THỨ 3 TUẦN 29 TN : HÃY THẮT LƯNG VÀ THẮP ĐÈN, VÌ CHỦ NHÀ CÓ THỂ VỀ BẤT CỨ GIỜ NÀO – Lm. Anmai, CSsR
THỨ 3 TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN ĐÈN KHÔNG TẮT GIỮA ĐÊM DÀI – Lm. Anmai, CSsR
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa không bảo chúng con đoán giờ Chúa trở lại. Chúa bảo chúng con thắt lưng cho gọn và thắp đèn cho sẵn. Thắt lưng, vì còn việc phải làm. Thắp đèn, vì đêm chưa qua. Chờ, vì chủ nhà đi ăn cưới, và sẽ gõ cửa.
Con vẫn hay đổi sự tỉnh thức thành sự lo. Con tính giờ, đoán điềm, rồi mỏi. Trong khi điều Chúa hỏi không phải là con biết lúc nào, mà là khi Chúa gõ, cửa có mở ngay không. Đèn có còn dầu không. Lưng có còn buộc để đứng dậy không, hay con đã cởi dây, tắt đèn, và gọi sự mệt của mình là an nghỉ.
Lạy Chúa, phúc cho những đầy tớ nào chủ về mà còn thấy tỉnh. Không phải vì họ không buồn ngủ. Vì họ không giao đêm cho sự quên. Họ không nói: còn lâu. Họ không nói: sáng mai cũng được. Họ giữ nhà như người biết chủ sẽ về, dù giữa đêm, dù gần sáng.
Và điều làm con không dám tin: chủ ấy sẽ thắt lưng, bảo họ ngồi vào bàn, và chính mình đến hầu hạ họ. Đêm chờ đợi kết thúc không bằng một cuộc soát sổ, mà bằng một bàn tiệc, trong đó người phục vụ được ngồi, và Người được phục vụ trở thành người phục vụ.
Xin đừng để con tắt đèn giữa lúc tưởng mình còn thời giờ. Xin giữ con thức không phải bằng sợ, nhưng bằng lòng nhớ cửa sẽ có tiếng gõ. Và khi Chúa vào, xin cho con không còn gì phải thanh minh, chỉ còn đôi tay mở then, và một chỗ trống ở bàn, để Chúa được làm điều Chúa vẫn muốn làm: cúi xuống, thắt lưng, và nuôi những kẻ đã chờ Chúa.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, tôi kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời tôi, xin ghé tai về bên tôi, xin nghe rõ tiếng tôi. Lạy Chúa, xin gìn giữ tôi như con ngươi mắt Chúa, xin che chở tôi trong bóng cánh của Ngài.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm lòng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : Ep 2, 12-22
“Chính Người là sự bình an của chúng ta, Người đã làm cho đôi bên nên một”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, khi ấy anh em không có Ðức Kitô, anh em bị đặt ra ngoài cộng đồng Israel, anh em là những người xa lạ đối với những giao ước, không được cậy trông lời hứa và cũng không được biết Thiên Chúa ở cõi đời này. Xưa kia anh em là những kẻ ở xa, thì nay trong Ðức Giêsu Kitô, anh em đã nên gần nhờ bửu huyết của Người. Chính Người là sự bình an của chúng ta, Người đã làm cho đôi bên nên một, đã phá đổ bức tường ngăn cách, tiêu diệt sự hận thù trong thân xác của Người, tức là bãi bỏ lề luật cũ với những thể lệ, để kiến tạo cả hai nên một người mới, đem lại bình an, dùng thập giá giải hoà hai dân tộc trong một thân thể với Thiên Chúa. Nơi Người, mối thù nghịch đã bị tiêu diệt, và Người đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Và chính nhờ Người mà chúng ta đôi bên được đến gần Cha trong cùng một Thần Trí.
Vì vậy, anh em không còn là khách trọ và khách qua đường nữa, nhưng là người đồng hương với các Thánh và là người nhà của Thiên Chúa: anh em đã được xây dựng trên nền tảng các Tông đồ và các Tiên tri, có chính Ðức Giêsu Kitô làm đá góc tường. Trong Người, tất cả toà nhà được xây dựng cao lên thành đền thánh trong Chúa; trong Người, cả anh em cũng được xây dựng làm một với nhau, để trở thành nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 84, 9ab-10. 11-12. 13-14
Ðáp: Chúa phán bảo về sự bình an cho dân tộc Người (c. 9).
Xướng: Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an. Vâng, ơn cứu độ Chúa gần đến cho những ai tôn sợ Chúa, để vinh quang Chúa ngự trị trong đất nước chúng tôi.
Xướng: Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống.
Xướng: Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng tôi sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Ngài.
Alleluia: Ga 17, 17b và a
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Lời Cha là chân lý; xin hãy thánh hoá chúng trong sự thật”. – Alleluia.
Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức đững vững trước mặt Con Người – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 12, 35-38
“Phúc cho đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ. Phúc cho những đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức. Thầy bảo thật các con, chủ sẽ thắt lưng, xếp chúng vào bàn ăn, và đi lại hầu hạ chúng. Nếu canh hai hoặc canh ba, chủ trở về mà gặp thấy như vậy, thì phúc cho các đầy tớ ấy”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết phụng thờ Chúa tại bàn thánh này, với tâm hồn tự do của con cái Chúa, để những mầu nhiệm chúng con đang cử hành đem lại cho chúng con nguồn ơn thanh tẩy. Chúng con cầu xin..
Ca hiệp lễ
Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, và nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
Hoặc đọc:
Con Người đến, để ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa gọi chúng con tời bàn tiệc Nước Trời và ban dồi dào sức sống mới, xin Chúa phù trợ chúng con trong cuộc sống hằng ngày và dạy chúng con biết tìm kiếm những hồng ân vĩnh cửu. Chúng con cầu xin…
THẮT LƯNG CHO CHẮC, ĐÈN CÒN SÁNG, CỬA SẴN SÀNG MỞ
Đêm không hỏi trước giờ chủ về. Nhà thì im. Đường thì vắng. Ngoài kia tiệc cưới còn chưa tan, trong này những người được giao việc phải sống như người không được phép ngủ say. Chúa Giêsu không nói một lời dễ nghe cho kẻ muốn an nhàn. Ngài nói hãy thắt lưng, hãy thắp đèn, hãy giống những đầy tớ đang đợi chủ đi ăn cưới trở về, để vừa nghe tiếng gõ là mở ngay, không chần, không hỏi lại, không viện cớ mắt còn nặng. Phúc không dành cho kẻ tính toán đúng giờ, vì chẳng ai tính được giờ ấy. Phúc dành cho kẻ còn tỉnh khi chủ tới, dù tới vào canh một hay canh khuya, dù nhà đã mệt, dầu đã vơi, dù chung quanh có người bảo rằng chờ lâu quá thì thôi cũng được.
Thắt lưng là một cử chỉ rất cụ thể của người xưa trước khi lên đường, trước khi làm việc, trước khi không muốn vướng chân. Áo dài buông xuống thì đẹp lúc ngồi nghỉ, nhưng vừa phải chạy, vừa phải cúi, vừa phải mang vác là vướng. Người ta vén lên, buộc chặt, để thân sẵn sàng. Lời ấy đi thẳng vào đời sống đức tin. Có những lúc ta để lòng mình buông. Không phải tội lớn nào choáng mắt. Chỉ là dây thắt lỏng dần. Lời kinh còn đọc nhưng đọc như người đang ngủ mở mắt. Việc bổn phận còn làm nhưng làm như người thuê giờ. Lòng thương người còn đó nhưng chỉ đến khi không đụng tới sự tiện của mình. Thắt lưng là kéo lại cái gì đã trễ. Là không để ngày nào trôi qua trong tư thế người đang nghỉ phép với Thiên Chúa. Là biết mình đang ở trong nhà của chủ, không phải đang ở nhà mình để muốn thức thì thức, muốn khóa cửa thì khóa. Đầy tớ không chọn giờ chủ về. Đầy tớ chọn cách mình sẽ mở cửa khi tiếng gõ ấy tới.
Đèn là chuyện khác, tuy đi cùng một nhịp. Thắt lưng là thân sẵn sàng. Đèn là mắt còn sáng, nhà còn nhận ra đường, cửa còn thấy được bàn tay đang gõ. Đêm mà đèn tắt thì dầu tai có nghe cũng dễ tưởng tiếng gió. Đêm mà đèn tắt thì người trong nhà ngồi đó mà như không có nhà. Chúa không bảo hãy thắp đèn cho đẹp. Ngài bảo hãy để đèn còn cháy. Cháy là phải có dầu. Dầu không tự sinh giữa đêm. Dầu là những gì đã chuẩn bị từ lúc còn sáng, từ những ngày chẳng ai để ý, từ những việc nhỏ không được khen. Người để dành dầu không phải người lúc nào cũng nói về sự tỉnh thức. Người ấy là người không để cho lòng mình cạn giữa những ngày giống nhau. Một lời tha chưa nói ra. Một giờ ở lại với người bệnh dài hơn dự định. Một sự thật không nói giảm cho dễ sống. Một lần không lấy của người khác cái mà tay mình với tới được. Những thứ ấy không ồn. Nhưng chính chúng giữ cho bấc khỏi khô.
Canh đêm trong nhà xưa được chia để có người thức. Không phải mọi người cùng ngủ rồi cùng thức. Có người giữ phần đầu đêm, có người giữ lúc đêm đã sâu, có người giữ khoảng trời sắp sáng mà mắt lại buồn nhất. Chúa nói đến canh hai, canh ba là nói đến chỗ người ta dễ gục. Canh hai là lúc tiệc bên ngoài còn tưởng dài, lúc trong nhà bắt đầu thì thầm rằng chắc còn lâu. Canh ba là lúc thân đã lạnh, lý lẽ đã mệt, lời hứa ban chiều không còn nóng. Phúc được nói đúng vào chỗ ấy. Không phải phúc cho kẻ chưa từng buồn ngủ. Phúc cho kẻ buồn ngủ mà không giao nhà cho bóng tối. Có những đời sống đức tin đẹp lúc mới đầu, lúc lòng còn nóng, lúc việc lành còn mới. Rồi năm tháng dài ra. Lời Chúa đọc đã quen tai. Nhà thờ vẫn đó. Bổn phận vẫn đó. Không có biến cố nào đủ lớn để lay. Chính lúc không có biến cố, sự tỉnh thức mới bị thi. Người ta không bỏ đèn một cách ồn ào. Người ta để đèn nhỏ dần, rồi một đêm nhìn lại thì chỉ còn tim. Tim ấy chưa tắt hẳn, nhưng không đủ sáng để mở cửa ngay.
Chủ đi ăn cưới mà về. Chi tiết ấy không thừa. Cưới là niềm vui đã khởi sự, là bàn đã bày, là giao ước đã được công bố giữa tiếng nhạc. Chủ không từ chiến trận mà về với bộ dạng người cần được an ủi trước. Chủ từ bàn tiệc mà về. Nước Thiên Chúa không phải một phiên xử đang treo trên đầu để người ta run. Nước ấy là tiệc. Nhưng tiệc ấy không cho phép đầy tớ biến nhà thành chỗ ngủ quên. Niềm vui của chủ càng lớn thì sự sẵn sàng của đầy tớ càng phải thật. Người đợi một tin buồn có khi còn thức vì sợ. Người đợi một niềm vui mà vẫn thức mới là người đã tin niềm vui ấy thuộc về mình, không phải chuyện của nhà khác. Mở cửa ngay là cách thân xác nói lên lòng tin ấy. Không phải mở sau khi đã sửa tóc, sau khi đã tìm lý do cho sự chậm trễ, sau khi đã xem chủ có còn kiên nhẫn gõ nữa không. Mở ngay là nhà này vẫn là nhà của chủ, và người trong nhà chưa đánh mất thính giác của người được yêu.
Rồi xảy ra điều không đời nào đầy tớ dám nghĩ tới. Chủ về, thấy họ còn thức, thì chính chủ thắt lưng, đặt họ vào bàn, và đi lại phục vụ họ. Câu ấy mà đọc nhanh sẽ thành một hình ảnh đẹp rồi trôi. Đọc chậm thì thấy đất đảo. Đầy tớ vẫn là đầy tớ. Chủ vẫn là chủ. Nhưng đêm ấy thứ tự đôi tay đổi chiều. Người có quyền ngồi lại đứng. Người đáng được hầu lại được đặt vào chỗ của người được mời. Đây không phải phần thưởng kiểu chủ thưởng tiền rồi đi ngủ. Đây là chính chủ nhận lấy dáng của kẻ phục vụ. Cả Tin Mừng nằm trong cử chỉ ấy. Thiên Chúa không về để đòi sổ. Ngài về để đặt người còn tỉnh vào bàn của Ngài, rồi chính Ngài bưng phần vui ấy tới. Lòng thương xót không đứng ngoài cửa chờ ta đủ xứng đáng mới gõ. Lòng thương xót gõ, và khi cửa mở, lòng thương xót trở thành người phục vụ. Ai hiểu được điều này thì không còn giữ đạo như người giữ một hợp đồng sợ bị phạt. Người ấy thức vì không nỡ để nhà tối khi chủ là như thế.
Sự đảo chiều ấy cũng là một lời cảnh tỉnh rất dịu mà rất sắc. Nếu chủ về mà thấy đèn tắt, thấy lưng không thắt, thấy cửa then từ bên trong vì người trong nhà đã quyết định đêm nay là đêm của mình, thì bàn ấy không được bày theo cách ấy. Không phải Thiên Chúa hết yêu. Là nhà ấy không còn chỗ để tình yêu đi vào bằng cửa chính. Người ta có thể vẫn mang tên đầy tớ. Người ta có thể vẫn kể rằng mình thuộc về nhà này. Nhưng then cửa là một sự thật không cần giải thích nhiều. Then cửa là lúc ta nói với Chúa rằng giờ này không tiện. Là lúc ta để một mối giận nằm ngang lối đi. Là lúc ta giữ một thói quen mà biết rõ nó làm mờ mắt. Là lúc ta dùng của cải, dùng tiếng nói, dùng sự im lặng của mình như của riêng, không còn như của người quản lý. Chủ không xô cửa. Chủ gõ. Phúc thuộc về kẻ nghe tiếng gõ ấy thành tiếng của người nhà, không thành tiếng của khách lạ đến sai giờ.
Đợi lâu là một thử thách riêng. Kinh Thánh không giấu rằng có lúc người ta nói trong lòng: chủ còn chậm. Câu ấy nguy không phải vì nó nhận ra thời gian dài. Câu ấy nguy vì nó biến sự chậm thành giấy phép. Chủ chậm thì ta được quyền lỏng. Chủ chậm thì người dưới tay ta có thể bị nặng lời. Chủ chậm thì phần ăn của nhà có thể thành tiệc riêng. Sự tỉnh thức chết ở chỗ ấy nhiều hơn là chết vì một lần sa ngã ồn ào. Một người có thể không trộm, không bỏ nhà, không công khai chối chủ, mà vẫn sống như chủ sẽ không về trong đêm nay. Đêm nay thành một khoảng trống được phép dùng tùy ý. Rồi đêm mai cũng vậy. Rồi cả một đời là chuỗi đêm nay. Khi chủ tới, không cần xét án phức tạp. Chỉ cần xem nhà còn là nhà của người đang đợi hay đã thành quán của người đang nghỉ.
Thắt lưng giữa đời thường không có dáng bi tráng. Nó là người cha còn thức khi con chưa về, không phải để xét mà để cửa còn mở và đèn còn đủ sáng cho con nhận ra nhà. Nó là người mẹ không để bữa ăn của cả nhà thành chỗ trút giận cuối ngày. Nó là người làm việc không cắt xén phần của người vắng mặt. Nó là người bệnh không biến cơn đau thành lý do đóng lòng với mọi người còn lại. Nó là người trẻ không giao cả tuổi mình cho những ánh sáng giả, những ánh sáng không cần dầu vì chúng chạy bằng sự chú ý của đám đông rồi tắt khi đám đông quay đi. Nó là người đã lớn tuổi không nói rằng phần thức của mình đã xong. Canh ba nhiều khi chính là canh của những người tưởng mình được nghỉ. Chúa không miễn canh nào. Ngài nói nếu chủ tới vào canh hai hay canh ba mà vẫn thấy họ như vậy, thì phúc cho họ. Như vậy là đủ để hiểu rằng tuổi tác không phải giấy phép tắt đèn.
Trong đời linh mục và đời tu, lời này còn sát hơn. Người được giao nhà dễ tưởng mình là người giữ đèn cho kẻ khác, rồi quên rằng đèn của chính mình cũng phải cháy. Có thể đứng ở cửa nhà thờ, có thể nói về sự tỉnh thức rất hay, mà then lòng thì đã cài từ lâu vì mệt, vì quen, vì một vết thương không đưa vào ánh sáng. Chủ không về kiểm tra bài giảng. Chủ về xem người được giao việc còn mở được cửa hay không. Mở được cửa là còn biết mình là đầy tớ. Còn biết bàn tiệc không phải bàn của mình. Còn biết đêm dài không phải cớ để biến cộng đoàn thành nơi mình được phục vụ theo ý thích. Sự đảo chiều của Tin Mừng phải xảy ra trước trong người đứng đầu. Nếu chủ thắt lưng để phục vụ đầy tớ, thì người thay mặt chủ giữa cộng đoàn không được sống như ông chủ của đêm. Thắt lưng ở đây là kéo lại quyền. Là không dùng sự chậm của ngày chung cuộc để nới lỏng sự thật hôm nay.
Đèn của một giáo xứ, một gia đình, một cộng đoàn cũng tắt theo cách tập thể. Không cần ai ra lệnh tắt. Chỉ cần mỗi người để phần dầu của mình ở nhà. Lời kinh còn có. Việc từ thiện còn có. Nhưng cửa lòng không mở ngay khi có tiếng gõ của người nghèo, của người sai, của người không hợp tính. Tiếng gõ ấy chính là một dạng tiếng chủ về, vì chủ đã đồng hóa mình với những kẻ bé nhỏ đến mức ai mở cho họ là mở cho Ngài. Nhà nào chỉ thắp đèn cho ngày lễ, còn đêm thường thì để tối, nhà ấy chưa hiểu canh đêm. Nước Thiên Chúa không tới theo lịch bận rộn của ta. Nước ấy tới theo giờ của chủ. Giờ ấy hay rơi vào lúc ta đang nói còn sớm, hay đang nói quá muộn.
Có một sự mệt rất thật, không được gọi bằng tên giả dối. Người thức canh cũng là người có thân xác. Mắt có giới hạn. Lòng có những ngày không nóng. Sự tỉnh thức của Tin Mừng không phải sự căng thẳng của kẻ sợ bị bắt quả tang. Nó là sự trung tín của kẻ yêu nhà này. Người yêu không cần lúc nào cũng run. Người yêu cần không giao cửa cho sự vô tâm. Khi mệt, người ấy không tắt đèn. Người ấy xin dầu. Dầu ấy có trong bàn tiệc đã được dọn sẵn giữa tuần, trong lời tha mà Hội Thánh không bao giờ khóa kho, trong một người anh em còn thức và có thể được nói thật, trong một đoạn Tin Mừng đọc không phải để có cảm giác đạo đức mà để bị lời ấy sửa lại tư thế. Thắt lưng lại sau khi đã lỏng không phải thất bại. Đó là cách đầy tớ còn ở trong nhà. Kẻ thất bại là kẻ thấy dây đã lỏng mà gọi sự lỏng ấy là tự do.
Hình ảnh chủ đi phục vụ những đầy tớ còn thức cũng chữa một thứ sợ hãi lệch. Nhiều người thức vì sợ hình phạt, rồi cả đời đức tin thành một đêm trực không có tiệc. Chúa không mô tả một chủ về để khiển trách những kẻ còn đèn. Ngài mô tả một chủ về để nâng họ lên bàn. Đêm tỉnh thức, vì thế, không phải đêm của sự nghi kỵ. Là đêm của niềm hy vọng đã có hình. Người ta chịu khó không ngủ say vì biết phía sau tiếng gõ không phải là một cuộc thanh tra, mà là một sự đảo chiều của tình yêu. Thiên Chúa muốn ngồi đầy tớ của Ngài vào chỗ khách, rồi chính Ngài mang niềm vui tới. Ai tin điều đó thì sự tỉnh thức hết nặng như gánh. Nó vẫn là việc. Nhưng là việc của người đang đợi người mình yêu trở về từ đám cưới, không phải việc của người đang đợi một bản án.
Đêm nào cũng có thể là canh của mình. Không cần biết đó là canh mấy theo đồng hồ của trời. Chỉ cần biết hiện giờ dây lưng đang ở đâu, dầu còn hay đã cạn, cửa còn nghe tiếng gõ hay đã quen với tiếng then. Phúc không nằm ở chỗ ta đoán trúng giờ. Phúc nằm ở chỗ khi giờ ấy tới, nhà này vẫn là nhà có người thức, có đèn, có tay sẵn sàng mở, và có lòng chưa biến sự chờ đợi thành sự chiếm hữu. Chủ sẽ về. Ngài sẽ thắt lưng. Ngài sẽ đặt vào bàn những kẻ Ngài còn thấy tỉnh. Đêm dài không làm mất tiệc. Đêm dài chỉ làm lộ ra ai còn muốn dự tiệc ấy bằng tư thế của người nhà.
Lm. Anmai, CSsR
ĐÈN KHÔNG TẮT GIỮA ĐÊM DÀI
Có những đêm người ta tưởng mình đang sống, mà thật ra chỉ đang trôi. Nhà vẫn khóa, cửa vẫn đóng, hơi thở vẫn đều, công việc ngày mai đã được xếp sẵn trên bàn, thế mà lòng thì không có ai đứng chờ. Đêm ấy không thiếu ánh sáng của phố, không thiếu tiếng xe, không thiếu những tin nhắn chạy qua màn hình, nhưng thiếu một thứ rất cũ và rất cần: ngọn đèn được thắp vì có người sắp về. Lời Chúa dựng lên một căn nhà giữa đêm, không phải để kể chuyện người giúp việc khéo tay, mà để kéo mỗi người trở lại với tư thế của kẻ biết mình không phải chủ của thời gian. Thắt lưng cho gọn, đèn cho sẵn, tai còn nghe tiếng gõ cửa. Ba việc ấy nghe đơn giản đến mức có thể bị bỏ qua giữa một ngày đầy việc, nhưng cả đời người được định đoạt ngay trong cách người ta giữ hay buông ba việc ấy.
Thắt lưng, trong nhà xưa, không phải một kiểu trang sức. Áo dài, vạt rộng, dễ vướng khi chạy, khi bưng mâm, khi cúi xuống rửa chân, khi mở cửa giữa đêm. Người thắt lưng là người đã quyết không để y phục của mình làm chậm bước. Người ấy chưa nghỉ. Người ấy chưa nói với mình rằng đêm nay chắc chẳng có gì xảy ra. Người ấy vẫn ở trong tư thế của công việc, dù mắt có thể mỏi, dù chân có thể nặng. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Có những thứ không xấu, nhưng rất dài, rất rộng, rất dễ vướng: thói quen trì hoãn, lời bào chữa đã thuộc lòng, nỗi buồn được nuôi quá lâu, sự bận rộn được dùng như một tấm khiên, hình ảnh bản thân được giữ kỹ đến mức không còn chỗ cho một tiếng gõ cửa bất ngờ. Thắt lưng là gom lại những gì đang buông. Là không để ngày hôm nay kết thúc trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Là dám nói với lòng mình rằng giờ này vẫn còn là giờ của bổn phận, giờ của lòng trung tín, giờ của một người biết mình đang được giao nhà chứ không phải đang thuê một góc để ngủ quên.
Đèn thì khác với lưng. Lưng là sự sẵn sàng của thân xác và ý chí. Đèn là sự sáng của lòng. Một người có thể rất siêng, rất đúng giờ, rất kín kẽ trong sổ sách, mà đèn trong nhà vẫn tắt. Đèn tắt không luôn luôn là tội lớn. Đèn tắt có khi chỉ là một sự quen dần với bóng tối nhỏ. Người ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc lành, nhưng không còn chờ. Không còn ngước. Không còn để một khoảng trống trong ngày cho Đấng mà mình gọi là Chúa. Ngọn đèn trong dụ ngôn không được thắp cho khách khứa, cũng không được thắp để khoe nhà sạch. Nó được thắp vì chủ sắp về, và vì người ở trong nhà không muốn chủ phải đứng ngoài tối mà gõ mãi. Có những căn nhà rất sáng với đời, rất tối với Chúa. Có những lịch làm việc đầy đến nghẹt, mà không có một khoảng nào mang tên sự chờ đợi. Đèn sẵn không phải là cảm xúc lúc nào cũng nóng. Đèn sẵn là dầu còn, bấc còn, tay còn biết đường tới chỗ lửa. Là khi mệt vẫn không tắt hẳn. Là khi thất vọng vẫn không kéo màn kín đến mức không còn một khe sáng.
Hình ảnh những đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về mang một nỗi dịu dàng lạ. Chủ không đi chiến trận. Chủ không đi xử án. Chủ đi dự tiệc cưới, nghĩa là đi vào niềm vui, đi vào giao ước, đi vào một bàn ăn đã được dọn. Người ở nhà không được mời vào tiệc ấy, nhưng được giao việc giữ nhà cho đến khi niềm vui ấy trở về. Đây là chỗ rất nhiều người hiểu sai đời mình. Họ tưởng trung tín là phải làm được việc lớn, phải được đứng ở bàn tiệc, phải có tên trong câu chuyện của người khác. Nhưng căn nhà trong đêm lại nói một điều khác. Có một thứ hạnh phúc âm thầm của kẻ được giao giữ cửa. Giữ cho nhà không loạn khi chủ vắng. Giữ cho đèn không cạn dầu. Giữ cho bếp còn ấm nếu chủ về đói. Giữ cho không ai trong nhà bị bỏ đói vì người quản lý đã ngủ. Phúc không được hứa cho người làm nên kỳ tích. Phúc được hứa cho người còn thức khi chủ về. Chữ còn ấy mới là trọng tâm. Còn thức sau canh một đã khó. Còn thức tới canh hai đã là một cuộc chiến với mí mắt. Còn thức tới canh ba là ở lại với đêm khi mọi lý do để ngủ đã trở nên rất chính đáng.
Canh hai và canh ba không phải những giờ đẹp. Đó là khoảng thời gian thân xác đòi quyền của nó. Đêm đã sâu. Sáng còn xa. Không có khách. Không có tiếng khen. Không có việc gì gấp đến mức buộc phải mở mắt. Chính vì vậy, sự tỉnh thức lúc ấy mới lộ ra bản chất. Nó không còn dựa vào hưng phấn. Nó không còn dựa vào nỗi sợ bị bắt gặp. Nó dựa vào một lòng nhớ. Nhớ rằng nhà này không phải của mình. Nhớ rằng cửa này có người sẽ gõ. Nhớ rằng dầu trong đèn không được tính theo sự thuận tiện của kẻ thức, mà theo giờ về của kẻ được chờ. Đời thường có những canh ba rất cụ thể. Là buổi chiều muộn sau một ngày dạy học, khi giọng đã khản mà vẫn còn một người cần được nghe hết câu. Là gian bếp khi cơm đã nguội, con chưa về, mà người mẹ không tắt bếp. Là phòng bệnh khi cơn đau qua đi rồi lại tới, và người ngồi cạnh không còn lời hay để nói, chỉ còn bàn tay. Là xứ đạo nhỏ khi số người dự lễ chẳng tăng, việc bổn thì nhiều, lời góp ý thì sắc, mà người được giao đàn chiên vẫn mở cửa nhà thờ đúng giờ. Là một linh mục, một tu sĩ, một giáo lý viên, một người cha người mẹ, một bệnh nhân, một người trẻ giữa thành phố, khi không còn cảm thấy mình đang làm chuyện quan trọng, mà vẫn không trao ngôi nhà của lòng cho sự buông xuôi.
Điều làm dụ ngôn này khác mọi bài học về kỷ luật là cú đảo ngược ở cuối. Chủ về, thấy đầy tớ còn thức, không ngồi xuống cho họ hầu. Chủ thắt lưng. Chủ đưa họ vào bàn. Chủ đi tới từng người mà phục vụ. Đây không phải phần thưởng theo kiểu đổi công. Đây là bản chất của ông chủ ấy lộ ra khi cửa vừa mở. Người ta tưởng mình đang giữ nhà cho một ông chủ nghiêm, hóa ra mình đang chờ một người sẵn sàng cúi xuống. Sự tỉnh thức, vì vậy, không phải nỗi sợ bị phạt nếu ngủ quên, dù ngủ quên thật sự là một mất mát. Sự tỉnh thức là lòng không muốn khép cửa trước một tình yêu sắp bước vào để phục vụ. Nhiều người giữ đạo như giữ một phiên gác nặng nề. Họ đúng giờ, họ sạch sẽ, họ tránh tội, nhưng họ không chờ niềm vui. Họ không tin rằng khi Chúa đến, việc đầu tiên của Người là thắt lưng mà phục vụ những kẻ bé nhỏ còn thức. Nếu không tin điều ấy, đèn sẽ sớm trở thành một thứ đèn nghĩa vụ, cháy vì sợ, tắt khi sợ dịu đi. Còn nếu tin, thì cả đêm dài có một lý do để mở mắt: không phải để chứng minh mình giỏi chịu đựng, mà để đừng bỏ lỡ khoảnh khắc mình được đưa vào bàn.
Sự chờ đợi ấy cũng sửa lại cách người ta làm việc ban ngày. Người đầy tớ không thức để khỏi làm việc. Người đầy tớ thức vì việc của mình chưa xong, và vì chủ có thể về bất cứ lúc nào để xem việc ấy đang được làm thế nào. Có một kiểu siêng năng rất dễ lẫn với tỉnh thức. Người ta chạy suốt ngày, trả lời mọi tin nhắn, nhận mọi việc, xuất hiện ở mọi nơi, rồi gọi đó là phục vụ. Nhưng nếu chạy mà không chờ, thì đó chỉ là một cách trốn đêm. Đêm mới là nơi bộ mặt của sự sẵn sàng hiện ra. Ban ngày ai cũng có thể trông như người thắt lưng. Ban đêm, khi không còn khán giả, mới biết đèn có được châm thêm dầu hay không. Việc bổn phận vì thế cần được làm với một chất riêng: làm như người biết việc này sẽ được chủ nhìn thấy không phải để chấm điểm, mà để ngồi vào bàn với mình. Một bài giảng được soạn không phải để được khen hay, mà để khi Chủ về, Người thấy đàn chiên đã được nuôi đúng giờ. Một giờ kinh không phải để xong một mục trong lịch, mà để dầu trong đèn khỏi cạn giữa những ngày chẳng còn muốn cầu nguyện. Một lần tha thứ trong nhà không phải để giữ hòa khí cho yên chuyện, mà để khi cửa mở, trong nhà không còn một người đang bị đói sự công bằng.
Nỗi nguy nằm ở chữ chậm. Khi chủ đi lâu, lòng người ở nhà bắt đầu kể cho mình một câu chuyện khác. Chắc còn lâu. Chắc đêm nay không về. Chắc việc nhỏ này để mai cũng được. Chắc không ai thấy. Câu chuyện ấy không cần một tội nặng mới bắt đầu. Nó bắt đầu bằng một lần tắt đèn sớm hơn thường lệ. Một lần nói ngày mai tôi sẽ xét mình. Một lần để lời nói chua trong miệng vì nghĩ rằng mối tương quan này còn dài, còn sửa được. Một lần dùng của chung như của riêng, vì người giao của ấy hình như đang ở rất xa. Kinh Thánh không mô tả sự hư hỏng như một cú ngã từ trời xuống. Nó mô tả như một sự nới lưng từ từ. Áo cứ dài thêm. Đèn cứ thấp thêm. Tai cứ quen với tiếng nhà mình đến mức không còn phân biệt được tiếng gõ. Đến khi cửa mở, người ấy không thiếu hoạt động. Người ấy thiếu tư thế. Và tư thế thì không tạo được trong khoảnh khắc chủ đứng ngoài hiên.
Vì vậy sự chuẩn bị không thể để dành cho giờ cuối. Giờ cuối thường không có dầu dự trữ. Dầu được chứa bằng những lần nhỏ. Một lần dừng lại trước khi trả lời gắt. Một lần đọc lại câu Tin Mừng không phải để có tư liệu, mà để câu ấy đọc mình. Một lần vào nhà thờ khi không có lễ, chỉ để ngồi, để nhà ấy còn là nhà chứ không phải sân khấu. Một lần gọi cho người mình đang tránh. Một lần đặt lại trên bàn thờ những gì ban ngày đã lấy đi quá nhiều: danh tiếng, sự kiểm soát, nỗi sợ mất chỗ. Những việc ấy không làm cho đêm ngắn lại. Chúng làm cho đèn có dầu. Và khi dầu còn, canh ba không còn là kẻ thù. Canh ba trở thành giờ của lòng trung tín không cần khán giả.
Nhà trong dụ ngôn cũng là nhà của một cộng đoàn. Không phải mỗi người một đèn rồi ai nấy giữ. Chủ về là về với những đầy tớ, số nhiều, đang cùng thức. Một người ngủ có thể làm cả phòng tối nếu chính người ấy được giao việc châm đèn. Một người tỉnh có thể giữ cho những người khác còn lý do để mở mắt. Đây là chiều kích mà đời sống giáo xứ, cộng đoàn dòng, gia đình, nhóm phục vụ thường quên. Người ta lo giữ đèn của mình sạch, rồi khó chịu vì đèn người bên cạnh khói. Trong khi chủ không hỏi ai có chiếc đèn đẹp hơn. Chủ hỏi nhà này còn sáng không khi Người gõ. Một gia đình có thể rất ổn trước mặt họ hàng, mà bên trong không còn ai chờ ai. Mỗi người một phòng, mỗi người một màn hình, mỗi người một lịch. Cửa nhà khóa kỹ với thế giới, rồi cũng khóa luôn với nhau. Thắt lưng trong một ngôi nhà như thế là dám bước sang phòng bên, dám hỏi một câu không vụ lợi, dám để bữa ăn còn là bữa ăn chứ không phải trạm tiếp nhiên liệu. Giáo xứ cũng vậy. Có những sinh hoạt rất nhiều, đèn rất sáng trên sân khấu, mà cửa lòng của cộng đoàn đã khép từ lâu, vì không còn ai thật sự đứng chờ người nghèo, người mới, người đã lâu không thấy mặt, người đang ở canh ba của một cơn bệnh hay một cuộc đổ vỡ.
Sự đảo ngược của ông chủ còn muốn dạy một cách phục vụ. Nếu chủ về mà thắt lưng để hầu bàn, thì người được giao quyền trong nhà không thể hiểu quyền như một chỗ ngồi cao hơn đèn. Quyền, trong căn nhà ấy, là được phân phát lương thực đúng giờ khi chủ chưa về, và là được trở thành người phục vụ khi chủ đã về. Hai việc ấy là một. Kẻ ban ngày ăn phần của người khác, đêm đến sẽ không mở được cửa với một niềm vui trong sạch. Kẻ ban ngày biết đói của anh em mình là đói của chủ, đêm đến sẽ không lạ khi thấy chủ cúi xuống. Đây là chỗ đời tu, đời linh mục, đời mục tử và cả đời người làm cha làm mẹ bị thử thách nặng nhất. Người ta dễ yêu hình ảnh người thức hơn là yêu chính sự thức. Dễ thích được gọi là người giữ nhà hơn là giữ nhà khi không ai gọi. Dễ thắt lưng cho người khác thấy hơn là thắt lưng lúc canh ba, trong bếp, trong phòng bệnh, trong tòa giải tội, trong một cuộc nói chuyện không có kết quả. Ông chủ của dụ ngôn không khen sự xuất hiện. Ông nhận ra sự còn đó.
Đêm dài còn là đêm của Giáo Hội giữa lịch sử. Có những mùa cửa xem ra không gõ. Lời cầu xin dâng lên rồi rơi xuống. Việc lành làm rồi không thấy mùa gặt. Người trẻ đi xa. Nhà thờ đứng đó như một cái đèn còn giá nhưng thiếu người châm. Trong những mùa ấy, cám dỗ lớn nhất không phải là tội ồn ào. Cám dỗ lớn nhất là kể cho nhau nghe rằng chủ chậm, rồi từ từ đổi việc giữ nhà thành việc giữ mình. Giữ tiếng. Giữ ghế. Giữ thói quen. Giữ một thứ đạo không còn run khi nghĩ đến tiếng gõ cửa. Lời Chúa không cho phép sự chờ đợi ấy trở thành một nỗi chán. Người nói phúc cho kẻ còn thức, và phúc ấy không bị giảm đi vì canh đã khuya. Trái lại, càng khuya, phúc càng rõ, vì sự thức lúc ấy không thể giả. Một Giáo Hội còn thức là một Giáo Hội chưa tắt đèn nơi người nghèo, chưa tắt đèn nơi lớp giáo lý ít trẻ, chưa tắt đèn nơi bệnh viện, chưa tắt đèn nơi những cuộc hôn nhân đang mệt, chưa tắt đèn nơi chính lòng các mục tử khi các ngài không còn cảm thấy mình hữu ích. Đèn ấy không cần sáng bằng đèn phố. Đèn ấy cần còn lửa.
Mỗi người cũng có một căn nhà riêng không ai vào được nếu chính mình không mở. Đó là nhà của trí nhớ, của vết thương, của những câu chưa nói, của tội đã thú nhận nhưng chưa chịu để Chúa phục vụ cho đến cùng. Có người thắt lưng rất kỹ với bên ngoài, mà trong nhà ấy thì đèn tắt từ lâu. Họ sẵn sàng với công việc, không sẵn sàng với lòng thương xót. Họ sợ cửa mở, vì cửa mở nghĩa là có người bước vào và thấy mọi thứ chưa dọn xong. Trong khi dụ ngôn lại nói điều ngược lại: chủ không về để kiểm tra bàn đã lau bóng. Chủ về để đưa kẻ còn thức vào bàn, rồi chính Người hầu. Sự thánh thiện ở đây không phải là một ngôi nhà không còn gì để xấu hổ. Sự thánh thiện là một ngôi nhà không khóa trái lòng mình trước Đấng muốn bước vào. Người nào đợi cho đến khi mọi thứ hoàn hảo mới dám thắp đèn, người ấy sẽ không bao giờ có dầu đủ cho canh ba. Đêm không chờ nhà sạch. Đêm chờ nhà còn người.
Vì thế bài học của đêm nay không phải là hãy sợ. Bài học là hãy nhớ nhà này có chủ, và chủ ấy là người đi dự tiệc cưới chứ không phải người đi tìm lỗi. Tiệc cưới nói về giao ước, về niềm vui đã được hứa, về một bàn ăn không kết thúc ở cõi này. Người ở lại giữ nhà được mời tham dự niềm vui ấy không phải bằng cách bỏ cửa, mà bằng cách mở cửa đúng lúc. Giữa một thời đại rất giỏi làm cho con người mất cảm giác về giờ, sự tỉnh thức trở thành một hành vi tự do hiếm hoi. Người ta có thể lướt đến sáng mà không hề thức theo nghĩa của Tin Mừng. Mắt mở, đèn tắt. Tay bận, lưng không thắt. Tai đầy tiếng, không còn nghe tiếng gõ. Đảo lại điều ấy không cần một chương trình lớn. Cần một quyết định nhỏ được lặp lại: tối nay tôi không kết thúc ngày trong tư thế của người không có ai để chờ. Tôi để lại một khoảng. Tôi gọi tên những người tôi đã làm họ đói. Tôi trả lại những gì không phải của tôi. Tôi châm thêm dầu bằng một lời kinh không hay, một sự thinh lặng không chạy trốn, một việc tốt không ai biết.
Và nếu canh đã khuya thật, nếu dầu đã cạn hơn mình tưởng, thì căn nhà trong dụ ngôn vẫn chưa khóa. Chủ chưa trách người mở cửa muộn. Chủ nhìn xem lúc Người tới, người ấy còn thức hay không. Còn thức là còn kịp. Còn một chút lửa là còn có thể thắp lại cả phòng. Phúc không nằm ở chỗ chưa bao giờ buồn ngủ. Phúc nằm ở chỗ khi tiếng gõ vang lên, tay còn tìm được then cửa, miệng còn nói được một câu: con đây. Rồi điều xảy ra sau câu ấy sẽ không giống bất cứ hình dung nào của kẻ đã thức. Người mà mình chờ sẽ thắt lưng. Người ấy sẽ dọn bàn. Người ấy sẽ đi tới từng người, kể cả người thức một cách rất vụng, rất mệt, rất ít dầu, và phục vụ họ như thể cả đêm dài chỉ để đi tới giờ này.
Lm. Anmai, CSsR
HÃY THẮT LƯNG VÀ THẮP ĐÈN, VÌ CHỦ NHÀ CÓ THỂ VỀ BẤT CỨ GIỜ NÀO
Có những lời của Đức Giêsu nghe thì ngắn, mà càng sống càng thấy nó không chịu để yên. Người không giảng một bài dài về ngày tận thế, không vẽ bản đồ thời gian, không cho biết canh nào Người sẽ gõ cửa. Người chỉ nói một câu rất đời thường, rất gần với cách người ta sống trong nhà: hãy thắt lưng cho gọn, hãy thắp đèn cho sẵn, hãy làm như những đầy tớ đang đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa tới và gõ cửa thì mở ngay. Phúc cho những ai còn tỉnh thức khi chủ về. Và phúc ấy không phải là một phần thưởng trao từ xa, mà là một cảnh lạ lùng: chính chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn, và đến bên từng người mà phục vụ. Lời ấy vừa là lời dặn, vừa là lời hứa, vừa là một cách nhìn lại cả đời mình.
Thắt lưng cho gọn không phải là một cử chỉ trang trí. Trong nhà người Do Thái ngày xưa, áo dài dễ vướng khi phải đi, phải chạy, phải cúi, phải mang vác. Ai thắt lưng là người đã sẵn sàng nhúc nhích, không còn để vạt áo kéo lê sau gót. Đèn thắp sẵn cũng vậy. Đèn dầu không phải thứ bật là sáng ngay. Bấc phải tỉa, dầu phải có, tim đèn phải còn cháy. Một người để đèn tắt rồi mới đi tìm dầu khi nghe tiếng gõ cửa là người đã trễ. Đức Giêsu gom hai hình ảnh ấy lại để nói về một nếp sống, không phải về một khoảnh khắc hoảng loạn. Người không bảo môn đệ hãy sợ. Người bảo họ hãy ở trong tư thế của kẻ đang đợi, và đợi cách tỉnh táo, chứ không đợi cách mơ màng.
Chủ đi ăn cưới. Chi tiết ấy đáng để dừng lại. Tiệc cưới là niềm vui, là giao ước, là nhà có khách, là đêm không ngủ sớm. Chủ không đi vào một nơi buồn, cũng không đi để trừng phạt. Chủ đi vào niềm vui, rồi từ niềm vui ấy mà trở về nhà mình. Người đầy tớ tỉnh thức không phải là người ngồi run trong bóng tối, đoán xem mình sẽ bị xét xử thế nào. Người đầy tớ tỉnh thức là người giữ nhà cho xứng với niềm vui mà chủ sắp mang về. Cửa mở ngay không phải vì sợ, mà vì nhà vẫn còn là nhà, đèn vẫn còn là đèn, và lòng vẫn còn hướng về người sẽ bước vào.
Nhiều người nghe nói về ngày Chúa trở lại thì liền hỏi giờ nào, năm nào, dấu nào. Câu hỏi ấy có vẻ đạo đức, nhưng thường là câu hỏi của người muốn biết hạn chót để còn tính. Học trò nào chỉ mở sách khi đã nghe ngày thi là học trò ấy không yêu điều mình học. Họ học để khỏi rớt, không học để hiểu. Đời sống đức tin cũng có thể bị kéo vào thói ấy. Người ta để lòng mình nguội, để việc bổn phận trôi, để lời kinh thành tiếng đọc cho có, rồi hẹn với mình rằng khi gần tới lúc ấy sẽ lo. Nhưng Đức Giêsu không đưa ra một hạn chót để người ta tính. Người cố tình để giờ ấy ở ngoài tầm đoán. Không phải để hành hạ. Người để như vậy vì sự tỉnh thức không phải là một kỹ thuật đối phó với ngày cuối, mà là cách người ta sống với Người ngay trong ngày này.
Nếu ngày mai Người gõ cửa, và hôm nay mình mới bắt đầu thắt lưng, thì cái thắt lưng ấy chỉ là cử chỉ vội. Nếu cả đời mình đã sống như người đang giữ nhà, thì tiếng gõ cửa không làm đảo lộn gì nhiều. Mình vẫn đang làm điều mình vẫn làm. Đèn vẫn cháy vì mình không để nó tắt. Lưng vẫn gọn vì mình không quen sống buông thõng. Sự bình an của người tỉnh thức không đến từ chỗ họ biết trước giờ, mà từ chỗ họ không cần biết trước giờ vẫn sống cho ra sống. Họ không coi đời mình là một khoảng trống nằm giữa hai biến cố, một bên là phép rửa, một bên là giờ chết. Họ coi từng ngày là chỗ Chúa có thể đến, và vì thế từng ngày đều đáng được giữ cho sạch, cho sáng, cho có người ở nhà.
Thói quen để mọi sự đến phút chót không chỉ làm hỏng một kỳ thi. Nó làm hỏng chính cái mình tưởng mình đang giữ. Người học chỉ để qua môn thì ra trường với một mảnh giấy, còn điều đáng học thì đã trôi. Người giữ đạo chỉ để khỏi bị bắt gặp lúc chưa sẵn sàng thì có thể có một bộ mặt ổn vào giờ cuối, còn đời sống bên trong thì không kịp lớn. Đức Giêsu không cần một đầy tớ biết diễn xuất lúc cửa mở. Người cần một đầy tớ còn thức khi Người về. Thức ở đây không phải là mắt mở. Thức là lòng chưa bỏ cuộc, tay chưa buông việc, nhà chưa trở thành nơi chỉ có mình mình ở.
Sự thánh thiện, nếu gọi đúng tên của nó, không phải là một đích người ta phóng tới trong ba ngày sau cùng. Nó là một cuộc vật lộn dài, có lúc ngã, có lúc đứng dậy, có lúc thấy mình yếu đến mức không dám nhìn lại tuần vừa qua. Người tỉnh thức không phải là người không bao giờ ngủ gật. Người tỉnh thức là người khi ngủ gật thì biết mình đã ngủ gật, và không lấy cớ ấy để tắt đèn luôn. Họ đứng dậy, họ xin lỗi, họ học lại từ chỗ mình vừa vấp, rồi họ tiếp tục giữ nhà. Cái làm họ khác không phải là họ không có tội. Cái làm họ khác là tội không trở thành chủ nhà. Họ vẫn để cửa hướng về phía Người sẽ về, chứ không xây cửa vào phía mình rồi sống như thể không còn ai để đợi.
Có một nỗi sợ rất tinh vi trong đời sống thiêng liêng. Người ta sợ ngày Chúa đến vì người ta biết mình chưa sẵn. Nỗi sợ ấy đôi khi có ích, nếu nó đánh thức. Nhưng nếu nó chỉ làm người ta co lại, tính toán, chờ một chiến dịch sám hối lớn vào cuối đời, thì nó đã đánh tráo lời Đức Giêsu. Lời Người không nhằm tạo ra một đám đầy tớ hoảng loạn. Lời Người nhằm tạo ra những người có thể nghe tiếng gõ cửa mà mỉm cười, vì nhà vẫn còn đèn, vì việc vẫn còn được làm, vì lòng vẫn còn chỗ cho chủ bước vào. Sự bình an ấy không rẻ. Nó được mua bằng những ngày không ai thấy, những lần chọn điều khó hơn điều dễ, những lần không lấy cớ bận mà tắt hết mọi sự thiêng liêng trong nhà.
Hình ảnh chủ thắt lưng để phục vụ đầy tớ là hình ảnh không thể giải thích bằng lẽ công bình thông thường. Đầy tớ thức để đợi chủ, ấy là bổn phận. Chủ về mà lại thắt lưng, đưa họ vào bàn, đi quanh mà phục vụ, ấy là hồng ân vượt quá bổn phận. Đức Giêsu đang hé cho thấy khuôn mặt của Thiên Chúa không giống ông chủ chỉ biết đòi. Người là chủ mà lại là người phục vụ. Người về không phải để bắt quả tang, mà để thiết tiệc cho những ai đã không bỏ cuộc giữa đêm. Canh hai hay canh ba, Người không chê. Người không nói chỉ những ai thức từ đầu hôm mới được kể. Người nói nếu canh hai hoặc canh ba mà vẫn còn thấy họ tỉnh thức, thì phúc cho họ. Đêm dài. Có những giờ mệt hơn những giờ khác. Có những năm đời người tưởng như canh ba, khi sức đã mòn, khi nhiệt huyết ban đầu không còn, khi chung quanh không còn ai hỏi mình có còn đợi không. Chính những giờ ấy mà còn thức thì phúc ấy càng rõ.
Giữ đèn không có nghĩa là lúc nào cũng làm việc lớn. Đèn trong nhà thường chỉ là một ngọn nhỏ, đủ để thấy cửa, thấy bàn, thấy mặt nhau. Đời sống người môn đệ cũng thường được giữ bằng những việc nhỏ mà đều. Một lời kinh không bỏ dù hôm ấy chẳng cảm thấy gì. Một sự thật không nuốt dù nói ra thì bất lợi. Một người đang cần mà mình không bước qua. Một cơn nóng không được phép thành lời độc. Một lần xét mình không cần khán giả. Những việc ấy không lên báo. Chúng cũng không tạo ra cảm giác mình đang chuẩn bị cho một biến cố vĩ đại. Ấy thế mà chính chúng là dầu trong đèn. Thiếu chúng lâu ngày, đến khi nghe tiếng gõ cửa thì nhà đã tối.
Người ta hay tách ngày Chúa đến ra khỏi ngày hôm nay, như thể một bên là đời thường, một bên là đại sự. Đức Giêsu không tách. Người để ngày ấy có thể là giờ này, và vì thế giờ này đã mang chất của ngày ấy. Ai sống với vợ với chồng như người không phải trả lời, ai làm việc như người không có chủ, ai giữ của như của chỉ thuộc về mình, ai nói về người khác như thể lời nói không bao giờ bị nghe lại, người ấy đang sống trong nhà tắt đèn. Không cần đợi một điềm trên trời mới biết. Nhà tối thì tối từ bây giờ. Ngược lại, ai tập mở cửa lòng mỗi ngày, ai tập thắt lưng trước những việc mình vẫn muốn trì hoãn, người ấy không cần một thời khóa biểu của tận thế. Họ đã ở trong tư thế rồi.
Sự tỉnh thức còn là chuyện của cộng đoàn, không chỉ của từng người ngồi một mình với đèn của mình. Một nhà mà mỗi người giữ một góc, người thì lo cửa, người thì lo đèn, người thì lo bàn, thì chủ về sẽ thấy nhà còn là nhà. Một giáo xứ, một gia đình, một cộng đoàn tu sĩ cũng vậy. Nếu mỗi người chỉ lo phần nổi của mình, còn những góc khuất thì để mặc, đèn chung sẽ tắt từng vùng. Tỉnh thức với nhau là nhắc nhau trước khi đêm quá khuya, chứ không phải chờ ai ngã rồi mới họp để trách. Lời Đức Giêsu nói với số nhiều. Những đầy tớ. Họ đợi cùng nhau. Phúc được trao cho họ khi chủ thấy họ còn thức. Không phải một người anh hùng thức thay cho cả nhà, mà là một nhà còn có người thức.
Có những lúc người ta tưởng rằng nói về ngày Chúa trở lại là nói về một chuyện xa, thuộc về sách khải huyền, không đụng đến bữa cơm và việc làm hôm nay. Thật ra nó đụng rất gần. Nó đụng đến cách mình dùng thời gian khi không có ai kiểm tra. Nó đụng đến cách mình đối xử với người không có quyền phạt mình. Nó đụng đến những chọn lựa nhỏ mà nếu cộng lại thì ra một đời hoặc sẵn sàng hoặc không. Chủ không về để xem mình đã diễn được bao nhiêu bài giảng hay đã giữ được bao nhiêu hình thức. Chủ về để xem nhà còn có người đợi Người không. Đợi ở đây là một cách sống, không phải một tư thế ngồi.
Nếu tưởng tượng tiếng gõ cửa vào giờ này, câu hỏi không phải là mình sẽ kịp sửa những gì trong năm phút. Câu hỏi là những gì mình đang làm có phải là những gì mình vẫn muốn được thấy khi cửa mở. Nếu có, thì không cần một cuộc lật ngược vội vàng. Nếu không, thì vấn đề không nằm ở ngày mai. Vấn đề nằm ở chỗ mình đã quen sống một đời mà chính mình cũng không muốn chủ chứng kiến. Sự sám hối thật bắt đầu từ chỗ ấy, từ việc không chờ một ngày đặc biệt mới chịu nhìn lại nhà mình. Nhìn hôm nay. Thấy góc nào tắt thì thắp lại hôm nay. Thấy việc nào bỏ dở vì mình cứ hẹn thì làm lại hôm nay.
Đức Giêsu không biến các môn đệ thành những người mất ngủ vì lo. Người biến họ thành những người biết đêm nào cũng có thể là đêm chủ về, và vì thế đêm nào cũng đáng giữ cho có đèn. Niềm vui của họ không phải là họ đã tính đúng ngày. Niềm vui của họ là khi cửa mở, họ không phải chạy đi tìm dầu, không phải kéo vạt áo đang lê dưới đất, không phải giải thích vì sao nhà lại tối. Họ chỉ việc mở. Và rồi họ được thấy một điều họ không dám nghĩ mình xứng: chính chủ thắt lưng, chính chủ đưa họ vào bàn, chính chủ đi qua đi lại mà phục vụ. Đêm dài hóa ra là đêm tiệc. Sự tỉnh thức hóa ra là cửa ngõ của một niềm vui mà người đầy tớ không tự mình nấu được.
Vì thế lời dặn năm xưa vẫn đứng nguyên giữa đời này. Không cần biết canh mấy. Không cần một dấu trên mây mới bắt đầu. Thắt lưng là bỏ những gì làm mình nặng và chậm khi phải đáp lại. Thắp đèn là đừng để dầu cạn giữa những ngày tưởng như chưa có gì xảy ra. Ở lại trong nhà là đừng sống như khách trong chính đời mình, hết ngày này sang ngày khác mà không còn ai để đợi. Chủ đi ăn cưới sẽ về. Người về không để phá nhà. Người về để những ai còn thức được ngồi vào bàn, và được chính Người phục vụ. Phúc ấy dành cho kẻ không tắt đèn.
ĐÈN CHƯA TẮT VÀ LƯNG VẪN THẮT: NGƯỜI TÔI TỚ TỈNH THỨC TRONG NGÔI NHÀ BÌNH AN
Đêm không phải lúc nào cũng là khoảng trống của giấc ngủ. Có những đêm dài hơn ngày, không phải vì kim đồng hồ chạy chậm, mà vì lòng người đang chờ một tiếng gõ cửa mà không biết giờ nào sẽ đến. Trong ngôi nhà ấy, những người tôi tớ không ngồi khoanh tay. Họ thắt lưng, giữ đèn cháy, tai mở, mắt chưa khép, vì chủ nhà đi dự tiệc cưới và có thể trở về bất cứ lúc nào, canh hai hay canh ba, khi cả phố đã im, khi dầu trong đèn đã nóng, khi mí mắt nặng và cơn buồn ngủ ngọt ngào nhất. Phúc cho những người ấy, không phải vì họ mạnh hơn đêm, mà vì họ còn nhớ mình thuộc về ai. Sự tỉnh thức không phải là một kỹ thuật sống sót. Sự tỉnh thức là một cách yêu. Người yêu không để nhà tối khi người mình chờ có thể về. Người yêu không cởi đai, không dập đèn, không tự nhủ rằng còn lâu lắm mới tới phiên mình phải mở cửa. Người yêu ở trong tư thế của kẻ sẵn sàng, dù sự sẵn sàng ấy có vẻ vô ích với người ngoài, dù đêm có dài đến mức kẻ khác đã cười rằng chủ nhà quên đường về.
Hình ảnh lưng thắt và đèn cháy không phải là hình ảnh của sự căng thẳng vô cớ. Lưng thắt là tư thế của người sắp lên đường, của người không để áo dài vướng chân, của người biết rằng mình có thể phải đứng dậy ngay lập tức. Đèn cháy là dấu của người không muốn sống trong bóng tối của sự quên lãng. Khi đèn tắt, nhà vẫn còn đó, tường vẫn còn đó, giường vẫn còn đó, nhưng người trong nhà không còn nhìn thấy nhau, không còn nhận ra tiếng gõ, không còn phân biệt được ai đang đứng ngoài cửa. Nhiều linh hồn tắt đèn không phải vì ghét ánh sáng, mà vì mỏi. Mỏi vì chờ lâu. Mỏi vì ngày nào cũng giống ngày nào. Mỏi vì lời cầu nguyện dường như không đổi được gì. Mỏi vì người bên cạnh không tỉnh thức cùng mình. Mỏi vì thế gian có quá nhiều thứ sáng hơn ngọn đèn nhỏ trong nhà: ánh sáng của thành công, của dư luận, của tiện nghi, của những cuộc vui không cần ai gõ cửa. Ngọn đèn của người tôi tớ không cạnh tranh với những ánh sáng ấy. Nó chỉ cần đủ để mở cửa đúng lúc. Một ngọn đèn nhỏ mà còn cháy thì cả ngôi nhà còn có chỗ cho chủ về. Một ngọn đèn tắt thì chủ có về cũng đứng ngoài, không phải vì chủ vô tình, mà vì trong nhà không còn ai thức để kéo then.
Chủ nhà trong câu chuyện ấy không về như một người kiểm tra sổ sách. Người về từ tiệc cưới. Tiệc cưới là nơi của giao ước, của niềm vui đã được hứa, của hai phía gặp nhau sau thời gian đợi. Người tôi tớ chờ chủ từ tiệc cưới là người chờ một niềm vui không do mình tạo ra. Họ không tổ chức tiệc. Họ giữ nhà. Họ không biết giờ tan tiệc. Họ chỉ biết rằng khi tiếng gõ vang lên, cửa phải mở ngay, không trì hoãn, không xin thêm một chút ngủ, không bảo rằng sáng mai hãy vào. Sự ngay lập tức ấy là cả một đời tập. Người ta không mở cửa ngay nếu lòng còn vướng. Người ta không mở cửa ngay nếu trong nhà còn những việc mình không muốn chủ thấy. Người ta không mở cửa ngay nếu mình đã quen sống như chủ vắng mặt. Cửa mở ngay là hoa trái của một đời không tự phong mình làm chủ. Đó là lý do sự tỉnh thức gắn liền với sự khiêm nhường. Kẻ kiêu không chờ. Kẻ kiêu sắp đặt. Kẻ kiêu cho rằng mình biết giờ nào là hợp lý để được viếng thăm. Người tôi tớ không biết giờ. Người tôi tớ chỉ biết giữ đèn.
Điều lạ nhất của đêm ấy không phải là việc các tôi tớ thức. Điều lạ nhất là khi chủ về và thấy họ thức, chính chủ lại thắt lưng, đặt họ vào bàn, và đi qua đi lại mà phục vụ họ. Trật tự của thế gian bị đảo. Người được chờ trở thành người phục vụ. Người canh cửa được mời ngồi. Người tưởng mình chỉ là đầy tớ bỗng được chủ nhà bưng phần ăn. Đây không phải là phần thưởng của sự cố gắng. Đây là bản chất của chủ nhà. Người ấy không về để được hầu. Người ấy về để hầu những ai đã không bỏ nhà. Lòng thương xót không đợi con người xứng đáng rồi mới cúi xuống. Lòng thương xót tìm thấy người còn thức và tự thắt lưng lấy. Vì thế sự tỉnh thức không phải là cách để mua lấy bàn tiệc. Sự tỉnh thức là cách để còn có mặt khi bàn tiệc được dọn bởi chính Đấng mà mình tưởng phải phục vụ. Nhiều người mỏi vì cứ nghĩ mình phải làm mọi sự cho Chúa. Họ quên rằng trong đêm dài, chính Chúa muốn làm mọi sự cho họ, miễn là họ còn mở cửa. Đầy tớ thức không phải để chứng minh mình hữu ích. Đầy tớ thức để được yêu theo cách của chủ, một cách yêu mà thế gian không hiểu, vì thế gian không quen thấy chủ quỳ xuống phục vụ tôi tớ.
Canh hai và canh ba là những giờ mà sự trung tín bị thử thách thật. Canh một còn dễ. Đêm mới xuống, dầu còn đầy, chuyện trò còn ấm, người ta còn nhớ mình đang chờ. Canh hai là lúc phố đã vắng, lời hứa bắt đầu xa, thân xác đòi quyền của nó. Canh ba là lúc gần sáng mà chưa sáng, lúc người ta dễ nhất để tự nhủ rằng có lẽ đêm nay chủ không về, rằng mình đã chờ đủ, rằng một giấc ngắn không hại gì. Phúc được nói cho những người bị tìm thấy vẫn như vậy trong canh hai và canh ba. Không phải phúc cho người không bao giờ mệt. Phúc cho người mệt mà chưa tắt đèn. Có những ơn gọi đi qua canh ba của đời mình: năm tháng không thấy hoa trái, giáo xứ im ắng, gia đình lạnh, lời cầu như nói với tường, bạn hữu cũ đã chọn đường khác, chính mình cũng không còn cảm thấy nhiệt lúc ban đầu. Canh ba không xin người ta một bài hát mới. Canh ba chỉ xin ngọn đèn còn cháy. Đôi khi ngọn đèn ấy chỉ là một kinh rất ngắn đọc trong mệt, một việc bổn phận làm cho xong mà không bỏ, một lời không nói dù rất muốn nói, một cửa lòng không khóa dù bị tổn thương. Chủ nhà không cân dầu trong đèn. Chủ nhà nhìn xem đèn còn cháy không.
Người từng ở rất xa lại được đưa lại gần không phải nhờ tự mình bơi qua vực. Máu đã kéo họ lại. Bức tường ngăn ở giữa, bức tường của luật lệ trở thành hận thù, của phe này khinh phe kia, của kẻ cắt bì và kẻ không cắt bì, của người trong giao ước và người ngoài giao ước, đã bị phá trong thân xác của một người chịu đóng đinh. Hòa bình không phải là thỏa hiệp giữa hai phía còn nguyên tường. Hòa bình là một người mới được dựng nên từ hai phía cũ, trong cùng một thân thể, trên cùng một thập giá. Kẻ xa và kẻ gần cùng được nghe loan báo bình an. Cả hai không còn là khách, không còn là ngoại kiều. Họ trở thành người đồng hương với các thánh, người nhà của Thiên Chúa, được xây trên nền tông đồ và ngôn sứ, với chính Đức Kitô là đá góc. Ngôi nhà mà các tôi tớ đang canh không phải là ngôi nhà tư của một nhóm. Đó là đền thánh đang được xây, là nơi Thiên Chúa ngự bằng Thần Khí. Tỉnh thức trong ngôi nhà ấy là tỉnh thức cho nhau. Tắt đèn của mình là làm tối một phần đền thờ. Bỏ nhà giữa canh ba là để một chỗ trống trên bức tường đang được gắn lại. Sự hiệp nhất không phải là khẩu hiệu. Sự hiệp nhất là việc ở lại trong cùng một ngôi nhà cho đến khi chủ về, dù người ngồi cạnh mình từng là kẻ ở rất xa, dù mình từng là kẻ ở rất xa.
Lòng người dễ xây lại bức tường mà máu đã phá. Người ta xây bằng ký ức tổn thương, bằng khác biệt phụng vụ, bằng giọng nói, bằng mức độ đạo đức mình tự chấm, bằng sự sợ rằng nếu tường đổ thì mình không còn đặc biệt. Đá góc không cho phép tường ấy đứng lâu. Ai xây lại sự chia cắt là xây ngược với nền đã đặt. Người tôi tớ tỉnh thức không chỉ canh cửa để chủ vào. Người ấy còn canh để trong nhà không có ai bị đẩy ra hành lang. Bình an được loan cho kẻ xa và kẻ gần cùng một lúc. Nếu trong nhà chỉ còn chỗ cho kẻ gần, thì ngôi nhà ấy đã thôi là đền thờ và trở lại thành pháo đài. Đèn cháy trong một pháo đài chỉ để rình kẻ thù. Đèn cháy trong một đền thờ để nhận ra anh em. Sự khác nhau ấy quyết định cả một đời đạo. Có những cộng đoàn thức rất khuya mà lòng vẫn tối, vì họ thức để xét đoán. Có những cộng đoàn ít lời mà sáng, vì họ thức để giữ cửa mở cho người chưa về kịp.
Lòng thương xót và sự thật gặp nhau. Công lý và bình an hôn nhau. Đó không phải là bốn đức tính đứng riêng bốn góc. Đó là một cuộc hội ngộ. Sự thật không có lòng thương xót thì trở thành lưỡi dao. Lòng thương xót không có sự thật thì trở thành chiều chuộng. Công lý không có bình an thì trở thành trả thù. Bình an không có công lý thì trở thành im lặng của kẻ mạnh. Trong ngôi nhà đang chờ chủ, bốn điều ấy không được phép ly dị. Người tôi tớ không được nói dối để giữ hòa khí, cũng không được dùng sự thật để hạ nhục. Người ấy không được nhân danh bình an mà bỏ mặc bất công trong nhà, cũng không được nhân danh công lý mà biến nhà thành tòa án suốt đêm. Chủ về từ tiệc cưới sẽ thấy ngay nhà nào còn là nhà. Nhà nào sự thật và thương xót đã gặp nhau thì cửa mở dễ. Nhà nào chúng còn tránh mặt nhau thì then cửa nặng, dù đèn có thắp.
Đất trổ hoa khi các điều ấy gặp nhau. Không phải đất của ruộng ngoài đồng trước hết, mà là đất của lòng người. Lòng sợ Thiên Chúa không phải là lòng co lại. Lòng sợ ấy là lòng không dám tắt đèn, không dám xây lại tường, không dám sống như thể mình không nhà. Vinh quang muốn ở trên đất ấy. Vinh quang không ở trên đất của kẻ tự mãn. Vinh quang ở nơi người biết mình từng xa và nay được gần, từng là khách và nay là người nhà. Mỗi lần một gia đình thôi nói với nhau bằng tường, mỗi lần một giáo xứ thôi chia người này người kia thành hạng, mỗi lần một linh hồn thôi đối xử với Chúa như ông chủ vắng mặt có thể lừa, thì đất ấy trổ một chút hoa. Hoa không ồn ào. Hoa là việc cửa còn mở lúc canh ba.
Sự tỉnh thức có hình dạng rất đời thường. Trong một nhà có con thơ, tỉnh thức là thức dậy lần thứ ba trong đêm mà không biến sự mệt thành giận dữ dội lên đứa bé. Trong một nhà có người già, tỉnh thức là không tắt điện thoại, không coi tiếng gọi khuya là quấy rầy. Trong một đời sống hôn nhân đã qua mùa tiệc, tỉnh thức là không để sự quen thuộc trở thành sự vắng mặt, là còn nhìn nhau như người có thể ra đi và có thể về, chứ không như đồ đạc trong nhà. Trong một đời dâng hiến, tỉnh thức là không biến nhà dòng thành nơi trốn đêm của thế gian, mà thành nơi đèn còn cháy cho anh em và cho dân. Trong một giáo xứ, tỉnh thức là không khóa cổng lòng sớm hơn cổng sân, là còn chỗ cho người đến muộn, người xấu hổ, người lâu năm không xưng, người chỉ dám đứng cuối. Trong thời buổi mọi sự đều đòi phản hồi tức thì, tỉnh thức lại là không để linh hồn bị kéo vào mọi tiếng gõ giả. Không phải tiếng nào cũng là tiếng của chủ. Có những tiếng gõ rất khẩn để người ta mở cửa cho sự hỗn loạn, cho thị phi, cho nỗi sợ, cho cơn thèm được chú ý. Discernment của đêm dài là phân biệt tiếng chủ và tiếng khác. Đèn giúp phân biệt. Lòng vội không phân biệt được.
Người tôi tớ cũng có thể phản bội giữa lúc tưởng mình đang canh. Phản bội không luôn là bỏ nhà. Phản bội có khi là ở lại mà sống như chủ sẽ không về. Ăn uống say sưa bằng thời giờ của người khác, nặng lời với kẻ dưới, khinh kẻ được giao cho mình, tính toán phần hơn trong khi miệng vẫn nói về sự chờ đợi. Ngày mai của câu chuyện ấy sẽ nói về tên đầy tớ ấy. Đêm nay chỉ cần thấy bóng của hắn đã thấp thoáng: hắn là người biến sự chậm trễ của chủ thành giấy phép. Hễ cứ nghĩ rằng còn lâu, người ta bắt đầu sống bằng luật của mình. Sự tỉnh thức cắt đứt giấy phép ấy. Không phải bằng sợ hãi hình phạt trước hết, mà bằng nhớ mặt chủ. Người nhớ mặt thì không nỡ biến nhà chủ thành quán của mình. Người quên mặt thì dù có ở trong nhà cũng là khách trú bất hợp pháp.
Có một mối mệt rất đạo đức mà cần được gọi đúng tên. Đó là mệt vì muốn được thấy chủ về theo lịch của mình. Người ta ăn chay, cầu nguyện, phục vụ, rồi đặt giờ. Qua giờ ấy mà chưa thấy gì, đèn bị coi là vô ích. Đây là canh ba của kẻ tính sổ. Chủ nhà không về theo sổ. Chủ nhà về theo tiệc cưới, mà tiệc cưới có giờ của giao ước, không có giờ của sự sốt ruột. Học chờ là học tháo sổ ấy xuống. Không phải học thờ ơ. Học ở lại mà không nắm cổ áo Thiên Chúa để đòi đối soát. Các thánh lớn thường là những người đã qua nhiều canh ba mà sổ vẫn không được Thiên Chúa ký nhận trước mặt người đời. Họ không tắt đèn vì sổ trắng. Họ tin rằng bàn tiệc được dọn không phải lúc họ xuất trình thành tích, mà lúc cửa mở.
Ngôi đền đang mọc lên từng ngày không cần mỗi viên đá đều sáng như đá góc. Đá góc chỉ có một. Các viên khác được gắn vào, được nâng, được chỉnh, đôi khi bị đục cho vừa chỗ. Đau của việc bị đục không phải là dấu bị loại. Đó là dấu đang được đưa vào tường. Người tôi tớ tỉnh thức nhận ra đau ấy mà không bỏ công trình. Kẻ bỏ đi giữa chừng mang theo một lỗ hổng mà người khác phải lấp. Ở lại không phải là chịu đựng vô hồn. Ở lại là tin rằng mình được gắn vào một điều lớn hơn sự vừa ý của mình. Nền tông đồ và ngôn sứ không phải là nền của những người dễ chịu. Đó là nền của những người đã bị đục rất nhiều mà vẫn còn trong tường. Đá góc đã chịu đóng đinh. Không viên đá nào trong nhà ấy được phép đòi một đời không vết đục.
Bình an được loan báo chứ không phải được thương lượng từ vị thế ngang hàng với Thiên Chúa. Kẻ xa không đặt điều kiện để được gần. Kẻ gần không giữ độc quyền lời hứa. Cả hai nhận cùng một Thần Khí để đến cùng Cha. Đây là cửa vào nhà. Ai muốn vào bằng cửa khác, bằng công trạng, bằng dòng giống, bằng sự hiểu biết, bằng chức vị, thì đứng ngoài dù thân đã ở trong sân. Các tôi tớ mở cửa ngay vì họ biết cửa ấy không phải của họ. Họ chỉ là người giữ then. Giữ then mà tưởng mình sở hữu nhà là bắt đầu của mọi giáo sĩ trị và mọi giáo dân trị. Nhà là của chủ. Đèn là để chủ thấy đường vào, không phải để người giữ đèn được khen là trung tâm của đêm.
Đời sống cầu nguyện tìm được nhịp của nó trong hình ảnh này. Cầu nguyện không phải là chiếm được một cảm giác. Cầu nguyện là thắt lưng và giữ đèn trong những giờ không có cảm giác. Có những kinh đọc như người chờ, không như người biểu diễn. Có những giờ chầu như canh hai, thân xác ngồi đó, lòng muốn về giường, mà vẫn không đứng dậy bỏ nhà tạm. Có những thánh lễ giữa tuần vắng người, linh mục và vài giáo dân làm thành cả ngôi nhà còn đèn. Chúa không đo số ghế có người ngồi. Chúa nhìn cửa có mở không khi Người đến trong lời và trong bánh. Người đời có thể gọi đó là nhà thờ buồn. Trong cái nhìn của tiệc cưới, đó là nhà còn người thức. Buồn và tỉnh thức không loại trừ nhau. Buồn mà tắt đèn mới là hết chuyện.
Gia đình cũng là một canh đêm. Cha mẹ thức không phải chỉ để con khỏi đói. Cha mẹ thức để con còn biết trong nhà có người không bỏ cuộc giữa canh ba của tuổi lớn, của thi trượt, của tình đầu gãy, của đức tin muốn ngủ. Con cái đôi khi là người giữ đèn cho cha mẹ, khi cha mẹ mệt vì cơm áo và muốn tắt mọi sự thiêng liêng cho xong. Vợ chồng giữ đèn cho nhau khi một người đi qua mùa khô của lòng tin mà người kia không nhân đó mà lên án. Anh chị em giữ đèn khi gia đình đã có bức tường cũ, tường của lời nói năm xưa, tường của phần thừa kế, tường của so sánh. Máu của đá góc phá được những tường ấy nếu còn có người chịu mở cửa, chịu ngồi vào bàn do chính Chúa dọn, chứ không đòi ngồi vào bàn do mình sắp. Nhiều gia đình không thiếu lễ. Họ thiếu người thức lúc canh ba của một cuộc cãi không dứt. Ngọn đèn ở đó là một câu chưa nói, một sự im lặng không độc, một bữa cơm còn cùng mâm.
Người trẻ thường được bảo phải cháy. Cháy là đẹp, nhưng đêm dài cần đèn bền hơn là đám cháy. Đám cháy sáng một lúc rồi thành tro, và nhà tối hơn trước. Đèn bền là dầu được châm mỗi ngày bằng việc nhỏ trung tín: một giờ kinh không bỏ khi không ai thấy, một sự thật không bán khi bán thì có lợi, một thân xác không trao cho cơn đói của đêm, một tình bạn không dùng người khác làm nhiên liệu. Thắt lưng với người trẻ là không để đời mình vướng vào mọi thứ đang chạy trên đường. Không phải mọi tiếng mời đều là tiệc cưới của chủ. Có những tiệc tan rất nhanh và để người dự đứng ngoài cửa nhà mình, không còn dầu để châm lại. Học phân biệt tiệc nào đáng chờ là cả một khoa sư phạm của đêm.
Người lớn tuổi giữ một bài học mà người trẻ chưa có: họ đã thấy nhiều chủ giả về rồi đi. Họ biết tiếng gõ nào chỉ là gió. Sự tỉnh thức của họ dịu hơn, ít phô hơn, và vì thế dễ bị coi là nguội. Không phải lúc nào cũng nguội. Có người già đèn còn cháy trong một thân thể không còn chạy được ra cửa nhanh. Họ mở cửa bằng lời cầu, bằng sự tha cho con cháu, bằng việc không đầu độc thế hệ sau bằng đắng cay của mình. Chủ nhà nhận sự mở cửa ấy. Người không đòi mọi tôi tớ phải cùng một tốc độ chân. Người đòi đèn còn cháy. Một cụ già lần chuỗi trong bóng tối phòng bệnh có thể là người canh nhà trung tín hơn một người trẻ chạy cả ngày mà lòng không chờ ai.
Trong đời linh mục và đời tu, hình ảnh chủ thắt lưng phục vụ tôi tớ là một lời cảnh báo êm ái và nghiêm khắc. Người được trao chức năng phục vụ rất dễ quên rằng mình vẫn là tôi tớ đang chờ, chứ không phải chủ đã về. Khi quên, người ta bắt đầu để giáo dân ngồi hầu mình, để anh em trong nhà thắt lưng cho mình, để đèn của cộng đoàn cháy quanh sự hiện diện của mình. Đêm ấy chủ thật vẫn chưa vào, hoặc đã vào mà không được mở cửa, vì then cửa mang tên chức vụ. Phúc cho người mục tử nào còn biết ngồi xuống để được phục vụ bởi Chúa, còn biết mình là đầy tớ bị tìm thấy đang thức chứ không phải ông chủ đang kiểm tra nhân viên. Dân Chúa cảm được sự khác nhau ấy dù không nói thành lời. Họ biết ai đang giữ đèn và ai đang bắt họ giữ đèn cho mình.
Thế gian hôm nay rất sáng và rất mất ngủ, nhưng ít tỉnh thức. Mất ngủ là bị kéo. Tỉnh thức là đang chờ. Người mất ngủ lướt qua mọi thứ mà không mở cửa cho ai. Người tỉnh thức có thể ngủ thật, rồi dậy đúng lúc, vì giấc ngủ của họ cũng được gửi trong sự chờ. Không phải mọi sự thức đều là nhân đức. Có sự thức của tham, của sợ, của ghen, của cô đơn không được gọi tên. Sự thức của Tin Mừng có hướng: hướng về cửa, hướng về tiệc cưới, hướng về một Đấng sẽ tự thắt lưng. Nếu sự thức của mình không có hướng ấy, thì đó chỉ là mất ngủ được tôn giáo hóa. Cần một sự đơn sơ để kéo nó về lại. Đơn sơ là dám nói rằng mình đang chờ Người, chứ không đang chờ một kết quả.
Có những giai đoạn cả một dân, cả một Giáo hội địa phương, đi qua canh ba. Tin bị bóp méo, nhà thờ vơi, người trẻ đi, người lớn mệt, tiếng nói bên ngoài bảo rằng chủ đã đổi đường, rằng chờ là lỗi thời. Trong canh ấy, việc giữ dầu không phải là việc của riêng kẻ nhiệt thành phô trương. Đó là việc của những người âm thầm không chịu xây lại bức tường giữa kẻ còn đi lễ và kẻ đã nghỉ, giữa người nói được ngôn ngữ mới và người chỉ còn kinh cũ, giữa vị mục tử và đoàn chiên đang sợ. Đền thờ được xây từ những viên đá không đồng ý với nhau về mọi chuyện phụ mà vẫn nhận cùng một đá góc. Nếu đêm nay mỗi người chỉ chịu đứng gần người giống mình, thì tường cũ đã mọc lại trước bình minh. Bình an được loan cho cả hai phía sẽ không có chỗ ở.
Sự đảo lộn của bàn tiệc cần được nếm trước trong cách người ta đối xử với nhau lúc chưa thấy chủ bằng mắt. Ai phục vụ anh em lúc canh ba là đang tập tư thế của chủ nhà. Không phải để thay chủ, mà để nhà còn ra nhà khi chủ vào. Một bữa ăn đem cho người đau, một sự hiện diện bên giường bệnh, một lời dạy giáo lý không bỏ dù lớp chỉ còn vài em, một sự thăm viếng không đăng tải, đều là những lần thắt lưng trước. Chủ vào sẽ không lạ với những cử chỉ ấy. Người sẽ nhận ra nhà mình. Còn nhà nào đầy tớ chỉ chờ để được khen, thì bàn tiệc của chủ sẽ làm họ bối rối, vì họ không quen thấy mình được phục vụ, và cũng không quen phục vụ mà không tính công.
Đèn cần dầu, và dầu của đêm dài là lòng trông cậy được nuôi bằng các việc rất nhỏ lặp lại. Không có dầu dự trữ trong cảm xúc. Cảm xúc cạn trước canh hai. Dầu nằm trong trí nhớ về những lần cửa đã từng mở, về những lần mình từng được đưa từ xa lại gần, về một lời hứa không rút lại dù mình bất tín. Người để trí nhớ ấy chết thì đêm sau sẽ tắt đèn sớm hơn đêm trước. Vì thế việc kể lại ơn đã nhận không phải là chuyện sentiment. Đó là việc châm dầu. Gia đình kể, cộng đoàn kể, mỗi người kể trong lòng mình, không phải để khoe, mà để canh ba còn lý do mà thức. Quên ơn là rút dầu. Kể ơn là giữ lửa.
Khi chủ gõ, sự mở ngay còn đòi một ngôi nhà không quá đầy những thứ khác. Nhà chất đầy lo âu thì người trong nhà không nghe tiếng gõ. Nhà chất đầy giải trí thì tiếng gõ bị lẫn. Nhà chất đầy hận thì không ai muốn ra cửa, vì sợ người đứng ngoài là kẻ mình không muốn thấy. Dọn nhà là một phần của tỉnh thức. Dọn không phải là sống trống trải đến vô hồn. Dọn là để còn lối đi từ giường đến cửa. Mỗi thứ bỏ bớt được trong đời — một tham vọng, một màn hình, một mối nợ lời nói, một sự so đo — là một bước đường được khai thông cho đêm chủ về. Người giàu của cải mà nghèo lối đi thường mở cửa chậm, không phải vì chân chậm, mà vì phải trèo qua đồ đạc của mình.
Canh hai của một đời cũng là lúc người ta dễ đổi chủ. Chủ mới không bao giờ bắt chờ đến canh ba. Chủ mới trả ngay: tiếng vỗ tay, lợi nhỏ, cảm giác thuộc về một phe, sự khỏi phải phân định. Chủ cũ của tiệc cưới thì chậm theo tiêu chuẩn ấy, và chính sự chậm làm nhiều tôi tớ đổi việc. Đổi việc giữa đêm là một bi kịch thầm, vì sáng ra người ta vẫn có thể mặc áo cũ, vẫn nói ngôn ngữ cũ, mà lòng đã ăn lương chỗ khác. Tỉnh thức gồm cả việc hỏi mình đang ăn lương của ai. Nếu mọi chọn lựa đều được quyết theo cái được ngay, thì dầu trong đèn không phải dầu của tiệc cưới. Hỏi câu ấy mỗi tối không phải là đa nghi bệnh hoạn. Đó là cách giữ then cửa khỏi bị trao cho người lạ.
Niềm vui được hứa không nằm ở chỗ hết đêm. Niềm vui nằm ở chỗ bị tìm thấy còn thức, rồi được đặt vào bàn, rồi thấy chính Đấng mình chờ đi qua đi lại mà phục vụ. Ít có hình ảnh nào đảo lộn kiêu ngạo của người đạo đức cho bằng hình ảnh ấy. Người đạo đức hay tưởng phần thưởng là được đứng phục vụ mãi ở vị trí danh dự. Phần thưởng lại là được ngồi, được nhận, được thấy Thiên Chúa thắt lưng. Ai chưa chịu được việc mình được phục vụ bởi lòng thương xót thì chưa tỉnh thức đúng cách. Họ vẫn muốn là chủ của cả ơn cứu độ. Ngồi xuống là một hành vi khó hơn đứng hầu, với một số linh hồn. Canh ba dạy họ ngồi. Mệt quá rồi thì hết sức để mà đứng làm chủ. Khi ấy cửa mở, và họ học nhận.
Nhà ấy rồi sẽ là nơi vinh quang ở. Không phải vinh quang của đèn, mà là vinh quang của Đấng mà đèn đang chờ. Đèn sẽ không cần khoe mình đã cháy bao lâu. Đá trong tường sẽ không kể mình đã bị đục mấy nhát. Kẻ từng ở xa sẽ không kể đường xa để đòi chỗ tốt hơn kẻ từng ở gần. Cả nhà sẽ nhận ra mình là một người mới, được dựng trong bình an, được cho ở nhờ máu, được nuôi bằng chính sự phục vụ của chủ. Cho đến đêm ấy, việc của mỗi người vẫn vậy: thắt lưng, giữ đèn, đừng xây lại tường, đừng đổi chủ giữa canh, đừng biến sự chậm trễ thành giấy phép, và khi tiếng gõ đến thì mở ngay. Phúc không được hứa cho người không bao giờ buồn ngủ. Phúc được hứa cho người buồn ngủ mà nhà còn sáng, cửa còn người, lòng còn nhớ mình là tôi tớ của một tiệc cưới chứ không phải chủ của một đêm tối.
Lm. Anmai, CSsR
THẮT LƯNG CHO GỌN, THẮP ĐÈN CHO SÁNG, VÀ ĐÊM DÀI CỦA NGƯỜI ĐẦY TỚ BIẾT CHỜ
Có những đêm nhà không ngủ vì tiệc vui, và có những đêm nhà không ngủ vì người ta đang đợi. Đêm của tiệc vui ồn ào, đèn đuốc sáng rực, tiếng cười vỡ ra từng chặp rồi lại lắng. Đêm của người đợi thì khác. Đêm ấy ít lời. Đèn không đốt cho thiên hạ nhìn, mà đốt cho chính mình còn thấy đường khi tiếng gõ cửa vang lên giữa khoảng tối. Chúa kể cho các môn đệ một cảnh rất đời, rất nhà, rất người làm công: hãy thắt lưng cho gọn, hãy thắp đèn cho sẵn, hãy giống những đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa tới và gõ cửa là mở ngay. Phúc cho những đầy tớ ấy nếu chủ về mà thấy họ còn thức. Và điều làm người nghe phải ngừng thở không phải là phần thưởng bằng bạc bằng vàng, mà là chính chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn, và đi lại bên từng người mà phục vụ. Câu chuyện ngắn ấy chứa cả một đời sống. Nó không phải lời khuyên cho một buổi sáng chủ nhật rồi quên. Nó là cách đứng của người tin giữa thời gian, giữa công việc, giữa những ngày tưởng như chủ còn lâu mới về.
Thắt lưng cho gọn là hình ảnh của người sắp đi đường, sắp làm việc, sắp không để áo dài vướng chân. Ở thời xưa, người ta mặc áo rộng. Muốn chạy, muốn khuân vác, muốn mở cửa nhanh, phải kéo vạt áo lên và buộc chặt. Lưng thắt không phải để đẹp. Lưng thắt để tay được tự do và chân được nhẹ. Đời sống đức tin cũng vậy. Có những thứ không xấu nếu để nguyên trên kệ, nhưng sẽ làm người ta chậm khi cần đứng dậy. Thói trì hoãn là một vạt áo dài. Lời hứa để đến mai là một vạt áo dài. Sự giận dữ được nuôi qua nhiều bữa cơm là một vạt áo dài. Nỗi sợ mất mặt khiến người ta không dám xin lỗi là một vạt áo dài. Tham vọng muốn được khen trước khi muốn được thật là một vạt áo dài. Chúa không bảo người môn đệ phải sống căng như dây đàn suốt ngày. Ngài bảo hãy gọn. Gọn là biết cái gì thuộc về đường đi và cái gì chỉ là trang sức của sự lười. Người thắt lưng không phải người khắc khổ đến độ quên cười. Người thắt lưng là người không để lòng mình bị kéo lê trên đất bởi những chuyện có thể giải quyết hôm nay mà cứ để sang ngày kia, rồi ngày kia thành thói quen, thói quen thành căn tính, căn tính thành lý do biện minh rằng mình vốn vậy, Chúa cũng hiểu cho.
Đèn thắp sẵn còn sâu hơn việc thắt lưng. Đèn cần dầu. Dầu không tự có vào lúc nửa đêm. Ai cũng có thể tìm được một que diêm khi nhà còn sáng. Khó là khi nhà đã tối mà tim đèn vẫn còn ấm, bấc còn thẳng, dầu còn trong bình. Đèn trong lời Chúa không phải cảm xúc sốt sắng của một kỳ tĩnh tâm. Đèn là đời sống được nuôi đều. Một người có thể nói rất hay về sự tỉnh thức rồi về nhà tắt đèn với người thân bằng những câu cụt ngủn, bằng sự im lặng trừng phạt, bằng thói kiểm soát. Đèn ấy tắt từ trong bếp trước khi tắt ngoài sân. Ngược lại, có những đời chẳng được ai gọi là đạo đức nổi bật, nhưng mỗi sáng vẫn thắp một chút trung tín: lời kinh không dài, việc bổn phận không bỏ, miệng không dễ buông lời làm người khác nhỏ lại, tay không dễ giữ của không phải của mình. Dầu của đèn ấy là lòng trung tín âm thầm. Nó không cháy bùng để chụp ảnh. Nó cháy đủ để khi có tiếng gõ, người trong nhà không phải mò mẫm.
Chủ đi ăn cưới về. Chi tiết này không thừa. Chúa không ví sự trở lại của mình với một phiên tòa đột ngột chỉ để bắt lỗi. Ngài ví với người chủ từ tiệc cưới trở về. Tiệc cưới là niềm vui đã hoàn tất, là giao ước đã ký, là nhà đã có tiếng nhạc. Người đầy tớ đợi không đợi một tai họa. Họ đợi một niềm vui đang trên đường về nhà. Điều ấy đổi cả khí sắc của sự tỉnh thức. Nếu người ta chỉ thức vì sợ bị phạt, sự thức ấy mau thành mệt và thành đóng kịch. Nếu người ta thức vì có một người mình thương sắp về, đêm dài vẫn dài, nhưng lòng không lạnh. Kitô hữu tỉnh thức không phải để canh một vũ trụ trống. Họ tỉnh thức vì Tin Mừng đã mở ra một tiệc, vì máu giao ước đã kéo những kẻ xa lại gần, vì bức tường ngăn cách đã bị phá, vì nhà của Thiên Chúa không còn là sân của một nhóm người tự thấy mình sạch. Thư gửi tín hữu Êphêsô nói về những kẻ xưa không có Đức Kitô, ở ngoài lời hứa, không có hy vọng, không có Thiên Chúa giữa trần gian, nay được đưa lại gần nhờ máu. Hòa bình ấy không phải hòa bình của những lời xã giao. Hòa bình ấy là một con người mới được dựng nên từ hai phía từng coi nhau là xa lạ. Đêm đợi chủ vì thế cũng là đêm của một ngôi nhà đã được mở. Người đầy tớ không canh cửa để giữ người ngoài ở ngoài. Họ canh cửa để mở ngay khi chủ về, và chủ về là mang theo niềm vui của tiệc cưới, không mang theo thói loại trừ.
Phúc cho đầy tớ nào chủ về mà thấy còn thức. Chữ phúc ở đây không phải may. May là chuyện rơi trúng. Phúc là chuyện phù hợp với sự sống. Người thức không phải người không bao giờ buồn ngủ. Người thức là người không đánh đổi giờ của chủ lấy giờ của sự buông thả. Có một cách ngủ rất nguy hiểm mà mắt vẫn mở: ngủ trong thói quen làm việc nhà Chúa mà lòng đã dời chỗ. Miệng vẫn đọc. Tay vẫn sắp xếp. Chân vẫn đến nhà thờ. Nhưng đèn đã hết dầu từ lâu, chỉ còn vỏ tim đèn đỏ vì quán tính. Khi chủ gõ, người ấy giật mình không phải vì vui, mà vì bị lộ. Sự tỉnh thức thật thì khác. Nó cho phép người ta mệt. Nó không cho phép người ta phản bội giờ mình đang giữ. Giữ giờ không có nghĩa mọi phút đều phải là việc lớn. Giữ giờ là việc nhỏ được làm như thể người mình đợi có thể về trong chính việc nhỏ ấy. Một lời không nói cho đã giận. Một đồng không giữ cho đã tham. Một bệnh nhân được thăm không phải vì sổ báo cáo. Một đứa trẻ được nghe hết câu chứ không bị cắt ngang. Một người nghèo không bị dùng làm nền cho bài diễn văn về lòng thương xót. Những việc ấy là dầu. Chúng không ồn. Chúng làm đèn đứng được đến canh hai, canh ba.
Canh hai và canh ba là khoảng thời gian người ta dễ tự cho phép mình nghỉ hẳn. Canh một còn dễ, vì mới vào đêm, vì còn nhớ lời dặn, vì còn e. Canh hai là lúc lý lẽ bắt đầu thì thầm: chủ chắc còn lâu, tiệc còn dài, không ai thấy, ngủ một chút cũng chẳng sao. Canh ba là lúc lý lẽ ấy đã thành thói. Chúa cố ý nói đến những canh ấy. Ngài biết sự trung tín không được đo ở giờ dễ. Ngài biết có những người giữ đạo rất đẹp vào buổi lễ, rồi tháo lưng từ từ trong những tháng không ai kiểm. Sự chậm trễ của chủ, theo cách nói của dụ ngôn, không phải sơ suất. Sự chậm trễ ấy là không gian của tự do. Nếu chủ về đúng giờ người đầy tớ đoán, sự thức chỉ là kỹ thuật. Vì chủ về giờ không ai đoán, sự thức trở thành tình yêu hoặc không phải tình yêu. Người ta không thể diễn suốt một đời. Diễn được một mùa. Diễn không được mọi canh.
Rồi đến câu làm đảo lộn trật tự nhà: chủ sẽ thắt lưng, đưa đầy tớ vào bàn, và phục vụ họ. Đây không phải phần thưởng kiểu đổi chác, làm tốt thì được đãi. Đây là mạc khải về chính chủ. Chủ mà các đầy tớ đợi không phải ông chủ chỉ biết đòi. Chủ ấy là người đã thắt lưng trước. Cả Tin Mừng là một cái thắt lưng của Thiên Chúa. Ngôi Lời không ở lại trong ánh sáng không vướng bận. Ngôi Lời bước vào nhà của xác phàm, bước vào bàn của kẻ thu thuế, bước vào đêm của vườn cây dầu, bước vào chỗ của người tôi tớ để rửa chân cho những kẻ sắp bỏ chạy. Khi dụ ngôn nói chủ về sẽ phục vụ đầy tớ, nó không nói một điều lạ so với thập giá. Nó nói thập giá bằng ngôn ngữ của bữa ăn. Người môn đệ thức không phải để chứng minh mình đáng được phục vụ. Người môn đệ thức vì đã được yêu trước, và vì không muốn chủ về mà thấy nhà trống, đèn tắt, lòng đã đi chỗ khác. Sự đảo ngược ấy cấm người tin biến đạo thành chỗ đứng trên đầu người khác. Ai đang giữ nhà mà đánh đòn đồng loại, ăn uống say sưa, lấy quyền được trao để làm lợi cho mình, người ấy không phải đầy tớ tỉnh thức. Người ấy là kẻ đã quyết định rằng chủ còn lâu, nên nhà này tạm thời là của mình. Lời Chúa nghiêm với hình ảnh ấy không phải vì Thiên Chúa hẹp lượng. Lời ấy nghiêm vì quyền trong nhà Thiên Chúa chỉ có nghĩa khi nó phục vụ sự sống của người khác. Được giao nhiều thì bị đòi nhiều. Không phải để hành hạ, mà để khỏi biến ân huệ thành của riêng.
Đưa những kẻ xa lại gần là cùng một chuyển động. Có người tưởng tỉnh thức là giữ mình tách khỏi đời, khỏi người khác, khỏi những bàn tay chưa sạch. Tỉnh thức của Chúa không phải vậy. Bức tường ngăn cách đã bị phá trong thân mình Người. Người Do Thái và người dân ngoại, hai phía từng không ăn cùng mâm, được gọi vào một nhà. Nền nhà ấy là các tông đồ và các ngôn sứ. Đá góc là Đức Kitô. Toàn thể được nối thành đền thờ, thành nơi Thiên Chúa ngự bằng Thần Khí. Người đầy tớ thắt lưng vì thế không chỉ lo phần rỗi của riêng mình như người giữ két sắt. Họ lo cho ngôi nhà còn là nhà. Ngôi nhà hết là nhà khi người trong cuộc dùng nhau. Ngôi nhà hết là nhà khi kẻ mạnh bắt kẻ yếu phải im để giữ thể diện cộng đoàn. Ngôi nhà hết là nhà khi lời cầu nguyện rất dài mà cánh cửa rất hẹp với người không giống mình. Đèn thắp trong một nhà như thế không phải đèn của phô trương. Đèn ấy soi để người ta thấy chỗ mình đang làm người anh em bị thương, và để dừng lại mà băng.
Sự chết là một cách chủ gõ cửa mà không gửi thư báo trước. Không cần bi thương hóa mọi buổi sáng mới thấy điều này. Chỉ cần nhớ rằng ngày hôm qua vẫn còn người cười với ta, hôm nay tên họ đã ở trong lời nguyện cho kẻ đã qua đời. Không ai ký được hợp đồng với giờ cuối. Vì thế mọi lời khuyên hãy chuẩn bị đều có nguy cơ trở thành lời dọa nếu tách khỏi tiệc cưới. Chuẩn bị cho sự chết theo Tin Mừng không phải sống như kẻ bị án. Chuẩn bị là thôi để đời mình ở trạng thái nháp. Bao nhiêu việc hòa giải đang để nháp. Bao nhiêu lời tha đang để nháp. Bao nhiêu giờ chơi với con đang để nháp vì công việc được gọi là cấp bách hơn sự hiện diện. Bao nhiêu lần định dừng một thói xấu đang để nháp vì tưởng còn nhiều canh. Sự chết không cần dữ dội mới dạy được bài học. Nó chỉ cần thật. Nó nhắc rằng thời gian không phải kho vô hạn. Thời gian là khoản được giao, và khoản được giao thì có ngày phải kể. Kể không phải để Thiên Chúa biết, vì Người đã biết. Kể là để chính ta thấy dầu của mình còn hay đã cạn từ lúc nào.
Có một sự chuẩn bị rất cụ thể mà không cần chờ biến cố lớn. Đó là tập mở cửa ngay. Mở cửa ngay trong dụ ngôn là không bắt chủ phải gõ lần thứ hai, lần thứ ba, trong khi đầy tớ còn tìm chìa, còn sửa áo, còn giả vờ không nghe. Trong đời thường, mở cửa ngay là khi lương tâm gõ thì không mặc cả. Có những tiếng gõ rất nhỏ. Tiếng gõ của một tin nhắn mình cố tình không trả vì trả là phải nhận lỗi. Tiếng gõ của một người bệnh trong xóm mà mình biết, nhưng ghé vào thì mất buổi chiều. Tiếng gõ của một đoạn Tin Mừng đọc buổi sáng rồi bị công việc nuốt trước khi kịp trở thành một quyết định. Tiếng gõ của sự thật về đồng lương, về lời hứa, về cách mình nói sau lưng. Người trì hoãn những tiếng gõ nhỏ sẽ rất bối rối với tiếng gõ lớn. Không phải Thiên Chúa thích làm khó. Là vì tay đã quen không mở thì then cửa kẹt.
Thắt lưng cũng là chuyện của thân xác, không chỉ của ý tưởng. Đời sống không tách đôi. Người say sưa phá nhà không phải chỉ vì thiếu lý thuyết. Người để thân xác mình thành chỗ không còn thuộc về giao ước thì đèn khó sáng, dù miệng vẫn nói những câu rất đạo. Thân xác là phần của ngôi đền. Không phải để bị khinh. Để được tôn trọng bằng sự tiết độ. Tiết độ không phải sợ vui. Tiết độ là không để một khoái cảm điều khiển cả căn nhà. Cũng thế, đèn sáng không phải chỉ tránh điều xấu. Đèn sáng là làm điều thật giữa thanh thiên bạch nhật, không cần bóng tối để che. Ai làm sự thật thì đến cùng ánh sáng, không phải để được khen, mà vì việc mình làm chịu được ánh sáng. Có những việc tốt nếu bị soi thì vẫn đứng. Có những việc gọi là tốt chỉ đứng được khi không ai hỏi nguồn tiền, không ai hỏi động cơ, không ai hỏi người bị bước qua trên đường đến thành tích.
Giữa nhịp sống hiện nay, dụ ngôn này dễ bị nghe như lời cổ. Người ta có lịch, có chuông, có máy nhắc việc. Tưởng như không còn cảnh đợi trong đêm. Thật ra sự đợi càng bị lãng quên thì càng cần. Máy nhắc được cuộc họp. Máy không nhắc được giờ lòng mình lìa khỏi sự hiện diện. Người ta có thể rất bận mà rất ngủ đối với Thiên Chúa. Bận là một loại gối rất êm. Nó cho phép nói rằng mình không xấu, mình chỉ chưa có giờ. Chưa có giờ cầu nguyện. Chưa có giờ tha. Chưa có giờ đọc một trang làm lương tâm đau. Chưa có giờ ngồi với người thân mà không cầm điện thoại. Sự bận ấy đôi khi là thật, vì cơm áo là thật, vì trách nhiệm là thật. Nhưng nếu mọi sự thật đều được xếp trước sự tỉnh thức, thì đến canh ba chỉ còn lại một người rất giỏi việc và rất vắng mặt. Chúa không đòi bỏ việc. Chúa đòi việc được làm bằng lưng đã thắt, tức là bằng một lòng không để công việc trở thành chủ mới.
Trong gia đình, tỉnh thức có khuôn mặt rất gần. Vợ chồng thức với nhau không phải chỉ khi có chuyện lớn. Họ thức khi không biến người kia thành người hầu của tâm trạng mình. Cha mẹ thức khi con còn nhỏ và khi con đã lớn mà lạc, không thay sự hiện diện bằng quà, không thay việc lắng nghe bằng bài giảng. Con cái thức khi không coi cha mẹ là quá khứ đã xong việc. Một ngôi nhà Kitô giáo không cần mọi người đều nói năng như sách. Nó cần có người còn mở cửa khi người khác về muộn, về mệt, về với lỗi. Chủ trong dụ ngôn phục vụ đầy tớ. Gia đình học được bài ấy thì quyền không còn là chỗ ngồi cao nhất. Quyền là người đứng dậy trước để dọn bàn, để chịu một phần đêm của người khác. Nếu trong nhà lúc nào cũng có người phải thức một mình vì những người còn lại đã quyết ngủ, ngôi nhà ấy đang tập thói quen của tên quản gia tưởng chủ còn lâu.
Trong cộng đoàn, bài học còn sắc hơn. Ai được giao đàn, giao quỹ, giao lớp giáo lý, giao việc coi sóc, người ấy là quản lý chứ không phải chủ. Quản lý trung tín là người cho anh em được phần lương thực đúng giờ. Lương thực ấy có khi là lời giảng không bị biến thành chỗ phô mình. Có khi là quyết định không thiên vị. Có khi là sự im lặng bảo vệ danh thơm của người vắng mặt. Có khi là việc dám nói một sự thật mất lòng để ngôi nhà khỏi mục. Kẻ quản lý xấu trong lời Chúa bắt đầu từ một câu trong lòng: chủ mình còn lâu mới về. Câu ấy sinh ra đủ mọi thứ. Sinh ra việc dùng người. Sinh ra tiệc của phe nhóm. Sinh ra sự say quyền. Ngày chủ về không cần là ngày cuối cùng của lịch sử mới đáng sợ. Ngày ấy có thể là ngày sự thật được thấy, ngày một cộng đoàn nhìn lại và nhận ra đèn đã tắt từ lâu trong khi sổ sách vẫn rất đẹp. Phúc không thuộc về sổ đẹp. Phúc thuộc về đầy tớ còn thức.
Cũng cần nói về nỗi sợ để khỏi hiểu sai sự tỉnh thức. Có thứ đạo đức làm người ta co lại, nghi ngờ mọi niềm vui, tưởng cứ khổ là đang đúng. Dụ ngôn không nuôi thứ đạo đức ấy. Chủ đi từ tiệc cưới về, rồi lại mở tiệc cho đầy tớ. Thiên đàng trong cách Chúa kể không phải phòng chờ lạnh. Là bàn ăn. Là chủ đích thân đi lại. Người tin được mời sống nghiêm mà không sống chua. Nghiêm với tội của mình. Không chua với đời sống của người khác. Một đèn sáng sưởi được người bên cạnh. Một đèn chỉ để soi lỗi người khác thì thành đèn thẩm vấn. Chúa không lập một hàng đầy tớ chuyên bắt lỗi những đầy tớ khác trong lúc chủ còn ở tiệc. Ngài lập những người biết mở cửa, biết giữ dầu, biết vui khi nghe tiếng gõ.
Dầu lấy ở đâu cho đủ đêm dài? Không có kho nào bán dầu vào phút chót. Dầu được chứa bằng những chọn lựa lặp lại. Cầu nguyện dù ngắn nhưng thật, không phải để đủ chỉ tiêu, mà để ngày khỏi thành một mặt phẳng không có chỗ cho Thiên Chúa nói. Lắng nghe Lời không phải để thuộc câu mà mang đi tranh luận, mà để một câu nào đó ở lại và sửa một thói. Bí tích không phải thủ tục giữ chỗ, mà là nơi người xa được đưa lại gần, nơi bức tường trong lòng được đụng tới. Việc bác ái không phải phần thêm sau khi đời sống đạo đã xong, mà là chính dầu. Một đời cầu nguyện nhiều mà cửa lòng khóa với người đói thì đèn ấy có nguy cơ chỉ sáng trong phòng riêng. Việc hoán cải cũng là dầu. Hoán cải không phải cảm giác tiếc một lần. Là đổi một hướng đi, rồi đi hướng ấy vào ngày mai khi cảm giác đã nguội. Chính lúc nguội mới biết dầu thật hay dầu thơm tạm.
Có người nghe dụ ngôn rồi lo đến mất ngủ theo nghĩa xấu, tưởng mọi giờ đều có thể là giờ phán xét nên không dám sống. Đó là hiểu ngược niềm vui của tiệc. Sự tỉnh thức giải phóng khỏi lối sống giả. Người biết giờ không thuộc về mình thì bớt cần phải gom mọi sự về mình. Họ vẫn làm việc, vẫn xây, vẫn yêu, vẫn lập gia đình, vẫn lo cho ngày sau của con cái. Họ chỉ không nữa coi những việc ấy là chỗ ẩn náu cuối cùng. Của cải còn đó khi mắt đã nhắm thì của cải hết là của. Danh còn đó khi lòng đã trống thì danh không mở được cửa. Điều mở được cửa là sự tương hợp giữa đời đã sống và nhà mà chủ sắp bước vào. Tương hợp không có nghĩa hoàn hảo. Các đầy tớ trong dụ ngôn không được khen vì không bao giờ lỗi. Họ được phúc vì còn thức, vì còn mặc đồ để làm việc, vì còn đèn. Thiên Chúa của tiệc cưới không tìm những kẻ chưa từng vấp. Người tìm những kẻ không chịu ngủ quên trên vấp ngã của mình.
Đêm nào cũng có thể kể một lý do để tắt đèn. Mệt. Chán. Thất vọng về Hội Thánh. Thất vọng về chính mình. Thấy người khác cũng ngủ mà vẫn yên. Thấy việc tốt không được trả công ngay. Những lý do ấy có thật. Chúng không đủ để làm chủ của căn nhà. Người môn đệ không tỉnh thức vì hoàn cảnh dễ. Họ tỉnh thức vì đã biết chủ là ai. Biết chủ là người sẽ thắt lưng phục vụ thì người ta không thức bằng răng nghiến. Người ta thức bằng lòng thương nhớ. Thương nhớ làm được những việc ý chí thuần không làm nổi lâu dài. Một người nhớ nhà sẽ không cần bài diễn văn để giữ mình trên đường về. Cũng vậy, một người đã nếm sự gần gũi của Đức Kitô, đã biết mình từng là kẻ ở xa mà được đưa vào nhà, sẽ có một lý do ở dưới mọi lý do: không muốn đêm ấy người đã mở cửa cho mình lại gặp cửa đóng.
Và nếu có những giai đoạn đèn gần tắt, dụ ngôn vẫn không đóng lại bằng lời kết án người mệt. Nó đóng bằng hình ảnh chủ phục vụ. Lòng thương xót đi trước sự tỉnh thức, và sinh ra sự tỉnh thức. Không ai thức được chỉ nhờ sợ. Người ta thức lại được khi biết có người đang trên đường về và người ấy không về để xỉa xói, mà về để kéo ghế, để rót, để đứng hầu bàn ăn của những kẻ chẳng đáng được hầu. Chính sự không đáng ấy là tin vui. Nó không cho phép ngủ. Nó cũng không cho phép tuyệt vọng. Kẻ tuyệt vọng là kẻ tưởng cửa chỉ mở nếu mình đủ tốt trước khi tiếng gõ vang. Kẻ tỉnh thức là kẻ biết mình không đủ, nên càng không dám để nhà trống, và khi cửa mở thì việc đầu tiên không phải kể công, mà là để chủ bước vào.
Đời sống hằng ngày có thể bắt đầu lại từ một cử chỉ rất nhỏ của cái thắt lưng. Sáng nay không để một lời độc địa ra khỏi miệng dù rất muốn. Trưa nay làm cho xong việc đang bỏ dở thay vì nuôi cảm giác mình còn nhiều ngày. Chiều nay ghé một người mà mình đã lần lữa cả tháng. Tối nay tắt bớt một thứ làm lòng phân tán để còn chỗ cho im lặng. Không cử chỉ nào trong số ấy làm nên một vị thánh trong hai mươi bốn giờ. Tất cả chúng là cách đổ dầu. Đêm dài cần nhiều lần đổ như thế. Canh hai cần chúng hơn canh một. Canh ba cần chúng hơn hết, vì canh ba là giờ người ta dễ nói với mình rằng thôi, chủ chẳng về đêm nay. Chính giờ ấy lời Chúa muốn có người còn ngồi, lưng đã thắt, đèn còn sáng, tai còn nghe được tiếng gõ rất khẽ ở phía cửa.
Nhà của Thiên Chúa giữa thế gian được xây bằng những người như vậy. Không phải bằng những người chưa từng buồn ngủ. Bằng những người buồn ngủ mà không giao nhà cho giấc ngủ. Họ biết mình đã được đưa từ rất xa vào rất gần. Họ biết hòa bình thật đã trả giá bằng máu, không bằng khẩu hiệu. Họ biết đá góc tường không phải công trạng của mình. Vì biết thế, họ không biến sự tỉnh thức thành kiêu hãnh. Họ để đèn sáng hầu khi chủ từ tiệc cưới trở về, bất kỳ canh nào, cửa mở ngay, và điều họ thấy trước hết không phải là phần thưởng, mà là chính Người thắt lưng, kéo ghế, và đi lại bên họ như một người phục vụ. Đêm nào còn giữ được hình ảnh ấy thì đêm ấy chưa phải đêm mất. Đêm ấy vẫn là đêm của người đang đợi, và của một niềm vui đã lên đường về nhà.

















