Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Chúa Nhật XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR

7

TRUYỀN GIÁO TRONG THỜI ĐẠI SỐ: HỌC TỪ CHÂN PHƯỚC FULTON J. SHEEN – Lm. Anmai, CSsR

CN 30 thường niên năm A MẾN CHÚA HẾT LÒNG, YÊU NGƯỜI BÊN CẠNH – Lm. Anmai, CSsR

CN 30 thường niên năm A MẾN CHÚA VÀ YÊU NGƯỜI CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN SỰ SỐNG – Lm. Anmai, CSsR

CỦA XÊ-DA, TRẢ VỀ XÊ-DA; CỦA THIÊN CHÚA, TRẢ VỀ THIÊN CHÚA – Lm. Anmai, CSsR

BẢN TIN GIÁO HỘI NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 2026 Chúa nhật XXIX Thường niên năm A Khánh nhật Truyền giáo Tin Mừng Mt 22,15–21 Lm. Anmai, CSsR.

BẢN TIN GIÁO HỘI NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 2026 Chúa nhật XXIX Thường niên năm A Khánh nhật Truyền giáo Tin Mừng Mt 22,15–21 Lm. Anmai, CSsR.

BẢN TIN GIÁO HỘI NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Chúa Nhật XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR

Lời nguyện
Lạy Chúa Giê-su, những người Pha-ri-sêu đã bàn bạc với phe Hê-rô-đê, tìm một câu cho Chúa lỡ lời. Họ đến với lời khen rất đẹp: Thầy chân thật, Thầy dạy đường lối Thiên Chúa, Thầy không vị nể, Thầy không đánh giá người theo bề ngoài. Lời khen ấy đúng hết, mà vẫn là bẫy. Vì họ không đến để học sự thật. Họ đến để buộc Thầy phải chọn một phía, rồi mang phía ấy đi kết tội. Xin cho chúng con khỏi nghề ấy: khen cho hay, hỏi cho khéo, mà trong lòng đã có sẵn án.
Họ hỏi có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không. Trả lời có, họ sẽ bảo Thầy phản dân. Trả lời không, họ sẽ nộp Thầy cho quyền đời. Bẫy nào cũng đẹp, vì bẫy nào cũng nhân danh một điều chính đáng. Chúa không nhảy vào bẫy. Chúa xin xem đồng tiền. Hình và danh hiệu của Xê-da ở trên bạc, thì bạc ấy hãy trả về cho Xê-da. Chúa tách cái thuộc về vua khỏi cái thuộc về Thiên Chúa, không phải để chúng con sống hai lòng, mà để chúng con thôi lấy việc đời làm cớ trốn việc của Chúa, và thôi lấy việc Chúa làm cớ trốn nợ công bằng.
Lạy Chúa, đồng tiền mang hình Xê-da. Chúng con mang hình Thiên Chúa. Bạc trả về cho người đúc ra bạc. Sự sống trả về cho Đấng đúc ra sự sống. Chúng con vẫn thường đảo ngược. Chúng con nộp cho Xê-da cả điều không thuộc về ông: lương tâm, miệng lưỡi, nỗi sợ, cái nhìn của mình về người anh em. Rồi chúng con nộp cho Thiên Chúa những gì còn dư: một giờ lễ, một đồng lẻ, một lời cầu khi đã hết việc. Xin lật lại bàn tính ấy. Của Xê-da, chúng con xin trả cho đủ: thuế công bằng, luật ngay, phần việc giữa đời không trốn. Của Thiên Chúa, xin đừng để chúng con trả bằng tiền. Hình Chúa khắc trong chúng con không quy ra bạc. Xin trả về Chúa chính con người chúng con.
Chúa gọi họ là kẻ đạo đức giả, vì môi họ nói sự thật mà tay họ giăng lưới. Xin soi chỗ chúng con cũng đang thử Chúa: hỏi ý Chúa khi lòng đã quyết, xin ơn phân định khi chỉ muốn được Chúa đóng dấu vào đường mình đã chọn. Xin cho chúng con dám đưa đồng tiền ra ánh sáng, dám nhìn hình đang in trên đó, và dám hỏi hình đang in trong mình là của ai. Nếu là của Xê-da, xin trả. Nếu là của Chúa, xin đừng giữ lại.
Lạy Chúa, trên đồng bạc kia có hình vua trần thế. Trên Thánh Thể có hình Chúa đã nộp mình. Chúng con đến bàn tiệc không phải để nộp một thứ thuế cho xong, mà để trả về Chúa điều thuộc về Chúa. Xin nhận chúng con, kẻ mang hình Chúa mà thường sống như đồng tiền qua tay thiên hạ. Xin đóng lại trên chúng con danh hiệu của Chúa, để ra khỏi nhà thờ, chúng con trả cho đời điều của đời, và không bao giờ trả cho đời điều chỉ thuộc về Chúa. Amen.

Ca nhập lễ
Lạy Chúa, tôi kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời tôi, xin ghé tai về bên tôi, xin nghe rõ tiếng tôi. Lạy Chúa, xin gìn giữ tôi như con ngươi mắt Chúa, xin che chở tôi trong bóng cánh của Ngài.
Dẫn vào Thánh Lễ
Anh chị em thân mến! Là công dân của quốc gia trần thế và Nước Trời, chúng ta có nghĩa vụ đối với thế quyền và đối với Thiên Chúa. Là công dân của Nước Trời hay Vương Quốc của Thiên Chúa, chúng ta có nghĩa vụ phải tìm kiếm, nhận biết, tôn thờ, yêu mến Thiên Chúa và làm cho Nước Thiên Chúa được mỗi ngày một rộng mở.
Ngày nay người ta dễ bị cuốn hút vào đời sống vật chất, tiện nghi, hưởng thụ, ích kỷ nên rất khó nhớ tới và chu toàn các nghĩa vụ thiêng liêng của mình đối với Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và cứu độ.
Trong ý nghĩa này, chúng ta cần hoán cải bản thân, để thi hành các bổn phận cho tốt bằng việc thành tâm hốì lỗi.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm lòng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Is 45, 1. 4-6
“Ta đã cầm tay hữu của Cyrô để bắt các dân suy phục trước mặt nó”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Chúa phán cùng Cyrô, kẻ xức dầu của Chúa mà Ta đã cầm tay hữu nó, để bắt các dân suy phục trước mặt nó, bắt các vua quay lưng lại, mở các cửa trước mặt nó, và các cửa không được đóng lại:
Nhân vì Giacóp tôi tớ Ta, và Israel kẻ Ta kén chọn, Ta đã gọi đích danh ngươi: Ta đã kêu gọi ngươi khi ngươi không nhận biết Ta. Ta là Chúa, và chẳng còn chúa nào khác: ngoài Ta ra, không có Thiên Chúa nào nữa. Ta đã thắt lưng cho ngươi khi ngươi không nhận biết Ta, để các kẻ từ đông sang tây nhận biết rằng ngoài Ta ra không có ai khác: Ta là Chúa, và chẳng có chúa nào khác.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 95, 1 và 3. 4-5. 7-8. 9-10a và c
Ðáp: Hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang (c. 7b).
Xướng: Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc. – Ðáp.
Xướng: Vì Thiên Chúa, Người hùng vĩ và rất đáng ngợi khen, Người khả uý hơn mọi bậc chúa tể. Vì mọi chúa tể của chư dân là hư ảo, nhưng Thiên Chúa đã tác tạo trời xanh. – Ðáp.
Xướng: Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang, hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người. Hãy mang lễ vật, tiến vào hành lang nhà Chúa. – Ðáp.
Xướng: Mặc lễ phục, thờ lạy Thiên Chúa. Toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước thiên nhan, hãy công bố giữa chư dân rằng Thiên Chúa ngự trị. Người cai quản chư dân theo đường đoan chính. – Ðáp.
Bài Ðọc II: 1 Tx 1, 1-5b
“Tôi hằng nhớ đến đức tin, đức cậy và đức mến của anh em”.
Khởi đầu thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.
Phaolô, Silvanô và Timôthêu kính gửi giáo đoàn thành Thêxalônica trong Thiên Chúa Cha và trong Chúa Giêsu Kitô. Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an.
Tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa cho mọi người anh em, trong khi tôi cầu nguyện, tôi hằng nhớ đến anh em không ngừng; tôi nhớ đến sự nghiệp của lòng tin, công việc của lòng bác ái, sự vững lòng trông cậy của anh em vào Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta. Hỡi anh em là những kẻ được Thiên Chúa yêu mến, tôi từng biết anh em được Chúa tuyển chọn, bởi vì Tin Mừng của chúng tôi ở nơi anh em, không phải chỉ với lời nói mà thôi, mà là với quyền năng, với Thánh Thần và với lòng xác tín.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 10, 27
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta”. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 22, 15-21
“Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho ông Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, các người biệt phái họp nhau lại bàn mưu để bắt bẻ Chúa Giêsu trong lời nói. Các ông sai môn đồ của các ông đi với những người thuộc phái Hêrôđê đến nói với Người rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người ngay chính, căn cứ theo sự thật mà dạy bảo đường lối Thiên Chúa. Thầy chẳng cần để ý đến ai, vì Thầy không tây vị người nào. Vậy xin Thầy nói cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?” Chúa Giêsu thừa hiểu ác ý của họ, nên nói: “Bọn người giả hình, các ngươi gài bẫy Ta làm gì? Hãy đưa Ta xem đồng tiền nộp thuế”. Họ đưa cho Người một đồng bạc. Và Chúa Giêsu hỏi họ: “Hình tượng và danh hiệu này là của ai?” Họ thưa rằng: “Của Cêsarê”. Bấy giờ Người bảo họ rằng: “Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
MẪU 1
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Để có thể thể thực hiện được nghĩa vụ ”tốt đạo, đẹp đời” cho trọn vẹn và an bình, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin:
1. “Ta đã gọi đích danh ngươi: Ta đã kêu gọi ngươi…”.– Xin cho các vị lãnh đạo dân Chúa, luôn khôn ngoan để xử trí trong mọi việc mà nhu cầu mục vụ đòi hỏi, và can đảm mưu tìm vinh danh Chúa, để có thể chu toàn trọn vẹn ý Chúa.
2. “Cái gì của Cesarê thì hãy trả cho Cesarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa“.- Xin cho các công dân trần gian sau khi lãnh nhận phép Thánh Tẩy, trở thành tín hữu của Nước Trời, biết đặt định đúng mức giá trị siêu nhiên và tự nhiên, để dâng lên Thiên Chúa những gì của Ngài và trả cho trần gian những gì thuộc trần gian.
3. “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít”,– Xin Chúa sai nhiều sứ giả Tin Mừng đến những cánh đồng hoang vu chưa được gieo vãi hạt giống Lời Chúa và khai quang tâm trí nhiều người, để họ dễ dàng chấp nhận sứ điệp cứu độ của Chúa
4. “Hỡi anh em là những người được Thiên Chúa yêu mến”.— Xin thánh ý Chúa như kim chỉ nam hướng dẫn cuộc đời mỗi người trong giáo xứ chúng ta, để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng an tâm, can đảm sống theo ý Chúa và kết hiệp với Ngài.
Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa sẽ hỏi mỗi người chúng con “hình tượng và danh hiệu này là của ai?”. Xin cho chúng con mỗi ngày đều biết đóng ấn hình ảnh Thiên Chúa, và khắc ghi danh hiệu Ki-tô hữu, càng ngày càng sâu đậm hơn trong đời sống, để mọi người nhận ra Nước Trời đang hiện diện nơi chứng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô …
MẪU 2
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Đức Giê-su đã thiết lập và trao cho Giáo Hội sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Hiệp cùng toàn thể Giáo Hội trong ngày cầu nguyện cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các mục tử trong Hội Thánh, được ơn Chúa nâng đỡ để luôn hăng hái dấn thân chiếu toả Lời Chúa cho mọi người.
2. “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nhà lãnh đạo quốc gia, biết thực thi đúng quyền hạn và tôn trọng tự do tôn giáo của mọi người.
3. “Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mọi thành phần Dân Chúa, biết đáp trả ân huệ Chúa ban bằng lòng quảng đại, tích cực tham gia vào công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo Hội.
4. “Anh em là những người được Thiên Chúa thương mến”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho cộng đoàn chúng ta, luôn ý thức sứ vụ loan báo Tin Mừng cho mọi người, bằng cách sống bác ái yêu thương trong cuộc sống hằng ngày.
Chủ tế: Lạy Cha từ ái, xin Cha đón nhận những ước nguyện mà chúng con thành tâm dâng lên Cha. Xin giúp chúng con ngày thêm xác tín bước theo Chúa Ki-tô và hân hoan loan truyền Tin Mừng cứu độ cho hết mọi người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết phụng thờ Chúa tại bàn thánh này, với tâm hồn tự do của con cái Chúa, để những mầu nhiệm chúng con đang cử hành đem lại cho chúng con nguồn ơn thanh tẩy. Chúng con cầu xin..
Ca hiệp lễ
Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, và nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
Hoặc đọc:
Con Người đến, để ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa gọi chúng con tời bàn tiệc Nước Trời và ban dồi dào sức sống mới, xin Chúa phù trợ chúng con trong cuộc sống hằng ngày và dạy chúng con biết tìm kiếm những hồng ân vĩnh cửu. Chúng con cầu xin…

CỦA XÊ-DA TRẢ VỀ XÊ-DA, CỦA THIÊN CHÚA TRẢ VỀ THIÊN CHÚA: KHI ĐỒNG TIỀN MANG HÌNH VUA VÀ LINH HỒN MANG HÌNH THIÊN CHÚA
Có những câu hỏi được đặt ra không phải để tìm sự thật, mà để gài bẫy người nói sự thật. Có những lời khen được dệt bằng mật ngọt chỉ để che một cái lưỡi sắc. Và có những đồng tiền nằm trong túi người ta suốt cả đời mà người ta không bao giờ nhìn kỹ xem trên đó in hình ai, khắc tên gì, và đồng tiền ấy đang đòi hỏi lòng người đến mức nào. Ngày hôm nay, giữa một cuộc đời đầy những lựa chọn về tiền bạc, về quyền lực, về tiếng nói công khai và tiếng nói thầm kín của lương tâm, Lời Chúa đặt chúng ta đứng trước một đồng tiền La Mã và trước một câu trả lời ngắn đến mức tưởng như đơn giản, nhưng sâu đến mức cả một đời người cũng chưa sống cho hết. Người ta đưa đồng tiền ra. Người ta hỏi có được nộp thuế cho hoàng đế hay không. Và câu trả lời không chọn phe nào trong cái bẫy đã giăng sẵn, mà mở ra một lối sống: cái gì của Xê-da thì trả về cho Xê-da, cái gì của Thiên Chúa thì trả về cho Thiên Chúa. Câu ấy không phải là một mẹo để thoát nạn. Câu ấy là một bản đồ cho cả đời Kitô hữu, từ ngõ nhà đến công sở, từ bàn thờ đến đường phố, từ túi tiền đến tận đáy linh hồn.
Cái bẫy được giăng rất khéo. Một bên là những người giữ luật rất chặt, sợ mất thanh danh tôn giáo nếu chiều theo quyền lực ngoại bang. Một bên là những người thân với chính quyền, sống nhờ vào sự ổn định của đế quốc, không muốn ai khuấy động trật tự đang nuôi sống họ. Hai phía vốn chẳng ưa nhau bỗng đứng chung một hàng, vì cùng muốn một điều: làm cho người dạy dỗ bị kẹt. Nếu bảo phải nộp thuế, thì bị kết án là phản bội dân mình, cúi đầu trước kẻ thống trị. Nếu bảo không được nộp, thì bị kết án là khích động, là chống lại hoàng đế, là đáng nộp cho thanh gươm. Lời khen được dọn sẵn trước câu hỏi: thầy là người chân thật, thầy dạy đường lối Thiên Chúa theo sự thật, thầy không nể mặt ai, không nhìn địa vị. Nghe thì đẹp. Nhưng cái đẹp ấy không phải để tôn vinh, mà để siết. Người bị khen kiểu ấy rất dễ sa vào cái bẫy của chính lời khen, vì ai cũng thích được công nhận là người không sợ, là người nói thẳng. Chỉ có điều, sự thật không cần được khen để mà nói. Sự thật cần được sống cho đúng chỗ. Và sự khôn ngoan của Tin Mừng không phải là sự khôn ngoan của người thắng một cuộc tranh luận, mà là sự khôn ngoan của người không để lòng mình bị kéo vào trò chơi của kẻ khác.
Đồng tiền được đưa ra. Trên đồng tiền có hình. Dưới hình có chữ. Hình và chữ ấy thuộc về hoàng đế, vì chính quyền đúc ra đồng tiền, in dấu mình lên đó, và dùng nó để thu thuế, để nuôi quân, để giữ đường, để cai trị một vùng đất. Trả lại cho Xê-da cái mang hình Xê-da không phải là quỳ gối thờ Xê-da. Đó là nhìn nhận một sự thật rất đời: con người sống trong một trật tự xã hội, và trật tự ấy có những đòi hỏi hợp pháp. Nộp thuế không phải là bán linh hồn. Tuân luật giao thông không phải là phản bội đức tin. Giữ phép nước trong những gì không đụng đến Thiên Chúa không phải là hèn. Kitô hữu không được phép biến mình thành người sống nhờ xã hội mà không góp gì cho xã hội, hưởng đường xá, bệnh viện, trường học, an ninh, chợ búa, rồi coi mọi bổn phận công dân là chuyện của kẻ khác. Cái thuộc về Xê-da phải được trả bằng sự lương thiện: không trốn thuế, không làm giả giấy tờ, không ăn hối lộ, không phá của công, không nói xấu chính quyền chỉ để mình có vẻ đạo đức, cũng không nịnh chính quyền chỉ để mình được yên thân. Trả cho Xê-da là trả bằng công việc tử tế, bằng lời nói có trách nhiệm, bằng sự tôn trọng công ích, bằng việc không biến đạo thành một lá cờ để tranh ghế, và cũng không biến ghế thành một bàn thờ để thế chỗ đạo.
Nhưng câu trả lời không dừng ở đồng tiền. Nếu chỉ dừng ở đó, thì Tin Mừng trở thành một bài học về thuế má, và lòng người vẫn còn nguyên. Câu thứ hai mới là câu làm rung cả đời người: cái gì của Thiên Chúa, hãy trả về cho Thiên Chúa. Đồng tiền mang hình hoàng đế, nên thuộc về hoàng đế. Còn con người mang hình Thiên Chúa. Từ thuở được dựng nên, con người không phải là một đồng xu của đế quốc. Con người là hình ảnh. Hình ảnh ấy không in trên kim loại, mà in trong khả năng yêu thương, trong lương tâm, trong tự do, trong khát vọng sự thật, trong nỗi nhớ một Đấng lớn hơn mọi vua chúa. Không ai có quyền đúc lại hình ấy theo ý mình. Không chính quyền nào có quyền đòi linh hồn. Không đồng tiền nào có quyền mua được giờ cầu nguyện. Không tiếng tăm nào có quyền xóa được tiếng Chúa trong lòng. Trả về cho Thiên Chúa là trả lại chính mình: trả lại ngày Chúa Nhật không phải như một thói quen xã giao, mà như một sự thuộc về; trả lại lời kinh không phải như một câu đọc cho xong, mà như hơi thở; trả lại quyết định lương tâm khi tiền bạc, chức vụ, sợ hãi và dư luận cùng kéo một lúc.
Lịch sử không nằm trong tay những người tưởng mình nắm lịch sử. Có những vị vua không biết danh Thiên Chúa, không đọc luật, không bước vào đền thờ, thế mà vẫn được dùng như một dụng cụ trong tay Đấng cầm vận mệnh các dân. Cửa thành mở, vua chúa phải chạy, các nước phải khuất, không phải vì vị vua ấy là thần, mà vì ngoài Chúa ra không có Chúa nào khác. Câu ấy rất cần cho thời đại của chúng ta, khi người ta dễ thần thánh hóa sức mạnh, dễ cúi đầu trước người thắng, dễ tưởng rằng ai có quân đội, có tiền, có truyền thông, có công nghệ, thì người ấy viết được định mệnh. Không. Người ấy chỉ đang đi trên một con đường mà chính mình không đúc ra. Thiên Chúa có thể dùng cả những người không biết Người, để mở một cánh cửa cho dân Người, để sửa một thời đại, để hạ một kiêu ngạo, để dọn một lối cho công lý. Điều ấy không có nghĩa là mọi quyền lực đều tốt. Điều ấy có nghĩa là không quyền lực nào đứng ngoài bàn tay Chúa. Kitô hữu vì thế không hoảng loạn khi thế gian đổi chủ, cũng không thờ phượng kẻ đang cầm roi. Chúng ta kính trọng trật tự hợp pháp, nhưng chúng ta chỉ thờ một Chúa. Từ phương đông đến phương tây, chỉ có một Danh đáng được nhận biết.
Vinh quang không thuộc về các thần của các nước. Các thần ấy có khi là tượng, có khi là ý thức hệ, có khi là thị trường, có khi là hình ảnh của chính mình được chỉnh sửa cho đẹp trên màn hình. Tất cả đều là hư không nếu không phát xuất từ Đấng dựng nên trời. Hãy hát một bài ca mới, không phải vì bài cũ đã lỗi thời, mà vì lòng người mỗi ngày đều cần được kéo ra khỏi sự cũ kỹ của tham lam, của sợ hãi, của thói quen ca ngợi những gì không đáng ca ngợi. Hãy kể vinh quang Chúa giữa các dân, không phải bằng lời khoe đạo, mà bằng một đời sống làm cho người khác phải tự hỏi: tại sao nhà ấy còn bình an khi mất việc, tại sao người ấy không bán đứng bạn để giữ ghế, tại sao gia đình ấy còn biết quỳ gối khi cả xóm đang chạy theo một cơn sốt làm giàu. Tôn vinh Chúa là bước vào cung thánh của Người với lễ vật xứng hợp. Lễ vật ấy không chỉ là tiền bỏ vào thúng. Lễ vật ấy là một tuần lễ đã sống không gian dối, một lời xin lỗi đã nói được, một người nghèo đã được nhìn bằng mắt thật, một cơn giận đã không được nuôi đến sáng hôm sau.
Đức tin không phải là một cảm xúc đến rồi đi. Đức tin có việc làm. Lòng mến có lao nhọc. Niềm hy vọng có sự kiên trì. Ba điều ấy đi với nhau như ba chân của một cái kiềng. Việc làm của đức tin là những chọn lựa nhỏ mà không ai vỗ tay: trả lại tiền thừa, giữ lời hứa với con cái, không mở miệng khi cả bàn đang xẻ thịt người vắng mặt, đi lễ khi trời mưa và lòng thì chán. Lao nhọc của lòng mến là sự mệt không được trả công ngay: chăm người bệnh lâu năm, dạy một đứa trẻ chậm hiểu, ở lại với một giáo xứ nghèo, yêu một người không biết đáp lại. Kiên trì của hy vọng là không bỏ cuộc khi cầu nguyện lâu mà chưa thấy, khi làm lành lâu mà vẫn bị hiểu lầm, khi Hội Thánh có những vết thương mà mình không được phép dùng làm cớ để ra đi. Cộng đoàn được yêu mến không phải vì hoàn hảo, mà vì đã được chọn, và vì Tin Mừng đến với họ không chỉ bằng lời. Lời mà không có sức mạnh của Thánh Thần thì chỉ là tiếng. Lời có xác tín thì trở thành một ngọn lửa cầm được trong tay, và ngọn lửa ấy không đốt người khác, mà thắp sáng chỗ mình đang đứng.
Hãy chiếu sáng như những ánh đèn giữa thế gian, trong khi giữ lấy lời ban sự sống. Ánh đèn không cần la lớn. Ánh đèn cần được thắp. Giữa một thời đại rất giỏi sản xuất hình ảnh, rất giỏi tạo ra vầng hào quang giả, Kitô hữu dễ bị cám dỗ trở thành một thứ ánh sáng của sân khấu: đẹp khi có người xem, tắt khi cửa đóng. Ánh sáng của Tin Mừng thì khác. Nó sáng trong bếp, trong phòng bệnh, trong cuộc họp mà không ai ghi biên bản lòng tốt, trong đêm một người cha ngồi tính lại sổ nhà để khỏi thiếu tiền học của con. Giữ lấy lời ban sự sống là không để lời ấy bị thay bằng lời của đám đông. Đám đông hôm nay có thể là một nhóm chat, một bản tin, một trào lưu, một nỗi sợ bị loại ra ngoài. Lời ban sự sống thì đòi hỏi người ta thuộc về một Đấng khác trước khi thuộc về một phe. Người giữ lời ấy không trở thành kẻ vô dụng với đời. Người ấy trở thành kẻ không để đời nuốt mất mình.
Câu trả về cho Xê-da và trả về cho Thiên Chúa cần được sống trong những nơi rất cụ thể. Trong gia đình, Xê-da có thể là những bổn phận rất đời: tiền điện, tiền gạo, giấy tờ, giờ giấc, phép tắc với hàng xóm. Thiên Chúa là bàn ăn còn có lời cảm tạ, là vợ chồng còn biết tha, là cha mẹ còn kể cho con nghe về một Đấng lớn hơn điểm số và hơn chức danh. Trong công việc, Xê-da là hợp đồng, là hạn nộp, là luật nghề, là thuế, là sự tôn trọng người làm chủ và người làm công. Thiên Chúa là ranh giới không được bước qua: không làm hàng giả, không bóc lột, không ký vào điều mình biết là hại người, không đánh đổi ngày Chúa Nhật lấy một khoản lời mà lòng thì không yên. Trong đời sống giáo xứ, Xê-da là những việc tổ chức, sổ sách, xin phép, giữ trật tự, tôn trọng những quy định chung. Thiên Chúa là lý do người ta đến nhà thờ: không phải để giữ ghế, không phải để được đọc tên, mà để trả lại cho Chúa khuôn mặt của mình, khuôn mặt đã bị bụi đời phủ kín suốt tuần.
Tiền bạc là nơi câu Lời Chúa bị thử thách rõ nhất. Đồng tiền mang hình của người đúc ra nó, và lòng tham thì muốn đúc hình mình lên mọi thứ. Người ta có thể rất siêng đi lễ mà vẫn để tiền làm chủ các quyết định lớn: chọn trường cho con chỉ vì danh, chọn hôn nhân chỉ vì cửa, chọn bạn chỉ vì lợi, chọn im lặng trước sự dữ chỉ vì sợ mất mối. Trả cho Xê-da không có nghĩa là để Xê-da bước vào nhà tạm. Có những thứ tiền mua được, và có những thứ tiền chạm vào là hỏng. Tiền mua được thuốc, không mua được lòng thảo. Tiền dựng được nhà thờ, không dựng được đức tin nếu người dựng nhà thờ đang sống bằng sự dối trá. Tiền nuôi được một hội đoàn, không nuôi được một tâm hồn nếu hội đoàn ấy chỉ còn là nơi tranh ảnh hưởng. Vì thế, người môn đệ phải tập nhìn đồng tiền như nhìn một dụng cụ, không như nhìn một chúa. Dụng cụ thì dùng. Chúa thì thờ. Lẫn hai điều ấy là bắt đầu một thứ tôn giáo rất bận rộn mà rất rỗng.
Quyền bính cũng là một đồng tiền khác, chỉ có điều nó không kêu khi bỏ vào túi. Ai có một chút quyền trong nhà, trong lớp, trong xưởng, trong họ đạo, trong cơ quan, đều đang cầm một đồng xu có hình. Hình ấy không được phép trở thành hình mình. Quyền để phục vụ thì còn là quyền của người được trao. Quyền để bắt người khác phải cúi thì đã thành một thứ Xê-da nhỏ trong lòng. Tin Mừng không bảo người Kitô hữu phải khinh thường mọi quyền bính. Tin Mừng bảo đừng trao cho quyền bính cái không thuộc về nó. Quyền bính không được dạy lương tâm phải nói dối. Quyền bính không được đòi người ta yêu nó hơn Thiên Chúa. Quyền bính không được biến người dưới thành công cụ. Và người dưới cũng không được dùng đạo để trốn bổn phận, hay dùng bổn phận để trốn đạo. Sự phân định nằm ở chỗ này: điều gì xây công ích mà không đạp lên phẩm giá, thì hãy làm cho hết lòng; điều gì đòi phải bán đứng hình ảnh Thiên Chúa trong mình hay trong anh em, thì hãy từ chối, dù từ chối ấy làm mình mất một cái lợi trước mắt.
Thời đại số lại đặt thêm một đồng tiền mới trên bàn. Đồng tiền ấy là sự chú ý. Người ta trả sự chú ý của mình cho những gì xuất hiện nhiều, nói lớn, kích thích nhanh. Hình ảnh trên các màn hình không phải là hình Xê-da ngày xưa, nhưng chúng cũng có chữ, có dấu, có người chủ. Trả cho thế gian phần thế gian là biết dùng công cụ, biết học, biết làm việc, biết kết nối điều tốt. Trả cho Thiên Chúa phần Thiên Chúa là không để linh hồn mình bị thuật toán chăn dắt, không để giờ cầu nguyện bị nuốt bởi một cuộn tin không bao giờ hết, không để cơn giận trên mạng trở thành lễ tế hàng ngày. Một người có thể rất am hiểu thời sự mà vẫn mù về ý Chúa trên đời mình. Một người có thể có hàng ngàn người theo dõi mà không có ai để thật sự ở bên khi đêm xuống. Chiếu sáng giữa thế gian trong thời này là dám tắt bớt để còn sáng thật, dám chậm lại để còn nghe, dám nói ít hơn để lời còn trọng lượng.
Còn một sự trả về nữa, thầm lặng hơn mọi thứ thuế má: trả về cho Thiên Chúa nỗi sợ. Nỗi sợ làm người ta nộp cho Xê-da cả những gì không thuộc về Xê-da. Sợ mất việc nên im trước điều sai. Sợ mất mặt nên không xin lỗi. Sợ con cái không bằng bạn nên đẩy chúng vào một cuộc đua không còn chỗ cho hồn. Sợ giáo xứ dị nghị nên sống một đời đạo chỉ để được khen. Sợ tương lai nên nắm tiền chặt đến mức nắm luôn cả lòng tin. Thiên Chúa không đòi chúng ta liều lĩnh kiểu khinh suất. Người đòi chúng ta đừng để sợ hãi trở thành vị thần thứ hai trong nhà. Khi lòng đã trả về cho Người, thì người ta vẫn nộp thuế, vẫn ký giấy, vẫn chào người có chức, vẫn làm hết việc đời, nhưng người ta không còn run khi phải nói một câu thật. Sự bình an ấy không đến từ chỗ mình thắng. Sự bình an ấy đến từ chỗ mình biết mình thuộc về ai.
Hình ảnh Thiên Chúa trong con người không phải là một ý tưởng đẹp để treo trên tường. Đó là lý do không ai được phép biến người khác thành đồ vật. Người giúp việc trong nhà, người bán vé số ở cổng, người bệnh không còn nói được, đứa trẻ chưa sinh, người già hay quên, người khác chính kiến, người khác đạo, tất cả đều không phải là đồng tiền của một đế quốc nào. Họ mang hình. Ai đụng đến phẩm giá họ là đụng đến Đấng đã in hình ấy. Vì thế, trả về cho Thiên Chúa không chỉ là việc của nhà thờ. Đó là việc của cách nhìn. Nhìn người khác như hình ảnh là bắt đầu thôi biến họ thành phương tiện cho kế hoạch của mình. Một xã hội có thể rất đúng luật mà vẫn rất tàn nếu luật chỉ bảo vệ kẻ mạnh. Một nhà thờ có thể rất đông mà vẫn rất lạnh nếu người ta chỉ giữ hình thức và để người nghèo đứng ngoài sân. Vinh quang Chúa được kể giữa các dân chính là khi các dân thấy nơi cộng đoàn một cách đối xử không mua được bằng tiền.
Sự kiên trì trong hy vọng còn cần hơn khi câu trả lời của Tin Mừng không được thế gian hoan hô. Thế gian thích những câu dứt khoát theo phe. Trả cho hai phía đúng phần của họ thì dễ bị cả hai phía hiểu lầm. Người lo việc đời bảo mình viển vông. Người lo việc đạo bảo mình thỏa hiệp. Ở giữa sự hiểu lầm ấy mà không trở nên chua, đó là lao nhọc của lòng mến. Hội Thánh đã đi trong lịch sử với bài học này không chỉ một lần: khi quá nhập vào quyền lực thì mất muối, khi quá trốn khỏi đời thì mất men. Con đường hẹp là ở lại trong đời mà không thuộc về trò chơi của đời. Ở lại trong nghề, trong xóm, trong nước, trong thời đại của mình, góp phần xây những gì tốt, sửa những gì mình sửa được, chịu những gì mình chưa đổi được, và không bao giờ trao Chúa cho một bàn tay trần thế nào, dù bàn tay ấy đeo nhẫn vàng hay cầm ấn tín.
Có một giờ trong tuần khiến câu Lời Chúa trở nên thấy được: giờ đặt mình trước nhan thánh. Ở đó không có hình Xê-da. Ở đó đồng tiền trong túi không nói được gì. Ở đó người ta trả về cho Thiên Chúa cái mà cả tuần đã giữ lại: sự chia trí, sự cứng cỏi, nỗi mệt, lời chưa tha, việc chưa làm vì sợ. Chầu không phải là trốn thuế đời. Chầu là nhớ mình không phải là đồng tiền. Khi đứng lên đi ra, người ta vẫn phải trả cho đời phần đời. Nhưng bước ra ấy khác, vì lòng đã được đặt lại đúng chỗ. Gia đình nào biết quỳ cùng nhau, dù chỉ một lát, là đang dạy con một bài học không trường nào thay được: chúng ta sống trong thế gian, chúng ta không thờ thế gian. Giáo xứ nào biết thờ phượng cho thật, không biến phụng vụ thành sân khấu, là đang trả về cho Thiên Chúa cái thuộc về Người trước khi tính bất cứ chương trình nào khác.
Rồi đến lúc đồng tiền không còn đi theo mình. Hình trên đồng xu sẽ ở lại với đời. Chức danh sẽ được trao cho người khác. Những phe đã từng giăng bẫy sẽ tan. Chỉ còn hình ảnh Thiên Chúa trên linh hồn là đi tiếp. Ngày ấy, câu hỏi không còn là có nộp thuế hay không. Câu hỏi là đã trả về chưa. Đã trả sự thật chưa. Đã trả lòng mến chưa. Đã trả kiên trì chưa. Đã trả tự do của mình cho Đấng đã gọi tên mình, dù có những lúc mình chưa nhận ra Người. Cyrus được gọi tên dù không biết Chúa. Chúng ta được gọi tên trong bí tích, trong một gia đình đức tin, trong một Hội Thánh đầy thương tích mà vẫn là thân mình. Biết mình được gọi mà không trả về, thì nặng hơn một người chưa từng nghe. Biết mình mang hình Người mà sống như một đồng xu của đời, thì uổng một ơn gọi đã được đặt vào lòng từ trước khi mình mở mắt.
Vì thế, hãy cầm đồng tiền lên mà nhìn, rồi hãy cầm lòng mình lên mà nhìn. Cái gì in hình đời, hãy trả cho đời bằng sự lương thiện, bằng trách nhiệm, bằng công ích, bằng một đời công dân không làm xấu danh Chúa. Cái gì in hình Chúa, hãy trả cho Chúa bằng thờ phượng, bằng lương tâm sạch, bằng tình thương không bán, bằng hy vọng không tắt, bằng một miệng không nói dối để được việc, bằng một gối còn biết quỳ. Đừng để lời khen của kẻ giăng bẫy làm mình nói quá. Đừng để sợ của đế quốc làm mình nói thiếu. Hãy nói và hãy sống cho đủ hai phần, vì chỉ khi cả hai phần được trả đúng chỗ, con người mới đứng thẳng được giữa đời mà không mất hồn, và mới bước vào cung thánh mà không để ngoài cửa những gì Chúa đã giao.
Lm. Anmai, CSsR

CỦA XÊ-DA TRẢ CHO XÊ-DA, CỦA THIÊN CHÚA TRẢ VỀ CHO THIÊN CHÚA
Có những câu hỏi được đặt ra không phải để tìm sự thật, mà để gài bẫy người đang nói sự thật. Có những lời khen được dệt bằng mật ngọt, nhưng bên trong đã pha sẵn nọc độc. Có những đồng tiền được đưa ra giữa ánh sáng mặt trời, hình như chỉ là một vấn đề thuế má, một chuyện đời thường của người dân phải nộp cho quyền lực đang cai trị, thế mà bên dưới đồng tiền ấy lại là cả một cuộc chiến về lòng người: ai là chủ của cuộc đời này, ai được phép khắc hình mình lên linh hồn con người, và con người sẽ cúi đầu trước ai khi đêm về, khi đau khổ đến, khi cái chết gõ cửa. Chúa Giêsu đứng giữa đám người đang tìm cách làm Ngài vấp ngã bằng lời nói. Họ đến từ hai phía vốn chẳng ưa nhau, kẻ giữ luật và kẻ theo phe nhà cầm quyền, thế mà hôm ấy họ bắt tay nhau chỉ vì cùng muốn hại một người. Họ gọi Ngài là Thầy. Họ nói Ngài thành thật. Họ nói Ngài dạy đường lối Thiên Chúa theo sự thật. Họ nói Ngài chẳng nể ai, chẳng vị nể địa vị. Những lời ấy, nếu được thốt ra từ một trái tim trong sạch, đã là lời tôn vinh. Nhưng hôm ấy những lời ấy chỉ là mồi nhử. Rồi câu hỏi được thả xuống như một cái bẫy đã giăng sẵn: có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không. Trả lời có, họ sẽ tố Ngài phản bội dân tộc, cúi đầu trước đế quốc. Trả lời không, họ sẽ tố Ngài chống lại quyền lực đang cầm gươm. Tưởng như không còn lối thoát. Ấy thế mà Ngài không né. Ngài xin xem đồng tiền nộp thuế. Ngài hỏi hình và chữ khắc trên đó là của ai. Họ đáp: của Xê-da. Và Ngài nói một câu đi qua hai ngàn năm vẫn còn nóng trên môi mọi người đang sống giữa đời: cái gì của Xê-da thì trả cho Xê-da, cái gì của Thiên Chúa thì trả cho Thiên Chúa.
Câu ấy không phải là một mẹo thoát hiểm. Câu ấy là một đường phân ranh được vạch bằng ánh sáng. Đồng tiền mang hình Xê-da, nên đồng tiền thuộc về trật tự mà Xê-da đang cai quản. Con người mang hình Thiên Chúa, nên con người thuộc về Đấng đã dựng nên mình. Người ta có thể khắc mặt vua lên kim loại. Không ai được phép khắc mặt vua lên lương tâm. Người ta có thể đòi thuế má, đòi luật lệ, đòi trật tự đường phố, đòi bổn phận công dân. Không ai được phép đòi linh hồn. Khi Ngài cầm đồng tiền trong tay, Ngài không khinh thường đồng tiền, cũng không tôn đồng tiền lên làm chúa. Ngài trả đồng tiền về đúng chỗ của nó, rồi kéo ánh mắt mọi người lên cao hơn đồng tiền, tới chỗ hình ảnh thật sự đang ở: trên khuôn mặt mỗi người đang đứng đó, kể cả trên khuôn mặt những kẻ đang gài bẫy Ngài. Họ mang hình Thiên Chúa mà không biết. Họ đang dùng miệng lưỡi để hại Đấng là hình ảnh tuyệt hảo của Chúa Cha. Và chính lúc ấy, sự thật vẫn được nói ra, không phải bằng sự khôn ngoan của người muốn thắng một cuộc tranh cãi, mà bằng sự tự do của người không thuộc về bất cứ phe nào ngoài sự thật.
Trước khi câu chuyện đồng tiền được kể, Lời Chúa đã mở ra một cảnh khác, xa hơn, lớn hơn, gần như không thể tin nếu người ta chỉ quen nghĩ Thiên Chúa chỉ ở với những ai đã biết tên Ngài. Có một vị vua ngoại bang, không thuộc dòng tộc được tuyển chọn, không đọc luật, không giữ ngày sabát, không biết gọi tên Đức Chúa. Thế mà Đức Chúa gọi ông là người được xức dầu. Đức Chúa cầm lấy tay phải ông. Đức Chúa mở cửa thành trước mặt ông, bắt các vua phải chạy theo, bắt các dân phải khuất phục, không phải vì ông xứng đáng, mà vì tình yêu của Đức Chúa đối với Ít-ra-en, đối với Gia-cóp tôi tớ của Ngài. Ông được gọi đích danh dù ông không biết Đấng đang gọi. Ông được ban tước hiệu dù ông không nhận ra bàn tay đang dẫn. Và giữa cảnh ấy vang lên một lời như sấm: Ta là Đức Chúa, chẳng có chúa nào khác, ngoài Ta ra không có Thiên Chúa. Từ đông sang tây, mọi người phải biết rằng không có ai khác. Quyền lực của vua chúa, kể cả vua chúa không biết Thiên Chúa, vẫn nằm trong lòng bàn tay của Đấng tạo thành trời đất. Lịch sử không phải là sân khấu của những kẻ mạnh nhất. Lịch sử là nơi Thiên Chúa viết chữ của Ngài bằng cả những cây bút không nhận ra mình đang được dùng. Điều ấy không biến vị vua ngoại thành thánh. Điều ấy cũng không biến đế quốc thành Nước Trời. Điều ấy chỉ kéo mọi ngai vàng xuống dưới một chân lý duy nhất: không có quyền bính nào đứng ngoài Thiên Chúa, và không có quyền bính nào được quyền chiếm chỗ của Thiên Chúa.
Vì thế khi đứng trước câu hỏi về thuế, Chúa Giêsu không cần chọn phe đế quốc hay phe chống đế quốc. Ngài đứng ở chỗ sâu hơn cả hai phe. Ngài nhìn thấy đồng tiền và nhìn thấy con người. Đồng tiền có hạn. Con người không có hạn nếu con người nhớ mình là của ai. Trả cho Xê-da cái của Xê-da không phải là quỳ gối thờ Xê-da. Đó là sống cho ra người giữa một trật tự trần thế mà Thiên Chúa vẫn cho phép tồn tại để đời sống chung không rơi vào hỗn loạn. Nộp phần mình phải nộp. Giữ luật khi luật không buộc lương tâm phản bội sự thật. Làm việc cho công ích. Tôn trọng người cầm quyền trong những gì thuộc về trật tự đời này. Không biến đời sống đức tin thành cái cớ để trốn bổn phận với tha nhân và với xã hội. Một Kitô hữu lười biếng, gian dối trong công việc, sống bám, sống ỷ lại, rồi lấy câu “của Thiên Chúa” ra để biện minh, người ấy đã không hiểu lời Chúa. Của Xê-da phải được trả cho đủ, bằng sự lương thiện, bằng mồ hôi, bằng tinh thần trách nhiệm, bằng việc không phá hoại điều thiện hảo mà đời sống cộng đồng cần tới. Nhưng trả cho Xê-da xong, túi vẫn còn một cái không bao giờ được bỏ vào túi Xê-da: trái tim, lương tâm, sự thờ phượng, quyền được nói sự thật, quyền được yêu thương người nghèo, quyền được không gọi sự dữ là sự lành.
Cái của Thiên Chúa không phải là một khoản thuế thứ hai, nộp thêm vào ngày Chúa nhật rồi hết. Cái của Thiên Chúa là cả con người. Hình Xê-da ở trên đồng bạc, có thể mòn, có thể mất, có thể đổi đời vua là đổi hình. Hình Thiên Chúa ở trong con người, không mòn theo thời giá, không mất khi chế độ đổi, không nhạt khi người ta nghèo hay giàu. Trẻ thơ mới sinh đã mang hình ấy. Người bệnh nằm liệt đã mang hình ấy. Người tù, người khách lạ, người bị xã hội khinh, người vừa lỡ một lỗi nặng, tất cả vẫn mang hình ấy. Trả cho Thiên Chúa cái của Thiên Chúa, trước hết là nhìn nhận hình ấy nơi chính mình và nơi người khác, rồi sống sao cho hình ấy không bị bụi đời che khuất. Thờ phượng là trả. Yêu thương là trả. Tha thứ là trả. Giữ ngày của Chúa không phải như một luật lệ sợ phạt, mà như một cách nói với đời rằng có một Đấng lớn hơn mọi lịch làm việc. Dành giờ cầu nguyện giữa một ngày bị đồng tiền kéo đi tứ phía là trả. Dạy con cái biết cúi đầu trước Thiên Chúa chứ không cúi đầu trước thành công bằng mọi giá là trả. Từ chối một khoản lợi bất chính dù không ai biết là trả. Ở lại với người đau khi có thể bỏ đi là trả.
Thánh vịnh của ngày ấy không nói về thuế. Thánh vịnh hát một bài ca mới. Cả trái đất được mời hát. Các dân tộc được mời kể lại vinh quang của Chúa, từ nước này sang nước khác, những kỳ công của Ngài. Chúa lớn lao, đáng ngợi khen hơn mọi thần tượng, vì các thần tượng không là gì, còn chính Chúa đã dựng nên trời. Các dân tộc được mời dâng vinh quang và quyền năng cho danh Ngài, mang lễ vật vào hành lang thánh, phủ phục nơi đền thánh, rồi nói với muôn nước: Chúa là Vua, Ngài xét xử các dân theo công thẳng. Bài ca ấy giải thích câu nói về đồng tiền theo một cách rất sâu. Nếu Chúa là Vua, thì Xê-da không phải là vua cuối cùng. Nếu vinh quang phải được kể giữa muôn dân, thì không một đế quốc nào được giữ Tin Mừng lại trong biên cương của mình. Nếu các thần không là gì, thì mọi thứ người ta tôn lên thay chỗ Thiên Chúa, dù là tiền, là quyền, là danh, là phe nhóm, là ý riêng được thần thánh hóa, đều là tượng giả. Hát bài ca mới không phải là bỏ đời. Hát bài ca mới là đứng giữa đời mà không để đời thành chúa. Người Kitô hữu đi chợ, đi làm, đóng góp cho quê hương, lo chuyện cơm áo, nhưng miệng lòng vẫn hát rằng có một Vua lớn hơn mọi vua, và Vua ấy xét xử bằng công thẳng chứ không bằng sức mạnh của đồng tiền.
Rồi cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca hiện lên như một cách trả cho Thiên Chúa cái của Thiên Chúa giữa một thành phố không phải là thành thánh. Ở đó không có đền thờ Giê-ru-sa-lem. Ở đó có chợ búa, có thợ thuyền, có những người vừa mới nghe Tin Mừng, còn non, còn bị hiểu lầm, còn sống giữa những người chưa tin. Thế mà lời ngỏ gửi tới họ lại tràn niềm vui: ân sủng và bình an cho anh em, từ Thiên Chúa Cha và từ Chúa Giêsu Kitô. Niềm vui ấy không đến từ việc họ đã trở thành một lực lượng. Niềm vui ấy đến từ việc nhìn thấy nơi họ việc làm của đức tin, lao nhọc của đức ái, và kiên trì của niềm hy vọng vào Chúa Giêsu Kitô. Ba điều ấy là ba cách trả về cho Thiên Chúa mà không cần đợi một hoàn cảnh lý tưởng. Đức tin không nằm im trong đầu. Đức tin có việc làm. Đức ái không chỉ là cảm xúc dễ chịu. Đức ái biết lao nhọc, biết mệt, biết trả giá. Niềm hy vọng không phải là lạc quan mỏng. Niềm hy vọng biết kiên trì khi kết quả chưa thấy. Và tất cả những điều ấy không phải tự họ xoay xở mà có. Họ được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn. Tin Mừng đến với họ không chỉ bằng lời, mà bằng sức mạnh, bằng Thánh Thần, bằng một xác tín sâu. Lời nói suông không đổi được một thành phố. Lời nói được Thánh Thần đụng tới thì đụng được lòng người.
Đó chính là chỗ bài học về đồng tiền trở nên rất gần với mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi người đang sống giữa những đòi hỏi của đời. Người ta dễ tách đôi cuộc sống: một bên là chuyện đạo, một bên là chuyện đời, rồi tưởng rằng đã trả đủ cho cả hai khi sáng đi lễ, chiều lo làm ăn, tối xem tin, không để hai bên đụng nhau. Sự tách đôi ấy tiện, nhưng không phải là lời Chúa. Lời Chúa không bảo mang tất cả cho Xê-da, cũng không bảo bỏ mặc trần thế để chỉ lo chuyện thiêng liêng theo kiểu trốn tránh. Lời Chúa bảo phân định. Cái gì thuộc trật tự chung thì chu toàn bằng lương thiện. Cái gì thuộc Thiên Chúa thì không nhượng bộ, không bán, không cho mượn. Trong một ngày thường, sự phân định ấy xảy ra rất nhỏ. Khi người ta bị dụ làm một việc sai chỉ vì “ai cũng làm”, đó là lúc đồng tiền đang đòi chiếm chỗ của lương tâm. Khi người ta im lặng trước một bất công nhỏ trong nhà, trong cơ quan, trong xóm, chỉ vì sợ mất lòng, đó là lúc hình Xê-da đang muốn đè lên hình Thiên Chúa. Khi người ta dùng danh nghĩa đức tin để khinh người khác phe, khác hoàn cảnh, khác cách sống, đó là lúc người ta đã lấy cái của Thiên Chúa để phục vụ cái của mình. Và khi người ta làm ăn thật thà, nuôi con bằng mồ hôi sạch, đóng góp phần mình cho cộng đồng, rồi tối về còn biết quỳ gối tạ ơn, đó là lúc cả hai vế của câu nói được sống cùng một lúc, không đánh nhau.
Hình ảnh trên đồng bạc làm người ta nhớ tới quyền lực có thể đổi. Hình ảnh Thiên Chúa khắc trong người thì nhắc rằng có một cái không đổi. Sách khởi đầu đã nói con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Không phải giống ở khuôn mặt bên ngoài, vì mỗi người một vẻ, mỗi dân một dáng. Giống ở chỗ được mời gọi biết yêu, biết thật, biết tự do hướng về sự lành, biết nhận ra Đấng lớn hơn mình. Khi tội lỗi vào đời, hình ấy không bị xóa, nhưng bị bụi phủ, bị méo, bị người ta quên. Cả lịch sử cứu độ là lịch sử Thiên Chúa không chịu để hình ảnh của Ngài trong con người bị xóa. Ngài gọi, Ngài sửa, Ngài sai các ngôn sứ, và đến thời viên mãn Ngài sai chính Con Một. Chúa Giêsu là hình ảnh của Chúa Cha cách trọn vẹn. Nhìn Ngài là nhìn xem con người được mời trở thành điều gì. Vì thế khi Ngài nói hãy trả cho Thiên Chúa cái của Thiên Chúa, Ngài không nói như một người đứng ngoài đòi nợ. Ngài nói như Đấng đã đến để trả lại cho con người hình ảnh bị đánh cắp, bị bán, bị đổi lấy bát cháo quyền lực và tiện nghi. Đồng tiền người ta đưa cho Ngài mang hình một hoàng đế. Khuôn mặt Ngài mang hình Thiên Chúa. Và chẳng bao lâu sau, chính khuôn mặt ấy sẽ bị đánh, bị khạc nhổ, bị đóng đinh, không phải vì Ngài từ chối nộp thuế, mà vì Ngài từ chối để bất cứ quyền lực nào chiếm chỗ của Thiên Chúa trong lòng người.
Người môn đệ không được đòi một đặc ân để khỏi sống giữa đời. Người môn đệ được mời sống giữa đời mà không để đời nuốt mình. Có những lúc Xê-da chỉ là một chế độ, một luật, một khoản đóng góp, một bổn phận công dân. Có những lúc Xê-da đội nhiều tên khác: dư luận, thành tích, sự an toàn của phe mình, nỗi sợ bị loại ra khỏi vòng, thói quen lấy số đông làm chuẩn của sự thật. Những tên ấy không đúc trên kim loại, nhưng vẫn khắc hình. Chúng bảo người ta nghĩ gì được phép nghĩ, yêu ai được phép yêu, nói điều gì thì nguy. Trả cho chúng cái thuộc về chúng, nghĩa là không sống vô trách nhiệm, không phá trật tự cần thiết, không biến tự do thành phóng túng. Không trả cho chúng cái không thuộc về chúng, nghĩa là không giao lương tâm, không giao miệng lưỡi khi miệng lưỡi phải nói điều thiện, không giao đôi mắt khi đôi mắt phải nhìn thấy người nghèo, không giao trái tim khi trái tim phải thuộc về Thiên Chúa. Sự phân định này không làm người Kitô hữu trở thành kẻ chống đối mọi sự. Sự phân định này làm người Kitô hữu trở thành người tự do. Người tự do mới yêu thương được thật, vì yêu thương mà không tự do chỉ là sợ hãi đội lốt đạo đức.
Trong gia đình, câu nói ấy trở thành một bài học rất cụ thể. Cha mẹ có bổn phận với con, con có bổn phận với cha mẹ, vợ chồng có bổn phận với nhau, đó là phần phải trả cho trật tự mà Thiên Chúa đã đặt trong đời sống nhà. Không ai được lấy đạo làm cớ để bỏ bê bữa ăn, bỏ bê bệnh tật của người thân, bỏ bê chuyện học của con, bỏ bê sự trung tín. Nhưng cũng không ai được biến gia đình thành một ngai nhỏ, ở đó ý mình là luật cuối cùng, ở đó con cái phải tôn mặt mũi cha mẹ hơn là tôn sự thật, ở đó người phối ngẫu bị coi như sở hữu. Cái của Thiên Chúa trong một mái nhà là nhân phẩm của từng người, là quyền được lớn lên trong tự do tốt lành, là lời cầu nguyện không bị cười nhạo, là sự tha thứ không bị biến thành món hàng đổi chác. Một ngôi nhà biết trả đủ những bổn phận đời thường, lại còn biết thắp một ngọn đèn nhỏ cho Thiên Chúa, ngôi nhà ấy đang sống Tin Mừng giữa bếp núc, không cần đợi một bài giảng dài mới gọi là đạo.
Ngoài xã hội cũng vậy. Người tín hữu không được phép lương thiện kém hơn người chưa biết Chúa. Nếu đã nhận mình mang hình Thiên Chúa, thì lời nói phải đáng tin, cân đo phải thật, hợp đồng phải giữ, của công phải không bị rút ruột, người làm thuê phải được trả xứng, người có quyền phải không đè người không có quyền. Đó không phải là chuyện thêm. Đó là cách đồng tiền được trả về đúng chỗ, để đồng tiền thôi làm chúa. Và giữa những chọn lựa lớn của một cộng đồng, người tín hữu không rút vào góc riêng tư như thể Thiên Chúa chỉ lo chuyện nhà thờ. Công ích, phẩm giá người lao động, sự chăm sóc người bệnh và người già, việc không hy sinh kẻ yếu cho lợi nhuận của kẻ mạnh, tất cả thuộc về việc trả cho Thiên Chúa cái của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa đã gắn hình của Ngài vào những khuôn mặt ấy. Đồng thời người tín hữu không biến bàn thờ thành diễn đàn của một phe, không lấy câu Tin Mừng để thắng một cuộc cãi, không coi ai khác chính kiến là kẻ thù của Chúa. Chúa Giêsu đã không nhận phe nào trong ngày người ta gài bẫy Ngài. Ngài nhận sự thật. Sự thật ấy đủ lớn để soi cả hai phía.
Có một cám dỗ rất tinh vi của thời này: tưởng rằng đã trả cho Thiên Chúa khi mình đăng một câu đạo, chia sẻ một ảnh tượng, thuộc vài câu Kinh Thánh, rồi trong những quyết định thật sự về tiền bạc, về danh dự, về tương quan, mình vẫn để một ông chủ khác quyết. Cám dỗ ấy không mới. Nó chỉ đổi áo. Ngày xưa người ta đưa một đồng tiền có hình hoàng đế. Bây giờ người ta đưa một màn hình, một con số, một lời khen, một nỗi sợ bị lãng quên. Hỏi vẫn là hỏi ấy: hình này của ai, danh này của ai. Nếu hình ấy đòi ta bán một sự thật, thì hình ấy không được phép giữ trái tim. Nếu danh ấy đòi ta nghiền một người anh em, thì danh ấy không được phép đứng trên đức ái. Thánh Thần, Đấng đã làm cho Tin Mừng sinh hoa trái nơi những người Thê-xa-lô-ni-ca không chỉ bằng lời, vẫn là Đấng giúp người thời nay phân biệt. Không có Thánh Thần, người ta rất giỏi biện minh. Có Thánh Thần, người ta bắt đầu thấy cái gì đang chiếm chỗ của Thiên Chúa trong nhà mình.
Việc làm của đức tin, trong hoàn cảnh ấy, là những việc nhỏ được làm vì người ta thật sự tin, chứ không vì người ta cần được thấy. Lao nhọc của đức ái là những việc không có tiếng vỗ tay: thăm một người bệnh lâu ngày, nhịn một câu đáng lẽ nói cho sướng miệng, cầm tay một người trẻ đang lạc, ở lại với một giáo xứ nghèo khi có chỗ khác dễ chịu hơn. Kiên trì của niềm hy vọng là không bỏ cuộc khi gieo đã lâu mà chưa thấy mùa. Ba điều ấy làm cho câu “trả cho Thiên Chúa” khỏi trở thành khẩu hiệu. Chúng biến câu ấy thành một đời sống. Và đời sống ấy có sức chiếu sáng, đúng như lời mời gọi được hát lên trước Tin Mừng: hãy chiếu sáng thế gian bằng ánh sáng của Tin Mừng phản chiếu trong chính cuộc đời. Ánh sáng không cần la lớn. Ánh sáng cần được đặt trên giá, nghĩa là được sống ở nơi người ta thấy, trong cách cư xử, trong cách dùng tiền, trong cách nói về người vắng mặt, trong cách không bán mình cho một quyền lực nào dù quyền lực ấy đang được nhiều người cúi chào.
Thiên Chúa gọi cả những người chưa biết Ngài, như đã gọi vị vua ngoại ấy, không phải để hợp thức hóa mọi việc họ làm, mà để cho muôn dân biết chỉ có một Chúa. Điều ấy đem lại một niềm hy vọng rất lạ cho người đang sống giữa một thế giới phần nhiều không gọi tên Chúa. Không có nơi nào nằm ngoài tầm tay Ngài. Không có cánh cửa thành nào Ngài không thể mở. Không có lòng người nào bị kết án là vô vọng chỉ vì chưa biết. Vì thế người môn đệ không được khinh thế gian, cũng không được sợ thế gian như sợ một ông chủ. Người môn đệ đi vào thế gian với một sự tự do đã được trả giá bằng máu, mang theo một bài ca mới, kể lại vinh quang của Chúa giữa các dân, không bằng sự phô trương, mà bằng một đời sống trong đó cái của Xê-da được trả đàng hoàng và cái của Thiên Chúa được giữ toàn vẹn. Khi người ta hỏi đồng tiền này của ai, người môn đệ biết trả lời. Khi người ta hỏi, kín đáo hơn, cuộc đời này của ai, người môn đệ cũng phải biết trả lời, không phải bằng một bài diễn văn, mà bằng chính việc mình không trao hình ảnh Thiên Chúa cho bất cứ tượng nào.
Đồng tiền rồi sẽ hết thời. Hình vua khắc trên đó sẽ là chuyện của sử sách. Chế độ này qua, chế độ khác đến. Luật đổi, thuế đổi, biên cương đổi. Chỉ một hình không bị thu hồi: hình Thiên Chúa trên con người, được Con Thiên Chúa đến phục hồi, được Thánh Thần dần dần làm cho rõ nét trong những ai để Ngài hành động. Trả cho Xê-da cái của Xê-da là sống cho ra công dân của trái đất này. Trả cho Thiên Chúa cái của Thiên Chúa là sống cho ra người mà trái đất này không thể giữ lại mãi. Ai chỉ biết đồng tiền sẽ mất đồng tiền. Ai biết trả đồng tiền về chỗ của nó, rồi quỳ gối trước Đấng đã khắc hình mình trong lòng mình, người ấy đã bắt đầu bài ca mới, bài ca không kết thúc khi các vua đã qua, vì Vua mà bài ca ấy ngợi khen vẫn trị vì, và Ngài xét xử muôn dân trong công thẳng, trong xót thương, trong một tình yêu không để hình ảnh của mình bị bán với bất cứ giá nào.
Lm. Anmai, CSsR

CỦA CÊSAR TRẢ CHO CÊSAR, CỦA THIÊN CHÚA TRẢ CHO THIÊN CHÚA
Trong sân Đền Thờ, giữa những ngày cuối cùng trước khi cuộc Thương Khó mở ra, có một câu hỏi được dọn sẵn như một cái bẫy. Những người Pharisêu vốn giữ luật cách khắt khe và những người thuộc phe Hêrôđê vốn thân với quyền lực Rôma, hai phía chẳng ưa nhau, hôm ấy lại tìm đến nhau. Họ không đến để học. Họ đến để gài. Họ mở lời bằng một chuỗi lời khen: Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật, cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa, chẳng vị nể ai. Lời khen ấy nghe êm, nhưng bên trong là lưỡi dao. Nếu Đức Giêsu bảo phải nộp thuế cho Cêsar, đám đông yêu nước sẽ quay lưng, vì đồng thuế ấy là dấu của sự lệ thuộc, là tiền nuôi đạo binh chiếm đóng, là nỗi nhục của một dân đang mong Đấng Mêsia giải phóng. Nếu Người bảo không được nộp, chính quyền Rôma sẽ có cớ bắt Người như một kẻ kích động. Câu hỏi được đặt ra không phải để tìm sự thật, mà để buộc Người phải chọn một phía trong trò chơi quyền lực. Đức Giêsu không bước vào trò ấy. Người nhìn thấu lòng họ, gọi đúng tên sự giả hình, rồi xin một đồng tiền nộp thuế. Họ đưa ra một đồng đênariô. Trên đồng ấy có hình và danh hiệu của hoàng đế. Người hỏi hình và danh hiệu ấy của ai. Họ đáp: của Cêsar. Và câu trả lời vang lên, ngắn mà không ai bẻ được: Của Cêsar thì trả cho Cêsar, của Thiên Chúa thì trả cho Thiên Chúa. Họ kinh ngạc, rồi rút lui. Cái bẫy gãy không phải vì Người khéo né, mà vì Người nâng câu hỏi lên một tầng mà họ không muốn đứng.
Đồng tiền ấy không vô tội và cũng không chỉ là một miếng kim loại. Nó mang khuôn mặt của người đang trị vì, mang dòng chữ xưng tụng hoàng đế, đôi khi còn mang cả những tước hiệu mà một người Do Thái không thể đọc mà không thấy nhói, vì chúng chạm vào lãnh vực chỉ thuộc về Thiên Chúa. Đưa đồng tiền ra giữa Đền Thờ là đưa cả một thế giới chính trị vào nơi người ta tưởng chỉ nói chuyện luật và thờ phượng. Đức Giêsu không đập vỡ đồng tiền. Người cũng không thần thánh hóa nó. Người nhìn nó đúng với những gì nó là: dấu của một trật tự trần thế, của một quyền hành hữu hạn, của một nghĩa vụ công dân nằm trong biên giới của nó. Đường sá, án lệ, binh bị, thuế khóa, việc giữ an ninh cho chợ búa và đồng ruộng, những thứ ấy thuộc về nhà nước theo mức nhà nước thực sự gánh. Ai hưởng trật tự ấy thì không được sống như kẻ chỉ biết đòi mà không góp. Nộp thuế, trong nghĩa ấy, không phải là quỳ gối trước một ông thần, mà là trả lại cho đời sống chung cái phần đời sống chung cần để đứng vững. Giáo huấn này cắt đứt hai cực đoan vẫn luôn rình rập tâm hồn đạo đức. Một cực là khinh miệt mọi sự thuộc về đời, coi chính trị, nghề nghiệp, luật lệ, tiền thuế chỉ là bẩn, để rồi nhân danh đạo mà trốn nghĩa vụ với anh em. Cực kia là tôn quyền lực lên làm cùng đích, để lương tâm, thờ phượng và cả sự thật cũng phải uốn theo ý kẻ mạnh. Câu của Đức Giêsu không chọn cực nào. Người phân định.
Nhưng trọng tâm của câu ấy không nằm ở đồng tiền. Trọng tâm nằm ở vế sau, vế mà những người gài bẫy không muốn nghe. Nếu đồng đênariô phải trả cho Cêsar vì nó mang hình Cêsar, thì cái gì mang hình Thiên Chúa phải được trả cho Thiên Chúa. Và cái mang hình Thiên Chúa không phải là một thứ đồ vật để đặt lên bàn. Đó là con người. Từ thuở đầu, con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được ban hơi thở, được gọi bằng tên, được trao khả năng nhận biết, yêu thương, làm chủ trái đất mà không được phép biến anh em thành đồ dùng. Hình ấy không phai vì tội, dù tội làm nó mờ. Hình ấy không bị thu hồi khi một đế quốc đóng dấu lên tiền, cũng không bị xóa khi một chế độ đóng dấu lên giấy tờ. Vì thế, trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa trước hết là trả lại chính mình. Không phải trả một phần thời giờ còn dư sau khi đã lo xong việc đời. Không phải trả một góc lòng sau khi đã nộp hết cho tham vọng, cho dư luận, cho nỗi sợ. Trả chính mình là nhận ra mình không phải sở hữu của nhà nước, không phải sở hữu của dòng tộc theo nghĩa dòng tộc được quyền nghiền nát lương tâm, không phải sở hữu của thị trường theo nghĩa thị trường được quyền định giá linh hồn. Mình là của Đấng đã dựng nên mình. Đồng tiền có thể đổi chủ. Hình ảnh Thiên Chúa trong con người thì không được đem bán.
Cêsar có quyền trên đồng tiền vì đồng tiền do hệ thống của ông phát hành, lưu thông, bảo chứng. Cêsar không có quyền trên linh hồn, vì linh hồn không do ông phát hành. Ông có thể đòi thuế. Ông không thể đòi thờ lạy. Ông có thể lập luật để giữ trật tự. Ông không thể lập một luật cao hơn sự thật. Ông có thể bắt thân xác phải ở trong biên cương. Ông không thể bắt lương tâm phải coi điều dữ là điều lành. Ranh giới ấy là ranh giới của phẩm giá. Khi ranh giới ấy còn được tôn trọng, người tín hữu có thể là công dân tốt mà không đánh mất căn tính. Người ấy nộp thuế, tuân luật ngay chính, góp phần vào công ích, không phá rối chỉ vì mình thuộc về một niềm tin khác. Người ấy cầu nguyện cho người cầm quyền, không phải vì mọi người cầm quyền đều thánh, mà vì trật tự xã hội là một ơn cần được nâng đỡ, và vì hỗn mang chẳng bao giờ là bạn của người nghèo. Nhưng khi Cêsar đòi cái không thuộc về Cêsar, thì sự vâng phục dừng lại. Không phải dừng bằng sự hỗn hào. Dừng bằng sự trung tín. Các tông đồ sau này sẽ nói rất rõ cái dừng ấy khi bị cấm nhân danh Đức Giêsu: phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm. Đó không phải là khẩu hiệu của kẻ thích nổi loạn. Đó là hơi thở của người đã hiểu đồng tiền trả được, còn linh hồn thì không được phép nộp.
Bài đọc ngôn sứ về Kyrô giúp nhìn tầng sâu hơn nữa. Một vua ngoại bang, không thuộc dòng Đavít, không giữ luật Môsê, vẫn được gọi là người được xức dầu, vì Thiên Chúa dùng ông để mở đường cho dân được trở về. Lịch sử không chạy ngoài bàn tay Chúa, kể cả những khúc lịch sử mang tên đế quốc. Điều ấy không có nghĩa mọi sắc lệnh đều công chính. Nó có nghĩa không có ông vua nào đứng trên Thiên Chúa. Cêsar tưởng mình là chủ đồng tiền và chủ các tỉnh. Trước mặt Đấng cầm vận mạng các dân, Cêsar cũng chỉ là một dụng cụ, đôi khi là dụng cụ vô tình, đôi khi là dụng cụ cần được xét xử. Quyền bính trần thế có nguồn gốc từ Thiên Chúa theo nghĩa Thiên Chúa muốn loài người sống trong trật tự chứ không sống trong cảnh cá lớn nuốt cá bé. Nhưng quyền ấy được ủy thác, không phải được phong thần. Ai nhận ủy thác mà biến mình thành cùng đích thì đang ăn cắp vế thứ hai của câu Đức Giêsu nói. Và lịch sử các đế quốc cho thấy sự ăn cắp ấy luôn kết thúc bằng sự đổ vỡ. Tượng đài còn đó, đồng tiền còn khắc hình, nhưng lòng người đã rút khỏi chúng từ lâu, vì lòng người chỉ nghỉ yên nơi Đấng dựng nên nó.
Cuộc đối thoại trong Đền Thờ còn phơi bày một căn bệnh không chỉ của thế kỷ thứ nhất. Đó là bệnh biến đức tin thành quân cờ. Phe giữ luật muốn Đức Giêsu nói một câu để mất lòng dân. Phe thân chính quyền muốn Người nói một câu để mất đầu. Cả hai đều mượn danh Thiên Chúa hoặc danh trật tự, nhưng lòng thì hướng về phần thắng của mình. Quyền lực thích những câu hỏi chỉ có hai cửa, vì hai cửa ấy đều do nó kiểm soát. Sự thật của Đức Giêsu mở một cửa thứ ba. Cửa ấy không phải là sự trung lập hèn nhát, cũng không phải là mưu mẹo của người muốn vừa lòng mọi phía. Cửa ấy là việc đặt mỗi sự vào đúng chỗ của nó. Tiền thuế về chỗ của tiền thuế. Con người về chỗ của con người. Hoàng đế về chỗ của hoàng đế. Thiên Chúa về chỗ của Thiên Chúa, tức là chỗ trên hết. Ai chơi trò quyền lực sẽ thấy câu trả lời ấy khó dùng, vì nó không tiếp tay cho phe nào. Ai tìm đường sống thì thấy câu ấy là lối thoát, vì nó giải phóng khỏi sự sợ hãi phải chọn giữa tổ quốc và Thiên Chúa như thể hai bên là hai ông chủ ngang hàng. Chúng không ngang hàng. Một bên là quản lý hữu hạn. Một bên là nguồn của hữu thể.
Đời sống hằng ngày làm cho giáo huấn này khỏi trở thành lý thuyết. Người làm công ăn lương trả cho Cêsar khi đóng thuế trung thực, khi không gian lận, khi không coi của công là của không người nhận. Người ấy trả cho Thiên Chúa khi từ chối một khoản lợi được đổi bằng sự dối trá, khi không bán giờ cầu nguyện và giờ ăn với con cái để mua một danh vị không cần cho phần rỗi. Người kinh doanh trả cho Cêsar khi tôn trọng hợp đồng, khi trả lương xứng đáng, khi không hối lộ để thắng thầu. Người ấy trả cho Thiên Chúa khi không biến nhân viên thành nhiên liệu, khi để cho ngày của Chúa còn là ngày của Chúa, khi lợi nhuận không được phép vượt qua sự thật. Người cầm một chức vụ nhỏ trong làng xã trả cho Cêsar khi làm đúng việc được giao, khi không vòi vĩnh, khi giữ của công khỏi rơi vào túi riêng. Người ấy trả cho Thiên Chúa khi không ký một tờ giấy biết rõ là làm hại người nghèo, khi không im lặng trước điều bất công chỉ vì sợ mất ghế. Ở mỗi nấc ấy, đồng đênariô đổi dạng. Có khi nó là tờ khai. Có khi nó là một cuộc họp. Có khi nó là một cái gật đầu. Hình Cêsar trên đó thì trả. Hình Thiên Chúa thì giữ.
Gia đình là nơi giáo huấn này được thử thách âm thầm hơn cả nghị trường. Cha mẹ có quyền. Quyền ấy là quyền thật, vì con cái cần được nuôi, dạy, bảo vệ, uốn nắn. Nhưng con cái không phải đồng tiền của cha mẹ. Chúng mang hình Thiên Chúa. Vì thế yêu thương không được biến thành sở hữu, kỳ vọng không được biến thành nợ máu, và danh dự dòng họ không được phép đè lên ơn gọi của một người con. Có những bậc cha mẹ nộp con cho Cêsar của thời mình, tức là cho sự thành đạt, cho một nghề được thiên hạ khen, cho một cuộc hôn nhân có lợi, rồi gọi đó là hiếu thảo. Đức Giêsu không phá nhà. Người đặt nhà dưới một mái cao hơn. Ai trả con cái cho Thiên Chúa thì mới biết cách giữ con cái trong yêu thương, vì mình không còn coi chúng là phần nối dài của cái tôi. Ngược lại, người con cũng không được lấy tự do làm cớ để chối nghĩa với cha mẹ. Nuôi dưỡng lúc tuổi già, kính trọng, ở gần khi có thể, đó là phần phải trả trong trật tự tự nhiên. Phần không được trả là lương tâm. Không ai hiếu thảo bằng cách phạm tội theo lệnh của người lớn tuổi hơn mình.
Hội Thánh sống giữa thế gian nên không thoát câu hỏi này. Bà không phải là một chính quyền thứ hai để tranh ghế với Cêsar, cũng không phải là một phòng chờ để người ta trốn đời. Sứ mạng của Bà là trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa bằng cách công bố Tin Mừng, cử hành các bí tích, phục vụ người nghèo, nói sự thật về con người. Khi Bà trung thành với sứ mạng ấy, Bà phục vụ cả Cêsar theo cách Cêsar thường không hiểu, vì Bà đào tạo những công dân có lương tâm, những người không ăn cắp dù không ai thấy, những người không bỏ người bệnh, những người coi sự sống thai nhi và sự sống người già không phải là vật có thể loại khỏi sổ vì bất tiện. Khi Bà quên sứ mạng để chạy theo quyền thế, Bà đánh mất vế thứ hai và chẳng giữ được vế thứ nhất. Lịch sử có những khúc Hội Thánh đứng quá gần ngai vàng, rồi mất tự do ngôn sứ. Cũng có những khúc Hội Thánh bị đẩy ra ngoài thành, rồi lại tìm lại được giọng của Thầy mình. Bài học không phải là căm ghét trật tự trần thế. Bài học là không bao giờ đổi bàn thờ lấy một chỗ ngồi an toàn.
Thời đại của màn hình làm cho Cêsar đổi dạng mà không đổi bản chất. Không chỉ có nhà nước đòi thuế. Còn có những quyền lực mềm đòi sự chú ý, đòi dữ liệu, đòi sự đồng thuận, đòi người ta phải nghĩ giống nhau thì mới được ở lại trong cộng đồng. Chúng không khắc hình trên đồng bạc. Chúng khắc thói quen trên thần kinh. Người ta tưởng mình tự do vì không ai cầm giáo đứng ngoài cửa, trong khi từng giờ của mình đã bị một dòng tin chi phối, từng nỗi sợ đã bị một thuật toán nuôi lớn. Trả cho những quyền lực ấy cái thuộc về chúng là biết dùng công cụ, biết đóng góp vào đời sống chung trên không gian số, biết không biến mạng thành nơi nói dối. Trả cho Thiên Chúa cái thuộc về Người là giữ linh hồn khỏi bị định hình bởi sự phẫn nộ được thiết kế sẵn, là còn khả năng thinh lặng, là không nộp trí phán đoán cho đám đông, là không để một biểu tượng trần thế, dù là quốc gia, dù là phe phái, dù là một nhân vật được tung hô, chiếm chỗ của Đấng phải được thờ phượng. Ai không phân định chỗ này sẽ dễ dàng rất đạo đức ngoài nhà thờ và rất nô lệ trong túi áo, nơi chiếc điện thoại nằm.
Còn một tầng nữa, tầng của nội tâm, nơi không có lính nào đến thu thuế mà sự chiếm đóng vẫn xảy ra. Mỗi người có những Cêsar riêng. Có người là sự thèm được khen. Có người là nỗi sợ nghèo. Có người là một mối quan hệ không dám cắt dù nó đang giết sự thật. Có người là thói quen tội đã thành vua, ngồi trên ngai nhỏ trong lòng và đòi cống nạp mỗi ngày. Những vị vua ấy cũng phát hành đồng tiền của họ: một chút danh, một chút khoái, một chút an toàn giả. Và họ hỏi, y như câu hỏi năm xưa: ngươi thuộc về ta hay không. Đức Giêsu không bảo hãy sống vô trách nhiệm với đời. Người bảo hãy nhìn xem hình ai đang ở trên đồng tiền ngươi đang nắm, và hình ai đang ở trên mặt ngươi. Nếu ngươi mang hình Thiên Chúa, thì sự trở về không phải là một ý tưởng đạo đức. Đó là việc hoàn trả. Hoán cải, xét cho cùng, là trả lại cho Chủ những gì mình đã giữ làm của riêng cách bất chính. Giữ thời giờ. Giữ thân xác. Giữ lời nói. Giữ khả năng thứ tha. Rồi một ngày nhận ra mình đang nghèo giữa đống của không phải của mình.
Câu trả lời của Đức Giêsu còn mang một nỗi buồn dịu dàng. Những người đến hỏi Người đã có đồng tiền của Cêsar trong túi, ngay giữa Đền Thờ. Họ đang dùng hệ thống mình vừa muốn vừa ghét. Sự giả hình không chỉ là nói một đàng làm một nẻo. Sự giả hình là nhờ cậy một trật tự để sống, rồi dùng chính trật tự ấy làm bẫy hại người nói sự thật. Thời nào cũng có kiểu người ấy. Họ muốn một Đức Giêsu hữu ích cho phe mình. Họ hết lời khen sự ngay thẳng của Người cho đến khi sự ngay thẳng ấy chạm vào lợi ích của họ. Hôm ấy Người không cho họ một Đức Giêsu hữu ích. Người cho họ một Đức Giêsu thật. Và vì Người thật, họ không bắt bẻ được, nhưng cũng không ở lại. Kinh ngạc chưa phải là tin. Nhiều người kinh ngạc trước sự khôn ngoan của Tin Mừng rồi vẫn đi về với đồng tiền cũ, với phe cũ, với nỗi sợ cũ. Bài Tin Mừng không kết bằng một cuộc trở lại ồn ào. Nó kết bằng một sự rút lui. Điều đó đáng để người nghe hôm nay xét mình. Mình có đang kinh ngạc trước câu của Chúa, rồi vẫn để Cêsar ngồi ở chỗ của Chúa không.
Trật tự đúng không làm đời nhẹ hơn theo nghĩa khỏi phải chọn. Nó làm đời sáng hơn để chọn đúng. Có những việc phải làm cho thành phố này, cho đất nước này, cho xóm này: giữ luật giao thông, không xả rác, đóng góp khi làng có việc, không tiếp tay cho gian lận, dạy con biết sống với người khác. Đó là phần của Cêsar, hiểu theo nghĩa rộng của đời sống chung. Có những việc không một thành phố nào được phép đòi: bảo mình gọi sự dữ là sự lành, bảo mình nộp người vô tội, bảo mình im trước máu, bảo mình đặt một ý thức hệ lên trên Thiên Chúa, bảo mình coi lời cầu nguyện là tội. Đó là phần của Thiên Chúa. Giữa hai phần ấy là cả một đời phân định, không phải một lần ở sân Đền Thờ, mà mỗi sáng khi mở mắt. Người tín hữu không phải công dân hạng hai của trần gian, cũng không phải công dân hạng nhất của một nước chỉ có trên môi. Người ấy là người tự do, vì đã biết mình thuộc về ai. Sự tự do ấy không ồn ào. Nó có mặt trong cách nộp một khoản thuế không gian lận, trong cách từ chối một lệnh trái lương tâm, trong cách quỳ gối khi không có ai bắt quỳ, và trong cách đứng thẳng khi có người muốn mình quỳ trước tượng giả.
Đồng đênariô một ngày kia sẽ mòn. Hình hoàng đế sẽ phai. Các đạo binh sẽ rút. Các sắc lệnh sẽ thành tài liệu của người nghiên cứu. Câu hỏi đặt ra cho mỗi đời người vẫn còn nguyên, vì nó không phụ thuộc vào tên của vị vua đương thời. Hình ai đang ở trên đời ngươi. Ngươi đang trả đời ấy cho ai. Nếu chỉ trả cho Cêsar, dù Cêsar ấy mang tên sự nghiệp, nỗi sợ, phe nhóm hay một chế độ, thì đến cuối ngươi sẽ giàu những thứ không đi theo ngươi qua cửa sự chết. Nếu trả cho Thiên Chúa, thì những gì phải trả cho đời ngươi vẫn trả, mà lòng không bị cầm cố. Đức Giêsu đã không né câu hỏi. Người đã đặt mỗi sự về chỗ của nó, rồi vài ngày sau Người đi vào cuộc Thương Khó, nơi Cêsar và các thủ lãnh tôn giáo tưởng mình đang xử Người, trong khi chính Người đang trả cho Chúa Cha tất cả những gì thuộc về Chúa Cha, kể cả mạng sống. Đó là cách Người dạy đến cùng. Của Cêsar, trả cho Cêsar. Của Thiên Chúa, trả cho Thiên Chúa. Và vì chính Người là hình ảnh của Chúa Cha giữa chúng ta, ai nhìn Người thì biết mình phải hoàn trả cuộc đời về đâu.
Lm. Anmai, CSsR
CỦA XÊ-DA HÃY TRẢ CHO XÊ-DA, CỦA THIÊN CHÚA HÃY TRẢ CHO THIÊN CHÚA: NHÌN ĐỒNG TIỀN ĐỂ NHẬN RA MÌNH THUỘC VỀ AI
Có những câu hỏi được đặt ra không phải để tìm sự thật mà để gài bẫy, không phải để mở đường cho ánh sáng mà để buộc người ta phải chọn một trong hai ngõ cụt, để dù trả lời thế nào cũng bị bắt bẻ, bị kết án, bị đẩy vào thế yếu. Trong những ngày cuối trước cuộc Thương Khó, khi chân Chúa Giêsu đã bước gần đến Giêrusalem và bóng thập giá đã thấp thoáng trên đường, người ta đã đến với Người bằng một câu hỏi như thế. Những người Pharisêu vốn thù ghét sự đô hộ của Rôma, xem việc nộp thuế cho hoàng đế là một sự nhượng bộ gần như phản bội, đã bắt tay với những người thuộc phe Hêrôđê, vốn sống nhờ sự cộng tác với quyền lực ngoại bang và xem việc nộp thuế là chuyện đương nhiên của kẻ biết thời thế. Hai phía vốn chẳng ưa gì nhau, thế mà lại ngồi lại với nhau chỉ vì một mục đích: gài bẫy Người. Họ mở lời bằng những lời nịnh bợ ngọt ngào, khen Người là người chân thật, dạy đường lối Thiên Chúa theo sự thật, không vị nể ai, không nhìn mặt người ta mà nói. Lời khen ấy nghe thì đẹp, nhưng bên trong là lưỡi dao. Rồi họ hỏi: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không. Nếu Người nói được, phe chống Rôma sẽ kết án Người là kẻ bán nước, là kẻ cúi đầu trước tượng thần hoàng đế. Nếu Người nói không, phe thân Rôma sẽ tố Người là kẻ xúi giục loạn, là mối nguy cho trật tự công cộng. Câu hỏi được đóng khung trong thế hoặc là hoặc là, như thể đời sống chỉ có hai lựa chọn loại trừ nhau, như thể lòng trung thành với Thiên Chúa và bổn phận với xã hội loài người không thể cùng đứng trong một trái tim.
Chúa Giêsu không rơi vào cái bẫy ấy. Người không tranh luận dài dòng về chính trị, không đứng về phe nào trong cuộc cãi vã của thời đại, cũng không né tránh câu hỏi bằng những lời mơ hồ. Người bảo họ đưa cho Người xem đồng tiền nộp thuế. Họ đưa ra đồng denariô, đồng bạc Rôma có hình hoàng đế và dòng chữ khắc tuyên xưng quyền lực của ông. Người hỏi: hình và chữ khắc này của ai. Họ đáp: của Xêda. Và Người nói một câu đã đi suốt hai mươi thế kỷ, vẫn còn làm rung chuyển lương tâm mỗi khi người ta muốn dùng đức tin để trốn đời hoặc dùng đời để nuốt đức tin: của Xêda, hãy trả cho Xêda; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa. Câu ấy không phải là một sự thỏa hiệp nửa vời, cũng không phải là một công thức chính trị khôn ngoan để tránh xung đột. Đó là một sự phân định tận gốc. Đồng tiền mang hình Xêda thì thuộc về Xêda, và người ta có thể trả lại cho ông những gì ông đã đóng dấu quyền sở hữu của mình trên đó. Nhưng con người không mang hình Xêda. Con người mang hình Thiên Chúa. Từ thuở địa đàng được kể lại trong sách Sáng Thế, con người được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, được trao hơi thở sự sống, được gọi bằng tên, được mời vào tương quan chứ không bị đúc thành một đồng tiền trong túi của bất cứ quyền lực nào. Vì thế điều thuộc về Thiên Chúa không phải là một phần nhỏ của đời sống, không phải là giờ kinh sáng tối, không phải là số tiền bỏ vào thùng sau khi đã tính toán xong các khoản chi tiêu. Điều thuộc về Thiên Chúa chính là chính mình, là hình ảnh ấy, là hơi thở ấy, là tự do ấy, là khả năng yêu thương và sự thật được khắc trong lòng trước khi bất cứ luật nào của trần gian kịp viết lên giấy.
Người ta thường đọc câu ấy như một lời khuyên hãy sống quân bình, hãy làm tròn thuế má rồi cũng nhớ đi lễ. Cách đọc ấy không sai, nhưng còn nông. Chúa Giêsu không đang chia đôi cuộc đời thành hai ngăn kéo, một ngăn cho nhà nước và một ngăn cho nhà thờ. Người đang chỉ cho thấy hai bình diện không loại trừ nhau khi mỗi bình diện được đặt đúng chỗ. Xêda có quyền trên những gì thuộc về trật tự xã hội: đường sá, luật pháp, an ninh, thuế khóa, những nghĩa vụ nhờ đó một cộng đồng loài người có thể đứng vững. Thiên Chúa có quyền trên những gì thuộc về căn tính sâu nhất của con người: lương tâm, sự thờ phượng, sự thật về thiện và ác, phẩm giá không ai được phép mua bán. Khi hai quyền ấy không đụng nhau, người môn đệ không được phép dùng Thiên Chúa như cái cớ để trốn bổn phận công dân, cũng không được phép dùng bổn phận công dân như cái cớ để thu nhỏ Thiên Chúa lại thành một góc riêng tư. Nộp thuế cho đúng, tôn trọng luật công bằng, góp phần vào ích chung, không gian dối trong lời khai, không tham nhũng trong chức vụ, không sống bòn rút của cộng đồng rồi về nhà đọc kinh cho yên lòng, đó cũng là một cách trả cho Xêda những gì của Xêda, và đồng thời là một cách yêu thương người lân cận mà Thiên Chúa đã truyền. Nhưng khi Xêda đòi cả những gì không thuộc về ông, khi quyền lực trần gian muốn khắc hình mình lên lương tâm, muốn định nghĩa lại sự sống, muốn bắt người ta thề những điều trái với sự thật, muốn biến con người thành phương tiện của một ý thức hệ, thì câu trả lời không còn là cả hai nữa. Lúc ấy của Thiên Chúa phải được trả cho Thiên Chúa, dù giá phải trả là mất chức, mất của, mất tự do, thậm chí mất mạng.
Lịch sử Giáo Hội không thiếu những người đã hiểu câu ấy bằng cả cuộc đời. Một người từng là quan lớn của triều đình, thông thái, được vua tin dùng, đã phục vụ đất nước mình bằng tài năng và lòng trung thành thật sự, thế nhưng đến ngày nhà vua đòi ông nhìn nhận một quyền trên Giáo Hội và trên hôn nhân mà lương tâm ông biết là không thuộc về vua, ông đã từ chối. Ông không nổi loạn, không kêu gọi bạo lực, không khinh miệt quê hương. Ông chỉ không chịu đặt chữ ký của mình dưới một lời thề mà ông biết là dối. Người ta tước đoạt chức vụ, tài sản, tự do của ông. Người ta bỏ đói ông trong ngục. Người ta kết án ông bằng những chứng gian. Và trước khi đầu ông rơi, ông còn kịp nói một câu gom trọn cả Tin Mừng hôm ấy: tôi vẫn luôn là tôi tớ tốt của nhà vua, nhưng của Thiên Chúa trước đã. Câu ấy không phải là khẩu hiệu của kẻ chống đối. Đó là lối sống của người biết nhìn đồng tiền và biết nhìn gương. Đồng tiền mang hình vua thì trả cho vua. Linh hồn mang hình Thiên Chúa thì không được phép khắc thêm một hình nào khác lên trên.
Điều đáng sợ không phải là câu hỏi về thuế. Điều đáng sợ là người ta có thể rất giỏi tính toán những gì thuộc về Xêda mà lại quên mất những gì thuộc về Thiên Chúa. Trong đời sống thường ngày, ai cũng biết tìm cách giảm thuế cho đúng luật, giữ biên lai, khai những khoản được khấu trừ, tránh những khoản có thể tránh. Sự khôn ngoan ấy không có gì là xấu khi nó nằm trong công lý. Nhưng cũng chính cái thói quen tính toán tối thiểu ấy rất dễ tràn sang đời sống đức tin. Người ta hỏi Chúa cần bao nhiêu là đủ. Một giờ lễ ngày Chúa Nhật có đủ không. Một kinh tối có đủ không. Một ít tiền bố thí sau khi đã sắm đủ tiện nghi có đủ không. Một lần xưng tội mỗi năm có đủ không. Câu hỏi ấy nghe thì giống câu hỏi của những người Pharisêu: có được phép không, mức nào là mức luật cho phép. Chúa Giêsu không đưa ra một mức. Người đưa ra một hình ảnh. Hình ảnh ấy là chính ta. Vì ta mang hình Thiên Chúa nên tất cả những gì ta là và ta có đều thuộc về Người, không phải theo kiểu một ông chủ tịch thu, nhưng theo kiểu một người cha trao sự sống rồi mời con trả lại sự sống ấy trong tình yêu. Thời gian không phải của ta để ta trích ra một phần nhỏ dâng Chúa. Thời gian là quà được trao, và mỗi ngày là dịp để dùng nó cho điều gì xứng với Đấng đã trao. Tài năng không phải là sở hữu riêng để ta khoe hoặc ta chôn. Tiền bạc không phải là thành quả tuyệt đối của tay ta, vì đất, sức khỏe, cơ hội, người khác đã góp vào đó từ trước khi ta kịp nhận là của mình. Sức khỏe, danh thơm, trí khôn, khả năng yêu, tất cả đều mang chữ khắc của một Đấng khác. Trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa là ngừng sống như ông chủ của một gia tài không phải của mình, và bắt đầu sống như người quản lý biết mình sẽ phải trả lời về từng nén bạc.
Có một cám dỗ rất cũ và rất mới: hoặc là rút đức tin ra khỏi đời, biến đạo thành chuyện riêng của ngày Chủ Nhật, để ngoài đường người ta sống y như những người không biết mình mang hình ai; hoặc là biến đức tin thành một phe phái trần gian, lấy danh Chúa để thắng một cuộc bầu cử, để hạ nhục kẻ khác, để biện minh cho sự dữ của phe mình và phóng đại sự dữ của phe kia. Cả hai cách đều phản lại câu nói của Chúa Giêsu. Người không bảo môn đệ bỏ mặc thành phố. Người cũng không bảo môn đệ thờ thành phố. Người bảo hãy trả cho mỗi bên đúng phần của nó, và khi phải chọn, hãy nhớ phần nào là phần không thể nhượng. Muối mà mất mặn thì chẳng còn làm được gì cho đời. Ánh sáng mà bị giấu dưới đáy thùng thì thành phố vẫn tối. Men mà không được vùi vào bột thì bột không dậy. Người Kitô hữu được sai vào lòng xã hội không phải để chiếm quyền, cũng không phải để biến mất. Họ được sai để giữ cho xã hội khỏi quên rằng con người không phải là hàng hóa, rằng sự sống không bắt đầu khi nào tiện lợi và không kết thúc khi nào tốn kém, rằng sự thật không phải là sản phẩm của đa số, rằng người nghèo, người lạ, người bệnh, người chưa sinh và người sắp chết đều mang cùng một hình ảnh. Giữ điều ấy giữa một thời người ta sẵn sàng xóa phẩm giá của nhau vì một lập trường chính trị là một cách trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa, đồng thời cũng là cách phục vụ Xêda đúng nghĩa nhất, vì một xã hội xây trên sự dối trá về con người thì sớm muộn cũng sụp, dù luật lệ của nó có chặt chẽ đến đâu.
Nhìn lại đồng tiền, Chúa Giêsu đã buộc những người chất vấn phải nhìn thấy điều họ không muốn nhìn. Họ đang cầm trong tay một đồng bạc của đế quốc mà họ hoặc là thù ghét hoặc là nương tựa, và chính đồng bạc ấy tố cáo sự giả hình của câu hỏi. Hôm nay người ta cũng có thể bị chất vấn bởi những gì mình đang cầm. Chiếc điện thoại trong túi, tài khoản trong ngân hàng, chức vụ trên danh thiếp, lá phiếu trong ngày bầu, lời nói trên mạng, giờ giấc trong một ngày, tất cả đều có thể trở thành đồng tiền được đưa ra trước mặt. Hình của ai đang ở trên đó. Chữ khắc của ai đang điều khiển cách ta dùng nó. Nếu mọi sự ta sở hữu cuối cùng chỉ khắc tên của ta, của sự an toàn của ta, của phe của ta, thì ta đã trả nhầm địa chỉ. Của Xêda hãy trả cho Xêda, nhưng đừng trao cho Xêda linh hồn. Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa, và của Thiên Chúa chính là tất cả những gì mang hình Người, bắt đầu từ khuôn mặt ta nhìn thấy trong gương mỗi sáng, khuôn mặt không một hoàng đế nào đúc được, không một đạo luật nào xóa được, không một thời đại nào mua được. Trả lại khuôn mặt ấy cho Đấng đã khắc nên nó, trong cách ta sống với người bên cạnh, trong cách ta nói sự thật khi sự thật bất lợi, trong cách ta không bán lương tâm để lấy một chút yên ổn, đó là lời đáp duy nhất xứng với câu hỏi đã được đặt ra bên cạnh Đền Thờ, và vẫn đang được đặt ra bên cạnh mỗi bàn làm việc, mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi thành phố.
Lm. Anmai, CSsR

CỦA XÊ-DA HÃY TRẢ CHO XÊ-DA, CỦA THIÊN CHÚA HÃY TRẢ CHO THIÊN CHÚA: CÔNG DÂN ĐẤT NƯỚC VÀ CÔNG DÂN NƯỚC TRỜI
Có những câu hỏi được đặt ra không phải để tìm sự thật mà để gài bẫy, không phải để được sáng mà để đẩy người bị hỏi vào chỗ không còn đường lui. Câu hỏi về đồng tiền nộp thuế cho Xê-da ngày ấy thuộc loại ấy. Những người vốn chẳng ưa gì nhau, một bên muốn giữ luật theo kiểu khắt khe và một bên sẵn sàng bắt tay với quyền lực ngoại bang, bỗng cùng đứng lại trước mặt Đức Giêsu với lời khen rỗng tuếch. Họ gọi Ngài là Thầy, khen Ngài dạy đường lối Thiên Chúa theo sự thật, khen Ngài không nể mặt ai, không vị nể địa vị. Lời khen ấy nghe thì đẹp, nhưng bên trong đã chuẩn bị sẵn lưỡi dao. Nếu Ngài bảo phải nộp thuế, đám đông sẽ quay lưng vì coi Ngài là người xu thời với đế quốc đang đè nặng trên đất nước. Nếu Ngài bảo không được nộp, họ sẽ đem Ngài nộp cho quan quyền như kẻ xúi giục chống đối. Nếu Ngài im lặng, uy tín của Ngài sẽ rơi xuống vì người ta nói Thầy không dám trả lời câu hỏi nóng nhất của thời đại. Bẫy được giăng kín đến mức người ngoài cuộc tưởng không còn lối thoát. Thế nhưng chính trong cái bẫy ấy, một nguyên tắc lớn được mở ra, nguyên tắc không chỉ cứu một câu trả lời trong một buổi sáng ở Giêrusalem mà còn soi cho mọi thế hệ môn đệ biết mình thuộc về ai và mình phải sống thế nào giữa đời.
Đức Giêsu không sa vào cái bẫy hoặc thế này hoặc thế kia. Ngài xin xem đồng tiền nộp thuế. Việc họ đưa được đồng tiền ấy ra đã nói lên một sự thật hơi chát: họ vẫn dùng thứ tiền mang hình và danh của hoàng đế khi tiền ấy có lợi cho mình. Trên mặt đồng tiền có hình, có chữ. Ngài hỏi hình và danh hiệu ấy của ai. Họ đáp của Xê-da. Và từ đó vang lên lời đã đi vào lòng Hội Thánh: cái gì của Xê-da hãy trả cho Xê-da, cái gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa. Nhiều người nghe lúc ấy tưởng đời chỉ có một chọn lựa tuyệt đối, hoặc thuộc về Thiên Chúa thì phải khinh thường mọi trật tự trần gian, hoặc thuộc về trần gian thì phải nhường ngôi của Thiên Chúa. Ngài không chấp nhận lối nghĩ ấy. Có bổn phận với đời sống xã hội, có bổn phận với Thiên Chúa, và hai bổn phận ấy không nhất thiết nuốt nhau. Nộp thuế, giữ luật công bằng, góp phần vào trật tự chung, không tự nó là hành vi thờ ngẫu tượng. Sống giữa cộng đồng, giữa làng xã, giữa quốc gia, là một phần của ơn gọi làm người. Nhưng tất cả những gì thuộc về trần gian vẫn phải được đặt dưới ánh sáng của Đấng đã dựng nên con người. Cái ngang và cái dọc phải gặp nhau. Yêu người là một phần của việc thờ Thiên Chúa. Và một trong những cách yêu người lớn nhất là không để sự thật bị chôn vùi vì sợ mất lòng đời.
Đồng tiền mang hình Xê-da thì trả về cho Xê-da. Con người mang hình Thiên Chúa thì phải trả về cho Thiên Chúa. Đây là điểm mà nhiều người đọc Tin Mừng quá nhanh nên bỏ lỡ. Ngài không chỉ nói về thuế. Ngài nói về căn tính. Hình và chữ trên đồng bạc cho biết đồng bạc thuộc về ai. Hình của Thiên Chúa in trong mỗi người cho biết người ấy thuộc về ai. Sách Sáng Thế kể rằng con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, có khả năng nhận biết, yêu mến, tự do, và được mời gọi hiệp thông. Hình ấy không phải một hình vẽ bên ngoài có thể cạo đi khi đổi triều đại. Hình ấy ở trong trí khôn, trong ý chí, trong khả năng yêu đến cùng, trong lương tâm biết phân biệt thiện ác, trong nỗi khát không bao giờ no với của cải mau qua. Vì thế câu trả lời thật sự không dừng ở chỗ có nộp thuế hay không. Câu trả lời đẩy người nghe về trước gương. Nhìn vào gương, ta thấy ai. Nếu thấy một hình ảnh của Thiên Chúa, thì toàn bộ con người ấy phải được trả về cho Thiên Chúa. Thời giờ không phải của ta để tiêu pha tùy tiện. Sức khỏe không phải món hàng ta giữ khư khư cho đến khi không còn dùng được nữa. Tài năng không phải nhãn hiệu để khoe. Tiền bạc không phải thành trì. Danh tiếng không phải ngai. Tất cả là quà được trao, và quà được trao thì phải được dùng theo ý Đấng trao. Trả cho Thiên Chúa không phải một khoản nhỏ cuối tháng sau khi đã lo xong mọi thứ khác. Trả cho Thiên Chúa là nhận ra mình vốn đã thuộc về Ngài từ trước khi có bất cứ con dấu nào của trần gian đóng lên đời mình.
Người môn đệ vì thế vừa là công dân của một đất nước vừa là công dân của Giêrusalem thiên quốc. Hai tư cách ấy không hủy nhau khi mỗi bên đứng đúng chỗ của mình. Là công dân trần thế, người tín hữu không được phép sống như kẻ chỉ mượn tạm mặt đất để chờ ngày bỏ đi, chẳng đoái hoài đến đường sá, đến chợ búa, đến trường học, đến người nghèo ngay trước cửa, đến luật pháp khi luật ấy bảo vệ sự sống và sự công bằng. Lao động lương thiện là trả cho đời một phần mình đã nhận. Đóng góp vào ích chung là không ăn bám trên mồ hôi của người khác. Giữ lời hứa trong hợp đồng, không gian dối trong giấy tờ, không mua bán chức quyền, không biến của công thành của riêng, tất cả thuộc về lãnh vực phải trả cho Xê-da hiểu theo nghĩa rộng, tức là cho trật tự xã hội mà mình đang sống. Gia đình cũng là một thành trì của ích chung. Nuôi con trong sự thật, chăm sóc cha mẹ già, không đẩy người thân vào cô đơn chỉ vì bận tính toán, đó là những thứ thuế rất thật mà không cơ quan nào phát hành biên lai, nhưng Thiên Chúa và anh em đều nhìn thấy. Giáo xứ không phải hòn đảo tách khỏi làng. Người tín hữu vào nhà thờ rồi ra khỏi nhà thờ vẫn là cùng một người, vẫn phải nói năng sao cho lời cầu nguyện và lời ngoài chợ không phản nhau.
Nhưng trả cho Xê-da không bao giờ được hiểu là trao cho quyền đời quyền quyết định mình là ai. Xê-da có thể đòi thuế, có thể đòi sự tuân phục trong những gì thuộc về trật tự công cộng chính đáng. Xê-da không có quyền đòi linh hồn. Hình trên đồng tiền là của hoàng đế, hình trong con người là của Thiên Chúa. Khi một quyền bính nào đó, dù mặc áo luật pháp hay áo dư luận, đòi người tín hữu phải nói điều trái với sự thật về con người, về hôn nhân, về sự sống từ lòng mẹ đến hơi thở cuối, về phẩm giá của kẻ yếu, thì đó không còn là thuế. Đó là đòi một thứ lễ vật chỉ Thiên Chúa được nhận. Lịch sử Hội Thánh không thiếu những giờ phút người ta bị đẩy vào đúng cái thế hoặc thế này hoặc thế kia. Có người bị buộc thề những điều lương tâm không thể thề. Có người bị đe dọa mất chức, mất nhà, mất tên tuổi, mất cả mạng, chỉ vì không chịu đặt ấn của vua lên chỗ chỉ có ấn của Thiên Chúa. Các ngài không nổi loạn vì thích chống đối. Các ngài từ chối vì biết có những thứ không thuộc về Xê-da. Sự can đảm ấy không phải nóng tính. Sự can đảm ấy là hoa trái của một căn tính đã được nhận ra từ trước. Ai biết mình là hình ảnh của Thiên Chúa thì không dễ dàng bán hình ấy để đổi lấy một chỗ đứng yên ổn.
Thời nào cũng có những cuộc giằng co giữa những gì xã hội đòi và những gì đức tin không thể nhường. Có lúc giằng co đến từ thói quen coi chính trị là thước đo mọi sự, đến nỗi Tin Mừng bị kéo xuống thành công cụ của phe này phe kia. Có lúc giằng co đến từ một thứ thời thượng muốn người tín hữu im tiếng mỗi khi sự thật đụng đến lợi ích, đến dục vọng, đến cách người ta định nghĩa tự do. Tự do thật không phải là quyền xóa phẩm giá của người khác để mình được thoải mái. Tự do thật là khả năng chọn điều thiện mà không bị mua bằng sợ hãi. Người môn đệ được gọi là muối, là ánh sáng, là men. Muối không có để nằm trong hũ. Ánh sáng không có để chụp kín dưới thùng. Men không có để ở riêng một góc bột. Muối phải tan vào thức ăn mà vẫn giữ vị. Ánh sáng phải chiếu vào góc tối mà không trở thành thứ đèn chỉ hợp với người đang cầm đèn. Men phải làm cả khối bột dậy lên mà không tự biến mình thành bột. Nghĩa là người tín hữu không trốn đời, cũng không hòa tan đến mức mất vị. Giữa chợ, giữa cơ quan, giữa lớp học, giữa bàn nhậu, giữa mạng xã hội, vẫn phải có một cái gì không bán được. Cái không bán được ấy chính là hình Thiên Chúa mà mình mang.
Trả cho Thiên Chúa bắt đầu từ những chỗ rất nhỏ, nhỏ đến mức không ai lập biên bản. Một buổi sáng dành vài phút để nhớ mình thuộc về ai trước khi mở điện thoại. Một đồng lương không giấu hết cho mình mà biết chia cho người thiếu. Một tài năng không dùng để đè người khác. Một chức vụ không biến thành ngai. Một lời nói không bẻ cong cho vừa lòng đám đông. Một ngày Chúa Nhật không bị nuốt trọn bởi tính toán, bởi xem thường việc thờ phượng như một khoản có thể khấu trừ. Nhiều người rất giỏi tìm cách đóng ít thuế cho đời, giữ hóa đơn, tìm kẽ hở, chuyển chỗ này chỗ kia để số phải nộp nhỏ lại. Cũng có một thứ mánh tương tự với Thiên Chúa. Ta giữ lại thời giờ tốt nhất cho việc mình thích, rồi dành cho Ngài những mảnh vụn khi đã mệt. Ta giữ lại tiền khi dư dả, rồi kể mình quảng đại vì đã cho một chút không đau. Ta giữ lại ý riêng trong những quyết định lớn, rồi xin Ngài đóng dấu sau khi mọi sự đã xong. Cách ấy không phải trả. Cách ấy là thương lượng. Thiên Chúa không cần ta thương lượng với Ngài như với một chủ nợ khó tính. Ngài muốn một trái tim nhận ra mọi sự vốn là của Ngài, và từ đó dùng mọi sự như người quản lý chứ không như người chủ tuyệt đối.
Căn tính bị quên là rối loạn lớn nhất, lớn hơn cả những cuộc tranh cãi phe phái. Khi con người quên mình là hình ảnh của Thiên Chúa, người ta bắt đầu tự đúc cho mình những hình khác. Có người lấy hình của sự thành đạt làm hình của mình, đến nỗi mất việc là mất mình. Có người lấy hình của lạc thú làm hình của mình, đến nỗi không còn biết yêu vì yêu đã bị rút xuống thành sử dụng. Có người lấy hình của đám đông làm hình của mình, hôm nay đám đông khen gì thì mình là cái ấy, ngày mai đám đông đổi ý thì mình cũng đổi. Có người lấy hình của oán hận làm hình của mình, cả đời chỉ còn là vết thương được nuôi cho lớn. Những hình ấy có thể in rất sâu, sâu hơn chữ trên đồng tiền ngày xưa, nhưng không có hình nào trong số ấy cứu được. Chỉ hình của Thiên Chúa mới nói được sự thật về con người. Trả về cho Ngài là từng ngày để Ngài khôi phục hình ấy ở những chỗ đã bị mòn, bị che, bị đóng một thứ dấu khác lên trên.
Trong gia đình, nguyên tắc này rất cụ thể. Cha mẹ trả cho con cái không chỉ cơm áo mà còn sự thật về nguồn gốc của các em. Con cái không phải sản phẩm của kế hoạch, cũng không phải gánh nặng cần được tính toán cho biến mất khi bất tiện. Các em là hình ảnh của Thiên Chúa được trao vào tay người lớn. Trả cho Thiên Chúa trong nhà là không biến tổ ấm thành nơi chỉ có lợi ích và quyền lực. Vợ chồng trả cho nhau sự thủy chung, không phải vì xã hội còn khen sự thủy chung, mà vì giao ước mang hình của tình yêu không rút lại. Người trẻ trả cho bậc sinh thành sự hiếu thảo, không phải như một thứ thuế hành chính, mà như nhận ra mình đã nhận sự sống từ một dòng chảy không tự mình làm ra. Ngoài xã hội, người làm nghề giáo trả cho học trò sự thật chứ không chỉ trả cho áp lực thành tích. Người làm nghề y trả cho bệnh nhân phẩm giá chứ không chỉ trả cho chỉ tiêu. Người làm nghề luật trả cho công lý chứ không chỉ trả cho người trả giá cao hơn. Mỗi nghề là một cách trả cho Xê-da phần việc chuyên môn, và trả cho Thiên Chúa phần lương tâm không được đem cầm cố.
Khi xung đột xảy ra, người môn đệ không được phép chọn sự dễ dãi rồi gọi đó là khôn ngoan. Có những lúc khôn ngoan theo kiểu thế gian là im tiếng để giữ ghế. Có những lúc khôn ngoan theo Tin Mừng là nói một câu khiến mình mất ghế. Không phải cứ nói to là trung tín. Cũng không phải cứ im là yêu thương. Cần phân định. Điều thuộc về trật tự hợp lệ thì tuân giữ, dù không vừa ý. Điều đòi mình phủ nhận Thiên Chúa hoặc phủ nhận hình ảnh Ngài nơi anh em thì không tuân giữ, dù có cả một hệ thống đứng sau lời đòi ấy. Các thánh tử đạo không chết vì thích bi kịch. Các ngài chết vì không tìm được cách vừa thờ Thiên Chúa vừa thờ cái mà người ta muốn đặt lên trên Thiên Chúa. Máu các ngài không phải luận chứng để người đời sau tìm cớ gây sự. Máu các ngài là lời nhắc rằng có một thuộc về không được đem ra mặc cả. Ở những nơi chưa đến mức máu đổ, vẫn có những cuộc tử đạo nhỏ hơn: mất hợp đồng vì không ký vào điều trái lương tâm, mất bạn vì không cười theo chuyện hạ nhục người vắng mặt, mất sự yên ổn trên mạng vì không chia sẻ điều mình biết là dối. Những mất mát ấy, nếu được ôm vì sự thật, không phải thất bại. Đó là cách trả cho Thiên Chúa cái của Thiên Chúa ngay giữa chợ đời.
Cầu nguyện là nơi nguyên tắc này được luyện mỗi ngày. Vào nhà thờ, ta không nộp cho Thiên Chúa một ít thời giờ rồi ra về với cảm giác đã xong thuế. Ta đến để nhớ lại hình của mình. Lời Chúa đặt trước mặt ta câu hỏi mà đồng tiền không đặt được: ngươi thuộc về ai. Thánh Thể đặt vào tay ta chính Đấng mà mọi hình ảnh phải quy về. Rước lễ mà lòng vẫn giữ một ngai riêng cho tiền, cho phe, cho oán hận, thì việc trả vẫn còn dang dở. Bí tích không phải con dấu bên ngoài để hợp thức hóa một đời đã bán cho nơi khác. Bí tích là cuộc gặp để hình bị mờ được vẽ lại. Từ đó người tín hữu đi vào đời không như kẻ mang hai mặt, một mặt cho nhà thờ và một mặt cho đường phố, mà như một người đã biết cả hai mặt đều phải trung thực với cùng một căn tính.
Xã hội cần những công dân biết trả phần của xã hội. Nước trời cần những công dân biết trả phần của Thiên Chúa. Hai nhu cầu ấy gặp nhau nơi người môn đệ không sống nửa vời. Nửa vời là đóng thuế cho đời bằng sự khó chịu và đóng góp cho Thiên Chúa bằng phần thừa. Nửa vời là hô hào đức tin ở nơi an toàn và nuốt lời khi bước vào nơi nguy hiểm. Nửa vời là dùng Tin Mừng để phê bình người khác mà không để Tin Mừng phê bình chính cách mình dùng tiền, dùng quyền, dùng lưỡi. Lời của Đức Giêsu ngày ấy cắt đứt lối nửa vời. Ngài không cho phép biến Thiên Chúa thành lá cờ của một phe, cũng không cho phép biến Xê-da thành chúa. Ngài trả người nghe về với sự thật đơn giản và khắt khe: hãy nhìn hình, rồi hãy trả đúng cho người chủ của hình ấy.
Ngày hôm nay, giữa biết bao tiếng đòi lòng trung thành, người tín hữu vẫn có thể bình an nếu biết phân biệt các thứ trung thành. Trung thành với luật công bằng là tốt. Trung thành với quê hương theo cách xây chứ không phá là tốt. Trung thành với gia đình bằng sự hiện diện chứ không chỉ bằng tiền gửi về là tốt. Nhưng có một lòng trung thành đứng trên mọi lòng trung thành khác, vì không có lòng trung thành ấy thì các lòng trung thành kia sớm muộn sẽ bị kéo lệch. Đó là trả cho Thiên Chúa chính mình. Khi điều ấy đứng vững, thuế má trần gian tìm được chỗ của nó, việc đời tìm được mức của nó, và cả những cuộc bắt bớ nếu có cũng không lấy được cái mà chúng không có quyền lấy. Hình của Xê-da ở trên đồng tiền và sẽ qua đi khi triều đại qua đi. Hình của Thiên Chúa ở trong con người và không qua đi, vì Đấng đã in hình ấy vẫn nhận lại hình ấy trong vinh quang.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleBẢN TIN GIÁO HỘI NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 2026 Chúa nhật XXIX Thường niên năm A Khánh nhật Truyền giáo Tin Mừng Mt 22,15–21 Lm. Anmai, CSsR.