HIỆP HÀNH CÙNG GIÁO XỨ: NHỮNG BƯỚC CHÂN ÂM THẦM GIỮ CHO MỘT MÁI NHÀ CHUNG CÒN ẤM Lm. Anmai, CSsR.

0

HIỆP HÀNH CÙNG GIÁO XỨ: NHỮNG BƯỚC CHÂN ÂM THẦM GIỮ CHO MỘT MÁI NHÀ CHUNG CÒN ẤM Lm. Anmai, CSsR.
Có những người hiện diện trong giáo xứ nhiều năm mà tên tuổi chẳng mấy khi được nhắc đến. Họ đến nhà thờ sớm hơn giờ lễ để mở cửa, xếp lại những chiếc ghế ngay ngắn, nhặt một mẩu giấy dưới sân. Họ ở lại sau khi mọi người đã ra về để tắt đèn, khóa cổng, rửa những chiếc ly vừa dùng trong buổi họp hội đoàn. Có người đều đặn tập hát, đi thăm bệnh nhân, chuẩn bị bữa ăn cho một cuộc gặp gỡ, góp từng khoản nhỏ để giáo xứ có thể nâng đỡ người khó khăn. Có gia đình đưa con đi cùng trong những công việc ấy. Đứa trẻ chưa hiểu hết hai chữ “hiệp hành”, nhưng nó nhìn thấy cha mình cúi xuống nhặt rác dù không phải cha làm rơi; nhìn thấy mẹ mình đến hỏi thăm một người đang buồn dù mẹ cũng có bao điều phải lo. Từ những hình ảnh rất nhỏ đó, đứa trẻ học được rằng giáo xứ là nhà của mình, và một mái nhà chỉ thật sự ấm khi có người tự nguyện chăm nom.
Nói đến hiệp hành, người ta có thể nghĩ đến những cuộc họp, những bản kế hoạch, những lần góp ý về hướng đi của giáo xứ. Tất cả đều cần thiết. Nhưng nếu chỉ tìm hiệp hành ở nơi người ta phát biểu, ta sẽ bỏ sót biết bao người đang thực hành điều ấy bằng đôi tay và bằng cả đời sống gia đình. Hiệp hành là cùng đi trên một con đường. Mà cùng đi thì phải biết nhìn người bên cạnh: người nào đang mệt, người nào bước chậm, người nào tưởng mình không còn chỗ trong đoàn. Một giáo xứ có thể tổ chức nhiều sinh hoạt, nhưng nếu những gia đình yếu đuối nhất vẫn phải giấu nỗi đau vì sợ bị đánh giá, giáo xứ ấy còn phải học cách đi cùng nhau sâu hơn. Một hội đoàn có thể làm được nhiều việc, nhưng nếu trong lúc phục vụ, người ta để sự hơn thua làm tổn thương nhau, thì những người cùng đi cần dừng lại, nghe nhau và tìm lại lý do ban đầu khiến mình bước tới.
Gia đình là một phần sống động của giáo xứ. Những gì diễn ra trong gia đình sẽ theo mỗi người đến nhà thờ: niềm vui của một đôi vợ chồng vừa đón con đầu lòng, nỗi lo của cha mẹ có con đang xa đức tin, sự kiệt sức của người chăm cha mẹ già, sự im lặng nặng nề giữa hai người từng yêu nhau. Và những gì gia đình nhận được từ giáo xứ cũng theo họ trở về bàn ăn, phòng khách, giường bệnh. Một lời hỏi thăm đúng lúc có thể giúp ai đó đủ sức đi qua một tuần khó khăn. Một lời bàn tán thiếu suy nghĩ có thể khiến họ không muốn trở lại. Vì thế, xây dựng giáo xứ không chỉ là chăm chút cho nơi cử hành phụng vụ hay sắp xếp các chương trình. Đó còn là cùng nhau tạo nên một cộng đoàn mà người ta có thể mang con người thật của mình đến trước Chúa, với cả niềm vui lẫn vết thương.
Nhiều gia đình vẫn nghĩ mình chưa làm được gì cho giáo xứ. Họ thấy những người đứng hát trong ca đoàn, dạy giáo lý, đọc sách thánh, tham gia ban điều hành; còn mình chỉ đi lễ, góp chút công sức khi được gọi, rồi trở về nhà. Nhưng đóng góp cho giáo xứ không được đo bằng số lần xuất hiện trước cộng đoàn. Một người mẹ giúp con tập thói quen đến lễ đúng giờ, một người cha kiên nhẫn giải thích cho con vì sao cần giữ yên lặng khi người khác cầu nguyện, một đôi vợ chồng chọn nói điều tốt về người trong giáo xứ thay vì tiếp thêm một câu chuyện không rõ thực hư: những điều ấy đang âm thầm xây dựng cộng đoàn. Không có lòng tử tế được vun đắp trong từng gia đình, những việc chung rất dễ trở thành gánh nặng đặt trên vai một số ít người.
Có những gia đình tham gia hội đoàn giữa một lịch sống vốn đã chật kín. Họ đi làm từ sáng sớm, tối về còn lo cơm nước, bài vở của con, thuốc men cho người thân. Cuối tuần, họ dành thêm thời gian cho ca đoàn, hội các bà mẹ, hội gia trưởng, giới trẻ, nhóm bác ái hay những việc cần người phụ giúp. Đằng sau một buổi sinh hoạt được chuẩn bị chu đáo là thời giờ mà họ có thể dành để nghỉ ngơi. Đằng sau một chuyến thăm bệnh là những việc nhà họ phải thu xếp trước khi đi. Đằng sau một bữa cơm chung là người rửa rau, người nấu nướng, người dọn dẹp khi khách đã về. Ta dễ nhìn thấy việc đã hoàn thành mà quên mất con người đã lặng lẽ gánh lấy việc đó.
Bởi vậy, biết ơn trong giáo xứ cần đi cùng với sự quan tâm thật. Đừng mặc nhiên nghĩ một gia đình nhiệt thành thì lúc nào cũng còn sức để nhận thêm việc. Đừng để một người nhiều năm tận tụy cảm thấy mình chỉ được nhớ đến khi cần người thay ca. Cũng đừng vì yêu mến việc chung mà xem nhẹ thời gian họ cần dành cho vợ chồng, con cái, người thân. Một giáo xứ biết hiệp hành sẽ biết chia việc, biết đón người mới cùng phục vụ, biết hỏi: “Dạo này gia đình anh chị thế nào?” rồi đủ kiên nhẫn nghe câu trả lời. Người đang phục vụ cộng đoàn cũng cần được cộng đoàn chăm sóc.
Trong hội đoàn, gia đình có thể mang đến một vẻ đẹp rất riêng: vẻ đẹp của những con người đã học yêu thương giữa những giới hạn của nhau. Ở nhà, vợ chồng không thể chỉ chọn làm việc với người hợp ý; cha mẹ không thể thôi chăm con chỉ vì con có một ngày khó bảo. Chính kinh nghiệm ấy có thể giúp họ đến với việc chung bằng một trái tim mềm hơn. Họ biết một người đến trễ có thể đang đưa mẹ đi khám bệnh. Một người bỏ dở nhiệm vụ có thể đang trải qua biến cố mà chưa sẵn sàng kể. Họ tập hỏi han trước khi kết luận, tập góp ý mà vẫn giữ thể diện cho người khác, tập nhận lỗi khi lời nói của mình đã làm đau một người cùng phục vụ. Đó là những bài học rất thật của hiệp hành.
Dĩ nhiên, làm việc chung sẽ có lúc va chạm. Một buổi tập hát có thể căng thẳng; một cách tổ chức lễ hội có thể gây bất đồng; một lời góp ý có thể bị nghe thành lời chê trách. Khi ấy, điều giữ hội đoàn ở lại với nhau không phải là mọi người đều có cùng tính khí, mà là mỗi người còn nhớ mình phục vụ ai. Nếu sau một cuộc họp, ta thắng được một cuộc tranh luận nhưng đánh mất lòng tin của một người anh em, thì cần tự hỏi mình có thể sửa lại điều gì. Nếu vì một lỗi nhỏ mà ta kể đi kể lại chuyện của người khác, ta đang làm nỗi đau lan rộng hơn. Giáo xứ lớn lên mỗi khi có người đủ khiêm nhường để nói: “Tôi đã nóng nảy. Xin cho tôi được làm lại.”
Một gia đình hiệp hành cũng chăm sóc không gian chung của giáo xứ như chăm sóc chính ngôi nhà mình. Giữ vệ sinh nghe có vẻ là chuyện quá nhỏ để đưa vào một bài suy tư về đức tin. Nhưng tình yêu thường hiện ra rõ nhất ở những chỗ không ai buộc mình phải làm. Sau giờ lễ, thấy giấy rơi thì nhặt. Dùng phòng sinh hoạt xong thì xếp lại bàn ghế. Ăn uống trong khuôn viên thì dọn sạch chỗ mình ngồi. Dạy con không giẫm lên bồn cây, không vứt chai nước cho người khác thu gom. Nếu có thể, cùng nhau tham gia một buổi quét sân, lau kính, chăm sóc khu vệ sinh, những nơi ít ai muốn nhận phần việc. Những công việc ấy khiến giáo xứ dễ đón tiếp hơn, nhất là với người già, trẻ nhỏ và những ai lần đầu bước vào.
Có người quét sân nhà thờ từ rất sớm. Khi nắng lên, mặt sân đã sạch và chẳng ai biết bàn tay nào vừa đi qua. Chính sự khuất mặt ấy làm việc phục vụ có một nét đẹp khó diễn tả. Họ vẫn làm dù chẳng có ai đứng nhìn. Nhưng cộng đoàn cũng đừng vì thế mà quên họ. Hãy để con trẻ biết chào người đang dọn dẹp; hãy giúp khi thấy một người ôm quá nhiều việc; hãy giữ sạch để công sức của họ được trân trọng. Một lời cảm ơn chân thành có thể không làm chiếc chổi nhẹ hơn, nhưng làm người cầm chổi thấy mình có anh chị em cùng chăm ngôi nhà này.
Việc giữ gìn vệ sinh chung còn dạy một điều sâu hơn: không gian thánh không tách rời cách ta đối xử với con người. Ta không thể chăm chút cho bàn thờ mà dửng dưng trước người đang mệt lả vì thu dọn phía sau. Ta cũng không thể yêu mến ngôi nhà thờ mà xem người đến đó như khách lạ không đáng được chào đón. Một giáo xứ sạch đẹp là niềm vui; một giáo xứ có những người biết cúi xuống cùng nhau càng đáng quý. Khi một gia đình cùng làm những việc nhỏ ấy, con cái học được rằng phẩm giá của việc phục vụ nằm ở tình yêu được đặt vào đó, chứ không ở chỗ việc ấy có nổi bật hay không.
Tuy nhiên, có một công việc âm thầm hơn cả quét sân, xếp ghế, nấu ăn hay tập hát: ở bên những đôi vợ chồng trẻ đang có nguy cơ rạn nứt. Nhiều cuộc hôn nhân không đổ vỡ trong một ngày. Sự xa cách có thể bắt đầu từ những bữa cơm không còn ai muốn kể chuyện; từ những đêm một người ru con còn người kia chìm trong điện thoại; từ những lần cố nói về nỗi buồn của mình nhưng chỉ nhận lại câu “Có gì đâu mà làm quá.” Có đôi vợ chồng vẫn đưa con đi lễ, vẫn mỉm cười chào mọi người trước sân nhà thờ, rồi về nhà lại sống với một khoảng lạnh kéo dài. Cộng đoàn nhìn thấy họ đi cùng nhau mà không biết họ đã lâu không còn thật sự gặp nhau.
Những năm đầu hôn nhân có nhiều niềm vui, nhưng cũng đầy đổi thay. Hai người bước vào đời sống chung với những thói quen, vết thương, kỳ vọng và cách yêu thương khác nhau. Có lúc họ phải cùng lúc lo tiền thuê nhà, công việc, con nhỏ, cha mẹ hai bên. Thiếu ngủ và thiếu thời gian có thể khiến một câu nói bình thường trở nên sắc nhọn. Một người cần được lắng nghe, người kia lại nghĩ mình đang bị trách móc. Cả hai đều thấy mình cố gắng mà không được nhận ra. Nếu trước mắt họ chỉ có hình ảnh những gia đình “đạo đức, hạnh phúc” lúc nào cũng êm ấm, họ càng khó mở lời về điều đang xảy ra trong nhà mình.
Vì thế, sự nâng đỡ đầu tiên mà một gia đình khác có thể trao cho họ là một nơi an toàn để được nói thật. Đó có thể là một đôi vợ chồng đi trước, đủ gần gũi để hỏi thăm nhưng đủ kín đáo để giữ điều được chia sẻ. Họ không cần lập tức đưa ra lời khuyên. Có khi người trẻ chỉ cần nghe: “Những năm đầu của chúng tôi cũng đã có lúc rất khó. Nếu hai em muốn kể, anh chị sẵn lòng nghe.” Câu nói ấy không xóa được mâu thuẫn, nhưng mở ra một cánh cửa. Người đang xấu hổ vì hôn nhân của mình có vấn đề sẽ thấy mình không bị đặt ra ngoài cộng đoàn.
Lắng nghe một đôi vợ chồng rạn nứt đòi hỏi nhiều tế nhị. Đừng vội đứng về phía người kể chuyện trước và kết án người còn lại. Đừng dùng vài câu đạo đức để thúc một người chịu đựng trong im lặng. Đừng hứa giữ kín rồi lại biến nỗi đau của họ thành chuyện để bàn sau buổi họp. Càng gần gũi với một gia đình, ta càng phải tôn trọng sự riêng tư của họ. Đôi lúc giúp đỡ là dành cho họ một buổi tối trông con để hai người có thể ngồi xuống nói chuyện. Đôi lúc là giới thiệu một người có khả năng đồng hành mục vụ, một chuyên viên tư vấn hôn nhân phù hợp, hoặc giúp họ tìm sự hỗ trợ cần thiết khi vấn đề đã vượt quá khả năng của bạn bè.
Cũng cần nhận ra rằng không phải cuộc hôn nhân khó khăn nào cũng chỉ cần thêm kiên nhẫn hay một buổi trò chuyện. Nếu có bạo lực, đe dọa, kiểm soát, ép buộc hoặc nguy cơ đối với người phối ngẫu và con cái, điều cấp thiết là bảo vệ sự an toàn và giúp họ tiếp cận sự hỗ trợ thích hợp. Những lời mời gọi tha thứ hay giữ gìn gia đình không được biến thành sức ép buộc người bị tổn thương quay về một nơi nguy hiểm. Đi cùng một gia đình là nhìn thẳng vào điều họ đang trải qua, với lòng thương và sự thận trọng. Ta không giúp được họ nếu chỉ cố giữ cho câu chuyện bên ngoài trông yên ổn.
Nhiều đôi vợ chồng trẻ không tìm đến giáo xứ vì nghĩ mình sẽ bị trách: “Ngày xưa đã học giáo lý hôn nhân rồi, sao bây giờ lại thế?” Nhưng học về hôn nhân trước ngày cưới không làm hai người miễn khỏi mọi thử thách sau ngày cưới. Họ cần được đồng hành cả khi đang vui lẫn lúc đang kiệt sức. Những gia đình đi trước có thể kể thật về hành trình của mình: họ đã học xin lỗi ra sao, đã từng bất đồng về tiền bạc thế nào, đã vượt qua một mùa bận rộn khiến hai người xa nhau như thế nào. Lời chứng ấy quý vì nó không vẽ ra một mái ấm hoàn hảo. Nó cho thấy tình yêu cần được chăm sóc, và khi gặp khó khăn, người ta có thể tìm sự giúp đỡ.
Đôi khi, một gia đình không cứu được hôn nhân của gia đình khác; họ cũng không có quyền gánh thay mọi quyết định của hai người. Nhưng họ có thể làm một việc vô cùng quan trọng: đừng để đôi vợ chồng ấy cô độc. Hãy tiếp tục chào họ, mời họ tham dự khi thích hợp, hỏi thăm con cái mà không dò xét chuyện riêng. Nếu hai người đang sống xa nhau, đừng bắt họ phải trả lời những câu hỏi trước mặt nhiều người. Nếu một người đang đau, hãy để họ biết mình vẫn có chỗ trong hàng ghế nhà thờ, trong một cuộc gặp gỡ, trong lời cầu nguyện của cộng đoàn. Có những người chỉ cần được đối xử dịu dàng thêm một chút để không buông xuôi hoàn toàn.
Gia đình hiệp hành là gia đình biết nhận rằng mình cũng có lúc cần người khác đỡ lấy. Người đang phục vụ trong hội đoàn có thể trở về nhà và phải đối diện với một cuộc cãi vã chưa giải quyết. Người hay giúp đỡ các đôi vợ chồng khác có thể có ngày bất lực trước chính cuộc hôn nhân của mình. Người vẫn thường quét sân nhà thờ có thể đang đau lưng, đang lo tiền thuốc, đang mong một người hỏi mình có khỏe không. Không gia đình nào chỉ cho đi mà chẳng bao giờ cần nhận. Khi dám nói “Nhà tôi đang khó khăn”, họ đang cho cộng đoàn cơ hội sống tình thân cách thật hơn.
Cha mẹ cũng truyền tinh thần hiệp hành cho con qua cách mình nói về giáo xứ ở nhà. Nếu sau mỗi buổi lễ, câu chuyện trên đường về chỉ toàn lời chê bai người này, soi xét người kia, con trẻ sẽ dần nghĩ cộng đoàn là nơi phải đề phòng. Nếu cha mẹ có điều chưa hài lòng nhưng biết góp ý đúng chỗ, nói với sự tôn trọng, con sẽ học cách yêu giáo xứ bằng một tình yêu trưởng thành. Yêu không có nghĩa là phủ nhận những thiếu sót. Yêu là muốn cùng sửa điều chưa tốt, bắt đầu từ phần trách nhiệm của mình, và vẫn nhìn người khác như anh chị em khi ý kiến không giống nhau.
Có thể một ngày giáo xứ tổ chức dọn dẹp, người cha rủ con đi cùng. Đứa bé làm được rất ít, quét một chỗ rồi chạy sang chỗ khác, nhặt vài chiếc lá mà tưởng mình đã giúp nhiều lắm. Người cha không cần giảng một bài dài về trách nhiệm cộng đoàn. Ông chỉ cần trao cho con một chiếc chổi vừa tay, làm cùng con, rồi nói: “Mình giữ nơi này sạch vì nhiều người cũng đến đây cầu nguyện.” Một câu đơn sơ có thể ở lại trong trí nhớ của con lâu hơn nhiều lời dặn dò. Sau này, khi con gặp một người mới trong giáo xứ, con có thể tự nhiên nhường chỗ, đưa một cuốn sách hát, chỉ cho họ lối vào. Việc phục vụ đã bắt đầu từ một buổi sáng cùng cha quét lá.
Cũng có thể một buổi tối, người mẹ chuẩn bị thức ăn mang sang nhà đôi vợ chồng vừa có em bé. Con hỏi: “Sao mẹ phải nấu thêm, nhà mình cũng bận mà?” Mẹ đáp: “Vì khi con còn nhỏ, đã có người giúp mẹ. Bây giờ nhà mình có thể giúp lại.” Đứa trẻ học được rằng cộng đoàn không tồn tại nhờ những người lúc nào cũng dư thời gian, dư tiền bạc, dư sức khỏe. Cộng đoàn được nuôi bằng việc mỗi người chia sẻ điều mình có thể chia sẻ vào lúc người khác cần. Hôm nay ta mang một bữa ăn sang nhà bên cạnh; ngày khác, khi mình mỏi mệt, có thể sẽ có ai đó gõ cửa.
Một giáo xứ hiệp hành cần nhiều gia đình như thế, và cũng cần mở lòng với những gia đình có hoàn cảnh khác nhau. Có nhà đủ người để cùng tham gia sinh hoạt; có nhà chỉ một người có thể đến vì người kia phải chăm bệnh nhân. Có gia đình trẻ vừa lập nghiệp, chỉ góp được một ít thời gian; có người già sống một mình, đi lại khó khăn nhưng vẫn cầu nguyện mỗi ngày cho cộng đoàn. Có người bước vào nhà thờ với niềm vui, có người phải cố lắm mới bước qua cổng vì cuộc đời đang ngổn ngang. Nếu giáo xứ chỉ nhận ra sự đóng góp nào có thể ghi vào bản tổng kết, nhiều tình yêu âm thầm sẽ bị bỏ quên. Một lời cầu nguyện trung thành, một lần âm thầm hòa giải, một buổi ngồi nghe người khác khóc cũng đang giữ cho cộng đoàn được sống.
Không ai có thể làm tất cả. Gia đình có con nhỏ không cần phải kiệt sức để chứng minh lòng nhiệt thành. Người cao tuổi không cần nhận việc quá sức chỉ vì không muốn phụ lòng ai. Các đôi vợ chồng cần thời gian chăm sóc tình yêu của mình, bởi chính sự gắn bó ấy là một món quà cho cộng đoàn. Điều quý là mỗi gia đình thành thật nhận ra mình có thể góp phần ở đâu, trong giai đoạn này của đời mình. Có mùa ta có thể đứng ra tổ chức; có mùa ta chỉ có thể đến giúp một giờ. Có mùa ta nâng người khác dậy; có mùa ta cần được nâng đỡ. Cùng đi là chấp nhận những nhịp bước ấy và không để ai phải xấu hổ vì mình đang đi chậm.
Ta hãy hình dung một ngày Chúa nhật bình thường. Trước thánh lễ, một gia đình đến sớm xếp lại ghế. Một người mẹ dẫn con tới thăm bà cụ sống một mình rồi mới sang nhà thờ. Một người cha thấy vũng nước ở lối đi thì tìm cây lau để người già khỏi trượt ngã. Trong thánh lễ, một đôi vợ chồng trẻ ngồi cạnh nhau, chưa hết buồn nhau, nhưng vẫn cùng bế con đến trước Chúa. Sau lễ, có người mời họ uống một ly nước, hỏi thăm thật lòng và không ép họ kể chuyện. Cuối ngày, một nhóm nhỏ đi thăm bệnh nhân; người ở lại dọn căn phòng vừa dùng. Không ai trong số ấy nghĩ mình đang làm điều lớn lao. Vậy mà chính những bước chân ấy giúp giáo xứ trở thành một nơi người ta muốn trở về.
Có lúc chúng ta mong giáo xứ thay đổi, và mong ước ấy hoàn toàn chính đáng. Ta muốn việc chung được tổ chức chu đáo hơn, người yếu thế được quan tâm hơn, các gia đình trẻ được đồng hành sát hơn. Những thay đổi ấy cần người lắng nghe, phân định và quyết định. Chúng cũng cần những người sẵn lòng bắt đầu từ điều gần mình nhất: hỏi thăm một gia đình mới đến, chia một phần việc cho người đang quá tải, giữ sạch phòng sinh hoạt, ngừng một câu chuyện có thể làm hại danh dự người khác, đến gõ cửa một đôi vợ chồng đang dần xa cộng đoàn. Mỗi việc nhỏ đặt đúng chỗ có thể làm con đường chung bớt gập ghềnh.
Giáo xứ là mái nhà chung, nhưng một mái nhà chung không tự nhiên mà có. Nó được giữ bằng sự hiện diện bền bỉ của biết bao gia đình: những người mang hoa đến nhà thờ, những người rửa chiếc bình cắm hoa sau lễ; những người cất tiếng hát, những người lặng lẽ đưa một người không biết hát cuốn sách; những người dạy giáo lý, những cha mẹ tiếp tục trò chuyện với con về đức tin khi về nhà; những người đồng hành với vợ chồng trẻ và những đôi vợ chồng can đảm xin giúp đỡ lúc tình yêu của mình đang mỏi mệt. Tất cả cùng có chỗ trên con đường ấy.
Ước gì mỗi gia đình, khi nhìn giáo xứ của mình, không chỉ thấy một nơi để đến dự lễ, mà nhận ra những con người Chúa đã trao cho mình để cùng đi. Ước gì người phục vụ lâu năm được hỏi han và nâng đỡ; người mới đến được đón tiếp; người đang rạn nứt được lắng nghe; người làm công việc khuất mặt được trân trọng. Và ước gì sau mỗi ngày, dù chỉ làm được một việc nhỏ, ta vẫn có thể thưa với Chúa: “Hôm nay gia đình con đã cố giữ cho mái nhà chung này ấm hơn một chút.” Biết đâu, từ chút ấm áp âm thầm ấy, một người đang định rời xa sẽ tìm thấy lý do để ở lại.
Lm. Anmai, CSsR.