GIA ĐÌNH THỪA SAI BẮT ĐẦU TỪ CÁNH CỬA NHÀ MÌNH Lm. Anmai, CSsR.

2

GIA ĐÌNH THỪA SAI BẮT ĐẦU TỪ CÁNH CỬA NHÀ MÌNH Lm. Anmai, CSsR.
Có khi chúng ta nghĩ đến truyền giáo bằng hình ảnh một người lên đường rất xa: băng qua một vùng đất lạ, học một ngôn ngữ mới, sống giữa những người chưa từng nghe nói về Chúa. Những cuộc lên đường ấy thật đẹp và thật cần thiết. Nhưng cũng có một vùng truyền giáo gần đến mức ta dễ đi ngang qua mỗi ngày mà không nhận ra: con hẻm mình đang ở, dãy nhà đối diện, căn phòng trọ cuối ngõ, tầng chung cư nơi mỗi buổi sáng ta cùng đứng chờ thang máy. Ở đó có những người biết mặt ta nhưng chưa từng được ta hỏi tên; có những gia đình vừa chuyển đến mà chưa biết mua thuốc ở đâu, gửi con chỗ nào; có một người già nhiều ngày không có ai gõ cửa; có một người mẹ một mình nuôi con, mệt đến mức chỉ mong ai đó trông bé giúp vài phút để chị kịp đi khám bệnh. Nếu gia đình Kitô hữu là một gia đình thừa sai, có lẽ câu hỏi đầu tiên không phải là: “Chúng ta sẽ đi đâu thật xa?”, mà là: “Ai đang sống rất gần chúng ta nhưng vẫn phải chịu cô đơn một mình?”
Một gia đình có thể đọc kinh chung rất đều, tham gia nhiều hội đoàn, đóng góp cho nhiều chương trình bác ái, mà vẫn sống sau một cánh cửa luôn đóng đối với những người bên cạnh. Sự bận rộn khiến điều ấy xảy ra một cách âm thầm. Sáng vội đi làm, chiều lo đón con, tối chỉ muốn được yên. Ta không cố tình lạnh lùng. Ta chỉ để ngày này nối sang ngày khác, cho đến khi sự xa lạ trở thành nếp sống. Người ở nhà bên cạnh đau ốm, ta biết khi xe cấp cứu đến. Một gia đình dọn đi, ta mới nhận ra mình chưa từng biết tên họ. Có người mẹ đi làm về muộn, dắt theo đứa con nhỏ đã ngủ gục trên vai, ta nhìn thấy nhiều lần nhưng chưa bao giờ hỏi: “Chị có cần tôi xách giúp túi đồ không?” Đôi khi khoảng cách giữa hai con người chỉ là vài bước chân, nhưng phải đi qua rất nhiều ngại ngần mới tới được với nhau.
Tin Mừng mời ta bước qua khoảng cách ấy. Lời mời không đòi mọi gia đình biến ngôi nhà mình thành nơi lúc nào cũng đông khách, cũng không buộc ai phải làm những việc vượt quá sức. Nó bắt đầu bằng một trái tim biết để ý. Thấy một người mới đến thì chào. Thấy ai lâu ngày vắng bóng thì hỏi thăm. Thấy một người đang khó nhọc thì tìm một cách giúp cụ thể. Bác ái ở khu dân cư thường mang dáng vẻ nhỏ bé như thế: một lời giới thiệu tiệm sửa xe đáng tin, một bữa cơm gửi sang khi nhà bên có người bệnh, một số điện thoại bác sĩ, vài phút trông hộ em bé, một chiếc ghế kéo thêm vào bàn ăn. Việc ấy có thể nhỏ đối với người trao, nhưng lại đến đúng lúc một người đang cảm thấy mình không có ai.
Hãy nghĩ đến một gia đình vừa chuyển đến xóm. Họ mang theo thùng đồ, đồ đạc ngổn ngang và cả những lo lắng mà ta không nhìn thấy. Có thể người cha vừa nhận việc mới, người mẹ phải bỏ lại bạn bè và công việc cũ, đứa con đứng giữa một trường học xa lạ. Buổi tối đầu tiên ở nơi ở mới, đèn đã sáng nhưng lòng người chưa yên. Họ cần biết đường đi, cần hiểu nếp sinh hoạt của khu phố, cần một gương mặt khiến họ cảm thấy mình được chào đón. Một gia đình hàng xóm bước sang, nói: “Nhà tôi ở ngay bên này. Nếu cần gì trong mấy ngày đầu, anh chị cứ gọi,” có thể mở đầu cho một tình thân nhiều năm. Một đĩa trái cây, một lời chỉ dẫn nơi mua đồ ăn sáng, một lời hỏi xem con trẻ đã quen trường mới chưa: những điều bình thường ấy nói với người mới đến rằng họ có một chỗ giữa cộng đồng này.
Đón tiếp cũng cần sự tinh tế. Có người mới chuyển đến rất muốn làm quen; có người đang mệt, cần thời gian sắp xếp cuộc sống. Lòng tốt không phải là hỏi dồn dập họ từ đâu đến, làm nghề gì, mua hay thuê nhà, thu nhập ra sao. Càng không phải vừa gặp đã tìm cách kéo họ vào mọi sinh hoạt của mình. Ta có thể mở một cánh cửa và để người kia được tự do bước vào khi họ sẵn sàng. Một lời chào chân thành, một lời đề nghị giúp đỡ rõ ràng, một sự tôn trọng đời tư: đó đã là một cuộc đón tiếp đẹp. Bởi người ta cảm thấy được yêu thương khi họ được nhìn nhận như một con người, chứ không bị xem là một đối tượng để ta tìm hiểu, lôi kéo hay kể lại cho người khác.
Nếu gia đình ấy không cùng niềm tin với chúng ta, sự đón tiếp càng cần trong sáng. Một người hàng xóm không phải là một “dự án truyền giáo”. Họ là người cùng chia sẻ con đường, nguồn nước, tiếng mưa trên mái nhà và những nỗi lo của đời sống. Ta quý mến họ vì họ đáng được quý mến. Ta giúp họ vì họ đang cần giúp. Khi có cơ hội, ta có thể chia sẻ về đức tin của mình bằng sự chân thành và tôn trọng; nhưng trước hết, họ cần gặp nơi ta một người láng giềng đáng tin. Có những lời về Thiên Chúa trở nên dễ nghe hơn sau nhiều năm người ta đã nhìn thấy một gia đình sống tử tế. Cũng có những lời dù đúng vẫn khó chạm đến lòng ai, nếu người nói chưa từng dừng lại khi họ gặp nạn.
Trong một khu dân cư, người cô đơn có thể là người ít được chú ý nhất. Họ không hẳn sống một mình. Có người ở giữa một gia đình đông đúc mà chẳng còn ai thật sự lắng nghe. Có cụ già ngày nào cũng ngồi trước hiên, dõi mắt theo người qua lại; con cháu bận rộn, bạn bè cùng tuổi đã thưa dần. Có một người đàn ông sau khi vợ mất vẫn đi làm, vẫn chào mọi người, nhưng về nhà chỉ nghe tiếng chìa khóa chạm vào cánh cửa. Có một phụ nữ vừa nghỉ hưu, suốt mấy chục năm quen với những cuộc họp và đồng nghiệp, nay thấy ngày dài đến lạ. Có người trẻ làm việc từ xa, chuyển đến thành phố này nhiều năm mà chưa có một người có thể gọi khi bị sốt. Những nỗi cô đơn ấy hiếm khi tự lên tiếng. Người ta thường nói “Tôi ổn” nhanh hơn nhiều so với việc kể mình đã trải qua một đêm khó khăn thế nào.
Gia đình thừa sai tập cho mình khả năng nhận ra những tín hiệu rất nhẹ. Một cụ bà không còn ra tưới cây như mọi ngày. Một người hàng xóm thường vui vẻ bỗng im lặng suốt mấy tuần. Một căn nhà mà báo để trước cửa nhiều hôm không ai lấy. Ta có thể gõ cửa hỏi thăm. Ta có thể rủ người ấy cùng ăn một bữa cơm, hoặc đơn giản ngồi lại mười lăm phút để nghe họ kể chuyện. Không phải lúc nào ta cũng giải quyết được vấn đề của người khác. Có những mất mát ta không thể bù đắp, những căn bệnh ta không chữa được, những mối quan hệ ta không thể hàn gắn thay họ. Nhưng sự hiện diện trung thành có sức an ủi riêng. Người cô đơn cần biết rằng nếu ngày mai họ không xuất hiện, sẽ có người nhận ra và tìm đến.
Tuy vậy, muốn ở gần một người cô đơn, ta cần kiên nhẫn với nhịp sống của họ. Có người muốn kể đi kể lại một câu chuyện cũ. Có người vừa mời ta vào nhà, ít phút sau đã nói mình mệt. Có người từ chối lời mời nhiều lần rồi một hôm mới nhận. Đừng vội coi sự khép kín ấy là vô ơn. Đằng sau đó có thể là những lần họ từng bị bỏ quên, những tổn thương chưa nguôi, hoặc nỗi sợ trở thành gánh nặng. Lòng bác ái biết ở lại trong sự tôn trọng. Nó không ép người khác phải vui lên để ta yên lòng; nó cho họ cảm giác rằng ngay cả trong ngày buồn nhất, họ vẫn được đón nhận.
Đặc biệt, một khu dân cư có thể trở thành nơi rất khó sống đối với người mẹ đang một mình nuôi con. Chị có thể là người góa chồng, người đã trải qua đổ vỡ hôn nhân, người bị bỏ rơi, hoặc một người có hoàn cảnh riêng mà ta không biết. Chị vừa chăm con, vừa kiếm sống, vừa xoay xở với những câu hỏi không ngừng của cuộc đời. Khi đứa trẻ sốt ban đêm, chị phải tự quyết định đưa con đi đâu. Khi trường gọi vì con bị đau, chị phải xin nghỉ làm. Khi tiền nhà và học phí cùng đến hạn, chị tự tính toán trong im lặng. Và khi ra ngoài, nhiều lúc chị còn phải gánh thêm ánh nhìn dò xét của người khác. Không ai trở nên nhẹ nhõm hơn nhờ bị phán xét. Không đứa trẻ nào được bảo vệ tốt hơn nhờ nghe người lớn bàn tán về mẹ mình.
Ta có thể không biết câu chuyện của chị; ta cũng không cần biết hết mới có thể cư xử tử tế. Bác ái không bắt đầu bằng một cuộc thẩm vấn. Nó bắt đầu bằng câu hỏi: “Hôm nay chị có cần giúp gì không?” Nếu có thể, hãy nói rõ điều mình làm được: “Chiều thứ Năm tôi đón con tôi ở trường, nếu tiện tôi có thể đưa bé nhà chị về cùng”; “Tôi nấu nhiều canh, gửi mẹ con chị một phần nhé”; “Khi nào chị cần đi khám, chị cứ nói, tôi có thể trông bé một lúc.” Một lời đề nghị cụ thể thường dễ nhận hơn một lời hứa rộng lớn. Và nếu chị nói “Không, cảm ơn,” hãy tôn trọng. Để chị biết lần sau vẫn có thể nhờ là đủ.
Có một cách làm tổn thương người khác ngay trong lúc muốn giúp: trao sự trợ giúp rồi xem mình có quyền biết, quyền nhận xét, quyền kể lại đời tư của họ. Người mẹ đơn thân không cần trở thành câu chuyện được nhắc ở bàn ăn gia đình hay trong nhóm trò chuyện của khu xóm. Chị cần được đối xử với phẩm giá trọn vẹn. Nếu giúp chị một khoản tiền, đừng nhắc lại trước mặt người khác. Nếu trông giúp con chị, đừng kể như thể chị không biết chăm con. Nếu nghe chị tâm sự, hãy giữ điều chị đã tin tưởng trao. Lòng bác ái càng kín đáo, người nhận càng có thể đứng thẳng lưng. Một bàn tay nâng đỡ đẹp là bàn tay giúp người kia tiếp tục làm chủ cuộc đời mình.
Và xin đừng quên đứa trẻ. Trẻ em nghe được nhiều hơn ta tưởng. Một lời thì thầm “Con bé ấy thiếu cha” có thể theo em rất lâu. Một câu hỏi vô tình về chuyện gia đình có thể làm em sợ những buổi gặp mặt hàng xóm. Khi con trẻ của chúng ta chơi với em, hãy dạy chúng gọi bạn bằng tên, chia sẻ đồ chơi, không đem hoàn cảnh gia đình ra trêu chọc. Nếu mời em dự sinh nhật hay một buổi chơi chung, hãy mời vì em là bạn. Có những đứa trẻ lớn lên với sức mạnh bền bỉ nhờ đã gặp vài người lớn biết cư xử tử tế với mẹ mình.
Đón tiếp người mới, thăm người cô đơn, nâng đỡ mẹ đơn thân đều đòi gia đình chúng ta học một việc khó: bớt phán xét. Ta thường thấy một lát cắt rất mỏng của đời người khác rồi tưởng mình đã hiểu toàn bộ. Ta thấy ai đó về nhà trễ và cho rằng họ vô trách nhiệm, nhưng không biết họ vừa tan ca. Ta thấy một người mẹ cáu gắt với con giữa sân chung cư và quên rằng có thể chị đã thức trắng đêm. Ta thấy một gia đình ít giao tiếp rồi nghĩ họ kiêu kỳ, trong khi họ đang đi qua một thời kỳ đau buồn. Bớt phán xét không có nghĩa là không còn biết phân biệt đúng sai. Nó có nghĩa là ta không lấy những điều mình chưa biết để kết án một con người. Nó giữ cho lòng ta còn chỗ để lắng nghe.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu nhiều lần dừng lại trước những người mà đám đông đã vội định nghĩa. Người nhìn thấy một con người cụ thể, với nỗi đau, khát vọng và khả năng bắt đầu lại của họ. Theo Người, gia đình Kitô hữu cũng được mời nhìn sâu hơn một lời đồn. Khi có ai trong xóm kể chuyện về hoàn cảnh của một người, ta có thể nhẹ nhàng dừng câu chuyện ở đó. Khi nghe một nhận xét bất công, ta có thể nói: “Mình đâu biết hết chuyện của họ.” Chỉ một câu ấy đôi khi đã giữ lại danh dự cho một người không có mặt để tự bảo vệ mình. Trong đời sống khu dân cư, bác ái còn là sự cẩn trọng của miệng lưỡi. Một món quà có thể nuôi người khác trong một ngày; một lời nói tử tế có thể bảo vệ họ trong nhiều năm.
Đời sống bác ái gần nhà cũng cần được cả gia đình cùng học. Cha mẹ có thể đưa con sang chào gia đình mới, cùng con chuẩn bị một ít bánh, dạy con nhớ tên ông bà sống gần nhà. Khi nấu cơm cho người bệnh, hãy để con phụ nhặt rau hoặc viết một tấm thiệp. Khi đưa đồ ăn sang, hãy giải thích cho con rằng nhà mình làm vậy vì muốn chia sẻ, và không cần chờ người ta đáp lại. Những bài học ấy đi vào lòng trẻ sâu hơn nhiều lời dặn chung chung về yêu thương. Một đứa trẻ đã nhìn thấy cha mẹ đỡ người hàng xóm lên xe đi bệnh viện, đã thấy mẹ mình ngồi nghe một cụ già kể chuyện, sẽ hiểu bác ái là việc có thể làm bằng đôi tay, bằng thời gian và bằng sự chú ý của mình.
Đôi khi chính con cái là người mở cửa cho cha mẹ. Một em nhỏ chơi thân với bạn mới chuyển đến, rồi hai gia đình bắt đầu chào hỏi nhau. Một thiếu niên nhận ra bạn cùng lớp sống ở dãy trọ gần nhà không có nơi học yên tĩnh, bèn xin cha mẹ cho bạn đến học chung vài buổi. Một đứa trẻ hỏi: “Sao bà bên kia cứ ngồi một mình vậy mẹ?” Câu hỏi ấy có thể làm người lớn giật mình. Ta thường sợ trẻ con nhìn thấy nỗi buồn của thế giới, nhưng nếu được hướng dẫn, các em có thể học cách đáp lại nỗi buồn bằng sự dịu dàng. Gia đình thừa sai không chỉ dạy con bảo vệ mình trước những khó khăn của cuộc sống; gia đình ấy còn dạy con nhận ra người khác và biết giúp trong khả năng của mình.
Có những gia đình ngại mở cửa vì chính họ cũng đang chật vật. Nhà nhỏ, tiền ít, thời gian không dư; vợ chồng nhiều hôm mệt đến mức chẳng còn sức trò chuyện. Xin đừng nghĩ chỉ gia đình khá giả, thuận hòa và rảnh rỗi mới có thể đón tiếp. Một người mẹ bận rộn vẫn có thể nhắn một lời hỏi thăm. Một người cha không có tiền giúp ai vẫn có thể sửa giùm chiếc bóng đèn cho cụ già bên cạnh. Một gia đình ở phòng trọ nhỏ vẫn có thể nhớ rằng người ở phòng kế bên vừa mất việc. Có khi sự cảm thông sâu nhất đến từ người cũng biết thế nào là thiếu thốn. Ta chỉ cần sống thật với khả năng mình có, biết nghỉ khi cần nghỉ, biết nhận giúp đỡ khi đến lượt mình khó khăn. Gia đình thừa sai cũng cần được người khác nâng đỡ.
Bác ái nơi khu dân cư sẽ bền hơn khi không đặt lên vai một người phải lo cho tất cả. Một gia đình có thể bắt đầu một mối quen biết; vài nhà có thể cùng thay phiên thăm người bệnh; những người hàng xóm có thể giúp nhau trong lúc mưa bão, khi có tang, khi trẻ nhỏ cần người trông tạm. Sự gắn bó ấy không cần một chương trình lớn mới hình thành. Nó lớn lên từ những lần người ta giữ lời, từ việc trả chiếc hộp đựng thức ăn kèm lời cảm ơn, từ một cuộc gọi hỏi xem người bệnh đã đỡ chưa. Khi lòng tin dần có mặt, khu phố trở thành một nơi dễ sống hơn. Người ta bớt sợ phải nói “Tôi cần giúp,” vì biết lời ấy sẽ được đón nhận.
Giáo xứ cũng có thể giúp các gia đình sống ơn gọi này ngay tại nơi mình cư trú. Sau Thánh lễ, ta dễ hỏi nhau về lịch sinh hoạt giáo xứ; cũng nên hỏi: “Gần nhà anh chị có ai mới đến không? Có ai đang đau yếu, sống một mình không?” Một nhóm nhỏ có thể cùng bàn cách hỗ trợ mà không xâm phạm đời tư. Gia đình nào gần thì đến thăm; người nào có xe thì giúp đưa đi khám; ai có thời gian thì gọi điện trò chuyện. Những việc ấy sẽ phong phú hơn khi giáo xứ biết lắng nghe kinh nghiệm của người dân trong khu xóm và cộng tác với những người thiện chí, bất kể họ theo tôn giáo nào. Nơi một người đang cần giúp, nhiều bàn tay có thể gặp nhau.
Tất nhiên, đón tiếp cũng có những giới hạn thực tế. Một người mẹ có thể muốn giúp hàng xóm nhưng cần dành buổi tối cho con mình. Một gia đình có thể sẵn lòng lắng nghe nhưng không đủ khả năng giải quyết vấn đề tài chính hay sức khỏe của người khác. Nói rõ giới hạn của mình một cách chân thành là điều cần thiết để tình thân được lâu dài. Ta có thể nói: “Hôm nay tôi không đi cùng chị được, nhưng tôi giúp chị tìm số xe”; “Tôi không biết cách xử lý chuyện này, để tôi cùng chị tìm người có chuyên môn.” Lòng bác ái không lớn lên nhờ những lời hứa quá sức. Nó lớn lên khi người khác có thể tin vào điều ta đã nói.
Cũng có lúc ta đón tiếp mà không được đón lại. Lời chào không có câu đáp. Món quà gửi sang được nhận một cách hờ hững. Người mình giúp không cảm ơn, thậm chí còn hiểu lầm. Những lúc ấy, ta dễ tự nhủ rằng từ nay cứ sống riêng cho yên. Nhưng con người có những ngày rất khó để bày tỏ lòng biết ơn. Có người chưa quen được ai đối xử tốt nên sinh cảnh giác. Có người đang chịu một áp lực mà ta không thấy. Ta không cần để mình bị lợi dụng, nhưng cũng đừng để một lần hụt hẫng làm lòng mình khép lại với tất cả. Tình yêu trưởng thành biết phân định từng hoàn cảnh và vẫn giữ được sự mềm mại bên trong.
Một lời mời ăn cơm có thể trở thành khoảnh khắc truyền giáo sâu sắc. Không phải vì trong bữa ăn ấy ta sẽ nói được thật nhiều điều đạo đức, mà vì người được mời có dịp ngồi vào một chỗ đã được dọn sẵn cho họ. Hãy tưởng tượng một người mới chuyển đến, suốt nhiều ngày chỉ ăn vội một mình giữa các thùng đồ. Khi ngồi quanh bàn với gia đình hàng xóm, nghe tiếng trẻ con kể chuyện trường lớp, được hỏi “Anh ăn thêm chút nữa nhé,” người ấy có thể cảm nhận lại một điều rất căn bản: mình thuộc về một nơi nào đó. Một người mẹ nuôi con một mình có thể lâu lắm rồi chưa được ngồi ăn một bữa mà không phải tự mình lo hết mọi thứ. Có khi ta không nói một lời nào về Thiên Chúa, nhưng cách ta chừa chỗ, gắp thức ăn, lắng nghe đã giúp người khác tin rằng tình thương vẫn có thật.
Tuy nhiên, đừng chỉ đón người khác vào những ngày nhà mình đẹp đẽ, con cái ngoan ngoãn, bữa ăn đủ món. Nếu cứ đợi đời sống hoàn hảo mới mở cửa, cánh cửa ấy có thể đóng mãi. Một gia đình có những tiếng cười lẫn những vụng về vẫn có thể là nơi ấm áp. Khi người hàng xóm sang chơi mà nhà còn bề bộn, ta có thể thu gọn vài chiếc ghế rồi mời họ ngồi. Sự chân thật làm cho cuộc gặp gỡ nhẹ nhõm. Người ta không cần bước vào một ngôi nhà giống bức ảnh được sắp đặt; người ta cần bước vào một ngôi nhà có người vui vì mình đến.
Có lẽ mỗi tối, trước khi khép ngày sống, một gia đình có thể thêm vào giờ cầu nguyện vài gương mặt rất gần: người mới ở cuối ngõ, cụ già đối diện, chị hàng xóm đang nuôi con, bác bảo vệ ca đêm, người công nhân thuê trọ bên kia đường. Gọi tên họ trước mặt Chúa sẽ thay đổi cách ta gặp họ ngày hôm sau. Ta sẽ bớt đi qua họ như đi qua một phần cảnh vật quen thuộc. Ta sẽ nhớ hỏi thăm khi họ vắng mặt, nhớ lời họ kể về đứa con sắp thi, nhớ lời hứa sẽ đưa họ số điện thoại người sửa ống nước. Lời cầu nguyện cần dẫn đôi chân ta ra khỏi nhà; và những cuộc gặp gỡ ngoài ngõ lại đem thêm những con người thật vào lời cầu nguyện.
Một khu dân cư có thể có rất nhiều căn nhà sáng đèn mà vẫn tối trong lòng người. Mỗi nhà tự lo, mỗi cửa tự khóa, mỗi gia đình tự chịu đựng phần khổ của mình. Nhưng khu ấy cũng có thể đổi khác từ vài việc rất nhỏ. Một nhà bắt đầu chào người mới đến. Một người chịu ngồi nghe cụ già. Một gia đình mời đứa trẻ ở phòng trọ bên cạnh chơi cùng con mình. Một người hàng xóm ngăn lời đồn về người mẹ đang nuôi con một mình. Chẳng có sự kiện lớn nào được ghi lại, nhưng một nơi ở dần trở thành một cộng đồng. Người ta có thể trải qua những ngày khó mà biết mình không bị bỏ mặc.
Gia đình thừa sai được sai đến chính nơi gia đình đang sống. Có thể Chúa chưa mời ta đi qua đại dương; hôm nay Người mời ta đi qua hành lang. Có thể Người chưa trao cho ta một công việc nổi bật; hôm nay Người trao một tiếng gõ cửa. Có thể ta chưa tìm được lời thật hay để nói về Tin Mừng; hôm nay Người đặt trước mặt ta một người cần được nghe câu: “Có chúng tôi ở gần đây.” Từ cuộc gặp gỡ ấy, tình thân có thể lớn lên, đức tin có thể được chia sẻ, và cả gia đình ta cũng học thêm về Chúa qua cuộc đời của người khác.
Ước gì người ta có thể nhận ra một gia đình Kitô hữu qua cách gia đình ấy sống giữa xóm mình: chào hỏi ân cần, giúp đỡ kín đáo, giữ gìn danh dự cho người vắng mặt, dành chỗ cho người mới, dành thời gian cho người cô đơn, dành sự tôn trọng cho người mẹ đang một mình gánh vác gia đình. Ước gì sau này, khi nhớ về con đường ấy, có ai đó nói: “Ngày tôi mới đến, nhà ấy đã gõ cửa chào tôi”; “Ngày tôi đau bệnh, họ đã hỏi thăm”; “Ngày mọi người bàn tán về tôi, họ vẫn đối xử với tôi như một con người.” Những lời ấy là một chứng tá âm thầm mà sâu bền.
Lạy Chúa Giêsu, xin mở mắt chúng con để nhận ra những người đang sống gần mình. Xin cho chúng con biết chào đón mà không tò mò, giúp đỡ mà không làm ai tủi thân, lắng nghe mà không vội phán xét. Xin gìn giữ các gia đình mới đến một nơi xa lạ, an ủi những người cô đơn, nâng đỡ những người cha, người mẹ đang một mình nuôi con. Xin biến ngôi nhà chúng con thành nơi có thể trao đi sự bình an, để từ bàn ăn, cánh cửa và con đường nhỏ trước nhà, tình yêu Chúa được nhiều người chạm tới.
Lm. Anmai, CSsR.