DIỄN ĐẠO NHIỀU HƠN SỐNG ĐẠO Lm. Anmai, CSsR.
Có những chiếc áo đạo đức được là phẳng mỗi ngày, nhưng trái tim bên trong thì lâu rồi chưa được giặt.
Đời người vốn ngắn ngủi. Một buổi sáng còn nghe tiếng mình ho trong căn phòng nhỏ, một buổi chiều có khi đã trở thành người mà thiên hạ nhắc đến bằng hai chữ “hồi trước”. Vậy mà chúng ta vẫn có thể dành gần hết cuộc đời để chăm chút cho cái hình ảnh của mình trong mắt người khác. Sợ người ta nghĩ mình nghèo, ta cố tỏ ra dư dả. Sợ người ta nghĩ mình dốt, ta nói những điều chính mình chưa hiểu. Sợ người ta nghĩ mình không đạo đức, ta khoác thêm vài lớp nghiêm trang, vài câu đạo lý, vài dáng đứng rất có chiều sâu. Thành thử, giữa một cuộc đời đầy những điều cần sống cho thật, chúng ta lại có thể bận rộn nhất với công việc làm cho người khác tưởng rằng mình đang sống rất thật. Mệt biết bao! Một con người đã đủ khổ vì phải mang những yếu đuối của mình, lại còn tự nhận thêm nghề chăm sóc danh tiếng, bảo dưỡng hình tượng, chống thấm dư luận và đánh bóng phẩm hạnh. Đến lúc quỳ trước mặt Chúa, đáng lẽ được thở ra nhẹ nhõm, ta vẫn tiếp tục hóp bụng tâm hồn cho vừa chiếc áo đạo đức đã may quá chật.
Nhưng trước mặt Thiên Chúa, mọi thứ trang điểm ấy có tác dụng gì? Ngài nhìn thấy cả chỗ chúng ta chưa kịp che, nghe được cả lời chúng ta chưa nói, biết cả nỗi sợ nằm bên dưới một việc làm có vẻ rất đẹp. Ta có thể làm cho cả xóm tưởng mình hiền lành, nhưng Chúa biết người trong nhà đã phải chịu đựng giọng nói của ta thế nào. Ta có thể được một hội đoàn quý mến vì nhiệt tình phục vụ, nhưng Chúa biết có bao nhiêu lần ta dùng việc phục vụ để đòi người khác phục tùng. Ta có thể khiến thiên hạ cảm động vì một bức ảnh trao quà, nhưng Chúa nhìn thấy người nhận quà đã phải đứng đợi bao lâu, đã bị sai bảo ra sao, đã ngượng ngùng thế nào khi nỗi thiếu thốn của mình được mời nhìn thẳng vào ống kính. Trước mặt Ngài, chúng ta không thiếu cơ hội để được yêu thương; chúng ta chỉ hay thiếu can đảm để được yêu thương đúng như con người thật của mình.
Căn bệnh “diễn đạo nhiều hơn sống đạo” vì thế vừa đáng cười, vừa đáng khóc. Đáng cười vì nó khiến chúng ta làm những việc rất lạ: đi tìm Đấng thấu suốt lòng người mà vẫn chuẩn bị một bộ mặt để trình diện; đọc kinh xin được khiêm nhường mà trong lòng âm thầm kiểm tra xem có ai nhận ra mình khiêm nhường hay chưa; làm việc bác ái mà hồi hộp nhất ở đoạn người dẫn chương trình sắp đọc tên nhà tài trợ. Đáng khóc vì phía sau những màn trình diễn ấy thường là một tâm hồn đang đói: đói được công nhận, đói được yêu, đói một lời xác nhận rằng mình có giá trị. Chúng ta tưởng vài tiếng vỗ tay sẽ nuôi được cơn đói ấy. Nhưng tiếng vỗ tay cũng giống như bánh vẽ: nhìn khá đẹp, nghe khá vui, nhai mãi vẫn chẳng có gì xuống bụng. Thế là hôm nay phải làm cho người ta khen, ngày mai phải làm cho người ta khen thêm, ngày kia phải làm lớn hơn nữa. Một việc lành vốn có thể đem lại tự do lại bị biến thành cái máy chạy bộ của danh tiếng: chạy rất nhiều, thở rất mạnh, mà lòng vẫn ở nguyên chỗ cũ.
Đức Giê-su đã nói thẳng về điều ấy khi dạy: “Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thật, Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi” (Mt 6,2). Hai chữ “đã được” nghe nhẹ mà nhói. Người ta đã khen anh rồi. Người ta đã nhìn chị rồi. Anh đã có điều anh tìm, chị đã nhận điều chị muốn. Nhưng nếu toàn bộ việc lành chỉ được đặt vào cái giỏ đựng lời khen, thì khi lời khen bay đi, chiếc giỏ sẽ trống. Đáng buồn thay, có khi chúng ta đã đứng rất gần một hành động thánh thiện mà lại bỏ lỡ cuộc gặp gỡ với Chúa ngay trong hành động ấy, chỉ vì quá bận xem mình có đẹp trong mắt người đời hay không.
Ngày xưa muốn khua chiêng đánh trống phải có người khiêng chiêng, người cầm dùi, người chạy đi báo. Bây giờ tiện hơn nhiều. Một chiếc điện thoại đã có thể đảm nhiệm cả ban nghi lễ. Làm một việc tốt, chụp một tấm ảnh, lựa góc cho khuôn mặt mình sáng hơn khuôn mặt người được giúp, viết một dòng thật khiêm tốn: “Chỉ là chút lòng nhỏ bé, không có gì đáng nói.” Rồi đăng lên để mọi người cùng biết rằng không có gì đáng nói ấy. Chưa đầy năm phút, lòng nhỏ bé bắt đầu chăm chú đếm những trái tim đỏ. Mười phút sau, lòng nhỏ bé thắc mắc sao người bạn thân chưa bình luận. Nửa giờ sau, lòng nhỏ bé giận vì người khác được khen nhiều hơn. Đến tối, việc bác ái đã hoàn tất, nhưng cuộc thi tâm hồn cao đẹp vẫn đang tiếp diễn. Chúng ta có thể đã cho đi một phần tiền bạc mà chưa cho đi được quyền được ca ngợi.
Dĩ nhiên, không phải cứ có hình ảnh là phô trương, cứ công khai là giả hình. Có những hoạt động cần minh bạch, cần báo cáo, cần giới thiệu để người khác cùng tham gia; có những chứng tá được chia sẻ đã khơi lên bao việc tốt. Đức Giê-su cũng mời gọi các môn đệ để ánh sáng của mình chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để người ta thấy việc tốt đẹp mà tôn vinh Cha trên trời (x. Mt 5,16). Điều phải xét là lòng mình đang muốn dẫn người khác đến đâu. Nếu người ta thấy việc tôi làm và nhớ đến lòng nhân hậu của Chúa, đó là một niềm vui. Nếu tôi chỉ yên lòng khi người ta nhớ đến tôi, còn quên Chúa cũng được, thì tôi cần ngồi xuống rất lâu để hỏi mình đang phụng sự ai. Có những công việc bên ngoài hoàn toàn giống nhau, nhưng hướng đi bên trong khác nhau đến mức một bên làm con người nhẹ nhõm, một bên khiến con người ngày càng lệ thuộc vào ánh mắt thiên hạ.
Chúng ta có thể nhận ra căn bệnh ấy qua những lúc không ai nhìn. Khi một người nghèo đến cần giúp mà không có dịp chụp ảnh, lòng mình có còn sốt sắng không? Khi giáo xứ cần người dọn những chiếc ghế cuối cùng sau buổi lễ, mình có còn ở lại không? Khi việc phục vụ phải làm trong một góc khuất, chẳng có ai giới thiệu, chẳng ai biết tên, mình có thấy nó bỗng nhiên “không phù hợp với khả năng” không? Khả năng của ta đôi khi thật kỳ diệu: vừa thấy sân khấu thì mở rộng, vừa thấy cây chổi thì thu hẹp. Việc cần người phát biểu, ta có mặt từ sớm. Việc cần người rửa chén, ta chợt nhớ gia đình đang có chuyện. Việc được ghi tên, ta nhận ra ơn gọi. Việc không được ghi tên, ta xin thêm thời gian phân định. Nếu xét mình cho thật, có lẽ một số cuộc phân định của chúng ta kết thúc khá nhanh ngay khi ban tổ chức bổ sung tên mình vào chương trình.
Rồi căn bệnh ấy đi vào cả cách chúng ta đến nhà thờ. Người ta thường nói nhà thờ là nơi gặp Chúa, nhưng có lúc chúng ta đến đó như đến một cuộc kiểm tra tư cách xã hội. Phải xuất hiện để người ta khỏi bàn. Phải ngồi đúng chỗ để người ta biết mình vẫn còn sinh hoạt. Phải có mặt trong một số dịp quan trọng để gia đình giữ được tiếng tốt. Trong lòng có thể không muốn cầu nguyện, không muốn nghe, không muốn thay đổi, nhưng vẫn muốn được nhìn nhận là người giữ đạo. Chúng ta chăm sóc hồ sơ tôn giáo khá kỹ, trong khi tương quan với Chúa thì cứ để đó, giống như một căn nhà có bảng tên sáng choang mà bên trong đã lâu không mở cửa. Người đi ngang thấy đàng hoàng lắm. Người sống trong nhà mới biết hơi lạnh đã ngấm tới đâu.
Nhưng cũng phải dịu dàng với nhau. Có người đi lễ trong khô khan vì họ đang trải qua một giai đoạn rất khó. Có người không biểu lộ cảm xúc vì tính cách kín đáo. Có người chỉ đủ sức đến ngồi yên, bởi cả tuần đã kiệt quệ vì bệnh tật, vì chăm sóc người thân, vì lo cơm áo. Sự đều đặn của họ có thể là một lòng trung tín rất đáng quý. Chúng ta không thể đứng ở cửa nhà thờ mà làm nhân viên kiểm định nội tâm, nhìn ai ít cười thì kết luận thiếu đức tin, thấy ai đọc kinh nhỏ thì phán đời sống đạo suy thoái. Căn bệnh giả hình cần được nhận diện, nhưng việc nhận diện phải bắt đầu từ lòng mình. Nếu đọc một bài xét mình mà chỉ thấy mặt người khác hiện ra, thì rất có thể chúng ta đang dùng cả bài xét mình làm một chiếc ống nhòm.
Có người rất thuộc những dấu hiệu bên ngoài của lòng đạo. Biết lúc nào cúi đầu, lúc nào chắp tay, lúc nào hạ giọng, lúc nào nhíu mày cho có vẻ đang suy niệm. Nhưng về đến nhà, chỉ một bữa cơm nấu hơi mặn đã đủ làm cả gia đình bước vào cuộc khổ nạn riêng. Ở nhà thờ, người ấy nói năng nhỏ nhẹ như sợ làm đau một ngọn nến; ở nhà, người ấy có thể quát đến mức đứa con không dám hỏi bài. Trước bàn thờ, người ấy xin Chúa ban bình an cho thế giới; trước mâm cơm, người ấy không chịu ban bình an cho ba người đang ngồi chung. Miệng đọc kinh yêu thương mọi người, nhưng trong danh sách “mọi người” có vẻ đã âm thầm loại trừ con dâu, người em đang tranh chấp đất, bà hàng xóm và một vài thành viên hội đoàn. Tình yêu ấy rộng tới tận chân trời, chỉ hơi khó đi qua cái hàng rào sát bên nhà.
Nếu muốn biết mình đang sống đạo đến đâu, có lẽ nên nghe những người phải sống gần mình. Một đứa trẻ có thấy an toàn khi cha mẹ bước vào phòng không? Người bạn đời có dám nói ra một điều không vừa ý mình không? Người làm công có thể trình bày một sai sót mà không bị làm nhục không? Người già trong nhà có được nghe câu chuyện của mình đến hết không? Những câu hỏi ấy chẳng có vẻ hoành tráng, không dễ đưa lên khẩu hiệu, nhưng chúng chạm đúng nơi đức tin phải mọc rễ. Gia đình không cần lúc nào cũng nghe một bài giảng dài; nhiều khi chỉ cần người rất hay giảng trong nhà chịu hạ giọng. Con cái không thiếu cơ hội biết rằng cha mẹ muốn chúng ngoan; chúng thiếu cơ hội nhìn thấy cha mẹ nhận lỗi. Một lời “ba đã nóng giận, ba xin lỗi con” có thể mở được cánh cửa mà cả trăm lời răn dạy chưa mở nổi.
Sĩ diện khiến chúng ta thấy nhận lỗi là mất uy, còn Tin Mừng giúp chúng ta hiểu rằng sự thật có thể chữa lành. Nhưng chúng ta thường làm việc này khá khéo: xin Chúa tha thứ thì dễ, xin người mình làm tổn thương tha thứ thì khó. Với Chúa, ta có thể nói bằng một giọng rất cảm động: “Con là kẻ tội lỗi.” Với người nhà, ta lại giải thích bằng một giọng rất chắc chắn: “Tại cô làm tôi mới vậy.” Nghĩa là trước mặt trời đất, ta nhận mình yếu đuối; trước mặt một người cụ thể, ta trở lại hoàn hảo. Tội lỗi của ta được thú nhận rất rộng, nhưng trách nhiệm của ta được tính rất hẹp. Ta có thể đấm ngực đến đau mà vẫn không chịu trả một món nợ, sửa một lời vu khống, ngừng một cách cư xử khiến người khác sợ hãi. Có lẽ điều cần mềm đi sau mỗi lần đấm ngực là trái tim; nếu chỉ có cơ ngực được tập luyện, thì việc đạo đức ấy đã đi nhầm địa chỉ.
Căn bệnh trình diễn còn làm chúng ta ngại học hỏi. Bởi một người luôn muốn tỏ ra đã biết thì rất khó nói: “Tôi chưa hiểu.” Đọc một đoạn Tin Mừng thấy khó, thay vì tìm hiểu, ta gấp sách lại để bảo vệ cảm giác mình vẫn ổn. Nghe một điều giáo lý chưa nắm rõ, thay vì hỏi, ta gật đầu cho có vẻ lâu nay đã thuộc. Sống trong đạo nhiều năm, ta tưởng thời gian đã tự động biến mình thành người hiểu đạo, giống như để một cuốn sách trong nhà đủ lâu thì kiến thức sẽ ngấm qua tường. Có những người thuộc rất rõ ai đang bất hòa với ai trong giáo xứ, nhưng không biết bài Tin Mừng Chúa nhật vừa rồi mời gọi điều gì. Tin đồn thì cập nhật ngay, Lời Chúa thì chờ lúc rảnh. Mà lúc rảnh lại bận xem tin đồn mới. Thành thử tâm hồn có một hệ thống thông tin rất nhanh về lỗi của thiên hạ, còn về điều Chúa muốn nơi mình thì đường truyền thường xuyên bảo trì.
Lời cảnh tỉnh “Dân Ta phải diệt vong vì thiếu sự hiểu biết” (Hs 4,6) không cho phép chúng ta an tâm với một đời sống đức tin chỉ dựa trên những mẩu nghe kể, những thói quen không bao giờ được suy xét. Sự hiểu biết Thiên Chúa gắn với việc nhận biết Ngài, trung thành với Ngài, để điều Ngài dạy thấm vào đời sống. Học giáo lý, đọc Kinh Thánh, lắng nghe lời hướng dẫn giúp chúng ta khỏi tự chế một hình ảnh Thiên Chúa theo sở thích rồi suốt đời phục vụ hình ảnh ấy. Bởi có khi cái gọi là “ý Chúa” trong lời nói của ta chỉ là ý mình đã được mặc thêm áo lễ. Ta muốn điều gì thì bảo Chúa muốn điều đó. Ta không thích ai thì rất nhanh nhận ra người ấy “có vấn đề về tinh thần”. Ta thích một kế hoạch thì thấy ngay “dấu chỉ”. Ta bị góp ý thì kết luận đây là “thử thách cho người làm việc Chúa”. Thiên Chúa bị mời ký xác nhận khá nhiều quyết định mà chúng ta chưa từng thật lòng đem đến hỏi Ngài.
Tuy nhiên, ngại học hỏi không phải lúc nào cũng do kiêu ngạo. Có người lớn tuổi đọc khó, có người ít được đi học, có người làm việc từ sáng đến đêm, có người đã từng bị chê cười chỉ vì hỏi một câu đơn sơ. Nếu chúng ta muốn giúp nhau trở về với Lời Chúa, phải mở một lối đi đủ hiền để người ta dám bước vào. Một người hỏi chưa đúng không cần bị cho một bài học về sự dốt nát; họ cần được trả lời. Một người đọc chậm không cần bị giục đến mức xấu hổ; họ cần được kiên nhẫn chờ. Những người biết nhiều cũng phải xét xem kiến thức của mình đang trở thành ngọn đèn hay cây gậy. Có những cuộc nói chuyện về đức tin kết thúc bằng việc người nghe sợ hỏi thêm. Khi ấy, có lẽ điều được chứng minh rõ nhất là sự giỏi giang của người nói, còn lòng nhân hậu của Chúa thì chưa kịp được người nghe nhận ra.
Và biết nhiều cũng chưa bảo đảm sống thật. Thánh Gia-cô-bê nhắc rằng đức tin không có việc làm là đức tin chết (x. Gc 2,17). Lời ấy có thể làm chúng ta mất ngủ nếu chịu nghe đến tận lòng. Một người thuộc nhiều đoạn Kinh Thánh vẫn có thể rất thành thạo việc làm người khác đau. Một người giải thích rất hay về lòng thương xót vẫn có thể lạnh lùng với người đang cần mình. Một người hiểu đúng về đức công bằng vẫn có thể tìm cách trả công thiếu cho người lao động. Kiến thức cần được đưa vào đời sống, như hạt giống cần được gieo xuống đất. Giữ hạt giống trong một chiếc hộp đẹp rồi mỗi ngày đem ra khoe rằng mình có rất nhiều hạt giống, mùa màng sẽ vẫn không xuất hiện. Có những tâm hồn trưng bày cả kho thóc thiêng liêng mà người sống cạnh họ vẫn phải đói một chút tử tế.
Chúng ta hãy nhìn vào cách mình kiếm tiền, dùng tiền, giữ lời hứa và đối xử với người yếu thế. Đức tin có đi tới quầy hàng của mình không? Có bước vào bản hợp đồng mình ký không? Có ngồi cạnh mình khi quyết định trả lương không? Có làm mình dừng lại trước một món lợi kiếm được bằng cách giấu đi điều người mua cần biết không? Hay đức tin chỉ được mời có mặt vào ngày khai trương để xin cho làm ăn thuận lợi, rồi sau đó đứng bên ngoài vì sợ làm ảnh hưởng phương pháp kinh doanh? Thật lạ, chúng ta có thể xin Chúa chúc lành cho công việc, nhưng lại không muốn công việc chịu sự soi sáng của Chúa. Ta mời Ngài bảo vệ doanh thu, còn lương tâm thì xin để mình tự quản. Nếu lợi nhuận cần sự gian dối mới đứng được, thì lời kinh càng dài cũng không biến gian dối thành ngay thẳng.
Có người dâng cúng rất rộng rãi, nhưng vẫn nợ tiền công của người nghèo. Có người tài trợ một công trình đẹp, nhưng trong nhà không ai được sống nhẹ nhõm. Có người đóng góp cho nhiều chương trình bác ái, nhưng khi gặp một người cụ thể cần thời gian, họ lập tức trở nên rất bận. Những điều ấy cần được nhìn thẳng. Một việc tốt không phải là tấm phiếu xóa trách nhiệm cho những việc xấu đang tiếp tục. Bác ái không thể dùng để che lấp bất công. Việc dâng cúng cũng không mua được quyền làm người khác tổn thương. Chúa yêu người quảng đại, và chính tình yêu ấy mời họ quảng đại cả với sự thật về mình: dám sửa, dám trả, dám ngừng lại, dám nhận rằng có một phần đời sống đang cần được hoán cải.
Rồi còn chuyện phục vụ. Đẹp biết bao khi một người đem tài năng, thời gian, sức lực góp vào đời sống cộng đoàn. Nhưng công việc ấy cũng dễ bị cái tôi luồn vào. Ban đầu ta muốn giúp giáo xứ. Dần dần ta muốn giáo xứ phải làm theo mình. Ban đầu ta vui vì có người cùng làm. Dần dần ta khó chịu vì người khác được tín nhiệm. Ban đầu ta nhận một trách nhiệm. Dần dần ta coi trách nhiệm ấy như quyền sở hữu. Đến lúc có người được mời thay mình, ta cảm thấy cả một lịch sử tận tụy bị xúc phạm. Cuốn sổ công đức trong lòng lập tức mở ra: tôi đã làm bao nhiêu năm, tôi đã hy sinh bao nhiêu lần, tôi đã bỏ tiền bao nhiêu đợt. Thì ra trong khi tay phục vụ, lòng âm thầm ghi nợ. Cộng đoàn cứ tưởng được nhận một món quà; tới ngày thay đổi nhân sự mới phát hiện món quà ấy có điều khoản gia hạn vĩnh viễn.
Khi một công việc tốt chỉ có thể tiếp tục nếu tên mình còn ở vị trí quan trọng, chúng ta cần hỏi tình yêu của mình đang bám vào công việc hay bám vào vai trò. Có những người lùi lại mà việc chung vẫn tốt, họ vui. Có những người lùi lại mà việc chung vẫn tốt, họ buồn. Nỗi buồn ấy rất đáng lắng nghe, vì nó cho thấy có điều gì trong lòng chưa được tự do. Chúa có thể dùng người khác. Một người trẻ có thể làm tốt hơn mình ở một vài việc. Một phương pháp mới có thể giúp ích cho cộng đoàn. Những điều ấy không xóa giá trị của sự hy sinh trước đây. Nhưng cái tôi thường không chịu hiểu: nó muốn vừa được khen vì đã phục vụ, vừa được bảo đảm rằng từ nay không ai phục vụ giỏi hơn. Một đòi hỏi khá nặng, ngay cả với một giáo xứ rất kiên nhẫn.
Giới tu sĩ, linh mục và những người làm công việc mục vụ cũng phải xét mình trong ánh sáng ấy. Một bài giảng về hiền lành không cho phép người giảng trở nên thô bạo ở phòng làm việc. Một đời dâng hiến không khiến những nhu cầu tình cảm của mình tự nhiên biến mất. Một trách nhiệm thiêng liêng không miễn cho mình việc lắng nghe. Có khi người ta đến tìm một lời nâng đỡ mà chỉ nhận được sự sốt ruột. Có khi người nghèo không sợ Chúa, nhưng sợ bước tới người đại diện cộng đoàn vì đã từng bị nói nặng. Có khi chúng ta quá quen với việc người khác cung kính mà quên rằng cung kính không có nghĩa là họ không biết đau. Càng ở một vị trí có ảnh hưởng, ta càng cần để Chúa chạm vào cách mình dùng lời nói, quyền hạn và sự im lặng.
Điều làm chúng ta trượt vào giả hình thường không xảy ra trong một ngày. Nó bắt đầu từ những nhượng bộ rất nhỏ. Một lần nhận lời khen mà biết người khác đã làm phần lớn công việc, ta im lặng. Một lần nói quá sự hy sinh của mình, ta thấy cũng chẳng sao. Một lần đổ lỗi để giữ hình ảnh, ta tự nhủ cần bảo vệ uy tín chung. Một lần phớt lờ lời góp ý, ta cho rằng người kia thiếu thiện chí. Cứ thế, lòng mình học cách tránh sự thật. Lần đầu còn ngượng. Lần sau bớt ngượng. Về sau, người khác nói thật thì ta ngượng thay cho họ vì “không biết khéo”. Lương tâm đã bị yêu cầu làm một nghề mới: thay vì cảnh tỉnh, nó lo tìm câu giải thích. Nó trở thành luật sư bào chữa thường trực cho một thân chủ rất khó nhận lỗi là chính mình.
Có những lời giải thích nghe rất đạo đức mà vẫn cần được xét kỹ. “Tôi nói vậy cũng chỉ vì yêu thương.” Nhưng người nghe có được tôn trọng không? “Tôi làm thế để giữ nề nếp.” Nhưng nề nếp ấy có làm người yếu thế bị nghiền nát không? “Tôi không muốn gây gương xấu.” Nhưng có phải mình đang che giấu một sai lầm cần sửa không? “Tôi bảo vệ danh dự cộng đoàn.” Nhưng có phải một người đang chịu tổn thương bị yêu cầu im lặng để hình ảnh chung được yên không? Sự thật cần được nói với lòng bác ái, và lòng bác ái cần đủ can đảm để không bỏ rơi sự thật. Nếu danh dự chỉ đứng được bằng việc người bị đau phải nín, thì danh dự ấy đã trở thành một gánh nặng rất bất công.
Điều trớ trêu nhất là chúng ta có thể chống giả hình bằng một hình thức giả hình mới. Đọc một bài phê phán sống đạo hình thức, ta lập tức đứng về phía những người “sống rất thật”. Ta chê người này làm màu, người kia khoe khoang, người nọ thích được trọng vọng. Rồi ta kể khắp nơi rằng mình không giống họ. Sự khiêm tốn bỗng được giới thiệu khá ồn ào. Có người không khoe mình đạo đức nữa, chuyển sang khoe mình không bao giờ khoe đạo đức. Có người nói: “Tôi ghét những chuyện phô trương”, nhưng hơi buồn nếu không ai nhận ra sự âm thầm của mình. Cái tôi có tài thay quần áo rất nhanh. Đuổi nó khỏi bộ vest danh giá, nó có thể trở lại trong chiếc áo đơn sơ, ngồi ghế cuối và chờ người khác cảm động vì nó ngồi ghế cuối.
Vì thế, ta cần một thứ hài hước đủ khiêm tốn để cười vào chính mình. Cười khi nhận ra mình vừa định kể một việc tốt “cho vui” mà thực ra để được khen. Cười khi thấy mình đã chuẩn bị sẵn lời từ chối một chức vụ nhưng vẫn mong người ta năn nỉ ba lần. Cười khi vừa nói “ai làm cũng được” mà trong lòng chỉ có một ứng viên hợp lệ. Cười khi ta khuyên người khác bỏ qua, còn chuyện người ta quên chào mình từ tháng trước vẫn được lưu giữ rất rõ. Tiếng cười ấy có thể làm lớp áo giáp của sĩ diện nứt ra. Nhưng sau tiếng cười, phải có một lời cầu nguyện thật: “Lạy Chúa, con thấy mình rồi. Con yếu đuối như thế. Xin đừng để con chỉ vui vì nhận ra bệnh mà không chịu chữa.”
Chữa căn bệnh này bắt đầu ở việc trở lại với tương quan thật cùng Thiên Chúa. Ta cần những phút cầu nguyện không phải để chứng minh rằng mình cầu nguyện tốt. Có thể chỉ ngồi trước Chúa và thưa: “Con đang rất muốn được người khác công nhận. Con đang sợ bị quên. Con đang ganh tị. Con đã làm một việc tốt nhưng lòng chưa ngay lành. Con không biết phải sửa từ đâu.” Những lời ấy có thể không đẹp, không thích hợp để in trên một tấm thiệp, nhưng rất thích hợp để mở cửa tâm hồn. Chúng ta thường tưởng muốn gặp Chúa thì phải thu dọn mọi thứ xong mới mời Ngài vào. Nhưng có những căn phòng bên trong không thể tự mình thu dọn. Cần để Ngài bước vào ngay khi còn ngổn ngang, rồi cùng Ngài bắt đầu.
Thiên Chúa không ngạc nhiên vì những gì ta thú nhận. Người ngạc nhiên thường là chính chúng ta, vì lâu nay đã cố tin mình tốt hơn sự thật. Ngài cũng không yêu ta chỉ sau khi ta sửa xong mọi lỗi lầm. Tình yêu của Ngài nâng đỡ cuộc trở về. Bởi thế, nhận mình giả hình không có nghĩa là phải kết án toàn bộ đời mình, phủ nhận mọi việc lành mình từng làm. Trong một hành động, có thể có cả lòng yêu thương và nhu cầu được nhìn nhận. Trong một cuộc phục vụ, có thể có cả quảng đại và tham vọng. Chúa mời chúng ta để phần chưa trong sáng được thanh luyện. Nếu cứ chờ động cơ hoàn toàn tinh tuyền mới làm việc tốt, nhiều việc cần làm sẽ không bao giờ bắt đầu. Ta cứ làm điều lành, đồng thời trung thực xin Chúa chữa cái tôi đang len vào đó.
Một cách tập rất cụ thể là làm vài điều tốt mà không kể lại. Không phải để tự hào rằng mình kín đáo, mà để trái tim quen dần với việc yêu thương không cần chứng nhận. Giúp một người, rồi để họ được tự do đi tiếp. Làm xong một việc, rồi đừng khéo léo gợi chuyện để người khác hỏi ai làm. Khi người khác được khen vì công việc chung, thử vui với họ. Nếu có phần đóng góp của mình chưa được nhắc tới, nhìn xem lòng mình phản ứng thế nào. Có thể nó sẽ la lên rất to. Hãy nghe tiếng la ấy, nhưng đừng vội trao cho nó quyền điều khiển lời nói và hành động. Một lần chịu được cảm giác không được ghi nhận có thể mở đầu cho một tự do mà ta đã thiếu suốt nhiều năm.
Một cách khác là đưa việc xét mình về những chuyện có tên, có mặt, có hậu quả. Hôm nay tôi đã làm ai tổn thương? Tôi đã nói điều gì thiếu sự thật? Tôi đang giữ tiền của ai? Tôi đã hứa với ai mà chưa thực hiện? Tôi có dùng sự mệt mỏi của mình làm lý do để trút giận lên một người không có lỗi không? Tôi có dành thời gian cho việc đạo đức công khai mà bỏ mặc một bổn phận âm thầm không? Những câu hỏi ấy làm chúng ta khó chịu hơn câu hỏi chung chung “tôi có sống tốt không”, bởi chúng không cho phép ta núp sau một cảm giác. Chúng đưa sự hoán cải đến một cuộc điện thoại cần gọi, một khoản tiền cần trả, một lời cần rút lại, một người cần được nghe lời xin lỗi.
Và khi xin lỗi, xin đừng bắt lời xin lỗi phải mang theo một đoàn hộ tống biện hộ. “Tôi xin lỗi, nhưng…” thường là cánh cửa vừa mở đã bị cái tôi đẩy đóng. “Tôi xin lỗi vì đã nói nặng với anh.” “Tôi đã hiểu sai và làm chị bị tổn thương.” “Tôi đã không giữ lời.” Những câu ngắn ấy đòi can đảm. Chúng không bảo đảm người kia lập tức vui vẻ, không xóa mọi hậu quả, không biến ta thành người tốt trong một phút. Nhưng chúng đặt một viên đá thật vào con đường làm lại. Nếu người kia cần thời gian, ta phải tôn trọng. Nếu có thiệt hại cần bồi thường, ta phải thực hiện. Sám hối đẹp nhất khi nó có đôi chân đi tới điều cần sửa, thay vì chỉ có đôi mắt rất giỏi rưng rưng.
Lời Chúa cũng cần được đọc bằng thái độ sẵn sàng để mình bị chất vấn. Có khi ta đọc một đoạn về tha thứ và nghĩ ngay người kia phải tha thứ cho mình. Đọc một đoạn về vâng phục và nghĩ ngay người dưới phải nghe mình. Đọc một đoạn về quảng đại và nghĩ ngay người giàu kia phải đóng góp. Cuốn Kinh Thánh được mở ra, nhưng những mũi tên đều hướng ra ngoài. Hãy thử hỏi: “Lời này đang nói gì với con?” Nếu Chúa dạy yêu kẻ thù, ai là người con đang từ chối đối xử tử tế? Nếu Chúa dạy đừng xét đoán, câu chuyện nào con cần ngừng kể? Nếu Chúa dạy khiêm nhường, sự thật nào con đang không chịu nghe? Một trang Lời Chúa được đón nhận như thế có thể làm đời sống chuyển động hơn cả một chồng sách chỉ dùng để trích dẫn lúc tranh luận.
Sống đạo thật cũng cần cộng đoàn. Chúng ta cần những người có thể nói thật với mình mà không bị đẩy ra xa. Cần một người bạn đủ thương để không chỉ khen. Cần một người hướng dẫn đủ kiên nhẫn để giúp ta phân biệt lòng nhiệt thành với cơn đói được chú ý. Cần một môi trường mà người nhận lỗi không bị cười nhạo, người hỏi không bị xem thường, người xin giúp không bị làm mất phẩm giá. Nếu cộng đoàn chỉ tôn vinh những gương mặt luôn có vẻ thành công, người yếu đuối sẽ học cách che giấu. Nếu cộng đoàn biết đón nhận sự thật và nâng đỡ việc sửa sai, người ta có cơ hội sống chân thành hơn. Chúng ta cũng phải góp phần tạo nên môi trường ấy, bằng cách không biến lỗi lầm của người khác thành món giải trí sau giờ lễ.
Và phải nhớ rằng thói quen, nghi thức, hình thức bên ngoài đều có giá trị khi giúp chúng ta cầu nguyện và sống đức tin. Một cử chỉ cúi đầu có thể dạy lòng mình biết tôn kính. Một giờ kinh đều đặn có thể giữ ta khỏi trôi xa. Một bộ áo chỉnh tề có thể biểu lộ sự trân trọng. Một cuộc rước trang nghiêm có thể nâng tâm hồn cộng đoàn. Điều cần chữa là sự chia lìa giữa điều ta biểu lộ và điều ta chịu sống. Ta vẫn đọc kinh, vẫn dự lễ, vẫn tham gia, vẫn phục vụ; đồng thời để tất cả những việc ấy dẫn ta vào một đời sống có thêm sự thật, công bằng, hiền lành và lòng thương xót. Nếu nhiều năm đi lễ mà chỉ có kỹ năng tổ chức được nâng cao, còn khả năng tha thứ vẫn giậm chân tại chỗ, thì ta có lý do để dừng lại mà hỏi điều gì đã bị bỏ quên.
Có lẽ một dấu hiệu đáng mừng của sự trưởng thành là chúng ta bớt cần chứng minh. Bớt cần kể mình hy sinh bao nhiêu. Bớt cần thắng mọi cuộc nói chuyện. Bớt hoảng hốt khi bị hiểu lầm một chuyện nhỏ. Bớt khổ khi người khác được tín nhiệm. Bớt dùng danh dự để ngăn sự thật. Đồng thời, ta có thể nghe lâu hơn, xin lỗi sớm hơn, giúp cụ thể hơn, giữ lời chắc hơn. Lòng đạo khi ấy có một vẻ đẹp rất bình thường. Nó ở trong việc rửa chiếc chén mình đã dùng. Ở trong việc trả lời người già lần thứ ba mà không cáu. Ở trong việc không tận dụng sự thiếu hiểu biết của một khách hàng để kiếm thêm tiền. Ở trong việc nhìn người mình không thích như một con người vẫn có phẩm giá. Những điều nhỏ ấy ít có khán giả, nhưng có sức làm một mái nhà trở nên dễ thở.
Chúng ta đang sống trong một thời đại dễ được nhìn thấy mà vẫn khó được hiểu. Ai cũng có thể dựng lên một hình ảnh khá đẹp. Nhưng người đang đau cần một bàn tay thật. Đứa trẻ đang sợ cần một giọng nói thật hiền. Người lao động cần tiền công thật đủ. Người bị vu khống cần sự thật được trả lại. Người cô đơn cần một người thật sự ngồi bên. Thế giới đã có nhiều câu nói hay về tình yêu; nó đang chờ những người chịu yêu trong những hoàn cảnh không thuận lợi, không được cảm ơn, không có điều kiện trình bày mình cao đẹp. Một người Công giáo sống ngay thẳng trong công việc, tử tế trong gia đình và quảng đại với người yếu thế đang làm cho Tin Mừng có một địa chỉ mà người khác có thể tìm đến.
Đến cuối đời, có lẽ điều làm ta buồn nhất sẽ không phải là thiếu những dịp được vinh danh. Có thể ta sẽ buồn vì đã quá lâu mới nhận ra một người ở ngay cạnh đang cần mình. Buồn vì đã giữ mặt mũi rất thành công mà để mất một tương quan quý giá. Buồn vì đã thuộc nhiều lời cầu nguyện nhưng hiếm khi để một lời cầu nguyện thay đổi cách cư xử. Buồn vì có những năm tháng ta dùng để bảo vệ hình ảnh người tốt, trong khi hoàn toàn có thể dùng chúng để trở thành người biết yêu hơn. Lúc ấy, những lời khen từng khiến ta mất ngủ để kiếm tìm sẽ nhẹ như giấy. Còn một khuôn mặt từng bị ta làm đau có thể trở lại rất rõ trong trí nhớ.
Nhưng hôm nay chúng ta còn có thể bắt đầu. Còn có thể ngừng một câu chuyện không nên kể. Còn có thể xin lỗi người trong nhà. Còn có thể trả một món nợ. Còn có thể đọc một đoạn Tin Mừng và chịu để nó đụng vào mình. Còn có thể làm một việc bác ái mà giữ sự kín đáo cho người được giúp. Còn có thể cảm ơn người góp ý, dù trước đó phải nuốt xuống vài cục sĩ diện khá lớn. Còn có thể bước vào nhà thờ với một lời thật: “Lạy Chúa, con đã nhiều lần muốn người ta nghĩ tốt về con hơn là muốn trở nên tốt trước mặt Ngài.” Một lời như thế không làm cuộc đời lập tức hoàn hảo, nhưng nó đưa ta ra khỏi vai diễn và đặt ta trở lại trên con đường của người môn đệ.
Đức Giê-su nói: “Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11). Hạ mình xuống có thể rất cụ thể: chịu nghe một người nhỏ tuổi hơn; nhận rằng mình đã sai; thôi nhắc lại công trạng để gây áp lực; chấp nhận một công việc âm thầm; nhìn người nghèo bằng ánh mắt ngang hàng; để sự thật về mình được đưa ra ánh sáng. Ở đó, ta dần nhận ra phẩm giá không cần được chống đỡ bằng phô trương. Ta được Thiên Chúa yêu thương. Chính vì được yêu, ta có thể thôi gồng lên để được xem là đáng yêu. Chính vì được tha thứ, ta có thể nhận lỗi. Chính vì có một chỗ trong lòng Chúa, ta có thể bớt giành chỗ trong mắt thiên hạ.
Lạy Chúa, xin thương chúng con, những con người có thể quỳ rất ngay ngắn mà lòng vẫn quanh co. Chúng con đã có lúc chăm chút tiếng nói khi đọc kinh hơn là lời nói khi trở về nhà; đã có lúc sốt sắng với một việc có người nhìn hơn là một người đang âm thầm cần giúp; đã có lúc xin được khiêm nhường mà vẫn mong người khác nhận ra chúng con khiêm nhường. Xin cho chúng con đủ can đảm nhìn thấy điều ấy mà không chạy trốn, đủ hy vọng để làm lại mà không tuyệt vọng, đủ khiêm tốn để nhận sự giúp đỡ mà không tự ái. Xin cho những cử chỉ bên ngoài được nuôi bằng một tấm lòng thật, cho kiến thức đức tin trở thành sự khôn ngoan trong đời sống, cho việc phục vụ đem lại tự do cho người khác và cho chính chúng con.
Xin dạy chúng con biết yêu một người cụ thể hôm nay. Biết nghe hết một lời. Biết giữ một lời hứa. Biết trả lại điều không thuộc về mình. Biết xin lỗi mà không đòi được khen vì đã xin lỗi. Biết làm điều tốt rồi để điều tốt tiếp tục sống, dù tên chúng con không được nhắc đến. Khi cái tôi lại muốn bước lên sân khấu, xin nhắc chúng con nhớ đến những người đang cần được phục vụ dưới chân sân khấu ấy. Khi chúng con lại muốn khoác lên mình một chiếc áo đạo đức quá đẹp, xin chạm vào trái tim bên trong, nơi còn những vết bẩn chúng con đang ngại nhìn.
Và một ngày nào đó, nếu có ai kể về chúng con, ước gì họ nhớ được rằng đã từng được đối xử tử tế. Một người già nhớ rằng có người chịu ngồi nghe. Một đứa trẻ nhớ rằng có người lớn biết xin lỗi. Một người nghèo nhớ rằng mình được giúp mà không bị làm nhục. Một người từng bất hòa nhớ rằng có một bàn tay đã chủ động chìa ra. Những ký ức ấy sẽ là hoa trái của một đời sống đã chịu để Tin Mừng đi vào. Còn hôm nay, giữa bao điều chúng con vẫn chưa làm được, xin cho chúng con bắt đầu bằng sự thật trước mặt Ngài: con đây, còn yếu đuối, còn sĩ diện, còn thích được khen, nhưng con muốn học cách yêu. Xin Chúa giữ con lại trong tình yêu ấy, để ngày mai con sống chân thành hơn hôm nay.
Lm. Anmai, CSsR.
