KHI KHO LẪM ĐÃ ĐẦY, CON NGƯỜI CÒN THIẾU ĐIỀU GÌ? – Lm. Anmai, CSsR

5

KHI KHO LẪM ĐÃ ĐẦY, CON NGƯỜI CÒN THIẾU ĐIỀU GÌ?
Suy niệm về của cải, lòng tham và sự giàu có trước mặt Thiên Chúa qua Lc 12,13–21
Có những căn nhà xây suốt nhiều năm mới hoàn tất, nhưng đến ngày đủ đầy tiện nghi thì người trong nhà đã không còn muốn ngồi lại với nhau. Có những mảnh đất được giữ gìn bằng biết bao công sức, cuối cùng trở thành lý do khiến anh em ruột thịt không nhìn mặt nhau. Có những người dành cả đời để chuẩn bị cho tuổi già, nhưng khi tuổi già đến, điều họ cần nhất lại là một người chịu ngồi bên cạnh, nghe họ kể một câu chuyện đã kể nhiều lần. Cũng có những gia đình từng sống rất đầm ấm trong căn nhà nhỏ, đến khi nhà rộng ra thì khoảng cách giữa những người thân cũng rộng theo. Tiền bạc tự nó không gây ra tất cả những đổ vỡ ấy. Nhưng khi con người bắt đầu đặt vào tiền bạc niềm mong đợi mà chỉ tình yêu và Thiên Chúa mới có thể đáp lại, của cải sẽ dần chiếm một vị trí vượt quá khả năng của nó. Người ta muốn tiền bảo đảm cho mình được bình an, được kính trọng, được yêu thương, được sống lâu, được tránh khỏi mọi bất trắc. Rồi đến một ngày, trước giường bệnh hay trước một quan tài, người ta nhận ra: có những điều quý nhất trong đời đã không nằm trong những thứ mình tích lũy.
Đoạn Tin Mừng theo thánh Luca đưa chúng ta vào chính nỗi bận tâm ấy. Một người đến với Đức Giêsu vì chuyện chia gia tài. Một người khác trong dụ ngôn đứng trước vụ mùa bội thu và tính chuyện xây kho lớn hơn. Cả hai câu chuyện đều rất gần đời sống. Không có gì xa lạ ở đây: anh em, tài sản, ruộng đất, mùa màng, kế hoạch, hưởng thụ, tương lai. Những điều ấy vẫn xuất hiện trong cuộc trò chuyện của chúng ta mỗi ngày. Nhưng giữa những chuyện tưởng như chỉ thuộc về kinh tế gia đình, Đức Giêsu đặt một câu hỏi chạm đến tận gốc đời người: con người thực sự sống nhờ điều gì, và khi mọi thứ mình nắm giữ phải buông ra, điều gì còn lại nơi mình?
Người đến xin Đức Giêsu can thiệp đã thưa rất rõ: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi.” Chúng ta không được biết đầy đủ hoàn cảnh của người ấy. Có thể anh ta bị đối xử bất công. Có thể người anh đang nắm giữ phần tài sản đáng lẽ phải được chia. Cũng có thể giữa hai người tồn tại những điều phức tạp mà vài lời trình bày chưa cho thấy hết. Bản văn không cung cấp đủ dữ kiện để chúng ta kết án người xin chia gia tài là tham lam. Điều cần chú ý là anh ta tìm đến Đức Giêsu với một yêu cầu đã được định sẵn: xin Thầy nói với người kia làm điều tôi muốn. Anh ta chưa xin được soi sáng để hiểu tình cảnh của mình; anh ta xin một tiếng nói có thẩm quyền đứng về phía mình. Trong lời cầu xin ấy, chúng ta có thể nhận ra một khuynh hướng rất quen thuộc của chính mình: muốn đưa Chúa vào cuộc tranh chấp, nhưng đưa vào với vai trò người bảo vệ phần phải của ta.
Đời sống đạo có thể rơi vào chỗ ấy một cách âm thầm. Chúng ta cầu nguyện tha thiết, nhưng nội dung sâu bên trong lại là xin Chúa làm cho người khác thay đổi theo ý mình. Xin cho người anh biết điều. Xin cho người em chịu nghe. Xin cho vợ nhận lỗi. Xin cho chồng bớt cứng đầu. Xin cho đối phương hiểu rằng mình đúng. Những lời cầu ấy có thể xuất phát từ một nỗi đau thật, một bất công thật; tuy nhiên, chúng vẫn cần được mở ra trước sự thật lớn hơn. Khi đến với Chúa, tôi có chấp nhận để Người xem xét chính cách tôi nghĩ, cách tôi nói, cách tôi đòi quyền lợi hay không? Tôi có dám thưa rằng: xin Chúa bảo vệ điều công bằng, và nếu trong lòng con có lòng tham, xin Chúa cũng chữa lành con? Cầu nguyện trở thành cuộc gặp gỡ khi con người để cho Thiên Chúa được nói, kể cả khi lời Người không thuận với điều mình đang muốn nghe.
Câu trả lời của Đức Giêsu có thể làm người đang chờ đợi phải ngỡ ngàng: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?” Người không nhận vai trò phân xử vụ kiện được trao cho mình trong hoàn cảnh ấy. Điều đó không có nghĩa Người xem nhẹ công lý, quyền lợi chính đáng hoặc nỗi khổ của người bị tước đoạt. Cũng không thể lấy câu trả lời này để khuyên người bị bất công cứ im lặng, ai muốn lấy gì thì lấy. Quyền sở hữu và việc phân chia tài sản cần được thực hiện cách công bằng; các tranh chấp cần được giải quyết bằng những phương cách chính đáng. Nhưng sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu đưa Người đi xa hơn việc ấn định ai được bao nhiêu. Người nhìn thấy một nguy cơ có thể tồn tại ở cả người đang giữ tài sản lẫn người đang đòi tài sản: trái tim bị chiếm hữu bởi điều mình muốn có. Nếu lòng người không đổi, chia xong một mảnh đất vẫn có thể nảy sinh một cuộc chiến khác. Bản án có thể kết thúc một vụ kiện mà chưa chữa được sự thù nghịch giữa những người cùng một dòng máu.
Bởi thế, từ lời yêu cầu của một người, Đức Giêsu nói với tất cả: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam.” Lời cảnh báo ấy không chỉ dành cho những ai có nhiều tài sản. Người nghèo có thể tham, người giàu có thể quảng đại; người ít tiền có thể bị tiền bạc ám ảnh, người có điều kiện có thể sử dụng của cải cách tự do và có trách nhiệm. Số lượng tài sản chưa đủ để kết luận về tình trạng tâm hồn. Cần nhìn vào tương quan giữa con người với những gì họ có và những gì họ muốn có. Tôi có thể vui vì điều tốt lành người khác nhận được hay lập tức thấy mình thua thiệt? Tôi có đủ tự do để từ chối một khoản lợi bất chính hay tìm đủ lý do để nhận? Khi quyền lợi bị chạm đến, tôi còn nhìn người đối diện như một con người hay chỉ thấy họ là chướng ngại? Những câu hỏi ấy giúp lòng tham hiện ra rõ hơn nhiều so với việc chỉ đếm tiền trong tài khoản.
Lòng tham nguy hiểm vì nó thường biết ăn mặc đàng hoàng. Nó có thể mang tên lo xa, trách nhiệm, bảo vệ gia đình, giữ thể diện, tranh thủ cơ hội. Dĩ nhiên, lo xa là cần thiết; người có trách nhiệm phải tính đến tương lai. Nhưng chính vì những điều tốt ấy đáng quý nên lòng tham dễ mượn chúng làm nơi trú ẩn. Một người có thể nói mình chỉ kiếm thêm chút nữa cho con, trong khi nhiều năm qua con cái chưa có nổi một buổi tối được trò chuyện bình thản với cha mẹ. Một người có thể khẳng định mình đang giữ tài sản của gia đình, nhưng lại dùng quyền giữ tài sản để buộc cả nhà phục tùng. Một người có thể tự nhủ phải làm ăn bằng mọi giá để thoát nghèo, rồi dần chấp nhận việc gian dối, quên rằng điều mình đang làm sẽ đẩy một gia đình khác vào cảnh khốn khó. Lòng tham ít khi tự giới thiệu tên thật. Nó thường bắt đầu bằng một lời giải thích nghe rất hợp lý.
Đức Giêsu nói đến “mọi thứ tham lam”, nghĩa là chúng ta không thể chỉ xét mình quanh chuyện tiền mặt, đất đai hay của cải hữu hình. Có người tham quyền quyết định. Có người tham tiếng khen. Có người muốn chiếm trọn thời gian và sự quan tâm của người khác. Có người không chịu nổi khi một công việc vẫn tốt đẹp dù không có mình. Có người đã đủ điều kiện sống nhưng luôn cần hơn người bên cạnh một bậc. Cái muốn ấy có thể đổi đối tượng mà vẫn giữ nguyên sức trói buộc. Hôm nay muốn tiền, mai muốn danh, rồi muốn người khác nhớ ơn, muốn tên mình được nhắc, muốn ý mình được thi hành. Vì thế, chiến đấu với lòng tham là học cách nhận ra lúc nào nhu cầu chính đáng đã trở thành sự đòi hỏi không cùng. Có những lúc ta tưởng mình đang mở rộng cuộc đời, thật ra chỉ đang tăng số thứ có quyền làm mình lo lắng.
Lời Đức Giêsu đi thẳng vào một sự nhầm lẫn căn bản: “Không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.” Người không phủ nhận tác dụng thực tế của của cải. Người thiếu ăn cần cơm; người đau bệnh cần điều kiện chữa trị; gia đình có con nhỏ cần chỗ ở và sinh kế. Nói với người đang khốn khó rằng tiền chẳng quan trọng là một cách nói thiếu lòng thương. Nhưng thừa nhận sự cần thiết của tiền bạc khác với việc trao cho nó quyền bảo đảm tối hậu về đời mình. Tiền có thể giúp mua thuốc, nhưng không hứa chữa được mọi bệnh. Tiền có thể mua một nơi ở an toàn hơn, nhưng không loại bỏ hết bất trắc. Tiền có thể tạo điều kiện cho một cuộc gặp gỡ, nhưng không mua được lòng chân thành của người đến gặp. Nó là phương tiện đáng được sử dụng cách khôn ngoan; một khi trở thành nền tảng cuối cùng của niềm tin, nó bắt đầu đặt lên vai con người những gánh nặng mà chính nó không thể giải quyết.
Chúng ta rất dễ đánh đồng việc “có phương tiện để sống” với việc “đã biết sống”. Một gia đình có đủ phương tiện chưa chắc biết trò chuyện. Một người có nhiều lựa chọn chưa chắc biết chọn điều tốt. Một đứa trẻ được cung cấp mọi thứ chưa chắc cảm thấy mình được yêu. Có những cuộc đời thiếu thốn vật chất nên chịu nhiều tổn thương; cũng có những cuộc đời dư thừa vật chất nhưng nghèo khả năng đón nhận, tha thứ và biết ơn. Tin Mừng buộc chúng ta nhận ra chiều sâu ấy của sự sống. Tôi đang tồn tại, đang tiêu dùng, đang tăng thu nhập, nhưng tôi có đang lớn lên trong khả năng yêu thương không? Tôi có trở nên đáng tin hơn, nhân hậu hơn, ngay thẳng hơn không? Nếu chỉ số tài sản đi lên trong khi lòng mình ngày càng khô cứng, sự thành đạt ấy cần được nhìn lại trước khi chúng ta dùng nó để đánh giá cả đời mình.
Dụ ngôn Đức Giêsu kể bắt đầu bằng một sự thuận lợi: “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi.” Không có lời nào trong bản văn nói mùa màng ấy có được do trộm cắp hay gian lận. Chúng ta không nên tự thêm tội cho nhân vật để rồi dễ dàng đứng ngoài câu chuyện. Ông có thể đã làm việc, tính toán, đầu tư và quản lý ruộng nương cách hiệu quả. Vụ mùa bội thu là điều đáng mừng. Một nền kinh tế tạo ra lương thực, một công việc đem lại thành quả, một gia đình được cải thiện đời sống đều có thể là những điều tốt. Vấn đề chỉ dần xuất hiện khi ông bắt đầu suy nghĩ về hoa lợi của mình. Dụ ngôn đưa chúng ta đi từ kết quả bên ngoài vào cuộc độc thoại bên trong, nơi ý nghĩa của sự giàu có được quyết định.
Một vụ mùa nhiều hoa lợi đặt ra câu hỏi về trách nhiệm. Khi có thêm, con người được trao thêm khả năng làm điều tốt. Có thể trả công xứng đáng hơn cho người làm. Có thể dành phần dự trữ để đi qua mùa khó khăn. Có thể giúp một người thân đang thiếu vốn sinh sống. Có thể chia sẻ với người không có mùa gặt. Có thể góp phần cho công việc chung. Nhưng nhà phú hộ chỉ thấy một vấn đề: không còn chỗ chứa. Câu hỏi của ông là: “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!” Đáng suy nghĩ biết bao: điều khiến ông bận tâm giữa sự dư dật là thiếu thêm một nơi để giữ. Ông có đủ để sống, nhưng tâm trí đã chuyển sang lo cho phần dư. Trong khi đó, những con người có thể cần đến phần dư ấy không xuất hiện trong sự tính toán của ông.
Chúng ta không biết ông có gia đình hay không, có người làm hay không, sống ở nơi đông dân hay thưa vắng. Dụ ngôn không kể. Tuy nhiên, cuộc độc thoại của ông cho thấy ông đang quy mọi sự về mình. Ông tự hỏi, tự trả lời, tự vạch tương lai, rồi tự chúc mừng. Không có đối thoại với Thiên Chúa, cũng không có sự cân nhắc về tha nhân. Đó là một tình trạng tâm hồn đáng sợ: người ta vẫn sống giữa bao người, vẫn giao dịch mỗi ngày, vẫn có thể được gọi là người thành công, nhưng thế giới bên trong chỉ còn những nhu cầu của chính mình. Người khác có thể xuất hiện như khách hàng, nhân công, người phục vụ hoặc người thừa nhận địa vị của ta, nhưng không còn được gặp như những người có đời sống, nỗi lo và phẩm giá cần được tôn trọng.
Một con người có thể ở giữa đám đông mà vẫn khép kín như thế. Họ nghe rất nhiều, nhưng chỉ ghi nhận điều liên quan đến quyền lợi của mình. Họ giúp ai đó, nhưng ngay trong lúc giúp đã tính xem người ấy sẽ mang lại lợi ích gì. Họ bước vào một cộng đoàn, nhưng nhanh chóng phân biệt ai có thể làm mình nổi bật, ai có thể hỗ trợ công việc, ai không đáng mất thời gian. Khi cách nhìn ấy trở thành thói quen, tình người bị thu hẹp thành tính toán. Lòng tham không nhất thiết làm ta ngưng giao tiếp; có khi nó còn khiến ta giao tiếp nhiều hơn, xây dựng nhiều mối quan hệ hơn. Nhưng các mối quan hệ bị tổn thương từ bên trong vì người ta cảm thấy mình đang bị sử dụng. Có những người được vây quanh rất đông mà khi yếu đi lại không tìm được một người có thể tin cậy, bởi lâu nay họ đã quen thuê sự hiện diện hơn là vun trồng tình thân.
Nhà phú hộ quyết định: “Phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn.” Xét riêng về quản lý, có thêm nơi bảo quản hoa màu có thể là một việc hợp lý. Lương thực để hư hỏng vì thiếu chỗ chứa cũng là lãng phí. Đức Giêsu không đưa ra một bài học rằng xây kho là xấu, lập kế hoạch là sai, hay cứ có dư là phải lập tức phân phát hết mà không suy xét. Điều bị vạch trần là một kế hoạch trong đó toàn bộ của cải được giữ lại cho một cái tôi tự cho mình đã đủ an toàn. Kho lớn trở thành lời hứa: từ đây ta sẽ không còn phải lo. Của cải được trao cho quyền dỗ dành tâm hồn. Ông nghĩ chỉ cần giải quyết xong chỗ chứa là giải quyết xong cuộc đời.
Thật ra, lòng tham có một đặc điểm rất dễ nhận: nó dời chữ “đủ” đi xa mãi. Khi chưa có nhà, ta nghĩ có nhà là yên. Khi có nhà, ta thấy cần nhà rộng hơn. Khi thu nhập khá hơn, ta bắt đầu so sánh với một nhóm người có thu nhập cao hơn nữa. Điều từng là giấc mơ trở thành mức tối thiểu, và một giấc mơ khác xuất hiện. Không phải mọi mong muốn cải thiện đời sống đều xấu; con người có quyền làm việc để phát triển khả năng và chăm sóc người thân. Nhưng nếu mỗi thành quả chỉ đủ sức làm mình vui trong một thoáng rồi lập tức trở thành lý do để bất mãn, ta cần dừng lại. Có thể vấn đề không còn nằm ở điều kiện bên ngoài. Một tâm hồn chưa học biết ơn sẽ mang theo sự thiếu thốn của nó vào cả căn nhà rộng nhất.
Biết đủ không đồng nghĩa với ngừng cố gắng. Người biết đủ vẫn có thể làm việc chăm chỉ, phát triển nghề nghiệp, sáng tạo và chịu trách nhiệm. Điều khác biệt nằm ở chỗ họ biết công việc phục vụ điều gì. Họ có thể từ chối một cơ hội kiếm thêm khi cơ hội ấy đòi họ phải làm điều gian dối. Họ có thể thu xếp thời gian cho gia đình dù vẫn còn việc có thể sinh lợi. Họ không cần chứng minh giá trị của bản thân bằng cách vượt qua mọi người quen. Họ có thể vui khi người khác thành công. Sự đủ đầy nội tâm ấy không có nghĩa họ sẽ không lo lắng, nhưng giúp họ không để nỗi lo dẫn mình đi khắp nơi. Người luôn bị cái thiếu thúc đẩy có thể kiếm được nhiều hơn; người biết đủ có cơ hội sống sâu hơn với những gì đã được trao.
Nhà phú hộ nói với chính mình: “Hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm.” Ông đang đem của cải ra trấn an phần sâu thẳm nhất của con người. Nhưng linh hồn không thể được nuôi dưỡng chỉ bằng những thứ chứa trong kho. Con người cần lương thực, nhưng cũng cần ý nghĩa. Cần được nghỉ ngơi, nhưng cũng cần biết đời mình đã dành cho ai. Cần những điều kiện sinh sống, nhưng cũng cần được tha thứ và biết tha thứ. Có những nỗi bồn chồn không dịu đi khi thu nhập tăng. Có những đêm mất ngủ không đến từ thiếu tiền, mà từ một việc sai chưa chịu sửa, một người đã bị mình làm khổ, một mối quan hệ bị bỏ mặc quá lâu. Nếu cứ dùng mua sắm, giải trí và hưởng thụ để lấp những khoảng trống ấy, con người có thể tiêu rất nhiều mà vẫn không tìm được sự bình an mình cần.
Từ đó, lời tự nhủ của nhà phú hộ còn cho thấy một sự nhầm lẫn khác: ông coi những năm tháng sắp tới như thể đã thuộc về mình. Ông biết số hoa màu, biết sức chứa của kho, biết khả năng hưởng dùng, rồi tưởng mình cũng biết thời lượng còn lại của cuộc đời. Người ta thường mắc sai lầm ở chính chỗ giỏi nhất của mình. Vì quản lý được nhiều việc, ta bắt đầu tin rằng mọi việc đều có thể quản lý. Vì giải quyết được nhiều khó khăn, ta ngỡ giới hạn nào cũng sẽ có cách vượt qua. Nhưng thời gian sống không nằm trong quyền sở hữu của chúng ta. Ta có thể lập kế hoạch cho mười năm tới; việc lập kế hoạch ấy không biến mười năm thành một món tài sản đã được giao vào tay. Mỗi ngày vẫn được đón nhận, chứ không được chiếm hữu.
Nghĩ đến giới hạn ấy không nhằm làm con người sợ hãi đến mức không dám sống. Trái lại, nó giúp chúng ta sống bớt hoang phí. Ai biết thời gian hữu hạn sẽ cân nhắc hơn khi nuôi một cuộc giận hờn. Ai biết người thân không ở với mình mãi sẽ bớt dễ dãi với lời nói làm họ đau. Ai hiểu sức khỏe có giới hạn sẽ không coi việc tự hủy mình bằng lao lực là bằng chứng duy nhất của trách nhiệm. Tin Mừng không bảo chúng ta cứ nhìn cái chết rồi buông hết công việc. Tin Mừng giúp ta đặt công việc vào đúng kích thước của đời người. Hôm nay có những việc cần làm để bảo đảm cuộc sống; cũng có những việc cần làm vì một ngày nào đó sẽ không còn cơ hội làm nữa. Hai điều ấy cần được phân định cùng nhau.
“Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” Ước muốn nghỉ ngơi sau lao động tự nó là chính đáng. Một người cha đã làm việc vất vả có quyền được nghỉ. Một người mẹ đã chăm sóc gia đình nhiều năm cần được nâng đỡ và có thời gian cho bản thân. Người lao động không được sinh ra chỉ để sản xuất đến kiệt sức. Niềm vui, bữa ăn, giấc ngủ, những ngày nghỉ đều có chỗ trong đời sống tốt lành. Nhưng khi hưởng thụ trở thành toàn bộ dự án đời mình, con người thu hẹp ơn gọi của mình xuống quá thấp. Ta được dựng nên với khả năng trao ban, xây dựng tương quan và đáp lại tình yêu Thiên Chúa. Nếu tất cả nỗ lực cuối cùng chỉ nhằm đạt đến trạng thái không cần quan tâm đến ai nữa, sự nghỉ ngơi ấy sẽ dần trở thành một kiểu rút lui khỏi trách nhiệm làm người.
Có một lối sống xem người khác là phần việc phải giải quyết cho xong để mình được yên. Cha mẹ già trở thành gánh nặng cần sắp xếp. Con cái trở thành chi phí cần đáp ứng. Người nghèo trở thành sự phiền toái cần tránh. Cộng đoàn trở thành nơi chỉ nên tìm đến khi cần một dịch vụ tinh thần. Một khi đã quen nhìn như thế, con người có thể đạt nhiều tiện nghi mà mất dần khả năng cảm thông. Dĩ nhiên, không ai có thể nhận hết mọi trách nhiệm và đáp ứng hết mọi lời cầu cứu. Chúng ta cần giới hạn, cần nghỉ ngơi, cần sự khôn ngoan trong cách giúp người. Nhưng giới hạn lành mạnh khác với việc xây cả cuộc đời quanh câu hỏi làm sao để người khác đừng làm phiền mình. Nhà phú hộ không hề nghĩ đến sự sống được nối kết với ai; ông chỉ nghĩ đến thời gian mình sẽ được hưởng dùng.
Rồi Thiên Chúa lên tiếng. Cuộc độc thoại đang trôi rất thuận lợi bỗng bị ngắt bởi một lời ông không dự tính: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi.” Tiếng gọi ấy nghiêm khắc, bởi sự lầm lạc đã chạm đến tận nền tảng. Ông có thể rất giỏi chuyện làm ăn, nhưng đánh giá sai ý nghĩa đời mình. Ông dự tính kỹ cho kho lẫm mà bỏ quên tình trạng linh hồn. Ông biết nơi cất của cải, nhưng không biết mình sẽ đứng thế nào trước Đấng ban sự sống. Cái ngốc trong dụ ngôn không phải thiếu thông minh; nó là việc dùng trí thông minh để phục vụ một dự án không tính đến sự thật quyết định nhất. Một người có thể sáng suốt trong nhiều việc mà vẫn lạc lối nếu nền tảng đời mình đặt sai.
Cần đọc lời cảnh tỉnh này với sự ngay thẳng và lòng thương. Không thể từ dụ ngôn mà kết luận ai chết đột ngột cũng là người bị Thiên Chúa trừng phạt vì tham lam. Chúng ta không có quyền giải thích cái chết cụ thể của một người bằng phán đoán như thế. Dụ ngôn đang cảnh tỉnh người nghe về cách sống, chứ không trao cho chúng ta công cụ để kết án những người đã qua đời. Cũng không nên dùng lời “nội đêm nay” để gieo hoảng loạn. Điều Đức Giêsu muốn phá vỡ là ảo tưởng rằng mình có thể hoãn chuyện hoán cải vô thời hạn. Sự sống mong manh khiến việc yêu thương và sống ngay thẳng trở nên cấp thiết. Nó không cho phép ta tiếp tục nói: sau này rảnh hơn tôi sẽ trở về với Chúa, khi nào đủ tiền tôi sẽ sống tử tế, đến lúc nghỉ hưu tôi sẽ lo phần linh hồn.
Chữ “sau này” đã giữ nhiều điều tốt ở ngoài đời sống của chúng ta. Sau này sẽ nói lời xin lỗi. Sau này sẽ về thăm cha mẹ. Sau này sẽ trả một món nợ đã khất lâu. Sau này sẽ thu xếp lại việc đạo. Sau này sẽ thôi cách làm ăn khiến lương tâm bất an. Ta tưởng những điều ấy vẫn đang được giữ gìn trong một kế hoạch đẹp; thật ra, mỗi lần trì hoãn, thói quen cũ lại được củng cố thêm. Người đã tập phớt lờ lương tâm hôm nay không tự nhiên dễ nghe lương tâm hơn vào ngày mai. Người đã để gia đình chờ mình suốt nhiều năm không thể chắc rằng đến lúc mình muốn trở về, mọi sự vẫn còn nguyên. Hoán cải có thể cần thời gian để hoàn thành, nhưng cần một khởi đầu thực sự trong hiện tại.
“Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” Câu hỏi ấy khiến của cải hiện ra trong tính tạm thời của nó. Điều hôm nay được gọi là của tôi rồi sẽ được người khác sử dụng, định đoạt, phân chia, bán đi hoặc bỏ quên. Một món đồ ta từng khao khát có thể trở thành vật không ai muốn giữ. Một căn nhà ta dồn cả tuổi trẻ để xây có thể được sửa lại theo ý người đến sau. Một danh mục tài sản được tính toán rất kỹ sẽ được đọc bằng những con mắt khác. Sự thật ấy không khiến công sức lao động trở nên vô ích. Nó giúp ta hiểu rằng ý nghĩa của lao động nằm cả trong cách ta sống khi đang làm ra của cải và cách của cải được dùng để phục vụ sự sống. Nếu tất cả ý nghĩa chỉ nằm ở việc mang tên sở hữu, cái chết sẽ làm nền tảng ấy tan biến.
Câu hỏi “sẽ về tay ai” cũng đưa chúng ta trở lại chuyện gia tài ở đầu đoạn Tin Mừng. Một người đang đòi được chia phần; một người khác đang tích lũy mà không nghĩ đến ngày phải để lại. Giữa hai cảnh ấy là biết bao câu chuyện gia đình. Cha mẹ để lại tài sản với mong ước con cái đỡ khổ, nhưng cách sống và cách sắp xếp thiếu rõ ràng có thể để lại cả sự nghi ngờ. Con cái cho rằng mình có quyền hưởng phần này phần kia, rồi biến ký ức về cha mẹ thành lập luận trong cuộc tranh giành. Người chăm sóc cha mẹ lâu năm cảm thấy bị coi thường. Người ở xa cho rằng mình bị gạt ra. Những nỗi đau chưa được nói cách tử tế nhiều khi bùng lên khi tài sản được đem ra chia. Lúc ấy, tranh chấp về tiền bạc mang theo cả những thiếu thốn tình cảm tích tụ từ rất lâu.
Vì vậy, chăm sóc gia đình cũng đòi sự minh bạch và công bằng trong chuyện vật chất. Đạo đức không thay thế cho việc làm giấy tờ rõ ràng, nói chuyện có trách nhiệm và tôn trọng quyền lợi chính đáng của nhau. Có những bậc cha mẹ ngại bàn chuyện tài sản vì sợ xui, nhưng sự im lặng có thể khiến con cái phải gánh một cuộc tranh chấp khó giải quyết. Có người dùng lời hứa cho nhà, cho đất để giữ con cái trong trạng thái lệ thuộc; tình thân vì thế bị trộn lẫn với sợ hãi và tính toán. Có người con chỉ về gần cha mẹ khi bắt đầu nghĩ đến phần thừa kế. Trong những hoàn cảnh ấy, Tin Mừng mời mỗi người xét lại mình cách cụ thể. Cha mẹ cần nhớ con cái là những người được yêu, có trách nhiệm và tự do; con cái cần nhớ cha mẹ là những con người đang sống, cần được chăm sóc ngay hôm nay, chứ không phải nguồn tài sản đang chờ chuyển giao.
Thử hình dung một gia đình có hai anh em cùng tranh một phần đất. Mỗi người đều có lý lẽ, đều nhớ rất rõ điều bất lợi cho mình, đều tìm được người đứng về phía mình. Vụ việc có thể cần được giải quyết theo quy định và chứng cứ rõ ràng. Nhưng bên cạnh việc ấy còn một câu hỏi không tòa án nào có thể trả lời thay: sau khi nhận phần của mình, tôi muốn làm gì với tương quan anh em? Có thể tôi phải bảo vệ quyền lợi chính đáng, nhưng tôi có cần làm nhục người kia không? Có thể chưa thể hòa giải ngay, nhưng tôi có cần kể xấu họ trước con cháu, làm cho sự thù nghịch được truyền sang một thế hệ khác không? Công lý cần sự kiên quyết; lòng tham thường thêm vào công lý nhu cầu phải thắng cho người kia hoàn toàn mất mặt. Phân biệt được hai điều ấy là một việc khó, nhưng rất cần cho người muốn sống Tin Mừng.
Nhiều người sợ rằng nếu bớt tranh thì mình sẽ thiệt. Nỗi sợ ấy có lý do, nhất là nơi những người đã từng bị chèn ép. Chúng ta không nên dễ dàng yêu cầu họ hy sinh từ vị trí của người ngoài cuộc. Nhưng cũng cần thành thật nhìn nhận: có những thứ giành được với một cái giá quá lớn. Ta nhận thêm một phần đất và đánh mất nhiều năm bình an. Ta giữ được một khoản tiền nhưng khiến con cái học cách thù hận chính họ hàng mình. Ta buộc người kia phải nhượng bộ, rồi phát hiện trong lòng mình vẫn chẳng yên vì vết thương và lòng tự ái chưa được chữa. Điều đó không có nghĩa phải bỏ quyền lợi trong mọi trường hợp. Nó có nghĩa phải tính cả những giá trị không ghi được trong bản phân chia tài sản. Người khôn ngoan cần biết mình đang bảo vệ điều gì và đang để mất điều gì.
Bài học ấy đi vào cả đời sống vợ chồng. Một gia đình cần kinh tế vững vàng, nhưng không thể chỉ được điều hành như một cơ sở kiếm tiền. Khi hai người không còn gặp nhau ngoài chuyện chi tiêu, hóa đơn, học phí và kế hoạch mua sắm, họ có thể cùng xây được một khối tài sản mà dần đánh mất đời sống chung. Một người nghĩ mình yêu gia đình vì đưa tiền về đầy đủ. Người kia lại đang mòn mỏi vì không được lắng nghe. Cả hai đều có sự mệt nhọc thật, nhưng nếu không chịu nói và nghe, mỗi người sẽ sống trong một cuộc độc thoại giống nhà phú hộ. “Tôi lo thế này, tôi làm thế kia, tôi hy sinh như vậy” có thể đều đúng, nhưng gia đình cần thêm câu hỏi: người sống bên tôi đang chịu đựng điều gì mà tôi chưa hiểu? Có khi điều cần xây thêm không phải một căn phòng, mà là thói quen ngồi lại với nhau.
Với con cái, của cải có thể là sự trợ giúp hoặc trở thành một cách giáo dục sai lạc. Cha mẹ muốn con đỡ khổ là điều dễ hiểu. Nhưng nếu mọi khó khăn đều được giải quyết bằng tiền, con có thể thiếu cơ hội học trách nhiệm. Nếu cha mẹ lấy mức thu nhập làm thước đo phẩm giá, con sẽ sớm hiểu rằng người ít tiền đáng bị coi thường. Nếu trong nhà người lớn luôn ngưỡng mộ những ai giàu lên nhanh mà không quan tâm họ sống ra sao, bài học về lương tâm sẽ mất sức nặng. Con cái nghe lời dạy, nhưng còn quan sát nét mặt cha mẹ khi nhắc đến một người thành đạt, cách cha mẹ đối xử với người giúp việc, phản ứng của cha mẹ trước một món lợi. Di sản được truyền đi từ những chuyện ấy, lâu trước khi có một bản di chúc.
Một người cha có thể để lại cho con căn nhà; cũng có thể để lại một cách sống khiến con giữ được mái ấm. Một người mẹ có thể để lại khoản dành dụm; cũng có thể để lại thói quen biết chia phần cho người thiếu thốn. Những điều ấy không đối nghịch nhau. Gia đình cần cả điều kiện vật chất và nền tảng luân lý. Nhưng nếu phải nhận ra điều nào khó phục hồi hơn, chúng ta sẽ thấy tiền mất đôi khi còn kiếm lại được, còn lòng tin bị phá vỡ có thể cần rất nhiều năm mới xây lại. Một đứa trẻ lớn lên trong sự dư dật nhưng không biết ai trong nhà thực sự lắng nghe mình vẫn mang một nỗi thiếu thốn. Một người trẻ được thừa hưởng nhiều tài sản mà không được dạy sử dụng tự do có thể trở thành nạn nhân của chính điều mình nhận. Vì thế, tình yêu của cha mẹ cần đủ sáng suốt để chuẩn bị cho con khả năng sống, thay vì chỉ chuẩn bị những thứ để con có.
Trong công việc, lời cảnh tỉnh về lòng tham chạm đến cách ta tạo ra lợi nhuận. Không thể tách một khoản tiền khỏi hoàn cảnh làm nên khoản tiền ấy rồi cho rằng tiền nào cũng như nhau. Có đồng tiền đến từ lao động ngay thẳng; có đồng tiền mang theo nước mắt của người bị lừa, tiền công của người bị giữ lại, sức khỏe của người bị đẩy vào điều kiện làm việc không xứng đáng. Một người có thể mở rộng tài sản bằng cách thu hẹp cơ hội sống của người khác. Khi ấy, câu hỏi về sự giàu có trước mặt Thiên Chúa trở nên rất cụ thể: trong thành công của tôi, ai đang phải gánh phần thiệt? Tôi có sẵn lòng nhìn vào họ không, hay chỉ xem họ như những con số cần giảm? Lương tâm không thể được thay thế bằng lời tự trấn an rằng trong nghề ai cũng làm như thế.
Sống trung thực đôi khi khiến con người phải chịu thiệt thật. Có những cơ hội phải từ chối. Có những khoản lời không thể nhận. Có những sai lầm phải bồi hoàn. Tin Mừng không hứa rằng người ngay thẳng sẽ luôn giàu hơn người gian dối. Nếu dùng đức tin như một cách bảo đảm làm ăn phát đạt, chúng ta lại rơi về đúng chỗ đã bị cảnh tỉnh: lấy của cải làm tiêu chuẩn cuối cùng. Lựa chọn công chính có giá trị vì nó phù hợp với điều thiện, tôn trọng con người và là cách đáp lại Thiên Chúa. Thành quả bên ngoài có thể đến hoặc không đến như ta mong. Nhưng một người còn giữ được khả năng nhìn thẳng vào người khác, còn dám nghe lương tâm, còn có thể trở về nhà mà không phải dựng thêm một lời nói dối để che lời nói dối trước, người ấy đang gìn giữ một điều rất quý.
Người có nhiều của cải cũng có một trách nhiệm mà đôi khi chính họ chưa nhận ra. Họ có khả năng làm cho công việc trở nên nhân bản hơn, trao cơ hội cho người khác, giảm bớt sự bấp bênh của những gia đình sống nhờ tiền công. Sự quảng đại không chỉ diễn ra khi lấy một phần tiền ra làm từ thiện. Nó còn nằm trong cách tổ chức công việc công bằng, giữ lời cam kết, trả đúng hạn, biết cân nhắc hoàn cảnh người lao động. Một người chủ có thể giúp rất nhiều gia đình sống ổn định bằng những quyết định ít được ai ca ngợi. Ngược lại, một việc từ thiện nổi bật không xóa đi những bất công đang diễn ra trong chính cơ sở của mình. Làm giàu trước mặt Thiên Chúa đòi sự thống nhất giữa điều ta cho đi và cách ta đối xử hằng ngày.
Người ít của cải cũng cần nghe lời Tin Mừng mà không bị đặt thêm gánh nặng. Có những nỗi lo vật chất rất thật: ngày mai lấy gì ăn, tiền học của con ở đâu, bệnh rồi ai lo. Trong những hoàn cảnh ấy, cộng đoàn Kitô hữu phải biết trợ giúp chứ không chỉ khuyên đừng lo. Đồng thời, người nghèo vẫn có phẩm giá và tự do nội tâm cần được bảo vệ. Không ai buộc phải đánh đổi lương tâm để chứng minh rằng mình quyết tâm thoát nghèo. Cũng không nên để sự so sánh khiến mình ghét bỏ cuộc sống và coi thường những điều tốt đang có. Một người đang khó khăn vẫn có thể giàu lòng biết ơn, lòng thương và sự trung tín. Điều ấy không làm cái nghèo trở nên dễ chịu, nhưng giúp con người không bị hoàn cảnh tước hết khả năng trao ban. Có người chỉ chia được một chút thời gian, một bữa ăn giản dị, một công chăm sóc; phần trao ấy vẫn có sức nâng đỡ một đời người.
Cũng cần cảnh giác với việc biến người nghèo thành đối tượng để người khác thấy mình quảng đại. Một món quà làm người nhận phải chịu nhục đã mang trong nó một điều bất xứng. Một lần giúp đỡ bị dùng để đòi sự phục tùng về sau sẽ khiến người yếu thế mắc thêm một món nợ tinh thần. Khi cho đi, chúng ta cần tự hỏi mình đang tìm điều gì: sự sống được nâng đỡ hay hình ảnh của bản thân được tôn lên? Có những lúc cần ghi nhận, minh bạch và thông tin về việc thiện để bảo đảm trách nhiệm; nhưng ngay cả khi ấy, phẩm giá và sự riêng tư của người được giúp vẫn cần được tôn trọng. Người nhận không phải phần trang trí cho lòng tốt của người cho. Họ là anh chị em, có quyền được nhìn nhận ngoài hoàn cảnh thiếu thốn của mình.
Trong đời sống đức tin, chúng ta còn có thể tìm một thứ giàu có khiến mình an tâm quá sớm. Ta có nhiều kiến thức đạo, nhiều năm phục vụ, nhiều công việc trong giáo xứ, nhiều đóng góp được ghi nhận. Những điều ấy có thể tốt đẹp, nhưng nếu biến chúng thành lý do để khỏi xét lại bản thân, ta đang xây một kho lẫm khác. Một người có thể rất quen việc nhà thờ mà khó sống công bằng trong gia đình. Có thể nói nhiều về bác ái mà không chịu nghe người gần mình. Có thể đóng góp rộng rãi nhưng dùng sự đóng góp ấy để can thiệp mọi quyết định hoặc buộc người khác mang ơn. Sự tự mãn thiêng liêng nguy hiểm ở chỗ nó khiến ta tưởng mình đã được bảo đảm. Ta nhìn vào những việc đã làm rồi tự nhủ linh hồn mình có thể nghỉ yên, trong khi Chúa vẫn đang mời sửa một thái độ rất cụ thể.
Lời cảnh tỉnh ấy cũng dành cho người sống đời thánh hiến và người phục vụ Hội Thánh. Sống với ít tài sản cá nhân chưa đương nhiên có nghĩa là lòng đã tự do. Có thể ta không giữ tiền nhưng giữ chặt quyền quyết định. Có thể ta dễ cho đồ vật nhưng khó trao công việc cho người khác. Có thể ta nói mọi sự thuộc về Chúa, nhưng khi không còn được giao một vai trò quen thuộc thì thấy đời mình mất giá trị. Có thể ta dùng thành quả mục vụ để chống lại mọi lời góp ý. Những điều ấy cần được mang vào cầu nguyện với sự thành thật. Lòng tham không ngại mặc áo đạo đức; nó chỉ cần một điều gì đó để bám giữ và một lý lẽ đủ đẹp để khỏi bị nhận ra. Người phục vụ cũng phải học đặt giá trị của mình trong tình yêu Thiên Chúa, thay vì trong số việc mình nắm hoặc số người cần đến mình.
Vậy “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” nghĩa là gì? Trước hết, đó là đón nhận chính Thiên Chúa như nguồn sống và cùng đích của đời mình. Nếu bỏ điều ấy, ta có thể hiểu lời Tin Mừng thành một công thức khác để tích lũy: thay vì tích tiền thì tích công, làm đủ việc tốt để sau này đòi phần thưởng. Nhưng tương quan với Thiên Chúa không vận hành như một cuộc mua bán. Chúng ta không mua được tình yêu của Người. Ơn cứu độ là quà tặng được đón nhận trong đức tin, và đức tin ấy được sống bằng sự hoán cải, đức ái và lòng trung tín. Làm điều thiện là lời đáp của một người đã được yêu, đang học yêu theo cách của Chúa. Chính trong tương quan ấy, của cải và khả năng của ta tìm được mục đích đúng: phục vụ sự sống, nâng đỡ con người, mở lòng mình ra khỏi sự khép kín.
Sự giàu có trước mặt Thiên Chúa có những hình thức rất âm thầm. Một lời xin lỗi nói ra sau nhiều ngày đấu tranh với tự ái. Một khoản tiền được trả lại dù không ai có thể buộc mình trả. Một người già được chăm sóc kiên nhẫn khi họ đã không còn khả năng mang lại lợi ích gì. Một người lao động được đối xử công bằng ngay khi việc làm ăn khó khăn. Một lời nói xấu bị dừng lại trong cuộc trò chuyện. Một lần cầu nguyện thành thật, không khoe điều mình đã làm mà xin ơn sửa điều mình đang sai. Những việc ấy có thể không làm danh tiếng tăng lên, nhưng làm con người bớt bị cái tôi thống trị. Chúng giúp ta trở nên người có thể sống trong tình yêu, và đó là điều của cải không thể làm thay.
Cầu nguyện giữ một vai trò thiết yếu trong việc học tự do với của cải. Khi đặt mình trước Chúa, ta được nhắc rằng mình đã được nhận trước khi có thể tạo ra điều gì. Sự sống, khả năng, cơ hội, những người nâng đỡ, rất nhiều điều căn bản đã không do ta tự làm ra. Lòng biết ơn đưa con người ra khỏi ảo tưởng tự đủ. Nhưng cầu nguyện cần chạm vào những quyết định cụ thể. Nếu sau giờ cầu nguyện ta vẫn giữ nguyên mọi cách làm bất công và không muốn xét lại, thì có thể ta mới chỉ xin Chúa chúc lành cho kế hoạch của mình. Một lời cầu nguyện thật có thể dẫn đến việc phải thay đổi cách chi tiêu, điều chỉnh tham vọng, trả lại một điều đã lấy, hoặc dành chỗ cho một người đang bị mình bỏ quên. Ân sủng không chỉ làm lòng dịu đi; ân sủng còn giúp ta đủ can đảm để sống khác.
Thánh lễ cũng đưa chúng ta vào một cách hiểu khác về cuộc đời. Chúng ta đến trước Đức Kitô trao hiến chính mình, rồi được mời sống trong sự hiến trao ấy. Khi bước ra khỏi nhà thờ, người tín hữu không thể mãi coi mọi sự chỉ như thứ để giữ cho riêng mình. Bánh được trao, sự sống được trao, tình yêu được trao phải dần thay đổi cách ta nhìn công sức và tài sản. Điều đó không có nghĩa mỗi lần tham dự Thánh lễ là lập tức trở nên quảng đại. Có khi người ta còn phải chiến đấu rất lâu với sợ hãi và tính chiếm hữu. Nhưng ít nhất, khi thực sự để Thánh lễ đi vào đời mình, ta bắt đầu nghe một câu hỏi không dễ tránh: trong tuần này, sự sống của tôi đã được trao cho ai? Có ai được bớt khổ vì tôi đã chịu bớt giữ cho mình một điều gì không?
Việc xét mình về tiền bạc vì thế cần cụ thể hơn lời thú nhận chung chung rằng mình còn tham. Tôi có nợ ai một khoản mà mình đủ khả năng trả nhưng cứ trì hoãn? Tôi có mua sắm để xoa dịu một bất an mà chưa chịu đối diện? Tôi có giấu người thân những quyết định tài chính ảnh hưởng đến cả gia đình? Tôi có vì sợ thiếu mà từ chối mọi chia sẻ, dù thực tế mình đang dư? Tôi có để con cái hiểu rằng chỉ cần có tiền là mọi hành vi đều có thể được bỏ qua? Tôi có dùng quà tặng để thay cho thời gian và sự hiện diện? Những câu hỏi ấy không nhằm làm con người thấy tội trong mọi nhu cầu. Chúng giúp ta nhận ra nơi nào của cải đang phục vụ mình và nơi nào mình đã bắt đầu phục vụ nó.
Sự thay đổi thường cần những bước nhỏ nhưng thật. Một gia đình có thể bắt đầu bằng việc ngồi lại xem mình đang chi cho điều gì, nợ vì đâu, có phần nào dành cho người khó khăn, có nhu cầu nào đang bị quảng cáo biến thành sự cấp bách. Một người có thể quyết định không nhận thêm một công việc khiến mình liên tục vắng mặt trong những trách nhiệm không ai làm thay được. Một người khác cần lập lại trật tự trong việc làm ăn, chấp nhận thu nhập ít hơn để chấm dứt một cách kiếm tiền sai trái. Có người cần nói rõ chuyện tài sản với người thân bằng thái độ tôn trọng. Có người cần tập cho đi đều đặn để nỗi sợ mất bớt quyền trên mình. Không có một công thức giống nhau cho mọi hoàn cảnh, nhưng sự hoán cải phải tìm được một hình thức có thể thực hiện, thay vì chỉ dừng trong cảm xúc sau khi đọc Tin Mừng.
Có một điều cần học lại: hưởng dùng với lòng biết ơn. Người có đức tin không cần cảm thấy có lỗi mỗi khi ăn ngon, nghỉ ngơi hoặc sử dụng một tiện nghi chính đáng. Thiên Chúa không được tôn vinh bằng việc con người khinh ghét mọi niềm vui lành mạnh. Nhưng niềm vui cần được sống trong sự chừng mực và liên đới. Tôi có thể vui với một bữa ăn, đồng thời biết mình không có quyền phí phạm cách vô tâm. Tôi có thể chăm sóc bản thân, đồng thời không biến mình thành trung tâm của mọi tiêu dùng. Tôi có thể mừng thành quả lao động, đồng thời nhớ những người đã góp phần và những người còn đang chật vật. Lòng biết ơn khiến của cải trở thành điều được đón nhận; sự chia sẻ khiến nó tiếp tục mang lại sự sống. Nhờ đó, người ta hưởng dùng mà không cần tôn thờ điều mình hưởng.
Cũng cần học cách nhận sự giúp đỡ. Có những người suốt đời quen làm người cho, đến khi yếu đi thì không chịu nổi cảm giác cần người khác. Họ đã gắn giá trị bản thân với năng lực chu cấp quá lâu. Tin Mừng về nhà phú hộ nhắc rằng con người không tự bảo đảm được sự sống, và điều ấy cũng có nghĩa ta cần nhau. Được chăm sóc không làm ta mất phẩm giá. Không còn khả năng kiếm nhiều tiền không khiến ta hết đáng yêu. Một người già, một người bệnh, một người thất nghiệp vẫn là người có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Gia đình và cộng đoàn cần cho họ cảm nhận điều ấy bằng cách cư xử hằng ngày. Nếu chỉ kính trọng người còn tạo ra của cải, chúng ta đang truyền cho nhau một quan niệm rất khắc nghiệt về sự sống: chỉ đáng được đón nhận khi còn hữu dụng.
Khi tuổi già đến, con người thường thấy rõ hơn sự khác biệt giữa thứ mình có và người mình đã trở thành. Đồ đạc có thể vẫn còn nguyên mà khả năng sử dụng đã giảm. Tài sản vẫn đó mà sức khỏe không còn cho phép hưởng dùng như trước. Những mối quan hệ được xây trên lợi ích có thể thưa đi. Trong hoàn cảnh ấy, người đã tập sống bằng tình thân, lòng biết ơn và đức tin sẽ có những điểm tựa khác. Điều đó không làm tuổi già hết cô đơn hay bệnh tật bớt đau một cách tự động. Nhưng giúp con người nhận ra đời mình vẫn có ý nghĩa trong sự hiện diện, cầu nguyện, lời khích lệ và việc đón nhận chăm sóc. Một bàn tay yếu vẫn có thể nắm tay người khác. Một người ít nói vẫn có thể làm cả nhà thấy yên tâm vì lòng hiền lành của mình.
Cái chết, được nhìn trong ánh sáng đức tin, đặt tất cả tài sản vào giới hạn đúng của nó. Khi rời đời này, chúng ta không đem theo quyền sở hữu như vẫn hiểu ở trần gian. Nhưng cách đã sử dụng tự do, cách đã yêu thương, cách đã đáp lại ơn Chúa thuộc về sự thật của con người mình. Bởi vậy, lời nhắc về cái chết không chỉ hỏi ta sẽ để lại bao nhiêu, mà còn hỏi ta đã trở nên ai trong những năm tháng được sống. Một người có thể để lại khối tài sản lớn và một ký ức khiến người thân chỉ muốn tránh nhắc. Một người khác để lại rất ít vật chất nhưng được nhớ bằng lòng biết ơn, vì đã sống ngay thẳng và đối xử tử tế. Không cần lãng mạn hóa cái nghèo để nhận ra điều ấy. Chỉ cần thành thật nhìn vào điều làm một con người được thương mến sau khi họ không còn có thể cho ta bất cứ lợi ích nào.
Đôi khi chúng ta nói muốn để lại tương lai tốt cho con cháu, nhưng tương lai tốt ấy phải có chỗ cho sự hòa thuận, lòng trung thực và khả năng sống với giới hạn. Nếu để lại rất nhiều mà con cháu chỉ học được cách hơn thua, món thừa kế ấy còn thiếu một điều nền tảng. Nếu tích lũy bằng mọi giá rồi dạy con phải sống ngay lành, lời dạy sẽ phải vật lộn với chính gương sống của cha mẹ. Nếu chỉ dạy con sợ nghèo mà không dạy sợ làm điều bất công, ta đã chuẩn bị cho con một tham vọng mà chưa trao cho nó phương hướng. Một gia đình sống đức tin cần có can đảm nói với nhau rằng có những đồng tiền nhà mình không kiếm, có những điều nhà mình không làm, dù nhờ thế người khác có thể vượt lên trước. Sự lựa chọn ấy có thể khiến cuộc sống chậm hơn, nhưng giúp con người giữ được nhau.
Sống lời Tin Mừng cũng làm thay đổi cách nhìn người thành công và người thất bại. Chúng ta dễ kính nể ai có nhà lớn, chức vụ cao, công việc phát đạt; cũng dễ nghĩ người gặp khó khăn hẳn đã thiếu cố gắng. Đời sống phức tạp hơn những phán đoán ấy. Có người làm việc lương thiện mà vẫn gặp biến cố. Có người mang trách nhiệm chăm sóc khiến cơ hội nghề nghiệp bị hạn chế. Có người đang âm thầm trả giá cho một lựa chọn ngay thẳng. Nếu chỉ nhìn tài sản, ta sẽ không thấy họ. Đức Giêsu đưa mắt chúng ta trở về phẩm giá con người trước mặt Thiên Chúa. Nhờ vậy, ta học kính trọng người khác mà không cần biết họ sở hữu bao nhiêu, và học nhìn sự thành đạt bằng cả câu hỏi về công lý, lòng thương và cách họ sử dụng quyền tự do.
Dụ ngôn nhà phú hộ còn có sức giải thoát đối với những ai đang kiệt sức vì phải chứng minh mình. Có người không dám nghỉ vì sợ bị xem là thua kém. Có người mang mặc cảm chỉ vì thu nhập không bằng bạn bè. Có người nhìn cuộc sống của người khác rồi luôn thấy đời mình thiếu. Trong sự so sánh ấy, họ dần quên những khuôn mặt đang cần mình và những khả năng tốt đẹp đang có. Lời Đức Giêsu mời họ trở về với một thước đo khác: đời con có giá trị vì con được Thiên Chúa yêu và được mời sống trong tình yêu ấy. Từ chỗ đứng đó, con vẫn có thể cố gắng, nhưng không cần căm ghét bản thân trong lúc cố gắng. Con vẫn có thể sửa điều chưa tốt, nhưng không phải biến cả cuộc đời thành cuộc thi không có ngày kết thúc.
Đó cũng là lý do cần giữ những khoảng thời gian không được đánh giá bằng lợi nhuận. Một bữa cơm ăn chậm với người thân. Một buổi thăm người bệnh. Một giờ cầu nguyện. Một lần chơi với con mà không nhìn điện thoại liên tục. Những việc ấy không làm kho lẫm lớn hơn, nhưng giữ cho con người còn biết sống với nhau. Nếu mọi giờ đều phải sinh tiền, nhiều điều quý giá sẽ bị xem là vô ích. Rồi đến khi có đủ tiền, ta phát hiện mình đã mất thói quen trò chuyện, mất khả năng thinh lặng, mất sự kiên nhẫn để ở bên một người yếu đuối. Đời sống cần được tập từ hôm nay. Không thể dành toàn bộ hiện tại cho tích lũy rồi mặc nhiên cho rằng tương lai mình sẽ biết yêu thương và nghỉ ngơi.
Ở cuối dụ ngôn, Đức Giêsu nói: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.” Lời này đưa người nghe trở lại chính mình. Ta không được mời đứng ngoài nhìn một người giàu đáng trách; ta được mời nhìn điều mình đang thu tích. Trong lòng tôi, sau nhiều năm, đang đầy lên điều gì? Lòng biết ơn hay sự cay đắng? Sự tin cậy nơi Chúa hay nhu cầu kiểm soát mọi việc? Khả năng chia sẻ hay nỗi sợ bị mất? Sự ngay thẳng hay nghệ thuật tự bào chữa? Những gì được lặp lại mỗi ngày sẽ dần làm nên con người tôi. Nếu chỉ sửa số tiền cho đi mà không để Chúa chạm đến nơi mình đặt niềm tin, sự thay đổi vẫn còn ở bên ngoài.
Có lẽ một trong những ơn lớn nhất chúng ta có thể xin là nhận ra lúc mình đã đủ để bắt đầu sống quảng đại ngay trong hoàn cảnh hiện tại. Ta thường đợi đến khi hoàn toàn an toàn mới chia sẻ, đến khi không còn bận mới chăm sóc người thân, đến khi hết yếu đuối mới cầu nguyện chân thành. Nhưng sự an toàn hoàn toàn không phải điều đời này có thể hứa. Công việc cũng hiếm khi tự hết. Yếu đuối vẫn đi cùng con người. Nếu cứ đợi mọi điều kiện thuận lợi, điều tốt sẽ mãi bị hoãn. Có thể hôm nay ta chưa làm được nhiều, nhưng vẫn có thể làm một việc đúng. Vẫn có thể dành một phần. Vẫn có thể ngưng một lời nói làm đau. Vẫn có thể mở đầu một cuộc trò chuyện. Vẫn có thể thưa với Chúa rằng mình đã mệt vì sống như thể phải tự bảo đảm tất cả.
Nhà phú hộ đã chuẩn bị rất kỹ cho nhiều năm, nhưng bỏ qua sự thật của đêm nay. Còn chúng ta, khi nghe lời Tin Mừng, vẫn đang có hôm nay để sống khác. Người cần được xin lỗi có thể vẫn còn chờ một lời thành thật. Gia đình có thể vẫn còn một chỗ ngồi dành cho ta. Có khoản tiền còn có thể trả, một việc sai còn có thể sửa, một cách làm ăn còn có thể đổi. Có người nghèo vẫn có thể được giúp bằng phần dư ta đang chưa dùng đến. Có giờ cầu nguyện vẫn có thể bắt đầu khi ta chịu đặt những lo toan xuống trước mặt Chúa. Những điều ấy không cần phải đợi đến lúc tất cả kho lẫm được xây xong. Chính khi chúng ta bắt đầu thực hiện, của cải mới trở về đúng chỗ của nó và lòng người mới có chỗ cho sự sống lớn lên.
Lạy Chúa Giêsu, con cần cơm ăn, áo mặc, một mái nhà và công việc để sống. Xin giúp con chăm lo những điều ấy bằng sự ngay thẳng, chăm chỉ và có trách nhiệm. Xin gìn giữ con khi nỗi lo ngày mai khiến con muốn giữ lại tất cả, khi thấy người khác hơn mình thì lòng con mất vui, khi có cơ hội sinh lợi thì con vội tìm lý do để bỏ qua tiếng lương tâm. Xin dạy con nhận ra điều gì thật sự cần, điều gì chỉ đang nuôi lòng háo thắng, điều gì làm gia đình được nâng đỡ và điều gì đang lấy mất sự hiện diện của con giữa những người con yêu. Khi con có dư, xin cho con nhớ đến người đang thiếu. Khi con gặp khó khăn, xin giữ con khỏi tuyệt vọng và giúp con biết đón nhận sự nâng đỡ. Khi con làm điều thiện, xin thanh luyện lòng con để người được giúp không phải mang thêm gánh nặng vì lòng tự ái của con.
Xin cho con biết cảm ơn những người đã góp phần vào cuộc đời mình, biết trả lại điều không thuộc về con, biết thu xếp những trách nhiệm còn bỏ dở. Xin cho con đừng giữ một cuộc giận hờn như thể còn vô hạn thời gian để hòa giải. Xin cho con đừng đặt hết tình yêu vào những thứ rồi sẽ phải giao cho người khác. Và nếu hôm nay con còn đang mải tính phải xây thêm kho nào, xin cho con đủ thinh lặng để nghe Chúa hỏi về những người đang ở ngoài cửa. Có thể điều họ cần không nhiều. Có thể con đã có sẵn điều có thể trao. Xin cho con mở cửa khi vẫn còn có thể mở, gọi tên người thân khi họ còn có thể nghe, và sống một ngày này như người đã được nhận sự sống từ tay Chúa.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articlePhụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Hai tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR