CHÚA THÌ BỎ, THẦN TƯỢNG THÌ THEO: KHI ĐỨC TIN TRỞ THÀNH HỘI NGƯỜI HÂM MỘ Lm. Anmai, CSsR.

7

CHÚA THÌ BỎ, THẦN TƯỢNG THÌ THEO: KHI ĐỨC TIN TRỞ THÀNH HỘI NGƯỜI HÂM MỘ Lm. Anmai, CSsR.

Có một nghịch lý khiến người ta vừa muốn bật cười, vừa muốn cúi đầu khóc: có người ngày càng ít đến với Chúa, nhưng ngày càng hăng hái bảo vệ những người họ cho là đại diện của Chúa. Thánh lễ thì có thể bỏ. Bí tích Hòa giải thì có thể để năm này qua năm khác. Cầu nguyện riêng thì bảo không có thời giờ. Đọc một đoạn Tin Mừng thì thấy dài. Nhưng một buổi phát trực tiếp của người mình hâm mộ, dù kéo dài hai tiếng, vẫn có thể ngồi nghe không nhúc nhích; một cuộc tranh cãi trên mạng về người ấy, dù kéo dài đến nửa đêm, vẫn có đủ sức tham gia đến bình luận cuối cùng. Chúa mời thì bận. Thần tượng gọi thì rảnh. Giáo xứ cần thì mệt. Nhóm riêng huy động thì khỏe. Người thân muốn được lắng nghe thì không có thời gian. Một người xa lạ động đến “phe mình” thì lập tức có cả một buổi chiều để giải thích, kết án, phản công và, nếu cần, kéo thêm đồng đội vào “bảo vệ chân lý”.

Chúng ta đã phát minh ra một kiểu sống đạo rất tiện lợi: không nhất thiết phải hoán cải, chỉ cần đứng đúng nhóm; không nhất thiết phải yêu thương, chỉ cần bênh đúng người; không nhất thiết phải sống Tin Mừng, chỉ cần chia sẻ những bài viết có nhắc đến Thiên Chúa. Đức tin, vốn là cuộc gặp gỡ làm thay đổi đời người, có nguy cơ bị thu nhỏ thành một chiếc thẻ thành viên. Cứ tham gia nhóm ấy, nghe người ấy, dùng những khẩu hiệu ấy, phản đối những đối tượng ấy, là có thể yên trí rằng mình đang đứng trong hàng ngũ những Kitô hữu “chuẩn chỉnh”. Còn chuyện mình có sống thật thà không, có đối xử tử tế với vợ chồng con cái không, có dự lễ và lãnh nhận các bí tích không, có biết tha thứ không, có quan tâm đến người nghèo không, thì hình như thuộc một bộ phận khác, sẽ xem xét sau.

Điều đáng buồn là cái “sau” ấy có khi kéo dài cả đời.

Dĩ nhiên, không thể nhìn một người vắng lễ rồi lập tức phán xét tâm hồn họ. Có người bệnh tật, có người chăm sóc người thân, có người bị hoàn cảnh công việc hoặc khoảng cách địa lý ngăn trở, có người đang mang một vết thương mà cộng đoàn chưa đủ kiên nhẫn để hiểu. Những người ấy cần được đồng hành, chứ không cần thêm một bản cáo trạng. Nhưng cũng cần thành thật nhận diện một tình trạng khác: người ta không thực sự gặp trở ngại không thể vượt qua; người ta đã thay đổi thứ tự ưu tiên. Chúa từ trung tâm trở thành phần phụ. Còn những cá nhân, nhóm phái và cảm xúc thuộc về một phe đã bước lên ngồi ở chỗ đáng lẽ chỉ dành cho Người.

Chúng ta không thiếu những lời nói về Chúa. Có khi chúng ta chỉ thiếu việc sống với Chúa.

Một người có thể thuộc tên của hàng chục người giảng thuyết, biết lịch phát sóng, biết những câu nói nổi tiếng, biết từng cuộc tranh luận liên quan đến họ, nhưng không nhớ lần gần nhất mình ngồi yên trước Chúa để hỏi: “Lạy Chúa, con đang sống thế nào?” Một người có thể phân tích rất nhanh ai đang làm hại Giáo hội, ai đang phản bội truyền thống, ai đang có tư tưởng nguy hiểm, nhưng lại phân tích rất chậm điều đang làm hại chính gia đình mình: sự nóng nảy, tính độc đoán, thói dối trá, lòng tham, sự vô tâm. Người ấy nhận ra sai lầm của thiên hạ từ rất xa, nhưng lỗi của mình đứng ngay trước mặt lại được cấp giấy tạm trú vô thời hạn.

Thật lạ, chúng ta có thể bảo vệ một người chưa từng gặp bằng tất cả sự nhiệt thành, nhưng không bảo vệ nổi phẩm giá của người đang sống chung một mái nhà. Chúng ta có thể nổi giận vì một câu nói đụng chạm đến người mình hâm mộ, nhưng bình thản trước những câu nói chính mình dùng để làm tổn thương vợ, chồng, cha mẹ, con cái. Chúng ta có thể đòi người khác kính trọng các điều thánh, trong khi miệng mình làm mất sự thánh thiện của cuộc trò chuyện bằng những lời nhục mạ. Rồi sau tất cả, chúng ta vẫn nói: “Tôi làm thế vì Chúa.”

Nếu mỗi lần nghe câu ấy, chúng ta chịu dừng lại để tự hỏi Chúa có thực sự muốn cách hành xử đó không, có lẽ nhiều cuộc cãi vã đã kết thúc sớm hơn, nhiều gia đình đã bớt mệt hơn, và nhiều người đứng ngoài Giáo hội đã bớt sợ hơn.

Bởi danh Thiên Chúa không phải một con dấu để đóng lên mọi phản ứng của chúng ta. Nói “vì Chúa” không tự động làm cho cơn giận trở nên công chính. Gắn một câu Kinh Thánh vào bài viết không tự động làm cho bài viết trở nên bác ái. Đặt ảnh thánh ở đầu trang cá nhân không tự động làm cho những lời độc địa bên dưới được miễn xét mình. Thánh giá không phải giấy phép cho chúng ta đóng đinh người khác.

Có một cám dỗ rất tinh vi trong đời sống tôn giáo: thay vì để Chúa sửa mình, chúng ta tìm một người giúp mình cảm thấy mình luôn đúng. Người ấy nói trúng điều ta thích nghe, xác nhận những bất mãn ta đang có, chỉ ra đúng những đối tượng ta muốn trách, và cho ta cảm giác rằng những nóng giận của mình đều là dấu hiệu của lòng trung thành. Từ đó, ta không còn tìm kiếm sự thật với tâm hồn sẵn sàng được uốn nắn. Ta tìm một giọng nói đủ mạnh để bênh vực cái tôi.

Một người hướng dẫn đích thực có lúc phải làm chúng ta khó chịu, vì họ giúp chúng ta nhìn thấy điều cần thay đổi. Một thần tượng được dựng lên từ nhu cầu của người hâm mộ lại thường được chờ đợi phải làm chúng ta thỏa mãn. Chúng ta không đến để nghe một lời mời gọi hoán cải; chúng ta đến để nhận một giấy chứng nhận rằng phe mình tốt, người mình đúng, và phần còn lại của thế giới nên mau chóng điều chỉnh.

Thế là đời sống đạo được tổ chức thành một cơ chế rất trơn tru: tôi ngưỡng mộ anh vì anh nói đúng điều tôi nghĩ; anh được tôi công nhận là người nói thay Chúa vì tôi ngưỡng mộ anh; và bất cứ ai bất đồng với anh đều có nguy cơ bị tôi xem là chống lại Chúa. Một vòng tròn kín đến mức chân lý muốn bước vào cũng phải xin phép người quản trị nhóm.

Đáng lo hơn nữa là khi sự thần tượng ấy bước vào lĩnh vực chính trị và khoác áo tôn giáo.

Người Công giáo có trách nhiệm với xã hội. Chúng ta có thể quan tâm đến chính sách, đánh giá những quyết định công, ủng hộ điều phục vụ công ích, phản đối điều làm tổn thương phẩm giá con người. Một đức tin trưởng thành không bắt người tín hữu nhắm mắt trước những vấn đề của đất nước và thế giới. Nhưng chính vì có trách nhiệm, chúng ta càng phải giữ khả năng phân định, càng phải tránh trao cho bất cứ lãnh tụ nào sự tín nhiệm tuyệt đối vốn chỉ thuộc về Thiên Chúa.

Một nhà lãnh đạo có thể làm một số điều đúng và vẫn sai trong những điều khác. Một chính sách có thể có mặt đáng ủng hộ và mặt cần phê bình. Một con người có thể bảo vệ một giá trị mà ta quý trọng, nhưng điều đó không biến tất cả lời nói, hành vi và chọn lựa của họ thành thánh thiện. Người Công giáo không được miễn nhiệm vụ xét đoán lương tâm chỉ vì người mình ủng hộ đã nói một câu có nhắc đến Chúa.

Thế nhưng có người nghe một chính khách nói về Thiên Chúa là lập tức quên kiểm tra xem người ấy đối xử với con người thế nào. Chỉ cần một hình ảnh cầu nguyện, một lần cầm Kinh Thánh, một lời bênh vực tôn giáo, là những điều còn lại được đưa vào kho “không tiện bàn”. Người ấy nói nặng thì gọi là mạnh mẽ. Người ấy xúc phạm thì gọi là nói thật. Người ấy gây chia rẽ thì gọi là quyết đoán. Người ấy sai thì bảo truyền thông bóp méo. Người khác làm điều tương tự thì lập tức trở thành bằng chứng của sự suy đồi.

Lương tâm, đáng lẽ phải là nơi chúng ta lắng nghe tiếng gọi của điều thiện, bỗng được phân công làm luật sư riêng cho thần tượng.

Và khi một vị mục tử nhắc đến phẩm giá người di dân, nỗi đau của người nghèo, trách nhiệm với hòa bình, sự nguy hiểm của hận thù hay nhu cầu bảo vệ sự thật, một số người không còn nghe bằng tâm hồn Kitô hữu. Họ nghe bằng đôi tai của người đang canh giữ phe phái. Nếu lời ấy không thuận với lựa chọn chính trị của mình, họ lập tức nghi ngờ người nói. Chưa cần tìm hiểu đầy đủ, chưa cần đọc nguyên văn, chưa cần xét bối cảnh; chỉ cần thấy thần tượng bị chạm đến là đủ để chuẩn bị một bản kết tội.

Lúc ấy, chúng ta phải tự hỏi: ai đang thực sự giữ vị trí cao nhất trong lòng mình? Đức Kitô, hay nhân vật mà ta không cho phép bất cứ ai phê bình?

Nếu một ngày phải lựa chọn giữa lời mời gọi yêu thương của Tin Mừng và lời kích động thù ghét từ người mình hâm mộ, ta sẽ chọn điều gì? Nếu phải lựa chọn giữa sự thật và thể diện của phe mình, ta sẽ bảo vệ điều gì? Nếu một người nghèo làm mình khó chịu vì sự hiện diện của họ không thuận với quan điểm chính trị của mình, ta có còn nhận ra nơi họ một người anh chị em không?

Đó mới là những câu hỏi thử đức tin. Không phải số bài ta chia sẻ. Không phải mức độ gay gắt của lời ta viết. Không phải tiếng vỗ tay trong nhóm dành cho ta sau một lần phản công “rất bén”.

Dĩ nhiên, yêu mến Giáo hội không có nghĩa là phải xem mọi quyết định của người có trách nhiệm đều hoàn hảo. Phẩm trật trong Giáo hội không làm cho con người hết giới hạn. Có những điều cần được góp ý, có sai sót cần được sửa chữa, có tổn thương cần được nhìn nhận, có trách nhiệm cần được làm sáng tỏ. Sự hiệp thông đích thực không đòi người tín hữu từ bỏ lý trí hoặc im lặng trước điều sai.

Nhưng góp ý để xây dựng khác với công kích để thắng. Tìm sự thật khác với tìm một sơ hở để làm nhục. Nêu câu hỏi khác với tung nghi ngờ. Chịu trách nhiệm về một lời tố cáo khác với chuyển tiếp một đoạn cắt ghép rồi bảo: “Tôi chỉ chia sẻ cho mọi người biết.”

Chúng ta không thể nhân danh yêu Giáo hội để làm cho mọi người trong Giáo hội nghi kỵ nhau. Cũng không thể lấy danh nghĩa bảo vệ đức tin để mặc sức xúc phạm những người không đồng ý với mình. Một lời phê bình có thể rất nghiêm khắc mà vẫn tôn trọng sự thật và phẩm giá con người. Ngược lại, một lời nói đầy danh xưng đạo đức vẫn có thể chứa cả một kho khinh miệt.

Có người nói về hiệp thông bằng giọng của người chuẩn bị khai trừ tất cả những ai chưa đồng ý với mình. Có người bảo vệ truyền thống nhưng quên truyền thống cầu nguyện, khiêm nhường và bác ái. Có người nhắc đến vâng phục để yêu cầu thiên hạ vâng phục, còn chính mình thì chỉ vâng phục những ai nói đúng ý mình. Đó là một kiểu vâng phục có điều kiện rất hiện đại: tôi kính trọng quyền bính, miễn quyền bính đừng làm tôi khó chịu.

Nếu người có trách nhiệm đồng ý với tôi, họ sáng suốt. Nếu họ không đồng ý, họ yếu đuối. Nếu họ khen nhóm tôi, họ có tâm mục tử. Nếu họ nhắc nhóm tôi cần điều chỉnh, họ không hiểu thời đại. Cái thước đo ấy linh hoạt đến mức chỉ có một điều luôn cố định: tôi đúng.

Trong một căn nhà, nếu ai cũng chỉ nhận cha mẹ là cha mẹ khi cha mẹ thuận ý mình, gia đình sẽ mỏi mệt biết bao. Trong ngôi nhà đức tin cũng vậy. Khi mọi mối liên hệ đều phải đi qua cửa kiểm duyệt của phe phái, chúng ta có thể vẫn dùng chung những danh xưng, nhưng đã thôi sống như anh chị em.

Một biểu hiện khác của đời sống đạo phập phù là sự say mê những “sự lạ”.

Chúng ta muốn nghe chuyện gây sửng sốt, muốn thấy điều chưa ai thấy, muốn tham dự những cách thức có vẻ đặc biệt, muốn gặp một người có vẻ biết những bí mật người khác không biết. Đức tin bình thường bỗng bị chê là nhạt. Thánh lễ ở giáo xứ bỗng bị xem là không đủ hấp dẫn. Lời Chúa được công bố hằng tuần thì nghe quen quá. Những việc đạo đức âm thầm thì không tạo cảm giác mạnh. Phải có điều gì khác thường, có một dấu hiệu riêng, một thông điệp riêng, một cách làm riêng, thì mới thấy mình đang bước vào vùng “đức tin sâu sắc”.

Ta sẵn sàng đi rất xa để tìm một hiện tượng, nhưng lại thấy quá xa khi phải bước vài trăm mét đến với người hàng xóm đau bệnh.

Ta sẵn sàng xếp hàng nhiều giờ để được gặp một người được đồn là có ơn đặc biệt, nhưng thấy mười lăm phút ngồi nghe người già kể chuyện là quá dài.

Ta muốn biết mai đây điều gì sẽ xảy ra cho thế giới, nhưng không muốn biết tối nay con mình đang buồn vì điều gì.

Ta muốn nghe một lời báo trước về những biến cố lớn, nhưng lời vợ chồng mình đã báo nhiều lần rằng “em mệt lắm”, “anh cô đơn lắm”, “nhà mình đang có vấn đề” thì ta vẫn xem như tiếng ồn.

Có lẽ trước khi chạy tìm những bí mật trên trời, chúng ta nên học nghe những tiếng kêu đang phát ra ngay trong nhà.

Thiên Chúa có thể hành động vượt quá điều chúng ta dự liệu. Đời sống Giáo hội cũng có chỗ cho các đặc sủng, cho những hình thức đạo đức phong phú, cho những con người được trao những ân huệ để phục vụ. Nhưng chính vì kính trọng việc Thiên Chúa làm, chúng ta không được hấp tấp gọi mọi điều gây xúc động là việc của Chúa. Một hiện tượng được nhiều người kể lại chưa vì thế đã được xác thực. Một người nói rất tự tin chưa vì thế đã nói đúng. Một đám đông khóc chưa đủ chứng minh rằng tất cả những gì họ vừa nghe đều đáng tin.

Nước mắt có thể diễn tả một cuộc gặp gỡ sâu xa. Nước mắt cũng có thể đến từ tâm lý đám đông, sự mệt mỏi, một ký ức bị chạm đến hoặc một cách dẫn dắt cảm xúc. Chúng ta không khinh thường cảm xúc; chúng ta chỉ không nên giao cho cảm xúc toàn quyền xác định chân lý.

Và nhất là, không ai được tự tiện lấy tên Chúa để biến phụng vụ thành nơi phô diễn sáng kiến cá nhân. Người phục vụ điều thánh phải có lòng kính sợ đủ để biết mình không phải chủ sở hữu của điều thánh. Cộng đoàn không đến nhà thờ để thưởng thức cái tôi sáng tạo của một người. Cộng đoàn đến để thờ phượng Thiên Chúa.

Có những “sáng tạo” càng làm người dẫn dắt nổi bật thì càng khiến Đức Kitô khuất đi. Có những cách biểu diễn khiến người ta nhớ rất rõ ai đã làm gì, nhưng không nhớ Lời Chúa vừa mời gọi điều gì. Có những buổi gặp gỡ khiến người tham dự trở về với cảm giác mình vừa gặp một nhân vật phi thường, nhưng không giúp họ trở thành một người chồng bớt nóng nảy, một người vợ bớt cay nghiệt, một người con biết quan tâm, một người làm ăn biết ngay thẳng.

Vậy sự phi thường ấy đã phục vụ ai?

Một ân huệ thực sự đáng quý khi giúp con người hướng về Chúa, lớn lên trong đức tin, sống bác ái và gắn bó với cộng đoàn. Nếu một sự hấp dẫn khiến người ta ngày càng lệ thuộc vào một cá nhân, ngày càng xa bí tích, ngày càng khinh thường giáo xứ, ngày càng đối đầu với mọi lời nhắc nhở, thì ít nhất chúng ta phải đủ tỉnh táo để đặt câu hỏi. Không thể cứ thấy đông là yên tâm, thấy xúc động là kết luận, thấy có người kể chuyện lạ là ngừng phân định.

Đức tin không cần chúng ta bịt mắt để trở nên sốt sắng.

Đặc biệt đáng buồn là sự xa rời cộng đoàn giáo xứ. Có người đi nhiều nơi, tham gia nhiều chương trình, quen nhiều nhân vật, nhưng gần như không có mặt trong đời sống xứ đạo mình. Giáo xứ đối với họ giống một địa chỉ hành chính: khi cần giấy chứng nhận, cần làm thủ tục, cần cưới hỏi, rửa tội, an táng thì nhớ; khi cần chung tay xây dựng, thăm viếng, dạy giáo lý, phục vụ người nghèo thì không thấy.

Họ có thể rất nhiệt tình ở nơi có sân khấu, nhưng khá im lặng ở nơi có cây chổi.

Họ có thể đóng góp cho một chương trình được quảng bá rộng rãi, nhưng không biết trong xứ mình có một gia đình đang thiếu tiền thuốc.

Họ có thể kể rất rõ số người tham dự một sự kiện, nhưng không biết tên một người già sống một mình ở con hẻm bên cạnh nhà thờ.

Họ có thể gọi một cộng đoàn ở xa là “gia đình thiêng liêng của tôi”, còn cộng đoàn đang cùng mình nghe Lời Chúa, cùng mình chia sẻ đời sống đức tin mỗi tuần thì bị xem là quá bình thường để đáng quan tâm.

Không phải tham gia một phong trào, một hội đoàn hay một cộng đoàn ngoài giáo xứ là sai. Những nơi ấy có thể đem lại nhiều hoa trái tốt đẹp. Vấn đề xuất hiện khi sự gắn bó ở đó trở thành lý do để cắt đứt trách nhiệm tại nơi mình đang sống; khi một nhóm trở thành thế giới duy nhất đáng tin; khi người ta bước vào nhóm để rồi nhìn tất cả những người ngoài nhóm bằng sự thương hại hoặc khinh thường.

Một hội đoàn tốt phải giúp ta sống tốt hơn trong Giáo hội và giữa đời. Nếu sau khi tham gia, ta bớt cầu nguyện, bớt dự lễ, bớt phục vụ gia đình, bớt tôn trọng người khác, nhưng lại tăng mạnh khả năng tranh luận và nghi ngờ, thì có điều cần xem lại. Cây có thể được treo rất nhiều bảng tên đẹp; điều đáng xét vẫn là quả.

Giáo xứ không hoàn hảo. Có những cha xứ còn thiếu tế nhị. Có những hội đoàn khép kín. Có những người phục vụ lâu năm tưởng mình được trao luôn quyền sở hữu nhà thờ. Có những cuộc họp mà tinh thần hiệp thông vừa bước vào đã muốn xin phép ra về. Có những người mới muốn góp sức nhưng gặp ngay những câu khiến nhiệt tình chùng xuống: “Ở đây trước giờ làm vậy”, “Anh chị chưa hiểu đâu”, “Việc này đã có người lo rồi.”

Những điều đó phải được nhìn nhận và sửa chữa. Không thể cứ trách giáo dân xa cộng đoàn mà không xét xem cộng đoàn có thực sự mở cửa đón họ hay không. Không thể rao giảng về lòng thương xót mà đối xử với người trở về như một hồ sơ có vấn đề. Không thể kêu gọi tham gia rồi chỉ dành cho người tham gia quyền ngồi nghe.

Nhưng sự không hoàn hảo của cộng đoàn cũng không thể trở thành một tấm vé miễn trách nhiệm suốt đời. Nếu ta chỉ chấp nhận phục vụ nơi không có ai làm mình khó chịu, có lẽ ta sẽ phải lập một giáo xứ chỉ có một người; rồi sau một thời gian, chính người ấy cũng sẽ thấy khó chịu với bản thân.

Cộng đoàn là nơi chúng ta học yêu những con người cụ thể, với giọng nói cụ thể, tính tình cụ thể, giới hạn cụ thể. Chính ở đó, lòng bác ái của ta được thử. Yêu “Giáo hội” như một khái niệm rất dễ. Yêu người đang ngồi cùng băng ghế, người có cách nghĩ khác mình, người phục vụ chưa khéo, người từng làm mình tổn thương, mới đòi hỏi một cuộc hoán cải thật.

Chúng ta rất dễ yêu những người ở xa vì chưa phải chịu đựng đời thường của họ. Thần tượng trên màn hình thường xuất hiện trong những khoảnh khắc được chọn lọc. Cha xứ thì xuất hiện giữa những công việc chưa xong, những cuộc gọi liên tục, những quyết định có người đồng ý và có người không. Người ở xa được ta nhìn qua ánh sáng sân khấu. Người ở gần bị ta nhìn qua tất cả bụi bặm của cuộc sống. So sánh hai người như thế rồi kết luận một người thánh thiện, một người chẳng ra gì, có khi chỉ là so sánh một bức ảnh đã chỉnh với một khuôn mặt đang mệt.

Lòng yêu mến trưởng thành không cần biến ai thành người hoàn hảo.

Cũng cần nói một lời thẳng thắn với những người đang được nhiều người yêu mến: sự ngưỡng mộ là một trách nhiệm nặng. Khi người ta tin mình, mình càng phải giúp họ biết đặt niềm tin đúng chỗ. Khi người ta lắng nghe mình, mình càng phải tránh dùng ảnh hưởng ấy để tạo một vòng lệ thuộc. Khi người ta khen mình có ơn, mình càng phải nhớ rằng ơn được ban để phục vụ, không phải để tạo một lãnh địa riêng.

Một người hướng dẫn thiêng liêng chân thành sẽ vui khi người được hướng dẫn trưởng thành, biết cầu nguyện, biết phân định, biết gắn bó với Hội Thánh, kể cả khi không còn cần tìm đến mình thường xuyên. Người ấy không cần người khác phải nhắc tên mình để cảm thấy việc mình làm có giá trị. Người ấy có thể chấp nhận mất sự nổi tiếng để giữ sự thật.

Ngược lại, khi một người phải liên tục làm cho người khác tin rằng chỉ mình hiểu Chúa, chỉ nhóm mình giữ được đức tin, chỉ ai theo mình mới thực sự trung thành, thì sự nguy hiểm đã nằm ngay trong cách tổ chức mối tương quan ấy. Chúa không nhỏ đến mức chỉ có thể được gặp qua một cửa do một cá nhân giữ chìa khóa.

Đôi khi người ta không nói công khai “hãy theo tôi thay vì theo Chúa”. Người ta chỉ tạo một bầu khí trong đó mọi con đường đều phải đi qua mình. Ai đặt câu hỏi thì bị xem là thiếu đức tin. Ai xin kiểm chứng thì bị xem là khô khan. Ai nghe lời nhắc của Giáo hội thì bị xem là yếu lòng. Ai rời nhóm thì bị xem là phản bội. Và thế là một cộng đoàn mang ngôn ngữ của tự do thiêng liêng lại có thể vận hành bằng nỗi sợ.

Đức Kitô giải thoát con người. Những cách hướng dẫn khiến con người ngày càng sợ hỏi, sợ nghĩ, sợ rời, sợ nói thật cần được xét lại hết sức nghiêm túc.

Tuy nhiên, nếu chỉ chế giễu những người bị cuốn vào đó, chúng ta sẽ không chạm đến gốc rễ. Nhiều người tìm thần tượng vì họ đang cô đơn. Nhiều người bám vào một nhóm vì ở nơi khác họ chưa được lắng nghe. Nhiều người thích những lời quả quyết vì cuộc đời họ quá bấp bênh. Nhiều người chạy theo chuyện lạ vì đang đau bệnh, khủng hoảng, tuyệt vọng, và muốn tìm một dấu hiệu rằng Chúa chưa quên mình.

Có người đến một nhóm vì lần đầu tiên có ai nhớ tên họ. Có người nghe một nhân vật vì lần đầu tiên cảm thấy nỗi đau của mình được gọi đúng tên. Có người ở lại một cộng đoàn vì tại đó họ được hỏi: “Hôm nay anh chị có ổn không?” Những điều ấy không nhỏ. Một cái bắt tay chân thành có khi đi xa hơn nhiều bài diễn văn về sự quan tâm.

Bởi vậy, bên cạnh việc cảnh báo sự thần tượng, chúng ta cũng phải tự hỏi: tại sao có người đã sống trong giáo xứ nhiều năm mà vẫn thấy mình vô hình? Tại sao họ chỉ được gọi tên khi cần đóng góp, nhưng không được hỏi thăm khi vắng mặt? Tại sao những người có thắc mắc lại thường gặp sự khó chịu hơn là một cuộc đối thoại? Tại sao một người bị tổn thương có thể dễ tìm được một nhóm trên mạng sẵn sàng nghe mình hơn một người trong cộng đoàn chịu ngồi xuống bên cạnh?

Những câu hỏi ấy không biện minh cho sự lệch lạc. Chúng nhắc chúng ta rằng chăm sóc đức tin không thể chỉ bằng việc dựng biển “cấm đi sai đường”. Còn phải mở một con đường có người đồng hành.

Một cộng đoàn sống động không chỉ thông báo lịch lễ. Cộng đoàn ấy còn nhận ra những người đang mất dần khả năng bước đến nhà thờ. Một mục tử không chỉ nói người ta phải trở về; còn tìm cách để sự trở về ấy bớt đáng sợ. Một giáo dân trưởng thành không chỉ phê bình người khác sống đạo mơ hồ; còn làm cho sự hiện diện của mình trở thành một lời mời gọi cụ thể: anh chị có thể ngồi đây, có thể hỏi, có thể kể, có thể bắt đầu lại.

Nếu muốn người ta bớt tìm những “gia đình thay thế” thiếu lành mạnh, chúng ta phải chăm chút để ngôi nhà đức tin thực sự có hơi ấm.

Dẫu vậy, hơi ấm cộng đoàn không thay thế cho việc mỗi người phải chịu trách nhiệm về đức tin của mình. Không ai có thể cầu nguyện thay đến mức ta không cần cầu nguyện. Không ai có thể nghe Lời Chúa thay đến mức ta không cần lắng nghe. Không ai có thể hoán cải thay đến mức ta chỉ cần cổ vũ cuộc hoán cải của thiên hạ.

Theo dõi một người giảng không đồng nghĩa với việc đã sống lời họ giảng. Chia sẻ một bài về tha thứ không đồng nghĩa với việc đã tha thứ. Thả biểu tượng trái tim dưới một lời mời gọi bác ái không đồng nghĩa với việc đã giúp một người đau khổ. Mạng xã hội có thể giúp truyền đi điều tốt; nó không thể thay chúng ta thực hiện điều tốt.

Chúng ta có thể thuộc rất nhiều lời về khiêm nhường mà vẫn không chịu xin lỗi. Có thể nghe rất nhiều bài về gia đình mà vẫn để người thân sống trong sợ hãi. Có thể chia sẻ rất nhiều suy niệm về Thánh Thể mà vẫn thờ ơ với Thánh lễ. Có thể kêu gọi người ta tôn trọng sự thật mà vẫn chuyển tiếp một tin chưa kiểm chứng chỉ vì nó thuận lợi cho người mình quý.

Đó là lúc cần bớt hỏi “tôi đang theo ai?” để hỏi “tôi đang trở thành người thế nào?”

Sau nhiều năm tham gia nhóm ấy, nghe người ấy, tranh luận về những điều ấy, tôi có hiền lành hơn không? Có thật thà hơn không? Có biết nhận lỗi hơn không? Có bớt cay nghiệt với người khác không? Có sống có trách nhiệm hơn với gia đình không? Có gắn bó hơn với bí tích không? Có rộng lòng hơn với người nghèo không? Hay tôi chỉ trở nên nhanh nhạy hơn trong việc nhận ra kẻ thù?

Một đời sống đạo mà thành quả nổi bật nhất là danh sách người cần chống lại thì thật đáng lo.

Đức Kitô có nói những lời nghiêm khắc. Người không thỏa hiệp với giả hình và bất công. Nhưng chính Người cũng đến gần người tội lỗi, nâng người bị loại trừ, chữa lành người đau khổ, và hiến mình vì con người. Chúng ta không thể chỉ mượn sự nghiêm khắc của Người mà bỏ lại lòng thương xót. Cũng không thể chỉ nói về lòng thương xót để né tránh việc sửa mình. Đức tin trưởng thành đòi chúng ta giữ cả sự thật lẫn tình yêu trong cùng một đời sống.

Có khi điều cần bảo vệ nhất hôm nay không phải hình ảnh của một nhân vật, mà là chỗ của Chúa trong lòng mình.

Chỗ ấy đang bị chiếm bởi những gì? Một gương mặt? Một quan điểm? Một nỗi sợ? Một cơn giận? Một nhu cầu phải được công nhận? Một nhóm khiến ta thấy mình quan trọng? Một cuộc tranh luận mà ta nhất định không chịu thua?

Nếu vắng một buổi phát trực tiếp mà lòng bồn chồn, nhưng vắng lễ nhiều tuần mà lòng vẫn thản nhiên, ta nên dừng lại. Nếu có thể bỏ cầu nguyện để đọc hàng trăm bình luận, ta nên dừng lại. Nếu lời góp ý về thần tượng khiến ta nổi giận nhanh hơn lời nhắc về tội lỗi của mình khiến ta đau lòng, ta nên dừng lại. Nếu ta đang xa dần gia đình, giáo xứ và các bí tích trong khi ngày càng tự hào về sự “sốt sắng” của mình, ta càng cần dừng lại.

Không phải để kết án bản thân, mà để trở về trước khi sự lệch hướng trở thành nếp sống.

Và trở về thường bắt đầu bằng những việc hết sức bình thường. Đi dự lễ khi có thể. Chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận bí tích Hòa giải. Dành một khoảng thời gian thật sự cho cầu nguyện. Đọc Lời Chúa với sự sẵn sàng được sửa đổi. Xin lỗi người mình đã làm tổn thương. Ngừng chia sẻ tin chưa biết rõ. Rời khỏi một cuộc cãi vã đang làm mình mất bác ái. Hỏi giáo xứ có việc gì mình có thể góp sức. Thăm một người bệnh. Ngồi nghe con nói hết một câu.

Những việc ấy ít tạo tiếng vang. Không có nhiều người vỗ tay khi ta bớt một lời cay nghiệt. Không ai làm áp phích khi ta trung thực trong một khoản tiền. Không có buổi phát trực tiếp cho khoảnh khắc ta chịu nhận mình sai. Nhưng chính những điều âm thầm ấy có thể làm đức tin trở lại với sự thật của nó.

Chúng ta không cần liên tục chứng minh mình thuộc phe của Chúa. Chúng ta cần để Chúa dạy mình sống như người thuộc về Người.

Khi nói đến đời sống Công giáo tại Việt Nam, càng cần giữ sự ngay thẳng trong nhận định. Không thể từ những hiện tượng đáng lo mà kết luận mọi cộng đoàn đều suy thoái, hoặc quy toàn bộ những khó khăn của việc sống và loan báo đức tin cho một nguyên nhân duy nhất. Vẫn có biết bao giáo dân âm thầm trung thành, biết bao gia đình giữ được nếp cầu nguyện, biết bao người trẻ phục vụ tận tụy, biết bao linh mục và tu sĩ bền bỉ đồng hành với người đau khổ. Những người ấy ít gây ồn ào, nhưng đang làm cho khuôn mặt Hội Thánh trở nên đáng tin.

Tuy nhiên, sự lệ thuộc vào cá nhân, tâm lý phe phái, việc bỏ bê bí tích và sự xa rời cộng đoàn quả thực có thể làm suy yếu chứng tá Kitô hữu. Khi người ngoài thấy chúng ta nói nhiều về Chúa mà thiếu lòng tử tế, họ sẽ khó nhận ra vẻ đẹp của Tin Mừng. Khi người trẻ thấy người lớn nhân danh đức tin để nhục mạ nhau, họ có thể tưởng rằng sống đạo chủ yếu là chọn một phe để chống phe khác. Khi gia đình thấy một thành viên càng “sốt sắng” trên mạng càng khắc nghiệt trong nhà, những lời người ấy nói về Chúa sẽ mất dần sức thuyết phục.

Điều làm chứng tá của chúng ta yếu đi nhiều khi không phải vì chúng ta thiếu lời giải thích, mà vì đời sống không nâng đỡ được những lời giải thích ấy.

Một bài bênh vực đức tin có thể được viết rất hay, nhưng người viết vẫn cần sống sao cho người bên cạnh không sợ mình. Một lời phê bình có thể có phần đúng, nhưng cách nói vẫn cần cho thấy ta còn xem người bị phê bình là con người. Một lòng nhiệt thành có thể rất mạnh, nhưng vẫn phải chịu sự thanh luyện của cầu nguyện, sự thật và bác ái.

Nếu không, ta có thể chiến thắng một cuộc tranh luận và làm thua thiệt cả một mối tương quan. Có thể bảo vệ được danh tiếng của thần tượng và đánh mất bình an của gia đình. Có thể khiến nhóm mình hả hê và khiến người khác xa Chúa hơn.

Đó là một kiểu chiến thắng đắt quá.

Đức tin không được đo bằng khả năng khiến người khác im tiếng. Đức tin được nhận ra nơi một con người biết mở lòng trước Chúa, chịu để Người sửa mình, và vì thế có thể đối xử với người khác bằng một tình yêu có trách nhiệm.

Thánh Phaolô từng phải đối diện với những chia rẽ trong cộng đoàn, khi người ta gắn mình với những người rao giảng khác nhau. Câu hỏi ngài đặt ra vẫn khiến chúng ta giật mình: Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy sao? (x. 1 Cr 1,10–13). Những người rao giảng được quý trọng, nhưng không ai trong họ được đặt vào chỗ của Đấng đã chịu đóng đinh vì chúng ta.

Ngày nay, tên gọi có thể thay đổi, phương tiện có thể thay đổi, nhưng cám dỗ vẫn còn nguyên. “Tôi theo người này.” “Tôi thuộc nhóm kia.” “Chỉ bên chúng tôi mới đúng.” “Chỉ người của chúng tôi mới dám nói thật.” Và giữa những lời tuyên bố sở hữu chân lý ấy, có khi chính Đức Kitô bị đẩy ra ngoài cuộc trò chuyện.

Người đã chết vì chúng ta. Người đã trao ban chính mình cho chúng ta. Người vẫn gọi chúng ta đến với Người. Vậy mà chúng ta lại có thể dành cho Người phần thời gian thừa, phần chú ý thừa, phần yêu mến thừa, sau khi đã phục vụ xong những điều mình thích.

Nghĩ đến đó, mọi lời trào phúng đều trở nên nghẹn.

Bởi đây không chỉ là một thói quen buồn cười. Đây là chuyện một người có thể đi xa khỏi nguồn sống mà vẫn tưởng mình đang tiến sâu vào đức tin. Có thể ngày càng lệ thuộc mà vẫn tưởng mình được soi sáng. Có thể ngày càng hằn học mà vẫn tưởng mình đang can đảm. Có thể ngày càng cô lập mà vẫn tưởng mình thuộc về một cộng đoàn tinh tuyền.

Và không ai trong chúng ta hoàn toàn đứng ngoài nguy cơ ấy.

Người viết những dòng này cũng phải xét mình. Người giảng cũng phải xét mình. Người làm việc mục vụ cũng phải xét mình. Người được kính trọng cũng phải xét mình. Có khi chúng ta trách giáo dân thần tượng một cá nhân, nhưng lại thấy khó chịu khi họ không còn ngưỡng mộ mình. Có khi chúng ta nói phải đặt Chúa ở trung tâm, nhưng vẫn âm thầm mong mọi ánh nhìn quay về phía mình. Có khi chúng ta kêu gọi hiệp thông, nhưng chỉ thấy dễ hiệp thông với người đồng ý.

Nếu lời phê bình không đưa người nói trở về xét mình, nó rất dễ trở thành một chiếc áo đạo đức khác cho cái tôi.

Vì thế, lời cần nói hôm nay phải bắt đầu bằng “chúng ta”. Chúng ta cần trở về. Chúng ta cần học cầu nguyện. Chúng ta cần phục hồi sự gắn bó với bí tích. Chúng ta cần biết quý trọng những người hướng dẫn mà không biến họ thành tuyệt đối. Chúng ta cần tham gia đời sống xã hội mà không biến lựa chọn chính trị thành tín điều. Chúng ta cần biết góp ý cho Giáo hội bằng một lương tâm ngay thẳng, một lời nói có trách nhiệm và một tình yêu đủ bền để cùng xây dựng.

Chúng ta cần bớt say mê những điều gây kinh ngạc để chăm sóc những điều đang bị bỏ quên.

Một người cha chịu ngồi xuống xin lỗi con có thể không phải “sự lạ” theo cách mạng xã hội ưa thích, nhưng đó là một bước hoán cải đáng quý. Một người mẹ ngừng dùng lời cay nghiệt để sửa dạy con là một thay đổi đáng quý. Một giáo dân từ bỏ thói chuyển tiếp tin đồn là một thay đổi đáng quý. Một người từng khinh thường giáo xứ nay lặng lẽ đến phụ việc là một thay đổi đáng quý. Một người từng chỉ biết bênh thần tượng nay dám nói “điều này chưa đúng” là một thay đổi đáng quý.

Chúng ta cứ tìm một biến cố làm rung chuyển bầu trời, trong khi Chúa đang mời chúng ta để Người làm mềm một trái tim.

Cuối cùng, xin mỗi người thành thật trả lời: nếu ngày mai nhân vật mình hâm mộ không còn xuất hiện, mình còn cầu nguyện không? Nếu nhóm mình yêu thích ngừng hoạt động, mình còn đi lễ không? Nếu người mình kính trọng mắc sai lầm, mình còn tin Chúa không? Nếu không còn những câu chuyện lạ, không còn những lời gây xúc động mạnh, không còn sự tán thưởng của đồng đội, mình còn muốn sống Tin Mừng không?

Nếu câu trả lời quá bấp bênh, điều cần làm không phải vội đi tìm một thần tượng mới. Điều cần làm là trở về với nền móng đã bị bỏ quên.

Đức Kitô vẫn ở đó. Người không cần những người hâm mộ chỉ biết hò reo. Người mời gọi những môn đệ biết bước theo. Người không gọi chúng ta đến để bênh vực cái tôi dưới danh nghĩa của Người. Người gọi chúng ta từ bỏ mình, vác thập giá và theo Người (x. Mc 8,34). Người không hứa một đức tin luôn thuận ý chúng ta. Người ban một sự sống có thể biến đổi chúng ta.

Xin đừng để đến một ngày, nhìn lại cả hành trình sống đạo, chúng ta nhận ra mình đã thuộc quá nhiều khẩu hiệu mà ít lắng nghe Tin Mừng; đã bảo vệ quá nhiều người mà ít để Chúa sửa mình; đã chạy qua quá nhiều nơi mà chưa thật sự trở về; đã rất hăng hái nói về Thiên Chúa, nhưng lại để Người cô đơn trong chính tâm hồn mình.

Nhà thờ vẫn ở đó. Cộng đoàn vẫn cần một bàn tay. Người nghèo vẫn cần được nhìn thấy. Gia đình vẫn cần một sự hiện diện hiền lành. Và Chúa vẫn đợi chúng ta đến với Người bằng một trái tim thật.

Có lẽ hôm nay, trước khi viết thêm một bình luận để chứng minh mình là người Công giáo tốt, chúng ta hãy đứng dậy làm một việc khiến người bên cạnh nhận ra tình yêu của Đức Kitô.

Có lẽ hôm nay, trước khi lên đường bảo vệ danh dự cho thần tượng, chúng ta hãy trở về gìn giữ lời hứa của mình với Chúa.

Có lẽ hôm nay, trước khi hỏi ai đang làm Giáo hội suy yếu, chúng ta hãy hỏi mình đã góp gì để ngôi nhà đức tin bớt lạnh.

Lạy Chúa, xin kéo chúng con ra khỏi sự yên trí dễ dãi. Xin đừng để chúng con gọi sự hùa theo là trung thành, gọi sự nóng giận là can đảm, gọi sự lệ thuộc là đức tin, rồi cứ thế đi xa khỏi Chúa. Xin dạy chúng con yêu mến những người Chúa sai đến mà không đặt họ vào chỗ của Chúa; kính trọng người hướng dẫn mà vẫn biết phân định; quan tâm đến xã hội mà không thờ một quyền lực trần thế; gắn bó với cộng đoàn mà không đóng cửa trước người khác.

Xin cho chúng con bớt ồn ào để nghe được Lời Chúa, bớt kiêu hãnh để nhận được lời sửa dạy, bớt chạy theo điều lạ để nhận ra ân sủng trong những bổn phận thường ngày.

Và xin cho chúng con, sau bao lần quả quyết mình đang bảo vệ Chúa, đủ khiêm nhường nhận ra rằng chính chúng con đang cần được Chúa cứu khỏi cái tôi của mình.

Lm. Anmai, CSsR.