải quyết định sử dụng giờ ấy cho điều ích lợi hay để mình bị cuốn trôi trong những thú vui vô bổ. Nó xảy ra khi con bị hiểu lầm, khi người khác được khen còn con bị bỏ quên, khi công việc của con không được nhìn nhận, khi con muốn nói một lời để chứng minh rằng mình đúng, khi con muốn được thương, được kính trọng, được công nhận, được hỏi ý kiến, được dành cho một vị trí. Chính ở những chỗ tưởng như rất nhỏ ấy, hai bản tính trong con đang đối diện với nhau, và mỗi lần con chọn, một bên được nuôi lớn, một bên bị làm cho suy yếu.
Bản tính cũ không có nghĩa là con hoàn toàn xấu xa, cũng không có nghĩa rằng mọi điều tự nhiên trong con đều đáng khinh. Nhưng tội lỗi đã làm thương tổn bản tính con người. Tội nguyên tổ đã để lại trong lòng người một vết nghiêng rất sâu về phía mình. Con người tự nhiên thích đặt mình ở trung tâm. Nó thích điều dễ chịu, sợ điều trái ý, thích được kính trọng, ghét bị coi thường, thích thắng, không thích thua, thích được người khác hiểu mà rất ít khi muốn kiên nhẫn hiểu người khác, thích được tha thứ nhưng lại khó tha thứ, thích người khác rộng lượng với mình nhưng rất dễ tính toán khi phải rộng lượng với họ. Cái tôi ấy có thể được khoác lên rất nhiều bộ áo đẹp. Nó có thể mặc áo đạo đức. Nó có thể nói bằng ngôn ngữ của lòng nhiệt thành. Nó có thể ẩn dưới những lý do rất hợp lý. Nó có thể khiến con nghĩ rằng con đang bảo vệ chân lý, trong khi thật ra con đang bảo vệ danh dự của mình; khiến con tưởng mình đang lo cho công việc chung, trong khi thật ra con chỉ khó chịu vì người khác không làm theo ý con; khiến con tin mình đang sửa lỗi người khác vì yêu thương, trong khi thật ra lòng tự ái của con bị đụng chạm; khiến con tưởng mình đang mệt mỏi vì phục vụ quá nhiều, trong khi phần sâu kín hơn lại đang đau vì phục vụ mà không được ghi nhận. Bản tính cũ rất khéo léo. Nó không luôn luôn nói với con: “Hãy phạm tội.” Nhiều khi nó chỉ nói: “Hãy chiều mình một chút.” Nó không luôn bảo con chống lại Thiên Chúa cách công khai. Nó chỉ thì thầm: “Chuyện nhỏ thôi. Không sao đâu. Lần này thôi. Con đã cố gắng nhiều rồi. Con có quyền được nghỉ. Con có quyền đáp lại. Con có quyền buồn. Con có quyền giữ sự tổn thương này. Con có quyền không tha thứ ngay. Con có quyền nghĩ về người ấy như thế.” Và chính bằng những nhượng bộ rất nhỏ như thế, con người cũ duy trì quyền thống trị của nó.
Còn bản tính mới được ban cho con nhờ ân sủng, được gieo vào con trong Bí tích Rửa Tội, được nuôi bằng Lời Chúa, Bí tích Thánh Thể, cầu nguyện, sự thống hối, lòng mến và những lần con chọn Thiên Chúa hơn chính mình. Bản tính mới không tìm hỏi trước hết: “Tôi thích điều gì?” nhưng hỏi: “Chúa muốn điều gì?” Nó không hỏi: “Điều này có làm tôi dễ chịu không?” nhưng hỏi: “Điều này có đẹp lòng Chúa không?” Nó không nhất thiết khiến con cảm thấy hứng thú, nhưng làm cho con có khả năng chọn điều thiện ngay cả khi điều thiện khiến con đau. Nó không hủy diệt nhân tính của con, trái lại, nó chữa lành, thanh luyện và đưa nhân tính ấy về đúng trật tự. Khi bản tính mới lớn lên, con không trở thành một người không còn cảm xúc. Con vẫn có thể buồn khi bị xúc phạm, vẫn đau khi mất mát, vẫn mệt khi bị hiểu lầm, vẫn thấy khó chịu khi phải hy sinh. Nhưng những cảm xúc ấy không còn làm chủ con như trước. Con không còn coi cảm xúc là mệnh lệnh. Con có thể cảm thấy giận mà không để cơn giận quyết định lời nói. Con có thể cảm thấy bị tổn thương mà không dùng sự tổn thương làm lý do để làm đau người khác. Con có thể cảm thấy muốn bỏ cuộc mà vẫn trung thành. Con có thể cảm thấy không muốn cầu nguyện mà vẫn quỳ xuống. Con có thể cảm thấy mình không được yêu nhưng vẫn yêu. Đó chính là dấu chỉ bản tính mới đang lớn lên: không phải vì những xung đột biến mất, nhưng vì trong xung đột, con ngày càng biết chọn Thiên Chúa.
Hai bản tính ấy không thể cùng thống trị. Con có thể có chúng cùng hiện diện trong một cuộc chiến, nhưng không thể trao ngai cho cả hai. Hoặc ý riêng của con sẽ ngồi trên ngai và Thiên Chúa chỉ được mời vào khi thuận tiện; hoặc Thiên Chúa sẽ ngự trên ngai và ý riêng của con phải học quỳ xuống. Đây là điều nhiều linh hồn không muốn chấp nhận. Họ muốn có Chúa, nhưng đồng thời cũng muốn giữ mình. Họ muốn sống đời thiêng liêng, nhưng không muốn để đời thiêng liêng đụng đến những vùng nhạy cảm nhất của mình. Họ sẵn sàng đọc sách đạo đức nhưng không sẵn sàng từ bỏ một thói quen xấu. Họ sẵn sàng dự lễ nhưng không sẵn sàng chịu một lời xúc phạm mà không trả đũa. Họ sẵn sàng làm những việc lớn cho Chúa nhưng không sẵn sàng nhường một điều nhỏ cho người bên cạnh. Họ có thể quỳ hàng giờ trước Nhà Tạm nhưng lại không chịu hạ giọng khi nói với người làm họ khó chịu. Họ có thể xúc động sâu xa trước cuộc thương khó của Đức Kitô nhưng lại không chịu đón nhận một thập giá nhỏ trong gia đình, cộng đoàn hay công việc. Họ có thể nói rất nhiều về từ bỏ mình nhưng vẫn âm thầm bảo vệ sự tự ái của mình đến cùng. Đây chính là sự chia đôi nội tâm rất nguy hiểm: Chúa được dành cho một vùng của đời sống, còn cái tôi vẫn thống trị những vùng khác.
Nhiều người sống đạo nhiều năm mà gần như không thay đổi chính vì họ đã học cách chung sống với sự chia đôi ấy. Họ có một con người khi ở trong nhà thờ và một con người khác khi trở về đời thường. Họ có một giọng nói khi cầu nguyện và một giọng khác khi tranh luận. Họ có thể nói rất dịu dàng với Thiên Chúa nhưng rất cay nghiệt với người thân. Họ có thể nhẫn nại trong một giờ chầu, nhưng thiếu nhẫn nại chỉ vài phút sau khi ra khỏi nhà nguyện. Họ có thể xin Chúa biến đổi mình, nhưng khi Chúa dùng một người khó tính để biến đổi họ, họ lại chống lại chính phương thế mà Chúa đang sử dụng. Họ cầu xin khiêm nhường, nhưng không chịu bị hạ xuống. Họ xin lòng nhẫn nại, nhưng không muốn gặp người khiến họ phải nhẫn nại. Họ xin được thanh luyện, nhưng khi sự thanh luyện đến bằng thất bại, hiểu lầm, bị quên lãng, bị sửa lỗi, bị mất quyền kiểm soát, họ lập tức muốn chạy trốn. Họ muốn nhân đức, nhưng không muốn giá của nhân đức. Họ muốn hoa trái nhưng không muốn bị cắt tỉa. Họ muốn sống lại nhưng không muốn đi qua cái chết. Vì thế bản tính mới không lớn được bao nhiêu, còn bản tính cũ tuy bị kiềm chế trong những giờ đạo đức vẫn tiếp tục cai trị phần lớn đời sống.
Con phải hiểu rằng điều nuôi bản tính cũ không chỉ là những tội lớn. Nhiều khi chính những nhượng bộ nhỏ lặp đi lặp lại mới làm nó mạnh nhất. Một chút tự ái được giữ lại. Một chút nói xấu được cho phép. Một chút tò mò vô ích. Một chút tìm kiếm lời khen. Một chút phàn nàn mỗi ngày. Một chút trì hoãn điều phải làm. Một chút chiều theo thân xác. Một chút lười biếng được biện minh bằng mệt mỏi. Một chút so sánh mình với người khác. Một chút vui thầm khi người mình không ưa thất bại. Một chút khó chịu khi người khác được đề cao. Một chút buồn vì không ai nhắc đến công lao của mình. Một chút thất vọng khi không được đối xử như mình mong muốn. Từng điều một xem ra chẳng đáng kể, nhưng chúng giống những giọt nước liên tục tưới vào gốc cây của con người cũ. Con tưới nó mỗi ngày rồi lại ngạc nhiên vì sao nó không chết. Con cầu xin Chúa cho mình thoát khỏi tự ái, nhưng mỗi ngày con vẫn nuôi tự ái bằng những suy nghĩ về bản thân. Con xin được khiêm nhường, nhưng trong lòng vẫn thích được nhìn nhận. Con xin được tự do, nhưng vẫn liên tục quay về kiểm tra xem người khác nghĩ gì về mình. Con xin được chết cho ý riêng, nhưng chỉ cần một việc không diễn ra theo ý con, cả nội tâm đã xáo trộn. Làm sao bản tính cũ chết được nếu con vẫn bí mật cho nó ăn?
Ngược lại, mỗi lần con từ bỏ mình vì Chúa, dù rất nhỏ, bản tính mới được nuôi dưỡng. Khi con muốn nói mà chọn im lặng vì nói ra chỉ để hơn thua, một điều mới đang lớn lên trong con. Khi con muốn được giải thích nhưng chấp nhận bị hiểu lầm nếu sự giải thích không thật sự cần thiết, con đang làm yếu đi cái tôi. Khi con muốn nghỉ nhưng nhận ra bổn phận cần được hoàn tất và con vui vẻ làm, con đang nuôi con người mới. Khi con thấy người khác được khen và lập tức dâng lời cảm tạ Chúa thay vì để lòng ghen len vào, con đang bước một bước vào tự do. Khi con bị sửa lỗi và thay vì lập tức tự vệ, con dừng lại để xem trong lời ấy có phần nào đúng không, ân sủng đang thắng một trận nhỏ. Khi con thấy mình muốn phàn nàn nhưng giữ lại lời than vì không cần thiết, một sợi dây của con người cũ bị cắt. Khi con mệt mà vẫn cố gắng nói một lời tử tế, khi con buồn mà vẫn không làm người khác buồn theo, khi con đau mà vẫn không đóng cửa trái tim, khi con không được đáp lại mà vẫn tiếp tục yêu vì Chúa, khi con làm một việc tốt mà không nói cho ai biết, khi con cố ý chọn phần kém hơn mà không tìm cách cho người khác nhận ra rằng mình đã chọn phần kém hơn, thì con người mới đang lớn lên trong bóng tối. Không ai thấy. Có thể chính con cũng không cảm thấy gì đặc biệt. Nhưng Thiên Chúa thấy. Và những chiến thắng âm thầm ấy có thể giá trị trước mặt Ngài hơn nhiều việc lớn lao mà lòng tự ái vẫn âm thầm tìm phần của mình.
Đừng tưởng rằng con người cũ chỉ xuất hiện nơi những người sống buông thả. Nó có thể rất mạnh nơi những người đạo đức. Thậm chí nó có thể trở nên tinh vi hơn khi người ta tiến vào đời sống thiêng liêng. Ban đầu người ta tự ái về tiền bạc, vẻ ngoài, địa vị, khả năng. Sau đó, nếu không cẩn thận, người ta lại tự ái về chính đời sống đạo đức của mình. Người ta muốn được nhìn nhận là người cầu nguyện sâu sắc. Muốn được coi là người có kinh nghiệm thiêng liêng. Muốn người khác hỏi ý kiến mình. Muốn lời mình có trọng lượng. Muốn mình được xem như người hiểu biết, người đạo đức, người hy sinh, người trung tín. Người ta có thể từ bỏ nhiều điều vật chất nhưng lại nắm rất chặt hình ảnh thiêng liêng về chính mình. Và đôi khi sự tự ái thiêng liêng còn khó nhận ra hơn sự tự ái thế gian. Một người có thể không cần ai khen áo quần của mình, nhưng rất cần người khác khen bài giảng của mình. Không cần người khác ca tụng tiền bạc của mình, nhưng muốn họ ca tụng sự hy sinh của mình. Không muốn danh vọng đời đời, nhưng muốn có danh tiếng là người đạo đức. Không tìm địa vị xã hội, nhưng tìm vị trí trong cộng đoàn. Không cần sở hữu vật chất, nhưng lại muốn sở hữu tiếng nói cuối cùng. Con người cũ sẵn sàng đổi trang phục để được sống tiếp. Nếu con không tỉnh thức, nó sẽ bước vào tận nơi thánh thiêng nhất trong con và tự dựng một bàn thờ cho mình.
Bởi vậy, cuộc chiến này đòi hỏi sự thật. Không phải sự thật về người khác, nhưng sự thật về chính con. Con phải tập nhận ra tiếng nói của bản tính cũ khi nó vừa xuất hiện. Khi con buồn, hãy hỏi: “Tôi buồn vì điều gì? Vì Chúa bị xúc phạm hay vì tôi bị coi thường?” Khi con nóng giận, hãy hỏi: “Tôi đang bảo vệ điều đúng hay đang bảo vệ cái tôi?” Khi con sốt sắng làm việc, hãy hỏi: “Nếu không ai biết việc này, tôi còn làm với cùng lòng nhiệt thành không?” Khi con thất vọng vì một người, hãy hỏi: “Tôi yêu người ấy hay tôi yêu cách người ấy làm tôi cảm thấy được yêu?” Khi con muốn bỏ cuộc, hãy hỏi: “Tôi thật sự không còn khả năng, hay tôi chỉ không chịu nổi việc không được thành công như mong muốn?” Khi con cảm thấy mình bị đối xử bất công, hãy hỏi: “Tôi muốn sự công bằng vì điều thiện, hay vì tôi không chịu nổi việc phần của tôi bị thiệt?” Những câu hỏi ấy đau. Chúng giống những lưỡi dao chạm vào chỗ con vẫn muốn che giấu. Nhưng nếu con không cho ánh sáng đi vào những nơi ấy, con sẽ cứ tưởng mình sống cho Chúa trong khi phần lớn động lực vẫn xoay quanh mình.
Đừng sợ khi phát hiện bản tính cũ còn mạnh. Điều đáng sợ không phải là thấy nó, nhưng là không muốn thấy. Không phải việc con cảm nhận cám dỗ chứng minh rằng con xa Chúa; nhiều khi chính lúc con bắt đầu chống lại, con mới nhận ra nó mạnh đến đâu. Một người trôi theo dòng nước không cảm thấy sức của dòng nước. Chỉ khi quay lại bơi ngược dòng, người ấy mới thấy dòng nước mạnh. Cũng vậy, khi con còn chiều theo ý riêng, con có thể tưởng mình rất bình an. Nhưng đó đôi khi chỉ là sự yên ổn của người không chiến đấu. Khi con bắt đầu thật sự chống lại tự ái, tính nóng nảy, sự lười biếng, sự tò mò, nhu cầu được công nhận, lòng ham tiện nghi, con sẽ thấy trong mình nhiều kháng cự hơn trước. Đừng hoảng sợ. Không phải con trở nên xấu hơn. Có thể con chỉ đang bắt đầu nhìn thấy điều trước đây vẫn ẩn khuất. Ánh sáng không tạo ra bụi trong căn phòng; ánh sáng chỉ làm con thấy bụi vốn đã có đó.
Cuộc chiến giữa hai bản tính không được giải quyết bằng một quyết định lớn duy nhất. Có những ngày con có thể xúc động và nói: “Từ nay con thuộc trọn về Chúa.” Lời ấy đẹp. Nhưng đời sống sẽ kiểm chứng nó bằng hàng nghìn lựa chọn nhỏ sau đó. Con thuộc trọn về Chúa đến đâu sẽ lộ ra trong cách con phản ứng khi kế hoạch bị thay đổi. Trong cách con đón nhận một lời góp ý. Trong cách con đối xử với người không thể đem lại lợi ích gì cho con. Trong cách con sử dụng chiếc điện thoại khi không ai kiểm soát. Trong cách con nói về một người khi người ấy vắng mặt. Trong cách con làm một việc khi không ai nhìn. Trong cách con sống những giờ mệt mỏi. Trong cách con phản ứng khi điều con cầu xin không được đáp lại. Chính lúc ấy lời tuyên bố “con thuộc về Chúa” trở thành thật hoặc chỉ còn là một cảm xúc đẹp.
Bản tính cũ rất thích những việc lớn vì việc lớn thường có người nhìn thấy. Nó ít thích những hy sinh nhỏ vì ở đó không có khán giả. Nó có thể thích đi xa làm việc bác ái nhưng không thích rửa một cái chén người khác bỏ lại. Nó có thể thích nói những lời cao đẹp về yêu thương nhưng khó chịu khi phải nghe một người kể đi kể lại một câu chuyện cũ. Nó có thể chấp nhận một cuộc hy sinh đáng kể nếu sự hy sinh ấy cho nó cảm giác cao thượng, nhưng lại nổi loạn trước những điều vụn vặt, lặp đi lặp lại, không ai biết đến. Chính vì vậy, những việc nhỏ là một trường học tuyệt vời để biết bản tính nào đang thống trị. Nếu con chỉ nhân đức trong những dịp đặc biệt, con chưa biết mình. Hãy nhìn con trong ngày bình thường. Hãy nhìn con khi mệt. Khi đói. Khi bị làm phiền. Khi phải chờ. Khi người khác chậm chạp. Khi kế hoạch đổ vỡ. Khi một người nói không đúng ý. Khi con không được ưu tiên. Khi con không còn hứng thú. Đó là những tấm gương rất trung thực.
Có những linh hồn muốn tiêu diệt bản tính cũ bằng những cố gắng dữ dội, nhưng rồi thất vọng vì nó vẫn trở lại. Con phải hiểu: nó thường chết dần, không chết trong một ngày. Và nó chết bằng rất nhiều cái chết nhỏ. Mỗi lần con không chiều nó, nó yếu đi một chút. Mỗi lần con chiều nó, nó hồi sức. Vì vậy đừng xem thường bất cứ chiến thắng nhỏ nào. Một lần kiềm chế ánh mắt. Một lần không mở miệng nói lời chua cay. Một lần không kể lại chuyện khiến mình được chú ý. Một lần không tìm lời khen. Một lần chấp nhận người khác quyết định. Một lần làm điều mình không thích vì bổn phận. Một lần đóng điện thoại lại để cầu nguyện. Một lần đứng dậy đúng giờ thay vì chiều thân xác. Một lần cầu nguyện cho người làm mình tổn thương. Một lần thành thật nhận lỗi mà không thêm câu “nhưng tại vì…”. Những cái chết ấy nhỏ đến mức không ai dựng bia tưởng niệm. Nhưng chính từ đó một con người mới được hình thành.
Con cũng cần hiểu một nguyên tắc nghiêm trọng: điều con nuôi sẽ lớn. Con không thể thường xuyên nuôi trí tưởng tượng bằng những gì kích thích dục vọng rồi mong tâm hồn trong sạch. Con không thể nuôi lòng mình bằng sự so sánh rồi mong có bình an. Con không thể mỗi ngày hấp thụ lời khen rồi mong mình không lệ thuộc vào ý kiến người khác. Con không thể liên tục chiều thân xác rồi mong có sức khi cần hy sinh. Con không thể để tâm trí lang thang vô kỷ luật suốt ngày rồi mong cầu nguyện sâu vào buổi tối. Con không thể dành hàng giờ cho những điều vô ích rồi than rằng mình không có thời gian cho Thiên Chúa. Con không thể ôm mãi ký ức về những xúc phạm rồi xin Chúa cho mình lòng tha thứ. Ân sủng không hủy bỏ trách nhiệm của con trong việc bảo vệ những cánh cửa của linh hồn. Nếu con mỗi ngày mở cửa cho con người cũ bước vào, con đừng ngạc nhiên khi nó trở thành chủ nhà.
Nhưng cũng đừng rơi vào sai lầm ngược lại là tưởng rằng con có thể chiến thắng bằng sức riêng. Bản tính mới không phải sản phẩm của một ý chí sắt đá. Nó là công trình của ân sủng. Con cộng tác, nhưng Thiên Chúa làm cho lớn lên. Con chiến đấu, nhưng sức mạnh sâu xa đến từ Chúa. Con từ bỏ, nhưng chính Thánh Thần ban cho con khả năng từ bỏ. Vì vậy mỗi khi cuộc chiến trở nên gay gắt, đừng chỉ nghiến răng tự nhủ: “Tôi phải thắng.” Hãy hướng lòng về Chúa: “Lạy Chúa, con đang thấy cái tôi trong con mạnh quá. Con không thể thắng nó một mình. Xin Chúa chiến đấu trong con. Xin cho ý Chúa mạnh hơn ý con. Xin cho tình yêu Chúa trong con mạnh hơn lòng tự ái của con.” Lời cầu nguyện ấy, nếu chân thành, là một hành vi đặt con người mới dưới ánh sáng ân sủng. Đừng xấu hổ khi phải cầu xin nhiều lần. Có những trận chiến con phải cầu xin hàng trăm lần. Có những khuynh hướng con phải chiến đấu nhiều năm. Điều quan trọng không phải là con không còn bị tấn công, mà là mỗi lần bị tấn công, con biết quay về đâu.
Thánh Phaolô đã nói rất rõ về cuộc xung đột ấy khi ngài mô tả sự đối nghịch giữa xác thịt và Thần Khí. Đây không phải là một lý thuyết đạo đức. Đó là kinh nghiệm thật của người muốn thuộc về Đức Kitô. Người sống theo xác thịt tìm sự sống trong mình, trong cảm giác, trong thỏa mãn, trong ý riêng, trong sự an toàn của cái tôi. Người sống theo Thần Khí nhận sự sống như một quà tặng và học cách ra khỏi mình. Xác thịt nói: “Hãy giữ lấy.” Thần Khí nói: “Hãy trao ban.” Xác thịt nói: “Hãy bảo vệ mình.” Thần Khí nói: “Hãy tín thác.” Xác thịt nói: “Hãy chứng minh rằng con đúng.” Thần Khí nói: “Hãy tìm điều làm đẹp lòng Thiên Chúa.” Xác thịt nói: “Hãy làm điều khiến con dễ chịu.” Thần Khí nói: “Hãy làm điều thiện.” Xác thịt nói: “Người ấy không xứng đáng được tha thứ.” Thần Khí nói: “Con đã được tha thứ nhưng không.” Xác thịt nói: “Con phải được nhìn nhận.” Thần Khí nói: “Cha con, Đấng thấu suốt nơi kín ẩn, biết con.” Xác thịt nói: “Đừng để ai hơn con.” Thần Khí nói: “Hãy vui khi người khác được nâng lên.” Hai tiếng nói ấy đi xuyên qua gần như mọi hoàn cảnh của đời sống.
Một trong những nơi bản tính cũ biểu lộ rõ nhất là phản ứng khi bị trái ý. Khi mọi sự diễn ra theo ý con, rất khó biết con đã thật sự chết cho mình chưa. Người dễ chịu với con, công việc thuận lợi, sức khỏe ổn định, mọi người tôn trọng con, kế hoạch thành công — trong hoàn cảnh ấy, bản tính cũ có thể sống rất yên và thậm chí khoác dáng vẻ đạo đức. Nhưng hãy để một chuyện nhỏ trái ý xảy ra. Ai đó đến trễ. Một người không nghe lời. Một quyết định không hỏi con. Một người hiểu sai ý con. Một người trẻ thiếu kính trọng. Một cộng sự làm việc khác cách con muốn. Một món đồ bị đặt sai chỗ. Một cuộc điện thoại làm gián đoạn. Một lời phê bình xuất hiện. Ngay lập tức, điều đang sống trong con sẽ lộ ra. Nếu lòng con bùng lên, nếu con mất bình an, nếu con cảm thấy như giá trị của mình bị đe dọa, đó là dấu hiệu bản tính cũ đang đòi quyền. Đừng vội bào chữa. Hãy coi những giây phút ấy như tiếng chuông báo động rất quý giá. Chúa đang cho con thấy kẻ thù đang ẩn ở đâu.
Đặc biệt, hãy chú ý đến lòng tự ái. Nó là một trong những rễ sâu nhất của con người cũ. Tự ái có thể sống sau rất nhiều lần từ bỏ. Con có thể bỏ của cải nhưng chưa bỏ tự ái. Có thể sống khó nghèo nhưng chưa nghèo trong ý riêng. Có thể vâng lời bề ngoài nhưng trong lòng vẫn âm thầm phán xét người truyền lệnh. Có thể im lặng mà lòng đầy tranh luận. Có thể nhường nhịn ngoài mặt nhưng bên trong kể công. Có thể nhận lỗi nhưng vẫn muốn người khác biết rằng lỗi của mình có lý do. Có thể xin lỗi nhưng vẫn mong người kia xin lỗi trước. Con người cũ rất ghét bị xem là sai. Nó ghét cảm giác bị đặt xuống thấp. Vì vậy, một trong những con đường hữu hiệu để nó chết là học cách chịu sự hạ mình nhỏ bé mà không nổi loạn. Không phải tìm kiếm sự nhục nhã một cách bệnh hoạn, nhưng khi Thiên Chúa cho phép một điều làm con bị hạ xuống, hãy xem đó như thuốc. Một lời sửa. Một thất bại. Một sự quên lãng. Một lần người khác nhận công thay vì con. Một việc con làm tốt mà chẳng ai nhắc tới. Một lần con phải thú nhận rằng mình đã sai. Những điều ấy đắng, nhưng rất chữa lành.
Bản tính cũ cũng bộc lộ trong cách con sử dụng thời gian. Thời gian rảnh thường nói thật về con nhiều hơn thời gian bổn phận. Khi không ai yêu cầu, con tìm gì? Khi không có nhiệm vụ, tâm trí con chạy về đâu? Con có lập tức tìm kích thích, giải trí, tin tức, chuyện người khác, điện thoại, hình ảnh, những thứ làm trí óc không phải đối diện với sự thinh lặng không? Hay con có khả năng ở lại với chính mình trước mặt Chúa? Con người cũ sợ thinh lặng vì trong thinh lặng những ham muốn thật bị lộ ra. Nó muốn liên tục có tiếng động để không phải nghe tiếng lòng. Nó muốn liên tục được kích thích vì sự trống rỗng khiến nó bất an. Nhưng bản tính mới học yêu sự thinh lặng vì ở đó nó gặp Thiên Chúa và biết mình. Vì thế, việc con dùng những phút không ai quản lý là một tiêu chuẩn rất thật cho thấy ai đang làm chủ.
Đừng nghĩ cuộc chiến này là một sự khinh ghét chính mình. Kitô giáo không dạy con ghét con người thật của con. Chúa không muốn tiêu diệt con, nhưng muốn tiêu diệt trong con tất cả những gì khiến con không thể trở thành chính con như Ngài đã muốn. Cái phải chết không phải là nhân vị của con, nhưng là sự quy ngã. Không phải tính cách, nhưng sự ích kỷ. Không phải cảm xúc, nhưng sự nô lệ cảm xúc. Không phải ý chí, nhưng ý chí chống lại Thiên Chúa. Không phải ước muốn được yêu, nhưng đòi hỏi phải được yêu theo cách mình muốn. Không phải nhu cầu nghỉ ngơi, nhưng sự nuông chiều. Không phải lòng tự trọng lành mạnh, nhưng sự tự tôn. Ân sủng không biến con thành một cái bóng không còn cá tính. Ân sủng làm cho con tự do để yêu bằng chính con người thật của mình.
Có một nghịch lý rất sâu: càng để con người cũ chết đi, con càng trở thành chính mình. Khi còn sống theo ý riêng, con tưởng mình đang tự do, nhưng thật ra con bị điều khiển bởi vô số phản ứng. Một lời khen có thể làm con vui cả ngày. Một lời chê có thể phá hỏng cả buổi. Một ánh mắt lạnh nhạt làm con mất bình an. Một người không trả lời tin nhắn khiến tâm trí con quay cuồng. Một kế hoạch hỏng làm con nổi nóng. Một thất bại khiến con nghĩ mình vô giá trị. Đó không phải tự do. Đó là nô lệ. Người tự do là người có thể bị chê mà không mất mình, được khen mà không say mình, được yêu mà không sở hữu, bị quên mà không cay đắng, thất bại mà không tuyệt vọng, thành công mà không kiêu căng. Tự do ấy chỉ đến khi bản tính mới đủ mạnh để con không còn phải sống bằng những thức ăn của cái tôi.
Hỡi linh hồn, đừng sống thỏa hiệp nữa. Thỏa hiệp là một sự bình an giả. Con không thể vừa muốn thuộc về Đức Kitô vừa giữ lại những căn phòng khóa kín cho ý riêng. Đừng nói: “Chúa có thể lấy mọi sự, trừ chuyện này.” Chính “chuyện này” thường là nơi con người cũ đang đặt ngai. Có thể đó là một mối quan hệ. Có thể là danh dự. Có thể là nhu cầu được công nhận. Có thể là một thói quen. Có thể là sự thoải mái. Có thể là tiền bạc. Có thể là một ý kiến mà con không muốn buông. Có thể là một sự tổn thương con vẫn ôm vì nó cho con cảm giác mình có quyền. Có thể là một người con không muốn tha thứ. Có thể là một kế hoạch con nhất định phải thực hiện. Có thể là cách người khác phải đối xử với con. Hãy đem chính căn phòng ấy cho Chúa. Nơi con không muốn Ngài chạm vào nhất thường là nơi Ngài muốn chữa lành nhất.
Mỗi sáng, hãy coi ngày mới như một chiến trường của tình yêu. Đừng thức dậy chỉ nghĩ đến việc phải làm. Hãy nhớ con phải chọn ai sẽ sống trong con hôm nay. Có thể con không gặp cám dỗ lớn, nhưng chắc chắn con sẽ có hàng chục cơ hội để nuôi một trong hai bản tính. Khi tiếng chuông báo thức vang lên, đã có một lựa chọn. Khi gặp người đầu tiên trong ngày, đã có một lựa chọn. Khi nhận một tin nhắn làm con khó chịu, đã có một lựa chọn. Khi nghe tin người khác thành công, đã có một lựa chọn. Khi phải làm một việc nhàm chán, đã có một lựa chọn. Khi mệt vào cuối ngày, đã có một lựa chọn. Đời sống thiêng liêng không nằm ngoài những lựa chọn ấy. Nó nằm ngay trong đó. Con trở thành người thế nào không được quyết định chủ yếu bởi một vài biến cố lớn, nhưng bởi hướng đi của hàng nghìn quyết định bé nhỏ.
Mỗi tối, hãy xét mình không chỉ bằng câu hỏi: “Hôm nay tôi đã phạm tội gì?” Hãy hỏi sâu hơn: “Hôm nay tôi đã nuôi con người nào?” Khi bị trái ý, con người nào đã nói? Khi được khen, con người nào đã vui? Khi bị chê, con người nào đã đau? Khi có thời gian rảnh, con người nào đã chọn? Khi đứng trước một bổn phận khó, con người nào đã quyết định? Khi cầu nguyện khô khan, con người nào đã bỏ cuộc hay kiên trì? Khi có cơ hội làm điều tốt không ai biết, con người nào đã hành động? Những câu hỏi ấy sẽ dần làm con tỉnh thức. Và sự tỉnh thức ấy là một ân huệ lớn, vì phần lớn thất bại không bắt đầu khi cám dỗ đã trở nên mạnh, nhưng khi linh hồn không nhận ra nó đang nuôi cám dỗ từ rất lâu.
Đừng tìm chiến thắng tuyệt đối ngay lập tức. Hãy trung thành với trận chiến trước mắt. Nếu hôm nay con đang bị cám dỗ nóng giận, đừng nghĩ về tất cả những lần con từng nóng giận trong đời. Hãy thắng lần này. Nếu đang muốn nói một câu sắc bén, hãy giữ lại câu ấy. Nếu đang muốn trì hoãn, hãy đứng dậy. Nếu đang muốn tìm lời khen, hãy làm việc trong kín đáo. Nếu đang ghen, hãy cầu xin điều lành cho người con ghen. Nếu đang bị tổn thương, hãy từ chối nhai đi nhai lại câu chuyện ấy trong đầu. Cứ mỗi lần như vậy, con đang đóng một chiếc đinh nhỏ vào con người cũ. Và nếu con kiên trì, sẽ đến một ngày điều từng rất khó trở nên nhẹ hơn. Không phải vì bản tính cũ biến mất hoàn toàn, nhưng vì con người mới đã có sức.
Cuộc chiến này kéo dài đến cuối đời. Đừng tưởng sẽ có một giai đoạn con không còn phải canh giữ mình. Bao lâu còn sống, con vẫn có thể quay lại nuôi cái tôi. Người đã chiến đấu nhiều năm vẫn có thể sa ngã nếu ngừng tỉnh thức. Nhưng cũng đừng buồn vì cuộc chiến kéo dài. Chính cuộc chiến giữ con khiêm nhường. Nó buộc con phải dựa vào Chúa. Nếu con có thể đạt đến một trạng thái không còn cần ân sủng, con sẽ sớm trở lại tự phụ. Thiên Chúa đôi khi cho phép con cảm nhận sự yếu đuối của mình để con biết rằng sự thánh thiện không bao giờ là tài sản riêng của con. Con không sở hữu nhân đức như người ta sở hữu một món đồ. Con chỉ có thể sống trong ân sủng từng ngày.
Hãy nhìn Đức Giêsu. Nơi Ngài không có sự rối loạn của tội lỗi, nhưng Ngài đã chỉ cho con con đường của con người mới: “Không theo ý Con, một theo ý Cha.” Toàn bộ cuộc đời Ngài là một sự quy hướng về Cha. Ngài không sống để bảo vệ mình. Ngài không tìm vinh quang cho mình. Ngài không xuống khỏi thập giá để chứng minh quyền năng. Ngài không trả lời mọi lời vu cáo. Ngài không giữ sự sống bằng mọi giá. Ngài trao chính mình. Và đó chính là hình dạng cuối cùng của con người mới: một con người không còn sống khép lại nơi mình nhưng trở thành quà tặng. Bao lâu con còn hỏi: “Tôi được gì?” con người cũ vẫn đang nói. Khi con bắt đầu hỏi: “Tôi có thể trao gì?” một điều thuộc về Đức Kitô đang sống trong con.
Vì thế, đừng chỉ cầu xin Chúa lấy khỏi con những cám dỗ. Hãy xin Ngài biến đổi gốc rễ. Đừng chỉ xin con đừng nóng giận. Hãy xin chữa lòng tự ái khiến con nóng giận. Đừng chỉ xin đừng ghen. Hãy xin cho con vui khi người khác được chúc phúc. Đừng chỉ xin bỏ một thói quen xấu. Hãy xin cho con yêu Chúa hơn điều thói quen ấy mang lại. Đừng chỉ xin bớt sợ hãi. Hãy xin lòng tín thác. Đừng chỉ xin đừng tìm lời khen. Hãy xin cho con đủ no thỏa trong ánh mắt Thiên Chúa. Chữa triệu chứng chưa đủ. Ân sủng muốn đi xuống tận rễ.
Và khi con sa ngã, đừng để bản tính cũ lợi dụng ngay cả sự sa ngã để kéo con xa Chúa. Nó sẽ nói: “Thấy chưa, con chẳng thay đổi gì cả. Con vô dụng. Bao nhiêu năm rồi vẫn thế.” Đừng tin. Hãy hạ mình, nhận lỗi, xin tha thứ, đứng lên và chiến đấu tiếp. Một trong những chiến thắng lớn nhất của bản tính mới là khả năng đứng dậy trong khiêm nhường. Người dựa vào mình thất bại rồi tuyệt vọng vì hình ảnh về chính mình sụp đổ. Người dựa vào Chúa thất bại rồi đau đớn vì đã làm mất lòng Chúa, nhưng vẫn tin vào lòng thương xót. Đó là khác biệt rất lớn.
Hỡi linh hồn, hãy ghi sâu điều này: không có lựa chọn trung lập. Những lựa chọn của con đang tạo hình con. Mỗi lần con nói “vâng” với một ham muốn lệch lạc, con đang trao thêm sức cho nó. Mỗi lần con nói “không” vì yêu Chúa, con đang làm nó yếu đi. Mỗi lần con tìm ý riêng, con người cũ được củng cố. Mỗi lần con từ bỏ ý riêng để chọn điều đẹp lòng Thiên Chúa, con người mới lớn lên. Con đang trở thành điều con thường xuyên chọn.
Vậy từ hôm nay, khi đứng trước một lựa chọn, dù nhỏ, hãy tập hỏi: “Việc này đang nuôi ai trong tôi?” Câu hỏi ấy có thể thay đổi cả đời sống. Một lời nói. Một ánh nhìn. Một ý nghĩ. Một giờ rảnh. Một sự bực bội. Một niềm vui. Một thất bại. Một thành công. Một lời khen. Một lời chê. Tất cả đều có thể trở thành nơi con chọn giữa con người cũ và con người mới. Và nếu con trung thành trong những điều nhỏ, con sẽ dần nhận ra một sự thay đổi âm thầm: những điều trước kia dễ làm con nổi nóng không còn quyền lực như trước; những lời khen không còn làm con say; những lời chê không còn làm con sụp; ý riêng không còn phải được thỏa mãn bằng mọi giá; sự thinh lặng trở nên ngọt; hy sinh trở nên tự nhiên hơn; tha thứ bớt khó; cầu nguyện bớt xoay quanh mình; và một bình an sâu hơn xuất hiện. Đó không phải là bình an vì cuộc chiến đã chấm dứt. Đó là bình an của người đã biết mình đang chiến đấu cho ai.
Cuối cùng, mục tiêu của cuộc chiến không chỉ là để con trở thành một người “tốt hơn”. Thiên Chúa muốn một điều sâu hơn nhiều: Ngài muốn Đức Kitô được hình thành trong con. Ngài muốn những phản ứng của Đức Kitô dần thay thế phản ứng của cái tôi; lòng thương xót của Đức Kitô thay thế sự xét đoán; sự hiền lành của Đức Kitô thay thế sự cứng cỏi; đức vâng phục của Đức Kitô thay thế ý riêng; sự nghèo khó của Đức Kitô thay thế lòng chiếm hữu; tình yêu tự hiến của Đức Kitô thay thế sự quy ngã. Khi ấy, từng chút một, con không còn chỉ “bắt chước” Đức Kitô từ bên ngoài, nhưng để Ngài sống trong con. Và đó là ý nghĩa sâu xa nhất của việc con người cũ phải chết: không phải để trong con còn lại sự trống rỗng, nhưng để có chỗ cho Đức Kitô.
Hãy để cuộc chiến bắt đầu lại hôm nay. Đừng đợi ngày mai. Đừng đợi khi con sốt sắng hơn. Đừng đợi khi hoàn cảnh thuận lợi. Chính việc đang làm con khó chịu lúc này có thể là chiến trường đầu tiên. Chính người đang làm con mất bình an có thể là dụng cụ Chúa dùng để chỉ cho con phần nào của con người cũ vẫn còn sống. Chính việc con không muốn làm có thể là nơi con tập nói “không” với ý riêng. Chính sự thinh lặng nhỏ bé con đang né tránh có thể là nơi con người mới được nuôi.
Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi lựa chọn, hãy quyết định. Một bản tính phải được nuôi. Một bản tính phải bị đóng đinh. Nếu con nuôi ý riêng, ý riêng sẽ lớn. Nếu con nuôi lòng tự ái, lòng tự ái sẽ mạnh. Nếu con nuôi sự dễ dãi, con sẽ ngày càng yếu trước hy sinh. Nhưng nếu con nuôi lòng yêu mến Thiên Chúa bằng những lần từ bỏ rất nhỏ, nếu con nuôi đức tin bằng việc tín thác khi không hiểu, nếu con nuôi khiêm nhường bằng việc chấp nhận không được nhìn nhận, nếu con nuôi lòng bác ái bằng việc yêu khi không được đáp lại, nếu con nuôi tinh thần vâng phục bằng việc chọn điều Chúa muốn hơn điều mình thích, thì một ngày nào đó con sẽ nhìn lại và nhận ra: con người cũ vẫn còn dấu vết, vẫn còn đôi lúc lên tiếng, nhưng nó không còn ngồi trên ngai nữa.
Và khi ấy, con sẽ bắt đầu hiểu thế nào là tự do của con cái Thiên Chúa: không phải được làm mọi điều mình muốn, nhưng là được giải thoát khỏi sự bắt buộc phải làm theo mọi điều mình muốn. Không phải không còn ý riêng, nhưng ý riêng đã học cúi xuống trước một Tình Yêu lớn hơn. Không phải không còn chiến đấu, nhưng biết rằng mỗi trận chiến nhỏ đang mở rộng trong con chỗ cho Thiên Chúa.
Hỡi linh hồn, hãy chọn. Và ngày mai lại chọn. Khi ngã, hãy đứng lên rồi chọn lại. Khi mệt, hãy xin ơn rồi chọn lại. Khi không cảm thấy gì, hãy chọn lại. Khi không ai nhìn thấy, hãy chọn lại. Khi phải trả giá, hãy chọn lại. Vì đời sống thánh thiện được xây bằng những lần chọn Thiên Chúa như thế. Và đến cuối cùng, sau vô số cái chết nhỏ của con người cũ, điều còn lại sẽ không phải là một con người bị mất chính mình, nhưng là một con người cuối cùng đã tìm thấy chính mình trong Thiên Chúa, để có thể nói cùng Thánh Phaolô bằng cả cuộc đời mình: tôi sống, nhưng không còn phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi.
CHƯƠNG 13
CÁCH ĐỐI PHÓ VỚI BẢN TÍNH XÁC THỊT VÀ CÁC GIÁC QUAN
Hỡi linh hồn đang muốn bước đi trên con đường chiến đấu thiêng liêng, con phải hiểu thật rõ một điều này, nếu không con sẽ rất dễ đi vào một trong hai thái cực đều nguy hiểm như nhau: hoặc con ghét bỏ thân xác mình như thể thân xác tự nó là một điều xấu, hoặc con nuông chiều thân xác như thể mọi đòi hỏi của nó đều có quyền được thỏa mãn. Cả hai con đường ấy đều không phải là con đường của Thiên Chúa. Thân xác của con không phải là kẻ thù. Thân xác ấy đã được Thiên Chúa dựng nên. Đôi mắt con, đôi tai con, bàn tay con, đôi chân con, sức khỏe con, những khả năng cảm giác nơi con, tất cả đều thuộc về công trình tốt lành của Đấng Tạo Hóa. Chính Con Thiên Chúa đã không khinh chê thân xác, nhưng đã mang lấy xác phàm, đã sống trong một thân thể thực sự, đã biết đói, biết khát, biết mệt, biết đau, biết nước mắt, biết những giới hạn của kiếp người. Và sau cùng, chính thân xác ấy của Đức Giêsu đã được trao nộp trên thập giá, đã được mai táng, đã sống lại trong vinh quang. Vì thế, người Kitô hữu không được phép khinh miệt thân xác. Nhưng cũng chính vì thân xác và toàn thể con người đã bị thương tích bởi tội lỗi, nên trong con tồn tại những khuynh hướng không còn hoàn toàn ngay thẳng như lúc ban đầu. Những khuynh hướng ấy luôn muốn kéo mọi sự về phía mình. Chúng muốn dễ chịu hơn là trung thành. Chúng muốn hưởng thụ hơn là hy sinh. Chúng muốn nhìn điều thích mắt, nghe điều thích tai, nói điều đem lại khoái cảm, ăn điều ngon miệng, nghỉ ngơi khi chưa đến lúc nghỉ, tránh đau khổ dù đau khổ ấy cần thiết, tìm an ủi dù an ủi ấy làm cho linh hồn yếu đi. Chính ở đó cuộc chiến bắt đầu.
Con đừng bao giờ nghĩ rằng cuộc chiến với xác thịt chỉ là cuộc chiến về những tội rõ ràng và nặng nề liên quan đến sự trong sạch. Không. Cuộc chiến ấy rộng hơn rất nhiều. Xác thịt ở đây phải được hiểu như toàn bộ khuynh hướng muốn sống theo cái dễ chịu, cái tiện nghi, cái lập tức thỏa mãn bản thân, cái khiến con người tìm mình thay vì tìm Thiên Chúa. Có khi xác thịt lên tiếng trong một ham muốn rất thô thiển. Nhưng cũng có khi nó tinh vi đến mức con tưởng mình đang làm điều hợp lý. Nó nói với con: “Hôm nay mệt rồi, bỏ giờ cầu nguyện một lần cũng không sao.” Nó nói: “Người ta đã xúc phạm mình, nói lại một câu cho hả cũng đâu có gì quá đáng.” Nó nói: “Chỉ xem thêm một chút thôi.” Nó nói: “Ăn thêm một chút thôi.” Nó nói: “Ngủ thêm vài phút thôi.” Nó nói: “Việc khó ấy để ngày mai làm cũng được.” Nó nói: “Đừng đến với người này, gặp họ mệt lắm.” Nó nói: “Đừng nhận việc kia, phiền phức lắm.” Nó nói: “Đừng im lặng, phải chứng minh mình đúng.” Nó nói: “Đừng tha thứ nhanh quá, phải cho người kia biết mình đau thế nào.” Và cứ như thế, từng điều rất nhỏ, từng nhượng bộ rất nhỏ, từng sự dễ dãi rất nhỏ âm thầm tạo thành một thói quen lớn: thói quen đặt mình vào trung tâm. Đó chính là lý do tại sao người muốn nên thánh phải biết luyện tập không chỉ trong những trận chiến lớn, mà trước hết trong những điều nhỏ bé của đời sống hằng ngày.
Đừng hành hạ thân xác một cách thiếu khôn ngoan. Thiên Chúa không cần con phá hủy công cụ mà chính Người đã trao cho con để phục vụ Người. Có những người khi mới bước vào đời sống thiêng liêng đã nhiệt thành cách thiếu quân bình. Họ tưởng rằng càng làm mình đau, càng ăn ít, càng ngủ ít, càng từ chối mọi tiện nghi, thì càng thánh thiện. Nhưng nếu việc hãm mình ấy phát xuất từ tự ái thiêng liêng, từ ý muốn chứng minh mình mạnh, hoặc từ một sự khinh miệt thân xác, thì sự khổ chế ấy có thể làm con kiêu ngạo hơn chứ không khiêm nhường hơn. Có người nhịn ăn rất giỏi nhưng lại không nhịn được một lời cay độc. Có người chịu lạnh được nhưng không chịu nổi một lời trái ý. Có người ngủ ít nhưng lại làm cho những người sống chung phải khổ vì tính khí nóng nảy. Có người bỏ nhiều tiện nghi nhưng lại nghiện sự kính phục của người khác đối với những hy sinh của mình. Như thế, thân xác có thể bị ép xuống mà cái tôi lại lớn lên. Và nếu cái tôi lớn lên, trận chiến thiêng liêng vẫn chưa thắng.
Điều Thiên Chúa muốn nơi con không phải là sự tàn phá thân xác, nhưng là trật tự. Mọi khả năng trong con phải trở về đúng vị trí của nó. Lý trí phải được soi sáng bởi đức tin. Ý chí phải hướng về điều thiện. Tình cảm phải được thanh luyện. Các giác quan phải phục vụ cho điều con đã nhận biết là đúng. Thân xác phải là người tôi tớ trung thành, chứ không phải là ông chủ trong căn nhà nội tâm. Một người tôi tớ tốt có quyền được chăm sóc để có sức phục vụ, nhưng không có quyền ra lệnh cho chủ nhà. Cũng vậy, con phải cho thân xác ăn đủ để sống và làm việc, nhưng không phải mọi lần nó thèm đều phải cho ăn. Con phải cho thân xác ngủ đủ để hồi phục, nhưng không phải mọi khi nó muốn nằm xuống đều phải chiều theo. Con có quyền hưởng những vẻ đẹp Thiên Chúa dựng nên, nhưng không phải bất cứ điều gì đẹp mắt cũng được phép nhìn. Con có thể hưởng sự nghỉ ngơi, nhưng không được biến nghỉ ngơi thành lười biếng. Con có thể vui hưởng tình bạn, thức ăn, thiên nhiên, âm nhạc, sự thoải mái vừa phải, nhưng tất cả phải ở dưới quyền của một câu hỏi cao hơn: điều này có giúp con yêu Chúa và làm bổn phận tốt hơn không?
Đó là tinh thần tiết độ. Tiết độ không phải là sống trong buồn bã, không được vui, không được thưởng thức gì. Tiết độ là tự do. Người không có tiết độ tưởng mình tự do vì muốn gì làm nấy. Thực ra họ đang làm nô lệ. Nếu con không thể đi ngang một món ăn mình thích mà không cần nếm, con chưa tự do. Nếu con không thể đặt điện thoại xuống khi mắt vẫn muốn nhìn, con chưa tự do. Nếu con không thể ngừng một câu chuyện khi nó bắt đầu trở thành chuyện nói xấu, con chưa tự do. Nếu con không thể đi ngủ đúng giờ vì còn muốn xem thêm, đọc thêm, giải trí thêm, con chưa tự do. Nếu con không thể thức dậy khi giờ đã đến vì thân xác còn muốn nằm, con chưa tự do. Nếu một lời khen làm con lâng lâng cả ngày và một lời chê làm con mất bình an cả ngày, thì không chỉ tai con, mà cả tâm hồn con đang bị giác quan và cảm xúc thống trị. Tự do thật sự là khi con có thể nói với mắt mình: “Đủ rồi.” Nói với miệng mình: “Im đi.” Nói với bụng mình: “Không cần.” Nói với thân xác mình: “Hãy đứng dậy.” Nói với tính tò mò mình: “Không phải chuyện của con.” Nói với sự nóng nảy mình: “Con sẽ không nói câu ấy.” Nói với ham muốn dễ chịu: “Hôm nay ta chọn điều khó hơn một chút vì tình yêu đối với Chúa.” Khi ấy con mới bắt đầu trở thành chủ của chính mình dưới quyền làm chủ của Thiên Chúa.
Hãy đặc biệt canh giữ đôi mắt, vì nhiều cuộc chiến đi vào linh hồn qua cửa ngõ này. Mắt không có tội vì nhìn, nhưng ý muốn có thể dùng mắt để nuôi những gì không nên nuôi. Có những cái nhìn tưởng như vô hại nhưng để lại trong trí tưởng tượng một dấu vết rất lâu. Có những hình ảnh chỉ lướt qua vài giây nhưng trở thành chất liệu cho cám dỗ nhiều ngày. Có những cảnh tượng không xấu tự bản chất, nhưng việc nhìn chúng quá lâu đánh thức lòng ham muốn, sự so sánh, sự ghen tị, sự tò mò hoặc một niềm khao khát không cần thiết. Người khôn ngoan không đợi đến khi ngọn lửa bùng lên mới tìm nước. Người ấy tránh ném thêm củi vào lửa ngay từ đầu. Vì thế khi mắt muốn tìm kiếm một điều không cần thiết, hãy tập rút mắt lại. Đừng tranh luận quá lâu với mình. Đừng đứng đó và nói: “Nhìn một chút chắc không sao.” Chính cái “một chút” ấy nhiều khi là khe cửa qua đó một đội quân đi vào. Hãy quay đi. Hãy nhìn sang điều khác. Hãy làm việc đang phải làm. Và nếu trong lòng con có một chút khó chịu vì đã không thỏa mãn sự tò mò, hãy dâng chính sự khó chịu ấy cho Chúa. Nó là một hy lễ rất nhỏ, nhưng nếu được làm vì tình yêu, nó có giá trị rất lớn.
Cũng hãy canh giữ đôi tai. Con người thích nghe những gì kích thích sự tò mò, đặc biệt là chuyện về lỗi lầm người khác, những mâu thuẫn, những bí mật, những thất bại, những câu chuyện có thể làm mình thấy mình tốt hơn ai đó. Tai nghe vào, trí giữ lại, rồi miệng truyền đi. Và thế là từ một câu chuyện không thuộc về mình, con có thể làm tổn thương nhiều người. Đừng nghĩ rằng chỉ người nói xấu mới phạm lỗi. Người thích nghe chuyện xấu cũng nuôi dưỡng bầu khí trong đó sự nói xấu sống được. Có lúc việc hãm mình thánh thiện nhất không phải là bỏ một món ăn ngon, nhưng là từ chối nghe một câu chuyện hấp dẫn mà con không cần biết. Con có thể nói: “Chuyện ấy mình không cần nghe.” Hoặc nhẹ nhàng chuyển đề tài. Hoặc chỉ im lặng không khuyến khích người kia nói tiếp. Đây là một việc hãm mình rất thật, bởi sự tò mò có một cái đói riêng. Và đôi khi cái đói ấy mạnh hơn cái đói của thân xác.
Hãy canh giữ lưỡi, vì lưỡi là một trong những giác quan khó chế ngự nhất. Rất nhiều linh hồn có thể giữ những việc hãm mình lớn lao nhưng lại thất bại nơi một câu nói. Một câu để khoe mình. Một câu để hạ người khác. Một câu để biện minh. Một câu để nói cho bằng được. Một câu để chứng minh mình đúng. Một câu để đáp trả khi bị tổn thương. Một câu để được cười. Một câu thêm thắt vào chuyện của người khác. Một câu mà lẽ ra không nói thì tốt hơn. Hỡi linh hồn, con hãy tập yêu sự im lặng không phải vì sợ người khác, nhưng vì muốn lưỡi mình thuộc về Chúa. Trước khi nói, hãy hỏi: điều này có thật không? Có cần không? Có ích không? Có đúng lúc không? Có được nói với lòng bác ái không? Nếu thiếu một trong những điều ấy, nhiều khi im lặng sẽ tốt hơn. Và khi trong lòng con rất muốn nói mà con chọn không nói vì biết lời ấy không xây dựng, đừng nghĩ con chẳng làm gì. Chính lúc đó con đang thực hiện một cuộc chiến. Chính lúc đó ý chí của con đang lớn lên.
Hãy canh giữ vị giác. Người ta có thể cười khi nói về chuyện ăn uống, nhưng trong đời sống thiêng liêng, cách một người đối diện với chuyện ăn uống thường cho thấy mức độ họ làm chủ bản thân. Không phải món ăn ngon là xấu. Chính Chúa đã dựng nên vị giác. Chính Kinh Thánh nhiều lần dùng hình ảnh tiệc vui để nói về hạnh phúc. Nhưng sự tham ăn, sự quá bận tâm về ăn uống, sự khó chịu khi món ăn không vừa ý, sự đòi hỏi phải có cái này cái kia, sự tìm kiếm món ngon như một cách bù đắp cho những trống rỗng nội tâm, tất cả có thể làm ý chí yếu đi. Con không cần làm những việc phi thường. Chỉ cần đôi khi ăn một món mình không thích mà không than phiền. Đôi khi dừng lại trước khi no hoàn toàn. Đôi khi từ chối một món thêm mà mình rất muốn. Đôi khi chấp nhận bữa ăn đơn sơ mà không tìm thứ khác. Đôi khi ăn chậm hơn, trong tâm tình biết ơn. Những việc ấy nhỏ đến mức không ai biết. Và chính vì không ai biết nên chúng rất quý trước mặt Chúa. Chúng dạy linh hồn nói “không” với mình mà không cần khán giả.
Hãy canh giữ xúc giác và sự tìm kiếm tiện nghi. Con người rất nhanh quen với sự dễ chịu. Một chiếc ghế tốt hơn, một căn phòng mát hơn, một cái giường mềm hơn, một hoàn cảnh thuận tiện hơn, tất cả tự nó chẳng có gì xấu. Nhưng nếu linh hồn để mình lệ thuộc vào chúng, nó sẽ trở nên rất mong manh. Chỉ cần một chút nóng, một chút lạnh, một đêm ngủ kém, một chỗ ngồi không thoải mái, một sự bất tiện nhỏ, là cả ngày trở thành nặng nề. Người chiến đấu thiêng liêng phải tập một khả năng rất quý: chịu được một chút khó chịu mà không phàn nàn. Không phải tìm đau khổ vô lý, nhưng khi đau khổ nhỏ đến, đừng lập tức tìm cách loại bỏ nó. Đôi khi hãy để nó ở đó một chút và nói: “Lạy Chúa, con xin nhận điều nhỏ này vì yêu mến Chúa.” Một chút nóng. Một chút khát. Một chút mỏi. Một chút chờ đợi. Một chút thiếu tiện nghi. Một chuyến đi không thoải mái. Một bữa ăn trễ. Một cuộc gặp kéo dài. Một người nói chuyện làm con mệt. Nếu con biết dùng những điều nhỏ ấy, chúng sẽ trở thành trường học của tự do nội tâm.
Đặc biệt, con phải cẩn thận với thói quen lập tức loại bỏ mọi khó chịu. Thế giới hiện đại dạy con người rằng bất cứ sự khó chịu nào cũng là một vấn đề phải được giải quyết ngay. Đói một chút thì ăn. Buồn một chút thì mở màn hình. Chán một chút thì tìm giải trí. Cô đơn một chút thì nhắn tin. Mệt một chút thì bỏ việc. Khó chịu một chút thì than phiền. Bị hiểu lầm một chút thì lập tức giải thích. Bị tổn thương một chút thì tìm người để kể. Không phải những điều ấy lúc nào cũng sai. Nhưng nếu con không bao giờ để mình ở lại với một sự khó chịu nhỏ, ý chí của con sẽ không bao giờ mạnh. Sức mạnh thiêng liêng được xây dựng rất nhiều qua khả năng ở lại. Ở lại trong một chút đói. Ở lại trong sự im lặng. Ở lại trong việc chưa được hiểu. Ở lại trong một nhiệm vụ buồn tẻ. Ở lại trong một khoảng thời gian không có giải trí. Ở lại trong cầu nguyện dù không cảm thấy gì. Ở lại bên một người dù câu chuyện của họ không hấp dẫn. Ở lại với bổn phận dù tâm trí muốn chạy sang việc khác. Chính những lúc đó một điều sâu xa đang xảy ra: con không còn bị cảm giác của phút hiện tại ra lệnh nữa.
Hãy nhớ rằng giác quan luôn tìm cái tức thời, trong khi đời sống thiêng liêng hướng đến điều vĩnh cửu. Mắt muốn thấy ngay. Tai muốn nghe ngay. Miệng muốn nếm ngay. Thân xác muốn dễ chịu ngay. Cái tôi muốn được thỏa mãn ngay. Nhưng tình yêu thật thường đòi biết chờ. Tình yêu nói: “Không phải bây giờ.” Tình yêu nói: “Điều này tốt nhưng không cần.” Tình yêu nói: “Ta có thể có, nhưng ta chọn không có.” Tình yêu nói: “Ta có quyền nói, nhưng ta chọn im.” Tình yêu nói: “Ta có thể nghỉ, nhưng bổn phận này cần được hoàn thành trước.” Tình yêu nói: “Ta có thể tìm sự an ủi, nhưng người kia đang cần ta hơn.” Mỗi lần con chọn như thế, con không mất đi điều gì thật sự. Con đang lấy lại quyền tự do mà những ham muốn nhỏ bé muốn cướp khỏi con.
Tuy nhiên, đừng mắc sai lầm là chỉ nói “không”. Linh hồn không thể sống chỉ bằng cấm đoán. Nếu con chỉ kéo mắt khỏi sự vật mà không hướng mắt về điều cao hơn, con sẽ mệt. Nếu con chỉ từ bỏ niềm vui giác quan mà không khám phá niềm vui sâu xa trong Thiên Chúa, con sẽ trở nên khô cứng. Việc chế ngự giác quan không phải là giết chết khả năng thưởng thức, mà là thanh luyện nó để có thể thưởng thức đúng. Khi thấy một cảnh đẹp, đừng chỉ nói: “Tôi không được vui.” Hãy vui, nhưng đưa niềm vui ấy về nguồn của nó: “Lạy Chúa, đẹp quá. Nếu tạo vật đã đẹp thế này, Đấng tạo nên nó còn đẹp biết bao.” Khi ăn một món ngon, hãy tạ ơn. Khi nghe một bản nhạc đẹp, hãy để nó nâng lòng lên. Khi gặp một con người tốt, đừng chỉ dừng ở sự dễ mến của họ; hãy nhận ra dấu vết của lòng tốt Thiên Chúa. Khi được nghỉ ngơi, hãy nghỉ với lòng biết ơn, rồi đứng dậy khi đến lúc. Như thế, giác quan không bị tiêu diệt, nhưng được thánh hóa. Chúng trở thành những cửa sổ qua đó linh hồn nhìn thấy Đấng Tạo Hóa.
Đó là bí quyết rất quan trọng: đừng để tạo vật giữ con lại nơi chính nó. Hãy để mọi tạo vật dẫn con tới Chúa. Khi uống một ngụm nước trong lúc khát, hãy nhớ đến Đấng đã nói: “Ai khát hãy đến với Ta mà uống.” Khi ăn bánh, hãy nhớ đến Bánh Hằng Sống. Khi nhìn ánh sáng ban mai, hãy nhớ đến Đức Kitô là ánh sáng thế gian. Khi thấy một người mẹ yêu con, hãy nhớ đến tình yêu dịu dàng của Thiên Chúa. Khi nghe tiếng chuông, hãy nhớ đời mình rồi cũng sẽ qua. Khi thấy một bông hoa đẹp, hãy nhớ vẻ đẹp ấy chỉ nở ít ngày rồi tàn, và hãy hỏi lòng mình đang tìm vẻ đẹp nào không tàn. Khi thân xác khỏe mạnh, hãy tạ ơn và dùng sức khỏe để phục vụ. Khi thân xác đau yếu, hãy nhận ra con không phải chủ tuyệt đối của đời mình. Mọi cảm giác đều có thể trở thành một lời nhắc đưa con về Thiên Chúa, nếu con sống tỉnh thức.
Ngược lại, nếu giác quan tách khỏi Thiên Chúa, chúng sẽ trở thành những chiếc vòi không bao giờ đầy. Mắt muốn nhìn thêm. Tai muốn nghe thêm. Miệng muốn nếm thêm. Tâm trí muốn biết thêm. Thân xác muốn dễ chịu thêm. Và điều kỳ lạ là càng cho chúng nhiều, chúng càng đòi nhiều. Người ăn không tiết độ không vì thế mà hết ham ăn. Người xem mọi thứ mình muốn không vì thế mà hết tò mò. Người luôn được tiện nghi không vì thế mà dễ thỏa mãn hơn. Trái lại, khả năng chịu thiếu thốn của họ càng yếu. Đó là luật của dục vọng: nếu con cho nó ăn mỗi lần nó kêu, nó sẽ lớn. Nếu con biết từ chối nó cách khôn ngoan, nó sẽ dần học vâng lời.
Vì thế, hãy yêu những hy sinh nhỏ. Đừng chỉ chờ những cơ hội lớn. Người chờ một cuộc tử đạo lớn lao nhưng không chịu nổi một sự trái ý nhỏ thường đang lừa mình. Đức trung tín được chuẩn bị bằng những điều rất nhỏ. Hôm nay con muốn nói một câu và con im. Hôm nay con muốn xem một điều và con quay đi. Hôm nay con muốn ăn thêm và con dừng. Hôm nay con muốn nằm thêm và con đứng dậy. Hôm nay con muốn chọn việc dễ mà con chọn việc cần. Hôm nay con muốn than phiền nhưng con cảm ơn. Hôm nay con muốn tránh một người nhưng con lại đến với họ bằng lòng bác ái. Hôm nay con muốn được biết ơn nhưng con âm thầm phục vụ. Mỗi một chiến thắng ấy như một nhát đục rất nhỏ đang tạo hình linh hồn. Không ai nhìn thấy. Nhưng Chúa nhìn thấy. Và chính từ những điều ấy mà một ý chí vững vàng được xây dựng.
Khi thất bại, cũng đừng quá ngạc nhiên. Con đã quen chiều theo mình bao nhiêu năm, làm sao chỉ trong vài ngày mà mọi khuynh hướng đều vâng phục? Đừng biến việc luyện tập thành một cuộc chiến đầy căng thẳng với chính mình. Nếu hôm nay con đã quyết không ăn thêm mà rồi vẫn ăn, đừng ngồi đó tự ghét mình. Nếu con đã định giữ im lặng mà cuối cùng vẫn nói một câu không cần thiết, hãy nhận lỗi, xin Chúa tha thứ, rồi bắt đầu lại. Nếu con đã định dậy đúng giờ mà lại ngủ thêm, đừng nói: “Con chẳng bao giờ thay đổi được.” Câu ấy không phải khiêm nhường. Nó là một hình thức tuyệt vọng rất tinh vi. Con chỉ cần nói: “Lạy Chúa, con lại thấy mình yếu. Xin giúp con bắt đầu lại.” Và lần sau, hãy chiến đấu sớm hơn. Đừng đợi cơn ham muốn lên đến đỉnh rồi mới chống. Hãy sắp xếp hoàn cảnh để việc tốt trở nên dễ hơn và việc xấu khó hơn. Nếu điện thoại làm con mất giờ, hãy để nó xa. Nếu một số hình ảnh dẫn con đến cám dỗ, hãy tránh nguồn ấy. Nếu ăn uống là điểm yếu, hãy định trước lượng vừa đủ. Nếu con hay nói nhiều khi gặp một số người, hãy cầu nguyện trước cuộc gặp. Khôn ngoan là một phần của chiến đấu.
Con cũng phải học phân biệt giữa nhu cầu thật của thân xác và sự đòi hỏi của thói quen. Có lúc con thực sự cần nghỉ. Nếu con không nghỉ, con sẽ kiệt sức, cáu gắt và không thể phục vụ. Khi ấy nghỉ ngơi là bổn phận. Có lúc con thực sự cần ăn. Khi ấy ăn không phải là chiều xác thịt, mà là chăm sóc sức khỏe. Có lúc cơ thể cần được chữa trị. Khi ấy đi khám và uống thuốc không phải thiếu hy sinh. Có lúc con cần niềm vui, cần đi bộ, cần gặp người thân, cần một khoảng thư giãn lành mạnh. Đời sống thiêng liêng không biến con thành cỗ máy. Điều cần phân định là: tôi đang chăm sóc thân xác để nó phục vụ Thiên Chúa tốt hơn, hay tôi đang lấy việc “chăm sóc bản thân” làm cớ để tránh mọi hy sinh? Ranh giới đôi khi rất mỏng, và chỉ một lương tâm thành thật mới nhận ra.
Một dấu hiệu rất hữu ích là hãy quan sát cách con phản ứng khi điều mình muốn không được đáp ứng. Nếu con bình an, có lẽ đó chỉ là một sở thích. Nếu con bực tức, khó chịu, mất vui, có thể con đã bị lệ thuộc. Con nói mình chỉ “thích” cà phê, nhưng một ngày không có là cáu gắt. Con nói mình chỉ “thích” điện thoại, nhưng để xa một giờ thì bồn chồn. Con nói mình chỉ “thích” được yên tĩnh, nhưng khi có người làm phiền thì mất bác ái. Con nói mình chỉ “thích” một món ăn, nhưng món ấy không có thì phàn nàn. Chính những phản ứng ấy tiết lộ những xiềng xích rất nhỏ. Và con đừng coi thường xiềng xích nhỏ. Một sợi chỉ không giữ nổi con, nhưng hàng trăm sợi chỉ có thể trói rất chặt.
Có một cách luyện tập rất tốt: mỗi ngày hãy chọn một vài điều nhỏ để nói “không” với mình, không vì ghét mình, nhưng vì yêu Chúa. Đừng chọn những việc quá lớn khiến con nhanh chóng mệt mỏi. Hãy chọn điều kín đáo. Uống nước thay vì món mình thích một lần. Không lấy phần ngon nhất. Không kiểm tra điện thoại ngay khi có tiếng báo. Không chen vào một câu chuyện dù con biết câu trả lời. Đi bộ thêm một đoạn nếu sức khỏe cho phép. Ngồi ở chỗ ít thuận tiện hơn. Không tìm lời khen. Hoàn thành việc khó trước việc dễ. Khi bị gián đoạn, đừng tỏ vẻ khó chịu. Những hy sinh ấy như những đồng tiền nhỏ được bỏ vào kho của ý chí. Mỗi ngày một ít. Một năm sau, con sẽ ngạc nhiên vì sự tự do đã lớn lên trong con.
Nhưng điều quan trọng hơn mọi việc khổ chế là ý hướng. Một người có thể làm rất nhiều việc hãm mình chỉ để cảm thấy mình đạo đức. Người ấy vẫn tìm mình. Một người khác chỉ bỏ một điều rất nhỏ nhưng làm hoàn toàn vì tình yêu đối với Chúa. Hy lễ ấy có thể quý hơn. Vì thế, mỗi khi từ bỏ điều gì, hãy nói trong lòng: “Lạy Chúa, vì Chúa.” Chỉ thế thôi. Không cần nhiều cảm xúc. “Con không nhìn điều này, vì Chúa.” “Con không nói câu ấy, vì Chúa.” “Con chấp nhận sự bất tiện này, vì Chúa.” “Con đứng dậy bây giờ, vì Chúa.” “Con dừng lại ở đây, vì Chúa.” Ba chữ “vì Chúa” có thể biến một việc rất tầm thường thành một hành vi yêu mến.
Và rồi con sẽ hiểu ý nghĩa sâu xa của việc “đóng đinh bản tính cũ”. Đừng tưởng tượng đó là một điều dữ dội, u tối, đầy bạo lực với chính mình. Đóng đinh con người cũ nhiều khi chỉ là không cho cái tôi điều nó đòi. Mỗi lần con nói không với một ham muốn rối loạn, một chiếc đinh nhỏ được đóng vào con người cũ. Mỗi lần con chọn nhẫn nhịn thay vì trả đũa, con người cũ bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn im lặng thay vì khoe khoang, nó bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn bổn phận thay vì dễ chịu, nó bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn phục vụ thay vì được phục vụ, nó bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn tha thứ thay vì nuôi giận, nó bị đóng đinh. Và lạ lùng thay, càng chết đi như thế, con lại càng sống. Vì cái chết ấy không phải là cái chết của con người thật, nhưng là cái chết của những gì đang che khuất con người thật.
Con người mới trong con không phải là một con người không còn cảm giác. Trái lại, nó cảm nhận sâu hơn. Nó biết vui mà không chiếm hữu. Biết thưởng thức mà không lệ thuộc. Biết đau mà không tuyệt vọng. Biết thiếu mà không cay đắng. Biết có mà không bám víu. Biết từ bỏ mà không phô trương. Biết nghỉ mà không lười. Biết làm việc mà không nghiện hoạt động. Biết yêu người khác mà không đòi họ phải làm mình hạnh phúc. Đó là sự tự do của người có các giác quan nhưng không bị giác quan thống trị, có thân xác nhưng không sống chỉ cho thân xác, có những nhu cầu nhưng không biến nhu cầu thành thần tượng.
Hỡi linh hồn, đừng sợ cuộc chiến này. Thiên Chúa không đòi con trở thành một thiên thần không có thân xác. Người muốn con trở thành một con người thánh thiện trong chính thân xác con. Chính đôi mắt này có thể trở thành đôi mắt của lòng thương xót. Chính đôi tai này có thể trở thành đôi tai biết lắng nghe người đau khổ. Chính miệng này có thể trở thành miệng nói lời nâng đỡ. Chính đôi tay này có thể trở thành đôi tay phục vụ. Chính đôi chân này có thể đưa con đến với những người cần con. Chính thân xác này có thể quỳ xuống trong cầu nguyện, đứng lên trong phục vụ, mệt nhọc trong sứ mạng, chịu đau trong bệnh tật, và một ngày kia được Thiên Chúa cho sống lại. Vì thế, mục đích cuối cùng không phải là trừng phạt thân xác, nhưng là thánh hiến nó. Không phải làm cho giác quan chết, nhưng làm cho chúng trở nên trong sạch. Không phải lấy khỏi chúng mọi niềm vui, nhưng giải thoát chúng khỏi những niềm vui làm con nô lệ để chúng có thể đón nhận những niềm vui cao hơn.
Con hãy nhớ kỹ: một thân xác được nuông chiều quá mức sẽ dần trở thành một ông chủ khó tính. Nó càng được chiều, nó càng khó thỏa mãn. Nhưng một thân xác được giáo dục bằng tình yêu và kỷ luật sẽ trở thành người bạn đồng hành trung thành. Lúc đầu nó phản kháng. Nó sẽ nói: “Tại sao phải đứng dậy?” “Tại sao không ăn?” “Tại sao không nhìn?” “Tại sao phải im?” “Tại sao phải chịu khó?” Nhưng nếu con bền bỉ, không nóng nảy, không cực đoan, nó sẽ dần học trật tự. Những điều từng rất khó sẽ trở nên bình thường. Cái mà hôm nay con phải chiến đấu dữ dội, ngày mai có thể chỉ cần một quyết định nhẹ nhàng. Ý chí cũng giống như cơ bắp: nếu không dùng, nó yếu; nếu được luyện đúng cách, nó mạnh.
Và đến một lúc, con sẽ nhận ra rằng tất cả những cuộc chiến rất nhỏ này không nhằm làm cho con trở thành người cứng rắn, nhưng làm cho con có khả năng yêu. Người không làm chủ mình sẽ rất khó trao mình. Vì mỗi khi tình yêu đòi hy sinh, họ sẽ chạy. Mỗi khi bổn phận đòi mệt, họ sẽ tránh. Mỗi khi người khác làm họ khó chịu, họ sẽ bỏ. Mỗi khi sự trung thành không còn đem lại cảm giác dễ chịu, họ sẽ nghi ngờ chính sự trung thành. Chỉ người biết nói “không” với chính mình mới có thể nói một tiếng “xin vâng” lớn lao với tình yêu. Chính vì thế, việc chế ngự giác quan không phải là một chương phụ của đời sống thiêng liêng. Nó chạm đến khả năng yêu của con.
Hãy nhìn Đức Giêsu. Người biết đói nhưng không biến đá thành bánh chỉ để thỏa mãn mình. Người biết mệt nhưng vẫn dành thời giờ cho đám đông. Người biết đau nhưng không chạy khỏi thập giá. Người bị nhục mạ nhưng không đáp trả bằng nhục mạ. Người có thể dùng quyền năng để tránh khổ đau, nhưng đã chọn vâng phục Chúa Cha. Nơi Người, thân xác không bị khinh miệt; thân xác trở thành nơi tình yêu được biểu lộ đến tận cùng. Đôi chân Người mỏi vì đi tìm con người. Bàn tay Người chạm đến người bệnh. Đôi mắt Người khóc trước nỗi đau. Miệng Người nói lời tha thứ. Thân mình Người bị trao nộp. Máu Người đổ ra. Đó là đỉnh cao của một thân xác hoàn toàn thuộc về tình yêu.
Khi con chiến đấu với một ham muốn nhỏ, hãy nhìn Người. Khi con muốn than vì một chút bất tiện, hãy nhớ Đấng đã không than trên thập giá. Khi con muốn đáp trả một lời xúc phạm, hãy nhớ Người đã im lặng trước kẻ tố cáo. Khi con thấy mệt và chỉ muốn tìm mình, hãy nhớ Người đã trao cả thân mình vì con. Không phải để con xấu hổ vì mình yếu, nhưng để con biết mình đang đi theo ai. Con không chiến đấu một mình. Đức Kitô đang ở trong con. Chính ân sủng của Người làm cho những chiến thắng tưởng chừng nhỏ bé có thể xảy ra.
Vì thế, mỗi sáng hãy dâng cả thân xác cho Thiên Chúa: “Lạy Chúa, hôm nay xin nhận lấy đôi mắt con, để con chỉ nhìn điều đẹp lòng Chúa. Xin nhận đôi tai con, để con không vui thích nghe điều làm tổn thương người khác. Xin nhận miệng con, để con nói điều xây dựng. Xin nhận đôi tay con, để con phục vụ. Xin nhận đôi chân con, để con đi nơi Chúa muốn. Xin nhận cả thân xác con, với sức khỏe và sự mệt mỏi, với dễ chịu và đau đớn, để mọi sự trong con đều thuộc về Chúa.” Và ban tối, con hãy xét mình: hôm nay ai làm chủ tôi? Thiên Chúa hay cảm giác? Tôi đã làm điều đúng chỉ khi thấy thích, hay vẫn làm khi không thích? Tôi đã chiều thân xác ở đâu? Tôi đã từ chối bản thân vì tình yêu ở đâu? Đừng xét để tự kết án. Hãy xét để học cách chiến đấu ngày mai tốt hơn.
Cuối cùng, hỡi linh hồn, hãy nhớ rằng Thiên Chúa không gọi con đến một đời sống nghèo nàn niềm vui. Người gọi con đến một niềm vui tự do hơn. Những khoái cảm giác quan giống như những giọt nước. Chúng có vẻ quý khi con khát, nhưng nếu con biến chúng thành nguồn sống duy nhất, con sẽ khát mãi. Thiên Chúa muốn dẫn con đến suối nước sâu hơn. Người muốn mắt con không chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của tạo vật mà khao khát vẻ đẹp của Người. Người muốn tai con không chỉ tìm lời dễ nghe mà nhận ra tiếng Người. Người muốn miệng con không chỉ tìm vị ngon mà biết nếm sự ngọt ngào của ân sủng. Người muốn thân xác con không chỉ tìm nghỉ ngơi nhưng tìm được sự bình an khi thuộc trọn về Người.
Vậy hãy chiến đấu, nhưng chiến đấu trong bình an. Hãy hãm mình, nhưng hãm mình bằng tình yêu. Hãy chăm sóc thân xác, nhưng đừng thờ lạy nó. Hãy dùng các giác quan, nhưng đừng để chúng dùng con. Hãy vui hưởng tạo vật, nhưng đừng dừng lại ở tạo vật. Hãy để mỗi sự đẹp đưa con về Đấng Đẹp vô cùng, mỗi sự ngon lành đưa con về Đấng Tốt Lành vô tận, mỗi niềm vui đưa con về nguồn của mọi niềm vui. Và mỗi khi một đòi hỏi nhỏ của xác thịt nổi lên, hãy coi đó không phải là một phiền toái, nhưng là một cơ hội. Một cơ hội để nói với Chúa bằng chính đời sống rằng: “Lạy Chúa, con yêu Chúa hơn điều này.”
Hôm nay có thể chỉ là một cái nhìn con từ bỏ. Một lời con không nói. Một món ăn con không lấy. Một sự dễ chịu con chấp nhận thiếu. Một lần con đứng dậy dù muốn nằm. Một việc con làm dù không thích. Đừng coi thường những điều ấy. Chính từ những cái chết rất nhỏ ấy, một sự sống mới đang lớn lên. Chính từ những lần từ bỏ âm thầm ấy, con người mới đang được hình thành. Chính từ những chiến thắng không ai biết ấy, linh hồn đang học thuộc về Thiên Chúa.
Và một ngày kia con sẽ hiểu: điều con tưởng mình đã mất vì Chúa, thật ra chưa bao giờ là mất. Con chỉ bỏ đi những sợi dây nhỏ đang trói mình. Con chỉ trao lại cho các giác quan đúng vị trí của chúng. Con chỉ giúp thân xác trở thành điều nó phải là: không phải một ông chủ độc đoán, không phải một kẻ thù đáng ghét, nhưng là người tôi tớ tốt lành cùng với linh hồn bước về nhà Cha. Khi ấy, cả con người con, thân xác và linh hồn, ý chí và tình cảm, giác quan và lý trí, sẽ dần quy tụ về một trung tâm duy nhất: Thiên Chúa.
Và đó chính là chiến thắng: không phải khi con không còn cảm thấy bất cứ đòi hỏi nào, nhưng khi giữa mọi đòi hỏi, con vẫn có thể bình an nói: “Lạy Chúa, con chọn Chúa.”
CHƯƠNG 13
CÁCH ĐỐI PHÓ VỚI BẢN TÍNH XÁC THỊT VÀ CÁC GIÁC QUAN
Hỡi linh hồn đang muốn bước đi trên con đường chiến đấu thiêng liêng, con phải hiểu thật rõ một điều này, nếu không con sẽ rất dễ đi vào một trong hai thái cực đều nguy hiểm như nhau: hoặc con ghét bỏ thân xác mình như thể thân xác tự nó là một điều xấu, hoặc con nuông chiều thân xác như thể mọi đòi hỏi của nó đều có quyền được thỏa mãn. Cả hai con đường ấy đều không phải là con đường của Thiên Chúa. Thân xác của con không phải là kẻ thù. Thân xác ấy đã được Thiên Chúa dựng nên. Đôi mắt con, đôi tai con, bàn tay con, đôi chân con, sức khỏe con, những khả năng cảm giác nơi con, tất cả đều thuộc về công trình tốt lành của Đấng Tạo Hóa. Chính Con Thiên Chúa đã không khinh chê thân xác, nhưng đã mang lấy xác phàm, đã sống trong một thân thể thực sự, đã biết đói, biết khát, biết mệt, biết đau, biết nước mắt, biết những giới hạn của kiếp người. Và sau cùng, chính thân xác ấy của Đức Giêsu đã được trao nộp trên thập giá, đã được mai táng, đã sống lại trong vinh quang. Vì thế, người Kitô hữu không được phép khinh miệt thân xác. Nhưng cũng chính vì thân xác và toàn thể con người đã bị thương tích bởi tội lỗi, nên trong con tồn tại những khuynh hướng không còn hoàn toàn ngay thẳng như lúc ban đầu. Những khuynh hướng ấy luôn muốn kéo mọi sự về phía mình. Chúng muốn dễ chịu hơn là trung thành. Chúng muốn hưởng thụ hơn là hy sinh. Chúng muốn nhìn điều thích mắt, nghe điều thích tai, nói điều đem lại khoái cảm, ăn điều ngon miệng, nghỉ ngơi khi chưa đến lúc nghỉ, tránh đau khổ dù đau khổ ấy cần thiết, tìm an ủi dù an ủi ấy làm cho linh hồn yếu đi. Chính ở đó cuộc chiến bắt đầu.
Con đừng bao giờ nghĩ rằng cuộc chiến với xác thịt chỉ là cuộc chiến về những tội rõ ràng và nặng nề liên quan đến sự trong sạch. Không. Cuộc chiến ấy rộng hơn rất nhiều. Xác thịt ở đây phải được hiểu như toàn bộ khuynh hướng muốn sống theo cái dễ chịu, cái tiện nghi, cái lập tức thỏa mãn bản thân, cái khiến con người tìm mình thay vì tìm Thiên Chúa. Có khi xác thịt lên tiếng trong một ham muốn rất thô thiển. Nhưng cũng có khi nó tinh vi đến mức con tưởng mình đang làm điều hợp lý. Nó nói với con: “Hôm nay mệt rồi, bỏ giờ cầu nguyện một lần cũng không sao.” Nó nói: “Người ta đã xúc phạm mình, nói lại một câu cho hả cũng đâu có gì quá đáng.” Nó nói: “Chỉ xem thêm một chút thôi.” Nó nói: “Ăn thêm một chút thôi.” Nó nói: “Ngủ thêm vài phút thôi.” Nó nói: “Việc khó ấy để ngày mai làm cũng được.” Nó nói: “Đừng đến với người này, gặp họ mệt lắm.” Nó nói: “Đừng nhận việc kia, phiền phức lắm.” Nó nói: “Đừng im lặng, phải chứng minh mình đúng.” Nó nói: “Đừng tha thứ nhanh quá, phải cho người kia biết mình đau thế nào.” Và cứ như thế, từng điều rất nhỏ, từng nhượng bộ rất nhỏ, từng sự dễ dãi rất nhỏ âm thầm tạo thành một thói quen lớn: thói quen đặt mình vào trung tâm. Đó chính là lý do tại sao người muốn nên thánh phải biết luyện tập không chỉ trong những trận chiến lớn, mà trước hết trong những điều nhỏ bé của đời sống hằng ngày.
Đừng hành hạ thân xác một cách thiếu khôn ngoan. Thiên Chúa không cần con phá hủy công cụ mà chính Người đã trao cho con để phục vụ Người. Có những người khi mới bước vào đời sống thiêng liêng đã nhiệt thành cách thiếu quân bình. Họ tưởng rằng càng làm mình đau, càng ăn ít, càng ngủ ít, càng từ chối mọi tiện nghi, thì càng thánh thiện. Nhưng nếu việc hãm mình ấy phát xuất từ tự ái thiêng liêng, từ ý muốn chứng minh mình mạnh, hoặc từ một sự khinh miệt thân xác, thì sự khổ chế ấy có thể làm con kiêu ngạo hơn chứ không khiêm nhường hơn. Có người nhịn ăn rất giỏi nhưng lại không nhịn được một lời cay độc. Có người chịu lạnh được nhưng không chịu nổi một lời trái ý. Có người ngủ ít nhưng lại làm cho những người sống chung phải khổ vì tính khí nóng nảy. Có người bỏ nhiều tiện nghi nhưng lại nghiện sự kính phục của người khác đối với những hy sinh của mình. Như thế, thân xác có thể bị ép xuống mà cái tôi lại lớn lên. Và nếu cái tôi lớn lên, trận chiến thiêng liêng vẫn chưa thắng.
Điều Thiên Chúa muốn nơi con không phải là sự tàn phá thân xác, nhưng là trật tự. Mọi khả năng trong con phải trở về đúng vị trí của nó. Lý trí phải được soi sáng bởi đức tin. Ý chí phải hướng về điều thiện. Tình cảm phải được thanh luyện. Các giác quan phải phục vụ cho điều con đã nhận biết là đúng. Thân xác phải là người tôi tớ trung thành, chứ không phải là ông chủ trong căn nhà nội tâm. Một người tôi tớ tốt có quyền được chăm sóc để có sức phục vụ, nhưng không có quyền ra lệnh cho chủ nhà. Cũng vậy, con phải cho thân xác ăn đủ để sống và làm việc, nhưng không phải mọi lần nó thèm đều phải cho ăn. Con phải cho thân xác ngủ đủ để hồi phục, nhưng không phải mọi khi nó muốn nằm xuống đều phải chiều theo. Con có quyền hưởng những vẻ đẹp Thiên Chúa dựng nên, nhưng không phải bất cứ điều gì đẹp mắt cũng được phép nhìn. Con có thể hưởng sự nghỉ ngơi, nhưng không được biến nghỉ ngơi thành lười biếng. Con có thể vui hưởng tình bạn, thức ăn, thiên nhiên, âm nhạc, sự thoải mái vừa phải, nhưng tất cả phải ở dưới quyền của một câu hỏi cao hơn: điều này có giúp con yêu Chúa và làm bổn phận tốt hơn không?
Đó là tinh thần tiết độ. Tiết độ không phải là sống trong buồn bã, không được vui, không được thưởng thức gì. Tiết độ là tự do. Người không có tiết độ tưởng mình tự do vì muốn gì làm nấy. Thực ra họ đang làm nô lệ. Nếu con không thể đi ngang một món ăn mình thích mà không cần nếm, con chưa tự do. Nếu con không thể đặt điện thoại xuống khi mắt vẫn muốn nhìn, con chưa tự do. Nếu con không thể ngừng một câu chuyện khi nó bắt đầu trở thành chuyện nói xấu, con chưa tự do. Nếu con không thể đi ngủ đúng giờ vì còn muốn xem thêm, đọc thêm, giải trí thêm, con chưa tự do. Nếu con không thể thức dậy khi giờ đã đến vì thân xác còn muốn nằm, con chưa tự do. Nếu một lời khen làm con lâng lâng cả ngày và một lời chê làm con mất bình an cả ngày, thì không chỉ tai con, mà cả tâm hồn con đang bị giác quan và cảm xúc thống trị. Tự do thật sự là khi con có thể nói với mắt mình: “Đủ rồi.” Nói với miệng mình: “Im đi.” Nói với bụng mình: “Không cần.” Nói với thân xác mình: “Hãy đứng dậy.” Nói với tính tò mò mình: “Không phải chuyện của con.” Nói với sự nóng nảy mình: “Con sẽ không nói câu ấy.” Nói với ham muốn dễ chịu: “Hôm nay ta chọn điều khó hơn một chút vì tình yêu đối với Chúa.” Khi ấy con mới bắt đầu trở thành chủ của chính mình dưới quyền làm chủ của Thiên Chúa.
Hãy đặc biệt canh giữ đôi mắt, vì nhiều cuộc chiến đi vào linh hồn qua cửa ngõ này. Mắt không có tội vì nhìn, nhưng ý muốn có thể dùng mắt để nuôi những gì không nên nuôi. Có những cái nhìn tưởng như vô hại nhưng để lại trong trí tưởng tượng một dấu vết rất lâu. Có những hình ảnh chỉ lướt qua vài giây nhưng trở thành chất liệu cho cám dỗ nhiều ngày. Có những cảnh tượng không xấu tự bản chất, nhưng việc nhìn chúng quá lâu đánh thức lòng ham muốn, sự so sánh, sự ghen tị, sự tò mò hoặc một niềm khao khát không cần thiết. Người khôn ngoan không đợi đến khi ngọn lửa bùng lên mới tìm nước. Người ấy tránh ném thêm củi vào lửa ngay từ đầu. Vì thế khi mắt muốn tìm kiếm một điều không cần thiết, hãy tập rút mắt lại. Đừng tranh luận quá lâu với mình. Đừng đứng đó và nói: “Nhìn một chút chắc không sao.” Chính cái “một chút” ấy nhiều khi là khe cửa qua đó một đội quân đi vào. Hãy quay đi. Hãy nhìn sang điều khác. Hãy làm việc đang phải làm. Và nếu trong lòng con có một chút khó chịu vì đã không thỏa mãn sự tò mò, hãy dâng chính sự khó chịu ấy cho Chúa. Nó là một hy lễ rất nhỏ, nhưng nếu được làm vì tình yêu, nó có giá trị rất lớn.
Cũng hãy canh giữ đôi tai. Con người thích nghe những gì kích thích sự tò mò, đặc biệt là chuyện về lỗi lầm người khác, những mâu thuẫn, những bí mật, những thất bại, những câu chuyện có thể làm mình thấy mình tốt hơn ai đó. Tai nghe vào, trí giữ lại, rồi miệng truyền đi. Và thế là từ một câu chuyện không thuộc về mình, con có thể làm tổn thương nhiều người. Đừng nghĩ rằng chỉ người nói xấu mới phạm lỗi. Người thích nghe chuyện xấu cũng nuôi dưỡng bầu khí trong đó sự nói xấu sống được. Có lúc việc hãm mình thánh thiện nhất không phải là bỏ một món ăn ngon, nhưng là từ chối nghe một câu chuyện hấp dẫn mà con không cần biết. Con có thể nói: “Chuyện ấy mình không cần nghe.” Hoặc nhẹ nhàng chuyển đề tài. Hoặc chỉ im lặng không khuyến khích người kia nói tiếp. Đây là một việc hãm mình rất thật, bởi sự tò mò có một cái đói riêng. Và đôi khi cái đói ấy mạnh hơn cái đói của thân xác.
Hãy canh giữ lưỡi, vì lưỡi là một trong những giác quan khó chế ngự nhất. Rất nhiều linh hồn có thể giữ những việc hãm mình lớn lao nhưng lại thất bại nơi một câu nói. Một câu để khoe mình. Một câu để hạ người khác. Một câu để biện minh. Một câu để nói cho bằng được. Một câu để chứng minh mình đúng. Một câu để đáp trả khi bị tổn thương. Một câu để được cười. Một câu thêm thắt vào chuyện của người khác. Một câu mà lẽ ra không nói thì tốt hơn. Hỡi linh hồn, con hãy tập yêu sự im lặng không phải vì sợ người khác, nhưng vì muốn lưỡi mình thuộc về Chúa. Trước khi nói, hãy hỏi: điều này có thật không? Có cần không? Có ích không? Có đúng lúc không? Có được nói với lòng bác ái không? Nếu thiếu một trong những điều ấy, nhiều khi im lặng sẽ tốt hơn. Và khi trong lòng con rất muốn nói mà con chọn không nói vì biết lời ấy không xây dựng, đừng nghĩ con chẳng làm gì. Chính lúc đó con đang thực hiện một cuộc chiến. Chính lúc đó ý chí của con đang lớn lên.
Hãy canh giữ vị giác. Người ta có thể cười khi nói về chuyện ăn uống, nhưng trong đời sống thiêng liêng, cách một người đối diện với chuyện ăn uống thường cho thấy mức độ họ làm chủ bản thân. Không phải món ăn ngon là xấu. Chính Chúa đã dựng nên vị giác. Chính Kinh Thánh nhiều lần dùng hình ảnh tiệc vui để nói về hạnh phúc. Nhưng sự tham ăn, sự quá bận tâm về ăn uống, sự khó chịu khi món ăn không vừa ý, sự đòi hỏi phải có cái này cái kia, sự tìm kiếm món ngon như một cách bù đắp cho những trống rỗng nội tâm, tất cả có thể làm ý chí yếu đi. Con không cần làm những việc phi thường. Chỉ cần đôi khi ăn một món mình không thích mà không than phiền. Đôi khi dừng lại trước khi no hoàn toàn. Đôi khi từ chối một món thêm mà mình rất muốn. Đôi khi chấp nhận bữa ăn đơn sơ mà không tìm thứ khác. Đôi khi ăn chậm hơn, trong tâm tình biết ơn. Những việc ấy nhỏ đến mức không ai biết. Và chính vì không ai biết nên chúng rất quý trước mặt Chúa. Chúng dạy linh hồn nói “không” với mình mà không cần khán giả.
Hãy canh giữ xúc giác và sự tìm kiếm tiện nghi. Con người rất nhanh quen với sự dễ chịu. Một chiếc ghế tốt hơn, một căn phòng mát hơn, một cái giường mềm hơn, một hoàn cảnh thuận tiện hơn, tất cả tự nó chẳng có gì xấu. Nhưng nếu linh hồn để mình lệ thuộc vào chúng, nó sẽ trở nên rất mong manh. Chỉ cần một chút nóng, một chút lạnh, một đêm ngủ kém, một chỗ ngồi không thoải mái, một sự bất tiện nhỏ, là cả ngày trở thành nặng nề. Người chiến đấu thiêng liêng phải tập một khả năng rất quý: chịu được một chút khó chịu mà không phàn nàn. Không phải tìm đau khổ vô lý, nhưng khi đau khổ nhỏ đến, đừng lập tức tìm cách loại bỏ nó. Đôi khi hãy để nó ở đó một chút và nói: “Lạy Chúa, con xin nhận điều nhỏ này vì yêu mến Chúa.” Một chút nóng. Một chút khát. Một chút mỏi. Một chút chờ đợi. Một chút thiếu tiện nghi. Một chuyến đi không thoải mái. Một bữa ăn trễ. Một cuộc gặp kéo dài. Một người nói chuyện làm con mệt. Nếu con biết dùng những điều nhỏ ấy, chúng sẽ trở thành trường học của tự do nội tâm.
Đặc biệt, con phải cẩn thận với thói quen lập tức loại bỏ mọi khó chịu. Thế giới hiện đại dạy con người rằng bất cứ sự khó chịu nào cũng là một vấn đề phải được giải quyết ngay. Đói một chút thì ăn. Buồn một chút thì mở màn hình. Chán một chút thì tìm giải trí. Cô đơn một chút thì nhắn tin. Mệt một chút thì bỏ việc. Khó chịu một chút thì than phiền. Bị hiểu lầm một chút thì lập tức giải thích. Bị tổn thương một chút thì tìm người để kể. Không phải những điều ấy lúc nào cũng sai. Nhưng nếu con không bao giờ để mình ở lại với một sự khó chịu nhỏ, ý chí của con sẽ không bao giờ mạnh. Sức mạnh thiêng liêng được xây dựng rất nhiều qua khả năng ở lại. Ở lại trong một chút đói. Ở lại trong sự im lặng. Ở lại trong việc chưa được hiểu. Ở lại trong một nhiệm vụ buồn tẻ. Ở lại trong một khoảng thời gian không có giải trí. Ở lại trong cầu nguyện dù không cảm thấy gì. Ở lại bên một người dù câu chuyện của họ không hấp dẫn. Ở lại với bổn phận dù tâm trí muốn chạy sang việc khác. Chính những lúc đó một điều sâu xa đang xảy ra: con không còn bị cảm giác của phút hiện tại ra lệnh nữa.
Hãy nhớ rằng giác quan luôn tìm cái tức thời, trong khi đời sống thiêng liêng hướng đến điều vĩnh cửu. Mắt muốn thấy ngay. Tai muốn nghe ngay. Miệng muốn nếm ngay. Thân xác muốn dễ chịu ngay. Cái tôi muốn được thỏa mãn ngay. Nhưng tình yêu thật thường đòi biết chờ. Tình yêu nói: “Không phải bây giờ.” Tình yêu nói: “Điều này tốt nhưng không cần.” Tình yêu nói: “Ta có thể có, nhưng ta chọn không có.” Tình yêu nói: “Ta có quyền nói, nhưng ta chọn im.” Tình yêu nói: “Ta có thể nghỉ, nhưng bổn phận này cần được hoàn thành trước.” Tình yêu nói: “Ta có thể tìm sự an ủi, nhưng người kia đang cần ta hơn.” Mỗi lần con chọn như thế, con không mất đi điều gì thật sự. Con đang lấy lại quyền tự do mà những ham muốn nhỏ bé muốn cướp khỏi con.
Tuy nhiên, đừng mắc sai lầm là chỉ nói “không”. Linh hồn không thể sống chỉ bằng cấm đoán. Nếu con chỉ kéo mắt khỏi sự vật mà không hướng mắt về điều cao hơn, con sẽ mệt. Nếu con chỉ từ bỏ niềm vui giác quan mà không khám phá niềm vui sâu xa trong Thiên Chúa, con sẽ trở nên khô cứng. Việc chế ngự giác quan không phải là giết chết khả năng thưởng thức, mà là thanh luyện nó để có thể thưởng thức đúng. Khi thấy một cảnh đẹp, đừng chỉ nói: “Tôi không được vui.” Hãy vui, nhưng đưa niềm vui ấy về nguồn của nó: “Lạy Chúa, đẹp quá. Nếu tạo vật đã đẹp thế này, Đấng tạo nên nó còn đẹp biết bao.” Khi ăn một món ngon, hãy tạ ơn. Khi nghe một bản nhạc đẹp, hãy để nó nâng lòng lên. Khi gặp một con người tốt, đừng chỉ dừng ở sự dễ mến của họ; hãy nhận ra dấu vết của lòng tốt Thiên Chúa. Khi được nghỉ ngơi, hãy nghỉ với lòng biết ơn, rồi đứng dậy khi đến lúc. Như thế, giác quan không bị tiêu diệt, nhưng được thánh hóa. Chúng trở thành những cửa sổ qua đó linh hồn nhìn thấy Đấng Tạo Hóa.
Đó là bí quyết rất quan trọng: đừng để tạo vật giữ con lại nơi chính nó. Hãy để mọi tạo vật dẫn con tới Chúa. Khi uống một ngụm nước trong lúc khát, hãy nhớ đến Đấng đã nói: “Ai khát hãy đến với Ta mà uống.” Khi ăn bánh, hãy nhớ đến Bánh Hằng Sống. Khi nhìn ánh sáng ban mai, hãy nhớ đến Đức Kitô là ánh sáng thế gian. Khi thấy một người mẹ yêu con, hãy nhớ đến tình yêu dịu dàng của Thiên Chúa. Khi nghe tiếng chuông, hãy nhớ đời mình rồi cũng sẽ qua. Khi thấy một bông hoa đẹp, hãy nhớ vẻ đẹp ấy chỉ nở ít ngày rồi tàn, và hãy hỏi lòng mình đang tìm vẻ đẹp nào không tàn. Khi thân xác khỏe mạnh, hãy tạ ơn và dùng sức khỏe để phục vụ. Khi thân xác đau yếu, hãy nhận ra con không phải chủ tuyệt đối của đời mình. Mọi cảm giác đều có thể trở thành một lời nhắc đưa con về Thiên Chúa, nếu con sống tỉnh thức.
Ngược lại, nếu giác quan tách khỏi Thiên Chúa, chúng sẽ trở thành những chiếc vòi không bao giờ đầy. Mắt muốn nhìn thêm. Tai muốn nghe thêm. Miệng muốn nếm thêm. Tâm trí muốn biết thêm. Thân xác muốn dễ chịu thêm. Và điều kỳ lạ là càng cho chúng nhiều, chúng càng đòi nhiều. Người ăn không tiết độ không vì thế mà hết ham ăn. Người xem mọi thứ mình muốn không vì thế mà hết tò mò. Người luôn được tiện nghi không vì thế mà dễ thỏa mãn hơn. Trái lại, khả năng chịu thiếu thốn của họ càng yếu. Đó là luật của dục vọng: nếu con cho nó ăn mỗi lần nó kêu, nó sẽ lớn. Nếu con biết từ chối nó cách khôn ngoan, nó sẽ dần học vâng lời.
Vì thế, hãy yêu những hy sinh nhỏ. Đừng chỉ chờ những cơ hội lớn. Người chờ một cuộc tử đạo lớn lao nhưng không chịu nổi một sự trái ý nhỏ thường đang lừa mình. Đức trung tín được chuẩn bị bằng những điều rất nhỏ. Hôm nay con muốn nói một câu và con im. Hôm nay con muốn xem một điều và con quay đi. Hôm nay con muốn ăn thêm và con dừng. Hôm nay con muốn nằm thêm và con đứng dậy. Hôm nay con muốn chọn việc dễ mà con chọn việc cần. Hôm nay con muốn than phiền nhưng con cảm ơn. Hôm nay con muốn tránh một người nhưng con lại đến với họ bằng lòng bác ái. Hôm nay con muốn được biết ơn nhưng con âm thầm phục vụ. Mỗi một chiến thắng ấy như một nhát đục rất nhỏ đang tạo hình linh hồn. Không ai nhìn thấy. Nhưng Chúa nhìn thấy. Và chính từ những điều ấy mà một ý chí vững vàng được xây dựng.
Khi thất bại, cũng đừng quá ngạc nhiên. Con đã quen chiều theo mình bao nhiêu năm, làm sao chỉ trong vài ngày mà mọi khuynh hướng đều vâng phục? Đừng biến việc luyện tập thành một cuộc chiến đầy căng thẳng với chính mình. Nếu hôm nay con đã quyết không ăn thêm mà rồi vẫn ăn, đừng ngồi đó tự ghét mình. Nếu con đã định giữ im lặng mà cuối cùng vẫn nói một câu không cần thiết, hãy nhận lỗi, xin Chúa tha thứ, rồi bắt đầu lại. Nếu con đã định dậy đúng giờ mà lại ngủ thêm, đừng nói: “Con chẳng bao giờ thay đổi được.” Câu ấy không phải khiêm nhường. Nó là một hình thức tuyệt vọng rất tinh vi. Con chỉ cần nói: “Lạy Chúa, con lại thấy mình yếu. Xin giúp con bắt đầu lại.” Và lần sau, hãy chiến đấu sớm hơn. Đừng đợi cơn ham muốn lên đến đỉnh rồi mới chống. Hãy sắp xếp hoàn cảnh để việc tốt trở nên dễ hơn và việc xấu khó hơn. Nếu điện thoại làm con mất giờ, hãy để nó xa. Nếu một số hình ảnh dẫn con đến cám dỗ, hãy tránh nguồn ấy. Nếu ăn uống là điểm yếu, hãy định trước lượng vừa đủ. Nếu con hay nói nhiều khi gặp một số người, hãy cầu nguyện trước cuộc gặp. Khôn ngoan là một phần của chiến đấu.
Con cũng phải học phân biệt giữa nhu cầu thật của thân xác và sự đòi hỏi của thói quen. Có lúc con thực sự cần nghỉ. Nếu con không nghỉ, con sẽ kiệt sức, cáu gắt và không thể phục vụ. Khi ấy nghỉ ngơi là bổn phận. Có lúc con thực sự cần ăn. Khi ấy ăn không phải là chiều xác thịt, mà là chăm sóc sức khỏe. Có lúc cơ thể cần được chữa trị. Khi ấy đi khám và uống thuốc không phải thiếu hy sinh. Có lúc con cần niềm vui, cần đi bộ, cần gặp người thân, cần một khoảng thư giãn lành mạnh. Đời sống thiêng liêng không biến con thành cỗ máy. Điều cần phân định là: tôi đang chăm sóc thân xác để nó phục vụ Thiên Chúa tốt hơn, hay tôi đang lấy việc “chăm sóc bản thân” làm cớ để tránh mọi hy sinh? Ranh giới đôi khi rất mỏng, và chỉ một lương tâm thành thật mới nhận ra.
Một dấu hiệu rất hữu ích là hãy quan sát cách con phản ứng khi điều mình muốn không được đáp ứng. Nếu con bình an, có lẽ đó chỉ là một sở thích. Nếu con bực tức, khó chịu, mất vui, có thể con đã bị lệ thuộc. Con nói mình chỉ “thích” cà phê, nhưng một ngày không có là cáu gắt. Con nói mình chỉ “thích” điện thoại, nhưng để xa một giờ thì bồn chồn. Con nói mình chỉ “thích” được yên tĩnh, nhưng khi có người làm phiền thì mất bác ái. Con nói mình chỉ “thích” một món ăn, nhưng món ấy không có thì phàn nàn. Chính những phản ứng ấy tiết lộ những xiềng xích rất nhỏ. Và con đừng coi thường xiềng xích nhỏ. Một sợi chỉ không giữ nổi con, nhưng hàng trăm sợi chỉ có thể trói rất chặt.
Có một cách luyện tập rất tốt: mỗi ngày hãy chọn một vài điều nhỏ để nói “không” với mình, không vì ghét mình, nhưng vì yêu Chúa. Đừng chọn những việc quá lớn khiến con nhanh chóng mệt mỏi. Hãy chọn điều kín đáo. Uống nước thay vì món mình thích một lần. Không lấy phần ngon nhất. Không kiểm tra điện thoại ngay khi có tiếng báo. Không chen vào một câu chuyện dù con biết câu trả lời. Đi bộ thêm một đoạn nếu sức khỏe cho phép. Ngồi ở chỗ ít thuận tiện hơn. Không tìm lời khen. Hoàn thành việc khó trước việc dễ. Khi bị gián đoạn, đừng tỏ vẻ khó chịu. Những hy sinh ấy như những đồng tiền nhỏ được bỏ vào kho của ý chí. Mỗi ngày một ít. Một năm sau, con sẽ ngạc nhiên vì sự tự do đã lớn lên trong con.
Nhưng điều quan trọng hơn mọi việc khổ chế là ý hướng. Một người có thể làm rất nhiều việc hãm mình chỉ để cảm thấy mình đạo đức. Người ấy vẫn tìm mình. Một người khác chỉ bỏ một điều rất nhỏ nhưng làm hoàn toàn vì tình yêu đối với Chúa. Hy lễ ấy có thể quý hơn. Vì thế, mỗi khi từ bỏ điều gì, hãy nói trong lòng: “Lạy Chúa, vì Chúa.” Chỉ thế thôi. Không cần nhiều cảm xúc. “Con không nhìn điều này, vì Chúa.” “Con không nói câu ấy, vì Chúa.” “Con chấp nhận sự bất tiện này, vì Chúa.” “Con đứng dậy bây giờ, vì Chúa.” “Con dừng lại ở đây, vì Chúa.” Ba chữ “vì Chúa” có thể biến một việc rất tầm thường thành một hành vi yêu mến.
Và rồi con sẽ hiểu ý nghĩa sâu xa của việc “đóng đinh bản tính cũ”. Đừng tưởng tượng đó là một điều dữ dội, u tối, đầy bạo lực với chính mình. Đóng đinh con người cũ nhiều khi chỉ là không cho cái tôi điều nó đòi. Mỗi lần con nói không với một ham muốn rối loạn, một chiếc đinh nhỏ được đóng vào con người cũ. Mỗi lần con chọn nhẫn nhịn thay vì trả đũa, con người cũ bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn im lặng thay vì khoe khoang, nó bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn bổn phận thay vì dễ chịu, nó bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn phục vụ thay vì được phục vụ, nó bị đóng đinh. Mỗi lần con chọn tha thứ thay vì nuôi giận, nó bị đóng đinh. Và lạ lùng thay, càng chết đi như thế, con lại càng sống. Vì cái chết ấy không phải là cái chết của con người thật, nhưng là cái chết của những gì đang che khuất con người thật.
Con người mới trong con không phải là một con người không còn cảm giác. Trái lại, nó cảm nhận sâu hơn. Nó biết vui mà không chiếm hữu. Biết thưởng thức mà không lệ thuộc. Biết đau mà không tuyệt vọng. Biết thiếu mà không cay đắng. Biết có mà không bám víu. Biết từ bỏ mà không phô trương. Biết nghỉ mà không lười. Biết làm việc mà không nghiện hoạt động. Biết yêu người khác mà không đòi họ phải làm mình hạnh phúc. Đó là sự tự do của người có các giác quan nhưng không bị giác quan thống trị, có thân xác nhưng không sống chỉ cho thân xác, có những nhu cầu nhưng không biến nhu cầu thành thần tượng.
Hỡi linh hồn, đừng sợ cuộc chiến này. Thiên Chúa không đòi con trở thành một thiên thần không có thân xác. Người muốn con trở thành một con người thánh thiện trong chính thân xác con. Chính đôi mắt này có thể trở thành đôi mắt của lòng thương xót. Chính đôi tai này có thể trở thành đôi tai biết lắng nghe người đau khổ. Chính miệng này có thể trở thành miệng nói lời nâng đỡ. Chính đôi tay này có thể trở thành đôi tay phục vụ. Chính đôi chân này có thể đưa con đến với những người cần con. Chính thân xác này có thể quỳ xuống trong cầu nguyện, đứng lên trong phục vụ, mệt nhọc trong sứ mạng, chịu đau trong bệnh tật, và một ngày kia được Thiên Chúa cho sống lại. Vì thế, mục đích cuối cùng không phải là trừng phạt thân xác, nhưng là thánh hiến nó. Không phải làm cho giác quan chết, nhưng làm cho chúng trở nên trong sạch. Không phải lấy khỏi chúng mọi niềm vui, nhưng giải thoát chúng khỏi những niềm vui làm con nô lệ để chúng có thể đón nhận những niềm vui cao hơn.
Con hãy nhớ kỹ: một thân xác được nuông chiều quá mức sẽ dần trở thành một ông chủ khó tính. Nó càng được chiều, nó càng khó thỏa mãn. Nhưng một thân xác được giáo dục bằng tình yêu và kỷ luật sẽ trở thành người bạn đồng hành trung thành. Lúc đầu nó phản kháng. Nó sẽ nói: “Tại sao phải đứng dậy?” “Tại sao không ăn?” “Tại sao không nhìn?” “Tại sao phải im?” “Tại sao phải chịu khó?” Nhưng nếu con bền bỉ, không nóng nảy, không cực đoan, nó sẽ dần học trật tự. Những điều từng rất khó sẽ trở nên bình thường. Cái mà hôm nay con phải chiến đấu dữ dội, ngày mai có thể chỉ cần một quyết định nhẹ nhàng. Ý chí cũng giống như cơ bắp: nếu không dùng, nó yếu; nếu được luyện đúng cách, nó mạnh.
Và đến một lúc, con sẽ nhận ra rằng tất cả những cuộc chiến rất nhỏ này không nhằm làm cho con trở thành người cứng rắn, nhưng làm cho con có khả năng yêu. Người không làm chủ mình sẽ rất khó trao mình. Vì mỗi khi tình yêu đòi hy sinh, họ sẽ chạy. Mỗi khi bổn phận đòi mệt, họ sẽ tránh. Mỗi khi người khác làm họ khó chịu, họ sẽ bỏ. Mỗi khi sự trung thành không còn đem lại cảm giác dễ chịu, họ sẽ nghi ngờ chính sự trung thành. Chỉ người biết nói “không” với chính mình mới có thể nói một tiếng “xin vâng” lớn lao với tình yêu. Chính vì thế, việc chế ngự giác quan không phải là một chương phụ của đời sống thiêng liêng. Nó chạm đến khả năng yêu của con.
Hãy nhìn Đức Giêsu. Người biết đói nhưng không biến đá thành bánh chỉ để thỏa mãn mình. Người biết mệt nhưng vẫn dành thời giờ cho đám đông. Người biết đau nhưng không chạy khỏi thập giá. Người bị nhục mạ nhưng không đáp trả bằng nhục mạ. Người có thể dùng quyền năng để tránh khổ đau, nhưng đã chọn vâng phục Chúa Cha. Nơi Người, thân xác không bị khinh miệt; thân xác trở thành nơi tình yêu được biểu lộ đến tận cùng. Đôi chân Người mỏi vì đi tìm con người. Bàn tay Người chạm đến người bệnh. Đôi mắt Người khóc trước nỗi đau. Miệng Người nói lời tha thứ. Thân mình Người bị trao nộp. Máu Người đổ ra. Đó là đỉnh cao của một thân xác hoàn toàn thuộc về tình yêu.
Khi con chiến đấu với một ham muốn nhỏ, hãy nhìn Người. Khi con muốn than vì một chút bất tiện, hãy nhớ Đấng đã không than trên thập giá. Khi con muốn đáp trả một lời xúc phạm, hãy nhớ Người đã im lặng trước kẻ tố cáo. Khi con thấy mệt và chỉ muốn tìm mình, hãy nhớ Người đã trao cả thân mình vì con. Không phải để con xấu hổ vì mình yếu, nhưng để con biết mình đang đi theo ai. Con không chiến đấu một mình. Đức Kitô đang ở trong con. Chính ân sủng của Người làm cho những chiến thắng tưởng chừng nhỏ bé có thể xảy ra.
Vì thế, mỗi sáng hãy dâng cả thân xác cho Thiên Chúa: “Lạy Chúa, hôm nay xin nhận lấy đôi mắt con, để con chỉ nhìn điều đẹp lòng Chúa. Xin nhận đôi tai con, để con không vui thích nghe điều làm tổn thương người khác. Xin nhận miệng con, để con nói điều xây dựng. Xin nhận đôi tay con, để con phục vụ. Xin nhận đôi chân con, để con đi nơi Chúa muốn. Xin nhận cả thân xác con, với sức khỏe và sự mệt mỏi, với dễ chịu và đau đớn, để mọi sự trong con đều thuộc về Chúa.” Và ban tối, con hãy xét mình: hôm nay ai làm chủ tôi? Thiên Chúa hay cảm giác? Tôi đã làm điều đúng chỉ khi thấy thích, hay vẫn làm khi không thích? Tôi đã chiều thân xác ở đâu? Tôi đã từ chối bản thân vì tình yêu ở đâu? Đừng xét để tự kết án. Hãy xét để học cách chiến đấu ngày mai tốt hơn.
Cuối cùng, hỡi linh hồn, hãy nhớ rằng Thiên Chúa không gọi con đến một đời sống nghèo nàn niềm vui. Người gọi con đến một niềm vui tự do hơn. Những khoái cảm giác quan giống như những giọt nước. Chúng có vẻ quý khi con khát, nhưng nếu con biến chúng thành nguồn sống duy nhất, con sẽ khát mãi. Thiên Chúa muốn dẫn con đến suối nước sâu hơn. Người muốn mắt con không chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của tạo vật mà khao khát vẻ đẹp của Người. Người muốn tai con không chỉ tìm lời dễ nghe mà nhận ra tiếng Người. Người muốn miệng con không chỉ tìm vị ngon mà biết nếm sự ngọt ngào của ân sủng. Người muốn thân xác con không chỉ tìm nghỉ ngơi nhưng tìm được sự bình an khi thuộc trọn về Người.
Vậy hãy chiến đấu, nhưng chiến đấu trong bình an. Hãy hãm mình, nhưng hãm mình bằng tình yêu. Hãy chăm sóc thân xác, nhưng đừng thờ lạy nó. Hãy dùng các giác quan, nhưng đừng để chúng dùng con. Hãy vui hưởng tạo vật, nhưng đừng dừng lại ở tạo vật. Hãy để mỗi sự đẹp đưa con về Đấng Đẹp vô cùng, mỗi sự ngon lành đưa con về Đấng Tốt Lành vô tận, mỗi niềm vui đưa con về nguồn của mọi niềm vui. Và mỗi khi một đòi hỏi nhỏ của xác thịt nổi lên, hãy coi đó không phải là một phiền toái, nhưng là một cơ hội. Một cơ hội để nói với Chúa bằng chính đời sống rằng: “Lạy Chúa, con yêu Chúa hơn điều này.”
Hôm nay có thể chỉ là một cái nhìn con từ bỏ. Một lời con không nói. Một món ăn con không lấy. Một sự dễ chịu con chấp nhận thiếu. Một lần con đứng dậy dù muốn nằm. Một việc con làm dù không thích. Đừng coi thường những điều ấy. Chính từ những cái chết rất nhỏ ấy, một sự sống mới đang lớn lên. Chính từ những lần từ bỏ âm thầm ấy, con người mới đang được hình thành. Chính từ những chiến thắng không ai biết ấy, linh hồn đang học thuộc về Thiên Chúa.
Và một ngày kia con sẽ hiểu: điều con tưởng mình đã mất vì Chúa, thật ra chưa bao giờ là mất. Con chỉ bỏ đi những sợi dây nhỏ đang trói mình. Con chỉ trao lại cho các giác quan đúng vị trí của chúng. Con chỉ giúp thân xác trở thành điều nó phải là: không phải một ông chủ độc đoán, không phải một kẻ thù đáng ghét, nhưng là người tôi tớ tốt lành cùng với linh hồn bước về nhà Cha. Khi ấy, cả con người con, thân xác và linh hồn, ý chí và tình cảm, giác quan và lý trí, sẽ dần quy tụ về một trung tâm duy nhất: Thiên Chúa.
Và đó chính là chiến thắng: không phải khi con không còn cảm thấy bất cứ đòi hỏi nào, nhưng khi giữa mọi đòi hỏi, con vẫn có thể bình an nói: “Lạy Chúa, con chọn Chúa.”
CHƯƠNG 15
CÁCH CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI CÁC ĐAM MÊ TỘI LỖI VÀ CHIẾM HỮU CÁC NHÂN ĐỨC MỚI
Hỡi linh hồn đang cầm vũ khí giữa chiến trường nội tâm, đến đây con không còn đứng ở bên ngoài để nghe nói về cuộc chiến nữa. Con đã đi qua những bài học căn bản, đã biết mình yếu đuối đến đâu, đã học phải bất tín nhiệm vào sức riêng như thế nào, đã được nhắc phải đặt trọn lòng tín thác nơi Thiên Chúa, đã tập canh giữ lý trí, uốn nắn ý chí, chế ngự các giác quan, đã học cầu nguyện không như một việc đạo đức phụ thêm vào đời sống, nhưng như hơi thở của người đang thực sự chiến đấu. Tất cả những điều ấy là cần thiết. Nhưng khí giới được treo trên tường thì chưa phải là khí giới đã được sử dụng. Một người có thể biết rất nhiều về binh pháp mà vẫn chưa từng bước vào trận địa. Một linh hồn cũng có thể đọc rất nhiều về khiêm nhường, nói rất hay về từ bỏ mình, hiểu rất rõ sự nguy hiểm của tự ái, biết phân tích nguồn gốc của nóng giận, lười biếng, ghen tương, ham danh, ham được nhìn nhận, nhưng nếu chưa bao giờ thật sự đưa những chân lý ấy vào một cuộc chiến cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể, với một đam mê cụ thể của chính mình, thì tất cả những hiểu biết ấy vẫn có nguy cơ chỉ nằm ở phần trí óc, trong khi kẻ thù vẫn bình thản cư ngụ ở tận đáy lòng. Có những người sống nhiều năm trong đời thiêng liêng mà dường như vẫn đứng nguyên một chỗ, không phải vì họ không cầu nguyện, cũng không hẳn vì họ thiếu thiện chí, nhưng vì họ chưa bao giờ xác định rõ mình đang đánh trận nào. Họ đánh mọi thứ một chút. Hôm nay họ quyết sửa nóng giận. Ngày mai họ đọc một cuốn sách về khiêm nhường rồi lại chuyển sang chống kiêu ngạo. Ngày kia họ nghe một bài giảng về cầu nguyện thì lại quyết chiến đấu với chia trí. Một tuần sau họ thấy mình dễ nói nhiều nên lại tập thinh lặng. Rồi khi thất bại ở một điều nào đó, họ bỏ luôn điều đang tập và chạy sang một mặt trận khác. Kết quả là đời sống thiêng liêng trở thành một chuỗi những khởi đầu rất sốt sắng nhưng không có một cuộc chinh phục nào đi đến cùng. Đó là lý do tại sao từ chương này trở đi, con phải học một nguyên tắc không được quên: trong chiến tranh thiêng liêng, muốn thắng lớn, trước hết phải biết đánh những trận nhỏ; muốn phá một thành trì, phải chọn đúng điểm để công phá; muốn chữa một thân cây bệnh, phải tìm đến tận rễ chứ không chỉ ngắt những chiếc lá úa bên ngoài. Đừng bao giờ đánh lan man. Hãy đánh tập trung.
Con người thường có một thứ nóng vội rất tinh vi trong đường nên thánh. Khi mới nhận ra những bất toàn của mình, người ta dễ muốn thay đổi tất cả ngay lập tức. Người nóng giận muốn từ ngày mai không còn nóng giận nữa. Người tự ái muốn từ hôm nay trở thành người hoàn toàn khiêm nhường. Người ham được khen muốn một bước đạt đến sự dửng dưng trước mọi lời khen chê. Người lười biếng thiêng liêng muốn lập tức trở thành con người kỷ luật, thức đúng giờ, cầu nguyện đúng giờ, làm việc đâu ra đó, không trì hoãn bất cứ điều gì. Người dễ chia trí muốn từ ngày mai cầu nguyện sâu xa như các thánh. Những ước muốn ấy có thể xuất phát từ lòng tốt, nhưng nếu không được thanh luyện, chúng lại chứa trong đó một thứ tự ái khác: ta muốn nhìn thấy mình tốt lên thật nhanh, muốn sớm có bằng chứng rằng mình đang tiến bộ, muốn được hài lòng với hình ảnh mới của chính mình. Và chính vì thế, khi kết quả không đến mau, ta nản. Ta nghĩ mình không hợp với đời sống thiêng liêng. Ta tưởng ân sủng không hoạt động. Ta thất vọng về chính mình. Nhưng thường điều xảy ra đơn giản hơn nhiều: ta đã đòi nơi linh hồn mình một điều mà ngay cả sự tăng trưởng tự nhiên cũng không diễn ra như thế. Một cây lớn không mọc lên trong một đêm. Một vết thương lâu năm không lành chỉ sau một lần băng bó. Một thói quen được tạo ra qua hàng ngàn lần lặp lại cũng không biến mất chỉ bằng một quyết tâm đẹp đẽ. Thiên Chúa có thể làm phép lạ trong một linh hồn, nhưng bình thường Ngài muốn con nên thánh bằng con đường nhỏ, chậm, âm thầm và bền bỉ, để mỗi bước tiến đều dạy con khiêm nhường, mỗi chiến thắng đều dạy con biết ơn, mỗi thất bại đều dạy con tín thác, và toàn bộ cuộc chiến khiến con ngày càng hiểu rằng sự thánh thiện không phải là công trình do con tự xây cho mình, mà là công trình Thiên Chúa thực hiện nơi một người chịu để Ngài uốn nắn.
Vì thế, hãy nhìn vào đời sống hiện tại của con và đừng hỏi trước tiên: “Tôi còn bao nhiêu khuyết điểm?” Câu hỏi ấy có thể làm con choáng ngợp. Hãy hỏi một câu sâu hơn: “Đâu là đam mê đang điều khiển nhiều hành vi của tôi nhất?” Hãy tìm kẻ cầm đầu. Trong một đạo quân hỗn loạn vẫn thường có một viên tướng chỉ huy. Trong đời sống nội tâm cũng vậy. Nhiều khuyết điểm tưởng rời rạc thật ra có thể phát xuất từ một căn nguyên chung. Con hay buồn khi người khác không để ý đến mình; con dễ bực khi ý kiến mình không được nghe; con khó chịu khi ai đó sửa mình; con muốn giải thích ngay khi bị hiểu lầm; con âm thầm so sánh mình với người khác; con vui quá mức khi được ca ngợi và suy sụp quá mức khi bị phê bình. Bề ngoài đó là nhiều phản ứng khác nhau, nhưng ở dưới sâu có thể chỉ là một gốc: tự ái. Một người khác thường xuyên trì hoãn cầu nguyện, ngại bắt tay vào công việc khó, dễ tìm những giải trí nhỏ, thích chọn phần nhẹ, hay viện lý do sức khỏe hoặc hoàn cảnh, và luôn chờ “có hứng” mới làm điều phải làm. Đó có thể là những biểu hiện khác nhau của một gốc chung: lười biếng và ham dễ chịu. Một người khác hay phê bình, dễ thấy lỗi người khác, khó chịu với thành công của người bên cạnh, thường nghĩ rằng mình không được đối xử công bằng; đằng sau đó có thể là ghen tương hoặc lòng ham được hơn người. Vì thế, người chiến đấu khôn ngoan không chỉ đập những cành nhánh. Người ấy tìm đến cái rễ.
Muốn nhận diện đam mê thống trị, con phải có can đảm nhìn mình trong ánh sáng của Thiên Chúa, không tô điểm, không bào chữa, cũng không kết án. Hãy dành vài ngày, thậm chí vài tuần, quan sát những chuyển động bên trong mình. Điều gì làm con mất bình an nhanh nhất? Một lời chê? Một sự bỏ quên? Một thay đổi ngoài ý muốn? Một người không vâng theo ý con? Một thành công của người khác? Một sự chậm trễ? Một cảm giác thân xác? Một nỗi sợ bị mất quyền kiểm soát? Một thất bại trong công việc? Hãy quan sát điều con thường nghĩ đến khi ở một mình. Ta thường tìm về điều mình yêu. Ta thường lo sợ về điều mình đang bám víu. Ta thường tức giận khi thứ mình coi là quan trọng bị đe dọa. Hãy hỏi: “Tôi đang cố bảo vệ điều gì?” Có khi con tưởng mình đang bảo vệ chân lý, nhưng thật ra đang bảo vệ danh dự của mình. Có khi con tưởng mình đang bảo vệ kỷ luật, nhưng thật ra đang bảo vệ quyền kiểm soát. Có khi con tưởng mình đau vì việc chung, nhưng nếu nhìn kỹ, con sẽ thấy mình đau nhiều nhất vì người khác đã không làm theo ý mình. Có khi con nói rằng mình buồn vì sứ vụ thất bại, nhưng dưới đáy lòng lại là nỗi buồn vì người khác sẽ nghĩ mình bất tài. Có khi con tưởng mình đang muốn làm nhiều điều cho Chúa, nhưng nếu công việc ấy không được ghi nhận thì lửa nhiệt thành bỗng nguội rất nhanh. Đó là những khoảnh khắc quý giá, vì sự thật bắt đầu lộ ra.
Đặc biệt đối với những người sống đời dâng hiến, những người phục vụ trong Hội Thánh, những người có trách nhiệm hướng dẫn người khác, sự tự ái hiếm khi xuất hiện với khuôn mặt thô sơ. Nó không nói: “Tôi muốn được người ta tung hô.” Nó tinh vi hơn nhiều. Nó có thể nói: “Tôi chỉ mong công việc của Chúa được thành công.” Nhưng khi công việc đó thành công dưới tay người khác, lòng lại không vui. Nó có thể nói: “Tôi chỉ muốn bảo vệ điều đúng.” Nhưng khi một người khác trình bày điều đúng ấy hay hơn mình, lòng lại cảm thấy bị lép vế. Nó có thể nói: “Tôi không cần ai khen.” Nhưng chỉ một lời nhận xét lạnh nhạt cũng đủ làm mất bình an cả ngày. Nó có thể ẩn trong lòng nhiệt thành tông đồ, trong sự cần mẫn, trong khả năng giảng dạy, trong việc viết lách, trong danh tiếng, trong chức vụ, trong thành quả mục vụ, thậm chí trong chính đời sống đạo đức. Một người có thể âm thầm tự hào rằng mình khiêm nhường hơn người khác, cầu nguyện nhiều hơn người khác, hy sinh hơn người khác, hiểu đời sống thiêng liêng hơn người khác. Cái tôi có thể khoác áo rất đẹp. Nó có thể mặc áo của người phục vụ để tiếp tục được phục vụ trong bóng tối. Vì thế đừng sợ khi con khám phá ra trong mình những động cơ không trong sáng. Thấy được bệnh không phải là thất bại. Không thấy bệnh mới nguy hiểm. Một vết thương được đưa ra ánh sáng có thể được chữa. Một vết thương bị che kín sẽ âm thầm làm độc cả cơ thể.
Khi đã nhận ra đam mê chính, con hãy tuyên chiến với nó, nhưng nhớ rằng đây không phải là một cơn bốc đồng. Đừng tuyên chiến bằng những lời hùng hồn rồi quên ngay sau giờ cầu nguyện. Mỗi buổi sáng, khi ngày mới chưa bắt đầu, hãy đặt đam mê ấy trước mặt Chúa. Có thể con đang chiến đấu với sự tự ái. Hãy quỳ xuống, nhìn thẳng vào sự thật ấy mà thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con biết kẻ thù của con sẽ xuất hiện nhiều lần. Có thể nó xuất hiện khi người ta không nghe con, khi ai đó sửa con, khi con bị quên, khi một công việc không được như ý, khi người khác được khen hơn con. Con biết tự sức con, con sẽ thua. Con đã thua rất nhiều lần rồi. Vì thế hôm nay con không dựa vào quyết tâm của con. Xin Chúa chiến đấu trong con. Xin cho con nhận ra nó ngay khi nó vừa ngẩng đầu lên. Xin đừng để con bào chữa cho nó. Xin cho con can đảm chịu đau một chút để cái tôi trong con chết đi một chút.” Lời cầu như thế không cần dài. Điều quan trọng là thật. Con phải đi vào ngày sống với ý thức rằng hôm nay sẽ có chiến trận. Người lính không bước vào chiến trường như người đang đi dạo. Nếu con biết điểm yếu của mình là nóng giận, hãy đoán trước những lúc nó có thể bị kích thích. Nếu con biết mình lười biếng, hãy xác định trước những giờ mình thường trì hoãn. Nếu con biết mình ham được công nhận, hãy biết rằng một lời phê bình hôm nay có thể là thao trường Chúa dùng để huấn luyện con. Đừng chỉ cầu xin Chúa cất khỏi con mọi hoàn cảnh khó chịu. Nhiều khi chính hoàn cảnh ấy là câu trả lời của Chúa cho lời cầu xin nên thánh của con.
Rồi khi đam mê thật sự trỗi dậy trong ngày, đây là lúc trận chiến bắt đầu. Hãy nhớ rằng giây phút đầu tiên rất quan trọng. Một tia lửa nhỏ có thể được dập bằng một ngón tay, nhưng nếu để nó bén vào căn phòng, phải cần cả xô nước. Một ý nghĩ tự ái vừa xuất hiện, nếu được nhận ra sớm, có thể được dâng cho Chúa ngay. Nhưng nếu con bắt đầu trò chuyện với nó, phân tích lời người khác nói, tưởng tượng động cơ của họ, dựng lên cả một phiên tòa trong đầu, kể cho mình nghe mình đã bị đối xử bất công ra sao, thì vài phút sau nó đã trở thành một đám cháy. Cũng vậy với nóng giận. Lúc đầu chỉ là một cảm giác nóng lên trong lòng. Nếu lúc ấy con dừng lại, thở chậm, hướng lòng lên Chúa, chọn im lặng vài giây, trận chiến có thể được thắng. Nhưng nếu con lập tức trả lời, giọng cao lên, lời nặng hơn, rồi tự thuyết phục rằng mình có lý, con sẽ rất khó dừng lại. Vì thế hãy học nhận diện đam mê ngay khi nó mới cựa mình.
Nhưng con đừng chống nó bằng sự căng thẳng của ý chí như thể con phải bóp chết nó bằng sức riêng. Càng nhìn chằm chằm vào nó, con có thể càng bị nó chiếm hữu. Khi tự ái nổi lên, đừng lặp trong đầu: “Không được tự ái, không được tự ái, không được tự ái.” Hãy quay về với Chúa: “Lạy Chúa, nó lại đến. Đây chính là con người thật của con khi không có Chúa. Xin Chúa thương con. Xin Chúa giữ miệng con lúc này. Xin cho con chịu được cảm giác bị tổn thương mà không tự vệ.” Rồi làm một hành vi rất cụ thể ngược với đam mê. Nếu con muốn biện minh, hãy trì hoãn lời biện minh. Nếu con muốn nói một câu sắc bén, hãy nói một câu hiền hơn. Nếu con muốn bỏ việc vì chán, hãy làm thêm năm phút nữa. Nếu con muốn tránh người làm con khó chịu, hãy chào họ tử tế. Nếu con muốn kể thành tích của mình, hãy để câu chuyện trôi qua mà không chen vào. Nếu con muốn được chú ý, hãy nhường chỗ cho người khác nói. Chính hành vi cụ thể ấy mới làm đam mê bị thương. Không phải cảm giác. Con có thể vẫn cảm thấy rất tự ái mà đang hành động khiêm nhường. Con có thể vẫn cảm thấy nóng giận mà đang nói bằng dịu dàng. Con có thể vẫn cảm thấy lười mà đang đứng dậy làm việc. Đừng đợi cảm giác thay đổi rồi mới hành động đúng. Nếu đợi, con sẽ chờ rất lâu. Nhân đức được hình thành khi ý chí chọn điều thiện ngay trong lúc cảm xúc kéo theo hướng khác.
Đây là một điều rất quan trọng: đừng lầm tưởng rằng muốn có nhân đức thì trước hết phải “cảm thấy” nhân đức. Người khiêm nhường không phải là người lúc nào cũng cảm thấy mình nhỏ bé. Người khiêm nhường là người chọn sống trong chân lý, dù cái tôi vẫn phản kháng. Người hiền lành không phải là người không bao giờ cảm thấy tức giận. Người hiền lành là người không để cơn giận làm chủ lời nói và hành vi. Người can đảm không phải là người không sợ. Người can đảm là người vẫn làm điều phải làm trong khi đang sợ. Người chuyên cần không phải là người luôn có hứng thú với công việc. Người chuyên cần là người làm điều phải làm dù không có hứng. Nhân đức không được đo bằng cảm giác dễ chịu đi kèm, nhưng bằng sự trung thành của ý chí với điều thiện dưới tác động của ân sủng.
Vì thế, mỗi khi con thắng được một trận rất nhỏ, đừng coi thường nó. Một lần im lặng thay vì tự bào chữa có thể chẳng ai biết. Một lần nhịn một câu cay độc có thể không ai thấy. Một lần đứng lên làm việc đúng giờ thay vì trì hoãn năm phút có thể chẳng mang lại thành quả đáng kể nào trước mắt. Một lần nhường người khác được khen có thể chỉ diễn ra trong vài giây. Nhưng trong thế giới nội tâm, những việc nhỏ ấy là những viên đá xây nên một con người mới. Chúng giống như những nhát đục của người thợ điêu khắc. Một nhát không tạo ra pho tượng. Một trăm nhát cũng chưa. Nhưng hàng ngàn nhát đúng chỗ sẽ dần làm hiện ra hình hài mà người nghệ nhân mong muốn. Ân sủng cũng làm việc trong con như thế. Thiên Chúa không coi nhẹ những chiến thắng âm thầm mà thế gian không hề biết. Có khi một người làm một công trình lớn cho Hội Thánh nhưng bên trong lại nuôi lớn cái tôi. Trong khi một linh hồn khác chỉ âm thầm nuốt xuống một lời tự bào chữa vì yêu Chúa, và hành vi ấy có thể đẹp lòng Ngài hơn rất nhiều. Chúng ta thường bị hấp dẫn bởi những điều lớn. Thiên Chúa lại rất thường xây dựng sự thánh thiện bằng những điều nhỏ.
Sau mỗi lần chiến thắng, hãy lập tức tạ ơn. Đây là một việc cực kỳ cần thiết, vì nếu không, chính chiến thắng có thể trở thành lương thực cho kiêu ngạo. Hôm nay con đã kiềm chế được một cơn nóng giận. Ngay lập tức cái tôi có thể thì thầm: “Mình khá hơn rồi.” Con đã cầu nguyện đều đặn được một tuần. Nó nói: “Cuối cùng mình cũng có kỷ luật.” Con đã đón nhận một lời phê bình khá bình tĩnh. Nó nói: “Mình khiêm nhường hơn trước nhiều.” Đam mê cũ vừa bị đánh ở cửa trước liền tìm cách đi vào cửa sau. Vì thế hãy trả mọi chiến thắng về cho Chúa: “Lạy Chúa, nếu không có Chúa, con đã nói câu ấy rồi. Nếu không có ân sủng, con đã nổi giận rồi. Nếu Chúa không giữ con, con đã tìm cách bảo vệ mình. Con cảm tạ Chúa. Xin đừng để con lấy điều Chúa làm mà biến thành công trạng của con.” Thói quen tạ ơn sau chiến thắng sẽ giữ linh hồn trong sự thật.
Nhưng con cũng phải biết làm gì sau thất bại. Đây là nơi nhiều linh hồn mất rất nhiều thời gian. Sau khi sa ngã, họ không chỉ phạm một lỗi, mà còn dành hàng giờ hoặc hàng ngày để buồn vì mình đã phạm lỗi. Họ mất bình an. Họ tự khinh mình. Họ nói: “Tại sao mình vẫn như thế? Bao nhiêu năm rồi mà chẳng khá hơn.” Họ cảm thấy xấu hổ khi đến với Chúa. Họ cầu nguyện ít đi vì thấy mình không xứng đáng. Họ tưởng đó là lòng ăn năn, nhưng nhiều khi đó chỉ là tự ái bị tổn thương vì hình ảnh đẹp về chính mình đã vỡ. Nếu con thật sự biết mình yếu, tại sao con lại ngạc nhiên khi mình ngã? Một đứa trẻ mới tập đi ngã xuống thì không ngồi đó phân tích phẩm giá của mình. Nó giơ tay lên để cha mẹ nhấc dậy. Con cũng hãy làm như thế. Vừa nhận ra mình thất bại, hãy khiêm tốn nói: “Lạy Chúa, đây là điều con có thể làm khi dựa vào mình. Con không ngạc nhiên nữa. Xin tha thứ cho con. Xin cho thất bại này làm con khiêm nhường hơn. Con bắt đầu lại ngay.” Rồi bắt đầu lại thật. Không đợi ngày mai. Không đợi buổi tĩnh tâm tiếp theo. Không đợi mình cảm thấy sốt sắng trở lại. Bắt đầu ngay trong phút ấy. Nếu vừa nóng giận với ai, hãy sửa giọng ở câu tiếp theo. Nếu vừa nói một lời không nên nói, hãy xin lỗi khi có thể. Nếu vừa trì hoãn một giờ, hãy dùng mười phút tiếp theo cho đúng. Nếu vừa tìm sự chú ý, hãy làm một việc âm thầm không ai biết. Kẻ thù rất thích biến một thất bại thành hai thất bại: trước hết làm con sa ngã, sau đó làm con nản lòng. Đừng cho nó chiến thắng lần thứ hai.
Mỗi buổi tối, hãy xét mình đặc biệt về đam mê con đang chiến đấu. Nhưng đừng xét mình như một quan tòa lạnh lùng đang lập bảng thành tích. Hãy xét mình trước mặt Chúa như người con cùng Cha xem lại ngày sống. “Sáng nay con đã gặp nó ở đâu? Trưa nay con đã thua ở chỗ nào? Lúc chiều con đã thắng được trận nào? Khi con thắng, con đã dựa vào Chúa hay con tự mãn? Khi con thua, con có chạy về với Chúa ngay hay con chìm trong thất vọng?” Hãy xem cả những hoàn cảnh làm đam mê mạnh lên. Con có nóng giận hơn khi mệt không? Có tự ái hơn khi bị áp lực không? Có dễ sa vào sự tò mò khi trống rỗng không? Có lười cầu nguyện hơn sau những giờ dùng điện thoại hoặc giải trí quá nhiều không? Có ham được khen hơn khi đang bất an về giá trị bản thân không? Việc xét mình như thế dần dần cho con một bản đồ chiến trường. Sau một thời gian, con sẽ biết kẻ thù thường tấn công vào giờ nào, qua cánh cửa nào, bằng giọng nói nào. Và một khi đã biết, con sẽ không còn bị bất ngờ dễ dàng như trước.
Tuy nhiên, chỉ chống lại đam mê thôi thì chưa đủ. Một căn phòng bỏ trống sẽ sớm bị thứ gì đó khác chiếm lấy. Khi đuổi một thói xấu ra, con phải mời nhân đức đối nghịch vào. Đây là phần tích cực của chiến tranh thiêng liêng. Nếu sự tự ái là đam mê chính, đừng chỉ cố “bớt tự ái”; hãy thực hành khiêm nhường. Mà khiêm nhường phải trở thành hành vi. Hãy để người khác nói hết câu. Hãy nhận một lời góp ý mà không lập tức giải thích. Hãy chấp nhận có những việc tốt mình làm nhưng không ai biết. Hãy để một người khác nhận lời khen mà lẽ ra con cũng có phần. Hãy thừa nhận mình không biết khi thật sự không biết. Hãy nói “tôi đã sai” khi mình sai. Hãy xin lỗi mà không thêm chữ “nhưng”. Hãy làm những việc thấp bé mà không tìm cách để người khác nhận ra sự thấp bé của mình. Đừng diễn khiêm nhường, vì sự khiêm nhường được trình diễn lại trở thành một loại kiêu ngạo được trang điểm. Hãy chỉ làm những điều đưa con về sự thật.
Nếu nóng giận là đam mê chính, hãy tập dịu dàng bằng thân xác trước cả khi cảm xúc thay đổi. Khi muốn nói to, hãy cố tình hạ giọng. Khi muốn trả lời ngay, hãy để một khoảng thinh lặng. Khi nét mặt muốn căng lên, hãy thả lỏng nó. Khi muốn viết một tin nhắn trong cơn giận, đừng gửi ngay. Khi một người khiến con khó chịu, hãy tìm một điều nhỏ để đối xử tử tế với họ. Đừng nghĩ những điều này giả tạo. Giả tạo là bên trong ghét mà bên ngoài tỏ ra yêu để lừa người khác. Còn ở đây, con đang dùng ý chí để hướng cả con người về điều thiện dù cảm xúc chưa theo kịp. Đó là tập luyện. Một nhạc công không đợi ngón tay tự nhiên chơi đúng rồi mới tập. Chính việc lặp lại những động tác đúng làm ngón tay dần biết chơi. Linh hồn cũng vậy.
Nếu lười biếng là đam mê chính, con phải cắt đứt thói quen thương lượng với chính mình. Người lười rất thường không nói “tôi không làm”. Nó nói: “Một chút nữa.” Và chính “một chút nữa” ấy có thể ăn hết một ngày. Vì thế hãy chọn những hành vi nhỏ nhưng quyết liệt. Đến giờ cầu nguyện thì đứng lên ngay. Có việc phải làm thì bắt đầu bằng phần nhỏ nhất. Nếu phải viết một trang, hãy mở tài liệu và viết câu đầu tiên. Nếu phải dọn một chỗ, hãy cất món đồ đầu tiên. Nếu phải đọc, hãy bắt đầu bằng năm phút. Nhân đức chuyên cần không được hình thành nhờ cảm hứng, nhưng nhờ thói quen không trì hoãn điều đã biết là phải làm. Hãy đặc biệt coi chừng những lý do rất hợp lý mà sự lười biếng biết chế tạo. Nó rất thông minh. Nó có thể khoác áo nghỉ ngơi cần thiết, khoác áo chờ đúng thời điểm, khoác áo chuẩn bị kỹ, khoác áo cầu toàn. Có người không bắt đầu vì muốn làm thật hoàn hảo. Rốt cuộc họ chẳng làm gì cả. Khi ấy sự cầu toàn chỉ là một hình thức sang trọng của trì hoãn.
Nếu ham được công nhận là đam mê chính, hãy tập làm những điều không ai thấy. Điều này rất đau đối với cái tôi, nhưng cực kỳ hữu ích. Hãy cầu nguyện khi không ai biết. Hãy giúp một người mà không kể lại. Hãy làm một việc tốt mà không để tên mình dính vào đó. Hãy để một ý tưởng tốt được thực hiện dù người khác không biết nó xuất phát từ con. Hãy tập vui khi người khác thành công. Ban đầu niềm vui ấy có thể rất khô. Hãy vẫn chúc mừng. Hãy cầu xin Chúa ban phúc cho họ. Nếu lòng con ghen, hãy cầu cho họ được hơn nữa. Đó là cách đánh vào tận rễ. Đam mê nói: “Tôi muốn hơn họ.” Nhân đức nói: “Lạy Chúa, xin cho họ được mọi điều tốt đẹp Chúa muốn ban.” Có khi miệng đọc lời ấy mà lòng rất khó chịu. Không sao. Hãy tiếp tục. Ý chí đang chọn tình yêu.
Nếu bất khiết là đam mê con đang chiến đấu, hãy nhớ rằng chiến thắng thường bắt đầu rất xa trước khi cơn cám dỗ mạnh xuất hiện. Hãy canh giữ mắt, trí tưởng tượng, sự tò mò, những nội dung con tiếp xúc, sự nhàn rỗi, sự mệt mỏi, những thói quen nuôi dưỡng kích thích. Đừng đứng trước vực sâu rồi mới hỏi làm sao khỏi ngã. Người khôn ngoan không đi sát mép vực. Đồng thời đừng biến cuộc chiến này thành một ám ảnh khiến tâm trí con chỉ còn xoay quanh sự bất khiết. Hãy lấp đầy đời sống bằng điều đẹp, điều thật, việc phục vụ, lao động, cầu nguyện, tình bạn lành mạnh, sự hiện diện của Chúa. Sự trong sạch không chỉ là nói “không” với điều xấu, mà là học nhìn thân xác, con người và tình yêu trong ánh sáng đúng của Thiên Chúa.
Nếu đam mê của con là xét đoán người khác, hãy tạo phản xạ quay về với chính mình. Mỗi khi thấy lỗi người khác, trước khi nghĩ thêm, hãy nói: “Lạy Chúa, xin cho con thấy lỗi của con.” Không phải để phủ nhận rằng người khác có thể thật sự sai, nhưng để tâm hồn con không biến lỗi của họ thành lương thực nuôi lòng kiêu ngạo. Hãy tập nghĩ đến những hoàn cảnh mình không biết. Có thể người ấy đang mệt. Có thể họ có một vết thương con chưa từng trải qua. Có thể hành động ấy thật sự sai nhưng ý hướng không xấu như con tưởng. Và ngay cả nếu họ có lỗi, con vẫn không biết mình sẽ làm gì nếu ở đúng hoàn cảnh của họ với toàn bộ lịch sử của họ. Tư tưởng ấy không làm con mù quáng trước sự dữ. Nó chỉ giữ con khỏi tự đặt mình trên ngai phán xét.
Nhưng trong tất cả những cuộc chiến này, con hãy cảnh giác với một mưu mô rất tinh vi: ma quỷ có thể dùng chính lòng nhiệt thành nên thánh để làm con mất quân bình. Khi thấy con quyết tâm đánh một đam mê, nó có thể thúc con làm quá mức. Con muốn tập khiêm nhường, nó khiến con tìm những sự sỉ nhục bất thường để rồi trở nên kỳ quặc. Con muốn tập hy sinh, nó khiến con hành xác thiếu khôn ngoan. Con muốn tập thinh lặng, nó khiến con không nói cả khi bổn phận buộc phải nói. Con muốn tập từ bỏ ý riêng, nó khiến con trở nên thụ động, không dám quyết định điều gì. Con muốn diệt tự ái, nó khiến con khinh thường chính mình theo nghĩa bệnh hoạn. Không. Nhân đức luôn đi với chân lý và khôn ngoan. Khiêm nhường không phải là giả vờ mình không có khả năng. Dịu dàng không phải là nhu nhược trước điều xấu. Vâng phục không phải là mất trách nhiệm. Từ bỏ mình không phải là hủy hoại nhân vị. Chiến tranh thiêng liêng không nhằm biến con thành một con người co rúm, sợ hãi, không còn tự do. Mục đích của nó là giải thoát con khỏi những dây trói bên trong để con có thể yêu một cách tự do hơn.
Một cạm bẫy khác là nản vì tiến bộ chậm. Con chiến đấu ba tháng mà vẫn thấy tự ái. Sáu tháng mà vẫn nóng. Một năm mà vẫn có những ngày lười biếng. Con bắt đầu nghi ngờ tất cả. Nhưng hãy tự hỏi: đam mê ấy đã được con nuôi bao lâu? Có khi hai mươi năm, ba mươi năm, năm mươi năm. Tại sao con đòi nó chết trong vài tuần? Hơn nữa, mục tiêu không chỉ là làm cho cảm xúc biến mất. Có thể trước đây một lời chê khiến con giận ba ngày, bây giờ chỉ còn ba giờ. Đó là tiến bộ. Trước đây con lập tức đáp trả, bây giờ có lúc con giữ được im lặng. Đó là tiến bộ. Trước đây sau khi ngã, con bỏ cầu nguyện hai ngày; bây giờ con trở về với Chúa sau mười phút. Đó là tiến bộ. Trước đây con không nhận ra tự ái, bây giờ vừa khi nó xuất hiện con đã thấy. Đó là tiến bộ rất lớn. Đừng chỉ đo sự thánh thiện bằng việc còn hay không còn cám dỗ. Hãy nhìn xem tự do của con đã lớn hơn chưa, thời gian con ở dưới quyền đam mê đã ngắn hơn chưa, khả năng trở về với Chúa đã nhanh hơn chưa, lòng thương xót đối với người khác đã lớn hơn chưa.
Cũng hãy coi chừng tự mãn khi có vài chiến thắng. Có những đam mê giả chết. Chúng nằm yên một thời gian khiến ta tưởng đã chiến thắng, rồi khi hoàn cảnh thuận lợi, chúng trỗi dậy mạnh mẽ. Người tưởng mình hết nóng giận có thể chỉ vì lâu nay chẳng ai đụng đến điểm nhạy cảm. Người tưởng mình hết ham danh có thể chỉ vì đang được công nhận đầy đủ. Người tưởng mình không còn dính bén tiền bạc có thể chỉ vì chưa phải mất một khoản lớn. Người tưởng mình vâng phục có thể chỉ vì bề trên thường quyết định đúng ý mình. Người tưởng mình bình an có thể chỉ vì cuộc đời đang thuận lợi. Nhân đức chỉ được thử lửa khi có điều ngược lại. Vì thế đừng vội kết luận về mình. Hãy để Chúa là Đấng biết lòng con. Phần con, cứ tiếp tục chiến đấu.
Lại có một cạm bẫy rất phổ biến: đang đánh một đam mê, con bỗng thấy một đam mê khác đáng sợ hơn và muốn chuyển mục tiêu. Hãy cẩn thận. Có thể đó chỉ là cách kẻ thù kéo con khỏi nơi nó đang bị tấn công. Ví dụ con đang nghiêm túc tập khiêm nhường. Sau vài tuần, việc chấp nhận bị sửa bắt đầu thật sự đau. Đúng lúc đó con nghĩ: “Có lẽ vấn đề chính của mình không phải tự ái mà là thiếu cầu nguyện. Mình nên tập trung vào cầu nguyện trước.” Nghe rất đạo đức. Nhưng có thể cái tôi đang tìm đường thoát. Không phải con bỏ các bổn phận khác, nhưng hãy giữ một mục tiêu chính đủ lâu để tạo ra thay đổi thực sự. Một người đào giếng mà cứ đào mỗi nơi một mét sẽ không bao giờ gặp nước.
So sánh với người khác cũng là thuốc độc trong giai đoạn này. Con nhìn một người hiền lành hơn và nghĩ mình chẳng bao giờ được như họ. Hoặc con nhìn một người nóng tính hơn và thấy mình khá tốt. Cả hai đều làm con rời khỏi con đường riêng Chúa dành cho con. Thiên Chúa không hỏi tại sao con không giống người kia. Ngài hỏi con hôm nay đã trung thành với ơn Ngài ban cho con chưa. Có người phải chiến đấu suốt đời với một khuynh hướng mà người khác gần như không có. Điều đó không có nghĩa họ kém thánh thiện hơn. Có khi chính cuộc chiến kéo dài ấy trở thành nơi họ gặp Chúa sâu nhất. Một linh hồn có thể không bao giờ hoàn toàn thoát khỏi một cơn cám dỗ nào đó, nhưng nếu mỗi lần nó đến người ấy lại khiêm nhường chạy đến với Chúa, thì chính cám dỗ ấy trở thành chiếc chuông nhắc họ cầu nguyện. Điều ban đầu là kẻ thù có thể bị Thiên Chúa biến thành dụng cụ giữ linh hồn gần Ngài.
Con cũng cần hiểu rằng chiếm hữu nhân đức không có nghĩa là một ngày kia con sẽ sở hữu nó như sở hữu một món đồ, để rồi không cần Chúa nữa. Không. Càng tiến trong nhân đức, con càng thấy mình cần ân sủng. Một người thật sự khiêm nhường không nghĩ: “Tôi đã có khiêm nhường.” Người ấy biết chỉ cần Chúa rút tay trong một khoảnh khắc, cái tôi có thể trỗi dậy. Một người thanh sạch không khinh người đang sa ngã, vì họ biết mình cũng được giữ nhờ ân sủng. Một người kiên nhẫn không tự hào về sự điềm tĩnh, vì họ biết có những hoàn cảnh khác có thể làm lộ ra nhiều điều chưa được thanh luyện. Nhân đức thật làm con lệ thuộc vào Chúa nhiều hơn, không ít hơn.
Có lúc con sẽ mệt. Có lúc con sẽ thấy cuộc chiến này quá dài. Có lúc con sẽ tự hỏi tại sao Thiên Chúa không cất một đam mê khỏi con ngay. Hãy nhìn lên Thánh Giá. Chúa Giêsu không cứu con bằng cách đứng xa đau khổ. Ngài đi qua nó. Con đường biến đổi của con cũng thường đi qua sự kiên trì đau đớn. Có những đam mê Chúa để lại lâu để con học một bài học sâu hơn chính việc chiến thắng chúng. Có khi nếu Ngài cất ngay sự yếu đuối, con sẽ kiêu ngạo. Có khi cơn chiến đấu kéo dài làm con biết thương người khác. Có khi những lần ngã làm con thôi xét đoán. Có khi nỗi bất lực khiến lời cầu nguyện của con trở nên thật. Con từng nói “Lạy Chúa, con cần Chúa” như một công thức. Sau nhiều thất bại, con mới thật sự biết câu ấy có nghĩa gì. Khi đó sự yếu đuối, dù vẫn là điều phải chiến đấu, lại trở thành một trường học của ân sủng.
Hãy nhớ, mục đích cuối cùng của cuộc chiến không phải để con trở thành một con người có thể tự hào rằng mình đã chế ngự được bản thân. Mục đích là để Đức Kitô sống trong con tự do hơn. Mỗi đam mê tội lỗi giống như một kẻ đang chiếm một căn phòng trong ngôi nhà tâm hồn. Tự ái chiếm một phòng. Nóng giận chiếm một phòng. Ham danh chiếm một phòng. Sợ hãi chiếm một phòng. Dính bén chiếm một phòng. Con không chiến đấu chỉ để căn nhà sạch sẽ. Con chiến đấu để trao từng căn phòng lại cho Chúa. Khi tự ái rút lui, khiêm nhường mở cửa cho Chúa. Khi nóng giận bị chế ngự, dịu dàng cho Chúa một chỗ ở. Khi ham danh suy yếu, lòng đơn sơ lớn lên. Khi lười biếng bị đẩy lùi, lòng quảng đại xuất hiện. Khi dính bén được cắt bỏ, tự do nội tâm có chỗ để thở. Cuối cùng, sự nên thánh chính là để Thiên Chúa ngày càng chiếm hữu toàn bộ con người con.
Vì thế hỡi linh hồn, đừng sợ chiến đấu. Cũng đừng mơ một ngày nào đó trên đời này sẽ không còn gì để chiến đấu. Có thể mặt trận thay đổi. Khi một đam mê thô sơ suy yếu, một đam mê tinh vi hơn lộ ra. Ban đầu con chiến đấu để không nói lời nóng giận; sau đó con chiến đấu để lòng không âm thầm khinh người. Ban đầu con tập không khoe khoang; sau đó con phải chiến đấu với niềm vui kín đáo khi được nghĩ là khiêm nhường. Ban đầu con tập làm việc bổn phận; sau đó con phải thanh luyện động lực tại sao mình làm. Càng đi sâu, chiến trường càng đi vào những vùng kín đáo của trái tim. Đừng sợ. Đó không phải dấu hiệu con tệ hơn. Nhiều khi đó là dấu hiệu ánh sáng đã mạnh hơn. Trong một căn phòng tối, con không thấy bụi. Khi nắng chiếu vào, từng hạt bụi hiện lên. Không phải vì ánh sáng tạo ra bụi, nhưng vì ánh sáng làm con thấy điều đã có ở đó từ lâu.
Mỗi sáng, hãy ra trận với lòng khiêm tốn. Mỗi lần bị tấn công, hãy kêu cầu Chúa. Mỗi chiến thắng, hãy tạ ơn. Mỗi thất bại, hãy đứng dậy. Mỗi tối, hãy nhìn lại. Và qua nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, đừng tìm những cảm giác phi thường. Hãy tìm những dấu hiệu rất nhỏ: một lời ít sắc hơn; một lần biết im đúng lúc; một niềm vui khi người khác được đề cao; một khả năng xin lỗi nhanh hơn; một sự bình thản hơn trước điều trái ý; một ít tự do hơn trước lời khen; một ít nhẹ nhàng hơn trước lời chê; một chút mau mắn hơn trong bổn phận; một chút lòng thương xót hơn đối với người yếu đuối. Chính những điều nhỏ ấy nói rằng Đức Kitô đang lớn lên trong con.
Và nếu có ngày con nhìn lại mà thấy mình vẫn còn rất xa, đừng tuyệt vọng. Hãy nhớ: Chúa không chỉ nhìn kết quả. Ngài nhìn sự trung thành trong cuộc chiến. Có những chiến thắng chỉ được hoàn tất sau nhiều năm. Có những vòng xiềng chỉ rơi xuống sau hàng ngàn lần con đã đưa tay cho Chúa tháo gỡ. Điều quan trọng là đừng làm hòa với đam mê. Đừng gọi điều xấu là bình thường chỉ vì nó tồn tại lâu. Đừng nói: “Tính tôi là vậy.” Không. Tính khí có thể là nền đất, nhưng ân sủng có thể canh tác nền đất ấy. Đừng nói: “Tôi không đổi được.” Tự con, đúng, con không đổi được. Nhưng đó chính là lý do con phải tín thác. Người Kitô hữu không hy vọng vì mình mạnh. Người Kitô hữu hy vọng vì Thiên Chúa trung thành.
Hỡi linh hồn, hãy đánh một trận cho ra một trận. Hãy chọn đúng kẻ thù. Hãy đánh nó trong ánh sáng. Hãy dùng những hành vi nhân đức cụ thể như những nhát gươm. Hãy để sự khiêm nhường cắt vào tự ái, để dịu dàng cắt vào nóng giận, để quảng đại cắt vào ích kỷ, để chuyên cần cắt vào lười biếng, để thinh lặng cắt vào ham nói, để bác ái cắt vào xét đoán, để lòng tín thác cắt vào sợ hãi. Nhưng trên hết, hãy để Chúa Giêsu chiến đấu trong con. Con không phải là một người lính cô độc. Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết đang ở bên con, đang ở trong con, đang dùng chính những trận đánh nhỏ bé mỗi ngày để làm cho con nên giống Ngài.
Và có lẽ đến cuối đời, con sẽ nhận ra điều kỳ lạ này: cuộc chiến tưởng như là để con chiến thắng các đam mê, cuối cùng lại là con đường Thiên Chúa dùng để chiến thắng chính con bằng tình yêu của Ngài. Ngài không chỉ lấy khỏi con nóng giận, tự ái, lười biếng hay ham danh. Ngài lấy dần khỏi con ảo tưởng rằng con thuộc về chính mình. Ngài dạy con buông vũ khí của sự tự lực để cầm lấy vũ khí của tín thác. Ngài làm cho con thôi hỏi: “Tôi đã tiến bộ đến đâu?” để bắt đầu hỏi: “Hôm nay tôi đã để Chúa sống trong tôi được bao nhiêu?” Và đó mới là chiến thắng sâu xa nhất.
Hãy kiên trì. Đừng sợ những trận đánh lặp đi lặp lại. Đừng sợ phải bắt đầu lại lần thứ một trăm. Đừng sợ nhìn thấy mình yếu. Chỉ sợ một điều: ngừng chiến đấu và sống hòa bình với điều đang ngăn con thuộc trọn về Chúa. Còn nếu con vẫn đứng dậy, vẫn cầu nguyện, vẫn chống lại, vẫn tập những hành vi nhỏ của nhân đức, vẫn trở về sau mỗi lần ngã, thì cuộc chiến chưa hề thất bại. Chính trong sự bền bỉ ấy, Chúa đang làm việc.
Con không thắng vì con mạnh.
Con thắng vì con biết mình yếu.
Con không thắng vì con không bao giờ ngã.
Con thắng vì sau mỗi lần ngã, con lại nắm lấy bàn tay Chúa.
Con không thắng vì đam mê không còn gào thét.
Con thắng khi giữa tiếng gào thét ấy, ý chí con vẫn nói được một lời nhỏ bé nhưng thật lòng:
“Lạy Chúa, con thuộc về Chúa. Xin Chúa chiến đấu trong con.”
Và khi lời ấy được lặp lại ngày này qua ngày khác, trong những trận chiến không ai nhìn thấy, trong những giọt nước mắt không ai biết, trong những lần im lặng không ai khen, trong những hy sinh không ai ghi nhận, thì từng chút một, rất chậm nhưng rất thật, con rắn ẩn náu trong lòng sẽ mất đất. Từng căn phòng sẽ được trao lại cho Chúa. Từng xiềng xích sẽ yếu đi. Từng nhân đức sẽ mọc lên như những mầm cây nhỏ trong đất sâu.
Cho đến một ngày, con sẽ hiểu rằng chính những cuộc chiến âm thầm ấy đã làm nên đời con.
Và chiến thắng cuối cùng không mang tên con.
Chiến thắng ấy mang một danh duy nhất:
ĐỨC GIÊSU KITÔ.
CHƯƠNG 16
PHẢI CHIẾM HỮU CÁC NHÂN ĐỨC MỘT CÁCH TUẦN TỰ, TỪNG CHÚT MỘT
Hỡi linh hồn đang sốt sắng muốn trở nên thánh thiện, đang mang trong mình một niềm khao khát chân thành muốn được biến đổi, muốn thoát khỏi những thói quen cũ, muốn thắng các đam mê, muốn yêu Chúa hơn, muốn cầu nguyện sâu hơn, muốn sống hiền lành hơn, khiêm nhường hơn, trong sạch hơn, thanh thoát hơn và bác ái hơn, con hãy lắng nghe cho kỹ lời khuyên này, vì đây là một trong những bí quyết rất đơn sơ nhưng vô cùng quan trọng của đời sống thiêng liêng: đừng muốn trở thành thánh trong một ngày; hãy bằng lòng để Thiên Chúa làm cho con nên thánh từng ngày một. Đừng muốn nhìn thấy ngay nơi mình tất cả những nhân đức mà con đọc được trong đời các thánh. Đừng muốn sáng nay còn là một người đầy những yếu đuối, mà chiều nay đã trở thành một linh hồn hoàn toàn bình an, hoàn toàn khiêm nhường, hoàn toàn thanh sạch, hoàn toàn yêu thương, hoàn toàn chết cho mình. Thiên Chúa có thể làm những phép lạ lớn lao trong một khoảnh khắc nếu Ngài muốn, nhưng con đường thông thường mà Ngài dùng để giáo dục một linh hồn lại là con đường của thời gian, của nhẫn nại, của những lần đứng lên sau sa ngã, của những hành vi nhỏ được lập đi lập lại, của những chiến thắng rất âm thầm mà chẳng ai biết ngoài Ngài. Một cây lớn không mọc lên trong một đêm. Một cánh đồng không chín ngay sau ngày gieo hạt. Một đứa trẻ không trưởng thành chỉ sau vài buổi học. Một nhạc công không làm chủ nhạc cụ sau vài lần cầm đàn. Một người lính không trở thành chiến binh dày dạn chỉ vì đã mặc áo giáp. Và cũng thế, một linh hồn không thể sở hữu vững chắc các nhân đức chỉ vì đã cảm động trong một giờ cầu nguyện, đã đọc một cuốn sách thiêng liêng, đã nghe một bài giảng đánh động, hay đã đưa ra một vài quyết tâm rất mạnh mẽ. Những khoảnh khắc sốt sắng có thể là một ân huệ quý giá, nhưng sốt sắng chưa phải là nhân đức. Cảm động chưa phải là biến đổi. Ước muốn điều thiện chưa có nghĩa là đã sở hữu điều thiện. Muốn khiêm nhường không có nghĩa là đã khiêm nhường. Muốn kiên nhẫn không có nghĩa là đã kiên nhẫn. Muốn chết cho mình không có nghĩa là cái tôi đã chết. Muốn yêu kẻ làm khổ mình không có nghĩa là trái tim đã được thanh luyện đủ để thực sự yêu người ấy. Nhân đức chỉ thực sự bén rễ khi một hành vi tốt được chọn lựa nhiều lần giữa những hoàn cảnh trái ý; khi sự lựa chọn ấy dần dần trở nên ổn định; khi điều trước kia phải cố gắng rất nhiều thì nay trở nên tự nhiên hơn; khi con không còn chỉ làm điều tốt trong lúc có cảm xúc, nhưng vẫn làm điều tốt khi khô khan, khi mệt mỏi, khi bị hiểu lầm, khi không ai nhìn thấy, khi không được khen, khi chẳng có phần thưởng tức thời nào. Chính lúc ấy nhân đức mới bắt đầu trở thành một phần của con người con. Và vì thế, nếu con thật sự muốn tiến trên đường hoàn thiện, con phải học một nghệ thuật mà người nóng vội rất khó học: nghệ thuật bằng lòng với một bước nhỏ nhưng thật, hơn là mơ một bước nhảy lớn nhưng không bền.
Nhiều linh hồn không thất bại vì họ thiếu lòng yêu Chúa. Họ thất bại vì họ không biết kiên nhẫn với công việc của ân sủng. Họ muốn thấy kết quả quá sớm. Họ vừa khám phá ra một tật xấu thì muốn ngày mai tật xấu ấy phải biến mất. Họ vừa nhận ra mình nóng tính thì muốn lập tức trở thành hiền lành. Họ vừa thấy mình tự ái thì muốn ngay tức khắc có sự khiêm nhường sâu xa của các thánh. Họ vừa thấy mình chia trí trong cầu nguyện thì muốn lập tức cầu nguyện như một nhà chiêm niệm. Họ vừa thấy mình còn dính bén với của cải, danh dự, tình cảm, ý riêng thì muốn trong một lần quyết tâm là mọi dây ràng buộc phải đứt hết. Chính vì muốn quá nhiều và quá nhanh, họ tự tạo ra cho mình một gánh nặng mà Thiên Chúa không hề đặt trên vai họ. Ban đầu họ rất sốt sắng. Họ lên chương trình: sáng dậy sớm, cầu nguyện dài, đọc sách thiêng liêng, xét mình nhiều lần, giữ im lặng, hãm mình trong ăn uống, kiểm soát ánh mắt, kiềm chế lời nói, làm việc bác ái, tập khiêm nhường, tập vâng phục, tập thanh thoát, tập nhẫn nhịn, tập hy sinh. Mọi thứ đều bắt đầu cùng một lúc. Trong vài ngày, có khi vài tuần, họ cảm thấy mình đang tiến thật nhanh. Nhưng rồi sức tự nhiên cạn dần. Những cảm xúc ban đầu biến mất. Một ngày mệt, một lần bị xúc phạm, một hoàn cảnh bất ngờ, một thất bại nhỏ xảy đến, và cả công trình tưởng như vững chắc bỗng sụp xuống. Khi ấy họ thất vọng về chính mình. Họ nói: “Tại sao tôi cố gắng nhiều như thế mà vẫn vậy?” Họ quên rằng họ đang đòi thu hoạch khi hạt giống vừa mới gieo. Họ muốn có quả trước khi cây mọc rễ. Họ muốn thành trì được xây xong khi móng còn chưa đào. Và nguy hiểm hơn nữa, từ thất vọng về chính mình, họ bắt đầu nghi ngờ ân sủng của Thiên Chúa. Họ nghĩ rằng có lẽ con đường nên thánh không dành cho mình, rằng mình là một trường hợp quá khó, quá bất trị, quá yếu đuối. Nhưng không, vấn đề không phải ở chỗ con yếu đuối quá. Vấn đề nhiều khi chỉ là con đã muốn đi nhanh hơn nhịp độ mà Thiên Chúa muốn dẫn con. Có những bước con tưởng là chậm, nhưng đối với Thiên Chúa lại là những bước rất chắc. Có những ngày con tưởng mình chẳng tiến được gì, nhưng chính trong những ngày ấy những chiếc rễ của nhân đức lại đang âm thầm đâm sâu vào lòng đất. Con không thấy vì công việc đó diễn ra bên trong. Người nông dân sau khi gieo hạt không đào đất lên mỗi sáng để xem hạt đã mọc chưa. Nếu ông làm thế, chính sự nóng lòng của ông sẽ giết chết mầm sống. Con cũng vậy. Đừng mỗi ngày đào bới linh hồn mình lên để hỏi: “Tôi đã thánh thiện hơn chưa? Tôi đã khiêm nhường chưa? Tôi đã bớt tự ái chưa? Tôi đã yêu Chúa đủ chưa?” Hãy làm điều con phải làm hôm nay, trung tín với việc nhỏ hôm nay, rồi để Thiên Chúa lo phần lớn lên.
Tại sao các nhân đức phải được chiếm hữu từng bước một? Trước hết, vì bản tính con người đã bị thương tích sâu xa. Những đam mê nơi con không phải chỉ mới xuất hiện ngày hôm qua. Nhiều khuynh hướng đã được nuôi dưỡng qua nhiều năm. Có những phản ứng đã trở thành gần như bản năng: vừa bị chạm tự ái là lập tức tự vệ; vừa nghe một lời trái ý là nóng lên; vừa gặp một người khó chịu là lòng lập tức khép lại; vừa có thời giờ trống là tìm sự dễ chịu; vừa cảm thấy mệt là muốn bỏ nhiệm vụ; vừa thấy người khác được khen là lòng xuất hiện một sự khó chịu kín đáo; vừa phạm lỗi là vội tìm lý do biện minh. Những phản xạ ấy được tạo thành bởi hàng trăm, hàng ngàn lần lặp đi lặp lại. Vậy thì con đừng ngạc nhiên nếu việc sửa chữa chúng cũng cần hàng trăm, hàng ngàn lần lựa chọn ngược lại. Một người đã quen nổi nóng trong hai mươi năm không thể chỉ đọc một bài về hiền lành rồi ngày mai không bao giờ nóng giận nữa. Một người đã quen tìm mình trong mọi sự không thể chỉ sau một tuần tập khiêm nhường mà cái tôi hoàn toàn biến mất. Một người đã quen nói nhiều không thể chỉ sau vài ngày quyết tâm mà có được sự thinh lặng nội tâm sâu xa. Một người đã nuông chiều giác quan lâu năm sẽ không thể lập tức cảm thấy mọi hy sinh trở nên dễ dàng. Ân sủng không phá hủy bản tính; ân sủng chữa lành, nâng đỡ và biến đổi bản tính. Mà chữa lành thường là một tiến trình. Có những vết thương sâu cần được rửa nhiều lần. Có những chiếc gai phải rút từ từ. Có những khúc gỗ cong phải được uốn từng chút một. Nếu uốn quá mạnh, nó gãy. Nếu kéo một chiếc cây non quá nhanh để bắt nó lớn, con chỉ làm đứt rễ nó. Thiên Chúa hiểu cấu trúc mong manh của linh hồn con hơn chính con hiểu mình. Ngài biết sức chịu đựng của con. Ngài biết lúc nào phải thúc, lúc nào phải chờ, lúc nào phải cất đi một an ủi, lúc nào phải cho một tia sáng, lúc nào để con thấy sự yếu đuối của mình, lúc nào cho con nếm một chiến thắng để nâng đỡ lòng can đảm. Hãy để Ngài làm Thầy.
Hơn nữa, việc tiến từng bước bảo vệ con khỏi một cạm bẫy rất tinh vi: sự kiêu ngạo thiêng liêng. Nếu chỉ sau một thời gian ngắn con có thể chiến thắng hết mọi đam mê, cầu nguyện sốt sắng, chịu đựng mọi xúc phạm, không còn bị cám dỗ, không còn phải chiến đấu, con rất dễ nghĩ rằng sự thánh thiện ấy là thành quả của con. Nhưng khi Thiên Chúa để con phải chiến đấu lâu năm với cùng một yếu đuối, để con nhiều lần thắng rồi lại thua, nhiều lần tưởng mình đã đi xa rồi bỗng thấy mình còn mong manh, Ngài đang dạy con một bài học mà không sách nào có thể dạy đủ: mọi điều tốt nơi con đều là ân sủng. Có những linh hồn phải mang một “cái gai” suốt nhiều năm không phải vì Thiên Chúa bỏ họ, mà vì chính cuộc chiến lâu dài ấy giữ họ trong khiêm nhường, giữ họ sát bên Chúa, ngăn họ khỏi trở nên tự mãn. Con muốn Thiên Chúa cất ngay một đam mê, nhưng Ngài có thể thấy rằng nếu đam mê ấy biến mất quá sớm, lòng kiêu ngạo sẽ mọc lên thay thế và nguy hiểm hơn nhiều. Con muốn hết chia trí, nhưng có thể chính những chia trí ấy đang làm con biết mình nghèo. Con muốn hết nóng nảy, nhưng có thể những lần vấp ngã rồi ăn năn đang dạy con dịu dàng với người khác. Con muốn không còn phải chiến đấu với sự tự ái, nhưng có thể cuộc chiến ấy đang làm con hiểu rằng con cần Chúa từng giờ. Vì thế, đừng chỉ hỏi: “Bao giờ Chúa mới cất điều này khỏi con?” Hãy hỏi: “Chúa muốn dạy con điều gì khi cho phép cuộc chiến này còn tiếp tục?”
Hỡi linh hồn, hãy nhớ một điều nữa: con không thể đánh mọi mặt trận với cùng một cường độ. Một vị tướng khôn ngoan không bao giờ dàn quân ngang nhau trên tất cả chiến tuyến. Ông tìm nơi quan trọng nhất, nơi yếu nhất, nơi nếu thắng sẽ ảnh hưởng đến toàn cục, và ông tập trung lực lượng ở đó. Trong đời sống nội tâm cũng vậy. Có thể con nhìn vào mình và thấy mười tật xấu, hai mươi thiếu sót, vô số điều phải sửa. Nếu con cố sửa tất cả trong một lúc, con sẽ hoang mang. Hôm nay con lo kiểm soát lời nói, vài phút sau lo chia trí, rồi lại nhớ mình phải khiêm nhường, rồi lại tự trách vì chưa bác ái, rồi lại nghĩ phải hãm mình, rồi lại lo phải siêng năng hơn. Tâm trí con trở thành một chiến trường hỗn loạn. Cuối ngày con thấy mình đã “cố rất nhiều” nhưng không biết thực sự đã luyện điều gì. Trái lại, nếu trong một giai đoạn con xác định rõ: “Điểm chiến đấu chính của tôi lúc này là sự nóng giận,” mọi biến cố trong ngày sẽ trở thành trường học của hiền lành. Mỗi lời trái ý sẽ là một bài tập. Mỗi người khó chịu sẽ là một người thầy. Mỗi lần bị hiểu sai sẽ là một cơ hội. Mỗi cơn bực mình nổi lên sẽ là tiếng chuông báo: đây là lúc thực hành nhân đức mà tôi đang học. Khi ấy cuộc chiến có hướng. Khi ấy việc xét mình có trọng tâm. Khi ấy lời cầu nguyện trở nên cụ thể. Khi ấy con biết phải xin Chúa điều gì. Và chính bằng cách đó nhân đức dần được xây dựng.
Vậy phải chọn nhân đức nào trước? Đừng chọn theo sở thích. Có những người thích đọc về những nhân đức cao siêu bởi vì chúng làm họ cảm động: chiêm niệm, từ bỏ hoàn toàn, yêu mến thập giá, kết hợp mật thiết với Chúa, lòng nhiệt thành truyền giáo, tinh thần tử đạo. Những điều ấy rất đẹp. Nhưng nếu con còn nổi nóng mỗi khi bị trái ý, còn không chịu nổi một lời phê bình, còn thường xuyên nói xấu người khác, còn không giữ được bổn phận nhỏ, còn tìm lời khen, còn nuôi giận trong lòng, thì có lẽ điều Chúa muốn con học hôm nay không phải là những trạng thái thiêng liêng cao siêu, mà là biết im miệng khi muốn nói một lời gây tổn thương. Đừng ham xây mái nhà khi móng chưa xong. Đừng ham trang trí cửa sổ khi tường còn chưa đứng. Đời sống thiêng liêng có một trật tự. Đôi khi hành vi nên thánh nhất trong ngày của con không phải là đọc thêm một giờ kinh, mà là trả lời hiền lành với một người đang làm phiền. Không phải là tìm một việc hãm mình lạ thường, mà là chấp nhận món ăn không hợp khẩu vị mà không than phiền. Không phải là xin Chúa cho mình những cảm nghiệm sâu xa, mà là làm công việc bổn phận đang ngán ngẩm cho đến nơi đến chốn. Không phải là nói những lời sốt sắng về lòng mến, mà là thôi nhắc lại lỗi của một người đã làm mình tổn thương.
Hãy chọn nhân đức qua vết thương đang đau nhất. Hãy nhìn vào nơi con thường xuyên mất bình an. Hãy nhìn vào những thất bại cứ lặp đi lặp lại. Hãy nghe những lời nhận xét mà người khác đã nói với con nhiều lần, nhất là những lời làm con khó chịu nhất. Có thể chính điều con không muốn nghe lại là nơi Thiên Chúa đang chỉ ngón tay vào. Nếu nhiều người đã từng nói con khó gần, đừng vội cho rằng tất cả đều hiểu lầm. Nếu con thường xuyên xung đột vì muốn người khác làm theo ý con, có lẽ Chúa đang gọi con học sự hiền lành và từ bỏ ý riêng. Nếu con hay bị tổn thương vì người khác không công nhận mình, có thể nhân đức con cần tập là khiêm nhường. Nếu con luôn bắt đầu nhiều việc mà ít hoàn tất, có thể điều phải xây là sự kiên trì. Nếu con thường trì hoãn, đừng mơ tới những hy sinh lớn; hãy tập làm ngay bổn phận nhỏ. Nếu con hay nói về khuyết điểm người khác, hãy tập bác ái trong lời nói. Nếu con dính bén với điện thoại, sự dễ chịu, đồ ăn, nghỉ ngơi, hãy tập tiết độ. Nếu con luôn lo lắng muốn kiểm soát mọi chuyện, có lẽ điều Chúa đang dạy con là tín thác. Nếu con không chịu được sự chậm chạp của người khác, hãy tập nhẫn nại. Nếu con dễ ghen tị, hãy tập vui với điều tốt của người khác. Nếu con hay tự biện hộ, hãy tập nhận lỗi. Nếu con hay cần người khác hiểu mình, hãy tập chịu bị hiểu lầm mà không lập tức chạy đi thanh minh.
Trong mọi trường hợp, hai nhân đức cần được đặc biệt quan tâm là khiêm nhường và bác ái, bởi một nhân đức là nền móng và nhân đức kia là cùng đích. Khiêm nhường làm con đứng đúng vị trí trước Thiên Chúa; bác ái làm con sống đúng tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Không có khiêm nhường, ngay cả những điều tốt con làm cũng dễ bị cái tôi chiếm đoạt. Con cầu nguyện và thấy mình đạo đức hơn. Con hãm mình và thấy mình mạnh hơn. Con phục vụ và chờ người khác biết ơn. Con giảng dạy và muốn được ngưỡng mộ. Con chịu khó và âm thầm so sánh mình với người kém nhiệt thành hơn. Khiêm nhường chặt đứt những rễ ấy. Nhưng khiêm nhường thật không phải là nói xấu mình, không phải là tự coi mình vô giá trị, không phải là sợ làm việc lớn, cũng không phải là chối bỏ những ân huệ Chúa đã ban. Khiêm nhường thật là biết mọi sự tốt nơi mình đều đến từ Chúa, biết mình có thể sa ngã nếu không có ân sủng, biết người khác có những điều mà mình không thấy, biết mình không phải trung tâm của thế giới, biết mình không cần phải thắng trong mọi cuộc tranh luận, không cần được công nhận trong mọi việc, không cần được hiểu trong mọi lúc. Một trong những bài tập khiêm nhường rất mạnh là biết để cho người khác được đúng trong những việc không quan trọng. Một bài tập khác là nhận lỗi mà không thêm chữ “nhưng”. “Tôi sai, nhưng vì…” thường vẫn còn là cái tôi tìm đường thoát. Hãy thử nói đơn giản: “Tôi đã sai. Xin lỗi.” Một câu ngắn ấy có thể là cả một cuộc tử đạo đối với lòng tự ái.
Còn bác ái là thước đo cuối cùng. Con có thể biết nhiều, làm nhiều, nói hay, giữ luật nghiêm, cầu nguyện lâu, nhưng nếu con làm người bên cạnh thấy lạnh lẽo, nếu lời con thường xuyên gây thương tích, nếu con giữ trong lòng sự khinh thường, nếu con vui thầm khi người mình không thích thất bại, nếu con không chịu tha thứ, nếu con chỉ tử tế với người tử tế với mình, thì cuộc chiến nội tâm vẫn còn rất xa đích. Bác ái không phải là một cảm xúc dịu dàng. Bác ái là quyết định tìm điều tốt cho người khác ngay cả khi cảm xúc không thuận. Có thể con không “thích” một người, nhưng vẫn có thể không nói xấu họ. Có thể con chưa cảm thấy yêu người ấy, nhưng vẫn có thể cầu nguyện cho họ. Có thể con thấy họ khó chịu, nhưng vẫn có thể trả lời lễ độ. Có thể con không muốn gần họ, nhưng vẫn có thể giúp khi họ cần. Mỗi hành vi nhỏ ấy là một viên đá xây lòng bác ái.
Khi đã chọn một nhân đức, đừng nói những câu quá lớn. “Từ nay tôi sẽ không bao giờ nóng giận nữa.” “Từ nay tôi sẽ hoàn toàn khiêm nhường.” “Từ hôm nay tôi sẽ không bao giờ nói một lời vô ích.” Những quyết tâm ấy nghe rất đẹp, nhưng thường là dấu hiệu cho thấy con chưa hiểu sự yếu đuối của mình. Hãy nhỏ hơn. Hãy cụ thể hơn. Nếu đang tập hiền lành, hãy nói: “Hôm nay, khi bị trái ý, tôi sẽ cố trì hoãn phản ứng trong mười giây và thầm thưa: Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin làm cho lòng con nên giống Trái Tim Chúa.” Nếu đang tập khiêm nhường, hãy nói: “Hôm nay tôi sẽ không kể lại một việc tốt mình đã làm nếu không cần thiết.” Nếu đang tập bác ái, hãy nói: “Hôm nay tôi sẽ không nói một điều tiêu cực về người vắng mặt.” Nếu đang tập kiên nhẫn, hãy nói: “Khi phải chờ, tôi sẽ không than phiền.” Nếu đang tập tiết độ, hãy nói: “Khi muốn kiểm tra điện thoại không cần thiết, tôi sẽ trì hoãn năm phút.” Nếu đang tập vâng phục, hãy nói: “Khi nhận một chỉ dẫn hợp lý mà tôi không thích, tôi sẽ làm trước rồi mới xét cảm xúc sau.” Nếu đang tập chuyên cần, hãy nói: “Việc gì đã đến giờ, tôi sẽ bắt đầu ngay, không thương lượng với sự lười biếng.” Đây là những hành vi nhỏ, nhưng chính ở đây nhân đức được sinh ra.
Con có biết một nhân đức được hình thành như thế nào không? Ban đầu, hành vi tốt rất khó. Nó giống như đi ngược dòng nước. Mỗi lần phải lựa chọn, con cảm thấy cả bản tính cũ phản đối. Muốn im lặng nhưng miệng ngứa ngáy muốn nói. Muốn tha thứ nhưng lòng cứ nhắc lại vết thương. Muốn đứng dậy làm việc nhưng thân xác đòi thêm vài phút. Muốn nhận lỗi nhưng cái tôi dựng lên hàng chục lý do. Muốn cầu nguyện nhưng trí óc tìm đủ cớ để bỏ. Nếu con vẫn chọn điều thiện, dù rất khó, con đã đặt viên gạch đầu tiên. Lần sau vẫn khó, nhưng hơi bớt một chút. Rồi lần nữa. Rồi lần nữa. Dần dần, một lối mòn mới xuất hiện trong linh hồn. Trước kia con phản ứng theo đam mê gần như tự động; bây giờ giữa kích thích và phản ứng xuất hiện một khoảng trống nhỏ, và trong khoảng trống ấy con có thể chọn. Đó là dấu hiệu tuyệt vời. Rồi theo thời gian, điều tốt vốn khó bắt đầu trở nên quen. Con không còn phải chiến đấu dữ dội mỗi lần. Nhân đức đang thành hình. Nhưng đừng lầm tưởng: vì đã dễ hơn nên không cần cảnh giác. Một thói quen cũ có thể ngủ rất lâu rồi bất chợt trỗi dậy. Hãy khiêm nhường.
Điều vô cùng quan trọng là con phải biết đánh giá những chiến thắng nhỏ. Không phải để tự mãn, nhưng để nhận ra ân sủng đang hoạt động. Hôm qua một lời xúc phạm làm con nổi giận cả ngày; hôm nay con chỉ bực nửa giờ rồi biết trở lại bình an. Đừng nói: “Tôi vẫn còn giận, chẳng tiến gì cả.” Hãy nhận ra rằng nửa giờ thay vì một ngày đã là một bước. Trước kia con nói ra mười câu cay nghiệt; hôm nay con nói hai câu rồi dừng. Chưa hoàn hảo, nhưng đã có chiến đấu. Trước kia con sa ngã vào một thói quen xấu mỗi ngày; nay còn ba lần một tuần. Đó không phải lý do để bằng lòng với tật xấu, nhưng là lý do để tạ ơn vì ân sủng đang làm việc. Thiên Chúa không coi thường những bước tiến nhỏ. Tại sao con lại coi thường? Một đứa trẻ tập đi ngã mười lần, nhưng người cha không bảo: “Con vô dụng quá, thôi đừng đi nữa.” Ông vui vì nó đã đứng lên được vài bước. Và Thiên Chúa còn nhân hậu hơn bất cứ người cha trần gian nào.
Hãy đặc biệt cẩn thận với sự thiếu kiên nhẫn đối với chính mình, bởi nó thường đội lốt lòng đạo đức. Có người sau khi sa ngã rất buồn và tưởng nỗi buồn ấy là vì đã xúc phạm Chúa. Nhưng nếu nhìn sâu, họ buồn chủ yếu vì hình ảnh tốt đẹp họ có về mình bị vỡ. Họ nghĩ: “Tôi đã tu tập bao lâu mà còn phạm lỗi này sao? Tôi đã quyết tâm như vậy mà vẫn thất bại sao?” Trong câu hỏi ấy có thể ẩn một giả định rất kiêu ngạo: “Lẽ ra tôi phải mạnh hơn thế.” Nhưng tại sao con nghĩ con phải mạnh, nếu sức mạnh không đến từ Chúa? Một linh hồn thật sự khiêm nhường sau khi sa ngã sẽ đau buồn vì đã làm mất lòng Chúa, nhưng không ngạc nhiên quá mức về sự yếu đuối của mình. Nó nói: “Lạy Chúa, con lại thấy con là ai nếu không có Chúa. Xin tha thứ cho con. Xin kéo con đứng lên. Con bắt đầu lại.” Rồi nó bước tiếp. Ma quỷ rất thích hai điều: hoặc làm con phạm tội, hoặc nếu không ngăn được con ăn năn thì làm con mất hàng giờ, hàng ngày chìm trong thất vọng vì đã phạm tội. Đừng cho nó chiến thắng lần thứ hai.
Hãy nhớ: một hành vi nhỏ được làm trung tín mỗi ngày có sức mạnh hơn những đợt sốt sắng lớn nhưng thất thường. Một người mỗi ngày hy sinh một lời đáp trả có thể sau vài năm trở nên hiền lành thật. Một người mỗi ngày dẹp đi một lời khoe khoang có thể dần trở nên khiêm tốn. Một người mỗi ngày dành thời gian trung thành cho cầu nguyện dù khô khan có thể có đời sống nội tâm sâu hơn người thỉnh thoảng cầu nguyện rất lâu trong cảm xúc mạnh. Một người mỗi ngày hoàn tất bổn phận nhỏ có thể tiến xa hơn người thích những dự án lớn nhưng thường bỏ dở. Nên thánh không phải là sống bằng những cao trào. Nên thánh phần lớn là sự trung thành trong điều bình thường. Thiên Chúa thường giấu những ân sủng lớn nhất trong những việc không ai chú ý. Một cái nhìn được hãm lại. Một câu không nói. Một lời xin lỗi. Một sự nhường nhịn. Một phút đứng dậy đúng giờ. Một món ăn chấp nhận không than phiền. Một công việc làm kỹ dù không ai kiểm tra. Một lời cầu nguyện cho người làm mình đau. Một quyết định không kể lại câu chuyện khiến người khác bị hạ thấp. Những điều ấy nhỏ trước mắt thế gian, nhưng có thể rất lớn trước mặt Thiên Chúa.
Con cũng đừng so sánh nhịp độ của mình với người khác. Đây là một trong những nguồn gây nản chí nguy hiểm nhất. Con nhìn một người hiền lành tự nhiên và nghĩ: “Tại sao tôi không được như vậy?” Nhưng con đâu biết tính khí của họ, lịch sử của họ, ân sủng Chúa ban cho họ, cuộc chiến bí mật của họ. Có thể sự hiền lành đối với họ dễ, nhưng họ phải chiến đấu ở một nơi khác mà con không thấy. Có người cầu nguyện dễ dàng nhưng rất khó vâng phục. Có người rất quảng đại trong công việc nhưng khó chịu khi bị sửa lỗi. Có người sống thanh bần bên ngoài nhưng lại bám chặt vào danh dự. Có người nói ít nhưng bên trong đầy phán xét. Có người có vẻ chậm tiến nhưng đang chiến đấu anh dũng với những vết thương rất sâu. Con không biết. Vì thế đừng lấy đời người khác làm thước đo cho hành trình của con. Thước đo của con là sự trung tín với ánh sáng Chúa ban cho con hôm nay.
Có những linh hồn tiến rất nhanh trong một giai đoạn rồi dường như đứng lại. Có người tiến chậm nhưng bền. Có người được Chúa cho nhiều an ủi lúc đầu rồi sau đó bước vào một sa mạc dài. Có người ban đầu đầy đấu tranh, nhưng càng về sau càng bình an. Ân sủng có đường riêng. Điều quan trọng không phải là cảm thấy mình đang tiến, mà là không ngừng trở lại với Chúa. Một con thuyền đi giữa sương mù có thể không thấy bờ, nhưng nếu la bàn vẫn đúng thì nó vẫn đang đi đúng hướng.
Khi luyện một nhân đức, hãy kết hợp cả bốn khí giới mà con đã học. Trước hết là bất tín nhiệm vào chính mình. Đừng bao giờ nói: “Tôi sẽ thắng vì từ nay tôi quyết tâm mạnh.” Hãy nói: “Nếu Chúa không giữ con, con có thể sa ngã ngay trong giờ này.” Sự bất tín nhiệm ấy không làm con yếu đi; nó làm con tỉnh thức. Người biết mình dễ ngã sẽ bước cẩn thận. Người nghĩ mình không thể ngã mới là người đang nguy hiểm. Thứ hai, hãy tín thác vào Thiên Chúa. Đừng nhìn độ mạnh của đam mê mà quên độ mạnh của ân sủng. Con nóng giận mạnh ư? Ân sủng Chúa mạnh hơn. Tính tự ái đã tồn tại ba mươi năm ư? Thiên Chúa không bị giới hạn bởi ba mươi năm ấy. Con đã thất bại hàng trăm lần ư? Lòng thương xót Chúa không mệt vì lần thứ một trăm lẻ một. Thứ ba, hãy luyện tập các năng lực hồn xác. Muốn hiền lành thì phải tập giọng nói hiền lành. Muốn khiêm nhường thì phải tập cử chỉ nhường chỗ. Muốn thanh sạch thì phải giữ mắt. Muốn tiết độ thì phải điều chỉnh việc ăn, ngủ, dùng điện thoại, nghỉ ngơi. Đừng tưởng nhân đức chỉ ở trong ý nghĩ. Thân xác phải được đưa vào cuộc chiến. Thứ tư, cầu nguyện. Không một nhân đức Kitô giáo nào có thể sống lâu nếu tách khỏi cầu nguyện. Cầu nguyện không thay thế nỗ lực, nhưng ban linh hồn cho nỗ lực.
Một cách rất hữu ích là vào buổi sáng, sau khi cầu nguyện, con hãy nhớ đến nhân đức mình đang tập và hình dung trước những hoàn cảnh có thể xảy ra. Nếu đang tập kiên nhẫn, hãy tự hỏi: “Hôm nay ai hoặc điều gì có thể làm tôi khó chịu?” Rồi chuẩn bị trước. Nếu đang tập bác ái, hãy nghĩ đến người con thường thấy khó yêu và quyết định một hành vi cụ thể. Nếu đang tập khiêm nhường, hãy nhớ rằng có thể con sẽ bị phê bình; chuẩn bị tâm hồn để không lập tức tự vệ. Nếu đang tập chuyên cần, hãy xác định một việc con hay trì hoãn và làm sớm. Sự chuẩn bị này rất quan trọng, bởi chiến binh không đợi mũi tên bay đến mới tìm khiên.
Trong ngày, đừng cố suy nghĩ liên tục về nhân đức. Chỉ cần có một lời nguyện ngắn làm mốc: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin đổi lòng con.” “Lạy Chúa, xin cho con yêu người này vì Chúa.” “Lạy Chúa, xin cho con biết chết cho ý riêng.” “Lạy Chúa, xin giữ con trung tín trong việc nhỏ.” Một lời nguyện nhỏ được lặp lại giữa lúc chiến đấu có thể mạnh hơn nhiều suy nghĩ dài dòng.
Buổi tối, xét mình cũng phải cụ thể. Đừng chỉ hỏi: “Hôm nay tôi có tốt không?” Câu hỏi ấy quá mơ hồ. Hãy hỏi: “Hôm nay có những cơ hội nào để thực hành nhân đức tôi đang tập? Tôi đã phản ứng thế nào? Tôi thắng ở đâu? Tôi ngã ở đâu? Nguyên nhân là gì? Ngày mai tôi sẽ điều chỉnh điều gì?” Nếu đang tập im lặng, hãy nhớ những lúc đã nói quá. Nếu đang tập bác ái, hãy nhớ những lúc lòng đã phán xét. Nếu đang tập khiêm nhường, hãy nhận ra những lúc tìm tiếng khen. Nhưng hãy xét mình dưới ánh mắt Chúa, không phải dưới ngọn roi của sự ám ảnh. Xét mình để hiểu và sửa, không phải để hành hạ mình.
Đừng thay đổi nhân đức quá nhanh. Đây cũng là một cám dỗ. Sau vài ngày tập khiêm nhường, con đọc một bài về kiên nhẫn và thấy hay, lập tức bỏ khiêm nhường sang kiên nhẫn. Ba ngày sau nghe giảng về bác ái, lại chuyển sang bác ái. Tuần sau đọc về thinh lặng, lại tập thinh lặng. Kết quả là con đào rất nhiều cái giếng nhưng không cái nào đủ sâu để có nước. Hãy ở lại đủ lâu với một điểm. Cho phép nó đi vào xương thịt. Đôi khi cần vài tuần. Đôi khi vài tháng. Có khi một nhân đức nền tảng phải là chủ đề chiến đấu suốt nhiều năm.
Bao giờ mới biết đã đến lúc chuyển sang điểm khác? Không phải khi con “hoàn hảo”, bởi ở đời này chẳng có nhân đức nào mà con không cần tiếp tục canh giữ. Nhưng có thể chuyển trọng tâm khi điều từng làm con thường xuyên ngã nay không còn thống trị như trước, khi phản ứng mới đã bắt đầu trở thành khá tự nhiên, khi con không phải huy động toàn bộ sức lực mỗi lần thực hành, và khi một điểm khác bắt đầu xuất hiện rõ ràng hơn trong ánh sáng của việc xét mình, cầu nguyện hoặc lời hướng dẫn khôn ngoan. Khi đó, nhân đức cũ không bị bỏ; nó trở thành một phần của nền móng và vẫn được duy trì bằng những hành vi nhỏ.
Có một điều rất đẹp xảy ra khi con tập trung nghiêm túc vào một nhân đức: các nhân đức khác cũng âm thầm lớn theo. Vì các nhân đức không đứng riêng lẻ như những căn phòng đóng kín. Chúng liên kết với nhau. Khi tập khiêm nhường, con đồng thời học nhẫn nại, vì người khiêm nhường dễ chịu bị sửa. Khi tập bác ái, con học tiết chế lời nói. Khi tập vâng phục, con học từ bỏ ý riêng. Khi tập chuyên cần, con học hy sinh. Khi tập thanh thoát, con học tín thác. Vì thế con không cần sợ rằng tập một điều sẽ bỏ quên những điều khác. Tập đúng một nhân đức có thể kéo theo nhiều nhân đức khác.
Hãy cẩn thận với một sai lầm khác: đếm hành vi như thể đang thu thập thành tích. Ba việc khiêm nhường hôm nay, bốn hy sinh ngày mai, năm lần im lặng hôm sau. Việc đặt những mục tiêu cụ thể rất hữu ích, nhưng nếu không tỉnh thức, cái tôi sẽ biến cả công việc nên thánh thành một bảng thành tích. Con sẽ bắt đầu cảm thấy vui vì “hôm nay tôi làm được nhiều,” buồn vì “hôm nay làm ít,” rồi so sánh, tự hào, tự kết án. Mục tiêu của những hành vi không phải để con chứng minh mình mạnh, nhưng để tình yêu Chúa có hình hài trong đời con. Vì thế, mỗi hành vi nhân đức hãy được làm trong tinh thần dâng hiến: “Lạy Chúa, con làm việc này vì Chúa. Không phải để thấy mình tốt. Không phải để cảm thấy mình tiến bộ. Không phải để có một câu chuyện đẹp về bản thân. Chỉ vì Chúa đáng được yêu.”
Nếu có ngày con không làm được điều gì như dự định thì sao? Hãy bắt đầu lại ngày hôm sau. Đừng biến một ngày thất bại thành một tuần thất bại. Một trong những nghệ thuật lớn nhất của đời sống thiêng liêng là nghệ thuật bắt đầu lại nhanh. Ma quỷ nói: “Hôm nay mày hỏng rồi, thôi mai tính.” Con hãy đáp: “Không. Ngay hành vi kế tiếp tôi sẽ bắt đầu lại.” Con vừa nóng giận? Hãy dịu dàng ngay câu nói kế tiếp. Con vừa nói xấu? Hãy im lặng ngay từ phút sau. Con vừa trì hoãn cả buổi sáng? Hãy làm ngay việc đầu tiên của buổi chiều. Con vừa sa vào một lỗi? Hãy xin lỗi Chúa, đứng lên. Người thánh không nhất thiết là người không bao giờ ngã; thường là người không để một lần ngã quyết định phần còn lại của hành trình.
Có những lúc con sẽ cảm thấy mình lùi. Những đam mê tưởng đã yếu bỗng trở lại mạnh. Đừng hoảng. Một nhân đức đang hình thành không có nghĩa là mọi cám dỗ biến mất. Có thể Thiên Chúa cho phép một cơn thử thách mạnh hơn để cho con thấy nhân đức của mình có thật hay chỉ sống nhờ hoàn cảnh thuận lợi. Một người tưởng mình kiên nhẫn vì suốt một tháng chẳng ai làm phiền. Chưa chắc. Đến khi gặp một người thực sự làm họ khó chịu, sự kiên nhẫn mới được thử lửa. Một người tưởng mình thanh thoát vì không có gì để mất. Đến khi phải mất điều mình yêu, sự thanh thoát mới lộ ra. Một người tưởng mình khiêm nhường vì không ai phê bình. Khi một lời phê bình oan xuất hiện, nền móng mới được thử. Đừng sợ những thử thách ấy. Chính chúng làm nhân đức từ lý thuyết trở thành thực chất.
Đặc biệt, đừng mong cảm thấy nhân đức. Con có thể thực hành nhẫn nại mà bên trong vẫn rất khó chịu. Đó vẫn là nhẫn nại. Con có thể tha thứ bằng ý chí trong khi cảm xúc chưa bình an. Đó vẫn là một bước thật. Con có thể làm điều bác ái trong khi lòng chưa có cảm tình. Hành vi ấy vẫn có giá trị. Nhân đức không đồng nhất với cảm xúc. Có khi sự hiền lành quý giá nhất là lúc trong lòng con đang sôi lên nhưng miệng vẫn chọn nói dịu dàng. Có khi sự trung tín đẹp nhất là lúc con chẳng muốn cầu nguyện nhưng vẫn quỳ xuống. Có khi sự thanh sạch mạnh nhất là lúc cám dỗ dữ dội mà ý chí vẫn nói “không”. Có khi sự khiêm nhường sâu nhất là lúc con rất muốn biện hộ nhưng chấp nhận im lặng vì biết rằng không cần thiết. Thiên Chúa nhìn thấy khoảng cách giữa điều con cảm và điều con chọn; chính khoảng cách ấy nhiều khi là nơi tình yêu trở nên tinh tuyền.
Con đường tuần tự còn có một ích lợi lớn: nó làm cho con trở nên nhân hậu với người khác. Khi con nhận ra chính mình phải mất nhiều tháng, nhiều năm để sửa một thói quen, con sẽ bớt khắt khe với người đang chiến đấu. Con sẽ không còn nói: “Sao người ấy không thay đổi đi?” Bởi con biết thay đổi thật khó. Con sẽ bớt nóng lòng với những người chậm chạp. Con sẽ ít phán xét những người còn lặp lại lỗi cũ. Con sẽ hiểu rằng có những cuộc chiến họ đang đánh mà con không biết. Và như thế, chính sự chậm chạp của hành trình con có thể trở thành trường học của lòng thương xót.
Hỡi linh hồn, đừng khinh thường đời sống bình thường. Đừng nghĩ rằng nên thánh phải luôn gắn với những hành vi phi thường. Những nhân đức lớn được xây từ những điều rất nhỏ. Một người trở nên đáng tin vì đã giữ hàng ngàn lời hứa nhỏ. Một người trở nên hiền lành vì đã nuốt hàng ngàn câu đáp trả. Một người trở nên khiêm nhường vì đã chấp nhận hàng ngàn lần không được nhìn nhận. Một người trở nên bác ái vì đã thực hiện hàng ngàn cử chỉ mà không ai ghi nhớ. Một người trở nên trung tín vì đã đứng dậy hàng ngàn buổi sáng để làm điều mình phải làm, cả khi không muốn. Một người trở thành người của cầu nguyện vì đã dành cho Chúa hàng ngàn khoảng thời gian có khi rất khô khan. Những chữ “hàng ngàn” ấy được tạo bởi từng “một” nhỏ bé.
Đừng hỏi: “Tôi có thể làm điều gì vĩ đại cho Chúa?” trước khi hỏi: “Điều gì nhỏ bé Chúa đang muốn tôi làm ngay bây giờ?” Có thể điều lớn nhất lúc này là đóng cửa nhẹ nhàng để không làm phiền người khác. Có thể là trả lời một tin nhắn cần thiết mà con đã trì hoãn. Có thể là dọn lại nơi mình làm việc. Có thể là lắng nghe một người già kể lại câu chuyện họ đã kể nhiều lần. Có thể là không sửa một lỗi nhỏ của người khác chỉ để chứng minh mình đúng. Có thể là không ăn thêm một chút vì chỉ muốn chiều khẩu vị. Có thể là tắt màn hình và đi ngủ đúng giờ. Có thể là cầu nguyện năm phút thật lòng thay vì mơ một giờ cầu nguyện lý tưởng nhưng không bao giờ thực hiện. Chính trong những điều nhỏ ấy linh hồn được huấn luyện để nói “xin vâng” với Thiên Chúa.
Và khi con tiến từng chút một, đừng nhìn mãi vào bản thân. Nếu cứ đo nhân đức của mình, con sẽ mệt. Hãy nhìn Chúa Giêsu. Nếu tập khiêm nhường, hãy nhìn Ngài im lặng trước những lời cáo gian. Nếu tập bác ái, hãy nhìn Ngài rửa chân cho các môn đệ, kể cả người sẽ phản bội. Nếu tập vâng phục, hãy nhìn Ngài trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Nếu tập thanh bần, hãy nhìn máng cỏ và thập giá. Nếu tập nhẫn nại, hãy nhìn những năm tháng Ngài chịu sự chậm hiểu của các môn đệ. Nếu tập tha thứ, hãy nghe lời từ thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đừng biến nhân đức thành một dự án hoàn thiện bản thân. Nhân đức Kitô giáo không phải là con tự nhào nặn mình thành một phiên bản hoàn hảo hơn; đó là để Đức Kitô dần dần thành hình nơi con.
Vì thế, mỗi sáng có thể con chỉ cần thưa: “Lạy Chúa, hôm nay xin cho con tập một điều thôi. Xin đừng để con chạy theo những chương trình lớn. Xin cho con nhận ra cơ hội nhỏ Chúa đặt trước mặt con. Xin cho con trung tín.” Và buổi tối: “Lạy Chúa, con đã làm được một chút nhờ ơn Chúa; con đã thất bại nhiều chỗ vì sự yếu đuối của con. Con giao tất cả cho lòng thương xót Chúa. Ngày mai chúng ta lại bắt đầu.”
Có thể con hỏi: “Nếu đời tôi ngắn ngủi mà tiến chậm như vậy thì bao giờ mới nên thánh?” Câu hỏi ấy vẫn còn đặt trọng tâm vào việc con phải tự hoàn thành công trình. Hãy nhớ: chính Thiên Chúa thánh hóa con. Việc của con là cộng tác trung thành hôm nay. Nếu Ngài thấy con thực sự dâng mình cho Ngài, Ngài có thể hoàn tất trong một thời gian ngắn điều mà tự con không thể làm trong nhiều năm. Nhưng Ngài muốn con học trung tín. Ngài muốn con thôi mặc cả với thời gian. Ngài muốn con yêu Ngài trong hành vi hôm nay, không phải trong hình ảnh tưởng tượng về con người hoàn thiện của tương lai.
Đôi khi chính việc muốn “sớm nên thánh” lại là một hình thức tinh vi của việc muốn sở hữu sự thánh thiện. Con muốn có nhân đức để thấy mình an toàn, thấy mình tốt, thấy mình đạt được điều gì đó. Nhưng Thiên Chúa không chỉ muốn con có nhân đức; Ngài muốn có con. Có khi Ngài để con luôn thấy mình nghèo để con không bao giờ thôi tìm Ngài. Có khi Ngài làm chậm tiến trình để lòng con hết yêu sự hoàn hảo của mình và bắt đầu yêu chính Ngài. Đây là một thanh luyện rất sâu.
Hỡi linh hồn, con hãy can đảm. Nếu hôm nay con chỉ tiến được một bước, hãy đi bước ấy. Nếu ngày mai chỉ đi được nửa bước, hãy đi nửa bước ấy. Nếu ngày kia con ngã, hãy đứng lên. Nếu có giai đoạn dường như con phải học lại một bài cũ, hãy học lại. Đừng xấu hổ. Trong trường học của Thiên Chúa không có bài học nào bị lặp lại vô ích nếu con học với lòng khiêm nhường. Có những bài phải học suốt đời: yêu, tha thứ, phó thác, vâng phục, chết cho mình.
Đừng nói: “Bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn còn tật này.” Hãy hỏi: “Bao nhiêu năm qua, Chúa đã kiên nhẫn với tôi biết bao?” Đừng chỉ thấy cái còn thiếu. Hãy nhớ những gì ân sủng đã làm. Có thể con vẫn nóng, nhưng đã biết xin lỗi. Có thể con vẫn yếu, nhưng đã biết chạy đến với Chúa. Có thể con vẫn tự ái, nhưng đã bắt đầu nhận ra nó. Ngày xưa con còn không nhận ra. Có thể con vẫn bị cám dỗ, nhưng bây giờ con chiến đấu sớm hơn. Có thể con vẫn ngã, nhưng không ở lì dưới đất như trước. Tất cả những điều ấy là dấu vết của ân sủng.
Và nếu sau nhiều năm con vẫn thấy mình nghèo, đừng sợ. Có thể đó chính là sự nghèo mà Thiên Chúa muốn để con bước vào Nước Trời với đôi tay trống. Đừng yêu nhân đức hơn Đấng ban nhân đức. Đừng yêu sự hoàn hảo của mình hơn Thiên Chúa. Đừng tìm một trạng thái nơi con không còn cần Ngài. Đích điểm của đời sống thiêng liêng không phải là một ngày con có thể nói: “Tôi đã đủ mạnh.” Nhưng là ngày con có thể nói với bình an sâu xa: “Lạy Chúa, con chẳng có gì ngoài Chúa, và Chúa là đủ cho con.”
Bởi vậy, hãy xây từng viên gạch. Hôm nay một lời hiền lành. Ngày mai một lần im lặng. Hôm khác một sự nhường nhịn. Một ngày khác một lần đứng dậy ngay khi phải đứng dậy. Một lần giữ mắt. Một lần giữ lưỡi. Một lần bỏ ý riêng. Một lần không tìm lời khen. Một lần tha thứ. Một lần bắt đầu lại. Chậm thôi. Nhưng thật. Nhỏ thôi. Nhưng bền. Âm thầm thôi. Nhưng vì Chúa.
Rồi một ngày con sẽ nhìn lại và ngạc nhiên. Không phải vì con đã làm được những điều phi thường, mà vì ân sủng đã dùng hàng ngàn điều bình thường để biến đổi con. Con sẽ thấy người nóng nảy ngày xưa đã dịu hơn. Người luôn cần được công nhận đã biết sống ẩn mình hơn. Người sợ hy sinh đã biết cho đi. Người dễ tuyệt vọng đã biết tín thác. Người chỉ nghĩ đến mình đã biết nghĩ đến người khác. Sự biến đổi ấy không đến như tia chớp. Nó đến như bình minh: ánh sáng tăng từng chút, đến một lúc con mới nhận ra đêm đã qua từ bao giờ.
Hỡi linh hồn, đừng chạy. Hãy đi với Chúa. Đừng muốn vượt qua con đường. Hãy để mỗi bước trở thành một cuộc gặp gỡ. Đừng xem sự chậm chạp của mình như một tai họa. Nếu nó làm con khiêm nhường hơn, cầu nguyện hơn, tín thác hơn, thì chính sự chậm chạp ấy đang phục vụ việc nên thánh của con.
Hãy chọn một nhân đức. Đừng chọn mười. Hãy chọn một hành vi nhỏ. Đừng lập một chương trình khổng lồ. Hãy làm nó hôm nay. Ngày mai làm lại. Ngày kia làm lại. Khi ngã, đứng lên. Khi nản, nhìn Chúa. Khi thấy tiến bộ, tạ ơn và đừng tự mãn. Khi thấy mình yếu, cúi xuống và tín thác hơn.
Hãy nhớ cho đến cuối đời: Thiên Chúa không đòi con phải hoàn tất toàn bộ con đường hôm nay. Ngài chỉ hỏi con có chịu đặt bước chân hôm nay vào bàn tay Ngài hay không.
Và nếu con trung tín với bước nhỏ hôm nay, rồi bước nhỏ ngày mai, rồi lại bước nhỏ của ngày kế tiếp, chính Thiên Chúa sẽ nối những bước chân bé nhỏ ấy thành con đường nên thánh của đời con. Có thể con không nhìn thấy. Có thể không ai nhìn thấy. Nhưng Chúa thấy.
Thế là đủ.
CHƯƠNG 17
CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI SỰ TỰ ÁI – KẺ THÙ NGUY HIỂM VÀ TINH TẾ NHẤT
Hỡi linh hồn đang thật lòng muốn thuộc trọn về Thiên Chúa, đang muốn bước vào cuộc chiến nội tâm không phải bằng vài quyết tâm chóng qua nhưng bằng một sự dấn thân kéo dài cho đến hơi thở cuối cùng, đến đây con phải đối diện với một kẻ thù mà có lẽ cho tới giờ con vẫn chưa nhìn thấy hết bộ mặt của nó. Có những đam mê ồn ào, vừa xuất hiện là ta nhận ra ngay: cơn nóng giận làm máu dồn lên mặt, lòng ghen tị khiến ta khó chịu trước thành công của người khác, lòng tham khiến ta muốn chiếm lấy, tính xác thịt khiến giác quan đòi được thỏa mãn, sự lười biếng khiến thân xác tìm nghỉ ngơi và trốn tránh bổn phận. Những kẻ thù ấy nguy hiểm, nhưng ít ra chúng còn có khuôn mặt. Còn sự tự ái thì khác. Nó có thể không hét lớn. Nó không nhất thiết phải làm con phạm một tội nặng ngay lập tức. Nó chỉ cần len vào bên dưới những điều tốt đẹp con đang làm, thay đổi rất nhẹ động lực của con, kéo cái nhìn của con khỏi Thiên Chúa để quay về chính mình, rồi để con tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục phục vụ, tiếp tục hy sinh, tiếp tục giảng dạy, tiếp tục làm việc lành, nhưng trong tất cả những việc ấy, ở một tầng rất sâu, cái “tôi” vẫn ngồi trên ngai. Vì thế phải nói rằng trong cuộc chiến thiêng liêng, có lẽ không có một kẻ thù nào dai dẳng, khéo léo, biết ngụy trang và biết sống sót lâu như sự tự ái. Con có thể đã từ bỏ tiền bạc mà vẫn còn tự ái. Con có thể đã từ bỏ nhiều tiện nghi mà vẫn còn tự ái. Con có thể ăn chay, hãm mình, thức khuya cầu nguyện, làm những công việc nặng nhọc, chịu những trách nhiệm lớn, phục vụ người nghèo, nói những lời rất đạo đức, mà sự tự ái vẫn âm thầm lấy tất cả những điều ấy làm của ăn cho mình. Nó không nhất thiết bảo con: “Hãy bỏ Chúa đi.” Nó tinh tế hơn. Nó có thể nói: “Hãy phục vụ Chúa thật tốt để người ta thấy con tận tụy.” Nó có thể nói: “Hãy sống thánh thiện để chính con cảm thấy mình khác với người khác.” Nó có thể nói: “Hãy cầu nguyện thật sâu để con được nếm những cảm xúc đẹp.” Nó có thể nói: “Hãy hy sinh nhiều hơn, để ít nhất trong lòng con biết rằng mình đã hy sinh nhiều hơn người khác.” Nó có thể biến cả con đường nên thánh thành một con đường bí mật để cái tôi tự tôn vinh chính nó. Và đây chính là điều làm cho sự tự ái đáng sợ: nó không chỉ hoạt động trong những điều xấu, nó còn biết ký sinh trên những điều tốt.
Sự tự ái, xét tận gốc, là khuynh hướng khiến con người đặt mình vào trung tâm, muốn mọi sự cuối cùng phải quy về mình, phải phục vụ một nhu cầu nào đó của mình, phải bảo vệ một hình ảnh nào đó về mình, phải làm cho mình dễ chịu, an toàn, được nhìn nhận, được tôn trọng, được cảm thấy có giá trị, được xác nhận là đúng, là tốt, là quan trọng, là thánh thiện. Yêu bản thân đúng nghĩa không phải là tự ái. Thiên Chúa không đòi con ghét chính mình, khinh rẻ phẩm giá mình hay hành hạ bản thân. Con là thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên, được cứu chuộc bằng giá máu của Đức Kitô, được gọi bằng tên, được yêu bằng một tình yêu có trước mọi công trạng của con. Vì thế, biết gìn giữ thân xác, biết tôn trọng phẩm giá mình, biết bảo vệ lương tâm, biết chăm sóc sức khỏe, biết nhận ra khả năng Chúa ban, biết vui khi làm được điều tốt, tự nó không phải tự ái. Tự ái bắt đầu khi con không còn đón nhận mình từ tay Thiên Chúa, nhưng bắt đầu sống như thể cái tôi phải tự xây dựng giá trị cho mình và phải liên tục được người khác, hoàn cảnh, thành công, những cảm xúc thiêng liêng hay chính thành tích đạo đức xác nhận. Người sống trong tình yêu đúng đắn có thể nghe lời khen mà không say, nghe lời chê mà không sụp đổ, có thể thành công mà không tự tôn, thất bại mà không tự ghét mình, vì căn tính của họ không nằm ở những điều ấy. Còn người bị tự ái chi phối thì cả đời trở thành một cuộc bảo vệ hình ảnh. Họ phải được hiểu. Họ phải được ghi nhận. Họ phải được đánh giá công bằng. Họ phải được đối xử đúng. Họ phải được người khác nhìn thấy thiện chí của mình. Họ phải chứng minh mình không sai. Và nếu một trong những điều ấy bị đụng tới, bình an lập tức bị lung lay. Khi ấy, đừng vội nói rằng nguyên nhân chính là người kia bất công. Có thể người kia thật sự bất công. Nhưng câu hỏi sâu hơn là: tại sao sự bất công của người ấy lại có quyền thống trị linh hồn con lâu đến thế? Tại sao một lời nói của người khác có thể lấy mất bình an mà Chúa muốn ban? Tại sao con cần người ta hiểu mình đến mức nếu họ không hiểu, con phải nghiền ngẫm nhiều giờ, nhiều ngày, thậm chí nhiều năm? Tại sao một lời phê bình đủ sức làm con mất ngủ? Tại sao một lần bị bỏ quên đủ sức làm con buồn đến vậy? Nhiều khi, chính tại những điểm đau ấy, sự tự ái đang lộ mặt.
Sự tự ái thô thiển thì dễ nhận hơn. Đó là khi con thích được khen, muốn nổi bật, muốn đứng trên người khác, muốn phần tốt thuộc về mình, muốn ý kiến của mình được nghe, muốn người ta nhìn nhận tài năng của mình, muốn mình có ảnh hưởng, muốn được kính trọng. Khi người khác được khen, con khó chịu. Khi người khác được chọn, con buồn. Khi người khác được giao việc quan trọng, con tự hỏi vì sao không phải mình. Khi có dịp kể về thành công, con kể hơi lâu hơn cần thiết. Khi nói về một việc mình đã làm, con vô thức thêm vào những chi tiết làm nổi bật công lao của mình. Khi thuật lại một khó khăn, con kể sao cho người nghe thấy mình đã chịu đựng nhiều thế nào. Khi làm một việc tốt mà không ai biết, con có một chút hụt hẫng. Những điều ấy tương đối dễ thấy nếu con chịu thành thật. Nhưng sự tự ái tinh tế còn đi xa hơn. Nó có thể núp trong điều mà con gọi là “lòng nhiệt thành”. Con muốn việc của Chúa thành công, nhưng nếu người khác làm thành công hơn mình, con lại khó vui. Con muốn cộng đoàn phát triển, nhưng nếu sáng kiến không xuất phát từ con, con có thể không nhiệt tình bằng. Con muốn người khác nên thánh, nhưng nếu họ được đánh giá cao hơn con, một bóng tối mỏng xuất hiện trong lòng. Con muốn làm điều tốt, nhưng cũng muốn được thấy mình là người tốt. Con muốn sống khiêm nhường, rồi lại âm thầm hài lòng vì nghĩ mình khiêm nhường. Con muốn chiến thắng tự ái, rồi lại có thể tự hào vì nghĩ mình đã chiến thắng tự ái. Đến mức ấy, con mới hiểu tại sao các bậc thầy đời sống thiêng liêng luôn cảnh giác với kẻ thù này. Nó giống như một bóng người luôn đi cùng ta. Ta chạy khỏi nó, nó chạy theo. Ta quay lại chống nó, nó có thể biến ngay việc chống nó thành một lý do mới để tự mãn.
Hãy nhìn thật kỹ vào một ngày sống của con. Buổi sáng khi thức dậy, trước cả khi con phạm một tội rõ ràng nào, sự tự ái đã có thể bắt đầu hoạt động: con khó chịu vì giấc ngủ bị gián đoạn; con muốn chương trình ngày hôm nay diễn ra theo đúng ý mình; con đã âm thầm dựng lên một viễn tượng rằng người này phải cư xử thế này, việc kia phải thuận lợi thế kia, bữa ăn phải đúng giờ, công việc phải được người khác hợp tác, cuộc nói chuyện phải cho kết quả mình mong. Rồi khi thực tế không đi theo kịch bản ấy, con bực bội. Con gọi đó là áp lực, là mệt mỏi, là người khác thiếu trách nhiệm. Có thể đúng phần nào. Nhưng bên dưới nhiều phản ứng ấy là một cái tôi không chịu cho thế giới quyền không làm theo ý nó. Sự tự ái luôn muốn kiểm soát. Nó thích nói: “Mọi sự sẽ ổn nếu mọi người làm đúng điều tôi cho là đúng.” Nó muốn kiểm soát cách người khác nghĩ về mình, cách họ nói về mình, cách họ làm việc với mình, thậm chí cách Thiên Chúa dẫn dắt đời mình. Và khi Chúa không ban điều con xin, không sửa hoàn cảnh theo mong muốn, không cất đi một thử thách như con chờ đợi, tự ái có thể đi vào cả mối tương quan với Chúa. Lúc đó, người ta không nói thẳng rằng mình trách Chúa, nhưng trong lòng xuất hiện một lời than: “Con đã làm bao nhiêu cho Chúa, sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Hãy chú ý câu ấy. Ẩn phía sau nó có thể là một hợp đồng mà con chưa bao giờ viết ra nhưng đã ngầm ký với Thiên Chúa: con phục vụ Ngài, và Ngài phải bảo vệ cuộc đời con khỏi những điều con không muốn. Đó không còn là tình yêu tinh tuyền. Đó là tự ái đã bước vào mối tương quan với Thiên Chúa dưới hình thức của một sự đòi hỏi.
Tự ái cũng rất thích những so sánh. Nó không thể sống lâu mà không so sánh, vì muốn biết mình đang đứng ở đâu trong mắt người khác. Hôm nay người kia được khen, con tự hỏi mình có bị xem thường không. Người kia làm được việc lớn, con tự hỏi giá trị của mình có giảm xuống không. Người kia được yêu quý, con tự hỏi mình có bị thay thế không. Người kia cầu nguyện sâu sắc, con tự hỏi đời thiêng liêng của mình có kém hơn không. Người kia được giao trách nhiệm, con tự hỏi tại sao mình không được. Và ngay cả khi con đứng ở phía được khen, tự ái vẫn không bình an, bởi nó bắt đầu lo: “Làm sao để giữ hình ảnh này? Làm sao để lần sau vẫn được người ta đánh giá cao?” Vì thế, tự ái làm cho người ta vừa đói lời khen vừa sợ lời chê, vừa muốn thành công vừa sợ thất bại, vừa muốn nổi bật vừa sống trong căng thẳng vì phải giữ vị trí. Một linh hồn như thế rất khó nghỉ ngơi trong Thiên Chúa. Nó luôn nhìn quanh để xem mình đang được đánh giá thế nào. Trong khi người tự do nội tâm có thể vui trước điều tốt của người khác mà không cảm thấy mình bị giảm bớt. Họ hiểu rằng ân huệ Chúa ban cho người anh em không lấy mất phần của mình. Một ngọn nến khác sáng lên không làm ngọn nến của con tối đi. Người khác đẹp hơn, giỏi hơn, thành công hơn, được yêu mến hơn, không làm con kém giá trị trong mắt Thiên Chúa. Chỉ có tự ái mới biến cuộc đời thành một bảng xếp hạng.
Một dấu hiệu rất rõ khác của tự ái là sự thôi thúc phải tự bào chữa. Khi bị hiểu lầm, phản xạ tự nhiên của con là gì? Con có thể nói hàng trăm lời đẹp về khiêm nhường, nhưng chỉ cần ai đó gán cho con một ý hướng mà con không có, lập tức trong lòng dậy lên cả một phiên tòa. Con bắt đầu soạn lý lẽ. Con tưởng tượng một cuộc đối thoại trong đó mình giải thích rất hay để người kia phải nhận ra họ đã sai. Con kể lại câu chuyện cho người thứ ba với hy vọng họ nói: “Cha đúng, người kia sai.” Con lục lại mọi chi tiết để chứng minh thiện chí của mình. Con có thể gọi đó là bảo vệ sự thật, và có những trường hợp quả thật bổn phận đòi phải làm sáng tỏ sự thật. Nhưng trước khi biện minh, hãy hỏi: nếu danh dự của tôi không bị liên lụy, tôi có còn tha thiết giải thích như thế không? Nếu người bị hiểu lầm là người khác, tôi có mất ngủ như vậy không? Nếu câu chuyện này không ảnh hưởng đến hình ảnh của tôi, tôi có còn kể lại với nhiều cảm xúc như vậy không? Những câu hỏi ấy bóc trần nhiều điều. Có những lúc sự thật cần được bảo vệ. Nhưng không phải mọi lần cái tôi đau đều là một cuộc khủng hoảng của chân lý. Nhiều lần, điều đau nhất không phải chân lý bị xúc phạm, mà là hình ảnh ta có về mình bị chạm đến.
Bởi vậy, một trong những bài tập mạnh mẽ nhất để làm suy yếu tự ái là đừng tự vệ ngay lập tức. Không có nghĩa là con phải chấp nhận mọi vu khống, để sự dữ lan rộng, hay từ bỏ trách nhiệm sửa chữa những hiểu lầm có hậu quả nghiêm trọng. Nhưng khi sự việc không đòi phản ứng tức thời, hãy tập chậm lại. Hãy để vài phút trôi qua. Có khi vài giờ. Có khi một ngày. Hãy để những cảm xúc đầu tiên lắng xuống. Và trong khoảng thời gian ấy, đứng trước mặt Chúa mà nói: “Lạy Chúa, điều đang đau trong con là gì? Danh Chúa bị xúc phạm, sự thật bị tổn thương, hay chỉ là cái tôi của con không chịu nổi việc bị nhìn khác đi?” Nếu câu trả lời là cái tôi, đừng vội tìm thuốc giảm đau. Hãy để nó đau một chút. Không phải để tự hành hạ, nhưng để nó học rằng nó không phải vua. Cái tôi quen được vuốt ve sẽ đòi vuốt ve mãi. Cái tôi quen được bào chữa sẽ càng ngày càng mỏng manh. Ngược lại, khi con chịu được một hiểu lầm nhỏ mà không cần chạy đi thanh minh, chịu được một lời chê nhỏ mà không cần trả đũa, chịu được việc người khác không nhận thấy công lao của mình mà vẫn tiếp tục làm điều phải làm, lúc ấy một sợi dây trói buộc bên trong đang đứt ra.
Con hãy nhớ rằng tự ái đặc biệt ghét sự bị quên lãng. Nó có thể chịu vất vả, miễn là vất vả ấy được thấy. Nó có thể hy sinh, miễn là hy sinh ấy được nhớ. Nó có thể đứng sau, miễn là trong lòng vẫn biết mọi người hiểu rằng mình đã tự nguyện đứng sau. Nhưng nếu con thật sự bị quên, thật sự không được nhắc tên, thật sự để người khác nhận công lao mà con đã góp phần, tự ái bắt đầu giãy giụa. Chính lúc ấy là một giờ huấn luyện quý giá. Khi con làm một việc tốt mà không ai biết, hãy chống lại cám dỗ tiết lộ nó cách khéo léo. Có những cách kể rất tinh tế: “Con chẳng có gì đâu, chỉ là hôm đó tình cờ con phải lo hết…”; “Không đáng kể, nhưng mấy tuần đó con gần như không ngủ…”; “Thực ra người khác làm tốt lắm, con chỉ phụ chút thôi,” rồi sau đó là một chuỗi chi tiết cho thấy “chút thôi” ấy thật ra rất nhiều. Tự ái không phải lúc nào cũng khoe trắng trợn. Nó thích khoe dưới dạng khiêm nhường. Nó biết cúi đầu để người khác khen thêm. Nó biết nói “con bất tài” nhưng trong lòng chờ người ta phản đối: “Không, cha giỏi lắm.” Nó biết nói “tất cả là ơn Chúa” nhưng sau đó vẫn muốn biết người ta có thấy mình là dụng cụ đặc biệt hay không. Vì thế, hãy học sự im lặng. Làm một điều tốt rồi để nó biến mất trước mắt người đời. Chỉ cần Chúa biết. Nếu có thể, thỉnh thoảng hãy chọn những việc mà ngay từ đầu con biết rằng chẳng ai cảm ơn: dọn một thứ người khác để bừa, sửa một điều chẳng ai nhận ra, cầu nguyện cho một người không bao giờ biết, âm thầm bù đắp thiếu sót của người khác mà không kể lại. Những việc nhỏ ấy, nếu làm vì yêu Chúa, có sức đào rất sâu vào gốc tự ái.
Tự ái cũng xuất hiện rất mạnh trong đời sống thiêng liêng. Có những linh hồn không còn ham danh vọng thế gian nhiều, nhưng lại bắt đầu ham “danh vọng thiêng liêng”. Họ muốn cảm thấy mình cầu nguyện sâu. Họ muốn thấy mình tiến bộ. Họ muốn có những cảm xúc sốt sắng. Họ muốn được một vị linh hướng công nhận là linh hồn đặc biệt. Họ đọc các tác phẩm của các thánh rồi kín đáo soi mình vào những kinh nghiệm cao siêu ấy, tự hỏi mình đã đến “bậc” nào. Khi cầu nguyện khô khan, họ buồn không hẳn vì yêu Chúa ít, mà vì không còn cảm thấy mình là người đạo đức. Khi sa ngã, họ đau không hẳn vì đã làm Chúa buồn, mà vì hình ảnh “tôi là người tốt” bị đập vỡ. Đây là một phân biệt cực kỳ quan trọng. Có một nỗi đau thánh thiện sau tội lỗi: nỗi đau vì đã xúc phạm tình yêu của Chúa, và nỗi đau ấy dẫn đến thống hối, khiêm nhường, chạy đến lòng thương xót. Nhưng cũng có một nỗi đau do tự ái: “Sao tôi lại có thể làm điều đó? Tôi tưởng tôi đã khá hơn rồi. Tôi không chấp nhận nổi mình yếu đến thế.” Nỗi đau thứ hai nghe có vẻ đạo đức, nhưng thật ra vẫn đặt cái tôi ở trung tâm. Nếu con thật sự bất tín nhiệm vào chính mình như đã học ở những chương trước, con sẽ không quá ngạc nhiên về sự yếu đuối của mình. Con đau vì tội, nhưng không sốc vì khám phá mình có thể sa ngã. Chính sự sốc ấy nhiều khi cho thấy trước đó con đã xây một hình ảnh quá cao về mình.
Có người sau một lần phạm lỗi liền rơi vào tuyệt vọng, ngồi nhìn mình như nhìn một đống đổ nát. Họ nói: “Con vô dụng. Con chẳng bao giờ nên thánh được. Bao nhiêu năm rồi mà vẫn vậy.” Nghe thì rất khiêm nhường, nhưng hãy xét kỹ: ai đang ở trung tâm của những câu ấy? Vẫn là “con”: con thất bại, con xấu, con không tiến, con không đạt. Thiên Chúa gần như biến mất. Khiêm nhường thật nói khác. Khiêm nhường thật nhìn nhận: “Vâng, lạy Chúa, đây là con khi không có Chúa. Con đã lại thấy sự yếu đuối của mình. Xin tha thứ cho con. Con không còn muốn đứng nhìn mình nữa. Con nhìn lên Chúa. Chúa vẫn là Đấng nhân lành. Máu Chúa không mất quyền năng chỉ vì con vừa ngã. Xin nâng con lên, và con lại đi.” Đó là sự khiêm nhường biết quên mình. Còn tuyệt vọng nhiều khi là một dạng tự ái bị thương: cái tôi không chịu được việc mình không đạt tới hình ảnh lý tưởng mà mình đặt ra.
Tự ái còn ẩn trong sự cầu toàn. Có những người nói rằng họ muốn làm mọi việc hoàn hảo vì tôn trọng công việc và vì yêu Chúa. Nhưng chỉ cần một sai sót nhỏ xảy ra, họ cáu gắt, mất bình an, trách người khác, trách chính mình, không thể buông bỏ. Nếu việc hoàn hảo thật sự chỉ vì Chúa, thì khi một giới hạn ngoài khả năng làm cho kết quả không hoàn hảo, linh hồn vẫn có thể bình an: “Con đã làm hết điều con có thể, phần còn lại thuộc về Chúa.” Nhưng sự cầu toàn do tự ái thì muốn một kết quả hoàn hảo để bảo vệ hình ảnh hoàn hảo. Nó không chịu nổi một vết xước vì vết xước ấy chứng minh rằng “tôi không kiểm soát được mọi sự”. Người bị tự ái điều khiển có thể trở thành rất khắt khe với cộng sự, rất khó sống chung, vì mọi lỗi lầm của người khác dường như đe dọa đến công việc mà họ đã gắn căn tính của mình vào. Một người càng đồng hóa mình với thành công của công việc, họ càng khó phân biệt giữa thất bại của một dự án và giá trị của chính mình. Và đây là chỗ Chúa có thể dùng những thất bại để giải phóng con. Có những thất bại không phải vì Chúa bỏ con. Có khi chính nhờ nó mà Chúa cứu con khỏi một thành công quá lớn mà linh hồn chưa đủ khiêm nhường để mang.
Nếu con muốn biết mình có yêu sự khiêm nhường thật hay chỉ yêu hình ảnh khiêm nhường, hãy quan sát phản ứng khi bị người khác coi thường. Ai cũng có thể nói mình là người nhỏ bé. Nhưng nếu người khác thật sự đối xử với con như một người nhỏ bé, con có chịu được không? Ai cũng có thể cầu xin: “Lạy Chúa, xin cho con khiêm nhường.” Nhưng khi Chúa dùng một người bất tiện, một lời phê bình, một thất bại, một lần bị bỏ quên, một công việc tầm thường, một lần ý kiến không được chấp nhận để trả lời lời cầu ấy, con có nhận ra đó là thuốc không? Nhiều người xin khiêm nhường nhưng lại từ chối mọi hoàn cảnh có thể làm họ khiêm nhường. Họ muốn có nhân đức mà không muốn chịu sự rèn luyện sinh ra nhân đức. Họ muốn khiêm nhường nhưng vẫn muốn được kính trọng. Muốn từ bỏ mình nhưng không muốn ý mình bị trái. Muốn chết cho cái tôi nhưng không muốn cái tôi bị đụng chạm. Đó là một mâu thuẫn. Không có sự chết cho mình mà không có đau. Nếu một người nói rằng họ đã từ bỏ cái tôi nhưng chưa từng đau vì bị hiểu lầm, bị bỏ quên, bị phản đối, bị sửa lỗi, thì có lẽ họ chưa thật sự đi xa trên con đường ấy.
Tuy nhiên, phải tránh một cực đoan nguy hiểm khác: chiến đấu chống tự ái không có nghĩa là con phải cố tình tìm nhục nhã một cách thiếu khôn ngoan, để người khác lạm dụng mình, bỏ qua những bất công cần được sửa, hay giả vờ mình không có phẩm giá. Khiêm nhường không phải là hèn nhát. Người khiêm nhường có thể nói rất rõ khi cần. Đức Giêsu khi bị người lính vả mặt đã hỏi: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Ngài không cần bảo vệ một cái tôi bị tổn thương, nhưng Ngài có thể nói sự thật. Vì thế, đừng biến việc chống tự ái thành một kiểu tự hủy. Mục đích không phải là làm con trở thành người không có xương sống, mà là làm cho con tự do đến mức có thể nói hoặc im lặng tùy điều Chúa muốn, chứ không tùy phản ứng của cái tôi. Có lúc tình yêu đòi con lên tiếng. Có lúc tình yêu đòi con chịu im lặng. Có lúc trách nhiệm đòi con sửa một hiểu lầm. Có lúc khiêm nhường đòi con để người khác hiểu lầm mà không bận tâm. Điều quan trọng không phải lúc nào cũng im, mà là ai đang quyết định: Chúa hay tự ái?
Chiến thuật thứ nhất vì thế là trì hoãn phản ứng khi cái tôi bị thương. Đừng quyết định trong lúc nóng. Đừng gửi tin nhắn khi đang giận. Đừng trả lời một lời phê bình trong khoảnh khắc đầu tiên nếu không cần thiết. Đừng kể ngay câu chuyện cho người sẽ bênh con. Hãy trở về với Chúa. Chỉ cần một lời rất ngắn: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin làm cho lòng con nên giống Trái Tim Chúa.” Rồi chờ. Khi cái tôi đang cháy, mọi lý lẽ của nó đều nghe rất hợp lý. Nó sẽ nói: “Con phải giải thích ngay, nếu không người ta sẽ nghĩ sai.” Có khi đúng. Nhưng rất nhiều lần, sau một đêm cầu nguyện, con sẽ thấy điều hôm qua tưởng không thể chịu được hôm nay bỗng trở nên nhỏ bé. Khi ấy con hiểu không phải sự việc đã đổi, mà cái tôi đã bớt nóng.
Chiến thuật thứ hai là chủ động chọn phần thấp hơn trong những việc nhỏ khi không có lý do chính đáng phải chọn phần hơn. Không cần làm những điều lạ lùng. Chính trong đời thường mới có nhiều cơ hội giết tự ái. Khi có hai chỗ ngồi, con không cần giành chỗ tốt. Khi mọi người nói chuyện, con không cần phải luôn kể câu chuyện hay nhất. Khi một đề tài con biết rõ được nêu ra, con không cần chứng minh ngay rằng mình biết. Khi một người khác kể lại ý tưởng mà con từng nói trước đó mà không nhắc tên con, hãy xem đó là một bài tập. Khi chia việc, thỉnh thoảng nhận phần ít hấp dẫn hơn. Khi được phục vụ, đừng đòi hỏi những tiện nghi nhỏ mà con hoàn toàn có thể bỏ. Khi ai đó kể một câu chuyện sai một chi tiết không quan trọng, đừng luôn chen vào sửa để chứng minh mình biết chính xác. Có những người làm khổ mọi bữa ăn vì bất cứ chi tiết nào không đúng họ cũng phải chỉnh. Họ gọi đó là yêu sự thật, nhưng đôi khi chỉ là cái tôi thích cảm giác mình đúng. Hãy phân biệt giữa sự thật cần được bảo vệ và những chi tiết mà chỉ tự ái mới thấy cần chiến đấu.
Chiến thuật thứ ba là tập vui thật lòng khi người khác được điều mà tự ái của con muốn. Đây là một phương thuốc rất mạnh. Khi ai đó được khen, hãy tập khen họ thêm. Khi ai đó thành công, hãy cảm tạ Chúa vì thành công ấy. Nếu con thấy lòng mình đau khi nói lời chúc mừng, đừng sợ. Chính đau ấy cho thấy con đang chạm đúng chỗ bệnh. Đừng vì giả dối mà im. Hãy làm điều tốt dù cảm xúc chưa theo kịp. Con có thể nói: “Lạy Chúa, con chưa vui hoàn toàn trước điều tốt của người này, nhưng con muốn vui. Xin thanh luyện lòng con.” Rồi làm một hành vi cụ thể: cầu nguyện cho họ, nói tốt về họ, giúp công việc của họ, không giảm giá trị của họ bằng một câu “nhưng mà…”. Hãy để ý cái “nhưng mà” rất thường xuất hiện sau khi ta khen người khiến mình ghen: “Anh ấy giỏi thật, nhưng cũng gặp may”; “Cô ấy được nhiều người quý, nhưng vì cô ấy biết lấy lòng”; “Người ấy thành công, nhưng chưa chắc sâu sắc.” Tự ái rất khéo dùng chữ “nhưng” để lấy lại thăng bằng cho cái tôi. Hãy cắt bỏ những cái “nhưng” ấy. Nếu người khác có điều tốt, hãy để điều tốt ấy đứng nguyên vẹn trước mắt con mà không cần giảm bớt nó để mình dễ chịu hơn.
Chiến thuật thứ tư là dâng thành công và thất bại theo cùng một cách. Thành công đến, hãy trao ngay cho Chúa trước khi tự ái kịp ăn nó. Đừng đứng lâu trước gương của thành công. Một bài nói được khen, một công việc được đánh giá cao, một dự án thành công, một người cảm ơn, một cộng đoàn quý mến: hãy vui, nhưng vui trong Chúa. Nói thật đơn sơ: “Lạy Chúa, nếu có điều gì tốt, là nhờ Chúa đã cho con khả năng, hoàn cảnh, người cộng tác, thời gian, sức khỏe và ân sủng. Xin đừng để con trộm vinh quang của Chúa.” Rồi đi tiếp. Cũng vậy khi thất bại, đừng ngồi nghiền ngẫm mình. Nói: “Lạy Chúa, con nhận phần trách nhiệm của con, con sẽ sửa điều phải sửa, nhưng con không để thất bại này định nghĩa con. Xin dùng nó để cắt bớt tự ái.” Thành công và thất bại khi ấy đều trở thành khí cụ của ân sủng. Thành công dạy con biết tạ ơn; thất bại dạy con khiêm nhường. Cả hai đều có thể đưa con về Chúa nếu cái tôi không chiếm lấy.
Chiến thuật thứ năm là tập sự “biến mất”. Có những linh hồn muốn làm điều lớn lao cho Chúa nhưng rất khó làm điều nhỏ mà không ai thấy. Hãy thử một đời sống khác: làm một phần việc rồi lùi ra để người khác hoàn tất. Nói một ý tưởng rồi không cần người ta nhắc tên mình. Góp sức cho một công việc mà khi thành công người khác được khen. Cầu nguyện cho một người nhưng không nói cho họ biết. Làm một hy sinh mà chính người được hưởng lợi cũng không biết. Đó là trường học của sự tự do. Cái tôi lúc đầu sẽ phản kháng: “Không ai biết thì làm để làm gì?” Chính câu ấy phơi bày điều cần chữa. Nếu Chúa biết thì chưa đủ sao? Nếu một việc thật sự vì Ngài, sự kín đáo không làm mất giá trị của nó. Trái lại, nhiều việc đẹp nhất của linh hồn chỉ có Chúa thấy. Rễ cây không ai ngắm, nhưng không có rễ cây không sống. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Những gì kín đáo thường là những gì nuôi sống tất cả phần hữu hình.
Chiến thuật thứ sáu là học đón nhận lời sửa lỗi. Không phải mọi lời sửa đều đúng, nhưng gần như mọi lời sửa đều có thể hữu ích. Nếu người khác nói đúng, con được lợi vì thấy một khuyết điểm. Nếu họ chỉ đúng một phần, con vẫn được lợi vì có cơ hội xem lại mình. Nếu họ hoàn toàn sai, con vẫn được lợi vì có cơ hội luyện bình an và khiêm nhường. Vậy tại sao phải sợ lời sửa? Chỉ tự ái mới sợ. Khi nghe một lời chê, đừng bắt đầu bằng câu hỏi: “Người ấy có quyền gì nói tôi?” Hãy bắt đầu: “Trong điều này có hạt sự thật nào không?” Có thể cách họ nói vụng về. Có thể động lực của họ chưa tinh sạch. Nhưng nếu con chỉ nhìn thái độ của họ để khỏi nhìn phần lỗi của mình, tự ái đã thắng. Người khiêm nhường biết lấy vàng cả từ một bàn tay bẩn. Một lời nhắc không dễ nghe vẫn có thể chứa một hạt chân lý cứu con khỏi một khuyết điểm đã tồn tại nhiều năm.
Chiến thuật thứ bảy là tập không kể quá nhiều về chính mình. Hãy quan sát các cuộc trò chuyện. Con có thường kéo câu chuyện về kinh nghiệm của mình không? Người khác kể một khó khăn, con lập tức kể một khó khăn lớn hơn của mình. Người khác kể một chuyến đi, con kể chuyến đi của mình. Người khác được khen, con chen vào một câu chuyện chứng minh mình cũng từng làm được điều tương tự. Đây là những chuyển động rất nhỏ nhưng nói lên nhiều điều. Một linh hồn bớt tự ái học nghệ thuật hiện diện mà không cần chiếm không gian. Họ hỏi và lắng nghe. Họ không luôn cần để lại dấu ấn. Họ không sợ một cuộc trò chuyện kết thúc mà mình không phải là người nổi bật nhất. Sự tự do ấy thật đẹp.
Chiến thuật thứ tám là đừng nuôi sự tự thương hại. Tự thương hại là người chị em kín đáo của tự ái. Nó thì thầm: “Không ai hiểu mình. Mình hy sinh nhiều mà chẳng ai biết. Người ta đối xử bất công với mình. Giá họ biết mình đã chịu gì.” Có những nỗi đau thật sự cần được chia sẻ với một người khôn ngoan. Nhưng tự thương hại không tìm ánh sáng; nó tìm một căn phòng kín để ngồi vuốt ve vết thương. Nó lặp lại câu chuyện, nhai đi nhai lại những bất công, dựng lại những cuộc đối thoại, đếm những gì mình cho mà người khác không đáp. Hãy cẩn thận. Một linh hồn có thể mất rất nhiều năm vì sống trong căn phòng ấy. Khi nhận ra mình đang tự thương hại, hãy đứng dậy bằng một hành vi cụ thể: cầu nguyện cho người làm mình tổn thương, làm một việc phục vụ, đi ra khỏi vòng suy nghĩ về mình. Đừng hỏi mãi: “Tại sao họ làm thế với tôi?” Hãy hỏi: “Trong hoàn cảnh này, Chúa muốn tôi yêu thế nào?” Câu hỏi thứ nhất xoay quanh cái tôi; câu hỏi thứ hai mở cửa cho Thiên Chúa.
Chiến thuật thứ chín là tập biết cười trước những điều làm cái tôi bối rối. Con lỡ nói sai một chữ. Con quên một cái tên. Con làm một việc vụng về. Người khác thấy một khuyết điểm rất bình thường của con. Tại sao phải đau quá lâu? Một người quá tự ái luôn phải giữ hình ảnh chỉn chu nên những sai sót nhỏ biến thành thảm họa. Hãy học cười hiền với chính mình. Không chế giễu mình, nhưng chấp nhận rằng con là một con người hữu hạn. Có hôm con quên. Có hôm con mệt. Có hôm con nói không hay. Có hôm kế hoạch của con thất bại. Có hôm người khác giỏi hơn. Có hôm con không được ai chú ý. Và thế giới vẫn tiếp tục. Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa. Điều ấy rất giải phóng.
Chiến thuật thứ mười là thường xuyên làm việc tốt chỉ vì Chúa muốn chứ không vì cảm xúc. Tự ái thích cảm giác. Nó muốn cầu nguyện khi sốt sắng, phục vụ khi được trân trọng, hy sinh khi thấy mình cao thượng. Nhưng tình yêu trưởng thành nói: “Con làm vì Chúa muốn, dù hôm nay con chẳng cảm thấy gì.” Đây là nơi tự ái bị bỏ đói. Khi con cầu nguyện trong khô khan chỉ vì trung tín, cái tôi không nhận được nhiều phần thưởng cảm xúc. Khi con phục vụ một người không biết cảm ơn, tự ái không được trả công. Khi con tiếp tục một bổn phận không ai khen, cái tôi không có gì để ăn. Chính những giờ phút ấy, nếu được dâng với lòng yêu mến, thường thanh luyện động lực mạnh hơn những giờ đầy cảm xúc.
Mỗi tối, con hãy xét mình đặc biệt về tự ái. Không cần dài. Nhưng phải thật. Hãy hỏi: hôm nay điều gì làm tôi mất bình an nhất? Tại sao nó đau? Vì Chúa bị xúc phạm hay vì tôi bị xúc phạm? Tôi đã tìm kiếm lời khen ở đâu? Tôi đã tự bào chữa ở đâu? Tôi đã khó chịu khi người khác được ưu tiên ở đâu? Tôi đã kể về mình quá nhiều lúc nào? Tôi có mong người khác biết hy sinh của tôi không? Tôi có đòi mọi việc theo ý mình không? Tôi có rơi vào tự thương hại không? Tôi có buồn vì thất bại chủ yếu vì yêu Chúa hay vì hình ảnh của tôi bị tổn thương? Và sau cùng: hôm nay tôi đã có một hành vi nào thực sự làm cái tôi nhỏ lại không? Một lời im lặng, một chỗ nhường, một việc kín đáo, một lời khen chân thành cho người khác, một lần nhận lỗi không bào chữa, một lần để người khác được đúng? Nếu không, ngày mai hãy chọn một việc nhỏ. Đừng đặt những chương trình khổng lồ. Tự ái không chết trong một trận chiến lớn. Nó chết dần trong hàng nghìn lần từ bỏ rất nhỏ.
Đối nghịch với tự ái là khiêm nhường, nhưng con phải hiểu khiêm nhường cho đúng. Khiêm nhường không phải phủ nhận quà tặng. Nếu con hát hay mà giả vờ nói mình hát dở, đó không phải khiêm nhường. Nếu con có năng lực lãnh đạo mà chối rằng mình chẳng có gì, đó có thể chỉ là một hình thức khác của việc chăm chú vào mình. Khiêm nhường là sự thật. Có gì tốt, nhận đó là quà. Có gì yếu, nhận đó là giới hạn. Có lỗi, nhận lỗi. Có thành công, tạ ơn. Có thất bại, học hỏi. Không cần phóng đại mình cũng không cần thu nhỏ giả tạo. Người khiêm nhường không nói: “Tôi chẳng là gì cả” với hy vọng được người khác đáp: “Không, cha rất giỏi.” Họ không cần diễn sự thấp bé. Họ chỉ sống dưới ánh mắt Thiên Chúa, và vì đã biết mình là ai trước mặt Ngài, họ bớt quan tâm mình trông thế nào trước mắt thế gian.
Khiêm nhường cũng không phải là sự ghét bỏ bản thân. Có người dùng những lời rất nặng với chính mình rồi tưởng đó là nhân đức. “Tôi ngu, tôi vô dụng, tôi chẳng ra gì.” Không. Đó không phải ngôn ngữ của Thiên Chúa. Khiêm nhường có thể nói: “Con yếu. Con sai. Con cần ơn Chúa.” Nhưng nó không phủ nhận rằng con được yêu. Thật ra chỉ người biết mình được yêu vô điều kiện mới đủ can đảm nhìn sự thật về bản thân. Người còn phải bảo vệ giá trị của mình thì luôn tìm cách che lỗi. Còn người biết giá trị của mình nằm trong tình yêu của Chúa có thể thừa nhận: “Vâng, ở điểm này tôi đã sai.” Họ không sợ sụp đổ vì một lỗi, bởi căn tính của họ không xây trên việc luôn đúng.
Một trong những dấu hiệu đẹp nhất của khiêm nhường là khả năng xin lỗi ngắn gọn. Người tự ái xin lỗi rất dài, vì muốn vừa xin lỗi vừa giải thích tại sao mình làm vậy. “Tôi xin lỗi, nhưng vì lúc ấy anh…”; “Con nhận lỗi, tuy nhiên hoàn cảnh…”; “Cha xin lỗi nếu con cảm thấy bị tổn thương.” Đó thường chưa phải một lời xin lỗi trọn vẹn. Khiêm nhường đơn sơ hơn: “Tôi đã nói như vậy là sai. Tôi xin lỗi.” Nếu cần giải thích để hiểu hoàn cảnh, có thể giải thích sau. Nhưng đừng dùng hoàn cảnh để pha loãng trách nhiệm. Một lời xin lỗi đơn sơ là một nhát dao rất đau với tự ái, nhưng là một nguồn bình an lớn cho linh hồn.
Một dấu hiệu khác của khiêm nhường là biết hỏi. Người tự ái thích tỏ ra mình biết. Họ ngại hỏi những điều “lẽ ra mình phải biết”. Nhưng người khiêm nhường không sợ bị xem là không biết. Họ hỏi khi cần. Họ học nơi người trẻ hơn. Họ có thể nhận một góp ý từ người ít kinh nghiệm hơn nếu góp ý ấy đúng. Họ không thấy phẩm giá bị hạ khi phải học từ người khác. Càng trưởng thành, con càng phải luyện điều này, vì tuổi tác, chức vụ, kinh nghiệm, kiến thức rất dễ trở thành một lớp áo mà tự ái dùng để bảo vệ mình khỏi việc được sửa.
Và còn một hình thức tự ái rất tinh tế trong đời phục vụ: đồng hóa bản thân với sứ vụ. Khi đó, một người không còn nói “đây là công việc Chúa trao”, mà trong sâu thẳm bắt đầu sống như “đây là công việc của tôi”. Nếu ai thay đổi nó, họ thấy như mình bị xúc phạm. Nếu ai làm khác phương pháp của họ, họ bực. Nếu đến lúc phải rời đi, họ không thể buông. Họ có thể nói mình yêu sứ vụ, nhưng nếu thật sự là sứ vụ của Chúa, tại sao nó phải mang dấu tay của con mãi? Một người thừa sai tự do là người có thể làm hết lòng khi Chúa trao, và buông hoàn toàn khi Chúa lấy lại. Họ không phải chủ của vườn nho. Họ là người làm công. Họ gieo mà người khác có thể gặt. Họ xây nền mà người khác có thể hoàn tất. Họ có thể bị quên nhưng vẫn vui vì công việc của Chúa tiếp tục. Đây là một mức độ chết cho cái tôi rất sâu.
Hãy nhìn Đức Giêsu. Nếu muốn học cách đánh bại tự ái, không có trường học nào ngoài Ngài. Con Thiên Chúa đã chọn sinh ra trong một nơi bé nhỏ. Ba mươi năm đời Ngài gần như ẩn giấu. Khi bắt đầu sứ vụ, Ngài làm những việc lớn nhưng không xây dựng một hình ảnh để giữ. Người ta tung hô, Ngài không say. Người ta bỏ đi, Ngài không chạy theo để cứu danh tiếng. Người ta hiểu lầm, Ngài không luôn giải thích. Người ta gán cho Ngài đủ điều, Ngài vẫn tiếp tục làm thánh ý Cha. Trước tòa, có lúc Ngài nói; có lúc Ngài im. Trên thập giá, Ngài bị lột hết: áo, danh dự, uy tín, sức lực, sự thành công bề ngoài. Và chính trong sự thất bại hoàn toàn theo mắt người đời ấy, công trình cứu độ được hoàn thành. Đó là bài học mà tự ái không bao giờ muốn nghe: Chúa có thể làm điều lớn nhất qua lúc con bị giảm xuống thấp nhất.
Hãy nhìn Đức Maria. Không một tạo vật nào được ban ân phúc lớn hơn Mẹ, nhưng Mẹ không biến ân phúc ấy thành một ngai cho cái tôi. Mẹ nói: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới.” Mẹ biết Thiên Chúa làm những việc lớn lao nơi mình, nhưng chính vì biết nguồn của mọi điều là Ngài, Mẹ không cần giữ lại một chút vinh quang nào. Mẹ có thể sống đời ẩn dật sau những mầu nhiệm lớn lao. Mẹ có thể hiện diện dưới chân thập giá khi mọi giấc mơ bề ngoài dường như tan nát. Mẹ không cần được hiểu. Mẹ chỉ cần trung tín. Đó là khiêm nhường.
Hãy nhìn Thánh Gioan Tẩy Giả. Ông có một sứ vụ mạnh mẽ. Đám đông đến với ông. Người ta có thể dễ dàng tôn ông lên. Nhưng khi Đức Giêsu xuất hiện và môn đệ của ông bắt đầu lo rằng mọi người đang đến với Đức Giêsu, Gioan nói câu mà mọi linh hồn muốn chống tự ái phải khắc vào lòng: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi.” Không phải chỉ một lần. Đây phải là chương trình của cả đời. Trong công việc: Ngài nổi bật, tôi lu mờ. Trong lời khen: Ngài nổi bật, tôi lu mờ. Trong sự thành công: Ngài nổi bật, tôi lu mờ. Trong thất bại: Ngài vẫn nổi bật, còn tôi bớt bám vào hình ảnh của mình. Khi người khác được dùng thay tôi: Ngài nổi bật, tôi lu mờ. Khi một ngày tôi không còn cần thiết trong một nơi mình đã phục vụ lâu năm: Ngài nổi bật, tôi lu mờ. Khi tuổi tác khiến tôi không còn làm được như trước: Ngài nổi bật, tôi lu mờ. Khi sức khỏe giảm sút, tiếng nói ít được nghe, vị trí được trao cho người khác: Ngài nổi bật, tôi lu mờ. Nếu con học được câu ấy không chỉ bằng môi miệng mà bằng cả cuộc đời, sự chết sẽ không còn đáng sợ, vì sự chết cuối cùng cũng chỉ là việc hoàn tất sự lu mờ của cái tôi để con bước vào sự sống nơi Thiên Chúa là tất cả.
Hỡi linh hồn, đừng mơ một ngày nào đó con sẽ thức dậy và thấy tự ái đã biến mất. Nó sẽ đi cùng con rất lâu. Có khi sau nhiều năm tu luyện, con mới nhận ra những lớp tự ái mà lúc đầu con không hề thấy. Đừng thất vọng vì điều đó. Ánh sáng càng mạnh, bụi càng hiện rõ. Việc con thấy nhiều tự ái hơn không nhất thiết có nghĩa con tệ hơn; có khi chỉ có nghĩa con đang nhìn sâu hơn. Điều nguy hiểm không phải là có tự ái, vì ai trong chúng ta cũng mang thương tích ấy. Điều nguy hiểm là sống chung với nó mà không nhận ra, hoặc nhận ra nhưng luôn bào chữa.
Mỗi lần cái tôi bị tổn thương, hãy coi đó là một tiếng chuông báo giờ cầu nguyện. “Lạy Chúa, đây rồi, con lại thấy nó.” Đừng ghét mình. Đừng hoảng. Hãy đưa nó ra ánh sáng. Mỗi lần muốn được khen, đừng nói: “Tôi thật xấu xa vì muốn được khen.” Hãy nói: “Lạy Chúa, lòng con đang đói một thứ chỉ tình yêu Chúa mới làm no. Xin đừng để con đi xin nơi người khác điều mà chỉ Chúa có thể ban.” Mỗi lần ghen, đừng dừng ở việc trách mình; hãy biến ghen thành lời chúc phúc. Mỗi lần bị chê, đừng lập tức bào chữa; hãy hỏi xem Chúa muốn dạy gì. Mỗi lần thành công, đừng ngồi ngắm mình; hãy tạ ơn. Mỗi lần thất bại, đừng tự thương hại; hãy đứng lên. Mỗi lần bị quên, đừng tìm cách xuất hiện; hãy nhớ Chúa thấy. Mỗi lần người khác được chọn thay mình, hãy tập nói: “Lạy Chúa, miễn việc của Chúa được làm.”
Có lẽ không có lời cầu nguyện nào làm tự ái sợ hơn lời này: “Lạy Chúa, xin cho con vui khi người khác được khen hơn con, được yêu hơn con, được sử dụng hơn con, miễn là Chúa được tôn vinh.” Đừng vội nghĩ con có thể nói lời ấy mà không đau. Có thể con sẽ đau. Nhưng hãy nói. Ân sủng sẽ dần làm điều tự nhiên con không làm nổi. Khi cái tôi kêu lên: “Còn tôi thì sao?”, hãy trả lời: “Chúa đủ cho tôi.” Khi cái tôi hỏi: “Ai sẽ hiểu tôi?”, hãy nói: “Chúa hiểu.” Khi cái tôi hỏi: “Ai sẽ nhớ những gì tôi đã làm?”, hãy nói: “Chúa nhớ.” Khi cái tôi hỏi: “Nếu người khác hơn tôi thì tôi còn là gì?”, hãy nói: “Tôi vẫn là người được Chúa yêu.” Đây là cách cắt từng sợi dây.
Đừng khinh thường những thất bại trong cuộc chiến này. Có ngày con sẽ tưởng mình đã tiến, rồi một lời chê nhỏ lại làm con nổi giận. Có lúc con vừa cầu nguyện về khiêm nhường xong, năm phút sau đã khó chịu vì không được tôn trọng. Có lúc con làm một việc kín đáo rồi vài giờ sau lại vô tình kể ra. Đừng vì thế mà bỏ cuộc. Tự ái được nuôi suốt nhiều năm không thể chết trong vài tuần. Điều quan trọng là mỗi lần phát hiện nó, con quay lại. Không bào chữa. Không tuyệt vọng. Chỉ nhận ra và dâng cho Chúa.
Và hãy nhớ: mục tiêu sau cùng không phải là trở thành một người luôn nghĩ xấu về mình. Mục tiêu là trở thành một người ngày càng ít nghĩ về mình. Có sự khác biệt rất lớn. Một người suốt ngày nói “tôi tệ, tôi yếu, tôi bất xứng” vẫn có thể đang nghĩ về mình từ sáng tới tối. Khiêm nhường thật làm con nhẹ đi. Con không phải liên tục đo xem mình thánh thiện đến đâu. Không phải đo xem người khác nghĩ gì. Không phải đo mình hơn hay kém. Con chỉ nhìn Chúa, làm bổn phận trước mắt, yêu người ở bên cạnh, ngã thì đứng lên, được khen thì tạ ơn, bị chê thì xét mình, thành công thì trao lại, thất bại thì học hỏi. Cuộc đời trở nên đơn sơ hơn rất nhiều khi cái tôi không còn phải được bảo vệ trong từng phút.
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, đây là một trận chiến dài, nhưng là trận chiến giải phóng. Mỗi phần tự ái chết đi không làm con mất đi con người thật; trái lại, nó giải phóng con người thật khỏi lớp vỏ luôn đòi được công nhận. Khi con không còn phải chứng minh mình, con mới có thể yêu. Khi không còn phải bảo vệ mình trong mọi cuộc tranh luận, con mới có thể lắng nghe. Khi không còn phải là người nổi bật, con mới có thể vui trước ánh sáng của người khác. Khi không còn cần thành công để cảm thấy có giá trị, con mới có thể làm việc với sự tự do. Khi không còn cần cảm xúc thiêng liêng để tin rằng Chúa yêu, con mới bắt đầu bước vào đức tin tinh tuyền. Khi không còn cần mọi người hiểu, con mới khám phá sự bình an của người biết mình được Thiên Chúa hiểu hoàn toàn.
Vì thế, đừng xin Chúa chỉ cất khỏi con những cám dỗ lớn. Hãy xin Ngài đụng đến gốc rễ: “Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi nhu cầu phải làm trung tâm. Xin giải thoát con khỏi nỗi đói được khen. Xin giải thoát con khỏi nỗi sợ bị xem thường. Xin giải thoát con khỏi việc phải luôn đúng. Xin giải thoát con khỏi việc muốn kiểm soát cách người khác nhìn con. Xin cho con biết vui khi bị quên, nếu sự quên ấy không làm tổn thương bổn phận. Xin cho con biết nhận lỗi mà không tự vệ. Xin cho con biết thành công mà không say. Xin cho con biết thất bại mà không tuyệt vọng. Xin cho con biết làm việc lớn như người đầy tớ và làm việc nhỏ như người con. Xin cho con ngày càng ít bận tâm đến việc người ta nghĩ gì về con, và ngày càng bận tâm hơn đến việc Trái Tim Chúa muốn gì nơi con.”
Rồi hãy để Chúa trả lời lời cầu ấy bằng đời sống thật. Có thể Ngài sẽ không trả lời bằng một cảm xúc khiêm nhường dễ chịu. Có thể Ngài sẽ gửi đến một người làm con khó chịu. Một người hay sửa con. Một công việc không ai thấy. Một thất bại không thể giải thích. Một thời gian cầu nguyện khô khan. Một lần bị bỏ quên. Một lần ý kiến của con không được chọn. Một người trẻ hơn làm tốt hơn. Một người khác nhận lời khen cho điều con đã góp phần. Đừng vội than: “Sao Chúa để vậy?” Có thể chính điều ấy là câu trả lời cho lời cầu xin khiêm nhường của con.
Cuối cùng, hãy nhớ điều này: cái tôi không cần phải bị tiêu diệt như thể con người của con là điều xấu. Điều phải chết là cái tôi muốn tách khỏi Thiên Chúa và tự làm trung tâm. Con người thật của con không bị mất khi tự ái chết. Nó mới bắt đầu sống. Bởi khi cái tôi không còn ngồi trên ngai, Đức Kitô sẽ ngự trị. Khi tiếng ồn của việc tự bảo vệ lắng xuống, con sẽ nghe rõ hơn tiếng Chúa. Khi nhu cầu được nhìn thấy nhỏ lại, con sẽ nhìn thấy người khác nhiều hơn. Khi thôi thu mọi sự về mình, trái tim con sẽ rộng ra.
Và ngày nào đó, nếu Chúa thương dẫn con đi rất xa trên con đường này, có thể con sẽ đạt đến một sự tự do thẳm sâu: người ta khen, con mỉm cười và dâng cho Chúa; người ta chê, con xét mình rồi bình an; người ta nhớ, con tạ ơn; người ta quên, con vẫn tạ ơn; được giao việc lớn, con làm hết lòng; bị giao việc nhỏ, con cũng làm hết lòng; được đứng trước, con phục vụ; bị đặt sau, con vẫn phục vụ; thành công, con không tự tôn; thất bại, con không tự ghét; có an ủi, con yêu Chúa; không có an ủi, con vẫn yêu Chúa. Lúc ấy cái tôi chưa biến mất hoàn toàn, nhưng nó không còn cầm quyền. Đức Kitô đã bắt đầu thực sự làm chủ linh hồn.
Hỡi linh hồn, hãy bắt đầu ngay hôm nay, không cần đợi một dịp lớn. Hôm nay sẽ có một lần con muốn nói để bảo vệ mình: hãy cân nhắc im lặng. Sẽ có một lần con muốn người khác biết điều tốt con đã làm: hãy giữ kín. Sẽ có một lần người khác được khen: hãy chúc mừng họ. Sẽ có một lần ý con không được theo: hãy xem có thể vui vẻ nhường không. Sẽ có một lần ai đó làm con đau: trước khi phản ứng, hãy nhìn lên thập giá. Sẽ có một lần con thất bại: đừng ngồi ôm cái tôi bị thương, hãy chạy đến lòng thương xót. Chính bằng những điều nhỏ như thế, từng ngày một, sự tự ái bị lấy mất đất sống.
Cuộc chiến này kéo dài đến hơi thở cuối cùng. Nhưng đừng sợ. Con không chiến đấu một mình. Chính Đức Kitô, Đấng đã tự hủy mình, mang thân phận tôi tớ, vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá, đang muốn sống sự khiêm nhường của Ngài trong con. Hãy để Ngài làm. Mỗi lần cái tôi của con bị hạ xuống mà con không chạy đi cứu nó, một khoảng trống được mở ra cho Đức Kitô. Mỗi lần con chọn để người khác được nổi bật, Đức Kitô có thêm chỗ trong lòng con. Mỗi lần con không tìm phần mình, Nước Thiên Chúa lớn lên trong con. Mỗi lần con nói bằng cả cuộc đời: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”, con đang tiến gần hơn đến sự tự do của các thánh.
Và rồi, sau bao nhiêu năm chiến đấu, có thể con sẽ hiểu một nghịch lý rất đẹp: điều mà con từng sợ nhất — bị quên, bị xem nhẹ, không được công nhận — lại không còn làm con nghèo đi. Bởi khi con thôi sống nhờ ánh mắt người đời, con bắt đầu sống trọn vẹn dưới ánh mắt Thiên Chúa. Khi con thôi tìm vinh quang cho mình, con được bao phủ bởi vinh quang của Ngài. Khi con thôi giữ lấy mình, con tìm thấy mình trong Đức Kitô. Khi cái tôi chết dần, con không biến mất; con trở nên con người mà Thiên Chúa đã muốn con trở thành từ thuở đời đời.
Hãy ghi vào lòng câu này và mang nó suốt cả đời: **“Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi.”
CHƯƠNG 18
CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI SỰ NÓNG GIẬN VÀ SỰ THIẾU KIÊN NHẪN
Hỡi linh hồn đang thật lòng muốn làm chủ chính mình để hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, sau khi đã bắt đầu nhận diện và tuyên chiến với sự tự ái — kẻ thù kín đáo, dai dẳng và tinh tế nhất của đời sống nội tâm — con phải lập tức quay sang một đam mê khác thường đi sát bên sự tự ái như bóng với hình, đó là sự nóng giận và sự thiếu kiên nhẫn. Đừng nghĩ nóng giận chỉ là những cơn thịnh nộ dữ dội, những tiếng quát tháo, những lời nặng nề hay những hành vi bộc phát khiến ai cũng có thể nhìn thấy. Nếu sự nóng giận chỉ xuất hiện dưới những hình thức thô bạo như thế, việc nhận ra nó đã dễ dàng hơn rất nhiều. Điều nguy hiểm là nóng giận thường sống trong lòng chúng ta dưới những hình thức nhỏ bé đến mức ta không gọi tên nó là nóng giận nữa. Đó có thể chỉ là một cái chau mày khi bị làm phiền; một tiếng thở dài khi người khác không hiểu ý mình; một sự khó chịu âm thầm khi phải chờ đợi; một câu trả lời ngắn hơn bình thường; một ánh mắt lạnh đi khi ai đó làm trái ý; một thái độ im lặng nhưng mang theo sự trừng phạt; một cảm giác bực bội cứ quay đi quay lại trong đầu; một sự mất bình an khi công việc không diễn ra đúng kế hoạch; một nỗi khó chịu khi người khác chậm chạp, vụng về, thiếu tinh tế; một sự căng thẳng khi có ai đó xen vào giờ nghỉ, giờ làm việc hay chương trình của mình; một tâm trạng không vui khi phải sống bên cạnh một người có tính khí trái ngược; một sự bực mình với chính bản thân vì mình chưa sửa được một khuyết điểm; thậm chí đôi khi là một thái độ trách móc Thiên Chúa vì Ngài không làm mọi sự theo điều mình đã cầu xin. Những điều ấy có thể nhỏ, rất nhỏ, nhưng chính nơi những điều nhỏ ấy sự nóng giận bén rễ, lớn lên, chiếm dần vùng đất nội tâm, rồi đến một lúc nào đó người ta có thể sống trong một tình trạng cáu kỉnh thường xuyên mà vẫn tưởng rằng mình là người đạo đức, nhiệt thành và có trách nhiệm. Vì thế, muốn chiến đấu thật sự, con phải học cách nhận ra kẻ thù không chỉ khi nó gào thét, nhưng ngay khi nó vừa cựa mình.
Sự nóng giận có một sức đánh lừa rất lớn, bởi nó thường tìm cho mình những lý do nghe rất hợp lý. Người nóng giận hiếm khi nói: “Tôi đang giận vì cái tôi của tôi bị tổn thương.” Người ấy thường nói: “Tôi chỉ muốn mọi việc cho đúng.” Họ cũng ít khi thú nhận: “Tôi bực vì người khác không làm theo ý tôi.” Họ sẽ nói: “Tôi không thể chịu được sự cẩu thả.” Họ không nói: “Tôi muốn được tôn trọng.” Họ nói: “Người ta phải biết phép lịch sự chứ.” Họ không nói: “Tôi khó chịu vì mình không kiểm soát được tình hình.” Họ nói: “Nếu ai cũng làm việc có trách nhiệm thì đâu đến nỗi này.” Và trong đời sống linh mục, tu sĩ, sự nóng giận còn có thể khoác lên mình một chiếc áo rất đạo đức: chiếc áo của “nhiệt thành”, của “bảo vệ điều đúng”, của “trách nhiệm với cộng đoàn”, của “yêu mến kỷ luật”, của “không chấp nhận sự tầm thường”. Chính lúc ấy sự nóng giận trở thành nguy hiểm nhất, bởi một đam mê khi được gọi bằng tên một nhân đức thì nó gần như không còn bị kiểm soát nữa. Người ta có thể nói những lời làm đau người khác rồi tự nhủ mình chỉ đang nói sự thật. Người ta có thể hạ nhục một người rồi nghĩ rằng mình đang sửa dạy. Người ta có thể dùng quyền bính theo cách làm người khác sợ hãi rồi tự cho rằng mình đang giữ kỷ luật. Người ta có thể gieo một bầu khí căng thẳng trong cộng đoàn mà vẫn tin mình chỉ đang “đòi hỏi chất lượng”. Con hãy nhớ điều này: chân lý không cần đến sự cay nghiệt để trở thành chân lý; công lý không cần đến sự thô bạo để trở thành công lý; và nhiệt thành không cần làm người khác bị thương để chứng minh rằng mình nhiệt thành. Chúa Giêsu có thể nói những lời rất mạnh, nhưng nơi Ngài không có sự tự ái bị tổn thương. Ngài có thể quở trách, nhưng không phải để thỏa mãn cơn bực bội. Ngài có thể nghiêm khắc, nhưng không bao giờ vì bị đụng đến cái tôi. Đó là điều khác biệt mà linh hồn phải học bằng cả một đời.
1. NGUỒN GỐC SÂU XA CỦA SỰ NÓNG GIẬN
Muốn chiến thắng sự nóng giận, con đừng chỉ nhìn vào lời nói hoặc phản ứng bên ngoài. Hãy đi xuống tận gốc. Rất nhiều lần, ở tận đáy của một cơn giận là một chữ rất nhỏ nhưng rất mạnh: “tôi muốn.” Tôi muốn người khác hiểu tôi. Tôi muốn họ tôn trọng tôi. Tôi muốn họ làm đúng như điều tôi đã dặn. Tôi muốn chương trình diễn ra suôn sẻ. Tôi muốn người này thay đổi. Tôi muốn người kia đừng làm phiền tôi. Tôi muốn được yên. Tôi muốn mình được nhìn nhận. Tôi muốn lời nói của mình có trọng lượng. Tôi muốn công việc sinh kết quả. Tôi muốn cầu nguyện sốt sắng. Tôi muốn sửa khuyết điểm thật nhanh. Tôi muốn cộng đoàn sống đúng như tôi nghĩ là phải sống. Tôi muốn những người dưới quyền biết nghe lời. Tôi muốn những người trên mình biết hiểu mình. Tôi muốn Thiên Chúa giải quyết vấn đề này ngay bây giờ. Và khi thực tại không đáp ứng cái “tôi muốn” ấy, sự bực bội nổi lên. Bởi thế, cơn nóng giận rất thường không bắt đầu ở người đang đứng trước mặt con; nó bắt đầu ở một ý riêng đang bị cản trở trong lòng con.
Hãy thử nhìn thật kỹ một ngày sống của con. Có thể một người đến gặp con đúng lúc con đang bận. Nếu trong lòng con đã định rằng khoảng thời gian ấy phải hoàn toàn thuộc về mình, con sẽ cảm thấy họ đang xâm phạm quyền lợi của con. Một người nói một câu vô ý khiến con thấy bị xem thường; nếu con đang cần được đánh giá cao, con sẽ lập tức tổn thương. Một người làm việc chậm hơn khả năng của con; nếu con cho rằng nhịp độ của mình là tiêu chuẩn cho mọi người, con sẽ thiếu kiên nhẫn. Một người phạm đi phạm lại cùng một khuyết điểm; nếu con nghĩ rằng mình có quyền buộc họ phải tiến bộ theo tốc độ con muốn, con sẽ trở nên bực bội. Chính ở đây sự tự ái lộ diện. Nóng giận nhiều khi chỉ là tiếng kêu của một cái tôi bị từ chối điều nó muốn. Vì vậy, khi cơn giận trỗi dậy, câu hỏi khôn ngoan nhất đôi khi không phải là: “Người này đã làm gì sai?” nhưng là: “Trong tôi, điều gì vừa bị đụng đến?” Có phải danh dự? Có phải sự tiện nghi? Có phải ý riêng? Có phải nhu cầu kiểm soát? Có phải sự muốn được nhìn nhận? Có phải nỗi sợ bị coi thường? Có phải một kỳ vọng tôi đã đặt lên người khác mà chính họ chưa bao giờ hứa sẽ đáp ứng?
Đừng ngạc nhiên nếu con nhận ra rằng nhiều cơn nóng giận của mình không đến vì sự dữ thực sự lớn lao, nhưng vì những điều hết sức nhỏ nhặt. Một chiếc ghế bị để sai chỗ. Một người đến trễ vài phút. Một tiếng động lúc con muốn yên. Một lời hỏi lại điều con vừa giải thích. Một món đồ bị người khác dùng mà không đặt về chỗ cũ. Một cuộc điện thoại bất ngờ. Một chương trình bị thay đổi. Một người quên lời hứa. Những việc này tự chúng rất nhỏ, nhưng có thể gây phản ứng rất lớn vì chúng đụng vào một ý muốn đang chiếm chỗ quá lớn trong lòng. Chính vì vậy, mức độ nóng giận của ta thường tiết lộ mức độ ta đang bám vào ý riêng. Càng muốn mọi sự theo mình, càng dễ giận. Càng nghĩ người khác phải cư xử theo mong đợi của mình, càng dễ thất vọng. Càng xem sự tiện nghi, thời gian, danh dự, kế hoạch và thành công của mình như một thứ bất khả xâm phạm, càng dễ mất bình an khi chúng bị đụng đến.
Nhưng còn có một nguồn sâu hơn nữa: thiếu tín thác vào Chúa Quan Phòng. Người tín thác thật không phải là người không có kế hoạch, không có trách nhiệm, không cố gắng sửa sai; người tín thác là người biết rằng ngay cả khi kế hoạch bị phá vỡ, Thiên Chúa vẫn không mất quyền làm chủ. Đây là chân lý mà chúng ta nói rất dễ nhưng sống rất khó. Ta tin Chúa Quan Phòng khi mọi chuyện đang thuận lợi; nhưng chỉ cần ai đó làm xáo trộn ngày sống, ta lập tức hành xử như thể cả thế giới đang đi sai quỹ đạo. Ta cầu xin “ý Cha thể hiện”, nhưng trong thực tế, nhiều khi ta chỉ bình an khi ý Cha tình cờ trùng với ý ta. Khi Chúa để một con người khó chịu bước vào đời ta, khi Ngài cho phép một công việc thất bại, khi Ngài không tháo gỡ ngay một căng thẳng, khi Ngài để một sự bất công kéo dài, khi Ngài buộc ta phải chờ, khi Ngài không trả lời theo thời điểm ta mong muốn, ta bắt đầu bực bội. Điều đó cho thấy ta vẫn muốn một Thiên Chúa phục vụ kế hoạch của mình hơn là một Thiên Chúa dẫn mình qua những con đường mình không hiểu.
Có những linh hồn nói rất nhiều về phó thác nhưng lại nổi nóng mỗi khi bị trái ý. Phó thác như thế vẫn còn ở môi miệng. Sự phó thác thật được thử lửa chính trong những điều không như ý. Khi mọi việc xảy ra đúng ý con, con không cần nhiều nhân đức để bình an. Chỉ khi con bị cản trở, bị chậm trễ, bị hiểu lầm, bị thất bại, bị người khác làm phiền, lúc đó mới lộ ra ai đang thật sự làm chủ trái tim con: Thiên Chúa hay ý riêng. Vì thế, đừng chỉ ghét những hoàn cảnh làm con mất kiên nhẫn. Nhiều khi chính chúng là những tấm gương Chúa đặt trước mặt để con nhìn thấy cái tôi của mình. Nếu không có người chậm chạp kia, làm sao con biết mình kiêu ngạo về sự nhanh nhẹn? Nếu không có người vụng về kia, làm sao con nhận ra mình thiếu lòng thương? Nếu không có những thay đổi bất ngờ, làm sao con biết mình đang bám chặt vào kế hoạch? Nếu không có người chống đối, làm sao con biết mình nghiện việc được đồng thuận? Những điều làm con bực đôi khi chính là những bàn tay âm thầm của Chúa đang lôi ra ánh sáng những vùng nội tâm con chưa bao giờ thấy.
Đặc biệt, có một loại nóng giận rất đáng thương mà nhiều linh hồn đạo đức mắc phải: giận chính mình vì chưa thánh thiện đủ nhanh. Họ sa ngã rồi bực mình. Họ chia trí khi cầu nguyện rồi chán ghét mình. Họ thấy một khuyết điểm cứ lặp lại và mất bình an. Bề ngoài họ nghĩ đó là lòng ghét tội, nhưng sâu xa có khi lại là một dạng tự ái thiêng liêng: họ đã tưởng mình phải khá hơn thế. Họ thất vọng không hẳn vì đã xúc phạm Chúa, nhưng vì hình ảnh tốt đẹp họ có về chính mình vừa bị phá vỡ. Sự khiêm nhường thật không giận dữ trước sự yếu đuối của mình. Nó đau vì tội, nhưng bình tĩnh. Nó ăn năn, nhưng không nổi loạn. Nó nhìn thẳng vào sự nghèo nàn của bản thân rồi thưa: “Lạy Chúa, con lại thấy con là ai. Xin thương xót con. Xin nâng con dậy.” Ngược lại, tự ái khiến ta nói: “Sao tôi lại có thể như thế? Sau bao nhiêu năm mà tôi vẫn vậy sao?” Câu ấy nghe như trách mình, nhưng chữ “tôi” vẫn đang đứng ở trung tâm.
2. NHỮNG HÌNH THỨC TINH TẾ CỦA SỰ NÓNG GIẬN TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
Sự nóng giận có rất nhiều mặt nạ. Một trong những mặt nạ phổ biến nhất là nhiệt thành thiếu dịu dàng. Người ta nhìn thấy một lỗi sai và cảm thấy cần sửa ngay. Điều đó tự nó không sai. Nhưng hãy nhìn xem điều gì đang xảy ra trong lòng. Có phải con thật sự đau vì người kia đang đi xa điều tốt, hay con khó chịu vì họ không giống điều con muốn? Có phải con sửa vì yêu, hay vì muốn giải tỏa sự bực bội? Có phải sau khi nói, con sẵn lòng nâng đỡ họ, hay con chỉ muốn họ cảm thấy mình đã sai? Cùng một lời sửa bảo, nhưng nếu phát xuất từ bác ái thì nó chữa lành; nếu phát xuất từ tự ái thì nó làm bị thương. Người nghe nhiều khi không nhớ hết lời ta nói, nhưng họ nhớ rất lâu cái cách họ đã bị đối xử. Có những người đã rời xa một cộng đoàn, xa một người mục tử, thậm chí xa cả đời sống đức tin không phải vì giáo lý quá khó, nhưng vì họ từng bị một người mang danh Chúa đối xử với họ mà không có sự dịu dàng của Chúa.
Có một sự nóng giận không la hét nhưng rất nặng nề: sự im lặng dùng để trừng phạt. Ta không nói gì, nhưng cố ý không nhìn người kia. Ta trả lời rất ngắn. Ta giữ nét mặt lạnh. Ta để họ cảm nhận rằng “tôi đang giận anh”. Ta gọi đó là im lặng để tránh cãi nhau, nhưng bên trong ta lại muốn dùng sự im lặng làm vũ khí. Đó không phải bình an. Đó là cơn giận đã học cách không gây tiếng động. Nó có thể còn làm người khác đau hơn một tiếng nói lớn, bởi họ không biết phải làm gì, không biết mình bị kết án đến bao giờ. Con hãy phân biệt: im lặng thánh là im lặng để không làm điều sai, để cầu nguyện, để lấy lại bình tâm rồi trở lại trong bác ái. Im lặng trừng phạt là im lặng để người khác phải khổ vì ta đang khó chịu. Hai sự im lặng bề ngoài giống nhau nhưng nội tâm hoàn toàn khác.
Có một hình thức khác tinh tế hơn: nóng giận trong tư tưởng. Miệng con vẫn yên, nhưng đầu óc đang tranh luận dữ dội. Con lặp lại lời người ấy nói. Con tưởng tượng những câu mình đáng lẽ phải đáp trả. Con kết án động cơ của họ. Con gom lại những lỗi cũ để chứng minh rằng người ấy “lúc nào cũng vậy”. Con dựng lên cả một phiên tòa trong trí và vừa là công tố viên, vừa là thẩm phán, vừa tuyên án. Đáng sợ ở chỗ tất cả diễn ra trong thinh lặng nên con có thể nghĩ mình đã không phạm lỗi vì “tôi có nói gì đâu”. Nhưng tâm hồn con đã bị đầu độc. Sau một giờ suy nghĩ như thế, con nhìn người kia không còn bằng ánh mắt của Chúa nữa. Con chỉ nhìn họ qua cái kính của tổn thương và bực bội. Vì vậy, chiến đấu với nóng giận không thể chỉ là giữ miệng. Con phải giữ cả trí.
Một mặt nạ khác là sự thiếu kiên nhẫn với người yếu hơn mình. Người thông minh dễ mất kiên nhẫn với người chậm hiểu. Người nhanh nhẹn dễ khó chịu với người chậm chạp. Người có óc tổ chức dễ bực với người lộn xộn. Người có kỷ luật dễ khinh thường người thiếu kỷ luật. Người đã tiến một quãng đường thiêng liêng dễ cáu với người cứ lặp đi lặp lại những lỗi căn bản. Nhưng con hãy tự hỏi: những khả năng con có là của ai? Nếu Chúa ban cho con trí nhớ tốt, sức khỏe, tính quyết đoán, óc tổ chức, sự nhanh nhạy, tại sao con lại dùng quà của Chúa như một lý do để thiếu lòng thương đối với người không có những điều ấy? Đôi khi chính điều ta coi là “khuyết điểm không chịu nổi” nơi người khác lại là nơi Chúa mời ta thực hành lòng thương xót. Có thể họ cần sửa, đúng; nhưng họ cần được sửa bằng bàn tay của một người biết rằng chính mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót mỗi ngày.
Cũng có sự nóng giận vì bị hiểu lầm. Đây là một thử thách rất sâu. Ta làm điều tốt mà người khác nghĩ xấu. Ta có ý ngay lành mà bị gán động cơ không đúng. Ta đã hy sinh mà không ai nhận ra. Ta đã cố gắng nhưng lại bị chỉ trích. Ta muốn giải thích, muốn minh oan, muốn mọi người biết sự thật. Đôi khi việc giải thích là cần thiết vì lợi ích chung. Nhưng nhiều khi cái thúc đẩy mạnh nhất không phải là chân lý mà là nhu cầu giữ hình ảnh của mình. Nếu không được giải oan ngay, lòng ta sôi lên. Hãy nhớ Chúa Giêsu trước những lời vu cáo. Ngài không hèn nhát, nhưng cũng không bị nô lệ bởi nhu cầu phải chứng minh mình trước mọi người. Một linh hồn trưởng thành phải học dần sự tự do ấy: làm điều phải trước mặt Chúa, sửa điều cần sửa, giải thích khi bổn phận đòi hỏi, nhưng không sống chết với việc mọi người phải hiểu đúng về mình.
Rồi còn sự bực bội với Thiên Chúa. Nhiều người không dám gọi tên điều này, nhưng nó có thật. Ta đã cầu nguyện, đã hy sinh, đã cố sống tốt, nhưng một điều đau vẫn còn đó. Một người thân chưa thay đổi. Một sứ vụ chưa sinh hoa trái. Một bệnh tật kéo dài. Một hiểu lầm chưa được tháo gỡ. Một dự định tốt bị thất bại. Ta bắt đầu hỏi: “Tại sao Chúa không làm gì?” Câu hỏi tự nó không sai; Thánh Kinh đầy những tiếng kêu như thế. Nhưng nếu câu hỏi biến thành một bản án dành cho Chúa, nội tâm ta sẽ dần cứng lại. Ta bắt đầu nghĩ rằng Chúa đã không đối xử đúng với mình. Đây là một dạng nóng giận rất đau, vì nó làm biến dạng khuôn mặt Thiên Chúa trong lòng ta. Muốn chữa nó, con phải trở lại với Thập Giá. Ở đó, Con Thiên Chúa cũng đi qua một đêm tối mà mọi sự bên ngoài dường như là thất bại. Nhưng Ngài đã trao mình vào tay Cha. Đôi khi sự kiên nhẫn cao nhất không phải là kiên nhẫn với con người, nhưng là kiên nhẫn với cách Thiên Chúa đang dẫn đời mình.
Một hình thức nguy hiểm khác là ý muốn “dạy cho họ một bài học.” Hãy cẩn thận khi câu ấy xuất hiện trong lòng. Có lúc người có trách nhiệm phải đặt giới hạn, phải sửa lỗi, phải áp dụng hậu quả, phải bảo vệ cộng đoàn khỏi những hành vi sai trái. Nhưng điều ấy khác hoàn toàn với việc muốn người kia nếm đau để thỏa mãn sự bực bội của ta. Có thể bề ngoài hành động giống nhau, nhưng Thiên Chúa nhìn động cơ. Một người cha có thể sửa con vì muốn con nên tốt; cũng có thể phạt con vì chính ông đang tức. Một bề trên có thể yêu cầu kỷ luật vì lợi ích cộng đoàn; cũng có thể sử dụng kỷ luật để chứng minh quyền lực. Một linh mục có thể nói lời mạnh vì bảo vệ một linh hồn; cũng có thể nói mạnh vì cảm thấy mình bị xúc phạm. Sự tinh tế của cuộc chiến nằm ở đó.
3. HẬU QUẢ TAI HẠI CỦA SỰ NÓNG GIẬN
Sự nóng giận trước hết làm mù lý trí. Khi đang giận, ta tưởng mình thấy rõ hơn, nhưng thực ra ta thường thấy méo mó hơn. Một lỗi nhỏ của người khác bỗng trở thành bằng chứng rằng họ là người tệ. Một câu nói vụng về bị diễn giải thành cố ý xúc phạm. Một hành động vô tâm trở thành ác ý. Ta bắt đầu dùng những chữ tuyệt đối: “lúc nào cũng”, “không bao giờ”, “ai cũng”, “chẳng bao giờ thay đổi”. Khi ấy ta không còn nhìn sự kiện nữa; ta đang nhìn qua cơn giận. Vì thế, rất nhiều lời nói mà sau này ta hối tiếc được nói ra trong lúc lý trí đã bị hơi nóng của đam mê phủ mờ. Người khôn ngoan không đưa ra những quyết định lớn trong khi đang giận. Đừng viết một lá thư quan trọng khi tim đang sôi. Đừng gửi một tin nhắn khi tay đang run vì bực. Đừng sửa phạt người khác ngay lúc con chỉ muốn họ phải cảm thấy đau. Đợi cho tâm hồn trở lại dưới ánh sáng.
Sự nóng giận cũng làm cứng lòng. Khi bực một người lâu ngày, ta dần mất khả năng nhìn thấy điều tốt nơi họ. Họ có làm mười điều tốt, ta không nhớ; chỉ cần một điều trái ý là toàn bộ hồ sơ cũ lập tức mở lại. Đây là lúc nóng giận bắt đầu biến thành oán hờn. Oán hờn là cơn giận đã được lưu giữ. Nó không còn là ngọn lửa bùng lên rồi tắt; nó trở thành than âm ỉ. Than ấy có thể nằm rất lâu dưới tro, chỉ cần một câu, một ánh mắt, một ký ức là cháy lại. Nếu con để nó ở đó, đời sống cầu nguyện sẽ khô dần, lòng bác ái sẽ hẹp dần, và con có thể nói về tình yêu Chúa trong khi trái tim mình đóng kín với một người cụ thể.
Sự nóng giận làm mất đi vẻ đẹp của nhiều việc lành. Một người có thể phục vụ rất nhiều, hy sinh rất lớn, làm việc không mệt mỏi; nhưng nếu ai ở cạnh cũng phải dè chừng tính nóng của người ấy, những việc tốt kia bị phủ bóng. Trong đời sống cộng đoàn điều này càng rõ. Một người nhiệt thành nhưng hay cáu có thể khiến những người khác sống trong sợ hãi. Họ không dám hỏi. Không dám góp ý. Không dám thú nhận sai lầm. Họ chỉ tìm cách tránh phản ứng của người ấy. Khi đó quyền bính không còn sinh ra tự do trong điều thiện, mà sinh ra một bầu khí đề phòng. Điều này đặc biệt nghiêm trọng với linh mục và tu sĩ, bởi người ta không chỉ nhìn thấy cá tính của chúng ta; nhiều người, cách nào đó, còn liên kết cách chúng ta đối xử với họ với khuôn mặt của Giáo Hội và thậm chí với khuôn mặt của Thiên Chúa.
Có những linh hồn có thể chịu được một bài giảng nghiêm khắc nhưng chân thành, nhưng không chịu nổi sự khinh miệt. Có những người có thể đón nhận một lời sửa lỗi rõ ràng nhưng không chịu nổi ánh mắt làm họ cảm thấy mình vô giá trị. Có những người đã phạm sai lầm và cần được gọi về, nhưng nếu người mục tử đến với họ bằng sự giận dữ, họ chỉ nhìn thấy cơn giận chứ không nghe được lời mời gọi của Chúa. Bởi vậy, phải ghi sâu điều này: một linh mục nóng giận có thể làm người khác sợ mình mà tưởng rằng họ kính trọng mình; có thể khiến người khác im lặng mà tưởng rằng họ đã được thuyết phục; có thể khiến người ta vâng lời bên ngoài mà trái tim lại xa dần. Quyền năng của Tin Mừng không nằm ở việc làm người khác sợ, nhưng ở chỗ chân lý được nói ra trong tình yêu.
Sự nóng giận còn mở cửa cho rất nhiều tội khác. Từ nóng giận sinh ra xét đoán. Từ xét đoán sinh ra nói hành. Từ nói hành sinh ra chia rẽ. Từ chia rẽ sinh ra bè phái. Từ bè phái sinh ra những bất công mà người ta tự cho là chính đáng. Trong cơn giận, ta dễ tiết lộ điều đáng lẽ phải giữ kín, dễ phóng đại lỗi của người khác, dễ lôi thêm người về phía mình, dễ tìm đồng minh để chứng minh rằng mình đúng. Và điều đáng buồn là lúc ấy ta thường không cảm thấy mình đang phạm tội; ta nghĩ mình chỉ “chia sẻ để xin ý kiến”, chỉ “nói cho rõ vấn đề”, chỉ “giúp người khác hiểu tình hình”. Hãy hết sức tỉnh thức. Ma quỷ rất thích dùng một tổn thương nhỏ để tạo nên một mạng lưới những lời nói gây chia rẽ.
Sự nóng giận kéo dài cũng làm linh hồn mất khả năng cảm nhận những chuyển động nhẹ nhàng của ân sủng. Tiếng Chúa thường rất nhẹ. Một trái tim ồn ào vì tranh luận nội tâm, vì bực bội, vì những câu đối đáp tưởng tượng sẽ rất khó nghe được tiếng ấy. Cầu nguyện lúc đó biến thành tiếp tục cuộc tranh cãi trước mặt Chúa. Người ta quỳ đó, nhưng đầu óc vẫn xoay quanh “họ đã làm gì với tôi”. Thánh Thể ở trước mặt, nhưng tâm trí lại đang viết bản cáo trạng. Ta tưởng mình đang đem vấn đề đến với Chúa, nhưng nhiều khi chỉ đang dùng giờ cầu nguyện để củng cố lập trường của mình. Vì thế, một trong những dấu hiệu cho thấy con đang thật sự đặt sự nóng giận dưới ánh sáng Chúa là: sau khi cầu nguyện, lòng con mềm hơn, chứ không cứng hơn; con thấy mình cũng cần được thương xót, chứ không chỉ thấy người kia cần bị sửa.
4. CHIẾN THUẬT CỤ THỂ ĐỂ CHIẾN ĐẤU
Chiến thuật thứ nhất: đánh thẳng vào gốc — sự tự ái và nhu cầu kiểm soát. Khi cảm thấy một làn sóng bực bội bắt đầu dâng lên, đừng lập tức dồn hết chú ý vào lỗi của người khác. Hãy quay vào trong và hỏi thật nhanh: “Tôi đang muốn điều gì?” Có thể câu trả lời là: tôi muốn được nghỉ mà họ lại làm phiền; tôi muốn họ nghe lời; tôi muốn công việc hoàn hảo; tôi muốn được tôn trọng; tôi muốn người kia xin lỗi trước; tôi muốn mọi người nhìn nhận rằng tôi đúng; tôi muốn Chúa giải quyết ngay. Khi đã thấy cái muốn ấy, con hãy đem nó ra trước mặt Chúa: “Lạy Chúa, đây là điều con đang bám vào. Con không thể tự buông được. Xin Chúa nhận lấy.” Có những lúc chỉ một lời như thế đủ làm cơn giận mất đi một nửa sức mạnh, bởi nó đưa cuộc chiến từ bên ngoài trở về đúng chiến trường: trái tim mình.
Hãy tập nói trong lòng: “Con không có quyền đòi mọi sự phải theo ý con.” Câu này đau nhưng rất giải thoát. Con có trách nhiệm làm điều phải, nhưng không có quyền bắt toàn bộ thực tại vâng theo kế hoạch của mình. Con có quyền nói sự thật, nhưng không có quyền buộc người khác phải hiểu ngay. Con có trách nhiệm sửa lỗi khi cần, nhưng không thể ép một linh hồn trưởng thành theo nhịp độ của con. Con có thể sắp xếp ngày sống, nhưng ngày sống ấy vẫn thuộc về Chúa và Ngài có quyền cho phép những gián đoạn. Khi con bắt đầu sống như vậy, nhiều thứ từng làm con nổi nóng sẽ dần biến thành những cơ hội để buông ý riêng.
Chiến thuật thứ hai: thực hành “khoảng lặng thánh”. Khi nhận ra mình sắp phản ứng, hãy trì hoãn phản ứng. Đây là một hành động rất nhỏ nhưng có sức mạnh lớn. Đừng nói ngay câu đầu tiên đang lao lên môi. Đừng gửi ngay tin nhắn. Đừng quay phắt lại bằng ánh mắt. Đừng quyết định tức khắc. Hãy im lặng mười giây, hai mươi giây, nếu cần thì lâu hơn. Hít vào chậm, thở ra chậm, không phải như một kỹ thuật tự cứu mình tách khỏi Chúa, nhưng như một cách tạo khoảng trống để ân sủng đi vào. Trong lòng hãy lặp lại thật chậm: “Lạy Chúa Giêsu dịu dàng và khiêm nhường trong lòng, xin làm cho lòng con nên giống lòng Chúa.” Đừng coi thường khoảng lặng này. Nhiều cuộc đổ vỡ lớn có thể được ngăn lại chỉ bằng vài giây im lặng đúng lúc. Có những lời một khi đã nói thì phải mất nhiều năm để chữa. Có những ánh mắt có thể đâm sâu hơn lời nói. Người biết chiến đấu không phải là người không bao giờ cảm thấy nóng, nhưng là người biết tạo một cánh cửa giữa cảm xúc và hành động để Chúa bước vào.
Nếu cơn giận quá mạnh, hãy rời khỏi tình huống một cách bình tĩnh nếu điều đó có thể làm mà không gây thêm tổn thương. Đừng nói: “Tôi không muốn nói chuyện với anh nữa.” Hãy nói: “Cho tôi ít phút để bình tĩnh rồi chúng ta sẽ nói tiếp.” Đó không phải chạy trốn. Đó là không trao quyền điều khiển lời nói cho đam mê. Một người trưởng thành không xấu hổ khi thừa nhận rằng mình cần thời gian để trở lại bình an.
Chiến thuật thứ ba: chuyển hướng ngay sang cầu nguyện cho người làm mình nóng giận. Đây là một khí giới rất hiệu quả vì nó đánh thẳng vào xu hướng của cơn giận: biến người kia thành kẻ thù. Khi con cầu nguyện thật cho họ, con bắt đầu nhìn họ lại như một linh hồn được Chúa yêu. Đừng cầu kiểu: “Lạy Chúa, xin cho họ biết họ sai.” Hãy cầu thật: “Lạy Chúa, xin ban cho người ấy bình an. Xin chữa lành những điều con không biết trong lòng họ. Xin cho họ những ơn họ cần. Và xin thương xót con vì lòng con đang hẹp.” Có thể ban đầu lời cầu ấy rất khô. Không sao. Ý chí đi trước cảm xúc. Con không cần chờ mình cảm thấy thương mới cầu cho họ. Cứ cầu. Dần dần, ân sủng sẽ mở một khe nứt trong bức tường nóng giận.
Hãy tập một việc khó hơn nữa: khi một người làm con khó chịu, hãy âm thầm nhớ một điều tốt nơi họ. Điều này không có nghĩa là phủ nhận lỗi của họ. Nó chỉ giúp con từ chối biến một khuyết điểm thành toàn bộ căn tính của một con người. Người kia có thể sai trong chuyện này, nhưng họ không chỉ là lỗi ấy. Họ vẫn là một linh hồn có lịch sử, có vết thương, có những cố gắng mà con không biết, có những chiến đấu chỉ Chúa thấy. Khi nhìn như vậy, sự giận dữ sẽ mất dần khả năng biến họ thành một hình ảnh méo mó.
Chiến thuật thứ tư: chấp nhận những xáo trộn như trường học của nhân đức. Con có thể cầu xin Chúa cho ngày sống bình an, nhưng đừng tưởng sự bình an nghĩa là không ai làm phiền. Bình an Kitô giáo sâu hơn thế. Nó là khả năng giữ được lòng thuộc về Chúa ngay khi có người gõ cửa không đúng lúc, điện thoại reo khi đang bận, kế hoạch bị đổi, người khác phạm lỗi, công việc hỏng, lời mình bị hiểu sai. Những điều ấy chính là “phòng tập” của sự kiên nhẫn. Nếu Chúa cất hết mọi điều trái ý khỏi đời con, con sẽ không bao giờ biết mình có thật sự kiên nhẫn hay chỉ đang sống trong hoàn cảnh thuận lợi.
Hãy tập đổi câu hỏi. Thay vì: “Tại sao chuyện này lại xảy ra với tôi?” hãy hỏi: “Chúa muốn tôi tập nhân đức nào qua chuyện này?” Thay vì: “Tại sao người này khó chịu thế?” hãy hỏi: “Tôi được mời gọi trở nên giống Chúa Giêsu thế nào khi ở bên người này?” Thay vì: “Bao giờ chuyện này mới chấm dứt?” hãy hỏi: “Trong khi nó chưa chấm dứt, con phải yêu thế nào?” Cách đặt câu hỏi sẽ thay đổi cách con sống hoàn cảnh. Nhiều điều ta xin Chúa cất đi lại chính là dụng cụ Ngài dùng để mài nhẵn những góc cạnh của ta.
Chiến thuật thứ năm: tập sự dịu dàng trước khi bị thử thách. Đừng đợi đến lúc giận mới tập kiên nhẫn. Nhân đức phải được luyện trong thời bình để có sức trong thời chiến. Mỗi ngày hãy chọn một vài hành động rất cụ thể: nói chậm hơn một chút với người thường làm con thiếu kiên nhẫn; trả lời đầy đủ thay vì cộc lốc; nhìn vào mắt người đang nói thay vì tỏ vẻ vội; mỉm cười với một người con ít thiện cảm; chấp nhận một sự gián đoạn mà không để khuôn mặt biến đổi; để người khác nói hết câu; không sửa một lỗi nhỏ không cần thiết; chấp nhận người khác làm việc theo cách khác mình khi cách ấy không sai; khi phải góp ý, hạ giọng xuống thay vì nâng giọng lên. Đừng coi những việc ấy là quá nhỏ. Nhân đức được xây bằng những lựa chọn như thế.
Một hành động đặc biệt hữu ích là nói thấp giọng khi trong lòng đang nóng. Bản năng của ta là tăng âm lượng khi muốn áp đảo. Hãy làm ngược lại. Hạ giọng. Nói ít hơn. Dùng câu ngắn hơn. Không nhắc lại lỗi cũ. Không dùng lời tuyệt đối. Không mỉa mai. Không lôi người thứ ba vào. Không tấn công nhân phẩm. Chỉ nói về hành vi cụ thể và điều cần sửa. Đây là một kỷ luật rất thực tế và rất thiêng liêng.
Chiến thuật thứ sáu: đừng đào lại cơn giận sau khi nó đã qua. Có những người đã không nói lời xấu lúc đầu, nhưng sau đó ngồi nhớ lại, rồi tự làm mình giận lần nữa. Họ kể chuyện cho người này, người kia, mỗi lần kể lại thêm một chi tiết, và cơn giận tưởng đã tắt lại được tiếp nhiên liệu. Hãy học buông. Nếu sự việc cần được giải quyết, hãy giải quyết. Nếu cần nói chuyện, hãy nói. Nếu cần tha thứ, hãy tha. Nhưng đừng biến việc ôn đi ôn lại tổn thương thành một thú vui đen tối của cái tôi. Có một thứ khoái cảm cay đắng trong việc nhớ lại mình đã bị đối xử tệ thế nào. Nó cho ta cảm giác mình là nạn nhân chính đáng. Nhưng chính khoái cảm ấy giữ ta trong tù.
Chiến thuật thứ bảy: nếu đã thất bại, hãy sửa ngay nhưng không tự giày vò. Nếu con đã nói nặng, hãy xin lỗi sớm. Đừng để tự ái ngăn lại. Một câu “Tôi đã nói quá lời, xin lỗi” có thể cứu một tương quan. Đừng thêm vào lời xin lỗi những chữ “nhưng tại anh…”. Một lời xin lỗi có chữ “nhưng” nhiều khi chỉ là một lời biện minh giả dạng. Hãy nhận phần của mình. Sau đó trở về với Chúa. Đừng dành ba ngày để giận bản thân vì đã giận người khác. Như thế chỉ là đổi đối tượng của cơn giận. Hãy khiêm nhường: “Lạy Chúa, con lại thua. Con thấy rõ con yếu. Xin dạy con bắt đầu lại.” Một thất bại được sống trong khiêm nhường có thể dạy con nhiều hơn mười chiến thắng làm con tự mãn.
5. NHÂN ĐỨC PHẢI XÂY DỰNG: SỰ DỊU DÀNG VÀ KIÊN NHẪN THẬT
Sự dịu dàng không phải là yếu đuối. Đây là điều phải hiểu thật rõ. Có những người thô bạo tưởng mình mạnh. Thực ra, người không làm chủ được cơn giận mới là người yếu. Ai cũng có thể đập bàn khi bị xúc phạm. Ai cũng có thể lớn tiếng khi bị chống đối. Ai cũng có thể trả đũa khi tự ái đau. Nhưng giữ được một giọng nói bình tĩnh khi bên trong đang bị kích động, giữ được ánh mắt không khinh miệt khi người khác làm sai, giữ được khả năng lắng nghe khi mình đang muốn cắt ngang — đó mới là sức mạnh. Dịu dàng là sức mạnh đã được đặt dưới quyền của tình yêu.
Hãy nhìn Chúa Giêsu. Ngài không nhu nhược. Ngài đối diện với giả hình. Ngài nói sự thật. Ngài đuổi những người buôn bán khỏi Đền Thờ. Ngài không tránh né xung đột khi chân lý đòi hỏi. Nhưng Ngài cũng để trẻ nhỏ đến với mình. Ngài không nghiền nát cây lau bị dập. Ngài nhìn Phêrô sau khi ông chối Ngài bằng một ánh mắt đủ làm người môn đệ khóc, nhưng không phải một ánh mắt hủy diệt. Ngài tiếp xúc với người tội lỗi mà không làm họ cảm thấy mất hết phẩm giá. Sự dịu dàng của Chúa không làm chân lý yếu đi; nó làm chân lý có thể đi vào trái tim.
Người dịu dàng không phải là người chẳng cảm thấy khó chịu. Đừng đặt cho mình một tiêu chuẩn giả. Có thể con vẫn cảm thấy tim đập nhanh. Vẫn có một làn nóng dâng lên. Vẫn muốn phản ứng. Nhân đức không nhất thiết xóa cảm xúc tức thì. Nhân đức làm cho ý chí không bị cảm xúc kéo đi. Con có thể cảm thấy giận mà không lựa chọn giận. Con có thể cảm thấy bị tổn thương mà không làm người khác bị thương lại. Con có thể cảm thấy muốn đáp trả mà vẫn chọn im lặng. Chính trong khoảng cách ấy tự do được sinh ra.
Sự kiên nhẫn cũng không phải là cắn răng chịu đựng với một trái tim đầy cay đắng. Có người chịu được rất nhiều nhưng bên trong liên tục than phiền. Đó mới chỉ là sự kìm nén. Kiên nhẫn Kitô giáo sâu hơn: nó nhận ra rằng trong những điều trái ý, thánh ý Chúa đang cho phép một bài học, một cuộc thanh luyện, một cơ hội nên giống Đức Kitô. Người kiên nhẫn thật có thể nói: “Con không thích điều này, nhưng con đón nhận việc Chúa đang cho phép nó đi qua đời con. Xin giúp con sống nó trong tình yêu.” Sự kiên nhẫn ấy không thụ động. Nó vẫn sửa điều phải sửa, vẫn tránh điều có thể tránh, vẫn tìm công lý khi cần; nhưng nó không mất linh hồn chỉ vì thực tại không hoàn hảo.
Đặc biệt, hãy tập kiên nhẫn với nhịp độ của người khác. Không ai thay đổi chỉ vì con đã giải thích đủ rõ. Không ai trưởng thành chỉ vì con đã nóng ruột đủ nhiều. Người ta có lịch sử khác nhau, những thương tích khác nhau, mức trưởng thành khác nhau, những ơn Chúa khác nhau. Chúa đã kiên nhẫn với con biết bao năm; tại sao con lại muốn người khác hoàn thiện trong vài tháng? Hãy nhớ chính các Tông Đồ đã làm Chúa phải sửa đi sửa lại. Họ tranh nhau chỗ nhất. Họ không hiểu Thập Giá. Họ ngủ khi Ngài cầu nguyện. Họ chạy trốn khi Ngài bị bắt. Vậy mà Chúa không bỏ họ. Sự kiên nhẫn của Chúa đã tạo ra những Tông Đồ. Đôi khi sự kiên nhẫn của con với một con người cũng có thể trở thành mảnh đất để ân sủng làm điều con không thể làm bằng áp lực.
Hãy kiên nhẫn cả với chính mình. Điều này không có nghĩa dung túng. Con vẫn phải chiến đấu nghiêm túc. Nhưng đừng bắt linh hồn mình chạy nhanh hơn ân sủng. Có khuyết điểm cần nhiều năm mới được thanh luyện. Có một kiểu phản ứng đã ăn sâu từ tuổi trẻ. Có những vết thương khiến ta dễ nhạy cảm. Nếu mỗi lần vấp con lại căm ghét mình, con sẽ không trưởng thành; con chỉ trở nên mệt mỏi. Hãy nghiêm nhưng hiền với chính mình. Như người tập đi, ngã thì đứng lên. Không ngồi đó đánh mình. Sự khiêm nhường thật rất thực tế: “Hôm nay tôi đã mất kiên nhẫn. Tôi sẽ xin lỗi. Tôi sẽ xét xem gốc là gì. Ngày mai tôi tập lại.”
6. NHỮNG BÀI TẬP NHỎ MỖI NGÀY
Nếu con thật sự muốn thay đổi, đừng chỉ đọc những lời này rồi cảm động. Hãy biến chúng thành kỷ luật. Buổi sáng, trước khi bắt đầu ngày mới, hãy nghĩ đến một người hoặc một tình huống thường làm con mất bình an và nói với Chúa: “Hôm nay, có thể người ấy lại làm con khó chịu. Xin Chúa đi trước con đến cuộc gặp ấy. Xin cho phản ứng của con thuộc về Chúa.” Chỉ một phút chuẩn bị như thế có thể làm ngày sống khác hẳn.
Trong ngày, mỗi khi có một việc nhỏ trái ý, hãy coi đó như một tiếng chuông. Người đến trễ — tiếng chuông. Điện thoại gián đoạn — tiếng chuông. Ai đó nói dài — tiếng chuông. Một lời góp ý khó nghe — tiếng chuông. Mỗi tiếng chuông nhắc: “Đây là lúc tập.” Nhờ đó con sẽ không còn nhìn những phiền toái như những kẻ phá hỏng đời mình, nhưng như những bài tập được đưa đến tận nơi.
Buổi tối, đừng chỉ xét mình xem đã nổi giận bao nhiêu lần. Hãy hỏi sâu hơn: Hôm nay tôi đã mất bình an khi nào? Điều gì trong tôi bị đụng đến? Tôi muốn gì lúc ấy? Tôi đã phản ứng thế nào? Chúa đã mời tôi làm gì khác? Nếu làm đều đặn, con sẽ dần nhận ra mô hình riêng của mình. Có người đặc biệt dễ giận khi mệt. Có người dễ nóng khi đói. Có người dễ bực khi cảm thấy bị coi thường. Có người dễ cáu khi lịch bị thay đổi. Có người dễ mất bình an khi công việc thiếu hoàn hảo. Biết chiến trường của mình là một nửa của chiến thắng.
Con cũng có thể chọn một lời nguyện ngắn để dùng suốt ngày: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành, xin sống trong con.” Hoặc: “Lạy Chúa, xin giữ miệng lưỡi con.” Hoặc: “Xin cho con nhìn người này như Chúa nhìn.” Lời nguyện phải ngắn để con dùng được ngay trong khoảnh khắc chiến đấu. Đừng đợi đến khi tối mới cầu nguyện về những cơn giận đã xảy ra. Hãy kéo Chúa vào ngay lúc nó vừa bắt đầu.
Và mỗi ngày hãy cố ý thực hiện ít nhất một việc trái với tính nóng của mình. Nếu con thường cắt lời, hôm nay hãy để một người nói hết. Nếu con thường sửa mọi lỗi nhỏ, hôm nay hãy bỏ qua một lỗi không đáng kể. Nếu con thường muốn mọi việc theo cách mình, hôm nay hãy để người khác chọn. Nếu con thường khó chịu khi bị gián đoạn, hôm nay hãy tiếp một người với nụ cười dù họ đến không đúng lúc. Những hành vi nhỏ ấy là những nhát cuốc đào sâu một con đường mới trong tâm hồn.
7. KHI PHẢI SỬA LỖI NGƯỜI KHÁC
Có người sau khi đọc về sự dịu dàng lại sợ rằng mình không nên sửa ai, không nên nói điều khó nghe, không nên đặt giới hạn. Đó là một cực đoan khác. Tình yêu không phải là để mặc người khác sai. Có những lúc bổn phận đòi con phải nói. Nhưng trước khi nói, hãy tự hỏi ba điều: Tôi có đang bình an không? Tôi có thật sự muốn điều tốt cho người này không? Tôi có thể nói điều này mà không cần hạ nhục họ không? Nếu câu trả lời là không, tốt hơn hãy đợi, trừ khi hoàn cảnh khẩn cấp.
Khi sửa, hãy nói về việc họ đã làm, đừng kết luận về con người của họ. Nói: “Việc này cần được làm lại” thay vì “Anh lúc nào cũng cẩu thả.” Nói: “Cách nói ấy gây tổn thương” thay vì “Anh là người vô duyên.” Đừng nhắc mười lỗi cũ để chứng minh một lỗi hiện tại. Đừng dùng lời mỉa mai. Đừng sửa người khác trước đám đông nếu không cần thiết. Đừng khiến họ mất mặt rồi gọi đó là giáo dục. Hãy nhớ: mục đích của sửa lỗi là cứu một người, không phải chiến thắng một cuộc tranh luận.
Có những lúc con phải nói rất mạnh. Nhưng ngay cả khi mạnh, trái tim vẫn có thể hiền. Sự hiền lành không nằm ở âm lượng mà ở động cơ. Một người mẹ có thể hét lên để kéo con tránh khỏi xe đang lao tới; tiếng hét ấy phát xuất từ tình yêu. Một người có thể nói rất nhỏ nhưng đầy khinh miệt; sự nhỏ nhẹ ấy chẳng có gì là dịu dàng. Vì thế, Thiên Chúa không chỉ nghe âm thanh lời con nói; Ngài nhìn trái tim từ đó lời nói đi ra.
8. SỰ NÓNG GIẬN TRONG ĐỜI SỐNG LINH MỤC VÀ TU SĨ
Đối với linh mục và tu sĩ, cuộc chiến này có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi chúng ta không chỉ sống cho mình. Người khác nhìn vào cách ta phản ứng để đọc một phần Tin Mừng. Một giáo dân có thể quên bài giảng của cha sau vài ngày, nhưng họ nhớ nhiều năm cách cha đối xử với họ khi họ lỡ sai. Một người trẻ có thể không nhớ bài giáo lý, nhưng nhớ ánh mắt của một tu sĩ khi họ đến xin giúp đỡ vào lúc bất tiện. Một người nghèo có thể không hiểu các khái niệm thần học, nhưng họ hiểu rất rõ mình có bị coi là phiền phức hay không.
Đời sống sứ vụ chứa vô số cơ hội làm ta mất kiên nhẫn: những cuộc hẹn trễ, những yêu cầu bất ngờ, những người cứ
CHƯƠNG 19
CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI SỰ LƯỜI BIẾNG THIÊNG LIÊNG VÀ SỰ TRÌ HOÃN
Hỡi linh hồn đang muốn trung tín đến cùng, sau khi đã nhìn thẳng vào sự tự ái, đã học cách chiến đấu với sự nóng giận và thiếu kiên nhẫn, giờ đây con phải đối diện với một kẻ thù khác. Kẻ thù này không ồn ào. Nó không làm con kinh hãi ngay từ đầu. Nó không xông vào linh hồn như một cơn bão dữ dội. Nó cũng không nhất thiết lôi kéo con vào những sa ngã rõ ràng để lương tâm lập tức báo động. Trái lại, nó bước rất nhẹ. Nó nói rất nhỏ. Nó làm cho mọi sự chậm lại từng chút một. Nó đặt một lớp bụi mỏng trên lòng sốt mến, rồi thêm một lớp nữa, rồi thêm một lớp nữa, cho đến một ngày con nhận ra ngọn lửa bên trong mình đã yếu đi rất nhiều mà không biết nó bắt đầu yếu từ lúc nào. Kẻ thù ấy là sự lười biếng thiêng liêng và sự trì hoãn. Đây là một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của đời sống nội tâm, chính vì người ta rất dễ sống chung với nó mà không cảm thấy mình đang phản bội điều gì nghiêm trọng. Người nóng giận còn biết mình vừa nổi nóng. Người sa ngã trong một lỗi nặng còn có thể bị lương tâm cắn rứt. Nhưng người lười biếng thiêng liêng có thể tiếp tục sống nhiều năm, vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc bổn phận, vẫn giữ một vài hình thức đạo đức, vẫn được người khác nhìn như một người tử tế, trong khi bên trong linh hồn đang mất dần sự bén nhạy đối với Thiên Chúa. Điều đáng sợ nhất không phải là người ấy hoàn toàn ngừng làm điều tốt, nhưng là họ làm mọi sự một cách miễn cưỡng, tối thiểu, trì trệ, thiếu lửa, thiếu sự hiện diện của trái tim, chỉ cốt sao đừng bị coi là bỏ bê. Họ vẫn sống, nhưng sống ở mức thấp nhất có thể. Họ vẫn cầu nguyện, nhưng cầu nguyện cho xong. Họ vẫn làm việc, nhưng làm vì bị buộc phải làm. Họ vẫn giữ bổn phận, nhưng luôn tìm con đường ít tốn sức nhất. Họ vẫn muốn nên thánh trên lý thuyết, nhưng không muốn trả giá bằng một sự cố gắng cụ thể ngay trong hôm nay. Và chính ở đây, linh hồn phải tỉnh thức. Bởi vì ma quỷ không cần lúc nào cũng xô con xuống vực sâu. Đôi khi nó chỉ cần làm cho con ngồi xuống bên đường. Nó không cần khiến con bỏ Chúa công khai. Nó chỉ cần khiến con cứ nói với Chúa rằng: “Ngày mai con sẽ bắt đầu.” Nó không cần cướp khỏi con mọi ước muốn tốt lành. Nó chỉ cần khiến những ước muốn ấy không bao giờ biến thành hành động. Một đời sống thiêng liêng có thể chết không phải vì một quyết định phản bội lớn lao, nhưng vì hàng ngàn sự trì hoãn bé nhỏ lặp đi lặp lại qua năm tháng.
Sự lười biếng thiêng liêng không đơn giản là thân xác cần nghỉ ngơi. Con phải phân biệt rất rõ điều này. Có những lúc thân xác mệt thật, thần kinh căng thẳng thật, trí óc cần được nghỉ thật. Chăm sóc sức khỏe, ngủ đủ, nghỉ ngơi hợp lý, giảm bớt công việc khi cần thiết không phải là lười biếng. Thân xác có giới hạn và người khôn ngoan phải tôn trọng giới hạn ấy. Người kiệt sức mà cứ cố làm thêm chưa chắc là người nhiệt thành; đôi khi đó chỉ là người thiếu khôn ngoan. Sự lười biếng thiêng liêng mà ta đang nói đến nằm sâu hơn. Nó là sự nặng nề của ý chí trước điều thiện. Nó là một thứ buồn chán trước những gì đòi con phải ra khỏi sự dễ chịu của chính mình. Nó là sự né tránh cái giá của lòng trung tín. Nó là tiếng nói âm thầm bên trong luôn tìm cách làm cho việc tốt bị lùi lại, bị rút ngắn, bị làm qua loa, hoặc bị thay thế bằng một việc khác dễ chịu hơn. Con dự định cầu nguyện, nhưng bỗng nhớ ra một tin nhắn cần trả lời. Con định xét mình, nhưng thấy hơi mệt nên quyết định để sáng mai. Con biết cần chuẩn bị kỹ một bài giảng, nhưng cứ lần lữa vì nghĩ còn nhiều thời gian. Con biết mình cần gặp một người đang đau khổ, nhưng lại tự nhủ hôm nay bận, mai cũng được. Con biết phải sửa một thói quen xấu, phải làm hòa với một người, phải xin lỗi, phải đi xưng tội, phải trở lại với một kỷ luật đã đánh mất, nhưng trong lòng cứ vang lên: “Chưa phải lúc.” Và lạ lùng thay, “chưa phải lúc” có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm. Sự trì hoãn không bao giờ nói thẳng rằng con đừng làm điều tốt. Nếu nó nói như thế, con sẽ nhận ra ngay. Nó khôn ngoan hơn. Nó chỉ nói: “Làm sau.” Chính chữ “sau” đã chôn vùi biết bao ơn gọi, biết bao quyết tâm, biết bao cơ hội hoán cải, biết bao giờ cầu nguyện, biết bao cuộc gặp gỡ đáng lẽ có thể cứu một linh hồn khỏi cô đơn. Một người có thể đánh mất đời mình không phải vì đã chọn điều xấu, nhưng vì cứ trì hoãn điều tốt.
Hỡi linh hồn, hãy nhìn kỹ vào bản chất của acedia, thứ mà truyền thống thiêng liêng đã nhận ra từ rất sớm như một chứng bệnh của tâm hồn. Nó không chỉ là “không thích làm việc”. Nó là một sự chán ngán đối với điều thiện thiêng liêng bởi vì điều thiện ấy đòi hỏi linh hồn phải bước ra khỏi chính mình. Khi người ta còn yêu Thiên Chúa cách sống động, một giờ cầu nguyện dù khô khan vẫn có ý nghĩa bởi người ta biết mình đang ở lại với Đấng mình yêu. Khi tình yêu nguội dần, cùng một giờ cầu nguyện trở thành một gánh nặng phải chịu. Khi lòng mến còn cháy, việc phục vụ một người khó tính vẫn có thể được đón nhận như một cơ hội hiến mình. Khi lòng mến nguội, người ấy chỉ còn thấy phiền. Khi lòng mến còn mạnh, một bổn phận âm thầm không ai biết vẫn có thể được làm cẩn thận vì Chúa thấy. Khi lòng mến yếu, người ta bắt đầu hỏi: “Làm cái này có ai biết không? Có ích gì không? Có đáng không?” Vậy nên sự lười biếng thiêng liêng thường không xuất hiện đầu tiên ở đôi tay, mà ở trái tim. Đôi tay ngừng làm vì trái tim đã không còn muốn trao mình. Và đôi khi người ta vẫn làm rất nhiều, vẫn bận rộn từ sáng đến tối, nhưng lại là một người lười biếng thiêng liêng. Đó là nghịch lý mà con phải hiểu. Có những người hoạt động không ngừng nhưng không chịu cầu nguyện. Có những người luôn có việc để làm nhưng không dám ngồi yên trước mặt Chúa. Có những người năng động trong mọi chuyện bên ngoài nhưng trì hoãn việc duy nhất cần thiết là để Chúa chạm vào chỗ sâu kín trong lòng họ. Họ có thể chạy trốn sự lười biếng bằng chính sự bận rộn. Vì vậy, đừng tưởng rằng cứ làm nhiều là đã thắng sự lười biếng thiêng liêng. Điều quan trọng là con có trung tín với điều Chúa đang đòi con hay không. Có khi điều Chúa muốn là làm việc. Có khi điều Chúa muốn là dừng lại. Có khi là phục vụ. Có khi là cầu nguyện. Có khi là nghỉ ngơi để ngày mai có thể phục vụ tốt hơn. Sự chuyên cần không phải là lúc nào cũng hoạt động; nó là sự sẵn sàng làm đúng điều phải làm, vào lúc phải làm, vì đúng lý do.
Có nhiều dấu hiệu rất nhỏ để nhận ra căn bệnh này. Hãy để ý mỗi khi con bắt đầu muốn rút ngắn những gì đáng lẽ cần được giữ. Một giờ cầu nguyện từ từ còn bốn mươi phút, rồi ba mươi phút, rồi mười lăm phút, không phải vì một nhu cầu thật sự nhưng vì tâm hồn không còn muốn ở lại. Việc xét mình buổi tối ban đầu được làm cẩn thận, rồi thành vài ý lướt qua, rồi biến mất. Việc đọc sách thiêng liêng dần bị thay bằng những nội dung dễ tiêu thụ hơn. Thời gian thinh lặng bị lấp đầy bằng điện thoại, tin tức, câu chuyện, công việc, những điều không xấu tự chúng nhưng khiến linh hồn không còn khoảng trống để nghe. Các quyết tâm được đưa ra rất nhiều nhưng ít được kiểm tra. Một lỗi được thú nhận hàng trăm lần mà không bao giờ có một chiến lược cụ thể để sửa. Một mối tương quan đang rạn nứt nhưng không ai chủ động hàn gắn. Một việc cần phải làm cứ được chuyển từ hôm nay sang ngày mai, từ tuần này sang tuần sau. Một lá thư cần viết, một người cần gọi, một lời xin lỗi cần nói, một cuộc thăm viếng cần thực hiện, một bài giảng cần chuẩn bị sớm, một cuốn sách cần đọc, một giờ chầu cần giữ, một quyết định cần đưa ra — tất cả cứ treo lơ lửng trong đời sống. Và điều nguy hiểm là sự trì hoãn càng kéo dài, linh hồn càng quen với việc không vâng lời những soi sáng nhỏ. Lần đầu tiên Chúa thúc con làm một việc, tiếng nói ấy rất rõ. Lần thứ hai, con trì hoãn, nó vẫn còn rõ. Lần thứ ba, con vẫn không làm, tiếng nói ấy bắt đầu nhỏ hơn. Không phải Thiên Chúa ngừng nói, nhưng lòng con đã quen với việc không đáp lại. Rồi dần dần, con có thể nghe mà không còn bị đánh động. Đây là một mất mát rất lớn trong đời sống thiêng liêng: mất sự mau mắn đối với ân sủng.
Sự lười biếng thiêng liêng còn thường đội lốt sự khôn ngoan. Nó nói với con rằng đừng quá cực đoan. Nó bảo con rằng hôm nay mệt thì thôi, ngày mai cầu nguyện bù. Nó nói rằng không cần phải quá nghiêm với mình. Nó viện dẫn sự cân bằng, sự tự do, sự thoải mái, sự “bình an”, nhưng mục đích thật của nó là làm ý chí mềm nhũn. Đương nhiên, đời sống thiêng liêng không được xây trên một sự khắc nghiệt bệnh hoạn. Nhưng con cũng đừng dùng lòng nhân từ đối với chính mình như một cái cớ để tha thứ cho mọi sự yếu đuối mà không bao giờ chiến đấu. Có một lòng thương xót thật và một sự nuông chiều giả. Lòng thương xót thật nhìn nhận con yếu nhưng vẫn giúp con đứng lên. Sự nuông chiều giả nói rằng vì con yếu nên cứ nằm đó. Lòng thương xót thật biết điều chỉnh nhịp độ nhưng không bỏ hướng đi. Sự nuông chiều giả dùng hoàn cảnh để từ bỏ mọi kỷ luật. Lòng thương xót thật nói: “Hôm nay con không thể làm một giờ, nhưng con sẽ trung tín mười lăm phút.” Sự nuông chiều nói: “Hôm nay không hoàn hảo thì thôi khỏi làm.” Con phải học nhận ra sự khác biệt này, bởi ma quỷ rất thích dùng chính lòng tốt của con đối với bản thân để làm con mất sức chiến đấu.
Nguồn gốc sâu xa của sự lười biếng thiêng liêng thường nằm trong sự tự ái. Ý riêng muốn được dễ chịu. Nó không thích bị từ chối. Nó muốn cầu nguyện khi thấy sốt sắng, phục vụ khi được ghi nhận, hy sinh khi thấy mình cao thượng, làm việc khi có cảm hứng. Nhưng đời sống thiêng liêng thật không được xây bằng cảm hứng. Tình yêu thật chứng tỏ chính nó khi cảm xúc không còn nâng đỡ. Ai chỉ cầu nguyện khi thấy thích thì thực ra đang yêu cảm giác cầu nguyện hơn là yêu Thiên Chúa. Ai chỉ phục vụ khi thấy hăng hái thì có nguy cơ yêu sự thỏa mãn của việc phục vụ hơn là yêu người mình phục vụ. Ai chỉ làm việc tốt khi thấy kết quả thì có thể đang tìm thành công chứ chưa chắc đang tìm thánh ý Chúa. Thiên Chúa thường để linh hồn bước qua những giai đoạn khô khan precisamente để thanh luyện tình yêu. Ngài muốn con có thể nói: “Lạy Chúa, hôm nay con không thấy gì cả, không thích gì cả, không được an ủi gì cả, nhưng con vẫn ở đây vì Chúa xứng đáng được con yêu ngay cả khi con không cảm thấy mình đang yêu.” Chính những giờ cầu nguyện như thế, những bổn phận như thế, những hy sinh như thế có thể quý trước mặt Chúa hơn rất nhiều so với những lúc con tràn đầy cảm xúc.
Một nguyên nhân khác của sự trì hoãn là nỗi sợ thất bại. Có người không bắt đầu vì lười, nhưng có người không bắt đầu vì sợ mình không làm tốt. Cầu toàn là một trong những chiếc mặt nạ tinh tế của sự trì hoãn. “Nếu chưa có đủ thời gian thì thôi.” “Nếu không thể làm thật hay thì để lúc khác.” “Nếu không cầu nguyện được cách sốt sắng thì thôi.” “Nếu không thể sửa triệt để thói xấu này thì chưa cần bắt đầu.” Chính suy nghĩ ấy giữ linh hồn đứng yên. Con muốn một khởi đầu hoàn hảo, trong khi Thiên Chúa chỉ đòi một bước chân nhỏ. Con muốn thay đổi cả cuộc đời trong một ngày, trong khi Chúa chỉ hỏi: “Hôm nay con có thể vâng lời Ta trong điều gì?” Đừng coi thường những khởi đầu bé nhỏ. Một người ngồi xuống cầu nguyện năm phút trong lúc rất muốn bỏ cuộc đang làm một việc lớn. Một linh mục mở tài liệu và bắt đầu chuẩn bị bài giảng sớm hơn thường lệ mười phút đang đánh một trận thật. Một tu sĩ tắt điện thoại để giữ đúng giờ thinh lặng đang lấy lại một mảnh đất. Một người đã trì hoãn việc xin lỗi nhiều tháng mà hôm nay bước đến nói một câu đơn sơ đang phá vỡ một xiềng xích. Thiên Chúa không đòi con phải giải quyết tất cả ngay lập tức. Ngài đòi con ngừng trốn tránh bước kế tiếp.
Sự chán nản cũng nuôi dưỡng acedia. Con đã cố gắng nhiều lần. Con đã quyết tâm nhiều lần. Con đã ngã nhiều lần. Con bắt đầu nghĩ rằng cố gắng cũng vô ích. “Tôi vẫn nóng giận như thế.” “Tôi vẫn chia trí như thế.” “Tôi vẫn yếu đuối như thế.” “Tôi cầu nguyện bao nhiêu năm mà vẫn không khá hơn.” Và từ chỗ thất vọng về kết quả, con bắt đầu giảm sự cố gắng. Đây là một cạm bẫy rất nguy hiểm. Con đang đo đời sống thiêng liêng bằng cảm giác tiến bộ, trong khi Thiên Chúa có thể đang làm việc ở một tầng sâu mà con không thấy. Có những chiến thắng không nằm ở việc con không còn bị cám dỗ, nhưng ở việc con đứng lên nhanh hơn sau cám dỗ. Có những tiến bộ không nằm ở việc con không còn yếu, nhưng ở chỗ con bớt tự mãn về sức mình. Có những ơn lớn không làm con thấy mình mạnh hơn, nhưng làm con biết chạy đến với Chúa sớm hơn. Nếu Thiên Chúa chỉ cho con thấy toàn bộ tiến bộ của mình, có khi con lại trở nên kiêu ngạo. Vì thế đừng chờ thấy mình khá rồi mới tiếp tục. Con chiến đấu không phải vì thấy mình thắng, nhưng vì Chúa đáng để con trung tín.
Đối với linh mục và tu sĩ, sự lười biếng thiêng liêng có một hình thức đặc biệt nguy hiểm: lấy công việc tông đồ thay cho đời sống nội tâm. Người ta có thể rất bận. Lịch kín. Đi đây đi đó. Gặp gỡ nhiều người. Giảng dạy, tổ chức, điều hành, trả lời điện thoại, họp hành, giải quyết vô số việc. Bề ngoài không ai có thể nói người ấy lười. Nhưng sâu bên trong, giờ cầu nguyện riêng ngày càng ngắn, việc xét mình ngày càng hiếm, sự thinh lặng trở nên khó chịu, Thánh Lễ có nguy cơ bị cử hành trong quán tính, bài giảng được chuẩn bị vội vàng, người ta bắt đầu sống bằng “vốn cũ” của kiến thức và kinh nghiệm. Đây là một lười biếng rất tinh tế: lười bước vào chiều sâu. Bởi hoạt động bên ngoài đôi khi dễ hơn là đối diện với Thiên Chúa trong thinh lặng. Trong hoạt động, ta có thể cảm thấy mình hữu ích. Trong cầu nguyện, ta có thể phải nhìn thấy sự nghèo nàn của mình. Trong công việc, người khác có thể khen. Trong thinh lặng, chỉ còn mình với Chúa. Vì thế, một linh mục có thể rất chăm làm việc mà vẫn đang mắc chứng acedia trong đời sống nội tâm. Và khi nguồn nước bên trong khô dần, sớm muộn gì hoạt động bên ngoài cũng trở thành khô cứng, cáu gắt, máy móc hoặc tìm bù trừ nơi những thú vui khác.
Hậu quả của sự lười biếng thiêng liêng không xuất hiện một cách đột ngột. Nó giống như một căn nhà bị thấm nước từng chút một. Ban đầu chỉ là một vết ố nhỏ trên tường. Không ai lo. Rồi vết ố rộng hơn. Sơn bong ra. Gỗ mục. Kết cấu yếu dần. Đến một ngày, cả phần lớn căn nhà đã bị hư mà người ta vẫn không nhớ nước bắt đầu thấm từ đâu. Linh hồn cũng vậy. Ban đầu chỉ là bỏ một giờ cầu nguyện. Rồi thấy không sao. Sau đó bỏ thêm. Rồi quen. Ban đầu chỉ là làm bổn phận hơi qua loa. Rồi thấy chẳng ai nhắc. Sau đó mức chuẩn hạ xuống. Ban đầu chỉ là trì hoãn một việc. Rồi trì hoãn nhiều việc. Cuối cùng, con người mất dần khả năng làm ngay điều mình biết phải làm. Ý chí trở nên mềm. Một linh hồn có ý chí mềm yếu sẽ rất khó đứng vững khi cám dỗ mạnh đến. Người ta thường tưởng rằng những sa ngã lớn xảy ra bất ngờ. Không hẳn. Rất nhiều sa ngã lớn đã được chuẩn bị bởi hàng trăm lần dễ dãi nhỏ. Một người không tập nói “không” với sự trì hoãn trong những việc nhỏ sẽ rất khó nói “không” khi đam mê tấn công trong những việc lớn.
Sự trì hoãn còn đánh cắp những cơ hội không bao giờ quay lại. Có những việc có thể làm ngày mai. Nhưng có những điều chỉ có thể làm hôm nay. Người đau khổ cần con hôm nay. Một lời động viên cần được nói hôm nay. Một người già cần được thăm hôm nay. Một đứa trẻ đang cần được lắng nghe hôm nay. Một linh hồn đang đứng trước ngã rẽ cần một mục tử hôm nay. Một người đang cô đơn có thể không còn ở đó ngày mai. Một cơ hội làm hòa có thể đóng lại. Một ân huệ có thể qua đi. Chúng ta thường sống như thể mình có vô hạn thời gian. Nhưng đời người được làm bằng những ngày không bao giờ trở lại. Ngày hôm nay trôi qua là mất hẳn. Con không thể sống lại ngày 19 tháng 8 của đời mình. Con có thể làm điều tốt vào ngày mai, nhưng đó sẽ là điều tốt của ngày mai, không thể bù hoàn toàn cho điều hôm nay con đã từ chối. Điều này không nhằm làm con lo âu, nhưng để con quý trọng thời gian như một ân huệ. Thánh thiện không được xây trong một tương lai tưởng tượng. Nó chỉ có thể được xây trong hiện tại. Con không thể yêu Chúa “ngày mai”. Con chỉ có thể yêu Ngài bây giờ. Con không thể vâng lời Chúa “khi thuận tiện”. Con chỉ có thể vâng lời trong hoàn cảnh Ngài đang đặt trước mặt con.
Vậy phải chiến đấu thế nào? Trước hết, con phải học một nguyên tắc rất đơn sơ nhưng mạnh mẽ: khi biết rõ một việc tốt cần phải làm và không có lý do nghiêm túc để trì hoãn, hãy bắt đầu ngay. Đừng thương lượng quá lâu với cảm xúc. Cảm xúc càng được mời vào bàn thương lượng, nó càng đưa ra nhiều lý do. “Chờ chút nữa.” “Uống cà phê đã.” “Xem tin này đã.” “Nghỉ năm phút.” “Mai làm cũng được.” Hãy cắt ngang cuộc thương lượng ấy bằng một hành vi cụ thể. Đứng dậy. Mở sách. Quỳ xuống. Cầm điện thoại gọi. Bắt đầu viết. Đi đến nơi cần đến. Hành động đầu tiên phải xảy ra trước khi trí óc kịp dựng lên thêm lý do. Có những cuộc chiến không thắng bằng suy nghĩ nhiều hơn nhưng bằng việc bắt đầu sớm hơn. Khi con đã ngồi vào bàn, việc viết dễ hơn. Khi con đã quỳ xuống, cầu nguyện dễ hơn. Khi con đã mở sách, đọc tiếp dễ hơn. Khi con đã đi được năm phút, cuộc thăm viếng không còn nặng như lúc con chỉ nghĩ đến nó. Sự lười biếng thường mạnh nhất ở ngưỡng cửa. Qua được ngưỡng cửa, sức mạnh của nó giảm đi đáng kể.
Hãy áp dụng nguyên tắc “một phút đầu tiên”. Khi có một việc bổn phận rõ ràng, trong vòng một phút hãy làm một hành động mở đầu. Không cần hoàn thành cả việc. Chỉ cần mở đầu. Con phải cầu nguyện? Hãy đặt điện thoại xuống và làm dấu Thánh Giá. Con phải chuẩn bị bài giảng? Hãy mở bản văn Tin Mừng và viết câu đầu tiên. Con phải xét mình? Hãy ngồi xuống và hỏi: “Hôm nay tôi đã sống cho ai?” Con phải xin lỗi? Hãy soạn lời đầu tiên hoặc đi tìm người ấy. Con phải đọc sách? Hãy đọc một trang. Con phải dọn lại đời sống? Hãy bắt đầu từ một ngăn nhỏ. Con sẽ khám phá rằng nhiều cái gọi là “không thể” thực ra chỉ là “không muốn bắt đầu”. Việc lớn trở nên đáng sợ khi còn nằm nguyên trong đầu. Một khi được chia thành bước nhỏ, nó trở nên có thể.
Bởi vậy chiến thuật thứ hai là: chia mọi quyết tâm lớn thành những hành động nhỏ đến mức con không còn lý do để né tránh. Đừng nói: “Từ nay tôi sẽ cầu nguyện thật sâu.” Hãy nói: “Sáng mai, từ 5 giờ 30 đến 5 giờ 45, tôi sẽ ở yên trước mặt Chúa và không cầm điện thoại.” Đừng nói: “Tôi sẽ đọc nhiều sách thiêng liêng.” Hãy nói: “Mỗi tối tôi đọc ba trang.” Đừng nói: “Tôi sẽ sửa tính nóng giận.” Hãy nói: “Ngày mai, mỗi khi bị trái ý, tôi sẽ im lặng ba giây trước khi trả lời.” Đừng nói: “Tôi sẽ sống bác ái hơn.” Hãy nói: “Hôm nay tôi sẽ chủ động hỏi thăm một người mình thường bỏ quên.” Các quyết tâm mơ hồ nuôi dưỡng trì hoãn. Các hành động cụ thể phá vỡ nó. Ý chí được huấn luyện không bằng những khẩu hiệu hùng hồn, mà bằng những hành vi nhỏ được lặp lại.
Chiến thuật thứ ba là thiết lập một vài cột trụ không thương lượng trong ngày sống. Con không thể giữ mọi thứ hoàn hảo, nhưng phải có vài điểm không được phép tùy hứng. Nếu đời sống thiêng liêng hoàn toàn lệ thuộc vào cảm xúc và lịch sinh hoạt ngẫu nhiên, nó sẽ sớm tan. Hãy chọn những việc cốt lõi và giữ chúng như người lính giữ vị trí chiến lược. Giờ cầu nguyện sáng. Thánh Lễ và việc chuẩn bị Thánh Lễ. Một khoảng Lời Chúa. Việc xét mình buổi tối. Một khoảng thinh lặng. Có thể mỗi người có hoàn cảnh khác nhau, nhưng phải có điều gì đó được cố định. Không phải cố định một cách cứng ngắc bất nhân, nhưng đủ vững để tâm hồn biết rằng: “Việc này là ưu tiên.” Khi một cuộc điện thoại không cần thiết muốn chen vào, con biết phải từ chối. Khi một cuộc trò chuyện vô ích kéo dài, con biết phải dừng. Khi điện thoại mời gọi, con biết mình không được phép để nó ăn hết khoảng dành cho Chúa. Kỷ luật lúc đầu có thể thấy nặng, nhưng dần dần nó giải phóng. Người không có kỷ luật luôn phải quyết định lại từ đầu, và chính việc phải quyết định lại mỗi ngày làm họ mệt. Người đã có nếp sống không cần mỗi sáng tranh luận xem có cầu nguyện hay không. Giờ cầu nguyện đến thì cầu nguyện. Giống như không phải mỗi sáng con ngồi cân nhắc xem có đánh răng hay không. Khi điều tốt trở thành nếp, ý chí được tiết kiệm cho những cuộc chiến lớn hơn.
Nhưng hãy nhớ: kỷ luật không phải là Thiên Chúa. Đừng biến kỷ luật thành ngẫu tượng. Có những lúc bổn phận bác ái thật sự đòi con thay đổi chương trình. Có người bệnh cần con. Có tình huống mục vụ khẩn cấp. Có thân xác cần nghỉ vì quá kiệt sức. Đức khôn ngoan phải hướng dẫn kỷ luật. Nhưng con cần thành thật: bao nhiêu lần ta nói “hoàn cảnh buộc tôi phải bỏ giờ cầu nguyện” trong khi hoàn cảnh ấy chỉ là vài tin nhắn, vài tin tức, vài phút lướt mạng kéo dài thành một giờ? Bao nhiêu lần ta viện cớ mục vụ nhưng thực ra đã tự sắp xếp đời mình thiếu trật tự? Hãy nghiêm khắc với lý do của mình nhưng dịu dàng với sự yếu đuối thật. Đó là một nghệ thuật thiêng liêng cần học cả đời.
Chiến thuật thứ tư là điều rất quan trọng: đừng chờ sự nặng nề biến mất rồi mới làm; hãy mang chính sự nặng nề ấy vào hành động. Con sẽ có những ngày không muốn cầu nguyện. Có những ngày mở mắt ra đã thấy tâm hồn xám xịt. Có những ngày mọi bổn phận đều nặng. Nếu con đặt nguyên tắc rằng chỉ làm khi thấy muốn, con sẽ trở thành nô lệ của khí sắc. Người trưởng thành thiêng liêng biết làm điều tốt ngay khi cảm xúc chống lại. Con có thể nói với Chúa: “Lạy Chúa, con không muốn ở đây. Con đang mệt. Con thấy lòng mình khô khan. Con không có gì để nói với Chúa. Nhưng con vẫn ở lại.” Đừng nghĩ lời cầu nguyện như thế kém giá trị. Có thể đó là một trong những lời cầu nguyện tinh tuyền nhất, bởi lúc ấy con chẳng nhận được gì cho cảm xúc của mình. Con chỉ dâng sự hiện diện. Tình yêu đạt đến chiều sâu khi có thể ở lại mà không cần được thưởng bằng cảm giác dễ chịu.
Hãy biến chính sự nặng nề thành của lễ. Khi phải làm một việc mà con ngại, thay vì than trách, hãy nói: “Lạy Chúa, con dâng cho Chúa mười phút đầu tiên khó chịu này.” Khi đứng trước một người làm con mệt, hãy dâng sự khó chịu ấy. Khi phải chuẩn bị một việc mà con muốn trì hoãn, hãy dâng sự cưỡng lại ban đầu. Những của lễ nhỏ này làm đời sống trở nên phụng vụ. Không phải chỉ trong nhà thờ con mới dâng lễ. Cả ngày sống có thể trở thành bàn thờ. Sự mệt mỏi là bánh. Sự miễn cưỡng là rượu. Ý chí chọn Chúa là lửa thiêu của lễ. Và từng lần như thế, bản tính cũ bị lấy đi một phần quyền lực.
Chiến thuật thứ năm là đóng cửa những nguồn nuôi sự trì hoãn. Đừng chỉ trách ý chí nếu con liên tục đặt nó giữa vô số cám dỗ sao nhãng. Một người muốn cầu nguyện mà điện thoại nằm bên cạnh, sáng màn hình mỗi phút, thì đang bắt ý chí phải chiến đấu trong điều kiện bất lợi. Một người muốn đọc sách nhưng cứ để mạng xã hội mở trước mắt thì đang tự làm mình yếu. Một người muốn ngủ đúng giờ mà tối nào cũng cầm điện thoại trên giường thì không chỉ có vấn đề “thiếu quyết tâm”; họ có một môi trường nuôi trì hoãn. Hãy làm những thay đổi thực tế. Để điện thoại xa nơi cầu nguyện. Tắt thông báo không cần thiết. Quy định giờ dừng công việc. Chuẩn bị những thứ cần thiết từ tối hôm trước. Làm cho điều tốt dễ bắt đầu hơn và điều xấu khó tiếp cận hơn. Đức khôn ngoan không chỉ chiến đấu bên trong; nó còn sắp xếp bên ngoài để giảm những cuộc chiến không cần thiết.
Chiến thuật thứ sáu là đừng ôm quá nhiều quyết tâm một lúc. Người lười biếng đôi khi lại thích đưa ra những chương trình rất lớn vì chương trình lớn tạo cảm giác mình đang thay đổi mà chưa phải làm gì ngay. Con có thể lên một kế hoạch hoàn hảo cho cả năm, mua sổ mới, viết hàng chục mục tiêu, sắp lịch đẹp đẽ, nhưng sau một tuần tất cả sụp đổ. Tại sao? Vì ý chí chưa đủ sức giữ quá nhiều mặt trận. Hãy chọn một hoặc hai điểm thiết yếu. Kiên trì. Khi chúng thành nếp, mới thêm điều khác. Thà cầu nguyện mười lăm phút mỗi ngày trong một năm còn hơn quyết định cầu nguyện hai giờ rồi bỏ sau bốn ngày. Thà đọc ba trang đều đặn còn hơn mua mười cuốn sách và không đọc cuốn nào. Thà sửa một thói xấu thật sự còn hơn mỗi tối ân hận về mười khuyết điểm mà không có chiến lược nào.
Hãy đặc biệt cảnh giác với câu “từ thứ Hai tôi sẽ bắt đầu”, “đầu tháng tôi sẽ làm”, “sau kỳ này”, “khi công việc bớt”, “khi khỏe hơn”, “khi có hứng hơn”. Có những lúc thực sự cần chọn một thời điểm hợp lý. Nhưng rất nhiều lần, những mốc ấy chỉ là cách trì hoãn được trang trí đẹp hơn. Đời sống không bao giờ hoàn toàn thuận lợi. Sau giai đoạn bận này sẽ có một giai đoạn bận khác. Sau khó khăn này sẽ có khó khăn khác. Nếu con chờ một đời sống hoàn hảo để sống thiêng liêng, con sẽ chờ đến chết. Thiên Chúa không hứa cho con một hoàn cảnh lý tưởng. Ngài đến gặp con trong hoàn cảnh hiện tại. Chính nơi căn phòng lộn xộn này. Chính trong lịch trình bận rộn này. Chính với thân xác đang mệt này. Chính giữa những con người làm con khó chịu này. Chính hôm nay.
Điều quan trọng hơn mọi kỹ thuật là phải khơi lại tình yêu. Bởi nếu chỉ dùng kỷ luật để chiến đấu với sự lười biếng, con có thể trở thành một người cứng nhắc. Kỷ luật giúp con đứng dậy, nhưng tình yêu cho con lý do để đi. Hãy thường xuyên trở lại với Chúa Giêsu. Không phải chỉ trở lại với những bổn phận về Ngài, nhưng với chính Ngài. Hãy nhìn Ngài trong Vườn Dầu. Ngài có muốn đau khổ không? Nhân tính Ngài run sợ. Mồ hôi như máu. Ngài cầu xin nếu có thể, xin cho chén này qua đi. Nhưng rồi: “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Đó là chiến thắng hoàn hảo trên sự trì hoãn. Chúa Giêsu không chờ đến khi cảm thấy thích thập giá. Ngài bước vào thánh ý Cha giữa nỗi kinh hoàng. Hãy nhìn Ngài vác thập giá. Mỗi bước nặng hơn bước trước. Ngài ngã xuống nhưng đứng lên. Không phải vì đường bỗng dễ, nhưng vì tình yêu còn lớn hơn đau đớn. Khi con thấy ngại làm một việc tốt, hãy đặt sự ngại ấy bên cạnh thập giá. Không phải để tự kết án mình, nhưng để nhớ rằng con đang yêu một Đấng đã không trì hoãn việc hiến mình cho con.
Chúa Giêsu đã không nói: “Để ngày mai Ta cứu chúng.” Ngài đã không đợi nhân loại biết ơn rồi mới chết cho nhân loại. Ngài đã không đợi các môn đệ hiểu Ngài. Ngài đi đến cùng giữa sự phản bội, cô đơn, đau đớn. Nếu con thật sự chiêm ngắm tình yêu ấy, một câu hỏi sẽ dần lớn lên trong lòng: “Tôi còn muốn tiếc gì với Ngài?” Tình yêu làm cho hy sinh có ý nghĩa. Một người mẹ có thể thức đêm bên con bệnh mà không gọi đó là “kỷ luật”; tình yêu kéo bà ra khỏi giường. Một người yêu thật sự có thể đi rất xa để gặp người mình yêu mà không thấy đó là gánh. Nếu cầu nguyện quá nặng, đừng chỉ hỏi: “Làm sao ép mình cầu nguyện?” Hãy hỏi sâu hơn: “Tôi có còn biết mình đang gặp Ai không?” Nếu phục vụ quá nặng, hãy hỏi: “Tôi có còn nhìn thấy Đức Kitô nơi người này không?” Nếu đời sống thánh hiến trở nên chỉ còn những công việc phải làm, hãy hỏi: “Tôi có còn nhớ vì Ai tôi đã bắt đầu không?” Sự lười biếng thiêng liêng nhiều khi là một tiếng chuông báo rằng trái tim cần được yêu lại.
Hãy nhớ những ngày đầu của ơn gọi, những lần con đã được Chúa chạm đến, những giờ phút con biết rõ mình thuộc về Ngài. Không phải để sống trong hoài niệm, nhưng để thấy rằng tình yêu ấy chưa chết. Nó có thể bị tro phủ. Hãy thổi lại. Hãy xin: “Lạy Chúa, xin cho con lại yêu Chúa.” Đây có thể là lời cầu nguyện cần thiết nhất khi linh hồn nguội. Đừng xấu hổ vì phải xin được yêu lại. Đừng cố sản xuất lòng sốt sắng bằng sức mình. Hãy đến với Chúa như người nghèo. “Con không còn lửa, Chúa hãy cho con lửa. Con không còn muốn cầu nguyện, xin Chúa ban cho con lòng muốn muốn cầu nguyện. Con không còn tha thiết nên thánh, xin Chúa làm cho con lại khao khát.” Thiên Chúa có thể làm rất nhiều với một linh hồn biết mình lạnh nhưng thành thật xin lửa.
Nhân đức đối nghịch với sự lười biếng thiêng liêng không phải là cuống cuồng làm nhiều. Đó là sự chuyên cần, hay nói đẹp hơn, một sự mau mắn của tình yêu. Chuyên cần là khi ý chí đã được huấn luyện đến mức nghe thấy bổn phận và đáp lại mà không kéo dài cuộc thương lượng. Nó không hấp tấp. Nó không ồn ào. Nó bình tĩnh nhưng dứt khoát. Việc gì phải làm thì làm. Lúc nghỉ thì nghỉ. Lúc cầu nguyện thì cầu nguyện. Lúc phục vụ thì phục vụ. Không làm mọi sự nửa vời. Không để tâm trí ở nơi khác. Sự chuyên cần đem linh hồn về với hiện tại. Nó nói: “Bây giờ là lúc yêu.” Người chuyên cần không sống bằng những dự định vĩ đại nhưng bằng sự trung tín với phút hiện tại.
Và cùng với sự chuyên cần là sự trung tín nhỏ bé. Đây có lẽ là bí quyết lớn nhất của đời sống thiêng liêng. Thiên Chúa không đòi con mỗi ngày làm điều anh hùng. Phần lớn cuộc đời được làm bằng những việc bình thường: thức dậy, cầu nguyện, ăn uống, làm việc, gặp gỡ, phục vụ, chịu đựng, xin lỗi, nghỉ ngơi, rồi bắt đầu lại. Nên thánh là để tình yêu thấm vào những điều ấy. Người ta thường chờ một dịp lớn để chứng minh lòng trung thành, trong khi Chúa đang đứng trong những việc nhỏ. Một giờ đúng giờ. Một lời nói được giữ lại. Một tin nhắn được trả lời tử tế. Một bổn phận làm xong trước khi đi nghỉ. Một giờ cầu nguyện không rút ngắn. Một lời kinh đọc chậm hơn. Một người được lắng nghe thêm năm phút. Một cơn buồn ngủ được vượt qua để hoàn tất việc cần thiết. Một lần đứng dậy ngay sau khi sa ngã thay vì nằm đó than thân. Những điều rất nhỏ ấy tích lại thành một linh hồn mạnh.
Đừng khinh thường một chiến thắng nhỏ trên sự trì hoãn. Mỗi lần con làm ngay điều phải làm, ý chí được thêm một chút sức. Mỗi lần con trì hoãn không lý do, ý chí mất một chút sức. Cuộc chiến này giống như tập một cơ bắp. Không ai nâng một khối nặng ngay ngày đầu. Nhưng từng lần luyện, cơ bắp mạnh lên. Ý chí cũng vậy. Nếu con đang rất yếu trong kỷ luật, đừng tuyệt vọng. Hôm nay hãy thắng một việc. Ngày mai thắng thêm một việc. Khi nghe tiếng “để lát nữa”, con hãy mỉm cười và làm ngay. Sau vài tuần, con sẽ thấy một thay đổi. Không phải mọi việc bỗng dễ, nhưng con bắt đầu tin rằng mình không bắt buộc phải vâng theo cảm giác. Đây là một tự do rất lớn.
Và khi con thất bại, đừng dùng thất bại làm cớ để bỏ luôn cả ngày. Đây là một mưu khác của lười biếng. Con bỏ giờ cầu nguyện sáng, rồi nghĩ ngày hôm nay coi như hỏng, thế là bỏ luôn giờ tối. Con lỡ một ngày đọc sách, rồi bỏ cả tuần. Con phá kỷ luật một lần, rồi nói: “Tôi chẳng bao giờ làm được.” Không. Hãy trở lại ngay tại điểm gần nhất. Bỏ giờ sáng? Giữ giờ trưa. Ngã lúc 10 giờ? Bắt đầu lại lúc 10 giờ 5. Đời sống thiêng liêng không có khái niệm “ngày hỏng hoàn toàn” nếu con biết trở lại. Ma quỷ thích chủ nghĩa tất cả hoặc không gì cả. Thiên Chúa làm việc với từng khoảnh khắc. Một phút trước con có thể thất bại. Phút này con có thể yêu. Đừng trao cho một lỗi nhỏ quyền phá hỏng cả ngày.
Hỡi linh mục, hỡi tu sĩ, hỡi linh hồn đã được Chúa gọi cách đặc biệt, hãy tự hỏi mình một câu khó: có bao nhiêu ơn đã bị trì hoãn trong đời tôi? Không phải để dằn vặt, nhưng để thức tỉnh. Có bao nhiêu bài giảng đáng lẽ phải được sinh ra từ cầu nguyện nhưng đã được soạn vội? Có bao nhiêu người đáng lẽ được thăm? Có bao nhiêu giờ trước Thánh Thể đáng lẽ được giữ? Có bao nhiêu lần Chúa mời gọi bước sâu hơn nhưng tôi nói “để lúc khác”? Có bao nhiêu việc mục vụ tôi làm ở mức đủ qua vì không muốn bỏ thêm công? Có bao nhiêu Thánh Lễ tôi cử hành với thân xác ở bàn thờ nhưng tâm trí đã chạy đến việc kế tiếp? Câu hỏi này đau, nhưng hữu ích nếu nó đưa ta trở lại. Bởi Thiên Chúa không chỉ gọi ta “làm chức vụ”. Ngài gọi ta thuộc về Ngài, và từ sự thuộc về ấy mà phục vụ. Một linh mục lười biếng thiêng liêng không chỉ làm nghèo mình. Đời sống nghèo của người mục tử có thể làm cả đoàn chiên nghèo theo. Nếu người mục tử không còn lửa, lời giảng dễ lạnh. Nếu người mục tử không còn cầu nguyện, lời khuyên dễ trở thành kỹ thuật. Nếu người mục tử trì hoãn những bổn phận nhỏ, người yếu đuối có thể phải trả giá.
Nhưng đừng để những lời ấy làm con tuyệt vọng. Chúa có thể bắt đầu lại với con ngay hôm nay. Không cần đợi một kỳ tĩnh tâm lớn. Không cần đợi một biến cố chấn động. Có thể cuộc phục hưng của đời sống thiêng liêng bắt đầu bằng việc con tắt điện thoại sớm hơn tối nay. Có thể bắt đầu bằng mười lăm phút thinh lặng sáng mai. Có thể bắt đầu bằng một lời xin lỗi. Có thể bắt đầu bằng việc con chuẩn bị Thánh Lễ cẩn thận hơn. Có thể bắt đầu bằng việc mở lại cuốn sách đã bỏ. Có thể bắt đầu bằng cách đi ngủ đúng giờ để sáng mai không còn lý do. Ân sủng thích những cánh cửa nhỏ. Hãy mở một cánh cửa.
Đừng hỏi: “Tôi có đủ sức thay đổi cả đời không?” Câu hỏi ấy quá lớn và không cần thiết. Hãy hỏi: “Bước kế tiếp là gì?” Rồi làm bước ấy. Người leo núi không đứng dưới chân núi và nghĩ từng mét đường đến đỉnh cùng lúc. Họ đặt chân lên bước trước mặt. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Bước hôm nay. Rồi bước ngày mai. Rồi ngày kia. Có những ngày rất đẹp. Có những ngày rất nặng. Nhưng nếu con tiếp tục bước, Chúa sẽ dùng chính sự kiên trì ấy để biến đổi con.
Hãy luôn nhớ rằng thời gian là một trong những tài sản Chúa trao mà con không thể lấy lại. Tiền mất có thể kiếm. Sức khỏe mất có thể đôi khi phục hồi. Một cơ hội mất có thể có cơ hội khác. Nhưng giờ đã trôi thì vĩnh viễn không trở lại. Sự trì hoãn đánh cắp đời con bằng cách ăn từng lát mỏng đến mức con không nhận ra. Mười phút hôm nay. Hai mươi phút ngày mai. Một giờ tối kia. Một buổi sáng lãng phí. Một tuần sống không mục đích. Rồi một năm. Rồi mười năm. Đến lúc ngoảnh lại, con tự hỏi: “Những năm ấy đã đi đâu?” Vì vậy hãy sống thời gian với lòng biết ơn. Không phải lúc nào cũng làm việc, nhưng lúc nào cũng sống có ý thức. Nghỉ thì nghỉ thật. Cầu nguyện thì cầu nguyện thật. Nói chuyện thì hiện diện thật. Làm việc thì làm thật. Đừng để đời mình tan thành những mảnh chú ý vụn.
Sự chuyên cần Kitô giáo không sinh ra từ nỗi sợ chết mà từ lòng biết ơn vì được sống. Mỗi ngày Chúa cho con thêm một buổi sáng là một ngày con còn có thể yêu. Còn có thể sửa một lỗi. Còn có thể phục vụ một người. Còn có thể cầu nguyện. Còn có thể trở về. Người sống như thế không cần vội vàng, nhưng không trì hoãn. Họ biết cuộc đời hữu hạn nên không phung phí nó. Họ cũng biết Thiên Chúa nhân từ nên không hoảng hốt. Họ bước trong một sự nghiêm túc bình an.
Và khi sự lười biếng nói: “Mai hãy bắt đầu”, con hãy trả lời: “Không. Tôi sẽ làm một phần ngay bây giờ.” Khi nó nói: “Việc này quá lớn”, hãy trả lời: “Tôi chỉ làm bước đầu.” Khi nó nói: “Mày đã thất bại quá nhiều”, hãy trả lời: “Tôi có thể bắt đầu lại một lần nữa.” Khi nó nói: “Không thấy kết quả gì”, hãy trả lời: “Tôi không làm vì kết quả trước mắt, tôi làm vì Chúa.” Khi nó nói: “Mày không có cảm hứng”, hãy trả lời: “Tình yêu không lệ thuộc cảm hứng.” Khi nó nói: “Chẳng ai biết đâu”, hãy trả lời: “Chúa biết.” Khi nó nói: “Bỏ một lần không sao”, hãy trả lời: “Có thể không sao, nhưng hôm nay tôi muốn thuộc về Chúa.” Đừng tranh luận lâu. Hãy hành động.
Hỡi linh hồn, có thể cả cuộc chiến nên thánh của con sẽ được quyết định nhiều hơn trong những giây phút nhỏ bé như thế hơn là trong những biến cố lớn lao. Khi chuông báo thức reo và con muốn nằm thêm. Khi giờ cầu nguyện đến và con muốn cầm điện thoại. Khi một bổn phận khó chịu đứng trước mặt. Khi một người cần con nhưng con muốn yên thân. Khi một lời xin lỗi mắc ở cổ. Khi con biết cần dừng một thói quen đang nuốt thời gian. Những khoảnh khắc ấy là chiến trường. Không ai thấy. Không có tiếng vỗ tay. Nhưng thiên đàng nhìn thấy một ý chí đang chọn Thiên Chúa.
Cuối cùng, hãy nhìn vào Đức Kitô một lần nữa. Ngài đã yêu đến cùng. Không nửa chừng. Không “khi thuận lợi”. Không “khi được hiểu”. Không “khi các môn đệ trung thành”. Ngài yêu đến cùng. Đó phải là mẫu mực của sự chuyên cần nơi con. Con có thể yếu, nhưng hãy yêu đến cùng trong sự yếu ấy. Con có thể ngã, nhưng hãy đứng lên đến cùng. Con có thể khô khan, nhưng hãy ở lại đến cùng. Con có thể mệt, nhưng hãy trung tín trong mức có thể đến cùng. Thiên Chúa không đòi con là một người không bao giờ mệt. Ngài đòi con đừng biến sự mệt thành lối sống buông xuôi. Ngài không đòi con không bao giờ chán. Ngài đòi con đừng để sự chán quyết định điều con sẽ làm. Ngài không đòi con hoàn hảo ngay. Ngài đòi con đừng trì hoãn sự đáp trả.
Vậy hôm nay, đừng đưa ra mười quyết tâm. Hãy nhìn vào đời mình và hỏi một câu duy nhất: điều tốt nào tôi đã biết phải làm nhưng đang trì hoãn? Đừng chọn điều quá lớn. Chọn một điều thật. Rồi bắt đầu. Ngay hôm nay. Có thể ngay sau khi đọc xong những dòng này. Đừng chờ cảm xúc. Đừng chờ ngày mới. Đừng chờ một phiên bản tốt hơn của mình. Chính con, với sự yếu đuối hiện tại, hãy đứng dậy.
Hỡi linh hồn, sự lười biếng là một kẻ thù biết chờ. Nó rất kiên nhẫn. Nó sẵn sàng lấy đời con từng ngày. Vì thế con cũng phải học một sự kiên trì thánh thiện còn lớn hơn nó. Mỗi ngày lấy lại một chút đất. Mỗi ngày thắng một lần trì hoãn. Mỗi ngày làm một việc đúng lúc. Mỗi ngày dâng một sự nặng nề. Mỗi ngày giữ một lời hứa nhỏ với Chúa. Đừng coi thường những chiến thắng ấy. Một ngày kia, nhìn lại, con sẽ thấy cả một con người mới đã được xây từ những viên đá rất nhỏ.
Hãy bắt đầu khi lòng còn ngại. Hãy bắt đầu khi chưa thấy mình sẵn sàng. Hãy bắt đầu khi không ai cổ võ. Hãy bắt đầu dù chỉ năm phút. Hãy bắt đầu vì yêu Chúa Giêsu. Và ngày mai, lại bắt đầu.
Đừng để “ngày mai” trở thành ngôi mộ của những điều Chúa muốn làm trong đời con.
Hãy chiến đấu.
Hãy đứng dậy.
Hãy bắt đầu.
Hãy trung tín.
Và khi mệt, hãy tựa vào Chúa mà tiếp tục.
Bởi người nên thánh không nhất thiết là người chưa bao giờ chậm lại, nhưng là người mỗi lần nhận ra mình đang dừng quá lâu thì lại đứng lên và bước tiếp.
Ngay hôm nay. Ngay bây giờ. Vì Chúa.
CHƯƠNG 20
CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI SỰ BẤT KHIẾT VÀ VIỆC CANH GIỮ CÁC GIÁC QUAN
Hỡi linh hồn đang muốn giữ mình trong sạch trước mặt Thiên Chúa, đang muốn bước theo Chúa với một trái tim không chia sẻ, đang muốn gìn giữ nơi sâu thẳm nhất của mình một khoảng trời chỉ thuộc về Ngài, chúng ta bước vào một trận địa hết sức nhạy cảm, tế nhị, âm thầm, nhưng cũng quyết liệt và lâu dài hơn rất nhiều trận chiến khác trong đời sống thiêng liêng: sự bất khiết và việc canh giữ các giác quan. Có những cuộc chiến người ta có thể nhìn thấy. Người nóng giận có thể nghe tiếng mình lớn lên. Người tham lam có thể nhìn thấy vật mình đang chiếm giữ. Người kiêu ngạo có thể phần nào nhận ra lúc mình muốn được đề cao. Nhưng cuộc chiến của sự trong sạch thường bắt đầu trước khi người ta nhận ra mình đang ở trên chiến trường. Nó khởi đi từ một ánh mắt dừng lại lâu hơn một chút. Từ một hình ảnh đã nhìn thấy nhưng lại cố tình nhớ lại. Từ một sự tò mò tưởng như vô hại. Từ một cuộc trò chuyện vốn không cần thiết nhưng lòng lại muốn kéo dài. Từ một cảm tình ban đầu rất tự nhiên nhưng dần dần được nuôi dưỡng bằng những tưởng tượng kín đáo. Từ một đêm quá khuya, một thân xác quá mệt, một tâm hồn quá trống, một chiếc điện thoại không được đặt xuống đúng lúc, một trí tưởng tượng không được canh giữ, một trái tim đang thiếu cầu nguyện mà vẫn muốn tìm một chút an ủi ở nơi khác. Chính từ những điều rất nhỏ như thế, một thành trì có thể bắt đầu bị khoét thủng. Chính từ những khe rất hẹp như thế, kẻ thù có thể từ từ bước vào. Và chính vì vậy, linh hồn nào muốn sống trong sạch không thể chỉ quyết tâm tránh những sa ngã lớn; linh hồn ấy phải học một nghệ thuật khó hơn nhiều: chiến đấu từ xa, chiến đấu từ gốc, chiến đấu khi sự dữ còn rất nhỏ, khi nó chưa kịp trở thành một sức mạnh cuốn lôi ý chí.
Đừng nghĩ rằng cuộc chiến này chỉ dành cho người trẻ. Đừng nghĩ rằng khi tuổi tác đi qua, khi đời sống đã ổn định, khi đã khấn dòng nhiều năm, đã chịu chức nhiều năm, đã phục vụ Giáo Hội nhiều năm, thì người ta có thể hạ vũ khí. Những năm tháng không tự động thanh luyện trái tim. Chức vụ không tự động làm cho bản năng được trật tự. Áo dòng không phải là một bức tường khiến cám dỗ không thể đi qua. Chức linh mục không hủy bỏ thân phận con người. Những lời khấn không làm cho con người thôi mang một thân xác. Kinh nghiệm thiêng liêng cũng không biến người ta thành kẻ không thể sa ngã. Trái lại, một trong những nguy hiểm lớn nhất trong cuộc chiến này chính là khi linh hồn bắt đầu nghĩ: “Tôi đã vững rồi. Tôi hiểu mình rồi. Tôi không còn dễ ngã như trước nữa.” Ngay khoảnh khắc ấy, sự cảnh giác bắt đầu suy giảm. Và một người lính ngủ quên bên cổng thành thì không cần một đoàn quân lớn để đánh bại; chỉ cần một kẻ thù biết đi nhẹ. Có những linh hồn đã chiến đấu đẹp suốt nhiều năm nhưng rồi sa ngã chỉ vì một thời gian ngắn buông lỏng. Có những người đã sống rất mực trung thành nhưng bắt đầu cho phép mình một vài ngoại lệ nhỏ. Ban đầu chỉ là “không sao đâu”. Sau đó là “một chút thôi”. Rồi “lần cuối”. Cuối cùng người ta nhận ra mình đã đi xa hơn điều mình từng nghĩ là có thể. Không phải vì tội lỗi bỗng nhiên mạnh đến mức không thể cưỡng lại, nhưng vì người ta đã cho nó vào nhà qua quá nhiều cánh cửa nhỏ.
Sự bất khiết không phải trước hết là vấn đề của thân xác. Nếu chỉ là vấn đề của thân xác, người ta có thể giải quyết nó bằng kỷ luật thể lý. Nhưng không. Nó liên quan đến toàn bộ con người: trí nhớ, trí tưởng tượng, tình cảm, ý chí, nhu cầu được yêu, nỗi cô đơn, khát vọng được nhìn nhận, những thương tổn cũ, sự tò mò, việc tìm kiếm an ủi, sự thiếu tiết độ, những bất mãn bị giấu kín, những mệt mỏi không được nhận diện, và trên hết là mức độ con tim đang thực sự được lấp đầy bởi Thiên Chúa hay không. Nhiều khi người ta tưởng mình đang đi tìm một khoái cảm, nhưng sâu hơn người ta đang đi tìm một sự an ủi. Tưởng mình đang tìm thân xác người khác, nhưng thực ra đang chạy khỏi sự trống vắng của chính mình. Tưởng mình chỉ bị một ham muốn xác thịt thúc đẩy, nhưng nhiều khi phía sau đó là một tâm hồn lâu ngày không được yêu, không biết trao nỗi cô độc cho Chúa, không biết nghỉ ngơi trong Chúa, không biết để Chúa chạm đến những vùng khô cằn sâu kín. Vì thế, nếu chỉ dùng ý chí để đè nén mà không để ân sủng chữa lành, linh hồn có thể chiến thắng một thời gian nhưng rất khó đạt tới sự tự do sâu xa. Thiên Chúa không chỉ muốn con đừng phạm tội. Ngài muốn trật tự lại cả trái tim của con. Ngài muốn điều từng bị phân tán được quy tụ. Ngài muốn điều từng tìm kiếm một cách vô trật tự được dẫn trở về nguồn của mọi tình yêu. Ngài muốn con hiểu rằng đức trong sạch không phải là sống như một người không có trái tim, nhưng là sống với một trái tim đã được giải thoát khỏi việc chiếm hữu và được tự do để yêu đúng cách.
1. BẢN CHẤT VÀ NHỮNG CẤP ĐỘ ÂM THẦM CỦA SỰ BẤT KHIẾT
Sự bất khiết là sự lệch trật tự của một năng lực vốn được Thiên Chúa tạo dựng là tốt lành. Con người được dựng nên có thân xác, có tình cảm, có khả năng bị thu hút, có nhu cầu yêu và được yêu. Những điều ấy tự chúng không xấu. Sự trong sạch Kitô giáo không bắt đầu bằng việc ghét thân xác, cũng không bắt đầu bằng sự nghi ngờ mọi tình cảm. Thân xác là công trình của Thiên Chúa. Tình yêu nam nữ trong hôn nhân là quà tặng của Thiên Chúa. Tình bạn chân thành là quà tặng của Thiên Chúa. Sự dịu dàng, lòng mến, khả năng cảm xúc đều là những điều tốt. Điều làm cho chúng trở nên nguy hiểm không phải vì chúng hiện hữu, nhưng vì tội lỗi đã làm mất đi sự hài hòa ban đầu, khiến một năng lực tốt có thể tìm một đối tượng sai, tìm đúng đối tượng nhưng sai cách, tìm điều chính đáng nhưng sai thời điểm, hoặc tìm một điều thuộc về tạo vật như thể nó có thể thay thế Thiên Chúa. Vì thế, khi nói đến bất khiết, chúng ta không nói đến việc tiêu diệt tình cảm nhưng là thanh luyện tình cảm; không nói đến việc coi thân xác là xấu nhưng là đưa thân xác trở lại đúng chỗ; không nói đến việc trở thành lạnh lùng nhưng là trở thành tự do.
Sự bất khiết hiếm khi bắt đầu ở hành vi cuối cùng. Hành vi chỉ là trái đã chín. Trước khi trái chín đã có một hạt giống. Trước hạt giống đã có một cánh cửa mở. Trước cánh cửa mở đã có một khoảnh khắc thiếu tỉnh thức. Một ý nghĩ bất khiết đến tự nhiên chưa phải là tội. Một hình ảnh bất ngờ xuất hiện trong trí chưa phải là sự thất bại. Một cảm xúc thân xác tự phát không phải là điều linh hồn phải hoảng hốt. Cám dỗ không đồng nghĩa với sự đồng ý. Đây là điều phải hiểu thật rõ để khỏi rơi vào hai thái cực: một bên là buông thả, bên kia là scrupulosity, là áy náy bệnh hoạn về những chuyển động mà ý chí không chọn. Kẻ thù đôi khi cám dỗ người ta phạm tội; nhưng nếu không thành công, nó lại cám dỗ người ta tin rằng chính việc bị cám dỗ đã là tội, để linh hồn mất bình an. Đừng trao cho nó chiến thắng đó. Điều quan trọng nằm ở chỗ: khi ý nghĩ xuất hiện, con làm gì với nó? Con quay đi hay mời nó ngồi lại? Con khước từ hay tò mò? Con để nó đi qua như một đám mây hay bắt đầu nhìn nó, phân tích nó, nếm thử nó trong trí tưởng tượng? Có một khoảng cách rất lớn giữa việc bị một tư tưởng tấn công và việc cố ý duy trì tư tưởng ấy. Trận chiến diễn ra chính trong khoảng cách đó.
Một cấp độ rất tinh tế của bất khiết là sự tò mò của giác quan. Người ta chưa muốn phạm tội. Người ta chỉ muốn xem. Chỉ muốn biết. Chỉ muốn nhìn một chút. Chỉ muốn đọc vài dòng. Chỉ muốn xem câu chuyện ấy sẽ đi đến đâu. Chính chữ “chỉ” ấy đã mở không biết bao nhiêu cánh cửa. Sự tò mò không được chế ngự là một tên lính trinh sát của đam mê. Nó đi trước để dò đường. Nó nói: “Có gì đâu.” Nó không đòi một tội lớn ngay lập tức, vì nó biết điều đó có thể làm linh hồn sợ. Nó chỉ xin một ánh mắt. Sau ánh mắt, nó xin một lần nhớ lại. Sau đó, nó xin một lần tìm lại hình ảnh ấy. Sau nữa, nó xin một chút tưởng tượng. Và khi ý chí đã yếu đi bởi nhiều thỏa hiệp nhỏ, điều trước đây bị xem là không thể chấp nhận bỗng trở thành điều người ta thấy mình khó cưỡng lại.
Một cấp độ khác là trí tưởng tượng được buông lỏng. Có người bên ngoài rất nghiêm chỉnh nhưng bên trong lại sống trong một thế giới riêng, nơi những hình ảnh, câu chuyện, khả năng, tình huống và cảm xúc được tạo ra tùy ý. Không ai thấy. Không ai biết. Không có hành vi bên ngoài. Nhưng linh hồn biết rằng mình đang lén nuôi một đời sống thứ hai trong trí. Đây là điều cực kỳ nguy hiểm, bởi trí tưởng tượng có thể tạo nên một không gian nơi ý chí dần dần quen với việc hưởng thụ điều bị cấm. Khi một hình ảnh được lặp lại nhiều lần, nó để lại dấu vết. Khi một cảm xúc được chủ động tái tạo nhiều lần, nó tạo thành đường mòn. Và rồi khi cám dỗ xuất hiện, nó không còn phải mở một con đường mới; nó chỉ đi trên con đường linh hồn đã tự lát sẵn.
Lại có sự gắn bó tình cảm lệch lạc, một hình thức rất dễ đội lốt những điều đẹp. Đây thường là thử thách đặc biệt tế nhị đối với những người sống đời thánh hiến hay đời độc thân vì Nước Trời. Ban đầu có thể hoàn toàn trong sáng: một sự quý mến, một sự đồng cảm, một người hiểu mình, một tâm hồn có thể trò chuyện, một người biết lắng nghe, một sự gần gũi phát sinh trong công việc hay trong mục vụ. Không phải mọi tình bạn đều nguy hiểm. Không phải sự thân thiết nào cũng sai. Nhưng phải tỉnh thức khi lòng bắt đầu tìm người ấy nhiều hơn cần thiết, khi tâm trạng của mình phụ thuộc vào tin nhắn hay sự hiện diện của họ, khi thấy vui bất thường vì được gặp, buồn bất thường khi không được chú ý, ghen nhẹ khi họ gần người khác, muốn kể cho họ những điều mình không kể với ai, bắt đầu chờ đợi những giây phút riêng tư, bắt đầu giấu người khác mức độ gần gũi ấy, bắt đầu tự biện minh rằng “chỉ là tình bạn thiêng liêng” trong khi trái tim ngày càng bị chiếm hữu. Một tình cảm không được đặt dưới ánh sáng rất dễ trở thành một xiềng xích mềm. Nó không siết mạnh ngay. Nó quấn bằng sự dịu dàng. Nhưng xiềng bằng nhung vẫn là xiềng. Người sống cho Thiên Chúa không được phép để bất cứ tạo vật nào chiếm lấy vùng sâu nhất mà mình đã dâng cho Ngài.
Đối với người sống bậc gia đình, đức trong sạch có một hình thức khác nhưng cũng đòi hỏi sự canh giữ không kém. Người đã kết hôn không phải vì thế mà được miễn khỏi cuộc chiến. Đức khiết tịnh hôn nhân đòi trái tim trung thành với giao ước, không tìm nơi người khác một sự thân mật vốn thuộc về người bạn đời, không nuôi những thế giới tưởng tượng ngoài hôn nhân, không dùng người bạn đời như phương tiện thỏa mãn, nhưng biết yêu bằng sự tôn trọng, trao hiến và trách nhiệm. Một người có thể không thực hiện một hành vi ngoại tình bên ngoài nhưng trong lòng đã chia sẻ trái tim cho nhiều người qua tưởng tượng, qua những cuộc trò chuyện bí mật, qua những gắn bó được nuôi dưỡng kín đáo. Chính vì thế Đức Giêsu đưa cuộc chiến về tận trái tim. Ngài không chỉ muốn sửa hành vi. Ngài muốn chữa cái nhìn.
2. HÃY CANH GIỮ ĐÔI MẮT, VÌ NHIỀU CUỘC CHIẾN ĐƯỢC THẮNG HAY THUA NGAY Ở CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN
Mắt là một trong những cửa ngõ mạnh nhất của trí nhớ và trí tưởng tượng. Có những gì con đã nghe rồi quên rất nhanh, nhưng một hình ảnh có thể ở trong trí nhiều năm. Điều mắt nhìn thấy có khả năng đi thẳng vào trí nhớ, và trí nhớ có thể gọi nó trở lại vào những thời điểm yếu đuối nhất. Vì thế, việc canh giữ mắt không phải là một thực hành lỗi thời, không phải là sợ cái đẹp, cũng không phải là coi người khác như một mối nguy. Đó là sự khôn ngoan của người biết rằng mắt không trung lập. Con nhìn điều gì, điều đó đi vào con. Con nhìn điều gì nhiều, điều đó bắt đầu tạo nên thế giới nội tâm của con.
Có những người nói: “Tôi nhìn nhưng không nghĩ gì.” Có thể đúng trong một vài trường hợp. Nhưng nếu phải lặp đi lặp lại câu ấy để biện minh cho mình, hãy cẩn thận. Một cái nhìn vô tình và một cái nhìn cố ý khác nhau. Cái nhìn đầu tiên có thể không tránh được. Cái nhìn thứ hai thường là lựa chọn. Điều con không chủ động thấy có thể không thuộc trách nhiệm của con; nhưng việc con quay lại để nhìn lần nữa thì bắt đầu đi vào lãnh vực của ý chí. Có một sự khổ chế rất nhỏ nhưng vô cùng hiệu quả: không cho mình cái nhìn thứ hai khi biết rằng cái nhìn đó không cần thiết và có thể đánh thức điều không tốt. Không cần làm bộ căng thẳng. Không cần hoảng sợ. Chỉ đơn giản quay mắt đi. Nhẹ nhàng. Dứt khoát. Bình an. Chính hành vi rất nhỏ ấy là một chiến thắng. Nó dạy linh hồn rằng không phải mọi thứ hấp dẫn đều có quyền đòi sự chú ý của mình. Nó dạy mắt trở thành tôi tớ thay vì ông chủ.
Trong thời đại của những màn hình, việc canh giữ mắt càng khó hơn vì ngày xưa người ta phải đi đến một nơi để gặp một cám dỗ, còn hôm nay một thế giới có thể bước vào phòng con chỉ qua một màn hình nhỏ. Hình ảnh nối tiếp hình ảnh. Những thuật toán học điều khiến mắt dừng lâu. Nội dung thường được thiết kế để kích thích sự tò mò, đánh thức dục vọng, giữ người dùng càng lâu càng tốt. Vì thế, ai muốn sống đời nội tâm mà không đặt kỷ luật cho việc sử dụng điện thoại, mạng xã hội, video, phim ảnh và các nguồn nội dung khác thì đang bước vào chiến trường mà không có áo giáp. Đừng quá tin mình. Đừng nói: “Tôi chỉ lướt thôi.” Chính việc lướt vô mục đích làm suy yếu khả năng canh giữ. Khi mắt đã quen chuyển từ hình này sang hình khác để tìm kích thích mới, tâm hồn dần mất sự đơn sơ, trí khôn khó ở lại với cầu nguyện, và khả năng chống lại một hình ảnh khêu gợi cũng giảm sút.
Có lúc phải quyết liệt. Nếu một ứng dụng liên tục làm con sa ngã, hãy xóa nó. Nếu một trang mạng làm con yếu đi, hãy chặn nó. Nếu một khung giờ làm con dễ mất kiểm soát, đừng sử dụng thiết bị trong khung giờ ấy. Nếu việc mang điện thoại lên giường khiến con nhiều lần thất bại, hãy để điện thoại ngoài phòng ngủ. Đừng biến đời sống thiêng liêng thành một chuỗi những lời cầu nguyện xin Chúa cứu con khỏi một cánh cửa mà chính tay con cứ mở ra mỗi tối. Có những lời cầu nguyện Thiên Chúa trả lời bằng cách ban cho con ơn để đóng một cánh cửa. Con không thể vừa xin: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, vừa tự nguyện bước vào nơi con biết mình thường bị cám dỗ. Đây không phải là thiếu tín thác. Đây chính là cộng tác với ân sủng.
Lời Đức Giêsu: “Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc nó mà ném đi” không phải là lời mời gọi gây tổn thương thân xác, nhưng là một lối nói cực mạnh để diễn tả rằng có những điều ta phải sẵn sàng cắt bỏ nếu chúng đe dọa sự sống của linh hồn. Có thể thứ phải “móc bỏ” là một thói quen. Có thể là một tài khoản. Có thể là một bộ phim. Có thể là một mối liên hệ. Có thể là một hình thức giải trí. Có thể là một sự tự do mà con đã sử dụng không tốt. Con sẽ nói: “Như thế thì bất tiện.” Đúng. Nhưng thánh thiện luôn có giá. Con không thể giữ mọi dễ chịu và đồng thời đòi một trái tim hoàn toàn tự do. Có khi điều cứu con không phải là một cảm nghiệm thiêng liêng lớn, mà là một quyết định rất cụ thể: không nhìn nữa.
3. HÃY CANH GIỮ TAI, LỜI NÓI VÀ NHỮNG GÌ CON CHO PHÉP ĐI VÀO TRÍ NHỚ
Tai cũng là cửa của linh hồn. Một câu chuyện tục tĩu có thể gieo vào trí tưởng tượng những hình ảnh mà trước đó không có. Một lời đùa thiếu trong sạch có thể làm điều xấu trở nên bình thường. Một cuộc trò chuyện mà người ta đem thân xác, tình dục hoặc sự yếu đuối của người khác ra làm trò tiêu khiển có thể dần làm chai lương tâm. Điều nguy hiểm của lời nói không đứng đắn không chỉ ở nội dung trực tiếp, nhưng ở việc nó làm mất cảm thức linh thiêng về con người. Khi một người trở thành đối tượng để bình phẩm, đánh giá, tưởng tượng, linh hồn đã bắt đầu nhìn thân xác người ấy tách khỏi phẩm giá của họ.
Vì thế, người muốn giữ tâm hồn trong sạch đôi khi phải biết im lặng giữa những cuộc nói chuyện mà mọi người khác đều cười. Không cần tỏ ra đạo đức hơn người. Không cần lên án ai. Chỉ cần không góp phần. Có khi chỉ việc chuyển chủ đề. Có khi phải bước đi. Có khi phải nói rất nhẹ: “Chuyện này thôi nhé.” Một linh hồn không dám chịu một chút ngượng ngùng để bảo vệ sự trong sạch thì rồi có thể phải chịu những đau khổ lớn hơn nhiều sau này. Ma quỷ rất khéo dùng sự sợ bị coi là khó tính, cổ hủ, khép kín để khiến người ta im lặng trước những điều đang làm tâm hồn mình bẩn đi.
Lại phải canh giữ chính lời nói của con. Có những sự thân mật bắt đầu không phải bằng đụng chạm, mà bằng lời. Một cách gọi quá riêng tư. Một lời khen có ý thử phản ứng. Một câu nói hai nghĩa. Một sự trêu ghẹo. Một bí mật được chia sẻ không cần thiết. Một cuộc trò chuyện khuya. Một chuỗi tin nhắn không có nội dung xấu rõ ràng, nhưng tạo ra một thứ không khí gần gũi dần dần vượt qua giới hạn. Trái tim thường đi qua lời nói trước khi đi qua hành vi. Đừng chỉ hỏi: “Điều tôi nói có tội không?” Hãy hỏi một câu sâu hơn: “Điều này đang dẫn trái tim tôi và trái tim người kia về đâu?” Có những điều chưa phải là tội nặng nhưng là con đường rất thẳng dẫn đến tội. Người khôn ngoan không chỉ tránh vực sâu; người ấy còn tránh con đường trơn dẫn đến bờ vực.
4. HÃY CANH GIỮ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG, VÌ ĐÂY LÀ NƠI KẺ THÙ CÓ THỂ DỰNG MỘT THẾ GIỚI KHÔNG AI NHÌN THẤY
Một người có thể đóng cửa phòng, không gặp ai, không xem gì xấu, nhưng vẫn có thể bị công kích mạnh mẽ bởi trí tưởng tượng và trí nhớ. Có những hình ảnh cũ trở lại. Có những kỷ niệm tưởng đã quên bỗng sống dậy. Có những tình huống trí óc tự dựng lên. Có những giả định “nếu như”. Đây là chỗ nhiều người chiến đấu sai cách. Khi một tư tưởng bất khiết xuất hiện, họ hoảng hốt, bắt đầu vật lộn trực tiếp, cố chứng minh rằng mình không muốn nó, cố xua nó ra bằng sức mạnh. Nhưng càng tập trung vào việc “không nghĩ”, họ lại càng nghĩ đến chính điều ấy. Tâm trí trở thành một căn phòng nơi người ta đang hét: “Đừng nghĩ đến nó”, và câu hét ấy liên tục nhắc lại nó.
Cách chiến đấu tốt hơn thường là không đối thoại. Đừng hỏi tại sao tư tưởng này đến. Đừng kiểm tra xem nó còn ở đó không. Đừng đo mức độ cám dỗ. Đừng tranh luận với nó. Đừng cố chứng minh cho mình rằng mình trong sạch. Hãy giống như người nghe tiếng gõ cửa của một người mình không muốn tiếp: không mở. Tư tưởng có thể tiếp tục gõ một lúc. Cứ để nó gõ. Con quay sang làm việc khác. Một lời nguyện rất ngắn: “Lạy Chúa Giêsu, con thuộc về Chúa.” “Lạy Mẹ Maria, xin gìn giữ lòng con.” “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Rồi đưa tâm trí trở lại việc đang làm. Không cần cảm thấy cám dỗ biến mất ngay mới gọi là chiến thắng. Đôi khi chiến thắng chính là việc con tiếp tục bổn phận trong khi cám dỗ vẫn còn bên cạnh.
Đừng quên rằng mệt mỏi làm trí tưởng tượng yếu đi. Cô đơn làm nó dễ lang thang. Vô công rỗi nghề cho nó sân chơi. Vì thế, một đời sống có giờ giấc, lao động, vận động, ngủ đủ, cầu nguyện đều, tương quan lành mạnh, trách nhiệm rõ ràng là một hàng rào bảo vệ rất mạnh cho đức trong sạch. Đừng thiêng liêng hóa mọi cám dỗ đến mức quên thân phận con người. Có lúc cám dỗ tăng mạnh không phải vì con đang “xấu hơn”, nhưng vì con đã ngủ quá ít nhiều ngày. Có lúc trí tưởng tượng hỗn loạn vì con đã lướt màn hình hàng giờ. Có lúc thân xác nổi loạn vì con ăn uống, nghỉ ngơi thất thường, thiếu vận động, không có nhịp sống cân bằng. Ân sủng không xóa bỏ tự nhiên; ân sủng chữa lành và nâng tự nhiên lên. Một người muốn giữ sự trong sạch phải học sống có trật tự.
5. HÃY CẨN THẬN VỚI SỰ TỰ MÃN, VÌ KHÔNG AI NGUY HIỂM BẰNG NGƯỜI NGHĨ RẰNG MÌNH KHÔNG CÒN NGUY HIỂM
Sự tự mãn là một trong những nguyên nhân hàng đầu của sa ngã. Nó không nói: “Hãy phạm tội.” Nó nói: “Con đủ mạnh rồi.” Một linh hồn mới chiến đấu thường rất cẩn thận. Nó tránh những hoàn cảnh nguy hiểm. Nó cầu nguyện nhiều. Nó biết mình yếu. Nhưng sau nhiều tháng, nhiều năm trung thành, nó có thể bắt đầu nới lỏng. Một cuộc gặp riêng mà trước đây nó sẽ không cho phép, bây giờ nó thấy chẳng sao. Một kiểu trò chuyện mà trước đây nó tránh, bây giờ nó cho rằng mình đủ trưởng thành. Một nội dung trước kia nó bỏ ngay, bây giờ nó nghĩ mình có thể xem vì “mục đích biết thông tin”. Chính lúc ấy, sự bất tín nhiệm thánh thiện vào mình đã bị thay bởi một niềm tin nguy hiểm vào sức riêng.
Hãy nhớ: người mạnh không phải là người đứng sát bờ vực và khoe rằng mình không ngã. Người mạnh là người đủ khiêm nhường để không cần chứng minh mình mạnh. Người khôn không nói: “Tôi có thể vào đó mà không sao.” Người khôn hỏi: “Tại sao tôi phải vào?” Không có phần thưởng thiêng liêng cho việc đứng gần cám dỗ hơn cần thiết. Không có huân chương trên trời cho người thử sức chịu đựng của mình. Chúa không yêu cầu con chiến thắng những trận mà Ngài không hề bảo con bước vào.
Hãy đặc biệt dè chừng những thời điểm thành công thiêng liêng. Sau một kỳ tĩnh tâm sốt sắng, sau một giai đoạn cầu nguyện sâu, sau khi đã thắng được một thói quen xấu, linh hồn có thể cảm thấy rất mạnh. Nhưng chính lúc ấy phải khiêm tốn hơn. Những vị thánh không trở nên ít cảnh giác khi họ tiến bộ; các ngài càng biết mình hơn, càng biết ân sủng là tất cả. Đừng nói: “Tôi không thể làm điều ấy.” Hãy nói: “Nếu Chúa không giữ con, con có thể ngã rất xa.” Câu ấy không phải bi quan. Đó là sự thật giải thoát. Nó khiến con bám vào Chúa thay vì bám vào thành tích của chính mình.
6. SỰ CÔ ĐƠN, TRỐNG RỖNG VÀ NHU CẦU ĐƯỢC YÊU – NHỮNG CÁNH CỬA SÂU HƠN CỦA CÁM DỖ
Không phải lúc nào một cám dỗ bất khiết cũng bắt đầu bởi dục vọng. Có những lúc nó bắt đầu bởi cô đơn. Một linh mục trở về phòng sau một ngày dài phục vụ, nghe rất nhiều câu chuyện, giải quyết rất nhiều việc, nhưng chẳng có ai hỏi lòng mình đang thế nào. Một tu sĩ sống giữa cộng đoàn nhưng có thể cảm thấy không ai thật sự hiểu. Một người có gia đình nhưng hôn nhân đang nguội lạnh, thiếu đối thoại, thiếu sự trìu mến. Một người trẻ cô đơn giữa hàng ngàn kết nối trên mạng. Khi trái tim đau mà không biết mang nỗi đau ấy đến đâu, nó sẽ tìm một nơi gây tê. Và đối với nhiều người, sự thỏa mãn xác thịt, những hình ảnh, những cuộc trò chuyện tình cảm, những tưởng tượng có thể trở thành một loại thuốc gây tê cho sự cô độc.
Vì thế, muốn chiến đấu lâu dài, đừng chỉ hỏi: “Làm sao để đừng nghĩ điều ấy?” Hãy hỏi: “Điều gì trong tôi đang đói?” “Tôi đang buồn điều gì?” “Tôi đang chạy khỏi sự trống rỗng nào?” “Tôi đang tìm ở tạo vật điều gì mà lẽ ra phải học đón nhận từ Chúa và từ những tương quan lành mạnh?” Có những linh hồn đã dùng kỷ luật rất mạnh nhưng không bao giờ dám nhìn vào nỗi cô đơn của mình. Họ áp chế triệu chứng mà không chữa vết thương. Rồi khi sức lực giảm, triệu chứng trở lại.
Chúa không xấu hổ vì nhu cầu yêu thương của con. Ngài dựng nên con với nhu cầu ấy. Nhưng Ngài muốn thanh luyện nó, không để nó trở thành một cơn đói vô trật tự. Hãy nói thật với Chúa: “Lạy Chúa, con cô đơn.” “Con muốn được ai đó hiểu.” “Con muốn được ôm lấy, muốn được an ủi, muốn có một người thuộc về con.” Những lời cầu nguyện như thế không kém thánh thiện. Trái lại, đó là cầu nguyện của sự thật. Cám dỗ thường mạnh lên khi ta giấu chính mình trước Chúa. Ánh sáng bắt đầu khi con không cần giả vờ mạnh trước mặt Đấng đã biết tất cả.
Đối với người sống đời thánh hiến, việc dâng hiến tình cảm không có nghĩa là giết chết tình cảm. Nếu hiểu độc thân thánh hiến như một sự thiếu vắng thuần túy, con sẽ sống nó như một cơn đói kéo dài. Nhưng nếu con học trao khả năng yêu của mình cho Chúa để trái tim được mở rộng cho nhiều người mà không chiếm hữu ai, bậc sống ấy trở thành một hình thức phong nhiêu. Tuy nhiên, điều đó không xảy ra tự động bởi lời khấn hay chức thánh. Nó đòi một đời sống kết hiệp thực sự. Nếu người tu sĩ chỉ làm việc cho Chúa mà ít ở với Chúa, nếu linh mục nói về Chúa cả ngày nhưng hiếm khi ngồi yên trước Thánh Thể, trái tim sẽ thiếu nguồn sống. Và một trái tim đói sớm muộn cũng tìm thức ăn ở nơi khác.
7. CHIẾN THUẬT THỨ NHẤT: ĐỪNG ĐỂ CÁM DỖ LỚN LÊN RỒI MỚI CHIẾN ĐẤU
Trong cuộc chiến này, thời điểm quyết định thường nằm ở những giây đầu tiên. Một đốm lửa rất dễ dập. Một căn nhà đã cháy thì khó hơn nhiều. Khi con nhận ra một hình ảnh, một ý nghĩ, một cuộc trò chuyện, một mối tương quan đang bắt đầu đánh thức điều không tốt, hãy hành động sớm. Đừng chờ đến khi ham muốn mạnh rồi mới cầu nguyện. Đừng chờ đến khi tình cảm đã gắn sâu rồi mới đặt giới hạn. Đừng chờ đến khi thói quen đã thành nghiện mới quyết tâm. Thánh thiện cần sự nhanh nhạy.
Có một câu phải học nói với chính mình: “Không.” Một chữ ngắn, nhưng vô cùng quý. Không xem. Không mở. Không trả lời lúc này. Không đi đến đó. Không ở lại một mình trong hoàn cảnh ấy. Không kéo dài cuộc gặp. Không nuôi câu chuyện. Không nhớ lại hình ảnh. Không cần giải thích dài dòng với chính mình. Ý chí yếu đi khi phải thương lượng quá lâu. Nếu con đã biết một điều là nguy hiểm, quyết định sớm tiết kiệm cho con cả một cuộc chiến lớn.
Nhưng chữ “không” của Kitô hữu không phải là chữ “không” trống rỗng. Nó phải đi cùng một chữ “có” lớn hơn: có với Thiên Chúa. Con bỏ một hình ảnh vì muốn đôi mắt mình tự do cho Chúa. Con từ bỏ một mối quan hệ lệch lạc vì muốn trái tim mình trung tín. Con đặt điện thoại xuống vì muốn linh hồn được yên. Con đứng dậy khỏi nơi nguy hiểm để trở về với bình an. Nếu chỉ nghĩ đến việc bị tước mất, con sẽ thấy đời sống trong sạch như nghèo nàn. Nhưng nếu nhớ Đấng con đang chọn, hy sinh trở thành tự do.
8. CHIẾN THUẬT THỨ HAI: KHI TƯ TƯỞNG ĐẾN, ĐỪNG ĐỐI THOẠI – HÃY CHUYỂN HƯỚNG
Có những cám dỗ giống như người bán hàng rất giỏi. Nếu con bắt đầu nói chuyện, nó sẽ có cơ hội thuyết phục. Nó không cần con đồng ý ngay. Nó chỉ cần con đứng lại. Một tư tưởng xuất hiện: “Chỉ xem một chút thôi.” Con đáp: “Nhưng tôi không nên.” Nó nói: “Có gì nghiêm trọng đâu.” Con đáp: “Nhưng lần trước…” Cứ thế cuộc đối thoại kéo dài. Và dù con tưởng mình đang chống lại, tâm trí của con đã ở trong chủ đề ấy suốt nhiều phút.
Hãy học một thái độ khác: không tranh luận. Đừng trả lời. Chuyển hướng. Đứng dậy. Đi ra ngoài. Uống một ly nước. Làm một việc tay chân. Gọi cho một người lành mạnh. Mở Thánh Kinh. Lần chuỗi. Đi bộ. Trở lại công việc. Nếu là ban đêm, đi ngủ. Nếu đang một mình với thiết bị, rời thiết bị. Nếu là một cuộc trò chuyện, chấm dứt. Nhiều khi ơn Chúa đến dưới hình thức rất bình thường như vậy.
Có người nghĩ việc chuyển hướng là chạy trốn, không đủ anh hùng. Nhưng trong chiến tranh, rút khỏi một vị trí bất lợi để bảo toàn lực lượng là khôn ngoan. Thánh Phaolô không bảo Timôthê “đứng lại và chứng minh rằng con mạnh hơn dục vọng”, nhưng nói hãy tránh xa những đam mê của tuổi trẻ và theo đuổi sự công chính. Có những cám dỗ người ta thắng bằng đối diện; nhưng cám dỗ xác thịt thường được thắng bằng tránh xa và hướng lòng sang điều khác. Không phải vì linh hồn hèn yếu, nhưng vì nó biết chiến thuật của mình.
9. CHIẾN THUẬT THỨ BA: LẤP ĐẦY TRÍ LÒNG BẰNG NHỮNG GÌ TRONG SẠCH, CAO ĐẸP VÀ CÓ Ý NGHĨA
Không thể giữ một căn phòng trống mãi bằng cách chỉ quét nó. Phải đặt vào đó những điều tốt. Cũng vậy, nếu con chỉ cố “không nghĩ điều xấu” mà không nuôi trí bằng điều lành, tâm trí sẽ tìm thứ khác để lấp khoảng trống. Một người có đời sống trí tuệ nghèo nàn, cầu nguyện hời hợt, ít đọc điều tốt, ít lao động có ý nghĩa, ít có những tình bạn lành mạnh, rất dễ bị nội dung thấp kém chiếm lấy.
Hãy cho tâm trí thức ăn tốt. Lời Chúa. Sách thiêng liêng. Những trang viết đẹp. Âm nhạc nâng tâm hồn. Thiên nhiên. Lao động. Học hỏi. Sứ vụ. Tình bạn trong sáng. Việc phục vụ người nghèo. Một đời sống có mục đích làm giảm sức mạnh của rất nhiều cám dỗ. Không phải vì bận rộn là thuốc chữa mọi sự, nhưng vì con tim được sinh ra cho điều lớn. Khi nó không có điều lớn để yêu, nó dễ bị những điều nhỏ kéo xuống.
Hãy đặc biệt nuôi dưỡng những hình ảnh thánh trong trí. Thánh giá. Khuôn mặt Chúa Giêsu trong cuộc Thương Khó. Đức Maria dưới chân thập giá. Chúa trong Bí tích Thánh Thể. Đừng coi thường sức mạnh của hình ảnh thánh. Trí tưởng tượng cần được thanh tẩy không chỉ bằng cách xóa những hình ảnh xấu mà bằng việc được thấm những hình ảnh của Tin Mừng. Một linh hồn thường xuyên suy niệm cuộc Thương Khó sẽ dần có một tiêu chuẩn tình yêu khác. Trước một tình yêu tự hiến đến chết, những khoái cảm ích kỷ bắt đầu lộ ra sự nghèo nàn của chúng.
10. CHIẾN THUẬT THỨ TƯ: KHỔ CHẾ NHỎ, ĐỀU ĐẶN VÀ ÂM THẦM
Thân xác không phải kẻ thù, nhưng thân xác cần được giáo dục. Nếu con cho nó mọi điều nó muốn trong mọi lãnh vực, đừng ngạc nhiên khi đến lãnh vực tính dục nó cũng đòi được thỏa mãn. Người không bao giờ nói “không” với khẩu vị sẽ khó nói “không” với dục vọng. Người luôn tìm chiếc ghế dễ chịu nhất, món ăn ngon nhất, giờ ngủ thoải mái nhất, sự giải trí liên tục nhất, có thể dần làm cho ý chí yếu đi. Đó không phải vì những tiện nghi tự chúng xấu, nhưng vì ý chí chưa từng được luyện để chịu một sự thiếu thốn nhỏ vì một điều lớn hơn.
Hãy tập những khổ chế nhỏ mà không phô trương. Ăn vừa đủ. Đừng luôn chọn món mình thích nhất. Đừng cần xem mọi thứ mình tò mò. Tắt màn hình sớm. Đừng mang điện thoại vào mọi phút trống. Thức dậy đúng giờ. Giữ giờ cầu nguyện khi không có cảm xúc. Làm việc khó trước. Chấp nhận một chút nóng, một chút lạnh, một chút bất tiện mà không than phiền ngay. Những việc rất nhỏ này tưởng không liên quan đến đức trong sạch, nhưng chúng đang xây một ý chí biết nói: “Tôi không buộc phải thỏa mãn mọi đòi hỏi tức thời.”
Tuy nhiên, đừng rơi vào thái quá. Khổ chế không phải tự hành hạ. Một thân xác bị kiệt sức, mất ngủ triền miên, thiếu dinh dưỡng, căng thẳng kéo dài cũng có thể trở nên dễ bị cám dỗ hơn. Đức tiết độ luôn khác với sự cực đoan. Mục tiêu là tự do, không phải phá hủy sức khỏe. Người khôn ngoan không nuông chiều thân xác nhưng cũng không thù ghét nó. Người ấy đối xử với thân xác như một người bạn cần được huấn luyện: nghiêm mà hiền, có kỷ luật mà biết giới hạn.
11. CHIẾN THUẬT THỨ NĂM: BẢO VỆ GIỜ GIẤC YẾU ĐUỐI CỦA CON
Mỗi người có những hoàn cảnh riêng khiến mình dễ bị cám dỗ. Với người này là đêm khuya. Với người khác là sau khi uống rượu. Với người khác là khi quá căng thẳng. Với người khác là lúc buồn. Với người khác là khi vừa bị ai đó từ chối hoặc làm tổn thương. Với người khác là những chuyến đi một mình. Với người khác là khi ở khách sạn. Với người khác là lúc thất vọng trong công việc. Hãy biết bản thân. Đây là một phần của sự khiêm nhường.
Đừng chờ cám dỗ rồi mới ứng phó. Hãy chuẩn bị trước. Nếu đêm khuya là giờ yếu, đặt giờ tắt thiết bị. Nếu cô đơn là nguy cơ, đừng để lịch sống hoàn toàn cô lập. Nếu một mối tương quan khiến con dễ ngã, đặt giới hạn trước khi gặp. Nếu mệt mỏi làm con mất kiểm soát, học ngủ đủ. Nếu stress làm con tìm đến nội dung xấu, tìm một cách giải tỏa lành mạnh: đi bộ, vận động, cầu nguyện, nói chuyện với người đáng tin, làm việc tay chân.
Nhiều thất bại không xảy ra vì cám dỗ quá mạnh, nhưng vì người ta không chuẩn bị cho một tình huống đã lặp lại hàng chục lần. Nếu con ngã cùng một chỗ nhiều lần, đừng chỉ xưng đi xưng lại cùng một lỗi mà không thay đổi gì trong hoàn cảnh. Hối cải thật sự phải chạm vào cấu trúc đời sống. Có khi phải thay lịch. Có khi phải thay thói quen. Có khi phải bỏ một nguồn truy cập. Có khi phải nhờ người khác đồng hành. Có khi phải chấp nhận rằng mình không thể sử dụng một số tự do giống như người khác. Điều đó không làm con kém giá trị. Nó làm con khôn ngoan.
12. CHIẾN THUẬT THỨ SÁU: ĐỪNG GIẤU MÌNH TRONG BÓNG TỐI
Sự bất khiết mạnh nhất khi được giữ kín. Xấu hổ khiến người ta giấu. Giấu khiến tội có nơi sinh sôi. Rồi tội làm người ta xấu hổ hơn. Một vòng tròn được hình thành. Kẻ thù nói: “Đừng nói với ai. Họ sẽ thất vọng về con. Họ sẽ coi thường con. Con phải tự sửa trước.” Thế là linh hồn tự cô lập, đúng lúc nó cần ánh sáng nhất.
Nếu con đang chiến đấu nghiêm trọng và kéo dài, hãy có một người khôn ngoan, trưởng thành, kín đáo để đồng hành. Một cha giải tội, một vị linh hướng thích hợp, hoặc trong hoàn cảnh phù hợp một chuyên viên có năng lực. Không cần kể mọi chi tiết không cần thiết. Không cần đào sâu các hình ảnh làm tăng cám dỗ. Nhưng phải đủ thật để bóng tối không còn quyền lực. Ánh sáng làm mất đi rất nhiều sức mạnh của sự xấu hổ.
Đặc biệt đối với linh mục và tu sĩ, đây là điểm vô cùng quan trọng. Người phục vụ người khác dễ bị cám dỗ nghĩ rằng mình phải luôn là người mạnh. Mình nghe người khác xưng thú, mình khuyên người khác, mình giảng cho người khác, vậy làm sao mình có thể thú nhận mình cũng yếu? Nhưng chính sự cô độc của vai trò ấy có thể nguy hiểm. Con vẫn cần một nơi để là người môn đệ, không phải người thầy. Một nơi con có thể nói thật. Một nơi con không cần giữ hình ảnh. Linh mục không mất phẩm giá khi khiêm tốn nhìn nhận cuộc chiến của mình; trái lại, chính sự thật bảo vệ chức vụ khỏi một đời sống hai mặt.
13. KHI SA NGÃ, ĐỪNG NẰM LẠI TRONG BÙN
Có linh hồn chiến đấu khá tốt, nhưng sau một lần sa ngã lại bị đánh bại nặng hơn bởi tuyệt vọng. Họ nghĩ: “Thế là hết. Sau bao nhiêu quyết tâm, mình vẫn thế. Mình giả hình. Chúa chắc chán mình rồi.” Rồi vì đã thấy mình bẩn, họ buông luôn: “Đã ngã rồi thì thêm một lần nữa cũng vậy.” Đây là một mưu kế rất nguy hiểm.
Nếu con sa ngã, điều đầu tiên phải làm không phải là nhìn mình thật lâu. Hãy nhìn Chúa. Nhận lỗi. Đừng biện minh. Nhưng cũng đừng tự hành hạ. Nói với Chúa: “Lạy Chúa, đây là con khi không có Chúa. Xin thương xót con.” Nếu cần, hãy đến Bí tích Hòa Giải sớm. Rồi bắt đầu lại. Không một lời hứa khoa trương. Không nói: “Con sẽ không bao giờ ngã nữa.” Hãy nói: “Xin Chúa giữ con trong giờ kế tiếp. Hôm nay con sẽ làm điều con cần làm.”
Đừng biến việc xét mình thành việc tra tấn mình. Sau một sa ngã, hãy hỏi đủ để học: Tôi yếu ở đâu? Tôi đã mở cửa từ lúc nào? Tôi đã bỏ giờ cầu nguyện? Tôi mệt? Tôi cô đơn? Tôi sử dụng điện thoại quá lâu? Tôi đã tự mãn? Tôi đã nuôi một mối quan hệ không rõ ràng? Tìm điểm khởi đầu, sửa nó, rồi bước đi. Người chiến binh tốt không ngồi cả ngày nhìn vết thương; họ băng nó, học bài học và trở lại hàng ngũ.
Lòng thương xót không làm nhẹ tội. Lòng thương xót kéo con ra khỏi tội. Chúa không muốn con làm quen với việc ngã, nhưng Ngài cũng không muốn con biến mỗi lần ngã thành một cái cớ để rời bỏ Ngài. Phêrô đã ngã rất đau. Nhưng điều cứu ông không phải là quá khứ hoàn hảo; là cái nhìn của Chúa và sự trở về. Còn Giuđa không phải chỉ vì tội nặng mà mất đường; là vì đã để tuyệt vọng tách mình khỏi lòng thương xót.
14. ĐỨC MARIA – TRƯỜNG HỌC CỦA MỘT TRÁI TIM KHÔNG CHIA SẺ
Trong cuộc chiến cho đức trong sạch, hãy đến với Đức Maria không như một công thức mê tín, nhưng như một người con đến với Mẹ. Mẹ là người phụ nữ có một trái tim hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Sự tinh tuyền của Mẹ không phải lạnh lùng. Mẹ có trái tim hết sức dịu dàng, biết yêu, biết đau, biết lo lắng, biết đứng dưới chân thập giá. Chính nơi Mẹ ta thấy rằng sự trong sạch không làm tình yêu nghèo đi; nó làm tình yêu sâu hơn, rộng hơn, không chiếm hữu.
Mỗi sáng, hãy trao cho Mẹ đôi mắt: “Mẹ ơi, xin giữ mắt con hôm nay.” Trao trí nhớ: “Xin giữ những gì đi vào lòng con.” Trao tình cảm: “Xin đừng để con tìm ở bất cứ người nào điều chỉ có Chúa mới có thể ban.” Trao thân xác: “Xin dạy con tôn trọng thân xác mình và thân xác người khác.” Những lời ấy nếu được nói thật lòng sẽ dần tạo thành một thái độ sống.
Khi bị cám dỗ mạnh, nhiều khi không cần nói dài. Chỉ cần gọi: “Maria.” Một người con gọi Mẹ không cần diễn văn. Hãy để tên Mẹ trở thành một cử chỉ quay đầu của linh hồn. Nhưng nhớ rằng cầu xin Đức Mẹ phải đi cùng với quyết định cụ thể. Đừng vừa đọc kinh xin Mẹ gìn giữ mà tay vẫn tiếp tục mở điều mình biết là nguy hiểm. Mẹ dẫn con đến với Đức Giêsu và dạy con làm điều Ngài bảo. Lòng sùng kính chân thật luôn sinh ra vâng phục.
15. THÁNH THỂ – NƠI TRÁI TIM ĐƯỢC HỌC LẠI CÁCH YÊU
Đức trong sạch đạt đến chiều sâu khi nó không còn chỉ là phòng thủ. Có một thời gian con phải chiến đấu bằng nhiều “không”. Nhưng nếu cả đời chỉ có “không”, con sẽ mệt. Phải có một tình yêu lớn hơn đến để chiếm lấy trái tim. Tình yêu ấy là Chúa Giêsu.
Hãy ở lại trước Thánh Thể. Không nhất thiết lúc nào cũng phải có những tư tưởng cao. Chỉ ở lại. Nhìn Ngài. Để Ngài nhìn con. Một linh hồn thường xuyên ở trước Đấng tự hiến sẽ dần học một cách yêu khác. Xác thịt nói: “Hãy chiếm lấy để thỏa mãn mình.” Thánh Thể nói: “Này là Mình Thầy, hiến trao vì anh em.” Dục vọng muốn biến người khác thành thứ mình sử dụng. Thánh Thể dạy biến chính mình thành quà tặng. Bất khiết tìm khoái cảm mà không muốn cái giá của tình yêu. Thánh Thể là tình yêu trả giá đến cùng.
Đối với linh mục, điều này càng sâu xa. Đôi tay đã nâng Mình Thánh Chúa phải học không chiếm hữu. Trái tim đọc lời truyền phép mỗi ngày phải ngày càng trở thành trái tim tự hiến. Không phải vì linh mục không còn yếu, nhưng vì mỗi Thánh Lễ lại đặt trước mắt ngài mẫu mực của tình yêu: không giữ lại cho mình. Nếu đời sống Thánh Thể chỉ còn là chức năng, nguy hiểm rất lớn. Nhưng nếu linh mục thực sự sống điều mình cử hành, bàn thờ trở thành trường dạy sự khiết tịnh: đời mình không phải để tiêu thụ tình yêu, mà để trao ban.
16. ĐỨC TRONG SẠCH KHÔNG PHẢI LÀ KHÔNG CẢM THẤY, NHƯNG LÀ BIẾT YÊU MÀ KHÔNG CHIẾM HỮU
Có người tưởng người trong sạch là người không bị ai hấp dẫn, không có cảm xúc, không có rung động. Không đúng. Một người có thể rất trong sạch mà vẫn cảm nhận vẻ đẹp, vẫn có tình cảm sâu, vẫn bị thu hút. Điều quyết định là cách người ấy đối diện với những chuyển động đó. Người trong sạch không biến mọi vẻ đẹp thành đối tượng để sở hữu. Họ có thể thấy một người đẹp mà lòng không cần giữ người ấy cho mình. Có thể quý mến mà không chiếm hữu. Có thể yêu mà vẫn tự do. Có thể gần gũi mà tôn trọng ranh giới. Có thể cảm xúc nhưng không để cảm xúc trở thành mệnh lệnh.
Đức trong sạch chính là sự tự do ấy. Người bất khiết nhìn và hỏi: “Tôi có thể lấy gì từ người này?” Người trong sạch nhìn và trong sâu thẳm hỏi: “Làm sao tôi tôn trọng người này như một người thuộc về Thiên Chúa?” Người bất khiết biến thân xác thành một vật thể. Người trong sạch nhìn thấy một ngôi vị. Người bất khiết muốn kéo người khác vào thế giới của dục vọng mình. Người trong sạch muốn người khác được tự do.
Đây là một cuộc đổi mới cái nhìn. Và có lẽ đó là ý nghĩa sâu xa của lời: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” Trái tim trong sạch nhìn mọi sự khác đi. Nó bắt đầu nhìn thấy dấu vết Thiên Chúa trong con người thay vì chỉ thấy điều có thể kích thích bản năng. Nó nhìn một người phụ nữ không chỉ như thân xác nhưng như một người con của Thiên Chúa. Nhìn một người đàn ông không như đối tượng của mơ tưởng nhưng như một người anh em. Nhìn chính thân xác mình không như một cỗ máy đòi thỏa mãn nhưng như một phần của con người được gọi để nên thánh.
17. SỰ TIẾT ĐỘ – NGƯỜI BẠN ÂM THẦM CỦA ĐỨC TRONG SẠCH
Không thể tách đức trong sạch khỏi tiết độ. Sự hỗn loạn trong một lãnh vực thường làm yếu khả năng tự chủ trong những lãnh vực khác. Người ăn uống vô độ, giải trí vô độ, nói chuyện vô độ, dùng mạng vô độ, ngủ vô độ hoặc làm việc vô độ đều đang tập cho bản thân một thói quen nguy hiểm: làm theo xung động. Trong khi đức trong sạch đòi khả năng nói với xung động: “Không phải bây giờ. Không phải cách này. Không phải điều đó.”
Hãy xây sự tiết độ như xây một bức tường bằng những viên gạch nhỏ. Một giờ đi ngủ ổn định. Một giới hạn thời gian dùng điện thoại. Một bữa ăn không cần ăn đến no căng. Một lần bỏ qua món mình rất thích. Một ngày không lướt nội dung vô bổ. Một khoảng im lặng. Một quyết định không kể chuyện gây tò mò. Những điều ấy nhỏ đến mức chẳng ai khen. Chính vì vậy chúng rất quý. Chúng không nuôi tự ái. Chúng rèn ý chí trong bí mật.
Một người muốn chiến thắng những cám dỗ lớn nhưng không chịu từ bỏ những dễ chịu nhỏ thường đang đòi một phép lạ mà không muốn cộng tác với ân sủng. Thiên Chúa có thể giải thoát con tức khắc nếu Ngài muốn, nhưng thường Ngài huấn luyện con qua sự trung thành mỗi ngày. Ngài làm con mạnh không chỉ bằng một lần chiến thắng vang dội, mà bằng hàng ngàn lần âm thầm chọn điều đúng.
18. ĐỪNG BIẾN SỰ TRONG SẠCH THÀNH MỘT THỨ ÁM ẢNH VỀ CHÍNH MÌNH
Có một nguy hiểm ngược lại cũng cần nói. Một linh hồn quá ám ảnh về việc “mình có trong sạch không”, “ý nghĩ này có tội không”, “cảm giác kia có phải là đồng ý không”, có thể bị mắc kẹt trong chính mình. Đức trong sạch không phải là đứng trước gương nội tâm cả ngày để kiểm tra độ trắng của linh hồn. Đích điểm là Thiên Chúa, không phải sự hoàn hảo tự quan sát.
Khi đã làm điều phải làm, hãy sống. Hãy phục vụ. Hãy yêu thương. Hãy cười. Hãy làm việc. Hãy ở với cộng đoàn. Hãy đi ra với người nghèo. Hãy giảng Tin Mừng. Một tâm hồn khỏe mạnh không dành mọi năng lượng để chống lại cám dỗ. Nó dành phần lớn năng lượng để yêu điều tốt. Nhiều cám dỗ sẽ yếu đi khi chúng không còn là trung tâm chú ý.
Con không nên thức dậy mỗi sáng với câu: “Hôm nay làm sao để không phạm tội bất khiết?” Hãy thức dậy với câu: “Hôm nay làm sao để thuộc trọn về Chúa?” Hai câu có vẻ gần nhau nhưng tạo ra hai hướng sống khác. Một bên sống quanh sợ hãi. Một bên sống quanh tình yêu. Sợ hãi có thể giúp con tránh một số vực thẳm. Nhưng chỉ tình yêu mới đưa con đến tự do.
19. ĐỪNG QUÊN RẰNG CÁM DỖ CÓ THỂ KÉO DÀI RẤT LÂU MÀ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ CON ĐANG THẤT BẠI
Có những linh hồn buồn vì nghĩ: “Tôi cầu nguyện bao năm mà vẫn bị cám dỗ.” Nhưng Chúa chưa bao giờ hứa rằng người thánh sẽ không bị cám dỗ. Đức trong sạch được chứng minh chính trong chọn lựa giữa cám dỗ. Có thể một người có khuynh hướng mạnh suốt đời. Có thể những hình ảnh cũ thỉnh thoảng trở lại. Có thể một số giai đoạn áp lực khiến cuộc chiến dữ hơn. Điều ấy không xóa mọi tiến bộ.
Đừng đo sự thánh thiện bằng việc con cảm thấy ít cám dỗ đến mức nào. Hãy nhìn xem con trung thành hơn không. Con nhận ra sớm hơn không. Con đứng dậy nhanh hơn không. Con bớt thỏa hiệp không. Con biết chạy đến với Chúa sớm hơn không. Con có khiêm nhường hơn không. Con có cảm thông với yếu đuối của người khác hơn không. Một trận chiến kéo dài có thể trở thành nơi sinh ra rất nhiều nhân đức: khiêm nhường, tín thác, kiên trì, lòng thương xót, tỉnh thức.
Có khi Chúa không lấy đi ngay một yếu đuối vì qua đó Ngài giữ con gần Ngài. Nếu con không còn thấy mình yếu, có thể con sẽ tự mãn. Vì thế đừng nói: “Lạy Chúa, tại sao Chúa không làm cho con không bao giờ bị cám dỗ?” Hãy nói: “Lạy Chúa, trong cám dỗ này xin đừng để con rời tay Chúa.”
20. CUỘC CHIẾN SÂU XA NHẤT: AI SẼ SỞ HỮU TRÁI TIM CON?
Cuối cùng, cuộc chiến về sự bất khiết không chỉ là cuộc chiến giữa một luật luân lý và một ham muốn. Nó là câu hỏi về quyền sở hữu trái tim: trái tim con thuộc về ai? Mỗi cám dỗ đều mang theo một lời mời kín đáo: “Hãy lấy cho mình một chút thỏa mãn ngoài Chúa. Hãy tạo một góc bí mật không thuộc về Ngài. Hãy giữ lại một căn phòng khóa kín trong tâm hồn.” Chúa không cưỡng ép mở căn phòng ấy. Ngài đứng chờ tình yêu tự nguyện. Và mỗi lần con nói không với một cám dỗ vì yêu Ngài, con đang trao cho Ngài thêm một chìa khóa.
Có những chiến thắng chẳng ai biết. Một ánh mắt quay đi. Một trang được đóng lại. Một tin nhắn không gửi. Một cuộc hẹn được thay đổi. Một tưởng tượng bị cắt ngay từ đầu. Một đêm con đặt điện thoại xuống và quỳ cầu nguyện. Không ai vỗ tay. Không ai biết. Nhưng Thiên Chúa biết. Và có lẽ những chiến thắng kín đáo ấy quý hơn rất nhiều việc lớn mà người ta nhìn thấy. Vì ở đó chỉ còn con và Chúa. Không danh tiếng. Không khen ngợi. Không phần thưởng xã hội. Chỉ có một linh hồn nói: “Lạy Chúa, vì Chúa.”
Hỡi linh hồn, đừng coi nhẹ những lần chọn lựa nhỏ ấy. Một đời thánh thiện được xây từ đó. Đức trong sạch không được ban cho con như một khối đá nguyên vẹn một lần rồi thôi. Nó được bảo vệ qua từng ngày, từng ánh mắt, từng tương quan, từng quyết định, từng lần đứng dậy. Mỗi ngày con lại dâng thân xác này cho Chúa. Mỗi ngày con lại nói: “Con không thuộc về dục vọng. Con không thuộc về những hình ảnh này. Con không thuộc về những ham muốn hỗn loạn. Con thuộc về Chúa.”
Và nếu có lúc con thấy cuộc chiến quá nặng, hãy nhớ: con không chiến đấu một mình. Chúa Giêsu biết thân phận con người. Ngài biết mệt mỏi. Ngài biết đói. Ngài biết cô đơn. Ngài biết thế nào là bị cám dỗ. Ngài không đứng xa nhìn con chiến đấu. Ngài ở trong trận chiến với con. Khi con nói: “Lạy Chúa, con yếu quá”, đó không phải thất bại. Đó là lúc con bắt đầu chiến đấu đúng cách. Khi con nói: “Con không thể tự giữ mình”, con đang đặt tay vào khí giới đầu tiên: bất tín nhiệm vào chính mình. Khi con nói tiếp: “Nhưng Chúa có thể giữ con”, con cầm khí giới thứ hai: tín thác vào Thiên Chúa.
Đừng tin vào sự trong sạch của con. Hãy tin vào ân sủng của Ngài. Đừng tin rằng vì hôm qua con đã thắng nên hôm nay con sẽ thắng. Hãy cầu xin hôm nay. Đừng tin rằng vì con đã ngã nhiều nên ngày mai con chắc chắn lại ngã. Hãy tín thác hôm nay. Đừng sống bằng quá khứ, dù là quá khứ đẹp hay xấu. Sự trung tín chỉ có một nơi để sống: giây phút hiện tại.
Khi mắt gặp điều không nên nhìn, chọn Chúa trong giây phút đó.
Khi trí nhớ gọi lại hình ảnh cũ, chọn Chúa trong giây phút đó.
Khi cảm tình đối với một người bắt đầu vượt khỏi trật tự, chọn Chúa trong giây phút đó.
Khi màn hình mời gọi, chọn Chúa trong giây phút đó.
Khi cô đơn, đừng chạy ngay đến một sự gây tê; hãy ngồi trước Chúa và nói: “Con đang cô đơn.” Chọn Chúa trong giây phút đó.
Khi ngã, đứng lên và chọn Chúa một lần nữa.
Đó là cả cuộc đời nên thánh: một chuỗi vô số những lần chọn lại Thiên Chúa.
Và rồi, qua năm tháng, một điều kỳ diệu bắt đầu xảy ra. Điều ban đầu là khổ chế dần trở thành tự do. Điều ban đầu phải cắn răng từ bỏ dần mất bớt sức quyến rũ. Đôi mắt học sự đơn sơ. Trí tưởng tượng trở nên sạch hơn. Trái tim bớt đói những an ủi vô trật tự. Không phải cám dỗ biến mất hoàn toàn, nhưng linh hồn không còn bị nó thống trị như trước. Chúa bắt đầu chiếm nhiều không gian hơn. Và con hiểu rằng đức trong sạch không phải là một căn phòng lạnh lẽo không có tình yêu. Trái lại, đó là căn phòng đã được dọn sạch để Tình Yêu thật có thể ở lại.
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, đừng mệt mỏi vì phải canh giữ mình. Người canh giữ một kho tàng không than phiền vì cánh cửa cần khóa. Trái tim của con là kho tàng. Ơn gọi của con là kho tàng. Tình bạn với Thiên Chúa là kho tàng. Bình an lương tâm là kho tàng. Khả năng nhìn người khác bằng ánh mắt trong sạch là kho tàng. Khả năng đứng trước bàn thờ mà không phải sống một đời hai mặt là kho tàng. Khả năng yêu mà không chiếm hữu là kho tàng. Những điều ấy đáng để bảo vệ.
Canh giữ không phải vì sợ đời. Canh giữ vì con có điều quý hơn.
Canh giữ không phải vì ghét thân xác. Canh giữ vì thân xác được dựng nên cho vinh quang.
Canh giữ không phải vì sợ yêu. Canh giữ để có thể yêu mà không làm bẩn tình yêu.
Canh giữ không phải vì mọi người đều nguy hiểm. Canh giữ vì trái tim con yếu và rất quý.
Canh giữ không phải vì Thiên Chúa là một ông chủ nghiêm khắc chỉ chực phạt. Canh giữ vì Ngài là Đấng con yêu và con không muốn điều gì chia đôi trái tim mình.
Hãy nhớ lời Đức Giêsu: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” Lời này không chỉ nói về đời sau. Ngay ở đời này, trái tim càng trong sạch càng nhìn được rõ hơn. Người đầy dục vọng nhìn con người bằng dục vọng. Người đầy tự ái nhìn mọi việc qua cái tôi. Người đầy tham lam nhìn mọi thứ bằng giá trị lợi ích. Nhưng người có lòng trong sạch bắt đầu nhìn tạo vật như Thiên Chúa nhìn. Và đó chính là một phần của thiên đàng đã bắt đầu.
Xin đừng bao giờ nói: “Con không thể trong sạch.” Nếu chỉ dựa vào con, đúng, con không thể. Nhưng đây chính là điều tất cả cuộc chiến thiêng liêng đang dạy con từ đầu: con không chiến đấu bằng sức riêng. Cùng một Chúa đã gọi con cũng là Đấng ban sức để con trung thành. Ân sủng không biến con thành đá, nhưng làm cho ý chí con có khả năng nói “có” với Thiên Chúa giữa một thân xác còn yếu. Chúa không hứa con sẽ không cảm thấy lửa. Ngài hứa con có thể đi qua lửa mà không thuộc về nó.
Vì thế, mỗi sáng hãy đặt tay trên trái tim mình và thưa: “Lạy Chúa Giêsu, trái tim này là của Chúa. Xin đừng để con trao nó cho điều không xứng đáng. Đôi mắt này là của Chúa. Xin dạy con nhìn bằng ánh mắt của Chúa. Trí nhớ này là của Chúa. Xin thanh tẩy những gì đã đi vào đây. Trí tưởng tượng này là của Chúa. Xin đừng để nó trở thành nơi trú ẩn của những điều làm con xa Chúa. Thân xác này là của Chúa. Xin giúp con tôn trọng nó và dùng nó để phục vụ. Tình cảm này là của Chúa. Xin dạy con yêu mà không chiếm hữu. Những cô đơn của con là của Chúa. Xin ở với con trong những giờ không ai hiểu con. Những ham muốn của con là của Chúa. Xin sắp đặt lại chúng. Những vết thương của con là của Chúa. Xin chữa lành chúng. Những sa ngã cũ của con, con cũng trao cho Chúa. Xin đừng để quá khứ nói rằng con không thể nên thánh. Và tương lai của con cũng là của Chúa. Xin giữ con từng ngày.”
Rồi hãy bước vào ngày sống. Đừng sợ quá mức. Đừng tự tin quá mức. Hãy khiêm nhường. Hãy tỉnh thức. Hãy sống có trật tự. Hãy giữ mắt. Hãy giữ lời. Hãy giữ màn hình. Hãy giữ các mối tương quan. Hãy giữ giờ ngủ. Hãy giữ giờ cầu nguyện. Hãy giữ việc xưng tội. Hãy giữ lòng yêu mến Đức Mẹ. Hãy giữ thời gian trước Thánh Thể. Nhưng trên hết, hãy để Chúa giữ con.
Có những ngày con sẽ cảm thấy rất mạnh. Đừng tự mãn.
Có những ngày con sẽ cảm thấy rất yếu. Đừng tuyệt vọng.
Có những ngày con sẽ chiến thắng dễ dàng. Hãy tạ ơn.
Có những ngày con phải chiến đấu từng phút. Hãy kiên trì.
Có những ngày con ngã. Hãy đứng dậy.
Có những ngày con thấy lòng mình rất trong và tự do. Hãy khiêm tốn.
Cứ thế mà đi.
Không cần trở thành thiên thần.
Chỉ cần là một con người yếu đuối nhưng mỗi ngày lại chọn Thiên Chúa.
Và đến một ngày, khi nhìn lại một con đường rất dài, con sẽ hiểu rằng Chúa đã không chỉ giúp con “tránh vài tội”. Ngài đã làm một việc sâu hơn nhiều: Ngài đã dạy trái tim con cách yêu. Ngài đã lấy một trái tim từng dễ bị kéo về phía những thỏa mãn nhỏ bé và làm nó có khả năng hướng lên điều vĩnh cửu. Ngài đã biến những lần chống cám dỗ âm thầm thành một trường học của tự do. Ngài đã dùng chính cuộc chiến con từng xấu hổ để làm con khiêm nhường hơn, nhân hậu hơn với người yếu đuối, bám lấy Ngài hơn.
Hỡi linh hồn, đó mới là chiến thắng lớn nhất.
Không phải con chưa từng bị cám dỗ.
Không phải con chưa từng yếu.
Không phải con chưa từng phải bắt đầu lại.
Nhưng là sau tất cả, trái tim con vẫn thuộc về Thiên Chúa.
Hãy giữ nó cho Ngài.
Hãy giữ nó từng ngày.
Hãy giữ nó bằng tỉnh thức.
Hãy giữ nó bằng khổ chế.
Hãy giữ nó bằng Bí tích.
Hãy giữ nó dưới áo choàng Đức Maria.
Hãy giữ nó bên Thánh Thể.
Và khi cảm thấy chính mình không giữ nổi nữa, hãy trao nó vào tay Chúa và nói:
“Lạy Chúa Giêsu, con không đủ sức giữ trái tim mình. Xin Chúa giữ lấy nó cho con. Con không đủ mạnh để chiến đấu một mình. Xin Chúa chiến đấu trong con. Con không muốn thuộc về bất cứ điều gì làm con xa Chúa. Xin làm cho lòng con nên trong sạch. Xin cho mắt con được trong sạch. Xin cho trí con được trong sạch. Xin cho những tình cảm của con được trong sạch. Xin cho thân xác con trở thành khí cụ của tình yêu chứ không phải nô lệ của dục vọng. Và nếu hôm nay con yếu, xin đừng để con buông tay Chúa. Nếu hôm nay con ngã, xin cho con đứng dậy ngay. Nếu hôm nay con chiến thắng, xin đừng để con kiêu ngạo. Con chỉ xin một điều: giữa mọi cuộc chiến, xin cho con vẫn là của Chúa.”
Rồi bình an mà bước tiếp.
Vì “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.”
Và không có phần thưởng nào lớn hơn được nhìn thấy Đấng mà trái tim con đã chọn suốt cả cuộc chiến dài của đời mình.
CHƯƠNG 21
CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI SỰ CHÁN NẢN VÀ SỰ TUYỆT VỌNG THIÊNG LIÊNG
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, sau những trận đánh gay gắt chống lại sự tự ái, sự nóng giận, sự lười biếng, sự trì hoãn, những khuynh hướng bất khiết và bao nhiêu đam mê khác đang âm thầm tranh giành quyền thống trị trong lòng con, có một lúc kẻ thù dường như không còn tấn công con bằng những cám dỗ mạnh mẽ, dữ dội và dễ nhận thấy nữa. Nó đổi chiến thuật. Nó biết rằng sau một thời gian dài chống trả, linh hồn đã mệt. Nó biết rằng người chiến binh đã bị thương. Nó biết rằng con đã cố gắng rất nhiều, đã quyết tâm rất nhiều, đã nhiều lần bắt đầu lại, nhưng cũng đã nhiều lần thất bại. Và chính lúc ấy, thay vì lao thẳng vào con, nó ngồi xuống bên cạnh con như một người bạn giả dối, nói với con bằng một giọng rất nhỏ, rất hợp lý, rất giống tiếng nói của kinh nghiệm: “Thôi đủ rồi. Mày đã cố gắng bao nhiêu lần rồi mà có thay đổi được gì đâu. Mày vẫn nóng giận. Mày vẫn yếu đuối. Mày vẫn sa ngã. Mày vẫn chia trí khi cầu nguyện. Mày vẫn còn đầy tự ái. Mày vẫn không trở nên con người mà mày mong muốn. Có lẽ con đường này không dành cho mày. Có lẽ Chúa không còn muốn dùng mày nữa. Có lẽ mày đã làm Chúa thất vọng quá nhiều. Có lẽ tốt hơn hết là đừng cố nữa.” Hỡi linh hồn, hãy biết rằng nhiều trận chiến thiêng liêng lớn nhất đã không bị thua trong lúc cám dỗ đang dữ dội, nhưng bị thua sau cám dỗ, khi linh hồn ngồi lại với sự thất vọng của mình. Có người đã chống lại một cám dỗ bất khiết rất mạnh mà không ngã, nhưng sau đó lại thất bại vì nghĩ rằng mình quá yếu đuối. Có người đã cố gắng giữ bình tĩnh trong một hoàn cảnh bị xúc phạm, nhưng vì sau đó nhận ra lòng mình vẫn còn bực tức nên liền kết luận rằng mình chẳng tiến bộ gì. Có người đã trung tín cầu nguyện nhiều năm, nhưng một ngày kia bước vào thời kỳ khô khan, không còn cảm thấy gì, rồi bắt đầu tưởng rằng Thiên Chúa đã rời xa mình. Có người phục vụ rất nhiều, hy sinh rất nhiều, cho đi rất nhiều, nhưng vì không thấy kết quả như mong đợi nên dần dần lạnh nhạt, rồi từ lạnh nhạt đi đến chán nản, từ chán nản đi đến buông xuôi, và từ buông xuôi có thể đi đến một thứ tuyệt vọng rất nguy hiểm. Vì thế, nếu con muốn chiến đấu đến cùng, con phải học cho biết một điều vô cùng quan trọng: không phải mọi lúc con cảm thấy thất vọng đều có nghĩa là con đã thất bại; không phải mọi lúc con thấy tối tăm đều có nghĩa là Chúa đã rời xa; không phải mọi lúc con không còn cảm thấy sốt sắng đều có nghĩa là đời sống thiêng liêng của con đang chết. Có những mùa Thiên Chúa cho linh hồn được nếm sự an ủi. Nhưng cũng có những mùa Ngài cho linh hồn bước đi trong đêm tối. Có những lúc Ngài để con nhìn thấy rõ sự tiến bộ. Nhưng cũng có lúc Ngài che giấu kết quả để con học yêu Ngài chứ không yêu cảm giác thành công. Có lúc Ngài cho con thấy mình mạnh. Nhưng cũng có lúc Ngài để con cảm nghiệm sự yếu đuối đến tận đáy, để con hiểu rằng nếu hôm nay con vẫn còn đứng được thì không phải vì con mạnh, nhưng vì bàn tay Ngài đang giữ con. Sự chán nản thiêng liêng vì thế là một chiến trường rất tế nhị. Nó có thể bắt đầu từ một cảm giác rất bình thường, nhưng nếu con không tỉnh thức, nó sẽ dần biến thành một cái nhìn sai lệch về chính mình, về đời sống, về ơn gọi, về sứ vụ và cuối cùng về chính Thiên Chúa. Khi đó, điều nguy hiểm không còn chỉ là con mệt nữa, nhưng là con bắt đầu diễn giải sự mệt mỏi ấy như một bằng chứng rằng Chúa không còn ở với con. Không còn chỉ là con sa ngã nữa, nhưng là con bắt đầu tin rằng sự sa ngã ấy mạnh hơn lòng thương xót. Không còn chỉ là con chưa thay đổi được như mong muốn nữa, nhưng là con bắt đầu tin rằng con sẽ không bao giờ thay đổi. Và khi một linh hồn bắt đầu dùng những chữ “không bao giờ” để nói về quyền năng của ân sủng, thì nó đang đứng rất gần bờ vực của tuyệt vọng.
Sự chán nản thiêng liêng tự nó không phải lúc nào cũng là tội. Con có thể thức dậy một buổi sáng và cảm thấy nặng nề. Con có thể bước vào nhà nguyện mà chẳng muốn cầu nguyện. Con có thể cầm chuỗi Mân Côi mà lòng không có chút sốt sắng. Con có thể nhìn công việc đang chờ mà thấy lòng mình như một tảng đá. Con có thể cảm thấy sứ vụ mà trước kia mình yêu mến bỗng trở nên khô khan. Con có thể trải qua những ngày mà ngay cả việc đọc một đoạn Tin Mừng cũng trở thành một cố gắng. Những điều ấy có thể đến từ sự mệt mỏi của thân xác, từ áp lực của cuộc sống, từ một giai đoạn khô khan nội tâm, từ những vết thương chưa được chữa lành, từ sự quá tải trong bổn phận, hoặc đơn giản là từ giới hạn của phận người. Đừng vội kết án mình chỉ vì con cảm thấy như thế. Cảm xúc không phải lúc nào cũng nằm dưới quyền điều khiển trực tiếp của ý chí. Con không thể ra lệnh cho lòng mình: “Từ giờ phải vui lên.” Con cũng không thể chỉ cần quyết định một cái là mọi nặng nề biến mất. Đời sống thiêng liêng không phải là nghệ thuật ép buộc cảm xúc. Điều quan trọng nằm ở chỗ khác: con sẽ làm gì với cảm xúc ấy? Con có để nó điều khiển sự lựa chọn của mình không? Con có lấy nó làm tiêu chuẩn để phán đoán Thiên Chúa không? Con có đồng ý với những tư tưởng mà nó kéo theo không? Có một khác biệt rất lớn giữa việc cảm thấy: “Tôi đang chán nản” và việc kết luận: “Tôi không còn hy vọng.” Có một khác biệt rất lớn giữa việc nói: “Hôm nay tôi không cảm thấy Chúa gần” và việc nói: “Chúa đã bỏ tôi.” Có một khác biệt rất lớn giữa việc nhận ra: “Tôi lại ngã” và việc khẳng định: “Tôi sẽ mãi mãi như thế này.” Điều đầu tiên có thể chỉ là sự thật của một thời điểm. Điều thứ hai thường là một phán đoán vượt quá sự thật. Và ma quỷ rất thích lợi dụng những phán đoán vượt quá sự thật ấy. Nó không cần làm cho con chối bỏ Thiên Chúa ngay lập tức. Nó chỉ cần làm cho con nghĩ sai về Ngài một chút mỗi ngày. Nó chỉ cần làm cho con nghĩ rằng lòng thương xót có giới hạn. Rằng Chúa có thể tha lần thứ nhất, lần thứ mười, nhưng chắc không thể chịu nổi lần thứ một trăm. Rằng Chúa yêu những linh hồn mạnh mẽ, sốt sắng, trong sạch, chứ không thể tiếp tục yêu một kẻ cứ lặp đi lặp lại một lỗi lầm. Rằng Chúa kiên nhẫn với người khác nhưng đã mệt mỏi với con. Hỡi linh hồn, đó là một trong những lời dối trá xúc phạm lòng thương xót Thiên Chúa nhất. Con có thể mệt với chính mình, nhưng Thiên Chúa không yêu con theo sự kiên nhẫn hữu hạn của con. Con có thể hết chịu nổi mình, nhưng lòng thương xót của Chúa không được đo bằng sức chịu đựng của con. Con có thể kinh ngạc vì mình lại sa ngã, nhưng Chúa không hề bất ngờ về sự yếu đuối của con. Ngay từ khi gọi con, Ngài đã biết tất cả những gì con sẽ là. Ngài đã thấy cả những ngày con nhiệt thành lẫn những ngày con nguội lạnh. Ngài đã biết cả những lần con trung tín lẫn những lần con phản bội. Ngài đã biết những đêm con cầu nguyện trong nước mắt và cả những đêm con không muốn cầu nguyện. Và biết tất cả những điều ấy, Ngài vẫn gọi con. Vẫn yêu con. Vẫn muốn cứu con. Vẫn muốn thánh hóa con. Vẫn không thôi làm việc trong con.
Nguyên nhân sâu xa của chán nản nhiều khi không phải là vì linh hồn quá khiêm nhường, nhưng ngược lại, vì nó còn quá tự ái. Điều này cần được hiểu rất kỹ. Một người có thể nói: “Tôi thất vọng vì tôi quá tội lỗi.” Nghe qua tưởng như rất khiêm nhường. Nhưng nếu nhìn sâu, có khi điều người ấy thực sự đau không phải là đã làm buồn lòng Chúa, mà là đã không đạt được hình ảnh đẹp đẽ mà mình muốn có về chính mình. Ta muốn mình là người kiên nhẫn. Rồi khi nổi nóng, ta đau đớn quá mức, không hẳn vì đã thiếu bác ái, nhưng vì hình ảnh “tôi là người tốt” bị vỡ. Ta muốn mình cầu nguyện sâu. Khi chia trí, ta bực mình, không hẳn vì không yêu Chúa đủ, mà vì ta không chịu nổi việc mình vẫn còn vụng về. Ta muốn mình thanh sạch. Khi bị một tư tưởng xấu quấy nhiễu, ta hoảng hốt và tự khinh ghét, đôi khi không phải vì ta đã đồng thuận với tội, mà chỉ vì ta không thể chấp nhận rằng mình vẫn còn là một con người yếu đuối. Chính ở đây, sự chán nản có thể là một hình thức tự ái bị thương. Cái tôi đã âm thầm nói với Chúa: “Con sẽ trở nên tốt đẹp bằng một tiến trình mà con có thể kiểm soát.” Nhưng khi Chúa cho phép con đường nên thánh đi qua những thất bại, những lần bị hạ xuống, những kinh nghiệm về sự bất lực, cái tôi nổi loạn. Nó nói: “Con không muốn nên thánh theo cách này. Con muốn tiến lên bằng những chiến thắng. Con không muốn tiến lên bằng việc phải quỳ xuống trong lòng thương xót.” Hỡi linh hồn, nhưng con đường Chúa thường rất khác với điều ta tưởng. Ngài có thể làm cho một linh hồn tiến lên không chỉ bằng những chiến thắng, mà còn bằng cách dạy nó đứng dậy đúng cách sau những thất bại. Có người thắng một cám dỗ và trở nên kiêu ngạo. Có người ngã trước cám dỗ nhưng sau đó trở nên khiêm nhường sâu xa, cầu nguyện nhiều hơn, cảm thông với người khác hơn, và bám chặt vào Chúa hơn. Ta không nói rằng sa ngã là điều tốt. Tội luôn là điều phải ghét bỏ. Nhưng Thiên Chúa quyền năng đến mức Ngài có thể rút ra một điều thiện ngay từ nơi mà kẻ thù tưởng đã chiến thắng. Một vết thương được đặt vào tay vị lương y có thể trở thành nơi người bệnh học biết sự thật về mình. Một thất bại được đặt vào lòng thương xót có thể trở thành trường học của khiêm nhường. Một lần con thấy mình không thể tự cứu mình có thể là lần đầu tiên con thực sự hiểu thế nào là cần Đấng Cứu Độ.
Một nguyên nhân khác là sự nóng vội trong đời sống thiêng liêng. Linh hồn muốn thấy mình tiến bộ nhanh. Nó lập một quyết tâm hôm nay và mong ngày mai đã thành một con người khác. Nó đọc một cuốn sách hay, nghe một bài giảng đánh động, tham dự một kỳ tĩnh tâm sốt sắng, rồi trở về với những quyết định rất đẹp. Nhưng một tuần sau, nó lại thấy những yếu đuối cũ. Một tháng sau, nó vẫn còn những phản ứng cũ. Một năm sau, một số tật xấu vẫn chưa biến mất. Thế là nó kết luận: “Mọi nỗ lực đều vô ích.” Nhưng hãy hỏi một người trồng cây xem: có cây nào vừa gieo hôm nay mà ngày mai đã có quả không? Hãy hỏi một người xây nhà xem: có nền móng nào vừa đặt buổi sáng mà chiều đã thành mái nhà không? Hãy nhìn một đứa trẻ học đi. Nó ngã hàng trăm lần trước khi bước vững. Không ai nhìn nó ngã rồi nói: “Đứa bé này không có tương lai đi lại.” Chỉ trong đời sống thiêng liêng, ta mới đòi hỏi những điều vô lý nơi mình. Ta đã mang những thói quen xấu mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, nhưng muốn vài tuần cầu nguyện là tất cả biến mất. Ta đã nuôi tự ái cả đời, nhưng muốn vài lần bị sửa là đủ khiêm nhường. Ta đã quen sống theo cảm xúc, nhưng muốn vài quyết tâm là đủ làm chủ mình. Ta đã để trí tưởng tượng lang thang nhiều năm, nhưng muốn một ngày là đủ thu hồi nó lại. Không, hỡi linh hồn. Ân sủng có thể làm phép lạ trong một giây nếu Chúa muốn, nhưng thường Ngài tôn trọng tiến trình. Ngài đào tạo linh hồn như người thợ kiên nhẫn. Ngài gọt từng chút. Ngài sửa từng chút. Ngài đưa ra ánh sáng từng tầng sâu của cái tôi. Và có những điều con tưởng mình đang thụt lùi, nhưng thực ra chỉ là con đang nhìn thấy rõ hơn điều vốn đã ở trong mình từ lâu. Trước kia con nóng giận mà không nhận ra. Bây giờ con thấy một chút bực mình cũng làm con đau. Đó có thể không phải là con tệ hơn, mà là lương tâm con nhạy hơn. Trước kia con tự ái nhưng coi đó là điều tự nhiên. Bây giờ chỉ một thoáng muốn được khen cũng khiến con nhận ra mình chưa trong sạch trong ý hướng. Đừng vội gọi ánh sáng ấy là thất bại. Có khi việc thấy được bệnh rõ hơn chính là dấu hiệu vị thầy thuốc đang cho ánh sáng chiếu vào.
Sự so sánh với người khác cũng là một con đường ngắn dẫn tới chán nản. Con nhìn người này cầu nguyện sốt sắng hơn. Người kia nói năng dịu dàng hơn. Người khác có vẻ hy sinh hơn. Một người trẻ hơn con nhưng được nhiều người yêu mến. Một người mới bắt đầu đời sống thiêng liêng nhưng dường như tiến nhanh. Một người đồng hành với con đã vượt qua điều mà con vẫn còn vật lộn. Và thế là lòng con chùng xuống. “Tại sao họ được mà tôi không được?” Nhưng hỡi linh hồn, con đang chạy cuộc đua của ai? Chúa không hỏi con tại sao con không trở thành người kia. Ngài hỏi con có trung tín với phần đường của con hay không. Mỗi linh hồn có lịch sử khác nhau, vết thương khác nhau, ơn gọi khác nhau, nhịp độ khác nhau, ân sủng khác nhau và những trận chiến khác nhau. Điều dễ với người kia có thể rất khó với con. Điều khó với con có thể lại là nơi Chúa muốn làm nên một sự thánh thiện rất đặc biệt. Có những người phải chiến đấu cả đời với một khuynh hướng nào đó. Không phải vì Chúa bỏ họ, nhưng vì chính cuộc chiến lâu dài ấy giữ họ gần Chúa. Nếu được giải thoát quá sớm, có khi họ đã trở nên tự mãn. Có những cái gai Chúa không cất đi ngay, để mỗi ngày ta còn phải nói: “Ơn của Chúa đủ cho con.” Vì thế, đừng lấy bước chân người khác làm thước đo lòng trung tín của Chúa đối với con. Đừng lấy những gì con nhìn thấy bên ngoài nơi họ để kết án điều Chúa đang làm âm thầm trong con.
Có một hình thức chán nản khác thường xảy ra nơi những người phục vụ nhiều. Họ hoạt động không ngừng. Họ lo cho người khác, giải quyết công việc, chạy từ trách nhiệm này sang trách nhiệm kia. Họ giảng, dạy, tổ chức, chăm sóc, lắng nghe, xây dựng, sửa chữa, đồng hành. Họ có thể làm rất nhiều điều tốt, nhưng nếu lâu ngày không trở về nguồn, linh hồn sẽ cạn. Một ngọn đèn có thể soi rất lâu, nhưng nếu không được tiếp dầu, nó sẽ tắt. Một con người có thể cho đi rất nhiều, nhưng nếu không để Chúa yêu mình, không để Lời Chúa nuôi mình, không có những khoảng lặng thật sự, không biết nghỉ ngơi trong Chúa, không biết nhận rằng mình cũng chỉ là một thụ tạo có giới hạn, thì một ngày nào đó sự mệt mỏi thể lý và tâm lý sẽ mặc áo thiêng liêng và nói: “Tôi hết yêu Chúa rồi.” Thực ra có khi linh hồn không hết yêu Chúa. Nó chỉ kiệt sức. Vì thế đừng thiêng liêng hóa mọi mệt mỏi, nhưng cũng đừng coi thường giới hạn của thân xác. Có những lúc việc thánh thiện nhất con cần làm là ngủ đủ, ăn uống điều độ, giảm một số việc không cần thiết, bước ra khỏi tiếng ồn, ngồi yên trước Thánh Thể và để cho mình được hiện diện trước Chúa mà không phải sản xuất gì. Chúa không chỉ yêu công việc con làm cho Ngài. Ngài yêu chính con. Nếu con chỉ biết mình có giá trị khi hữu ích, rồi một ngày không còn sức để hữu ích nữa, con sẽ rơi vào khủng hoảng. Nhưng nếu con biết giá trị của mình bắt nguồn từ việc được Chúa yêu, con có thể nằm yên trong một ngày kiệt sức mà vẫn biết mình thuộc về Ngài.
Dấu hiệu đầu tiên cho thấy chán nản đang bắt đầu thống trị là linh hồn dần mất lòng muốn bắt đầu lại. Người thánh không phải là người không bao giờ ngã, nhưng là người không bao giờ chấp nhận nằm lại. Khi con thấy mình bắt đầu nói: “Thôi kệ”, hãy cảnh giác. Khi con biết mình cần cầu nguyện mà nói: “Hôm nay bỏ một lần cũng chẳng sao”, hãy cảnh giác. Khi con biết mình cần xin lỗi nhưng nói: “Thôi, chẳng thay đổi gì đâu”, hãy cảnh giác. Khi con đã đặt một kỷ luật tốt nhưng bắt đầu nghĩ: “Tôi vốn không làm được đâu”, hãy cảnh giác. Những câu rất nhỏ ấy là những chiếc đinh đang tháo từng mảnh vũ khí khỏi người chiến binh. Sự chán nản không luôn đẩy con vào một tội lớn ngay. Nó làm con ngừng những việc nhỏ. Ngừng xét mình. Ngừng giữ giờ. Ngừng đọc Lời Chúa. Ngừng xin ơn. Ngừng chiến đấu với một tư tưởng xấu ngay từ đầu. Ngừng tìm đến Bí tích Hòa Giải vì nghĩ “rồi cũng lại ngã”. Ngừng nói chuyện thật với linh hướng vì nghĩ “nói mãi chuyện này cũng ngại”. Và một khi con bỏ những việc nhỏ bảo vệ linh hồn, kẻ thù không cần phá cửa nữa. Cửa đã được mở. Một dấu hiệu khác là con bắt đầu nhìn mọi sự qua một màu tối. Một thất bại trở thành “tất cả đều thất bại”. Một lỗi lầm trở thành “tôi là người vô dụng”. Một ngày khô khan trở thành “đời cầu nguyện của tôi đã chết”. Một người không hiểu con trở thành “không ai hiểu tôi”. Một công việc không thành trở thành “sứ vụ của tôi chẳng có ích gì”. Hãy nhớ: chán nản luôn thích nói những câu tuyệt đối. Nó thích chữ “luôn luôn”, “chẳng bao giờ”, “tất cả”, “không ai”, “vô ích”. Nhưng sự thật của Thiên Chúa thường cụ thể và khiêm tốn hơn: “Hôm nay con yếu.” “Trong chuyện này con đã sai.” “Giai đoạn này con đang khô khan.” “Người này chưa hiểu con.” “Công việc này chưa có kết quả như mong đợi.” Những câu ấy để lại một cánh cửa cho ân sủng. Còn tuyệt vọng đóng mọi cánh cửa bằng những phán quyết cuối cùng.
Khi sự chán nản đến, chiến thuật đầu tiên là không tranh luận quá lâu với nó, nhưng từ chối cho nó quyền quyết định. Có những tư tưởng không cần được phân tích hàng giờ. Con chỉ cần nhận ra: “Đây không phải là tiếng nói đưa tôi đến với Chúa.” Nếu một tư tưởng khiến con khiêm nhường nhưng vẫn tín thác, có thể nó đến từ ánh sáng. Nếu một tư tưởng cho con thấy tội nhưng đồng thời thúc con trở về với lòng thương xót, đó có thể là lời mời gọi của Thánh Thần. Nhưng nếu một tư tưởng cứ nói: “Mày xấu quá, hết đường rồi, đừng trở lại nữa”, hãy biết đó không phải cách Chúa sửa dạy. Chúa có thể làm lương tâm đau, nhưng Ngài không nghiền nát hy vọng. Chúa có thể cho Phêrô khóc đắng cay, nhưng ánh mắt của Chúa không nói: “Ngươi hết rồi.” Chính ánh mắt ấy làm Phêrô khóc vì còn được yêu. Sự ăn năn thật luôn mở về phía trở về. Sự tuyệt vọng luôn khép lại. Vì thế, khi tư tưởng tuyệt vọng đến, hãy nói một cách đơn sơ nhưng dứt khoát: “Tôi không tin mày. Tôi tin vào Thiên Chúa.” Có thể con phải nói câu ấy mười lần, một trăm lần. Không sao. Đừng đòi cảm xúc phải thay đổi ngay. Ý chí của con chỉ cần đứng về phía sự thật. Hãy nói: “Tôi yếu, điều đó đúng. Nhưng Thiên Chúa mạnh hơn sự yếu đuối của tôi. Tôi đã ngã, điều đó đúng. Nhưng lòng thương xót chưa cạn. Tôi chưa thay đổi như mong muốn, điều đó đúng. Nhưng Thiên Chúa chưa hoàn tất công trình của Ngài trong tôi. Tôi đang mệt, điều đó đúng. Nhưng mệt không có nghĩa là hết đường. Tôi không cảm thấy Chúa gần, điều đó đúng. Nhưng sự hiện diện của Chúa không tùy vào cảm giác của tôi.” Đó là cách đức tin đứng lên giữa bóng tối.
Chiến thuật thứ hai là chuyển cái nhìn khỏi bản thân để nhìn vào Chúa. Hãy để ý: khi chán nản, ta thường nhìn vào mình quá nhiều. Ta kiểm tra mình liên tục: “Tôi đã khá hơn chưa? Tôi còn cảm thấy Chúa không? Tôi có tiến bộ không? Tôi cầu nguyện có sâu không? Tôi còn khuyết điểm gì?” Cái nhìn ấy tưởng như đạo đức, nhưng nếu kéo dài, nó trở thành một vòng xoáy. Con giống người đi trên dây mà cứ cúi xuống nhìn chân mình, rồi mất thăng bằng. Hãy ngẩng lên. Hãy nhìn Thánh Giá. Đừng chỉ nhìn xem con yêu Chúa được bao nhiêu; hãy nhìn xem Chúa đã yêu con đến mức nào. Đừng chỉ đếm những lần con thất tín; hãy nhớ sự trung tín không thay đổi của Ngài. Đừng chỉ hỏi con đã làm được gì; hãy hỏi Chúa đã làm gì vì con. Thập Giá là câu trả lời lớn nhất cho mọi cám dỗ nghĩ rằng mình không còn được yêu. Khi con nhìn Đấng chịu đóng đinh, con thấy một tình yêu đã biết trước sự bất xứng của con mà vẫn hiến mình. Chúa Giêsu không chết vì những con người đã hoàn thiện. Ngài chết cho tội nhân. Nếu chỉ những người mạnh mẽ mới được đến với Chúa, thì Thập Giá là thừa. Nếu chỉ những người không sa ngã mới được yêu, thì Phêrô đã không được phục hồi. Nếu chỉ những người chưa từng phản bội mới còn hy vọng, thì cả lịch sử cứu độ đã không có ý nghĩa. Khi con chán nản, hãy cầm lấy một cây Thánh Giá. Không cần nói nhiều. Chỉ nhìn và nói: “Lạy Chúa Giêsu, con không hiểu chính mình nữa, nhưng con tin vào Chúa. Con không biết bao giờ con thay đổi, nhưng con tin Chúa không bỏ con. Con không có gì để khoe, nhưng con có lòng thương xót Chúa để bám vào.” Có những lúc một lời cầu nguyện như thế quý hơn hàng giờ suy niệm trong lúc sốt sắng, bởi vì nó được sinh ra trong đêm tối của đức tin.
Chiến thuật thứ ba là trung tín với việc nhỏ ngay trong lúc lòng không muốn làm gì cả. Đây là điều vô cùng quan trọng. Đừng chờ cảm xúc khá lên rồi mới trở lại cầu nguyện. Đừng chờ lòng hăng hái rồi mới làm bổn phận. Đừng chờ thấy hy vọng rồi mới bước. Nếu con chỉ hành động khi cảm thấy muốn, thì cảm xúc sẽ làm chủ con. Hãy làm điều phải làm với tất cả sự nhỏ bé của mình. Nếu không thể cầu nguyện một giờ, hãy cầu nguyện mười phút. Nếu không thể đọc một chương dài, hãy đọc vài câu Tin Mừng. Nếu lòng không thể thốt ra nhiều lời, hãy chỉ nói: “Lạy Chúa, con đây.” Nếu không thể làm một việc hy sinh lớn, hãy làm một việc nhỏ. Gấp lại một đồ vật cho ngăn nắp. Trả lời một người cách dịu dàng. Giữ một phút thinh lặng thay vì buông lời than thở. Đứng dậy đúng giờ. Làm công việc trước mặt cho xong. Không cần anh hùng. Chỉ cần trung tín. Có những ngày đời sống thiêng liêng không được xây bằng những chiến công lớn, mà bằng việc không bỏ hàng ngũ. Người lính đang bị thương có thể không chạy được, nhưng nếu còn bò về phía trước, người ấy vẫn đang chiến đấu. Con cũng vậy. Một kinh Lạy Cha đọc trong khô khan nhưng với quyết tâm không bỏ Chúa có thể đẹp lòng Ngài hơn nhiều lời kinh được đọc trong cảm xúc ngọt ngào. Một lần con quỳ xuống dù lòng không muốn có thể là một hành vi yêu mến rất tinh ròng. Vì lúc ấy con không cầu nguyện vì được an ủi. Con cầu nguyện vì Chúa là Chúa.
Chiến thuật thứ tư là nhớ lại lịch sử lòng thương xót. Sự chán nản thường làm trí nhớ của linh hồn bị méo mó. Nó nhớ rất rõ những lỗi lầm, nhưng quên những lần Chúa cứu. Nó nhớ từng lần mình thất tín, nhưng quên từng lần mình được tha. Nó nhớ những cánh cửa đóng, nhưng quên bao cánh cửa Chúa đã mở. Vì vậy con phải chủ động nhớ. Nhớ lại một giai đoạn tưởng không vượt qua được nhưng rồi con đã vượt qua. Nhớ một tội đã từng trói con nhưng nay sức mạnh của nó đã giảm. Nhớ một biến cố đau đớn mà Chúa đã dẫn con đi qua. Nhớ một lần con tưởng sứ vụ sụp đổ nhưng rồi một lối khác mở ra. Nhớ một lời Kinh Thánh từng nâng con dậy. Nhớ một lần trong tòa giải tội con cảm nghiệm sâu sắc lòng thương xót. Nhớ một người Chúa đã gửi đến đúng lúc. Nhớ một biến cố nhỏ mà con biết rõ không phải tình cờ. Đức tin của hôm nay nhiều khi được nâng đỡ bởi ký ức về ân sủng của hôm qua. Hãy nói với mình: “Thiên Chúa đã không bỏ tôi lúc ấy. Ngài cũng không bỏ tôi hôm nay.” Lòng thương xót trong quá khứ không phải một kỷ niệm đã chết. Nó là dấu chân cho thấy Đấng đã dẫn con khi ấy vẫn đang đi với con bây giờ.
Chiến thuật thứ năm là đừng cô lập mình. Chán nản thích bóng tối và im lặng sai nghĩa. Nó muốn con đóng cửa lại, không cho ai biết điều đang xảy ra. Nó nói: “Đừng nói. Người ta sẽ thất vọng về mày. Người ta sẽ nghĩ mày yếu. Chuyện này nói mãi cũng xấu hổ.” Và con giữ tất cả bên trong. Nhưng nhiều khi một tư tưởng nghe rất ghê gớm khi ở một mình trong đầu lại trở nên nhỏ bé ngay khi được nói ra trước một người sáng suốt. Hãy tìm một linh hướng, một cha giải tội, một người anh em đáng tin, một người có đời sống cầu nguyện trưởng thành. Nói đơn sơ: “Dạo này tôi thấy rất chán. Tôi đang nghĩ rằng mình không thay đổi được. Tôi đang nghi ngờ chính con đường của mình.” Không cần trình diễn. Không cần làm cho câu chuyện sâu sắc hơn. Chỉ nói thật. Ma quỷ rất sợ ánh sáng của sự thật. Điều được mang ra ánh sáng thường mất bớt quyền lực. Và đừng chỉ tìm người sẽ chiều theo cảm xúc con. Hãy tìm người vừa có lòng thương vừa có sự sáng suốt, người không khinh thường nỗi mệt của con nhưng cũng không cho con dùng sự mệt mỏi làm lý do để bỏ bổn phận. Một lời nói đúng lúc có thể cứu một linh hồn khỏi nhiều tháng tối tăm.
Chiến thuật thứ sáu là biến sự chán nản thành của lễ thay vì biến nó thành trung tâm của đời mình. Con có thể nói: “Lạy Chúa, con không biết phải làm gì với sự nặng nề này. Con không thể tự cất nó đi. Vậy con đặt nó vào tay Chúa. Con dâng cho Chúa ngày hôm nay không có niềm vui. Con dâng Chúa giờ cầu nguyện khô khan. Con dâng Chúa sự mệt mỏi trong bổn phận. Con dâng Chúa nỗi buồn vì thấy mình chậm tiến. Xin nhận lấy tất cả như một của lễ.” Khi làm như thế, điều tưởng như vô ích bỗng có ý nghĩa. Sự đau khổ không còn chỉ là cái gì đang xảy ra cho con; nó trở thành cái gì con tự do trao lại cho Chúa. Đây là sự thay đổi rất lớn. Kẻ thù muốn dùng đau khổ để khép con vào chính mình. Đức tin biến đau khổ thành nhịp cầu đi ra khỏi mình để đến với Chúa và với các linh hồn. Hãy dâng sự chán nản cho những người đang mất hy vọng. Dâng sự khô khan cho những người đã bỏ cầu nguyện. Dâng sự mệt mỏi cho những linh mục, tu sĩ, cha mẹ, người bệnh, người cô đơn đang muốn bỏ cuộc. Có thể con không cảm thấy gì thay đổi. Nhưng ngay lúc ấy, sự chán nản không còn hoàn toàn vô nghĩa. Nó đã được đưa vào mầu nhiệm Thập Giá.
Và nếu con hỏi: “Nhân đức nào phải được xây dựng để chống lại chán nản?” Câu trả lời trước hết là đức cậy. Nhưng đừng hiểu đức cậy như một cảm giác lạc quan, như việc tự nhủ rằng “mọi chuyện rồi sẽ ổn” theo kiểu tâm lý. Đức cậy Kitô giáo sâu hơn nhiều. Đức cậy nói: “Ngay cả khi mọi chuyện không xảy ra theo ý tôi, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa. Ngay cả khi tôi còn yếu, ân sủng vẫn hoạt động. Ngay cả khi con đường phía trước tối, Đấng dẫn đường không mù. Ngay cả khi tôi chết đi mà chưa thấy mọi điều mình mong muốn được hoàn tất, lời hứa của Chúa vẫn không thất bại.” Đức cậy không dựa trên bằng chứng rằng con mạnh. Nó dựa trên sự thật rằng Chúa trung tín. Vì thế có lúc người đầy đức cậy vẫn khóc. Có lúc họ vẫn mệt. Có lúc họ vẫn nói: “Lạy Chúa, con không hiểu.” Nhưng ở đáy sâu, họ không rời khỏi Chúa. Họ giống người bám vào sợi dây trong đêm. Không thấy người đang giữ đầu dây kia, nhưng vẫn không buông. Đức cậy có khi chỉ là thế: không buông.
Đi với đức cậy là sự kiên trì khiêm nhường. Có một kiểu kiên trì rất tự ái: “Tôi nhất định phải thắng để chứng minh tôi mạnh.” Kiểu ấy sẽ sớm gãy. Sự kiên trì Kitô giáo nói khác: “Tôi sẽ đứng dậy, không phải vì tôi tin mình không bao giờ ngã nữa, nhưng vì mỗi lần ngã tôi biết phải chạy đến với ai.” Đây là sức mạnh của các thánh. Đừng tưởng các ngài đều là những người có một ý chí bằng thép, không bao giờ mệt, không bao giờ sợ, không bao giờ bị cám dỗ. Điều làm các ngài nên thánh không phải là chưa từng thấy vực thẳm trong lòng mình, nhưng là khi nhìn thấy vực thẳm, họ nhìn lòng thương xót sâu hơn. Họ không lấy sự yếu đuối làm lý do để ở lại trong tội, nhưng cũng không lấy sự yếu đuối làm lý do để tuyệt vọng. Họ ghét tội nhưng không ghét chính mình theo kiểu phá hủy. Họ ăn năn sâu, nhưng luôn ăn năn trong vòng tay của Cha. Họ hiểu rằng Thiên Chúa không đợi họ sạch sẽ hoàn toàn rồi mới cho về nhà. Chính việc trở về nhà là khởi đầu của sự chữa lành.
Hỡi linh hồn, con phải học phân biệt tiếng nói của Chúa và tiếng nói của kẻ tố cáo. Tiếng nói của Chúa nói: “Con đã sai. Hãy trở về.” Tiếng nói của kẻ tố cáo nói: “Mày đã sai. Đừng trở về nữa.” Chúa nói: “Con yếu, nên hãy dựa vào Ta.” Kẻ thù nói: “Mày yếu, nên thôi đi.” Chúa nói: “Hãy khiêm nhường.” Kẻ thù nói: “Hãy khinh ghét chính mình.” Chúa nói: “Tội của con lớn, nhưng lòng thương xót Ta lớn hơn.” Kẻ thù nói: “Tội của mày lớn đến mức không còn lòng thương xót nào cho mày.” Hai tiếng nói có thể bắt đầu từ cùng một sự kiện, nhưng dẫn đến hai nơi hoàn toàn khác nhau. Một bên dẫn con quỳ xuống trước Chúa. Một bên dẫn con quay lưng khỏi Chúa. Vì thế, mỗi khi một tư tưởng làm con muốn tránh xa Bí tích, tránh xa cầu nguyện, tránh xa cộng đoàn, tránh xa ánh sáng, hãy nghi ngờ nó. Chúa có thể sửa dạy con đau đớn, nhưng Ngài sửa để kéo con lại gần.
Có những lúc con sẽ phải chiến đấu không phải một ngày, mà nhiều tháng. Hãy chấp nhận điều ấy. Đừng đặt ra thời hạn cho Thiên Chúa. Đừng nói: “Con đã chịu như thế ba tháng rồi, đáng lẽ Chúa phải giải thoát con.” Con không biết Ngài đang làm gì trong tầng sâu. Có một thứ đức tin chỉ được sinh ra khi mọi cảm giác nâng đỡ bị lấy đi. Có một thứ tình yêu chỉ xuất hiện khi ta không còn nhận được gì để đáp lại. Có một thứ khiêm nhường chỉ hình thành sau nhiều lần ta nhận ra sức mình không đủ. Có một thứ lòng thương người chỉ lớn lên trong những người từng biết thế nào là yếu đuối. Có một thứ lời giảng chỉ có sức đánh động khi nó đi qua một trái tim từng đau. Có một thứ sự dịu dàng chỉ được sinh ra nơi người đã từng cần người khác dịu dàng với mình. Vì vậy đừng vội kết luận về một mùa tối khi mùa ấy chưa kết thúc.
Và xin con nhớ điều này: không có lần đứng dậy nào là vô nghĩa. Có thể hôm nay con đứng dậy rồi ngày mai lại ngã. Kẻ thù sẽ cười: “Đấy, đứng dậy làm gì?” Nhưng con hãy đứng dậy nữa. Nếu một trăm lần, hãy đứng một trăm lẻ một. Không phải để biến sự sa ngã thành chuyện bình thường, nhưng để tuyên bố rằng lòng thương xót có tiếng nói cuối cùng. Mỗi lần con đứng dậy là một hành vi đức tin. Mỗi lần con đi xưng tội sau một lần tái phạm là một lời tuyên xưng rằng Máu Chúa Kitô vẫn có sức cứu con. Mỗi lần con bắt đầu lại việc cầu nguyện sau một thời gian nguội lạnh là một lời khẳng định rằng mối tương quan với Chúa đáng để khởi sự lại. Mỗi lần con xin lỗi người mình làm tổn thương, con làm nhục sự kiêu ngạo. Mỗi lần con trở lại với bổn phận sau một ngày buông xuôi, con lấy lại một mảnh đất cho ân sủng.
Đừng mong một ngày kia con sẽ chiến đấu trong tình trạng không còn yếu đuối. Có thể ngày ấy không đến trên trần gian này. Mục tiêu không phải là trở thành người không cần Chúa nữa. Mục tiêu là trở thành người càng ngày càng biết mình cần Chúa đến mức nào. Chính ở đây có một nghịch lý đẹp đẽ: con càng nên thánh thật, con càng ít tự mãn về mình. Con càng gần ánh sáng, con càng thấy bụi. Nhưng khác với người tuyệt vọng, người thánh thấy bụi rồi lập tức quay về phía ánh sáng. Họ không ngồi cả ngày nhìn bụi. Họ để Chúa lau sạch.
Có thể sẽ có những ngày con không còn sức nói một kinh dài. Hãy nói một câu: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.” Có thể có những đêm con không hiểu tại sao mình vẫn phải tiếp tục. Hãy nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con không rời Chúa.” Có thể con thấy lòng mình như đất khô. Hãy nói: “Xin Chúa ở lại, dù con không cảm thấy Chúa.” Có thể con đang khóc vì lại nhìn thấy một sự yếu đuối rất cũ. Hãy nói: “Lạy Chúa, đây là con người thật của con. Xin Chúa đừng để con chạy khỏi sự thật này, nhưng cũng đừng để con quên lòng thương xót của Chúa.” Những lời rất ngắn ấy có thể là những sợi dây cứu linh hồn trong những giờ tối.
Hỡi linh hồn đang muốn chiến đấu đến cùng, đừng bao giờ để sự chán nản có tiếng nói cuối cùng. Nó có thể lên tiếng. Nó có thể la hét. Nó có thể ở lại bên cửa nhiều ngày. Nhưng nó không có quyền viết câu cuối của câu chuyện đời con. Câu cuối thuộc về Thiên Chúa. Con có thể đã có một ngày rất tệ, nhưng ngày ấy không phải toàn bộ cuộc đời. Con có thể đã có một năm rất khó, nhưng năm ấy không định nghĩa toàn bộ ơn gọi. Con có thể đã mang một vết thương lâu năm, nhưng vết thương ấy không lớn hơn Đấng Cứu Chuộc. Con có thể đã lặp lại một tội khiến chính mình xấu hổ, nhưng nếu còn biết chạy đến với Chúa, con chưa bị mất. Chỉ một điều thật sự nguy hiểm: con ngừng chạy đến với Ngài vì tưởng Ngài không còn muốn đón con. Đó chính là điều kẻ thù muốn. Vì thế dù con phải bò, hãy bò về phía Chúa. Dù chỉ còn một lời, hãy gọi tên Ngài. Dù con không thể tin bằng cảm xúc, hãy tin bằng một lựa chọn rất nhỏ của ý chí: “Con không bỏ Chúa.”
Hãy nhìn Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Ngài đã đi vào tận cùng cảm nghiệm của một con người bị bỏ rơi. Ngài đã thốt lên từ đáy sâu của đau khổ. Nhưng Ngài vẫn trao mình trong tay Cha. Trên Thánh Giá, tình yêu không còn dựa trên cảm giác. Tình yêu chỉ còn là tự hiến. Và có thể những giai đoạn chán nản của con cũng là lúc Chúa mời con bước vào một tình yêu trưởng thành hơn: không yêu Ngài chỉ vì Ngài cho con bình an, không theo Ngài chỉ vì con thấy mình sốt sắng, không phục vụ chỉ vì thấy kết quả, nhưng ở lại vì Ngài xứng đáng được yêu. Nếu con học được điều ấy, thì ngay cả sự chán nản cũng không thắng được con. Nó trở thành lò lửa thanh luyện tình yêu.
Đừng hỏi mãi: “Bao giờ con hết yếu?” Hãy hỏi: “Hôm nay, trong sự yếu này, con có thể tín thác thêm một chút không?” Đừng hỏi: “Bao giờ con sẽ không còn ngã?” Hãy hỏi: “Lần này ngã, con có thể đứng dậy nhanh hơn không?” Đừng hỏi: “Tại sao con chưa nên thánh?” Hãy hỏi: “Hôm nay Chúa đang mời con trung tín ở điểm nào?” Những câu hỏi nhỏ ấy sẽ cứu con khỏi cái bẫy muốn nhìn toàn bộ con đường trong một lúc. Thiên Chúa thường chỉ cho ta đủ ánh sáng cho một bước. Con không cần thấy hết đường. Con chỉ cần bước trong phần ánh sáng đang có.
Và nếu một ngày nào đó con thấy mình đứng trước Chúa với hai bàn tay gần như trắng, đừng sợ. Có thể con sẽ nói: “Lạy Chúa, con đã không làm được bao nhiêu. Con đã thất bại nhiều. Con đã phải bắt đầu lại rất nhiều lần.” Nhưng nếu mỗi lần bắt đầu lại con đã quay về với Ngài, có thể chính những lần trở về ấy là điều quý nhất. Bởi vì mỗi lần trở về là mỗi lần con nói bằng cả đời mình: “Lạy Chúa, ngoài Chúa ra con không biết đi đâu.”
Hãy chiến đấu chống lại sự chán nản bằng cách tiếp tục chiến đấu. Không cần ồn ào. Không cần những quyết tâm lớn. Hôm nay chỉ cần đừng buông. Ngày mai nếu còn mệt, lại đừng buông. Nếu ngã, đứng dậy. Nếu khóc, cứ khóc trước mặt Chúa. Nếu không biết cầu nguyện, hãy ngồi yên bên Ngài. Nếu lòng nói không còn hy vọng, hãy để môi con nói thay lòng: “Lạy Chúa, con tín thác nơi Chúa.” Rồi cứ thế mà đi.
Vì con không được cứu bởi sức mạnh của con.
Con được cứu bởi Đấng đã yêu con đến cùng.
Và Đấng đã bắt đầu công trình nơi con không phải là một người thợ chóng chán. Ngài không bỏ dở tác phẩm vì vật liệu khó uốn. Ngài không ném con đi vì con chậm tiến. Ngài biết phải mất bao lâu. Ngài biết phải gọt ở đâu. Ngài biết phải để lại điều gì và cất đi điều gì. Phần con chỉ là ở lại trong tay Ngài.
Hỡi linh hồn, khi không còn sức để chạy, hãy đi.
Khi không còn sức để đi, hãy bò.
Khi không còn sức để bò, hãy nằm đó và gọi tên Chúa.
Nhưng đừng quay lưng lại với Ngài.
Đừng tuyệt vọng.
Đừng bao giờ tuyệt vọng.
Bởi vì lòng thương xót của Thiên Chúa còn lớn hơn tất cả những gì con biết về sự yếu đuối của chính mình. Và Đấng đang ở trong con mạnh hơn kẻ đang ở trong thế gian. Có thể con chưa thấy chiến thắng. Có thể con còn phải đi rất xa. Nhưng bao lâu con còn bám lấy Chúa, trận chiến chưa kết thúc.
Và bao lâu trận chiến chưa kết thúc, con vẫn còn hy vọng.
Hãy đứng dậy. Hãy bắt đầu lại. Và lần này, đừng dựa vào con nữa. Hãy dựa vào Chúa.
CHƯƠNG 22
CẦU NGUYỆN NHƯ KHÍ GIỚI TỐI THƯỢNG TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang cầm vũ khí giữa chiến trường nội tâm, sau khi đã đi qua biết bao nhiêu trận đánh, sau khi đã nhận diện những kẻ thù ẩn kín trong lòng mình, sau khi đã nói đến sự tự ái, nóng giận, thiếu kiên nhẫn, lười biếng thiêng liêng, trì hoãn, bất khiết, sự buông thả của giác quan, sự chán nản và cả bóng tối của tuyệt vọng thiêng liêng, bây giờ chúng ta phải trở lại với một khí giới đã được nhắc đến từ đầu nhưng càng đi sâu vào cuộc chiến càng thấy không một khí giới nào có thể thay thế được nó. Đó là cầu nguyện. Nếu sự bất tín nhiệm vào chính mình giúp linh hồn không còn ảo tưởng về sức riêng, nếu sự tín thác vào Thiên Chúa giúp linh hồn biết đặt sức mạnh của mình nơi Đấng Toàn Năng, nếu việc luyện tập lý trí và ý chí giúp con người biết hướng mọi năng lực về điều thiện, thì cầu nguyện chính là nơi tất cả những điều ấy gặp nhau, kết tinh lại và trở thành một tiếng kêu sống động hướng về Thiên Chúa. Cầu nguyện không phải chỉ là một việc đạo đức thêm vào bên cạnh những việc đạo đức khác. Cầu nguyện không phải một đồ trang sức của đời sống thiêng liêng. Cầu nguyện cũng không chỉ là một khoảng thời gian dành cho Thiên Chúa giữa vô số khoảng thời gian còn lại dành cho chính mình. Cầu nguyện, trong cuộc chiến linh hồn, là việc một tạo vật yếu đuối biết mình yếu đuối chạy đến với Đấng mạnh mẽ vô cùng; là việc một người đang chìm biết đưa tay nắm lấy bàn tay cứu độ; là việc một người đang đứng trước một kẻ thù mạnh hơn mình biết kêu gọi Đấng có thể chiến đấu thay cho mình; là thái độ của người không còn tin tưởng vào khả năng tự cứu mình nhưng đặt tất cả niềm hy vọng nơi Thiên Chúa. Chính vì thế, nếu con chiến đấu mà không cầu nguyện, cho dù con có bao nhiêu quyết tâm, bao nhiêu kỷ luật, bao nhiêu phương pháp, bao nhiêu kinh nghiệm, bao nhiêu kiến thức thiêng liêng, sớm hay muộn con cũng sẽ kiệt sức. Bởi vì một điều rất đơn giản mà lòng tự ái của chúng ta thường không muốn nhìn nhận: con người không thể tự mình nên thánh. Con người có thể tự ép mình giữ một số quy luật, có thể tập một số thói quen, có thể học cách kiềm chế cảm xúc, có thể trở thành một người có vẻ đạo đức bên ngoài, nhưng để một linh hồn thật sự được biến đổi từ bên trong, để một trái tim ích kỷ trở nên biết yêu, một ý chí cứng cỏi trở nên mềm mại trước thánh ý Thiên Chúa, một con người nóng nảy trở nên hiền lành, một tâm hồn bất khiết trở nên trong sạch, một người tự mãn trở nên khiêm nhường, một kẻ sợ hãi trở nên tín thác, thì cần đến ân sủng. Và ân sủng không phải sản phẩm của nỗ lực con người. Ân sủng là quà tặng. Ân sủng phải được đón nhận. Cầu nguyện chính là đôi tay mở ra để đón nhận quà tặng ấy.
Có lẽ một trong những sai lầm sâu xa nhất của những người thật lòng muốn tiến tới trên đường thiêng liêng là họ bắt đầu bằng Thiên Chúa nhưng rồi âm thầm tiếp tục bằng chính mình. Họ cầu nguyện lúc đầu, họ xin ơn, họ sốt sắng, nhưng khi bước vào cuộc chiến cụ thể, họ lại xử lý mọi sự bằng sức riêng. Khi cơn nóng giận đến, họ nghiến răng chịu đựng. Khi sự bất khiết xuất hiện, họ cố dùng ý chí để đè xuống. Khi tự ái bị tổn thương, họ gồng mình để tỏ ra bình thản. Khi chán nản kéo tới, họ cố ép mình suy nghĩ tích cực. Khi bị người khác làm nhục, họ tự nhủ phải nhịn. Khi những thất bại cũ trở lại, họ lại hứa với mình rằng từ ngày mai sẽ cố gắng nhiều hơn. Tất cả những điều ấy có thể có phần tốt, nhưng nếu bên dưới vẫn là một thái độ rất sâu kín rằng “tôi sẽ tự mình làm được”, thì linh hồn vẫn đang chiến đấu bằng sức riêng. Và chính nơi đây cuộc chiến thường thất bại. Thiên Chúa đôi khi cho phép những thất bại lặp đi lặp lại không phải vì Ngài muốn linh hồn sa ngã, nhưng vì Ngài muốn phá vỡ một ảo tưởng còn nguy hiểm hơn chính sự sa ngã: ảo tưởng rằng con có thể tự mình chiến thắng. Có những linh hồn phải trải qua nhiều năm vấp ngã mới bắt đầu hiểu câu đơn sơ này: “Lạy Chúa, nếu Chúa không giữ con, con sẽ ngã.” Có những người phải thất bại rất nhiều lần mới thật sự cầu nguyện. Trước đó họ chỉ đọc kinh. Trước đó họ nói với Chúa nhiều lời, nhưng chưa hẳn đã đặt đời mình trong tay Chúa. Chỉ khi con người đứng trước chính sự bất lực của mình, không còn lý luận, không còn khoe khoang, không còn ảo tưởng, không còn khả năng bấu víu vào bản thân, thì một lời cầu nguyện rất ngắn có thể phát ra từ đáy linh hồn: “Lạy Chúa, cứu con.” Và đôi khi chính từ lời kêu rất ngắn ấy, đời sống thiêng liêng thật sự mới bắt đầu.
Cầu nguyện trong cuộc chiến linh hồn trước hết không phải là nói nhiều, nhưng là đặt mình trước mặt Thiên Chúa trong sự thật. Sự thật ấy có hai mặt không thể tách rời: Thiên Chúa là tất cả, còn con, nếu lìa khỏi Ngài, chẳng làm được gì. Đây không phải là một ý tưởng để suy niệm một lần rồi thôi. Đây phải trở thành tư thế căn bản của linh hồn. Khi con thức dậy vào buổi sáng, trước khi nghĩ đến công việc, chương trình, người phải gặp, việc phải giải quyết, hãy nhớ rằng ngày hôm đó không thuộc về con. Con không biết mình sẽ gặp cám dỗ gì. Con không biết một lời nói nào sẽ làm lòng con bị tổn thương. Con không biết khi nào sự tự ái sẽ trỗi dậy. Con không biết khi nào sự mệt mỏi sẽ làm con trở nên khó chịu. Con không biết khi nào trí tưởng tượng sẽ kéo con đến những điều không trong sạch. Con không biết khi nào một thất bại sẽ làm con nản lòng. Con không biết mình sẽ mạnh hay yếu vào lúc nào. Vậy thì hãy bắt đầu ngày mới không phải bằng một lời tuyên bố tự tin về bản thân, nhưng bằng một lời phó thác: “Lạy Chúa, hôm nay con thuộc về Chúa. Xin giữ con. Xin đừng để con sống theo ý riêng. Xin đừng để con dựa vào mình. Xin chiến đấu trong con.” Nếu lời ấy được nói thật, ngày sống đã bắt đầu khác rồi. Không phải vì mọi cám dỗ sẽ biến mất. Không phải vì con sẽ không còn bị thử thách. Nhưng vì ngay từ đầu, con đã đặt mình về phía của Thiên Chúa.
Cầu nguyện không chỉ là một việc làm, nhưng phải trở thành một thái độ sống. Nhiều người nghĩ đến cầu nguyện là nghĩ đến nhà nguyện, nhà thờ, tràng hạt, sách kinh, giờ chầu, giờ suy niệm, kinh sáng, kinh tối. Tất cả những điều ấy đều quý giá và cần thiết. Đừng bao giờ vì nói đến cầu nguyện liên lỉ mà xem nhẹ những giờ cầu nguyện đã được dành riêng cho Chúa. Một người nói rằng mình cầu nguyện cả ngày nhưng không bao giờ dành thời gian cụ thể ở một mình với Chúa thường rất dễ tự lừa mình. Tình yêu cần những cuộc gặp gỡ rõ ràng. Người yêu nhau không thể chỉ nói rằng “tôi nghĩ đến anh cả ngày” rồi không bao giờ ngồi xuống với nhau. Linh hồn cũng vậy. Phải có những khoảng thời gian chỉ dành cho Thiên Chúa. Phải có lúc đóng cửa lại, bỏ điện thoại xuống, rời khỏi tiếng ồn, quỳ xuống, ngồi yên, đọc Lời Chúa, thinh lặng trước Thánh Thể, lần chuỗi, xét mình, nói với Chúa và để cho Chúa nói. Nhưng đời sống cầu nguyện không thể dừng ở đó. Nếu sau giờ cầu nguyện, con đóng cửa nhà nguyện lại và sống phần còn lại của ngày như thể Thiên Chúa không hiện diện, thì cầu nguyện vẫn chưa trở thành hơi thở. Cầu nguyện phải đi cùng con vào nhà bếp, văn phòng, ngoài đường, vào phòng họp, vào nơi mục vụ, vào những cuộc trò chuyện, vào những lúc mệt mỏi, những phút bị xúc phạm, những giờ cô độc, những khi thành công, những lúc thất bại. Cầu nguyện phải len vào chính nơi cuộc chiến đang xảy ra. Khi người khác nói một câu làm con đau, trước khi trả lời, hãy hướng lòng về Chúa. Khi một ý nghĩ xấu xuất hiện, trước khi tranh luận với nó, hãy kêu tên Chúa. Khi sự nóng giận bắt đầu bốc lên, trước khi miệng nói ra điều sẽ hối tiếc, hãy thầm nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin giữ miệng con.” Khi một lời khen khiến tự ái con phồng lên, hãy nói: “Lạy Chúa, mọi sự tốt lành đều là của Chúa.” Khi bị phê bình và lòng muốn phản ứng, hãy nói: “Lạy Chúa, xin cho con biết im lặng.” Khi bắt đầu một công việc và muốn chứng tỏ bản thân, hãy nói: “Lạy Chúa, việc này là của Chúa, không phải của con.” Khi mệt và muốn bỏ việc bổn phận, hãy nói: “Lạy Chúa, con làm việc này vì yêu Chúa.” Khi thành công, hãy nói: “Tạ ơn Chúa.” Khi thất bại, hãy nói: “Con tín thác nơi Chúa.” Khi không hiểu chuyện gì đang xảy ra, hãy nói: “Lạy Chúa, Chúa biết.” Khi sợ tương lai, hãy nói: “Lạy Chúa, ngày mai thuộc về Chúa.” Khi thấy mình yếu đuối, hãy nói: “Chúa là sức mạnh của con.” Chính bằng hàng trăm chuyển động rất nhỏ như thế trong ngày, linh hồn dần dần học cầu nguyện không ngừng.
“Hãy cầu nguyện không ngừng” không có nghĩa là môi phải đọc kinh suốt ngày. Điều ấy không thể thực hiện đối với phần lớn con người. Nó có nghĩa là giữ một mối dây sống động giữa linh hồn và Thiên Chúa. Một người con có thể làm việc xa cha mình nhưng trong lòng vẫn biết mình thuộc về cha. Một người yêu có thể bận rộn nhưng trong sâu thẳm vẫn mang hình bóng người mình yêu. Cũng vậy, linh hồn có thể làm việc, nói chuyện, suy nghĩ, nghỉ ngơi, phục vụ, nhưng tận đáy lòng vẫn giữ một hướng đi: hướng về Chúa. Đó chính là điều phải tập. Và phải tập từng chút một. Lúc đầu, con sẽ quên Chúa hàng giờ. Đừng nản. Khi nhớ ra, hãy quay lại. Đừng trách mình đã quên quá lâu. Chỉ cần trở về. Rồi có ngày con sẽ nhớ Chúa thường hơn. Rồi những lời cầu nguyện ngắn sẽ tự nhiên xuất hiện. Rồi trong nhiều biến cố, trước khi ý riêng kịp phản ứng, linh hồn đã biết quay về với Chúa. Đó là một chiến thắng rất lớn. Vì một trong những mục tiêu của ma quỷ là làm cho con phản ứng trước khi cầu nguyện. Nó muốn khoảng cách giữa cám dỗ và phản ứng bằng không. Nó muốn khi người ta làm con tổn thương, con lập tức đáp trả. Khi thấy điều hấp dẫn, con lập tức nhìn. Khi cảm xúc bùng lên, con lập tức đi theo. Khi sự lười biếng nói “để mai”, con lập tức nghe. Nhưng cầu nguyện tạo ra một khoảng cách. Dù chỉ một giây. Một giây ấy có thể cứu cả một ngày. Trong một giây ấy, con quay về với Chúa, và một lựa chọn khác trở nên có thể.
Chính vì thế, những lời cầu nguyện ngắn là một khí giới đặc biệt mạnh mẽ trong những cuộc tấn công bất ngờ. Đừng khinh thường chúng vì chúng ngắn. Trong chiến trận, người lính không lúc nào cũng có thời gian thực hiện một nghi thức dài. Có những lúc chỉ còn một giây để rút kiếm. Lời nguyện tắt cũng vậy. Khi lòng con bị tấn công bất ngờ, con không cần chờ đến lúc có thể vào nhà nguyện rồi mới cầu nguyện. Ngay tại chỗ ấy, hãy kêu lên. “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.” “Chúa ơi, con yếu quá.” “Xin Chúa chiến đấu cho con.” “Lạy Chúa, xin giữ con khỏi chính con.” “Giêsu, Maria, xin cứu giúp con.” “Lạy Chúa, con bất tín nhiệm vào mình, con tín thác vào Chúa.” “Lạy Chúa, xin cho con im lặng.” “Lạy Chúa, xin đừng để con làm theo ý riêng.” “Xin cho con yêu người này vì Chúa.” “Xin giữ mắt con.” “Xin giữ lòng con.” “Xin giữ trí con.” “Xin giữ miệng con.” “Lạy Chúa, xin đến.” Có khi chỉ cần tên Giêsu được thốt ra từ đáy lòng cũng đủ giúp linh hồn nhớ lại mình đang thuộc về ai. Đừng biến những lời nguyện ấy thành công thức máy móc. Sức mạnh không nằm ở số âm tiết. Sức mạnh nằm ở đức tin, ở sự khiêm nhường, ở việc linh hồn thật sự ném mình vào Thiên Chúa. Một tiếng kêu của người sắp chết đuối thường thật hơn hàng trăm lời nói của người đang ngồi an toàn trên bờ. Vì vậy, trong những giây phút bị cám dỗ mạnh, lời cầu nguyện có thể rất ngắn nhưng phải rất thật.
Hãy tập cho linh hồn có những phản xạ cầu nguyện. Con người có những phản xạ tự nhiên. Bị đụng tự ái thì phản ứng. Bị chống đối thì bực. Thấy điều hấp dẫn thì nhìn. Nghe lời khen thì vui. Nghe phê bình thì co lại. Gặp việc khó thì trì hoãn. Những phản xạ ấy đã được hình thành qua nhiều năm. Bây giờ phải hình thành những phản xạ mới. Mỗi khi bị xúc phạm: cầu nguyện. Mỗi khi muốn xét đoán: cầu nguyện. Mỗi khi bắt đầu lo lắng: cầu nguyện. Mỗi khi cám dỗ bất khiết: cầu nguyện. Mỗi khi muốn khoe mình: cầu nguyện. Mỗi khi muốn nói điều không cần thiết: cầu nguyện. Mỗi khi muốn bỏ cuộc: cầu nguyện. Mỗi khi thấy mình thành công: cầu nguyện. Mỗi khi thất bại: cầu nguyện. Cầu nguyện không phải để trốn tránh thực tại, nhưng để bước vào thực tại với Thiên Chúa. Nó không thay thế hành động. Nó thanh luyện hành động. Nó không thay thế trách nhiệm. Nó làm cho trách nhiệm được thực hiện bằng một tinh thần khác. Nó không làm cho ta thụ động. Trái lại, cầu nguyện thật làm cho ta can đảm hơn, vì không còn chiến đấu một mình.
Có một điều cần nhớ: đừng đợi cám dỗ trở nên mạnh mới cầu nguyện. Nhiều người chỉ kêu Chúa khi đã đứng sát bờ vực. Trước đó họ để trí tưởng tượng đi xa, để cái nhìn nấn ná, để lòng bực bội được nuôi dưỡng, để cuộc đối thoại nội tâm kéo dài, để nỗi buồn tự ái lớn dần. Đến khi ngọn lửa đã cháy lớn mới bắt đầu cầu xin. Dĩ nhiên Chúa vẫn có thể cứu. Nhưng khôn ngoan thiêng liêng dạy ta cầu nguyện ngay khi thấy tia lửa đầu tiên. Khi một ý nghĩ bất khiết vừa ló lên, đừng tò mò xem nó sẽ đi đâu. Hãy kêu Chúa. Khi lòng vừa cảm thấy bị xúc phạm, đừng bắt đầu dựng lên một phiên tòa để kết án người khác. Hãy kêu Chúa. Khi thấy mình bắt đầu chán việc bổn phận, đừng nghe những lý do của sự lười biếng. Hãy kêu Chúa. Khi thấy một nỗi buồn vô lý bắt đầu phủ xuống, đừng nuôi nó. Hãy kêu Chúa. Càng cầu nguyện sớm, cuộc chiến càng nhẹ. Nhiều cám dỗ trở nên khủng khiếp không phải vì ban đầu chúng quá mạnh, nhưng vì chúng đã được cho ăn quá lâu.
Một hình thức cầu nguyện đặc biệt quan trọng là cầu nguyện trong khô khan, mệt mỏi và nặng nề. Đây là nơi nhiều linh hồn lầm tưởng. Khi mới bước vào đời sống cầu nguyện, người ta thường đo việc cầu nguyện bằng cảm giác: hôm nay thấy sốt sắng, cầu nguyện tốt; hôm nay thấy khô khan, cầu nguyện dở. Hôm nay lòng ấm áp, Chúa gần; hôm nay lòng trống rỗng, Chúa xa. Hôm nay suy niệm dễ dàng, có ơn; hôm nay trí chia trí, không có ơn. Cách đánh giá ấy rất nguy hiểm vì nó làm linh hồn lệ thuộc vào cảm xúc. Phải hiểu rằng cảm xúc không phải thước đo của tình yêu. Có những lúc Chúa ban an ủi để nâng đỡ. Hãy biết ơn. Nhưng có những lúc Ngài rút cảm giác an ủi để tình yêu được thanh luyện. Khi ấy, con vẫn quỳ đó nhưng không thấy gì. Lời kinh trở nên nặng. Thời gian trôi chậm. Trí óc chạy lung tung. Lòng không cảm động. Kinh Thánh dường như khô. Nhà nguyện im lặng đến khó chịu. Con có thể nghĩ mình đang phí thời gian. Nhưng chính lúc ấy, nếu con vẫn ở lại vì Chúa, việc cầu nguyện có thể có giá trị hơn nhiều so với những lúc đầy cảm xúc. Bởi vì khi có an ủi, đôi khi con ở lại một phần vì con thích cảm giác ấy. Khi không còn gì để hưởng mà con vẫn ở lại, con bắt đầu yêu Chúa vì Chúa.
Hãy nói với Ngài thật đơn sơ: “Lạy Chúa, hôm nay con không biết nói gì. Con không cảm thấy gì. Con không biết cầu nguyện thế nào. Nhưng con vẫn ở đây. Con ở đây không phải vì con được an ủi, nhưng vì Chúa xứng đáng được con ở lại.” Một lời như vậy có thể là lời cầu nguyện rất tinh tuyền. Đừng nghĩ Chúa chỉ nhìn đến những tư tưởng cao siêu. Chúa nhìn lòng trung thành. Có một người mẹ ngồi bên giường con bệnh suốt đêm. Bà có thể không nói gì. Chỉ việc bà ở đó đã là tình yêu. Có những giờ cầu nguyện cũng vậy. Con không nói được gì. Con chỉ ở lại. Sự ở lại ấy có thể là của lễ. Và có những lúc chính sự khô khan là chiến trường nơi Chúa đang dạy linh hồn một điều vô cùng quan trọng: đừng tìm cảm giác về Chúa hơn chính Chúa.
Trong khô khan, đừng tự hành hạ mình bằng việc kiểm tra liên tục xem mình có cầu nguyện tốt không. Cái tôi có thể len vào cả đời sống cầu nguyện. “Hôm nay tôi cầu nguyện sâu không?” “Tại sao hôm nay tôi không cảm được gì?” “Tại sao trước kia tôi sốt sắng mà bây giờ không?” “Có phải tôi đang thụt lùi?” Những câu hỏi ấy đôi khi cần thiết trong việc phân định, nhưng nếu bị lặp lại ám ảnh, chúng chỉ làm linh hồn quay về nhìn chính mình. Cầu nguyện lại biến thành việc đo nhiệt độ của bản thân. Hãy bớt nhìn mình và nhìn Chúa nhiều hơn. Con khô khan ư? Hãy dâng sự khô khan. Con chia trí ư? Mỗi khi biết mình chia trí, hãy nhẹ nhàng trở lại. Con mệt ư? Hãy thưa: “Lạy Chúa, con dâng Chúa sự mệt mỏi này.” Con không biết nói gì ư? Hãy lặp lại tên Chúa. Đừng biến cầu nguyện thành một kỳ thi mà con phải đạt điểm cao. Cầu nguyện là gặp gỡ. Có những cuộc gặp tràn đầy lời nói. Có những cuộc gặp chỉ còn sự hiện diện.
Cũng đừng nghĩ rằng những giờ cầu nguyện khó khăn là vô ích. Rất nhiều biến đổi thiêng liêng xảy ra âm thầm, giống như hạt giống dưới đất. Người ta nhìn mặt đất và tưởng không có gì xảy ra. Nhưng bên dưới, rễ đang mọc. Cầu nguyện trung thành cũng vậy. Có thể trong nhiều tháng con không cảm thấy thay đổi gì. Nhưng một ngày, con nhận ra mình bớt phản ứng hơn trước. Một lời xúc phạm từng làm con mất bình an hai ngày, giờ chỉ còn làm con chao đảo một giờ. Một cám dỗ từng kéo con rất xa, giờ con biết quay về với Chúa sớm hơn. Một thất bại từng làm con tuyệt vọng, giờ con biết đứng dậy nhanh hơn. Một thành công từng làm con tự mãn, giờ con nhớ tạ ơn Chúa. Những thay đổi ấy không ồn ào. Đó là hoa trái của hàng ngàn lần cầu nguyện tưởng như vô ích.
Cầu nguyện phải được gắn chặt với sự bất tín nhiệm vào chính mình. Nếu không, cầu nguyện dễ trở thành một phương pháp để ta sử dụng Thiên Chúa nhằm hoàn thành kế hoạch của mình. Có người cầu nguyện rất nhiều nhưng bên dưới vẫn là ý riêng rất mạnh. Họ cầu nguyện để Chúa làm theo điều họ đã quyết. Họ xin Chúa chúc lành cho kế hoạch hơn là xin biết kế hoạch của Chúa. Họ muốn Chúa giúp họ thành công hơn là xin Chúa thanh luyện động cơ. Họ cầu cho người khác thay đổi nhưng hiếm khi xin Chúa thay đổi chính mình. Họ xin thoát thử thách nhưng không hỏi thử thách đang dạy mình điều gì. Đó vẫn là cái tôi đang cầu nguyện. Cầu nguyện đích thực phải bắt đầu bằng sự thật: “Lạy Chúa, con không biết rõ lòng mình. Có thể điều con đang muốn không phải là điều tốt nhất. Có thể điều con ghét lại là điều Chúa dùng để cứu con. Có thể người làm con khó chịu chính là khí cụ Chúa dùng để đập vỡ tự ái con. Có thể sự thất bại này cần thiết để con bớt dựa vào mình. Xin đừng làm theo ý con nếu ý con trái với ý Chúa. Xin làm điều đẹp lòng Chúa, cho dù điều đó làm con đau.” Khi cầu nguyện được đến mức ấy, nó bắt đầu trở thành trường học của tự do.
Và cầu nguyện phải được gắn với sự tín thác vào Thiên Chúa. Có người nhìn thấy sự yếu đuối của mình nhưng không chạy đến Chúa. Họ chỉ nhìn mình rồi buồn. Đó chưa phải khiêm nhường. Khiêm nhường thật luôn dẫn đến tín thác. Nếu một đứa trẻ biết mình yếu và biết cha mình mạnh, nó sẽ chạy đến cha. Nếu linh hồn chỉ nói “con yếu quá, con xấu quá, con chẳng làm được gì” rồi chìm trong buồn bã, thì nó vẫn đang nhìn chính mình. Cầu nguyện đúng là: “Lạy Chúa, con yếu, nhưng Chúa mạnh. Con bất trung, nhưng Chúa trung tín. Con thay đổi, nhưng Chúa không thay đổi. Con có thể sa ngã, nhưng lòng thương xót Chúa không sa ngã. Con có thể quên Chúa, nhưng Chúa không quên con. Con chẳng có gì để tự hào, nhưng con có Chúa để tín thác.” Chính nhịp điệu này phải trở thành nhịp điệu của đời sống nội tâm: nhìn mình để khiêm nhường, nhìn Chúa để hy vọng.
Đặc biệt, sau mỗi lần sa ngã, hãy cầu nguyện ngay. Đây là một nguyên tắc quan trọng. Kẻ thù sau khi làm con ngã sẽ tìm cách ngăn con cầu nguyện. Nó sẽ nói: “Mày vừa phạm tội mà còn dám cầu nguyện sao?” “Mày vừa nóng giận như thế mà còn vào nhà nguyện à?” “Mày đã hứa bao lần rồi vẫn ngã, cầu nguyện làm gì?” “Hãy đợi khi nào khá hơn hãy trở lại với Chúa.” Đó là lời dối trá. Người bị thương có cần đợi hết chảy máu mới đến bác sĩ không? Người con lạc đường có cần tự tìm được đường về rồi mới gọi cha không? Chính khi con vừa ngã là lúc phải chạy về. Không phải để xem nhẹ tội. Không phải để nói rằng sa ngã không quan trọng. Nhưng vì chỉ có lòng thương xót Chúa mới chữa được sự sa ngã. Hãy lập tức thưa: “Lạy Chúa, con đã ngã. Con không bào chữa. Con cũng không muốn trốn Chúa. Con xin lỗi Chúa. Xin nâng con dậy.” Rồi nếu cần, hãy đi xưng tội. Hãy sửa điều cần sửa. Hãy tránh dịp tội. Nhưng đừng ngồi đó hàng giờ để tự đánh mình. Tự trách quá mức thường là một hình thức khác của tự ái: ta đau vì hình ảnh tốt đẹp về chính mình bị vỡ. Người khiêm nhường thật không ngạc nhiên quá mức khi thấy mình yếu. Họ buồn vì đã xúc phạm Chúa, nhưng chính nỗi buồn ấy đẩy họ về phía Chúa, không đẩy họ xa Ngài.
Cầu nguyện trong cuộc chiến cũng phải rất thật. Đừng nghĩ phải dùng những lời đẹp mới được Chúa nghe. Hãy nói với Chúa điều đang thực sự xảy ra. “Lạy Chúa, con đang giận người này.” “Con đang muốn trả đũa.” “Con đang ghen.” “Con đang muốn được khen.” “Con đang rất sợ.” “Con đang muốn bỏ cuộc.” “Con đang bị cám dỗ.” “Con đang không muốn tha thứ.” “Con thấy lòng con đầy cay đắng.” “Con chẳng muốn cầu nguyện.” Những lời như vậy, nếu nói trước mặt Chúa với lòng khiêm nhường, còn tốt hơn việc dùng những lời đạo đức đẹp đẽ để che giấu lòng mình. Thiên Chúa không cần con báo cho Ngài biết điều Ngài chưa biết. Ngài muốn con bước ra khỏi sự giả hình nội tâm. Cầu nguyện là nơi con có thể không diễn. Trước người khác, con có thể phải giữ sự khôn ngoan. Nhưng trước Chúa, hãy thật. Hãy đem cả bóng tối đến. Hãy mở cửa căn phòng mà con xấu hổ nhất. Hãy nói: “Lạy Chúa, đây là lòng con. Con không muốn nó như thế nhưng nó đang như thế. Xin Chúa bước vào.” Ánh sáng chỉ chữa được nơi nào được mở ra.
Đồng thời, đừng biến cầu nguyện thành việc chỉ nói về mình. Có những người cầu nguyện cả giờ nhưng trung tâm vẫn là “tôi”: tôi buồn, tôi đau, tôi muốn, tôi sợ, tôi xin, tôi cần, tôi thất bại. Chúa trở thành người nghe câu chuyện về cái tôi. Cầu nguyện trưởng thành phải dần dần đưa linh hồn ra khỏi chính mình để nhìn Thiên Chúa. “Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa muốn gì? Điều gì làm vui lòng Chúa? Hôm nay con có thể yêu Chúa thế nào?” Có lúc tốt nhất là ngừng nói và thờ lạy. Không xin gì. Chỉ nhìn Chúa. “Chúa là Thiên Chúa. Con là tạo vật. Chúa tốt lành. Chúa đáng được yêu.” Một linh hồn biết thờ lạy sẽ bớt bị mình chiếm hữu. Nhiều rối loạn nội tâm đến từ việc ta nhìn bản thân quá lâu. Thờ lạy trả mọi sự về đúng trật tự.
Lời Chúa phải có chỗ đặc biệt trong đời sống cầu nguyện. Bởi vì nếu chỉ nghe tiếng mình, ta rất dễ lầm ý mình với ý Chúa. Lời Chúa giống như lưỡi gươm xuyên qua những lý luận mà tự ái dùng để bào chữa. Khi con giận và muốn trả đũa, Lời Chúa nhắc con tha thứ. Khi con muốn được phục vụ, Lời Chúa chỉ cho con Đức Kitô đến để phục vụ. Khi con sợ mất mát, Lời Chúa nhắc con về kho tàng không hư nát. Khi con muốn nổi bật, Lời Chúa chỉ cho con con đường của hạt lúa mì phải chết đi. Khi con tuyệt vọng, Lời Chúa nhắc con lòng thương xót. Khi con tự mãn, Lời Chúa nhắc rằng mọi sự là ân huệ. Vì vậy, đừng chỉ nói với Chúa. Hãy nghe. Đọc chậm một câu Kinh Thánh. Giữ lấy một câu. Mang nó theo suốt ngày. Khi cuộc chiến đến, hãy dùng chính câu đó như vũ khí. Một câu Lời Chúa được tin và sống có thể mạnh hơn nhiều trang suy tưởng chỉ dừng ở trí óc.
Đối với linh hồn Kitô hữu, Thánh Thể là một trường học và nguồn sức mạnh không thể thay thế của cầu nguyện. Nếu có thể, hãy học ở lại trước Chúa Giêsu Thánh Thể không phải chỉ để xin nhưng để hiện diện. Có những điều chỉ được chữa lành khi ta ở lâu trước một tình yêu không ồn ào. Trước Thánh Thể, con không cần chứng minh gì. Chúa biết con. Chúa biết cả những góc con chưa biết. Hãy để Ngài nhìn. Hãy để sự hiện diện của Ngài làm chậm lại những xáo động bên trong. Đừng luôn tìm một cảm giác đặc biệt. Đừng đòi mỗi giờ chầu phải có một tư tưởng mới. Có khi cả giờ chỉ là sự trung thành ở lại. Hãy nhớ các môn đệ trong vườn Cây Dầu đã được Chúa nói: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để khỏi sa chước cám dỗ.” Cầu nguyện không phải một hoạt động bên lề cuộc chiến. Chúa gắn trực tiếp cầu nguyện với khả năng đứng vững trong cám dỗ. Người không cầu nguyện sẽ ngủ thiếp đi đúng lúc cuộc chiến quyết liệt nhất.
Đức Maria cũng có một chỗ đặc biệt trong lời cầu nguyện của người đang chiến đấu. Hãy học chạy đến với Mẹ bằng sự đơn sơ của một người con. Đừng lý luận quá nhiều. Khi lòng bị xáo trộn, hãy thưa: “Mẹ Maria, xin giữ con gần Chúa Giêsu.” Khi bị cám dỗ bất khiết, hãy kêu Mẹ. Khi sợ hãi, hãy lần một kinh Kính Mừng chậm. Khi không biết cầu nguyện thế nào, hãy cầm lấy tràng hạt. Kinh Mân Côi, nếu được cầu nguyện với lòng khiêm nhường, không phải sự lặp lại trống rỗng. Nó giống như việc một linh hồn mệt mỏi được đặt vào nhịp điệu bình an của Tin Mừng, để cùng Mẹ nhìn Chúa Giêsu. Có những ngày tâm trí quá rối để suy niệm dài, nhưng đôi tay vẫn có thể lần từng hạt. Có những đêm lòng quá nặng để nói nhiều, nhưng miệng vẫn có thể thưa: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con.” Đừng khinh những phương thế đơn sơ mà Hội Thánh đã gìn giữ qua bao thế hệ.
Một điều khác phải học là cầu nguyện trước khi hành động, không chỉ cầu nguyện sau khi đã gây hậu quả. Rất nhiều lần chúng ta chỉ nhớ đến Chúa sau khi đã nói câu không nên nói, sau khi đã quyết định trong nóng giận, sau khi đã gửi một tin nhắn vội vàng, sau khi đã làm tổn thương ai. Hãy tập dừng lại trước. Trước cuộc gặp khó khăn: cầu nguyện. Trước khi sửa lỗi ai: cầu nguyện. Trước khi trả lời một lời chỉ trích: cầu nguyện. Trước khi quyết định việc quan trọng: cầu nguyện. Trước khi bước vào nơi con biết mình dễ bị cám dỗ: cầu nguyện. Trước khi mở điện thoại lúc lòng đang yếu: cầu nguyện. Trước khi nói về một người vắng mặt: cầu nguyện. Một lời cầu nguyện vài giây trước hành động có thể thay đổi toàn bộ hành động. “Lạy Chúa, xin cho con nói điều Chúa muốn, theo cách Chúa muốn, vào lúc Chúa muốn.” Nếu người Kitô hữu thật sự tập điều ấy, bao nhiêu lời nói có thể được giữ lại, bao nhiêu vết thương có thể tránh, bao nhiêu quyết định sẽ sáng hơn.
Cũng phải cầu nguyện sau mỗi hành động, nhất là khi đã làm được điều tốt. Vì sau chiến thắng, một kẻ thù tinh tế đang chờ: kiêu ngạo. Con thắng được cơn giận và nghĩ: “Mình tiến bộ rồi.” Con vượt qua một cám dỗ và nghĩ: “Mình mạnh hơn trước.” Con cầu nguyện sốt sắng và nghĩ: “Đời sống thiêng liêng của mình khá tốt.” Chính lúc đó, chiến thắng có thể trở thành dịp cho tự ái. Hãy lập tức trả vinh quang về cho Chúa. “Lạy Chúa, nếu Chúa không giữ, con đã ngã. Tạ ơn Chúa.” Hãy tập tạ ơn sau mọi điều tốt. Điều ấy không làm giảm trách nhiệm của con, nhưng giữ linh hồn trong sự thật. Con đã cộng tác, nhưng ân sủng đi trước, nâng đỡ và hoàn tất.
Có những lúc cầu nguyện phải trở thành tiếng kêu, chứ không còn là suy niệm. Đừng sợ điều đó. Trong Thánh Vịnh có bao nhiêu tiếng kêu. Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu nguyện trong đau đớn. Trên thập giá, Ngài đã kêu lên. Có những lúc linh hồn bị ép đến mức không còn bình tĩnh để xếp câu chữ. Hãy kêu. “Lạy Chúa, con không chịu nổi nữa.” “Xin cứu con.” “Xin đừng bỏ con.” “Xin giữ con qua đêm nay.” “Xin cho con đừng phạm tội này.” “Xin cho con đừng nói câu ấy.” “Xin cho con thêm một chút sức.” Đó không phải cầu nguyện thấp kém. Một lời kêu thật có thể là hình thức cầu nguyện sâu nhất, vì mọi lớp vỏ đã rơi xuống.
Nhưng cũng có lúc cầu nguyện phải là thinh lặng. Không phải mọi cuộc chiến đều cần nhiều lời. Có lúc lời nói làm tâm trí càng náo động. Hãy đơn giản đặt mình trước Chúa. Hít thở chậm. Nhìn thánh giá. Nhìn Nhà Tạm. Lặp lại một câu nhỏ rồi im. “Lạy Chúa, con ở đây.” “Chúa biết.” “Con thuộc về Chúa.” Sự thinh lặng trước mặt Chúa không phải khoảng trống vô nghĩa. Nó có thể là nơi ý chí ngừng giãy giụa, nơi linh hồn thôi giải quyết mọi sự bằng lý trí, nơi con để cho Thiên Chúa là Thiên Chúa.
Hỡi linh hồn, đừng chờ đến khi mình thánh thiện mới cầu nguyện. Chính vì chưa thánh thiện nên con cần cầu nguyện. Đừng chờ đến khi lòng thanh sạch mới đến với Chúa. Hãy đến để được thanh sạch. Đừng chờ đến khi hết chia trí mới cầu nguyện. Hãy đem cả chia trí vào. Đừng chờ đến khi hết tội mới đến Bí tích Hòa Giải. Chính vì tội nên phải đến. Đừng chờ đến khi có tâm trạng. Tình yêu không thể bị cai trị bởi tâm trạng. Có ngày con muốn cầu nguyện. Có ngày không. Hãy cầu nguyện cả hai ngày. Có ngày lời kinh trôi dễ dàng. Có ngày từng câu nặng như đá. Hãy cầu nguyện cả hai. Có ngày con thấy Chúa gần. Có ngày như thể không còn thấy Ngài. Hãy ở lại cả hai. Chính sự trung thành sẽ dạy linh hồn yêu.
Và đừng cầu nguyện chỉ cho chính mình. Một linh hồn càng kết hiệp với Chúa càng mang người khác vào cầu nguyện. Hãy cầu cho những người làm con khó chịu. Đây là một khí giới tuyệt vời chống lại nóng giận và oán hận. Rất khó vừa chân thành cầu xin Chúa chúc lành cho một người vừa tiếp tục nuôi hận họ như cũ. Ban đầu lời cầu có thể khô và miễn cưỡng: “Lạy Chúa, xin chúc lành cho họ.” Không sao. Ý chí đang học yêu. Rồi dần dần, trái tim có thể theo sau. Hãy cầu cho người đã làm tổn thương con. Cầu cho người con ghen tị. Cầu cho người con khó chịu. Cầu cho người được khen trong khi con bị quên. Cầu cho người thành công ở nơi con thất bại. Đó là những lời cầu đập thẳng vào tự ái. Có thể con không cảm thấy yêu, nhưng bằng việc cầu cho họ, con đang chọn điều thiện.
Hãy cầu cho chính những hoàn cảnh con muốn thoát khỏi. Không chỉ cầu: “Lạy Chúa, xin lấy điều này đi”, mà còn: “Nếu Chúa chưa lấy đi, xin dùng nó để biến đổi con.” Có khi Chúa không thay hoàn cảnh vì Ngài muốn thay con. Con cầu xin một người khó tính biến khỏi đời mình, nhưng có thể Chúa đang dùng người ấy để dạy con kiên nhẫn. Con cầu xin công việc bớt nặng, nhưng có thể Chúa đang dạy con tín thác. Con xin thoát khỏi sự hiểu lầm, nhưng có thể Chúa đang thanh luyện lòng ham được người khác hiểu và công nhận. Không phải mọi đau khổ đều phải được giữ lại. Không phải ta không được cầu xin giải thoát. Đức Giêsu cũng đã cầu xin chén đắng cất đi. Nhưng Ngài thêm: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là đỉnh cao của lời cầu nguyện trong cuộc chiến: không phải buộc Thiên Chúa theo ý mình, nhưng trao ý mình vào tay Thiên Chúa.
Một dấu hiệu cho thấy cầu nguyện đang trưởng thành là con bắt đầu muốn thánh ý Chúa hơn muốn cảm giác bình an của riêng mình. Ban đầu, ta thường cầu để mọi chuyện ổn. Dần dần, ta cầu để mình trung thành. Ban đầu ta xin Chúa đổi người khác. Dần dần ta xin Chúa đổi mình. Ban đầu ta xin tránh thập giá. Dần dần ta xin sức mang thập giá. Ban đầu ta xin thành công. Dần dần ta xin làm vui lòng Chúa dù thành công hay thất bại. Ban đầu ta cầu vì sợ mất điều gì đó. Dần dần ta cầu vì yêu Chúa. Đó là một hành trình dài, nhưng cầu nguyện chính là nơi hành trình ấy diễn ra.
Về thực hành mỗi ngày, đừng làm mọi sự quá phức tạp. Hãy bắt đầu bằng những điều nhỏ nhưng trung thành. Ngay khi mở mắt, trước khi cầm điện thoại, hãy làm dấu thánh giá và dâng ngày: “Lạy Chúa, hôm nay con thuộc về Chúa. Xin giữ trí, lòng, mắt, miệng và ý chí con.” Trước khi rời phòng, hãy chọn một ý hướng: “Hôm nay con đặc biệt chiến đấu chống sự nóng giận”, hoặc “hôm nay con giữ miệng”, hoặc “hôm nay con đón nhận điều trái ý mà không than phiền.” Trước mỗi việc quan trọng, hãy dừng một giây: “Lạy Chúa, xin làm việc này trong con.” Mỗi khi bị cám dỗ, đừng đợi: “Giêsu, xin cứu con.” Mỗi khi thắng được một cám dỗ, tạ ơn ngay. Mỗi khi ngã, trở về ngay. Giữa ngày, dành vài phút thu tâm: “Con đang sống với Chúa hay đã sống suốt buổi bằng sức riêng?” Trước bữa ăn, ngoài việc đọc kinh quen thuộc, hãy nhớ mọi sự là quà tặng. Khi gặp một người khó chịu, hãy thầm xin Chúa chúc lành cho họ. Khi nghe một tin làm con xao động, đừng vội phản ứng; hãy cầu nguyện trước. Khi tối đến, xét mình không chỉ hỏi “hôm nay tôi đã phạm tội gì?” mà còn hỏi: “Hôm nay tôi đã cầu nguyện trong các cuộc chiến chưa? Tôi đã chạy đến Chúa hay đã dựa vào mình? Tôi đã nhớ Chúa ở những thời điểm nào? Tôi đã quên Ngài ở đâu?” Rồi kết thúc ngày không phải bằng tuyệt vọng về những thiếu sót, nhưng bằng một lời phó thác: “Lạy Chúa, con trao cho Chúa cả điều tốt lẫn điều xấu của hôm nay. Xin tha thứ điều con đã làm sai. Tạ ơn Chúa về mọi ơn con không thấy. Đêm nay xin giữ con trong Chúa.”
Hãy tập cầu nguyện bằng thân xác nữa. Con người không phải chỉ là linh hồn. Có những lúc quỳ xuống giúp lòng khiêm nhường hơn. Có lúc cúi đầu. Có lúc giang tay. Có lúc hôn thánh giá. Có lúc làm dấu thánh giá thật chậm. Có lúc chắp tay. Những cử chỉ ấy không phải hình thức vô ích nếu thân xác giúp linh hồn diễn tả điều nó muốn nói. Khi lòng kiêu ngạo, hãy quỳ. Khi muốn chạy trốn, hãy ở lại. Khi thân xác lười biếng, hãy đứng lên đọc kinh. Khi tâm trí hỗn loạn, hãy cầm tràng hạt. Kỷ luật của thân xác có thể giúp tập trung linh hồn.
Nhưng đừng biến cầu nguyện thành mê tín. Không phải cứ đọc đủ số câu thì Chúa bắt buộc phải làm điều ta muốn. Không phải lời nguyện tắt là một bùa chú. Không phải cầu nguyện nhiều tự động làm ta thánh thiện nếu đời sống không thay đổi. Một người có thể đọc kinh rất nhiều mà vẫn cố chấp, xét đoán, nói xấu, không tha thứ. Khi đó phải hỏi: lời cầu nguyện đã đi vào ý chí chưa? Cầu nguyện thật sẽ dần dần đụng đến cách ta sống. Không thể mỗi ngày cầu “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha” mà cố tình nuôi hận mãi không muốn chiến đấu. Không thể nói “xin ý Cha thể hiện” rồi kiên quyết chỉ chấp nhận ý riêng. Không thể cầu “xin cho con lòng trong sạch” mà tiếp tục tự nguyện đặt mình vào dịp tội. Không thể cầu “xin cho con khiêm nhường” nhưng tìm mọi cách để bảo vệ hình ảnh. Lời cầu phải trở thành quyết định. Ân sủng không phá hủy tự do. Chúa giúp, nhưng con phải cộng tác.
Vì thế, khi cầu xin chiến thắng một đam mê, hãy hỏi thêm: “Lạy Chúa, hôm nay con phải làm phần nào?” Nếu xin thoát sự bất khiết, có thể con phải bỏ một nguồn kích thích. Nếu xin bớt nóng giận, có thể con phải học im lặng. Nếu xin bớt lười biếng, có thể con phải đứng dậy làm việc ngay khi cần. Nếu xin bớt tự ái, có thể con phải chấp nhận một lần không thanh minh. Nếu xin thoát chán nản, có thể con phải tiếp tục bổn phận dù không cảm thấy gì. Cầu nguyện không miễn ta khỏi chiến đấu. Cầu nguyện làm cho cuộc chiến trở thành cuộc chiến với Chúa.
Có một điều rất đẹp: càng cầu nguyện thật, linh hồn càng nhận ra rằng cuối cùng không phải mình đang cố kéo Thiên Chúa xuống chiến trường của mình, nhưng chính Thiên Chúa đã ở đó trước. Chúa đã nhìn thấy cám dỗ trước khi con nhận ra. Chúa biết sự yếu đuối con rõ hơn con. Chúa không đứng xa chờ con tự cứu rồi mới bước đến. Ngài đã ở trong cuộc chiến. Chính Ngài đánh thức trong con ước muốn cầu nguyện. Chính Ngài ban sức để con kêu tên Ngài. Chính Ngài nâng con khi con trở về. Dần dần, linh hồn không còn xem cầu nguyện chỉ là lúc mình nói với Chúa, nhưng là lúc mình mở mắt để nhận ra Chúa đã hiện diện.
Hỡi linh hồn đang mệt mỏi vì cuộc chiến kéo dài, có thể con tự hỏi: “Tôi phải chiến đấu đến bao giờ?” Câu trả lời là: cho đến cuối đời. Nhưng đừng sợ. Cũng có nghĩa là con được cầu nguyện đến cuối đời. Mỗi trận đánh là một cơ hội để bám Chúa hơn. Mỗi yếu đuối có thể trở thành một cánh cửa dẫn vào sự tín thác. Mỗi lần ngã có thể trở thành một bài học về lòng thương xót. Mỗi cơn cám dỗ có thể nhắc con rằng con cần Chúa. Có những thánh nhân đã nên thánh không phải vì không từng chiến đấu, nhưng vì trong mọi cuộc chiến họ học chạy đến với Thiên Chúa nhanh hơn.
Đừng mơ đến một ngày con không còn cần cầu nguyện vì đã đủ mạnh. Đó sẽ là ngày nguy hiểm nhất. Càng trưởng thành thiêng liêng, người ta càng thấy mình cần Chúa. Đứa trẻ có thể nghĩ nó tự đi được. Người khôn ngoan biết mỗi bước là ân huệ. Thánh nhân không phải là người nói: “Tôi đã mạnh.” Thánh nhân là người ngày càng nói thật hơn: “Nếu Chúa không giữ con, con không đứng được.” Và chính lời thú nhận ấy không làm họ yếu đi. Nó làm họ mạnh, vì sức mạnh của họ không còn nằm nơi họ.
Khi con cảm thấy không còn gì để dâng trong cầu nguyện, hãy dâng chính sự nghèo nàn ấy. Khi không có lời, dâng thinh lặng. Khi không có cảm xúc, dâng ý chí. Khi không có sức, dâng sự yếu. Khi không có niềm vui, dâng nỗi buồn. Khi thất bại, dâng vết thương. Khi thành công, dâng vinh quang lại cho Chúa. Không có hoàn cảnh nào nằm ngoài cầu nguyện nếu con biết đưa nó vào tay Thiên Chúa.
Và có một lời cầu nguyện cuối cùng mà linh hồn nên tập từ bây giờ: “Lạy Chúa, xin cho con thuộc trọn về Chúa.” Bởi vì cuối cùng, tất cả những trận chiến này để làm gì? Không phải để con trở thành một người hoàn hảo theo tiêu chuẩn của cái tôi. Không phải để con có thể tự hào mình thắng các đam mê. Không phải để người khác nhìn con như người đạo đức. Mục đích cuối cùng là để mọi phần trong con thuộc về Chúa. Trí nhớ thuộc về Chúa. Trí hiểu thuộc về Chúa. Ý chí thuộc về Chúa. Thân xác thuộc về Chúa. Mắt thuộc về Chúa. Miệng thuộc về Chúa. Những ham muốn thuộc về Chúa. Những kế hoạch thuộc về Chúa. Quá khứ thuộc về Chúa. Tương lai thuộc về Chúa. Thành công thuộc về Chúa. Thất bại thuộc về Chúa. Sự sống và cả cái chết cũng thuộc về Chúa. Khi lời cầu nguyện tiến đến chỗ ấy, cuộc chiến linh hồn bắt đầu trở thành một cuộc hiến dâng.
Hỡi linh hồn, nếu hôm nay con chỉ nhớ một điều trong cả chương này, hãy nhớ điều này: đừng bao giờ chiến đấu một mình. Khi cám dỗ đến, hãy gọi Chúa. Khi yếu, hãy gọi Chúa. Khi khỏe, cũng hãy gọi Chúa. Khi buồn, gọi Chúa. Khi vui, tạ ơn Chúa. Khi bị hiểu lầm, gọi Chúa. Khi được khen, gọi Chúa. Khi thất bại, gọi Chúa. Khi đứng dậy, gọi Chúa. Khi không biết phải làm gì, hãy ở yên trước mặt Ngài. Khi không còn nói được gì, chỉ cần thưa: “Giêsu.” Hãy để tên Ngài trở thành hơi thở của linh hồn con.
Đừng nghĩ rằng Chúa mệt mỏi vì phải nghe con kêu quá nhiều. Một người mẹ có mệt khi đứa con nhỏ gọi mình vì nó sợ không? Chúa còn yêu con hơn vô cùng. Có thể chính con mệt vì chính mình. Có thể con chán vì thấy những lỗi cũ cứ trở lại. Có thể con xấu hổ vì đã hứa quá nhiều lần. Nhưng lòng thương xót Chúa không mệt như con. Ngài không đếm những lần con trở về để rồi nói: “Đủ rồi.” Mỗi lần trở về trong lòng thành thật là một lần con đặt mình lại trong ân sủng.
Hãy cầu nguyện không phải như người đã mạnh, nhưng như người biết mình yếu. Hãy cầu nguyện không phải như người đòi hỏi, nhưng như người con. Hãy cầu nguyện không phải chỉ khi thích, nhưng vì trung thành. Hãy cầu nguyện không phải chỉ bằng lời, nhưng bằng cả đời sống. Hãy cầu nguyện trong nhà thờ và ngoài đường. Trong ánh sáng và bóng tối. Trong sốt sắng và khô khan. Trong chiến thắng và thất bại. Khi lòng bình an và khi lòng rối bời. Hãy tập quay về với Chúa hàng trăm lần một ngày nếu cần. Không có lần quay về nào vô ích.
Và nếu một ngày con thấy mình đứng trước một cơn cám dỗ quá mạnh, hãy đừng cố chứng minh con mạnh. Hãy chạy. Chạy khỏi dịp tội nếu cần. Chạy khỏi nơi nguy hiểm. Chạy khỏi cuộc nói chuyện. Đóng màn hình. Im miệng. Bước ra ngoài. Quỳ xuống. Cầm lấy thánh giá. Và kêu: “Lạy Chúa Giêsu, xin cứu con.” Đó không phải hèn nhát. Đó là khôn ngoan. Người biết mình yếu và chạy về thành lũy là người biết chiến đấu.
Nếu một ngày con kiệt sức vì chán nản, hãy đừng hỏi mình có còn cảm thấy Chúa hay không. Chỉ cần nói: “Lạy Chúa, con không thấy Chúa nhưng con tin Chúa thấy con.” Nếu một ngày con sa ngã nặng, hãy đừng nằm lại. “Lạy Chúa, con đã ngã. Xin thương xót con.” Nếu một ngày mọi sự tốt đẹp và lòng con vui, hãy đừng quên: “Tạ ơn Chúa. Xin giữ con khiêm nhường.” Nếu một ngày cái chết đến gần, có lẽ con cũng không cần nhiều lời nữa. Chỉ cần điều đã tập cả đời: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”
Đó chính là lý do cầu nguyện là khí giới tối thượng. Không phải vì cầu nguyện làm cho con không còn yếu, nhưng vì cầu nguyện nối sự yếu đuối của con với sức mạnh Thiên Chúa. Không phải vì cầu nguyện loại bỏ mọi cám dỗ, nhưng vì nó giữ con trong tay Chúa giữa cám dỗ. Không phải vì cầu nguyện bảo đảm con không bao giờ sa ngã, nhưng vì nó dạy con biết đứng dậy. Không phải vì cầu nguyện làm cuộc đời dễ dàng, nhưng vì nó làm cho không một đau khổ nào phải chịu một mình. Không phải vì cầu nguyện biến con thành một người tự đủ, nhưng trái lại, nó làm con ngày càng nghèo đi trong chính mình và ngày càng giàu trong Thiên Chúa.
“Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho.” Lời ấy không có nghĩa rằng Chúa sẽ cho ta mọi điều ta tưởng là tốt. Nó có nghĩa sâu hơn: ai kiên trì tìm Chúa sẽ không bị Chúa từ chối. Ai gõ cửa lòng thương xót sẽ không gặp một cánh cửa đóng kín. Ai xin ơn để trung thành sẽ không bị bỏ mặc. Có thể cách Chúa trả lời khác điều ta chờ đợi. Có thể Ngài không cất cuộc chiến đi, nhưng ban sức để chiến đấu. Có thể Ngài không loại bỏ thập giá, nhưng đến vác cùng. Có thể Ngài không thay người khác, nhưng thay trái tim ta. Có thể Ngài không cho ta cảm giác chiến thắng, nhưng âm thầm giữ ta khỏi sa ngã sâu hơn. Hãy tín thác.
Hỡi linh hồn, hãy cầu nguyện. Khi không muốn cầu nguyện, càng hãy cầu nguyện. Khi thấy mình không xứng đáng, càng hãy cầu nguyện. Khi thấy mình đã thất bại, càng hãy cầu nguyện. Khi thấy mình mạnh, càng phải cầu nguyện. Hãy cầu nguyện trước khi chiến đấu. Hãy cầu nguyện trong lúc chiến đấu. Hãy cầu nguyện sau khi chiến đấu. Hãy biến ngày sống thành một chuỗi những lần quay về. Hãy biến mỗi cám dỗ thành một tiếng gọi Chúa. Hãy biến mỗi đau khổ thành một lời dâng. Hãy biến mỗi niềm vui thành một lời tạ ơn. Hãy biến mỗi sa ngã thành một cuộc trở về. Hãy biến mỗi hơi thở thành một lời tín thác.
Và khi không còn biết cầu nguyện thế nào, hãy trở về với những lời rất nhỏ, rất nghèo nhưng rất thật: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.” “Chúa ơi, con yếu quá.” “Xin Chúa chiến đấu cho con.” “Lạy Chúa, xin giữ con khỏi chính con.” “Con bất tín nhiệm vào mình. Con tín thác vào Chúa.” Hãy nói những lời ấy trong bóng tối. Hãy nói khi mắt đẫm nước. Hãy nói khi cám dỗ bủa vây. Hãy nói khi không ai hiểu con. Hãy nói khi lòng đã mệt. Hãy nói khi đứng trước Thánh Thể. Hãy nói khi bước đi trên đường. Hãy nói trước khi ngủ. Hãy nói lúc thức dậy. Hãy nói cho đến khi những lời ấy không còn chỉ ở trên môi nhưng trở thành tiếng nói sâu nhất của linh hồn.
Rồi một ngày, sau rất nhiều cuộc chiến, con sẽ hiểu rằng chiến thắng lớn nhất không phải là con đã trở nên mạnh đến mức không cần Thiên Chúa, nhưng là con đã trở nên nhỏ bé đến mức không còn muốn sống một giây nào ngoài Ngài. Khi ấy, cầu nguyện không còn là một việc con phải làm. Cầu nguyện đã trở thành chính đời sống con. Và linh hồn, dù vẫn mang sự yếu đuối của kiếp người, sẽ có một sức mạnh mà kẻ thù rất sợ: sức mạnh của một người biết mình chẳng là gì, nhưng thuộc trọn về Thiên Chúa.
Hãy cầu nguyện. Hãy cầu nguyện không ngừng. Hãy cầu nguyện như người không còn một nơi trú ẩn nào khác ngoài trái tim Thiên Chúa. Và khi tất cả những khí giới khác rơi khỏi tay, khi trí khôn mệt mỏi, ý chí suy yếu, lòng can đảm gần tắt, hãy giữ lại một điều cuối cùng: tiếng kêu hướng về Chúa. Chỉ cần con còn có thể kêu: “Lạy Chúa, cứu con”, thì cuộc chiến vẫn chưa mất. Bởi vì người kêu cầu Chúa trong sự khiêm nhường không chiến đấu một mình.
Đó là khí giới tối thượng. Đó là hơi thở của người chiến sĩ thiêng liêng. Đó là sợi dây nối sự nghèo nàn của con người với sự giàu có vô tận của Thiên Chúa. Đó là cánh cửa luôn còn mở khi mọi cánh cửa khác đã đóng. Đó là nơi linh hồn yếu đuối tìm lại sức mạnh, người sa ngã tìm lại lòng thương xót, người chán nản tìm lại hy vọng, người sợ hãi tìm lại bình an, và người đang chiến đấu nhận ra rằng cuối cùng chính Thiên Chúa mới là Đấng ban chiến thắng.
Hãy cầu nguyện như thể tất cả đều tùy thuộc vào Thiên Chúa. Hãy chiến đấu như người biết rằng mình phải trao cho Ngài tất cả sự cộng tác có thể. Và sau cùng, hãy phó thác kết quả trong tay Ngài.
Bởi vì cuộc chiến là của con, nhưng chiến thắng thuộc về Chúa.
CHƯƠNG 23
SUY NIỆM VÀ KẾT HỢP VỚI CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA GIÊSU – NGUỒN SỨC MẠNH LỚN LAO TRONG CUỘC CHIẾN
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, sau khi đã nói về cầu nguyện như khí giới tối thượng của đời sống thiêng liêng, chúng ta phải đi sâu hơn nữa vào một nơi mà từ bao thế hệ, các thánh, các vị ẩn tu, các nhà thần bí, những người sống đời thánh hiến và biết bao linh hồn đơn sơ đã tìm đến để kín múc sức mạnh mỗi khi mệt mỏi, để tìm ánh sáng mỗi khi tối tăm, để tìm lòng can đảm mỗi khi muốn buông xuôi, và để tìm lại tình yêu mỗi khi trái tim đã nguội lạnh. Nơi ấy chính là cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu Kitô. Nếu cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, thì việc chiêm ngắm Chúa Giêsu chịu thương khó chính là một trong những cách sâu xa nhất để linh hồn thở bằng chính tình yêu của Thiên Chúa. Nếu cuộc chiến thiêng liêng là một trận chiến dài giữa con người cũ và con người mới, giữa ý riêng và thánh ý Thiên Chúa, giữa sự tự ái và tình yêu, giữa xác thịt và Thần Khí, thì cuộc Thương Khó chính là chiến trường nơi Chúa Giêsu đã đi trước chúng ta, đã chiến đấu cho chúng ta, đã chiến thắng bằng chính sự tự hiến của Ngài, và đã để lại cho chúng ta không chỉ một gương mẫu để ngắm nhìn, nhưng một nguồn sức mạnh để bước vào. Hỡi linh hồn, con đừng bao giờ nghĩ rằng cuộc Thương Khó chỉ là một câu chuyện rất xa của hai ngàn năm trước, một chuỗi biến cố phụng vụ được nhắc lại vào Tuần Thánh, hay một đề tài đạo đức chỉ dành cho những người có khuynh hướng suy niệm. Không. Cuộc Thương Khó là trung tâm của mầu nhiệm cứu độ. Cuộc Thương Khó là nơi tình yêu của Thiên Chúa đã đi đến tận cùng. Cuộc Thương Khó là nơi tội lỗi của con người được phơi bày trong tất cả sự dữ dằn của nó, và đồng thời lòng thương xót của Thiên Chúa cũng được tỏ lộ trong tất cả sự dịu dàng vô biên của Ngài. Và đối với linh hồn đang muốn chiến đấu để nên thánh, không có trường học nào sâu hơn Núi Sọ, không có cuốn sách nào mạnh hơn thân thể bị đóng đinh của Đức Kitô, không có lời giảng nào xuyên thấu hơn sự thinh lặng của Chúa Giêsu trước những kẻ kết án Ngài, và không có lời mời gọi nào quyết liệt hơn hai cánh tay bị giang ra trên Thánh Giá. Con có thể đọc rất nhiều sách về khiêm nhường, nhưng chỉ cần nhìn thật lâu vào Chúa Giêsu bị lột áo, bị nhạo báng và bị treo trần trụi trên Thánh Giá, con sẽ hiểu khiêm nhường là gì. Con có thể nghe rất nhiều bài giảng về lòng tha thứ, nhưng chỉ cần nghe lời Chúa cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, con sẽ hiểu tình yêu đối với kẻ thù đi xa đến đâu. Con có thể học rất nhiều về vâng phục, nhưng chỉ cần chiêm ngắm Đấng đã “vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá”, con sẽ hiểu sự vâng phục thật không phải là nói lời đẹp khi mọi sự thuận lợi, nhưng là trao chính mình cho thánh ý Chúa ngay khi thánh ý ấy đi qua đau đớn, mất mát và bóng tối.
Tại sao cuộc Thương Khó lại có một sức mạnh đặc biệt đến như thế đối với cuộc chiến nội tâm? Vì trên Thánh Giá, hầu như mọi đam mê đang làm khổ con đều gặp phải điều hoàn toàn trái ngược với nó. Sự tự ái trong con muốn được nhìn nhận, muốn được đối xử tử tế, muốn được tôn trọng, muốn người khác hiểu mình, muốn công lao của mình được biết đến; nhưng trên Núi Sọ, con gặp một Đấng đã chấp nhận bị coi như một kẻ phạm pháp, bị đặt giữa hai tên trộm, bị nhạo báng, bị khinh miệt, bị hiểu lầm, bị xuyên tạc và bị kết án. Sự nóng giận trong con muốn phản ứng, muốn tự vệ, muốn chứng minh mình đúng, muốn trả lại một lời cho xứng với lời người ta vừa nói; nhưng trong cuộc Thương Khó, con gặp Chúa Giêsu đứng trước Philatô, đứng trước Hêrôđê, đứng trước những kẻ vu cáo Ngài, và Ngài thinh lặng. Sự lười biếng trong con muốn tìm con đường dễ nhất, muốn bỏ cuộc khi đã mệt, muốn trì hoãn bổn phận khi thân xác không còn hứng thú; nhưng trên đường lên Núi Sọ, con thấy Chúa ngã xuống, đứng lên, lại đi, lại ngã, lại đứng lên, cho tới cùng. Sự ham mê dễ chịu trong con sợ bất tiện, sợ thiếu ngủ, sợ đói, sợ đau, sợ bị từ chối những điều mình quen hưởng; nhưng con thấy thân thể Chúa bị đánh đòn, đầu Ngài bị gai đâm, vai Ngài mang gỗ nặng, tay chân Ngài bị đóng đinh, môi Ngài khát cháy mà chỉ nhận được giấm chua. Sự bất khiết tìm cách sử dụng thân xác và con người như phương tiện để thỏa mãn; nhưng trước mặt con là thân thể cực thánh của Chúa, một thân thể hoàn toàn được trao đi, hoàn toàn trong sạch, hoàn toàn thuộc về Chúa Cha và được hiến dâng vì phần rỗi của những người khác. Sự chán nản trong con muốn kết luận rằng đau khổ là vô ích, cố gắng là vô ích, hy sinh là vô ích; nhưng trên Thánh Giá, nơi mọi sự bề ngoài dường như là thất bại, Chúa Giêsu lại hoàn tất công trình lớn lao nhất lịch sử cứu độ. Điều thế gian gọi là thất bại, Thiên Chúa biến thành chiến thắng. Điều thế gian gọi là mất tất cả, Thiên Chúa biến thành trao ban tất cả. Điều thế gian gọi là nhục nhã, Thiên Chúa biến thành vinh quang. Điều thế gian gọi là cái chết, Thiên Chúa biến thành cửa đi vào sự sống. Vì thế, hỡi linh hồn, mỗi khi con thấy mình đang bị một đam mê lôi kéo, hãy nhìn lên Chúa chịu đóng đinh và con sẽ nhìn thấy một lối sống khác. Không phải chỉ là một lý tưởng đẹp, nhưng là một con đường đã được chính Con Thiên Chúa đi qua.
Nhưng có một điều quan trọng phải nói thật rõ: suy niệm cuộc Thương Khó không phải là cố gắng làm cho mình xúc động. Không phải cứ khóc nhiều là đã suy niệm sâu. Không phải cứ tưởng tượng đau đớn thật dữ dội là linh hồn đã được biến đổi. Có những người rất dễ xúc động trước những cảnh đau thương, nhưng sau đó vẫn giữ nguyên sự tự ái, vẫn dễ nóng giận, vẫn không tha thứ, vẫn tìm ý riêng. Cuộc Thương Khó chỉ thật sự đi vào linh hồn khi nó đi từ trí nhớ xuống trái tim, rồi từ trái tim đi vào ý chí và đời sống. Con suy niệm không phải để chỉ nói: “Tội nghiệp Chúa quá.” Con suy niệm để tự hỏi: “Tại sao Ngài chịu như vậy? Ngài chịu vì ai? Tình yêu nào đã khiến Ngài ở lại trên Thánh Giá? Và tôi phải sống thế nào trước tình yêu ấy?” Đó là chỗ cuộc Thương Khó bắt đầu trở thành khí giới. Khi con nhìn Chúa bị sỉ nhục và nhận ra rằng chính mình lại quá nhạy cảm với một lời phê bình nhỏ, Thánh Giá bắt đầu phá vỡ tự ái của con. Khi con nhìn Chúa bị đánh đòn mà vẫn không nguyền rủa ai, rồi nhớ lại một chuyện nhỏ khiến con ôm bực bội nhiều ngày, Thánh Giá bắt đầu xét xử sự nóng giận của con. Khi con nhìn Chúa kiệt sức vác Thánh Giá và nhớ lại việc con bỏ cầu nguyện chỉ vì hơi mệt, bỏ bổn phận chỉ vì không có hứng, Thánh Giá bắt đầu lột mặt nạ sự lười biếng. Khi con nhìn Chúa yêu những kẻ làm khổ Ngài và nhớ đến một người con không muốn tha thứ, Thánh Giá đặt con trước một quyết định. Chính ở đây linh hồn phải để cho mình bị thương bởi tình yêu. Một cuộc suy niệm thật không phải lúc nào cũng làm con dễ chịu. Nhiều khi nó làm con đau, bởi vì ánh sáng của Thánh Giá soi rõ những điều con đang muốn che giấu. Nhưng đó là một nỗi đau chữa lành. Nó giống như lưỡi dao của bác sĩ cắt vào nơi đang nhiễm độc, không phải để hủy diệt nhưng để cứu sống.
Hãy bắt đầu từ Vườn Cây Dầu. Con hãy đến đó thật chậm. Đừng vội đi qua. Hãy nhìn Chúa Giêsu bước vào đêm tối. Ngài biết giờ đã đến. Ngài không đi vào cuộc Thương Khó như một người không biết điều gì đang chờ mình. Ngài biết phản bội, biết cô đơn, biết roi đòn, biết mão gai, biết đinh sắt, biết cái chết. Tin Mừng cho thấy Ngài bắt đầu cảm thấy buồn sầu và xao xuyến. Đây là một điều rất quan trọng cho con. Chúa Giêsu không giả vờ mạnh. Ngài không phủ nhận sự đau đớn. Ngài không biến mình thành một khối đá vô cảm. Ngài thưa: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Hỡi linh hồn, có những lúc con tưởng rằng nên thánh nghĩa là không được sợ, không được buồn, không được cảm thấy nặng nề. Không phải. Chúa Giêsu đã cảm thấy tất cả. Điều làm nên sự thánh thiện không phải là không có cảm xúc đau đớn, nhưng là trong đau đớn vẫn chọn thánh ý Chúa Cha. “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Đây chính là một trong những câu cầu nguyện lớn nhất cho cuộc chiến nội tâm. Mỗi khi con gặp một điều con không muốn, hãy mang nó vào Vườn Cây Dầu. Khi phải sống với một người khó tính, hãy mang người ấy vào Vườn Cây Dầu. Khi bổn phận của con trở nên nặng nề, hãy mang nó vào Vườn Cây Dầu. Khi một cánh cửa đóng lại, một kế hoạch thất bại, một người hiểu lầm con, một lời cầu nguyện dường như không được đáp lại, hãy đến với Chúa và nói thật: “Lạy Cha, con không thích điều này. Con đau. Con sợ. Con muốn thoát khỏi. Nhưng nếu đây là con đường Cha cho phép con đi qua, xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Hãy nói cho đến khi lời ấy không còn nằm trên môi mà xuống tận ý chí. Có thể ý chí của con run rẩy. Không sao. Chúa Giêsu cũng đã đổ mồ hôi máu. Vâng phục không phải là không run. Vâng phục là run mà vẫn thưa “xin vâng”.
Rồi hãy bước đến dinh thượng tế. Hãy nhìn Chúa bị dẫn đi giữa đêm, bị chất vấn, bị vu cáo, bị tát. Hãy tưởng tượng sự bất công của cảnh ấy: Đấng là Chân Lý bị kết án bởi những lời dối trá; Đấng thấu suốt mọi tâm hồn lại bị những con người tối tăm xét xử. Có một viên thuộc hạ tát vào mặt Chúa. Hỡi linh hồn, con có từng đau vì một lời thiếu kính trọng chưa? Có từng mất bình an vì ai đó nói về con không đúng? Có từng muốn ngay lập tức giải thích, chứng minh, đính chính, làm cho người khác hiểu rằng mình không như họ nghĩ? Hãy đứng cạnh Chúa lúc ấy. Hãy nhìn gương mặt vừa bị tát. Rồi con sẽ hiểu rằng danh dự của con không quý hơn danh dự của Chúa. Con không cần phải bảo vệ mình trong mọi chuyện. Có những lúc việc giải thích là cần vì sự thật và ích chung; nhưng có rất nhiều lúc con giải thích chỉ vì lòng tự ái không chịu nổi việc mình bị đánh giá sai. Suy niệm cuộc Thương Khó sẽ giúp con phân biệt hai điều ấy. Khi tự ái muốn gào lên: “Phải làm cho người ta hiểu mình!”, Thánh Giá sẽ hỏi nhỏ: “Con muốn sự thật được sáng tỏ, hay con chỉ muốn cái tôi của con được phục hồi?” Câu hỏi ấy đau. Nhưng nó cứu.
Hãy bước đến cảnh Chúa bị đánh đòn. Đừng chỉ nhìn máu. Hãy nhìn sự tự hiến. Thân thể ấy đã từng đi khắp các làng mạc để tìm người đau khổ. Đôi chân ấy đã đi tìm người tội lỗi. Đôi tay ấy đã chạm vào người phong cùi, chữa lành người bệnh, bẻ bánh cho dân chúng. Bây giờ chính thân thể ấy bị đánh nát. Chúa cho phép thân thể của Ngài trở thành nơi tình yêu trả giá. Hỡi linh hồn, thân xác của con là một trong những chiến trường lớn nhất của đời sống thiêng liêng. Con muốn ngủ thêm, muốn ăn thêm, muốn thoải mái hơn, muốn tránh sự khó chịu, muốn thỏa mãn mọi đòi hỏi của giác quan. Thân xác tự nó không xấu; nó là quà tặng của Thiên Chúa. Nhưng khi thân xác trở thành ông chủ, linh hồn sẽ suy yếu. Hãy học nơi Chúa bị đánh đòn không phải sự ghét bỏ thân xác, nhưng sự tự do đối với thân xác. Chúa không thờ phượng sự dễ chịu. Ngài dùng thân thể để yêu. Con cũng phải học dùng thân thể để yêu: đôi tay để phục vụ, đôi chân để đi đến nơi bổn phận gọi, đôi mắt để nhìn trong sạch, miệng để nói điều xây dựng, sức lực để làm việc, sự mệt mỏi để dâng hiến. Có những hy sinh nhỏ không ai biết: thức dậy đúng giờ khi muốn ngủ thêm, kiềm chế một món ăn khi đang muốn chiều mình, giữ ánh mắt khi gặp điều kích thích tò mò, ngồi lại cầu nguyện khi thân xác muốn bỏ đi. Những điều ấy có vẻ quá nhỏ, nhưng khi kết hợp với thân thể bị thương của Chúa, chúng trở thành những cử chỉ yêu mến. Và linh hồn dần dần học được một chân lý lớn: thân xác không phải để được phục vụ trong mọi đòi hỏi; thân xác được trao cho con để con dùng nó mà yêu Chúa và yêu người.
Hãy đi đến cảnh đội mão gai. Có lẽ đây là một trong những cảnh đánh thẳng nhất vào tự ái của chúng ta. Họ khoác áo đỏ cho Chúa, đặt cây sậy vào tay Ngài, đội mão gai lên đầu, quỳ xuống giả vờ tung hô: “Vạn tuế Vua dân Do Thái!” Họ biến Ngài thành trò cười. Hỡi linh hồn, con có biết cái đau nhất của tự ái không phải lúc nào cũng là bị mất tiền, mất sức khỏe hay mất tiện nghi. Đôi khi đau nhất là bị coi thường. Một người có thể chịu cực rất giỏi nhưng không chịu được bị chê. Có người làm được nhiều việc hy sinh nhưng chỉ cần bị bỏ qua tên mình là đã buồn. Có người sẵn sàng phục vụ nếu được ghi nhận, nhưng khi không ai biết đến thì thấy công việc mất ý nghĩa. Đó là dấu hiệu tự ái còn sâu. Hãy đứng trước Chúa đội mão gai. Hãy nhìn Đấng đáng được mọi thiên thần thờ lạy lại để cho con người chế giễu. Rồi hỏi: “Lạy Chúa, tại sao con phải được tôn trọng trong khi Chúa đã chấp nhận bị khinh thường vì con? Tại sao con phải được khen trong khi Chúa đã nhận lời nhạo báng? Tại sao con phải luôn thắng trong mắt người khác khi Chúa đã chấp nhận trông như một kẻ thất bại?” Đừng cố tạo ra cho mình những sỉ nhục giả tạo. Đừng tìm cách làm cho người ta khinh con. Điều đó cũng có thể trở thành một hình thức kiêu ngạo tinh tế. Chỉ cần khi sự khinh thường tự nhiên đến, khi người ta hiểu lầm con, khi công lao không được biết, khi ai đó được khen còn con bị quên, hãy nhận ra đó là một mảnh gai nhỏ được đặt vào đời con. Và thay vì giật nó ra bằng than phiền, hãy nói: “Lạy Chúa đội mão gai, xin cho con ở lại với Chúa.”
Rồi đến con đường Thánh Giá. Đây là con đường mà mọi linh hồn nghiêm túc muốn theo Chúa đều phải đi. Không phải vì Thiên Chúa thích làm con đau, nhưng vì tình yêu thật luôn đòi sự từ bỏ cái tôi. Chúa Giêsu vác Thánh Giá không phải là một biểu tượng đẹp. Gỗ ấy nặng. Vai Ngài đã rách vì roi đòn. Ngài kiệt sức. Ngài ngã xuống. Hãy chú ý điều này: Ngài ngã. Con đừng sợ việc mình ngã. Hãy sợ việc nằm luôn. Trong cuộc chiến thiêng liêng, có những người tuyệt vọng chỉ vì đã ngã nhiều lần. Họ nghĩ: “Tôi đã quyết tâm bao lần mà vẫn vậy. Tôi cầu nguyện bao lần mà vẫn nóng giận. Tôi xưng tội bao lần mà vẫn yếu đuối. Có lẽ tôi không thể nên tốt hơn.” Hãy nhìn Chúa ngã trên đường. Ngã không phải là kết thúc. Ngã có thể trở thành một phần của hành trình nếu con đứng lên với Chúa. Có khi chính việc con phải chiến đấu đi chiến đấu lại với cùng một điểm yếu làm con khiêm nhường hơn nhiều so với nếu Chúa cho con thắng ngay. Nếu con thắng quá dễ, con có thể bắt đầu tin rằng mình mạnh. Nhưng khi phải ngã rồi đứng, ngã rồi đứng, con học được rằng mọi sức mạnh đều đến từ Chúa. Đừng yêu tội lỗi của con. Đừng thỏa hiệp với yếu đuối. Nhưng cũng đừng dùng những lần sa ngã để kết án mình đến tuyệt vọng. Hãy đứng dậy. Mỗi lần đứng lên là một lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, con còn tin vào lòng thương xót Chúa hơn là tin vào sự yếu đuối của con.”
Trên đường Thánh Giá, Chúa gặp Đức Maria. Hãy dừng lại ở cái nhìn ấy. Một người Mẹ không thể làm gì để cất Thánh Giá khỏi vai Con. Một người Con không thể ngừng lại để làm cho Mẹ khỏi đau. Nhưng hai trái tim gặp nhau trong sự vâng phục. Có những đau khổ trong đời con cũng như vậy: con không sửa được, không thay đổi được, không giải quyết được. Con chỉ có thể yêu trong đó. Đây là điều rất khó cho con người hiện đại, vì chúng ta quen nghĩ mọi vấn đề đều phải có giải pháp. Nhưng trong đời thiêng liêng, có những thập giá không có “giải pháp” theo nghĩa loại bỏ nó. Chỉ có một cách là đi qua nó với Chúa. Có những hoàn cảnh gia đình con không thể sửa ngay. Có những vết thương không thể biến mất trong một ngày. Có những con người con không thể thay đổi. Có những giới hạn của tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh, sứ vụ mà con phải mang. Nếu con cứ chống lại thực tại mãi, con sẽ mất sức. Hãy học nơi Đức Maria đứng bên đường: có lúc tình yêu không lấy thập giá đi, nhưng làm cho người vác thập giá không còn cô độc.
Hãy nhìn ông Simon thành Kyrênê. Ông không tình nguyện từ đầu. Người ta bắt ông vác. Đây là một chi tiết rất gần với đời con. Nhiều thập giá của con không phải con chọn. Con không chọn người khó sống bên cạnh. Con không chọn bị hiểu lầm. Con không chọn bệnh tật. Con không chọn một số thất bại. Con không chọn những biến cố làm đảo lộn kế hoạch. Chính vì không chọn nên con càng thấy khó chịu. Nhưng Simon bước vào cuộc Thương Khó từ một điều ông không chọn, và điều bị ép buộc ban đầu trở thành một vinh dự. Hỡi linh hồn, biết bao điều con đang gọi là “phiền phức” có thể trở thành nơi con gặp Chúa. Một người làm gián đoạn công việc của con. Một cú điện thoại đến lúc con đang mệt. Một người cần con khi con muốn nghỉ. Một việc không nằm trong kế hoạch. Con có thể bực bội và bỏ mất cơ hội, hoặc có thể nói: “Đây là đoạn Thánh Giá tôi không chọn, nhưng Chúa đang mời tôi vác với Ngài.” Không phải mọi sự gián đoạn đều là ý Chúa; con vẫn phải biết phân định và giữ trật tự. Nhưng rất nhiều thập giá hàng ngày đến dưới hình thức những điều không theo ý con. Chính ở đó cuộc chiến chống ý riêng diễn ra.
Rồi đến Núi Sọ. Hãy chậm lại. Đừng vội bước qua việc Chúa bị đóng đinh. Đôi tay đã làm biết bao điều tốt lành giờ đây bị xuyên thủng. Đôi chân đã đi tìm chiên lạc giờ bị cố định vào gỗ. Chúa không còn có thể “làm” gì theo cách chúng ta thường nghĩ. Ba năm rao giảng, chữa lành, giảng dạy, đi lại; và bây giờ Ngài nằm bất động. Nhưng chính lúc bề ngoài Ngài không còn làm gì, Ngài đang thực hiện công trình lớn nhất: tự hiến chính mình. Đây là bài học lớn cho những linh hồn đồng hóa giá trị của mình với việc mình làm. Con nghĩ mình có giá trị khi còn hữu dụng. Con thấy mình quan trọng khi còn có nhiều việc. Con bất an khi không được làm theo khả năng. Con sợ tuổi già, bệnh tật, những thời gian bất động, vì cảm thấy mình trở nên vô ích. Hãy nhìn Chúa bị đóng đinh. Giá trị của đời con không hệ tại số việc con hoàn thành, nhưng hệ tại mức độ con thuộc về Chúa và trao mình cho Ngài. Có những giờ con làm được nhiều cho Chúa; có những giờ con chỉ có thể chịu đựng với Chúa. Cả hai đều có thể trở thành tình yêu. Một linh hồn nằm trên giường bệnh, không làm được gì ngoài việc dâng sự đau đớn với Chúa Kitô, có thể đang sinh hoa trái sâu xa hơn một người hoạt động không ngừng nhưng đầy tự ái. Điều quyết định không phải hoạt động hay bất động, nhưng là sự kết hợp với Chúa.
Hãy nghe những lời Chúa nói trên Thánh Giá. “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Trong cơn đau, Ngài nghĩ đến kẻ khác. “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng.” Trong lúc chính mình đang chết, Ngài vẫn cứu một người. “Thưa Bà, đây là con Bà.” Trong cảnh khốn cùng, Ngài vẫn trao ban. “Tôi khát.” Ngài khát không chỉ nước, nhưng khát tình yêu của con người, khát linh hồn, khát câu trả lời của con. “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Ngài đi vào tận cùng kinh nghiệm tối tăm của con người. “Mọi sự đã hoàn tất.” Không phải tiếng của một người thất bại, nhưng của Đấng đã yêu đến cùng. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đây là kết luận của tất cả: phó thác. Hỡi linh hồn, cuộc chiến thiêng liêng của con cuối cùng cũng phải đưa đến nơi ấy. Từ việc muốn kiểm soát mọi sự đến chỗ trao mọi sự vào tay Chúa Cha. Từ việc nắm giữ mình đến chỗ phó mình. Từ việc đòi hiểu đến chỗ tin. Từ việc đòi được an ủi đến chỗ yêu ngay cả khi không được an ủi. Từ việc sống cho mình đến chỗ hiến mình.
Có một điều con cần học khi suy niệm Thánh Giá: đừng chỉ nhìn những kẻ đóng đinh Chúa như những con người xấu xa xa lạ. Hãy nhận ra mầm mống của những điều ấy trong chính mình. Giuđa ở đâu? Có thể Giuđa xuất hiện mỗi lần con đổi tình yêu lấy một lợi ích nhỏ. Phêrô chối Chúa ở đâu? Có thể ở những lúc con im lặng vì sợ mất mặt dù biết mình phải làm chứng cho điều đúng. Đám đông la “Đóng đinh nó đi!” ở đâu? Có thể ở lúc con để mình bị cuốn theo dư luận và nói những điều làm tổn thương người vắng mặt. Philatô ở đâu? Có thể ở lúc con biết điều đúng nhưng không đủ can đảm làm vì sợ hậu quả. Những người lính nhạo báng ở đâu? Có thể ở những lời châm biếm con nói về người yếu hơn mình. Người môn đệ bỏ chạy ở đâu? Có thể ở những lúc con rút lui khỏi bổn phận khi theo Chúa bắt đầu đòi giá. Nếu con suy niệm cuộc Thương Khó mà chỉ phẫn nộ với những con người trong câu chuyện, con chưa đi đủ sâu. Hãy để Thánh Giá soi vào con. Không phải để nghiền nát con bằng mặc cảm, nhưng để con nhận ra mình cũng cần được cứu. Một trong những hoa trái đẹp nhất của việc suy niệm cuộc Thương Khó là lòng khiêm nhường không cay đắng. Con không còn ngạc nhiên quá mức về sự yếu đuối của mình. Con cũng không khinh người khác vì tội của họ. Con biết tất cả đều đứng dưới chân Thánh Giá như những người cần lòng thương xót.
Và cũng chính ở dưới chân Thánh Giá, con sẽ học lòng thương xót. Một linh hồn thường xuyên nhìn Chúa chịu đóng đinh mà vẫn tàn nhẫn với người khác thì chưa thật sự nhìn. Vì khi con hiểu rằng Chúa đã đổ máu cho người đang làm con khó chịu, cách con nhìn người ấy sẽ thay đổi. Người con ghét cũng là người Chúa chết cho. Người con cho là phiền phức cũng là người Chúa yêu. Người đã làm con tổn thương cũng là người được máu Chúa chạm tới. Điều này không có nghĩa là con phải gọi điều sai là đúng, phải bỏ mọi ranh giới, hay dung túng sự bất công. Không. Chúa trên Thánh Giá tha thứ nhưng không gọi tội lỗi là tốt. Lòng thương xót không phá hủy sự thật; nó giải thoát con khỏi sự độc ác trong cách giữ sự thật. Con có thể nói “không” mà không ghét. Con có thể giữ khoảng cách mà không trả thù. Con có thể sửa lỗi mà không làm nhục. Con có thể bảo vệ người yếu mà không nuôi hận thù. Đó là cách Thánh Giá làm mềm trái tim mà không làm yếu lương tâm.
Một hoa trái khác của việc suy niệm cuộc Thương Khó là con dần thôi sợ thập giá. Không phải con bắt đầu thích đau khổ vì chính đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta tôn thờ Thiên Chúa là tình yêu. Nhưng vì tình yêu trong thế giới bị thương tích này thường phải đi qua từ bỏ, nên ai sợ mọi đau khổ sẽ không thể yêu sâu. Người muốn tránh tất cả tổn thương sẽ tránh luôn những hy sinh cần thiết của tình yêu. Một người cha người mẹ yêu con phải chịu nhiều vất vả. Một người trung thành với ơn gọi phải chấp nhận những ngày khô khan. Một người tha thứ phải chịu cái đau của việc không trả thù. Một người sống trong sạch phải chấp nhận từ chối những khoái cảm sai trật. Một người trung thực có thể phải chịu thiệt. Một người theo Chúa có những lúc phải đứng một mình. Thánh Giá dạy con rằng đau không đồng nghĩa với sai đường. Có khi con đang đau chính vì con đang từ bỏ điều sai để trung thành với điều đúng. Ma quỷ thường lợi dụng đau khổ để nói với con: “Nếu Chúa yêu mày, sao lại để chuyện này xảy ra?” Hãy nhìn lên Thánh Giá. Không ai được Chúa Cha yêu hơn Người Con Một, nhưng Người Con ấy đi qua Thánh Giá. Vì thế, đau khổ tự nó không chứng minh rằng Chúa đã bỏ con. Nhiều khi chính trong đau khổ, Thiên Chúa đang ở gần con một cách sâu xa mà cảm giác không nhận ra.
Hỡi linh hồn, cũng hãy học điều này: khi bị cám dỗ, đừng tranh luận quá lâu với cám dỗ. Có những cám dỗ càng phân tích càng mạnh. Khi một tư tưởng bất khiết xuất hiện, khi một cơn nóng giận bùng lên, khi sự tự ái bị thương, khi ý muốn bỏ cuộc đến, con hãy lập tức đưa mắt tâm hồn về Chúa chịu đóng đinh. Không phải như một kỹ thuật tâm lý, nhưng như một hành vi đức tin. Hãy nói ngắn: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin cứu con.” Hoặc: “Lạy Chúa, con chọn Chúa.” Hoặc chỉ đơn giản: “Giêsu của con.” Rồi làm hành động trái ngược với cám dỗ. Nếu cám dỗ muốn con nói lời nóng giận, hãy im lặng. Nếu muốn con nhìn điều không nên nhìn, hãy quay mắt đi. Nếu muốn con bỏ cầu nguyện, hãy ở lại thêm năm phút. Nếu muốn con nghĩ mãi về sự xúc phạm, hãy cầu nguyện cho người ấy. Chính lúc ấy con đang bước vào cuộc Thương Khó, không còn bằng tưởng tượng nhưng bằng cuộc đời.
Con cũng phải tập mang cuộc Thương Khó vào những chuyện rất nhỏ. Đừng chờ một biến cố lớn. Chính những thập giá nhỏ là nơi con được huấn luyện. Một cánh cửa đóng mạnh. Một người trả lời cộc lốc. Một bữa ăn không hợp ý. Một cuộc hẹn bị thay đổi. Một công việc phải làm lại. Một món đồ hư. Một đêm khó ngủ. Một người nói chuyện dài lúc con đang bận. Một lời góp ý làm con khó chịu. Những điều ấy quá nhỏ để gọi là “đau khổ lớn”, nhưng chúng chính là những mũi kim làm lộ cái tôi. Nếu con không tập kết hợp những điều nhỏ với Thánh Giá, khi thập giá lớn đến con sẽ rất khó đứng. Hãy biến từng sự trái ý thành một lời nguyện: “Lạy Chúa, con nhận điều này với Chúa.” Không cần làm bộ nghiêm trọng. Không cần kể cho ai biết. Chỉ cần trong lòng dâng lên. Và rồi con sẽ thấy một điều kỳ diệu: điều làm con bực không còn hoàn toàn vô nghĩa nữa. Nó trở thành vật liệu cho tình yêu.
Mỗi ngày, con nên dành một khoảng thời gian thật sự để ở trước cuộc Thương Khó. Mười phút cũng được, mười lăm phút càng tốt, nếu có thể lâu hơn thì càng quý. Nhưng đừng đo sự tốt của giờ suy niệm bằng thời gian. Điều quan trọng là sự trung thành và chiều sâu. Hãy chọn một cảnh. Đừng mỗi ngày cố suy hết cả cuộc Thương Khó. Hôm nay chỉ ở Vườn Cây Dầu. Ngày mai chỉ nhìn Chúa bị đánh đòn. Ngày kia chỉ ở lại với mão gai. Một ngày khác chỉ đứng dưới chân Thánh Giá. Hãy đọc một đoạn Tin Mừng ngắn, rồi nhắm mắt nếu điều ấy giúp con tập trung. Hãy tưởng tượng mình ở đó, nhưng đừng quá bận dựng khung cảnh đến mức quên Chúa. Mục tiêu không phải là tạo một bộ phim trong đầu. Mục tiêu là gặp Ngài. Hãy nhìn Ngài. Hãy để Ngài nhìn con. Có khi con không cần nói gì. Chỉ ở đó. Nếu lòng khô khan, vẫn ở. Nếu không cảm thấy gì, vẫn ở. Nếu trí lo ra, nhẹ nhàng quay về. Tình yêu không chỉ được chứng minh bằng cảm xúc; tình yêu được chứng minh bằng việc ở lại. Có những giờ cầu nguyện quý nhất chính là những giờ con không cảm thấy gì nhưng vẫn trung thành ngồi trước Chúa.
Con có thể đặt những câu hỏi rất đơn sơ: “Lạy Chúa, Chúa muốn con thấy điều gì ở đây? Điều gì trong con đang chống lại cách Chúa sống? Con đang bám vào điều gì? Con đang sợ mất điều gì? Con cần tha thứ cho ai? Con cần buông điều gì? Con cần chấp nhận thập giá nào?” Rồi đừng vội tự trả lời. Hãy để sự thinh lặng làm việc. Nhiều khi câu trả lời đến không phải như một tiếng nói, nhưng như một sự nhận ra rất nhẹ mà rất thật. “Tôi quá cần được công nhận.” “Tôi đang oán người này.” “Tôi vẫn muốn mọi sự theo ý mình.” “Tôi sợ đau nên cứ né bổn phận.” Hãy nhận ra mà không chạy trốn. Rồi đặt điều ấy trước Chúa: “Lạy Chúa, đây là con. Xin cứu con.” Cuộc Thương Khó không phải nơi con phải trình bày mình tốt đẹp. Chính vì con yếu mà con đến.
Mỗi tối trước khi ngủ, con cũng có thể đem ngày sống đặt dưới chân Thánh Giá. Hãy nhìn lại: hôm nay con đã bị đóng đinh ở đâu? Có một sự trái ý nào? Một lời làm con đau? Một cơn mệt? Một thất bại? Hãy dâng nó. Rồi hỏi: hôm nay con đã đóng đinh người khác ở đâu? Có lời nào của con làm đau? Có thái độ lạnh lùng? Có một sự xét đoán? Có một sự ích kỷ? Hãy xin lỗi. Rồi nhìn lên Chúa và để cho ngày của con kết thúc trong lòng thương xót, không phải trong tự kết án. Đừng mang sự thất bại vào giấc ngủ như một bản án. Hãy mang nó vào vết thương cạnh sườn Chúa. Một ngày đã qua, con không thể làm lại. Nhưng con có thể dâng tất cả để Chúa thanh luyện và biến đổi.
Hãy siêng năng nhìn Thánh Giá. Trong phòng con, trên bàn làm việc, nơi con cầu nguyện, nếu có một Thánh Giá, đừng để nó trở thành một đồ vật quá quen đến mức mắt nhìn mà lòng không thấy. Thỉnh thoảng dừng lại vài giây. Nhìn đôi tay bị đóng đinh. Nhìn cạnh sườn bị đâm. Và nhớ: “Ngài đã yêu tôi như thế.” Con không cần lúc nào cũng có những lời nguyện dài. Một cái nhìn có đức tin cũng có thể là cầu nguyện. Các thánh nhiều khi chỉ nhìn Thánh Giá và đã đủ để trở lại bình an. Không phải vì gỗ hay hình tượng có sức ma thuật, nhưng vì dấu chỉ ấy đưa lòng họ đến với Đấng đã chết và sống lại vì họ.
Càng trung thành với cuộc Thương Khó, con sẽ dần thấy một thay đổi rất sâu: con bớt bị ám ảnh bởi chính mình. Đây là một hoa trái rất lớn. Nhiều vấn đề thiêng liêng của chúng ta phát sinh vì chúng ta nhìn mình quá nhiều. Tôi tiến bộ chưa? Tôi thánh thiện chưa? Tôi cầu nguyện tốt chưa? Tôi có được người ta quý không? Tôi thất bại ra sao? Tôi có cảm nghiệm gì? Mọi sự quay quanh “tôi”. Ngay cả việc nên thánh cũng có thể trở thành một dự án của cái tôi. Nhưng khi con nhìn Thánh Giá, trọng tâm dịch chuyển. Không còn là “tôi làm được gì”, nhưng là “Ngài đã yêu tôi thế nào”. Không còn là “tôi phải trở thành một người đáng ngưỡng mộ”, nhưng là “tôi muốn đáp lại tình yêu ấy”. Sự thay đổi ấy vô cùng quan trọng. Từ đó việc chiến đấu bớt căng cứng. Con không còn cố làm mình hoàn hảo để hài lòng với bản thân, nhưng chiến đấu vì con yêu Chúa. Khi động lực thay đổi, cuộc chiến thay đổi.
Sự tự ái sẽ suy yếu. Không phải biến mất ngay, nhưng bị soi sáng. Con sẽ nhận ra nhanh hơn mỗi khi nó xuất hiện. Một lời người ta nói làm con khó chịu, và con chợt nhớ Chúa bị nhạo báng. Một việc không được công nhận, và con nhớ Chúa sống ba mươi năm ẩn dật. Một sự bất công xảy đến, và con nhớ Chúa bị kết án oan. Thánh Giá bắt đầu trở thành phản xạ thiêng liêng. Đó là dấu hiệu rất đẹp. Con không còn phải mất nhiều giờ vật lộn với cái tôi trước khi nhớ đến Chúa; dần dần, vừa bị thương là con chạy đến Ngài.
Lòng thương xót cũng lớn lên. Con bớt khắt khe với yếu đuối người khác bởi vì con biết chính mình sống được là nhờ lòng thương xót. Con bắt đầu thấy đằng sau sự khó chịu của người khác có thể là một vết thương. Con không dễ kết luận về một linh hồn chỉ từ một hành động. Con vẫn phân định đúng sai, nhưng lòng con bớt độc. Đó là hoa trái của máu Chúa. Người thật sự sống dưới chân Thánh Giá thường không còn thích kết án. Họ biết giá của một linh hồn là gì.
Sự sợ đau khổ cũng giảm dần. Con vẫn không thích đau, nhưng không còn hoảng hốt trước mọi sự khó. Con hiểu rằng có những thập giá được Chúa dùng để giải thoát con khỏi những xiềng xích mà chính con không biết. Một người không còn khen con có thể giải thoát con khỏi nhu cầu được khen. Một thất bại có thể phá sự tự tin kiêu ngạo. Một giới hạn sức khỏe có thể dạy con biết tùy thuộc. Một thời gian khô khan có thể thanh luyện việc cầu nguyện khỏi nhu cầu cảm xúc. Con bắt đầu nhìn đau khổ không chỉ bằng câu hỏi: “Làm sao hết nhanh nhất?”, nhưng còn bằng câu hỏi: “Chúa muốn làm gì trong con qua điều này?” Câu hỏi ấy không loại trừ việc con tìm giải pháp, chữa trị, bảo vệ mình hay sửa bất công khi cần. Nhưng nó mở ra một chiều kích siêu nhiên mà trước đó con không thấy.
Đức tin và đức cậy cũng được củng cố. Mỗi khi nghi ngờ tình yêu Chúa, con nhìn Thánh Giá. Có thể con không hiểu tại sao Chúa cho phép một biến cố. Có thể lời cầu xin của con chưa được đáp theo cách con muốn. Có thể tâm hồn khô khan. Nhưng Thánh Giá đứng đó như một bằng chứng không thể chối cãi: Thiên Chúa đã không giữ lại chính Con của Ngài. Chúa Giêsu đã không yêu con bằng lời nói suông. Ngài đã yêu đến đổ máu. Con có thể không hiểu đường Ngài dẫn, nhưng không thể nói rằng Ngài không yêu. Hãy bám vào điều ấy trong những giờ tối. Đức cậy không phải cảm giác rằng mọi chuyện sẽ diễn ra theo ý con. Đức cậy là tin rằng ngay cả khi mọi chuyện không theo ý con, con vẫn nằm trong tay Đấng đã yêu con đến cùng.
Ý chí của con cũng sẽ mạnh lên. Không phải bằng sự căng sức, nhưng bằng tình yêu. Một người có thể chịu rất nhiều vì người mình yêu. Khi tình yêu lớn, hy sinh bớt nặng. Nếu con chỉ chiến đấu với tội bằng sợ hãi, con sẽ mau mệt. Nếu con chỉ kiêng điều xấu vì sợ hình phạt, cuộc chiến sẽ luôn mang mùi cưỡng bách. Nhưng khi con nhìn Chúa chịu đóng đinh và nói: “Ngài đã yêu tôi thế này, tôi không muốn làm điều xúc phạm đến Ngài”, ý chí được một sức mạnh khác nâng lên. Đó là sức mạnh của tình yêu. Không phải tình yêu cảm tính, nhưng tình yêu muốn đáp lại tình yêu.
Hỡi linh hồn, có một nguy hiểm khác: đừng sử dụng cuộc Thương Khó để nuôi một thứ đạo đức u buồn, tối tăm và khép kín. Thánh Giá không kết thúc ở mồ. Đấng chịu đóng đinh là Đấng Phục Sinh. Suy niệm cuộc Thương Khó đúng nghĩa không làm con trở nên bi quan; nó làm con có hy vọng sâu hơn. Vì con biết không thập giá nào là lời cuối cùng đối với người ở trong Chúa Kitô. Thứ Sáu Tuần Thánh dẫn đến Chúa Nhật Phục Sinh. Mỗi lần cái tôi chết đi, một phần sự sống mới có thể mọc lên. Mỗi lần con từ bỏ ý riêng vì tình yêu, Đức Kitô lớn lên trong con. Mỗi lần con chịu một điều trái ý mà không trả đũa, sự tự do lớn lên. Mỗi lần con kiên trì trong khô khan, đức tin được thanh luyện. Thánh Giá không phải sự tôn vinh thất bại; Thánh Giá là con đường nghịch lý của chiến thắng.
Vì thế, đừng chỉ đeo Thánh Giá. Hãy sống dưới Thánh Giá. Đừng chỉ hôn Thánh Giá trong phụng vụ. Hãy để Thánh Giá chạm vào những lựa chọn của con. Đừng chỉ nói “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con yêu mến Chúa” rồi ngay sau đó nhất định không chịu chết một chút cho ý riêng. Tình yêu phải đi vào đời sống. Khi Chúa mời con im lặng thay vì cãi, đó là một cây đinh nhỏ. Khi Chúa mời con tha thứ thay vì giữ hận, đó là một cây đinh nhỏ. Khi Chúa mời con từ bỏ cái nhìn không trong sạch, đó là một cây đinh nhỏ. Khi Chúa mời con làm bổn phận lúc không có hứng, đó là một cây đinh nhỏ. Khi Chúa mời con nhận lỗi thay vì bào chữa, đó là một cây đinh rất đau đối với tự ái. Đừng sợ. Những cây đinh ấy không giết con người thật của con; chúng giết những gì đang giam giữ con. Cái bị đóng đinh là con người cũ. Cái được sinh ra là sự tự do của con cái Thiên Chúa.
Thánh Phaolô nói: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Đây không phải là một câu thơ đẹp để treo tường. Đây là chương trình của cả cuộc đời thiêng liêng. “Không còn phải là tôi” không có nghĩa cá tính của con biến mất, không có nghĩa con trở thành một con người thụ động, không ý chí, không bản sắc. Nó có nghĩa cái “tôi” tự trị, cái tôi muốn làm trung tâm, cái tôi muốn mọi sự phục vụ mình, dần dần bị đóng đinh. Và “Đức Kitô sống trong tôi” nghĩa là cách Ngài yêu bắt đầu trở thành cách con yêu; sự hiền lành của Ngài đi vào phản ứng của con; sự vâng phục của Ngài đi vào lựa chọn của con; sự trong sạch của Ngài đi vào ánh mắt của con; lòng thương xót của Ngài đi vào cách con đối xử với người khác; sự phó thác của Ngài đi vào những giờ tối của con.
Đó mới là mục tiêu cuối cùng của việc suy niệm cuộc Thương Khó: không phải để con biết thêm về những gì Chúa đã chịu, nhưng để cuộc Thương Khó được tiếp tục sinh hoa trái trong chính đời con. Không phải để con đứng bên ngoài nhìn Chúa vác Thánh Giá, nhưng để con bước vào mà vác với Ngài. Không phải để con thương hại Ngài, nhưng để con cho phép tình yêu của Ngài thay đổi con. Không phải để con chỉ khóc dưới chân Thánh Giá, nhưng để sau khi khóc, con đứng dậy và sống khác.
Vậy hỡi linh hồn đang chiến đấu, từ hôm nay đừng bao giờ bước vào một trận chiến mà quên Chúa chịu đóng đinh. Khi tự ái nổi lên, hãy đến với mão gai. Khi nóng giận nổi lên, hãy đến với Chúa thinh lặng trước người xét xử. Khi thân xác đòi được nuông chiều, hãy đến với Chúa bị đánh đòn. Khi lười biếng làm con muốn bỏ cuộc, hãy đến với Chúa đang đứng lên sau những lần ngã trên đường lên Núi Sọ. Khi bất khiết tấn công, hãy nhìn thân thể cực thánh hoàn toàn hiến dâng trong sự trong sạch. Khi chán nản nói rằng mọi cố gắng vô ích, hãy nghe tiếng “Mọi sự đã hoàn tất.” Khi cảm thấy bị bỏ rơi, hãy đứng cạnh Chúa trong tiếng kêu tối tăm nhất của Ngài. Khi không còn biết cầu nguyện thế nào, hãy nói cùng Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Và khi đã quá mệt để nói nhiều, chỉ cần nhìn lên.
Nhìn lên Đấng bị đâm thâu.
Nhìn lên hai cánh tay vẫn đang mở.
Nhìn lên trái tim đã không giữ lại gì.
Và nói thật chậm trong lòng: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu con đến thế. Xin đừng để con sống cho mình nữa. Xin đóng đinh trong con điều gì không thuộc về Chúa. Xin làm cho sự tự ái chết đi, ý riêng chết đi, sự nóng giận chết đi, sự bất khiết chết đi, lòng ham được công nhận chết đi, sự sợ hãi chết đi. Xin để chỉ còn lại điều Chúa muốn. Con không xin một đời không có thập giá. Con chỉ xin đừng bao giờ phải vác thập giá mà không có Chúa. Con không xin khỏi mọi chiến đấu. Con xin được chiến đấu trong sức mạnh của Chúa. Con không xin khỏi mọi lần ngã. Con xin mỗi lần ngã biết đứng lên và chạy về với lòng thương xót. Con không xin hiểu hết mọi điều Chúa làm. Con xin đủ đức tin để ở lại với Chúa khi con không hiểu.”
Hỡi linh hồn, nếu con trung thành sống như thế, Thánh Giá dần dần sẽ thôi là một vật ở bên ngoài con. Nó sẽ trở thành hình thức của đời con. Không phải theo nghĩa con luôn sống trong u buồn, nhưng theo nghĩa tình yêu tự hiến của Chúa trở thành khuôn mẫu cho mọi sự. Khi ấy, con sẽ bắt đầu hiểu tại sao các thánh có thể hôn thập giá, tại sao họ có thể bình an trong thử thách, tại sao những linh hồn kết hợp sâu với Chúa lại có một sức chịu đựng khiến thế gian kinh ngạc. Không phải họ mạnh hơn người khác theo bản tính. Họ đã tìm được nơi để đặt sự yếu đuối của mình. Họ đã đặt nó vào những vết thương của Đức Kitô.
Đừng tìm sức mạnh quá xa.
Sức mạnh của con ở trong Đấng đã để cho mình trở nên yếu đuối trên Thánh Giá vì con.
Đừng tìm chiến thắng theo kiểu thế gian.
Chiến thắng lớn nhất đã xuất hiện dưới hình thức của một Người bị đóng đinh.
Đừng sợ khi cái tôi của con đau.
Có thể đó chính là lúc một xiềng xích đang bị bẻ gãy.
Đừng sợ khi phải chết đi một chút mỗi ngày.
Hạt lúa có chết đi mới sinh nhiều bông hạt.
Và đừng bao giờ quên rằng cuộc Thương Khó không phải câu chuyện của một Thiên Chúa yêu đau khổ, nhưng là câu chuyện của một Thiên Chúa yêu con người đến mức sẵn sàng đi qua đau khổ để tìm lại con người.
Vì thế, hãy để cuộc Thương Khó trở thành nơi con trở về mỗi ngày. Khi vui, hãy trở về để biết ơn. Khi buồn, hãy trở về để được an ủi. Khi bị cám dỗ, hãy trở về để được mạnh sức. Khi sa ngã, hãy trở về để được thứ tha. Khi kiêu ngạo, hãy trở về để được hạ xuống. Khi tuyệt vọng, hãy trở về để thấy tình yêu vẫn đang mở hai tay. Khi không biết mình phải làm gì, hãy nhìn Chúa chịu đóng đinh và hỏi: “Tình yêu sẽ làm gì trong hoàn cảnh này?”
Rồi hãy làm điều ấy.
Đó là cuộc chiến.
Đó là con đường.
Đó là sự biến đổi.
Và rồi từng ngày, rất chậm, rất âm thầm, có thể chính con cũng không nhận thấy, lời Thánh Phaolô sẽ bắt đầu thành sự thật nơi con: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.”
Hỡi linh hồn, xin con đừng bao giờ rời mắt khỏi Đấng chịu đóng đinh.
Vì khi con nhìn Ngài đủ lâu bằng đức tin, con sẽ không thể tiếp tục yêu cái tôi của mình như trước.
Khi con nhìn Ngài đủ lâu bằng tình yêu, con sẽ bắt đầu muốn trao mình.
Khi con nhìn Ngài đủ lâu trong những giờ thử thách, con sẽ học cách đứng vững.
Và khi con kết hợp mọi chiến đấu, mọi hy sinh, mọi lần ngã và mọi lần đứng lên với cuộc Thương Khó của Ngài, con sẽ khám phá ra một điều mà chỉ những người thật sự bước vào cuộc chiến mới hiểu:
Con không chiến đấu một mình.
Đấng chịu đóng đinh đang chiến đấu trong con.
Máu của Ngài đang nói mạnh hơn sự yếu đuối của con.
Những vết thương của Ngài sâu hơn mọi vết thương của con.
Lòng thương xót của Ngài lớn hơn mọi sa ngã của con.
Và tình yêu của Ngài mạnh hơn tất cả những gì đang muốn kéo con ra khỏi Thiên Chúa.
Hãy ở lại dưới chân Thánh Giá.
Hãy học cách chết ở đó.
Và con sẽ học cách sống.
Bởi vì chỉ khi con người cũ được đóng đinh với Đức Kitô, con người mới mới có thể lớn lên trong Ngài.
Chỉ khi cái tôi thôi đòi làm trung tâm, Đức Kitô mới thật sự trở thành trung tâm.
Chỉ khi con thôi nắm chặt đời mình, con mới có thể nhận lại nó từ tay Chúa.
Và chỉ khi con dám nói với Đấng chịu đóng đinh: “Lạy Chúa, xin sống trong con”, cuộc chiến thiêng liêng mới không còn chỉ là nỗ lực sửa mình, nhưng trở thành một mầu nhiệm sâu xa hơn rất nhiều:
Đức Kitô đang tiếp tục chiến thắng trong một linh hồn đã chịu để cho Ngài chiếm hữu hoàn toàn.
CHƯƠNG 24
VAI TRÒ CỦA ĐỨC MARIA TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang chiến đấu dưới bóng Thánh Giá, sau khi con đã được mời gọi nhìn lâu vào cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, nhìn vào đôi tay bị đâm thủng, nhìn vào cạnh sườn mở ra, nhìn vào khuôn mặt bị phủ đầy máu và nước mắt, nhìn vào sự vâng phục của Con Thiên Chúa cho đến chết và chết trên Thập Giá, thì con cũng phải nhìn đến một người đang đứng rất gần Thánh Giá ấy, một người không nói nhiều, không làm một cử chỉ ồn ào nào, không tìm cách thoát khỏi đau khổ, không chạy trốn khi tất cả dường như đã sụp đổ, nhưng chỉ đứng đó, trung thành, đau đớn, thinh lặng và hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Người ấy là Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu và cũng là Mẹ của con. Không thể nói về cuộc chiến linh hồn cho trọn vẹn mà bỏ quên Đức Maria. Không thể nói về việc chiến đấu chống lại tội lỗi, chống lại ý riêng, chống lại sự tự ái, chống lại sự sợ hãi, chống lại sự chán nản, chống lại cám dỗ và chống lại mọi thứ đang muốn kéo linh hồn ra khỏi Thiên Chúa mà không nói đến người Mẹ đã đi trọn con đường của đức tin trong một sự nghèo khó nội tâm tuyệt đối. Đức Maria không đứng ngoài cuộc chiến cứu độ như một người quan sát. Mẹ đã bước vào đó từ tiếng “xin vâng” đầu tiên ở Nazareth và đã đi cho đến tận tiếng thở cuối cùng của Con trên đồi Calvê. Mẹ đã chiến đấu không bằng gươm, không bằng quyền lực, không bằng sự khôn ngoan của thế gian, nhưng bằng đức tin, bằng sự vâng phục, bằng sự khiêm nhường, bằng sự thinh lặng, bằng tình yêu và bằng một lòng trung thành không rút lại. Bởi thế, khi linh hồn đang ở giữa trận chiến của mình, khi con thấy mình yếu đuối, thấy lòng mình bị chia đôi, thấy ý chí mình mệt mỏi, thấy những đam mê cũ lại ngóc đầu lên, thấy những cám dỗ tưởng đã qua lại trở về, thấy mình vừa quyết tâm hôm qua mà hôm nay đã sa ngã, thì con đừng chỉ nhìn vào chính mình. Hãy nhìn lên Mẹ. Hãy học lấy cung cách của Mẹ. Hãy chạy đến với Mẹ. Và nhất là hãy nhớ rằng trong gia đình của Thiên Chúa, con không phải là một đứa trẻ mồ côi phải tự mình chiến đấu đến kiệt sức.
Đức Maria là người đầu tiên cho ta thấy thế nào là bất tín nhiệm vào chính mình mà không rơi vào hèn nhát, và thế nào là tín thác vào Thiên Chúa mà không rơi vào thụ động. Khi sứ thần truyền tin, Mẹ không nói: “Tôi hiểu hết rồi, tôi biết mình phải làm gì, tôi đủ khả năng để thực hiện.” Mẹ hỏi vì Mẹ muốn hiểu điều Thiên Chúa muốn, nhưng khi đã nhận ra thánh ý, Mẹ không đòi thêm bảo đảm. Mẹ không xin một bản kế hoạch cho tương lai. Mẹ không hỏi xem Giuse sẽ phản ứng thế nào, dân làng sẽ nói gì, những nguy hiểm nào sẽ xảy ra, cuộc đời mình sẽ bị đảo lộn ra sao. Mẹ chỉ thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Trong một câu ấy có toàn bộ bí quyết của cuộc chiến thiêng liêng. “Này tôi là nữ tỳ của Chúa” là sự từ bỏ quyền sở hữu trên chính đời mình. “Xin Chúa cứ làm cho tôi” là sự trao quyền hành động cho Thiên Chúa. Linh hồn nào còn muốn giữ quyền quyết định tối hậu cho mình thì chưa thật sự phó thác. Linh hồn nào còn nói: “Con theo Chúa, miễn là Chúa đừng chạm đến điều này; con vâng phục, miễn là Chúa đừng dẫn con qua con đường kia; con sẵn sàng, miễn là con vẫn còn giữ được danh dự, sự an toàn, sự dễ chịu, những mối quan hệ, những dự tính và hình ảnh của con” thì vẫn chưa bước vào sự tín thác của Đức Maria. Mẹ không nói một tiếng “xin vâng” trong lúc mọi sự đã rõ ràng. Mẹ nói tiếng “xin vâng” khi phần lớn tương lai còn đang chìm trong bóng tối. Và chính vì vậy tiếng “xin vâng” ấy mạnh mẽ. Đức tin thật không phải là tin khi con đã nhìn thấy kết quả. Đức tin thật là dám trao đời mình cho Thiên Chúa khi chưa thấy gì ngoài lời của Ngài.
Từ Nazareth đến Belem, từ Belem sang Ai Cập, từ Ai Cập trở về Nazareth, từ những năm dài ẩn dật đến những ngày Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng, Đức Maria đã sống cuộc chiến ấy trong từng việc rất nhỏ. Chúng ta dễ tưởng tượng sự thánh thiện của Mẹ chỉ bằng những biến cố phi thường, nhưng có lẽ phần lớn đời Mẹ được dệt nên bởi những ngày bình thường đến mức không ai để ý: nhóm bếp, làm thức ăn, giữ nhà, vá áo, chờ đợi, chịu thiếu thốn, sống giữa những con người bình thường, mang trong lòng một mầu nhiệm không ai hiểu hết. Chính trong những năm âm thầm ấy, ý riêng được hiến dâng từng ngày. Chính trong những năm ấy, Mẹ đã sống một đời sống không tìm mình. Mẹ không cần được người ta biết đến. Mẹ không cần được ca tụng. Mẹ không cần phải chứng minh rằng mình đặc biệt. Mẹ không cần phải kể cho thiên hạ rằng mình đã được sứ thần hiện đến. Mẹ giữ những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Đây là một bài học vô cùng lớn cho linh hồn đang chiến đấu với sự tự ái. Chúng ta thường khổ không phải vì việc quá khó, nhưng vì không ai biết việc mình làm. Chúng ta thường mệt không phải vì hy sinh quá nhiều, nhưng vì hy sinh mà không được nhận ra. Chúng ta thường buồn không phải vì phục vụ, nhưng vì phục vụ mà không được cám ơn. Chính ở đó Mẹ dạy ta chiến đấu. Hãy làm điều phải làm mà không đòi phần thưởng tức thời. Hãy trung tín cả khi không ai thấy. Hãy để Thiên Chúa là Đấng duy nhất biết đủ về con. Nếu còn cần cái nhìn của người đời để duy trì lòng nhiệt thành, con vẫn còn rất yếu. Nếu một lời phê bình có thể làm con từ bỏ việc tốt, con vẫn đang làm việc ấy cho mình nhiều hơn cho Chúa. Đức Maria sống ẩn mình bởi vì Mẹ đã tìm thấy đủ tất cả trong Thiên Chúa.
Rồi đến lúc cuộc chiến trở nên đau đớn hơn. Chúa Giêsu ra đi thi hành sứ vụ. Người ta kéo đến đông đảo. Có người tung hô, có người chống đối. Có lúc đám đông muốn tôn Người lên làm vua, có lúc họ muốn ném đá Người. Mẹ nhìn thấy tất cả. Mẹ nghe những lời người ta nói về Con mình. Mẹ biết những âm mưu đang lớn dần. Và Mẹ không dùng tình mẫu tử theo xác thịt để cản Con khỏi con đường Chúa Cha đã định. Đây là sự từ bỏ rất sâu. Yêu một người không có nghĩa là giữ người ấy lại cho mình. Yêu theo Thiên Chúa đôi khi là phải để người mình yêu bước vào con đường mà mình biết sẽ đau đớn. Đức Maria đã không chiếm hữu Chúa Giêsu. Mẹ đón nhận Người như hồng ân của Chúa Cha và trả Người lại cho Chúa Cha. Cuộc chiến này rất âm thầm, nhưng rất thật. Nhiều người trong chúng ta muốn thuộc về Chúa nhưng vẫn chiếm hữu người khác, chiếm hữu công việc, chiếm hữu danh tiếng, chiếm hữu sứ vụ, chiếm hữu những gì mình yêu. Ta gọi đó là tình yêu, nhưng có khi bên dưới là sự kiểm soát. Mẹ không kiểm soát. Mẹ yêu và buông. Mẹ đồng hành nhưng không ngăn cản. Mẹ hiện diện nhưng không đặt mình ở trung tâm. Đây là một trong những hình thức thanh sạch nhất của tình yêu.
Và rồi Calvê đến. Tất cả những gì Mẹ đã sống trước đó như được gom lại trong một giờ duy nhất. Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng không nói Mẹ ngã quỵ, không nói Mẹ kêu la nguyền rủa, không nói Mẹ chạy đi tìm một lối thoát cho mình. Tin Mừng chỉ nói rằng Mẹ đứng đó. Chỉ một chữ “đứng” thôi cũng đủ để nói rất nhiều về sức mạnh thiêng liêng. Có những lúc chiến thắng không có nghĩa là làm được một điều lớn lao. Có những lúc chiến thắng chỉ là vẫn đứng đó, vẫn tin, vẫn không quay lưng, vẫn không rút lại tiếng xin vâng, vẫn không để đau khổ làm mình phản loạn chống lại Thiên Chúa. Hỡi linh hồn, con có thể đã từng cầu nguyện rất đẹp khi mọi sự bình an. Con có thể đã từng thề hứa với Chúa trong những giờ sốt sắng. Nhưng cuộc chiến thật sự bắt đầu khi những lời cầu nguyện ấy dường như không được đáp lại, khi những gì con yêu bị lấy đi, khi Chúa im lặng, khi một biến cố khiến con không hiểu Chúa đang làm gì, khi con thấy mọi điều từng nâng đỡ mình bị tháo bỏ. Lúc ấy, con sẽ biết lòng tín thác của mình có thật hay không. Đức Maria không hiểu theo cách con người vì sao Đấng mà thiên thần gọi là Con Đấng Tối Cao lại đang chết như một tử tội. Mẹ không cần hiểu mọi sự để tiếp tục tin. Mẹ biết Đấng mình đã tin. Và đôi khi đức tin trưởng thành nhất chỉ còn lại như thế: “Con không hiểu, nhưng con vẫn tin Chúa.” Đó không phải là sự mù quáng. Đó là một sự nhận biết sâu hơn lý trí: Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa ngay cả khi đường lối của Ngài vượt quá khả năng hiểu biết của ta.
Dưới chân Thánh Giá, Mẹ cũng trở thành Mẹ của chúng ta. “Này là con của Bà… Này là Mẹ của con.” Chúa Giêsu không ban Mẹ cho chúng ta trong một bữa tiệc vui, nhưng trong giờ khổ nạn. Không phải ngẫu nhiên. Mẹ được trao cho người môn đệ vào chính lúc bóng tối phủ lấy đất, khi Chúa Giêsu đang hấp hối, khi mọi hy vọng trần thế dường như tan biến. Nghĩa là chức làm Mẹ của Đức Maria gắn liền cách đặc biệt với những giờ phút tối tăm của người môn đệ. Mẹ là Mẹ khi con vui, nhưng cũng là Mẹ khi con thất bại. Mẹ là Mẹ khi con sốt sắng, nhưng cũng là Mẹ khi con khô khan. Mẹ là Mẹ khi con đang đứng vững, nhưng cũng là Mẹ khi con vừa sa ngã. Mẹ không chỉ là Mẹ của những linh hồn đã hoàn thiện. Nếu chỉ những người thánh thiện mới được chạy đến với Mẹ thì phần lớn chúng ta sẽ chẳng bao giờ dám đến. Nhưng chính những người yếu đuối, những người đang bị cám dỗ, những người đang vật lộn với những vết thương cũ, những người chán nản vì đã cố gắng nhiều lần mà vẫn thấy mình yếu, lại càng cần người Mẹ này hơn. Một đứa trẻ sạch sẽ không cần mẹ lau bằng một đứa trẻ vừa ngã xuống bùn. Một đứa trẻ khỏe mạnh không cần được bế bằng một đứa trẻ đang kiệt sức. Bởi vậy, đừng biến lòng sùng kính Đức Maria thành phần thưởng dành cho những người đạo đức. Hãy hiểu đó còn là nơi trú ẩn cho người đang chiến đấu.
Đức Maria bảo vệ linh hồn trước hết bằng cách đưa linh hồn đến gần Chúa Giêsu. Mọi lòng sùng kính chân thật đối với Mẹ đều có một hướng đi duy nhất: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ không giữ ai cho mình. Mẹ không cạnh tranh với Chúa Giêsu. Mẹ không làm lu mờ Con. Càng đến gần Mẹ đúng cách, con càng nghe rõ hơn lời của Chúa Giêsu. Càng yêu Mẹ đúng cách, con càng ghét tội vì tội làm Con Mẹ đau đớn. Càng nương tựa nơi Mẹ, con càng được dẫn vào sự vâng phục. Nếu một lòng đạo đức nào làm con nói nhiều về Mẹ nhưng không làm con trở nên khiêm nhường hơn, trong sạch hơn, vâng phục hơn, yêu Chúa Giêsu hơn, thì lòng đạo đức ấy cần được thanh luyện. Đức Maria không bao giờ dạy con trốn tránh bổn phận. Mẹ không bao giờ che chở sự lười biếng. Mẹ không bao giờ dung dưỡng ý riêng. Người mẹ thật không chỉ vỗ về con khi con đau mà còn dạy con đứng dậy và đi tiếp. Mẹ an ủi, nhưng an ủi để con mạnh lên. Mẹ che chở, nhưng che chở để con tiếp tục chiến đấu. Mẹ nâng dậy, nhưng không nâng con lên để con nằm yên trong sự yếu đuối.
Khi cám dỗ đến, hãy tập chạy đến với Đức Maria ngay từ đầu, không phải sau khi đã đứng trò chuyện với cám dỗ quá lâu. Đây là điều rất quan trọng. Nhiều linh hồn thất bại bởi vì họ tưởng mình có thể đứng gần lửa mà không cháy. Họ để một ý nghĩ ở lại, để một hình ảnh ở lại, để một nỗi bực bội ở lại, để một sự tổn thương ở lại, để một ký ức xấu ở lại. Họ phân tích nó, nếm nó, đối thoại với nó, rồi đến khi ý chí đã yếu mới bắt đầu cầu nguyện. Khi ấy cuộc chiến đã trở nên khó hơn rất nhiều. Đức khôn ngoan thiêng liêng dạy ta cắt đứt ngay từ đầu. Vừa nhận ra cám dỗ, hãy hướng lòng về Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Có khi không cần một kinh dài. Chỉ cần một tiếng gọi: “Mẹ ơi.” Một tiếng ấy nếu được thốt ra với lòng đơn sơ có thể là hành vi khiêm nhường rất sâu. Nó có nghĩa là: “Con không đủ sức.” Nó cũng có nghĩa là: “Con không muốn đứng một mình.” Nó có nghĩa là: “Xin Mẹ đặt con bên Chúa Giêsu.” Trong cuộc chiến chống lại bất khiết, hãy kêu cầu Mẹ là Đấng Vô Nhiễm. Trong cuộc chiến chống lại tự ái, hãy nhớ đến nữ tỳ khiêm hạ của Chúa. Trong cuộc chiến chống nóng giận, hãy nhớ sự hiền lành và thinh lặng của Mẹ. Trong cuộc chiến chống sự trì hoãn, hãy nhớ Mẹ đã “vội vã lên đường” đi thăm bà Êlisabét. Trong cuộc chiến chống chán nản, hãy nhớ Mẹ đứng dưới Thánh Giá mà không bỏ chạy. Trong những giờ không còn cảm thấy gì khi cầu nguyện, hãy nhớ những năm dài Nazareth, nơi Mẹ sống với Chúa trong những việc vô cùng bình thường. Mỗi nhân đức của Mẹ là một lời đáp cho một vết thương của ta.
Hãy phó thác ngày sống cho Đức Maria ngay từ buổi sáng. Đừng đợi đến khi trận chiến xảy ra mới nhớ đến Mẹ. Người lính khôn ngoan chuẩn bị trước khi ra trận. Khi vừa thức dậy, trước khi điện thoại, trước khi công việc, trước khi những tiếng nói của ngày mới tràn vào lòng, hãy đặt mình dưới ánh mắt Mẹ. Có thể con chỉ nói rất đơn sơ: “Lạy Mẹ Maria, hôm nay con thuộc về Chúa. Xin Mẹ giữ con cho Chúa. Xin Mẹ giữ mắt con để con không nhìn điều làm hồn con tối đi; giữ tai con khỏi những điều nuôi dưỡng tò mò và xét đoán; giữ miệng con khỏi lời gây tổn thương; giữ trí tưởng tượng con khỏi lang thang; giữ ký ức con khỏi quay lại những điều đã làm con đau; giữ trái tim con khỏi tìm chính mình; giữ ý chí con để khi biết điều Chúa muốn, con làm ngay.” Một lời phó thác như vậy không miễn cho con khỏi chiến đấu. Trái lại, nó đặt cuộc chiến của con vào một trật tự mới. Con không còn chiến đấu như người chỉ dựa vào sức mình, nhưng như người con đang chiến đấu dưới sự giáo dục của một người Mẹ.
Trong ngày, hãy tập những lời nguyện tắt. Đừng coi thường những tiếng kêu ngắn ngủi. Đôi khi một câu rất ngắn nói lên nhiều hơn một bài cầu nguyện dài mà lòng đã nguội. “Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin cứu giúp con.” “Mẹ Maria, xin giữ lòng con.” “Mẹ ơi, con đang yếu.” “Xin Mẹ đưa con đến với Chúa Giêsu.” “Xin Mẹ đừng để con chiều theo ý riêng.” “Xin Mẹ giúp con im lặng lúc này.” “Xin Mẹ cho con tha thứ.” “Xin Mẹ giúp con đứng dậy.” Hãy biến những lời ấy thành phản xạ của linh hồn. Người ta có những phản xạ tự nhiên: bị xúc phạm thì lập tức phản ứng, bị trái ý thì bực, thấy điều hấp dẫn thì nhìn, bị phê bình thì tự vệ. Đời sống thiêng liêng phải tạo ra những phản xạ mới. Bị xúc phạm, con kêu cầu Chúa và Mẹ trước khi nói. Bị cám dỗ, con hướng lòng lên thay vì để mắt và trí đi theo. Bị chán nản, con chạy đến lòng thương xót thay vì ngồi phân tích sự thất bại của mình. Đó là một cuộc tái giáo dục toàn bộ con người.
Hãy học nơi Mẹ sự thinh lặng nội tâm. Đây là khí giới mà thế giới hôm nay rất thiếu. Linh hồn quá ồn ào thì rất khó chiến đấu. Nó phản ứng trước mọi thứ. Nó muốn nói về mọi thứ. Nó muốn biết mọi thứ. Nó muốn có ý kiến về mọi người. Nó muốn chứng minh mình đúng. Nó bị kích thích bởi những gì nhìn thấy, nghe thấy và đọc thấy. Trong khi đó Đức Maria “ghi nhớ những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Mẹ không phản ứng tức thì. Mẹ để mọi sự đi vào một nơi sâu hơn, nơi Thiên Chúa có thể chiếu sáng. Hỡi linh hồn, nếu muốn chiến thắng sự nóng giận, đừng chỉ học cách nói nhỏ hơn; hãy học im hơn bên trong. Nếu muốn chiến thắng xét đoán, đừng chỉ ngăn miệng; hãy ngăn trí khỏi kết luận quá nhanh. Nếu muốn chiến thắng tự ái, đừng chỉ từ chối lời khen; hãy thôi xây dựng một tòa án trong lòng nơi con luôn phải là người đúng. Đức Maria là trường học của sự thinh lặng vì Mẹ là người để Thiên Chúa có tiếng nói cuối cùng.
Hãy học nơi Mẹ sự mau mắn. Sau Truyền Tin, Mẹ lên đường đi thăm bà Êlisabét. Ân sủng không làm Mẹ co lại trong một niềm vui riêng tư. Ân sủng làm Mẹ lên đường phục vụ. Đó là dấu hiệu của đời sống thiêng liêng thật. Khi Chúa ban ơn cho con, con có trở nên quảng đại hơn không? Hay con chỉ thích cảm giác đạo đức? Có những người thích cầu nguyện vì cầu nguyện đem lại sự dễ chịu, nhưng khi phải giúp người khác thì họ chậm chạp. Có người nói mình yêu Chúa nhưng những việc bổn phận luôn bị trì hoãn. Đức Maria cho thấy lòng mến thật có chân. Nó đi. Nó phục vụ. Nó không chờ điều kiện hoàn hảo. Chống lại lười biếng thiêng liêng, đôi khi phương thuốc rất đơn giản: làm ngay điều tốt đang biết phải làm. Không thương lượng quá lâu với bản thân. Không chờ cảm xúc. Không đợi một ngày mai tưởng tượng. Mẹ đã lên đường. Con cũng hãy lên đường.
Hãy học nơi Mẹ sự nghèo khó. Belem không phải là nơi một người mẹ mong sinh con. Không có chỗ trong quán trọ, không có tiện nghi, không có sự chuẩn bị tương xứng với phẩm giá của Hài Nhi. Nhưng Mẹ không để sự thiếu thốn cướp đi bình an. Đây là bài học cho ta trong cuộc chiến với đòi hỏi. Chúng ta thường đau khổ vì cuộc đời không giống điều mình nghĩ mình đáng được hưởng. Ta cho rằng mình đáng được hiểu, đáng được tôn trọng, đáng được chăm sóc, đáng được thuận lợi, đáng được biết ơn. Và khi không nhận được, lòng ta nổi loạn. Đức Maria không sống bằng chữ “tôi đáng”. Mẹ sống bằng chữ “Chúa ban”. Người biết mọi sự là hồng ân sẽ bớt đòi hỏi. Người bớt đòi hỏi sẽ bớt giận. Người bớt giận sẽ tự do hơn. Người tự do hơn sẽ dễ vâng phục Chúa hơn. Bởi vậy sự nghèo khó của Mẹ không chỉ là thiếu vật chất. Đó là sự nghèo khó sâu trong ý chí: không bắt Thiên Chúa phải đối xử với mình theo một kịch bản do mình viết trước.
Hãy học nơi Mẹ sự trong sạch của tâm hồn. Trong sạch không chỉ là không phạm những tội xác thịt. Trong sạch sâu xa hơn: có một trái tim không bị chia cắt bởi quá nhiều chủ nhân. Trái tim Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa. Còn lòng chúng ta thường bị chia cho danh vọng, tình cảm, sự chú ý của người khác, những thú vui, sự tự mãn, những ký ức, những ham muốn được công nhận. Khi lòng bị chia nhiều phần, linh hồn mất sức mạnh. Nó không còn một hướng đi. Một phần muốn thuộc về Chúa, một phần muốn giữ thế gian; một phần muốn thánh thiện, một phần muốn được nuông chiều; một phần muốn khiêm nhường, một phần lại muốn được người ta kính nể. Đức Maria dạy con gom lòng lại. “Lạy Mẹ, xin làm cho trái tim con đơn sơ. Xin đừng để con có quá nhiều chủ.” Đây là lời cầu nguyện rất cần thiết. Vì cuộc chiến linh hồn cuối cùng luôn là cuộc chiến xem ai sẽ sở hữu trái tim ta.
Hãy học nơi Mẹ sự trung thành trong lúc không hiểu. Có những giai đoạn đời sống thiêng liêng Chúa cho con ánh sáng. Nhưng cũng có những giai đoạn Ngài để con bước trong đêm. Lúc ấy con có thể bắt đầu nghi ngờ tất cả. Con nghĩ mình cầu nguyện sai, sống sai, chọn sai. Có khi Chúa thật sự muốn con phân định lại điều gì đó, nhưng cũng có khi bóng tối chỉ là phần bình thường của một đức tin đang được thanh luyện. Đức Maria đã nghe lời cụ Simêon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Mẹ không biết ngày nào lưỡi gươm ấy đến. Mẹ chỉ giữ lời đó và tiếp tục sống. Hãy học cách giữ những điều con chưa hiểu trong lòng mà không vội biến chúng thành kết luận. Đừng vì một ngày tối mà phủ nhận những gì Chúa đã làm trong nhiều năm. Đừng vì một lần thất bại mà nói mình không thể nên thánh. Đừng vì một lời cầu nguyện khô khan mà nói Chúa đã bỏ con. Hãy để thời gian của Thiên Chúa làm sáng tỏ điều mà hiện tại con chưa thể hiểu.
Đặc biệt, khi sa ngã, hãy chạy đến với Mẹ. Đây là một điểm rất tế nhị. Có những người kính Đức Maria khi mình đang sống tốt, nhưng khi phạm tội lại tránh Mẹ vì xấu hổ. Đó là một sự hiểu lầm. Đứa con dính bùn không chạy khỏi mẹ vì áo mình bẩn. Nó chạy đến mẹ chính vì áo mình bẩn. Đương nhiên, Mẹ không làm thay bí tích Hòa Giải. Mẹ không thay thế lòng thương xót của Chúa Kitô. Mẹ đưa con đến đó. Khi sa ngã, đừng nằm dưới đất quá lâu để khóc cho hình ảnh thánh thiện của mình đã bị vỡ. Hãy thành thật: “Mẹ ơi, con lại ngã. Con đã yếu đuối. Con không muốn bào chữa. Xin Mẹ đưa con đến với Chúa Giêsu. Xin Mẹ giúp con xưng thú thành thật, sửa lại điều có thể sửa, và bắt đầu lại.” Một trong những chiến thắng lớn nhất trong đời sống thiêng liêng là học cách bắt đầu lại mà không mất thời gian cho tự ái bị tổn thương. Có khi điều làm ta đau sau khi phạm tội không hoàn toàn vì đã xúc phạm Chúa, mà còn vì ta thất vọng rằng mình không tốt như ta tưởng. Mẹ dạy ta khiêm nhường hơn: con yếu thì nhận mình yếu. Nhưng đừng ngừng tin vào ơn Chúa.
Đối với người con của Dòng Chúa Cứu Thế, sự hiện diện của Đức Maria mang một nét rất thân thương dưới tước hiệu Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tên gọi ấy tự nó đã là một Tin Mừng cho linh hồn chiến đấu: Hằng Cứu Giúp. Không phải giúp một lần rồi thôi. Không phải chỉ giúp trong những biến cố lớn. Không phải chỉ giúp khi con xứng đáng. Một sự cứu giúp bền bỉ, luôn sẵn đó, không mệt mỏi vì sự nghèo nàn của con. Trong linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp, Hài Nhi Giêsu chạy đến nép vào Mẹ trước dấu chỉ cuộc Khổ Nạn. Đôi bàn tay nhỏ bé của Người nắm lấy tay Mẹ, chiếc dép như sắp tuột khỏi chân, còn Mẹ thì không giữ Con lại cho riêng mình. Mẹ ôm Người, nhưng ánh mắt Mẹ hướng ra phía chúng ta, như muốn nói với mọi linh hồn đang sợ hãi rằng: hãy nhìn xem Con của Mẹ; hãy đến với Người; đừng bỏ chạy vì Thánh Giá. Mẹ không cất Thánh Giá khỏi đời Con. Mẹ ở bên Con trên đường đi qua Thánh Giá. Đó cũng là cách Mẹ cứu giúp chúng ta. Có những lúc ta cầu xin Mẹ lấy một đau khổ đi mà nó vẫn còn. Ta nghĩ Mẹ không nghe. Có thể Mẹ đang giúp theo cách sâu hơn: không lấy Thánh Giá khỏi con, nhưng làm cho con đủ sức ôm lấy nó mà không đánh mất Chúa. Đó mới là sự cứu giúp lớn.
Hãy nhìn lâu vào linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp trong những giờ cám dỗ. Đừng nhìn như nhìn một vật trang trí đạo đức. Hãy nhìn như một đứa con nhìn vào mắt mẹ mình. Có những điều không cần nhiều lời. Một ánh nhìn cầu nguyện đủ để linh hồn nhớ lại mình thuộc về ai. Trong thế giới đầy những hình ảnh lôi kéo các giác quan, linh hồn cũng cần những hình ảnh thánh để tái giáo dục cái nhìn. Nếu mắt con đã quen tìm những gì kích thích, hãy tập để mắt nghỉ lại trên khuôn mặt Chúa chịu đóng đinh, trên ánh mắt Mẹ, trên Nhà Tạm. Giác quan nào đã bị dùng sai phải được chữa bằng cách tập dùng đúng. Nhìn Mẹ không phải là một hành vi tình cảm vô ích. Nó có thể trở thành một hình thức canh giữ giác quan. Mỗi khi một hình ảnh xấu muốn ở lại trong trí, hãy lập tức thay thế nó bằng một hình ảnh thánh. Mỗi khi một ký ức làm lòng con rối lên, hãy nhìn Mẹ và để sự hiện diện của Mẹ đưa trí con trở về nơi bình an.
Tinh thần “Totus Tuus” – tất cả thuộc về Mẹ – nếu được hiểu đúng, không có nghĩa là dừng lại nơi Mẹ, nhưng là trao mình cho Mẹ để được Mẹ đặt hoàn toàn vào tay Chúa Giêsu. Hãy dâng cho Mẹ không chỉ những điều đẹp. Dâng cả những phần con không thích trong mình. Dâng sự yếu đuối, tính nóng, sự nhạy cảm, ký ức, nỗi sợ, nhu cầu được công nhận, những đam mê vẫn còn mạnh, những mối quan hệ khiến lòng con rối, những dự tính con chưa biết phải làm sao. Nhiều người chỉ dâng cho Chúa và Mẹ những bông hoa. Nhưng đôi khi điều Ngài muốn nhất lại là những vết thương. Đừng che giấu phần xấu xí của mình trong đời cầu nguyện. Mẹ biết. Hãy nói thật: “Mẹ ơi, chỗ này trong con chưa thuộc về Chúa. Con còn bám vào nó. Con còn sợ mất nó. Xin Mẹ giúp con trao nó.” Sự thánh thiện không bắt đầu bằng việc giả vờ mình đã hoàn hảo. Nó bắt đầu bằng việc đưa tất cả những gì chưa hoàn hảo ra ánh sáng của ân sủng.
Mỗi tối, hãy cùng Đức Maria nhìn lại ngày sống. Hãy nhớ rằng một người mẹ không chỉ hỏi: “Con đã làm sai gì?” mà còn nhìn xem con đã mệt ở đâu, đã cố gắng thế nào, đã vấp ở chỗ nào. Xét mình với Mẹ sẽ giúp con tránh cả hai cực đoan: dễ dãi với tội và khắc nghiệt với chính mình. Hãy hỏi: hôm nay con đã tìm ý riêng ở đâu? Con đã phản ứng vì tự ái lúc nào? Con đã có lúc nào chiến thắng được một cơn nóng giận dù rất nhỏ? Con đã chạy đến với Chúa khi bị cám dỗ chưa? Con đã trì hoãn điều tốt nào? Con đã xét đoán ai trong lòng? Con đã để mắt mình đi đâu? Con đã dùng lời nói để xây dựng hay làm người khác đau? Rồi đừng chỉ ghi nhận thất bại. Hãy tạ ơn những lần ân sủng đã giúp con. Nếu hôm nay con đã im được một câu đáng lẽ sẽ gây tổn thương, hãy tạ ơn. Nếu con đã quay mắt khỏi điều không nên nhìn, hãy tạ ơn. Nếu con đã đứng dậy nhanh hơn sau một lần ngã, hãy tạ ơn. Nhân đức được xây bằng những chiến thắng nhỏ như thế. Mẹ Maria không khinh những điều nhỏ. Nazareth đã được xây bằng những ngày nhỏ.
Hỡi linh hồn, cũng đừng biến lòng sùng kính Đức Maria thành một cái cớ để tránh trực tiếp đối diện với Chúa. Mẹ luôn muốn con trưởng thành. Người mẹ tốt không muốn con mãi là một đứa trẻ không biết tự bước. Mẹ giúp con để con có thể sống đời con trong Chúa. Bởi thế, yêu Mẹ phải dẫn đến một đời sống bí tích sâu hơn, một lòng yêu mến Thánh Thể mạnh hơn, một sự trung thành với cầu nguyện lớn hơn, một thái độ nghiêm túc hơn với tội lỗi, một đời sống bác ái cụ thể hơn. Nếu con đọc nhiều kinh kính Mẹ nhưng vẫn cố tình nuôi dưỡng một mối thù, Mẹ sẽ dẫn con đến sự tha thứ. Nếu con đeo ảnh Mẹ nhưng không chịu sửa một thói quen tội lỗi, Mẹ sẽ thúc con chiến đấu. Nếu con nói yêu Mẹ mà lòng đầy kiêu căng, Mẹ sẽ dạy con trở thành nữ tỳ. Mẹ không muốn những lời ca tụng chỉ dừng ở môi. Mẹ muốn tạo trong con hình ảnh của Chúa Giêsu.
Có một bí quyết rất đơn sơ cho những lúc linh hồn quá mệt để cầu nguyện: hãy ngồi bên Mẹ. Có khi con không cần cố tìm nhiều ý tưởng. Hãy lần chuỗi chậm, không phải như đọc cho xong, nhưng như đi qua đời Chúa Giêsu bằng tay Mẹ. Mỗi kinh Kính Mừng là một nhịp thở. Mỗi mầu nhiệm là một nơi nghỉ. Khi trí con tán loạn, cứ trở lại. Khi lòng con lạnh, cứ ở đó. Khi chẳng cảm thấy gì, vẫn ở đó. Chuỗi Mân Côi có một sức mạnh đặc biệt đối với linh hồn vì nó đơn sơ và kiên trì. Nó không cần con lúc nào cũng có tư tưởng cao siêu. Nó chỉ cần con trở lại, lặp lại, ở lại. Và đó chính là điều đời sống thiêng liêng cần nhất: kiên trì ở lại với Chúa. Có những trận chiến không thắng bằng một cú đánh lớn, mà bằng việc không rời vị trí. Chuỗi Mân Côi dạy con điều đó.
Hãy nhớ Cana. Khi rượu hết, Đức Maria thấy điều người khác chưa nói ra. “Họ hết rượu rồi.” Mẹ nhận ra sự thiếu thốn. Và Mẹ đưa nó đến với Chúa Giêsu. Đây là hình ảnh đẹp về sự bầu cử của Mẹ. Trong cuộc chiến nội tâm, đôi khi con không biết mình cần gì. Con chỉ thấy lòng mình khô, nặng, mệt, dễ cáu, dễ buông. Mẹ thấy sâu hơn. Hãy để Mẹ nói với Chúa Giêsu về sự nghèo nàn của con. Nhưng cũng hãy nghe lời Mẹ sau đó: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Phép lạ không xảy ra vì những gia nhân đứng nhìn. Họ phải đổ nước vào chum. Mẹ bầu cử, nhưng con phải vâng lời. Đây là sự cộng tác của ân sủng. Đừng xin Mẹ giúp con bỏ một thói xấu rồi vẫn cố tình giữ mọi dịp dẫn đến thói xấu ấy. Đừng xin Mẹ cho con trong sạch rồi vẫn nuôi trí tò mò. Đừng xin Mẹ cho con khiêm nhường rồi vẫn luôn tìm cách được chú ý. Đừng xin Mẹ cho con bình an rồi vẫn giữ những cuộc tranh cãi trong đầu. “Người bảo gì, cứ làm theo.” Có những cái chum con phải tự tay đổ nước vào.
Hãy nhớ Mẹ tại Nhà Tiệc Ly. Sau khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ ở lại cầu nguyện cùng với Mẹ để chờ Chúa Thánh Thần. Mẹ của cuộc chiến cũng là Mẹ của sự kiên trì chờ đợi. Có những ơn không đến ngay. Có những cuộc chiến kéo dài nhiều năm. Có một tính xấu con xin Chúa chữa mãi mà vẫn thấy nó còn đó. Có một vết thương con tưởng đã lành nhưng lâu lâu lại đau. Có một khuynh hướng khiến con luôn phải canh chừng. Đừng vội kết luận rằng Chúa không làm gì. Có khi chính việc con phải chiến đấu lâu dài là trường học làm con khiêm nhường. Nếu Chúa cất hết mọi yếu đuối trong một ngày, có thể con sẽ kiêu ngạo trong ngày hôm sau. Đức Maria dạy con chờ trong cầu nguyện. Chờ không phải là ngồi yên. Chờ là trung tín từng ngày cho đến khi giờ của Chúa đến.
Có khi con sẽ hỏi: tại sao Mẹ không ngăn cho con khỏi mọi cám dỗ? Vì cám dỗ không phải lúc nào cũng là tai họa. Khi chống lại nó, con lớn lên. Một người không bao giờ phải chọn thì chưa có nhân đức vững vàng. Mẹ không nuôi con trong một căn phòng vô trùng thiêng liêng. Mẹ giúp con trưởng thành trong tự do. Hãy nhớ, Đức Maria đầy ân sủng nhưng đời Mẹ không hề không có đau khổ. Ân sủng không biến cuộc đời thành con đường dễ dàng. Ân sủng làm cho linh hồn có sức bước con đường Thiên Chúa muốn. Bởi vậy, đừng đo sự che chở của Mẹ bằng số lượng thử thách bị cất đi. Hãy đo bằng việc qua thử thách ấy con có gần Chúa hơn không, khiêm nhường hơn không, mạnh mẽ hơn không, tự do hơn không.
Và nếu có lúc con cảm thấy mình không xứng đáng gọi Đức Maria là Mẹ, hãy nhớ rằng danh xưng “Mẹ” không dựa trên thành tích của đứa con. Một người con vẫn là con cả khi nó phạm lỗi. Điều nó cần là trở về. Ma quỷ thường dùng tội đã phạm để đẩy linh hồn ra xa những nguồn trợ giúp. Nó nói: “Mày còn mặt mũi nào mà cầu nguyện? Mày vừa phạm tội mà còn cầm tràng hạt sao?” Đừng nghe. Chính lúc ấy hãy cầm tràng hạt. Chính lúc ấy hãy quỳ xuống. Chính lúc ấy hãy đến với bí tích Hòa Giải. Sự xấu hổ tốt dẫn con đến thống hối. Sự xấu hổ độc hại làm con trốn khỏi Thiên Chúa. Đức Maria sẽ luôn dẫn con trở về chứ không dẫn con trốn.
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, đừng bao giờ chiến đấu một mình. Không phải vì con được miễn khỏi trách nhiệm, nhưng vì Thiên Chúa không muốn con sống đời Kitô hữu như một kẻ cô độc. Ngài ban Hội Thánh, ban các bí tích, ban các thánh, và ban cho con một người Mẹ. Hãy để Mẹ dạy con nghệ thuật chiến đấu không ồn ào. Chiến đấu như Mẹ ở Nazareth: bằng sự trung tín trong việc nhỏ. Chiến đấu như Mẹ ở Belem: bằng sự nghèo khó và bình an. Chiến đấu như Mẹ trên đường sang Ai Cập: bằng sự phó thác trong bất định. Chiến đấu như Mẹ ở Cana: bằng sự nhạy bén với nhu cầu và sự tin tưởng nơi Chúa Giêsu. Chiến đấu như Mẹ trong những năm sứ vụ công khai: bằng sự hiện diện không chiếm hữu. Chiến đấu như Mẹ ở Calvê: bằng việc đứng vững khi mọi sự tối tăm. Chiến đấu như Mẹ trong Nhà Tiệc Ly: bằng sự cầu nguyện kiên trì chờ Thánh Thần. Cả đời Mẹ là một trường học cho chiến sĩ của Chúa.
Ngày nào con còn phải chiến đấu, ngày ấy con còn cần Mẹ. Và có lẽ càng đi xa trên đường thiêng liêng con càng hiểu rằng mạnh mẽ không có nghĩa là hết cần trợ giúp. Trái lại, người trưởng thành nhất là người biết mình phải cậy dựa vào ân sủng đến mức nào. Trẻ nhỏ tự ái thường nói: “Con tự làm được.” Người trưởng thành trong Chúa nói: “Không có Chúa, con chẳng làm gì được.” Đức Maria đã sống chân lý ấy trọn vẹn. Chính vì Mẹ không giữ gì cho mình nên Thiên Chúa có thể làm nơi Mẹ những điều lớn lao. “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Mẹ không nói: “Tôi đã làm.” Mẹ nói: “Ngài đã làm.” Đó là bài ca của người đã chiến thắng sự tự ái tận gốc.
Vậy từ hôm nay, khi bắt đầu một ngày, con hãy đặt cuộc chiến của mình trong tay Mẹ. Khi bước vào một công việc khó, hãy xin Mẹ đi cùng. Khi bị hiểu lầm, hãy nhớ sự thinh lặng của Mẹ. Khi bị cám dỗ, hãy gọi Mẹ ngay. Khi sa ngã, hãy để Mẹ nắm tay kéo con về với Chúa Giêsu. Khi thành công, hãy cùng Mẹ hát Magnificat để mọi vinh quang trở về cho Thiên Chúa. Khi đau khổ, hãy đứng bên Mẹ dưới chân Thánh Giá. Khi không biết phải làm gì, hãy nghe lời Mẹ ở Cana: “Người bảo gì, cứ làm theo.” Khi sợ tương lai, hãy trở lại Nazareth và học tiếng “xin vâng”. Khi chán nản vì con đường nên thánh quá dài, hãy nhớ Mẹ đã đi cả đời từng bước một. Không ai sống tiếng “xin vâng” chỉ trong một khoảnh khắc. Mẹ đã nói tiếng ấy trong ngày Truyền Tin, rồi phải lặp lại nó bằng cả cuộc đời. Con cũng vậy. Sự thánh thiện không phải là một lần con nói “con thuộc về Chúa”, mà là hàng ngàn lần mỗi ngày con chọn lại điều ấy.
Và nếu có một ngày trận chiến trở nên rất dữ dội, khi con cảm thấy mình gần như không còn sức, hãy đừng tìm những lời cầu nguyện phức tạp. Hãy trở thành một đứa con. Hãy nhìn lên Mẹ và nói: “Mẹ ơi, con đây.” Có những lời cầu nguyện chỉ có thế. Nhưng nếu được nói từ đáy lòng, nó có thể chứa cả một hành vi phó thác. Rồi hãy để Mẹ đưa con đến dưới chân Thánh Giá. Ở đó con sẽ thấy Chúa Giêsu. Ở đó con sẽ nhớ rằng cuộc chiến cuối cùng đã được Người chiến thắng. Con không chiến đấu để tự tạo lấy ơn cứu độ cho mình. Con chiến đấu trong một chiến thắng đã được Đức Kitô mở ra. Con chỉ cần ở lại trong Người, đứng dậy mỗi lần ngã, từ chối mỗi lần tội gọi, và không bỏ cuộc. Đức Maria đứng bên con để giúp con làm điều ấy đến cùng.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ của con, con xin đặt vào tay Mẹ cuộc chiến âm thầm của linh hồn con. Mẹ biết những nơi con mạnh và cả những nơi con rất yếu. Mẹ biết những vết thương con không nói với ai, những cám dỗ con xấu hổ không muốn nhớ, những thất bại làm con nản lòng, những lần con đã hứa rồi lại không giữ được. Xin Mẹ đừng để con trốn chạy khỏi ánh sáng. Xin Mẹ dạy con khiêm nhường nhận mình yếu mà không tuyệt vọng, tín thác vào Chúa mà không lười biếng, đứng dậy mà không tự bào chữa, và bắt đầu lại mà không chán nản. Xin Mẹ giữ mắt con, giữ lòng con, giữ trí tưởng tượng con, giữ ký ức con, giữ lời nói con, giữ các tương quan của con, giữ những giờ con cô đơn, giữ những lúc con mệt mỏi, giữ những lúc con tưởng mình mạnh. Xin Mẹ đặc biệt giữ con khỏi sự tự ái tinh tế khiến con làm việc cho Chúa mà âm thầm tìm chính mình. Xin làm cho con biết ẩn mình như Mẹ, biết phục vụ như Mẹ, biết thinh lặng như Mẹ, biết lên đường như Mẹ, biết đứng dưới Thánh Giá như Mẹ. Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, khi con bị cám dỗ, xin cứu giúp con; khi con sa ngã, xin nâng con lên; khi con sợ hãi, xin đưa con đến với Chúa Giêsu; khi con chán nản, xin nhắc con rằng lòng thương xót của Chúa lớn hơn mọi yếu đuối của con. Xin Mẹ cầm lấy cuộc chiến của đời con, không phải để chiến đấu thay con, nhưng để dạy con chiến đấu như một người con của Thiên Chúa. Xin Mẹ làm cho đời con trở thành một tiếng “xin vâng” kéo dài cho đến hơi thở cuối cùng. Và khi trận chiến đời này chấm dứt, xin Mẹ ở bên con, đưa con đến trước mặt Chúa Giêsu, để con có thể nói với Người bằng tất cả sự nghèo nàn nhưng cũng bằng tất cả lòng tín thác rằng: “Lạy Chúa, con đã nhiều lần ngã xuống, nhưng nhờ ơn Chúa con đã không bỏ cuộc. Con đã chiến đấu, con đã trở về, và giờ đây con xin phó mình hoàn toàn trong lòng thương xót Chúa.” Amen.
CHƯƠNG 25
BÍ TÍCH THÁNH THỂ VÀ VIỆC RƯỚC LỄ TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, sau khi đã nói đến sự bất tín nhiệm vào chính mình, sự tín thác vào Thiên Chúa, việc canh giữ các giác quan, việc luyện tập ý chí, cuộc chiến chống lại những đam mê, sự cầu nguyện, việc kết hợp với cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu và sự đồng hành từ mẫu của Đức Maria, giờ đây chúng ta phải tiến đến một nơi mà mọi con đường thiêng liêng chân thật đều phải dẫn tới, một nguồn mạch mà nếu không uống nơi đó thì linh hồn sẽ dần khô cạn, một bàn tiệc mà nếu không thường xuyên tìm đến thì người chiến sĩ nội tâm sẽ sớm kiệt sức giữa đường: Bí tích Thánh Thể. Chúng ta phải nói về Thánh Thể không như nói về một việc đạo đức được đặt bên cạnh nhiều việc đạo đức khác, không như nói về một thói quen tốt lành dành cho những người sốt sắng, càng không như nói về một phần trang trí đẹp đẽ trong đời sống Kitô hữu. Thánh Thể là chính Chúa Giêsu Kitô đang ở giữa dân Người. Thánh Thể là Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh, đã chết, đã sống lại và đang sống đời đời, trao ban chính mình cho linh hồn dưới hình bánh và rượu. Thánh Thể là sự hiện diện thực sự của Đấng Cứu Thế. Thánh Thể là của ăn của người lữ hành. Thánh Thể là sức mạnh của người yếu đuối. Thánh Thể là thuốc chữa của người bị thương. Thánh Thể là lửa cho người nguội lạnh. Thánh Thể là ánh sáng cho người đang đi trong đêm. Thánh Thể là sự sống cho người đang cảm thấy cái chết của tội lỗi len lỏi vào lòng mình. Và trong cuộc chiến linh hồn, Thánh Thể còn là chính sự hiện diện của Đấng Chiến Thắng đang đi vào nơi sâu nhất của chiến trường để chiến đấu trong chúng ta, với chúng ta và cho chúng ta.
Có một sai lầm mà nhiều linh hồn đạo đức vẫn vô tình mang theo trong đời sống thiêng liêng: họ nghĩ rằng trước hết mình phải tự chiến đấu cho tốt, tự làm cho mình nên khá hơn, tự sửa được nhiều tật xấu hơn, rồi sau đó mới đến với Chúa trong Thánh Thể cho xứng đáng. Họ nhìn việc rước lễ gần giống như phần thưởng dành cho người đã chiến thắng hơn là lương thực dành cho người đang chiến đấu. Vì thế khi cảm thấy mình yếu, khi vừa trải qua một tuần đầy sa ngã, khi lòng khô khan, khi cầu nguyện chia trí, khi thấy mình chẳng tiến bộ bao nhiêu, họ bắt đầu ngại đến gần Chúa. Tất nhiên, nếu một người ý thức mình đang ở trong tình trạng tội trọng, người ấy phải tìm đến Bí tích Hòa Giải trước khi rước lễ; nhưng đối với bao nhiêu yếu đuối thường ngày, bao nhiêu bất toàn, bao nhiêu cuộc chiến chưa thắng, bao nhiêu vết thương của bản tính con người, thì chính vì những điều ấy mà linh hồn càng cần đến với Chúa Giêsu. Người bệnh không chờ khỏi bệnh rồi mới uống thuốc. Người đói không chờ no rồi mới tìm bánh. Người lính không chờ chiến tranh kết thúc rồi mới nhận lương thực và khí giới. Cũng vậy, linh hồn không phải chờ mình hoàn thiện rồi mới đến với Thánh Thể; linh hồn đến với Thánh Thể để được Chúa hoàn thiện, thanh luyện, nâng đỡ và từng ngày biến đổi.
1. THÁNH THỂ – SỰ HIỆN DIỆN SỐNG ĐỘNG CỦA ĐẤNG ĐÃ CHIẾN THẮNG
Hỡi linh hồn, con phải khắc sâu điều này vào lòng: khi con đứng trước bàn thờ trong Thánh Lễ, con không đứng trước một biểu tượng trống rỗng của một biến cố đã qua. Con đang đứng trước mầu nhiệm cứu độ đang được cử hành. Đấng đã chịu treo trên Thánh Giá vì con không còn là một nhân vật xa xôi trong lịch sử. Ngài là Đấng Phục Sinh đang sống, đang yêu con và đang đến với con. Hy lễ của Ngài trên đồi Canvê là hy lễ duy nhất, hoàn tất một lần cho mãi mãi, và trong Thánh Lễ, Giáo Hội được đưa vào chính hy lễ ấy. Vì thế, mỗi Thánh Lễ là một cuộc gặp gỡ với tình yêu tự hiến của Đức Kitô, là nơi linh hồn được kéo vào trong chính sự vâng phục, sự hiến dâng, sự khiêm hạ và chiến thắng của Ngài. Con đang chiến đấu với kiêu ngạo ư? Hãy nhìn Đấng đã tự hạ đến mức trở nên lương thực cho con. Con đang chiến đấu với ý riêng ư? Hãy nhìn Đấng đã nói bằng cả cuộc đời: “Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Con đang chiến đấu với sự nóng giận ư? Hãy nhìn Đấng bị xúc phạm mà vẫn hiến mình. Con đang chiến đấu với lòng tham, với sự chiếm hữu, với tính toán hơn thiệt ư? Hãy nhìn Đấng chẳng giữ lại gì cho mình, đến cả Thịt Máu cũng trao ban. Con đang chiến đấu với sự bất khiết ư? Hãy nhìn thân mình cực thánh của Đức Kitô được trao ban trong tình yêu hoàn toàn trong sạch. Con đang chiến đấu với sự chán nản ư? Hãy nhìn Đấng đã đi xuyên qua cái chết và biến nấm mồ thành cửa ngõ sự sống. Con đang sợ rằng mình không bao giờ thay đổi được ư? Hãy nhớ rằng Đấng đang đến trong hình bánh nhỏ bé kia chính là Đấng đã thắng thế gian.
Kẻ thù của linh hồn rất muốn làm cho Kitô hữu quên điều này. Nó không nhất thiết phải ngăn một người đến nhà thờ. Có khi nó để người ấy đi lễ đều đặn, miễn là người ấy đi lễ trong tình trạng tâm trí phân tán, lạnh lùng, theo thói quen, không ý thức mình đang gặp ai. Nó không nhất thiết phải khiến người ấy bỏ rước lễ; đôi khi chỉ cần biến việc rước lễ thành một động tác máy móc. Bước lên. Đưa tay hoặc rước trên lưỡi. Trở về chỗ. Ngồi xuống. Nghĩ ngay đến việc khác. Chờ lễ kết thúc. Nếu Thánh Thể bị biến thành thói quen như vậy, một kho tàng vô hạn vẫn ở đó, nhưng linh hồn lại chỉ đến với một chiếc bình gần như đóng kín. Chúa vẫn ban mình hoàn toàn, nhưng người nhận lại quá ít mở lòng để được biến đổi. Đừng trách Chúa vì con rước lễ nhiều mà dường như chưa nên thánh. Hãy hỏi xem con đã để Thánh Thể đi sâu đến đâu trong đời mình. Con đã rước Chúa vào trong những vùng nào? Con chỉ rước Chúa vào môi miệng, hay rước Ngài vào cả những tự ái con đang che giấu? Con có đem Ngài vào trong trí nhớ đầy những vết thương không? Con có đem Ngài vào trong những mối quan hệ con chưa chịu tha thứ không? Con có đem Ngài vào trong những đam mê con đang thỏa hiệp không? Con có cho Ngài bước vào nơi sâu nhất mà con vẫn khóa lại vì sợ Ngài đòi mình thay đổi không?
Thánh Thể không phải là một cuộc viếng thăm xã giao giữa Chúa và linh hồn. Đó là một sự kết hợp. Chúa Giêsu không đến để đứng ngoài cửa. Ngài muốn chiếm hữu. Không phải chiếm hữu như một bạo chúa, nhưng như Đấng Yêu Thương muốn giải phóng người mình yêu khỏi mọi ách nô lệ. Ngài muốn đi vào trí khôn để thanh luyện những suy nghĩ lệch lạc. Ngài muốn đi vào ký ức để chữa lành những điều con cứ nhai đi nhai lại trong cay đắng. Ngài muốn đi vào ý chí để làm cho nó cứng cáp trước cám dỗ và mềm mại trước thánh ý Chúa. Ngài muốn đi vào đôi mắt để dạy chúng nhìn trong sạch. Ngài muốn đi vào miệng lưỡi để dạy nó biết im khi cần im và nói khi cần nói. Ngài muốn đi vào trái tim để nhổ khỏi đó những tình cảm hỗn loạn, những gắn bó sai lệch, những ganh tị, những mong cầu được nhìn nhận. Ngài muốn đi vào cả những vết thương mà con đã sống chung quá lâu đến mức tưởng đó là một phần không thể thay đổi của mình. Mỗi lần rước lễ là một lời mời Chúa bước sâu hơn vào lâu đài nội tâm ấy. Nhưng con phải mở cửa.
2. RƯỚC LỄ KHÔNG CHỈ LÀ ĐÓN NHẬN – ĐÓ CÒN LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG CHIẾN ĐẤU
Hỡi linh hồn, hãy học lại cách rước lễ. Đừng để một hành vi vĩ đại như thế trở thành chuyện quá quen thuộc. Con hãy đi lên rước Chúa như một người biết rằng mình đang mang trên mình cả một chiến trường. Đừng giấu Chúa sự thật. Trước khi đến bàn tiệc Thánh Thể, con hãy nói trong lòng: “Lạy Chúa, đây là con. Đây là sự nóng giận của con. Đây là lòng tự ái của con. Đây là sự sợ hãi của con. Đây là thói quen xấu con đã chiến đấu quá lâu. Đây là những hình ảnh không trong sạch vẫn quấy nhiễu con. Đây là cái lưỡi quá nhanh của con. Đây là tính hay xét đoán. Đây là sự trì hoãn. Đây là sự chán nản. Đây là những lần con muốn bỏ cuộc. Đây là cả sự xấu hổ vì con đã hứa với Chúa quá nhiều lần rồi lại sa ngã. Con không đến vì con mạnh. Con đến vì Chúa mạnh. Con không đến vì con xứng đáng tự mình. Con đến vì con cần lòng thương xót. Con không đến để trình bày với Chúa một con người đã hoàn tất. Con đến để Chúa tiếp tục công trình Ngài đã bắt đầu nơi con.”
Rồi khi linh mục nâng Mình Thánh Chúa lên và nói: “Mình Thánh Chúa Kitô”, lời “Amen” của con đừng chỉ là một âm thanh phát ra vì thói quen. “Amen” nghĩa là con tin. Tin rằng Đấng con đón nhận là Chúa. Tin rằng Ngài là sự sống thật của con. Tin rằng Ngài có quyền trên con. Tin rằng Ngài mạnh hơn tội lỗi con. Tin rằng Ngài yêu con hơn con yêu chính mình. Tin rằng những gì con không thể làm bằng sức mình, Ngài có thể thực hiện nếu con cộng tác với ân sủng. Lời “Amen” ấy cũng có thể trở thành một lời giao nộp: “Vâng, lạy Chúa, con thuộc về Chúa. Vâng, xin Chúa lấy những gì cần lấy. Vâng, xin Chúa cắt đi những gì phải cắt. Vâng, xin Chúa sửa con. Vâng, xin Chúa đừng để con sống mãi với con người cũ. Vâng, con chấp nhận cuộc chiến này vì con muốn thuộc về Chúa.”
Khi Chúa Giêsu ngự vào lòng, đừng vội nói quá nhiều. Có những lúc tình yêu cần lời, nhưng cũng có những lúc tình yêu cần sự thinh lặng sâu hơn mọi lời. Con vừa đón nhận Đấng dựng nên trời đất. Con vừa đón nhận Đấng đã chết cho con. Con vừa đón nhận Đấng mà thiên thần thờ lạy. Hãy ở yên. Hãy để lòng mình chìm xuống. Hãy nói ít thôi, nhưng thật. “Lạy Chúa Giêsu, con đây.” “Xin chiếm lấy con.” “Xin đừng để con thuộc về con nữa.” “Xin làm trong con điều con không thể làm.” “Xin chiến đấu trong con.” “Xin yêu Chúa trong con, vì con yêu Chúa quá ít.” “Xin cầu nguyện trong con, vì con cầu nguyện quá yếu.” “Xin tha thứ trong con, vì lòng con còn cứng.” “Xin khiêm nhường trong con, vì con đầy tự ái.” “Xin trong sạch trong con, vì trí lòng con dễ bị lôi kéo.” “Xin kiên nhẫn trong con, vì con dễ nổi nóng.” Những lời ngắn ấy, nếu phát ra từ một trái tim thật, có thể sâu hơn nhiều bài kinh đọc vội.
Có linh hồn sau khi rước lễ lại mong được cảm thấy một điều gì đó. Họ chờ một cảm xúc ngọt ngào, một sự sốt sắng đặc biệt, một dòng nước mắt, một sự bình an dễ cảm nhận. Nếu không có, họ nghĩ lần rước lễ ấy kém hiệu quả. Đó là một sai lầm. Ơn Chúa không lệ thuộc vào cảm giác. Chúa có thể làm việc sâu nhất chính trong lúc con không cảm thấy gì. Cây không nghe tiếng nhựa sống đi qua thân mình. Hạt giống không biết nó đang nứt vỏ dưới lòng đất. Đứa trẻ không cảm thấy từng tế bào của thân xác mình lớn lên mỗi ngày. Cũng vậy, linh hồn không phải lúc nào cũng cảm thấy hoạt động của ân sủng. Đừng đo việc rước lễ bằng cảm xúc. Hãy đo bằng sự trung tín dần dần lớn lên, bằng việc con dễ đứng dậy hơn sau sa ngã, bằng việc con bắt đầu nhận ra một ý nghĩ xấu sớm hơn, bằng việc một lời xúc phạm trước đây làm con giận ba ngày nay chỉ làm con đau ba giờ, rồi dần dần ba mươi phút, rồi có thể con sẽ học được cách dâng nó ngay cho Chúa. Đó là những chiến thắng âm thầm của Thánh Thể.
3. THÁNH THỂ LÀ LƯƠNG THỰC CHO NGƯỜI YẾU, KHÔNG PHẢI HUY CHƯƠNG CHO NGƯỜI MẠNH
Một trong những mưu chước tinh tế nhất của kẻ thù là dùng chính cảm thức bất xứng để đẩy linh hồn xa khỏi Chúa. Sau một lần sa ngã, sau một ngày sống tệ, sau một cơn cám dỗ dữ dội, nó nói: “Mày còn mặt mũi nào đến với Chúa?” Nếu linh hồn không tỉnh, nó sẽ nhầm tiếng kết án ấy với tiếng khiêm nhường. Khiêm nhường thật không chạy trốn Chúa. Khiêm nhường thật chạy đến với Chúa vì biết mình không có nơi nào khác để đi. Phêrô sau khi chối Thầy đã khóc. Ông không biến sự bất xứng của mình thành lý do để vĩnh viễn trốn khỏi Đức Kitô. Người con hoang đàng không đứng ngoài làng chờ đến khi quần áo sạch, mùi heo biến mất và danh dự được khôi phục rồi mới về nhà cha. Chính trong bộ dạng tàn tạ ấy, anh trở về. Hỡi linh hồn, nếu con đang ở trong ân nghĩa Chúa nhưng cảm thấy mình nghèo, yếu, bất toàn, thì đừng vì thế mà xa Thánh Thể. Hãy đến với tâm tình người nghèo đến xin bánh.
Nhưng cũng phải nói rõ một điều để tránh một thứ dễ dãi nguy hiểm: rước lễ không bao giờ được biến thành cái cớ để sống thỏa hiệp với tội. Không thể vừa cố tình giữ lấy một tội trọng vừa nghĩ rằng rước lễ sẽ tự động chữa mọi sự. Thánh Thể không phải ma thuật. Tình yêu của Chúa đòi một trái tim thành thật. Nếu đã sa ngã nặng, hãy khiêm nhường tìm đến Bí tích Hòa Giải. Nếu có một thói quen tội lỗi, hãy chiến đấu thực sự. Nếu đang cố tình giữ một mối quan hệ sai trái, một gian dối, một bất công, một sự thù ghét có chủ ý, đừng dùng lòng thương xót như tấm màn che cho ý riêng. Chính vì Thánh Thể thánh thiện vô cùng nên người đến rước Chúa phải đến trong sự thật. Nhưng sự thật ở đây không phải là: “Tôi đã hoàn hảo.” Sự thật là: “Con là kẻ nghèo hèn đang muốn trở về, đang muốn chiến đấu, đang cần Chúa.” Giữa hai thái cực — một bên là tự phụ, bên kia là tuyệt vọng — con đường của người môn đệ là khiêm nhường và tín thác.
Hãy nhớ, Thánh Thể đặc biệt dành cho những người đang trên đường. Chúng ta chưa tới quê trời. Chúng ta đang đi qua sa mạc. Có ngày đường bằng phẳng. Có ngày gió cát che kín mắt. Có ngày con đi mạnh mẽ. Có ngày chỉ lê từng bước. Có ngày con hát. Có ngày con không còn muốn nói gì. Nhưng bánh của người lữ hành vẫn được trao. Đừng tự cắt mình khỏi lương thực chỉ vì con thấy bước chân mình yếu. Chính lúc ấy con càng cần ăn.
4. THÁNH THỂ THANH LUYỆN NHỮNG ĐỘNG LỰC SÂU KÍN NHẤT
Có những kẻ thù trong linh hồn rất dễ nhận ra: nóng giận, dục vọng, tham lam, lời nói xấu. Nhưng cũng có những kẻ thù mặc áo đẹp đến mức ta tưởng chúng là nhân đức. Một người có thể làm việc tông đồ rất nhiều nhưng sâu trong lòng lại cần được công nhận. Một người có thể phục vụ người nghèo nhưng mong người khác biết mình quảng đại. Một người có thể sống kỷ luật nhưng bí mật khinh những ai yếu hơn. Một người có thể cầu nguyện lâu vì muốn có cảm giác mình đạo đức. Một linh mục có thể giảng rất hay nhưng lòng lại vui quá mức khi được khen và buồn quá mức khi bị quên. Một tu sĩ có thể nhiệt thành với cộng đoàn nhưng bên trong vẫn luôn muốn ý mình được theo. Những thứ ấy rất khó nhìn thấy bởi vì chúng bám vào những điều tốt.
Thánh Thể, nếu được đón nhận trong sự thành thật, sẽ từ từ đưa ánh sáng vào những vùng ấy. Tại sao? Vì Thánh Thể là trường học của tình yêu tự hủy. Hãy nhìn Chúa Giêsu trong hình bánh: không hào quang phô trương, không tiếng vỗ tay, không đòi được nhận biết, không giữ gì cho mình. Thiên Chúa vô hạn ẩn dưới một tấm bánh nhỏ. Đấng mà vũ trụ không chứa nổi lại tự đặt mình vào bàn tay con người. Đấng các thiên thần phủ phục thờ lạy chấp nhận bị nhiều người đi ngang qua nhà tạm mà không nhớ đến. Đấng là Vua muôn vua ở lại âm thầm ngày đêm trong những ngôi nhà thờ vắng. Nếu con thật sự ở gần một Thiên Chúa như thế, sự háo danh trong con sẽ bị chất vấn. Nếu con ăn lấy Đấng đã tự hủy, mà con vẫn chỉ muốn phình to cái tôi mình, sẽ có một sự mâu thuẫn ngày càng đau. Nếu con để Chúa làm việc, dần dần Ngài sẽ cho con thấy: bao nhiêu điều con gọi là “nhiệt thành” thật ra lẫn tự ái; bao nhiêu điều con gọi là “bảo vệ sự thật” thật ra lẫn nóng giận; bao nhiêu điều con gọi là “trách nhiệm” thật ra là muốn kiểm soát; bao nhiêu điều con gọi là “nhạy cảm” thật ra là lòng tự thương hại; bao nhiêu điều con gọi là “công bình” thật ra là không chịu tha thứ.
Đừng sợ khi Chúa cho con thấy những điều ấy. Ánh sáng không đến để làm con nhục nhã. Ánh sáng đến để chữa lành. Người bác sĩ chỉ có thể chữa vết thương khi vết thương được mở ra. Chúa Giêsu Thánh Thể không phơi bày cái xấu nơi con để khinh con; Ngài phơi bày để lấy nó đi. Nhưng con phải cộng tác. Mỗi lần nhận ra một động lực lệch lạc, đừng hoảng hốt và cũng đừng bào chữa. Hãy nói: “Lạy Chúa, hóa ra con vẫn tìm con trong việc này. Xin lấy điều ấy đi. Xin làm cho con chỉ muốn Chúa được yêu, dù người ta có quên con.” Đó là một lời cầu nguyện nguy hiểm cho cái tôi, nhưng là lời cầu nguyện đem lại tự do.
5. THÁNH LỄ LÀ TRƯỜNG HỌC CỦA SỰ TỰ HIẾN
Nhiều người đến Thánh Lễ chủ yếu để “nhận”: nhận lời Chúa, nhận bình an, nhận ơn, nhận Mình Thánh. Nhưng trung tâm của Thánh Lễ không chỉ là việc ta nhận. Đó là hy lễ của Đức Kitô, và khi tham dự, linh hồn được mời gọi đặt chính đời mình trên bàn thờ cùng với Ngài. Hỡi linh hồn đang chiến đấu, hãy tập một thói quen rất quý: mỗi Thánh Lễ, hãy đem một điều cụ thể lên bàn thờ để hiến tế. Có thể là một sự trái ý. Một nỗi đau. Một người con khó chịu. Một lời xúc phạm. Một nỗi sợ. Một kế hoạch đang thất bại. Một căn bệnh. Một sự hiểu lầm. Một cám dỗ. Một niềm vui. Một thành công. Một mối quan hệ. Một tham vọng. Một điều con đang cố giữ. Khi linh mục dâng bánh và rượu, trong lòng con hãy dâng chính điều ấy. “Lạy Chúa, con đặt nó ở đây. Xin nhận lấy. Xin cho nó được kết hợp với hy lễ của Chúa Giêsu.”
Rồi đến lúc truyền phép, hãy nhìn Đấng tự hiến và học cách nói lại lời tự hiến ấy bằng đời mình. “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em.” Đời sống Kitô hữu cuối cùng cũng phải trở thành một câu như thế. “Đây là đời con, xin Chúa dùng.” “Đây là thời giờ của con.” “Đây là sức khỏe của con.” “Đây là khả năng của con.” “Đây là những năm tháng còn lại.” “Đây là những điều người khác đã làm tổn thương con.” “Đây là cả những thất bại mà con không muốn có.” “Xin Chúa dùng tất cả để cứu độ con và để mưu ích cho người khác.” Khi Thánh Lễ được sống như vậy, nó không còn bị đóng khung trong một giờ ở nhà thờ. Nó lan ra cả ngày. Mỗi khó chịu trở thành cơ hội nối dài hy lễ. Mỗi hy sinh kín đáo trở thành một chút bánh đời con được bẻ ra. Mỗi lần nhịn một lời, tha thứ một người, chịu một trái ý, hoàn thành một bổn phận khó chịu, con đang sống điều con vừa cử hành.
Đây là một vũ khí cực mạnh chống lại ý riêng. Vì ý riêng luôn nói: “Đời tôi thuộc về tôi. Tôi muốn điều tôi muốn.” Thánh Lễ lại dạy: “Đời con là của lễ.” Ý riêng muốn giữ. Thánh Lễ dạy trao. Ý riêng muốn kiểm soát. Thánh Lễ dạy phó thác. Ý riêng muốn tránh đau khổ bằng mọi giá. Thánh Lễ dạy rằng một đau khổ được kết hợp với tình yêu có thể trở thành hiến lễ. Ý riêng muốn được phục vụ. Thánh Lễ dạy: thân mình được trao ban, máu mình được đổ ra. Không thể thật sự đi vào Thánh Thể mà vẫn mãi mãi sống cho mình.
6. RƯỚC LỄ VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG LẠI TỪNG ĐAM MÊ
Nếu con đang chiến đấu với sự kiêu ngạo, hãy rước Chúa với đôi mắt nhìn vào sự khiêm hạ của Ngài. Hãy tự hỏi: Chúa của con đã hạ mình đến thế, tại sao con cứ đòi người khác phải trọng vọng mình? Đấng vô tội chịu im trước lời vu khống, còn con vì sao một câu nói trái ý đã làm con thao thức? Hãy xin Chúa Giêsu Thánh Thể phá tan trong con nhu cầu phải được đúng, phải được nhìn nhận, phải được đứng trên người khác.
Nếu con đang chiến đấu với sự nóng giận, hãy rước lấy Đấng hiền lành. Đừng chỉ xin Chúa lấy cơn giận đi; hãy xin Ngài trao cho con trái tim Ngài. Có những cơn giận không biến mất chỉ bằng việc tự nhủ “đừng giận nữa”. Chúng cần được thay bằng một tình yêu lớn hơn. Khi con rước Đấng đã yêu cả kẻ đóng đinh mình, hãy xin Ngài yêu người làm con tổn thương bằng chính tình yêu của Ngài trong con.
Nếu con đang chiến đấu với sự bất khiết, hãy đến với Thánh Thể trong lòng khiêm tốn đặc biệt. Đừng nhìn thân xác như kẻ thù đáng ghét, nhưng hãy học lại phẩm giá của thân xác nơi Mình Thánh Chúa. Thân xác con được gọi trở thành đền thờ. Đôi mắt con được dựng nên để nhìn điều đẹp theo ánh sáng Chúa. Trái tim con được dựng nên để yêu, không phải để chiếm hữu. Dục vọng muốn biến người khác thành vật cho khoái cảm; Thánh Thể lại dạy rằng tình yêu thật trao chính mình. Hai hướng ấy hoàn toàn trái ngược. Hãy để mỗi lần rước lễ trở thành một lời tuyên bố: “Thân xác con thuộc về Chúa. Giác quan con thuộc về Chúa. Trí tưởng tượng con thuộc về Chúa.”
Nếu con đang chiến đấu với sự lười biếng thiêng liêng, hãy nhìn Chúa Giêsu luôn tự hiến. Tình yêu thật không nằm yên. Tình yêu ra khỏi mình. Khi rước lễ, xin Chúa làm cho con biết đứng dậy làm điều phải làm, dù không thích. Xin Ngài cho con sự mau mắn của tình yêu, chứ không chỉ cảm hứng.
Nếu con đang chiến đấu với sự chán nản, hãy nhớ rằng con đang rước lấy Đấng Phục Sinh. Trong con có thể đang có những “ngôi mộ”: một thất bại, một tính xấu dai dẳng, một quá khứ làm con xấu hổ, một công việc tưởng như vô ích. Nhưng Đấng bước vào con là Đấng đã bước ra khỏi mồ. Đừng nói quá nhanh rằng cái gì trong con “không thể thay đổi”. Sự Phục Sinh là lời phản bác của Thiên Chúa đối với mọi tuyệt vọng.
Nếu con đang chiến đấu với nỗi sợ, hãy rước Đấng đã nói: “Thầy đây, đừng sợ.” Có thể hoàn cảnh chưa đổi sau Thánh Lễ. Người làm con sợ vẫn còn đó. Vấn đề tài chính vẫn còn đó. Bệnh tật vẫn còn. Tương lai vẫn chưa rõ. Nhưng con không còn một mình. Kitô giáo không hứa rằng người tin sẽ không phải đi qua thung lũng tối. Kitô giáo hứa rằng Đấng Chăn Chiên đi cùng.
Nếu con đang chiến đấu với sự xét đoán, hãy nhớ người con rước chính là Đấng đã chết cho người mà con đang khinh. Điều này đủ làm lòng con run lên. Chúa Giêsu trao mình cho con, nhưng Ngài cũng yêu người kia. Có thể người ấy có nhiều sai lỗi, nhưng máu Đức Kitô cũng đã đổ ra vì họ. Làm sao con có thể rước Đấng chịu đóng đinh vì tội nhân mà lại nuôi lòng khinh miệt tội nhân khác?
7. CHUẨN BỊ RƯỚC LỄ – ĐỪNG BƯỚC VÀO MẦU NHIỆM MỘT CÁCH CẨU THẢ
Sự chuẩn bị tốt không cần dài, nhưng phải thật. Trước Thánh Lễ, nếu có thể, con hãy dành một ít phút để thu lòng. Thế giới quanh con có thể ồn. Điện thoại có thể đầy tin nhắn. Công việc có thể chen vào. Nhưng con hãy tập đi vào nhà thờ như đi vào một nơi khác biệt. Đừng mang theo mọi tiếng ồn một cách vô thức. Tắt bớt. Đặt xuống. Hít thở chậm. Nhìn lên Thánh Giá. Nhìn nhà tạm. Nhắc linh hồn: “Ta sắp gặp Chúa.” Chỉ câu ấy thôi, nếu được nói bằng đức tin, đã thay đổi tất cả.
Rồi xét mình ngắn gọn, không phải để đào bới đến kiệt sức, nhưng để ý thức mình đến với Chúa trong sự thật. “Hôm nay điều gì đang làm con yếu nhất? Con đang vướng ở đâu? Điều gì con cần Chúa nhất?” Chọn một điều. Dâng nó. Đừng mỗi Thánh Lễ ôm cả vũ trụ trong đầu. Có khi chỉ cần một ý nguyện rất cụ thể: “Lạy Chúa, xin hôm nay chữa tính hay bực của con.” Hoặc: “Xin cho con biết tha người ấy.” Hoặc: “Xin giải thoát con khỏi cái nhìn không trong sạch.” Hoặc: “Xin cho con trung thành với bổn phận con đang trốn.” Một linh hồn biết mình cần gì thường rước lễ tỉnh thức hơn.
Và hãy khơi lên lòng ước ao. Có thể con không “cảm” khát Chúa. Nhưng con vẫn có thể muốn được khát. Hãy nói: “Lạy Chúa, con nguội lạnh. Nhưng con muốn muốn Chúa. Xin cho con đói Ngài. Xin đừng để con hài lòng với một đời sống tầm thường.” Một lời cầu nguyện như vậy rất đẹp, vì nó thành thật.
8. SAU RƯỚC LỄ – NHỮNG PHÚT KHÔNG NÊN ĐỂ MẤT
Có những phút trong đời rất quý nhưng thường bị phung phí vì ta không ý thức. Những phút sau rước lễ là như thế. Chúa đã đến. Vậy mà trí con có thể ngay lập tức chạy sang chuyện hôm nay ăn gì, lát nữa gặp ai, công việc nào chưa xong, người bên cạnh đang mặc gì, điện thoại có tin nhắn gì. Đó là bi kịch nhỏ nhưng xảy ra hằng ngày. Hỡi linh hồn, hãy chiến đấu ngay ở đây. Đừng để trí tưởng tượng cướp khỏi con những phút này.
Sau khi rước lễ, hãy làm bốn việc nếu con thấy hữu ích: thờ lạy, tạ ơn, dâng mình, cầu xin. Thờ lạy: “Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con.” Tạ ơn: “Con chẳng có gì để Chúa cần, vậy mà Chúa vẫn đến với con.” Dâng mình: “Xin nhận lấy con hoàn toàn.” Cầu xin: “Xin cho con ơn con cần nhất hôm nay.” Đơn giản vậy thôi. Đừng nghĩ phải có những tư tưởng cao siêu. Một đứa con tựa đầu vào lòng mẹ không cần nói bài diễn văn. Điều cần là hiện diện.
Nếu có thể, hãy để những phút ấy mang một vẻ thân tình. Nói với Chúa như nói với Đấng đang ở rất gần, vì Ngài thật sự đang ở rất gần. “Lạy Chúa, Chúa biết con mệt.” “Chúa biết con đang giận người ấy.” “Chúa biết con đang sợ.” “Chúa biết con cố tỏ ra ổn nhưng thật ra con không ổn.” “Xin đừng để con chạy khỏi Chúa.” Những lời cầu ấy không màu mè, nhưng có thể mở trái tim sâu hơn nhiều công thức.
9. VIỆC VIẾNG THÁNH THỂ – NƠI NGƯỜI CHIẾN SĨ TRỞ VỀ GIỮA NHỮNG TRẬN ĐÁNH
Không phải lúc nào con cũng có thể tham dự Thánh Lễ. Nhưng nếu hoàn cảnh cho phép, đừng đánh giá thấp việc ghé vào nhà thờ, ngồi trước nhà tạm một ít phút. Đời sống hiện đại làm con người quen với tốc độ. Mọi thứ đều thúc: tin nhắn, cuộc gọi, công việc, tin tức, video, trách nhiệm, tiếng ồn. Linh hồn rất dễ sống cả ngày mà không có một khoảng lặng đủ sâu để nghe chính mình, càng không nghe Chúa. Nhà tạm có thể trở thành một sa mạc nhỏ giữa thành phố. Không cần nói nhiều. Chỉ đến. Ngồi. Nhìn. Để mình được nhìn.
Có những cám dỗ mà tranh luận với chúng chỉ làm chúng mạnh hơn. Có những suy nghĩ ám ảnh càng phân tích càng rối. Có những nỗi buồn không giải quyết bằng lý luận. Khi ấy, nếu có thể, hãy đến trước Thánh Thể. Nói với Chúa: “Con không biết phải làm gì với điều này. Con đặt nó đây.” Rồi ở yên. Đôi khi sức mạnh Chúa ban không phải là câu trả lời rõ ràng, nhưng là khả năng đứng dậy và tiếp tục. Đó đã là một phép lạ.
Nếu không thể đến nhà thờ, hãy tập hướng lòng về nhà tạm gần nhất. Trong thành phố con đang sống, có một nơi nào đó Chúa đang hiện diện trong Bí tích Thánh Thể. Chỉ cần nhớ điều ấy. Giữa một cuộc họp căng thẳng, giữa đường, trên xe, trong phòng làm việc, khi bị cám dỗ: “Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con hướng lòng về Chúa.” Một câu ngắn có thể cắt đứt dòng suy nghĩ xấu. Một cái nhìn nội tâm có thể đưa linh hồn trở lại trục của nó.
10. KHI KHÔNG THỂ RƯỚC LỄ – HÃY GIỮ LÒNG KHAO KHÁT
Có những lúc vì hoàn cảnh, bệnh tật, khoảng cách, bổn phận hoặc những lý do chính đáng khác mà linh hồn không thể tham dự Thánh Lễ và rước lễ như mong muốn. Đừng vì thế mà nghĩ rằng Chúa xa con. Hãy khơi lên lòng khao khát hiệp thông với Ngài. Một lời rước lễ thiêng liêng phát xuất từ đức tin và tình yêu có thể giữ ngọn lửa trong lòng. “Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa hiện diện trong Bí tích cực thánh. Con yêu mến Chúa trên hết mọi sự và con khao khát đón Chúa vào linh hồn con. Vì lúc này con chưa thể rước Chúa cách bí tích, xin Chúa ngự vào lòng con cách thiêng liêng. Con ôm lấy Chúa và kết hợp trọn vẹn với Chúa. Xin đừng để con lìa xa Chúa.” Đừng biến lời ấy thành công thức trống. Hãy nói thật chậm.
Tuy vậy, lòng khao khát rước lễ thiêng liêng không làm giảm giá trị vô song của việc tham dự Thánh Lễ và rước lễ bí tích khi có thể. Trái lại, một lòng khao khát thật sẽ làm con quý Thánh Thể hơn, không phải ít hơn.
11. THÁNH THỂ VÀ ĐỨC MARIA
Không ai đã đón nhận Chúa Giêsu sâu xa như Đức Maria. Trước khi có nhà tạm bằng đá, đã có cung lòng của Mẹ. Trước khi Hội Thánh cầm lấy bánh và nói lời truyền phép, Mẹ đã cưu mang Ngôi Lời làm người trong thân xác mình. Máu Chúa Giêsu đã nhận từ máu của Mẹ. Thân xác mà chúng ta thờ lạy trong Thánh Thể là thân xác được hình thành trong cung lòng Đức Trinh Nữ. Vì thế, Đức Maria dẫn ta đến Thánh Thể không phải như người đứng ngoài mầu nhiệm, nhưng như người đã sống sự kết hợp với Đức Kitô theo một cách độc nhất vô nhị.
Hỡi linh hồn, nếu con thấy mình rước lễ quá nguội lạnh, hãy nhờ Mẹ. Trước Thánh Lễ, nói đơn sơ: “Mẹ ơi, con không biết đón Chúa cho xứng. Xin Mẹ cho con mượn trái tim Mẹ.” Không phải theo nghĩa một công thức thần học cứng nhắc, nhưng như lời cầu của đứa con: xin Mẹ dạy con thờ lạy như Mẹ, yêu như Mẹ, im lặng như Mẹ, trao mình như Mẹ. Khi con rước Chúa, hãy tưởng tượng Mẹ đứng bên cạnh, không che mất Chúa nhưng đưa con đến gần Chúa hơn. Và sau rước lễ, xin Mẹ giúp con giữ Chúa trong lòng, như Mẹ đã gìn giữ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng.
Đức Maria cũng dạy con một điều hết sức quan trọng: đón nhận Chúa luôn dẫn đến trao Chúa cho người khác. Mẹ cưu mang Chúa rồi lên đường đến với bà Êlisabét. Thánh Thể thật cũng phải làm người rước Chúa trở thành người mang Chúa. Nếu sau Thánh Lễ con vẫn khó chịu hơn, khép kín hơn, ích kỷ hơn, thì phải xét lại cách con sống Thánh Thể. Con không thể giữ Đức Kitô như tài sản riêng. Đấng vào lòng con muốn đi qua con đến với người khác: qua lời con, qua ánh mắt con, qua sự phục vụ, qua cách con đối xử với người khó chịu nhất.
12. THÁNH THỂ VÀ SỰ HIỆP NHẤT VỚI HỘI THÁNH
Có một khía cạnh cuộc chiến linh hồn rất dễ bị quên: kẻ thù muốn cô lập. Nó khiến con nghĩ rằng đời sống thiêng liêng chỉ là chuyện giữa “tôi và Chúa”. Nhưng Thánh Thể phá vỡ sự cô lập ấy. Một tấm bánh, một thân thể, một Hội Thánh. Rước Đức Kitô là được kéo vào Thân Thể của Đức Kitô. Con không thể nói mình yêu Đầu mà khinh các chi thể. Không thể quỳ rất lâu trước nhà tạm rồi bước ra đối xử tàn nhẫn với người khác. Không thể rước cùng một Mình Thánh với một người anh em rồi nuôi lòng thù ghét họ mà không thấy một sự mâu thuẫn đau đớn.
Điều này đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến chống lại chia rẽ, ganh tị, phe nhóm, tự ái cộng đoàn. Thánh Thể là trường học của hiệp nhất. Mỗi lần đến bàn tiệc Chúa, hãy để Chúa hỏi: “Con đang không muốn hiệp thông với ai? Con đang loại ai khỏi trái tim? Con đang giữ khoảng cách với ai chỉ vì tự ái?” Có thể không phải mọi quan hệ đều có thể trở nên gần gũi. Có những trường hợp cần khoảng cách lành mạnh. Nhưng trong trái tim người rước Thánh Thể không được có chỗ cho thù ghét có chủ ý.
13. ĐỪNG BIẾN THÁNH THỂ THÀNH THÓI QUEN KHÔNG CÒN LÀM TA KINH NGẠC
Những người có điều kiện tham dự Thánh Lễ hằng ngày đối diện một cám dỗ rất đặc biệt: điều thánh thiêng có thể trở nên quen đến mức không còn làm lòng rung động. Đây là nguy cơ của linh mục, tu sĩ và cả giáo dân sốt sắng. Ngày nào cũng bàn thờ ấy. Những lời ấy. Cử chỉ ấy. Chuông ấy. Bánh ấy. Rượu ấy. Và vì quen, linh hồn thôi kinh ngạc.
Hỡi linh hồn, hãy chiến đấu chống lại sự quen thuộc vô cảm này. Trước mỗi Thánh Lễ, hãy tự nói: “Nếu hôm nay là Thánh Lễ cuối cùng đời tôi thì sao?” Nếu con biết sau Thánh Lễ này con sẽ chết, con sẽ cử hành khác, tham dự khác, rước lễ khác. Con sẽ không để trí chạy lang thang dễ dàng như thế. Con sẽ nghe từng lời như di chúc. Con sẽ nói lời “Amen” như lời cuối. Vậy tại sao không sống mỗi Thánh Lễ với một chút ý thức ấy? Không phải để sống trong sợ hãi, nhưng để lấy lại sự quý giá.
Các thánh không nhàm chán Thánh Thể vì họ càng đến gần càng thấy mầu nhiệm vô tận. Chỉ người đứng ngoài mới nghĩ mình đã biết. Người thật sự đi vào sẽ càng thấy mình chưa hiểu gì. Thiên Chúa trở thành bánh. Chỉ một câu ấy đủ cho cả đời chiêm niệm.
14. ĐỂ THÁNH THỂ TIẾP TỤC SỐNG TRONG NGÀY
Đừng nghĩ việc rước lễ kết thúc khi con rời nhà thờ. Hãy để nó kéo dài. Sau Thánh Lễ, trước một quyết định, hãy hỏi: “Một người vừa rước Chúa sẽ làm gì?” Trước khi nổi nóng: “Cái miệng vừa thưa Amen với Mình Thánh Chúa có nên nói câu này không?” Trước khi nhìn điều không nên nhìn: “Đôi mắt của người mang Chúa trong lòng có nên dừng lại ở đây không?” Trước khi nói xấu: “Ta vừa rước cùng một Chúa với người này.” Trước khi lười biếng: “Đấng tự hiến đang sống trong tôi.” Trước khi tuyệt vọng: “Đấng Phục Sinh vừa đến với tôi.”
Nếu con sống như vậy, cả ngày trở thành một phần kéo dài của Thánh Lễ. Nhà thờ không còn là nơi duy nhất thờ phượng. Bàn làm việc trở thành bàn thờ của bổn phận. Nhà bếp trở thành bàn thờ của phục vụ. Đường phố trở thành nơi con mang Chúa. Một cuộc trò chuyện khó trở thành nơi hy lễ tiếp tục. Một cơn đau trở thành lễ vật. Một hy sinh kín đáo trở thành lời “Amen” nối dài.
15. RƯỚC LỄ ĐỂ TRỞ NÊN ĐIỀU MÌNH ĐÃ LÃNH NHẬN
Mục đích cuối cùng của Thánh Thể không chỉ là Chúa đi vào con vài phút. Chúa muốn biến con nên giống Ngài. Của ăn bình thường được cơ thể biến thành chính cơ thể người ăn. Nhưng nơi Thánh Thể xảy ra một điều kỳ diệu ngược lại: không phải con biến Chúa thành con; chính Chúa muốn biến con nên giống Ngài. Con rước Đấng hiền lành để trở nên hiền lành. Rước Đấng khiêm nhường để học khiêm nhường. Rước Đấng tự hiến để trở nên người biết cho đi. Rước Đấng tha thứ để trở nên người biết tha thứ. Rước Đấng vâng phục để ý riêng chết dần. Rước Đấng nghèo khó để trái tim bớt bám víu. Rước Đấng trong sạch để tâm hồn được trong sạch. Rước Đấng chịu đóng đinh để biết ôm lấy thập giá. Rước Đấng Phục Sinh để sống bằng hy vọng.
Vì thế, một câu hỏi rất đơn giản nhưng nghiêm túc phải thường xuyên được đặt ra: Sau bao nhiêu lần rước lễ, tôi đã giống Chúa Giêsu hơn chưa? Không phải giống theo cảm giác. Không phải có nhiều kinh nghiệm huyền nhiệm hơn. Nhưng hiền hơn chưa? Bớt tự ái chưa? Dễ tha thứ hơn chưa? Ít nói lời làm tổn thương hơn chưa? Trung tín hơn với bổn phận chưa? Bớt tìm mình chưa? Yêu người nghèo hơn chưa? Bớt sợ đau khổ chưa? Nếu chưa, đừng tuyệt vọng, nhưng hãy tỉnh thức. Có thể Chúa vẫn đang làm việc rất sâu, nhưng cũng có thể con đang rước Ngài với quá ít cộng tác.
Hãy nhớ rằng ân sủng không hủy tự do. Chúa đến, nhưng Ngài không cưỡng bức. Sau rước lễ con vẫn phải chọn. Cám dỗ vẫn đến. Người khó chịu vẫn xuất hiện. Những khuynh hướng cũ vẫn trỗi lên. Thánh Thể không làm con mất khả năng phạm tội. Thánh Thể ban sức mạnh để con có thể chọn tốt hơn. Và chính ở giây phút lựa chọn ấy, con cộng tác với Đấng con đã rước.
16. NHỮNG NGÀY KHÔ KHAN – ĐỪNG BỎ BÀN TIỆC
Sẽ có những ngày con tham dự Thánh Lễ mà không cảm thấy gì. Lời Chúa dường như không chạm. Bài giảng không giúp con. Những lời kinh quen thuộc nghe khô. Sau rước lễ lòng vẫn trống. Đừng vội kết luận rằng Thánh Lễ “không có gì”. Có thể chính trong những ngày ấy lòng tin của con được thanh luyện. Khi cảm giác sốt sắng nâng đỡ, ta dễ đến với Chúa. Nhưng khi không có gì nâng đỡ mà ta vẫn đến, vẫn quỳ, vẫn tin, vẫn nói “Amen”, thì đức tin trở nên trần trụi hơn, và đôi khi tinh tuyền hơn.
Người yêu thật không chỉ ở với người mình yêu khi cuộc gặp gỡ đem lại cảm xúc dễ chịu. Có những tình yêu lớn lên qua sự hiện diện bền bỉ trong những ngày không có gì đặc biệt. Thánh Thể cũng vậy. Đừng săn tìm cảm giác. Hãy tìm Chúa. Nếu Chúa cho cảm xúc, tạ ơn. Nếu không, vẫn tạ ơn. Con không ăn bánh vì bánh làm con xúc động; con ăn vì con cần sống.
17. THÁNH THỂ LÀ LỜI ĐÁP CỦA THIÊN CHÚA CHO SỰ CÔ ĐƠN SÂU NHẤT
Có một cuộc chiến khác mà nhiều người không nói ra: cuộc chiến với cảm giác mình không được ai hiểu thật. Có thể sống giữa nhiều người vẫn cô đơn. Có thể làm mục vụ, làm việc, chăm sóc gia đình, nói cười, nhưng sâu bên trong có một căn phòng chẳng ai bước vào. Những tổn thương lâu năm, những thất vọng, những câu hỏi không biết kể với ai, những mệt mỏi phải giấu vì sợ làm người khác lo. Hỡi linh hồn, Thánh Thể không giải quyết sự cô đơn bằng lời nói dễ dãi. Thánh Thể là Thiên Chúa đi vào sự cô đơn ấy bằng chính sự hiện diện của Ngài.
Có lúc con không cần một lời giải thích. Con cần một người ở đó. Trong nhà tạm, Ngài ở đó. Trong Thánh Lễ, Ngài trao mình. Trong rước lễ, Ngài đến gần hơn mọi người có thể đến gần. Không ai có thể đi vào trong con như Ngài. Không ai hiểu lịch sử đời con như Ngài. Không ai biết từng ý nghĩ, từng nỗi sợ, từng nước mắt bị nuốt ngược như Ngài. Vì thế, khi cô đơn, đừng chỉ chạy đến những tiếng ồn để quên. Hãy học ngồi trước Thánh Thể. Có thể con sẽ khó chịu lúc đầu vì im lặng làm những gì bị che giấu trồi lên. Nhưng nếu ở lại, con sẽ khám phá rằng thinh lặng của Chúa không phải là vắng mặt.
18. THÁNH THỂ VÀ CUỘC CHIẾN ĐẾN GIỜ CUỐI
Có một ngày cuộc chiến này sẽ kết thúc. Không ai biết ngày nào. Nhưng đời người sẽ đến lúc không còn thêm một Thánh Lễ nào nữa trên trần gian, không còn thêm một lần rước lễ nào nữa. Những người đã sống lâu năm quanh bàn tiệc Chúa sẽ hiểu sâu hơn ý nghĩa của lời Hội Thánh gọi Thánh Thể là lương thực cho hành trình. Đặc biệt khi gần cuối đời, mọi thứ từng làm ta bận tâm sẽ rơi xuống. Danh tiếng, tiền bạc, thành tựu, tranh cãi, những lần hơn thua — tất cả trở nên nhỏ. Điều còn lại là: tôi có thuộc về Chúa không?
Hãy sống mỗi lần rước lễ như một bước chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng. Hôm nay con rước Ngài dưới hình bánh; một ngày con sẽ gặp Ngài mặt đối mặt. Hôm nay Ngài ẩn mình vì lòng con chưa chịu nổi vinh quang; một ngày bức màn sẽ được kéo lên. Hôm nay con nói “Amen” trong đức tin; một ngày con sẽ thấy Đấng mà mình đã tin. Biết như vậy không làm đời buồn đi. Trái lại, nó làm mỗi Thánh Lễ quý hơn.
19. MỘT CÁCH THỰC HÀNH ĐƠN SƠN CHO NGƯỜI ĐANG CHIẾN ĐẤU
Hỡi linh hồn, nếu con muốn Thánh Thể đi sâu hơn vào cuộc chiến của mình, hãy thử sống từng Thánh Lễ với một nhịp rất đơn sơ. Trước lễ: “Lạy Chúa, hôm nay con đem đến cho Chúa cuộc chiến này…” Trong phần dâng lễ: “Con đặt nó lên bàn thờ.” Khi truyền phép: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho đời con được kết hợp với hy lễ của Chúa.” Khi rước lễ: “Xin Chúa vào trong con và chiến đấu trong con.” Sau rước lễ: “Xin chiếm lấy trí khôn, ý chí, ký ức, trái tim và thân xác con.” Khi rời nhà thờ: “Xin cho con sống điều con vừa lãnh nhận.” Chỉ thế thôi. Nếu làm kiên trì, con sẽ thấy Thánh Lễ không còn đứng ngoài đời sống. Nó trở thành trung tâm mà mọi cuộc chiến quy tụ về.
Và khi cám dỗ đến trong ngày, hãy nhớ Thánh Thể sáng hôm ấy. Đừng nghĩ: “Tôi phải tự chống.” Hãy nói: “Chúa Giêsu mà tôi đã rước đang ở với tôi.” Dù sự hiện diện bí tích theo nghĩa riêng không kéo dài theo cách vật lý đơn giản như ta tưởng, sự kết hợp với Đức Kitô và ân sủng của Bí tích tiếp tục sinh hoa trái nơi linh hồn. Hãy sống từ sự kết hợp ấy. Người lính mang theo lương thực đã ăn vào trong chính sức lực của mình. Cũng vậy, hãy để sức mạnh của Thánh Thể trở thành sức mạnh của những lựa chọn nhỏ trong ngày.
20. LỜI KẾT – ĐỪNG RỜI BÀN TIỆC TRONG GIỜ CHIẾN ĐẤU
Hỡi linh hồn đang mỏi mệt, con có thể quên rất nhiều điều đã đọc trong chương này, nhưng xin đừng quên một điều: đừng chiến đấu xa Chúa Giêsu Thánh Thể. Đừng để kẻ thù đẩy con ra khỏi nguồn sức mạnh bằng sự xấu hổ, bằng khô khan, bằng thói quen, bằng bận rộn hay bằng cảm giác mình bất xứng. Hãy giữ mình trong ân sủng. Hãy siêng năng tìm đến Bí tích Hòa Giải khi cần. Hãy tham dự Thánh Lễ với lòng tin. Hãy rước lễ cách xứng đáng. Hãy chuẩn bị. Hãy tạ ơn. Hãy viếng Thánh Thể. Hãy sống cả ngày như người đã mang Chúa trong mình.
Khi con yếu, hãy đến. Khi con mạnh, hãy đến để khỏi kiêu căng. Khi con vui, hãy đến để tạ ơn. Khi con buồn, hãy đến để được an ủi. Khi con vừa thắng một cám dỗ, hãy đến để dâng chiến thắng cho Chúa. Khi con vừa thất bại, nếu cần hãy giao hòa với Ngài rồi lại đến. Khi con không hiểu chính mình, hãy đến. Khi không ai hiểu con, hãy đến. Khi lòng đầy ánh sáng, hãy đến. Khi lòng tối như đêm, vẫn hãy đến.
Đừng đợi đến khi con cảm thấy xứng đáng. Con sẽ không bao giờ xứng đáng theo nghĩa tự sức mình. Tất cả đều là ân huệ. Nhưng hãy đến với một tấm lòng thống hối, trong sạch khỏi tội trọng, khiêm nhường và đói khát. Hãy đến như người ăn xin đi tìm bánh. Hãy đến như người bệnh tìm thầy thuốc. Hãy đến như người lính trở về trạm quân y với những vết thương còn rỉ máu. Hãy đến như Gioan tựa đầu vào ngực Thầy. Hãy đến như Phêrô đã khóc nhưng vẫn muốn theo Thầy. Hãy đến như người con trở về nhà cha. Hãy đến như Đức Maria mở trọn cung lòng cho Ngôi Lời.
Và mỗi lần rước Chúa, hãy để một phần nào đó của con người cũ chết đi. Một chút tự ái chết đi. Một chút tham vọng chết đi. Một chút ích kỷ chết đi. Một chút cay đắng chết đi. Một chút ham muốn kiểm soát chết đi. Một chút sợ hãi chết đi. Đồng thời, hãy để một phần con người mới sống dậy: thêm một chút hiền lành, thêm một chút nhẫn nại, thêm một chút trong sạch, thêm một chút tự do, thêm một chút tín thác, thêm một chút bác ái, thêm một chút yêu Thánh Giá, thêm một chút khao khát Thiên Chúa.
Nếu sau nhiều năm con vẫn phải chiến đấu, đừng ngạc nhiên. Thánh Thể không được ban để loại bỏ chiến trường, nhưng để bảo đảm rằng con không chiến đấu một mình. Chúa không hứa cất hết mọi cám dỗ. Ngài trao chính mình. Và còn gì lớn hơn thế?
Khi con nghe lời Đức Giêsu: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,54), đừng chỉ nghĩ về sự sống mai sau. Sự sống đời đời đã bắt đầu từ đây, mỗi khi Đức Kitô sống trong con và con để Ngài uốn đời mình theo Ngài. Mỗi lần con thắng một chút ích kỷ nhờ ân sủng, sự sống ấy đang hoạt động. Mỗi lần con tha thứ trong khi bản tính muốn trả đũa, sự sống ấy đang hoạt động. Mỗi lần con giữ đôi mắt trong sạch, giữ miệng khỏi một lời độc ác, trung thành khi không ai nhìn, tiếp tục cầu nguyện khi khô khan, đứng dậy sau sa ngã, chọn thánh ý Chúa thay ý mình, sự sống của Đức Kitô đang chiến thắng trong con.
Hỡi linh hồn, hãy nhớ hình ảnh này. Con là một người lính đang đi qua một cuộc chiến dài. Áo con có thể dính bụi. Chân con có thể rướm máu. Có ngày thanh gươm gần rơi khỏi tay. Có lúc con tưởng mình không đi thêm nổi. Nhưng ở giữa chiến trường ấy có một bàn tiệc. Trên bàn tiệc ấy không chỉ có bánh của con người. Có chính Đấng đã chiến thắng đang trao mình cho con. Ngài nói: “Hãy cầm lấy mà ăn.” Ngài không bảo con rằng con phải tự mạnh lên rồi mới đến. Chính Ngài trở thành sức mạnh của con.
Vậy hãy ăn, rồi đứng dậy.
Hãy uống, rồi tiếp tục bước.
Hãy để Mình Thánh Ngài nuôi thân phận yếu đuối của con.
Hãy để Máu Thánh Ngài chảy vào những nơi đang lạnh giá trong lòng con.
Hãy để trái tim Ngài dạy trái tim con yêu.
Hãy để ý chí Ngài chữa ý chí bất phục của con.
Hãy để sự khiêm hạ của Ngài nghiền nát tự ái trong con.
Hãy để sự trong sạch của Ngài thanh luyện giác quan con.
Hãy để sự hiền lành của Ngài làm nguội những cơn giận.
Hãy để sự vâng phục của Ngài làm chết ý riêng.
Hãy để cuộc Thương Khó của Ngài cho con sức chịu đựng.
Hãy để sự Phục Sinh của Ngài kéo con ra khỏi mọi tuyệt vọng.
Rồi sẽ đến một ngày con hiểu rằng những lần rước lễ tưởng như bình thường ấy đã âm thầm cứu con khỏi biết bao vực thẳm. Có những cám dỗ con không sa vào mà không biết vì sao. Có những đau khổ con chịu được dù tưởng mình không thể. Có những lần con đứng dậy được sau sa ngã. Có những ngày con vẫn giữ được đức tin dù lòng hoàn toàn tối. Có những người con cuối cùng tha thứ được. Có những dính bén tự nhiên rơi khỏi tay con theo năm tháng. Có những điều ngày xưa con tưởng không thể bỏ, rồi một ngày nhìn lại mới biết chúng đã không còn sức mạnh trên con nữa. Đừng vội nghĩ tất cả là công con. Có thể biết bao điều đã được thực hiện âm thầm từ bàn tiệc Thánh Thể.
Cho nên, hỡi linh hồn đang chiến đấu, khi trận chiến gay gắt nhất, đừng chạy xa bàn thờ.
Hãy chạy về đó.
Khi con yếu nhất, đừng trốn Chúa.
Hãy tìm Ngài.
Khi con bị thương, đừng nằm lại trên chiến trường mà tuyệt vọng.
Hãy trở về với Đấng có những vết thương vinh hiển trong tay, chân và cạnh sườn.
Ngài biết thế nào là đau.
Ngài biết thế nào là bị cám dỗ.
Ngài biết thế nào là bị bỏ rơi.
Ngài biết thế nào là phải uống chén đắng.
Và Ngài đã thắng.
Chính Đấng ấy đang trao mình cho con.
Đừng rước lễ như một người đã quen.
Đừng rước lễ như người đến làm xong một bổn phận.
Đừng rước lễ như người chỉ muốn tìm một chút an ủi.
Hãy rước lễ như người lính nhận lấy sự sống từ vị Vua của mình. Hãy rước lễ như người bệnh chạm đến Thầy Thuốc. Hãy rước lễ như người nghèo nhận lấy kho tàng. Hãy rước lễ như người con trở về lòng Cha. Hãy rước lễ như người yêu trao trọn mình cho Đấng mình yêu. Hãy rước lễ như người đang chết khát tìm thấy nguồn nước. Và trên hết, hãy rước lễ như một linh hồn biết rằng nếu không có Chúa Giêsu, mình chẳng làm được gì, nhưng với Chúa Giêsu, ngay cả những nơi tưởng đã chết trong mình cũng có thể sống lại.
Bởi vì nguồn sức mạnh lớn lao nhất trong cuộc chiến linh hồn không phải là một kỹ thuật, không phải một kỷ luật, không phải ý chí sắt đá của con người.
Nguồn sức mạnh ấy là một Ngôi Vị.
Là Chúa Giêsu Kitô.
Và trong Bí tích Thánh Thể, Ngài vẫn đang nói với con, từng ngày, cho đến cuối cuộc hành trình:
“Hãy cầm lấy mà ăn… Đây là Mình Thầy.”
CHƯƠNG 26
VIỆC XÉT MÌNH HÀNG NGÀY TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang muốn tiến bộ thật sự trên con đường chiến đấu, sau khi đã nói đến những khí giới lớn lao mà Thiên Chúa đặt vào tay con, sau khi đã học cách bất tín nhiệm vào chính mình, tín thác vào Thiên Chúa, luyện tập lý trí và ý chí, chống lại các đam mê, cầu nguyện, suy niệm cuộc Thương Khó, chạy đến với Đức Maria và đặc biệt kín múc sức mạnh nơi Bí tích Thánh Thể, giờ đây chúng ta phải nói đến một việc tưởng như rất nhỏ, rất quen thuộc, rất âm thầm, nhưng lại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với bất cứ ai muốn chiến đấu cách nghiêm túc trong đời sống thiêng liêng: việc xét mình hàng ngày. Có những linh hồn thích những việc lớn lao nhưng lại bỏ qua việc xét mình. Họ thích đọc nhiều sách, nghe nhiều bài giảng, tìm hiểu nhiều phương pháp cầu nguyện, tham dự nhiều việc đạo đức, quyết tâm nhiều điều tốt đẹp, nhưng lại rất ít khi ngồi xuống một cách thành thật trước mặt Thiên Chúa để hỏi: “Hôm nay thực sự tôi đã sống thế nào? Tôi đã để cho điều gì điều khiển lòng mình? Tôi đã tìm Chúa hay tìm mình? Tôi đã chiến đấu hay đã buông xuôi? Tôi đã tín thác hay vẫn cậy dựa vào sức riêng? Tôi đã để đam mê nào âm thầm dẫn dắt các quyết định, lời nói và phản ứng của tôi?” Nếu không có những giờ phút như thế, đời sống thiêng liêng rất dễ trở thành một vùng đất đầy ảo tưởng. Người ta có thể tưởng rằng mình đang tiến bộ trong khi thực ra chỉ đang lặp lại những thói quen cũ dưới những hình thức tinh tế hơn; có thể tưởng rằng mình khiêm nhường trong khi chỉ đang sợ bị tổn thương; tưởng rằng mình nhiệt thành trong khi chỉ đang tìm sự công nhận; tưởng rằng mình yêu Chúa trong khi nhiều việc đạo đức vẫn được thúc đẩy bởi nhu cầu tự khẳng định mình; tưởng rằng mình đã tha thứ nhưng trong lòng vẫn còn âm thầm giữ một bản án đối với người khác; tưởng rằng mình tín thác nhưng thực ra chỉ bình an khi mọi sự diễn ra theo ý mình. Chính vì vậy, xét mình không phải là một việc phụ thuộc của đời sống thiêng liêng, càng không phải chỉ là một thủ tục để chuẩn bị trước khi xưng tội. Xét mình là một phần của cuộc chiến. Nó là lúc người lính trở về sau một ngày chiến đấu để nhìn lại chiến trường, xem mình đã bị đánh ở đâu, đã thắng ở đâu, đã sơ hở ở đâu, đã để mất vị trí nào, đã sử dụng khí giới nào tốt, đã quên sử dụng khí giới nào, và ngày mai phải canh giữ điểm nào kỹ hơn. Không một người lính khôn ngoan nào cứ lao vào trận ngày này qua ngày khác mà không nhìn lại những gì đã xảy ra. Cũng vậy, không một linh hồn nào có thể tiến xa trong cuộc chiến nội tâm nếu không học cách nhìn lại chính mình dưới ánh sáng của Thiên Chúa.
Xét mình trước hết là đứng trong sự thật. Nhưng phải hiểu thật đúng chữ “sự thật” này. Sự thật không phải là thái độ nghiệt ngã nhìn mình như một quan tòa lạnh lùng đang tìm mọi bằng chứng để kết án. Sự thật cũng không phải là sự nuông chiều, tự bào chữa, làm nhẹ tội lỗi để giữ cho lòng mình khỏi khó chịu. Sự thật là nhìn mình bằng ánh sáng của Thiên Chúa, mà ánh sáng của Thiên Chúa bao giờ cũng vừa phơi bày vừa chữa lành, vừa cho thấy vết thương vừa đưa đến phương thuốc, vừa làm linh hồn hạ mình xuống vừa làm linh hồn ngước lên. Ma quỷ cũng có thể chỉ cho con thấy tội lỗi của con, nhưng nó chỉ cho thấy để làm con tuyệt vọng. Tự ái cũng có thể làm cho con suy nghĩ rất nhiều về những lỗi lầm của mình, nhưng nó suy nghĩ để than thân, để tức giận với chính mình, để buồn vì hình ảnh đẹp mà con muốn có về mình đã bị phá vỡ. Chỉ có Chúa Thánh Thần mới cho con nhìn thấy sự thật theo cách làm cho con vừa đau đớn vừa bình an, vừa hối hận vừa tín thác, vừa thấy mình yếu đuối vừa thấy lòng thương xót Chúa lớn hơn tất cả sự yếu đuối ấy. Bởi thế, mỗi lần xét mình, con phải đặt mình trước mặt Chúa, chứ không phải trước cái tôi của mình. Nếu xét mình mà càng xét càng quay tròn quanh bản thân, càng nhìn càng chỉ thấy “tôi, tôi, tôi”, càng phân tích càng mất bình an, thì rất có thể con đang không thực sự đứng dưới ánh sáng của Chúa mà đang đứng dưới ánh sáng của tự ái bị thương tổn. Một việc xét mình tốt luôn kết thúc bằng việc linh hồn hướng về Thiên Chúa nhiều hơn, chứ không phải bị mắc kẹt trong chính mình nhiều hơn.
Mục đích của xét mình vì thế không chỉ là tìm xem hôm nay con đã phạm bao nhiêu tội. Nếu chỉ dừng ở đó, việc xét mình vẫn còn rất nông. Tội lỗi là điều cần nhìn thấy, nhưng đằng sau tội lỗi còn có những gốc rễ sâu hơn phải được nhận ra. Một lời nói nóng nảy có thể xuất phát từ tự ái. Một sự im lặng tưởng là nhẫn nhịn có thể thực ra là giận dỗi. Một việc phục vụ có vẻ bác ái có thể chứa trong nó nhu cầu được người khác biết ơn. Một sự cẩn thận có thể xuất phát từ trách nhiệm, nhưng cũng có thể xuất phát từ sự sợ mất mặt. Một việc nói thẳng có thể được biện minh là vì sự thật, nhưng thực ra bên dưới là mong muốn thắng người khác. Một sự nhường nhịn có thể là bác ái, nhưng cũng có thể chỉ là hèn nhát không dám đối diện. Một thời gian cầu nguyện dài có thể là tình yêu Chúa, nhưng cũng có thể được dùng như nơi trốn tránh những bổn phận khó chịu. Vì vậy, xét mình phải đi sâu xuống dưới hành vi để nhìn vào động lực. Hãy hỏi không chỉ: “Tôi đã làm gì?” mà còn: “Tại sao tôi làm như vậy? Tôi đã tìm điều gì trong việc ấy? Tôi đã muốn làm vui lòng Chúa hay muốn giữ hình ảnh của mình? Tôi đã thực sự yêu người kia hay tôi chỉ muốn họ cư xử theo cách làm tôi dễ chịu? Tôi đau vì đã xúc phạm đến Chúa hay tôi chỉ đau vì mình đã thất bại?” Khi bắt đầu đặt những câu hỏi như vậy, con sẽ khám phá rằng đời sống nội tâm phức tạp hơn con tưởng, và tự ái tinh tế hơn con nghĩ rất nhiều. Nhưng đừng sợ. Nhìn thấy bệnh không phải là thua cuộc. Trái lại, không nhìn thấy bệnh mới nguy hiểm. Một vết thương được nhận biết có thể được chữa lành; một vết thương bị che kín sẽ âm thầm làm độc cả cơ thể.
Hỡi linh hồn, hãy nhớ rằng mục đích của xét mình không phải là biến con thành một người luôn nghi ngờ mọi điều mình làm, cũng không phải khiến con mất đi sự tự nhiên, cứ mỗi phút lại lo lắng xem mình có sai không. Đó không phải đời sống con cái Thiên Chúa. Xét mình đúng đắn phải đem đến sự sáng suốt, chứ không tạo ra nỗi ám ảnh. Nó giúp con nhận ra những đường hướng lớn đang vận hành trong lòng mình để con chiến đấu đúng chỗ. Trong một ngày có thể xảy ra hàng trăm chuyện nhỏ, nhưng thường chỉ có một vài đam mê chính đứng đằng sau nhiều phản ứng khác nhau. Có người cả ngày bị điều khiển bởi nhu cầu được tôn trọng. Có người bị sự thiếu kiên nhẫn chi phối. Có người để sự lo lắng và nhu cầu kiểm soát điều khiển mình. Có người đang bị lười biếng thiêng liêng làm cho trì hoãn. Có người đang bị sự tò mò kéo đi khắp nơi khiến tâm hồn tản mạn. Có người đang mang một vết tự ái khiến mọi lời nói của người khác đều bị giải thích theo hướng chống lại mình. Việc xét mình giúp con nhận diện “kẻ thù chính” của ngày hôm đó. Và khi đã nhìn thấy nó, con không còn chiến đấu mù quáng nữa.
Một trong những điều đầu tiên cần làm khi xét mình là đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Đừng vội bắt đầu bằng danh sách các lỗi lầm. Hãy dừng lại. Hãy để lòng mình lắng xuống. Có thể quỳ, có thể ngồi yên, có thể nhìn lên Thánh Giá, có thể ở trước Nhà Tạm nếu hoàn cảnh cho phép. Hãy ý thức rằng Chúa đang ở đó. Ngài không phải là một người thanh tra đến kiểm tra hồ sơ của con. Ngài là Cha. Ngài là Đấng đã thấy con suốt cả ngày, thấy cả những lần con cố gắng mà không ai biết, thấy những lúc con bị cám dỗ dữ dội nhưng vẫn cố không đồng ý, thấy những lúc con thất bại, thấy những điều con muốn làm tốt nhưng không làm được, thấy những giọt nước mắt con không nói với ai, thấy cả những lúc con bất trung. Hãy để mình được nhìn bởi ánh mắt ấy. Rồi xin Chúa Thánh Thần soi sáng: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin cho con thấy ngày sống của con như Chúa thấy, không che đậy, không phóng đại, không bào chữa, không kết án, nhưng trong sự thật.” Lời nguyện rất đơn sơ ấy có thể thay đổi hoàn toàn việc xét mình. Vì điều chúng ta cần không phải chỉ là trí nhớ tốt, mà là ánh sáng. Có người nhớ rất nhiều nhưng không hiểu mình. Có người kể lại được mọi sự kiện trong ngày nhưng vẫn không thấy được điều gì đang xảy ra trong lòng. Chỉ ánh sáng của Chúa mới giúp con nối những điểm rời rạc lại và nhận ra một đam mê đang lặp đi lặp lại dưới nhiều hình thức.
Sau đó, trước khi xét lỗi, hãy tạ ơn. Đây là điều rất quan trọng mà nhiều linh hồn bỏ quên. Họ đến giờ xét mình như đến một phiên tòa và lập tức tìm điều sai. Kết quả là họ dần dần đồng hóa đời sống thiêng liêng với cảm giác tội lỗi và nặng nề. Nhưng một ngày của con không chỉ có thất bại. Trong đó có vô vàn ơn Chúa. Có thể sáng nay con đã thức dậy được, đó đã là ơn. Con có thể cầu nguyện, dù khô khan, đó là ơn. Con có thể làm một việc bổn phận, đó là ơn. Có người đã mỉm cười với con, có người đã giúp con, có một lời Kinh Thánh chạm đến lòng con, có một cơn cám dỗ mà con đã không chiều theo, có một lần con định nổi nóng nhưng đã im lại được vài giây, có một việc con vốn thường trì hoãn nhưng hôm nay đã làm ngay, có một người khiến con khó chịu nhưng con đã cố nói nhẹ nhàng hơn. Tất cả những điều ấy không phải chỉ là “thành công của con”; chúng là dấu vết của ân sủng. Hãy nhận ra và cảm tạ. Một linh hồn biết tạ ơn sẽ xét mình trong ánh sáng khác hẳn. Nó không còn nhìn ngày sống như một đống thất bại, nhưng như một nơi Thiên Chúa đã âm thầm làm việc, dù giữa rất nhiều sự yếu đuối của mình. Tạ ơn cũng làm tan đi một dạng kiêu ngạo tinh vi: kiêu ngạo vì nghĩ rằng mình phải tự sửa mình bằng sức riêng. Khi con nhận ra những điều tốt đẹp đã xảy ra đều mang dấu tay Chúa, con sẽ hiểu rằng ngày mai con cũng cần Ngài như vậy.
Rồi hãy đi vào phần xét mình cách cụ thể. Trước hết hãy hỏi về sự tự ái, bởi vì đây là một trong những gốc sâu nhất của nhiều đam mê. “Hôm nay tôi đã bị tổn thương ở đâu? Tại sao điều ấy làm tôi khó chịu đến thế? Có phải vì một sự bất công thật sự, hay vì người khác không tôn trọng tôi như tôi mong? Tôi có muốn được người ta hiểu, khen, công nhận, cảm ơn không? Khi ý kiến của tôi không được chấp nhận, tôi đã phản ứng thế nào? Khi có ai sửa tôi, tôi có lập tức tìm lý do để bào chữa không? Khi người khác thành công, tôi có vui thật không, hay có một chút khó chịu âm thầm? Khi người khác được chú ý còn tôi bị bỏ qua, lòng tôi có bình an không?” Đừng trả lời những câu này một cách quá lý thuyết. Hãy nhìn vào những khoảnh khắc cụ thể. Chính trong những điều nhỏ, tự ái lộ mặt rõ nhất. Một ánh mắt, một lời bình luận, một quyết định không theo ý con, một lời cảm ơn bị quên, một tin nhắn không được trả lời, một việc con làm mà người khác xem như bình thường — những chuyện rất nhỏ ấy đôi khi đủ để làm lòng con xao động nhiều giờ. Đó là dấu hiệu đáng để nhìn lại. Không phải để kết án mình, nhưng để biết nơi nào cần chiến đấu.
Hãy xét về sự nóng giận và thiếu kiên nhẫn. Không chỉ hỏi xem hôm nay con có quát ai hay không. Có khi con không nói một lời nặng nề nhưng trong lòng đã xét đoán và kết án người khác cả giờ. Có khi bên ngoài vẫn lịch sự nhưng bên trong đầy khó chịu. Có khi con không nổi giận với ai, nhưng lại cáu gắt với chính mình vì một lỗi nhỏ. Có khi con nóng lòng vì người khác làm chậm, vì kế hoạch bị thay đổi, vì công việc không tiến theo ý, vì người khác không hiểu điều con thấy rất rõ. Hãy hỏi: “Điều gì hôm nay khiến tôi mất bình an? Khi bị cản trở, tôi có nhớ rằng Chúa đang hiện diện trong hoàn cảnh đó không? Tôi có coi người làm phiền mình như kẻ phá hỏng kế hoạch, hay như một người Chúa cho tôi gặp để tập yêu thương? Tôi có dùng sự nóng giận dưới danh nghĩa trách nhiệm, nguyên tắc hay nhiệt thành không?” Có những linh hồn rất dễ biện minh cho nóng giận vì họ nghĩ mình giận “có lý”. Nhưng cuộc chiến không chỉ hỏi con có lý hay không; nó hỏi lòng con có còn ở trong tình yêu hay không.
Hãy xét về sự lười biếng thiêng liêng và trì hoãn. Hôm nay có việc gì con biết mình phải làm nhưng đã cố kéo dài? Có giờ cầu nguyện nào con cắt ngắn chỉ vì muốn thoải mái? Có bổn phận nhỏ nào con bỏ qua vì nghĩ “để lát nữa”? Có việc khó nào con né tránh bằng cách làm nhiều việc dễ hơn? Có lúc nào con cầm điện thoại, mở một thứ không cần thiết, nói chuyện dài, xem thêm một điều chẳng quan trọng, chỉ để trốn khỏi một việc mà lương tâm đang nhắc phải làm? Lười biếng rất khéo mặc áo của sự hợp lý. Nó nói: “Mày mệt rồi, nghỉ chút đi.” “Mai làm cũng được.” “Việc này không quan trọng lắm.” “Bây giờ tâm trạng không thích hợp.” Và rồi cái “một chút” kéo dài, cái “ngày mai” cứ lặp lại. Xét mình sẽ giúp con thấy những lời thì thầm ấy đã thắng con ở đâu.
Hãy xét về việc canh giữ giác quan và tâm trí. Hôm nay mắt con đã nhìn những gì không cần thiết? Tai con đã nghe những gì làm tâm trí tản mạn? Lưỡi con đã nói điều gì chỉ để thỏa sự tò mò, để kể lại chuyện người khác, để gây ấn tượng, để tự vệ, để thắng trong tranh luận? Trí tưởng tượng con đã được nuông chiều ở những hình ảnh, ký ức hay giả tưởng nào? Con có để lòng mình ở quá lâu trong những điều làm nó yếu đi không? Đừng xem thường những điều nhỏ này. Nhiều cám dỗ lớn được chuẩn bị từ những sự buông thả rất nhỏ. Linh hồn không ngã vào vực ngay từ bước đầu; nó thường đi từng bước, và mỗi bước đều tưởng là không đáng kể. Xét mình hàng ngày giúp con nhìn thấy những bước ấy trước khi chúng trở thành thói quen.
Hãy xét về cầu nguyện và việc chạy đến với Chúa trong cám dỗ. Không phải chỉ hỏi hôm nay con đã đọc bao nhiêu kinh, cầu nguyện bao lâu. Hãy hỏi: “Trong những lúc khó, tôi có thực sự chạy đến với Chúa không? Khi nóng giận nổi lên, tôi nhớ đến Chúa hay chỉ tự cố kìm mình? Khi buồn, tôi đem nỗi buồn đến với Chúa hay tự nhốt mình trong suy nghĩ? Khi bị cám dỗ, tôi kêu cầu ngay hay đứng đó thương lượng quá lâu? Khi thành công, tôi có tạ ơn hay lập tức quy công cho mình? Khi thất bại, tôi có tín thác hay lập tức chán nản?” Đây là một trong những điểm quan trọng nhất để biết con có đang thực hành hai khí giới nền tảng — bất tín nhiệm vào mình và tín thác vào Chúa — hay chỉ hiểu chúng trên lý thuyết. Rất nhiều người nói mình tín thác, nhưng cả ngày gần như không có một lần thật sự quay về với Chúa giữa những việc đang xảy ra. Đến tối, việc xét mình sẽ cho con thấy điều đó. Và rồi ngày mai con có thể tập một điều rất nhỏ: mỗi khi lòng bắt đầu xao động, lập tức thầm gọi: “Lạy Chúa Giêsu, xin cứu con. Con không làm được nếu không có Chúa.”
Hãy xét cả những việc tốt con đã làm. Đây là điểm tinh tế nhưng rất quan trọng. Đừng chỉ xét điều xấu. Những điều tốt cũng cần được thanh luyện trong động lực. “Tôi đã giúp người kia vì yêu họ hay vì muốn họ thấy tôi tốt? Tôi đã nói lời đạo đức ấy vì muốn xây dựng hay muốn mình được nhìn như người hiểu biết? Tôi đã hy sinh vì Chúa hay rồi sau đó âm thầm chờ người khác ghi nhận? Tôi có bực khi người mình giúp không biết ơn không? Nếu một việc tốt của tôi bị hiểu lầm, tôi có còn bình an không? Nếu người khác làm cùng một việc nhưng được khen hơn tôi, tôi có vui không?” Những câu hỏi ấy sẽ đưa con vào một vùng sâu của đời sống thiêng liêng: vùng mà hành vi bên ngoài có thể tốt nhưng ý hướng bên trong còn pha trộn. Đừng hoảng sợ khi thấy sự pha trộn ấy. Hầu hết chúng ta đều khởi đầu như vậy. Điều Chúa muốn không phải là con lập tức có một trái tim hoàn toàn tinh tuyền, nhưng là con để Ngài từng ngày thanh luyện nó.
Sau khi nhìn thấy những điều chưa tốt, hãy xin lỗi Chúa. Nhưng xin lỗi như một người con, không như một kẻ tuyệt vọng. Đây là lúc rất dễ rơi vào cạm bẫy. Có người sau xét mình trở nên tức giận với bản thân: “Sao mình vẫn thế? Sao bao nhiêu năm rồi vẫn nóng giận? Sao lại sa vào lỗi này nữa?” Nghe như hối hận, nhưng thực ra nhiều khi đó là tự ái. Con đau không hẳn vì đã làm Chúa buồn, mà vì con thất vọng khi thấy mình không tốt như hình ảnh con muốn có về mình. Khi ấy, hãy dừng lại và nói thật với Chúa: “Lạy Chúa, con lại thấy con yếu đuối. Điều này không làm Chúa ngạc nhiên, chỉ làm con ngạc nhiên vì con vẫn còn tưởng mình mạnh. Xin tha thứ cho con. Xin cho sự sa ngã này làm con khiêm nhường hơn, chứ đừng làm con xa Chúa hơn.” Đây là một lời cầu nguyện rất quý. Mỗi lỗi lầm được đặt trong lòng thương xót có thể trở thành một bài học về sự bất tín nhiệm vào mình và tín thác vào Thiên Chúa. Ma quỷ muốn dùng sa ngã để làm con lìa Chúa; Chúa có thể dùng chính sa ngã ấy để kéo con gần Ngài hơn, nếu con hạ mình và trở về.
Đừng bao giờ kết thúc xét mình bằng một lời như: “Ngày mai tôi sẽ cố hơn.” Câu ấy nghe tốt nhưng có thể rất nguy hiểm nếu bên dưới là sự cậy dựa vào ý chí riêng. Hãy nói: “Ngày mai, với ơn Chúa, con sẽ canh giữ điểm này.” Rồi hãy có một quyết tâm cụ thể. Không phải mười quyết tâm. Không phải một chương trình cải cách toàn diện. Chọn một điều. Nếu hôm nay con nhận ra mình mất bình an ba lần vì bị ngắt lời, ngày mai quyết tâm: “Mỗi lần ai làm gián đoạn công việc, tôi sẽ dừng một giây, thầm nói ‘Lạy Chúa Giêsu, vì Chúa’, rồi mới trả lời.” Nếu con thấy mình nói quá nhiều, quyết tâm ngày mai giữ lại một câu không cần nói. Nếu con thấy mình trì hoãn giờ cầu nguyện, quyết tâm làm ngay khi đến giờ, không thương lượng. Nếu con thấy mình hay tự bào chữa, quyết tâm khi bị góp ý sẽ im lặng vài giây trước khi đáp. Những quyết tâm nhỏ như vậy mới là chiến đấu thật. Cuộc chiến linh hồn không thắng bằng những cảm xúc lớn, nhưng bằng hàng ngàn chiến thắng rất nhỏ lặp đi lặp lại trong đời thường.
Ngoài việc xét mình vào buổi tối, con nên học xét mình ngắn trong ngày. Đây là một thực hành vô cùng hữu ích. Có thể gọi đó là những lúc “dừng lại để chỉnh hướng”. Một chiếc thuyền đi biển không chờ đến cuối hành trình mới kiểm tra mình có đi đúng hướng không; nó liên tục điều chỉnh. Linh hồn cũng vậy. Có thể buổi sáng sau cầu nguyện, giữa trưa, cuối buổi chiều, hoặc bất cứ lúc nào con thấy lòng xao động, hãy dừng lại chừng một phút và hỏi: “Lúc này lòng tôi đang ở đâu? Tôi đang ở trong bình an của Chúa hay đang bị một đam mê kéo đi? Tôi đang tìm điều Chúa muốn hay đang cố bảo vệ ý riêng? Tôi đang tín thác hay đang muốn kiểm soát? Có điều gì tôi cần buông xuống ngay không?” Chỉ một phút như thế có thể cứu cả một buổi chiều. Một cơn khó chịu nếu được nhận ra sớm có thể được dập tắt khi nó còn nhỏ; nếu để nó âm ỉ vài giờ, nó sẽ nhuộm màu mọi lời nói và suy nghĩ. Một cám dỗ nếu được đưa ngay đến với Chúa thì dễ vượt qua hơn nhiều so với khi ta đã nuôi nó trong trí tưởng tượng. Một sự tự ái nếu được nhận ra ngay lúc bị chạm có thể trở thành cơ hội khiêm nhường; nếu để lâu, nó sẽ bắt đầu xây dựng cả một câu chuyện trong đầu để chứng minh mình đúng và người khác sai.
Có thể con sẽ nói: “Nhưng tôi bận. Tôi không thể cứ dừng lại nhiều lần.” Thực ra việc này không cần lâu. Một ánh mắt hướng về Chúa, một câu hỏi nội tâm, một lời kêu cầu ngắn có khi chỉ mất vài giây. Điều khó không phải thiếu thời gian, mà là chúng ta quên. Vì thế hãy tạo những dấu mốc: khi nghe chuông, khi bắt đầu một công việc mới, trước bữa ăn, sau một cuộc gặp, lúc bước vào xe, khi đóng máy tính, khi nhìn thấy Thánh Giá. Những dấu mốc ấy nhắc con quay về với chính mình và với Chúa. Dần dần con sẽ sống tỉnh thức hơn, không còn để cả ngày bị cuốn đi bởi các phản ứng tự động.
Tuy nhiên, việc xét mình cũng có những cạm bẫy rất tinh tế. Cạm bẫy thứ nhất là xét mình quá khắt khe. Có người biến việc xét mình thành một cuộc săn lỗi. Họ soi từng lời nói, từng ý nghĩ, từng cảm xúc, rồi cái gì cũng thấy đáng trách. Sau một thời gian, họ mất tự do, mất sự đơn sơ, lúc nào cũng nghi ngờ mình. Đây không phải là hoa trái của Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa rất tinh tế nhưng không vụn vặt. Ngài soi sáng để chữa lành, không soi mói để làm con kiệt sức. Nếu việc xét mình khiến con ngày càng sợ hãi, thu mình, ám ảnh về lỗi, khó tin vào lòng thương xót, thì cần điều chỉnh ngay. Hãy dành nhiều thời gian hơn để tạ ơn và nhìn vào Chúa, ít thời gian hơn để mổ xẻ mình. Có những lỗi chỉ cần nhận ra, xin lỗi, sửa nếu cần, rồi đi tiếp. Không phải lỗi nào cũng cần phân tích một giờ.
Cạm bẫy ngược lại là xét mình quá dễ dãi. Có người tối nào cũng nói: “Hôm nay cũng bình thường, chẳng có gì đặc biệt.” Nhưng thực ra cả ngày họ đã nóng giận, phán xét, trì hoãn, nói những lời thiếu bác ái, chỉ là họ đã quen đến mức không còn thấy nữa. Đó là một nguy hiểm lớn. Lương tâm có thể trở nên chai nếu lâu ngày không được soi sáng. Vì vậy, đôi khi cần đặt những câu hỏi cụ thể thay vì hỏi chung chung. “Hôm nay có ai làm tôi khó chịu? Tôi đã nói về ai khi họ vắng mặt? Tôi đã mất thời gian vào điều gì? Tôi có một lần nào từ bỏ ý riêng vì Chúa không? Tôi đã cầu nguyện thế nào khi bị thử thách?” Những câu hỏi cụ thể sẽ phá vỡ sự mơ hồ.
Một cạm bẫy khác là phân tích mình quá mức. Tự ái rất thích giả làm người nghiêm túc thiêng liêng. Nó có thể khiến con suốt ngày nghĩ về tình trạng linh hồn của mình: “Tôi đang ở bậc nào? Tôi đã khiêm nhường chưa? Tôi có tiến bộ không? Tại sao hôm nay tôi khô khan? Tại sao tôi có cảm xúc này?” Kết quả là con nghĩ về mình nhiều hơn nghĩ về Chúa. Xét mình chỉ là một phương tiện, không phải trung tâm của đời sống. Trung tâm là Thiên Chúa. Mục đích của việc nhìn vào mình là để biết điều gì cần trao cho Ngài, rồi ngước mắt lên. Hãy giống như người soi gương buổi sáng để chỉnh lại khuôn mặt, chứ không đứng trước gương cả ngày. Một người chỉ nhìn vào các vết bẩn của mình sẽ không bao giờ bước ra khỏi căn phòng để sống.
Lại có người bỏ xét mình khi mệt mỏi. “Hôm nay mệt quá, thôi.” Một lần thì không sao, nhưng nếu thành thói quen, đời sống nội tâm sẽ nhanh chóng mất sự tỉnh thức. Không cần tối nào cũng làm dài. Có những hôm con quá mệt, chỉ cần vài phút: tạ ơn ba điều, nhận một lỗi chính, xin Chúa tha thứ, giao ngày mai cho Ngài. Quan trọng là sự trung thành. Một việc nhỏ làm đều đặn có giá trị hơn một việc lớn làm theo hứng. Cuộc chiến thiêng liêng được xây bằng sự bền bỉ âm thầm như thế.
Một cạm bẫy nữa là chỉ xét hành vi bên ngoài mà quên đời sống nội tâm. Có người có thể nói: “Hôm nay tôi không phạm lỗi gì lớn.” Nhưng cả ngày họ sống trong sự tự ái, lo lắng, xét đoán, ghen tị, tưởng tượng, bất mãn. Tất cả đều ở trong lòng nên họ cho rằng không đáng kể. Nhưng chính vùng nội tâm ấy là nơi cuộc chiến quyết liệt nhất diễn ra. Một hành động bên ngoài thường chỉ là trái; gốc nằm sâu trong tư tưởng, ý hướng và sự đồng ý nội tâm. Vì vậy, con phải học nhận ra những chuyển động nhỏ trong lòng: một niềm vui kín đáo khi người mình không thích gặp thất bại; một nỗi buồn khi người khác được khen; một sự dễ chịu khi kể được lỗi của ai; một mong muốn được chú ý; một thái độ lạnh đi vì bị tổn thương. Những điều ấy cho con biết trái tim đang nghiêng về đâu.
Nhưng hỡi linh hồn, xét mình không chỉ để thấy cái xấu. Nó còn giúp con nhận ra ơn Chúa đang hoạt động. Đây là một trong những hoa trái đẹp nhất. Sau vài tháng xét mình trung thành, con có thể nhận ra những thay đổi rất nhỏ mà nếu không nhìn lại con sẽ không thấy. Trước đây một lời phê bình làm con mất bình an cả ngày; bây giờ chỉ một giờ. Trước đây mỗi khi bị chống ý con lập tức phản ứng; bây giờ đôi khi con dừng lại được. Trước đây một cám dỗ khiến con chống chọi bằng sức riêng rất lâu; bây giờ con biết kêu cầu Chúa sớm hơn. Trước đây con trì hoãn một việc nhiều ngày; bây giờ vẫn khó nhưng con bắt đầu làm sớm hơn. Những tiến bộ ấy có thể rất nhỏ, nhưng hãy tạ ơn. Ân sủng thường làm việc như hạt giống: âm thầm, chậm, không ồn ào. Nếu con chỉ tìm những biến đổi lớn, con sẽ dễ nản. Xét mình giúp con nhìn thấy dấu tay nhỏ bé của Chúa và kiên nhẫn với hành trình của mình.
Việc xét mình trung thành cũng sinh ra khiêm nhường thật. Không phải thứ khiêm nhường bằng lời nói: “Tôi yếu đuối lắm, tôi chẳng là gì.” Những câu ấy ai cũng có thể nói. Khiêm nhường thật đến từ việc ngày này qua ngày khác nhìn thấy mình trong sự thật. Con sẽ thấy mình có thể quyết tâm buổi sáng rồi quên vào buổi trưa; có thể cầu nguyện sốt sắng rồi vài phút sau nổi nóng; có thể nói về tín thác nhưng khi việc trái ý xảy ra thì lo lắng; có thể yêu người nghèo nói chung nhưng rất khó chịu với một người cụ thể ở bên cạnh. Những kinh nghiệm ấy, nếu đón nhận đúng, sẽ phá vỡ các ảo tưởng về mình. Nhưng thay vì làm con cay đắng, chúng sẽ làm con hiền hơn với người khác. Khi biết mình yếu đuối thế nào, con bớt ngạc nhiên trước yếu đuối của anh em. Khi thấy Chúa kiên nhẫn với con mỗi ngày, con sẽ khó kết án người khác quá nhanh. Đây là một trong những dấu hiệu đẹp nhất của việc xét mình đúng đắn: con bớt xét đoán người khác vì đã học nhìn mình trước mặt Chúa.
Xét mình cũng làm cho con thực tế hơn trong cuộc chiến. Nhiều linh hồn thất bại vì những quyết tâm quá lớn. “Từ nay tôi sẽ không bao giờ nóng giận nữa.” “Tôi sẽ luôn sống trong sự hiện diện Chúa.” “Tôi sẽ hoàn toàn từ bỏ ý riêng.” Những lời ấy nghe cao đẹp nhưng không giúp ích nhiều. Khi xét mình hàng ngày, con sẽ thấy cuộc chiến diễn ra rất cụ thể: lúc bị ngắt lời, lúc đói, lúc mệt, khi bị hiểu lầm, khi có người không đáp ứng kỳ vọng, khi một kế hoạch thay đổi, khi điện thoại ở ngay bên cạnh trong giờ cầu nguyện. Khi biết những điểm yếu cụ thể ấy, con có thể chuẩn bị. Nếu biết mình dễ nóng khi mệt, hãy cẩn thận hơn vào cuối ngày. Nếu biết mình dễ tản mạn khi cầm điện thoại buổi sáng, đừng mở nó trước giờ cầu nguyện. Nếu biết một người nào đó thường chạm vào tự ái mình, hãy cầu nguyện trước khi gặp họ. Đây chính là chiến lược thiêng liêng. Không phải sợ hãi, nhưng khôn ngoan.
Sau một thời gian, việc xét mình sẽ làm cho lương tâm con nhạy bén hơn. Không phải nhạy theo kiểu lo âu, nhưng nhạy như một dụng cụ được điều chỉnh tốt. Trước đây con chỉ nhận ra mình đã nóng giận sau khi nói xong; rồi dần dần con nhận ra ngay khi giọng bắt đầu đổi; sau nữa con nhận ra ngay khi trong lòng vừa nổi lên một làn sóng bực; và rồi có ngày, nhờ ơn Chúa, con bắt gặp nó ở ngưỡng cửa và không để nó bước vào. Đó là tiến bộ. Trước đây con chỉ thấy tự ái sau khi tranh luận; sau này con nhận ra nó ngay khi có một sự thôi thúc muốn chứng minh mình đúng. Sự tỉnh thức này không thể có trong một ngày. Nó được hình thành qua việc nhìn lại trung thành.
Hỡi linh hồn, cũng cần nhớ rằng xét mình buổi tối là một việc rất đẹp để khép lại ngày sống trong lòng thương xót. Có những ngày con sẽ thấy vui vì đã chiến đấu tốt. Có những ngày con sẽ thấy xấu hổ vì đã thất bại nhiều. Có những ngày con khô khan đến mức chẳng biết nói gì. Nhưng dù ngày nào, hãy kết thúc bằng việc trao tất cả cho Chúa. Hãy nói với Ngài: “Lạy Chúa, ngày hôm nay đã qua. Điều tốt là do ơn Chúa, điều xấu là do sự yếu đuối của con và sự bất trung của con. Con cảm tạ Chúa vì đã không bỏ con. Con xin lỗi vì những lần con không yêu Chúa và anh em như đáng lẽ phải yêu. Con trao tất cả vào lòng thương xót Chúa. Xin Chúa gìn giữ con đêm nay và ban ơn để ngày mai con bắt đầu lại.” Rồi hãy ngủ trong bình an. Đừng mang phiên tòa vào giường ngủ. Đừng nằm đó lặp lại hàng chục lần một lỗi đã được con nhận ra, thống hối và trao cho Chúa. Nếu cần xưng tội, hãy nhớ để xưng. Nếu cần xin lỗi ai, hãy quyết định thực hiện. Còn lại, hãy để Chúa là Chúa. Lòng thương xót của Ngài lớn hơn khả năng con sửa mình.
Đừng quên rằng có một khác biệt rất lớn giữa thống hối và tự kết án. Thống hối nói: “Con đã sai, lạy Chúa, xin tha thứ và đổi mới con.” Tự kết án nói: “Tôi thật tệ, tôi không bao giờ khá được.” Thống hối nhìn vào Chúa. Tự kết án đóng cửa lại và nhìn vào mình. Thống hối làm phát sinh hy vọng. Tự kết án làm tê liệt. Thống hối dẫn đến hành động cụ thể. Tự kết án chỉ tạo ra mệt mỏi. Khi xét mình, hãy học phân biệt hai tiếng nói ấy. Tiếng nói của Chúa có thể nghiêm khắc nhưng luôn mở một con đường. Tiếng nói của kẻ thù luôn muốn làm con nghĩ rằng không còn đường nào nữa.
Nếu con trung thành với xét mình, dần dần con cũng sẽ nhận ra một điều rất sâu: cuộc chiến linh hồn không chỉ là việc con chiến đấu để trở thành “một phiên bản tốt hơn của chính mình”. Không. Mục tiêu sâu xa hơn nhiều. Đó là để Chúa Giêsu sống trong con nhiều hơn. Xét mình không phải chỉ hỏi: “Tôi đã tốt hơn chưa?” mà là: “Hôm nay Chúa Giêsu có được tự do hơn trong tôi không? Trong lời nói của tôi có nhiều sự hiền lành của Ngài hơn không? Trong phản ứng của tôi có nhiều sự nhẫn nại của Ngài hơn không? Trong những lúc trái ý, tôi có giống Ngài hơn một chút không? Tôi có để Ngài yêu người khác qua tôi không?” Khi câu hỏi ấy trở thành trung tâm, xét mình sẽ không còn là một phương pháp tự cải thiện, nhưng trở thành một cuộc gặp gỡ với Đấng đang muốn biến đổi con theo hình ảnh Ngài.
Có thể sẽ đến lúc con cảm thấy việc xét mình chẳng đem lại gì mới. Ngày nào cũng cùng một lỗi. Cùng sự thiếu kiên nhẫn. Cùng tự ái. Cùng trì hoãn. Con sẽ nghĩ: “Tôi xét để làm gì khi vẫn thế?” Hãy cẩn thận với tư tưởng ấy. Một người bệnh phải uống thuốc đều đặn dù bệnh không khỏi ngay. Một thửa đất phải được nhổ cỏ nhiều lần vì cỏ mọc lại. Một căn phòng phải quét mỗi ngày dù bụi vẫn trở về. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Sự lặp lại không có nghĩa là vô ích. Có những gốc rễ cần nhiều năm để chết. Điều Chúa nhìn không chỉ là con đã hết yếu đuối chưa, nhưng là con có còn quay về với Ngài không, còn chiến đấu không, còn khiêm nhường bắt đầu lại không. Có thể chiến thắng lớn nhất của một giai đoạn không phải là con không còn ngã, nhưng là sau mỗi lần ngã con đứng dậy nhanh hơn, ít tự ái hơn, tín thác hơn. Đó cũng là ân sủng.
Hãy giữ việc xét mình đơn sơ. Đừng biến nó thành một hệ thống quá phức tạp đến mức con không thể trung thành. Không cần ghi hàng chục mục mỗi tối nếu điều đó làm con mệt mỏi. Có thể chỉ dùng năm câu hỏi: “Hôm nay tôi tạ ơn Chúa về điều gì? Tôi đã để đam mê nào điều khiển mình rõ nhất? Tôi đã thắng ở đâu nhờ ơn Chúa? Tôi đã thất bại ở đâu và cần xin lỗi điều gì? Ngày mai tôi sẽ chiến đấu cụ thể ở điểm nào?” Năm câu hỏi ấy nếu trả lời thật có thể đủ để biến đổi một đời sống. Điều quan trọng không phải là phương pháp cầu kỳ mà là sự chân thành.
Và đôi khi, đừng chỉ xét mình một mình. Những gì con nhận ra qua nhiều ngày có thể đem vào Bí tích Hòa Giải hoặc chia sẻ với một vị linh hướng khôn ngoan nếu con có. Xét mình hàng ngày sẽ giúp việc xưng tội sâu hơn. Thay vì chỉ kể những lỗi rời rạc, con bắt đầu thấy các mẫu lặp lại: “Con nhận ra tự ái làm con phản ứng thế này”, “Con nhận ra mỗi khi mệt con dễ sa vào lỗi kia”, “Con nhận ra con thường dùng việc bận rộn để trốn cầu nguyện.” Khi nhìn thấy gốc rễ, việc chữa lành trở nên thực tế hơn. Bí tích Hòa Giải lúc ấy không chỉ là nơi “xóa danh sách tội”, nhưng thực sự trở thành nơi Chúa chữa lành chiến binh bị thương và đưa người ấy trở lại chiến trường với sức mới.
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, đừng coi thường mười phút cuối ngày. Có khi mười phút ấy quan trọng hơn nhiều giờ con làm việc. Đó là lúc con thu lại ngày sống trước mặt Chúa. Đó là lúc những sự kiện rời rạc được soi sáng. Đó là lúc một thất bại trở thành bài học, một chiến thắng trở thành lời tạ ơn, một vết thương trở thành nơi gặp lòng thương xót, một quyết tâm mơ hồ trở thành một bước đi cụ thể. Đó là lúc con học dần nghệ thuật khó nhất: nghệ thuật nhìn mình mà không ghét mình, nhận ra lỗi mà không tuyệt vọng, nhìn thấy điều tốt mà không kiêu ngạo, quyết tâm mà không cậy sức riêng, và trao tất cả vào tay Thiên Chúa.
Nếu một tối nào đó con thấy mình đã sống một ngày rất tệ, hãy xét mình. Nếu một tối con thấy mình đã sống rất tốt, cũng hãy xét mình. Ngày tệ cần lòng thương xót, ngày tốt cần lòng biết ơn và khiêm nhường. Nếu một ngày con cảm thấy Chúa rất gần, hãy xét mình để tạ ơn. Nếu một ngày con thấy Chúa xa, hãy xét mình để tiếp tục tín thác. Đừng để cảm xúc quyết định lòng trung thành. Cuộc chiến không được thắng bởi cảm xúc, nhưng bởi một ý chí được huấn luyện biết tiếp tục làm điều phải làm dù cảm thấy hay không cảm thấy gì.
Có một hình ảnh đẹp để con ghi nhớ: mỗi tối, khi xét mình, hãy tưởng tượng con đang đặt ngày sống của mình dưới chân Thánh Giá. Con mang đến đó tất cả: những giờ cầu nguyện sốt sắng và những lúc chia trí, những lời bác ái và những lời thiếu kiên nhẫn, những chiến thắng và những sa ngã, những lần con nhớ đến Chúa và những giờ con quên Ngài, những niềm vui, những lo âu, những nỗi tự ái bị chạm, những điều con chưa hiểu. Đặt tất cả dưới chân Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Đừng giữ lại gì. Rồi nhìn lên Ngài. Thánh Giá sẽ dạy con hai điều cùng lúc: tội lỗi là nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa đã chết vì nó; và tình yêu Thiên Chúa lớn đến mức Con Thiên Chúa đã chết để cứu con khỏi nó. Giữa hai chân lý ấy, linh hồn học được sự thống hối không tuyệt vọng và sự tín thác không dễ dãi.
Và nếu con muốn một lời nguyện ngắn để kết thúc việc xét mình mỗi tối, con có thể thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì ngày hôm nay. Tất cả những gì tốt đẹp nơi con đều là ân sủng Chúa. Tất cả những gì yếu đuối và bất trung, con đặt vào lòng thương xót Chúa. Xin tha thứ cho con vì những lần con đã tìm mình hơn tìm Chúa, đã cậy sức mình hơn cậy Chúa, đã yêu mình hơn yêu anh em. Con không hứa với Chúa rằng ngày mai con sẽ mạnh. Con chỉ xin Chúa ở với con và ban cho con biết chạy đến với Chúa trong từng cơn chiến đấu. Xin cho con ngày mai khiêm nhường hơn một chút, tỉnh thức hơn một chút, bác ái hơn một chút, và thuộc về Chúa hơn một chút. Con trao mình cho Chúa. Amen.”
Hỡi linh hồn, hãy trung tín với việc xét mình. Đừng sợ ánh sáng. Chỉ có bóng tối mới sợ ánh sáng. Điều con nhìn thấy trong ánh sáng của Chúa sẽ không còn quyền lực như khi nó ẩn trong bóng tối. Một đam mê được gọi đúng tên đã bắt đầu mất đi một phần sức mạnh của nó. Một vết thương được mở ra trước lòng thương xót đã bắt đầu được chữa lành. Một lỗi lầm được nhìn nhận trong khiêm nhường có thể trở thành bậc thang đưa con lên cao hơn. Một ngày tưởng như thất bại hoàn toàn có thể trở thành ngày đầy ân sủng nếu nó làm con bất tín nhiệm vào mình hơn và tín thác vào Thiên Chúa hơn.
Vì thế, mỗi tối, trước khi khép mắt, hãy trở về với Chúa và trở về với sự thật. Hãy nhìn ngày sống của mình mà không sợ hãi. Nếu con đã thắng, hãy cúi đầu tạ ơn. Nếu con đã thua, hãy quỳ xuống xin thương xót. Nếu con không hiểu mình, hãy xin ánh sáng. Nếu con mệt mỏi, hãy trao sự mệt mỏi. Nếu con xấu hổ, hãy ở lại dưới ánh mắt Chúa. Và khi đã làm tất cả, hãy để ngày hôm ấy đi qua. Đừng níu nó lại. Ngày mai là một chiến trường mới, và lòng thương xót Chúa cũng sẽ mới mỗi buổi sáng.
Hãy nhớ kỹ điều này: người chiến sĩ nguy hiểm nhất đối với kẻ thù không phải là người chưa từng bị đánh ngã, nhưng là người biết mình bị đánh ngã ở đâu, biết vì sao mình ngã, biết chạy về với Chúa, và biết đứng dậy để chiến đấu khôn ngoan hơn vào ngày mai. Việc xét mình hàng ngày sẽ dạy con điều ấy. Nó sẽ làm cho con bớt ảo tưởng, bớt tự mãn, bớt hoảng loạn trước yếu đuối, và ngày càng sống trong sự thật. Mà sống trong sự thật chính là bước đi trong ánh sáng. Ai bước đi trong ánh sáng thì dù còn yếu đuối, vẫn không bị lạc đường. Ai khiêm nhường nhìn nhận mình trước mặt Chúa thì dù còn nhiều vết thương, vẫn đang được chữa lành. Ai mỗi ngày biết trở về với lòng thương xót thì dù cuộc chiến còn dài, người ấy sẽ không chiến đấu một mình.
Vậy, hỡi linh hồn, đừng bỏ ngọn đèn nhỏ này. Hãy thắp nó lên mỗi tối. Hãy để ánh sáng Chúa soi vào lòng con. Hãy nhìn. Hãy tạ ơn. Hãy nhận lỗi. Hãy tín thác. Hãy chọn một bước nhỏ cho ngày mai. Rồi nghỉ yên trong Chúa. Ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, chính sự trung thành âm thầm ấy sẽ tạo nên một linh hồn tỉnh thức, khiêm nhường và vững vàng. Con có thể không nhận ra mình đang thay đổi, nhưng Chúa đang làm việc. Ngài đang dùng từng buổi tối xét mình, từng lời xin lỗi, từng quyết tâm nhỏ, từng lần bắt đầu lại để thanh luyện con, tước khỏi con những ảo tưởng, làm yếu dần những đam mê, và chuẩn bị con cho một sự tự do lớn hơn.
Hãy xét mình không phải vì sợ Chúa, nhưng vì muốn thuộc trọn về Chúa. Hãy xét mình không phải để biết mình xấu đến đâu, nhưng để biết Chúa đang muốn chữa lành con ở đâu. Hãy xét mình không phải để đếm những thất bại, nhưng để học nghệ thuật đứng dậy. Hãy xét mình không phải để tự hoàn thiện bằng sức riêng, nhưng để mỗi ngày biết rõ hơn rằng con cần Đấng Cứu Độ đến mức nào.
Và rồi một ngày, con sẽ hiểu rằng những phút âm thầm cuối ngày ấy đã là một trong những trường học quý giá nhất của cuộc đời thiêng liêng. Ở đó con đã học nhìn mình trong sự thật. Ở đó con đã học chịu đựng sự yếu đuối của chính mình. Ở đó con đã học phân biệt tiếng tự ái với tiếng Chúa. Ở đó con đã học thất bại mà không tuyệt vọng, thành công mà không kiêu ngạo, và bắt đầu lại mà không mệt mỏi.
Hãy trung tín xét mình mỗi ngày. Hãy để sự thật dẫn con đến khiêm nhường, để khiêm nhường dẫn con đến tín thác, và để tín thác đưa con trở lại vòng tay của Thiên Chúa sau mọi trận chiến. Vì linh hồn biết nhìn mình dưới ánh sáng của Chúa sẽ không còn dễ bị chính mình lừa dối; và linh hồn không còn bị mình lừa dối là linh hồn đã bước một bước rất lớn trên con đường tự do, thánh thiện và chiến thắng.
CHƯƠNG 27
CẦU NGUYỆN NỘI TÂM – NGHỆ THUẬT Ở LẠI VỚI CHÚA TRONG THINH LẶNG VÀ TÍN THÁC
Hỡi linh hồn đang muốn đi sâu hơn vào đời sống cầu nguyện, sau khi đã nói về cầu nguyện như khí giới tối thượng trong cuộc chiến, về những lời nguyện ngắn mà linh hồn có thể thốt lên giữa lúc bị cám dỗ, về việc nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh, về sức mạnh của Thánh Thể, về sự cần thiết của việc xét mình mỗi ngày, bây giờ chúng ta phải bước vào một miền sâu hơn, âm thầm hơn, khó diễn tả hơn, nhưng cũng là một trong những miền quan trọng nhất của đời sống nội tâm: cầu nguyện nội tâm – nghệ thuật ở lại với Chúa trong thinh lặng và tín thác. Có những linh hồn cầu nguyện rất nhiều nhưng lại rất ít ở với Chúa. Có những người đọc nhiều kinh, tham dự nhiều việc đạo đức, nghe nhiều bài giảng, đọc nhiều sách thiêng liêng, làm rất nhiều việc cho Chúa, nhưng trong chính nội tâm mình họ vẫn xa lạ với sự thinh lặng trước mặt Ngài. Họ quen nói với Chúa nhưng chưa quen lắng nghe Chúa. Họ quen xin Chúa làm điều này điều kia nhưng chưa quen để Chúa làm việc trong lòng họ. Họ quen hoạt động cho Chúa nhưng chưa quen ngồi bên chân Chúa. Họ quen suy nghĩ về Chúa nhưng chưa chắc đã quen ở với Chúa. Và chính ở đây có một nguy hiểm hết sức tinh tế: người ta có thể sống một đời đạo đức rất bận rộn nhưng tâm hồn vẫn chưa thực sự được bén rễ sâu trong Thiên Chúa. Người ta có thể nói rất nhiều về đời sống thiêng liêng mà bên trong vẫn xao động. Người ta có thể có rất nhiều kiến thức về Chúa nhưng lại thiếu sự thân mật với Chúa. Người ta có thể phục vụ nhiều nhưng không biết nghỉ ngơi trong Chúa. Người ta có thể đứng giữa những công việc thánh thiện nhưng tâm hồn lại bị kéo đi bởi hàng trăm nỗi lo, hàng trăm ý riêng, hàng trăm cuộc đối thoại tưởng tượng, hàng trăm nỗi sợ và hàng trăm sự tìm kiếm chính mình. Vì thế cầu nguyện nội tâm không phải là một thứ xa xỉ dành cho những linh hồn đặc biệt. Nó không phải là một kỹ thuật cao cấp dành riêng cho các đan sĩ, các nhà thần bí hay những người có nhiều giờ rảnh rỗi. Nó là nhu cầu của bất cứ linh hồn nào muốn thuộc trọn về Thiên Chúa. Nó là nơi linh hồn học cách thôi chạy trốn chính mình, thôi chạy trốn Chúa, thôi tìm kiếm sự lấp đầy từ bên ngoài, để trở về với Đấng đang hiện diện trong thẳm sâu linh hồn. Nó là trường học của sự đơn sơ. Là trường học của lòng tín thác. Là trường học của việc từ bỏ kiểm soát. Là nơi con người được dạy rằng mình không cần phải luôn luôn làm một điều gì đó để được Chúa yêu, không cần phải luôn luôn cảm thấy một điều gì đó để chứng minh rằng Chúa đang ở gần, không cần phải sản xuất những tư tưởng cao đẹp để giờ cầu nguyện có giá trị. Có những lúc việc cao quý nhất mà linh hồn có thể làm trước mặt Thiên Chúa chỉ là ở lại. Ở lại khi lòng sốt sắng. Ở lại khi lòng khô khan. Ở lại khi tâm trí sáng sủa. Ở lại khi đầu óc hỗn loạn. Ở lại khi cảm thấy Chúa thật gần. Ở lại cả khi dường như Chúa im lặng. Ở lại khi cầu nguyện đem lại bình an. Ở lại cả khi từng phút trôi qua nặng nề. Chính sự ở lại ấy, nếu được thực hiện trong đức tin và lòng mến, đã là một hành vi chiến đấu rất lớn. Bởi vì toàn bộ bản tính cũ trong con người muốn bỏ đi khi không còn thú vị, muốn tìm cái gì dễ chịu hơn khi không được an ủi, muốn đổi việc khi thấy buồn, muốn cầm điện thoại khi thấy trống, muốn đọc thêm khi không biết phải cầu nguyện thế nào, muốn nói thêm khi sợ thinh lặng, muốn tìm cảm giác khi đức tin chỉ còn trơ trụi. Nhưng linh hồn trưởng thành sẽ học một điều rất khác: không phải lúc nào tôi cũng cần cảm thấy Chúa; tôi cần trung thành ở lại với Chúa.
1. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM LÀ GÌ? Cầu nguyện nội tâm trước hết không phải là một phương pháp, nhưng là một tương quan. Không phải là sự tập trung hoàn hảo của trí óc, nhưng là sự hướng lòng về Thiên Chúa. Không phải là việc sản xuất nhiều suy tư đạo đức, nhưng là việc đặt chính mình dưới ánh mắt của Đấng yêu thương mình. Không phải là cố gắng đạt đến một trạng thái đặc biệt, nhưng là đơn sơ thưa với Chúa bằng cả con người mình: “Lạy Chúa, này con đây.” Cầu nguyện nội tâm là linh hồn bước vào sự hiện diện của Thiên Chúa với tất cả con người thật của mình, không đeo mặt nạ, không trình diễn, không cố tỏ ra sốt sắng, không phải che giấu sự nghèo nàn, sự mệt mỏi, sự phân tâm hay những vết thương đang có. Linh hồn đến trước mặt Chúa như một người con đi vào trước mặt Cha, như một người bạn ngồi xuống bên người mình yêu, như một người nghèo đưa hai bàn tay trống không ra trước Đấng có tất cả. Có thể trong giờ cầu nguyện ấy linh hồn sẽ suy niệm một đoạn Tin Mừng. Có thể nó sẽ nhìn một tượng chịu nạn. Có thể nó sẽ lặp đi lặp lại một lời ngắn. Có thể nó sẽ không nói gì nhiều. Có thể có những giây phút hiểu biết sâu sắc. Có thể không hiểu gì cả. Nhưng điều cốt lõi vẫn là: linh hồn biết mình đang ở trước mặt Chúa và tự nguyện ở lại với Ngài trong đức tin và tình yêu. Các bậc thầy đời sống nội tâm luôn nhấn mạnh rằng cầu nguyện không phải là một màn trình diễn trí tuệ, nhưng là một sự gặp gỡ của tình yêu. Một người mẹ có thể ngồi bên giường đứa con bệnh mà không nói gì, nhưng sự hiện diện ấy vẫn là tình yêu. Hai người yêu thương nhau có thể ngồi bên nhau rất lâu mà không cần nói liên tục, nhưng im lặng của họ không phải là trống rỗng. Cũng vậy, linh hồn trước mặt Thiên Chúa không nhất thiết lúc nào cũng phải tìm lời. Có khi lời nhiều lại che mất sự hiện diện. Có khi suy nghĩ quá nhiều lại khiến linh hồn xoay quanh chính mình thay vì hướng về Chúa. Có khi người ta tưởng mình đang cầu nguyện nhưng thực ra chỉ đang phân tích bản thân. Vì thế, phải học dần dần đi từ chỗ “tôi đang nói gì với Chúa?” đến chỗ sâu hơn: “tôi đang ở với Chúa.” Đây là một thay đổi lớn trong đời sống thiêng liêng. Khi còn non trẻ, linh hồn thường đo giờ cầu nguyện bằng những gì nó nhận được: hôm nay có cảm xúc không, có ý tưởng hay không, có thấy bình an không, có suy niệm được gì không. Nhưng khi trưởng thành hơn, linh hồn học đo giờ cầu nguyện bằng lòng trung tín: tôi có ở lại không? Tôi có để Chúa là Chúa không? Tôi có để Ngài nhìn tôi không? Tôi có chấp nhận nghèo trước mặt Ngài không? Tôi có yêu Ngài ngay cả khi chẳng được gì cho mình không? Chính ở điểm này cầu nguyện nội tâm bắt đầu trở thành một cuộc thanh luyện sâu xa khỏi sự tự ái thiêng liêng.
Cầu nguyện bằng lời vẫn rất quý giá. Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, các Thánh Vịnh, các kinh nguyện của Hội Thánh, kinh Mân Côi và vô số lời kinh truyền thống đều là những kho tàng không thể xem nhẹ. Nhưng nếu môi miệng đọc mà lòng không hướng về Chúa, lời kinh dễ trở thành thói quen trống rỗng. Ngược lại, khi lời kinh đi xuống tận lòng, nó trở thành cửa ngõ bước vào cầu nguyện nội tâm. Một Kinh Lạy Cha được đọc chậm với ý thức “Cha của con đang ở đây” có thể đưa linh hồn vào sự hiện diện sâu xa hơn hàng chục trang suy nghĩ. Một lời “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa” được thốt lên từ trái tim tan vỡ có thể trở thành lời cầu nguyện sâu hơn nhiều lời hoa mỹ. Một ánh mắt nhìn lên Thánh Giá trong đau khổ có thể chứa cả một thế giới cầu nguyện. Vì thế đừng đối lập cầu nguyện bằng lời và cầu nguyện nội tâm. Điều quan trọng là lời phải dẫn vào lòng, và lòng phải dẫn đến Chúa. Cầu nguyện nội tâm cũng không có nghĩa là phải cố làm cho trí óc hoàn toàn trắng trống hay không suy nghĩ gì. Đó không phải là mục tiêu. Mục tiêu là Thiên Chúa. Nếu một đoạn Lời Chúa giúp con yêu mến Chúa hơn, hãy suy niệm. Nếu một chân lý đức tin đánh động con, hãy ở lại với nó. Nếu một lời ngắn giúp con quy tụ tâm hồn, hãy lặp lại. Nếu con chỉ muốn nhìn Chúa chịu đóng đinh và không nói gì, hãy nhìn. Nếu con mệt mỏi và chỉ có thể thưa: “Lạy Chúa, con ở đây,” thì hãy ở đó. Điều quyết định không phải là hình thức bên ngoài, nhưng là việc toàn thể con người con đang được hướng về ai.
2. TẠI SAO LINH HỒN SỢ THINH LẶNG? Nhiều người tưởng mình yêu thinh lặng, cho đến khi thực sự bước vào thinh lặng. Bởi vì thinh lặng không chỉ làm cho tiếng động bên ngoài biến mất. Thinh lặng làm cho những tiếng động bên trong hiện lên. Khi con không còn nghe nhạc, không còn đọc, không còn xem, không còn trò chuyện, không còn công việc để phân tán, con bắt đầu nghe thấy chính mình. Và lúc ấy con có thể kinh ngạc vì trong lòng có quá nhiều tiếng nói: những cuộc tranh luận cũ, những lời người khác nói với con, những câu trả lời con muốn nói lại, những nỗi sợ tương lai, những hối tiếc quá khứ, những tính toán, những kế hoạch, những mong muốn được công nhận, những tổn thương, những tưởng tượng, những dục vọng, những sự bực bội. Thinh lặng không tạo ra những điều ấy. Nó chỉ làm lộ ra những gì vốn đã ở đó. Giống như khi một bình nước bị khuấy liên tục, người ta không thấy cặn dưới đáy. Khi bình nước được đặt yên, cặn bắt đầu hiện ra. Cầu nguyện nội tâm cũng vậy. Nó làm lộ cặn trong lòng. Và đây là lý do nhiều người vô thức tránh nó. Hoạt động đôi khi dễ hơn thinh lặng. Làm việc cho Chúa đôi khi dễ hơn để Chúa chạm vào những vùng ta không muốn nhìn. Nói về đức tin đôi khi dễ hơn để ánh sáng đức tin soi vào những động cơ sâu kín của mình. Giúp người khác đôi khi dễ hơn để Chúa chữa chính những vết thương của mình. Vì thế, đừng ngạc nhiên nếu khi bắt đầu cầu nguyện nội tâm con thấy nội tâm mình ồn ào hơn trước. Không nhất thiết con đang đi lùi. Có thể con chỉ bắt đầu nghe rõ hơn điều vốn vẫn ở trong con.
Chính ở đây linh hồn phải can đảm. Đừng chạy trốn ngay khi gặp sự hỗn loạn bên trong. Đừng nghĩ rằng vì con bị phân tâm nhiều nên con không hợp với cầu nguyện nội tâm. Đừng kết luận rằng người khác có “ơn cầu nguyện” còn con thì không. Cầu nguyện nội tâm không dành cho những người không bị phân tâm. Nó chính là trường học nơi người phân tâm học trở về. Mỗi lần trí khôn đi xa rồi con nhận ra và đưa nó trở lại với Chúa, con vừa thực hiện một hành vi yêu mến. Nếu trong ba mươi phút con phải trở lại ba mươi lần, thì có lẽ con đã có ba mươi hành vi từ bỏ mình để chọn Chúa. Đừng khinh thường chúng. Kẻ thù sẽ dùng sự phân tâm để khiến con nóng giận với mình. Nó muốn con từ một sự yếu đuối vô tội rơi vào tự ái và chán nản. Nó sẽ nói: “Mày cầu nguyện tệ quá. Mày chẳng bao giờ tập trung được. Thôi đứng lên đi.” Đừng nghe. Hãy bình tĩnh trở về. Như một người mẹ kiên nhẫn dẫn đứa trẻ đi lạc trở về, hãy dịu dàng dẫn trí khôn về với Chúa. Đừng đánh nó. Đừng chửi nó. Đừng hoảng sợ. Hãy trở về. Cầu nguyện nội tâm không phải nghệ thuật không bao giờ đi lạc; nó là nghệ thuật luôn biết đường trở về.
3. NHỮNG TRỞ NGẠI THƯỜNG GẶP TRONG CẦU NGUYỆN NỘI TÂM Trở ngại thứ nhất là sự phân tâm của trí khôn. Con đang cầu nguyện thì nhớ một công việc. Con đang nhìn Thánh Giá thì bất ngờ nghĩ đến một cuộc trò chuyện. Con đang đọc Tin Mừng thì tâm trí đã đi đến ngày mai. Đừng quá kinh ngạc. Trí khôn của con đã được huấn luyện nhiều năm để chạy theo kích thích. Nó không thể trong vài ngày trở thành một đan sĩ. Hãy kiên nhẫn. Điều quan trọng không phải là phân tâm có đến hay không, nhưng con đối xử với nó thế nào. Nếu con tự nguyện nuôi dưỡng nó, đó là một chuyện. Nếu nó tự đến và con nhẹ nhàng quay lại với Chúa, đó là chuyện khác. Đừng biến mỗi phân tâm thành một bản án chống lại mình. Trở ngại thứ hai là sự khô khan. Có ngày con cầu nguyện và cảm thấy thật gần Chúa. Một câu Lời Chúa làm con xúc động. Một bài thánh ca làm nước mắt tuôn ra. Nhưng rồi ngày khác, con quỳ xuống và chẳng có gì. Lời kinh như khô. Trí khôn như tối. Tim như lạnh. Chúa dường như xa. Đây là lúc tình yêu được thử. Con yêu Đấng An Ủi hay yêu sự an ủi? Con tìm Chúa hay tìm cảm giác về Chúa? Khi mọi cảm xúc đẹp bị lấy đi, động cơ thật bắt đầu lộ ra. Trở ngại thứ ba là sự nôn nóng muốn làm một điều gì đó. Nhiều linh hồn không chịu nổi việc chỉ hiện diện. Họ phải đọc thêm một trang, phải đổi sang một kinh khác, phải ghi chép, phải suy nghĩ, phải tìm một tư tưởng, phải sản xuất một điều gì. Có lúc những việc đó tốt. Nhưng cũng có lúc chúng chỉ là cách trốn tránh sự nghèo nàn. Cầu nguyện nội tâm sẽ dạy con rằng có những lúc tình yêu không làm gì ngoài ở lại. Trở ngại thứ tư là khát vọng tìm kết quả. Con cầu nguyện một tuần rồi tự hỏi: “Tôi đã tiến bộ gì chưa?” Một tháng rồi hỏi: “Sao tính tôi vẫn vậy?” Sáu tháng rồi hỏi: “Sao tôi chưa có cảm nghiệm gì đặc biệt?” Hỡi linh hồn, chính sự muốn đo lường ấy nhiều khi là tự ái đội lốt nhiệt thành. Cây không mỗi ngày đào rễ lên xem đã dài bao nhiêu. Người nông dân gieo hạt, tưới nước, làm cỏ và chờ. Chúa cũng làm việc trong linh hồn theo nhịp của Ngài, không theo nhịp nóng vội của con. Trở ngại thứ năm là tự ái thiêng liêng. Đây là một kẻ thù rất tinh tế. Con muốn cầu nguyện “hay”. Con muốn mình có những tư tưởng sâu sắc. Con muốn cảm thấy mình giống các thánh. Con muốn nói với cha linh hướng rằng mình có những kinh nghiệm đặc biệt. Con bắt đầu quan sát chính mình đang cầu nguyện thay vì nhìn Chúa. Thế là cầu nguyện trở thành một tấm gương để ngắm mình. Hãy đập vỡ tấm gương ấy. Con không đến cầu nguyện để trở thành một người cầu nguyện đáng ngưỡng mộ. Con đến để yêu Chúa. Trở ngại thứ sáu là sự ồn ào của đời sống hiện đại. Một người sống với điện thoại từ lúc thức dậy đến lúc đi ngủ, liên tục chuyển từ tin nhắn này sang video khác, từ thông báo này sang thông tin khác, thì đừng ngạc nhiên nếu khi vào cầu nguyện trí óc không chịu yên. Linh hồn đã bị huấn luyện để phân tán. Muốn có đời sống cầu nguyện sâu, con phải dám điều chỉnh cách sống. Không thể nuôi trí khôn bằng hàng ngàn kích thích rồi yêu cầu nó lập tức thinh lặng trước Chúa. Phải có những khoảng không. Phải có những lúc không cầm điện thoại. Phải biết đi một đoạn đường trong yên lặng. Phải biết ăn một bữa mà không cần xem gì. Phải học lấy lại khả năng ở một mình mà không hoảng sợ. Sự thinh lặng bên ngoài không phải mục tiêu cuối cùng, nhưng nó rất thường là cánh cửa để đi vào thinh lặng bên trong.
4. CÁCH THỰC HÀNH CẦU NGUYỆN NỘI TÂM MỘT CÁCH ĐƠN SƠ Đừng làm việc này phức tạp. Đời sống thiêng liêng thường bị chúng ta làm rối vì muốn có một phương pháp hoàn hảo. Hãy bắt đầu thật đơn sơ. Bước thứ nhất: đặt mình trước sự hiện diện của Chúa. Chọn một nơi tương đối yên tĩnh nếu có thể. Trong nhà nguyện thì tốt. Trước Nhà Tạm thì càng quý. Nhưng nếu hoàn cảnh không cho phép, một góc phòng, một chiếc ghế nhỏ, một khoảng sân yên, cũng có thể trở thành nơi gặp gỡ. Điều chính yếu không nằm ở địa điểm, nhưng địa điểm có thể giúp lòng người. Khi đã ngồi hay quỳ xuống, đừng vội lao vào nhiều lời. Hãy chậm lại. Làm dấu Thánh Giá chậm rãi. Ý thức: “Chúa đang ở đây.” Không phải tưởng tượng Chúa đang ở đây. Không phải cố tạo cảm giác Ngài đang ở đây. Nhưng tin Ngài đang ở đây. Đức tin đi trước cảm giác. Có thể thưa: “Lạy Chúa, con tin Chúa hiện diện. Chúa thấy con. Chúa biết con. Chúa yêu con.” Rồi ở lại một chút trong chân lý ấy. Chúa không phải là một ý tưởng. Chúa không phải là một chủ đề để suy nghĩ. Chúa là Đấng sống động đang nhìn con. Ánh mắt Ngài không phải ánh mắt điều tra, nhưng là ánh mắt của Đấng đã biết mọi tội của con và vẫn yêu con đến Thập Giá. Hãy để linh hồn đứng dưới ánh mắt ấy. Bước thứ hai: dâng mình và xin Chúa Thánh Thần. Con không biết cầu nguyện thế nào cho đúng. Hãy thú nhận. Không cần giả vờ. “Lạy Chúa, con đến đây nhưng lòng con phân tán. Con mệt. Con nghèo. Con không biết cầu nguyện. Xin Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong con. Xin đưa con vào trong sự hiện diện của Chúa.” Đây là một hành vi khiêm nhường rất đẹp. Cầu nguyện chân thật bắt đầu khi con thôi tin vào khả năng cầu nguyện của chính mình và bắt đầu tín thác vào ân sủng. Bước thứ ba: ở lại bằng đức tin. Có thể chọn một lời rất ngắn làm neo cho tâm hồn: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa.” “Này con đây.” “Xin ở lại với con.” “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa.” Đừng dùng quá nhiều lời. Một câu được lặp lại chậm rãi với lòng tin có thể giúp tâm hồn quy tụ. Nếu một đoạn Tin Mừng đã đánh động con, hãy lấy một câu. Chẳng hạn: “Hãy ở lại trong Thầy.” Đừng vội phân tích. Hãy để lời ấy đi xuống lòng: “Ở lại trong Thầy.” Nếu trí khôn đi xa, hãy trở lại. Nếu lại đi xa, lại trở lại. Đó chính là luyện tập. Bước thứ tư: để Chúa nhìn con và để Ngài làm việc. Đây là bước khó nhất cho người quen kiểm soát. Đừng luôn luôn cố điều khiển giờ cầu nguyện. Có lúc hãy để Chúa dẫn. Nếu con cảm thấy cần thú nhận một nỗi buồn, hãy nói. Nếu một lỗi lầm hiện lên, hãy xin tha thứ. Nếu một người làm con đau hiện lên, hãy đặt họ trước Chúa. Nếu không có gì hiện lên, cứ ở lại. Có khi con chỉ ngồi trước Nhà Tạm và nhìn. Đừng xem đó là “không làm gì.” Một người phơi mình dưới nắng không cần làm gì để ánh nắng chạm vào da. Linh hồn ở trước Chúa cũng vậy. Có những biến đổi rất sâu xảy ra mà trí óc không nhận ra. Bước thứ năm: kết thúc trong phó thác và quyết tâm đơn sơ. Đừng kết thúc bằng việc chấm điểm giờ cầu nguyện: hôm nay được sáu điểm, hôm qua tám điểm. Hãy dâng tất cả. “Lạy Chúa, con dâng Chúa giờ này. Con dâng Chúa cả những lúc phân tâm, cả sự khô khan, cả những giây phút bình an. Xin Chúa tiếp tục ở trong con. Xin cho con mang sự hiện diện của Chúa vào ngày sống.” Có thể chọn một điều rất nhỏ để sống: bớt một lời nóng giận, làm một việc bổn phận với tình yêu, chấp nhận một trái ý mà không than, nhớ Chúa trong một vài giây giữa công việc. Cầu nguyện phải đi vào đời sống. Nếu giờ cầu nguyện chỉ tạo ra cảm xúc nhưng không làm con bác ái hơn, nhẫn nại hơn, khiêm nhường hơn, sẵn sàng chết cho ý riêng hơn, thì có gì đó cần được thanh luyện.
5. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM TRONG LÚC KHÔ KHAN – NƠI ĐỨC TIN TRỞ NÊN TINH TUYỀN Hỡi linh hồn, đây là điểm cần khắc thật sâu: đừng bỏ cầu nguyện chỉ vì con không cảm thấy gì. Có lẽ đây là một trong những cám dỗ phổ biến nhất trên đường nội tâm. Khi mới bắt đầu, Chúa đôi khi cho linh hồn nhiều an ủi để thu hút nó. Lời kinh ngọt. Thánh Lễ sốt sắng. Nước mắt đến dễ. Cảm giác gần Chúa mạnh. Linh hồn nghĩ: “Từ nay tôi sẽ luôn cầu nguyện thế này.” Nhưng rồi một ngày cánh đồng khô lại. Không còn nước mắt. Không còn cảm xúc. Không còn tư tưởng sáng. Mọi thứ trở nên tẻ nhạt. Lúc ấy linh hồn tưởng có gì sai. Nó tự hỏi: “Chúa bỏ tôi sao?” Không nhất thiết. Có khi chính lúc ấy Chúa đang mời con bước từ tình yêu còn pha nhiều cảm giác sang tình yêu của đức tin. Một đứa trẻ yêu mẹ khi mẹ cho quà là điều dễ. Khi không có quà mà vẫn ôm mẹ, tình yêu bắt đầu được thanh luyện. Một linh hồn cầu nguyện khi cảm thấy ngọt ngào là tốt. Nhưng linh hồn vẫn cầu nguyện khi không được gì cho mình đang bước vào một tình yêu sâu hơn. Khi con quỳ trước Chúa và thưa: “Lạy Chúa, con chẳng cảm thấy Chúa. Nhưng con biết Chúa ở đây. Con không thấy ánh sáng. Nhưng con tin. Con không thấy ngọt ngào. Nhưng con vẫn muốn ở lại. Nếu hôm nay con không thể dâng Chúa nước mắt, con dâng Chúa sự khô khan này. Nếu con không thể dâng Chúa cảm xúc, con dâng Chúa lòng trung thành,” thì có thể giờ cầu nguyện ấy quý giá hơn rất nhiều giờ đầy cảm xúc mà con từng có.
Đừng đồng hóa sự hiện diện của Chúa với cảm giác về sự hiện diện của Chúa. Mây có thể che mặt trời, nhưng mặt trời không biến mất. Cảm xúc có thể tối, nhưng Thiên Chúa không đổi. Hôm nay con cảm thấy được yêu, ngày mai con không cảm thấy; tình yêu của Chúa không vì thế tăng giảm. Hôm nay con cảm thấy sốt sắng, ngày mai con lạnh; giao ước của Chúa không dựa trên nhiệt độ cảm xúc của con. Học được điều này, linh hồn sẽ vững vàng hơn rất nhiều. Nó không còn bị kéo lên kéo xuống liên tục theo cảm giác. Nó bắt đầu sống bằng đức tin. Và đó là một chiến thắng lớn trong cuộc chiến linh hồn. Kẻ thù thích người sống theo cảm xúc, vì chỉ cần làm cảm xúc đổi là nó làm họ chao đảo. Nhưng linh hồn sống bằng đức tin sẽ nói: “Dù tôi thấy hay không thấy, Chúa vẫn là Chúa. Dù tôi cảm hay không cảm, tôi vẫn thuộc về Ngài.” Đây là sức mạnh.
Tuy nhiên, phải phân biệt khô khan được Chúa cho phép để thanh luyện với sự khô khan do chính mình gây nên bằng đời sống cẩu thả. Nếu con thức khuya vô ích, nuôi đầu óc bằng hỗn loạn, sống trong tội cố ý, không chịu hòa giải, không giữ các giác quan, không chu toàn bổn phận, rồi vào cầu nguyện và thấy khô, đừng lập tức gọi đó là “đêm tối thiêng liêng.” Có những sự khô khan đơn giản vì đất không được chăm. Phải chân thật. Cầu nguyện nội tâm không bao giờ là cái cớ để trốn trách nhiệm luân lý. Nhưng nếu con đang thành tâm sống, đang cố trung tín, đang chống tội, đang tìm Chúa, mà cảm giác khô vẫn kéo dài, hãy bình an. Chúa có thể đang dạy con yêu trong bóng tối. Đừng tự chẩn đoán những trạng thái thần bí. Đừng tìm danh xưng. Hãy trung tín. Điều con cần không phải biết mình đang ở “bậc” nào, nhưng là yêu Chúa hôm nay.
6. KHI TRÍ KHÔN CHẠY LUNG TUNG – ĐỪNG ĐÁNH NHAU VỚI CHÍNH MÌNH Nhiều người làm cho giờ cầu nguyện khó hơn vì họ chiến đấu sai cách với sự phân tâm. Vừa nhận ra mình đang nghĩ chuyện khác, họ nổi giận: “Sao mình tệ thế! Mới có hai phút mà đã đi đâu rồi!” Từ đó họ lại suy nghĩ về việc mình phân tâm, rồi suy nghĩ về việc mình đang suy nghĩ về phân tâm. Thế là Chúa biến mất khỏi trung tâm, và cái tôi trở thành trung tâm. Hỡi linh hồn, cách đúng đơn giản hơn nhiều. Khi nhận ra mình đi xa, chỉ cần trở về. Không cần diễn văn. Không cần tự trách dài. Không cần phân tích. Trở về. “Lạy Chúa, con lại đây.” Như một đứa trẻ chạy chơi rồi chợt thấy cha đứng ở xa, nó chạy lại. Thế thôi. Nếu năm phút sau lại đi, lại chạy về. Chính sự khiêm nhường này giết tự ái rất mạnh. Bởi vì tự ái muốn cầu nguyện hoàn hảo. Khiêm nhường chấp nhận cầu nguyện nghèo mà trung thành. Tự ái muốn nhìn mình tốt. Khiêm nhường chỉ muốn nhìn Chúa. Tự ái nói: “Tôi phải tập trung thật tốt.” Khiêm nhường nói: “Lạy Chúa, con yếu, nhưng con trở về với Chúa.” Cầu nguyện nội tâm là nơi con có thể tập hàng trăm lần trong một giờ hành động căn bản của đời sống thiêng liêng: đi xa – nhận ra – trở về. Và chẳng phải cả đời sống Kitô hữu cũng chính là như thế sao? Con người đi xa. Ân sủng đánh thức. Con người trở về. Một giờ cầu nguyện đầy những lần trở về có thể là hình ảnh của cả đời cứu độ.
7. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM VÀ VIỆC TỪ BỎ NHU CẦU KIỂM SOÁT Có một điều con sẽ khám phá khi ở lâu trong thinh lặng: con muốn kiểm soát rất nhiều. Con muốn kiểm soát cách người khác nghĩ về con. Muốn kiểm soát kết quả công việc. Muốn kiểm soát tương lai. Muốn kiểm soát sức khỏe. Muốn kiểm soát đời sống thiêng liêng. Thậm chí muốn kiểm soát Chúa: “Chúa nên làm điều này. Chúa phải trả lời lúc này. Chúa phải cho con dấu chỉ kia. Chúa phải làm con bình an.” Nhưng cầu nguyện nội tâm, nếu được sống thật, sẽ dần dần bẻ gãy nắm tay đang siết của con. Con ngồi trước Đấng mà con không thể điều khiển. Con học nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tín thác.” Đây không phải thái độ thụ động. Đây là sự đầu hàng của tình yêu. Con vẫn làm bổn phận. Vẫn chiến đấu. Vẫn phân định. Vẫn hành động. Nhưng con thôi đòi mình phải là chúa của đời mình. Cầu nguyện nội tâm làm cho lời “xin ý Cha được thể hiện” đi từ môi miệng xuống tận xương tủy. Và đó có thể là một quá trình đau đớn. Bởi vì nói “xin ý Cha” thì dễ; để ý riêng chết thì khó. Trong thinh lặng, con sẽ thấy những vùng mình chưa chịu buông. Chúa có thể không nói bằng âm thanh, nhưng ánh sáng Ngài sẽ làm con thấy: con đang bám vào một mối quan hệ, một danh tiếng, một chức vụ, một dự tính, một cách nhìn, một sự công nhận, một kế hoạch. Lúc ấy cầu nguyện trở thành bàn thờ. Con đặt chúng lên. “Lạy Chúa, cái này con rất sợ mất. Nhưng con trao cho Chúa.” Đó là cầu nguyện thật.
8. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM LÀ NƠI CÁC ĐAM MÊ BỊ PHƠI BÀY Con tưởng nóng giận chỉ xuất hiện khi gặp người làm trái ý con. Không. Trong cầu nguyện, con cũng sẽ gặp nó khi thấy mình không cầu nguyện như ý. Con tưởng tự ái chỉ xuất hiện khi được khen chê. Không. Trong cầu nguyện, nó xuất hiện khi con muốn mình là người đạo đức. Con tưởng tham lam chỉ là tiền bạc. Không. Trong cầu nguyện, có thể xuất hiện lòng tham an ủi, tham cảm nghiệm, tham ánh sáng thiêng liêng. Con tưởng lười biếng chỉ là không làm việc. Không. Trong cầu nguyện, nó xuất hiện khi con không muốn ở lại vì thấy buồn. Con tưởng kiêu ngạo chỉ là tự cao trước người khác. Không. Trong cầu nguyện, nó xuất hiện khi con nghĩ mình phải hiểu được đường lối Chúa. Vì thế cầu nguyện nội tâm chính là một chiến trường. Sự thinh lặng giống như ánh sáng chiếu vào căn phòng lâu ngày đóng cửa. Bụi bay lên. Đừng tưởng ánh sáng làm ra bụi. Ánh sáng chỉ làm con thấy nó. Nếu trong cầu nguyện con nhận ra mình có nhiều tự ái hơn con tưởng, đó có thể là một ân sủng. Nếu con thấy lòng mình đầy nôn nóng, đó là một ân sủng. Nếu con thấy mình không trong sạch như vẫn nghĩ, đó là một ân sủng, miễn là con đem tất cả đến lòng thương xót Chúa. Điều nguy hiểm không phải là thấy bóng tối. Điều nguy hiểm là sống trong bóng tối mà tưởng mình sáng.
Đừng dùng cầu nguyện để tự phân tích vô tận. Khi thấy một đam mê, hãy đưa nó cho Chúa. “Lạy Chúa, đây là lòng ghen tị của con.” “Đây là nỗi sợ của con.” “Đây là sự nóng giận của con.” “Đây là nhu cầu được người khác công nhận.” “Đây là sự bất khiết đang kéo con.” Đừng che. Đừng trang điểm. Chúa biết rồi. Sự thú nhận chân thật trước Chúa làm đam mê mất một phần sức mạnh vì nó không còn được nuôi trong bóng tối. Và dần dần, dưới ánh mắt Chúa, linh hồn học nhìn chính mình mà không tuyệt vọng, bởi nó biết rằng mọi sự nghèo nàn của mình đều nằm trong lòng thương xót lớn hơn.
9. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM VÀ THẬP GIÁ Đừng bao giờ tách cầu nguyện nội tâm khỏi Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Nếu con không biết phải ở trước Chúa thế nào, hãy ngồi trước Thánh Giá. Hãy nhìn Ngài. Không cần suy nghĩ quá nhiều. Nhìn đôi tay bị đóng đinh. Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Nhìn Đấng đã không chạy trốn khỏi đau khổ để cứu con. Nhìn Đấng đã chịu im lặng trước những lời vu khống. Nhìn Đấng đã kêu lên trong nỗi cô đơn nhưng vẫn phó mình cho Cha. Thập Giá sẽ dạy con cầu nguyện nội tâm hơn nhiều lý thuyết. Ở đó con học rằng tình yêu không phải lúc nào cũng cảm thấy ngọt ngào. Tình yêu có khi là ở lại trong đau đớn. Con học rằng lời cầu nguyện sâu nhất đôi khi chỉ là: “Lạy Cha, con phó thác.” Con học rằng sự im lặng của Thiên Chúa không có nghĩa là Thiên Chúa vắng mặt. Trên đồi Canvê, mọi sự dường như tối, nhưng chính ở đó công trình cứu độ đang được hoàn tất. Có những giờ cầu nguyện của con cũng giống một Canvê nhỏ: chẳng thấy gì, chẳng được gì, chẳng hiểu gì. Nhưng đừng vội kết luận. Có thể trong chính sự bất lực ấy, Chúa đang đóng đinh sự tự ái của con để con học yêu tinh tuyền hơn.
10. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM TRƯỚC THÁNH THỂ Nếu có thể, hãy thường xuyên thực hành cầu nguyện nội tâm trước Thánh Thể. Không cần luôn luôn tìm một bài suy niệm mới. Không cần mỗi lần phải có điều gì lạ. Có lúc hãy chỉ đến và ngồi trước Chúa. Ngài ở đó. Con ở đó. Thế là đủ để bắt đầu. Hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con đến đây không phải vì con có gì hay để nói. Con đến vì Chúa ở đây. Con muốn ở với Chúa.” Biết bao người đến với nhau chỉ khi có công việc. Còn tình yêu thì ở lại cả khi không có việc. Nếu con chỉ đến với Chúa để xin điều gì, cầu nguyện vẫn còn một phần vụ lợi. Hãy học đến vì chính Chúa. “Con không xin gì bây giờ. Con chỉ muốn ở đây.” Có thể sau vài phút con lại phân tâm. Trở về. Có thể mười lăm phút dài như một giờ. Hãy ở lại. Con đang dâng cho Chúa một điều rất quý trong thời đại này: sự chú ý của con. Thế giới tranh nhau sự chú ý của con từng giây. Bao nhiêu màn hình, bao nhiêu quảng cáo, bao nhiêu tin tức, bao nhiêu tiếng gọi muốn chiếm lấy ánh mắt và tâm trí con. Khi con tự nguyện đặt sự chú ý ấy trước Thánh Thể, con đang nói bằng hành động: “Chúa đáng giá hơn tất cả.” Đó là thờ phượng.
11. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM KHÔNG PHẢI TRỐN KHỎI ĐỜI SỐNG Có người sợ rằng cầu nguyện nhiều sẽ làm mình xa thực tế. Nếu cầu nguyện thật thì ngược lại. Cầu nguyện nội tâm đưa con trở về thực tế sâu nhất: Thiên Chúa là Thiên Chúa và con là thụ tạo. Mọi người quanh con là những người được Ngài yêu. Thời gian là quà tặng. Công việc là nơi thi hành thánh ý. Đau khổ có thể trở thành nơi kết hợp với Thập Giá. Người cầu nguyện thật không trở thành người lơ lửng. Họ trở nên có mặt hơn. Bởi vì họ không còn bị kéo đi nhiều bởi hỗn loạn bên trong. Người biết thinh lặng trước Chúa sẽ biết lắng nghe người khác hơn. Người biết để Chúa nhìn mình sẽ bớt cần ánh mắt người đời hơn. Người biết ở lại trong khô khan sẽ kiên nhẫn hơn với những giai đoạn khô khan của các mối quan hệ. Người biết phó thác trong cầu nguyện sẽ bớt kiểm soát mọi người trong đời sống. Người biết mình được yêu trong thinh lặng sẽ bớt khát lời khen. Đó là những hoa trái thật.
Nếu con cầu nguyện nội tâm rất nhiều nhưng trở nên khó chịu hơn, xét đoán hơn, coi thường người ít cầu nguyện hơn, thì hãy cẩn thận. Có thể con đang yêu hình ảnh thiêng liêng của mình hơn yêu Chúa. Cầu nguyện thật phải dẫn đến khiêm nhường. Nó làm con nhận ra mình nghèo. Nó khiến con dịu hơn với sự yếu đuối người khác. Nó làm con bớt nói về mình. Nó giúp con chịu đựng hơn. Nó làm con thích làm điều nhỏ bé không ai thấy. Nó không khiến con đi tìm vai trò “người có đời sống nội tâm sâu.” Người thật sự đi sâu vào Chúa thường ngày càng thấy mình không có gì để khoe. Họ biết tất cả là ân sủng.
12. ĐỪNG BIẾN CẦU NGUYỆN NỘI TÂM THÀNH MỘT THÀNH TÍCH Hỡi linh hồn, hãy coi chừng một cái bẫy: hôm nay con quyết định cầu nguyện ba mươi phút mỗi ngày. Sau một thời gian, con bắt đầu tự hào về việc ấy. Con nhìn những người không làm như con và âm thầm nghĩ mình nghiêm túc hơn. Thế là thuốc biến thành độc. Không có việc đạo đức nào tự động làm con khiêm nhường nếu tự ái chiếm nó. Vì thế hãy cầu nguyện, nhưng đừng sở hữu việc cầu nguyện như thành tích. Nếu hôm nay con cầu nguyện được, hãy tạ ơn. Nếu ngày mai con lười và thất bại, hãy khiêm nhường đứng dậy. Đừng xây căn tính của mình trên việc “tôi là người cầu nguyện.” Căn tính của con là người được Chúa yêu và cần lòng thương xót. Cầu nguyện là ân sủng trước khi là công việc của con.
13. SỰ TRUNG TÍN QUAN TRỌNG HƠN CẢM HỨNG Đừng chờ khi muốn cầu nguyện mới cầu nguyện. Nếu chỉ cầu nguyện khi có cảm hứng, đời sống nội tâm sẽ bị cai trị bởi cảm xúc. Tình yêu trưởng thành cần thời gian dành riêng. Giống như một mối quan hệ con người không thể lớn nếu hai người chỉ gặp nhau khi cả hai tình cờ có hứng, mối tương quan với Chúa cũng cần sự trung tín. Hãy chọn một khoảng thời gian tương đối cố định mỗi ngày, tùy bổn phận. Mười lăm phút trung tín mỗi ngày thường tốt hơn hai giờ bùng cháy một lần rồi bỏ nhiều ngày. Nếu có thể hai mươi phút, hãy dùng hai mươi. Nếu ba mươi phút, tốt. Nếu hoàn cảnh chỉ cho mười phút, hãy bắt đầu từ mười. Điều quan trọng là trung thành. Đừng khinh điều nhỏ. Một giọt nước rơi mãi có thể làm mòn đá. Mười lăm phút mỗi ngày, trong nhiều năm, có thể làm thay đổi cấu trúc nội tâm của một người. Không phải vì mười lăm phút có phép thuật, nhưng vì mỗi ngày con lại đặt mình dưới ánh sáng ân sủng.
Khi đã chọn thời gian, hãy bảo vệ nó. Đừng dễ dàng đem nó hiến cho những việc không cần thiết. Con có thể dành hàng chục phút vô thức cho điện thoại nhưng lại nói không có thời gian cầu nguyện. Hãy thành thật. Vấn đề nhiều khi không phải thiếu thời gian, nhưng thiếu ưu tiên. Điều con coi trọng, con sẽ tìm chỗ cho nó. Tuy nhiên đừng biến việc giữ giờ cầu nguyện thành sự cứng nhắc làm hỏng đức bác ái. Nếu một người thật sự cần con, hãy phục vụ. Chúa không ghen với bổn phận bác ái Ngài gửi đến. Nhưng đừng lấy một ngoại lệ làm lối sống. Đừng luôn luôn có một lý do “chính đáng” để bỏ giờ gặp Chúa. Tự ái rất khéo tìm lý do.
14. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM GIỮA CÔNG VIỆC HẰNG NGÀY Ngoài giờ dành riêng, hãy học đem nội tâm cầu nguyện vào ngày sống. Một cái nhìn ngắn lên Chúa. Một lời thầm: “Lạy Chúa, con ở đây.” Trước khi trả lời một lời khó nghe: “Lạy Chúa Giêsu, xin hiền lành trong con.” Khi mệt: “Xin Chúa làm sức mạnh của con.” Khi thành công: “Tất cả là của Chúa.” Khi thất bại: “Con tín thác.” Khi đi từ phòng này sang phòng khác, khi lên xe, khi chờ ai đó, khi rửa tay, khi đóng cửa, hãy biến những khoảnh khắc nhỏ thành chiếc chuông nhắc lòng trở về. Dần dần linh hồn sẽ học sống trước mặt Chúa. Đó là điều các thánh gọi bằng nhiều tên khác nhau: nhớ đến sự hiện diện của Chúa, sống kết hiệp, cầu nguyện liên lỉ. Không có nghĩa là suốt ngày cảm giác đạo đức. Nghĩa là giữa muôn công việc, sợi dây bên trong vẫn nối với Chúa.
15. KHI KHÔNG BIẾT NÓI GÌ VỚI CHÚA Có những ngày con thật sự không biết nói gì. Đừng sợ. Hãy nói chính điều ấy: “Lạy Chúa, con không biết nói gì.” Đó đã là lời thật. Rồi ở lại. Có thể đọc chậm một Thánh Vịnh. Có thể cầm Tin Mừng và đọc vài câu. Có thể nhìn Thánh Giá. Có thể chỉ thở chậm và ý thức rằng mỗi hơi thở là quà tặng. Nhưng đừng nghĩ rằng Chúa cần lời hay. Một đứa trẻ ngủ trong tay cha mẹ không nói gì nhưng vẫn ở trong tương quan. Có khi linh hồn mệt đến mức chỉ có thể ngồi trước Chúa. Hãy để sự mệt ấy trở thành lời cầu. “Lạy Chúa, con dâng Chúa sự mệt của con.” Chúa hiểu thứ ngôn ngữ không thành tiếng.
16. ĐỪNG TÌM NHỮNG CẢM NGHIỆM ĐẶC BIỆT Cầu nguyện nội tâm có thể có những lúc được an ủi sâu, có ánh sáng, có nước mắt, có cảm nghiệm mạnh. Nếu Chúa ban, hãy cảm tạ, nhưng đừng bám. Đừng tìm. Đừng cố tái tạo. Đừng xây đức tin trên những điều ấy. Những ơn cảm nghiệm nếu đến từ Chúa cũng chỉ là phương tiện. Chúa mới là mục tiêu. Nếu hôm qua con khóc nhiều trong giờ cầu nguyện, hôm nay không khóc, đừng nghĩ hôm nay kém. Nếu một lần con cảm thấy bình an rất mạnh, đừng dành tháng sau để cố trở lại trạng thái đó. Con sẽ bắt đầu thờ kinh nghiệm thay vì thờ Thiên Chúa. Hãy để Chúa tự do. Ngài biết lúc nào nên cho con sữa, lúc nào nên cho bánh cứng, lúc nào nên để con bước trong đêm. Con không cần quản lý cách Chúa nên thánh hóa con.
17. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM VÀ SỰ CHỮA LÀNH CỦA TÂM HỒN Trong thinh lặng, những vết thương cũ có thể trở lại. Một lời xúc phạm từ nhiều năm trước. Một mất mát. Một thất bại. Một sự phản bội. Một nỗi xấu hổ. Đừng vội đẩy đi. Có khi Chúa đang cho nó nổi lên vì muốn đưa ánh sáng vào. Hãy đặt ký ức ấy trước Ngài. “Lạy Chúa, Chúa biết chuyện này vẫn đau. Con không biết phải làm gì với nó. Xin Chúa ở đây với con.” Đừng tưởng tượng cầu nguyện nội tâm là nơi không còn đau. Có lúc chính trong cầu nguyện nỗi đau được cảm nhận rõ hơn. Nhưng khác với việc chìm một mình trong nỗi đau, lần này con đau dưới ánh mắt Chúa. Và đó là khởi đầu của một cách mang đau khổ mới. Đừng ép mình phải “cảm thấy đã tha thứ” ngay. Hãy thành thật và xin ơn. “Con muốn muốn tha thứ, nhưng con chưa làm nổi. Xin Chúa làm trong con.” Những lời thật như thế rất quý.
18. CẦU NGUYỆN NỘI TÂM VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG CÁM DỖ Người trung tín với cầu nguyện nội tâm không trở thành người không còn cám dỗ. Có khi ngược lại, họ thấy cuộc chiến rõ hơn. Nhưng họ có một trung tâm để trở về. Khi cám dỗ nóng giận đến, linh hồn đã quen bước vào bên trong và gọi Chúa. Khi ý nghĩ bất khiết đến, linh hồn không chỉ gồng sức mà biết hướng ánh mắt nội tâm về Chúa chịu đóng đinh. Khi tự ái bị tổn thương, linh hồn nhớ sự hiện diện của Đấng biết sự thật về mình. Khi lo lắng tương lai, linh hồn đã học thưa “con tín thác.” Những hành vi ấy không tự nhiên sinh ra trong phút cám dỗ nếu trước đó con chưa luyện. Giờ cầu nguyện hằng ngày giống thao trường. Khi chiến trận đến, linh hồn sử dụng những động tác đã được tập. Người không bao giờ tập trở về với Chúa trong yên tĩnh sẽ rất khó nhớ Chúa giữa cơn bão.
19. HOA TRÁI THẬT CỦA CẦU NGUYỆN NỘI TÂM Đừng đo hoa trái bằng cảm xúc. Hãy nhìn đời sống. Con có bớt phản ứng tức thời không? Con có dễ xin lỗi hơn không? Con có bớt cần biện minh cho mình không? Con có chịu được việc bị hiểu lầm hơn không? Con có bớt tò mò chuyện người khác không? Con có dễ ở một mình mà không hoảng sợ không? Con có ít lệ thuộc vào lời khen hơn không? Con có kiên nhẫn hơn với người chậm chạp không? Con có trung thành hơn với việc nhỏ không? Con có dễ nhận ra ý riêng của mình hơn không? Con có trở lại với Chúa nhanh hơn sau khi sa ngã không? Đó là những dấu chỉ quý. Cầu nguyện nội tâm thật sẽ dần dần làm người ta vững. Không phải cứng. Vững. Dịu mà vững. Khiêm nhường mà vững. Bị lay động nhưng không dễ bị cuốn đi. Khóc nhưng không tuyệt vọng. Đau nhưng không đánh mất Chúa. Đó là sức mạnh nội tâm mà thế gian không dễ hiểu.
20. KHI CẦU NGUYỆN DƯỜNG NHƯ HOÀN TOÀN VÔ ÍCH Có thể sẽ đến thời kỳ con nghĩ: “Tôi cầu nguyện bao lâu rồi mà vẫn như vậy. Vẫn nóng. Vẫn yếu. Vẫn bị cám dỗ. Vẫn phân tâm.” Hãy coi chừng kết luận vội vàng. Nếu con không cầu nguyện, có thể con đã tệ hơn nhiều. Con không biết bao nhiêu ân sủng đã giữ con khỏi điều con không thấy. Hơn nữa, Chúa không chỉ dùng cầu nguyện để làm con “cảm thấy tiến bộ.” Ngài dùng nó để biến đổi tận gốc, và việc đó cần thời gian. Một khối đá lớn dưới dòng nước không đổi hình sau một ngày. Nhưng năm tháng trôi qua, nước làm nó nhẵn. Sự hiện diện của Chúa cũng vậy. Hãy để Ngài làm việc lâu dài.
21. HỌC Ở LẠI – BÀI HỌC LỚN NHẤT Cuối cùng, toàn bộ cầu nguyện nội tâm có thể được tóm lại bằng hai chữ: ở lại. Ở lại khi dễ. Ở lại khi khó. Ở lại khi hiểu. Ở lại khi không hiểu. Ở lại khi Chúa an ủi. Ở lại khi Chúa dường như im tiếng. Ở lại khi con cảm thấy thánh thiện. Ở lại khi con thấy mình nghèo nàn. Ở lại sau khi sa ngã, đừng chạy trốn vì xấu hổ. Chính lúc ấy càng phải trở về. Ma quỷ sẽ nói: “Mày vừa phạm tội, còn mặt mũi nào cầu nguyện?” Hãy trả lời: “Chính vì tôi là kẻ tội lỗi nên tôi càng cần Chúa.” Đừng biến sự bất xứng thành lý do tránh mặt Đấng Cứu Độ. Người bệnh không đợi khỏe mới đến bác sĩ. Hãy đến với vết thương. Hãy ở lại.
Hỡi linh hồn, đừng sợ thinh lặng. Đừng sợ khoảng trống. Đừng sợ khi không có gì đặc biệt xảy ra. Đừng sợ việc con không biết mình đang “làm” gì trong giờ cầu nguyện. Nếu con đang ở trước mặt Chúa với lòng thành, thì con không phí thời gian. Có những công việc quan trọng nhất của Thiên Chúa xảy ra dưới mặt đất, nơi mắt người không thấy. Hạt giống trong lòng đất dường như bất động, nhưng sự sống đang mở ra. Rễ cây mọc trong đêm. Thai nhi lớn lên trong âm thầm. Ân sủng cũng thường làm việc như thế. Con muốn thấy ngay. Chúa làm sâu. Con muốn kết quả. Chúa làm rễ. Con muốn cảm giác. Chúa làm đức tin. Con muốn sức mạnh. Chúa dạy con yếu để dựa vào Ngài. Con muốn ánh sáng. Có lúc Chúa để tối để con học bước bằng tín thác.
Hãy dành mỗi ngày một khoảng thời gian cho Chúa. Đừng đến như người phải hoàn thành một nhiệm vụ đạo đức. Hãy đến như người con về nhà. “Lạy Chúa, con đây.” Chỉ thế thôi. Ngày hôm nay lòng con rối, hãy đem cái rối đến. Ngày mai con bình an, hãy đem bình an đến. Ngày kia con xấu hổ vì sa ngã, hãy đem sự xấu hổ đến. Một hôm con đầy niềm vui, hãy đem niềm vui đến. Không có phần nào trong đời con mà Chúa không muốn bước vào. Cầu nguyện nội tâm không phải nơi con mang phiên bản đẹp nhất của mình đến cho Chúa. Nó là nơi con để Chúa gặp chính con người thật.
Và rồi, từ từ, một điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Con sẽ không chỉ “có giờ cầu nguyện” nữa. Cả ngày của con bắt đầu mang mùi của cầu nguyện. Giữa một cuộc trò chuyện, con nhớ Chúa. Khi bị xúc phạm, một khoảng thinh lặng xuất hiện trước khi con phản ứng. Khi lo lắng, trong lòng tự nhiên bật lên: “Lạy Chúa, con tín thác.” Khi một niềm vui đến, lòng con tự hướng lên: “Cảm tạ Chúa.” Khi một người đau khổ xuất hiện, con nhìn họ bằng đôi mắt dịu hơn. Sự hiện diện của Chúa từ giờ cầu nguyện bắt đầu thấm vào mọi sự. Đó là lúc cầu nguyện không còn là một hoạt động đứng bên cạnh đời sống. Nó trở thành hơi thở của đời sống.
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, thế gian sẽ nói với con rằng phải chạy nhanh hơn. Chúa có lúc sẽ nói: hãy ở lại. Thế gian nói: phải làm nhiều hơn. Chúa có lúc sẽ nói: hãy để Ta làm trong con. Thế gian nói: phải chứng minh giá trị. Chúa nói: con đã được yêu. Thế gian làm con phân tán về ngàn phía. Chúa quy tụ con về một điều duy nhất. Và nếu con trung thành bước vào sự thinh lặng ấy mỗi ngày, con sẽ khám phá rằng điều con tìm kiếm ở khắp nơi đã ở gần hơn con tưởng: Thiên Chúa ở đây. Không phải chỉ trong những khoảnh khắc lớn lao. Không phải chỉ trong những giờ sốt sắng. Ngài ở đây, trong phút bình thường, trong hơi thở này, trong sự nghèo nàn này, trong trái tim đang chiến đấu này.
Vậy hãy lặng thinh trước Ngài. Không phải thứ thinh lặng chết, nhưng thinh lặng đầy sự hiện diện. Hãy ở lại. Không phải bằng sự căng thẳng, nhưng bằng lòng tín thác. Hãy nhìn Ngài và để Ngài nhìn con. Khi tâm trí chạy đi, trở về. Khi lòng khô, ở lại. Khi đau, dâng lên. Khi vui, tạ ơn. Khi sa ngã, chạy về. Khi không hiểu, tín thác. Khi không còn lời, hãy để chính sự hiện diện của con trở thành lời cầu.
“Hãy lặng thinh và nhận biết rằng Ta là Thiên Chúa.”
Hãy lặng thinh.
Hãy ở lại.
Hãy để Chúa là Chúa.
Hãy để mình là người con nghèo đang ngồi trước mặt Cha.
Hãy để những lớp tự ái, kiểm soát, nóng vội và tìm kiếm bản thân dần dần rơi xuống trong ánh sáng của Ngài.
Hãy để sự thinh lặng dạy con điều lời nói không thể dạy.
Hãy để những giờ khô khan dạy con yêu mà không đòi được trả công.
Hãy để những lần phân tâm dạy con khiêm nhường trở về.
Hãy để việc không cảm thấy gì dạy con sống bằng đức tin.
Hãy để sự bất lực dạy con tín thác.
Và rồi con sẽ hiểu rằng cầu nguyện nội tâm không phải là một nơi trốn khỏi cuộc chiến linh hồn. Nó là căn phòng bí mật nơi người chiến sĩ được chữa lành, được thanh luyện, được trao lại khí giới, được dạy lại cách nhìn, được đặt trở về đúng vị trí trước khi bước ra chiến trường.
Ở đó, con học rằng sức mạnh của con không nằm ở việc con có thể gồng mình bao lâu.
Sức mạnh của con nằm ở việc con biết trở về với Chúa bao nhiêu lần.
Ở đó, con học rằng chiến thắng không bắt đầu khi con mạnh.
Nó bắt đầu khi con ngừng cậy vào mình và để Chúa mạnh trong con.
Ở đó, con học rằng điều sâu xa nhất của đời sống thiêng liêng không phải là nói thật nhiều về Thiên Chúa, cũng không phải là làm thật nhiều điều cho Thiên Chúa, nhưng là thuộc về Thiên Chúa.
Và thuộc về Ngài bắt đầu bằng một hành vi thật đơn sơ:
Ở lại với Ngài.
Hỡi linh hồn, ngày mai khi con bước vào nơi cầu nguyện và thấy lòng mình chẳng có gì để dâng, đừng bỏ đi.
Hãy ngồi xuống.
Hãy nhìn Thánh Giá.
Hãy thưa rất khẽ:
“Lạy Chúa, con chẳng có gì. Nhưng con ở đây.”
Có thể đó sẽ là một trong những lời cầu nguyện đẹp nhất đời con.
Bởi vì cuối cùng, Thiên Chúa không cần tài hùng biện của con.
Ngài muốn trái tim con.
Không cần trái tim hoàn hảo.
Chỉ cần trái tim chịu ở lại.
Và linh hồn nào học được nghệ thuật ở lại với Chúa trong thinh lặng và tín thác sẽ dần dần học được nghệ thuật ở lại với Chúa trong đau khổ, trong thử thách, trong cám dỗ, trong thất bại, trong cô đơn, trong bệnh tật, trong tuổi già, và cuối cùng trong chính giờ chết.
Khi ấy cả cuộc đời chỉ còn là một lời cầu nguyện:
“Lạy Chúa, này con đây. Con thuộc về Chúa. Xin Chúa ở lại với con, và xin cho con ở lại trong Chúa.”
Đó là cầu nguyện nội tâm.
Đó là nghệ thuật của sự hiện diện.
Đó là trường học của lòng tín thác.
Đó là sự thinh lặng trong đó linh hồn được uốn lại theo hình ảnh Đức Kitô.
Và đó cũng là một trong những khí giới âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất trong toàn bộ cuộc chiến linh hồn.
CHƯƠNG 28
SỰ BÌNH AN NỘI TÂM TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, sau khi đã học cách bước vào cầu nguyện nội tâm, sau khi đã tập ở lại với Chúa trong thinh lặng, sau khi đã hiểu rằng đời sống thiêng liêng không chỉ được xây dựng bằng những lời nói, những việc làm hay những cố gắng bên ngoài, nhưng trước hết bằng một trái tim biết ở lại trước mặt Thiên Chúa, giờ đây chúng ta phải nói đến một điều hết sức quý giá, hết sức mong manh, nhưng đồng thời cũng là một trong những khí giới mạnh mẽ nhất trong cuộc chiến linh hồn: sự bình an nội tâm. Có những linh hồn rất nhiệt thành, rất quảng đại, rất muốn nên thánh, rất sẵn lòng hy sinh, nhưng lại sống gần như suốt ngày trong một tình trạng xáo trộn nội tâm. Họ cầu nguyện trong lo lắng. Họ xét mình trong căng thẳng. Họ chiến đấu với chính mình trong sợ hãi. Họ làm việc lành nhưng luôn bất an không biết mình đã làm đủ chưa. Họ phạm một lỗi nhỏ thì buồn bã nhiều giờ. Họ nghe một lời phê bình thì trong lòng bị khuấy động cả ngày. Họ gặp một cơn cám dỗ thì tưởng rằng đời sống thiêng liêng của mình đã sụp đổ. Họ thấy người khác tiến bộ hơn thì sinh buồn phiền. Họ cảm thấy khô khan trong cầu nguyện thì lập tức nghĩ rằng Chúa đã xa mình. Họ thấy một thói xấu tưởng đã thắng mà nay lại nổi lên thì lập tức thất vọng: “Có lẽ tôi chẳng bao giờ thay đổi được.” Những linh hồn ấy có thể rất chân thành, rất sốt sắng, thậm chí rất quảng đại, nhưng họ chưa hiểu rằng một phần quan trọng của cuộc chiến thiêng liêng chính là học cách chiến đấu mà không đánh mất bình an.
Bình an nội tâm không có nghĩa là không còn chiến tranh. Có khi chính những linh hồn đang chiến đấu dữ dội nhất lại là những linh hồn bình an nhất, bởi vì bình an thật không tùy thuộc vào việc bên ngoài có yên ổn hay không, cũng không tùy thuộc vào việc bên trong có còn cám dỗ hay không. Bình an thật là một chiều sâu khác. Nó nằm dưới những cơn sóng. Biển có thể động trên mặt, nhưng dưới sâu vẫn có một vùng nước lặng. Con người có thể đau, có thể khóc, có thể bị hiểu lầm, có thể phải chống lại những đam mê dữ dội, có thể cảm thấy mình yếu đuối đến tận cùng, nhưng ở nơi sâu nhất của linh hồn vẫn có thể có một điểm tựa không bị lay chuyển: “Chúa đang ở đây. Tôi thuộc về Chúa. Chúa không bỏ tôi. Tôi yếu, nhưng Chúa mạnh. Tôi có thể sa ngã, nhưng lòng thương xót của Chúa lớn hơn sự sa ngã của tôi. Tôi không hiểu con đường này, nhưng Chúa biết. Tôi không thấy ngày mai, nhưng Chúa đang ở đó.” Đó là bình an.
Và vì thế, hỡi linh hồn, con phải hiểu ngay từ đầu rằng kẻ thù rất sợ một linh hồn có bình an. Nó không sợ một linh hồn lúc nào cũng nói những lời mạnh mẽ nhưng dễ hoảng loạn. Nó không sợ một linh hồn hăng hái hôm nay rồi tuyệt vọng ngày mai. Nó không sợ một linh hồn có nhiều quyết tâm nhưng mỗi lần thất bại lại tự kết án mình. Nhưng nó rất sợ một linh hồn nhỏ bé, khiêm nhường, biết mình yếu, nhưng bình tĩnh đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã và tiếp tục bước đi. Nó rất sợ một linh hồn không tranh cãi với cám dỗ, không kinh hoàng trước cám dỗ, không lấy cám dỗ làm bằng chứng rằng mình đã bị Chúa bỏ rơi, nhưng chỉ nhẹ nhàng quay mặt về phía Chúa và nói: “Lạy Chúa, con lại yếu rồi. Xin Chúa giúp con.” Một linh hồn như thế rất khó bị đánh bại, bởi vì ma quỷ có thể làm nó đau, có thể khuấy động cảm xúc của nó, có thể đưa đến cho nó hàng trăm tư tưởng, nhưng không dễ lấy khỏi nó nền tảng sâu xa là sự tín thác.
BÌNH AN THẬT VÀ BÌNH AN GIẢ
Có một điều phải phân biệt rất rõ: không phải mọi sự yên ổn đều là bình an của Thiên Chúa. Có những thứ yên ổn rất nguy hiểm, bởi vì chúng không đến từ sự hiệp nhất với Thiên Chúa nhưng từ sự chai lì của lương tâm. Một người đang sống trong thói quen tội lỗi có thể cảm thấy rất “bình thường”. Một linh hồn đã quen thỏa hiệp với đam mê có thể không còn bị lương tâm cắn rứt mạnh như trước. Một người đã lâu ngày không còn xét mình có thể cảm thấy chẳng có gì nghiêm trọng. Một người đã bỏ cầu nguyện có thể nói: “Tôi thấy nhẹ nhàng hơn, không còn căng thẳng nữa.” Một người đã ngừng chiến đấu với tính nóng giận, với sự ích kỷ, với lòng ham danh, với đam mê xác thịt, với những dính bén của mình, có thể cảm thấy đời sống “dễ chịu” hơn nhiều. Nhưng sự dễ chịu ấy không phải là bình an. Đó có thể chỉ là sự im lặng của một lương tâm đang bị gây mê.
Một căn nhà có thể rất yên tĩnh vì mọi người đang ngủ. Nhưng một căn nhà cũng có thể yên tĩnh vì không còn ai sống trong đó. Hai sự yên tĩnh ấy hoàn toàn khác nhau. Cũng vậy, linh hồn có thể yên vì đã phó thác cho Thiên Chúa, nhưng cũng có thể yên vì đã thôi chống lại tội. Linh hồn có thể không còn day dứt vì đã thực sự giao hòa với Chúa, nhưng cũng có thể không còn day dứt vì đã quen với bóng tối. Đừng nhầm lẫn.
Bình an thật không khiến con lười biếng. Bình an thật làm con mạnh hơn để trung thành. Bình an thật không làm con dễ dãi với tội. Trái lại, người càng bình an trong Chúa càng ghét tội, nhưng ghét tội mà không ghét chính mình. Người ấy đau vì đã xúc phạm đến Chúa, nhưng không chìm trong tuyệt vọng. Người ấy thành thật nhìn nhận lỗi mình, nhưng không biến lỗi mình thành trung tâm của vũ trụ. Người ấy xin tha thứ rồi đứng dậy. Người ấy không dành ba ngày để than khóc vì mình đã ngã, trong khi Chúa chỉ muốn người ấy đứng dậy trong ba phút và tiếp tục yêu.
Bình an giả nói: “Không sao đâu, cứ sống như vậy cũng được.” Bình an thật nói: “Điều này không đẹp lòng Chúa, tôi phải thay đổi, nhưng tôi sẽ thay đổi trong lòng thương xót của Ngài.” Bình an giả khiến con không chiến đấu. Bình an thật giúp con chiến đấu không hoảng loạn. Bình an giả là ngủ quên. Bình an thật là tỉnh thức mà không sợ hãi.
Con hãy nhìn Chúa Giêsu trong cuộc Thương Khó. Có ai trải qua một trận chiến dữ dội hơn Ngài không? Ngài bị phản bội, bị bỏ rơi, bị vu khống, bị đánh đập, bị nhạo báng, bị kết án bất công, bị đóng đinh. Thân xác Ngài đau đớn. Tâm hồn Ngài bị nghiền nát. Thế nhưng giữa tất cả những điều ấy, có một chiều sâu không bị khuấy đảo: sự kết hợp của Ngài với Chúa Cha. Ngài đau nhưng không nổi loạn. Ngài bị xúc phạm nhưng không để hận thù chiếm lấy trái tim. Ngài bị đóng đinh nhưng vẫn có thể nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó chính là bình an trong chiến trận. Không phải bình an của một người không đau, nhưng là bình an của một Người trao chính nỗi đau của mình vào tay Chúa Cha.
Hỡi linh hồn, nếu con nghĩ rằng chỉ khi nào không còn cám dỗ, không còn đau khổ, không còn chống đối, không còn hiểu lầm, không còn thất bại, không còn yếu đuối thì con mới có thể bình an, con sẽ chờ cả đời mà không gặp được bình an. Thiên Chúa không hứa cho con một đời sống không có bão. Ngài hứa ở với con trong cơn bão. Sự bình an của Kitô hữu không phải là việc biển luôn phẳng lặng; đó là việc Chúa Giêsu vẫn ở trong thuyền.
NHỮNG KẺ THÙ ÂM THẦM CỦA SỰ BÌNH AN NỘI TÂM
Có nhiều điều cướp mất bình an của linh hồn, nhưng rất nhiều khi chúng không đến từ những biến cố bên ngoài mà đến từ những chuyển động rất kín đáo bên trong con người.
Trước hết là sự tự ái bị tổn thương. Nhiều lần chúng ta tưởng mình mất bình an vì người khác sai, nhưng nhìn kỹ lại, chúng ta mất bình an vì cái tôi của mình bị đụng đến. Người ta không coi trọng tôi như tôi mong muốn. Người ta không hiểu thiện ý của tôi. Người ta nói một câu làm tôi mất mặt. Người ta không cảm ơn. Người ta không công nhận công sức. Người ta chọn người khác thay vì chọn tôi. Người ta không hỏi ý tôi. Người ta không đối xử với tôi như tôi nghĩ mình đáng được đối xử. Và thế là tâm hồn bắt đầu nổi sóng.
Điều đáng sợ là sự tự ái có thể mặc áo công chính. Ta có thể nói: “Tôi chỉ buồn vì người ấy cư xử thiếu bác ái.” Nhưng nếu thật sự chỉ vì bác ái, tại sao lòng ta lại bị khuấy động lâu đến vậy? Ta có thể nói: “Tôi chỉ muốn sự thật được tôn trọng.” Nhưng tại sao khi sự thật liên quan đến danh dự người khác, ta bình tĩnh, còn khi liên quan đến chính ta, ta không ngủ được? Nhiều xáo trộn thiêng liêng thực ra không phải do lòng yêu mến Thiên Chúa bị xúc phạm, mà do lòng yêu chính mình bị tổn thương.
Một kẻ thù khác là sự nôn nóng muốn nên thánh theo kế hoạch của mình. Đây là cạm bẫy của những linh hồn sốt sắng. Họ muốn tiến bộ, đó là điều tốt. Nhưng rồi họ ngầm đặt ra một lịch trình cho Thiên Chúa: tháng này tôi phải thắng được tính nóng; năm nay tôi phải có đời sống cầu nguyện sâu; sau một thời gian thực hành tôi phải bớt khô khan; sau từng ấy lần xét mình tôi phải không còn phạm lỗi ấy nữa. Khi thực tế không diễn ra như vậy, họ bất an.
Nhưng hỡi linh hồn, ai đã nói với con rằng con có quyền quy định thời gian Thiên Chúa thanh luyện con? Ai nói rằng nên thánh phải theo đường thẳng? Ai nói rằng Thiên Chúa không thể để con phải chiến đấu lâu năm với một yếu đuối nào đó để dạy con khiêm nhường? Có khi con muốn Chúa cất đi một đam mê, còn Chúa muốn dùng chính cuộc chiến ấy để cất đi lòng kiêu ngạo của con. Con xin: “Lạy Chúa, xin cho con hết yếu.” Chúa lại muốn nói: “Cha muốn con học cách yếu mà vẫn tin.” Con xin: “Xin cho con thắng nhanh.” Chúa nói: “Cha muốn con học trung thành lâu dài.” Con xin một chiến thắng có thể khiến con tự tin vào mình; Chúa ban một cuộc chiến kéo dài để con chỉ còn biết dựa vào Ngài.
Một kẻ thù khác nữa là việc nhìn quá nhiều vào chính mình. Người ta có thể tưởng rằng xét mình càng nhiều càng thiêng liêng, nhưng nếu xét mình mà không hướng đến Chúa, nó dễ biến thành sự quy ngã tinh vi. Có những linh hồn suốt ngày quan sát mình: “Tại sao tôi lại nghĩ vậy? Tôi có phạm tội không? Tôi có yêu Chúa đủ không? Tôi có khiêm nhường không? Tôi có tiến bộ không? Tôi có cầu nguyện đúng không? Tôi có ý ngay lành không?” Họ cứ cúi đầu nhìn vào nội tâm mình như người đi đường chỉ chăm chăm nhìn xuống chân, đến nỗi quên mất nhìn về phía trước.
Xét mình là cần. Nhưng xét mình không phải để đứng ngắm sự nghèo nàn của mình, mà để đem sự nghèo nàn ấy đến cho Chúa. Một người bị thương không khỏi bệnh vì cứ nhìn vết thương mỗi phút; người ấy phải để thầy thuốc chữa. Cũng vậy, có lúc điều thiêng liêng nhất con có thể làm sau khi nhận ra lỗi mình không phải là tiếp tục phân tích, nhưng là nói: “Lạy Chúa, Chúa thấy rồi. Con xin trao điều này cho Chúa. Xin thương xót con. Bây giờ con tiếp tục bổn phận của con.”
Một nguyên nhân lớn khác làm mất bình an là mong muốn kiểm soát. Chúng ta muốn kiểm soát hoàn cảnh, tương lai, sức khỏe, người khác, kết quả công việc, hình ảnh của mình trong mắt người đời, thậm chí muốn kiểm soát cả cách Thiên Chúa hành động. Chúng ta muốn Chúa trả lời theo cách mình hiểu. Muốn lời cầu nguyện được nhận theo thời điểm mình mong. Muốn một người thay đổi đúng như điều mình xin. Muốn một vấn đề được giải quyết theo phương án mình cho là tốt nhất. Và khi mọi việc lệch khỏi dự tính, tâm hồn nổi loạn.
Hỡi linh hồn, nhiều khi con không mất bình an vì điều đang xảy ra quá lớn, nhưng vì con không chấp nhận rằng mình không làm chủ được nó.
Có những việc Thiên Chúa sẽ chỉ giải quyết khi con thôi bóp chặt nó trong tay.
Có những câu hỏi Ngài chỉ trả lời khi con chấp nhận sống một thời gian mà chưa có câu trả lời.
Có những người Ngài muốn con yêu chứ không phải sửa.
Có những hoàn cảnh Ngài muốn con đi qua chứ không phải thoát khỏi.
Có những cánh cửa Ngài không mở, không phải vì Ngài quên con, nhưng vì con đang đứng trước một cánh cửa không phải dành cho mình.
Có những điều con gọi là “trì hoãn của Chúa” nhưng trong chương trình của Ngài lại là thời gian cần thiết để làm chín linh hồn con.
Sự so sánh cũng là một tên trộm rất tinh vi của bình an. Khi con nhìn người khác và tự hỏi tại sao họ được điều này còn mình không; tại sao họ có khả năng ấy còn mình thì yếu; tại sao họ được quý mến, được tín nhiệm, được thành công, được an ủi thiêng liêng, trong khi mình phải đi qua khô khan, thất bại, lặng lẽ, con đã rời khỏi con đường Thiên Chúa dành cho mình để đứng nhìn con đường của người khác.
Thiên Chúa không viết hai cuộc đời giống nhau. Đừng dùng trang sách của người khác để phán xét chương đời Chúa đang viết cho con.
Một bông hoa tím không cần mất bình an vì nó không đỏ như hoa hồng. Một ngôi sao nhỏ không cần buồn vì mình không sáng như mặt trăng. Thiên Chúa không hỏi con tại sao con không trở thành người khác. Ngài chỉ hỏi con có trung thành với ân sủng được ban cho con hay không.
Và cuối cùng, một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của bình an là việc giữ lỗi lầm của quá khứ như một bản án treo trên đầu mình. Có những người đã xưng tội, đã xin Chúa tha, đã nghe lời tha thứ, nhưng vẫn tiếp tục sống như thể Chúa chưa tha. Họ nhớ đi nhớ lại lỗi cũ. Họ tự trách. Họ cảm thấy mình không xứng đáng. Họ dùng quá khứ như bằng chứng rằng mình sẽ không bao giờ nên thánh.
Điều này có vẻ khiêm nhường, nhưng nhiều khi nó là một hình thức kiêu ngạo đau đớn: ta khó chấp nhận rằng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn điều ta đã làm.
Nếu Chúa đã tha, con là ai mà cứ giữ lại bản án?
Nếu Chúa đã ném tội của con vào vực sâu lòng thương xót, tại sao con cứ lặn xuống tìm lại?
Nếu Chúa nói: “Hãy đứng lên”, tại sao con cứ quỳ trong tro bụi của quá khứ?
Khiêm nhường không phải là cứ mãi nói: “Tôi xấu xa.” Khiêm nhường là nói: “Tôi yếu đuối, nhưng Chúa nhân lành. Tôi đã phạm tội, nhưng Chúa đã tha. Tôi không xứng đáng, nhưng Ngài vẫn yêu. Vậy tôi sẽ đứng dậy vì Ngài muốn tôi đứng dậy.”
HÃY XÂY BÌNH AN TRÊN SỰ THẬT
Muốn có bình an thật, con không thể xây nó trên cảm xúc. Con phải xây nó trên sự thật.
Sự thật thứ nhất là: con yếu đuối.
Nghe có vẻ không an ủi, nhưng đây lại là khởi đầu của bình an. Bởi vì khi con thật sự chấp nhận mình yếu, con không còn ngạc nhiên quá mức khi thấy mình yếu nữa. Rất nhiều xáo trộn đến từ việc linh hồn vẫn âm thầm nghĩ rằng mình phải khá hơn thực tế. Khi một cơn nóng giận xuất hiện, nó sửng sốt: “Tại sao tôi còn như thế?” Khi một ý nghĩ tự ái nổi lên: “Sao tôi tu bao năm mà vẫn vậy?” Khi một sự ghen tị xuất hiện: “Không thể tin được lòng tôi còn xấu đến thế.” Thực ra, điều làm nó đau không chỉ là yếu đuối, nhưng là hình ảnh lý tưởng về chính mình bị vỡ.
Hỡi linh hồn, đừng ngạc nhiên quá nhiều về sự nghèo nàn của mình.
Con là một tạo vật bị thương tích bởi tội, đang được ân sủng chữa lành từng ngày. Vì thế còn yếu là điều không đáng kinh ngạc. Điều đáng kinh ngạc hơn là Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn với con.
Con có thể còn sa ngã.
Con có thể còn phải chiến đấu với cùng một đam mê rất lâu.
Con có thể có những ngày cầu nguyện tồi tệ.
Con có thể nói một lời rồi hối tiếc.
Con có thể làm một việc tốt với động lực chưa hoàn toàn trong sạch.
Con có thể thấy bên trong mình những điều khiến mình xấu hổ.
Nhưng tất cả những điều đó không làm Thiên Chúa ngạc nhiên.
Ngài biết con trước khi con biết mình.
Ngài thấy sự yếu đuối ấy trước khi kêu gọi con.
Ngài không yêu một phiên bản lý tưởng nào của con. Ngài yêu chính con, con người đang còn được thanh luyện này.
Sự thật thứ hai là: Thiên Chúa mạnh hơn sự yếu đuối của con.
Nếu chỉ nhìn vào mình, con sẽ tuyệt vọng. Nhưng nếu nhìn vào Chúa, con sẽ hiểu rằng sự thánh thiện của con cuối cùng không phải là một công trình do con tự xây nên bằng ý chí, nhưng là một công trình ân sủng mà con cộng tác.
Một đứa trẻ không bình an vì nó biết đường. Nó bình an vì tay nó nằm trong tay cha.
Con không cần biết hết con đường phía trước.
Con chỉ cần đừng rút tay khỏi tay Chúa.
Sự thật thứ ba là: Thiên Chúa có thời gian của Ngài.
Có những cây mọc nhanh, có những cây mọc chậm. Có những vết thương lành trong vài ngày; có những vết thương phải mất nhiều năm. Linh hồn cũng vậy. Đừng thúc ép ân sủng như người ta thúc ép một cỗ máy. Thiên Chúa đào luyện con trong lịch sử, qua các mối tương quan, những lần vấp ngã, những lần chờ đợi, những mất mát, những bổn phận rất bình thường, những ngày tưởng như chẳng có gì xảy ra.
Có lẽ con tưởng hôm nay mình không tiến bộ vì con vẫn còn yếu. Nhưng có thể điều Chúa đang làm hôm nay không phải là lấy yếu đuối khỏi con, mà là giúp con ít tự mãn hơn.
Có thể con tưởng mình đang đi lùi vì cảm thấy khô khan hơn trước, trong khi Chúa đang dạy con yêu Ngài không dựa trên cảm giác.
Có thể con tưởng những năm tháng chiến đấu với cùng một khuyết điểm là vô ích, trong khi qua chính những năm tháng đó con đã trở nên dịu dàng hơn với người khác, ít xét đoán hơn, ít tự phụ hơn và biết thương xót hơn.
Đừng đo công trình của Thiên Chúa chỉ bằng điều con cảm thấy.
KHI BÌNH AN BỊ MẤT, HÃY TRỞ VỀ NGAY
Một trong những nghệ thuật quan trọng nhất của đời sống thiêng liêng không phải là không bao giờ mất bình an, nhưng là biết trở về với bình an thật nhanh mỗi khi bị xáo trộn.
Con sẽ mất bình an. Đừng ngạc nhiên.
Một lời nói có thể làm con đau.
Một biến cố bất ngờ có thể làm con lo.
Một cơn cám dỗ có thể làm con sợ.
Một lỗi lầm của chính mình có thể làm con xấu hổ.
Một sự bất công có thể làm con nổi nóng.
Một sự thay đổi trong kế hoạch có thể làm con bực bội.
Một tin tức không mong muốn có thể làm tim con nặng xuống.
Điều quan trọng không phải là những xáo động đầu tiên xuất hiện hay không. Nhiều cảm xúc không nằm trực tiếp trong quyền kiểm soát của con. Điều quan trọng là: con làm gì sau khi chúng xuất hiện?
Đừng tranh luận quá lâu với cơn xáo trộn.
Đừng để nó ngồi trong lòng con như một vị khách được tiếp đãi.
Đừng nói chuyện với nó cả ngày.
Đừng dựng trong trí hàng chục kịch bản.
Đừng tua đi tua lại lời người khác đã nói.
Đừng suy diễn ý định của người khác.
Đừng tiên đoán tai họa.
Đừng mở phiên tòa trong đầu.
Hãy trở về với Chúa.
Có khi chỉ cần một câu rất ngắn:
“Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”
“Lạy Chúa, xin giữ lòng con trong Chúa.”
“Điều này thuộc về Chúa, không thuộc về con.”
“Xin cho con chỉ làm điều phải làm trong lúc này.”
“Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tin.”
Một lời nguyện như vậy, nếu phát ra từ một tâm hồn chân thành, có thể là một hành vi chiến đấu mạnh hơn cả một giờ phân tích.
Con hãy tập thói quen đưa mọi xáo trộn đến với Chúa ngay từ lúc nó còn nhỏ. Một đốm lửa dập lúc mới cháy rất dễ; để nó lan cả khu rừng rồi mới chữa thì khó. Một suy nghĩ làm con bất an lúc mới xuất hiện có thể được đặt ngay dưới chân Chúa. Nhưng nếu con nuôi nó bằng tưởng tượng, phán đoán, nhớ lại, đối thoại nội tâm, sau vài giờ nó có thể trở thành một cơn bão.
BÌNH AN VÀ GIÂY PHÚT HIỆN TẠI
Hỡi linh hồn, rất nhiều đau khổ của con không nằm trong điều đang xảy ra lúc này. Nó nằm trong điều đã xảy ra hôm qua hoặc điều con sợ sẽ xảy ra ngày mai.
Quá khứ làm con nói: “Giá như…”
Tương lai làm con nói: “Nếu như…”
Còn Thiên Chúa thường gặp con trong chữ: “Bây giờ.”
Bây giờ con phải làm gì?
Bây giờ con phải yêu ai?
Bây giờ con có bổn phận nào?
Bây giờ con cần nói hay cần im lặng?
Bây giờ con có thể làm một việc nhỏ nào đẹp lòng Chúa?
Giây phút hiện tại là nơi duy nhất con thực sự có thể yêu.
Con không thể sửa ngày hôm qua bằng cách lo âu hôm nay.
Con không thể bảo đảm ngày mai bằng cách mất bình an hôm nay.
Con chỉ có thể trao hôm qua cho lòng thương xót, trao ngày mai cho sự quan phòng và sống ngày hôm nay trong thánh ý Chúa.
Có người mang trong lòng mười năm quá khứ. Có người mang trong lòng hai mươi năm tương lai. Không lạ gì họ mệt. Thiên Chúa chỉ xin họ mang một ngày.
Thậm chí Ngài chỉ xin họ trung thành trong giờ này.
Hãy nhớ: Chúa ban ơn theo giây phút. Ơn của ngày mai sẽ đến vào ngày mai. Con không có sức cho những đau khổ tưởng tượng của năm sau, bởi vì Chúa chưa ban ơn cho chúng. Nhưng nếu ngày ấy thực sự đến, ơn cũng sẽ đến.
Đừng đòi hôm nay phải có ơn của ngày mai.
Đừng lấy sức hôm nay để chịu những thập giá chưa tồn tại.
Khi trí con lao vào tương lai, hãy nhẹ nhàng kéo nó về: “Hôm nay Chúa đang ở đây.”
Khi quá khứ trở về buộc tội, hãy nói: “Chúa đã ở đó, và lòng thương xót Ngài đã bao phủ điều đó.”
Bình an lớn lên khi linh hồn học sống từng ngày dưới cái nhìn của Thiên Chúa.
GIỮ THINH LẶNG NỘI TÂM
Thế giới bên ngoài đã quá ồn ào. Nhưng nhiều khi tiếng ồn nguy hiểm nhất lại nằm bên trong.
Ta có thể ngồi một mình trong nhà nguyện mà nội tâm ồn như chợ.
Một cuộc đối thoại đã qua tiếp tục lặp lại.
Một lời phê bình tiếp tục vang lên.
Một kế hoạch cho ngày mai chen vào.
Một nỗi lo chưa giải quyết cứ quay vòng.
Một phán đoán về người khác xuất hiện.
Một sự bất mãn đối với chính mình trỗi dậy.
Một điều tưởng tượng chưa xảy ra được dựng thành cả câu chuyện.
Và cứ thế, thân xác ở trước Nhà Tạm nhưng linh hồn chạy đi khắp nơi.
Giữ thinh lặng nội tâm không có nghĩa là ép đầu óc không nghĩ gì. Điều ấy gần như không thể. Thinh lặng nội tâm là không để mọi tư tưởng đều có quyền nói trong lòng mình.
Không phải tư tưởng nào đến cũng đáng được tiếp chuyện.
Không phải cảm xúc nào nổi lên cũng phải được tin.
Không phải hình ảnh nào xuất hiện cũng phải theo đuổi.
Không phải nỗi sợ nào cũng là một lời tiên tri.
Không phải sự nghi ngờ nào cũng là sự thật.
Hãy để những điều ấy đi qua như mây.
Con không cần đánh nhau với từng đám mây.
Chỉ cần giữ mắt trên mặt trời.
Chúa ở đó.
Có khi cả một ngày, con chỉ cần trở về với sự hiện diện của Chúa hàng trăm lần.
Đang làm việc: “Chúa ở đây.”
Đang đi đường: “Chúa ở đây.”
Bị xúc phạm: “Chúa ở đây.”
Thành công: “Chúa ở đây.”
Thất bại: “Chúa ở đây.”
Không biết phải làm gì: “Chúa ở đây.”
Cảm thấy mình chẳng ra gì: “Chúa vẫn ở đây.”
Sự hiện diện của Thiên Chúa từ từ gom tâm hồn lại. Những mảnh phân tán trở về một điểm. Và điểm ấy là Ngài.
ĐỪNG DỰA BÌNH AN TRÊN CẢM XÚC
Một sai lầm lớn là đồng hóa bình an với cảm giác dễ chịu.
Có những lúc con rất bình an theo đức tin nhưng cảm xúc vẫn nặng nề.
Có những lúc con đã phó thác nhưng tim vẫn đập nhanh.
Có những lúc con đã tha thứ nhưng vết thương vẫn đau.
Có những lúc con tin Chúa nhưng vẫn khóc.
Có những lúc con làm đúng thánh ý Chúa mà vẫn cảm thấy sợ.
Đừng kết luận rằng mình chưa tín thác chỉ vì mình còn cảm xúc.
Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã buồn sầu đến chết được. Nhưng Ngài vẫn nói: “Xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.”
Đó là bình an ở tầng sâu hơn cảm xúc.
Bình an Kitô giáo không phải là mất khả năng đau. Nó là không để nỗi đau tách mình khỏi Thiên Chúa.
Đừng đòi trái tim lúc nào cũng nhẹ nhàng. Hãy chỉ xin trái tim dù nặng vẫn hướng về Chúa.
Có những ngày, đức tin của con sẽ rất đẹp không phải vì con cảm thấy Chúa gần, nhưng vì con vẫn trung thành khi chẳng cảm thấy gì.
Có những ngày, sự tín thác của con sẽ rất tinh tuyền không phải vì con hết lo, nhưng vì ngay giữa nỗi lo con vẫn nói: “Lạy Chúa, con đặt điều này trong tay Chúa.”
Cảm xúc như thời tiết.
Đức tin như nền đất.
Đừng xây nhà trên thời tiết.
BÌNH AN KHI BỊ CHỈ TRÍCH VÀ HIỂU LẦM
Một thử thách lớn của bình an nội tâm là khi ta bị người khác phê bình, hiểu lầm hoặc đánh giá sai.
Không gì làm cái tôi tỉnh dậy nhanh bằng một lời chạm đến danh dự.
Ta muốn giải thích.
Ta muốn chứng minh.
Ta muốn người khác hiểu.
Ta muốn sửa hình ảnh của mình trong mắt họ.
Có lúc cần giải thích vì sự thật và vì trách nhiệm. Nhưng cũng có lúc việc giải thích chỉ là một hình thức bảo vệ cái tôi.
Hãy tập hỏi: “Điều này có thực sự cần tôi thanh minh không, hay chỉ có lòng tự ái của tôi đang đòi được minh oan?”
Nếu điều người ta nói có phần đúng, hãy lấy phần đúng ấy mà sửa mình.
Nếu điều họ nói sai, hãy trao sự thật cho Chúa.
Con không cần tất cả mọi người hiểu con.
Ngay cả Chúa Giêsu cũng bị hiểu lầm.
Ngài bị gọi là người phá luật.
Ngài bị tố cáo.
Ngài bị xuyên tạc.
Ngài không dành đời mình để chạy theo từng người nhằm sửa mọi nhận định về Ngài.
Có một sự tự do rất lớn khi linh hồn có thể nói: “Lạy Chúa, Chúa biết sự thật. Thế là đủ.”
Hỡi linh hồn, ngày nào con còn cần mọi người hiểu đúng về mình để có bình an, bình an của con vẫn đang nằm trong tay người khác.
Chỉ cần một câu nói của họ là con mất nó.
Chỉ cần một ánh mắt là con dao động.
Chỉ cần một lời đồn là con mất ngủ.
Hãy lấy bình an ấy về và đặt nó trong tay Chúa.
BÌNH AN SAU KHI SA NGÃ
Đây là một trong những điều quan trọng nhất của toàn bộ cuộc chiến linh hồn.
Khi con sa ngã, kẻ thù muốn con phạm hai lỗi thay vì một.
Lỗi thứ nhất là sự sa ngã.
Lỗi thứ hai là mất bình an.
Thường lỗi thứ hai còn gây thiệt hại lâu hơn lỗi thứ nhất.
Con nóng giận trong năm phút nhưng tự trách mình năm giờ.
Con lỡ nói một lời thiếu bác ái nhưng cả ngày sống trong nặng nề.
Con bị một cơn cám dỗ mạnh rồi kết luận mình là người tệ hại.
Con nhận ra một động cơ tự ái trong việc mình làm rồi muốn bỏ luôn việc lành.
Đây là điều kẻ thù rất thích.
Nó nói: “Thấy chưa? Bao nhiêu năm rồi mà vẫn thế.”
“Đời sống thiêng liêng của mày chỉ là giả.”
“Chúa chắc đã chán mày.”
“Mày không xứng đáng cầu nguyện.”
“Thôi, bỏ đi.”
Hỡi linh hồn, khi ngã, hãy học một phản ứng khác.
Hãy lập tức hạ mình, nhưng đừng hoảng.
Hãy nhìn nhận: “Đúng, lạy Chúa, con lại thấy con là ai nếu không có ơn Chúa.”
Xin tha thứ.
Nếu cần, hãy đi xưng tội.
Sửa điều cần sửa.
Xin lỗi người cần xin lỗi.
Rồi bước tiếp.
Đừng ngồi ôm lấy sự thất bại như thể nó quý giá.
Một đứa trẻ học đi ngã hàng trăm lần. Người mẹ không ngạc nhiên mỗi lần nó ngã. Bà chỉ đưa tay cho nó đứng lên.
Thiên Chúa cũng không mệt mỏi vì phải nâng con lên.
Điều Ngài muốn không phải là một đứa con chưa bao giờ ngã, nhưng là một đứa con mỗi lần ngã đều quay về phía Cha.
Có khi việc con đứng dậy sau lần sa ngã thứ một trăm với lòng tín thác lại làm Chúa vui hơn một chiến thắng khiến con tự mãn.
Hãy nhớ điều này: sự sa ngã được đem đến với lòng thương xót có thể trở thành trường học của khiêm nhường.
Nhưng sự sa ngã được giữ lại trong tự kết án sẽ trở thành vũ khí của kẻ thù.
BÌNH AN VÀ VIỆC CHIẾN ĐẤU
Đừng tưởng bình an làm cho con yếu.
Trái lại, người bình an chiến đấu chính xác hơn.
Người hoảng sợ vung gươm lung tung.
Người bình an nhìn rõ kẻ thù.
Người mất bình an thường phản ứng thái quá. Một cơn cám dỗ nhỏ cũng làm họ hoảng. Một lỗi nhỏ cũng làm họ nghĩ mọi sự đã hỏng. Một lời phê bình nhỏ làm họ phản ứng quá mức.
Người bình an biết đặt mọi sự đúng kích thước.
Tội là tội: phải tránh.
Lỗi là lỗi: phải sửa.
Cám dỗ là cám dỗ: không phải tội nếu chưa ưng thuận.
Cảm xúc là cảm xúc: không phải mệnh lệnh.
Một ngày xấu là một ngày xấu: không phải cả cuộc đời.
Một thất bại là một thất bại: không phải căn tính của con.
Một người không thích con: không phải cả thế giới chống lại con.
Một cánh cửa đóng: không có nghĩa Thiên Chúa bỏ con.
Một lời cầu nguyện chưa được nhận theo ý con: không có nghĩa Chúa không nghe.
Bình an giúp linh hồn nhìn sự vật trong ánh sáng của Thiên Chúa thay vì qua kính phóng đại của cảm xúc.
Người bình an cũng không quá vui vì chiến thắng.
Hôm nay thắng được một cám dỗ, họ cảm tạ Chúa.
Không nói: “Từ nay tôi mạnh rồi.”
Họ biết ngày mai mình vẫn cần ân sủng như hôm nay.
Người bình an không tuyệt vọng khi thua, cũng không tự mãn khi thắng.
Trong cả hai trường hợp, họ đều quay về với Thiên Chúa.
Đó chính là sự ổn định của đời sống thiêng liêng.
BÌNH AN KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ THỜ Ơ
Phải cẩn thận ở đây. Có người nhân danh bình an để tránh trách nhiệm.
“Thôi, Chúa lo.”
Nhưng thực ra họ không muốn làm điều cần làm.
“Phó thác.”
Nhưng thực ra là trì hoãn.
“Bình an.”
Nhưng thực ra là không muốn đối diện với vấn đề.
Bình an thật không loại bỏ hành động.
Nó chỉ loại bỏ sự cuống cuồng.
Có việc phải làm, hãy làm.
Có lỗi phải sửa, hãy sửa.
Có cuộc nói chuyện khó khăn cần thực hiện, hãy thực hiện.
Có một quyết định phải đưa ra, hãy cầu nguyện, phân định rồi quyết định.
Có một bổn phận khó khăn, hãy chu toàn.
Phó thác không phải là khoanh tay.
Phó thác là làm phần của mình và không chiếm lấy phần của Thiên Chúa.
Một nông dân phó thác mùa màng cho Chúa nhưng vẫn phải gieo hạt.
Một bệnh nhân tín thác Chúa nhưng vẫn có thể cần đến thầy thuốc.
Một linh hồn tín thác Chúa nhưng vẫn phải tránh dịp tội, tập nhân đức, xét mình, cầu nguyện và sửa lỗi.
Bình an không nói: “Tôi không cần chiến đấu.”
Bình an nói: “Tôi sẽ chiến đấu hết sức nhưng tôi không mang gánh nặng phải tự cứu mình.”
BÌNH AN GIỮA NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ THAY ĐỔI
Có những đau khổ trong đời con có thể giải quyết.
Nhưng cũng có những đau khổ không thể giải quyết, chỉ có thể đi qua.
Một mất mát đã xảy ra.
Một tuổi trẻ đã qua.
Một sai lầm đã để lại hậu quả.
Một người đã ra đi.
Một cơ hội đã đóng lại.
Một giới hạn của thân xác.
Một hoàn cảnh gia đình.
Một quá khứ không thể viết lại.
Khi ấy cuộc chiến của con không còn là thay đổi điều bên ngoài, nhưng là không để điều ấy cướp khỏi con Thiên Chúa.
Có những thập giá Chúa không cất xuống.
Ngài muốn biến chúng thành nơi gặp gỡ.
Bình an không đến khi con có câu trả lời cho mọi chữ “tại sao”.
Có những “tại sao” sẽ đi cùng con rất lâu.
Bình an đến khi giữa những câu hỏi ấy con vẫn có thể nói: “Lạy Chúa, con không hiểu Ngài, nhưng con chọn tin Ngài.”
Đức tin trưởng thành không phải là lúc mọi mầu nhiệm đều được giải thích.
Nó là khi linh hồn có thể sống trong mầu nhiệm mà không bỏ đi.
BÌNH AN ĐẾN TỪ VIỆC ĐỂ THIÊN CHÚA LÀ THIÊN CHÚA
Có một mệt mỏi khủng khiếp xảy ra khi con âm thầm muốn làm công việc của Thiên Chúa.
Con muốn biết mọi sự.
Con muốn sắp xếp mọi sự.
Con muốn hiểu mọi sự.
Con muốn bảo đảm kết quả.
Con muốn kiểm soát người khác.
Con muốn bảo vệ mọi người mình yêu khỏi mọi đau khổ.
Con muốn mọi việc phải diễn ra tốt đẹp.
Nhưng con không phải là Thiên Chúa.
Và đó là một tin mừng.
Con không phải gánh cả thế giới.
Con không phải giữ trái đất quay.
Con không phải quyết định tương lai của mọi người.
Con không phải chữa lành mọi vết thương.
Con không phải làm cho mọi người hạnh phúc.
Con không phải giải quyết mọi vấn đề.
Con chỉ cần trung thành với phần Chúa trao hôm nay.
Phần còn lại thuộc về Ngài.
Có một câu rất đơn giản nhưng nếu sống thật, nó có thể giải phóng một đời người:
“Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa. Con không phải.”
Bao nhiêu gánh nặng sẽ rơi xuống.
Bao nhiêu lo toan sẽ được đặt đúng chỗ.
Bao nhiêu người đang làm con mất ngủ sẽ được đặt lại trong tay Đấng yêu họ còn hơn con.
Hỡi linh hồn, con có thể yêu rất nhiều mà không phải kiểm soát.
Con có thể quan tâm rất sâu mà không phải gánh hết.
Con có thể cầu nguyện tha thiết mà không buộc Thiên Chúa làm theo ý mình.
Đó là tự do của người con.
HÃY BẢO VỆ BÌNH AN NHƯ BẢO VỆ MỘT NGỌN LỬA
Một khi con hiểu giá trị của bình an, hãy bảo vệ nó cẩn thận.
Đừng để mọi lời nói đều có quyền đi vào trái tim.
Đừng để mọi tin tức đều xâm chiếm trí óc.
Đừng để mọi cuộc tranh luận đều kéo con vào.
Đừng để mọi sự hiểu lầm đều trở thành một trận chiến.
Đừng để mọi lời khiêu khích đều nhận được phản ứng.
Có những trận chiến thắng bằng cách không bước vào.
Có những lời đáp trả mạnh nhất là im lặng.
Có những điều nên để thời gian giải quyết.
Có những sự thật không cần con bảo vệ ngay lập tức.
Có những người con không cần thuyết phục.
Có những nhận xét con nên để chúng đi qua.
Sự bình an là một kho tàng. Đừng tiêu nó cho những chuyện nhỏ.
Không phải điều gì cũng đáng để con mất một đêm ngủ.
Không phải bất đồng nào cũng cần thắng.
Không phải ai hiểu sai con cũng cần được sửa.
Không phải chuyện gì cũng cần có lời cuối cùng.
Có khi người mạnh nhất trong một cuộc tranh luận là người đủ tự do để không cần chiến thắng.
KHI KHÔNG CÒN CẢM THẤY BÌNH AN
Sẽ có lúc con cầu nguyện mà vẫn không bình an.
Con đã phó thác nhưng lo lắng vẫn trở lại.
Con đã xin Chúa giúp nhưng lòng vẫn nặng.
Đừng nản.
Có khi bình an không phải là một cảm giác được ban ngay lập tức, nhưng là một lựa chọn phải lặp lại.
“Lạy Chúa, con lại trao.”
Năm phút sau:
“Lạy Chúa, con lại trao.”
Một giờ sau:
“Lạy Chúa, con lại trao.”
Sáng hôm sau nỗi lo trở lại:
“Lạy Chúa, con lại trao.”
Đừng nói: “Tôi đã phó thác rồi mà sao vẫn lo?”
Có những điều phải được phó thác một trăm lần.
Không phải vì lần trước giả, nhưng vì bản tính con người cứ muốn lấy lại điều đã trao.
Phó thác là một hành động.
Và cũng là một tập quán được hình thành qua hàng ngàn lần trao lại.
LỜI CẦU NGUYỆN XIN SỰ BÌNH AN
Lạy Chúa Giêsu, con đến trước mặt Chúa với tất cả những xáo trộn đang có trong lòng con. Chúa biết những điều con không biết phải nói thế nào. Chúa biết những nỗi sợ mà con giấu kín. Chúa biết những lời nói của người khác vẫn còn làm con đau. Chúa biết những lỗi lầm mà con vẫn chưa tha thứ cho chính mình. Chúa biết những điều trong tương lai khiến con lo lắng. Chúa biết những ước muốn con đang nắm quá chặt. Chúa biết những người con đang cố kiểm soát. Chúa biết con đã mệt mỏi như thế nào vì muốn mọi sự phải đúng theo ý con.
Lạy Chúa, xin ban cho con bình an của Chúa.
Không phải thứ bình an đến từ việc mọi vấn đề đều biến mất, nhưng là bình an đến từ việc biết Chúa đang ở cùng con giữa những vấn đề ấy.
Không phải bình an vì con mạnh, nhưng bình an vì Chúa mạnh.
Không phải bình an vì con không còn sa ngã, nhưng bình an vì lòng thương xót của Chúa luôn lớn hơn sự yếu đuối của con.
Không phải bình an vì tương lai đã rõ ràng, nhưng bình an vì tương lai nằm trong tay Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, khi con bị chỉ trích, xin giữ con khỏi phản ứng vì tự ái.
Khi con bị hiểu lầm, xin dạy con biết tìm sự thật nơi ánh mắt Chúa hơn là trong lời người đời.
Khi con thất bại, xin đừng để con tự kết án mình.
Khi con thành công, xin đừng để con tự mãn.
Khi con bị cám dỗ, xin đừng để con hoảng sợ.
Khi con khô khan, xin đừng để con tưởng Chúa đã đi xa.
Khi con không hiểu đường lối của Chúa, xin cho con vẫn tín thác.
Khi con không thể thay đổi một hoàn cảnh, xin thay đổi lòng con.
Khi con muốn kiểm soát, xin dạy con buông tay.
Khi con sống trong quá khứ, xin kéo con về hiện tại.
Khi con chạy trước vào tương lai, xin gọi con trở lại với ngày hôm nay.
Lạy Chúa, xin cho con một trái tim thinh lặng.
Một trái tim không cần thắng mọi cuộc tranh luận.
Không cần được mọi người hiểu.
Không cần được mọi người khen.
Không cần mọi sự theo ý mình.
Không cần biết mọi câu trả lời.
Chỉ cần biết Chúa ở đây.
Xin cho con có thể nói trong mọi hoàn cảnh:
“Lạy Chúa, Chúa biết.”
“Lạy Chúa, Chúa thấy.”
“Lạy Chúa, Chúa lo liệu.”
“Lạy Chúa, con tín thác.”
Và khi con sa ngã, xin cho con đừng chạy khỏi Chúa, nhưng chạy về phía Chúa.
Khi con thấy mình xấu xa, xin cho con nhớ rằng lòng thương xót Chúa đẹp hơn sự khốn cùng của con.
Khi con thấy mình yếu, xin cho con nhớ rằng Chúa chưa bao giờ đòi con phải tự mạnh một mình.
Khi con không thể cầu nguyện dài, xin cho con chỉ biết thưa:
“Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.”
“Lạy Chúa, con thuộc về Chúa.”
“Xin Chúa chiến đấu trong con.”
“Xin giữ con trong bình an của Chúa.”
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phán: “Thầy để lại bình an cho anh em; Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.” Xin lời ấy trở nên sự thật sống động trong con. Xin bình an của Chúa đi sâu hơn những cảm xúc của con, sâu hơn nỗi sợ của con, sâu hơn những tổn thương của con, sâu hơn những ký ức của con, sâu hơn những biến động bên ngoài.
Xin làm cho tâm hồn con trở thành một nơi Chúa có thể nghỉ ngơi.
Amen.
LỜI KẾT: HÃY TRỞ VỀ VỚI BÌNH AN CỦA CHÚA
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, con sẽ còn đi qua nhiều trận đánh. Cuộc chiến chưa kết thúc. Những đam mê cũ có thể trở lại. Những cám dỗ mới sẽ xuất hiện. Những người làm con đau sẽ còn có mặt. Những ngày khô khan sẽ đến. Có những biến cố con không mong muốn. Có những kế hoạch sẽ đổ vỡ. Có những lời cầu nguyện dường như không được đáp lời. Có những lúc chính con cũng không hiểu mình.
Nhưng giữa tất cả những điều ấy, con có thể học một con đường rất đơn sơ:
trở về.
Mất bình an, trở về.
Sa ngã, trở về.
Sợ hãi, trở về.
Giận dữ, trở về.
Buồn bã, trở về.
Tự ái bị tổn thương, trở về.
Không biết phải làm gì, trở về.
Trở về với Chúa.
Đừng chờ mình bình an rồi mới đến với Ngài.
Hãy đến với Ngài để được bình an.
Đừng chờ mình tốt rồi mới cầu nguyện.
Hãy cầu nguyện trong chính sự nghèo nàn ấy.
Đừng chờ mình thắng rồi mới tín thác.
Hãy tín thác giữa lúc đang thua.
Đừng chờ biển lặng rồi mới tin Chúa đang ở trong thuyền.
Chính giữa bão tố, hãy nhìn Ngài.
Rồi từ từ, qua năm tháng, con sẽ thấy một điều rất đẹp xảy ra: những biến cố bên ngoài có thể không nhẹ hơn, nhưng con không còn dễ bị chúng cuốn đi như trước. Những lời phê bình vẫn đau, nhưng không còn phá hủy con. Những thất bại vẫn làm con buồn, nhưng không còn làm con tuyệt vọng. Những cám dỗ vẫn đến, nhưng không còn làm con kinh hoàng. Những điều không như ý vẫn xảy ra, nhưng con dần có thể nói: “Lạy Chúa, chắc hẳn Ngài vẫn đang ở đây.”
Đó là lúc bình an đã bắt đầu cắm rễ.
Không còn là một cảm giác thoáng qua sau giờ cầu nguyện.
Không còn là vài phút dễ chịu khi mọi sự thuận lợi.
Mà là một thái độ sâu xa của linh hồn:
“Dù điều gì xảy ra, tôi vẫn ở trong tay Thiên Chúa.”
Hỡi linh hồn, còn nơi nào an toàn hơn đôi tay ấy?
Con có thể mất nhiều thứ mà vẫn không mất tất cả, nếu con còn Thiên Chúa.
Người khác có thể hiểu lầm con, nhưng Chúa hiểu.
Người khác có thể bỏ con, nhưng Chúa ở lại.
Con có thể thất bại, nhưng Chúa chưa hoàn tất công trình của Ngài.
Con có thể yếu đuối, nhưng Chúa không yếu.
Con có thể không biết đường, nhưng Người Mục Tử biết.
Con có thể bước đi trong đêm, nhưng Ngài thấy cả con đường.
Và đến một ngày, có thể sau rất nhiều năm chiến đấu, con sẽ hiểu rằng bình an không đến vì cuộc đời cuối cùng cũng chịu đi theo ý con. Bình an đến khi ý con cuối cùng chịu nằm yên trong thánh ý Thiên Chúa.
Lúc ấy, con vẫn chiến đấu, nhưng không còn chiến đấu như một người mồ côi.
Con vẫn đau, nhưng đau trong vòng tay Cha.
Con vẫn bước đi, nhưng không bước một mình.
Con vẫn yếu, nhưng không còn sợ sự yếu đuối.
Con vẫn có những ngày không hiểu gì cả, nhưng không cần phải hiểu tất cả nữa.
Bởi vì con đã khám phá một bí mật lớn của đời sống thiêng liêng:
Thiên Chúa không đòi con phải kiểm soát cuộc đời. Ngài chỉ mời con tín thác.
Thiên Chúa không đòi con phải tự cứu mình. Ngài mời con để Ngài cứu.
Thiên Chúa không đòi con phải không bao giờ ngã. Ngài mời con mỗi lần ngã hãy đưa tay cho Ngài.
Thiên Chúa không hứa rằng con sẽ không có bão tố. Ngài hứa rằng Ngài sẽ ở trong thuyền.
Vì thế, mỗi sáng thức dậy, trước khi bước vào cuộc chiến của ngày mới, con hãy nói với Chúa:
“Lạy Chúa, hôm nay con không biết điều gì sẽ xảy ra. Nhưng Chúa biết. Con không biết con sẽ mạnh hay yếu. Nhưng Chúa biết. Con không biết ai sẽ làm con vui hay làm con đau. Nhưng Chúa biết. Con không biết mình sẽ thắng hay sẽ còn vấp ngã. Nhưng con biết một điều: Chúa ở với con. Như thế là đủ.”
Và mỗi tối, dù ngày ấy đẹp hay xấu, hãy đặt đầu mình vào lòng thương xót và nói:
“Lạy Chúa, ngày hôm nay đã qua. Điều tốt con đã làm là nhờ ơn Chúa. Điều xấu con đã làm, xin Chúa tha thứ và chữa lành. Điều chưa hoàn tất, con trao cho Chúa. Điều con không hiểu, con để lại trong tay Chúa. Xin cho con được ngủ như một đứa trẻ trong nhà Cha.”
Rồi hãy nghỉ.
Đừng mang cuộc chiến vào giấc ngủ.
Đừng xét xử mình cả đêm.
Đừng cố giải quyết ngày mai trong bóng tối.
Hãy để Thiên Chúa thức.
Con hãy ngủ.
Ngài vẫn là Thiên Chúa khi con ngủ.
Và sáng mai, nếu con còn được thức dậy, ân sủng mới sẽ lại được ban.
Hỡi linh hồn, bình an của Chúa không phải phần thưởng dành cho người đã chiến thắng mọi trận đánh. Nó là khí giới Chúa trao cho con ngay khi con còn đang ở giữa chiến trường. Hãy nhận lấy. Hãy gìn giữ. Hãy trở về với nó mỗi khi bị đánh mất. Và nếu một ngày con lại thấy lòng mình đầy sóng gió, đừng kết luận rằng mọi sự đã thất bại.
Chỉ cần quay về.
Quay về với Chúa Giêsu.
Quay về với Thánh Giá.
Quay về với Thánh Thể.
Quay về với lời Ngài:
“Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.”
Hãy tin lời ấy hơn cảm xúc của con.
Hãy tin lòng thương xót hơn sự yếu đuối của con.
Hãy tin sự quan phòng hơn nỗi lo của con.
Hãy tin thánh ý Chúa hơn những kế hoạch đã đổ vỡ.
Hãy tin tình yêu của Ngài hơn mọi bóng tối.
Rồi cứ thế mà đi.
Đi chậm cũng được.
Đi trong nước mắt cũng được.
Đi với đôi chân còn run cũng được.
Miễn là đi về phía Chúa.
Và nếu con cứ trở về như thế, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, một ngày kia con sẽ nhận ra rằng cuộc chiến vẫn còn đó, nhưng chiến trường đã thay đổi. Trước kia mọi trận đánh đều diễn ra trong một trái tim hoảng sợ. Bây giờ chúng diễn ra trong một trái tim được neo vào Thiên Chúa.
Và khi trái tim đã được neo vào Chúa, bão tố có thể làm con thuyền rung chuyển, nhưng không dễ cuốn nó đi.
Đó là bình an nội tâm.
Đó là sức mạnh của người yếu đuối đã biết mình thuộc về Thiên Chúa.
Đó là sự bình an của Đức Kitô giữa cuộc chiến linh hồn.
Và linh hồn nào học được cách giữ lấy bình an ấy, không phải bằng sức mình nhưng bằng việc không ngừng trở về với Chúa, linh hồn ấy đã học được một trong những bí quyết sâu xa nhất của đời sống nên thánh: để Thiên Chúa chiến thắng trong mình không bằng sự cuống cuồng, nhưng bằng sự tín thác; không bằng sự tự cậy, nhưng bằng khiêm nhường; không bằng nỗi sợ, nhưng bằng tình yêu; không bằng một trái tim không bao giờ bị khuấy động, nhưng bằng một trái tim dù bị khuấy động bao nhiêu lần vẫn luôn biết con đường trở về với Chúa.
CHƯƠNG 29
CHUẨN BỊ CHO GIỜ CHẾT VÀ CUỘC CHIẾN CUỐI CÙNG
Hỡi linh hồn đang chiến đấu trên đường dương thế, con hãy nhớ rằng mọi cuộc chiến trong đời này, dù âm thầm hay dữ dội, dù diễn ra trong những cám dỗ lớn lao hay chỉ trong những chống trả rất nhỏ bé của từng ngày, rồi cuối cùng cũng sẽ dẫn con đến một trận chiến sau hết, một trận chiến không ai có thể tránh, không ai có thể nhờ người khác chiến đấu thay cho mình, và cũng không ai biết chính xác nó sẽ đến vào lúc nào: giờ chết. Đó là giờ mà đôi mắt con sẽ khép lại đối với mọi sự dưới thế này; giờ mà những tiếng nói từng làm con bận tâm sẽ trở nên xa xôi; giờ mà những gì con từng tranh giành, từng lo sợ mất, từng cố gắng bảo vệ, từng tự hào vì chiếm hữu, tất cả đều sẽ rời khỏi tay con; giờ mà những chức vụ, danh dự, thành công, những lời khen chê, những hơn thua, những điều con từng nghĩ là hết sức quan trọng sẽ mất đi sức nặng của chúng; và trước mặt con chỉ còn lại một điều thật sự quan trọng: linh hồn con trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, nếu cả đời sống thiêng liêng là một cuộc chiến, thì giờ chết chính là cuộc chiến cuối cùng; nếu cả đời con là một trường học của sự từ bỏ, thì giờ chết là bài học từ bỏ cuối cùng; nếu cả đời con đang học để nói với Thiên Chúa rằng: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa”, thì giờ chết là lúc con phải nói lời ấy bằng tất cả sự thật của con người mình. Người ta thường sợ chết bởi vì người ta nhìn cái chết như một sự cướp mất, như một cánh cửa tối tăm, như một cuộc chia lìa không thể tránh. Nhưng người sống trong đức tin phải tập nhìn sâu hơn: cái chết, đối với người thuộc về Đức Kitô, không phải chỉ là một kết thúc; nó là một sự hoàn tất. Nó không chỉ là lúc thân xác suy yếu; nó còn là giờ linh hồn được gọi bước qua ngưỡng cửa cuối cùng để gặp Đấng mà mình đã tìm kiếm suốt đời. Và bởi vì giờ ấy quan trọng đến như vậy, kẻ thù của linh hồn sẽ không dễ dàng buông bỏ. Nó đã theo dõi con trong những năm tháng của đời con, đã nghiên cứu những điểm yếu của con, đã biết con dễ sa ngã ở đâu, dễ sợ điều gì, dễ tự hào về điều gì, dễ thất vọng vì điều gì. Nếu trong đời con, nó từng tấn công con bằng khoái lạc, danh vọng, tự ái, giận dữ, thất vọng, nghi ngờ, thì trong giờ cuối cùng, khi thân xác đã mệt, trí óc có thể không còn sáng suốt như trước, cảm xúc dễ bị xáo trộn, nó càng muốn tận dụng mọi điểm yếu còn sót lại để làm con mất bình an, để kéo con ra khỏi sự đơn sơ của đức tin và làm con quay về nhìn chính mình thay vì nhìn Chúa Giêsu. Chính vì thế, chuẩn bị cho giờ chết không phải là việc của những người già, không phải là điều chỉ nên nghĩ đến khi bệnh nặng, càng không phải là một việc u ám làm mất niềm vui sống. Trái lại, đó là một trong những cách sống khôn ngoan nhất. Người thường xuyên nhớ rằng đời mình hữu hạn sẽ biết yêu đúng hơn, tha thứ sớm hơn, bỏ qua những chuyện nhỏ nhặt dễ hơn, ít bám víu vào chính mình hơn, ít trì hoãn việc lành hơn, và biết trân trọng hơn từng ngày Chúa còn ban. Kẻ quên mình sẽ chết thường sống như thể mọi thứ dưới đất là vĩnh viễn; người nhớ mình sẽ chết học cách sử dụng mọi thứ mà không để chúng chiếm hữu mình. Kẻ sợ chết thường cố quên cái chết; người có đức tin không cần trốn chạy khỏi cái chết, nhưng dùng chính việc nhớ đến cái chết để học sống cho đúng. Vì thế, hỡi linh hồn, con đừng đợi đến lúc người ta nói với con rằng bệnh tình đã nặng rồi mới bắt đầu chuẩn bị. Đừng đợi đến khi sức lực suy giảm rồi mới học phó thác. Đừng đợi đến khi hơi thở trở nên khó khăn rồi mới tập nói: “Lạy Chúa, con tín thác nơi Chúa.” Đừng đợi đến lúc phải buông mọi thứ rồi mới học buông. Điều gì con muốn làm được trong giờ chết, hãy tập làm từ hôm nay. Nếu con muốn trong giờ chết biết tín thác, hãy tập tín thác khi công việc hỏng. Nếu con muốn trong giờ chết biết từ bỏ ý riêng, hãy tập từ bỏ ý riêng trong những va chạm nhỏ. Nếu con muốn trong giờ chết không cay đắng với ai, hãy tha thứ ngay hôm nay. Nếu con muốn trong giờ chết có một lương tâm bình an, đừng để những tội lỗi, những bất hòa, những gian dối, những món nợ của tình yêu tồn đọng năm này qua năm khác. Nếu con muốn trong giờ chết chỉ nhìn vào Chúa, thì ngay hôm nay hãy tập bớt nhìn vào chính mình.
Tại sao phải chuẩn bị cho giờ chết ngay từ hôm nay? Trước hết, vì giờ chết không báo trước theo ý chúng ta. Con người có thể dự định mười năm nhưng lại không biết ngày mai. Có người ra khỏi nhà buổi sáng mà không trở về buổi tối. Có người khỏe mạnh hôm nay mà ngày mai đã nằm bất động. Có người nghĩ mình còn nhiều thời gian để sửa đổi, để làm hòa, để xưng tội, để trở lại với Chúa, nhưng thời gian không thuộc quyền sở hữu của họ. Điều này không phải để làm con sợ hãi, nhưng để đánh thức con khỏi ảo tưởng nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng: ảo tưởng rằng mình còn nhiều thời gian. Rất nhiều điều tốt bị giết chết bởi hai chữ “ngày mai”. Ngày mai tôi sẽ cầu nguyện nghiêm túc hơn. Ngày mai tôi sẽ bỏ thói quen ấy. Ngày mai tôi sẽ xin lỗi người kia. Ngày mai tôi sẽ trở lại với Bí tích Hòa Giải. Ngày mai tôi sẽ sống quảng đại hơn. Nhưng đời sống thiêng liêng không được xây bằng ngày mai; nó chỉ có thể được xây trong ngày hôm nay. Ân sủng được ban cho con hôm nay là để con đáp lại hôm nay. Vì thế, nhớ đến giờ chết không phải là sống trong ám ảnh; đó là cách giữ cho ngày hôm nay khỏi bị phí phạm. Thứ hai, phải chuẩn bị từ hôm nay vì trong giờ chết, thân xác và tâm trí có thể rất yếu. Người ta thường tưởng rằng trước khi chết mình sẽ có một khoảng thời gian thật bình tĩnh để cầu nguyện sâu xa, để sắp xếp mọi sự, để thống hối hoàn hảo, để làm những việc lớn lao. Nhưng không ai có thể bảo đảm điều ấy. Có người ra đi trong sự tỉnh táo; có người ra đi trong mê man. Có người có thời gian chuẩn bị lâu dài; có người chỉ có vài phút. Có người còn đủ sức nói; có người chỉ còn có thể nhìn. Có người chịu đau đớn dữ dội khiến trí óc khó tập trung. Chính vì thế, điều quan trọng không phải là hy vọng mình sẽ làm được những việc phi thường trong phút cuối, mà là tập cả đời để trong phút cuối, ngay cả khi không thể nói gì, trái tim vẫn có một hướng đi quen thuộc: hướng về Chúa. Một người đã quen tín thác sẽ tín thác ngay cả khi không còn sức suy nghĩ nhiều. Một người đã quen cầu nguyện bằng những lời ngắn sẽ có thể thốt lên trong lòng: “Giêsu, con tín thác nơi Ngài.” Một người đã quen sống trước mặt Chúa sẽ không cảm thấy Chúa là người xa lạ khi giờ cuối đến. Thứ ba, phải chuẩn bị từ hôm nay vì những khuynh hướng đã được nuôi dưỡng lâu ngày không dễ biến mất trong một khoảnh khắc. Nếu cả đời con đã quen tự phụ, trong giờ chết sự tự phụ có thể trở thành một cám dỗ. Nếu cả đời con đã quen tuyệt vọng mỗi khi sa ngã, trong giờ chết kẻ thù có thể lợi dụng chính thói quen ấy. Nếu cả đời con đã nuôi oán hận, giờ chết có thể làm những ký ức ấy sống lại. Nếu cả đời con bám chặt vào của cải, danh dự, công việc, con người hay ý riêng, thì lúc phải buông tất cả, sự đau đớn có thể không chỉ ở thân xác mà còn ở ý chí. Vì thế, chuẩn bị cho giờ chết chính là tập chết từng chút mỗi ngày: chết cho tự ái, chết cho ý riêng, chết cho sự cần được người khác hiểu, chết cho ham muốn kiểm soát, chết cho nhu cầu phải thắng trong mọi tranh luận, chết cho những quyến luyến không thuộc về Chúa. Ai tập chết những cái chết nhỏ này mỗi ngày thì cái chết cuối cùng sẽ không còn hoàn toàn xa lạ. Nó chỉ là bước cuối của con đường đã đi từ lâu. Và đây là điều rất sâu xa: ai biết chết mỗi ngày thì mới thật sự biết sống. Người ấy không trở thành lạnh lùng hay bi quan; trái lại, người ấy yêu cuộc đời trong tự do hơn, vì không còn đòi cuộc đời phải tồn tại mãi theo ý mình. Người ấy biết cảm ơn một bữa ăn, một người bạn, một buổi sáng, một Thánh lễ, một tiếng chim, một sự phục vụ nhỏ, bởi vì biết tất cả đều là quà chứ không phải quyền sở hữu. Người ấy không trì hoãn yêu thương, vì biết có thể ngày mai mình không còn cơ hội. Người ấy không giữ mãi một lời xin lỗi chưa nói, vì biết giờ chết có thể đến trước cuộc hòa giải. Người ấy không muốn ra trước mặt Chúa với một trái tim đầy những món nợ mà mình hoàn toàn có thể trả bằng một cử chỉ khiêm nhường ngay hôm nay.
Trong giờ chết, những cuộc tấn công của kẻ thù, theo kinh nghiệm của đời sống thiêng liêng, thường không hoàn toàn mới; chúng thường là những cám dỗ cũ được đẩy đến mức sâu hơn. Trước hết là cuộc tấn công vào đức tin. Kẻ thù có thể gieo vào tâm trí linh hồn những câu hỏi, những bóng tối, những nghi ngờ: “Tất cả những điều ngươi đã tin có thật không? Có thật có đời sau không? Có thật Thiên Chúa yêu ngươi không? Có thật Đức Kitô đã cứu ngươi không? Có thật Hội Thánh đã dẫn ngươi đúng đường không?” Con đừng ngạc nhiên nếu một linh hồn đã sống đức tin lâu năm vẫn có thể gặp bóng tối trong giờ cuối. Cám dỗ không phải là tội. Một ý nghĩ xuất hiện không có nghĩa là con đã mất đức tin. Một linh hồn có thể cảm thấy tối tăm mà vẫn tin bằng ý chí. Và đôi khi chính trong bóng tối ấy, hành vi đức tin lại tinh tuyền hơn, bởi vì con không còn tin nhờ cảm giác an ủi, nhưng tin bởi vì con chọn trao mình cho Thiên Chúa. Khi ấy, đừng tranh luận dài dòng với cám dỗ. Đừng cố giải quyết tất cả những vấn nạn thần học trong lúc thân xác đã kiệt sức. Hãy làm điều đơn sơ: tuyên xưng đức tin. “Lạy Chúa Giêsu, dù con không cảm thấy gì, con tin Chúa. Con tin Chúa đã chết và sống lại. Con tin Chúa yêu con. Con tin Hội Thánh của Chúa. Con xin trao linh hồn con cho Chúa.” Trong giờ cuối, một lời tuyên xưng đơn sơ như thế có thể mạnh hơn rất nhiều suy luận. Kẻ thù muốn con quay vào mê cung của chính trí óc mình; đức tin kéo con ra khỏi mê cung ấy bằng cách đặt con vào tay Thiên Chúa. Cuộc tấn công thứ hai là đánh vào đức cậy, và đây có thể là cuộc tấn công rất đau đớn. Kẻ thù có thể mở lại trước mắt linh hồn những tội lỗi đã qua, những lần sa ngã, những bất trung, những lỗi lầm, những cơ hội đã bỏ lỡ. Nó có thể phóng đại mọi sự và nói: “Ngươi đã sống như thế mà còn hy vọng được cứu sao? Ngươi đã được bao nhiêu ơn mà còn bất trung. Ngươi đã phạm đi phạm lại cùng một lỗi. Ngươi đã biết Chúa mà vẫn làm Chúa buồn. Ngươi không xứng đáng.” Hỡi linh hồn, con phải biết phân biệt một điều cực kỳ quan trọng: Thánh Thần làm cho ta thống hối nhưng vẫn kéo ta về với Chúa; kẻ thù làm cho ta nhìn tội lỗi và đẩy ta ra xa Chúa. Sự thống hối thật có nước mắt nhưng có hy vọng. Sự tuyệt vọng có thể cũng khóc, nhưng nước mắt của nó khép cửa lòng thương xót. Vì thế, nếu trong giờ cuối những tội lỗi quá khứ hiện về, con đừng phủ nhận chúng, cũng đừng biện minh. Hãy nhìn chúng một lần trong sự khiêm nhường rồi lập tức nhìn lâu hơn vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Hãy nói: “Lạy Chúa, đúng, con là người có tội. Con không có gì để cậy dựa nơi mình. Nhưng con cậy vào Máu Chúa. Con không xin được cứu vì con tốt; con xin được cứu vì Chúa nhân từ. Con không trình bày công trạng của con; con trình bày cho Chúa chính lòng thương xót của Chúa.” Đây chính là điểm mà toàn bộ cuộc chiến linh hồn hội tụ: bất tín nhiệm vào mình và tín thác vào Thiên Chúa. Nếu trong cả đời con đã học điều ấy, giờ chết chỉ là lúc con thực hiện nó trọn vẹn nhất. Thậm chí con phải coi việc mình thấy rõ sự nghèo nàn của bản thân trong giờ chết như một cơ hội cuối cùng để dâng lên Chúa một hành vi khiêm nhường lớn lao: “Lạy Chúa, cuối cùng con thấy rõ rằng con thật sự chẳng có gì ngoài Chúa.” Và hỡi linh hồn, đó không phải là thất bại. Đó có thể là một sự giải thoát. Bao năm con đã chiến đấu để thôi dựa vào mình; giờ đây, mọi chỗ dựa con người bị lấy đi để con chỉ còn một chỗ dựa duy nhất: Chúa.
Kẻ thù cũng có thể tấn công vào sự khiêm nhường theo hai hướng hoàn toàn trái ngược nhau. Một mặt, nó có thể làm con tự mãn: nhắc con về những việc lành đã làm, những hy sinh, những năm tháng phục vụ, những người con đã giúp, những lời cầu nguyện, những đau khổ đã chịu, rồi âm thầm gieo vào lòng con một ý nghĩ: “Có lẽ mình cũng đã sống khá tốt. Có lẽ mình xứng đáng.” Đây là một cám dỗ tinh tế, nhất là đối với những người đã dành nhiều năm cho đời sống đạo đức. Hỡi linh hồn, vào giờ chết, đừng đếm công trạng. Đừng ngồi tổng kết mình đã làm được bao nhiêu cho Chúa. Nếu có điều gì tốt đẹp trong đời con, hãy trao nó lại cho Chúa và nói: “Tất cả là ơn Chúa.” Nếu con đã cầu nguyện, là vì Ngài ban ơn. Nếu con đã hy sinh, là vì Ngài nâng đỡ. Nếu con đã trung thành, chính Ngài đã gìn giữ. Nếu có hoa trái nào qua đời con, chính Chúa là người làm cho lớn lên. Và nếu Chúa muốn thưởng công cho con, đó cũng là hồng ân của lòng nhân hậu Ngài. Hãy ra đi như một người nghèo, hai bàn tay trống, nhưng lòng đầy tin cậy. Một mặt khác, kẻ thù có thể đánh vào sự khiêm nhường bằng cách biến nó thành xấu hổ bệnh hoạn: “Ngươi quá tệ để đến trước mặt Chúa. Ngươi đáng lẽ phải tốt hơn. Sau bao nhiêu năm sống đạo, ngươi vẫn như vậy.” Con hãy cảnh giác. Khiêm nhường thật không nói: “Tôi quá xấu nên không dám đến với Chúa.” Khiêm nhường thật nói: “Tôi xấu, nên tôi càng cần đến với Chúa.” Người con hoang đàng không chờ mình trở nên sạch sẽ rồi mới trở về; chính vì rách rưới mà anh trở về. Người trộm lành không có thời gian để sửa lại quá khứ; anh chỉ có một lời kêu xin: “Lạy Ngài, khi vào Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa Giêsu không hỏi anh về bản thành tích. Ngài đã mở thiên đàng cho một con người biết quay về trong giờ cuối. Vậy hỡi linh hồn, đừng bao giờ để kẻ thù thuyết phục con rằng tội lỗi của con lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa. Đó là một lời nói dối. Tội lỗi có thể lớn; nhưng lòng thương xót của Chúa không phải chỉ lớn hơn, mà vô hạn. Điều nguy hiểm không phải là con có một quá khứ nghèo nàn; điều nguy hiểm là con từ chối trao quá khứ ấy cho Đấng Cứu Chuộc. Cuộc tấn công khác có thể đến bằng ảo tưởng, cảm giác, hình ảnh, những trạng thái tâm lý bất thường. Trong những lúc sức khỏe suy yếu, con người có thể trải qua nhiều điều do bệnh tật, thuốc men, sự mệt mỏi hoặc tâm lý. Vì thế, linh hồn khôn ngoan không bám vào những hiện tượng lạ, không tìm dấu lạ, không đặt sự an tâm vào những cảm giác đặc biệt. Nếu có an ủi, hãy cảm ơn Chúa nhưng đừng bám vào. Nếu có bóng tối, đừng hoảng sợ. Nếu có những hình ảnh làm con sợ hoặc mê hoặc con, hãy giữ mình trong đức tin đơn sơ. Con không cần một kinh nghiệm đặc biệt để chết lành. Con cần Chúa Giêsu. Chỉ thế thôi. Cũng như trong đời sống thiêng liêng, trong giờ chết sự an toàn nằm trong điều bình thường của đức tin: cầu nguyện, các bí tích nếu có thể lãnh nhận, lời Chúa, sự trợ giúp của Hội Thánh, và sự phó thác.
Vậy phải chuẩn bị cụ thể mỗi ngày thế nào? Trước hết, hãy sống mỗi ngày như một ngày có thể là ngày cuối, nhưng phải hiểu đúng điều ấy. Điều này không có nghĩa là bỏ trách nhiệm, không lập kế hoạch, không xây dựng tương lai, không làm những công việc lâu dài. Người Kitô hữu vẫn gieo trồng, xây dựng, học hành, phục vụ, chăm sóc gia đình, cộng đoàn, sứ mạng. Nhưng người ấy làm tất cả với một trái tim không chiếm hữu. Con có thể lập kế hoạch cho mười năm, nhưng hãy làm kế hoạch như người biết rằng ngày mai vẫn thuộc về Chúa. Con có thể yêu một người rất sâu đậm, nhưng yêu mà không biến họ thành thần tượng. Con có thể làm việc hết sức mình, nhưng không đồng hóa giá trị bản thân với thành công. Con có thể chăm sóc thân xác, nhưng biết rằng thân xác này sẽ trở về bụi đất và được chờ đợi sự sống lại. Hãy tự hỏi mỗi tối: “Nếu đêm nay Chúa gọi con, có điều gì con phải hối tiếc vì đã cố tình trì hoãn không? Có ai con đang nhất định không tha thứ không? Có một việc lành nào con biết mình phải làm nhưng vẫn luôn nói để mai không? Có tội nào con đang cố che giấu? Có mối quan hệ nào cần được chữa lành mà con vì tự ái cứ để đó không? Có một tiếng gọi nào của Chúa mà con vẫn giả vờ không nghe?” Những câu hỏi ấy không nhằm làm con bất an; chúng làm con tự do. Vì người luôn chuẩn bị thì không cần sợ bị bất ngờ. Thứ hai, hãy siêng năng thanh luyện lương tâm. Một trong những chuẩn bị đẹp nhất cho giờ chết là đừng để linh hồn trở thành một căn phòng chất đầy những điều chưa được giải quyết. Tội nhẹ cũng đừng coi thường. Tội nặng càng phải lập tức trở về. Đừng quen sống trong tình trạng trì hoãn việc hoán cải. Bí tích Hòa Giải không phải chỉ dành cho lúc con cảm thấy mình rất tội lỗi; đó là trường học của sự thật và lòng thương xót. Mỗi lần quỳ xuống thú nhận tội lỗi cách thành thật là một lần con tập cho giờ chết: tập không biện minh, tập không che giấu, tập đón nhận ơn tha thứ, tập tin rằng Chúa lớn hơn tội. Hãy xét mình mỗi tối, nhưng đừng xét mình như một quan tòa tàn nhẫn. Hãy xét mình dưới ánh sáng của người Cha. Hãy hỏi: “Hôm nay con đã sống ở đâu trong tình yêu? Con đã dựa vào mình ở đâu? Con đã chống lại ơn Chúa ở đâu? Con đã làm ai đau? Con đã bỏ lỡ điều gì? Và ở đâu con đã được Chúa nâng đỡ?” Sau đó hãy xin tha thứ, sửa điều có thể sửa, và ngủ trong bình an. Đừng mang tội lỗi của hôm qua sang ngày mai như một gánh nặng tự mình phải khiêng. Hãy mang nó đến lòng thương xót.
Thứ ba, hãy tập dâng cái chết của mình cho Chúa mỗi ngày. Đây là một thực hành rất sâu xa mà nhiều linh hồn ngày nay ít nghĩ đến. Con không biết mình sẽ chết thế nào: nhanh hay chậm, đau đớn hay nhẹ nhàng, tỉnh táo hay mê man, có người thân bên cạnh hay trong cô quạnh. Con có thể xin một cái chết bình an, nhưng đừng biến cả cái chết thành một điều con muốn kiểm soát. Hãy tập nói: “Lạy Chúa, con dâng cho Chúa cái chết của con, với tất cả những gì con chưa biết về nó. Con xin đón nhận giờ ấy từ tay Chúa. Xin cho con chết trong ân nghĩa Chúa, trong đức tin, đức cậy, đức mến. Xin cho sự chết của con được kết hợp với cái chết của Chúa Giêsu.” Khi con dâng trước như thế, con đang lấy đi khỏi sự chết một phần quyền lực làm con sợ. Điều được dâng cho Chúa không còn là kẻ thù tuyệt đối; nó trở thành lễ vật. Một ngày nào đó, tất cả những gì con có sẽ được lấy khỏi tay con. Vậy tại sao không trao trước? “Lạy Chúa, thân xác này là của Chúa. Hơi thở này là của Chúa. Những người con yêu cũng là của Chúa. Công việc con làm là của Chúa. Ngày giờ con chết là của Chúa. Xin cho con đừng chết trong phản kháng, nhưng chết trong phó thác.” Có thể hôm nay lời cầu ấy chỉ là một câu con đọc. Nhưng nếu con đọc nó hàng ngày bằng lòng thành, dần dần nó sẽ đi sâu vào con, và một ngày kia, khi giờ cuối đến, con sẽ nhận ra rằng mình đã chuẩn bị từ rất lâu. Thứ tư, hãy nuôi dưỡng một lòng tin kiên vững vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất. Con phải làm quen với dung nhan nhân hậu của Chúa ngay bây giờ. Nếu trong suốt đời mình con chỉ hình dung Chúa như một vị quan tòa luôn chờ bắt lỗi, trong giờ chết con sẽ rất dễ sợ hãi. Nhưng nếu con sống với sự thật trọn vẹn của Tin Mừng, con sẽ biết rằng vị Thẩm Phán của con chính là Đấng đã chịu đóng đinh để cứu con. Đấng con sẽ gặp không phải là một người xa lạ. Ngài là Đấng con đã rước trong Thánh Thể. Là Đấng con đã gọi tên trong những đêm đau khổ. Là Đấng đã tha thứ cho con trong tòa giải tội. Là Đấng đã đi bên con dù nhiều khi con không nhận ra. Là Đấng đã tìm con mỗi khi con lạc. Vì thế, đừng đợi đến giờ chết mới học lòng thương xót. Hãy suy niệm thường xuyên về người Cha chạy ra ôm người con trở về; về Chúa Giêsu nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy nhưng không loại bỏ ông; về người phụ nữ tội lỗi được tha thứ; về người trộm lành được hứa thiên đàng; về trái tim Chúa bị đâm thâu; về lời Người: “Ta khát.” Khát điều gì? Khát linh hồn con. Khi kẻ thù nói: “Ngươi không xứng,” con hãy trả lời: “Đúng, tôi không xứng, nhưng tôi được yêu.” Khi nó nói: “Ngươi quá tội lỗi,” hãy trả lời: “Chính vì thế tôi cần Đấng Cứu Chuộc.” Khi nó nói: “Mọi sự đã quá muộn,” hãy nhớ người trộm lành. Bao lâu còn một hơi thở để quay về, lòng thương xót vẫn có thể chạm đến linh hồn.
Thứ năm, hãy xin Đức Maria hiện diện trong giờ chết của con ngay từ bây giờ. Mỗi ngày con đọc: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử.” Con có bao giờ nghĩ thật sâu về những lời ấy chưa? Mỗi Kinh Kính Mừng là một lần con gửi trước một lời cầu đến giờ chết. “Khi này” và “trong giờ lâm tử”: toàn bộ đời con nằm giữa hai thời điểm ấy. “Khi này” là hiện tại con đang sống; “giờ lâm tử” là điểm cuối con chưa biết. Và con xin Mẹ hiện diện ở cả hai. Người con nào đã quen nắm tay Mẹ trong đời sẽ không xa lạ với bàn tay ấy khi chết. Hãy phó cho Đức Maria không chỉ những lo âu hiện tại mà cả giờ chết tương lai: “Mẹ ơi, con không biết lúc ấy con sẽ thế nào. Có thể con yếu đuối, có thể con sợ, có thể con không còn nói được. Xin Mẹ nhớ con. Xin Mẹ đứng bên con như Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá. Xin Mẹ giúp con nhìn Chúa Giêsu.” Đây không phải là một lòng đạo đức cảm tính; đó là sự sống của người con trong gia đình của Thiên Chúa. Chúa đã ban Mẹ cho chúng ta dưới chân Thánh Giá, và giờ chết chính là lúc chúng ta cần đến tình mẫu tử ấy một cách đặc biệt. Hãy yêu mến Thánh Giuse nữa, Đấng mà truyền thống Hội Thánh vẫn kính nhớ như vị bảo trợ cho ơn chết lành. Hãy tập thân tình với các thánh, thiên thần bản mệnh, và các vị thánh con yêu mến. Trong cuộc chiến cuối cùng, con không phải một mình. Hội Thánh chiến thắng không xa lạ với con. Những người đã đi trước trong đức tin đang ở trong sự hiệp thông của các thánh.
Thứ sáu, hãy tập buông bỏ. Đây là một phần chuẩn bị rất thực tế nhưng thường bị bỏ quên. Giờ chết là lúc con phải buông tất cả, kể cả những gì tốt đẹp. Con phải buông thân xác. Buông căn phòng. Buông người thân. Buông công việc dang dở. Buông những dự định chưa hoàn thành. Buông cả những điều con nghĩ “không có tôi thì không ai làm được”. Vì thế, hãy học buông từ bây giờ. Khi một công việc không đi theo ý con, hãy coi đó là một bài tập. Khi người khác thay con đảm nhận một trách nhiệm, đừng khó chịu quá mức. Khi tuổi tác làm con mất dần sức lực, đừng chỉ nhìn đó như một sự giảm sút; hãy nhìn đó như một trường học của việc trao lại. Khi con không còn được người khác cần đến như trước, hãy học vui vì Chúa vẫn đủ. Có người già đau khổ không phải chủ yếu vì bệnh mà vì không chịu được việc mình không còn kiểm soát. Có người gần chết vẫn lo lắng đến kiệt sức vì những việc sau mình sẽ ra sao. Hỡi linh hồn, đừng đợi đến phút cuối mới tập trao lại. Hãy nói từ hôm nay: “Lạy Chúa, không có con, thế giới vẫn thuộc về Chúa. Gia đình con thuộc về Chúa. Cộng đoàn con thuộc về Chúa. Công việc con thuộc về Chúa. Những người con yêu, Chúa yêu họ hơn con. Con xin trao họ lại cho Chúa.” Lời cầu ấy có thể rất đau, nhưng nó giải phóng. Bởi sự thật là: con chưa bao giờ là đấng cứu độ của bất cứ ai. Chúa là Đấng Cứu Độ.
Thứ bảy, hãy tập chịu những cái chết nhỏ của thân xác trong bình an. Mỗi bệnh tật, mỗi suy yếu, mỗi giới hạn, mỗi mất mát của tuổi tác có thể trở thành một sự chuẩn bị. Không cần tìm đau khổ; nhưng khi đau khổ đến, đừng để nó trôi qua vô ích. Hãy kết hợp nó với cuộc Thương Khó của Chúa. Một cơn đau có thể trở thành lời cầu. Một đêm mất ngủ có thể trở thành sự hiến dâng. Một bước chân chậm hơn có thể dạy con khiêm nhường. Một lần phải nhờ người khác giúp có thể chữa con khỏi ảo tưởng tự túc. Một sự suy giảm trí nhớ có thể mời con đặt nền tảng đời mình không ở khả năng mà ở tình yêu Chúa. Hỡi linh hồn, thân xác sẽ từ từ dạy con một bài học mà ý chí con thường không muốn học: con không làm chủ sự sống của mình. Đừng chống lại bài học ấy. Hãy để nó dẫn con đến sự phó thác. Thứ tám, hãy làm hòa với con người khi còn thời gian. Không có gì nặng nề bằng bước vào giờ chết với một trái tim vẫn cố ý giữ hận. Nếu con biết mình đã làm ai đau, hãy xin lỗi. Nếu ai đã làm con đau, hãy bắt đầu tha thứ. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận sự thật hay cho phép bất công tiếp diễn. Nhưng con không thể mang oán hận vào cõi đời đời như một kho báu. Nó không phải kho báu; nó là xiềng xích. Có những người cả đời chờ người kia xin lỗi trước. Họ nói: “Khi nào họ thay đổi, tôi sẽ tha.” Hỡi linh hồn, nếu giờ chết đến trước khi người ấy thay đổi thì sao? Con có muốn để sự cứng lòng của người khác quyết định tình trạng trái tim con trước mặt Chúa không? Hãy tha thứ vì con muốn được tự do trong Chúa. Hãy xin lỗi vì con muốn ra đi nhẹ nhàng. Có những lời nếu không nói hôm nay, có thể vĩnh viễn không còn cơ hội nói. “Tôi xin lỗi.” “Tôi tha thứ.” “Cảm ơn.” “Tôi yêu bạn.” “Xin cầu nguyện cho tôi.” Những lời ấy đôi khi là những chuẩn bị rất thật cho giờ chết.
Khi giờ chết thực sự đến gần, linh hồn phải làm gì? Trước hết, đừng cố trở thành anh hùng. Đừng nghĩ rằng giờ cuối là lúc con phải chứng minh mình mạnh mẽ. Không. Giờ ấy là lúc con được phép hoàn toàn yếu đuối. Hãy để Chúa cứu con. Có lẽ con không cầu nguyện được dài. Có lẽ con chỉ lặp một danh: “Giêsu.” Thế là đủ. Có lẽ con không còn cảm thấy sốt sắng. Không sao. Đức tin không được đo bằng cảm giác. Có lẽ con sợ. Đừng xấu hổ vì sợ. Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu cũng đã trải qua nỗi xao xuyến đến mức mồ hôi như máu. Điều quan trọng không phải là con không cảm thấy sợ, mà là giữa nỗi sợ, con vẫn nói: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha.” Nếu cơn đau lớn, hãy kết hợp nó với Chúa chịu đóng đinh. Nếu sự cô đơn xâm chiếm, hãy nhìn Chúa trên Thánh Giá, nơi Người cũng đã kêu lên trong cô quạnh. Nếu con cảm thấy bị bỏ rơi, hãy nhớ rằng Người đã đi qua chính bóng tối ấy trước con. Không có ngóc ngách nào của cái chết mà Đức Kitô chưa bước vào. Ngài đã biến cái chết từ một vực thẳm không lối thoát thành một cánh cửa mà chính Ngài đã đi qua. Vì thế, người Kitô hữu không chết một mình; họ chết trong Đức Kitô. Cái chết của con được đặt vào cái chết của Ngài, và sự sống lại của Ngài là lời hứa cho con.
Trong giờ ấy, hãy khiêm nhường nhìn nhận mọi sự thật về mình nhưng tuyệt đối không dừng lại ở mình. Nếu ký ức về tội lỗi xuất hiện, hãy nói: “Lạy Chúa, con thật sự đã phạm tội. Xin thương xót con.” Rồi thôi. Đừng đào xới. Đừng tranh luận. Đừng phân tích mình đến kiệt sức. Đừng cố tự tha thứ cho mình bằng những lý luận. Hãy để Chúa tha thứ. Nếu ma quỷ nhắc một tội đã được xưng và tha, hãy trả lời: “Tội ấy đã được đặt trong Máu Chúa Kitô. Tôi không lấy lại điều Thiên Chúa đã tha.” Nếu có tội cần được hòa giải và con còn có thể lãnh nhận bí tích, hãy làm với sự chân thành và bình an. Nhưng sau khi đã làm điều có thể, hãy tin. Đừng biến lòng thống hối thành một hình thức thiếu lòng tin. Có những linh hồn vì muốn ăn năn “cho đủ” mà cứ nhìn vào tội mình cho đến khi quên mất Đấng Cứu Chuộc. Không. Trong giờ chết, con cần nhìn Chúa nhiều hơn nhìn mình. Con hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con là kẻ có tội, nhưng Chúa là Đấng Cứu Độ. Con nghèo, nhưng Chúa giàu lòng thương xót. Con bất xứng, nhưng Máu Chúa đã đổ ra cho những người bất xứng. Con không cậy dựa vào con. Con cậy vào Chúa.”
Hãy tin rằng Máu Chúa Giêsu mạnh hơn mọi tội lỗi của con. Đây không phải là một câu nói đẹp; đây là nền tảng của hy vọng Kitô giáo. Con có thể nhìn lại cả đời và thấy rất nhiều điều dang dở. Có những nhân đức con chưa đạt. Có những khuyết điểm con vẫn còn. Có những lời cầu nguyện con đã làm rất tệ. Có những ngày con đã sống phí. Có những người con đã không yêu đủ. Có những ơn con đã không đáp lại. Nếu trong giờ chết con nhìn tất cả những điều ấy và nghĩ: “Tôi phải tự sửa hết trước khi được gặp Chúa”, con sẽ tuyệt vọng. Không ai bước vào giờ chết với một đời hoàn hảo theo nghĩa con người. Ngay cả các thánh cũng biết mình hoàn toàn tùy thuộc vào ân sủng. Điều con cần không phải là một đời không có vết thương, nhưng là một trái tim biết trao các vết thương ấy cho Đấng đã mang thương tích vì con. Máu Chúa không phải dành cho những người không cần được cứu; Máu Chúa dành cho kẻ có tội. Thánh Giá không được dựng lên vì nhân loại hoàn hảo; nó được dựng lên vì nhân loại bất lực. Chính khi con không còn gì để khoe, Thánh Giá trở nên tất cả.
Hãy phó thác linh hồn và thân xác vào tay Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã làm. Đây có thể là hành vi đẹp nhất của đời con. Từ khi còn trẻ, con đã giữ nhiều thứ trong tay. Con giữ kế hoạch, giữ các mối quan hệ, giữ trách nhiệm, giữ danh dự, giữ sức khỏe, giữ ý kiến, giữ những gì con nghĩ mình phải bảo vệ. Nhưng giờ cuối là lúc đôi bàn tay ấy mở ra. Con không thể mang theo gì. Hãy để việc mở tay ấy trở thành một hành vi thờ phượng: “Lạy Cha, con trao lại cho Cha tất cả. Con trao thân xác này. Con trao hơi thở cuối cùng. Con trao những người con yêu. Con trao những gì còn dang dở. Con trao quá khứ của con, với cả điều tốt và xấu. Con trao tương lai mà con không còn thấy. Con trao chính linh hồn con. Con thuộc về Cha.” Có thể con không nói thành lời. Chỉ một chuyển động nhỏ trong lòng cũng đủ. Thiên Chúa hiểu những lời cầu không thành tiếng.
Nếu còn có thể, hãy lãnh nhận các bí tích của Hội Thánh với lòng đơn sơ và đức tin. Hãy để Bí tích Hòa Giải rửa sạch linh hồn. Hãy đón nhận việc Xức Dầu như sự an ủi và sức mạnh của Đức Kitô dành cho người đau yếu. Hãy rước Thánh Thể như của ăn đàng, như chính Chúa Giêsu đồng hành với con qua ngưỡng cửa cuối cùng. Cả đời con đã rước Chúa để Ngài sống trong con; giờ đây con rước Ngài để Ngài dẫn con về nhà. Còn gì đẹp hơn việc người tín hữu bước vào cõi đời đời với chính Đấng Phục Sinh trong lòng? Vì thế, đừng coi việc chuẩn bị các bí tích cuối đời là một dấu hiệu bi quan hay “báo trước cái chết”. Đó là sự khôn ngoan của đức tin. Người ta chuẩn bị hành trang cho một chuyến đi dài; chẳng lẽ lại không chuẩn bị cho chuyến đi quyết định nhất? Hãy giúp những người thân của con hiểu điều ấy nữa: đừng vì sợ người bệnh buồn mà trì hoãn việc mời linh mục cho đến khi họ không còn tỉnh táo. Tình yêu thật không che giấu sự thật; tình yêu thật giúp người ta gặp Chúa trong sự bình an.
Trong giờ chết, hãy kết hợp những đau đớn của mình với cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu. Đừng để một giọt đau nào rơi xuống đất mà không được dâng. Nếu con đau, hãy nói: “Lạy Chúa, xin nhận đau đớn này.” Nếu con khó thở: “Lạy Chúa Giêsu, con kết hợp hơi thở này với hơi thở cuối của Chúa trên Thánh Giá.” Nếu con không ngủ được: “Con thức với Chúa trong Vườn Cây Dầu.” Nếu con cảm thấy cô đơn: “Con ở với Chúa trong giờ Chúa bị bỏ rơi.” Nếu con phải từ biệt người thân: “Lạy Chúa, Chúa đã từ biệt Mẹ và các môn đệ; xin cho con biết từ biệt trong tình yêu.” Cái chết của người Kitô hữu có thể trở thành một Thánh lễ cuối cùng của đời mình: thân xác là lễ vật, đau đớn là hương trầm, nước mắt là lời cầu, và sự phó thác là tiếng “Amen” sau cùng.
Hỡi linh hồn, cũng đừng quá bận tâm đến việc mình sẽ chết ở đâu, bằng cách nào, trong hoàn cảnh nào. Con có thể cầu xin một cái chết lành, có người thân bên cạnh, có linh mục, có các bí tích. Đó là lời cầu tốt đẹp. Nhưng nếu Chúa cho phép hoàn cảnh khác, hãy tín thác rằng ân sủng Ngài không bị giới hạn bởi những điều bên ngoài. Có người chết trong bệnh viện, có người tại nhà, có người bất ngờ, có người sau nhiều năm đau bệnh. Có người có rất nhiều người cầu nguyện bên cạnh, có người chết gần như không ai biết. Nhưng không ai thuộc về Chúa lại chết ngoài tầm mắt của Ngài. “Không ai” nghĩa là không một người nào. Khi người đời không thể ở bên con, Thiên Chúa vẫn ở đó. Khi con không còn nghe tiếng người thân, Ngài vẫn nghe tiếng lòng con. Khi con không còn đủ sức đọc một kinh, Ngài vẫn nhận một tiếng thở dài. Khi trí nhớ con không còn giữ được những lời cầu đã thuộc, tình yêu của Chúa vẫn không quên tên con. Hãy khắc sâu điều ấy: ơn cứu độ không tùy thuộc vào khả năng con kiểm soát phút cuối; nó tùy thuộc vào lòng trung tín của Thiên Chúa và sự đáp lại của con trong ân sủng.
Và nếu giờ chết đến sau một đời nhiều thất bại thì sao? Hỡi linh hồn, đừng sợ đặt câu hỏi ấy. Có thể con đọc chương này và nghĩ: “Nhưng đời tôi đã quá nhiều sai lầm. Tôi đã mất quá nhiều năm. Tôi đã sa ngã quá nhiều lần.” Thì hãy nghe thật kỹ: hôm nay vẫn là ngày của ơn cứu độ. Chuẩn bị cho giờ chết không đòi con phải có một quá khứ khác; nó đòi con trao cho Chúa hiện tại này. Con không thể quay lại sửa tuổi trẻ, nhưng con có thể trao tuổi già. Con không thể làm lại một quyết định cũ, nhưng con có thể thống hối hôm nay. Con không thể thu hồi một lời đã gây tổn thương, nhưng con có thể xin lỗi. Con không thể xóa những năm sống xa Chúa bằng sức mình, nhưng con có thể trở về. Lòng thương xót không nói: “Giá như con đến sớm hơn, Ta mới nhận.” Lòng thương xót nói: “Hôm nay con nghe tiếng Ta, đừng cứng lòng.” Một người có thể bắt đầu chuẩn bị cho giờ chết ngay trong giây phút này bằng một hành vi rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con trở về.” Nếu lời ấy là thật, thiên đàng đã bắt đầu mở ra trong linh hồn.
Và nếu con đã sống nhiều năm trung thành, cũng đừng chủ quan. Không ai được miễn khỏi sự tỉnh thức. Đừng nghĩ: “Tôi đã sống đạo cả đời, chắc chắn giờ chết sẽ dễ.” Con không biết trận chiến cuối sẽ có hình thức nào. Nhưng cũng đừng lo lắng quá mức, như thể ơn Chúa sẽ bỏ con đúng lúc con cần nhất. Nếu Chúa đã nâng đỡ con qua bao nhiêu năm, tại sao Ngài lại bỏ con ở bước cuối? Chính vì thế, linh hồn trưởng thành không tự tin vào mình nhưng tin vào sự trung tín của Chúa. Con hãy nói: “Lạy Chúa, con không biết mình sẽ chiến đấu ra sao trong giờ cuối, nhưng con biết Chúa sẽ ở đó. Xin đừng để con lìa khỏi Chúa. Xin gìn giữ đức tin con. Xin cho con chết trong ân nghĩa Chúa.” Đó là lời cầu đủ lớn cho cả một đời.
Hỡi linh hồn, chuẩn bị cho cái chết thật ra chính là chuẩn bị để yêu cho đến cùng. Vì cái chết Kitô giáo không chỉ là buông đời sống; nó có thể là hành vi yêu mến cuối cùng. Cả đời con đã học nói “xin vâng” trong những chuyện nhỏ; giờ chết là tiếng “xin vâng” lớn nhất. “Xin vâng, lạy Chúa, con đến.” Cả đời con đã học trao dâng một phần; giờ chết con trao tất cả. Cả đời con đã học tin trong những bóng tối nhỏ; giờ chết con tin khi cánh cửa trước mặt hoàn toàn nằm ngoài khả năng kiểm soát. Cả đời con đã tập không dựa vào mình; giờ chết con hoàn toàn không thể dựa vào mình nữa. Vì thế, giờ chết không phải là điều gì tách rời khỏi đời sống thiêng liêng. Nó là sự hoàn tất của tất cả những gì con đã học.
Hãy nghĩ đến ông Simêon già trong Đền Thờ. Sau bao năm chờ đợi, khi ôm Hài Nhi Giêsu trong tay, ông có thể nói: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã hứa, vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ.” Đây là tâm tình của người đã gặp được điều quan trọng nhất. Một người có thể ra đi bình an không phải vì họ đã giải quyết hết mọi vấn đề trên đời, không phải vì mọi dự án đều hoàn thành, không phải vì mọi người đều hiểu họ, không phải vì họ không còn điều gì tiếc nuối, nhưng vì họ đã thấy ơn cứu độ. Họ đã biết Đấng mình thuộc về. Họ có thể nói: “Con đã gặp Chúa. Thế là đủ.” Hỡi linh hồn, hãy sống sao để đến giờ cuối, ngay cả khi nhiều việc vẫn dang dở, con vẫn có thể nói: “Chúa là đủ cho con.”
Đừng sợ cái chết đến mức quên sống. Nhưng cũng đừng yêu cuộc sống đến mức quên mình sẽ chết. Hãy giữ hai điều ấy trong một sự quân bình thánh thiện. Hãy sống hết lòng. Hãy yêu người Chúa đặt bên cạnh. Hãy phục vụ khi còn sức. Hãy cười khi có niềm vui. Hãy khóc khi đau khổ. Hãy làm việc với tất cả trách nhiệm. Hãy xây dựng những điều tốt đẹp. Nhưng trong sâu thẳm, hãy giữ tâm hồn như một người lữ hành: “Nhà thật của con ở nơi Chúa.” Khi thành công đến, đừng dừng lại ở đó. Khi thất bại đến, đừng nghĩ mọi sự đã mất. Khi người ta khen, hãy cảm ơn rồi đi tiếp. Khi người ta chê, hãy học điều cần học rồi đi tiếp. Khi tuổi trẻ qua, hãy để nó qua. Khi sức khỏe giảm, hãy trao. Khi tóc bạc, hãy nhớ mình đang đến gần hơn với cuộc gặp gỡ. Không một ngày nào làm con “mất đi sự sống” nếu ngày ấy đưa con gần Chúa hơn.
Một ngày kia, sẽ có một Thánh lễ cuối cùng con tham dự. Một ngày kia, con sẽ đọc Kinh Lạy Cha lần cuối trên đời. Một ngày kia, con sẽ rước lễ lần cuối. Một ngày kia, con sẽ nhìn một người thân lần cuối. Một ngày kia, con sẽ thấy ánh sáng buổi chiều cuối cùng của đời mình mà có thể con không biết đó là lần cuối. Điều ấy không làm những giây phút hiện tại trở nên buồn; nó làm chúng trở nên thánh. Bởi vì nếu hôm nay có thể là lần cuối con gặp một người, hãy đối xử tử tế. Nếu hôm nay có thể là lần cuối con bước vào nhà thờ, hãy cầu nguyện thật lòng. Nếu hôm nay có thể là lần cuối con được nói lời yêu thương, đừng giữ lại. Nếu hôm nay có thể là lần cuối con có cơ hội sửa một điều sai, hãy sửa. Một đời sống được soi sáng bởi giờ chết là một đời sống trở nên thật hơn.
Và khi giờ ấy đến thật, hỡi linh hồn, con đừng nhìn lại phía sau quá nhiều. Con đã đi đến cánh cửa. Hãy nhìn phía trước. Đừng hỏi: “Tôi đã làm đủ chưa?” Hãy hỏi: “Chúa Giêsu có đủ cho tôi không?” Và câu trả lời là: đủ. Đừng hỏi: “Tôi có xứng đáng không?” Không ai tự mình xứng đáng. Hãy hỏi: “Lòng thương xót Chúa có lớn không?” Và câu trả lời là: vô hạn. Đừng hỏi: “Tôi có đủ mạnh để chết không?” Hãy hỏi: “Chúa có đủ mạnh để giữ tôi không?” Và câu trả lời là: có. Đừng hỏi: “Tôi có thể bước qua bóng tối này không?” Hãy nhớ: Đấng Chăn Chiên đã đi trước con qua thung lũng bóng tối.
Rồi có thể con sẽ không còn nói được. Người khác sẽ cầu nguyện quanh con. Hãy để những lời kinh ấy nâng con lên. Có thể con chỉ còn nghe được tên Giêsu. Hãy bám vào tên ấy. Có thể môi con không cử động, nhưng lòng con vẫn có thể nói: “Giêsu.” Và nếu ngay cả ý thức cũng dần chìm xuống, con hãy tin rằng Đấng đã biết con từ trong lòng mẹ không cần con phải tỉnh táo để tiếp tục yêu con. Ngài không quên. Ngài không ngủ. Ngài không bỏ rơi. Hãy giao phần còn lại cho Ngài.
Hỡi linh hồn, đây là cuộc chiến cuối cùng, nhưng đối với người thuộc về Đức Kitô, đây không phải là cuộc chiến không có hy vọng. Chúa Giêsu đã bước vào cái chết trước con. Ngài đã đối diện với quyền lực tối tăm, đã đi xuống tận đáy sự yếu đuối của thân phận con người, đã chịu đóng đinh, đã chết thật, và đã sống lại. Vì thế, người Kitô hữu không nhìn cái chết như một bức tường kín; họ nhìn nó như cánh cửa đã được Đức Kitô mở. Cái chết vẫn đau. Chia lìa vẫn làm rơi nước mắt. Thân xác tan rã vẫn là một sự nghèo nàn lớn lao. Nhưng cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về sự sống lại.
Vì thế, hãy chuẩn bị, nhưng chuẩn bị trong bình an. Hãy tỉnh thức, nhưng đừng hoảng sợ. Hãy xét mình, nhưng đừng ám ảnh về mình. Hãy nhớ tội lỗi, nhưng nhớ lòng thương xót nhiều hơn. Hãy tập chết, nhưng chính để sống tự do hơn. Hãy buông bỏ, nhưng buông vào tay một Người Cha. Hãy nhìn Thánh Giá, vì từ đó con sẽ hiểu rằng tình yêu đã đi vào sự chết và chiến thắng sự chết. Hãy rước Thánh Thể, vì đó là mầm sống lại được đặt vào thân xác hay chết của con. Hãy nắm tay Đức Maria, vì Mẹ biết thế nào là đứng bên một người Con đang chết, và Mẹ cũng biết niềm vui Phục Sinh. Hãy gọi Thánh Giuse. Hãy cậy nhờ các thánh. Hãy sống trong Hội Thánh. Và trên hết, hãy đặt tất cả niềm hy vọng nơi Chúa Giêsu.
Mỗi sáng, con có thể thưa: “Lạy Chúa, nếu hôm nay là ngày cuối đời con, xin cho con sống ngày này như một lễ vật.” Mỗi tối, con có thể thưa: “Lạy Chúa, nếu đêm nay con không thức dậy nữa, xin nhận linh hồn con. Xin tha thứ những lỗi lầm hôm nay. Con tín thác nơi lòng thương xót Chúa.” Mỗi lần rước lễ, con có thể thưa: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho lần rước lễ cuối cùng của đời con, bất cứ khi nào, cũng được nối dài từ lần rước lễ hôm nay.” Mỗi Kinh Kính Mừng, hãy ý thức lời: “cầu cho chúng con khi này và trong giờ lâm tử.” Mỗi khi phải từ bỏ một điều nhỏ, hãy nói: “Lạy Chúa, xin dùng sự từ bỏ này để dạy con cách buông tất cả trong giờ cuối.” Mỗi khi bị cám dỗ tuyệt vọng sau một lần sa ngã, hãy đứng lên ngay, vì đó là lúc con đang tập cho giờ chết. Mỗi khi con chọn tin vào lòng thương xót thay vì tin vào cảm giác thất vọng của mình, con đang chuẩn bị cho cuộc chiến cuối cùng.
Và nếu con hỏi: “Tôi phải chuẩn bị bao lâu?” thì câu trả lời là: cho đến hơi thở cuối cùng. Không có ngày nào con được phép ngừng chiến đấu, nhưng cũng không có ngày nào con phải chiến đấu một mình. Càng đến gần cuối đời, linh hồn càng nên đơn giản. Lúc trẻ, người ta có thể đọc rất nhiều sách, học rất nhiều phương pháp, thực hành rất nhiều việc đạo đức. Nhưng đến cuối cùng, tất cả phải được gom lại trong một điều: Giêsu. Tất cả thần học phải đưa con đến đó. Tất cả nhân đức phải đưa con đến đó. Tất cả hy sinh phải đưa con đến đó. Tất cả cầu nguyện phải đưa con đến đó. Và nếu cuối cùng con chỉ còn giữ được một lời, hãy giữ lời này: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”
Hỡi linh hồn, rồi ngày ấy sẽ đến. Nhưng khi nó đến, xin đừng coi đó là ngày Chúa đến cướp con khỏi cuộc đời. Hãy coi đó là ngày Chúa gọi tên con sau một cuộc hành trình dài. Ngày ấy, những vết thương con mang sẽ không còn cần phải che giấu. Những nước mắt không ai thấy sẽ được Chúa biết. Những hy sinh không ai nhớ sẽ không bị quên. Những lần con ngã rồi đứng lên, những lần con cầu nguyện trong khô khan, những lần con cố tha thứ dù lòng còn đau, những lần con chọn trung thành khi chẳng ai thấy, tất cả đều đã nằm trong ánh mắt của Thiên Chúa. Nhưng con cũng đừng lấy những điều ấy làm chỗ dựa sau cùng. Chỗ dựa sau cùng vẫn là Chúa Giêsu. Khi mọi sự khác rơi khỏi tay con, hãy để tên Ngài còn lại.
“Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã hứa. Vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ của Chúa.” Xin cho lời của ông Simêon cũng trở thành lời của chúng ta. Không phải lời của một người chán sống, nhưng lời của một người đã tìm thấy điều mình chờ đợi. Không phải lời của người thất vọng, nhưng lời của người đã gặp Đấng Cứu Độ. Không phải lời của người chạy trốn cuộc đời, nhưng lời của người đã hoàn tất hành trình và sẵn sàng trở về.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh, ngay từ hôm nay con xin dâng cho Chúa giờ chết của con. Con không biết nó sẽ đến lúc nào, ở đâu, bằng cách nào. Con không biết lúc ấy con sẽ mạnh hay yếu, tỉnh táo hay mê man, bình an hay xao xuyến. Nhưng Chúa biết. Xin Chúa gìn giữ con trong ân sủng. Xin đừng để con lìa xa Chúa. Khi kẻ thù tấn công đức tin, xin cho con tin. Khi nó tấn công đức cậy, xin cho con bám lấy lòng thương xót. Khi nó làm con sợ hãi vì tội lỗi quá khứ, xin cho con nhìn vào Máu Chúa. Khi thân xác đau đớn, xin cho con kết hợp với Thánh Giá. Khi mọi chỗ dựa trần gian rời khỏi con, xin trở nên chỗ dựa duy nhất của con. Khi con không còn nói được, xin nghe tiếng lòng con. Khi mắt con không còn nhìn thấy người đời, xin mở mắt linh hồn con để con nhìn thấy Chúa.
Lạy Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ của chúng con, con đã biết bao lần đọc: “Cầu cho chúng con khi này và trong giờ lâm tử.” Xin Mẹ nhận lời ấy như một lời ký thác. Ngay từ hôm nay con xin đặt giờ chết của con trong tay Mẹ. Khi giờ ấy đến, xin Mẹ ở bên con. Khi con sợ hãi, xin Mẹ nhắc con rằng Chúa Giêsu đang ở gần. Khi con yếu đuối, xin Mẹ cầu thay. Khi con không còn sức cầu nguyện, xin Mẹ cầu nguyện cho con. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa Giêsu, như Mẹ đã đem Chúa Giêsu đến cho thế gian.
Lạy Thánh Giuse, xin cầu cho con được ơn chết lành. Các thiên thần và các thánh của Thiên Chúa, xin ở bên con trong trận chiến cuối cùng. Và lạy Chúa Cha nhân từ, khi hành trình dương thế của con kết thúc, xin cho con có thể thưa bằng tất cả sự bình an của một người con:
“Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha.”
Xin cho cái chết của con không phải là hành vi cuối cùng của sợ hãi, nhưng là hành vi cuối cùng của tình yêu. Xin cho hơi thở sau hết của con là một lời tín thác. Xin cho ánh nhìn sau hết của con, dù đôi mắt thể lý đã khép, vẫn hướng về Chúa Giêsu. Xin cho cuộc chiến cuối cùng của con kết thúc không bằng sức riêng của con, nhưng bằng chiến thắng của Đấng đã chết và sống lại vì con.
Và khi tất cả đã im lặng, khi những người thân không còn nghe tiếng con nữa, khi trái tim này ngừng đập và hành trình dưới thế khép lại, xin cho linh hồn con nghe được lời mà cả đời con hằng chờ đợi:
“Hãy đến.”
Amen.
CHƯƠNG 30
SỰ KIÊN TRÌ ĐẾN CÙNG VÀ NIỀM HY VỌNG CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG
Hỡi linh hồn đang cầm vũ khí trên đường nên thánh, chúng ta đã đi với nhau qua một chặng đường dài. Chúng ta đã bước vào những vùng sâu kín nhất của lòng người, đã nhìn thấy sự yếu đuối của bản tính bị thương tích bởi tội, đã nhận ra những mưu mô tinh tế của kẻ thù, đã học cách bất tín nhiệm vào chính mình để khỏi ngã vào sự tự phụ, đã học cách tín thác vào Thiên Chúa để khỏi chìm xuống trong thất vọng, đã tập canh giữ lý trí, hướng dẫn ý chí, chế ngự giác quan, chiến đấu với tự ái, nóng giận, lười biếng, bất khiết, chán nản và tuyệt vọng. Chúng ta đã nói đến cầu nguyện như khí giới không thể thiếu, đến cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu như nơi linh hồn tìm lại sức mạnh khi kiệt quệ, đến Đức Maria như người Mẹ đứng bên những kẻ chiến đấu, đến Bí tích Thánh Thể như của ăn nuôi linh hồn trên chiến trường, đến việc xét mình như ngọn đèn soi vào những góc tối của lòng mình, đến sự bình an nội tâm giữa những xáo trộn, và cuối cùng đến việc chuẩn bị cho giờ chết như chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng của đời người. Nhưng nếu sau tất cả những điều ấy mà con hỏi tôi: “Điều gì là quan trọng nhất để tôi không đánh mất tất cả?”, thì tôi chỉ xin để lại cho con một lời, một lời rất ngắn nhưng chứa đựng gần như toàn bộ bí quyết của cuộc chiến linh hồn: hãy kiên trì đến cùng. Con có thể biết nhiều điều về đời sống thiêng liêng, có thể đã từng có những quyết tâm rất mạnh, đã từng khóc trước Thánh Giá, đã từng cảm thấy lòng mình bừng cháy vì yêu Chúa, đã từng trải qua những ngày cầu nguyện sốt sắng và những giờ phút tưởng như không gì có thể tách mình khỏi Thiên Chúa; nhưng nếu con không kiên trì, tất cả những điều ấy có thể chỉ còn là những kỷ niệm đẹp của một thời đã qua. Trong cuộc chiến linh hồn, người chiến thắng không nhất thiết là người đã khởi đầu mạnh nhất, cũng không phải là người có nhiều cảm xúc thiêng liêng nhất, cũng không phải là người ít bị cám dỗ nhất. Người chiến thắng là người còn đứng đó khi trận chiến kéo dài, là người vẫn nắm lấy tay Chúa khi lòng mình không còn cảm thấy gì, là người ngã xuống rồi đứng lên, lại ngã xuống rồi lại đứng lên, cho đến ngày cuối cùng. Đời sống thiêng liêng không phải là một cuộc chạy nước rút trong vài ngày sốt sắng; đó là một con đường dài, có khi rất dài, đi qua nắng gắt và mưa giông, qua những mùa tràn đầy an ủi và những mùa khô khan tưởng như không còn Chúa ở gần, qua những chiến thắng làm lòng mình vui mừng và những thất bại khiến mình xấu hổ đến mức không muốn nhìn lên. Và chính trên con đường ấy, sự kiên trì được hình thành. Không phải trong những giờ phút vinh quang, nhưng trong những ngày bình thường, âm thầm, nặng nề, không ai biết, không ai khen, không ai thấy. Kiên trì là tiếp tục cầu nguyện khi cầu nguyện khô khan. Kiên trì là tiếp tục giữ mình khi cám dỗ cứ trở lại. Kiên trì là tiếp tục yêu thương khi người khác không thay đổi. Kiên trì là tiếp tục sửa mình khi thấy mình vẫn còn những khuyết điểm tưởng như đã chiến đấu bao năm mà chưa thắng. Kiên trì là tiếp tục tin rằng Chúa đang làm việc trong mình ngay cả khi mình không nhìn thấy kết quả. Và trên hết, kiên trì là không bỏ Chúa chỉ vì mình thất vọng về chính mình.
Có một điều rất lạ trong đời sống thiêng liêng: nhiều linh hồn không bị đánh bại bởi một tội nặng bất ngờ, không bị đánh bại bởi một cơn cám dỗ dữ dội, nhưng bị đánh bại dần dần bởi sự mệt mỏi. Họ đã chiến đấu lâu quá. Họ đã cầu xin lâu quá. Họ đã cố gắng sửa một khuyết điểm lâu quá. Họ đã lặp đi lặp lại một lời dốc lòng quá nhiều lần đến mức chính họ cũng không còn tin vào lời dốc lòng của mình. Họ bắt đầu tự hỏi: “Có ích gì nữa không? Bao nhiêu năm rồi tôi vẫn thế. Tôi vẫn nóng giận. Tôi vẫn tự ái. Tôi vẫn dễ nản. Tôi vẫn bị cùng một thứ cám dỗ ấy. Tôi vẫn thú nhận những điều quen thuộc ấy trong tòa giải tội. Tôi vẫn phải chiến đấu với những điều tưởng như đã phải chết từ lâu.” Và chính lúc ấy, kẻ thù không cần đẩy linh hồn vào một tội lớn; nó chỉ cần gieo một ý nghĩ nhỏ: “Thôi, đừng cố nữa.” Một ý nghĩ rất nhỏ, nhưng nếu được nuôi dưỡng, nó sẽ dần dần làm rơi thanh gươm khỏi tay người chiến đấu. Con hãy nhớ thật kỹ điều này: kẻ thù không nhất thiết phải làm cho con ghét Chúa; nó chỉ cần làm cho con mệt đến mức không còn muốn chiến đấu. Nó không nhất thiết phải khiến con công khai bỏ đức tin; nó chỉ cần khiến con trì hoãn cầu nguyện hết ngày này sang ngày khác. Nó không nhất thiết phải làm con sa vào những tội khủng khiếp; nó chỉ cần làm con sống lửng lơ, không quyết liệt với điều xấu, không nhiệt thành với điều tốt. Nó biết rằng một thanh gươm không cần bị bẻ gãy; chỉ cần người cầm gươm buông tay là đủ. Vì vậy, sự kiên trì là một trong những nhân đức làm ma quỷ khiếp sợ nhất. Một linh hồn yếu nhưng kiên trì nguy hiểm đối với nó hơn một linh hồn mạnh nhưng chóng nản. Một người ngày nào cũng đứng lên sau sa ngã đáng sợ đối với nó hơn một người có những ngày sốt sắng bùng cháy rồi vài tháng sau buông xuôi. Ma quỷ có thể chịu được việc con quyết tâm rất lớn trong một ngày; điều nó không chịu nổi là con khiêm tốn làm một việc nhỏ cho Chúa mỗi ngày, năm này qua năm khác, không khoe khoang, không cần ai biết, không chờ cảm xúc, không rút lui chỉ vì chưa thấy kết quả. Chính sự trung tín âm thầm ấy bào mòn sức mạnh của những thói quen xấu và xây nên trong linh hồn một sức mạnh mà chính con cũng không nhận ra cho đến một ngày nhìn lại.
KIÊN TRÌ – NHÂN ĐỨC CỦA NHỮNG NGƯỜI CHIẾN THẮNG
Nhiều người bắt đầu rất tốt. Họ nghe một bài giảng, đọc một cuốn sách, trải qua một biến cố, một lần tĩnh tâm, một đau khổ, một lần được đánh động mạnh mẽ, rồi họ quyết tâm thay đổi tất cả. Họ muốn từ ngày mai sẽ cầu nguyện lâu hơn, dậy sớm hơn, giữ thinh lặng hơn, không nóng giận nữa, không xét đoán nữa, không lười biếng nữa, không chiều theo đam mê nữa. Trong những ngày đầu, mọi sự thật đẹp. Lòng sốt sắng nâng họ lên. Họ cảm thấy mình có thể làm được nhiều điều. Nhưng rồi đời sống thường ngày trở lại. Những người khó chịu vẫn còn đó. Những công việc nặng nề vẫn còn đó. Thân xác vẫn mệt. Trí óc vẫn phân tán. Những thói quen cũ không biến mất chỉ vì một lần dốc lòng. Những cơn cám dỗ tưởng đã lắng xuống lại xuất hiện. Và rồi người ta khám phá một sự thật rất khó chịu: đời sống thiêng liêng không thay đổi bằng vài quyết tâm đẹp, mà bằng hàng ngàn lựa chọn nhỏ lặp đi lặp lại trong thời gian dài. Chính ở đây người ta bắt đầu phân rẽ. Có những linh hồn nói: “Tôi đã thử mà không được.” Và họ buông. Có những linh hồn khác nói: “Tôi đã thử và chưa được; vậy hôm nay tôi thử lại.” Chính nhóm thứ hai sẽ tiến xa. Không phải vì họ giỏi hơn, nhưng vì họ hiểu một điều: trên đường nên thánh, thất bại không phải là điều cuối cùng; bỏ cuộc mới là điều đáng sợ. Con đừng đo đời sống thiêng liêng của mình bằng số lần con ngã. Hãy nhìn xem sau mỗi lần ngã, con có trở về với Chúa không. Đừng chỉ hỏi: “Tại sao tôi vẫn còn yếu?” Hãy hỏi: “Trong sự yếu đuối ấy, tôi có còn muốn thuộc về Chúa không?” Đừng chỉ buồn vì mình chưa thắng được một đam mê. Hãy cảm tạ Chúa nếu sau bao nhiêu trận chiến con vẫn chưa muốn làm hòa với nó. Có khi nhân đức chưa nằm ở chỗ cám dỗ đã biến mất, nhưng ở chỗ sau mười năm cám dỗ, con vẫn nói “không”. Có khi sự thánh thiện chưa nằm ở chỗ lòng con không còn bực bội, nhưng ở chỗ mỗi lần bực bội nổi lên, con lại xin Chúa giữ miệng mình khỏi một lời làm tổn thương người khác. Có khi chiến thắng không nằm ở chỗ con không còn bị thu hút bởi điều xấu, nhưng ở chỗ con biết quay mắt đi sớm hơn trước. Có khi tiến bộ chỉ là ngày trước con mất ba ngày mới đứng dậy sau một sa ngã, còn bây giờ con đứng dậy sau ba phút. Đừng coi thường những điều ấy. Ân sủng thường làm việc rất thầm lặng. Chúng ta muốn Chúa thay đổi mình bằng những phép lạ rõ ràng; Chúa nhiều khi thay đổi chúng ta bằng những sự trung tín rất nhỏ.
Kiên trì vì thế không phải là một thứ lì lợm của ý chí tự nhiên. Một người có thể rất cứng đầu mà không có sự kiên trì thiêng liêng. Kiên trì Kitô giáo sinh ra từ khiêm nhường và đức cậy. Khiêm nhường nói: “Tôi yếu, tôi có thể ngã bất cứ lúc nào.” Đức cậy nói: “Nhưng Chúa mạnh, và nếu tôi bám lấy Ngài, tôi không cần tuyệt vọng.” Hai điều ấy phải đi chung với nhau. Nếu chỉ thấy mình yếu mà không thấy Chúa mạnh, linh hồn sẽ nản. Nếu chỉ nói Chúa mạnh mà không nhìn nhận mình yếu, linh hồn sẽ khinh suất. Sự kiên trì thật đứng giữa hai vực thẳm ấy: không tin vào mình, nhưng tin hết lòng vào Chúa. Người kiên trì không nói: “Tôi sẽ không bao giờ ngã nữa.” Họ nói: “Lạy Chúa, con biết con rất yếu; xin giữ con. Và nếu con ngã, xin đừng để con nằm lại.” Đó là một lời cầu nguyện rất đẹp. Có những ngày con sẽ cần cầu nó nhiều lần. Có những thời gian con cảm thấy tất cả đời sống thiêng liêng chỉ còn là việc đứng dậy. Đừng xấu hổ về điều ấy. Nếu đứng dậy với lòng khiêm nhường, con đang học một trong những bài học quý nhất của cuộc chiến linh hồn.
ĐỪNG NHẦM GIỮA SA NGÃ VÀ THẤT BẠI
Con phải phân biệt hai điều mà nhiều linh hồn thường lẫn lộn: sa ngã và thất bại. Sa ngã là một biến cố trong cuộc chiến. Thất bại là từ chối chiến đấu nữa. Một người lính bị thương không phải vì thế mà đã thua trận. Một người bị đánh ngã xuống đất chưa phải là kẻ chiến bại, nếu người ấy còn đứng lên. Điều nguy hiểm là nằm xuống và nói: “Tôi không muốn đứng nữa.” Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Có khi vì một lỗi lầm, con tự kết án mình nặng nề đến mức kẻ thù không cần làm gì thêm. Con đã trở thành người hành hạ chính mình. Con nhớ đi nhớ lại lỗi ấy, nhai đi nhai lại sự xấu hổ ấy, tự trách mình bằng những lời cay nghiệt, rồi dần dần mất bình an, mất lòng tin, mất nghị lực. Con tưởng như thế là ghét tội. Không. Đôi khi đó chỉ là lòng tự ái bị thương. Con đau không phải hoàn toàn vì đã làm mất lòng Chúa, nhưng vì con không chịu nổi việc khám phá rằng mình không tốt như mình tưởng. Nếu thực sự khiêm nhường, sau khi ngã con sẽ đau vì đã xúc phạm đến tình yêu của Chúa, nhưng con cũng sẽ nhanh chóng chạy về với Ngài. Con sẽ nói: “Lạy Chúa, đó chính là con khi không có Chúa. Xin tha thứ cho con. Con lại bắt đầu.” Và rồi con bắt đầu thật. Không phải ngày mai. Không phải sau khi cảm xúc tội lỗi đã dịu xuống. Không phải sau khi con đã tự phạt mình đủ lâu để cảm thấy “xứng đáng” được tha. Bắt đầu ngay. Một trong những chiến thuật nguy hiểm nhất của ma quỷ sau khi làm linh hồn sa ngã là giữ nó nằm lại bằng sự xấu hổ. Trước khi phạm tội, nó nói: “Không sao đâu.” Sau khi phạm tội, nó nói: “Tất cả đã hỏng rồi.” Cả hai đều là dối trá. Trước khi phạm tội, con phải nghiêm khắc; sau khi phạm tội, con phải chạy thật nhanh đến lòng thương xót. Đừng đảo ngược hai điều ấy. Có người trước cám dỗ thì dễ dãi, sau sa ngã thì tàn nhẫn với mình. Đường lối đúng là trước cám dỗ phải tỉnh thức và mạnh mẽ; sau sa ngã phải khiêm nhường và đầy cậy trông.
Con hãy tập thói quen đứng dậy thật nhanh. Đó là một nghệ thuật thiêng liêng. Vừa nhận ra mình nóng giận, hãy xin lỗi nếu cần và trở về. Vừa nhận ra mình xét đoán, hãy ngừng lại và cầu nguyện cho người ấy. Vừa nhận ra mình đã nuông chiều một ý nghĩ không tốt, hãy quay tâm trí về Chúa. Vừa nhận ra mình đã bỏ một việc bổn phận vì lười biếng, hãy làm điều có thể ngay lúc đó. Vừa nhận ra mình đã tìm mình trong một việc đạo đức, hãy khiêm nhường sửa lại ý hướng. Đừng để một lỗi nhỏ kéo theo cả một ngày buông xuôi. Có những người vì buổi sáng đã cầu nguyện không tốt nên nói: “Hôm nay coi như bỏ.” Vì đã lỡ ăn quá mức nên nói: “Thôi cứ ăn tiếp.” Vì đã nóng giận một lần nên mặc kệ cho mình khó chịu cả ngày. Đó là logic của kẻ thù. Còn logic của ân sủng là: bắt đầu lại ngay từ giây phút này. Một ngày có thể bắt đầu lại lúc 11 giờ trưa. Một buổi chiều có thể bắt đầu lại sau một câu nói sai. Một đời người có thể bắt đầu lại sau nhiều năm lạc xa. Chúa không bị giới hạn bởi những thất bại đã qua của con. Điều Chúa cần là giây phút hiện tại được trao lại cho Ngài.
NHỮNG LÝ DO KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC BỎ CUỘC
Hỡi linh hồn, khi con mệt mỏi, hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đã không dừng lại giữa đường lên Núi Sọ. Ngài đã ngã dưới sức nặng của Thánh Giá. Ngài đã kiệt sức. Ngài đã bị chế nhạo, đánh đập, bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị phản bội. Nhưng Ngài đi đến cùng. Không phải vì con đường dễ, nhưng vì tình yêu mạnh hơn đau khổ. Khi con muốn bỏ cuộc, hãy nhìn Ngài. Đừng chỉ nhìn mình. Con càng nhìn mình lâu, con càng thấy sự yếu đuối. Con càng nhìn Chúa lâu, con càng nhớ lý do để tiếp tục. Ngài đã yêu con đến cùng. Không phải đến lúc thấy khó thì ngừng. Không phải đến lúc không được đáp lại thì rút lui. Không phải đến lúc bị phản bội thì thôi yêu. “Đến cùng” là ngôn ngữ của tình yêu Chúa. Và đời sống Kitô hữu, nếu muốn thực sự thuộc về Ngài, cũng phải mang lấy dấu ấn ấy. Con không có quyền nói: “Tôi sẽ yêu Chúa cho đến khi khó quá.” Con không thể nói: “Tôi sẽ trung thành miễn là tôi còn cảm thấy được nâng đỡ.” Giao ước với Chúa không phải là một cảm xúc. Nó là một sự thuộc về. Và sự thuộc về ấy được chứng minh rõ nhất trong những ngày con không còn gì để dựa vào ngoài chính lời hứa của Thiên Chúa.
Hãy nhớ thêm một điều: lòng thương xót của Chúa lớn hơn mọi thất bại của con. Con có thể mệt vì phải xin Chúa tha thứ một điều nhiều lần; nhưng đừng bao giờ tưởng Chúa mệt vì tha thứ. Con có thể chán chính mình; nhưng đừng chiếu sự chán ấy lên Thiên Chúa. Tình yêu của Ngài không giống tình yêu chúng ta. Chúng ta thường yêu khi người kia làm mình vui, và mệt mỏi khi người ấy cứ lặp lại lỗi cũ. Chúa biết con từ đầu. Ngài không hề ảo tưởng về con. Ngài biết tất cả những gì con sẽ làm trước khi con làm. Ngài biết những chỗ con sẽ ngã, những đêm con sẽ khóc, những lần con sẽ thất hứa với chính mình. Vậy mà Ngài vẫn gọi con. Vẫn ban ân sủng. Vẫn đặt con trên con đường này. Điều đó không có nghĩa là tội lỗi không nghiêm trọng. Chính vì tội nghiêm trọng nên lòng thương xót càng đáng kinh ngạc. Đừng biến sự ghê tởm tội lỗi thành sự nghi ngờ lòng thương xót. Hai điều ấy không giống nhau. Con phải ghét tội, nhưng càng phải yêu Đấng cứu con khỏi tội.
Mỗi lần đứng dậy, con thực hành đức tin cách rất tinh ròng. Vì khi ấy con không có nhiều bằng chứng tốt đẹp về mình. Con vừa nhìn thấy sự yếu đuối của mình. Nhưng con vẫn tin rằng Máu Chúa Kitô mạnh hơn tội lỗi ấy. Con thực hành đức cậy, vì dù kinh nghiệm quá khứ nói rằng con rất dễ tái phạm, con vẫn dám bắt đầu lại dựa trên ơn Chúa. Con thực hành đức mến, vì con quay về không chỉ để cảm thấy nhẹ lòng, nhưng để nói với Chúa: “Con đã làm Chúa buồn, nhưng con vẫn muốn thuộc về Chúa.” Có những lần đứng dậy như thế có thể đẹp lòng Chúa hơn nhiều giờ cầu nguyện trong lúc mọi sự thuận lợi. Đừng hiểu sai điều này để coi nhẹ sa ngã; nhưng hãy hiểu rằng Chúa có thể dùng chính những vết thương được trao cho Ngài để làm con khiêm nhường và yêu Ngài sâu hơn.
Hãy nhớ rằng cuộc chiến không phải chỉ của riêng con. Đây là điều nhiều người quên khi mệt mỏi. Con tưởng mình đang đơn độc vật lộn trong bóng tối. Không. Chúa Kitô ở trong con. Ngài không đứng xa nhìn con chiến đấu. Ân sủng của Ngài hoạt động trong những ước muốn tốt lành, trong mỗi lời kêu cứu, trong mỗi lần con từ chối một cám dỗ, trong mỗi hành vi nhỏ bé hướng về điều thiện. Đức Maria không xa lạ với cuộc chiến của con. Mẹ đã đứng dưới Thánh Giá, đã đi qua đêm tối của đức tin, đã giữ lòng trung thành khi mọi sự dường như sụp đổ. Các thánh không phải là những con người chưa từng chiến đấu; chính vì họ đã chiến đấu nên họ hiểu chiến trường. Có những vị đã phải chiến đấu cả đời với tính khí của mình. Có những vị đã trải qua những cám dỗ nặng nề. Có những vị phải đi qua những năm dài khô khan. Có những vị đã có một quá khứ đầy tội lỗi trước khi được ân sủng biến đổi. Khi con cảm thấy mình là người duy nhất yếu đuối, hãy nhớ con đang thuộc về một Hội Thánh của những con người đã được cứu không phải vì họ tự cứu mình, nhưng vì họ để cho Chúa cứu.
Và cuối cùng, hãy nhớ phần thưởng. Không phải phần thưởng theo kiểu đổi chác: “Con chịu khó để được thưởng.” Nhưng là đích đến của tình yêu: được ở với Chúa mãi mãi. Con thử nghĩ xem, nếu một ngày kia con được nhìn thấy Chúa mặt đối mặt, được hiểu những điều hôm nay con không hiểu, được thấy tất cả những giọt nước mắt của mình đã được Ngài giữ lại, được thấy những lần chiến đấu âm thầm mà không ai biết đã không bị quên lãng, được thấy cả những ngày con tưởng mình không tiến được bước nào nhưng thật ra Chúa đang làm rễ mọc sâu trong lòng con, liệu con có tiếc vì đã trung thành không? Không. Không một hy sinh nào vì Chúa sẽ khiến con hối tiếc trong ngày ấy. Chúng ta chỉ hối tiếc những lần đã không yêu đủ, những lần đã bỏ cuộc quá sớm, những lần vì một chút dễ chịu chóng qua mà đổi lấy sự bình an sâu xa. Hãy sống hôm nay dưới ánh sáng của ngày cuối cùng. Nhiều điều đang làm con nặng lòng sẽ trở nên rất nhỏ khi đặt trước vĩnh cửu.
KIÊN TRÌ KHÔNG PHẢI LÀ NHÌN XA, NHƯNG LÀ TRUNG TÍN VỚI NGÀY HÔM NAY
Có những người thất bại vì nghĩ quá xa. Họ nhìn cả cuộc đời và sợ. Người đang chiến đấu với một thói quen lâu năm nghĩ: “Tôi phải chống thế này suốt đời sao?” Người sống một ơn gọi khó khăn nghĩ: “Tôi phải chịu đựng thế này thêm mấy chục năm nữa sao?” Người đang trải qua khô khan nghĩ: “Nếu sau này vẫn khô khan thế này thì sao?” Đừng làm thế. Chúa không ban ơn cho một đời tưởng tượng. Chúa ban ơn cho ngày hôm nay. Ngày mai sẽ có ân sủng của ngày mai. Hôm nay, con chỉ cần trung thành với hôm nay. Nếu nghĩ cả quãng đường dài, con có thể kiệt sức trước khi bước. Nhưng nếu chỉ hỏi: “Lạy Chúa, hôm nay Chúa muốn con làm gì?”, gánh nặng trở nên nhẹ hơn. Kiên trì được xây bằng từng ngày. Một đời thánh thiện được làm nên bởi hàng ngàn ngày bình thường sống với Chúa. Một cuộc đời trung tín được dệt bằng hàng ngàn lựa chọn rất nhỏ: thức dậy và cầu nguyện dù không muốn; giữ im lặng thay vì đáp trả; làm bổn phận dù không ai khen; tắt một thứ khiến mình phân tán; từ chối một ý nghĩ bất khiết ngay từ đầu; xin lỗi khi biết mình sai; cảm ơn khi lòng muốn phàn nàn; tiếp tục yêu một người khó yêu; hoàn thành một công việc nhỏ với ý hướng làm vui lòng Chúa.
Mỗi sáng, hãy coi như con được Chúa cho một cuộc đời mới. Đừng mang tất cả thất bại hôm qua vào buổi sáng như một bản án. Hãy mang kinh nghiệm, nhưng đừng mang tuyệt vọng. Hãy học từ ngày hôm qua và bắt đầu lại. Nói với Chúa đơn sơ: “Lạy Chúa, hôm nay con lại thuộc về Chúa. Con không biết con sẽ làm tốt đến đâu, nhưng con muốn sống ngày này với Chúa.” Có thể đến 9 giờ con đã làm hỏng một điều. Bắt đầu lại lúc 9 giờ 5. Có thể đến trưa con thấy lòng mình rối tung. Bắt đầu lại sau bữa trưa. Có thể chiều con mệt, tối con chán. Bắt đầu lại trước khi ngủ. Đừng đợi một ngày hoàn hảo để sống đẹp lòng Chúa. Ngày hoàn hảo có thể không đến. Hãy dâng cho Chúa chính ngày đầy vết xước này.
Mỗi tối, hãy đặt mọi sự vào tay Chúa. Đừng mang cuộc chiến vào giấc ngủ như thể mọi thứ phụ thuộc vào việc con phải nghĩ cho xong. Có những linh hồn xét mình xong lại tự kết án mình cả đêm. Không. Xét mình phải dẫn đến ánh sáng, không phải dẫn đến ám ảnh. Hãy nhìn ngày sống dưới mắt Chúa. Cảm tạ những ơn đã nhận. Nhận lỗi những gì sai. Xin tha thứ. Rút một điều cần sửa. Rồi trao lại tất cả. “Lạy Chúa, phần còn lại là của Chúa.” Và ngủ. Giấc ngủ cũng có thể là một hành vi tín thác. Con chấp nhận rằng trong vài giờ mình không kiểm soát gì cả. Trái tim vẫn đập, thế giới vẫn vận hành, Chúa vẫn là Chúa. Người biết nghỉ trong Chúa sẽ có sức chiến đấu ngày mai.
KHI KHÔNG CÒN CẢM THẤY GÌ, HÃY VẪN Ở LẠI
Một trong những thử thách lớn nhất của sự kiên trì là khi Chúa cho phép những an ủi thiêng liêng rút đi. Có thời gian con cầu nguyện và cảm thấy lòng mình ấm áp, Lời Chúa sống động, Thánh Lễ chạm sâu vào tâm hồn, một lời kinh cũng đủ làm rơi nước mắt. Rồi một ngày, mọi sự khô đi. Con đọc mà không thấy gì. Con cầu mà như nói vào khoảng trống. Con dự lễ mà tâm trí phân tán. Con quỳ trước Thánh Thể mà lòng lạnh lẽo. Con bắt đầu tự hỏi mình có làm gì sai không. Đôi khi có thể có nguyên nhân cần sửa: đời sống thiếu kỷ luật, tội lỗi không dứt khoát, phân tán quá nhiều. Nhưng cũng có khi sự khô khan được Chúa cho phép để thanh luyện tình yêu. Khi còn an ủi, con có thể vô thức yêu cảm giác về Chúa hơn chính Chúa. Khi không còn cảm giác, câu hỏi trở nên tinh ròng: “Con có ở lại không?” Nếu con vẫn ở lại, đó là một tình yêu quý giá. Người vợ ở bên chồng không chỉ trong ngày vui mà trong bệnh tật mới cho thấy chiều sâu của giao ước. Linh hồn ở lại với Chúa khi không còn an ủi cũng vậy. Đừng đánh giá sự trung thành bằng cảm xúc. Có những lời kinh khô khan đọc trong đêm tối lại là những lời kinh đẹp nhất vì chúng không nhận được phần thưởng tức thì nào ngoài việc đã trung thành.
Khi con không còn cảm thấy gì, hãy đơn giản hóa. Đừng cố tạo cảm xúc. Đừng ép mình phải “cảm thấy sốt sắng”. Hãy ở lại. Một câu cũng đủ: “Lạy Chúa, con ở đây.” “Lạy Chúa, con tin Chúa dù con không cảm thấy.” “Lạy Chúa, con không biết nói gì, nhưng con không muốn rời Chúa.” Những câu như thế có khi là cả một đời cầu nguyện thu nhỏ. Đừng nghĩ rằng Chúa chỉ nghe những lời đẹp. Ngài nghe sự hiện diện trung thành.
KHI THẤY MÌNH KHÔNG TIẾN BỘ
Có một nỗi đau khác làm người ta muốn bỏ cuộc: cảm giác mình không tiến bộ. Con nhìn lại và thấy dường như mình vẫn là mình. Những yếu đuối ấy, những phản ứng ấy, những cám dỗ ấy. Nhưng con phải cẩn thận với cách đánh giá. Chúng ta thường muốn tiến bộ theo kiểu dễ nhìn thấy: không còn giận, không còn cám dỗ, không còn khô khan, không còn sai. Chúa nhiều khi làm một công việc sâu hơn: cho con thấy rõ mình hơn, làm con bớt tự mãn hơn, dạy con chạy đến với Ngài nhanh hơn, làm con cảm thông với người yếu đuối hơn. Có thể trước đây con cũng nóng giận nhưng không nhận ra; bây giờ con nhận ra từng chuyển động nhỏ và đau vì nó. Con tưởng mình tệ hơn, nhưng thật ra ánh sáng đã mạnh hơn. Một căn phòng khi tối trông có vẻ sạch; khi nắng chiếu vào mới thấy bụi. Bụi không nhất thiết nhiều hơn, chỉ là ánh sáng nhiều hơn. Vì thế đừng vội kết luận rằng con đang thụt lùi chỉ vì thấy mình xấu hơn. Có khi đó là dấu hiệu Chúa đang đưa con vào sự thật sâu hơn.
Hãy nhớ: sự thánh thiện không phải là cảm giác mình thánh. Người càng gần Chúa nhiều khi càng thấy khoảng cách giữa sự thánh thiện của Ngài và sự nghèo nàn của mình. Điều quan trọng là sự khám phá ấy dẫn con đến đâu. Nếu dẫn đến thất vọng, kẻ thù đang lợi dụng nó. Nếu dẫn đến khiêm nhường, cầu nguyện và lòng thương xót với người khác, Chúa đang dùng nó.
MỘT BƯỚC NHỎ TRUNG THÀNH QUÝ HƠN TRĂM KẾ HOẠCH
Đừng coi thường những việc nhỏ. Chúng ta bị hấp dẫn bởi điều lớn lao. Muốn làm một cuộc thay đổi hoàn toàn. Muốn có một chương trình thiêng liêng thật đẹp. Muốn bắt đầu một kỷ luật mới thật mạnh. Nhưng nhiều cuộc đổi đời bắt đầu từ một việc rất nhỏ được giữ lâu dài. Một phút dừng lại trước khi nói khi nóng giận. Một kinh ngắn khi vừa tỉnh dậy. Một lần tắt màn hình để giữ tâm trí trong sạch. Một quyết định không nói về khuyết điểm của người vắng mặt. Một việc bổn phận được làm ngay thay vì trì hoãn. Một lời cảm ơn Chúa trước khi ngủ. Một lần quỳ xuống sau khi sa ngã thay vì trốn tránh. Nếu con làm những điều nhỏ ấy mỗi ngày, chúng sẽ tạo ra một con người khác.
Kẻ thù thích làm con coi thường điều nhỏ để rồi mơ điều lớn mà không làm gì cả. Nó nói: “Một kinh ngắn thì có ích gì? Một lần nhịn lời thì thay đổi được gì? Một ngày giữ kỷ luật thì có nghĩa gì?” Nhưng cả nhân đức lẫn thói xấu đều lớn lên bằng sự lặp lại. Một cái cây không mọc bằng một lần tưới thật nhiều rồi bỏ khô cả tháng. Nó sống nhờ những lần tưới đều. Linh hồn cũng vậy. Hãy đừng tìm những chiến thắng gây ấn tượng. Hãy tìm sự trung thành.
NIỀM HY VỌNG CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG
Hỡi linh hồn, sau tất cả những điều đã nói về chiến đấu, đừng để con đường này trở thành một cuốn sách của lo âu. Cuộc chiến Kitô giáo không phải là cuộc chiến của những người không biết kết quả cuối cùng. Chúa Kitô đã chiến thắng. Đây là nền tảng của hy vọng. Chúng ta không chiến đấu để xem cuối cùng ánh sáng hay bóng tối sẽ thắng. Ánh sáng đã thắng trong Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Chúng ta chiến đấu để chiến thắng ấy được triển nở trong đời mình, để những vùng đất còn chưa thuộc về Chúa trong lòng mình dần dần được trao lại cho Ngài. Vì vậy, niềm hy vọng của con không nằm ở việc con đã làm tốt đến mức nào, nhưng trước hết ở việc Chúa là ai. Ngài trung tín. Ngài không thay đổi theo tâm trạng của con. Khi con sốt sắng, Ngài trung tín. Khi con khô khan, Ngài trung tín. Khi con thành công, Ngài trung tín. Khi con ngã và quay về, Ngài vẫn trung tín. Chính sự trung tín của Thiên Chúa là nền đá dưới chân người chiến đấu.
Nhưng đức cậy không phải là sự yên tâm giả tạo rằng dù sống thế nào cũng được. Không. Hy vọng Kitô giáo thúc đẩy chiến đấu. Vì tin rằng ân sủng mạnh hơn, con không đầu hàng đam mê. Vì tin rằng Chúa có thể đổi con, con tiếp tục hợp tác. Vì tin rằng sự thánh thiện là có thể nhờ ân sủng, con không làm hòa với sự tầm thường. Đức cậy nói: “Tôi không chấp nhận ở mãi trong tội, bởi vì Chúa có thể đưa tôi ra.” Nó khác với tuyệt vọng, nhưng cũng khác với dễ dãi. Tuyệt vọng nói: “Tôi không thể thay đổi.” Dễ dãi nói: “Tôi không cần thay đổi.” Đức cậy nói: “Tôi phải thay đổi, tôi không tự thay đổi được, nhưng Chúa có thể làm điều ấy nếu tôi kiên trì cộng tác.”
Có thể con không thấy chiến thắng hoàn toàn trong một số trận chiến ngay trên đời này. Có những khuynh hướng con phải canh chừng đến tuổi già. Có những vết thương khiến con luôn cần thận trọng. Có những yếu đuối Chúa không cất đi hoàn toàn vì qua đó Ngài giữ con khiêm nhường. Đừng vì thế nghĩ rằng con thất bại. Chiến thắng cuối cùng không nhất thiết có nghĩa là con trở thành người không còn chiến đấu, nhưng là con chết trong tư thế còn hướng về Chúa. Nếu đến hơi thở cuối cùng con vẫn nói: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa”, thì cuộc đời ấy không thất bại.
ĐỪNG SỢ TRẬN CHIẾN CUỐI
Một ngày nào đó, như chúng ta đã suy niệm, cuộc chiến sẽ đi đến giờ phút cuối cùng. Có thể con còn đủ tỉnh táo để cầu nguyện. Có thể con yếu đến mức chỉ còn nghe người khác đọc kinh bên cạnh. Có thể con không nói được. Có thể trí nhớ mờ đi. Đừng sợ. Nếu cả đời con đã tập quay về với Chúa, thì ngay cả sự bất lực cuối cùng cũng có thể trở thành một lời phó thác. Ơn cứu độ không tùy vào việc con phải tạo ra một cảm xúc hoàn hảo trong giây phút chết. Hãy sống hôm nay trong ân sủng và tín thác. Hãy tập phó thác từ bây giờ. Mỗi đêm nằm xuống là một lần tập nhỏ cho sự buông mình cuối cùng. Mỗi lần mất một điều mình yêu là một lần tập trao lại. Mỗi lần chấp nhận điều không theo ý là một lần ý riêng học chết đi. Đến giờ cuối, điều đã được luyện suốt đời sẽ trở thành bản năng của linh hồn: chạy về với Chúa.
Và khi trận chiến chấm dứt, con sẽ hiểu những điều hôm nay con chưa hiểu. Con sẽ thấy tại sao Chúa đã cho phép một số trận chiến kéo dài. Con sẽ thấy những cơn cám dỗ đã làm con khiêm nhường thế nào. Con sẽ thấy những lần thất bại đã dạy con thương xót người khác ra sao. Con sẽ thấy một lời cầu nguyện tưởng không được đáp lại thực ra đã âm thầm thay đổi chính con. Con sẽ thấy những ngày khô khan đã làm tình yêu tinh ròng hơn. Con sẽ thấy những nước mắt đêm khuya không rơi xuống đất vô ích. Con sẽ thấy những lần con nói “Lạy Chúa, con lại bắt đầu” đã quý giá thế nào.
Chúng ta thường chỉ nhìn mặt trái của tấm thêu. Thấy những nút chỉ rối, những đoạn màu không hiểu, những đường đi không có trật tự. Chúa nhìn mặt phải. Một ngày kia Ngài sẽ cho con thấy toàn bộ. Khi ấy con sẽ không còn hỏi: “Tại sao?” Con sẽ thờ lạy.
LỜI CUỐI GỬI LINH HỒN ĐANG CHIẾN ĐẤU
Hỡi linh hồn thân yêu, nếu con đã đọc đến đây, xin đừng biến những điều này thành một khối kiến thức nữa trong trí. Hãy để chỉ một vài điều đi xuống lòng. Con không cần nhớ tất cả. Con chỉ cần nhớ đủ để tiếp tục chiến đấu. Khi tự phụ, hãy nhớ bất tín nhiệm vào mình. Khi sợ hãi, hãy nhớ tín thác vào Chúa. Khi lý trí bị lôi kéo bởi điều vô ích, hãy đưa nó về sự thật. Khi ý chí muốn chọn điều dễ chịu hơn thánh ý, hãy nói một tiếng “xin vâng”. Khi giác quan đòi làm chủ, hãy nhẹ nhàng nhưng cương quyết đặt nó trở lại vị trí người tôi tớ. Khi tự ái bị tổn thương, hãy coi đó là một cơ hội chết đi cho mình. Khi nóng giận, hãy im lặng đủ lâu để tình yêu có thể lên tiếng. Khi lười biếng, hãy làm việc nhỏ đang ở trước mặt. Khi bất khiết tấn công, đừng đối thoại với nó, hãy quay đi và chạy đến Chúa. Khi chán nản, đừng tin những kết luận được sinh ra trong bóng tối. Khi cầu nguyện khô khan, hãy ở lại. Khi sa ngã, hãy đứng dậy. Khi bình an, hãy cảm tạ. Khi đau khổ, hãy nhìn Thánh Giá. Khi cô đơn, hãy chạy đến với Đức Maria. Khi yếu sức, hãy tìm Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Khi không hiểu chính mình, hãy xét mình dưới ánh sáng lòng thương xót. Khi nghĩ về giờ chết, đừng hoảng sợ; hãy học phó thác. Và trong tất cả mọi sự, hãy kiên trì.
Đừng sợ thất bại bằng sợ bỏ cuộc. Một thất bại được trao cho Chúa có thể trở thành bài học của khiêm nhường. Một lần bỏ cuộc có thể mở cửa cho nhiều năm nguội lạnh. Vì vậy, dù con đang ở đâu trên con đường này, hãy bắt đầu lại. Nếu con đã đi xa, hãy khiêm nhường tiếp tục. Nếu con mới bắt đầu, đừng nóng vội. Nếu con đã ngã nhiều, đừng đếm nữa; hãy đứng lên. Nếu con đang mệt, hãy đi chậm lại nhưng đừng quay lưng. Nếu con không thể chạy, hãy đi. Nếu không thể đi, hãy bò. Nếu dường như không còn sức để bò, hãy nằm đó nhưng quay mặt về phía Chúa và nói: “Xin kéo con.” Chỉ đừng tự ý rời Ngài.
Đừng tìm một sự hoàn hảo theo hình ảnh con đã dựng cho chính mình. Có những người đau khổ không phải vì không làm đẹp lòng Chúa, nhưng vì họ chưa trở thành con người họ muốn thấy trong gương. Đó vẫn có thể là tự ái. Hãy tìm điều Chúa muốn. Có khi Chúa muốn con làm một việc lớn. Có khi Ngài chỉ muốn con chấp nhận một ngày rất bình thường. Có khi Ngài cho con thấy sức mạnh. Có khi Ngài để con cảm thấy nghèo nàn để con thôi dựa vào mình. Đừng ra lệnh cho Chúa phải làm con nên thánh theo cách con thích. Hãy để Ngài làm việc ấy theo cách Ngài biết là tốt nhất.
Và đừng quên lòng thương xót. Nếu có một âm thanh phải vang lên trong trái tim con sau toàn bộ cuộc chiến này, thì đó không chỉ là tiếng của thanh gươm, mà là tiếng của lòng thương xót. Chúng ta chiến đấu không phải dưới ánh mắt của một ông chủ lạnh lùng chờ bắt lỗi, nhưng trước mặt một Người Cha. Chúng ta chiến đấu với Chúa Giêsu, Đấng đã mang thương tích vì chúng ta. Chúng ta chiến đấu trong Hội Thánh, nơi những kẻ yếu được chữa lành, những kẻ ngã được nâng dậy, những kẻ lạc được gọi về.
Sẽ có ngày con đặt thanh gươm xuống. Sẽ có ngày không còn cám dỗ. Không còn sự giằng co giữa ý riêng và thánh ý. Không còn cái nhìn phải canh giữ. Không còn trí tưởng tượng phải kéo về. Không còn những đêm vật lộn với chính mình. Không còn những câu “Lạy Chúa, xin giúp con” nói trong nước mắt. Không còn những lần xưng thú cùng một sự yếu đuối. Không còn sự khô khan. Không còn sợ ngã. Cuộc chiến sẽ kết thúc. Và nếu con đã trung thành bám lấy Chúa, con sẽ bước vào một sự bình an mà đời này chưa từng biết.
Ngày ấy, con sẽ hiểu rằng thiên đàng không phải là phần thưởng cho những người đã chứng minh mình mạnh, nhưng là quê hương của những người đã để ân sủng thắng trong đời mình. Con sẽ nhìn lại và thấy rằng chính ở những chỗ con tưởng mình yếu nhất, Chúa đã làm những việc sâu nhất. Con sẽ thấy bàn tay Ngài đã không rời con ngay cả những lúc con tưởng mình đã bị bỏ lại.
Vì thế, hỡi linh hồn, hãy tiếp tục.
Hãy tiếp tục khi vui. Hãy tiếp tục khi buồn. Hãy tiếp tục khi được khen. Hãy tiếp tục khi bị hiểu lầm. Hãy tiếp tục khi thấy mình tiến bộ. Hãy tiếp tục khi thấy mình dường như chẳng tiến được gì. Hãy tiếp tục khi lòng tràn đầy ánh sáng. Hãy tiếp tục khi tất cả chỉ còn là đêm tối. Hãy tiếp tục sau một lần chiến thắng. Hãy tiếp tục sau một lần sa ngã. Hãy tiếp tục khi còn trẻ. Hãy tiếp tục khi sức lực hao mòn. Hãy tiếp tục cho đến khi Chúa nói: “Đủ rồi, con về với Ta.”
Và khi giờ ấy đến, đừng cố giữ lại gì nữa. Hãy đặt tất cả vào tay Chúa Cha. Những việc đã làm tốt, trao cho Ngài. Những điều còn dang dở, trao cho Ngài. Những lỗi lầm đã được tha, đừng mang lại. Những người con yêu, trao cho Ngài. Những điều con không kịp sửa, trao cho Ngài. Những câu hỏi chưa có lời đáp, trao cho Ngài. Hơi thở cuối cùng, trao cho Ngài.
Hãy nói như Chúa Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Bấy giờ, cuộc chiến của con sẽ chấm dứt.
Thanh gươm sẽ được đặt xuống.
Những vết thương sẽ được chữa lành.
Những nước mắt sẽ được lau khô.
Những điều con đã mất vì Chúa sẽ được tìm lại trong Ngài.
Những hy sinh không ai biết sẽ được đưa ra ánh sáng.
Những ngày trung tín âm thầm sẽ có tiếng nói.
Những lần con đã muốn bỏ cuộc nhưng vẫn tiếp tục sẽ trở thành những viên đá quý trong triều thiên của lòng thương xót.
Và niềm vui sẽ bắt đầu.
Không phải niềm vui ngắn ngủi mà thế gian cho rồi lấy lại. Không phải niềm vui tùy thuộc sức khỏe, thành công, lời khen, sự thuận lợi hay cảm xúc. Nhưng là niềm vui không còn bị đe dọa bởi mất mát; niềm vui của người cuối cùng đã về nhà; niềm vui của tạo vật nhìn thấy Đấng mình đã tìm kiếm trong nước mắt; niềm vui của người lính nghe tiếng vị Vua mình yêu gọi tên mình.
Xin Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chiến đấu trong sa mạc, đã chiến đấu trong Vườn Cây Dầu, đã chiến thắng trên Thánh Giá và sống lại vinh hiển, gìn giữ con trong cuộc chiến của đời này. Xin Ngài đừng để con tự phụ khi mạnh, đừng để con tuyệt vọng khi yếu, đừng để con ngủ quên khi bình an, đừng để con bỏ chạy khi gian nan. Xin Ngài dạy con biết đứng dậy mỗi lần ngã, biết cầu nguyện mỗi khi bị tấn công, biết khiêm nhường mỗi khi thắng, biết tín thác mỗi khi thua, và biết giữ mắt nhìn về Ngài trong mọi hoàn cảnh.
Xin Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu và Mẹ của chúng ta, Đấng đã giữ một lòng trung thành không lay chuyển từ Nazareth đến Calvariô, từ Calvariô đến buổi sáng Phục Sinh, ở gần con trong mọi trận chiến. Khi con yếu, xin Mẹ che chở. Khi con bối rối, xin Mẹ dẫn về với Chúa. Khi con sợ hãi, xin Mẹ nhắc rằng con có một Người Cha. Khi con sa ngã, xin Mẹ đừng để con chạy khỏi lòng thương xót. Và trong giờ chết, xin Mẹ đứng bên con như Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá của Con Mẹ.
Xin các thánh tông đồ, các thánh tử đạo, các thánh ẩn tu, các thánh mục tử, các thánh đồng trinh, những người đã chiến đấu trước chúng ta, cầu bầu để chúng ta không bỏ vũ khí giữa đường. Xin những vị đã đi qua những đêm tối nâng đỡ những ai đang ở trong đêm tối. Xin những vị đã chiến đấu với những cám dỗ nặng nề nâng đỡ những người đang mệt mỏi. Xin những vị đã ngã rồi trở lại nhắc chúng ta rằng lòng thương xót còn mở. Xin những vị đã trung thành đến máu đổ dạy chúng ta trung thành trong những hy sinh nhỏ của đời thường.
Và xin Thiên Chúa, Đấng đã khởi sự công trình tốt lành nơi con, đưa công trình ấy đến hoàn tất. Không theo những kế hoạch tự ái của con, nhưng theo sự khôn ngoan của Ngài. Không phải để con có thể tự hào về sự thánh thiện của mình, nhưng để trong con người yếu đuối này, quyền năng và lòng thương xót của Ngài được tỏ hiện.
Hỡi linh hồn thân yêu, đây là lời cuối cùng:
Đừng bỏ cuộc.
Nếu hôm nay con mệt, hãy nghỉ trong Chúa rồi tiếp tục.
Nếu hôm nay con ngã, hãy nắm tay Ngài và đứng dậy.
Nếu hôm nay con không thấy đường, hãy bước theo ánh sáng đủ cho một bước.
Nếu hôm nay con không cảm thấy yêu Chúa, hãy làm một hành vi yêu mến.
Nếu hôm nay con không tin nổi mình, càng tốt: hãy tin vào Ngài.
Nếu hôm nay con chỉ còn có thể nói một câu, hãy nói:
“Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”
Rồi đi tiếp.
Một ngày nào đó, câu chuyện chiến đấu của con sẽ kết thúc không bằng tiếng thở dài tuyệt vọng, nhưng bằng sự bình an của một người đã trao mọi sự vào tay Thiên Chúa.
Và khi cánh cửa vĩnh cửu mở ra, con sẽ hiểu rằng tất cả chỉ có một điều thực sự đáng giá:
đã yêu Chúa, đã để Chúa yêu mình, và đã không bỏ Ngài cho đến cùng.
Xin Chúa ban cho con ơn ấy.
Ơn kiên trì.
Ơn trung thành.
Ơn đứng dậy.
Ơn cậy trông.
Ơn yêu mến cho đến hơi thở cuối cùng.
Để sau cuộc chiến ngắn ngủi của đời này, con được bước vào sự bình an không bao giờ chấm dứt của Ngài.
Amen.
CHƯƠNG 31
NHỮNG ẢO TƯỞNG NGUY HIỂM CẦN TRÁNH TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang muốn trung thành đến cùng, sau khi đã đi qua biết bao trận chiến, sau khi đã học cách bất tín nhiệm vào chính mình, tín thác vào Thiên Chúa, canh giữ lý trí, huấn luyện ý chí, chế ngự giác quan, chiến đấu với những đam mê, cầu nguyện trong lúc yếu đuối, chạy đến với Thánh Thể, ẩn náu dưới áo Đức Maria, gìn giữ bình an nội tâm, chuẩn bị cho giờ chết và kiên trì trong niềm hy vọng chiến thắng cuối cùng, con có thể nghĩ rằng phần nguy hiểm nhất của cuộc chiến đã được nhận diện. Con có thể nghĩ rằng kẻ thù chủ yếu chỉ đến dưới hình thức của những cám dỗ rõ ràng: một ham muốn xấu, một cơn nóng giận, một sự lười biếng, một tư tưởng bất khiết, một cơn tuyệt vọng, một sự chống đối thánh ý Chúa. Nhưng không phải như thế. Càng đi sâu vào đời sống nội tâm, con càng phải hiểu rằng có những kẻ thù nguy hiểm hơn nhiều bởi vì chúng không xuất hiện với bộ mặt của kẻ thù. Chúng mang chiếc áo của nhân đức. Chúng nói bằng thứ ngôn ngữ của lòng đạo đức. Chúng nấp sau những ý định có vẻ rất tốt lành. Chúng khiến con tưởng rằng mình đang tiến lên, trong khi thật ra con đang đi vòng quanh chính mình. Chúng làm con tưởng rằng con đang tìm Chúa, trong khi con đang kín đáo tìm một hình ảnh đẹp về chính mình. Chúng làm con nghĩ rằng con đang yêu thập giá, trong khi con chỉ đang yêu cảm giác mình là người biết hy sinh. Chúng khiến con tưởng mình đang bảo vệ chân lý, trong khi thật ra con đang bảo vệ cái tôi bị đụng chạm. Chúng khiến con nghĩ rằng mình đang khiêm nhường, trong khi chính sự khiêm nhường ấy lại trở thành một hình thức tinh vi của tự ái. Những điều ấy chính là những ảo tưởng trong đời sống thiêng liêng, và nếu linh hồn không tỉnh thức, nó có thể sống nhiều năm dưới ảnh hưởng của những ảo tưởng ấy mà không nhận ra. Điều đáng sợ nhất của ảo tưởng không phải là nó khiến con làm một điều xấu mà con biết là xấu. Điều đáng sợ nhất là nó khiến con làm một điều lệch lạc mà vẫn tin rằng mình đang làm điều tốt. Một người biết mình đang sai còn có thể sám hối. Một người biết mình yếu còn có thể kêu cầu. Một người biết mình lạc đường còn có thể quay lại. Nhưng người đang lạc mà tưởng mình đang đi đúng thì rất khó cứu chữa, bởi vì chính điều cần được chữa lại được họ xem như dấu chứng rằng mình khỏe mạnh. Chính điều cần từ bỏ lại được họ bảo vệ như một nhân đức. Chính tiếng cảnh báo lại bị họ coi là sự cản trở. Chính người sửa lỗi lại bị họ nghĩ là không hiểu họ. Chính sự bất an phát xuất từ lòng tự ái lại được họ giải thích như một nỗi đau vì chân lý. Chính sự cố chấp lại được họ gọi là trung thành. Chính sự cứng nhắc lại được họ gọi là nguyên tắc. Chính sự tìm mình lại được họ gọi là nhiệt thành vì Chúa. Vì thế, hỡi linh hồn, trong cuộc chiến này, không đủ chỉ hỏi: “Điều tôi đang làm có vẻ tốt hay không?” Con còn phải hỏi sâu hơn: “Điều này có thực sự dẫn tôi đến chỗ quên mình và thuộc về Thiên Chúa hơn không? Nó làm tôi khiêm nhường hơn hay tự mãn hơn? Nó làm tôi hiền hòa hơn hay cứng cỏi hơn? Nó làm tôi dễ được sửa dạy hơn hay khiến tôi luôn phải chứng minh rằng mình đúng? Nó làm tôi yêu Chúa hơn hay chỉ làm tôi yêu cảm giác rằng mình là người yêu Chúa?” Có những câu hỏi đau nhưng cứu được linh hồn. Có những sự thật làm ta xấu hổ nhưng lại giải thoát ta. Và có những lần Chúa phải cho ta thấy rằng nhiều điều ta đã gọi là nhân đức thực ra còn trộn lẫn rất nhiều tự ái, để từ đó công trình thanh luyện thật sự mới có thể bắt đầu.
1. ẢO TƯỞNG VỀ SỰ TIẾN BỘ CỦA CHÍNH MÌNH
Một trong những ảo tưởng phổ biến nhất, và cũng khó nhận ra nhất, là ảo tưởng cho rằng mình đã tiến bộ nhiều trên đường thiêng liêng. Linh hồn nhìn vào một vài thay đổi bên ngoài và nhanh chóng kết luận về tình trạng bên trong. Trước đây cầu nguyện mười phút, bây giờ cầu nguyện một giờ, thế là nghĩ mình tiến bộ. Trước đây ít đọc sách đạo, bây giờ đọc rất nhiều, thế là nghĩ mình trưởng thành. Trước đây ít làm việc tông đồ, bây giờ hoạt động liên tục, thế là nghĩ mình nhiệt thành. Trước đây hay nổi nóng ra mặt, bây giờ biết giữ nét mặt bình tĩnh, thế là nghĩ mình đã hiền lành. Trước đây được ít người biết đến, bây giờ được nhiều người quý mến và gọi là đạo đức, thế là âm thầm tin rằng nhận định của họ chắc hẳn là đúng. Nhưng hỡi linh hồn, đời sống thiêng liêng không thể đo bằng số giờ cầu nguyện, số trang sách đã đọc, số việc đạo đức đã làm, số người đã giúp đỡ, số bài giảng đã nói, số hy sinh người khác nhìn thấy, hay số lần con cảm thấy mình có những tư tưởng tốt lành. Những điều ấy có thể là phương tiện của sự tiến bộ, nhưng cũng có thể trở thành nguyên liệu cho lòng tự ái. Một người có thể cầu nguyện rất lâu mà ngày càng khó chịu khi bị làm phiền. Có thể đọc rất nhiều sách về khiêm nhường mà ngày càng khó chấp nhận một lời góp ý. Có thể làm rất nhiều công việc cho Chúa mà không chịu nổi khi người khác được tín nhiệm hơn mình. Có thể nói nhiều về lòng thương xót mà không thể tha thứ cho một người làm mình tổn thương. Có thể giảng rất sâu về sự từ bỏ nhưng lại bám chặt vào danh dự, vị trí, ý kiến và ảnh hưởng của mình. Có thể sống rất khổ chế mà luôn mong người khác nhận ra mình hy sinh. Có thể trung thành với một chương trình đạo đức nghiêm ngặt nhưng trở nên thiếu bác ái với những ai không sống giống mình. Những điều ấy cho thấy một sự thật mà linh hồn phải luôn nhớ: tiến bộ thiêng liêng không được đo chủ yếu bằng việc con làm nhiều hơn, mà bằng việc cái tôi của con nhỏ lại đến đâu để Chúa lớn lên trong con.
Dấu hiệu của sự tiến bộ thật không phải là con thấy mình tốt hơn người khác, nhưng là con ngày càng thấy rõ hơn mình cần lòng thương xót của Chúa biết bao. Khi mới bước vào đời sống thiêng liêng, một người thường thấy tội của người khác dễ hơn tội của mình. Khi đi sâu hơn, ánh sáng của Chúa chiếu vào, họ bắt đầu nhận ra những góc tối nơi chính lòng mình mà trước kia họ không thấy. Vì thế có một nghịch lý rất đẹp: người thánh thiện thật thường không có cảm giác mình thánh thiện. Càng đến gần ánh sáng, họ càng thấy rõ bụi bặm. Càng cảm nghiệm sự tinh tuyền của Thiên Chúa, họ càng nhận ra mình bất toàn. Càng hiểu tình yêu của Chúa, họ càng đau vì những lần đáp trả quá nghèo nàn. Điều này không làm họ tuyệt vọng, bởi vì cùng lúc họ cũng hiểu sâu hơn về lòng thương xót. Họ không chìm trong mặc cảm, nhưng trở nên khiêm nhường. Họ không ghét mình, nhưng không còn ảo tưởng về mình. Họ biết tất cả điều tốt nơi họ đều là ân sủng, và nếu Chúa rút tay ra, họ có thể ngã xuống rất nhanh. Vì vậy họ không khinh người yếu đuối, bởi họ biết sự khác biệt giữa người đang đứng và người đã ngã đôi khi chỉ là một ân sủng rất nhỏ mà Thiên Chúa đang gìn giữ người này. Họ không dễ nói: “Tôi sẽ không bao giờ như thế.” Họ chỉ nói: “Lạy Chúa, xin gìn giữ con.” Họ không tự mãn sau một chiến thắng, bởi họ hiểu trận chiến vẫn còn. Họ không thất vọng sau một thất bại, bởi họ biết Chúa vẫn là Chúa.
Hãy đặc biệt cảnh giác khi con bắt đầu nghĩ nhiều về sự tiến bộ của mình. Đừng luôn luôn đo mình. Đừng mỗi ngày hỏi xem mình đã đạt đến bậc nào. Đời sống thiêng liêng không phải là leo một chiếc thang rồi quay xuống nhìn xem mình cao hơn những người khác bao nhiêu bậc. Nó giống như một người đi vào trong ánh sáng. Càng đi vào, người ấy càng quên mình để nhìn Đấng mình yêu. Khi con cứ chăm chú nhìn mình xem mình đã khiêm nhường chưa, đã thánh thiện chưa, đã tiến bộ chưa, đã cầu nguyện sâu chưa, đã được Chúa dùng nhiều chưa, rất có thể chính cái tôi đang trở thành trung tâm của đời sống đạo đức. Hãy nhìn Chúa nhiều hơn. Hãy hỏi hôm nay con có yêu Ngài hơn không, có làm điều Ngài muốn không, có dễ dàng chấp nhận thánh ý Ngài hơn không, có bớt tìm mình trong công việc không, có dịu dàng hơn với người yếu đuối không, có nhanh chóng xin lỗi hơn khi sai không, có bình an hơn khi bị quên lãng không. Một linh hồn đang tiến bộ thật có thể không cảm thấy mình tiến bộ, nhưng những người sống bên cạnh sẽ dần nhận ra rằng ở gần linh hồn ấy nhẹ nhàng hơn, bởi cái tôi không còn chiếm hết không gian.
2. ẢO TƯỞNG VỀ SỰ SỐT SẮNG CẢM XÚC
Một ảo tưởng khác rất thường gặp là đồng hóa đời sống thiêng liêng với cảm xúc tôn giáo. Linh hồn cầu nguyện và cảm thấy lòng nóng lên, nước mắt chảy ra, tâm trí đầy những ý tưởng đẹp, trái tim như được nâng cao, thì lập tức nghĩ rằng mình đang rất gần Chúa. Ngược lại, khi cầu nguyện mà khô khan, trí lòng phân tán, không cảm thấy gì, việc đạo đức trở nên nặng nề, thì nghĩ rằng Chúa đã rời xa mình, rằng đời sống thiêng liêng đang sa sút, rằng mình đã mất tất cả những gì từng có. Đây là một sai lầm có thể làm linh hồn dao động suốt nhiều năm. Cảm xúc thiêng liêng có thể là một ân huệ quý giá. Chúa có thể dùng nó để khích lệ một linh hồn mới bắt đầu, chữa lành một trái tim bị tổn thương, lôi kéo một người ra khỏi đời sống tội lỗi, cho họ nếm một chút sự dịu ngọt để họ đủ sức bước vào con đường khó hơn phía trước. Nhưng cảm xúc không phải là Thiên Chúa. Cảm thấy Chúa gần không đồng nghĩa với việc Chúa gần hơn, cũng như không cảm thấy Chúa không có nghĩa rằng Chúa đã xa. Đức tin không dựa trên cảm giác. Nếu con chỉ yêu Chúa khi cảm thấy được an ủi, tình yêu ấy vẫn còn pha trộn rất nhiều tình yêu chính mình. Con yêu Chúa, nhưng đồng thời con yêu cảm giác dễ chịu mà sự hiện diện của Ngài đem lại. Vì thế, sẽ đến lúc Chúa yêu thương rút bớt những cảm giác ấy, không phải để bỏ con, nhưng để hỏi con một câu sâu hơn: “Con tìm Ta hay tìm sự an ủi của Ta? Nếu Ta không cho con cảm thấy gì, con còn cầu nguyện không? Nếu Ta im lặng, con còn ở lại không? Nếu con không được nếm một chút ngọt ngào nào, con còn trung thành không?”
Chính trong những thời kỳ khô khan mà tình yêu được thanh luyện. Một giờ cầu nguyện đầy cảm xúc có thể rất đẹp, nhưng mười lăm phút trung thành trong khô khan đôi khi lại là một hy lễ lớn hơn. Khi mọi sự trong con đều muốn bỏ đi, nhưng ý chí vẫn thưa: “Lạy Chúa, con ở đây chỉ vì Chúa,” thì lời cầu nguyện ấy có một sự tinh tuyền mà cảm xúc không thể tạo ra. Khi con rước lễ và không cảm thấy gì đặc biệt, nhưng vẫn tin rằng Chúa đang đến với con, vẫn thờ lạy, vẫn phó thác, thì đức tin đang được luyện tập. Khi con phục vụ mà không còn hăng hái như trước, không còn được ai nhìn nhận, không còn thấy thành quả, nhưng vẫn làm vì đó là bổn phận và thánh ý Chúa, thì lòng trung thành đang lớn lên. Hãy nhớ rằng cảm xúc thường thay đổi cùng với sức khỏe, thời tiết, giấc ngủ, tuổi tác, tâm trạng, áp lực công việc và vô số yếu tố tự nhiên. Nếu con xây đời sống thiêng liêng trên cảm xúc, con sẽ xây nhà trên cát. Một ngày con sẽ nghĩ mình là người của Chúa, hôm sau lại tưởng mình đã mất Chúa. Một ngày con quyết tâm hiến mình hoàn toàn, hôm sau chỉ muốn bỏ tất cả. Một ngày con thấy mọi sự rực sáng, hôm sau mọi sự xám xịt. Không phải Thiên Chúa thay đổi nhanh như vậy. Cảm xúc của con thay đổi.
Hãy biết đón nhận sự sốt sắng khi Chúa ban, nhưng đừng chiếm hữu nó. Hãy cảm tạ và tiếp tục đi. Đừng cố giữ lại một trạng thái cầu nguyện. Đừng tìm cách tái tạo một cảm giác đã từng có. Đừng nghĩ rằng vì hôm qua con khóc trong giờ cầu nguyện nên hôm nay cũng phải khóc mới là cầu nguyện tốt. Thiên Chúa không lặp lại chính mình theo công thức của con. Ngài dẫn con qua những mùa khác nhau. Có mùa xuân đầy hoa. Có mùa hè đầy sức sống. Có mùa thu phải buông bỏ. Có mùa đông tưởng như không có gì đang xảy ra, nhưng rễ cây lại đang đi sâu xuống đất. Một đời sống thiêng liêng chỉ muốn mùa xuân sẽ không bao giờ trưởng thành. Hãy để Chúa dẫn con qua cả bốn mùa. Điều quan trọng không phải là hôm nay con cảm thấy thế nào, mà là hôm nay con có trung tín hay không.
3. ẢO TƯỞNG RẰNG MÌNH ĐÃ HIỂU ĐỦ VÀ KHÔNG CẦN ĐƯỢC HƯỚNG DẪN
Có một thứ kiêu ngạo không ồn ào. Nó không nói: “Tôi hơn mọi người.” Nó nói: “Tôi biết rồi.” Đó là một trong những câu nguy hiểm nhất trong đời sống thiêng liêng. Khi một người đã đọc nhiều, đã nghe nhiều, đã sống đời đạo lâu năm, đã trải qua một số kinh nghiệm nội tâm, đã từng hướng dẫn người khác, họ rất dễ dần dần hình thành một xác tín kín đáo rằng mình đã đủ trưởng thành để tự phân định mọi sự. Họ vẫn có thể hỏi ý kiến, nhưng chỉ hỏi những người có khả năng đồng ý với họ. Họ vẫn nghe góp ý, nhưng trong lòng đã chuẩn bị sẵn lý do để giải thích vì sao người kia chưa hiểu. Họ vẫn nói mình cần được sửa dạy, nhưng khi thực sự bị sửa thì lập tức đau, chống chế, biện minh hoặc xa cách. Đây là dấu hiệu rất đáng sợ, bởi vì một linh hồn càng khó được sửa thì càng khó được Chúa dẫn.
Thiên Chúa có thể nói trực tiếp trong lòng con, nhưng Ngài cũng thường nói qua Hội Thánh, qua bề trên, qua linh hướng, qua anh chị em, qua một người rất bình thường, thậm chí qua người con không thích. Có khi Chúa dùng chính một người thiếu tế nhị để chạm vào một vùng tự ái mà con đã giấu kỹ. Con có thể bực vì cách họ nói và vì thế bỏ luôn sự thật trong điều họ nói. Nhưng linh hồn khôn ngoan sẽ biết tách hai điều ra: người kia có thể nói không khéo, nhưng điều họ chỉ ra có đúng phần nào không? Nếu có, hãy nhận lấy phần ánh sáng ấy và để phần còn lại cho Chúa. Đừng đòi Chúa chỉ được sửa con bằng những người nói dịu dàng, hiểu tâm lý, có uy tín và đúng theo cách con muốn. Nếu con đặt ra điều kiện cho dụng cụ Thiên Chúa phải sử dụng để uốn nắn con, con chưa thật sự muốn được uốn nắn. Con chỉ muốn được sửa theo cách không làm đau cái tôi.
Càng có trách nhiệm hướng dẫn người khác, con càng phải giữ mình dưới một ánh sáng lớn hơn. Người giảng dạy rất dễ rơi vào ảo tưởng rằng vì mình có thể nói đúng về Thiên Chúa nên mình đang sống đúng trước Thiên Chúa. Không hẳn. Con có thể giảng rất hay về điều mà chính con đang chưa sống. Con có thể chỉ đường cho người khác trong khi bản thân đứng yên. Con có thể dùng chân lý như một nghề nghiệp mà không để chân lý ấy đụng đến những góc sâu nhất trong lòng. Vì thế, người nói nhiều về Chúa càng phải có những nơi mình im lặng trước Chúa. Người sửa người khác càng cần những người được phép sửa mình. Người cầm quyền càng phải biết cúi xuống. Người được nhiều người lắng nghe càng phải có khả năng lắng nghe. Nếu không, sứ vụ có thể trở thành chiếc áo che giấu một sự nghèo nàn nội tâm mà chính mình không còn nhận ra.
Đừng bao giờ sợ câu “tôi có thể sai.” Câu ấy không làm con yếu đi. Nó giữ con trong sự thật. Cũng đừng sợ nói: “Tôi chưa biết.” Không phải điều gì con cũng phải có câu trả lời. Người trưởng thành không phải là người có câu trả lời cho mọi sự, mà là người đủ khiêm nhường để phân biệt điều mình biết, điều mình nghĩ và điều mình chưa hiểu. Trong đời sống thiêng liêng, sự dễ dạy là một ân huệ vô cùng quý giá. Một linh hồn dễ dạy không phải là linh hồn không có suy nghĩ, nhưng là linh hồn có suy nghĩ mà vẫn mở cửa cho ánh sáng lớn hơn suy nghĩ của mình.
4. ẢO TƯỞNG VỀ THẬP GIÁ VÀ KHỔ CHẾ
Có những linh hồn rất yêu thập giá, nhưng lại chỉ yêu loại thập giá do chính mình lựa chọn. Điều này thoạt nghe có vẻ nghịch lý, nhưng rất thật. Người ta có thể muốn nhịn ăn, muốn thức khuya cầu nguyện, muốn làm những việc hy sinh gây ấn tượng, muốn chọn một kỷ luật khắt khe, nhưng lại không chịu nổi khi bị người khác làm trái ý. Người ta có thể thích những hy sinh lớn mà mình quyết định, nhưng rất khó chịu với một sự gián đoạn nhỏ mà người khác gây ra. Có thể muốn đi phục vụ ở một nơi nghèo khó xa xôi, nhưng trong cộng đoàn lại không chịu được một người có tính cách khó hợp. Có thể chấp nhận một việc nặng nhọc mình tự nguyện, nhưng lại bực bội khi bề trên giao cho một việc nhỏ mình không thích. Có thể đọc rất nhiều về sự từ bỏ, nhưng không chịu nổi khi chương trình trong ngày bị thay đổi. Đó là lúc phải tự hỏi: ta yêu thập giá thật hay yêu quyền được chọn thập giá?
Thập giá thật có một đặc điểm rất khó chịu đối với cái tôi: nó thường không xin phép ta. Nó đến trong bổn phận. Nó ẩn trong sự đơn điệu. Nó nằm trong việc phải sống với một người khác tính mình. Nó đến trong một kế hoạch bị hủy, một sự hiểu lầm không thể giải thích ngay, một bệnh tật, một giới hạn tuổi tác, một công việc không được nhìn nhận, một thất bại, một sự quên lãng, một lời nói làm đau lòng, một người cộng tác chậm chạp, một bổn phận cứ lặp đi lặp lại mà không có gì hứng thú. Chính ở những chỗ ấy, ý riêng bị đụng đến. Và nơi ý riêng bị đụng đến, cuộc chiến linh hồn thật sự diễn ra.
Khổ chế Kitô giáo không phải là hành hạ mình. Thiên Chúa không vui vì con làm đau bản thân. Mục đích của khổ chế là làm cho các khuynh hướng rối loạn không còn cai trị. Có khi việc khổ chế cần thiết nhất không phải là ăn ít hơn, nhưng là nói ít hơn. Không phải ngủ ít hơn, nhưng là ngừng tìm lời khen. Không phải làm thêm nhiều việc, nhưng là biết dừng lại khi bổn phận đòi phải nghỉ. Không phải chọn một việc khó, nhưng là làm một việc bình thường với lòng yêu mến. Có người cần tập nói “không” với sự dễ dãi; nhưng có người lại cần tập nói “không” với sự khắc nghiệt đối với chính mình. Có người cần ép mình đứng dậy làm việc; người khác cần khiêm nhường thừa nhận mình đã kiệt sức và cần nghỉ. Khổ chế mà không có phân định có thể trở thành một hình thức tự ái đạo đức. Vì thế, đừng hỏi: “Điều gì đau hơn?” Hãy hỏi: “Điều gì Chúa muốn hơn?” Thập giá cứu độ không phải là mọi đau khổ, mà là đau khổ được đón nhận trong tình yêu và trong thánh ý Thiên Chúa.
5. ẢO TƯỞNG VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT
Có một cách nói về lòng thương xót tưởng như đầy Tin Mừng nhưng thực ra làm yếu cuộc chiến. Đó là khi linh hồn dùng lòng thương xót như một cái cớ để khỏi phải hoán cải. “Chúa hiểu tôi mà.” “Ai cũng yếu đuối.” “Chúa nhân từ.” “Không cần quá căng thẳng.” Những câu ấy tự chúng có thể đúng, nhưng nếu được dùng để tiếp tục nuông chiều một điều mà lương tâm biết là sai, chúng trở thành thuốc mê thiêng liêng. Lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ nói với người tội lỗi: “Cứ ở yên trong tội đi, không sao đâu.” Lòng thương xót nói: “Ta không kết án con; hãy đứng dậy và bước ra khỏi điều đang giết chết con.” Chúa tha thứ không phải để ta khỏi cần chiến đấu, mà để ta có sức bắt đầu lại cuộc chiến. Mỗi lần tha thứ là một cánh cửa mở ra phía trước, không phải một giấy phép quay lại căn phòng cũ.
Hãy cảnh giác với sự tầm thường được khoác áo lòng thương xót. Có người ngày càng mất lòng thống hối nhưng nghĩ rằng mình đang trưởng thành. Họ không còn thấy cần xét mình, vì “Chúa biết hết rồi.” Không còn thấy cần sửa một thói quen xấu, vì “con người ai chẳng có khuyết điểm.” Không còn thấy cần chiến đấu với một đam mê, vì “không ai hoàn hảo.” Những câu ấy nghe rất hợp lý, nhưng nếu linh hồn không còn khao khát được biến đổi, điều đang xảy ra không phải là tín thác mà là buông xuôi. Thiên Chúa yêu con trong tình trạng hiện tại, nhưng tình yêu ấy quá lớn để bỏ con mãi trong tình trạng hiện tại. Lòng thương xót đích thực không hạ thấp lý tưởng thánh thiện; nó nâng con dậy để con có thể tiếp tục tiến tới lý tưởng ấy dù đã ngã hàng ngàn lần.
Một dấu hiệu đơn giản giúp con phân biệt: lòng thương xót thật luôn làm con hy vọng và muốn trở về. Lòng thương xót giả làm con dễ dãi với điều xấu. Lòng thương xót thật làm con thôi tuyệt vọng về mình nhưng nghiêm túc hơn với tội. Lòng thương xót giả làm con thôi nghiêm túc với tội. Lòng thương xót thật khiến con nói: “Con đã ngã, nhưng con sẽ đứng lên vì Chúa còn yêu con.” Lòng thương xót giả khiến con nói: “Con cứ ngã cũng được vì Chúa sẽ tha.” Chỉ cần nghe hai câu ấy, con sẽ thấy khoảng cách giữa chúng lớn biết bao.
6. ẢO TƯỞNG VỀ SỰ NGHIÊM KHẮC
Ở thái cực ngược lại là một ảo tưởng cũng nguy hiểm không kém: tin rằng càng nghiêm khắc càng thánh thiện. Người rơi vào cạm bẫy này thường rất mạnh mẽ với chính mình và rồi dần dần cũng mạnh mẽ với người khác. Họ có những chuẩn mực cao, điều đó tự nó không xấu, nhưng lòng họ ngày càng ít chỗ cho sự yếu đuối. Khi mình thất bại, họ tự kết án. Khi người khác thất bại, họ khó cảm thông. Họ tưởng rằng nếu dịu dàng với mình sau một lần sa ngã thì sẽ trở nên dễ dãi; vì vậy họ nghiền nát chính mình bằng những lời buộc tội. Họ tưởng rằng nếu kiên nhẫn với người yếu đuối thì sẽ làm giảm đòi hỏi của Tin Mừng; vì vậy họ sửa lỗi mà thiếu tình thương. Nhưng hỡi linh hồn, Chúa Giêsu vừa nói những lời rất mạnh về tội, vừa cúi xuống nâng người tội lỗi. Sự thật nơi Ngài không làm lòng thương xót biến mất, và lòng thương xót không làm sự thật mờ đi.
Có những người không tha thứ cho chính mình dù Thiên Chúa đã tha. Điều ấy nghe có vẻ khiêm nhường, nhưng thật ra có thể là một hình thức kiêu ngạo rất sâu: họ muốn mình phải tốt đến mức không được phép ngã. Khi ngã, hình ảnh họ có về mình sụp đổ, và họ đau không chỉ vì đã làm Chúa buồn mà còn vì phát hiện mình không phải là người tốt như mình tưởng. Nếu nỗi đau ấy không được thanh luyện, họ sẽ gọi nó là lòng thống hối, trong khi một phần lớn chỉ là lòng tự ái bị thương. Lòng thống hối thật làm con đau vì tội nhưng kéo con đến gần Chúa. Tự ái bị thương làm con đau vì mình xấu và kéo con vào chính mình. Lòng thống hối thật vẫn có bình an sâu xa vì biết mình được tha. Tự ái bị thương cứ nhai đi nhai lại lỗi lầm để trừng phạt bản thân.
Đừng nhầm giữa sự ghét tội và sự ghét chính mình. Thiên Chúa muốn con ghét điều phá hủy con, chứ không muốn con khinh miệt tạo vật Ngài đã dựng nên và cứu chuộc. Con phải nghiêm túc với tội nhưng dịu dàng với người tội lỗi, kể cả khi người tội lỗi ấy là chính con. Hãy sửa mình như người cha sửa con, không như tên đao phủ hành hạ kẻ thù. Có quyết tâm, nhưng có kiên nhẫn. Có đòi hỏi, nhưng có lòng thương xót. Có nước mắt, nhưng có hy vọng.
7. ẢO TƯỞNG VỀ VIỆC LÀM NHIỀU CHO CHÚA
Có một ảo tưởng đặc biệt nguy hiểm nơi những người nhiệt thành: tưởng rằng làm nhiều cho Chúa đồng nghĩa với sống sâu với Chúa. Người ta có thể bận rộn từ sáng đến tối vì việc đạo đức, việc mục vụ, việc phục vụ, việc tông đồ, việc tổ chức, việc chăm sóc người khác, nhưng bên trong dần dần cạn khô. Công việc cho Chúa âm thầm thay thế chính Chúa. Người ấy không còn biết ở yên trước mặt Ngài. Họ chỉ thấy mình có giá trị khi đang hữu ích. Họ sợ khoảng trống. Họ cảm thấy tội lỗi nếu nghỉ. Họ cần được cần đến. Và rồi một ngày, nếu công việc bị lấy đi, họ hoang mang không biết mình là ai.
Hãy nhớ: con thuộc về Chúa trước khi con làm việc cho Chúa. Căn tính của con không được xây trên hiệu quả của sứ vụ. Chúa không yêu con nhiều hơn vào ngày con thành công và ít hơn vào ngày con thất bại. Nếu Ngài cho phép tất cả công việc con đang làm dừng lại, con vẫn là người thuộc về Ngài. Đây là điều cái tôi hoạt động rất khó chấp nhận. Nó thích tìm giá trị của mình trong thành quả. Nó thích được kể rằng nhờ mình mà việc này thành công, nhờ mình mà người kia thay đổi, nhờ mình mà cộng đoàn phát triển. Nhưng người tôi tớ thật biết mình gieo, Chúa làm cho lớn lên. Có những mùa Chúa dùng con nhiều. Có những mùa Ngài đặt con sang một bên. Cả hai đều có thể là thánh ý của Ngài.
Đừng đo lòng trung thành bằng số lượng công việc. Có lúc thánh ý Chúa là hành động. Có lúc là chờ đợi. Có lúc là nói. Có lúc là im. Có lúc là đứng ở hàng đầu. Có lúc là để người khác bước lên. Một linh hồn chỉ thấy mình có giá trị khi đang làm sẽ rất khó chấp nhận những mùa bị giới hạn bởi bệnh tật, tuổi tác, thay đổi nhiệm vụ hoặc sự quên lãng. Nhưng đó có thể chính là lúc Chúa dạy linh hồn một bài học sâu hơn: “Ta không cần công việc của con để Ta là Thiên Chúa. Ta muốn chính con.”
8. ẢO TƯỞNG VỀ SỰ KHÁC BIỆT VÀ ĐẶC BIỆT CỦA MÌNH
Một ảo tưởng rất kín đáo khác là cảm giác mình có một con đường đặc biệt, một sự hiểu biết đặc biệt, một sứ mạng đặc biệt, một kinh nghiệm với Chúa đặc biệt đến mức những quy tắc thông thường không còn áp dụng hoàn toàn cho mình. Đây là một vùng rất nguy hiểm. Chúa có thể ban những ơn riêng, những trực giác, những sứ mạng khác nhau. Nhưng ân sủng thật không bao giờ làm linh hồn nghĩ mình đứng trên Hội Thánh, trên sự khôn ngoan chung, trên bổn phận hoặc trên sự vâng phục. Nếu một “ơn” khiến con tự tách mình ra, coi thường lời khuyên, cảm thấy mình thuộc một hạng khác, hoặc liên tục phải làm cho người khác công nhận sự đặc biệt ấy, hãy rất cẩn thận.
Thiên Chúa thích làm những điều lớn lao qua những con người không nghĩ mình lớn lao. Đức Maria đã nhận một ơn không ai khác nhận, nhưng Ngài không biến ơn ấy thành lý do để khẳng định mình. Ngài đi phục vụ. Ngài giữ mọi sự trong lòng. Ngài đứng dưới chân Thánh Giá. Ân sủng càng lớn, sự khiêm nhường càng phải sâu. Một cây càng nhiều trái thì cành càng cúi xuống. Nếu những kinh nghiệm thiêng liêng khiến con ngẩng cao đầu, có điều gì đó đang bị pha trộn.
Đừng mong mình “đặc biệt” trước mặt người khác. Hãy chỉ mong được trung thành trong mắt Chúa. Nếu Ngài muốn con vô danh, hãy vui vì được vô danh. Nếu Ngài cho người khác những ơn con không có, hãy tạ ơn. Nếu một người trẻ hơn được sử dụng nhiều hơn, hãy tạ ơn. Nếu công việc con khởi đầu được người khác tiếp tục và họ được khen, hãy tạ ơn. Những khoảnh khắc ấy đau cái tôi, nhưng lại là những cơ hội rất tinh tuyền để yêu Chúa vì chính Ngài.
9. ẢO TƯỞNG VỀ VIỆC XÉT ĐOÁN DƯỚI DANH NGHĨA PHÂN ĐỊNH
Có người nghĩ mình có ơn phân định, nhưng thật ra chỉ có thói quen xét đoán. Họ nhanh chóng nhận ra động cơ của người khác. Họ biết ai đang kiêu ngạo, ai đang tìm mình, ai thiếu khiêm nhường, ai sống giả hình. Điều đáng chú ý là họ thường rất chắc chắn. Hỡi linh hồn, hãy cẩn thận. Có thể con nhìn đúng một hành vi, nhưng con không nhìn thấy toàn bộ trái tim. Chỉ Thiên Chúa biết một người đã trải qua điều gì, đã chiến đấu ra sao, đã được ban bao nhiêu ánh sáng, đã bị giới hạn bởi bao nhiêu vết thương, và đang đáp lại ân sủng ở mức nào.
Phân định thật làm con khôn ngoan hơn nhưng cũng khiêm nhường hơn. Nó giúp con thấy điều nguy hiểm mà không làm con khinh người đang mắc vào điều ấy. Nó khiến con biết giữ khoảng cách khi cần mà vẫn cầu nguyện cho người khác. Xét đoán thì khác. Xét đoán đem đến một thứ thỏa mãn kín đáo: cảm giác mình sáng hơn người kia. Vì vậy hãy dùng một nguyên tắc rất đơn giản: mỗi khi nhìn thấy khuyết điểm nơi người khác, hãy hỏi xem trong con có một hạt giống tương tự dưới hình thức khác không. Người kia kiêu ngạo lộ liễu, còn con có thể kiêu ngạo vì nghĩ mình không giống họ. Người kia nói nhiều, còn con có thể tự hào vì mình ít nói. Người kia thích được chú ý, còn con có thể thích được người khác nhận xét là khiêm tốn. Tự ái vô cùng biến hóa.
10. ẢO TƯỞNG VỀ SỰ BÌNH AN
Ngay cả bình an cũng có thể bị hiểu sai. Có người nói: “Tôi thấy bình an nên chắc đó là ý Chúa.” Không phải mọi cảm giác bình an đều là dấu chỉ chắc chắn của thánh ý Chúa. Đôi khi con thấy “bình an” đơn giản vì đã chọn điều dễ hơn, điều hợp ý riêng hơn, điều giúp tránh xung đột hơn. Một người có thể cảm thấy nhẹ nhõm sau khi bỏ một bổn phận khó, nhưng sự nhẹ nhõm ấy không nhất thiết là bình an của Chúa. Bình an thật có thể đi cùng với đau đớn. Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu không có một cảm xúc dễ chịu, nhưng Ngài ở trong sự hiệp nhất trọn vẹn với ý Cha. Có những quyết định đúng làm lòng con run sợ. Có những lần vâng phục khiến con khóc. Có những lần phải nói sự thật làm con mất ngủ. Vì thế, phân định không thể chỉ dựa trên cảm giác nhẹ nhàng.
Bình an của Chúa sâu hơn cảm xúc. Nó là một nền đá bên dưới những con sóng. Con có thể buồn mà vẫn bình an. Có thể đau mà vẫn bình an. Có thể sợ mà vẫn bình an. Có thể chưa hiểu gì mà vẫn bình an vì biết mình đã làm điều đúng trước mặt Chúa. Đừng chạy theo trạng thái không có xáo trộn; hãy tìm sự ngay thẳng của lương tâm trong ánh sáng của Chúa.
11. ẢO TƯỞNG VỀ VIỆC MUỐN NÊN THÁNH THẬT NHANH
Có những linh hồn sốt sắng muốn trở nên hoàn thiện trong một thời gian rất ngắn. Họ đọc đời các thánh rồi muốn lập tức sống như những người đã được thanh luyện hàng chục năm. Họ bắt đầu một chương trình nghiêm khắc, quyết tâm mạnh mẽ, đặt ra hàng loạt mục tiêu. Một thời gian sau, họ kiệt sức và chán nản. Rồi họ kết luận rằng mình không có ơn nên thánh. Sự nóng vội ấy thường xuất phát từ một ảo tưởng kín đáo: ta muốn nhìn thấy mình thánh thiện.
Chúa thường làm việc chậm hơn cái tôi muốn. Ngài không chỉ muốn con làm được một nhân đức; Ngài muốn nhân đức ấy bén rễ. Và rễ mọc chậm. Ngài không chỉ muốn con có vài hành vi khiêm nhường; Ngài muốn phá dần cấu trúc tự ái đã hình thành trong nhiều năm. Điều đó cần thời gian, thất bại, thử thách, nhiều lần bắt đầu lại. Hãy để Chúa có thời gian với con. Đừng thúc ép ân sủng. Việc của con là trung tín với bước hôm nay. Người đi một bước mỗi ngày trong ba mươi năm sẽ đi rất xa. Người chạy điên cuồng ba ngày rồi nằm xuống ba tháng sẽ không đi được bao nhiêu.
12. ẢO TƯỞNG RẰNG SA NGÃ NHIỀU NGHĨA LÀ KHÔNG TIẾN BỘ
Một linh hồn có thể đang thật sự tiến bộ mà vẫn còn sa ngã. Điều quan trọng không chỉ là số lần ngã, nhưng là cách đứng lên. Trước đây, một lần thất bại khiến con bỏ cầu nguyện ba ngày. Bây giờ con trở lại sau mười phút. Đó là tiến bộ. Trước đây, khi bị sửa lỗi, con giận cả tuần. Bây giờ con vẫn đau nhưng có thể suy nghĩ và xin lỗi trong ngày. Đó là tiến bộ. Trước đây, một cám dỗ kéo con đi rất xa. Bây giờ con nhận ra nó sớm hơn. Đó là tiến bộ. Đừng đòi đời sống thiêng liêng phải là một đường thẳng không có vấp ngã. Nhiều khi Chúa cho phép một số yếu đuối tồn tại lâu để giữ con khiêm nhường. Nếu Ngài lấy hết mọi yếu đuối quá sớm, có khi con lại ngã vào một căn bệnh nguy hiểm hơn: tin vào mình.
13. ẢO TƯỞNG VỀ VIỆC MUỐN MỌI NGƯỜI HIỂU MÌNH
Có một nhu cầu rất sâu nơi con người: muốn được hiểu. Điều ấy tự nhiên. Nhưng khi trở thành một đòi hỏi, nó làm linh hồn mất bình an. Con có thể bắt đầu giải thích mình quá nhiều. Mỗi khi bị hiểu lầm, con phải làm sáng tỏ. Mỗi khi ai đó nghĩ sai về con, con muốn sửa hình ảnh của mình trong mắt họ. Nếu không làm được, con day dứt. Đây là dấu hiệu danh dự cá nhân vẫn còn một chỗ rất lớn.
Có những lúc cần giải thích để bảo vệ sự thật hoặc tránh gây hại. Nhưng có những lúc Chúa mời con im lặng. Không phải mọi hiểu lầm đều phải được giải quyết. Không phải mọi người đều cần nghĩ đúng về con. Đức Giêsu đã chấp nhận bị hiểu lầm. Các thánh cũng vậy. Có những sự thanh luyện chỉ xảy ra khi con không còn kiểm soát hình ảnh của mình trong mắt người khác. Khi ấy con học nói: “Lạy Chúa, miễn là Chúa biết sự thật là đủ.” Câu này rất dễ nói lúc chưa bị hiểu lầm. Nhưng khi thật sự bị hiểu sai, nó trở thành một thập giá lớn. Nếu con ôm được thập giá ấy, một phần rất sâu của tự ái sẽ chết.
14. ẢO TƯỞNG VỀ VIỆC LUÔN PHẢI THẮNG TRONG TRANH LUẬN
Một người có thể bảo vệ điều đúng nhưng với tinh thần sai. Có lúc con tranh luận về chân lý mà trong lòng chỉ muốn thắng. Con muốn người kia thừa nhận mình đúng. Khi họ không thừa nhận, con bực. Hãy hỏi: con đang đau vì chân lý bị xúc phạm hay vì cái tôi không được công nhận? Nếu mục tiêu thật sự là giúp người kia đến gần sự thật, con sẽ chọn cách nói có khả năng giúp họ đón nhận. Nếu mục tiêu là thắng, con sẽ tiếp tục nói ngay cả khi biết họ đã đóng lòng.
Chân lý không cần cái tôi của con bảo vệ bằng sự nóng nảy. Có lúc cách làm chứng mạnh nhất cho chân lý là sự bình tĩnh. Có lúc là im lặng. Có lúc là cầu nguyện. Có lúc phải nói rất rõ. Nhưng bất cứ khi nào con nhận ra trong mình niềm khoái trá vì đã “đánh bại” một người, hãy coi đó là dấu hiệu cần thanh luyện. Đức ái không vui khi đối phương thua; đức ái vui khi sự thật thắng và con người được cứu.
15. CÁCH BẢO VỆ MÌNH KHỎI NHỮNG ẢO TƯỞNG
Hỡi linh hồn, không ai hoàn toàn miễn nhiễm với ảo tưởng. Chính việc nghĩ rằng mình không thể bị ảo tưởng đã là một ảo tưởng. Vì thế, khí giới đầu tiên vẫn là điều chúng ta đã nói từ đầu cuộc chiến: bất tín nhiệm vào chính mình. Điều ấy không có nghĩa là sống trong nghi ngờ bệnh hoạn, không dám làm gì, không tin vào khả năng phân định. Nó có nghĩa là luôn giữ một cửa mở cho ánh sáng của Chúa: “Lạy Chúa, con nghĩ thế này, nhưng con có thể lầm. Xin soi sáng con.” Một lời cầu nguyện như vậy bảo vệ linh hồn rất nhiều. Hãy đặc biệt bất tín nhiệm mình khi con đang được khen, khi con đang thành công, khi mọi người đang tìm đến con, khi con cảm thấy mình rất sốt sắng, khi con vừa thắng một cám dỗ lớn, khi con nghĩ mình đã hiểu rõ một người khác. Chính trong những giờ phút ấy, tự ái rất dễ ngóc đầu lên.
Hãy xét mình về động lực, không chỉ về hành vi. Đừng chỉ hỏi: “Tôi đã làm gì?” Hãy hỏi: “Tại sao tôi làm?” Cùng một hành vi có thể được thúc đẩy bởi những động lực rất khác. Con có thể im lặng vì khiêm nhường hoặc vì giận. Có thể nói vì bác ái hoặc vì muốn chứng minh mình đúng. Có thể phục vụ vì yêu Chúa hoặc vì cần được cần đến. Có thể cầu nguyện lâu vì yêu Chúa hoặc vì muốn cảm thấy mình đạo đức. Có thể từ chối một việc vì phân định hoặc vì lười. Có thể nhận một việc vì vâng phục hoặc vì tham vọng. Động lực con người hiếm khi hoàn toàn tinh tuyền; đừng hoảng khi nhận ra sự pha trộn. Chỉ cần trung thực. Hãy đem sự pha trộn ấy đến với Chúa và xin Ngài thanh luyện.
Hãy sẵn sàng được sửa. Đây là một trong những thuốc giải mạnh nhất chống ảo tưởng. Hãy quan sát phản ứng đầu tiên trong lòng khi ai đó chỉ ra một thiếu sót. Nếu lập tức muốn giải thích, biện minh, kể lại hoàn cảnh, chứng minh người kia chưa hiểu, hãy im một chút. Có thể sau đó con cần giải thích, nhưng trước hết hãy hỏi: “Lạy Chúa, trong lời này có điều gì Ngài muốn nói với con?” Người khôn ngoan có thể học cả từ một lời phê bình thiếu công bằng. Người kiêu ngạo không học được gì ngay cả từ một lời góp ý đúng.
Hãy trung tín với những điều đơn sơ. Ảo tưởng thích điều phi thường. Sự thánh thiện thật thường ẩn trong điều bình thường. Cầu nguyện đều đặn. Làm bổn phận. Giữ lời hứa. Xin lỗi khi sai. Tha thứ. Làm việc đến nơi đến chốn. Nghỉ khi cần. Không nói xấu. Không nuôi một ý nghĩ cay đắng. Kiên nhẫn với người khó tính. Chấp nhận bị gián đoạn. Những điều ấy không gây ấn tượng, nhưng xây linh hồn.
Hãy đặt những kinh nghiệm nội tâm dưới ánh sáng của đức tin Hội Thánh và sự phân định khôn ngoan. Đừng quá nhanh tin vào mọi cảm hứng. Một ý tưởng đạo đức không tự động là tiếng Chúa. Một giấc mơ không tự động là mạc khải. Một cảm giác mạnh không tự động là ơn đặc biệt. Một sự trùng hợp không nhất thiết là dấu chỉ. Thiên Chúa có thể dùng nhiều cách để dẫn dắt, nhưng Ngài không sợ sự phân định, không sợ thời gian, không sợ việc con hỏi ý kiến. Điều gì thật đến từ Chúa sẽ không bị mất vì con khiêm nhường kiểm chứng.
Và hãy chạy đến với Đức Maria. Không ai được ban những ân huệ lớn lao như Mẹ, nhưng không ai nhỏ bé trong mắt mình như Mẹ. Mẹ không giữ gì cho mình. Mọi sự đều quy về Thiên Chúa: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Hãy xin Mẹ dạy con nhận ân sủng mà không chiếm hữu, được dùng mà không tự mãn, đau khổ mà không tự thương hại, phục vụ mà không tìm mình, được khen mà không say, bị quên mà không buồn, được sửa mà không phản kháng, được yêu mà không bám víu, bị hiểu lầm mà vẫn bình an.
16. DẤU CHỈ CỦA MỘT LINH HỒN ĐANG DẦN THOÁT KHỎI ẢO TƯỞNG
Linh hồn thoát khỏi ảo tưởng không trở nên nghi ngờ mọi sự. Trái lại, nó trở nên đơn sơ. Nó không phải bảo vệ một hình ảnh về mình. Nó không cần chứng minh mình sâu sắc. Nó có thể cười về những thiếu sót của mình mà không coi nhẹ chúng. Nó có thể nói “tôi sai” mà không cảm thấy bị tiêu diệt. Nó có thể nghe người khác mà không mất căn tính. Nó có thể được khen mà không sống nhờ lời khen. Nó có thể bị chê mà không sụp đổ. Nó vui khi người khác thành công. Nó không cần mình phải là trung tâm. Nó không luôn giải thích. Nó biết rằng sự thật không cần phô trương. Nó hiểu sự thánh thiện không phải là một hình ảnh để xây dựng, mà là một đời sống để trao ban.
Một linh hồn như thế ngày càng nhẹ. Không phải vì hết chiến đấu, mà vì không còn phải mang theo gánh nặng của việc làm cho mình có vẻ thánh thiện. Nó chỉ muốn thuộc về Chúa. Nếu Chúa muốn dùng, nó sẵn sàng. Nếu Chúa muốn giấu, nó cũng sẵn sàng. Nếu Chúa ban an ủi, nó tạ ơn. Nếu Chúa để khô khan, nó trung tín. Nếu thành công, nó quy vinh quang về Chúa. Nếu thất bại, nó học và bắt đầu lại. Nếu được người khác yêu, nó đón nhận với lòng biết ơn. Nếu bị bỏ quên, nó đi vào nơi kín đáo của trái tim và nói: “Chúa vẫn ở đây.” Đó là tự do.
17. LỜI KẾT
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, đừng sợ khi Chúa dần dần cho con thấy những ảo tưởng của mình. Đó không phải là dấu hiệu Ngài xa con, nhưng rất có thể là dấu hiệu Ngài đang đưa con vào ánh sáng sâu hơn. Có những giai đoạn con đã sống rất chân thành nhưng vẫn pha lẫn nhiều tìm mình. Điều ấy không có nghĩa tất cả đều giả. Nó chỉ có nghĩa công trình thanh luyện chưa hoàn tất. Một đứa trẻ có thể yêu mẹ thật, nhưng vẫn yêu mẹ phần nào vì quà bánh. Khi trưởng thành, tình yêu phải được thanh luyện. Đời sống với Chúa cũng vậy. Ban đầu con có thể tìm Ngài vì bình an Ngài ban, vì niềm vui cầu nguyện, vì cảm giác được yêu, vì thành công trong sứ vụ. Chúa nhận lấy tình yêu còn non ấy. Nhưng rồi Ngài từ từ hỏi con một câu lớn hơn: “Nếu Ta lấy những điều ấy đi, con còn chọn Ta không?”
Đến một ngày, con sẽ hiểu rằng sự thánh thiện không phải là trở thành một phiên bản đẹp đẽ hơn của cái tôi, nhưng là để cái tôi thôi chiếm trung tâm. Con không còn quá quan tâm mình đang ở bậc nào, người khác nghĩ gì, mình có được công nhận hay không, mình có cảm thấy thánh thiện hay không. Con chỉ quan tâm một điều: hôm nay Chúa muốn gì nơi con? Nếu Ngài muốn con cầu nguyện, con cầu nguyện. Nếu Ngài muốn con làm việc, con làm. Nếu Ngài muốn con im, con im. Nếu Ngài muốn con chịu một sự hiểu lầm, con xin sức để chịu. Nếu Ngài muốn con xin lỗi, con xin lỗi. Nếu Ngài muốn con buông một điều con rất yêu, con cố mở tay. Đó là đời sống thật.
Hãy yêu sự thật hơn hình ảnh về mình. Hãy yêu việc được chữa lành hơn việc được coi là lành mạnh. Hãy yêu việc được sửa hơn việc được khen. Hãy yêu thánh ý Chúa hơn những kế hoạch thiêng liêng của mình. Hãy yêu chính Chúa hơn mọi cảm giác về Chúa. Một linh hồn đạt đến sự đơn sơ ấy sẽ ngày càng khó bị kẻ thù lừa dối, bởi vì ma quỷ thường cần cái tôi làm đồng minh. Khi cái tôi không còn quá khát được nhìn nhận, quá sợ bị hạ thấp, quá cần cảm xúc, quá muốn kiểm soát, thì nhiều cánh cửa cám dỗ tự đóng lại.
Và nếu một ngày con phát hiện rằng ngay cả những điều con vừa đọc cũng đang trở thành lý do để con thấy mình sáng suốt hơn người khác, hãy mỉm cười và trở về với Chúa. Hãy nói: “Lạy Chúa, con lại tìm mình rồi. Xin thương xót con.” Không cần hoảng sợ. Cuộc chiến vẫn là như thế: thấy, khiêm nhường, trở về, bắt đầu lại.
Đừng cố trở thành một linh hồn không bao giờ bị lừa. Hãy trở thành một linh hồn luôn sẵn sàng để Chúa sửa khi mình lầm. Đừng đòi mình phải nhìn thấy tất cả. Hãy xin đủ ánh sáng cho bước hôm nay. Đừng đòi mình phải tinh tuyền hoàn toàn ngay lập tức. Hãy để Chúa thanh luyện từng lớp một. Và mỗi khi một lớp tự ái bị bóc ra, dù đau, hãy tạ ơn, bởi dưới đó trái tim thật của con đang dần xuất hiện.
Hỡi linh hồn, đến cuối cùng, con sẽ nhận ra rằng điều Thiên Chúa muốn không phải là một con người luôn có cảm giác mình đang sống thánh thiện. Ngài muốn một con người thật. Một trái tim thật. Một sự khiêm nhường thật. Một lòng tin thật. Một tình yêu không cần sân khấu. Một sự trung tín không cần ai nhìn thấy. Một đời sống mà ở đó, Chúa được tự do làm điều Ngài muốn.
Vậy nên khi được an ủi, đừng say. Khi bị thử thách, đừng hoảng. Khi được khen, đừng dừng lại. Khi bị chê, đừng sụp đổ. Khi thành công, đừng chiếm lấy vinh quang. Khi thất bại, đừng chiếm lấy tuyệt vọng. Khi thấy mình mạnh, hãy nhớ con vẫn cần Chúa. Khi thấy mình yếu, hãy nhớ Chúa vẫn mạnh. Khi nghĩ mình đúng, hãy giữ lòng mở. Khi nhận ra mình sai, hãy vui vì sự thật đã thắng.
Chỉ có sự thật mới làm con tự do. Không phải sự thật rằng con hoàn hảo, nhưng sự thật rằng con yếu đuối và được yêu. Không phải sự thật rằng con đã đến nơi, nhưng sự thật rằng Chúa đang dẫn con. Không phải sự thật rằng con không còn gì phải sửa, nhưng sự thật rằng lòng thương xót đủ lớn để tiếp tục sửa con đến ngày cuối cùng.
Xin Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, giải thoát con khỏi mọi ảo tưởng về chính mình; khỏi nhu cầu phải tỏ ra thánh thiện; khỏi sự say mê những cảm xúc đạo đức; khỏi sự kiêu ngạo của người tưởng mình đã hiểu; khỏi sự khắc nghiệt thiếu lòng thương xót; khỏi lòng thương xót giả tạo thiếu hoán cải; khỏi những thập giá do ý riêng lựa chọn; khỏi những tham vọng ẩn trong danh nghĩa phục vụ; khỏi mọi sự tinh tế của tự ái đang tìm cách chen vào tình yêu con dành cho Ngài.
Xin Ngài cho con yêu ánh sáng dù ánh sáng ấy phơi bày những gì con không muốn nhìn. Xin cho con yêu sự sửa dạy dù nó làm con đau. Xin cho con yêu sự thật hơn danh dự. Xin cho con yêu thánh ý Chúa hơn ý riêng. Xin cho con biết vui khi được nhỏ lại để Ngài lớn lên. Xin cho con biết đi hết con đường này không phải với sự tự tin của người nghĩ mình không thể lạc, nhưng với bàn tay của một đứa trẻ nắm chặt tay Cha.
Và nếu có lúc con không còn biết mình đang tiến hay lùi, nếu con không còn cảm thấy gì, nếu con thấy mình nghèo nàn hơn trước, xin cho con chỉ cần làm một điều: nhìn lên Chúa và thưa thật đơn sơ:
“Lạy Chúa Giêsu, con không biết đường nếu không có Chúa. Con không biết chính mình nếu không có ánh sáng của Chúa. Con không đủ sức chiến đấu nếu không có ân sủng của Chúa. Xin đừng để con yêu hình ảnh về mình hơn yêu sự thật. Xin đừng để con tìm cảm giác thánh thiện hơn tìm chính Chúa. Xin phá vỡ mọi ảo tưởng trong con, dù việc ấy có đau. Xin làm cho con trở nên thật trước mặt Chúa. Xin cho con nhỏ lại, để Chúa lớn lên. Xin cho con mất mình, để con tìm được Chúa. Và xin dẫn con đi cho đến ngày con không còn muốn gì ngoài một mình Chúa.”
Khi ấy, hỡi linh hồn, con sẽ bắt đầu bước vào một tự do mà không ảo tưởng nào có thể ban cho con: tự do của người không còn phải chứng minh mình là ai, bởi đã biết mình thuộc về ai; tự do của người không cần tỏ ra mạnh, bởi biết sức mạnh của mình ở nơi Chúa; tự do của người không sợ bị thấy yếu đuối, vì chính trong sự yếu đuối ấy quyền năng Thiên Chúa có thể tỏ hiện; tự do của người không cần được gọi là thánh thiện, nhưng chỉ muốn mỗi ngày được yêu Chúa trung thành hơn một chút.
Đó là chiến thắng rất lớn trong cuộc chiến linh hồn: không chỉ thắng tội, nhưng thắng cả nhu cầu được nhìn thấy mình là người đang thắng; không chỉ từ bỏ điều xấu, nhưng từ bỏ cả sự kiêu hãnh về điều tốt; không chỉ tìm Thiên Chúa, nhưng để Thiên Chúa thanh luyện chính cách ta tìm Ngài.
Và khi mọi ảo tưởng dần rơi xuống, linh hồn sẽ còn lại trước mặt Chúa với đôi tay trống không. Chính lúc ấy nó mới thật sự giàu có.
Bởi vì không còn gì để khoe.
Không còn gì để bảo vệ.
Không còn gì để chứng minh.
Chỉ còn Thiên Chúa.
Và như thế là đủ.
CHƯƠNG 32
SỰ VÂNG PHỤC TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang muốn đi cho đến cùng trên con đường chiến đấu nội tâm, đang muốn được gìn giữ khỏi những ảo tưởng rất tinh tế của lòng mình, đang muốn không còn bị ý riêng âm thầm dẫn dắt dưới những hình thức có vẻ đạo đức và ngay lành, sau khi đã nói đến những cạm bẫy nguy hiểm có thể xuất hiện ngay trong đời sống thiêng liêng, chúng ta phải dừng lại thật lâu trước một nhân đức mà thế gian không thích, bản tính tự nhiên của con người cũng không thích, nhưng lại là một trong những con đường an toàn nhất để linh hồn thoát khỏi chính mình và thuộc trọn về Thiên Chúa: sự vâng phục. Đừng vội nghĩ rằng đây chỉ là một chương dành riêng cho tu sĩ, cho linh mục, cho những người sống dưới lời khấn vâng phục, hay cho những ai ở trong một cộng đoàn có bề trên. Không. Sự vâng phục theo nghĩa sâu xa hơn nhiều. Nó chạm đến tận căn tính của đời sống Kitô hữu. Nó đụng đến mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Nó là thái độ của thụ tạo trước Đấng Tạo Hóa, của người con trước Cha, của môn đệ trước Thầy, của kẻ được cứu chuộc trước Đấng đã hiến mạng sống mình để cứu chuộc họ. Nếu cuộc chiến linh hồn là cuộc chiến giữa tình yêu Thiên Chúa và lòng tự ái, giữa thánh ý Chúa và ý riêng, giữa con người cũ và con người mới, thì vâng phục chính là một trong những nơi mà trận chiến ấy diễn ra rõ ràng nhất. Bởi vì ở tận đáy sâu của nhiều tội lỗi, nhiều đam mê, nhiều xáo trộn và nhiều ảo tưởng thiêng liêng, không phải lúc nào cũng là một ham muốn thô thiển, nhưng thường là một điều đơn giản hơn mà nguy hiểm hơn: tôi muốn làm theo ý tôi. Tôi muốn điều này xảy ra theo cách tôi thấy là đúng. Tôi muốn người khác hiểu vấn đề theo cách tôi hiểu. Tôi muốn bổn phận được sắp xếp theo điều thuận tiện cho tôi. Tôi muốn Chúa dẫn tôi theo con đường tôi đã hình dung. Tôi muốn bề trên quyết định theo điều tôi mong. Tôi muốn lời cầu nguyện của tôi đem lại cảm giác tôi muốn. Tôi muốn sứ vụ có kết quả tôi dự tính. Tôi muốn những người chung quanh cư xử như tôi nghĩ họ phải cư xử. Và ngay cả khi miệng vẫn đọc: “Xin cho ý Cha thể hiện,” thì sâu trong lòng, nhiều lúc chúng ta lại đang nói với Chúa: “Xin cho ý Cha thể hiện, miễn là ý Cha không quá khác ý con.” Chính ở điểm này, sự vâng phục trở thành một cuộc đóng đinh thật sự. Vâng phục không chỉ là làm một việc người khác bảo mình làm. Vâng phục là để cho cái tôi thôi làm trung tâm. Vâng phục là chấp nhận rằng phán đoán của tôi không phải là tiêu chuẩn tối hậu, cảm xúc của tôi không phải là luật tối cao, sự dễ chịu của tôi không phải là dấu chắc chắn của thánh ý Chúa, và điều tôi thích chưa chắc là điều tốt nhất cho linh hồn tôi. Vâng phục là đi ra khỏi sự khép kín của mình để bước vào một trật tự lớn hơn, nơi Thiên Chúa là Chúa, còn tôi là thụ tạo; nơi Thiên Chúa thấy toàn thể, còn tôi chỉ thấy một phần; nơi Ngài biết ngày mai, còn tôi chỉ đang sống giây phút này; nơi Ngài có thể dùng cả những điều tôi không hiểu, những người tôi không thích, những hoàn cảnh tôi không chọn và những quyết định làm tôi khó chịu để thanh luyện, uốn nắn và dẫn tôi đến nơi mà tự mình tôi sẽ không bao giờ đi tới.
1. TẠI SAO SỰ VÂNG PHỤC LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN VẬY TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN?
Muốn hiểu sự vâng phục, trước hết phải nhìn thật sâu vào căn nguyên của sự bất phục tùng. Tội lỗi không bắt đầu trước tiên từ đôi tay, từ đôi mắt, từ lời nói hay từ hành vi bên ngoài. Tội lỗi bắt đầu khi ý chí con người tách mình khỏi ý muốn của Thiên Chúa. Trong vườn địa đàng, lời cám dỗ đầu tiên không chỉ là lời mời ăn một trái cấm. Đó là lời mời con người tự đặt mình vào chỗ của Thiên Chúa, tự xác định điều gì là tốt, điều gì là xấu, tự làm chủ vận mệnh của mình mà không cần tùy thuộc vào Đấng đã tạo dựng mình. “Các ngươi sẽ nên như những vị thần.” Chính ở đó, vết thương lớn đi vào lịch sử con người: thụ tạo không muốn còn là thụ tạo; người con không muốn còn sống trong sự đón nhận; con người không muốn còn lệ thuộc vào thánh ý yêu thương của Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình quyết định con đường dẫn đến hạnh phúc. Bởi thế, sự bất phục tùng không chỉ là một lỗi trong số nhiều lỗi; nó chạm đến gốc rễ của sự sa ngã. Và bởi vì gốc rễ ấy đã đi vào lòng người, nên mỗi chúng ta đều mang trong mình một sức đề kháng âm thầm đối với việc phải từ bỏ ý riêng. Có khi nó xuất hiện rất rõ: ta chống đối, tranh luận, từ chối. Nhưng nhiều khi nó tinh tế hơn: ta trì hoãn; ta thi hành nhưng với vẻ lạnh nhạt; ta làm nhưng trong lòng nuôi bực bội; ta tìm người đồng tình để chứng minh rằng mình đúng; ta kể câu chuyện theo cách làm cho quyết định của người có trách nhiệm trở nên vô lý; ta chỉ trình bày một phần sự thật để người khác cuối cùng cũng phải đi đến kết luận mà ta mong muốn; ta cầu nguyện nhiều không phải để nhận ra ý Chúa, nhưng để xin Chúa chúc lành cho quyết định mà ta đã âm thầm chọn trước. Ý riêng rất khéo. Nó có thể khoác áo lương tâm, khoác áo nhiệt thành, khoác áo trách nhiệm, khoác áo lòng yêu mến Hội Thánh, khoác áo lo cho cộng đoàn, thậm chí khoác áo “phân định”. Và nếu linh hồn không sống trong một thái độ vâng phục sâu xa, nó có thể dành cả đời để theo mình mà vẫn tưởng mình đang theo Chúa.
Hãy nhìn sang Đức Giêsu. Cả cuộc đời Ngài là một câu trả lời vâng phục. Ngài không đến trần gian để thực hiện một dự án riêng song song với ý Cha. Ngài đến để làm ý Đấng đã sai Ngài. Khi còn thơ bé, Ngài sống ẩn dật ở Nadarét và “hằng vâng phục” Đức Maria cùng thánh Giuse. Khi bắt đầu sứ vụ, Ngài luôn quy hướng về Cha: giáo huấn Ngài không phải từ Ngài, công việc Ngài làm là công việc Cha trao, lương thực của Ngài là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Ngài. Và cuối cùng, tại Vườn Cây Dầu, khi sự vâng phục không còn là một tư tưởng đẹp mà trở thành máu, nước mắt, sợ hãi và sự nghiền nát của cả con người, Đức Giêsu đã thưa: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén này khỏi Con; nhưng xin đừng theo ý Con, một xin theo ý Cha.” Đó là nơi ta thấy rõ nhất sự vâng phục không phải là vô cảm. Đức Giêsu không giả vờ rằng chén đắng là dễ uống. Ngài không phủ nhận nỗi kinh hoàng của cuộc Thương Khó. Ngài không biến mình thành một con người không còn cảm xúc. Ngài bày tỏ điều mình tự nhiên không muốn, nhưng rồi đặt điều ấy dưới ý Cha. Đây chính là mẫu mực của vâng phục trưởng thành: ta có thể thấy khó, có thể đau, có thể không hiểu, có thể trình bày nỗi lòng, có thể xin điều khác; nhưng cuối cùng, ở nơi sâu nhất của ý chí, ta vẫn thưa: “Xin đừng theo ý con.” Thánh Phaolô đã tóm kết mầu nhiệm cứu độ bằng một câu làm cho mọi linh hồn đang muốn chiến đấu phải cúi đầu: Đức Kitô “đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,8). Adam bất phục tùng dưới một cây và sự chết đi vào thế gian; Đức Kitô vâng phục trên một cây khác và sự sống được mở ra. Một người muốn tự lấy điều mình nghĩ sẽ làm mình nên như Thiên Chúa; một Người khác, vốn là Thiên Chúa, lại tự hạ mình xuống trong vâng phục. Vì vậy, mỗi lần chúng ta vâng phục trong những điều hợp pháp và ngay chính vì yêu mến Thiên Chúa, cho dù việc ấy rất nhỏ, chúng ta đang bước vào chính chuyển động của Đức Kitô. Và mỗi lần chúng ta cố bảo vệ ý riêng chỉ vì nó là ý của mình, cho dù điều ấy có vẻ rất nhỏ, chúng ta đang chạm lại vào vết thương cũ của Adam.
Hỡi linh hồn, đừng tưởng những trận đánh lớn nhất luôn diễn ra trong những biến cố lớn. Có khi trận đánh thật nằm trong một việc nhỏ không ai thấy. Một lời người khác góp ý mà con không muốn nghe. Một nhiệm vụ con không thích. Một chương trình bị đổi vào phút cuối. Một người có trách nhiệm không chọn phương án con đề nghị. Một công việc con đã hy vọng nhưng lại được trao cho người khác. Một nơi con muốn ở nhưng phải rời đi. Một nơi con không muốn đến nhưng phải nhận lấy. Một lời sửa dạy làm tổn thương lòng tự trọng. Một sự trì hoãn mà con không kiểm soát được. Một cánh cửa con đã cầu xin rất lâu nhưng Chúa vẫn đóng. Chính những điều ấy phơi bày cho con biết ai đang thật sự làm chủ linh hồn con. Khi mọi sự thuận ý, rất khó biết mình có yêu thánh ý Chúa hay chỉ yêu sự thuận lợi. Khi quyết định của bề trên trùng với mong muốn của con, chưa chắc con đang vâng phục; có thể con chỉ đang vui vì ý người khác giống ý mình. Khi Chúa ban điều con xin, chưa chắc con đã tín thác; có thể con chỉ hài lòng vì Chúa đã làm theo mong muốn của con. Chỉ khi đường Chúa và đường của con tách ra, khi điều được yêu cầu và điều con thích không giống nhau, khi thánh ý được nhận biết và ý riêng bắt đầu đau, lúc ấy mới xuất hiện câu hỏi thật: ai là Chúa?
2. SỰ VÂNG PHỤC KHÔNG CHỈ LÀ TUÂN GIỮ LUẬT LỆ BÊN NGOÀI
Có một thứ vâng phục chỉ dừng ở chân tay nhưng chưa chạm đến trái tim. Người ta vẫn làm điều được truyền, nhưng làm như người bị ép. Họ vẫn hiện diện đúng giờ, vẫn hoàn thành bổn phận, vẫn giữ điều luật đòi hỏi, nhưng bên trong là một thế giới đầy chống đối, xét đoán và cay đắng. Có khi họ không nói ra, nhưng trong lòng liên tục tự biện hộ: “Nếu tôi được quyết định, tôi sẽ làm tốt hơn. Người này đâu có hiểu. Quyết định này thật vô lý. Họ không biết tôi. Họ không thấy điều tôi thấy.” Và thế là bên ngoài có thể mang hình dáng của vâng phục, nhưng bên trong vẫn nguyên vẹn một ngai vàng cho cái tôi. Đây là điều cần được thanh luyện. Vâng phục Kitô giáo không đòi ta biến mình thành một cỗ máy không suy nghĩ, cũng không đòi ta giả vờ cho rằng mọi quyết định của con người đều hoàn hảo. Người có trách nhiệm có thể sai trong phán đoán, có thể thiếu kinh nghiệm, có thể vụng về trong cách diễn đạt, có thể không hiểu hết hoàn cảnh, có thể làm người dưới quyền đau lòng mà không ý thức. Vâng phục không phải là phong thánh cho người có quyền. Nó là nhận ra rằng trong trật tự chính đáng của đời sống Hội Thánh và cộng đoàn, Thiên Chúa có thể dùng những trung gian rất bất toàn để dạy một linh hồn hoàn toàn hơn biết từ bỏ mình. Điều làm sự vâng phục có giá trị không phải là vì trung gian luôn hoàn hảo, nhưng vì người vâng phục hướng qua trung gian ấy để tìm Chúa. Tuy nhiên, chính vì vâng phục hướng đến Chúa, nên vâng phục không bao giờ có nghĩa là thi hành điều rõ ràng trái với luật Chúa, trái với lương tâm ngay thẳng, trái luân lý hay gây hại nghiêm trọng mà không thể biện minh. Sự vâng phục Kitô giáo không phải là nô lệ. Nó không xóa lương tâm. Nó không biến trách nhiệm đạo đức thành sự phục tùng mù quáng. Một người không thể viện cớ “con chỉ vâng lời” để làm điều xấu. Thiên Chúa không thể được phục vụ bằng điều chống lại Thiên Chúa. Nhưng giữa hai cực đoan — một bên là phục tùng mù quáng, bên kia là dùng “lương tâm” như cái cớ để ý riêng không bao giờ phải chết — có một con đường hẹp của người trưởng thành: biết suy xét, biết trình bày, biết phân định, biết đối thoại, và sau tất cả những điều ấy vẫn giữ một trái tim sẵn sàng để cho mình được dẫn đi.
Sự vâng phục đích thực bắt đầu bằng một câu hỏi khác với câu hỏi của bản tính tự nhiên. Bản tính tự nhiên hỏi: “Tôi có buộc phải làm điều này không? Nếu không buộc, tôi có thể tránh được không? Tôi có cách nào giải thích để được miễn không?” Còn tình yêu hỏi: “Chúa muốn gì nơi tôi qua hoàn cảnh này? Tôi có thể sống điều này thế nào để làm vui lòng Chúa nhất? Tôi phải chết đi ở điểm nào? Tôi phải mở lòng ra ở đâu? Có điều gì trong sự khó chịu này đang mặc khải cho tôi biết một sự dính bén của mình không?” Hãy để ý: cùng một việc, hai linh hồn có thể thực hiện hoàn toàn giống nhau bên ngoài nhưng giá trị bên trong rất khác nhau. Một người làm vì sợ hậu quả. Một người làm vì giữ thể diện. Một người làm để được khen là ngoan ngoãn. Một người làm vì không muốn tranh cãi. Nhưng một người khác làm vì nhìn xuyên qua con người và hoàn cảnh để gặp Thiên Chúa. Chính người cuối cùng ấy đang biến sự vâng phục thành hy lễ. Và khi sự vâng phục trở thành hy lễ, nó có sức đốt cháy lòng tự ái hơn rất nhiều những việc đạo đức do chính ta tự chọn. Bởi vì những việc ta tự chọn thường vẫn để ta làm chủ. Ta chọn giờ cầu nguyện, kiểu hy sinh, việc phục vụ, phương pháp tu đức, sách thiêng liêng, hình thức khổ chế. Ta vẫn là người quyết định. Nhưng khi phải đón nhận một việc không do mình chọn, một người không do mình chọn, một giới hạn không do mình đặt, một thay đổi không do mình mong, thì cái tôi không còn được cầm tay lái nữa. Chính vì thế, nhiều người có thể làm những việc rất khó do họ tự chọn, nhưng lại nổi loạn trước một điều rất nhỏ khi điều ấy được người khác yêu cầu. Họ có thể thức khuya làm việc tông đồ nhưng bực bội khi phải đổi lịch vì cộng đoàn. Họ có thể ăn chay một cách nghiêm khắc nhưng khó chịu khi một người góp ý về cách họ nói chuyện. Họ có thể đi hành hương xa hàng trăm cây số nhưng không chịu đi vài bước để xin lỗi người sống cùng nhà. Họ có thể làm giờ thánh dài nhưng không chịu dừng một kế hoạch thiêng liêng khi người có trách nhiệm cho rằng lúc ấy chưa thích hợp. Đó là lúc cần nhìn thẳng vào sự thật: có khi ta yêu việc đạo đức, nhưng chưa chắc đã yêu sự vâng phục; có khi ta yêu hình ảnh một người thánh thiện, nhưng chưa chắc đã yêu việc bị tước khỏi ý riêng.
3. VÂNG PHỤC ĐỐI VỚI HỘI THÁNH: KHÔNG CHỌN MỘT GIÁO HỘI THEO SỞ THÍCH CỦA MÌNH
Một trong những hình thức căn bản nhất của sự vâng phục đối với người Kitô hữu là để cho đức tin của mình được Hội Thánh giáo dục, uốn nắn và sửa chữa. Đây là điểm rất khó trong một thời đại đặt sự tự chủ cá nhân lên vị trí rất cao. Người ta quen lựa chọn mọi thứ theo sở thích: chọn thông tin mình thích, chọn quan điểm mình thích, chọn người mình muốn nghe, chọn cộng đồng mình cảm thấy hợp, chọn những lời khiến mình dễ chịu. Tinh thần ấy có thể âm thầm đi vào đời sống đức tin, khiến người tín hữu bắt đầu đối xử với giáo huấn Hội Thánh như một thực đơn: điều nào hợp ý thì nhận, điều nào khó thì bỏ, điều nào đúng với cảm xúc hiện tại thì nhấn mạnh, điều nào buộc mình hoán cải thì tìm cách giải thích cho nhẹ đi. Nhưng một đức tin được lắp ráp hoàn toàn theo sở thích cá nhân cuối cùng chỉ còn là tấm gương phản chiếu chính mình. Người ấy không còn để Chúa nói điều mình không muốn nghe. Họ chỉ muốn một Thiên Chúa xác nhận những gì họ đã nghĩ.
Hỡi linh hồn, hãy nhớ rằng vâng phục đức tin không có nghĩa là ngưng suy nghĩ. Trái lại, Hội Thánh luôn trân trọng lý trí, việc học hỏi, đào sâu, đặt câu hỏi và tìm kiếm sự hiểu biết. Nhưng có một khác biệt rất lớn giữa việc đặt câu hỏi để hiểu hơn và đặt câu hỏi chỉ để tìm cách thoát khỏi điều mình không muốn sống. Có người đọc giáo huấn để được soi sáng; có người đọc giáo huấn như luật sư đang tìm kẽ hở. Có người nói: “Tôi chưa hiểu, xin giúp tôi hiểu”; có người lại nói trong lòng: “Tôi sẽ không chấp nhận cho đến khi người ta giải thích theo cách phù hợp với điều tôi đã quyết định.” Sự vâng phục đức tin đòi một thái độ khiêm tốn: tôi không phải là thước đo của chân lý. Nếu một điều trong giáo huấn của Hội Thánh làm tôi khó chịu, phản ứng đầu tiên không nên là lập tức kết luận rằng Hội Thánh sai, nhưng nên là hỏi xem có điều gì trong tôi cần được mở rộng, được chữa lành, được giáo dục hay không. Có thể sau khi nghiên cứu, ta vẫn còn những câu hỏi. Điều ấy không phải tội. Nhưng khác hẳn với thái độ lấy sự không hiểu của mình làm bằng chứng rằng mình có quyền bác bỏ. Người khiêm nhường biết nói: “Con chưa hiểu hết, nhưng con không muốn biến sự giới hạn trong hiểu biết của con thành tiêu chuẩn xét đoán tất cả.” Chính thái độ ấy giữ linh hồn khỏi rất nhiều ảo tưởng.
4. VÂNG PHỤC ĐỐI VỚI BỀ TRÊN VÀ NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM: NƠI CÁI TÔI BỊ CHẠM ĐẾN RÕ NHẤT
Với người sống đời thánh hiến hay trong hàng giáo sĩ, đây là một chiến trường đặc biệt. Người ta có thể nói rất đẹp về lời khấn, về cộng đoàn, về sứ vụ chung, về đức ái huynh đệ, nhưng chỉ đến khi một quyết định thật sự đi ngược mong muốn của mình, ta mới biết lời khấn ấy đã đi sâu đến đâu. Có những vâng phục rất dễ vì chúng phù hợp với khả năng, sở thích, sức khỏe, kế hoạch và ước muốn của ta. Nhưng cũng có những vâng phục làm lòng ta khựng lại. Một sứ vụ ta không thích. Một sự thay đổi ta không chuẩn bị. Một nơi chốn ta không chọn. Một người cộng tác ta thấy khó. Một quyết định ta cho rằng không tối ưu. Một việc trước đây ta có quyền quyết định nhưng nay phải trao lại. Một vai trò từng làm ta được nhìn thấy nhưng giờ trở thành âm thầm. Một kế hoạch ta đã bỏ nhiều công sức nhưng không được tiếp tục. Những giờ phút ấy có thể trở thành những giờ phút thánh nhất của cuộc đời nếu ta biết đón nhận chúng dưới ánh sáng đức tin.
Không phải mọi phản ứng đầu tiên đều là tội. Con có thể buồn. Con có thể hụt hẫng. Con có thể cảm thấy mình chưa sẵn sàng. Con có thể thấy quyết định ấy không hợp lý. Con có thể xin được trình bày thêm. Con có thể nói sự thật về những giới hạn thực tế. Đừng giả tạo. Đức vâng phục không đòi con phải cười khi lòng đang đau hay nói “con rất vui” khi con chưa hề vui. Nhưng sau khi đã trình bày điều cần trình bày, hãy cẩn thận với bước tiếp theo. Bởi vì rất nhiều linh hồn mất bình an không phải vì quyết định của bề trên, nhưng vì sau quyết định ấy họ bắt đầu mở một phiên tòa dài trong lòng. Họ xét xử. Họ thu thập bằng chứng. Họ nhớ lại những lần trước. Họ nói chuyện với người này, người kia. Họ tìm những người sẽ xác nhận rằng họ đúng. Mỗi lần kể lại câu chuyện, họ vô tình thêm một chút màu sắc khiến mình trở thành người bị đối xử bất công hơn, còn người khác trở thành người thiếu sáng suốt hơn. Và từ một khó khăn ban đầu có thể chịu đựng được, họ xây thành một vết thương sâu. Đây chính là nơi ma quỷ rất thích hoạt động. Nó không nhất thiết phải làm cho một người bỏ vâng phục ngay. Chỉ cần làm cho người ấy vâng phục bằng thân xác nhưng giữ lại sự nổi loạn trong tâm trí, thế là đủ để hút cạn bình an.
Có khi Chúa dùng một quyết định không hoàn hảo của người khác để làm một việc hoàn hảo trong linh hồn con. Đây là điều rất khó tin khi ta đang đau. Ta thường nghĩ: “Nếu quyết định này chưa tốt, làm sao Chúa có thể dùng nó?” Nhưng thánh ý quan phòng của Thiên Chúa rộng lớn hơn những khiếm khuyết của con người. Thiên Chúa không cần mọi trung gian đều vô ngộ mới có thể dẫn một linh hồn. Ngài có thể viết thẳng trên những dòng cong. Ngài có thể dùng một sự hiểu lầm để làm ta khiêm nhường, một sự bị bỏ quên để làm ta tự do khỏi nhu cầu được công nhận, một sự thay đổi bất ngờ để phá vỡ sự an toàn giả tạo, một nơi ta không muốn đến để mở ra một sứ mạng ta không thể tưởng tượng, một người khó tính để phơi bày sự nóng nảy đang ẩn trong ta. Điều này không biến những thiếu sót của con người thành điều tốt, nhưng nó làm cho quyền năng của Thiên Chúa lớn hơn những thiếu sót ấy. Người vâng phục trong đức tin không nói rằng mọi người đều đúng; họ nói rằng Chúa vẫn có thể dẫn tôi ngay cả qua những người không hoàn hảo.
Hãy coi chừng một hình thức tự ái rất tinh tế: ta đòi hỏi người có trách nhiệm phải xứng đáng hoàn toàn thì ta mới vâng phục cách quảng đại. Nếu bề trên thông minh, thánh thiện, hiểu mình, quyết định hợp lý, cư xử tế nhị, ta vâng phục dễ dàng. Nhưng nếu thiếu một trong những điều ấy, ta thấy việc vâng phục trở nên “không đáng”. Thật ra, khi đó ta không còn vâng phục vì đức tin nữa; ta vâng phục vì ta đánh giá cao người ấy. Đây là một sự khác biệt lớn. Dĩ nhiên, người có quyền phải dùng quyền cách có trách nhiệm, lắng nghe, tôn trọng nhân phẩm, không tùy tiện, không lạm dụng. Nhưng về phía linh hồn đang muốn nên thánh, không được đặt sự hoàn hảo của người khác làm điều kiện cho sự trung thành của mình. Nếu con chỉ bác ái với những người đáng yêu, đó chưa phải là bác ái sâu xa. Nếu con chỉ tha thứ khi người kia xin lỗi đúng cách, lòng thương xót còn bị điều kiện hóa. Và nếu con chỉ vâng phục khi người ra quyết định hội đủ tiêu chuẩn con mong, thì ý riêng vẫn đang ngồi ghế chủ tọa.
5. VÂNG PHỤC ĐỐI VỚI LINH HƯỚNG VÀ VIỆC MỞ LÒNG: THUỐC CHỮA CỦA NHỮNG ẢO TƯỞNG ÂM THẦM
Một trong những nguy hiểm lớn nhất của đời sống nội tâm là con người có thể tự giải thích chính mình theo cách có lợi cho mình. Ta rất giỏi tìm lý do cho những điều mình đã muốn. Trí khôn, thay vì soi sáng ý chí, có thể trở thành luật sư bảo vệ ý riêng. Ta có thể gọi sự sợ hãi là thận trọng, gọi sự nhút nhát là khiêm nhường, gọi sự nóng giận là nhiệt thành, gọi việc muốn kiểm soát là trách nhiệm, gọi sự ham được nhìn nhận là ước muốn làm sáng danh Chúa, gọi việc bám lấy một người là tình yêu thiêng liêng, gọi sự chạy trốn bổn phận là nhu cầu cầu nguyện, gọi việc muốn được an ủi là khao khát Chúa. Không phải lúc nào ta cũng cố tình gian dối. Điều đáng sợ là ta có thể thật sự tin vào cách giải thích ấy. Chính vì thế, một linh hồn sống hoàn toàn khép kín, không bao giờ để người trưởng thành và có kinh nghiệm soi sáng mình, rất dễ trở thành tù nhân của những diễn giải riêng.
Mở lòng cho một người linh hướng khôn ngoan không có nghĩa là trao lương tâm của mình cho một người khác như trao chìa khóa cho chủ nhân. Linh hướng không thay thế Thiên Chúa. Linh hướng không có quyền kiểm soát từng chi tiết của đời sống người khác. Linh hướng đích thực phải dẫn linh hồn đến tự do trong Chúa chứ không làm người ấy lệ thuộc vào mình. Nhưng khi được sống đúng, việc mở lòng có một sức mạnh rất lớn: nó đưa những điều đang hoạt động trong bóng tối ra ánh sáng. Một cám dỗ được giữ kín thường lớn dần. Một ý tưởng được nuôi một mình dễ trở thành tuyệt đối. Một nỗi sợ không được nói ra dễ biến thành chân lý. Một sự thích thú thiêng liêng không được phân định có thể được thần thánh hóa. Nhưng khi đem chúng ra trước ánh sáng, rất nhiều điều lập tức mất quyền lực. Có những điều ta đã suy nghĩ suốt ba tháng, cảm thấy vô cùng phức tạp, nhưng chỉ sau vài phút trình bày trước một người sáng suốt, ta bỗng nhận ra gốc của nó chỉ là tự ái, sợ hãi hay nhu cầu được nhìn nhận. Ý riêng ghét ánh sáng. Nó thích những vùng không ai chạm tới. Nó thích câu: “Chuyện này chỉ giữa con với Chúa.” Đúng, có một cung thánh nội tâm chỉ thuộc về Chúa. Nhưng hãy cảnh giác khi câu ấy được dùng để bảo vệ một quyết định mà ta biết nếu đem ra ánh sáng có thể bị chất vấn. Nhiều ảo tưởng sống được chỉ vì linh hồn không muốn cho ai chạm vào.
Tuy nhiên, ngay cả trong linh hướng, ý riêng cũng có thể chơi trò của nó. Có người hỏi ý kiến nhưng đã quyết định trước. Nếu câu trả lời hợp ý, họ nói: “Đúng là Chúa xác nhận.” Nếu câu trả lời trái ý, họ tìm một linh hướng khác. Họ hỏi người thứ hai, rồi người thứ ba, cho đến khi gặp người nói điều họ muốn nghe. Có người kể câu chuyện rất khéo: họ chỉ cung cấp những chi tiết khiến người nghe gần như chắc chắn phải kết luận theo hướng họ mong. Đây không phải là vâng phục hay phân định; đây là điều khiển sự phân định. Nếu muốn thật sự được soi sáng, hãy tập kể sự việc theo cách trung thực đến mức sẵn sàng để kết luận cuối cùng không phải là điều mình muốn. Hãy nói cả những chi tiết bất lợi cho mình. Hãy kể cả điều người kia đã làm đúng. Hãy thú nhận cả những động cơ mình nghi ngờ nơi chính mình. Hãy nói: “Con muốn điều này rất nhiều, vì thế con sợ rằng mình đang thiên vị.” Một câu như vậy có thể cứu con khỏi nhiều tháng đi lạc.
6. VÂNG PHỤC BỔN PHẬN: THÁNH Ý CHÚA NHIỀU KHI KHÔNG Ở NƠI XA, NHƯNG NẰM NGAY TRÊN BÀN LÀM VIỆC CỦA CON
Nhiều người thích tìm thánh ý Chúa trong những điều lớn. Họ muốn biết Chúa gọi họ làm gì trong tương lai, muốn biết nên nhận sứ vụ nào, đi đâu, làm dự án nào, bắt đầu điều gì mới. Nhưng đôi khi trong lúc quá bận tâm đi tìm “ý Chúa” cho ngày mai, họ lại bỏ qua ý Chúa rất rõ của hôm nay: công việc đang dang dở, lời hứa cần giữ, giờ cầu nguyện cần trung thành, người cần được lắng nghe, trách nhiệm phải hoàn thành, căn phòng phải dọn, một cuộc hẹn phải đúng giờ, một thư phải trả lời, một bổn phận cộng đoàn phải chu toàn. Hỡi linh hồn, đừng tìm những điều cao xa nếu những điều trước mặt còn bị bỏ bê. Chúa rất thường ẩn mình trong cái bình thường. Ngài không nhất thiết nói với con bằng một ánh sáng phi thường. Có khi Ngài chỉ nói: “Hãy làm điều con phải làm hôm nay với tình yêu.” Và đó có thể là ý Chúa rõ ràng hơn nhiều cảm hứng.
Bổn phận là một trường học tuyệt vời của vâng phục vì nó không hỏi con có hứng hay không. Nó chỉ hiện diện. Người sống theo cảm xúc làm việc khi thích. Người sống theo ý riêng chọn điều tạo cho mình cảm giác có ý nghĩa. Nhưng người trung thành biết có những việc không đem lại cảm xúc thiêng liêng nào cả, vẫn phải làm vì đó là trách nhiệm. Chính sự trung thành này chữa linh hồn khỏi việc nghiện cảm hứng. Con không cần đợi đến khi cảm thấy sốt sắng mới cầu nguyện. Không cần đợi đến khi thích một người mới cư xử bác ái. Không cần đợi đến khi có động lực mới chu toàn trách nhiệm. Không cần đợi đến khi thấy công việc “xứng đáng” mới làm thật tốt. Đức vâng phục đưa linh hồn ra khỏi chế độ: “Tôi làm khi tôi muốn,” để bước vào tự do của người có thể nói: “Tôi làm vì đây là điều phải làm trước mặt Chúa.” Người như thế ngày càng vững. Họ không còn bị tâm trạng cai trị. Mưa hay nắng, được khen hay bị quên, sốt sắng hay khô khan, họ vẫn tiếp tục bước. Đây chính là nền móng của sự trưởng thành thiêng liêng.
Có những người mơ làm việc lớn cho Chúa nhưng thường xuyên làm cẩu thả những việc nhỏ Chúa đang trao. Họ muốn một sứ mạng lớn nhưng không kiên nhẫn với người trong nhà. Họ muốn nói về cầu nguyện nhưng giờ cầu nguyện thất thường. Họ muốn phục vụ người nghèo nhưng khó chịu khi phải giúp một người làm phiền chương trình của mình. Họ muốn hy sinh nhưng chỉ thích những hy sinh họ tự chọn. Hãy nhớ rằng một sự thánh thiện không đi qua bổn phận thường là một sự thánh thiện tưởng tượng. Đức Giêsu đã dành phần lớn cuộc đời trần thế của Ngài trong những năm tháng âm thầm ở Nadarét, sống một đời bình thường đến mức người đồng hương sau này kinh ngạc khi nghe Ngài giảng. Chính tại đó, trong những ngày không có phép lạ, không có đám đông, không có bài giảng được ghi lại, Ngài đã sống trọn vẹn ý Cha. Điều ấy phải chữa ta khỏi sự ám ảnh muốn làm những điều nổi bật. Thánh ý Chúa không nhất thiết huy hoàng. Nhiều khi nó có mùi của gỗ, bụi, mồ hôi và sự lặp lại.
7. VÂNG PHỤC NHỮNG HOÀN CẢNH KHÔNG THỂ THAY ĐỔI: KHI CUỘC ĐỜI KHÔNG HỎI Ý TA
Có một hình thức vâng phục không đến từ mệnh lệnh của một người nhưng từ chính thực tại. Một căn bệnh làm giới hạn khả năng. Tuổi tác làm cơ thể chậm lại. Một kế hoạch đổ vỡ. Một người ra đi. Một cánh cửa đóng. Một hoàn cảnh gia đình không thể thay đổi ngay. Một trách nhiệm kéo dài hơn ta dự tính. Một tài năng ta mong có nhưng không có. Một giới hạn tâm lý hay thể lý ta phải khiêm nhường mang lấy. Một biến cố làm đường đời rẽ sang hướng ta chưa bao giờ nghĩ tới. Trong những điều ấy, cần hết sức cẩn thận khi nói “đó là ý Chúa”, vì không phải mọi sự xấu xảy ra đều là điều Thiên Chúa trực tiếp muốn. Có những điều là hậu quả của tự do con người, của bất công, của giới hạn tạo vật, của một thế giới còn mang thương tích. Nhưng không điều gì có thể rơi ra ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa đến mức Ngài không thể đi vào đó để cứu, biến đổi và dẫn ta. Bởi thế, sự vâng phục trước hoàn cảnh không phải là gọi điều xấu thành điều tốt. Nó là ngưng đòi hỏi quá khứ phải khác đi mới cho phép mình sống. Nó là ngưng chiến đấu với một thực tại đã xảy ra đến mức ta đánh mất khả năng hỏi: “Trong hoàn cảnh này, Chúa đang mời con sống thế nào?”
Nhiều đau khổ trở nên gấp đôi vì ta không chỉ phải chịu chính sự việc mà còn phải chịu cuộc chiến chống lại sự việc ấy trong lòng. Một cánh cửa đã đóng, nhưng ta tiếp tục đứng trước nó nhiều năm, đập tay vào đó và hỏi tại sao. Một người đã không thể trở thành người ta mong, nhưng ta vẫn đòi họ phải là con người trong trí tưởng tượng của ta. Một giới hạn đã rõ, nhưng ta dành sức để hận chính mình vì giới hạn đó. Một giai đoạn đã kết thúc, nhưng ta không chịu rời khỏi nó. Sự vâng phục có lúc là dám nói: “Điều này không phải điều con chọn. Nếu có thể, con đã chọn khác. Nhưng nó đang là thực tại của con. Xin Chúa chỉ cho con cách yêu Ngài ở đây.” Một câu ấy không làm nỗi đau biến mất, nhưng nó mở cánh cửa để ân sủng đi vào nỗi đau. Chừng nào ta còn nói: “Con chỉ bình an khi mọi thứ trở lại như con muốn,” ta đặt bình an của mình làm con tin cho một điều có thể không bao giờ xảy ra. Nhưng khi ta nói: “Con không cần mọi thứ giống ý con để vẫn thuộc về Chúa,” lúc ấy một thứ tự do sâu xa bắt đầu.
8. SỰ VÂNG PHỤC VÀ BỐN KHÍ GIỚI NỀN TẢNG CỦA CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Nếu từ đầu cuộc hành trình này con đã học bốn khí giới căn bản — bất tín nhiệm vào chính mình, tín thác vào Thiên Chúa, luyện tập đúng đắn các năng lực, và cầu nguyện — thì hãy nhìn xem sự vâng phục đi xuyên qua cả bốn như thế nào. Trước hết, vâng phục làm sâu sắc sự bất tín nhiệm vào mình. Không phải theo nghĩa ta coi thường trí khôn hay nhân phẩm của mình, nhưng là biết rằng phán đoán cá nhân có thể bị che phủ bởi đam mê, kinh nghiệm giới hạn, thành kiến, cảm xúc và tự ái. Người không biết nghi ngờ chính mình ở mức lành mạnh sẽ rất khó vâng phục, vì họ mặc nhiên tin rằng cách họ thấy là cách thực tại vốn như thế. Còn người khiêm nhường nói: “Có thể tôi chưa thấy hết. Có thể có điều tôi không biết. Có thể điều khiến tôi phản ứng mạnh không chỉ vì sự việc khách quan, mà còn vì một vết thương hay dính bén trong tôi.” Chính câu “có thể” ấy tạo khoảng trống cho ánh sáng đi vào. Người kiêu ngạo không có khoảng trống; họ đã đầy kết luận. Người khiêm nhường còn chỗ để được dạy.
Thứ đến, vâng phục nuôi dưỡng sự tín thác vào Thiên Chúa. Nếu chỉ vâng phục khi hiểu mọi sự, đó chưa phải tín thác trọn vẹn. Tín thác bắt đầu sâu hơn khi ta không thấy hết mà vẫn bước, không kiểm soát được mọi hậu quả mà vẫn tin rằng nếu mình trung thành với điều ngay chính thì Chúa không bỏ mình. Abraham rời quê mà không biết rõ nơi sẽ đến. Đức Maria thưa “Xin Vâng” mà không được trao trước toàn bộ bản đồ của đời Mẹ. Thánh Giuse thức dậy và làm theo lời thiên thần, nhiều khi trong những hoàn cảnh hoàn toàn không có gì dễ hiểu. Đức tin luôn có một khoảnh khắc bước ra khỏi điều mình kiểm soát. Và vâng phục chính là một trong những hình thức cụ thể nhất của bước chân ấy. Con không đặt niềm tin cuối cùng nơi bề trên, nơi linh hướng hay nơi hoàn cảnh. Con đặt nơi Chúa, Đấng có thể dẫn qua tất cả những trung gian ấy.
Thứ ba, vâng phục luyện các năng lực của linh hồn. Lý trí học không tuyệt đối hóa phán đoán mình. Ý chí học chọn điều tốt dù không thích. Ký ức học không đào bới mãi những chuyện cũ để nuôi oán hờn. Trí tưởng tượng học không dựng lên hàng chục viễn cảnh tiêu cực. Cảm xúc học rằng nó được lắng nghe nhưng không phải ông chủ. Thân xác học nề nếp. Lời nói học tiết chế. Chính vì thế, vâng phục không làm con người mất tự do như nhiều người tưởng; nếu sống đúng, nó giải phóng các năng lực khỏi sự cai trị của cảm xúc và tự ái, để chúng phục vụ điều tốt hơn.
Sau cùng, vâng phục làm cho cầu nguyện trở nên chân thật. Có những người cầu nguyện rất nhiều nhưng không muốn được Chúa thay đổi. Họ muốn Chúa nghe họ nhưng không muốn họ phải nghe Chúa. Họ muốn Chúa ban sức để thực hiện chương trình của họ. Họ muốn cầu nguyện như một cách làm mạnh hơn ý riêng. Nhưng cầu nguyện đích thực phải dẫn đến câu: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Nếu sau nhiều giờ cầu nguyện ta vẫn không thể chịu được một lời sửa bảo, vẫn không thể nhường ý mình, vẫn phải chiến thắng mọi tranh luận, vẫn không chấp nhận người khác hướng dẫn, ta cần tự hỏi mình đã thật sự gặp Chúa hay chỉ gặp những suy nghĩ đạo đức của chính mình. Cầu nguyện và vâng phục phải nâng đỡ nhau. Cầu nguyện giúp vâng phục không trở thành máy móc. Vâng phục giúp cầu nguyện không trở thành ảo tưởng.
9. CẠM BẪY THỨ NHẤT: VÂNG PHỤC CHỈ BẰNG BÊN NGOÀI, CÒN BÊN TRONG VẪN GIỮ NGUYÊN Ý RIÊNG
Có người nói: “Tôi đã làm rồi, còn muốn gì nữa?” Nhưng trong linh đạo, không chỉ việc đã được làm mới quan trọng; cách trái tim đi qua việc ấy cũng quan trọng. Một hành vi đúng bên ngoài có thể vẫn không sinh nhiều hoa trái nếu nó được thực hiện bằng cay đắng, tự thương hại và chống đối kéo dài. Con có thể làm điều được yêu cầu nhưng cả tuần sau vẫn kể cho mọi người nghe mình đã bị đối xử vô lý thế nào. Con có thể giữ im lặng trước bề trên nhưng trong lòng liên tục xúc phạm họ. Con có thể hoàn thành bổn phận nhưng cố ý làm mức tối thiểu như một cách phản kháng. Đó là sự vâng phục chưa chạm tới nơi cần chữa lành nhất.
Đừng hiểu lầm: trái tim không thể bị ép phải lập tức cảm thấy vui. Có những quyết định cần thời gian để tiêu hóa. Có những vết thương cần được nói ra với đúng người. Có những nỗi buồn là thật. Nhưng trong thời gian ấy, hãy giữ một hướng đi nội tâm: “Lạy Chúa, con chưa bình an, nhưng con không muốn nuôi sự chống đối. Xin kéo lòng con đến chỗ mà chân con đã đi.” Có khi thân xác vâng phục trước, trái tim theo sau chậm hơn. Điều ấy có thể chấp nhận được. Quan trọng là con không biến sự khó chịu thành căn tính. Đừng ngày nào cũng tưới nước cho nó bằng việc kể lại, nghĩ lại, tưởng tượng lại. Có những vết thương không lành vì mỗi sáng ta lại tháo băng để xem nó còn đau không.
10. CẠM BẪY THỨ HAI: DÙNG “VÂNG PHỤC” ĐỂ TRỐN TRÁNH TRÁCH NHIỆM
Ở phía ngược lại, có một thứ vâng phục giả tạo cũng nguy hiểm: người ta không muốn suy nghĩ, không muốn chịu trách nhiệm, không muốn phân định, nên chỉ nói: “Bề trên bảo sao con làm vậy.” Trong những việc chính đáng và phù hợp, thái độ sẵn sàng là tốt; nhưng vâng phục không biến con người thành vô trách nhiệm. Nếu con được giao một sứ vụ, con phải dùng trí khôn. Nếu thấy một nguy cơ thực tế, con phải trình bày. Nếu có thông tin quan trọng mà người có trách nhiệm chưa biết, con có bổn phận nói. Nếu một quyết định có thể gây hậu quả nghiêm trọng, im lặng vì sợ phiền không phải lúc nào cũng là vâng phục; đôi khi đó chỉ là thiếu can đảm. Đức vâng phục không giết sự thật. Người vâng phục trưởng thành biết nói sự thật mà không nổi loạn, biết góp ý mà không kiêu căng, biết phản biện mà không lấy mình làm trung tâm, biết đưa ra quan điểm rồi buông nó xuống nếu quyết định cuối cùng khác điều mình muốn.
Đây là một dấu rất hay để xét mình: sau khi đã trình bày hết điều cần trình bày, con có buông được không? Nếu con có thể nói rõ, mạnh mẽ, chân thành, rồi khi quyết định được đưa ra con vẫn tiếp tục phục vụ không cay độc, đó là dấu của tự do. Nếu con nói rằng mình chỉ “góp ý” nhưng thực ra sẽ tiếp tục gây áp lực cho đến khi mọi người đầu hàng và làm theo ý con, đó không còn là góp ý; đó là ý riêng mặc áo trách nhiệm.
11. CẠM BẪY THỨ BA: CHỈ VÂNG PHỤC KHI HỢP Ý
Đây có lẽ là cạm bẫy phổ biến nhất. Ta nghĩ mình là người vâng phục vì phần lớn thời gian chẳng có xung đột nào. Nhưng có thể đơn giản là phần lớn thời gian người khác đã yêu cầu điều ta cũng muốn. Hãy đợi đến lúc thật sự trái ý, con sẽ biết. Như người ta chỉ biết độ chắc của một cây cầu khi tải trọng đặt lên nó, sự vâng phục chỉ lộ sức mạnh khi ý riêng bị chất tải.
Khi trái ý, tâm trí bắt đầu tạo lý do. Điều buồn cười là ta thường trở nên “rất sáng suốt” đúng lúc phải làm điều mình không thích. Hàng chục lý luận xuất hiện. Ta nhìn ra mọi khuyết điểm của kế hoạch. Ta thấy những rủi ro trước đây không thấy. Ta nhớ lại mọi nguyên tắc có thể biện minh cho việc mình không nên làm. Có thể những lý luận ấy có phần đúng; vì thế càng khó nhận ra cái tôi đang chen vào. Hãy tập một thao tác nội tâm đơn giản: trước khi tranh luận về nội dung, hãy hỏi: “Nếu quyết định này đúng hệt điều tôi muốn, tôi có nhìn thấy những vấn đề ấy mạnh như vậy không?” Câu hỏi ấy thường làm lộ một phần động cơ. Có những điều ta gọi là nguyên tắc thật ra chỉ trở nên “nguyên tắc” khi chúng có lợi cho mình.
12. CẠM BẪY THỨ TƯ: TỰ ĐẶT MÌNH LÀM QUAN TÒA CỦA NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM
Một cộng đoàn có thể bị phá hủy không phải chỉ bởi những quyết định sai, nhưng bởi một bầu khí trong đó ai cũng âm thầm trở thành quan tòa của người khác. Người này phán xét bề trên. Người kia phán xét hội đồng. Người khác phán xét người được giao trách nhiệm. Những cuộc trò chuyện bắt đầu bằng câu “Tôi không có ý nói xấu, nhưng…” rồi sau đó tất cả mọi điều xấu đều được nói. Có khi nội dung hoàn toàn có thật, nhưng cách ta thưởng thức việc kể lại sự thiếu sót của người khác cho thấy trong lòng có điều không ngay.
Nếu có vấn đề nghiêm trọng, hãy dùng những con đường chính đáng để trình bày. Nếu có nguy cơ lạm dụng, bất công hay vi phạm, đừng im lặng dưới danh nghĩa vâng phục. Nhưng nếu vấn đề chỉ là người khác không làm theo cách con thích, hãy cẩn thận với sự xét đoán. Con không biết hết những thông tin họ có. Con không mang hết trách nhiệm họ mang. Con không thấy hết những yếu tố họ phải cân nhắc. Điều con cho là hiển nhiên từ vị trí của con có thể không hiển nhiên từ vị trí của họ. Khiêm nhường không buộc con nghĩ rằng người khác luôn đúng; nó chỉ nhắc con rằng con cũng không biết hết.
13. VÂNG PHỤC VÀ TỰ DO: NGHỊCH LÝ MÀ THẾ GIAN KHÓ HIỂU
Thế gian thường nghĩ tự do là có thể làm điều mình muốn. Nhưng nếu tôi luôn phải làm điều mình muốn, tôi có thật sự tự do không? Nếu tôi không chịu được việc bị trái ý, chẳng phải ý muốn của tôi đang cai trị tôi sao? Nếu một sự thay đổi nhỏ cũng làm tôi mất bình an, một lời góp ý cũng làm tôi tổn thương nhiều ngày, một quyết định khác ý cũng khiến tôi nổi loạn, thì tôi chưa tự do. Tôi đang bị chính mình cầm tù.
Tự do Kitô giáo sâu hơn: đó là khả năng chọn điều tốt ngay cả khi nó không hợp sở thích; khả năng yêu ngay cả khi không được đáp lại; khả năng phục vụ ngay cả khi không được ghi nhận; khả năng ở lại bình an ngay cả khi kế hoạch thay đổi; khả năng buông một điều tốt nếu Chúa mời gọi một điều khác. Người càng cần mọi thứ phải đúng ý mới bình an thì càng ít tự do. Người có thể nói: “Điều này không phải lựa chọn của tôi, nhưng tôi có thể yêu Chúa trong điều này” là người bắt đầu chạm đến tự do.
Hãy nhìn Đức Maria. Lời “Xin Vâng” của Mẹ không phải là sự thụ động. Nó là một hành vi tự do đến tận cùng. Không ai ép Mẹ. Mẹ trao chính mình. Và chính vì Mẹ tự do trao mình cho Thiên Chúa, Mẹ trở thành người tự do hơn tất cả những kẻ chỉ biết bảo vệ ý riêng. Tự do cao nhất không phải là giữ lại mọi khả năng cho mình. Tự do cao nhất là có thể trao mình cho điều xứng đáng để được trao. Một người không cam kết gì có thể tưởng mình tự do, nhưng thực ra họ bị mắc kẹt trong vô số khả năng chưa thành hình. Một người yêu thì chọn. Một người thánh thì chọn Thiên Chúa. Và mỗi lựa chọn ấy đóng lại những con đường khác. Sự vâng phục chính là hình thức cụ thể của tự do được trao hiến.
14. KHI VÂNG PHỤC TRỞ THÀNH THẬP GIÁ
Sẽ có lúc sự vâng phục không còn nhẹ. Nó làm con khóc. Nó khiến con phải rời điều mình yêu. Nó đụng đến một dự án con đã dốc đời xây dựng. Nó khiến con cảm thấy mình không được hiểu. Nó làm tương lai trở nên mù mịt. Những lúc ấy, đừng tô hồng. Thập giá không phải là đồ trang trí. Nếu Đức Giêsu đã đổ mồ hôi máu trước ý Cha, con không cần giả vờ rằng mọi hy sinh đều dễ.
Nhưng chính ở đây, sự vâng phục chạm đến chiều sâu của tình yêu. Ai cũng có thể cho Chúa điều mình không cần. Tình yêu chỉ lộ ra khi ta trao điều mình thực sự muốn giữ. Isaac của Abraham không phải là một con chiên vô danh; đó là người con của lời hứa. Điều làm hy lễ trở thành hy lễ chính là vì nó chạm vào nơi trái tim bám chặt nhất. Có khi Chúa không lấy điều ấy khỏi con; nhưng Ngài cho phép con đi tới điểm có thể trao nó. Và khi ý riêng được đặt lên bàn thờ, một điều kỳ lạ xảy ra: con khám phá rằng thứ con tưởng không thể sống thiếu thực ra không phải là Thiên Chúa.
Có những lần vâng phục sẽ giống một cái chết nhỏ. Một danh dự chết. Một kế hoạch chết. Một hình ảnh về chính mình chết. Một nhu cầu được công nhận chết. Một giấc mơ chết. Nhưng đừng quên: Kitô giáo không kết thúc ở mồ. Mọi cái chết được sống trong Đức Kitô đều có thể trở thành nơi phục sinh. Điều được phục sinh có thể không giống điều đã chết. Con có thể không được trả lại đúng công việc cũ, vị trí cũ, kế hoạch cũ. Nhưng một con người mới có thể xuất hiện: tự do hơn, mềm mại hơn, ít tự vệ hơn, ít cần chứng minh hơn, thuộc về Chúa hơn.
15. KHI Ý RIÊNG ĐỘI LỐT “THÁNH Ý CHÚA”
Đây là một trong những điều nguy hiểm nhất. Một người có thể nói: “Tôi cảm thấy Chúa muốn tôi làm việc này,” và từ giây phút ấy mọi góp ý khác trở thành chống lại “ý Chúa”. Hãy hết sức cẩn thận với những xác tín nội tâm không còn cho phép mình được kiểm chứng. Những thúc đẩy của Chúa thường đi cùng sự khiêm nhường. Nếu một “ơn soi sáng” làm con trở nên không thể được sửa, không thể được hỏi, không thể được yêu cầu chờ đợi, không thể được khuyên xem xét lại, thì dù nội dung có vẻ đạo đức, thái độ ấy đã đáng nghi.
Ý Chúa không sợ sự thật. Điều thật đến từ Chúa không cần được bảo vệ bằng kiêu ngạo. Nếu Chúa thực sự muốn một điều, Ngài có thể mở đường vào thời của Ngài. Có khi Ngài thử sự tinh tuyền của ước muốn bằng cách để điều ấy bị trì hoãn. Một người nghĩ mình được gọi làm một việc rất tốt nhưng lại không chịu nổi việc phải chờ có thể đang yêu công việc ấy hơn yêu Chúa. Có khi Chúa hỏi: “Nếu Ta không cho con làm điều này, con còn yêu Ta không? Nếu người khác làm thay con, con còn vui vì Nước Ta được mở rộng không? Nếu ý tưởng của con được thực hiện nhưng tên con không gắn vào đó, con còn bình an không?” Những câu hỏi này đâm sâu vào lòng tự ái thiêng liêng.
Hãy nhớ: không phải mọi điều tốt đều là điều Chúa muốn con làm lúc này. Có hàng ngàn việc tốt, nhưng con chỉ có một đời. Ý riêng có thể dùng chính những việc đạo đức để làm con bỏ bổn phận thật. Một người có thể muốn cầu nguyện thêm một giờ trong khi trách nhiệm rõ ràng đang chờ. Một người có thể say mê một sứ vụ mới trong khi công việc đã được trao còn bỏ bê. Một người có thể chạy đi giúp nhiều người xa nhưng không chịu sống bác ái với người gần. Vâng phục giúp đặt các điều tốt vào trật tự. Nó nói: không phải chỉ hỏi “việc này có tốt không?” mà còn hỏi “đây có phải việc Chúa đang trao cho tôi không?”
16. NHỮNG VÂNG PHỤC NHỎ LÀM CHẾT Ý RIÊNG TỪNG NGÀY
Đừng đợi một quyết định lớn mới tập vâng phục. Cái tôi không chết bằng một nhát duy nhất. Nó chết qua hàng trăm cái chết nhỏ. Đúng giờ khi con muốn chậm thêm năm phút. Dừng nói khi đã đến lúc phải lắng nghe. Chấp nhận một cách làm khác mà không cần chứng minh cách mình tốt hơn. Để người khác chọn một điều nhỏ. Làm công việc không ai chú ý. Giữ một cam kết khi cảm xúc đã thay đổi. Không chen vào một chuyện không thuộc trách nhiệm. Không nhất thiết phải có tiếng nói cuối cùng. Không sửa người khác chỉ để thỏa sự khó chịu của mình. Xin phép khi cần xin phép. Báo cáo trung thực khi phải báo cáo. Chấp nhận “không” mà không biến nó thành bi kịch. Chấp nhận chờ. Chấp nhận không biết. Chấp nhận rằng mình không phải lúc nào cũng được hiểu.
Những điều này nhỏ đến mức người khác không thấy, nhưng chúng làm thay đổi cấu trúc bên trong của linh hồn. Mỗi lần con không chạy theo xung động đầu tiên, ý chí được mạnh hơn. Mỗi lần con nhường một điều hợp lý mà không cay đắng, tự ái mất một phần quyền lực. Mỗi lần con làm điều đúng dù không cảm thấy thích, con trở nên tự do hơn. Nhân đức lớn được xây bằng những viên đá nhỏ. Không có người vâng phục trong những việc lớn nếu cả đời họ đã nuông chiều ý riêng trong những việc nhỏ.
17. VÂNG PHỤC KHÔNG LOẠI BỎ SỰ SÁNG TẠO, NHƯNG THANH LUYỆN NÓ
Có người sợ rằng sống vâng phục sẽ làm mình mất cá tính, sáng kiến và khả năng sáng tạo. Nếu vâng phục được hiểu sai, điều ấy có thể xảy ra. Nhưng vâng phục Kitô giáo đích thực không tiêu diệt tài năng; nó giải phóng tài năng khỏi nhu cầu phải được sở hữu. Người vâng phục vẫn suy nghĩ, vẫn sáng tạo, vẫn đề xuất, vẫn làm hết khả năng. Nhưng họ không đồng nhất bản thân với ý tưởng của mình đến mức việc ý tưởng bị từ chối trở thành việc chính họ bị từ chối.
Đây là một dấu của trưởng thành rất quý: con có thể yêu một ý tưởng, bảo vệ nó bằng những lý lẽ tốt nhất, làm việc hết sức cho nó, nhưng nếu cuối cùng người có trách nhiệm chọn hướng khác, con không sụp đổ. Con biết ý tưởng là của con, nhưng con không phải là ý tưởng ấy. Con có giá trị trước Chúa không tùy việc người khác có chọn đề nghị của con hay không. Chính sự tự do này làm sáng tạo trở nên trong sạch hơn. Ta không còn đề xuất để được nhìn nhận là thông minh; ta đề xuất để phục vụ. Nếu đề nghị được chọn, ta làm hết lòng. Nếu không được chọn, ta vẫn phục vụ hết lòng. Khi ấy, tài năng không còn là một ngai vàng cho cái tôi mà trở thành món quà đặt trong tay cộng đoàn.
18. VÂNG PHỤC TRONG NHỮNG LÚC KHÔNG CÓ AI NHÌN
Dễ vâng phục khi người khác đang quan sát. Khó hơn là vâng phục những điều đã cam kết khi không ai kiểm tra. Một giờ cầu nguyện. Một quy tắc sử dụng thời gian. Một giới hạn đã được đặt để bảo vệ đời sống nội tâm. Một nguyên tắc về tiền bạc. Một bổn phận nhỏ trong cộng đoàn. Một lời hứa chỉ mình và Chúa biết. Đây là nơi sự vâng phục đi từ quan hệ với con người đến quan hệ trực tiếp với Thiên Chúa.
Nếu con chỉ giữ kỷ luật khi có người kiểm tra, con đang sống theo mắt người ta. Người tự do có một “nội tâm dưới ánh mắt Chúa”. Họ biết mình có thể phá lệ mà không ai biết, nhưng họ không muốn vì tình yêu. Chính những vâng phục kín đáo ấy xây dựng một cột sống thiêng liêng. Người sống hai đời — một đời khi có người nhìn và một đời khi không ai nhìn — cuối cùng sẽ mệt mỏi vì phải bảo vệ hình ảnh. Người vâng phục trong điều kín đáo ngày càng đơn sơ: họ không cần đóng vai.
19. KHI PHẢI NÓI “KHÔNG”: SỰ VÂNG PHỤC LUÔN Ở TRONG SỰ THẬT
Cần nói rõ điều này để tránh một sai lầm nghiêm trọng: không ai có quyền đòi con vâng phục điều trái với Thiên Chúa, điều vô luân, lạm dụng, bất công nghiêm trọng hoặc vi phạm lương tâm được đào luyện đúng đắn. Sự vâng phục không làm điều ác trở nên tốt. Một mệnh lệnh sai không được thánh hóa chỉ vì người ra lệnh có quyền. Lịch sử Hội Thánh không thiếu những chứng nhân phải vâng lời Thiên Chúa hơn con người.
Nhưng cũng cần khiêm nhường nhận ra sự khác biệt giữa “điều này sai về luân lý” và “điều này không hợp ý tôi”. Ý riêng rất thích nâng sự khó chịu cá nhân lên cấp lương tâm để không phải từ bỏ. Vì vậy, trong những trường hợp nghiêm trọng, cần phân định với người khôn ngoan, có thẩm quyền thích hợp, và nhìn sự việc khách quan. Đừng dùng vâng phục để che lấp lạm dụng; nhưng cũng đừng dùng chữ “lương tâm” như lá chắn để mọi điều trái ý đều trở thành bất khả xâm phạm.
Sự thật và vâng phục không đối nghịch. Đức Giêsu vừa là Đấng vâng phục vừa là Đấng làm chứng cho sự thật. Một người trưởng thành có thể nói “không” khi phải nói không, nhưng không làm điều ấy vì tự ái. Họ có thể chịu hậu quả mà không biến lòng mình thành nơi căm ghét. Họ có thể đứng vững mà không khinh miệt. Đây là một mức trưởng thành khó hơn nhiều cả sự phục tùng mù quáng lẫn sự nổi loạn.
20. SỰ VÂNG PHỤC VÀ BÌNH AN NỘI TÂM
Một trong những hoa trái đẹp nhất của sự vâng phục đúng đắn là bình an. Không phải vì người vâng phục không còn vấn đề, nhưng vì họ không còn phải tự mình gánh cả vũ trụ. Người muốn kiểm soát mọi sự phải mang một gánh quá lớn: họ phải bảo đảm kế hoạch đúng, người khác cư xử đúng, kết quả xảy ra đúng, tương lai mở ra đúng, mọi người hiểu mình đúng. Chỉ cần một phần không đúng, họ mất bình an.
Người vâng phục nói: “Con sẽ làm phần của con với tất cả trách nhiệm; phần còn lại con trao cho Chúa.” Đây không phải buông xuôi. Đây là đặt lại ranh giới giữa trách nhiệm và kiểm soát. Con có trách nhiệm nói sự thật; con không kiểm soát người khác có nghe hay không. Con có trách nhiệm làm việc tốt; con không kiểm soát kết quả hoàn toàn. Con có trách nhiệm cầu nguyện và phân định; con không kiểm soát tương lai. Con có trách nhiệm trình bày quan điểm; con không nhất thiết có quyền buộc mọi người chấp nhận. Một khi các ranh giới này rõ hơn, tâm hồn nhẹ đi rất nhiều.
Có những đêm mất ngủ không phải vì công việc quá nhiều, nhưng vì ý riêng vẫn đang cố giải quyết trong đầu những điều không thuộc quyền mình. “Tại sao họ làm vậy? Ngày mai tôi phải nói gì? Tôi sẽ chứng minh thế nào? Nếu kế hoạch này thất bại thì sao? Nếu người ta hiểu lầm tôi thì sao?” Tâm trí quay liên tục. Hãy tập một lời cầu đơn sơ: “Lạy Chúa, con đã làm điều con có thể. Phần còn lại thuộc về Chúa.” Nói thật chậm. Có khi phải nói mười lần. Sự vâng phục cuối cùng cũng là vâng phục giới hạn thụ tạo của mình: tôi không phải là Thiên Chúa. Tôi không cần thức thay Chúa.
21. HỌC VÂNG PHỤC TỪ ĐỨC MARIA: “XIN VÂNG” KHÔNG PHẢI LÀ MỘT LỜI NÓI, NHƯNG LÀ MỘT ĐỜI SỐNG
Khi sứ thần đến, Đức Maria không được trao một bản kế hoạch chi tiết. Mẹ chỉ được trao một lời mời và một lời hứa. Mẹ hỏi, không phải vì không tin, nhưng vì muốn hiểu cách thực hiện. Rồi Mẹ thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời “Xin Vâng” ấy kéo dài suốt đời Mẹ. Nó phải được lặp lại ở Bêlem khi không có chỗ trọ. Ở Ai Cập khi phải chạy trốn. Ở Nadarét trong những năm âm thầm. Khi Đức Giêsu rời nhà. Khi người ta chống đối Ngài. Khi Mẹ đứng dưới thập giá và tất cả những gì Mẹ từng nghe về Con dường như bị bóng tối che phủ.
Điều đáng học nơi Mẹ không chỉ là Mẹ đã nói “Xin Vâng” một lần, nhưng là Mẹ không rút lại lời ấy khi con đường trở nên khác điều trí tưởng tượng có thể mong. Rất nhiều người nói “xin vâng” khi bắt đầu. Họ xin vâng với ơn gọi, xin vâng với hôn nhân, xin vâng với chức vụ, xin vâng với một sứ mạng. Nhưng nhiều năm sau, điều khó không phải là nói lại câu đó trong nghi thức; điều khó là sống nó giữa những ngày không huy hoàng. “Xin vâng” khi mệt. “Xin vâng” khi không được công nhận. “Xin vâng” khi người khác thay đổi. “Xin vâng” khi chính mình thấy giới hạn. “Xin vâng” khi phải làm lại một việc đã làm hàng nghìn lần. Chính những lời xin vâng không ai vỗ tay ấy làm nên một đời tận hiến.
Hỡi linh hồn, hãy xin Đức Maria dạy con một tiếng “Fiat” không ồn ào. Không phải một tiếng xin vâng đầy cảm xúc rồi hôm sau rút lại, nhưng một tiếng xin vâng trở thành nhịp thở. “Con xin vâng với ngày hôm nay. Con xin vâng với người Chúa đặt cạnh con. Con xin vâng với giới hạn con chưa thể thay đổi. Con xin vâng với bổn phận đang chờ. Con xin vâng với điều con chưa hiểu nhưng đã nhận ra là ngay chính. Con xin vâng cả với việc phải chờ.”
22. HỌC VÂNG PHỤC TỪ CHÚA GIÊSU: KHÔNG PHẢI ĐỂ BỊ XÓA MẤT, NHƯNG ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI CON
Đức Giêsu không mất phẩm giá khi vâng phục Cha. Trái lại, chính trong sự vâng phục, căn tính Người Con được biểu lộ trọn vẹn. Đây là điều chữa lành nỗi sợ sâu xa nơi chúng ta: ta sợ rằng nếu không bảo vệ ý mình, ta sẽ biến mất. Ta sợ nếu nhường, người khác sẽ lấn. Ta sợ nếu không được làm theo cách mình muốn, đời mình sẽ không còn ý nghĩa. Nhưng Đức Kitô cho thấy sự tự hiến không tiêu diệt con người; nó làm con người đạt tới sự viên mãn của tình yêu.
Cái bị chết trong vâng phục không phải là nhân vị thật của con, nhưng là ảo tưởng rằng con chỉ là chính mình khi không ai được chạm vào ý con. Chúa không muốn những con người vô sắc. Ngài muốn những con người tự do đến mức có thể trao mình. Như một nhạc cụ không mất bản chất khi ở trong tay người nghệ sĩ, nhưng nhờ được đặt đúng tay mới phát ra âm thanh nó được tạo dựng để có, linh hồn không mất mình khi đặt trong tay Chúa. Nó mới bắt đầu trở thành chính nó.
23. XÉT MÌNH VỀ SỰ VÂNG PHỤC
Mỗi tối, đừng chỉ hỏi con đã phạm tội gì. Hãy hỏi thêm: hôm nay ý riêng của con đã xuất hiện ở đâu? Điều gì làm con mất bình an nhiều nhất? Vì sao? Có phải vì một điều xấu thật sự, hay đơn giản vì sự việc không xảy ra theo ý con? Khi người khác góp ý, phản ứng đầu tiên của con là gì? Con có lập tức biện hộ không? Con có thật sự nghe không? Khi đề nghị của con không được chọn, con có thể tiếp tục hợp tác không? Khi bổn phận trái với cảm xúc, con làm thế nào? Con có chọn lọc những điều mình thích trong đời sống đức tin không? Con có tìm người hướng dẫn để được soi sáng, hay để được xác nhận? Con có kể một câu chuyện theo cách khiến người nghe chắc chắn đứng về phía con không? Con có dùng “phân định” để trì hoãn điều mình đã biết phải làm? Con có dùng “vâng phục” để khỏi phải chịu trách nhiệm? Con có lặng lẽ nuôi sự chống đối người có trách nhiệm không? Con có thể vui khi một điều tốt được thực hiện bởi người khác thay vì bởi con không?
Đừng trả lời những câu này để tự kết án. Hãy trả lời để nhìn thấy mình. Ánh sáng không đến để làm con tuyệt vọng; ánh sáng đến để chỉ cho con nơi Chúa muốn chữa. Có thể con sẽ phát hiện một điều không dễ chịu: phần lớn đau khổ trong một hoàn cảnh không đến từ hoàn cảnh mà từ việc ý riêng của con bị đụng tới. Đó là một khám phá quý. Vì khi biết gốc ở đâu, con mới biết phải đánh ở đâu.
24. NHỮNG THỰC HÀNH CỤ THỂ ĐỂ TẬP VÂNG PHỤC
Mỗi ngày, hãy chọn ít nhất một điều nhỏ để không theo ý riêng. Đừng biến nó thành khổ chế kỳ lạ. Chỉ cần những điều bình thường: để người khác chọn trước; đừng tranh lời cuối; làm ngay một bổn phận đang muốn trì hoãn; tiếp nhận một góp ý mà chưa vội giải thích; giữ một quy tắc đã đặt; chấp nhận một thay đổi nhỏ mà không than phiền. Khi có điều trái ý, hãy tập trì hoãn phản ứng. Đừng nói ngay. Hãy thở, cầu một câu ngắn: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin làm lòng con nên giống Chúa.” Năm giây thinh lặng có thể cứu con khỏi năm ngày hối tiếc.
Khi phải trình bày một quan điểm, hãy trình bày rõ ràng rồi tự hỏi: “Con có sẵn sàng nếu kết luận cuối cùng khác ý con không?” Nếu chưa, hãy cầu nguyện trước khi nói thêm. Khi nhận một quyết định khó, đừng lập tức kể với nhiều người. Hãy cho lòng mình một khoảng im lặng. Có những điều nếu đem ra bàn quá sớm sẽ bị cảm xúc tập thể làm lớn lên. Hãy tìm một người khôn ngoan nếu cần, nhưng đừng biến việc tìm sự nâng đỡ thành việc tuyển đồng minh.
Và đôi khi, hãy tập nói một câu rất khó nhưng rất đẹp: “Tôi đã trình bày điều tôi nghĩ. Nếu quyết định cuối cùng khác, tôi vẫn sẽ cộng tác.” Người nói được câu ấy với tâm hồn ngay thẳng là người đã đi rất xa trên đường tự do.
25. KHI VÂNG PHỤC KHÔNG ĐƯỢC GHI NHẬN
Đừng mong sự vâng phục của con lúc nào cũng được người khác thấy và trân trọng. Có những hy sinh không ai biết. Người ta có thể tưởng con thuận ý trong khi con đã phải chiến đấu rất nhiều. Người ta có thể không biết con đã từ bỏ một điều lớn. Đừng vội kể để được hiểu. Nếu cần chia sẻ vì phân định hay vì chữa lành, hãy chia sẻ. Nhưng nếu chỉ vì muốn có ai đó nói: “Tội nghiệp, con đã hy sinh nhiều quá,” hãy coi chừng cái tôi đang muốn lấy lại bằng lời khen điều nó vừa phải bỏ bằng vâng phục.
Có những hy lễ càng kín càng đẹp. Chỉ Chúa biết con đã im lặng thế nào, đã buông điều gì, đã chiến đấu bao lâu. Hãy để một số điều chỉ ở giữa con và Chúa. Cái tôi rất muốn ký tên dưới mọi hy sinh. Tình yêu đôi khi xóa chữ ký.
26. SỰ VÂNG PHỤC VÀ CÁI CHẾT CỦA NHU CẦU ĐƯỢC HIỂU
Một trong những ý riêng sâu nhất là muốn mọi người hiểu mình. Ta không chỉ muốn làm điều đúng; ta còn muốn người khác biết rằng ta đúng. Ta không chỉ muốn hy sinh; ta muốn người khác biết mình đã hy sinh. Ta không chỉ muốn bị hiểu lầm rồi tiếp tục bước; ta muốn cuối cùng sự thật phải được công bố để danh dự được trả lại.
Có lúc điều này chính đáng. Danh dự, công lý và sự thật có giá trị. Nhưng có những trường hợp Chúa cho phép con bị hiểu chưa hết, không phải để hủy con, mà để giải phóng con khỏi nhu cầu phải kiểm soát hình ảnh của mình. Đức Giêsu đã không giải thích mình trước mọi cáo buộc. Có những lúc Ngài im lặng. Sự im lặng ấy không phải yếu đuối. Nó là tự do của người biết căn tính mình nằm trong tay Cha, không trong phán đoán nhất thời của đám đông.
Nếu con phải được mọi người hiểu mới bình an, con đang trao chìa khóa bình an cho quá nhiều người. Hãy học nói: “Chúa biết.” Không phải như một lời cay đắng, nhưng như nơi nghỉ. “Chúa biết điều con định làm. Chúa biết con đã cố gắng. Chúa biết điều con không thể nói hết. Chúa biết.” Có những lúc câu ấy là đủ.
27. ĐỪNG LÃNG MẠN HÓA SỰ VÂNG PHỤC
Sự vâng phục không phải lúc nào cũng đẹp trong cảm giác. Nó có thể rất trần trụi. Không nhạc nền. Không cảm xúc sốt sắng. Không một lời xác nhận. Chỉ là một người mệt mỏi làm điều phải làm. Một người đau vẫn giữ lời. Một người không hiểu vẫn không bỏ cuộc. Một người không được cảm ơn vẫn tiếp tục phục vụ.
Đừng chờ đến khi thấy cao quý mới sống cao quý. Nhiều nhân đức thật ban đầu có cảm giác rất bình thường, thậm chí khó chịu. Hạt lúa không cảm thấy “vinh quang” khi chết trong đất. Nó chỉ bị chôn. Nhưng trong bóng tối, một tiến trình đã bắt đầu.
28. KHI VÂNG PHỤC TRỞ THÀNH TÌNH YÊU
Cuối cùng, mục tiêu không phải là trở thành người “ngoan ngoãn” theo nghĩa hẹp, nhưng là trở thành người yêu. Tình yêu nói: “Ý Chúa quý hơn ý con.” Không phải vì ý con luôn xấu. Có khi ý con rất tốt. Nhưng điều tốt nhất vẫn là Chúa.
Sự vâng phục cao nhất không còn hỏi: “Con phải bỏ gì?” mà hỏi: “Con có thể trao gì?” Nó không sống với tâm thế bị lấy mất, nhưng với tâm thế tự hiến. Người ấy không nói: “Tôi buộc phải vâng,” nhưng dần dần có thể nói: “Tôi muốn thuộc về Chúa đến mức ý Ngài trở thành niềm vui sâu nhất của tôi.” Đừng lo nếu hôm nay con chưa ở đó. Sự vâng phục cũng lớn lên. Ban đầu có thể là bổn phận. Sau đó là tín thác. Sau nữa là tình yêu. Quan trọng là tiếp tục bước.
29. MỘT DẤU RẤT THẬT CỦA SỰ TIẾN BỘ: CON NGÀY CÀNG ÍT CẦN THẮNG
Hãy nhớ dấu này. Nếu con cầu nguyện nhiều hơn nhưng ngày càng cần thắng mọi cuộc tranh luận, còn nhiều việc phải làm. Nếu con đọc sách thiêng liêng nhiều nhưng khó chịu khi người khác không theo quan điểm mình, còn nhiều việc phải làm. Nếu con làm việc tông đồ lớn nhưng không chịu được việc người khác sửa, còn nhiều việc phải làm. Nếu con nói về từ bỏ nhưng phải kiểm soát mọi chi tiết, còn nhiều việc phải làm.
Tiến bộ thật thường biểu lộ rất âm thầm: con không còn cần chứng minh mình đúng trong mọi chuyện. Con có thể để một hiểu lầm nhỏ trôi qua. Con có thể nhận một góp ý mà không lập tức kể mười lý do. Con có thể vui khi người khác được chọn. Con có thể thay đổi chương trình mà không bực. Con có thể nghe câu “không” mà không thấy giá trị bản thân bị đe dọa. Con có thể nói: “Có thể tôi sai.” Những câu nhỏ ấy có mùi của khiêm nhường.
30. SỰ VÂNG PHỤC CUỐI CÙNG: TRAO CẢ ĐỜI MÌNH VÀO TAY CHÚA
Tất cả những vâng phục nhỏ cuối cùng chuẩn bị cho một sự vâng phục lớn nhất mà không ai tránh được: trao sự sống trở lại cho Thiên Chúa. Giờ chết là lúc mọi kiểm soát rơi khỏi tay. Ta không mang theo vai trò, kế hoạch, danh dự, thành quả. Ta chỉ còn có thể nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Người đã tập vâng phục cả đời đang tập chết mỗi ngày theo một cách nhỏ. Mỗi lần bỏ ý riêng, ta tập buông. Mỗi lần chấp nhận giới hạn, ta tập buông. Mỗi lần để Chúa quyết định con đường không giống điều ta vẽ, ta tập buông. Như thế, vâng phục không làm đời sống nghèo đi; nó chuẩn bị đời sống cho hành vi tự do cuối cùng: trở về với Đấng đã ban nó.
LỜI KẾT
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, nếu con thật sự muốn được gìn giữ khỏi ảo tưởng, hãy yêu sự vâng phục. Nếu con muốn thấy cái tôi đang ẩn ở đâu, hãy quan sát những lúc ý con bị trái. Nếu con muốn biết mình đang tín thác vào Chúa đến mức nào, hãy xem con phản ứng ra sao khi không còn kiểm soát. Nếu con muốn cuộc đời Chúa Giêsu lớn lên trong mình, hãy học với Ngài câu: “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.”
Đừng sợ sự vâng phục sẽ lấy mất con người con. Điều nó lấy là những xiềng xích mà con đã tưởng là bản thân mình: nhu cầu phải đúng, nhu cầu phải được hiểu, nhu cầu phải kiểm soát, nhu cầu được nhìn nhận, nhu cầu mọi sự phải xảy ra theo cách mình muốn. Mỗi xiềng xích rơi xuống, con không nghèo hơn; con tự do hơn. Mỗi lần ý riêng chịu chết, tình yêu có thêm chỗ để sống. Mỗi lần con buông một điều vì Chúa, bàn tay con mở ra để nhận điều lớn hơn chính là Chúa.
Có thể chẳng ai biết cuộc chiến ấy. Một lời “vâng” con nói trong phòng riêng. Một kế hoạch con lặng lẽ buông xuống. Một sự sửa bảo con tiếp nhận mà không tự vệ. Một công việc con làm dù không ai cảm ơn. Một thay đổi con đón nhận trong nước mắt. Một câu trả lời con muốn nói nhưng đã giữ lại. Một quyền lợi con không nhất thiết phải bảo vệ đến cùng. Một sở thích con nhường. Những điều ấy có thể quá nhỏ trước mắt thế gian. Nhưng trên chiến trường linh hồn, chúng là những chiến thắng thật.
Hãy nhớ rằng ma quỷ có thể không sợ một người nói rất nhiều về khiêm nhường, nhưng nó sợ người biết thật sự bỏ ý riêng. Nó không sợ người có nhiều cảm xúc thiêng liêng bằng người biết trung thành khi cảm xúc mất đi. Nó không sợ người làm những việc phi thường do mình chọn bằng người có thể sống một bổn phận bình thường chỉ vì Chúa muốn. Một linh hồn biết vâng phục trong sự thật, trong tự do và trong tình yêu trở thành một linh hồn rất khó bị đánh lừa, bởi nó không còn nhất thiết phải bảo vệ mọi chuyển động của cái tôi.
Hỡi linh hồn, rồi sẽ có những ngày con không hiểu đường Chúa. Đừng vội kết luận rằng Ngài bỏ con. Sẽ có những lúc một quyết định làm con đau. Đừng để nỗi đau biến thành cay đắng. Sẽ có những lúc con phải trình bày sự thật. Hãy trình bày với sự ngay thẳng. Sẽ có những lúc con phải nói “không” vì lương tâm. Hãy nói với sự can đảm và bác ái. Nhưng trong tất cả, hãy giữ một lòng sâu xa muốn thuộc về Chúa hơn thuộc về ý riêng mình.
Khi con không biết phải làm gì, hãy trở về với Đức Giêsu ở Vườn Cây Dầu. Hãy quỳ bên Ngài. Hãy nghe câu nói đã cứu thế giới: “Xin đừng theo ý Con.” Và khi con thấy câu ấy quá khó, hãy chạy đến với Đức Maria. Hãy xin Mẹ đặt trên môi con lời Mẹ đã nói ở Nadarét: “Xin Chúa cứ làm cho con như lời Ngài.”
Rồi con sẽ hiểu rằng sự vâng phục không phải là một nhà tù. Nó là cánh cửa ra khỏi nhà tù của chính mình.
Và có lẽ một ngày kia, sau rất nhiều năm chiến đấu, con sẽ nhìn lại và nhận ra những biến cố từng làm mình đau nhất lại chính là những lưỡi dao Thiên Chúa đã dùng để cắt những sợi dây trói buộc mình. Con sẽ thấy có những điều mình từng xin Chúa đừng để xảy ra, nhưng nếu chúng không xảy ra, mình có lẽ đã không bao giờ học được tự do. Có những người mình từng thấy khó chịu lại chính là những khí cụ làm lộ ra những phần chưa được chữa lành. Có những quyết định mình từng chống lại lại trở thành cánh cửa dẫn sang một vùng đất ân sủng. Và lúc ấy, con sẽ không còn nói: “Tại sao Chúa không làm theo điều con muốn?” nhưng sẽ thầm thưa với một sự bình an đã được mua bằng nhiều cái chết nhỏ: “Lạy Chúa, cảm tạ Chúa vì Ngài đã không luôn cho con điều con muốn, nhưng đã kiên nhẫn dẫn con đến điều con cần.”
Hỡi linh hồn, hãy tập vâng phục từ hôm nay. Đừng đợi đến một biến cố lớn. Hãy bắt đầu với việc gần nhất. Với một bổn phận. Một giới hạn. Một quyết định. Một lời góp ý. Một điều trái ý nhỏ. Hãy đặt ý riêng xuống trước mặt Chúa và thưa: “Con không muốn chính mình làm chúa của đời con nữa.”
Rồi hãy đứng dậy và làm điều phải làm.
Không ồn ào. Không cần ai biết.
Chỉ vì Chúa.
Và nếu ngày mai ý riêng lại sống dậy, đừng ngạc nhiên. Nó sẽ sống dậy nhiều lần. Hãy lại đặt nó xuống. Mười lần, trăm lần, ngàn lần nếu cần. Cuộc chiến linh hồn không thắng bằng một hành vi anh hùng duy nhất, nhưng bằng vô số lời “xin vâng” âm thầm được lặp lại cho đến khi trái tim quen với việc thuộc về Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng đã vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá, xin đặt trong con tâm tình của Chúa. Xin chữa con khỏi sự cứng đầu của ý riêng, khỏi nhu cầu phải luôn đúng, khỏi thói quen muốn kiểm soát mọi sự, khỏi nỗi sợ phải trao mình vào tay Chúa. Xin cho con biết suy nghĩ nhưng không kiêu ngạo, biết trình bày nhưng không cố chấp, biết phân định nhưng không trốn tránh, biết vâng phục nhưng không mù quáng, biết bảo vệ sự thật mà vẫn giữ lòng khiêm nhường và bác ái. Khi con gặp những điều trái ý, xin đừng để con chỉ nhìn thấy con người và hoàn cảnh, nhưng biết nhìn xuyên qua tất cả để tìm xem Chúa đang muốn thanh luyện điều gì nơi con. Khi con được sửa bảo, xin cho con biết lắng nghe. Khi con bị hiểu lầm, xin cho con biết nghỉ yên trong ánh mắt Chúa. Khi con phải chờ, xin dạy con kiên nhẫn. Khi kế hoạch của con bị thay đổi, xin cho con biết rằng kế hoạch của Chúa lớn hơn kế hoạch của con. Khi ý riêng trong con nổi loạn, xin nhắc con nhớ lời Chúa tại Vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Lạy Đức Maria, Mẹ của lời Xin Vâng, xin dạy con thưa Fiat không chỉ bằng môi miệng nhưng bằng cả đời sống; không chỉ trong những giờ sốt sắng nhưng cả trong những ngày âm thầm, khô khan và trái ý. Xin Mẹ dắt con vào sự tự do của người không còn cần giữ lấy mình nữa, vì đã trao mình cho Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin làm cho ý riêng trong con chết đi từng ngày, không phải để con trở thành một con người không ý chí, nhưng để ý chí con được thanh luyện và kết hợp với ý Chúa; không phải để con mất tự do, nhưng để con thoát khỏi ách nô lệ của chính mình; không phải để con nhỏ bé theo nghĩa bị hạ thấp, nhưng để Chúa được lớn lên trong con. Xin cho đến cuối đời, sau tất cả những chiến đấu, con có thể bình an thưa với Chúa một lời duy nhất là kết tinh của cả cuộc đời: Lạy Cha, con thuộc về Cha. Xin đừng theo ý con, nhưng xin ý Cha được thể hiện trong con, hôm nay, ngày mai, và cho đến giờ phút cuối cùng của đời con. Amen.
CHƯƠNG 33
SỐNG CUỘC CHIẾN LINH HỒN TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ VỤ
Hỡi linh hồn đang được Chúa gọi không chỉ để nên thánh cho riêng mình, nhưng còn để sống giữa anh chị em, để cùng chia sẻ một mái nhà, một bàn ăn, một lời kinh, một trách nhiệm, một lý tưởng, một sứ mạng và một con đường dâng hiến, con hãy ghi thật sâu điều này vào lòng: cuộc chiến linh hồn không phải là một cuộc chiến diễn ra trong một căn phòng đóng kín, nơi con chỉ có một mình với Chúa, cũng không phải là một cuộc chiến chỉ được tiến hành trong những giờ cầu nguyện riêng, những ngày tĩnh tâm, những phút thinh lặng trước Nhà Tạm, hay những lúc tâm hồn con được nâng lên bởi những suy niệm cao đẹp. Tất cả những điều ấy cần thiết, rất cần thiết, không thể thiếu; nhưng nếu con chỉ biết chiến đấu ở đó mà không biết chiến đấu trong đời sống chung, trong những va chạm bình thường, trong những khác biệt tính khí, trong những bổn phận nhỏ nhặt, trong những thất bại của công việc, trong những lời nói vô tình làm con tổn thương, trong những lúc con không được hiểu, không được ghi nhận, không được chọn lựa, không được hỏi ý kiến, thì cuộc chiến của con vẫn còn nằm rất nhiều trong ý tưởng. Chính cộng đoàn và sứ vụ mới là nơi rất nhiều điều trong lòng con bị đưa ra ánh sáng. Chính ở đó, những gì con tưởng mình đã thắng có thể bất ngờ sống lại; những gì con tưởng mình đã từ bỏ có thể bất ngờ đòi lại quyền thống trị; những gì con tưởng là nhân đức có thể bị thử cho đến tận đáy; và những điều con không bao giờ nhận ra khi sống một mình lại hiện ra rất rõ khi con phải sống với những người không giống con, phải làm việc với những người không theo cách con muốn, phải phục vụ những người không biết ơn, phải cộng tác với những người có những giới hạn làm con khó chịu, phải chấp nhận những quyết định không xuất phát từ mình, và phải tiếp tục yêu thương ngay cả khi lòng mình không còn cảm thấy dễ thương chút nào. Vì thế, đừng bao giờ nghĩ cộng đoàn là chướng ngại cho đời sống thiêng liêng của con, và cũng đừng nghĩ sứ vụ là phần việc bên ngoài không liên hệ trực tiếp đến việc nên thánh. Nếu con nhìn bằng con mắt đức tin, con sẽ thấy chính cộng đoàn và sứ vụ là hai lò lửa lớn trong đó Thiên Chúa muốn nung luyện linh hồn con, bóc dần khỏi con những lớp tự ái, ý riêng, tham vọng, kiêu căng, nhạy cảm quá mức, nhu cầu kiểm soát, nhu cầu được yêu mến, nhu cầu được nhìn nhận, để nơi con chỉ còn lại một điều đơn sơ hơn, nghèo hơn, tinh tuyền hơn: yêu Chúa và phục vụ anh chị em vì Chúa.
1. CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ VỤ LÀ NƠI THỬ LUYỆN THẬT SỰ
Khi con ở một mình, con có thể tưởng mình rất kiên nhẫn, bởi chẳng có ai làm phiền con. Con có thể tưởng mình rất khiêm nhường, bởi chẳng có ai phản đối ý kiến của con. Con có thể tưởng mình rất bác ái, bởi chẳng có ai làm con khó chịu. Con có thể tưởng mình rất thanh thoát, bởi chẳng có ai lấy mất điều con thích. Con có thể tưởng mình rất vâng phục, bởi chưa có ai yêu cầu con làm một điều trái với sở thích. Con có thể tưởng mình đã chết cho ý riêng, bởi chưa có ai đụng đến ý riêng ấy. Nhưng khi con bước vào đời sống chung, khi người khác xuất hiện với tính khí riêng, cách nghĩ riêng, nhịp sống riêng, những khuyết điểm riêng và những vết thương riêng, thì ngay lập tức đời sống nội tâm của con được thử nghiệm. Con sẽ biết mình kiên nhẫn đến đâu khi một người lặp đi lặp lại một thói quen khiến con bực bội. Con sẽ biết mình khiêm nhường đến đâu khi người khác không đánh giá cao những gì con làm. Con sẽ biết mình bác ái đến đâu khi phải tiếp tục tử tế với người đã vô tình hoặc hữu ý làm con đau. Con sẽ biết mình thanh thoát đến đâu khi một công việc con yêu thích được giao cho người khác. Con sẽ biết mình vâng phục đến đâu khi phải thi hành điều mình không hoàn toàn đồng ý. Con sẽ biết mình thực sự thuộc về Chúa đến mức nào khi chương trình riêng của con bị phá vỡ bởi nhu cầu của cộng đoàn hay bởi những đòi hỏi của sứ vụ.
Đó là lý do tại sao những va chạm trong đời sống chung, dù làm chúng ta mệt mỏi, lại có thể trở thành một ân huệ rất lớn. Chúng giống như một tấm gương không biết tâng bốc. Tấm gương ấy cho ta thấy điều mà giờ cầu nguyện đôi khi chưa làm ta thấy. Một linh hồn có thể khóc rất nhiều trước Thánh Giá nhưng vẫn rất cay nghiệt trong lời nói; có thể sốt sắng trong chầu Thánh Thể nhưng lại lạnh lùng với người sống bên cạnh; có thể nói những lời rất đẹp về sự từ bỏ nhưng lại không chịu được một thay đổi nhỏ trong chương trình cá nhân; có thể giảng rất hay về lòng thương xót nhưng lại ghi nhớ rất lâu một lời xúc phạm; có thể mời gọi người khác tha thứ nhưng lại nuôi trong lòng sự xa cách với một người anh em. Khi ấy, điều Chúa muốn không phải là con bỏ những giờ cầu nguyện, nhưng là để những giờ cầu nguyện ấy thấm xuống đời sống cụ thể, để con người con trước Nhà Tạm và con người con ở bàn ăn, trong phòng họp, trên hành lang, trong công việc, trong xe cộ, trong những lúc mệt mỏi, dần dần trở thành một.
Cộng đoàn vì thế không phải chỉ là nơi ở chung. Đời sống cộng đoàn, nếu được sống đúng, chính là một trường học của sự tự hủy. Ở đó, con học rằng mình không phải là trung tâm. Con học rằng giờ giấc không thể luôn xoay quanh con. Con học rằng người khác không có nghĩa vụ phải hiểu con mọi lúc. Con học rằng người ta có thể yêu Chúa theo một cách khác con mà vẫn chân thành. Con học rằng có những điều con thấy rất quan trọng nhưng người khác lại nhìn khác. Con học rằng thế giới vẫn tiếp tục ngay cả khi ý kiến của con không được chọn. Con học rằng một công việc vẫn có thể sinh hoa trái mà không cần tên con gắn vào. Con học rằng có khi sự hiện diện của con quý hơn những sáng kiến của con, và sự im lặng bác ái của con quý hơn một lời đúng nhưng nói không đúng lúc. Con học rằng anh em không phải là những người được Chúa giao cho con để con sửa đổi họ theo khuôn mẫu của con, nhưng là những người được Chúa đặt bên con để qua họ chính con được thanh luyện.
Trong sứ vụ cũng vậy. Sứ vụ không chỉ là nơi con làm điều tốt cho người khác. Sứ vụ trước hết phơi bày con người thật của chính con. Khi công việc thành công, con sẽ thấy lòng mình có ham thích được khen hay không. Khi người ta yêu mến con, con sẽ thấy mình có bắt đầu tìm kiếm tình cảm nơi họ hay không. Khi người ta nói tốt về con, con sẽ thấy mình có bí mật nuôi dưỡng hình ảnh của mình hay không. Khi sứ vụ thất bại, con sẽ thấy mình có thật sự làm vì Chúa hay chỉ vì muốn thấy kết quả. Khi người khác được chọn thay con, con sẽ thấy mình có vui thực sự cho họ hay không. Khi một người trẻ hơn con được đánh giá cao, con sẽ thấy lòng mình có một chút ghen tị kín đáo hay không. Khi một dự án con dành nhiều công sức không được công nhận, con sẽ thấy con đang phục vụ Nước Chúa hay đang âm thầm xây dựng một vương quốc nhỏ của mình. Những câu hỏi ấy rất khó chịu, nhưng cần thiết. Bởi sứ vụ có thể trở thành con đường nên thánh, nhưng cũng có thể trở thành nơi bản ngã được nuôi dưỡng dưới một lớp áo rất đạo đức. Người ta có thể làm nhiều việc cho Chúa nhưng không thật sự sống với Chúa. Người ta có thể nói rất nhiều về Chúa nhưng sâu trong lòng lại đang tìm chính mình. Người ta có thể bận rộn cả ngày cho những công việc thánh thiện nhưng linh hồn lại ngày càng xa sự đơn sơ, xa bình an, xa khiêm nhường, xa tình yêu.
Vì thế, con đừng sợ khi cộng đoàn và sứ vụ làm con nhận ra mình yếu đuối hơn con tưởng. Đừng vội thất vọng khi những đam mê tưởng đã im lại sống dậy. Đừng nói rằng: “Tại sao tôi cầu nguyện nhiều mà tôi vẫn dễ nóng giận như thế? Tại sao tôi đã sống đời dâng hiến lâu năm mà vẫn còn tự ái? Tại sao chỉ một lời của người khác cũng đủ làm tôi mất bình an?” Hãy nhận ra rằng Chúa đang cho con thấy một vùng đất còn cần được cứu chuộc. Sự thật ấy không phải để hạ nhục con, nhưng để giải thoát con khỏi ảo tưởng. Điều nguy hiểm không phải là con còn những yếu đuối. Điều nguy hiểm là con không nhận ra chúng, hoặc luôn cho rằng lỗi nằm ở người khác. Khi cộng đoàn khiến sự tự ái của con đau, hãy cảm tạ Chúa vì con đã nhìn thấy nơi cần chữa lành. Khi sứ vụ làm con thấy lòng mình khát khao được thành công, hãy cảm tạ Chúa vì con đã nhận ra một động lực cần được thanh luyện. Khi anh em làm con mất kiên nhẫn, hãy cảm tạ Chúa vì con biết mình chưa hiền lành như mình tưởng. Nhận ra bệnh là bước đầu để được chữa lành.
2. NGUY CƠ TÁCH RỜI ĐỜI SỐNG NỘI TÂM KHỎI ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ VỤ
Một trong những nguy cơ rất lớn của đời sống thiêng liêng là sống như thể có hai con người trong cùng một người. Một con người cầu nguyện và một con người làm việc. Một con người trước mặt Chúa và một con người trước mặt anh chị em. Một con người rất dịu dàng khi nói về Tin Mừng nhưng rất cứng rắn khi bị ai làm trái ý. Một con người nói rất nhiều về tín thác nhưng lúc công việc không theo kế hoạch thì mất bình an hoàn toàn. Một con người suy niệm về sự khiêm nhường nhưng luôn cần ý kiến của mình được coi trọng. Sự phân đôi ấy không xảy ra trong một ngày. Nó hình thành dần dần khi người ta coi giờ cầu nguyện chỉ là một phần riêng tư của đời mình, còn những phản ứng, thái độ, lời nói, cách cư xử hằng ngày thì được để mặc cho tính khí điều khiển.
Con hãy nhớ: Chúa Giêsu không muốn con dành cho Ngài một giờ rồi phần còn lại trong ngày dành cho cái tôi. Ngài muốn giờ cầu nguyện trở thành nguồn suối chảy vào mọi giờ. Ngài muốn lời con đọc trong Tin Mừng đi vào giọng nói của con khi trò chuyện với người khác. Ngài muốn ánh nhìn của Ngài biến đổi cách con nhìn một người mà con không thích. Ngài muốn lòng thương xót con chiêm ngắm nơi Thánh Giá trở thành cách con phản ứng với lỗi lầm của anh chị em. Ngài muốn sự nhẫn nại của Ngài trong cuộc Thương Khó trở thành sự nhẫn nại của con khi bị hiểu lầm. Ngài muốn sự tự hủy của Ngài trở thành cách con lùi lại để một người khác có chỗ. Ngài muốn việc Ngài rửa chân cho các môn đệ trở thành cách con làm những việc nhỏ không ai thấy. Ngài muốn lời “Xin đừng theo ý con” trở thành lời cầu nguyện của con trong những quyết định của cộng đoàn và trong những hoàn cảnh sứ vụ mà con không thể kiểm soát.
Đời sống thiêng liêng chân thật không làm con chạy xa thực tại. Nó đưa con trở lại thực tại với một trái tim mới. Nếu sau nhiều năm cầu nguyện mà con ngày càng khó sống với người khác, ngày càng nhạy cảm với những va chạm, ngày càng không chịu được góp ý, ngày càng muốn người khác phải hiểu mình, ngày càng thu mình vào thế giới riêng, thì con cần dừng lại và xem lại. Cầu nguyện chân thật phải làm lòng con rộng hơn, không hẹp hơn. Kết hợp với Chúa phải làm con mềm hơn trước nỗi yếu đuối của người khác, không cay nghiệt hơn. Suy niệm Thánh Giá phải làm con dễ tha thứ hơn, không phải dễ kết án hơn. Đời sống nội tâm không thể là nơi trú ẩn để con tránh né những đòi hỏi của bác ái.
Cũng vậy, hoạt động sứ vụ không thể trở thành cái cớ để con bỏ đời sống nội tâm. Có người bắt đầu bằng một tình yêu rất trong sáng đối với Chúa. Họ muốn phục vụ. Họ muốn đem Tin Mừng. Họ muốn làm điều tốt. Nhưng công việc mỗi ngày một nhiều. Người ta tìm đến họ. Trách nhiệm gia tăng. Những cuộc gặp nối tiếp nhau. Điện thoại không ngừng reo. Tin nhắn không ngừng đến. Họ bắt đầu rút ngắn cầu nguyện. Sau đó họ bỏ giờ thinh lặng. Sau đó họ không còn xét mình. Sau đó họ không còn đọc Lời Chúa cho chính mình mà chỉ đọc để chuẩn bị nói cho người khác. Họ vẫn nói về Chúa, nhưng không còn ở với Chúa. Họ vẫn dẫn người khác cầu nguyện, nhưng bản thân không còn cầu nguyện sâu. Họ vẫn phục vụ, nhưng càng ngày càng phục vụ bằng sức riêng. Rồi mệt mỏi đến. Cáu gắt đến. Khô khan đến. Tìm kiếm bù trừ đến. Và có khi một ngày người ta tự hỏi: “Tại sao tôi làm nhiều việc của Chúa mà lại cảm thấy xa Chúa như vậy?”
Câu trả lời thường không nằm ở chỗ công việc nhiều hay ít, nhưng ở chỗ trật tự bên trong bị đảo lộn. Chúa phải là nguồn, không phải là một mục trong lịch. Chúa phải là trung tâm, không phải là một bổn phận được chen vào giữa các cuộc hẹn. Người thừa sai không sống nhờ tiếng vỗ tay của đám đông. Người thừa sai sống nhờ việc ở lại trong Đấng đã sai mình. Nếu cành không ở lại trong cây nho, nó có thể còn xanh một lúc, có thể còn giữ được hình thức một thời gian, nhưng bên trong sự sống đang rời bỏ nó. Đó là lý do con phải bảo vệ giờ cầu nguyện không phải như bảo vệ một thói quen đạo đức, mà như bảo vệ mạch sống của sứ vụ. Có những việc có thể đổi giờ. Có những cuộc hẹn có thể dời lại. Có những tin nhắn có thể trả lời chậm. Nhưng con không được để linh hồn mình sống mãi trong tình trạng không gặp Chúa.
3. CÁCH SỐNG CUỘC CHIẾN CỤ THỂ TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN
Hỡi linh hồn, con đừng chờ những dịp phi thường để sống cuộc chiến. Cộng đoàn sẽ trao cho con hàng chục dịp nhỏ mỗi ngày. Một lời bị hiểu sai. Một cánh cửa đóng hơi mạnh. Một người đến trễ. Một người quên điều đã hứa. Một cuộc họp kéo dài. Một ý kiến của con bị bỏ qua. Một việc nhỏ người khác làm không theo cách con thường làm. Một câu nói có vẻ thiếu tế nhị. Một sự vô tâm không đáng kể. Chính những điều ấy là nơi ý riêng chết từng chút một nếu con biết đón nhận chúng trong Chúa.
Khi bị góp ý, phản ứng đầu tiên của bản tính tự nhiên thường là tự vệ. Con muốn giải thích. Con muốn chứng minh người góp ý chưa hiểu đủ hoàn cảnh. Con muốn kể ra lý do. Con muốn làm rõ rằng mình không hoàn toàn sai. Những điều ấy đôi khi có thể cần thiết, nhất là khi sự thật phải được bảo vệ. Nhưng trước khi mở miệng, hãy nhìn vào lòng mình. Hãy hỏi: “Tại sao tôi nóng lên nhanh như thế? Tôi đang bảo vệ sự thật hay đang bảo vệ hình ảnh của mình? Tôi đang làm sáng tỏ vấn đề hay đang muốn thắng người kia?” Có khi điều ích lợi nhất là im lặng vài phút. Có khi một câu đơn giản: “Cảm ơn anh đã nói, tôi sẽ suy nghĩ,” có giá trị thiêng liêng lớn hơn một bài biện hộ rất hợp lý. Không phải vì mọi lời góp ý đều đúng, nhưng vì ngay cả một lời góp ý chưa hoàn toàn đúng vẫn có thể giúp con nhìn thấy một điều trong mình.
Khi con nhìn thấy khuyết điểm của anh chị em, cuộc chiến cũng bắt đầu. Tâm trí rất nhanh trong việc tạo hồ sơ cho người khác. Chỉ một vài lần chứng kiến lỗi lầm, ta đã muốn kết luận về cả con người. Một người quên việc vài lần và ta gọi họ là vô trách nhiệm. Một người nói hơi nhiều và ta gọi họ là khoe khoang. Một người kín đáo và ta gọi họ là lạnh lùng. Một người chậm chạp và ta cho là lười biếng. Một người cẩn thận và ta cho là khó tính. Chúng ta rất ít biết về những cuộc chiến sâu kín trong lòng người khác, nhưng lại rất dễ kết luận. Vì thế, mỗi khi con bắt đầu xét đoán, hãy tập một thói quen: quay về chính mình trước. Hãy nói: “Lạy Chúa, con cũng có những khuyết điểm làm người khác mệt mỏi mà con không nhận ra.” Câu ấy sẽ làm lòng con mềm xuống. Rồi hãy cầu nguyện cho người kia. Không phải một lời cầu nguyện lạnh lùng để chứng minh mình cao thượng hơn, nhưng một lời cầu nguyện thật: “Xin Chúa chúc lành cho người anh em này. Xin Chúa giúp họ trong điều họ đang chiến đấu. Và nếu con có thể giúp, xin cho con biết giúp mà không kiêu ngạo.”
Khi phải sống với những khác biệt tính khí, đừng xem sự khác biệt ấy như một lỗi phải sửa. Có người nhanh, có người chậm. Có người nói nhiều, có người ít nói. Có người thích trật tự rất chặt, có người linh hoạt hơn. Có người biểu lộ tình cảm, có người kín đáo. Có người quyết định nhanh, có người cần thời gian. Không phải mọi điều làm con khó chịu đều là tội. Có nhiều điều chỉ đơn giản là khác con. Trưởng thành thiêng liêng bắt đầu khi con phân biệt được điều gì thực sự sai và điều gì chỉ không giống mình. Rất nhiều xung đột trong cộng đoàn không đến từ tội lỗi lớn, mà từ việc mỗi người âm thầm tin rằng cách của mình là cách bình thường duy nhất. Một linh hồn khiêm nhường sẽ dần học được rằng Thiên Chúa có thể tạo nên những người rất khác nhau và vẫn yêu từng người.
Khi một người anh em thành công, hãy chiến đấu để vui thật lòng. Điều này không dễ như ta nghĩ. Ta có thể mỉm cười bên ngoài nhưng bên trong có một vết châm nhỏ: “Tại sao người ta khen họ mà không nhắc đến mình?” Hãy nhận diện ngay tư tưởng ấy. Đừng xấu hổ vì nó xuất hiện, nhưng cũng đừng nuôi nó. Hãy dâng lời tạ ơn: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì anh em con được dùng để sinh ích cho Nước Chúa. Xin Chúa làm cho họ sinh nhiều hoa trái hơn nữa.” Lời cầu nguyện ấy là một nhát kiếm chém vào gốc tự ái. Nếu con có thể thành thật vui vì điều tốt xảy ra nơi một người khác mà chẳng liên quan gì đến con, linh hồn con đang được tự do.
Khi người khác được giao một trách nhiệm mà con nghĩ mình làm tốt hơn, hãy chiến đấu với nhu cầu kiểm soát. Có thể con thật sự có khả năng. Có thể cách của con hiệu quả hơn. Nhưng không phải lúc nào việc tốt nhất cũng là việc do con làm. Đôi khi Chúa muốn con nhường chỗ. Đôi khi Ngài muốn người khác học. Đôi khi Ngài muốn con tập làm người đứng phía sau. Đôi khi Ngài muốn cứu con khỏi sự dính bén vào cảm giác mình cần thiết. Có một cám dỗ rất tinh vi nơi người có khả năng: họ bắt đầu tin rằng nếu thiếu họ, mọi sự sẽ hỏng. Và vì thế họ trở thành trung tâm mà chính họ không nhận ra. Chỉ khi có thể bước sang một bên và thấy công việc vẫn tiếp tục, con mới biết mình đang phục vụ công việc của Chúa hay đang cần công việc ấy để xác định giá trị của mình.
Cộng đoàn cũng là nơi để tập bác ái bằng những điều rất nhỏ. Đừng khinh thường những việc nhỏ ấy. Một lời hỏi thăm đúng lúc. Một chỗ ngồi nhường lại. Một cánh cửa giữ cho người đi sau. Một phần thức ăn được để dành. Một tiếng cảm ơn. Một lời xin lỗi mau mắn. Một việc làm thay khi thấy người khác quá mệt. Một thái độ lắng nghe không nhìn điện thoại. Một lần không kể lại câu chuyện bất lợi cho anh em. Một lần dừng lời nói đùa khi thấy người khác không vui. Một lần không đòi phần đúng về mình. Một lần đến sớm để chuẩn bị thay cho người khác. Một lần dọn lại thứ mình không làm bừa. Tất cả những việc ấy có thể nhỏ đến mức không ai nhớ. Nhưng chính từ những điều ấy cộng đoàn được xây dựng. Tình huynh đệ không được tạo nên chủ yếu bằng những bài diễn văn về hiệp nhất. Nó được tạo nên bởi hàng ngàn lần một người chọn đặt người khác trước mình.
4. HỌC CHẾT CHO Ý RIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG CHUNG
Ý riêng không phải lúc nào cũng xuất hiện như sự nổi loạn. Nhiều khi nó rất đạo đức. Nó nói: “Tôi chỉ muốn điều tốt hơn.” Nó nói: “Tôi làm thế này vì ích chung.” Nó nói: “Nếu làm theo cách tôi thì hiệu quả hơn.” Có thể tất cả đều đúng một phần. Nhưng phía sau đó đôi khi còn một điều sâu hơn: con muốn mọi sự xảy ra theo cách mình nhìn. Và khi không xảy ra như thế, lòng con mất bình an. Dấu hiệu ấy rất quan trọng. Một người có thể có ý kiến đúng mà vẫn bám vào ý riêng. Một người có thể bảo vệ điều tốt mà vẫn làm điều ấy bằng một cái tôi chưa chết. Vì thế, không chỉ nội dung điều con muốn là quan trọng; cách lòng con phản ứng khi điều ấy không được chấp nhận còn nói nhiều hơn.
Hãy tập tự hỏi: “Nếu ý kiến của tôi không được chọn, tôi có vẫn bình an không? Nếu cách khác được quyết định, tôi có cộng tác hết lòng không? Nếu người khác làm khác mình, tôi có mong họ thất bại để chứng minh mình đúng không?” Câu cuối cùng rất đau, nhưng rất cần. Bản ngã đôi khi thà thấy công việc hỏng để mình được đúng hơn là thấy công việc thành công theo cách của người khác. Nếu con bắt gặp trong lòng mình một ước muốn như thế, hãy đem nó ngay đến trước Chúa. Đừng che giấu. Hãy thưa: “Lạy Chúa, con thấy cái tôi con còn lớn. Con muốn Nước Chúa được xây dựng, nhưng con vẫn muốn được chứng minh là mình đúng. Xin cứu con khỏi điều ấy.”
Chết cho ý riêng không có nghĩa là không bao giờ có ý kiến, không đóng góp, không nói lên điều cần nói. Một cộng đoàn trưởng thành cần sự thật, cần trao đổi, cần những tiếng nói khác nhau. Nhưng sau khi con đã nói điều cần nói trong bình an và tôn trọng, con phải biết trao kết quả lại cho Chúa. Nếu quyết định cuối cùng không theo ý con, hãy tập bước vào sự vâng phục với trái tim tự do. Đừng vâng phục bên ngoài mà bất mãn bên trong, rồi âm thầm chờ cho mọi sự thất bại. Đó không phải là vâng phục; đó chỉ là tạm thời im tiếng. Vâng phục thật là sau khi đã nói sự thật của mình, con tiếp tục góp sức với lòng ngay thẳng cho điều đã được quyết định, trừ khi điều ấy rõ ràng trái với lương tâm ngay thẳng hay luật Chúa. Chính nơi đây linh hồn trở nên giống Đức Kitô, Đấng đã không tìm ý riêng mình nhưng ý Đấng sai Ngài.
5. SỰ THA THỨ TRONG CỘNG ĐOÀN – MỘT CUỘC CHIẾN KHÔNG THỂ TRÁNH
Không có cộng đoàn nào mà người ta không làm tổn thương nhau. Không phải vì mọi người xấu, nhưng vì mọi người đều giới hạn. Người sống gần ta có nhiều cơ hội làm ta đau hơn người xa lạ. Họ biết những điểm yếu của ta. Họ gặp ta khi ta mệt. Họ thấy những lúc ta không đẹp. Và ta cũng thấy họ như thế. Vì vậy, một cộng đoàn không thể tồn tại lâu nếu không có sự tha thứ.
Nhưng tha thứ không dễ. Có những vết thương nhỏ qua nhanh. Có những vết thương ở lại nhiều năm. Một lời nói trong cuộc họp. Một quyết định khiến ta cảm thấy bị bỏ rơi. Một lần mình cần mà không ai nhận ra. Một sự bất công chưa bao giờ được xin lỗi. Một câu chuyện bị hiểu lầm rồi truyền đi. Một lần lòng tin bị tổn thương. Những điều ấy có thể trở thành hòn đá nằm sâu trong tim. Ta vẫn cầu nguyện, vẫn làm việc, vẫn chào hỏi, nhưng có một phần trong lòng khép lại.
Hỡi linh hồn, đừng để hòn đá ấy ở đó quá lâu. Nó sẽ làm nước trong lòng con dần đục. Tha thứ không có nghĩa là nói rằng điều đã xảy ra là đúng. Tha thứ không có nghĩa là con không còn đau. Tha thứ cũng không phải lúc nào là cảm xúc. Có khi tha thứ là một quyết định phải được lặp lại hàng trăm lần: “Lạy Chúa, con trao người này cho Chúa. Con không muốn điều dữ cho họ. Con không muốn sống mãi bằng vết thương này.” Có thể lòng con vẫn co lại khi nhớ đến chuyện cũ. Không sao. Hãy tiếp tục trao nó. Đừng chờ cho cảm xúc hoàn toàn yên mới tha thứ. Chính khi con chọn tha thứ trong lúc còn đau, hành vi ấy mới mang một sức mạnh lớn.
Và con cũng hãy tập xin lỗi. Người trưởng thành thiêng liêng không phải là người không bao giờ sai. Đó là người biết nhận sai. Một câu “Tôi xin lỗi, tôi đã nói quá lời” có thể cứu một mối tương quan. Một câu “Anh nói đúng, tôi đã không lắng nghe” có thể chữa một vết thương. Đừng biến lời xin lỗi thành một bài biện hộ: “Tôi xin lỗi, nhưng tại anh…” Một lời xin lỗi có chữ “nhưng” thường chưa phải là lời xin lỗi trọn vẹn. Hãy học nói ngắn gọn, thật lòng, không giải thích quá nhiều. Sự khiêm nhường ấy sẽ làm con tự do.
6. CÁCH SỐNG CUỘC CHIẾN TRONG SỨ VỤ
Nếu cộng đoàn thử luyện tình yêu của con đối với những người ở gần, sứ vụ thử luyện sự tinh tuyền của ý hướng con đối với những việc con làm. Hãy thường xuyên hỏi mình: “Tôi đang làm việc này cho ai?” Không phải chỉ hỏi một lần khi bắt đầu đời dâng hiến. Câu ấy phải được hỏi lại rất nhiều lần, bởi động lực của con người có thể thay đổi một cách tinh vi. Ban đầu con có thể thật sự làm vì Chúa. Nhưng rồi người ta khen. Rồi con thấy mình có khả năng. Rồi con được tín nhiệm. Rồi con bắt đầu yêu cảm giác cần thiết. Và chẳng bao lâu, việc của Chúa trở thành nơi cái tôi tìm thức ăn.
Khi sứ vụ thành công, hãy tạ ơn thật nhanh. Đừng giữ vinh quang lại trong lòng. Người khác có thể khen con; không cần giả vờ chối bỏ. Con có thể nói “cảm ơn” cách đơn sơ. Nhưng trong lòng hãy trả mọi sự về cho Chúa. Hãy nhớ bao nhiêu yếu tố con không làm ra được: khả năng con nhận từ đâu? Sức khỏe con nhận từ đâu? Những người cộng tác con nhận từ đâu? Cơ hội con có từ đâu? Những tâm hồn được đánh động là do lời con hay do ân sủng Chúa? Con gieo, người khác tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Nhớ như thế, thành công sẽ không đầu độc con.
Khi sứ vụ thất bại, đừng đồng hóa thất bại của công việc với giá trị của con. Có những người chỉ cảm thấy mình có giá trị khi công việc của họ thành công. Vì thế, mỗi thất bại trở thành một cú đánh vào căn tính. Họ mất bình an, tự trách, chán nản, hoặc tìm người để đổ lỗi. Hỡi linh hồn, nếu con làm vì Chúa, con phải học một thứ tự do khác: làm hết sức rồi để Chúa quyết định hoa trái. Điều này không có nghĩa là làm qua loa hay không đánh giá hiệu quả. Con phải học từ thất bại, sửa sai, nâng cao khả năng. Nhưng sau tất cả, hãy nhớ rằng sứ vụ thuộc về Chúa. Có những hạt giống phải nằm trong lòng đất rất lâu. Có những lời con nói hôm nay, mười năm sau mới sinh hoa. Có một người nghe con mà con tưởng họ chẳng thay đổi gì, nhưng một câu nào đó sẽ trở lại trong giờ họ đau khổ nhất. Con không nhìn thấy mọi tác động của ân sủng.
Đừng nghiện kết quả. Người thừa sai cần kết quả, nhưng không được lệ thuộc vào kết quả để biết mình trung thành. Có những ngày con sẽ thấy nhiều người đến. Có những ngày chẳng ai đến. Có lúc lời con được đón nhận. Có lúc con nói mà người nghe lạnh nhạt. Có khi một chương trình rất thành công. Có khi mọi thứ trục trặc. Nếu lòng con lên xuống hoàn toàn theo những con số ấy, con sẽ không bao giờ có bình an. Hãy tìm một nền tảng sâu hơn: “Hôm nay tôi có trung thành với điều Chúa giao không? Tôi có làm hết khả năng trong tình yêu không? Tôi có giữ lòng mình ngay thẳng không?” Nếu có, hãy bình an.
7. CÁM DỖ TÌM SỰ CÔNG NHẬN TRONG SỨ VỤ
Có một thứ đói rất kín đáo trong lòng người làm việc tông đồ: đói được nhìn nhận. Nó có thể mang nhiều hình thức. Muốn người khác biết mình làm nhiều. Muốn tên mình xuất hiện. Muốn được hỏi ý kiến. Muốn được nhắc đến. Muốn được mời. Muốn được xem là có ảnh hưởng. Muốn được công nhận là người có khả năng. Không phải mọi sự công nhận đều xấu. Người ta cần khích lệ nhau. Nhưng khi linh hồn bắt đầu sống nhờ điều ấy, tự do bị mất.
Hãy quan sát lòng mình khi một việc con làm mà không ai biết. Con có còn vui không? Khi một người khác nhận lời khen cho điều con cũng góp phần, lòng con có bình an không? Khi tên con bị quên, con có thấy buồn một cách quá mức không? Khi con làm một điều tốt mà chẳng ai cảm ơn, con có hối tiếc vì đã làm không? Những phản ứng ấy sẽ cho con biết con đang tìm phần thưởng ở đâu.
Hãy tập yêu những việc kín đáo. Có những việc không ai vỗ tay. Có những người chỉ biết Chúa thấy. Một lời cầu nguyện cho người khác. Một buổi tối ở lại chuẩn bị công việc. Một lần chịu thiệt mà không kể. Một khoản giúp đỡ âm thầm. Một lần nhường cơ hội. Một giờ lắng nghe một người đau khổ mà chẳng ai biết. Những việc ấy có sức thanh luyện ghê gớm, bởi cái tôi không có gì để ăn. Nếu con có thể làm điều tốt rồi để nó biến mất khỏi ký ức của người đời, linh hồn con đang lớn.
8. ĐỪNG ĐỂ SỨ VỤ TRỞ THÀNH CÁCH TRỐN CHẠY CHÍNH MÌNH
Có người hoạt động rất nhiều không phải vì yêu sứ vụ quá mức, nhưng vì sợ thinh lặng. Họ sợ ở một mình với chính mình. Công việc giúp họ không phải nghe những câu hỏi sâu trong lòng. Bận rộn trở thành một thứ thuốc gây mê. Khi lịch trống, họ thấy bất an. Khi không có ai cần mình, họ thấy mình vô nghĩa. Họ cần liên tục có việc để làm, người để gặp, vấn đề để giải quyết.
Hỡi linh hồn, hãy cẩn thận. Sứ vụ không được trở thành nơi con trốn khỏi căn phòng nội tâm. Chúa đôi khi sẽ để con bước vào những giai đoạn ít việc hơn, ít được chú ý hơn, ít ảnh hưởng hơn. Những lúc ấy có thể đau, nhưng rất quý. Chúa đang hỏi con: “Con yêu Ta hay yêu cảm giác được dùng cho Ta? Nếu Ta để con ngồi yên một thời gian, con còn biết mình là ai không?” Người thừa sai trước hết là người thuộc về Chúa. Công việc có thể thay đổi. Trách nhiệm có thể được trao rồi lấy lại. Sức khỏe có thể giảm. Tuổi tác có thể đến. Nhưng nếu căn tính của con nằm trong việc được Chúa yêu và được thuộc về Ngài, con sẽ không sụp đổ khi công việc thay đổi.
9. GIỮ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN GIỮA NHỊP SỨ VỤ
Con đừng nói: “Khi công việc bớt tôi sẽ cầu nguyện nhiều hơn.” Thường công việc sẽ không bao giờ bớt theo cách con mong. Nếu con không bảo vệ đời sống cầu nguyện, sứ vụ sẽ ăn hết mọi khoảng trống. Luôn có thêm một cuộc gọi, thêm một tin nhắn, thêm một người cần gặp, thêm một việc phải xử lý. Vì thế, cầu nguyện phải được đặt vào lịch như một cuộc hẹn không dễ dàng bị xâm phạm.
Nhưng không chỉ là giờ cầu nguyện dài. Hãy học đem Chúa vào giữa công việc. Trước khi bước vào một cuộc gặp: “Lạy Chúa, xin đi trước con.” Trước khi nói một lời quan trọng: “Xin Chúa giữ miệng con.” Khi bực bội: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Chúa.” Khi thành công: “Mọi sự là của Chúa.” Khi thất bại: “Con trao lại cho Chúa.” Khi mệt: “Xin Chúa làm sức mạnh của con.” Những lời cầu nguyện ngắn ấy giữ cho linh hồn không bị tách khỏi nguồn.
Hãy học dừng lại đôi phút giữa ngày. Không phải để phân tích nhiều, chỉ để trở về. Có thể con đang chạy rất nhanh nhưng đi sai hướng. Một phút trước Thánh Thể, một phút nhắm mắt trong phòng, một đoạn Tin Mừng đọc chậm, một hơi thở sâu cùng lời “Lạy Chúa, con ở đây” có thể đưa linh hồn về lại trục. Đừng coi thường những phút ấy.
10. HỌC PHỤC VỤ MÀ KHÔNG CHIẾM HỮU NGƯỜI MÌNH PHỤC VỤ
Trong sứ vụ, con có thể giúp người khác rất nhiều. Nhưng đừng biến những người mình giúp thành tài sản tinh thần của mình. Đây là một cám dỗ tinh tế. Một người tìm đến con. Con đồng hành với họ. Họ tin tưởng con. Rồi con bắt đầu cảm thấy họ “thuộc về” mình. Nếu họ tìm đến người khác, con buồn. Nếu họ nghe lời một người khác hơn, con khó chịu. Nếu họ trưởng thành đến mức không cần con nữa, con cảm thấy mất mát.
Hãy nhớ, linh hồn ấy thuộc về Chúa. Con chỉ là người phục vụ trên một đoạn đường. Một người hướng dẫn tốt là người vui khi người mình giúp dần đứng được bằng đôi chân của họ trong Chúa. Đừng làm cho họ lệ thuộc vào con để con cảm thấy mình cần thiết. Hãy dẫn họ đến Chúa, không dẫn họ đến chính con. Nếu một ngày họ không còn cần con nữa nhưng yêu Chúa hơn, đó là thành công, không phải thất bại.
11. BÁC ÁI – DẤU CHỈ CUỘC CHIẾN ĐANG THẮNG
Chúa Giêsu không nói: người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy vì anh em có nhiều chương trình, vì anh em giảng hay, vì anh em tổ chức giỏi, vì anh em có nhiều người theo dõi, vì anh em được nhiều người biết đến. Ngài nói: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.”
Đây là thước đo rất nghiêm khắc. Con có thể có nhiều ơn mà chưa có nhiều tình yêu. Con có thể có tri thức mà thiếu dịu dàng. Con có thể có tài lãnh đạo mà thiếu kiên nhẫn. Con có thể có năng lực tổ chức mà làm người khác sợ. Con có thể có đời sống đạo đức bên ngoài rất đẹp nhưng người sống gần con lại thấy khó thở. Những điều ấy phải làm con suy nghĩ.
Bác ái không phải là cảm giác thích tất cả mọi người. Có những người con sẽ không tự nhiên cảm thấy gần. Có những tính khí không hợp. Có những người nói chuyện với con chỉ vài phút là con mệt. Nhưng bác ái nằm ở chỗ con không để cảm xúc tự nhiên quyết định cách con đối xử. Con vẫn tôn trọng. Vẫn tử tế. Vẫn không nói xấu. Vẫn giúp khi cần. Vẫn cầu nguyện cho họ. Vẫn bảo vệ danh dự của họ. Vẫn không vui khi họ gặp khó. Đó là tình yêu Kitô giáo.
Dấu chỉ con đang tiến bộ không phải là cám dỗ biến mất, nhưng là khoảng cách giữa cám dỗ và phản ứng trở nên dài hơn. Trước kia vừa bị nói là con phản ứng ngay; bây giờ con biết dừng lại. Trước kia con nhớ một lời xúc phạm nhiều ngày; bây giờ con biết đem nó đến với Chúa sớm hơn. Trước kia con thích kể lỗi người khác; bây giờ con biết im. Trước kia con buồn khi người khác thành công; bây giờ con tập chúc mừng. Những thay đổi nhỏ ấy là dấu chỉ ân sủng đang làm việc.
12. HỌC NÓI NĂNG NHƯ MỘT NGƯỜI ĐANG CHIẾN ĐẤU
Rất nhiều cuộc chiến linh hồn được thắng hay thua bằng cái lưỡi. Một lời nói có thể xây một người lên hoặc phá họ xuống. Có những lời ta nói trong vài giây nhưng người nghe mang theo nhiều năm. Vì thế hãy học canh giữ miệng trong cộng đoàn.
Đừng nói khi đang giận nếu có thể chờ. Cơn giận khiến ta nói điều lớn hơn sự thật. Đừng kể một câu chuyện bất lợi cho người khác chỉ để cuộc nói chuyện vui hơn. Đừng dùng lời châm biếm để che sự cay nghiệt. Đừng nói sau lưng điều con không dám nói trước mặt. Đừng biến thông tin con biết trong trách nhiệm thành chất liệu để trò chuyện. Đừng vội đưa ra kết luận về ý hướng của người khác.
Hãy tập nói những lời làm người khác sống. “Cảm ơn.” “Anh làm tốt lắm.” “Tôi hiểu điều ấy không dễ.” “Tôi đã sai.” “Anh có cần tôi giúp không?” “Tôi sẽ cầu nguyện cho anh.” Những câu rất đơn giản, nhưng nhiều cộng đoàn thiếu chúng. Có người sống nhiều năm bên nhau nhưng rất hiếm khi nói một lời khích lệ. Họ cho rằng người kia phải tự biết. Không, con hãy nói. Người mạnh cũng cần được khích lệ. Người đã phục vụ lâu năm cũng cần được cảm ơn.
13. ĐÓN NHẬN GIỚI HẠN CỦA CỘNG ĐOÀN
Một cám dỗ lớn là yêu một cộng đoàn lý tưởng hơn cộng đoàn thật. Trong trí con có hình ảnh về một cộng đoàn hoàn hảo: mọi người đúng giờ, cầu nguyện sốt sắng, nói năng dễ thương, làm việc hiệu quả, quan tâm đến nhau, không có xung đột. Nhưng Thiên Chúa không đặt con trong cộng đoàn tưởng tượng ấy. Ngài đặt con giữa những con người thật.
Hãy yêu cộng đoàn thật. Không phải bằng cách phủ nhận những điều cần sửa, nhưng bằng cách không chờ mọi người hoàn hảo rồi mới yêu. Chính Chúa cũng yêu Hội Thánh trong sự thánh thiện lẫn những vết thương của nàng. Ngài không bỏ Hội Thánh vì Hội Thánh có những con người yếu đuối. Nếu con chỉ yêu nơi nào mọi người hợp ý mình, đó chưa phải tình yêu sâu.
Có lúc con sẽ phải lên tiếng. Có lúc phải sửa sai. Có lúc phải đặt giới hạn. Có lúc phải nói về một vấn đề nghiêm trọng. Bác ái không phải là im lặng trước mọi điều. Nhưng hãy làm trong tinh thần muốn cứu, không muốn thắng. Hãy nói với người có trách nhiệm, không gieo lời ra cho nhiều người. Hãy tập trung vào vấn đề, đừng hạ thấp phẩm giá người. Hãy luôn nhớ người con đang không đồng ý vẫn là người Chúa yêu.
14. SỨ VỤ VÀ THẬP GIÁ
Nếu con nghĩ sứ vụ chỉ có niềm vui, con sẽ sớm thất vọng. Có những thập giá không thể tránh. Người ta có thể hiểu lầm con. Có thể nói xấu. Có thể quay lưng. Có thể con dốc sức mà chẳng thấy kết quả. Có thể một người con từng giúp lại làm con đau. Có thể cấp trên không nhìn thấy điều con đã hy sinh. Có thể sức khỏe không cho phép con làm điều con muốn. Có thể một công việc con xây dựng lâu năm phải trao lại cho người khác.
Đừng lãng phí những thập giá ấy. Hãy đặt chúng vào Thánh Giá Chúa. Sứ vụ được cứu độ không chỉ bằng điều con làm, nhưng còn bằng điều con chịu trong tình yêu. Có khi hoa trái lớn nhất không đến từ bài giảng con nói, mà từ một lần con chịu hiểu lầm mà không trả đũa. Không đến từ chương trình con tổ chức, mà từ một thất bại con đón nhận trong tín thác. Không đến từ một công việc lớn, mà từ việc con tiếp tục trung thành khi không còn ai vỗ tay.
15. KHI CẢM THẤY MỆT MỎI VỚI CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ VỤ
Sẽ có lúc con mệt. Không chỉ mệt thân xác, mà mệt vì người. Mệt vì phải nghe. Mệt vì phải điều chỉnh. Mệt vì va chạm. Mệt vì trách nhiệm. Trong những lúc ấy, con dễ trở nên cứng. Lòng con thu lại. Con bắt đầu làm tối thiểu. Con không muốn nói chuyện. Con nhìn mọi người bằng ánh mắt tiêu cực.
Hãy coi đó là tín hiệu cần trở về với Chúa và nghỉ ngơi đúng đắn. Không phải mọi mệt mỏi đều là thiếu nhân đức. Thân xác có giới hạn. Tâm trí có giới hạn. Con phải ngủ. Phải có những khoảng thinh lặng. Phải biết nói “không” với những điều vượt khả năng khi thích hợp. Nhưng trong lúc nghỉ, hãy giữ lòng khỏi cay đắng. Đừng biến mệt mỏi thành giấy phép để làm đau người khác.
Khi con mệt, hãy giảm lời. Một người mệt rất dễ nói điều mình sẽ hối tiếc. Hãy xin Chúa giúp con đi qua thời gian ấy với sự hiền lành. Có khi nhân đức trong một ngày mệt không phải là làm thêm một việc lớn, mà là không trút sự mệt mỏi của mình lên người bên cạnh.
16. NGƯỜI THỪA SAI PHẢI ĐỂ MÌNH ĐƯỢC CHÚA CỨU MỖI NGÀY
Con không thể loan báo ơn cứu độ như thể đó là điều chỉ dành cho người khác. Con cũng cần được cứu mỗi ngày: khỏi tự ái, khỏi kiêu căng, khỏi nản lòng, khỏi nhu cầu kiểm soát, khỏi sự cay đắng, khỏi đời sống hai mặt. Sứ vụ không biến con thành người đã hoàn tất. Con vẫn là người đang được Chúa cứu.
Nhận biết điều ấy sẽ làm con khiêm nhường. Khi nói với người yếu đuối, con không đứng trên họ. Con đứng bên họ. Con cũng biết ngã. Con cũng biết cần lòng thương xót. Chính kinh nghiệm được tha thứ làm lời của con có sức chữa lành hơn.
17. CỘNG ĐOÀN LÀ NƠI CHÚA DẠY TA YÊU NHỮNG NGƯỜI TA KHÔNG CHỌN
Trong đời sống tự nhiên, ta thường chọn bạn bè. Nhưng trong cộng đoàn, ta không chọn tất cả người sống với mình. Và chính điều đó làm cộng đoàn trở thành trường học Tin Mừng. Tình yêu Kitô giáo không chỉ là yêu người hợp với ta. Nếu thế thì người ngoại cũng làm được.
Chúa đặt bên con những người con không chọn để mở rộng trái tim con. Có thể chính người làm con khó chịu lại là người cứu con khỏi sự hẹp hòi. Chính người có cách làm việc khác con lại cứu con khỏi thói kiểm soát. Chính người ít khen con lại giúp con khỏi nghiện lời khen. Chính người góp ý thẳng lại giúp con thấy góc mù của mình. Đừng vội cầu xin Chúa cất họ đi. Có thể Chúa đang dùng họ như một dụng cụ đục đẽo linh hồn con.
18. ĐỪNG ĐÒI HỎI CỘNG ĐOÀN PHẢI BÙ ĐẮP MỌI THIẾU THỐN TRONG LÒNG CON
Không cộng đoàn nào có thể cho con mọi sự con cần. Không người anh em nào có thể luôn hiểu con. Nếu con đòi cộng đoàn phải làm con luôn cảm thấy được yêu, được lắng nghe, được nhìn nhận, con sẽ thất vọng. Có một nơi trong lòng chỉ Chúa có thể lấp đầy.
Hãy nhận tình yêu của anh chị em với lòng biết ơn, nhưng đừng biến họ thành nguồn tuyệt đối của sự an toàn. Khi con để Chúa là nền tảng, con sẽ bớt đòi hỏi người khác. Và khi bớt đòi hỏi, con sẽ có khả năng yêu họ tự do hơn.
19. XÉT MÌNH VỀ ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ VỤ
Mỗi tối, ngoài những điều khác, con có thể hỏi mình vài câu đơn giản: Hôm nay tôi có làm ai tổn thương bằng lời nói không? Tôi có giữ trong lòng sự khó chịu với ai không? Tôi có nói về lỗi của người vắng mặt không? Tôi có vui với điều tốt nơi anh em không? Tôi có tìm mình trong công việc không? Tôi có giữ giờ cho Chúa không? Tôi có biết cảm ơn? Có biết xin lỗi? Có biết tha thứ? Tôi có làm một điều bác ái cụ thể nào mà không ai biết không?
Đừng xét mình để tự kết án. Hãy xét dưới ánh sáng lòng thương xót. Nếu thấy mình thất bại, hãy xin lỗi Chúa, sửa điều có thể sửa, rồi bắt đầu lại. Cộng đoàn là trường học lâu dài. Không ai trở nên hiền lành trong một tuần.
20. KHI SỨ VỤ THAY ĐỔI, HÃY GIỮ NGUYÊN CĂN TÍNH
Có lúc con sẽ không còn làm điều con đang làm. Mọi sứ vụ đều có thời. Một ngày con được trao trách nhiệm, một ngày con trao lại. Nếu con đồng hóa mình với chức vụ, lúc mất chức vụ con sẽ thấy như mất chính mình.
Hãy tập nói ngay từ hôm nay: “Tôi không phải là công việc của tôi. Tôi là người thuộc về Chúa.” Điều ấy không làm con kém nhiệt thành. Trái lại, nó làm con tự do phục vụ hết sức mà không chiếm hữu. Khi cần trao lại, con trao trong bình an.
21. PHỤC VỤ NHƯ CHÚA GIÊSU
Đỉnh cao của mọi suy tư về cộng đoàn và sứ vụ vẫn là Chúa Giêsu. Ngài sống giữa các môn đệ không hoàn hảo. Phêrô nóng nảy. Gioan và Giacôbê ham vị trí. Tôma nghi ngờ. Giuđa phản bội. Các môn đệ tranh nhau ai lớn hơn. Và Chúa vẫn yêu họ.
Ngài quỳ xuống rửa chân. Đó là hình ảnh của người chiến thắng trong cuộc chiến linh hồn. Người chiến thắng không phải là người được mọi người phục vụ. Người chiến thắng là người đủ tự do để quỳ xuống.
Hãy nhìn Chúa Giêsu khi con khó sống với anh em. Ngài đã kiên nhẫn với con bao nhiêu? Hãy nhìn Chúa khi con bị hiểu lầm. Ngài đã chịu hiểu lầm đến đâu? Hãy nhìn Chúa khi sứ vụ không có kết quả. Trên Thánh Giá, mọi sự bề ngoài dường như thất bại. Nhưng chính nơi ấy ơn cứu độ được hoàn tất.
22. LỜI KẾT
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, đừng tìm một con đường nên thánh tách khỏi những người Chúa đã đặt bên con. Đừng tưởng rằng nếu được sống ở một cộng đoàn khác, với những người dễ chịu hơn, con sẽ nên thánh nhanh hơn. Có thể nơi khác sẽ có những khó khăn khác. Đừng chờ một sứ vụ lý tưởng để sống trọn vẹn cho Chúa. Chính nơi con đang đứng hôm nay là chiến trường thật.
Hãy chiến đấu khi con bước vào phòng họp. Hãy chiến đấu khi một người nói điều con không thích. Hãy chiến đấu khi phải làm việc nhỏ. Hãy chiến đấu khi không ai cảm ơn. Hãy chiến đấu khi công việc thành công để không kiêu. Hãy chiến đấu khi thất bại để không nản. Hãy chiến đấu để nghe nhiều hơn nói. Hãy chiến đấu để xin lỗi trước. Hãy chiến đấu để không kể lại lỗi anh em. Hãy chiến đấu để vui khi người khác được yêu mến. Hãy chiến đấu để giữ một giờ cho Chúa giữa lịch kín. Hãy chiến đấu để mỗi công việc đều bắt đầu bằng lời: “Lạy Chúa, vì Chúa,” và kết thúc bằng lời: “Lạy Chúa, mọi sự thuộc về Chúa.”
Rồi một ngày, con sẽ nhận ra rằng cuộc chiến linh hồn không biến con thành một con người căng thẳng, luôn nhìn mình và phân tích mình. Trái lại, nếu đi đúng đường, nó làm con quên mình hơn. Con sẽ bớt bận tâm ai nghĩ gì về mình. Bớt cần thắng trong mọi cuộc tranh luận. Bớt cần được nhìn nhận. Bớt nhạy cảm với những xúc phạm nhỏ. Và con sẽ tự do hơn để yêu.
Đó là chiến thắng thật.
Không phải chiến thắng vì mọi người trong cộng đoàn đều thay đổi.
Không phải chiến thắng vì mọi sứ vụ đều thành công.
Nhưng chiến thắng vì giữa những người chưa hoàn hảo và những công việc chưa trọn vẹn, Chúa Giêsu đã lớn lên trong con.
Con biết nhẫn nại hơn.
Biết tha thứ hơn.
Biết nhường hơn.
Biết lắng nghe hơn.
Biết im lặng đúng lúc hơn.
Biết phục vụ mà không cần được thấy.
Biết làm hết sức rồi trao kết quả cho Chúa.
Biết ở lại bình an khi ý riêng không được chọn.
Biết yêu một người dù người ấy không dễ yêu.
Khi những điều ấy bắt đầu xảy ra, hỡi linh hồn, con có thể biết rằng cuộc chiến đang sinh hoa trái.
Và nếu một ngày con thấy mình vẫn còn thất bại nhiều, đừng nản. Hãy bắt đầu lại từ một việc rất nhỏ. Một lời nói dịu hơn. Một lần giữ im lặng. Một lời xin lỗi. Một lời cảm ơn. Một sự giúp đỡ không ai thấy. Một giờ cầu nguyện trung thành. Một lần từ bỏ nhu cầu được đúng. Một lần thật lòng chúc mừng người khác.
Chính từ những điều nhỏ ấy, Chúa xây dựng những con người lớn.
Xin Chúa Giêsu, Đấng đã đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người, dạy con biết sống cuộc chiến linh hồn ngay trong đời sống cộng đoàn và sứ vụ mỗi ngày. Xin cho con đừng tìm sự thánh thiện ở đâu xa, nhưng biết nhận ra Chúa đang chờ con trong người anh em đang sống bên cạnh, trong bổn phận đang nằm trước mắt, trong công việc âm thầm, trong lời góp ý khó nghe, trong thất bại làm con đau, trong thành công đòi con khiêm nhường, trong những người nghèo Chúa gửi đến, trong những tâm hồn cần được lắng nghe, trong những hy sinh không ai biết.
Xin cho con hiểu rằng mỗi lần con chết đi một chút cho ý riêng, Chúa sống trong con thêm một chút. Mỗi lần con tha thứ, Nước Chúa được mở rộng. Mỗi lần con phục vụ không tìm mình, Thánh Giá của Chúa được tỏ hiện. Mỗi lần con yêu anh chị em cách cụ thể, Tin Mừng được loan báo bằng chính đời sống con.
Và xin cho đến ngày cuối cùng, khi nhìn lại cuộc đời, con không phải hối tiếc vì đã dành quá nhiều sức để bảo vệ cái tôi, nhưng có thể bình an thưa với Chúa rằng:
“Lạy Chúa, con đã không luôn chiến thắng. Con đã nhiều lần nóng giận, nhiều lần tự ái, nhiều lần tìm mình, nhiều lần mệt mỏi và muốn bỏ cuộc. Nhưng nhờ ơn Chúa, con đã lại đứng lên. Con đã học yêu. Con đã học tha thứ. Con đã học phục vụ. Con đã học để người khác lớn lên mà không cần mình được lớn. Con đã học để công việc thuộc về Chúa. Con đã học để cộng đoàn không phải là nơi người khác phục vụ con, nhưng là nơi con được học sống đời tự hiến. Và giờ đây, con xin trao lại cho Chúa tất cả.”
Khi ấy, hỡi linh hồn, con sẽ hiểu rằng mọi va chạm, mọi hy sinh, mọi ngày mệt mỏi, mọi lần phải nhường, mọi việc âm thầm, mọi thất bại trong sứ vụ và mọi cố gắng yêu thương đã không hề vô ích.
Chúng đã trở thành con đường.
Con đường dẫn con ra khỏi chính mình.
Con đường dẫn con vào trái tim anh chị em.
Và cuối cùng, con đường dẫn con đến với Thiên Chúa.
CHƯƠNG 34
CUỘC CHIẾN LINH HỒN VÀ TINH THẦN THỪA SAI
Hỡi linh hồn được gọi sống ơn gọi của người môn đệ thừa sai Chúa Cứu Thế, sau khi đã nói đến cuộc chiến linh hồn trong đời sống cộng đoàn và trong việc thi hành sứ vụ, giờ đây chúng ta cần đi sâu hơn nữa vào một mối liên hệ rất quan trọng, rất tế nhị, nhưng cũng rất dễ bị bỏ quên trong đời sống của người được sai đi: mối liên hệ giữa cuộc chiến nội tâm và tinh thần thừa sai. Hai điều ấy không phải là hai con đường chạy song song nhưng chẳng bao giờ gặp nhau; cũng không phải một bên thuộc đời sống thiêng liêng riêng tư, còn một bên thuộc hoạt động bên ngoài; càng không phải người nào cầu nguyện nhiều thì lo phần nội tâm, người nào giảng dạy nhiều thì lo phần sứ vụ. Không. Đối với người môn đệ của Đức Kitô, nhất là người đã tận hiến đời mình cho sứ mạng loan báo ơn cứu chuộc chứa chan, nội tâm và sứ vụ phải trở thành một thực tại duy nhất. Sứ vụ phải sinh ra từ cuộc gặp gỡ với Chúa, được thanh luyện trong cuộc chiến với chính mình, được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện, được thử luyện trong thập giá, và rồi lại dẫn người thừa sai trở về sâu hơn với Chúa. Nếu tách sứ vụ khỏi đời sống nội tâm, người thừa sai rất dễ biến mình thành một người hoạt động tôn giáo. Nếu tách đời sống nội tâm khỏi sứ vụ, người môn đệ lại có nguy cơ biến đời sống thiêng liêng thành một thế giới khép kín, chỉ tìm sự bình an cho chính mình mà quên rằng mình đã được gọi, được thánh hiến và được sai đi cho những người khác. Vì thế, cuộc chiến linh hồn không làm người thừa sai rời xa sứ vụ; trái lại, nó làm cho sứ vụ của người ấy trở nên tinh tuyền hơn. Và sứ vụ đích thực cũng không làm người thừa sai xa Chúa; trái lại, nếu được sống đúng, chính những con người nghèo khổ, những vất vả, những thất bại, những cuộc lên đường, những ngày kiệt sức, những lần bị từ chối, những linh hồn cứng lòng và cả những giọt nước mắt âm thầm của đời tông đồ sẽ trở thành nơi Chúa thanh luyện người thừa sai sâu xa hơn bất cứ một bài học lý thuyết nào.
Đối với chúng ta, những người mang linh đạo của Thánh Anphongsô, điều này càng quan trọng hơn. Ơn gọi thừa sai không phải trước hết là đi nhiều nơi, nói nhiều lời, tổ chức nhiều chương trình, hiện diện trước nhiều đám đông hay được nhiều người biết đến. Ơn gọi thừa sai trước hết là để chính mình được Đức Kitô Cứu Thế chiếm hữu đến mức người ta có thể gặp được nơi đời mình một chút gì đó của trái tim Đức Kitô dành cho những người nghèo khổ và bị bỏ rơi nhất. Người thừa sai không thể trao điều mình không có. Người ấy không thể rao giảng lòng thương xót nếu trong lòng vẫn đầy xét đoán; không thể nói về sự khiêm nhường nếu vẫn bị điều khiển bởi nhu cầu được nhìn nhận; không thể giảng về Thánh Giá nếu chỉ tìm một đời sống dễ chịu; không thể mời người khác tín thác nếu chính mình hoảng loạn mỗi khi kế hoạch thất bại; không thể nói về sự từ bỏ nếu lòng còn bám chặt vào danh dự, thành công, ý riêng và hình ảnh của mình. Cho nên, trước khi người thừa sai đi chinh phục các linh hồn cho Chúa, phải để Chúa chinh phục chính linh hồn mình. Trước khi muốn Chúa chiến thắng trong người khác, phải để Chúa chiến thắng trong mình. Trước khi muốn những người khác bỏ tội, bỏ ích kỷ, bỏ những thần tượng của họ, người thừa sai phải can đảm nhìn xem trong lòng mình còn những thần tượng nào chưa chịu đổ xuống. Cuộc chiến thừa sai lớn nhất vì thế không bắt đầu trên bục giảng, không bắt đầu nơi một giáo điểm xa xôi, không bắt đầu trong một kỳ đại phúc, cũng không bắt đầu khi phải đối diện với những người chống đối đức tin. Nó bắt đầu ngay trong trái tim của người được sai đi.
1. TINH THẦN THỪA SAI BẮT NGUỒN TỪ CUỘC CHIẾN NỘI TÂM
Thánh Anphongsô không trở thành một người thừa sai vĩ đại chỉ vì ngài có trí tuệ sắc bén, có khả năng giảng thuyết, có tài tổ chức hay có một nhiệt huyết tự nhiên mạnh mẽ. Nếu chỉ có những điều ấy, ngài có thể trở thành một con người xuất sắc, nhưng chưa chắc đã trở thành một vị thánh. Điều làm cho đời ngài có sức sinh hoa trái không phải đơn giản là những công việc ngài đã thực hiện, mà là con người ngài đã trở thành dưới tác động của ân sủng. Và để trở thành con người ấy, ngài đã phải đi qua một cuộc chiến dài với chính mình: từ bỏ tham vọng, từ bỏ một tương lai danh giá, từ bỏ những bảo đảm của đời sống cũ, học sự khiêm nhường, học sống nghèo, học vâng phục thánh ý Thiên Chúa, học chịu đựng thất bại, hiểu lầm, bệnh tật, cô đơn, thử thách và cả những giờ phút tưởng như công trình của mình sụp đổ. Nói cách khác, đời thừa sai của Thánh Anphongsô không thể hiểu được nếu tách khỏi cuộc chiến nội tâm của ngài. Chính khi cái tôi dần dần bị thanh luyện, lòng thương xót mới có thể chảy qua ngài cách tinh tuyền hơn. Chính khi những tham vọng riêng dần chết đi, sứ mạng của Thiên Chúa mới trở thành điều duy nhất đáng sống. Chính khi ngài không còn muốn xây dựng một cái gì cho mình, ngài mới có thể trở thành dụng cụ để Thiên Chúa xây dựng công trình của Ngài.
Người thừa sai hôm nay cũng vậy. Có một sai lầm rất dễ mắc phải, đó là nghĩ rằng đời thừa sai được đo bằng mức độ bận rộn. Một ngày đầy lịch trình chưa chắc là một ngày đầy Chúa. Một tuần có nhiều bài giảng chưa chắc là một tuần sinh nhiều hoa trái. Một sứ vụ có đông người tham dự chưa chắc đã là một sứ vụ đẹp lòng Thiên Chúa hơn một cuộc gặp gỡ âm thầm với một linh hồn đang tuyệt vọng. Một người được nhiều người biết đến chưa chắc là người hữu ích hơn trước mặt Chúa so với một người âm thầm phục vụ nơi chẳng ai nhớ tên mình. Những thước đo của thế gian có thể len lỏi rất tinh tế vào đời sống thừa sai. Người ta có thể bắt đầu bằng ý hướng tốt, nhưng rồi dần dần lấy con số làm tiêu chuẩn; lấy tiếng khen làm động lực; lấy sự chú ý của người khác làm thức ăn cho lòng tự ái; lấy sự thành công bên ngoài làm bằng chứng rằng mình đang được Chúa chúc phúc; và lấy thất bại bên ngoài làm lý do để nghi ngờ chính ơn gọi của mình. Khi ấy, người thừa sai không còn làm việc trong tự do của con cái Thiên Chúa nữa. Người ấy trở thành nô lệ của kết quả.
Cuộc chiến nội tâm chính là điều giải thoát người thừa sai khỏi sự nô lệ ấy. Mỗi lần linh hồn từ bỏ nhu cầu được khen, sứ vụ trở nên tinh tuyền hơn. Mỗi lần chấp nhận làm một việc không ai thấy mà vẫn vui lòng, tinh thần thừa sai trưởng thành hơn. Mỗi lần chịu một thất bại mà không cay đắng, không tìm người để trách, không rơi vào mặc cảm, nhưng bình an đặt công việc lại trong tay Chúa, người thừa sai đã tiến một bước dài trên đường tự do. Mỗi lần bị hiểu lầm mà không vội vàng thanh minh để bảo vệ hình ảnh của mình, người ấy được giống Đức Kitô hơn. Mỗi lần gặp một linh hồn khó chịu mà vẫn kiên nhẫn, người ấy đang rao giảng bằng đời sống sâu sắc hơn nhiều lời nói. Mỗi lần nhận ra một chút ghen tị trước thành công của anh em và lập tức đưa nó ra ánh sáng trước Chúa, không nuôi dưỡng nó, không biện minh cho nó, người ấy đang bảo vệ sự trong sạch của sứ vụ. Những cuộc chiến như thế rất nhỏ, rất kín đáo, rất ít người biết. Nhưng chính nơi đó người thừa sai được hình thành.
Sứ vụ không thể mạnh hơn con người của người thừa sai trong một thời gian dài. Người ta có thể dùng tài năng để che đi những khoảng trống nội tâm trong một thời gian. Có thể dùng kỹ năng để tạo nên thành công. Có thể dùng kinh nghiệm để điều hành công việc. Có thể dùng kiến thức để gây ấn tượng. Có thể dùng sức hút cá nhân để lôi kéo người khác. Nhưng nếu bên trong không có đời sống với Chúa, không có sự khiêm nhường, không có sự thật, không có lòng bác ái, không có khả năng từ bỏ mình, thì sớm hay muộn những vết nứt ấy cũng xuất hiện. Sự mệt mỏi sẽ làm lộ ra sự thiếu kiên nhẫn. Sự chống đối sẽ làm lộ ra lòng tự ái. Thành công sẽ làm lộ ra tham vọng. Thất bại sẽ làm lộ ra sự thiếu tín thác. Quyền hành sẽ làm lộ ra nhu cầu kiểm soát. Những người yếu đuối sẽ làm lộ ra sự thiếu lòng thương xót. Đời sống cộng đoàn sẽ làm lộ ra những góc cạnh mà bục giảng có thể che giấu. Vì thế, muốn sứ vụ được bền vững, đừng chỉ đầu tư vào kỹ năng. Hãy đầu tư vào linh hồn. Muốn lời giảng có sức nặng, đừng chỉ tìm thêm những tư tưởng hay. Hãy để Lời Chúa phán xét chính mình. Muốn trở thành người dẫn người khác đến Chúa, hãy để Chúa dẫn chính mình mỗi ngày.
2. KẺ THÙ RẤT KHÉO DÙNG CHÍNH SỨ VỤ ĐỂ LÀM HẠI NGƯỜI THỪA SAI
Có một điều người thừa sai phải luôn tỉnh thức: ma quỷ không nhất thiết tìm cách làm cho người ấy bỏ sứ vụ. Nhiều khi nó làm một việc tinh tế hơn: để người ấy tiếp tục sứ vụ, thậm chí làm sứ vụ rất hăng say, nhưng dần dần kéo người ấy ra khỏi Chúa. Nó biết rằng một người thừa sai bỏ sứ vụ thì dễ nhận ra mình đang có vấn đề; nhưng một người vẫn làm việc cho Chúa rất nhiều lại có thể không nhận ra rằng lòng mình đã xa Chúa từ lâu. Vì thế, có những cám dỗ không đến dưới hình thức lười biếng, mà dưới hình thức nhiệt thành thái quá; không đến bằng lời mời bỏ cầu nguyện, mà bằng một lý do nghe rất thánh thiện: “Có quá nhiều người đang cần mình”; không đến bằng một sự chống lại đời sống thiêng liêng, mà bằng suy nghĩ: “Việc tôi đang làm cũng là cầu nguyện rồi”; không đến bằng ích kỷ lộ liễu, mà bằng cảm giác rằng “không có tôi thì công việc này không chạy được”.
Đó là một trong những cạm bẫy nguy hiểm nhất: lấy sứ vụ làm lý do để không còn chăm sóc linh hồn mình. Ban đầu chỉ là bỏ một giờ cầu nguyện vì bận. Rồi một ngày khác lại bỏ vì mệt. Sau đó việc cầu nguyện trở nên ngắn hơn, vội vàng hơn, máy móc hơn. Xét mình bị bỏ. Thinh lặng bị bỏ. Việc đọc sách thiêng liêng bị bỏ. Những thời gian nghỉ ngơi quân bình cũng bị bỏ. Người ấy bắt đầu sống bằng adrenaline của công việc, bằng những cuộc gặp gỡ, những lời khen, những phản hồi, những tin nhắn, những kế hoạch. Bên ngoài có vẻ rất nhiệt thành. Nhưng bên trong trở nên khô cạn. Và điều đáng sợ là người ấy có thể không nhận ra, bởi vì công việc vẫn đang chạy, mọi người vẫn đang khen, sứ vụ vẫn có vẻ thành công.
Đến một lúc nào đó, cái khô cạn bên trong bắt đầu đòi giá. Người thừa sai trở nên dễ nóng giận hơn. Những người làm chậm công việc khiến mình bực bội. Người không đồng ý với mình trở thành “cản trở sứ vụ”. Những lời góp ý trở thành sự xúc phạm. Người ấy nói nhiều về tình yêu nhưng lại ít kiên nhẫn với những người sống gần mình. Có thể rất dịu dàng với những người ngoài, nhưng khô cứng với anh em trong nhà. Có thể nói với hàng trăm người về lòng thương xót, nhưng trong cộng đoàn lại không thể tha thứ một chuyện nhỏ. Có thể kêu gọi người khác tín thác vào Chúa, nhưng chính mình lại lo âu đến mất bình an khi chương trình không diễn ra như dự kiến. Đó là dấu cho thấy sứ vụ đã bắt đầu tách khỏi nguồn.
Hỡi linh hồn thừa sai, đừng sợ phải nhìn điều này. Nó không phải để làm con nản lòng, nhưng để giúp con tỉnh thức. Chúa không cần một cỗ máy hoạt động. Chúa cần trái tim của con. Các linh hồn cũng không chỉ cần những việc con làm. Họ cần một người đã gặp Chúa. Họ cần gặp nơi con một thứ bình an không thể học bằng kỹ thuật, một sự dịu dàng không thể giả tạo, một niềm hy vọng đã đi qua đau khổ, một lòng thương xót sinh ra từ kinh nghiệm chính mình được tha thứ. Nếu con đánh mất điều ấy, con có thể vẫn tiếp tục làm nhiều việc, nhưng phần đẹp nhất của đời thừa sai đã bắt đầu chết.
3. CUỘC CHIẾN VỚI CÁM DỖ HOẠT ĐỘNG QUÁ MỨC
Người thừa sai thường dễ yêu công việc. Điều đó tự nó không xấu. Nhiệt thành cho các linh hồn là một ân huệ lớn. Nhưng mọi ân huệ đều cần được thanh luyện. Có một thứ nhiệt thành đến từ tình yêu Chúa; cũng có một thứ nhiệt thành được pha trộn với nhu cầu chứng tỏ giá trị bản thân. Có một sự quảng đại làm việc quên mình; cũng có một sự làm việc không ngừng vì người ta sợ phải dừng lại và đối diện với khoảng trống bên trong. Có một người làm nhiều vì lòng bác ái thôi thúc; cũng có một người làm nhiều vì không chịu nổi cảm giác mình không cần thiết.
Đây là nơi cuộc chiến nội tâm trở nên hết sức cụ thể. Hãy tự hỏi: nếu hôm nay Chúa bảo con làm ít lại, con có bình an không? Nếu một công việc con đang yêu thích được trao cho người khác, con có vui không? Nếu một chương trình thành công mà tên con hoàn toàn không được nhắc đến, con có thực sự mừng không? Nếu một người khác làm tốt hơn con, được mọi người yêu mến hơn con, được mời nhiều hơn con, con có thể chân thành tạ ơn Chúa không? Những câu hỏi ấy chạm vào điều rất sâu. Vì đôi khi chúng ta tưởng mình đang yêu sứ vụ, nhưng thực ra chúng ta đang yêu vị trí của mình trong sứ vụ.
Người thừa sai tự do là người có thể làm hết sức mình rồi lùi lại. Có thể gieo mà không cần thấy mùa gặt. Có thể xây rồi để người khác hoàn thành. Có thể khởi sự một công việc rồi vui vẻ trao nó cho một người khác. Có thể bị quên. Có thể không được nhớ ơn. Có thể rời một nơi mình đã đổ nhiều mồ hôi mà không mang theo một đòi hỏi nào rằng nơi ấy phải thuộc về mình. Đó là tự do rất đẹp. Nhưng tự do ấy chỉ có được qua chiến đấu. Bản tính tự nhiên luôn muốn sở hữu. “Đây là công việc của tôi.” “Đây là nhóm của tôi.” “Đây là chương trình của tôi.” “Đây là những người tôi đã dìu dắt.” Nhưng người thừa sai của Đức Kitô phải học nói: “Tất cả là của Chúa. Tôi chỉ đi ngang qua. Tôi chỉ là người gieo hạt trong một mùa. Chúa mới là Chủ ruộng.”
Khi sống như thế, người thừa sai sẽ bớt kiệt sức. Không phải vì làm ít hơn nhất thiết, nhưng vì không còn mang một gánh nặng mà Chúa chưa bao giờ bắt mình mang: gánh nặng phải kiểm soát mọi kết quả. Có những người mệt không phải vì công việc nhiều, mà vì trong lòng họ cố gắng điều khiển mọi thứ. Họ muốn người khác phải đáp ứng đúng như mình mong. Muốn kế hoạch phải thành công. Muốn mọi chuyện phải diễn ra theo cách mình dự kiến. Muốn những người mình phục vụ phải thay đổi nhanh. Muốn cộng đoàn phải hiểu. Muốn bề trên phải công nhận. Muốn anh em phải cộng tác. Chính sự kiểm soát ấy làm linh hồn kiệt sức. Khi buông công việc cho Chúa, người thừa sai vẫn làm hết sức, nhưng có một khoảng trời bình an ở bên trong.
4. CUỘC CHIẾN VỚI NHU CẦU THẤY KẾT QUẢ
Một trong những đau khổ lớn nhất của người thừa sai là làm việc mà không thấy hoa trái. Rao giảng mà người ta dửng dưng. Khuyên bảo mà họ không thay đổi. Đồng hành lâu năm rồi chứng kiến người mình yêu thương quay trở lại con đường cũ. Gieo hạt mà đất dường như khô cứng. Cầu nguyện rất nhiều mà chẳng thấy gì xảy ra. Những lúc ấy, một tiếng nói âm thầm xuất hiện: “Có ích gì?” Và nếu không tỉnh thức, câu hỏi ấy sẽ ăn mòn nhiệt huyết.
Nhưng hỡi linh hồn, ai đã nói rằng con phải thấy kết quả? Ai đã nói người gieo luôn được nhìn thấy mùa gặt? Trong Nước Chúa, biết bao nhiêu công việc sinh hoa trái sau khi người đã gieo hạt từ lâu không còn ở đó nữa. Có những lời giảng hôm nay không tạo một phản ứng nào, nhưng mười năm sau lại trở thành câu Chúa dùng để kéo một linh hồn trở về. Có những hy sinh không ai biết, nhưng trong nhiệm thể Đức Kitô, Chúa dùng chúng để mở một cánh cửa ân sủng ở nơi người hy sinh không bao giờ biết. Có những lần con ngồi nghe một người đau khổ, tưởng như chẳng giúp được gì, nhưng sự hiện diện ấy có thể là điều giữ họ khỏi tuyệt vọng trong một đêm tối nhất của đời họ. Không phải mọi hoa trái đều có thể thống kê.
Người thừa sai trưởng thành phải học làm việc trong đức tin. Người ấy không xây sự trung thành trên kết quả, nhưng trên lời gọi. Nếu Chúa sai con gieo, con gieo. Nếu Chúa sai con tưới, con tưới. Nếu Chúa để một người khác gặt, con tạ ơn. Nếu cả đời con chỉ chuẩn bị đất mà chẳng thấy một bông lúa nào, con vẫn có thể chết trong bình an, miễn là con đã làm điều Chúa muốn. Đây là điều cái tôi rất khó chấp nhận. Nó thích những kết quả nhìn thấy được bởi vì kết quả làm cho nó cảm thấy mình có giá trị. Nhưng người thừa sai thuộc về Chúa không lấy giá trị của mình từ những gì mình đạt được. Giá trị của người ấy nằm ở việc thuộc về Chúa.
Có khi Chúa cố tình để công việc không thành công theo tiêu chuẩn của con để cứu chính con. Nếu mọi việc con làm đều thành công, có thể con sẽ không còn biết quỳ. Nếu mọi bài giảng đều được khen, con có thể dần tin rằng sức mạnh nằm ở lời nói của mình. Nếu ai cũng nghe con, con có thể quên rằng chỉ Thánh Thần mới đổi được lòng người. Nếu mọi kế hoạch đều trôi chảy, con có thể bắt đầu nghĩ rằng mình quản trị giỏi hơn là Chúa quan phòng. Vì thế, đôi khi thất bại là một ân sủng rất cay. Nó đập vỡ ảo tưởng về sự cần thiết của chúng ta. Nó nhắc người thừa sai rằng: “Con không phải là Đấng Cứu Thế. Con chỉ là người được sai đi.”
5. CUỘC CHIẾN VỚI SỰ CÔNG NHẬN VÀ TIẾNG KHEN
Tiếng khen không xấu. Một lời khích lệ đúng lúc có thể nâng đỡ người thừa sai. Nhưng tiếng khen là thức ăn rất dễ làm cái tôi lớn lên. Ban đầu người ta chỉ đón nhận một lời cảm ơn. Sau đó bắt đầu mong nó. Rồi đến lúc thiếu nó thì cảm thấy hụt hẫng. Rồi thấy người khác được khen thì lòng khó chịu. Từ đó, một sứ vụ vốn bắt đầu bằng tình yêu Chúa dần dần trở thành nơi nuôi dưỡng hình ảnh bản thân.
Hỡi linh hồn, hãy cảnh giác với khoảnh khắc con bắt đầu đo giá trị của một ngày bằng phản ứng của người khác. Nếu bài giảng được nhiều người khen thì vui, nếu ít người phản hồi thì buồn. Nếu một bài viết được chia sẻ nhiều thì phấn khởi, nếu không ai chú ý thì thất vọng. Nếu nơi này mời mình thì thấy có giá trị, nếu người ta mời người khác thì cảm thấy bị xem nhẹ. Đây không phải là điều hiếm gặp. Nó là cuộc chiến của bất cứ ai làm việc trước công chúng. Và càng có ảnh hưởng, cuộc chiến càng tinh tế.
Cách chiến đấu không phải là giả vờ không vui khi được khen, cũng không phải cố tìm cách hạ thấp mình bằng những câu khiêm nhường ngoài miệng. Cách chiến đấu là đưa mọi sự về cho Chúa. Khi được khen, hãy thầm nói: “Lạy Chúa, điều gì tốt là của Chúa. Xin đừng để con ăn cắp vinh quang của Ngài.” Khi bị chê, hãy hỏi: “Có điều gì đúng trong lời này để con sửa không?” Nếu lời chê bất công, hãy dâng nó như một cơ hội để chết cho cái tôi. Khi thấy lòng mình muốn được công nhận, đừng hoảng sợ, nhưng hãy gọi đúng tên nó. Một đam mê được đưa ra ánh sáng đã mất đi phần lớn quyền lực của nó.
Hãy tập yêu những việc không ai thấy. Hãy có những việc chỉ Chúa biết. Một lời cầu nguyện không kể cho ai. Một hy sinh không ai ghi nhận. Một việc phục vụ không để tên. Một cuộc thăm viếng không chụp ảnh. Một món quà không để người nhận biết người cho. Một lần nhường phần tốt cho anh em mà không nói ra. Những hành vi âm thầm ấy giống như những nhát dao nhỏ cắt vào cái tôi. Và chính nhờ những nhát cắt ấy, trái tim người thừa sai được tự do.
6. CUỘC CHIẾN VỚI SỰ SO SÁNH TRONG SỨ VỤ
Không có gì làm mất bình an nhanh bằng so sánh. Người này giảng hay hơn mình. Người kia được yêu mến hơn. Người khác có nhiều người theo hơn. Một anh em có những sứ vụ lớn hơn. Một người trẻ hơn nhưng được trao trách nhiệm nhiều hơn. Người kia có những khả năng mình không có. Nếu không tỉnh thức, những điều ấy biến thành một thứ độc dược rất nhẹ nhưng uống mỗi ngày.
Sự so sánh nguy hiểm bởi vì nó làm ta không còn nhìn Chúa mà nhìn ngang. Và khi nhìn ngang, ta luôn tìm được một người hơn mình ở điều gì đó. Từ đó sinh ra ghen tị, mặc cảm, cạnh tranh, nói xấu, hoặc ngược lại là một nỗ lực quá mức để chứng tỏ mình. Những điều ấy có thể tồn tại ngay trong một môi trường rất đạo đức.
Nhưng ơn gọi không phải cuộc thi. Chúa không hỏi con tại sao con không giống người kia. Chúa chỉ hỏi con đã làm gì với ân huệ được trao cho con. Người này được gọi gieo hạt. Người kia được gọi chăm sóc. Người khác được gọi đứng trên bục giảng. Một người khác được gọi ngồi hàng giờ trong tòa giải tội. Có người được gọi đến những nơi đông đảo. Có người lại được sai đến một cộng đoàn nhỏ chẳng ai biết. Có người sống sứ vụ bằng lời nói. Có người bằng đau bệnh. Có người bằng trách nhiệm lãnh đạo. Có người bằng việc âm thầm chuẩn bị bữa ăn cho anh em. Trong Nước Chúa, không có công việc nào nhỏ nếu được làm vì tình yêu.
Nếu một người anh em thành công, hãy học tạ ơn Chúa thật sự. Nếu lòng con khó chịu, hãy đem chính sự khó chịu ấy vào cầu nguyện. Đừng che giấu bằng lời đạo đức. Hãy nói thật: “Lạy Chúa, con đang ghen. Con không thích thấy người này được chú ý hơn con. Xin giải thoát con.” Sự thật như thế đẹp lòng Chúa hơn nhiều lời cầu nguyện hoa mỹ. Rồi hãy cố tình cầu nguyện cho người ấy. Chúc lành cho sứ vụ của họ. Vui với điều tốt đang xảy ra qua họ. Làm như thế nhiều lần, linh hồn sẽ dần được chữa lành. Đến một ngày, con có thể nhìn thấy người khác thành công mà lòng mình thật sự vui. Đó là một chiến thắng rất lớn.
7. NGƯỜI THỪA SAI TRƯỚC HẾT PHẢI LÀ NGƯỜI CỦA CHÚA
Có một nguyên tắc không được đảo ngược: trước khi là người của mọi người, người thừa sai phải là người của Chúa. Nếu thứ tự ấy bị đảo ngược, mọi thứ sẽ sớm rối loạn. Người thừa sai sẽ bị kéo đi bởi hàng trăm nhu cầu. Ai cũng cần. Việc gì cũng khẩn cấp. Tin nhắn nào cũng phải trả lời. Chương trình nào cũng quan trọng. Người này muốn gặp. Người kia đang có chuyện. Cộng đoàn có công việc. Giáo dân có nhu cầu. Nếu không có một trung tâm vững chắc, linh hồn sẽ bị xé ra thành nhiều mảnh.
Chúa Giêsu đã sống giữa đám đông, nhưng Ngài không thuộc về đám đông. Ngài chữa lành, giảng dạy, lắng nghe, đi từ làng này sang làng khác, nhưng Ngài vẫn tìm nơi thanh vắng. Ngài không để nhu cầu của con người thay thế sự hiệp thông với Chúa Cha. Người thừa sai cũng vậy. Cầu nguyện không phải là phần còn lại sau khi công việc xong. Cầu nguyện là nguồn từ đó công việc phải chảy ra.
Đừng nói: “Hôm nay tôi không có thời gian cầu nguyện vì có quá nhiều việc cho Chúa.” Chính khi có nhiều việc cho Chúa, con càng cần ở với Chúa. Nếu không, rất dễ đến lúc con không còn làm việc cho Chúa nữa mà chỉ làm việc nhân danh Chúa. Khác biệt ấy rất nhỏ ở bên ngoài nhưng rất lớn ở bên trong.
Có những ngày sứ vụ buộc người thừa sai phải linh động. Có những tình huống bác ái cấp bách khiến một lịch trình thường ngày phải thay đổi. Thiên Chúa không phải một ông chủ khắt khe đòi ta giữ một khuôn cứng nhắc. Nhưng điều nguy hiểm là khi ngoại lệ trở thành bình thường, khi hết ngày này sang ngày khác đời cầu nguyện bị hy sinh cho hoạt động. Khi ấy, phải dừng lại và thành thật: đây không còn là một hoàn cảnh bất thường nữa; đây đã trở thành một lối sống.
Hãy giữ những khoảng thinh lặng. Hãy ở trước Thánh Thể mà không cần chuẩn bị một bài gì. Hãy đọc Lời Chúa không phải để tìm ý giảng, nhưng để Lời Chúa nói với chính con. Hãy cầu nguyện như một người nghèo, không như một chuyên gia tôn giáo. Hãy để có những lúc con không phải là người hướng dẫn, không phải là người giảng, không phải là người trả lời, nhưng chỉ là một đứa con ngồi trước mặt Cha. Người thừa sai cần những giờ như vậy nếu không muốn trái tim biến thành một chiếc giếng cạn.
8. THANH LUYỆN ĐỘNG LỰC THỪA SAI MỖI NGÀY
Động lực của con người hiếm khi hoàn toàn tinh tuyền. Trong một hành động tốt có thể lẫn nhiều điều khác nhau: yêu Chúa, yêu người, nhưng cũng có chút tự ái, chút muốn được công nhận, chút ham thành công, chút sợ thất bại. Đừng đợi đến khi động lực hoàn toàn tinh tuyền mới làm việc, vì có lẽ con sẽ chẳng bao giờ bắt đầu. Điều Chúa muốn là con liên tục để Ngài thanh luyện.
Trước một công việc, hãy hỏi: “Lạy Chúa, điều gì đang thúc đẩy con?” Sau công việc, lại hỏi: “Con đang tìm gì trong phản ứng của người khác?” Nếu thành công, hãy xem lòng có phình lên không. Nếu thất bại, hãy xem lòng có sụp xuống không. Cả hai phản ứng đều cho con biết mình đang đặt căn tính ở đâu.
Có khi con sẽ nhận ra một điều khó chịu: mình thích một sứ vụ không hẳn vì các linh hồn, mà vì sứ vụ ấy làm mình cảm thấy quan trọng. Đừng thất vọng. Nhận ra đã là ân sủng. Hãy nói với Chúa: “Con thấy rồi. Xin thanh luyện con.” Rồi tiếp tục phục vụ, nhưng với một sự tỉnh thức mới.
Thanh luyện động lực là công việc cả đời. Có những lớp rất sâu của tự ái chỉ xuất hiện khi người ta đã đi xa trên đường thiêng liêng. Ban đầu ta bỏ những ham muốn thô thiển. Sau đó Chúa chạm đến những thứ tinh tế hơn: nhu cầu được xem là người đạo đức, nhu cầu được công nhận là người nhiệt thành, nhu cầu được coi là người hiểu biết, người hy sinh, người có ảnh hưởng. Cái tôi rất thông minh. Nếu không thể tự hào vì tiền bạc, nó sẽ tự hào vì nghèo khó. Nếu không thể tự hào vì quyền lực, nó sẽ tự hào vì khiêm nhường. Nếu không thể tự hào vì đời sống thế tục, nó có thể tự hào vì đời sống thiêng liêng. Vì thế, cuộc chiến không bao giờ được coi là đã xong.
9. HỌC YÊU NHỮNG GÌ NHỎ BÉ VÀ ÂM THẦM
Tinh thần thừa sai chân chính được thử nghiệm rất rõ trong những việc nhỏ. Ai cũng có thể nhiệt thành trước một đám đông. Nhưng liệu con có nhiệt thành với một người già lặp đi lặp lại cùng một câu chuyện? Ai cũng có thể chuẩn bị kỹ cho một bài giảng lớn. Nhưng con có thể dành sự chú ý như thế cho một người nghèo chẳng mang lại cho con điều gì không? Ai cũng vui khi công việc có kết quả. Nhưng con có thể kiên trì với một linh hồn nhiều năm vẫn chưa đổi thay không?
Đức Kitô không chỉ yêu nhân loại như một khái niệm. Ngài dừng lại trước từng con người. Người phụ nữ Samari. Người mù bên vệ đường. Ông Dakêu. Người phong cùi. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội. Người trộm lành. Một đám đông có thể đang chờ, nhưng Ngài vẫn có thể dừng lại trước tiếng kêu của một người.
Người thừa sai cũng phải học điều ấy. Đừng để những dự án lớn làm con mất khả năng nhìn thấy một con người cụ thể. Đừng để con số làm con quên khuôn mặt. Đừng để chương trình nuốt mất con người. Có khi một cuộc nói chuyện mười phút với một linh hồn bị bỏ quên lại gần với trái tim Chúa hơn một sự kiện rất lớn. Chúng ta không biết. Chỉ Chúa biết.
Hãy yêu những nơi ít ai muốn đến. Hãy yêu những người ít ai muốn nghe. Hãy yêu những công việc ít ai muốn làm. Chính ở đó tinh thần của Thánh Anphongsô trở nên rất cụ thể. “Những người bị bỏ rơi nhất” không chỉ là một khẩu hiệu đẹp. Đó là những con người mà xã hội, đôi khi cả cộng đoàn tôn giáo, dễ lướt qua. Người nghèo. Người ít học. Người có quá khứ lộn xộn. Người khó tính. Người thất bại. Người không biết diễn đạt. Người không thể đền đáp. Người không làm cho sứ vụ của con đẹp hơn trong mắt người khác. Nếu lòng con có thể hướng về những người ấy, sứ vụ đang mang mùi của Tin Mừng.
10. THẬP GIÁ TRONG ĐỜI THỪA SAI KHÔNG PHẢI LÀ TAI NẠN
Không có sứ vụ thật nào mà không có Thập Giá. Nếu người thừa sai nghĩ rằng mọi khó khăn đều là dấu cho thấy mình đang sai đường, người ấy sẽ không đi xa được. Có những khó khăn do thiếu khôn ngoan và cần sửa. Có những thất bại do lỗi của chính ta và phải khiêm nhường nhận trách nhiệm. Nhưng cũng có những thập giá đơn giản là phần của đời thừa sai.
Bị hiểu lầm. Bị chống đối. Bị phê bình. Bị từ chối. Làm điều tốt nhưng bị nghi ngờ. Yêu thương nhưng không được đáp lại. Hy sinh mà không ai biết. Bệnh tật đúng lúc công việc đang cần. Bị chuyển đi khỏi nơi mình yêu quý. Thấy một công trình mình gây dựng được giao cho người khác. Nhìn những điều mình nâng niu thay đổi sau khi mình rời đi. Đó là những cái chết nhỏ.
Nếu không sống cuộc chiến nội tâm, những thập giá ấy sẽ nhanh chóng biến thành cay đắng. Nhưng nếu kết hợp với cuộc Thương Khó Chúa, mọi thứ thay đổi. Khi bị hiểu lầm, con nhớ Đức Giêsu im lặng trước những lời tố cáo. Khi bị phản bội, con nhớ Giuđa. Khi bị người mình yêu làm tổn thương, con nhớ Phêrô chối Thầy. Khi cầu nguyện mà dường như Chúa im lặng, con nhớ tiếng kêu trên Thập Giá. Khi thấy mọi cố gắng như thất bại, con nhìn Đức Giêsu chết trần trụi giữa hai tên trộm, không một dấu hiệu bên ngoài nào của chiến thắng. Nhưng chính ở đó ơn cứu độ đang được hoàn tất.
Hỡi người thừa sai, đừng lãng phí đau khổ. Một đau khổ không được dâng sẽ dễ trở thành cay đắng. Một đau khổ được kết hợp với Đức Kitô có thể trở thành lời cầu nguyện. Khi con mệt, hãy dâng sự mệt mỏi ấy cho một linh hồn đang xa Chúa. Khi bị hiểu lầm, hãy dâng cho một người đang mất đức tin. Khi cô đơn, hãy dâng cho những người đang sống trong cô độc. Khi bệnh tật, hãy để chiếc giường trở thành bàn thờ. Khi không còn làm được gì, hãy nhớ: giá trị đời thừa sai không nằm ở lượng công việc, nhưng ở mức độ kết hợp với Đức Kitô.
Có những giai đoạn Chúa cho người thừa sai làm rất nhiều. Có những giai đoạn Ngài lấy đi khả năng hoạt động để dạy người ấy một sứ vụ sâu hơn: sứ vụ của sự hiện diện, sứ vụ của hy sinh, sứ vụ của cầu nguyện, sứ vụ của việc để mình được cứu. Đừng nghĩ rằng chỉ khi đứng trên bục giảng con mới là thừa sai. Một người nằm bệnh nhưng hiến dâng đau khổ với tình yêu có thể đang làm sứ vụ rất sâu trong nhiệm thể Đức Kitô.
11. ĐỨC MARIA, MẸ HẰNG CỨU GIÚP, TRONG CUỘC CHIẾN CỦA NGƯỜI THỪA SAI
Không thể nói đến tinh thần thừa sai của người con Chúa Cứu Thế mà không nói đến Đức Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp. Mẹ không chỉ là Đấng chúng ta chạy đến khi gặp khó khăn. Mẹ còn là trường học của đời thừa sai.
Nhìn Mẹ, ta thấy một người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa nhưng cũng hoàn toàn sẵn sàng cho con người. Mẹ nhận lời truyền tin rồi lập tức lên đường đến với bà Êlisabét. Sự kết hợp với Chúa không làm Mẹ khép kín; nó làm Mẹ lên đường. Và việc lên đường không làm Mẹ mất Chúa; Mẹ mang Chúa trong mình đến cho người khác. Đây chính là hình ảnh hoàn hảo của đời thừa sai: mang Chúa vì đã cưu mang Chúa.
Mẹ không tìm vị trí. Không tìm tiếng khen. Không cần xuất hiện ở trung tâm. Tại Cana, Mẹ thấy nhu cầu trước người khác, rồi âm thầm đưa nhu cầu ấy đến với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Sau đó Mẹ lui vào hậu trường: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó là linh đạo thừa sai tuyệt đẹp. Nhìn thấy nỗi thiếu thốn. Đem con người đến với Đức Kitô. Rồi lui xuống để chính Đức Kitô hành động.
Người thừa sai hãy học điều ấy. Đừng làm cho người ta lệ thuộc vào con. Hãy dẫn họ đến Chúa. Đừng vui vì người ta nói: “Con không thể sống nếu không có cha.” Hãy vui hơn nếu họ nói: “Nhờ cha, con biết bám vào Chúa.” Người hướng dẫn tốt không tạo ra những linh hồn phụ thuộc vào mình. Người ấy giúp họ đứng được trước mặt Thiên Chúa.
Dưới chân Thập Giá, Mẹ lại dạy một bài học khác. Mẹ ở đó khi mọi giấc mơ tưởng như tan vỡ. Không phép lạ. Không đám đông tung hô. Không sự thành công. Chỉ còn một người Con bị đóng đinh. Nhưng Mẹ đứng. Đây là tinh thần thừa sai khi mọi sự bên ngoài thất bại: đứng lại trong đức tin. Có những thời điểm người thừa sai không thể làm gì ngoài việc đứng dưới chân Thập Giá. Và nếu đứng với Mẹ, người ấy sẽ không bỏ chạy.
Hãy trao sứ vụ cho Mẹ. Trước khi đi giảng, xin Mẹ giữ lòng con sạch. Trước một cuộc gặp khó khăn, xin Mẹ dạy con lắng nghe. Khi được khen, xin Mẹ giúp con giữ lòng khiêm nhường. Khi bị chống đối, xin Mẹ giữ con khỏi cay đắng. Khi mệt mỏi, xin Mẹ cho con biết nghỉ trong Chúa. Khi sa ngã, xin Mẹ đưa con trở lại với lòng thương xót. Và khi con không biết phải làm gì, hãy chỉ đơn sơ nói: “Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin giúp con.”
12. NGƯỜI THỪA SAI CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT TRƯỚC HẾT PHẢI LÀ NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC THƯƠNG XÓT
Một trong những nguy cơ lớn của người làm việc tông đồ lâu năm là trở thành chuyên gia nói về Chúa nhưng mất kinh nghiệm mình là người nghèo trước mặt Chúa. Ta biết cách khuyên người khác. Biết phải nói gì với người tội lỗi. Biết giải thích giáo lý. Biết hướng dẫn cầu nguyện. Biết phân tích đời sống thiêng liêng. Nhưng kiến thức ấy có thể tạo một khoảng cách nguy hiểm: mình đứng ở phía người giúp, còn họ ở phía người cần được giúp.
Tin Mừng phá vỡ khoảng cách ấy. Người thừa sai cũng là một tội nhân được cứu. Cũng cần lòng thương xót mỗi ngày. Cũng có những góc tối. Cũng có những yếu đuối. Cũng có những lần thất bại. Và chính khi không quên điều đó, người ấy mới có thể đến gần những người yếu đuối mà không khinh họ.
Một linh mục quên rằng mình cũng cần được tha thứ dễ trở nên khắt khe trong tòa giải tội. Một người hướng dẫn quên những trận chiến của chính mình dễ mất kiên nhẫn với người khác. Một nhà giảng thuyết quên rằng mình cũng đang ở trên đường dễ nói như thể đứng trên cao nhìn xuống. Nhưng người đã nhiều lần quỳ dưới chân Chúa và nghe trong lòng lời: “Ta tha cho con”, sẽ nói về lòng thương xót bằng một giọng khác.
Có những điều chỉ người đã được cứu khỏi vực sâu mới nói được. Không cần kể những chuyện riêng tư. Không cần phơi bày đời mình. Nhưng người nghe cảm nhận được rằng lời ấy không đến từ sách vở בלבד, mà từ một trái tim biết mình đã được Chúa mang về.
Vì thế, hỡi người thừa sai, đừng xấu hổ vì cần lòng thương xót. Sự nghèo nàn của con, khi được trao cho Chúa, không làm con kém khả năng thi hành sứ vụ. Nó có thể làm con nhân hậu hơn. Điều nguy hiểm không phải là có yếu đuối. Điều nguy hiểm là không chịu nhìn nhận, không chịu được chữa lành, rồi lấy sự cứng rắn để che giấu.
13. ĐỪNG RAO GIẢNG MỘT ĐỨC KITÔ MÀ CON KHÔNG CÒN GẶP GỠ
Có một câu hỏi người thừa sai cần tự đặt cho mình thường xuyên: Tôi có còn yêu Chúa Giêsu không? Không phải tôi có còn nói về Ngài không. Không phải tôi có còn cử hành các bí tích không. Không phải tôi có còn làm sứ vụ không. Nhưng tôi có còn yêu Ngài không?
Có thể nghe câu hỏi ấy có vẻ quá đơn giản. Nhưng nó là trung tâm. Vì cuối cùng người thừa sai không được sai đi để truyền bá một hệ thống, một tổ chức hay một lý tưởng đạo đức. Người ấy được sai đi để loan báo một Đấng: Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc.
Nếu Đức Kitô không còn là người con yêu, sứ vụ sẽ dần trở thành nghề. Con vẫn làm đúng việc, vẫn nói đúng lời, vẫn cử hành đúng nghi thức, nhưng một thứ lửa âm thầm đã tắt. Và người ta có thể không nhận ra ngay. Chính con cũng có thể không nhận ra.
Hãy trở về. Trở về với Tin Mừng. Trở về với nhà tạm. Trở về với Thập Giá. Trở về với những phút không cần làm gì ngoài việc gọi tên Chúa Giêsu. Trở về với ký ức ngày con từng cảm nhận mình được gọi. Trở về không phải để tìm cảm xúc cũ, mà để làm mới một tương quan.
Người thừa sai có thể sống mà không có nhiều thành công. Có thể sống với ít phương tiện. Có thể sống giữa những nơi khó khăn. Nhưng người thừa sai không thể sống lâu mà thiếu Đức Kitô. Bởi Ngài không chỉ là nội dung sứ điệp. Ngài là chính nguồn sống.
14. SỨ VỤ BẮT ĐẦU TỪ VIỆC ĐỂ ĐỨC KITÔ LỚN LÊN VÀ MÌNH NHỎ LẠI
Người thừa sai thường muốn sứ vụ lớn lên. Điều ấy tốt. Nhưng trước khi sứ vụ lớn lên, có một điều khác cần xảy ra: Đức Kitô phải lớn lên trong người thừa sai, và cái tôi phải nhỏ lại.
Cái tôi nhỏ lại không có nghĩa là con trở thành người yếu đuối, thiếu sáng kiến, không dám quyết định. Khiêm nhường Kitô giáo không giết chết cá tính. Nó làm cá tính được tự do khỏi nhu cầu phải là trung tâm.
Khi cái tôi nhỏ lại, con có thể lắng nghe người khác mà không luôn phải có lời cuối. Có thể xin lỗi. Có thể thay đổi kế hoạch. Có thể thừa nhận mình không biết. Có thể vui khi người khác làm tốt. Có thể giao trách nhiệm. Có thể để người khác trưởng thành mà không sợ họ vượt mình. Có thể nói: “Tôi đã sai.” Đó là những dấu rất cụ thể của một người thừa sai được Chúa thanh luyện.
Đôi khi người ta nghĩ một nhà truyền giáo mạnh là người luôn chắc chắn, luôn có câu trả lời, luôn quyết đoán. Nhưng có một sức mạnh khác sâu hơn: sức mạnh của người không cần bảo vệ cái tôi. Một người như thế rất khó bị thao túng bởi lời khen hay lời chê. Người ấy có thể lắng nghe sự thật từ bất cứ ai. Có thể điều chỉnh. Có thể học.
15. SỰ VÂNG PHỤC BẢO VỆ TINH THẦN THỪA SAI KHỎI Ý RIÊNG
Trong đời thừa sai, ý riêng rất dễ đội lốt nhiệt thành. “Tôi thấy việc này rất cần.” “Tôi nghĩ đây là điều tốt nhất.” “Tôi cảm thấy Chúa muốn thế.” Có thể đúng. Nhưng cũng có thể đó là ý riêng được khoác áo thiêng liêng.
Vì thế, sự vâng phục rất cần cho người thừa sai. Nó không phải là sự bóp nghẹt sáng kiến. Nó là hàng rào bảo vệ người ấy khỏi ảo tưởng mình luôn hiểu thánh ý Chúa.
Có những lúc bề trên giao một công việc mình không thích. Có lúc chuyển mình khỏi một nơi đang rất thành công. Có lúc một dự án mình tin là tốt không được chấp thuận. Đây là những giờ phút sự thật. Con yêu sứ vụ của Chúa hay yêu sứ vụ theo ý con?
Nếu chỉ nhiệt thành khi được làm điều mình thích, đó chưa phải tự do thừa sai. Người thừa sai tự do có thể đi nơi được sai. Có thể ở nơi được đặt. Có thể làm việc lớn hay nhỏ. Có thể đứng trước đám đông hay âm thầm trong nhà.
Chính sự vâng phục làm cho câu “Adveniat Regnum Tuum” – “Nước Cha trị đến” – trở nên thật. Không phải “nước của tôi”, không phải “kế hoạch của tôi”, không phải “danh tiếng của tôi”, nhưng Nước của Thiên Chúa.
16. ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN LÀ TRƯỜNG HUẤN LUYỆN NGƯỜI THỪA SAI
Một người có thể rất hấp dẫn trên bục giảng nhưng rất khó sống trong cộng đoàn. Đây là một nghịch lý đáng sợ. Vì nếu sứ vụ không làm ta bác ái hơn với những người gần nhất, phải xem lại sứ vụ ấy đang làm gì trong linh hồn.
Cộng đoàn là nơi cái tôi không thể diễn lâu. Ở đó người khác thấy ta khi mệt, khi bực, khi thất vọng. Họ biết những giới hạn mà người nghe giảng không biết. Và chính vì thế cộng đoàn là ân sủng.
Người anh em khó tính là một trường kiên nhẫn. Người không cùng quan điểm là trường khiêm nhường. Người chậm chạp là trường dịu dàng. Người có tài hơn là trường tự do khỏi ghen tị. Người yếu đuối là trường thương xót. Một quyết định cộng đoàn trái ý là trường vâng phục.
Nếu con học được tình yêu ở đó, sứ vụ bên ngoài sẽ có chiều sâu. Nếu con chỉ tử tế với người ngoài nhưng khó chịu với anh em, có lẽ con đang yêu hình ảnh người thừa sai hơn là đang thật sự sống Tin Mừng.
17. NGƯỜI THỪA SAI PHẢI HỌC NGHỈ NGƠI TRONG CHÚA
Có người nghĩ nghỉ ngơi là thiếu nhiệt thành. Không phải. Thân xác có giới hạn. Tâm trí có giới hạn. Cảm xúc có giới hạn. Ai không chấp nhận giới hạn sẽ sớm trả giá.
Có một sự kiêu ngạo tinh tế trong ý nghĩ: “Tôi phải luôn luôn có mặt. Tôi không thể nghỉ. Không có tôi thì sao?” Hỡi linh hồn, Giáo Hội đã tồn tại trước khi con sinh ra và sẽ tồn tại sau khi con chết. Chúa có thể tiếp tục công việc khi con ngủ.
Nghỉ ngơi đúng mức cũng là hành vi tín thác. Nó nói: “Lạy Chúa, thế giới này là của Ngài, không phải của con.”
Người mệt mỏi kéo dài thường khó cầu nguyện, dễ cáu, dễ phạm sai lầm, dễ tìm những bù trừ không lành mạnh. Vì thế, giữ thân xác quân bình cũng là một phần cuộc chiến linh hồn.
Hãy ngủ khi cần. Hãy có những thời gian thinh lặng. Hãy biết đi bộ. Hãy biết dừng điện thoại. Hãy biết ăn uống điều độ. Hãy giữ những tình bạn lành mạnh. Hãy biết cười. Sự thánh thiện không phải khuôn mặt lúc nào cũng căng thẳng.
18. HOA TRÁI KHI CUỘC CHIẾN NỘI TÂM VÀ SỨ VỤ TRỞ THÀNH MỘT
Khi một người thừa sai kiên trì chiến đấu với chính mình, một sự thay đổi rất đẹp bắt đầu xảy ra. Người ấy không nhất thiết trở nên nổi tiếng hơn. Có thể công việc cũng không lớn hơn. Nhưng sự hiện diện của người ấy bắt đầu có một sức nặng khác.
Người ấy nói ít hơn nhưng lời có chiều sâu hơn. Không vội kết án. Không cần chứng tỏ mình đúng. Có khả năng ngồi với một người đau khổ mà không nóng lòng sửa họ. Có thể nghe lâu. Có thể chờ. Có thể yêu một linh hồn trong quá trình rất chậm.
Khi thành công, người ấy biết tạ ơn. Khi thất bại, vẫn bình an. Khi được khen, không bay lên. Khi bị chê, không sụp xuống. Khi được giao việc lớn, làm với trách nhiệm. Khi được giao việc nhỏ, cũng làm với tình yêu.
Đó là người thừa sai tự do.
Một người như thế trở thành khí cụ mềm mại trong tay Chúa. Chúa có thể đặt ở đâu cũng được. Có thể dùng cách nào cũng được. Có thể lấy đi những điều người ấy yêu mà không làm họ mất đức tin. Có thể trao thành công mà không làm họ kiêu ngạo. Có thể cho thất bại mà không làm họ tuyệt vọng.
Đây mới là mục tiêu sâu xa của cuộc chiến linh hồn: không phải chỉ để con trở nên “tốt hơn”, nhưng để con trở nên tự do cho Thiên Chúa.
19. SỨ VỤ LỚN NHẤT LÀ TRỞ THÀNH MỘT CON NGƯỜI MÀ QUA ĐÓ NGƯỜI KHÁC CẢM ĐƯỢC THIÊN CHÚA
Cuối cùng, điều người khác nhớ về chúng ta có lẽ không phải là tất cả những bài giảng. Họ sẽ quên nhiều lời. Họ sẽ quên những chương trình. Nhưng họ có thể nhớ cách một người của Chúa đã nhìn họ.
Có những người cả đời bị nhìn bằng ánh mắt phán xét. Khi gặp một người thừa sai nhìn họ với lòng thương xót, họ có thể lần đầu tiên cảm nhận Thiên Chúa không ghét mình.
Có những người chưa bao giờ được ai thực sự lắng nghe. Một giờ con dành cho họ có thể trở thành một cánh cửa của ân sủng.
Có những người tin rằng họ không còn hy vọng. Một câu nói đầy đức tin từ một người đã chiến đấu qua những đêm tối có thể giữ họ lại.
Đó là sứ vụ.
Không phải chỉ truyền đạt thông tin về Thiên Chúa, nhưng làm cho sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên có thể chạm đến qua một con người đã để Chúa thanh luyện.
Người thừa sai thật không nhất thiết phải làm người khác ngưỡng mộ mình. Người ấy làm người khác muốn đến gần Chúa hơn.
20. ĐỪNG SỢ CUỘC CHIẾN, VÌ CHÍNH NÓ ĐANG LÀM CON TRỞ THÀNH NGƯỜI THỪA SAI
Hỡi linh hồn, có lẽ đôi khi con thất vọng vì thấy mình còn quá nhiều điều phải chiến đấu. Con nghĩ: “Tôi làm sao rao giảng cho người khác khi chính mình còn thế này?” Nhưng đừng để sự nhận biết yếu đuối biến thành lý do để bỏ cuộc.
Chúa không chỉ dùng những con người đã hoàn hảo. Nếu đợi hoàn hảo rồi mới làm sứ vụ, chẳng ai được sai đi. Phêrô được sai dù đã từng chối Thầy. Phaolô được sai dù từng bách hại Giáo Hội. Các tông đồ mang kho tàng trong những bình sành.
Điều Chúa cần không phải sự hoàn hảo tức thời, nhưng một trái tim không ngừng trở về. Một người ngã nhưng đứng lên. Một người yếu nhưng không giả vờ mạnh. Một người biết mình nghèo nhưng bám lấy ân sủng.
Chính những trận chiến của con, nếu được sống với Chúa, sẽ làm con hiểu con người hơn. Một người từng chiến đấu với nóng giận sẽ biết kiên nhẫn với người nóng giận. Người từng biết sự chán nản sẽ biết cách ở bên người tuyệt vọng. Người đã nhiều lần được tha thứ sẽ biết tha thứ.
Đừng yêu tội lỗi. Nhưng cũng đừng ghét sự nghèo nàn của con đến mức không cho Chúa dùng nó. Chúa có thể làm điều kỳ diệu từ một linh hồn biết khiêm nhường trao cho Ngài cả những vết thương.
21. MỖI NGÀY HÃY ĐỂ SỨ VỤ TRỞ LẠI NƠI NÓ BẮT ĐẦU
Mỗi sáng, trước khi bước ra với mọi người, hãy trở về với Chúa. Có thể chỉ một lời: “Lạy Chúa, hôm nay con thuộc về Ngài.”
Trước khi giảng: “Xin đừng để con rao giảng chính mình.”
Trước khi gặp một linh hồn: “Xin cho con nhìn người này bằng mắt Chúa.”
Khi bị chống đối: “Xin giữ lòng con khỏi cay đắng.”
Khi được khen: “Vinh quang thuộc về Chúa.”
Khi thất bại: “Con đã làm điều có thể. Phần còn lại thuộc về Ngài.”
Khi kiệt sức: “Con không phải Đấng Cứu Thế.”
Khi cuối ngày: “Lạy Chúa, điều gì tốt xin nhận lấy; điều gì sai xin tha thứ; ngày mai xin cho con bắt đầu lại.”
Nếu sống như thế, sứ vụ không còn là một chuỗi công việc. Nó trở thành một cuộc đối thoại liên tục với Thiên Chúa.
22. LỜI KẾT: CHỈ NGƯỜI ĐỂ CHÚA CHIẾN THẮNG TRONG MÌNH MỚI CÓ THỂ ĐƯA CHIẾN THẮNG CỦA CHÚA ĐẾN CHO NGƯỜI KHÁC
Hỡi linh hồn thừa sai, con đã được gọi không chỉ để nói về Chúa Cứu Thế, nhưng để thuộc về Chúa Cứu Thế. Không chỉ để loan báo ơn cứu chuộc chứa chan, nhưng trước hết để chính mình được sống nhờ ơn cứu chuộc ấy mỗi ngày. Không chỉ để dẫn người nghèo đến với lòng thương xót, nhưng để biết mình cũng là người nghèo đang sống nhờ lòng thương xót. Không chỉ để mang Thập Giá cho người khác, nhưng để vác thập giá của chính mình theo Đức Kitô. Không chỉ để nói về sự khiêm nhường, mà để cái tôi bị bào mòn từng ngày. Không chỉ để mời người khác tín thác, mà để chính con buông tay khỏi nhu cầu kiểm soát. Không chỉ để kêu gọi người khác hoán cải, mà để mỗi tối con cũng phải trở về.
Đừng bao giờ tách việc rao giảng Chúa Giêsu khỏi việc để Chúa Giêsu thống trị trong lòng con. Nếu một ngày con nói rất nhiều về Ngài nhưng không còn để Ngài nói với con, hãy trở về. Nếu một ngày con chạy khắp nơi cho sứ vụ nhưng không còn biết ngồi dưới chân Ngài, hãy trở về. Nếu một ngày con thấy lòng vui vì người ta biết con hơn là vì người ta biết Chúa, hãy trở về. Nếu một ngày con cay đắng vì người khác được thành công hơn mình, hãy trở về. Nếu con kiệt sức vì nghĩ mọi sự phụ thuộc vào con, hãy trở về. Nếu con sa ngã, hãy trở về. Nếu con cảm thấy mình đã đi quá xa, vẫn hãy trở về. Cánh cửa của lòng thương xót chưa bao giờ đóng đối với người thừa sai biết khiêm nhường.
Và cũng đừng nghĩ rằng cuộc chiến nội tâm làm giảm nhiệt huyết thừa sai. Chính nó cứu nhiệt huyết khỏi biến thành tham vọng. Nó cứu sự hy sinh khỏi biến thành nhu cầu được nhìn nhận. Nó cứu lòng nhiệt thành khỏi biến thành kiểm soát. Nó cứu lời giảng khỏi biến thành trình diễn. Nó cứu lòng thương xót khỏi biến thành khẩu hiệu. Nó cứu sứ vụ khỏi trở thành công trình của cái tôi.
Hãy để Chúa chiến thắng trong những điều rất nhỏ. Chiến thắng trong một phản ứng nóng giận. Chiến thắng trong một phút muốn tự bảo vệ. Chiến thắng trong một cơn ghen tị. Chiến thắng trong sự lười biếng. Chiến thắng trong một ham muốn được khen. Chiến thắng trong một ý riêng. Chiến thắng trong một nỗi sợ. Mỗi chiến thắng như thế mở thêm một khoảng trống để Đức Kitô sống trong con.
Rồi sẽ đến một ngày, có thể con không nhận ra, người khác đến gần con và cảm thấy bình an. Không phải vì con nói điều gì đặc biệt. Chỉ vì con không còn cần họ phải công nhận con. Một người tội lỗi dám mở lòng vì họ biết con sẽ không kết án. Một người đau khổ cảm thấy có thể khóc trước mặt con. Một người mất đức tin lại muốn thử cầu nguyện. Một người xa Giáo Hội cảm thấy nơi con có một cánh cửa chưa đóng.
Đó là lúc cuộc chiến linh hồn đã trở thành sứ vụ.
Đó là lúc những năm tháng âm thầm chiến đấu đang sinh hoa trái.
Đó là lúc người thừa sai không còn chỉ mang một sứ điệp trên môi, nhưng mang một Tin Mừng trong chính con người mình.
Hỡi người con của Thánh Anphongsô, đừng tìm trở thành một nhà truyền giáo nổi tiếng. Hãy tìm trở thành một người hoàn toàn thuộc về Đức Kitô. Đừng tìm làm những việc khiến người ta nhớ đến con. Hãy làm những việc khiến người ta nhớ đến lòng thương xót của Chúa. Đừng tìm xây tên tuổi. Hãy xây Nước Chúa. Đừng sợ bị quên. Một người bị thế gian quên nhưng được Chúa dùng để cứu một linh hồn đã sống một đời không vô ích.
Nếu phải chọn giữa thành công và trung thành, hãy chọn trung thành.
Nếu phải chọn giữa được yêu mến và sống sự thật trong bác ái, hãy chọn sự thật.
Nếu phải chọn giữa giữ hình ảnh của mình và bảo vệ một linh hồn, hãy để hình ảnh mình chết đi.
Nếu phải chọn giữa công việc và Chúa, hãy chọn Chúa — vì khi có Chúa, công việc sẽ tìm lại đúng chỗ của nó.
Nếu phải chọn giữa ý riêng và thánh ý, hãy chọn thánh ý, dù nó làm tim con đau.
Nếu phải chọn giữa được nhìn thấy và âm thầm, hãy để Chúa quyết định.
Và khi không còn biết phải chọn gì, hãy trở về dưới chân Thánh Giá.
Ở đó, con sẽ thấy Đấng Thừa Sai của Chúa Cha đã hoàn tất sứ vụ không bằng việc cứu chính mình khỏi Thập Giá, nhưng bằng cách hiến mình trên đó.
Ở đó, con sẽ hiểu rằng sứ vụ lớn nhất không phải là giữ lấy đời mình, nhưng là trao nó.
Ở đó, con sẽ hiểu rằng hoa trái lớn nhất đôi khi mọc lên từ những điều thế gian gọi là thất bại.
Ở đó, con sẽ hiểu rằng người thừa sai không thuộc về chính mình nữa.
Và dưới chân Thập Giá ấy có Đức Maria. Mẹ Hằng Cứu Giúp vẫn ở đó. Mẹ nhìn con như đã nhìn những người con của Mẹ suốt bao thế hệ. Mẹ không hứa rằng đường thừa sai sẽ dễ. Mẹ không hứa rằng con sẽ luôn được hiểu, luôn thành công, luôn mạnh khỏe, luôn được yêu mến. Nhưng Mẹ sẽ dạy con một điều quý hơn: ở lại với Đức Giêsu.
Ở lại khi đông người.
Ở lại khi chẳng còn ai.
Ở lại khi thành công.
Ở lại khi thất bại.
Ở lại khi lòng đầy lửa.
Ở lại khi lòng khô khan.
Ở lại khi sứ vụ nở hoa.
Ở lại khi tất cả dường như chết đi.
Nếu con ở lại, Chúa sẽ làm phần còn lại.
Xin Thánh Anphongsô, người đã để cả đời mình bị thiêu đốt vì tình yêu Chúa Giêsu và vì những linh hồn nghèo khổ, cầu cho chúng ta biết mang trong mình cùng một ngọn lửa, nhưng là một ngọn lửa đã được thanh luyện khỏi mọi tìm kiếm bản thân.
Xin các thánh và chân phước của gia đình Chúa Cứu Thế dạy chúng ta rằng sự thánh thiện và sứ vụ không bao giờ tách rời; rằng người thừa sai hữu hiệu nhất không nhất thiết là người làm nhiều nhất, nhưng là người để Đức Kitô sống sâu nhất trong mình.
Xin Đức Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp, phủ áo Mẹ trên từng cuộc lên đường, từng bài giảng, từng chuyến đi, từng cộng đoàn, từng cuộc gặp, từng giờ tòa giải tội, từng thất bại, từng niềm vui và từng vết thương của đời thừa sai.
Và xin Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc rất nhân lành, mỗi ngày chiến thắng thêm một chút trong chúng ta, để qua những con người yếu đuối của chúng ta, Ngài tiếp tục đến với những người nghèo khổ, những người bị bỏ rơi, những người không còn ai nhớ đến, những linh hồn tưởng mình đã ở quá xa để được cứu.
Hỡi linh hồn thừa sai, cứ đi.
Nhưng trước khi đi, hãy quỳ.
Cứ nói.
Nhưng trước khi nói, hãy nghe Chúa.
Cứ phục vụ.
Nhưng đừng quên để Chúa phục vụ và chữa lành con.
Cứ chiến đấu.
Nhưng đừng chiến đấu bằng sức riêng.
Cứ gieo.
Nhưng đừng đòi phải thấy mùa gặt.
Cứ yêu.
Nhưng hãy để tình yêu ấy được thanh luyện khỏi mọi chiếm hữu.
Cứ trao đời mình.
Và khi một ngày chẳng còn gì để trao ngoài chính sự yếu đuối của con, hãy trao cả điều ấy.
Vì cuối cùng, người thừa sai không cứu thế giới.
Đức Kitô cứu thế giới.
Người thừa sai chỉ có một hạnh phúc: được Ngài dùng.
Một sứ vụ.
Một linh hồn.
Một đời người.
Tất cả cho Đức Kitô Cứu Thế.
Tất cả cho những linh hồn nghèo khổ và bị bỏ rơi nhất.
Tất cả để ơn cứu chuộc của Ngài được nhận biết, được yêu mến và được đón nhận.
COPIOSA APUD EUM REDEMPTIO – NƠI NGƯỜI CHỨA CHAN ƠN CỨU CHUỘC.
Và nếu cuối đời, sau biết bao nhiêu lên đường, biết bao nhiêu bài giảng, biết bao nhiêu thành công lẫn thất bại, người thừa sai có thể đứng trước mặt Chúa với đôi tay trống, nhưng với một trái tim đã được tiêu hao vì Ngài và vì các linh hồn, thì đôi tay trống ấy sẽ là đôi tay đẹp nhất.
Bởi vì khi ấy, con chẳng còn giữ lại gì cho mình nữa.
Và đó chính là chiến thắng cuối cùng của cuộc chiến linh hồn.
Để Đức Kitô là tất cả.
CHƯƠNG 35
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, hỡi linh hồn đã nhiều lần quyết tâm rồi lại nhiều lần nhận ra mình vẫn còn nguyên những yếu đuối cũ, hỡi linh hồn có những ngày bước đi mạnh mẽ nhưng cũng có những ngày chỉ một va chạm nhỏ đã đủ làm con mất bình an, có những giờ cầu nguyện đầy ánh sáng nhưng cũng có những giờ con thấy lòng mình khô khan như một mảnh đất nứt nẻ, có những lúc con tưởng mình đã thắng được một đam mê nhưng rồi chính đam mê ấy lại bất ngờ trỗi dậy nơi một góc khác của tâm hồn, sau tất cả những gì chúng ta đã nói về cuộc chiến nội tâm, về sự bất tín nhiệm vào chính mình, về lòng tín thác vào Thiên Chúa, về việc canh giữ lý trí, ý chí, trí tưởng tượng, ký ức và các giác quan, về cuộc chiến chống lại tự ái, nóng giận, lười biếng, bất khiết, chán nản, về cầu nguyện, Thánh Thể, cuộc Thương Khó, Đức Maria, xét mình, bình an nội tâm, sự kiên trì, sự vâng phục, đời sống cộng đoàn và tinh thần thừa sai, bây giờ chúng ta cần dừng lại thật lâu trước một mầu nhiệm lớn hơn tất cả những điều ấy, một mầu nhiệm nếu không được đặt vào trung tâm thì mọi điều chúng ta đã nói có nguy cơ trở thành khô cứng, nặng nề và thậm chí méo mó: lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Cuộc chiến linh hồn không phải là một thao trường nơi con người tự rèn luyện cho mình trở nên hoàn hảo để rồi mang sự hoàn hảo ấy đến trình diện trước Thiên Chúa như một thành tích. Cuộc chiến linh hồn cũng không phải là một cuộc leo núi cô độc trong đó con phải dùng sức riêng để trèo lên tới Chúa. Nó càng không phải là một cuộc thi đạo đức giữa những người mạnh và những người yếu, giữa những người thành công và những người thất bại. Nếu hiểu như thế, sớm muộn con cũng sẽ kiệt sức, bởi rồi sẽ có một ngày con khám phá ra rằng sức lực của mình quá nhỏ, ý chí của mình quá mong manh, những quyết tâm của mình quá dễ vỡ, và ngay cả những điều con tưởng là nhân đức cũng còn pha trộn biết bao tự ái, tìm mình, sợ hãi và nhu cầu được nhìn nhận. Nhưng Tin Mừng không bắt đầu bằng việc con đi tìm Thiên Chúa. Tin Mừng bắt đầu bằng việc Thiên Chúa đi tìm con. Tin Mừng không bắt đầu bằng sự thánh thiện của con. Tin Mừng bắt đầu bằng lòng thương xót của Ngài. Tin Mừng không nói rằng khi con trở nên đủ tốt thì Chúa mới cúi xuống. Tin Mừng nói rằng chính khi con còn là tội nhân, còn yếu đuối, còn lạc đường, còn chưa biết phải trở về thế nào, thì Chúa đã đến tìm con, đã đứng trước cửa lòng con, đã gọi tên con, đã mang lấy thương tích của con và đã trả giá cho con bằng chính Máu của Con Một Ngài. Đó là nền tảng đầu tiên, nền tảng cuối cùng, nền tảng không được phép mất đi trong bất cứ cuộc chiến thiêng liêng nào: con chiến đấu không phải để được yêu; con chiến đấu bởi vì con đã được yêu.
Nếu con quên điều ấy, việc nên thánh sẽ dần trở thành một công trình của cái tôi. Con sẽ giữ luật để thấy mình tốt. Con sẽ cầu nguyện để thấy mình đạo đức. Con sẽ hy sinh để thấy mình quảng đại. Con sẽ chiến đấu chống đam mê để có thể nhìn mình với sự hài lòng. Và khi thành công, con sẽ dễ kiêu ngạo; khi thất bại, con sẽ dễ tuyệt vọng. Cả hai thái cực ấy đều phát xuất từ một gốc rễ: con vẫn còn đặt mình ở trung tâm. Nhưng lòng thương xót Chúa đặt con vào một vị trí khác. Nó dạy con rằng trước khi con làm bất cứ điều gì cho Chúa, Chúa đã làm tất cả vì con. Trước khi con yêu Chúa, Chúa đã yêu con. Trước khi con tìm kiếm Chúa, Chúa đã tìm kiếm con. Trước khi con biết khóc vì tội mình, Chúa đã khóc vì con. Trước khi con biết mình cần được cứu, Đấng Cứu Thế đã bước vào thế gian. Chính vì thế, cuộc chiến linh hồn không phải là cuộc chiến của một người đang cố làm cho Chúa yêu mình, mà là cuộc chiến của một người đã được yêu đến tận cùng và không muốn phản bội tình yêu ấy. Một người lính chiến đấu vì sợ bị phạt sẽ chiến đấu khác với người lính chiến đấu vì yêu. Một linh hồn giữ mình khỏi tội chỉ vì sợ hỏa ngục sẽ chiến đấu khác với một linh hồn nhìn lên Thánh Giá và nói: “Lạy Chúa, con không muốn làm buồn lòng Đấng đã yêu con như thế.” Một linh hồn ép mình nên tốt để cảm thấy xứng đáng sẽ chiến đấu trong căng thẳng. Nhưng một linh hồn biết mình được thương xót sẽ chiến đấu trong lòng biết ơn. Và chính lòng biết ơn ấy mới có sức làm cho sự hy sinh trở nên ngọt ngào, làm cho sự từ bỏ trở nên tự do, làm cho sự thống hối không biến thành tự ghét mình, và làm cho những lần bắt đầu lại không trở thành một nỗi nhục nhưng trở thành một hành vi yêu mến.
1. LÒNG THƯƠNG XÓT LÀ KHỞI ĐẦU VÀ CÙNG ĐÍCH CỦA CUỘC CHIẾN
Hỡi linh hồn, hãy khắc sâu điều này vào trong tâm trí: Chúa không yêu con vì con chiến thắng. Chúa cũng không ngừng yêu con chỉ vì con thất bại. Tình yêu của Chúa không phải là phần thưởng trả cho một thành tích đạo đức. Nếu tình yêu Thiên Chúa tùy thuộc vào sự hoàn hảo của con, chẳng ai có thể đứng vững trước mặt Ngài. Nhưng tình yêu ấy phát xuất từ chính Ngài, bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài thương xót không phải vì con đáng thương xót, mà vì Ngài là Đấng giàu lòng thương xót. Ngài tha thứ không phải vì tội con nhỏ, nhưng vì lòng Ngài lớn. Ngài tìm kiếm con không phải vì con trung thành, mà bởi vì Ngài trung thành ngay cả khi con bất trung. Ngài cứu con không phải vì con đã tự cứu được một phần rồi để Ngài hoàn tất phần còn lại, nhưng vì nếu không có Ngài, con hoàn toàn bất lực trước tội lỗi và sự chết. Chúa Giêsu đã nói rất rõ: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” Lời ấy không phải chỉ dành cho những người ngoài kia mà con gặp trong sứ vụ. Trước hết, lời ấy dành cho con. Con là người cần Thầy Thuốc. Con là người được gọi trong tư cách một tội nhân được thương xót. Con là người phải để cho Chúa chữa trị từng vết thương sâu kín nhất trong chính mình trước khi nghĩ rằng mình có thể đi chữa vết thương cho người khác.
Có một cám dỗ rất tinh tế thường xuất hiện nơi những linh hồn nghiêm túc trong đời sống thiêng liêng: họ muốn dâng lên Chúa một bản thân đã được sửa chữa hoàn toàn. Họ nghĩ rằng phải cầu nguyện tốt rồi mới dám đến gần Chúa; phải thắng cám dỗ rồi mới dám ngẩng đầu lên; phải sạch sẽ rồi mới dám bước vào nhà Cha. Nhưng đó là lối suy nghĩ của đứa con hoang đàng chưa hiểu trái tim của người cha. Người con ấy đã chuẩn bị một bài diễn văn rất hay trên đường trở về. Nó tưởng rằng mình phải giải thích, phải xin được hạ xuống làm người làm công, phải thương lượng một vị trí tối thiểu trong nhà. Nhưng người cha không đứng ở cửa để nghe nó trình bày thành tích hay lý lẽ. Người cha chạy ra. Người cha ôm lấy nó. Người cha hôn nó. Người cha phục hồi phẩm giá của nó trước khi nó kịp nói hết những câu đã chuẩn bị. Hỡi linh hồn, đó chính là Thiên Chúa của con. Không phải một Thiên Chúa thờ ơ đứng xa nhìn con bò về trong bụi đất, nhưng là Người Cha chạy ra đón đứa con mang mùi của chuồng heo. Không phải một vị thẩm phán thích kéo dài sự nhục nhã của kẻ có lỗi, mà là Người Cha muốn phục hồi người con. Không phải Đấng nhắc đi nhắc lại quá khứ để đứa con biết thân phận, mà là Đấng mặc áo đẹp, trao nhẫn, xỏ dép và mở tiệc. Nếu con không hiểu điều này, con sẽ sống đời thiêng liêng bằng nỗi sợ hơn là bằng tình con thảo.
Điều đó không có nghĩa rằng tội lỗi là chuyện nhỏ. Lòng thương xót không bao giờ làm cho tội nhẹ đi. Chính Thánh Giá cho con thấy tội nghiêm trọng đến mức nào. Nếu tội chỉ là một lỗi vặt, Con Thiên Chúa đã không phải chết. Nhưng cũng chính Thánh Giá cho con thấy tình yêu còn lớn hơn tội biết bao. Tội con đóng đinh Chúa, nhưng tình yêu của Chúa biến chính Thánh Giá thành nơi cứu độ con. Đó là nghịch lý sâu thẳm của lòng thương xót: Thiên Chúa không giả vờ rằng vết thương không có; Ngài chạm vào chính vết thương và chữa lành nó. Ngài không gọi bóng tối là ánh sáng; Ngài đi vào bóng tối để thắp ánh sáng lên. Ngài không bảo con rằng tội chẳng đáng gì; Ngài nói rằng tội đáng sợ, nhưng Máu của Ngài mạnh hơn. Vì vậy, một linh hồn sống trong lòng thương xót không phải là một linh hồn dễ dãi với mình. Trái lại, người ấy ghét tội sâu hơn, bởi người ấy hiểu tội không chỉ là vi phạm một luật, mà là làm tổn thương một Tình Yêu. Nhưng đồng thời, người ấy không tuyệt vọng vì tội, bởi người ấy biết rằng Tình Yêu đã bị tổn thương ấy vẫn mở tay đón mình trở về.
Cuộc chiến linh hồn, bởi đó, có khởi đầu là lòng thương xót và cùng đích cũng là lòng thương xót. Ban đầu, Chúa thương xót kéo con ra khỏi tội. Trên đường, Chúa thương xót nâng con dậy sau mỗi lần ngã. Trong những giai đoạn thanh luyện, lòng thương xót làm con thấy sự thật về mình mà không bị nghiền nát. Trong sứ vụ, lòng thương xót biến trái tim con thành một trái tim biết cảm thương. Và cuối cùng, vào giờ chết, con cũng không đứng trước Thiên Chúa với một cuốn sổ thành tích trên tay. Con chỉ có thể đứng trước Ngài như người thu thuế trong Đền Thờ: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Đó không phải là lời của kẻ thua cuộc. Đó là lời của người đã hiểu tất cả. Các thánh càng nên thánh càng hiểu điều ấy. Họ không kết thúc đời mình bằng việc nói: “Con đã làm được bao nhiêu việc.” Họ kết thúc bằng sự tín thác. Bởi càng đến gần ánh sáng, họ càng thấy mọi sự tốt lành nơi mình đều là ân sủng, còn phần của mình chỉ là đã cố gắng không chống lại ân sủng ấy.
2. LÒNG THƯƠNG XÓT THAY ĐỔI CÁCH TA NHÌN SỰ YẾU ĐUỐI
Có lẽ một trong những điều khó chấp nhận nhất đối với con người là sự yếu đuối của chính mình. Ta dễ thương xót sự yếu đuối của người khác hơn là của bản thân, bởi sâu trong lòng ta luôn muốn có một hình ảnh đẹp về mình. Ta muốn nghĩ rằng mình trưởng thành, quảng đại, quân bình, đạo đức, kiên nhẫn. Nhưng rồi một biến cố nhỏ xảy đến, một lời phê bình, một người trái ý, một công việc bị trì hoãn, một sự hiểu lầm, một thất bại, một cám dỗ bất ngờ, và toàn bộ hình ảnh tốt đẹp ấy có thể sụp xuống. Ta nhận ra mình vẫn còn nhạy cảm trước lời khen chê, vẫn dễ nổi nóng, vẫn muốn kiểm soát, vẫn ghen tị, vẫn sợ mất chỗ đứng, vẫn ham được công nhận, vẫn có những tưởng tượng không trong sạch, vẫn có những giận hờn trẻ con, vẫn bám víu vào ý riêng. Khi ấy, điều làm ta đau không chỉ là lỗi đã phạm. Nhiều khi điều làm ta đau hơn lại là việc ta phát hiện mình không tốt như mình tưởng.
Hỡi linh hồn, chính ở đây lòng thương xót bắt đầu một công việc rất sâu. Nó không chỉ tha thứ lỗi của con. Nó còn giải thoát con khỏi nhu cầu phải có một hình ảnh hoàn hảo về chính mình. Nó cho phép con đứng trước Chúa trong sự thật. Con không cần đóng kịch với Chúa. Con không cần nói với Chúa rằng con ổn khi con không ổn. Con không cần làm ra vẻ khiêm nhường khi lòng đầy tự ái. Con không cần che đậy những vùng tối bằng các lý luận đạo đức. Chúa biết hết. Và điều kỳ diệu là Ngài biết hết mà vẫn yêu con. Không phải Ngài yêu một phiên bản lý tưởng của con. Ngài yêu chính con hôm nay, với tất cả những gì Ngài muốn tiếp tục thanh luyện. Điều đó không làm con dừng lại trong sự yếu đuối; trái lại, nó cho con sức mạnh để đối diện với yếu đuối mà không chạy trốn.
Thánh Phaolô đã phải học bài học này bằng chính kinh nghiệm của mình. Ông đã xin Chúa cất đi cái “dằm” làm ông đau đớn. Ông xin không chỉ một lần. Nhưng câu trả lời ông nhận được là: “Ơn của Thầy đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Có những điều Chúa chữa ngay. Có những điều Chúa cho ta phải chiến đấu lâu. Có những giới hạn theo ta nhiều năm. Có những vết thương được chữa từ từ. Có những cám dỗ không biến mất dù ta đã tiến rất xa. Tại sao? Ta không thể hiểu hết. Nhưng một điều có thể hiểu: Chúa không chỉ muốn làm cho ta mạnh; Ngài còn muốn làm cho ta khiêm nhường. Nếu mọi cám dỗ đều biến mất ngay sau một lời cầu nguyện, có khi ta sẽ nhanh chóng trở thành người tự mãn. Nếu mọi quyết tâm đều thành công, có khi ta sẽ nghĩ rằng mình tự cứu được mình. Nếu không bao giờ thất bại, có khi ta sẽ khắt khe kinh khủng với những người đang thất bại. Vì thế, có những yếu đuối Chúa không cho phép để ta phạm tội, nhưng Chúa có thể dùng chính cuộc chiến dai dẳng chống lại những yếu đuối ấy để đào sâu trong ta một nơi dành cho lòng thương xót.
Đừng hiểu sai. Ta không được viện cớ yếu đuối để buông xuôi. “Tôi là thế đấy” không phải là câu của Tin Mừng. “Ai cũng có khuyết điểm” cũng không phải lý do để không hoán cải. Lòng thương xót không phải là chiếc chăn dùng để che sự lười biếng. Nhưng lòng thương xót giúp con phân biệt giữa hai điều hoàn toàn khác nhau: khiêm nhường vì biết mình yếu và buông xuôi vì không muốn chiến đấu. Người khiêm nhường nói: “Con yếu, nên con càng cần Chúa.” Người buông xuôi nói: “Con yếu, nên thôi khỏi cố.” Người khiêm nhường sau thất bại cầu nguyện nhiều hơn. Người buông xuôi sau thất bại thỏa hiệp nhiều hơn. Người khiêm nhường chấp nhận rằng mình cần thời gian, cần kỷ luật, cần Bí tích, cần hướng dẫn, cần cộng đoàn. Người buông xuôi dùng lòng thương xót như một cái cớ để không thay đổi. Hai thái độ ấy nhìn bề ngoài có thể giống nhau, nhưng một bên dẫn đến sự thánh thiện, bên kia dẫn đến sự trì trệ.
Hãy nhớ một hình ảnh đơn giản: một đứa trẻ tập đi sẽ ngã rất nhiều lần. Người mẹ không nói: “Nếu con còn ngã thì mẹ không nhận con là con nữa.” Người mẹ cũng không nói: “Con cứ nằm đó đi, khỏi tập nữa.” Mẹ làm hai việc cùng lúc: đỡ nó dậy và khuyến khích nó bước tiếp. Đó chính là lòng thương xót của Chúa. Chúa không ru con ngủ trong sự yếu đuối. Chúa nâng con lên để con tiếp tục. Nếu con chỉ thấy tiếng gọi “hãy bước đi” mà không thấy cánh tay đỡ dậy, đời thiêng liêng sẽ trở thành khắc nghiệt. Nếu con chỉ thấy cánh tay đỡ dậy mà không nghe tiếng gọi “hãy bước đi”, đời thiêng liêng sẽ trở thành dễ dãi. Lòng thương xót thật giữ cả hai: sự dịu dàng vô biên và đòi hỏi hoán cải không ngừng.
3. LÒNG THƯƠNG XÓT THAY ĐỔI CÁCH TA NHÌN THẤT BẠI
Không ai bước vào cuộc chiến linh hồn mà không có thất bại. Ai nghĩ mình sẽ tiến thẳng một đường từ quyết tâm đến hoàn thiện là người chưa hiểu trái tim con người. Có những ngày con thắng. Có những ngày con thua. Có những giai đoạn con tiến rất nhanh. Có những giai đoạn dường như con đứng nguyên. Có những tật xấu con tưởng đã chôn rồi lại sống dậy. Có những điều hôm qua con làm được dễ dàng nhưng hôm nay lại khó. Chính trong những lúc ấy, kẻ thù thường đổi chiến thuật. Nếu nó không thể làm con vui thú trong tội, nó sẽ cố làm con tuyệt vọng vì tội. Nếu nó không thể giữ con khỏi việc thống hối, nó sẽ làm cho sự thống hối trở thành tự kết án. Nếu nó không thể ngăn con nhận ra lỗi, nó sẽ cố khiến con nhìn vào lỗi lâu đến mức không còn nhìn thấy Chúa nữa.
Đây là một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất trong đời sống thiêng liêng. Sau khi con sa ngã, kẻ thù sẽ thì thầm: “Thấy chưa, mày chẳng thay đổi gì cả. Bao nhiêu lần rồi? Bao nhiêu lần cũng cùng một lỗi ấy. Mày nói yêu Chúa mà vậy sao? Mày cầu nguyện làm gì? Mày giảng cho người khác làm gì? Mày sống đời tận hiến làm gì?” Nếu con không tỉnh táo, con có thể nghĩ rằng những tiếng nói ấy phát xuất từ lương tâm. Nhưng lương tâm thật dẫn con đến thống hối và trở về. Kẻ tố cáo dẫn con đến tê liệt. Lương tâm nói rõ lỗi nào cần sửa. Kẻ tố cáo làm cả con người con trở thành một bản án. Lương tâm nói: “Con đã làm điều sai.” Kẻ tố cáo nói: “Con là một kẻ vô vọng.” Lương tâm làm con muốn xưng thú. Kẻ tố cáo làm con muốn chạy trốn. Lương tâm hướng về ánh sáng. Kẻ tố cáo nhốt con vào chính mình.
Lòng thương xót phá vỡ vòng tròn ấy. Nó dạy con nhìn thất bại mà không phủ nhận thất bại. Con có thể nói rất rõ: “Con đã sai. Con đã để tự ái điều khiển. Con đã nói lời làm tổn thương người khác. Con đã nuông chiều trí tưởng tượng. Con đã lười biếng. Con đã không giữ lời. Con đã tìm mình.” Nhưng sau dấu chấm ấy, con không đặt thêm câu: “Vì thế con hết hy vọng.” Con đặt một câu khác: “Vì thế con cần Chúa hơn.” Đây là sự thay đổi có tính quyết định. Tội làm con xa Chúa khi con giữ nó, bao che nó, yêu thích nó hoặc tuyệt vọng trong nó. Nhưng chính nhận thức về tội có thể làm con gần Chúa hơn nếu nó đưa con vào lòng khiêm nhường. Phêrô chối Chúa ba lần. Nếu ông chỉ nhìn vào mình, có lẽ ông đã đi cùng con đường của Giuđa. Nhưng ông đã khóc, đã để mình được tìm thấy, và cuối cùng đã nghe Chúa hỏi ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Thất bại lớn nhất đời Phêrô không trở thành dấu chấm hết. Nó trở thành nơi ông được thanh luyện khỏi sự tự tin vào mình. Người từng nói: “Dù mọi người bỏ Thầy, con sẽ không bỏ,” sau đó trở thành một mục tử biết rằng mình chỉ đứng được nhờ ân sủng.
Có những thất bại Chúa có thể biến thành trường học. Không phải vì Chúa muốn tội. Chúa không bao giờ muốn tội. Nhưng một khi con đã phạm, Ngài vẫn có thể lấy điều xấu ấy và, nếu con trao nó cho Ngài trong thống hối, biến nó thành nơi sinh ra sự khiêm nhường. Sau một lần nóng giận, con có thể hiểu người nóng giận hơn. Sau khi kinh nghiệm sự yếu đuối trong sạch, con có thể bớt xét đoán người đang vật lộn với cám dỗ. Sau một giai đoạn khô khan, con có thể biết cảm thông với người không cảm thấy Chúa. Sau khi đã từng muốn bỏ cuộc, con có thể biết nói với người tuyệt vọng bằng một giọng khác. Con không còn đứng trên cao bảo họ: “Hãy cố lên.” Con ngồi xuống bên họ và nói: “Tôi biết chỗ này tối thế nào. Nhưng tôi cũng biết Chúa có thể kéo ta ra.” Đó là lúc thất bại, được đi qua bằng lòng thương xót, bắt đầu biến thành khả năng phục vụ.
4. ĐỨNG DẬY NHANH CHÓNG SAU KHI SA NGÃ
Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất của linh hồn tiến bộ không phải là nó không bao giờ ngã, mà là khoảng thời gian từ lúc ngã đến lúc trở về với Chúa ngày càng ngắn lại. Có người sa ngã một phút nhưng ở trong buồn bực với chính mình cả ngày. Có người phạm một lỗi buổi sáng nhưng đến tối vẫn chưa cầu nguyện lại được vì cứ xấu hổ. Có người sau một thất bại bỏ luôn những việc đạo đức trong vài ngày vì nghĩ rằng mình không xứng. Kẻ thù rất thích điều ấy. Nó có thể không làm con phạm thêm tội nặng, nhưng nếu từ một lỗi nó có thể lấy đi của con ba ngày cầu nguyện, một tuần bình an và nhiều giờ phục vụ trong niềm vui, nó đã kiếm được lợi rất lớn.
Vì thế, hãy học nghệ thuật đứng dậy ngay lập tức. Ngay khi nhận ra mình sai, hãy dừng lại một chút, hạ mình trước Chúa, xin lỗi thật lòng, và trở về. Không cần những màn tự hành hạ nội tâm. Không cần nói đi nói lại cả trăm lần: “Sao mình tệ thế?” Câu ấy nhiều khi nghe như khiêm nhường nhưng thật ra vẫn xoay quanh cái tôi. Con thất vọng vì con từng có một hình ảnh tốt hơn về chính mình. Khiêm nhường thật đơn giản hơn nhiều: “Lạy Chúa, con lại thấy con là ai nếu không có ơn Chúa. Xin thương xót con. Xin giúp con bắt đầu lại.” Rồi tiếp tục việc bổn phận. Nếu lỗi đòi phải xin lỗi ai, hãy xin lỗi. Nếu phải sửa chữa hậu quả, hãy sửa. Nếu là tội nặng, hãy đến Bí tích Hòa Giải sớm nhất có thể. Nhưng đừng biến sự sa ngã thành một ngai vàng trên đó con ngồi hàng giờ để chiêm ngắm sự khốn cùng của mình. Cái cần được chiêm ngắm là lòng thương xót.
Con có thể tập một lời nguyện rất ngắn mỗi lần ngã: “Lạy Chúa Giêsu, con đã lại tin vào mình hơn tin vào Chúa. Xin thương xót con. Con trao cả lỗi này cho Chúa. Xin làm cho nó trở thành một bậc thang của khiêm nhường.” Rồi hãy nói thêm: “Con bắt đầu lại.” Hai chữ ấy rất quan trọng: bắt đầu lại. Đời thiêng liêng được xây bằng vô số lần bắt đầu lại. Người nên thánh không phải là người chỉ bắt đầu một lần trong đời rồi không bao giờ phải bắt đầu nữa. Người nên thánh là người đã bắt đầu lại hàng ngàn lần nhưng không chán bắt đầu. Mỗi sáng là một lần bắt đầu. Mỗi lần xưng tội là một lần bắt đầu. Mỗi lần nhận ra một thái độ sai là một lần bắt đầu. Mỗi lần quay mắt khỏi cám dỗ là một lần bắt đầu. Mỗi lần xin lỗi anh em là một lần bắt đầu. Mỗi lần quỳ xuống sau một ngày sống không như ý là một lần bắt đầu.
Đừng sợ phải bắt đầu lại nhiều lần. Chúa không mệt vì tha thứ. Người mệt thường là con, bởi con muốn thấy kết quả nhanh. Con đếm số lần mình ngã. Chúa nhìn số lần con quay về. Con nghĩ: “Lại nữa.” Chúa có thể nhìn và nói: “Con lại trở về với Cha.” Chắc chắn con phải học từ những lần ngã để đừng lặp lại một cách cẩu thả. Nhưng ngay cả khi cùng một lỗi tái diễn, điều con phải làm vẫn là thành thật chiến đấu, sửa phương thế, tìm nguyên nhân, tránh dịp, xin trợ giúp, và tiếp tục trở về. Đừng bao giờ cho kẻ thù món quà là sự tuyệt vọng. Nếu nó đã làm con ngã, đừng để nó còn giữ con nằm đó.
5. BÍ TÍCH HÒA GIẢI – NƠI LÒNG THƯƠNG XÓT CÓ MỘT TIẾNG NÓI
Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ là một ý tưởng đẹp để con suy niệm khi buồn. Chúa đã muốn lòng thương xót ấy chạm đến con cách cụ thể trong đời sống Hội Thánh, đặc biệt qua Bí tích Hòa Giải. Hỡi linh hồn, đừng bao giờ biến việc xưng tội thành một thủ tục pháp lý lạnh lùng. Đó là cuộc trở về nhà. Đó là giây phút con mang sự thật của mình vào trong ánh sáng và nghe từ Hội Thánh lời mà con không thể tự ban cho chính mình: lời tha thứ nhân danh Chúa Kitô.
Có những linh hồn xưng tội nhưng vẫn giữ lại bản án cho mình. Linh mục đã nói lời xá giải, nhưng họ vẫn tiếp tục tự kết án: “Chắc Chúa chưa thực sự tha.” Hoặc họ tiếp tục đào lại những lỗi quá khứ đã được xưng thú và tha thứ, như thể Máu Chúa không đủ để tẩy sạch. Đó không phải là khiêm nhường. Đó là một hình thức thiếu tín thác. Nếu con đã xưng thú chân thành, có lòng ăn năn, nhận lãnh ơn xá giải và quyết tâm sửa đổi, hãy tin rằng Chúa đã tha. Không phải vì cảm xúc con nói thế. Có thể con vẫn còn thấy nặng lòng. Có thể ký ức vẫn còn đau. Nhưng sự tha thứ của Chúa không tùy thuộc vào cảm giác. Hãy để lời xá giải mạnh hơn cảm xúc của con.
Đồng thời, đừng chỉ đến Hòa Giải khi đã sa vào tội nặng. Việc xưng tội thường xuyên với sự chuẩn bị nghiêm túc có thể trở thành một trường học lớn của lòng thương xót. Ở đó, con học cách gọi tội bằng đúng tên mà không tuyệt vọng. Con học nhận ra những mô hình lặp lại. Con học rằng sự hoán cải không chỉ là loại bỏ những hành động sai mà còn là để Chúa chữa những động cơ sâu hơn. Đằng sau nóng giận có thể là kiêu ngạo. Đằng sau nhu cầu kiểm soát có thể là sợ hãi. Đằng sau lời nói nhiều có thể là nhu cầu được nhìn nhận. Đằng sau lười biếng có thể là né tránh thất bại. Đằng sau khắt khe với người khác có thể là sự bất an với chính mình. Lòng thương xót không chỉ lau sạch bề mặt. Nó muốn đi vào tận gốc.
Đối với người linh mục, điều này càng quan trọng. Người trao ban Bí tích Hòa Giải cho người khác phải không ngừng sống như một hối nhân. Nếu một linh mục chỉ quen ngồi ở phía ban ơn tha thứ mà ít quỳ ở phía xin được tha thứ, trái tim có nguy cơ cứng lại. Nhưng người linh mục thường xuyên quỳ xuống xưng thú sự nghèo nàn của mình sẽ bước vào tòa giải tội với một thái độ khác. Người ấy hiểu sự xấu hổ của hối nhân. Hiểu khó khăn của việc nói ra một lỗi lặp đi lặp lại. Hiểu nỗi sợ bị xét đoán. Hiểu sự mệt mỏi của người đã hứa nhiều lần nhưng chưa sửa được. Và chính kinh nghiệm mình cũng sống nhờ lòng thương xót làm cho lời khuyên của vị mục tử mang hương vị của Tin Mừng chứ không phải của một tòa án.
6. LÒNG THƯƠNG XÓT KHÔNG ĐỐI NGHỊCH VỚI SỰ NGHIÊM TÚC TRONG CUỘC CHIẾN
Có người sợ nói nhiều về lòng thương xót sẽ làm con người dễ dãi. Họ nghĩ phải nhấn mạnh hình phạt, kỷ luật và sự nghiêm khắc thì người ta mới cố gắng. Nhưng một tình yêu được hiểu đúng không làm người ta lười. Trái lại, chính vì biết mình được yêu, người ta mới có khả năng hy sinh lớn hơn. Đứa con làm việc vì sợ roi khác với đứa con làm vì không muốn làm buồn lòng cha mẹ. Người đầy tớ giữ luật vì sợ phạt khác với người con sống theo ý Cha vì yêu Cha. Lòng thương xót không hạ thấp tiêu chuẩn của sự thánh thiện. Nó thay đổi động lực.
Chúa Giêsu nói với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình: “Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai phần ấy không được tách nhau. “Tôi không lên án chị” là lòng thương xót. “Từ nay đừng phạm tội nữa” là lời mời gọi hoán cải. Nếu chỉ giữ phần thứ hai, tôn giáo trở thành nặng nề. Nếu chỉ giữ phần thứ nhất theo một nghĩa sai, tôn giáo trở thành vô trách nhiệm. Chúa giữ cả hai trong một ánh mắt. Người không nghiền nát tội nhân, nhưng Người cũng không gọi tội là điều bình thường. Người cứu phẩm giá con người để người ấy có thể bước vào một đời sống mới.
Vì thế, khi con chiến đấu nghiêm túc với các đam mê, con không hề đi ngược lại lòng thương xót. Chính lòng thương xót thúc con chiến đấu. Khi con cắt bỏ một thói quen nguy hiểm, đó là lòng thương xót đang giải phóng con. Khi con tránh một dịp tội, đó không phải là sợ hãi bệnh hoạn mà là biết quý sự tự do Chúa đã ban. Khi con tập giữ mắt, giữ miệng, giữ trí tưởng tượng, đó là cách con cộng tác với ân sủng. Khi con chấp nhận kỷ luật, ngủ đúng giờ, hạn chế điều vô ích, làm việc bổn phận ngay cả khi không thích, con đang mở những cánh cửa để lòng thương xót biến đổi đời con. Lòng thương xót không làm thay con mọi sự. Nó làm cho con có khả năng làm điều mà không có ân sủng con không thể làm.
Có một câu hỏi rất hữu ích trong những lúc phải chiến đấu: “Nếu tôi thực sự tin rằng Chúa đang thương xót tôi trong lúc này, tôi sẽ làm gì?” Có khi câu trả lời là dừng lại, đừng tự trách nữa. Có khi câu trả lời là đi xưng tội. Có khi là tắt màn hình. Có khi là xin lỗi. Có khi là giữ im lặng. Có khi là đi ngủ đúng giờ. Có khi là gọi cho người đang cần mình. Có khi là trung thành với giờ cầu nguyện dù khô khan. Lòng thương xót không phải lúc nào cũng cảm thấy dịu dàng. Có lúc lòng thương xót mang hình thức một sự cắt tỉa đau. Người bác sĩ thương bệnh nhân không phải lúc nào cũng chỉ vuốt ve; có lúc phải mổ. Nhưng mọi sự chữa trị của Chúa đều có mục đích giải phóng, không phải hủy diệt.
7. LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ SỰ XẤU HỔ
Một trong những xiềng xích mạnh nhất giữ linh hồn xa Chúa là xấu hổ. Không phải sự hổ thẹn lành mạnh giúp ta nhận ra điều sai, mà là cảm giác sâu hơn: “Nếu người khác biết tôi thật sự là ai, họ sẽ không còn yêu tôi. Nếu Chúa thấy hết những gì trong tôi, có lẽ Ngài cũng chán tôi.” Kẻ thù rất thích gieo loại xấu hổ ấy, bởi nó làm linh hồn trốn. Ađam sau khi phạm tội đã ẩn mình. Tội luôn muốn bóng tối. Lòng thương xót gọi ta bước ra.
Hỡi linh hồn, con không thể làm Chúa ngạc nhiên bởi tội của mình. Không có gì con thú nhận mà Ngài mới biết hôm nay. Khi Chúa gọi con, Ngài đã biết toàn bộ lịch sử của con. Khi Chúa trao cho con ơn gọi, Ngài đã biết cả những yếu đuối con sẽ còn phải chiến đấu nhiều năm sau đó. Khi Chúa cho Phêrô làm đá nền Hội Thánh, Chúa đã biết Phêrô sẽ chối Ngài. Khi Chúa gọi Phaolô, Chúa biết ông từng bách hại Hội Thánh. Chúa không chọn con vì thiếu thông tin. Ngài chọn con với tất cả sự hiểu biết của Ngài. Điều đó không có nghĩa tội của con không quan trọng. Nó có nghĩa là tội của con không có quyền làm cho kế hoạch lòng thương xót của Chúa thất bại nếu con thật lòng trở về.
Đừng bao giờ để sự xấu hổ ngăn con xưng thú điều cần xưng thú. Trong sự chữa lành thiêng liêng, có những câu chỉ cần được nói ra trong ánh sáng là đã mất một nửa quyền lực. Điều được che giấu thường phình lớn trong bóng tối. Điều được gọi tên khiêm tốn bắt đầu bị thu nhỏ lại dưới ánh mắt Thiên Chúa. Người kiêu ngạo muốn giữ hình ảnh. Người khiêm nhường muốn sống trong sự thật. Nếu con phải chọn giữa việc người khác nghĩ tốt về con và việc Chúa chữa lành con, hãy chọn sự chữa lành. Nếu phải chọn giữa giữ một vẻ bề ngoài và được tự do, hãy chọn tự do.
8. LÒNG THƯƠNG XÓT DẠY TA THƯƠNG XÓT CHÍNH MÌNH CÁCH ĐÚNG ĐẮN
Có những linh hồn rất nhân hậu với người khác nhưng vô cùng tàn nhẫn với bản thân. Họ có thể nói với một người đang đau: “Chúa hiểu bạn. Hãy kiên nhẫn. Hãy bắt đầu lại.” Nhưng khi chính họ sa ngã, họ lại nói: “Tại sao mình ngu như vậy? Tại sao mình chẳng tiến bộ gì?” Họ cho người khác thời gian nhưng không cho mình thời gian. Họ tin lòng thương xót dành cho tất cả mọi người, trừ mình.
Thương xót chính mình theo nghĩa Kitô giáo không phải là nuông chiều. Nó là nhìn mình bằng ánh mắt của Chúa. Chúa biết con cần được sửa, nhưng Ngài không khinh con. Chúa biết con đang còn nhiều bất toàn, nhưng Ngài không ghê tởm con. Chúa thúc con tiến lên nhưng không dùng sự khinh miệt. Vậy tại sao con lại cho rằng việc khinh mình sẽ làm con nên thánh hơn? Thánh thiện không được xây bằng sự ghét bỏ bản thân. Nó được xây bằng sự thật và ân sủng.
Khi con mệt, có lúc lòng thương xót bảo con nghỉ. Khi con đã cố gắng nhưng giới hạn thể lý lên tiếng, đừng coi cơ thể như kẻ thù phải bị nghiền nát. Khi con buồn, có khi điều con cần không phải là trách mình thiếu đức tin mà là đem nỗi buồn ấy đến với Chúa. Khi con mắc lỗi, có khi điều đầu tiên Chúa muốn không phải là con lập tức nghĩ ra mười hình phạt, mà là con trở về trong lòng Cha. Một trái tim được nghỉ trong lòng thương xót sẽ có sức chiến đấu lâu dài hơn một trái tim luôn bị roi của sự tự khinh quất vào.
9. LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ CÁCH NHÌN NGƯỜI KHÁC
Không ai thật sự nhận lòng thương xót mà có thể mãi mãi sống bằng sự xét đoán. Nếu con thường xuyên ý thức mình được tha nhiều, con sẽ dần biết tha. Nếu con biết Chúa kiên nhẫn với mình thế nào, con sẽ bớt nóng ruột với người khác. Nếu con nhớ rằng chính mình cũng có những cuộc chiến mà người ngoài không thấy, con sẽ dè dặt hơn khi kết luận về người anh em.
Trong đời sống cộng đoàn, đây là điều vô cùng quan trọng. Ta rất dễ nhìn thấy lỗi của nhau. Sống gần nhau đủ lâu, mọi lớp sơn đẹp đều bong ra. Người mà con tưởng hiền có ngày nổi nóng. Người con tưởng quảng đại có lúc ích kỷ. Người con tưởng đạo đức cũng có những góc rất con người. Nhưng đó không phải là lý do để vỡ mộng về ơn gọi cộng đoàn. Đó là lời mời gọi bước vào mầu nhiệm lòng thương xót. Cộng đoàn không phải là nơi những người hoàn hảo sống với nhau. Cộng đoàn là nơi những người đang được Chúa chữa lành học cách không bỏ nhau khi sự thật lộ ra.
Điều này không có nghĩa là bỏ qua những sai trái nghiêm trọng. Có những việc cần sửa, cần góp ý, có khi cần kỷ luật. Nhưng ngay cả khi phải nói sự thật, lòng thương xót vẫn quyết định cách nói. Con có thể sửa một người để bảo vệ trật tự, hoặc sửa vì yêu linh hồn họ. Bề ngoài có thể giống nhau, nhưng người nghe thường cảm nhận được khác biệt. Lời nói xuất phát từ tự ái muốn thắng. Lời nói xuất phát từ lòng thương xót muốn cứu. Lời nói tự ái thích làm đối phương câm. Lời nói thương xót muốn làm đối phương thức tỉnh mà vẫn giữ phẩm giá.
10. LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI THỪA SAI DÒNG CHÚA CỨU THẾ
Đối với người con của Thánh Anphongsô, lòng thương xót không thể chỉ là một chủ đề trong thần học. Nó phải trở thành hơi thở của sứ vụ. Ơn gọi Dòng Chúa Cứu Thế phát xuất từ việc nhìn thấy những người nghèo, những người bị bỏ rơi, những người ít được nghe Tin Mừng, những người mà cơ cấu mục vụ thông thường chưa chạm tới. “Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.” Lời ấy không chỉ là khẩu hiệu đẹp. Nó là một cách nhìn toàn bộ Thiên Chúa, con người và sứ vụ. Ơn cứu chuộc không nhỏ giọt, không dè sẻn, không chỉ dành cho một số người tốt lành. Ơn cứu chuộc chan chứa. Lòng thương xót phong phú hơn sự khốn cùng. Ân sủng dư đầy hơn tội lỗi.
Nhưng người thừa sai chỉ có thể loan báo điều ấy cách thuyết phục nếu chính mình đã nếm trải nó. Một linh mục chưa từng để Chúa thương xót sự khốn cùng của mình rất dễ trở thành người nói về lòng thương xót như một lý thuyết. Một người thừa sai chưa từng khóc vì được tha thứ rất khó nói với tội nhân bằng một giọng không phán xét. Nhưng người đã nhiều lần quỳ xuống trong tòa giải tội, nhiều lần thất vọng về mình rồi lại được Chúa kéo dậy, nhiều lần nhìn thấy lòng thương xót lớn hơn sự bất trung của mình, người ấy sẽ có một giọng nói khác. Giọng ấy không yếu. Nó vẫn nói sự thật về tội. Nhưng đằng sau sự thật người nghe cảm thấy có một cánh cửa đang mở.
Người nghèo không chỉ nghèo tiền bạc. Có những người nghèo vì bị gia đình ruồng bỏ, nghèo vì đã phạm những sai lầm lớn, nghèo vì mang nghiện ngập, nghèo vì danh dự đã mất, nghèo vì một đời hôn nhân tan vỡ, nghèo vì cảm thấy mình chẳng còn đáng được ai đón nhận, nghèo vì lâu ngày xa các Bí tích và không biết đường về. Người thừa sai của lòng thương xót phải có khả năng nói với họ không chỉ bằng môi miệng nhưng bằng toàn bộ cách hiện diện: “Vẫn còn đường về.” Có lẽ đó là một trong những sứ mạng đẹp nhất mà linh mục có thể thực hiện: giữ cho một người đừng tuyệt vọng về Thiên Chúa.
Bao nhiêu người không trở lại nhà thờ không phải vì họ không tin Chúa, nhưng vì họ nghĩ Chúa không còn muốn họ. Bao nhiêu người không xưng tội vì xấu hổ. Bao nhiêu người nghĩ rằng đời mình đã hỏng rồi. Bao nhiêu người nghe tiếng lên án trong đầu mạnh hơn tiếng Tin Mừng. Khi ấy, người Redemptorist phải mang lấy trái tim của Đấng Cứu Thế đi tìm con chiên lạc. Không phải đứng xa gọi: “Tự về đi.” Nhưng đi vào gai góc, tìm, đặt lên vai. Hình ảnh Người Mục Tử Nhân Lành luôn phải ở trước mắt người thừa sai. Chúa không cứu từ xa. Chúa cúi xuống.
11. NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC THƯƠNG XÓT SẼ CÓ GIỌNG NÓI KHÁC
Trong mục vụ, cùng một sự thật có thể được nói bằng hai giọng. Một giọng làm người ta thấy cánh cửa đóng lại. Một giọng làm người ta muốn trở về. Có những bài giảng rất đúng nhưng người nghe chỉ cảm thấy mình bị kết án. Có những lời khuyên rất chính xác nhưng người đau khổ không tìm được sức để đứng dậy. Không phải vì không được nói đến tội, trách nhiệm hay hậu quả. Nhưng Tin Mừng bao giờ cũng là tin vui về một Thiên Chúa cứu độ.
Hãy tự hỏi: sau khi người ta gặp con, họ có tin hơn rằng Chúa có thể cứu họ không? Người tội lỗi sau khi trò chuyện với con có cảm thấy được mời gọi trở về hay chỉ cảm thấy xấu hổ hơn? Người yếu đuối có thấy rằng sự thánh thiện vẫn có thể dành cho họ không? Người đã thất bại có nhận được sức để bắt đầu lại không? Đó là những câu hỏi rất quan trọng cho người thừa sai. Bởi có thể ta giảng rất hay về lòng thương xót nhưng cách phản ứng của ta với lỗi lầm của người khác lại hoàn toàn thiếu thương xót. Có thể ta treo ảnh Lòng Chúa Thương Xót trong phòng nhưng trong cộng đoàn lại ghi nhớ lỗi của anh em nhiều năm. Có thể ta nói “Chúa tha thứ” trên tòa giảng nhưng không muốn tha một câu nói làm tổn thương tự ái mình. Khi ấy, giáo lý của ta đi một đường và trái tim ta đi một đường.
Cuộc chiến linh hồn và sứ vụ gặp nhau ngay ở điểm này. Mỗi lần con chiến đấu chống tự ái, con đang chuẩn bị để thương xót tốt hơn. Mỗi lần con tập nhịn một phản ứng nóng, con đang làm cho trái tim mục tử mềm hơn. Mỗi lần con xin lỗi anh em, con đang học cách bước xuống khỏi ngai xét đoán. Mỗi lần con xưng tội thật lòng, con đang được chuẩn bị để ngồi tòa giải tội với lòng cảm thông. Mỗi lần con để Chúa ôm lấy sự yếu đuối của mình, con sẽ ít sợ sự yếu đuối của người khác hơn.
12. THẬP GIÁ – NƠI LÒNG THƯƠNG XÓT CÓ KHUÔN MẶT
Nếu con muốn hiểu lòng thương xót, đừng chỉ tìm một định nghĩa. Hãy nhìn Thánh Giá. Trên đó, con thấy Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ của con. Ngài đi vào tận đáy. Chúa Giêsu đã mang lấy sự phản bội, sự cô độc, sự nhục nhã, sự bất công, sự đau đớn, sự từ bỏ. Ngài biết thế nào là bị bạn bỏ. Biết thế nào là bị hiểu sai. Biết thế nào là cầu nguyện trong bóng tối. Biết thế nào là mang lấy sức nặng của tội, dù chính Ngài vô tội. Vì thế, khi con đem sự khốn cùng của mình đến với Chúa, con không đem nó đến cho một Đấng xa lạ với đau khổ nhân loại.
Hãy nhìn hai cánh tay bị đóng đinh. Chúng không còn có thể khép lại. Như thể Chúa muốn nói rằng nơi Thánh Giá, cánh cửa lòng thương xót đã được mở đến cùng. Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Máu và nước chảy ra. Hội Thánh luôn nhìn nơi đó nguồn mạch của các Bí tích và của sự sống. Trái tim bị mở ra không phải vì con người xứng đáng, mà vì Thiên Chúa muốn tự hiến đến tận cùng.
Trong những ngày con thấy mình tệ nhất, đừng chạy khỏi Thánh Giá. Hãy chạy đến đó. Hãy nói: “Lạy Chúa, đây là điều con đã làm. Đây là lòng con hôm nay. Con không có gì đẹp để dâng. Nhưng con dâng sự nghèo nàn này vào cạnh sườn Chúa.” Đừng sợ làm phiền Chúa bằng cùng một lỗi con đã xưng nhiều lần. Chỉ cần con thành thật muốn sửa và tiếp tục dùng những phương thế cần thiết, hãy trở lại. Thánh Giá không được dựng lên cho những người không cần cứu. Thánh Giá được dựng lên cho những kẻ biết mình cần được cứu.
13. THÁNH THỂ – LÒNG THƯƠNG XÓT TRỞ THÀNH CỦA ĂN
Nếu Thánh Giá là nơi lòng thương xót được tỏ lộ, thì Thánh Thể là nơi lòng thương xót ấy trở thành của ăn. Chúa không chỉ tha thứ rồi để con tự đi. Ngài nuôi con bằng chính Ngài. Điều này sâu xa biết bao. Con đang chiến đấu với sự yếu đuối, và sức mạnh con nhận không chỉ là một ý tưởng hay một lời động viên. Con nhận chính Chúa Kitô.
Khi đến với Thánh Thể trong tình trạng ân sủng, hãy đến như người nghèo nhận bánh. Đừng nghĩ rằng con rước Chúa vì con xứng đáng. Không ai xứng đáng. “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con.” Hội Thánh đặt câu ấy trên môi chúng ta ngay trước khi rước lễ để chúng ta không quên bản chất của cuộc gặp gỡ: Đấng Thánh đến với người cần được chữa lành. Thánh Thể không phải huy chương của người hoàn hảo; đó là lương thực của người đang đi đường.
Sau khi rước lễ, hãy để lòng thương xót của Chúa chạm đến những nơi con xấu hổ nhất về mình. Đừng chỉ nói những lời chung chung. Có thể nói: “Lạy Chúa, Chúa đang ở trong con. Chúa biết con đã nóng giận thế nào. Chúa biết con còn ham được nhìn nhận ra sao. Chúa biết điều con đang chiến đấu. Xin Chúa đi vào đó. Xin Chúa sống trong vùng đó của con.” Việc kết hợp với Chúa trong Thánh Thể sẽ dần dần làm cho con hiểu rằng sự thánh thiện không phải là việc con căng mình để trở thành một người khác, mà là để Chúa Kitô sống ngày càng tự do hơn trong con.
14. ĐỨC MARIA – MẸ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT
Hỡi linh hồn, trên đường học tín thác, đừng quên Đức Maria. Mẹ là người đã hát: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.” Magnificat là bài ca của một linh hồn biết rằng mọi sự là ân sủng. Mẹ không quy về mình. Mẹ nhìn vào những gì Thiên Chúa đã làm.
Đối với người Redemptorist, hình ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp càng mang một ý nghĩa đặc biệt. Hài Nhi Giêsu nhìn về những khí cụ cuộc Thương Khó, chân Người như vội vã chạy vào vòng tay Mẹ. Mẹ không giữ Người cho riêng mình. Mẹ chỉ về Người. Mọi sự nơi Mẹ đều đưa ta đến Đấng Cứu Thế. Khi con sợ hãi trước tội mình, hãy đến với Mẹ. Khi con thấy khó tin rằng mình vẫn có thể trở về, hãy để Mẹ dắt tay. Không phải vì Mẹ thay thế Chúa, nhưng vì Mẹ luôn đưa con tới gần lòng thương xót của Con Mẹ.
Có những lúc lời cầu nguyện rất đơn sơ cũng đủ: “Mẹ ơi, con lại yếu. Xin đưa con về với Chúa Giêsu.” Đừng coi thường những lời cầu nguyện nhỏ ấy. Một đứa trẻ không cần một bài diễn văn để gọi mẹ. Trong giờ chiến đấu, nhiều khi trái tim chỉ có thể nói một câu. Hãy để câu ấy trở thành dây nối con với trời.
15. SỐNG TRONG LÒNG THƯƠNG XÓT MỖI NGÀY
Lòng thương xót phải trở thành một lối sống, không phải chỉ là điều ta tìm đến sau khi phạm tội. Ngay từ sáng, khi vừa thức dậy, trước khi cầm điện thoại, trước khi bước vào những việc của ngày mới, hãy đặt mình trong lòng thương xót: “Lạy Chúa, ngày hôm nay là quà tặng. Con không biết những gì sẽ xảy đến. Con không biết con sẽ mạnh hay yếu. Nhưng con xin trao cả ngày vào tay Chúa. Xin giữ con trong lòng thương xót Chúa.” Một lời phó thác như thế đặt con vào đúng vị trí. Con không bước vào ngày mới như người phải tự mình kiểm soát mọi sự, mà như người con được Cha dẫn đi.
Trong ngày, mỗi khi nhận ra một chuyển động xấu, đừng chờ đến tối. Hãy trở về ngay. Nếu tự ái nổi lên: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.” Nếu một tư tưởng xấu xuất hiện: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa.” Nếu nóng giận: “Lạy Chúa hiền lành và khiêm nhường, xin làm cho lòng con nên giống Chúa.” Nếu sợ hãi: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Những lời nguyện ngắn ấy giống những lần linh hồn quay mặt về phía ánh sáng giữa ngày.
Buổi tối, khi xét mình, đừng chỉ làm một bảng kiểm điểm lỗi. Hãy xét ngày sống dưới ánh sáng lòng thương xót. Trước hết cảm tạ những ân sủng đã nhận. Rồi nhìn lỗi cách bình tĩnh. Đừng phóng đại, đừng thu nhỏ. Gọi tên. Xin tha. Hỏi xem ngày mai cần sửa một điều cụ thể nào. Sau đó trao tất cả vào tay Chúa. Đừng mang một túi tội lỗi lên giường ngủ như thể con phải canh giữ chúng suốt đêm. Chúa đã thức. Con có thể ngủ.
Siêng năng chiêm ngắm ảnh Lòng Chúa Thương Xót cũng là một phương thế đơn sơ. Không phải hình ảnh có sức mạnh ma thuật, nhưng ánh mắt Chúa Giêsu và lời “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa” có thể nhắc trái tim nhớ lại điều nó thường quên: con không được cứu bởi việc con nắm Chúa chặt đến mức nào, mà trước hết bởi việc Chúa đang nắm con.
16. KHI KHÔNG CẢM THẤY LÒNG THƯƠNG XÓT
Sẽ có những giai đoạn con nói “Chúa thương xót” nhưng trong lòng không cảm thấy gì. Có khi vì khô khan. Có khi vì tội đã làm cảm xúc chai lì. Có khi vì những vết thương tâm lý khiến ta khó tin mình được yêu. Có khi vì một biến cố đau buồn làm hình ảnh Thiên Chúa trở nên xa lạ. Trong những lúc ấy, đừng đồng hóa đức tin với cảm giác.
Lòng thương xót của Chúa không biến mất vì con không cảm thấy. Mặt trời không tắt khi mây che. Hãy tiếp tục bám vào điều Chúa đã mạc khải, vào Thánh Giá, vào các Bí tích, vào Lời Chúa. Có những lúc hành vi tín thác đẹp nhất là lời tín thác được nói giữa bóng tối: “Lạy Chúa, con không cảm thấy Chúa gần, nhưng con tin Chúa không bỏ con. Con không hiểu, nhưng con ở lại.”
Một đức tin chỉ tồn tại khi được an ủi là đức tin chưa được thử. Có những giai đoạn Chúa cho phép ta bước đi mà không cảm nhận sự ngọt ngào, để lòng tín thác được thanh luyện khỏi nhu cầu phải luôn có cảm giác dễ chịu. Khi ấy, “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa” không còn là một câu đạo đức dễ nói. Nó trở thành một quyết định của ý chí.
17. LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ GIỜ CHẾT
Cuối cùng, toàn bộ cuộc chiến linh hồn sẽ dẫn đến giờ mà con không còn có thể làm gì nữa. Những công việc dừng lại. Những chương trình dang dở. Danh tiếng không còn ý nghĩa. Những lời người ta khen hay chê dần xa đi. Con đứng trước Thiên Chúa bằng sự nghèo nàn cuối cùng. Và chính lúc ấy, điều con đã học cả đời sẽ trở nên quan trọng: tín thác.
Nếu cả đời con tập đặt sự yếu đuối vào lòng thương xót, giờ chết sẽ không phải là lần đầu con làm việc ấy. Nếu cả đời con đã học nói: “Lạy Chúa, con không cậy vào con,” thì khi sức lực cuối cùng rời khỏi thân xác, con chỉ làm điều mình đã tập từ lâu. Sự chết trở thành hành vi phó thác cuối cùng.
Có lẽ lúc ấy con sẽ không nhớ được nhiều lời cầu nguyện. Có lẽ chỉ còn một danh: Giêsu. Một lời: thương xót. Một hành vi: tín thác. Và như thế là đủ. Người trộm lành trên thập giá chẳng còn thời gian sửa một quá khứ dài. Anh chỉ còn đủ sức quay đầu: “Ông Giêsu, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa đã trả lời bằng một lời hứa. Lòng thương xót có thể làm trong một khoảnh khắc điều mà sức con người không thể làm trong nhiều năm.
Đừng vì thế trì hoãn hoán cải. Người trộm lành được cứu vào giờ cuối, nhưng con không biết giờ cuối của mình ở đâu. Hãy sống hôm nay. Nhưng hãy sống trong hy vọng. Không có tội nhân nào phải tuyệt vọng khi còn đang quay về. Không có quá khứ nào mạnh hơn Thánh Giá. Không có vết thương nào nằm ngoài khả năng chữa lành của Thiên Chúa. Không có bóng tối nào đủ dày để ngăn ánh sáng nếu con mở cửa.
18. ĐỪNG BIẾN ĐỜI THIÊNG LIÊNG THÀNH MỘT CUỘC KIỂM TRA KHÔNG BAO GIỜ ĐẠT
Hỡi linh hồn, có một điều cuối cùng cần nói thật rõ. Đừng sống như thể mỗi ngày Chúa cầm một bảng điểm đứng nhìn con. Đừng biến giờ cầu nguyện thành việc kiểm tra xem hôm nay mình đạo đức đến đâu. Đừng biến xét mình thành một phiên tòa trong đó con vừa là bị cáo vừa là công tố viên. Đừng biến nhân đức thành những chiếc huy chương phải sưu tập. Đừng biến sự thánh thiện thành nỗi ám ảnh về một bản thân không bao giờ mắc lỗi.
Sự thánh thiện là thuộc về Chúa. Là để Chúa chiếm lấy đời con ngày càng sâu hơn. Là yêu Ngài trong sức mạnh và trong yếu đuối. Là trở về mỗi khi đi lạc. Là để lòng thương xót phá vỡ sự kiêu ngạo của con. Là học cách nhận và trao lòng thương xót.
Nếu hôm nay con đã cầu nguyện không tốt, hãy trở lại ngày mai. Nếu hôm nay con đã thất bại trong kiên nhẫn, hãy xin lỗi và tập lại. Nếu hôm nay con đã để sự tự ái thắng một trận, đừng nhường cả cuộc chiến. Nếu một chương đời của con đầy lỗi, Chúa vẫn có thể viết chương tiếp theo. Điều kẻ thù muốn nhất không phải chỉ là làm con phạm một lỗi. Nó muốn con tin rằng lỗi ấy là toàn bộ căn tính của con. Nhưng con không phải là tội của con. Con là người được Chúa tạo dựng, được Đức Kitô cứu chuộc, được gọi bằng tên, được mời gọi nên thánh và đang được lòng thương xót kiên nhẫn biến đổi.
19. LỜI CUỐI GỬI LINH HỒN ĐANG CHIẾN ĐẤU
Hỡi linh hồn, nếu sau ba mươi lăm chương con chỉ giữ lại được một điều, hãy giữ điều này: đừng bao giờ chiến đấu ngoài vòng tay của lòng thương xót. Đừng chiến đấu như trẻ mồ côi. Đừng sống như người phải tự kiếm lấy tình yêu của Chúa. Đừng biến những lần ngã thành lý do bỏ đường. Đừng lấy sự yếu đuối của con làm thước đo lòng trung thành của Thiên Chúa.
Con sẽ còn có những trận chiến. Có thể rất nhiều. Có những đam mê sẽ không chết trong một ngày. Có những vết thương cần nhiều năm. Có những điều Chúa sẽ thanh luyện con qua chính cộng đoàn, qua người trái tính, qua sự thất bại, qua tuổi tác, qua bệnh tật, qua những lúc không còn làm được như trước. Nhưng trong tất cả, lòng thương xót vẫn ở đó.
Khi con mạnh, hãy cảm tạ lòng thương xót vì chính ân sủng cho con mạnh. Khi con yếu, hãy chạy vào lòng thương xót vì chỉ nơi đó con được nâng dậy. Khi con thắng cám dỗ, đừng kiêu, hãy nói: “Nhờ ơn Chúa.” Khi con ngã, đừng tuyệt vọng, hãy nói: “Nhờ lòng thương xót, con sẽ đứng lên.” Khi người khác khen, hãy trả vinh quang về Chúa. Khi bị hiểu lầm, hãy đặt vết thương vào trái tim Chúa. Khi làm sứ vụ có kết quả, hãy nhớ rằng Chúa mới là Đấng cứu. Khi sứ vụ thất bại, hãy nhớ rằng con không phải là Đấng Cứu Thế. Khi cộng đoàn làm con đau, hãy nhớ chính con cũng cần được anh em thương xót. Khi con thấy một người sa ngã, hãy nhớ mình cũng đứng được chỉ nhờ ân sủng. Khi con bước vào tòa giải tội để ban ơn tha thứ, hãy nhớ rằng chính con cũng là người sống nhờ lời: “Cha tha tội cho con.” Khi con dâng Thánh Lễ, hãy nhìn Chén Máu Thánh và nhớ rằng giá cứu chuộc của con đang ở đó.
Và nếu một ngày con thấy tất cả những điều mình đã xây dựng dường như sụp đổ, nếu con nhận ra sau bao năm tu trì mình vẫn còn nghèo nàn hơn tưởng tượng, nếu tuổi già bóc đi những năng lực từng làm con tự tin, nếu bệnh tật làm con không còn làm được những việc con từng nghĩ là giá trị của đời mình, thì có lẽ Chúa đang đưa con đến bài học cuối: chỉ còn lòng thương xót. Khi không còn sức để làm nhiều, con vẫn có thể tín thác. Khi không còn giảng được, con vẫn có thể phó mình. Khi không còn đi sứ vụ được, con vẫn có thể để chính sự nghèo nàn của mình trở thành một lời rao giảng rằng con người không được cứu vì hữu dụng, nhưng vì được yêu.
Hỡi linh hồn, đừng sợ nhìn sự thật về mình. Lòng thương xót lớn hơn sự thật đau đớn ấy. Đừng sợ những vùng chưa được chữa. Chúa biết đường vào. Đừng sợ phải bắt đầu lại. Cửa nhà Cha vẫn mở. Đừng sợ nước mắt thống hối. Chúng có thể trở thành nước rửa đôi mắt để con nhìn Chúa rõ hơn. Đừng sợ sự nhỏ bé. Một linh hồn biết mình nhỏ mà nằm yên trong tay Chúa còn an toàn hơn một linh hồn tưởng mình mạnh mà đứng trên sức riêng.
Hãy để từ hôm nay cuộc chiến của con thay đổi. Vẫn kỷ luật, nhưng không khắc nghiệt. Vẫn quyết liệt với tội, nhưng dịu dàng với người tội lỗi. Vẫn nghiêm túc sửa mình, nhưng không tự ghét. Vẫn cố gắng hết sức, nhưng không dựa vào sức mình. Vẫn khao khát nên thánh, nhưng biết rằng sự thánh thiện trước hết là công trình ân sủng. Vẫn đứng dậy sau mọi lần ngã, không vì con tin mình sẽ không bao giờ ngã nữa, nhưng vì con tin rằng lòng thương xót Chúa sẽ không bao giờ cạn.
Và trong mọi trận chiến, hãy giữ một lời trên môi. Khi cám dỗ mạnh: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi vừa sa ngã: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi bị hiểu lầm: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi lời cầu nguyện khô khan: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi tương lai mờ mịt: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi sứ vụ nặng nề: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi bệnh tật đến: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi giờ chết gần kề và mọi thứ khác dần rơi khỏi tay: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.”
Đó không phải là lời của người yếu hèn chạy trốn cuộc chiến. Đó là lời của người đã hiểu bí mật sâu nhất của cuộc chiến: chiến thắng sau cùng không thuộc về sức mạnh của con, nhưng thuộc về Chúa. Phần con là chiến đấu, là trung thành, là trở về, là mở lòng, là không tuyệt vọng. Phần còn lại, hãy để lòng thương xót làm.
Lạy Chúa Giêsu Cứu Thế, Chúa biết con hơn chính con biết con. Chúa biết những điều tốt đẹp Chúa đã gieo vào lòng con, và Chúa cũng biết những vùng tối con còn sợ nhìn tới. Chúa biết những lời hứa con đã giữ và những lời hứa con đã thất trung. Chúa biết những lần con chiến thắng nhờ ơn Chúa và những lần con ngã vì tin vào mình. Con không muốn giấu Chúa gì nữa. Con đặt tất cả vào Trái Tim Chúa: quá khứ của con, hiện tại của con, những tội đã được tha, những vết thương còn đau, những đam mê còn phải chiến đấu, những người con chưa tha thứ hết, những điều con vẫn bám víu, những sợ hãi con chưa dám gọi tên. Xin lòng thương xót Chúa đi qua tất cả.
Xin đừng để con biến đời sống thiêng liêng thành công trình của kiêu ngạo. Xin cho con chiến đấu mà vẫn bình an, thống hối mà không tuyệt vọng, quyết liệt mà không cứng lòng, khiêm nhường mà không tự khinh, hy sinh mà không tìm công trạng, phục vụ mà không tìm mình.
Khi con mạnh, xin giữ con khiêm nhường. Khi con yếu, xin giữ con tín thác. Khi con ngã, xin kéo con dậy. Khi con thành công, xin giữ con khỏi tự mãn. Khi con bị người khác làm tổn thương, xin nhắc con nhớ con cũng đang sống nhờ lòng thương xót. Khi con gặp một người tội lỗi, xin đừng để ánh mắt con trở thành ánh mắt kết án, nhưng là ánh mắt của người đã được thương xót nhìn một người đang cần được thương xót.
Xin làm cho con, trong ơn gọi và sứ mạng của mình, trở thành một dấu chỉ nhỏ bé của ơn cứu chuộc chan chứa. Xin cho những người gặp con không dừng lại nơi con, nhưng qua sự nghèo nàn của con họ nhận ra Chúa vẫn đang tìm kiếm họ. Xin cho người thất vọng tìm được hy vọng, người xấu hổ dám trở về, người tội lỗi dám tin rằng còn con đường, người cô đơn biết rằng mình không bị bỏ rơi, người đau khổ nhận ra rằng Đấng Chịu Đóng Đinh đang ở bên họ.
Và đến cuối đời, khi con chẳng còn gì để cậy dựa, xin cho con được chết như con đã cố sống: trong lòng thương xót. Xin cho lời cuối cùng của trái tim con không phải là lời kể công, cũng không phải tiếng tuyệt vọng, nhưng chỉ là một hành vi phó thác đơn sơ của người con trở về nhà:
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
Xin thương xót con.
Xin nhận lấy con.
Xin hoàn tất trong con điều Chúa đã khởi sự.
Và xin cho cuộc chiến của đời con kết thúc không trong nỗi sợ, nhưng trong vòng tay của Đấng đã yêu con đến cùng.
Amen.
CHƯƠNG 36
ĐỨC TÍN THÁC VÀO LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT TRONG MỌI HOÀN CẢNH CỦA CUỘC CHIẾN
Hỡi linh hồn đang được mời gọi không chỉ biết về lòng thương xót của Thiên Chúa, không chỉ nói về lòng thương xót, không chỉ chiêm ngắm lòng thương xót như một chân lý đẹp đẽ của đức tin, nhưng thực sự bước vào trong lòng thương xót ấy và để cho lòng thương xót trở thành nơi trú ẩn, thành sức mạnh, thành hơi thở, thành nền tảng của tất cả đời sống thiêng liêng của mình, sau khi đã nhìn nhận rằng lòng thương xót của Chúa phải ở trung tâm của cuộc chiến linh hồn, chúng ta cần đi thêm một bước nữa, một bước rất quan trọng, rất cụ thể, và cũng rất khó khăn đối với bản tính con người: đó là học tín thác. Bởi vì lòng thương xót của Chúa là đại dương vô biên, nhưng linh hồn chỉ thực sự được tắm mình trong đại dương ấy khi nó dám bước xuống. Lòng thương xót của Chúa là cánh cửa luôn mở, nhưng con người phải chịu bước qua. Lòng thương xót của Chúa là bàn tay luôn đưa ra, nhưng linh hồn phải chịu đặt tay mình vào bàn tay ấy. Và chính hành vi bước xuống, bước qua, đặt tay mình vào tay Chúa ấy là đức tín thác. Có những linh hồn tin rằng Chúa thương xót, nhưng lại không dám tin rằng lòng thương xót ấy dành cho chính mình. Có những người sẵn sàng nói với người khác rằng: “Chúa tha thứ cho anh, Chúa yêu chị, Chúa không bỏ con đâu”, nhưng đến khi chính mình sa ngã, chính mình bị thử thách, chính mình bị khô khan, chính mình nhìn thấy những vết thương sâu kín của mình, thì họ lại đứng ngoài lòng thương xót và tự kết án mình. Có những linh hồn biết rất nhiều về thần học của lòng thương xót, nhưng lại sống như thể đời mình nằm hoàn toàn trong tay sức riêng, trong tay thành công hay thất bại, trong tay cảm xúc, trong tay người khác nghĩ gì về mình, trong tay quá khứ đã xảy ra, hoặc trong tay tương lai mà mình không kiểm soát được. Như thế, điều còn thiếu không phải là kiến thức, mà là tín thác. Và đây là một cuộc chiến rất lớn: cuộc chiến để đi từ việc “biết rằng Chúa thương xót” đến chỗ “trao chính mình cho lòng thương xót ấy”; từ việc “tin Chúa có quyền năng” đến chỗ “để Chúa làm điều Ngài muốn trong đời mình”; từ việc “biết rằng Chúa yêu” đến chỗ “nghỉ yên trong tình yêu ấy ngay cả khi mình không cảm thấy gì”. Hỡi linh hồn, đừng nghĩ tín thác là điều dành cho những người yếu đuối, cho những người không biết chiến đấu, hay cho những ai muốn trốn tránh trách nhiệm. Không. Tín thác chân thật là một trong những hành vi mạnh mẽ nhất của ý chí. Tín thác không phải là buông xuôi; tín thác là trao mình. Không phải là thụ động; tín thác là hành động của một người nhận ra giới hạn của mình và chọn đặt đời mình vào tay Đấng không có giới hạn. Không phải là từ chối chiến đấu; tín thác là chiến đấu mà không ảo tưởng rằng chiến thắng đến từ sức riêng. Không phải là nhắm mắt trước thực tế; tín thác là nhìn thẳng vào thực tế, kể cả thực tế cay đắng nhất, rồi vẫn nói: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con biết Chúa ở đây; con chưa thấy lối ra, nhưng con biết Chúa có đường; con không biết ngày mai sẽ thế nào, nhưng con biết ngày mai của con vẫn ở trong tay Chúa.” Chính vì thế, nếu con muốn đi đến cùng trong cuộc chiến linh hồn, con phải tập tín thác không chỉ trong những giờ phút sốt sắng, mà trong tất cả mọi hoàn cảnh, nhất là trong những hoàn cảnh mà bản tính tự nhiên của con không muốn tín thác.
Trước hết, con phải hiểu thật rõ điều này: tín thác không phải là một cảm giác, nhưng là một quyết định của ý chí được soi sáng bởi đức tin. Đây là điểm mà rất nhiều linh hồn nhầm lẫn. Khi cầu nguyện thấy ngọt ngào, họ nghĩ mình đang tín thác. Khi lòng nhẹ nhàng, họ nghĩ mình đang tín thác. Khi mọi việc thuận lợi, họ dễ nói: “Chúa lo liệu hết.” Khi được người khác hiểu, được nâng đỡ, được công nhận, khi sức khỏe ổn định, khi công việc sinh hoa trái, khi những dự định đi đúng hướng, người ta dễ hát lên rằng Chúa tốt lành. Nhưng rồi một ngày khô khan đến, một hiểu lầm xảy ra, một thất bại xuất hiện, một lời chỉ trích chạm vào lòng tự ái, một người mình tin tưởng làm mình tổn thương, một cám dỗ kéo dài, một thói xấu tưởng đã thắng lại trở về, một dự định tốt đẹp bị phá vỡ, một lời cầu xin lâu ngày không được đáp lại theo cách mình mong muốn, lúc đó người ta mới thấy tín thác của mình sâu đến đâu. Tín thác thật không được đo bằng lúc biển lặng, nhưng bằng lúc sóng lớn. Không được đo bằng lúc thấy Chúa gần, nhưng bằng lúc Chúa dường như im lặng. Không được đo bằng lúc mình mạnh, nhưng bằng lúc mình ý thức rõ ràng rằng mình yếu. Có những lúc đức tín thác chỉ còn là một lời rất nhỏ được thốt lên trong lòng: “Lạy Chúa, con không cảm thấy gì, nhưng con vẫn tin.” Có những lúc đó là một quyết định gần như chống lại tất cả cảm xúc: “Lạy Chúa, mọi sự trong con đang nói rằng con bị bỏ rơi, nhưng đức tin bảo con rằng Chúa không bỏ con; vì thế, con chọn tin Chúa hơn là tin cảm xúc của con.” Có những lúc con thấy lòng mình đầy bóng tối, và đức tín thác không làm bóng tối biến mất ngay, nhưng nó thắp lên một ngọn đèn nhỏ đủ để con bước thêm một bước. Đừng coi thường bước nhỏ ấy. Có khi chính bước nhỏ ấy là một hành vi anh hùng trước mặt Chúa. Khi con cảm thấy mình chẳng có gì để dâng, mà vẫn dâng cho Chúa chính sự bất lực của mình, đó là tín thác. Khi con không còn lời cầu nguyện đẹp, mà chỉ còn biết lặp lại: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, đó là tín thác. Khi con không biết phải giải quyết tương lai thế nào, nhưng vẫn làm bổn phận hôm nay và để ngày mai trong tay Chúa, đó là tín thác. Khi con sa ngã và đáng lẽ theo thói quen cũ con sẽ tự ghét mình, bỏ cầu nguyện, trốn Chúa, thì lần này con lại đứng lên, đến trước mặt Ngài, thú nhận sự nghèo nàn của mình và xin được bắt đầu lại, đó là tín thác. Tín thác như thế rất tinh ròng, vì nó không sống nhờ cảm giác. Nó sống nhờ Thiên Chúa. Và linh hồn nào học được điều này thì sẽ dần dần được giải phóng khỏi ách nô lệ rất lớn là phải luôn cảm thấy tốt mới tin rằng mình đang đi đúng đường. Con không cần cảm thấy mình thánh thiện để đi về phía Chúa. Con không cần cảm thấy mình được yêu mới tin rằng mình được yêu. Con không cần cảm thấy mình đã được tha thứ mới tin rằng, sau khi thành tâm sám hối và trở về, lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội lỗi của mình. Đức tin không dựa trên cảm giác. Đức cậy không dựa trên sự thuận lợi. Tín thác không dựa trên việc mọi sự có diễn ra đúng như con muốn hay không. Nó dựa trên chính Thiên Chúa, Đấng không thay đổi. Cảm xúc của con hôm nay có thể lên, ngày mai có thể xuống. Ý kiến của người khác hôm nay có thể khen, ngày mai có thể chê. Công việc hôm nay có thể thành công, ngày mai có thể thất bại. Sức khỏe hôm nay có thể mạnh, ngày mai có thể yếu. Nhưng lòng thương xót Chúa không đổi theo những dao động ấy. Nếu con đặt bình an của mình trên những điều thay đổi, con sẽ luôn chao đảo. Nếu con đặt nó trên Thiên Chúa, con sẽ dần có một nền móng sâu hơn sóng gió.
Đức tín thác phải được đem vào những hoàn cảnh cụ thể nhất của cuộc chiến, chứ không thể chỉ là một tư tưởng chung chung. Khi con sa ngã, hãy tín thác. Đây thường là lúc khó tín thác nhất. Sau một lần sa ngã, linh hồn dễ rơi vào hai thái cực. Một là coi nhẹ: “Không sao đâu”, rồi không thật sự sám hối. Hai là tự nghiền nát mình: “Tôi tệ quá, tôi chẳng thay đổi được, Chúa chắc cũng chán tôi.” Cả hai đều không phải đường của lòng thương xót. Lòng thương xót không dung túng tội, nhưng cũng không nghiền nát tội nhân. Chúa muốn con ghét tội nhưng không ghét chính mình; đau vì đã xúc phạm đến Chúa nhưng không tuyệt vọng về tình yêu của Ngài; thành tâm sửa đổi nhưng không nghĩ rằng ơn cứu độ tùy thuộc vào việc con chưa bao giờ yếu đuối. Sau khi sa ngã, điều kẻ thù muốn nhất không phải chỉ là tội mà con vừa phạm. Nó còn muốn dùng chính tội ấy để kéo con xa Chúa thêm. Nó muốn con xấu hổ đến mức không dám cầu nguyện, thất vọng đến mức bỏ cuộc, tự ghét mình đến mức không còn nhìn lên thập giá. Đó là chiến thuật rất cũ. Vì vậy, sau khi nhận ra mình ngã, hãy lập tức làm điều kẻ thù không muốn: quay về với Chúa. Đừng nằm lại quá lâu trên mặt đất để phân tích mình đã tệ thế nào. Hãy đứng dậy. Nếu cần xưng tội, hãy xưng tội. Nếu cần xin lỗi ai, hãy xin lỗi. Nếu cần sửa lại một việc, hãy sửa. Nhưng trong tất cả những điều đó, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. Con không đến với Chúa vì con xứng đáng, nhưng vì Chúa là Đấng thương xót. Con không che giấu sự xấu xa của mình, con đem nó ra ánh sáng. Xin Chúa thanh luyện con.” Một linh hồn biết quay về mau mắn sau khi sa ngã thường làm ma quỷ thất vọng hơn một linh hồn chưa từng gặp cám dỗ lớn, bởi vì kẻ thù muốn dùng sa ngã làm cánh cửa dẫn đến tuyệt vọng, còn linh hồn lại biến chính nơi sa ngã thành bậc thang của khiêm nhường và tín thác. Điều này không có nghĩa rằng con được phép coi thường tội. Càng tín thác thật, con càng đau vì tội, bởi con nhận ra mình đã làm buồn lòng Đấng yêu mình vô cùng. Nhưng nỗi đau ấy không giết chết con; nó kéo con lại gần Chúa.
Khi bị cám dỗ mạnh, hãy tín thác. Đừng nghĩ rằng cám dỗ mạnh là dấu hiệu Chúa bỏ con. Nhiều khi cám dỗ chỉ cho thấy con đang ở trong chiến trường. Người không chiến đấu đôi khi chẳng cảm thấy trận chiến nào vì họ đã đầu hàng từ trước. Nhưng người muốn thuộc về Chúa sẽ thấy những lực kéo ngược lại. Trong cám dỗ, một trong những sai lầm nguy hiểm nhất là nhìn quá lâu vào sức mạnh của cám dỗ và nhìn quá ít vào quyền năng của Chúa. Con thấy sự thôi thúc mạnh quá, thấy thói quen cũ quá dai dẳng, thấy trí tưởng tượng quá hỗn loạn, thấy lòng mình quá yếu, rồi con kết luận: “Lần này chắc tôi thua.” Tại sao con kết luận như thế? Vì con đang cân đo trận chiến chỉ bằng sức của mình. Hãy đổi điểm nhìn. Nói với Chúa: “Lạy Chúa, con yếu thật. Con không phủ nhận điều đó. Nhưng con không một mình. Xin Chúa chiến đấu trong con.” Rồi con làm phần của con: tránh dịp tội, cắt đứt điều phải cắt, chuyển sự chú ý, cầu nguyện, tìm đến bí tích, tìm một người khôn ngoan nếu cần, đứng dậy nếu đã ngã. Tín thác không thay thế kỷ luật. Nó làm cho kỷ luật có linh hồn. Không có tín thác, con cố gắng trong căng thẳng. Có tín thác, con cố gắng trong khi biết rằng ơn Chúa đi trước và nâng đỡ con. Khi cám dỗ kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, tín thác có khi không nằm ở chỗ cám dỗ biến mất, mà ở chỗ con vẫn không bỏ Chúa. Có những chiến thắng lớn không phải là không còn bị tấn công, mà là giữa hàng ngàn lần bị tấn công, con vẫn chọn về phía Chúa. Đừng đo sự thánh thiện bằng mức độ ít cám dỗ. Hãy đo bằng mức độ trung thành giữa cám dỗ.
Khi khô khan trong cầu nguyện, hãy tín thác. Đây là trường học lớn của tình yêu tinh ròng. Có những ngày con quỳ trước Nhà Tạm mà lòng chẳng có gì. Những lời kinh vốn từng an ủi nay khô cứng. Tin Mừng đọc mà không thấy ánh sáng. Giờ chầu dài như một gánh nặng. Lúc đó bản tính sẽ hỏi: “Cầu nguyện để làm gì?” Nhưng chính lúc ấy con có cơ hội trả lời bằng đời sống: “Con ở đây không phải vì con được an ủi. Con ở đây vì Chúa là Chúa.” Đó là một sự trưởng thành lớn lao. Tình yêu chỉ tìm cảm giác sẽ bỏ đi khi không còn cảm giác. Tình yêu thật biết ở lại. Chúa có thể đang thanh luyện con khỏi việc tìm mình trong cầu nguyện. Trước đây con cầu nguyện và cảm thấy bình an, rồi con tưởng mình yêu Chúa; nhưng có khi con yêu chính cảm giác bình an ấy. Bây giờ Chúa để mọi sự khô đi, để hỏi con: “Con có còn ở với Ta không khi Ta không cho con cảm thấy gì?” Nếu con ở lại, tín thác đang lớn lên. Hãy nói đơn sơ: “Lạy Chúa, con chẳng biết nói gì. Con chẳng cảm thấy gì. Nhưng con tin Chúa đang ở đây. Con dâng Chúa sự nghèo nàn này.” Có những giờ cầu nguyện khô khan rất đẹp trước mặt Chúa, dù người cầu nguyện tưởng chúng vô ích. Đừng đo lời cầu nguyện bằng cảm giác. Hãy đo bằng lòng trung thành.
Khi phải mang một thập giá lâu dài, hãy tín thác. Có những đau khổ đi qua nhanh, nhưng cũng có những thập giá không chịu biến mất. Một giới hạn thân xác. Một nỗi cô đơn. Một vết thương trong tương quan. Một trách nhiệm nặng. Một công việc phải chịu đựng nhiều năm. Một người khó sống cùng. Một thất bại để lại hậu quả lâu dài. Một ước mong tốt đẹp không được thực hiện. Một lời cầu xin dường như không có câu trả lời. Chính những thập giá kéo dài thường làm mòn đức cậy hơn những biến cố lớn nhưng ngắn. Con có thể chịu đựng một cơn đau vài ngày, nhưng rất khó chịu cùng một đau đớn hàng năm. Tín thác lúc ấy không có nghĩa là con phải thích đau khổ. Chúa không đòi con giả vờ rằng thập giá dễ chịu. Con có quyền thưa: “Lạy Chúa, con mệt.” Chính Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu đã không phủ nhận nỗi kinh hoàng của chén đắng. Nhưng sau cùng Ngài nói: “Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Đó là đỉnh cao của tín thác. Khi không thể thay đổi hoàn cảnh, con vẫn có thể thay đổi cách con trao nó cho Chúa. Khi không hiểu ý nghĩa của thập giá, con có thể nói: “Con chưa hiểu, nhưng con tin Chúa không lãng phí một giọt nước mắt nào.” Có những điều ở đời này con sẽ không bao giờ hiểu đầy đủ. Đức tín thác không đòi con phải giải thích được mọi sự. Nó chỉ mời con tin rằng lòng thương xót Chúa lớn hơn điều con không hiểu.
Khi nhìn vào quá khứ đầy lỗi lầm, hãy tín thác. Có những linh hồn bị quá khứ đuổi theo. Những năm tháng đã mất. Những lựa chọn sai. Những người mình đã làm tổn thương. Những cơ hội đã bỏ qua. Những sa ngã lặp đi lặp lại. Những lời nói không thể rút lại. Những điều mà nếu được sống lại, mình sẽ làm khác. Họ mang tất cả như một bản án. Nhưng hỡi linh hồn, hãy nhớ: sám hối là nhìn quá khứ dưới ánh sáng của lòng thương xót; tuyệt vọng là nhìn quá khứ mà không có Chúa. Chúa không gọi con phủ nhận quá khứ. Ngài gọi con trao quá khứ cho Ngài. Có những hậu quả con phải chịu, có những điều phải sửa, có những trách nhiệm phải gánh. Nhưng không có lỗi lầm nào nằm ngoài khả năng cứu chuộc của Thiên Chúa khi con thật sự trở về. Cây thập giá đã được cắm chính giữa lịch sử tội lỗi của nhân loại để nói rằng Thiên Chúa có thể làm cho nơi tưởng là thất bại cuối cùng trở thành nơi khai sinh ơn cứu độ. Nếu Ngài làm được điều ấy nơi Thập Giá, Ngài cũng có thể đi vào những vùng tối của đời con. Đừng nói: “Đời tôi đã hỏng.” Khi còn đang sống, con vẫn đang được Chúa viết tiếp. Và ngay cả những trang đầy nước mắt, nếu đặt trong tay Chúa, vẫn có thể trở thành những trang khiêm nhường, cảm thông, và lòng thương xót.
Khi tương lai làm con lo sợ, hãy tín thác. Con người rất dễ sống trong những điều chưa xảy ra. Nếu mai bệnh thì sao? Nếu thất bại thì sao? Nếu bị bỏ rơi thì sao? Nếu công việc không thành thì sao? Nếu người kia thay đổi thì sao? Nếu tuổi già đến thì sao? Nếu mình không đủ sức thì sao? Hỡi linh hồn, biết bao nhiêu năng lượng bị đốt cháy bởi những thập giá tưởng tượng! Chúa chỉ cho con ơn để sống thập giá hôm nay. Ngài chưa hứa cho con cảm thấy sức mạnh của ngày mai ngay hôm nay. Vì thế, khi con cố sống nỗi đau của mười năm sau trong một buổi tối hôm nay, đương nhiên con sẽ thấy quá sức. Tín thác là đưa tương lai về lại đúng chỗ của nó: trong tay Chúa. Con vẫn phải chuẩn bị điều cần chuẩn bị, vẫn phải khôn ngoan, vẫn phải làm trách nhiệm; nhưng sau khi đã làm phần mình, hãy dừng lại. Đừng đòi mình kiểm soát những gì không thuộc về mình. Nhiều lo âu không đến từ trách nhiệm, mà đến từ ảo tưởng kiểm soát. Con muốn biết trước mọi sự, đảm bảo mọi kết quả, ngăn mọi đau khổ, dự phòng mọi rủi ro. Nhưng cuộc đời không trao cho con quyền ấy. Chỉ có Thiên Chúa là Chúa của ngày mai. Khi con chịu buông tay khỏi điều không thể nắm, bình an bắt đầu trở lại.
Có những trở ngại sâu xa khiến linh hồn khó tín thác. Trở ngại đầu tiên là tự ái. Nghe có vẻ lạ, nhưng người tự ái thường rất khó đón nhận lòng thương xót, bởi lòng thương xót đòi họ phải thừa nhận rằng mình cần được cứu. Con người muốn tự cứu mình, muốn đến trước mặt Chúa với một hồ sơ đẹp, muốn có thể nói: “Con đã làm được.” Khi thất bại, họ đau không chỉ vì xúc phạm đến Chúa, mà còn vì hình ảnh đẹp về bản thân đã sụp đổ. Họ không chịu nổi việc mình yếu đến thế. Có khi điều làm con đau nhất sau một lần sa ngã không phải là tình yêu đối với Chúa bị tổn thương, mà là sự thật rằng con không tốt như con tưởng. Nếu con nhận ra điều ấy, đừng sợ. Hãy coi đó là một ân sủng. Chúa đang phá vỡ tượng thần về chính mình để con có thể sống bằng lòng thương xót. Người khiêm nhường không ngạc nhiên quá mức vì mình yếu. Họ đau vì tội, nhưng họ biết mình cần Chúa. Vì thế họ chạy đến Chúa nhanh hơn.
Trở ngại thứ hai là nhìn quá nhiều vào bản thân. Có những người sống đời thiêng liêng mà cả ngày chỉ kiểm tra mình: hôm nay sốt sắng không, có tiến bộ không, có cảm thấy yêu Chúa không, tại sao vẫn còn khuyết điểm, người khác nghĩ gì, mình đang ở bậc nào. Họ tưởng đó là xét mình, nhưng có khi đó chỉ là một hình thức quy hướng về mình. Xét mình là cần thiết, nhưng xét mình phải dẫn đến Chúa. Nếu càng xét càng quay cuồng trong mình, con đang nhìn sai chỗ. Một người leo núi mà cứ nhìn mãi vào chân mình sẽ mất phương hướng. Hãy nhìn lên. Hãy nhìn Chúa Giêsu. Hãy nhìn lòng trung thành của Ngài hơn là sự thất thường của con. Hãy nhìn vết thương cạnh sườn Ngài hơn là vết thương tự ái của con. Hãy nhìn lời hứa của Ngài hơn là những cảm giác đổi thay trong con. Tín thác lớn lên khi ánh mắt chuyển từ “tôi thế nào?” sang “Chúa là ai?”
Trở ngại thứ ba là muốn cảm thấy được tha thứ trước khi chịu tin rằng mình được tha thứ. Đây là một chiếc bẫy. Sau khi đã thành tâm sám hối và lãnh nhận ơn tha thứ, con vẫn có thể còn cảm giác nặng nề. Cảm xúc không luôn đi kịp với ân sủng. Vết thương tâm lý có thể còn, ký ức có thể còn, sự xấu hổ có thể còn. Nhưng đức tin phải đi trước cảm giác. Con không thể nói: “Khi nào con cảm thấy nhẹ, con mới tin Chúa tha.” Như thế con đặt cảm giác làm tiêu chuẩn cao hơn lời của Chúa. Hãy làm ngược lại: “Con tin Chúa tha, dù lòng con còn chưa cảm được điều đó. Xin cảm xúc của con dần dần được chữa lành trong ánh sáng của sự thật.” Có những ngày con phải sống bằng đức tin trần trụi như thế.
Trở ngại thứ tư là giữ lại một phần đời mình ngoài lòng thương xót. Con dâng cho Chúa những điều dễ dâng, nhưng giữ lại một mối gắn bó, một ý riêng, một mối oán, một kế hoạch, một tham vọng, một thói quen bí mật. Con nói tín thác nhưng vẫn có một căn phòng khóa kín: “Chúa có thể vào mọi nơi, trừ chỗ này.” Tín thác thật ngày càng dẫn đến việc mở hết các cánh cửa. Không phải một lần là xong. Có khi Chúa đưa con đi từng phòng trong ngôi nhà nội tâm. Hôm nay mở một chỗ, ngày mai mở một chỗ khác. Nhưng hướng đi phải là toàn vẹn: “Lạy Chúa, tất cả là của Chúa.” Vì nơi nào con không chịu trao cho Chúa, nơi đó thường trở thành nơi con bị trói.
Trở ngại thứ năm là đo lòng thương xót của Chúa bằng cách suy nghĩ của con người. Con đã từng bị người khác hết kiên nhẫn, nên con nghĩ Chúa cũng hết kiên nhẫn. Con đã từng bị người khác giữ lỗi, nên con nghĩ Chúa cũng ghi sổ. Con đã từng thấy con người tha bằng môi nhưng vẫn nhớ trong lòng, nên con phóng chiếu cách ấy lên Thiên Chúa. Nhưng Chúa không phải là một con người phóng đại. Lòng thương xót của Ngài không phải là lòng thương xót của chúng ta nhân lên nhiều lần. Nó thuộc về chính bản tính vô biên của Thiên Chúa. Hãy để Tin Mừng sửa lại hình ảnh của con về Chúa. Hãy nhìn người cha chạy ra ôm đứa con hoang đàng. Hãy nhìn Chúa Giêsu nói với người phụ nữ bị kết án. Hãy nhìn Ngài quay sang người trộm lành trong giờ cuối. Hãy nhìn Ngài phục hồi Phêrô sau ba lần chối Thầy. Hãy nhìn Saolô, kẻ bách hại, được biến thành Phaolô, vị tông đồ. Tất cả nói với con một điều: Thiên Chúa không bị giới hạn bởi quá khứ của con. Điều Ngài cần là một cánh cửa mở.
Vì thế, đức tín thác phải được thực hành mỗi ngày. Đừng chờ khi gặp biến cố lớn mới tập tín thác. Lúc bão đến mới học bơi thì quá muộn. Hãy tập trong những việc nhỏ. Buổi sáng vừa thức dậy, trước khi điện thoại, công việc, tin tức và bao lo toan bước vào tâm trí, hãy thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. Ngày hôm nay là của Chúa. Con không biết điều gì sẽ đến, nhưng con muốn đón nhận mọi sự với Chúa.” Chỉ một phút như thế cũng có thể đặt lại hướng cho cả ngày. Khi một kế hoạch bị thay đổi, thay vì bực tức ngay, hãy nói: “Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa.” Khi một người làm con khó chịu, trước khi phản ứng, hãy nói thầm: “Lạy Chúa, xin thương xót con và người này.” Khi một tin xấu đến, trước khi để trí tưởng tượng chạy xa, hãy dừng lại: “Lạy Chúa, con chưa biết phải làm gì, nhưng con biết Chúa ở đây.” Khi một công việc thành công, cũng hãy tín thác: “Lạy Chúa, tất cả là ơn Chúa; xin đừng để thành công làm con dựa vào mình.” Tín thác không chỉ dành cho lúc thất bại. Thành công cũng cần tín thác, vì thành công dễ làm người ta tưởng mình là chủ.
Hãy tập biến mỗi lo lắng thành một lời cầu nguyện. Lo lắng thường là năng lượng của linh hồn bị mắc kẹt trong việc suy nghĩ mà không trao phó. Mỗi khi nhận ra mình đang quay vòng trong một vấn đề, hãy hỏi: “Tôi có thể làm gì cụ thể?” Nếu có, hãy làm. Nếu chưa thể làm gì, hãy cầu nguyện và trao lại. Đừng tiếp tục nhai đi nhai lại điều mình không thể giải quyết vào lúc ấy. Hãy nói: “Lạy Chúa, việc này lớn hơn con. Con đặt nó trong tay Chúa. Khi đến lúc con phải hành động, xin soi sáng cho con. Còn bây giờ, xin cho con làm tốt bổn phận trước mắt.” Đây không phải là trốn tránh, nhưng là kỷ luật nội tâm.
Hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu là khuôn mặt của lòng thương xót. Đừng để lòng thương xót chỉ là một khái niệm trừu tượng. Hãy nhìn Ngài. Nhìn đôi mắt Ngài khi gặp người tội lỗi. Nhìn bàn tay Ngài chạm đến người phong cùi. Nhìn Ngài dừng lại trước tiếng kêu của người mù. Nhìn Ngài khóc trước mộ Lazarô. Nhìn Ngài cúi xuống rửa chân các môn đệ, kể cả những người vài giờ sau sẽ bỏ Ngài. Nhìn Ngài trên thập giá cầu xin cho những kẻ đóng đinh mình. Khi con chiêm ngắm lâu, hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa trong con sẽ dần được chữa lành. Có nhiều người sợ Chúa không phải vì Tin Mừng dạy họ sợ, nhưng vì họ đã mang vào tương quan với Chúa những kinh nghiệm cũ về quyền lực, phán xét và khước từ. Hãy để Chúa Giêsu dạy con lại Chúa Cha là ai.
Hãy đọc đi đọc lại những trang Tin Mừng về những con người được lòng thương xót chạm tới. Đừng đọc như chuyện của người khác. Hãy đứng vào trong đó. Con là người con hoang đàng đang trở về. Con là Phêrô đang nghe câu hỏi: “Con có yêu Thầy không?” sau khi đã chối Thầy. Con là người trộm lành chỉ còn vài giờ để sống nhưng dám nói: “Xin nhớ đến tôi.” Con là người phụ nữ không còn lời biện hộ nhưng được Chúa mở một tương lai mới. Con là người thu thuế không dám ngước mắt lên, chỉ biết đấm ngực xin thương xót. Khi đọc như thế, Tin Mừng không còn là quá khứ. Nó trở thành hiện tại của đời con.
Hãy xin Đức Maria dạy con tín thác. Mẹ đã tín thác không chỉ lúc truyền tin, nhưng cả khi không hiểu mọi sự sẽ diễn ra thế nào. Mẹ tín thác khi phải lên đường về Bêlem, khi không tìm được chỗ trọ, khi phải sinh Con trong cảnh nghèo, khi phải bồng Con trốn sang Ai Cập, khi ba ngày không tìm thấy Con, khi sống những năm âm thầm tại Nazareth, khi đứng dưới chân thập giá và nhìn thấy mọi hy vọng theo cách hiểu tự nhiên dường như sụp đổ. Tín thác của Mẹ không ồn ào. Đó là sự đứng vững. Có những lúc đức tin cao nhất không phải làm điều lớn lao, nhưng là đứng ở chỗ Chúa muốn mình đứng. Xin Mẹ dạy con kiểu tín thác ấy: không đòi hiểu trước, không đòi thấy kết quả ngay, không bỏ cuộc khi mọi sự đi ngược dự tính.
Hoa trái của một đời sống tín thác sẽ xuất hiện chậm nhưng rất thật. Trước hết, con sẽ bớt sợ sự yếu đuối của mình. Không phải vì con coi thường yếu đuối, nhưng vì con biết yếu đuối không phải lời cuối. Trước đây, mỗi khuyết điểm làm con hoảng hốt; bây giờ nó làm con khiêm nhường. Trước đây, mỗi thất bại làm con nghi ngờ tất cả; bây giờ nó nhắc con rằng mình cần Chúa. Đây là một tự do lớn. Người không còn sợ nhìn thấy mình yếu sẽ có thể sửa mình tốt hơn, vì họ không cần bảo vệ một hình ảnh giả về bản thân. Thứ hai, con sẽ bớt dao động theo cảm xúc. Con vẫn có cảm xúc, vẫn vui buồn, nhưng cảm xúc không còn là ông chủ. Có ngày lòng sáng, con cảm tạ. Có ngày lòng tối, con vẫn trung thành. Đời sống thiêng liêng trở nên sâu hơn vì nó không phụ thuộc vào thời tiết nội tâm. Thứ ba, con sẽ bớt muốn kiểm soát người khác và hoàn cảnh. Khi tin Chúa hơn, con không còn cần mọi người phải cư xử theo ý mình để mình bình an. Con có thể làm điều đúng mà không cần kiểm soát kết quả. Con có thể nói sự thật mà không cần ép người khác hiểu ngay. Con có thể yêu mà không cần được đáp lại theo đúng cách mình mong. Con có thể gieo và để Chúa lo mùa gặt.
Thứ tư, con sẽ có một sự bình an sâu ngay giữa chiến đấu. Đừng hiểu bình an này như không còn vấn đề. Có thể vấn đề vẫn còn. Cám dỗ vẫn còn. Công việc vẫn nặng. Người khác vẫn khó. Nhưng ở sâu bên dưới, có một điểm tựa. Giống như đáy biển vẫn yên dù mặt biển có sóng. Linh hồn tín thác dần có một nơi sâu bên trong mà những biến cố bên ngoài không dễ chạm tới. Nơi đó có lời thưa: “Chúa ở đây.” Và chỉ thế thôi đã đủ làm thay đổi mọi sự.
Thứ năm, con sẽ trở nên dịu dàng hơn với người khác. Ai thật sự biết mình sống nhờ lòng thương xót sẽ bớt khắt khe. Không phải dung túng điều sai, nhưng không còn vội kết án con người. Con nhớ rằng mình cũng đã được nhẫn nại với biết bao lần. Con bắt đầu nhìn người khác không chỉ như họ đang là, nhưng như một người mà Chúa vẫn đang làm việc. Người tín thác vào lòng thương xót dễ trở thành người mang lòng thương xót đến cho người khác, vì họ không còn loan báo từ lý thuyết, mà từ kinh nghiệm.
Và sau cùng, tín thác sẽ làm con loan báo Tin Mừng cách đáng tin cậy hơn. Người ta không cần một người nói về lòng thương xót bằng những câu thật hay nhưng sống trong lo âu, cay đắng, xét đoán và kiểm soát. Thế giới cần gặp những con người đã đi qua những thất bại mà vẫn có hy vọng, đã nhìn thấy sự yếu đuối của mình mà không tuyệt vọng, đã mang thập giá mà không trở nên cay nghiệt, đã bị tổn thương nhưng không để lòng mình đóng kín. Một người như thế, chỉ bằng cách hiện diện, đã trở thành chứng nhân rằng lòng thương xót là có thật.
Hỡi linh hồn, có lẽ con đang nghĩ: “Nhưng tôi tín thác yếu lắm.” Không sao. Chúa không đòi con bắt đầu bằng một đức tín thác hoàn hảo. Hãy bắt đầu bằng điều con có. Một hạt cải cũng đủ để khởi đầu. Tín thác lớn lên bằng chính việc tín thác. Mỗi lần con lo mà vẫn chọn trao, nó lớn lên. Mỗi lần con ngã mà vẫn trở về, nó lớn lên. Mỗi lần không hiểu mà vẫn trung thành, nó lớn lên. Mỗi lần bị hiểu lầm mà không cay đắng, nó lớn lên. Mỗi lần phải chờ mà không bỏ cầu nguyện, nó lớn lên. Mỗi lần con nói: “Lạy Chúa, con không làm được, nhưng Chúa làm được”, nó lớn lên. Đừng chờ một ngày nào đó con sẽ trở thành người hoàn toàn tín thác rồi mới sống tín thác. Không. Chính những hành vi nhỏ hôm nay đang làm nên con người ấy.
Cũng đừng nghĩ rằng tín thác sẽ làm cuộc đời con tránh khỏi thập giá. Có khi trái lại, Chúa để con đi sâu hơn vào mầu nhiệm thập giá vì Ngài muốn đưa con vào một tình yêu sâu hơn. Nhưng khác biệt là: trước đây con mang thập giá như một người cô độc; bây giờ con mang với Chúa. Trước đây con hỏi: “Tại sao chuyện này xảy ra cho tôi?”; bây giờ con có thể dần hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con yêu thế nào trong hoàn cảnh này?” Trước đây con chỉ muốn thoát; bây giờ, dù vẫn xin được giải thoát nếu đó là ý Chúa, con còn muốn được biến đổi. Đây là sự trưởng thành rất lớn của đức tin: từ chỗ chỉ xin Chúa đổi hoàn cảnh đến chỗ xin Chúa đổi lòng mình trong hoàn cảnh.
Có lúc con sẽ thấy mình phải tín thác từng giờ, thậm chí từng phút. Đừng xấu hổ. Có những ngày chỉ cần sống từng bước. “Bây giờ con tín thác.” Một giờ sau lo âu quay lại: “Lạy Chúa, con lại trao.” Năm phút sau nó lại trở về: “Con lại trao.” Có thể phải trao cùng một điều một trăm lần. Không phải vì lần trước vô ích, mà vì lòng con chưa quen tự do. Từng lần như thế là một nhịp tập luyện. Giống như một đứa trẻ học bước, nó ngã nhiều lần nhưng mỗi lần đứng lên cơ thể học thêm một chút về thăng bằng. Linh hồn cũng vậy. Hãy kiên nhẫn với mình.
Và nếu có ngày con không thể nói gì ngoài câu: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, thì cứ nói câu ấy. Nói chậm. Nói thật. Có lúc hãy đặt tay lên ngực và nói. Có lúc hãy nói trước Thánh Thể. Có lúc hãy nói khi đi ngoài đường. Có lúc hãy nói trong đêm tối khi không ngủ được. Có lúc hãy nói ngay sau một cuộc điện thoại làm con tổn thương. Có lúc hãy nói trước khi bước vào một công việc khó. Có lúc hãy nói trong bệnh tật. Có lúc hãy nói khi vui mừng để nhớ rằng niềm vui cũng là quà. Hãy để lời ấy thấm xuống từ môi vào tâm trí, từ tâm trí vào ý chí, từ ý chí vào tận những vùng sâu kín nhất đang sợ hãi trong con. “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Không phải vì con hiểu hết. Không phải vì con mạnh. Không phải vì con chắc mọi sự sẽ xảy ra theo ý con. Nhưng vì Chúa là Chúa. Vì Chúa đã yêu con trước. Vì Chúa đã chết cho con. Vì Chúa đã sống lại. Vì lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội con, lớn hơn nỗi sợ của con, lớn hơn quá khứ của con, lớn hơn tương lai chưa biết, lớn hơn mọi cám dỗ và mọi bóng tối.
Hỡi linh hồn, rồi sẽ đến một ngày tất cả những gì con đang bám vào ở đời này phải buông. Sức khỏe sẽ buông. Công việc sẽ buông. Danh tiếng sẽ buông. Những mối tương quan sẽ đổi cách hiện diện. Thân xác cũng phải buông. Cuối cùng, điều còn lại chính là hành vi tín thác trọn vẹn: trao linh hồn mình vào tay Thiên Chúa. Vì thế, mỗi ngày sống tín thác hôm nay chính là chuẩn bị cho hành vi cuối cùng ấy. Mỗi lần con nói “con tín thác vào Chúa” trong một việc nhỏ, con đang học nói lời ấy trong giờ lớn nhất. Và người đã tập trao mình một đời sẽ dễ trao mình trong giờ chết hơn người chỉ muốn kiểm soát tất cả.
Vậy con hãy sống sao cho lời tín thác không chỉ là một câu kinh, nhưng là một lối sống. Khi được khen, tín thác. Khi bị chê, tín thác. Khi khỏe, tín thác. Khi yếu, tín thác. Khi cầu nguyện sốt sắng, tín thác. Khi khô khan, tín thác. Khi thắng cám dỗ, tín thác để khỏi kiêu ngạo. Khi ngã, tín thác để khỏi tuyệt vọng. Khi được hiểu, cảm tạ và tín thác. Khi bị hiểu lầm, đau nhưng vẫn tín thác. Khi Chúa mở cửa, bước đi trong tín thác. Khi Chúa đóng cửa, đứng lại trong tín thác. Khi biết phải làm gì, làm trong tín thác. Khi không biết phải làm gì, chờ trong tín thác. Khi tương lai sáng, tín thác. Khi tương lai mờ, càng tín thác. Khi lòng con nói “không thể”, hãy để đức tin nói: “Với Chúa, con sẽ bước thêm một bước.”
Đừng chờ đến khi con “đủ tốt” mới tín thác. Chính vì con chưa đủ tốt, con càng cần tín thác. Đừng chờ đến khi hết tội lỗi mới đến với lòng thương xót. Chính vì con là tội nhân mà lòng thương xót được ban. Đừng chờ cảm xúc thuận lợi. Đừng chờ mọi câu hỏi được trả lời. Đừng chờ mọi vết thương lành. Hãy bắt đầu ở đúng nơi con đang đứng. Chúa không yêu một phiên bản tương lai lý tưởng của con. Ngài đang yêu con trong giây phút này và đang gọi con bước ra khỏi bóng tối bằng cách đặt tay vào tay Ngài.
Nếu con yếu, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con sợ, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con vừa sa ngã, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con đang phải chờ đợi, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con không hiểu điều đang xảy ra, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con đã cầu nguyện nhiều năm mà chưa thấy điều mình xin, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con thấy đời mình chỉ còn toàn mảnh vụn, hãy đem những mảnh vụn ấy cho Chúa và nói: “Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa. Xin Chúa làm điều con không thể làm.”
Một ngày kia, con sẽ nhận ra rằng những giờ phút đẹp nhất của đời thiêng liêng không nhất thiết là những lúc con cảm thấy Chúa gần nhất, nhưng có khi là những lúc con không thấy gì mà vẫn ở lại; không hiểu gì mà vẫn tin; đau mà vẫn yêu; ngã mà vẫn trở về; sợ mà vẫn trao mình. Đó là những giờ tín thác tinh ròng. Và chính trong những giờ ấy, lòng thương xót có thể đang làm trong con những việc sâu xa hơn tất cả những gì con cảm nhận.
Hỡi linh hồn, hãy để câu này đi cùng con từ sáng đến tối, từ tuổi trẻ đến tuổi già, từ ngày bình yên đến ngày thử thách, từ lúc bắt đầu cuộc chiến đến hơi thở cuối cùng: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi không còn gì để nói, hãy nói câu ấy. Khi có quá nhiều điều để nói, hãy gom tất cả vào câu ấy. Khi con không biết cầu nguyện thế nào, hãy cầu nguyện bằng câu ấy. Khi con chiến thắng, hãy tạ ơn bằng câu ấy. Khi con thất bại, hãy trở về bằng câu ấy. Khi con đứng trước thập giá, hãy nói câu ấy. Khi con đứng trước Nhà Tạm, hãy nói câu ấy. Khi con đứng trước những điều con không thể thay đổi, hãy nói câu ấy. Và một ngày, khi con đứng trước cánh cửa cuối cùng của đời này, xin cho câu ấy vẫn ở trên môi con, không như một công thức, nhưng như kết tinh của cả một cuộc đời đã học cách trao mình:
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
Con tín thác vào Chúa khi con mạnh và khi con yếu.
Con tín thác vào Chúa khi con hiểu và khi con không hiểu.
Con tín thác vào Chúa khi con được an ủi và khi con khô khan.
Con tín thác vào Chúa khi con thắng và khi con ngã.
Con tín thác vào Chúa với quá khứ của con, với hiện tại của con và với tất cả tương lai của con.
Con tín thác vào Chúa với những điều con có thể sửa và cả những điều con không còn sửa được.
Con tín thác vào Chúa với những người con yêu và những người làm con đau.
Con tín thác vào Chúa trong công việc, trong sứ vụ, trong cô đơn, trong bệnh tật, trong tuổi già và trong giờ chết.
Con không tín thác vì con xứng đáng, nhưng vì Chúa là Đấng thương xót.
Con không tín thác vì con mạnh, nhưng vì Chúa mạnh.
Con không tín thác vì đường đi sáng rõ, nhưng vì Chúa là đường.
Con không tín thác vì đời con không có thập giá, nhưng vì trên mọi thập giá, Chúa đã đi trước con.
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
Con tín thác vào Chúa.
Con tín thác vào Chúa.
Và xin cho lời tín thác ấy trở thành hơi thở cuối cùng của cuộc chiến linh hồn, để khi mọi khí giới phải buông xuống, khi mọi cố gắng phải dừng lại, khi con không còn có thể làm gì nữa, con vẫn còn có thể làm điều đẹp nhất: trao mình hoàn toàn vào vòng tay Lòng Chúa Thương Xót.
Amen.
CHƯƠNG 36
ĐỨC TÍN THÁC VÀO LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT TRONG MỌI HOÀN CẢNH CỦA CUỘC CHIẾN
Hỡi linh hồn đang được mời gọi không chỉ biết về lòng thương xót của Thiên Chúa, không chỉ nói về lòng thương xót, không chỉ chiêm ngắm lòng thương xót như một chân lý đẹp đẽ của đức tin, nhưng thực sự bước vào trong lòng thương xót ấy và để cho lòng thương xót trở thành nơi trú ẩn, thành sức mạnh, thành hơi thở, thành nền tảng của tất cả đời sống thiêng liêng của mình, sau khi đã nhìn nhận rằng lòng thương xót của Chúa phải ở trung tâm của cuộc chiến linh hồn, chúng ta cần đi thêm một bước nữa, một bước rất quan trọng, rất cụ thể, và cũng rất khó khăn đối với bản tính con người: đó là học tín thác. Bởi vì lòng thương xót của Chúa là đại dương vô biên, nhưng linh hồn chỉ thực sự được tắm mình trong đại dương ấy khi nó dám bước xuống. Lòng thương xót của Chúa là cánh cửa luôn mở, nhưng con người phải chịu bước qua. Lòng thương xót của Chúa là bàn tay luôn đưa ra, nhưng linh hồn phải chịu đặt tay mình vào bàn tay ấy. Và chính hành vi bước xuống, bước qua, đặt tay mình vào tay Chúa ấy là đức tín thác. Có những linh hồn tin rằng Chúa thương xót, nhưng lại không dám tin rằng lòng thương xót ấy dành cho chính mình. Có những người sẵn sàng nói với người khác rằng: “Chúa tha thứ cho anh, Chúa yêu chị, Chúa không bỏ con đâu”, nhưng đến khi chính mình sa ngã, chính mình bị thử thách, chính mình bị khô khan, chính mình nhìn thấy những vết thương sâu kín của mình, thì họ lại đứng ngoài lòng thương xót và tự kết án mình. Có những linh hồn biết rất nhiều về thần học của lòng thương xót, nhưng lại sống như thể đời mình nằm hoàn toàn trong tay sức riêng, trong tay thành công hay thất bại, trong tay cảm xúc, trong tay người khác nghĩ gì về mình, trong tay quá khứ đã xảy ra, hoặc trong tay tương lai mà mình không kiểm soát được. Như thế, điều còn thiếu không phải là kiến thức, mà là tín thác. Và đây là một cuộc chiến rất lớn: cuộc chiến để đi từ việc “biết rằng Chúa thương xót” đến chỗ “trao chính mình cho lòng thương xót ấy”; từ việc “tin Chúa có quyền năng” đến chỗ “để Chúa làm điều Ngài muốn trong đời mình”; từ việc “biết rằng Chúa yêu” đến chỗ “nghỉ yên trong tình yêu ấy ngay cả khi mình không cảm thấy gì”. Hỡi linh hồn, đừng nghĩ tín thác là điều dành cho những người yếu đuối, cho những người không biết chiến đấu, hay cho những ai muốn trốn tránh trách nhiệm. Không. Tín thác chân thật là một trong những hành vi mạnh mẽ nhất của ý chí. Tín thác không phải là buông xuôi; tín thác là trao mình. Không phải là thụ động; tín thác là hành động của một người nhận ra giới hạn của mình và chọn đặt đời mình vào tay Đấng không có giới hạn. Không phải là từ chối chiến đấu; tín thác là chiến đấu mà không ảo tưởng rằng chiến thắng đến từ sức riêng. Không phải là nhắm mắt trước thực tế; tín thác là nhìn thẳng vào thực tế, kể cả thực tế cay đắng nhất, rồi vẫn nói: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con biết Chúa ở đây; con chưa thấy lối ra, nhưng con biết Chúa có đường; con không biết ngày mai sẽ thế nào, nhưng con biết ngày mai của con vẫn ở trong tay Chúa.” Chính vì thế, nếu con muốn đi đến cùng trong cuộc chiến linh hồn, con phải tập tín thác không chỉ trong những giờ phút sốt sắng, mà trong tất cả mọi hoàn cảnh, nhất là trong những hoàn cảnh mà bản tính tự nhiên của con không muốn tín thác.
Trước hết, con phải hiểu thật rõ điều này: tín thác không phải là một cảm giác, nhưng là một quyết định của ý chí được soi sáng bởi đức tin. Đây là điểm mà rất nhiều linh hồn nhầm lẫn. Khi cầu nguyện thấy ngọt ngào, họ nghĩ mình đang tín thác. Khi lòng nhẹ nhàng, họ nghĩ mình đang tín thác. Khi mọi việc thuận lợi, họ dễ nói: “Chúa lo liệu hết.” Khi được người khác hiểu, được nâng đỡ, được công nhận, khi sức khỏe ổn định, khi công việc sinh hoa trái, khi những dự định đi đúng hướng, người ta dễ hát lên rằng Chúa tốt lành. Nhưng rồi một ngày khô khan đến, một hiểu lầm xảy ra, một thất bại xuất hiện, một lời chỉ trích chạm vào lòng tự ái, một người mình tin tưởng làm mình tổn thương, một cám dỗ kéo dài, một thói xấu tưởng đã thắng lại trở về, một dự định tốt đẹp bị phá vỡ, một lời cầu xin lâu ngày không được đáp lại theo cách mình mong muốn, lúc đó người ta mới thấy tín thác của mình sâu đến đâu. Tín thác thật không được đo bằng lúc biển lặng, nhưng bằng lúc sóng lớn. Không được đo bằng lúc thấy Chúa gần, nhưng bằng lúc Chúa dường như im lặng. Không được đo bằng lúc mình mạnh, nhưng bằng lúc mình ý thức rõ ràng rằng mình yếu. Có những lúc đức tín thác chỉ còn là một lời rất nhỏ được thốt lên trong lòng: “Lạy Chúa, con không cảm thấy gì, nhưng con vẫn tin.” Có những lúc đó là một quyết định gần như chống lại tất cả cảm xúc: “Lạy Chúa, mọi sự trong con đang nói rằng con bị bỏ rơi, nhưng đức tin bảo con rằng Chúa không bỏ con; vì thế, con chọn tin Chúa hơn là tin cảm xúc của con.” Có những lúc con thấy lòng mình đầy bóng tối, và đức tín thác không làm bóng tối biến mất ngay, nhưng nó thắp lên một ngọn đèn nhỏ đủ để con bước thêm một bước. Đừng coi thường bước nhỏ ấy. Có khi chính bước nhỏ ấy là một hành vi anh hùng trước mặt Chúa. Khi con cảm thấy mình chẳng có gì để dâng, mà vẫn dâng cho Chúa chính sự bất lực của mình, đó là tín thác. Khi con không còn lời cầu nguyện đẹp, mà chỉ còn biết lặp lại: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, đó là tín thác. Khi con không biết phải giải quyết tương lai thế nào, nhưng vẫn làm bổn phận hôm nay và để ngày mai trong tay Chúa, đó là tín thác. Khi con sa ngã và đáng lẽ theo thói quen cũ con sẽ tự ghét mình, bỏ cầu nguyện, trốn Chúa, thì lần này con lại đứng lên, đến trước mặt Ngài, thú nhận sự nghèo nàn của mình và xin được bắt đầu lại, đó là tín thác. Tín thác như thế rất tinh ròng, vì nó không sống nhờ cảm giác. Nó sống nhờ Thiên Chúa. Và linh hồn nào học được điều này thì sẽ dần dần được giải phóng khỏi ách nô lệ rất lớn là phải luôn cảm thấy tốt mới tin rằng mình đang đi đúng đường. Con không cần cảm thấy mình thánh thiện để đi về phía Chúa. Con không cần cảm thấy mình được yêu mới tin rằng mình được yêu. Con không cần cảm thấy mình đã được tha thứ mới tin rằng, sau khi thành tâm sám hối và trở về, lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội lỗi của mình. Đức tin không dựa trên cảm giác. Đức cậy không dựa trên sự thuận lợi. Tín thác không dựa trên việc mọi sự có diễn ra đúng như con muốn hay không. Nó dựa trên chính Thiên Chúa, Đấng không thay đổi. Cảm xúc của con hôm nay có thể lên, ngày mai có thể xuống. Ý kiến của người khác hôm nay có thể khen, ngày mai có thể chê. Công việc hôm nay có thể thành công, ngày mai có thể thất bại. Sức khỏe hôm nay có thể mạnh, ngày mai có thể yếu. Nhưng lòng thương xót Chúa không đổi theo những dao động ấy. Nếu con đặt bình an của mình trên những điều thay đổi, con sẽ luôn chao đảo. Nếu con đặt nó trên Thiên Chúa, con sẽ dần có một nền móng sâu hơn sóng gió.
Đức tín thác phải được đem vào những hoàn cảnh cụ thể nhất của cuộc chiến, chứ không thể chỉ là một tư tưởng chung chung. Khi con sa ngã, hãy tín thác. Đây thường là lúc khó tín thác nhất. Sau một lần sa ngã, linh hồn dễ rơi vào hai thái cực. Một là coi nhẹ: “Không sao đâu”, rồi không thật sự sám hối. Hai là tự nghiền nát mình: “Tôi tệ quá, tôi chẳng thay đổi được, Chúa chắc cũng chán tôi.” Cả hai đều không phải đường của lòng thương xót. Lòng thương xót không dung túng tội, nhưng cũng không nghiền nát tội nhân. Chúa muốn con ghét tội nhưng không ghét chính mình; đau vì đã xúc phạm đến Chúa nhưng không tuyệt vọng về tình yêu của Ngài; thành tâm sửa đổi nhưng không nghĩ rằng ơn cứu độ tùy thuộc vào việc con chưa bao giờ yếu đuối. Sau khi sa ngã, điều kẻ thù muốn nhất không phải chỉ là tội mà con vừa phạm. Nó còn muốn dùng chính tội ấy để kéo con xa Chúa thêm. Nó muốn con xấu hổ đến mức không dám cầu nguyện, thất vọng đến mức bỏ cuộc, tự ghét mình đến mức không còn nhìn lên thập giá. Đó là chiến thuật rất cũ. Vì vậy, sau khi nhận ra mình ngã, hãy lập tức làm điều kẻ thù không muốn: quay về với Chúa. Đừng nằm lại quá lâu trên mặt đất để phân tích mình đã tệ thế nào. Hãy đứng dậy. Nếu cần xưng tội, hãy xưng tội. Nếu cần xin lỗi ai, hãy xin lỗi. Nếu cần sửa lại một việc, hãy sửa. Nhưng trong tất cả những điều đó, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. Con không đến với Chúa vì con xứng đáng, nhưng vì Chúa là Đấng thương xót. Con không che giấu sự xấu xa của mình, con đem nó ra ánh sáng. Xin Chúa thanh luyện con.” Một linh hồn biết quay về mau mắn sau khi sa ngã thường làm ma quỷ thất vọng hơn một linh hồn chưa từng gặp cám dỗ lớn, bởi vì kẻ thù muốn dùng sa ngã làm cánh cửa dẫn đến tuyệt vọng, còn linh hồn lại biến chính nơi sa ngã thành bậc thang của khiêm nhường và tín thác. Điều này không có nghĩa rằng con được phép coi thường tội. Càng tín thác thật, con càng đau vì tội, bởi con nhận ra mình đã làm buồn lòng Đấng yêu mình vô cùng. Nhưng nỗi đau ấy không giết chết con; nó kéo con lại gần Chúa.
Khi bị cám dỗ mạnh, hãy tín thác. Đừng nghĩ rằng cám dỗ mạnh là dấu hiệu Chúa bỏ con. Nhiều khi cám dỗ chỉ cho thấy con đang ở trong chiến trường. Người không chiến đấu đôi khi chẳng cảm thấy trận chiến nào vì họ đã đầu hàng từ trước. Nhưng người muốn thuộc về Chúa sẽ thấy những lực kéo ngược lại. Trong cám dỗ, một trong những sai lầm nguy hiểm nhất là nhìn quá lâu vào sức mạnh của cám dỗ và nhìn quá ít vào quyền năng của Chúa. Con thấy sự thôi thúc mạnh quá, thấy thói quen cũ quá dai dẳng, thấy trí tưởng tượng quá hỗn loạn, thấy lòng mình quá yếu, rồi con kết luận: “Lần này chắc tôi thua.” Tại sao con kết luận như thế? Vì con đang cân đo trận chiến chỉ bằng sức của mình. Hãy đổi điểm nhìn. Nói với Chúa: “Lạy Chúa, con yếu thật. Con không phủ nhận điều đó. Nhưng con không một mình. Xin Chúa chiến đấu trong con.” Rồi con làm phần của con: tránh dịp tội, cắt đứt điều phải cắt, chuyển sự chú ý, cầu nguyện, tìm đến bí tích, tìm một người khôn ngoan nếu cần, đứng dậy nếu đã ngã. Tín thác không thay thế kỷ luật. Nó làm cho kỷ luật có linh hồn. Không có tín thác, con cố gắng trong căng thẳng. Có tín thác, con cố gắng trong khi biết rằng ơn Chúa đi trước và nâng đỡ con. Khi cám dỗ kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, tín thác có khi không nằm ở chỗ cám dỗ biến mất, mà ở chỗ con vẫn không bỏ Chúa. Có những chiến thắng lớn không phải là không còn bị tấn công, mà là giữa hàng ngàn lần bị tấn công, con vẫn chọn về phía Chúa. Đừng đo sự thánh thiện bằng mức độ ít cám dỗ. Hãy đo bằng mức độ trung thành giữa cám dỗ.
Khi khô khan trong cầu nguyện, hãy tín thác. Đây là trường học lớn của tình yêu tinh ròng. Có những ngày con quỳ trước Nhà Tạm mà lòng chẳng có gì. Những lời kinh vốn từng an ủi nay khô cứng. Tin Mừng đọc mà không thấy ánh sáng. Giờ chầu dài như một gánh nặng. Lúc đó bản tính sẽ hỏi: “Cầu nguyện để làm gì?” Nhưng chính lúc ấy con có cơ hội trả lời bằng đời sống: “Con ở đây không phải vì con được an ủi. Con ở đây vì Chúa là Chúa.” Đó là một sự trưởng thành lớn lao. Tình yêu chỉ tìm cảm giác sẽ bỏ đi khi không còn cảm giác. Tình yêu thật biết ở lại. Chúa có thể đang thanh luyện con khỏi việc tìm mình trong cầu nguyện. Trước đây con cầu nguyện và cảm thấy bình an, rồi con tưởng mình yêu Chúa; nhưng có khi con yêu chính cảm giác bình an ấy. Bây giờ Chúa để mọi sự khô đi, để hỏi con: “Con có còn ở với Ta không khi Ta không cho con cảm thấy gì?” Nếu con ở lại, tín thác đang lớn lên. Hãy nói đơn sơ: “Lạy Chúa, con chẳng biết nói gì. Con chẳng cảm thấy gì. Nhưng con tin Chúa đang ở đây. Con dâng Chúa sự nghèo nàn này.” Có những giờ cầu nguyện khô khan rất đẹp trước mặt Chúa, dù người cầu nguyện tưởng chúng vô ích. Đừng đo lời cầu nguyện bằng cảm giác. Hãy đo bằng lòng trung thành.
Khi phải mang một thập giá lâu dài, hãy tín thác. Có những đau khổ đi qua nhanh, nhưng cũng có những thập giá không chịu biến mất. Một giới hạn thân xác. Một nỗi cô đơn. Một vết thương trong tương quan. Một trách nhiệm nặng. Một công việc phải chịu đựng nhiều năm. Một người khó sống cùng. Một thất bại để lại hậu quả lâu dài. Một ước mong tốt đẹp không được thực hiện. Một lời cầu xin dường như không có câu trả lời. Chính những thập giá kéo dài thường làm mòn đức cậy hơn những biến cố lớn nhưng ngắn. Con có thể chịu đựng một cơn đau vài ngày, nhưng rất khó chịu cùng một đau đớn hàng năm. Tín thác lúc ấy không có nghĩa là con phải thích đau khổ. Chúa không đòi con giả vờ rằng thập giá dễ chịu. Con có quyền thưa: “Lạy Chúa, con mệt.” Chính Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu đã không phủ nhận nỗi kinh hoàng của chén đắng. Nhưng sau cùng Ngài nói: “Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Đó là đỉnh cao của tín thác. Khi không thể thay đổi hoàn cảnh, con vẫn có thể thay đổi cách con trao nó cho Chúa. Khi không hiểu ý nghĩa của thập giá, con có thể nói: “Con chưa hiểu, nhưng con tin Chúa không lãng phí một giọt nước mắt nào.” Có những điều ở đời này con sẽ không bao giờ hiểu đầy đủ. Đức tín thác không đòi con phải giải thích được mọi sự. Nó chỉ mời con tin rằng lòng thương xót Chúa lớn hơn điều con không hiểu.
Khi nhìn vào quá khứ đầy lỗi lầm, hãy tín thác. Có những linh hồn bị quá khứ đuổi theo. Những năm tháng đã mất. Những lựa chọn sai. Những người mình đã làm tổn thương. Những cơ hội đã bỏ qua. Những sa ngã lặp đi lặp lại. Những lời nói không thể rút lại. Những điều mà nếu được sống lại, mình sẽ làm khác. Họ mang tất cả như một bản án. Nhưng hỡi linh hồn, hãy nhớ: sám hối là nhìn quá khứ dưới ánh sáng của lòng thương xót; tuyệt vọng là nhìn quá khứ mà không có Chúa. Chúa không gọi con phủ nhận quá khứ. Ngài gọi con trao quá khứ cho Ngài. Có những hậu quả con phải chịu, có những điều phải sửa, có những trách nhiệm phải gánh. Nhưng không có lỗi lầm nào nằm ngoài khả năng cứu chuộc của Thiên Chúa khi con thật sự trở về. Cây thập giá đã được cắm chính giữa lịch sử tội lỗi của nhân loại để nói rằng Thiên Chúa có thể làm cho nơi tưởng là thất bại cuối cùng trở thành nơi khai sinh ơn cứu độ. Nếu Ngài làm được điều ấy nơi Thập Giá, Ngài cũng có thể đi vào những vùng tối của đời con. Đừng nói: “Đời tôi đã hỏng.” Khi còn đang sống, con vẫn đang được Chúa viết tiếp. Và ngay cả những trang đầy nước mắt, nếu đặt trong tay Chúa, vẫn có thể trở thành những trang khiêm nhường, cảm thông, và lòng thương xót.
Khi tương lai làm con lo sợ, hãy tín thác. Con người rất dễ sống trong những điều chưa xảy ra. Nếu mai bệnh thì sao? Nếu thất bại thì sao? Nếu bị bỏ rơi thì sao? Nếu công việc không thành thì sao? Nếu người kia thay đổi thì sao? Nếu tuổi già đến thì sao? Nếu mình không đủ sức thì sao? Hỡi linh hồn, biết bao nhiêu năng lượng bị đốt cháy bởi những thập giá tưởng tượng! Chúa chỉ cho con ơn để sống thập giá hôm nay. Ngài chưa hứa cho con cảm thấy sức mạnh của ngày mai ngay hôm nay. Vì thế, khi con cố sống nỗi đau của mười năm sau trong một buổi tối hôm nay, đương nhiên con sẽ thấy quá sức. Tín thác là đưa tương lai về lại đúng chỗ của nó: trong tay Chúa. Con vẫn phải chuẩn bị điều cần chuẩn bị, vẫn phải khôn ngoan, vẫn phải làm trách nhiệm; nhưng sau khi đã làm phần mình, hãy dừng lại. Đừng đòi mình kiểm soát những gì không thuộc về mình. Nhiều lo âu không đến từ trách nhiệm, mà đến từ ảo tưởng kiểm soát. Con muốn biết trước mọi sự, đảm bảo mọi kết quả, ngăn mọi đau khổ, dự phòng mọi rủi ro. Nhưng cuộc đời không trao cho con quyền ấy. Chỉ có Thiên Chúa là Chúa của ngày mai. Khi con chịu buông tay khỏi điều không thể nắm, bình an bắt đầu trở lại.
Có những trở ngại sâu xa khiến linh hồn khó tín thác. Trở ngại đầu tiên là tự ái. Nghe có vẻ lạ, nhưng người tự ái thường rất khó đón nhận lòng thương xót, bởi lòng thương xót đòi họ phải thừa nhận rằng mình cần được cứu. Con người muốn tự cứu mình, muốn đến trước mặt Chúa với một hồ sơ đẹp, muốn có thể nói: “Con đã làm được.” Khi thất bại, họ đau không chỉ vì xúc phạm đến Chúa, mà còn vì hình ảnh đẹp về bản thân đã sụp đổ. Họ không chịu nổi việc mình yếu đến thế. Có khi điều làm con đau nhất sau một lần sa ngã không phải là tình yêu đối với Chúa bị tổn thương, mà là sự thật rằng con không tốt như con tưởng. Nếu con nhận ra điều ấy, đừng sợ. Hãy coi đó là một ân sủng. Chúa đang phá vỡ tượng thần về chính mình để con có thể sống bằng lòng thương xót. Người khiêm nhường không ngạc nhiên quá mức vì mình yếu. Họ đau vì tội, nhưng họ biết mình cần Chúa. Vì thế họ chạy đến Chúa nhanh hơn.
Trở ngại thứ hai là nhìn quá nhiều vào bản thân. Có những người sống đời thiêng liêng mà cả ngày chỉ kiểm tra mình: hôm nay sốt sắng không, có tiến bộ không, có cảm thấy yêu Chúa không, tại sao vẫn còn khuyết điểm, người khác nghĩ gì, mình đang ở bậc nào. Họ tưởng đó là xét mình, nhưng có khi đó chỉ là một hình thức quy hướng về mình. Xét mình là cần thiết, nhưng xét mình phải dẫn đến Chúa. Nếu càng xét càng quay cuồng trong mình, con đang nhìn sai chỗ. Một người leo núi mà cứ nhìn mãi vào chân mình sẽ mất phương hướng. Hãy nhìn lên. Hãy nhìn Chúa Giêsu. Hãy nhìn lòng trung thành của Ngài hơn là sự thất thường của con. Hãy nhìn vết thương cạnh sườn Ngài hơn là vết thương tự ái của con. Hãy nhìn lời hứa của Ngài hơn là những cảm giác đổi thay trong con. Tín thác lớn lên khi ánh mắt chuyển từ “tôi thế nào?” sang “Chúa là ai?”
Trở ngại thứ ba là muốn cảm thấy được tha thứ trước khi chịu tin rằng mình được tha thứ. Đây là một chiếc bẫy. Sau khi đã thành tâm sám hối và lãnh nhận ơn tha thứ, con vẫn có thể còn cảm giác nặng nề. Cảm xúc không luôn đi kịp với ân sủng. Vết thương tâm lý có thể còn, ký ức có thể còn, sự xấu hổ có thể còn. Nhưng đức tin phải đi trước cảm giác. Con không thể nói: “Khi nào con cảm thấy nhẹ, con mới tin Chúa tha.” Như thế con đặt cảm giác làm tiêu chuẩn cao hơn lời của Chúa. Hãy làm ngược lại: “Con tin Chúa tha, dù lòng con còn chưa cảm được điều đó. Xin cảm xúc của con dần dần được chữa lành trong ánh sáng của sự thật.” Có những ngày con phải sống bằng đức tin trần trụi như thế.
Trở ngại thứ tư là giữ lại một phần đời mình ngoài lòng thương xót. Con dâng cho Chúa những điều dễ dâng, nhưng giữ lại một mối gắn bó, một ý riêng, một mối oán, một kế hoạch, một tham vọng, một thói quen bí mật. Con nói tín thác nhưng vẫn có một căn phòng khóa kín: “Chúa có thể vào mọi nơi, trừ chỗ này.” Tín thác thật ngày càng dẫn đến việc mở hết các cánh cửa. Không phải một lần là xong. Có khi Chúa đưa con đi từng phòng trong ngôi nhà nội tâm. Hôm nay mở một chỗ, ngày mai mở một chỗ khác. Nhưng hướng đi phải là toàn vẹn: “Lạy Chúa, tất cả là của Chúa.” Vì nơi nào con không chịu trao cho Chúa, nơi đó thường trở thành nơi con bị trói.
Trở ngại thứ năm là đo lòng thương xót của Chúa bằng cách suy nghĩ của con người. Con đã từng bị người khác hết kiên nhẫn, nên con nghĩ Chúa cũng hết kiên nhẫn. Con đã từng bị người khác giữ lỗi, nên con nghĩ Chúa cũng ghi sổ. Con đã từng thấy con người tha bằng môi nhưng vẫn nhớ trong lòng, nên con phóng chiếu cách ấy lên Thiên Chúa. Nhưng Chúa không phải là một con người phóng đại. Lòng thương xót của Ngài không phải là lòng thương xót của chúng ta nhân lên nhiều lần. Nó thuộc về chính bản tính vô biên của Thiên Chúa. Hãy để Tin Mừng sửa lại hình ảnh của con về Chúa. Hãy nhìn người cha chạy ra ôm đứa con hoang đàng. Hãy nhìn Chúa Giêsu nói với người phụ nữ bị kết án. Hãy nhìn Ngài quay sang người trộm lành trong giờ cuối. Hãy nhìn Ngài phục hồi Phêrô sau ba lần chối Thầy. Hãy nhìn Saolô, kẻ bách hại, được biến thành Phaolô, vị tông đồ. Tất cả nói với con một điều: Thiên Chúa không bị giới hạn bởi quá khứ của con. Điều Ngài cần là một cánh cửa mở.
Vì thế, đức tín thác phải được thực hành mỗi ngày. Đừng chờ khi gặp biến cố lớn mới tập tín thác. Lúc bão đến mới học bơi thì quá muộn. Hãy tập trong những việc nhỏ. Buổi sáng vừa thức dậy, trước khi điện thoại, công việc, tin tức và bao lo toan bước vào tâm trí, hãy thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. Ngày hôm nay là của Chúa. Con không biết điều gì sẽ đến, nhưng con muốn đón nhận mọi sự với Chúa.” Chỉ một phút như thế cũng có thể đặt lại hướng cho cả ngày. Khi một kế hoạch bị thay đổi, thay vì bực tức ngay, hãy nói: “Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa.” Khi một người làm con khó chịu, trước khi phản ứng, hãy nói thầm: “Lạy Chúa, xin thương xót con và người này.” Khi một tin xấu đến, trước khi để trí tưởng tượng chạy xa, hãy dừng lại: “Lạy Chúa, con chưa biết phải làm gì, nhưng con biết Chúa ở đây.” Khi một công việc thành công, cũng hãy tín thác: “Lạy Chúa, tất cả là ơn Chúa; xin đừng để thành công làm con dựa vào mình.” Tín thác không chỉ dành cho lúc thất bại. Thành công cũng cần tín thác, vì thành công dễ làm người ta tưởng mình là chủ.
Hãy tập biến mỗi lo lắng thành một lời cầu nguyện. Lo lắng thường là năng lượng của linh hồn bị mắc kẹt trong việc suy nghĩ mà không trao phó. Mỗi khi nhận ra mình đang quay vòng trong một vấn đề, hãy hỏi: “Tôi có thể làm gì cụ thể?” Nếu có, hãy làm. Nếu chưa thể làm gì, hãy cầu nguyện và trao lại. Đừng tiếp tục nhai đi nhai lại điều mình không thể giải quyết vào lúc ấy. Hãy nói: “Lạy Chúa, việc này lớn hơn con. Con đặt nó trong tay Chúa. Khi đến lúc con phải hành động, xin soi sáng cho con. Còn bây giờ, xin cho con làm tốt bổn phận trước mắt.” Đây không phải là trốn tránh, nhưng là kỷ luật nội tâm.
Hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu là khuôn mặt của lòng thương xót. Đừng để lòng thương xót chỉ là một khái niệm trừu tượng. Hãy nhìn Ngài. Nhìn đôi mắt Ngài khi gặp người tội lỗi. Nhìn bàn tay Ngài chạm đến người phong cùi. Nhìn Ngài dừng lại trước tiếng kêu của người mù. Nhìn Ngài khóc trước mộ Lazarô. Nhìn Ngài cúi xuống rửa chân các môn đệ, kể cả những người vài giờ sau sẽ bỏ Ngài. Nhìn Ngài trên thập giá cầu xin cho những kẻ đóng đinh mình. Khi con chiêm ngắm lâu, hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa trong con sẽ dần được chữa lành. Có nhiều người sợ Chúa không phải vì Tin Mừng dạy họ sợ, nhưng vì họ đã mang vào tương quan với Chúa những kinh nghiệm cũ về quyền lực, phán xét và khước từ. Hãy để Chúa Giêsu dạy con lại Chúa Cha là ai.
Hãy đọc đi đọc lại những trang Tin Mừng về những con người được lòng thương xót chạm tới. Đừng đọc như chuyện của người khác. Hãy đứng vào trong đó. Con là người con hoang đàng đang trở về. Con là Phêrô đang nghe câu hỏi: “Con có yêu Thầy không?” sau khi đã chối Thầy. Con là người trộm lành chỉ còn vài giờ để sống nhưng dám nói: “Xin nhớ đến tôi.” Con là người phụ nữ không còn lời biện hộ nhưng được Chúa mở một tương lai mới. Con là người thu thuế không dám ngước mắt lên, chỉ biết đấm ngực xin thương xót. Khi đọc như thế, Tin Mừng không còn là quá khứ. Nó trở thành hiện tại của đời con.
Hãy xin Đức Maria dạy con tín thác. Mẹ đã tín thác không chỉ lúc truyền tin, nhưng cả khi không hiểu mọi sự sẽ diễn ra thế nào. Mẹ tín thác khi phải lên đường về Bêlem, khi không tìm được chỗ trọ, khi phải sinh Con trong cảnh nghèo, khi phải bồng Con trốn sang Ai Cập, khi ba ngày không tìm thấy Con, khi sống những năm âm thầm tại Nazareth, khi đứng dưới chân thập giá và nhìn thấy mọi hy vọng theo cách hiểu tự nhiên dường như sụp đổ. Tín thác của Mẹ không ồn ào. Đó là sự đứng vững. Có những lúc đức tin cao nhất không phải làm điều lớn lao, nhưng là đứng ở chỗ Chúa muốn mình đứng. Xin Mẹ dạy con kiểu tín thác ấy: không đòi hiểu trước, không đòi thấy kết quả ngay, không bỏ cuộc khi mọi sự đi ngược dự tính.
Hoa trái của một đời sống tín thác sẽ xuất hiện chậm nhưng rất thật. Trước hết, con sẽ bớt sợ sự yếu đuối của mình. Không phải vì con coi thường yếu đuối, nhưng vì con biết yếu đuối không phải lời cuối. Trước đây, mỗi khuyết điểm làm con hoảng hốt; bây giờ nó làm con khiêm nhường. Trước đây, mỗi thất bại làm con nghi ngờ tất cả; bây giờ nó nhắc con rằng mình cần Chúa. Đây là một tự do lớn. Người không còn sợ nhìn thấy mình yếu sẽ có thể sửa mình tốt hơn, vì họ không cần bảo vệ một hình ảnh giả về bản thân. Thứ hai, con sẽ bớt dao động theo cảm xúc. Con vẫn có cảm xúc, vẫn vui buồn, nhưng cảm xúc không còn là ông chủ. Có ngày lòng sáng, con cảm tạ. Có ngày lòng tối, con vẫn trung thành. Đời sống thiêng liêng trở nên sâu hơn vì nó không phụ thuộc vào thời tiết nội tâm. Thứ ba, con sẽ bớt muốn kiểm soát người khác và hoàn cảnh. Khi tin Chúa hơn, con không còn cần mọi người phải cư xử theo ý mình để mình bình an. Con có thể làm điều đúng mà không cần kiểm soát kết quả. Con có thể nói sự thật mà không cần ép người khác hiểu ngay. Con có thể yêu mà không cần được đáp lại theo đúng cách mình mong. Con có thể gieo và để Chúa lo mùa gặt.
Thứ tư, con sẽ có một sự bình an sâu ngay giữa chiến đấu. Đừng hiểu bình an này như không còn vấn đề. Có thể vấn đề vẫn còn. Cám dỗ vẫn còn. Công việc vẫn nặng. Người khác vẫn khó. Nhưng ở sâu bên dưới, có một điểm tựa. Giống như đáy biển vẫn yên dù mặt biển có sóng. Linh hồn tín thác dần có một nơi sâu bên trong mà những biến cố bên ngoài không dễ chạm tới. Nơi đó có lời thưa: “Chúa ở đây.” Và chỉ thế thôi đã đủ làm thay đổi mọi sự.
Thứ năm, con sẽ trở nên dịu dàng hơn với người khác. Ai thật sự biết mình sống nhờ lòng thương xót sẽ bớt khắt khe. Không phải dung túng điều sai, nhưng không còn vội kết án con người. Con nhớ rằng mình cũng đã được nhẫn nại với biết bao lần. Con bắt đầu nhìn người khác không chỉ như họ đang là, nhưng như một người mà Chúa vẫn đang làm việc. Người tín thác vào lòng thương xót dễ trở thành người mang lòng thương xót đến cho người khác, vì họ không còn loan báo từ lý thuyết, mà từ kinh nghiệm.
Và sau cùng, tín thác sẽ làm con loan báo Tin Mừng cách đáng tin cậy hơn. Người ta không cần một người nói về lòng thương xót bằng những câu thật hay nhưng sống trong lo âu, cay đắng, xét đoán và kiểm soát. Thế giới cần gặp những con người đã đi qua những thất bại mà vẫn có hy vọng, đã nhìn thấy sự yếu đuối của mình mà không tuyệt vọng, đã mang thập giá mà không trở nên cay nghiệt, đã bị tổn thương nhưng không để lòng mình đóng kín. Một người như thế, chỉ bằng cách hiện diện, đã trở thành chứng nhân rằng lòng thương xót là có thật.
Hỡi linh hồn, có lẽ con đang nghĩ: “Nhưng tôi tín thác yếu lắm.” Không sao. Chúa không đòi con bắt đầu bằng một đức tín thác hoàn hảo. Hãy bắt đầu bằng điều con có. Một hạt cải cũng đủ để khởi đầu. Tín thác lớn lên bằng chính việc tín thác. Mỗi lần con lo mà vẫn chọn trao, nó lớn lên. Mỗi lần con ngã mà vẫn trở về, nó lớn lên. Mỗi lần không hiểu mà vẫn trung thành, nó lớn lên. Mỗi lần bị hiểu lầm mà không cay đắng, nó lớn lên. Mỗi lần phải chờ mà không bỏ cầu nguyện, nó lớn lên. Mỗi lần con nói: “Lạy Chúa, con không làm được, nhưng Chúa làm được”, nó lớn lên. Đừng chờ một ngày nào đó con sẽ trở thành người hoàn toàn tín thác rồi mới sống tín thác. Không. Chính những hành vi nhỏ hôm nay đang làm nên con người ấy.
Cũng đừng nghĩ rằng tín thác sẽ làm cuộc đời con tránh khỏi thập giá. Có khi trái lại, Chúa để con đi sâu hơn vào mầu nhiệm thập giá vì Ngài muốn đưa con vào một tình yêu sâu hơn. Nhưng khác biệt là: trước đây con mang thập giá như một người cô độc; bây giờ con mang với Chúa. Trước đây con hỏi: “Tại sao chuyện này xảy ra cho tôi?”; bây giờ con có thể dần hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con yêu thế nào trong hoàn cảnh này?” Trước đây con chỉ muốn thoát; bây giờ, dù vẫn xin được giải thoát nếu đó là ý Chúa, con còn muốn được biến đổi. Đây là sự trưởng thành rất lớn của đức tin: từ chỗ chỉ xin Chúa đổi hoàn cảnh đến chỗ xin Chúa đổi lòng mình trong hoàn cảnh.
Có lúc con sẽ thấy mình phải tín thác từng giờ, thậm chí từng phút. Đừng xấu hổ. Có những ngày chỉ cần sống từng bước. “Bây giờ con tín thác.” Một giờ sau lo âu quay lại: “Lạy Chúa, con lại trao.” Năm phút sau nó lại trở về: “Con lại trao.” Có thể phải trao cùng một điều một trăm lần. Không phải vì lần trước vô ích, mà vì lòng con chưa quen tự do. Từng lần như thế là một nhịp tập luyện. Giống như một đứa trẻ học bước, nó ngã nhiều lần nhưng mỗi lần đứng lên cơ thể học thêm một chút về thăng bằng. Linh hồn cũng vậy. Hãy kiên nhẫn với mình.
Và nếu có ngày con không thể nói gì ngoài câu: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, thì cứ nói câu ấy. Nói chậm. Nói thật. Có lúc hãy đặt tay lên ngực và nói. Có lúc hãy nói trước Thánh Thể. Có lúc hãy nói khi đi ngoài đường. Có lúc hãy nói trong đêm tối khi không ngủ được. Có lúc hãy nói ngay sau một cuộc điện thoại làm con tổn thương. Có lúc hãy nói trước khi bước vào một công việc khó. Có lúc hãy nói trong bệnh tật. Có lúc hãy nói khi vui mừng để nhớ rằng niềm vui cũng là quà. Hãy để lời ấy thấm xuống từ môi vào tâm trí, từ tâm trí vào ý chí, từ ý chí vào tận những vùng sâu kín nhất đang sợ hãi trong con. “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Không phải vì con hiểu hết. Không phải vì con mạnh. Không phải vì con chắc mọi sự sẽ xảy ra theo ý con. Nhưng vì Chúa là Chúa. Vì Chúa đã yêu con trước. Vì Chúa đã chết cho con. Vì Chúa đã sống lại. Vì lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội con, lớn hơn nỗi sợ của con, lớn hơn quá khứ của con, lớn hơn tương lai chưa biết, lớn hơn mọi cám dỗ và mọi bóng tối.
Hỡi linh hồn, rồi sẽ đến một ngày tất cả những gì con đang bám vào ở đời này phải buông. Sức khỏe sẽ buông. Công việc sẽ buông. Danh tiếng sẽ buông. Những mối tương quan sẽ đổi cách hiện diện. Thân xác cũng phải buông. Cuối cùng, điều còn lại chính là hành vi tín thác trọn vẹn: trao linh hồn mình vào tay Thiên Chúa. Vì thế, mỗi ngày sống tín thác hôm nay chính là chuẩn bị cho hành vi cuối cùng ấy. Mỗi lần con nói “con tín thác vào Chúa” trong một việc nhỏ, con đang học nói lời ấy trong giờ lớn nhất. Và người đã tập trao mình một đời sẽ dễ trao mình trong giờ chết hơn người chỉ muốn kiểm soát tất cả.
Vậy con hãy sống sao cho lời tín thác không chỉ là một câu kinh, nhưng là một lối sống. Khi được khen, tín thác. Khi bị chê, tín thác. Khi khỏe, tín thác. Khi yếu, tín thác. Khi cầu nguyện sốt sắng, tín thác. Khi khô khan, tín thác. Khi thắng cám dỗ, tín thác để khỏi kiêu ngạo. Khi ngã, tín thác để khỏi tuyệt vọng. Khi được hiểu, cảm tạ và tín thác. Khi bị hiểu lầm, đau nhưng vẫn tín thác. Khi Chúa mở cửa, bước đi trong tín thác. Khi Chúa đóng cửa, đứng lại trong tín thác. Khi biết phải làm gì, làm trong tín thác. Khi không biết phải làm gì, chờ trong tín thác. Khi tương lai sáng, tín thác. Khi tương lai mờ, càng tín thác. Khi lòng con nói “không thể”, hãy để đức tin nói: “Với Chúa, con sẽ bước thêm một bước.”
Đừng chờ đến khi con “đủ tốt” mới tín thác. Chính vì con chưa đủ tốt, con càng cần tín thác. Đừng chờ đến khi hết tội lỗi mới đến với lòng thương xót. Chính vì con là tội nhân mà lòng thương xót được ban. Đừng chờ cảm xúc thuận lợi. Đừng chờ mọi câu hỏi được trả lời. Đừng chờ mọi vết thương lành. Hãy bắt đầu ở đúng nơi con đang đứng. Chúa không yêu một phiên bản tương lai lý tưởng của con. Ngài đang yêu con trong giây phút này và đang gọi con bước ra khỏi bóng tối bằng cách đặt tay vào tay Ngài.
Nếu con yếu, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con sợ, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con vừa sa ngã, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con đang phải chờ đợi, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con không hiểu điều đang xảy ra, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con đã cầu nguyện nhiều năm mà chưa thấy điều mình xin, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Nếu con thấy đời mình chỉ còn toàn mảnh vụn, hãy đem những mảnh vụn ấy cho Chúa và nói: “Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa. Xin Chúa làm điều con không thể làm.”
Một ngày kia, con sẽ nhận ra rằng những giờ phút đẹp nhất của đời thiêng liêng không nhất thiết là những lúc con cảm thấy Chúa gần nhất, nhưng có khi là những lúc con không thấy gì mà vẫn ở lại; không hiểu gì mà vẫn tin; đau mà vẫn yêu; ngã mà vẫn trở về; sợ mà vẫn trao mình. Đó là những giờ tín thác tinh ròng. Và chính trong những giờ ấy, lòng thương xót có thể đang làm trong con những việc sâu xa hơn tất cả những gì con cảm nhận.
Hỡi linh hồn, hãy để câu này đi cùng con từ sáng đến tối, từ tuổi trẻ đến tuổi già, từ ngày bình yên đến ngày thử thách, từ lúc bắt đầu cuộc chiến đến hơi thở cuối cùng: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi không còn gì để nói, hãy nói câu ấy. Khi có quá nhiều điều để nói, hãy gom tất cả vào câu ấy. Khi con không biết cầu nguyện thế nào, hãy cầu nguyện bằng câu ấy. Khi con chiến thắng, hãy tạ ơn bằng câu ấy. Khi con thất bại, hãy trở về bằng câu ấy. Khi con đứng trước thập giá, hãy nói câu ấy. Khi con đứng trước Nhà Tạm, hãy nói câu ấy. Khi con đứng trước những điều con không thể thay đổi, hãy nói câu ấy. Và một ngày, khi con đứng trước cánh cửa cuối cùng của đời này, xin cho câu ấy vẫn ở trên môi con, không như một công thức, nhưng như kết tinh của cả một cuộc đời đã học cách trao mình:
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
Con tín thác vào Chúa khi con mạnh và khi con yếu.
Con tín thác vào Chúa khi con hiểu và khi con không hiểu.
Con tín thác vào Chúa khi con được an ủi và khi con khô khan.
Con tín thác vào Chúa khi con thắng và khi con ngã.
Con tín thác vào Chúa với quá khứ của con, với hiện tại của con và với tất cả tương lai của con.
Con tín thác vào Chúa với những điều con có thể sửa và cả những điều con không còn sửa được.
Con tín thác vào Chúa với những người con yêu và những người làm con đau.
Con tín thác vào Chúa trong công việc, trong sứ vụ, trong cô đơn, trong bệnh tật, trong tuổi già và trong giờ chết.
Con không tín thác vì con xứng đáng, nhưng vì Chúa là Đấng thương xót.
Con không tín thác vì con mạnh, nhưng vì Chúa mạnh.
Con không tín thác vì đường đi sáng rõ, nhưng vì Chúa là đường.
Con không tín thác vì đời con không có thập giá, nhưng vì trên mọi thập giá, Chúa đã đi trước con.
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
Con tín thác vào Chúa.
Con tín thác vào Chúa.
Và xin cho lời tín thác ấy trở thành hơi thở cuối cùng của cuộc chiến linh hồn, để khi mọi khí giới phải buông xuống, khi mọi cố gắng phải dừng lại, khi con không còn có thể làm gì nữa, con vẫn còn có thể làm điều đẹp nhất: trao mình hoàn toàn vào vòng tay Lòng Chúa Thương Xót.
Amen.
CHƯƠNG 37
TRỞ THÀNH KHÍ CỤ CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
Hỡi linh hồn đã được mời gọi bước vào đại dương vô tận của Lòng Chúa Thương Xót, đã học biết rằng mình không thể chiến đấu bằng sức riêng, đã nhiều lần nếm cảm sự yếu đuối của chính mình, đã nhiều lần ngã xuống rồi lại được bàn tay Chúa nâng lên, đã bắt đầu hiểu rằng điều giữ mình đứng vững không phải là công trạng, tài năng hay sự mạnh mẽ của bản thân nhưng chính là tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa, giờ đây con cần tiến thêm một bước nữa, một bước rất quan trọng, nếu không muốn đời sống thiêng liêng của con chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm sự bình an và cứu độ cho riêng mình: con phải để cho lòng thương xót mà mình đã lãnh nhận trở thành lòng thương xót được trao ban; con phải để Chúa biến chính đời sống con thành một khí cụ của Lòng Chúa Thương Xót giữa thế giới. Đây không phải là một việc phụ thêm dành cho những linh hồn đạo đức hơn, cũng không phải là một hình thức tông đồ đặc biệt chỉ dành cho một số người có khả năng phục vụ. Đây là hệ quả tất yếu của việc đã được Thiên Chúa thương xót. Nước không thể chảy vào một dòng sông rồi dừng lại mà không trở thành ao tù. Ánh sáng không được thắp lên để giấu dưới đáy thùng. Tình yêu của Thiên Chúa không đi vào linh hồn chỉ để linh hồn giữ riêng cho mình như một kho báu khép kín. Lòng thương xót có bản tính của sự tuôn tràn. Nó đến từ Trái Tim Thiên Chúa, chạm đến trái tim con người, rồi từ trái tim ấy lại muốn tìm đường đi tới những trái tim khác. Vì thế, người thực sự biết mình đã được thương xót sẽ dần dần trở thành người có lòng thương xót. Người thật sự biết mình đã được tha thứ sẽ học tha thứ. Người thật sự biết mình đã được kiên nhẫn chờ đợi sẽ học kiên nhẫn với người khác. Người đã từng được Chúa tìm kiếm trong những ngày lạc xa sẽ không dễ dàng bỏ rơi một người đang lạc đường. Người đã từng khóc dưới chân Chúa vì những thất bại của mình sẽ không vội cười nhạo hay kết án thất bại của anh chị em. Người biết mình sống được đến hôm nay là nhờ ân sủng sẽ không còn đứng trên cao để nhìn người khác bằng ánh mắt khinh thường. Và đây chính là một trong những dấu chỉ rõ nhất cho thấy Lòng Chúa Thương Xót đã thực sự đi vào linh hồn: nó làm thay đổi cách ta nhìn người khác.
1. NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC THƯƠNG XÓT PHẢI TRỞ THÀNH NGƯỜI BIẾT THƯƠNG XÓT
Hỡi linh hồn, hãy nhớ lại dụ ngôn người đầy tớ mắc nợ trong Tin Mừng. Một món nợ khổng lồ mà người ấy không thể nào trả nổi đã được chủ tha hoàn toàn. Anh ta bước ra khỏi nhà chủ như một con người vừa được cứu khỏi vực thẳm. Đáng lẽ ký ức về món nợ được tha ấy phải làm trái tim anh trở nên mềm mại. Đáng lẽ mỗi khi gặp một người mắc nợ mình, anh phải nhớ đến giây phút mình quỳ dưới chân chủ, nhớ đến tiếng van xin của mình, nhớ đến sự bất lực của mình, nhớ đến lòng quảng đại đã cứu mình khỏi tai họa. Nhưng thật đáng sợ, anh vừa ra khỏi nhà chủ đã túm lấy cổ người bạn chỉ mắc mình một món nợ rất nhỏ. Anh quên quá nhanh mình là ai. Anh quên mình vừa được tha. Anh quên món nợ lớn của mình và chỉ còn nhìn thấy món nợ nhỏ của người khác. Đó không chỉ là câu chuyện của một người đầy tớ năm xưa. Đó có thể là câu chuyện của mỗi chúng ta. Ta có thể quỳ trước Chúa mỗi ngày và thưa: “Xin tha nợ chúng con”, rồi vài phút sau lại đóng chặt lòng trước một người đã làm mình tổn thương. Ta có thể bước ra khỏi tòa giải tội với tâm hồn thanh sạch vì đã được tha những điều mà chỉ Chúa và ta biết, rồi lại dùng một lỗi lầm nhỏ của anh em để nói về họ suốt nhiều ngày. Ta có thể tin rằng Chúa phải kiên nhẫn với sự yếu đuối của mình, nhưng lại không chấp nhận sự yếu đuối nơi người khác. Ta muốn Chúa hiểu hoàn cảnh của ta, biết những áp lực ta đang chịu, thông cảm cho những lúc ta mệt mỏi, nhưng khi một người khác cư xử không tốt với ta, ta lại không muốn biết phía sau hành vi ấy có thể là một nỗi đau, một hoàn cảnh, một sự kiệt sức hay một cuộc chiến mà ta không nhìn thấy. Chính vì vậy, cuộc chiến để trở thành khí cụ của lòng thương xót trước hết là cuộc chiến chống lại sự mau quên ân sủng. Khi linh hồn quên mình đã được tha thế nào, nó trở nên khắc nghiệt. Khi linh hồn quên mình yếu đuối thế nào, nó trở nên kiêu căng. Khi linh hồn quên mình từng được nâng dậy bao nhiêu lần, nó dễ dàng đạp xuống người đang nằm dưới đất.
Hãy tự hỏi mình thật sâu: tại sao ta thường dễ thương những người tốt với ta nhưng lại rất khó thương những người làm ta đau? Tại sao ta dễ kiên nhẫn với một người ta quý mến nhưng lại thấy một lỗi rất nhỏ của người ta không ưa cũng trở nên không thể chịu nổi? Tại sao ta có thể giải thích rất đẹp cho lỗi lầm của mình, nhưng lại giải thích theo hướng xấu nhất khi người khác phạm cùng một lỗi? Câu trả lời thường nằm ở sự tự ái. Ta không chỉ muốn điều tốt. Ta còn muốn cái tôi của mình được tôn trọng, được nhìn nhận, được đối xử theo cách ta cho là xứng đáng. Khi điều ấy bị đụng chạm, lòng thương xót bỗng trở nên khó khăn. Vì thế, muốn làm khí cụ của Lòng Chúa Thương Xót, con không chỉ cần có những cảm xúc tốt đẹp. Con cần để Chúa đánh vào chính cái tôi sâu kín đang đòi hỏi mọi người phải cư xử theo ý mình. Có những lúc thương xót là một sự dịu dàng tự nhiên. Nhưng có những lúc thương xót là một cuộc đóng đinh. Nó buộc ta phải câm miệng khi muốn trả đũa. Nó buộc ta phải cầu nguyện cho người mà trong lòng ta chưa muốn nhìn mặt. Nó buộc ta phải làm điều tốt cho người không cảm ơn. Nó buộc ta phải từ bỏ niềm vui độc ác khi thấy người từng làm ta đau nay gặp thất bại. Nó buộc ta phải cầu xin Chúa chữa lành một trái tim mà chính ta đang muốn nó bị trừng phạt. Đó mới là lúc lòng thương xót trở thành thật.
Người đã được thương xót không có nghĩa là người không còn biết phân biệt đúng sai. Trái lại, đôi khi vì đã được Chúa thương xót, họ nhìn tội lỗi nghiêm túc hơn, bởi họ biết tội có sức tàn phá con người đến mức nào. Nhưng họ không còn đồng hóa con người với lỗi lầm của người ấy. Họ có thể nói: “Điều anh làm là sai”, nhưng họ không nói trong lòng: “Anh là đồ bỏ đi.” Họ có thể buồn vì một người đang đi sai đường, nhưng không lấy sự sa ngã của người ấy làm lý do để khinh thường. Họ có thể cần giữ khoảng cách để tránh một điều xấu, nhưng khoảng cách ấy không chứa độc tố của hận thù. Họ có thể phải sửa lỗi, nhưng sửa trong nước mắt hơn là trong khoái cảm của người đang chiến thắng. Họ có thể nói một sự thật đau đớn, nhưng nói như người thầy thuốc dùng dao để cứu chứ không như kẻ thù dùng dao để giết. Đó là nghệ thuật rất khó của lòng thương xót: vừa không gọi bóng tối là ánh sáng, vừa không bỏ rơi người đang ở trong bóng tối.
2. KHÍ CỤ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT TRƯỚC HẾT PHẢI ĐỂ CHÚA THƯƠNG XÓT CHÍNH MÌNH
Có một sai lầm rất tinh tế mà nhiều linh hồn đạo đức mắc phải: muốn trở nên tốt với người khác bằng sức riêng, muốn phục vụ, tha thứ, kiên nhẫn và dịu dàng như một bổn phận phải hoàn thành, nhưng lại không cho phép mình ở lại lâu trong kinh nghiệm được Chúa thương xót. Kết quả là sau một thời gian, người ấy kiệt sức. Họ bắt đầu cảm thấy mình luôn phải cho, luôn phải nhường, luôn phải hiểu người khác, luôn phải hy sinh. Một lúc nào đó, lòng tốt biến thành sự cay đắng. Họ nói: “Tại sao tôi cứ phải chịu? Tại sao tôi cứ phải tha? Tại sao người khác không thay đổi?” Lý do không phải vì lòng thương xót là một con đường sai, nhưng vì người ấy đã cố làm ống dẫn mà quên nối mình với nguồn nước. Hỡi linh hồn, con không thể cho điều con không lãnh nhận. Con không thể liên tục thương xót bằng sức riêng. Có những người con chỉ có thể yêu nếu Chúa yêu họ qua con. Có những vết thương con chỉ có thể tha thứ nếu trước hết con để cho máu từ Thánh Giá chảy vào chính vết thương của mình. Có những hoàn cảnh mà thiện chí con sẽ cạn rất nhanh. Khi ấy, điều con phải làm không phải là nghiến răng cố tỏ ra đạo đức hơn, nhưng là trở về trước mặt Chúa và thưa thật: “Lạy Chúa, con không còn lòng thương xót cho người này. Con đang giận. Con đang mệt. Con đang đau. Con không muốn tha. Con không muốn hiểu. Xin Chúa thương xót con trước. Xin thương xót trái tim đang khô cứng của con. Xin yêu người ấy trong con, vì con không đủ sức.”
Đó là một lời cầu nguyện rất thật. Chúa không sợ sự thật của trái tim con. Chúa không cần con giả vờ rằng con đã yêu khi con chưa yêu. Chúa muốn con mang đến cho Ngài chính trái tim thật, với sự bực bội thật, với nỗi đau thật, với những chống đối thật, để Ngài có thể chạm đến nó. Nhiều khi bước đầu tiên của lòng thương xót không phải là lập tức cảm thấy yêu một người, mà là không để hận thù quyết định hành động của mình. Con có thể chưa hết đau nhưng vẫn từ chối nói xấu. Con có thể chưa cảm thấy bình an nhưng vẫn không trả đũa. Con có thể chưa muốn gặp người ấy nhưng vẫn cầu nguyện cho họ. Con có thể chưa tha được hoàn toàn nhưng mỗi ngày nói với Chúa: “Con muốn muốn tha.” Có khi chính ước muốn nhỏ bé ấy là khe cửa đầu tiên để ân sủng đi vào.
Khí cụ không tạo ra sức mạnh. Một cây bút không tự viết. Một chiếc đàn không tự làm nên bản nhạc. Một ống dẫn không tạo ra nước. Điều làm cho khí cụ trở nên hữu ích không phải là nó tự đầy sức mạnh, nhưng là nó để cho bàn tay của người sử dụng nó hoạt động. Cũng vậy, điều quan trọng nhất nơi người muốn trở thành khí cụ của lòng thương xót không phải là trở nên hoàn hảo trước, nhưng là trở nên dễ sử dụng trong tay Chúa. Có khi Chúa dùng sự dịu dàng của con. Có khi Chúa dùng sự im lặng của con. Có khi Chúa dùng một lời con nói. Có khi Chúa dùng một việc con âm thầm làm. Có khi Chúa dùng chính kinh nghiệm thất bại của con để an ủi một người đang tuyệt vọng. Có khi Chúa để con đi qua một thời gian yếu đuối để sau này con không còn quá cứng rắn với người yếu đuối. Có khi những vết thương mà con từng muốn Chúa xóa đi lại trở thành những cánh cửa qua đó con hiểu được nỗi đau của người khác. Hãy nhớ điều này: Chúa không chỉ dùng những điểm mạnh của con. Nếu con để Ngài làm việc, Ngài có thể dùng cả những nơi con từng tan vỡ.
3. ÁNH MẮT THƯƠNG XÓT – NƠI MỌI HÀNH ĐỘNG BẮT ĐẦU
Trước khi lòng thương xót trở thành việc làm, nó phải trở thành một cái nhìn. Con người thường hành động theo cách mình nhìn nhau. Nếu ta nhìn một người như kẻ gây phiền toái, mọi lời nói của ta với họ sẽ dễ trở nên khó chịu. Nếu ta nhìn một người như đối thủ, ngay cả thành công của họ cũng khiến ta bất an. Nếu ta nhìn một người sa ngã chỉ như một tội nhân đáng trách, ta sẽ rất khó trở thành chiếc cầu đưa họ trở về. Nhưng nếu ta tập nhìn người khác bằng ánh mắt của Thiên Chúa, rất nhiều điều sẽ thay đổi. Hãy nghĩ đến cách Chúa Giêsu nhìn những con người trong Tin Mừng. Ngài nhìn Phêrô trước cả khi Phêrô biết mình sẽ phản bội. Ngài nhìn Giakêu đang ở trên cây. Ngài nhìn người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội. Ngài nhìn người thanh niên giàu có rồi yêu mến anh. Ngài nhìn đám đông bơ vơ và chạnh lòng thương. Ngài nhìn cả những người đóng đinh mình và thưa với Chúa Cha: “Xin tha cho họ.” Ánh mắt ấy không mù trước sự thật. Chúa biết rõ mọi điều. Nhưng Ngài nhìn sâu hơn lỗi lầm. Ngài thấy nơi mỗi người một linh hồn đang cần được cứu.
Hỡi linh hồn, rất nhiều khi lòng thương xót của con chết ngay trong cái nhìn đầu tiên. Một người vừa bước vào, con đã định kiến. Một người vừa nói một câu, con đã xếp họ vào một loại nào đó. Một người từng phạm lỗi, con đóng khung họ trong quá khứ ấy nhiều năm. Một người có tiếng xấu, con nghe tên đã lạnh lòng mà chưa từng thật sự biết cuộc đời họ. Con không nhận ra mình đang giữ họ trong một nhà tù được xây bằng những kết luận của con. Nhưng Thiên Chúa không đối xử với con như thế. Nếu Chúa đóng khung con vào ngày tồi tệ nhất của đời con, con sẽ ra sao? Nếu Chúa gọi con mãi bằng tên của một tội con đã phạm từ nhiều năm trước, con có còn hy vọng không? Nếu Chúa chỉ nhìn vào những lần con thất bại mà không nhìn đến điều ân sủng còn có thể làm nơi con, con có còn đứng dậy được không? Chính vì Chúa vẫn nhìn con như một người có thể được cứu, có thể được biến đổi, có thể trở thành thánh, nên con mới còn hy vọng. Vậy con hãy học trao cho anh chị em mình cùng một khoảng không của hy vọng ấy.
Điều này đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đoàn. Sống gần nhau lâu ngày khiến ta dễ biết các điểm yếu của nhau. Lúc mới gặp, ta nhìn nhau bằng sự kính trọng. Sau nhiều năm, ta biết những thói quen khó chịu, những giới hạn, những chỗ vụng về, những lần thất hứa, những góc tính tình khó chịu. Nếu không có lòng thương xót, sự quen thuộc sẽ dần trở thành khinh thường. Ta bắt đầu nói: “Người ấy lúc nào cũng vậy.” “Anh ấy không bao giờ thay đổi.” “Tôi biết quá rõ rồi.” Chính những câu nói ấy đôi khi đóng cửa ân sủng. Vì con người không chỉ là quá khứ của họ. Mỗi sáng Thiên Chúa vẫn có thể bắt đầu một điều mới nơi một linh hồn. Có thể người mà con đã hết hy vọng hôm nay lại là người được Chúa biến đổi ngày mai. Và điều đau đớn là đôi khi chính thái độ khắc nghiệt của ta làm họ khó thay đổi hơn. Một người biết rằng dù mình có cố gắng thế nào người khác cũng vẫn nhìn mình bằng lỗi cũ thì dễ buông xuôi. Ngược lại, một ánh mắt tin tưởng có thể đánh thức điều tốt đẹp mà chính người ấy tưởng đã chết trong mình.
4. LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG LỜI NÓI
Không có chiến trường nào để thực hành lòng thương xót thường xuyên bằng cái miệng. Biết bao linh hồn không bị tổn thương vì những hành vi lớn, nhưng vì những lời nhỏ. Một câu châm biếm đúng lúc người khác đang yếu. Một lời nhắc lại quá khứ mà đáng lẽ phải chôn đi. Một câu chuyện được kể với vẻ như vô tình nhưng làm giảm danh dự của ai đó. Một lời bình phẩm có vẻ vui nhưng để lại một vết cắt. Một sự im lặng lạnh lùng được dùng như hình phạt. Một câu nói đúng nhưng được nói với giọng làm nhục. Có những lời chỉ mất vài giây để nói nhưng người nghe phải mất nhiều năm mới quên. Vì thế, nếu muốn trở thành khí cụ của Lòng Chúa Thương Xót, hãy bắt đầu từ môi miệng mình.
Trước khi nói về một người vắng mặt, hãy hỏi: “Điều tôi sắp nói có làm người này mất danh dự không? Tôi có cần nói điều này không? Nếu người ấy đang ngồi trước mặt, tôi có nói như thế không?” Có những điều đúng nhưng không cần phải kể. Sự thật không cho ta quyền phơi bày mọi điều. Lòng thương xót biết che phủ những gì không cần thiết phải phơi ra. Không phải che giấu điều xấu cần được giải quyết, nhưng không biến lỗi lầm người khác thành thức ăn cho sự tò mò của cộng đoàn. Biết bao cuộc đời bị tổn thương không phải bởi một tội của họ, nhưng bởi tội ấy bị người khác kể đi kể lại. Có khi người phạm lỗi đã ăn năn từ lâu, nhưng người nghe chuyện vẫn tiếp tục giữ họ trong cái nhìn cũ. Ta hãy nhớ: một trong những công việc đẹp nhất của lòng thương xót là cho phép một người có quá khứ được có một tương lai.
Trong việc sửa lỗi cũng vậy. Có lúc phải nói. Có lúc im lặng là thiếu trách nhiệm. Nhưng hãy nhìn lại động lực. Ta muốn người ấy tốt lên hay ta chỉ muốn trút sự bực bội? Ta muốn cứu một linh hồn hay chứng minh mình đúng? Ta đang sửa vì yêu hay vì cái tôi bị đụng chạm? Cùng một câu nói, nếu phát xuất từ tình yêu sẽ có một sức khác hẳn khi phát xuất từ tự ái. Người nghe có thể không đồng ý ngay, nhưng họ cảm nhận được sự khác biệt. Có những lời sửa lỗi khiến người ta đau mà vẫn biết mình được yêu. Nhưng cũng có những lời dù hoàn toàn chính xác lại làm người khác cảm thấy bị kết án. Người mang lòng thương xót phải học cách nói sự thật mà không tước đi phẩm giá của người nghe. Hãy sửa hành vi, đừng nghiền nát con người. Hãy gọi điều sai là sai, nhưng đừng khiến người ta tưởng rằng họ không còn đường trở lại. Hãy mở một cánh cửa trong chính câu nói của mình.
Và đôi khi lòng thương xót chỉ đơn giản là biết nói một lời tốt. Một người đã cố gắng rất nhiều mà không ai nhìn thấy. Một người đang mệt mà vẫn hoàn thành bổn phận. Một người phạm lỗi nhưng đang thực sự cố gắng sửa. Một người lớn tuổi bắt đầu cảm thấy mình vô dụng. Một người trẻ đang hoang mang về ơn gọi. Một người nghèo xấu hổ vì hoàn cảnh của mình. Một người mang tiếng xấu và tưởng không còn ai tin mình. Một lời nói của con có thể không giải quyết hết vấn đề, nhưng có thể trở thành tia sáng giúp họ bước qua một ngày rất tối. Đừng coi thường những lời nhỏ. Thiên Chúa có thể dùng một câu nói bình thường của con để cứu một người khỏi một quyết định tuyệt vọng mà con không bao giờ biết.
5. LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG SỰ THA THỨ
Không có nơi nào lòng thương xót bị thử luyện sâu bằng sự tha thứ. Ta thường thích nói về lòng thương xót khi chưa ai làm mình đau. Ta dễ ca ngợi sự tha thứ trong bài giảng, trong sách, trong giờ cầu nguyện. Nhưng khi một người thật sự xúc phạm ta, phản bội ta, làm ta mất danh dự, gây thiệt hại cho ta, nói sai về ta, làm hỏng một công việc ta đã dành nhiều tâm huyết, hoặc lặp đi lặp lại một lỗi khiến ta kiệt sức, khi ấy lời “tha thứ” bỗng trở nên nặng như thập giá. Và chính tại đây con biết lòng thương xót trong mình là một tư tưởng hay đã trở thành Tin Mừng sống động.
Tha thứ không phải là nói rằng điều đã xảy ra không quan trọng. Có những vết thương rất thật. Có những hành vi để lại hậu quả không thể xóa ngay. Có những mối quan hệ không thể trở lại như cũ. Có những trường hợp cần đặt giới hạn rõ ràng để tránh tiếp tục bị tổn hại. Tha thứ không có nghĩa là để cho người khác tiếp tục làm điều sai. Cũng không có nghĩa là phủ nhận công lý. Tha thứ trước hết là từ chối để điều xấu người khác đã làm trở thành quyền lực điều khiển trái tim ta. Là không để một người đã làm ta đau tiếp tục sống trong ta như một kẻ cai trị thông qua sự oán hận. Là trao quyền xét xử tối hậu lại cho Thiên Chúa. Là nói: “Lạy Chúa, con không thể làm cho quá khứ chưa từng xảy ra, nhưng con không muốn quá khứ ấy biến con thành một người cay đắng.”
Có những tha thứ xảy ra trong một khoảnh khắc. Nhưng phần lớn những vết thương sâu cần được tha nhiều lần. Sáng nay con tha. Chiều một ký ức trở lại, con phải tha lần nữa. Tuần này con tưởng đã bình an. Tuần sau nghe ai nhắc lại, vết thương mở ra, con lại trao người ấy cho Chúa. Đừng nản vì phải tha nhiều lần. Có khi điều đó không có nghĩa lần tha trước là giả. Nó chỉ có nghĩa vết thương sâu và cần được chữa dần dần. Mỗi lần ký ức trở lại, con có thêm một cơ hội để biến nó thành lời cầu nguyện thay vì thành độc tố. Hãy tập nói: “Lạy Chúa, con lại nhớ. Con lại đau. Nhưng một lần nữa, con trao người ấy cho Chúa. Xin đừng để lòng con trở nên cứng.” Đó là một cuộc chiến rất thật, và mỗi lần con chọn không nuôi hận thù, lòng thương xót đang chiến thắng thêm một chút trong con.
Đừng chờ người khác xin lỗi rồi mới bắt đầu tha. Có những người có thể không bao giờ nhận ra họ đã làm con đau. Có những người không đủ trưởng thành để xin lỗi. Có người đã qua đời. Có người vẫn nghĩ họ đúng. Nếu con buộc sự tự do của trái tim mình vào lời xin lỗi của họ, con trao chìa khóa bình an của mình vào tay một người khác. Hãy tha vì Chúa đang mời con tự do. Nếu một ngày người ấy xin lỗi, đó là một ân sủng cho việc hòa giải. Nhưng việc con từ bỏ hận thù có thể bắt đầu ngay hôm nay trước mặt Chúa.
6. LÒNG THƯƠNG XÓT ĐỐI VỚI NGƯỜI YẾU ĐUỐI VÀ SA NGÃ
Hỡi linh hồn, hãy đặc biệt cẩn thận khi đứng trước một người đang sa ngã. Những lúc ấy con rất dễ thấy mình mạnh vì người kia yếu. Con rất dễ lấy điều đúng của mình để nâng mình lên trên sự sai của họ. Nhưng nếu nhớ lại cuộc chiến nội tâm của chính mình, con sẽ hiểu rằng không ai đứng vững chỉ bằng sức riêng. Có thể người ấy đang thất bại ở một điểm mà con không thất bại, nhưng con lại đang thất bại ở một điểm khác mà họ không biết. Một người có thể yếu về xác thịt nhưng mạnh về lòng quảng đại. Một người có thể nóng tính nhưng lại rất chân thật. Một người có thể đã phạm một lỗi công khai, còn con mang những thứ kiêu ngạo kín đáo mà không ai thấy. Trước mặt Chúa, ai sẽ tự nhận mình đủ trong sạch để khinh thường người khác?
Khi một người sa ngã, điều họ cần nhất không phải lúc nào cũng là một bài giảng. Nhiều khi họ đã biết điều mình làm là sai. Điều họ sợ là mình không còn đáng được yêu, không còn đường trở lại, không còn ai tin. Hãy nhìn cách Chúa Giêsu đối xử với Phêrô sau ba lần chối Thầy. Chúa không làm nhục ông trước các môn đệ. Chúa không bắt ông đọc lại từng câu chối. Ngài hỏi về tình yêu và trao lại sứ mạng. Điều này thật lạ lùng: chính người vừa thất bại nặng lại được mời chăn dắt đoàn chiên. Chúa không phủ nhận lỗi của Phêrô, nhưng Ngài không để lỗi ấy trở thành định nghĩa cuối cùng về Phêrô. Lòng thương xót của Chúa nhìn thấy điều ân sủng còn có thể làm sau thất bại.
Con cũng hãy học như thế. Khi gặp một người đang trong tội, hãy cầu xin ơn đừng nhìn họ chỉ ở khoảnh khắc tồi tệ nhất của cuộc đời. Hãy nhìn một linh hồn mà Đức Kitô đã đổ máu để cứu. Có thể họ đang ở xa. Có thể họ chống đối. Có thể họ chưa muốn trở về. Nhưng chính lúc ấy, lời cầu nguyện của con càng cần thiết. Không ai biết một ngày nào đó, vào một giờ nào đó, ân sủng sẽ tìm được một khe cửa và họ sẽ trở về. Đừng lấy thái độ của con để làm cánh cửa ấy hẹp hơn.
Điều này càng quan trọng trong sứ vụ. Một linh mục, một tu sĩ, một người tông đồ có thể nói rất nhiều về Lòng Chúa Thương Xót, nhưng những người đau khổ sẽ hiểu điều ta thật sự tin qua cách ta đối xử với họ. Nếu một người tội lỗi đến gần mà chỉ cảm thấy bị soi xét, họ sẽ khó tin vào lòng thương xót mà ta rao giảng. Nếu một người nghèo bước vào mà cảm thấy mình làm phiền, họ sẽ khó tin rằng Tin Mừng thật sự dành cho người nghèo. Nếu một người có quá khứ phức tạp chỉ nghe những lời kết án, họ có thể tưởng Thiên Chúa cũng đã đóng cửa với họ. Điều này không có nghĩa là ta giảm nhẹ đòi hỏi của Tin Mừng. Nhưng Tin Mừng luôn là lời mời trở về, không phải là tấm bảng treo ngoài cửa rằng: “Người không hoàn hảo không được vào.”
7. LÒNG THƯƠNG XÓT ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI BỊ BỎ RƠI VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG AI MUỐN GẦN
Đối với người sống tinh thần Dòng Chúa Cứu Thế, điều này phải trở thành một nỗi thao thức đặc biệt. Lòng thương xót không phải là một cảm xúc mơ hồ dành cho nhân loại nói chung. Nó luôn có khuôn mặt. Đó là khuôn mặt người nghèo đang ngồi ở cổng. Là người già không còn ai nghe họ kể chuyện. Là người bệnh đã quá quen với những căn phòng lạnh. Là người nghiện bị gia đình mệt mỏi vì thất hứa quá nhiều lần. Là người từng ở tù đang cố làm lại nhưng không ai muốn thuê. Là người mẹ đơn thân mang theo một quá khứ mà nhiều người thích bàn tán. Là người trẻ lạc hướng, nói năng cộc cằn vì bên trong không biết mình thuộc về đâu. Là một người anh em trong cộng đoàn trở nên khó tính vì đã mang một vết thương lâu năm. Là người mà ai cũng tránh vì họ “phiền”. Lòng thương xót không hỏi trước: “Người này có đáng không?” Lòng thương xót hỏi: “Chúa muốn yêu người này qua tôi thế nào?”
Có một sự nghèo rất dễ thấy: nghèo vật chất. Nhưng còn nhiều thứ nghèo khác kín đáo hơn. Có người có đủ tiền nhưng nghèo tình thân. Có người có địa vị nhưng nghèo bình an. Có người luôn cười nhưng nghèo hy vọng. Có người sống giữa cộng đoàn nhưng nghèo vì không có ai thực sự lắng nghe. Có người hoạt động rất nhiều nhưng bên trong đang khô cạn. Có người nổi tiếng nhưng cô độc. Có người bị dán nhãn là “khó chịu” nhưng thật ra chỉ đang kêu cứu bằng một cách không khéo. Nếu con xin Chúa cho đôi mắt thương xót, con sẽ bắt đầu nhìn thấy những cái nghèo mà trước đây con không nhận ra.
Thường ta thích phục vụ những người dễ thương, biết ơn, lịch sự. Nhưng Chúa đôi khi gửi đến những người rất khó thương. Họ đòi hỏi. Họ có thể vô ơn. Họ kể cùng một câu chuyện nhiều lần. Họ không làm theo lời khuyên của ta. Ta giúp hôm nay, tuần sau họ lại rơi vào cùng một chuyện. Chính ở đó lòng thương xót của ta được thử. Dĩ nhiên phải có sự khôn ngoan; giúp người khác không có nghĩa là tiếp tay cho lối sống sai hay để mình bị lợi dụng vô giới hạn. Nhưng ngay cả khi phải nói “không”, con vẫn có thể nói “không” với phẩm giá và lòng kính trọng. Ngay cả khi không thể đáp ứng điều họ xin, con vẫn có thể cho họ cảm giác rằng họ là một con người được lắng nghe.
8. LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN
Cộng đoàn là nơi người ta có thể nói rất hay về bác ái nhưng cũng là nơi bác ái phải mang giày dép, ngồi vào bàn ăn, dùng chung một phòng khách, chia sẻ một lịch làm việc và chịu đựng tiếng động của nhau. Chính trong những điều bình thường ấy lòng thương xót được kiểm chứng. Tha thứ một người ở xa đôi khi dễ hơn sống mỗi ngày với một người có tính khí khác mình. Yêu người nghèo trong một chuyến công tác có thể dễ hơn kiên nhẫn với một anh em lặp lại một thói quen làm ta bực. Vì vậy đừng tìm những cơ hội quá lớn để sống lòng thương xót trong khi bỏ qua những cơ hội đang ngồi cùng bàn với con.
Trong cộng đoàn, lòng thương xót có thể là đừng nhắc lại một lỗi người khác đã xin lỗi. Là đừng dùng điểm yếu của họ làm chuyện cười. Là biết rằng một người đang mệt và âm thầm làm giúp một việc mà không để họ mang ơn. Là không vội kết luận khi thấy một thái độ lạ nhưng đi hỏi với thiện chí. Là cho một người quyền được có một ngày tồi tệ mà không biến ngày ấy thành phán quyết về nhân cách của họ. Là biết lùi một bước khi cuộc tranh luận sắp trở thành cuộc đấu cái tôi. Là dám nói “xin lỗi” trước dù trong lòng vẫn nghĩ mình chỉ sai ba mươi phần trăm. Là để cho một vấn đề nhỏ chết đi thay vì phải thắng cho bằng được. Là không tập hợp những người khác về phía mình khi có xung đột với một anh em. Là cầu nguyện cho người mình đang bực trước khi nói về họ với bất cứ ai.
Có những cộng đoàn không thiếu kinh nguyện, không thiếu giờ chầu, không thiếu Thánh lễ, nhưng người ta vẫn đau vì thiếu lòng thương xót trong những tương quan hằng ngày. Điều ấy phải khiến ta run sợ. Ta có thể quỳ rất lâu trước Thánh Thể nhưng đứng dậy rồi dùng lời nói làm người khác tổn thương. Ta có thể giảng hay về người cha nhân hậu nhưng lại không cho một anh em cơ hội sửa sai. Ta có thể nói nhiều về hiệp thông nhưng trong lòng giữ một danh sách rất dài những điều người khác đã làm mình khó chịu. Hỡi linh hồn, đừng để đời sống đạo trở thành một nơi con trốn khỏi cuộc hoán cải trong tương quan. Nếu sau nhiều năm cầu nguyện mà con càng khắt khe, càng dễ khinh người, càng khó tha thứ, thì con cần quay lại rất sâu với Chúa. Vì Chúa càng ở trong một linh hồn, linh hồn ấy càng trở nên vừa vững vàng trong sự thật vừa mềm mại trong tình yêu.
9. LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG SỨ VỤ – ĐỪNG TRỞ THÀNH NGƯỜI GIỮ CỬA ÂN SỦNG
Một trong những cám dỗ nguy hiểm của người làm việc tông đồ là dần dần coi mình như người quản lý ân sủng thay vì người tôi tớ của ân sủng. Ta bắt đầu quyết định ai xứng đáng được quan tâm, ai đáng được nghe, ai đáng có cơ hội. Ta có thể vô tình tạo những cánh cửa rất hẹp bằng thái độ, ngôn ngữ và cách tiếp đón. Nhưng Chúa Giêsu lại luôn khiến những người bị loại trừ cảm thấy họ có thể đến gần. Người thu thuế đến được với Ngài. Người tội lỗi đến được. Người phong cùi đến được. Người phụ nữ Samari có thể nói chuyện với Ngài. Trẻ nhỏ có thể chạy đến. Người mù có thể kêu lớn bên đường. Ngay cả tên trộm trên thập giá, chỉ còn vài hơi thở, vẫn tìm được một cánh cửa vào thiên đàng.
Người thừa sai của Lòng Chúa Thương Xót phải mang nơi mình một điều gì đó khiến người yếu đuối dám đến gần. Không phải sự dễ dãi, nhưng là sự an toàn của một người không vội kết án. Một người có thể đến và kể sự thật về đời mình mà không sợ bị coi thường. Một người có thể thú nhận mình đã thất bại mà không cảm thấy trước mặt mình là một thẩm phán đang khoái chí. Đó là một ân huệ lớn trong sứ vụ: trở thành một nơi mà người khác có thể bước ra khỏi bóng tối.
Đặc biệt đối với linh mục, tòa giải tội phải là một trường học vĩ đại của lòng thương xót. Ngồi đó đủ lâu, nghe đủ nhiều câu chuyện con người, ta sẽ hiểu không có gì đơn giản như vẻ bề ngoài. Đằng sau nhiều tội lỗi là cả một lịch sử những vết thương, những thiếu thốn, những thói quen, những cuộc chiến thất bại, những lần muốn đứng lên rồi lại ngã. Điều ấy không làm tội trở thành không phải tội, nhưng giúp người mục tử biết cúi xuống như người thầy thuốc. Người bệnh đã đau đủ rồi; họ cần thuốc, không cần bị đánh thêm. Đôi khi một lời quá cứng có thể làm một người đang ở rất gần sự trở về quay lưng thêm nhiều năm. Ngược lại, một thái độ vừa chân thật vừa đầy hy vọng có thể trở thành ngày khởi đầu của cả một cuộc đời mới.
Người rao giảng cũng cần tự hỏi: sau bài giảng của mình, người tội lỗi cảm thấy được mời trở về hay chỉ cảm thấy bị chỉ mặt? Người thất bại cảm thấy còn hy vọng hay chỉ thấy mình càng bất xứng? Tin Mừng không bao giờ làm tội lỗi dễ chịu, nhưng cũng không làm tội nhân tuyệt vọng. Nếu lời giảng chỉ làm người “đạo đức” thấy mình tốt hơn người khác, còn người đang yếu cảm thấy không có chỗ trong nhà Chúa, thì phải xét lại cách ta loan báo Tin Mừng.
10. LÒNG THƯƠNG XÓT KHÔNG PHẢI LÀ SỰ DỄ DÃI
Có người sợ rằng nói nhiều về lòng thương xót sẽ khiến người ta xem nhẹ tội lỗi. Sự lo ngại ấy có thể hiểu được, nhưng nếu ta hiểu đúng lòng thương xót thì không cần sợ. Lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ nói rằng tội không đáng kể. Chính Thánh Giá cho thấy tội nghiêm trọng đến mức nào. Nếu tội chỉ là chuyện nhỏ, Con Thiên Chúa đã không cần chết. Nhưng cùng một Thánh Giá cũng cho thấy người tội lỗi quý giá thế nào: Thiên Chúa sẵn sàng trả giá bằng chính Con Một để cứu họ. Vì vậy người có lòng thương xót vừa ghét tội vừa yêu người tội lỗi. Họ không nhầm lẫn hai điều ấy.
Có lúc lòng thương xót phải mềm. Có lúc nó phải mạnh. Người cha thương con không để con chơi giữa đường xe chạy. Người thầy thuốc thương bệnh nhân không nói: “Anh cứ sống thế nào cũng được.” Người mục tử thương đoàn chiên đôi khi phải lên tiếng cảnh báo. Nhưng sự mạnh mẽ của lòng thương xót khác với sự cứng rắn của cái tôi. Nó không muốn thắng người khác; nó muốn cứu người khác. Nó có thể nói “không”, nhưng không nói bằng khinh miệt. Nó có thể đặt giới hạn, nhưng không trả thù. Nó có thể thi hành kỷ luật, nhưng không vui vì người khác bị đau. Nó luôn để lại một con đường trở về.
Cũng có khi lòng thương xót đòi ta không che chắn hậu quả cho người khác. Nếu cứ giải quyết mọi hậu quả cho một người không chịu thay đổi, đôi khi ta đang khiến họ khó trưởng thành. Nếu cứ cho tiền một cách thiếu khôn ngoan khiến họ tiếp tục nghiện ngập, đó không phải thương xót. Nếu cứ im lặng trước một hành vi gây hại vì sợ mất lòng, đó có thể là hèn nhát chứ không phải bác ái. Lòng thương xót cần sự khôn ngoan. Hãy xin Chúa cho con một trái tim mềm nhưng một lương tâm sáng; đôi tay rộng mở nhưng đôi mắt biết phân định.
11. NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG CHÍNH TA
Trở ngại đầu tiên là sự tự ái. Ta thích lòng thương xót khi nó không làm ta mất gì. Nhưng khi phải bỏ cái tôi, ta bắt đầu tính toán. Tha thứ khiến ta có cảm giác người kia “thoát dễ quá”. Không trả đũa khiến ta thấy mình thua. Xin lỗi trước khiến ta thấy mình mất mặt. Bảo vệ danh dự cho người từng nói xấu ta khiến cái tôi phản đối. Chính vì vậy lòng thương xót là một con đường thanh luyện rất sâu. Nó không chỉ giúp người khác; nó giết dần con người cũ trong ta.
Trở ngại thứ hai là nỗi sợ dư luận. Có khi ta muốn đến gần một người bị mang tiếng nhưng sợ người khác nghĩ gì về mình. Chúa Giêsu từng bị gọi là bạn của người thu thuế và tội lỗi. Đó là một lời họ dùng để tố cáo Ngài, nhưng vô tình lại trở thành một trong những danh xưng đẹp nhất. Người thừa sai đôi khi phải chấp nhận bị hiểu lầm vì đứng gần người mà xã hội thích tránh xa. Dĩ nhiên phải khôn ngoan và minh bạch, nhưng đừng vì sợ điều tiếng mà bỏ một linh hồn đang cần được nâng lên.
Trở ngại thứ ba là sự mệt mỏi. Khi thân xác mệt, tâm trí quá tải, lịch trình dày đặc, lòng thương xót dễ co lại. Ta trở nên thiếu kiên nhẫn. Những câu hỏi bình thường bỗng làm ta khó chịu. Một yêu cầu nhỏ cũng trở thành gánh nặng. Vì vậy muốn sống lòng thương xót lâu dài, con cũng phải biết chăm sóc đời sống mình trong sự quân bình. Nghỉ ngơi đúng mức không phải ích kỷ. Một trái tim kiệt quệ rất khó cho đi bình an. Chúa Giêsu cũng đưa các môn đệ đến nơi thanh vắng nghỉ ngơi. Hãy khiêm nhường nhìn nhận giới hạn mình. Có lúc con phải nói: “Hôm nay con không còn sức, xin Chúa giữ miệng con khỏi làm đau ai.” Đó cũng là một lời cầu nguyện của lòng thương xót.
Trở ngại thứ tư là những tổn thương chưa được chữa lành. Có những người khiến ta phản ứng mạnh không hoàn toàn vì họ đang làm gì, nhưng vì họ chạm đúng một vết thương cũ. Một cách nói khiến ta nhớ đến người từng xúc phạm mình. Một thái độ khiến nỗi sợ bị xem thường trỗi dậy. Nếu không biết điều này, ta sẽ trút lên người hiện tại cả sức nặng của quá khứ. Vì vậy, muốn trở thành khí cụ của lòng thương xót, con cũng cần để Chúa đưa con vào những căn phòng con vẫn khóa kín. Có thể con đã tha bằng ý chí nhưng vết thương vẫn cần được chữa. Hãy để Chúa đi vào đó.
Trở ngại thứ năm là sự kiêu ngạo thiêng liêng. Đây là loại nguy hiểm nhất. Khi ta nghĩ mình “đạo đức hơn”, “hiểu biết hơn”, “sống nghiêm túc hơn”, ta rất dễ nhìn những người khác bằng một sự thương hại pha khinh thường. Đó không phải lòng thương xót. Lòng thương xót thật luôn có một nền khiêm nhường sâu: “Nếu Chúa không giữ tôi, tôi cũng có thể ngã. Nếu Chúa không thương tôi, tôi chẳng có gì để khoe.” Người càng gần Chúa càng ít nhu cầu chứng minh mình tốt hơn người khác.
12. TRỞ THÀNH BÀN TAY CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT
Có những lúc người khác không cần lời nói. Họ cần một bàn tay. Một bữa ăn được đem đến. Một chuyến xe đưa người bệnh đi khám. Một món tiền kín đáo trao đúng lúc. Một công việc được làm giúp. Một chỗ ngồi được nhường. Một cánh cửa được mở. Một cuộc điện thoại hỏi thăm. Một giờ ngồi bên giường bệnh mà chẳng cần nói gì. Lòng thương xót trở nên đáng tin khi nó có thân xác. Chúa Giêsu không chỉ nói với người đói về tình yêu của Thiên Chúa; Ngài cho họ ăn. Ngài không chỉ giảng cho người bệnh; Ngài chạm vào họ. Ngài không chỉ nói về lòng trắc ẩn; Ngài dừng lại trước tiếng kêu.
Đôi khi con không thể giải quyết vấn đề của một người, nhưng con có thể không để họ mang vấn đề ấy một mình. Đây là điều rất quan trọng. Ta thường nghĩ nếu không có giải pháp thì không biết làm gì. Nhưng sự hiện diện cũng là một hình thức của lòng thương xót. Với một người mất người thân, không có câu nào xóa được nỗi đau. Với người nhận một tin xấu, không phải lúc nào cũng cần lời khuyên. Có khi chỉ cần một người không bỏ đi.
Hãy xin Chúa cho đôi tay con biết phục vụ mà không tìm tiếng khen. Có những việc thương xót đẹp nhất không ai biết. Làm xong rồi quên. Cho đi mà không kể. Giúp một người mà họ không biết ai giúp. Cầu nguyện cho một người không bao giờ biết tên mình được nhắc trước Chúa. Đó là cách lòng thương xót được tinh luyện khỏi tự ái. Khi con không cần được nhìn thấy, Chúa có thể dùng con tự do hơn.
13. TRỞ THÀNH ĐÔI TAI CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT
Thế giới có nhiều người nói nhưng rất ít người biết nghe. Vì vậy, người biết lắng nghe có thể trở thành một khí cụ chữa lành lớn lao. Lắng nghe không chỉ là im trong lúc người khác nói để chờ đến lượt mình. Lắng nghe là tạm đặt thế giới của mình sang một bên để bước vào thế giới của người kia. Là không vội sửa. Không vội kết luận. Không lấy câu chuyện của họ làm cơ hội kể câu chuyện của mình. Không dùng điều họ tâm sự làm thông tin để sau này kể lại.
Có những người chỉ bắt đầu được chữa lành khi lần đầu tiên trong đời họ kể hết một câu chuyện và không bị ngắt lời, không bị trách móc, không bị làm cho xấu hổ. Hãy nhớ điều đó trong sứ vụ. Một người có thể cần hai mươi phút nói trước khi họ sẵn sàng nghe một câu của con. Nếu con cho họ hai mươi phút ấy, đôi khi câu sau cùng con nói sẽ đi rất sâu.
Lắng nghe cũng là một hình thức từ bỏ mình. Ta phải từ bỏ nhu cầu chứng minh mình biết. Phải từ bỏ sự vội vàng. Phải chấp nhận nghe những điều lặp lại. Phải kiên nhẫn với sự rối rắm của một người đang đau. Đây là lòng thương xót rất cụ thể.
14. TRỞ THÀNH TRÁI TIM CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG CẦU NGUYỆN
Có những người con không thể gặp. Có những hoàn cảnh con không thể thay đổi. Có những linh hồn không nghe con. Có những người đã đóng mọi cánh cửa với lời khuyên. Nhưng vẫn còn một con đường luôn mở: mang họ vào cầu nguyện. Đừng coi cầu nguyện thay cho người khác là việc nhỏ. Có những trận chiến chỉ Thiên Chúa nhìn thấy, và lời cầu của một người khác có thể là một phần của ân sủng giúp một linh hồn đứng vững.
Hãy tập cầu nguyện đặc biệt cho những người làm con khó chịu. Đây là một cách thanh luyện trái tim rất mạnh. Khi con bắt đầu xin Chúa ban ơn cho một người con đang giận, một điều gì đó thay đổi từ từ trong con. Có thể cảm xúc chưa đổi ngay, nhưng hận thù mất dần quyền lực. Hãy xin điều tốt thật cụ thể cho họ: “Xin Chúa cho người ấy bình an. Xin chữa lành nỗi đau của họ. Xin dẫn họ về gần Chúa. Xin ban cho họ điều con cũng đang xin cho chính mình.” Cầu như thế là đặt trái tim mình dưới dòng nước của ân sủng.
Con cũng có thể dâng những hy sinh nhỏ cho người khác. Một sự khó chịu được chịu trong bình an. Một bữa ăn bớt đi một chút. Một lời đáp trả được giữ lại. Một công việc âm thầm. Một cơn đau. Một đêm khó ngủ. Hãy nói: “Lạy Chúa, con dâng điều này cho một linh hồn đang tuyệt vọng, cho một người đang xa Chúa, cho một người đang trong cơn cám dỗ.” Khi đó, ngay cả giới hạn của con cũng trở thành nơi lòng thương xót chảy qua.
15. CÓ NHỮNG LÚC LÒNG THƯƠNG XÓT CHỈ LÀ KHÔNG LÀM ĐIỀU XẤU
Đừng nghĩ mỗi ngày con phải làm những việc phi thường. Có ngày lòng thương xót chỉ là không nói câu đáng lẽ con rất muốn nói. Không gửi tin nhắn khi đang giận. Không kể một chuyện làm người khác xấu mặt. Không đáp lại bằng cùng giọng cay nghiệt. Không nuôi trí tưởng tượng về cách trả đũa. Không vui khi nghe người mình không ưa gặp khó khăn. Không lấy quá khứ của ai đó để thắng một cuộc tranh luận. Những “không” nhỏ ấy là những chiến thắng lớn trong cuộc chiến linh hồn.
Ma quỷ rất thích thuyết phục con rằng một phản ứng nhỏ chẳng đáng kể: “Chỉ nói một câu thôi.” “Họ đáng bị như vậy.” “Mình chỉ nói sự thật.” Nhưng nhiều đám cháy lớn bắt đầu từ một que diêm. Một lời có thể mở cả chuỗi xung đột. Vì thế, hãy tập khoảng dừng thánh thiện giữa điều người khác làm và phản ứng của con. Trong khoảng dừng ấy, hãy kêu tên Chúa. Chỉ một giây: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con và người này.” Một giây đó có thể cứu cả một ngày.
16. ĐỪNG ĐÒI THẤY KẾT QUẢ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT
Một cám dỗ khác là ta muốn thấy ngay người khác thay đổi để chứng minh sự thương xót của ta có hiệu quả. Ta tha rồi, họ vẫn vậy. Ta giúp rồi, họ lại ngã. Ta khuyên rồi, họ không nghe. Ta cầu nguyện lâu mà chẳng thấy gì. Ta bắt đầu mệt và nói: “Vô ích.” Nhưng hỡi linh hồn, con là khí cụ, không phải Đấng Cứu Độ. Nhiệm vụ của con là trung thành; kết quả thuộc về Chúa.
Có những hạt giống nằm dưới đất rất lâu. Có những lời con nói hôm nay mười năm sau mới sinh hoa. Có người con giúp mà chính con sẽ không bao giờ biết cuộc đời họ đổi ra sao. Có khi sự hiện diện của con chỉ ngăn họ chìm sâu hơn một chút. Điều đó cũng quý. Đừng yêu người khác chỉ khi họ đáp lại như con muốn. Đó vẫn còn là một hình thức của sự kiểm soát. Hãy học yêu vì Chúa đã yêu con trước.
17. LÒNG THƯƠNG XÓT VỚI CHÍNH MÌNH ĐỂ KHÔNG TRỞ NÊN KHẮC NGHIỆT VỚI NGƯỜI KHÁC
Có một mối liên hệ rất sâu giữa cách ta đối xử với chính mình và cách ta đối xử với người khác. Người không chấp nhận được sự yếu đuối nơi mình thường cũng rất khó chịu trước sự yếu đuối nơi người khác. Người luôn tự kết án mình dễ dùng cùng thứ ngôn ngữ ấy để kết án anh em. Vì vậy, đón nhận Lòng Chúa Thương Xót cho chính mình không phải là ích kỷ; đó là điều kiện để trở nên dịu dàng cách lành mạnh.
Điều này không có nghĩa là nuông chiều mình. Nghĩa là khi ngã, con biết đứng lên thay vì tự hành hạ. Khi thất bại, con học bài học cần học rồi trở về với Chúa. Khi thấy một giới hạn, con làm việc để thay đổi nhưng không khinh ghét chính mình. Dần dần, sự kiên nhẫn Chúa dạy con đối với mình sẽ trở thành sự kiên nhẫn với người khác.
Hãy nhớ: Chúa không chữa con bằng cách ghét bỏ con. Ngài chữa con bằng sự thật trong tình yêu. Vậy con cũng hãy học đối xử với người khác theo cách ấy.
18. BA HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI LÀM KHÍ CỤ LÒNG THƯƠNG XÓT
Hãy giữ trong lòng ba hình ảnh. Trước hết là chiếc bình. Một chiếc bình phải rỗng mới có thể được đổ đầy. Nếu lòng con đầy cái tôi, đầy phán xét, đầy nhu cầu được đúng, lòng thương xót không còn chỗ. Hãy để Chúa làm con rỗng.
Thứ hai là ống dẫn. Ống dẫn không giữ nước lại. Nó nhận rồi chuyển đi. Nếu con nhận quá nhiều ân sủng nhưng tất cả chỉ làm con cảm thấy mình đạo đức hơn, dòng nước đã bị nghẽn. Hãy để điều Chúa làm cho con trở thành điều con làm cho người khác.
Thứ ba là cửa sổ. Cửa sổ không phải mặt trời. Nó chỉ để ánh sáng đi qua. Người làm khí cụ lòng thương xót không cần khiến người khác nhớ đến mình. Điều đẹp nhất là sau khi gặp con, người ta nghĩ đến Chúa nhiều hơn chứ không phải nghĩ con tốt thế nào.
19. THỰC HÀNH MỖI NGÀY
Mỗi sáng, trước khi bắt đầu công việc, hãy thưa thật chậm: “Lạy Chúa Giêsu, hôm nay xin đừng để con trở thành chướng ngại cho lòng thương xót của Chúa. Xin dùng mắt con để nhìn với cảm thông, tai con để lắng nghe, miệng con để an ủi và nói sự thật trong bác ái, tay con để phục vụ, chân con để đi đến với người cần được nâng đỡ, trái tim con để yêu những người mà tự sức con không thể yêu.” Đừng đọc lời ấy như một công thức. Hãy để nó trở thành hướng đi của ngày sống.
Khi gặp một người khó chịu, trước phản ứng đầu tiên, hãy nhớ: “Đây có thể là cơ hội để Chúa thương xót qua con.” Khi nghe một câu chuyện xấu về ai đó, hãy tự hỏi: “Tôi có cần trở thành người tiếp tục truyền câu chuyện này không?” Khi bị xúc phạm, trước khi trả lời, hãy xin một khoảnh khắc. Khi nhìn thấy một người yếu đuối, hãy nhớ lại một lần con cũng từng yếu và đã mong có người kiên nhẫn với mình. Khi có cơ hội giúp mà không ai biết, hãy làm. Khi không thể giúp, hãy cầu nguyện.
Mỗi tối, đừng chỉ xét mình: “Hôm nay tôi đã phạm tội gì?” Hãy hỏi thêm: “Hôm nay ai đã gặp được lòng thương xót Chúa qua tôi? Có người nào vì lời tôi mà nhẹ lòng hơn không? Có người nào vì thái độ của tôi mà nặng lòng hơn không? Tôi đã che phủ danh dự cho ai hay đã làm danh dự của ai bị tổn thương? Tôi đã tha hay tiếp tục nuôi giận? Tôi đã mở một cánh cửa hay đóng một cánh cửa?” Những câu hỏi ấy sẽ làm cuộc xét mình đi từ đạo đức cá nhân đến một đời sống được sai đi.
20. KHI CON THẤT BẠI TRONG VIỆC THƯƠNG XÓT
Và chắc chắn sẽ có những ngày con thất bại. Con sẽ nói một câu không nên nói. Con sẽ mất kiên nhẫn. Con sẽ xét đoán. Con sẽ thấy lòng mình cứng. Con sẽ bỏ qua một cơ hội làm điều tốt. Đừng vì thế mà nản. Chính lúc ấy, con lại trở về với điều con đang học: Lòng Chúa Thương Xót.
Hãy xin lỗi người cần xin lỗi. Hãy sửa điều có thể sửa. Hãy nhận trách nhiệm mà không bào chữa. Rồi hãy để Chúa tha cho con. Đừng biến việc muốn trở thành khí cụ của lòng thương xót thành một lý tưởng hoàn hảo khiến con tự kết án mỗi lần không đạt được. Con đang học. Những thất bại, nếu được mang đến với Chúa, sẽ làm con khiêm nhường hơn và có thể làm con thương người khác hơn. Một người từng phải xin lỗi nhiều lần sẽ hiểu giá trị của việc được tha. Một người biết mình thường cần một cơ hội nữa sẽ dễ cho người khác một cơ hội nữa.
21. HÃY ĐỂ TRÁI TIM CON MANG HÌNH DÁNG TRÁI TIM CHÚA
Hỡi linh hồn, cuối cùng tất cả không phải là học một số kỹ thuật cư xử tốt. Không phải chỉ là tập nói nhẹ, tập tha thứ, tập giúp đỡ. Điều Chúa muốn sâu hơn nhiều: Ngài muốn trái tim con dần mang hình dáng Trái Tim Ngài. Một trái tim biết chạnh thương trước đám đông mệt mỏi. Một trái tim khóc trước nỗi đau của người khác. Một trái tim không dập tắt tim đèn còn khói. Một trái tim đi tìm con chiên lạc. Một trái tim chờ người con hoang đàng. Một trái tim để cho kẻ tội lỗi chạm đến mà không sợ bị ô uế bởi sự khốn khổ của họ. Một trái tim bị đâm thâu nhưng từ đó vẫn chảy ra máu và nước.
Con có hiểu điều này kỳ diệu thế nào không? Thiên Chúa có thể dùng một con người yếu đuối như con để làm cho một người khác cảm thấy họ vẫn được yêu. Một nụ cười của con có thể là điều đầu tiên sau nhiều ngày khiến ai đó thấy mình không vô hình. Một lời tha thứ của con có thể giải thoát cả một gia đình khỏi nhiều năm hận thù. Một sự kiên nhẫn của con có thể giữ một người trẻ ở lại với Giáo Hội. Một cách con tiếp đón người tội lỗi có thể làm họ lần đầu tiên tin rằng Thiên Chúa chưa bỏ họ. Một lời cầu âm thầm của con có thể nâng đỡ một linh hồn ở rất xa mà con không biết. Thiên Chúa thường làm những điều lớn lao qua những việc rất nhỏ của những người chịu để mình thuộc về Ngài.
22. LỜI KẾT – HÃY TRỞ THÀNH CON ĐƯỜNG CHO LÒNG THƯƠNG XÓT ĐI QUA
Hỡi linh hồn, Chúa đã thương xót con rất nhiều. Có những điều con còn nhớ và có những điều con đã quên. Có những nguy hiểm con biết mình được cứu khỏi và có những nguy hiểm chỉ trên thiên đàng con mới biết Chúa đã gìn giữ con thế nào. Có những tội con đã khóc vì chúng, có những tội con không còn nhớ, có những bất trung Chúa đã phủ lên bằng sự kiên nhẫn. Có những lần con tưởng mình không thể đứng dậy nhưng Ngài vẫn chờ. Có những ngày con không cầu nguyện tốt, Ngài vẫn không bỏ. Có những lúc con chạy xa, Ngài vẫn đi tìm. Có những khi chính con không tin mình, Ngài vẫn chưa thôi hy vọng nơi điều ân sủng của Ngài có thể làm trong con.
Vậy giờ đây, đừng giữ lòng thương xót ấy cho riêng mình.
Nếu Chúa đã kiên nhẫn với con, hãy kiên nhẫn với người khác.
Nếu Chúa đã không đóng khung con trong quá khứ, đừng đóng khung anh em mình.
Nếu Chúa đã cho con cơ hội thứ hai, thứ ba, thứ một trăm, hãy bớt dè sẻn trong việc cho người khác cơ hội.
Nếu Chúa đã nghe con khóc, hãy học nghe tiếng khóc của người khác.
Nếu Chúa đã che phủ sự xấu hổ của con, đừng phơi bày sự xấu hổ của người khác.
Nếu Chúa đã nâng con lên khỏi đất, đừng dùng chân đạp người đang nằm xuống.
Nếu Chúa đã mở cửa cho con trở về, hãy cố đừng trở thành người đứng chắn cửa khi một linh hồn khác muốn trở về.
Hãy để Chúa mượn đôi mắt con.
Hãy để Chúa mượn môi miệng con.
Hãy để Chúa mượn bàn tay con.
Hãy để Chúa mượn thời gian con.
Hãy để Chúa mượn cả những vết thương của con.
Hãy để Ngài biến tất cả thành con đường cho lòng thương xót đi qua.
Rồi sẽ có những ngày con chẳng biết mình đã làm được gì. Có những ngày chỉ thấy mình yếu. Nhưng đừng quên: khí cụ không cần phải vĩ đại; nó chỉ cần ở trong tay người thợ. Hãy đặt mình trong tay Chúa mỗi sáng. Và khi tối đến, dù con đã thành công hay thất bại, hãy trở lại trong tay ấy.
Có thể con không thay đổi được cả thế giới. Nhưng con có thể làm cho thế giới của một người bớt lạnh lẽo hơn.
Có thể con không chữa được mọi vết thương. Nhưng con có thể không tạo thêm một vết thương.
Có thể con không giải quyết được mọi đau khổ. Nhưng con có thể không để một người đau khổ phải đi qua tất cả một mình.
Có thể con không nói được những lời cao siêu. Nhưng con có thể nói một câu không kết án.
Có thể con không cho được nhiều. Nhưng con có thể cho một chút với tình yêu lớn.
Đó là cách Nước Thiên Chúa lớn lên giữa đời.
Đó là cách Lòng Chúa Thương Xót trở thành hữu hình.
Đó là cách thế giới có thể chạm vào Trái Tim Chúa qua một con người rất bình thường.
Hỡi linh hồn, khi con đứng trước Chúa vào cuối đời, có lẽ Ngài sẽ không hỏi con đã chiến thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, đã khiến bao nhiêu người công nhận mình đúng, đã xây dựng cho mình một hình ảnh đẹp đến đâu. Nhưng Tin Mừng đã nói với chúng ta về những câu hỏi rất khác: Ta đói, con có cho ăn không? Ta khát, con có cho uống không? Ta là khách lạ, con có đón tiếp không? Ta đau yếu, con có thăm viếng không? Những khuôn mặt mà con đi qua mỗi ngày chính là nơi Chúa đang ẩn mình chờ lòng thương xót của con.
Vì vậy, từ hôm nay, hãy sống chậm hơn một chút để nhận ra những cơ hội ấy.
Trước một người khó chịu, hãy nhớ rằng Chúa có thể đang xin con kiên nhẫn.
Trước một người tội lỗi, hãy nhớ rằng Chúa có thể đang xin con đừng đóng cánh cửa cuối cùng.
Trước một người thất bại, hãy nhớ những lần Chúa đã nâng con.
Trước một người đang khóc, đừng vội dạy họ phải mạnh mẽ; đôi khi hãy khóc cùng họ.
Trước một người bị cả thế giới quay lưng, nếu có thể, hãy đứng gần họ một chút.
Và khi con không biết phải làm gì, hãy cầu nguyện.
“Lạy Chúa Giêsu, con đã được thương xót. Xin đừng để lòng thương xót ấy chết lại trong con. Xin làm cho đời con trở thành một con đường nhỏ để tình yêu Chúa đi đến với những người đang cần nó nhất. Xin cho con biết nghiêm khắc với tội lỗi của chính mình nhưng dịu dàng với sự yếu đuối của anh chị em. Xin cho con biết nói sự thật mà không làm tổn thương phẩm giá con người. Xin cho con biết tha như con đã được tha. Xin cho con biết chờ như Chúa đã chờ con. Xin cho con biết tìm người lạc như Chúa đã tìm con. Xin cho con biết nâng người ngã như Chúa đã nâng con. Xin đừng để con trở thành bức tường ngăn cản một linh hồn đến với Chúa. Xin làm con thành cánh cửa, thành cây cầu, thành bàn tay, thành ánh mắt, thành một chút hơi ấm của Trái Tim Chúa giữa thế giới lạnh lẽo này.”
Và nếu một ngày con hỏi: “Lạy Chúa, làm sao con biết hôm nay con đã sống đúng cuộc chiến linh hồn chưa?”, hãy nhìn xem sau khi gặp con, những người xung quanh có được nâng lên một chút không; người yếu có bớt sợ không; người lầm lỗi có thấy còn đường trở về không; người cô độc có cảm thấy mình được nhìn thấy không; người làm con đau có được con trao lại cho Chúa không. Vì cuộc chiến linh hồn chân chính cuối cùng không làm con trở thành một chiến binh cứng cỏi và lạnh lùng, nhưng làm con giống Đức Kitô hơn: mạnh mẽ trước sự dữ, khiêm nhường trước Thiên Chúa, và đầy lòng thương xót đối với con người.
“Phúc thay ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được Thiên Chúa thương xót.” (Mt 5,7)
Xin cho lời ấy không chỉ được con đọc, không chỉ được con giảng, không chỉ được con suy niệm, nhưng được viết vào chính cách con sống, cách con nhìn, cách con nói, cách con tha, cách con phục vụ và cách con yêu mỗi ngày.
Để rồi một ngày, khi mọi cuộc chiến đã kết thúc, khi con không còn phải chống lại đam mê, không còn phải khóc vì những lần sa ngã, không còn phải cố gắng tha thứ, không còn phải chiến đấu để giữ bình an, con sẽ bước vào nơi mà lòng thương xót không còn là điều phải học nữa, bởi con sẽ được chìm hoàn toàn trong chính Đấng là Lòng Thương Xót.
Cho đến ngày ấy, hãy tiếp tục.
Hãy chiến đấu.
Hãy tín thác.
Hãy đứng dậy.
Hãy thương xót.
Và nhất là, hãy để Chúa thương xót qua con.
Amen.
CHƯƠNG 38
NIỀM VUI VÀ LÒNG BIẾT ƠN TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đã được thương xót và đang được mời gọi trở thành khí cụ của lòng thương xót giữa cuộc đời, sau khi đã học biết tín thác vào Chúa trong mọi hoàn cảnh, sau khi đã nhận ra rằng mình không chỉ là người lãnh nhận lòng thương xót nhưng còn phải để cho lòng thương xót ấy đi qua đời mình mà chạm đến những người khác, giờ đây chúng ta cần dừng lại trước hai hoa trái rất đẹp, rất âm thầm, nhưng cũng rất cần thiết để nhận ra một đời sống thiêng liêng đang thực sự lớn lên trong Thiên Chúa: niềm vui và lòng biết ơn. Có thể có những linh hồn rất nghiêm túc trong việc chiến đấu, rất khắt khe với chính mình, rất chăm chỉ trong cầu nguyện, rất cố gắng sửa đổi những khuyết điểm, nhưng càng đi lâu lại càng trở nên nặng nề, khó chịu, buồn bã và căng thẳng. Họ nhìn đời sống thiêng liêng như một gánh nặng phải mang, nhìn việc nên thánh như một con đường đầy bổn phận khô khan, nhìn những sa ngã của mình như những bản án, nhìn người khác như những cản trở trên con đường hoàn thiện, và thậm chí đôi khi nhìn Thiên Chúa như một Đấng luôn đứng đó để đòi hỏi, kiểm tra, phán xét và chờ đợi mình sai phạm. Một đời sống thiêng liêng như thế có thể mang nhiều vẻ đạo đức bên ngoài, nhưng bên trong lại thiếu mất hương thơm của Tin Mừng, bởi vì Tin Mừng không chỉ là lời mời gọi chiến đấu, mà còn là tin vui; không chỉ là lời kêu gọi vác thập giá, mà còn là lời công bố Đấng chịu đóng đinh đã sống lại; không chỉ là lời nhắc chúng ta phải từ bỏ chính mình, mà còn là lời loan báo rằng chúng ta đã được yêu trước, được tìm kiếm trước, được tha thứ trước, được cứu chuộc trước. Vì thế, cuộc chiến linh hồn đích thực không thể kết thúc trong một khuôn mặt u ám. Người chiến đấu trong Chúa có thể khóc, có thể mệt, có thể bị thử thách, có thể có những ngày tâm hồn tối như đêm, nhưng dưới tận đáy của linh hồn vẫn phải có một dòng nước âm thầm của niềm vui, bởi vì họ biết mình đang thuộc về Chúa. Họ biết rằng mình không chiến đấu một mình. Họ biết rằng cuộc đời mình không nằm trong tay sự ngẫu nhiên. Họ biết rằng tội lỗi không phải là tiếng nói cuối cùng. Họ biết rằng những thất bại không thể xóa bỏ lòng thương xót. Họ biết rằng đằng sau tất cả những gì mình chưa hiểu vẫn có một Đấng đang yêu mình, dẫn mình, kiên nhẫn với mình và có thể làm cho mọi sự sinh ích cho những ai yêu mến Ngài. Chính từ xác tín ấy, niềm vui được sinh ra. Và từ niềm vui ấy, lòng biết ơn bắt đầu nở hoa.
Niềm vui mà chúng ta nói ở đây không phải là thứ vui vẻ bề mặt, không phải là một trạng thái tâm lý luôn phấn khởi, càng không phải là một sự lạc quan dễ dãi khiến người ta nhắm mắt trước những đau khổ của đời sống. Đời người có những lúc không thể cười được. Có những mất mát khiến lòng người tan vỡ. Có những phản bội làm ta câm lặng. Có những thất bại khiến người ta cảm thấy như tất cả những gì mình xây dựng lâu năm bỗng chốc sụp xuống. Có những giai đoạn khô khan thiêng liêng mà lời cầu nguyện trở nên nặng nề, Thánh lễ tưởng như không còn cảm xúc, những lời kinh quen thuộc không còn mang lại an ủi, và linh hồn tưởng như Chúa đã đi đâu rất xa. Có những lúc chính bản thân ta trở nên khó chịu đối với mình, bởi vì sau bao nhiêu năm chiến đấu mà vẫn thấy những tính xấu cũ trở lại, những yếu đuối cũ vẫn còn đó, những vết thương tưởng đã lành lại chợt đau. Nếu chúng ta định nghĩa niềm vui là lúc mọi sự đều thuận lợi, thì quả thật đời sống thiêng liêng sẽ chẳng có bao nhiêu niềm vui. Nhưng niềm vui Kitô giáo không được đặt trên những điều thuận lợi. Nó được đặt trên một sự thật sâu hơn tất cả những gì đang xảy ra: Chúa đang hiện diện, Chúa đang yêu, Chúa đang cứu, và Chúa sẽ không bỏ cuộc đối với linh hồn đã trao mình cho Ngài. Chính vì thế thánh Phaolô mới có thể nói: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” Niềm vui ấy không phải lời của một người sống trong nhung lụa. Đó là lời của một người đã biết tù đày, roi vọt, chống đối, thất bại và nước mắt. Nhưng ngài vui vì niềm vui của ngài không nằm trong hoàn cảnh. Niềm vui của ngài nằm trong Chúa. Và đây là điều linh hồn phải học rất lâu: đừng xây niềm vui của mình trên điều có thể thay đổi. Đừng đặt niềm vui trên sức khỏe, vì sức khỏe sẽ thay đổi. Đừng đặt niềm vui trên sự thành công, vì thành công có lúc đến lúc đi. Đừng đặt niềm vui trên lời khen của người khác, vì hôm nay người ta ca tụng, ngày mai người ta có thể quay lưng. Đừng đặt niềm vui trên cảm xúc sốt sắng, vì cảm xúc ấy không bền. Đừng đặt niềm vui trên việc mình không còn bị cám dỗ, vì cám dỗ vẫn có thể trở lại bất cứ lúc nào. Hãy đặt niềm vui trên Chúa Giêsu Kitô, Đấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Nếu điểm tựa không thay đổi, linh hồn sẽ dần có được một niềm vui không dễ bị lấy mất.
Có một nghịch lý rất đẹp của đời sống thiêng liêng: linh hồn càng nhận ra sự nghèo nàn của mình, nếu nhận ra trong ánh sáng của lòng thương xót, thì càng có khả năng vui sâu hơn. Lúc còn kiêu ngạo, người ta vui khi thấy mình tốt, mình mạnh, mình thành công, mình hơn người khác. Nhưng niềm vui ấy mong manh vì chỉ cần một lần thất bại là sụp đổ. Khi linh hồn lớn lên trong khiêm nhường, nó bắt đầu vui theo một cách khác: nó không còn vui vì thấy mình hoàn hảo, mà vui vì thấy Chúa nhân hậu; không còn vui vì mình không bao giờ ngã, mà vui vì mỗi lần ngã vẫn có một bàn tay nâng dậy; không còn vui vì mình làm được nhiều điều lớn lao, mà vui vì ngay cả những điều nhỏ bé nhất trong đời mình cũng có thể được Chúa dùng; không còn vui vì mình cảm thấy xứng đáng được yêu, mà vui vì mình khám phá ra rằng tình yêu của Chúa vốn đã đi trước mọi xứng đáng của mình. Đây là một sự chuyển đổi rất quan trọng. Bao lâu niềm vui còn phụ thuộc vào cái tôi, bấy lâu niềm vui ấy còn bị đe dọa. Nhưng khi niềm vui bắt nguồn từ lòng thương xót, thì chính sự yếu đuối của ta lại trở thành nơi ta có thể khám phá sự dịu dàng của Thiên Chúa. Một linh hồn hiểu điều này sẽ không còn quá ngạc nhiên khi thấy mình yếu. Nó không dung túng cho sự yếu đuối, nhưng cũng không tuyệt vọng vì yếu đuối. Nó chiến đấu hết sức, nhưng đồng thời biết mỉm cười trước sự nghèo nàn của mình, bởi nó hiểu rằng sự thánh thiện không phải là câu chuyện của một con người tự xây dựng mình cho đến mức hoàn hảo, mà là câu chuyện của một Thiên Chúa kiên nhẫn uốn nắn một con người yếu đuối cho đến khi người ấy biết hoàn toàn thuộc về Ngài.
Niềm vui này rất cần trong cuộc chiến linh hồn bởi vì kẻ thù đặc biệt thích một linh hồn buồn bã và nản chí. Khi không thể làm cho ta phạm một tội lớn, nó thường cố làm cho ta mất vui. Nó nhắc đi nhắc lại những thất bại. Nó phóng đại những thiếu sót. Nó làm ta quên tất cả những ơn Chúa đã ban mà chỉ nhìn vào những điều chưa đạt được. Nó làm ta tưởng rằng người khác tiến bộ còn mình thì đứng yên. Nó làm ta nhớ mãi một lỗi lầm, một câu nói sai, một quyết định chưa tốt, rồi âm thầm nói vào lòng ta: “Con không thay đổi được đâu. Con vẫn như vậy thôi. Bao năm rồi mà có khá hơn gì đâu.” Nếu linh hồn không tỉnh thức, nó sẽ rơi vào một thứ buồn thiêng liêng rất nguy hiểm: vẫn cầu nguyện nhưng không còn hy vọng, vẫn làm việc nhưng không còn hứng khởi, vẫn thi hành bổn phận nhưng lòng trở nên cằn cỗi. Khi ấy, kẻ thù không cần làm cho linh hồn bỏ hết mọi việc đạo đức. Chỉ cần làm cho linh hồn làm mọi việc trong cay đắng là đủ. Vì thế, gìn giữ niềm vui trong Chúa cũng là một hình thức chiến đấu. Có những ngày linh hồn phải chiến đấu để vui. Không phải giả vờ vui. Không phải ép mình cười khi đang đau. Nhưng là chiến đấu để không cho bóng tối có quyền giải thích toàn bộ cuộc đời mình. Là chiến đấu để nhớ rằng một ngày khó khăn không có nghĩa là cả cuộc đời thất bại. Một lần sa ngã không có nghĩa là Chúa đã bỏ ta. Một cánh cửa đóng lại không có nghĩa là mọi con đường đều đã khép. Một người không hiểu mình không có nghĩa là mình không còn được yêu. Một lời cầu nguyện chưa được đáp theo ý mình không có nghĩa là Chúa không nghe. Đây là sự tỉnh thức của đức tin. Và từ sự tỉnh thức ấy, niềm vui được giữ lại giữa những cơn bão.
Hỡi linh hồn, hãy học phân biệt sự buồn theo ý Chúa và sự buồn do kẻ thù. Có những nỗi buồn tốt lành: buồn vì tội lỗi, buồn vì đã làm người khác đau, buồn vì thấy thế giới xa Chúa, buồn vì nhận ra mình đã đáp lại tình yêu Chúa quá nghèo nàn. Nhưng nỗi buồn theo ý Chúa dẫn ta đến hoán cải rồi đem lại bình an. Nó không đẩy ta vào tuyệt vọng. Nó làm ta quỳ xuống nhưng không làm ta nằm lì trong thất vọng. Nó làm ta khóc nhưng sau nước mắt có ánh sáng. Trái lại, nỗi buồn do kẻ thù làm ta co lại trong chính mình. Nó khiến ta chỉ nghĩ về cái tôi bị tổn thương. Nó làm ta mất khả năng nhìn thấy ơn Chúa. Nó làm ta xa cộng đoàn, xa cầu nguyện, xa những người có thể nâng đỡ ta. Nó khiến ta thích nhai lại những điều tiêu cực. Nó nói rất nhiều về lỗi của ta nhưng rất ít về lòng thương xót. Nó nhấn mạnh sự bất xứng nhưng che khuất Thánh Giá. Khi nhận ra nỗi buồn ấy, đừng tranh luận quá lâu với nó. Hãy quay về với Chúa. Hãy nói một lời đơn sơ: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa. Con yếu nhưng Chúa mạnh. Con buồn nhưng Chúa vẫn ở đây. Con không hiểu nhưng con tín thác.” Đôi khi chỉ một lời như thế được lặp lại trong đức tin có thể đưa linh hồn ra khỏi một mê cung mà lý luận cả giờ không thể giải thoát.
Cùng với niềm vui là lòng biết ơn. Thật ra hai điều này nuôi dưỡng nhau. Người biết ơn sẽ có nhiều lý do để vui; người vui trong Chúa sẽ dễ nhận ra điều để tạ ơn. Lòng biết ơn là một trong những dấu chỉ rõ nhất cho thấy linh hồn đã bắt đầu hiểu lòng thương xót. Người nghĩ rằng mình xứng đáng với tất cả sẽ khó biết ơn. Họ coi mọi điều tốt đẹp mình nhận được là điều đương nhiên. Họ thấy sức khỏe là đương nhiên, người thương mình là đương nhiên, cơ hội mình có là đương nhiên, thức ăn trên bàn là đương nhiên, một ngày bình yên là đương nhiên, khả năng cầu nguyện là đương nhiên, ơn được biết Chúa là đương nhiên. Chỉ khi những điều ấy mất đi, họ mới nhận ra đã từng có chúng. Nhưng linh hồn sống trong lòng thương xót thì khác. Nó dần hiểu rằng không có gì là “đương nhiên”. Mỗi hơi thở là quà tặng. Mỗi buổi sáng mở mắt còn thấy ánh sáng là quà tặng. Một người còn ở bên cạnh mình là quà tặng. Một bữa cơm đơn sơ là quà tặng. Một lần được tha thứ là quà tặng. Một lần lương tâm được đánh động là quà tặng. Một lần có sức đứng dậy sau sa ngã là quà tặng. Một giờ cầu nguyện dù khô khan nhưng vẫn trung thành ngồi trước mặt Chúa cũng là quà tặng. Một thử thách khiến mình khiêm nhường hơn cũng có thể là quà tặng. Khi mắt linh hồn mở ra như thế, đời sống bỗng trở thành một chuỗi ân ban mà trước đó ta đã đi ngang qua rất nhiều lần mà không nhận ra.
Lòng biết ơn trước hết chữa lành căn bệnh bất mãn. Bất mãn là một trong những căn bệnh kín đáo nhất của linh hồn. Người bất mãn không nhất thiết than phiền bằng lời, nhưng trong lòng luôn có một tiếng nói: “Giá mà…” Giá mà tôi được ở một nơi khác. Giá mà tôi có một cộng đoàn khác. Giá mà tôi được giao một công việc khác. Giá mà người kia hiểu tôi hơn. Giá mà tôi khỏe hơn. Giá mà tôi có nhiều khả năng hơn. Giá mà quá khứ không xảy ra như thế. Giá mà đời tôi giống người này người kia. Tiếng “giá mà” ấy nếu không được thanh luyện sẽ khiến ta luôn sống ở một nơi không có thật, trong khi ân sủng Chúa chỉ được ban trong nơi ta đang sống. Lòng biết ơn đưa linh hồn trở về hiện tại. Nó dạy ta nói: “Lạy Chúa, đây là ngày Chúa ban cho con. Đây là con người Chúa đặt bên cạnh con. Đây là bổn phận Chúa trao cho con. Đây là giới hạn Chúa đang cho phép tồn tại trong đời con. Con chưa hiểu tất cả, nhưng con xin đón nhận hôm nay như một quà tặng.” Khi ấy, điều bình thường trở nên thánh. Công việc nhỏ bé trở thành nơi gặp Chúa. Một cuộc trò chuyện trở thành cơ hội của lòng bác ái. Một sự trái ý trở thành trường học của khiêm nhường. Một người khó tính trở thành dịp tập kiên nhẫn. Một bệnh tật trở thành nơi học phó thác. Một sự chờ đợi trở thành lúc học từ bỏ kiểm soát. Không phải mọi sự tự nó đều tốt, nhưng trong tay Chúa, mọi sự đều có thể trở thành chất liệu cho ơn thánh.
Lòng biết ơn còn đánh vào tận gốc sự tự ái. Tự ái muốn chiếm công. Nó nói: “Tôi làm được. Tôi xứng đáng. Tôi đã cố gắng. Đây là thành quả của tôi.” Biết ơn thì nói: “Nếu Chúa không ban sức, con đã không làm được. Nếu Chúa không mở đường, con đã không đi tới. Nếu Chúa không sai người này người kia đến nâng đỡ, con đã gục ngã từ lâu. Ngay cả ý muốn làm điều tốt trong con cũng đã là một ơn.” Một linh hồn biết tạ ơn thật sự không còn dễ kiêu ngạo khi thành công, bởi vì nó nhìn thấy bàn tay Chúa đằng sau thành công ấy. Nhưng cũng chính vì thế nó không quá tuyệt vọng khi thất bại, vì nó biết đời mình chưa bao giờ chỉ dựa trên sức riêng. Đây là sự tự do rất lớn. Thành công không làm linh hồn bay quá cao. Thất bại không làm nó rơi quá sâu. Khen ngợi không làm nó say. Chê bai không dễ nghiền nát nó. Nó dần có một trọng tâm khác: Chúa. Và khi Chúa là trọng tâm, lòng biết ơn trở thành hơi thở tự nhiên.
Hãy nhớ lại mười người phong cùi được Chúa Giêsu chữa lành. Cả mười đều nhận ơn, nhưng chỉ một người quay lại tạ ơn. Đây là hình ảnh rất thật của đời sống chúng ta. Chúa ban không biết bao nhiêu ơn, nhưng chúng ta thường chạy rất nhanh từ ơn này sang nhu cầu khác. Vừa được cứu khỏi một khó khăn, ta đã bắt đầu lo chuyện kế tiếp. Vừa được giải thoát khỏi một cơn bệnh, ta đã quên mất những ngày mình từng cầu xin tha thiết. Vừa nhận một điều mình mong đợi, ta đã lập tức đặt ra một mong đợi mới. Và cứ thế, đời sống trở thành một chuỗi đòi hỏi không có điểm dừng. Linh hồn không còn khả năng ngạc nhiên. Mà khi mất khả năng ngạc nhiên, ta cũng dần mất khả năng thờ phượng. Bởi thờ phượng bắt đầu từ sự kinh ngạc rằng Thiên Chúa đã thương đến một người như mình. “Chúa là ai mà lại nhớ đến con người?” Đó phải là câu hỏi thường xuyên vang lên trong lòng ta. Tại sao Chúa vẫn kiên nhẫn với tôi? Tại sao sau biết bao lần tôi hứa rồi lại thất bại, Chúa vẫn gọi tôi trở về? Tại sao Chúa vẫn cho tôi được phục vụ? Tại sao Chúa vẫn dùng một con người nghèo nàn như tôi để làm một chút gì đó cho Nước Chúa? Tại sao tôi vẫn còn có cơ hội bắt đầu lại hôm nay? Nếu linh hồn để những câu hỏi ấy đi sâu vào lòng, nó sẽ không thể sống mà không tạ ơn.
Có một cách rất đơn giản để nuôi dưỡng lòng biết ơn mỗi ngày: trước khi xét những điều mình đã làm sai, hãy nhớ những điều Chúa đã làm cho mình. Điều này rất quan trọng. Nhiều người xét mình chỉ bằng một danh sách lỗi lầm: hôm nay tôi đã nóng giận bao nhiêu lần, chia trí bao nhiêu lần, nói lời không hay bao nhiêu lần, lười biếng chỗ nào, tự ái ra sao. Việc đó cần, nhưng nếu bắt đầu và kết thúc ở đó, linh hồn rất dễ trở nên nặng nề. Một cuộc xét mình đúng nghĩa nên bắt đầu bằng ánh sáng, không phải bằng bóng tối. Trước tiên hãy hỏi: Hôm nay Chúa đã đi qua đời tôi ở đâu? Tôi đã được giữ gìn khỏi điều gì? Ai đã làm cho tôi vui? Tôi đã nhận được lời nào đúng lúc? Tôi đã có sức làm việc gì mà sáng nay tưởng không làm nổi? Tôi đã được tha thứ thế nào? Tôi đã có một khoảnh khắc bình an nào? Tôi đã được nhìn thấy điều gì đẹp? Tôi đã được ăn, được nghỉ, được gặp người, được cầu nguyện, được phục vụ ra sao? Rồi sau đó mới nhìn đến những thiếu sót. Khi đặt lỗi lầm trong bối cảnh của ân sủng, linh hồn sẽ nhìn chúng đúng hơn. Nó thấy mình có lỗi nhưng không cảm thấy mình bị bỏ rơi. Nó ăn năn nhưng không tuyệt vọng. Nó xin tha thứ trong lòng một Đấng đã ban ơn suốt cả ngày. Cách xét mình như thế không làm giảm sự nghiêm túc đối với tội lỗi, trái lại còn làm lòng sám hối sâu hơn, bởi vì ta bắt đầu thấy tội không chỉ là vi phạm một luật, mà là đáp lại không trọn vẹn đối với một tình yêu đã bao bọc mình.
Hãy tập tạ ơn những điều rất nhỏ. Đừng chờ những phép lạ lớn lao. Đời sống thiêng liêng trưởng thành không chỉ biết tạ ơn khi bệnh được chữa, khi vấn đề được giải quyết, khi dự án thành công, khi điều mình xin được ban. Hãy tạ ơn vì một ly nước. Tạ ơn vì một cơn gió mát. Tạ ơn vì tiếng chim buổi sáng. Tạ ơn vì một người đã mỉm cười với mình. Tạ ơn vì có người góp ý cho mình, dù lúc đầu mình không thích. Tạ ơn vì một thất bại đã làm mình bớt tự tin vào sức riêng. Tạ ơn vì một lần bị hiểu lầm đã cho mình cơ hội học im lặng. Tạ ơn vì một việc không theo ý mình đã cho mình cơ hội tập vâng phục. Tạ ơn vì một ngày cầu nguyện khô khan nhưng mình vẫn không bỏ cuộc. Tạ ơn vì hôm nay mình đã thắng được một phản ứng nóng giận dù chỉ một lần. Tạ ơn vì mình đã biết xin lỗi nhanh hơn hôm qua. Tạ ơn vì mình đã bớt nói một câu không cần thiết. Những chiến thắng nhỏ này nếu không được nhận ra sẽ trôi qua rất nhanh. Nhưng nếu được tạ ơn, chúng trở thành dấu chỉ rằng ân sủng đang hoạt động.
Cũng hãy tập tạ ơn giữa thử thách. Đây là một trong những việc khó nhất, và cũng là một trong những hành vi đức tin mạnh nhất. Tạ ơn trong niềm vui thì dễ. Tạ ơn khi mọi việc diễn ra như ý mình thì tự nhiên. Nhưng nói “con tạ ơn Chúa” giữa một biến cố mình chưa hiểu là một sự tự hiến. Không phải chúng ta tạ ơn vì cái xấu là tốt. Không ai phải gọi bệnh tật là điều tốt, gọi phản bội là điều tốt, gọi bất công là điều tốt. Nhưng ta có thể tạ ơn trong hoàn cảnh ấy vì tin rằng Chúa vẫn hiện diện, vẫn có thể cứu, vẫn có thể làm nảy sinh sự sống từ nơi tưởng như chỉ có đổ vỡ. Khi ấy lời “tạ ơn” trở thành một hành vi chống lại sự tuyệt vọng. “Lạy Chúa, con không hiểu chuyện này. Con không thích chuyện này. Nếu được chọn, con đã không chọn con đường này. Nhưng con tin rằng Chúa không rời con. Con tạ ơn Chúa vì Chúa vẫn ở đây.” Có những lời tạ ơn phải nói trong nước mắt. Có những lời tạ ơn nói xong lòng vẫn chưa nhẹ. Nhưng chính những lời ấy thường rất quý trước mặt Thiên Chúa, bởi vì chúng không dựa trên cảm xúc mà dựa trên đức tin.
Hỡi linh hồn, đừng nghĩ rằng tạ ơn trong thử thách là phủ nhận nỗi đau. Đức tin Kitô giáo không dạy chúng ta làm người vô cảm. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô. Ngài đã buồn sầu đến chết được trong vườn Cây Dầu. Ngài đã thốt lên trên Thập Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Nhưng trong tất cả những điều ấy, Ngài vẫn trao mình vào tay Chúa Cha. Niềm vui Kitô giáo không loại trừ nước mắt; lòng biết ơn Kitô giáo không cấm ta kêu than. Điều nó làm là không để tiếng than trở thành tiếng nói cuối cùng. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, con đau,” rồi nói thêm: “nhưng con vẫn tin.” Ta có thể nói: “Lạy Chúa, con không hiểu,” rồi nói thêm: “nhưng con không rời Chúa.” Ta có thể nói: “Con thất vọng về điều này,” rồi nói thêm: “nhưng con biết hy vọng của con không nằm trong điều này.” Chính chữ “nhưng” ấy nhiều khi là nơi đức tin được sinh ra.
Niềm vui cũng được nuôi dưỡng khi linh hồn thường xuyên nhớ lại lịch sử cứu độ của chính mình. Mỗi người đều có một “lịch sử lòng thương xót”. Có những lần Chúa đã cứu ta khỏi những điều mà lúc đó ta tưởng không thể vượt qua. Có những cánh cửa từng đóng nhưng rồi một con đường khác mở ra. Có những người Chúa đã gửi đến đúng lúc. Có những lời mình tình cờ nghe được nhưng lại trở thành ánh sáng trong một giai đoạn dài. Có những lần ta đã đứng bên bờ vực của một quyết định sai mà không hiểu vì sao cuối cùng lại không bước vào. Có những lần ta tưởng mình mất tất cả, nhưng nhiều năm sau nhìn lại mới thấy chính biến cố ấy làm đời mình đổi hướng. Đừng quên những điều ấy. Kẻ thù rất muốn ta mất trí nhớ thiêng liêng. Nó muốn mỗi thử thách mới xuất hiện đều làm ta phản ứng như thể đây là lần đầu Chúa phải cứu ta. Nhưng lòng biết ơn nhớ lại: “Chúa đã từng đưa con qua. Chúa đã từng nâng con. Chúa đã từng mở đường. Con chưa biết lần này Chúa sẽ làm thế nào, nhưng con biết Chúa là ai.” Đức tin được củng cố bằng ký ức. Vì thế dân Israel luôn được nhắc phải nhớ những việc Thiên Chúa đã làm. Vì con người rất mau quên. Vừa qua Biển Đỏ đã có thể than phiền vì thiếu nước. Vừa được nuôi bằng manna lại có thể đòi món khác. Chúng ta cũng thế. Cho nên linh hồn khôn ngoan phải tập nhớ.
Một cách cụ thể, thỉnh thoảng hãy ngồi lại với Chúa và kể cho Ngài nghe những điều Ngài đã làm cho đời mình. Không phải vì Chúa quên, mà vì ta quên. Hãy nhớ ngày mình được gọi. Nhớ những lần được tha thứ. Nhớ những con người đã nâng đỡ. Nhớ những biến cố làm mình trưởng thành. Nhớ cả những đau khổ đã từng làm mình oán trách nhưng sau này lại trở thành ơn. Rồi hãy nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì Chúa đã không để con đi một mình.” Một linh hồn biết nhớ như thế sẽ có nền tảng vững vàng hơn khi đi qua những đêm tối mới.
Niềm vui và lòng biết ơn còn phải được chia sẻ. Một người sống trong cộng đoàn nhưng chỉ lan tỏa sự than phiền sẽ làm bầu khí nặng đi rất nhanh. Có những người bước vào phòng là người khác thấy căng thẳng, bởi vì họ luôn có điều để bất mãn. Thức ăn không vừa. Thời tiết không đúng. Công việc không hay. Người này khó chịu. Người kia không biết điều. Bề trên quyết định chưa hợp lý. Người trẻ thiếu kinh nghiệm. Người già bảo thủ. Công việc quá nhiều. Nghỉ ngơi quá ít. Họ có thể đúng ở một vài nhận xét, nhưng nếu cả đời sống chỉ nhìn bằng con mắt phê bình, linh hồn sẽ dần không còn khả năng ca tụng. Trái lại, có những người không cần nói nhiều nhưng sự hiện diện của họ làm người khác nhẹ lòng. Họ biết nhận ra điều tốt. Họ biết cám ơn. Họ biết khen một điều đáng khen. Họ biết nói một lời khích lệ. Họ biết kể về một ơn Chúa thay vì chỉ kể về khó khăn. Họ không ngây thơ, vẫn thấy vấn đề, nhưng không để vấn đề chiếm toàn bộ cái nhìn. Người như thế là một khí cụ của lòng thương xót rất thực tế. Bởi có khi lòng thương xót không cần những bài giảng lớn. Chỉ cần một người biết vui, biết tạ ơn, biết làm cho người bên cạnh cảm thấy cuộc đời vẫn đáng sống và Thiên Chúa vẫn đáng tin.
Trong đời sống tông đồ điều này càng quan trọng. Người loan báo Tin Mừng mà không có niềm vui thì lời loan báo sẽ thiếu sức thuyết phục. Nếu khuôn mặt ta lúc nào cũng căng thẳng, lời nói lúc nào cũng trách móc, giọng điệu lúc nào cũng nặng nề, người khác sẽ khó tin rằng chúng ta đang mang một “Tin Mừng”. Người thừa sai của Đấng Cứu Thế phải mang trong mình niềm vui của người đã được cứu. Không nhất thiết phải là người hài hước, càng không cần phải luôn hoạt náo. Có những người rất trầm nhưng người khác vẫn cảm thấy ở họ một sự bình an sáng sủa. Niềm vui Tin Mừng không nằm ở tiếng cười lớn mà nằm ở một tâm hồn không cay đắng. Nó nằm trong cách đón một người. Trong cách lắng nghe. Trong sự kiên nhẫn với người làm phiền. Trong khả năng không để những thất bại mục vụ làm mình trở thành cứng cỏi. Trong cách vẫn tin nơi một người tội lỗi sau nhiều lần họ thất bại. Trong việc không mệt mỏi nói với người khác rằng họ vẫn có thể bắt đầu lại. Một người thừa sai sống như thế chính là chứng nhân của lòng thương xót, bởi vì niềm vui của họ nói cho thế giới rằng Thiên Chúa chưa chán con người.
Hãy đặc biệt coi chừng một thứ đạo đức làm mất niềm vui. Có những linh hồn tưởng rằng càng nghiêm khắc với mình càng thánh. Họ không cho phép mình nghỉ ngơi mà không cảm thấy tội lỗi. Không cho phép mình hưởng một niềm vui đơn sơ mà không nghi ngờ đó là chiều theo xác thịt. Không biết thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, một bữa ăn, tình bạn, một cuộc chuyện trò, một giấc ngủ ngon, một khoảnh khắc thanh thản, bởi trong lòng lúc nào cũng nghĩ mình phải làm thêm một điều gì đó cho Chúa. Nhưng Chúa không tạo dựng con người để họ sống như một cỗ máy thiêng liêng. Có thời gian cầu nguyện, cũng có thời gian nghỉ ngơi. Có lúc khóc, cũng có lúc cười. Có mùa chay, cũng có lễ Phục Sinh. Có Thập Giá, nhưng có cả bàn tiệc. Đức Giêsu đã dự tiệc cưới Cana. Ngài ăn uống với các môn đệ. Ngài đón nhận dầu thơm. Ngài nghỉ bên giếng. Ngài mời các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Khi một linh hồn biết nhận những niềm vui lành mạnh như quà tặng của Chúa và tạ ơn vì chúng, chính niềm vui ấy trở nên thánh. Không phải mọi vui thú đều cần bị nghi ngờ. Điều cần thanh luyện là sự chiếm hữu ích kỷ và lệ thuộc. Còn niềm vui trong sáng trước điều tốt đẹp là một hình thức ca tụng Đấng Tạo Hóa.
Có khi chúng ta cần học lại nghệ thuật vui với những điều rất bình thường. Một tách cà phê nóng. Một cơn mưa. Một buổi chiều yên. Một quyển sách hay. Một bản nhạc đẹp. Một khuôn mặt thân quen. Một bữa cơm cộng đoàn có tiếng cười. Một người trở lại sau nhiều năm xa Chúa. Một em bé làm dấu chưa tròn trịa. Một cụ già lần chuỗi với đôi tay run. Một người nghèo chia cho người nghèo hơn mình. Một lần hòa giải sau những ngày căng thẳng. Một buổi tối mà lòng mình bỗng bình an không rõ vì sao. Tất cả những điều ấy nếu được nhận trong Chúa đều có thể trở thành những bí tích nhỏ bé của lòng nhân hậu. Linh hồn biết tạ ơn sẽ thấy đời sống phong phú hơn rất nhiều, không phải vì đời họ có nhiều hơn, mà vì họ nhìn thấy nhiều hơn.
Và hãy nhớ: niềm vui không phải phần thưởng dành cho người đã thắng xong cuộc chiến; niềm vui là sức mạnh giúp ta tiếp tục chiến đấu. Một linh hồn vui trong Chúa sẽ có sức đứng dậy nhanh hơn. Khi ngã, nó không nằm đó quá lâu vì không muốn phụ lòng Đấng yêu mình. Khi bị cám dỗ, nó nhớ rằng tội lỗi hứa cho nó một thứ vui rẻ tiền nhưng sẽ cướp mất niềm vui sâu hơn. Khi bị hiểu lầm, nó không cần phải lập tức chứng minh mình đúng bởi biết giá trị của mình không nằm trong cái nhìn của người khác. Khi gặp thất bại, nó có thể nói: “Việc này không thành, nhưng Chúa vẫn là Chúa.” Đây là sự tự do mà kẻ thù rất sợ. Nó có thể lấy nhiều điều khỏi ta, nhưng nếu không lấy được niềm vui trong Chúa, nó chưa thắng được ta.
Các thánh tử đạo là bằng chứng mạnh mẽ cho điều này. Không phải vì các ngài không sợ đau. Thân xác con người vẫn run trước tra tấn. Không phải vì các ngài không yêu cuộc sống. Chính vì yêu sự sống thật mà các ngài mới không chấp nhận đánh đổi Chúa lấy vài năm sống thêm. Niềm vui của các ngài nằm ở sự chắc chắn rằng mình thuộc về Đức Kitô. Cho nên giữa đau khổ, có những vị vẫn ca hát. Giữa án tử, có những vị vẫn tha thứ. Trước mặt những người hành hình, có những vị vẫn bình an. Đó không phải là sức mạnh tâm lý. Đó là hoa trái của một lòng tin đã bén rễ rất sâu: “Dù người ta có lấy tất cả, họ không thể lấy Chúa khỏi tôi.” Chúng ta có thể không được gọi đến tử đạo đổ máu, nhưng mỗi ngày đều có những cuộc tử đạo nhỏ. Chết đi cho ý riêng. Chết đi cho nhu cầu được công nhận. Chết đi cho một lời muốn nói để thắng người khác. Chết đi cho sự tự ái khi bị sửa lỗi. Chết đi cho ý muốn trả đũa. Chết đi cho thói quen muốn mọi việc theo ý mình. Nếu mỗi cái chết nhỏ ấy được sống trong tình yêu, nó sẽ không chỉ đau; nó còn có một niềm vui kín đáo, bởi linh hồn biết mình đang được tự do hơn.
Lòng biết ơn cũng giúp ta chiến đấu với sự ganh tị. Người không biết ơn luôn nhìn sang phần người khác và cảm thấy mình thiếu. Người biết ơn nhìn phần mình và nhận ra đã được cho rất nhiều. Khi thấy người khác thành công, thay vì hỏi: “Tại sao họ có mà tôi không có?”, hãy tập nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì ơn Chúa đang hoạt động nơi họ.” Khi thấy người khác được khen, hãy tạ ơn vì điều tốt được nhìn nhận. Khi thấy người khác có tài hơn mình, hãy vui vì Nước Chúa có thêm một khí cụ hữu ích. Đây là bài tập rất mạnh để giết chết tự ái. Lúc đầu có thể khó, thậm chí lời tạ ơn nói ra còn khô khan. Nhưng cứ làm. Trái tim sẽ học theo lời cầu nguyện. Không phải cứ đợi có cảm xúc tốt rồi mới tạ ơn; nhiều khi chính việc tạ ơn sẽ tạo nên một trái tim mới.
Lòng biết ơn còn chữa lành ký ức. Có những người sống nhiều năm với những ký ức đau. Họ nhớ rất rõ ai đã làm mình tổn thương, nhưng lại quên những người đã yêu thương mình. Nhớ một lần bị bỏ rơi, nhưng quên mười lần được đón nhận. Nhớ một câu nói làm mình đau mười năm trước, nhưng quên biết bao lời tốt đã nghe. Trí nhớ của con người thường có xu hướng bám vào điều tiêu cực. Vì thế, cần có một kỷ luật của lòng biết ơn. Không phải để phủ nhận vết thương, mà để không cho vết thương độc quyền viết lịch sử đời mình. Cuộc đời ta không chỉ là câu chuyện về những gì người khác đã làm sai với ta. Nó còn là câu chuyện về biết bao người đã giúp ta, bao lần Chúa đã bảo vệ ta, bao cánh cửa đã mở ra, bao ánh sáng đã đến. Khi linh hồn bắt đầu gom lại những mảnh ân sủng ấy, nó nhận ra đời mình không phải một vùng đất bị bỏ hoang. Chúa đã đi qua đó từ lâu.
Một thực hành rất tốt là mỗi ngày tìm ít nhất ba điều để tạ ơn. Đừng chọn những điều chung chung như “tạ ơn Chúa vì mọi sự.” Hãy cụ thể: tạ ơn vì sáng nay con đã thức dậy đúng giờ; tạ ơn vì một người đã gọi điện hỏi thăm; tạ ơn vì con đã giữ được bình tĩnh trong một cuộc nói chuyện; tạ ơn vì con được nghe một câu Lời Chúa đánh động; tạ ơn vì con đã nhận ra một sai lầm trước khi quá muộn; tạ ơn vì con đã có sức cầu nguyện dù mệt. Sự cụ thể làm lòng biết ơn trở nên thật. Dần dần, linh hồn sẽ phát triển một “giác quan ân sủng”. Nó bắt đầu phát hiện ơn Chúa ở những nơi trước đây tưởng là bình thường. Và điều kỳ lạ là khi càng biết ơn, đời sống càng có nhiều điều đáng biết ơn. Không phải Chúa ban nhiều hơn người khác, nhưng mắt ta mở hơn.
Khi cầu nguyện, đừng chỉ xin. Hãy dành một phần đáng kể để tạ ơn. Nhiều lời cầu của chúng ta giống như một danh sách nhu cầu: xin sức khỏe, xin thành công, xin giải quyết vấn đề, xin ơn này ơn kia. Không sai. Chúa muốn ta xin. Nhưng tương quan với Chúa sẽ nghèo nếu ta chỉ đến khi cần. Hãy tập ngồi trước Chúa mà không xin gì cả, chỉ để nói: “Con tạ ơn Chúa vì Chúa là Chúa. Con tạ ơn Chúa vì con được ở đây. Con tạ ơn Chúa vì con thuộc về Chúa.” Đây là một hình thức cầu nguyện rất tinh tuyền. Nó đưa linh hồn từ việc yêu quà tặng đến yêu Đấng ban quà. Và khi linh hồn có thể tạ ơn Chúa không chỉ vì Ngài đã cho gì, mà vì chính Ngài, khi ấy tình yêu đã lớn lên.
Đặc biệt trong Thánh Thể, lòng biết ơn phải trở thành thái độ trung tâm. Chính chữ “Eucharistia” đã mang nghĩa tạ ơn. Mỗi Thánh lễ là lời tạ ơn lớn lao của Đức Kitô dâng lên Chúa Cha, và chúng ta được bước vào lời tạ ơn ấy. Có biết bao lần chúng ta tham dự Thánh lễ như một bổn phận, mà quên rằng mình đang đứng trước mầu nhiệm lớn lao nhất: Đấng đã chết và sống lại đang trao chính mình cho ta. Nếu linh hồn thực sự ý thức điều ấy, làm sao có thể rước lễ mà không tạ ơn? Làm sao có thể để những chuyện nhỏ trong ngày lấn át hoàn toàn niềm vui được thuộc về Đức Kitô? Hãy để vài phút sau rước lễ trở thành trường học của lòng biết ơn. Không cần nói nhiều. Chỉ ở lại. Chỉ nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Chúa vì Chúa đã đến.” Nếu lời ấy được nói thật lòng mỗi ngày, nó sẽ từ từ thay đổi toàn bộ cách ta nhìn cuộc sống.
Niềm vui và lòng biết ơn cũng giúp chúng ta đón nhận chính mình. Có những người biết tạ ơn về người khác nhưng không biết tạ ơn về bản thân. Họ chỉ nhìn thấy khuyết điểm của mình. Họ không chấp nhận tính khí, khả năng, quá khứ, giới hạn của mình. Nhưng con cũng là một quà tặng Chúa đã trao cho chính con. Điều này không có nghĩa là tự tôn hay tự ái. Ngược lại, biết ơn vì chính mình là thừa nhận rằng Thiên Chúa đã muốn tôi hiện hữu. Tôi có những giới hạn, nhưng tôi không phải một sai lầm. Tôi có một lịch sử không hoàn hảo, nhưng Chúa vẫn đang viết tiếp. Tôi có những tài năng riêng, dù có thể không giống người khác. Tôi có một sứ mạng không ai có thể sống thay hoàn toàn. Khi linh hồn bắt đầu tạ ơn Chúa về chính đời mình, nó bớt so sánh. Và khi bớt so sánh, nó tự do hơn để yêu.
Hỡi linh hồn, hãy cẩn thận với việc so sánh vì đó là tên trộm của niềm vui. Nếu nhìn lên người hơn mình, con sẽ dễ thấy mình thua kém. Nếu nhìn xuống người kém mình, con sẽ dễ kiêu ngạo. Cả hai đều làm con rời khỏi Chúa. Hãy nhìn vào phần đường Chúa giao cho con. Một bông hoa không cần ghen với ngôi sao. Một cây nhỏ không cần xấu hổ vì không cao như cây cổ thụ. Điều Chúa hỏi không phải: “Tại sao con không giống người kia?” mà là: “Con đã làm gì với những gì Ta trao cho con?” Lòng biết ơn giúp ta trung thành với phần mình. Nó nói: “Lạy Chúa, con không có mọi thứ, nhưng con có đủ để yêu Chúa hôm nay. Con không làm được mọi việc, nhưng con có thể làm việc này cho Chúa. Con không cứu cả thế giới, nhưng con có thể yêu người đang đứng trước mặt con.” Khi sống như thế, linh hồn thoát khỏi áp lực phải trở thành ai khác.
Đôi khi trong cuộc chiến thiêng liêng, điều khiến ta mất vui không phải là tội nặng mà là sự cầu toàn. Cầu toàn làm ta không bao giờ hài lòng với một bước tiến nhỏ. Ta cầu nguyện được ba mươi phút nhưng tiếc vì chưa đủ sâu. Ta nhịn được một câu nóng nhưng bực vì trong lòng vẫn còn khó chịu. Ta làm một việc bác ái nhưng trách mình vì động cơ chưa hoàn toàn tinh tuyền. Ta tiến được mười bước nhưng chỉ nhìn ba bước còn thiếu. Đây là một sự khắt khe có vẻ đạo đức nhưng thường phát xuất từ tự ái. Người khiêm nhường biết tạ ơn cả những tiến bộ nhỏ. Họ không gọi một mầm non là cây lớn, nhưng họ cũng không giẫm nát mầm non vì nó chưa thành cây. Họ biết Chúa làm việc từ từ. Họ vui khi thấy một dấu hiệu nhỏ của ân sủng. Họ nói: “Lạy Chúa, con vẫn còn xa, nhưng con tạ ơn Chúa vì hôm nay con đã tiến được một chút.” Chính thái độ này giúp cuộc chiến kéo dài mà không trở thành kiệt quệ.
Niềm vui đích thực còn có một chiều kích cánh chung. Chúng ta vui không chỉ vì những gì Chúa đang làm bây giờ, mà vì biết cuộc chiến này sẽ không kéo dài mãi. Sẽ có một ngày không còn cám dỗ. Không còn nước mắt. Không còn chiến đấu với tự ái. Không còn phải canh giữ từng ý nghĩ. Không còn phải đứng dậy sau mỗi lần ngã. Không còn phải tin trong bóng tối, bởi chúng ta sẽ thấy mặt đối mặt. Mỗi ngày trung thành ở đời này là một bước gần hơn tới cuộc gặp ấy. Người Kitô hữu sống trong một cuộc chờ đợi đầy hy vọng. Cái chết không phải là bức tường cuối cùng, mà là cánh cửa. Chính vì thế, niềm vui của chúng ta có một chiều sâu mà thế gian không thể cho. Nó không nói rằng đời này sẽ không đau. Nó nói rằng đau khổ này không phải mãi mãi. Nó không nói rằng chúng ta sẽ không chết. Nó nói rằng cái chết đã bị đánh bại từ bên trong bởi sự Phục Sinh của Đức Kitô.
Vì thế, hỡi linh hồn đang chiến đấu, đừng để khuôn mặt thiêng liêng của con trở thành khuôn mặt của một người luôn thua cuộc. Đừng bước đi như thể Chúa Kitô vẫn còn nằm trong mồ. Đừng hành xử như thể tội lỗi mạnh hơn ân sủng. Đừng sống như thể mọi sự đều phụ thuộc vào sức con. Hãy nghiêm túc với cuộc chiến, nhưng đừng u ám. Hãy ghét tội, nhưng đừng ghét chính mình. Hãy nhận ra sự yếu đuối, nhưng đừng quên quyền năng của Chúa. Hãy vác thập giá, nhưng nhớ rằng thập giá ấy đã được ánh sáng Phục Sinh chiếu vào. Hãy chiến đấu với lòng khiêm nhường của một người biết mình yếu, nhưng cũng với niềm vui của một người biết mình được yêu.
Và đừng chờ đến khi mọi sự tốt đẹp mới tạ ơn. Nếu con chờ tới ngày không còn vấn đề, có lẽ con sẽ không bao giờ tạ ơn đủ. Hãy tạ ơn ngay trong cuộc chiến. Tạ ơn vì con còn được chiến đấu. Tạ ơn vì lương tâm con còn biết đau khi làm sai. Tạ ơn vì con còn muốn nên tốt hơn. Tạ ơn vì con còn thấy mình nghèo, bởi người không thấy mình nghèo rất khó mở tay nhận ơn. Tạ ơn vì Chúa chưa làm con hoàn hảo ngay lập tức, để con còn học kiên nhẫn, khiêm nhường và tín thác. Tạ ơn vì những người khó chịu đang dạy con yêu không theo cảm xúc. Tạ ơn vì những thất bại đang làm con bớt tin vào mình. Tạ ơn vì những ngày khô khan đang thanh luyện tình yêu khỏi việc chỉ tìm an ủi. Tạ ơn vì những thập giá đang nối đời con với Thập Giá Đức Kitô. Khi nhìn như thế, ngay cả chiến trường cũng có thể trở thành bàn thờ.
Hỡi linh hồn, có lẽ con vẫn còn nhiều điều phải sửa. Có lẽ con vẫn thấy trong mình bao đam mê chưa chết, bao vết thương chưa lành, bao phản ứng chưa được thanh luyện. Đừng để điều ấy cướp mất bài ca trong lòng con. Chúa không đợi con hoàn hảo mới yêu con. Ngài yêu con trong hành trình. Ngài vui khi thấy con trở về. Ngài không khinh một cố gắng nhỏ. Ngài không coi thường một giọt nước mắt ăn năn. Ngài không quên một hy sinh âm thầm. Ngài thấy tất cả những trận chiến mà không ai biết. Ngài thấy những lần con đã muốn nói nhưng chọn im lặng. Những lần con đã muốn bỏ cuộc nhưng vẫn bước tiếp. Những lần con bị tổn thương nhưng vẫn cố tha thứ. Những lần con không cảm thấy gì trong cầu nguyện nhưng vẫn trung thành ở lại. Những điều ấy có thể chẳng ai vỗ tay, nhưng trước mặt Chúa chúng không nhỏ bé.
Vậy hãy vui. Không phải vì con đã hoàn tất, nhưng vì Chúa chưa hoàn tất công việc của Ngài nơi con. Hãy tạ ơn. Không phải vì đời con không có thập giá, nhưng vì không một thập giá nào con phải vác một mình. Hãy vui vì tên con đã được gọi. Hãy tạ ơn vì lòng thương xót vẫn mở. Hãy vui vì mỗi sáng còn là một khởi đầu. Hãy tạ ơn vì mỗi tối còn có thể trở về. Hãy vui vì Chúa Giêsu đã chết cho con. Hãy tạ ơn vì Ngài đã sống lại cho con. Hãy vui vì Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động, dù đôi khi rất âm thầm. Hãy tạ ơn vì Đức Maria vẫn đồng hành như một người Mẹ. Hãy vui vì Hội Thánh vẫn cho con các Bí tích. Hãy tạ ơn vì con còn có Lời Chúa. Hãy vui vì con không phải tự cứu mình. Hãy tạ ơn vì ơn cứu độ là quà tặng.
“Hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” Hãy để lời ấy không chỉ là một câu Thánh Kinh đẹp treo trên tường, mà trở thành kỷ luật của tâm hồn. Mỗi khi bắt đầu chìm vào than phiền, hãy nhớ lại một ơn. Mỗi khi ganh tị, hãy tạ ơn về phần mình. Mỗi khi thất vọng về bản thân, hãy nhớ một lần Chúa đã nâng mình dậy. Mỗi khi sợ tương lai, hãy nhớ lại sự trung tín của Chúa trong quá khứ. Mỗi khi thấy thập giá nặng, hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Mỗi khi thấy cuộc đời tối, hãy nhớ ngôi mộ trống. Và mỗi khi không còn lời để nói, hãy chỉ thầm thì: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa. Con tạ ơn Chúa.”
Có thể đó là lời cầu nguyện cuối cùng cần giữ lại sau tất cả những chương nói về cuộc chiến linh hồn. Bởi cuối cùng, người chiến thắng không phải là người chưa bao giờ ngã, nhưng là người sau mỗi lần ngã vẫn quay về. Không phải là người không bao giờ khóc, nhưng là người trong nước mắt vẫn còn tin. Không phải là người lúc nào cũng mạnh, nhưng là người biết nơi mình phải chạy đến khi yếu. Không phải là người có đời sống không thập giá, nhưng là người để thập giá dẫn mình vào sự sống. Và cũng không phải là người luôn có cảm xúc vui vẻ, nhưng là người giữa tất cả những đổi thay của đời mình vẫn giữ được một lời sâu thẳm trong tim: “Chúa vẫn tốt lành. Chúa vẫn yêu con. Chúa vẫn đang cứu con. Vì thế, con sẽ vui mừng và tạ ơn.”
Hỡi linh hồn, hãy chiến đấu, nhưng đừng đánh mất bài ca. Hãy mang thập giá, nhưng đừng để thập giá làm con quên Phục Sinh. Hãy nhìn vào những yếu đuối của mình, nhưng đừng nhìn chúng lâu hơn nhìn vào lòng thương xót. Hãy xét mình, nhưng cũng hãy tạ ơn. Hãy ăn năn, nhưng cũng hãy ca tụng. Hãy khóc khi cần, nhưng đừng quên rằng nước mắt của người thuộc về Chúa không rơi vào hư vô. Hãy sống từng ngày như một người được cứu, được thương, được dẫn dắt, được tha thứ và được sai đi. Và khi đêm xuống, dù ngày ấy thành công hay thất bại, dù con đã làm được nhiều hay rất ít, hãy khép lại bằng một lời đơn sơ mà chân thành: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì hôm nay Chúa đã ở với con.”
Nếu con giữ được lời ấy trong lòng, cuộc chiến linh hồn sẽ không còn chỉ là cuộc chiến chống tội lỗi, nhưng sẽ trở thành một bài ca. Một bài ca đôi khi được hát bằng tiếng cười, đôi khi bằng nước mắt, đôi khi bằng thinh lặng, đôi khi bằng việc đứng dậy sau một lần ngã. Nhưng xuyên suốt bài ca ấy vẫn chỉ có một điệp khúc không thay đổi: Lòng thương xót Chúa tồn tại đến muôn đời. Và người đã thực sự hiểu điều ấy sẽ có lý do sâu xa nhất để vui mừng, lý do vững chắc nhất để hy vọng, và lý do không bao giờ cạn để tạ ơn.
CHƯƠNG 39
SỰ PHÓ THÁC HOÀN TOÀN VÀO THÁNH Ý CHÚA
Hỡi linh hồn đã được dẫn dắt qua bao nhiêu chặng đường của cuộc chiến nội tâm, đã từng nếm sự yếu đuối của mình, đã từng biết thế nào là cám dỗ, sa ngã, đứng dậy, bắt đầu lại, đã từng học cách bất tín nhiệm vào sức riêng và tín thác vào Thiên Chúa, đã từng đi qua những giờ cầu nguyện khô khan, những ngày lòng nặng trĩu, những lần tưởng như mình không thể tiến thêm được nữa, nhưng rồi lại được lòng thương xót Chúa nâng lên và dẫn đi, giờ đây chúng ta đến gần một trong những thái độ sâu xa nhất của đời sống thiêng liêng, một thái độ mà nếu được sống thật, nó sẽ làm cho toàn bộ cuộc chiến linh hồn mang một khuôn mặt khác, nhẹ nhàng hơn mà không hời hợt, bình an hơn mà không trốn tránh, tự do hơn mà không vô trách nhiệm. Đó là sự phó thác hoàn toàn vào thánh ý Chúa. Có lẽ trong đời sống đạo, chúng ta đã nói hai chữ “phó thác” rất nhiều. Chúng ta hát về phó thác, cầu nguyện về phó thác, khuyên người khác phó thác, và trong những lúc đau khổ chúng ta cũng thường tự nhủ rằng phải phó thác cho Chúa. Nhưng để thật sự phó thác, để phó thác đến tận nơi sâu nhất của ý chí, để không chỉ nói bằng môi miệng nhưng thực sự trao quyền quyết định cuối cùng cho Thiên Chúa, đó lại là một hành trình rất dài. Vì nơi sâu nhất của con người luôn có một khát vọng muốn giữ lấy đời mình trong tay mình. Ta muốn biết điều gì sẽ xảy ra. Ta muốn biết ngày mai sẽ ra sao. Ta muốn biết người khác sẽ đối xử với ta thế nào. Ta muốn biết công việc mình đang làm có thành công hay không. Ta muốn biết lời cầu nguyện của mình sẽ được Chúa nhận lời theo cách nào. Ta muốn biết bệnh tật có qua khỏi không. Ta muốn biết mình sẽ được sai đi đâu, ở lại đâu, được yêu thương hay bị quên lãng, được nhìn nhận hay bị hiểu lầm, được thành công hay phải nếm trải thất bại. Ngay cả khi nói rằng mình tin Chúa, trong sâu thẳm chúng ta vẫn thường muốn Chúa thực hiện chương trình của chúng ta hơn là để chúng ta bước vào chương trình của Ngài. Chính vì thế, phó thác không phải là một cảm xúc êm đềm; phó thác là một cuộc chết đi. Đó là cái chết của nhu cầu kiểm soát, cái chết của sự đòi hỏi phải hiểu hết, cái chết của ý muốn bắt Thiên Chúa phải giải thích mọi sự trước khi ta chấp nhận. Và chính trong cái chết ấy, một sự sống mới bắt đầu xuất hiện: sự sống của một linh hồn thật sự thuộc về Chúa.
1. PHÓ THÁC LÀ ĐỈNH CAO CỦA CUỘC CHIẾN CHỐNG LẠI Ý RIÊNG
Suốt hành trình của cuộc chiến linh hồn, có lẽ kẻ thù dai dẳng nhất không phải lúc nào cũng là những cám dỗ rõ ràng bên ngoài, mà chính là ý riêng ẩn sâu bên trong. Ý riêng không nhất thiết luôn đòi làm điều xấu. Nhiều khi nó muốn những điều rất tốt. Nó muốn một công việc tốt đẹp. Nó muốn một sứ vụ sinh nhiều hoa trái. Nó muốn được sống trong một cộng đoàn thuận lợi hơn. Nó muốn người khác hiểu mình hơn. Nó muốn sức khỏe ổn định để phục vụ tốt hơn. Nó muốn được cầu nguyện sốt sắng hơn. Nó muốn mình tiến bộ nhanh hơn trên đường nên thánh. Tất cả những điều ấy, xét tự thân, không xấu. Nhưng nguy hiểm bắt đầu khi linh hồn không còn chỉ ước muốn những điều ấy, mà bắt đầu đòi hỏi chúng phải xảy ra theo cách mình muốn, vào lúc mình muốn, trong hình thức mình muốn. Từ đó, điều tốt dần dần bị biến thành ý riêng. Ta không còn nói: “Lạy Chúa, nếu điều này đẹp lòng Chúa, xin ban cho con,” nhưng trong thâm tâm lại nghĩ: “Lạy Chúa, Chúa phải làm điều này cho con, vì điều này rõ ràng là tốt.” Ta không còn xin ánh sáng để nhận ra thánh ý Chúa, nhưng xin Chúa xác nhận điều mình đã quyết định trước. Ta không còn để Chúa dẫn đường, mà chỉ xin Ngài chúc lành cho con đường ta đã chọn. Và khi mọi sự không diễn ra như mong muốn, ta bắt đầu bối rối, bất mãn, cay đắng, trách mình, trách người, đôi khi kín đáo trách cả Chúa.
Phó thác hoàn toàn chính là nơi ý riêng bị đánh vào tận gốc. Linh hồn phó thác không phải là linh hồn không có ý kiến, không có dự định, không có sáng kiến, không có khát vọng. Trái lại, người phó thác vẫn suy nghĩ, vẫn phân định, vẫn hoạch định, vẫn làm việc với tất cả trách nhiệm. Nhưng sau tất cả những điều ấy, họ đặt một khoảng trống rất lớn trong lòng mình cho Thiên Chúa. Họ nói: “Lạy Chúa, đây là điều con thấy tốt. Đây là điều con mong. Đây là điều con đã suy nghĩ và cầu nguyện. Nhưng nếu Chúa muốn khác, xin cho con đủ tự do để đón nhận điều khác ấy.” Đó là nơi tự do thiêng liêng bắt đầu. Người chưa phó thác chỉ bình an khi hoàn cảnh phù hợp với ý mình. Người đã học phó thác có thể bình an ngay cả khi hoàn cảnh phá vỡ kế hoạch của mình, vì trung tâm đời họ không còn là kế hoạch ấy nữa, mà là chính Thiên Chúa. Điều quan trọng nhất đối với họ không còn là “mọi chuyện có xảy ra như tôi muốn không?”, mà là “trong chuyện này, tôi có còn ở lại trong ý Chúa không?” Chính câu hỏi ấy thay đổi tất cả.
Ý riêng rất khéo léo. Có khi nó ẩn dưới sự nhiệt thành. Ta muốn làm thật nhiều việc “cho Chúa”, nhưng không chịu để Chúa cất khỏi tay ta một công việc nào. Ta muốn phục vụ, nhưng phải phục vụ trong nơi mình thích. Ta muốn hy sinh, nhưng muốn được chọn loại hy sinh. Ta muốn vâng phục, nhưng muốn mệnh lệnh hợp với lý luận của mình. Ta muốn khiêm nhường, nhưng vẫn đau đớn quá mức khi không được nhìn nhận. Ta muốn sống cho Chúa, nhưng vẫn muốn giữ quyền quyết định cuối cùng về đời mình. Phó thác sẽ chạm đúng vào điểm ấy. Chúa không nhất thiết đòi ta từ bỏ mọi công việc, mọi dự định hay mọi ước mơ. Nhưng Ngài đòi một điều sâu hơn: đừng biến bất cứ điều gì thành tuyệt đối ngoài chính Ngài. Nếu Chúa ban, hãy nhận với lòng biết ơn. Nếu Chúa lấy đi, hãy đau nhưng đừng tuyệt vọng. Nếu Chúa mở cửa, hãy bước qua. Nếu Chúa đóng cửa, đừng cố phá cửa bằng ý riêng. Nếu Chúa cho hiểu, hãy cảm tạ. Nếu Chúa để ta đi trong bóng tối, hãy tiếp tục bước bằng đức tin.
Có những lúc linh hồn tưởng mình đã phó thác rồi, cho tới khi Chúa đụng vào điều mà ta yêu nhất. Ta có thể nói “xin vâng” rất dễ khi điều xảy ra không quá quan trọng đối với ta. Nhưng khi Chúa đụng vào danh dự, sức khỏe, người thân, sứ vụ, vị trí, tương lai, những dự định ta đã ấp ủ nhiều năm, lúc ấy mức độ phó thác thật của ta mới lộ ra. Có những người có thể cho đi tiền bạc nhưng không cho Chúa đụng đến kế hoạch của mình. Có người chấp nhận hy sinh thể xác nhưng không chấp nhận bị hiểu lầm. Có người sẵn sàng làm nhiều việc khó nhưng không chịu nổi việc bị gạt sang một bên. Có người nói mình sống vì Chúa, nhưng khi công việc không còn mang lại cảm giác hữu ích, họ rơi vào khủng hoảng. Tất cả những điều ấy cho thấy ý riêng có nhiều tầng sâu hơn chúng ta tưởng. Vì vậy, phó thác không phải là một quyết định chỉ làm một lần. Nó là một cuộc hiến dâng lặp đi lặp lại, ngày này qua ngày khác, biến cố này qua biến cố khác, cho đến khi linh hồn dần dần học được cách buông tay khỏi chính đời mình mà không cảm thấy mình đang rơi vào hư vô, bởi biết rằng phía dưới luôn có bàn tay của Chúa Cha.
Một linh hồn thật sự phó thác có thể nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tin Chúa hiểu. Con không thấy đường, nhưng con tin Chúa thấy. Con không biết ngày mai ra sao, nhưng ngày mai đã ở trong tay Chúa. Con không biết điều này sẽ dẫn đến đâu, nhưng con biết Chúa không bỏ con. Con xin làm phần của con hôm nay, còn phần còn lại con trao cho Chúa.” Đây chính là một trong những chiến thắng đẹp nhất của cuộc chiến nội tâm. Không phải chiến thắng vì mọi vấn đề đã biến mất, nhưng vì cái tôi không còn ngồi trên ngai nữa. Khi ấy linh hồn bắt đầu nếm được một điều rất lạ lùng: càng trao quyền cho Chúa, nó càng được tự do; càng không cố nắm mọi sự, nó càng bình an; càng chấp nhận mình không làm chủ cuộc đời, nó càng sống sâu sắc hơn. Bởi con người chưa bao giờ được tạo dựng để mang gánh nặng của một vị Thiên Chúa. Chúng ta không được dựng nên để biết hết, kiểm soát hết, sắp xếp hết, bảo đảm hết. Chúng ta được dựng nên để là thụ tạo được yêu, được dẫn dắt, được chăm sóc, được cộng tác và được tự do thưa “xin vâng”.
2. PHÓ THÁC KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ KHÔNG CÒN ƯỚC MUỐN, KHÔNG CÒN CẦU XIN
Một trong những hiểu lầm dễ gặp về phó thác là nghĩ rằng người phó thác phải trở nên vô cảm, không còn mong muốn điều gì, không còn xin Chúa điều gì, không còn đau khi mất mát, không còn sợ trước đau khổ. Nhưng đời sống của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy hoàn toàn khác. Trong Vườn Cây Dầu, Ngài không giả vờ rằng chén đắng không đáng sợ. Ngài không đứng trước cuộc Thương Khó với một thái độ lạnh lùng. Ngài buồn sầu, xao xuyến, mồ hôi như máu nhỏ xuống đất. Ngài thốt lên lời cầu xin rất con người: “Cha ơi, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng điều làm nên sự phó thác tuyệt đối của Chúa Giêsu nằm ở lời tiếp theo: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Phó thác không xóa bỏ ước muốn; nó thanh luyện ước muốn. Phó thác không giết chết tình cảm; nó đặt tình cảm dưới ánh sáng của tình yêu. Phó thác không làm cho con người trở thành một khối đá; nó làm cho con người được tự do yêu Thiên Chúa ngay giữa những điều trái với cảm xúc tự nhiên của mình.
Vì thế, hỡi linh hồn, con cứ nói với Chúa điều con muốn. Nếu con đau, hãy nói con đau. Nếu con sợ, hãy nói con sợ. Nếu con mong được chữa lành, hãy cầu xin được chữa lành. Nếu con mong một người trở về, hãy cầu xin cho họ. Nếu con mong một cánh cửa sứ vụ được mở, cứ đặt mong ước ấy trước Chúa. Nếu con cảm thấy mệt mỏi vì một hoàn cảnh kéo dài, đừng giả vờ rằng mình mạnh. Thiên Chúa không cần con diễn trước mặt Ngài. Ngài muốn sự thật của con. Nhưng sau khi đã nói hết, hãy học ở lại thêm một chút trước mặt Chúa và thêm vào lời cầu nguyện của mình một câu mà bản tính tự nhiên rất khó nói: “Lạy Chúa, nếu Chúa thấy điều khác tốt hơn cho con, xin cứ làm điều Chúa muốn.” Chính ở câu ấy, lời cầu nguyện trở thành của lễ.
Có sự khác biệt rất lớn giữa cầu xin và đòi hỏi. Cầu xin là hành vi của một người con. Đòi hỏi là thái độ của người muốn biến Thiên Chúa thành người phục vụ kế hoạch của mình. Người con có thể xin Cha điều mình cần, nhưng vẫn tin vào sự khôn ngoan của Cha. Một đứa trẻ có thể khóc vì không được điều nó muốn, nhưng nếu nó thực sự tin cha mẹ, nó vẫn có thể tựa vào vòng tay cha mẹ ngay khi bị từ chối. Đời sống thiêng liêng cũng như vậy. Có lúc điều đau nhất không phải là Chúa không ban điều ta xin, mà là ta không hiểu tại sao Ngài không ban. Ta đã cầu nguyện nhiều. Ta đã cố gắng. Ta đã nghĩ rằng điều ấy thật sự tốt. Có khi ta cầu xin không phải cho mình, mà cho người mình yêu. Vậy mà câu trả lời vẫn khác với mong đợi. Đây là nơi phó thác trở thành đức tin tinh tuyền. Không còn nhiều cảm giác. Không còn lời giải thích đủ sức làm ta thỏa mãn. Chỉ còn lại một lựa chọn: hoặc khép lòng lại vì Thiên Chúa đã không làm theo ý ta, hoặc tiếp tục tin rằng tình yêu của Ngài vẫn còn đó ngay cả khi ta không hiểu đường lối của Ngài.
Phó thác lúc ấy không phải là nói: “Chuyện này không quan trọng.” Trái lại, nó có thể rất quan trọng. Phó thác là nói: “Chuyện này quan trọng với con đến mức con đau, nhưng Chúa còn quan trọng hơn chuyện này.” Đó là một câu nói rất lớn trong đời sống thiêng liêng. Một người có thể mất rất nhiều mà vẫn không mất Chúa. Và nếu còn Chúa, họ chưa mất tất cả. Ngược lại, người có đủ mọi điều nhưng vì bám vào chúng mà xa Chúa, thì chính lúc tưởng mình đang giữ được tất cả, họ lại đang mất điều quý nhất.
Hãy nhớ rằng phó thác không xóa bỏ sự phân định. Có người nhân danh “phó thác” để không suy nghĩ, không tìm giải pháp, không xin lời khuyên, không sử dụng những phương tiện tự nhiên Chúa ban. Đó không phải phó thác, mà có thể là lười biếng thiêng liêng. Nếu bệnh, ta đi khám. Nếu có trách nhiệm, ta chu toàn. Nếu phải quyết định, ta suy xét. Nếu cần hỏi người khôn ngoan, ta hỏi. Nếu cần sửa một sai lầm, ta sửa. Nếu có thể tránh một nguy hiểm, ta tránh. Đức tin không chống lại lý trí. Phó thác không chống lại sự khôn ngoan. Ta làm tất cả những gì thuộc phần mình, nhưng không cố làm phần của Thiên Chúa. Đây là ranh giới rất quan trọng. Phần ta là trung tín hôm nay. Phần Chúa là kết quả cuối cùng. Phần ta là gieo. Phần Chúa là làm cho hạt mọc. Phần ta là bước đi trong ánh sáng mình đang có. Phần Chúa là mở con đường tiếp theo. Nhiều đau khổ của linh hồn phát sinh vì ta không bằng lòng làm phần của mình; ta còn muốn mang luôn phần của Chúa.
3. PHÓ THÁC QUÁ KHỨ – ĐỪNG TIẾP TỤC SỐNG TRONG ĐIỀU CHÚA ĐÃ THA
Một trong những vùng cần được phó thác sâu nhất là quá khứ. Quá khứ có sức nặng rất lớn đối với nhiều linh hồn. Có những tội lỗi đã được xưng thú nhưng ký ức vẫn còn. Có những sai lầm đã được sửa nhưng lòng vẫn tự kết án. Có những quyết định năm xưa mà nếu được làm lại, ta sẽ chọn khác. Có những người ta đã làm tổn thương. Có những cơ hội ta đã bỏ lỡ. Có những năm tháng ta cảm thấy mình đã sống chưa đủ tốt. Có những vết thương do người khác gây nên mà nhiều năm sau vẫn còn nhói. Có những biến cố đã qua nhưng tâm trí cứ trở lại, như thể chỉ cần suy nghĩ thêm đủ lâu thì ta có thể thay đổi điều đã xảy ra. Nhưng không ai có thể trở lại hôm qua. Không ai có quyền sửa quá khứ bằng cách sống mãi trong hối tiếc. Điều ta có thể làm là đem quá khứ vào lòng thương xót.
Phó thác quá khứ trước hết là tin rằng Thiên Chúa lớn hơn những sai lầm của ta. Đừng vô tình đặt tội lỗi của mình cao hơn lòng thương xót Chúa. Có những linh hồn tưởng rằng tự kết án mình mãi là biểu hiện của khiêm nhường. Không phải. Khiêm nhường là nhìn nhận sự thật: tôi đã sai, tôi đã phạm tội, tôi cần được tha thứ, tôi phải sửa điều có thể sửa, nhưng tôi cũng phải tin rằng máu Chúa Kitô đủ sức thanh tẩy tôi. Nếu Chúa đã tha, tại sao ta cứ muốn làm quan tòa nghiêm khắc hơn Chúa? Nếu Ngài đã mở cửa nhà Cha cho người con hoang đàng, tại sao người con ấy lại cứ đứng ngoài sân vì cho rằng mình không xứng? Đúng, ta không xứng. Nhưng lòng thương xót không dựa trên sự xứng đáng của ta. Chính vì không xứng mà ta cần lòng thương xót.
Có những người mang quá khứ như một bản án. Mỗi thất bại hiện tại lập tức kéo theo cả một chuỗi ký ức: “Tôi vẫn như thế. Tôi chẳng thay đổi gì. Tôi đã sai biết bao lần. Tôi sẽ không bao giờ khá hơn.” Kẻ thù rất thích dùng quá khứ để làm linh hồn mất can đảm trong hiện tại. Nhưng Thiên Chúa nhìn quá khứ theo cách khác. Ngài không phủ nhận tội lỗi, nhưng Ngài có khả năng làm cho cả những đổ vỡ trở thành nơi biểu lộ lòng thương xót. Những lần sa ngã có thể dạy ta khiêm nhường. Những vết thương có thể làm ta cảm thông hơn với người khác. Những thất bại có thể giải thoát ta khỏi ảo tưởng về chính mình. Những năm tháng đi đường vòng có thể làm cho ngày trở về trở nên chân thật hơn. Không phải tội lỗi tự nó là điều tốt, nhưng quyền năng cứu độ của Chúa lớn đến mức Ngài có thể rút ra điều lành ngay từ nơi ta từng làm hỏng.
Phó thác quá khứ cũng có nghĩa là phó thác những điều người khác đã làm cho mình. Điều này khó hơn rất nhiều, vì vết thương do tha nhân gây ra thường chạm tới phẩm giá, lòng tin, tình cảm và ký ức. Phó thác không có nghĩa là gọi điều xấu là tốt. Không có nghĩa là phủ nhận bất công. Không có nghĩa là không cần đặt ranh giới. Không có nghĩa là bắt mình phải quên ngay. Phó thác là thôi để biến cố ấy trở thành ông chủ của đời mình. Ta nói với Chúa: “Lạy Chúa, chuyện này đã xảy ra. Con không thể thay đổi nó. Con không muốn mang nó như ngọn lửa đốt cháy lòng con suốt đời. Con trao người ấy cho công lý và lòng thương xót của Chúa. Con trao vết thương này cho Chúa. Xin chữa lành con theo thời gian và cách thức của Chúa.” Có khi phải nói lời ấy hàng trăm lần. Không sao. Sự phó thác cũng có lịch sử riêng của nó. Một số điều chỉ cần trao một lần. Một số điều phải trao lại mỗi ngày. Mỗi khi ký ức quay trở lại, ta lại đặt nó vào tay Chúa.
Hỡi linh hồn, quá khứ của con không ở ngoài quyền năng cứu chuộc. Không có chương nào trong đời con mà Chúa không thể bước vào. Không có trang nào quá xấu đến mức Ngài không thể viết tiếp. Điều nguy hiểm nhất không phải là con từng thất bại; điều nguy hiểm nhất là con vì quá nhìn vào thất bại mà không còn tin Thiên Chúa có thể làm điều mới. Hãy phó thác quá khứ. Không phải để quên bài học, nhưng để thôi sống trong xiềng xích. Hãy giữ điều cần giữ: sự khiêm nhường, kinh nghiệm, lòng biết ơn vì đã được cứu. Còn mặc cảm vô ích, sự tự kết án, nỗi tiếc nuối không sinh hoa trái, hãy để chúng nằm lại trong trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu.
4. PHÓ THÁC HIỆN TẠI – ĐÓN NHẬN GIỜ PHÚT NÀY NHƯ NƠI GẶP THÁNH Ý CHÚA
Nhiều người nói mình muốn biết thánh ý Chúa, nhưng lại bỏ qua nơi thánh ý ấy thường xuất hiện rõ nhất: bổn phận của hiện tại. Ta thích tìm thánh ý Chúa trong những chuyện lớn, những dấu chỉ đặc biệt, những tương lai chưa xảy ra, nhưng đôi khi điều Chúa muốn ngay lúc này lại rất đơn giản: làm cho tốt việc đang ở trước mặt, lắng nghe người đang nói với mình, kiên nhẫn với người làm phiền mình, cầu nguyện trong giờ đã dành cho Chúa, làm một công việc âm thầm không ai biết, chấp nhận một giới hạn của sức khỏe, hoàn thành một trách nhiệm không hấp dẫn. Phó thác hiện tại là thôi sống bằng câu “giá như”. Giá như tôi ở nơi khác. Giá như tôi có sức khỏe hơn. Giá như cộng đoàn khác đi. Giá như người này hiểu tôi. Giá như công việc kia thuận lợi. Giá như tôi trẻ hơn. Giá như tôi có nhiều khả năng hơn. Giá như quá khứ khác đi. “Giá như” có thể trở thành một căn phòng tưởng tượng nơi linh hồn trốn khỏi thánh ý Chúa đang hiện diện trong thực tế.
Đón nhận hiện tại không có nghĩa là không bao giờ thay đổi điều cần thay đổi. Nếu một hoàn cảnh bất công cần được sửa, hãy sửa trong khả năng. Nếu có thể phát triển bản thân, hãy cố gắng. Nếu có một trách nhiệm phải chuyển đổi, hãy phân định. Nhưng trong khi chưa thể thay đổi, đừng để tâm hồn sống trong cuộc nổi loạn liên tục. Có những đau khổ khách quan chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng sự chống cự bên trong làm chúng nặng gấp nhiều lần. Một người phải mang một giới hạn nào đó đã là đau. Nhưng nếu mỗi ngày họ còn lặp đi lặp lại: “Tại sao lại là tôi? Tại sao chưa hết? Tại sao người khác không như thế?” thì họ đang mang thêm một cây thập giá do chính sự chống cự của mình tạo nên. Phó thác không nhất thiết lấy cây thập giá thứ nhất đi, nhưng có thể lấy cây thập giá thứ hai đi.
Có một câu hỏi có thể thay đổi cách ta sống hiện tại: “Lạy Chúa, trong hoàn cảnh này, Chúa muốn con yêu thế nào?” Đừng hỏi trước hết: “Bao giờ chuyện này kết thúc?” Hãy hỏi: “Trong khi nó chưa kết thúc, con phải sống thế nào để không đánh mất Chúa?” Đừng chỉ hỏi: “Làm sao để người kia thay đổi?” Hãy hỏi: “Trong khi người ấy chưa thay đổi, Chúa muốn con giữ lòng mình thế nào?” Đừng chỉ hỏi: “Bao giờ con sẽ được giải thoát khỏi giới hạn này?” Hãy hỏi: “Qua giới hạn này, Chúa đang dạy con điều gì về sự nghèo khó, khiêm nhường và tín thác?” Khi câu hỏi thay đổi, chiến trường cũng thay đổi. Ta không còn đứng đối diện hoàn cảnh như một kẻ thù phải tiêu diệt bằng mọi giá, nhưng bắt đầu nhìn nó như một nơi có thể gặp Chúa.
Phó thác hiện tại đặc biệt khó khi điều xảy ra trái ý rất nhỏ nhưng lặp đi lặp lại. Người ta thường nghĩ sự thánh thiện được quyết định bởi vài hy sinh lớn. Nhưng phần lớn đời sống được tạo nên từ những điều nhỏ: một chương trình bị đổi, một người đến trễ, một lời nói khó nghe, một công việc bị gián đoạn, một đêm ngủ không ngon, một kế hoạch không thành, một vật bị hỏng, một cuộc gọi đến không đúng lúc, một việc người khác làm không theo cách ta muốn. Chính tại những điểm nhỏ ấy, ý riêng lộ mặt liên tục. Nếu ta chỉ phó thác trong những biến cố lớn mà cả ngày nổi nóng vì những điều nhỏ, sự phó thác vẫn chưa đi vào đời thường. Mỗi lần gặp một điều trái ý, hãy tập dừng lại một giây trước khi phản ứng. Một giây ấy có thể trở thành nơi của ân sủng. Hãy nói trong lòng: “Lạy Chúa, điều này không nằm trong kế hoạch của con, nhưng nó đang nằm trong thực tế mà Chúa cho phép. Xin giúp con sống nó với tình yêu.” Không phải mọi điều xảy ra đều là điều Chúa trực tiếp muốn theo nghĩa tích cực; trong thế giới có tự do, có tội lỗi, có bất toàn, có hậu quả của những lựa chọn sai lầm. Nhưng không một điều gì vượt khỏi khả năng Chúa dùng nó để dẫn ta đến sự thiện nếu ta ở lại với Ngài.
5. PHÓ THÁC TƯƠNG LAI – ĐỂ NGÀY MAI NẰM TRONG TAY ĐẤNG ĐÃ Ở ĐÓ TRƯỚC TA
Tương lai là một trong những nơi con người dễ đánh mất bình an nhất. Điều lạ là chúng ta thường đau khổ rất nhiều vì những điều chưa xảy ra. Trí tưởng tượng dựng lên những kịch bản, và thân xác phản ứng như thể chúng đã thành sự thật. Ta lo sức khỏe sẽ xấu đi. Lo một người thân sẽ gặp chuyện. Lo sứ vụ sẽ thất bại. Lo tuổi già. Lo cô đơn. Lo mất vị trí. Lo thiếu khả năng. Lo không được bảo đảm. Lo giờ chết. Lo hàng trăm điều không ai biết chắc. Nỗi lo muốn bảo vệ ta bằng cách bắt ta nghĩ trước về mọi khả năng, nhưng nếu không được đặt dưới đức tin, nó sẽ trở thành một ông chủ khắc nghiệt. Nó đòi ta phải bảo đảm ngày mai ngay từ hôm nay, trong khi Thiên Chúa chỉ ban ơn đủ cho ngày hôm nay.
Phó thác tương lai không có nghĩa là không chuẩn bị. Người khôn ngoan vẫn chuẩn bị. Nhưng khác biệt nằm ở chỗ: chuẩn bị mà không thờ lạy sự bảo đảm. Ta có thể lập kế hoạch, nhưng biết rằng kế hoạch chỉ là dụng cụ. Ta có thể chăm sóc sức khỏe, nhưng không thể mua sự bất tử. Ta có thể chuẩn bị tài chính, nhưng không thể bảo đảm mọi biến cố. Ta có thể đào tạo mình cho sứ vụ, nhưng kết quả vẫn thuộc về Chúa. Ta có thể yêu thương những người thân, nhưng không thể giữ họ mãi bên mình. Ta có thể lên lịch cho ngày mai, nhưng không sở hữu ngày mai. Khi nhận ra giới hạn này, linh hồn ban đầu có thể thấy sợ, nhưng nếu đi sâu hơn, đó lại là một sự giải thoát rất lớn. Tôi không phải là người giữ thế giới quay. Tôi không phải là đấng quan phòng. Tôi không cần biết toàn bộ hành trình để bước bước kế tiếp.
Có khi ta nói: “Con sẽ phó thác nếu Chúa cho con biết chuyện gì sẽ xảy ra.” Nhưng nếu đã biết hết thì còn gì là phó thác? Phó thác chính là bước vào phần chưa biết với niềm tin rằng Đấng dẫn đường thì biết. Abraham ra đi mà không biết mình sẽ đến đâu. Đức Maria thưa xin vâng mà không được trao một bản kế hoạch chi tiết cho ba mươi năm sau. Các môn đệ theo Chúa Giêsu mà không hiểu hết con đường sẽ dẫn đến Thập Giá. Thiên Chúa thường không cho ta một tấm bản đồ toàn bộ, vì Ngài muốn trở thành chính Con Đường của ta. Ta thích có câu trả lời; Chúa nhiều khi ban sự hiện diện của Ngài. Ta thích có bảo đảm; Chúa ban lời hứa: “Đừng sợ, Ta ở với ngươi.” Và rốt cuộc, sự hiện diện ấy quý hơn mọi bản đồ.
Hãy tập phó thác cả giờ chết. Đừng chờ đến lúc bệnh nặng mới nghĩ đến điều này. Giờ chết là lần phó thác cuối cùng của đời người, nhưng nó được chuẩn bị bằng hàng ngàn lần phó thác nhỏ trước đó. Mỗi lần ta buông một điều trái ý, mỗi lần ta chấp nhận một mất mát, mỗi lần ta nói “xin vâng” trong bóng tối, ta đang tập cho linh hồn cử chỉ cuối cùng: trao chính mình vào tay Chúa. Một ngày kia tất cả những gì ta đang giữ sẽ phải buông. Danh tiếng, công việc, sức khỏe, những người thân yêu, tài sản, cả thân xác. Không ai mang theo điều gì ngoài tình yêu. Vì thế, người khôn ngoan học buông từ bây giờ. Không phải buông vì chán đời, nhưng vì muốn yêu mọi sự đúng trật tự: nhận tất cả như quà, biết ơn khi có, và sẵn sàng trả lại cho Đấng đã ban.
6. PHÓ THÁC NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ HIỂU
Có một hình thức đau khổ đặc biệt nặng: đau khổ không hiểu được. Nếu một hy sinh có lý do rõ ràng, ta dễ chịu hơn. Nếu biết thử thách sẽ kéo dài bao lâu, ta cũng dễ chuẩn bị hơn. Nhưng có những biến cố không có câu trả lời dễ dàng. Một lời cầu nguyện kéo dài nhiều năm vẫn chưa thấy hồi đáp. Một người tốt phải chịu thử thách. Một cánh cửa tưởng rất phù hợp lại đóng lại. Một điều có vẻ rất cần cho sứ vụ không được ban. Một người ta đã hết lòng giúp lại hiểu lầm mình. Một biến cố xảy đến quá bất ngờ. Một thời gian dài ta cảm thấy Chúa im lặng. Chính trong những vùng tối như vậy, lý trí rất muốn ép Thiên Chúa phải giải thích.
Nhưng phó thác trưởng thành không đòi phải hiểu trước khi tin. Điều ấy không có nghĩa là đức tin chống lại câu hỏi. Ta được phép hỏi. Các Thánh Vịnh đầy những câu “Tại sao?” Chúa Giêsu trên Thập Giá cũng thốt lên lời của người bị bỏ rơi. Đức tin không phải là cấm con người khóc. Nhưng cuối cùng, có những câu hỏi mà câu trả lời đầy đủ chỉ nằm ở phía bên kia vĩnh cửu. Trong đời này, đôi khi ta chỉ nhận được đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Và như thế đã đủ để tiếp tục.
Hỡi linh hồn, nếu con đang ở trong một điều không hiểu, đừng vội nghĩ rằng Chúa đã bỏ con. Sự im lặng của Chúa không đồng nghĩa với sự vắng mặt của Ngài. Hạt giống nằm dưới đất không nghe thấy tiếng người gieo, nhưng nó vẫn được bao bọc bởi một công trình âm thầm. Có những lúc Chúa hoạt động sâu nhất đúng khi ta cảm thấy ít nhất. Ta đánh giá công việc của Chúa bằng cảm giác nên dễ kết luận sai. Những năm tháng tưởng như vô ích có thể đang làm một việc mà chỉ sau này ta mới hiểu: bẻ gãy sự tự mãn, làm sâu lòng thương xót, dạy ta kiên nhẫn, thanh luyện động cơ, cắt đứt một sự lệ thuộc, chuẩn bị ta cho một sứ vụ khác, hoặc đơn giản là đưa ta đến một tình yêu tinh tuyền hơn – yêu Chúa không phải vì những gì Ngài làm theo ý ta, nhưng vì chính Ngài là Chúa.
Có một mức độ phó thác rất sâu: phó thác cả nhu cầu phải biết tại sao. Ta nói: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn cho con hiểu, con cảm tạ. Nếu chưa đến lúc con hiểu, xin cho con vẫn trung tín.” Đây không phải là sự đầu hàng của trí tuệ, mà là sự khiêm nhường của thụ tạo. Con người không thể ôm trọn mọi mầu nhiệm. Khi đứng trước một bức tranh khổng lồ mà chỉ nhìn thấy một góc nhỏ, ta rất dễ phán đoán toàn bộ bằng mảnh đang thấy. Nhưng Thiên Chúa nhìn tổng thể. Ngài nhìn cả những điều ta không nhìn. Ngài nhìn cả những gì đang đến. Ngài nhìn các hậu quả nối dài qua đời sống của nhiều người. Ngài nhìn trong ánh sáng vĩnh cửu. Điều hôm nay có vẻ là mất mát, có khi ngày mai lại là bảo vệ. Điều hôm nay ta tưởng là cánh cửa bị đóng, có khi chính là cách Chúa ngăn ta đi vào nơi không dành cho mình. Điều hôm nay làm ta khóc, có khi về sau ta sẽ cảm tạ. Và có những điều có lẽ ta sẽ không bao giờ cảm tạ vì bản thân đau khổ ấy, nhưng ta vẫn có thể cảm tạ vì Chúa đã không để đau khổ có tiếng nói cuối cùng.
7. PHÓ THÁC TRONG SỨ VỤ – LÀM HẾT SỨC MÀ KHÔNG CHIẾM HỮU HOA TRÁI
Đối với người sống đời tông đồ, đây là một chiến trường rất tinh tế. Ta có thể làm việc cho Chúa nhưng dần dần chiếm hữu công việc của Chúa. Ta có thể bắt đầu bằng tình yêu, rồi không hay biết bắt đầu đo giá trị bản thân bằng thành công của sứ vụ. Khi nhiều người đến, ta vui. Khi ít người đến, ta buồn quá mức. Khi lời mình được đón nhận, ta có năng lượng. Khi bị phê bình, ta mất bình an. Khi một công việc phát triển, ta cảm thấy mình hữu ích. Khi phải rời bỏ nó, ta như mất một phần căn tính. Đây là nơi cần phó thác.
Sứ vụ là của Chúa trước khi là của ta. Những linh hồn là của Chúa trước khi là những người ta chăm sóc. Công việc là phương tiện; Chúa mới là cùng đích. Ta được gọi trung tín, không được gọi kiểm soát hoa trái. Có khi Chúa cho thấy kết quả ngay để nâng đỡ ta. Có khi Ngài giấu kết quả để thanh luyện ta. Có khi một lời nói hôm nay ta tưởng rơi vào khoảng không, nhiều năm sau mới nảy mầm nơi một linh hồn mà ta không bao giờ biết. Có khi một công việc tưởng thất bại theo tiêu chuẩn con người lại là nơi một người được cứu. Có khi một chương trình rất thành công lại làm người thực hiện trở nên tự mãn. Ai biết được hết? Vì thế, người thừa sai phải học làm việc bằng tất cả trái tim nhưng giữ trái tim khỏi chiếm hữu kết quả.
Có một lời nguyện rất cần cho người phục vụ: “Lạy Chúa, con xin làm hết sức điều con phải làm. Nhưng con xin trả lại cho Chúa quyền quyết định hoa trái.” Câu này giải thoát người ta khỏi hai thái cực: lười biếng và ám ảnh thành công. Phó thác không cho phép ta làm cẩu thả rồi nói “Chúa lo”. Ta phải chuẩn bị nghiêm túc, học hỏi, làm tốt, sửa sai, lắng nghe phản hồi, sử dụng khả năng Chúa ban. Nhưng sau đó phải biết dừng. Không phải mọi phản ứng của người khác đều nằm trong tay ta. Không phải mọi kết quả đều tùy thuộc vào năng lực ta. Một nhà truyền giáo không phải là Đấng Cứu Thế. Chỉ có một Đấng Cứu Thế. Nhớ điều ấy vừa làm ta khiêm nhường vừa làm ta nhẹ nhõm.
Phó thác trong sứ vụ còn có nghĩa là sẵn sàng để Chúa thay đổi nơi mình phục vụ, cách mình phục vụ, thậm chí cất khỏi tay mình điều mình yêu. Có những người sẵn sàng dấn thân nhưng không sẵn sàng rút lui. Sẵn sàng bắt đầu nhưng không sẵn sàng trao lại. Sẵn sàng xây dựng nhưng không sẵn sàng để người khác tiếp tục. Sự chiếm hữu có thể mặc áo nhiệt thành. Nếu Chúa sai đi, hãy đi. Nếu Chúa bảo ở lại, hãy ở. Nếu Chúa đặt ta ở hàng đầu, hãy phục vụ khiêm nhường. Nếu Chúa đưa ta vào chỗ khuất, hãy yêu Ngài ở đó. Giá trị của đời ta không nằm ở việc bao nhiêu người biết tên ta, nhưng ở chỗ thánh ý Chúa đã được thực hiện trong ta đến đâu.
8. PHÓ THÁC SỨC KHỎE, TUỔI TÁC VÀ NHỮNG GIỚI HẠN
Sức khỏe là một vùng rất dễ làm con người bất an, bởi nó chạm vào cảm giác tự chủ. Khi khỏe, ta có thể làm nhiều điều và dễ quên rằng thân xác là quà tặng. Khi bệnh, ta đột nhiên cảm thấy mình bị giới hạn, phụ thuộc, đôi khi vô dụng. Người hoạt động nhiều có thể đau khổ đặc biệt khi không còn làm được như trước. Nhưng phó thác không có nghĩa là bỏ mặc sức khỏe. Ta chăm sóc thân xác vì đó là trách nhiệm. Ta dùng thuốc khi cần. Ta nghỉ ngơi khi phải nghỉ. Ta tìm sự trợ giúp thích hợp. Nhưng sau khi đã làm điều có thể, vẫn còn một phần không nằm trong quyền mình: kết quả, tiến trình hồi phục, tuổi tác, mức độ suy giảm, cuối cùng là cái chết.
Có khi Chúa được tôn vinh qua sức mạnh ta sử dụng để phục vụ. Có khi Ngài lại được tôn vinh qua sự yếu đuối ta đón nhận trong tin tưởng. Con người thường nghĩ chỉ khi mình làm được nhiều thì đời mình mới có ích. Nhưng trước mặt Chúa, một người bệnh nằm yên mà hiến dâng đau khổ với tình yêu có thể đang làm một công việc âm thầm rất lớn. Một người già không còn hoạt động như trước nhưng vẫn cầu nguyện, chúc lành, sống hiền hòa và không cay đắng có thể trở thành chứng tá mạnh mẽ hơn nhiều lời giảng. Đôi khi Chúa cho ta trải qua một giai đoạn phải giảm bớt hoạt động để ta nhớ rằng căn tính sâu nhất của mình không phải là “người làm việc cho Chúa” mà là “người thuộc về Chúa”.
Tuổi tác cũng cần được phó thác. Thời gian lấy đi nhiều thứ. Nhanh nhẹn giảm, trí nhớ có thể kém, thân xác thay đổi, những người cùng thế hệ dần vắng bóng. Người từng ở trung tâm có thể phải lùi lại. Nếu ý riêng bám vào hình ảnh cũ của mình, tuổi già trở thành một cuộc chiến cay đắng. Nhưng nếu phó thác, tuổi già có thể là mùa của sự chín muồi. Không còn cần chứng minh nhiều. Không còn cần chạy thật nhanh. Có thời gian nhìn lại và tạ ơn. Có cơ hội học nghệ thuật buông bỏ. Từng mất mát nhỏ trở thành bài tập cho lần trao hiến cuối cùng.
9. HỌC PHÓ THÁC NƠI CHÚA GIÊSU
Không ai dạy ta phó thác sâu hơn Chúa Giêsu. Toàn bộ cuộc đời của Ngài là một “xin vâng” với Cha. Ngài không sống theo một ý riêng tách khỏi Cha. Lương thực của Ngài là thi hành ý Đấng đã sai Ngài. Ngài đi khi Cha sai đi. Ngài dừng khi cần dừng. Ngài đón nhận đám đông nhưng cũng rút vào nơi vắng vẻ. Ngài làm phép lạ nhưng không dùng quyền năng để tránh con đường Thập Giá. Trong Vườn Cây Dầu, sự phó thác đạt đến đỉnh cao. Ở đó không có sự bình thản giả tạo. Có sợ hãi, có đau đớn, có cô đơn. Nhưng giữa tất cả, có một ý chí hoàn toàn hướng về Cha: “Xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha.”
Trên Thập Giá, lời cuối cùng của Chúa Giêsu lại là lời phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Hãy để ý: lúc ấy hoàn cảnh bên ngoài không cho thấy một chiến thắng rõ ràng. Các môn đệ phần lớn đã chạy trốn. Đám đông chế nhạo. Thân xác Ngài bị nghiền nát. Sứ vụ ba năm dường như kết thúc trong thất bại. Nhưng chính tại nơi mọi tiêu chuẩn bên ngoài đều sụp đổ, hành vi phó thác tuyệt đối lại mở ra chiến thắng Phục Sinh. Đây là một mầu nhiệm rất lớn: đôi khi chiến thắng của Thiên Chúa đi qua một hình thức mà con người gọi là thất bại. Vì thế, đừng vội đánh giá đời mình chỉ bằng những gì mắt thấy.
Kết hợp với Chúa Giêsu trong phó thác nghĩa là khi gặp điều khó, ta không chỉ cố chịu một mình. Ta mang điều ấy vào lời xin vâng của Ngài. Khi không thể nói “con vui vì chuyện này”, ít nhất có thể nói: “Lạy Chúa Giêsu, con chưa vui được, nhưng con muốn kết hợp với lời xin vâng của Chúa.” Có khi trái tim chưa theo kịp ý chí. Không sao. Đức tin nhiều lúc bắt đầu bằng một quyết định trước khi trở thành cảm nghiệm. Hôm nay ta thưa xin vâng trong nước mắt. Ngày mai có thể vẫn còn đau. Nhưng từng lời xin vâng nhỏ đang mở rộng trái tim để Chúa sống trong ta.
10. HỌC PHÓ THÁC NƠI ĐỨC MARIA
Nếu Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt đối của sự vâng phục Chúa Cha, thì Đức Maria là người môn đệ đã sống lời xin vâng cách trọn vẹn nhất. Khi sứ thần truyền tin, Mẹ không được cho biết mọi chi tiết tương lai. Mẹ chỉ nhận đủ ánh sáng để thưa: “Xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời xin vâng ấy không phải là một khoảnh khắc riêng lẻ rồi chấm dứt. Nó trở thành dòng chảy xuyên suốt cuộc đời Mẹ. Xin vâng khi mang Con Thiên Chúa trong lòng mà không biết phải giải thích với người khác thế nào. Xin vâng khi sinh Con nơi nghèo khó. Xin vâng khi phải trốn sang Ai Cập. Xin vâng trong những năm âm thầm tại Nazareth. Xin vâng khi Chúa Giêsu ra đi thi hành sứ vụ. Xin vâng khi không hiểu hết mọi việc Ngài làm. Và cuối cùng, xin vâng dưới chân Thập Giá, nơi lời hứa của sứ thần dường như bị bóng tối phủ kín.
Đó mới là phó thác thật: không phải chỉ thưa xin vâng với một lời hứa đẹp, nhưng tiếp tục thưa xin vâng khi con đường thực hiện lời hứa đi qua những điều mình không hiểu. Đức Maria không rút lại lời xin vâng ở Golgotha. Mẹ đứng đó. Chỉ riêng việc “đứng đó” đã là một bài học lớn. Có những lúc phó thác không phải là làm một việc phi thường. Chỉ là không bỏ đi. Chỉ là tiếp tục ở lại. Tiếp tục tin. Tiếp tục yêu. Tiếp tục giữ lòng khỏi cay đắng. Tiếp tục trao điều mình không hiểu cho Chúa.
Hỡi linh hồn, khi con thấy khó nói “xin vâng”, hãy đến gần Đức Maria. Đừng nghĩ Mẹ không hiểu những vùng tối của con. Mẹ đã đi qua bóng tối sâu hơn ta tưởng. Hãy xin Mẹ dạy con nói lời của Mẹ, không chỉ bằng môi, nhưng bằng cả đời sống: “Xin Chúa cứ làm nơi con điều đẹp lòng Ngài.” Đây là một lời cầu rất nguy hiểm đối với cái tôi, nhưng rất đẹp đối với linh hồn. Vì khi nói thật lời ấy, ta không còn giữ lại vùng cấm nào mà Chúa không được bước vào.
11. THỰC HÀNH PHÓ THÁC MỖI NGÀY
Sự phó thác lớn được xây bằng những lần phó thác nhỏ. Đừng đợi một biến cố khủng khiếp mới bắt đầu học. Hãy bắt đầu từ buổi sáng. Khi thức dậy, trước khi tâm trí bị cuốn vào công việc, hãy trao ngày mới cho Chúa: “Lạy Chúa, ngày này là của Chúa trước khi là của con. Con không biết những gì sẽ xảy ra, những người con sẽ gặp, những niềm vui hay điều trái ý. Xin cho con nhận mọi sự trong ánh sáng của Chúa và thi hành điều con phải làm với tình yêu.” Chỉ một lời nguyện như thế, nếu nói thật, đã đặt hướng cho cả ngày.
Trong ngày, mỗi khi có điều trái ý, hãy biến nó thành một dấu chuông nhắc phó thác. Đừng để phản ứng đầu tiên kéo mình đi quá xa. Nếu ai đó làm con khó chịu, hãy thầm nói: “Lạy Chúa, xin giữ con trong ý Chúa.” Nếu một kế hoạch bị thay đổi: “Lạy Chúa, con trao kế hoạch này cho Chúa.” Nếu nhận tin làm lo lắng: “Lạy Chúa, chuyện này lớn hơn sức con nhưng không lớn hơn Chúa.” Nếu bị phê bình: “Lạy Chúa, xin cho con nhận phần sự thật cần nhận và trao phần bất công cho Chúa.” Nếu làm việc không thành: “Lạy Chúa, con đã cố gắng. Xin nhận cả thất bại này.” Những lời cầu rất ngắn như thế chính là những mũi kim khâu ý chí của ta vào thánh ý Chúa suốt ngày.
Buổi tối, hãy phó thác ngày đã qua. Có người lên giường mà vẫn tiếp tục mang theo toàn bộ công việc của ngày, những cuộc nói chuyện, điều hối tiếc, việc chưa xong, nỗi lo cho sáng mai. Hãy tập một hành vi dứt khoát: “Lạy Chúa, ngày hôm nay kết thúc. Điều tốt con đã làm là nhờ ơn Chúa. Điều sai con xin Chúa thương xót. Điều chưa xong con trao lại. Con không cần sửa cả cuộc đời trong đêm nay. Xin cho con nghỉ trong Chúa.” Giấc ngủ tự nó là một hình ảnh của phó thác. Ta nhắm mắt, mất quyền kiểm soát trong nhiều giờ và tin rằng mình sẽ thức dậy. Hãy biến giấc ngủ thành một hành vi đức tin.
Khi đứng trước những quyết định lớn, phó thác cần đi cùng phân định. Cầu nguyện, hỏi ý kiến, xem xét các dữ kiện, nhận diện động cơ, đợi đủ bình an nếu có thể. Nhưng cuối cùng phải có sự tự do. Nếu ta chỉ có thể chấp nhận một đáp án duy nhất, rất có thể ta chưa thật sự phân định mà chỉ đang tìm xác nhận cho điều mình muốn. Hãy xin Chúa ban sự dửng dưng thánh thiện: không phải là không quan tâm, mà là sẵn sàng chọn điều nào dẫn mình đến với Chúa hơn, kể cả khi nó không hợp sở thích tự nhiên.
12. KHI PHÓ THÁC KHÔNG ĐEM LẠI CẢM GIÁC BÌNH AN NGAY LẬP TỨC
Đây là điều cần nói rõ. Có những lúc ta thưa “con phó thác” nhưng lòng vẫn run. Ta trao một người thân cho Chúa nhưng vẫn lo. Ta chấp nhận một quyết định nhưng vẫn buồn. Ta nói “xin theo ý Chúa” nhưng nước mắt vẫn chảy. Điều đó không có nghĩa là phó thác giả. Cảm xúc không phải lúc nào cũng đi cùng tốc độ với ý chí. Có những vết thương cần thời gian. Có những nỗi sợ nằm sâu trong thân xác. Có những mất mát không thể được giải quyết bằng một câu đạo đức.
Phó thác không phải kỹ thuật làm biến mất cảm xúc khó chịu. Nó là hướng đi của ý chí giữa cảm xúc. Ta có thể sợ mà vẫn tín thác. Có thể buồn mà vẫn xin vâng. Có thể không hiểu mà vẫn trung thành. Có thể lòng nặng mà vẫn không quay lưng với Chúa. Thực ra, những lần phó thác như vậy có khi quý hơn những lúc phó thác trong cảm giác sốt sắng, bởi chúng không được nâng đỡ bởi an ủi. Đó là đức tin trần trụi.
Đừng tự trách vì mình chưa cảm thấy bình an ngay. Hãy kiên trì. Bình an thật thường không đến như một làn sóng cảm xúc mạnh, mà như một nền đất dần vững lại dưới chân. Một ngày ta chợt nhận ra điều từng làm mình hoảng sợ giờ không còn quyền lực như trước. Không phải vì vấn đề đã biến mất, nhưng vì ta đã học đặt nó vào một bàn tay lớn hơn.
13. HOA TRÁI CỦA ĐỜI SỐNG PHÓ THÁC
Linh hồn sống phó thác dần dần được giải phóng khỏi một gánh rất nặng: gánh phải kiểm soát mọi sự. Nó vẫn có trách nhiệm, nhưng không còn ám ảnh. Nó vẫn lập kế hoạch, nhưng không sụp đổ khi kế hoạch đổi. Nó vẫn yêu người khác, nhưng không chiếm hữu họ. Nó vẫn cầu xin, nhưng không biến lời cầu thành tối hậu thư cho Thiên Chúa. Nó vẫn đau khi mất mát, nhưng không mất phương hướng hoàn toàn. Nó vẫn gặp sợ hãi, nhưng dưới nỗi sợ có một nền tin tưởng sâu hơn.
Một hoa trái khác là sự mềm mại trong tay Chúa. Người bám ý riêng giống một khúc gỗ cứng; mỗi lần Chúa muốn uốn sang hướng khác, nó chống lại và đau. Người phó thác giống đất sét còn mềm. Chúa có thể nắn họ theo nhiều hình thức. Sai đi đâu cũng được. Cho nổi bật hay ẩn khuất cũng được. Thành công hay phải đi qua thất bại cũng được. Không phải vì họ không cảm thấy gì, mà vì họ đã chọn một giá trị lớn hơn cảm giác: thuộc về Chúa.
Phó thác cũng sinh ra lòng biết ơn. Khi không còn nghĩ mọi điều tốt là thứ mình đương nhiên phải có, ta bắt đầu thấy tất cả là quà. Một ngày khỏe là quà. Một bữa cơm là quà. Một người bạn là quà. Một giờ cầu nguyện bình an là quà. Một khả năng phục vụ là quà. Chính sự ý thức rằng mọi sự có thể được ban và cũng có thể được lấy lại làm lòng biết ơn sâu hơn. Người chiếm hữu luôn sợ mất. Người đón nhận như quà có thể vui khi nhận và dâng lại khi đến giờ.
Phó thác làm đau khổ trở thành của lễ. Đau khổ tự nó vẫn là đau khổ. Đừng tô hồng thập giá. Nhưng khi được nối với tình yêu, nó không còn hoàn toàn vô nghĩa. Một giới hạn được chấp nhận vì yêu Chúa, một sự hiểu lầm được chịu mà không trả đũa, một căn bệnh được mang với lòng tín thác, một sứ vụ khó khăn được chu toàn trong trung thành, tất cả có thể trở thành của lễ âm thầm. Thập Giá của Chúa Giêsu không cứu thế giới chỉ vì Ngài đau, nhưng vì trong đau khổ ấy có tình yêu và sự vâng phục. Cũng vậy, điều biến khổ đau của chúng ta thành của lễ không phải là mức độ đau, mà là tình yêu được đặt vào đó.
14. PHÓ THÁC LÀ SỰ TỰ DO CỦA NGƯỜI CON
Cuối cùng, phó thác không phải là tinh thần của nô lệ sợ hãi một ông chủ thất thường. Nó là sự tự do của người con biết Cha mình tốt lành. Nếu ta hình dung Thiên Chúa như Đấng thích làm ta đau để thử ta, phó thác sẽ trở thành một sự cam chịu lạnh lẽo. Nhưng nếu ta biết Ngài là Cha, phó thác mang một sắc thái khác. Người con có thể không hiểu Cha, nhưng biết mình được yêu. Đây là nền tảng. Không thể phó thác sâu nếu chưa tin vào tình yêu.
Thánh ý Chúa không phải là một bánh xe vô cảm nghiền nát ý muốn con người. Thánh ý Chúa là ý muốn của Đấng đã trao Con Một vì chúng ta. Đấng đã chịu đóng đinh để cứu chúng ta không thể đồng thời là Đấng dửng dưng với số phận chúng ta. Có những gì Ngài cho phép mà ta không hiểu, nhưng Thập Giá bảo đảm một điều: Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ con người. Ngài đã bước vào đó. Vì vậy khi nói “xin theo ý Chúa”, ta không trao mình cho một sức mạnh mù quáng, nhưng cho trái tim của một Người Cha.
Hỡi linh hồn, có lẽ điều con sợ nhất không phải là ý Chúa, mà là hình ảnh sai về ý Chúa. Con sợ rằng nếu buông ra, Chúa sẽ lấy hết những điều con yêu. Con sợ nếu nói “xin vâng”, đời con sẽ chỉ còn đau khổ. Nhưng Thiên Chúa không phải là kẻ cạnh tranh với hạnh phúc của con. Ngài là nguồn hạnh phúc ấy. Có khi Ngài cắt đi điều làm con lệ thuộc. Có khi Ngài không cho điều con xin vì thấy xa hơn con. Có khi Ngài dẫn qua thập giá, nhưng không bao giờ vì muốn phá hủy con. Mục đích của Ngài là làm con tự do để yêu.
15. LỜI KẾT – XIN CHÚA CỨ LÀM NƠI CON ĐIỀU CHÚA MUỐN
Hỡi linh hồn, sau bao nhiêu chương của cuộc chiến, sau bao nhiêu lời khuyên về canh giữ, chống trả, cầu nguyện, khiêm nhường, tín thác, lòng thương xót, niềm vui và biết ơn, cuối cùng chúng ta lại trở về một lời rất đơn sơ: xin vâng. Tất cả cuộc chiến rốt cuộc là để trái tim đủ tự do nói lời ấy. Ta chiến đấu chống tự ái để có thể xin vâng. Ta chống ý riêng để có thể xin vâng. Ta học cầu nguyện để có thể xin vâng. Ta học tín thác để có thể xin vâng. Ta trở về với lòng thương xót sau sa ngã để lại có thể xin vâng. Con đường nên thánh không nhất thiết là làm những việc ngày càng phi thường, mà là để lời xin vâng ngày càng đi sâu hơn vào những vùng mình từng giữ lại.
Có thể hôm nay con chưa phó thác hoàn toàn được. Đừng vì thế mà nản. Hãy bắt đầu bằng điều đang làm con lo nhất. Gọi tên nó trước Chúa. Đừng nói chung chung. Hãy nói: “Lạy Chúa, con trao cho Chúa người này. Con trao bệnh này. Con trao quyết định này. Con trao tương lai này. Con trao nỗi sợ này. Con trao cả sự không thể trao của con. Xin Chúa giúp con.” Có những lúc lời phó thác chân thành nhất không phải là “Con đã hoàn toàn phó thác”, mà là “Lạy Chúa, con muốn phó thác nhưng con còn sợ. Xin giúp con buông.” Chúa hiểu lời ấy.
Rồi mỗi ngày, hãy lặp lại. Khi ý riêng nổi dậy, lại trao. Khi nỗi sợ trở lại, lại trao. Khi ký ức cũ quay về, lại trao. Khi tương lai làm con mất ngủ, lại trao. Khi sứ vụ không thành như mong đợi, lại trao. Khi sức khỏe yếu đi, lại trao. Khi được thành công, cũng trao, để đừng chiếm hữu. Khi được khen, trao. Khi bị chê, trao. Khi được yêu, cảm tạ và trao. Khi bị bỏ quên, đau nhưng vẫn trao. Tất cả cuộc đời có thể trở thành một động tác duy nhất: mở bàn tay.
Và đến một ngày, có lẽ con sẽ hiểu rằng chính những điều con sợ phó thác nhất lại là những điều làm con mệt mỏi nhất vì phải giữ. Khi trao chúng cho Chúa, không phải lúc nào Ngài cũng cất chúng đi, nhưng Ngài cất khỏi vai con gánh nặng phải làm chủ chúng. Con vẫn bước qua cuộc đời với những bất định, nhưng không còn cô độc. Con vẫn có thập giá, nhưng biết ai đang đi cùng. Con vẫn có những câu hỏi, nhưng không còn nghĩ mình phải có mọi câu trả lời mới có thể sống. Con biết rằng đời mình không nằm trong tay ngẫu nhiên. Nó nằm trong tay Đấng đã gọi con từ hư vô, đã cứu con bằng máu Con Một, đã kiên nhẫn với từng lần con sa ngã, và sẽ không bỏ công trình Ngài đã bắt đầu.
Hãy để lời của Đức Maria trở thành nhịp đập của lòng con: “Xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Hãy để lời của Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu trở thành lời cầu của con giữa những lúc ý riêng đau đớn nhất: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Và khi không còn lời nào khác, hãy trở về lời cuối cùng trên Thập Giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Đó là nơi cuộc chiến đi tới sự bình an. Không phải bình an vì con đã thắng mọi trận. Không phải bình an vì con đã trở nên hoàn hảo. Nhưng bình an vì cuối cùng con biết mình thuộc về ai.
Lạy Chúa, con xin trao cho Chúa quá khứ của con, với tất cả những điều đẹp đẽ và những điều con hối tiếc. Xin lòng thương xót Chúa phủ trên những gì con đã làm sai và làm cho những kinh nghiệm đã qua trở thành trường học của khiêm nhường. Con xin trao cho Chúa hiện tại của con, những bổn phận con đang mang, những người con đang sống cùng, những giới hạn con đang phải chịu, những điều con thích và những điều con không muốn. Xin cho con đón nhận từng giờ phút như nơi con có thể yêu Chúa. Con xin trao cho Chúa tương lai của con. Con không biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng Chúa biết. Con không biết con còn bao nhiêu ngày, sẽ đi đâu, sẽ làm gì, sẽ phải chịu những gì, nhưng con tin rằng không một ngày nào nằm ngoài bàn tay Chúa. Con xin trao cho Chúa sức khỏe và bệnh tật, thành công và thất bại, lời khen và tiếng chê, những người đến với con và những người rời xa con, những cánh cửa mở ra và những cánh cửa đóng lại. Xin đừng để con biến bất cứ điều gì thành thần tượng. Xin cho con yêu mọi sự trong Chúa và sẵn sàng trả mọi sự về cho Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, khi con muốn giữ lấy đời mình, xin nhắc con rằng đời con an toàn nhất khi nằm trong tay Chúa. Khi con muốn hiểu mọi sự, xin dạy con tin. Khi con muốn kiểm soát, xin dạy con buông. Khi con nổi loạn vì điều trái ý, xin cho con nhớ đến Vườn Cây Dầu. Khi con sợ mất mát, xin cho con nhìn lên Thập Giá. Khi con tưởng mình bị bỏ rơi, xin cho con nhớ rằng Chúa đã đi vào tận nơi sâu nhất của sự cô độc để không một nỗi cô độc nào của con còn hoàn toàn vắng Chúa.
Lạy Đức Maria, Mẹ của lời xin vâng, xin cầm tay con khi con không đủ sức nói xin vâng. Xin dạy con giữ lòng trung thành trong những ngày không hiểu, đứng vững dưới chân những thập giá không thể giải thích, và tiếp tục tin khi mọi dấu chỉ bên ngoài dường như tối tăm. Xin cho lời của Mẹ trở thành lời của con, không chỉ trong giờ cầu nguyện mà trong từng biến cố của cuộc đời: Xin Chúa cứ làm nơi con điều đẹp lòng Chúa.
Lạy Cha, con không xin một cuộc đời không có thập giá. Con chỉ xin đừng để con mang thập giá mà xa Cha. Con không xin biết trước mọi con đường. Con chỉ xin ơn đủ để bước theo Cha hôm nay. Con không xin mọi sự xảy ra theo ý con. Con xin trái tim con đủ tự do để yêu ý Cha hơn ý con. Nếu Cha ban, xin cho con biết tạ ơn. Nếu Cha lấy đi, xin cho con biết dâng lại. Nếu Cha mở đường, xin cho con bước đi khiêm nhường. Nếu Cha đóng cửa, xin cho con không cay đắng. Nếu Cha cho con hiểu, xin cho con biết dùng ánh sáng ấy. Nếu Cha để con ở trong bóng tối, xin cho con vẫn nắm lấy tay Cha.
Con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha. Con xin phó thác những gì con biết và những gì con không biết. Con xin phó thác những gì con có thể làm và những gì vượt quá sức con. Con xin phó thác những gì con yêu và những gì con sợ mất. Con xin phó thác cả chính sự phó thác yếu ớt của con. Xin Cha nhận lấy đời con, thanh luyện nó, sử dụng nó, bẻ ra nếu cần, trao nó đi nếu muốn, làm cho nó trở nên điều đẹp lòng Cha.
Con không còn xin cuộc đời phải theo ý con.
Con chỉ xin một điều:
Dù điều gì xảy ra, xin đừng để con rời khỏi thánh ý Cha.
Và nếu một ngày con không còn đủ sức nói nhiều lời, xin cho hơi thở cuối cùng của con vẫn là lời này:
Lạy Cha, con thuộc về Cha.
Con tín thác nơi Cha.
Xin Cha cứ làm nơi con mọi sự theo thánh ý Cha.
Amen.
CHƯƠNG 40
SỐNG ĐỂ TÔN VINH THIÊN CHÚA TRONG MỌI SỰ
Hỡi linh hồn đã đi qua nhiều chặng đường của cuộc chiến, đã từng nếm biết sự yếu đuối của mình, đã từng đau đớn vì những lần sa ngã, đã từng phải học lại từ đầu bài học bất tín nhiệm vào chính mình và tín thác vào Thiên Chúa, đã từng phải canh giữ giác quan, chế ngự đam mê, cầu nguyện giữa khô khan, đứng dậy giữa thất bại, kiên trì giữa chán nản, tìm bình an giữa những xao động, chạy đến với lòng thương xót giữa những lúc tưởng như chẳng còn gì đáng hy vọng, và sau cùng đã học cách đặt tất cả đời mình trong thánh ý Chúa, giờ đây con được dẫn đến một điểm cao hơn, một điểm có thể nói là cùng đích của mọi con đường, là lý do sâu xa của mọi cuộc chiến, là ánh sáng phải soi chiếu mọi quyết định, là ngọn lửa phải thiêu đốt mọi ý hướng, là câu trả lời sau cùng cho câu hỏi: “Tại sao tôi sống? Tại sao tôi cầu nguyện? Tại sao tôi hy sinh? Tại sao tôi chiến đấu? Tại sao tôi phục vụ? Tại sao tôi phải từ bỏ chính mình?” Câu trả lời ấy chỉ có thể là: để Thiên Chúa được tôn vinh trong mọi sự. Không phải để tôi trở thành một người đạo đức trong mắt mình. Không phải để tôi cảm thấy mình tiến bộ. Không phải để người khác kính trọng tôi. Không phải để tôi có một đời sống thiêng liêng khiến người ta ngưỡng mộ. Không phải để công việc của tôi thành công hơn người khác. Không phải để tên tuổi tôi được nhắc đến. Không phải để tôi có thể tự hào rằng mình đã chiến thắng một đam mê, đã làm được một việc lớn, đã hy sinh hơn người, đã cầu nguyện nhiều, đã phục vụ hữu hiệu, đã xây dựng được công trình này hay để lại được công trình kia. Tất cả những điều ấy, nếu trở thành mục tiêu, dù mang hình thức đạo đức đến đâu, vẫn có thể chỉ là những hình thức tinh tế của việc tìm kiếm chính mình. Linh hồn có thể từ bỏ tiền bạc mà vẫn tìm mình trong danh tiếng. Có thể từ bỏ danh tiếng đời thường mà vẫn tìm mình trong danh tiếng thiêng liêng. Có thể từ bỏ khoái lạc xác thịt mà vẫn nuôi dưỡng khoái lạc được người khác kính trọng. Có thể không muốn được giàu có nhưng rất muốn được xem là thánh thiện. Có thể không tìm địa vị nhưng lại tìm sự nhìn nhận. Có thể không tranh phần thưởng bên ngoài nhưng lại thèm khát cảm giác rằng mình quan trọng. Và chính vì thế, sau bao cuộc chiến chống những đam mê lộ liễu, còn một cuộc chiến thẳm sâu hơn cần phải diễn ra: cuộc chiến để trả lại mọi vinh quang cho Thiên Chúa.
Sống để tôn vinh Thiên Chúa là đưa cả cuộc đời trở về đúng trật tự của nó. Thiên Chúa là Đấng dựng nên con, là Đấng ban cho con sự sống, là Đấng gìn giữ từng nhịp thở, là Đấng cứu chuộc con bằng Máu Con Một của Ngài, là Đấng không ngừng tha thứ, kiên nhẫn, dẫn dắt, chữa lành, nâng đỡ và thánh hóa con. Mọi điều tốt lành nơi con, dù lớn hay nhỏ, đều có nguồn nơi Ngài. Nếu con có trí khôn, đó là ân ban. Nếu con có sức khỏe, đó là ân ban. Nếu con có khả năng, đó là ân ban. Nếu con có cơ hội phục vụ, đó là ân ban. Nếu con có thể cầu nguyện, đó là ân ban. Nếu con biết hối cải, đó cũng là ân ban. Nếu con đứng dậy sau sa ngã, chính ân sủng đã kéo con đứng lên. Nếu con làm được một việc lành, Thiên Chúa đã đi trước con bằng ân sủng của Ngài. Nếu con kiên trì được một ngày, ấy không phải vì con mạnh, mà vì Chúa đã gìn giữ con. Nếu con có thể yêu mến Ngài, chính Ngài đã yêu con trước. Vì thế, còn điều gì hợp lý hơn việc mọi sự trở về với Ngài? Còn điều gì đẹp hơn việc một linh hồn hiểu rằng mình đã lãnh nhận tất cả và vì thế muốn trao trả tất cả? Còn điều gì tự do hơn việc không giữ lại vinh quang cho mình, không thu gom những lời khen, không sống như thể mình là trung tâm, nhưng để cho toàn bộ đời sống trở thành một lời thưa thầm lặng: “Lạy Chúa, tất cả là của Chúa, tất cả nhờ Chúa, tất cả cho Chúa”? Khi ấy, đời sống thiêng liêng thôi không còn là dự án xây dựng một cái tôi hoàn hảo; nó trở thành việc để Thiên Chúa được nhìn thấy qua một con người yếu đuối. Việc nên thánh thôi không còn là cuộc leo núi để chứng minh mình cao hơn người khác; nó trở thành sự biến mất dần của cái tôi để Chúa lớn lên. Việc phục vụ thôi không còn là nơi ta muốn để lại dấu ấn; nó trở thành nơi ta muốn Chúa để lại dấu ấn của Ngài trong những tâm hồn. Và ngay cả những thất bại, những giới hạn, những điều không thành công theo dự tính của ta cũng không còn làm ta tuyệt vọng, bởi ta bắt đầu hiểu rằng vinh quang Thiên Chúa không lệ thuộc vào việc cái tôi của ta có được thỏa mãn hay không.
1. VINH QUANG THIÊN CHÚA – CÙNG ĐÍCH CỦA MỌI SỰ
Thiên Chúa không cần vinh quang của chúng ta như một người quyền thế cần lời tung hô. Ngài vốn tràn đầy vinh quang từ đời đời. Không lời ca tụng nào của thụ tạo có thể làm Ngài trở nên lớn hơn, cũng chẳng sự vô ơn nào của chúng ta làm Ngài nhỏ đi. Khi nói Thiên Chúa dựng nên mọi sự vì vinh quang Ngài, chúng ta không được hiểu theo kiểu một vị vua ích kỷ dựng nên thần dân để họ ngày đêm ca ngợi mình. Không. Chính vì Thiên Chúa là Tình Yêu, là Sự Thiện tuyệt đối, là Vẻ Đẹp tuyệt đối, là Sự Sống viên mãn, nên vinh quang của Ngài chính là việc sự thiện ấy được biểu lộ, được thông ban, được nhận biết, được yêu mến. Một bông hoa nở đúng vẻ đẹp của nó đã làm vinh danh Đấng Tạo Hóa. Một con chim hót đúng tiếng hót mà nó được ban cũng âm thầm nói lên sự khôn ngoan của Đấng dựng nên nó. Một con người sống đúng phẩm giá là hình ảnh Thiên Chúa sẽ trở thành lời ca ngợi sống động hơn mọi bài ca bằng môi miệng. Và một linh hồn tự do yêu mến Thiên Chúa, dù giữa đau khổ, giữa thử thách, giữa bóng tối, lại càng làm sáng tỏ quyền năng của ân sủng hơn nữa. Vì thế, tôn vinh Thiên Chúa không phải là thêm cái gì cho Chúa, nhưng là để cho cái thuộc về Chúa được tỏ lộ nơi ta; để lòng thương xót của Ngài được tỏ lộ trong một người được tha thứ; để sức mạnh của Ngài được tỏ lộ trong một người yếu đuối mà không tuyệt vọng; để sự kiên nhẫn của Ngài được tỏ lộ trong một người học kiên nhẫn với anh em; để sự hiền lành của Đức Kitô được tỏ lộ trong một người vốn nóng giận nhưng ngày càng biết im lặng và tha thứ; để sự nghèo khó của Đức Giêsu được tỏ lộ trong một người không bám víu; để sự vâng phục của Người được tỏ lộ trong một người biết chết cho ý riêng; để thập giá của Người được tỏ lộ trong một người biết mang đau khổ không cay đắng; và để Phục Sinh của Người được tỏ lộ trong một người vẫn hy vọng giữa những hoàn cảnh tưởng như không còn hy vọng.
Một linh hồn sống cho vinh quang Thiên Chúa sẽ dần được giải phóng khỏi nhà tù của câu hỏi: “Người khác nghĩ gì về tôi?” Đây là một nhà tù lớn hơn ta tưởng. Biết bao quyết định của con người không phát xuất từ lương tâm hay từ ý Chúa, nhưng từ nỗi sợ bị đánh giá. Biết bao việc tốt được làm không hoàn toàn vì tốt, nhưng vì người khác nhìn thấy. Biết bao lời nói được thốt ra không phải để phục vụ chân lý, nhưng để bảo vệ hình ảnh của mình. Biết bao sự im lặng cũng không phải vì khiêm nhường, nhưng vì sợ mất mặt. Biết bao lần chúng ta buồn không hẳn vì việc Chúa bị tổn thương, nhưng vì danh dự của ta bị tổn thương. Biết bao lần chúng ta bực bội vì công việc không thành không phải vì Tin Mừng bị cản trở, nhưng vì ý tưởng của ta không được thực hiện. Biết bao lần ta nói rằng mình “đau cho Giáo Hội”, “đau cho cộng đoàn”, “đau cho sứ vụ”, nhưng nếu soi kỹ hơn, có khi ta đau vì tiếng nói mình không còn trọng lượng như trước, vì người khác không làm theo cách của ta, vì một công trình không còn gắn tên ta, vì người kế nhiệm làm khác ta, vì người ta quên những đóng góp của ta. Cái tôi có khả năng mặc rất nhiều áo đạo đức. Vì thế, linh hồn phải thường xuyên đặt mình trước Chúa và hỏi: “Nếu không một ai biết việc này do tôi làm, tôi có còn muốn làm không? Nếu người khác nhận lời khen thay cho tôi, tôi có bình an không? Nếu Chúa được tôn vinh nhưng tôi bị hiểu lầm, tôi có chấp nhận không? Nếu công việc tốt đẹp tiếp tục mà không còn có tôi, tôi có vui không? Nếu người khác thành công hơn tôi trong chính điều tôi từng ao ước, tôi có thể thật lòng cảm tạ Chúa không?” Những câu hỏi ấy đau. Nhưng chúng là con dao mổ của ân sủng. Chúng mở những lớp sâu của lòng tự ái mà những việc đạo đức bên ngoài có thể chưa bao giờ chạm tới.
Đến một lúc nào đó trong đời sống thiêng liêng, linh hồn phải thôi hỏi trước hết: “Tôi được gì?” Ngay cả trong tương quan với Thiên Chúa, ta cũng có thể sống như người đi tìm lợi ích cho mình. Ta cầu nguyện để được bình an. Ta đi lễ để được an ủi. Ta làm việc lành để Chúa ban ơn. Ta sống tốt để đời mình suôn sẻ. Ta phục vụ để cảm thấy mình có ý nghĩa. Những điều ấy tự chúng không hoàn toàn sai; Thiên Chúa biết con người cần được nâng đỡ và Ngài rộng rãi ban nhiều an ủi. Nhưng linh hồn không thể ở mãi trong tuổi thơ. Tình yêu phải trưởng thành. Có một ngày Chúa sẽ hỏi ta, không nhất thiết bằng lời, nhưng qua hoàn cảnh: “Nếu Ta không cho con cảm thấy gì, con có còn yêu Ta không? Nếu con cầu nguyện mà khô khan, con có còn đến với Ta không? Nếu việc phục vụ của con không được ai ghi nhận, con có còn làm không? Nếu con trung thành mà đời con vẫn gặp thử thách, con có còn tin Ta không? Nếu Ta dẫn con trên một con đường khác với điều con mong ước, con có còn muốn thuộc về Ta không?” Đó là lúc tình yêu được thanh luyện khỏi tính vụ lợi. Và chính ở đó, linh hồn bắt đầu thực sự sống cho vinh quang Thiên Chúa: không còn yêu Chúa chủ yếu vì những gì Chúa cho, nhưng vì Chúa là Chúa; không còn phục vụ vì sự thỏa mãn mà phục vụ đem lại, nhưng vì Ngài xứng đáng được phục vụ; không còn trung tín chỉ khi thấy kết quả, nhưng vì trung tín tự nó là điều làm vui lòng Ngài.
2. “CHỈ ĐỂ LÀM VUI LÒNG CHÚA” – SỰ TINH TUYỀN CỦA Ý HƯỚNG
Có một câu rất đơn sơ nhưng nếu thực sự sống được, nó sẽ biến đổi toàn bộ đời người: “Con làm việc này chỉ để làm vui lòng Chúa.” Hãy thử đem câu ấy đặt trước từng việc trong ngày. Ta sẽ thấy đời sống mình được soi sáng cách lạ lùng. Tại sao con nói lời này? Để làm vui lòng Chúa hay để thắng người khác? Tại sao con im lặng? Vì bác ái hay vì hờn dỗi? Tại sao con làm việc này? Vì bổn phận hay vì cần được khen? Tại sao con từ chối việc kia? Vì phân định đúng hay vì lười? Tại sao con giữ ý kiến của mình? Vì sự thật hay vì sĩ diện? Tại sao con nhận công việc này? Vì sứ vụ hay vì nó đem lại vị thế? Tại sao con buồn khi người khác không biết ơn? Có phải vì con đã vô tình mong phần thưởng từ họ? Tại sao con khó chịu khi bị sửa? Có phải vì con đã bắt đầu yêu hình ảnh tốt đẹp về mình hơn yêu sự thật? Chỉ một câu “việc này có làm vui lòng Chúa không?” đủ để bóc trần rất nhiều lớp ngụy trang của cái tôi.
Sống chỉ để làm vui lòng Chúa không có nghĩa là ta trở nên lạnh lùng với con người, không quan tâm đến tình cảm, không vui trước lời cảm ơn hay không buồn khi bị hiểu lầm. Ta vẫn là con người. Ta có trái tim. Ta cần tương quan. Ta có thể vui khi được quý mến và đau khi bị từ chối. Nhưng điều thay đổi là trọng tâm. Người ta yêu ta, ta cảm tạ Chúa. Người ta quên ta, ta vẫn tiếp tục. Người ta khen, ta đón nhận trong bình an và trả vinh quang về cho Chúa. Người ta chê, ta xét mình xem có điều gì cần sửa, rồi phần còn lại trao cho Chúa. Công việc thành công, ta vui vì ích lợi cho các linh hồn chứ không vì cái tôi được nâng cao. Công việc thất bại, ta đau nhưng không sụp đổ, bởi giá trị của sự trung thành không hoàn toàn đo bằng kết quả bên ngoài. Được giao việc lớn, ta làm vì Chúa. Được giao việc nhỏ, ta cũng làm vì Chúa. Có người nhìn, ta trung thành. Không người nhìn, ta vẫn trung thành. Đứng trước đông người, ta tìm Chúa. Ở một mình trong căn phòng nhỏ, ta cũng tìm Chúa. Khi còn sức khỏe, ta phụng sự. Khi bệnh tật khiến ta chẳng làm được gì nữa, ta dâng chính sự bất lực ấy. Bởi điều quan trọng nhất không còn là ta làm được bao nhiêu, mà là ta thuộc về ai và ta làm vì ai.
Đây là chỗ ta hiểu sâu hơn rằng sự hoàn thiện Kitô giáo không nhất thiết đồng nghĩa với làm nhiều hơn, nhưng với yêu tinh tuyền hơn. Một người có thể làm rất nhiều mà vẫn xoay quanh chính mình. Một người khác có thể làm rất ít vì bệnh tật, tuổi già hay hoàn cảnh, nhưng từng việc nhỏ của họ được làm với ý hướng hoàn toàn hướng về Chúa. Trong cái nhìn của thế gian, người thứ nhất có thể nổi bật hơn. Trong cái nhìn của Thiên Chúa, ai biết điều gì có giá trị lớn hơn? Người đời đo bằng số lượng, hiệu quả, tiếng vang, khả năng thu hút. Thiên Chúa nhìn tận đáy lòng. Ngài thấy cái chổi được cầm lên vì yêu. Ngài thấy bữa cơm được chuẩn bị trong âm thầm. Ngài thấy lời nhẫn nhịn không ai biết. Ngài thấy một linh hồn đã muốn đáp trả gay gắt nhưng vì yêu Chúa mà cắn môi im lặng. Ngài thấy một người đang đau vẫn cố mỉm cười để không làm người khác nặng lòng. Ngài thấy một sự hy sinh bị quên lãng. Ngài thấy một giọt nước mắt được lau trước khi bước ra gặp người khác. Ngài thấy một cơn cám dỗ dữ dội đã bị chống lại không phải vì sợ xấu hổ nhưng vì không muốn làm buồn lòng Ngài. Ngài thấy một linh mục chuẩn bị bài giảng giữa mệt mỏi không phải để người ta khen giảng hay, nhưng vì muốn một linh hồn nào đó hiểu thêm một chút về tình yêu Chúa. Ngài thấy người thừa sai đi đến nơi nhỏ bé ít ai biết không phải vì nơi ấy đem lại danh tiếng, nhưng vì ở đó có những người cần được nghe Tin Mừng. Ngài thấy mọi sự mà con người không thấy. Và sự thánh thiện được xây dựng trước hết trong cái nhìn ấy.
3. TÔN VINH THIÊN CHÚA TRONG NHỮNG VIỆC RẤT NHỎ
Hỡi linh hồn, đừng đợi những việc lớn mới nghĩ rằng mình có thể tôn vinh Thiên Chúa. Phần lớn cuộc đời không được làm nên bởi những biến cố phi thường, nhưng bởi những điều lặp đi lặp lại đến mức ta dễ xem thường. Thức dậy. Dọn phòng. Ăn uống. Đi lại. Trả lời một tin nhắn. Lắng nghe một người. Hoàn thành một bổn phận. Sửa một lỗi nhỏ. Chờ đợi. Giữ đúng giờ. Nói lời cảm ơn. Xin lỗi. Dừng lại trước một lời muốn nói nhưng không nên nói. Bỏ điện thoại xuống để hiện diện với người trước mặt. Làm xong một công việc dù chẳng thích. Chịu một sự bất tiện mà không càm ràm. Tất cả những điều ấy có vẻ quá tầm thường. Nhưng chính những hạt bụi nhỏ ấy làm thành đời sống. Nếu con chỉ tôn vinh Chúa trong những việc lớn, con sẽ chỉ tôn vinh Ngài vài lần trong đời. Nếu con biết tôn vinh Chúa trong những việc nhỏ, cả ngày của con sẽ trở thành phụng vụ.
Có những người muốn làm điều lớn lao cho Chúa nhưng lại không chịu làm điều nhỏ bé Chúa đang đặt trước mặt. Họ mơ những sứ vụ lớn nhưng thiếu kiên nhẫn với người sống chung. Họ muốn cứu các linh hồn nhưng không chịu nghe một người đang buồn. Họ muốn hy sinh mạng sống nhưng khó hy sinh mười phút theo ý người khác. Họ sẵn sàng đi xa vì Chúa nhưng khó bước vài bước để giúp một việc không thuộc trách nhiệm của mình. Họ nói nhiều về tình yêu nhưng lại khó chịu trước một sự bất tiện rất nhỏ. Đây là điều phải nhìn thật rõ: vinh quang Thiên Chúa không nằm trước hết trong sự lớn lao của việc ta làm, nhưng trong tình yêu và sự vâng phục đặt vào việc ấy. Một việc nhỏ được làm hoàn toàn cho Chúa có thể có giá trị thiêng liêng lớn hơn một công trình lớn bị pha trộn bởi tự ái. Một lời cầu nguyện ngắn nhưng chân thành có khi làm đẹp lòng Chúa hơn một giờ cầu nguyện trong đó ta chỉ tìm cảm giác thiêng liêng. Một lần nhịn lời vì bác ái có thể là chiến thắng lớn hơn một bài diễn thuyết về đức ái. Một việc âm thầm mà không ai biết có thể trở thành nén hương tinh tuyền hơn nhiều việc được tung hô.
Hãy tập biến những việc tầm thường thành của lễ. Khi thức dậy, đừng chỉ bắt đầu một ngày mới; hãy dâng nó: “Lạy Chúa, hôm nay thuộc về Chúa.” Khi làm một việc mình không thích, hãy nói: “Con làm vì Chúa.” Khi gặp một người khó tính, hãy nghĩ: “Lạy Chúa, xin cho con yêu Chúa nơi người này.” Khi phải chờ đợi, thay vì bực bội, hãy dâng khoảng thời gian ấy. Khi mệt, hãy làm điều cần làm với một chút dịu dàng hơn. Khi bị gián đoạn kế hoạch, hãy nhớ rằng đôi khi điều Chúa muốn không nằm trong kế hoạch của con nhưng trong chính sự gián đoạn ấy. Khi phải làm lại một việc vì người khác sơ suất, hãy biến nó thành hy lễ kín đáo. Khi không ai cảm ơn, hãy nói: “Chúa thấy là đủ.” Khi người khác nhận công lao, hãy để lòng mình được thử luyện trong thinh lặng. Khi một việc tốt của con bị hiểu sai, hãy sửa nếu cần, nhưng đừng đánh mất bình an chỉ để cứu hình ảnh mình. Những việc như thế chính là nơi cái tôi chết dần và tình yêu tinh tuyền được sinh ra.
4. TÔN VINH THIÊN CHÚA TRONG THÀNH CÔNG
Thành công là một thử thách lớn hơn ta tưởng. Thất bại dễ làm con người đau, nhưng thành công dễ làm con người say. Khi thất bại, ta thấy mình yếu. Khi thành công, ta dễ tưởng mình mạnh. Khi thất bại, ta dễ chạy đến Chúa. Khi thành công, ta dễ quên rằng mọi sự là ân ban. Khi thất bại, lòng kiêu ngạo bị đập vỡ. Khi thành công, lòng kiêu ngạo có thể lớn lên trong áo của lòng biết ơn. Vì thế, người sống cho vinh quang Chúa phải học một nghệ thuật rất khó: thành công mà không chiếm lấy vinh quang. Điều này không có nghĩa là giả vờ phủ nhận khả năng của mình. Khi con làm tốt, con có thể nhận rằng mình đã làm tốt. Khi một công trình sinh hoa trái, con có thể vui. Khi người ta cảm ơn, con không cần phải đáp bằng một kiểu khiêm nhường giả tạo: “Không, tôi chẳng làm gì.” Con đã làm. Con đã bỏ công. Con đã hy sinh. Con có trách nhiệm. Nhưng giữa tất cả điều ấy, con biết sâu xa rằng chính sự sống, khả năng, cơ hội, con người cộng tác, ơn soi sáng, sức chịu đựng và kết quả cuối cùng đều nằm trong tay Thiên Chúa. Vì thế, niềm vui của con không dừng lại ở chính mình mà nhanh chóng trở thành lời tạ ơn.
Khi được khen, hãy tập đưa lời khen ấy đi xuyên qua con để đến với Chúa thay vì giữ nó lại trong lòng như một thứ thức ăn cho tự ái. Cám dỗ không nhất thiết nằm ở chỗ người khác khen, mà ở chỗ sau đó ta âm thầm nhai đi nhai lại lời khen ấy, nhớ lại nét mặt người khen, kể lại cho người khác, tìm thêm những dấu hiệu chứng minh mình quả thật đặc biệt. Cái tôi sống được bằng những vụn bánh như thế. Nó thu nhặt từng ánh mắt, từng lời tán thưởng, từng sự công nhận. Để sống cho vinh quang Chúa, phải tập buông. Người ta khen, hãy mỉm cười, cảm ơn, rồi để nó qua. Đừng xây nhà trong lời khen. Đừng lấy đánh giá của con người làm nơi cư ngụ của tâm hồn. Hôm nay họ khen, ngày mai họ có thể chê. Hôm nay họ tung hô, ngày mai họ quên. Nếu bình an của con phụ thuộc vào dư luận, con sẽ trở thành nô lệ của dư luận. Nhưng nếu con biết rằng giá trị sâu xa của mình nằm trong việc thuộc về Thiên Chúa, lời khen sẽ không làm con bay quá cao và lời chê cũng không làm con rơi quá sâu.
Đặc biệt trong sứ vụ, hãy coi chừng cám dỗ đồng hóa “vinh quang Thiên Chúa” với “thành công của công việc tôi.” Hai điều ấy không luôn luôn giống nhau. Một chương trình đông người chưa chắc đã là dấu chắc chắn Chúa được tôn vinh hơn một cuộc gặp gỡ âm thầm với một linh hồn. Một bài giảng được nhiều người chia sẻ chưa chắc có giá trị hơn một bài giảng âm thầm làm một người trở về với Chúa. Một công trình lớn chưa chắc đáng giá hơn sự trung tín vô danh. Người thừa sai dễ bị quyến rũ bởi con số: bao nhiêu người tham dự, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu người biết đến, bao nhiêu thành quả có thể báo cáo. Những điều ấy có giá trị thực tế và không nên xem nhẹ, nhưng nếu tâm hồn bắt đầu sống nhờ chúng, sứ vụ sẽ dần biến thành sân khấu. Hãy thường xuyên trở về với câu hỏi ban đầu: “Nếu Chúa muốn dùng tôi để gieo mà người khác gặt, tôi có chấp nhận không? Nếu tôi làm nền để người khác đứng lên, tôi có vui không? Nếu công trình tôi bắt đầu về sau được người khác làm tốt hơn mà chẳng ai nhớ tôi, tôi có thể tạ ơn không?” Khi trả lời được “có”, linh hồn đã tiến rất xa trên con đường tự do.
5. TÔN VINH THIÊN CHÚA TRONG THẤT BẠI
Nếu thành công thử lòng khiêm nhường, thất bại thử lòng tín thác. Có những thất bại làm ta đau không chỉ vì mất mát thực tế, mà vì nó đụng vào hình ảnh ta đã xây về chính mình. Ta tưởng mình phải thành công. Ta tưởng nếu Chúa ở với mình thì công việc sẽ thuận lợi. Ta tưởng một ý tưởng tốt nhất định phải được đón nhận. Ta tưởng sự hy sinh phải sinh kết quả thấy được. Nhưng Thiên Chúa không ký hợp đồng rằng ai trung tín với Ngài sẽ luôn thành công theo tiêu chuẩn trần thế. Chúa Giêsu đã sống hoàn toàn cho vinh quang Chúa Cha, vậy mà trước mắt thế gian, Thập Giá là một thất bại. Người bị phản bội, bỏ rơi, kết án, nhạo báng và giết chết. Nếu chỉ nhìn bằng mắt của hiệu quả tức thời, công trình của Người dường như sụp đổ. Nhưng chính nơi ấy, Chúa Cha được tôn vinh cách sâu xa nhất, bởi tình yêu của Chúa Con đi đến cùng. Vì thế, đôi khi Thiên Chúa được tôn vinh không phải bằng việc con chiến thắng hoàn cảnh, mà bằng cách con trung thành trong hoàn cảnh con không thể chiến thắng.
Hỡi linh hồn, có những lúc Chúa sẽ để con thất bại vì Ngài đang cứu con khỏi một điều nguy hiểm hơn thất bại: ảo tưởng về chính mình. Một công việc không thành có thể dạy con điều một trăm lời khen không thể dạy. Một kế hoạch đổ vỡ có thể phơi bày sự tự tin quá mức. Một lần bị từ chối có thể cho con thấy mình còn lệ thuộc vào sự công nhận. Một lần bị hiểu sai có thể cho thấy con yêu danh dự mình đến đâu. Một lần không được chọn có thể làm lộ nỗi thèm khát vị trí. Một người khác được giao điều con mong đợi có thể phơi bày sự ghen tị được giấu rất kỹ dưới vẻ đạo đức. Đừng vội nguyền rủa những thất bại ấy. Đôi khi chính chúng là những người thầy nghiêm khắc nhưng trung thành Chúa gửi đến để thanh luyện con.
Sống cho vinh quang Chúa nghĩa là có thể nói giữa thất bại: “Lạy Chúa, nếu qua việc này con được khiêm nhường hơn, xin Chúa được tôn vinh. Nếu người khác làm tốt hơn con, xin Chúa được tôn vinh. Nếu con phải bắt đầu lại, xin Chúa được tôn vinh. Nếu con phải học điều con chưa biết, xin Chúa được tôn vinh. Nếu con phải nhận lỗi, xin Chúa được tôn vinh. Nếu kế hoạch của con phải chết để ý Chúa được thực hiện, xin Chúa được tôn vinh.” Đây không phải là thái độ biện hộ cho sự cẩu thả hay thiếu trách nhiệm. Nếu thất bại do sai lầm, phải sửa. Nếu do thiếu chuẩn bị, phải học. Nếu do tội lỗi, phải sám hối. Nhưng sau khi đã làm phần mình, đừng để thất bại biến thành bản án về giá trị của bản thân. Một người sống cho Chúa không bị định nghĩa bởi việc hôm nay mình thắng hay thua. Họ được định nghĩa bởi việc trong thắng cũng như thua, họ vẫn thuộc về Chúa.
6. TÔN VINH THIÊN CHÚA TRONG ĐAU KHỔ
Có lẽ không có nơi nào việc tôn vinh Thiên Chúa trở nên tinh tuyền bằng trong đau khổ. Khi mọi sự thuận lợi, ta có thể ca tụng Chúa vì những hồng ân ta đang hưởng. Khi đau khổ, nếu ta vẫn ca tụng, lời ca ấy không còn dựa trên cảm giác dễ chịu nữa. Nó trở thành một hành vi đức tin. Một người đau khổ mà vẫn nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tin Chúa” đang làm một điều rất lớn. Một người mất đi điều quý giá mà vẫn không nguyền rủa Thiên Chúa đang tuyên xưng rằng Thiên Chúa lớn hơn những gì Ngài ban. Một người cầu nguyện lâu mà chưa thấy lời đáp nhưng vẫn tiếp tục yêu mến đang tôn vinh sự trung tín của Thiên Chúa bằng chính sự trung tín của mình. Một linh hồn khô khan không cảm thấy Chúa nhưng vẫn quỳ xuống cầu nguyện có thể đang dâng một lời ca tinh tuyền hơn những ngày đầy an ủi. Vì lúc ấy linh hồn không yêu cảm giác về Chúa; nó đang yêu chính Chúa.
Đừng hiểu sai: Chúa không thích con đau. Đau khổ tự nó không phải là điều tốt. Đức tin Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta tôn thờ Đấng đã bước vào đau khổ và biến nó thành nơi tình yêu chiến thắng. Vì thế, khi đau khổ đến mà ta không thể tránh, ta có thể biến điều vốn là vết thương thành của lễ. Ta không cần phải giả vờ không đau. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã buồn đến chết được. Trên Thập Giá, Người đã kêu lên. Đức Maria dưới chân Thập Giá không phải một tượng đá vô cảm. Các thánh cũng khóc. Tôn vinh Chúa trong đau khổ không có nghĩa là không khóc; nó có nghĩa là không để nước mắt cuốn mình khỏi Chúa. Không có nghĩa là không đặt câu hỏi; nhưng là không biến câu hỏi thành sự khước từ. Không có nghĩa là không xin được giải thoát; Chúa Giêsu cũng đã xin chén đắng qua đi. Nhưng sau cùng là có thể nói: “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.”
Có những đau khổ chỉ Chúa biết. Những hiểu lầm không thể giải thích. Những mất mát không thể lấy lại. Những người ta yêu nhưng không thể giúp. Những lời cầu nguyện kéo dài nhiều năm. Những giới hạn của tuổi tác. Những sức khỏe giảm sút. Những công việc từng làm được nay không còn làm được. Những tương quan đổi thay. Những cánh cửa đóng lại. Những giai đoạn bị đặt vào bóng tối. Chính ở đó, linh hồn có thể dâng một thứ vinh quang mà thời sung sức không thể dâng: vinh quang của sự thuộc về không điều kiện. “Lạy Chúa, khi con làm được nhiều, con thuộc về Chúa. Khi con không làm được gì, con cũng thuộc về Chúa. Khi người ta cần con, con thuộc về Chúa. Khi người ta không còn cần con nữa, con vẫn thuộc về Chúa. Khi con được hiểu, con thuộc về Chúa. Khi con bị hiểu lầm, con vẫn thuộc về Chúa. Khi con khỏe, con phụng sự Chúa bằng sức khỏe. Khi con đau, con phụng sự Chúa bằng sự kiên nhẫn. Khi con nói được, con nói về Chúa. Khi con không còn sức nói, chính sự im lặng của con sẽ là lời dâng.” Đó là tự do.
7. TÔN VINH THIÊN CHÚA TRONG SỨ VỤ
Đối với người được trao sứ vụ, đây là một cuộc thanh luyện đặc biệt cần thiết. Làm việc cho Chúa không tự động đồng nghĩa với làm mọi sự vì Chúa. Ta có thể làm công việc của Chúa mà lòng vẫn tìm mình. Ta có thể giảng về khiêm nhường mà âm thầm muốn nổi bật. Ta có thể nói về phục vụ nhưng khó chấp nhận khi người khác được chọn thay mình. Ta có thể kêu gọi người ta từ bỏ mà chính mình bám vào cách làm của mình. Ta có thể nói “tất cả vì Chúa” nhưng lại buồn bực quá mức khi tên mình không được nhắc đến. Chính vì sứ vụ là việc thánh, cái tôi càng dễ ẩn mình trong đó mà không bị phát hiện. Người ta dễ nhận thấy lòng tham tiền, nhưng khó nhận thấy lòng tham ảnh hưởng. Dễ nhận thấy sự háo danh đời thường, nhưng khó nhận thấy sự háo danh tông đồ. Dễ biết mình muốn giàu, nhưng khó biết mình muốn “có tiếng nói”. Vì thế, người làm sứ vụ phải xin Chúa thanh luyện mình liên lỉ.
Hãy nhớ: con không phải Đấng Cứu Thế. Con chỉ là người phục vụ Đấng Cứu Thế. Con không cứu được ai bằng khả năng của mình. Con gieo, người khác tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Đừng mang gánh nặng như thể số phận Giáo Hội hay số phận các linh hồn tùy thuộc hoàn toàn nơi con. Điều ấy nghe có vẻ nhiệt thành nhưng nhiều khi là một dạng kiêu ngạo kín đáo. Con phải làm hết sức, phải chuẩn bị nghiêm túc, phải sử dụng khả năng, phải sáng tạo, phải lao nhọc, phải chịu trách nhiệm. Nhưng sau tất cả, con phải có khả năng ngủ bình an trong tay Chúa. Vì công trình là của Ngài. Các linh hồn là của Ngài. Hội Thánh là của Ngài. Sứ vụ là của Ngài. Con được mời gọi cộng tác, không được mời gọi thay thế Thiên Chúa.
Một dấu chỉ rất đẹp của người sống cho vinh quang Chúa trong sứ vụ là họ không cần mọi sự phải mang dấu ấn của mình. Họ vui khi người trẻ làm tốt hơn. Họ vui khi người kế nhiệm phát triển một công trình vượt xa mình. Họ có thể trao quyền. Họ có thể rút lui. Họ không cần kiểm soát mọi thứ. Họ không xem sự hiện diện của người tài khác là mối đe dọa. Họ không sợ mình bị quên. Vì điều họ muốn là Nước Chúa lớn lên, không phải ảnh hưởng của mình lớn lên. Họ có thể thưa như Gioan Tẩy Giả: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó không phải một câu khẩu hiệu đẹp; đó là cả một cái chết kéo dài. Nhỏ lại đau lắm. Nhỏ lại khi từng quen được hỏi ý. Nhỏ lại khi từng quen người ta cần mình. Nhỏ lại khi tuổi trẻ qua đi. Nhỏ lại khi người mới đến có những khả năng mình không có. Nhỏ lại khi phải trao lại một công việc từng gắn bó. Nhỏ lại khi thấy một thế hệ khác làm theo cách khác. Nhưng nếu thật sự yêu vinh quang Thiên Chúa, linh hồn sẽ dần hiểu rằng mình không cần lớn để Chúa lớn. Nhiều khi chính việc mình nhỏ đi là cách Chúa được tôn vinh.
8. TÔN VINH THIÊN CHÚA BẰNG CÁCH CHẤP NHẬN MÌNH LÀ THỤ TẠO
Một trong những hình thức sâu xa của việc tôn vinh Thiên Chúa là chấp nhận mình không phải Thiên Chúa. Nghe thật đơn giản, nhưng phần lớn bất an của đời người đến từ việc ta âm thầm muốn chiếm chỗ của Ngài. Ta muốn biết hết. Ta muốn kiểm soát hết. Ta muốn mọi việc xảy ra theo dự tính. Ta muốn người khác thay đổi theo nhịp mình muốn. Ta muốn biết tương lai. Ta muốn bảo đảm thành công. Ta muốn tránh mọi đau khổ. Ta muốn sửa mọi sai sót ngay lập tức. Ta muốn giải quyết mọi vấn đề. Và khi không làm được, ta hoảng hốt. Nhưng con là thụ tạo. Con có giới hạn. Có điều con không biết. Có người con không thể thay đổi. Có hoàn cảnh con không kiểm soát được. Có câu hỏi sẽ không có câu trả lời ngay. Có vấn đề con phải học cách sống chung một thời gian. Có hạt giống con gieo nhưng không sống đủ lâu để thấy nó mọc. Chấp nhận điều ấy không làm con bé lại; nó đưa con về đúng sự thật.
Thiên Chúa được tôn vinh khi con để Ngài làm Thiên Chúa. Khi con thôi giật lấy tay lái của mọi sự. Khi con có thể làm phần mình rồi trao phần còn lại. Khi con có thể nói: “Con không biết, nhưng Chúa biết.” Khi con có thể chấp nhận rằng sự quan phòng rộng hơn trí hiểu của con. Khi con thôi đặt điều kiện rằng chỉ những gì con hiểu mới đáng tin. Đức tin thật không phải là hiểu hết rồi mới tín thác; nhiều khi chính vì không hiểu mà vẫn tín thác, đức tin mới trở thành đức tin.
9. DẤU CHỈ MỘT LINH HỒ ĐANG DẦN SỐNG CHO VINH QUANG CHÚA
Một linh hồn ngày càng sống cho vinh quang Thiên Chúa không nhất thiết trở nên nổi bật hơn; thường họ trở nên nhẹ nhàng hơn. Họ bớt nhu cầu phải chứng minh. Họ không phải thắng mọi cuộc tranh luận. Họ không cần có lời cuối cùng. Họ không quá vội thanh minh khi bị hiểu sai, dù vẫn biết nói sự thật khi cần. Họ có thể để người khác hơn mình mà không bị đe dọa. Họ có thể nhận lỗi. Họ có thể cười về những khuyết điểm nhỏ của mình. Họ không chết đi vì một lời phê bình. Họ không say quá lâu vì một lời khen. Họ biết cảm tạ khi thành công và biết học khi thất bại. Họ ngày càng ít nghĩ về việc mình xuất hiện thế nào trong mắt người khác và nghĩ nhiều hơn về việc mình đứng thế nào trước mặt Chúa. Họ không quá bận với việc xây dựng “hình ảnh thiêng liêng.” Họ sẵn sàng làm điều không ai thấy. Họ vui trước điều tốt nơi người khác. Họ biết nâng người khác lên mà không sợ mình thấp xuống. Họ có thể rút lui khi vai trò của mình hoàn tất. Họ có thể trao công lao. Họ có thể nói “tôi không biết.” Họ có thể xin lỗi trước. Họ có thể thay đổi ý kiến khi nhận ra mình sai. Tất cả những điều ấy là những dấu chỉ rất thực tế cho thấy cái tôi đang dần rời khỏi ngai và Thiên Chúa đang được đặt lại vào trung tâm.
Một dấu chỉ khác rất sâu là linh hồn bớt hỏi: “Tại sao chuyện này xảy ra với tôi?” và bắt đầu hỏi: “Trong chuyện này, Chúa muốn tôi yêu thế nào?” Câu hỏi thứ nhất thường xoay quanh chính mình; câu hỏi thứ hai mở ra cho thánh ý. “Tại sao người này làm tôi đau?” có thể biến thành “Lạy Chúa, con phải phản ứng thế nào để Chúa được tôn vinh?” “Tại sao con không được chọn?” trở thành “Chúa muốn con sống sự khiêm nhường này ra sao?” “Tại sao việc con làm không thành?” trở thành “Con cần học điều gì và Chúa muốn con trung thành thế nào lúc này?” “Tại sao con phải chịu giới hạn này?” trở thành “Làm sao con biến giới hạn ấy thành nơi yêu mến?” Chính sự đổi hướng của câu hỏi cho thấy linh hồn đang thôi đặt mình ở trung tâm.
10. THANH LUYỆN ĐỘNG LỰC MỖI NGÀY
Đừng chờ cho ý hướng của mình hoàn toàn tinh tuyền rồi mới bắt đầu làm việc lành, bởi nếu chờ như thế có lẽ chẳng bao giờ con làm gì cả. Động lực con người thường pha trộn. Ta làm vì Chúa nhưng cũng thích được công nhận. Ta phục vụ vì bác ái nhưng cũng vui vì mình hữu ích. Ta giảng vì Tin Mừng nhưng cũng có thể thích được khen. Ta hy sinh thật, nhưng trong lòng vẫn có chút tự hào. Đừng vì thấy những pha trộn ấy mà nản. Điều cần thiết không phải là hoảng hốt, nhưng là thanh luyện liên lỉ. Mỗi khi nhận ra tự ái, hãy nhẹ nhàng trả mọi sự cho Chúa. “Lạy Chúa, con thấy trong việc này con vẫn tìm mình. Xin thanh luyện con. Con vẫn tiếp tục làm điều tốt, nhưng xin dần dần làm cho động lực của con nên tinh tuyền.” Sự thánh thiện không phải là không bao giờ nhận thấy mình ích kỷ; nhiều khi chính việc ngày càng nhận ra những ích kỷ tinh tế là dấu chỉ ánh sáng Chúa đang chiếu sâu hơn.
Mỗi sáng, trước khi bước vào ngày mới, hãy dâng tất cả: “Lạy Chúa, con xin dâng Chúa những suy nghĩ, lời nói, việc làm, những niềm vui, những khó chịu, những thành công, những thất bại của ngày hôm nay. Xin đừng để con sống cho mình. Xin cho những gì con làm đều làm vui lòng Chúa. Khi con quên, xin kéo con trở lại. Khi con tìm vinh quang mình, xin sửa con. Khi con được khen, xin giữ con khiêm nhường. Khi con bị chê, xin giữ con bình an. Khi con thành công, xin con biết tạ ơn. Khi con thất bại, xin con biết tín thác. Xin mọi sự hôm nay, dù nhỏ đến đâu, trở thành một lời: Vinh danh Chúa.” Một lời dâng như thế, nếu được lặp lại chân thành mỗi ngày, sẽ từ từ thay đổi cách linh hồn sống.
Trong ngày, trước những việc quan trọng, hãy dừng một giây mà hỏi: “Con đang làm việc này cho ai?” Một giây ấy có thể cứu cả một hành động khỏi bị cái tôi chiếm đoạt. Trước khi nói, hỏi: “Lời này tôn vinh Chúa hay tôn vinh tôi?” Trước khi đăng điều gì, hỏi: “Tôi muốn chia sẻ điều tốt hay muốn được nhìn thấy?” Trước khi tranh luận, hỏi: “Tôi bảo vệ chân lý hay bảo vệ sĩ diện?” Trước khi nhận một nhiệm vụ, hỏi: “Đây là thánh ý hay tham vọng?” Trước khi từ chối, hỏi: “Đây là phân định hay ngại hy sinh?” Trước khi phê bình, hỏi: “Tôi muốn xây dựng hay muốn chứng minh mình đúng?” Những câu hỏi nhỏ ấy là phương thế thanh luyện ý hướng rất mạnh.
Buổi tối, hãy nhìn lại ngày không phải như một quan tòa lạnh lùng nhưng như một người con ngồi trước Cha. “Hôm nay có lúc nào con thật sự sống cho Chúa? Có khi nào con quên mình để yêu? Có khi nào con âm thầm chịu đựng vì Chúa? Có lúc nào con tìm lời khen? Có lúc nào con bực vì bị quên? Có lúc nào con quá lo giữ hình ảnh? Có điều gì con phải xin lỗi? Có điều gì con có thể cảm tạ?” Rồi đừng ở lại lâu trong chính mình. Hãy trao tất cả vào lòng thương xót. Xét mình đúng cách không kết thúc bằng việc nhìn mình, mà bằng việc nhìn Chúa. “Lạy Chúa, đây là con, còn nhiều pha trộn, nhiều yếu đuối, nhiều tự ái. Nhưng con thuộc về Chúa. Xin tiếp tục công trình Chúa đã khởi sự.”
11. “MỌI SỰ VÌ VINH QUANG CHÚA” TRONG NHỮNG LỰA CHỌN KHÓ
Sẽ có những lúc con phải chọn giữa điều làm mình dễ chịu và điều làm vui lòng Chúa. Đây là lúc nguyên tắc “mọi sự vì vinh quang Chúa” thôi không còn là một câu đẹp và trở thành thập giá. Có khi điều Chúa muốn là con im lặng trong khi cái tôi muốn thanh minh. Có khi Chúa muốn con nói sự thật trong khi con muốn im để được yên. Có khi Chúa muốn con xin lỗi trước dù con thấy bên kia cũng sai. Có khi Chúa muốn con buông một công việc con yêu. Có khi Chúa muốn con nhận một việc con không thích. Có khi Ngài muốn con ở lại. Có khi Ngài muốn con ra đi. Có khi Ngài muốn con hành động. Có khi Ngài muốn con chờ. Có khi Ngài muốn con chịu để người khác hiểu sai một thời gian. Có khi Ngài muốn con lên tiếng bảo vệ một người yếu thế dù điều đó khiến con mất thiện cảm. Tìm vinh quang Chúa không đồng nghĩa với chọn điều dễ, cũng không đồng nghĩa với chọn điều gây đau hơn. Nó là chọn điều đúng trong ánh sáng thánh ý.
Vì thế, đừng dùng câu “vì vinh quang Chúa” để hợp thức hóa ý riêng. Đây là một cám dỗ rất tinh tế. Ta có thể muốn một việc vì tham vọng nhưng nói “để Chúa được vinh danh.” Ta có thể muốn thắng một cuộc tranh luận nhưng tự thuyết phục rằng mình đang bảo vệ chân lý. Ta có thể muốn kiểm soát người khác nhưng gọi đó là trách nhiệm. Ta có thể không chịu buông một công việc nhưng gọi đó là nhiệt tâm. Chính vì thế, càng nói nhiều về vinh quang Chúa, càng phải khiêm nhường phân định. Có khả năng nghe góp ý. Có khả năng để người khác sửa. Có khả năng đặt kế hoạch mình dưới sự phân định của cộng đoàn, của người hữu trách, của một hướng dẫn thiêng liêng khôn ngoan. Nếu “vinh quang Chúa” luôn luôn trùng khớp hoàn hảo với điều ta muốn, có lẽ ta nên cẩn thận.
12. ĐỂ ĐỨC KITÔ LỚN LÊN VÀ MÌNH NHỎ LẠI
Đây có lẽ là bản tóm tắt đẹp nhất của đời sống tôn vinh Thiên Chúa: Đức Kitô lớn lên, còn tôi nhỏ lại. Không phải con người phải bị nghiền nát, bị khinh thường hay mất phẩm giá. Trái lại, khi Đức Kitô lớn lên trong ta, con người thật của ta mới được giải phóng khỏi vô số nhu cầu giả tạo. “Tôi nhỏ lại” nghĩa là nhu cầu được nhìn thấy nhỏ lại. Sự bám víu vào ý riêng nhỏ lại. Nỗi ám ảnh phải kiểm soát nhỏ lại. Sĩ diện nhỏ lại. Tự ái nhỏ lại. Tham vọng nhỏ lại. Sự so sánh nhỏ lại. Còn Đức Kitô lớn lên: lòng thương xót lớn lên, sự hiền lành lớn lên, lòng can đảm lớn lên, sự thật lớn lên, khả năng tha thứ lớn lên, sự tự do lớn lên, niềm vui cho đi lớn lên.
Linh hồn càng để Đức Kitô lớn lên càng bớt nhu cầu phải nói “tôi”. Không phải họ không còn kể chuyện mình, nhưng đời sống họ không còn xoay quanh mình. Họ có thể lắng nghe mà không chờ đến lượt để kể câu chuyện của họ. Họ có thể vui vì người khác mà không lập tức so sánh. Họ có thể thấy tài năng của người khác mà không tự hỏi mình đứng ở đâu. Họ có thể bước vào một nơi mà không cần trở thành trung tâm. Họ có thể làm việc tốt rồi quên nó. Đây là một thứ nhẹ nhàng chỉ đến khi cái tôi không còn phải liên tục bảo vệ ngai của nó.
13. KHI KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ DÂNG NGOÀI CHÍNH MÌNH
Có thể sẽ đến giai đoạn cuối đời, hoặc những thời điểm bệnh tật, khi con không còn làm được những việc từng làm. Người quen sống nhiều cho công việc có thể thấy đây là một cuộc khủng hoảng. “Nếu tôi không còn làm được gì, tôi còn ích gì?” Nhưng chính lúc ấy, lời mời gọi tôn vinh Thiên Chúa đi vào chiều sâu cuối cùng. Con không được dựng nên chỉ để sản xuất công việc. Giá trị của con không nằm trong hiệu năng. Có một của lễ lớn hơn việc làm: chính con người con. Khi đôi tay không còn làm được, con có thể dâng đôi tay yếu. Khi trí nhớ giảm sút, con có thể dâng sự bất lực. Khi tiếng nói yếu đi, con có thể dâng thinh lặng. Khi không thể đi sứ vụ, con có thể cầu cho sứ vụ. Khi không còn người ta tìm đến nhiều, con có thể trở nên một sự hiện diện âm thầm trước mặt Chúa. Có thể những năm cuối đời, khi thế gian nghĩ rằng một người “không còn làm được bao nhiêu”, lại là những năm họ tôn vinh Chúa cách tinh tuyền nhất, vì chẳng còn gì để bám vào ngoài chính Thiên Chúa.
Hãy chuẩn bị cho sự tự do ấy ngay từ bây giờ. Đừng để căn tính của con gắn quá chặt vào chức vụ, vai trò, công việc, ảnh hưởng hay khả năng. Tất cả đều có ngày thay đổi. Chỉ một điều không đổi: con là của Chúa. Nếu hôm nay con tôn vinh Chúa bằng việc làm, hãy làm hết lòng. Nếu ngày mai Ngài muốn con tôn vinh Ngài bằng việc buông, hãy buông. Nếu hôm nay bằng lời nói, hãy nói. Nếu ngày mai bằng im lặng, hãy im. Nếu hôm nay bằng sức mạnh, hãy dùng sức mạnh. Nếu ngày mai bằng sự yếu đuối, hãy để sức mạnh của Chúa được tỏ lộ trong yếu đuối ấy.
14. MỘT ĐỜI SỐNG TRỞ THÀNH LỜI “VINH DANH”
Hỡi linh hồn, hãy tưởng tượng nếu mỗi việc trong ngày con đều có thể âm thầm mang một dòng chữ: “Vì vinh quang Thiên Chúa.” Một ly nước được uống để giữ sức phục vụ: vì vinh quang Chúa. Một bữa ăn được đón nhận với biết ơn: vì vinh quang Chúa. Một giờ nghỉ cần thiết để không phá hủy sức khỏe: vì vinh quang Chúa. Một công việc được làm chu đáo: vì vinh quang Chúa. Một lời nói dịu hơn điều bản tính muốn nói: vì vinh quang Chúa. Một cám dỗ bị khước từ: vì vinh quang Chúa. Một lần sa ngã rồi lập tức đứng dậy, không để tuyệt vọng thắng: cũng vì vinh quang Chúa, bởi chính lúc đó lòng thương xót Ngài được tuyên xưng. Một nỗi đau được dâng. Một niềm vui được cảm tạ. Một sự thành công được trả lại cho Chúa. Một thất bại được đón nhận trong khiêm nhường. Một người khó được yêu. Một sự hiểu lầm được mang. Một bổn phận nhỏ được hoàn tất. Một lời xin lỗi được nói. Một cái tôi được đặt xuống. Khi ấy, không còn phân chia quá cứng giữa “việc đạo đức” và “việc thường.” Cả đời con trở thành đền thờ. Cả ngày trở thành bàn thờ. Cả con người trở thành của lễ.
Đó chính là điều thánh Phaolô muốn nói: “Vậy, dù anh em ăn, dù anh em uống, hay làm bất cứ việc gì khác, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa.” Ăn và uống là những việc bình thường nhất. Nếu cả chúng cũng có thể tôn vinh Chúa, thì không còn phần nào của đời sống bị loại ra khỏi sự thánh thiện. Không phải chỉ khi quỳ trong nhà thờ con mới thuộc về Chúa. Con thuộc về Chúa khi làm việc. Khi nghỉ. Khi nói. Khi đi đường. Khi ăn. Khi ngủ. Khi cười. Khi khóc. Khi khỏe. Khi yếu. Khi thành công. Khi bị bỏ quên. Mọi sự đều có thể được quy hướng về Ngài.
15. LỜI KẾT – CHỈ CÒN MỘT ƯỚC MUỐN
Hỡi linh hồn, sau bao nhiêu chương nói về cuộc chiến, có thể con đã nhớ nhiều phương thế, nhiều nguyên tắc, nhiều lời khuyên. Nhưng nếu cuối cùng chỉ có thể giữ lại một điều, hãy giữ điều này: đừng sống cho mình nữa. Hãy sống cho Chúa. Khi phải chiến đấu với đam mê, hãy chiến đấu vì yêu Chúa. Khi phải từ bỏ, hãy từ bỏ vì yêu Chúa. Khi phải cầu nguyện trong khô khan, hãy ở lại vì yêu Chúa. Khi phải đứng dậy lần thứ một trăm, hãy đứng dậy vì lòng thương xót Chúa đáng để con tin hơn sự yếu đuối của con. Khi phải phục vụ trong âm thầm, hãy phục vụ vì Chúa thấy. Khi bị quên, hãy nhớ Chúa không quên. Khi được ca ngợi, hãy trả tất cả về cho Ngài. Khi bị hiểu lầm, hãy đặt danh dự trong tay Ngài. Khi thành công, hãy nói: “Tất cả nhờ Chúa.” Khi thất bại, hãy nói: “Con vẫn thuộc về Chúa.” Khi đau khổ, hãy nói: “Xin Chúa được tôn vinh trong cách con mang thập giá này.” Khi hạnh phúc, hãy nói: “Xin niềm vui này trở thành lời cảm tạ.” Khi không biết phải đi đâu, hãy nói: “Xin ý Chúa được nên trọn.” Khi giờ chết đến, chỉ cần còn đủ sức để thưa: “Lạy Chúa, con là của Chúa.”
Hãy để ước muốn tôn vinh Thiên Chúa trở thành một ngọn lửa âm thầm cháy dưới mọi việc con làm. Không cần lúc nào cũng cảm thấy nó. Chỉ cần thường xuyên trở về. Mỗi khi nhận ra mình đang tìm mình, đừng ghét mình; hãy quay lại với Chúa. Mỗi khi nhận ra mình muốn được nhìn thấy, hãy âm thầm nói: “Lạy Chúa, xin Chúa được nhìn thấy.” Mỗi khi nhận ra mình muốn được nhớ đến, hãy nói: “Xin người ta nhớ đến lòng thương xót Chúa.” Mỗi khi muốn nắm giữ, hãy tập buông. Mỗi khi muốn hơn người khác, hãy cầu cho họ nên thánh hơn mình. Mỗi khi lòng tự ái đau, hãy coi đó là dịp để cái tôi nhỏ lại thêm một chút. Không phải một ngày con sẽ hoàn toàn thoát khỏi mọi tìm kiếm chính mình. Nhưng mỗi ngày, với ân sủng, con có thể chọn Chúa thêm một chút.
Và rồi một ngày, con sẽ thấy một điều rất lạ: càng ít sống cho mình, con càng bình an. Càng ít tìm vinh quang, con càng tự do. Càng ít cần người khác công nhận, con càng có thể yêu họ thật hơn. Càng trao mọi sự cho Chúa, con càng không mất gì cả, bởi chính Chúa trở thành phần gia nghiệp của con. Người sống cho mình luôn phải bảo vệ mình. Người sống cho Chúa được nghỉ ngơi trong Ngài. Người sống cho mình luôn phải tính xem mình được gì, mất gì. Người sống cho Chúa chỉ hỏi: “Điều gì làm vui lòng Ngài?” Và khi câu hỏi ấy trở thành câu hỏi duy nhất, rất nhiều điều từng khiến ta bối rối sẽ tự nhiên trở nên đơn giản.
Hỡi linh hồn, cuộc chiến của con rồi sẽ kết thúc. Những trận cám dỗ rồi sẽ im. Những ngày phải đứng dậy rồi sẽ không còn. Những công việc con đang bận tâm sẽ được trao cho người khác. Những nơi từng nhắc đến tên con rồi sẽ quên. Những lời khen sẽ tan. Những lời chê cũng tan. Những công trình rồi có thể thay đổi. Những người từng biết con rồi cũng sẽ ra đi. Cuối cùng, chỉ còn điều này: con đã yêu Chúa thế nào và đã để Ngài được tôn vinh qua đời mình ra sao. Đến trước mặt Ngài, con sẽ không cần mang theo danh tiếng. Không cần mang theo bảng thành tích. Không cần mang theo những lần người ta khen con. Chỉ cần mang một trái tim đã cố học cách thuộc về Ngài.
Vì thế, ngay từ hôm nay, hãy sống như người biết cùng đích của đời mình. Khi thức dậy: “Vì vinh quang Chúa.” Khi bắt tay vào việc: “Vì vinh quang Chúa.” Khi gặp khó khăn: “Vì vinh quang Chúa.” Khi phải nhịn: “Vì vinh quang Chúa.” Khi phải nói: “Vì vinh quang Chúa.” Khi thành công: “Vinh quang thuộc về Chúa.” Khi thất bại: “Xin Chúa được tôn vinh trong sự khiêm nhường của con.” Khi đau: “Xin Chúa được tôn vinh trong lòng tín thác.” Khi vui: “Xin Chúa được tôn vinh trong lời tạ ơn.” Khi sắp ngủ: “Mọi sự hôm nay con trao lại cho Chúa.” Và đến giờ phút cuối cùng, khi mọi tiếng động trần gian lùi xa, khi mắt không còn thấy rõ, khi tay không còn nắm được gì, khi con chỉ còn một hơi thở mong manh, ước chi cả cuộc đời đã tập con đủ để hơi thở ấy tự nhiên trở thành lời cuối cùng: “Lạy Chúa, tất cả vì vinh quang Chúa.”
Bấy giờ, cuộc chiến đã hoàn tất. Không phải vì con đã chiến đấu không sai lầm, nhưng vì qua bao sai lầm con vẫn quay về. Không phải vì con luôn mạnh, nhưng vì con đã học tín thác khi yếu. Không phải vì con đã làm những việc phi thường, nhưng vì những gì con làm đã dần được thanh luyện để thuộc về Chúa. Không phải vì tên con đã trở nên lớn, nhưng vì con đã cố gắng để Danh Chúa được cả sáng. Và khi bước qua ngưỡng cửa của đời này, điều con đã mong ước suốt cuộc đời sẽ được hoàn tất trọn vẹn: con sẽ không còn phải chiến đấu với cái tôi nữa; con sẽ không còn phải thanh luyện động lực nữa; con sẽ không còn phải tự hỏi mình có tìm vinh quang riêng hay không. Con sẽ được đi vào sự tự do của những người chỉ còn biết nhìn Thiên Chúa, yêu Thiên Chúa, ca tụng Thiên Chúa và vui mừng vì Ngài là tất cả.
“Vậy, dù anh em ăn, dù anh em uống, hay làm bất cứ việc gì khác, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa.” (1 Cr 10,31).
Hãy lấy lời ấy làm châm ngôn của từng ngày. Hãy khắc nó vào lòng. Hãy để nó đi vào từng chọn lựa. Hãy để nó sửa những tham vọng. Hãy để nó chữa lòng tự ái. Hãy để nó nâng con dậy sau thất bại. Hãy để nó giữ con khi thành công. Hãy để nó thanh luyện sứ vụ. Hãy để nó biến đau khổ thành của lễ. Hãy để nó làm cho những việc nhỏ trở nên lớn lao. Hãy để nó biến cả cuộc đời con thành một bài ca không ngừng dâng lên Thiên Chúa.
Và nếu một ngày nào đó con không còn biết phải xin gì, hãy chỉ xin một điều:
“Lạy Chúa, xin đừng để con sống vô ích cho chính mình. Xin cho đời con, dù nghèo nàn, yếu đuối và đầy giới hạn, trở thành nơi Chúa được tôn vinh. Xin cho người ta có thể quên con, miễn là họ nhớ đến Chúa. Xin cho công việc của con có thể mất đi, miễn là Nước Chúa lớn lên. Xin cho ý riêng con nhỏ lại, miễn là thánh ý Chúa được thực hiện. Xin cho con chẳng còn gì để tự hào ngoài Thập Giá Đức Kitô. Và khi mọi sự đời này qua đi, xin cho con được bước vào trước nhan Chúa với niềm vui của một người đã cố gắng sống từng ngày chỉ để làm vui lòng Ngài. Mọi sự từ Chúa mà đến. Mọi sự nhờ Chúa mà tồn tại. Mọi sự xin trở về với Chúa. Vinh quang thuộc về Chúa, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.”
CHƯƠNG 41
BẮT ĐẦU LẠI MỖI NGÀY – TINH THẦN CỦA NGƯỜI CHIẾN ĐẤU ĐẾN CÙNG
Hỡi linh hồn đang muốn trung thành với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng, sau khi đã đi qua biết bao nhiêu chặng đường của cuộc chiến nội tâm, sau khi đã học biết bất tín nhiệm vào chính mình, tín thác vào Thiên Chúa, canh giữ lý trí, ý chí và các giác quan, chiến đấu với tự ái, nóng giận, lười biếng, bất khiết, chán nản, biết cầu nguyện, biết nhìn lên Thánh Giá, biết chạy đến với Đức Maria, biết kín múc sức mạnh nơi Thánh Thể, biết xét mình, gìn giữ bình an, sống trong cộng đoàn, thi hành sứ vụ, tín thác vào lòng thương xót, phó thác vào thánh ý và tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa trong mọi sự, chúng ta lại trở về với một điều xem ra nhỏ bé, đơn sơ, gần như quá bình thường, nhưng thực ra lại là một trong những bí quyết lớn nhất để có thể đi đến cùng trên con đường nên thánh: biết bắt đầu lại mỗi ngày. Có những linh hồn khởi đầu rất mạnh nhưng không đi xa. Có những người lúc mới bước vào đời sống thiêng liêng đầy nhiệt huyết, đầy những quyết tâm cao đẹp, đầy những cảm xúc sốt sắng, nhưng chỉ sau một thời gian, khi những thất bại xuất hiện, khi những đam mê cũ quay lại, khi những thói quen xấu tưởng đã chết bỗng sống dậy, khi cầu nguyện trở nên khô khan, khi đời sống không tiến bộ nhanh như mình mong muốn, họ bắt đầu mệt mỏi. Không phải họ không yêu Chúa. Không phải họ không muốn nên thánh. Nhưng họ đã âm thầm nuôi một ảo tưởng rất nguy hiểm: họ tưởng rằng một khi đã quyết tâm thì mình sẽ phải tiến bộ theo một đường thẳng, rằng mỗi ngày phải tốt hơn ngày hôm trước một cách rõ ràng, rằng những sa ngã phải giảm dần theo một nhịp có thể đo đếm, rằng đến một lúc nào đó cuộc chiến sẽ trở nên dễ dàng và mình sẽ không còn phải đối diện với cùng một điểm yếu nữa. Nhưng đời sống thiêng liêng không đơn giản như thế. Đường nên thánh không phải là một chiếc thang mà mỗi ngày ta chỉ bước lên thêm một bậc rồi không bao giờ phải nhìn xuống. Nó giống một con đường dài đi qua đồi núi, thung lũng, những đoạn nắng đẹp, những đoạn mưa dầm, những lúc đi rất nhanh, những lúc phải bò từng bước, những lúc tưởng mình đã tới gần đỉnh nhưng rồi lại nhận ra còn cả một con dốc dài trước mặt. Và chính ở đây người ta mới hiểu rằng sức mạnh lớn lao nhất của người chiến đấu không phải là không bao giờ ngã, nhưng là mỗi lần ngã vẫn biết đứng dậy; mỗi lần thất vọng vẫn biết quay về; mỗi lần thấy mình chẳng tiến được bao nhiêu vẫn không thôi bắt đầu lại. Người nên thánh không nhất thiết là người không bao giờ lặp lại cùng một lỗi lầm; nhiều khi họ là người đã phải chiến đấu với cùng một điểm yếu hàng chục năm nhưng chưa bao giờ cho phép mình ký một hiệp ước hòa bình với nó. Người thánh thiện không phải là người luôn cảm thấy mình mạnh; nhiều khi họ là người đã nếm đủ mọi yếu đuối của bản thân nhưng chính vì thế càng biết nắm chặt tay Chúa hơn. Và người kiên trì đến cùng không phải là người chưa bao giờ mệt, nhưng là người mỗi lần mệt vẫn nói với Chúa: “Lạy Chúa, con lại bắt đầu.”
Tại sao phải bắt đầu lại mỗi ngày? Bởi vì chúng ta là những con người yếu đuối. Đó không phải là một lời bi quan về bản tính con người, mà là một sự thật cần được nhìn nhận trong ánh sáng của ân sủng. Chúng ta mang trong mình những thương tích của tội lỗi, những khuynh hướng hỗn loạn, những thói quen đã hình thành qua nhiều năm, những ký ức ảnh hưởng đến phản ứng hiện tại, những nết xấu đã ăn sâu mà nhiều khi chính mình cũng không nhận ra. Một quyết tâm không thể ngay lập tức thay đổi toàn bộ con người. Một tuần sốt sắng không thể xóa sạch mọi khuynh hướng đã nuôi dưỡng hàng chục năm. Một lần xưng tội tốt không có nghĩa là mọi đam mê sẽ thôi hoạt động. Một khóa tĩnh tâm sâu sắc không làm cho bản tính con người trở thành thiên thần. Ơn Chúa có thể biến đổi con người cách kỳ diệu, nhưng thông thường Chúa thực hiện công trình ấy qua thời gian, qua những cố gắng nhỏ, qua những lần đứng dậy, qua những trận chiến tưởng như lặp đi lặp lại không bao giờ dứt. Ta muốn khiêm nhường, nhưng hôm nay vẫn tự ái. Ta muốn hiền lành, nhưng một lời xúc phạm lại làm lòng nổi sóng. Ta muốn kiên nhẫn, nhưng chỉ một sự chậm trễ nhỏ cũng đủ làm ta bực bội. Ta muốn yêu thương mọi người, nhưng vẫn có những người chỉ vừa xuất hiện đã làm lòng ta khó chịu. Ta muốn cầu nguyện sốt sắng, nhưng trí óc vẫn chạy đi khắp nơi. Ta muốn hoàn toàn thuộc về Chúa, nhưng lòng vẫn còn những vùng đất bí mật dành cho cái tôi. Nếu mỗi lần khám phá ra những điều ấy mà ta thất vọng, đời sống thiêng liêng chẳng mấy chốc sẽ trở thành một nhà tù. Nhưng nếu ta nhìn những điều ấy như những lời mời gọi để bắt đầu lại, thì ngay cả sự yếu đuối cũng có thể trở thành trường học của khiêm nhường và tín thác. Hỡi linh hồn, đừng ngạc nhiên quá nhiều khi thấy mình yếu. Điều đáng ngạc nhiên không phải là con người yếu đuối; điều kỳ diệu là một con người yếu đuối vẫn có thể nên thánh nhờ ân sủng. Đừng mất quá nhiều thời giờ để hỏi: “Tại sao tôi vẫn còn như thế?” Hãy hỏi câu tốt hơn: “Trong chính tình trạng này, Chúa đang mời tôi bắt đầu lại như thế nào?”
Chúng ta phải bắt đầu lại mỗi ngày còn bởi vì cuộc chiến linh hồn không bao giờ hoàn toàn dừng lại khi chúng ta còn sống trên trần gian. Kẻ thù không ngủ. Đam mê không tự giải giới. Tính ích kỷ không tự nguyện rời khỏi ngai của nó. Ý riêng không tự nhiên biến mất. Cái tôi có một khả năng phi thường để đổi hình dạng. Hôm qua nó xuất hiện dưới hình thức ham được khen, hôm nay nó có thể núp dưới vẻ khiêm nhường. Hôm qua ta tự cao vì thành công, hôm nay lại có thể tự cao vì mình chịu đau khổ giỏi hơn người khác. Hôm qua ta tìm sự công nhận nơi người đời, hôm nay có khi ta tìm sự công nhận nơi chính những việc đạo đức của mình. Càng tiến sâu vào đời sống thiêng liêng, ta càng nhận ra cuộc chiến tinh tế hơn nhiều so với những gì mình từng tưởng. Vì vậy, thái độ của người khôn ngoan không phải là nghĩ rằng mình đã thắng rồi, nhưng là mỗi sáng nhận lấy ngày mới như một người lính nhận lại vũ khí: tỉnh thức, khiêm tốn, bình an và sẵn sàng. Không hoảng sợ. Không căng thẳng. Không bị ám ảnh bởi kẻ thù. Nhưng cũng không ngủ quên. Mỗi ngày là một chiến trường mới, nhưng đồng thời cũng là một ân huệ mới. Mỗi ngày có những cám dỗ riêng, nhưng cũng có những ân sủng riêng. Mỗi ngày có thể phơi bày một phần yếu đuối mới trong ta, nhưng cũng có thể mở ra một chiều sâu mới của lòng thương xót Chúa. Chính vì thế, linh hồn không bao giờ được phép nói: “Hôm qua tôi đã chiến đấu tốt, hôm nay tôi có thể lơi lỏng một chút.” Cũng không được nói: “Hôm qua tôi đã thất bại quá nhiều, hôm nay có cố gắng cũng vô ích.” Cả hai thái độ ấy đều nguy hiểm. Một bên là tự mãn, một bên là thất vọng. Người chiến đấu của Chúa chọn con đường thứ ba: “Hôm qua đã qua. Hôm nay thuộc về Chúa. Tôi bắt đầu lại.”
Bắt đầu lại mỗi ngày còn là trường học của khiêm nhường. Có lẽ một trong những điều khó chịu nhất đối với lòng tự ái thiêng liêng là phải chấp nhận rằng mình vẫn cần bắt đầu lại. Ta thích những thành quả chắc chắn. Ta thích có thể nói: “Tôi đã vượt qua điểm này rồi.” Ta thích nhìn đời sống thiêng liêng như một bản thành tích được đánh dấu bằng những chiến thắng liên tiếp. Nhưng Chúa đôi khi để ta phải quay lại cùng một bài học không phải vì Ngài không thương ta, nhưng vì Ngài muốn cứu ta khỏi một kẻ thù nguy hiểm hơn cả điểm yếu mà ta đang chiến đấu: đó là sự tự mãn. Có người nếu được giải thoát quá nhanh khỏi một tính xấu có khi lại trở nên kiêu ngạo vì chính sự tiến bộ của mình. Có người nếu luôn cầu nguyện sốt sắng có thể tưởng rằng mình đặc biệt. Có người nếu không còn bị cám dỗ trong một lãnh vực nào đó có thể bắt đầu nhìn những người còn yếu trong lãnh vực ấy với ánh mắt khinh thường. Vì thế, Chúa cho phép nhiều linh hồn phải sống lâu dài với ý thức về sự nghèo nàn của mình. Không phải để họ ở lại trong tội lỗi, nhưng để họ học rằng sự thánh thiện không phải là sản phẩm của ý chí con người; sự thánh thiện là hoa trái của một đời liên lỉ mở mình ra cho ân sủng. Khi con phải bắt đầu lại lần thứ một trăm, con đang học một điều mà có lẽ lần thứ nhất con chưa học: rằng con thật sự không thể tự cứu mình. Khi con phải xin Chúa giúp ở đúng một điểm đã từng xin suốt bao năm, con đang được đưa sâu hơn vào sự thật rằng Chúa không chỉ là Đấng giúp con lúc khởi đầu, nhưng là Đấng phải nâng đỡ con từng bước cho đến cuối cùng. Và chính điều đó làm linh hồn trở nên nhỏ lại, mềm lại, bớt xét đoán người khác, bớt ngạc nhiên trước những yếu đuối của tha nhân, bớt cứng cỏi trong cách đối xử. Người đã phải bắt đầu lại nhiều lần thường trở nên nhân hậu hơn với những ai cũng đang bắt đầu lại.
Nhưng cần hiểu thật đúng: bắt đầu lại không phải là phủ nhận quá khứ. Có một kiểu bắt đầu lại giả tạo, thực chất chỉ là chạy trốn trách nhiệm. Người ấy sa ngã, gây tổn thương cho người khác, rồi nói: “Thôi bỏ qua, bắt đầu lại,” nhưng không xin lỗi, không sửa sai, không rút kinh nghiệm, không thay đổi hoàn cảnh khiến mình dễ sa ngã. Đó không phải tinh thần Tin Mừng. Bắt đầu lại đích thực không xóa bỏ sự thật. Nó đủ can đảm nhìn vào sự thật, gọi tên điều đã xảy ra, nhận trách nhiệm về phần mình, làm những gì có thể để sửa chữa, rồi mới đặt tất cả vào lòng thương xót Chúa và bước tiếp. Người biết bắt đầu lại không phải là người có trí nhớ ngắn; họ có thể nhớ rất rõ những sai lầm của mình, nhưng không để ký ức ấy trở thành xiềng xích. Họ nhớ để học, chứ không nhớ để tự hành hạ. Họ nhớ để khiêm nhường, chứ không nhớ để tuyệt vọng. Họ nhớ để tránh những con đường đã làm mình ngã, chứ không nhớ để mãi đứng trước một cánh cửa đã đóng. Quá khứ phải trở thành người thầy, không được trở thành cai ngục. Có những linh hồn sống cả đời trong những lỗi lầm cũ. Chúa đã tha nhưng họ không chịu để mình được tha. Họ cứ lôi tội lỗi cũ ra, nghiền ngẫm, tự kết án, rồi dùng chính nỗi đau ấy để chứng minh rằng mình không xứng đáng được yêu. Đó không phải khiêm nhường. Khiêm nhường là nhìn nhận: “Con đã sai thật. Con đã xúc phạm Chúa thật. Con đã làm tổn thương người khác thật. Con không biện minh cho mình. Nhưng con cũng tin thật rằng máu Đức Kitô có sức tẩy sạch con, lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội lỗi con, và hôm nay Chúa vẫn gọi con bước tiếp.” Nếu Chúa đã mở cửa nhà cho người con hoang đàng, con là ai mà cứ đứng ngoài cửa tự nói rằng mình không được phép vào?
Hỡi linh hồn, có những quá khứ rất nặng. Có những quyết định mà nghĩ lại ta vẫn xấu hổ. Có những lời nói không thể thu lại. Có những cơ hội đã mất. Có những mối tương quan đã bị tổn thương. Có những ngày tháng ta ước gì có thể quay lại để sống khác. Nhưng thời gian không đi ngược. Chúa không cứu ta bằng cách đưa ta về hôm qua; Ngài cứu ta bằng cách bước vào hôm nay. Đó là điều con phải hiểu thật sâu. Con không thể thay đổi chuyện đã xảy ra, nhưng con có thể để Chúa thay đổi ý nghĩa mà nó mang trong đời con. Một tội lỗi đã được sám hối có thể trở thành nguồn của khiêm nhường. Một thất bại có thể làm con hiểu người khác hơn. Một vết thương có thể làm con biết cảm thông. Một con đường lạc có thể giúp con biết quý trọng con đường đúng. Một thời gian xa Chúa có thể làm con hiểu thế nào là niềm vui của người được trở về. Không điều gì phải bị lãng phí nếu con đặt nó trong tay Chúa. Chúa có thể viết thẳng trên những dòng chữ méo mó của đời con. Ngài không cần một quá khứ hoàn hảo để tạo nên một tương lai thánh thiện. Ngài chỉ cần một trái tim hôm nay chịu mở ra. Vì thế, bắt đầu lại không phải là nói rằng quá khứ không quan trọng. Trái lại, là trao quá khứ cho Chúa để nó không còn quyền quyết định tương lai.
Mỗi buổi sáng, vì vậy, nên trở thành một nghi thức thầm lặng của sự khởi đầu. Khi mắt vừa mở, trước khi điện thoại, công việc, tin tức, những cuộc hẹn và bao nhiêu lo toan ùa vào tâm trí, linh hồn hãy nhớ rằng mình vừa được trao thêm một ngày. Không ai trong chúng ta có quyền đương nhiên trên ngày hôm nay. Ngày hôm nay là quà tặng. Nếu ta còn thở, nghĩa là vẫn còn một điều gì đó Chúa muốn làm trong ta và qua ta. Có thể hôm nay không phải ngày của những việc lớn. Có thể chỉ là một ngày bình thường, với những bổn phận quen thuộc, những con người quen thuộc, những khó chịu quen thuộc. Nhưng chính trong ngày bình thường ấy, cuộc chiến nên thánh sẽ diễn ra. Hãy tập bắt đầu bằng một lời rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì con còn được sống ngày hôm nay. Con không biết hôm nay sẽ xảy ra điều gì. Con không biết mình sẽ mạnh đến đâu. Con không dám cậy vào sự sốt sắng của mình. Con cũng không muốn bị những thất bại hôm qua cầm giữ. Con trao ngày này cho Chúa. Xin cho con biết yêu Chúa trong từng việc nhỏ. Xin cho con nhận ra cạm bẫy của tự ái, nóng giận, lười biếng, ích kỷ và ý riêng. Xin cho con biết đứng dậy thật nhanh mỗi khi ngã. Con không xin hôm nay phải làm được những việc phi thường. Con chỉ xin được trung tín trong điều Chúa đặt trước mặt.” Một lời cầu nguyện như thế, nếu thật lòng, có thể định hướng cả ngày sống.
Sau đó, hãy chọn một điểm nhỏ để chiến đấu. Đừng ôm cả đời sống thiêng liêng vào một quyết tâm. Nhiều người thất bại không phải vì họ không thiện chí, nhưng vì họ muốn thay đổi tất cả cùng một lúc. Sáng nay họ quyết định sẽ kiên nhẫn hơn, cầu nguyện nhiều hơn, nói ít hơn, làm việc chăm hơn, không phàn nàn, không xét đoán, không nóng giận, ăn uống điều độ, dùng điện thoại ít hơn, sống bác ái hơn, đọc sách thiêng liêng nhiều hơn, và đến chiều, sau khi thất bại ở ba điểm đầu tiên, họ bỏ luôn mười điểm còn lại. Người khôn ngoan thì khác. Họ hỏi: “Hôm nay Chúa muốn con chú ý đặc biệt điều gì?” Có thể là không nói một lời cay nghiệt khi bị trái ý. Có thể là hoàn thành ngay một bổn phận mà mình thường trì hoãn. Có thể là không để đôi mắt lang thang vào những điều vô ích. Có thể là tập lắng nghe một người mà mình thường khó chịu. Có thể là giữ thinh lặng thay vì biện minh. Có thể là làm một việc âm thầm không ai biết. Một điểm nhỏ nhưng được chiến đấu trung thành sẽ làm đời sống thay đổi sâu hơn mười quyết tâm lớn chỉ tồn tại trên giấy. Sự thánh thiện được xây bằng những viên đá nhỏ đặt đều đặn. Chúa không khinh những khởi đầu bé nhỏ. Chúng ta mới là người hay khinh chúng vì tự ái thích những điều lớn lao. Nhưng Chúa nhìn vào tình yêu.
Tuy nhiên, đừng nghĩ rằng chỉ buổi sáng mới cần bắt đầu lại. Một linh hồn trưởng thành sẽ học cách bắt đầu lại nhiều lần trong một ngày. Có thể lúc bảy giờ sáng ta cầu nguyện rất đẹp, nhưng tám giờ đã nổi nóng. Chín giờ ta lại cố gắng sống bình an, mười giờ đã xét đoán một người. Trưa ta quyết tâm không than phiền, chiều đã than phiền ba lần. Tối nhìn lại, nếu không hiểu tinh thần bắt đầu lại, ta dễ kết luận rằng cả ngày thất bại. Nhưng không. Ngay sau mỗi lần sa ngã, hãy bắt đầu lại. Đừng chờ đến tối. Đừng chờ giờ xét mình. Đừng chờ lần xưng tội kế tiếp mới quay về với Chúa. Ngay khi nhận ra mình vừa sai, chỉ cần một giây cũng đủ để lòng quay lại: “Lạy Chúa, con lại yếu đuối. Xin thương xót con. Con bắt đầu lại.” Rồi tiếp tục việc đang làm. Đừng tổ chức một phiên tòa nội tâm kéo dài hai tiếng chỉ vì một lỗi nhỏ. Đừng đứng nhìn vũng bùn mãi sau khi đã bước hụt chân. Rửa chân rồi đi tiếp. Có những người ngã một lần nhưng vì tự trách quá lâu nên trên thực tế họ mất cả ngày. Kẻ thù thích điều đó. Nó không cần con phạm thêm một tội lớn; chỉ cần sau một lỗi nhỏ con chán nản, mất bình an, bỏ cầu nguyện, khó chịu với mọi người, và như thế một sai lầm nhỏ đã trở thành cánh cửa cho cả chuỗi thất bại. Hãy cắt đứt chuỗi ấy ngay từ đầu bằng sự bắt đầu lại.
Có một nghệ thuật rất quan trọng trong cuộc chiến thiêng liêng: biết sa ngã mà không ngã sâu hơn vì chính sự thất vọng về lần sa ngã ấy. Điều này nghe có vẻ lạ, nhưng nhiều linh hồn bị thương không phải chủ yếu bởi lỗi đầu tiên, mà bởi phản ứng sai sau lỗi ấy. Họ vừa nóng giận thì lập tức ghét chính mình vì đã nóng giận. Vừa mất kiên nhẫn thì lại mất kiên nhẫn với chính mình vì đã mất kiên nhẫn. Vừa kiêu ngạo thì lại tự ái vì mình chưa đủ khiêm nhường. Tưởng như họ đang ăn năn, nhưng thật ra lòng tự ái bị tổn thương vì hình ảnh tốt đẹp về bản thân vừa sụp đổ. Người khiêm nhường thì khác. Khi thấy mình ngã, họ đau vì đã làm mất lòng Chúa, nhưng không ngạc nhiên quá mức về chính mình. Họ nói: “Đấy, nếu Chúa không giữ con, con là như thế. Con đã thấy sự nghèo nàn của con. Bây giờ con lại đặt tay mình vào tay Chúa.” Và họ đứng dậy. Sự đứng dậy ấy có khi đẹp lòng Chúa hơn cả một chiến thắng khiến linh hồn tự mãn. Vì trong sự đứng dậy ấy có khiêm nhường, có lòng tin, có tình yêu, có sự thật.
Con có thể hỏi: “Nếu cứ bắt đầu lại, liệu tôi có trở nên dễ dãi với chính mình không?” Đây là một câu hỏi cần thiết. Bởi vì có một thái độ sai lầm khác: người ta lợi dụng lòng thương xót để bao che sự thiếu quyết tâm. Họ biết rằng Chúa tha thứ nên không nghiêm túc tránh dịp tội. Họ nói “ngã thì đứng dậy” nhưng chẳng bao giờ chịu thay đổi điều cần thay đổi. Họ xin tha thứ nhưng không cắt bỏ điều làm mình ngã. Đó không phải bắt đầu lại, mà là quay vòng. Bắt đầu lại đích thực luôn bao gồm một sự học hỏi. Mỗi lần ngã, con nên hỏi nhẹ nhàng nhưng trung thực: “Điều gì đã dẫn tôi đến đây? Tôi đã bỏ qua dấu hiệu nào? Tôi đã quá mệt? Tôi đã để trí tưởng tượng đi quá xa? Tôi đã không cầu nguyện? Tôi đã tự tin vào mình? Tôi đã bước vào một hoàn cảnh mà tôi biết là nguy hiểm? Tôi đã nuôi sự bực bội quá lâu?” Không cần phân tích bệnh hoạn, nhưng phải học. Một người lính khôn ngoan sau mỗi trận đánh đều xem lại chiến trường. Không phải để tự trách, mà để chiến đấu tốt hơn lần sau. Lòng thương xót không loại bỏ kỷ luật; lòng thương xót làm cho kỷ luật trở nên khả thi vì ta biết rằng thất bại không phải là dấu chấm hết.
Đôi khi bắt đầu lại có nghĩa là phải xin lỗi. Có những linh hồn thích xin lỗi Chúa nhưng ngại xin lỗi con người. Họ quỳ trước Nhà Tạm thật lâu nhưng không thể nói với người anh em: “Tôi đã sai.” Họ muốn bắt đầu lại với Chúa mà không sửa tương quan đã bị mình làm tổn thương. Nhưng đời sống thiêng liêng không chia đôi như thế. Nếu con vừa nói một lời làm đau người khác, việc bắt đầu lại có thể đòi con đi tìm người ấy. Nếu con đã cư xử bất công, bắt đầu lại có thể đòi con sửa chữa. Nếu con đã bỏ bê trách nhiệm, bắt đầu lại có thể là hoàn thành điều con đang nợ. Nếu con đã trì hoãn một bổn phận nhiều tuần, bắt đầu lại không phải là viết thêm một quyết tâm trong sổ, nhưng là đứng lên làm việc ấy. Tình yêu phải đi vào hành động. Ơn sám hối phải sinh hoa trái. Tuy nhiên, cả khi phải sửa chữa, con vẫn đừng làm trong tâm trạng tự trừng phạt. Hãy sửa vì yêu. Hãy xin lỗi vì sự thật. Hãy bù đắp vì công bằng. Rồi bình an bước tiếp.
Có những ngày việc bắt đầu lại thật dễ. Ta thức dậy khỏe khoắn, tâm hồn nhẹ nhàng, cầu nguyện có hương vị, mọi việc diễn ra thuận lợi. Nhưng giá trị thật của tinh thần bắt đầu lại được bộc lộ trong những ngày mà con chẳng muốn bắt đầu gì cả. Có những buổi sáng vừa mở mắt đã thấy nặng nề. Có những ngày thân xác mệt, tâm trí đục, lòng khô khan, công việc chồng chất, người khác khó chịu, những ký ức buồn quay về. Trong những ngày ấy, đừng chờ cảm hứng. Người chiến đấu đến cùng không sống bằng cảm hứng. Họ sống bằng một quyết định của ý chí được ân sủng nâng đỡ: “Dù hôm nay con không cảm thấy gì, con vẫn thuộc về Chúa. Dù con không muốn, con vẫn sẽ làm điều phải làm. Dù lời cầu nguyện hôm nay khô khan, con vẫn sẽ ở lại trước mặt Chúa. Dù con không có một khởi đầu đẹp, con vẫn bắt đầu.” Có khi chính những ngày không đẹp ấy lại là những ngày có giá trị nhất trước mặt Chúa. Bởi vì lúc đó tình yêu không được nâng đỡ bởi cảm xúc. Nó trở thành một hành vi tinh tuyền hơn: con làm vì Chúa, không phải vì con thấy dễ chịu.
Hãy nhớ rằng bắt đầu lại mỗi ngày cũng là một cách sống trong hiện tại. Rất nhiều năng lượng của linh hồn bị tiêu phí vào hai nơi không còn hoặc chưa có: quá khứ và tương lai. Ta nghĩ về những gì đã xảy ra và tự trách. Ta nghĩ về những gì có thể xảy ra và lo sợ. Trong khi đó, ơn Chúa được ban cho hôm nay. Chúa không ban ơn của ngày mai vào hôm nay. Ngài cũng không đòi con chiến đấu lại trận đánh của hôm qua. Ngài cho con đủ ánh sáng để bước bước hiện tại. Người biết bắt đầu lại học cách nói: “Hôm nay.” Không phải: “Từ nay về sau tôi sẽ không bao giờ nóng giận nữa,” nhưng: “Hôm nay, với ơn Chúa, tôi sẽ cố giữ bình an trong lần trái ý này.” Không phải: “Tôi sẽ trở thành một con người hoàn toàn cầu nguyện,” nhưng: “Giờ cầu nguyện này, tôi sẽ hiện diện trước Chúa.” Không phải: “Từ giờ tôi sẽ không còn trì hoãn,” nhưng: “Việc đang nằm trước mặt, tôi sẽ làm ngay.” Sự thánh thiện chỉ có thể được sống trong hiện tại. Không ai yêu Chúa ngày hôm qua. Không ai yêu Chúa ngày mai. Ta chỉ có thể yêu Ngài trong giây phút đang xảy ra. Vì thế, mỗi lần bắt đầu lại là một lần linh hồn quay về với hiện tại, nơi Chúa đang chờ.
Đừng coi thường sức mạnh của một ngày. Cả cuộc đời con cuối cùng cũng chỉ được hình thành bởi những ngày. Một năm là những ngày xếp cạnh nhau. Một đời sống thánh thiện là những lần trung tín nhỏ nối tiếp nhau. Kẻ thù thường làm ta sợ bằng cách cho ta nhìn cả con đường dài. “Ngươi sẽ phải chiến đấu như thế này đến bao giờ? Ngươi có chịu nổi ba mươi năm nữa không? Ngươi có thể giữ lời khấn, giữ lòng trung thành, giữ đời sống cầu nguyện đến cuối đời không?” Đừng trả lời những câu hỏi ấy. Con không có ơn cho ba mươi năm ngay bây giờ. Con có ơn cho hôm nay. Chúa không yêu cầu con sống cả cuộc đời trong một lần. Ngài chỉ yêu cầu con sống phút này với Ngài. Khi ngày mai đến, ân sủng ngày mai cũng sẽ đến. Hôm nay chỉ cần hôm nay. Và khi hôm nay kết thúc, con có thể thưa: “Lạy Chúa, con đã cố gắng bằng sức Chúa ban. Điều con làm tốt, con tạ ơn Chúa. Điều con làm chưa tốt, con xin trao cho lòng thương xót. Ngày mai, nếu Chúa còn ban, con lại bắt đầu.”
Có những lúc người ta nghĩ rằng mình đã bắt đầu lại quá nhiều lần đến mức lời ấy không còn ý nghĩa. “Tôi đã nói với Chúa câu này bao nhiêu lần rồi. Tôi đã quyết tâm bao nhiêu lần rồi. Tôi xấu hổ vì lại phải quay về.” Nhưng hỡi linh hồn, đừng bao giờ xấu hổ vì trở về với Chúa. Hãy xấu hổ vì tội nếu điều ấy dẫn con đến sám hối, nhưng đừng xấu hổ vì lòng thương xót. Chẳng phải người cha trong dụ ngôn đã chạy ra đón người con trở về sao? Người con có thể nghĩ: “Con đã phụ lòng cha. Con chẳng còn quyền trở lại.” Nhưng tình cha không được đo bằng mức độ xứng đáng của người con. Tình Chúa còn lớn hơn thế vô cùng. Bao lâu con còn thật lòng muốn trở về, con không bao giờ làm phiền lòng thương xót Chúa. Chúa không nói: “Con đã xin lỗi chuyện này mười lần rồi, Ta hết kiên nhẫn.” Đó là cách con người nghĩ. Thiên Chúa không như thế. Nếu lòng ăn năn của con chân thành, mỗi lần trở về đều là một lần Ngài đón nhận. Có thể con mệt vì chính mình, nhưng Chúa không mệt vì yêu con.
Và chính nơi đây, linh hồn bắt đầu hiểu một nghịch lý rất đẹp: càng bắt đầu lại nhiều, nếu bắt đầu lại đúng cách, ta càng ít cậy vào mình và càng cậy vào Chúa. Lúc mới bước vào đường thiêng liêng, ta thường nghĩ rằng điều quan trọng là làm cho mình mạnh hơn. Sau nhiều năm, ta nhận ra điều quan trọng hơn là để Chúa trở thành sức mạnh của mình. Lúc đầu ta muốn chứng minh mình có thể. Sau này ta chỉ muốn thú nhận: “Không có Chúa, con chẳng làm gì được.” Lúc đầu mỗi thất bại làm ta xấu hổ. Sau này mỗi thất bại lại nhắc ta phải nắm tay Chúa. Lúc đầu ta nghĩ nên thánh là xây dựng một con người thật vững chắc. Sau này ta hiểu nên thánh là trở thành một con người đủ nhỏ để hoàn toàn dựa vào Chúa. Đó không phải yếu đuối. Đó là sức mạnh của Tin Mừng. Một đứa trẻ không mạnh vì nó tự đứng được; nó an toàn vì nó biết nắm tay cha. Linh hồn cũng vậy.
Tinh thần bắt đầu lại còn làm cho ta trở nên kiên nhẫn với tiến trình của mình. Con người thời nay quen với tốc độ. Muốn điều gì là muốn thấy kết quả ngay. Nhưng linh hồn không phải một chiếc máy có thể thay đổi bằng vài thao tác. Chúa giáo dục mỗi người bằng một lịch sử. Có những nhân đức phải được hình thành qua hàng nghìn chọn lựa nhỏ. Có những vết thương cần thời gian để lành. Có những thói quen phải được tháo gỡ từng lớp. Có những sự tự do chỉ đến sau rất nhiều lần thất bại và đứng dậy. Nếu con ép mình phải hoàn hảo quá nhanh, con sẽ dễ trở nên bạo lực với chính mình. Và người bạo lực với chính mình thường cũng sẽ bạo lực với người khác. Hãy học cách nghiêm túc mà dịu dàng. Nghiêm túc với tội lỗi, dịu dàng với sự yếu đuối. Quyết liệt trong chiến đấu, nhưng nhẫn nại với tiến trình. Không khoan nhượng với điều xấu, nhưng không tuyệt vọng khi điều xấu vẫn còn tìm cách trỗi dậy. Chúa kiên nhẫn với con. Hãy học sự kiên nhẫn ấy.
Có những lúc con sẽ tưởng rằng chẳng có gì thay đổi. Con nhìn lại năm năm, mười năm, rồi nói: “Tôi vẫn là tôi. Vẫn tính khí này. Vẫn những điểm yếu này.” Nhưng hãy cẩn thận với cái nhìn quá khắt khe ấy. Có thể một đam mê vẫn còn, nhưng nó không còn thống trị con như trước. Có thể con vẫn nóng giận, nhưng trước đây mất ba ngày mới nguôi, bây giờ mười phút đã biết xin lỗi. Có thể con vẫn bị cám dỗ xét đoán, nhưng trước đây con tin ngay vào phán đoán của mình, bây giờ con biết dừng lại. Có thể con vẫn khô khan trong cầu nguyện, nhưng trước đây khô khan là bỏ cầu nguyện, bây giờ khô khan vẫn ở lại. Có thể con vẫn mệt mỏi, nhưng ngày xưa mệt là buông xuôi, bây giờ mệt vẫn làm bổn phận. Đó là tiến bộ. Không phải mọi sự trưởng thành đều ồn ào. Cây lớn lên trong thinh lặng. Một ngày ta nhìn chẳng thấy gì, nhưng nhiều năm sau mới nhận ra thân cây đã lớn, rễ đã sâu. Đừng đòi phải cảm thấy mình tiến bộ. Hãy trung tín. Việc đo lường thuộc về Chúa.
Bắt đầu lại mỗi ngày cũng giúp linh hồn thoát khỏi chủ nghĩa hoàn hảo. Có một thứ hoàn hảo không đến từ Chúa, dù nó khoác áo đạo đức. Nó nói rằng con phải làm mọi sự không tì vết, phải cầu nguyện không chia trí, phải luôn bình an, phải không bao giờ sai, phải hoàn thành mọi quyết tâm, phải được mọi người hài lòng, phải trở thành một hình mẫu. Khi không đạt được, con tự kết án. Nhưng Chúa không mời con đến với một sự hoàn hảo do cái tôi kiểm soát. Ngài mời con nên hoàn thiện trong tình yêu. Mà tình yêu nhiều khi lớn lên chính trong sự yếu đuối: khi con xin lỗi, khi con tha thứ, khi con nhận ra mình cần người khác, khi con chấp nhận để Chúa nâng dậy. Người cầu toàn muốn trình cho Chúa một đời sống không vết xước. Người thánh thiện trình cho Chúa một đời sống có thể đầy vết xước nhưng đã được trao trọn. Hãy nhớ điều ấy mỗi khi con thất vọng vì mình không đạt tiêu chuẩn của chính mình. Có khi tiêu chuẩn ấy không phải là ý Chúa, mà là tham vọng thiêng liêng của con.
Tinh thần bắt đầu lại còn đặc biệt cần thiết trong đời sống cộng đoàn và sứ vụ. Một cộng đoàn không thể tồn tại nếu mọi người giữ sổ nợ của nhau. Không gia đình nào có thể bình an nếu lỗi lầm hôm qua luôn được mang ra trong cuộc tranh luận hôm nay. Không người thừa sai nào có thể phục vụ lâu dài nếu mỗi thất bại mục vụ trở thành một bản án về giá trị của mình. Có những chương trình không thành công. Có những bài giảng không chạm được ai. Có những người được mình giúp đỡ rồi vẫn quay lưng. Có những dự định đẹp bị hiểu lầm. Có những thiện chí không được nhìn nhận. Có những lúc chính mình làm sai. Nếu không biết bắt đầu lại, người tông đồ sẽ trở nên chua chát. Nhưng nếu biết bắt đầu lại, họ học cách trao kết quả cho Chúa. Hôm nay gieo hạt. Ngày mai lại gieo. Có hạt mọc, có hạt không. Có nơi đón nhận, có nơi từ chối. Người thừa sai không sống bằng thành tích, nhưng bằng sự trung thành. Và sự trung thành ấy được duy trì nhờ khả năng mỗi sáng lại nói: “Lạy Chúa, hôm nay con lại lên đường.”
Có một điều rất đẹp trong việc bắt đầu lại: nó làm con người trẻ mãi trong tâm hồn. Có những người tuổi chưa cao nhưng tâm hồn đã già vì họ tin rằng mọi sự đã cố định. “Tôi là người như vậy rồi. Tôi không thay đổi được.” Câu ấy là một trong những câu nguy hiểm nhất. Khi một linh hồn tự định nghĩa mình bằng những giới hạn của quá khứ, nó đóng cửa trước ân sủng. Nhưng Chúa luôn là Thiên Chúa của những khởi đầu. Ngài gọi Abraham khi ông đã già. Ngài gọi Môsê sau những năm tháng nơi sa mạc. Ngài dựng lại Phêrô sau ba lần chối Thầy. Ngài biến Phaolô từ người bách hại thành Tông đồ. Lịch sử cứu độ đầy những con người đã được ban một khởi đầu mới. Đừng bao giờ tự nói rằng đã quá trễ để thay đổi. Có thể con không còn đủ thời gian để làm mọi điều con muốn, nhưng bao lâu còn một ngày, con vẫn còn đủ thời gian để yêu Chúa trong ngày ấy. Một người có thể sống nhiều năm mà không thật sự bắt đầu; một người khác có thể chỉ còn ít thời gian nhưng bắt đầu thật, và cả đời họ được đổi hướng.
Hỡi linh hồn, nếu sáng nay con vừa thất bại hôm qua, hãy bắt đầu lại. Nếu trưa nay con vừa nóng giận, hãy bắt đầu lại. Nếu chiều nay con vừa buông xuôi một quyết tâm, hãy bắt đầu lại. Nếu tối nay con nhìn lại và thấy ngày sống lộn xộn, hãy đặt nó vào lòng thương xót và ngày mai bắt đầu lại. Nếu con vừa bước ra khỏi tòa giải tội, hãy bắt đầu lại. Nếu con vừa trải qua một thời gian dài nguội lạnh, hãy bắt đầu lại. Nếu nhiều năm con đã sống nửa vời, hãy bắt đầu lại. Nếu một biến cố làm đổ vỡ những kế hoạch của đời con, hãy bắt đầu lại từ chính đổ vỡ ấy. Nếu tuổi tác, bệnh tật, giới hạn hay hoàn cảnh không cho phép con làm những điều ngày xưa từng làm, hãy hỏi Chúa xem Ngài muốn con bắt đầu một cách mới thế nào. Bắt đầu lại không nhất thiết có nghĩa là làm lại mọi thứ như cũ. Có khi Chúa muốn con bắt đầu một hình thức sống mới, một cách yêu mới, một kiểu phục vụ mới, một sự tự hiến sâu hơn nhưng âm thầm hơn.
Và có một ngày, con sẽ bắt đầu ngày cuối cùng của đời mình mà không biết đó là ngày cuối. Có thể buổi sáng hôm ấy cũng bình thường như mọi sáng. Con vẫn cầu nguyện, vẫn ăn sáng, vẫn làm bổn phận. Nhưng đến một giờ nào đó, cuộc chiến trần gian sẽ kết thúc. Chính vì thế, hãy tập bắt đầu lại mỗi ngày cho đến khi việc bắt đầu lại trở thành hơi thở của linh hồn. Khi ấy, ngay cả giờ chết cũng sẽ chỉ là một khởi đầu khác: khởi đầu của đời sống không còn chiến đấu, nơi những gì con đã tin sẽ được thấy, những gì con đã hy vọng sẽ được nhận, và Đấng con đã cố gắng yêu qua bao nhiêu lần bắt đầu lại sẽ đứng trước mặt con. Người trung tín đến cùng không nhất thiết là người có một cuộc đời không vấp ngã. Có thể áo họ đầy bụi. Có thể thân họ mang nhiều vết thương. Nhưng tay họ vẫn nắm lấy Chúa. Và như thế là đủ.
Hoa trái của tinh thần bắt đầu lại rất lớn. Trước hết, con sẽ bớt sợ sự yếu đuối của mình. Không phải vì con coi thường nó, nhưng vì con biết nó không có tiếng nói cuối cùng. Con sẽ bớt tuyệt vọng sau sa ngã vì con biết cánh cửa trở về luôn mở. Con sẽ khiêm nhường hơn vì mỗi ngày đều nhắc con rằng con cần ân sủng. Con sẽ nhân hậu hơn vì biết mọi người đều đang chiến đấu với những điều con không thấy. Con sẽ bình an hơn vì không phải mang cả quá khứ trên lưng. Con sẽ tự do hơn vì không còn bị hình ảnh lý tưởng về mình thống trị. Con sẽ kiên trì hơn vì không đòi phải thắng cả cuộc chiến trong một ngày. Và dần dần, điều kỳ diệu sẽ xảy ra: qua hàng nghìn lần bắt đầu lại nhỏ bé, con thật sự sẽ được biến đổi. Không phải bằng một cú nhảy lớn, nhưng bằng ân sủng hoạt động trong sự trung tín.
Vậy mỗi sáng, hãy đặt chân xuống đất như một người được sinh ra lại trong lòng thương xót. Đừng mang bản án hôm qua vào ngày mới. Đừng mang sự kiêu ngạo hôm qua vào ngày mới. Đừng nghĩ rằng vì hôm qua thắng nên hôm nay tự đủ. Cũng đừng nghĩ rằng vì hôm qua thua nên hôm nay vô vọng. Hãy nghèo khó trước Chúa. Hãy nói: “Lạy Chúa, đây là con. Vẫn yếu đuối, vẫn cần Chúa, nhưng vẫn muốn thuộc về Chúa. Xin bắt đầu lại trong con.” Đó là một lời cầu nguyện rất đẹp: không chỉ “con bắt đầu lại,” nhưng “xin Chúa bắt đầu lại trong con.” Bởi chính Chúa là Đấng thực hiện cuộc đổi mới sâu xa. Con cộng tác, nhưng Ngài hành động. Con mở cửa, nhưng Ngài bước vào. Con trao đất, nhưng Ngài gieo hạt. Con chiến đấu, nhưng chính sức Ngài làm con đứng vững.
Và nếu có một ngày con không còn đủ sức nói những lời dài, hãy chỉ nói: “Giêsu, con tín thác nơi Ngài. Con bắt đầu lại.” Nếu có lúc con chỉ còn một chút thiện chí rất nhỏ, hãy trao chút ấy cho Chúa. Ngài có thể làm nhiều từ rất ít. Năm chiếc bánh và hai con cá trong tay con người chẳng là gì, nhưng trong tay Đức Kitô có thể nuôi cả đám đông. Một quyết tâm nhỏ trong sức riêng của con có thể rất mong manh, nhưng nếu đặt trong tay Chúa, nó có thể trở thành khởi đầu của một sự biến đổi lớn. Đừng coi thường những điều nhỏ khi chúng được trao cho Chúa.
Hỡi linh hồn, đừng bao giờ nói: “Đã quá muộn.” Đừng bao giờ nói: “Tôi đã thất bại quá nhiều.” Đừng nói: “Tôi đã hứa bao nhiêu lần mà vẫn vậy, nên lần này chẳng có ý nghĩa gì.” Chính kẻ thù muốn con nói những lời ấy. Bởi nó biết rằng một linh hồn còn biết bắt đầu lại vẫn chưa thuộc về nó. Một linh hồn còn biết quỳ xuống vẫn chưa bị đánh bại. Một linh hồn còn biết thưa “xin thương xót con” vẫn đang ở trong vùng ánh sáng. Nó không sợ một người không bao giờ ngã bằng nó sợ một người cứ đứng dậy mãi. Vì một người luôn đứng dậy là một người đã khám phá ra bí quyết của lòng thương xót.
Chừng nào Chúa còn cho con một buổi sáng, chừng ấy Ngài vẫn đang nói: “Hãy bắt đầu.” Chừng nào con còn có thể thở, chừng ấy vẫn có thể yêu. Chừng nào trái tim còn biết thống hối, chừng ấy vẫn còn đường về. Chừng nào con còn có thể thưa danh Chúa, chừng ấy hy vọng chưa tắt. Đừng để ngày hôm qua lấy mất ngày hôm nay. Đừng để một lỗi lầm lấy mất cả hành trình. Đừng để một lần vấp ngã thuyết phục con rằng con không được tạo nên để bước đi. Hãy đứng lên. Phủi bụi. Nhìn về Chúa. Và bước tiếp.
Có thể con sẽ phải bắt đầu lại hàng nghìn lần. Hãy bắt đầu hàng nghìn lần. Có thể con sẽ phải xin cùng một ơn hàng chục năm. Hãy xin hàng chục năm. Có thể có một điểm yếu theo con đến tận tuổi già. Hãy chiến đấu với nó cho đến tuổi già. Điều quan trọng không phải là con có thể nói rằng mình đã hoàn toàn thoát khỏi mọi cuộc chiến; điều quan trọng là khi Chúa gọi, Ngài tìm thấy con vẫn còn đang chiến đấu về phía Ngài. Một người lính bị thương nhưng vẫn quay mặt về phía vua mình còn đáng quý hơn người nguyên vẹn nhưng đã bỏ hàng ngũ.
Và cuối cùng, hãy nhớ lời than thở mà cũng là lời hy vọng lớn lao của sách Ai Ca: “Lòng thương xót của Đức Chúa không hề cạn, lòng trắc ẩn của Người không bao giờ vơi; mỗi sáng lại mới.” Nếu lòng thương xót Chúa mỗi sáng lại mới, tại sao con lại phải sống hôm nay bằng sự tuyệt vọng cũ? Nếu Chúa ban ân sủng mới, tại sao con cứ giữ mãi bản án cũ trên mình? Nếu Ngài mở một ngày mới, tại sao con cứ đóng lòng mình trong những căn phòng đã qua? Hãy để bình minh bên ngoài trở thành bình minh bên trong. Hãy để mỗi buổi sáng nhắc con rằng Thiên Chúa vẫn chưa hoàn tất công trình của Ngài nơi con. Một trang mới đã được mở. Có thể bàn tay con còn run. Có thể những trang trước đầy những dòng viết vụng về. Nhưng cây bút vẫn chưa rơi khỏi tay Chúa.
Vậy, hỡi linh hồn, hãy bắt đầu lại hôm nay. Nếu cần, hãy bắt đầu lại ngay giờ phút này. Không cần chờ thứ Hai. Không cần chờ đầu tháng. Không cần chờ một kỳ tĩnh tâm. Không cần chờ tâm trạng tốt hơn. Không cần chờ mình trở nên xứng đáng hơn. Ân sủng không hẹn con ở một ngày lý tưởng nào đó. Ân sủng đang ở đây. Chúa đang ở đây. Phút này là cánh cửa.
Hãy bắt đầu lại bằng một lời xin lỗi nếu cần. Bắt đầu lại bằng một việc bổn phận con đang trì hoãn. Bắt đầu lại bằng năm phút cầu nguyện. Bắt đầu lại bằng việc tắt đi điều làm tâm trí con xao động. Bắt đầu lại bằng một lời tử tế với người con đang khó chịu. Bắt đầu lại bằng việc không biện minh. Bắt đầu lại bằng một hành vi khiêm nhường. Bắt đầu lại bằng một lần rước lễ sốt sắng. Bắt đầu lại bằng một lời “xin vâng” trước điều không như ý. Bắt đầu lại bằng việc trao cả sự yếu đuối cho Chúa thay vì giấu nó.
Rồi ngày mai, con lại bắt đầu.
Ngày kia, con lại bắt đầu.
Một năm nữa, nếu còn sống, con vẫn bắt đầu.
Đến tuổi già, con vẫn bắt đầu.
Và ngày cuối cùng, khi không còn một ngày trần gian nào để bắt đầu nữa, con sẽ khám phá rằng tất cả những lần bắt đầu lại ấy đã âm thầm dẫn con đến một khởi đầu vĩnh cửu.
Khi ấy, con sẽ hiểu rằng Chúa chưa bao giờ khinh thường những lần con đứng dậy. Ngài đã nhìn thấy từng lần con lau nước mắt và quay về. Ngài đã thấy từng lời xin lỗi mà không ai biết. Ngài đã thấy từng cuộc chiến thầm lặng không ai khen. Ngài đã thấy từng sáng con mệt mỏi nhưng vẫn cầu nguyện. Ngài đã thấy từng đêm con thất vọng nhưng vẫn không bỏ cuộc. Ngài đã thấy từng lúc con muốn buông nhưng cuối cùng vẫn nói: “Lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài.” Không một điều nào bị mất.
Cho nên, hỡi linh hồn của Chúa, hãy đi tiếp. Đừng đếm số lần con đã ngã. Hãy đếm số lần lòng thương xót đã nâng con dậy. Đừng hỏi con đường còn bao xa. Hãy bước bước hôm nay. Đừng hỏi khi nào con mới hoàn hảo. Hãy hỏi hôm nay con có thể yêu Chúa thêm một chút thế nào. Đừng sợ việc phải bắt đầu lại. Chính trong việc bắt đầu lại mà con học được sự kiên trì. Chính trong sự kiên trì mà con học được tín thác. Chính trong tín thác mà con học được khiêm nhường. Chính trong khiêm nhường mà Chúa có thể làm những điều lớn lao nhất trong con.
Hãy bắt đầu lại. Hãy bắt đầu lại trong Chúa. Hãy bắt đầu lại trong lòng thương xót. Hãy bắt đầu lại khi mạnh. Hãy bắt đầu lại khi yếu. Hãy bắt đầu lại khi được an ủi. Hãy bắt đầu lại khi khô khan. Hãy bắt đầu lại sau chiến thắng để khỏi tự mãn. Hãy bắt đầu lại sau thất bại để khỏi tuyệt vọng. Hãy bắt đầu lại mỗi sáng. Hãy bắt đầu lại sau mỗi lần sa ngã. Hãy bắt đầu lại cho đến hơi thở cuối cùng.
Vì cuối cùng, chiến thắng không thuộc về người chưa bao giờ phải bắt đầu lại.
Chiến thắng thuộc về người không bao giờ ngừng bắt đầu lại với Chúa.
“Lòng thương xót Chúa ban mới mỗi sáng.” (x. Ac 3,22-23)
Hãy tin điều ấy.
Hãy sống điều ấy.
Hãy để mỗi bình minh trở thành một lời mời.
Và ngày hôm nay, ngay lúc này, hãy lại thưa với Chúa:
“Lạy Chúa, con bắt đầu lại. Không phải bằng sức con, nhưng bằng ơn Chúa. Không phải vì con tin vào mình, nhưng vì con tin vào lòng thương xót Chúa. Xin nắm lấy tay con. Xin đừng để con bỏ cuộc. Và nếu con lại ngã, xin dạy con lại đứng lên, cho đến ngày con được đứng trước nhan Chúa đời đời.”
Amen.
CHƯƠNG 42
TRUNG TÍN TRONG NHỮNG VIỆC NHỎ – CON ĐƯỜNG VỮNG CHẮC CỦA CUỘC CHIẾN
Hỡi linh hồn đang muốn trung thành đến cùng, sau khi đã học cách bắt đầu lại mỗi ngày, sau khi đã hiểu rằng đời sống thiêng liêng không được xây dựng bằng một vài khoảnh khắc bừng cháy rồi tắt lịm, nhưng bằng sự trở về liên lỉ, bằng những lần đứng dậy âm thầm, bằng quyết tâm không chịu nằm mãi trên mặt đất sau mỗi lần vấp ngã, bây giờ chúng ta cần đi sâu vào một nguyên tắc rất đơn sơ, rất khiêm nhường, nhưng cũng rất quyết định cho toàn bộ cuộc chiến: sự trung tín trong những việc nhỏ. Có thể con đã từng mơ đến những hy sinh lớn. Có thể đã có lúc con nghĩ rằng nếu một ngày nào đó Chúa đòi con một điều thật khó, con sẽ quảng đại dâng cho Ngài. Có thể con đã từng xúc động trước những câu chuyện về các thánh tử đạo, những nhà truyền giáo đi đến tận cùng thế giới, những con người bỏ tất cả để theo Chúa, những linh hồn chịu đựng đau khổ lớn lao mà vẫn một lòng trung tín. Những điều ấy thật đẹp, thật đáng kính, thật đáng ao ước. Nhưng hỡi linh hồn, con đừng quên rằng trước khi Chúa trao cho một người một thập giá lớn, Ngài thường trao cho người ấy hàng ngàn thập giá nhỏ. Trước khi một linh hồn được mời gọi trung thành trong một thử thách lớn, nó đã được huấn luyện bằng vô số cơ hội nhỏ bé mà chẳng ai nhìn thấy. Trước khi người lính có thể đứng vững giữa trận chiến dữ dội, người ấy đã phải học cách cầm vũ khí, học cách canh gác, học cách thức dậy đúng giờ, học cách tuân lệnh, học cách chịu đựng những bất tiện nhỏ, học cách hoàn thành những bổn phận bình thường mà không kêu ca. Đời sống thiêng liêng cũng như thế. Không ai trở thành người trung tín trong việc lớn nếu đã quen bất trung trong việc nhỏ. Không ai có thể đột nhiên trở thành một linh hồn anh hùng trong giờ thử thách nếu suốt nhiều năm trước đó đã nuông chiều bản thân trong hàng ngàn điều nhỏ bé. Và cũng không ai cần phải buồn vì đời mình xem ra quá bình thường, quá âm thầm, không có biến cố lớn lao để chứng tỏ tình yêu đối với Chúa, bởi vì chính những điều rất nhỏ, những bổn phận rất quen, những khó chịu rất bình thường, những hy sinh chẳng ai biết đến, những lần tự thắng mình chỉ trong vài giây, lại là chất liệu quý giá mà Thiên Chúa dùng để xây dựng nên sự thánh thiện thật.
Chúa Giêsu đã nói một lời hết sức rõ ràng: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn.” Lời ấy nghe thật đơn giản, nhưng nếu đem vào đời sống, nó có sức soi sáng cả một con đường. Chúa không nói: ai mơ những điều lớn thì sẽ trung tín trong điều lớn. Chúa cũng không nói: ai nói những lời cao đẹp, ai có những quyết tâm mạnh mẽ, ai có những giờ phút sốt sắng, ai được người khác kính phục, thì chắc chắn sẽ trung tín. Ngài nói đến một điều khác: trung tín trong việc rất nhỏ. Nghĩa là Thiên Chúa nhìn đến những chỗ mà con người thường không nhìn. Ngài nhìn cách con thức dậy vào buổi sáng khi chẳng ai kiểm soát con. Ngài nhìn cách con giữ một lời hứa nhỏ đã nói với một người anh em. Ngài nhìn cách con phản ứng khi có người làm con khó chịu. Ngài nhìn thái độ của con khi phải làm một việc không ai khen. Ngài nhìn cách con bước vào giờ cầu nguyện khi tâm hồn khô khan. Ngài nhìn việc con có đóng lại một cánh cửa nhẹ nhàng khi người khác đang nghỉ hay không. Ngài nhìn việc con có để một người khác nói hết câu hay không. Ngài nhìn một cái nhìn con đã quyết định quay đi để giữ tâm hồn trong sạch. Ngài nhìn một lời con đã nuốt lại để khỏi làm tổn thương người khác. Ngài nhìn năm phút con đã chiến thắng sự trì hoãn để bắt tay vào bổn phận. Ngài nhìn lúc con tự tay nhặt một vật rơi xuống đất dù không phải con làm rơi. Ngài nhìn cách con đối xử với người không có gì để đền đáp cho con. Ngài nhìn sự kiên nhẫn của con trước một người chậm chạp. Ngài nhìn sự trung tín của con với một giờ kinh ngắn mà con đã âm thầm giữ suốt nhiều tháng. Ngài nhìn tất cả. Và chính qua những điều tưởng chừng không đáng kể ấy, linh hồn đang bộc lộ cho Chúa thấy tình yêu thật của mình.
Hỡi linh hồn, điều nguy hiểm là chúng ta thường thích những gì lớn lao hơn những gì nhỏ bé, bởi vì những việc lớn dễ nuôi dưỡng một cảm giác đẹp về chính mình. Một hy sinh lớn có thể khiến ta cảm thấy mình quảng đại. Một công việc nổi bật có thể khiến ta cảm thấy mình hữu ích. Một giờ cầu nguyện sốt sắng có thể khiến ta cảm thấy mình tiến bộ. Một sứ vụ thành công có thể khiến ta nghĩ mình đang làm rất nhiều cho Chúa. Nhưng những việc nhỏ lại thường không cho ta cảm giác ấy. Không ai vỗ tay khi con giữ im lặng thay vì tranh cãi. Không ai biết rằng con vừa thắng một tư tưởng tự ái. Không ai khen con vì con đã đến đúng giờ trong một công việc vốn dĩ con phải đến đúng giờ. Không ai ca ngợi con vì con rửa sạch một chiếc ly sau khi dùng. Không ai ghi nhận rằng hôm nay con đã không phàn nàn dù mệt. Không ai nhìn thấy một lời nguyện tắt con thì thầm trong lòng giữa lúc bận rộn. Không ai biết con đã muốn cầm điện thoại lên lần thứ mười nhưng rồi con đặt xuống để trở về với việc cần làm. Không ai thấy con đã muốn kể một câu chuyện khiến mình được chú ý nhưng rồi con im lặng để người khác có chỗ hiện diện. Không ai thấy. Và chính vì không ai thấy, những việc nhỏ ấy có một vẻ đẹp rất tinh tuyền. Chúng dễ trở thành của lễ chỉ dành cho Chúa. Chúng không có nhiều phần thưởng của thế gian. Chúng không dễ nuôi lòng tự mãn. Chúng là những đồng tiền nhỏ bé của tình yêu mà linh hồn bỏ vào kho tàng của Thiên Chúa từng ngày, từng giờ, từng phút. Và đến một lúc nào đó, linh hồn sẽ ngạc nhiên khi thấy chính những đồng tiền nhỏ ấy đã làm nên một gia tài thiêng liêng lớn lao.
Đời sống của con, xét cho cùng, không được tạo nên chủ yếu bởi những biến cố phi thường. Phần lớn cuộc đời là những ngày bình thường. Con thức dậy, cầu nguyện, làm việc, ăn uống, gặp gỡ người khác, giải quyết những việc lặp đi lặp lại, chịu một vài khó chịu, nhận một vài niềm vui, đối diện với những bất tiện nhỏ, rồi ngày khép lại. Ngày mai lại gần như thế. Nếu con chờ một dịp đặc biệt để nên thánh, con có thể sẽ chờ cả đời. Nếu con chờ khi lòng mình thật sốt sắng mới cầu nguyện, con sẽ bỏ mất rất nhiều giờ cầu nguyện quý giá. Nếu con chờ gặp những người dễ thương mới sống bác ái, con chưa biết bác ái là gì. Nếu con chờ công việc mình thích mới làm với tình yêu, con vẫn đang phục vụ sở thích của mình hơn là phục vụ Chúa. Nếu con chờ một thập giá lớn mới học chịu đựng, con sẽ không đủ sức khi thập giá ấy đến. Con đường nên thánh nằm ngay trong ngày hôm nay, trong căn phòng con đang ở, trong công việc con đang làm, trong những con người Chúa đang đặt bên cạnh, trong những giới hạn mà con muốn thoát khỏi, trong những sự lặp lại khiến con chán, trong những trách nhiệm không có gì hấp dẫn, và trong những điều nhỏ bé con thường xem là không đáng kể. Nơi ấy, chính nơi ấy, Chúa đang chờ con.
Có một cám dỗ rất tinh tế thường xảy ra nơi những người muốn sống đời thiêng liêng: họ dễ yêu lý tưởng hơn thực tế. Họ yêu sự thánh thiện trong suy nghĩ, nhưng lại khó chịu với con đường cụ thể đưa đến sự thánh thiện. Họ thích nói về từ bỏ, nhưng lại khó bỏ một sở thích nhỏ. Họ thích nói về vâng phục, nhưng lại bực mình khi một chương trình bị thay đổi trái ý. Họ thích nói về đức ái, nhưng lại không chịu nổi một người anh em có tính khí không hợp với mình. Họ thích suy niệm về sự nghèo khó của Chúa Giêsu, nhưng lại than phiền khi thiếu một tiện nghi nhỏ. Họ say mê những tư tưởng cao về cầu nguyện, nhưng lại trì hoãn năm phút khi chuông báo giờ kinh. Họ muốn trở thành những người truyền giáo lớn, nhưng lại lơ là với người đang ngồi cạnh mình. Họ muốn cứu những linh hồn xa xôi, nhưng lại thiếu kiên nhẫn với một người gần gũi. Họ sẵn sàng tưởng tượng mình hy sinh mạng sống cho Chúa, nhưng không chịu nhường một ý kiến. Đó là một nghịch lý rất thật của đời sống thiêng liêng: nhiều khi chúng ta sẵn sàng trao cho Chúa một điều lớn chưa bao giờ được Ngài hỏi, trong khi lại từ chối Ngài một điều nhỏ mà Ngài đang hỏi ngay lúc này.
Hỡi linh hồn, hãy cẩn thận với sự tưởng tượng thiêng liêng ấy. Chúa không đòi con yêu Ngài trong một ngày nào đó chưa đến. Chúa muốn con yêu Ngài hôm nay. Chúa không đòi con hy sinh trong một hoàn cảnh không có thật. Ngài muốn con hy sinh trong hoàn cảnh đang có thật. Ngài không hỏi: “Nếu một ngày con bị bách hại, con có trung thành với Ta không?” trước hết. Ngài có thể đang hỏi: “Hôm nay con có trung thành với giờ cầu nguyện của con không? Con có giữ miệng khi bị xúc phạm không? Con có làm trọn việc bổn phận dù chẳng ai cảm ơn không? Con có đặt điện thoại xuống khi cần lắng nghe một người không? Con có đứng dậy ngay khi chuông reo không? Con có chấp nhận một sự sửa lỗi mà không biện hộ không? Con có giữ lòng bình an khi chương trình của con bị thay đổi không?” Chính những câu hỏi nhỏ ấy đang chuẩn bị câu trả lời cho những câu hỏi lớn hơn. Người trả lời “xin vâng” với Chúa một trăm lần trong những việc nhỏ mỗi ngày đang xây dựng nơi mình một thói quen vâng phục. Khi thử thách lớn đến, lời “xin vâng” ấy sẽ không hoàn toàn xa lạ. Nhưng người đã nói “không” với Chúa hàng ngàn lần trong những điều nhỏ vì chiều theo ý riêng thì đừng quá tin rằng mình sẽ dễ dàng nói “xin vâng” khi cái giá phải trả trở nên lớn.
Trong cuộc chiến chống lại đam mê cũng vậy. Đam mê hiếm khi trở nên mạnh mẽ chỉ trong một ngày. Nó được nuôi từng chút một. Một cơn nóng giận lớn thường được chuẩn bị bởi hàng trăm lần ta nuôi trong lòng sự khó chịu nhỏ. Một sự tự ái sâu thường được củng cố bởi nhiều năm thích được khen, thích được đúng, thích được nhìn nhận, thích bảo vệ hình ảnh của mình trong những tình huống nhỏ. Sự lười biếng thiêng liêng không bắt đầu bằng việc bỏ tất cả đời sống cầu nguyện; nó có thể bắt đầu bằng việc trì hoãn vài phút, rồi thêm vài phút, rồi cho phép mình bỏ một lần, rồi lần khác, và dần dần linh hồn mất sức. Sự bất khiết cũng thường không đột nhiên bùng lên thành một sa ngã nặng nếu trước đó các giác quan không được nuông chiều bằng những cái nhìn tò mò, những tưởng tượng không được cắt đứt, những hình ảnh vô ích được tìm kiếm, những thỏa hiệp nhỏ mà linh hồn tự nói rằng “chẳng sao đâu”. Sự tham lam không bắt đầu với những chuyện lớn, mà bằng những bám víu nhỏ. Sự ganh tị lớn lên từ những so sánh nhỏ. Sự kiêu ngạo được nuôi bằng những lần âm thầm muốn hơn người. Sự nguội lạnh với Chúa hình thành qua những lần ta đặt nhiều điều nhỏ khác lên trước Ngài. Vì thế, nếu con muốn chiến đấu tận gốc, đừng chỉ chờ những cơn cám dỗ lớn. Hãy canh giữ những cánh cửa nhỏ.
Một thành trì hiếm khi thất thủ chỉ vì kẻ thù phá được bức tường lớn ngay lập tức. Nhiều khi nó thất thủ vì một cánh cửa phụ không được canh, một người lính ngủ quên, một khe nứt nhỏ không được sửa chữa, một sự sơ suất tưởng như không đáng kể. Linh hồn cũng thế. Kẻ thù rất kiên nhẫn. Nó không cần con phạm ngay một điều thật lớn. Nó chỉ cần con quen với việc nhượng bộ. Nó chỉ cần con bắt đầu nói với mình: “Một lần này thôi.” Nó chỉ cần con thấy dễ dàng khi thỏa hiệp. Nó chỉ cần lương tâm con bớt nhạy một chút. Nó chỉ cần con bắt đầu cười với điều mà trước đây con từng cảnh giác. Nó chỉ cần con để sự trì hoãn trở thành bình thường. Nó chỉ cần con quen nói một lời thiếu bác ái mà không còn thấy đau. Nó chỉ cần con bắt đầu biện hộ cho ý riêng. Từ đó, công việc còn lại sẽ dễ hơn. Chính vì vậy, trung tín trong việc nhỏ không phải là một thứ đạo đức vụn vặt, không phải là việc chăm chăm vào tiểu tiết để trở nên căng thẳng hay cầu toàn. Không. Đó là nghệ thuật canh giữ trái tim. Đó là thái độ của người lính biết rằng chiến trường thật sự nằm ở những lựa chọn cụ thể mỗi ngày.
Nhưng ở đây chúng ta cần phân biệt rất rõ: trung tín trong việc nhỏ không có nghĩa là trở thành một linh hồn ám ảnh, soi xét mình từng ly từng tí, sợ hãi mọi lỗi rất nhỏ, mất bình an vì mỗi bất toàn, hoặc sống như thể Thiên Chúa là một viên giám thị đang cầm sổ ghi lỗi. Nếu hiểu như vậy, con sẽ biến đời sống thiêng liêng thành một nhà tù. Chúa không muốn con trung tín vì sợ hãi. Ngài muốn con trung tín vì yêu. Người đang yêu sẽ chú ý đến những điều nhỏ không phải vì bị ép buộc, nhưng vì tình yêu làm cho họ trở nên tinh tế. Một người con yêu mẹ sẽ không nói: “Chỉ là một lời làm mẹ buồn thôi, có gì đâu.” Một người thật sự yêu sẽ tự nhiên quan tâm đến những gì làm người mình yêu vui. Cũng thế, linh hồn yêu Chúa sẽ dần dần không còn hỏi: “Điều này có phải tội nặng không? Điều này có nghiêm trọng lắm không? Tôi có thể đi đến giới hạn nào mà vẫn chưa phạm tội?” Câu hỏi ấy cho thấy linh hồn còn đang đứng rất gần ranh giới. Tình yêu hỏi khác: “Điều gì làm đẹp lòng Chúa hơn? Tôi có thể dâng thêm cho Ngài điều gì? Trong chuyện nhỏ này, Chúa muốn tôi yêu thế nào?” Đó là sự khác biệt giữa một đời sống chỉ sợ luật và một đời sống được dẫn bởi tình yêu.
Hỡi linh hồn, những việc nhỏ trở nên lớn không phải vì bản thân chúng to lớn, nhưng vì tình yêu được đặt vào đó. Một ly nước tự nó là chuyện rất nhỏ. Nhưng Chúa Giêsu đã nói đến phần thưởng dành cho người cho kẻ bé mọn một chén nước vì danh Ngài. Một đồng tiền nhỏ của bà góa chẳng đáng là bao so với những khoản tiền lớn của người giàu, nhưng Chúa nhìn thấy tình yêu và sự tự hiến nơi đó. Năm chiếc bánh và hai con cá của một em bé chẳng đủ để nuôi đám đông theo tính toán của con người, nhưng khi được trao vào tay Chúa, nó trở thành khởi điểm của phép lạ. Một tiếng “xin vâng” của Đức Maria được thốt lên trong âm thầm tại một nơi nhỏ bé đã mở ra một lịch sử cứu độ vượt quá mọi tưởng tượng. Một đời sống ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nazareth kéo dài khoảng ba mươi năm, trong khi sứ vụ công khai chỉ chiếm một phần ngắn hơn rất nhiều. Con hãy suy nghĩ điều ấy. Con Thiên Chúa đã dành phần lớn đời sống trần thế của Ngài cho những ngày xem ra bình thường: sống trong một gia đình, lao động, vâng phục, lớn lên, chia sẻ nhịp sống của một làng nhỏ. Nếu Thiên Chúa coi những năm tháng âm thầm ấy là vô nghĩa, Ngài đã không sống chúng. Chính Nazareth là trường học của sự trung tín nhỏ bé.
Có lẽ con cần học lại Nazareth. Bởi vì chúng ta dễ yêu Giêrusalem của những biến cố lớn, yêu Canvê của hy sinh tận cùng, yêu những đám đông, những phép lạ, những giờ phút quyết định; nhưng Thiên Chúa lại mời con sống rất nhiều ngày Nazareth. Những ngày không ai biết. Những ngày không có thành tựu nổi bật. Những ngày làm cùng một công việc. Những ngày cầu nguyện không có cảm xúc. Những ngày phục vụ mà không ai nhắc đến. Những ngày sửa một lỗi rất nhỏ trong tính tình. Những ngày lặp lại cùng một quyết tâm. Những ngày mệt mỏi nhưng vẫn hoàn thành bổn phận. Những ngày tưởng chẳng có gì đáng kể để ghi vào nhật ký thiêng liêng. Chính những ngày ấy làm nên cuộc đời. Nếu con trung tín trong Nazareth, con sẽ được chuẩn bị cho Canvê. Nếu con không chịu được Nazareth, con sẽ không đủ chiều sâu để đứng dưới chân thập giá.
Trong đời sống cầu nguyện, trung tín trong việc nhỏ là điều hết sức quan trọng. Đừng nghĩ rằng chỉ những giờ cầu nguyện dài mới có giá trị. Có lúc Chúa sẽ ban cho con sự thinh lặng sâu, sự sốt sắng, những giờ cầu nguyện dài đầy an ủi. Hãy tạ ơn Ngài. Nhưng đời sống cầu nguyện vững chắc không được đo bằng những ngày đặc biệt ấy. Nó được đo bằng việc con có trở về với Chúa trong cả những ngày khô khan hay không. Có những buổi sáng con chỉ có thể dâng cho Chúa một lời rất đơn giản: “Lạy Chúa, con đây.” Hãy dâng. Có những lúc con bận rộn, chỉ có thể dừng lại vài giây giữa hai công việc để thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.” Hãy thưa. Có lúc con bước ngang nhà nguyện và chỉ có thể cúi đầu thật chậm. Hãy làm với tình yêu. Có lúc con mệt đến mức những lời kinh quen thuộc trở nên khô cứng. Hãy trung tín đọc chúng mà không cần ép mình tạo cảm xúc. Có lúc con ở trước Thánh Thể mà chẳng nghĩ được gì. Hãy ở lại. Sự hiện diện trung tín ấy đã là một lời cầu nguyện. Tình yêu không phải lúc nào cũng nói nhiều. Nhiều khi tình yêu chỉ ở lại.
Một lời nguyện tắt lặp lại nhiều lần trong ngày có thể làm thay đổi cả đời sống nội tâm. “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.” “Lạy Chúa, xin ở lại với con.” “Giêsu ơi, con tín thác nơi Chúa.” “Lạy Mẹ Maria, xin giữ gìn con.” “Lạy Chúa, con làm việc này vì yêu Chúa.” Những lời rất nhỏ ấy như những nhịp thở của linh hồn. Đừng coi thường chúng. Một giọt nước thì nhỏ, nhưng giọt này nối giọt kia có thể làm đầy bình. Một tia sáng thì nhỏ, nhưng nếu được đón nhận liên tục, căn phòng tối sẽ thay đổi. Một lời nguyện tắt thì ngắn, nhưng nếu cả ngày được nối bằng những lời như thế, đời sống của con sẽ dần dần trở thành một cuộc đối thoại với Chúa.
Trong đời sống cộng đoàn, trung tín trong việc nhỏ lại càng quan trọng. Nhiều người muốn yêu nhân loại, nhưng lại khó yêu người cụ thể. Yêu “mọi người” thì dễ vì “mọi người” là một khái niệm. Yêu người đang sống cùng ta, có giọng nói làm ta khó chịu, có thói quen không hợp ý ta, có khuyết điểm lặp đi lặp lại, mới là nơi đức ái bị thử thách. Con có thể giảng rất hay về tình huynh đệ, nhưng một cái cau mày cũng đủ để cho thấy lòng con đang ở đâu. Con có thể nói về hiệp nhất, nhưng cách con trả lời khi bị hỏi một việc không đúng lúc sẽ nói thật hơn. Con có thể trình bày về lòng thương xót, nhưng cách con phản ứng trước lỗi nhỏ của người khác mới cho biết con đã để lòng thương xót thấm vào mình đến đâu. Hỡi linh hồn, đừng chờ những cơ hội lớn để yêu. Hãy yêu bằng việc chào người khác trước. Hãy yêu bằng cách lắng nghe đến hết câu. Hãy yêu bằng việc không kể lại một câu chuyện khiến người vắng mặt bị tổn thương. Hãy yêu bằng cách trả đồ vật về đúng chỗ để người sau khỏi mất công tìm. Hãy yêu bằng một thái độ hòa nhã dù con đang mệt. Hãy yêu bằng cách không dùng sự im lặng như một hình thức trừng phạt. Hãy yêu bằng việc biết cảm ơn. Hãy yêu bằng cách xin lỗi nhanh chóng khi mình sai. Hãy yêu bằng cách không đòi người khác phải hiểu tâm trạng của mình mọi lúc. Hãy yêu bằng một cử chỉ rất nhỏ mà có lẽ không ai nhớ, nhưng Chúa nhớ.
Trong sứ vụ cũng vậy. Sứ vụ không chỉ được đo bằng số người nghe con, số chương trình con thực hiện, số bài giảng con viết, số nơi con đến, số việc con hoàn thành. Có một phần sứ vụ diễn ra hoàn toàn trong cách con làm những điều nhỏ. Cách con chuẩn bị một công việc khi không ai kiểm tra. Cách con tôn trọng giờ giấc của người khác. Cách con trả lời một tin nhắn cần thiết. Cách con giữ lời. Cách con đối xử với người nghèo, người ít học, người chẳng có địa vị gì. Cách con đón một người đến tìm con trong lúc không thuận tiện. Cách con nói với một cộng sự khi họ làm sai. Cách con cư xử sau khi vừa được khen. Cách con phản ứng khi công lao của mình bị người khác quên. Cách con chấp nhận để một việc tốt được người khác làm tốt hơn mình. Những điều ấy là phần vô hình của sứ vụ, nhưng lại là nơi Chúa thanh luyện người thừa sai khỏi việc tìm mình trong công việc của Chúa.
Con đừng sợ đời mình nhỏ bé. Hãy sợ đời mình thiếu tình yêu. Một công việc nhỏ làm vì Chúa có thể lớn hơn một công việc lớn làm vì chính mình. Một bài giảng được hàng ngàn người nghe nhưng làm với lòng tìm tiếng khen có thể nghèo nàn hơn một lần âm thầm an ủi một người đang đau khổ mà chẳng ai biết. Một sứ vụ lớn có thể trở thành nơi nuôi bản ngã; một việc quét dọn rất nhỏ có thể trở thành bàn thờ của tình yêu. Giá trị trước mặt Chúa không nằm trước hết ở kích thước của công việc, nhưng ở mức độ con trao chính mình trong công việc ấy.
Trong việc sử dụng thời gian, những lựa chọn nhỏ lại càng có sức định hình cuộc đời. Một người hiếm khi đánh mất cả đời chỉ trong một quyết định. Họ thường đánh mất nó từng mười phút, từng nửa giờ, từng giờ một. Một lần mở điện thoại không cần thiết xem ra chẳng đáng gì. Nhưng nếu lặp lại vài chục lần trong ngày, sự chú ý bị vỡ vụn. Một lần trì hoãn một việc nhỏ không đáng kể. Nhưng nếu trì hoãn trở thành thói quen, ý chí sẽ yếu đi. Một đêm thức khuya vô ích tưởng không sao. Nhưng nhiều đêm như thế làm thân xác mệt mỏi, giờ cầu nguyện sa sút, công việc chậm chạp, tâm trạng dễ cáu gắt. Đừng khinh thường cách con dùng những khoảng thời gian nhỏ. Đời người được làm bằng phút. Nên thánh cũng bằng phút. Lãng phí đời mình cũng bằng phút.
Không phải con phải biến từng phút thành hoạt động căng thẳng. Nghỉ ngơi đúng nghĩa cũng là bổn phận. Sự thư giãn lành mạnh cũng cần thiết. Một linh hồn khôn ngoan không sống như một chiếc máy. Nhưng có khác biệt giữa nghỉ ngơi và buông thả, giữa giải trí và nghiện phân tán, giữa sử dụng phương tiện và bị phương tiện sử dụng. Người chiến đấu nội tâm phải học nhận ra ranh giới ấy. Có những lúc chỉ cần một quyết định nhỏ: đặt điện thoại ra xa trong giờ cầu nguyện; không mở một ứng dụng chỉ vì chán; kết thúc việc lướt xem khi đã hết thời gian đã định; đi ngủ đúng lúc; bắt đầu công việc ngay thay vì tìm thêm một lý do trì hoãn. Những quyết định ấy chẳng có gì anh hùng trước mắt thế gian, nhưng chúng âm thầm trả lại cho linh hồn khả năng làm chủ mình.
Và hỡi linh hồn, con hãy nhớ rằng ý chí cũng giống như một cơ bắp. Nó được mạnh lên qua những lần sử dụng đúng đắn. Mỗi lần con nói “không” với một ham muốn nhỏ không cần thiết, con đang tập cho ý chí mạnh hơn. Mỗi lần con làm điều phải làm dù không thích, con đang huấn luyện tự do nội tâm. Mỗi lần con chọn im lặng thay vì phản ứng, con đang làm yếu đi sự nóng giận. Mỗi lần con đứng dậy ngay thay vì trì hoãn, con đang tấn công sự lười biếng. Mỗi lần con chấp nhận một bất tiện mà không than phiền, con đang làm giảm sự tìm tiện nghi. Mỗi lần con để người khác được ưu tiên, con đang đụng đến gốc rễ của tự ái. Không có chiến thắng nào hoàn toàn nhỏ nếu nó đụng vào đam mê gốc.
Có người nói: “Tôi yếu quá. Tôi không thể thay đổi.” Có lẽ đúng là con chưa thể thay đổi mọi thứ một lúc. Nhưng con có thể trung tín với một điều nhỏ hôm nay. Đừng bắt đầu bằng việc muốn trở thành một con người hoàn toàn khác chỉ trong một đêm. Hãy bắt đầu bằng một hành động. Nếu con hay nóng, hôm nay hãy thắng một phản ứng. Nếu con hay trì hoãn, hãy bắt đầu ngay một việc con đang muốn dời lại. Nếu con hay nói nhiều, hãy giữ lại một câu không cần thiết. Nếu con hay tò mò, hãy quay mắt đi một lần. Nếu con hay than phiền, hãy chấp nhận một khó chịu mà không kể ra. Nếu con hay tìm mình, hãy làm một việc tốt không cho ai biết. Nếu con hay quên Chúa trong ngày, hãy chọn một dấu hiệu nhỏ để nhớ đến Ngài. Một hành động nhỏ hôm nay, rồi ngày mai lại một hành động nhỏ. Đừng xem thường nhịp tiến ấy. Cây lớn lên rất chậm. Không ai nghe được tiếng cây lớn. Nhưng sau nhiều năm, thân cây đủ mạnh để chịu gió.
Ma quỷ muốn con hoặc là tham vọng quá mức hoặc là buông xuôi hoàn toàn. Nó thích thì thầm hai điều trái ngược. Khi con sốt sắng, nó nói: “Con phải thay đổi tất cả ngay. Con phải làm những điều lớn. Con phải trở thành thánh thật nhanh.” Khi con thất bại vì không đạt được những tiêu chuẩn phi thực tế ấy, nó đổi giọng: “Thấy chưa, con chẳng làm được gì. Thôi bỏ đi.” Cả hai tiếng nói đều dẫn đến cùng một mục tiêu: làm con rời khỏi con đường trung tín bình thường. Đường của Chúa khiêm nhường hơn. “Hôm nay, hãy trung tín.” Ngày mai lại trung tín. Nếu ngã, đứng dậy. Nếu mệt, đi chậm hơn nhưng đừng quay lưng. Nếu con không làm được mười việc, hãy làm một việc. Nếu con không cầu nguyện được một giờ, hãy trung tín với mười lăm phút đã định. Nếu lòng con khô cứng, hãy vẫn ở lại với Chúa. Thiên Chúa không khinh những khởi đầu nhỏ.
Hỡi linh hồn, đừng để lòng cầu toàn phá hỏng sự trung tín. Cầu toàn và thánh thiện không giống nhau. Người cầu toàn muốn không có khuyết điểm vì không chịu được hình ảnh mình bất toàn. Người nên thánh chấp nhận mình nghèo hèn, nhưng vẫn yêu Chúa và tiến bước. Người cầu toàn thất vọng khi mình làm chưa tốt. Người khiêm nhường sửa lại và tiếp tục. Người cầu toàn muốn thành công ngay. Người trung tín chấp nhận tiến từng bước. Người cầu toàn nhìn nhiều vào mình. Người trung tín nhìn về Chúa. Vì thế, nếu hôm nay con đã thất bại trong một điều nhỏ, đừng biến thất bại ấy thành cái cớ cho một thất bại lớn hơn. Đừng nói: “Tôi đã hỏng rồi, thôi cứ để vậy.” Không. Nếu con đã đến giờ cầu nguyện trễ mười phút, đừng bỏ luôn giờ cầu nguyện. Hãy vào cầu nguyện ngay. Nếu con đã nổi nóng một lần, đừng cho phép mình nóng cả ngày. Hãy xin lỗi và bắt đầu lại. Nếu con đã lãng phí nửa giờ, đừng lãng phí cả buổi vì tiếc nửa giờ ấy. Hãy trở về với bổn phận. Nếu con đã sa sút một tuần, đừng biến nó thành một tháng. Mỗi lần trở về đều có giá trị.
Sự trung tín trong việc nhỏ còn dạy linh hồn khiêm nhường. Một người chỉ thích làm việc lớn rất dễ nghĩ mình quan trọng. Nhưng người biết yêu Chúa trong những việc nhỏ dần dần khám phá rằng chẳng có gì là quá thấp đối với tình yêu. Quét nhà, dọn bàn, rửa chén, sửa một lỗi đánh máy, chuẩn bị một căn phòng, gọi hỏi thăm một người đau yếu, trả lời một người cần giúp, sắp xếp một vật dụng, giữ yên lặng nơi cần yên lặng, chờ một người đến trễ mà không khó chịu, nhường một chỗ tốt cho người khác – tất cả đều có thể trở thành nơi gặp Chúa. Khi ấy, đời sống không còn bị chia thành “việc thiêng liêng” và “việc tầm thường” một cách cứng nhắc. Nếu làm vì Chúa, việc nhỏ trở thành thiêng liêng. Nếu làm vì mình, ngay cả việc thiêng liêng cũng có thể bị pha trộn bởi tự ái.
Thánh thiện không làm cho một người thoát khỏi đời thường; thánh thiện làm cho đời thường được biến đổi. Người nên thánh không nhất thiết sống nhiều biến cố hơn người khác. Họ sống những điều bình thường bằng một trái tim khác. Họ thức dậy như mọi người, nhưng họ dâng ngày cho Chúa. Họ làm việc như mọi người, nhưng họ làm với ý hướng yêu mến. Họ bị làm phiền như mọi người, nhưng họ biến sự khó chịu thành hy sinh. Họ mệt như mọi người, nhưng họ không dùng mệt mỏi làm giấy phép cho ích kỷ. Họ cũng có những cảm xúc tự ái, nhưng không để chúng điều khiển. Họ cũng bị cám dỗ, nhưng biết quay về với Chúa. Họ cũng có những ngày khô khan, nhưng vẫn trung tín. Chính sự khác biệt rất nhỏ nhưng liên tục ấy tạo nên sự khác biệt lớn của cả cuộc đời.
Đừng khinh một ý hướng tốt. Trước một công việc, con có thể dừng lại chỉ vài giây và nói: “Lạy Chúa, con làm việc này vì Chúa.” Câu ấy có thể thay đổi nội dung thiêng liêng của cả công việc. Một việc con vốn không thích, nếu được dâng vì yêu Chúa, sẽ không còn chỉ là gánh nặng. Một cuộc gặp khiến con mệt, nếu được dâng để phục vụ Chúa nơi người ấy, sẽ mang một chiều sâu khác. Một bổn phận lặp đi lặp lại, nếu được đặt vào tay Chúa, trở thành hạt chuỗi tình yêu. Đừng nghĩ ý hướng là điều trừu tượng. Ý hướng giống như ngọn lửa đặt dưới của lễ. Cùng một hành động, nhưng làm vì được khen và làm vì yêu Chúa là hai thực tại rất khác.
Sáng thức dậy, con hãy dâng ngày. Trước bữa ăn, hãy tạ ơn. Trước khi bắt đầu công việc, hãy hướng lòng lên Chúa. Khi gặp khó chịu, hãy dâng. Khi được thành công, hãy trả vinh quang về cho Chúa. Khi thất bại, hãy phó thác. Khi gặp người khó tính, hãy nhớ Chúa đang cho con một cơ hội luyện đức ái. Khi mệt, hãy nói: “Lạy Chúa, xin nhận sự mệt mỏi này.” Khi đi ngủ, hãy tạ ơn và xin tha thứ. Những hành vi nhỏ ấy nối cả ngày của con lại với Chúa. Dần dần đời sống không còn chỉ có những giờ cầu nguyện, nhưng chính đời sống trở nên cầu nguyện.
Trong việc nói năng, trung tín trong việc nhỏ đặc biệt quan trọng. Một lời nói chỉ mất vài giây, nhưng có thể để lại vết thương nhiều năm. Một câu đùa không đúng chỗ, một lời mỉa mai, một nhận xét về người vắng mặt, một câu trả lời sắc lạnh, một lần khoe mình tinh tế, một lần chen lời, một lần nói thêm điều không cần thiết – tất cả dường như rất nhỏ. Nhưng lời nói là cửa sổ của lòng. Nếu con muốn chiến đấu với tự ái, hãy canh giữ miệng. Nếu con muốn tập đức ái, hãy canh giữ cách nói. Nếu con muốn có bình an, hãy giảm những lời vô ích. Nếu con muốn thắng nóng giận, hãy học trì hoãn câu trả lời. Nhiều cuộc chiến được thắng chỉ bằng việc im lặng trong mười giây.
Có những lúc con không cần chiến thắng cả cơn giận ngay. Con chỉ cần không nói câu đang muốn nói. Cảm xúc có thể vẫn còn, tim có thể vẫn đập nhanh, ý nghĩ có thể vẫn hỗn loạn, nhưng nếu con giữ được miệng, con đã đóng một cánh cửa nguy hiểm. Sau đó con có thể cầu nguyện, bình tĩnh lại, nhìn sự việc khác đi. Một chiến thắng nhỏ như thế có thể cứu cả một tương quan. Hỡi linh hồn, hãy tập những “khoảng dừng thánh thiện”: trước khi trả lời, trước khi gửi một tin nhắn, trước khi phán xét, trước khi kể lại một chuyện, trước khi phản ứng khi bị tổn thương. Chỉ vài giây thôi. Nhưng chính vài giây ấy có thể là nơi ân sủng đi vào.
Trong việc xét đoán người khác cũng vậy. Một tư tưởng xét đoán xuất hiện rất nhanh. Con nhìn thấy một hành động và lập tức gán động cơ. Con nghe một câu và lập tức kết luận. Con thấy một thiếu sót và tưởng mình biết toàn bộ con người. Hãy trung tín trong khoảnh khắc nhỏ ấy. Dừng lại. Nói với mình: “Tôi không biết hết.” Rồi quay về xét mình. Một lần làm như vậy dường như chẳng thay đổi gì. Nhưng nếu thực hành hàng trăm lần, trái tim con sẽ mềm đi. Con sẽ bớt khắt khe. Con sẽ dễ thương xót hơn. Con sẽ nhìn con người bằng đôi mắt gần với Chúa hơn.
Trong việc chấp nhận những trái ý nhỏ, linh hồn cũng được huấn luyện cách mạnh mẽ. Một món ăn không hợp khẩu vị. Một căn phòng nóng hơn con muốn. Một tiếng động làm con khó chịu. Một kế hoạch bị thay đổi. Một người đến muộn. Một thiết bị trục trặc. Một hàng người phải chờ. Một công việc phát sinh. Một lời yêu cầu đến đúng lúc con muốn nghỉ. Một ý kiến của con không được chọn. Những chuyện ấy làm nên phần lớn những khó chịu của ngày sống. Nếu mỗi chuyện nhỏ đều lấy đi bình an của con, làm sao con đứng vững khi đau khổ thật sự đến? Hãy xem những trái ý nhỏ như những viên đá tập nâng. Chúng không nặng đến mức nghiền nát con, nhưng đủ để rèn sức.
Có thể con sẽ thấy điều này hơi khó nghe, nhưng rất cần thiết: nhiều linh hồn xin Chúa cho mình thánh thiện, rồi lại bực bội với chính những phương tiện Chúa dùng để làm họ nên thánh. Họ xin kiên nhẫn, rồi than phiền về người đang giúp họ luyện kiên nhẫn. Họ xin khiêm nhường, rồi đau khổ vì không được ghi nhận. Họ xin từ bỏ ý riêng, rồi nổi giận khi kế hoạch bị thay đổi. Họ xin yêu mến thập giá, rồi tìm mọi cách né những khó chịu nhỏ. Họ xin được giống Chúa Giêsu, nhưng lại không chịu những điều rất nhỏ đã có trong đời Chúa Giêsu: bị hiểu lầm, bị làm phiền, phải chờ đợi, phải phục vụ, phải vâng phục, phải sống ẩn mình. Hỡi linh hồn, hãy nhận ra bàn tay Chúa trong những điều rất nhỏ ấy. Không phải mọi bất tiện đều do Chúa trực tiếp gửi đến, nhưng mọi sự đều có thể trở thành chất liệu cho ân sủng nếu con biết đón nhận.
Sự trung tín nhỏ bé còn bảo vệ linh hồn khỏi ảo tưởng về mình. Nếu con chỉ xét mình qua những điều lớn, con có thể dễ nghĩ rằng mình khá tốt: “Tôi không phạm điều nghiêm trọng này. Tôi không làm điều xấu kia. Tôi vẫn cầu nguyện, vẫn làm việc, vẫn sống ơn gọi.” Nhưng khi nhìn vào những điều nhỏ, con sẽ thấy rõ hơn tình trạng của trái tim: tôi phản ứng thế nào khi không được theo ý? Tôi có dễ nổi nóng không? Tôi có thích được khen không? Tôi có hay trì hoãn không? Tôi có âm thầm so sánh không? Tôi có hay nói về người khác không? Tôi có dễ bị điện thoại chi phối không? Tôi có giữ lời không? Tôi có làm những điều chẳng ai thấy với cùng một lòng tận tụy như những điều có người nhìn không? Những câu hỏi ấy chạm vào phần thật của đời sống.
Hãy nhớ rằng Thiên Chúa nhìn cả những gì kín đáo. Điều ấy không phải để làm con sợ, nhưng để an ủi con. Bởi vì có rất nhiều điều tốt con làm mà chẳng ai biết. Có những lần con muốn khóc nhưng vẫn mỉm cười để người khác không phải mang gánh nặng của con. Có những lời con đã không nói. Có những hy sinh con không kể. Có những lần con giúp mà không nhận cảm ơn. Có những giờ cầu nguyện khô khan mà con vẫn trung tín. Có những cám dỗ con đã chiến đấu dữ dội nhưng người khác chỉ thấy con bình thường. Có những ngày con phải cố gắng rất nhiều chỉ để hoàn thành điều mà người khác làm dễ dàng. Chúa biết. Đừng cần mọi người biết. Có một sự tự do rất lớn khi linh hồn học sống dưới ánh mắt Chúa thay vì dưới ánh mắt người đời.
Khi không ai biết, tình yêu có cơ hội trở nên tinh tuyền hơn. Làm việc tốt mà bị hiểu lầm vẫn tiếp tục làm. Phục vụ mà không được cảm ơn vẫn phục vụ. Cầu nguyện mà không có an ủi vẫn cầu nguyện. Hy sinh mà chẳng ai ghi nhận vẫn hy sinh. Hỡi linh hồn, đó là những lúc vàng của đời sống thiêng liêng. Đừng bỏ mất chúng chỉ vì không có cảm giác đẹp. Chính trong những lúc ấy, con có thể nói với Chúa: “Lạy Chúa, không ai biết cũng được. Chỉ cần Chúa biết.” Câu ấy có thể giải thoát con khỏi biết bao khát vọng được nhìn nhận.
Có khi con sẽ hỏi: làm sao để sống trung tín trong việc nhỏ mà không bị quá tải bởi hàng trăm điều? Câu trả lời là: đừng cố sửa tất cả cùng lúc. Hãy sống tỉnh thức nhưng đơn sơ. Mỗi ngày có thể chọn một hoặc hai điểm cụ thể. Hôm nay tôi chú ý đến lời nói. Ngày mai tôi chú ý đến sự đúng giờ. Tuần này tôi chiến đấu với việc cầm điện thoại vô thức. Một thời gian tôi tập không than phiền. Một thời gian tôi tập lời nguyện tắt. Một thời gian tôi tập dậy ngay khi chuông reo. Chọn ít thôi, nhưng làm thật. Đừng viết một danh sách hai mươi quyết tâm rồi sau ba ngày bỏ hết. Đời sống thiêng liêng không cần những cuộc cách mạng liên tục. Nó cần sự kiên trì.
Mỗi tối, khi xét mình, con cũng có thể nhìn lại những điều nhỏ. Không phải để tra tấn mình, nhưng để nhận diện nơi ân sủng đã hoạt động và nơi mình cần bắt đầu lại. “Hôm nay tôi đã giữ được bình tĩnh trong một chuyện mà trước đây tôi thường nổi nóng. Tạ ơn Chúa.” “Hôm nay tôi đã lãng phí nhiều thời gian. Lạy Chúa, xin tha thứ. Ngày mai con bắt đầu lại.” “Hôm nay tôi đã nói một câu làm người khác buồn. Con sẽ xin lỗi.” “Hôm nay tôi đã nhớ đến Chúa vài lần giữa công việc. Xin giúp con làm nhiều hơn.” Xét mình như thế sẽ rất sống động. Con nhìn cả thất bại lẫn ân sủng. Con không chỉ thấy mình tệ, cũng không tự tâng bốc. Con nhìn sự thật dưới ánh sáng lòng thương xót.
Đừng quên tạ ơn khi con trung tín. Khi thắng được một việc nhỏ, đừng kiêu ngạo nghĩ: “Tôi giỏi rồi.” Hãy nói: “Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã cho con ơn này.” Bởi vì chính Chúa đang hoạt động trong con. Một lần con giữ được bình tĩnh là ơn. Một lần con cầu nguyện trung tín là ơn. Một lần con chiến thắng cám dỗ là ơn. Ý chí con có cộng tác, nhưng ân sủng Chúa luôn đi trước, nâng đỡ và hoàn tất. Lòng biết ơn giữ cho chiến thắng không trở thành thức ăn cho kiêu ngạo.
Rồi sẽ có ngày con nhìn lại và thấy những việc nhỏ đã làm nên một điều lớn. Một người nóng nảy sau nhiều năm tập dừng lại đã trở nên hiền hòa. Một người lười biếng sau nhiều năm tập bắt đầu đúng giờ đã trở nên đáng tin cậy. Một người hay xét đoán sau nhiều năm quay về xét mình đã trở nên cảm thông. Một linh hồn phân tán sau nhiều năm trung tín với những lời nguyện tắt đã sống gần Chúa hơn rất nhiều. Một người hay tìm mình sau nhiều năm làm việc âm thầm đã trở nên tự do trước lời khen chê. Không có ngày nào là ngày họ bỗng nhiên biến đổi hoàn toàn. Sự thay đổi đến âm thầm, giống như bình minh. Lúc đầu chỉ một đường sáng rất nhỏ nơi chân trời, rồi chậm rãi cả bầu trời đổi màu.
Hỡi linh hồn, đó là hy vọng dành cho con. Con không cần phải trở thành thánh trong hôm nay. Nhưng hôm nay con có thể làm một hành động của một vị thánh: một hành động yêu mến. Ngày mai lại một hành động. Và cứ thế, ân sủng sẽ dạy con. Đừng coi thường sự lặp lại. Người chơi nhạc trở nên giỏi vì lặp lại. Người lính thành thạo vì lặp lại. Người cầu nguyện cũng được đào luyện nhờ lặp lại những hành vi trung tín. Lần đầu rất khó. Lần thứ mười vẫn khó. Nhưng đến một lúc, điều từng đòi nhiều nỗ lực bắt đầu trở thành khuynh hướng mới. Nhân đức được hình thành như thế.
Nhưng con cũng đừng biến nhân đức thành một kỹ thuật thuần túy. Mục tiêu không phải là trở thành người có kỷ luật để tự hào về mình. Mục tiêu là trở nên tự do để yêu. Ta tập đúng giờ để có thể phục vụ tốt hơn. Ta tập im lặng để khỏi làm tổn thương người khác. Ta tiết độ với phương tiện để tâm trí còn chỗ cho Chúa và con người. Ta chiến đấu với tự ái để không biến mọi tương quan thành cuộc tìm kiếm chính mình. Ta tập chịu đựng khó chịu để có thể yêu cả khi không thoải mái. Tất cả đều quy về tình yêu.
Và trung tâm của tình yêu ấy là Chúa Giêsu. Con hãy nhìn Ngài. Cuộc đời của Ngài không chỉ thánh vì Thập Giá. Từng bước chân Ngài đã thánh. Từng lời nói. Từng lần lắng nghe. Từng bữa ăn. Từng ngày ở Nazareth. Từng người bệnh được Ngài chạm đến. Từng đứa trẻ Ngài để đến gần. Từng lần Ngài rút lui cầu nguyện. Từng lúc Ngài mệt nhưng vẫn thương dân chúng. Từng lần Ngài chịu đựng sự chậm hiểu của các môn đệ. Từng bước Ngài tiến về Giêrusalem. Ngài không có một khoảnh khắc nào sống ngoài tình yêu của Chúa Cha. Đó là hình ảnh đẹp nhất của sự trung tín: không phải chỉ làm một việc lớn cuối cùng, nhưng cả đời là một tiếng “xin vâng”.
Nếu con muốn giống Chúa Giêsu, hãy xin Ngài dạy con thánh hóa điều nhỏ. Khi con làm một việc bình thường, hãy nhớ rằng Ngài cũng đã sống đời bình thường. Khi con lao động, hãy nhớ Nazareth. Khi con mệt, hãy nhớ Ngài ngồi bên bờ giếng. Khi con bị người khác làm phiền, hãy nhớ đám đông không để Ngài nghỉ. Khi con bị hiểu lầm, hãy nhớ Ngài. Khi con phải vâng phục, hãy nhớ ba mươi năm sống dưới mái nhà Nazareth. Khi con phải làm điều không ai biết, hãy nhớ phần lớn đời Ngài đã trôi qua trong ẩn dật. Chỉ cần ký ức về Chúa Giêsu bước vào những việc nhỏ, chúng sẽ trở thành một cuộc gặp gỡ.
Đức Maria cũng là mẫu gương tuyệt vời của sự trung tín nhỏ bé. Tin Mừng không kể cho chúng ta hàng ngàn việc Mẹ đã làm mỗi ngày, nhưng chính sự im lặng ấy rất có ý nghĩa. Mẹ đã sống rất nhiều ngày bình thường. Mẹ nấu ăn, chăm sóc gia đình, đi lấy nước, làm những bổn phận của một người phụ nữ Do Thái, đồng hành với Chúa Giêsu trong những năm ẩn dật. Không ai trên thế giới lúc ấy biết rằng trong một mái nhà nhỏ ở Nazareth đang sống những con người thánh thiện nhất lịch sử. Thiên Chúa không cần sân khấu để làm những công trình lớn nhất. Vì thế, con cũng đừng nghĩ mình phải được thấy, được nhắc đến, được có một vị trí quan trọng thì đời con mới có ý nghĩa.
Giá trị của đời con nằm trong việc nó thuộc về Chúa. Một đời ẩn dật nhưng thuộc trọn về Chúa có thể sinh nhiều hoa trái hơn một đời nổi tiếng mà lòng bị chia đôi. Một lời cầu nguyện trong đêm của một linh hồn vô danh có thể nâng đỡ một nhà truyền giáo ở nơi xa. Một hy sinh nhỏ được dâng với tình yêu có thể được Chúa dùng cho một người con không bao giờ gặp. Trong mầu nhiệm hiệp thông của Hội Thánh, không có tình yêu nào bị mất. Không một hy sinh chân thành nào rơi vào hư vô.
Vì thế, hỡi linh hồn, đừng hỏi quá nhiều: “Tôi đã làm được điều gì lớn?” Hãy hỏi: “Hôm nay tôi đã yêu thế nào?” Đừng hỏi: “Có ai nhìn thấy sự cố gắng của tôi không?” Hãy hỏi: “Chúa có vui vì cách tôi làm điều này không?” Đừng hỏi: “Tôi có cảm thấy mình đang tiến bộ không?” Hãy hỏi: “Tôi có đang trung tín với điều Chúa đặt trước mặt không?” Cảm giác tiến bộ có thể đến rồi đi. Nhưng sự trung tín tạo ra tiến bộ thật, ngay cả khi con không thấy.
Đôi khi Chúa để con không nhìn thấy hoa trái chính vì muốn bảo vệ sự khiêm nhường của con. Con gieo mà không thấy mọc. Con chiến đấu mà vẫn thấy mình yếu. Con cầu nguyện mà vẫn khô khan. Con sửa một tính xấu mà nó cứ quay lại. Đừng nản. Một người đào giếng phải đào rất lâu trước khi gặp nước. Nếu bỏ cuộc chỉ một mét trước mạch nước, tất cả công sức trước đó xem như vô ích. Trong đời sống thiêng liêng, nhiều linh hồn đã bỏ cuộc quá sớm. Họ không biết rằng chính sự kiên trì thêm một chút có thể mở ra một chặng mới.
Hỡi linh hồn, nếu hôm nay con vẫn còn phải chiến đấu với cùng một tính xấu đã chiến đấu nhiều năm, đừng kết luận rằng mọi sự vô ích. Có thể trước đây con ngã mười lần một ngày, bây giờ chỉ còn năm. Có thể trước đây con mất bình an ba ngày, bây giờ chỉ còn ba giờ. Có thể trước đây con không xin lỗi, bây giờ con đã biết xin lỗi. Có thể trước đây con không nhận ra lỗi, bây giờ con nhận ra ngay sau đó. Đó đã là ân sủng. Đừng đòi mọi sự hoàn hảo để mới biết tạ ơn.
Sự trung tín nhỏ bé không tạo ra tiếng động, nhưng nó tạo ra chiều sâu. Cây có rễ sâu không lớn rễ bằng tiếng động. Mỗi ngày rễ đi thêm một chút vào lòng đất. Đến khi gió lớn đến, người ta mới thấy sự khác biệt giữa cây có rễ và cây không có rễ. Cũng vậy, những năm trung tín âm thầm là thời gian linh hồn mọc rễ trong Chúa. Khi thử thách đến, người ta có thể ngạc nhiên vì thấy con đứng vững. Nhưng Chúa biết đó không phải là phép màu của một ngày. Đó là hoa trái của vô số lần con đã âm thầm nói “xin vâng” trước đó.
Hãy trung tín với những giờ đã dành cho Chúa. Hãy trung tín với bổn phận. Hãy trung tín với lời đã nói. Hãy trung tín với những quyết tâm nhỏ. Hãy trung tín trong cách sử dụng thời gian. Hãy trung tín khi không ai nhìn. Hãy trung tín khi không có cảm xúc. Hãy trung tín khi việc làm chẳng đem lại vinh dự. Hãy trung tín khi con mệt. Hãy trung tín ngay cả khi ngày hôm qua con đã thất bại. Không cần những lời hứa quá lớn. Hãy để mỗi ngày tự nói bằng hành động.
Và nếu con hỏi: “Tôi phải bắt đầu từ đâu?” Thì hãy nhìn ngay vào ngày sống của con. Điều gì con biết rõ mình đang dễ buông lỏng nhất? Giờ cầu nguyện? Giờ giấc? Điện thoại? Lời nói? Sự nóng giận? Việc trì hoãn? Tính hay than phiền? Sự thiếu trật tự? Một bổn phận đã kéo dài? Hãy chọn một điều. Đừng tìm điều xa. Trận chiến của con thường đang nằm ngay ở nơi con biết rõ nhưng hay né tránh. Hãy đặt nó trước Chúa. Xin một ơn cụ thể. Rồi bắt đầu bằng một hành động cụ thể.
Nếu là cầu nguyện, hãy định một giờ và giữ. Nếu là điện thoại, hãy đặt một giới hạn rõ ràng. Nếu là nóng giận, hãy quyết định không trả lời ngay khi lòng đang bốc lên. Nếu là trì hoãn, dùng nguyên tắc đơn giản: việc phải làm thì bắt đầu trong năm phút. Nếu là nói xấu, hãy quyết định khi câu chuyện về người vắng mặt bắt đầu, con sẽ im lặng hoặc chuyển hướng. Nếu là tự ái, hãy làm một việc tốt không kể cho ai. Nếu là thiếu bác ái, hãy chủ động làm một cử chỉ tử tế với chính người làm con khó chịu. Đừng chỉ cầu xin thay đổi chung chung. Hãy cộng tác với ân sủng bằng những bước nhỏ cụ thể.
Nhưng luôn nhớ: không có kỹ thuật nào thay thế cầu nguyện. Cuộc chiến linh hồn không phải dự án cải thiện bản thân. Nó là cuộc để Chúa biến đổi mình. Vì thế, trước mỗi chiến đấu, hãy nói: “Lạy Chúa, một mình con không làm được. Xin Chúa làm trong con.” Sau mỗi chiến thắng, hãy nói: “Tạ ơn Chúa.” Sau mỗi thất bại, hãy nói: “Xin thương xót con, và cho con bắt đầu lại.” Nếu giữ được ba lời ấy – xin ơn, tạ ơn, xin thương xót – con sẽ đi rất xa.
Có lẽ cuối cùng con sẽ hiểu rằng sự thánh thiện không phải là một khoảnh khắc huy hoàng, nhưng là một đời được kết thành bởi hàng triệu sợi chỉ rất nhỏ. Mỗi việc nhỏ trung tín là một sợi chỉ. Mỗi lần tự thắng mình là một sợi chỉ. Mỗi lời cầu nguyện âm thầm là một sợi chỉ. Mỗi hy sinh không ai biết là một sợi chỉ. Mỗi lần tha thứ là một sợi chỉ. Mỗi lần đứng dậy là một sợi chỉ. Chúa là Đấng dệt tất cả những sợi chỉ ấy thành tấm áo mà hôm nay con chưa nhìn thấy.
Hỡi linh hồn, đừng khinh những ngày bình thường. Đừng khinh những bổn phận nhỏ. Đừng khinh những cơ hội tự thắng mình chỉ kéo dài vài giây. Đừng khinh một lời nguyện tắt. Đừng khinh một lần im lặng. Đừng khinh một cử chỉ tử tế. Đừng khinh một lần bắt đầu lại. Đừng khinh một giọt nước vì biển cả cũng được làm từ giọt. Đừng khinh một hạt giống vì cây lớn từng nằm trong một hạt rất nhỏ. Đừng khinh một bước chân vì con đường dài nào cũng được đi bằng từng bước.
Ngày con đứng trước mặt Chúa, có thể con sẽ ngạc nhiên vì nhiều điều con từng cho là quan trọng lại trở nên rất nhỏ, và nhiều điều con từng xem là chẳng đáng kể lại sáng lên trước mắt Ngài. Một lần con nhẫn nhịn. Một lần con không trả đũa. Một lần con chăm sóc người bệnh dù mệt. Một lần con cầu nguyện trong khô khan. Một lần con làm việc tận tâm mà không được công nhận. Một lần con chọn sự thật thay vì bảo vệ mình. Một lần con trở về sau sa ngã. Một lần con đặt Chúa lên trên một sở thích. Những điều ấy, Thiên Chúa không quên.
Vậy hỡi linh hồn đang muốn trung thành cho đến hơi thở cuối cùng, đừng chờ một ngày hoàn hảo để sống đẹp lòng Chúa. Ngày ấy có thể không bao giờ đến. Hãy sống đẹp lòng Ngài trong ngày hôm nay với tất cả sự bất toàn của nó. Đừng chờ con trở nên mạnh rồi mới chiến đấu. Chính việc chiến đấu sẽ làm con mạnh. Đừng chờ hết cám dỗ mới trung tín. Trung tín giữa cám dỗ mới là trung tín thật. Đừng chờ cảm thấy yêu Chúa nhiều mới làm vì Ngài. Hãy làm vì Ngài, rồi tình yêu sẽ lớn lên.
Hãy thức dậy và làm điều nhỏ đầu tiên cho tốt. Hãy cầu nguyện lời kinh trước mặt con. Hãy làm bổn phận đang chờ con. Hãy trả lời người đang cần con bằng lòng tử tế. Hãy sửa vật đang lệch. Hãy xin lỗi nếu cần. Hãy đặt điện thoại xuống khi cần. Hãy nhường điều con có thể nhường. Hãy im lặng điều không cần nói. Hãy dâng sự mệt mỏi. Hãy bắt đầu công việc bị trì hoãn. Hãy trung tín ngay ở đây.
Không cần phải làm tất cả hôm nay. Chỉ cần đừng phản bội ánh sáng Chúa đang ban cho con hôm nay.
Và rồi ngày mai, nếu Chúa còn cho con thức dậy, lại bắt đầu.
Ngày này qua ngày khác. Việc nhỏ này qua việc nhỏ khác. Lần đứng dậy này qua lần đứng dậy khác. Cho đến khi chính con cũng không biết từ lúc nào trái tim mình đã đổi khác; ý chí đã vững hơn; lòng đã hiền hơn; sự tự ái đã bớt thống trị; đời cầu nguyện đã sâu hơn; bình an đã lớn lên; cái nhìn đã dịu lại; và Chúa đã trở thành trung tâm thật của cuộc đời.
Đó là con đường không ồn ào. Không rực rỡ theo mắt người đời. Không luôn cho cảm giác mình đang làm chuyện lớn. Nhưng đó là một con đường vững chắc. Một con đường khiêm nhường. Một con đường rất an toàn. Con đường của những người không tìm trở thành vĩ đại trước mặt thế gian, nhưng chỉ muốn được Chúa thấy là trung tín.
Và cuối cùng, khi mọi cuộc chiến đã xong, khi chẳng còn giờ nào để bắt đầu lại, khi đôi tay con không còn làm được những việc nhỏ nữa, khi tiếng Chúa gọi con bước qua ngưỡng cửa cuối cùng, con sẽ hiểu rằng cả cuộc đời mình đã được chuẩn bị cho giây phút ấy bằng những lần trung tín rất nhỏ. Và ước gì lúc đó con nghe được tiếng Chúa nói với con, không phải vì con đã làm những điều khiến thế giới kinh ngạc, nhưng vì con đã yêu Ngài trong những gì Ngài trao mỗi ngày:
“Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành, được giao ít mà con đã trung thành, Ta sẽ giao nhiều cho con. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ con.”
Lạy Chúa Giêsu, xin cứu con khỏi ảo tưởng chỉ muốn yêu Chúa bằng những việc lớn mà lại quên Chúa trong những điều nhỏ bé của mỗi ngày. Xin cho con một trái tim tinh tế để nhận ra rằng mỗi bổn phận nhỏ, mỗi hy sinh âm thầm, mỗi lần thắng một phản ứng tự ái, mỗi lần giữ miệng, mỗi lần kiên nhẫn, mỗi lần bắt đầu lại, đều có thể trở thành một lời yêu mến dâng lên Chúa. Xin đừng để con coi thường những cơ hội nhỏ Chúa gửi đến. Xin dạy con biết làm việc nhỏ với tình yêu lớn, chịu điều nhỏ với lòng quảng đại, cầu nguyện bằng những lời nhỏ với niềm tín thác lớn, và trung tín từng ngày mà không đòi nhìn thấy kết quả ngay. Khi con thất bại, xin cho con khiêm nhường đứng dậy. Khi con làm được điều tốt, xin cho con biết tạ ơn. Khi không ai thấy, xin cho con vui vì Chúa thấy. Khi không ai khen, xin cho con đủ bình an vì Chúa biết. Khi con mệt mỏi vì con đường dài, xin nhắc con rằng Chúa chỉ đang xin con bước bước kế tiếp. Lạy Chúa, xin làm cho cả đời con trở thành một chuỗi những tiếng “xin vâng” nhỏ bé nối tiếp nhau, cho đến tiếng “xin vâng” cuối cùng trong giờ chết. Xin cho sự trung tín nhỏ bé của con, nhờ ân sủng Chúa, trở thành lời ca tụng tình yêu Chúa, trở thành khí cụ cứu độ cho các linh hồn, và trở thành con đường vững chắc đưa con về với Chúa muôn đời. Amen.
CHƯƠNG 43
SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang muốn trung tín trong những việc nhỏ mỗi ngày, sau khi đã học rằng sự thánh thiện không được xây dựng trước hết bằng những việc phi thường, nhưng bằng lòng trung thành âm thầm trong những bổn phận rất nhỏ, chúng ta cần đi sâu hơn vào một thái độ tưởng như đơn sơ nhưng lại quyết định rất nhiều đến sự bình an, sức mạnh và sự bền đỗ của con trên đường chiến đấu: sống trọn vẹn giây phút hiện tại. Có thể con đã nhiều lần nghe người ta nói rằng phải sống hiện tại, phải biết quý hôm nay, phải đừng quá bận tâm đến ngày mai; nhưng trong cuộc chiến linh hồn, sống giây phút hiện tại không chỉ là một lời khuyên tâm lý để con bớt căng thẳng, cũng không phải là một nghệ thuật sống giúp con cảm thấy dễ chịu hơn. Đối với linh hồn muốn thuộc trọn về Thiên Chúa, giây phút hiện tại là nơi thánh ý Chúa đang chạm đến mình, là nơi ân sủng đang được ban xuống, là nơi tình yêu có thể trở thành một hành vi cụ thể, là nơi cuộc chiến thật sự diễn ra, và vì thế cũng là nơi con có thể nên thánh. Không có sự thánh thiện nào được xây dựng ngoài hiện tại. Không có một chiến thắng thiêng liêng nào diễn ra trong ngày hôm qua, bởi ngày hôm qua đã đi qua. Cũng không có một hành vi yêu mến thật sự nào được thực hiện trong ngày mai, bởi ngày mai chưa thuộc về con. Con chỉ có thể yêu Chúa bây giờ. Con chỉ có thể từ bỏ ý riêng bây giờ. Con chỉ có thể nhẫn nhịn người anh em đang làm con khó chịu bây giờ. Con chỉ có thể chống lại cơn nóng giận đang nổi lên bây giờ. Con chỉ có thể đứng dậy khỏi sự lười biếng bây giờ. Con chỉ có thể khước từ một tư tưởng xấu bây giờ. Con chỉ có thể dâng lên Chúa một lời nguyện tắt bây giờ. Con chỉ có thể làm việc bổn phận trước mắt bây giờ. Và chính vì chúng ta thường không hiểu sự thật rất đơn sơ ấy nên chúng ta tự làm cuộc chiến trở nên nặng nề hơn rất nhiều. Có những linh hồn thiện chí, thật lòng muốn nên thánh, thật lòng muốn sửa mình, nhưng lại sống phần lớn thời gian ở nơi mà họ không còn có thể làm gì hoặc ở nơi mà họ chưa thể làm gì: hoặc họ sống mãi trong quá khứ, hoặc họ phóng mình quá xa vào tương lai. Họ trở về với những lỗi lầm cũ, nhai đi nhai lại những lần sa ngã, nhớ lại những lời mình đã nói sai, những quyết định mình đã làm hỏng, những cơ hội mình đã bỏ lỡ, những xúc phạm mình đã gây ra, rồi để tất cả trở thành một khối nặng đè trên linh hồn. Hoặc họ đi về phía trước bằng trí tưởng tượng: ngày mai sẽ thế nào, nếu cám dỗ ấy trở lại thì sao, nếu người ấy tiếp tục làm mình đau thì sao, nếu sức khỏe suy yếu thì sao, nếu sứ vụ thất bại thì sao, nếu mình không đủ sức trung thành thì sao, nếu đến cuối đời mình vẫn còn yếu đuối như hôm nay thì sao. Một bên là hối tiếc. Một bên là lo âu. Một bên là những bóng ma đã đi qua. Một bên là những bóng ma chưa hề đến. Và giữa hai phía ấy, giây phút hiện tại, nơi Chúa thật sự đang đứng chờ con, lại bị bỏ trống.
Điều đáng buồn là chúng ta có thể mất rất nhiều năm đời mình bằng cách ấy. Thân xác ở một nơi nhưng tâm trí ở nơi khác. Đang cầu nguyện mà nghĩ về cuộc gặp lát nữa. Đang dùng bữa với anh em mà lòng vẫn ở trong cuộc tranh luận sáng nay. Đang ngồi với một người cần được lắng nghe mà đầu óc lại tính đến công việc chưa làm. Đang làm việc mà lòng lại tiếc một quá khứ không thể sửa bằng việc day dứt. Đang ở trước Thánh Thể mà trí tưởng tượng đã dựng nên hàng chục tình huống tương lai chưa xảy đến. Con người vẫn đi qua từng ngày, nhưng không thật sự sống những ngày ấy. Mỗi giây phút đến, họ chỉ chạm vào bề mặt rồi vội chạy sang một nơi khác trong tâm trí. Vì thế, dù làm rất nhiều việc, linh hồn vẫn có cảm giác mình chưa sống. Dù cầu nguyện nhiều, vẫn khó gặp Chúa. Dù quyết tâm nhiều, vẫn thấy mình phân tán. Dù muốn bình an, vẫn luôn mệt mỏi. Hỡi linh hồn, hãy ghi nhớ điều này: Thiên Chúa không hẹn gặp con trong một ngày lý tưởng nào đó mà con tưởng tượng ra. Ngài gặp con hôm nay. Ngài không chỉ hiện diện trong một phiên bản tốt đẹp hơn của đời con, khi mọi rắc rối đã được giải quyết, khi con đã sửa được mọi tính xấu, khi cộng đoàn đã dễ chịu hơn, khi sức khỏe đã tốt hơn, khi sứ vụ đã ổn định hơn, khi tâm hồn đã hết khô khan. Không. Ngài đang ở đây, trong đúng cuộc đời mà con đang có. Chính nơi sự bất toàn hôm nay, chính nơi bổn phận hôm nay, chính nơi con người đang làm con khó chịu hôm nay, chính nơi nỗi mệt hôm nay, chính nơi cơn cám dỗ hôm nay, chính nơi sự khô khan hôm nay, chính nơi công việc nhỏ bé hôm nay, Chúa đang chờ con đáp lại. Nếu con cứ chờ một hoàn cảnh khác để sống đẹp lòng Chúa, con sẽ không bao giờ bắt đầu, bởi cuộc đời thật không bao giờ hoàn toàn giống điều ta hình dung.
1. GIÂY PHÚT HIỆN TẠI LÀ NƠI ÂN SỦNG ĐƯỢC BAN
Tại sao giây phút hiện tại lại quan trọng đến như vậy? Trước hết, bởi vì ơn Chúa được ban cho con trong hiện tại. Thiên Chúa có thể đã chuẩn bị ơn cho ngày mai, nhưng ơn của ngày mai chưa phải là ơn con cần mang hôm nay. Chúa không bắt con sống trước những thử thách chưa đến, và vì thế Ngài cũng không đòi con hôm nay phải có sức mạnh dành cho những thử thách ấy. Có những linh hồn nhìn về một biến cố khó khăn phía trước rồi tự hỏi: “Làm sao mình chịu nổi?” Và vì chưa thấy trong mình đủ sức để chịu, họ bắt đầu sợ. Nhưng họ quên rằng Chúa chưa yêu cầu họ chịu điều ấy hôm nay. Khi giờ ấy đến, nếu giờ ấy thật sự đến, ơn cho giờ ấy cũng sẽ đến. Chúng ta đau khổ rất nhiều vì muốn lấy sức của hôm nay để gánh cả ngày mai, cả tháng sau, cả nhiều năm sắp tới. Không ai có thể làm được điều đó. Một người dù khỏe đến đâu cũng sẽ kiệt sức nếu cứ cố mang trên vai những cây thập giá chưa được trao cho mình. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta một sự khôn ngoan rất sâu xa: ngày nào có cái khổ của ngày ấy. Không phải vì Chúa muốn chúng ta thiếu trách nhiệm, không dự liệu, không chuẩn bị; nhưng bởi vì chuẩn bị khác với lo âu. Người khôn ngoan chuẩn bị những gì thuộc trách nhiệm của mình rồi phó thác. Người lo âu thì cứ tiếp tục sống những biến cố tưởng tượng hàng chục lần trong đầu, để rồi tiêu hao sức lực cho những trận chiến chưa từng xảy ra. Con hãy nhớ: ơn Chúa bao giờ cũng vừa đủ cho bổn phận Chúa trao. Nếu hôm nay con chỉ được mời gọi im lặng trước một lời xúc phạm, thì con chỉ cần ơn để im lặng hôm nay. Nếu hôm nay con chỉ được mời gọi hoàn thành một công việc nhàm chán, thì con chỉ cần ơn trung tín cho công việc ấy. Nếu hôm nay con chỉ cần đứng dậy sau một lần sa ngã, thì đừng đòi mình phải nhìn thấy cả con đường chiến thắng suốt đời. Hãy đứng dậy hôm nay đã. Ngày mai, nếu cần đứng dậy lần nữa, Chúa sẽ ở đó.
Giây phút hiện tại còn quan trọng bởi vì thánh ý Chúa được tỏ lộ cho ta trong hiện tại. Chúng ta thường muốn biết những điều lớn lao: Chúa muốn gì cho đời tôi? Con đường tương lai của tôi ra sao? Sứ vụ rồi sẽ đi về đâu? Tại sao chuyện này xảy đến? Khi nào thử thách này chấm dứt? Nhưng rất nhiều lần, trong khi không ngừng tìm câu trả lời cho những câu hỏi lớn, ta bỏ qua điều Chúa đã nói quá rõ ngay trước mắt: hãy làm bổn phận hiện tại với tình yêu. Có những điều về tương lai Chúa chưa muốn cho ta biết, nhưng Ngài luôn cho ta biết đủ để sống phút này. Con không biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng con biết hôm nay phải trung thực. Con không biết công việc mình đang làm rồi sẽ sinh hoa trái thế nào, nhưng con biết mình phải làm với hết khả năng và với ý hướng ngay lành. Con không biết người kia có thay đổi hay không, nhưng con biết mình không được nuôi oán hận. Con không biết căn bệnh sẽ tiến triển thế nào, nhưng con biết hôm nay mình có thể dâng sự yếu đuối ấy cho Chúa. Con không biết mình có đạt đến sự thánh thiện mà mình mong ước không, nhưng con biết giây phút này mình có thể từ chối một ý nghĩ kiêu căng, có thể mỉm cười với người bên cạnh, có thể làm một việc nhỏ mà không chờ ai biết đến. Chính những điều nhỏ ấy là thánh ý cụ thể. Chúng có thể không gây cho con cảm giác lớn lao, nhưng sự thánh thiện được dệt nên bằng những sợi chỉ như thế.
Quá khứ, nếu có tội lỗi, hãy đặt nó vào lòng thương xót Chúa. Nếu có những điều tốt đẹp, hãy tạ ơn rồi đừng bám vào đó. Tương lai, nếu có điều đáng mong, hãy trao nó cho sự quan phòng. Nếu có điều đáng sợ, hãy phó thác nó cho quyền năng và sự khôn ngoan của Chúa. Còn hiện tại, hãy sống. Hãy làm điều phải làm. Hãy yêu người đang ở trước mặt. Hãy cầu nguyện lời đang cầu. Hãy chịu đựng điều đang phải chịu. Hãy chống lại cám dỗ đang tấn công. Hãy làm từng việc một. Đó không phải là một lối sống nghèo nàn, hạn hẹp; trái lại, đó là cách đưa toàn bộ sức lực của linh hồn vào nơi duy nhất sức lực ấy có thể sinh hoa trái.
2. QUÁ KHỨ ĐÃ THUỘC VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT
Một trong những cạm bẫy tinh tế làm chúng ta mất giây phút hiện tại là sống mãi trong quá khứ, nhất là quá khứ của những lần sa ngã. Có những người sau khi đã xưng tội, đã nhận được ơn tha thứ, vẫn tiếp tục tự kết án mình. Họ nói rằng đó là lòng ăn năn, nhưng nhiều khi trong đó ẩn giấu một thứ kiêu ngạo rất khó nhận ra: họ không chấp nhận mình đã có thể yếu đuối đến thế. Họ không đau buồn chỉ vì đã xúc phạm Chúa; họ đau vì hình ảnh tốt đẹp họ từng nghĩ về mình đã bị phá vỡ. Vì thế, họ cứ nhìn lại lỗi cũ và tự hỏi: “Tại sao tôi lại làm thế? Sao tôi có thể như vậy? Nếu lúc ấy tôi hành động khác đi thì tốt biết bao.” Nhưng hỡi linh hồn, quá khứ không thể được chữa lành bằng việc quay lại sống trong nó. Quá khứ chỉ được chữa lành khi được trao cho Chúa và để lòng thương xót biến nó thành sự khiêm nhường, lòng biết ơn và kinh nghiệm cứu độ.
Con phải học cách phân biệt ăn năn với day dứt. Ăn năn đưa con về với Chúa. Day dứt nhốt con trong chính mình. Ăn năn làm con khiêm nhường. Day dứt làm con ám ảnh. Ăn năn nói: “Lạy Chúa, con đã sai. Xin thương xót con. Con xin bắt đầu lại.” Day dứt nói: “Tôi thật tệ. Tôi không thể tha thứ cho mình. Chắc tôi không bao giờ khá lên.” Ăn năn nhìn đến lòng thương xót. Day dứt cứ nhìn mãi đến vết thương. Ăn năn là hành vi của đức tin. Day dứt nhiều khi là một hình thức thiếu tín thác. Nếu Chúa đã tha, tại sao con cứ đòi giữ lại bản án? Nếu Chúa đã ném tội con vào vực sâu lòng thương xót, tại sao con cứ lặn xuống đó để moi nó lên? Điều đó không làm Chúa được tôn vinh hơn. Một người cha không vui khi đứa con đã được ôm vào lòng vẫn cứ đứng xa mà khóc vì cho rằng mình không xứng đáng được ôm. Chúa muốn sự khiêm nhường, nhưng khiêm nhường đích thực luôn đi cùng tín thác.
Điều này không có nghĩa là quên bài học của quá khứ. Có những lỗi lầm cần được nhớ để ta khôn ngoan hơn. Có những hoàn cảnh từng làm ta sa ngã cần được tránh. Có những yếu đuối phải được nhận diện. Có những hậu quả ta phải sửa chữa nếu còn có thể. Nhưng nhớ để học khác với nhớ để tự hành hạ. Người khôn ngoan nhìn lại quá khứ như người thủy thủ nhìn bản đồ của vùng biển đã qua để biết đâu là đá ngầm; họ không quay thuyền lại để đâm vào cùng tảng đá lần nữa. Nếu con đã biết một mối tương quan làm con yếu đi, hãy đặt ranh giới. Nếu biết sự mệt mỏi khiến con dễ nóng giận, hãy sắp xếp nghỉ ngơi. Nếu biết một cách dùng điện thoại làm con phân tán, hãy có kỷ luật. Nếu biết sự khen ngợi đánh thức lòng tự ái, hãy cầu xin ơn khiêm nhường. Đó là học từ quá khứ. Nhưng sau khi đã học, hãy trở về hôm nay. Đừng dựng lều trong những ngày đã chết.
Cũng có người sống trong quá khứ không phải vì lỗi lầm mà vì những thành công. Họ nhớ mãi những thời kỳ sốt sắng, những năm tháng sứ vụ tốt đẹp, những lúc cầu nguyện đầy an ủi, những lần được người khác quý mến, những công việc từng thành công, rồi âm thầm so sánh hiện tại với “ngày xưa”. Nếu hiện tại nghèo hơn, họ thất vọng. Họ không nhận ra rằng Thiên Chúa của ngày xưa cũng là Thiên Chúa của hôm nay, nhưng có thể hôm nay Ngài muốn dẫn họ bằng một con đường khác. Có thời Chúa cho con chạy nhanh; có thời Ngài dạy con đi chậm. Có thời Ngài cho con cảm thấy rất rõ sự hiện diện của Ngài; có thời Ngài ẩn mình để làm đức tin con tinh tuyền hơn. Có thời sứ vụ nở hoa trước mắt; có thời con phải gieo mà không thấy kết quả. Nếu cứ so hiện tại với một thời kỳ đẹp đẽ đã qua, con có thể không nhận ra ơn mới đang đến trong hình thức khác. Hãy biết ơn quá khứ, nhưng đừng biến quá khứ thành thần tượng.
3. TƯƠNG LAI THUỘC VỀ SỰ QUAN PHÒNG
Cũng như quá khứ có thể cướp mất hiện tại bằng hối tiếc, tương lai có thể cướp mất hiện tại bằng lo âu. Có một thứ tưởng tượng khiến linh hồn kiệt sức: tưởng tượng trước mọi điều xấu có thể xảy ra rồi sống nỗi đau ấy ngay từ bây giờ. Sự việc chưa xảy ra, nhưng lòng đã chịu khổ. Người kia chưa nói gì, nhưng ta đã chuẩn bị hàng chục câu trả lời. Công việc chưa thất bại, nhưng ta đã sống tâm trạng của người thất bại. Bệnh chưa được chẩn đoán, nhưng trí đã đi đến kết cục tệ nhất. Một thay đổi chưa xảy ra, nhưng ta đã dựng nên cả một tương lai đầy bất an. Và nếu một tháng sau điều ta sợ không hề xảy ra, ta đã mất một tháng bình an cho một biến cố chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng.
Ma quỷ rất thích dùng tương lai để làm linh hồn sợ hãi, bởi nó biết rằng một người sợ hãi quá mức sẽ yếu đi trong hiện tại. Nó có thể nói với con: “Con nghĩ mình sẽ giữ được nhân đức này mãi sao? Con nghĩ mình chịu nổi nếu thử thách kéo dài thêm năm năm sao? Con nghĩ đến lúc già yếu con còn trung thành được sao?” Đừng tranh luận với những câu hỏi ấy. Chúng được đặt sai thời điểm. Nếu hôm nay Chúa không yêu cầu con mang cây thập giá của năm năm nữa, con không cần trả lời xem mình có mang nổi không. Hãy nói: “Lạy Chúa, hôm nay con thuộc về Chúa. Ngày mai cũng thuộc về Chúa. Khi ngày mai đến, xin cho con ơn của ngày mai.” Đó không phải là né tránh thực tế. Đó là đặt thực tế đúng chỗ.
Dĩ nhiên đời sống cần kế hoạch. Người sống hiện tại không phải là người sống tùy tiện, không dự liệu công việc, không chuẩn bị cho bổn phận. Một người phụ trách phải lên chương trình. Một người có trách nhiệm phải nghĩ đến hậu quả. Một người sống đời thánh hiến phải chuẩn bị cho sứ vụ. Một gia đình phải biết lo cho tương lai. Nhưng kế hoạch chỉ là công cụ, không phải nơi cư trú của tâm hồn. Con có thể dành một giờ để hoạch định tuần tới; nhưng sau khi đã hoạch định, hãy trở về công việc hôm nay. Đừng để kế hoạch của ngày mai làm con không sống được ngày hôm nay. Người phó thác không phải là người không chuẩn bị; họ chuẩn bị những gì có thể, rồi trao những gì ngoài khả năng cho Chúa.
Có một tự do rất lớn khi linh hồn biết nói: “Con không cần biết tất cả.” Chúng ta thường muốn Chúa đưa cho mình bản đồ trọn con đường rồi mới chịu bước. Nhưng Ngài thường chỉ cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Điều ấy khiến ta phải tín thác. Nếu con nhìn thấy mọi biến cố của mười năm tới, có khi con không đủ sức chịu nổi chỉ vì nhìn thấy chúng cùng lúc. Vì lòng thương xót, Chúa che nhiều điều khỏi mắt con. Ngài chỉ mở ra từng ngày, từng giờ. Đó là một ân huệ. Đừng cố kéo bức màn mà Chúa chưa muốn mở.
4. NHỮNG CÁCH TA THƯỜNG ĐÁNH MẤT GIÂY PHÚT HIỆN TẠI
Có nhiều cách tinh tế hơn khiến linh hồn rời khỏi hiện tại. Một trong số đó là mơ tưởng về một hoàn cảnh lý tưởng. Con có thể nghĩ: “Nếu tôi ở cộng đoàn khác, tôi sẽ cầu nguyện tốt hơn. Nếu người này bớt khó tính, tôi sẽ bình an hơn. Nếu công việc ít hơn, tôi sẽ sống nội tâm hơn. Nếu tôi có sức khỏe tốt hơn, tôi sẽ phục vụ Chúa nhiều hơn. Nếu được người ta hiểu hơn, tôi sẽ dễ sống bác ái.” Có thể một vài điều trong đó đúng một phần, nhưng nguy hiểm nằm ở chỗ con bắt đầu trì hoãn sự thánh thiện cho đến khi hoàn cảnh thay đổi. Trong khi ấy, Chúa lại đang muốn thánh hóa con chính bằng hoàn cảnh chưa hoàn hảo này. Người khó tính ấy có thể là nơi con học nhẫn nhục. Công việc nhiều ấy có thể là nơi con học cầu nguyện ngắn và sống sự hiện diện của Chúa. Sự hiểu lầm ấy có thể là nơi con học không lệ thuộc vào lời khen. Giới hạn sức khỏe ấy có thể là nơi con học rằng giá trị của đời mình không nằm ở năng suất nhưng ở tình yêu. Đừng luôn hỏi: “Bao giờ hoàn cảnh này thay đổi?” Hãy hỏi: “Trong hoàn cảnh này, Chúa muốn biến đổi điều gì nơi con?”
Một cách khác là phân tán tâm trí trong chính việc đang làm. Con ngồi trước một người nhưng không thật sự ở với họ. Con đọc Kinh Thánh nhưng mắt chạy qua chữ còn đầu óc đi nơi khác. Con dâng Thánh lễ mà tâm trí bị lôi bởi đủ chuyện. Con ăn một bữa ăn nhưng gần như không biết mình đang ăn gì. Con đi trên một con đường đẹp nhưng mắt chỉ nhìn màn hình. Dần dần, tâm hồn mất khả năng hiện diện. Và một tâm hồn không hiện diện rất khó cầu nguyện, bởi cầu nguyện chính là hiện diện trước Đấng đang hiện diện.
Hãy tập làm một việc tại một thời điểm khi có thể. Khi cầu nguyện, hãy cầu nguyện. Khi làm việc, hãy làm việc. Khi nghỉ, hãy nghỉ. Khi nghe một người, hãy nghe họ. Khi ăn, hãy biết mình đang lãnh nhận của ăn như một ân huệ. Khi đi bộ, hãy cảm nhận từng bước và biết Chúa đang ở bên. Không phải lúc nào ta cũng làm được cách trọn vẹn, nhưng chính việc tập trở về sẽ dần chữa lành sự phân tán. Đừng chờ đến khi trí hoàn toàn yên mới bắt đầu sống hiện tại. Sống hiện tại chính là việc mỗi lần trí chạy đi, con nhẹ nhàng đưa nó trở lại.
Một cách nữa là muốn kiểm soát mọi sự trước khi chúng xảy ra. Tâm hồn tự nhủ: “Tôi chỉ bình an khi biết chắc chuyện này sẽ thế nào.” Nhưng cuộc đời hiếm khi cho chúng ta sự chắc chắn ấy. Nếu bình an của con lệ thuộc vào việc mọi sự phải diễn tiến theo dự tính, con sẽ luôn mong manh. Bình an Kitô giáo không đến từ việc con biết tương lai; nó đến từ việc con biết Ai đang giữ tương lai. Có thể con không biết con đường, nhưng con biết Người dẫn đường. Có thể con không biết ngày mai, nhưng con biết Cha của ngày mai. Có thể con không hiểu biến cố, nhưng con biết rằng không có biến cố nào nằm ngoài sự quan phòng của Đấng yêu con.
5. TRỞ VỀ HIỆN TẠI BẰNG SỰ DỊU DÀNG VỚI CHÍNH MÌNH
Khi nhận ra mình lại đang sống trong quá khứ hay tương lai, đừng nổi giận với mình. Một trong những sai lầm của người muốn tiến nhanh trên đường thiêng liêng là họ trở nên bạo lực với chính tâm hồn. Họ thấy mình phân tâm thì bực. Thấy mình lại lo thì thất vọng. Thấy mình lại nhớ chuyện cũ thì trách mình. Nhưng sự bực bội ấy chỉ tạo thêm một lớp xáo trộn. Con đã bị phân tán, rồi lại còn nổi giận vì mình phân tán; thế là con xa bình an gấp đôi. Hãy làm giống như người mẹ dắt một đứa trẻ tập đi. Nó chạy lệch, bà nắm tay kéo về. Nó lại chạy lệch, bà lại kéo về. Không cần quát tháo mỗi lần. Tâm trí con cũng vậy. Có thể một trăm lần trong một giờ nó chạy đi; một trăm lần con hãy đưa nó về với Chúa. Mỗi lần trở về là một hành vi yêu mến. Mỗi lần trở về là một chiến thắng nhỏ.
Con có thể nói rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con lại chạy đi xa. Con trở về đây.” Không phân tích dài. Không tự kết án. Không hỏi tại sao mình chưa khá hơn. Hãy trở về. Con đang rửa chén và nghĩ tới chuyện làm con tức hôm qua: trở về với cái chén đang cầm. Con đang cầu nguyện mà lo về một cuộc họp: trở về với lời kinh. Con đang nghe ai đó mà chuẩn bị câu trả lời trong đầu: trở về với lời họ đang nói. Con đang nằm nghỉ mà thấy mình áy náy vì chưa làm xong việc: nếu giờ nghỉ là điều cần thiết, hãy nghỉ cho trọn. Có khi cách sống thánh ý Chúa trong giây phút hiện tại chỉ là uống một ly nước, thở sâu, và cho thân xác được nghỉ vì nó đã mệt. Đừng nghĩ rằng chỉ những việc “đạo đức” mới có thể trở thành nơi gặp Chúa. Nếu được làm theo thánh ý Ngài, mọi việc hợp pháp và đúng bổn phận đều có thể trở thành nơi thánh hóa.
6. LÀM MỖI VIỆC VỚI SỰ HIỆN DIỆN TRỌN VẸN
Một trong những cách thực tế nhất để sống hiện tại là tập làm mỗi việc với một ý thức đơn sơ: Chúa đang ở đây và con đang làm việc này trước mặt Ngài. Con không cần tạo ra một cảm xúc sốt sắng. Chỉ cần nhớ. Trước khi bắt đầu một việc, hãy dừng vài giây: “Lạy Chúa, con làm việc này vì Chúa.” Thế là đủ để biến một công việc bình thường thành một hành vi yêu mến. Khi lau một căn phòng, hãy lau vì Chúa. Khi trả lời một tin nhắn cần thiết, hãy trả lời với sự bình tĩnh vì Chúa. Khi chuẩn bị bài giảng, đừng chỉ nghĩ người ta sẽ nhận xét thế nào; hãy làm như một việc phục vụ những linh hồn Chúa trao. Khi trò chuyện với một người già, đừng vừa nghe vừa mong cuộc nói chuyện kết thúc; hãy cho họ vài phút hiện diện thật sự. Có những người không cần con giải quyết vấn đề cho họ. Họ chỉ cần được gặp một người thật sự ở đó.
Sự hiện diện trọn vẹn cũng là một hình thức bác ái. Khi con không hiện diện, con dễ biến người khác thành trở ngại giữa con và kế hoạch của con. Họ đến lúc con đang bận, con thấy khó chịu. Họ kể chuyện dài, con sốt ruột. Họ cần một chút thời gian, con cảm thấy bị lấy mất thời gian. Nhưng nếu con tin rằng Chúa có thể đến với con qua những gián đoạn không dự tính, con sẽ nhìn khác. Không phải mọi gián đoạn đều là thánh ý Chúa; đôi khi cần biết nói không, cần bảo vệ thời gian, cần giữ kỷ luật. Nhưng cũng có những gián đoạn chính là sứ vụ thật mà Chúa gửi đến giữa kế hoạch ta đang có. Muốn nhận ra, con cần một tâm hồn tỉnh thức, không quá cứng nhắc với chương trình riêng.
Hỡi linh hồn, có thể cuối đời con sẽ ngạc nhiên khi thấy những giây phút quý giá nhất trước mặt Chúa không phải là những lúc con làm những việc lớn lao, mà là lúc con dừng lại để nghe một người đang đau, lúc con nhịn một câu nói sắc bén, lúc con âm thầm hoàn thành một việc không ai biết, lúc con chấp nhận một sự bất tiện không than phiền, lúc con mỉm cười trong mệt mỏi, lúc con bỏ điện thoại xuống để hiện diện với người bên cạnh, lúc con quỳ trước Chúa trong mười phút khô khan nhưng không bỏ đi. Thiên Chúa không chỉ nhìn quy mô việc con làm. Ngài nhìn tình yêu trong giây phút con đang sống.
7. ĐÓN NHẬN GIÂY PHÚT NÀY TỪ TAY CHÚA
Một bước sâu hơn là không chỉ hiện diện với điều đang xảy ra, nhưng đón nhận nó từ tay Chúa. Điều này cần được hiểu đúng. Không phải mọi sự dữ đều do Chúa trực tiếp muốn. Tội lỗi là điều Ngài không muốn. Bất công không phải là điều Ngài vui thích. Bạo lực, phản bội, dối trá không trở nên tốt chỉ vì chúng xảy ra. Nhưng không có gì xảy đến mà Chúa không thể bước vào và dùng để dẫn linh hồn đến gần Ngài hơn. Vì thế, khi một biến cố không theo ý con xảy đến, thay vì lập tức chống cự trong nội tâm, con có thể nói: “Lạy Chúa, con chưa hiểu. Con không thích điều này. Nhưng vì nó đang ở trước mặt con và con chưa thể thay đổi nó lúc này, xin cho con biết sống giây phút này với Chúa.”
Có một sự khác biệt rất lớn giữa đau khổ và chống lại việc mình đang đau khổ. Đau khổ thứ nhất có thể không tránh được. Đau khổ thứ hai thường do ta tạo thêm. Một cơn bệnh đã đủ nặng; ta lại thêm câu hỏi: “Tại sao tôi phải bị?” Một hiểu lầm đã đủ đau; ta lại lặp đi lặp lại hàng trăm lần trong đầu. Một thất bại đã đủ khó; ta lại kết luận rằng cả đời mình vô nghĩa. Khi đón nhận hiện tại, ta không nói rằng đau khổ là dễ chịu. Ta chỉ thôi đánh nhau với thực tế đang có. Ta nói: “Đây là giây phút của con bây giờ. Con sẽ không sống trong giây phút tưởng tượng khác. Con sẽ sống điều này với Chúa.”
Có lúc lời cầu nguyện duy nhất con có thể nói là: “Lạy Chúa, con đón nhận giây phút này từ tay Chúa. Con chưa hiểu, nhưng con tin Chúa ở đây.” Lời ấy có thể được lặp nhiều lần trong một ngày. Trong lúc chờ đợi. Trong lúc mệt. Trong lúc bị hiểu lầm. Trong lúc một kế hoạch đổ vỡ. Trong lúc phải làm một việc rất chán. Trong lúc cảm thấy chẳng có gì thiêng liêng trong lòng. Đừng coi thường những lời nguyện ngắn ấy. Chúng là những cái neo giữ linh hồn khỏi bị dòng suy nghĩ cuốn đi.
8. LỜI NGUYỆN TẮT – NHỮNG CÁNH CỬA TRỞ VỀ
Người sống hiện tại không nhất thiết phải luôn suy nghĩ những điều sâu sắc. Thật ra, càng cố duy trì nhiều suy nghĩ thiêng liêng cùng lúc, ta càng dễ căng thẳng. Đôi khi chỉ một lời đơn sơ là đủ: “Lạy Chúa, con đây.” Có gì đẹp hơn lời ấy? “Con đây” nghĩa là con thôi chạy. Con thôi trốn. Con thôi sống trong ngày hôm qua. Con thôi sống trong ngày mai. Con đứng trước mặt Chúa với chính con người hiện tại của mình. Không phải con người con mong mình sẽ trở thành, cũng không phải con người con từng là. Con đây: yếu, mệt, có những vết thương, có những ước muốn, có những bất toàn, nhưng con đây.
Hoặc con có thể nói: “Lạy Chúa, giây phút này thuộc về Chúa.” Khi ấy, một giây phút tầm thường bỗng có ý nghĩa vĩnh cửu. Con đang chờ xe, giây phút ấy thuộc về Chúa. Con đang xếp đồ, giây phút ấy thuộc về Chúa. Con đang làm việc giấy tờ, giây phút ấy thuộc về Chúa. Con đang ở trong một cuộc họp kéo dài, giây phút ấy thuộc về Chúa. Con đang bị thử thách bởi một tư tưởng xấu, giây phút ấy thuộc về Chúa. Nếu giây phút thuộc về Chúa, con không muốn giao nó cho sự tức giận, cho tưởng tượng, cho oán hận, cho lo âu. Con trao nó cho Ngài bằng cách sống đúng điều cần sống.
Hay con có thể thưa: “Giêsu, con tín thác vào Chúa ngay lúc này.” Không cần tín thác cho cả đời trong một cảm xúc lớn lao. Hãy tín thác ngay lúc này. Có thể mười phút nữa con lại lo; thì mười phút nữa con lại tín thác. Có thể một giờ nữa con lại sợ; thì một giờ nữa con lại trao. Cuộc đời tín thác được dệt từ hàng ngàn hành vi tín thác rất nhỏ như thế. Không ai đạt đến một tình trạng rồi từ đó không còn phải tín thác nữa. Tín thác là một động tác sống động, phải được làm lại mỗi khi lòng muốn nắm quyền kiểm soát.
9. GIÂY PHÚT HIỆN TẠI VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG CÁC ĐAM MÊ
Sống hiện tại có một sức mạnh đặc biệt trong cuộc chiến chống đam mê, bởi rất nhiều đam mê được nuôi lớn không chỉ bởi điều đang xảy ra mà bởi những gì trí tưởng tượng thêm vào. Một lời xúc phạm có thể chỉ kéo dài mười giây, nhưng cơn giận có thể kéo dài mười giờ vì ta lặp lại nó trong đầu. Một hình ảnh xấu chỉ lướt qua, nhưng cám dỗ có thể kéo dài vì ta quay lại tưởng tượng. Một sự thất bại chỉ xảy ra một lần, nhưng lòng buồn có thể kéo dài nhiều ngày vì ta dựng nên tương lai từ thất bại ấy. Một người làm ta khó chịu trong một cuộc gặp, nhưng ta tiếp tục tranh luận với họ trong trí cả buổi tối. Như vậy, biến cố chỉ chạm vào ta một lần; ta tự chạm lại nó hàng trăm lần.
Khi cám dỗ đến, hãy cố gắng ở với cái đang thật sự xảy ra, đừng thêm câu chuyện. Ví dụ, con thấy một cơn nóng giận nổi lên. Hiện tại chỉ là: tim đang đập nhanh, lòng đang khó chịu, có một ý muốn nói lời mạnh. Đừng thêm: “Người này lúc nào cũng coi thường tôi. Ai cũng xem thường tôi. Tôi chịu đủ rồi. Nếu cứ thế này…” Chính những câu chuyện nối tiếp ấy nuôi cơn giận. Hãy trở về: “Lạy Chúa, hiện giờ con đang giận. Xin giúp con im lặng ba phút.” Chỉ ba phút. Không cần chiến thắng cơn nóng giận cả đời. Chiến thắng ba phút này. Sau ba phút, nếu vẫn còn, lại xin ơn cho ba phút nữa.
Trong cám dỗ bất khiết cũng vậy. Đừng đứng đó phân tích mình sẽ chịu được bao lâu. Hãy làm điều cần làm ngay: quay mắt đi, đứng dậy, đổi chỗ, cầu nguyện, làm một việc cụ thể, tránh nguồn kích thích. Cuộc chiến luôn xảy ra bằng những quyết định hiện tại. Ma quỷ thích đẩy con vào một cuộc tranh luận dài với cám dỗ. Chúa thường mời con làm một hành vi rất đơn sơ và dứt khoát ngay bây giờ.
Trong sự lười biếng cũng thế. Một người nhìn cả khối công việc và nản: “Làm sao xong hết?” Đừng làm hết. Hãy làm việc đầu tiên. Mở tài liệu. Viết dòng đầu. Đứng dậy khỏi giường. Xếp một chồng sách. Cầu nguyện mười phút đầu. Khi linh hồn trở về với bước hiện tại, những núi lớn thường trở thành một chuỗi bước nhỏ có thể đi được.
Trong sự chán nản, sống hiện tại càng cần thiết. Chán nản thường nói bằng những từ tuyệt đối: “Tôi lúc nào cũng thế. Tôi chẳng bao giờ thay đổi. Mọi thứ đều vô ích.” Hãy nhận ra đó không phải là ngôn ngữ của hiện tại. Hiện tại chỉ nói: “Hôm nay tôi đã ngã.” Vậy hãy đứng dậy hôm nay. “Hôm nay cầu nguyện rất khô.” Vậy hãy trung thành hôm nay. “Hôm nay tôi yếu.” Vậy hãy dựa vào Chúa hôm nay. Đừng lấy một ngày xấu để tiên tri cho cả đời.
10. SỐNG HIỆN TẠI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ SỐNG KHÔNG KÝ ỨC, KHÔNG HY VỌNG
Cũng cần tránh một hiểu lầm: sống giây phút hiện tại không phải là cắt đứt với quá khứ hoặc không nghĩ đến tương lai. Đức tin Kitô giáo sống bằng ký ức và hy vọng. Chúng ta nhớ những kỳ công Chúa đã làm để tạ ơn. Chúng ta nhớ cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Kitô. Chúng ta nhớ ơn gọi, lời khấn, lời hứa, những kinh nghiệm lòng thương xót để củng cố lòng tín thác. Chúng ta cũng hướng về tương lai, mong chờ Nước Trời, hy vọng sự sống đời đời, chuẩn bị cho giờ chết. Nhưng ký ức Kitô giáo đưa ta vào hiện tại với lòng biết ơn; hy vọng Kitô giáo đưa ta vào hiện tại với lòng can đảm. Nếu nhớ quá khứ làm con bị tê liệt, cách nhớ ấy cần được chữa lành. Nếu nghĩ tương lai làm con lo sợ đến mức bỏ bê bổn phận, cách nghĩ ấy không còn là hy vọng.
Một người có thể sống rất sâu trong hiện tại mà vẫn chuẩn bị cho đời đời. Thật ra, đó chính là cách chuẩn bị tốt nhất. Con không cần làm một việc đặc biệt nào để sẵn sàng cho giờ chết ngoài việc sống trọn điều Chúa muốn bây giờ. Nếu giờ chết đến khi con đang trung tín với bổn phận hiện tại, con đã ở nơi mình phải ở. Người ta thường tưởng chuẩn bị cho đời đời là phải luôn nghĩ đến cái chết. Nhưng chuẩn bị cho đời đời trước hết là học sống mỗi giây phút trước mặt Chúa.
11. HOA TRÁI CỦA VIỆC SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI
Hoa trái đầu tiên là bình an. Không phải vì mọi vấn đề biến mất, nhưng vì con ngừng gánh những gì chưa được trao. Khi quá khứ được đặt trong lòng thương xót và tương lai được đặt trong sự quan phòng, đôi vai linh hồn nhẹ đi. Con chỉ mang cây thập giá hôm nay. Có thể cây thập giá hôm nay vẫn nặng, nhưng nó vừa với ơn hôm nay. Một trong những lý do ta cảm thấy đời sống không chịu nổi là vì ta đang mang cùng lúc quá nhiều ngày.
Hoa trái thứ hai là sự tập trung. Một linh hồn hiện diện sẽ cầu nguyện sâu hơn, làm việc tốt hơn, lắng nghe tốt hơn. Không phải vì không bao giờ phân tâm, nhưng vì biết trở về. Sự tập trung thiêng liêng không phải là một trạng thái hoàn hảo không có tư tưởng nào khác; nó là thói quen trở về với điều Chúa đặt trước mặt.
Hoa trái thứ ba là sự nhạy bén với thánh ý Chúa. Khi đầu óc không luôn bị kéo vào hôm qua hay ngày mai, con bắt đầu thấy những dấu chỉ rất nhỏ của Chúa hôm nay: một người cần được an ủi, một cơ hội để im lặng, một thôi thúc phải xin lỗi, một khoảnh khắc đẹp để tạ ơn, một cơn mệt báo rằng mình cần nghỉ, một lời Kinh Thánh bất ngờ chạm lòng, một người nghèo đang cần một cái nhìn tử tế. Những ơn ấy thường rất nhỏ và rất nhanh. Người luôn sống nơi khác sẽ bỏ lỡ.
Hoa trái thứ tư là sức mạnh trong chiến đấu. Năng lượng của linh hồn có giới hạn. Nếu một nửa năng lượng dùng để tiếc hôm qua, một nửa dùng để sợ ngày mai, thì còn gì cho trận chiến hôm nay? Khi tập trung vào hiện tại, con quy tụ sức mạnh. Con không cần chiến thắng mọi tính xấu một lúc. Hãy chiến đấu với tính xấu đang xuất hiện. Không cần sửa toàn bộ con người mình trong một ngày. Hãy thực hiện một hành vi trái với đam mê hiện tại. Kiêu ngạo nổi lên? Làm một việc khiêm nhường. Nóng giận nổi lên? Im lặng. Lười biếng nổi lên? Bắt đầu việc nhỏ. Tự ái nổi lên? Chấp nhận không thanh minh nếu không cần. Mỗi giây phút là một trận đánh nhỏ. Những trận đánh nhỏ tích lại thành một đời trung tín.
Hoa trái thứ năm là khiêm nhường. Sống hiện tại buộc ta chấp nhận giới hạn của mình. Ta không cứu được cả thế giới hôm nay. Ta không sửa được tất cả mọi người. Ta không kiểm soát được tương lai. Ta không thay đổi được quá khứ. Ta chỉ có thể đáp lại ơn trong giây phút này. Điều ấy phá tan ảo tưởng mình phải làm mọi sự. Con không phải là Đấng Cứu Thế. Con chỉ là người môn đệ được mời gọi trung tín trong phần việc nhỏ Chúa trao. Khi hiểu điều này, đời sống trở nên nhẹ hơn mà không kém nghiêm túc.
Hoa trái thứ sáu là lòng biết ơn. Một người sống quá nhiều trong tương lai thường không thấy điều đang có. Họ chờ một ngày tốt hơn mới vui. Chờ công việc xong. Chờ vấn đề được giải quyết. Chờ sức khỏe khá. Chờ ai đó thay đổi. Nhưng đời người có thể trôi qua trong sự chờ đợi ấy. Người sống hiện tại bắt đầu nhận ra hàng trăm quà tặng nhỏ: một buổi sáng còn thức dậy, ánh sáng qua cửa sổ, một ly nước, một bữa ăn, một người bạn, tiếng chuông nhà thờ, một giờ cầu nguyện, khả năng còn có thể bước đi, một nụ cười, một cơ hội làm việc tốt. Những điều ấy không nhỏ vì chúng bình thường; chúng chỉ trở nên vô hình vì ta quá quen.
12. SỐNG HIỆN TẠI TRONG ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
Có lẽ không nơi nào việc sống hiện tại quan trọng bằng cầu nguyện. Nhiều linh hồn thất vọng vì thấy mình phân tâm. Họ tưởng cầu nguyện tốt là phải luôn cảm thấy sốt sắng, tâm trí không chạy đi, lòng không có tư tưởng khác. Vì thế, một giờ cầu nguyện có năm mươi lần phân tâm khiến họ nghĩ mình thất bại. Nhưng nếu năm mươi lần con nhận ra và năm mươi lần con quay về với Chúa, thì con đã có năm mươi hành vi trung tín. Đừng đánh giá cầu nguyện chỉ bằng số lần con bị kéo đi; hãy nhìn số lần con trở về.
Khi cầu nguyện, đừng cố giải quyết toàn bộ đời mình trước mặt Chúa. Có lúc cầu nguyện chỉ là ngồi với Ngài trong giây phút này. Thở. Nhìn Thánh Giá. Lặp một câu Kinh Thánh. Nói: “Lạy Chúa, con ở đây.” Nếu tâm hồn khô khan, hãy dâng chính sự khô khan. Nếu lòng buồn, đừng giả vờ vui; dâng nỗi buồn. Nếu không biết nói gì, hãy im lặng. Thiên Chúa không đòi con mang đến một phiên bản đẹp đẽ của chính mình. Ngài muốn con người thật đang có mặt.
Có lúc trong giờ cầu nguyện con nhớ đến một lỗi cũ. Nếu cần ăn năn, hãy nói một lời xin lỗi rồi trao nó cho lòng thương xót. Có lúc con lo một việc tương lai. Nếu cần có một quyết định, ghi lại để xử lý sau; rồi trở về. Đừng dùng cả giờ cầu nguyện để diễn tập một cuộc đối thoại chưa xảy ra. Hãy học ở lại. Khả năng ở lại với Chúa trong cầu nguyện sẽ dần trở thành khả năng ở lại với đời sống trong mọi việc khác.
13. SỐNG HIỆN TẠI TRONG TƯƠNG QUAN VỚI NGƯỜI KHÁC
Một trong những món quà lớn nhất con có thể trao cho người khác là sự hiện diện. Không phải lời nói hay, không phải luôn có câu trả lời đúng, mà là để người ấy cảm thấy: “Trong giây phút này, tôi không bị đối xử như một vật cản hay một nhiệm vụ. Tôi đang được nhìn thấy.” Đời sống cộng đoàn đau khổ rất nhiều vì chúng ta ở gần nhau mà không hiện diện với nhau. Ta nghe nửa câu rồi kết luận. Ta nhìn người hiện tại bằng lịch sử quá khứ của họ: “Anh ấy lúc nào cũng vậy.” Ta không cho họ cơ hội trở thành một người mới hôm nay. Sống hiện tại còn có nghĩa là đừng đóng đinh người khác vào lỗi cũ. Nếu con muốn Chúa cho con được bắt đầu lại, hãy cho người anh em một cơ hội bắt đầu lại.
Hãy nhìn người trước mặt như họ đang là hôm nay, không chỉ như họ từng là. Có người đã xin lỗi nhưng ta vẫn nói chuyện với họ bằng vết thương cũ. Có người đã cố thay đổi nhưng ta vẫn gắn nhãn. Có người chỉ vô tình nói một câu nhưng ta nối nó với mười chuyện trong quá khứ. Như thế ta không còn sống với con người hiện tại nữa; ta sống với hồ sơ mình lưu về họ. Điều này làm bác ái rất khó.
Sống hiện tại không có nghĩa là mất khôn ngoan, quên những kinh nghiệm cần nhớ, để người khác tiếp tục làm hại mình. Ranh giới vẫn cần thiết. Nhưng ranh giới có thể được giữ mà không cần oán hận. Ta có thể nhớ điều cần nhớ mà không dùng quá khứ để kết án.
14. SỐNG HIỆN TẠI KHI ĐAU KHỔ
Trong đau khổ, tương lai thường trở nên đáng sợ nhất. Khi một cơn đau kéo dài, con nghĩ: “Nếu cứ thế này mãi thì sao?” Khi một thử thách chưa kết thúc, con nghĩ: “Tôi còn chịu được bao lâu?” Câu hỏi ấy làm đau khổ gấp bội, bởi con đang cố chịu cả thời gian chưa đến. Có một sự khôn ngoan rất đơn sơ: đừng chịu đau của ngày mai hôm nay. Nếu hôm nay con chịu được một giờ, hãy sống một giờ. Nếu một ngày, hãy sống một ngày. Khi ngày mai đến, con lại sống ngày mai với Chúa.
Nhiều người đã đi qua những thập giá rất lớn không phải vì họ có sức mạnh khổng lồ, nhưng vì họ đã đi từng ngày. Nếu nhìn cả con đường từ đầu, có lẽ họ sợ hãi. Nhưng họ chỉ làm điều cần làm sáng hôm ấy, rồi chiều hôm ấy, rồi đêm hôm ấy. Ân sủng không phải lúc nào đến như một nguồn sức mạnh khiến ta cảm thấy mình bất khuất. Có khi ân sủng chỉ đủ để con nói: “Thêm hôm nay nữa, lạy Chúa.” Và như thế, từng hôm nay nối nhau thành một cuộc đời trung tín.
Nếu đang đau, đừng đòi mình phải hiểu ngay ý nghĩa của đau khổ. Có những điều chỉ nhiều năm sau ta mới hiểu phần nào; có những điều đến đời sau mới hiểu. Nhu cầu phải hiểu hết cũng có thể là một hình thức kiểm soát. Con có thể chưa hiểu mà vẫn tín thác. Con có thể khóc mà vẫn tín thác. Con có thể sợ mà vẫn tín thác. Tín thác không phải không có cảm xúc, nhưng là không để cảm xúc quyết định ta sẽ rời khỏi tay Chúa.
15. MỖI BUỔI SÁNG CHỈ NHẬN LẤY NGÀY HÔM NAY
Một thực hành rất hữu ích là mỗi buổi sáng, thay vì nghĩ đến cả khối công việc, hãy nhận lấy ngày hôm nay như một món quà và một trách nhiệm. “Lạy Chúa, con không biết hôm nay sẽ có gì. Có thể có niềm vui, có thể có khó khăn. Có thể chương trình của con sẽ đúng như dự tính, có thể bị đảo lộn. Con xin nhận ngày này từ tay Chúa. Xin cho con đừng bỏ lỡ Ngài trong những gì xảy đến.”
Rồi hãy làm từng việc. Khi đến giờ cầu nguyện, cầu nguyện. Khi đến giờ làm việc, làm việc. Khi cần nghỉ, nghỉ. Khi có người cần gặp, gặp. Đừng liên tục sống trước vài bước. Một ngày sống như thế sẽ có một chất lượng khác. Nó không nhất thiết ít bận hơn, nhưng ít phân mảnh hơn.
Buổi tối, con trả lại ngày cho Chúa. Điều tốt, tạ ơn. Điều sai, xin tha. Điều chưa xong, trao lại. Có những người mang công việc chưa xong vào giường, mang cuộc trò chuyện dang dở vào giấc ngủ, mang những câu hỏi không có đáp án vào đêm. Hãy tập nói: “Lạy Chúa, ngày này đã hết. Điều con làm được, con dâng Chúa. Điều con không làm được, con cũng trao. Xin giữ những gì con không thể giữ trong khi ngủ.” Đó là một hành vi khiêm nhường. Thế giới vẫn quay khi con ngủ. Chúa không ngủ. Con có thể nghỉ.
16. ĐỪNG CHỜ MỘT NGÀY KHÁC ĐỂ BẮT ĐẦU
Một cám dỗ rất phổ biến là trì hoãn đời sống thiêng liêng: “Mai tôi sẽ nghiêm túc hơn. Tuần sau tôi sẽ sắp xếp lại. Khi công việc này xong tôi sẽ cầu nguyện tốt hơn. Khi qua giai đoạn này tôi sẽ sống kỷ luật hơn.” Nhưng luôn có một giai đoạn khác. Luôn có việc tiếp theo. Luôn có lý do để trì hoãn. Nếu con không học sống với Chúa trong đời sống đang có, con sẽ không tự nhiên biết sống với Chúa khi hoàn cảnh thay đổi.
Đừng đợi cảm hứng để bắt đầu. Đừng đợi đầu năm. Đừng đợi sau kỳ tĩnh tâm. Đừng đợi một cú đánh động mạnh. Bắt đầu trong phút này. Nếu hôm nay đã trôi mất nửa ngày, đừng nói ngày này hỏng rồi. Bắt đầu từ giờ này. Nếu vừa sa ngã cách đây mười phút, đừng đợi ngày mai để sống tốt. Bắt đầu lại bây giờ. Một trong những hình thức khiêm nhường đẹp nhất là không đòi một khởi đầu hoàn hảo. Chúng ta thích những mốc đẹp: sáng thứ Hai, đầu tháng, đầu năm, sau kỳ tĩnh tâm. Chúa đôi khi chỉ đưa cho ta một lúc 3 giờ 17 phút chiều giữa một ngày lộn xộn và nói: “Bắt đầu ở đây.” Hãy bắt đầu ở đó.
17. MỖI GIÂY PHÚT CÓ THỂ TRỞ THÀNH CỦA LỄ
Khi sống hiện tại với Chúa, cả đời con có thể trở thành một Thánh lễ kéo dài, một sự dâng hiến liên tục. Không phải vì con luôn cảm thấy thiêng liêng, nhưng vì từng việc được đặt lên bàn thờ của ý hướng. “Lạy Chúa, con dâng việc này.” “Con dâng sự khó chịu này.” “Con dâng niềm vui này.” “Con dâng cuộc gặp này.” “Con dâng sự mệt này.” “Con dâng việc phải chờ này.” “Con dâng sự thành công.” “Con dâng sự thất bại.” Khi ấy, không còn giây phút hoàn toàn vô nghĩa.
Có những phút rất nhỏ mà con tưởng chẳng đáng kể. Nhưng nếu được sống với tình yêu, chúng đi vào đời đời. Một ly nước trao cho người khác. Một cái gật đầu. Một lời xin lỗi. Một lần nhường phần dễ chịu. Một lần không nói câu có thể làm người khác tổn thương. Một lần kiên nhẫn thêm vài phút. Một lần tiếp tục cầu nguyện dù không cảm thấy gì. Tất cả được đặt vào tay Chúa. Đời sống nên thánh không phải là tìm cách thoát khỏi điều bình thường, mà là cho tình yêu của Chúa thấm vào điều bình thường.
18. HÃY Ở NƠI CHÚA ĐANG Ở
Hỡi linh hồn, có lẽ tất cả những điều trên có thể được tóm lại bằng một lời: hãy ở nơi Chúa đang ở. Chúa không ở trong quá khứ theo nghĩa con có thể quay lại để thay đổi nó. Chúa đã ở đó, và lòng thương xót Ngài bao phủ nó. Chúa không đòi con đi trước vào tương lai. Ngài đã ở đó trước con và đang chuẩn bị đường. Nhưng nơi con gặp Ngài là bây giờ.
Con có thể dành cả đời tìm Chúa trong những kinh nghiệm phi thường trong khi Ngài đang chờ trong tiếng chuông đánh thức buổi sáng, trong bàn làm việc, trong người anh em ngồi đối diện, trong một giờ chầu yên lặng, trong cơn đau nhẹ, trong bữa cơm đơn sơ, trong bổn phận không ai thấy. Thánh ý Chúa hiếm khi đến với tiếng sấm. Phần lớn nó đến dưới hình thức câu hỏi rất nhỏ: “Con sẽ sống phút này thế nào?”
Khi giận: phút này con có im được không? Khi bị tổn thương: phút này con có tránh trả đũa không? Khi mệt: phút này con có thành thật nhận giới hạn không? Khi vui: phút này con có tạ ơn không? Khi người khác cần: phút này con có mở lòng không? Khi cám dỗ: phút này con có quay về với Chúa không? Khi thất bại: phút này con có đứng dậy không? Khi thành công: phút này con có trả vinh quang cho Chúa không?
Thánh thiện được quyết định trong những câu trả lời như vậy.
19. HỠI LINH HỒN, ĐỪNG ĐÁNH MẤT HÔM NAY
Hỡi linh hồn, đừng đánh mất hôm nay vì một ngày hôm qua đã không như ý. Đừng đánh mất hôm nay vì một ngày mai chưa chắc sẽ đến. Đừng hy sinh sự bình an hiện tại cho những kịch bản trí tưởng tượng dựng lên. Đừng tự kết án mình vì điều Chúa đã tha. Đừng bắt mình phải mang ân sủng của những thử thách chưa tới. Đừng để cuộc đời con trôi qua trong câu nói: “Khi nào… thì tôi sẽ sống.”
Hãy sống bây giờ.
Nếu phải yêu, yêu bây giờ. Nếu phải xin lỗi, xin lỗi bây giờ. Nếu phải tha thứ, bắt đầu tha thứ bây giờ. Nếu phải cầu nguyện, cầu nguyện bây giờ. Nếu phải từ bỏ một điều đang kéo con xa Chúa, hãy từ bỏ bây giờ. Nếu phải làm bổn phận, hãy làm bây giờ. Nếu phải nghỉ để khỏi kiệt sức, hãy nghỉ bây giờ. Nếu phải đứng lên sau vấp ngã, hãy đứng lên bây giờ.
Con có thể không thay đổi được cả đời trong một ngày, nhưng con có thể trao ngày này cho Chúa. Con có thể không sửa được mọi thói quen trong một giờ, nhưng con có thể sống giờ này khác đi. Con có thể không biết mình sẽ trung tín đến cuối đời thế nào, nhưng con có thể trung tín trong hành vi đang ở trước mặt.
Và như thế, từng phút trung tín nối với nhau. Một ngày nối với một ngày. Những việc nhỏ được làm trong tình yêu nối với nhau. Những lần ngã rồi đứng dậy nối với nhau. Những lời nguyện tắt nối với nhau. Những lần phó thác nối với nhau. Cho đến một ngày, con quay lại và nhận ra Chúa đã dẫn con đi rất xa, không phải bằng một cú nhảy lớn, nhưng bằng vô số bước nhỏ trong hiện tại.
20. LỜI KẾT – HÔM NAY, NẾU CON NGHE TIẾNG NGƯỜI
Hỡi linh hồn, cuộc đời con không được trao cho con cùng một lúc. Nếu Chúa đặt cả đời trên tay con trong một khoảnh khắc, con sẽ không mang nổi. Ngài trao từng ngày. Trong ngày, Ngài trao từng giờ. Trong giờ, từng phút. Trong mỗi phút, một bổn phận vừa đủ, một ơn vừa đủ, một lời mời gọi vừa đủ. Đó là lòng thương xót.
Đừng đòi biết những gì Chúa chưa muốn con biết. Đừng cố sửa điều đã đi qua bằng sự dằn vặt. Đừng chịu trước những đau khổ chưa đến. Hãy làm cho giây phút đang có trở thành nơi gặp gỡ.
Hôm nay con còn thở, hãy tạ ơn. Hôm nay con còn có thể yêu, hãy yêu. Hôm nay con còn có thể cầu nguyện, hãy cầu nguyện. Hôm nay con còn có thể sửa một điều, hãy sửa. Hôm nay con còn có thể xin lỗi, hãy xin lỗi. Hôm nay con còn có thể tha thứ, hãy tha thứ. Hôm nay con còn có thể bắt đầu lại, hãy bắt đầu.
“Ngày hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Người, các ngươi đừng cứng lòng.” Tiếng Chúa luôn vang lên trong hôm nay. Không phải chỉ trong những biến cố huy hoàng, nhưng trong điều nhỏ đang đứng trước mặt con. Một bổn phận. Một con người. Một đau khổ. Một niềm vui. Một cám dỗ. Một cơ hội để yêu.
Hãy nghe tiếng Chúa hôm nay.
Hãy đáp lại hôm nay.
Hãy chiến đấu hôm nay.
Hãy yêu mến hôm nay.
Hãy phó thác hôm nay.
Hãy sống cho trọn hôm nay.
Và khi ngày hôm nay khép lại, hãy trao nó cho Chúa, bình an đi nghỉ, rồi sáng mai, nếu Ngài còn ban cho con một ngày mới, con lại nhận ngày ấy như lần đầu tiên, không mang theo gánh nặng không cần thiết của hôm qua, không ôm lấy nỗi lo vô ích của ngày mai, chỉ nói một lời rất đơn sơ của người môn đệ đã hiểu con đường:
“Lạy Chúa, con đây. Giây phút này là của Chúa. Xin cho con sống nó với Chúa, trong Chúa và vì Chúa.”
Rồi cứ như thế mà đi.
Không vội.
Không sợ.
Không ngoái lại quá lâu.
Không chạy trước Chúa.
Chỉ bước cùng Ngài trong giây phút đang có.
Vì nơi ấy, ân sủng đang có mặt.
Nơi ấy, thánh ý đang chờ.
Nơi ấy, cuộc chiến đang diễn ra.
Nơi ấy, tình yêu có thể được lựa chọn.
Và nơi ấy, ngay trong một giây phút rất bình thường mà con trung tín sống vì Chúa, sự sống đời đời đã bắt đầu âm thầm nảy mầm trong linh hồn con.
Amen.
CHƯƠNG 44
CHÚA THÁNH THẦN – ĐẤNG BAN SỨC MẠNH VÀ SOI SÁNG TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang cố gắng sống trọn vẹn giây phút hiện tại, đang cố gắng trung tín trong từng việc nhỏ, đang học cách bắt đầu lại mỗi ngày và không để cho những thất bại của hôm qua cướp mất lòng can đảm của hôm nay, con cần phải đi sâu hơn nữa vào một mầu nhiệm rất dịu dàng nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ của đời sống thiêng liêng: con không chiến đấu một mình. Có một Đấng đang ở trong con, âm thầm hơn mọi tiếng nói, gần gũi hơn chính hơi thở của con, mạnh mẽ hơn mọi sức mạnh mà con có thể huy động, sáng hơn mọi suy nghĩ mà trí khôn con có thể tìm ra. Đấng ấy là Chúa Thánh Thần. Ngài không chỉ đứng bên cạnh để nhìn con chiến đấu. Ngài không phải một vị khách thỉnh thoảng ghé qua đời sống con trong những giờ phút sốt sắng. Ngài cũng không chỉ xuất hiện trong những biến cố đặc biệt, trong những giờ cầu nguyện mạnh mẽ, trong những lần tĩnh tâm hay những khoảnh khắc mà con cảm thấy lòng mình tràn đầy ánh sáng. Không. Từ ngày con được tái sinh trong nước và Thánh Thần, Ngài đã đến cư ngụ trong con. Ngài ở đó cả khi con nhớ đến Ngài và khi con quên Ngài, cả khi con sốt sắng và khi con khô khan, cả khi con mạnh mẽ và khi con yếu đuối, cả khi con đứng vững và cả khi con vừa mới sa ngã rồi đang run rẩy muốn trở về. Nếu con hiểu được điều này không chỉ bằng lý trí nhưng bằng chính đời sống, toàn bộ cuộc chiến linh hồn của con sẽ thay đổi. Con sẽ không còn chiến đấu như một người cô độc đang dùng hết sức mình để chống lại một kẻ thù lớn hơn mình. Con sẽ bắt đầu chiến đấu như một người biết mình được mang lấy bởi ân sủng, được soi dẫn bởi một Ánh Sáng không phát xuất từ mình, được củng cố bởi một Sức Mạnh không tùy thuộc vào cảm xúc hay khả năng tự nhiên của mình. Và đây chính là điều rất nhiều linh hồn quên mất. Họ muốn nên thánh, họ muốn sửa mình, họ muốn thắng những thói quen xấu, họ muốn cầu nguyện tốt, họ muốn kiên nhẫn hơn, khiêm nhường hơn, trong sạch hơn, bác ái hơn; nhưng rồi họ bắt đầu tất cả bằng chính sức mình. Họ lập kế hoạch, họ quyết tâm, họ nghiến răng, họ tự ép mình, họ cố kiểm soát từng phản ứng, và trong một thời gian ngắn có lẽ họ còn thấy mình tiến bộ. Nhưng rồi những ngày mệt mỏi đến, những cám dỗ cũ trở lại, tính khí bộc phát, lòng tự ái bị chạm đến, sự khô khan kéo dài, người khác làm trái ý, công việc chồng chất, thân xác yếu đi, tâm trí căng thẳng, và tất cả những quyết tâm đẹp đẽ bắt đầu rạn vỡ. Khi ấy linh hồn thất vọng vì nghĩ rằng mình không đủ mạnh. Nhưng vấn đề sâu xa không phải là con không đủ mạnh. Vấn đề là con đã được tạo dựng để không bao giờ phải sống đời sống thần linh bằng sức riêng của mình. Sự thánh thiện không phải là sản phẩm của một ý chí con người được rèn luyện đến mức hoàn hảo. Sự thánh thiện trước hết là công trình của ân sủng, là hoa trái của Chúa Thánh Thần trong một linh hồn biết mở ra, biết cộng tác, biết để mình được dẫn dắt, biết nói lời xin vâng từng ngày. Ý chí của con rất quan trọng, nhưng ý chí ấy phải được Thánh Thần thanh luyện và nâng đỡ. Lý trí của con rất cần thiết, nhưng lý trí ấy cần ánh sáng của Thánh Thần. Lòng nhiệt thành của con rất quý giá, nhưng lòng nhiệt thành ấy cần được Thánh Thần định hướng. Ngay cả việc cầu nguyện của con cũng cần chính Thánh Thần dạy con cầu nguyện, bởi có những giờ phút con không biết phải nói gì, không biết phải xin gì, thậm chí không biết phải đứng trước mặt Chúa thế nào. Chính trong những lúc như thế, khi mọi lời lẽ tắt đi, khi lòng con chỉ còn một tiếng thở dài, Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong con, vẫn đang cầu thay cho con bằng những tiếng rên khôn tả, vẫn đang đưa sự yếu đuối của con vào trong lời cầu nguyện của chính Thiên Chúa.
1. CHÚA THÁNH THẦN LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG CHO TOÀN BỘ CUỘC CHIẾN
Hỡi linh hồn, trước khi nghĩ đến Chúa Thánh Thần như Đấng ban cho con một vài ơn trợ giúp trong những lúc cần thiết, con phải hiểu sâu hơn: chính Ngài là nguyên lý sự sống của đời sống thiêng liêng trong con. Cũng như thân xác không thể sống nếu không có hơi thở, linh hồn không thể sống đời sống của Thiên Chúa nếu không có Chúa Thánh Thần. Mọi chuyển động tốt lành chân thật trong con, từ một ước muốn nhỏ bé muốn tránh tội, một sự hối tiếc chân thành sau khi xúc phạm đến Chúa, một khao khát muốn cầu nguyện, một thôi thúc muốn xin lỗi, một quyết định muốn tha thứ, một chút can đảm để đứng dậy, một nỗi đau vì đã sống không xứng đáng, một niềm vui khi được làm một việc tốt âm thầm mà không ai biết, tất cả đều mang dấu vết của hoạt động ân sủng. Không phải vì thế mà con trở thành thụ động. Không phải vì thế mà con có thể ngồi yên rồi nói: “Nếu Chúa muốn, Ngài sẽ làm hết.” Không. Chúa Thánh Thần không hủy bỏ tự do của con; Ngài đánh thức nó, chữa lành nó, nâng nó lên và mời nó cộng tác. Ngài không chiến đấu thay con theo nghĩa làm cho con không cần chiến đấu; Ngài chiến đấu trong con bằng cách làm cho chính con có khả năng chiến đấu theo cách của Thiên Chúa. Ngài không làm cho con khỏi phải nói “không” với cám dỗ; Ngài ban cho lời “không” ấy một sức mạnh mà con không thể tự sản sinh. Ngài không làm cho con khỏi phải tha thứ; Ngài đổ tình yêu Thiên Chúa vào lòng con để con có thể tha thứ điều mà sức riêng con thấy không thể tha thứ. Ngài không làm cho con khỏi phải chịu đau; Ngài biến đau khổ được đón nhận trong tình yêu thành của lễ. Ngài không luôn làm cho đường nên thánh trở nên dễ dàng; nhưng Ngài làm cho đường ấy trở thành con đường có thể đi được.
Con hãy nhìn lại những lần mình đã đứng dậy sau một sa ngã mà chính con từng nghĩ rằng mình không thể đứng dậy nữa. Con hãy nhớ những lúc tưởng như lòng mình đã chai cứng nhưng rồi bỗng nhiên một câu Lời Chúa, một lời khuyên, một ánh nhìn của người khác, một biến cố rất nhỏ hay thậm chí một khoảnh khắc thinh lặng lại làm cho con mềm lòng. Con hãy nhớ những lúc mình đã rất giận nhưng rồi không hiểu vì sao lại có thể im lặng thay vì đáp trả. Những lúc con sắp tuyệt vọng nhưng vẫn còn một sợi hy vọng rất mỏng manh giữ con lại. Những lúc con không muốn cầu nguyện nhưng cuối cùng vẫn quỳ xuống. Những lúc con cảm thấy chẳng còn gì để dâng Chúa, nhưng vẫn nói được: “Lạy Chúa, con ở đây.” Đừng vội gán tất cả những điều ấy cho sức chịu đựng hay sự tốt lành của mình. Có thể chính Chúa Thánh Thần đã âm thầm hoạt động trong con, nhẹ nhàng đến mức con không nhận ra, kín đáo đến mức con tưởng đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua. Ngài rất thường làm việc như thế. Chúa Thánh Thần không thích phô trương. Ngài làm cho Chúa Kitô lớn lên trong con và dạy con nhỏ lại. Ngài soi sáng nhưng không cưỡng ép. Ngài thúc đẩy nhưng không đè nặng. Ngài cảnh báo nhưng vẫn tôn trọng tự do. Ngài dẫn dắt nhưng không kéo lê. Và bởi vì Ngài rất nhẹ nhàng, người sống ồn ào bên trong thường bỏ lỡ tiếng Ngài.
Từ ngày chịu phép Rửa, con không còn chỉ mang trong mình sự sống tự nhiên. Con đã được đưa vào đời sống của Ba Ngôi. Chúa Thánh Thần làm cho con có thể gọi Thiên Chúa là Cha không như một cách xưng hô đạo đức, nhưng như một thực tại của ân sủng. Chính vì thế, cuộc chiến chống tội lỗi không phải chỉ là cuộc chiến để trở thành một người đạo đức hơn. Nó là cuộc chiến để bảo vệ và làm triển nở sự sống của người con Thiên Chúa nơi con. Khi con chống lại một cám dỗ, con không chỉ đang tránh một hành vi xấu; con đang chọn sống theo Thần Khí thay vì theo xác thịt. Khi con hy sinh ý riêng, con không chỉ đang làm một việc khổ chế; con đang mở thêm chỗ cho Thánh Thần làm chủ. Khi con tha thứ, con không chỉ đang giữ hòa khí; con đang để tình yêu của Thiên Chúa đi qua trái tim mình. Khi con kiên trì trong giờ cầu nguyện khô khan, con không chỉ đang giữ một kỷ luật; con đang tuyên bố bằng chính thân xác và thời gian của mình rằng Thiên Chúa đáng được yêu ngay cả khi con không cảm thấy gì. Và chính Chúa Thánh Thần làm cho những hành vi tưởng như rất nhỏ ấy trở thành những viên đá xây nên con người mới trong con.
2. CHÚA THÁNH THẦN SOI SÁNG ĐỂ CON NHÌN THẤY SỰ THẬT VỀ CHÍNH MÌNH
Một trong những điều khó nhất trong cuộc chiến linh hồn không phải là chiến đấu, nhưng là biết mình thực sự đang chiến đấu với điều gì. Có người nghĩ mình đang chiến đấu với tính nóng nảy, trong khi gốc rễ thật lại là lòng tự ái. Có người tưởng vấn đề của mình là lười biếng, nhưng sâu hơn lại là nỗi sợ thất bại. Có người nghĩ mình đang bảo vệ sự thật, nhưng thật ra đang bảo vệ danh dự của mình. Có người tưởng mình nhiệt thành vì Chúa, nhưng sâu trong lòng lại đang khát được công nhận. Có người tưởng mình im lặng vì khiêm nhường, nhưng thật ra vì giận dỗi. Có người tưởng mình đang tha thứ, nhưng trong lòng vẫn âm thầm mong người kia phải trả giá. Có người tưởng mình đang làm việc tông đồ rất nhiều vì yêu Chúa, nhưng thật ra lại không thể chịu nổi cảm giác mình không được cần đến. Tâm hồn con người rất sâu, rất phức tạp, và lòng tự ái có khả năng khoác lên mình những bộ áo rất đạo đức. Chính vì thế, con cần Chúa Thánh Thần soi sáng.
Ánh sáng của Chúa Thánh Thần không giống ánh sáng của sự tự kết án. Sự tự kết án làm con nhìn thấy lỗi rồi ghét chính mình. Ánh sáng của Thánh Thần làm con nhìn thấy lỗi nhưng vẫn có thể đứng trước Chúa với lòng tín thác. Sự tự kết án nói: “Mày tệ quá, chẳng bao giờ thay đổi được.” Thánh Thần nói: “Đây là sự thật về con, nhưng sự thật ấy không lớn hơn lòng thương xót của Cha.” Sự tự kết án làm con muốn trốn khỏi ánh sáng. Chúa Thánh Thần làm con muốn bước vào ánh sáng bởi con biết ở đó có chữa lành. Khi Thánh Thần soi sáng, đôi khi điều con nhìn thấy về mình rất đau. Con có thể nhận ra những động cơ ích kỷ đã ẩn sau nhiều năm làm việc tốt. Con có thể nhận ra sự kiêu ngạo trong chính những điều con từng gọi là lòng nhiệt thành. Con có thể thấy mình đã dùng việc phục vụ để tìm giá trị cho bản thân, dùng sự nghiêm khắc để che giấu nỗi bất an, dùng đạo đức để tránh đối diện với vết thương, dùng im lặng để trừng phạt người khác, dùng sự hy sinh để buộc người khác mang ơn mình. Những phát hiện ấy có thể làm con choáng váng. Nhưng hỡi linh hồn, đừng sợ ánh sáng. Một căn phòng tối chỉ có thể được dọn sạch khi ánh sáng được bật lên. Một vết thương chỉ có thể được chữa khi nó được mở ra. Thánh Thần không vạch trần con để làm nhục con. Ngài đưa sự thật ra ánh sáng để giải thoát con.
Vì vậy, trong cuộc chiến hàng ngày, một trong những lời cầu nguyện cần thiết nhất không phải là: “Lạy Chúa, xin cất cám dỗ này đi”, nhưng là: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin cho con thấy điều đang thật sự xảy ra trong lòng con.” Con hãy xin ánh sáng trước khi phản ứng. Khi ai đó làm con đau, thay vì lập tức kết luận họ sai, hãy hỏi: “Lạy Chúa Thánh Thần, điều gì trong con đang bị chạm đến?” Khi con cảm thấy ghen tị trước thành công của người khác, đừng chỉ xấu hổ vì mình ghen; hãy xin Thánh Thần chỉ cho con thấy nỗi thiếu thốn nào đang nằm dưới sự ghen tị ấy. Khi con bị cám dỗ tìm lời khen, hãy hỏi điều gì làm con sợ nếu không được ai nhìn nhận. Khi con bực bội vì người khác không làm theo ý mình, hãy hỏi xem con đang bảo vệ điều chính đáng hay đang bảo vệ quyền kiểm soát. Nếu con tập sống như vậy, dần dần cuộc chiến sẽ đi vào chiều sâu. Con sẽ không chỉ cắt ngọn mà bắt đầu chạm tới rễ. Và khi rễ được đưa ra ánh sáng, Chúa Thánh Thần có thể chữa lành điều mà những cố gắng bề mặt không bao giờ chữa được.
3. CHÚA THÁNH THẦN GIÚP CON PHÂN ĐỊNH GIỮA TIẾNG CHÚA, Ý RIÊNG VÀ CÁM DỖ
Không phải mọi ý nghĩ xuất hiện trong lòng đều đến từ Chúa. Không phải mọi điều làm con cảm thấy bình an đều là thánh ý Chúa. Cũng không phải mọi điều làm con khó chịu đều là cám dỗ. Có những lúc thánh ý Chúa làm con phải đau vì nó đụng đến ý riêng. Có những lúc cám dỗ lại làm con cảm thấy rất dễ chịu vì nó chiều theo bản tính. Vì thế, linh hồn muốn tiến xa không thể chỉ sống bằng cảm xúc. Con phải học phân định, và người thầy sâu xa nhất của sự phân định là Chúa Thánh Thần.
Có những tiếng nói rất giống tiếng đạo đức nhưng không đến từ Thiên Chúa. Một tiếng nói bảo con: “Con phải làm tất cả, nếu không mọi việc sẽ hỏng.” Nghe có vẻ trách nhiệm, nhưng đôi khi bên dưới là kiêu ngạo và kiểm soát. Một tiếng nói bảo: “Con phải hoàn hảo, không được sai.” Nghe có vẻ thánh thiện, nhưng nó có thể dẫn đến tuyệt vọng vì Thiên Chúa không đòi con trở thành hoàn hảo trong một ngày; Ngài đòi con trung tín bước đi. Một tiếng nói bảo: “Người ta không hiểu con, tốt hơn hết đừng nói gì với ai.” Nghe có vẻ khôn ngoan, nhưng đôi khi đó là cám dỗ cô lập. Một tiếng nói bảo: “Con đã thất bại quá nhiều, cầu nguyện nữa cũng vô ích.” Đó chắc chắn không phải tiếng của Thánh Thần, bởi Chúa Thánh Thần luôn dẫn con về với lòng thương xót, ngay cả khi Ngài khiển trách con rất mạnh. Tiếng Ngài có thể làm con đau, nhưng không bao giờ làm con tuyệt vọng. Tiếng Ngài có thể vạch tội, nhưng đồng thời mở một cánh cửa để trở về. Tiếng Ngài có thể đòi hỏi hy sinh lớn, nhưng ở đáy sâu vẫn có một sự tự do kỳ lạ. Cám dỗ thường thúc con bằng hoảng sợ, gấp gáp, tự ái, cay đắng hoặc tuyệt vọng. Thánh Thần thường dẫn con bằng ánh sáng, sự thật, tự do, khiêm nhường và một thứ bình an không nhất thiết là dễ chịu nhưng rất sâu.
Để phân định, con phải tập dừng lại. Một linh hồn phản ứng quá nhanh sẽ rất khó nghe được Thánh Thần. Con bị xúc phạm, con lập tức nói. Con bị hiểu lầm, con lập tức giải thích. Con thấy một điều không đúng ý, con lập tức can thiệp. Con nhận một lời đề nghị, con lập tức quyết định. Con cảm thấy buồn, con lập tức tìm thứ gì đó để làm mình dễ chịu. Chính sự vội vàng ấy khiến nhiều sai lầm xảy ra. Hãy tập tạo ra một khoảng rất nhỏ giữa điều xảy đến và phản ứng của con. Chỉ một vài giây thôi. “Lạy Chúa Thánh Thần, xin dẫn con.” Một lời nguyện ngắn như thế có thể cứu con khỏi một câu nói khiến con phải hối tiếc cả ngày. Nó có thể giữ con khỏi gửi một tin nhắn trong cơn giận. Nó có thể làm con im lặng đúng lúc. Nó có thể cho con can đảm nói một lời cần nói dù con sợ. Con đừng xem thường những khoảng dừng nhỏ ấy. Đó là nơi tự do được sinh ra. Đó là nơi bản năng không còn cai trị hoàn toàn. Đó là nơi Thánh Thần có thể chen vào giữa cám dỗ và quyết định của con.
4. CHÚA THÁNH THẦN BAN SỨC MẠNH KHI CON KHÔNG CÒN SỨC
Có những giai đoạn trong đời sống thiêng liêng mà lời khuyên “hãy cố gắng hơn” gần như trở thành một gánh nặng. Bởi con đã cố rồi. Con đã cầu nguyện rồi. Con đã quyết tâm rồi. Con đã chiến đấu nhiều năm với cùng một thói xấu. Con đã hứa không biết bao nhiêu lần. Có những ngày con thức dậy và đã mệt trước khi trận chiến bắt đầu. Có những nỗi đau kéo dài quá lâu làm ý chí con kiệt quệ. Có những hoàn cảnh không thay đổi dù con đã cầu xin rất nhiều. Có những người cứ tiếp tục làm con tổn thương. Có những giới hạn nơi chính mình mà con muốn vượt nhưng chưa thể vượt. Trong những giờ phút ấy, điều con cần không phải là thêm một lời trách rằng con chưa cố đủ. Điều con cần là nhớ rằng Chúa Thánh Thần là Đấng ban sức mạnh.
Sức mạnh của Thánh Thần không phải lúc nào cũng được cảm thấy như một cơn lửa bùng lên. Nhiều khi sức mạnh của Ngài chỉ là khả năng chịu thêm một ngày mà không bỏ cuộc. Là việc con vẫn đi dự lễ dù lòng khô khan. Là việc con vẫn làm bổn phận dù không có hứng. Là việc con không nói câu cay độc đang ở trên đầu lưỡi. Là việc con chấp nhận ngủ một đêm với vấn đề chưa giải quyết thay vì làm một điều hấp tấp. Là việc con đứng dậy sau một lần sa ngã mà không dành ba ngày để tự khinh bỉ mình. Là việc con vẫn có thể nói: “Lạy Chúa, con tin” trong khi mọi cảm giác đều nói ngược lại. Đừng coi những điều này là nhỏ. Có những chiến thắng của Chúa Thánh Thần rất âm thầm. Người khác không thấy. Chính con đôi khi cũng không thấy. Nhưng Nước Thiên Chúa lớn lên trong lòng con qua những hành vi trung tín kín đáo ấy.
Đừng đòi Chúa Thánh Thần phải luôn cất thử thách đi mới tin rằng Ngài đang giúp con. Có lúc Ngài giải thoát con khỏi một cám dỗ. Có lúc Ngài để cám dỗ tiếp tục nhưng làm cho con mạnh hơn. Có lúc Ngài thay đổi hoàn cảnh. Có lúc Ngài không thay đổi hoàn cảnh mà thay đổi chính con. Có lúc Ngài cất một người khó chịu khỏi đời con. Có lúc Ngài để người ấy ở đó vì qua tương quan ấy, một góc kiêu ngạo trong con đang được mài mòn. Có lúc Ngài chữa lành một vết thương rất nhanh. Có lúc Ngài để quá trình chữa lành kéo dài, vì trong thời gian ấy con học được lòng kiên nhẫn, sự khiêm nhường và lòng thương cảm đối với những người cũng đang mang thương tích. Con thường muốn Chúa làm cho cuộc chiến ngắn lại. Nhưng đôi khi Thánh Thần dùng chính cuộc chiến dài lâu để biến con thành một con người sâu hơn. Điều quan trọng không phải là con hết chiến đấu nhanh đến đâu, nhưng là trong cuộc chiến ấy con có thuộc về Chúa hơn không.
5. CHÚA THÁNH THẦN DẠY CON CẦU NGUYỆN KHI CON KHÔNG BIẾT CẦU NGUYỆN
Có những lúc con bước vào nhà nguyện mà không có gì để nói. Có những lúc con mở sách nhưng chữ nghĩa không đi vào lòng. Có những lúc kinh nguyện trở thành khô cứng. Có những lúc con chẳng cảm thấy Chúa gần. Có khi trong lòng con chỉ đầy tiếng ồn, cay đắng, lo lắng, mệt mỏi hoặc trống rỗng. Con có thể tưởng rằng giờ cầu nguyện như thế là thất bại. Không phải. Nếu con vẫn ở lại, nếu con vẫn để thân xác mình hiện diện trước Chúa, nếu con có thể thở ra một lời rất ngắn: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin cầu nguyện trong con”, thì chính sự nghèo khó ấy có thể trở thành một lời cầu nguyện rất sâu.
Chúa Thánh Thần không chỉ giúp con tìm những lời đẹp để nói với Thiên Chúa. Ngài làm điều sâu hơn: Ngài đưa linh hồn con vào tương quan của người Con với Chúa Cha. Ngài dạy con cầu nguyện bằng chính sự hiện diện. Dạy con không cần lúc nào cũng phải có cảm giác. Dạy con chấp nhận những giờ cầu nguyện mà mình chẳng “được” gì. Bởi tình yêu trưởng thành không chỉ tìm an ủi. Một người mẹ thức bên giường đứa con bệnh không cần mỗi phút phải cảm thấy xúc động mới gọi đó là tình yêu. Sự hiện diện của bà đã là tình yêu. Cũng thế, khi con ở lại với Chúa trong khô khan, việc con ở lại đã là một lời cầu nguyện. Chúa Thánh Thần có thể làm việc sâu nhất chính trong những giờ phút con chẳng cảm thấy gì, bởi khi đó những bám víu vào cảm xúc đang dần được thanh luyện. Con học yêu Chúa vì Chúa là Chúa, chứ không vì Ngài làm cho con cảm thấy dễ chịu.
Hãy để Chúa Thánh Thần dạy con một lời cầu nguyện đơn sơ hơn. Có lúc chỉ cần lặp lại chậm rãi: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.” Không cần tìm cảm giác. Không cần ép lòng. “Xin soi sáng con.” “Xin thanh luyện con.” “Xin làm cho con biết điều Chúa muốn.” “Xin giúp con yêu.” “Xin giúp con tha thứ.” “Xin giữ miệng con khỏi nói điều không nên nói.” “Xin giúp con trung tín mười phút nữa.” Những lời ấy rất nghèo, nhưng sự nghèo khó chân thành mở cửa cho ân sủng. Một trong những cạm bẫy của người đã sống đời thiêng liêng lâu năm là tưởng mình phải cầu nguyện cao siêu. Không. Trước mặt Chúa, con vẫn mãi là một người nghèo cần Thánh Thần trợ giúp.
6. CHÚA THÁNH THẦN VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG LẠI ĐAM MÊ
Hỡi linh hồn, đam mê không được chữa lành chỉ bằng cách ép nó xuống. Có những người có vẻ rất kỷ luật nhưng bên trong đầy căng thẳng. Họ không bùng nổ, nhưng lòng cay đắng vẫn tồn tại. Họ không phạm một hành vi rõ ràng, nhưng trí tưởng tượng không được thanh luyện. Họ kiểm soát lời nói, nhưng trong lòng vẫn xét đoán. Họ ép mình khiêm nhường, nhưng âm thầm mong người khác nhận ra sự khiêm nhường ấy. Đó là lý do cuộc chiến cần Chúa Thánh Thần: Ngài không chỉ sửa hành vi; Ngài muốn biến đổi nguồn phát sinh hành vi.
Thánh Thần muốn chạm vào lòng tự ái, không chỉ vào những biểu hiện của nó. Ngài muốn chữa sự sợ hãi nằm dưới nhu cầu kiểm soát. Ngài muốn chữa sự thiếu an toàn nằm dưới nhu cầu được khen. Ngài muốn chữa những vết thương nằm dưới sự nóng giận. Ngài muốn giải phóng con khỏi những nỗi trống rỗng khiến con tìm bù trừ nơi những thú vui không lành mạnh. Vì thế, có những lúc khi con cầu xin chiến thắng một tật xấu, Chúa lại dẫn con vào một hành trình sâu hơn con tưởng. Con xin hết nóng giận, Ngài bắt đầu cho con nhìn thấy những tự ái chưa được chết đi. Con xin trong sạch, Ngài cho con thấy những khoảng trống tình cảm và những cách con tìm kiếm sự an ủi sai chỗ. Con xin khỏi ghen tị, Ngài dẫn con đến chỗ nhận ra con chưa thật sự tin rằng mình được yêu đủ. Con xin khỏi nói xấu, Ngài soi cho thấy con dùng việc nói về lỗi người khác để cảm thấy mình tốt hơn. Đừng sợ hành trình ấy. Đó không phải là Chúa làm mọi thứ trở nên phức tạp. Đó là Ngài chữa từ rễ.
Hoa trái của Thánh Thần không phải chỉ là một vài hành vi tốt riêng lẻ, nhưng là một con người mới đang lớn lên trong con: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Hãy để ý: những điều ấy không đơn thuần là kỹ năng tự kiểm soát. Đó là hoa trái. Hoa trái không được dán từ bên ngoài vào một cái cây. Nó sinh ra từ sự sống ở bên trong. Cũng vậy, con có thể luyện cách nói năng hiền hòa, nhưng chỉ Thánh Thần mới làm cho lòng con thật sự hiền. Con có thể ép mình nhẫn nhịn, nhưng chỉ Thánh Thần mới biến sự nhẫn nhịn ấy thành lòng kiên nhẫn có tình yêu. Con có thể giữ vẻ mặt bình thản, nhưng chỉ Thánh Thần mới ban bình an tận đáy lòng. Vì thế, thay vì chỉ hỏi mỗi ngày: “Hôm nay con phải sửa điều gì?”, hãy hỏi thêm: “Hôm nay con cần mở chỗ nào cho Chúa Thánh Thần?”
7. SỰ BẤT TÍN NHIỆM VÀO MÌNH CHỈ TRỞ THÀNH NHÂN ĐỨC KHI ĐƯỢC THÁNH THẦN THANH LUYỆN
Trong cuộc chiến linh hồn, con đã được nhắc nhiều lần về sự bất tín nhiệm vào chính mình. Nhưng hỡi linh hồn, hãy rất cẩn thận, bởi nếu thiếu Chúa Thánh Thần, sự bất tín nhiệm vào mình có thể biến thành mặc cảm, tự khinh, bi quan hoặc thất vọng. Thiên Chúa không muốn con ghét chính mình. Ngài muốn con nhận biết sự thật về sự yếu đuối của mình để con thôi xây nhà trên cát và bắt đầu đặt nền trên Ngài. Khi Thánh Thần thanh luyện, con có thể nhìn thẳng vào giới hạn của mình mà không tuyệt vọng. Con có thể nói: “Con rất yếu” mà không thêm câu: “Vì thế con vô dụng.” Con có thể thừa nhận: “Con có thể sa ngã bất cứ lúc nào” nhưng đồng thời nói: “Vì thế con cần bám lấy Chúa từng phút.” Con có thể nhận lỗi mà không mất phẩm giá, bởi phẩm giá sâu nhất của con không nằm trong thành tích đạo đức nhưng nằm ở việc con là người được Thiên Chúa yêu và cứu chuộc.
Đây là một dấu chỉ quan trọng để phân định. Nếu sau khi nhìn thấy lỗi mình, con trở nên khiêm nhường hơn, dịu dàng hơn với người khác, cậy trông hơn vào Chúa, đó là ánh sáng tốt. Nếu sau khi nhìn thấy lỗi mình, con trở nên cay đắng, tự ghét, muốn bỏ cuộc, không muốn cầu nguyện, thì rất có thể kẻ thù đã lợi dụng sự thật để đưa con vào tuyệt vọng. Thánh Thần cho con sự thật nhưng luôn giữ mở cánh cửa của hy vọng. Ma quỷ có thể nói điều đúng về lỗi của con nhưng rút ra kết luận sai: “Vì con như thế nên Chúa không thể dùng con.” Thánh Thần nói: “Đúng, con yếu. Chính vì thế hãy để quyền năng của Thiên Chúa hoạt động trong sự yếu đuối ấy.” Một bên dẫn đến cô lập. Một bên dẫn đến phó thác. Một bên làm con nhìn mình mãi. Một bên làm con nhìn lên Chúa.
8. SỰ TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA ĐƯỢC CHÚA THÁNH THẦN LÀM CHO TRỞ THÀNH SỐNG ĐỘNG
Nhiều người nói mình tín thác, nhưng sự tín thác chỉ được thử khi điều xảy ra không giống điều mình mong đợi. Khi khỏe mạnh, nói “con tín thác” tương đối dễ. Khi công việc thuận lợi, khi cộng đoàn bình an, khi người khác hiểu mình, khi sứ vụ có kết quả, khi cầu nguyện có an ủi, lòng tin dường như rất tự nhiên. Nhưng khi một cánh cửa đóng lại, khi một người rời bỏ con, khi điều con cầu xin không xảy ra, khi hiểu lầm kéo dài, khi một dự định đẹp tan vỡ, khi bệnh tật hay tuổi tác làm con không còn làm được điều mình từng làm, lúc ấy mới lộ ra con đã đặt nền ở đâu. Chúa Thánh Thần là Đấng dạy con tín thác ngay trong bóng tối.
Ngài không luôn giải thích tại sao. Có những điều con sẽ chẳng hiểu trong đời này. Nhưng Thánh Thần có thể làm cho con nói được một lời mà lý trí không đủ sức tự nói: “Lạy Cha, con không hiểu, nhưng con vẫn thuộc về Cha.” Đây là một trong những chiến thắng lớn nhất của đời sống thiêng liêng. Không phải luôn luôn là thắng được một cám dỗ mạnh, nhưng là giữ được lòng tín thác khi không còn hiểu đường Chúa dẫn. Nếu con giữ được điều ấy, ma quỷ đã thua một trận rất lớn. Bởi mục tiêu sâu xa của cám dỗ không chỉ là làm con phạm một lỗi riêng lẻ. Nó muốn làm con nghi ngờ lòng tốt của Thiên Chúa. Nó muốn gieo vào lòng con câu hỏi cũ xưa: “Thiên Chúa có thật sự tốt với ngươi không?” Chúa Thánh Thần chống lại lời dối trá ấy bằng việc đổ tình yêu Thiên Chúa vào lòng con. Ngay cả khi hoàn cảnh không đổi, con vẫn có thể biết ở một tầng sâu hơn rằng mình không bị bỏ rơi.
9. HÃY HỌC LẮNG NGHE TIẾNG THÁNH THẦN TRONG NHỮNG ĐIỀU RẤT NHỎ
Đừng chỉ tìm Chúa Thánh Thần trong những quyết định lớn. Nếu con không học nghe Ngài trong những điều nhỏ, con sẽ rất khó nhận ra Ngài trong những bước ngoặt lớn. Ngài có thể nói với con khi con sắp trả lời một người bằng giọng khó chịu: “Nhẹ lại.” Ngài có thể nhắc: “Đừng nói câu ấy.” Ngài có thể thúc: “Hãy gọi cho người này.” “Hãy xin lỗi.” “Hãy để người khác nói hết.” “Đừng mở thứ ấy.” “Hãy rời khỏi nơi này.” “Hãy cầu nguyện cho người vừa làm con giận.” “Hôm nay đừng biện minh.” “Hãy đi nghỉ, con đang kiệt sức và sẽ dễ sa ngã nếu cứ cố.” “Hãy làm việc bổn phận trước khi làm điều con thích.” Những thúc đẩy ấy thường rất nhỏ. Nếu con quen phớt lờ, lương tâm sẽ dần chai. Nếu con trung tín đáp lại, lòng con sẽ ngày càng nhạy.
Sự nhạy bén với Chúa Thánh Thần không hình thành bằng việc tìm cảm giác lạ, nhưng bằng lòng trung tín bình thường. Người thường xuyên bỏ qua một điều mình biết rõ là đúng rồi lại chờ Chúa cho một dấu chỉ lớn là người chưa hiểu cách Ngài dẫn dắt. Chúa thường soi bước kế tiếp, không soi cả con đường. Con muốn biết toàn bộ tương lai, nhưng Ngài nói: “Hôm nay hãy trung tín.” Con muốn biết sứ vụ sẽ đi đâu, Ngài nói: “Việc trước mắt hãy làm với tình yêu.” Con muốn biết bao giờ một thử thách kết thúc, Ngài nói: “Ngày hôm nay Ta ban đủ ơn.” Chính điều ấy bảo vệ con khỏi ảo tưởng kiểm soát. Nếu Chúa cho con thấy hết mọi thứ, có thể con sẽ cậy vào kế hoạch hơn cậy vào Ngài. Vì thế, nhiều lúc ánh sáng của Thánh Thần giống như ngọn đèn đủ soi một vài bước trong đêm. Con bước một bước, ánh sáng lại mở thêm.
10. ĐỪNG LÀM BUỒN CHÚA THÁNH THẦN BẰNG SỰ CỐ CHẤP VỚI Ý RIÊNG
Một trong những cản trở lớn nhất đối với hoạt động của Chúa Thánh Thần là ý riêng được bảo vệ quá chặt. Con có thể cầu nguyện xin Chúa dẫn dắt, nhưng trong lòng đã quyết định sẵn Chúa phải dẫn theo hướng nào. Con có thể hỏi: “Chúa muốn gì?” nhưng thật ra chỉ chờ Ngài xác nhận điều mình muốn. Con có thể xin soi sáng nhưng lại không muốn nghe bất cứ ánh sáng nào làm mình phải thay đổi. Trong trường hợp ấy, lời cầu nguyện dễ trở thành cách dùng Thiên Chúa để củng cố ý riêng.
Muốn sống theo Thánh Thần, con phải học một sự mềm dẻo nội tâm: “Lạy Chúa, con muốn điều này, nhưng nếu Chúa muốn điều khác, xin làm cho con có khả năng đón nhận.” Đây là lời nguyện rất khó. Nó đụng vào vùng sâu nhất của cái tôi. Con có thể chấp nhận hy sinh tiền bạc dễ hơn hy sinh ý riêng. Có thể con chịu khó, chịu thiếu thốn, làm nhiều việc đạo đức, nhưng nếu cứ nhất định mọi chuyện phải theo cách mình thì sự tự hiến vẫn chưa chạm tới trung tâm. Chúa Thánh Thần muốn đưa con đến sự tự do của Chúa Giêsu, Đấng không sống cho ý riêng mình nhưng cho ý muốn của Chúa Cha. Sự tự do ấy không phải là không có mong muốn. Chúa Giêsu trong Vườn Dầu đã có mong muốn rất rõ: xin cho chén này qua khỏi. Nhưng sâu hơn mong muốn ấy là lời: “Đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha.” Đó là nơi Thánh Thần muốn dẫn con tới.
Có những ngày con phải lặp lại lời ấy nhiều lần. “Con không muốn hoàn cảnh này, nhưng xin cho ý Chúa được nên trọn.” “Con không thích người này, nhưng xin dạy con yêu họ.” “Con không muốn bị hiểu lầm, nhưng nếu hôm nay con cần im lặng, xin cho con đủ sức im.” “Con muốn được công nhận, nhưng nếu Chúa muốn con ẩn mình, xin giúp con vui trong âm thầm.” “Con muốn việc này thành công, nhưng nếu thất bại giúp con khiêm nhường hơn, xin đừng để con mất bình an.” Khi những lời như thế không chỉ ở miệng mà trở thành lựa chọn, Thánh Thần bắt đầu làm trong con công trình giải thoát rất sâu.
11. CHÚA THÁNH THẦN BAN ƠN CAN ĐẢM ĐỂ LÀM ĐIỀU ĐÚNG KHI ĐIỀU ĐÚNG PHẢI TRẢ GIÁ
Sống theo Thánh Thần không đồng nghĩa với luôn mềm mại theo kiểu tránh va chạm. Có lúc Thánh Thần cho con im lặng, nhưng có lúc Ngài buộc con phải nói. Có lúc Ngài mời con nhường, nhưng có lúc Ngài đòi con đứng vững. Có lúc yêu thương nghĩa là chịu đựng, nhưng có lúc yêu thương nghĩa là ngăn một điều sai tiếp tục. Vì thế, con cần ơn sức mạnh của Thánh Thần, không chỉ để chịu cám dỗ mà còn để làm điều đúng dù phải trả giá.
Có những sự thật rất khó nói. Có những quyết định khiến người khác không hài lòng. Có những giới hạn phải được đặt ra. Có những mối quan hệ cần được thanh luyện. Có những thói quen phải cắt bỏ dứt khoát. Có những dịp tội phải tránh dù điều đó làm con thấy mất mát. Có những lúc con phải chấp nhận bị hiểu lầm vì không thể thỏa hiệp với điều trái lương tâm. Nếu chỉ sống theo nhu cầu được yêu mến, con sẽ dần đánh mất tự do. Chúa Thánh Thần ban sức mạnh để con không biến sự hiền lành thành hèn nhát, không biến lòng bác ái thành việc chiều lòng người khác, không biến đức vâng phục thành sự thiếu phân định, không biến sự bình an thành thái độ né tránh sự thật. Sức mạnh của Thánh Thần luôn đi cùng tình yêu. Nó không làm con thô bạo. Nó cho con khả năng nói sự thật mà không căm ghét, bảo vệ điều đúng mà không tự tôn, chịu mất mát mà không cay đắng.
12. CHÚA THÁNH THẦN DẠY CON ĐỨNG DẬY SAU MỖI LẦN SA NGÃ
Có lẽ một trong những công việc dịu dàng nhất của Chúa Thánh Thần là đưa một linh hồn trở về sau khi nó sa ngã. Kẻ thù rất thích những giờ phút sau sa ngã. Bởi trước khi con phạm tội, nó làm cho tội trở nên nhỏ. Sau khi con phạm, nó làm cho tội trở nên khổng lồ. Trước đó nó nói: “Không sao đâu.” Sau đó nó nói: “Hết rồi.” Đó là sự dối trá kép. Chúa Thánh Thần làm điều ngược lại. Trước tội, Ngài làm lương tâm con tỉnh thức. Sau tội, Ngài mở đường trở về. Ngài không nói tội là nhỏ. Nhưng Ngài cũng không để con nghĩ lòng thương xót là nhỏ.
Khi sa ngã, hãy tập lập tức quay về. Đừng đợi cho mình cảm thấy xứng đáng mới cầu nguyện. Con không trở về vì mình xứng đáng. Con trở về vì Thiên Chúa là Cha. Hãy nói: “Lạy Chúa Thánh Thần, con đã làm buồn Ngài. Xin đừng để con chạy trốn. Xin dẫn con về với Chúa Giêsu.” Một linh hồn biết trở về nhanh sẽ tiến xa hơn một linh hồn ít ngã nhưng kiêu ngạo. Điều này không cổ vũ sự dễ dãi. Nó cổ vũ lòng khiêm nhường. Kẻ thù muốn dùng sa ngã để giữ con nằm xuống. Thánh Thần dùng chính sự yếu đuối được nhìn nhận để đào sâu lòng tín thác. Nếu sau mỗi lần ngã, con trở nên khiêm nhường hơn, cẩn thận hơn, cảm thông hơn với người khác, và bám Chúa hơn, thì ma quỷ không thu được chiến thắng mà nó mong muốn.
13. HÃY KÊU CẦU CHÚA THÁNH THẦN TRONG NHỮNG GIỜ CÁM DỖ
Đừng đợi đến khi cám dỗ đã lớn mới cầu nguyện. Hãy kêu cầu ngay từ tia lửa đầu tiên. Một ý tưởng xấu mới xuất hiện, một cảm giác giận vừa trỗi dậy, một hình ảnh không trong sạch vừa lóe lên, một sự ghen tị bắt đầu, một lời tự thương hại vừa nổi lên, hãy nói ngay: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp con.” Không cần dài. Trong chiến đấu, lời cầu nguyện ngắn đôi khi hữu hiệu hơn việc cố lập luận lâu với cám dỗ. Càng tranh luận với một tư tưởng xấu, con càng cho nó chỗ ở trong đầu. Hãy quay mặt về phía Chúa.
Có thể con phải kêu cầu mười lần trong một phút. Không sao. “Xin giúp con.” “Xin gìn giữ tâm trí con.” “Xin cho con đừng nhìn.” “Xin giữ miệng con.” “Xin cho con đi khỏi nơi này.” “Xin cho con chịu đựng thêm.” “Xin cho con nhớ Chúa đang ở đây.” Những lời cầu ấy là hành vi đức tin. Con đang thú nhận: “Con không đủ sức một mình.” Và chính sự thú nhận ấy mở cửa cho quyền năng của Thiên Chúa. Đừng bao giờ xấu hổ vì phải cầu xin giúp đỡ nhiều lần. Đứa trẻ không xấu hổ vì phải nắm tay cha khi đường trơn. Chính người tưởng mình không cần nắm mới dễ ngã.
14. HÃY TẠO NHỮNG KHOẢNG THINH LẶNG ĐỂ THÁNH THẦN CÓ THỂ ĐƯỢC LẮNG NGHE
Thời đại ồn ào làm cho việc sống theo Thánh Thần trở nên khó không phải vì Ngài nói ít hơn, nhưng vì con nghe quá nhiều tiếng khác. Điện thoại, tin nhắn, thông tin, công việc, những cuộc trò chuyện, những lo lắng chưa giải quyết, những đối thoại tưởng tượng với người đã làm con tổn thương, những kế hoạch cho ngày mai, những hối tiếc của hôm qua, tất cả có thể làm bên trong con không còn một khoảng trống. Một linh hồn không có thinh lặng rất dễ sống bằng phản xạ.
Con không nhất thiết phải có nhiều giờ thinh lặng mỗi ngày. Hãy bắt đầu bằng những khoảng nhỏ nhưng thật. Năm phút không điện thoại. Một đoạn đường đi mà không mở gì nghe. Vài phút sau Thánh lễ để ở lại. Một khoảnh khắc trước khi ngủ để hỏi: “Lạy Chúa Thánh Thần, hôm nay Ngài đã muốn nói gì với con?” Một phút trước một cuộc gặp khó để xin ánh sáng. Thinh lặng không phải là khoảng trống vô ích. Nó là nơi bụi lắng xuống để con có thể nhìn đáy nước.
Trong thinh lặng, đôi khi Chúa không nói điều mới. Ngài chỉ nhắc lại điều con đã biết nhưng tránh né. “Con cần xin lỗi.” “Con phải dừng việc này.” “Con đang sống quá nhanh.” “Con đang bỏ quên cầu nguyện.” “Con cần tha thứ.” “Con cần nghỉ ngơi.” “Con phải chấp nhận mình không kiểm soát được mọi thứ.” Nếu một điều cứ trở lại trong lương tâm cách bình an nhưng dai dẳng, đừng vội gạt đi. Hãy đem nó vào cầu nguyện và phân định. Chúa Thánh Thần thường kiên nhẫn gõ một cánh cửa rất lâu.
15. SỰ TRUNG TÍN VỚI NHỮNG THÚC ĐẨY NHỎ LÀM LINH HỒN NGÀY CÀNG NHẠY BÉN
Hỡi linh hồn, đừng chờ một ơn gọi vĩ đại mới bắt đầu vâng theo Thánh Thần. Đời sống được xây bằng những tiếng “vâng” rất nhỏ. Một lời xin lỗi nói ngay thay vì để sang ngày mai. Một ánh mắt quay đi khỏi điều không nên nhìn. Một câu chuyện xấu được dừng lại bằng sự im lặng. Một lời cầu cho người mình không thích. Một việc phục vụ làm kín đáo. Một lần từ chối biện minh cho mình. Một buổi tối đi ngủ đúng giờ để ngày mai có thể sống bổn phận tốt hơn. Một quyết định đóng màn hình khi biết tâm trí đang bắt đầu bị kéo đi. Một lần chấp nhận không có lời cuối cùng trong một cuộc tranh luận. Chính những điều này huấn luyện linh hồn.
Nếu con thường xuyên nói “vâng” trong việc nhỏ, đến ngày một hy sinh lớn được đòi hỏi, lòng con đã có thói quen vâng phục. Ngược lại, nếu con liên tục bỏ qua những thúc đẩy nhỏ vì nghĩ chúng không quan trọng, đến lúc thử thách lớn tới, con sẽ rất khó nghe và đáp lại. Không ai trở nên anh hùng trong một đêm. Sự thánh thiện được dệt bằng vô số lựa chọn bé nhỏ không ai thấy. Chúa Thánh Thần là nghệ nhân âm thầm dệt nên tấm vải ấy trong đời con, nhưng Ngài cần sự cộng tác của từng tiếng “vâng”.
16. CHÚA THÁNH THẦN LÀM CHO BỐN KHÍ GIỚI NỀN TẢNG TRỞ NÊN SỐNG ĐỘNG
Toàn bộ cuộc chiến mà con đã học có thể trở nên khô cứng nếu tách khỏi Chúa Thánh Thần. Sự bất tín nhiệm vào mình, nếu không có Thánh Thần, có thể biến thành tự ti. Sự tín thác vào Chúa, nếu không có Thánh Thần, có thể trở thành một khẩu hiệu trống rỗng. Việc rèn luyện các năng lực, nếu không có Thánh Thần, có thể trở thành chủ nghĩa ý chí. Cầu nguyện, nếu không mở ra cho Thánh Thần, có thể trở thành việc đọc lời bằng môi miệng mà tâm hồn xa Chúa.
Chính Thánh Thần làm cho sự bất tín nhiệm vào mình trở thành khiêm nhường: con biết mình yếu nhưng không ghét mình. Ngài làm cho tín thác trở thành đức cậy: con không dựa vào cảm giác mà dựa vào lòng trung thành của Thiên Chúa. Ngài làm cho việc rèn luyện trí khôn, ý chí, ký ức, trí tưởng tượng và giác quan trở thành một tiến trình tự do nội tâm chứ không phải một chế độ tự hành xác. Ngài làm cho cầu nguyện trở thành tương quan sống động với Thiên Chúa. Nói cách khác, Thánh Thần là hơi thở bên trong mọi khí giới. Không có Ngài, con cầm vũ khí nhưng không có sự sống. Có Ngài, ngay cả một hành vi nhỏ cũng có thể trở thành nơi ân sủng hoạt động.
17. ĐỪNG TÌM NHỮNG CẢM GIÁC ĐẶC BIỆT ĐỂ CHỨNG MINH RẰNG THÁNH THẦN ĐANG HOẠT ĐỘNG
Đây là một ảo tưởng phải tránh. Có người nghĩ rằng nếu Chúa Thánh Thần hoạt động thì họ phải cảm thấy nóng lòng, xúc động, bình an rõ rệt, có những ý tưởng mạnh mẽ hoặc những trải nghiệm khác thường. Nhưng hoạt động sâu xa nhất của Ngài nhiều khi không đi kèm cảm xúc đặc biệt nào. Một người đang rất khô khan nhưng vẫn trung tín có thể đang được Thánh Thần dẫn dắt sâu hơn một người cảm thấy sốt sắng mạnh mẽ. Một người đang đau nhưng không oán trách có thể đang sống dưới tác động của Thánh Thần mạnh hơn họ biết. Một người từ chối một cám dỗ dù toàn bộ cảm xúc vẫn bị hút về phía nó đang thực hiện một hành vi tự do rất quý giá.
Đừng đo sự hiện diện của Thánh Thần bằng cảm giác. Hãy nhìn hoa trái. Con có dần khiêm nhường hơn không? Có dễ tha thứ hơn không? Có bớt cần chứng minh mình đúng không? Có kiên nhẫn hơn với yếu đuối của người khác không? Có trung tín hơn trong việc nhỏ không? Có tự do hơn trước lời khen và chê không? Có biết trở về với Chúa nhanh hơn sau sa ngã không? Có bình an hơn giữa điều không thể kiểm soát không? Nếu những hoa trái ấy từ từ lớn lên, Thánh Thần đang làm việc, dù con không có trải nghiệm lạ nào.
18. CHÚA THÁNH THẦN DẪN CON ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU CHỨ KHÔNG LÀM CON QUAY VỀ VỚI CHÍNH MÌNH
Một dấu hiệu rất quan trọng của đời sống theo Thánh Thần là con ngày càng ít bị ám ảnh bởi chính mình. Ngài không làm con trở thành một người suốt ngày phân tích mình. Ngài soi sáng để con sửa đổi, rồi kéo con ra khỏi mình để yêu Chúa và phục vụ người khác. Có một kiểu xét mình không lành mạnh khiến con nhìn mãi vào lỗi, tiến bộ, cảm xúc và tình trạng thiêng liêng của mình. Thánh Thần không muốn con sống cong lại trên chính mình như thế. Ngài muốn làm cho con giống Chúa Kitô, nghĩa là tự do để yêu.
Cuối cùng, mục tiêu của cuộc chiến linh hồn không phải là con có thể nói: “Tôi đã kiểm soát được mình.” Mục tiêu là Chúa Kitô được thành hình trong con. Không phải để con trở nên người đáng ngưỡng mộ, nhưng để người khác có thể gặp được một chút lòng thương xót của Chúa qua con. Không phải để con cảm thấy mình đã đạt tới một bậc cao, nhưng để con càng ngày càng không cần bậc cao nào cho mình. Khi Thánh Thần làm việc sâu, con ít quan tâm đến việc người ta nhìn con thế nào và quan tâm hơn đến việc Chúa có được yêu hay không. Con ít bận tâm xem mình có vẻ thánh thiện hay không và bận tâm hơn đến việc người trước mặt có được nâng đỡ hay không. Con ít muốn thắng trong tranh luận và muốn giữ tình yêu hơn. Con ít tìm vị trí, ít tìm quyền kiểm soát, ít tìm lời khen. Đó là sự tự do của Thánh Thần.
19. HÃY BẮT ĐẦU MỖI NGÀY BẰNG MỘT LỜI MỜI CHÚA THÁNH THẦN
Hỡi linh hồn, trước khi cầm điện thoại, trước khi nghĩ đến công việc, trước khi để những lo âu ùa vào đầu, hãy tập một thói quen rất nhỏ: mời Chúa Thánh Thần bước vào ngày mới của con. Dĩ nhiên Ngài đã ở trong con. Lời mời này không phải để làm cho Ngài từ nơi xa đến gần, nhưng để con ý thức và mở lòng với sự hiện diện của Ngài.
Con có thể nói: “Lạy Chúa Thánh Thần, hôm nay con không biết điều gì sẽ xảy đến. Con không biết cám dỗ nào đang chờ con, không biết ai sẽ làm con vui hay làm con khó chịu, không biết điều gì thuận lợi và điều gì trái ý. Nhưng xin Ngài đi trước con. Xin soi trí con để con thấy điều đúng. Xin giữ miệng con khỏi lời không nên nói. Xin gìn giữ mắt con. Xin hướng dẫn các quyết định của con. Xin nhắc con trở về với Chúa khi con bị cuốn đi. Xin cho con biết dừng lại khi phải dừng, nói khi phải nói, im lặng khi phải im, chiến đấu khi phải chiến đấu và buông bỏ khi phải buông bỏ. Xin làm cho ngày hôm nay trở thành một ngày sống trong Thần Khí.”
Nếu con cầu lời ấy mỗi sáng và thật sự cố nhớ đến Ngài trong ngày, dần dần đời sống sẽ đổi. Không phải vì mọi khó khăn biến mất, nhưng vì con không còn đi qua khó khăn một mình.
20. HÃY KHÉP LẠI MỖI NGÀY DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN
Buổi tối, trước khi ngủ, thay vì chỉ kiểm điểm bằng trí nhớ của mình, hãy xin Thánh Thần soi lại ngày sống. “Xin cho con thấy hôm nay Chúa đã ở đâu. Xin cho con thấy con đã đáp lại ở đâu và đã từ chối ở đâu.” Có thể con sẽ nhận ra một ơn đã không biết cảm tạ. Một lần được bảo vệ khỏi cám dỗ. Một lời người khác nói mà qua đó Chúa nhắc con. Một phút con đã mất bình an vì ý riêng. Một lần con có thể im lặng nhưng lại nói. Một thúc đẩy làm điều tốt mà con đã trì hoãn. Hãy nhìn tất cả dưới ánh sáng lòng thương xót.
Đừng biến việc xét mình thành tòa án nơi con vừa là bị cáo vừa là quan tòa. Hãy để Thánh Thần là ánh sáng. Cảm ơn trước, xin lỗi sau, rồi phó thác. “Cảm ơn Chúa vì những gì Ngài đã làm. Xin tha thứ nơi con đã chống lại ân sủng. Xin sửa những gì con không thể sửa. Ngày mai xin cho con bắt đầu lại.” Rồi ngủ. Người sống trong Thánh Thần cũng phải biết trao đêm tối cho Chúa.
21. KHI KHÔNG BIẾT PHẢI LÀM GÌ, HÃY TRUNG TÍN VỚI ĐIỀU RÕ RÀNG NHẤT
Có những thời điểm con rất muốn một dấu chỉ. Con không biết phải chọn gì, đi đâu, làm thế nào. Đừng hoảng. Nếu Chúa chưa làm rõ điều lớn, hãy trung tín với điều nhỏ đang rõ. Bổn phận hôm nay là gì? Người trước mặt con đang cần gì? Có điều gì lương tâm đã biết nhưng con chưa làm? Có một việc cần xin lỗi không? Có một trách nhiệm đang trì hoãn không? Có một dịp tội cần cắt đi không? Có giờ cầu nguyện đang bị bỏ không? Hãy bắt đầu ở đó.
Chúa Thánh Thần rất thường dẫn con qua sự trung tín với điều gần nhất. Con muốn thấy mười cây số phía trước; Ngài chỉ cho con viên đá tiếp theo để đặt chân. Đừng khinh thường cách dẫn ấy. Abraham lên đường mà không biết mình sẽ đi đâu. Các môn đệ nhiều lần chỉ được bảo: “Hãy theo Thầy.” Đời sống theo Thánh Thần không phải sở hữu bản đồ đầy đủ, nhưng là biết Đấng đang dẫn mình.
22. CUỘC CHIẾN CUỐI CÙNG CŨNG PHẢI ĐƯỢC CHIẾN ĐẤU TRONG CHÚA THÁNH THẦN
Một ngày nào đó, mọi cuộc chiến nhỏ sẽ quy tụ vào cuộc chiến cuối cùng. Khi thân xác yếu đi, trí óc có thể không còn sáng như trước, con có thể không còn cầu nguyện được những lời dài, không còn làm được những công việc từng làm. Lúc đó, những gì con đã tập suốt đời sẽ trở nên rất quan trọng: một thói quen kêu cầu, một lòng tín thác được rèn qua bao lần thử thách, một khả năng buông ý riêng, một xác tín rằng mình thuộc về Thiên Chúa.
Ước gì đến giờ ấy, ngay cả khi môi con không nói được, lòng con vẫn có thể thở: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp con.” Ngài đã ở với con từ những ngày đầu của đời Kitô hữu. Ngài đã chứng kiến mọi lần con sa ngã và đứng dậy. Ngài đã âm thầm làm việc trong những năm tháng con tưởng mình chẳng tiến bộ. Ngài sẽ không bỏ con ở giờ cuối. Đấng đã khởi sự công trình sẽ trung thành dẫn nó đến hoàn tất nếu con tiếp tục trao mình cho Ngài.
LỜI KẾT
Hỡi linh hồn, đừng bao giờ chiến đấu như thể tất cả tùy thuộc vào sức của con. Đó là một trong những gánh nặng vô ích nhất con có thể tự đặt lên vai mình. Con được mời gọi chiến đấu hết sức, nhưng là chiến đấu trong ân sủng. Con phải tỉnh thức, phải từ bỏ, phải sửa mình, phải đứng dậy, phải cầu nguyện, phải tập nhân đức; nhưng trong tất cả những điều ấy, hãy để Chúa Thánh Thần trở thành hơi thở bên trong. Khi yếu, hãy gọi Ngài. Khi mạnh, cũng hãy gọi Ngài, vì những lúc mạnh là lúc con dễ quên mình cần Chúa nhất. Khi bối rối, hãy xin ánh sáng. Khi nóng giận, xin Ngài giữ miệng. Khi bị cám dỗ, xin Ngài bảo vệ tâm trí. Khi thất bại, xin Ngài dẫn về lòng thương xót. Khi thành công, xin Ngài giữ con khỏi kiêu ngạo. Khi được khen, xin Ngài giúp con trả vinh quang về cho Chúa. Khi bị chê, xin Ngài cho con nhận phần sự thật và bỏ đi phần bất công mà không cay đắng. Khi cầu nguyện khô khan, xin Ngài cầu nguyện trong con. Khi không biết phải làm gì, xin Ngài cho con trung tín với bổn phận trước mắt. Khi mọi điều trở nên tối, xin Ngài giữ trong con một đốm lửa của đức cậy.
Đừng nghĩ rằng phải trở thành một linh hồn rất mạnh mới xứng đáng được Chúa Thánh Thần sử dụng. Ngài thích hoạt động nơi những người biết mình yếu. Bởi ở đó, công trình của Ngài được nhận ra rõ hơn. Con không cần giấu sự nghèo nàn khỏi Ngài. Hãy đưa chính sự nghèo nàn ấy cho Ngài. “Đây là tính nóng của con. Đây là lòng tự ái. Đây là sự sợ hãi. Đây là sự yếu đuối. Đây là thói quen con chưa thắng nổi. Đây là vết thương con chưa chữa được. Đây là tương lai con không kiểm soát được. Xin Ngài đi vào tất cả những nơi ấy.” Khi con cho phép Ngài đi vào, những vùng tối trong con không còn chỉ là nơi đáng xấu hổ; chúng trở thành nơi ân sủng có thể làm việc.
Có lẽ con sẽ còn chiến đấu lâu. Có lẽ một vài trận chiến sẽ theo con đến tận tuổi già. Đừng nản. Sự thánh thiện không được đo bằng việc con có còn bị cám dỗ hay không, nhưng bằng cách con thuộc về Chúa giữa những cám dỗ ấy. Không phải người không bao giờ mệt mới là người mạnh. Người mạnh là người biết mình mệt và vẫn quay về nguồn sức mạnh. Không phải người luôn nhìn rõ đường mới là người sống trong ánh sáng. Người sống trong ánh sáng là người dám bước tiếp với ngọn đèn đủ cho bước hiện tại. Không phải người không bao giờ ngã mới là người thuộc về Thánh Thần. Người thuộc về Thánh Thần là người sau mỗi lần ngã vẫn để Ngài kéo mình đứng lên.
Và rồi, nếu con kiên trì, con sẽ dần nhận ra một điều rất đẹp: cuộc chiến không còn chỉ là cuộc chiến “của con”. Một ngày con sẽ thấy Chúa đang làm trong con nhiều hơn con tưởng. Con sẽ thấy mình bớt phản ứng ở những nơi trước kia chắc chắn mình đã bùng nổ. Con sẽ thấy một lời xúc phạm không còn làm con mất bình an lâu như trước. Con sẽ thấy mình biết xin lỗi nhanh hơn, biết tha thứ sớm hơn, biết im lặng tự do hơn, biết cười trước những điều từng làm mình tổn thương tự ái. Con sẽ nhìn lại và tự hỏi: “Từ bao giờ mình thay đổi?” Con có thể không tìm được một ngày cụ thể. Bởi đó là công trình âm thầm của Thánh Thần, giống như cây lớn lên ban đêm mà người trồng không nghe được tiếng.
Hãy để Ngài làm việc. Hãy để Ngài phá đi những gì phải phá, chữa lành những gì phải chữa, cắt tỉa những gì phải cắt, thắp sáng những gì còn tối. Đừng đặt điều kiện cho Ngài. Đừng nói: “Xin biến đổi con, nhưng đừng đụng đến điều này.” “Xin thánh hóa con, nhưng xin giữ nguyên ý riêng của con.” “Xin cho con bình an, nhưng xin để mọi người phải đối xử theo cách con muốn.” Hãy mở toàn bộ cánh cửa. Cuộc chiến linh hồn chỉ thực sự tiến sâu khi con thôi giữ lại những căn phòng riêng cho cái tôi.
Và mỗi ngày, dù ngày ấy sáng hay tối, thành công hay thất bại, hãy trở lại với lời cầu đơn sơ này:
Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến. Xin đến trong sự yếu đuối của con. Xin đến trong những vùng con còn chưa muốn thuộc trọn về Chúa. Xin soi sáng điều con chưa thấy, vạch trần điều con đang tự lừa mình, chữa lành điều con không tự chữa được, đốt cháy điều phải được thanh luyện, ban sức mạnh nơi con bất lực, ban bình an nơi con hỗn loạn, ban can đảm nơi con sợ hãi, ban sự mềm mại nơi lòng con đang cứng lại. Xin dạy con biết cầu nguyện khi con không biết cầu nguyện. Xin dạy con biết im lặng khi phải im. Xin dạy con biết lên tiếng khi phải nói. Xin cho con nhận ra những thúc đẩy nhỏ của Ngài và mau mắn đáp lại. Xin đừng để con chiến đấu bằng sức riêng. Xin làm cho mọi bất tín nhiệm vào bản thân dẫn con tới khiêm nhường, mọi nhận biết yếu đuối dẫn con tới cậy trông, mọi sa ngã dẫn con trở về lòng thương xót, mọi chiến thắng dẫn con đến lòng biết ơn. Xin cho con ngày càng thuộc về Chúa Giêsu hơn, ngày càng tự do khỏi chính mình hơn, ngày càng sẵn sàng làm điều Chúa muốn hơn. Lạy Chúa Thánh Thần, xin thổi qua những nơi đã khô cằn trong con. Xin nhóm lại những than hồng đang nguội lạnh. Xin giữ ngọn lửa đức tin khỏi tắt trong những đêm dài. Xin làm cho con trở nên mềm mại trong tay Chúa, để Ngài có thể uốn nắn, sai đi, sử dụng, và nếu cần, bẻ gãy những gì phải bẻ gãy để đời con hoàn toàn thuộc về Ngài. Xin canh tân bộ mặt trái đất, và trước hết, xin canh tân mảnh đất nhỏ bé là chính tâm hồn con. Xin cho con chiến đấu không phải trong hoảng sợ nhưng trong bình an, không phải trong kiêu ngạo nhưng trong khiêm nhường, không phải bằng sức riêng nhưng bằng quyền năng của Ngài. Và đến ngày cuộc chiến đời này kết thúc, xin cho lời cuối cùng trong lòng con vẫn là một lời tín thác: Lạy Chúa Thánh Thần, xin dẫn con về với Chúa Cha, trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng con đã cố gắng yêu mến, phục vụ và bước theo suốt cuộc đời. Amen.
CHƯƠNG 45
ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP – CHỖ NƯƠNG ẨN VÀ SỨC MẠNH TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang chiến đấu dưới sự dẫn dắt âm thầm mà mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần, sau khi đã học cách nhận ra rằng cuộc chiến thiêng liêng không thể được tiến hành chỉ bằng sức riêng của con người, chúng ta hãy một lần nữa trở về với Đức Maria. Nhưng lần trở về này có một nét rất thân thương, rất gần gũi và cũng rất đặc biệt đối với những người mang trong mình linh đạo của Dòng Chúa Cứu Thế: chúng ta đến với Mẹ dưới tước hiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Có lẽ đối với nhiều người, danh xưng ấy đã quá quen thuộc. Nó hiện diện trên những bức ảnh trong nhà thờ, trong phòng riêng, trong các nhà nguyện, trên những bàn thờ nhỏ của các gia đình. Người ta đọc kinh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, người ta đến dự tuần cửu nhật, người ta dâng những lời khấn xin, những tạ ơn, những nỗi đau không biết nói cùng ai. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở những thực hành bên ngoài ấy, chúng ta vẫn chưa đi vào hết chiều sâu của tước hiệu này. “Hằng Cứu Giúp” không phải chỉ là một tên gọi đạo đức được thêm vào sau tên Đức Maria. Đó là một lời tuyên xưng về tình mẫu tử của Mẹ đối với những kẻ đang yếu đuối, đang bị đe dọa, đang cần được nâng đỡ, đang rơi xuống và muốn có một bàn tay kéo mình lên. Đó là một lời tuyên xưng rằng trong hành trình đầy bất trắc của đời sống thiêng liêng, chúng ta không bị bỏ mặc. Có một Người Mẹ luôn nghiêng xuống trên những người con đang chiến đấu. Có một ánh mắt không rời khỏi chúng ta ngay cả khi chính chúng ta không dám nhìn lên. Có một bàn tay vẫn mở ra ngay cả khi bàn tay chúng ta vì xấu hổ, vì thất vọng, vì tội lỗi mà co lại. Và bởi thế, nếu muốn hiểu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, chúng ta đừng chỉ nhìn Mẹ trong những giây phút bình an, khi tâm hồn đầy sốt sắng, khi kinh nguyện trôi chảy, khi đời sống thiêng liêng dường như đang đi lên. Hãy nhìn Mẹ chính trong lúc cuộc chiến trở nên dữ dội nhất. Hãy gọi tên Mẹ khi lòng mình rối bời. Hãy chạy đến với Mẹ khi một cám dỗ bất ngờ nổi lên. Hãy tìm ánh mắt Mẹ khi vừa sa ngã. Hãy tựa vào Mẹ khi không còn sức để bắt đầu lại. Hãy nắm lấy tay Mẹ khi trước mặt chỉ là tối tăm. Chính trong những giờ phút ấy, hai tiếng Hằng Cứu Giúp mới bừng sáng hết ý nghĩa của nó. Mẹ không chỉ giúp khi ta mạnh. Mẹ không chỉ đến khi ta xứng đáng. Mẹ không đợi cho đời ta được sắp xếp ngay ngắn rồi mới bước vào. Mẹ là Mẹ của những kẻ cần được giúp, mà người cần được giúp bao giờ cũng là người đang thiếu, đang yếu, đang bất lực, đang mang vết thương. Nếu chúng ta thật sự tin điều đó, thì lòng tôn sùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp sẽ không còn chỉ là một việc đạo đức trong số nhiều việc đạo đức khác. Nó sẽ trở thành một thái độ sống. Nó sẽ trở thành một phản xạ thiêng liêng. Nó sẽ đi vào trong từng trận đánh của tâm hồn. Và linh hồn sẽ hiểu rằng một trong những bí quyết để không bị đánh gục chính là biết chạy về với Mẹ đủ sớm, đủ thật, đủ khiêm nhường.
1. Ý NGHĨA SÂU XA CỦA TƯỚC HIỆU “HẰNG CỨU GIÚP”
“Hằng” là luôn luôn. “Cứu giúp” là đến bên người đang gặp nguy hiểm, nâng người đang ngã xuống, dẫn người đang lạc trở lại, bảo vệ người đang bị đe dọa, nâng đỡ người đang kiệt sức. Hai chữ ấy ghép lại thành một lời rất dịu dàng: luôn luôn cứu giúp. Không phải thỉnh thoảng. Không phải chỉ trong những hoàn cảnh đặc biệt. Không phải chỉ khi linh hồn đã sống tốt đủ để đáng được Mẹ lưu tâm. Không phải chỉ khi lời cầu xin của chúng ta thật đẹp. Nhưng là luôn luôn. Điều này không có nghĩa rằng Mẹ sẽ làm mọi điều chúng ta muốn, hay mọi lần xin điều gì thì hoàn cảnh lập tức thay đổi theo ý mình. Nếu hiểu như thế, chúng ta sẽ dễ biến lòng tôn sùng thành một thứ tìm kiếm phép lạ hoặc một sự bảo đảm cho những dự tính riêng. Đức Mẹ cứu giúp chúng ta trước hết bằng cách đưa chúng ta đến gần Chúa Giêsu hơn, giúp chúng ta đừng đánh mất ơn cứu độ, giúp chúng ta đứng vững trong đức tin, giúp chúng ta chịu đựng những điều không thể đổi, giúp chúng ta từ bỏ những điều phải từ bỏ, giúp chúng ta trở lại sau sa ngã, giúp chúng ta nhận ra thánh ý Chúa giữa những hoàn cảnh mà ý riêng không muốn đón nhận. Sự cứu giúp của Mẹ không luôn là cất thập giá khỏi vai, nhưng rất thường là làm cho vai chúng ta đủ sức mang thập giá. Không luôn là chấm dứt đêm tối, nhưng là ban cho chúng ta một ngọn đèn đủ để đi bước kế tiếp. Không luôn là làm cám dỗ biến mất, nhưng là giúp ý chí đủ mạnh để nói “không”. Không luôn là loại bỏ đau khổ, nhưng là biến đau khổ thành nơi gặp Chúa. Không luôn là làm cho cuộc đời dễ hơn, nhưng là giúp cuộc đời không còn vô nghĩa. Đó là sự cứu giúp của một người Mẹ hiểu rằng điều quý nhất nơi con mình không phải là nó được miễn mọi khổ đau, mà là nó không đánh mất Chúa trong khổ đau.
Trong bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, tất cả dường như đều nói về một cuộc chiến. Chúa Giêsu Hài Đồng nhìn thấy những khí cụ cuộc Thương Khó được các tổng lãnh thiên thần mang đến. Trước viễn tượng thập giá, Người chạy đến với Mẹ, đôi bàn tay nhỏ bé nắm lấy bàn tay Mẹ, một chiếc dép dường như sắp tuột khỏi chân vì sự vội vã của đứa trẻ đang tìm nơi an toàn. Mẹ ôm Con, nhưng ánh mắt Mẹ không khép lại trong mối tương quan riêng giữa Mẹ và Con. Mẹ nhìn ra phía chúng ta. Ánh mắt ấy làm cho bức ảnh trở thành một lời mời. Mẹ dường như muốn nói: “Con có thấy không? Chính Chúa Giêsu trong thân phận con người cũng đã ở trong vòng tay của Mẹ. Con cũng hãy đến.” Điều ấy không hề làm giảm vai trò duy nhất của Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ. Trái lại, chính Mẹ luôn hướng chúng ta về Con mình. Bàn tay Mẹ không giữ Chúa Giêsu lại cho riêng Mẹ. Mẹ đưa Người cho thế gian. Ánh mắt Mẹ không buộc chúng ta dừng ở Mẹ. Mẹ dẫn chúng ta đi qua Mẹ để đến với Chúa Giêsu. Đây là điều phải ghi rất sâu trong lòng: lòng tôn sùng đích thực đối với Đức Mẹ không bao giờ làm linh hồn xa Chúa Kitô; nếu đúng, nó phải làm cho linh hồn thuộc về Chúa Kitô hơn, yêu Chúa Kitô hơn, bắt chước Chúa Kitô hơn, gắn bó với Thánh Giá Chúa Kitô hơn, và vâng phục Chúa Kitô hơn.
Có những linh hồn rất dễ cầu nguyện với Chúa khi họ cảm thấy mình đang sống tốt, nhưng sau một lần sa ngã thì họ không dám đến nữa. Chính lúc ấy, lòng tôn sùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trở thành một ân huệ lớn lao. Bởi người mẹ hiểu ngôn ngữ của đứa con đang xấu hổ. Người mẹ biết khi nào đứa con muốn trở về nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Người mẹ biết lúc nào nó không cần một bài giảng dài, mà chỉ cần được nắm lấy tay. Có những vết thương trong linh hồn khiến người ta không đủ sức nói với Chúa những lời cao đẹp. Khi ấy chỉ cần một lời rất ngắn: “Mẹ ơi, cứu con.” Có khi chỉ có thế. Nhưng nếu lời ấy thật, nó đã là một cánh cửa mở ra. Ma quỷ rất sợ cánh cửa ấy. Nó không nhất thiết sợ những lời cầu nguyện dài nếu bên dưới vẫn còn đầy tự ái. Nhưng nó sợ một linh hồn biết khiêm nhường chạy về với Mẹ ngay khi bị tấn công, bởi linh hồn ấy không còn chiến đấu một mình. Một người lính đơn độc có thể bị cô lập, bị làm cho hoảng loạn, bị lừa rằng mọi chuyện đã hết. Nhưng người biết mình có Mẹ thì rất khó bị tuyệt vọng hoàn toàn.
2. MẸ KHÔNG HỨA CHÚNG TA MỘT CUỘC CHIẾN KHÔNG CÓ VẾT THƯƠNG
Có một điều chúng ta phải hiểu thật rõ để lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được trưởng thành: đến với Mẹ không có nghĩa là từ nay chúng ta sẽ không còn cám dỗ, không còn đau khổ, không còn thất bại, không còn đêm tối. Chính Mẹ là người đã đi qua một cuộc đời đầy thử thách. Mẹ đã không được miễn khỏi lưỡi gươm. Mẹ đã phải sinh Con trong nghèo khó, phải đem Con chạy sang Ai Cập, phải sống những năm âm thầm ở Nazareth, phải trải qua ba ngày tìm Con trong đau đớn, phải chứng kiến người ta chống đối Con, vu khống Con, kết án Con, đánh đập Con, và cuối cùng đóng đinh Con trước mắt Mẹ. Nếu sự gần gũi với Thiên Chúa đồng nghĩa với một đời không đau khổ, thì Đức Maria phải là người được miễn trừ đầu tiên. Nhưng Mẹ đã không được miễn. Mẹ được ban cho một điều lớn hơn: ơn trung tín giữa đau khổ. Đó cũng chính là điều Mẹ muốn ban cho chúng ta. Đừng đến với Mẹ chỉ để xin cho mọi thử thách biến mất. Hãy xin một điều sâu hơn: “Mẹ ơi, nếu Chúa không cất thập giá này đi, xin dạy con đứng dưới chân thập giá cùng Mẹ. Nếu Chúa không làm cho người kia thay đổi, xin giúp con thay đổi cách con yêu họ. Nếu hoàn cảnh này chưa thể khác, xin đừng để lòng con trở nên cay đắng. Nếu cám dỗ này còn kéo dài, xin giữ ý chí con đừng đầu hàng. Nếu con phải đi qua một đêm dài, xin ở với con trong đêm ấy.”
Một trong những sai lầm của người mới bước vào đời sống thiêng liêng là tưởng rằng càng gần Chúa thì cuộc sống càng ít chiến đấu. Thực ra, càng muốn thuộc trọn về Chúa, chúng ta càng nhìn thấy rõ những vùng trong mình chưa thuộc về Ngài. Ánh sáng càng mạnh thì bụi càng lộ. Lòng yêu mến càng lớn thì sự ích kỷ càng trở nên đau đớn. Ý muốn nên thánh càng thật thì những thỏa hiệp trước kia càng không thể tiếp tục. Vì vậy, có những thời điểm người ta tưởng mình thụt lùi, trong khi thực ra chỉ là đang được thấy rõ hơn tình trạng thật của chính mình. Trong những lúc ấy, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp giữ chúng ta khỏi hai vực thẳm: tự mãn và tuyệt vọng. Khi tiến bộ một chút, Mẹ dạy ta đừng tự mãn. Khi nhìn thấy sự yếu đuối quá nhiều, Mẹ dạy ta đừng tuyệt vọng. Mẹ giữ chúng ta trong sự thật. “Con yếu, đúng. Nhưng Chúa mạnh. Con đã ngã, đúng. Nhưng lòng thương xót vẫn mở. Con chưa nên thánh, đúng. Nhưng con vẫn có thể bắt đầu lại ngay lúc này.” Đó là ngôn ngữ của Mẹ.
3. KHI BỊ CÁM DỖ NẶNG – HÃY GỌI MẸ TRƯỚC KHI TRANH LUẬN VỚI CÁM DỖ
Trong cuộc chiến thiêng liêng, nhiều thất bại xảy ra không phải vì cám dỗ quá mạnh, mà vì chúng ta để mình ở lại quá lâu trong cuộc đối thoại với nó. Một tư tưởng xuất hiện, ta bắt đầu cân nhắc. Một hình ảnh đi qua, ta quay lại nhìn. Một cảm giác bất mãn nổi lên, ta bắt đầu nuôi nó bằng những lý lẽ. Một lời nói làm ta tổn thương, ta nhai đi nhai lại trong đầu. Một dục vọng trỗi dậy, ta thử đứng ở mép vực để xem mình mạnh đến đâu. Một ý nghĩ tự ái xuất hiện, ta âm thầm thưởng thức nó. Chúng ta thường thua trong những khoảnh khắc rất nhỏ như thế. Cám dỗ chưa mạnh ngay từ đầu. Nó mạnh lên vì được tiếp chuyện. Đây là lúc phải tập một phản xạ khác: đừng tranh luận; hãy chạy. Chạy về với Chúa. Chạy đến với Mẹ. Không phải chạy bằng đôi chân, nhưng bằng một hành vi nội tâm rất nhanh: “Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin cứu con.” Sau đó chuyển sự chú ý đi, làm việc cần làm, rời hoàn cảnh nguy hiểm nếu có thể, và không quay lại xem cám dỗ còn đó không. Có những chiến thắng thiêng liêng không hùng tráng. Chúng chỉ là một cái quay mặt rất nhỏ. Nhưng chính cái quay mặt ấy cứu linh hồn khỏi rất nhiều vết thương.
Khi cám dỗ liên quan đến sự trong sạch, hãy chạy đến với Mẹ thật mau. Khi cám dỗ nổi nóng, hãy gọi Mẹ trước khi mở miệng. Khi cám dỗ nói xấu, hãy nhìn Mẹ trước khi kể thêm một chi tiết. Khi cám dỗ tự ái, hãy nhớ Mẹ đã sống ẩn mình. Khi cám dỗ muốn được nhìn nhận, hãy nhớ Mẹ chấp nhận ở phía sau. Khi cám dỗ muốn chống lại thánh ý Chúa, hãy nhớ lời “Xin vâng”. Khi cám dỗ bỏ cầu nguyện vì khô khan, hãy nhớ Mẹ đứng dưới Thánh Giá mà không được an ủi cảm giác nào. Khi cám dỗ tuyệt vọng sau sa ngã, hãy nhớ Mẹ là Mẹ của Đấng đã đến tìm kẻ tội lỗi. Chúng ta không cần trong mỗi cám dỗ phải có một bài suy niệm dài. Đôi khi chỉ cần một tia sáng đủ đúng. Đức Mẹ chính là người giúp linh hồn có tia sáng ấy.
Đừng đợi đến lúc cám dỗ đã bùng thành ngọn lửa rồi mới chạy đến. Nếu thấy một tia lửa, hãy gọi Mẹ. Nếu lòng vừa hơi bất bình, hãy gọi Mẹ. Nếu trí tưởng tượng vừa bắt đầu đi về phía nguy hiểm, hãy gọi Mẹ. Nếu vừa cảm thấy muốn biện minh cho mình, hãy gọi Mẹ. Nếu vừa nhận ra một lời nói có thể làm tổn thương người khác đang chuẩn bị bước ra khỏi miệng, hãy gọi Mẹ. Đời sống thiêng liêng được quyết định rất nhiều trong vài giây đầu tiên như thế. Người lính giỏi không chờ quân địch vào giữa thành rồi mới đóng cổng. Người lính canh gác từ xa. Lòng tôn sùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nếu được sống thật, sẽ trở thành một phần của sự canh gác ấy.
4. KHI ĐÃ SA NGÃ – ĐỪNG TRỐN MẸ
Có một mưu kế rất quen thuộc của kẻ thù: trước khi ta phạm tội, nó làm cho tội có vẻ nhỏ. Sau khi ta phạm tội, nó làm cho tội có vẻ lớn đến mức không thể tha. Trước khi ngã, nó nói: “Không sao đâu.” Sau khi ngã, nó nói: “Hết rồi.” Trước khi ngã, nó làm nhẹ lương tâm. Sau khi ngã, nó nghiền nát lương tâm. Đây là một trong những lý do chúng ta cần Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Mẹ giúp linh hồn giữ được cái nhìn đúng sau thất bại. Tội là tội. Không được gọi điều xấu là điều tốt. Không được biện minh. Không được tự ru ngủ mình bằng những lý do. Nhưng tội không lớn hơn lòng thương xót của Chúa. Sa ngã không phải là lý do để chạy xa Chúa; nó phải là lý do để chạy về Chúa mau hơn.
Có những người sau một lần sa ngã không cầu nguyện nữa. Họ cảm thấy giả hình. Họ nghĩ rằng mình phải sửa được mình một chút rồi mới dám trở lại. Đây là một sai lầm đau đớn. Nếu một đứa trẻ bị thương và người đầy bùn, người mẹ có đòi nó phải tự tắm sạch rồi mới được bước vào nhà không? Chính vì nó bẩn nên nó cần được tắm. Chính vì nó đau nên nó cần được băng bó. Cũng vậy, đừng chờ đến khi lòng mình “ổn” rồi mới đến với Mẹ. Hãy đến đúng lúc mình rối. Đừng chờ khi hết xấu hổ. Hãy mang cả sự xấu hổ ấy đến. Đừng chờ khi đã có cảm xúc ăn năn thật sốt sắng. Hãy bắt đầu bằng một quyết định rất trần trụi: “Con đã sai. Xin Mẹ dẫn con về với Chúa.” Nhiều cuộc trở về lớn bắt đầu bằng một lời rất nhỏ như thế.
Đức Mẹ không bao giờ dạy chúng ta ở yên trong tội. Mẹ không an ủi bằng cách nói tội chẳng sao. Mẹ cứu giúp bằng cách đưa chúng ta ra khỏi đó. Hãy phân biệt thật rõ hai thứ an ủi: một thứ an ủi giả nói rằng “không cần đổi”; một thứ an ủi thật nói rằng “con vẫn có thể đổi”. Mẹ thuộc về kiểu thứ hai. Mẹ không nuông chiều sự yếu đuối của chúng ta; Mẹ nâng chúng ta lên khỏi nó. Mẹ không hợp thức hóa những thói quen xấu; Mẹ giúp chúng ta đủ hy vọng để chiến đấu tiếp. Một người mẹ thật không đứng nhìn con mình hủy hoại chính nó rồi gọi đó là yêu thương. Người mẹ thật ôm con, nhưng cũng kéo con ra khỏi hiểm nguy. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũng vậy. Nếu chúng ta thật sự đến với Mẹ, sớm muộn Mẹ sẽ dẫn chúng ta đến một đời sống nghiêm túc hơn, thật hơn, sạch hơn, vâng phục hơn, ít thỏa hiệp hơn.
5. KHI KHÔ KHAN, CHÁN NẢN VÀ MUỐN BỎ CUỘC – HÃY ĐỂ MẸ GIỮ LẤY QUYẾT TÂM CỦA CON
Không phải trận chiến nào cũng ồn ào. Có những trận chiến rất lặng. Không có một cám dỗ dữ dội nào rõ ràng, nhưng linh hồn chỉ thấy mệt. Cầu nguyện mệt. Làm việc mệt. Sống chung mệt. Phục vụ mệt. Cố gắng sửa mình cũng mệt. Những điều từng làm mình sốt sắng nay trở nên nhạt. Những quyết tâm từng rất mạnh nay dường như không còn sức. Người ta bắt đầu tự hỏi: “Cố gắng để làm gì?” Chính trạng thái này rất nguy hiểm vì nó không gây hoảng sợ. Nó từ từ làm linh hồn hạ vũ khí. Nó làm ta bớt cầu nguyện một chút, bớt xét mình một chút, bớt chống lại một thói quen xấu một chút, cho phép mình buông lỏng thêm một chút. Không có cú ngã lớn, chỉ có một sự trượt xuống gần như không nhận thấy.
Trong những lúc đó, hãy đến với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp không nhất thiết để xin cảm xúc trở lại, nhưng để xin ơn trung tín. Hãy nói với Mẹ: “Con không muốn nữa, nhưng con vẫn muốn muốn. Xin Mẹ giữ lấy phần ý chí nhỏ bé còn lại này của con.” Có những ngày, điều lớn nhất chúng ta làm được chỉ là không bỏ cuộc. Đừng coi thường điều ấy. Trong đời sống thiêng liêng, có những giai đoạn mà trung tín không mang hình dáng của những hành động lớn, mà chỉ là tiếp tục hiện diện. Vẫn đến giờ cầu nguyện dù không cảm thấy gì. Vẫn làm việc bổn phận dù lòng không hứng thú. Vẫn giữ miệng khi muốn than phiền. Vẫn đi xưng tội dù xấu hổ vì cùng một lỗi lặp lại. Vẫn lần chuỗi khi trí lòng tản mạn. Vẫn nói “xin vâng” khi không hiểu. Những việc ấy có thể rất nghèo nàn trước mắt chúng ta, nhưng rất quý trước mặt Chúa. Đức Mẹ hiểu sự trung tín nghèo nàn ấy hơn ai hết. Mẹ đã sống rất nhiều năm ở Nazareth mà không có một điều gì vẻ vang bên ngoài. Mẹ biết giá trị của việc làm những điều nhỏ trong im lặng. Mẹ biết thế nào là ở lại khi chẳng có gì để bám vào ngoài lời Chúa.
Có lúc con không còn giữ nổi chính mình. Hãy để Mẹ giữ con. Có lúc con không còn biết cầu nguyện thế nào. Hãy ngồi trước ảnh Mẹ và ở đó. Có lúc chỉ cần nhìn. Có lúc chỉ cần thở dài. Có lúc chỉ cần nói tên Mẹ. Đừng tưởng cầu nguyện chỉ có giá trị khi mình có nhiều lời. Một đứa con bị sốt nằm trong tay mẹ mà không nói được gì vẫn đang ở đúng nơi nó cần ở. Linh hồn mệt mỏi cũng vậy. Có khi lòng tôn sùng sâu nhất không phải là đọc thật nhiều, mà là dám ở yên trong sự hiện diện của Mẹ với tất cả sự nghèo nàn của mình.
6. KHI MANG THẬP GIÁ TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ VỤ
Đối với người thừa sai, một trong những thử thách lớn không phải luôn đến từ thế gian bên ngoài, nhưng từ chính những thực tế rất đời thường của cộng đoàn, công việc, trách nhiệm, khác biệt tính tình, khác biệt quan điểm, những hiểu lầm, những giới hạn nơi người khác và nơi chính mình. Người ta có thể hăng hái ra đi rao giảng Tin Mừng cho hàng trăm người, nhưng lại rất khó chịu với một người anh em ngồi cùng bàn mỗi ngày. Người ta có thể nói rất hay về lòng thương xót, nhưng lại giữ một vết thương trong lòng hàng tháng. Người ta có thể hy sinh nhiều trong công việc tông đồ, nhưng chỉ một lời không được nhìn nhận đúng mức cũng đủ làm mất bình an. Đây là nơi cuộc chiến thiêng liêng trở nên thật.
Hãy đem những điều ấy đến với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Đừng chỉ xin Mẹ “giải quyết người kia”. Hãy xin Mẹ cho mình thấy phần cần được chữa trong chính mình. Khi bị hiểu lầm, hãy nhớ Mẹ đã sống rất nhiều điều không ai hiểu. Khi bị xem thường, hãy nhớ Mẹ đã chọn con đường thấp. Khi công việc mình làm không được biết đến, hãy nhớ Mẹ đã sống phần lớn cuộc đời trong âm thầm. Khi cảm thấy người khác không công bằng, hãy nhớ Mẹ đứng trước một bản án bất công nhất lịch sử mà không trở nên cay độc. Khi phải sống với người khó tính, hãy xin Mẹ dạy cách nhìn họ bằng ánh mắt không kết án. Khi bị tổn thương, hãy xin Mẹ ngăn vết thương ấy biến thành đắng cay. Khi phải sửa lỗi người khác, hãy xin Mẹ cho lời nói có sự thật mà không thiếu lòng thương. Khi được khen, hãy xin Mẹ giúp mình đưa lời khen về cho Chúa. Khi bị phê bình, hãy xin Mẹ giúp mình phân định phần nào phải khiêm tốn nhận, phần nào phải bình an bỏ qua.
Một người con thật của Đức Mẹ không phải là người đọc nhiều kinh kính Mẹ nhưng lại sống rất khó với anh em. Không thể yêu Mẹ mà khinh người Mẹ yêu. Không thể gọi Mẹ là Mẹ mà từ chối nhìn người bên cạnh như anh chị em. Đây là nơi lòng tôn sùng phải đi từ bàn thờ xuống bàn ăn, từ nhà nguyện vào phòng họp, từ giờ kinh vào những cuộc trao đổi khó khăn. Nếu sau nhiều năm lần chuỗi mà ta vẫn dễ cay nghiệt, dễ nói lời làm đau, dễ giữ hận, dễ tự cho mình đúng, thì chúng ta phải thành thật hỏi xem mình đã thật sự để Đức Maria huấn luyện tâm hồn chưa. Mân Côi trong tay mà lòng vẫn nắm chặt một mối hận thì chuỗi hạt chưa đi vào tim. Quỳ trước ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mà không chịu làm hòa với người anh em thì ta vẫn còn đứng ngoài bài học của Mẹ.
7. HỌC NƠI MẸ SỰ KHIÊM NHƯỜNG – KHÍ GIỚI CHỐNG LẠI CĂN BỆNH SÂU NHẤT
Nếu phải nói đến một trong những nhân đức làm cho Đức Maria trở thành khí cụ tuyệt hảo của Thiên Chúa, chúng ta không thể bỏ qua sự khiêm nhường. Khiêm nhường không phải là tự chê mình, không phải là phủ nhận những ơn Chúa ban, cũng không phải là tỏ ra nhỏ bé bên ngoài. Khiêm nhường là sống trong sự thật: mọi sự tốt lành nơi tôi đều là hồng ân; mọi điều tôi có thể làm đều nhờ Chúa; tôi không phải trung tâm; tôi không cần được nhìn thấy; tôi không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận; tôi không cần bảo vệ hình ảnh của mình bằng mọi giá. Chính đây là điều rất khó đối với con người.
Nhiều cuộc chiến thiêng liêng tưởng là về người khác nhưng thật ra là về cái tôi. Ta giận vì cái tôi bị chạm. Ta buồn vì cái tôi không được nhìn nhận. Ta so sánh vì cái tôi muốn hơn người khác. Ta phê bình vì cái tôi thấy an toàn khi hạ người khác xuống. Ta làm việc quá sức đôi khi cũng vì cái tôi muốn chứng minh mình cần thiết. Ta không dám nghỉ vì sợ người khác nghĩ mình kém. Ta sợ sai vì cái tôi muốn giữ hình ảnh hoàn hảo. Ta không xin lỗi vì cái tôi không muốn cúi xuống. Ta không nhận góp ý vì cái tôi coi đó là sự đe dọa. Cuộc chiến linh hồn rất nhiều lần quy tụ về một câu hỏi: tôi có chịu nhỏ lại để Chúa lớn lên không?
Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp giúp chúng ta chiến đấu ở chính nơi này. Nhìn Mẹ, ta thấy một con người lớn lao nhất lại sống ẩn sâu nhất. Được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế mà không biến ơn gọi thành lý do để tự tôn. Được ban đầy ân sủng mà không chiếm lấy vinh quang. Đứng ở trung tâm mầu nhiệm cứu độ mà vẫn để Chúa Giêsu là trung tâm. Đây chính là điều linh hồn phải học. Một người tôn sùng Mẹ thật phải trở nên ít thích nổi bật hơn, ít muốn được nhắc đến hơn, ít nhạy cảm với việc được công nhận hơn. Nếu càng gần Mẹ mà càng đơn sơ, đó là dấu tốt. Nếu càng gần Mẹ mà càng biết làm việc rồi rút lui, càng biết phục vụ mà không tính công, càng biết để người khác được sáng, càng biết vui khi người khác thành công, đó là dấu lòng sùng kính đang sinh hoa trái.
8. HỌC NƠI MẸ SỰ THINH LẶNG NỘI TÂM
Thế giới bên ngoài hôm nay rất ồn, nhưng đôi khi thế giới bên trong còn ồn hơn. Chúng ta có thể ngồi trong một căn phòng yên tĩnh mà đầu óc vẫn đầy tiếng nói: tôi nghĩ gì về người này, người kia nghĩ gì về tôi, chuyện hôm qua tại sao lại xảy ra, ngày mai sẽ ra sao, nếu như thế này, giá mà thế khác. Tâm hồn bị kéo đi hàng chục hướng. Trong một trạng thái như thế, cuộc chiến trở nên khó khăn vì chúng ta không còn nghe rõ tiếng Chúa. Một trong những ơn lớn Đức Maria có thể dạy là sự thinh lặng nội tâm. Tin Mừng nhiều lần cho thấy Mẹ ghi nhớ và suy niệm mọi điều trong lòng. Mẹ không phản ứng vội. Mẹ để sự kiện đi qua chiều sâu của cầu nguyện. Mẹ không cần giải thích mọi thứ ngay lập tức. Mẹ biết giữ những điều chưa hiểu trong lòng cho đến khi ánh sáng đến.
Hãy học điều ấy trong cuộc chiến. Khi ai nói một lời làm con đau, đừng phản ứng ngay. Hãy để nó đi qua sự hiện diện của Mẹ. Khi nhận một tin làm mình lo lắng, đừng lập tức dựng lên mười kịch bản. Hãy nói: “Mẹ ơi, con giao điều này cho Mẹ.” Khi bị hiểu lầm, đừng vội giải thích với tất cả mọi người. Khi bị chỉ trích, đừng vội tự vệ. Khi phải đưa ra một quyết định, đừng để cảm xúc đầu tiên trở thành tiếng nói cuối cùng. Thinh lặng không có nghĩa là không làm gì. Thinh lặng là tạo khoảng trống để Thiên Chúa có thể nói trước khi cái tôi nói.
Người biết sống dưới ánh mắt Đức Mẹ sẽ dần học cách ít ồn bên trong hơn. Họ không còn cần phải có ý kiến về mọi chuyện. Không cần phải nói mọi điều mình biết. Không cần phải phản hồi mọi lời người khác nói. Có những chiến thắng lớn chỉ là giữ lại một câu không cần nói. Có những thánh giá được hóa giải chỉ vì ta chờ thêm một đêm trước khi phản ứng. Có những tình huynh đệ được cứu vì một người chịu im lặng đủ lâu để cơn nóng qua đi. Có những vết thương không xảy ra chỉ vì một người đã kêu tên Mẹ trước khi mở miệng.
9. HỌC NƠI MẸ SỰ VÂNG PHỤC VÀ TIẾNG “XIN VÂNG”
Cốt lõi của cuộc chiến linh hồn là cuộc chiến giữa ý riêng và thánh ý Chúa. Tội lỗi từ căn bản là việc con người nói: “Tôi muốn theo cách của tôi.” Sự thánh thiện bắt đầu khi linh hồn dần dần học nói: “Xin theo ý Chúa.” Đức Maria đứng ở đầu con đường ấy với hai tiếng “Xin vâng”. Nhưng đừng tưởng lời xin vâng đó chỉ diễn ra một lần trong biến cố Truyền Tin. Lời ấy phải được lặp lại trong từng chặng đời Mẹ. Xin vâng khi không tìm được chỗ trọ. Xin vâng khi phải chạy trốn. Xin vâng trong ba mươi năm ẩn dật. Xin vâng khi Chúa Giêsu rời Nazareth. Xin vâng khi người ta chống đối Người. Xin vâng trên đường Thập Giá. Xin vâng dưới chân Thập Giá. Xin vâng cả khi thân xác Con được đặt vào huyệt đá.
Chúng ta cũng vậy. Đừng nghĩ rằng một lần dâng mình cho Chúa là đủ. Ý riêng hồi sinh mỗi ngày. Vì thế, mỗi ngày cần một tiếng xin vâng mới. Sáng thức dậy: xin vâng với ngày hôm nay. Khi chương trình thay đổi: xin vâng. Khi sức khỏe không như ý: xin vâng. Khi người khác làm trái ý: xin vâng. Khi một kế hoạch tốt bị ngăn lại: xin vâng. Khi được giao một việc mình không thích: xin vâng. Khi phải ở nơi mình không chọn: xin vâng. Khi công sức không sinh kết quả như mong muốn: xin vâng. Tất nhiên, “xin vâng” không có nghĩa là thụ động trước bất công hay không sử dụng lý trí để thay đổi điều có thể thay đổi. Nhưng nó có nghĩa là sau khi đã làm điều đúng trong khả năng, linh hồn không nổi loạn chống lại thực tại mà Thiên Chúa cho phép.
Trong những lúc ấy, hãy nhìn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và xin: “Mẹ ơi, xin cho con mượn tiếng xin vâng của Mẹ.” Có những ngày chúng ta không đủ sức nói một tiếng xin vâng đẹp. Hãy nói một tiếng xin vâng nghèo nàn. “Con không hiểu, nhưng con xin vâng.” “Con đau, nhưng con xin vâng.” “Con không thích điều này, nhưng con không muốn bỏ Chúa.” Những lời ấy có giá trị rất lớn vì chúng được nói trong chiến đấu.
10. LẦN CHUỖI MÂN CÔI – CẦM LẤY TAY MẸ TRONG CUỘC CHIẾN
Đừng coi chuỗi Mân Côi chỉ là một số lượng kinh phải hoàn thành. Nếu cầu nguyện như thế, chúng ta dễ mệt. Chuỗi Mân Côi là một cuộc đi với Mẹ qua cuộc đời Chúa Giêsu. Mỗi kinh Kính Mừng như một bước chân. Có khi tâm trí tản mạn. Có khi lòng khô khan. Có khi mệt đến mức đọc mà gần như không cảm được gì. Nhưng đừng vội kết luận rằng lời kinh vô ích. Một người con mệt đi bên mẹ không cần lúc nào cũng nói chuyện sâu sắc. Điều quan trọng là nó vẫn đi cùng mẹ.
Hãy lần chuỗi cách rất thực. Khi vui, lần chuỗi để cảm tạ. Khi đau, lần chuỗi để khỏi chìm. Khi bị cám dỗ, lần chuỗi như một cách đưa trí lòng về lại mầu nhiệm Chúa. Khi mất ngủ, hãy cầm chuỗi. Khi phải chờ, hãy cầm chuỗi. Khi đi đường, hãy cầm chuỗi. Khi trong lòng có một người làm mình khó chịu, hãy lần một chục cho người ấy. Khi nghe một tin buồn, hãy lần chuỗi thay vì để trí tưởng tượng lao đi. Khi không biết giúp ai thế nào, hãy đặt họ vào tay Mẹ qua chuỗi Mân Côi. Dần dần, chuỗi hạt sẽ trở thành một thứ “vũ khí mềm”. Nó không ồn ào, nhưng bền. Nó không làm chúng ta cảm thấy mình mạnh, nhưng làm chúng ta gắn với Đấng mạnh hơn mình.
11. ẢNH ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP – HÃY ĐỂ ÁNH MẮT MẸ ĐI VÀO ĐỜI SỐNG MỖI NGÀY
Có một bức ảnh nơi cầu nguyện không phải là mê tín. Con người chúng ta có thân xác, có giác quan, và cần những dấu chỉ hữu hình để giúp tâm trí hướng đến những thực tại vô hình. Một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đặt ở nơi mình thường thấy có thể trở thành một lời nhắc rất quý. Không cần lúc nào cũng đứng lại đọc kinh dài. Có khi đi ngang chỉ cần nhìn Mẹ một giây. Một giây ấy cũng đủ để nhớ: “Mình không một mình.” Một giây ấy có thể ngăn một lời nóng. Một giây ấy có thể giúp ta bỏ một ý nghĩ xấu. Một giây ấy có thể khiến ta nhớ cầu nguyện cho người mình đang giận.
Nhưng đừng để bức ảnh trở thành đồ trang trí. Hãy để nó chất vấn mình. Ánh mắt Mẹ nhìn ra phía chúng ta. Mỗi ngày, hãy tự hỏi dưới ánh mắt ấy: hôm nay con đã sống thế nào? Con có làm điều gì khiến Chúa Giêsu buồn không? Con có khinh thường ai không? Con có cố chấp với ai không? Con có để ý riêng lớn hơn thánh ý Chúa không? Con có dùng thời giờ Chúa ban cách tốt không? Con có chạy đến với Mẹ khi bị cám dỗ hay chỉ nhớ đến Mẹ sau khi đã thất bại? Một bức ảnh thánh thật sự có ích khi nó giúp đời sống thay đổi.
12. DÂNG CHO MẸ NHỮNG ĐIỀU TA KHÔNG BIẾT PHẢI LÀM GÌ
Trong đời sống có rất nhiều hoàn cảnh chúng ta không giải quyết được. Có người mình thương nhưng không thể thay đổi. Có một mối tương quan càng cố càng rối. Có một người con đi xa đường Chúa. Có một người anh em đang khép lòng. Có một bệnh tật không có lời giải nhanh. Có một tương lai chưa biết. Có những lúc ta thấy bất lực. Chính ở đây lòng tôn sùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp giải thoát chúng ta khỏi nhu cầu phải kiểm soát tất cả. Hãy làm phần mình, nhưng rồi biết đặt phần còn lại vào tay Mẹ.
“Con đã nói điều cần nói, phần còn lại con trao cho Mẹ. Con đã làm điều có thể làm, phần còn lại con trao cho Mẹ. Con không thể đi vào lòng người này, xin Mẹ đi vào. Con không biết ngày mai ra sao, nhưng Mẹ biết Con Mẹ. Con không đủ sức mang nỗi lo này suốt đêm, xin Mẹ giữ nó giúp con để con ngủ.” Sự phó thác ấy không phải trốn tránh trách nhiệm. Nó là nhìn nhận giới hạn. Một phần lớn sự mệt mỏi của chúng ta đến từ việc cố làm công việc thuộc về Thiên Chúa. Ta muốn kiểm soát kết quả, kiểm soát người khác, kiểm soát tương lai. Đức Mẹ dạy: hãy trung tín với phần của con, rồi để Chúa là Chúa.
13. ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP VÀ GIỜ CHẾT
Không ai thích nghĩ đến giờ chết, nhưng người sống đời thiêng liêng không cần sợ nói về nó. Giờ chết là giờ chúng ta hoàn tất cuộc chiến. Những gì ta đã tập mỗi ngày sẽ trở thành rất quan trọng lúc ấy. Nếu cả đời đã tập kêu cầu Mẹ trong những giờ khó, thì trong giờ cuối cùng tên Mẹ sẽ trở thành rất gần. Vì vậy, hãy tập từ hôm nay phó thác giờ chết cho Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Không phải với sự ám ảnh, nhưng với bình an. Mỗi tối có thể nói: “Mẹ ơi, nếu đêm nay là đêm cuối, xin dẫn con về với Chúa.” Mỗi lần đọc “cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”, hãy nhớ rằng ta đang xin một ơn rất thật.
Giờ chết là lúc chúng ta sẽ phải buông mọi thứ: công việc, danh tiếng, kế hoạch, những người mình yêu, cả chính thân xác mình. Nếu mỗi ngày đã tập buông một chút trong tay Mẹ, giờ cuối sẽ bớt xa lạ. Nếu mỗi ngày đã học xin vâng với những điều nhỏ, giờ chết sẽ là tiếng xin vâng cuối cùng. Nếu mỗi ngày đã tập chạy về với Mẹ khi sợ, thì khi nỗi sợ lớn nhất đến, chúng ta biết mình phải đi đâu.
14. ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP VÀ TINH THẦN DÒNG CHÚA CỨU THẾ
Đối với người con Dòng Chúa Cứu Thế, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp không chỉ là một lòng đạo đức cá nhân đẹp đẽ. Tước hiệu này đã trở thành một phần rất thân thương trong lịch sử và sứ mạng của Dòng. Người thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế được mời gọi không chỉ chạy đến với Mẹ cho chính mình, mà còn đem Mẹ đến cho những người đang cần được cứu giúp. Điều đó rất phù hợp với đặc sủng loan báo ơn cứu chuộc chứa chan cho những người nghèo khổ và bị bỏ rơi nhất. Bởi ai cần “Hằng Cứu Giúp” hơn những người không biết phải chạy về đâu? Ai cần một người Mẹ hơn những người cảm thấy mình bị bỏ quên? Ai cần một ánh mắt dịu dàng hơn những người đã quá lâu chỉ nhận được ánh mắt xét đoán?
Nhưng chúng ta phải cẩn thận: loan truyền lòng sùng kính Mẹ trước hết bằng chính cách mình sống. Người mang ảnh Đức Mẹ đi khắp nơi mà chính mình không có lòng hiền mẫu đối với người yếu đuối thì lời rao giảng sẽ thiếu sức. Người đọc kinh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp rất sốt sắng nhưng lại không sẵn sàng cứu giúp anh em khi họ cần thì vẫn chưa hiểu hết tước hiệu ấy. Nếu Mẹ là Hằng Cứu Giúp, người con của Mẹ cũng phải trở thành người sẵn sàng giúp đỡ. Không phải cứu tất cả mọi người theo ý mình, nhưng ít nhất là đừng sống dửng dưng. Hãy có đôi tai biết nghe. Hãy có đôi tay biết đỡ. Hãy có lời nói biết khích lệ. Hãy có sự kiên nhẫn đối với người lặp đi lặp lại một yếu đuối. Hãy có lòng thương đối với người sa ngã. Hãy biết làm cho người khác cảm thấy rằng vẫn còn đường trở về. Khi ấy, lòng tôn sùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mới đi từ kinh nguyện thành sứ mạng.
15. HÃY TRỞ THÀNH “SỰ CỨU GIÚP” CHO NGƯỜI KHÁC
Nếu chúng ta thật sự sống dưới sự bảo trợ của Mẹ, một điều rất tự nhiên sẽ xảy ra: chúng ta sẽ muốn trở thành một chút phản chiếu của Mẹ cho người khác. Có người đang cần một lời nâng đỡ. Có người cần được lắng nghe. Có người cần ai đó đừng bỏ họ sau một lần sai. Có người cần một cơ hội thứ hai. Có người chỉ cần biết rằng vẫn có người cầu nguyện cho mình. Đừng nghĩ chỉ những việc lớn mới là “cứu giúp”. Nhiều lần, một tin nhắn đúng lúc cứu một người khỏi một buổi tối rất tối. Một lời “tôi vẫn tin bạn có thể bắt đầu lại” có thể kéo một người khỏi tuyệt vọng. Một sự hiện diện bình tĩnh bên giường bệnh có thể giúp ai đó bớt sợ. Một quyết định không nói xấu có thể cứu danh dự một người. Một lời xin lỗi có thể cứu một tương quan.
Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp không muốn chúng ta chỉ nhận mà không trở nên giống Mẹ. Người được Mẹ nâng thì hãy học nâng người khác. Người được Mẹ kiên nhẫn thì hãy học kiên nhẫn. Người được Mẹ đưa về với Chúa thì đừng đóng đường trở về của người khác bằng thái độ khắc nghiệt. Người được cứu giúp nhiều sẽ hiểu người yếu dễ hơn. Có lẽ đây là một trong những dấu chỉ đẹp nhất của lòng tôn sùng Mẹ: ta bớt xét đoán và dễ thương xót hơn.
16. MỘT KỶ LUẬT NHỎ MỖI NGÀY DƯỚI ÁNH MẮT MẸ
Hỡi linh hồn, đừng biến những điều trong chương này thành những cảm xúc đẹp rồi để đó. Hãy đưa chúng vào một nếp sống rất cụ thể. Sáng thức dậy, trước khi chạm vào điện thoại, hãy nhìn lên Mẹ và nói: “Mẹ ơi, hôm nay xin giữ con thuộc về Chúa Giêsu.” Trong ngày, khi cám dỗ đến, đừng chờ: “Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin cứu con.” Khi lỡ sai, hãy trở về ngay: “Mẹ ơi, đưa con về với Chúa.” Khi phải quyết định điều gì, hãy xin Mẹ giúp mình không chọn vì tự ái. Khi nóng giận, hãy trì hoãn lời nói và gọi tên Mẹ. Khi mệt, hãy cầm chuỗi Mân Côi. Khi tối đến, hãy xét ngày dưới ánh mắt Mẹ: “Hôm nay con đã sống thế nào? Điều gì cần cảm tạ? Điều gì cần xin lỗi? Ngày mai con muốn bắt đầu lại ở đâu?” Rồi trao giấc ngủ cho Mẹ.
Nếu làm những điều nhỏ ấy mỗi ngày trong nhiều năm, linh hồn sẽ đổi. Không ồn ào. Không chóng vánh. Nhưng thật. Mẹ sẽ dạy ta bằng cách rất âm thầm. Có những điều không học được qua sách, chỉ học được bằng việc ở gần một người lâu ngày. Ở gần Mẹ cũng vậy. Dần dần, ta sẽ bớt phản ứng. Bớt sợ. Bớt tự ái. Bớt muốn kiểm soát. Bớt tuyệt vọng khi mình yếu. Ta sẽ biết đứng dậy nhanh hơn. Biết im lặng đúng lúc hơn. Biết cầu nguyện ngắn mà thật hơn. Biết phó thác hơn. Và quan trọng nhất, ta sẽ yêu Chúa Giêsu hơn.
17. ĐỪNG BIẾN LÒNG TÔN SÙNG MẸ THÀNH NƠI TRỐN TRÁNH CHÚA GIÊSU
Một lòng tôn sùng lành mạnh luôn đưa ta đến với Chúa Giêsu. Nếu ta chạy đến với Mẹ nhưng không muốn bỏ tội, có gì đó sai. Nếu ta cầu xin Mẹ giúp mà không chịu làm phần của mình, có gì đó sai. Nếu ta đọc kinh nhiều nhưng không chịu tha thứ, có gì đó sai. Nếu ta nói yêu Mẹ mà né tránh Thánh Thể, Lời Chúa, Bí tích Hòa Giải, sự vâng phục và bổn phận, lòng sùng kính ấy đang bị méo. Mẹ không bao giờ giữ chúng ta cho riêng Mẹ. Điều Mẹ muốn nhất là chúng ta làm điều Chúa Giêsu muốn. Tại Cana, lời duy nhất của Mẹ hướng đến các gia nhân là: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó phải là linh hồn của mọi lòng tôn sùng Đức Maria.
Vì vậy, mỗi lần đến với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, hãy sẵn sàng để Mẹ dẫn mình đến một đòi hỏi cụ thể của Tin Mừng. Có khi Mẹ sẽ dẫn ta đến tòa giải tội. Có khi đến một lời xin lỗi. Có khi đến việc chấm dứt một tương quan nguy hiểm. Có khi đến sự từ bỏ một thói quen. Có khi đến một quyết định vâng phục. Có khi đến việc tha thứ. Có khi đến một thập giá mà ta đã chạy trốn. Đừng chỉ xin Mẹ cứu mình khỏi khó chịu; hãy để Mẹ cứu mình khỏi chính điều đang làm linh hồn xa Chúa.
18. KHI KHÔNG CẢM THẤY MẸ Ở GẦN
Sẽ có những ngày chúng ta cầu mà không cảm thấy gì. Gọi Mẹ mà lòng vẫn trống. Nhìn ảnh Mẹ mà không có chút xúc động. Đừng nghĩ rằng như thế là Mẹ ở xa. Đời sống đức tin không được đo bằng cảm giác. Một người mẹ có thể đang ngồi bên giường đứa con ngủ mà đứa con không biết. Sự hiện diện không tùy thuộc vào cảm giác của đứa trẻ. Thiên Chúa cũng vậy, và sự chuyển cầu của Đức Maria cũng vậy.
Đây chính là lúc lòng tôn sùng được thanh luyện. Ta không tìm Mẹ chỉ vì cảm giác dễ chịu khi cầu nguyện. Ta tìm Mẹ vì Mẹ là Mẹ, dù lòng mình khô. Ta đọc kinh dù không thấy sốt sắng. Ta tiếp tục phó thác dù tâm trí chưa yên. Sự trung tín trong khô khan có giá trị rất lớn, vì lúc đó ta yêu bằng ý chí chứ không chỉ bằng cảm xúc.
19. KHI CON SỢ MÌNH KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI
Có lẽ đây là một trong những nỗi sợ sâu nhất của người đã chiến đấu lâu năm với một yếu đuối: “Có khi nào tôi sẽ chẳng bao giờ thay đổi?” Một lỗi cứ lặp lại. Một tính xấu cứ trở về. Một vết thương cứ nhói. Sau nhiều lần quyết tâm, ta bắt đầu mệt với chính mình. Đây là lúc đừng nhìn quá xa. Mẹ không yêu cầu con bảo đảm rằng mình sẽ hoàn hảo vào năm sau. Mẹ chỉ mời con đứng dậy hôm nay.
Đừng nói: “Con sẽ không bao giờ giận nữa.” Hãy nói: “Mẹ ơi, trong cuộc nói chuyện này, xin giúp con hiền.” Đừng nói: “Con sẽ không bao giờ bị cám dỗ nữa.” Hãy nói: “Trong mười phút này, xin giúp con trung tín.” Đừng nói: “Con phải trở thành thánh ngay.” Hãy hỏi: “Ngay lúc này, điều nhỏ nào làm đẹp lòng Chúa?” Cuộc chiến được thắng trong hiện tại. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là Mẹ của từng giây phút như thế. “Hằng” nghĩa là ở mỗi giây.
Có thể con sẽ còn phải chiến đấu với cùng một điều rất lâu. Nhưng nếu mỗi lần chiến đấu con khiêm nhường hơn, tín thác hơn, nhanh trở về hơn, ít tự cao hơn, thì ngay cả trận chiến chưa kết thúc cũng đang sinh hoa trái. Đôi khi Chúa không cất một yếu đuối nhanh vì qua chính sự yếu đuối ấy, Ngài đang chữa một căn bệnh sâu hơn: sự tự mãn. Một người tưởng mình mạnh có thể xa Chúa hơn một người yếu nhưng luôn chạy về với Ngài. Mẹ giữ chúng ta trong cái nghịch lý đó: biết mình rất yếu mà không thất vọng, vì biết Chúa rất mạnh.
20. LỜI CUỐI CHO NGƯỜI ĐANG CHIẾN ĐẤU
Hỡi linh hồn, nếu con đã đọc đến đây trong một giai đoạn bình an, hãy cất những điều này vào lòng cho ngày giông bão. Nếu con đang ở trong giông bão, đừng cố hiểu mọi thứ ngay. Hãy làm một điều nhỏ: chạy về với Mẹ. Con không cần đến với Mẹ bằng một tâm hồn đã sắp xếp đẹp. Hãy đến với cả sự rối bời. Con không cần có những lời hay. Một tiếng “Mẹ ơi” đủ để bắt đầu. Con không cần phải chứng minh rằng mình xứng đáng được giúp. Chính cái tên “Hằng Cứu Giúp” đã nói rằng Mẹ đến vì con cần giúp.
Khi con mạnh, hãy đến với Mẹ để khỏi kiêu. Khi con yếu, hãy đến với Mẹ để khỏi ngã. Khi con đã ngã, hãy đến với Mẹ để đứng dậy. Khi con vui, hãy đến với Mẹ để biết cảm tạ. Khi con buồn, hãy đến với Mẹ để nỗi buồn không biến thành tuyệt vọng. Khi con thành công, hãy đến với Mẹ để dâng vinh quang cho Chúa. Khi con thất bại, hãy đến với Mẹ để học bắt đầu lại. Khi con không biết phải đi đâu, hãy đến với Mẹ và xin Mẹ chỉ về Chúa Giêsu. Khi giờ chết đến, hãy để lời cầu mà con đã tập cả đời trở thành tiếng gọi cuối cùng: “Mẹ ơi, xin cứu giúp con.”
Đừng quên rằng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp không chỉ đứng ở cuối con đường đợi chúng ta. Mẹ đi cùng. Không phải lúc nào con cũng cảm thấy tay Mẹ, nhưng tay Mẹ vẫn đó. Không phải lúc nào con cũng hiểu Mẹ đang làm gì, nhưng Mẹ không bỏ con. Và ngay cả khi con đã nhiều lần bỏ tay Mẹ để chạy theo ý riêng, chỉ cần con quay lại, bàn tay ấy vẫn mở.
Có thể con đã ngã rất nhiều lần. Hãy đứng lên lần nữa. Có thể con đã hứa nhiều mà giữ chẳng bao nhiêu. Hãy bắt đầu lại. Có thể con thấy mình không xứng. Đừng lấy sự bất xứng làm lý do để xa Mẹ. Người bệnh không cần chứng minh mình khỏe mới đi tìm thuốc. Người chìm không cần biết bơi giỏi mới kêu cứu. Chính vì con cần cứu giúp nên con có quyền gọi Mẹ bằng tước hiệu ấy.
Và rồi một ngày, nếu con trung tín chạy về với Mẹ, con sẽ nhận ra một điều đẹp lạ lùng: Mẹ không làm cho con trở thành người không còn yếu đuối, nhưng Mẹ làm cho sự yếu đuối không còn tách con khỏi Chúa. Mẹ không làm con trở thành người không bao giờ sợ, nhưng Mẹ dạy con biết mình phải chạy về đâu khi sợ. Mẹ không khiến cuộc chiến biến mất, nhưng Mẹ làm con không còn đơn độc trong cuộc chiến. Mẹ không cất thập giá khỏi mọi ngày đời con, nhưng Mẹ đứng gần đến mức con có thể mang nó mà không đánh mất tình yêu.
Và đó có lẽ là một trong những ân huệ lớn nhất của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: không phải một cuộc đời không chiến đấu, nhưng một trái tim biết rằng trong mọi trận chiến vẫn có đường trở về; không phải không bao giờ ngã, nhưng không bao giờ tuyệt vọng vì ngã; không phải không có đêm tối, nhưng trong đêm vẫn biết Mẹ đang dẫn mình về phía Chúa Giêsu.
Hỡi linh hồn, hãy ghi vào sâu trong tim một lời rất đơn sơ để dùng cho tất cả phần đời còn lại: Khi không biết làm gì, hãy chạy đến với Mẹ. Khi không còn sức, hãy để Mẹ đỡ. Khi không còn thấy đường, hãy để Mẹ dẫn. Khi đã sa ngã, hãy để Mẹ đưa về. Khi đứng trước Chúa Giêsu mà không dám ngẩng đầu, hãy nắm lấy tay Mẹ và đi cùng Mẹ đến trước mặt Người.
Và mỗi ngày, trong những trận chiến lớn nhỏ, con hãy thưa:
“Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Mẹ biết con yếu đuối hơn chính con hiểu về mình. Mẹ biết những trận chiến con đang mang, những cám dỗ con không dám nói, những vết thương con còn giấu, những nỗi sợ con không thể giải thích, những lần con muốn bỏ cuộc và những lần con đã làm Chúa buồn. Con không xin Mẹ làm cho đời con không còn thập giá. Con chỉ xin Mẹ đừng để con đánh mất Chúa Giêsu trong bất cứ thập giá nào. Khi con bị cám dỗ, xin Mẹ nhắc con chạy về với Chúa. Khi con sa ngã, xin Mẹ đừng để con nằm lại. Khi con tự mãn, xin Mẹ làm con khiêm nhường. Khi con tuyệt vọng, xin Mẹ làm con tín thác. Khi con nóng giận, xin Mẹ giữ miệng con. Khi con yếu lòng, xin Mẹ giữ ý chí con. Khi con không hiểu đường Chúa dẫn, xin Mẹ dạy con nói xin vâng. Khi con thành công, xin Mẹ giữ con nhỏ bé. Khi con bị quên lãng, xin Mẹ dạy con vui vì Chúa biết. Khi con cô đơn, xin Mẹ nhắc con rằng con vẫn có một Người Mẹ. Khi con bước vào giờ chết, xin Mẹ ở bên con, nắm lấy tay con và đưa con đến với Chúa Giêsu, Con Mẹ. Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, con không muốn chiến đấu một mình nữa. Con trao cuộc chiến của con cho Mẹ. Xin Mẹ giữ con trung thành hôm nay, ngày mai, và cho đến hơi thở cuối cùng. Amen.”
CHƯƠNG 46
CÁC THÁNH VÀ CÁC THIÊN THẦN TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang được Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp che chở dưới áo từ mẫu của Mẹ, đang cố gắng bước đi giữa những giằng co âm thầm của đời sống nội tâm, đang có những ngày mạnh mẽ nhưng cũng có những ngày mỏi mệt, đang có những lúc cầu nguyện sốt sắng nhưng cũng có những lúc tưởng như tất cả bầu trời đều im lặng, con hãy khắc ghi một điều này thật sâu vào lòng: con không bao giờ chiến đấu một mình. Có thể đôi lúc con cảm thấy mình cô độc. Có thể có những trận chiến mà con không thể kể với bất cứ ai. Có những cơn cám dỗ chỉ mình con biết. Có những tiếng thở dài chỉ Chúa nghe. Có những vết thương không ai nhìn thấy. Có những lần con phải tự đứng dậy trong thinh lặng, lau nước mắt, làm dấu Thánh Giá rồi tiếp tục một ngày sống như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng ngay trong chính những giờ phút ấy, khi con tưởng mình chỉ có một mình giữa chiến trường, thì thực ra chung quanh con là cả một mầu nhiệm hiệp thông vô cùng lớn lao. Trên đầu con là Thiên Chúa Ba Ngôi. Bên con là Đức Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp. Trước mặt con là Chúa Giêsu, Đấng đã chiến đấu và chiến thắng. Trong con là Chúa Thánh Thần, Đấng ban sức mạnh và ánh sáng. Và chung quanh con còn có cả một đoàn thể những người đã đi qua con đường này trước con: các thánh trên trời và các thiên thần thánh của Thiên Chúa. Các ngài không phải là những hình ảnh xa xôi được đặt trên bàn thờ để chúng ta nhìn ngắm rồi thôi. Các ngài không phải là những nhân vật thuộc về một quá khứ đã khép lại. Các ngài đang sống trong Thiên Chúa. Các ngài thuộc về Hội Thánh. Và bởi vì chúng ta cũng thuộc về Hội Thánh, nên giữa các ngài và chúng ta có một mối dây hiệp thông không bị cắt đứt bởi sự chết. Cuộc chiến linh hồn của chúng ta vì thế không phải là cuộc chiến của một cá nhân cô độc đang cố gắng tự hoàn thiện mình. Đó là cuộc chiến được sống trong lòng Hội Thánh, trong sự hiệp thông của Hội Thánh lữ hành đang chiến đấu trên trần gian, Hội Thánh thanh luyện đang được thanh tẩy trong tình yêu, và Hội Thánh khải hoàn đang hưởng nhan thánh Chúa. Khi linh hồn hiểu được điều này, một điều gì đó sẽ thay đổi rất sâu trong cách nó chiến đấu. Nó bớt sợ hơn. Nó bớt cô độc hơn. Nó bớt nghĩ rằng tất cả tùy thuộc vào sức mình. Nó bắt đầu cảm nhận rằng mình thuộc về một gia đình lớn hơn mình rất nhiều, một đạo binh không phải của sức mạnh con người nhưng của ân sủng, một đoàn người đã đi qua đêm tối và đang đứng bên kia ánh sáng, một đám mây nhân chứng đang nhìn cuộc chạy đua của nó không phải với thái độ xét đoán, nhưng với tình yêu của những người đã từng biết thế nào là mệt, là ngã, là chiến đấu, là khóc, là mất phương hướng, là phải bắt đầu lại.
Các thánh là những người đã chiến thắng trước chúng ta, nhưng đừng tưởng rằng vì thế các ngài chưa từng biết đến cuộc chiến. Có khi chúng ta đọc hạnh các thánh quá nhanh, chỉ nhìn vào phần cuối của đời các ngài, nhìn vào những nhân đức đã chín muồi, những việc lớn lao đã được thực hiện, những phép lạ, những lời khôn ngoan, những giờ cầu nguyện sâu xa, rồi vô tình tạo ra một khoảng cách giữa các ngài với chúng ta. Chúng ta nhìn các thánh như những người sinh ra đã thánh thiện, như những tâm hồn không có những xáo trộn, những cám dỗ, những yếu đuối mà mình đang mang. Nhưng sự thật đẹp hơn nhiều. Các thánh là những con người thật. Các ngài có tính khí. Có giới hạn. Có những vùng yếu đuối. Có những ngày khô khan. Có những cuộc chiến kéo dài. Có người phải chiến đấu với nóng giận. Có người chiến đấu với tự ái. Có người phải chiến đấu với ham muốn danh dự. Có người đã trải qua một đời sống tội lỗi trước khi trở về. Có người sống nhiều năm trong khô khan thiêng liêng. Có người bị hiểu lầm. Có người chịu những cám dỗ ghê gớm. Có người bị thử thách trong đức tin. Có người mang những vết thương sâu từ tuổi trẻ. Có người phải chiến đấu với chính tính cách mạnh mẽ của mình từng ngày cho đến cuối đời. Điều làm các ngài trở thành thánh không phải là không có cuộc chiến, nhưng là không bỏ cuộc trong cuộc chiến. Không phải là chưa bao giờ ngã, nhưng là không chấp nhận nằm mãi dưới đất. Không phải là lúc nào cũng cảm thấy Chúa gần, nhưng vẫn trung thành khi không cảm thấy gì. Không phải là luôn luôn hiểu được thánh ý Chúa, nhưng vẫn vâng phục khi thánh ý ấy dẫn qua bóng tối. Không phải là không biết đau, nhưng biết để cho đau khổ đi qua trái tim mình và trở thành của lễ. Không phải là không có đam mê, nhưng bằng ân sủng đã để cho đam mê được thanh luyện, hướng dẫn, thuần hóa và đặt dưới quyền của tình yêu Thiên Chúa. Khi hiểu như thế, chúng ta không còn nhìn các thánh với một sự ngưỡng mộ xa cách. Chúng ta bắt đầu nhìn các ngài như những người anh, người chị đã đi trước. Họ biết đường. Họ biết chỗ hiểm nguy. Họ biết những khúc quanh. Họ biết cảm giác của một người muốn nên thánh nhưng lại gặp chính sự yếu đuối của mình mỗi ngày. Và bởi họ đã đi qua, họ có thể nói với chúng ta bằng chính đời sống họ rằng: đừng sợ. Đừng ngạc nhiên vì con còn yếu. Đừng thất vọng vì con phải chiến đấu đi chiến đấu lại với một tính xấu. Đừng tưởng rằng việc con phải bắt đầu lại nhiều lần có nghĩa là Chúa đã bỏ con. Chúng tôi cũng đã từng bắt đầu lại. Chúng tôi cũng đã từng khóc. Chúng tôi cũng đã từng không hiểu. Nhưng Thiên Chúa trung thành. Ân sủng của Người đủ cho con.
Đây chính là một trong những lý do tại sao việc đọc hạnh các thánh có giá trị lớn trong đời sống chiến đấu nội tâm. Đọc hạnh các thánh không phải để thỏa mãn sự tò mò đạo đức. Không phải để tìm những chuyện lạ. Không phải để chỉ cảm động trước một đời sống phi thường rồi sau đó trở lại cuộc sống mình mà không thay đổi gì. Hãy đọc các thánh như một người lính đọc kinh nghiệm chiến trường của những người đi trước. Hãy tìm xem họ đã chiến đấu thế nào. Họ làm gì khi bị cám dỗ? Họ làm gì khi bị sỉ nhục? Họ làm gì khi kế hoạch bị phá vỡ? Họ làm gì khi lời cầu nguyện trở nên khô khan? Họ làm gì khi người khác hiểu sai mình? Họ làm gì khi phải vâng phục một điều trái với ý riêng? Họ làm gì khi bệnh tật đến? Họ làm gì khi sứ vụ thất bại? Họ làm gì khi cảm thấy mình không còn sức? Họ làm gì sau khi sa ngã? Chính ở những điểm ấy, hạnh các thánh trở thành một trường học rất thực tế. Con sẽ nhận ra rằng các thánh rất khác nhau, nhưng có vài điều gần như luôn luôn giống nhau: họ khiêm nhường, họ cầu nguyện, họ trở về với Chúa, họ không nuôi dưỡng tuyệt vọng, họ biết vâng phục, họ kiên nhẫn, họ tập từ bỏ ý riêng, họ không lấy cảm xúc làm tiêu chuẩn cuối cùng, và trên hết, họ tiếp tục yêu Chúa giữa những hoàn cảnh không dễ yêu. Đó chính là bí quyết của các thánh. Họ không nhất thiết chiến thắng bằng những hành động lớn. Nhiều khi chiến thắng lớn nhất của họ là một lần im lặng thay vì đáp trả, một lần đứng dậy đi cầu nguyện dù lòng không muốn, một lần tha thứ người đã làm họ đau, một lần vâng phục khi ý riêng bị bẻ gãy, một lần kiên nhẫn trong bệnh tật, một lần tiếp tục bổn phận giữa sự chán nản, một lần nói “xin vâng” khi tất cả trong lòng muốn nói “không”. Những chiến thắng nhỏ được lặp đi lặp lại dưới tác động của ân sủng đã làm thành sự thánh thiện.
Trong cuộc chiến ấy, Thánh Giuse là một người bạn đặc biệt. Ngài không để lại cho chúng ta một lời nào trong Tin Mừng, nhưng đời sống của ngài lại là cả một bài giảng về sức mạnh của sự thinh lặng, của vâng phục, của trách nhiệm và của tình yêu không tìm mình. Có bao nhiêu cuộc chiến Thánh Giuse đã phải trải qua mà Tin Mừng chỉ nói bằng vài câu rất ngắn. Khi biết Đức Maria mang thai trước khi hai người về chung sống, tâm hồn người công chính ấy hẳn đã đi qua một đêm tối mà chúng ta khó hiểu hết. Khi thiên thần bảo ngài đừng sợ đón Maria về nhà, ngài vâng phục. Khi phải đưa Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập giữa đêm, ngài vâng phục. Khi phải sống kiếp tha hương, làm việc để bảo vệ gia đình, rồi lại trở về Nadarét sống những năm tháng âm thầm không ai biết tới, ngài vẫn vâng phục. Thánh Giuse dạy chúng ta rằng không phải mọi chiến thắng đều ồn ào. Có những chiến thắng diễn ra trong một căn nhà nhỏ, trong một xưởng thợ, trong một quyết định âm thầm, trong việc mỗi sáng đứng lên chu toàn bổn phận dù lòng còn nặng. Có những cuộc chiến thiêng liêng không đòi hỏi ta nói những lời lớn lao, chỉ đòi ta làm đúng điều Chúa muốn. Khi con thấy tâm hồn bị xáo trộn, khi con không biết phải làm sao giữa những hoàn cảnh phức tạp, khi trách nhiệm trở nên nặng, khi đời sống âm thầm làm con cảm thấy mình chẳng có gì đáng kể, hãy chạy đến với Thánh Giuse. Xin ngài dạy con sức mạnh của người công chính: không ồn ào, không tự biện minh, không tìm mình, nhưng đứng vững trước mặt Thiên Chúa và làm điều phải làm.
Và đối với những người mang linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, làm sao chúng ta có thể không chạy đến với Thánh Anphongsô Maria de Liguori, người cha, người thầy, người đã để cho cả cuộc đời mình trở thành lời đáp trả trước tình yêu cứu chuộc chứa chan nơi Đức Kitô. Nếu chỉ nhìn Thánh Anphongsô như một vị tiến sĩ Hội Thánh, một nhà luân lý, một người sáng lập, chúng ta có thể quên rằng ngài cũng là một con người đã phải chiến đấu rất nhiều với chính mình. Một con người tài năng, ý chí mạnh, được đào tạo trong môi trường danh giá, từng biết thế nào là thành công, đã phải học từ bỏ những gì thế gian coi là bảo đảm để đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Và trong suốt cuộc đời, ngài không chỉ chiến đấu ngoài cánh đồng truyền giáo. Những cuộc chiến nặng nề hơn nhiều đã diễn ra trong chính tâm hồn ngài: bệnh tật, hiểu lầm, sự phản đối, những khủng hoảng trong Hội Dòng, những đau khổ do người thân cận gây ra, những cơn thử thách về lương tâm, và cuối đời là những thử thách tinh thần rất nặng. Nhưng chính qua tất cả những điều ấy, Thánh Anphongsô đã trở nên một người hiểu sâu lòng thương xót Chúa. Ngài không nói về tình yêu Thiên Chúa như một lý thuyết. Ngài nói từ kinh nghiệm của người đã phải nắm lấy tình yêu ấy để sống. Ngài dạy chúng ta rằng sự thánh thiện không hệ tại việc con không bao giờ phải chiến đấu, mà ở chỗ con để tình yêu của Chúa trở thành lý do cuối cùng cho mọi chiến đấu. Hãy hỏi Thánh Anphongsô trong những lúc con mệt mỏi: “Cha ơi, con phải làm gì?” Và có lẽ câu trả lời vẫn sẽ rất đơn sơ: hãy yêu Chúa Giêsu. Hãy làm điều Chúa muốn. Hãy yêu Đức Maria. Hãy đừng ngã lòng. Hãy nhớ rằng nơi Đức Kitô luôn có ơn cứu chuộc chứa chan.
Có những linh hồn phải chiến đấu nhiều trên bình diện cầu nguyện và thanh luyện nội tâm. Với những người ấy, Thánh Têrêsa Avila và Thánh Gioan Thánh Giá trở thành những vị hướng dẫn vô cùng quý giá. Các ngài giúp chúng ta hiểu rằng đời sống cầu nguyện không phải lúc nào cũng là cảm giác ngọt ngào. Thiên Chúa đôi khi dẫn linh hồn qua những vùng khô khan, tối tăm, nghèo nàn, nơi những chỗ dựa cũ bị lấy đi. Người làm như thế không phải để phá hủy linh hồn nhưng để thanh luyện tình yêu. Có một thời gian chúng ta cầu nguyện vì thấy dễ chịu. Rồi sẽ đến lúc phải học cầu nguyện chỉ vì Chúa là Chúa. Có thời gian chúng ta sống đạo vì cảm thấy sốt sắng. Rồi đến lúc phải sống trung thành dù không cảm nhận được điều gì. Có thời gian chúng ta nghĩ mình đã tiến bộ. Rồi ánh sáng của Chúa soi vào và cho thấy những tầng tự ái rất sâu mà trước đó mình không thấy. Đây là lúc rất nhiều người muốn quay lui. Nhưng các bậc thầy của đời sống nội tâm sẽ nói với chúng ta: đừng sợ đêm tối nếu Thiên Chúa đang dẫn con qua đó. Đừng lầm tưởng khô khan luôn có nghĩa là xa Chúa. Đừng chạy theo cảm giác. Đừng cố cưỡng ép những an ủi. Hãy trung tín. Hãy để Thiên Chúa làm công việc của Người. Chính trong những đêm mà con không thấy gì, Người có thể đang làm những công việc sâu hơn những điều con có thể cảm nhận.
Thánh Phanxicô Assisi lại cho chúng ta một bài học khác: chiến thắng thế gian bằng sự tự do nội tâm. Có những linh hồn không bị trói bởi những tội lớn nhưng bị trói bởi vô số dính bén nhỏ: muốn được người ta công nhận, muốn được đối xử đúng, muốn có sự tiện nghi, muốn người khác hiểu mình, muốn giữ quyền kiểm soát, muốn có chỗ đứng, muốn bảo vệ hình ảnh của mình. Những sợi dây nhỏ ấy nhiều khi làm linh hồn nặng đến mức không thể bay lên. Phanxicô đã cởi bỏ từng lớp những gì thế gian gọi là bảo đảm để tìm thấy một niềm vui mà thế gian không thể ban. Ngài gọi mặt trời là anh, mặt trăng là chị, gọi cả những thực tại bé nhỏ bằng ngôn ngữ của người tự do, bởi lòng ngài không còn bị đóng khung trong cái tôi sở hữu. Tinh thần khó nghèo ấy là một khí giới mạnh trong cuộc chiến linh hồn. Người không cần giữ quá nhiều sẽ khó bị ma quỷ dùng nỗi sợ mất mát để điều khiển. Người không quá cần lời khen sẽ bớt bị lời chê làm tổn thương. Người không đặt hạnh phúc vào tiện nghi sẽ bớt bị thử thách làm lung lay. Người có Chúa làm gia nghiệp sẽ có một tự do rất sâu. Hãy xin Thánh Phanxicô dạy con biết nhẹ đi. Có khi cuộc chiến của con không phải là cố làm thêm một điều gì, nhưng là học buông bớt một điều mà con đang nắm quá chặt.
Thánh Inhã Loyola dạy chúng ta một chiều kích đặc biệt khác: phải biết phân định. Không phải mọi ý nghĩ xuất hiện trong tâm trí đều đáng tin. Không phải mọi cảm xúc đạo đức đều đến từ Chúa. Không phải mọi sự hăng hái đều là tác động của Chúa Thánh Thần. Và cũng không phải mọi khô khan đều là dấu hiệu cho thấy ta đang sai đường. Trong cuộc chiến linh hồn, kẻ thù rất khôn ngoan. Nó có thể dùng điều xấu để cám dỗ chúng ta, nhưng đôi khi cũng dùng một điều có vẻ tốt để đẩy chúng ta sang một thái cực khác. Nó có thể khiến một người vốn nhiệt thành trở thành thiếu quân bình. Nó có thể khiến một người muốn cầu nguyện bỏ bê bổn phận. Nó có thể khiến một người ghét tội trở nên khắc nghiệt với tội nhân. Nó có thể khiến một người khát nên thánh trở nên ám ảnh về sự hoàn thiện của chính mình. Nó có thể khiến một người thích hy sinh bắt đầu âm thầm tự hào về những hy sinh ấy. Bởi thế, người chiến đấu không chỉ cần lòng nhiệt thành mà còn cần sự sáng suốt. Phải học nhận ra hoa trái của các chuyển động trong lòng. Điều này đang dẫn tôi đến gần Chúa hơn hay khiến tôi quay vào chính mình? Điều này làm tôi khiêm nhường hơn hay làm tôi thấy mình hơn người? Điều này đem lại một sự bình an sâu xa hay chỉ tạo nên một sự hưng phấn nhất thời? Điều này giúp tôi chu toàn bổn phận hay khiến tôi chạy khỏi thực tại? Đây là những câu hỏi của người biết rằng chiến trường lớn nhất không nằm bên ngoài mà nằm trong chính các chuyển động của lòng mình.
Và rồi có cả một đoàn các thánh tử đạo, những con người đã đi tới tận cùng của cuộc chiến và đã chứng minh rằng tình yêu có thể mạnh hơn nỗi sợ chết. Không phải tất cả chúng ta đều được mời gọi đổ máu vì đức tin, nhưng mọi Kitô hữu đều được mời gọi sống tinh thần tử đạo: chết cho ý riêng, chết cho tự ái, chết cho nhu cầu phải được công nhận, chết cho sự trả đũa, chết cho những ham muốn trái với Tin Mừng. Nhìn các thánh tử đạo, chúng ta được nhắc rằng rất nhiều điều mình đang sợ thực ra không lớn như mình tưởng. Chúng ta sợ bị hiểu lầm, còn họ chấp nhận bị kết án. Chúng ta sợ mất danh dự, còn họ chấp nhận bị nhục mạ. Chúng ta sợ thiếu tiện nghi, còn họ đi vào nhà tù. Chúng ta sợ một hy sinh nhỏ, còn họ hiến cả mạng sống. Không phải để chúng ta khinh thường sự yếu đuối của mình, nhưng để chúng ta thấy điều ân sủng có thể làm nơi một con người. Một người bình thường, khi hoàn toàn thuộc về Chúa, có thể mạnh mẽ hơn mình tưởng rất nhiều. Các thánh tử đạo nói với chúng ta rằng lòng can đảm Kitô giáo không phải là không biết sợ. Đó là yêu một điều lớn hơn nỗi sợ.
Nhưng bên cạnh các thánh, Thiên Chúa còn đặt quanh chúng ta một thế giới vô hình mà chúng ta thường quên: các thiên thần thánh. Đức tin của Hội Thánh không nói về thiên thần như những hình ảnh thơ mộng dành cho trẻ nhỏ. Các thiên thần là những thụ tạo thiêng liêng có thật, do Thiên Chúa dựng nên, phục vụ kế hoạch của Người. Họ thuộc về thế giới của Thiên Chúa, thờ phượng Người và thi hành sứ mạng Người trao. Trong cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối, giữa vâng phục và phản loạn, giữa Nước Thiên Chúa và những sức mạnh chống lại Người, các thiên thần trung thành đứng về phía Thiên Chúa. Và điều này phải làm linh hồn chúng ta thêm can đảm. Chúng ta thường chỉ nghĩ đến thế giới hữu hình: người này làm gì với mình, hoàn cảnh kia khó thế nào, công việc kia nặng bao nhiêu. Nhưng Thánh Kinh mở mắt chúng ta để thấy rằng cuộc đời con người còn được bao quanh bởi một thực tại vô hình. Thánh Phaolô nhắc rằng cuộc chiến của chúng ta không chỉ chống lại xác thịt và máu huyết, nhưng còn chống lại những quyền lực của bóng tối. Điều ấy không làm chúng ta hoảng sợ, trái lại giúp chúng ta tỉnh thức. Và cũng chính vì cuộc chiến có chiều kích vô hình, Thiên Chúa không để chúng ta thiếu những đồng minh vô hình.
Trong số ấy, gần gũi nhất với mỗi người là thiên thần bản mệnh. Có lẽ chúng ta đã cầu nguyện với thiên thần bản mệnh khi còn nhỏ, rồi càng lớn càng quên. Nhưng sự thật thiêng liêng không trở thành nhỏ bé chỉ vì lời kinh dành cho trẻ em. Một linh hồn trưởng thành càng cần học sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa và ý thức về sự gìn giữ mà Người ban cho mình. Thiên thần bản mệnh không thay thế tự do của con. Ngài không chiến đấu thay con trong nghĩa con không còn phải cố gắng. Nhưng ngài gìn giữ, soi sáng, thúc đẩy và trợ giúp trong kế hoạch quan phòng của Chúa. Có những lúc một ý nghĩ tốt đến rất nhẹ. Có những lúc giữa một tình huống khó, tâm trí bỗng được sáng ra. Có những lúc một nguy hiểm được tránh mà ta không hề biết. Có những lúc một sự thôi thúc bên trong nhắc ta đừng làm một điều nào đó. Chúng ta không cần tò mò cố gán mọi việc cho thiên thần, nhưng thái độ đúng là biết ơn vì Thiên Chúa chăm sóc chúng ta cả bằng những đường lối mà mắt thường không thấy. Hãy tập nói chuyện với thiên thần bản mệnh cách đơn sơ. Trước khi ra đường, xin ngài gìn giữ. Trước một cuộc gặp gỡ khó khăn, xin ngài giúp con bình tĩnh. Trước một quyết định quan trọng, xin ngài cầu cùng Chúa cho con được sáng suốt. Khi giác quan bị lôi kéo, xin ngài giúp con giữ đôi mắt, trí tưởng tượng và lòng mình. Khi nóng giận dâng lên, xin ngài nhắc con nhớ sự hiện diện của Chúa. Khi đêm xuống và tâm trí xao động, hãy phó mình cho sự bảo vệ của Thiên Chúa qua vị thiên thần được trao cho con.
Trong đạo binh thiên quốc, chúng ta cũng đặc biệt nhớ đến Tổng lãnh thiên thần Micae, vị mà truyền thống Kitô giáo luôn gắn với cuộc chiến chống lại sự dữ. Nhưng khi kêu cầu Micae, đừng biến đời sống thiêng liêng thành một sự ám ảnh về ma quỷ. Người Kitô hữu không sống bằng nỗi sợ bóng tối, nhưng bằng ánh sáng của Đức Kitô. Chúng ta không phải là những người cứ liên tục nhìn xem kẻ thù đang làm gì. Người lính tốt phải biết đối phương, nhưng mắt luôn hướng về vị chỉ huy. Quyền lực cuối cùng thuộc về Chúa. Thập Giá đã chiến thắng. Đức Kitô Phục Sinh là Chúa. Micae và các thiên thần chiến đấu không bằng một quyền lực độc lập nào, nhưng bằng sự trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa. Chính điều này cũng là bài học cho chúng ta: sức mạnh thiêng liêng thật không nằm ở việc con cảm thấy mình mạnh, mà ở chỗ con đứng đúng phía, ở dưới quyền của Thiên Chúa, vâng phục Người. “Ai bằng Thiên Chúa?” – chính tên Micae đã là một lời tuyên xưng. Trong nhiều cám dỗ, điều chúng ta cần không phải là tranh luận dài với chúng, mà chỉ cần trở về câu hỏi căn bản ấy: ai là Chúa của đời tôi? Tiền bạc ư? Dục vọng ư? Danh dự ư? Ý riêng ư? Nỗi sợ ư? Hay Thiên Chúa? Một khi linh hồn trả lời bằng cả đời sống rằng chỉ một mình Thiên Chúa là Chúa, rất nhiều xiềng xích bắt đầu lỏng ra.
Sống hiệp thông với các thánh và thiên thần không có nghĩa là chất đầy đời sống bằng vô số việc đạo đức đến mức tâm trí rối loạn. Điều cốt yếu là một ý thức sống động. Hãy chọn một vài vị thánh thật sự gần với ơn gọi và cuộc chiến của con. Có thể là Thánh Giuse để học thinh lặng và trung tín. Có thể là Thánh Anphongsô để học yêu Chúa Cứu Thế và không thất vọng về lòng thương xót. Có thể là Thánh Giêrađô Majella để học sự đơn sơ, vâng phục và trao mình cho thánh ý Chúa. Có thể là Thánh Clêmentê Maria Hofbauer để học kiên trì khi công việc tông đồ gặp thất bại. Có thể là Thánh Gioan Neumann để học một đời âm thầm lao nhọc cho các linh hồn. Có thể là Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu để học làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Có thể là một thánh mà con cảm thấy đời sống của ngài chạm vào chính vết thương hay giới hạn của con. Không cần quá nhiều. Nhưng hãy thật sự trở thành bạn của các ngài. Hãy đọc đời các ngài. Hãy nói với các ngài. Hãy xin các ngài cầu cho mình. Khi bước vào một trận chiến cụ thể, hãy nhớ đến vị thánh từng chiến đấu ở điểm ấy. Khi nóng giận, nhớ một vị thánh hiền lành. Khi sợ hãi, nhớ một vị tử đạo. Khi chán nản, nhớ một vị đã kiên trì trong nhiều năm tối tăm. Khi bị cám dỗ về đức trong sạch, hãy chạy đến Đức Maria, Thánh Giuse, các thánh đã giữ lòng trong sạch giữa nhiều thử thách. Khi lòng tham danh dự nổi lên, hãy nghĩ đến các thánh đã yêu đời sống ẩn dật. Khi bị tổn thương vì người khác, hãy nhìn những vị đã tha thứ cho kẻ bách hại mình. Hạnh các thánh lúc ấy không còn là lịch sử. Nó trở thành vũ khí.
Cũng hãy sống sự hiệp thông ấy trong Thánh Lễ. Có lẽ không nơi nào mầu nhiệm các thánh thông công trở nên đẹp và thật bằng Thánh Thể. Khi tham dự Thánh Lễ, con không chỉ đứng với vài người trong ngôi nhà thờ mình đang hiện diện. Cả Hội Thánh đang thờ phượng Thiên Chúa. Lời kinh của Hội Thánh nối trời và đất. Chúng ta hợp cùng các thiên thần và các thánh mà tung hô: Thánh, Thánh, Thánh. Hãy nghĩ điều ấy thật lâu. Khi con bước vào Thánh Lễ với một trái tim mệt mỏi, có thể con chẳng cảm thấy mình cầu nguyện được gì. Nhưng con không cầu nguyện một mình. Đức Maria đang ở đó trong sự hiệp thông nhiệm mầu. Các tông đồ đang ở đó. Các thánh tử đạo đang ở đó. Các vị thánh của Hội Dòng đang ở đó. Các thiên thần đang thờ lạy. Toàn thể Hội Thánh đang kết hợp trong hy lễ duy nhất của Đức Kitô. Con có thể chỉ mang đến một chút lòng tin yếu ớt, nhưng chút lòng tin ấy được đặt vào dòng sông cầu nguyện của toàn thể Hội Thánh. Điều này đem lại một sự an ủi lớn lao. Có những ngày con cầu nguyện bằng lòng sốt sắng của mình. Có những ngày con phải để Hội Thánh cầu nguyện thay con. Có những ngày con cất tiếng hát. Có những ngày con chỉ đủ sức đứng đó. Nhưng con vẫn thuộc về Thân Thể.
Sự hiệp thông các thánh còn mở lòng chúng ta về phía các linh hồn đang được thanh luyện. Cuộc chiến linh hồn không làm chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân. Người chỉ lo cho cuộc chiến riêng của mình dễ trở nên quá chú ý đến chính mình. Nhưng khi cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời, trái tim chúng ta được mở rộng. Ta nhớ rằng Hội Thánh vượt qua ranh giới của sự chết. Ta nhớ rằng tình yêu không kết thúc khi một người nhắm mắt. Ta nhớ rằng lời cầu nguyện, Thánh Lễ, những hy sinh và việc lành có thể được dâng cho những người đang được thanh luyện để vào hưởng trọn vẹn nhan Chúa. Đây cũng là một cách rất đẹp để chống lại sự ích kỷ thiêng liêng: ngay trong khi mình đang đau, mình vẫn có thể dâng nỗi đau ấy cho một linh hồn khác. Ngay trong khi mình đang chiến đấu, mình vẫn có thể biến trận chiến thành lời cầu. “Lạy Chúa, con dâng sự khó chịu này cho những linh hồn đang cần lòng thương xót Chúa.” “Con dâng việc từ bỏ này.” “Con dâng sự kiên nhẫn này.” “Con dâng Thánh Lễ này.” Khi ấy, chính những điều làm con mệt mỏi lại trở thành tình yêu. Và cuộc chiến không còn đóng kín trong cái tôi.
Một hoa trái lớn của việc sống trong sự hiệp thông với các thánh là lòng can đảm. Khi đứng một mình trước một thử thách, chúng ta rất dễ phóng đại nó. Nhưng khi nhìn về cả đoàn người đã đi trước, thử thách của ta được đặt lại đúng kích thước. Không phải vì nó không đau, nhưng vì ta thấy nó có thể được vượt qua. Hàng triệu người trước chúng ta đã từng phải chọn Chúa trong những hoàn cảnh khó hơn chúng ta. Họ đã làm được không phải vì họ thuộc một loại người khác, nhưng vì ân sủng đã làm việc trong họ. Và ân sủng ấy vẫn là ân sủng đang được ban cho con hôm nay. Khi con thấy mình quá yếu để tha thứ, hãy nhớ có những thánh đã tha thứ cho kẻ giết mình. Khi con thấy mình không chịu nổi một sự từ bỏ nhỏ, hãy nhớ có những người đã bỏ mọi sự. Khi con thấy mình khó cầu nguyện trong vài ngày khô khan, hãy nhớ có những vị thánh đã sống qua nhiều năm đêm tối. Khi con thấy một hy sinh trong đời sống cộng đoàn quá nặng, hãy nhớ biết bao tu sĩ đã kiên trì suốt một đời trong những giới hạn rất thực của đời sống chung. Không phải để tự trách mình, nhưng để nhắc mình rằng: “Ân sủng có thể đưa con xa hơn điều con đang tưởng.”
Hoa trái thứ hai là sự khiêm nhường. Càng biết các thánh, ta càng thấy sự thánh thiện lớn hơn những ý tưởng nhỏ bé của mình. Có khi chúng ta dễ tự hài lòng chỉ vì mình làm được vài việc tốt, chịu được vài hy sinh, cầu nguyện được một chút, được người khác nhìn nhận là đạo đức. Nhưng đứng trước những con người đã trao cả cuộc đời cho Thiên Chúa, ta nhận ra mình còn rất nhiều điều phải học. Tuy nhiên sự khiêm nhường ấy không làm ta buồn. Trái lại, nó giải phóng. Ta không cần tự xem mình là người đặc biệt. Ta chỉ cần trung tín. Không cần phải tạo nên một con đường riêng để chứng minh điều gì. Ta có thể bước trong dòng truyền thống của Hội Thánh, học từ những người đã đi trước, chấp nhận mình là một phần nhỏ bé trong công trình lớn lao của Thiên Chúa. Điều này chữa lành rất nhiều tự ái thiêng liêng. Sự thánh thiện không còn là “dự án của tôi”, nhưng là công trình Thiên Chúa thực hiện trong cả một dân thánh, và tôi hạnh phúc được là một viên đá nhỏ trong ngôi nhà ấy.
Hoa trái thứ ba là niềm hy vọng. Các thánh là bằng chứng sống động rằng Tin Mừng có thể được sống. Những lời Chúa Giêsu không phải là những lý tưởng bất khả thi. “Hãy yêu kẻ thù” đã từng được sống. “Hãy tha thứ” đã từng được sống. “Hãy từ bỏ mình” đã từng được sống. “Hãy vác thập giá” đã từng được sống. “Hãy cầu nguyện không ngừng” đã từng được sống. “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó” đã từng được sống. Mỗi vị thánh là một cách Tin Mừng đã thành thịt trong một cuộc đời cụ thể. Và vì Tin Mừng đã thành hình nơi họ, nó cũng có thể thành hình nơi con, theo cách riêng Chúa muốn nơi con. Con không cần trở thành một bản sao của bất cứ vị thánh nào. Thiên Chúa không lặp lại những con người. Nhưng chính Thánh Thần đã làm nên Thánh Phanxicô, Thánh Anphongsô, Thánh Têrêsa, Thánh Giuse, các vị tử đạo, cũng đang ở trong Hội Thánh hôm nay. Người có thể làm nên sự thánh thiện trong hoàn cảnh cụ thể của con, với tính khí của con, với những vết thương của con, với sứ vụ của con, với cộng đoàn của con, với thời đại của con. Nhìn các thánh như thế, ta không còn nói: “Tôi không thể.” Ta bắt đầu nói: “Nếu Chúa muốn, ân sủng Chúa có thể làm điều mà tôi không thể tự làm.”
Nhưng hãy nhớ một nguyên tắc rất quan trọng: mọi sự tôn kính các thánh đều phải dẫn chúng ta đến gần Chúa hơn. Các thánh không giữ linh hồn cho mình. Càng là thánh thật, họ càng chỉ về Đức Kitô. Đức Maria nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Thánh Giuse sống để bảo vệ Chúa Giêsu. Thánh Gioan Tẩy Giả nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Thánh Phaolô sống để Đức Kitô sống trong mình. Thánh Anphongsô đưa các linh hồn đến với Chúa Cứu Thế. Các thánh không phải là những trạm dừng khiến ta quên đích đến. Các ngài là những biển chỉ đường. Nếu lòng sùng kính của con làm con trở nên mê tín, lo âu, lệ thuộc vào những dấu hiệu lạ, chạy theo chuyện phi thường mà bỏ quên Bí tích, Lời Chúa, bổn phận và đời sống bác ái, thì con cần điều chỉnh. Lòng sùng kính chân chính luôn làm người ta đơn sơ hơn, tin tưởng hơn, vâng phục Hội Thánh hơn, yêu Chúa Giêsu hơn, yêu người khác hơn và chu toàn bổn phận tốt hơn. Những điều kỳ lạ không phải là trung tâm. Trung tâm là Thiên Chúa.
Và cũng đừng biến cuộc chiến linh hồn thành một cuộc săn tìm ma quỷ trong mọi sự. Đây là một cám dỗ rất nguy hiểm. Có người biết về cuộc chiến thiêng liêng rồi bắt đầu thấy sự dữ ở khắp nơi, gán mọi khó khăn cho ma quỷ, mọi xung đột cho tác động siêu nhiên, mọi cảm giác tiêu cực cho sự tấn công của bóng tối. Điều ấy không làm linh hồn mạnh hơn mà thường làm nó sợ hãi và mất quân bình. Hội Thánh dạy chúng ta tỉnh thức, nhưng không ám ảnh. Phần lớn cuộc chiến hằng ngày của chúng ta vẫn là chiến đấu với ý riêng, thói quen xấu, đam mê không được điều chỉnh, tính lười biếng, tự ái, thiếu bác ái, thiếu kỷ luật, những vết thương chưa được chữa lành và những lựa chọn cụ thể của tự do. Đừng cho ma quỷ nhiều sự chú ý hơn nó đáng có. Hãy nhìn Chúa nhiều hơn. Hãy kêu cầu Chúa Giêsu nhiều hơn. Hãy sống các Bí tích. Hãy cầu nguyện. Hãy xét mình. Hãy vâng phục. Hãy làm điều tốt trước mắt. Hãy tập trung vào ánh sáng. Một căn phòng không hết tối vì ta ngồi phân tích bóng tối, nhưng vì ta bật đèn. Đức Kitô là ánh sáng. Hãy ở trong Người.
Có một cách rất đơn sơ để sống với các thánh và các thiên thần mỗi ngày. Buổi sáng khi thức dậy, sau khi dâng mình cho Chúa, hãy ý thức rằng con bắt đầu ngày mới trong sự hiệp thông của cả Hội Thánh. Hãy nói: “Lạy Đức Maria, xin đi với con hôm nay. Thánh Giuse, xin giữ con trung tín. Thánh Anphongsô, xin giúp con làm mọi sự vì tình yêu Chúa Cứu Thế. Thiên thần bản mệnh, xin gìn giữ tâm trí, giác quan và những bước chân của con.” Rồi hãy sống ngày ấy. Không cần luôn luôn lặp lại nhiều lời. Chỉ cần thỉnh thoảng nhớ rằng con không một mình. Khi bắt đầu một công việc khó, kêu cầu. Khi gặp một người con dễ nóng giận, kêu cầu. Khi phải đưa ra quyết định, kêu cầu. Khi cám dỗ đến bất ngờ, kêu cầu. Khi đêm xuống, cảm ơn. Dần dần, linh hồn sẽ sống trong một bầu khí khác. Không phải một thế giới tưởng tượng, nhưng trong chiều sâu thật của đức tin: đời sống này được sống trước mặt Thiên Chúa và trong sự hiệp thông của Hội Thánh.
Hỡi linh hồn, con hãy tưởng tượng một người đang leo một ngọn núi cao trong sương mù. Có lúc người ấy chỉ nhìn thấy vài bước phía trước. Đường dốc. Đá trơn. Chân mỏi. Nếu chỉ nhìn vào đôi chân của mình, người ấy rất dễ nản. Nhưng nếu biết trên đỉnh núi đã có vô số người tới trước, và họ đang gọi xuống rằng con đường này có thể đi, hãy tiếp tục, ánh sáng đang ở phía trước, thì lòng người ấy sẽ được nâng lên. Các thánh chính là như thế. Họ không đi thay con. Không ai có thể sống đời con thay con. Không ai có thể chọn thay con trong khoảnh khắc cám dỗ. Nhưng họ chứng minh rằng con đường này dẫn đến sự sống. Họ nói bằng chính đời mình: trung thành đáng giá. Hy sinh đáng giá. Tha thứ đáng giá. Cầu nguyện đáng giá. Vâng phục đáng giá. Từ bỏ ý riêng đáng giá. Chọn Chúa đáng giá. Và khi con cảm thấy những lựa chọn ấy hôm nay thật nhỏ, hãy nhớ rằng thiên đàng được xây nên bằng vô số lần con người chọn Thiên Chúa trong những điều nhỏ.
Có lẽ một ngày nào đó, nếu con trung thành, con cũng sẽ hiểu cuộc chiến hôm nay bằng một ánh sáng hoàn toàn khác. Những điều đang làm con khóc sẽ trở nên rất nhỏ. Những hy sinh tưởng như mất mát sẽ lộ ra là những hạt giống của vinh quang. Những lần con phải đứng dậy sau sa ngã sẽ trở thành bằng chứng của lòng thương xót. Những buổi cầu nguyện khô khan mà con vẫn trung thành sẽ tỏa sáng. Những lần con không đáp trả một lời làm tổn thương, những lần con im lặng để giữ bác ái, những lần con vượt qua một cám dỗ mà chẳng ai biết, những lần con bỏ ý mình để làm điều Chúa muốn, tất cả sẽ không mất. Thiên Chúa thấy. Thiên Chúa nhớ. Thiên Chúa biến đổi mọi sự. Và có thể khi ấy, chính con sẽ trở thành một trong những người thuộc “đám mây nhân chứng”, nhìn xuống những linh hồn còn đang chiến đấu trên trần gian với một sự cảm thông rất sâu: “Tôi biết điều ấy khó thế nào. Nhưng hãy tiếp tục. Đừng bỏ cuộc. Chúa trung thành.”
Hỡi linh hồn, hãy mở rộng tầm nhìn của con. Đừng chỉ nhìn vào trận chiến đang diễn ra hôm nay. Đừng chỉ nhìn vào một tính xấu khiến con chán nản. Đừng chỉ nhìn vào một thất bại khiến con xấu hổ. Đừng chỉ nhìn vào một cám dỗ mà con nghĩ mình sẽ không bao giờ thắng. Hãy nhìn rộng hơn. Chung quanh con là Hội Thánh. Trước con là các thánh. Bên con là các thiên thần. Trên con là Mẹ Hằng Cứu Giúp. Trong con là Chúa Thánh Thần. Trước mặt con là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Có gì khiến con phải tuyệt vọng? Con yếu, đúng. Nhưng con không chiến đấu bằng sức mình. Con bị thương, đúng. Nhưng con thuộc về một Thân Thể. Con chưa thánh thiện, đúng. Nhưng những người đã nên thánh cũng từng bắt đầu từ chỗ phải học trung tín từng ngày. Hãy thôi đòi mình phải chiến thắng tất cả trong một lần. Hãy chỉ chiến đấu trận hôm nay. Hãy xin các thánh giúp con. Hãy xin thiên thần giữ con. Hãy đặt tay mình trong tay Đức Maria. Hãy nhìn Chúa Giêsu. Và bước thêm một bước.
“Chúng ta được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin.” Đừng chỉ đọc lời ấy như một câu Kinh Thánh đẹp. Hãy sống nó. Có một đám mây nhân chứng chung quanh con. Không phải một người. Không phải mười người. Một đám mây. Những người cha, người mẹ, người trẻ, người già, giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, người học thức, người ít học, những nhà truyền giáo, những người sống ẩn dật, những vị tử đạo, những người đã chiến đấu giữa phố thị, trong gia đình, trong đan viện, ngoài cánh đồng truyền giáo, trong bệnh viện, trong tù ngục, trong những hoàn cảnh mà có lẽ con chưa từng tưởng tượng. Họ rất khác nhau, nhưng họ có một điểm chung: họ đã nhìn về Đức Giêsu và không bỏ cuộc.
Vậy hôm nay, khi con cảm thấy yếu, hãy nói: “Các thánh của Thiên Chúa, xin cầu cho con.” Khi lòng con rối, hãy nói: “Thiên thần bản mệnh, xin dẫn con về với Chúa.” Khi sợ hãi trước sự dữ, hãy kêu cầu Tổng lãnh thiên thần Micae và nhớ rằng quyền tối hậu thuộc về Đức Kitô. Khi thấy mình không thể sống được điều Tin Mừng đòi hỏi, hãy mở hạnh một vị thánh và nhìn xem ân sủng đã làm gì nơi một con người giống con. Khi cô đơn, hãy nhớ Hội Thánh. Khi nản lòng, hãy nhớ thiên đàng. Khi bị kéo xuống bởi những điều nhỏ bé của thế gian, hãy ngước mắt lên một chút. Con đang đi về đâu? Con đang đi về nhà Cha. Và những người đã về đến nhà đang chờ con.
Rồi một ngày, trận chiến sẽ kết thúc. Sẽ có một ngày không còn cám dỗ. Không còn phải canh giữ lòng mình từng giờ. Không còn phải chiến đấu với ý riêng. Không còn những đêm khô khan. Không còn nước mắt vì mình yếu. Không còn xung đột giữa điều mình biết là tốt và điều bản tính mình muốn. Không còn phải bắt đầu lại sau sa ngã. Không còn những câu hỏi “bao giờ con mới thay đổi?” Không còn tiếng thở dài “lạy Chúa, con mệt quá.” Tất cả sẽ lắng xuống. Và nếu con kiên trì trong ân sủng, con sẽ nhìn thấy Đấng mà hôm nay con chỉ biết bằng đức tin. Con sẽ gặp Đức Maria mà hôm nay con chỉ kêu cầu. Con sẽ gặp những vị thánh mà hôm nay con đọc hạnh. Con sẽ hiểu bao lần thiên thần đã gìn giữ con mà con không biết. Và có lẽ lúc ấy con sẽ quay lại nhìn cuộc đời này như nhìn một con đường ngắn, đầy bụi bặm nhưng được phủ bằng lòng thương xót.
Cho nên đừng bỏ cuộc. Đừng bao giờ kết luận đời mình từ một ngày tồi tệ. Đừng kết luận ơn gọi của mình từ một giai đoạn khô khan. Đừng kết luận tương lai của linh hồn từ một lần sa ngã. Các thánh không được làm nên trong một ngày. Họ được làm nên bằng cả một đời cho phép Thiên Chúa kiên nhẫn làm việc nơi mình. Con cũng vậy. Hãy để Chúa có thời gian. Hãy để ân sủng làm công việc của ân sủng. Phần con là trung tín trong điều hôm nay được trao cho con. Và trong khi con làm điều đó, hãy nhớ: cả thiên đàng không xa con như con tưởng.
Hỡi linh hồn, hãy chiến đấu, nhưng chiến đấu trong hiệp thông. Hãy đi, nhưng đi giữa một đoàn người. Hãy cầu nguyện, nhưng biết rằng lời cầu của con hòa vào lời cầu của cả Hội Thánh. Hãy chịu đau, nhưng đừng chịu đau như một người bị bỏ rơi. Hãy hy sinh, nhưng biết rằng hy sinh ấy được đặt vào hy lễ của Đức Kitô. Hãy ngã, rồi đứng dậy. Hãy yếu, rồi kêu cầu. Hãy sợ, rồi phó thác. Hãy bước qua bóng tối, nhưng nhớ rằng những người đi trước đã nhìn thấy bình minh. Hãy để Thánh Giuse dạy con trung tín. Hãy để Thánh Anphongsô dạy con yêu Chúa Cứu Thế. Hãy để các bậc thầy cầu nguyện dạy con kiên trì trong đêm tối. Hãy để các vị tử đạo truyền cho con lòng can đảm. Hãy để thiên thần bản mệnh gìn giữ những bước chân bé nhỏ của con. Và trên tất cả, hãy để mắt con không dừng ở các thánh, không dừng ở thiên thần, nhưng xuyên qua tất cả mà hướng về Đức Giêsu, Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin.
Rồi cứ thế mà đi. Một ngày. Một bổn phận. Một hy sinh. Một lần từ bỏ. Một lần đứng dậy. Một lời cầu nguyện. Một hành vi bác ái. Một lần nói “xin vâng”. Đừng xem thường những điều ấy. Thiên đàng được xây bằng chính những bước nhỏ đó. Và biết đâu, ở một nơi nào đó ngoài tầm mắt con, cả một đạo binh thánh thiện đang vui mừng mỗi khi con chọn Chúa thêm một lần nữa.
Các thánh của Thiên Chúa, xin cầu cho chúng con.
Các thiên thần của Chúa, xin gìn giữ chúng con.
Lạy Đức Maria Hằng Cứu Giúp, xin che chở chúng con.
Lạy Chúa Giêsu Cứu Thế, xin giữ mắt chúng con luôn hướng về Chúa, để chúng con chiến đấu không sợ hãi, ngã xuống mà không tuyệt vọng, đứng dậy không kiêu căng, và kiên trì cho đến ngày được cùng toàn thể các thánh ca tụng Chúa đời đời. Amen.
CHƯƠNG 47
HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI – ĐỘNG LỰC TỐI HẬU CỦA CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang bước đi giữa cuộc lữ hành trần thế, đang chiến đấu từng ngày dưới ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa, đang được Đức Maria che chở, được các thiên thần gìn giữ và được các thánh nâng đỡ bằng lời chuyển cầu, sau khi đã nhìn lên hàng ngũ những người đi trước và đã thấy nơi các ngài bằng chứng sống động rằng cuộc chiến này có thể chiến thắng, giờ đây chúng ta cần nâng mắt lên cao hơn nữa, xa hơn nữa, vượt khỏi những gì đang làm chúng ta bận tâm hôm nay, vượt khỏi những khó khăn đang đè nặng trên vai, vượt khỏi những thành công hay thất bại mau qua, để nhìn về cùng đích cuối cùng của tất cả mọi cuộc chiến, mọi hy sinh, mọi lần đứng lên, mọi lần từ bỏ chính mình, mọi lời cầu nguyện, mọi giọt nước mắt và mọi hành vi yêu mến âm thầm của đời chúng ta: quê trời. Có lẽ trong đời sống thiêng liêng, chúng ta nói nhiều đến việc tránh tội, chiến đấu với đam mê, giữ mình khỏi cám dỗ, cầu nguyện, hy sinh, vâng phục, khiêm nhường, từ bỏ, trung thành và bắt đầu lại. Tất cả những điều ấy đều cần thiết. Nhưng nếu linh hồn chỉ chăm chú vào cuộc chiến mà quên mất nơi mình đang đi tới, cuộc chiến ấy rất dễ trở thành một chuỗi cố gắng mệt nhọc. Nếu chỉ nhìn vào những gì phải bỏ, những gì phải chịu, những gì phải sửa, những gì phải chiến thắng mà không nhìn đến điều Thiên Chúa đang chuẩn bị phía trước, linh hồn dễ có cảm giác đời sống thiêng liêng chỉ toàn là mất mát. Nó có thể bắt đầu nghĩ rằng theo Chúa có nghĩa là cứ phải từ bỏ mãi, chịu đựng mãi, chiến đấu mãi, sửa mình mãi, chết đi mãi mà không thấy được sự sống đang chờ đợi. Chính vì thế, niềm hy vọng quê trời không phải là một ý tưởng phụ thêm vào cuối đời sống thiêng liêng. Nó là một sức mạnh rất thật. Nó là ánh sáng từ cuối con đường chiếu ngược trở lại từng bước chân hiện tại. Nó giúp chúng ta hiểu tại sao phải chiến đấu, tại sao phải kiên trì, tại sao có những lúc phải chịu đau, tại sao có những lúc Chúa cho phép ta mất đi những gì mình rất yêu quý, tại sao có những giai đoạn linh hồn phải đi qua khô khan, tối tăm và dường như chẳng thấy một chút an ủi nào. Bởi vì chúng ta không được tạo dựng để ở lại mãi nơi đây. Chúng ta được tạo dựng cho một nơi khác. Chúng ta được tạo dựng cho Thiên Chúa. Và trái tim con người chỉ thật sự nghỉ yên khi được trở về trong Ngài.
Có những lúc linh hồn mệt mỏi đến mức chỉ muốn dừng lại. Có những lúc nó nhìn cuộc chiến trước mặt và tự hỏi: “Tôi còn phải chiến đấu bao lâu nữa? Bao giờ tôi mới thôi yếu đuối? Bao giờ tôi mới không còn những cơn nóng giận, những cám dỗ, những xao động, những tự ái, những bất an, những thất vọng, những nỗi sợ hãi, những ký ức đau đớn, những lần phải bắt đầu lại?” Câu trả lời đầy hy vọng là: sẽ có một ngày tất cả những điều ấy kết thúc. Không phải vì linh hồn tự mình trở thành hoàn hảo ở đời này. Không phải vì nó sẽ đạt tới một trạng thái chẳng còn phải chiến đấu. Nhưng vì có một ngày Chúa sẽ gọi nó ra khỏi chiến trường này và đưa nó vào nơi bình an vĩnh cửu. Có một ngày không còn phải giữ lòng mình khỏi cám dỗ. Không còn phải chiến đấu với xác thịt. Không còn phải chống lại những ý nghĩ đen tối. Không còn phải cố gắng yêu một người khó yêu. Không còn phải nuốt xuống một lời muốn nói trong nóng giận. Không còn phải ép mình đứng dậy cầu nguyện khi tâm hồn khô khan. Không còn phải chống lại sự nản lòng mỗi khi thấy mình yếu đuối. Không còn phải sống trong sự giằng co giữa điều mình biết là tốt và điều bản tính mình lại muốn làm. Có một ngày cuộc chiến sẽ dừng lại. Có một ngày thanh gươm sẽ được đặt xuống. Có một ngày người lính mệt mỏi sẽ trở về nhà. Và quê nhà ấy không phải chỉ là một nơi không còn đau khổ. Quê nhà ấy là Thiên Chúa Himself, là được ở trong Ngài, được thấy Ngài, được yêu Ngài không còn bị ngăn trở, được để cho Ngài yêu mình hoàn toàn, được sống trong sự hiệp thông mà lòng ta vẫn khát khao nhưng chưa bao giờ có thể nếm trọn vẹn trên trần gian này.
1. CHÚNG TA LÀ KHÁCH LỮ HÀNH, KHÔNG PHẢI NGƯỜI ĐỊNH CƯ
Hỡi linh hồn, một trong những điều cần nhớ thường xuyên nhất là: con không ở nhà. Dương thế không phải nơi ở cuối cùng của con. Những gì con có hôm nay, dù đẹp đến đâu, cũng chỉ là tạm thời. Những gì làm con đau hôm nay, dù nặng đến đâu, cũng không tồn tại mãi. Những gì người khác nghĩ về con hôm nay, những lời khen hay chê, những thành công hay thất bại, những vị trí, danh dự, tài sản, sức khỏe, tuổi trẻ, sắc đẹp, khả năng, những mối tương quan, những điều làm con vui và cả những điều làm con khóc, tất cả đều mang dấu ấn của sự mau qua. Chúng có ý nghĩa, nhưng không phải là cùng đích. Chúng có thể được Chúa dùng để thánh hóa con, nhưng chúng không thể trở thành nơi con đặt trọn trái tim. Thánh Phêrô nhắc các tín hữu hãy sống trên đời như những khách lữ hành và lữ khách. Đó không phải là lời kêu gọi khinh thường thế giới, nhưng là lời nhắc để ta đặt thế giới vào đúng chỗ của nó. Người khách lữ hành vẫn bước đi trên đường, vẫn ăn uống, vẫn nghỉ ngơi, vẫn gặp gỡ người khác, vẫn làm việc, vẫn chăm sóc những điều được trao cho mình, nhưng họ không nhầm con đường với quê nhà. Họ không xây cả đời mình trên một quán trọ. Họ biết mình còn phải đi tiếp.
Biết mình là khách lữ hành làm thay đổi tận gốc cách ta sống. Người không nhớ mình là khách lữ hành sẽ cố giữ mọi thứ bằng mọi giá. Nó sợ mất. Nó sợ bị quên. Nó sợ tuổi già. Nó sợ bệnh tật. Nó sợ người khác vượt qua mình. Nó sợ mất một chức vụ. Nó sợ mất ảnh hưởng. Nó sợ mất một mối tương quan. Nó sợ những thay đổi vì trong sâu xa, nó đã coi một phần của thế giới này là nhà của mình. Nhưng khi linh hồn nhớ rằng mình chỉ đang đi qua, nó bắt đầu cầm mọi sự bằng đôi tay mở hơn. Nó vẫn yêu, nhưng yêu trong tự do. Nó vẫn làm việc, nhưng không biến công việc thành căn tính. Nó vẫn chăm sóc sức khỏe, nhưng không coi thân xác hiện tại là tất cả. Nó vẫn quý trọng tình bạn và gia đình, nhưng biết rằng mọi tình yêu chân thật đều phải dẫn về Thiên Chúa. Nó vẫn vui khi được thành công, nhưng không để thành công quyết định giá trị của mình. Nó vẫn buồn khi bị thất bại, nhưng không để thất bại biến thành bản án cuối cùng trên cuộc đời. Nó bắt đầu nói với mọi sự: “Cảm ơn vì đã đồng hành với tôi một đoạn đường, nhưng tôi không thể ở lại đây mãi. Tôi còn phải đi về Nhà Cha.”
Thật ra, nhiều đau khổ của chúng ta không đến từ chính những sự vật, nhưng từ việc chúng ta đòi những sự vật tạm thời phải cho mình điều mà chỉ vĩnh cửu mới có thể ban. Ta muốn một người khác phải yêu ta hoàn hảo, trong khi không một con người nào có thể làm điều ấy. Ta muốn công việc đem lại cảm giác viên mãn vĩnh viễn, trong khi công việc nào rồi cũng có giới hạn. Ta muốn sức khỏe kéo dài mãi, trong khi thân xác đang tiến dần về sự suy yếu. Ta muốn danh tiếng làm ta thấy mình có giá trị, trong khi danh tiếng sống trong trí nhớ của những con người cũng đang qua đi. Ta muốn những an ủi trong cầu nguyện phải luôn ở lại, trong khi Chúa có thể ban chúng rồi rút chúng đi để dạy ta yêu Ngài chứ không yêu cảm giác về Ngài. Ta muốn cuộc đời trần thế có sự ổn định tuyệt đối, trong khi chính bản chất của nó là đổi thay. Vì thế, nhớ đến quê trời là một hành vi giải phóng. Nó giúp ta thôi đòi điều tạm thời phải mang lấy sức nặng của vĩnh cửu. Nó giúp ta yêu trần gian cách đúng đắn hơn, bởi vì chỉ khi không biến trần gian thành Thiên Chúa, ta mới có thể đón nhận nó như quà tặng.
Hỡi linh hồn, con hãy học đi qua thế giới này với đôi tay biết đón nhận và cũng biết buông. Khi Chúa ban một niềm vui, hãy cảm tạ. Khi Chúa cho một người đồng hành, hãy yêu họ thật nhiều. Khi Chúa ban sức khỏe, hãy dùng sức khỏe để phục vụ. Khi Chúa ban khả năng, hãy dùng khả năng ấy để làm vinh danh Ngài. Khi Chúa ban thành công, hãy cúi đầu tạ ơn. Nhưng trong tất cả, hãy âm thầm nói: “Lạy Chúa, điều này đẹp, nhưng chưa phải là Chúa. Con cảm ơn Chúa về điều này, nhưng con không dừng lại ở đây. Xin mọi sự đưa con tiến gần Chúa hơn.” Và khi Chúa cho phép một điều rời khỏi tay con, hãy đau nếu cần, hãy khóc nếu lòng con đau, nhưng đừng nghĩ đời con đã mất hết ý nghĩa. Người lữ hành có thể mất một hành trang mà vẫn còn con đường. Người lữ hành có thể đi qua một đoạn tối mà vẫn còn đích đến. Người lữ hành có thể bị thương mà vẫn được đưa về nhà.
2. QUÊ TRỜI – NƠI MỌI CUỘC CHIẾN SẼ CHẤM DỨT
Chúng ta thường nói đến thiên đàng bằng những hình ảnh rất đẹp: ánh sáng, bình an, niềm vui, đoàn tụ, không còn nước mắt. Nhưng có lẽ điều làm cho thiên đàng trở thành thiên đàng không phải trước hết là không còn đau khổ, mà là có Thiên Chúa cách trọn vẹn. Nếu chỉ không còn đau khổ mà không có Thiên Chúa, điều ấy vẫn chưa đủ cho trái tim con người. Trái tim chúng ta được tạo dựng với một cơn đói mà không thụ tạo nào có thể lấp đầy. Chúng ta có thể trải qua nhiều niềm vui rất thật trên đời, nhưng trong mỗi niềm vui vẫn còn một điều gì đó chưa trọn. Một bữa ăn ngon rồi kết thúc. Một cuộc gặp gỡ đẹp rồi phải chia tay. Một ngày hạnh phúc rồi trở thành ký ức. Một thành công lớn rồi sẽ có thử thách khác. Một khoảnh khắc cầu nguyện rất sâu rồi cũng đi qua. Mọi vẻ đẹp ở đời giống như một tia sáng làm ta linh cảm về một Mặt Trời mà ta chưa nhìn thấy. Quê trời là khi không còn chỉ thấy tia sáng. Ta được gặp chính Nguồn Sáng.
Ở đó, những điều làm linh hồn đau đớn nhất hôm nay sẽ chấm dứt. Không còn tội lỗi. Không còn khả năng phản bội tình yêu Thiên Chúa. Không còn sự nghi ngờ rằng mình có được yêu không. Không còn phải dò tìm ý Chúa giữa những tối tăm. Không còn cảm giác Chúa xa vắng. Không còn cầu nguyện trong khô khan. Không còn những đêm dài của đức tin. Không còn chiến đấu để giữ lòng trong sạch. Không còn tự ái. Không còn ghen tị. Không còn những ký ức làm đau. Không còn vết thương nào phải che giấu. Không còn sự xấu hổ về những yếu đuối của mình. Không còn sự bất lực khi thấy người mình yêu đau khổ. Không còn những lần đứng trước quan tài mà không biết phải nói gì. Không còn những cuộc chia tay. Không còn bệnh tật. Không còn tuổi già. Không còn cái chết. Không còn những giọt nước mắt mà chẳng ai thấy. Không còn những tiếng thở dài trong đêm. Không còn cảm giác “tại sao đời tôi lại như thế này?” Bởi vì mọi sự sẽ được đặt trong ánh sáng. Những câu hỏi từng làm ta đau sẽ không còn là những vết cắt trong trí óc. Ta sẽ nhìn thấy những gì bây giờ ta chỉ có thể tin.
Sách Khải Huyền nói đến ngày Thiên Chúa lau sạch nước mắt khỏi mắt con người, nơi sự chết không còn nữa, cũng không còn tang tóc, kêu than và đau khổ. Hỡi linh hồn, hãy để lời ấy thấm thật sâu vào con. Chúa không chỉ hứa cho con sức mạnh để chịu đựng mãi. Chúa hứa một ngày đau khổ sẽ chấm dứt. Người Kitô hữu không phải người được dạy phải quen với nước mắt như định mệnh. Người Kitô hữu là người có thể khóc mà vẫn biết nước mắt không có tiếng nói cuối cùng. Chúng ta có thể bị đóng đinh với Đức Kitô, nhưng chúng ta biết sau Thứ Sáu Tuần Thánh có buổi sáng Phục Sinh. Chúng ta có thể bước qua thung lũng tối, nhưng thung lũng không phải quê nhà. Chúng ta có thể bị thương, nhưng vết thương không phải căn tính cuối cùng. Chúng ta có thể chết, nhưng cái chết không phải dấu chấm hết.
Quê trời cũng là nơi mọi khát vọng yêu thương chân thật được thanh luyện và hoàn tất. Ở đời này, chúng ta yêu trong sự vụng về. Ta muốn yêu Chúa mà vẫn bị chia trí. Ta muốn yêu người khác mà vẫn lẫn ích kỷ. Ta muốn tha thứ mà ký ức vẫn đau. Ta muốn quảng đại mà lòng vẫn tính toán. Ta muốn hiến thân nhưng nhiều lúc vẫn muốn giữ lại cho mình. Ta muốn thuộc về Chúa trọn vẹn mà trong lòng vẫn còn những góc nhỏ chống lại Ngài. Chính vì vậy, người chân thành thường đau trước sự bất toàn của tình yêu mình. Có khi ta nhìn lại và buồn vì đã không yêu người khác đủ khi còn cơ hội. Có khi ta hối tiếc vì những lời đáng lẽ phải nói mà không nói, những cử chỉ đáng lẽ phải làm mà không làm. Có khi ta buồn vì thấy tình yêu của mình luôn bị giới hạn bởi sự yếu đuối. Trên quê trời, tình yêu sẽ không còn bị bóp méo. Ta sẽ yêu Chúa bằng cả hữu thể mà không còn một phần nào chống lại Ngài. Ta sẽ yêu những người trong Chúa bằng một tình yêu không còn sở hữu, không còn ghen, không còn sợ mất, không còn hiểu lầm. Đó là tự do mà ở đời này chúng ta chỉ mới tập bước những bước đầu tiên.
Và ở đó, Đức Maria sẽ không còn chỉ là Người Mẹ ta kêu cầu trong đêm tối đức tin, nhưng là Người Mẹ ta được vui mừng gặp trong vinh quang. Các thánh mà ta từng đọc cuộc đời, từng xin cầu thay, từng xem như những người bạn vô hình, sẽ trở thành cộng đoàn thật sự chung quanh ta. Các thiên thần mà ta tin rằng đang gìn giữ mình sẽ không còn bị che khuất khỏi đôi mắt. Toàn thể Hội Thánh khải hoàn sẽ là một đại gia đình trong đó không còn ai xa lạ, bởi mọi người đều được kết hợp trong Đức Kitô. Có lẽ hôm nay ta vẫn cảm thấy cô đơn trên đường nên thánh. Có lúc ta chiến đấu mà chẳng ai hiểu. Có lúc những người gần ta nhất cũng không hiểu được những gì đang xảy ra trong lòng. Nhưng trên quê trời, không còn sự cô đơn ấy. Ta sẽ ở trong sự hiệp thông trọn vẹn.
3. NIỀM HY VỌNG QUÊ TRỜI KHÔNG LÀM TA TRỐN KHỎI ĐỜI NÀY
Có một hiểu lầm rất nguy hiểm: nghĩ rằng nói nhiều đến quê trời sẽ làm người ta thờ ơ với cuộc sống hiện tại. Thật ra, nếu hiểu đúng, điều ngược lại mới đúng. Chính vì biết mình đang đi về vĩnh cửu, ta càng sống hiện tại có trách nhiệm hơn. Chính vì biết mỗi người có giá trị đời đời, ta càng không thể đối xử với họ cách hời hợt. Chính vì biết thời gian ngắn ngủi, ta càng không muốn lãng phí nó trong những tranh cãi vô ích, những hận thù kéo dài, những tham vọng trống rỗng. Chính vì biết mọi việc làm vì yêu sẽ không mất đi, ta càng chu toàn những bổn phận nhỏ bé bằng cả trái tim.
Người hướng về quê trời không phải người luôn ngước mắt lên mà không nhìn đường dưới chân. Trái lại, họ nhìn đường rõ hơn vì biết mình đang đi đâu. Một người không biết mình đi đâu sẽ rất dễ bị hấp dẫn bởi mọi ngã rẽ. Một người biết rõ đích đến sẽ phân định được điều gì đáng giữ và điều gì nên bỏ. Cũng thế, nếu linh hồn biết quê trời là cùng đích, nó sẽ bắt đầu hỏi về mọi lựa chọn: “Điều này có giúp tôi yêu Chúa hơn không? Có làm tôi tự do hơn không? Có giúp tôi trở thành người có thể sống đời đời với Thiên Chúa không? Hay nó đang làm trái tim tôi nặng xuống, bị trói vào những điều mau qua?”
Niềm hy vọng quê trời làm cho những việc rất bình thường mang một chiều kích đời đời. Một người mẹ chăm con trong mệt mỏi, nếu làm vì yêu, việc ấy không biến mất. Một người âm thầm tha thứ khi bị xúc phạm, hành vi ấy không mất. Một tu sĩ trung thành với giờ kinh trong những ngày chẳng có cảm xúc gì, sự trung thành ấy không mất. Một linh mục bước vào tòa giải tội khi thân xác mệt, một người bệnh dâng cơn đau trong thinh lặng, một người nghèo vẫn chia sẻ chút ít mình có, một người giữ miệng không nói điều có thể làm tổn thương người khác, một linh hồn đứng dậy sau lần sa ngã thứ một trăm và nói lại với Chúa “con tin vào lòng thương xót Chúa”, tất cả đều mang trong mình hạt giống của vĩnh cửu. Thế gian có thể không nhìn thấy. Không ai vỗ tay. Không ai ghi vào thành tích. Nhưng Thiên Chúa thấy. Và điều Thiên Chúa thấy thì không hề mất.
Hỡi linh hồn, hãy nhớ điều này khi con cảm thấy những cố gắng của mình chẳng ai biết. Có những chiến thắng lớn nhất của con sẽ không bao giờ xuất hiện trước mắt người khác. Có thể chẳng ai biết hôm nay con đã phải chiến đấu thế nào để không nổi nóng. Chẳng ai biết con đã phải khó khăn thế nào mới tha thứ được. Chẳng ai biết con đã ngồi lại trước Nhà Tạm với một trái tim tan vỡ nhưng vẫn cố nói: “Lạy Chúa, con tin.” Chẳng ai biết con đã vượt qua một cám dỗ mà con phải chiến đấu nhiều năm. Chẳng ai biết con đã từ bỏ một lời nói, một ý muốn, một sự tò mò, một thói quen, một quyền lợi chỉ vì muốn làm vui lòng Chúa. Nhưng Nước Trời được xây dựng bằng rất nhiều điều mà thế gian không nhìn thấy. Và có thể đến ngày gặp Chúa, con sẽ ngạc nhiên khi thấy những việc con tưởng rất nhỏ lại có một giá trị lớn lao trong ánh sáng vĩnh cửu.
4. HÃY NHÌN CÁC THỬ THÁCH TRONG ÁNH SÁNG VĨNH CỬU
Cuộc chiến linh hồn trở nên nặng nề khi ta nhìn đau khổ quá gần. Khi một đau khổ chiếm trọn khung nhìn, ta có cảm giác nó là toàn bộ đời mình. Một lời xúc phạm có thể làm ta nghĩ về nó cả ngày. Một thất bại có thể làm ta cảm thấy cả tương lai đã khép lại. Một bệnh tật có thể khiến ta quên rằng mình còn có linh hồn. Một sự mất mát có thể làm ta cảm thấy không còn gì đáng sống. Đó là lúc ta cần đặt đau khổ vào trong chân trời rộng hơn của vĩnh cửu.
Không phải bằng cách coi thường đau khổ. Chúa không đòi con phải giả vờ rằng điều đau thì không đau. Khi Lazarô chết, Chúa Giêsu đã khóc. Đức tin không biến con thành đá. Nhưng đức tin giúp con nói: “Điều này rất đau, nhưng nó không phải là tất cả. Nó đang xảy ra trong một câu chuyện lớn hơn mà Chúa đang viết. Tôi chưa thấy toàn bộ câu chuyện.” Có những điều hôm nay ta không hiểu. Có những lời cầu nguyện ta không thấy được đáp lại như mong muốn. Có những con đường bị đóng lại. Có những người rời khỏi đời ta. Có những dự định đẹp dường như đổ vỡ. Có những thời kỳ ta cảm thấy cuộc đời mình bị chậm lại, bị thu hẹp, bị tước đi. Nếu chỉ nhìn bằng mắt hiện tại, ta có thể kết luận: “Mọi sự đang mất.” Nhưng dưới ánh sáng vĩnh cửu, có khi chính trong những mất mát ấy Chúa đang làm một công việc sâu hơn nhiều.
Hãy tự hỏi, khi một điều làm con đau: “Một trăm năm nữa, điều này sẽ ở đâu?” Một trăm năm nữa, những lời người khác nói về con hôm nay sẽ không còn quan trọng như bây giờ. Một trăm năm nữa, ngôi nhà, chức vụ, danh tiếng, thành tích, những cuộc tranh hơn thua hiện tại hầu như không còn ý nghĩa. Nhưng tình yêu con đã sống, sự tha thứ con đã trao, sự trung thành con đã giữ, linh hồn con đã trở thành người thế nào trước mặt Chúa, những điều ấy có ý nghĩa vĩnh cửu. Câu hỏi này có thể làm thay đổi cách ta phản ứng. Khi bị xúc phạm, thay vì hỏi “làm sao để chứng minh tôi đúng?”, hãy hỏi “điều gì giúp tôi đi gần Chúa hơn?” Khi mất một cơ hội, thay vì chỉ hỏi “tại sao tôi không được?”, hãy hỏi “Chúa đang muốn làm tôi tự do khỏi điều gì?” Khi bị hiểu lầm, thay vì tìm mọi cách bắt người khác phải hiểu mình, hãy hỏi “liệu tôi có thể để Chúa là Đấng hiểu tôi đủ không?” Khi đau khổ kéo dài, hãy hỏi “cơn đau này có thể biến tôi thành người yêu sâu hơn, dịu dàng hơn, khiêm nhường hơn không?”
Thánh Phaolô đã có thể gọi những gian truân đời này là nhẹ và tạm vì ngài đặt chúng bên cạnh vinh quang đời đời. Không phải vì ngài ít đau. Cuộc đời ngài đầy đánh đập, tù đày, đói khát, nguy hiểm, chống đối. Nhưng ngài có một cái nhìn lớn hơn nỗi đau. Đó chính là điều linh hồn cần tập. Đừng chỉ nhìn vào trọng lượng của thập giá. Hãy nhìn vào nơi thập giá đang dẫn con tới. Đừng chỉ nhìn vào đêm tối. Hãy nhớ bình minh. Đừng chỉ nhìn vào sự chết đi của hạt lúa. Hãy nhớ mùa gặt.
5. CÁI CHẾT KHÔNG PHẢI KẺ THÙ CUỐI CÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI THUỘC VỀ ĐỨC KITÔ
Một trong những điều làm con người sợ nhất là cái chết. Và điều ấy rất tự nhiên, bởi thân xác chúng ta yêu sự sống. Sự chia lìa làm ta đau. Điều chưa biết làm ta sợ. Nhưng đối với người sống trong Đức Kitô, cái chết không còn là bức tường kín. Nó trở thành một cánh cửa. Chúng ta không tìm cái chết, không coi nhẹ sự sống, không từ chối bổn phận bảo vệ sức khỏe, nhưng ta biết một sự thật mà thế gian không thể ban: sự chết không phải tiếng nói cuối cùng.
Hỡi linh hồn, nếu con sống mọi ngày như thể trần gian là tất cả, cái chết sẽ luôn hiện ra như kẻ đến cướp mọi thứ. Nhưng nếu con sống như khách lữ hành, cái chết là giờ trở về. Nó vẫn có thể làm con run. Các thánh cũng là con người. Nhưng nỗi sợ ấy có thể được ôm vào trong một niềm tín thác lớn hơn: “Lạy Cha, con trở về với Cha.” Một ngày nào đó, con sẽ thở hơi cuối cùng. Những đồ vật từng làm con bận tâm sẽ ở lại. Những dự định chưa xong sẽ được trao cho người khác. Thân xác con sẽ bất động. Người ta có thể nói những lời cuối cùng về đời con. Nhưng vào chính giây phút thế gian nghĩ rằng mọi sự kết thúc, một điều lớn lao hơn bắt đầu: linh hồn đứng trước Thiên Chúa.
Vì thế, người khôn ngoan tập sống sao để khi giờ ấy đến, họ không cảm thấy mình bị kéo khỏi một ngôi nhà, nhưng được gọi về nhà thật. Mỗi lần từ bỏ một dính bén, con đang tập chết. Mỗi lần chấp nhận không được như ý, con đang tập buông. Mỗi lần nói “xin ý Cha được thể hiện”, con đang chuẩn bị cho lời phó thác cuối cùng. Mỗi lần lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, con đang đặt linh hồn mình vào lòng thương xót. Mỗi lần rước Thánh Thể, con đang đón nhận Đấng là sự sống đời đời. Mỗi lần cầu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”, con đang đặt giờ chết của mình trong tay Người Mẹ sẽ không bỏ con.
Đừng để ma quỷ dùng ý nghĩ về cái chết để làm con tuyệt vọng. Nếu con thuộc về Chúa, hãy để ý nghĩ ấy làm con tỉnh thức. Nó giúp con tha thứ sớm hơn. Nó giúp con bớt tranh chấp. Nó giúp con nói những lời yêu thương khi còn cơ hội. Nó giúp con thôi trì hoãn việc trở về với Chúa. Nó giúp con tự hỏi: “Nếu hôm nay là một trong những ngày cuối của đời tôi, điều gì thật sự đáng làm?” Câu hỏi ấy không làm cuộc sống buồn hơn. Nó làm cuộc sống thật hơn.
6. CÁM DỖ BÁM VÍU VÀO THÀNH CÔNG ĐỜI NÀY
Có một cám dỗ rất tinh tế đối với những người nghiêm túc sống đời thiêng liêng: không nhất thiết bám vào tiền bạc hay khoái lạc, nhưng bám vào thành công của chính những điều mình làm cho Chúa. Một người có thể từ bỏ nhiều thứ cá nhân nhưng lại dính bén vào việc sứ vụ phải thành công, cộng đoàn phải nhìn nhận mình, người khác phải thấy mình hữu ích, những dự định mình khởi xướng phải tồn tại. Lúc đó, cái tôi không biến mất; nó chỉ mặc áo đạo đức hơn.
Hướng về quê trời thanh luyện cả điều này. Nó nhắc ta rằng Nước Chúa lớn hơn công việc của ta. Một ngày ta sẽ phải rời khỏi tất cả những gì mình đang làm. Người khác sẽ tiếp tục hoặc thay đổi. Có những công việc từng rất quan trọng rồi sẽ bị quên. Có những dự án ta dành nhiều năm cho nó rồi một ngày không còn nữa. Nhưng điều quan trọng không phải là tên ta còn gắn trên công việc hay không. Điều quan trọng là trong khi làm việc ấy, ta có yêu Chúa không, có trung thành không, có để mình được biến đổi không.
Hỡi linh hồn, đừng sợ sự nhỏ bé. Trên quê trời không ai hỏi con đã nổi tiếng đến đâu. Không ai đo sự thánh thiện bằng số người biết tên con. Những gì thế gian gọi là lớn có thể rất nhỏ trước mặt Chúa, và những gì thế gian không thấy có thể rất lớn. Có những linh hồn cả đời không làm điều gì gây tiếng vang nhưng đã yêu với một tình yêu tinh tuyền. Có những người bệnh nằm một chỗ mà lời cầu nguyện của họ nâng đỡ biết bao người. Có những người mẹ, người cha, tu sĩ, giáo dân, linh mục, những con người rất bình thường mà sự trung tín âm thầm của họ làm đẹp lòng Chúa hơn nhiều công trình lẫy lừng.
Khi nhớ đến quê trời, ta được tự do để làm việc tốt mà không cần sở hữu kết quả. Ta gieo vì Chúa muốn ta gieo. Ta tưới vì đó là bổn phận. Còn sự lớn lên thuộc về Chúa. Nếu Ngài cho ta thấy hoa trái, ta cảm tạ. Nếu Ngài giấu hoa trái khỏi mắt ta, ta vẫn trung thành. Người làm mọi sự cho vĩnh cửu không cần phải nhìn thấy mọi kết quả trong hiện tại.
7. CÁM DỖ CHỈ TÌM AN ỦI THIÊNG LIÊNG
Có những linh hồn bắt đầu đời sống thiêng liêng với nhiều an ủi. Cầu nguyện ngọt ngào, Thánh lễ sốt sắng, lời Chúa chạm mạnh vào tim, những giờ thinh lặng tràn đầy bình an. Những điều ấy là quà Chúa. Nhưng nếu không cẩn thận, ta có thể bắt đầu yêu quà hơn yêu Đấng ban quà. Và khi Chúa rút cảm giác ngọt ngào, linh hồn tưởng rằng mình đang xa Chúa.
Niềm hy vọng quê trời giúp ta hiểu: trần gian không phải nơi được hưởng trọn. Đây là nơi đức tin được thanh luyện. Có những lúc Chúa cho ta nếm một chút ngọt ngào để khích lệ. Có những lúc Ngài rút đi để xem ta có tiếp tục yêu Ngài khi không còn cảm giác gì hay không. Quê trời mới là nơi hưởng kiến. Ở đây, ta bước đi trong đức tin. Vì thế, đừng đòi hiện tại phải cho con điều chỉ vĩnh cửu mới ban.
Có một tình yêu sâu hơn cảm xúc. Đó là khi con vẫn cầu nguyện dù chẳng thấy gì. Vẫn dự lễ dù lòng khô. Vẫn đọc Lời Chúa dù không có câu nào làm con xúc động. Vẫn làm việc thiện dù chẳng thấy hứng thú. Vẫn thưa “con yêu Chúa” dù trong lòng lạnh lẽo. Những lúc ấy, có thể con tưởng đời sống thiêng liêng của mình nghèo đi. Nhưng chính lúc đó, tình yêu đang được tinh luyện. Nó không còn sống bằng phần thưởng trước mắt. Nó bắt đầu yêu vì Chúa là Chúa.
Hãy dành những an ủi trọn vẹn cho quê trời. Còn hôm nay, nếu Chúa cho con một giọt ngọt ngào, hãy cảm tạ. Nếu Ngài cho con uống chén đắng, hãy xin sức mạnh. Nhưng đừng đo tình yêu Chúa bằng cảm giác của mình.
8. CHỦ NGHĨA DUY HIỆN TẠI – MỘT CÁI BẪY ÂM THẦM
Thế giới hiện đại dạy chúng ta chú ý rất nhiều đến những gì có thể đo, thấy, đếm, đạt ngay. Bao nhiêu tiền, bao nhiêu người biết, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu thành tích, bao nhiêu hiệu quả, bao nhiêu sự thoải mái. Dần dần, ngay cả linh hồn đạo đức cũng có thể bị ảnh hưởng. Ta chỉ thấy giá trị của điều gì khi nó đem lại kết quả tức thời.
Nhưng Nước Trời vận hành theo một nhịp khác. Hạt giống được gieo rồi biến mất trong đất. Men được vùi trong bột. Hạt lúa chết đi. Người nghèo cho hai đồng tiền nhỏ. Người trộm lành chỉ có một lời cuối cùng. Những điều tưởng như chẳng đáng kể lại mang một giá trị đời đời.
Hỡi linh hồn, đừng để nhịp sống gấp gáp làm con mất khả năng sống cho những điều không đem lại kết quả tức thì. Một giờ cầu nguyện có thể dường như “không hiệu quả”, nhưng nó đang làm linh hồn con có khả năng ở với Chúa. Một hành vi tha thứ có thể không khiến người kia thay đổi ngay, nhưng nó giải phóng trái tim con. Một quyết định từ bỏ tội kín đáo chẳng ai biết nhưng có thể là bước ngoặt của cả đời. Một lời cầu cho người khác có thể con không bao giờ biết kết quả cho đến khi vào cõi đời đời.
Sống hướng về quê trời là học nhìn bằng con mắt của Thiên Chúa thay vì bằng bảng đo của thế gian.
9. HÃY THƯỜNG XUYÊN NHỚ ĐẾN CÙNG ĐÍCH ĐỜI MÌNH
Một trong những thực hành rất đơn sơ mà linh hồn có thể làm là mỗi ngày nhắc mình: “Tôi đang đi về đâu?” Buổi sáng, trước khi bước vào những công việc, hãy dành một phút để nói: “Lạy Chúa, ngày hôm nay là một đoạn đường đưa con về với Chúa. Xin đừng để con sống ngày này như thể nó chỉ là một chuỗi việc phải làm. Xin để mỗi việc trở thành một bước gần Ngài hơn.” Buổi tối, trước khi ngủ, hãy nhìn ngày đã qua và tự hỏi: “Hôm nay tôi đã sống như một người đi về quê trời chưa? Tôi đã bám víu điều gì quá mức? Tôi đã yêu điều gì hơn Chúa? Tôi đã làm gì có thể mang theo vào đời đời?”
Những câu hỏi như thế không nhằm tạo lo âu, nhưng để chỉnh lại hướng. Một người đi đường dài thỉnh thoảng phải nhìn la bàn. Nếu lệch một chút mà sửa sớm, họ vẫn tới nơi. Nếu không bao giờ kiểm tra hướng đi, một sai lệch nhỏ có thể dẫn rất xa.
Hãy nhớ rằng mỗi ngày con sống là một ngày ít hơn trên đường trần thế và một ngày gần hơn với cuộc gặp gỡ Chúa. Đừng để điều ấy làm con sợ. Hãy để nó giúp con sống tỉnh thức. Con không biết mình còn bao nhiêu ngày, nhưng con biết mỗi ngày đều có thể được biến thành tình yêu. Và điều đã trở thành tình yêu thì không mất.
10. HÃY ĐỂ QUÊ TRỜI LÀM CON NHẸ HƠN
Có những gánh nặng ta mang chỉ vì quên rằng mọi thứ rồi sẽ qua. Một lời người khác nói làm ta mất bình an nhiều ngày. Một chuyện nhỏ trong cộng đoàn trở thành nỗi ám ảnh. Một thất bại khiến ta nghĩ mình vô dụng. Một điều không đúng ý làm ta bực bội rất lâu. Hãy đặt nó dưới ánh sáng quê trời. Hãy hỏi: “Điều này có đáng để tôi đánh mất bình an và tình yêu không? Khi đứng trước Chúa, tôi có còn muốn giữ sự giận dữ này không?”
Nhiều điều ta đang nắm rất chặt sẽ tự rơi khỏi tay nếu ta nhớ đến vĩnh cửu. Không phải vì chúng không có ý nghĩa, nhưng vì chúng không có ý nghĩa lớn đến mức ta phải hy sinh linh hồn cho chúng.
Hỡi linh hồn, con hãy tập nói: “Điều này rồi cũng qua.” Khi đau: “Rồi cũng qua.” Khi bị hiểu lầm: “Rồi cũng qua.” Khi thành công: “Rồi cũng qua.” Khi được khen: “Rồi cũng qua.” Khi bị chê: “Rồi cũng qua.” Khi khỏe: “Rồi cũng qua.” Khi bệnh: “Rồi cũng qua.” Nhưng sau tất cả những gì qua đi, Thiên Chúa còn lại. Và nếu con ở trong Ngài, con không mất điều quan trọng nhất.
11. NIỀM HY VỌNG KHÔNG PHẢI LÀ LẠC QUAN RẺ TIỀN
Niềm hy vọng Kitô giáo không phải là tự nói “mọi chuyện sẽ ổn” theo nghĩa mọi sự sẽ diễn ra đúng như ta muốn. Có những chuyện không ổn theo cách con mong. Có những vết thương không được chữa hoàn toàn ở đời này. Có những người không trở lại. Có những mối quan hệ không được phục hồi. Có những bệnh tật không khỏi. Có những ước mơ không thành.
Niềm hy vọng sâu hơn thế. Nó nói: “Dù chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể đưa tôi về với Ngài.” Hy vọng không dựa trên việc đời phải thuận lợi, nhưng dựa trên sự trung tín của Chúa. Vì thế người có hy vọng vẫn có thể khóc. Họ vẫn có thể đau. Họ vẫn có thể không hiểu. Nhưng dưới đáy nỗi đau vẫn còn một nơi không bị phá hủy: “Chúa đang ở đây. Chúa chưa bỏ tôi. Cuộc đời tôi chưa đi ra khỏi tay Ngài.”
Đó là thứ hy vọng giúp các thánh đi qua tù đày, bách hại, bệnh tật, thất bại, những đêm tối nội tâm. Không phải vì họ ít đau hơn chúng ta, nhưng vì họ biết đau khổ không phải chương cuối.
12. SỐNG HIỆP THÔNG VỚI CÁC THÁNH LÀ TẬP SỐNG QUÊ TRỜI TỪ HÔM NAY
Sau khi đã nói về các thánh và thiên thần, chúng ta càng thấy rõ rằng quê trời không phải một nơi hoàn toàn xa lạ. Một phần gia đình chúng ta đã ở đó. Những người đã sống đức tin trước chúng ta, những vị thánh ta yêu mến, Đức Maria, các thiên thần, họ làm cho quê trời trở thành gần gũi hơn.
Mỗi khi kêu cầu một vị thánh, hãy nhớ: con đang nói với một người đã về đích. Họ biết con đường khó thế nào. Họ biết cám dỗ, khô khan, thất bại. Họ không nhìn cuộc chiến của con với sự khinh thường, nhưng với lòng cảm thông của những người từng chiến đấu.
Hãy để đời sống các thánh nhắc con: “Người ấy đã đi qua. Tôi cũng có thể đi qua với ơn Chúa.” Một Thánh Phêrô từng yếu đuối, một Thánh Augustinô từng bị trói buộc, một Thánh Têrêsa Hài Đồng từng sống đời rất nhỏ bé, một Thánh Anphongsô từng trải qua nhiều thử thách, tất cả đang nói rằng thánh thiện không phải dành cho một giống người khác. Đó là ân sủng được trao cho những người biết để Chúa dẫn mình.
13. MỌI GIỌT NƯỚC MẮT ĐỀU ĐƯỢC GHI NHẬN
Có một niềm an ủi rất sâu: trong Thiên Chúa, không có đau khổ nào được dâng với tình yêu mà vô nghĩa. Có những giọt nước mắt chẳng ai biết. Có những đêm con phải thức một mình. Có những nỗi buồn con không thể kể. Có những hy sinh người khác không bao giờ hiểu. Hãy tin rằng Chúa thấy.
Ngài không chỉ thấy hành vi bên ngoài. Ngài thấy cuộc chiến nằm phía sau nó. Người khác có thể chỉ thấy con im lặng, nhưng Chúa biết con đã phải chiến đấu thế nào để không trả đũa. Người khác chỉ thấy con đi lễ như thường ngày, nhưng Chúa biết con đã phải kéo một trái tim nặng nề đến trước bàn thờ. Người khác thấy con tiếp tục làm bổn phận, nhưng Chúa biết con đang mang một nỗi đau lớn.
Quê trời là nơi nhiều điều kín ẩn sẽ được đặt trong ánh sáng. Không phải để con được ca tụng, nhưng để con thấy rằng không giây phút yêu mến nào đã bị mất.
14. MỖI LẦN ĐỨNG DẬY LÀ MỘT BƯỚC VỀ NHÀ
Hỡi linh hồn, có thể con ngã nhiều. Có thể con nhìn lại và thất vọng vì những lỗi cũ cứ trở lại. Nhưng đừng chỉ đếm số lần ngã. Hãy đếm số lần Chúa cho con đứng dậy.
Mỗi lần đứng dậy trong khiêm nhường, con đang tiến về quê trời. Mỗi lần trở lại tòa giải tội, con đang quay mặt về nhà Cha. Mỗi lần sau thất bại con nói “Lạy Chúa, con vẫn tin vào lòng thương xót”, con đang làm một hành vi hy vọng quý giá.
Ma quỷ muốn con nhìn ngã xuống và kết luận “tôi không bao giờ tới nơi.” Chúa muốn con nhìn bàn tay Ngài đang chìa ra và nói “hãy đi tiếp.”
Không phải người không bao giờ bị thương mới về được nhà. Người được cứu là người để Chúa cứu.
15. HÃY YÊU NHƯ NGƯỜI BIẾT MÌNH ĐANG ĐI VỀ VĨNH CỬU
Nếu mọi sự sẽ qua, vậy điều gì còn lại? Tình yêu.
Hãy yêu khi còn thời gian. Hãy nói lời xin lỗi khi còn có thể. Hãy tha thứ trước khi quá muộn. Hãy làm điều tốt mà đừng chờ người khác xứng đáng. Hãy cầu nguyện cho những người con khó chịu. Hãy ôm lấy người con thương khi họ vẫn còn ở bên. Hãy cảm ơn những người đã làm điều tốt cho con.
Một ngày, nhiều cơ hội sẽ không còn nữa. Đừng để đến lúc chỉ còn ký ức mới nhận ra mình đã giữ quá nhiều trong lòng. Người hướng về quê trời không sống hấp tấp, nhưng sống tỉnh thức. Họ biết một cử chỉ yêu hôm nay có thể có giá trị đời đời.
16. HÃY CHIẾN ĐẤU NHƯ NGƯỜI BIẾT CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG THUỘC VỀ CHÚA
Cuộc chiến linh hồn không phải một cuộc chiến ngang sức giữa Thiên Chúa và ma quỷ mà kết quả chưa biết. Đức Kitô đã chiến thắng. Thập giá và Phục Sinh đã đặt nền móng cho chiến thắng cuối cùng.
Điều đó không làm cuộc chiến hôm nay trở nên giả tạo. Ta vẫn có tự do. Ta vẫn có thể sa ngã. Nhưng ta chiến đấu không như người tuyệt vọng cố tạo ra chiến thắng từ con số không. Ta chiến đấu trong chiến thắng của Đức Kitô.
Khi cám dỗ mạnh, hãy nhớ: nó không vĩnh cửu. Khi đam mê nổi lên, hãy nhớ: nó không có quyền cuối cùng trên con nếu con ở lại với Chúa. Khi con thất bại, hãy nhớ: lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi. Khi con gặp sự chết, hãy nhớ: Đức Kitô đã đi qua đó và biến nó thành con đường.
17. QUÊ TRỜI BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG LỰA CHỌN HÔM NAY
Đời đời không hoàn toàn tách khỏi hôm nay. Mỗi hành vi yêu là một chút quê trời đi vào trần gian. Mỗi lần tha thứ là một mảnh của Nước Chúa. Mỗi lần Chúa được đặt lên trên cái tôi là một bước trong sự sống đời đời.
Chúa Giêsu nói sự sống đời đời là nhận biết Cha và Đấng Cha sai đến. Như vậy, sự sống đời đời không chỉ bắt đầu sau cái chết. Nó bắt đầu khi ta sống trong tương quan với Thiên Chúa.
Khi con ở lại với Chúa trong cầu nguyện, quê trời đã chạm vào ngày của con. Khi con sống hiệp thông chân thật, quê trời đã lóe lên trong cộng đoàn. Khi con tha thứ, quê trời trở nên hữu hình. Khi con yêu người nghèo, quê trời đến gần. Khi con rước Thánh Thể, Đấng con sẽ gặp trong vinh quang đã đến ở trong con dưới hình bánh.
18. ĐỪNG SỢ CON ĐƯỜNG DÀI – CHỈ CẦN ĐI HÔM NAY
Khi nghĩ đến quê trời, ta có thể thấy con đường còn xa và cuộc chiến còn dài. Nhưng Chúa không đòi con chiến đấu cả đời trong một ngày. Ngài chỉ trao ngày hôm nay.
Con không cần biết mình sẽ chịu đựng được thử thách của năm sau hay không. Con chỉ cần xin ơn cho hôm nay. Không cần biết mình sẽ ra sao trong giờ chết. Hãy sống giây phút hiện tại trong ân sủng, rồi khi giờ ấy đến, ơn của giờ ấy sẽ được ban.
Người lữ hành về quê trời không cần nhìn toàn bộ con đường. Chỉ cần thấy bước kế tiếp.
19. MẮT CHƯA HỀ THẤY
Thánh Phaolô nói: “Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới, điều mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Người.” Có lẽ chúng ta quá quen câu này nên không còn rung động trước sức nặng của nó.
Điều Chúa chuẩn bị còn lớn hơn mọi hình ảnh đẹp nhất con có thể tưởng tượng. Những khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời chỉ là một dấu chỉ rất nhỏ. Những phút cầu nguyện sốt sắng nhất chỉ là một giọt. Những tình yêu đẹp nhất con từng biết chỉ là phản chiếu.
Nếu những điều tạm thời Chúa ban đã có thể làm trái tim con xúc động đến thế, thì điều gì sẽ xảy ra khi con gặp chính Nguồn của mọi vẻ đẹp?
Hỡi linh hồn, có những ngày con phải sống bằng lời hứa ấy. Khi không còn cảm thấy gì. Khi sứ vụ thất bại. Khi sức khỏe yếu. Khi người khác không hiểu. Khi tương lai mờ mịt. Hãy cất lời trong lòng: “Có điều Chúa đang chuẩn bị mà mắt tôi chưa thấy.”
Đó không phải là mơ mộng. Đó là đức tin.
20. LỜI KẾT – HÃY NÂNG MẮT LÊN
Hỡi linh hồn, hãy nâng mắt lên. Đừng để bụi đường làm con quên bầu trời. Đừng để một ngày khó khăn khiến con nghĩ cả hành trình vô nghĩa. Đừng để một lần sa ngã làm con quên Đấng đang chờ con ở cuối đường. Đừng để một người không hiểu con làm con quên rằng Chúa hiểu. Đừng để một mất mát làm con quên rằng điều quan trọng nhất chưa bị lấy đi.
Con đang đi về nhà.
Có thể hôm nay con mệt. Hãy đi chậm. Nhưng đừng quay lại. Có thể con bị thương. Hãy để Chúa băng bó. Nhưng đừng bỏ cuộc. Có thể con ngã. Hãy nắm tay Ngài mà đứng dậy. Có thể con không còn thấy đường. Hãy đi bằng đức tin.
Một ngày, mọi cuộc chiến sẽ kết thúc. Một ngày, con sẽ không còn phải nói “Lạy Chúa, con tin dù con chưa thấy.” Con sẽ thấy. Một ngày, con sẽ không còn phải xin “xin ở lại với con.” Con sẽ ở với Ngài mãi mãi. Một ngày, con sẽ không còn phải chống lại tội lỗi. Trái tim con sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa. Một ngày, con sẽ không còn đứng trước Nhà Tạm với khoảng cách của đức tin. Con sẽ đứng trước mặt Ngài.
Một ngày, những người con đã khóc thương trong Chúa sẽ không còn xa. Một ngày, Đức Maria mà con đã gọi “Mẹ ơi” trong bao đêm tối sẽ hiện diện như Người Mẹ đón con về. Một ngày, các thánh mà con từng xin cầu thay sẽ là anh chị em chung quanh con. Một ngày, thiên thần hộ thủ đã đồng hành với con suốt cuộc lữ hành sẽ hoàn tất sứ mạng của mình.
Một ngày, Chúa sẽ lau nước mắt.
Vì thế, hôm nay hãy chiến đấu thêm một chút. Hãy tha thứ thêm một lần. Hãy cầu nguyện thêm một chút. Hãy kiên nhẫn thêm một chút. Hãy tin thêm một chút. Hãy yêu thêm một chút.
Đừng coi thường một bước nhỏ hướng về Chúa. Những bước nhỏ, đi đủ lâu, sẽ đưa con về nhà.
Nếu hôm nay con thấy cuộc chiến quá nặng, hãy nói: “Lạy Chúa, con không cần thắng cả cuộc đời hôm nay. Con chỉ xin trung thành trong giây phút này.”
Nếu hôm nay con thấy mình thất bại, hãy nói: “Lạy Chúa, con lại bắt đầu.”
Nếu hôm nay con đau, hãy nói: “Lạy Chúa, xin dùng đau khổ này để kéo con gần Ngài hơn.”
Nếu hôm nay con hạnh phúc, hãy nói: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa. Xin cho niềm vui này nhắc con về niềm vui lớn hơn đang chờ.”
Và nếu một ngày con đứng trước ngưỡng cửa cuối cùng, hãy nhớ rằng cả cuộc đời con đã là một cuộc chuẩn bị cho giây phút ấy. Hãy phó mình trong tay Chúa như đứa trẻ trở về tay Cha.
Hỡi linh hồn, đừng sợ.
Con đường có thể dài, nhưng quê nhà là thật. Cuộc chiến có thể gay gắt, nhưng chiến thắng của Đức Kitô còn thật hơn. Những giọt nước mắt của con là thật, nhưng niềm vui Chúa hứa cũng thật. Sự yếu đuối của con là thật, nhưng lòng thương xót của Chúa lớn hơn.
Hãy bước đi.
Hãy chiến đấu.
Hãy yêu.
Hãy hy vọng.
Và trong mọi sự, hãy giữ đôi mắt của linh hồn hướng về quê trời.
Bởi vì cuối cùng, điều con đang tìm kiếm không phải chỉ là chiến thắng một đam mê, không phải chỉ là trở thành một người tốt hơn, cũng không phải chỉ là có được sự bình an trong đời này.
Điều con đang tìm kiếm là Thiên Chúa.
Và Đấng con đang tìm cũng chính là Đấng đang đi tìm con.
Ngài đang chờ con ở cuối con đường.
Ngài đang nâng con trong từng bước.
Ngài đang tha thứ khi con ngã.
Ngài đang nuôi con bằng Thánh Thể.
Ngài đang dẫn con qua những điều con không hiểu.
Ngài đang dùng cả những vết thương để thanh luyện trái tim.
Ngài đang biến từng ngày của con thành con đường trở về.
Và đến một ngày, khi cuộc chiến đã hoàn tất, khi đức tin trở thành thị kiến, khi hy vọng trở thành chiếm hữu, chỉ còn tình yêu ở lại, con sẽ hiểu rằng không một hy sinh nào vì Chúa là uổng phí, không một giọt nước mắt nào được dâng trong tình yêu là vô nghĩa, không một lần đứng dậy nào là nhỏ bé, không một hành vi trung thành nào đã mất đi.
Lúc ấy, con sẽ không còn hỏi tại sao đường dài.
Con sẽ chỉ biết rằng Chúa đã trung tín.
Và có lẽ trong ánh sáng của Ngài, khi nhìn lại cả cuộc đời với tất cả những đoạn quanh co, những lần vấp ngã, những ngày vui, những đêm tối, những lần tưởng như không thể đi tiếp, con sẽ chỉ còn một lời:
“Lạy Chúa, mọi sự đều là ân sủng.”
Và con sẽ bước vào niềm vui của Chủ mình.
“Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới, điều mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Người.” (1 Cr 2,9)
Hỡi linh hồn, hãy để lời hứa ấy ở trong tim con. Khi cuộc chiến gay gắt, hãy nhớ lời ấy. Khi đêm tối, hãy nhớ lời ấy. Khi con mệt, hãy nhớ lời ấy. Khi con thấy mình quá yếu đuối, hãy nhớ lời ấy.
Quê trời đang ở phía trước.
Và Thiên Chúa đang ở đó.
Hãy đi về với Ngài.
CHƯƠNG 47
HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI – ĐỘNG LỰC TỐI HẬU CỦA CUỘC CHIẾN LINH HỒN
Hỡi linh hồn đang bước đi giữa cuộc lữ hành trần thế, đang chiến đấu từng ngày dưới ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa, đang được Đức Maria che chở, được các thiên thần gìn giữ và được các thánh nâng đỡ bằng lời chuyển cầu, sau khi đã nhìn lên hàng ngũ những người đi trước và đã thấy nơi các ngài bằng chứng sống động rằng cuộc chiến này có thể chiến thắng, giờ đây chúng ta cần nâng mắt lên cao hơn nữa, xa hơn nữa, vượt khỏi những gì đang làm chúng ta bận tâm hôm nay, vượt khỏi những khó khăn đang đè nặng trên vai, vượt khỏi những thành công hay thất bại mau qua, để nhìn về cùng đích cuối cùng của tất cả mọi cuộc chiến, mọi hy sinh, mọi lần đứng lên, mọi lần từ bỏ chính mình, mọi lời cầu nguyện, mọi giọt nước mắt và mọi hành vi yêu mến âm thầm của đời chúng ta: quê trời. Có lẽ trong đời sống thiêng liêng, chúng ta nói nhiều đến việc tránh tội, chiến đấu với đam mê, giữ mình khỏi cám dỗ, cầu nguyện, hy sinh, vâng phục, khiêm nhường, từ bỏ, trung thành và bắt đầu lại. Tất cả những điều ấy đều cần thiết. Nhưng nếu linh hồn chỉ chăm chú vào cuộc chiến mà quên mất nơi mình đang đi tới, cuộc chiến ấy rất dễ trở thành một chuỗi cố gắng mệt nhọc. Nếu chỉ nhìn vào những gì phải bỏ, những gì phải chịu, những gì phải sửa, những gì phải chiến thắng mà không nhìn đến điều Thiên Chúa đang chuẩn bị phía trước, linh hồn dễ có cảm giác đời sống thiêng liêng chỉ toàn là mất mát. Nó có thể bắt đầu nghĩ rằng theo Chúa có nghĩa là cứ phải từ bỏ mãi, chịu đựng mãi, chiến đấu mãi, sửa mình mãi, chết đi mãi mà không thấy được sự sống đang chờ đợi. Chính vì thế, niềm hy vọng quê trời không phải là một ý tưởng phụ thêm vào cuối đời sống thiêng liêng. Nó là một sức mạnh rất thật. Nó là ánh sáng từ cuối con đường chiếu ngược trở lại từng bước chân hiện tại. Nó giúp chúng ta hiểu tại sao phải chiến đấu, tại sao phải kiên trì, tại sao có những lúc phải chịu đau, tại sao có những lúc Chúa cho phép ta mất đi những gì mình rất yêu quý, tại sao có những giai đoạn linh hồn phải đi qua khô khan, tối tăm và dường như chẳng thấy một chút an ủi nào. Bởi vì chúng ta không được tạo dựng để ở lại mãi nơi đây. Chúng ta được tạo dựng cho một nơi khác. Chúng ta được tạo dựng cho Thiên Chúa. Và trái tim con người chỉ thật sự nghỉ yên khi được trở về trong Ngài.
Có những lúc linh hồn mệt mỏi đến mức chỉ muốn dừng lại. Có những lúc nó nhìn cuộc chiến trước mặt và tự hỏi: “Tôi còn phải chiến đấu bao lâu nữa? Bao giờ tôi mới thôi yếu đuối? Bao giờ tôi mới không còn những cơn nóng giận, những cám dỗ, những xao động, những tự ái, những bất an, những thất vọng, những nỗi sợ hãi, những ký ức đau đớn, những lần phải bắt đầu lại?” Câu trả lời đầy hy vọng là: sẽ có một ngày tất cả những điều ấy kết thúc. Không phải vì linh hồn tự mình trở thành hoàn hảo ở đời này. Không phải vì nó sẽ đạt tới một trạng thái chẳng còn phải chiến đấu. Nhưng vì có một ngày Chúa sẽ gọi nó ra khỏi chiến trường này và đưa nó vào nơi bình an vĩnh cửu. Có một ngày không còn phải giữ lòng mình khỏi cám dỗ. Không còn phải chiến đấu với xác thịt. Không còn phải chống lại những ý nghĩ đen tối. Không còn phải cố gắng yêu một người khó yêu. Không còn phải nuốt xuống một lời muốn nói trong nóng giận. Không còn phải ép mình đứng dậy cầu nguyện khi tâm hồn khô khan. Không còn phải chống lại sự nản lòng mỗi khi thấy mình yếu đuối. Không còn phải sống trong sự giằng co giữa điều mình biết là tốt và điều bản tính mình lại muốn làm. Có một ngày cuộc chiến sẽ dừng lại. Có một ngày thanh gươm sẽ được đặt xuống. Có một ngày người lính mệt mỏi sẽ trở về nhà. Và quê nhà ấy không phải chỉ là một nơi không còn đau khổ. Quê nhà ấy là Thiên Chúa Himself, là được ở trong Ngài, được thấy Ngài, được yêu Ngài không còn bị ngăn trở, được để cho Ngài yêu mình hoàn toàn, được sống trong sự hiệp thông mà lòng ta vẫn khát khao nhưng chưa bao giờ có thể nếm trọn vẹn trên trần gian này.
1. CHÚNG TA LÀ KHÁCH LỮ HÀNH, KHÔNG PHẢI NGƯỜI ĐỊNH CƯ
Hỡi linh hồn, một trong những điều cần nhớ thường xuyên nhất là: con không ở nhà. Dương thế không phải nơi ở cuối cùng của con. Những gì con có hôm nay, dù đẹp đến đâu, cũng chỉ là tạm thời. Những gì làm con đau hôm nay, dù nặng đến đâu, cũng không tồn tại mãi. Những gì người khác nghĩ về con hôm nay, những lời khen hay chê, những thành công hay thất bại, những vị trí, danh dự, tài sản, sức khỏe, tuổi trẻ, sắc đẹp, khả năng, những mối tương quan, những điều làm con vui và cả những điều làm con khóc, tất cả đều mang dấu ấn của sự mau qua. Chúng có ý nghĩa, nhưng không phải là cùng đích. Chúng có thể được Chúa dùng để thánh hóa con, nhưng chúng không thể trở thành nơi con đặt trọn trái tim. Thánh Phêrô nhắc các tín hữu hãy sống trên đời như những khách lữ hành và lữ khách. Đó không phải là lời kêu gọi khinh thường thế giới, nhưng là lời nhắc để ta đặt thế giới vào đúng chỗ của nó. Người khách lữ hành vẫn bước đi trên đường, vẫn ăn uống, vẫn nghỉ ngơi, vẫn gặp gỡ người khác, vẫn làm việc, vẫn chăm sóc những điều được trao cho mình, nhưng họ không nhầm con đường với quê nhà. Họ không xây cả đời mình trên một quán trọ. Họ biết mình còn phải đi tiếp.
Biết mình là khách lữ hành làm thay đổi tận gốc cách ta sống. Người không nhớ mình là khách lữ hành sẽ cố giữ mọi thứ bằng mọi giá. Nó sợ mất. Nó sợ bị quên. Nó sợ tuổi già. Nó sợ bệnh tật. Nó sợ người khác vượt qua mình. Nó sợ mất một chức vụ. Nó sợ mất ảnh hưởng. Nó sợ mất một mối tương quan. Nó sợ những thay đổi vì trong sâu xa, nó đã coi một phần của thế giới này là nhà của mình. Nhưng khi linh hồn nhớ rằng mình chỉ đang đi qua, nó bắt đầu cầm mọi sự bằng đôi tay mở hơn. Nó vẫn yêu, nhưng yêu trong tự do. Nó vẫn làm việc, nhưng không biến công việc thành căn tính. Nó vẫn chăm sóc sức khỏe, nhưng không coi thân xác hiện tại là tất cả. Nó vẫn quý trọng tình bạn và gia đình, nhưng biết rằng mọi tình yêu chân thật đều phải dẫn về Thiên Chúa. Nó vẫn vui khi được thành công, nhưng không để thành công quyết định giá trị của mình. Nó vẫn buồn khi bị thất bại, nhưng không để thất bại biến thành bản án cuối cùng trên cuộc đời. Nó bắt đầu nói với mọi sự: “Cảm ơn vì đã đồng hành với tôi một đoạn đường, nhưng tôi không thể ở lại đây mãi. Tôi còn phải đi về Nhà Cha.”
Thật ra, nhiều đau khổ của chúng ta không đến từ chính những sự vật, nhưng từ việc chúng ta đòi những sự vật tạm thời phải cho mình điều mà chỉ vĩnh cửu mới có thể ban. Ta muốn một người khác phải yêu ta hoàn hảo, trong khi không một con người nào có thể làm điều ấy. Ta muốn công việc đem lại cảm giác viên mãn vĩnh viễn, trong khi công việc nào rồi cũng có giới hạn. Ta muốn sức khỏe kéo dài mãi, trong khi thân xác đang tiến dần về sự suy yếu. Ta muốn danh tiếng làm ta thấy mình có giá trị, trong khi danh tiếng sống trong trí nhớ của những con người cũng đang qua đi. Ta muốn những an ủi trong cầu nguyện phải luôn ở lại, trong khi Chúa có thể ban chúng rồi rút chúng đi để dạy ta yêu Ngài chứ không yêu cảm giác về Ngài. Ta muốn cuộc đời trần thế có sự ổn định tuyệt đối, trong khi chính bản chất của nó là đổi thay. Vì thế, nhớ đến quê trời là một hành vi giải phóng. Nó giúp ta thôi đòi điều tạm thời phải mang lấy sức nặng của vĩnh cửu. Nó giúp ta yêu trần gian cách đúng đắn hơn, bởi vì chỉ khi không biến trần gian thành Thiên Chúa, ta mới có thể đón nhận nó như quà tặng.
Hỡi linh hồn, con hãy học đi qua thế giới này với đôi tay biết đón nhận và cũng biết buông. Khi Chúa ban một niềm vui, hãy cảm tạ. Khi Chúa cho một người đồng hành, hãy yêu họ thật nhiều. Khi Chúa ban sức khỏe, hãy dùng sức khỏe để phục vụ. Khi Chúa ban khả năng, hãy dùng khả năng ấy để làm vinh danh Ngài. Khi Chúa ban thành công, hãy cúi đầu tạ ơn. Nhưng trong tất cả, hãy âm thầm nói: “Lạy Chúa, điều này đẹp, nhưng chưa phải là Chúa. Con cảm ơn Chúa về điều này, nhưng con không dừng lại ở đây. Xin mọi sự đưa con tiến gần Chúa hơn.” Và khi Chúa cho phép một điều rời khỏi tay con, hãy đau nếu cần, hãy khóc nếu lòng con đau, nhưng đừng nghĩ đời con đã mất hết ý nghĩa. Người lữ hành có thể mất một hành trang mà vẫn còn con đường. Người lữ hành có thể đi qua một đoạn tối mà vẫn còn đích đến. Người lữ hành có thể bị thương mà vẫn được đưa về nhà.
2. QUÊ TRỜI – NƠI MỌI CUỘC CHIẾN SẼ CHẤM DỨT
Chúng ta thường nói đến thiên đàng bằng những hình ảnh rất đẹp: ánh sáng, bình an, niềm vui, đoàn tụ, không còn nước mắt. Nhưng có lẽ điều làm cho thiên đàng trở thành thiên đàng không phải trước hết là không còn đau khổ, mà là có Thiên Chúa cách trọn vẹn. Nếu chỉ không còn đau khổ mà không có Thiên Chúa, điều ấy vẫn chưa đủ cho trái tim con người. Trái tim chúng ta được tạo dựng với một cơn đói mà không thụ tạo nào có thể lấp đầy. Chúng ta có thể trải qua nhiều niềm vui rất thật trên đời, nhưng trong mỗi niềm vui vẫn còn một điều gì đó chưa trọn. Một bữa ăn ngon rồi kết thúc. Một cuộc gặp gỡ đẹp rồi phải chia tay. Một ngày hạnh phúc rồi trở thành ký ức. Một thành công lớn rồi sẽ có thử thách khác. Một khoảnh khắc cầu nguyện rất sâu rồi cũng đi qua. Mọi vẻ đẹp ở đời giống như một tia sáng làm ta linh cảm về một Mặt Trời mà ta chưa nhìn thấy. Quê trời là khi không còn chỉ thấy tia sáng. Ta được gặp chính Nguồn Sáng.
Ở đó, những điều làm linh hồn đau đớn nhất hôm nay sẽ chấm dứt. Không còn tội lỗi. Không còn khả năng phản bội tình yêu Thiên Chúa. Không còn sự nghi ngờ rằng mình có được yêu không. Không còn phải dò tìm ý Chúa giữa những tối tăm. Không còn cảm giác Chúa xa vắng. Không còn cầu nguyện trong khô khan. Không còn những đêm dài của đức tin. Không còn chiến đấu để giữ lòng trong sạch. Không còn tự ái. Không còn ghen tị. Không còn những ký ức làm đau. Không còn vết thương nào phải che giấu. Không còn sự xấu hổ về những yếu đuối của mình. Không còn sự bất lực khi thấy người mình yêu đau khổ. Không còn những lần đứng trước quan tài mà không biết phải nói gì. Không còn những cuộc chia tay. Không còn bệnh tật. Không còn tuổi già. Không còn cái chết. Không còn những giọt nước mắt mà chẳng ai thấy. Không còn những tiếng thở dài trong đêm. Không còn cảm giác “tại sao đời tôi lại như thế này?” Bởi vì mọi sự sẽ được đặt trong ánh sáng. Những câu hỏi từng làm ta đau sẽ không còn là những vết cắt trong trí óc. Ta sẽ nhìn thấy những gì bây giờ ta chỉ có thể tin.
Sách Khải Huyền nói đến ngày Thiên Chúa lau sạch nước mắt khỏi mắt con người, nơi sự chết không còn nữa, cũng không còn tang tóc, kêu than và đau khổ. Hỡi linh hồn, hãy để lời ấy thấm thật sâu vào con. Chúa không chỉ hứa cho con sức mạnh để chịu đựng mãi. Chúa hứa một ngày đau khổ sẽ chấm dứt. Người Kitô hữu không phải người được dạy phải quen với nước mắt như định mệnh. Người Kitô hữu là người có thể khóc mà vẫn biết nước mắt không có tiếng nói cuối cùng. Chúng ta có thể bị đóng đinh với Đức Kitô, nhưng chúng ta biết sau Thứ Sáu Tuần Thánh có buổi sáng Phục Sinh. Chúng ta có thể bước qua thung lũng tối, nhưng thung lũng không phải quê nhà. Chúng ta có thể bị thương, nhưng vết thương không phải căn tính cuối cùng. Chúng ta có thể chết, nhưng cái chết không phải dấu chấm hết.
Quê trời cũng là nơi mọi khát vọng yêu thương chân thật được thanh luyện và hoàn tất. Ở đời này, chúng ta yêu trong sự vụng về. Ta muốn yêu Chúa mà vẫn bị chia trí. Ta muốn yêu người khác mà vẫn lẫn ích kỷ. Ta muốn tha thứ mà ký ức vẫn đau. Ta muốn quảng đại mà lòng vẫn tính toán. Ta muốn hiến thân nhưng nhiều lúc vẫn muốn giữ lại cho mình. Ta muốn thuộc về Chúa trọn vẹn mà trong lòng vẫn còn những góc nhỏ chống lại Ngài. Chính vì vậy, người chân thành thường đau trước sự bất toàn của tình yêu mình. Có khi ta nhìn lại và buồn vì đã không yêu người khác đủ khi còn cơ hội. Có khi ta hối tiếc vì những lời đáng lẽ phải nói mà không nói, những cử chỉ đáng lẽ phải làm mà không làm. Có khi ta buồn vì thấy tình yêu của mình luôn bị giới hạn bởi sự yếu đuối. Trên quê trời, tình yêu sẽ không còn bị bóp méo. Ta sẽ yêu Chúa bằng cả hữu thể mà không còn một phần nào chống lại Ngài. Ta sẽ yêu những người trong Chúa bằng một tình yêu không còn sở hữu, không còn ghen, không còn sợ mất, không còn hiểu lầm. Đó là tự do mà ở đời này chúng ta chỉ mới tập bước những bước đầu tiên.
Và ở đó, Đức Maria sẽ không còn chỉ là Người Mẹ ta kêu cầu trong đêm tối đức tin, nhưng là Người Mẹ ta được vui mừng gặp trong vinh quang. Các thánh mà ta từng đọc cuộc đời, từng xin cầu thay, từng xem như những người bạn vô hình, sẽ trở thành cộng đoàn thật sự chung quanh ta. Các thiên thần mà ta tin rằng đang gìn giữ mình sẽ không còn bị che khuất khỏi đôi mắt. Toàn thể Hội Thánh khải hoàn sẽ là một đại gia đình trong đó không còn ai xa lạ, bởi mọi người đều được kết hợp trong Đức Kitô. Có lẽ hôm nay ta vẫn cảm thấy cô đơn trên đường nên thánh. Có lúc ta chiến đấu mà chẳng ai hiểu. Có lúc những người gần ta nhất cũng không hiểu được những gì đang xảy ra trong lòng. Nhưng trên quê trời, không còn sự cô đơn ấy. Ta sẽ ở trong sự hiệp thông trọn vẹn.
3. NIỀM HY VỌNG QUÊ TRỜI KHÔNG LÀM TA TRỐN KHỎI ĐỜI NÀY
Có một hiểu lầm rất nguy hiểm: nghĩ rằng nói nhiều đến quê trời sẽ làm người ta thờ ơ với cuộc sống hiện tại. Thật ra, nếu hiểu đúng, điều ngược lại mới đúng. Chính vì biết mình đang đi về vĩnh cửu, ta càng sống hiện tại có trách nhiệm hơn. Chính vì biết mỗi người có giá trị đời đời, ta càng không thể đối xử với họ cách hời hợt. Chính vì biết thời gian ngắn ngủi, ta càng không muốn lãng phí nó trong những tranh cãi vô ích, những hận thù kéo dài, những tham vọng trống rỗng. Chính vì biết mọi việc làm vì yêu sẽ không mất đi, ta càng chu toàn những bổn phận nhỏ bé bằng cả trái tim.
Người hướng về quê trời không phải người luôn ngước mắt lên mà không nhìn đường dưới chân. Trái lại, họ nhìn đường rõ hơn vì biết mình đang đi đâu. Một người không biết mình đi đâu sẽ rất dễ bị hấp dẫn bởi mọi ngã rẽ. Một người biết rõ đích đến sẽ phân định được điều gì đáng giữ và điều gì nên bỏ. Cũng thế, nếu linh hồn biết quê trời là cùng đích, nó sẽ bắt đầu hỏi về mọi lựa chọn: “Điều này có giúp tôi yêu Chúa hơn không? Có làm tôi tự do hơn không? Có giúp tôi trở thành người có thể sống đời đời với Thiên Chúa không? Hay nó đang làm trái tim tôi nặng xuống, bị trói vào những điều mau qua?”
Niềm hy vọng quê trời làm cho những việc rất bình thường mang một chiều kích đời đời. Một người mẹ chăm con trong mệt mỏi, nếu làm vì yêu, việc ấy không biến mất. Một người âm thầm tha thứ khi bị xúc phạm, hành vi ấy không mất. Một tu sĩ trung thành với giờ kinh trong những ngày chẳng có cảm xúc gì, sự trung thành ấy không mất. Một linh mục bước vào tòa giải tội khi thân xác mệt, một người bệnh dâng cơn đau trong thinh lặng, một người nghèo vẫn chia sẻ chút ít mình có, một người giữ miệng không nói điều có thể làm tổn thương người khác, một linh hồn đứng dậy sau lần sa ngã thứ một trăm và nói lại với Chúa “con tin vào lòng thương xót Chúa”, tất cả đều mang trong mình hạt giống của vĩnh cửu. Thế gian có thể không nhìn thấy. Không ai vỗ tay. Không ai ghi vào thành tích. Nhưng Thiên Chúa thấy. Và điều Thiên Chúa thấy thì không hề mất.
Hỡi linh hồn, hãy nhớ điều này khi con cảm thấy những cố gắng của mình chẳng ai biết. Có những chiến thắng lớn nhất của con sẽ không bao giờ xuất hiện trước mắt người khác. Có thể chẳng ai biết hôm nay con đã phải chiến đấu thế nào để không nổi nóng. Chẳng ai biết con đã phải khó khăn thế nào mới tha thứ được. Chẳng ai biết con đã ngồi lại trước Nhà Tạm với một trái tim tan vỡ nhưng vẫn cố nói: “Lạy Chúa, con tin.” Chẳng ai biết con đã vượt qua một cám dỗ mà con phải chiến đấu nhiều năm. Chẳng ai biết con đã từ bỏ một lời nói, một ý muốn, một sự tò mò, một thói quen, một quyền lợi chỉ vì muốn làm vui lòng Chúa. Nhưng Nước Trời được xây dựng bằng rất nhiều điều mà thế gian không nhìn thấy. Và có thể đến ngày gặp Chúa, con sẽ ngạc nhiên khi thấy những việc con tưởng rất nhỏ lại có một giá trị lớn lao trong ánh sáng vĩnh cửu.
4. HÃY NHÌN CÁC THỬ THÁCH TRONG ÁNH SÁNG VĨNH CỬU
Cuộc chiến linh hồn trở nên nặng nề khi ta nhìn đau khổ quá gần. Khi một đau khổ chiếm trọn khung nhìn, ta có cảm giác nó là toàn bộ đời mình. Một lời xúc phạm có thể làm ta nghĩ về nó cả ngày. Một thất bại có thể làm ta cảm thấy cả tương lai đã khép lại. Một bệnh tật có thể khiến ta quên rằng mình còn có linh hồn. Một sự mất mát có thể làm ta cảm thấy không còn gì đáng sống. Đó là lúc ta cần đặt đau khổ vào trong chân trời rộng hơn của vĩnh cửu.
Không phải bằng cách coi thường đau khổ. Chúa không đòi con phải giả vờ rằng điều đau thì không đau. Khi Lazarô chết, Chúa Giêsu đã khóc. Đức tin không biến con thành đá. Nhưng đức tin giúp con nói: “Điều này rất đau, nhưng nó không phải là tất cả. Nó đang xảy ra trong một câu chuyện lớn hơn mà Chúa đang viết. Tôi chưa thấy toàn bộ câu chuyện.” Có những điều hôm nay ta không hiểu. Có những lời cầu nguyện ta không thấy được đáp lại như mong muốn. Có những con đường bị đóng lại. Có những người rời khỏi đời ta. Có những dự định đẹp dường như đổ vỡ. Có những thời kỳ ta cảm thấy cuộc đời mình bị chậm lại, bị thu hẹp, bị tước đi. Nếu chỉ nhìn bằng mắt hiện tại, ta có thể kết luận: “Mọi sự đang mất.” Nhưng dưới ánh sáng vĩnh cửu, có khi chính trong những mất mát ấy Chúa đang làm một công việc sâu hơn nhiều.
Hãy tự hỏi, khi một điều làm con đau: “Một trăm năm nữa, điều này sẽ ở đâu?” Một trăm năm nữa, những lời người khác nói về con hôm nay sẽ không còn quan trọng như bây giờ. Một trăm năm nữa, ngôi nhà, chức vụ, danh tiếng, thành tích, những cuộc tranh hơn thua hiện tại hầu như không còn ý nghĩa. Nhưng tình yêu con đã sống, sự tha thứ con đã trao, sự trung thành con đã giữ, linh hồn con đã trở thành người thế nào trước mặt Chúa, những điều ấy có ý nghĩa vĩnh cửu. Câu hỏi này có thể làm thay đổi cách ta phản ứng. Khi bị xúc phạm, thay vì hỏi “làm sao để chứng minh tôi đúng?”, hãy hỏi “điều gì giúp tôi đi gần Chúa hơn?” Khi mất một cơ hội, thay vì chỉ hỏi “tại sao tôi không được?”, hãy hỏi “Chúa đang muốn làm tôi tự do khỏi điều gì?” Khi bị hiểu lầm, thay vì tìm mọi cách bắt người khác phải hiểu mình, hãy hỏi “liệu tôi có thể để Chúa là Đấng hiểu tôi đủ không?” Khi đau khổ kéo dài, hãy hỏi “cơn đau này có thể biến tôi thành người yêu sâu hơn, dịu dàng hơn, khiêm nhường hơn không?”
Thánh Phaolô đã có thể gọi những gian truân đời này là nhẹ và tạm vì ngài đặt chúng bên cạnh vinh quang đời đời. Không phải vì ngài ít đau. Cuộc đời ngài đầy đánh đập, tù đày, đói khát, nguy hiểm, chống đối. Nhưng ngài có một cái nhìn lớn hơn nỗi đau. Đó chính là điều linh hồn cần tập. Đừng chỉ nhìn vào trọng lượng của thập giá. Hãy nhìn vào nơi thập giá đang dẫn con tới. Đừng chỉ nhìn vào đêm tối. Hãy nhớ bình minh. Đừng chỉ nhìn vào sự chết đi của hạt lúa. Hãy nhớ mùa gặt.
5. CÁI CHẾT KHÔNG PHẢI KẺ THÙ CUỐI CÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI THUỘC VỀ ĐỨC KITÔ
Một trong những điều làm con người sợ nhất là cái chết. Và điều ấy rất tự nhiên, bởi thân xác chúng ta yêu sự sống. Sự chia lìa làm ta đau. Điều chưa biết làm ta sợ. Nhưng đối với người sống trong Đức Kitô, cái chết không còn là bức tường kín. Nó trở thành một cánh cửa. Chúng ta không tìm cái chết, không coi nhẹ sự sống, không từ chối bổn phận bảo vệ sức khỏe, nhưng ta biết một sự thật mà thế gian không thể ban: sự chết không phải tiếng nói cuối cùng.
Hỡi linh hồn, nếu con sống mọi ngày như thể trần gian là tất cả, cái chết sẽ luôn hiện ra như kẻ đến cướp mọi thứ. Nhưng nếu con sống như khách lữ hành, cái chết là giờ trở về. Nó vẫn có thể làm con run. Các thánh cũng là con người. Nhưng nỗi sợ ấy có thể được ôm vào trong một niềm tín thác lớn hơn: “Lạy Cha, con trở về với Cha.” Một ngày nào đó, con sẽ thở hơi cuối cùng. Những đồ vật từng làm con bận tâm sẽ ở lại. Những dự định chưa xong sẽ được trao cho người khác. Thân xác con sẽ bất động. Người ta có thể nói những lời cuối cùng về đời con. Nhưng vào chính giây phút thế gian nghĩ rằng mọi sự kết thúc, một điều lớn lao hơn bắt đầu: linh hồn đứng trước Thiên Chúa.
Vì thế, người khôn ngoan tập sống sao để khi giờ ấy đến, họ không cảm thấy mình bị kéo khỏi một ngôi nhà, nhưng được gọi về nhà thật. Mỗi lần từ bỏ một dính bén, con đang tập chết. Mỗi lần chấp nhận không được như ý, con đang tập buông. Mỗi lần nói “xin ý Cha được thể hiện”, con đang chuẩn bị cho lời phó thác cuối cùng. Mỗi lần lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, con đang đặt linh hồn mình vào lòng thương xót. Mỗi lần rước Thánh Thể, con đang đón nhận Đấng là sự sống đời đời. Mỗi lần cầu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”, con đang đặt giờ chết của mình trong tay Người Mẹ sẽ không bỏ con.
Đừng để ma quỷ dùng ý nghĩ về cái chết để làm con tuyệt vọng. Nếu con thuộc về Chúa, hãy để ý nghĩ ấy làm con tỉnh thức. Nó giúp con tha thứ sớm hơn. Nó giúp con bớt tranh chấp. Nó giúp con nói những lời yêu thương khi còn cơ hội. Nó giúp con thôi trì hoãn việc trở về với Chúa. Nó giúp con tự hỏi: “Nếu hôm nay là một trong những ngày cuối của đời tôi, điều gì thật sự đáng làm?” Câu hỏi ấy không làm cuộc sống buồn hơn. Nó làm cuộc sống thật hơn.
6. CÁM DỖ BÁM VÍU VÀO THÀNH CÔNG ĐỜI NÀY
Có một cám dỗ rất tinh tế đối với những người nghiêm túc sống đời thiêng liêng: không nhất thiết bám vào tiền bạc hay khoái lạc, nhưng bám vào thành công của chính những điều mình làm cho Chúa. Một người có thể từ bỏ nhiều thứ cá nhân nhưng lại dính bén vào việc sứ vụ phải thành công, cộng đoàn phải nhìn nhận mình, người khác phải thấy mình hữu ích, những dự định mình khởi xướng phải tồn tại. Lúc đó, cái tôi không biến mất; nó chỉ mặc áo đạo đức hơn.
Hướng về quê trời thanh luyện cả điều này. Nó nhắc ta rằng Nước Chúa lớn hơn công việc của ta. Một ngày ta sẽ phải rời khỏi tất cả những gì mình đang làm. Người khác sẽ tiếp tục hoặc thay đổi. Có những công việc từng rất quan trọng rồi sẽ bị quên. Có những dự án ta dành nhiều năm cho nó rồi một ngày không còn nữa. Nhưng điều quan trọng không phải là tên ta còn gắn trên công việc hay không. Điều quan trọng là trong khi làm việc ấy, ta có yêu Chúa không, có trung thành không, có để mình được biến đổi không.
Hỡi linh hồn, đừng sợ sự nhỏ bé. Trên quê trời không ai hỏi con đã nổi tiếng đến đâu. Không ai đo sự thánh thiện bằng số người biết tên con. Những gì thế gian gọi là lớn có thể rất nhỏ trước mặt Chúa, và những gì thế gian không thấy có thể rất lớn. Có những linh hồn cả đời không làm điều gì gây tiếng vang nhưng đã yêu với một tình yêu tinh tuyền. Có những người bệnh nằm một chỗ mà lời cầu nguyện của họ nâng đỡ biết bao người. Có những người mẹ, người cha, tu sĩ, giáo dân, linh mục, những con người rất bình thường mà sự trung tín âm thầm của họ làm đẹp lòng Chúa hơn nhiều công trình lẫy lừng.
Khi nhớ đến quê trời, ta được tự do để làm việc tốt mà không cần sở hữu kết quả. Ta gieo vì Chúa muốn ta gieo. Ta tưới vì đó là bổn phận. Còn sự lớn lên thuộc về Chúa. Nếu Ngài cho ta thấy hoa trái, ta cảm tạ. Nếu Ngài giấu hoa trái khỏi mắt ta, ta vẫn trung thành. Người làm mọi sự cho vĩnh cửu không cần phải nhìn thấy mọi kết quả trong hiện tại.
7. CÁM DỖ CHỈ TÌM AN ỦI THIÊNG LIÊNG
Có những linh hồn bắt đầu đời sống thiêng liêng với nhiều an ủi. Cầu nguyện ngọt ngào, Thánh lễ sốt sắng, lời Chúa chạm mạnh vào tim, những giờ thinh lặng tràn đầy bình an. Những điều ấy là quà Chúa. Nhưng nếu không cẩn thận, ta có thể bắt đầu yêu quà hơn yêu Đấng ban quà. Và khi Chúa rút cảm giác ngọt ngào, linh hồn tưởng rằng mình đang xa Chúa.
Niềm hy vọng quê trời giúp ta hiểu: trần gian không phải nơi được hưởng trọn. Đây là nơi đức tin được thanh luyện. Có những lúc Chúa cho ta nếm một chút ngọt ngào để khích lệ. Có những lúc Ngài rút đi để xem ta có tiếp tục yêu Ngài khi không còn cảm giác gì hay không. Quê trời mới là nơi hưởng kiến. Ở đây, ta bước đi trong đức tin. Vì thế, đừng đòi hiện tại phải cho con điều chỉ vĩnh cửu mới ban.
Có một tình yêu sâu hơn cảm xúc. Đó là khi con vẫn cầu nguyện dù chẳng thấy gì. Vẫn dự lễ dù lòng khô. Vẫn đọc Lời Chúa dù không có câu nào làm con xúc động. Vẫn làm việc thiện dù chẳng thấy hứng thú. Vẫn thưa “con yêu Chúa” dù trong lòng lạnh lẽo. Những lúc ấy, có thể con tưởng đời sống thiêng liêng của mình nghèo đi. Nhưng chính lúc đó, tình yêu đang được tinh luyện. Nó không còn sống bằng phần thưởng trước mắt. Nó bắt đầu yêu vì Chúa là Chúa.
Hãy dành những an ủi trọn vẹn cho quê trời. Còn hôm nay, nếu Chúa cho con một giọt ngọt ngào, hãy cảm tạ. Nếu Ngài cho con uống chén đắng, hãy xin sức mạnh. Nhưng đừng đo tình yêu Chúa bằng cảm giác của mình.
8. CHỦ NGHĨA DUY HIỆN TẠI – MỘT CÁI BẪY ÂM THẦM
Thế giới hiện đại dạy chúng ta chú ý rất nhiều đến những gì có thể đo, thấy, đếm, đạt ngay. Bao nhiêu tiền, bao nhiêu người biết, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu thành tích, bao nhiêu hiệu quả, bao nhiêu sự thoải mái. Dần dần, ngay cả linh hồn đạo đức cũng có thể bị ảnh hưởng. Ta chỉ thấy giá trị của điều gì khi nó đem lại kết quả tức thời.
Nhưng Nước Trời vận hành theo một nhịp khác. Hạt giống được gieo rồi biến mất trong đất. Men được vùi trong bột. Hạt lúa chết đi. Người nghèo cho hai đồng tiền nhỏ. Người trộm lành chỉ có một lời cuối cùng. Những điều tưởng như chẳng đáng kể lại mang một giá trị đời đời.
Hỡi linh hồn, đừng để nhịp sống gấp gáp làm con mất khả năng sống cho những điều không đem lại kết quả tức thì. Một giờ cầu nguyện có thể dường như “không hiệu quả”, nhưng nó đang làm linh hồn con có khả năng ở với Chúa. Một hành vi tha thứ có thể không khiến người kia thay đổi ngay, nhưng nó giải phóng trái tim con. Một quyết định từ bỏ tội kín đáo chẳng ai biết nhưng có thể là bước ngoặt của cả đời. Một lời cầu cho người khác có thể con không bao giờ biết kết quả cho đến khi vào cõi đời đời.
Sống hướng về quê trời là học nhìn bằng con mắt của Thiên Chúa thay vì bằng bảng đo của thế gian.
9. HÃY THƯỜNG XUYÊN NHỚ ĐẾN CÙNG ĐÍCH ĐỜI MÌNH
Một trong những thực hành rất đơn sơ mà linh hồn có thể làm là mỗi ngày nhắc mình: “Tôi đang đi về đâu?” Buổi sáng, trước khi bước vào những công việc, hãy dành một phút để nói: “Lạy Chúa, ngày hôm nay là một đoạn đường đưa con về với Chúa. Xin đừng để con sống ngày này như thể nó chỉ là một chuỗi việc phải làm. Xin để mỗi việc trở thành một bước gần Ngài hơn.” Buổi tối, trước khi ngủ, hãy nhìn ngày đã qua và tự hỏi: “Hôm nay tôi đã sống như một người đi về quê trời chưa? Tôi đã bám víu điều gì quá mức? Tôi đã yêu điều gì hơn Chúa? Tôi đã làm gì có thể mang theo vào đời đời?”
Những câu hỏi như thế không nhằm tạo lo âu, nhưng để chỉnh lại hướng. Một người đi đường dài thỉnh thoảng phải nhìn la bàn. Nếu lệch một chút mà sửa sớm, họ vẫn tới nơi. Nếu không bao giờ kiểm tra hướng đi, một sai lệch nhỏ có thể dẫn rất xa.
Hãy nhớ rằng mỗi ngày con sống là một ngày ít hơn trên đường trần thế và một ngày gần hơn với cuộc gặp gỡ Chúa. Đừng để điều ấy làm con sợ. Hãy để nó giúp con sống tỉnh thức. Con không biết mình còn bao nhiêu ngày, nhưng con biết mỗi ngày đều có thể được biến thành tình yêu. Và điều đã trở thành tình yêu thì không mất.
10. HÃY ĐỂ QUÊ TRỜI LÀM CON NHẸ HƠN
Có những gánh nặng ta mang chỉ vì quên rằng mọi thứ rồi sẽ qua. Một lời người khác nói làm ta mất bình an nhiều ngày. Một chuyện nhỏ trong cộng đoàn trở thành nỗi ám ảnh. Một thất bại khiến ta nghĩ mình vô dụng. Một điều không đúng ý làm ta bực bội rất lâu. Hãy đặt nó dưới ánh sáng quê trời. Hãy hỏi: “Điều này có đáng để tôi đánh mất bình an và tình yêu không? Khi đứng trước Chúa, tôi có còn muốn giữ sự giận dữ này không?”
Nhiều điều ta đang nắm rất chặt sẽ tự rơi khỏi tay nếu ta nhớ đến vĩnh cửu. Không phải vì chúng không có ý nghĩa, nhưng vì chúng không có ý nghĩa lớn đến mức ta phải hy sinh linh hồn cho chúng.
Hỡi linh hồn, con hãy tập nói: “Điều này rồi cũng qua.” Khi đau: “Rồi cũng qua.” Khi bị hiểu lầm: “Rồi cũng qua.” Khi thành công: “Rồi cũng qua.” Khi được khen: “Rồi cũng qua.” Khi bị chê: “Rồi cũng qua.” Khi khỏe: “Rồi cũng qua.” Khi bệnh: “Rồi cũng qua.” Nhưng sau tất cả những gì qua đi, Thiên Chúa còn lại. Và nếu con ở trong Ngài, con không mất điều quan trọng nhất.
11. NIỀM HY VỌNG KHÔNG PHẢI LÀ LẠC QUAN RẺ TIỀN
Niềm hy vọng Kitô giáo không phải là tự nói “mọi chuyện sẽ ổn” theo nghĩa mọi sự sẽ diễn ra đúng như ta muốn. Có những chuyện không ổn theo cách con mong. Có những vết thương không được chữa hoàn toàn ở đời này. Có những người không trở lại. Có những mối quan hệ không được phục hồi. Có những bệnh tật không khỏi. Có những ước mơ không thành.
Niềm hy vọng sâu hơn thế. Nó nói: “Dù chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể đưa tôi về với Ngài.” Hy vọng không dựa trên việc đời phải thuận lợi, nhưng dựa trên sự trung tín của Chúa. Vì thế người có hy vọng vẫn có thể khóc. Họ vẫn có thể đau. Họ vẫn có thể không hiểu. Nhưng dưới đáy nỗi đau vẫn còn một nơi không bị phá hủy: “Chúa đang ở đây. Chúa chưa bỏ tôi. Cuộc đời tôi chưa đi ra khỏi tay Ngài.”
Đó là thứ hy vọng giúp các thánh đi qua tù đày, bách hại, bệnh tật, thất bại, những đêm tối nội tâm. Không phải vì họ ít đau hơn chúng ta, nhưng vì họ biết đau khổ không phải chương cuối.
12. SỐNG HIỆP THÔNG VỚI CÁC THÁNH LÀ TẬP SỐNG QUÊ TRỜI TỪ HÔM NAY
Sau khi đã nói về các thánh và thiên thần, chúng ta càng thấy rõ rằng quê trời không phải một nơi hoàn toàn xa lạ. Một phần gia đình chúng ta đã ở đó. Những người đã sống đức tin trước chúng ta, những vị thánh ta yêu mến, Đức Maria, các thiên thần, họ làm cho quê trời trở thành gần gũi hơn.
Mỗi khi kêu cầu một vị thánh, hãy nhớ: con đang nói với một người đã về đích. Họ biết con đường khó thế nào. Họ biết cám dỗ, khô khan, thất bại. Họ không nhìn cuộc chiến của con với sự khinh thường, nhưng với lòng cảm thông của những người từng chiến đấu.
Hãy để đời sống các thánh nhắc con: “Người ấy đã đi qua. Tôi cũng có thể đi qua với ơn Chúa.” Một Thánh Phêrô từng yếu đuối, một Thánh Augustinô từng bị trói buộc, một Thánh Têrêsa Hài Đồng từng sống đời rất nhỏ bé, một Thánh Anphongsô từng trải qua nhiều thử thách, tất cả đang nói rằng thánh thiện không phải dành cho một giống người khác. Đó là ân sủng được trao cho những người biết để Chúa dẫn mình.
13. MỌI GIỌT NƯỚC MẮT ĐỀU ĐƯỢC GHI NHẬN
Có một niềm an ủi rất sâu: trong Thiên Chúa, không có đau khổ nào được dâng với tình yêu mà vô nghĩa. Có những giọt nước mắt chẳng ai biết. Có những đêm con phải thức một mình. Có những nỗi buồn con không thể kể. Có những hy sinh người khác không bao giờ hiểu. Hãy tin rằng Chúa thấy.
Ngài không chỉ thấy hành vi bên ngoài. Ngài thấy cuộc chiến nằm phía sau nó. Người khác có thể chỉ thấy con im lặng, nhưng Chúa biết con đã phải chiến đấu thế nào để không trả đũa. Người khác chỉ thấy con đi lễ như thường ngày, nhưng Chúa biết con đã phải kéo một trái tim nặng nề đến trước bàn thờ. Người khác thấy con tiếp tục làm bổn phận, nhưng Chúa biết con đang mang một nỗi đau lớn.
Quê trời là nơi nhiều điều kín ẩn sẽ được đặt trong ánh sáng. Không phải để con được ca tụng, nhưng để con thấy rằng không giây phút yêu mến nào đã bị mất.
14. MỖI LẦN ĐỨNG DẬY LÀ MỘT BƯỚC VỀ NHÀ
Hỡi linh hồn, có thể con ngã nhiều. Có thể con nhìn lại và thất vọng vì những lỗi cũ cứ trở lại. Nhưng đừng chỉ đếm số lần ngã. Hãy đếm số lần Chúa cho con đứng dậy.
Mỗi lần đứng dậy trong khiêm nhường, con đang tiến về quê trời. Mỗi lần trở lại tòa giải tội, con đang quay mặt về nhà Cha. Mỗi lần sau thất bại con nói “Lạy Chúa, con vẫn tin vào lòng thương xót”, con đang làm một hành vi hy vọng quý giá.
Ma quỷ muốn con nhìn ngã xuống và kết luận “tôi không bao giờ tới nơi.” Chúa muốn con nhìn bàn tay Ngài đang chìa ra và nói “hãy đi tiếp.”
Không phải người không bao giờ bị thương mới về được nhà. Người được cứu là người để Chúa cứu.
15. HÃY YÊU NHƯ NGƯỜI BIẾT MÌNH ĐANG ĐI VỀ VĨNH CỬU
Nếu mọi sự sẽ qua, vậy điều gì còn lại? Tình yêu.
Hãy yêu khi còn thời gian. Hãy nói lời xin lỗi khi còn có thể. Hãy tha thứ trước khi quá muộn. Hãy làm điều tốt mà đừng chờ người khác xứng đáng. Hãy cầu nguyện cho những người con khó chịu. Hãy ôm lấy người con thương khi họ vẫn còn ở bên. Hãy cảm ơn những người đã làm điều tốt cho con.
Một ngày, nhiều cơ hội sẽ không còn nữa. Đừng để đến lúc chỉ còn ký ức mới nhận ra mình đã giữ quá nhiều trong lòng. Người hướng về quê trời không sống hấp tấp, nhưng sống tỉnh thức. Họ biết một cử chỉ yêu hôm nay có thể có giá trị đời đời.
16. HÃY CHIẾN ĐẤU NHƯ NGƯỜI BIẾT CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG THUỘC VỀ CHÚA
Cuộc chiến linh hồn không phải một cuộc chiến ngang sức giữa Thiên Chúa và ma quỷ mà kết quả chưa biết. Đức Kitô đã chiến thắng. Thập giá và Phục Sinh đã đặt nền móng cho chiến thắng cuối cùng.
Điều đó không làm cuộc chiến hôm nay trở nên giả tạo. Ta vẫn có tự do. Ta vẫn có thể sa ngã. Nhưng ta chiến đấu không như người tuyệt vọng cố tạo ra chiến thắng từ con số không. Ta chiến đấu trong chiến thắng của Đức Kitô.
Khi cám dỗ mạnh, hãy nhớ: nó không vĩnh cửu. Khi đam mê nổi lên, hãy nhớ: nó không có quyền cuối cùng trên con nếu con ở lại với Chúa. Khi con thất bại, hãy nhớ: lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi. Khi con gặp sự chết, hãy nhớ: Đức Kitô đã đi qua đó và biến nó thành con đường.
17. QUÊ TRỜI BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG LỰA CHỌN HÔM NAY
Đời đời không hoàn toàn tách khỏi hôm nay. Mỗi hành vi yêu là một chút quê trời đi vào trần gian. Mỗi lần tha thứ là một mảnh của Nước Chúa. Mỗi lần Chúa được đặt lên trên cái tôi là một bước trong sự sống đời đời.
Chúa Giêsu nói sự sống đời đời là nhận biết Cha và Đấng Cha sai đến. Như vậy, sự sống đời đời không chỉ bắt đầu sau cái chết. Nó bắt đầu khi ta sống trong tương quan với Thiên Chúa.
Khi con ở lại với Chúa trong cầu nguyện, quê trời đã chạm vào ngày của con. Khi con sống hiệp thông chân thật, quê trời đã lóe lên trong cộng đoàn. Khi con tha thứ, quê trời trở nên hữu hình. Khi con yêu người nghèo, quê trời đến gần. Khi con rước Thánh Thể, Đấng con sẽ gặp trong vinh quang đã đến ở trong con dưới hình bánh.
18. ĐỪNG SỢ CON ĐƯỜNG DÀI – CHỈ CẦN ĐI HÔM NAY
Khi nghĩ đến quê trời, ta có thể thấy con đường còn xa và cuộc chiến còn dài. Nhưng Chúa không đòi con chiến đấu cả đời trong một ngày. Ngài chỉ trao ngày hôm nay.
Con không cần biết mình sẽ chịu đựng được thử thách của năm sau hay không. Con chỉ cần xin ơn cho hôm nay. Không cần biết mình sẽ ra sao trong giờ chết. Hãy sống giây phút hiện tại trong ân sủng, rồi khi giờ ấy đến, ơn của giờ ấy sẽ được ban.
Người lữ hành về quê trời không cần nhìn toàn bộ con đường. Chỉ cần thấy bước kế tiếp.
19. MẮT CHƯA HỀ THẤY
Thánh Phaolô nói: “Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới, điều mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Người.” Có lẽ chúng ta quá quen câu này nên không còn rung động trước sức nặng của nó.
Điều Chúa chuẩn bị còn lớn hơn mọi hình ảnh đẹp nhất con có thể tưởng tượng. Những khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời chỉ là một dấu chỉ rất nhỏ. Những phút cầu nguyện sốt sắng nhất chỉ là một giọt. Những tình yêu đẹp nhất con từng biết chỉ là phản chiếu.
Nếu những điều tạm thời Chúa ban đã có thể làm trái tim con xúc động đến thế, thì điều gì sẽ xảy ra khi con gặp chính Nguồn của mọi vẻ đẹp?
Hỡi linh hồn, có những ngày con phải sống bằng lời hứa ấy. Khi không còn cảm thấy gì. Khi sứ vụ thất bại. Khi sức khỏe yếu. Khi người khác không hiểu. Khi tương lai mờ mịt. Hãy cất lời trong lòng: “Có điều Chúa đang chuẩn bị mà mắt tôi chưa thấy.”
Đó không phải là mơ mộng. Đó là đức tin.
20. LỜI KẾT – HÃY NÂNG MẮT LÊN
Hỡi linh hồn, hãy nâng mắt lên. Đừng để bụi đường làm con quên bầu trời. Đừng để một ngày khó khăn khiến con nghĩ cả hành trình vô nghĩa. Đừng để một lần sa ngã làm con quên Đấng đang chờ con ở cuối đường. Đừng để một người không hiểu con làm con quên rằng Chúa hiểu. Đừng để một mất mát làm con quên rằng điều quan trọng nhất chưa bị lấy đi.
Con đang đi về nhà.
Có thể hôm nay con mệt. Hãy đi chậm. Nhưng đừng quay lại. Có thể con bị thương. Hãy để Chúa băng bó. Nhưng đừng bỏ cuộc. Có thể con ngã. Hãy nắm tay Ngài mà đứng dậy. Có thể con không còn thấy đường. Hãy đi bằng đức tin.
Một ngày, mọi cuộc chiến sẽ kết thúc. Một ngày, con sẽ không còn phải nói “Lạy Chúa, con tin dù con chưa thấy.” Con sẽ thấy. Một ngày, con sẽ không còn phải xin “xin ở lại với con.” Con sẽ ở với Ngài mãi mãi. Một ngày, con sẽ không còn phải chống lại tội lỗi. Trái tim con sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa. Một ngày, con sẽ không còn đứng trước Nhà Tạm với khoảng cách của đức tin. Con sẽ đứng trước mặt Ngài.
Một ngày, những người con đã khóc thương trong Chúa sẽ không còn xa. Một ngày, Đức Maria mà con đã gọi “Mẹ ơi” trong bao đêm tối sẽ hiện diện như Người Mẹ đón con về. Một ngày, các thánh mà con từng xin cầu thay sẽ là anh chị em chung quanh con. Một ngày, thiên thần hộ thủ đã đồng hành với con suốt cuộc lữ hành sẽ hoàn tất sứ mạng của mình.
Một ngày, Chúa sẽ lau nước mắt.
Vì thế, hôm nay hãy chiến đấu thêm một chút. Hãy tha thứ thêm một lần. Hãy cầu nguyện thêm một chút. Hãy kiên nhẫn thêm một chút. Hãy tin thêm một chút. Hãy yêu thêm một chút.
Đừng coi thường một bước nhỏ hướng về Chúa. Những bước nhỏ, đi đủ lâu, sẽ đưa con về nhà.
Nếu hôm nay con thấy cuộc chiến quá nặng, hãy nói: “Lạy Chúa, con không cần thắng cả cuộc đời hôm nay. Con chỉ xin trung thành trong giây phút này.”
Nếu hôm nay con thấy mình thất bại, hãy nói: “Lạy Chúa, con lại bắt đầu.”
Nếu hôm nay con đau, hãy nói: “Lạy Chúa, xin dùng đau khổ này để kéo con gần Ngài hơn.”
Nếu hôm nay con hạnh phúc, hãy nói: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa. Xin cho niềm vui này nhắc con về niềm vui lớn hơn đang chờ.”
Và nếu một ngày con đứng trước ngưỡng cửa cuối cùng, hãy nhớ rằng cả cuộc đời con đã là một cuộc chuẩn bị cho giây phút ấy. Hãy phó mình trong tay Chúa như đứa trẻ trở về tay Cha.
Hỡi linh hồn, đừng sợ.
Con đường có thể dài, nhưng quê nhà là thật. Cuộc chiến có thể gay gắt, nhưng chiến thắng của Đức Kitô còn thật hơn. Những giọt nước mắt của con là thật, nhưng niềm vui Chúa hứa cũng thật. Sự yếu đuối của con là thật, nhưng lòng thương xót của Chúa lớn hơn.
Hãy bước đi.
Hãy chiến đấu.
Hãy yêu.
Hãy hy vọng.
Và trong mọi sự, hãy giữ đôi mắt của linh hồn hướng về quê trời.
Bởi vì cuối cùng, điều con đang tìm kiếm không phải chỉ là chiến thắng một đam mê, không phải chỉ là trở thành một người tốt hơn, cũng không phải chỉ là có được sự bình an trong đời này.
Điều con đang tìm kiếm là Thiên Chúa.
Và Đấng con đang tìm cũng chính là Đấng đang đi tìm con.
Ngài đang chờ con ở cuối con đường.
Ngài đang nâng con trong từng bước.
Ngài đang tha thứ khi con ngã.
Ngài đang nuôi con bằng Thánh Thể.
Ngài đang dẫn con qua những điều con không hiểu.
Ngài đang dùng cả những vết thương để thanh luyện trái tim.
Ngài đang biến từng ngày của con thành con đường trở về.
Và đến một ngày, khi cuộc chiến đã hoàn tất, khi đức tin trở thành thị kiến, khi hy vọng trở thành chiếm hữu, chỉ còn tình yêu ở lại, con sẽ hiểu rằng không một hy sinh nào vì Chúa là uổng phí, không một giọt nước mắt nào được dâng trong tình yêu là vô nghĩa, không một lần đứng dậy nào là nhỏ bé, không một hành vi trung thành nào đã mất đi.
Lúc ấy, con sẽ không còn hỏi tại sao đường dài.
Con sẽ chỉ biết rằng Chúa đã trung tín.
Và có lẽ trong ánh sáng của Ngài, khi nhìn lại cả cuộc đời với tất cả những đoạn quanh co, những lần vấp ngã, những ngày vui, những đêm tối, những lần tưởng như không thể đi tiếp, con sẽ chỉ còn một lời:
“Lạy Chúa, mọi sự đều là ân sủng.”
Và con sẽ bước vào niềm vui của Chủ mình.
“Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới, điều mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Người.” (1 Cr 2,9)
Hỡi linh hồn, hãy để lời hứa ấy ở trong tim con. Khi cuộc chiến gay gắt, hãy nhớ lời ấy. Khi đêm tối, hãy nhớ lời ấy. Khi con mệt, hãy nhớ lời ấy. Khi con thấy mình quá yếu đuối, hãy nhớ lời ấy.
Quê trời đang ở phía trước.
Và Thiên Chúa đang ở đó.
Hãy đi về với Ngài.
CHƯƠNG 48
SỐNG TRONG LỜI CA TỤNG VÀ TẠ ƠN NHƯ HOA TRÁI CHÍN MUỒI CỦA CUỘC CHIẾN
Hỡi linh hồn đang hướng về quê trời, sau một hành trình dài của cuộc chiến nội tâm, sau biết bao lần phải nhìn lại chính mình, phải nhận ra những đam mê đang ẩn núp, phải tập bất tín nhiệm vào sức riêng, phải học tín thác vào Thiên Chúa, phải canh giữ tâm trí, thanh luyện ý muốn, chế ngự giác quan, chống lại tự ái, nóng giận, buồn chán, lười biếng, bất khiết, tham vọng, kiêu căng và bao nhiêu khuynh hướng khác của con người cũ; sau biết bao lần ngã xuống rồi đứng lên, bao lần tưởng mình đã mạnh nhưng rồi lại khám phá mình yếu đuối, bao lần tưởng mình đã hiểu đường thiêng liêng nhưng rồi Chúa lại đưa vào một vùng tối hơn để dạy con biết sống bằng đức tin; sau tất cả những chặng đường ấy, có một hoa trái phải dần dần xuất hiện trong lòng con nếu cuộc chiến thật sự đang đưa con đến gần Thiên Chúa: đó là lời ca tụng và lòng tạ ơn. Nếu càng chiến đấu lâu mà lòng con càng cay đắng, càng khép kín, càng bất mãn, càng thích phàn nàn, càng dễ nhìn đời bằng ánh mắt tiêu cực, thì có lẽ con vẫn chưa hiểu sâu mục đích của cuộc chiến. Nếu càng cầu nguyện nhiều mà con càng khó vui với những điều Chúa làm, càng giữ đạo mà con càng dễ trách móc người khác, càng cố gắng nên hoàn thiện mà con càng nặng nề, thì con cần dừng lại và hỏi: tôi đang chiến đấu để yêu Chúa hơn, hay chỉ đang chiến đấu để xây dựng một hình ảnh hoàn hảo về chính mình? Bởi vì cuộc chiến linh hồn chân thật không làm cho con trở thành một con người căng thẳng trước Thiên Chúa, nhưng dần dần làm cho con trở thành một linh hồn có khả năng thốt lên từ đáy lòng: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa. Lạy Chúa, con chúc tụng Chúa. Lạy Chúa, mọi sự đều thuộc về Chúa. Xin vinh quang thuộc về Chúa.” Đây không phải là một tâm tình phụ thuộc, cũng không phải là một chút trang trí đạo đức được thêm vào sau khi con đã chiến thắng các đam mê. Đây chính là một trong những dấu chỉ sâu xa nhất cho thấy cái tôi đang mất dần vị trí trung tâm và Thiên Chúa đang thật sự trở thành trung tâm của linh hồn. Bao lâu con còn sống quanh chính mình, con sẽ luôn có nhiều lý do để bất mãn, bởi vì đời sống hiếm khi diễn ra đúng như con mong muốn. Nhưng khi Chúa trở thành trung tâm, con bắt đầu có một lý do lớn hơn mọi hoàn cảnh để tạ ơn: Chúa vẫn là Chúa. Chúa vẫn yêu con. Chúa vẫn trung tín. Chúa vẫn đang dẫn dắt con. Chúa vẫn đang cứu độ con. Và như thế, chính cuộc chiến dần dần biến thành một bài ca.
1. CA TỤNG VÀ TẠ ƠN KHÔNG PHẢI LÀ PHỤ HỌA THÊM VÀO CUỘC CHIẾN
Nhiều linh hồn nghĩ rằng ca tụng là việc dành cho những lúc vui, còn chiến đấu là việc dành cho những lúc khó khăn. Khi bình an, họ hát; khi gặp thử thách, họ im lặng. Khi lời cầu xin được nhận, họ tạ ơn; khi Chúa chưa đáp theo điều họ muốn, họ bắt đầu nghi ngờ. Khi công việc thuận lợi, họ bảo Chúa tốt lành; khi thất bại, họ khó nhận ra sự tốt lành ấy. Cách sống như vậy rất tự nhiên đối với con người, nhưng nó chưa phải là chiều sâu của đời sống đức tin. Một lời tạ ơn chỉ có thể cất lên khi mọi sự thuận lợi thì vẫn còn gắn chặt với những gì Chúa ban hơn là với chính Chúa. Một lời ca tụng chỉ xuất hiện khi lòng đầy an ủi thì vẫn còn tùy thuộc vào cảm xúc. Chúa muốn dẫn linh hồn đi xa hơn. Có những giai đoạn Ngài để cho con vẫn cầu nguyện mà không cảm được gì, vẫn làm việc lành mà không thấy kết quả, vẫn cố gắng sửa mình mà cứ gặp lại những yếu đuối cũ, vẫn trung thành nhưng không được người khác hiểu, vẫn hy sinh mà dường như chẳng ai nhận ra. Chính tại đó, Chúa đang hỏi con một câu hỏi rất sâu: con yêu những ơn của Ta, hay con yêu chính Ta? Con ca tụng Ta vì Ta làm điều con thích, hay vì Ta thật sự xứng đáng được ca tụng? Đây là nơi lời ca tụng được thanh luyện. Đây là nơi lòng biết ơn thôi còn là một phản ứng cảm xúc để trở thành hành vi của đức tin. Ca tụng khi vui thì dễ. Ca tụng khi đau mới cho thấy linh hồn đã bắt đầu tự do khỏi chính mình. Tạ ơn khi được cho thì tự nhiên. Tạ ơn khi bị lấy đi, khi phải chờ đợi, khi một kế hoạch tan vỡ, khi một cánh cửa đóng lại, khi một người rời đi, khi sức khỏe suy giảm, khi khả năng của mình bị giới hạn, khi tiếng tốt bị tổn thương, khi phải bước vào những điều mình không chọn, đó là một hành vi thờ phượng rất sâu. Không phải vì đau khổ tự nó là điều tốt, không phải vì linh hồn phải giả vờ rằng nó không đau, nhưng vì giữa điều không hiểu nổi ấy, linh hồn vẫn tuyên xưng: “Chúa vẫn là Cha. Chúa không thay đổi. Con chưa hiểu, nhưng con tin. Con đang đau, nhưng con không ngừng chúc tụng Chúa.” Có những lời ca tụng Chúa nhận được trong ngày vui có thể rất đẹp, nhưng có những lời ca tụng phát ra từ một trái tim đang tan vỡ lại vô cùng quý giá. Khi một người đang đau mà vẫn nói: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa”, thì đó không còn chỉ là lời nói; đó là chính đời sống được đặt lên bàn thờ. Khi một linh hồn vừa thất bại mà vẫn quỳ xuống tạ ơn vì được Chúa cho thấy sự nghèo khó của mình, khi một người bị hiểu lầm mà vẫn tạ ơn vì có cơ hội được nên giống Đức Kitô thinh lặng trước những lời cáo buộc, khi một người bị từ chối mà vẫn tin rằng Chúa có thể sử dụng sự từ chối ấy để mở một lối khác, thì ngay trong chính nơi đau đớn ấy, cuộc chiến đã bắt đầu sinh trái.
Lời ca tụng trong thử thách cũng là một vũ khí. Ma quỷ rất thích làm cho linh hồn chỉ nhìn thấy điều đang thiếu, điều đang hỏng, điều người khác làm sai, điều mình chưa đạt tới. Nó muốn thu hẹp cái nhìn của con đến mức con quên tất cả những gì Chúa đã làm, quên những ơn đã nhận, quên bao lần được cứu thoát, quên bao lần Chúa tha thứ, quên cả việc hôm nay con còn sống, còn có thể cầu nguyện, còn có thể trở về, còn có thể yêu. Một linh hồn không biết tạ ơn rất dễ trở thành con mồi của buồn chán và thất vọng, bởi vì nó chỉ thấy những chỗ tối mà quên mất bầu trời rộng lớn của ân sủng. Ngược lại, khi con bắt đầu tạ ơn, con không phủ nhận khó khăn, nhưng con đặt khó khăn ấy vào một bức tranh lớn hơn. Con nói với tâm hồn mình: “Đúng, tôi đang khổ. Nhưng Chúa đã không bỏ tôi. Đúng, tôi đang yếu. Nhưng lòng thương xót của Chúa vẫn còn. Đúng, có điều tôi chưa hiểu. Nhưng trước đây Chúa cũng đã dẫn tôi qua bao điều tôi từng không hiểu.” Lời tạ ơn như thế làm cho linh hồn đứng lại trên nền đá của ký ức về lòng trung tín Thiên Chúa. Người biết nhớ ơn Chúa sẽ ít bị hoảng loạn khi gặp một biến cố mới. Người nhớ mình đã được cứu bao lần sẽ có sức để chờ đợi thêm một lần nữa. Bởi vậy, trong cuộc chiến linh hồn, sự biết ơn không phải là tình cảm dễ thương dành cho những tâm hồn nhạy cảm. Nó là một kỷ luật thiêng liêng. Nó là một cách giữ cho tâm trí không bị bóng tối thống trị. Nó là một cách nhắc cho mình rằng sự dữ không bao giờ có tiếng nói cuối cùng, rằng thất bại hôm nay chưa phải là bản án chung cuộc, rằng Chúa có thể làm nảy sinh điều lành ngay từ những nơi khô cằn nhất.
2. LỜI CA TỤNG BIẾN ĐỔI CÁCH CHÚNG TA SỐNG CUỘC CHIẾN
Khi linh hồn tập sống trong tâm tình ca tụng, hoàn cảnh bên ngoài có thể chưa đổi nhưng cách linh hồn đứng trước hoàn cảnh sẽ đổi. Và đôi khi đó là phép lạ lớn nhất. Chúng ta thường xin Chúa thay đổi sự việc; Chúa lại muốn trước hết thay đổi trái tim đang đứng trước sự việc ấy. Một người không có tâm tình tạ ơn gặp khó khăn sẽ hỏi: “Tại sao chuyện này lại xảy ra cho tôi?” Một linh hồn đã được huấn luyện trong lòng biết ơn có thể vẫn đau, vẫn bối rối, nhưng sẽ dần dần hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn làm gì trong con qua điều này? Con có thể yêu Chúa thế nào ở đây? Con có thể dâng điều này như thế nào?” Chỉ một sự thay đổi trong câu hỏi cũng có thể thay đổi cả cách sống. Khi ấy, những khó khăn không còn chỉ là vật cản trên đường, nhưng có thể trở thành vật liệu cho sự thánh thiện. Một sự trái ý có thể trở thành nơi tập từ bỏ ý riêng. Một sự chậm trễ có thể trở thành trường học của kiên nhẫn. Một lời phê bình có thể làm lộ ra tự ái để con biết mình còn phải thanh luyện. Một lần thất bại có thể giải phóng con khỏi ảo tưởng rằng con mạnh. Một cơn khô khan có thể giúp đức tin thôi lệ thuộc vào cảm giác. Một người khó chịu có thể trở thành dụng cụ Chúa dùng để mài nhẵn những góc cạnh trong con. Đời sống không vì thế mà mất đau đớn, nhưng đau đớn không còn vô nghĩa. Và một khi đau khổ có thể được dâng lên, nó không còn quyền thống trị linh hồn như trước nữa.
Những thất bại của con cũng thay đổi ý nghĩa trong một trái tim biết tạ ơn. Trước đây, sau mỗi lần sa ngã, con chỉ thấy xấu hổ, bực mình với chính mình, mất bình an vì hình ảnh tốt đẹp về bản thân đã bị phá vỡ. Con nghĩ mình đau vì làm mất lòng Chúa, nhưng đôi khi sâu bên dưới, con đau nhiều hơn vì phát hiện mình không tốt như mình tưởng. Đó là vết thương của tự ái mặc áo đạo đức. Nhưng khi lòng tạ ơn lớn lên, con có thể đứng trước sự yếu đuối của mình với một thái độ khác: “Lạy Chúa, con ghét tội vì tội làm tổn thương tình yêu. Nhưng con cũng tạ ơn Chúa vì hôm nay Chúa cho con thấy rõ hơn con cần Chúa đến mức nào. Con tạ ơn Chúa vì con chưa bị bỏ mặc trong ảo tưởng. Con tạ ơn Chúa vì sau khi con ngã, cửa lòng thương xót vẫn mở. Con tạ ơn Chúa vì con có thể bắt đầu lại.” Đây là một thái độ vừa khiêm nhường vừa mạnh mẽ. Nó không dung túng cho tội, nhưng cũng không để tội cướp mất niềm hy vọng. Nó không gọi thất bại là điều tốt, nhưng nhận ra rằng ngay cả từ thất bại, Chúa có thể lấy ra một bài học về khiêm nhường, một kinh nghiệm về lòng thương xót, một sự dịu dàng mới đối với những người yếu đuối.
Rồi cả những bổn phận rất nhỏ cũng thay đổi dưới ánh sáng của ca tụng. Một công việc lặp đi lặp lại, một giờ trực, một căn phòng cần dọn, một lá thư phải trả lời, một cuộc gặp gỡ không có gì đặc biệt, một bữa ăn chuẩn bị cho người khác, một lần nhường nhịn, một lúc kiên nhẫn lắng nghe, một việc chẳng ai thấy, tất cả có thể trở thành lời chúc tụng nếu được làm vì Chúa. Linh hồn dần dần hiểu rằng không phải chỉ những điều “thiêng liêng” mới có thể ca tụng Thiên Chúa. Chính cách con làm những điều bình thường mới bộc lộ liệu con có thuộc về Chúa không. Có người hát rất lớn trong nhà thờ nhưng lại than phiền suốt ngày. Có người nói những lời tạ ơn rất đẹp trong giờ cầu nguyện nhưng lại khó chịu với bất cứ điều gì trái ý. Đời sống ca tụng đích thực phải đi từ môi xuống trái tim rồi từ trái tim đi vào cách sống. Khi con làm một việc âm thầm vì yêu mến Chúa, đó là lời ca tụng không tiếng. Khi con kiềm lại một lời nóng giận vì muốn giữ lòng người khác khỏi tổn thương, đó là một bài thánh ca không âm nhạc. Khi con nhận một việc không thích mà không than van, chỉ thầm nói: “Vì Chúa”, đó là một lễ vật. Khi con vui mừng vì thành công của người khác mà không ghen tị, đó là lời tôn vinh Chúa đang cất lên trong chính cái chết của cái tôi. Khi con để người khác được nhìn thấy còn mình ở trong bóng tối, mà lòng vẫn bình an, đó là một thứ Alleluia rất sâu.
Và từ đây con bắt đầu hiểu câu nói: cả đời sống có thể trở thành một Thánh Lễ kéo dài. Thánh Lễ là tạ ơn. Eucharistia chính là tạ ơn. Khi con sống kết hợp với hy lễ của Đức Kitô, những giờ trong ngày không còn là những mảnh vụn rời rạc nhưng có thể được gom lại thành của lễ. Buổi sáng con dâng ngày sống. Ban ngày con đón nhận những điều đến với con. Có điều dễ, có điều khó; có người dễ thương, có người làm con mệt; có thành công, có thất bại; có hứng khởi, có khô khan. Nhưng nếu mỗi điều đều được đưa về bàn thờ nội tâm và đặt trong tay Chúa Giêsu, đời con dần dần trở thành một chuyển động duy nhất của hiến dâng và tạ ơn. Khi ấy, con không chỉ “đi lễ”; đời sống của con bắt đầu mang hình thức của Thánh Lễ. Con được trao ban. Con bị bẻ ra trong phục vụ. Con học nói lời chúc tụng trên chính những điều mình phải mất. Con để Chúa dùng đời mình như tấm bánh đơn sơ cho người khác. Và như Đức Kitô đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, linh hồn cũng dần dần học một nhịp sống: nhận mọi sự từ Chúa, tạ ơn Chúa, rồi trao chính mình đi.
Thánh Phaolô nói: “Trong mọi hoàn cảnh, anh em hãy tạ ơn.” Không phải là tạ ơn vì mọi sự như thể tất cả điều xảy ra đều tự nó tốt đẹp; nhưng là tạ ơn trong mọi sự, bởi vì không một hoàn cảnh nào có thể tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Có những điều xấu vẫn là xấu. Có những mất mát vẫn làm ta khóc. Có những bất công cần phải sửa. Có những vết thương cần thời gian chữa lành. Đức tin không biến chúng ta thành người giả vờ rằng đau khổ không đau. Chính Chúa Giêsu đã khóc. Chính Ngài đã buồn sầu đến chết được. Nhưng ngay trong cuộc Thương Khó, Ngài vẫn đặt mình vào tay Chúa Cha. Đó là cội nguồn sâu xa của lời tạ ơn Kitô giáo: không phải vì cuộc đời không có Thập Giá, mà vì Thập Giá không nằm ngoài bàn tay của Chúa Cha; không phải vì mọi điều đã sáng tỏ, mà vì người Kitô hữu biết Đấng đang nắm giữ bóng tối.
3. CÁCH NUÔI DƯỠNG ĐỜI SỐNG CA TỤNG VÀ TẠ ƠN
Một trái tim biết ơn không tự nhiên xuất hiện chỉ vì chúng ta đã đọc nhiều sách thiêng liêng. Nó phải được luyện tập. Nếu cả đời con đã quen nhìn vào điều thiếu, con sẽ không đột nhiên trở thành một linh hồn tạ ơn chỉ vì con quyết định như thế một lần. Cũng như các nhân đức khác, lòng biết ơn cần những hành vi nhỏ được lặp lại cho đến khi thành một khuynh hướng mới của tâm hồn. Trước hết, trong cầu nguyện, đừng để mọi lần gặp Chúa chỉ trở thành một danh sách những điều cần xin. Nhiều người cầu nguyện rất nhiều nhưng phần lớn lời cầu nguyện của họ xoay quanh một câu: “Lạy Chúa, xin cho con cái này; xin giải quyết chuyện kia; xin thay đổi người nọ; xin lấy khỏi con điều này; xin cho công việc kia thành công.” Xin là chính đáng. Chúa muốn chúng ta xin. Nhưng nếu mối tương quan với Chúa chỉ còn là xin, lòng đạo sẽ dần dần trở thành vụ lợi mà chính ta không nhận ra. Có những giờ cầu nguyện con cần đứng trước Chúa mà không xin gì cả. Chỉ nhìn Ngài. Chỉ thờ lạy Ngài. Chỉ nói: “Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con. Chúa thánh thiện. Chúa nhân hậu. Chúa trung tín. Chúa đẹp đẽ hơn mọi sự con từng yêu. Cho dù hôm nay con chẳng nhận được điều gì mới, chính Chúa đã đủ là lý do cho con chúc tụng.” Khi làm như vậy, linh hồn được đưa ra khỏi cái vòng quanh quẩn của những nhu cầu cá nhân để bước vào sự tự do của thờ phượng.
Con cũng hãy tạ ơn về những điều cụ thể. Đừng chỉ nói chung chung: “Con cảm ơn Chúa vì mọi ơn lành.” Hãy gọi tên những ơn ấy. Cảm ơn vì một ngày mới. Cảm ơn vì người nào đó đã hiện diện. Cảm ơn vì bữa ăn. Cảm ơn vì một cuộc trò chuyện. Cảm ơn vì đã được tha thứ. Cảm ơn vì một lần con nhận ra cơn nóng giận trước khi nó bùng lên. Cảm ơn vì con đã có sức để im lặng trong một tình huống trước đây con sẽ phản ứng. Cảm ơn vì một đoạn Lời Chúa chạm đến tâm hồn. Cảm ơn vì một lời khuyên đúng lúc. Cảm ơn vì một cơn đau khiến con nhớ mình không bất tử. Cảm ơn vì một giới hạn giữ con khỏi kiêu căng. Cảm ơn vì có người nói thật với con. Cảm ơn vì một cánh cửa đóng lại nếu nhờ đó con được giải thoát khỏi một con đường không thuộc về mình. Khi tập gọi tên các ơn, con sẽ ngạc nhiên vì thấy đời mình phong phú hơn nhiều so với điều con tưởng. Không phải Chúa ban ít; đôi khi chỉ vì ta nhận ra quá ít.
Trong ngày sống, con có thể gieo những lời tạ ơn ngắn như gieo hạt. “Tạ ơn Chúa.” “Chúc tụng Chúa.” “Vinh danh Chúa.” “Lạy Chúa, mọi sự là hồng ân.” Đừng coi thường những lời nguyện cực ngắn ấy. Nếu được nói với ý thức, chúng có thể thay đổi khí hậu nội tâm của cả ngày sống. Khi vừa thức dậy: “Tạ ơn Chúa vì con còn được sống ngày này.” Khi bắt đầu công việc: “Lạy Chúa, xin nhận việc này như lời ca tụng của con.” Khi được ai giúp: “Tạ ơn Chúa đã yêu con qua người này.” Khi thoát một nguy hiểm: “Tạ ơn Chúa.” Khi nhận một tin vui: “Vinh danh Chúa.” Khi gặp một trái ý: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con tạ ơn vì Chúa đang ở đây.” Khi thấy mình yếu: “Tạ ơn Chúa vì con cần Chúa.” Khi đi ngủ: “Tạ ơn Chúa vì một ngày đã qua.” Những lời nhỏ ấy giống như những nhịp chuông giữ cho linh hồn khỏi quên Chúa giữa ồn ào.
Đặc biệt, hãy tập tạ ơn trong những lúc khó. Không phải bằng cách cưỡng ép cảm xúc, cũng không phải bằng sự tự thôi miên rằng mọi chuyện đều ổn. Con có thể nói rất thành thật: “Lạy Chúa, con đang đau. Con không thích điều này. Con chưa hiểu tại sao Chúa cho phép nó xảy ra. Nhưng con không muốn dùng nỗi đau như lý do để xa Chúa. Vì thế, ngay trong nước mắt, con tạ ơn Chúa vì Chúa vẫn là Chúa của con. Con tin rằng điều con chưa hiểu hôm nay không nằm ngoài lòng thương xót của Chúa.” Có khi lời ấy phải nói trong nước mắt. Có khi nói xong lòng vẫn chưa nhẹ. Không sao. Tạ ơn là hành vi của ý chí trước khi trở thành cảm xúc. Đừng chờ cho lòng mình muốn tạ ơn rồi mới tạ ơn. Nhiều khi chính việc tạ ơn bằng đức tin sẽ từ từ dạy trái tim cảm được điều miệng đã tuyên xưng.
Phụng vụ của Hội Thánh là trường học lớn của lời ca tụng. Khi tham dự Thánh Lễ, con không chỉ đến để “nhận một điều gì”. Con gia nhập vào lời tạ ơn của Đức Kitô dâng lên Chúa Cha. Toàn thể Thánh Lễ là hành động chúc tụng, tạ ơn, tưởng niệm và hiến dâng. Nếu con ý thức điều ấy, con có thể đem cả tuần sống, cả niềm vui, nỗi buồn, lỗi lầm, cố gắng, hy sinh, thất vọng, những người con đang yêu, những người con đang khó chịu, những dự định chưa thành, những giấc mơ đã vỡ, tất cả đặt lên bàn thờ. Không gì phải bị loại ra khỏi Thánh Lễ của đời con. Những gì đẹp, con dâng với lòng biết ơn. Những gì đau, con dâng với đức tin. Những gì tội lỗi, con dâng trong thống hối. Những gì chưa hoàn thành, con dâng trong phó thác. Khi linh mục đọc lời nguyện tạ ơn, con hãy nhớ rằng chính con cũng đang được mời gọi trở thành con người của tạ ơn. Các giờ kinh phụng vụ cũng vậy. Hội Thánh dạy linh hồn ca tụng khi bình minh tới, tạ ơn khi ngày kết thúc, và giữa tất cả biến động của thế giới, vẫn để lời Thánh Vịnh cất lên. Khi con cầu nguyện với Hội Thánh, con không còn ca tụng một mình. Con đang đứng giữa hàng ngũ những người tin qua mọi thế hệ, giữa các thánh, các thiên thần, giữa cả tạo thành đang hướng về Đấng Tạo Hóa. Nhiều lúc con không có lời để nói; Hội Thánh cho con lời. Nhiều lúc tâm hồn con lạnh; Hội Thánh cho con mượn ngọn lửa của lời cầu nguyện chung.
Một thực hành khác rất hữu ích là xét mình trong ánh sáng tạ ơn. Nhiều linh hồn chỉ xét mình để tìm lỗi. Họ kết thúc ngày với một danh sách thất bại và vì thế càng ngày càng nặng nề. Xét mình Kitô giáo phải có cả ánh sáng của lòng thương xót và tạ ơn. Trước khi hỏi: “Hôm nay tôi đã sai điều gì?”, hãy hỏi: “Hôm nay Chúa đã làm gì cho tôi? Chúa đã đi qua đời tôi ở đâu? Tôi đã nhận được những ơn nào mà có thể tôi chưa nhìn thấy?” Rồi sau đó mới nhìn lại những lỗi lầm. Khi nhìn lỗi dưới ánh sáng lòng biết ơn, linh hồn không còn rơi vào tự kết án. Nó nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn vì ánh sáng Chúa cho con thấy điều này. Con xin lỗi Chúa. Con sẽ bắt đầu lại.” Như thế, ngay cả việc xét mình cũng trở thành một lời chúc tụng lòng thương xót.
4. LỜI CA TỤNG VÀ SỰ KHIÊM NHƯỜNG
Không thể có lời ca tụng chân thật nếu thiếu khiêm nhường, bởi vì ca tụng là trao vinh quang về cho Đấng xứng đáng. Người kiêu ngạo muốn mình được nhìn thấy, được ghi nhận, được công nhận, được khen ngợi. Ngay cả khi làm điều tốt, cái tôi vẫn âm thầm hỏi: “Người khác có biết không? Họ có đánh giá cao tôi không? Tôi có được coi trọng không?” Người ấy có thể nói lời “tạ ơn Chúa”, nhưng bên trong vẫn muốn giữ lại một phần vinh quang. Trái lại, người khiêm nhường dần dần khám phá niềm vui rất lạ: vui khi Chúa được tôn vinh mà không cần mình được nhắc tên. Người ấy có thể làm một việc tốt mà người khác được khen, và vẫn vui. Có thể góp phần vào một thành công nhưng không ai biết, và vẫn bình an. Có thể cầu nguyện cho một người rồi người ấy nhận ơn mà không hề biết ai đã cầu cho mình, và người khiêm nhường vẫn thấy đủ, bởi vì điều họ muốn là Chúa được yêu hơn, không phải mình được biết đến hơn.
Đây là một bước rất lớn trong cuộc chiến với cái tôi. Ban đầu, ta muốn làm điều tốt. Sau đó, ta muốn người khác biết mình làm điều tốt. Rồi khi tiến thêm, ta muốn điều tốt được làm dù không ai biết. Sau cùng, linh hồn có thể vui khi điều tốt ấy được thực hiện bởi một người khác thay vì bởi mình, miễn là Chúa được tôn vinh. Đó là một sự tự do rất sâu. Con hãy để ý: nhiều nỗi buồn của chúng ta không đến từ việc điều tốt không xảy ra, mà đến từ việc điều tốt xảy ra nhưng không qua chúng ta. Chúng ta muốn Nước Chúa được xây dựng, nhưng đôi khi lại muốn mình phải là một viên đá nổi bật trong công trình ấy. Khi người khác được chọn, được khen, được thành công, một điều gì đó trong ta đau. Chính nơi ấy, lời ca tụng có thể trở thành thuốc chữa. Hãy tập nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì Chúa đang làm điều tốt qua người ấy. Xin cho họ được lớn lên, miễn là danh Chúa được cả sáng.” Nếu nói thật lòng được như vậy, một xiềng xích của cái tôi đã bị bẻ gãy.
Người khiêm nhường cũng dễ tạ ơn vì họ biết mình không đương nhiên có quyền trên bất cứ ơn nào. Người tự mãn coi nhiều điều là đương nhiên nên ít biết ơn. Họ thức dậy và nghĩ rằng mình tất nhiên phải còn sức khỏe. Họ có người yêu thương và coi đó là chuyện thường. Họ được tha thứ và nhanh chóng quên. Họ có khả năng làm việc và nghĩ đó hoàn toàn là của mình. Nhưng khi một người ý thức rằng tất cả đều là hồng ân, từng ngày sống trở nên đáng tạ ơn. Một hơi thở là quà. Một cơ hội trở về là quà. Một Thánh Lễ là quà. Một người bạn là quà. Một lời cảnh tỉnh là quà. Một lần được làm lại là quà. Chính khiêm nhường mở mắt cho lòng biết ơn. Vì vậy, nếu con muốn ca tụng nhiều hơn, đừng chỉ cố tạo cảm xúc sốt sắng; hãy xin Chúa cho con nhìn thấy mình thật sự nghèo. Người biết mình nghèo sẽ dễ nhận ra mình đang nhận biết bao nhiêu.
Khiêm nhường còn giúp lời ca tụng được thanh luyện khỏi nhu cầu “cảm thấy đạo đức”. Có những lúc con ca tụng mà không cảm thấy gì. Đừng vội nghĩ lời ca tụng ấy vô giá trị. Chính khi con không được an ủi nhưng vẫn trung thành, con đang dâng một lời ca tụng rất tinh tuyền, vì lúc đó con không còn ca tụng để tìm cảm giác dễ chịu. Con ca tụng vì Chúa xứng đáng. Có khi lời cầu nguyện của con rất khô, trí óc phân tán, tâm hồn nặng nề. Con chỉ có thể nói một câu: “Lạy Chúa, con ở đây.” Hãy ở lại. Sự ở lại ấy có thể là lời chúc tụng đẹp hơn một giờ đầy cảm xúc. Chúa nhìn tình yêu trong ý chí, không chỉ nhìn những rung động trong tâm hồn.
5. HOA TRÁI CỦA ĐỜI SỐNG CA TỤNG
Khi linh hồn kiên trì sống trong ca tụng và tạ ơn, một sự thay đổi âm thầm xảy ra. Trước hết, nó được giải phóng khỏi nhiều ưu phiền không cần thiết. Có những nỗi buồn đến từ đau khổ thật, nhưng cũng có rất nhiều nỗi nặng nề đến từ việc chúng ta thường xuyên tập trung vào những điều thiếu, những điều người khác chưa làm, những điều chúng ta đáng lẽ phải có, những điều đã không xảy ra như dự tính. Tâm hồn càng nhìn mãi vào thiếu thốn càng thấy nghèo. Khi bắt đầu tạ ơn, linh hồn không trở nên ngây thơ, nhưng cái nhìn được mở rộng. Nó thấy vẫn còn biết bao điều đang được ban. Thế là một thứ bình an mới xuất hiện, không phải vì mọi vấn đề đã biến mất, mà vì lòng không còn bị các vấn đề ấy chiếm trọn.
Lòng tạ ơn còn làm cho cuộc chiến nhẹ nhàng hơn. Người chiến đấu chỉ bằng ý chí dễ kiệt sức. Người chiến đấu trong tâm tình biết ơn có một nguồn năng lượng khác. Thay vì nghĩ: “Tôi lại phải chống cơn cám dỗ này”, họ có thể nghĩ: “Tạ ơn Chúa vì Chúa cho tôi thêm một cơ hội để chọn Chúa.” Thay vì: “Tôi lại phải nhịn người này”, họ có thể nói: “Tạ ơn Chúa vì đây là nơi con có thể học yêu thật.” Thay vì: “Tôi lại thất bại”, họ nói: “Tạ ơn Chúa vì lòng thương xót chưa đóng cửa.” Chính cách nhìn ấy không làm cho cuộc chiến dễ theo nghĩa không còn đau, nhưng làm cho nó có ý nghĩa, và điều có ý nghĩa thì con người có thể mang lâu hơn.
Linh hồn biết tạ ơn cũng trở nên nhạy bén hơn với sự hiện diện của Chúa. Có những người luôn chờ một phép lạ lớn nên bỏ qua hàng ngàn dấu chỉ nhỏ. Họ muốn Chúa nói bằng sấm sét, nhưng không nhận ra Chúa trong một người đến đúng lúc, một câu Kinh Thánh đọc được vào ngày cần nhất, một sự chậm trễ cứu họ khỏi một quyết định sai, một cánh cửa không mở, một lời khuyên của người đơn sơ, một thôi thúc nhỏ trong lương tâm. Người tập biết ơn sẽ dần dần phát triển một “con mắt thiêng liêng” có khả năng nhận ra dấu vết của Chúa trong đời thường. Và càng nhận ra, họ càng tạ ơn; càng tạ ơn, họ càng nhận ra. Đó là một vòng tròn của ân sủng.
Người sống tạ ơn còn trở thành nguồn nâng đỡ cho những người xung quanh. Có những người bước vào một căn phòng và mang theo sự nặng nề. Họ luôn thấy vấn đề, luôn phàn nàn, luôn làm người khác mệt. Nhưng cũng có những người chỉ cần hiện diện đã đem lại một thứ nhẹ nhàng. Không phải vì họ không có đau khổ, mà vì họ đã học cách không để đau khổ biến mình thành nguồn cay đắng. Người biết ơn không phải là người nói những câu lạc quan trống rỗng. Họ có thể nhìn thẳng vào thực tế, nhưng họ cũng có khả năng nhắc mọi người rằng Chúa vẫn đang làm việc. Họ giúp cộng đoàn, gia đình, nhóm làm việc thoát khỏi tinh thần than phiền. Một lời cảm ơn chân thành có thể thay đổi tương quan. Một người biết ghi nhận điều tốt nơi người khác có thể chữa rất nhiều mệt mỏi. Một cộng đoàn biết tạ ơn nhau sẽ ít độc hại hơn một cộng đoàn chỉ biết sửa lỗi nhau.
Đặc biệt, lòng biết ơn chuẩn bị linh hồn cho quê trời. Bởi quê trời là gì nếu không phải là nơi tạo thành được hoàn toàn giải phóng khỏi tội để sống trong thờ lạy và ca tụng? Các thánh không còn phải chiến đấu như chúng ta. Các ngài đã đi qua cuộc chiến. Điều còn lại là chiêm ngắm và yêu mến. Lời ca tụng hôm nay là một sự tập dượt cho đời sống ấy. Mỗi lần con nói “Vinh danh Chúa” thay vì tìm vinh danh mình, một chút quê trời xuất hiện trong con. Mỗi lần con chọn tạ ơn thay vì oán trách, một chút của bài ca vĩnh cửu bắt đầu vang lên trong cuộc đời trần thế. Mỗi Thánh Lễ, mỗi lời Gloria, mỗi Sanctus, mỗi Alleluia mà con đọc bằng cả tâm hồn đều là những âm đầu tiên của bài ca sẽ không bao giờ kết thúc.
Điều kỳ diệu là: cuối cùng, linh hồn trưởng thành không còn chỉ nói lời ca tụng; chính nó trở thành lời ca tụng. Một đời sống trung tín là lời ca tụng. Một thân xác được dùng để phục vụ là lời ca tụng. Một người chịu đau mà vẫn yêu là lời ca tụng. Một tuổi già được sống trong phó thác là lời ca tụng. Một đời âm thầm không ai biết mà được sống hoàn toàn cho Chúa là lời ca tụng. Có những người không có tài ăn nói, không hát hay, không viết những lời cầu nguyện đẹp, nhưng đời họ giống như một bài thánh ca dài. Nhìn họ, người khác có thể cảm nhận rằng Thiên Chúa đáng được yêu. Đó là điều cuộc chiến linh hồn cuối cùng muốn làm nên trong chúng ta: không chỉ sửa một vài tật xấu, không chỉ xây dựng một vài nhân đức, nhưng biến toàn bộ con người chúng ta thành một chứng từ rằng Thiên Chúa là đủ, Thiên Chúa là tốt lành, Thiên Chúa xứng đáng nhận mọi vinh quang.
6. TẠ ƠN CẢ VỀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG MÌNH KHÔNG MUỐN ĐI
Có lẽ một trong những hình thức tạ ơn khó nhất là tạ ơn về chính hành trình đời mình. Khi nhìn lại, ai cũng có những điều muốn sửa nếu được quay lại. Có quyết định sai. Có cơ hội bỏ lỡ. Có những năm tháng đi vòng. Có những vết thương đáng lẽ không nên xảy ra. Có những lần ta đã làm đau người khác. Có những ơn gọi bị sống một cách hời hợt trong một giai đoạn. Có những điều ta ước mình hiểu sớm hơn. Và đôi khi quá khứ trở thành một kho chứa ân hận. Linh hồn trưởng thành không gọi sai lầm là đúng. Nó sám hối về điều phải sám hối. Nó sửa những gì còn sửa được. Nhưng sau tất cả, nó cũng học đặt cả quá khứ vào tay lòng thương xót và nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì Chúa đã không bỏ con ngay cả khi con đi vòng. Con tạ ơn vì Chúa đã dùng cả những điều con làm hỏng để dạy con. Con tạ ơn vì ân sủng Chúa lớn hơn những năm tháng con đã lãng phí. Con tạ ơn vì hôm nay con còn có thể yêu Chúa.” Đây không phải là biện minh cho quá khứ. Đây là từ chối để quá khứ tiếp tục cai trị hiện tại.
Có những người mất nhiều năm để tha thứ cho chính mình dù họ đã xin Chúa tha thứ. Họ tin trên lý thuyết rằng Chúa thương xót, nhưng vẫn nghĩ đời mình đã vĩnh viễn bị hỏng. Nếu con ở trong hoàn cảnh ấy, hãy học tạ ơn về lòng thương xót nhiều hơn nhìn vào vết nhơ. Một tội đã được tha không còn là ngai cho ma quỷ ngồi kết án con. Vết sẹo có thể còn đó, nhưng vết sẹo không chỉ kể câu chuyện về thương tích; nó còn kể rằng vết thương đã được chữa. Có những vết sẹo thiêng liêng sẽ làm con khiêm nhường cả đời. Hãy tạ ơn vì chúng giữ con gần lòng thương xót.
Và cũng hãy tạ ơn vì những điều Chúa đã không cho. Có lẽ nhiều ơn lớn nhất trong đời chỉ đến sau này ta mới nhận ra rằng chúng mang hình thức của một lời từ chối. Một việc con từng cầu xin tha thiết mà không được. Một nơi con muốn đến nhưng không thể. Một người con muốn giữ nhưng phải mất. Một dự định tưởng chắc chắn nhưng cuối cùng tan vỡ. Khi mới xảy ra, con chỉ thấy mất mát. Nhiều năm sau con có thể nhìn lại và thốt lên: “Nếu lúc đó Chúa cho con điều con xin, có lẽ con đã đi sai một con đường rất dài.” Không phải lúc nào ta cũng hiểu được như thế trong đời này. Có những điều chỉ trên quê trời mới sáng tỏ. Nhưng lòng tạ ơn trưởng thành có thể đi trước sự hiểu biết. Nó nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa không chỉ vì những gì Chúa đã ban, mà còn vì những gì trong sự khôn ngoan Chúa đã không ban.”
7. ĐỪNG BIẾN LỜI TẠ ƠN THÀNH MỘT KHẨU HIỆU RỖNG
Có một nguy hiểm khác cần tránh: dùng ngôn ngữ tạ ơn để che giấu những cảm xúc chưa được chữa lành. Có người nói rất nhanh: “Tạ ơn Chúa trong mọi sự”, nhưng bên trong họ đang giận dữ, tổn thương, sợ hãi hoặc thất vọng mà không dám nhìn nhận. Đó không phải là lòng biết ơn trưởng thành. Chúa không cần chúng ta đóng kịch trước mặt Ngài. Thánh Vịnh đầy những tiếng khóc, những câu hỏi, những lời kêu than. Đức tin cho phép con nói: “Lạy Chúa, con không hiểu. Con đau. Con thấy bất công. Con sợ.” Rồi từ chính sự thật ấy, con mới đi đến tạ ơn. Lời tạ ơn không phải là phủ một lớp sơn đạo đức lên vết thương. Nó là đem vết thương ấy vào trong tương quan với Chúa.
Có lúc con chưa thể tạ ơn về một biến cố. Đừng ép mình bằng thứ đạo đức giả tạo. Hãy bắt đầu từ điều con có thể: “Lạy Chúa, con chưa thể nói con tạ ơn về chuyện này. Nhưng con tạ ơn vì Chúa đang ở cùng con trong chuyện này. Con tạ ơn vì con có thể nói thật với Chúa. Con tạ ơn vì Chúa không sợ nước mắt của con.” Từ đó, dần dần linh hồn có thể đi sâu hơn. Thiên Chúa không muốn lời tạ ơn trên môi trong khi trái tim bị bỏ rơi. Ngài muốn chữa cả trái tim để cuối cùng lời tạ ơn trở thành sự thật.
Cũng đừng dùng “tạ ơn Chúa” để tránh trách nhiệm. Nếu con làm sai, hãy xin lỗi. Nếu có bất công, hãy sửa trong khả năng. Nếu có một vấn đề cần đối diện, đừng gọi sự trốn tránh là phó thác. Lòng biết ơn không làm con thụ động; nó làm con tự do hơn để hành động mà không bị cay đắng thúc đẩy. Một người có thể đấu tranh cho điều đúng và vẫn tạ ơn. Có thể sửa sai và vẫn bình an. Có thể nói một lời thẳng thắn cần thiết mà không nuôi hận thù. Tạ ơn không có nghĩa là mọi thứ cứ để nguyên. Nó có nghĩa là dù đang hành động để thay đổi điều cần thay đổi, linh hồn vẫn ở lại trong tương quan con thảo với Thiên Chúa.
8. TỪ “CON MUỐN” ĐẾN “VINH DANH CHÚA”
Nhìn lại toàn bộ cuộc chiến, con sẽ thấy phần lớn những xung đột trong lòng đều liên quan đến chữ “tôi”: tôi muốn, tôi thích, tôi sợ, tôi cần, tôi phải được, tôi không muốn mất, tôi muốn được nhìn nhận, tôi muốn điều này xảy ra. Con đường nên thánh không xóa bỏ nhân vị, không biến chúng ta thành những con người vô cảm, nhưng dần dần đưa cái tôi về đúng chỗ. Và một trong những dấu chỉ đẹp nhất của việc cái tôi đã đi xuống khỏi ngai là linh hồn bắt đầu tự nhiên nói: “Vinh danh Chúa.”
Khi thành công: “Vinh danh Chúa.” Khi được khen: “Vinh danh Chúa.” Khi người khác thành công hơn mình: “Vinh danh Chúa.” Khi công việc của mình không được biết đến: “Vinh danh Chúa.” Khi một linh hồn được cứu dù chẳng liên quan gì đến mình: “Vinh danh Chúa.” Khi những điều Chúa làm vượt qua kế hoạch của mình: “Vinh danh Chúa.” Đây là sự tự do của người đã thôi tranh chấp vinh quang với Thiên Chúa.
Có một ngày, nếu ân sủng làm việc sâu đủ, con sẽ nhận ra mình không còn cần phải là trung tâm của câu chuyện. Điều đó nhẹ biết bao. Con không cần mọi người hiểu con. Không cần mọi việc mang dấu tay con. Không cần tên mình xuất hiện. Không cần mình thắng trong mọi tranh luận. Không cần đời sống chứng minh rằng con có giá trị, bởi giá trị của con đã được nhận từ tình yêu Thiên Chúa. Từ đó, con có thể vui vì Chúa lớn lên, dù mình nhỏ lại. Con có thể cầu nguyện như Gioan Tẩy Giả: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Và kỳ lạ thay, chính lúc ấy linh hồn lại được mở rộng. Cái tôi càng chiếm chỗ, tâm hồn càng chật. Chúa càng chiếm chỗ, tâm hồn càng rộng.
9. CA TỤNG GIỮA CUỘC CHIẾN CUỐI CÙNG
Một ngày nào đó, mọi cuộc chiến nhỏ sẽ đi đến trận cuối. Thân xác sẽ yếu. Những khả năng từng giúp con hoạt động sẽ dần mất đi. Có thể con không còn làm được những điều con từng làm. Có thể con phải để người khác chăm sóc. Có thể lời cầu nguyện cũng trở nên rất nghèo, chỉ còn một câu ngắn. Nếu cả đời con đã tập sống tạ ơn, khi ấy linh hồn có một ngôn ngữ rất đơn sơ để đi vào cái chết: “Tạ ơn Chúa.” Tạ ơn vì đời đã được trao. Tạ ơn vì đã được gọi. Tạ ơn vì những người đã gặp. Tạ ơn vì cả thành công lẫn thất bại. Tạ ơn vì những lần được tha. Tạ ơn vì Thánh Thể. Tạ ơn vì Đức Mẹ. Tạ ơn vì Hội Thánh. Tạ ơn vì những lần Chúa cứu mình khỏi chính mình. Và cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Đó là một cái chết đẹp: không phải đẹp theo nghĩa không có đau đớn, nhưng đẹp vì toàn bộ cuộc đời được khép lại bằng một hành vi tạ ơn. Người ấy không đi vào cõi đời đời như một kẻ bị lấy mất mọi sự, nhưng như người trao trả tất cả về cho Đấng đã ban. Hơi thở cuối cùng trở thành lời Amen cho Thánh Lễ của cả đời mình.
10. LỜI KẾT
Hỡi linh hồn, con đã đi qua một hành trình dài trong cuộc chiến. Có lẽ con còn rất nhiều điều phải sửa. Có lẽ con vẫn còn những đam mê cũ. Có lẽ con vẫn yếu như ngày đầu. Đừng vì thế mà nghĩ rằng tất cả là vô ích. Có một câu hỏi đơn sơ để con nhận ra ân sủng đang làm việc hay không: con có biết tạ ơn hơn trước không? Nếu ngày trước một trái ý nhỏ đủ làm con bực cả ngày, còn hôm nay con đã biết dừng lại và nói “Tạ ơn Chúa”; nếu trước đây thất bại khiến con tuyệt vọng, còn hôm nay con biết trở về với lòng thương xót; nếu trước đây thành công của người khác làm con khó chịu, còn hôm nay con có thể vui và chúc tụng Chúa; nếu trước đây con coi mọi điều là đương nhiên, còn hôm nay con thấy một ngày bình thường cũng đầy ơn; nếu trước đây con luôn hỏi Chúa phải làm gì cho mình, còn hôm nay con bắt đầu hỏi mình có thể làm gì để Chúa được vinh danh, thì cuộc chiến đang sinh trái.
Đừng để cuộc chiến làm trái tim con thành đá. Đừng để những năm tháng kỷ luật thiêng liêng biến con thành một người khó chịu với chính mình và với người khác. Đừng tưởng nên thánh nghĩa là càng ngày càng nghiêm nghị. Sự thánh thiện đích thực có một sự nhẹ nhàng rất sâu, bởi người thánh đã thôi giữ mọi sự cho mình. Họ biết mọi sự đến từ Chúa và sẽ trở về với Chúa. Vì thế họ biết tạ ơn.
Hãy tạ ơn khi thức dậy và thấy một ngày mới được đặt vào tay con. Hãy tạ ơn khi cầu nguyện sốt sắng, nhưng cũng tạ ơn khi khô khan vì Chúa đang dạy con yêu bằng đức tin. Hãy tạ ơn khi thắng cám dỗ, nhưng cũng tạ ơn sau khi sa ngã vì Chúa cho con thêm một dịp chạy vào lòng thương xót. Hãy tạ ơn khi được người khác yêu, nhưng cũng tạ ơn khi gặp người khó chịu vì Chúa đang cho con một trường học của bác ái. Hãy tạ ơn khi công việc thành công, nhưng cũng tạ ơn khi thất bại vì có thể Chúa đang giải thoát con khỏi tự mãn. Hãy tạ ơn khi khỏe, và khi đau yếu hãy tạ ơn vì thân xác mỏng giòn nhắc con rằng quê hương cuối cùng không ở đời này. Hãy tạ ơn khi được sống, và khi giờ chết đến, nếu Chúa ban ơn, hãy để lời cuối cùng của đời mình cũng là một lời tạ ơn.
Hãy mang thập giá, nhưng đừng mang nó như người bị ép buộc. Hãy mang trong sự kết hợp với Đức Kitô. Hãy chiến đấu, nhưng đừng chiến đấu với gương mặt của kẻ tuyệt vọng. Chúa đã thắng. Hãy khóc khi cần, nhưng đừng để nước mắt dập tắt bài ca. Hãy để ngay giữa nước mắt vẫn còn một tiếng nhỏ: “Con tin Chúa.” Đó đã là ca tụng. Hãy để giữa thất bại vẫn còn một chuyển động trở về: “Con chạy đến lòng thương xót Chúa.” Đó đã là tạ ơn. Hãy để giữa bóng tối vẫn còn một lời: “Chúa vẫn là Chúa của con.” Đó là một bài thánh ca mà thiên đàng nghe rất rõ.
Và rồi một ngày, sau tất cả những trận chiến đã qua, con sẽ bước qua ngưỡng cửa mà hôm nay con chỉ có thể nhìn bằng đức tin. Ở đó, không còn cám dỗ. Không còn phải canh giữ tâm trí. Không còn những xung đột giữa ý mình và ý Chúa. Không còn khô khan. Không còn nỗi sợ thất bại. Không còn nước mắt của chia lìa. Tất cả những gì con đã tin trong bóng tối sẽ được nhìn thấy trong ánh sáng. Tất cả những lần con đã nói “tạ ơn” mà chưa hiểu sẽ được trả lời. Tất cả những thập giá từng làm con bối rối sẽ hiện ra trong một ý nghĩa mà hôm nay con chưa thể hình dung. Và khi ấy, linh hồn sẽ hiểu rằng không một giọt nước mắt nào đã bị lãng phí, không một hy sinh nào đã biến mất, không một lần đứng dậy nào vô ích, không một lời cầu nguyện nào bị quên.
Khi ấy, bài ca mà con đã tập hát từng câu vụng về trong cuộc chiến sẽ bừng lên trọn vẹn. Không còn ca tụng bằng đức tin, vì con sẽ thấy. Không còn tạ ơn trong bóng tối, vì mọi sự sẽ sáng. Không còn phải cố gắng hướng lòng lên Chúa, vì toàn thể hữu thể con sẽ được cuốn vào tình yêu của Ngài. Và tất cả những gì còn lại chỉ là một chuyển động duy nhất, một niềm vui duy nhất, một lời duy nhất kéo dài không cùng:
Thánh! Thánh! Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh! Trời đất đầy vinh quang Chúa!
Bởi vậy, hỡi linh hồn, hãy bắt đầu thiên đàng ngay từ hôm nay bằng cách tập ca tụng. Hãy bắt đầu đời đời ngay trong giây phút hiện tại bằng lòng tạ ơn. Đừng chờ đến khi mọi sự hoàn hảo mới chúc tụng Chúa. Chính lời chúc tụng sẽ giúp con bước qua những điều chưa hoàn hảo. Đừng chờ đến khi hiểu hết mới tạ ơn. Có những điều chỉ tình yêu mới có thể tạ ơn trước khi trí óc hiểu được.
“Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi! Toàn thân tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người! Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi! Chớ khá quên mọi ân huệ của Người.”
Hãy để những lời ấy không chỉ là lời của Thánh Vịnh, nhưng trở thành nhịp thở của đời con. Khi vui: chúc tụng Chúa. Khi buồn: chúc tụng Chúa. Khi được nhận: chúc tụng Chúa. Khi phải trao đi: chúc tụng Chúa. Khi được hiểu: chúc tụng Chúa. Khi bị hiểu lầm: chúc tụng Chúa. Khi mạnh: chúc tụng Chúa. Khi yếu: chúc tụng Chúa. Khi bắt đầu: chúc tụng Chúa. Khi kết thúc: chúc tụng Chúa.
Và khi con không còn đủ sức nói thành lời, hãy để chính hơi thở của con trở thành lời ca tụng.
Khi con không còn đủ sức làm gì cho Chúa, hãy để sự phó thác của con trở thành của lễ.
Khi đôi tay con không còn làm được những việc lớn, hãy để chúng mở ra trong tư thế của người nghèo nhận mọi sự từ Chúa.
Khi mắt con sắp khép lại trước thế gian, hãy mở lòng về quê trời.
Và hãy nói, nếu chỉ còn đủ sức nói một câu:
“Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì tất cả.”
Rồi hãy đi vào bài ca không bao giờ chấm dứt.
Amen.
CHƯƠNG 49
SẴN SÀNG RA ĐI – SỐNG MỖI NGÀY TRONG TƯ THẾ CỦA NGƯỜI LỮ HÀNH SẮP VỀ NHÀ
Hỡi linh hồn đang học ca tụng Chúa giữa cuộc chiến, đang tập nhìn mọi sự dưới ánh sáng của quê trời, đang cố gắng để mỗi ngày sống trở thành một lời tạ ơn dâng lên Đấng đã yêu thương và cứu chuộc mình, giờ đây chúng ta cần đi thêm một bước nữa, rất đơn sơ nhưng cũng rất quyết liệt: hãy sống trong tư thế của một người sẵn sàng ra đi. Không phải ra đi trong tuyệt vọng. Không phải ra đi vì chán ngán cuộc đời. Không phải vì coi thường những gì Thiên Chúa đang trao cho mình trên mặt đất này. Càng không phải là một thái độ bi quan, lúc nào cũng ám ảnh bởi bệnh tật, tai nạn, tuổi già và cái chết. Không. Người Kitô hữu sẵn sàng ra đi chính là người đã hiểu mình đang đi đâu, biết mình thuộc về ai, và biết rằng cuộc sống hiện tại, dù quý giá đến đâu, vẫn chỉ là một chặng đường. Một ngày kia, chặng đường ấy sẽ kết thúc. Một ngày kia, tiếng gọi rất riêng tư của Thiên Chúa sẽ vang lên cho mỗi người. Một ngày kia, chúng ta sẽ phải bỏ lại căn phòng mình đang ở, công việc mình đang làm, những trang sách mình đang viết, những dự định còn dang dở, những người mình yêu thương, những điều mình đã xây dựng suốt bao năm, để bước qua cánh cửa mà không một người nào trên trần gian có thể bước thay cho chúng ta. Và chính vì ngày ấy chắc chắn sẽ đến, nên người khôn ngoan không sống như thể nó không bao giờ đến. Người khôn ngoan học sống hôm nay trong ánh sáng của ngày cuối cùng, để ngày cuối cùng khi đến không còn là một biến cố hoàn toàn xa lạ, nhưng là sự hoàn tất của điều người ấy đã âm thầm tập luyện suốt cả đời: buông mình vào tay Thiên Chúa.
Có một điều rất lạ trong thân phận con người: chúng ta biết chắc mình sẽ chết, nhưng lại thường sống như thể mình sẽ ở đây mãi mãi. Chúng ta nhìn thấy người khác ra đi, nghe tin người này người kia qua đời, tiễn một người thân đến nghĩa trang, đứng trước một quan tài, đọc tên tuổi của những người đã khuất, chứng kiến một căn phòng hôm qua còn có tiếng người mà hôm nay đã trở nên im lặng, nhưng chỉ ít lâu sau, chúng ta lại quay về với những tính toán quen thuộc, những giận hờn quen thuộc, những tranh chấp quen thuộc, những lo âu quen thuộc, như thể mình có vô tận thời gian ở phía trước. Ta vẫn trì hoãn một lời xin lỗi. Vẫn giữ một nỗi giận. Vẫn nghĩ rằng mai kia sẽ sửa mình. Vẫn tự nhủ khi thuận tiện hơn sẽ cầu nguyện nghiêm túc. Khi công việc bớt bận sẽ sống thánh thiện hơn. Khi tâm trạng tốt hơn sẽ tha thứ. Khi hoàn cảnh đổi khác sẽ trở nên quảng đại. Khi tuổi già đến sẽ chuẩn bị cho cái chết. Nhưng ai bảo đảm rằng ngày mai thuộc về ta? Ai biết được mình còn bao nhiêu buổi sáng để thức dậy? Ai có thể ký một giao ước với sự sống rằng mình còn mười năm, hai mươi năm, hay chỉ còn một ngày? Chính vì thế, tư thế sẵn sàng ra đi không phải là làm cho đời sống trở nên u ám, mà ngược lại, làm cho đời sống trở nên thật. Nó kéo chúng ta ra khỏi ảo tưởng rằng mình sở hữu thời gian. Nó chữa khỏi sự kiêu căng rất kín đáo khiến ta tưởng rằng cuộc đời này phải diễn ra theo lịch trình của ta. Nó nhắc ta rằng hôm nay không phải là một quyền lợi nhưng là một ân huệ. Hơi thở này không phải của riêng ta. Nhịp tim này không phải do ta tự tạo ra. Ánh sáng buổi sáng chiếu vào căn phòng ta không mua được. Những con người còn đang ở bên cạnh ta hôm nay không phải là những người chắc chắn ngày mai vẫn còn ở đó. Tất cả đều là ân huệ, và vì là ân huệ nên phải được đón nhận với lòng biết ơn, sử dụng với sự trung tín và sẵn sàng trao lại khi Chủ của ân huệ muốn lấy về.
1. SẴN SÀNG RA ĐI KHÔNG PHẢI LÀ BI QUAN, NHƯNG LÀ SỐNG TRONG SỰ THẬT
Người đời thường không thích nghĩ đến cái chết. Nhiều người coi việc nhắc đến cái chết là một điều xui xẻo, một chuyện đáng tránh, như thể không nói đến thì cái chết sẽ bớt thật hơn. Người ta tìm mọi cách kéo dài tuổi trẻ, che đi dấu vết của thời gian, xua khỏi tâm trí hình ảnh của sự tàn phai. Người ta xây dựng, tích lũy, cạnh tranh, khẳng định mình, tìm danh vọng, tìm ảnh hưởng, tìm sự bảo đảm, như thể cuối cùng có thể dựng quanh mình một bức tường đủ chắc để thời gian không bước vào. Nhưng thời gian vẫn đi. Mái tóc rồi bạc. Sức lực rồi giảm. Những điều từng làm ta say mê dần dần mất sức hấp dẫn. Những người đi trước ta lần lượt rời khỏi thế gian. Và đến một lúc, người ta buộc phải nhìn nhận rằng cuộc đời không nằm trong tay mình. Đối với người không có đức tin, sự thật ấy có thể đáng sợ. Nhưng đối với người tin vào Đức Kitô chịu chết và sống lại, sự thật ấy không nhất thiết phải là một bóng tối. Cái chết vẫn là một mầu nhiệm. Nó vẫn mang nỗi đau của chia lìa. Thân xác vẫn run sợ trước sự tan rã. Con tim vẫn có thể thắt lại khi phải rời những người mình yêu. Đức tin không biến con người thành đá. Đức tin không xóa bỏ bản năng muốn sống. Nhưng đức tin đặt cái chết vào một chân trời khác: cái chết không còn là bức tường cuối cùng, mà là một cánh cửa; không phải là rơi vào hư vô, mà là được gọi đến một cuộc gặp gỡ; không phải là chấm hết tất cả, mà là bước vào sự viên mãn của điều chúng ta đã tin, đã mong chờ và đã yêu mến trong đời này.
Vì thế, người Kitô hữu có thể nhìn cái chết mà không tuyệt vọng. Họ có thể nói đến cái chết mà vẫn yêu đời. Họ có thể chuẩn bị cho giờ chết mà vẫn làm việc hăng say, xây dựng, phục vụ, sáng tạo, chăm sóc người khác và tận hưởng những niềm vui lành thánh Thiên Chúa ban. Chính ý thức rằng đời người hữu hạn lại làm cho từng ngày trở nên quý hơn. Một bông hoa vì sẽ tàn nên càng đáng yêu trong giờ đang nở. Một buổi chiều vì sẽ qua nên càng đáng trân trọng. Một bữa cơm gia đình vì không phải lúc nào cũng còn đầy đủ những khuôn mặt ấy nên càng đáng sống bằng sự hiện diện trọn vẹn. Một lời nói với người bên cạnh vì có thể là một trong những lời cuối cùng ta dành cho họ nên càng phải được nói trong tình yêu. Một Thánh lễ vì có thể là Thánh lễ cuối cùng đời ta nên càng đáng được cử hành với tất cả tâm hồn. Một lần quỳ xuống cầu nguyện vì biết đâu ngày mai đôi chân này không còn quỳ được nữa nên càng phải là một lần quỳ thật sự, không qua loa, không chiếu lệ, không để tâm trí chạy lang thang khắp nơi. Khi cái chết được nhìn trong đức tin, nó không làm đời sống mất giá trị. Nó làm cho đời sống trở nên có trọng lượng.
Người sẵn sàng ra đi không phải là người lúc nào cũng nhắc đến cái chết, nhưng là người không còn sống giả vờ như mình bất tử. Họ không phí quá nhiều thời gian cho những chuyện vô nghĩa. Họ không dễ dàng đánh đổi bình an linh hồn lấy một cuộc tranh thắng nhỏ bé. Họ không quá bận tâm xem người khác có công nhận mình hay không, bởi họ hiểu rằng rồi đây mọi tiếng vỗ tay cũng sẽ im. Họ không giữ mãi những mối hận thù, bởi họ hiểu rằng nghĩa trang đầy những người từng tranh cãi với nhau, từng giận nhau, từng nghĩ rằng danh dự của mình là chuyện lớn lắm, nhưng rồi tất cả đều đã trở thành tro bụi. Họ không quá dính bén với tiền bạc, bởi họ biết chưa có người chết nào mang được một đồng xu sang đời sau. Họ không quá sợ mất chức vụ, vị trí hay uy tín, bởi họ hiểu rằng một ngày kia cái tên của mình cũng sẽ được người khác nhắc đến bằng hai chữ “ngày trước”. Những gì hôm nay xem ra lớn lao có thể ngày mai hóa thành rất nhỏ. Và những gì hôm nay ta tưởng nhỏ bé — một lần nhịn nhục, một lời tha thứ, một giờ cầu nguyện, một việc bác ái kín đáo, một hy sinh không ai biết — lại có thể mang giá trị đời đời.
Chính vì vậy, nghĩ đến giờ ra đi không phải là một thứ đạo đức dành riêng cho người già. Người trẻ cũng phải học. Người khỏe mạnh cũng phải học. Người đang thành công cũng phải học. Người còn nhiều kế hoạch cũng phải học. Không phải để ngừng mơ ước, nhưng để đặt các ước mơ đúng chỗ. Không phải để ngừng xây dựng, nhưng để đừng nhầm ngôi nhà tạm với quê hương vĩnh cửu. Không phải để ngừng yêu thương các tạo vật, nhưng để yêu chúng trong Thiên Chúa và không biến chúng thành thần tượng. Không phải để từ bỏ trách nhiệm, nhưng để thi hành trách nhiệm với một sự tự do sâu xa: tôi làm tất cả những gì phải làm hôm nay, nhưng tôi biết rằng kết quả cuối cùng không nằm trong tay tôi. Tôi gieo, nhưng Thiên Chúa cho mọc. Tôi xây, nhưng Thiên Chúa quyết định công trình ấy tồn tại bao lâu. Tôi phục vụ, nhưng tôi không phải là Đấng Cứu Thế. Tôi chăm sóc người khác, nhưng một ngày tôi phải trao họ lại cho Chúa. Tôi yêu cuộc đời, nhưng tôi không bám lấy cuộc đời như thể ngoài nó ra không còn gì nữa.
2. NGƯỜI SẴN SÀNG RA ĐI SẼ SỐNG HÔM NAY KHÁC HẲN
Có một câu hỏi rất đơn giản nhưng có sức thanh luyện mạnh mẽ: nếu hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, tôi sẽ sống khác điều gì? Có thể tôi sẽ bớt cáu gắt hơn. Có thể tôi sẽ không mất một giờ để tranh cãi về một chuyện không đáng. Có thể tôi sẽ gọi cho một người mà lâu nay mình xa cách. Có thể tôi sẽ xin lỗi một người. Có thể tôi sẽ đến trước Nhà Tạm lâu hơn. Có thể tôi sẽ bỏ điện thoại xuống và nhìn thật kỹ khuôn mặt của người đang ngồi trước mặt mình. Có thể tôi sẽ dâng Thánh lễ chậm hơn, yêu mến hơn. Có thể tôi sẽ thôi lo lắng về vài chuyện mà hôm qua tôi tưởng là khủng khiếp. Có thể tôi sẽ cho đi một món đồ mà lâu nay tôi giữ quá kỹ. Có thể tôi sẽ nói “cảm ơn”. Có thể tôi sẽ nói “con thương cha”, “con thương mẹ”, “tôi quý anh”, “tôi tha thứ cho chị”. Có thể tôi sẽ ngồi yên trước Chúa và nói với Ngài những điều mình trì hoãn bao năm. Vậy nếu những việc ấy đáng làm trong ngày cuối cùng, tại sao không làm hôm nay? Và nếu một điều không đáng làm trong ngày cuối cùng, tại sao ta lại để nó chiếm quá nhiều phần đời còn lại?
Người sẵn sàng ra đi trước hết là người chu toàn bổn phận hiện tại. Họ không đợi một ngày đặc biệt để nên thánh. Họ không chờ cho mọi vấn đề được giải quyết rồi mới sống cho Chúa. Họ hiểu rằng con đường về nhà Cha đi ngang qua những việc rất bình thường: thức dậy đúng giờ, cầu nguyện khi đến giờ cầu nguyện, làm việc khi đến giờ làm việc, phục vụ khi có người cần, nghỉ ngơi khi thân xác cần nghỉ, nói một lời tử tế, kiềm chế một phản ứng nóng nảy, hoàn tất một công việc dù chẳng ai khen, trung thành với trách nhiệm dù tâm trạng không hứng thú. Họ không mơ một cái chết thánh thiện trong khi sống cẩu thả. Bởi cái chết thánh thiện thường không được dựng nên trong một khoảnh khắc cuối cùng; nó được chuẩn bị bởi hàng ngàn chọn lựa rất nhỏ của đời thường. Một người đã quen phó thác mỗi ngày sẽ dễ phó thác trong giờ chết hơn một người cả đời chỉ quen kiểm soát. Một người đã quen tha thứ sẽ dễ chết bình an hơn người giữ đầy cay đắng trong lòng. Một người đã quen sống trong ân sủng sẽ không phải hoảng hốt dọn dẹp linh hồn vào phút chót. Một người đã quen gọi “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa” trong những cám dỗ nhỏ, trong bệnh tật nhỏ, trong thất bại nhỏ, sẽ có một ngôn ngữ để nói với Chúa khi trận chiến cuối cùng đến.
Người sẵn sàng ra đi cũng không bám víu thái quá vào công việc. Đây là một điều khó, nhất là với những người có trách nhiệm, những người nhiệt thành, những người đang mang một sứ vụ, đang xây dựng một công trình, đang chăm sóc một cộng đoàn, đang theo đuổi một dự án quan trọng. Ta dễ nghĩ rằng nếu mình không còn, mọi sự sẽ sụp đổ. Ta dễ tưởng rằng mình là người không thể thay thế. Nhưng rồi lịch sử luôn chứng minh một điều: người này ra đi, người khác tiếp tục; một vị mục tử qua đời, người khác nhận trách nhiệm; một người cha trong gia đình ra đi, những người còn lại đau đớn nhưng rồi vẫn phải sống; một người nổi tiếng qua đời, thế giới dừng lại vài ngày rồi tiếp tục quay. Điều ấy không làm cho sự hiện diện của chúng ta vô nghĩa. Ngược lại, nó đặt sự hiện diện ấy vào đúng chỗ. Ta quý giá, nhưng không phải là trung tâm vũ trụ. Ta được Chúa dùng, nhưng Chúa không lệ thuộc vào ta. Ta có trách nhiệm, nhưng công trình sau cùng là của Ngài. Biết điều ấy giúp linh hồn làm việc rất tận tâm nhưng không biến công việc thành thần tượng; yêu sứ vụ nhưng không đồng hóa căn tính của mình với sứ vụ; chăm sóc đoàn chiên nhưng không tưởng đoàn chiên thuộc về mình; gieo hạt với hết sức lực nhưng vẫn có thể nói: “Lạy Chúa, nếu hôm nay Chúa bảo con dừng lại, con trao tất cả cho Chúa.”
Sẵn sàng ra đi cũng có nghĩa là giữ các tương quan trong tình trạng có thể nói lời từ biệt bất cứ lúc nào. Điều này rất thực tế. Có biết bao người day dứt sau khi một người thân qua đời chỉ vì câu nói cuối cùng giữa họ là một câu nóng giận. Có người ân hận vì tin nhắn cuối cùng không trả lời. Có người muốn xin lỗi nhưng đã quá muộn. Có người tưởng còn nhiều dịp để nói lời yêu thương, nhưng dịp ấy không đến nữa. Không phải lúc nào ta cũng có thể tránh được những tiếc nuối ấy, bởi đời sống phức tạp và con người yếu đuối. Nhưng người sống tỉnh thức sẽ cố gắng đừng để mặt trời lặn trên cơn giận của mình. Họ học xin lỗi sớm hơn. Tha thứ nhanh hơn. Không kéo dài im lặng để trừng phạt người khác. Không sử dụng tình cảm như một thứ vũ khí. Không để lòng kiêu hãnh ngăn mình bước một bước hòa giải. Họ tự hỏi: nếu người này qua đời đêm nay, tôi có bình an với cách mình đã đối xử với họ hôm nay không? Và cũng có thể hỏi ngược lại: nếu tôi qua đời đêm nay, tôi muốn để lại trong lòng người ấy ký ức gì về tôi? Một khuôn mặt lạnh lùng? Một người luôn phán xét? Một người chỉ biết đòi hỏi? Hay một người đã cố gắng yêu, dù còn nhiều vụng về?
Người sẵn sàng ra đi còn biết giữ lương tâm mình trong sáng. Không ai hoàn hảo. Người thánh thiện cũng vẫn là người yếu đuối, vẫn có thiếu sót, vẫn phải xin ơn tha thứ. Nhưng khác biệt ở chỗ họ không muốn sống lâu trong tình trạng xa Chúa. Khi sa ngã, họ trở về. Khi phạm tội, họ không kéo dài. Khi lương tâm cảnh báo, họ không tìm cách bịt tiếng nói ấy bằng biện minh. Bí tích Hòa Giải đối với họ không chỉ là một bổn phận đạo đức, nhưng là một ân huệ của lòng thương xót. Họ hiểu rằng cái đẹp nhất không phải là một linh hồn chưa bao giờ vấp ngã — điều gần như không có trong thân phận con người — mà là một linh hồn biết mau chóng để Chúa rửa sạch và ôm vào lòng. Sẵn sàng ra đi không có nghĩa là có thể trình diện trước Chúa và nói: “Con chẳng có lỗi gì.” Nhưng là có thể nói: “Lạy Chúa, con đã lỗi phạm nhiều, nhưng con đã chạy về với lòng thương xót của Chúa. Con không cậy vào công trạng mình. Con cậy vào Máu Chúa Kitô. Con không dựa vào sự tốt lành của con, nhưng vào tình yêu của Chúa.”
3. HỌC SỐNG MỖI NGÀY NHƯ THỂ ĐÓ CÓ THỂ LÀ NGÀY CUỐI
Mỗi buổi sáng, khi mở mắt, trước khi lao ngay vào những lo lắng và công việc, hãy tập một cử chỉ thiêng liêng rất nhỏ: nhận ngày mới như một món quà có thể là món quà cuối cùng trên dương thế. Hãy nói: “Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì ngày hôm nay. Con không biết đây có phải là ngày cuối cùng của con trên trần gian hay không. Nếu là ngày cuối, xin cho con sống ngày này đẹp lòng Chúa. Nếu chưa phải ngày cuối, xin cũng cho con sống như người biết rằng mình đang tiến gần hơn tới cuộc gặp gỡ với Chúa.” Một lời nguyện như thế không làm cho buổi sáng nặng nề. Trái lại, nó có thể giải thoát ta khỏi rất nhiều điều không đáng. Nó đặt lại các ưu tiên. Nó làm cho ta nhớ rằng hôm nay cần yêu. Hôm nay cần trung tín. Hôm nay cần tha thứ. Hôm nay cần làm điều thiện. Hôm nay cần cầu nguyện. Hôm nay cần sống, bởi ngày mai chưa thuộc về ta.
Trong ngày, nhất là lúc đứng trước một phản ứng quan trọng, hãy thỉnh thoảng tự hỏi: “Nếu đây là hành vi cuối cùng của đời tôi, tôi có muốn nó là hành vi này không?” Nếu đây là lời cuối cùng tôi nói với người này, tôi có muốn đó là lời cay nghiệt không? Nếu đây là lần cuối cùng tôi sử dụng tiền bạc, tôi có muốn dùng nó ích kỷ như vậy không? Nếu đây là Thánh lễ cuối cùng tôi tham dự, tôi có muốn dự cách lơ đãng như thế không? Nếu đây là trang cuối cùng tôi viết, tôi có muốn viết bằng sự phù phiếm không? Nếu đây là lần cuối cùng tôi gặp người nghèo này, tôi có muốn quay mặt đi không? Nếu đây là cơn cám dỗ cuối cùng, tôi có muốn nhượng bộ chỉ vì vài phút khoái cảm không? Nếu đây là cơ hội cuối cùng để tha thứ, tôi có muốn bỏ qua không? Những câu hỏi ấy không phải để tạo căng thẳng, nhưng để kéo linh hồn trở về với điều thiết yếu. Rất nhiều cám dỗ chỉ mạnh vì ta sống như thể chúng ta có vô tận thời gian để sửa chữa. Khi đặt chúng dưới ánh sáng của cái chết, sức hấp dẫn của chúng lộ ra sự nghèo nàn. Một phút tự ái có đáng đổi lấy bình an của linh hồn không? Một lời thắng thua có đáng làm tổn thương người mà có thể ngày mai ta không còn gặp không? Một chút danh vọng có đáng để đánh đổi sự đơn sơ trước mặt Chúa không?
Mỗi tối lại là một trường học khác của sự ra đi. Đi ngủ là một hình ảnh nhỏ của cái chết: ta ngừng hoạt động, buông mọi việc, nhắm mắt, giao thân xác cho một sự bất lực mà mình không kiểm soát hoàn toàn. Không ai có thể bảo đảm rằng mình sẽ thức dậy sáng mai. Vì thế, người Kitô hữu có thể biến giờ đi ngủ thành một hành vi phó thác. Hãy xét mình, nhưng không phải xét mình trong thái độ ám ảnh và khắc nghiệt. Hãy nhìn lại ngày đã qua dưới ánh mắt Chúa: đâu là điều cần tạ ơn, đâu là điều cần xin lỗi, đâu là một ân huệ ta đã bỏ qua, đâu là một vết thương ta gây cho người khác, đâu là một cám dỗ đã thắng, đâu là một lần yếu đuối. Rồi hãy trao tất cả cho Chúa. Nếu có tội nặng, hãy quyết tâm hòa giải với Chúa sớm nhất có thể. Nếu có người đang giận, hãy xem mình có thể làm gì để hòa giải. Nếu còn điều phải nói, có khi một tin nhắn ngắn cũng đủ: “Tôi xin lỗi.” “Tôi không muốn chúng ta để sự giận hờn này kéo dài.” “Cảm ơn anh.” “Xin Chúa chúc lành cho chị.” Và rồi, trước khi ngủ, hãy nói như một đứa trẻ: “Lạy Cha, con trao linh hồn con trong tay Cha. Nếu ngày mai Cha cho con thức dậy, con sẽ lại bắt đầu. Nếu đêm nay Cha gọi con về, xin đón con trong lòng thương xót.”
Có một sự tự do rất lớn trong lời cầu nguyện ấy. Nó dạy chúng ta chết từng chút một mỗi tối để rồi sống lại mỗi sáng trong lòng biết ơn. Nó làm cho ta bớt tưởng rằng mình là chủ ngày mai. Nó chữa sự lo âu. Vì kỳ lạ thay, người sẵn sàng chết trong Chúa lại thường là người bớt sợ hãi hơn. Cái chết chỉ đáng sợ tuyệt đối khi ta coi nó như mất tất cả. Nhưng nếu ta tin rằng phía bên kia là Đấng mình đã yêu, là Cha đã chờ, là Đức Kitô đã chết cho ta, thì dù bản năng vẫn run sợ, chiều sâu của linh hồn vẫn có một nơi để tựa vào. Đó không phải là sự gan dạ tự nhiên. Có những vị thánh cũng sợ chết. Có những người rất thánh vẫn run khi nghĩ đến đau đớn thể xác. Nhưng khác biệt ở chỗ nỗi sợ không phải là tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng là tín thác.
Trong lúc đau yếu, thái độ sẵn sàng ra đi càng trở nên thật hơn. Bệnh tật lột khỏi ta nhiều ảo tưởng. Một người khỏe mạnh dễ nghĩ mình mạnh. Một người có nhiều khả năng dễ nghĩ mình có thể xoay xở mọi sự. Nhưng chỉ một cơn bệnh cũng có thể làm ta nhận ra mình mong manh đến mức nào. Một cơn sốt, một kết quả xét nghiệm, một tai nạn, một đêm đau không ngủ có thể làm toàn bộ cách ta nhìn cuộc đời thay đổi. Đừng lãng phí những thời khắc ấy. Không cần lập tức nghĩ rằng mình sắp chết, nhưng hãy dùng chúng để nhớ: thân xác này là hữu hạn. Hãy học nói với Chúa ngay trong đau đớn: “Lạy Chúa, thân xác này là của Chúa. Chúa đã cho con sử dụng nó đến hôm nay. Xin cho con chăm sóc nó đúng mức, chữa trị khi cần, nghỉ ngơi khi cần. Nhưng nếu một ngày Chúa muốn con trả lại, xin cho con biết trao lại trong bình an.” Người có đức tin không coi thường y khoa, không từ chối việc chữa bệnh, không tìm cái chết. Họ trân trọng sự sống vì sự sống là quà tặng. Nhưng chính vì là quà tặng, họ không biến việc kéo dài nó bằng mọi giá thành mục đích tối hậu. Họ hiểu rằng mục đích sâu xa nhất không phải là sống thật lâu, mà là sống thật thuộc về Chúa.
4. TƯ THẾ SẴN SÀNG RA ĐI LÀ MỘT KHÍ GIỚI MẠNH TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG ĐAM MÊ
Trong cuộc chiến linh hồn, có những đam mê tưởng như rất mạnh nhưng lại trở nên yếu đi rõ rệt khi linh hồn nhớ rằng mình chỉ là người đi đường. Tự ái chẳng hạn. Tự ái khiến ta rất dễ bị tổn thương bởi lời người khác. Một câu phê bình có thể ám ảnh nhiều ngày. Một việc không được công nhận có thể làm ta cay cú. Một người được khen hơn ta có thể khiến ta khó chịu. Một sự bất công nhỏ có thể làm ta mất ngủ. Nhưng hãy đặt tất cả dưới câu hỏi: “Nếu tôi chỉ còn một tháng để sống, chuyện này còn lớn đến vậy không? Nếu một tuần nữa tôi đứng trước mặt Chúa, tôi còn bận tâm người ấy có đánh giá thấp tôi không?” Bỗng nhiên nhiều thứ thu nhỏ lại. Không phải vì danh dự hay công bằng không còn ý nghĩa, nhưng vì linh hồn thấy được tỷ lệ thật của chúng. Không phải mọi chuyện đều xứng đáng để ta đánh đổi bình an.
Lòng tham cũng mất sức khi nhớ tới giờ chết. Có người dành cả đời tích lũy mà không biết bao nhiêu là đủ. Có một căn nhà rồi muốn căn nhà lớn hơn. Có một khoản tiền rồi muốn thêm. Có một vị trí rồi muốn cao hơn. Không phải sở hữu là xấu. Không phải quản lý tài sản là sai. Nhưng sự dính bén rất dễ đi vào lòng người mà chính ta không nhận ra. Ta nói là để “bảo đảm tương lai”, nhưng cuối cùng cả đời bị tiêu hao cho một tương lai chưa chắc sẽ đến. Người sẵn sàng ra đi tự hỏi: “Tôi đang sử dụng những gì Chúa trao hay đang bị chúng sở hữu?” Có những thứ ta gọi là của mình, nhưng thật ra chính chúng đang cột ta. Một căn nhà có thể trở thành nhà tù nếu ta không thể rời nó trong lòng. Một tài khoản có thể trở thành xiềng xích nếu ý nghĩ mất nó làm ta hoảng loạn. Một chức vụ có thể trở thành thần tượng nếu ta không tưởng tượng nổi mình là ai khi không còn chức vụ ấy. Tư thế sẵn sàng ra đi dạy ta cầm mọi sự bằng bàn tay mở, không phải nắm chặt. Hôm nay Chúa trao, ta sử dụng với lòng biết ơn. Ngày mai Chúa lấy, ta đau nhưng vẫn nói: “Xin vâng.”
Cơn nóng giận cũng được chữa lành phần nào bởi ý thức về cái chết. Người ta có thể dành nhiều năm không nhìn mặt nhau chỉ vì một chuyện mà nếu kể lại sau vài thập niên, chẳng ai còn nhớ vì sao. Hai anh em tranh nhau tài sản rồi mất nhau. Hai người cộng tác vì một va chạm mà trở thành kẻ xa lạ. Hai người trong gia đình vì một câu nói mà không gặp nhau nhiều năm. Đến khi một người nằm xuống, người còn lại ôm một nỗi ân hận không thể sửa. Có những nước mắt ở nghĩa trang đáng lẽ có thể trở thành lời xin lỗi khi người kia còn sống. Có những vòng hoa lớn chẳng thể thay thế một cuộc điện thoại nhỏ được thực hiện sớm hơn vài tháng. Hỡi linh hồn, đừng đợi người ta nằm trong quan tài mới thấy họ đáng quý. Đừng đợi một người biến mất mới tiếc rằng mình đã không dịu dàng hơn. Tất nhiên không phải mọi mối quan hệ đều có thể trở lại như cũ. Có những trường hợp phải giữ khoảng cách vì sự an toàn, công bằng hay lương tâm. Tha thứ không luôn đồng nghĩa với trở lại gần. Nhưng ít nhất, đừng để lòng mình nuôi độc tố. Sẵn sàng ra đi có nghĩa là cố gắng chết với trái tim không mang hận thù.
Dục vọng cũng bị đặt lại đúng chỗ dưới ánh sáng của sự chết. Thân xác mà hôm nay ta có thể quá mê đắm, quá chiều chuộng, quá tìm thỏa mãn, một ngày kia cũng trở về bụi đất. Điều ấy không làm thân xác trở nên xấu. Trái lại, thân xác rất quý vì được Thiên Chúa tạo dựng và được mời gọi sống lại. Nhưng chính phẩm giá ấy đòi ta không biến thân xác thành đồ vật của khoái cảm. Một đam mê chỉ hứa một phút dễ chịu nhưng để lại linh hồn trống rỗng liệu có đáng không? Khi cám dỗ mạnh, hãy nhớ: “Một ngày kia tôi sẽ đứng trước mặt Chúa với tất cả sự thật về cách tôi đã sử dụng thân xác này.” Không phải để sợ hãi bệnh hoạn, nhưng để sống trong tự do. Người biết mình sắp về nhà sẽ không dừng quá lâu ở những quán trọ bên đường.
Sự lười biếng thiêng liêng cũng bị đánh thức. Có bao nhiêu lần ta nói: “Mai sẽ cầu nguyện.” “Mai sẽ đi xưng tội.” “Mai sẽ sửa tính này.” “Mai sẽ đọc lại đời mình.” “Mai sẽ bắt đầu sống nghiêm túc.” Nhưng chữ “mai” là một trong những chiếc gối mềm nhất ma quỷ đặt dưới đầu linh hồn. Nó không cần khiến ta nói “không bao giờ”. Chỉ cần khiến ta nói “chưa phải hôm nay”. Rồi hôm nay thành ngày mai, ngày mai thành năm sau, và nhiều năm trôi đi mà linh hồn vẫn đứng chỗ cũ. Sẵn sàng ra đi là tuyên chiến với sự trì hoãn. Không cần làm mọi sự trong một ngày. Nhưng điều Chúa đang đòi hôm nay thì hãy làm hôm nay. Nếu cần xin lỗi, xin lỗi. Nếu cần bỏ một dịp tội, bỏ. Nếu cần tìm người hướng dẫn, tìm. Nếu cần đi xưng tội, đi. Nếu cần lập lại giờ cầu nguyện, bắt đầu. Nếu cần từ bỏ một thói quen xấu, hãy bước bước đầu tiên. Người lữ hành khôn ngoan không nói: “Một ngày kia tôi sẽ bắt đầu đi.” Người ấy bước ngay khi đường mở ra trước mặt.
5. HỌC BUÔNG NHỮNG GÌ MÌNH KHÔNG THỂ MANG THEO
Một trong những trường học tốt nhất để chuẩn bị cho giờ ra đi là tập buông ngay từ bây giờ. Cái chết cuối cùng chỉ là lần buông lớn nhất của một chuỗi những lần buông đã bắt đầu từ rất lâu. Ta buông tuổi thơ để bước vào tuổi trưởng thành. Buông một nơi chốn để đến nơi khác. Buông một người vì họ ra đi trước. Buông sức khỏe khi tuổi tác làm nó hao mòn. Buông những khả năng từng rất mạnh nhưng nay không còn. Buông những vai trò từng định nghĩa mình. Buông những dự tính không thành. Buông hình ảnh lý tưởng về cuộc đời. Mỗi lần mất một điều gì, ta đang được huấn luyện cho lần buông sau cùng. Nhưng điều quan trọng là buông thế nào. Có người buông trong cay đắng. Có người buông trong chống cự. Có người buông nhưng lòng vẫn níu. Có người buông trong nước mắt nhưng với lòng tín thác: “Chúa ơi, con không hiểu, nhưng con trao lại.”
Người sẵn sàng ra đi tập sống nhẹ. Không phải nhất thiết ít đồ đạc, dù sự đơn giản vật chất có thể giúp rất nhiều, nhưng trước hết là nhẹ trong lòng. Không có quá nhiều thứ nếu mất đi sẽ làm mình sụp đổ. Không có quá nhiều danh hiệu mình phải bảo vệ. Không có quá nhiều hình ảnh về chính mình phải duy trì. Không cần ai cũng hiểu mình. Không cần ai cũng khen mình. Không cần mọi dự định phải hoàn thành. Không cần mọi câu hỏi phải có lời giải trước khi chết. Có những điều ta sẽ phải trao cho Thiên Chúa trong tình trạng dang dở. Có những người ta không thể cứu. Có những công trình ta không thể hoàn tất. Có những lời cầu nguyện ta sẽ chết trước khi nhìn thấy kết quả. Có những mối quan hệ ta đã cố hết sức mà vẫn không được chữa lành trọn vẹn. Có những bí ẩn của đời mình chỉ được hiểu trong ánh sáng vĩnh cửu. Sẵn sàng ra đi là chấp nhận rằng tôi không cần hoàn thành tất cả để có thể về với Chúa. Điều Chúa đòi không phải là tôi kiểm soát mọi kết quả, nhưng là tôi trung tín trong phần Ngài trao cho tôi.
Đây là một sự khiêm nhường rất sâu. Ta muốn để lại mọi thứ ngăn nắp, muốn mọi chuyện kết thúc đẹp, muốn những người thân ổn thỏa, muốn công việc tiếp tục tốt, muốn danh dự của mình được hiểu đúng. Nhưng có thể Chúa gọi ta khi nhiều chuyện vẫn còn rối. Đức Giêsu trên thập giá cũng chết khi nhìn bằng mắt người đời, nhiều chuyện xem ra chưa hoàn tất. Các môn đệ còn yếu. Dân chúng còn hiểu lầm. Kẻ thù tưởng đã chiến thắng. Công cuộc rao giảng mới chỉ bắt đầu ở một vùng đất rất nhỏ. Vậy mà Người có thể nói: “Mọi sự đã hoàn tất”, bởi điều cần hoàn tất không phải là mọi chi tiết theo kế hoạch loài người, mà là thánh ý Chúa Cha. Đây là sự tự do mà người sẵn sàng ra đi phải học: tôi không cần làm xong tất cả; tôi chỉ cần làm xong điều Thiên Chúa muốn tôi làm trong thời gian Ngài ban.
Và vì thế, một cách chuẩn bị rất thực tế là tập sắp xếp cuộc đời để không tạo gánh nặng không cần thiết cho người khác nếu ta bất ngờ ra đi. Đời sống thiêng liêng không tách khỏi sự thực tế. Những trách nhiệm cần rõ ràng thì nên rõ ràng. Những lời cần nói nên nói. Những tài sản, công việc hay bổn phận có thể sắp xếp cách khôn ngoan thì nên sắp xếp. Không phải vì ta ám ảnh cái chết, nhưng vì tình yêu khiến ta không muốn để lại hỗn loạn có thể tránh được. Một người có thể chết rất thánh thiện nhưng nếu sống thiếu trách nhiệm, sự ra đi của họ vẫn có thể để lại nhiều khó khăn cho người khác. Tỉnh thức thiêng liêng cũng bao gồm sự chu đáo trong những điều bình thường.
6. SẴN SÀNG RA ĐI KHÔNG TÁCH KHỎI SỨ VỤ: VÌ BIẾT THỜI GIAN NGẮN NÊN CÀNG PHẢI YÊU NHIỀU
Có một cám dỗ tinh tế: nghe nói đến sự chết, sự buông bỏ, quê trời, người ta có thể tưởng rằng Kitô giáo khiến con người rút lui khỏi đời sống. Nhưng Đức Kitô đã sống ngược lại. Người biết giờ của Người đang đến, và chính ý thức ấy khiến Người yêu đến cùng. Người không trốn khỏi trách nhiệm. Người rửa chân cho các môn đệ. Người trao ban Thánh Thể. Người an ủi. Người dạy dỗ. Người tha thứ. Người bước vào cuộc Thương Khó. Biết mình sắp ra đi không khiến Người ít yêu thế gian hơn, nhưng yêu theo cách tự do hơn và trọn vẹn hơn.
Đó cũng phải là cách của chúng ta. Nếu tôi biết mình không ở đây mãi mãi, tôi càng phải yêu những người Chúa trao hôm nay. Nếu tôi biết thời gian ngắn, tôi càng không nên phí thời gian vào sự ích kỷ. Nếu tôi biết một ngày mình phải trả lại mọi sự, tôi càng sử dụng chúng cho điều tốt khi còn có thể. Nếu tôi biết tiếng nói mình một ngày sẽ im, tôi càng dùng nó để khích lệ, để rao giảng Tin Mừng, để nói sự thật trong bác ái. Nếu tôi biết đôi tay một ngày sẽ lạnh, tôi càng dùng chúng để phục vụ khi còn có sức. Nếu tôi biết đôi chân một ngày không thể bước nữa, tôi càng bước đến với người cô đơn, người nghèo, người bị bỏ rơi khi hôm nay tôi còn đi được. Nếu tôi biết trí nhớ rồi suy giảm, tôi càng dùng trí tuệ hiện tại để học điều chân thật và chia sẻ điều hữu ích. Cái chết không làm giảm sứ vụ. Cái chết làm sứ vụ trở nên khẩn thiết.
Đặc biệt với người đã trao đời mình cho Chúa, tư thế sẵn sàng ra đi có một nét đẹp rất riêng. Người ấy phải có khả năng nói: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa. Hôm nay Chúa muốn con đi nơi này, con đi. Ngày mai Chúa muốn con ở lại, con ở. Một ngày Chúa muốn chuyển con đến nơi khác, con đi. Và nếu Chúa muốn chuyển con khỏi thế gian này về nhà Cha, con cũng đi.” Đó là đỉnh cao của đức vâng phục. Không chỉ vâng phục trong những thay đổi nhỏ, nhưng vâng phục cả trong biến cố cuối cùng mà không ai có thể thương lượng. Cái chết đối với người tận hiến phải trở thành lời khấn cuối cùng: “Con đây.” Tất nhiên, không ai biết mình sẽ phản ứng thế nào trong giờ ấy. Có thể ta run. Có thể ta khóc. Có thể ta bám lấy cuộc sống theo bản năng. Không cần tưởng tượng mình sẽ anh hùng. Nhưng ta có thể tập từ hôm nay, qua hàng ngàn tiếng “xin vâng” nhỏ, để một ngày tiếng “xin vâng” cuối cùng không hoàn toàn xa lạ với môi miệng mình.
Sự sẵn sàng ấy cũng thanh luyện động cơ làm việc tông đồ. Nếu ta làm để lưu danh, cái chết là kẻ thù. Nếu ta làm để xây tên tuổi, cái chết là thất bại. Nếu ta làm để mọi người nhớ tới mình, cái chết là nỗi ám ảnh. Nhưng nếu ta làm vì Chúa, thì cái chết chỉ là lúc trao công việc lại cho Chủ thật sự. Người thừa sai tự do nhất là người có thể nhìn một công trình mình đã đổ nhiều năm xây dựng và nói: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn người khác tiếp tục, con vui. Nếu Chúa muốn nó kết thúc, con cũng xin vâng. Miễn là danh Chúa được vinh hiển.” Đây không phải là dửng dưng, mà là tinh thần của người đầy tớ. Người đầy tớ không sở hữu vườn nho. Người ấy chỉ làm việc trong vườn nho của Chủ.
7. ĐỨC MARIA DẠY CHÚNG TA THẾ NÀO LÀ SẴN SÀNG TRAO LẠI
Muốn học cách ra đi, hãy nhìn Đức Maria. Cả cuộc đời Mẹ là một chuỗi trao lại. Mẹ nhận Con từ Thiên Chúa, nhưng ngay từ đầu đã biết Người thuộc về Cha. Mẹ sinh Người, nuôi Người, ôm Người trong vòng tay, nhưng không giữ Người cho riêng mình. Khi Người đi rao giảng, Mẹ trao Người cho sứ mạng. Khi Người bị chống đối, Mẹ không thể bảo vệ Người khỏi mọi đau khổ. Dưới chân thập giá, Mẹ phải sống một lần buông đau đớn nhất: đứng đó và nhìn Con yêu dấu chết. Không có sự chuẩn bị nhân loại nào đủ cho giờ ấy. Nhưng tiếng “xin vâng” ở Nazareth đã trưởng thành qua nhiều năm để trở thành sự trung tín dưới chân thập giá.
Sẵn sàng ra đi cũng vậy. Nó bắt đầu từ tiếng xin vâng hôm nay. Khi Chúa lấy khỏi ta một điều nhỏ, hãy tập trao. Khi một dự tính không thành, hãy tập trao. Khi một người không hiểu ta, hãy tập trao. Khi danh dự bị tổn thương, hãy tập trao. Khi tuổi tác lấy đi một phần sức khỏe, hãy tập trao. Khi một cánh cửa đóng lại, hãy tập trao. Mỗi lần như thế, ta đang tập cho lần cuối. Không phải để trở nên vô cảm, mà để tình yêu được thanh luyện khỏi chiếm hữu. Đức Maria yêu Đức Giêsu hơn bất cứ thụ tạo nào, nhưng tình yêu ấy không biến thành sự nắm giữ. Đó là mẫu gương cho chúng ta. Ta có thể yêu rất sâu nhưng vẫn trao lại cho Thiên Chúa.
Và cũng chính Đức Maria là người Mẹ mà linh hồn có thể chạy đến trong giờ sợ hãi. Biết bao Kitô hữu suốt bao thế kỷ đã cầu xin: “Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử.” Mỗi kinh Kính Mừng là một sự chuẩn bị cho giờ chết mà ta thường không để ý. Ta đã xin điều ấy hàng ngàn lần: xin Mẹ ở đó trong giờ cuối cùng. Vậy thì hãy cầu bằng ý thức mới. Mỗi lần đọc “và trong giờ lâm tử”, hãy dừng lòng lại một chút: “Mẹ ơi, con không biết giờ ấy là khi nào. Nhưng con xin Mẹ đừng để con một mình. Nếu con yếu, xin Mẹ nâng con. Nếu con sợ, xin Mẹ nhắc con rằng Con của Mẹ đang chờ. Nếu ma quỷ cám dỗ con tuyệt vọng, xin Mẹ che chở. Nếu con không còn nói được, xin Mẹ cầu thay cho con. Nếu trí con mờ đi, xin Mẹ giữ lòng con trong Danh Chúa Giêsu.”
Người sống dưới sự bảo trợ của Đức Maria không mong một cái chết không đau, nhưng mong một cái chết không xa Chúa. Có thể chết giữa bệnh viện, giữa căn phòng đơn sơ, giữa người thân, hay trong cô độc. Có thể tỉnh táo, có thể mê man. Có thể có linh mục bên cạnh, cũng có thể không. Ta không kiểm soát hoàn cảnh cuối đời. Nhưng ta có thể trao trước hoàn cảnh ấy cho Mẹ: “Mẹ hãy chuẩn bị cho con cái chết mà Chúa muốn.” Đây là một lời cầu nguyện mạnh mẽ, bởi nó cắt đứt ảo tưởng rằng ta phải được chết theo kịch bản mình thích. Có người muốn chết bình thản trong giấc ngủ. Có người muốn được lãnh đầy đủ các bí tích. Những ước muốn ấy tốt. Nhưng cuối cùng, người phó thác nói: “Lạy Chúa, xin cho con ơn chết trong tình nghĩa với Chúa; còn cách nào, ở đâu, khi nào, xin tùy Chúa.”
8. BÍ TÍCH THÁNH THỂ – TRƯỜNG HỌC CỦA NGƯỜI ĐANG TRỞ VỀ NHÀ
Mỗi Thánh lễ cũng là một sự chuẩn bị cho giờ ra đi. Ở đó, ta gặp Đấng đã đi qua cái chết. Ở đó, ta đón nhận chính Thân Mình Đức Kitô, như lương thực cho cuộc lữ hành. Ở đó, ta nghe lời: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em.” Đức Kitô dạy ta cách sống và cách chết: sống như một của lễ và chết như một của lễ. Mỗi lần rước lễ, ta có thể âm thầm nghĩ: “Lạy Chúa Giêsu, có thể một ngày nào đó con sẽ rước Chúa lần cuối mà không biết đó là lần cuối. Xin cho con đừng bao giờ rước Chúa cách hờ hững.” Tư tưởng ấy đủ làm người ta thay đổi cách bước lên bàn thánh.
Có một truyền thống rất đẹp của Hội Thánh gọi Thánh Thể được trao cho người sắp chết là Của Ăn Đàng. Cái tên ấy nói lên cả một nền thần học dịu dàng: người Kitô hữu là khách lữ hành, và Đức Kitô trở thành lương thực cuối đường. Người không chỉ đứng ở đích chờ ta. Người đi với ta. Người trở thành sức mạnh để ta bước qua cánh cửa mà thân xác run sợ. Cả đời ta ăn Mình Thánh Chúa là để một ngày có thể đi qua cái chết trong Người. Cả đời ta uống Máu Thánh Chúa là để một ngày máu trong thân xác ngừng chảy mà sự sống của Đức Kitô trong linh hồn không ngừng.
Vì thế, hãy quý Thánh Thể khi còn có thể. Đừng đợi đến giường bệnh mới yêu Bí tích này. Hãy đến với Chúa khi chân còn bước được. Hãy quỳ khi gối còn quỳ được. Hãy thờ lạy khi trí còn tỉnh. Hãy nói với Chúa khi giọng còn rõ. Hãy nhìn Nhà Tạm khi mắt còn thấy. Một ngày có thể ta sẽ không còn làm được những điều ấy. Nhưng nếu cả đời đã để Thánh Thể thấm vào lòng, ngay cả khi môi miệng cuối cùng không nói được, sự hiện diện của Chúa vẫn có thể trở thành ngôn ngữ sâu nhất của linh hồn.
9. GIỜ CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ LÚC BẮT ĐẦU TÍN THÁC, MÀ LÀ LÚC HOÀN TẤT ĐỨC TÍN THÁC ĐÃ SỐNG
Có người tưởng rằng rồi khi gần chết mình sẽ tự nhiên sốt sắng. Nhưng giờ chết có thể rất khó. Thân xác đau. Thuốc men làm trí óc mờ. Sự sợ hãi nổi lên. Ma quỷ có thể tấn công bằng tuyệt vọng, bằng ký ức tội lỗi, bằng cảm giác bị Chúa bỏ. Người ta có thể không còn sức suy nghĩ dài. Vì vậy đừng chờ đến lúc ấy mới học tín thác. Hãy tập từ hôm nay bằng những lời nguyện rất ngắn, rất đơn sơ, để chúng đi sâu vào bản năng thiêng liêng của ta: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha.” “Lạy Chúa, xin thương xót con.” “Lạy Mẹ Maria, xin ở cùng con.” “Giêsu, Maria, Giuse, con yêu mến, xin cứu các linh hồn.” Những lời ngắn này, khi được lặp lại trong cuộc sống, có thể trở thành nhịp thở trong giờ cuối.
Đừng dựa vào cảm xúc. Có thể trong giờ chết ta không cảm thấy bình an. Nhưng bình an Kitô giáo không nhất thiết là cảm giác êm dịu. Có khi thân xác run mà linh hồn vẫn tín thác. Có khi nước mắt chảy mà bên trong vẫn có tiếng “xin vâng”. Đức Giêsu trong Vườn Cây Dầu cũng buồn sầu đến chết được. Người xin nếu có thể thì chén này rời khỏi Người. Nhưng rồi Người nói: “Đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Vậy nên đừng tưởng một cái chết thánh thiện phải là một cái chết không sợ hãi. Một cái chết thánh thiện là cái chết mà giữa nỗi sợ, con người vẫn bám vào Chúa.
Có thể lúc ấy quá khứ trở về. Ta nhớ những lỗi lầm, những người đã làm tổn thương, những việc đáng lẽ phải làm mà không làm. Đây là nơi lòng thương xót phải trở thành neo. Nếu đã ăn năn và xưng thú chân thành, đừng để ma quỷ dùng tội đã được tha để đưa ta vào tuyệt vọng. Khi Chúa tha, Ngài tha thật. Ta có thể phải đền bù hậu quả khi còn có thể, nhưng không được biến sự khiêm nhường thành sự không tin lòng thương xót. Giờ cuối không phải lúc ta trình với Chúa một bảng thành tích đẹp. Đó là lúc ta đến như người trộm lành: chẳng còn gì để khoe, chỉ còn một lời: “Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa Giêsu đã không đòi ông phải chứng minh gì thêm. Lòng thương xót của Người lớn hơn một đời tội lỗi khi linh hồn thật sự quay về.
10. SỐNG HÔM NAY SAO CHO NẾU CHÚA GỌI ĐÊM NAY, TA CÓ THỂ THƯA: “CON ĐÂY”
Hỡi linh hồn, đừng đợi già mới bắt đầu chuẩn bị. Đừng đợi bệnh mới nghĩ đến đời sau. Đừng đợi mất mát mới học buông. Đừng đợi người khác chết mới biết quý họ. Đừng đợi đến lúc không còn sức mới cầu nguyện. Đừng đợi đến lúc tiếng nói yếu đi mới nói lời yêu thương. Đừng đợi tới khi cuộc đời thu hẹp mới nhận ra điều gì thật sự quan trọng.
Hãy sống hôm nay. Nhưng sống thật. Hãy làm việc hết lòng, nhưng không bám vào công việc. Hãy yêu người khác sâu sắc, nhưng trao họ cho Chúa. Hãy chăm sóc thân xác, nhưng biết thân xác là lều tạm. Hãy xây dựng, nhưng nhớ mình không định cư vĩnh viễn ở đây. Hãy vui với những điều đẹp, nhưng đừng bắt chúng phải kéo dài mãi. Hãy chịu đau khi mất mát, nhưng đừng tuyệt vọng. Hãy cầu xin sống lâu nếu còn nhiều điều tốt để làm, nhưng cũng học thưa: “Lạy Chúa, số ngày của con ở trong tay Chúa.”
Một người sống như thế sẽ có một vẻ tự do rất đặc biệt. Người ấy không dễ bị thao túng bởi danh vọng, vì danh vọng không theo được họ qua cái chết. Không dễ bị trói bởi tiền bạc, vì tiền bạc chỉ có giá trị ở bên này. Không quá sợ người ta ghét, vì phán quyết cuối cùng không thuộc về đám đông. Không quá hoảng loạn khi kế hoạch đổ vỡ, vì đích đến không phải là hoàn thành kế hoạch mà là đến với Chúa. Không quá tuyệt vọng khi thân xác yếu, vì sự sống đời đời không dựa vào sức mạnh thân xác. Không quá cay đắng khi bị hiểu lầm, vì một ngày mọi sự sẽ được đặt trong ánh sáng chân thật của Thiên Chúa.
Và điều kỳ lạ nhất: người sẵn sàng chết thường lại biết sống hơn. Họ thưởng thức tách trà bằng lòng biết ơn. Ngắm một buổi chiều với sự chú ý mà người vội vã không có. Nghe tiếng cười của một đứa trẻ và biết đó là quà tặng. Bước vào nhà nguyện và không coi sự hiện diện của Nhà Tạm là điều hiển nhiên. Cầm tay một người già và cảm nhận sự mong manh chung của kiếp người. Nhìn một người đau khổ và bớt phán xét. Nhìn chính mình trong gương và biết thân xác đang già đi nhưng linh hồn đang được gọi tiến về phía trước. Họ sống chậm hơn ở nơi cần chậm, nhanh hơn ở nơi cần quyết định. Chậm để yêu. Nhanh để tha thứ. Chậm để phán xét. Nhanh để xin lỗi. Chậm để tiêu phí đời mình. Nhanh để làm điều thiện.
11. LỜI KẾT – HÃY TẬP RA ĐI TỪ HÔM NAY ĐỂ NGÀY RA ĐI THẬT SỰ TRỞ THÀNH NGÀY VỀ NHÀ
Hỡi linh hồn đang chiến đấu, cuộc đời này đẹp, nhưng không phải quê hương cuối cùng. Những người Chúa cho ta gặp rất quý, nhưng ta không sở hữu họ mãi mãi. Những công việc Chúa trao rất đáng làm, nhưng không phải là cùng đích. Thân xác này đáng chăm sóc, nhưng một ngày sẽ trở về bụi đất. Danh tiếng sẽ phai. Thành tựu sẽ được người khác thay thế. Những căn nhà sẽ có chủ mới. Những cuốn sách có thể còn hoặc mất. Những bức ảnh sẽ nhạt màu. Những người từng biết ta rồi cũng lần lượt ra đi. Cuối cùng, điều còn lại không phải ta đã có bao nhiêu, nhưng ta đã yêu thế nào. Không phải có bao nhiêu người biết tên ta, nhưng Thiên Chúa nhận ra ta là người thuộc về Ngài. Không phải ta giữ được bao nhiêu, nhưng ta đã trao bao nhiêu. Không phải ta tránh được bao nhiêu đau khổ, nhưng ta đã để đau khổ biến mình thành người yêu mến hơn hay cay đắng hơn. Không phải đời ta dài hay ngắn, nhưng đời ta có được trao cho Chúa hay không.
Vậy hãy sống hôm nay như người có thể được gọi về nhà Cha trong đêm nay. Hãy cầu nguyện như thể đây có thể là lần cuối con nói với Chúa bằng ngôn ngữ của đời này. Hãy dâng Thánh lễ như thể đây có thể là Thánh lễ cuối cùng. Hãy rước Chúa như thể đây có thể là lần cuối cùng con đón Người dưới hình bánh. Hãy nhìn người thân như thể có thể ngày mai không còn nhìn thấy nhau. Hãy tha thứ như thể đây là cơ hội cuối. Hãy làm điều thiện như thể không còn ngày mai để bù lại cho sự trì hoãn hôm nay. Hãy trao công việc cho Chúa như thể tối nay con phải rời nó. Hãy đặt đầu xuống gối mỗi đêm như người hành hương cởi hành trang trước khi nghỉ, lòng nhẹ nhàng vì không còn điều gì cố ý giữ lại ngoài tình yêu của Thiên Chúa.
Nếu sáng mai thức dậy, hãy cảm tạ: Chúa cho thêm một ngày để yêu. Nếu một ngày không còn thức dậy trên trần gian nữa, xin cho ta thức dậy trong ánh sáng của Người.
Đừng sợ phải nói: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn gọi con về hôm nay, con xin sẵn sàng.” Có thể khi nói, ta vẫn run. Không sao. Hãy nói bằng chính sự yếu đuối của mình. Sự sẵn sàng không có nghĩa là không còn quyến luyến, không còn thương những người ở lại, không còn sợ đau, không còn muốn sống. Sự sẵn sàng có nghĩa là giữa tất cả những điều ấy, ta đặt ý Chúa cao hơn ý mình. “Con muốn sống, nhưng nếu Chúa gọi, con đi. Con muốn còn phục vụ, nhưng nếu Chúa bảo đã đủ, con trao lại. Con muốn còn ở với những người con yêu, nhưng nếu Chúa muốn con rời họ trước, con tin Chúa sẽ chăm sóc họ tốt hơn con. Con không hiểu sự chết, nhưng con biết Đấng đang ở phía bên kia của sự chết. Vì thế, con tín thác.”
Khi giờ ấy đến, có thể căn phòng rất yên. Có thể quanh giường có người thân. Có thể chỉ có tiếng máy móc của bệnh viện. Có thể một linh mục đọc lời nguyện. Có thể chẳng ai kịp đến. Có thể ta còn tỉnh để làm dấu Thánh giá. Có thể không còn sức mở mắt. Nhưng điều quyết định không phải khung cảnh. Điều quyết định là trái tim đã thuộc về ai. Và nếu cả đời đã cố tập nói với Chúa: “Con thuộc về Ngài”, thì dù môi không còn cử động, lời ấy vẫn có thể vang lên ở nơi sâu nhất của linh hồn.
Bấy giờ, cái chết không còn hoàn toàn là một kẻ lạ. Nó chỉ là bước cuối cùng của người lữ hành đã đi lâu ngày. Nó là lúc tháo đôi dép bụi đường. Là lúc đặt xuống hành trang đã mang quá lâu. Là lúc cánh cửa mở ra. Là lúc đức tin nhường chỗ cho thị kiến. Là lúc hy vọng chạm đến điều mình mong đợi. Là lúc lời ca tụng đang hát bằng giọng yếu đuối của trần gian hòa vào lời ca tụng của Hội Thánh khải hoàn. Là lúc người con nghe tiếng Cha gọi: “Về nhà.”
Và có lẽ lúc ấy, nếu còn có thể nói, ta sẽ hiểu sâu xa hơn bao giờ hết lời của cụ già Simêon, người đã sống đủ lâu để chỉ còn mong được nhìn thấy Đấng Cứu Độ rồi ra đi trong bình an: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã hứa. Vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ Chúa dành sẵn cho muôn dân.” (Lc 2,29-30).
Xin cho lời ấy không chỉ là lời ta đọc trong kinh nguyện, nhưng trở thành hướng đi của cả đời ta. Xin cho mỗi ngày ta sống làm cho lời ấy ngày càng thật hơn. Xin cho đến một lúc nào đó, sau bao nhiêu năm chiến đấu, sa ngã, đứng lên, cầu nguyện, phục vụ, khóc, cười, yêu thương, tha thứ, thất bại và bắt đầu lại, ta có thể nhìn lại cuộc đời không phải với sự tự mãn rằng mình đã làm mọi sự hoàn hảo, nhưng với sự bình an của một người biết mình đã được thương xót.
Và khi ấy ta sẽ không nói: “Lạy Chúa, con đã xứng đáng.”
Ta chỉ nói: “Lạy Chúa, Chúa đã trung tín.”
Ta sẽ không nói: “Con đã chiến thắng nhờ sức riêng.”
Ta chỉ nói: “Chính tay Chúa đã giữ con.”
Ta sẽ không nói: “Con đã đi một con đường không vấp ngã.”
Ta chỉ nói: “Mỗi lần con ngã, Chúa đã dựng con lên.”
Ta sẽ không nói: “Con mang đến cho Chúa một cuộc đời hoàn hảo.”
Ta chỉ có thể đặt trước Ngài một cuộc đời đầy dấu vết của yếu đuối, nhưng cũng đầy dấu vết của lòng thương xót.
Và có lẽ đó chính là vẻ đẹp cuối cùng của cuộc chiến linh hồn: sau tất cả những cố gắng, linh hồn hiểu rằng chiến thắng sau cùng không phải là nó đã giữ được Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa đã không bao giờ buông nó ra.
Hỡi linh hồn, hôm nay con còn đang trên đường. Hãy bước đi. Đừng quá sợ bụi. Đừng quá sợ mệt. Đừng quá sợ những đoạn đường tối. Đừng quá thất vọng vì những lần vấp. Hãy giữ mắt hướng về quê nhà. Hãy giữ tay trong tay Chúa. Hãy để Đức Maria đi bên cạnh. Hãy nhận Thánh Thể làm lương thực. Hãy để các thánh nhắc con rằng con đường này đã có người đi qua. Hãy để các thiên thần bảo vệ con. Hãy tha thứ. Hãy yêu. Hãy cầu nguyện. Hãy làm việc thiện. Hãy sống nhẹ. Hãy bắt đầu lại. Hãy phó thác.
Và mỗi đêm, trước khi nhắm mắt, hãy có thể nói thật đơn sơ:
“Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con đã đi thêm một ngày về phía Chúa. Con không biết còn bao nhiêu ngày nữa. Con không xin biết. Con chỉ xin ơn trung tín cho ngày hôm nay và ơn phó thác khi ngày cuối cùng đến. Nếu đêm nay con còn được ngủ rồi thức dậy, xin cho con bắt đầu lại với lòng biết ơn. Nếu đêm nay là đêm cuối của đời con, xin cho giấc ngủ này mở ra trong ánh sáng của Chúa. Con trao linh hồn, thân xác, những người con yêu, những điều con chưa làm xong, những điều con còn tiếc, những lỗi lầm đã được Chúa tha, những nỗi đau chưa hiểu, những ước mơ chưa thành, tất cả vào tay Chúa. Con chẳng có gì ngoài lòng thương xót của Ngài. Con không biết chết thế nào, nhưng con biết Chúa biết cách đón con. Con không biết đường đi qua bóng tối cuối cùng, nhưng con biết Chúa đã đi qua trước. Xin cầm tay con. Xin đừng để con xa Chúa. Xin cho lời cuối cùng của đời con, dù môi miệng còn nói được hay không, vẫn là: Giêsu, con tín thác vào Chúa.”
Và khi ngày ấy đến, xin cho người lữ hành không còn sợ vì cuối con đường không phải là hư vô.
Cuối con đường là một mái nhà.
Cuối con đường là vòng tay của Cha.
Cuối con đường là Đức Kitô Phục Sinh.
Cuối con đường là lời ca tụng không còn nước mắt.
Cuối con đường là sự sống.
Amen.
CHƯƠNG 50
LỜI KẾT TOÀN BỘ CUỘC CHIẾN – HÃY CHIẾN ĐẤU ĐẾN CÙNG TRONG LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
Hỡi linh hồn thân yêu, chúng ta đã đi với nhau một đoạn đường rất dài. Từ những trang đầu tiên, khi cuộc chiến còn được nói đến như một lời mời gọi, cho đến những trang cuối cùng này, khi những trận địa đã dần hiện ra với tất cả sự thật, yếu đuối, đau đớn, hy vọng và ân sủng của nó, có lẽ con đã hiểu hơn rằng đời sống Kitô hữu không phải là một cuộc dạo chơi êm đềm, cũng không phải là một hành trình trong đó chỉ cần một vài thiện chí ban đầu là đủ để đi đến cùng. Đời sống Kitô hữu là một cuộc chiến. Nhưng không phải cuộc chiến chống lại con người, không phải cuộc chiến để thắng người khác, để chứng minh mình đúng, để bảo vệ danh dự riêng, hay để xây dựng một cái tôi đạo đức mạnh hơn. Đó là cuộc chiến âm thầm và sâu xa hơn nhiều: cuộc chiến chống lại chính mình, chống lại những xu hướng lệch lạc đang âm thầm kéo ta xa Chúa, chống lại lòng tự ái vẫn muốn ngồi trên ngai trong tâm hồn, chống lại sự nóng giận, tính kiêu căng, sự lười biếng, sự ham muốn, những gắn bó không ngay thẳng, những nỗi sợ, những cơn chán nản, những ảo tưởng thiêng liêng, và hơn hết là chống lại ý riêng luôn muốn chen vào giữa linh hồn và thánh ý Thiên Chúa. Cuộc chiến ấy không diễn ra ở đâu xa. Nó diễn ra ngay trong một lời nói mà con muốn buông ra nhưng phải giữ lại; trong một ánh mắt con phải quay đi; trong một lời xin lỗi mà lòng tự ái không muốn thốt lên; trong một bổn phận nhỏ con không thích nhưng vẫn phải làm; trong một buổi sáng mệt mỏi mà con vẫn phải thức dậy để cầu nguyện; trong một thất bại mà con phải học cách không tuyệt vọng; trong một thành công mà con phải học cách không chiếm lấy vinh quang cho mình; trong một cơn bệnh, một sự hiểu lầm, một việc không như ý, một người khó chịu, một ngày khô khan, một giờ cầu nguyện chẳng cảm thấy gì, một lúc cô đơn, một khi bị bỏ quên, một khi cảm thấy công việc mình làm chẳng sinh hoa trái nào. Tất cả đều có thể trở thành chiến trường. Tất cả cũng có thể trở thành bàn thờ. Và trên từng chiến trường nhỏ bé ấy, linh hồn được mời gọi dâng chính mình lên Thiên Chúa.
Chúng ta đã học rằng không ai có thể bước vào cuộc chiến này chỉ bằng sức riêng. Ngay từ đầu, con đã được đặt trước bốn khí giới nền tảng: bất tín nhiệm vào chính mình, tín thác vào Thiên Chúa, luyện tập các năng lực hồn xác, và cầu nguyện. Bốn khí giới ấy tưởng như đơn sơ, nhưng thật ra chứa đựng cả một con đường nên thánh. Bất tín nhiệm vào chính mình không phải là khinh ghét mình, cũng không phải là tự ti, nhưng là biết mình yếu đuối đến mức nào để khỏi ỷ lại vào những quyết tâm của mình. Tín thác vào Thiên Chúa không phải là một cảm giác đẹp, nhưng là ném toàn bộ đời mình vào tay Chúa khi không còn gì trong tay. Luyện tập các năng lực hồn xác không phải là hành hạ bản thân, nhưng là đem trí nhớ, trí hiểu, ý chí, thân xác, giác quan, cảm xúc, lời nói, hành động trở về đúng trật tự của chúng để tất cả trở nên những khí cụ phục vụ tình yêu. Cầu nguyện không phải chỉ là một việc đạo đức bên cạnh các việc khác, nhưng là hơi thở của người chiến đấu, là nơi linh hồn nhận sức, nhận ánh sáng, nhận sự sống, nhận lại bình an sau mỗi lần bị xáo trộn. Nếu suốt năm mươi chương con chỉ nhớ được bốn điều ấy và thật sự sống chúng, con đã giữ trong tay điều cốt yếu của cuộc chiến.
Nhưng cuộc chiến không chỉ có nguyên tắc. Nó có những trận đánh rất cụ thể. Có lúc con phải đối diện với tự ái, với cái tôi muốn được nhìn nhận, được khen, được hiểu, được ưu tiên. Có lúc con phải đối diện với nóng giận, với những lời nói tưởng là bảo vệ chân lý nhưng thực ra phát xuất từ tổn thương và kiêu ngạo. Có lúc con phải chống lại lười biếng, không chỉ là lười làm việc, mà là thứ lười thiêng liêng tinh tế khiến ta ngại hy sinh, ngại sửa mình, ngại cầu nguyện sâu, ngại đối diện với những vùng tối trong chính mình. Có lúc con phải chiến đấu với những cám dỗ bất khiết, với trí tưởng tượng, ký ức, ánh mắt và những rung động khiến tâm hồn mất tự do. Có lúc kẻ thù không đánh con bằng sự quyến rũ của tội lỗi, mà bằng sự chán nản, làm con tin rằng mình không thay đổi được nữa, rằng mình đã cố quá nhiều mà chẳng tiến bao nhiêu, rằng những lần sa ngã đã chứng minh rằng con không thể nên thánh. Nhưng ở từng trận địa ấy, chúng ta đã học một điều: điều nguy hiểm nhất không phải là bị cám dỗ, cũng không phải là cảm thấy yếu đuối, thậm chí không phải là ngã xuống; điều nguy hiểm nhất là nằm lại và không muốn đứng dậy. Người chiến đấu thật sự không được đo bằng số lần không ngã, nhưng bằng số lần họ để cho lòng thương xót Chúa dựng mình dậy.
Vì thế, bây giờ, khi đến những dòng cuối cùng của toàn bộ cuộc chiến, tôi không muốn đặt vào tay con thêm một kỹ thuật mới, thêm một phương pháp mới, thêm một hệ thống mới. Đường đã chỉ rồi. Khí giới đã trao rồi. Những cạm bẫy chính đã được gọi tên. Những nơi nương tựa đã được mở ra. Chúng ta đã nói về Chúa Thánh Thần, về Đức Maria, về các thánh và các thiên thần, về đời sống cộng đoàn, về sứ vụ, về Thánh Thể, về lời cầu nguyện, về thánh ý Chúa, về lòng thương xót, về niềm vui, về tạ ơn, về quê trời, về giờ chết. Bây giờ chỉ còn một điều. Một điều rất ngắn nhưng chứa cả một đời người: Hãy chiến đấu đến cùng. Không phải chiến đấu một vài năm rồi thôi. Không phải chiến đấu cho đến khi con đạt được một chút bình an rồi nghĩ mình đã đủ. Không phải chiến đấu khi còn khỏe, còn hăng hái, còn sốt sắng, rồi đến lúc mệt mỏi thì buông xuôi. Không phải chiến đấu khi được người khác nâng đỡ, rồi khi bị bỏ quên thì ngừng. Không phải chiến đấu khi thấy kết quả, rồi khi mọi sự dường như vô ích thì rút lui. Hãy chiến đấu đến cùng. Cho đến khi mắt con không còn nhìn rõ. Cho đến khi đôi tay không còn làm được gì nhiều. Cho đến khi giọng nói yếu đi. Cho đến khi trí nhớ bắt đầu quên. Cho đến khi sứ vụ phải trao lại cho người khác. Cho đến khi những điều con từng làm giỏi không còn làm được nữa. Cho đến khi điều cuối cùng con còn có thể dâng cho Chúa chỉ là một hơi thở, một tiếng “xin vâng”, một cái nhìn về Thánh Giá, một lời gọi rất khẽ: “Giêsu, con tín thác nơi Ngài.”
ĐỪNG BAO GIỜ BỎ CUỘC
Hỡi linh hồn, nếu tôi có thể đặt vào lòng con một câu để con mang theo cho đến cuối đời, thì câu ấy là: đừng bỏ cuộc. Có thể con sẽ còn sa ngã. Có thể những yếu đuối con tưởng mình đã thắng sẽ trở lại vào một ngày không ngờ. Có thể một đam mê đã im tiếng nhiều năm bỗng trỗi dậy khi con mệt mỏi. Có thể những tổn thương cũ mà con nghĩ mình đã chữa lành lại nhói lên. Có thể con sẽ thấy bản thân mình nhỏ bé hơn rất nhiều so với điều con tưởng về chính mình. Có thể càng tiến gần Chúa, con càng thấy rõ những góc tối trong lòng. Đừng vì thế mà kết luận rằng con đã đi lùi. Đôi khi chính ánh sáng mạnh hơn khiến bụi bặm hiện ra rõ hơn. Một căn phòng tối không cho thấy bụi. Chỉ khi cửa sổ được mở và ánh sáng tràn vào, người ta mới thấy những hạt bụi bay trong không khí. Cũng vậy, một linh hồn ở xa Chúa thường không thấy rõ mình. Khi Chúa đến gần, ánh sáng của Ngài làm con thấy mình nghèo hơn, nhỏ hơn, yếu hơn. Đó không nhất thiết là dấu hiệu thất bại. Đó có thể là dấu hiệu con đang bắt đầu thấy sự thật.
Đừng bỏ cuộc khi con thấy mình tiến bộ chậm. Thiên Chúa không làm việc theo sự hấp tấp của chúng ta. Có những điều Ngài có thể cất khỏi con trong một giây, nhưng Ngài lại để con phải chiến đấu nhiều năm, bởi vì điều Ngài muốn không chỉ là cất đi một khuyết điểm mà còn làm nảy sinh trong con sự khiêm nhường, kiên nhẫn, lòng thương xót với người khác, kinh nghiệm về sự lệ thuộc hoàn toàn vào ân sủng. Nếu Chúa lấy khỏi con mọi yếu đuối ngay tức khắc, có khi con sẽ mau chóng tưởng rằng mình mạnh. Có những cái gai còn ở lại không phải vì Chúa không nghe lời cầu của con, nhưng vì qua cái gai ấy Ngài giữ con ở lại trong bàn tay Ngài. Có những trận chiến kéo dài không phải vì Chúa đã quên con, nhưng vì chính nơi trận chiến ấy, con đang học một bài học không thể học bằng sách: bài học về sự nghèo khó thật sự của con người trước mặt Thiên Chúa.
Đừng bỏ cuộc khi con không cảm thấy Chúa. Cảm giác không phải là Thiên Chúa. An ủi không phải là Thiên Chúa. Nước mắt trong cầu nguyện không phải là Thiên Chúa. Cảm xúc sốt sắng có thể là quà, nhưng không phải là cùng đích. Có những giai đoạn Chúa để linh hồn đi trong khô khan để thanh luyện tình yêu. Khi ấy, con không còn đến với Chúa vì thấy ngọt ngào. Con đến vì Ngài là Chúa. Con quỳ xuống mà không có cảm xúc nâng đỡ. Con đọc kinh mà thấy tâm trí nặng nề. Con dự lễ mà lòng khô như đất hạn. Con làm bổn phận mà chẳng ai biết. Chính khi ấy, nếu con vẫn trung tín, tình yêu có thể trở nên tinh tuyền hơn rất nhiều so với những ngày đầy cảm xúc. Một người chỉ yêu khi cảm thấy dễ chịu chưa biết tình yêu sâu đến đâu. Một người vẫn yêu khi không nhận được gì cho mình đang bắt đầu chạm tới tình yêu tự hiến.
Đừng bỏ cuộc khi sứ vụ xem ra chẳng sinh hoa trái. Người thừa sai thường bị cám dỗ đo lòng trung thành của mình bằng kết quả nhìn thấy được. Có bao nhiêu người nghe? Có bao nhiêu người thay đổi? Có ai nhớ lời mình nói không? Công việc này có thành công không? Tên mình có được nhắc đến không? Nhưng con đâu được gọi để sở hữu mùa gặt. Con được gọi để gieo. Có hạt giống con gieo hôm nay sẽ mọc khi con đã rời khỏi nơi ấy. Có lời con nói người ta tưởng đã quên, nhưng nhiều năm sau mới trở lại đúng lúc họ cần. Có một cử chỉ tử tế con không nhớ nữa nhưng ai đó đã mang theo suốt đời. Có một giờ con âm thầm cầu nguyện cho một linh hồn mà con không bao giờ biết kết quả. Thiên Chúa không đòi con phải nhìn thấy mọi hoa trái. Ngài đòi con trung tín với phần việc Ngài trao. Người gieo không được phép đào hạt lên mỗi ngày để xem nó đã mọc chưa. Cứ gieo. Cứ tưới. Cứ làm phần của mình. Và để Thiên Chúa làm phần của Ngài.
Đừng bỏ cuộc khi tuổi già, bệnh tật hay giới hạn bắt đầu làm con cảm thấy mình vô dụng. Trong logic của thế gian, một người được đánh giá bằng những gì họ sản xuất, tạo ra, điều hành hay hoàn thành. Nhưng trong logic của Nước Trời, giá trị sâu xa nhất của một đời người không nằm ở số việc đã làm, mà ở mức độ người ấy đã trở thành của lễ tình yêu. Có một ngày con có thể không còn đi được xa, không còn nói được nhiều, không còn đảm nhận những việc từng làm. Nhưng con vẫn có thể yêu. Con vẫn có thể dâng. Con vẫn có thể cầu nguyện. Con vẫn có thể chấp nhận sự lệ thuộc với khiêm nhường. Con vẫn có thể biến bệnh tật thành lời chuyển cầu. Con vẫn có thể biến một đêm mất ngủ thành một canh thức cho Hội Thánh. Con vẫn có thể biến sự bất lực thành một tiếng “xin vâng” sâu hơn tất cả những bài giảng con từng nói. Đừng nghĩ rằng khi không còn làm được nhiều thì cuộc chiến đã kết thúc. Có khi chính lúc ấy nó đi vào chiều sâu cuối cùng: chiến đấu để buông mình hoàn toàn vào tay Chúa.
Người chiến thắng không phải là người không bao giờ ngã. Người chiến thắng là người biết đứng dậy đến lần cuối cùng. Hãy nhìn Chúa Giêsu trên đường lên Núi Sọ. Người ngã xuống. Người đứng dậy. Người lại bước. Thân xác kiệt quệ. Vai đau. Máu chảy. Đám đông chế nhạo. Nhưng Người không quay lưng. Người đi đến cùng. Không phải vì con đường dễ, nhưng vì tình yêu lớn hơn đau khổ. Hãy nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ không hiểu hết theo kiểu hiểu của con người. Mẹ đau. Mẹ đứng đó. Không bỏ đi. Không chạy khỏi nơi con tim bị đâm thâu. Các thánh cũng thế. Họ không phải là những người đi qua đời mà không có đêm tối. Họ là những người đã học cách ở lại với Chúa trong đêm tối. Con cũng vậy. Đừng xin một đời không có chiến đấu. Hãy xin một trái tim không bỏ Chúa giữa chiến đấu.
HÃY ĐỂ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA TRỞ THÀNH BẦU KHÍ DUY NHẤT
Nếu có một điều phải phủ lấy toàn bộ cuộc chiến từ đầu đến cuối, thì đó là lòng thương xót. Không phải sợ hãi. Không phải ám ảnh phải hoàn hảo. Không phải khắt khe với chính mình. Không phải thứ đạo đức khiến linh hồn luôn nơm nớp rằng chỉ một sơ suất là Chúa sẽ quay mặt đi. Không. Bầu khí của người chiến đấu là lòng thương xót. Ta chiến đấu không phải để buộc Chúa yêu ta. Ta chiến đấu bởi vì đã được yêu. Ta không sửa mình để mua lấy tình thương của Chúa. Ta sửa mình vì tình thương ấy đã chạm đến ta và gọi ta ra khỏi những gì làm ta mất tự do. Ta không cầu nguyện để thuyết phục Chúa chú ý đến mình. Ta cầu nguyện vì Ngài đã nhìn đến ta trước. Ta không trở lại sau khi sa ngã để xin Chúa miễn cưỡng nhận ta. Ta trở lại vì cửa nhà Cha vẫn mở.
Khi thắng, hãy ở trong lòng thương xót. Đừng nhìn chiến thắng rồi tự mãn. Đừng nghĩ: lần này tôi đã mạnh. Hãy nghĩ: lần này Chúa đã nâng tôi. Có thể con đã chống lại một cám dỗ thành công. Hãy tạ ơn. Có thể con đã im lặng được khi bị xúc phạm. Hãy tạ ơn. Có thể con đã từ bỏ một gắn bó kéo dài nhiều năm. Hãy tạ ơn. Có thể con đã bắt đầu sống kỷ luật hơn, cầu nguyện trung thành hơn, dịu dàng hơn với người khác. Hãy tạ ơn. Mọi sự tốt lành trong con đều là hoa trái của ân sủng được con cộng tác. Nếu quên điều đó, chính chiến thắng sẽ trở thành cám dỗ. Người ta có thể chiến thắng tính nóng giận nhưng lại thua kiêu ngạo. Có thể thắng sự bất khiết nhưng lại bắt đầu khinh người yếu đuối. Có thể sống khổ chế hơn nhưng lòng trở nên cứng. Vì thế, mỗi chiến thắng phải kết thúc trong tạ ơn và khiêm nhường.
Khi thua, cũng hãy ở trong lòng thương xót. Đây là điều nhiều linh hồn khó học hơn. Sau khi sa ngã, ta thường muốn tự trừng phạt mình bằng buồn bã kéo dài, như thể đau khổ nhiều về mình sẽ làm Chúa vui hơn. Ta lặp lại trong đầu lỗi lầm, trách mình, chán mình, đôi khi không dám cầu nguyện vì xấu hổ. Nhưng nếu sự hối hận làm con xa Chúa, nó không còn là hối hận lành mạnh nữa. Ăn năn thật phải đưa linh hồn chạy về Chúa. Người con hoang đàng không ngồi mãi bên máng heo để phân tích vì sao mình đã ngu dại. Anh đứng dậy và trở về. Hãy học động tác ấy. Đứng dậy. Trở về. Xưng thú. Đón nhận tha thứ. Học bài học cần học. Rồi bước tiếp. Đừng biến một lần sa ngã thành một tuần tuyệt vọng. Đừng dâng cho ma quỷ thêm bảy ngày chỉ vì nó đã lấy của con một phút. Sa ngã đã đủ đau rồi. Đừng cộng thêm tuyệt vọng.
Khi mệt, hãy dựa vào lòng thương xót. Có những ngày con chẳng còn sức chiến đấu như thường lệ. Khi ấy đừng đặt thêm gánh nặng lên mình bằng việc buộc bản thân phải cảm thấy mạnh. Hãy trở nên nhỏ. Hãy nói với Chúa sự thật. “Lạy Chúa, hôm nay con mệt. Con không còn sức. Nếu Chúa không giữ con, con sẽ ngã.” Một lời cầu như thế có khi đẹp lòng Chúa hơn nhiều lời cầu hùng hồn. Trẻ nhỏ không xấu hổ vì cần được bế. Chỉ người lớn mới xấu hổ vì mình yếu. Trong đời sống thiêng liêng, có lúc Chúa muốn con thôi diễn vai người mạnh để học làm con. Khi con không thể bước, hãy để Ngài bế. Khi con không biết cầu nguyện, hãy để Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong con. Khi con không thấy đường, hãy nắm lấy một điều con biết chắc: Chúa tốt lành.
Khi sợ hãi, hãy tin vào lòng thương xót hơn là tin vào sự yếu đuối của mình. Con có thể biết mình yếu mà không tuyệt vọng, bởi vì sự yếu đuối của con không phải là thực tại lớn nhất. Thực tại lớn nhất là lòng thương xót Chúa. Tội con có thật, nhưng lòng thương xót thật hơn. Giới hạn con có thật, nhưng ân sủng mạnh hơn. Quá khứ con có những điều không sửa lại được, nhưng Chúa có thể làm cho những vết thương ấy trở thành nơi ân sủng tràn ra. Có những trang đời con ước gì được xé bỏ. Thiên Chúa không nhất thiết xé chúng. Ngài có thể viết tiếp một câu chuyện cứu độ ngay trên những trang ấy. Phêrô không thể làm cho ba lần chối Thầy chưa từng xảy ra. Nhưng lòng thương xót biến một người từng chối Thầy thành người có thể nói với những kẻ yếu đuối khác rằng: hãy trở lại. Phaolô không thể làm cho quá khứ bách hại Hội Thánh biến mất. Nhưng ân sủng đã biến chính người ấy thành tông đồ. Chúa không cần một quá khứ hoàn hảo để làm nên một tương lai thánh thiện. Ngài cần một trái tim biết trao mình.
Hãy để lòng thương xót trở thành hơi thở. Sáng thức dậy: lòng thương xót. Khi bước vào nhà nguyện: lòng thương xót. Khi bắt đầu một ngày làm việc: lòng thương xót. Khi gặp người làm con khó chịu: lòng thương xót. Khi thấy mình yếu: lòng thương xót. Khi thấy người khác yếu: lòng thương xót. Khi xét mình buổi tối: lòng thương xót. Khi ra tòa giải tội: lòng thương xót. Khi đứng trước Thánh Thể: lòng thương xót. Khi nghe tin bệnh tật: lòng thương xót. Khi đối diện cái chết: lòng thương xót. Hãy để tâm hồn quen sống như cá sống trong nước: bao bọc bởi lòng thương xót, được nâng đỡ bởi lòng thương xót, và cũng trở thành nơi lòng thương xót chảy sang người khác.
GIỮ ĐẾN CÙNG BỐN KHÍ GIỚI
Đừng bao giờ nghĩ rằng có một giai đoạn nào đó trong đời sống thiêng liêng con sẽ không còn cần bốn khí giới ban đầu. Càng đi xa, con càng thấy chúng cần thiết. Một người mới bắt đầu có thể bất tín nhiệm vào chính mình vì họ thấy mình nhiều khuyết điểm. Nhưng người tiến xa phải bất tín nhiệm sâu hơn nữa, bởi họ biết ngay cả những điều xem ra thánh thiện cũng có thể bị cái tôi chiếm dụng. Ý tốt có thể lẫn tự ái. Nhiệt thành có thể lẫn nhu cầu được công nhận. Lòng nhiệt tâm bảo vệ chân lý có thể lẫn giận dữ. Mong muốn phục vụ có thể lẫn tham vọng. Khổ chế có thể lẫn tự hào. Cầu nguyện có thể lẫn việc tìm cảm giác. Vì thế càng tiến, càng phải khiêm nhường nhìn nhận: nếu Chúa không giữ, tôi có thể lạc đường ngay cả khi đang làm việc tốt.
Hãy bất tín nhiệm vào chính mình, nhưng đừng dừng ở đó. Bất tín nhiệm không đi cùng tín thác sẽ trở thành thất vọng. Hãy tín thác vào Chúa. Tín thác không phải nghĩ rằng mọi sự sẽ xảy ra theo ý con. Tín thác là tin rằng ngay cả khi mọi sự không xảy ra theo ý con, Chúa vẫn không rời con. Tín thác là khi cánh cửa con muốn mở lại đóng, mà con vẫn tin. Khi một kế hoạch tốt không thành, mà con vẫn tin. Khi người con yêu không hiểu con, mà con vẫn tin. Khi lời cầu dường như không được đáp theo cách con mong, mà con vẫn tin. Khi sự sống đi qua một lối con không chọn, mà con vẫn tin. Tín thác không cần hiểu hết. Nó cần biết Đấng mình trao thân là ai.
Hãy canh giữ các năng lực hồn xác cho đến cuối đời. Đừng tưởng tuổi tác tự động làm con nên thánh. Có người già nhưng tính ích kỷ vẫn già theo. Có người làm việc đạo đức nhiều năm nhưng cái tôi chỉ đổi áo. Vì thế trí nhớ vẫn cần được thanh luyện, để không nhai đi nhai lại những xúc phạm cũ. Trí tưởng tượng vẫn cần được canh giữ, để không dựng lên những câu chuyện làm lòng bất an. Trí hiểu vẫn cần khiêm nhường, để không cho rằng mình luôn đúng. Ý chí vẫn cần tập quy phục Chúa, để không bám lấy điều mình muốn. Lưỡi vẫn cần canh giữ, bởi một lời nói cuối đời cũng có thể chữa lành hoặc làm đau. Ánh mắt vẫn cần trong sạch. Tai vẫn cần biết chọn điều gì đáng nghe. Thân xác vẫn cần được đối xử với tôn trọng và kỷ luật. Người chiến đấu không nghỉ canh cho đến khi trận chiến thật sự chấm dứt.
Và hãy cầu nguyện không ngừng. Nếu một ngày con quên nhiều điều đã đọc trong cuốn sách này, xin đừng quên cầu nguyện. Cầu nguyện khi vui. Cầu nguyện khi buồn. Cầu nguyện khi hiểu. Cầu nguyện khi không hiểu. Cầu nguyện bằng lời khi có thể. Cầu nguyện bằng im lặng khi không có lời. Cầu nguyện bằng nước mắt. Cầu nguyện bằng sự trung tín với bổn phận. Cầu nguyện bằng một tiếng thở dài hướng về Chúa. Cầu nguyện bằng cách dâng một cơn đau. Cầu nguyện bằng việc tha thứ. Cầu nguyện bằng cách đứng dậy sau sa ngã. Đừng biến cầu nguyện thành điều chỉ xảy ra trong nhà nguyện. Hãy để cả đời con thành lời cầu. Khi ấy chính cuộc chiến cũng trở thành cầu nguyện, vì mỗi lần con từ chối điều kéo con xa Chúa là một tiếng “con chọn Chúa”; mỗi lần con chấp nhận thánh ý là một tiếng “xin vâng”; mỗi lần con trở về sau sa ngã là một tiếng “xin thương xót”; mỗi lần con tạ ơn là một tiếng “vinh danh”.
HÃY ĐỂ ĐỨC MARIA CẦM TAY CON ĐẾN CÙNG
Hỡi linh hồn, đừng đi đoạn cuối một mình. Hãy đặt tay con trong tay Đức Maria, đặc biệt dưới tước hiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Có những điều một người con không biết nói với ai nhưng có thể nói với Mẹ. Có những nỗi mệt mỏi rất sâu mà lời giải thích không còn tác dụng. Khi ấy chỉ cần ở dưới áo Mẹ. Đức Maria không thay Chúa Giêsu. Mẹ đưa con đến với Người. Mẹ không phải cùng đích. Mẹ là con đường dịu dàng đưa con đến cùng đích. Mẹ không làm con yếu đi. Trái lại, khi học làm con của Mẹ, con sẽ học một sức mạnh khác với sức mạnh của thế gian: sức mạnh biết đứng dưới chân Thập Giá mà không chạy trốn.
Hãy phó thác cho Mẹ những trận chiến còn lại. Những trận chiến con biết tên và cả những trận chiến con chưa biết. Có những thử thách của tuổi già hôm nay con chưa tưởng tượng. Có những mất mát tương lai con chưa biết. Có thể sẽ đến ngày con phải tiễn những người con yêu. Có thể sẽ đến lúc người khác thay con làm những việc con từng gắn bó. Có thể có sự hiểu lầm con không giải thích được. Có thể có bệnh tật, sự lệ thuộc, cô đơn, thinh lặng. Hãy giao trước tất cả cho Mẹ. “Mẹ ơi, khi ngày ấy đến, xin Mẹ ở đó.” Đó là một lời cầu rất đẹp. Không phải xin tránh mọi đau khổ, nhưng xin đừng đi qua đau khổ mà thiếu Mẹ.
Mỗi lần ngã, hãy để Mẹ nâng. Đừng xấu hổ chạy đến với Mẹ khi con yếu. Một người mẹ đâu chỉ yêu con khi nó sạch sẽ. Chính khi đứa trẻ ngã lấm bùn, nó càng cần mẹ. Hãy chạy đến. Đừng ở xa vì nghĩ mình không xứng. Nếu con không xứng, đó lại càng là lý do để xin giúp. Hãy để Mẹ dạy con nhìn Chúa Giêsu. Trong linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Hài Nhi Giêsu chạy đến với Mẹ trước viễn tượng khổ hình. Đó là một hình ảnh sâu xa cho đời con: khi sợ thập giá, hãy chạy đến Mẹ; nhưng bàn tay Mẹ không giữ con lại khỏi Chúa. Mẹ chỉ giữ con đủ vững để con có thể đi với Chúa qua thập giá.
Và xin Mẹ hiện diện trong giờ lâm tử. Chúng ta đã cầu điều ấy biết bao lần: “cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử.” Đừng đọc câu ấy như thói quen. Đó là một lời phó thác cả đời. Con xin Mẹ ở trong “khi nay” để Mẹ cũng ở trong “giờ lâm tử”. Mỗi Kinh Kính Mừng là một hạt nhỏ chuẩn bị cho phút cuối. Mỗi lần con gọi “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời”, con đang tập gọi tên Mẹ cho giờ phút có thể con không còn đủ sức nói trọn câu. Hãy sống sao để tên Giêsu và Maria trở nên quen thuộc với môi miệng và con tim, để đến giờ cuối, khi mọi thứ khác rơi khỏi tay, hai thánh danh ấy vẫn còn.
ĐỪNG SỢ GIỜ CUỐI, HÃY CHUẨN BỊ CHO GIỜ CUỐI
Cuộc chiến này có một điểm kết thúc. Điều ấy không đáng sợ nếu con sống trong Chúa. Một ngày, con sẽ không còn phải chống cám dỗ. Một ngày, tiếng ồn trong lòng sẽ im. Một ngày, những đam mê làm con mệt sẽ không còn quyền trên con. Một ngày, con không còn phải bắt đầu lại sau sa ngã, vì hành trình dương thế đã hoàn tất. Nhưng trước ngày ấy có một ngưỡng cửa. Người đời gọi là cái chết. Đức tin gọi đó là cuộc vượt qua. Người không có hy vọng nhìn nó như mất tất cả. Người thuộc về Chúa có thể nhìn nó như lúc rời căn lều để về nhà.
Không ai biết giờ ấy sẽ đến thế nào. Có người có thời gian chuẩn bị dài. Có người được gọi bất ngờ. Vì thế, chuẩn bị tốt nhất không phải là đoán ngày chết, mà là sống hôm nay trong tình trạng sẵn sàng. Nếu hôm nay con đang sống trong ân sủng, đang cố gắng yêu Chúa, đang biết trở về sau lỗi phạm, đang tập buông bỏ những điều không thuộc về Chúa, thì con đang chuẩn bị. Mỗi ngày sống tốt là một bước chuẩn bị cho giờ chết. Mỗi lần tha thứ là một hành trang. Mỗi lần khiêm nhường là một hành trang. Mỗi lần nhận Bí tích Hòa Giải với lòng chân thành là một hành trang. Mỗi lần rước Chúa với lòng yêu mến là một hành trang. Mỗi lần chấp nhận điều không như ý mà không phản loạn là một hành trang. Chúng ta không chuẩn bị chết bằng cách sợ chết. Chúng ta chuẩn bị chết bằng cách tập sống thuộc trọn về Chúa.
Nếu Chúa cho con biết trước giờ ấy, hãy đón nhận như một lời gọi. Nếu Ngài không cho biết, cũng bình an. Người lính trung thành không cần biết chính xác lúc nào chủ gọi. Anh chỉ cần đứng ở vị trí của mình. Khi tiếng gọi đến, anh có thể đáp: “Có con đây.” Đó là vẻ đẹp của đời sống tỉnh thức: không hoảng loạn, không bám víu, không buông xuôi; chỉ là một sự sẵn sàng. “Lạy Chúa, nếu hôm nay Ngài muốn con tiếp tục, con tiếp tục. Nếu hôm nay Ngài muốn con về, con về. Con thuộc về Ngài.”
Hỡi linh hồn, hãy tập chết từng chút mỗi ngày để giờ chết không còn xa lạ. Chết cho tự ái. Chết cho nhu cầu luôn được công nhận. Chết cho quyền kiểm soát. Chết cho ý riêng. Chết cho những gắn bó không cần thiết. Mỗi cái chết nhỏ ấy làm con tự do hơn. Người đã tập buông nhiều điều trong đời sẽ nhẹ nhàng hơn khi phải buông tất cả. Cái chết làm người ta sợ nhất khi họ đã coi những gì tạm bợ là tuyệt đối. Nhưng nếu con đã học rằng mọi sự chỉ là phương tiện đưa về Chúa, thì khi phương tiện hết nhiệm vụ, con có thể trao lại.
HÃY CHIẾN ĐẤU TRONG KHIÊM NHƯỜNG
Đừng bao giờ mong trở thành một chiến binh thiêng liêng kiêu hãnh. Không có nghịch lý nào nguy hiểm hơn một người thắng nhiều đam mê rồi bắt đầu nghĩ mình hơn người khác. Nếu cuộc chiến làm con cứng hơn với người yếu, con đang đi sai. Nếu càng đạo đức con càng khó chịu với người lỗi lầm, có điều gì đó chưa đúng. Nếu việc cầu nguyện khiến con cho rằng mình hiểu Chúa hơn mọi người, hãy cẩn thận. Hoa trái thật của cuộc chiến là khiêm nhường. Càng chiến đấu lâu, con càng biết mình sống được là nhờ ân sủng. Càng thắng, con càng thương người đang ngã. Càng hiểu sự dữ trong lòng mình, con càng bớt ngạc nhiên trước sự yếu đuối của người khác.
Khiêm nhường không làm con yếu. Nó làm con đứng trên đất thật. Người kiêu ngạo sống trên một hình ảnh về mình, nên chỉ cần ai đụng đến hình ảnh ấy là họ chao đảo. Người khiêm nhường biết mình là gì trước Chúa: một thụ tạo được yêu, một tội nhân được cứu, một người yếu được nâng, một khí cụ có thể được dùng nếu biết để mình trong tay Chủ. Thế là đủ. Không cần chứng minh. Không cần hơn ai. Không cần thắng ai. Chỉ cần trung thành.
Hãy khiêm nhường cả với hành trình của mình. Có lúc con sẽ nghĩ: sau bao năm mà tôi vẫn còn thế này sao? Nhưng ai nói con phải đạt một hình ảnh nào đó về sự thánh thiện do chính con đặt ra? Thánh thiện không phải là con trở thành phiên bản hoàn hảo theo kế hoạch của mình. Thánh thiện là con để Chúa làm điều Ngài muốn nơi con. Có những linh hồn nên thánh bằng thành công. Có những linh hồn nên thánh bằng thất bại được đón nhận. Có người nên thánh qua sứ vụ lớn. Có người qua căn phòng bệnh. Có người qua hoạt động. Có người qua thinh lặng. Điều quan trọng không phải con đường có giống người khác hay không, mà là con có ở trong thánh ý Chúa trên con đường của mình hay không.
HÃY CHIẾN ĐẤU TRONG TÍN THÁC
Có một lúc trong đời, tất cả những gì con học sẽ phải co lại thành một hành vi rất đơn giản: tín thác. Khi trí óc không còn đủ sức phân tích. Khi hoàn cảnh không có lời giải. Khi những câu hỏi “tại sao” không được trả lời. Khi con không biết điều gì sẽ đến. Khi ấy, đức tin được tinh luyện thành tín thác. Không phải tín thác vào một ý tưởng, mà vào một Đấng. “Con không hiểu, nhưng con biết Ngài.” Có thể đó là lời cầu trưởng thành nhất.
Tín thác không phải là không khóc. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá chắc chắn không phải là một tượng đá vô cảm. Mẹ đau. Nhưng Mẹ ở lại. Chúa Giêsu trong Vườn Dầu sầu buồn đến chết. Người không giả vờ mạnh. Người thốt lên nỗi kinh hoàng của mình. Nhưng Người kết thúc: “xin đừng theo ý Con, mà theo ý Cha.” Tín thác Kitô giáo không phủ nhận cảm xúc. Nó đem cảm xúc vào trong một sự vâng phục sâu hơn.
Con cũng vậy. Khi đau, cứ nói là đau. Khi sợ, cứ nói là sợ. Khi mệt, cứ nói là mệt. Thiên Chúa không cần con diễn trước mặt Ngài. Nhưng sau tất cả, hãy đặt một tiếng “xin vâng”. Có những ngày tiếng ấy rất mạnh. Có những ngày nó chỉ là một hơi thở. Chúa nghe cả hai.
HÃY CHIẾN ĐẤU TRONG LỜI CA TỤNG VÀ TẠ ƠN
Đừng để cuộc chiến làm con chỉ nhìn vào những gì còn thiếu. Có người sống đời thiêng liêng như thể mỗi ngày chỉ là kiểm kê khuyết điểm. Hôm nay nóng giận mấy lần, chia trí bao nhiêu, lười ở đâu, chưa tốt điều gì. Xét mình là cần. Nhưng nếu chỉ nhìn lỗi mà không nhìn ân sủng, linh hồn sẽ mệt. Hãy học nhìn xem Chúa đã làm gì. Con còn sống hôm nay: tạ ơn. Con còn có thể bắt đầu lại: tạ ơn. Con được tha thứ: tạ ơn. Con có Thánh Thể: tạ ơn. Con có Đức Maria: tạ ơn. Con có Hội Thánh: tạ ơn. Con có những người đã nâng đỡ mình: tạ ơn. Ngay cả những thử thách đã làm con khiêm nhường hơn: cũng có thể tạ ơn.
Lời tạ ơn làm cho linh hồn nhẹ. Nó chuyển cái nhìn khỏi cái tôi sang Chúa. Nó nhắc rằng cuộc đời không chỉ là những gì con phải làm cho Chúa, mà trước hết là những gì Chúa đã làm cho con. Một linh hồn biết tạ ơn sẽ khó tuyệt vọng lâu, bởi nó nhớ lại lịch sử ân sủng. Khi hiện tại tối, hãy nhớ những lần Chúa đã dẫn. Khi tương lai làm con sợ, hãy nhớ quá khứ Chúa đã trung thành. Đấng đã đưa con qua bao nhiêu chặng đường không bỏ con ở chặng cuối.
Và hãy ca tụng. Ca tụng không chỉ khi mọi việc tốt. Hãy học ca tụng giữa chiến đấu. “Lạy Chúa, con chưa hiểu nhưng con ca tụng Ngài vì Ngài là Chúa.” “Con đang đau nhưng con vẫn ca tụng vì tình yêu Ngài không thay đổi.” “Con đang thất bại nhưng con ca tụng vì lòng thương xót còn mở.” Lời ca tụng trong đêm có sức mạnh đặc biệt, bởi nó không dựa vào điều mắt thấy. Đó là đức tin hát lên.
CON KHÔNG BAO GIỜ CHIẾN ĐẤU MỘT MÌNH
Hỡi linh hồn thân yêu, xin con đừng quên điều này trong bất cứ trận chiến nào còn lại: con không một mình. Khi con quỳ trong căn phòng không ai thấy, Chúa thấy. Khi con chiến đấu với một cám dỗ mà không thể nói với ai, Chúa biết. Khi con khóc trong đêm, Chúa ở đó. Khi con bước vào tòa giải tội với sự xấu hổ, Chúa đang đợi. Khi con đứng trước một quyết định khó, Chúa Thánh Thần đang hoạt động. Khi con không biết cầu nguyện thế nào, chính Thần Khí cầu thay trong con bằng những tiếng rên khôn tả.
Chúa Giêsu không chỉ đứng ngoài cổ vũ con. Người ở trong con. Người đã đi qua mọi chiều sâu của thân phận con người trừ tội lỗi. Người biết mệt. Biết cô đơn. Biết bị hiểu lầm. Biết bị phản bội. Biết đau. Biết sợ trước đau khổ. Biết thế nào là cầu nguyện trong đêm. Khi con kêu “Lạy Chúa Giêsu”, con không gọi một Đấng xa lạ với cuộc chiến của con.
Chúa Thánh Thần ở trong con như nguồn sức không thấy được. Đừng chỉ nghĩ đến Ngài trong những lúc đặc biệt. Hãy tập nói rất đơn sơ: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin dẫn con.” Trước một lời nói khó. Trước một quyết định. Khi cám dỗ đến. Khi lòng nổi giận. Khi phải tha thứ. Khi phải im. Khi phải nói. Khi không biết nên làm gì. Chúa Thánh Thần không chỉ dành cho những kinh nghiệm huyền nhiệm. Ngài là Đấng hướng dẫn đời sống hằng ngày của một linh hồn biết mở lòng.
Đức Maria bầu cử cho con. Các thánh không chỉ là tượng ảnh trong nhà thờ. Họ là những người đã đi qua cuộc chiến và đang ở bên Chúa. Hãy gọi họ. Hãy đọc đời họ không để ngưỡng mộ từ xa, nhưng để thấy rằng ân sủng có thể làm gì nơi những con người rất thật. Thiên thần bản mệnh cũng không phải là một ý tưởng dành cho trẻ con. Đó là người bạn đường Thiên Chúa ban. Cả Hội Thánh ở với con. Khi con cầu nguyện, con ở trong một dòng cầu nguyện lớn hơn con. Khi con chiến đấu để nên thánh, cuộc chiến ấy có ích cho Nhiệm Thể. Một linh hồn chiến thắng một đam mê trong âm thầm đang làm Hội Thánh đẹp hơn, dù không ai biết.
HÃY NHỚ VÌ SAO CON CHIẾN ĐẤU
Đến cuối cùng, con phải nhớ: mục tiêu không phải là trở thành một con người không khuyết điểm để có thể hài lòng với chính mình. Mục tiêu là thuộc về Chúa. Nếu con quên mục tiêu này, cuộc chiến sẽ biến thành dự án hoàn thiện bản thân. Kitô giáo không phải chương trình nâng cấp cái tôi. Đó là lời mời để cái tôi chết đi và Đức Kitô sống trong con.
Con chống lại tự ái không phải chỉ để trở nên dễ chịu, mà để yêu Chúa và tha nhân tự do hơn. Con chống bất khiết không phải chỉ để có hồ sơ đạo đức sạch, mà để trái tim thuộc trọn về Chúa. Con chống nóng giận để trở nên khí cụ bình an. Con chống lười biếng để đáp lại tình yêu. Con cầu nguyện để ở với Người mình yêu. Con sống thánh ý Chúa vì tin rằng tình yêu của Ngài đáng được đặt cao hơn ý riêng. Tất cả quy về một điều: yêu.
Nếu một ngày con thấy mình quá tập trung vào chiến đấu đến mức quên yêu, hãy trở lại. Đừng nhìn ma quỷ quá nhiều. Hãy nhìn Chúa. Đừng ám ảnh về bóng tối. Hãy hướng về ánh sáng. Một người đi đường không cần nhìn xuống bùn từng giây. Họ cần biết đường đi đâu. Đức Kitô là đường. Hãy nhìn Người. Yêu Người. Ở với Người. Khi tình yêu lớn lên, nhiều điều khác tự mất sức.
LỜI CUỐI CÙNG
Hỡi linh hồn, một ngày cuộc chiến thật sự sẽ chấm dứt. Điều hôm nay làm con mệt sẽ không còn nữa. Những cám dỗ từng khiến con phải khóc sẽ im tiếng. Những đam mê từng làm con xấu hổ sẽ mất quyền lực. Những hiểu lầm sẽ được sáng tỏ trong ánh sáng đời đời. Những câu hỏi không có câu trả lời sẽ được đặt trong sự hiện diện của Chúa. Những giọt nước mắt không ai thấy sẽ được biết đến. Những hy sinh không ai ghi nhận sẽ không bị quên. Những lần con đã đứng dậy trong âm thầm, khi chẳng ai biết con vừa trải qua một trận chiến lớn thế nào, đều ở trước mắt Cha.
Có thể khi ấy con sẽ ngạc nhiên về những điều Chúa coi là quý. Không hẳn những việc lớn người đời biết đến, nhưng có thể là một lần con đã im lặng để khỏi làm ai đau. Một lần con đã tha thứ trong khi lòng rất đau. Một lần con đã đi lễ trong tình trạng khô khan nhưng vẫn đến. Một lần con đã từ chối cám dỗ mà không ai biết. Một lần con đã giúp một người không thể trả ơn. Một lần con đã cầu cho người làm mình tổn thương. Một lần con đã nói “xin vâng” trong nước mắt. Những điều rất nhỏ có thể có trọng lượng đời đời nếu được làm vì tình yêu.
Và nếu con đã trung thành, không phải hoàn hảo theo kiểu không sai lỗi, nhưng trung thành theo nghĩa luôn trở về, luôn muốn thuộc về Chúa, luôn để lòng thương xót kéo mình dậy, thì hãy hy vọng sẽ có ngày con nghe lời mà mọi cuộc chiến đều hướng tới: “Hỡi người tôi tớ tốt lành và trung tín… hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi.” Đến lúc ấy, con sẽ hiểu rằng không một hy sinh nào là vô ích. Không một lần chống lại tội lỗi nào bị mất. Không một giọt nước mắt nào rơi trong tình yêu mà không được ghi nhớ. Không một lời cầu nào thật sự biến mất.
Cho đến ngày ấy, hãy chiến đấu. Hãy chiến đấu khi con mạnh và khi con yếu. Hãy chiến đấu khi lòng sáng và khi lòng tối. Hãy chiến đấu khi có người bên cạnh và khi chỉ còn mình con với Chúa. Hãy chiến đấu trong khiêm nhường để không bao giờ tin vào sức riêng. Hãy chiến đấu trong tín thác để không bao giờ tuyệt vọng vì sự yếu đuối. Hãy chiến đấu trong lòng thương xót để sau mỗi thất bại con biết đường về nhà. Hãy chiến đấu trong lời ca tụng để cuộc đời không trở thành một chuỗi căng thẳng nhưng thành một lễ dâng. Hãy chiến đấu dưới ánh mắt Đức Maria. Hãy chiến đấu trong sức mạnh Chúa Thánh Thần. Hãy chiến đấu với đôi mắt hướng về Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.
Nếu ngã, đứng dậy. Nếu lại ngã, lại đứng dậy. Nếu phải đứng dậy một ngàn lần, hãy đứng dậy một ngàn lần. Đừng bao giờ nói: “Đã quá muộn.” Bao lâu con còn thở, đường trở về vẫn còn mở. Đừng bao giờ nói: “Tôi không thể nên thánh.” Nếu Thiên Chúa gọi con nên thánh, Ngài cũng có ân sủng đủ cho con. Đừng bao giờ nói: “Tôi đã thất bại quá nhiều.” Lòng thương xót không tính như con người tính. Một giây trở về thật lòng có thể mở ra một đời mới.
Hãy can đảm lên, hỡi linh hồn. Không phải vì con mạnh. Nhưng vì Chúa mạnh. Không phải vì con sẽ không còn yếu. Nhưng vì ân sủng đủ cho con. Không phải vì đường sẽ luôn sáng. Nhưng vì Đấng dẫn đường không bao giờ lạc. Không phải vì con nắm Chúa thật chắc. Nhưng vì trước hết chính Chúa đang nắm con.
Hãy trung tín đến cùng.
Đừng đo cuộc đời bằng số năm, bằng công việc, bằng thành tích, bằng lời khen hay ký ức người khác giữ về con. Hãy đo bằng một câu hỏi đơn sơ: hôm nay tôi có thuộc về Chúa hơn hôm qua một chút không? Nếu câu trả lời còn lẫn lộn, đừng nản. Hãy bắt đầu lại. Thánh thiện không phải là một cú nhảy. Đó là hàng ngàn bước nhỏ được thực hiện trong ân sủng.
Một ngày, bước cuối cùng sẽ đến. Có thể chân con không còn tự bước được nữa. Người khác sẽ nâng con. Có thể môi con không còn đọc kinh rõ ràng. Có thể mắt con chỉ còn nhìn được Thánh Giá. Có thể tất cả cuộc chiến lúc ấy chỉ còn co lại trong một lời cuối: “Giêsu.” Nếu lời ấy phát ra từ một trái tim đã học tín thác suốt đời, nó đủ đẹp.
Và khi con đi qua cánh cửa cuối, con sẽ không đi vào hư vô. Con đi về nhà. Về nơi không còn đêm. Không còn cám dỗ. Không còn tội. Không còn phải bắt đầu lại. Không còn khoảng cách giữa điều con muốn và điều Thiên Chúa muốn, vì ý con đã hoàn toàn ở trong ý Ngài. Ở đó cuộc chiến biến thành ca tụng. Vết thương biến thành vinh quang. Nước mắt biến thành niềm vui. Những gì con đã dâng trong bóng tối sẽ sáng lên trong ánh sáng Thiên Chúa.
Vì vậy, khi còn ở đây, hãy chiến đấu với đôi mắt hướng về ngày ấy.
Hãy nhớ rằng Đấng đã bắt đầu công trình tốt lành nơi con sẽ không bỏ dở công trình của Ngài. Ngài trung thành hơn con. Ngài kiên nhẫn hơn con. Ngài muốn con được cứu hơn chính con biết muốn. Đừng làm cho sự yếu đuối của mình lớn hơn lòng thương xót của Ngài. Đừng làm cho quá khứ của mình lớn hơn Thập Giá. Đừng làm cho bóng tối của mình lớn hơn ánh sáng Phục Sinh.
Lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ có lời cuối cùng.
Không phải tội lỗi.
Không phải thất bại.
Không phải đau khổ.
Không phải cái chết.
Lòng thương xót.
Vì thế, hỡi linh hồn thân yêu, ở dòng cuối của hành trình này, tôi không để lại cho con một công thức, nhưng một lời chúc và cũng là một mệnh lệnh của tình yêu:
Hãy chiến đấu đến cùng.
Hãy chiến đấu như một người biết mình đã được cứu chuộc bằng giá Máu Đức Kitô.
Hãy chiến đấu như một người con biết Cha đang đợi mình về.
Hãy chiến đấu như một người yếu nhưng được ôm trong ân sủng.
Hãy chiến đấu như một người biết mình không một mình.
Hãy chiến đấu trong lòng thương xót.
Và nếu có lúc con quên tất cả những điều đã đọc, xin chỉ nhớ một điều này thôi:
Mỗi lần ngã, hãy trở về với Chúa. Mỗi lần sợ, hãy tín thác. Mỗi lần mệt, hãy để Ngài nâng. Mỗi lần không biết phải làm gì, hãy yêu.
Rồi cứ thế mà đi.
Cho đến ngày không còn phải chiến đấu nữa.
Cho đến ngày cửa nhà Cha mở ra.
Cho đến ngày đức tin trở thành sự thấy.
Hy vọng trở thành sở hữu.
Tình yêu trở thành vĩnh cửu.
Và linh hồn, sau bao nhiêu năm chiến đấu, cuối cùng được nghỉ trong Đấng mà mình đã tìm kiếm suốt đời.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR
LỜI CẢM ƠN
Khi đặt những dòng cuối cùng cho tập sách CUỘC CHIẾN LINH HỒN, tôi nhận ra rằng một cuốn sách nói về đời sống thiêng liêng không bao giờ thật sự chỉ là công trình của một người. Có những điều được viết ra từ sách vở, nhưng cũng có rất nhiều điều chỉ có thể được viết từ những năm tháng đã sống, đã vấp ngã, đã đứng dậy, đã nhìn thấy sự yếu đuối của mình và, nhất là, đã kinh nghiệm rằng lòng thương xót của Thiên Chúa kiên nhẫn hơn sự bất trung của con người rất nhiều. Vì thế, trước khi cảm ơn bất cứ ai, lòng tôi muốn hướng về Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn mạch của mọi ân sủng, mọi ánh sáng và mọi khát vọng nên thánh. Nếu trong những trang sách này có một điều gì giúp một linh hồn trở lại với Chúa, một người đang nản lòng tìm được sức để đứng lên, một người đang kiêu căng nhận ra sự thật về mình, một người đang bị cám dỗ nhớ rằng mình không chiến đấu một mình, thì tất cả những điều ấy trước hết thuộc về ân sủng của Thiên Chúa. Còn những giới hạn, những thiếu sót, những diễn đạt chưa trọn vẹn và những điều còn bất toàn, tôi xin nhận về mình.
Tôi tạ ơn Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc, Đấng đã không cứu chúng ta từ một khoảng cách an toàn, nhưng bước thẳng vào thân phận mỏng giòn của con người, mang lấy đau khổ, cám dỗ, cô đơn, phản bội và cái chết, để không một người nào trong chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa không hiểu cuộc chiến của mình. Chính nơi Đức Kitô chịu đóng đinh, cuộc chiến linh hồn tìm được ý nghĩa sâu xa nhất. Không có Thập Giá, những lời về hy sinh, từ bỏ hay chiến đấu rất dễ trở thành những khẩu hiệu cứng cỏi. Nhưng khi nhìn lên Đấng bị đóng đinh vì yêu, ta hiểu rằng mọi từ bỏ Kitô giáo cuối cùng đều là để tình yêu được tự do hơn. Tôi cảm tạ Chúa vì giữa biết bao lần con người chạy trốn Người, Người vẫn đi tìm; giữa bao lần chúng ta ngã, Người vẫn cúi xuống; giữa những lúc chúng ta không còn tin vào chính mình, Người vẫn không rút lại tiếng gọi nên thánh.
Tôi cảm tạ Chúa Thánh Thần, Đấng âm thầm chiến đấu trong lòng mỗi người thiện chí. Người là ánh sáng trong phân định, là sức mạnh khi ý chí mệt mỏi, là tiếng nhắc rất nhẹ giữa những ồn ào của đam mê, là Đấng làm cho lời cầu nguyện bật lên ngay cả khi chúng ta không biết phải cầu nguyện thế nào. Có những cuộc chiến không ai bên ngoài nhìn thấy. Có những đêm tối mà chỉ người trải qua mới biết. Có những lần một linh hồn chỉ còn đủ sức để thưa một câu rất nhỏ: “Lạy Chúa, xin cứu con.” Nhưng chính trong những giây phút ấy, Thánh Thần vẫn hoạt động. Tôi tạ ơn Người vì những công trình sâu kín mà chỉ trên trời chúng ta mới hiểu hết.
Tôi xin đặt tập sách này dưới sự che chở của Đức Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp. Trong cuộc chiến thiêng liêng, có những lúc con người cần một người Mẹ hơn là cần thêm những lý luận. Khi một người đã biết mình sai nhưng chưa đủ sức đứng dậy, khi một linh hồn xấu hổ vì những yếu đuối cứ lặp đi lặp lại, khi người tín hữu cảm thấy lời cầu nguyện trở nên quá nghèo nàn, hình ảnh Đức Maria âm thầm đứng bên Thập Giá và kiên trì bên các môn đệ luôn là một lời bảo đảm dịu dàng rằng chúng ta không bị bỏ rơi. Tôi cảm tạ Mẹ vì sự hiện diện âm thầm trong đời sống Hội Thánh, và xin Mẹ tiếp tục đưa mỗi người đọc cuốn sách này đến gần Đức Giêsu hơn, bởi đó là điều Mẹ luôn mong muốn.
Tôi tri ân Hội Thánh, người Mẹ đã gìn giữ qua nhiều thế kỷ kho tàng khôn ngoan của những người đã đi trước. Không có truyền thống thiêng liêng của Hội Thánh, chúng ta rất dễ tưởng rằng những cuộc chiến của mình là hoàn toàn mới, hoặc những cám dỗ của thời đại hôm nay chưa từng có tiền lệ. Nhưng khi đọc các giáo phụ, các bậc thầy thiêng liêng, đời sống các thánh, chúng ta nhận ra rằng trái tim con người qua bao thế kỷ vẫn mang những vết thương quen thuộc: kiêu căng, tham vọng, dục vọng, ganh tị, sợ hãi, chán nản, tìm mình. Và cũng qua bao thế kỷ, ân sủng của Thiên Chúa vẫn làm nên những con người thánh thiện từ chính chất liệu yếu đuối ấy. Tập sách này mang ơn rất nhiều với truyền thống chiến đấu thiêng liêng của Hội Thánh, cách riêng tinh thần được chuyển trao qua tác phẩm thường được biết đến với tên The Spiritual Combat của Lorenzo Scupoli, cùng sự khôn ngoan của biết bao vị thánh và bậc thầy đời sống nội tâm.
Trong tâm tình của một người con Dòng Chúa Cứu Thế, tôi đặc biệt cảm tạ Chúa về linh đạo mà Thánh Anphongsô Maria de Liguori và các thế hệ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế đã trao lại: đặt Đức Kitô Cứu Thế ở trung tâm, tin vào ơn cứu chuộc chứa chan, gần gũi những người nghèo khổ và bị bỏ rơi, không bao giờ tách việc nên thánh khỏi sứ mạng và không bao giờ loan báo lòng thương xót như một lý thuyết xa lạ với chính đời sống của mình. Tinh thần ấy hiện diện trong nhiều trang của tập sách này, bởi người thừa sai trước khi nói cho người khác về ơn cứu độ phải để mình được Chúa cứu mỗi ngày; trước khi dẫn người khác đến lòng thương xót phải biết mình đang sống nhờ lòng thương xót; trước khi mời người khác tín thác phải học tín thác giữa những thất bại của chính mình.
Tôi cũng muốn cảm ơn những con người mà Thiên Chúa đã cho đi qua đời tôi. Có người đã giúp bằng một lời khuyên. Có người giúp bằng một lời sửa bảo không dễ nghe. Có người nâng đỡ bằng sự hiện diện thầm lặng. Có người vô tình trở thành “bài học” để tôi nhận ra giới hạn và đam mê nơi chính mình. Có người đã yêu thương. Có người đã làm tôi tổn thương. Nhưng nhìn lại trong ánh sáng đức tin, tôi nhận ra rằng Chúa có thể dùng cả những điều dễ chịu lẫn những điều không dễ chịu để thanh luyện một linh hồn. Vì thế, lòng biết ơn không chỉ dành cho những người đã làm con đường của ta nhẹ hơn, mà đôi khi còn dành cho những người, qua cách này hay cách khác, đã làm những góc chưa được chữa lành trong ta lộ ra để Chúa có thể chạm tới.
Tôi cảm ơn những người đã âm thầm cầu nguyện. Trong Hội Thánh có một kho tàng mà thế gian không đo được: lời cầu của những người không ai biết tên, những hy sinh không ai ghi nhận, những giọt nước mắt chỉ mình Chúa nhìn thấy. Có thể một linh mục đứng vững qua một cơn thử thách nhờ lời cầu của một bà cụ mỗi ngày lần chuỗi. Có thể một người tội lỗi tìm được đường trở về nhờ sự hy sinh của một linh hồn họ chưa bao giờ gặp. Có thể một trang sách đến được đúng lúc với một người đang tuyệt vọng nhờ một chuỗi những ân sủng mà tác giả hoàn toàn không biết. Với tất cả những người đang âm thầm mang Hội Thánh trong lời cầu nguyện, tôi xin nói một lời cảm ơn sâu xa.
Tôi cũng cảm ơn chính những người sẽ đọc tập sách này. Một cuốn sách chỉ hoàn tất theo nghĩa sâu xa khi nó đi vào đời sống của người đọc. Tôi không mong người đọc đồng ý với mọi câu chữ, càng không mong những trang này được xem như một tiêu chuẩn tuyệt đối. Tôi chỉ mong mỗi người đọc biết mang điều mình đọc vào cầu nguyện, đối chiếu với Lời Chúa, với giáo huấn của Hội Thánh, với bổn phận và ơn gọi cụ thể của mình. Nếu một trang không giúp ích, hãy để nó đi qua. Nếu một câu chạm đến nơi đang đau, hãy dừng lại với Chúa. Nếu một chương làm ta nhận ra điều cần đổi, xin đừng chỉ đánh dấu bằng bút; hãy đánh dấu bằng một quyết định trong đời sống.
Tôi đặc biệt muốn cảm ơn những linh hồn đang mệt mỏi mà vẫn cố gắng. Những người ấy có thể không nghĩ mình là nguồn cảm hứng cho bất cứ ai. Họ chỉ biết sáng thức dậy và lại bắt đầu. Họ vẫn cầu nguyện dù khô khan. Vẫn đi lễ dù lòng không có cảm xúc. Vẫn cố nhịn một lời nóng giận dù hôm qua đã thất bại. Vẫn trở lại tòa giải tội sau một lần sa ngã mà họ đã thề rằng sẽ không bao giờ tái phạm. Vẫn tiếp tục yêu một người khó yêu. Vẫn làm bổn phận khi chẳng ai khen. Chính những con người ấy cho thấy cuộc chiến linh hồn không phải một lý tưởng xa vời. Sự thánh thiện lớn lên trong những lần trung tín rất nhỏ như thế.
Nếu phải gom toàn bộ tâm tình của Lời cảm ơn này vào một điều duy nhất, tôi chỉ muốn nói: tạ ơn vì lòng thương xót. Tạ ơn vì Thiên Chúa không đòi chúng ta phải hoàn thiện rồi mới đến với Người. Tạ ơn vì Người không mệt mỏi tha thứ. Tạ ơn vì một lần sa ngã không phải là dấu chấm hết. Tạ ơn vì ngay cả khi ta đã lãng phí nhiều năm, một khoảnh khắc trở về chân thành vẫn có thể mở ra một con đường mới. Tạ ơn vì sự thánh thiện không chỉ dành cho những con người có tính khí thuận lợi, có quá khứ đẹp hay không có vết thương, nhưng dành cho mọi người biết để cho ân sủng đi vào chính những nơi yếu nhất của mình.
Cuối cùng, tôi xin trao tập sách này cho Thiên Chúa. Xin Người sử dụng nó theo cách Người muốn. Nếu những trang này được nhiều người đọc, xin cho tác giả khỏi tự mãn. Nếu chúng ít được biết đến, xin cho lòng vẫn bình an. Nếu có điều tốt được sinh ra, xin vinh quang thuộc về Chúa. Nếu có điều cần sửa, xin Chúa ban khiêm nhường để sửa. Bởi sau tất cả, mục đích của một cuốn sách về cuộc chiến linh hồn cũng chỉ là điều mà chính cuộc chiến ấy hướng tới: để con người nhỏ lại, để Đức Kitô lớn lên; để ý riêng nhỏ lại, để thánh ý Chúa được thực hiện; để tiếng ca tụng bản thân tắt đi, và chỉ còn lại lời tạ ơn dâng lên Đấng đã yêu chúng ta trước.
Xin kính dâng tất cả cho Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc chứa chan, qua bàn tay từ mẫu của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.
“Không phải chúng con, lạy Chúa, không phải chúng con, nhưng xin cho danh Ngài rạng sáng.”
Lm. Anmai, CSsR
MỤC LỤC CHI TIẾT
CUỘC CHIẾN LINH HỒN
PHẦN I – BƯỚC VÀO CUỘC CHIẾN VÀ NHẬN BIẾT CHÍNH MÌNH
CHƯƠNG 1. LỜI KÊU GỌI BƯỚC VÀO CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Đời sống thiêng liêng là một cuộc chiến; chiến trường ở ngay trong lòng người; cuộc xung đột giữa con người cũ và con người mới; lý do không được trốn chạy cuộc chiến; chiến đấu không bằng sức riêng nhưng trong ân sủng; lời mời gọi bước vào con đường nên thánh với lòng can đảm và tín thác.
CHƯƠNG 2. SỰ HOÀN THIỆN KITÔ GIÁO ĐÍCH THỰC LÀ GÌ? – Phân biệt thánh thiện với những thực hành đạo đức bên ngoài; không đồng hóa sự hoàn thiện với cảm xúc sốt sắng, kiến thức hay hoạt động; sự hoàn thiện hệ tại ở việc yêu mến Thiên Chúa, làm theo thánh ý Người và để toàn bộ con người thuộc trọn về Người; mục đích sau cùng của mọi cuộc chiến nội tâm.
CHƯƠNG 3. NHẬN BIẾT KẺ THÙ VÀ CHIẾN TRƯỜNG TRONG CHÍNH MÌNH – Ba kẻ thù truyền thống: ma quỷ, thế gian và xác thịt; con người cũ trong ta; những vết thương của bản tính; sự tự ái như gốc của nhiều đam mê; tại sao chiến thắng người khác dễ hơn chiến thắng chính mình; tập nhìn sự thật về bản thân mà không tuyệt vọng.
CHƯƠNG 4. BẤT TÍN NHIỆM VÀO CHÍNH MÌNH – KHÍ GIỚI NỀN TẢNG THỨ NHẤT – Ý nghĩa đích thực của việc không cậy dựa vào sức riêng; khác biệt giữa khiêm nhường và tự ti; nhận biết sự yếu đuối; nguy hiểm của tự mãn thiêng liêng; những phương thế giúp linh hồn ngày càng thoát khỏi ảo tưởng về sức mạnh của mình.
CHƯƠNG 5. TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA – KHÍ GIỚI NỀN TẢNG THỨ HAI – Vì sao bất tín nhiệm vào mình phải luôn đi cùng tín thác vào Chúa; nền tảng của lòng cậy trông; nhìn lên quyền năng, lòng nhân hậu và sự trung tín của Thiên Chúa; tín thác giữa cám dỗ, thử thách và sa ngã; đặt toàn bộ chiến thắng trong tay ân sủng.
CHƯƠNG 6. LÀM THẾ NÀO ĐỂ KẾT HỢP BẤT TÍN NHIỆM VÀO MÌNH VỚI TÍN THÁC VÀO CHÚA – Hai chuyển động không thể tách rời; càng thấy mình yếu càng chạy đến Chúa; tránh hai cực đoan là tự mãn và tuyệt vọng; thái độ của linh hồn trước, trong và sau mỗi cuộc chiến; biến chính sự yếu đuối thành cơ hội để tín thác.
PHẦN II – HUẤN LUYỆN CÁC NĂNG LỰC CỦA LINH HỒN VÀ THÂN XÁC
CHƯƠNG 7. LUYỆN TẬP LÝ TRÍ – HỌC NHÌN MỌI SỰ TRONG ÁNH SÁNG CỦA THIÊN CHÚA – Lý trí bị che mờ bởi đam mê và thành kiến; không tin ngay mọi suy nghĩ của mình; tìm sự thật thay vì tìm lý lẽ bảo vệ bản thân; suy xét theo Tin Mừng; thanh luyện cách phán đoán người khác; xin ánh sáng để biết điều gì thực sự đẹp lòng Chúa.
CHƯƠNG 8. LUYỆN TẬP Ý CHÍ – HỌC MUỐN ĐIỀU THIÊN CHÚA MUỐN – Ý chí như trung tâm của lựa chọn; sự chống đối giữa điều biết là tốt và điều mình thích; tập nói “không” với ý riêng; những hành vi nhỏ để củng cố ý chí; chọn điều tốt dù cảm xúc chưa muốn; từng bước kết hợp ý riêng với thánh ý Thiên Chúa.
CHƯƠNG 9. CANH GIỮ TRÍ NHỚ VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG – Những hình ảnh và ký ức có thể nuôi dưỡng đam mê; nguy hiểm của việc sống lại những tổn thương và cám dỗ trong tưởng tượng; không để trí óc lang thang vô ích; dùng trí nhớ để nhớ ơn Chúa; hướng trí tưởng tượng về những điều giúp linh hồn yêu mến Chúa hơn.
CHƯƠNG 10. CANH GIỮ CÁC GIÁC QUAN – Cửa ngõ của linh hồn; mắt, tai, lời nói, khẩu vị và các cảm giác; không phải ghét thân xác nhưng đặt thân xác vào trật tự; tránh những kích thích không cần thiết; sự tiết độ và tỉnh thức; dùng chính giác quan để nhận ra vẻ đẹp của Thiên Chúa trong thụ tạo.
CHƯƠNG 11. CHIẾN ĐẤU NGAY TỪ NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG ĐẦU TIÊN CỦA ĐAM MÊ – Đừng đợi cám dỗ lớn mới chống trả; nhận diện những khởi đầu rất nhỏ của tự ái, nóng giận, dục vọng, ganh tị và chán nản; nguyên tắc cắt đứt từ đầu; không đối thoại quá lâu với cám dỗ; nhanh chóng quay tâm trí về Chúa.
CHƯƠNG 12. HUẤN LUYỆN TRÁI TIM QUA NHỮNG HÀNH VI NGƯỢC LẠI VỚI ĐAM MÊ – Chữa nóng giận bằng hiền lành; chữa ích kỷ bằng cho đi; chữa kiêu căng bằng hạ mình; chữa lười biếng bằng mau mắn; chữa quyến luyến bằng từ bỏ; nhân đức được xây dựng không chỉ bằng ý tưởng nhưng bằng những hành động cụ thể lặp đi lặp lại.
PHẦN III – CẦU NGUYỆN VÀ NHỮNG KHÍ GIỚI CỦA ÂN SỦNG
CHƯƠNG 13. CẦU NGUYỆN – HƠI THỞ CỦA NGƯỜI ĐANG CHIẾN ĐẤU – Cầu nguyện không phải phụ thêm vào cuộc chiến nhưng là sức sống của cuộc chiến; cầu nguyện trong cám dỗ; lời nguyện tắt; cầu nguyện khi khô khan; cầu nguyện với lòng khiêm nhường và kiên trì; xin điều Thiên Chúa muốn hơn điều ta thích.
CHƯƠNG 14. SUY NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ ĐỨC GIÊSU – TRƯỜNG HỌC CỦA NGƯỜI CHIẾN ĐẤU – Nhìn Đức Kitô chịu đau khổ để học yêu thương, nhẫn nhục và từ bỏ; Thập Giá phơi bày sự nghiêm trọng của tội lỗi và chiều sâu của lòng thương xót; học chiến đấu không bằng căm ghét nhưng bằng tình yêu tự hiến.
PHẦN IV – NHỮNG TRẬN CHIẾN CỤ THỂ VỚI ĐAM MÊ
CHƯƠNG 15. CÁCH CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI CÁC ĐAM MÊ TỘI LỖI VÀ CHIẾM HỮU CÁC NHÂN ĐỨC MỚI – Nguyên tắc tổng quát của việc diệt trừ thói xấu và xây dựng nhân đức; nhận diện đam mê thống trị; kiên trì đánh vào điểm yếu chính; không chỉ ngưng làm điều xấu nhưng phải tập điều tốt đối nghịch; tiến từng bước nhỏ và bền bỉ.
CHƯƠNG 16. CUỘC CHIẾN CHỐNG LẠI SỰ TỰ ÁI VÀ TÌNH YÊU BẢN THÂN LỆCH LẠC – Tự ái như chiếc rễ ẩn dưới nhiều tội lỗi; muốn được khen, được công nhận và được đối xử theo ý mình; tự vệ khi bị sửa bảo; đau khổ vì hình ảnh bản thân; tập quên mình để tự do yêu Chúa và tha nhân.
CHƯƠNG 17. CUỘC CHIẾN CHỐNG KIÊU NGẠO VÀ TÌM KIẾM HƯ DANH – Kiêu ngạo đời thường và kiêu ngạo thiêng liêng; muốn hơn người; tìm tiếng khen trong việc tốt; kể công; so sánh; học nhận mọi điều như quà tặng; vui khi người khác được nâng lên; giấu những hy sinh khỏi ánh mắt con người.
CHƯƠNG 18. CUỘC CHIẾN CHỐNG NÓNG GIẬN VÀ OÁN HỜN – Nguồn gốc của nóng giận; sự tự ái bị tổn thương; phân biệt lòng nhiệt thành chính đáng với giận dữ ích kỷ; cách ứng xử khi đang bị kích động; học im lặng đúng lúc; tha thứ; cầu nguyện cho người làm mình đau.
CHƯƠNG 19. CUỘC CHIẾN CHỐNG LƯỜI BIẾNG VÀ TRÌ HOÃN TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG – Sự lười biếng thể lý và tinh thần; trì hoãn điều tốt; chờ cảm hứng mới hành động; làm bổn phận trong khô khan; nguyên tắc bắt đầu từ việc nhỏ; trung tín với thời khóa và trách nhiệm hiện tại.
CHƯƠNG 20. CUỘC CHIẾN CHỐNG DỤC VỌNG VÀ SỰ BẤT KHIẾT – Nhìn thân xác trong phẩm giá; tránh hai thái cực buông thả và ghét bỏ thân xác; canh giữ giác quan, trí tưởng tượng và hoàn cảnh; không thương lượng với cám dỗ; khiêm nhường sau thất bại; xây dựng đức khiết tịnh như tự do để yêu.
CHƯƠNG 21. CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM LAM, QUYẾN LUYẾN VÀ TINH THẦN CHIẾM HỮU – Của cải, tiện nghi, chức vụ, danh dự và con người có thể trở thành nơi bám víu; sử dụng mà không sở hữu bằng trái tim; tập cho đi; tập mất; tập đón nhận sự thiếu thốn; tìm kho tàng ở nơi không mối mọt nào phá hủy.
CHƯƠNG 22. CUỘC CHIẾN CHỐNG GANH TỊ, SO SÁNH VÀ ĐỐ KỴ – Nỗi buồn trước điều tốt của người khác; gốc rễ của so sánh; niềm vui giả tạo khi người khác thất bại; tập chúc lành, cầu nguyện và vui với thành công của người khác; khám phá ơn gọi riêng để thôi sống bằng chiếc thước của người khác.
CHƯƠNG 23. CUỘC CHIẾN CHỐNG SỢ HÃI, LO ÂU VÀ MUỐN KIỂM SOÁT – Tương lai không thuộc quyền ta; những kịch bản do trí tưởng tượng tạo ra; sợ mất, sợ thất bại, sợ bị đánh giá; làm điều thuộc bổn phận rồi trao kết quả cho Chúa; sống từng ngày trong sự quan phòng.
CHƯƠNG 24. CUỘC CHIẾN CHỐNG CHÁN NẢN VÀ THẤT VỌNG SAU KHI SA NGÃ – Chiến thuật của kẻ thù sau thất bại; tự trách quá mức; thất vọng vì ảo tưởng về chính mình bị vỡ; đứng dậy ngay lập tức; xin tha thứ; học bài học từ thất bại mà không sống trong quá khứ; tín thác mạnh hơn sau mỗi lần yếu đuối.
PHẦN V – CÁC BÍ TÍCH, XÉT MÌNH VÀ BÌNH AN NỘI TÂM
CHƯƠNG 25. BÍ TÍCH HÒA GIẢI – NƠI NGƯỜI CHIẾN ĐẤU ĐƯỢC CHỮA LÀNH VÀ ĐỨNG DẬY – Thành thật nhìn nhận tội lỗi; tránh biện minh; lòng thống hối thật; xưng tội trong tín thác; không biến Bí tích Hòa Giải thành nơi tự kết án; đón nhận lời tha thứ và bắt đầu lại.
CHƯƠNG 26. THÁNH THỂ – LƯƠNG THỰC VÀ SỨC MẠNH CỦA CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Đức Kitô tự hiến làm lương thực; chuẩn bị tâm hồn trước Thánh lễ; hiệp lễ với lòng khao khát; ở lại với Chúa sau hiệp lễ; mang tinh thần Thánh Thể vào đời sống; để việc rước Chúa biến đổi cách ta yêu, phục vụ và chịu đựng.
CHƯƠNG 27. XÉT MÌNH MỖI NGÀY – NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN TRONG ÁNH SÁNG CỦA CHÚA – Xét mình không phải tự tra tấn; tạ ơn trước khi nhìn lỗi; nhận diện điểm yếu và ân sủng; tránh phân tích quá mức; chọn một điều cụ thể để sửa; kết thúc bằng lòng tín thác và quyết tâm bắt đầu lại.
CHƯƠNG 28. SỰ BÌNH AN NỘI TÂM TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Bình an thật và bình an giả; những kẻ thù của bình an; xây bình an trên sự thật chứ không trên hoàn cảnh; trở về với Chúa khi tâm hồn xáo trộn; thinh lặng nội tâm; không dựa vào cảm xúc; giữ bình an khi bị chỉ trích, khi thất bại và khi chưa hiểu thánh ý Chúa.
PHẦN VI – KIÊN TRÌ, PHÂN ĐỊNH VÀ SỰ VÂNG PHỤC
CHƯƠNG 29. CHUẨN BỊ CHO GIỜ CHẾT VÀ CUỘC CHIẾN CUỐI CÙNG – Nhớ đến giờ chết không phải để sợ nhưng để sống thật; những cám dỗ cuối đời; chuẩn bị mỗi ngày bằng đời sống trung tín; buông bỏ; lãnh nhận các bí tích; phó linh hồn trong tay Chúa và lòng thương xót của Người.
CHƯƠNG 30. SỰ KIÊN TRÌ ĐẾN CÙNG VÀ NIỀM HY VỌNG CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG – Không phải người khởi đầu mạnh mẽ nhưng người trung thành đến cùng; đối diện sự mệt mỏi của hành trình dài; chiến đấu khi không thấy tiến bộ; hy vọng dựa trên Thiên Chúa; kiên trì sau nhiều lần thất bại.
CHƯƠNG 31. NHỮNG ẢO TƯỞNG NGUY HIỂM CẦN TRÁNH TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Ảo tưởng về sự thánh thiện của mình; đồng hóa cảm xúc với ân sủng; tìm điều phi thường; dùng việc đạo đức để trốn bổn phận; nhiệt thành thiếu khôn ngoan; tưởng ý riêng là ý Chúa; những cạm bẫy càng tinh tế khi linh hồn càng tiến sâu.
CHƯƠNG 32. SỰ VÂNG PHỤC TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Vâng phục như phương thuốc chữa ý riêng; Đức Kitô vâng phục Chúa Cha; vâng phục trong Hội Thánh và đời sống tận hiến; khi vâng phục trở nên khó khăn; phân biệt vâng phục với thụ động; sự tự do sâu xa của người không còn phải bảo vệ ý riêng bằng mọi giá.
PHẦN VII – CUỘC CHIẾN TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ MẠNG
CHƯƠNG 33. SỐNG CUỘC CHIẾN LINH HỒN TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ SỨ VỤ – Cộng đoàn như chiến trường thực tế của tự ái và nhân đức; khó khăn trong tương quan; chấp nhận khác biệt; chịu sửa bảo; phục vụ không tìm mình; trung tín với sứ vụ giữa mệt mỏi; để đời sống chung trở thành trường học nên thánh.
CHƯƠNG 34. CUỘC CHIẾN LINH HỒN VÀ TINH THẦN THỪA SAI – Không thể tách cuộc chiến nội tâm khỏi sứ mạng; người thừa sai phải để mình được Chúa cứu trước khi nói về cứu độ; chống tham vọng tông đồ; phục vụ người nghèo và bị bỏ rơi; loan báo không phải chính mình nhưng Đức Kitô Cứu Thế.
PHẦN VIII – LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT: TRUNG TÂM CỦA TOÀN BỘ CUỘC CHIẾN
CHƯƠNG 35. LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Lòng thương xót là nền tảng chứ không phải phần phụ; sự khác biệt giữa chiến đấu trong ân sủng và tự hoàn thiện bằng sức riêng; lòng thương xót sau sa ngã; Chúa không mệt mỏi với người chân thành trở về; nhìn chính mình dưới ánh mắt thương xót của Chúa.
CHƯƠNG 36. ĐỨC TÍN THÁC VÀO LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT TRONG MỌI HOÀN CẢNH CỦA CUỘC CHIẾN – Tín thác khi mạnh và khi yếu; tín thác giữa tăm tối; tín thác sau tội lỗi; không đặt điều kiện cho lòng thương xót; sống câu “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa” bằng chính lựa chọn mỗi ngày.
CHƯƠNG 37. TRỞ THÀNH KHÍ CỤ CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT – Không chỉ nhận mà còn trao lòng thương xót; tha thứ; nói lời dịu dàng; chịu đựng khuyết điểm của người khác; thương xót không đồng nghĩa dung túng; mang trái tim Chúa đến với người yếu đuối, tội lỗi, bị bỏ rơi và tổn thương.
CHƯƠNG 38. NIỀM VUI VÀ LÒNG BIẾT ƠN TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Cuộc chiến Kitô hữu không phải đời sống u ám; niềm vui sâu xa không phụ thuộc cảm xúc; biết ơn trong thử thách; nhận ra những ân huệ nhỏ; chữa bệnh than phiền; sống như người biết mình được cứu và được yêu.
PHẦN IX – PHÓ THÁC, VINH QUANG THIÊN CHÚA VÀ SỰ TRUNG TÍN MỖI NGÀY
CHƯƠNG 39. SỰ PHÓ THÁC HOÀN TOÀN VÀO THÁNH Ý CHÚA – Phó thác không phải buông xuôi; trao quá khứ, hiện tại và tương lai; đón nhận điều không như ý; từ bỏ nhu cầu kiểm soát; phân biệt điều ta muốn với điều Chúa muốn; bình an của người đặt cuộc đời trong tay Cha.
CHƯƠNG 40. SỐNG ĐỂ TÔN VINH THIÊN CHÚA TRONG MỌI SỰ – Cùng đích cao nhất của sự hoàn thiện; không tìm mình ngay cả trong việc tốt; làm những việc nhỏ vì vinh quang Chúa; thanh luyện ý hướng; sống, làm việc, chịu đau khổ và phục vụ với một mục đích duy nhất: làm đẹp lòng Thiên Chúa.
CHƯƠNG 41. BẮT ĐẦU LẠI MỖI NGÀY – TINH THẦN CỦA NGƯỜI CHIẾN ĐẤU ĐẾN CÙNG – Không sống bằng thành tích của hôm qua; cũng không bị giam trong thất bại cũ; mỗi sáng là một lời mời gọi mới; bắt đầu lại sau tội lỗi, khô khan, mệt mỏi; sự thánh thiện được làm nên bởi vô số lần bắt đầu lại.
CHƯƠNG 42. TRUNG TÍN TRONG NHỮNG VIỆC NHỎ – CON ĐƯỜNG VỮNG CHẮC CỦA CUỘC CHIẾN – Đừng khinh thường những chiến thắng nhỏ; thánh thiện trong bổn phận; một ánh mắt, một lời nói, một lần nhịn, một việc âm thầm; đừng chờ cơ hội lớn để yêu Chúa; mỗi việc nhỏ có thể trở thành nơi hiến dâng chính mình.
CHƯƠNG 43. SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Quá khứ thuộc lòng thương xót, tương lai thuộc sự quan phòng, hiện tại thuộc sự trung tín; chiến đấu trận chiến đang ở trước mặt; thoát khỏi hối tiếc và lo âu; gặp Chúa trong bổn phận hiện tại; sống từng phút như một quà tặng.
PHẦN X – CHÚA THÁNH THẦN, ĐỨC MARIA VÀ HỘI THÁNH KHẢI HOÀN TRONG CUỘC CHIẾN
CHƯƠNG 44. CHÚA THÁNH THẦN – ĐẤNG BAN SỨC MẠNH VÀ SOI SÁNG TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Không thể chiến đấu bằng ý chí con người; Thánh Thần soi sáng lương tâm, củng cố ý chí và cầu nguyện trong ta; học nhận ra những thúc đẩy của Người; ngoan ngoãn với ân sủng; những hoa trái của đời sống theo Thần Khí.
CHƯƠNG 45. ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP – CHỖ NƯƠNG ẨN VÀ SỨC MẠNH TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Ý nghĩa tước hiệu Hằng Cứu Giúp; Đức Maria luôn dẫn đến Đức Kitô; chạy đến với Mẹ trong cám dỗ, thất vọng và sợ hãi; học nơi Mẹ sự khiêm nhường, vâng phục, trong sạch, thinh lặng và trung tín dưới chân Thập Giá.
CHƯƠNG 46. CÁC THÁNH VÀ CÁC THIÊN THẦN TRONG CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Sự hiệp thông các thánh; những người đã chiến đấu và chiến thắng trước chúng ta; học nơi các thánh kinh nghiệm thực tế về nên thánh; thiên thần bản mệnh; Tổng lãnh thiên thần Micae; không bao giờ chiến đấu đơn độc trong nhiệm thể Đức Kitô.
PHẦN XI – HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI VÀ HOA TRÁI CUỐI CÙNG CỦA CUỘC CHIẾN
CHƯƠNG 47. HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI – ĐỘNG LỰC TỐI HẬU CỦA CUỘC CHIẾN LINH HỒN – Chúng ta là khách lữ hành; đời này không phải quê hương cuối cùng; nhìn thử thách trong ánh sáng vĩnh cửu; niềm hy vọng về sự sống đời đời; nhớ đến các thánh đã hoàn tất cuộc hành trình; để quê trời làm cho những hy sinh hiện tại trở nên nhẹ hơn.
CHƯƠNG 48. SỐNG TRONG LỜI CA TỤNG VÀ TẠ ƠN NHƯ HOA TRÁI CHÍN MUỒI CỦA CUỘC CHIẾN – Cuộc chiến phải sinh ra một linh hồn biết ca tụng; tạ ơn cả những chiến thắng lẫn những thất bại đã làm ta khiêm nhường; biến cuộc sống thành lời kinh; không chiếm công của ân sủng; Magnificat của người đã để Chúa thực hiện những điều lớn lao trong sự bé nhỏ của mình.
CHƯƠNG 49. SẴN SÀNG RA ĐI – SỐNG MỖI NGÀY TRONG TƯ THẾ CỦA NGƯỜI LỮ HÀNH SẮP VỀ NHÀ – Sống sẵn sàng không phải bi quan; hòa giải khi còn thời gian; không trì hoãn việc lành; tập buông bỏ; giữ tâm hồn nhẹ nhàng trước của cải và danh dự; sống mỗi ngày như có thể là ngày cuối nhưng vẫn chu toàn mọi bổn phận với niềm vui.
CHƯƠNG 50. LỜI KẾT TOÀN BỘ CUỘC CHIẾN – HÃY CHIẾN ĐẤU ĐẾN CÙNG TRONG LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA – Nhìn lại toàn bộ hành trình; bốn khí giới nền tảng; những trận chiến với các đam mê; cầu nguyện, bí tích, Thánh Giá, Đức Maria, Thánh Thần và Hội Thánh; đừng ngạc nhiên vì sự yếu đuối; đừng sợ phải bắt đầu lại; không lấy mình làm trung tâm của cuộc chiến; trung thành cho đến hơi thở cuối cùng; phó thác mọi sự cho lòng thương xót; đặt vũ khí xuống trong ngày được gọi về nhà.
Lm. Anmai, CSsR













