KHI TRÍ TUỆ VƯƠN TỚI CÁC VÌ SAO, XIN ĐỪNG ĐỂ TÂM HỒN QUÊN ĐẤNG TẠO THÀNH
Có một điều rất lạ trong cuộc sống con người: càng có nhiều phương tiện để nhìn ra xa, chúng ta đôi khi càng ít dành thời gian nhìn vào lòng mình. Chiếc điện thoại trong tay có thể đưa đến trước mắt ta hình ảnh những thiên hà xa xôi, nhưng cũng chính trên chiếc điện thoại ấy, ta có thể bỏ qua cuộc gọi của một người mẹ đang ngồi chờ con hỏi thăm. Ta có thể say mê trước những thành tựu khám phá sự sống, nhưng lại sống hờ hững với một sự sống đang cô đơn ngay trong nhà mình. Ta có thể biết thêm rất nhiều về thế giới mà vẫn chưa biết phải làm gì với nỗi buồn, sự ích kỷ và cái chết của chính mình. Bởi vậy, câu hỏi về Thiên Chúa vẫn còn đó. Nó hiện diện bên cạnh những thành tựu của trí tuệ, âm thầm mà dai dẳng, như một lời gõ cửa trong sâu thẳm tâm hồn: Tôi từ đâu đến? Tôi đang sống vì điều gì? Khi mọi công việc kết thúc, khi thân xác này trở về với bụi đất, điều gì còn lại của cuộc đời tôi?
Đứng trước những câu hỏi ấy, người Công giáo có thể bình an yêu mến khoa học và thành tâm thờ phượng Thiên Chúa. Chúng ta không phải bớt suy nghĩ để tin nhiều hơn. Cũng không phải thôi cầu nguyện để trở thành người có hiểu biết. Lý trí là một ân huệ Thiên Chúa ban cho con người, và sử dụng lý trí cách ngay thẳng là một cách tôn trọng Đấng đã dựng nên mình. Trong thông điệp Đức tin và lý trí, thánh Gioan Phaolô Đệ Nhị trình bày hai khả năng ấy trong sự nâng đỡ lẫn nhau, cùng hướng con người đến chân lý. Đức tin giúp lý trí mở ra trước những chiều sâu vượt quá điều có thể đo lường; lý trí giúp đời sống đức tin biết phân định, tránh nhẹ dạ và nhận ra trách nhiệm của mình trước sự thật. Người tín hữu được mời gọi lớn lên trong cả hai. vatican.va
Vì thế, khi gặp một lời khẳng định rằng con người hiện đại tin vào khoa học, còn những nhà khoa học vĩ đại lại tin vào Chúa, chúng ta có thể đón nhận lời ấy như một gợi ý để suy nghĩ, nhưng cần diễn tả cho chính xác. Có những nhà khoa học tin vào Thiên Chúa, có những người không tin, có những người đang tìm kiếm, cũng có những người không muốn đưa ra một kết luận về tôn giáo. Trình độ chuyên môn không tự động cho biết một người có đức tin hay không; đời sống đạo cũng không tự động biến ai thành người am hiểu mọi ngành khoa học. Đức tin Công giáo không cần được bảo vệ bằng cách gom hết những người thông minh về phía mình, rồi đẩy những người chưa tin sang phía kém hiểu biết. Một lập luận như thế có thể đem lại cảm giác thắng thế trong chốc lát, nhưng không đủ sức nuôi dưỡng một đức tin trưởng thành.
Người Kitô hữu phải yêu sự thật ngay cả khi sự thật buộc mình sửa lại một câu chuyện đang có lợi cho việc bênh vực tôn giáo. Một lời nói được gán cho người nổi tiếng mà chưa rõ xuất xứ vẫn cần được kiểm chứng. Một giai thoại nghe rất cảm động vẫn có thể chỉ là giai thoại. Chúng ta không được lấy điều chưa chắc làm nền cho điều mình tuyên xưng là chân thật. Thiên Chúa không cần chúng ta dựng thêm những bằng chứng thiếu trung thực để Người được tôn vinh. Một người thành thật nói rằng mình chưa biết có thể gần với tinh thần tìm kiếm chân lý hơn một người nhân danh đức tin mà quả quyết điều mình chưa tìm hiểu. Chính lòng trung thành với Thiên Chúa đòi chúng ta phải cẩn trọng trong lời nói, nhất là khi lời nói ấy được dùng để giảng dạy, chia sẻ trên mạng hoặc hướng dẫn người trẻ.
Sự cẩn trọng ấy không làm đức tin nghèo đi. Nó thanh luyện đức tin. Chúng ta vẫn có thể ngước nhìn trời cao mà thán phục, vẫn có thể suy niệm về vẻ đẹp của sự sống, vẫn có thể nhận ra nơi thế giới một lời mời gọi vượt khỏi bản thân. Nhưng sự thán phục phải đi cùng thái độ khiêm tốn. Tôi có quyền thấy một công trình kỳ diệu và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa; tôi cũng phải tôn trọng người đang quan sát cùng một công trình ấy mà chưa chia sẻ niềm tin của tôi. Điều làm chứng cho Tin Mừng trước hết là cách tôi sống cuộc gặp gỡ đó: tôi có biết lắng nghe không, có chịu học hỏi không, có tôn trọng phẩm giá người đối thoại không, hay chỉ muốn dùng tên Chúa để buộc người khác phải nhận phần thua?
Trong đời sống đức tin, đôi khi chúng ta đã quá vội vàng. Vừa nghe một khám phá mới, ta lập tức hỏi khám phá ấy có thể dùng để chứng minh điều gì cho đạo. Vừa gặp một câu hỏi khó, ta đã lo nó sẽ làm người trẻ mất đức tin. Vừa nghe ai nói mình chưa tin, ta đã nghĩ cần phải phản bác ngay. Nhưng một tâm hồn không được lắng nghe thường khó mở ra. Một câu hỏi bị xem như tội lỗi thường chỉ bị chôn xuống, rồi tiếp tục âm thầm gây bất an. Người làm mục vụ cần có đủ bình tĩnh để ngồi lại với những điều chưa có câu trả lời ngắn gọn. Có những người đến với Hội Thánh mang theo cả một lịch sử học hành, tổn thương, thất vọng và tìm kiếm. Họ cần được gặp một người anh em biết đồng hành trước khi nghe một bài giải thích.
Khoa học có một vẻ đẹp đáng kính: nó buộc con người phải trở về với thực tại. Điều tôi thích chưa chắc đã đúng. Điều tôi mong chưa chắc đã xảy ra. Một kết luận cần được đặt trước dữ kiện, phương pháp và sự kiểm tra. Người nghiên cứu chân chính phải có can đảm sửa điều mình từng tin là đúng khi chứng cứ cho thấy điều khác. Thái độ ấy có thể trở thành một bài học thiêng liêng rất cụ thể. Trong đời sống đạo, chúng ta cũng dễ bảo vệ thói quen của mình hơn là tìm ý Chúa. Ta có thể quen một cách suy nghĩ đến mức xem bất cứ ai chất vấn nó là người chống đối. Ta có thể lầm ý riêng với lòng nhiệt thành. Ta có thể giữ rất chặt một nhận định về người khác dù cuộc sống của họ đã cho thấy nhận định ấy bất công. Học biết tôn trọng sự thật sẽ giúp chúng ta bớt làm tổn thương nhau nhân danh những điều mình tưởng đã hiểu.
Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo nhìn nhận giá trị của những nghiên cứu về vũ trụ, sự phát triển của các dạng sống và sự xuất hiện của con người. Những hiểu biết ấy có thể khơi dậy lòng thán phục đối với công trình tạo dựng và lòng biết ơn đối với khả năng tìm tòi được ban cho con người. Đó là một thái độ rộng mở. Người tín hữu có thể vui khi nhân loại biết thêm về thế giới. Niềm vui ấy không làm giảm lòng kính mến Đấng Tạo Thành; nó có thể trở thành một phần của lời tạ ơn. Người học sinh hiểu được một quy luật tự nhiên, người bác sĩ tìm ra hướng chẩn đoán chính xác, người nghiên cứu kiên trì trước một vấn đề khó đều đang sử dụng những khả năng quý giá của con người. vatican.va
Hãy nghĩ đến một người mẹ đưa con đi bệnh viện. Chị có thể lần chuỗi trong hành lang, xin Chúa gìn giữ đứa con bé nhỏ, và đồng thời chăm chú nghe bác sĩ giải thích. Đôi tay chắp lại cầu nguyện không ngăn chị ký giấy làm xét nghiệm cần thiết. Niềm tín thác không miễn chị khỏi trách nhiệm chăm sóc con. Chị có thể tạ ơn Chúa vì một kết quả điều trị tốt, và lòng biết ơn ấy càng chân thật khi chị nhớ đến những người đã học hành, trực đêm, theo dõi từng thay đổi của bệnh nhân. Trong hoàn cảnh đó, khoa học và đức tin gặp nhau nơi một con người cụ thể đang cần được cứu giúp. Một bên đem đến những phương tiện chăm sóc thân xác; đời sống đức tin giúp người mẹ kiên vững trong tình yêu, nâng đỡ hy vọng và phó thác điều vượt ngoài khả năng của mình.
Từ kinh nghiệm ấy, ta cũng thấy sự nguy hiểm của việc biến cầu nguyện thành lý do để khước từ trách nhiệm. Tin vào quyền năng Thiên Chúa không cho phép chúng ta xem thường những phương tiện hợp lý để bảo vệ sự sống. Chúng ta không thể gọi sự bất cẩn là phó thác. Không thể bỏ mặc người bệnh rồi cho rằng chỉ cần họ có đức tin mạnh. Càng không được đổ thêm gánh nặng lên người đau khổ bằng cách quả quyết họ chưa khỏi bệnh vì họ cầu nguyện chưa đủ sốt sắng. Có những người đã yêu mến Chúa suốt đời mà vẫn trải qua bệnh tật nặng nề. Có những gia đình đã tha thiết cầu xin nhưng vẫn phải đứng trước một cuộc chia ly. Lời cầu nguyện chân thành luôn có chỗ cho nước mắt và cho một tiếng xin vâng rất khó nhọc.
Mặt khác, những khả năng của khoa học cũng cần được đón nhận trong sự tỉnh táo. Biết cách thực hiện một việc chưa đủ để xác định việc ấy có nên được thực hiện hay không. Một kỹ thuật có thể rất tinh vi mà cách sử dụng nó vẫn gây tổn hại. Một hệ thống có thể vận hành hiệu quả mà vẫn đối xử bất công với người yếu thế. Một phương tiện có thể tiết kiệm thời gian cho người này nhưng chuyển gánh nặng sang người khác. Khi hỏi về điều tốt, điều phải, trách nhiệm và phẩm giá, chúng ta bước vào cuộc suy tư luân lý mà mọi thành tựu nhân loại đều cần đến. Đức tin Công giáo mời người tín hữu bước vào cuộc suy tư ấy với một xác tín sâu xa: mỗi người đều đáng được tôn trọng, kể cả khi họ không đem lại lợi ích, không có tiếng nói và không thể tự bảo vệ mình.
Một xã hội có thể đo rất chính xác năng suất làm việc mà vẫn không biết cách đón nhận một người già chậm chạp. Có thể đầu tư những hệ thống hiện đại mà vẫn để người nghèo lạc lõng trước cánh cửa cần được giúp đỡ. Có thể tổ chức mọi thứ rất nhanh mà khiến ai cũng mệt mỏi vì không còn thời gian ở bên nhau. Những điều ấy không phải lỗi của tri thức. Chúng cho thấy tri thức cần được đặt trong một đời sống có lương tâm. Khi một người chỉ hỏi làm sao để có thêm mà không hỏi mình đang trở thành người thế nào, thành công dễ biến thành một cuộc chạy không có điểm nghỉ. Người ấy có thể đi rất xa trong nghề nghiệp nhưng lại xa dần vợ con, cha mẹ và chính tâm hồn mình.
Bởi vậy, khi người Công giáo tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành, lời tuyên xưng ấy phải đi vào cách sống. Tôi đón nhận sự sống như một hồng ân hay xem nó như tài sản tuyệt đối của mình? Tôi coi tha nhân là anh chị em hay như những người có thể sử dụng rồi bỏ lại? Tôi có biết quý trọng đất đai, nguồn nước và những gì nuôi sống con người hay chỉ tìm cách lấy được nhiều nhất? Một bài suy niệm về vũ trụ sẽ thiếu sức nặng nếu người đọc nó vẫn thản nhiên đối xử tàn nhẫn với người giúp việc. Một lời ca ngợi vẻ đẹp tạo thành sẽ trở nên xa lạ nếu ta không quan tâm đến những điều rất gần: bữa ăn của người nghèo, công việc của người lao động, chỗ ở của một gia đình đang khó khăn.
Có người hỏi: nếu khoa học ngày càng giải thích được nhiều điều, liệu con người có còn cần Thiên Chúa không? Câu hỏi ấy đáng được đón nhận nghiêm túc, vì nó giúp chúng ta nhận ra mình đang hình dung Thiên Chúa thế nào. Nếu chỉ nhớ đến Chúa khi gặp một hiện tượng chưa giải thích được, ta sẽ dễ bất an trước mỗi khám phá mới. Khi ấy, ta đã đặt Chúa vào phần thiếu hụt trong kiến thức của mình. Đức tin Công giáo tuyên xưng một điều sâu xa hơn: mọi hữu thể thụ tạo đều nhận sự hiện hữu từ Thiên Chúa. Thế giới có những quy luật và những tiến trình riêng; chính thế giới ấy, với tất cả những gì khoa học có thể khám phá, vẫn là công trình tạo dựng. Việc hiểu thêm một tiến trình tự nhiên không tự nó giải quyết hay loại bỏ câu hỏi về nền tảng hiện hữu của toàn thể thực tại.
Một hình ảnh gần gũi có thể giúp suy nghĩ, dù mọi hình ảnh đều có giới hạn. Khi hiểu hơn về cách một bản nhạc được cấu trúc, người nghe không vì thế mà hết khả năng xúc động trước nó. Khi biết một ngôi nhà được xây bằng vật liệu gì, ta vẫn còn có thể hỏi người ta đã dựng ngôi nhà ấy để làm gì và ai đang được sống dưới mái nhà đó. Tuy nhiên, Thiên Chúa còn vượt xa những so sánh ấy. Người không đứng cạnh vũ trụ như một vật thể lớn hơn đứng bên những vật thể nhỏ hơn. Người cũng không phải một mắt xích để thêm vào chuỗi các hiện tượng. Khi nói về Thiên Chúa, chúng ta cần giữ ý thức về sự siêu việt của Người, đồng thời nhớ rằng ngôn ngữ nhân loại luôn hữu hạn.
Điều này giúp người tín hữu bớt nóng lòng đòi một công thức khoa học phải mang trọn sức nặng của một lời tuyên xưng đức tin. Một công thức có giá trị trong phạm vi nó diễn tả. Một mô hình cần được thẩm định theo những tiêu chuẩn thích hợp với nó. Lời cầu nguyện, sự hoán cải, niềm tin vào Đức Kitô và việc gắn bó với Người lại đòi một sự đáp trả của toàn thể con người. Đời sống đức tin bao gồm lý trí, nhưng còn có tự do, ký ức, lương tâm, tình yêu và ân sủng. Không ai có thể yêu mến Thiên Chúa thay cho người khác. Không ai có thể dùng một cuộc tranh luận để làm thay hành vi phó thác của một tâm hồn.
Trong lịch sử, hình ảnh linh mục Georges Lemaître đem lại một gợi mở đáng quý. Ngài là linh mục Công giáo người Bỉ, đồng thời là nhà nghiên cứu có những đóng góp quan trọng cho vũ trụ học và việc hiểu một vũ trụ đang giãn nở. Đời sống ấy cho thấy một con người có thể tận tụy với công việc khoa học và trung thành với ơn gọi linh mục. Điều đáng suy nghĩ ở đây không phải là dùng chức linh mục để bảo đảm cho một kết luận vật lý, hoặc lấy thành tựu vật lý thay cho việc loan báo Tin Mừng. Chính sự nghiêm túc trong từng lãnh vực giúp chúng ta nhận ra khả năng sống hài hòa giữa nghiên cứu và cầu nguyện. Vatican Observatory
Ta có thể hình dung vẻ đẹp của một ngày sống như thế: có giờ dành cho những phương trình khó, có giờ dành cho thinh lặng trước mặt Chúa; có những vấn đề cần tranh luận bằng lý lẽ, có những lúc cần cúi đầu đón nhận điều mình chưa hiểu. Người tín hữu làm khoa học không được phép cẩu thả trong chuyên môn vì mình có đức tin. Người ấy càng cần trung thực với dữ kiện, công bằng với đồng nghiệp, kiên nhẫn trước phản biện. Đồng thời, công việc bận rộn không làm mất nhu cầu nuôi dưỡng đời sống nội tâm. Một tâm hồn có thể rất thông minh mà vẫn cần được chữa lành khỏi tự ái, ghen tị và tham vọng. Những điều đó không tự biến mất khi bằng cấp tăng lên.
Chúng ta thường thích kể chuyện các nhà khoa học tin vào Chúa, nhưng có lẽ cũng cần hỏi: một người đã tin vào Chúa có sống lương thiện trong công việc của mình không? Người ấy có nhận công lao của đồng nghiệp không? Có sửa một kết quả sai dù việc sửa sai làm mình mất uy tín không? Có chấp nhận giới hạn trong điều mình biết không? Có vì tiền bạc, danh tiếng hay áp lực mà làm điều trái lương tâm không? Những câu hỏi ấy đưa đức tin ra khỏi khẩu hiệu. Một lời tuyên xưng chỉ thực sự trở thành chứng tá khi đi vào cách ta làm việc, dùng quyền, chia sẻ cơ hội và đối xử với người yếu thế hơn mình.
Vũ trụ có thể làm chúng ta ngỡ ngàng, nhưng sự ngỡ ngàng cần được giữ cho trong sáng. Khi đứng trước bầu trời đêm, người tín hữu có thể cảm thấy mình nhỏ bé. Cảm giác ấy đem lại bình an nếu nó giúp ta thoát khỏi việc xem mình là trung tâm của mọi sự. Tuy nhiên, nhỏ bé về kích thước không có nghĩa là vô giá trị. Đức tin đưa ta đến một xác tín rất an ủi: Thiên Chúa biết và yêu từng người. Một em bé không được ai nhắc đến, một cụ già không còn nhớ tên mình, một người lao động chỉ mong đủ tiền gửi về quê đều có phẩm giá không lệ thuộc vào mức độ nổi tiếng. Giữa một thế giới rộng lớn, ta vẫn được gọi bằng tên trong tương quan với Đấng yêu thương mình.
Người mẹ ngồi cạnh chiếc giường của đứa con đau yếu có thể chẳng biết nhiều về các vì sao. Nhưng lòng trung tín của chị là một điều rất lớn trong căn phòng nhỏ ấy. Một người cha âm thầm nhận phần thiệt để con được học hành có thể không để lại công trình nào được ghi danh. Tuy vậy, đời sống của ông có một trọng lượng mà bảng thành tích không diễn tả hết. Khi ta chỉ kính phục trí thông minh mà quên kính phục sự thiện, ta dễ đào tạo những người giỏi nhưng thiếu lòng thương. Một nền giáo dục có chiều sâu cần giúp người trẻ ham hiểu biết và biết sống tử tế, biết đặt câu hỏi và biết chịu trách nhiệm cho câu trả lời mình đã chọn.
Trong gia đình Công giáo, điều đó bắt đầu bằng cách người lớn nói chuyện với con cái. Khi một em nhỏ hỏi ai dựng nên Thiên Chúa, tại sao có đau khổ, tại sao cầu nguyện mà ông bà vẫn qua đời, người lớn có thể thấy lúng túng. Sự lúng túng ấy không đáng sợ bằng việc gạt câu hỏi đi. Ta có thể thành thật nói rằng đây là điều cần cùng nhau tìm hiểu. Có thể đọc lại giáo lý, tìm một người có khả năng hướng dẫn, dành thời gian nghe điều đứa trẻ thực sự đang băn khoăn. Đằng sau một câu hỏi về Thiên Chúa đôi khi là nỗi sợ mất người thân. Đằng sau một lời phản đối tôn giáo đôi khi là cảm giác bị tổn thương bởi cách cư xử của người có đạo. Chỉ nghe câu chữ thôi có thể khiến chúng ta trả lời sai chỗ.
Một người trẻ học khoa học không cần phải bị đặt trước lựa chọn đau đớn rằng muốn giữ đạo thì phải nghi ngờ việc học của mình. Em cần được dạy cách phân biệt một dữ kiện khoa học với cách diễn giải triết học về dữ kiện ấy; một câu hỏi còn bỏ ngỏ với một lời phủ nhận; một lý thuyết chuyên môn với một kết luận về ý nghĩa toàn bộ cuộc sống. Những phân biệt ấy đòi kiên nhẫn. Chúng giúp em bớt bị cuốn theo những lời khẳng định quá nhanh, dù lời ấy đến từ người chống đạo hay từ người bênh đạo. Đời sống đức tin trưởng thành được nuôi bằng Lời Chúa, bí tích, cầu nguyện, học hỏi và kinh nghiệm bác ái, chứ không thể chỉ dựa vào vài câu đối đáp để đem đi tranh luận.
Đọc Kinh Thánh cũng cần sự trưởng thành ấy. Khi bước vào sách Sáng Thế, người tín hữu được mời gọi lắng nghe lời mặc khải về Thiên Chúa, về con người và về tương quan của con người với tạo thành. Bản văn đưa ta đến một thế giới được đón nhận như quà tặng, một đời sống có trách nhiệm, một tự do có thể yêu mến cũng có thể khước từ tình yêu. Nếu chỉ chăm chăm tìm trong từng câu một lời giải trực tiếp cho những câu hỏi của vật lý học hoặc sinh học hiện đại, người đọc dễ bỏ qua điều bản văn đang muốn trao. Tôn trọng Kinh Thánh bao gồm việc đọc trong Hội Thánh, chú ý đến thể văn, bối cảnh và sự thống nhất của toàn bộ mặc khải.
Điều ấy không làm Lời Chúa bớt thánh thiêng. Trái lại, nó giúp ta thôi bắt Lời Chúa phải phục vụ những cuộc tranh luận không đúng với mục đích của bản văn. Chúng ta mở Kinh Thánh để được Thiên Chúa hướng dẫn, để nhận ra tội lỗi và lòng thương xót, để biết mình được mời gọi sống thế nào. Một người có thể thuộc nhiều câu Kinh Thánh nhưng vẫn dùng chúng để áp đảo người khác. Một cộng đoàn có thể nói rất nhiều về sự thật mà vẫn không cho ai được nói thật về những đau khổ đang xảy ra bên trong. Khi đó, điều cần thiết là trở về với thái độ của người môn đệ: để Lời Chúa xét mình trước khi dùng lời ấy xét người khác.
Cũng cần khiêm tốn nhìn nhận rằng người có đạo có thể hiểu sai, phán đoán sai và hành động sai. Sự thánh thiện của Thiên Chúa không làm mọi nhận định của chúng ta thành bất khả sai lầm. Một linh mục am hiểu thần học vẫn có thể không biết đủ về một vấn đề kỹ thuật. Một nhà khoa học có đức tin vẫn có thể thiếu khôn ngoan trong tương quan gia đình. Một giáo dân nhiệt thành vẫn có thể chia sẻ tin thất thiệt. Điều bảo vệ đời sống Hội Thánh là khả năng lắng nghe, phân định, sửa sai và chịu trách nhiệm. Khi biết nhận lỗi cách ngay thẳng, chúng ta không làm mất phẩm giá của đức tin; chúng ta cho thấy mình tin vào một Thiên Chúa yêu sự thật và mời gọi con người hoán cải.
Có những người lo rằng nhận một điều mình chưa biết sẽ làm người khác coi thường đạo. Nhưng một câu trả lời thành thật thường đáng tin hơn một lời quả quyết vượt quá khả năng. Người trẻ có thể chấp nhận việc người hướng dẫn chưa trả lời được ngay; điều làm họ thất vọng là thái độ không chịu tìm hiểu mà vẫn buộc người khác im lặng. Trong một cuộc đối thoại, câu nói “tôi cần đọc thêm” có thể mở ra một tương quan tốt. Nó cho thấy ta trân trọng câu hỏi. Nó cũng giúp người hỏi hiểu rằng đức tin không miễn trừ chúng ta khỏi lao nhọc của trí tuệ. Có những câu trả lời phải được học, được suy nghĩ, được cầu nguyện và được thử thách bằng đời sống.
Tuy nhiên, con người không sống chỉ bằng những câu trả lời đã sắp xếp gọn gàng. Có lúc một người hiểu khá rõ giáo lý mà vẫn không thể cầu nguyện. Có lúc người ấy biết các lý lẽ nói về Thiên Chúa nhưng lòng lại khô khan sau một biến cố đau buồn. Chúng ta cần nhìn nhận chiều sâu ấy của đức tin. Mất cảm xúc sốt sắng không đồng nghĩa với mất lòng trung thành. Một người vẫn đến nhà thờ trong đêm tối nội tâm, vẫn cố gắng không làm hại ai, vẫn thưa với Chúa một lời rất nhỏ có thể đang sống một đức tin đầy gian nan. Đối với họ, điều hữu ích đôi khi là một người ngồi bên cạnh, cùng đi một đoạn đường, cùng chịu đựng sự im lặng mà không vội giảng giải.
Nỗi đau là nơi những câu hỏi về Thiên Chúa trở nên rất thật. Trước một em bé qua đời, một người mẹ mắc bệnh nặng, một gia đình mất đi chỗ dựa, ta không thể chỉ đưa ra những hình ảnh đẹp về trật tự vũ trụ rồi nghĩ mình đã giải quyết mọi sự. Người đau khổ đang hỏi bằng cả thân phận của mình. Họ cần được tôn trọng trong nước mắt. Có những lời đúng về mặt khái niệm nhưng nói không đúng lúc sẽ trở thành lạnh lùng. Có những người đã thôi đến nhà thờ vì trong giờ yếu đuối nhất, họ gặp sự phán xét thay vì được nâng đỡ. Người môn đệ Đức Kitô cần học sự hiện diện biết thương xót, biết rằng mình không có quyền giải thích cặn kẽ mọi đau khổ của người khác.
Đức tin Công giáo đưa chúng ta đến với Đức Giêsu Kitô, Đấng đã bước vào lịch sử con người và chịu khổ nạn. Trên thập giá, Người ở trong tận cùng của sự bị bỏ rơi, nhục nhã và đau đớn. Vì thế, người đau khổ có thể đến với Người mà không phải giả vờ mạnh mẽ. Họ có thể khóc, có thể hỏi, có thể thưa rằng mình không hiểu. Lời cầu nguyện không đòi một tâm trạng luôn sáng sủa. Đôi khi nó chỉ còn là việc không buông bàn tay Chúa giữa lúc chẳng cảm thấy bàn tay ấy. Sự phục sinh của Đức Kitô là nền tảng của niềm hy vọng Kitô giáo: tình yêu cứu độ của Thiên Chúa mở ra một tương lai vượt quá sự chết.
Niềm hy vọng ấy khác với mong muốn tránh được mọi tổn thương trong đời. Người có đức tin vẫn phải già đi, vẫn có thể thất bại, vẫn chịu những giới hạn chung của thân phận. Khi cầu xin, chúng ta được phép trình bày những ước mong cụ thể nhất của mình. Nhưng lời cầu xin dần đưa chúng ta vào một tương quan sâu hơn, nơi ta học yêu mến Thiên Chúa ngay cả khi điều mình mong chưa thành. Đây là một bài học khó. Không ai nên nói về nó như thể chỉ cần một vài lời khuyên là người đang đau sẽ bình an. Có khi phải đi qua nhiều năm, nhiều lần trở lại với bí tích Hòa giải, nhiều giờ thinh lặng, nhiều sự nâng đỡ của cộng đoàn, người ấy mới có thể thưa một lời phó thác bớt nghẹn ngào.
Khoa học có thể giúp con người đối diện nhiều vấn đề của thân xác và đời sống, nhưng câu hỏi tôi phải yêu thương thế nào vẫn đòi một quyết định của lương tâm. Không một thiết bị nào có thể tha thứ thay tôi. Không một kết quả phân tích nào có thể làm thay việc tôi đến xin lỗi người mình đã làm tổn thương. Tôi có thể đọc về tâm lý, học kỹ năng giao tiếp, hiểu cơ chế của cơn giận; tất cả đều hữu ích. Nhưng rồi sẽ đến lúc tôi phải chọn có buông lời xúc phạm hay không, có trả lại điều đã lấy hay không, có chấp nhận phần thiệt để giữ sự công bằng hay không. Tại đó, đời sống thiêng liêng bước vào những điều rất cụ thể, nơi ân sủng được đón nhận bằng hành động tự do.
Người ta có thể say mê câu hỏi vũ trụ bắt đầu thế nào mà quên hỏi buổi sáng của mình bắt đầu bằng điều gì. Tôi thức dậy với lòng biết ơn hay với cơn khó chịu dành sẵn cho người thân? Tôi bước vào công việc để phục vụ hay chỉ để hơn thua? Tôi có sẵn sàng nghe người khác nói hết một câu không? Những câu hỏi nhỏ này không có vẻ huy hoàng, nhưng chúng định hình đời người. Một đời sống được thánh hóa thường lớn lên qua những việc rất bình thường: một lời nói được giữ lại để không làm đau, một khoản tiền được trả cho công bằng, một lần dám nhận lỗi, một buổi tối tắt điện thoại để ngồi với con.
Thành tựu kỹ thuật càng lớn, những chọn lựa ấy càng cần được chăm sóc. Chúng ta có thêm khả năng tác động lên đời sống người khác, nên cũng có thêm trách nhiệm. Một lời nói trước kia chỉ đến tai vài người, nay có thể được chuyển đi rất xa. Một hình ảnh bị hiểu sai có thể làm tổn thương danh dự người khác trong thời gian rất ngắn. Một nhận định hấp tấp có thể khiến cả gia đình phải chịu điều tiếng. Người Công giáo không thể xem việc chia sẻ thông tin là một hành động vô can. Trước khi bấm gửi, cần hỏi điều này có thật không, tôi có quyền phổ biến không, nó có làm hại một người cách bất công không. Có những lúc giữ im lặng để kiểm chứng là một việc bác ái.
Ngay cả khi muốn bênh vực đạo, chúng ta vẫn phải giữ đức bác ái. Sự nóng giận không trở thành thánh thiện chỉ vì nó xuất hiện dưới một bài viết tôn giáo. Một lời sỉ nhục người vô thần không được biến thành lời rao giảng chỉ vì người viết thêm tên Chúa vào đó. Tin Mừng đòi chúng ta nhìn người đối thoại như một con người được yêu thương. Có thể phản biện mạnh mẽ một quan điểm mà vẫn không khinh miệt người đang giữ quan điểm ấy. Có thể thừa nhận một điểm đúng nơi người khác mà không phản bội đức tin của mình. Lòng bình an này cần được nuôi bằng cầu nguyện, bởi tự ái rất dễ khoác áo nhiệt thành.
Cũng cần nhớ rằng lòng tốt không phải đặc quyền của người có đạo. Chúng ta có thể gặp những người chưa tin vào Thiên Chúa nhưng rất tận tâm, công bằng, trung thực và quảng đại. Sự gặp gỡ ấy nên giúp người tín hữu biết tạ ơn và xét mình. Tôi đã được nghe Tin Mừng, được lãnh nhận các bí tích, được nâng đỡ bởi đời sống Hội Thánh; vậy tôi có sống xứng với những hồng ân ấy không? Một người chưa chia sẻ đức tin mà vẫn chăm sóc cha mẹ cách tận tụy có thể làm tôi nhận ra sự hờ hững của mình. Một đồng nghiệp không có tôn giáo nhưng không chịu làm điều gian dối có thể nhắc tôi nhớ điều mình vẫn đọc trong kinh nguyện mà chưa thực hành.
Đó là lý do đức tin phải đưa ta đến hoán cải. Nếu ta chỉ dùng đức tin để giải thích nguồn gốc vũ trụ mà không để Chúa đụng đến cách mình sử dụng tiền bạc, quyền lực và lời nói, ta đã giữ một khoảng cách rất lớn giữa điều tuyên xưng và đời sống. Ta có thể thích nói Thiên Chúa toàn năng vì điều ấy làm ta thấy an toàn. Nhưng khi Thiên Chúa mời ta tha thứ, sống trong sạch, trả lại công bằng, từ bỏ một lợi ích bất chính, ta lại tìm cách trì hoãn. Vấn đề khi ấy không nằm ở sự thiếu hiểu biết về các vì sao. Nó nằm trong một trái tim chưa muốn được đổi mới.
Có khi con người nói mình không thể tin vì chưa đủ bằng chứng, và đó có thể là một thao thức thành thật cần được tôn trọng. Nhưng người đã tin cũng nên hỏi liệu có lúc mình tránh cầu nguyện vì không muốn nghe điều lương tâm đang nhắc. Một người có thể dành hàng giờ tranh luận về Thiên Chúa mà không dành được vài phút để thưa chuyện với Người. Có thể viết rất nhiều về tình yêu mà không chịu làm hòa với anh em. Có thể ca ngợi sự kỳ diệu của tạo thành mà vẫn cố giữ một mối thù nhỏ trong lòng. Những nghịch lý ấy mời chúng ta bớt chăm chú vào phần sai của người khác để trở về với căn phòng nội tâm của mình.
Trong căn phòng đó, thinh lặng có một giá trị đặc biệt. Chúng ta đang quen với việc luôn có điều gì đó để đọc, để nghe, để nhìn. Một khoảng trống ngắn cũng có thể khiến ta vội tìm điện thoại. Nhưng khi tiếng ồn tạm lắng, nhiều điều bị che khuất bắt đầu hiện ra: sự mệt mỏi chưa được nhận diện, một nỗi buồn bị gác lại, cảm giác có lỗi, lòng biết ơn, nhu cầu được yêu. Cầu nguyện đưa những điều ấy đến trước mặt Chúa. Ta không cần trình diễn một tâm hồn gọn gàng. Có thể bắt đầu bằng một lời rất thật: lạy Chúa, con đang rối, con đang sợ, con đang giận, con chưa biết phải làm sao.
Cầu nguyện như thế giúp người tín hữu sống giữa thế giới bằng một sự hiện diện khác. Khi được nhắc rằng mình là thụ tạo, ta bớt ảo tưởng phải kiểm soát tất cả. Khi biết mình được yêu, ta bớt lệ thuộc vào lời khen. Khi nhận ra mình cần được tha thứ, ta có thể dịu lại với lỗi lầm của người khác. Điều ấy không làm công việc dễ hơn ngay lập tức, nhưng có thể thay đổi cách ta làm việc. Ta biết nghỉ khi cần, biết xin giúp đỡ, biết nhận một giới hạn mà không coi đó là sự hủy hoại phẩm giá. Một người luôn muốn mình bất khả thay thế thường làm khổ cả bản thân lẫn những người sống bên cạnh.
Đối với linh mục và tu sĩ, thao thức về đức tin và khoa học cũng đặt ra một trách nhiệm học hỏi. Người mục tử không cần biết mọi ngành, nhưng cần biết mình đang không biết điều gì. Khi gặp một vấn đề chuyên môn, sự khôn ngoan bao gồm việc tham khảo người có khả năng. Khi giảng, cần phân biệt giáo huấn của Hội Thánh với suy nghĩ cá nhân, một sự kiện đã xác minh với một câu chuyện minh họa. Uy tín của thừa tác vụ càng lớn thì lời nói càng cần được giữ gìn. Có những người nghe một câu trên bục giảng rồi mang câu ấy vào quyết định rất quan trọng của đời mình. Sự cẩn trọng ở đây là một hình thức chăm sóc đoàn chiên.
Đồng thời, người mục tử cần nhớ rằng học thức chỉ sinh hoa trái mục vụ khi đi cùng lòng thương. Một câu trả lời chính xác mà thiếu sự cảm thông có thể khiến người hỏi ngại trở lại. Một bài giảng nhiều kiến thức nhưng không chạm đến đời sống có thể để người nghe vẫn cô đơn trong vấn đề của họ. Người cha đang thất nghiệp, người mẹ có đứa con lạc hướng, người trẻ mất niềm tin sau một tổn thương cần được nghe Tin Mừng trong hoàn cảnh thật của mình. Họ cần biết Thiên Chúa có chỗ cho họ, cộng đoàn có thể nâng đỡ họ, và đời sống họ vẫn có giá trị ngay cả trong lúc mọi dự tính bị đổ vỡ.
Khoa học và việc học nói chung cũng có thể dạy người làm mục vụ sự kiên nhẫn với tiến trình. Có những điều không thể làm vội. Một con người cần thời gian để hiểu, để tin tưởng, để thay đổi thói quen. Không phải ai nghe một bài giảng cũng lập tức hoán cải. Không phải ai được nhắc một lần cũng đủ sức vượt qua một yếu đuối đã kéo dài nhiều năm. Chúng ta cần phân định để vừa nói sự thật vừa không đè gãy người đang chật vật. Ân sủng Thiên Chúa có thể hoạt động trong những bước rất nhỏ: một người chịu quay lại trò chuyện, một gia đình bắt đầu dùng bữa chung, một người trẻ dám nói thật về nỗi sợ của mình.
Đời sống bí tích nuôi dưỡng tiến trình ấy. Trong bí tích Hòa giải, người tín hữu đem đến trước lòng thương xót của Chúa những điều không thể giải quyết bằng việc tạo một hình ảnh tốt về bản thân. Tội lỗi cần được gọi tên, được thống hối và được chữa lành trong tương quan với Thiên Chúa. Trong Thánh Thể, chúng ta được kết hợp với Đức Kitô, Đấng hiến mình vì nhân loại. Khi tham dự Thánh lễ, con người mang đến cả công việc, mồ hôi, thất bại, lòng biết ơn và những người mình đang yêu thương. Đời sống đức tin nhờ đó không bị thu lại thành những ý tưởng ở ngoài cuộc sống; nó đi vào thời gian, thân xác và những bổn phận hằng ngày.
Có một vẻ đẹp rất Công giáo trong việc người kỹ sư, người nông dân, người giáo viên và người nội trợ cùng quỳ trong một nhà thờ. Mỗi người biết một phần khác nhau của thế giới, mang một nỗi nhọc nhằn khác nhau, nhưng đều cần lòng thương xót. Người có nhiều bằng cấp không vì thế mà có thể tự tha tội cho mình. Người ít học không vì thế mà bị đặt xa tình yêu Thiên Chúa. Trước bàn thờ, phẩm giá của chúng ta được nhìn trong một ánh sáng sâu hơn địa vị xã hội. Từ nơi ấy, chúng ta được sai trở lại công việc để sống trung tín hơn, công bằng hơn và biết quan tâm hơn đến những người chưa được ai để ý.
Điều đó cũng soi sáng cách người tín hữu nhìn lao động. Một ngày làm việc lương thiện có thể trở thành lời cầu nguyện bằng hành động. Người thợ sửa một thiết bị cho cẩn thận, người kế toán không làm sai số liệu, người giáo viên không bỏ mặc học sinh yếu, người nghiên cứu không bóp méo kết quả đều đang tôn trọng sự thật trong phần việc của mình. Sự thánh thiện có thể lớn lên ngay ở đó. Không cần đợi đến lúc bước vào nhà thờ ta mới có cơ hội sống trước mặt Chúa. Bàn làm việc, căn bếp, lớp học và mảnh vườn đều có thể trở thành nơi con người học yêu mến bằng việc chu toàn bổn phận.
Tuy nhiên, cũng có những ngày công việc không đem lại kết quả mong muốn. Người nghiên cứu có thể phải bỏ một hướng đã theo rất lâu. Người làm ăn có thể thất bại dù đã cố gắng ngay thẳng. Người cha có thể hy sinh mà chưa thấy con hiểu. Người mục tử có thể tận tụy mà vẫn bị hiểu lầm. Những lúc đó, câu hỏi về giá trị bản thân trở nên gay gắt. Nếu chỉ đo đời mình bằng thành quả nhìn thấy, ta dễ rơi vào tuyệt vọng. Đức tin nhắc rằng ta còn có giá trị trong tương quan với Thiên Chúa, và lòng trung thành âm thầm không trở thành vô nghĩa chỉ vì chưa được ghi nhận. Điều ấy giúp con người đứng dậy mà không cần tự lừa mình rằng mọi thất bại đều dễ chịu.
Một trong những cám dỗ lớn của thời đại là muốn sự chắc chắn ngay lập tức. Ta quen tìm câu trả lời nhanh, kết quả nhanh, giải pháp nhanh. Nhưng có những điều quan trọng chỉ được hiểu dần trong một đời sống. Tha thứ là như thế. Sống đời hôn nhân là như thế. Ơn gọi linh mục, tu sĩ cũng là như thế. Đức tin vào Thiên Chúa cần được đào sâu qua những giai đoạn mà hôm nay ta chưa hình dung hết. Một lời kinh thời thơ ấu có thể được đọc lại với ý nghĩa rất khác sau khi đã chịu mất mát. Một câu Tin Mừng từng nghe quen tai có thể trở nên nhức nhối khi ta nhận ra chính mình là người cần hoán cải.
Bởi vậy, đừng coi những câu hỏi mới xuất hiện là dấu hiệu rằng mọi điều cũ đã sụp đổ. Có khi chúng cho thấy đời sống đức tin đang được mời gọi trưởng thành. Người ta có thể rời khỏi một hình dung đơn giản về Thiên Chúa để bước vào tương quan sâu hơn với Người. Tuy nhiên, giai đoạn ấy cần được đồng hành, vì con người có thể rất dễ tổn thương khi điều quen thuộc không còn đủ nâng đỡ. Một cộng đoàn biết đón nhận những người đang tìm kiếm sẽ không vội dán nhãn. Cộng đoàn ấy có chỗ cho sự học hỏi, cho cuộc đối thoại bình tĩnh, cho một người ngồi cuối nhà thờ mà chưa biết phải cầu nguyện ra sao.
Khi nói về lý trí, chúng ta cũng cần nói đến lương tâm. Con người có thể rất giỏi tìm lý do để bảo vệ điều mình muốn làm. Khả năng suy luận đôi khi bị dùng để che đậy ích kỷ. Ta có thể giải thích dài dòng cho việc không giúp ai, trong khi sự thật đơn giản là mình không muốn chịu bất tiện. Có thể nêu nhiều lý lẽ để giữ một đặc quyền, trong khi biết rõ người khác đang bị thiệt. Có thể dùng kiến thức tôn giáo để tránh một lời xin lỗi. Vì thế, việc tìm kiếm chân lý cần đi cùng sự thanh luyện nội tâm. Một trí óc sáng vẫn cần một trái tim ngay thẳng, và sự ngay thẳng ấy phải được tập bằng những lựa chọn nhỏ.
Người tin vào Thiên Chúa nên tập sống với câu hỏi: điều gì đang thực sự điều khiển tôi? Là tình yêu, hay nỗi sợ bị xem thường? Là lòng phục vụ, hay nhu cầu được coi là quan trọng? Là ước muốn tìm sự thật, hay ý định thắng người đối thoại? Cùng một hành động bên ngoài có thể phát xuất từ những động cơ rất khác. Một người đọc sách để học hỏi; người khác đọc chỉ để tìm câu trích dẫn làm đối phương im tiếng. Một người cầu nguyện để mở lòng cho ý Chúa; người khác muốn Chúa xác nhận mọi điều mình đã quyết. Việc xét mình giúp ta nhận ra những chỗ lệch ấy trước khi chúng trở thành thói quen.
Có lẽ sự khiêm tốn là một điểm gặp rất đẹp giữa đời sống trí tuệ và đời sống thiêng liêng. Người học sâu thường nhận ra còn nhiều điều mình chưa biết. Người cầu nguyện sâu nhận ra mình còn cần lòng thương xót biết bao. Cả hai kinh nghiệm đều có thể làm con người dịu lại, bớt tự mãn, sẵn sàng lắng nghe. Nhưng sự khiêm tốn chân thật không phải là tự hạ nhục mình hay phủ nhận tài năng. Ta có thể nhận một khả năng Chúa ban và dùng nó hết sức. Khiêm tốn là biết tài năng ấy không làm mình có quyền khinh người, và thành quả ấy vẫn gắn với bao người đã dạy dỗ, nâng đỡ, lao động trước mình.
Nhìn như vậy, một thành tựu khoa học có thể trở thành dịp tạ ơn rộng lớn. Ta biết ơn người đã kiên trì nghiên cứu, những người cộng tác, những người làm các công việc ít được nhắc đến, những gia đình đã nâng đỡ họ. Người tín hữu còn hướng lòng biết ơn lên Thiên Chúa, Đấng là nguồn mọi điều thiện hảo. Lời tạ ơn này có thể làm ta bớt tiêu dùng thành quả của người khác cách vô tâm. Một viên thuốc, một nguồn nước sạch, một công cụ giúp người khuyết tật, một phương tiện đưa người xa quê về nhà đều nhắc rằng đời sống chúng ta đan vào công sức của biết bao người.
Từ lòng biết ơn ấy, ta học trách nhiệm với những thế hệ đến sau. Thế giới không bắt đầu khi ta sinh ra và không chấm dứt khi ta qua đời. Ta đang nhận một gia sản để gìn giữ và trao lại. Điều này rất gần với ý thức quản lý trong đời sống Kitô hữu: những gì được trao không chỉ để mình hưởng thụ. Một cộng đoàn biết nghĩ đến tương lai sẽ chăm lo giáo dục, nâng đỡ người trẻ học hành, tạo điều kiện cho người có khả năng phục vụ, giữ gìn những gì nuôi sống con người. Lòng đạo được thể hiện cả trong việc làm bền bỉ ấy, dù nó không gây xúc động mạnh như một câu chuyện lạ.
Trong thời đại có nhiều công cụ hỗ trợ suy nghĩ và tạo nội dung, trách nhiệm cá nhân càng không thể bị bỏ quên. Người sử dụng vẫn phải đọc, kiểm tra, cân nhắc và chịu trách nhiệm về điều mình đưa đến người khác. Một bản văn nghe trôi chảy có thể chứa sai sót. Một hình ảnh có vẻ chân thực chưa chắc phản ánh một sự kiện đã xảy ra. Một câu trả lời tự tin vẫn có thể không đúng. Người làm mục vụ cần đặc biệt giữ sự tỉnh thức này, vì lời nói của mình gắn với niềm tin của cộng đoàn. Sự thuận tiện rất quý, nhưng nó cần đi cùng công việc phân định mà không công cụ nào có thể làm thay hoàn toàn cho lương tâm con người.
Cũng đừng để những phương tiện ấy chiếm hết khoảng sống dành cho tương quan thật. Một người đang buồn cần một khuôn mặt biết lắng nghe. Một đứa trẻ cần người lớn hiện diện đủ lâu để nhận ra điều nó chưa nói. Một người già cần được đợi chờ khi kể chậm. Một cộng đoàn cần những người chịu đến thăm, chịu ở lại sau giờ sinh hoạt, chịu làm những việc không xuất hiện trong bản báo cáo. Ta có thể có rất nhiều nội dung về bác ái mà đời sống bác ái vẫn nghèo. Có thể sản xuất nhiều lời suy niệm mà chính mình ít dành thời gian suy niệm. Đây là một lời nhắc dành cho mỗi người đang phục vụ bằng ngôn từ.
Sau cùng, câu hỏi về Thiên Chúa sẽ chạm đến câu hỏi về cái chết. Con người có thể đi qua nhiều thành tựu mà vẫn phải đối diện ngày cuối đời. Khi ấy, những điều từng làm mình bận tâm có thể đổi vị trí. Một cuộc hơn thua trở nên nhỏ lại. Một lời chưa kịp xin lỗi trở nên nặng hơn. Một người thân lâu ngày không gặp trở thành điều mong ước. Đức tin mời chúng ta tập nhìn đời từ chân trời ấy ngay khi còn có thể lựa chọn. Không phải để sợ sống, nhưng để sống có thứ tự hơn: dành thời gian cho người cần mình, làm điều phải khi còn làm được, trở về với Chúa khi lòng vẫn đang được Người đánh động.
Chuẩn bị cho cái chết bao gồm việc chăm sóc thân xác và sắp xếp trách nhiệm, nhưng còn là công việc của tâm hồn. Có những món nợ công bằng cần được giải quyết, những hiềm khích cần tìm đường hòa giải, những thói quen cần từ bỏ. Người tín hữu được mời gọi sống trong ân nghĩa Chúa, siêng năng đón nhận các bí tích và thực hành bác ái. Ta không thể tự cứu mình bằng thành tích, cũng không thể dùng một vài hành vi đạo đức để mua sự sống đời đời. Ơn cứu độ là hồng ân Thiên Chúa ban trong Đức Kitô; lòng tin chân thật mở con người ra để đón nhận hồng ân ấy và để cho tình yêu Người biến đổi đời mình.
Một ngày kia, chúng ta sẽ không mang theo những thiết bị mình từng sở hữu. Những tài khoản, danh hiệu và lời tán thưởng không thể thay mình bước vào cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Nhưng hôm nay, chính trong những công việc gắn với chúng, ta có thể học yêu thương hoặc tập ích kỷ. Ta có thể dùng hiểu biết để nâng người khác lên hoặc để khiến họ thấy thấp kém. Có thể dùng khả năng để phục vụ hoặc thao túng. Có thể dùng thời gian để chăm sóc một tương quan hoặc để trì hoãn mãi một việc cần làm. Sự vĩnh cửu bắt đầu được chuẩn bị trong những chọn lựa hết sức cụ thể như vậy.
Vì thế, đừng sợ học nhiều. Hãy học với lòng trung thực. Đừng sợ những câu hỏi khó. Hãy tìm câu trả lời với sự kiên nhẫn và tinh thần đối thoại. Đừng ngại nhận ra giới hạn của mình. Nhờ biết giới hạn, ta học cộng tác và biết cần đến nhau. Khi đứng trước một khám phá, hãy để mình được thán phục. Khi đứng trước một người đau khổ, hãy để mình được đánh động. Khi đứng trước sai lầm của bản thân, hãy để mình được hoán cải. Những điều ấy giúp tri thức trở thành một phần của đời sống nhân bản và giúp đức tin sinh hoa trái trong bác ái.
Người Công giáo có thể bước vào phòng thí nghiệm với tinh thần nghiêm túc, bước vào thư viện với lòng ham học, bước vào bệnh viện với sự tôn trọng chuyên môn, và bước vào nhà thờ với lòng khiêm cung. Trong tất cả những nơi ấy, chúng ta vẫn là cùng một con người được mời gọi sống trước mặt Thiên Chúa. Không cần khoác một bộ mặt đạo đức để che sự thiếu hiểu biết, cũng không cần dùng học thức để che nỗi nghèo nàn nội tâm. Ta có thể đến với Chúa bằng con người thật, mang cả tài năng lẫn yếu đuối, cả điều đã hiểu lẫn điều còn thao thức, và xin Người dạy mình sử dụng mọi khả năng cho điều thiện.
Có lẽ đến một lúc, sau bao cuộc tranh luận, điều còn ở lại trong lòng người khác sẽ là cách ta đã đối xử với họ. Họ có thể không nhớ hết lý lẽ ta trình bày về vũ trụ, nhưng nhớ rằng ta đã không khinh họ khi họ chưa tin. Không nhớ tên những người nổi tiếng ta từng viện dẫn, nhưng nhớ rằng ta đã ở bên gia đình họ trong một đêm khó khăn. Không nhớ những thuật ngữ ta dùng, nhưng nhớ một lời xin lỗi chân thành. Chứng tá ấy không thay thế việc học hỏi và giảng dạy; nó làm cho lời giảng có một thân xác, một khuôn mặt và một chỗ đứng đáng tin trong đời sống.
Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, chúng con tạ ơn Cha vì thế giới được trao cho chúng con tìm hiểu, gìn giữ và yêu mến. Chúng con tạ ơn Cha vì ánh sáng của lý trí, vì khả năng học hỏi, vì công sức của biết bao người đã làm cho đời sống nhân loại được chăm sóc tốt hơn. Xin ban cho những người nghiên cứu lòng trung thực và sức bền. Xin nâng đỡ những người đang miệt mài tìm một giải pháp có thể làm vơi đau khổ của tha nhân. Xin cho mọi người có trách nhiệm biết đặt phẩm giá con người vào trong những quyết định của mình, nhất là phẩm giá của người nghèo, người yếu và người không có khả năng tự lên tiếng.
Lạy Chúa, xin chữa chúng con khỏi thói kiêu ngạo khi biết được một chút mà tưởng mình đã hiểu tất cả. Xin cũng chữa chúng con khỏi sự lười biếng núp dưới những lời đạo đức, khiến chúng con không chịu học, không chịu kiểm chứng, không chịu nhận sai. Xin cho chúng con biết nói điều mình hiểu với lòng khiêm tốn, biết nhận điều mình chưa biết với sự bình an, biết đón nhận một câu hỏi mà không xem người hỏi là kẻ thù. Xin giữ lời nói chúng con khỏi sự cay nghiệt, nhất là khi chúng con đang nghĩ mình có bổn phận bênh vực danh Chúa.
Lạy Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, xin đưa việc tìm kiếm chân lý của chúng con vào trong tương quan sống động với Chúa. Xin cho chúng con đọc Tin Mừng bằng một tâm hồn sẵn sàng được sửa dạy. Xin đừng để chúng con chỉ tìm trong Lời Chúa những câu làm mình có lý, nhưng biết nghe cả những lời đang mời mình từ bỏ, tha thứ và phục vụ. Khi chúng con gặp người chưa tin, xin cho chúng con biết kính trọng. Khi gặp người đang mất hy vọng, xin cho chúng con biết ở lại. Khi gặp người đã bị tổn thương bởi cách sống của người có đạo, xin cho chúng con có đủ khiêm tốn để lắng nghe và đủ can đảm để góp phần chữa lành.
Xin dạy chúng con sống đức tin trong gia đình. Cho người cha biết trở về nhà với sự hiện diện thật. Cho người mẹ được nâng đỡ trong những nhọc nhằn ít ai nhìn thấy. Cho con cái được hỏi, được học và được lớn lên trong một bầu khí không sợ hãi. Cho những người già được đón nhận với lòng kiên nhẫn. Xin cho mái nhà của chúng con có chỗ cho lời cầu nguyện, cho một bữa ăn không vội, cho một lời cảm ơn và một lời xin lỗi. Giữa bao phương tiện kết nối, xin đừng để chúng con sống xa những người đang ở gần mình nhất.
Lạy Chúa, khi chúng con đau yếu, xin giúp chúng con đón nhận sự chăm sóc với lòng biết ơn. Khi điều trị đem lại kết quả tốt, xin cho chúng con biết tạ ơn và sống có trách nhiệm với sự sống được gìn giữ. Khi bệnh tật kéo dài, xin đừng để chúng con cô độc trong nỗi sợ. Khi không còn làm được điều mình từng làm, xin nhắc chúng con rằng mình vẫn được yêu. Khi đứng bên người sắp qua đời, xin dạy chúng con hiện diện dịu dàng, biết cầu nguyện, biết nâng đỡ và biết im lặng trước mầu nhiệm mà chúng con không thể nắm trọn.
Xin cho trí tuệ chúng con được soi sáng và lương tâm chúng con được ngay thẳng. Cho đôi tay biết làm việc, đôi mắt biết nhận ra người đang cần giúp, và trái tim còn khả năng rung động trước nỗi đau của anh chị em. Xin cho những gì chúng con học được trở thành điều hữu ích; những gì chúng con có trở thành phương tiện phục vụ; những năm tháng còn lại trở thành thời gian yêu mến. Và khi chúng con ngước nhìn bầu trời rộng lớn, xin cho lòng thán phục ấy đi theo chúng con trở về đời thường, để chúng con biết nâng niu một sự sống nhỏ bé, giữ một lời hứa và làm một việc lành không cần ai biết đến.
Lạy Cha, đến ngày trí nhớ chúng con mờ đi, những điều đã học không còn được gọi tên rõ ràng, xin giữ chúng con trong tình yêu của Cha. Khi bàn tay không còn đủ sức làm việc, xin cho chúng con vẫn biết mở lòng đón nhận. Khi giờ cuối cùng đến, xin cho chúng con được phó thác đời mình trong Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại vì chúng con. Sau một đời tìm hiểu công trình tạo dựng, xin dẫn chúng con vào niềm vui được gặp gỡ Cha; sau một đời được ban biết bao ân huệ, xin cho chúng con có thể thưa với Cha bằng tất cả lòng chân thành: con đã cố gắng đón nhận sự thật, đã tập yêu thương, và giờ đây con xin trở về trong lòng thương xót của Cha. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
