KHI XÃ HỘI KHÔNG CHỈ CÓ NGƯỜI “NGÁO ĐÁ” – Lm. Anmai, CSsR

3

XÃ HỘI KHÔNG CHỈ CÓ NGƯỜI “NGÁO ĐÁ”

Có những người đi ngoài đường, nói năng mất kiểm soát, làm những việc khiến người khác sợ hãi. Người ta nhìn thấy và bảo: “Ngáo đá.” Nhưng có những người ăn mặc chỉnh tề, ngồi trong phòng máy lạnh, nói chuyện bằng những lời rất sang, rất đúng quy trình, rất có vẻ hiểu biết, mà mỗi quyết định của họ vẫn làm bao người đau khổ. Có những người bước xuống từ xe sang, đứng trên bục cao, cầm bằng cấp danh giá, được đám đông vỗ tay, nhưng dường như đã đánh mất khả năng nhìn người khác như một con người. Họ không say vì một chất đưa vào cơ thể. Họ say vì chiếc ghế mình ngồi, số tiền mình có, những điều mình biết, tiếng tăm mình được hưởng, hay cảm giác lúc nào cũng phải nổi bật hơn người khác.

Đó cũng là một thứ “ngáo”. Nó âm thầm hơn, hợp thời hơn, và nhiều khi được xã hội khen thưởng.

Người ngáo quyền lực không nhất thiết phải có quyền lực lớn. Chỉ cần được giao giữ một con dấu, quản một nhóm nhỏ, làm trưởng một ban, đứng đầu một cơ quan, hoặc có quyền quyết định ai được bước qua một cánh cửa, họ đã bắt đầu đổi giọng. Hôm qua còn biết chào hỏi, hôm nay người khác phải chờ họ gật đầu. Hôm qua còn chịu nghe góp ý, hôm nay một lời góp ý cũng bị xem là chống đối. Hôm qua còn nhớ mình đã từng khổ sở ra sao khi phải đi xin một chữ ký, hôm nay lại để người khác đứng ngoài hành lang hàng giờ chỉ để chứng tỏ mình có thể bắt họ chờ.

Quyền lực vốn có thể là một trách nhiệm đẹp. Một người có quyền đúng nghĩa là người có thêm khả năng bảo vệ kẻ yếu, giải quyết điều bất công, làm cho công việc chung bớt nặng nhọc. Nhưng khi quyền lực đi vào một trái tim thiếu tỉnh táo, nó trở thành chiếc gương méo. Người ấy soi vào đó và thấy mình lớn hơn thực tế. Họ tưởng sự im lặng của cấp dưới là kính trọng, trong khi có thể chỉ là sợ hãi. Họ tưởng mọi tiếng “dạ” đều là đồng tình, trong khi nhiều người chỉ đang cố giữ việc làm, giữ miếng cơm, giữ một chút bình yên. Họ tưởng không ai phản đối nghĩa là mình luôn đúng. Thật ra, có khi mọi người đã mệt đến mức không muốn nói nữa.

Người ngáo quyền lực thường không nhận ra mình đang cô độc. Chung quanh họ càng đông, sự thật đến được với họ càng ít. Ai nói thật thì bị đẩy ra xa. Ai biết chiều ý thì được ở lại. Rồi một ngày, họ chỉ còn nghe tiếng vọng của chính mình qua miệng những người cần họ. Đó là lúc một con người có thể ra lệnh cho rất nhiều người mà không còn điều khiển nổi cái tôi của mình.

Có một kiểu say khác mang mùi nước hoa, da thuộc, đồ hiệu và những con số trong tài khoản: ngáo giàu sang. Tiền bạc tự nó không xấu. Làm ăn lương thiện, dành dụm cho gia đình, giúp con cái học hành, có điều kiện chữa bệnh cho cha mẹ, nâng đỡ người khó khăn: đó đều là những điều đáng quý. Nhưng từ lúc một người bắt đầu dùng tiền để đo phẩm giá, tiền không còn nằm trong ví nữa. Nó leo lên đầu, đi vào cách nhìn, đi vào giọng nói, đi vào cả cách người ấy đối xử với cha mẹ, bạn bè, người phục vụ và những người không có gì để đem lại lợi ích cho mình.

Có người vừa giàu lên đã không còn nhớ tên người bảo vệ mở cổng mỗi sáng. Có người có thể bỏ ra một khoản rất lớn cho một bữa tiệc, nhưng cau mày vì tiền công của người làm thuê. Có người sẵn sàng trả đắt để được người khác ngưỡng mộ, nhưng tính từng đồng khi giúp một người đang túng quẫn. Có người bước vào một cuộc gặp và trước khi hỏi “Anh sống thế nào?”, họ đã dò xem “Anh làm nghề gì, nhà ở đâu, đi xe gì?”. Nếu câu trả lời không đủ hào nhoáng, ánh mắt họ tắt đi.

Căn bệnh ấy làm người ta lầm tưởng rằng mọi thứ đều có giá, kể cả lòng trung thành, sự kính trọng và tình yêu. Họ có thể mua được một bàn tiệc đông người, nhưng không mua được một người bạn dám ở bên khi mình thất thế. Họ có thể xây ngôi nhà rất lớn, nhưng không chắc làm được một mái ấm mà ai cũng muốn trở về. Họ có thể trả tiền để có chỗ ngồi hàng đầu, nhưng không thể dùng tiền ép một đứa trẻ thật lòng muốn ngồi cạnh mình.

Ngáo giàu sang còn là nỗi sợ nghèo được che bằng vẻ kiêu hãnh. Nhiều người khinh người nghèo bởi sâu trong lòng họ kinh hãi ý nghĩ một ngày mình cũng có thể mất hết. Họ phải liên tục khoe, liên tục nâng cấp, liên tục chứng minh rằng mình “đã tới nơi”. Nhưng cái đích ấy cứ lùi xa. Người khác mua chiếc xe đẹp hơn, căn nhà rộng hơn, có mối quan hệ lớn hơn, thế là họ lại thấy mình thiếu. Một đời người có thể trôi qua trong cuộc đua ấy: rất nhiều thứ được mang về nhà, rất ít bình an được giữ lại.

Rồi đến ngáo trí thức. Đây là căn bệnh tinh vi, vì nó thường khoác chiếc áo mà ai cũng kính trọng: kiến thức. Học hỏi là điều tốt. Một xã hội cần người đọc nhiều, nghiên cứu sâu, suy nghĩ cẩn thận và dám đặt câu hỏi. Nhưng biết nhiều không bảo đảm rằng người ta đã hiểu đời; nói đúng một vấn đề không có nghĩa là biết thương một con người. Có người thuộc hàng trăm khái niệm về phẩm giá mà về nhà vẫn sỉ nhục vợ con. Có người giảng rất hay về sự lắng nghe nhưng chưa để ai nói hết một câu. Có người trích dẫn những tư tưởng lớn để thắng một cuộc tranh luận nhỏ, rồi vui mừng khi thấy đối phương bối rối.

Người ngáo trí thức không học để tìm sự thật nữa. Họ học để được đứng cao hơn. Mỗi cuộc trò chuyện trở thành một cuộc thi. Người khác vừa chia sẻ nỗi đau, họ đã vội sửa cách dùng từ. Một người mẹ kể chuyện con mình đang khổ, họ đem lý thuyết ra phân tích, câu nào cũng sắc bén, mà không có nổi một câu: “Chị chắc đang mệt lắm.” Họ không chịu được ba chữ “tôi chưa biết”. Họ sợ thừa nhận mình sai, vì đã biến hình ảnh người thông thái thành căn nhà duy nhất để trú ngụ.

Có những điều sách vở giúp ta hiểu. Cũng có những điều chỉ học được khi biết cúi xuống. Người chăm một bệnh nhân suốt đêm có thể không gọi tên được mọi khái niệm về lòng trắc ẩn, nhưng họ hiểu một phần rất sâu của lòng trắc ẩn. Người cha ít chữ, sáng đi làm, chiều về rửa chén để vợ nghỉ ngơi, có thể không diễn thuyết về bình đẳng, nhưng đang sống một điều mà nhiều bài diễn thuyết chưa chạm tới. Trí thức thật không làm người ta khinh đời. Càng biết nhiều, người ta càng thấy đời rộng, thấy mình còn thiếu, thấy người khác có điều để mình học.

Ngáo danh vọng lại khiến con người sống như thể mọi ngày đều có một sân khấu. Họ không hỏi việc mình làm có tốt không, mà hỏi có ai nhìn thấy không. Họ không hỏi một câu chuyện có đúng không, mà hỏi đăng lên có được chú ý không. Một chuyến thăm người bệnh có thể trở thành dịp chụp ảnh. Một món quà cho người nghèo phải được đặt đúng góc máy. Một lời xin lỗi được viết sao cho công chúng khen là can đảm, trong khi người bị tổn thương chưa hề được gặp riêng để nghe lời xin lỗi ấy.

Danh tiếng không phải điều xấu nếu nó đến như kết quả của một đời sống có ích. Nhưng một khi người ta nghiện được nhắc tên, đời sống bên trong bắt đầu rỗng đi. Bữa cơm ngon mà không ai biết đến thì thấy kém ngon. Việc tốt làm âm thầm thì thấy uổng. Một ngày không được chú ý thì tưởng mình đang biến mất. Từ đó, người ta dễ làm quá mọi chuyện, dễ nói những lời mình không tin, dễ biến cả đau khổ của bản thân thành nội dung để nuôi sự hiện diện trước mắt đám đông.

Người ngáo danh vọng thường rất sợ bị quên. Nỗi sợ ấy khiến họ không dám sống một ngày bình thường. Trong khi đó, phần lớn những điều giữ cho cuộc đời này khỏi lạnh lẽo lại diễn ra trong âm thầm: một người con thay cha mẹ đi khám bệnh; một người thầy ở lại sau giờ học với học trò chậm hiểu; một người hàng xóm để phần cơm trước cửa nhà có người đang ốm; một người vợ ngồi nghe chồng nói hết chuyện buồn mà không nhìn điện thoại. Không có tràng pháo tay nào cho những việc ấy. Nhưng nếu thiếu chúng, xã hội sẽ nghèo đi rất nhiều.

Còn ngáo thích chứng tỏ là thứ có thể len vào bất cứ ai, bất kể giàu nghèo, học cao hay thấp. Ai nói gì cũng phải có ý kiến. Ai làm được gì, mình phải làm hơn. Ai kể một nỗi khổ, mình phải kể một nỗi khổ lớn hơn. Có người chưa nghe hết câu chuyện đã vội chen vào để chứng minh mình từng trải. Có người thấy bạn vui thì muốn nhắc đến thành tích của mình. Có người chỉ cần một người khác được khen là lòng đã khó chịu, phải tìm cách nói một câu làm niềm vui ấy nhỏ lại.

Đằng sau vẻ thích hơn thua đôi khi là một trái tim rất bất an. Người ấy đã quen nghĩ rằng nếu người khác sáng lên thì phần ánh sáng dành cho mình sẽ ít đi. Họ không biết vui trước thành công của ai, bởi thành công ấy giống như một lời phán xét về họ. Họ không biết im lặng trong một cuộc trò chuyện, bởi sợ người ta quên mình có mặt. Họ phải chứng tỏ liên tục, đến mức ngay cả người thân cũng thấy mệt khi ở cạnh. Sự hiện diện của họ biến mọi bữa cơm thành một cuộc so sánh, mọi buổi gặp gỡ thành một cuộc trình diễn, mọi lời tâm sự thành dịp để họ giành phần nói.

Thật ra, một con người có giá trị đâu cần thắng trong mọi câu chuyện. Một người cha không cần lúc nào cũng đúng mới được con kính trọng. Một người mẹ không cần kể hết những hy sinh của mình mới được con yêu thương. Một người có học không cần làm người khác lúng túng để chứng minh mình hiểu biết. Một người thành đạt không cần đặt cuộc đời người khác xuống thấp để thấy mình đã lên cao.

Điều đáng sợ ở các kiểu “ngáo” ấy là chúng dễ lây. Một người có quyền thích được nịnh sẽ tạo ra những người giỏi nịnh. Một người giàu chỉ trọng kẻ có tiền sẽ làm người khác xấu hổ về cuộc sống lương thiện nhưng giản dị của mình. Một người có học quen dùng lời sắc bén để hạ nhục sẽ khiến người chung quanh ngại đặt câu hỏi. Một người sống nhờ tiếng vỗ tay sẽ dạy cả tập thể diễn trước máy quay. Một người thích chứng tỏ sẽ đẩy những người bên cạnh vào cuộc đua không ai thực sự muốn tham gia.

Dần dần, xã hội có nhiều người nói hơn mà ít người nghe hơn; nhiều hình ảnh đẹp hơn mà ít mối quan hệ thật hơn; nhiều lời ca tụng thành công hơn mà ít chỗ cho người thất bại đứng dậy. Trẻ con nhìn người lớn để học. Nếu chúng thấy người có quyền được phép thô lỗ, người có tiền được phép coi thường, người có bằng cấp được phép chế giễu, người nổi tiếng được phép bóp méo sự thật, chúng sẽ hiểu lầm rằng trưởng thành là có đủ sức để khỏi cần tử tế.

Một gia đình cũng có thể mắc căn bệnh ấy. Người cha ngáo quyền lực khi luôn lấy câu “Tao là cha mày” để chặn miệng con, kể cả khi mình làm sai. Người mẹ ngáo hy sinh khi dùng những vất vả có thật của mình để buộc con phải sống đúng mọi điều mình muốn. Người con ngáo trí thức khi mới học được vài điều đã về nhà khinh cha mẹ lạc hậu, quên rằng có những năm tháng cha mẹ không được học vì phải đi làm nuôi mình. Anh chị em ngáo hơn thua khi mỗi lần sum họp đều biến thành dịp so nhà, so lương, so con cái. Khi ấy, mái nhà không còn là chỗ được nghỉ; nó trở thành nơi mỗi người phải mặc áo giáp trước khi bước vào.

Trong cộng đoàn, trong tổ chức, ngay cả nơi người ta nói nhiều về phục vụ, căn bệnh ấy cũng có thể xuất hiện. Không có môi trường nào tự nhiên miễn nhiễm với cái tôi. Người phụ trách một việc chung có thể quên rằng mình được giao việc để chăm sóc con người. Người có chút ảnh hưởng có thể bắt đầu đòi những ưu tiên mà ngày trước chính mình từng thấy khó chịu. Người nói về khiêm nhường có thể lại không chịu nổi việc người khác được tin dùng hơn mình. Một lời đạo đức trên môi không tự động làm trái tim bớt kiêu căng. Đôi khi, nó còn trở thành lớp áo rất đẹp che một nhu cầu được tôn sùng.

Vì thế, bài viết này không nên chỉ dùng để chỉ tay vào một người nào đó. Dễ nhất là đọc xong rồi nhớ ngay đến một cấp trên, một người nổi tiếng, một người giàu mình không ưa. Khó hơn nhiều là ngồi yên và tự hỏi: Tôi đã từng làm ai phải im lặng vì sợ mình chưa? Tôi đã từng nhìn một người khác qua tiền bạc, bằng cấp, chức vụ của họ chưa? Tôi đã từng biến một cuộc trò chuyện thành chỗ trưng bày sự hiểu biết của mình chưa? Tôi đã từng giúp ai đó rồi buồn vì không ai biết đến chưa? Tôi đã từng không chịu nhận lỗi chỉ vì sợ mất mặt chưa?

Cơn say nguy hiểm nhất thường là cơn say mà chính người đang say tin rằng mình rất tỉnh.

Một dấu hiệu của sự tỉnh táo là vẫn biết nói “xin lỗi” khi mình có quyền. Vẫn biết nói “cảm ơn” với người làm công việc ít ai để ý. Vẫn biết hỏi “anh nghĩ sao?” và thực sự chờ câu trả lời. Vẫn biết mừng cho người khác mà không lập tức tính phần mình. Vẫn biết đặt điện thoại xuống khi người trước mặt cần được lắng nghe. Vẫn biết để một việc tốt đi qua mà không gắn tên mình vào. Vẫn biết thừa nhận: “Việc này tôi chưa hiểu”, “Chuyện đó tôi đã xử lý sai”, “Tôi có tiền, có học, có vị trí, nhưng tôi không vì thế mà cao quý hơn anh.”

Một người đứng vững không cần bắt ai quỳ xuống. Một người giàu thực sự không cần nhắc người khác rằng mình giàu. Một người hiểu biết thật không ngại học từ người ít chữ. Một người có danh không sợ làm việc không tên. Một người bình an với chính mình không phải ngày nào cũng chiến thắng ai đó để thấy mình đáng sống.

Có lẽ xã hội sẽ dịu đi nếu mỗi người bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Người lãnh đạo bước ra khỏi phòng để hỏi nhân viên đang gặp khó khăn gì, rồi nghe mà không tìm cách tự bào chữa. Người chủ trả công công bằng và gọi đúng tên người lao động. Người có bằng cấp giải thích một điều khó bằng lời dễ hiểu, không làm ai xấu hổ vì chưa biết. Người nổi tiếng từ chối biến một người nghèo thành phông nền cho lòng tốt của mình. Trong một bữa họp mặt, ta để người khác kể hết niềm vui mà không chen thành tích của ta vào. Ở nhà, ta xin lỗi con dù con nhỏ hơn mình. Ta cảm ơn cha mẹ dù đã quen nhận sự chăm sóc ấy từ nhiều năm.

Những việc ấy không ồn ào. Nhưng chúng trả lại cho con người kích thước thật của mình.

Rồi sẽ đến lúc chiếc ghế được trao cho người khác. Tiền bạc có thể còn, có thể mất. Những tấm bằng sẽ cũ. Đám đông sẽ tìm một gương mặt mới. Những cuộc tranh luận từng khiến ta nóng mặt rồi cũng không ai nhớ. Điều còn lại thường rất giản dị: người từng ở gần ta đã được đối xử ra sao? Họ có thể nói thật khi ở cạnh ta không? Họ được lớn lên hay cứ phải thu mình lại? Họ nhớ đến ta bằng lòng biết ơn, bằng sự nhẹ nhõm, hay bằng một vết thương?

Đời người ngắn lắm. Đừng đem những năm tháng quý giá đi say trong ảo tưởng rằng mình hơn người. Quyền lực đáng quý khi giúp ta nâng ai đó dậy. Tiền bạc đáng quý khi cho ta phương tiện sống tử tế và chia sẻ. Trí thức đáng quý khi mở mắt ta trước sự thật và nỗi đau. Danh tiếng đáng quý khi tiếng nói của ta có thể bênh vực điều đúng. Khả năng của ta đáng quý khi nó góp vào cuộc đời, không cần biến cuộc đời thành sân khấu riêng.

Xã hội có thể nhìn thấy và lên án một người mất kiểm soát giữa đường. Nhưng những cơn say được che bằng chức danh, tài sản, học vị và tiếng vỗ tay thì khó nhận ra hơn. Chúng có thể làm đau người khác trong nhiều năm mà vẫn được gọi là bản lĩnh, thành công hay đẳng cấp. Muốn chữa căn bệnh ấy, trước hết phải dám gọi đúng tên sự kiêu căng trong lòng mình. Rồi mỗi ngày tập sống tỉnh: bớt một lời coi thường, bớt một lần khoe khoang, bớt một quyết định chỉ nhằm giữ thể diện; thêm một lần lắng nghe, một lần nhận lỗi, một việc tốt âm thầm, một cách đối xử công bằng.

Đến cuối cùng, điều làm một con người đáng kính không phải là họ đứng cao đến đâu, mà là khi đứng ở chỗ ấy, họ có còn nhìn thấy những người đang ở dưới chân mình hay không. Điều làm một người giàu có đáng mến không phải là họ sở hữu bao nhiêu, mà là họ có để tiền bạc làm trái tim mình chật lại hay không. Điều làm một người có học trở nên sáng không phải là họ khiến bao nhiêu người câm nín, mà là nhờ họ, bao nhiêu người dám nghĩ, dám hỏi và dám lớn lên. Điều làm một đời người có ý nghĩa không phải là tên mình được nhắc đến bao lần, mà là đã có những ai được yêu thương tử tế vì mình từng đi qua đời họ.

Mong chúng ta đủ tỉnh để biết mình chỉ là một con người: có khả năng làm điều tốt, có nguy cơ sai lầm, cần người khác, và luôn cần học cách yêu thương. Khi nhớ được điều ấy, ta sẽ không phải chứng tỏ mình lớn. Ta chỉ cần sống sao để người bên cạnh không bị mình làm cho nhỏ lại.

Lm. Anmai, CSsR.