Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Hai tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR

7

BẢN TIN GIÁO HỘI SÁNG NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

ĐỪNG ĐỂ CHÚA THÀNH NGƯỜI XA LẠ TRONG CHÍNH CUỘC ĐỜI ĐÃ DÂNG CHO NGƯỜI – Lm. Anmai, CSsR

TĨNH TÂM THÁNG 11 RỒI MỘT NGÀY, CỘNG ĐOÀN SẼ ĐỌC TÊN TÔI – Lm. Anmai, CSsR

KHI NGƯỜI CHĂN CHIÊN KHÔNG CÒN BIẾT TỰA VÀO AI – Lm. Anmai, CSsR

XIN LỄ CHO CHÍNH MÌNH KHI CÒN SỐNG: HIỂU ĐÚNG ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN – Lm. Anmai, CSsR

TU DỮ CHƯA ? (Tập 1)
Lm. Anmai, CSsR

TĨNH TÂM TU SĨ NĂM 2027
Chủ đề xuyên suốt: Ở LẠI VỚI CHÚA — ĐỂ NGƯỜI KHÁC ĐƯỢC BÌNH AN KHI Ở BÊN TA
MỖI THÁNG, XIN DỪNG LẠI MỘT CHÚT ĐỂ THƯƠNG NHAU LÂU HƠN

TĨNH TÂM TU SĨ NĂM 2027 Chủ đề xuyên suốt: Ở LẠI VỚI CHÚA — ĐỂ NGƯỜI KHÁC ĐƯỢC BÌNH AN KHI Ở BÊN TA

BẢN TIN GIÁO HỘI
THỨ HAI – tuần 29 THƯỜNG NIÊN
Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

BẢN TIN GIÁO HỘI THỨ HAI – tuần 29 THƯỜNG NIÊN Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

TU DỮ CHƯA ? (Tập 1)
Lm. Anmai, CSsR

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Hai tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR

BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ BẢY, NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

THỨ 2 TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN GIÀU VỀ NHỮNG GÌ THUỘC VỀ THIÊN CHÚA – Lm. Anmai, CSsR

THỨ 2 T 29 TN GIÀU của cải rồi cũng bỏ lại, linh hồn mới đi cùng CHÚA – Lm. Anmai, CSsR

Phúc Âm: Lc 12, 13-21
“Những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có người trong đám đông thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi”. Người bảo kẻ ấy rằng: “Hỡi người kia, ai đã đặt Ta làm quan xét, hoặc làm người chia gia tài cho các ngươi?” Rồi người bảo họ rằng: “Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu”.
Người lại nói với họ thí dụ này rằng: “Một người phú hộ kia có ruộng đất sinh nhiều hoa lợi, nên suy tính trong lòng rằng: “Tôi sẽ làm gì đây, vì tôi còn chỗ đâu mà tích trữ hoa lợi?” Ðoạn người ấy nói: “Tôi sẽ làm thế này, là phá các kho lẫm của tôi, mà xây những cái lớn hơn, rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào đó, và tôi sẽ bảo linh hồn tôi rằng: “Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi!” Nhưng Thiên Chúa bảo nó rằng: “Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?” Vì kẻ tích trữ của cải cho mình, mà không làm giàu trước mặt Chúa, thì cũng vậy”.
Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
có người trong đám đông đã kéo Chúa vào cuộc tranh chấp gia tài: “Thưa Thầy, xin bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi.” Chúa không nhận vai thẩm phán của của cải. Chúa nhìn thấu điều nằm dưới lời xin ấy: lòng muốn chiếm phần, muốn được hơn, muốn giữ cho mình.
Hôm nay con cũng đứng trong đám đông ấy. Con không luôn miệng nói đến ruộng đất, nhưng con vẫn hỏi Chúa phân xử theo lẽ có lợi cho con. Con muốn phần của con được bảo đảm, muốn kho của con không bị đụng tới, muốn ngày mai đã nằm gọn trong tay trước khi đêm nay kết thúc.
Lạy Chúa, ruộng người phú hộ sinh nhiều hoa lợi. Đó không phải tội. Hoa màu là ơn Chúa ban. Tội bắt đầu khi ông chỉ còn một câu hỏi: “Mình phải làm gì đây? Còn chỗ đâu mà tích trữ?” Ông không hỏi hoa lợi ấy sẽ nuôi ai. Ông không hỏi có bàn tay nào đang đói bên bờ ruộng. Ông phá kho cũ, xây kho lớn hơn, rồi nói với hồn mình: “Hãy nghỉ ngơi, hãy ăn uống, hãy vui chơi.” Ông gọi hồn mình bằng tiếng của một chủ kho. Ông tưởng sự sống là số lượng những gì đã cất giữ.
Nhưng đêm ấy, Chúa gọi ông là đồ ngốc. Không phải vì ông làm ăn giỏi. Vì ông đã tính nhiều năm, mà không tính một đêm. Những gì ông sắm sẵn sẽ về tay ai, khi mạng ông bị đòi lại.
Lạy Chúa, con sợ câu ấy. Con cũng đang xây kho. Kho danh, kho chương trình, kho của cải, kho hình ảnh con muốn người khác giữ về con. Con nói với hồn con: còn đủ cho nhiều năm. Con quên rằng sự sống không hệ tại của cải dư dật, và giàu thật là giàu trước mặt Thiên Chúa.
Xin đừng để con chết trong một ngôi nhà đầy thóc mà trống Chúa. Xin kéo con ra khỏi câu chuyện của riêng con, để con nghe được tiếng người anh em đang hỏi phần của họ, không phải để tranh chấp, nhưng vì họ đang thiếu. Xin dạy con dùng hoa lợi Chúa ban mà mở kho, trước khi đêm đòi mạng con.
Ước gì khi con ra trước mặt Cha, Cha không hỏi con đã xây được bao nhiêu lẫm, nhưng hỏi con đã để lại bao nhiêu chỗ cho người khác được sống. Và ước gì hồn con, thay vì nhủ mình hãy vui chơi, biết thưa: lạy Chúa, này con xin đến, của con là Chúa, và kho con là lòng thương xót Chúa.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

GIÀU VỀ NHỮNG GÌ THUỘC VỀ THIÊN CHÚA
Có một nỗi sợ rất cũ, cũ hơn mọi kho lẫm và cũ hơn mọi giấy tờ thừa kế, vẫn ngồi giữa lòng người mỗi khi mùa gặt về. Nỗi sợ ấy không phải sợ đói ngay hôm nay, mà sợ ngày mai hết chỗ chứa, sợ tay mình trống, sợ anh em đòi phần, sợ đời mình rút ngắn trước khi kịp nghỉ. Người ta gọi tên nỗi sợ ấy bằng nhiều tiếng thanh lịch hơn: lo xa, tính toán, bảo vệ gia sản, giữ cho con cháu có chỗ đứng. Nhưng bên dưới những tiếng ấy vẫn là một câu hỏi rất trần: đời ta có còn gì khi thóc đã đầy mà hơi thở không còn. Câu hỏi ấy không dành riêng cho kẻ giàu có ruộng đất. Nó dành cho bất cứ ai đang gom, đang giữ, đang tính xem mình sẽ nói với linh hồn mình thế nào khi mọi thứ đã được xếp vào chỗ an toàn. An toàn ấy mong manh hơn người ta tưởng. Một đêm cũng đủ để mọi kế hoạch nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi trở thành câu hỏi không có người trả lời: những gì ngươi đã chuẩn bị sẽ về tay ai.
Người giàu trong câu chuyện ấy không phải kẻ ác theo nghĩa đang cướp của người khác giữa ban ngày. Ruộng ông sinh hoa lợi. Mùa màng tốt. Ông nhìn đống lúa và thấy một vấn đề rất thực: không đủ chỗ chứa. Ông suy tính một mình. Ông không hỏi ai. Ông không nhớ đến người làm thuê, người đói ngoài cổng, người anh em đang tranh chấp phần thừa kế ở ngoài đám đông. Ông chỉ nói với chính mình. Ngôn ngữ của ông là ngôn ngữ của người đã biến đời thành kho riêng: ta sẽ phá kho cũ, ta sẽ xây kho lớn hơn, ta sẽ chất vào đó mọi lúa thóc và của cải, rồi ta sẽ nói với linh hồn ta rằng hãy nghỉ, hãy ăn, hãy uống, hãy vui chơi, vì đã có nhiều của tốt dành cho nhiều năm. Cái nguy không nằm ở chỗ kho được xây. Cái nguy nằm ở chỗ linh hồn bị nói chuyện như một kẻ khách trong nhà của cải. Ông tưởng mình đang chăm sóc sự sống. Thật ra ông đang nhốt sự sống vào trong thứ sẽ không đi theo ông qua đêm ấy. Thiên Chúa gọi ông là kẻ ngu không phải vì ông biết làm ăn, mà vì ông đã lấy cái không cầm được làm nền cho cái không thể mất. Đêm ấy mạng sống ông bị đòi lại. Kho vẫn đứng đó. Lúa vẫn nằm đó. Người thì không còn để hưởng. Và câu kết của câu chuyện không phải một lời nguyền dành cho một ông phú hộ xa xưa. Đó là chân dung của mọi kẻ thu tích cho mình mà không giàu về những gì thuộc về Thiên Chúa.
Giàu về những gì thuộc về Thiên Chúa không phải là một khẩu hiệu đạo đức để dán lên cửa nhà sau khi đã xây xong kho. Đó là một cách đứng trước sự sống. Người giàu về của cải hỏi: ta sẽ để đâu. Người giàu về Thiên Chúa hỏi: ta đang thuộc về ai. Hai câu hỏi ấy không loại trừ nhau ở ngoài mặt, vì người có ruộng vẫn phải có chỗ chứa lúa, người có gia đình vẫn phải lo cơm áo, người có bổn phận vẫn phải tính toán cho ngày mai. Nhưng thứ tự thì đổi tất cả. Khi câu hỏi đầu tiên là chỗ chứa, lòng người co lại quanh đồ vật. Khi câu hỏi đầu tiên là thuộc về, đồ vật được trả về đúng chỗ của nó: phương tiện, không phải chúa. Thánh vịnh đặt vào miệng kẻ tin một lời vừa đơn sơ vừa làm đảo lộn mọi kho lẫm: Chúa đã dựng nên chúng ta, chúng ta thuộc về Người. Không phải chúng ta dựng nên phần đời của mình rồi mời Thiên Chúa vào chứng kiến. Không phải chúng ta gom đủ rồi mới có tư cách đứng trong sân Người. Chúng ta là dân Người, là đoàn chiên tay Người chăn. Vui mừng, phục vụ, bước vào cửa với lời tạ ơn, chúc tụng danh Người vì Người tốt lành và lòng thương của Người bền mãi từ đời nọ đến đời kia, tất cả những điều ấy chỉ đứng vững khi người ta đã thôi tưởng mình là chủ của mùa gặt.
Thuộc về không phải cảm giác ấm áp lúc hát. Thuộc về là nhận ra mình đã từng chết. Chết không phải chỉ khi hơi thở tắt. Chết là sống trong những sa ngã và tội lỗi, đi theo thời đại của thế gian này, đi theo thủ lãnh của chốn không trung, thần khí đang hoạt động nơi những kẻ không vâng phục. Chết là để xác thịt dẫn, để ước muốn của xác thịt và những xung động ấy trở thành luật ngầm của ngày. Tất cả chúng ta đã từng sống giữa những điều ấy. Không ai được miễn. Không ai có một tuổi thơ sạch đến mức không cần được kéo lên. Bản tính ấy, nếu bỏ mặc, sinh ra những đứa con của cơn thịnh nộ, giống như mọi người khác. Lời ấy nặng. Nó không cho phép người nghe tự tách mình khỏi đám đông để chỉ tay vào ông phú hộ. Ông phú hộ nói với linh hồn mình bằng giọng của kẻ đã quên mình từng chết. Kẻ đang tranh chấp gia tài ngoài đám đông cũng vậy. Người này muốn Thầy đứng về phía mình để anh em phải chia phần. Người kia muốn kho lớn hơn để không phải chia với ai. Cả hai đều đang lấy của cải làm trọng tài của sự sống. Cả hai đều chưa thấy rằng sự sống không hệ tại ở của cải, dù người ta có dư dật.
Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Sự giàu ấy không phải kho lúa. Sự giàu ấy là tình yêu lớn Người đã dành cho chúng ta ngay khi chúng ta còn chết vì sa ngã. Ngay lúc ấy, không phải sau khi chúng ta đã tự xây được một đời sạch, Người đã cho chúng ta cùng sống với Đức Kitô. Ơn đã cứu. Người cho chúng ta cùng được phục sinh với Người, cùng được đặt ngồi với Người trên trời trong Đức Kitô Giêsu, để trong các thời đại sẽ đến, Người tỏ ra sự phong phú khôn lường của ân sủng, qua lòng nhân hậu đối với chúng ta trong Đức Kitô Giêsu. Đây là chỗ kho lẫm của thế gian gãy. Ông phú hộ định dành nhiều năm để nghỉ. Thiên Chúa dành các thời đại để tỏ lòng nhân hậu. Ông phú hộ chất của vào kho cho mình. Thiên Chúa chất sự sống vào Đức Kitô cho những kẻ đã chết. Ông phú hộ nói với linh hồn mình như nói với một kẻ sắp được thưởng công vì đã khôn. Lời cứu độ nói ngược lại: bởi ân sủng anh em được cứu nhờ đức tin, điều này không bởi anh em, đó là ơn của Thiên Chúa, không bởi việc làm, để không ai được tự hào.
Không ai được tự hào. Câu ấy đóng cửa mọi kho mà người ta định xây bằng công trạng. Người giữ đạo lâu năm không được đem số năm ra đổi lấy chỗ ngồi. Người làm nhiều việc lành không được đem sổ ấy ra bắt Thiên Chúa phải trả. Người tử đạo cũng không được nghĩ máu mình mua được Nước Trời như người ta mua một thửa ruộng. Máu các ngài là hoa trái của ơn, không phải giá của ơn. Các thánh Gioan de Brébeuf, Isaác Jogues và các bạn tử đạo đã đi vào những cánh rừng và những làng của dân bản địa bên Tân Thế Giới không phải vì các ngài đã tính xong phần thưởng. Các ngài đã bị bắt, bị tra tấn, bị giết, có người bị chặt ngón tay vẫn còn viết thư về để người khác đừng sợ mà bỏ cuộc truyền giáo. Đời các ngài không giống bài tính của ông phú hộ. Các ngài không phá kho nhỏ để xây kho lớn. Các ngài để tay trống mà lòng đầy. Các ngài nghèo khó trong tinh thần theo nghĩa rất thịt rất xương: không chỗ an toàn, không mùa gặt nào chắc thuộc về mình, không một đêm nào được bảo đảm là đêm nghỉ. Nước Trời là của những người ấy không phải vì các ngài khinh của cải cho có vẻ đạo đức, mà vì các ngài đã để sự sống của mình thuộc về Đấng đã kéo các ngài ra khỏi cái chết. Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc ấy không phải phần thưởng bù cho việc mất mát. Phúc ấy là chính việc được thuộc về.
Ân sủng không phải lời mời ngồi không. Chúng ta là tác phẩm của Người, được tạo dựng trong Đức Kitô Giêsu để làm những việc lành mà Thiên Chúa đã chuẩn bị từ trước, để chúng ta sống trong những việc ấy. Đây là điểm người ta hay trượt. Một bên nghe nói không bởi việc làm thì bỏ bê mọi bổn phận, coi việc lành là khoe khoang. Một bên nghe nói được tạo dựng để làm việc lành thì lại biến việc lành thành kho mới, lớn hơn kho lúa, để cuối đời nói với linh hồn mình: hãy nghỉ, vì ngươi đã làm nhiều. Cả hai đều chưa nghe hết. Việc lành không mua sự sống. Việc lành là chỗ sự sống đã được ban đi vào ngày thường. Thiên Chúa chuẩn bị từ trước không có nghĩa đời ta là một kịch bản cứng đến mức không còn tự do. Có nghĩa những gì thật sự tốt mà ta sẽ làm không phải phát minh của cái tôi muốn được khen. Những việc ấy đã nằm trong ý định của Đấng dựng nên ta, đợi ta bước vào mà sống. Sống trong việc lành khác với chất việc lành vào kho. Sống trong là để việc ấy trở thành hơi thở của người thuộc về. Chất vào kho là để cuối năm đếm.
Nhìn lại ông phú hộ, ta thấy ông cũng có một thứ việc làm. Ông tính. Ông phá. Ông xây. Ông chất. Ông lên kế hoạch nghỉ ngơi. Tất cả đều là việc. Không việc nào trong số ấy được chuẩn bị để ông sống như người thuộc về Thiên Chúa. Các việc ấy chuẩn bị cho ông sống như người thuộc về đống lúa. Vì thế đêm ấy các việc ấy không cứu được ông. Không phải Thiên Chúa ghét mùa màng. Mùa màng là ơn. Ghét là việc biến ơn thành tường để không còn thấy ai. Người anh em ngoài đám đông xin Thầy can thiệp vào vụ chia gia tài cũng đang đứng trước một mùa gặt khác: phần của mình. Thầy không nhận vai phán xử và phân xử. Không phải vì công bình không quan trọng. Vì căn bệnh dưới vụ kiện ấy không được chữa bằng một phán quyết về sào đất. Căn bệnh là thèm muốn. Hãy coi chừng, hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì người ta có dư dật đến đâu, sự sống của họ cũng không hệ tại ở của cải. Lời ấy cắt ngang cả hai phía của cuộc tranh chấp. Người đang giữ và người đang đòi đều có thể chết cùng một cách: chết vì tưởng phần hơn là sự sống.
Trong đời thường, kho lẫm không chỉ là nhà kho. Kho là tài khoản người ta không dám động tới dù người bên cạnh đang thiếu. Kho là danh tiếng người ta xây bằng cách im lặng trước điều bất công, miễn là phần mình còn nguyên. Kho là kiến thức người ta giữ để ra oai chứ không để phục vụ. Kho là thời giờ người ta khóa lại cho kế hoạch riêng trong khi mái ấm đang nứt. Kho là lòng đạo người ta trưng ra cho được yên tâm, rồi về nhà vẫn nói với linh hồn mình bằng giọng của ông phú hộ: ta đã đi lễ, ta đã đọc kinh, ta đã giúp một ít, bây giờ hãy nghỉ. Kho cũng có thể là nỗi buồn người ta ôm lấy không chịu trao, vì nỗi buồn ấy đã thành cái tôi. Mỗi lần người ta nói ta sẽ, ta sẽ, ta sẽ, mà không một lần hỏi việc này có làm ta giàu về những gì thuộc về Thiên Chúa không, thì kho ấy đang được xây dù gạch không hiện ra.
Giàu về Thiên Chúa có hình dạng rất cụ thể. Đó là biết ơn trước khi tính chỗ chứa. Đất sinh hoa lợi không phải vì tay ông phú hộ đã ra lệnh cho đất. Đất sinh hoa lợi vì có Đấng cho mưa, cho mùa, cho sức, cho cơ hội. Bước vào cửa với lời tạ ơn là cách làm vỡ cái tôi đang định độc thoại. Người biết ơn không còn nói một mình với linh hồn mình. Người biết ơn nói với Đấng đã dựng nên mình. Đó là chia sẻ trước khi kho đầy, vì nếu đợi kho đầy thì không bao giờ đủ chỗ, và lý do để không chia sẽ luôn có sẵn. Đó là nhìn người anh em đang tranh chấp không như kẻ thù của phần mình, mà như người cùng chết và cùng được kéo lên. Đó là làm việc lành mà không lấy việc lành làm giường nằm. Đó là dám nghèo trong tinh thần giữa lúc tay đang cầm nhiều: nghèo vì không để của cải định nghĩa mình, nghèo vì sẵn sàng mất cái đang giữ nếu cái đang giữ bắt đầu chiếm chỗ của Thiên Chúa. Các vị tử đạo bên những miền truyền giáo đã cho thấy nghèo ấy không phải lý thuyết. Các ngài có thể ở lại nơi an toàn. Các ngài đã đi. Các ngài có thể cứu mạng bằng một lời chối. Các ngài đã không chối. Sự sống các ngài không hệ tại ở của cải, cũng không hệ tại ở việc được sống lâu. Sự sống các ngài hệ tại ở Đức Kitô, Đấng đã cho các ngài cùng sống, cùng được phục sinh, cùng được đặt ngồi với Người.
Có người sẽ hỏi: vậy phải bỏ hết sao. Không phải câu chuyện ấy dạy bỏ ruộng. Câu chuyện ấy dạy đừng để ruộng thành ông chủ của đêm cuối. Người có của mà giàu về Thiên Chúa vẫn xây kho khi cần, vẫn tính toán cho con cái, vẫn giữ công bình trong thừa kế, vẫn làm ăn đàng hoàng. Nhưng trong mọi tính toán ấy có một câu không được vắng: những gì ta chuẩn bị sẽ về tay ai, và linh hồn ta đang thuộc về ai. Nếu câu ấy làm người ta khó chịu, thì kho đang lớn hơn lòng. Nếu câu ấy làm người ta mở tay, thì ân sủng đang đi vào việc làm. Đêm đời người không hẹn. Có nhà giàu chết giữa lúc đang ký hợp đồng mở rộng. Có người nghèo chết giữa lúc đang lo bữa sau. Có người đạo đức chết giữa lúc đang định để năm sau mới tha thứ. Điểm chung không phải số của cải. Điểm chung là sự sống bị đòi lại, và chỉ còn lại những gì đã thuộc về Thiên Chúa. Những gì thuộc về Thiên Chúa không bị tịch thu trong đêm ấy. Lòng thương xót đã kéo ta ra khỏi cái chết thì không bị mùa màng đánh thuế. Đức tin là ơn, không phải vốn tự có, nên không ai cưỡng được nó khỏi tay Người. Việc lành đã được chuẩn bị và đã được sống thì không nằm trong danh sách tài sản chờ chia.
Giáo hội nhớ các vị tử đạo không phải để tô thêm một chuyện ly kỳ bên cạnh bài học về lòng tham. Nhớ các ngài là để thấy thế nào là giàu về những gì thuộc về Thiên Chúa khi mọi kho hữu hình đã bị lấy đi. Gioan de Brébeuf đã ở giữa dân tộc khác, học tiếng khác, chịu cái lạnh và cái đói và cái chết không có khán giả quen thuộc. Isaác Jogues đã trở lại nơi mình từng bị hành hạ, dù tay đã không còn nguyên, vì Tin Mừng chưa được nói hết. Các bạn của các ngài, giáo sĩ và trợ tá, đã chết không có bia khoe thành tích. Tên các ngài ở lại không như tên khắc trên cửa kho, mà như tên của những người đã để sự sống mình bị đòi lại mà vẫn giàu. Các ngài chứng minh rằng câu nói với linh hồn mình có một dạng khác, không phải hãy nghỉ vì ngươi có nhiều của. Dạng ấy là: xin cứ lấy, vì con đã được sống với Đức Kitô từ trước khi đêm này đến. Đó là ngôn ngữ của người đã biết mình từng chết và đã được kéo lên. Người ấy không còn cần kho để chứng minh mình đang sống.
Áp vào một xứ sở đang chạy theo chỗ chứa, lời này không ở trên mây. Nhà cửa nâng tầng, đất đai đổi chủ, của cải gửi chỗ này chỗ kia, con cái được tính đường đi trước cả khi kịp được kể về Đấng đã dựng nên chúng. Không có gì trong những việc ấy tự nó là tội. Tội bắt đầu khi linh hồn bị bắt phải vui vì kho, và khi Thiên Chúa bị mời đến sau, như người chứng cho bản hợp đồng đã ký. Tội bắt đầu khi anh em trong nhà không chia được phần vì mỗi người đều đang xây kho lớn hơn trong lòng. Tội bắt đầu khi giáo xứ đông mà việc lành đã chuẩn bị thì bỏ trống: thăm người đau, dạy kẻ chưa biết, hòa người đang kiện, giữ miệng trước lợi nhỏ, mở tay trước mùa được. Những việc ấy không làm ta nên đáng được cứu. Những việc ấy là cách ta sống trong ơn đã cứu. Bỏ những việc ấy để giữ cho riêng mình một cảm giác an toàn là cách xây kho bằng vật liệu của Nước Trời rồi vẫn gọi đó là đạo.
Hãy coi chừng. Lời ấy không chỉ dành cho người có lúa dư. Hãy coi chừng mọi thứ tham lam, kể cả tham được khen là người không tham, tham được yên là người đã đủ, tham được chắc là người sẽ không chết bất ngờ. Sự sống không hệ tại ở của cải. Sự sống hệ tại ở việc được cùng sống với Đức Kitô, được đặt trong lòng nhân hậu của Người, được trở thành tác phẩm của Người giữa những việc lành đã dọn sẵn. Chúng ta thuộc về Người. Đó là câu làm kho lẫm mất quyền nói với linh hồn. Vui lên mà phục vụ, vì Chủ không phải đống lúa. Bước vào cửa mà tạ ơn, vì cửa ấy không phải cửa kho của mình. Chúc tụng danh Người, vì lòng thương của Người còn lâu hơn mọi năm ta định dành để nghỉ ngơi. Và nếu đêm nay mạng sống bị đòi, thì những gì đã chuẩn bị sẽ về tay ai không còn là câu hỏi của kẻ ngu. Đó là câu hỏi đã được trả lời từ trước: những gì thuộc về Thiên Chúa thì vẫn thuộc về Thiên Chúa, và kẻ đã để mình thuộc về Người thì không mất sự sống trong đêm của cải đổi chủ.
Lm. Anmai, CSsR

CỦA CẢI RỒI CŨNG BỎ LẠI, LINH HỒN MỚI ĐI CÙNG
Có một người trong đám đông tiến đến gần Đức Giêsu và nói một câu rất đời, rất người, rất quen thuộc với bất cứ ai đã từng sống trong một gia đình có của, có đất, có nhà, có phần thừa kế chưa chia. Anh ta không hỏi về Nước Trời, không hỏi về ơn tha thứ, không hỏi về cách cầu nguyện. Anh ta chỉ xin một việc: Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi. Câu ấy nghe có vẻ chính đáng. Người ta có quyền đòi phần của mình. Luật lệ loài người cũng nói về quyền thừa kế, về công bằng trong phân chia, về phần ai nấy hưởng. Thế nhưng Đức Giêsu không bước vào vai quan tòa của vụ kiện ấy. Người không đo đạc mảnh đất, không kiểm kê kho thóc, không phân xử ai đúng ai sai trong chuyện của cải. Người nhìn xuyên qua lời xin ấy và thấy một cơn bệnh đang ăn vào lòng người: thói tham lam, nỗi sợ thiếu, cái ham muốn biến mọi thứ thành của riêng để rồi yên tâm rằng mình đã nắm được đời mình trong tay. Người nói thẳng: Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải cứ dư dật của cải là mạng sống được bảo đảm. Câu ấy không phải một lời khuyên đạo đức treo trên tường. Đó là một chẩn đoán. Mạng sống không nằm trong kho. Hơi thở không nằm trong sổ đỏ. Bình an không nằm trong số dư cuối tháng. Người ta có thể giàu mà vẫn trống. Người ta có thể đầy nhà mà vẫn không có chỗ để hồn mình trú.
Rồi Người kể một câu chuyện. Ruộng của một người giàu sinh hoa lợi rất nhiều. Mùa ấy tốt. Kho không đủ chứa. Người ấy không nghĩ đến người thiếu ăn bên cạnh bờ ruộng. Người ấy không nghĩ đến ngày mai của kẻ không có kho. Người ấy cũng không nghĩ đến Đấng đã cho đất sinh hoa, cho mưa rơi đúng lúc, cho sức khỏe để gặt. Người ấy chỉ nói với chính mình. Đối thoại ấy mới là chỗ đáng sợ. Không có ai khác trong câu chuyện của ông. Chỉ có tôi với tôi. Tôi sẽ làm gì đây? Tôi không còn chỗ chứa. Tôi sẽ phá những kho kia đi, xây những kho lớn hơn, chất tất cả lúa thóc và của cải vào đó, rồi tôi sẽ nói với linh hồn tôi: Linh hồn hỡi, mày đã có đầy đủ của cải dự trữ cho nhiều năm; cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống, cứ vui chơi. Ông gọi đó là linh hồn, nhưng cái ông nói chuyện lại là cái bụng, là nỗi lo, là kế hoạch an nhàn. Ông tưởng mình đang chăm sóc hồn, kỳ thực ông đang dỗ dành xác. Ông tưởng mình đang bảo hiểm cho đời, kỳ thực ông đang nhốt đời vào trong những bức tường ông tự xây. Và giữa đêm ấy, khi kế hoạch còn chưa khô mực, có tiếng nói với ông: Đồ ngốc! Đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thế thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Câu hỏi ấy không cần trả lời dài. Của cải ở lại. Hơi thở ra đi. Kho lớn hơn không theo được người đã xây kho. Và Người kết: Kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Thiên Chúa thì cũng vậy.
Người giàu trong câu chuyện không bị kết án vì ông có ruộng tốt. Ruộng tốt là ơn. Mùa màng là ơn. Sức làm là ơn. Lao động để có của không phải là tội. Tội nằm ở chỗ ông biến ơn thành cái tôi độc thoại. Ông không còn ai để nói chuyện ngoài chính mình. Ông không còn chỗ cho Thiên Chúa trong bản kế hoạch. Ông không còn chỗ cho người khác trong kho của ông. Ông tính toán nhiều năm, nhưng ông không tính một đêm. Ông lo chỗ chứa lúa, nhưng ông không lo chỗ chứa hồn. Ông gọi linh hồn ra để báo tin an nhàn, nhưng linh hồn ấy không được nuôi bằng bánh sự sống, chỉ được nuôi bằng lời hứa của một người không cầm được hơi thở của chính mình. Sự ngốc nghếch của ông không phải là sự dại dột của kẻ không biết làm ăn. Ông biết làm ăn. Ông giỏi tích lũy. Sự ngốc nghếch của ông là sự mù của kẻ tưởng cái mình nắm được là cái mình là. Ông đồng hóa mình với kho. Khi kho còn, ông tưởng mình còn. Khi người ta đòi mạng, kho không cứu được ông, và ông mới thấy mình chưa từng giàu theo nghĩa có thể mang đi.
Chúng ta thuộc về Chúa trước khi thuộc về bất cứ thứ gì ta gọi là của mình. Đất không sinh ra ta. Sổ không sinh ra ta. Danh tiếng không sinh ra ta. Ta được dựng nên. Ta là việc tay Người làm. Không phải một sản phẩm vô tình của đất bụi rồi tự đặt cho mình một ý nghĩa. Ta được dựng nên trong Đức Kitô để làm những việc lành mà Thiên Chúa đã chuẩn bị từ trước, để ta sống trong những việc ấy. Câu ấy đảo ngược toàn bộ cách người giàu kia nghĩ về đời mình. Ông tưởng ông tự dựng kho, tự dựng tương lai, tự nói với hồn mình rằng hãy nghỉ. Kỳ thực đời ông đã được dựng cho một hướng khác: hướng của việc lành đã chuẩn bị sẵn, hướng của tương quan, hướng của belonging. Thuộc về không phải là mất tự do. Thuộc về là biết mình không phải là chủ tuyệt đối của hơi thở. Người thuộc về Chúa thì của cải trong tay họ có một chủ khác nữa, lớn hơn cái tên ghi trên giấy tờ. Họ vẫn làm việc. Họ vẫn gieo. Họ vẫn gặt. Họ vẫn xây. Nhưng họ không nói một mình trong kho. Họ hỏi kho này để làm gì, mùa này để nuôi ai, năm nay dư ra thì dư cho ai cùng sống.
Tham lam không chỉ là cái tay vơ thêm. Tham lam là cái lòng co lại. Nó có thể mặc áo rất đứng đắn. Nó có thể nói về trách nhiệm gia đình, về lo cho con cái, về phòng thân khi về già, về giữ của cho dòng họ. Những lời ấy có phần thật. Lo cho người mình thương không phải là tội. Dự phòng không phải là dại. Nhưng khi lời lo ấy nuốt hết mọi lời khác, khi căn nhà chỉ còn là pháo đài, khi anh em chỉ còn là đối thủ trong vụ chia, khi người nghèo chỉ còn là mối phiền ngoài cổng, thì lo đã hóa thành tham, và tham đã hóa thành mù. Người trong đám đông xin Đức Giêsu chia gia tài chính là người đang đứng trên bờ của sự mù ấy. Anh thấy phần của anh. Anh không thấy hồn anh đang bị phần ấy kéo đi. Đức Giêsu không bảo anh bỏ quyền lợi. Người bảo anh coi chừng thứ đang điều khiển quyền lợi ấy. Vì một khi lòng đã quyết rằng mạng sống nằm ở chỗ được chia đủ, thì dù được chia đủ, mạng sống vẫn không ở đó.
Giàu trước mặt Thiên Chúa không phải là một con số gửi vào một quỹ vô hình. Giàu trước mặt Thiên Chúa là để cho của cải trở thành phương tiện của lòng thương xót, của công bằng, của sự chăm sóc, của việc lành đã được chuẩn bị. Người giàu có thể giàu trước mặt Thiên Chúa nếu kho của họ có cửa mở. Người nghèo cũng có thể nghèo trước mặt người đời mà giàu trước mặt Thiên Chúa nếu lòng họ không bị co lại bởi ghen tương và bởi ước mơ trở thành chính cái kho mà họ đang trách. Câu chuyện không chia nhân loại thành hai phe kẻ có và kẻ không để rồi phong thánh cho một phe. Câu chuyện hỏi cả hai: ngươi đang nói chuyện với ai trong kế hoạch đời ngươi? Nếu chỉ với mình, thì đêm nào đó câu hỏi sẽ đến, của này về tay ai, và ngươi sẽ không có câu trả lời nào mang được theo.
Đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi. Đêm ấy không nhất thiết là đêm cuối cùng theo lịch. Đêm ấy là bất cứ giờ nào sự thật đòi ta ngừng nói một mình. Có những người chưa chết mà đã nghe câu ấy khi bệnh đến, khi làm ăn đổ, khi con cái không nhìn kho mà nhìn mặt, khi anh em không còn ngồi cùng mâm vì một mảnh đất. Có những người nghe câu ấy muộn, khi đã xây xong kho lớn và thấy kho không sưởi được lòng. Có những người nghe kịp, khi còn đang tính phá kho cũ. Kịp không phải là vứt hết. Kịp là đổi người đối thoại. Thay vì chỉ nói với linh hồn rằng hãy nghỉ ngơi ăn uống vui chơi, họ bắt đầu nói với Chúa rằng mùa này con xin dâng, với người bên cạnh rằng phần này có chỗ cho anh, với chính mình rằng ngươi không phải là chủ của ngày mai. Sự nghỉ ngơi thật không đến từ câu nói ta tự nhủ. Sự nghỉ ngơi thật đến từ việc biết mình thuộc về ai.
Ta là việc tay Chúa làm. Câu ấy dịu mà nặng. Dịu vì ta không phải tự cứu lấy ý nghĩa đời mình bằng cách chất đầy kho. Nặng vì ta không được sống như thể tay mình là tay duy nhất đã dựng nên ta. Được dựng nên trong Đức Kitô để sống những việc lành đã chuẩn bị, nghĩa là mỗi ngày có một việc không do ta bịa ra để tự khen mình, mà do lòng thương xót đã đặt sẵn trên đường ta đi. Việc ấy có thể là một phần cơm, một lần nhường, một sổ nợ xóa, một vụ chia gia tài không biến anh em thành thù, một mùa lời lãi không nuốt hết mùa của người làm công. Việc ấy không thay thế cầu nguyện. Việc ấy là chỗ cầu nguyện trở thành thật. Người chỉ cầu nguyện trong nhà rồi ra kho vẫn nói một mình thì lời cầu chưa đi đến chỗ của cải đang nằm. Người để của cải đi vào trong tương quan với Thiên Chúa và với anh em thì kho chưa chắc nhỏ đi, nhưng kho hết là ngục.
Người giàu dại không dại vì ông vui. Vui không bị cấm. Ăn uống không bị cấm. Nghỉ sau mùa gặt là việc chính đáng của thân xác Chúa đã dựng. Ông dại vì ông gọi sự vui ấy là bảo hiểm vĩnh viễn. Ông nói nhiều năm như thể nhiều năm nằm trong tay ông. Ông không biết đêm. Ai trong chúng ta cũng có một câu nói thầm giống ông, chỉ khác chất liệu. Người này nói với hồn mình: khi nào đủ căn nhà này thì hãy yên. Người kia nói: khi nào con cái xong việc thì hãy sống. Người khác nói: khi nào danh này vững thì hãy mở lòng. Cái kho đổi tên, cái độc thoại không đổi. Và câu hỏi vẫn một: đêm nay, nếu mạng được đòi lại, những gì ngươi sắm sẵn sẽ về tay ai? Không phải để ta sợ đến mức không dám làm việc. Để ta làm việc mà không tự giam. Để ta vui cái vui của người biết mình được cho, không phải cái vui của người tưởng mình đã khóa được cửa thời gian.
Giữ mình khỏi mọi thứ tham lam là một việc mỗi ngày, không phải một lần quyết định cho xong. Tham lam biết cải trang. Nó vào nhà qua cửa lo xa. Nó vào tiệm qua cửa năng suất. Nó vào gia đình qua cửa công bằng. Nó vào lòng đạo qua cửa giữ của cho việc chung, rồi từ từ việc chung chỉ còn là tên của việc riêng. Coi chừng không có nghĩa là nghi ngờ mọi niềm vui trần thế. Coi chừng là hỏi của cải này đang làm ta thuộc về ai. Nếu nó làm ta thuộc về Chúa hơn, vì ta tự do hơn để yêu, thì nó đang ở đúng chỗ. Nếu nó làm ta thuộc về nó, đến mức mất nó là mất mình, thì nó đã leo lên ghế chủ, và ta thành người giữ kho cho một ông chủ không biết thương.
Làm giàu trước mặt Thiên Chúa là làm giàu bằng những gì không bị đòi lại theo cách của cải bị đòi lại. Lòng thương xót không nằm trong kho để người ta kê biên. Công bằng đã làm cho anh em không bị thiệt. Sự thật đã nói khi nói có lợi cho mình. Thời giờ đã cho kẻ không trả lại được. Lời cầu đã dâng khi không ai thấy. Những thứ ấy đi với hồn. Chúng không thay thế bánh ăn. Người đói vẫn cần bánh. Nhưng bánh chỉ nuôi được ngày nếu lòng người cầm bánh không được nuôi bằng một sự thuộc về lớn hơn bánh. Người giàu trong dụ ngôn có bánh cho nhiều năm mà không có sự thuộc về ấy, nên đêm đến ông trắng tay theo nghĩa duy nhất đáng sợ: trắng trước mặt Đấng đã dựng nên ông.
Ta hãy nghe lại tiếng nói trong đêm không như một lời dọa, mà như một lời kéo ta ra khỏi độc thoại. Đồ ngốc không phải là lời sỉ nhục cho người làm ăn giỏi. Đó là lời thương cho người đang gọi sai tên sự sống. Sự sống không phải là lúa chất đầy. Sự sống là tương quan với Đấng cầm hơi thở và với những người cùng được hơi thở ấy. Ai tập nói với Chúa giữa mùa gặt, ai tập mở kho trước khi kho quá lớn, ai tập chia gia tài mà không đánh mất anh em, người ấy đang tập giàu theo cách không bị đêm cướp. Và khi đêm thật sự đến, dù là đêm bệnh, đêm mất, đêm cuối, họ không phải nghe câu hỏi như một bản án bất ngờ. Họ đã sống câu trả lời từ lâu: những gì con sắm, con không giữ làm chủ; con thuộc về Chúa; việc lành Chúa đã chuẩn bị, con đã cố sống trong đó; phần còn lại, xin Chúa định. Đó là sự nghỉ ngơi không cần tự nhủ. Đó là sự giàu không cần kho lớn hơn. Đó là cách một người được dựng nên đi hết con đường của mình mà không đánh mất hồn trong đống của cải mình từng tưởng là đời mình.
Lm. Anmai, CSsR

GIÀU TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA KHI ĐÊM ĐÃ KHÉP VÀ KHO LẪM ĐÃ ĐẦY
Có những buổi sáng người ta thức dậy với cảm giác mình còn sống chỉ vì hơi thở chưa tắt, công việc còn đó, tên tuổi còn được người khác gọi, tài khoản còn số dư, mái nhà còn đứng, và ngày mới còn mở ra như một kho chứa thêm những thứ mình muốn giữ. Cảm giác ấy quen thuộc đến mức người ta không còn hỏi vì sao mình được thở, vì sao mình còn được gọi là người, vì sao một đêm qua không phải là đêm cuối. Người ta bước vào ngày như kẻ tự nuôi mình bằng kế hoạch, bằng tích lũy, bằng quyền được hưởng phần mình. Rồi một câu nói rất đời chen vào giữa đám đông: thưa Thầy, xin bảo anh tôi chia gia tài cho tôi. Câu ấy không phải chỉ là chuyện của hai anh em tranh đất. Câu ấy là tiếng của một trái tim đã biến sự sống thành món nợ phải đòi, biến người thân thành đối thủ, biến Thầy thành quan tòa để giải quyết phần của tôi. Và câu trả lời không đi vào sổ chia, không đứng về bên nào, không cân đong từng thửa. Câu trả lời quay mặt về phía đám đông và nói một lời sắc hơn mọi bản án: hãy coi chừng, hãy tránh mọi thứ tham lam, vì mạng sống con người không hệ tại ở của cải dư dật.
Lời ấy chạm vào chỗ người ta ít muốn bị chạm. Người ta vẫn nghĩ của cải chỉ nguy hiểm khi nó bất chính, khi nó lấy từ mồ hôi người khác, khi nó nhuốm máu hay gian dối. Ít ai nghĩ rằng một mùa gặt chính đáng cũng có thể trở thành cạm bẫy, rằng kho lẫm xây bằng công sức hợp pháp vẫn có thể chứa một linh hồn đã chết từ trước khi thân xác nằm xuống. Người phú hộ trong dụ ngôn không bị kể là kẻ cướp. Đất của ông sinh hoa lợi. Mùa màng của ông tốt. Ông không ngồi không. Ông tính toán. Ông thấy kho cũ không đủ. Ông quyết định phá đi xây lớn hơn. Ông dự trữ lúa thóc và của cải. Rồi ông nói với linh hồn mình một câu mà biết bao người vẫn thì thầm mỗi khi vừa xong một thương vụ, vừa nhận một chức, vừa mua thêm một mảnh, vừa thấy con cái đã có nhà có xe: linh hồn hỡi, ngươi đã có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi. Câu ấy nghe như phần thưởng của người khôn. Nó có vẻ hiền. Nó không chửi ai. Nó không cướp của ai trong câu chuyện được kể. Nó chỉ xoay vào trong. Nó chỉ nói với chính mình. Và chính chỗ xoay vào trong ấy, Thiên Chúa gọi ông là đồ ngốc.
Đồ ngốc không phải vì ông có của. Đồ ngốc vì ông tưởng của ấy là sự sống. Đồ ngốc vì ông nói với linh hồn như nói với một cái kho. Đồ ngốc vì ông đo năm tháng bằng sức chứa của vựa lúa. Đồ ngốc vì đêm ấy, chính đêm ông định bắt đầu nghỉ ngơi, linh hồn bị đòi lại, và mọi thứ ông chuẩn bị không còn tên ông trên đó nữa. Ai sẽ được những gì ngươi đã chuẩn bị. Câu hỏi ấy không cần ông trả lời. Đêm đã trả lời thay. Của cải không đi theo hơi thở. Kho lẫm không giữ được người xây kho. Niềm vui ăn uống không kéo dài sự sống thêm một giờ khi giờ đã điểm. Và bi đát nhất không phải là ông mất của. Bi đát là ông chưa từng giàu trước mặt Thiên Chúa trong suốt những năm ông tưởng mình đang giàu.
Giàu trước mặt Thiên Chúa không phải là một khẩu hiệu để an ủi kẻ nghèo, cũng không phải một cách nói giảm cho người đang có của mà sợ bị trách. Giàu trước mặt Thiên Chúa là một cách hiện hữu khác. Đó là biết mình không tự làm ra mình. Đó là biết hơi thở này không phải sản phẩm của kế hoạch. Đó là biết mình đã từng chết vì lỗi lầm và tội lỗi, đã từng bước đi theo dòng đời này, theo quyền lực của bóng tối đang hành động giữa những kẻ không vâng phục, đã từng sống theo những đam mê của xác thịt, làm những điều xác thịt và tư tưởng xui khiến. Không ai trong chúng ta đứng ngoài bức tranh ấy. Tất cả chúng ta xưa kia cũng thuộc về số đó. Chúng ta đã chiều theo dục vọng. Chúng ta đã đồng lõa với những ước muốn kéo mình xuống. Tự sức mình, chúng ta chỉ đi tới chỗ phán xét như mọi người. Không có một kho lẫm nào, một chức vụ nào, một gia tài nào, một mùa gặt nào sửa được sự thật ấy. Sự thật ấy không nhằm hạ nhục. Sự thật ấy nhằm mở cửa cho lòng thương xót.
Thiên Chúa giàu lòng thương xót, vì yêu thương lớn lao đã dành cho chúng ta, đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô khi chúng ta đã chết vì tội lỗi. Được cứu là do ân sủng. Câu ấy nếu chỉ đọc nhanh sẽ thành một công thức. Câu ấy nếu để nó đi vào xương tủy sẽ làm thay đổi cách người ta nhìn kho lẫm của mình. Ân sủng không phải phần thưởng thêm sau khi mình đã đủ tốt. Ân sủng là việc Thiên Chúa kéo kẻ chết lên cùng với Đức Kitô, cho ngồi với Người trên trời, để tỏ cho các thời đại sau này thấy ân sủng phong phú khôn lường của Người trong lòng nhân hậu đối với chúng ta nơi Đức Kitô Giêsu. Được cứu nhờ đức tin, mà đức tin ấy không phải bởi mình, đó là ơn Thiên Chúa ban. Không phải bởi việc làm, để không ai được tự hào. Chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu để làm những việc lành mà Thiên Chúa đã chuẩn bị từ trước cho chúng ta thực hiện. Đọc đến đây, người ta thấy hai chuyển động cùng một lúc. Chuyển động thứ nhất kéo ta ra khỏi ảo tưởng tự cứu: không phải mùa gặt của ta làm ta sống. Chuyển động thứ hai đẩy ta vào đời sống cụ thể: ta được dựng nên để làm những việc lành đã được dọn sẵn. Ân sủng không sản xuất những kẻ ngồi không trong kho. Ân sủng sản xuất những người biết mình được yêu khi còn là kẻ chết, và vì thế không dám biến của cải thành ngôi mộ của linh hồn.
Người phú hộ đã đảo ngược cả hai chuyển động ấy. Ông tưởng sự sống hệ tại ở của cải. Ông tưởng việc ông làm, kho ông xây, kế hoạch ông vạch sẽ giữ ông lại. Ông không biết mình là tác phẩm. Ông tưởng mình là chủ xưởng. Ông nói với linh hồn mình như nói với một quản gia: ngươi đã có đủ cho nhiều năm. Linh hồn không phải quản gia của kho. Linh hồn là hơi thở được trao, là sự sống không nằm trong tay người đang thở. Khi ông gọi linh hồn là bạn và bảo nó nghỉ ngơi, ông đã đối xử với món quà như với tài sản. Và Thiên Chúa, Đấng làm ra ông, Đấng ông thuộc về, lên tiếng trong đêm. Đêm ấy không bất công. Đêm ấy chỉ đúng giờ. Sự sống vốn không thuộc về ông theo kiểu ông thuộc về kho lúa. Sự sống thuộc về Đấng đã ban nó. Khi Đấng ấy đòi lại, mọi tính toán về nhiều năm trở thành một câu chuyện kể cho người khác nghe vào sáng hôm sau.
Thánh vịnh đặt một điệp khúc khác hẳn với lời người phú hộ tự nhủ. Hãy reo hò mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ, vào trước thánh nhan với khúc ca vui. Hãy nhìn nhận Chúa là Thiên Chúa, chính Người dựng nên ta và ta thuộc về Người, ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt. Hãy vào cửa Người với lời tạ ơn, vào khuôn viên với lời khen ngợi, hãy tạ ơn và chúc tụng danh Người, vì Chúa nhân hậu, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, qua bao thế hệ vẫn một niềm thành tín. Điệp khúc ấy lật ngược câu nói của người giàu. Người giàu nói ta có. Thánh vịnh nói ta thuộc về. Người giàu nói nghỉ ngơi vì đã đủ. Thánh vịnh nói vào trước thánh nhan với khúc ca vui vì mình được dựng nên. Người giàu tính nhiều năm. Thánh vịnh ca ngợi lòng thành tín trải qua bao thế hệ. Một bên là kho chứa mùa màng. Một bên là cửa điện để bước vào với lời tạ ơn. Hai cách đứng trước sự sống không thể hòa với nhau nếu người ta cứ lấy kho làm đền thờ.
Thuộc về không phải là bị tước đoạt. Thuộc về là được nhận. Đứa trẻ thuộc về mẹ không phải vì mẹ cướp tự do của nó, mà vì sự sống của nó đã đến từ một lòng yêu thương đi trước mọi ý muốn của nó. Đoàn chiên thuộc về người chăn không phải để bị bán từng con trong chợ, mà để được dẫn tới đồng cỏ và được gọi tên giữa đêm. Khi người ta quên mình thuộc về, người ta bắt đầu xây kho để tự làm chủ thời gian. Khi người ta nhớ mình thuộc về, người ta vẫn có thể gieo, vẫn có thể gặt, vẫn có thể xây nhà, vẫn có thể lo cho con cái, nhưng không còn nói với linh hồn rằng ngươi đã đủ cho nhiều năm. Người thuộc về sẽ nói một câu khác: những gì con có chiều nay là của Người trao, và nếu đêm nay Người gọi, con không mất gì ngoài cái vỏ mà con đã từng tưởng là mình.
Tham lam mà Tin Mừng cảnh báo không chỉ là thèm muốn của người khác. Tham lam là mọi hình thức coi của cải là sự sống. Có thứ tham lam ồn ào, tranh gia tài giữa anh em, đưa nhau ra tòa, biến máu mủ thành bản kê. Có thứ tham lam im lặng, không cãi ai, chỉ ngồi một mình với sổ sách và nói linh hồn hỡi hãy ăn uống vui chơi. Thứ sau nguy hiểm hơn vì nó mang mặt nạ khôn ngoan. Nó biết tính toán. Nó biết phòng xa. Nó biết xây kho lớn. Xã hội còn khen nó là người biết lo. Gia đình còn nể nó vì nó không để con cái thiếu thốn. Chỉ có đêm ấy mới gọi đúng tên. Đêm ấy không cần nhân chứng. Đêm ấy chỉ cần một sự thật: sự sống không nằm trong kho.
Người ta có thể phản đối rằng nếu không lo tích trữ thì lấy gì mà sống, lấy gì nuôi con, lấy gì lúc đau yếu, lấy gì khi mùa mất. Lời cảnh báo không bảo người ta đốt kho. Lời cảnh báo bảo người ta đừng để kho trở thành thần. Giữa lo liệu và tham lam có một lằn ranh mỏng mà chỉ lòng người biết. Lo liệu là tính cho ngày mai trong khi vẫn biết ngày mai không thuộc về mình. Tham lam là tính cho nhiều năm như thể mình đã mua được nhiều năm. Lo liệu vẫn mở tay. Tham lam khép tay lại rồi gọi sự khép ấy là an toàn. Lo liệu nhìn người bên cạnh như người cùng thuộc về một Đấng. Tham lam nhìn người bên cạnh như người có thể lấy mất phần mình, nên mới có tiếng xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài. Ngay từ câu mở, tham lam đã biến Thiên Chúa thành công cụ và biến anh em thành trở ngại.
Đức Giêsu không nhận vai quan tòa cho vụ kiện ấy. Người không phải vì lạnh lùng với công bình. Người thấy bên dưới vụ kiện có một căn bệnh sâu hơn sự bất công của bản chia. Nếu chỉ chia đều mà lòng vẫn đói, ngày mai hai anh em sẽ tranh phần khác. Nếu chỉ xử đúng mà linh hồn vẫn nói với mình hãy nghỉ ngơi vì đã đủ, thì bản án công minh vẫn để lại một kẻ giàu có mà nghèo trước mặt Thiên Chúa. Người đi thẳng vào gốc. Hãy coi chừng. Hãy tránh. Mạng sống không hệ tại ở của cải dư dật. Rồi Người kể chuyện người đã có dư dật. Câu chuyện không cần ác nhân. Câu chuyện chỉ cần một người tưởng dư dật là sống.
Có một nỗi sợ nằm dưới mọi kho lẫm. Nỗi sợ đêm. Nỗi sợ hết. Nỗi sợ bị đòi. Nỗi sợ không còn được gọi là người có. Người phú hộ xây kho lớn để bịt nỗi sợ ấy. Ông tưởng khi kho đủ lớn, nỗi sợ sẽ im. Nhưng nỗi sợ không ăn lúa. Nỗi sợ ăn lòng tin. Khi lòng tin đặt vào kho, kho càng lớn nỗi sợ càng tinh vi, vì mất kho lúc ấy là mất tất cả. Người đặt lòng tin vào Đấng dựng nên mình không hết sợ theo kiểu anh hùng, nhưng sợ ấy đổi chiều. Họ sợ đánh mất lòng thương xót hơn sợ đánh mất mùa. Họ sợ ngủ quên trong dư dật hơn sợ một năm mất mùa. Họ sợ nói với linh hồn những lời mà chỉ kho mới xứng đáng nghe.
Ân sủng trong thư gửi tín hữu Êphêsô không phải lý thuyết để tranh luận với người đang lo cơm áo. Ân sủng ấy là ký ức của một dân đã được kéo ra khỏi cái chết. Ký ức ấy nếu còn sống sẽ làm cho bàn tay không nắm chặt. Người biết mình đã chết và được làm cho sống lại với Đức Kitô sẽ khó lòng coi một mùa gặt là sự sống của mình. Người biết mình là tác phẩm sẽ khó lòng nói với linh hồn như nói với đầy tớ của kho. Người biết những việc lành đã được dọn sẵn sẽ không ngồi trong vựa lúa mà bảo mình hãy vui chơi. Việc lành ấy có thể rất nhỏ trong mắt thế gian: một phần lúa để mở, một cánh cửa không khóa trước người đói, một anh em không bị biến thành đối thủ vì gia tài, một lời không biến Thầy thành quan tòa của lòng tham. Việc lành ấy không mua sự cứu. Việc lành ấy là đường đi của người đã được cứu, là cách sống của tác phẩm khi tác phẩm chịu để Đấng nắn nên mình tiếp tục nắn.
Giàu trước mặt Thiên Chúa vì thế không đối nghịch với mùa gặt. Nó đối nghịch với việc biến mùa gặt thành lời cuối cùng nói với linh hồn. Người giàu trước mặt Thiên Chúa vẫn có thể thấy đất sinh hoa lợi và vẫn có thể xây kho khi kho cũ không đủ, nhưng câu nói trong lòng sẽ khác. Họ sẽ nói: mùa này là của Người, phần để dành là để có cái mà chia, phần vui là vui vì còn được thuộc về, và nếu đêm nay linh hồn bị đòi, kho này có người khác trông, còn con thì về với Đấng đã cho con sống. Câu ấy không làm mùa màng ít đi. Câu ấy làm mùa màng khỏi thành mồ. Kho không còn là nơi linh hồn rút vào. Kho trở thành chỗ đi qua. Sự sống ở chỗ khác, ở nơi Người đã cho ngồi với Đức Kitô, ở nơi lòng nhân hậu sẽ được bày tỏ qua các thời đại, ở nơi thành tín trải bao thế hệ chứ không ở nơi nhiều năm mà một người tính cho riêng mình.
Đám đông hôm ấy có người đang tranh gia tài, có người đang mơ một kho lớn, có người đang mệt vì chưa có gì để tranh. Lời nói với cả ba. Với người đang tranh, lời ấy bảo đừng biến sự sống thành bản chia. Với người đang mơ kho, lời ấy kể trước cái đêm. Với người đang trắng tay, lời ấy không bảo rằng nghèo là thánh theo kiểu tự động, nhưng bảo rằng sự sống của họ cũng không hệ tại ở cái họ chưa có. Kẻ nghèo tham cũng chết trong lòng trước khi chết ngoài thân, khi cả đời chỉ đo mình bằng cái thiếu và chỉ mơ ngày mình được nói câu của người phú hộ. Kẻ giàu tham chết trong câu đã nói. Kẻ nghèo tham chết trong câu chưa kịp nói. Cả hai đều đặt mạng sống vào của cải, một bên vào của đã có, một bên vào của chưa có. Giàu trước mặt Thiên Chúa mở một cửa thứ ba: sự sống là được thuộc về, được thương xót khi còn là kẻ chết, được dựng nên để làm những việc đã dọn sẵn.
Ngày thường của tuần này không có tiếng kèn. Ngày thường chỉ có một người trong đám đông xin chia gia tài, và một Người không chịu làm quan tòa cho lòng tham. Ngày thường chỉ có một bức thư nhắc rằng chúng ta đã chết và đã được làm cho sống. Ngày thường chỉ có một thánh vịnh bảo ta là dân của Người, là đoàn chiên Người chăn. Thế mà cả ba gặp nhau ở một chỗ rất sát da thịt: tối nay, trước khi xây thêm một kế hoạch cho nhiều năm, hãy hỏi linh hồn mình đang giàu cái gì. Nếu linh hồn chỉ giàu lúa, giàu sổ, giàu phần gia tài sắp được chia, giàu những năm tưởng đã mua được, thì đêm không cần dài cũng đủ để gọi đúng tên. Nếu linh hồn giàu vì biết mình được dựng nên, được yêu khi chẳng đáng, được kéo lên cùng với Đức Kitô, được mời vào cửa với lời tạ ơn, thì kho có thể đầy hay vơi mà sự sống không nằm ở đó. Sự sống nằm ở Đấng mà ta thuộc về. Và thuộc về Người, qua bao thế hệ, vẫn là một niềm thành tín không phụ thuộc vào sức chứa của bất kỳ vựa lúa nào.
Lm. Anmai, CSsR

GIÀU ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA
Có một người trong đám đông hôm ấy bước ra, không phải để xin được chữa lành, không phải để hỏi về Nước Trời, cũng không phải để xin được tha tội. Người ấy chỉ có một việc: nhờ Thầy phân xử việc chia gia tài với người anh. Lời ấy nghe rất đời, rất thật, rất quen với bất cứ ai đã từng thấy anh em ruột thịt nhìn nhau bằng con mắt của mảnh đất, của sổ đỏ, của căn nhà, của số tiền để lại sau một đám tang. Đức Giêsu không bước vào vụ kiện ấy. Ngài không ngồi vào chỗ của quan án, không đòi xem giấy tờ, không hỏi ai đúng ai sai trong chuyện của cải. Ngài quay sang đám đông và nói một câu cắt ngang mọi toan tính: Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải cứ giàu mà mạng sống được bảo đảm nhờ của cải. Rồi Ngài kể một dụ ngôn. Một người giàu có mùa màng bội thu. Đất không phụ lòng. Kho không đủ chứa. Ông không tạ ơn. Ông không nghĩ đến người làm công đã đổ mồ hôi. Ông không nghĩ đến kẻ đói ở đầu làng. Ông chỉ nói với chính mình. Ông sẽ phá kho cũ, xây kho lớn hơn, chất hết lúa thóc và của cải vào đó, rồi bảo linh hồn mình: hồn ơi, ngươi đã có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống, cứ vui chơi. Nhưng Thiên Chúa nói với ông: Đồ ngốc! Đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi. Những gì ngươi đã chuẩn bị, sẽ về tay ai? Kẻ thu tích của cải cho mình mà không giàu có trước mặt Thiên Chúa thì cũng sẽ như vậy.
Dụ ngôn ấy không phải là chuyện của một ông nhà giàu ở xứ Palestin ngày xưa. Đó là chuyện của lòng người mỗi khi của cải bắt đầu nói thay cho sự sống. Người xin phân xử gia tài tưởng mình đang đòi công lý. Có thể người ấy bị thiệt. Có thể người anh đã nuốt phần của em. Luật Môsê ngày ấy cũng có lệ chia phần, con trưởng được gấp đôi, các con khác được phần mình. Vụ việc có vẻ chính đáng. Nhưng Đức Giêsu nhìn xuyên qua vụ việc. Ngài thấy cái đói không phải đói cơm, mà đói hơn người anh một phần. Ngài thấy cái giận không chỉ giận vì bị lấy mất, mà giận vì của cải đã trở thành thước đo giá trị của một đời. Khi của cải bước vào giữa hai anh em, máu mủ không còn đủ sức giữ họ lại. Họ cần một trọng tài. Họ cần một người đứng về phía mình. Họ không cần một vị thầy chỉ cho thấy mình đang mất gì lớn hơn mảnh đất. Đức Giêsu từ chối làm trọng tài không phải vì Ngài dửng dưng với bất công. Ngài từ chối vì nếu Ngài bước vào cuộc tranh chấp ấy theo cách họ muốn, Ngài sẽ củng cố cái ảo tưởng rằng sự sống hệ tại ở chỗ được phần nhiều hơn. Ngài kéo cả đám đông ra khỏi courtroom của lòng tham để đặt họ trước một câu hỏi khác: mạng sống của anh em nằm ở đâu.
Câu ấy đáng sợ vì nó đúng. Người ta có thể có nhà cao, ruộng rộng, sổ tiết kiệm dày, chức vụ vững, tên tuổi được nhắc, mà vẫn không có sự sống. Sự sống ở đây không phải nhịp thở, không phải tuổi tác, không phải khả năng còn đi lại được. Sự sống là cái làm cho một người thực sự là người trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh em. Kẻ giàu trong dụ ngôn không thiếu gì để thở. Ông thiếu cái biết mình đang sống nhờ ai. Mùa màng bội thu là hồng ân. Đất không tự sinh lúa. Mưa không tự rơi vì ông đáng được mưa. Công sức của bao người đã vào trong hạt thóc ấy. Thế mà trong toàn bộ lời ông nói với mình, không có một chữ tạ ơn, không có một chữ chia sẻ, không có một khuôn mặt nào khác ngoài khuôn mặt của ông. Tiếng “tôi” lặp đi lặp lại như một nhà kho chỉ có một chủ. Tôi sẽ làm thế này. Tôi sẽ phá. Tôi sẽ xây. Tôi sẽ tích trữ. Tôi sẽ nói với hồn tôi. Hồn ông cũng bị biến thành một cái kho. Hồn không còn là chỗ để Thiên Chúa ngự. Hồn thành chỗ để cất của.
Sự ngốc nghếch của ông không nằm ở chỗ ông biết lo cho ngày mai. Biết lo không phải là tội. Người khôn xây nhà trên đá. Người khôn dành dụm để con cái không đói. Người khôn không phung phí. Sự ngốc nằm ở chỗ ông tưởng kho lớn hơn sẽ mua được nhiều năm. Ông nói với hồn mình như thể hồn mình là một quản gia có thể được lệnh nghỉ ngơi vì kho đã đầy. Ông tưởng mình làm chủ thời gian. Ông tưởng mùa màng là hợp đồng bảo hiểm với sự chết. Thiên Chúa không mặc cả với ông. Đêm nay. Không phải năm sau. Không phải khi kho xây xong. Không phải khi ông đã ăn uống vui chơi cho đã. Đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi. Chữ “đòi lại” rất nặng. Mạng không phải của ông để ông giữ. Mạng là cái được trao. Đến giờ, nó được đòi về. Mọi tính toán sụp trong một đêm. Kho vẫn đứng đó. Lúa vẫn nằm đó. Nhưng chủ kho không còn. Và câu hỏi còn lại không phải là ông đã xây được mấy kho, mà là những gì ông chuẩn bị sẽ về tay ai.
Câu hỏi ấy đi theo mỗi người đến cuối đời. Của cải không biến mất khi chủ chết. Chúng chỉ đổi chủ. Người chết không mang theo được cái mình đã ôm. Người ở lại tranh nhau cái người chết đã ôm. Nhiều gia đình chỉ thực sự vỡ khi quan tài chưa hạ huyệt. Khi cha mẹ còn sống, anh em còn gọi nhau bằng tiếng máu mủ. Khi sổ đỏ được mang ra, tiếng ấy đổi thành tiếng phần tôi, phần anh, phần chị. Có người để lại nhiều của mà để lại rất ít bình an. Có người để lại ít của mà để lại một cách sống khiến con cái không cần phải kiện nhau. Dụ ngôn không kết án người có mùa màng. Dụ ngôn kết án người lấy mùa màng làm sự sống của mình, rồi khi sự sống bị đòi lại thì mùa màng thành đồ thừa cho những người cũng sẽ từng ấy tham. Giàu sang trước mặt người đời có thể là nghèo trước mặt Thiên Chúa. Nghèo trước mặt người đời có thể là giàu nếu lòng còn chỗ cho người khác và cho Đấng đã ban sự sống.
Tham lam không chỉ là tội của kẻ muốn cướp phần người khác. Tham lam còn là bệnh của kẻ đã có đủ mà vẫn thấy mình thiếu. Đủ không bao giờ là một con số. Đủ là một cái nhìn. Khi cái nhìn bị hỏng, bao nhiêu cũng chưa đủ. Kho nhỏ thì lo kho nhỏ. Kho lớn thì lo kho lớn hơn. Nhà một tầng thì mơ nhà hai tầng. Nhà hai tầng thì sợ hàng xóm xây ba tầng. Chức nhỏ thì muốn chức lớn. Chức lớn thì sợ mất chức. Tiền để dành cho con thì muốn để nhiều hơn nhà bên. Cái “hơn” ấy không có đáy. Nó nuốt thời gian, nuốt giấc ngủ, nuốt bữa cơm, nuốt lời nói thật trong nhà. Người ta cứ tưởng mình đang xây tương lai. Nhiều khi người ta đang xây một cái kho cho nỗi sợ. Nỗi sợ hết tiền. Nỗi sợ bị coi thường. Nỗi sợ con cái thua bạn. Nỗi sợ về già không có chỗ dựa. Nỗi sợ ấy đội lốt sự khôn ngoan. Nó nói rất hợp lý. Nó bảo phải lo. Nó bảo thời buổi này không lo là dại. Và vì nó nói hợp lý nên người ta khó nhận ra mình đã để nó làm chủ hồn.
Đức Giêsu không bảo hãy sống bất cẩn. Ngài bảo đừng để của cải nói dối về sự sống. Của cải cần cho thân xác. Bánh cần cho ngày. Áo cần cho mùa mưa. Nhà cần cho chỗ trú. Thuốc cần cho cơn bệnh. Tiền cần để không phải sống bằng lòng thương hại của người khác. Tất cả những thứ ấy là hành trang của người lữ hành. Hành trang giúp đi đường. Hành trang không phải là đích. Kẻ mang quá nhiều hành trang trên đường dài sẽ không đi nổi. Kẻ tưởng hành trang là quê hương sẽ không bao giờ về tới nơi. Đời người là một cuộc đi. Sinh ra là khởi hành. Chết là tới trạm mà không ai thương lượng được giờ. Giữa hai điểm ấy, người ta được trao thời gian, được trao anh em, được trao khả năng yêu, được trao của cải như phương tiện chứ không như chúa. Khi phương tiện thành chúa, người ta hết tự do. Người ta tưởng mình sở hữu kho. Kỳ thực kho sở hữu người ta. Người ta không dám nghỉ vì sợ kho trống. Không dám cho vì sợ kho hụt. Không dám bệnh vì bệnh làm gián đoạn việc chất thêm. Không dám chết vì chết để lại tất cả cho người khác. Đó là cảnh nô lệ được sơn bằng màu của sự thành đạt.
Giàu có đối với Thiên Chúa là một cách giàu khác. Không phải giàu vì từ bỏ hết mọi sự theo nghĩa không còn cái gì trong tay. Có những người được gọi sống thanh bần để làm dấu. Có những người được gọi ở giữa của cải để học cách không để của cải làm chủ. Cả hai đều có thể giàu hoặc nghèo trước mặt Thiên Chúa, tùy lòng. Giàu đối với Thiên Chúa là để cho Thiên Chúa là kho của mình. Là biết mùa màng không phải thành tích của bản ngã. Là nhìn hạt lúa và thấy mưa, thấy đất, thấy người khác, thấy Đấng ban sự sống. Là để trong kế hoạch của kho lớn vẫn còn một chỗ cho kẻ không có kho. Là khi nói về tương lai, không chỉ nói hồn ơi cứ ăn uống vui chơi, mà còn nói có những miệng đang đói, có những vai đang oằn, có một Thiên Chúa sẽ hỏi ta đã làm gì với cái ta nhận. Giàu đối với Thiên Chúa là giàu lòng thương xót, giàu sự thật, giàu khả năng tha, giàu thời gian dành cho người không mang lại lợi. Những thứ ấy không chất được vào kho. Những thứ ấy mới đi theo người ta qua đêm mà mạng sống bị đòi lại.
Người giàu trong dụ ngôn nói chuyện với chính mình. Đó là dấu của một linh hồn đã hết người để nói chuyện. Ông không cầu nguyện. Ông nghị luận. Ông tự ban phép lành cho mình. Ông tự tuyên bố mình đã an toàn. Lối sống ấy có thể xảy ra giữa một nhà đầy người. Có những bàn ăn đông mà mỗi người chỉ nói với nỗi lo của mình. Có những gia đình giàu mà không ai dám hỏi nhau đang sợ gì. Có những xứ đạo xây được nhà thờ lớn mà lòng mỗi người vẫn là một cái kho khóa trái. Khi con người chỉ còn đối thoại với tham vọng của mình, Thiên Chúa thành người khách không được mời. Rồi một đêm, vị khách ấy không xin vào nữa. Ngài đòi lại cái đã trao. Lúc ấy mọi kế hoạch thành lời thì thầm vô ích. Kho không trả lời được. Hợp đồng không trả lời được. Danh tiếng không trả lời được. Chỉ còn câu hỏi: ngươi đã giàu ở đâu.
Câu hỏi ấy không chờ đến giờ chết mới đáng hỏi. Nó đáng hỏi mỗi khi tay muốn nắm thêm. Mỗi khi miệng muốn kiện. Mỗi khi mắt nhìn phần của anh em mà thấy phần mình nhỏ. Mỗi khi thành công làm ta quên người đã cùng ta gánh. Mỗi khi ta định nghĩa một năm tốt là một năm thu nhiều hơn năm trước, mà không hỏi năm ấy ta đã nên người hơn hay chỉ nên chủ của nhiều đồ hơn. Có những mùa bội thu làm linh hồn teo lại. Có những mùa mất mát làm linh hồn rộng ra, vì mất mát buộc người ta nhớ mình không làm chủ mạng sống. Không phải mất mát nào cũng là ơn. Nhưng mọi mùa màng đều là một cuộc thi: ta sẽ biến nó thành kho cho mình, hay thành bánh cho nhiều người. Đức Giêsu không lên án lúa. Ngài lên án cái lòng chỉ biết cất lúa.
Trong đời thường, kho lớn mang nhiều tên. Có kho là căn nhà thứ hai để không bao giờ dùng. Có kho là số dư không dám đụng vì đụng là sợ. Có kho là danh dự được giữ bằng cách không bao giờ nhận mình sai. Có kho là mối quan hệ chỉ duy trì khi có lợi. Có kho là kiến thức chất đầy để thắng người khác chứ không phải để phục vụ. Có kho là hình ảnh được trau chuốt để được khen. Tất cả những kho ấy đều có thể nói cùng một câu: hồn ơi, ngươi đã đủ cho nhiều năm. Và tất cả đều có thể nghe cùng một lời: đêm nay người ta sẽ đòi lại. Cái bị đòi không chỉ là hơi thở. Có khi là sức khỏe. Có khi là chức. Có khi là người thân ra đi trước. Có khi là một biến cố làm sổ sách thành giấy vụn. Những lần ấy, nếu lòng chỉ có kho, người ta sụp. Nếu lòng có một sự giàu khác, người ta còn đứng được, vì cái làm họ sống không nằm trong cái vừa mất.
Sự giàu đối với Thiên Chúa còn là sự giàu của người biết đủ. Biết đủ không phải là ép mình vào sự thiếu thốn để được khen là thanh bạch. Biết đủ là nhìn cái mình đang có và nói lời này là ơn, lời này là đủ cho hôm nay, phần hơn hãy thành phương tiện cho tình yêu chứ không thành lý do để khinh người. Người biết đủ vẫn làm việc. Vẫn gieo. Vẫn gặt. Vẫn xây. Nhưng người ấy không bắt mùa màng phải bảo đảm cho linh hồn. Người ấy có thể mất một vụ mà không mất mình. Người ấy có thể được một vụ mà không biến vụ ấy thành bằng chứng mình hơn thiên hạ. Trong một xã hội luôn đẩy con người vào cuộc đua có nhiều hơn, biết đủ là một hành vi tự do hiếm hoi. Nó giải thoát khỏi sự ghen. Nó làm dịu cái nhìn khi đi qua nhà người khác. Nó cho phép một bữa cơm thường vẫn là bữa cơm có vị, vì vị của cơm không nằm ở giá tiền mà ở chỗ còn có nhau để ăn.
Anh em tranh gia tài trong đám đông là hình bóng của mọi cuộc tranh diễn ra âm thầm hơn. Tranh phần trong gia đình. Tranh công trong sở làm. Tranh tiếng trong cộng đoàn. Tranh chỗ trong lòng một người. Mỗi cuộc tranh đều có lý lẽ của nó. Ai cũng thấy mình bị thiệt. Ai cũng muốn một trọng tài đứng về phía mình. Đức Giêsu không nhận vai ấy theo cách họ xin, vì Ngài biết nếu trọng tài chỉ chia lại của cải mà không chữa lòng tham, thì sau vụ chia sẽ có vụ khác. Phần được hôm nay sẽ thành phần muốn giữ ngày mai. Người thắng kiện vẫn có thể là người thua sự sống. Bài học không phải là hãy chịu bất công. Bài học là đừng để việc đòi công lý làm ta mù trước căn bệnh đang ăn cả hai phía. Có những bất công phải nói. Có những phần bị lấy phải được trả. Nhưng nếu trong khi đòi phần, lòng đã trở thành một quan tòa chỉ biết tuyên cho mình, thì dù được mảnh đất, người ta vẫn mất người anh. Mảnh đất không gọi ta bằng tiếng em. Người anh thì có thể, nếu cả hai còn nhớ mình sẽ chết và của cải sẽ về tay ai đó không phải mình.
Đêm trong dụ ngôn không báo trước. Đó là sự thật mà người ta hay trì hoãn. Người ta sống như thể còn nhiều năm để sau này sẽ tốt, sau này sẽ cho, sau này sẽ đi lễ cho đều, sau này sẽ làm hòa, sau này sẽ bớt nắm. Sau này là cái kho lớn nhất mà chưa ai xây xong. Nó chứa mọi việc lành bị hoãn. Nó chứa mọi lời tha chưa nói. Nó chứa mọi lần định dừng lại mà chưa dừng. Ông nhà giàu cũng có một cái sau này: khi kho xong, ông sẽ nghỉ, sẽ ăn, sẽ vui. Ông không kịp tới cái sau này ấy. Nhiều người cũng không kịp. Không phải để đe cho run, mà để kéo sự sống về lại hôm nay. Hôm nay là lúc mạng còn trong tay như một món quà chưa bị đòi. Hôm nay là lúc còn sửa được một lời nói độc trong nhà. Hôm nay là lúc còn chia được một phần mùa màng. Hôm nay là lúc còn quỳ xuống nhận mình đã lấy của cải làm chúa. Lòng thương xót không chờ kho xây xong. Lòng thương xót bước vào ngay trong vụ mùa này, trong căn nhà này, trong mối bất hòa này.
Giàu đối với Thiên Chúa còn có một khuôn mặt rất cụ thể là giàu đối với người nghèo đang đứng trước mặt. Không cần đi xa mới gặp người nghèo. Người nghèo có thể là người làm công chưa được trả đủ. Là người thân đang bệnh mà ta ngại tốn. Là đứa em bị thiệt trong lần chia mà ta biết mình đang giữ quá phần. Là người hàng xóm không có tiếng trong xóm. Là một linh hồn trong nhà đang đói một lời nhìn nhận. Cho của mà lòng vẫn khinh thì chưa phải giàu đối với Thiên Chúa. Cho của vì biết mọi sự mình có là đã nhận, đó mới là bắt đầu. Kho lớn trong dụ ngôn đáng buồn không chỉ vì ông sẽ chết, mà vì khi ông còn sống, kho ấy không nuôi một ai ngoài nỗi an tâm giả của ông. Một kho không nuôi ai là một kho đã hỏng từ trước khi sập. Lúa chất trong kho mà ngoài đồng có người đói thì lúa ấy đang làm chứng chống lại chủ. Không phải mọi người giàu đều có tội. Nhưng mọi của cải đều mang một câu hỏi: ngươi giữ để làm gì.
Có một cách đọc dụ ngôn như một lời mời trở về với sự thật của thân phận. Ta là khách. Đất là chỗ trú. Nhà là lều. Tiền là bánh cho đường. Danh là cái tên người ta gọi trong một thời gian ngắn. Không có gì trong các thứ ấy xấu. Tất cả trở thành nặng khi ta quên mình đang đi. Người lữ hành khôn mang đủ để đi, không mang đến mức không còn đi được. Người lữ hành khôn chào người cùng đường, vì cùng đường mới là bạn, chứ của cải không đi cùng qua cửa sự chết. Khi hiểu mình đang đi, người ta bớt xây những kho để ở đời đời trên mặt đất. Người ta vẫn xây nhà, nhưng nhà ấy có cửa. Người ta vẫn dành dụm, nhưng dành dụm không thành bức tường ngăn anh em. Người ta vẫn vui với mùa màng, nhưng vui như người nhận quà, không như người tự phong mình là chủ của các năm sắp tới.
Lời gọi đồ ngốc không phải là lời nguyền. Đó là lời đánh thức. Ngốc vì tính sai cái gì làm nên sự sống. Ngốc vì nói với hồn mình như thể hồn mình no bằng lúa. Ngốc vì không nghe thấy tiếng đòi lại đã ở rất gần, không phải như một hình phạt tùy tiện, mà như sự thật của mọi xác thân. Ai nhận ra mình ngốc còn kịp thì còn đổi được kho. Đổi không luôn luôn có nghĩa là bán hết. Đổi là đổi chủ. Để Thiên Chúa làm chủ cái mình có. Để người nghèo được vào trong kế hoạch của mùa màng. Để anh em không còn là đối thủ của phần gia tài. Để cái chết, khi đến, không gặp một người đang ôm đồ, mà gặp một người đã tập buông từ những ngày còn thở. Buông không phải là ghét sự sống. Buông là yêu sự sống đúng chỗ của nó. Sự sống không nằm trong kho. Sự sống nằm ở chỗ được Thiên Chúa nhận, và ở chỗ đã sống với anh em như người cùng được nhận.
Đám đông hôm ấy nghe dụ ngôn rồi ai về nhà nấy. Có người vẫn còn nghĩ đến phần gia tài. Có người bắt đầu nhìn lại kho của mình, kho tiền, kho danh, kho giận, kho những năm mình tưởng mình còn. Lời ấy vẫn đứng giữa mọi mùa màng. Mỗi lần được nhiều hơn, mỗi lần muốn kiện, mỗi lần định nói hồn ơi cứ nghỉ ngơi, câu cũ lại trở lại: những gì ngươi đã chuẩn bị sẽ về tay ai, và ngươi có giàu ở chỗ nào khi mạng sống được đòi. Câu trả lời không viết bằng kích thước của kho. Câu trả lời viết bằng lòng còn mở hay đã khóa. Người khóa lòng thì dù mùa bội thu cũng là một đời trống. Người mở lòng thì dù mùa mỏng vẫn có cái để mang qua đêm. Giàu đối với Thiên Chúa là giàu cái không bị đòi lại như một món nợ, vì cái ấy đã được trao đi trong yêu thương, và tình yêu không nằm trong danh mục của những gì phải bỏ lại.
Lm. Anmai, CSsR

KHO ĐẦY MÀ LÒNG TRỐNG: KHI CỦA CẢI KHÔNG CÒN LÀ SỰ SỐNG
Có một người trong đám đông hôm ấy tiến đến gần Đức Giêsu và nói một câu nghe rất đời, rất thật, rất dễ được người khác gật đầu đồng tình: Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi. Câu ấy không phải là một câu hỏi về Nước Trời. Nó là một lời kêu kiện. Người ấy không đến để nghe Tin Mừng, không đến để xin được chữa lành, không đến để học cách cầu nguyện. Người ấy đến vì có một phần đất, một phần nhà, một phần của cải mà anh mình đang giữ, và ông tin rằng chỉ cần một lời phán quyết của Thầy là mọi chuyện sẽ xong. Trong mắt ông, Đức Giêsu có uy tín, có đám đông, có quyền nói một câu là người ta phải nghe. Ông muốn mượn uy tín ấy để giải quyết một vụ tranh chấp tài sản. Đức Giêsu không bước vào vụ kiện. Ngài không hỏi ai đúng ai sai, không đòi xem giấy tờ, không đứng về phía người em hay người anh. Ngài chỉ nói một câu cắt ngang mọi toan tính: Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh? Rồi Ngài quay sang đám đông, không chỉ nói với một người, mà nói với tất cả những ai đang đứng đó với cái bụng đang tính toán: Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải cứ dư dật của cải mà mạng sống được bảo đảm nhờ của cải đâu.
Câu trả lời ấy làm nhiều người cụt hứng. Người ta vẫn quen nghĩ rằng một vị thầy khôn ngoan phải biết phân xử công bằng, phải bênh kẻ yếu, phải ép người anh chia cho người em phần đáng được chia. Đức Giêsu không phủ nhận rằng công bằng là điều phải có. Ngài không bảo rằng chiếm đoạt của anh em là việc tốt. Ngài chỉ từ chối biến mình thành quan tòa của những cuộc tranh chấp mà lòng người đã bị của cải nuốt mất. Bởi vì ngay cả khi phần gia tài được chia đúng từng tấc đất, từng đồng bạc, từng viên gạch, vấn đề sâu hơn vẫn còn nguyên. Người được phần của mình có thể về nhà với túi đầy mà lòng vẫn đói. Người mất phần của mình có thể ra về với sự oán hận đủ để nuôi cả một đời thù. Và cả hai, người thắng lẫn người thua trong vụ kiện, đều có thể chết trong sự nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa. Đức Giêsu không giải quyết vụ chia gia tài vì Ngài đang muốn cứu cái mạng sống mà vụ chia gia tài ấy đang đe dọa. Của cải có thể được phân chia. Lòng tham thì không chia được bằng một bản án.
Rồi Ngài kể một dụ ngôn. Một nhà phú hộ kia ruộng đất trúng mùa. Mùa ấy không phải mùa thường. Lúa đầy đồng, kho không còn chỗ chứa. Người ấy không ăn cắp của ai. Người ấy không lừa đảo. Ruộng là ruộng của ông, mùa là mùa trời cho, kho là kho ông xây. Xét theo lẽ đời, ông là người thành đạt, người biết làm ăn, người được trời thương. Vậy mà toàn bộ câu chuyện bên trong đầu ông chỉ có một mình ông nói với một mình ông. Ông tự hỏi: tôi phải làm gì đây, vì tôi không còn chỗ để chứa hoa lợi? Rồi ông tự trả lời: tôi sẽ phá những kho ấy đi, xây những kho lớn hơn, chất tất cả lúa thóc và của cải vào đó, rồi tôi sẽ nói với linh hồn tôi: linh hồn ơi, mày đang có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm; cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống, cứ vui chơi cho đã. Không có một người nghèo nào bước vào câu chuyện của ông. Không có một người làm công nào được nhắc tên. Không có một lời tạ ơn. Không có một chút lo cho ngày mai của kẻ khác. Thế giới của ông thu lại bằng cái tôi đang nói với cái tôi. Kho càng lớn, thế giới càng nhỏ.
Thiên Chúa lên tiếng trong đêm ấy, không phải bằng một lời khen về sự khôn ngoan làm ăn, mà bằng một lời gọi thẳng tên sự dại dột: Đồ ngốc! Đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng sống ngươi. Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Câu ấy không phải là lời nguyền. Đó là sự thật bị lột trần. Mạng sống không nằm trong kho. Mạng sống không ký gửi được vào ngân hàng. Mạng sống không tăng theo số thửa ruộng. Đêm ấy, điều người đời gọi là thành công bị gọi bằng một tên khác. Và tên ấy không đến từ sự ganh tị của kẻ nghèo. Tên ấy đến từ Đấng đã ban mùa màng, đã ban sức khỏe để cày cấy, đã ban năm tháng để tích lũy, và giờ đây đòi lại chính hơi thở mà không một kho thóc nào giữ được. Của cải còn đó. Người thì không còn. Ai sẽ hưởng? Có thể là người anh em từng bị từ chối chia phần. Có thể là kẻ xa lạ. Có thể là một cuộc tranh chấp mới, dài hơn, đắng hơn, giữa những người thừa kế chưa kịp chôn xong người chết đã ngồi xuống bàn tính sổ. Dụ ngôn không cần kể tiếp. Người nghe đã thấy cái kết ở ngoài đời quá nhiều lần.
Tham lam không phải chỉ là thói của kẻ trộm. Tham lam còn là thói của người chính danh, người có ruộng thật, có mùa thật, có kho thật, nhưng đã biến mọi sự mình có thành hàng rào quanh mình. Nó bắt đầu rất nhẹ. Người ta lo cho gia đình, lo cho con cái, lo cho tuổi già, lo cho những năm mất mùa. Những lo ấy không xấu. Chúng trở thành độc khi chúng nuốt mất khuôn mặt của người khác và khuôn mặt của Thiên Chúa. Nhà phú hộ không nói: mùa này dư, tôi sẽ để phần cho kẻ thiếu. Ông nói: tôi sẽ phá kho cũ, xây kho mới, rồi tôi sẽ nghỉ. Ông không thấy mùa màng là một lời ký thác. Ông thấy mùa màng là một chiến thắng của riêng ông. Và khi của cải được đối xử như chiến thắng của riêng mình, lòng người bắt đầu đóng cửa. Đóng cửa với anh em. Đóng cửa với người nghèo đứng ngoài bờ ruộng. Đóng cửa với chính Thiên Chúa, Đấng bị đẩy ra khỏi mọi câu tính toán, chỉ còn được nhớ đến khi cần xin thêm mùa, thêm sức, thêm năm.
Tiền bạc và của cải có một sức mạnh rất lạ. Chúng không cần lên tiếng mà vẫn làm tan nhà, tan họ, tan tình nghĩa. Biết bao anh em ruột thịt không còn ngồi cùng mâm chỉ vì một mảnh đất ông bà để lại. Biết bao người bạn một thời không còn nhìn mặt nhau chỉ vì một món nợ, một phần hùn, một lời hứa về tài sản. Có nhà thờ lạnh đi không phải vì thiếu lễ, mà vì trong cộng đoàn có những cuộc giành giật mà người ta mang cả vào chỗ cầu nguyện. Có gia đình giàu lên mà bàn ăn vắng tiếng cười. Có người để lại khối của cải đủ cho con cháu ba đời, nhưng để lại luôn một mối thù đủ cho con cháu ba đời không tha thứ được cho nhau. Không xã hội nào đứng vững khi của cải chiếm ngôi giữa. Không Hội Thánh nào tươi tốt khi người ta đến với nhau trước hết để tính lợi. Đức Giêsu không nói những điều ấy như một bài luân lý treo trên tường. Ngài nói vì Ngài đã thấy, và vì Ngài biết cái đêm mà mạng sống bị đòi lại sẽ đến với mọi người, không trừ kẻ có kho lớn nhất.
Người ta vẫn hay an ủi mình rằng chết rồi thì ai cũng như ai, người giàu người nghèo cùng một nắm đất. Câu ấy đúng, nhưng chưa đủ. Cái đáng sợ không phải chỉ là sự bằng nhau của nấm mồ. Cái đáng sợ là cả một đời người bị tiêu hao để xây những thứ mình không mang theo được, trong khi điều mình mang theo được thì mình không xây. Nhà cửa sẽ về tay người khác. Xe cộ sẽ cũ. Sổ tiết kiệm sẽ được sang tên. Ruộng sẽ được đo lại. Chức vị sẽ được người kế nhiệm ngồi vào. Ngay cả tên tuổi, nếu có được nhắc, cũng chỉ được nhắc trong một thời gian rồi lắng xuống. Điều còn lại trước mặt Thiên Chúa không phải là danh sách tài sản. Điều còn lại là cách ta đã sống với những gì được trao. Ai đã được trao nhiều mà chỉ chất vào kho của mình, người ấy sẽ thấy kho ấy trở thành lời chứng chống lại mình. Ai đã được trao ít mà biết mở tay, người ấy sẽ thấy sự nghèo của mình không phải là lời kết án. Trước mặt Thiên Chúa, giàu nghèo của sổ sách không phải là thước đo. Thước đo là ta có giàu trước mặt Người hay không.
Giàu trước mặt Thiên Chúa không phải là một cảm xúc đạo đức. Đó là một cách sống có thể nhìn thấy. Người giàu trước mặt Thiên Chúa là người biết của cải mình đang giữ không phải là chủ của mình. Người ấy làm ăn, người ấy gây dựng, người ấy không phung phí, nhưng người ấy không để kho lương thực trở thành lý do để ngừng nhìn thấy người khác. Người ấy rộng tay không phải để được khen, mà vì người ấy đã hiểu mình đang giữ hộ. Người ấy nhân hậu vì biết mình cũng từng là kẻ được thương không do công trạng. Người ấy biết xót thương vì đã nghe tiếng của những người đứng ở mép xã hội, những người không có tên trong sổ thu hoạch của nhà phú hộ. Người ấy sống như kẻ đang đi về một nơi không cần kho, và vì thế người ấy dám để lại dấu của sự sống trên những người mình gặp dọc đường. Đức tin ở đây không phải là một câu đọc trong nhà thờ rồi về nhà vẫn xây kho lớn hơn cho riêng mình. Đức tin là sự tin rằng Thiên Chúa đã hứa và Người có quyền thực hiện điều Người hứa, nên ta không cần ôm cả đời mình vào trong thóc lúa.
Tổ phụ Ápraham đã sống cái đức tin ấy trước khi có một kho thóc nào được kể trong dụ ngôn. Ông đã được gọi ra khỏi chỗ an toàn, đã được hứa một dòng dõi trong lúc tuổi đã cao, đã được hứa một vùng đất trong lúc mình còn là khách. Ông không có đủ lý lẽ để kiểm chứng lời hứa bằng mắt thường. Ông có đủ lòng để không rút lui khỏi lời hứa. Đức tin của ông được kể là sự công chính không phải vì ông không hề yếu, mà vì ông không lấy sự yếu của mình làm thước đo quyền năng của Thiên Chúa. Ông tin Đấng đã hứa thì có quyền làm điều đã hứa. Và chính niềm tin ấy mở ra một dòng lịch sử mà sau này Hội Thánh nhận ra nơi Đức Giêsu. Đấng đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, đã chết một cái chết không giữ lại được gì cho riêng mình, rồi được phục sinh để chúng ta được nên công chính. Nhà phú hộ tin vào kho. Ápraham tin vào lời hứa. Hai niềm tin ấy không thể ở cùng một chỗ lâu. Một niềm tin chất thêm thóc. Một niềm tin bước đi trong đêm, tay không đủ đồ đạc, nhưng lòng không trống.
Người tin vào Đấng đã phục sinh Đức Giêsu không còn được phép tính mạng sống của mình theo kích thước của kho. Phục sinh là lời chứng rằng sự sống thật không nằm trong những gì sâu bọ có thể ăn, không nằm trong những gì người thừa kế có thể tranh, không nằm trong những gì một đêm có thể lấy đi. Sự sống thật đã đi qua cái chết và không bị cái chết giữ lại. Vì thế, người môn đệ được mời sống như kẻ đã biết cái đêm ấy sẽ đến, và đã biết cái đêm ấy không phải là hết. Biết như vậy không làm người ta khinh của cải. Biết như vậy làm người ta hết thờ của cải. Của cải trở lại đúng chỗ của nó: một phương tiện để sống, để nuôi người thân, để đỡ người thiếu, để xây những điều cần xây, rồi để buông khi giờ buông đã đến. Kẻ thờ của cải thì không buông được. Kẻ nhận của cải như quà thì biết ơn, biết chia, và biết ra đi mà không cần kéo kho theo mình.
Chia sẻ không phải là cách làm nghèo mình. Chia sẻ là cách để của cải khỏi thành chủ mình. Khi một mùa lúa được mở ra cho kẻ thiếu ăn, mùa lúa ấy không còn là lời độc thoại của nhà phú hộ với linh hồn ông. Nó trở thành một mối dây. Người được ăn không chỉ nhận thóc. Người ấy nhận một dấu rằng mình không bị loại khỏi thế giới của người kia. Và người cho, nếu cho thật, sẽ thấy đời mình rộng ra theo đúng kích thước mà kho lớn hơn không bao giờ làm được. Thiên Chúa ban không phải để ta chặn dòng lại nơi mình. Người ban để dòng ấy đi qua ta mà đến với người khác, rồi từ người khác lại trở thành lời chúc lành đổ về trên chính đời ta, đôi khi bằng cách ta không tính trước. Kẻ chỉ biết xây kho sẽ có một đêm mất tất cả những gì đã xây. Kẻ biết mở tay sẽ thấy những gì đã cho không biến mất. Nó đổi dạng. Nó thành công chính. Nó thành mối tương quan. Nó thành kho ở một nơi không có trộm đào ngạch, không có mối mọt, không có anh em kiện nhau.
Giữ mình khỏi mọi thứ tham lam là một việc phải làm mỗi ngày, không phải một lần. Tham lam biết đội nhiều mặt. Có thứ tham lam của người đang đói của cải. Có thứ tham lam của người đã no mà vẫn sợ thiếu. Có thứ tham lam không nằm ở tiền, mà nằm ở quyền được hơn người khác, ở nhu cầu được người ta phải cần đến mình, ở sự tích trữ lời khen, ở kho những mối quan hệ chỉ dùng khi có lợi. Dụ ngôn nói về thóc lúa vì thóc lúa là hình dễ thấy. Nhưng lời cảnh báo nhắm vào mọi chỗ mà cái tôi bắt đầu nói một mình với cái tôi và quên mất còn có Thiên Chúa, còn có anh em. Một cộng đoàn cũng có thể xây kho. Một hội nhóm cũng có thể chỉ lo phần của mình. Một người làm việc nhà Chúa cũng có thể lấy công việc ấy làm của riêng, rồi đêm đến vẫn nghe câu hỏi: những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Câu hỏi ấy không chừa một ai chỉ vì người ấy đang đứng gần bàn thờ.
Trong gia đình, lời của Đức Giêsu hôm nay đi vào những chỗ rất cụ thể. Ông bà để lại tài sản không phải để con cái có cớ thù nhau. Con cái nhận phần thừa kế không phải để biến anh em thành đối thủ. Người đang giữ sổ đỏ, người đang đứng tên nhà, người đang canh phần đất chung, tất cả đều đang giữ một lời ký thác, không phải đang giữ một chiến thắng. Có những cuộc chia mà nếu chậm lại một buổi, ngồi lại một bữa, nhắc lại mặt nhau trước khi nhắc đến số đo, thì nhà không tan. Có những cuộc chia mà giấy tờ đúng hết nhưng tình nghĩa chết trước khi mực khô. Đức Giêsu từ chối làm quan tòa vụ kiện không phải vì Ngài thờ ơ với bất công. Ngài từ chối vì Ngài thấy căn bệnh nằm sâu hơn bản án. Căn bệnh ấy chỉ lành khi người ta hết coi mạng sống của mình là một kho cần được lấp đầy bằng phần của người khác.
Với người đang làm ăn, dụ ngôn không phải là lời cấm gây dựng. Ruộng trúng mùa không phải là tội. Kho cần chỗ chứa không phải là tội. Tội bắt đầu ở câu nói với linh hồn mình: cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống, cứ vui chơi cho đã, như thể đời mình đã được khóa lại bằng thóc. Người khôn ngoan theo Tin Mừng vẫn biết tính, vẫn biết dành, vẫn biết lo cho năm mất mùa, nhưng trong mọi tính toán ấy có một chỗ trống mang tên người khác và một chỗ trống mang tên Thiên Chúa. Chỗ trống ấy không làm hỏng vụ mùa. Chỗ trống ấy giữ cho vụ mùa khỏi nuốt người làm ra nó. Một nhà doanh nhân, một người buôn bán, một người cầm cuốc, một người nhận lương cuối tháng, tất cả đều có một kho nào đó, dù kho ấy chỉ là một phong bì. Câu hỏi không phải là kho lớn hay nhỏ. Câu hỏi là kho ấy đang phục vụ sự sống hay đang thay thế sự sống.
Với người nghèo, dụ ngôn cũng không phải là lời an ủi rẻ tiền rằng không có của thì tốt hơn. Nghèo không tự động làm người ta giàu trước mặt Thiên Chúa. Người nghèo cũng có thể ghen với phần gia tài của anh mình. Người nghèo cũng có thể nuôi một kho oán hận lớn hơn mọi kho thóc. Người nghèo cũng có thể bán rẻ anh em để lấy một phần nhỏ. Lời cảnh báo đi tới mọi nhà. Điều Đức Giêsu muốn không phải là một xã hội không còn của cải. Điều Ngài muốn là một lòng người không còn bị của cải làm chủ, dù lòng ấy đang ở trong nhà ngói hay trong nhà lá. Sự sống không được bảo đảm nhờ dư dật. Sự sống được ban, được giữ, được đòi lại bởi Đấng khác, không bởi sổ sách.
Đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng sống ngươi. Câu ấy đáng được nghe không phải chỉ khi đã già, không phải chỉ khi đã có kho đầy. Câu ấy đáng được nghe khi ta còn đang vẽ bản kho mới. Mỗi ngày đều có thể là đêm ấy, không theo nghĩa ta phải sống trong sợ hãi, mà theo nghĩa ta không có quyền hoãn việc trở nên giàu trước mặt Thiên Chúa sang năm sau, sang khi đã đủ, sang khi con cái đã ổn, sang khi vụ kiện đã xong. Đủ là một cái đích luôn chạy. Vụ kiện xong rồi vẫn có vụ khác. Con cái ổn rồi vẫn có cháu. Năm sau vẫn có kho cần phá để xây lớn hơn. Nếu chờ đến lúc không còn gì để ham mới bắt đầu sống, thì đêm đòi mạng sẽ đến trước. Người khôn là người đang còn thóc trong kho mà đã biết mở cửa kho. Người khôn là người đang còn hơi thở mà đã biết hơi thở ấy không phải là tài sản tự tạo.
Xây kho báu trên trời, nói cho cùng, là một cách nói về những gì không bị đêm ấy lấy đi. Một lời tha thứ đã nói trước khi anh em kịp kiện nhau. Một phần lúa đã đưa tới tay người thiếu ăn trước khi mối mọt kịp vào. Một đời cầu nguyện không phải để xin thêm kho, mà để xin được ở lại trong lời đã hứa. Một sự trung tín với người thân khi của cải đang kéo mỗi người về một phía. Một lòng tin không rút lui khi những gì mắt thấy đang nói ngược lại lời Thiên Chúa. Những thứ ấy không lên sổ. Những thứ ấy không sang tên được. Những thứ ấy đi theo người khi kho ở lại. Và những thứ ấy làm cho một đời người, dù mùa màng có thất, vẫn không bị gọi là đồ ngốc.
Đức Giêsu đã không nhận vụ kiện hôm ấy để nhận một việc lớn hơn. Ngài nhận chính mạng sống của người đang kiện, của người bị kiện, của nhà phú hộ đang nói một mình trong kho, của mọi kẻ nghe dụ ngôn mà tưởng rằng chuyện ấy không phải chuyện mình. Ngài đã đi đến cùng con đường không giữ lại gì. Ngài đã bị nộp. Ngài đã chết không có kho. Ngài đã được phục sinh, không phải để trả lại cho Ngài một gia tài đời này, mà để mở cho chúng ta một sự sống mà không đêm nào đòi lại được nữa. Tin vào điều ấy là bước ra khỏi cái vòng chỉ nói với linh hồn mình. Tin vào điều ấy là dám để mùa màng của mình trở thành bánh cho người khác. Tin vào điều ấy là hết lấy phần gia tài làm thước đo anh em.
Lạy Chúa, xin đừng để con xây những kho chỉ chứa một mình con. Xin cho con biết của con đang giữ là của Chúa đã trao. Xin cho đêm nào mạng sống con bị đòi lại, con không còn phải nghe mình bị gọi là đồ ngốc, vì những gì con sắm sẵn đã không chỉ là thóc lúa cho riêng con, mà là một đời đã biết giàu trước mặt Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleBẢN TIN GIÁO HỘI THỨ HAI – tuần 29 THƯỜNG NIÊN Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Next articleKHI KHO LẪM ĐÃ ĐẦY, CON NGƯỜI CÒN THIẾU ĐIỀU GÌ? – Lm. Anmai, CSsR