Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Tư tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR

5

THỨ 4 TUẦN 29 TN : Người quản gia trung tín và khôn ngoan – Lm. Anmai, CSsR

THỨ 4 TUẦN 29 TN TỈNH THỨC TRONG GIỜ CHỦ CHƯA VỀ – Lm. Anmai, CSsR

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Tư tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR

BẢN TIN GIÁO HỘI – THỨ TƯ , NGÀY 21 THÁNG 10 NĂM 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Phêrô đã hỏi: “Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con, hay cho mọi người?” Chúa không đáp bằng một ranh giới. Chúa đáp bằng một người quản lý. Ai được trao chìa khóa nhà, người ấy được hỏi trước.
Con vẫn muốn lời Chúa là lời cho đám đông. Để phần con chỉ là người nghe. Nhưng Chúa đã đặt con trong nhà. Có người được giao ít, có người được giao nhiều. Con không dám nói mình thuộc hàng ít. Con đã được nghe ý chủ. Con đã được biết giờ phải cho anh em lương thực đúng kỳ. Biết mà không làm, thì roi nặng hơn người không biết.
Lạy Chúa, cám dỗ của người quản lý không phải là quên chủ. Là nói: chủ còn chậm. Câu ấy nghe như khôn. Nó mở cửa cho tay đánh đập tôi trai tớ gái, cho bàn tiệc của riêng mình, cho men say giữa lúc nhà còn đói. Con cũng có kiểu nói ấy. Con trì hoãn lòng thương. Con hoãn một lời phải nói. Con dùng quyền được trao mà làm nặng anh em, rồi gọi sự chậm của Chúa là thời giờ của con.
Chúa bảo: nếu chủ nhà biết giờ kẻ trộm đến, ông đã không để tường bị khoét. Con không biết giờ. Vì thế con không được phép khóa nhà lại mà ngủ. Con Người đến vào giờ con không ngờ. Không phải để con sợ như sợ kẻ trộm, nhưng để con còn đang làm việc khi cửa mở.
Xin đừng để con trở thành đầy tớ bất trung chỉ vì con tưởng còn lâu. Xin giữ con ở giữa nhà, đúng việc, đúng bữa, đúng phần của từng người. Và khi chủ về, xin đừng thấy con đang ngồi bàn của mình. Xin thấy con còn đứng, tay còn đang chia lương thực, vì con biết: ai được giao nhiều, sẽ bị đòi nhiều.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Amen.

Ca nhập lễ
Lạy Chúa, tôi kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời tôi, xin ghé tai về bên tôi, xin nghe rõ tiếng tôi. Lạy Chúa, xin gìn giữ tôi như con ngươi mắt Chúa, xin che chở tôi trong bóng cánh của Ngài.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm lòng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc Ep 3, 2-12
“Hiện nay mầu nhiệm của Ðức Kitô đã được mạc khải, các Dân ngoại được đồng thừa tự lời hứa”.
Trích thư Thánh Phaolô Tồng đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, anh em đã nghe biết Thiên Chúa ban phát ân sủng để cho tôi mưu ích cho anh em: vì nhờ ơn mạc khải mà tôi biết được sự mầu nhiệm, như tôi vừa mới viết ra trong ít lời trên kia. Ðọc những lời đó, anh em có thể nhận thức được sự am hiểu của tôi trong mầu nhiệm Ðức Kitô. Mầu nhiệm đó chưa hề tỏ ra cho con cái loài người ở các thế hệ khác được biết, nhưng hiện nay, đã được mạc khải cho các thánh Tông đồ và các tiên tri của Người, trong Thánh Thần. Và nhờ Tin Mừng, các Dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể, và đồng thông phần lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô.
Tôi đã được nên người phục vụ Tin Mừng đó, do ân huệ Thiên Chúa đã ban cho tôi, bằng cách thi thố sức mạnh của Người. Tôi là kẻ hèn nhất trong các thánh, nhưng đã được ơn này là rao giảng cho Dân ngoại những sự giàu có không thể thấu hiểu được của Ðức Kitô, và soi sáng cho mọi người biết cách thức phân phát mầu nhiệm đã được ẩn giấu từ muôn thuở trong Thiên Chúa, Ðấng tạo thành vạn vật: khiến các chủ thần và quyền thần thiên quốc đều phải nhờ Hội Thánh mới biết được sự khôn ngoan muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa, thể theo dự định từ trước muôn đời mà Ngài đã thi hành trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Người, chúng ta được cậy trông và nhờ lòng tin vào Ngài, chúng ta mạnh dạn đến cùng Ngài.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Is 12, 2-3. 4bcd-5. 5-6
Ðáp: Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ (c. 3).
Xướng: Ðây Thiên Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi.
Xướng: Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang.
Xướng: Hãy ca tụng, vì Chúa làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh Israel ở giữa ngươi.
Alleluia: Tv 118, 18
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin mở rộng tầm con mắt của con, để quan chiêm những điều kỳ diệu trong luật Chúa. – Alleluia.
(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Anh em hãy canh thức và hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. – Alleluia.)
Phúc Âm: Lc 12, 39-48
“Người ta đã ban cho ai nhiều, thì sẽ đòi lại kẻ ấy nhiều”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con hãy hiểu biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, ắt sẽ tỉnh thức, không để nó đào ngạch nhà mình. Cho nên các con hãy sẵn sàng: vì giờ nào các con không ngờ, thì Con Người sẽ đến”.
Phêrô thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy nói dụ ngôn đó chỉ về chúng con hay về mọi người?” Chúa phán: “Vậy con nghĩ ai là người quản lý trung tín khôn ngoan mà chủ đã đặt coi sóc gia nhân mình, để đến giờ phân phát phần lúa thóc cho họ? Phúc cho đầy tớ đó, khi chủ về, thấy nó đang làm như vậy. Thầy bảo thật các con, chủ sẽ đặt người đó trông coi tất cả gia sản mình. Nhưng nếu đầy tớ ấy nghĩ trong lòng rằng: “Chủ tôi về muộn”, nên đánh đập tớ trai tớ gái, ăn uống say sưa: chủ người đầy tớ ấy sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết, chủ sẽ loại trừ nó, và bắt nó chung số phận với những kẻ bất trung. Nhưng đầy tớ nào đã biết ý chủ mình mà không chuẩn bị sẵn sàng, và không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn đầy tớ nào không biết ý chủ mình mà làm những sự đáng trừng phạt, thì sẽ bị đòn ít hơn. Vì người ta đã ban cho ai nhiều, thì sẽ đòi lại kẻ ấy nhiều, và đã giao phó cho ai nhiều, thì sẽ đòi kẻ ấy nhiều hơn”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết phụng thờ Chúa tại bàn thánh này, với tâm hồn tự do của con cái Chúa, để những mầu nhiệm chúng con đang cử hành đem lại cho chúng con nguồn ơn thanh tẩy. Chúng con cầu xin..
Lời Tiền Tụng

Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì thương xót nhân loại lỗi lầm, Người đã chấp nhận sinh ra bởi Ðức Trinh Nữ, đã chịu khổ hình thập giá/ để cứu chúng con khỏi chết muôn đời. Và từ cõi chết sống lại, Người đã ban cho chúng con được hưởng phúc trường sinh.
Vì thế, cùng với các Thiên thần và tổng lãnh Thiên thần, các Bệ thần và Quản thần, cùng toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!..

Ca hiệp lễ
Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, và nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
Hoặc đọc:
Con Người đến, để ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa gọi chúng con tời bàn tiệc Nước Trời và ban dồi dào sức sống mới, xin Chúa phù trợ chúng con trong cuộc sống hằng ngày và dạy chúng con biết tìm kiếm những hồng ân vĩnh cửu. Chúng con cầu xin…
NGƯỜI QUẢN GIA TỈNH THỨC VÀ GIẾNG NƯỚC CỨU ĐỘ
Có những đêm người ta tưởng mình đang ngủ yên trong nhà mình, cửa đã cài then, đèn đã tắt, ngày mai còn dài, công việc còn để đó, lời hứa còn để đó, việc phải làm với người thân còn để đó, và cái chết thì còn xa lắm. Ấy thế mà Tin Mừng lại đặt vào giữa giấc ngủ ấy một hình ảnh rất đời và rất gắt: chủ nhà mà biết giờ kẻ trộm đến thì đã không để nhà bị khoét vách. Kẻ trộm không gửi thư báo trước. Kẻ trộm không gõ cửa lịch sự. Kẻ trộm chọn đúng lúc người ta chắc mình an toàn. Con Người cũng đến vào giờ người ta không ngờ. Câu ấy không phải để dọa cho người ta run, mà để kéo người ta ra khỏi cái ảo tưởng rằng mình còn nhiều thời giờ để trở thành người mình phải là. Thời giờ không phải là túi tiền để tiêu xài, cũng không phải là khoảng trống để trì hoãn. Thời giờ là khoảng người ta được trao để yêu, để phục vụ, để trung tín, để sửa mình, để tha thứ, để cho đi trước khi tay không còn mở được nữa.
Người ta thường hiểu canh thức như một thái độ căng thẳng, mắt không chớp, tim không nghỉ, sợ sệt từng tiếng động. Canh thức của người môn đệ không phải như vậy. Canh thức là sống cho đúng việc ngay lúc này, trong nhà này, với những người đang được trao cho mình. Chủ về mà thấy đầy tớ còn đang phát lương thực đúng giờ thì đầy tớ ấy có phúc. Phúc không nằm ở chỗ đoán trúng giờ chủ về. Phúc nằm ở chỗ đang làm điều chủ đã giao khi chủ bước vào cửa. Người quản gia khôn ngoan không ngồi tính xem chủ còn vắng bao lâu để kịp giấu chuyện bê trễ. Người ấy biết nhà này không phải của mình, lúa gạo này không phải để mình ăn một mình, quyền này không phải để mình sai khiến theo ý riêng. Nhà là của chủ. Người trong nhà là của chủ. Phần ăn phải đến tay từng người đúng mùa, đúng bữa, đúng mức. Trung tín ở đây rất cụ thể. Nó không phải một cảm xúc đạo đức ban sáng, rồi chiều thì quên. Nó là cái thìa cơm đưa đúng lúc cho người đói, là lời phải nói được nói trước khi người kia ra đi, là công việc giáo dục không bị hoãn vì mệt, là việc mục vụ không bị biến thành sân khấu của cái tôi, là đồng tiền của cộng đoàn không bị kéo về túi riêng, là thời giờ của gia đình không bị nuốt bởi những thứ vô ích.
Phêrô nghe những lời ấy thì hỏi lại, phải chăng dụ ngôn này chỉ nói cho các ông, hay cũng nói cho mọi người. Câu hỏi ấy rất người. Ai cũng muốn thu hẹp cái đòi hỏi vào một nhóm nhỏ nào đó, để mình đứng ngoài vòng nghiêm khắc. Nếu chỉ các tông đồ phải canh thức thì người ngồi nghe có thể thở phào. Nếu chỉ linh mục phải trung tín thì giáo dân có thể coi đó là chuyện của nhà thờ. Nếu chỉ bề trên phải tính sổ thì người dưới có thể sống theo ý mình. Câu trả lời không thu hẹp. Ai được đặt coi sóc gia nhân để phát lương thực đúng giờ, người ấy phải là quản gia trung tín và khôn ngoan. Và rồi lời ấy mở rộng hơn nữa: ai đã biết ý chủ mà không chuẩn bị, không làm theo ý chủ, sẽ bị đánh nhiều; ai không biết mà làm điều đáng phạt thì bị đánh ít; ai được trao nhiều thì bị đòi nhiều; ai được giao phó nhiều thì bị hỏi nhiều hơn. Không có ai đứng ngoài. Có khác nhau về mức độ biết, về mức độ được trao, về mức độ phải trả lời. Không có khác nhau về chuyện phải sống cho đúng với điều mình đã nhận.
Được trao nhiều không phải là vinh dự để khoe. Được trao nhiều là một cân nặng đặt lên vai. Người có học biết rõ hơn người không có học về sự thật, về công bằng, về phẩm giá con người, thì không được sống như người chưa từng được dạy. Người đã chịu phép rửa, đã nghe Lời, đã rước Mình Thánh, đã thuộc các giới răn yêu thương, thì không được biện hộ rằng mình không hay. Người làm cha làm mẹ được trao sự sống của con, được trao những năm đầu đời khi đứa trẻ chưa tự chọn được đường, thì không được phó mặc giáo dục cho màn hình và cho đường phố. Người dạy học được trao trí khôn và lòng tin của học trò. Người lãnh đạo được trao vận mệnh của nhiều người không có tiếng nói. Người có của được trao khả năng mở tay hoặc khép tay. Người có sức khỏe được trao những ngày người bệnh không có. Người được yêu được trao một trách nhiệm đáp lại, chứ không phải một ngai để ngồi. Mỗi ơn đều có một câu hỏi đi kèm vào cuối ngày: con đã làm gì với cái con đã nhận.
Có một hình ảnh rất đau trong lời dạy ấy. Đầy tớ thấy chủ về chậm thì bắt đầu đánh các đầy tớ trai đầy tớ gái, ăn uống say sưa. Quyền mà không còn hướng về chủ thì quay lại đè lên người yếu hơn. Chậm trễ của chủ không phải giấy phép để bạo hành. Vắng mặt của người kiểm soát không phải mùa của sự lộng hành. Bao nhiêu đổ vỡ trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xứ đạo, trong chỗ làm, bắt đầu từ cái khoảnh khắc người có quyền tưởng rằng không ai nhìn. Đánh người dưới không chỉ bằng roi. Đánh bằng lời sỉ nhục, bằng sự im lặng cố tình, bằng đồng lương giữ lại, bằng cơ hội cướp đi, bằng tin đồn, bằng việc bắt người khác phục vụ cái tôi của mình nhân danh bổn phận. Ăn uống say sưa không chỉ là men rượu. Say vì được nể, say vì được khen, say vì tưởng mình không thể sai, say vì tiền, say vì khoái lạc, say vì sự bận rộn giả tạo để khỏi phải nhìn vào lòng mình. Người tỉnh thức là người còn nhớ nhà này không phải của mình, và người kia không phải đồ vật của mình.
Bên cạnh lời nghiêm ấy có một mầu nhiệm được mở ra không phải để dọa, mà để mời. Có một kế hoạch đã được giấu từ các đời trước, nay được tỏ ra: dân ngoại cũng được dự phần cùng một gia nghiệp, cùng một thân thể, cùng một lời hứa, trong Đức Kitô, nhờ Tin Mừng. Không còn bức tường chia người trong và người ngoài theo huyết thống. Không còn kho tàng chỉ để một dòng tộc giữ. Sự khôn ngoan muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa được bày ra giữa lòng Hội Thánh, và cả những quyền lực trên trời cũng phải nhìn vào đó mà sửng sốt. Người môn đệ không đến với Thiên Chúa như kẻ lẻn vào cửa sau. Người ấy đến với một lòng tin cậy lớn, vì lối đã mở bằng máu, bằng thập giá, bằng sự phục sinh. Mầu nhiệm ấy làm cho việc canh thức khỏi trở thành nỗi sợ của kẻ nô lệ. Canh thức là nỗi lo của người con đã biết mình được yêu, và không muốn phụ lòng yêu ấy. Được gọi vào cùng một thân thể thì không ai là khách trong nhà. Được gọi vào cùng một lời hứa thì không ai bị loại khỏi bàn ăn vì nguồn gốc, vì quá khứ, vì sự nghèo, vì tội đã được tha. Nhưng được gọi vào cũng có nghĩa là được trao. Ai đã nghe mầu nhiệm ấy thì không còn được sống như người chưa nghe.
Giếng nước cứu độ không nằm ở cuối một con đường chỉ người hoàn hảo mới tới. Giếng ấy đã được khơi giữa đời này. Người ta múc nước giếng ấy trong niềm vui, không phải vì đời hết khổ, mà vì đã có Đấng ở giữa cơn khổ. Múc nước là việc hằng ngày. Không ai múc một lần rồi hết khát cả đời. Sáng ra người ta phải đến giếng. Chiều về người ta phải đến giếng. Giếng Lời, giếng Thánh Thể, giếng lòng thương xót, giếng kinh nguyện âm thầm, giếng việc lành làm cho người không trả được ơn. Ai bỏ giếng thì sẽ uống nước đục của sự vội, của dư luận, của tham, của sợ. Ai giữ giếng thì giữa hạn hán vẫn có mạch. Sống thiên đàng ngay trên đất này không có nghĩa là biến thế gian thành nơi không còn nước mắt. Sống thiên đàng trên đất này là để cho tương quan với Thiên Chúa và với nhau bắt đầu ngay bây giờ giống như tương quan sẽ còn mãi: thật, sạch, thứ bậc đúng, yêu không chiếm hữu, phục vụ không đòi công. Ai chờ đến giờ chết mới tập yêu thì đã muộn, vì yêu là một thói quen của trái tim, không phải một quyết định phút chót.
Không ai giữ được giờ chết trong tay. Người khỏe mạnh chiều nay có thể không thấy sáng mai. Người đang lo chuyện xa có thể không còn thì giờ cho chuyện gần. Sự thật ấy không nhằm làm người ta bi quan. Sự thật ấy nhằm trả lại cho hôm nay cái trọng lượng của nó. Hôm nay là ngày duy nhất người ta đang cầm. Hôm qua đã thành lịch sử, có thể được tha, có thể được sửa bằng việc hôm nay, nhưng không kéo lại được. Ngày mai chưa được hứa cho riêng ai. Vì thế việc trì hoãn hòa giải là một canh bạc với điều mình không làm chủ. Việc trì hoãn nói lời thương là một canh bạc. Việc trì hoãn trả nợ, xin lỗi, bỏ thói xấu, đi thăm người bệnh, dạy con điều phải, quỳ xuống khi lòng đang cứng, tất cả đều là canh bạc với một giờ mình không biết. Người khôn không phải người đoán được ngày ấy. Người khôn là người sống sao cho ngày ấy đến lúc nào cũng không thấy mình đang phá nhà của chủ.
Phán xét không phải một sân khấu bên ngoài để người ta diễn cho qua. Phán xét đã bắt đầu trong những chọn lựa nhỏ. Mỗi lần chọn sự thật thay vì tiện lợi, người ta đang viết một dòng vào sổ. Mỗi lần chọn người yếu thay vì phe mạnh, người ta đang viết. Mỗi lần nuốt lời độc, trả của không phải của mình, ở lại với bổn phận khi không ai khen, người ta đang viết. Và mỗi lần biết điều phải mà tránh, biết người đang cần mà ngoảnh mặt, biết Lời mà sống ngược Lời, người ta cũng đang viết. Sổ ấy không cần mực lạ. Sổ ấy là chính đời sống. Đến ngày sổ mở, người ta không còn thì giờ thêm một chương. Bốn sự sau cùng đứng đó như bốn cột mốc không ai negoại được: chết, phán xét, và rồi một trong hai nẻo, hạnh phúc đời đời hoặc hư mất đời đời. Hai cột đầu không nằm trong quyền định đoạt của mình. Hai cột sau lại được quyết định bằng cách mình dùng quãng đời ngắn ngủi này. Ngắn không có nghĩa là vô nghĩa. Ngắn chính là lý do phải sống đậm.
Người được giao ít không được khinh việc của mình. Người coi một phòng, một lớp, một tổ, một góc xứ, một đứa con, một người bệnh trong nhà, cũng là quản gia. Phần lương thực đúng giờ của người ấy có thể chỉ là một bữa cơm nóng, một giờ kèm bài, một lần lắng nghe không nhìn đồng hồ, một lời cầu nguyện không ai thấy. Thiên Chúa không cân việc bằng tiếng vang. Thiên Chúa cân bằng lòng trung tín với phần đã trao. Kẻ được giao nhiều mà sống tầm thường thì nặng hơn kẻ được giao ít mà hết mình. Vì thế đừng ghen với chức vụ. Đừng ghen với ơn. Hãy run khi được trao, và hãy vui khi còn làm được. Run vì sẽ bị hỏi. Vui vì còn thì giờ để đáp.
Canh thức còn là việc của cộng đoàn, không chỉ của từng người. Một nhà mà mỗi người ngủ một giấc khác nhau thì cửa dễ bị khoét. Xứ đạo tỉnh thức là xứ đạo không để người nghèo đứng ngoài cổng trong khi bên trong hát rất hay. Gia đình tỉnh thức là gia đình không để con lớn lên giữa những bữa ăn không ai nói với ai. Cộng đoàn tu trì tỉnh thức là cộng đoàn không biến luật thành áo khoác của sự an toàn, trong khi lòng đã lạnh với Thiên Chúa và với anh em. Hội Thánh tỉnh thức là Hội Thánh nhớ mình được trao mầu nhiệm không phải để giữ kín trong két, mà để dân ngoại, kẻ tội lỗi, người bị loại, người chưa nghe, đều được dẫn tới cùng một giếng. Giấu Tin Mừng vì sợ, vì ngại, vì bận xây dựng cái của mình, là một cách để nhà bị khoét từ bên trong.
Có những lúc lời dạy nghe như khắt khe. Khắt khe vì yêu thì không nói giảm sự thật. Một người cha thấy con ngủ quên bên bếp lửa thì không ru con tiếp bằng những lời dễ nghe. Ông đánh thức. Đánh thức có thể làm giật mình. Giật mình còn hơn cháy nhà. Đức Kitô đánh thức không phải vì Người thích hình phạt. Người đánh thức vì Người đã mở một lối, và Người không muốn ai ngủ quên ngay trước cửa lối ấy. Hình phạt trong dụ ngôn là ngôn ngữ của một thời để nói về sự lệch mức giữa điều biết và điều làm. Ngày nay người ta không cần tưởng tượng roi vọt mới hiểu. Người ta đã thấy đời mình nứt ra khi sống ngược với điều mình biết là phải. Mất bình an, mất gia đình, mất danh dự, mất khả năng cầu nguyện, mất niềm vui khi nhìn mặt con, đó là những vết đánh đến từ bên trong, trước cả ngày cuối cùng. Lòng thương xót không xóa sự nghiêm khắc của sự thật. Lòng thương xót mở cửa cho người tỉnh dậy còn kịp.
Muốn tỉnh thì phải biết mình đang buồn ngủ lúc nào. Buồn ngủ thiêng liêng thường không đến như một cơn đột ngột. Nó đến bằng những lý do rất phải: tôi bận, tôi mệt, tôi để hôm sau, tôi vẫn còn đi lễ, tôi không xấu bằng người kia, tôi sẽ sửa khi rảnh. Rảnh không bao giờ đến. Ngày càng đầy. Lòng càng hẹp. Canh thức bắt đầu bằng một cái dừng rất nhỏ: tối nay, trước khi màn hình tắt, hỏi một câu thật. Hôm nay tôi đã phát lương thực cho ai chưa. Lương thực ấy có thể là tiền, là thời giờ, là sự thật, là sự dịu dàng, là một lời khuyên không áp đặt, là sự hiện diện. Nếu câu trả lời là chưa, thì đừng chờ chủ về mới sửa. Sửa bằng một tin nhắn hòa giải, bằng một số tiền trả lại, bằng một kinh nguyện không vội, bằng việc đặt lại thứ tự ngày mai. Những sửa chữa nhỏ giữ cho then cửa không gỉ.
Niềm vui của giếng cứu độ là niềm vui của người không còn phải tự cứu mình bằng thành tích. Người ấy biết mình được kéo vào một kế hoạch lớn hơn đời mình, một thân thể lớn hơn gia đình mình, một lời hứa vững hơn những bảo đảm trần gian. Từ niềm vui ấy mới có sức trung tín lâu dài. Trung tín chỉ bằng sợ thì mau mệt. Trung tín bằng yêu thì còn đi được khi đêm dài. Đêm của đời người có những khúc rất dài: bệnh không khỏi, con chưa về, việc nghĩa không ai thấy, lời cầu như rơi vào im lặng, cộng đoàn bất hòa, chính mình té ngã rồi xấu hổ không dám ngẩng. Giữa những khúc ấy, người quản gia không bỏ bếp. Người ấy vẫn phát phần ăn đúng giờ, vẫn ở lại nhà, vẫn tin chủ sẽ về, không phải về để bắt lỗi cho đã, mà về để xem nhà còn là nhà không. Và khi chủ thấy người ấy còn đang làm, phúc ấy không phải phần thưởng trả công như chủ nợ. Phúc ấy là được ở lại trong nhà, được tiếp tục đồng bàn, được gọi là người trung tín.
Đời ngắn. Đừng dùng đời ngắn để xây một cái tôi rất dài. Hãy dùng đời ngắn để yêu Thiên Chúa cách thành tín và say mê, và yêu người thân cận bằng những việc làm đúng giờ. Say mê ở đây không phải men của cảm xúc. Say mê là không để điều gì khác chiếm chỗ nhất. Thành tín là còn đó vào ngày không còn hứng. Người thân cận là khuôn mặt cụ thể đang ở trong tầm tay, không phải nhân loại trừu tượng để mình vừa thương vừa né. Ai thương nhân loại mà bỏ người trong nhà thì chưa phát lương thực đúng giờ. Ai lo việc nhà Chúa mà làm khô người cộng tác thì đang ăn uống trong lúc chủ vắng. Ai giảng về tỉnh thức mà đời mình ngủ say trong tham vọng thì nhà đã bị khoét trước khi kẻ trộm tới.
Giờ này vẫn còn là giờ có thể thức dậy. Cửa vẫn còn then để kiểm. Giếng vẫn còn nước để múc. Phần ăn vẫn còn trong tay để trao. Không cần biết đêm còn dài bao nhiêu. Chỉ cần biết mình đang là quản gia của ai, và người trong nhà đang đói điều gì. Trung tín bắt đầu từ bữa này, từ lời này, từ việc này. Rồi khi Con Người đến, dù vào giờ không ngờ, Người sẽ thấy đèn còn cháy, lương thực còn ấm, và nhà vẫn là nhà của Người.
Lm. Anmai, CSsR

NGƯỜI QUẢN GIA TRUNG TÍN VÀ KHÔN NGOAN: SỐNG SẴN SÀNG TRONG GIỜ KHÔNG NGỜ
Có những lời của Chúa Giêsu không để người ta nghe cho xong rồi gấp sách lại, bởi vì những lời ấy chạm thẳng vào cách một người đang sống từng ngày, đang dùng thời gian, đang đối xử với người khác và đang giữ những gì được trao. Hình ảnh tên trộm đến lúc chủ nhà không biết, rồi hình ảnh người quản gia được đặt lên coi sóc cả nhà, phát lương thực đúng giờ, và hình ảnh ông chủ trở về vào ngày không ngờ, giờ không biết, không phải là chuyện xa xôi dành cho ngày tận thế mà thôi. Đó là một cách Chúa nói về chính cuộc đời đang diễn ra: mỗi người đã được giao một phần việc, một mái nhà, một cộng đoàn, một gia đình, một ơn gọi, một khả năng, một trách nhiệm, và câu hỏi không phải là mình có biết nói về lòng trung tín hay không, mà là khi Chủ trở lại, Người có gặp mình đang làm đúng việc ấy hay không. Phúc cho đầy tớ nào mà chủ về thấy đang làm như vậy. Câu ấy vừa là lời chúc lành vừa là một chuẩn mực rất cụ thể. Không phải phúc cho kẻ nói nhiều về chủ, không phải phúc cho kẻ biết giờ chủ về để sắp xếp cho có vẻ, không phải phúc cho kẻ chỉ giữ nhà khi có mắt nhìn, mà phúc cho kẻ được gặp lúc đang phân phát đúng phần, đang coi sóc đúng người, đang sống đúng ý của đấng đã tin tưởng mình.
Sự sẵn sàng mà Tin Mừng nói tới không phải là một trạng thái căng thẳng suốt đời, cũng không phải là nỗi sợ bị bắt quả tang. Sẵn sàng là một cách hiện diện. Người chủ nhà nếu biết giờ tên trộm đến thì không để tường nhà bị đào thủng, nhưng Con Người đến vào giờ mình không ngờ, nên không thể sống bằng cách canh một khoảnh khắc rồi thả lỏng những khoảnh khắc còn lại. Cả đời trở thành giờ canh. Canh ở đây không có nghĩa là ngồi khoanh tay nhìn cửa, mà là giữ nhà cho ra nhà. Giữ nhà là giữ lòng không để lòng tham, sự lười biếng và thói quen trì hoãn khoét thủng những gì đã được giao. Giữ nhà là không biến thời gian vắng mặt của chủ thành thời gian của riêng mình. Nhiều người tưởng rằng vì chưa thấy ngày xét xử, vì đời còn dài, vì còn khỏe, vì còn được tin tưởng, nên có thể hoãn việc phải làm, hoãn lời phải nói, hoãn sự tha thứ, hoãn bổn phận với người thân, hoãn việc sửa mình. Sự hoãn ấy thoạt nhìn vô hại, nhưng chính nó đào thủng tường. Tường nhà thiêng liêng không đổ trong một đêm. Tường đổ vì mỗi ngày một ít người ta cho phép mình sống như thể không có ai trở lại, như thể không có ai sẽ hỏi, như thể những gì được trao chỉ là của mình.
Phêrô đã hỏi Chúa có phải dụ ngôn ấy chỉ nói cho các ông hay cho mọi người. Câu hỏi ấy rất người. Ai cũng muốn biết lời nghiêm khắc áp vào mình đến đâu, và ai cũng dễ nghĩ rằng trách nhiệm lớn thuộc về người khác. Chúa không thu hẹp lời ấy vào một nhóm nhỏ. Chúa trả lời bằng hình ảnh người quản gia được đặt lên coi các đầy tớ, để phát lương thực đúng giờ. Lời ấy trước hết chạm vào những ai được giao việc coi sóc, nhưng cũng chạm vào mọi người, vì không ai sống mà không được giao một phần nào đó của nhà Chúa. Người làm cha làm mẹ được giao những đứa con không phải để sở hữu mà để dưỡng nuôi đúng giờ, đúng cách, đúng tình. Người làm mục tử được giao đoàn chiên không phải để bắt chiên phục vụ mình mà để phân phát Lời, bánh, sự an ủi và sự thật vào lúc đoàn chiên cần. Người làm thầy, làm người hướng dẫn, làm anh làm chị trong cộng đoàn, làm người giữ của công, làm người có tiếng nói, đều đang đứng trong vị trí của quản gia. Quản gia không phải chủ. Quản gia được tin. Và được tin là một vinh dự kèm theo một cán cân. Càng được đặt ở chỗ cao, càng không được sống như thể nhà ấy là của mình.
Người quản gia trung tín không chờ chủ về mới làm. Người ấy làm vì biết ý chủ, và vì thương nhà. Phát lương thực đúng giờ là một chi tiết rất đời thường mà lại rất sâu. Đúng giờ nghĩa là không để người ta đói trong khi mình no, không để việc cần làm hôm nay bị đẩy sang ngày mai cho nhẹ vai, không ban phát theo tâm trạng, không giữ lại phần của người khác để thủ lợi. Trong nhà Chúa, lương thực ấy là của ăn phần xác lẫn của ăn phần hồn. Có những người đói cơm. Có những người đói một lời công bằng. Có những người đói được lắng nghe. Có những người đói được nhìn nhận phẩm giá. Có những người đói sự thật bị giấu đi vì sợ mất lòng. Người quản gia khôn ngoan biết giờ nào phải nói, giờ nào phải im để bảo vệ người yếu, giờ nào phải cho, giờ nào phải sửa. Khôn ngoan ở đây không phải mưu mẹo để giữ ghế. Khôn ngoan là biết việc của chủ và làm việc ấy cách ngay thẳng, không lợi dụng sự vắng mặt để đổi việc của chủ thành việc của mình.
Rồi Chúa kể tới người đầy tớ nghĩ trong lòng rằng chủ mình về chậm. Một câu nghĩ trong lòng đủ để cả nhà đổi chủ. Khi người ta bắt đầu sống với ý tưởng rằng còn lâu mới bị hỏi, thì tay bắt đầu nặng. Người ấy đánh đầy tớ nam, đánh đầy tớ nữ, ăn uống say sưa. Ba điều ấy đi với nhau. Lạm dụng quyền, làm tổn thương người dưới quyền, và buông mình vào thú vui. Say sưa không chỉ là men rượu. Say sưa là bất cứ thứ gì làm người ta mất tỉnh để không còn thấy nhà đang run, người đang khóc, việc đang bỏ dở. Có người say địa vị. Có người say lời khen. Có người say tiền. Có người say cảm giác mình không thể bị thay. Có người say thói quen được người khác sợ. Khi say, người quản gia không còn phát lương thực. Người ấy phát đòn. Và nhà mà lẽ ra là nơi người ta được nuôi thì thành nơi người ta bị hành. Chúa nói rất thẳng về ngày chủ trở về bất ngờ. Không phải để dọa cho người ta run một lúc rồi quên, mà để kéo người đang cầm quyền trở lại với sự thật: quyền không phải là của mình, thời gian không phải là vô hạn, và người dưới quyền không phải là đồ vật để trút giận.
Lời nặng nhất nằm ở chỗ phân biệt người biết ý chủ mà không chuẩn bị, không làm theo ý chủ, với người không biết ý chủ mà vẫn làm điều đáng phạt. Người biết mà không làm thì bị đánh nhiều. Người không biết thì bị đánh ít. Rồi Chúa kết lại bằng một câu mà mọi thời đều phải dừng lại: ai được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi hơn. Câu ấy không phải là hình phạt dành cho người có tài. Câu ấy là công lý của tình yêu. Được cho nhiều là được tin nhiều. Được biết ý Chúa nhiều hơn, được ở gần bàn thờ nhiều hơn, được học Lời nhiều hơn, được giao các linh hồn, được có tiếng nói trong cộng đoàn, được có của cải, được có sức khỏe, được có thời gian, được có sự khôn ngoan, tất cả đều là vốn không tự mình tạo ra. Vốn ấy sinh lời khi được dùng đúng ý Đấng trao. Vốn ấy trở thành án khi bị chôn, bị tiêu, bị dùng để đè người khác. Người không biết có thể vẫn lỗi, nhưng lỗi của người biết mà cố tình không làm nặng hơn, vì nơi người ấy ánh sáng đã đến mà vẫn chọn bóng tối. Biết ý Chúa rồi sống ngược ý Chúa không phải là sơ suất. Đó là sự phản bội có ý thức.
Trong đời sống hằng ngày, được cho nhiều không chỉ là chuyện của người có chức. Một người mẹ biết con mình đang lệch mà vẫn làm ngơ vì mệt, vì ngại đụng chạm, là người biết ý mà chưa làm. Một người trong gia đình nghe lời xúc phạm người vắng mặt mà cười theo cho xong chuyện, là người đã nhận ánh sáng của lương tâm mà tắt đi cho êm. Một người giữ của chung mà rút bớt phần người nghèo vì nghĩ không ai thấy, là người quản gia đang ăn trước phần lương của cả nhà. Một người được học, được đọc, được nghe giảng nhiều mà lòng không mềm hơn, miệng không thật hơn, tay không rộng hơn, thì sự biết ấy đang trở thành gánh chứ không phải thành ánh sáng. Chúa không đòi mọi người cùng một mức, nhưng Chúa không cho phép ai lấy sự ít ỏi của người khác để biện minh cho sự chậm trễ của mình. Người được ít mà trung tín vẫn được đặt lên coi nhiều. Người được nhiều mà sống như kẻ chủ trì hoãn sẽ mất cả phần đã có.
Sự chuẩn bị mà Chúa nói không phải là một việc làm vào giờ chót. Chuẩn bị là dệt từng ngày cho khớp với ý chủ. Ý chủ không bí ẩn đến mức không ai biết. Ý ấy đã được nói trong điều răn yêu thương, trong sự thật, trong lòng thương xót, trong việc không lấy gì của người khác, trong việc không làm hại kẻ yếu, trong việc tỉnh thức trước điều dữ đang mọc trong chính mình. Chuẩn bị là xét mình không phải để tự hành hạ, mà để kịp sửa trước khi tường bị thủng. Chuẩn bị là làm hòa khi còn có thể gặp nhau. Chuẩn bị là trả lại điều không thuộc về mình. Chuẩn bị là nói lời cần nói với người mình có trách nhiệm, trước khi bệnh, trước khi xa, trước khi không còn giờ. Nhiều người để dành sự tốt cho một dịp lớn, một mùa đặc biệt, một lúc sắp lìa đời. Chúa lại tìm sự tốt trong ngày thường, trong cách phát lương đúng giờ, trong cách không đánh người khi tưởng chủ còn lâu mới về.
Có một sự bình an rất lạ nơi người quản gia trung tín. Người ấy không sống trong sợ hãi ngày chủ về, vì ngày ấy không phải là ngày bị lật mặt, mà là ngày được thấy. Việc người ấy làm không phải trang điểm cho có mặt chủ. Việc ấy là chính sự sống của người ấy. Vì thế khi chủ về, không cần chạy đi giấu chén rượu, không cần gọi người bị đánh ra để dặn đừng nói, không cần sắp lại sổ sách cho đẹp. Chủ về thấy đúng việc đang được làm. Phúc ấy không ồn ào. Phúc ấy là được tiếp tục tin tưởng, được đặt lên coi cả gia sản. Gia sản của Chúa không phải vàng để hưởng, mà là được thông phần vào sự chăm sóc của chính Chúa, được yêu bằng một tình yêu không giữ lại, được trở thành người phân phát chứ không phải người thu gom. Trái lại, người sống bằng sự chậm trễ của chủ sẽ thấy ngày trở về là ngày mất tất cả những gì mình tưởng đã giữ được. Quyền mất. Men say tan. Người mình từng đè sẽ không còn là chỗ dựa. Và chỗ của kẻ bất trung không phải là một hình phạt tùy tiện, mà là chỗ mà chính người ấy đã chọn khi biến nhà thành quán, biến anh em thành kẻ dưới quyền để hành hạ.
Lòng thương xót của Chúa không mâu thuẫn với lời nghiêm này. Chính vì thương nhà, thương các đầy tớ, thương cả người quản gia, mà Chúa nói trước. Người không muốn ai bị bắt quả tang trong cơn say. Người muốn người được giao việc kịp trở lại làm người phát lương. Thương xót không phải là bỏ qua khi tường đã thủng và người yếu đã bị đánh. Thương xót là đánh thức trước giờ ấy. Ai nghe lời này mà lòng thắt lại, thì sự thắt lại ấy là hồng ân, vì còn giờ để sửa. Ai nghe mà cho rằng lời ấy dành cho người khác, thì chính câu nghĩ ấy đã là dấu chủ đang về chậm trong lòng mình. Mỗi người hãy nhìn phần mình được giao. Phần ấy có thể là một giáo xứ, một cộng đoàn, một lớp học, một bàn ăn gia đình, một người bệnh mình đang giữ, một số tiền không phải của mình, một bí mật được ký thác, một khả năng nói mà người khác không có. Phần ấy đòi một lòng trung tín âm thầm. Trung tín không cần được thấy mỗi giờ, nhưng trung tín không được phép biến giờ không ai thấy thành giờ phản bội.
Sống sẵn sàng còn là sống nhẹ. Người chờ chủ không chất vào nhà những thứ không mang theo được. Không chất hận thù, không chất thói chiếm đoạt, không chất hình ảnh giả về chính mình. Khi Con Người đến vào giờ không ngờ, người nhẹ sẽ mở cửa được. Người nặng vì đã lấy nhà làm của riêng sẽ không biết đường nào để đứng. Vì thế mỗi ngày là một lần trả nhà về cho Chủ: trả bằng việc làm đúng giờ, trả bằng lời nói không lợi dụng, trả bằng sự kiềm chế khi có quyền trút giận, trả bằng việc cho người đói phần phải được cho. Ngày chủ về có thể là ngày cuối của một đời, cũng có thể là ngày Chúa đến trong một biến cố, một cơn bệnh, một lời hỏi của lương tâm, một người nghèo đứng trước cửa. Ai tập mở cửa trong những lần đến nhỏ sẽ không bối rối trong lần đến lớn.
Nhà nào cũng có giờ chủ vắng. Chính giờ ấy làm lộ quản gia. Giờ không có ai khen, không có ai kiểm, không có ai nhắc, người trung tín vẫn phát lương, vẫn giữ người yếu, vẫn không say. Giờ ấy cũng làm lộ kẻ chỉ trung tín khi có mặt. Tin Mừng không gọi người ta lên một sự hoàn hảo lạnh lùng. Tin Mừng gọi người ta về lại vị trí của mình: tôi là quản gia, không phải chủ. Tôi được giao, không phải tôi sở hữu. Tôi sẽ bị hỏi về những gì tôi biết. Và nếu hôm nay tôi đang làm đúng việc được giao, thì ngày không ngờ sẽ không còn là ngày sợ, mà là ngày được gặp Đấng đã tin tôi, và được nghe rằng nhà vẫn còn là nhà, người vẫn còn được nuôi, và lòng trung tín âm thầm đã không uổng.
Lm. Anmai, CSsR

TỈNH THỨC TRONG GIỜ CHỦ CHƯA VỀ
Có những ngày người ta sống như thể thời gian là của riêng mình, như thể cánh cửa nhà vẫn còn khóa chặt từ bên trong và không ai có quyền gõ. Người ta tính toán công việc, xếp lịch vui buồn, dành chỗ cho những điều muốn giữ lại và những điều muốn đẩy đi, rồi tự nhủ rằng còn lâu mới đến lúc phải trả lời. Ấy thế mà Tin Mừng không cho phép lối sống ấy đứng yên. Chúa Giêsu nói với các môn đệ một hình ảnh rất gần với đời thường: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, ông đã không để cho nó đào ngạch. Các con cũng hãy sẵn sàng, vì chính giờ các con không ngờ, Con Người sẽ đến. Lời ấy không phải là một lời dọa để người ta run, cũng không phải là một lời khuyên để người ta bỏ mọi việc mà ngồi chờ. Đó là một cách nhìn lại căn nhà lòng mình, nhìn lại những gì đã được giao, và nhìn lại cách mình đang đối xử với những người sống cùng mái nhà ấy trong khi chủ còn vắng.
Hình ảnh kẻ trộm không nhằm biến Thiên Chúa thành một vị khách bất ngờ đáng sợ. Hình ảnh ấy nhằm phá vỡ thói quen trì hoãn. Con người rất giỏi việc hẹn lại điều quan trọng. Hôm nay còn mệt, ngày mai sẽ cầu nguyện. Tuần này còn bận, tuần sau sẽ làm hòa. Tháng này còn phải lo cái ăn cái mặc, tháng sau sẽ mở lòng. Năm nay còn trẻ, năm sau sẽ sống nghiêm túc hơn. Sự trì hoãn ấy có vẻ hợp lý vì lúc nào cũng có một việc đang nằm trước mắt. Thế nhưng chính sự hợp lý ấy làm cho đèn trong nhà dần tắt. Người ta không cần phạm một tội lớn mới đánh mất sự tỉnh thức. Chỉ cần quen với việc để mọi sự thiêng liêng sang một bên, quen với việc đo đời mình bằng những gì mình đang nắm, là cánh cửa đã hé. Giờ Chúa đến không được báo trước không phải để trừng phạt sự không biết, mà để hỏi xem trong những ngày không có ai đứng nhìn, ta đã sống như người được tin hay như người đang lợi dụng sự vắng mặt.
Phêrô nghe dụ ngôn ấy và hỏi một câu rất người: Thưa Thầy, Thầy nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người? Câu hỏi ấy cho thấy ông đang phân biệt. Có lẽ ông nghĩ những lời nghiêm khắc này dành cho đám đông, còn nhóm môn đệ đã theo Thầy thì thuộc về một hạng khác, được thông cảm hơn, được yêu hơn, được xét nhẹ hơn. Chúa không trả lời bằng một sự phân biệt an ủi. Ngài hỏi lại: Vậy thì ai là người quản gia trung tín và khôn ngoan mà chủ đặt lên coi sóc gia nhân, để cấp phát phần lương thực đúng giờ? Phúc cho đầy tớ ấy khi chủ về mà thấy nó đang làm như vậy. Thầy bảo thật anh em, chủ sẽ đặt nó lên coi sóc tất cả tài sản của mình. Câu trả lời ấy vừa mở rộng vừa siết lại. Mở rộng, vì không ai được loại khỏi lời mời tỉnh thức. Siết lại, vì ai đã được giao việc thì không được sống như người chưa được giao gì. Được chọn không phải là cái cớ để ngủ. Được tin không phải là giấy phép để làm theo ý riêng. Càng đứng gần bàn tiệc của chủ, càng phải nhớ mình đang giữ chìa khóa cho người khác ăn, chứ không phải đang giữ nhà cho riêng mình.
Người quản gia trung tín không được khen vì đã làm được việc lớn. Người ấy được khen vì cấp phát lương thực đúng giờ. Đúng giờ là một chữ rất nhỏ mà rất khó. Đúng giờ nghĩa là không để người đói phải chờ đến khi mình rảnh. Đúng giờ nghĩa là không biến của chủ thành của mình rồi phát theo cảm tình. Đúng giờ nghĩa là không lấy cớ chủ chưa về mà đóng kho, cũng không lấy cớ mình bận mà bảo người khác hãy chịu đói thêm một chút. Trong một gia đình, người cha người mẹ là quản gia khi biết con cần được nghe một lời dịu dàng vào đúng buổi tối nó vừa bị tổn thương, chứ không phải đợi đến khi mình hết giận mới nói. Trong một xứ đạo, người được trao nhiệm vụ là quản gia khi biết anh chị em cần được nâng đỡ vào đúng lúc họ yếu, chứ không phải đợi đến khi việc mục vụ đã vào lịch mới nhớ đến họ. Trong một cộng đoàn, người anh người chị là quản gia khi biết em mình cần một chỗ đứng, một lời nhận ra, một phần việc vừa sức, chứ không phải giữ mọi sự trong tay vì sợ người khác làm không bằng mình. Lương thực đúng giờ không chỉ là cơm bánh. Lương thực còn là sự thật được nói cách không làm nhục, là sự tha thứ không bị biến thành món nợ, là sự hiện diện không bị thay bằng một lời hứa sẽ có mặt.
Phúc cho đầy tớ ấy khi chủ về mà thấy nó đang làm như vậy. Chữ đang làm đáng được dừng lại. Chủ không về để kiểm tra bản thành tích đã khép. Chủ về và thấy người ấy còn đang ở giữa việc. Sự trung tín không phải là một trạng thái đã hoàn tất để đem ra khoe. Sự trung tín là một dáng đứng còn đang cúi xuống, còn đang chia, còn đang nhớ người khác. Nhiều người tưởng rằng chuẩn bị cho giờ sau hết là dọn cho sạch những gì người ta nhìn thấy. Họ lo trang hoàng bên ngoài, lo lời nói cho đúng, lo để không ai bắt lỗi. Nhưng hình ảnh Chúa dùng lại rất đơn sơ: người được phúc là người bị bắt gặp đang làm việc của mình. Không phải đang diễn. Không phải đang nghỉ vì tưởng còn lâu. Không phải đang tính xem chủ có về hôm nay hay không. Đang làm là một cách sống đã thành thói quen đến mức giờ nào chủ mở cửa cũng thấy tay còn ấm vì vừa trao phần cho người khác.
Rồi Chúa đặt bên cạnh hình ảnh ấy một hình ảnh ngược lại, để không ai tự ru mình. Nếu đầy tớ ấy nghĩ bụng chủ về còn lâu, rồi bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái, ăn uống say sưa, thì chủ sẽ đến vào ngày nó không ngờ và vào giờ nó không biết. Chủ sẽ loại nó ra và đặt nó chung số phận với những kẻ bất trung. Ở đây sự sa ngã không bắt đầu bằng một hành động dữ lớn. Sự sa ngã bắt đầu bằng một câu nghĩ bụng. Chủ về còn lâu. Câu ấy có vẻ là một nhận định về thời gian, nhưng thực ra là một quyết định về quyền. Một khi người ta tin rằng còn lâu mới phải trả lời, người ta bắt đầu dùng quyền được giao như quyền sở hữu. Người được đặt lên để coi sóc bắt đầu đánh người mình phải nuôi. Người được trao chìa khóa bắt đầu mở kho cho chính mình. Sự say sưa trong dụ ngôn không chỉ là men rượu. Đó là men của quyền lực không bị ai hỏi, men của thói quen được phục vụ, men của cảm giác mình đứng trên những người khác nên có quyền định đoạt nhịp sống của họ.
Đánh đập tôi trai tớ gái là một hình ảnh cần được đọc trong đời sống hằng ngày chứ không chỉ trong một ngôi nhà cổ. Có những cách đánh không cần roi. Một lời mỉa mai đúng chỗ yếu của người khác cũng là một cái roi. Một sự im lặng cố tình khi người kia đang cần được nhận ra cũng là một cái roi. Một quyết định được đưa ra mà không thèm hỏi những người phải gánh hậu quả cũng là một cái roi. Một cộng đoàn bị biến thành chỗ để một người chứng tỏ mình giỏi, mình đạo đức, mình không thể thiếu, thì những người còn lại đã bị đánh mà không có vết trên da. Ăn uống say sưa cũng vậy. Người ta có thể say men của lời khen, say men của địa vị, say men của cảm giác mình đang giữ chìa khóa nên mọi người phải đi qua mình. Say đến mức quên rằng chìa khóa ấy không phải để khóa người khác ở ngoài, mà để mở kho đúng giờ.
Chúa không dừng ở hai hình ảnh đối nghịch. Ngài đi xa hơn vào mức độ trách nhiệm. Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị, không làm theo ý chủ, sẽ bị đòn nhiều. Còn đầy tớ nào không biết mà làm những chuyện đáng phạt, sẽ bị đòn ít. Ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều. Ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn. Lời này chạm vào một sự thật mà người ta thường muốn làm nhẹ. Biết không phải là một lợi thế để được xét khoan dung. Biết là một trọng lượng. Người đã nghe, đã được dạy, đã đứng trong nhà, đã cầm trên tay những gì người khác không cầm, không thể sống như người chưa từng được trao. Sự không biết có thể làm nhẹ một phần trách nhiệm, nhưng sự biết mà không làm thì không có chỗ để trú. Đây không phải là một thứ công lý lạnh. Đây là lòng kính trọng đối với chính ơn đã lãnh nhận. Một ơn bị bỏ quên không còn là ơn. Một ơn bị giữ lại cho riêng mình trở thành một lời buộc tội thầm lặng.
Được cho nhiều không chỉ nói về những người đứng trên tòa giảng hay những người cầm quyền. Mỗi người đều đã được cho một phần. Có người được cho sức khỏe, có người được cho một trí nhớ tốt, có người được cho một giọng nói khiến người khác muốn nghe, có người được cho sự kiên nhẫn, có người được cho một gia đình còn nguyên, có người được cho một vết thương đã lành nên biết cách ngồi bên người đang đau. Có người được cho thời gian, có người được cho một nghề nuôi được miệng mình và miệng người khác, có người được cho khả năng làm hòa, có người được cho đôi mắt nhìn thấy người bị bỏ quên ở góc bàn. Những thứ ấy không cùng kích cỡ, nhưng không thứ nào là của riêng để khóa lại. Thiên Chúa không phát ơn để người ta so đo. Ngài phát ơn để cả nhà có cái ăn. Người được cho khả năng nói thì đừng dùng lời để đè. Người được cho khả năng xếp đặt thì đừng dùng sự xếp đặt để loại người khác ra khỏi việc. Người được cho sự hiểu biết thì đừng biến hiểu biết thành bức tường. Người được cho lòng thương thì đừng chờ đến khi mình được lợi mới thương.
Người ta thường than mình được cho ít. Than như thế có khi là thật, vì đời không chia đều. Có nhà thiếu, có thân bệnh, có tuổi thơ không được nâng, có những năm tháng phải gồng. Nhưng lời Chúa không bắt đầu từ chỗ so với người bên cạnh. Lời Chúa bắt đầu từ chỗ đã cầm trong tay. Kẻ than mình được cho ít mà vẫn biết mở phần ấy ra cho người khác thì đang sống như quản gia. Kẻ được cho nhiều mà cứ nhìn sang phần người khác để buồn, để ghen, để giữ, thì đang biến ơn thành gánh mà không hay. Ghen tị là một cách từ chối việc của mình. Thay vì cấp phát đúng giờ phần mình đang giữ, người ta đứng nhìn phần người khác và trách tại sao không phải của mình. Trong khi đứng nhìn ấy, có người đang đói ở ngay trước cửa kho của mình. Kho chưa mở không phải vì thiếu, mà vì chủ kho đang bận so.
Sự tỉnh thức vì thế không phải là một cảm xúc đạo đức kéo dài. Sự tỉnh thức là một chuỗi những cử chỉ nhỏ được lặp lại khi không có ai khen. Thức dậy và nhớ mình không phải là chủ của ngày hôm nay. Làm việc và nhớ sức mình đang có là sức được trao. Gặp một người khó tính và nhớ mình cũng từng là người khiến người khác phải nhịn. Cầm tiền và nhớ có những bàn tay không cầm được gì. Nghe một tin dữ về người khác và nhớ lưỡi mình có thể nuôi chuyện ấy lớn thêm hoặc để nó chết đi. Tối đến, trước khi ngủ, nhìn lại một ngày không phải để tự hành hạ, mà để hỏi một câu rất cũ: hôm nay mình đã cấp phát đúng giờ chưa? Có phần lương thực nào mình đã giữ lại vì sợ mất, vì giận, vì muốn được cảm ơn trước? Có người nào mình đã đánh bằng sự lạnh nhạt mà mình gọi là khôn?
Chuẩn bị cho giờ chủ về không phải là ngừng sống. Chính người được khen là người đang sống giữa việc khi chủ mở cửa. Giáo hội không mời con cái mình bỏ ruộng, bỏ lớp, bỏ bếp, bỏ xưởng để ngồi chờ một tiếng kèn. Giáo hội mời mỗi người làm việc của mình như một người biết chủ có thể về bất cứ lúc nào, nên không dám biến việc thành chỗ để thống trị. Người nông dân tỉnh thức là người không để ruộng của mình thành cớ chối bỏ người hàng xóm đang cần một ngày công. Người thầy tỉnh thức là người không biến kiến thức thành đặc quyền của riêng lớp học trò mình thương. Người làm cha làm mẹ tỉnh thức là người không lấy cớ lo cho con mà đóng cửa với mọi sự nghèo ở quanh nhà, cũng không lấy cớ bận việc chung mà bỏ đói phần lương thực của chính con mình là sự hiện diện. Người sống đời dâng hiến tỉnh thức là người không biến áo dòng thành một khoảng cách, không biến lời kinh thành một chỗ trốn việc phục vụ, không biến sự được cộng đoàn nuôi thành quyền được người khác phục vụ mãi.
Có một cám dỗ rất tinh trong đời sống đức tin, đó là dùng sự chờ đợi Chúa để khỏi phải chờ đợi con người. Người ta nói mình đang hướng về đời sau, nên những chuyện cơm áo, những bất hòa, những người bị bỏ quên ở đời này trở thành thứ yếu. Dụ ngôn không cho phép lối đọc ấy. Người quản gia được phúc không phải là người ngồi nhìn ra cửa chờ chủ. Người ấy là người đang lo cho gia nhân ăn. Hướng về Chúa mà quên người ở trong nhà là một sự chờ giả. Hướng về người khác mà không nhớ của mình đang phát là của chủ cũng là một sự phát giả, vì sớm muộn người ta sẽ phát theo ý mình và thu về cho mình. Hai đầu ấy phải đi cùng nhau. Của chủ được mở ra cho người nhà. Người nhà được nuôi thì nhà còn là nhà khi chủ về.
Giờ không ngờ còn là một lời nói về chính ngày hôm nay. Không phải chỉ có giờ sau hết mới bất ngờ. Mỗi ngày đều có những giờ người ta không đặt vào lịch. Một cơn bệnh. Một tin người thân ra đi. Một cánh cửa cơ hội đóng lại. Một lời xin lỗi mà nếu không nói hôm nay thì ngày mai người kia không còn ở đó để nghe. Một đứa trẻ chỉ cần cha ngồi xuống đúng buổi tối ấy, chứ không cần một kế hoạch lớn cho năm sau. Nếu người ta chỉ chuẩn bị cho một biến cố cuối cùng ở rất xa, người ta sẽ bỏ lỡ những lần chủ đã đến trong hình dạng một nhu cầu rất nhỏ. Con Người đến trong giờ không ngờ đôi khi không mang tiếng kèn. Ngài đến trong một người đói đứng ở nơi mình đang có bánh. Ngài đến trong một người mệt mà mình có thể cho nghỉ. Ngài đến trong một sự thật mình đã biết từ lâu nhưng cứ hẹn lần làm. Tỉnh thức là không để những lần đến ấy đi qua rồi sau này mới gọi là không hay.
Lời về đòn nhiều và đòn ít không nên bị đọc như một bảng hình phạt để người ta khiếp. Nên đọc như một sự phân biệt đầy thương xót và đầy nghiêm trang. Thương xót, vì người không biết không bị đòi như người đã biết. Nghiêm trang, vì người đã biết không được trốn vào hàng ngũ của những người chưa nghe. Một Kitô hữu đã được nuôi bằng Lời, đã được ngồi ở bàn, đã được tha hơn một lần, đã được cộng đoàn nâng trong những ngày mình ngã, thì không thể ra về và sống như thể chưa từng có những điều ấy. Ơn càng dày thì câu trả lời càng không thể mỏng. Điều này không làm mất niềm vui của ơn. Điều này giữ ơn khỏi bị biến thành một đồ trang sức. Ai đã được thương nhiều mà không học được cách thương thì chưa hiểu mình đã nhận gì. Ai đã được tha nhiều mà vẫn cầm sổ nợ của người khác thì chưa đứng đúng chỗ của một đầy tớ. Ai đã được dạy nhiều mà dùng sự dạy ấy để làm người khác thấy mình nhỏ thì đang ăn phần lương thực của gia nhân.
Có một niềm vui rất lặng ở cuối hình ảnh người quản gia trung tín. Chủ không chỉ khen. Chủ đặt người ấy lên coi sóc tất cả tài sản của mình. Sự trung tín trong việc nhỏ mở ra một sự tín nhiệm lớn hơn. Nhưng sự lớn hơn ấy không phải là phần thưởng để nghỉ. Đó lại là một kho lớn hơn cần được mở đúng giờ. Trong Nước Thiên Chúa, được cất nhắc không phải là được bước ra khỏi việc phục vụ. Được cất nhắc là được trao thêm người để lo. Ai hiểu điều này sẽ không sợ mất quyền khi chia sẻ việc. Ai không hiểu sẽ ôm mọi thứ lại, vừa mệt vừa khiến người khác đói, rồi vẫn tưởng mình đang gánh vác. Nhà của chủ không cần một quản gia không thể thay thế. Nhà của chủ cần những người biết phát đúng giờ, biết dạy người khác cũng biết phát, và biết vui khi kho còn mở sau lúc mình đã rời tay.
Ngày nào cũng có thể là ngày chủ về, nên ngày nào cũng đáng được sống cho ra một ngày đã được giao. Không cần chờ một biến cố lớn mới bắt đầu tỉnh thức. Có thể bắt đầu bằng một cánh cửa không khóa người khác ở ngoài, bằng một lời không đánh, bằng một phần mình đang giữ được đưa ra trước khi người kia phải xin đến lần thứ ba. Có thể bắt đầu bằng việc thôi nói chủ còn lâu. Chủ không vắng như người ta tưởng. Ngài đã để lại nhà, để lại người, để lại phần lương thực, và để lại một câu hỏi rất cũ cho bất cứ ai đang cầm chìa khóa: khi ta mở cửa, ngươi đang làm gì với những gì ta đã giao?
Lm. Anmai, CSsR

TỈNH THỨC GIỮA ĐÊM KHÔNG NGỦ: NGƯỜI QUẢN GIA ĐƯỢC TRAO NHIỀU VÀ GIỜ CHÚA TRỞ VỀ
Có một nỗi lo rất người, rất thật, rất dễ bị che bằng sự bận rộn, ấy là nỗi lo không biết mình sẽ được gặp lại Đấng đã trao mọi sự vào tay mình vào giờ nào. Người ta vẫn sống, vẫn làm, vẫn nói, vẫn yêu, vẫn giận, vẫn tính toán cho ngày mai, và trong cái nhịp ấy nhiều khi quên mất rằng ngày mai không thuộc về mình theo cách mình tưởng. Đêm dài không phải lúc nào cũng là đêm của đồng hồ. Đêm dài là khoảng thời gian người ta tưởng chủ nhà đã đi xa, cửa đã khóa, không ai nhìn, không ai hỏi, và vì thế có thể làm điều mình muốn với những gì đã được giao. Chính trong khoảng tưởng tượng ấy, đời sống hoặc trở thành một sự trung tín âm thầm, hoặc trở thành một sự lạm dụng được ngụy trang bằng thói quen. Chúa không dạy môn đệ sợ hãi như kẻ bị rình rập. Ngài dạy một sự tỉnh thức có hình dạng của tình yêu đang làm việc. Người biết giờ kẻ trộm đến thì không để nhà bị khoét vách. Nhưng Con Người đến vào giờ người ta không ngờ. Câu ấy không nhằm biến đời tín hữu thành một trạng thái căng thẳng thường trực, như thể mỗi tiếng gõ cửa đều là án phạt. Câu ấy đặt lại trật tự của thời gian: thời gian không phải là khoảng trống để tiêu xài cho đến khi có chuyện lớn xảy ra, mà là khoảnh khắc đang được giao phó, và khoảnh khắc ấy có chủ.
Hình ảnh chủ nhà và kẻ trộm thoạt nghe có vẻ khắc nghiệt, nhưng nếu lắng nghe đến cùng thì thấy đó là hình ảnh của một tình yêu không muốn bị mất. Kẻ trộm đến không báo trước vì hắn muốn lấy đi những gì không thuộc về hắn. Chủ nhà tỉnh thức không phải để sống trong nghi kỵ với cả thế gian, mà để giữ lại những gì đã được trao, những gì thuộc về gia đình, thuộc về căn nhà, thuộc về mối tương quan không được phép coi thường. Đời Kitô hữu cũng là một căn nhà như thế. Trong nhà ấy có đức tin đã được gieo, có lời đã được nghe, có bí tích đã được lãnh nhận, có những con người được đặt bên cạnh, có việc bổn phận mỗi ngày, có cả những vết thương chưa lành và những ước muốn chưa được gọi đúng tên. Nếu người ta ngủ say trong nhà ấy, không phải giấc ngủ của thân xác sau một ngày lao nhọc, mà là giấc ngủ của lương tâm, thì những gì quý nhất có thể bị lấy đi mà không cần một tiếng động lớn. Người ta mất không phải chỉ vì một cú sốc, mà vì những lần nhỏ liên tiếp: một lời nói vô tình trở thành thói quen, một sự trì hoãn trở thành bản chất, một ơn được ban mà không được dùng, một người bên cạnh bị xem như đồ vật của công việc chứ không phải như một khuôn mặt cần được nuôi dưỡng. Tỉnh thức, vì thế, là biết căn nhà của mình đang chứa những gì, và biết mình không phải chủ tuyệt đối của căn nhà ấy.
Rồi hình ảnh đổi sang người quản gia. Đây là chỗ đời sống trở nên cụ thể đến mức không còn chỗ để trốn vào những ý niệm đẹp. Quản gia không được khen vì ngồi canh cửa suốt đêm với vẻ mặt nghiêm nghị. Quản gia được khen vì biết phát lương thực đúng giờ cho cả nhà. Có một sự khác biệt rất lớn giữa người giữ của và người phân phát. Người giữ của có thể rất cẩn thận với những gì mình có, khóa kỹ, đếm kỹ, không để ai đụng vào, và cuối cùng trình lại nguyên vẹn một kho đồ không ai được ăn. Người phân phát đúng giờ thì hiểu rằng của được giao không phải để trưng, mà để nuôi. Lương thực đến trễ cũng là một cách để nhà đói. Lương thực bị giữ lại vì người giữ muốn chứng tỏ quyền cũng là một cách để nhà đói. Trong gia đình, lương thực ấy có thể là một bữa cơm có mặt nhau, một lời hỏi han không qua loa, một sự hiện diện khi con còn nhỏ và khi cha mẹ đã yếu. Trong cộng đoàn, lương thực ấy có thể là việc mình được giao mà không ai thấy, là sự chịu đựng lẫn nhau mà không biến thành khinh miệt, là khả năng lắng nghe trước khi phán. Trong công việc, lương thực ấy là sự trung thực với những gì mình làm ra, với những người mình phục vụ, với đồng lương và với thời giờ không thuộc về riêng mình. Phát đúng giờ không phải là làm cho xong để khỏi bị la. Phát đúng giờ là hiểu rằng có những người đang đói vào đúng giờ ấy, và sự đói của họ không chờ đến khi mình rảnh.
Người đầy tớ trung tín và khôn ngoan không được mô tả như một người hoàn hảo không bao giờ mệt. Người ấy được mô tả như một người đang làm điều phải làm vào lúc chủ trở về. Sự trung tín ở đây không phải là một chiến tích để kể lại, mà là một trạng thái bị bắt gặp. Chủ về giữa đêm hay gần sáng, thấy người ấy vẫn đang phát lương thực, thì phúc cho người ấy. Phúc ấy không nằm ở chỗ người ấy đoán đúng giờ. Phúc ấy nằm ở chỗ giờ nào chủ về cũng gặp một đời đang sống đúng với điều đã được giao. Đó là lý do sự tỉnh thức Kitô giáo không phải là một kỹ thuật đoán ngày cánh chung, cũng không phải là một nỗi sợ được nuôi bằng những tin đồn về tận thế. Sự tỉnh thức ấy là một cách sống khiến bất cứ giờ nào cũng có thể là giờ gặp. Người đang yêu thì không cần lịch hẹn mới ở trong tình yêu. Người đang giữ lời thì không cần có người kiểm tra mới giữ. Người đang phục vụ thì không cần khán giả mới cúi xuống. Khi chủ về, Người không hỏi mình đã đoán đúng biến cố nào, mà gặp một căn nhà còn ấm, một bàn ăn còn được dọn, những người trong nhà không bị bỏ đói vì kẻ được đặt lên trên họ đã quên mặt họ.
Nhưng Tin Mừng không dừng ở hình ảnh đẹp. Có một người đầy tớ khác, người ấy nghĩ bụng chủ về còn lâu, rồi bắt đầu đánh đập những đầy tớ nam nữ, ăn uống say sưa. Câu nghĩ bụng ấy mới là căn bệnh. Không phải lúc nào sự dữ cũng bắt đầu bằng một quyết định công khai chống lại Thiên Chúa. Nhiều khi nó bắt đầu bằng một câu tính toán rất nhỏ về thời gian: còn lâu, chưa sao, không ai thấy, mình sẽ sửa sau. Khi thời gian bị hiểu là khoảng trống không có chủ, quyền bính lập tức đổi bản chất. Người được đặt để phục vụ bắt đầu dùng những người mình phải nuôi như phương tiện cho cơn bực dọc, cho sự nhàm chán, cho nhu cầu được cảm thấy mình hơn. Đánh đập ở đây không chỉ là nắm tay. Đánh đập là lời nói làm người khác nhỏ lại, là sự im lặng trừng phạt, là cách phân công bất công vì thích người này và ghét người kia, là dùng kiến thức, chức vụ, tuổi tác, kinh nghiệm để bắt người khác phải chịu đựng mình. Ăn uống say sưa cũng không chỉ là bàn nhậu. Say sưa là bất cứ cái gì làm lu mờ khả năng nhận ra người khác đang cần mình: sự bận rộn được tôn thành đức tính, sự hưởng thụ được gọi là quyền, màn hình được mở đến khuya trong khi căn nhà thật sự đang chờ một khuôn mặt ngẩng lên. Người đầy tớ ấy sẽ bị bắt gặp vào giờ không ngờ, và hình phạt dành cho kẻ biết ý chủ mà không làm theo ý ấy nặng hơn hình phạt dành cho kẻ không biết. Biết mà không làm là một trách nhiệm riêng, vì ánh sáng đã được trao mà vẫn chọn bóng tối.
Đây là chỗ câu nói ấy đi vào tận xương: ai được trao nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn. Câu ấy không phải là lời dọa dành cho người tài năng. Câu ấy là công lý của tình yêu. Một người được nghe nhiều, được tha nhiều, được dạy nhiều, được đặt vào một chỗ có thể nâng đỡ nhiều người, thì không thể sống như thể mình chỉ nhận một phần rất nhỏ. Ơn không phải là đồ trang sức. Ơn là một lời ủy thác. Người có sức khỏe được ủy thác sự nâng đỡ những thân xác mệt mỏi. Người có tiếng nói được ủy thác sự nói điều xây dựng chứ không phải điều làm đám đông vui trong chốc lát. Người có của được ủy thác sự đừng để của ấy trở thành bức tường giữa mình và người thiếu. Người có thời giờ được ủy thác sự đừng giết thời giờ như thể thời giờ là kẻ thù. Người có đức tin được ủy thác sự đừng giữ đức tin như một kho riêng, chỉ mở ra khi cần an ủi chính mình. Trong một gia đình, đứa con được yêu nhiều không vì thế được phép vô ơn nhiều hơn. Người chồng, người vợ được tín nhiệm nhiều không vì thế được phép vắng mặt nhiều hơn. Người đứng đầu một cộng đoàn, một lớp học, một xưởng, một phòng bệnh, một họ đạo, càng được người khác trông cậy thì càng không được phép biến sự trông cậy ấy thành chỗ để mình nghỉ ngơi trên lưng họ.
Người ta thường sợ mình có ít. Ít tài, ít của, ít tiếng nói, ít cơ hội. Nỗi sợ ấy có thật, và không phải lúc nào cũng là kiêu ngạo. Có những đời thực sự bị thu hẹp bởi bệnh tật, bởi nghèo, bởi một quá khứ không do mình chọn. Nhưng ngay trong những đời ấy vẫn có một cái được trao, và cái được trao ấy không được phép bị khinh. Một lời cầu nguyện không ai nghe thấy vẫn là lương thực. Một sự chịu đựng không biến thành độc ác vẫn là quản gia trung tín. Một bàn tay yếu vẫn có thể phát đúng giờ nếu nó không nắm lại. Ngược lại, người được trao nhiều mà sống như người không được trao gì thì đang làm một điều nặng hơn sự thiếu thốn. Người ấy biến ơn thành đồ thừa. Người ấy nhìn những khả năng của mình như sở hữu tư, rồi hoặc chôn xuống vì sợ mất, hoặc phung phí vì tưởng mình mãi còn thời gian. Cả hai cách đều khiến nhà đói. Chôn xuống là một cách nói không với chủ. Phung phí cũng là một cách nói không với chủ. Trung tín là đường ở giữa, không phải đường của sự tầm thường, mà là đường của người biết của mình đang giữ thuộc về ai.
Có một mối liên hệ rất sâu giữa sự tỉnh thức ấy và cách người ta đối xử với tội. Tội không chỉ là một hành vi bị cấm. Tội là một ông chủ khác đang muốn ngự trị trong thân xác, trong trí, trong thói quen, trong cách nhìn người bên cạnh. Khi người ta dâng chi thể mình cho sự bất chính, người ta không chỉ phạm một lỗi. Người ta đang để một quyền lực khác phát lương thực trong nhà thay cho mình. Sự bất chính có lương thực riêng của nó: oán hận được nuôi mỗi ngày, đam mê được biện minh bằng câu còn lâu mới sao, sự dối trá nhỏ được gọi là khôn, sự lạnh nhạt với Thiên Chúa được gọi là bận. Và một khi đã quen để ông chủ ấy phân phát, người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy mình không còn tự do như mình tưởng. Tự do không phải là làm được mọi điều mình muốn vào lúc không ai thấy. Tự do là không còn bị sự muốn ấy kéo đi. Người đã được đưa từ sự chết về sự sống không được mời trở lại làm nô lệ cho chính cái đã giết mình. Dâng mình cho sự công chính không phải là một khẩu hiệu đạo đức. Đó là một sự chuyển chủ cụ thể: miệng này không còn được dùng để hạ người khác, mắt này không còn được dùng để chiếm đoạt, tay này không còn được dùng để giữ lại những gì phải phát ra, trí này không còn được dùng để tính giờ chủ vắng nhà.
Sự tỉnh thức vì thế có một khuôn mặt rất đời thường, và chính vì đời thường nên khó. Nó không đòi người ta bỏ việc, bỏ nhà, bỏ những lo lắng chính đáng để ngồi chờ một biến cố lạ. Nó đòi người ta làm việc mà không biến công việc thành chỗ trốn khỏi Thiên Chúa. Nó đòi người ta nghỉ ngơi mà không biến sự nghỉ ngơi thành quên lãng. Nó đòi người ta yêu những người cụ thể đang ở trong nhà, chứ không chỉ yêu một nhân loại ở rất xa để khỏi phải đụng đến khuôn mặt đang ngồi cùng bàn. Giờ không ngờ nhiều khi không phải là giờ cuối cùng của lịch sử. Giờ không ngờ là giờ một người thân ngã bệnh, giờ một lời xin lỗi cần được nói trước khi quá muộn, giờ một đứa trẻ cần được nhìn chứ không cần được sửa, giờ một người nghèo đứng ở cửa mà mình đang vội, giờ chính lòng mình đang muốn chọn sự dễ dãi thay vì sự thật. Nếu trong những giờ ấy người quản gia đang say, đang đánh, đang tính rằng chủ còn lâu, thì căn nhà đã bị khoét vách từ bên trong, không cần kẻ trộm nào ở ngoài.
Cũng cần nói rõ rằng sự tỉnh thức này không sinh ra từ nỗi sợ bị phạt cho bằng từ niềm vui được gặp. Người đầy tớ bị gọi là có phúc không phải vì đã thoát được đòn. Người ấy có phúc vì chủ đặt người ấy lên coi cả tài sản của mình. Phần thưởng của sự trung tín là một sự tín nhiệm lớn hơn, không phải một kỳ nghỉ khỏi trách nhiệm. Điều ấy ngược với bản năng muốn làm xong để được thôi. Trong tình yêu, làm xong không có nghĩa là được thôi. Làm xong có nghĩa là được trao một việc lớn hơn, gần chủ hơn, mang hình dạng chủ hơn. Ai trung tín trong việc nhỏ sẽ được trao việc lớn, không phải để bị hành hạ, mà để đời mình được mở rộng theo kích thước của lòng tín nhiệm. Đó là lý do người Kitô hữu không nên nuôi một linh đạo của sự chờ đợi thụ động, như thể điều tốt nhất là không làm gì để khỏi sai. Không làm gì cũng là một cách sai, khi lương thực đã đến giờ phải phát. Khôn ngoan của quản gia không phải là khôn ngoan của kẻ tránh mọi rủi ro. Khôn ngoan ấy là biết giờ nào nhà cần ăn, biết phần nào thuộc về ai, biết không giữ lại cho mình cái làm người khác đói.
Có những lúc người ta mệt thật. Mệt vì đã phát lâu mà không thấy nhà no. Mệt vì những người mình phục vụ không nhận ra. Mệt vì chính mình cũng đói mà vẫn phải đứng ở cửa kho. Sự mệt ấy cần được gọi đúng tên, kẻo nó biến thành cay đắng, và cay đắng là cửa sau của người đầy tớ bắt đầu đánh người khác. Người quản gia cũng cần được nuôi. Nhưng nguồn nuôi không phải là việc chiếm đoạt phần của cả nhà. Nguồn nuôi là biết mình đang làm việc trước mặt một chủ không vắng mặt như mình tưởng. Chủ đi xa trong dụ ngôn là một cách nói về sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, về khoảng thời gian được ban để người ta lớn lên, chứ không phải về một sự bỏ mặc. Trời không trống. Giờ không có mắt người vẫn có mắt khác. Và mắt ấy không phải mắt rình để bắt lỗi, mà là mắt của người đã giao nhà cho mình vì tin mình. Sống dưới cái nhìn ấy thì khác với sống dưới cái nhìn của dư luận. Dư luận khen lúc mình xuất hiện. Cái nhìn ấy thấy lúc mình phát lương thực trong bếp, lúc không có khách, lúc chỉ có những người thân thuộc đến mức mình tưởng có thể đối xử tùy tiện.
Lòng thương xót đi vào đây không phải để xóa trách nhiệm, mà để trách nhiệm không trở thành tuyệt vọng. Người đã từng nghĩ bụng chủ còn lâu, người đã từng đánh, đã từng say, không bị khóa cửa vĩnh viễn nếu còn quay lại đúng việc của mình. Giờ không ngờ cũng là giờ có thể bắt đầu lại. Sự công chính không đòi một quá khứ không tì vết mới nhận người quản gia. Sự công chính đòi một sự quay về cụ thể: trả lại cho người bị đánh phẩm giá của họ, đổ đi men say đang làm mình không nhận ra khuôn mặt, mở kho đang bị giữ, phát đúng giờ bắt đầu từ hôm nay chứ không phải từ một ngày mình cảm thấy xứng đáng. Ai được tha nhiều thì yêu nhiều, và ai yêu nhiều thì không còn sống như kẻ đang chờ chủ vắng nhà. Lòng thương xót không làm câu được trao nhiều sẽ bị đòi nhiều trở nên nhẹ hơn. Lòng thương xót làm cho người ta có sức để chịu sự đòi hỏi ấy mà không gãy, vì biết Đấng đòi cũng là Đấng đã trao, và Đấng đã trao không trao để hủy diệt.
Nhìn rộng ra, cả một cộng đoàn, cả một dân, cũng có thể ngủ hoặc tỉnh theo cùng một logic. Khi những người được đặt để phục vụ bắt đầu ăn phần của người nghèo, khi lời được ban để nuôi lại bị dùng để xây danh, khi thời giờ của cầu nguyện bị thay bằng thời giờ của tính toán, khi người nhỏ bị đánh bằng sự thờ ơ của người lớn, thì căn nhà chung đang ở trong tình trạng chủ bị tưởng là còn lâu mới về. Và sự trở về ấy không cần sấm chớp mới là thật. Sự trở về ấy xảy ra mỗi lần sự thật bị lộ ra, mỗi lần một người bị bỏ rơi cất tiếng, mỗi lần chính lương tâm không còn ngủ được. Phúc cho cộng đoàn nào trong giờ ấy vẫn còn người đang phát lương thực, vẫn còn người không nhập bọn với sự say, vẫn còn người hiểu rằng đặc ân của mình là một sự đòi hỏi chứ không phải một sự miễn trừ. Những người ấy không nhất thiết đứng ở chỗ cao. Nhiều khi họ đứng ở chỗ không ai tranh: người chăm bệnh, người dạy trẻ, người quét nhà thờ lúc sáng sớm, người giữ một lời hứa nhỏ trong gia đình suốt nhiều năm, người không để chức vụ đổi giọng nói của mình. Họ là quản gia. Họ làm cho giờ Chúa đến không phải là giờ kinh hoàng, mà là giờ căn nhà được nhận ra là còn có chủ và còn có người trung tín.
Vì thế điều cần học không phải là cách tính ngày giờ. Điều cần học là cách ở trong ngày giờ đang có. Sáng nay có một việc đã được giao. Việc ấy có thể nhỏ đến mức không đáng kể trong mắt người khác, nhưng nó là lương thực của một ai đó. Trưa nay có một cơn bực. Cơn bực ấy là chỗ người đầy tớ cũ muốn nghĩ bụng rằng không ai thấy. Tối nay có một sự mệt. Sự mệt ấy có thể trở thành lý do để đánh người thân bằng sự im lặng, hoặc trở thành lý do để xin được nuôi rồi tiếp tục phát. Đêm nay có một khoảng lặng. Khoảng lặng ấy là giờ căn nhà được kiểm lại, không phải bằng sợ, mà bằng sự thật: mình đang giữ những gì, mình đang phát những gì, mình đang say những gì, mình đang được trao những gì mà chưa dám nhận là mình sẽ phải thưa lại. Ai tập được nhịp ấy thì không cần chờ một biến cố lớn mới trở thành người tỉnh thức. Người ấy đã để đời mình ở trong tư thế có thể được bắt gặp. Và khi Con Người đến, vào giờ không ngờ, Người sẽ không gặp một căn nhà trống, cũng không gặp một quản gia đang ngủ trên phần lương thực của cả nhà. Người sẽ gặp một đời đang làm việc vì yêu, và sẽ gọi đời ấy là có phúc, rồi đặt đời ấy vào một sự tín nhiệm còn lớn hơn, không phải ở đời này mới hết, mà ở bàn tiệc nơi chính chủ trở thành người phục vụ những kẻ đã biết phục vụ.
Lm. Anmai, CSsR

SẴN SÀNG TRONG NIỀM VUI, VÌ KHÔNG CÒN CÁCH NÀO KHÁC ĐỂ SỐNG CHO RA SỐNG
Có một cách chuẩn bị cho ngày Con Người đến mà lòng người vẫn run, vẫn tính toán, vẫn nhìn đồng hồ như kẻ đang canh cửa sợ trộm lẻn vào nhà lúc không ngờ. Cách ấy làm cho đời trở thành một chuỗi phòng bị, một sự đề phòng kéo dài, một nỗi lo được gọi bằng tên đạo đức. Nhưng Tin Mừng không mời ta sống như vậy. Lời ấy nói hãy sẵn sàng, vì chính giờ các con không ngờ thì Con Người sẽ đến, và sự sẵn sàng ấy, nếu hiểu cho tới cùng, không phải là một biện pháp dự phòng cho một tai nạn có thể xảy ra, mà là cách duy nhất để hôm nay được sống trong niềm vui. Không phải ta sẵn sàng phòng khi Người đến hôm nay, mà ta vui vì được sẵn sàng hôm nay, bởi không còn cách nào khác để sống hôm nay mà lòng được no, được sáng, được yên. Người đầy tớ được gọi là có phúc không phải vì tình cờ đang làm việc đúng lúc chủ về, như thể anh vừa kịp lau bàn khi nghe tiếng chân ngoài sân. Anh có phúc vì anh vốn vẫn đang làm việc ấy, hôm qua cũng vậy, tháng trước cũng vậy, và nếu chủ về năm sau thì năm sau anh cũng vẫn đang ở trong phận của mình. Chúa gọi người ấy là trung tín và khôn ngoan. Trung tín không phải là một cử chỉ đẹp vào giờ chót. Khôn ngoan không phải là biết đoán ngày chủ về để kịp chỉnh lại bộ mặt. Trung tín là ở lại trong việc được giao. Khôn ngoan là hiểu rằng hạnh phúc của người đầy tớ không nằm ở chỗ đoán được giờ, mà nằm ở chỗ không còn phải đoán, vì dù giờ nào người ấy cũng đang sống đúng với điều làm cho đời mình có nghĩa.
Hình ảnh người quản gia được đặt lên coi các đầy tớ khác nói một điều rất gần với đời thường của mỗi người. Ai cũng được giao một phần việc không chỉ cho riêng mình. Người cha người mẹ coi sóc bữa ăn, giấc ngủ, nỗi buồn và những câu nói chưa kịp thốt của con. Người mục tử coi sóc đoàn chiên không phải như của riêng, mà như của Chủ đã tin trao. Người đang nuôi bệnh, người đang dạy chữ, người đang giữ một cửa hàng nhỏ, người đang ngồi bên bàn giấy giữa những giấy tờ chẳng ai thấy là thánh, tất cả đều đang cầm trong tay một phần quản lý ân sủng, dù họ không gọi tên nó bằng chữ ấy. Phúc không đến khi công việc xong xuôi và đời đã rảnh để nghĩ tới trời. Phúc đến ngay trong lúc tay còn bận, lòng còn tỉnh, miệng còn nói lời ngay, và người được giao cho vẫn được đối xử như người chứ không như đồ vật để mình dễ bề cai quản. Người đầy tớ bị quở không phải vì anh không biết giờ chủ về. Anh bị quở vì anh đã lấy sự vắng mặt của chủ làm cớ để đánh đập bạn đồng liêu, để ăn uống say sưa, để biến nhà chủ thành chỗ mình làm chủ. Sự chậm trễ của ngày quang lâm, trong lòng kẻ ấy, trở thành giấy phép. Còn trong lòng người trung tín, sự không biết giờ lại trở thành tự do: anh không cần ngày ấy đến sớm để được hạnh phúc, vì hạnh phúc đã bắt đầu từ việc anh không phản bội phận mình trong khi chờ.
Thánh Phaolô đã sống cái phận ấy tới mức không còn tách nổi giữa bổn phận và niềm vui. Ông ý thức mình là đầy tớ được đặt lên giữa các đầy tớ, không phải để giữ kín một kho tàng cho nhóm nhỏ, mà để đưa mầu nhiệm Đức Kitô tới những người vốn bị coi là ở ngoài. Ông gọi việc ấy là việc quản lý ân sủng, và ông gọi chính trách nhiệm ấy là một ơn được ban chứ không phải một gánh mình tự đội lên cho oai. Điều ông phải trao không phải là một hệ thống khôn ngoan tự chế, không phải một lý thuyết về đời sau để dọa người ta sống cho phải đạo. Điều ông phải trao là sự giàu có không dò thấu của Đức Kitô. Giàu có ấy không dò được vì nó không cạn. Không searches được vì càng đi vào càng thấy còn một chiều khác. Không thể lường vì nó không nằm trong tầm tay của người muốn chiếm đoạt, mà chỉ mở cho người chịu để mình được dẫn vào. Phaolô đã trả giá cho sự trung tín ấy bằng lao tù, bằng đòn vọt, bằng những lần bị hiểu lầm, và cuối cùng bằng máu. Nhưng giữa những cái giá ấy, ông không mô tả đời mình như một sự chịu đựng anh hùng để đổi lấy phần thưởng ở cuối đường. Ông mô tả như người đang múc nước. Suối cứu độ không phải một vòi được mở vào ngày cuối. Suối ấy đã chảy trong lúc ông còn viết thư, còn đi bộ, còn bị xích, còn nhớ từng cộng đoàn với nỗi lo và nỗi thương lẫn lộn. Ông đã nếm trước, ngay trong đời này, một chút của sự có phúc thuộc về đời sau, và càng trung tín thì ông càng nhận ra kho ấy không có đáy.
Vì thế ngày Con Người đến, với người đã sống như vậy, không còn là một vết đứt. Người ta vẫn có thể gọi đó là giờ chết, giờ về, giờ sổ được mở. Nhưng với ai mỗi ngày đã bước thêm một bước vào sự giàu có không dò thấu ấy, giờ ấy giống như được đưa từ mép giếng vào tận mạch nước. Cái đã làm cho hôm nay đáng sống sẽ làm cho ngày ấy đáng đến. Không phải vì người ấy đã gom đủ công trạng để xuất trình, mà vì người ấy đã quen với nhịp của Chủ, đã quen trao lại, đã quen không sống như chủ của thời gian. Kẻ chỉ sẵn sàng theo kiểu đề phòng sẽ thấy ngày ấy như một đột nhập. Kẻ sống trung tín sẽ thấy ngày ấy như chủ nhà bước vào nhà mình, và người quản gia đang ở đúng chỗ không phải vì sợ, mà vì đó là chỗ của anh từ lâu. Các vị tử đạo, những người đã để máu mình làm chứng giữa rừng sâu và giữa những phiên tòa không thương xót, không được chuẩn bị bằng một chương trình đặc biệt vào tuần cuối. Họ được chuẩn bị bằng cả một đời để cho sự giàu có của Đức Kitô lớn hơn nỗi sợ mất mạng. Khi Con Người đến với họ, Người không gặp những kẻ đang hoảng loạn chỉnh lại áo, mà gặp những kẻ đã thuộc lòng câu trả lời từ lâu, vì câu trả lời ấy chính là cách họ đã sống.
Sự khôn ngoan của người đầy tớ hệ tại chỗ ấy. Khôn ngoan không phải mẹo để qua cửa xét xử. Khôn ngoan là biết chỉ có một cách sống làm cho lòng người được vui thật, và cách ấy là ở lại trong việc được giao, dù chủ về hôm nay hay về sau một thời gian dài đến mức người ngoài tưởng như chủ đã quên. Nhiều người mệt vì chờ. Họ muốn một dấu chỉ rõ, một ngày được báo trước, một lịch được công bố, để còn biết phải siết mình tới bao giờ. Nhưng Tin Mừng lấy đi cái lịch ấy không phải để hành hạ, mà để giải thoát. Nếu ngày được báo trước, ta sẽ sống hai đời: một đời tạm bợ cho tới sát giờ, và một đời vội vàng đạo đức khi giờ đã kề. Nếu ngày không được báo, ta chỉ còn một đời, và đời ấy phải đáng sống ngay bây giờ. Đó là lý do sự sẵn sàng trở thành niềm vui chứ không thành gánh. Không có cách nào khác để hôm nay hạnh phúc cho ra hạnh phúc. Ăn uống say sưa trong lúc chủ vắng không làm cho thời gian ngắn lại. Đánh đập người đồng liêu không làm cho quyền mình chắc hơn. Chỉ có việc phân phát lương thực đúng giờ, đúng phần, đúng lòng, mới làm cho căn nhà còn là nhà trong khi chủ chưa về.
Phân phát lương thực đúng giờ là một hình ảnh rất cụ thể, và nó chạm vào mọi bậc sống. Lương thực ấy có thể là cơm, là lời, là sự hiện diện, là một sự tha thứ không bị hoãn tới khi mình nguôi, là một giờ kinh không bị nuốt bởi những việc tưởng như cấp bách hơn. Người quản gia trung tín không chờ cảm hứng. Anh biết giờ ăn của nhà. Anh biết ai yếu, ai mới về, ai đang giận, ai cần được gọi bằng tên chứ không bằng chức. Sự khôn ngoan ở đây rất gần với sự chú ý. Chú ý tới người được giao cho mình. Chú ý tới nhịp của ngày. Chú ý tới việc ân sủng không được giữ trong kho để mình cảm thấy mình quan trọng, mà phải được chuyển tới người khác đúng lúc họ còn nhận được. Phaolô đã hiểu việc rao giảng cho dân ngoại theo chiều ấy. Mầu nhiệm không còn là bí mật của một dân. Bức tường đã đổ. Sự giàu có của Đức Kitô phải được kể cho những người chưa từng được kể. Mỗi lần ông mở miệng, ông đang phân phát lương thực. Mỗi lần ông chịu đau vì lời ấy bị từ chối, ông vẫn không biến sự từ chối thành cớ để đóng kho. Người đầy tớ có phúc là người không lấy sự vắng mặt của chủ làm lý do đổi cách sống, và cũng không lấy sự chậm trễ của mùa gặt làm lý do ngừng gieo.
Có một nỗi sợ rất tinh vi nơi người tin, đó là sợ mình chưa sẵn sàng nên phải sống gấp, sống căng, sống như thể mỗi buổi sáng là một kỳ thi. Nỗi sợ ấy đội lốt nhiệt thành, nhưng nó làm cạn niềm vui, và khi niềm vui cạn thì sự trung tín trở thành nghĩa vụ nặng, rồi nghĩa vụ nặng rất dễ sinh ra sự đánh đập người khác bằng lời lẽ đạo đức. Tin Mừng đi một đường khác. Người được gọi có phúc không phải người run nhiều nhất. Người ấy là người đang ở trong việc của mình với một sự bình an đến từ chỗ đã tìm thấy điều làm cho đời đáng sống. Sự bình an ấy không miễn cho anh khỏi mệt. Phaolô đã mệt. Các chứng nhân đã mệt. Người mẹ thức đêm bên con bệnh cũng mệt. Nhưng mệt của người đang múc nước nơi suối không giống mệt của người đang đào một cái hố không đáy để chôn nỗi lo. Suối cứu độ không cạn, nên người múc có thể mệt tay mà không mệt lòng theo kiểu tuyệt vọng. Càng múc càng thấy mạch còn sâu. Càng ở lại trong sự trung tín càng thấy sự giàu có của Đức Kitô không phải một phần thưởng để dành ở cuối, mà là chính chất của con đường.
Vì thế chuẩn bị cho ngày Con Người đến, nói cho cùng, là để cho hôm nay được đụng tới chất ấy. Không cần chờ một biến cố lớn. Không cần một điềm. Giờ không ngờ có thể là giờ rất thường: một cơn bệnh ngắn hơn dự định, một tai nạn không nằm trong lịch, một giấc ngủ không còn thức dậy, hoặc cũng có thể là chính nhịp từng ngày nếu ta hiểu rằng Chúa đến với ta không chỉ một lần ở cuối. Người vẫn đến trong Lời được đọc chậm, trong bánh được bẻ, trong người nghèo đứng đúng chỗ ta đang quản lý, trong một sự thật ta định hoãn nói. Sẵn sàng là không khóa cửa lòng trước những lần đến ấy, để khi lần đến cuối cùng xảy ra, căn nhà đã quen với sự hiện diện của Chủ. Ngày ấy sẽ không xé đời ta làm hai mảnh, mảnh đã sống và mảnh sắp sống. Nó sẽ nối. Nó sẽ cho ta múc sâu hơn từ chính mạch nước mà suốt đời ta đã cúi xuống. Và nếu hôm nay ta chưa cảm thấy vui, thì con đường không phải là tự ép mình vui, mà là trở lại với việc được giao, làm lại cho trung tín, đối xử lại cho phải với người đồng liêu, và để sự giàu có không dò thấu ấy có chỗ chảy vào những chỗ lòng đang cạn.
Người đầy tớ khôn ngoan không hỏi chủ về lúc mấy giờ để còn biết có đáng sống đàng hoàng hay không. Anh đã biết câu trả lời từ khi nhận phận. Chỉ có một cách làm cho ngày chủ vắng mặt không trở thành ngày nhà tan, đó là sống như chủ vẫn đang ở trong nhà, vì thực ra, với người đã nếm suối cứu độ, chủ không bao giờ vắng theo nghĩa làm cho lòng được phép đổi khác. Hãy sẵn sàng. Không phải như kẻ canh trộm. Hãy sẵn sàng như kẻ đã tìm thấy niềm vui của mình ở đúng chỗ phận mình, và vì thế giờ không ngờ, khi đến, sẽ không còn là giờ lạ.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articlePhụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Ba tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR