Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) 2 tháng 11 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR

15

DÙ CHỌN GÌ, BẠN CŨNG SẼ NUỐI TIẾC…
HỌC CÁCH SỐNG TRỌN VẸN VỚI CUỘC ĐỜI HỮU HẠN CỦA MÌNH

Video TÌM HIỂU Ý NGHĨA THÁNG CÁC LINH HỒN – Lm. Anmai, CSsR

Video TÌM HIỂU Ý NGHĨA LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ – Lm. Anmai, CSsR

THÁNG CÁC LINH HỒN: VÌ SAO PHẢI CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI ĐÃ KHUẤT? THÁNG MƯỜI MỘT – THÁNG CỦA NHỮNG KÝ ỨC, TÌNH YÊU VÀ NIỀM HY VỌNG – Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG ĐỢI HẾT YẾU ĐUỐI MỚI ĐẾN VỚI CHÚA. HÃY ĐẾN VỚI CHÚA ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI BIẾN ĐỔI. – Lm. Anmai, CSsR

Phim MÙA XOÀI CHÍN – Lm. Anmai, CSsR

SỰ THANH LUYỆN, LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ MẦU NHIỆM CÁC THÁNH THÔNG CÔNG – Lm. Anmai, CSsR

BẠN LÀ KẺ THÙ LỚN NHẤT ĐỜI MÌNH – Lm. Anmai, CSsR

CĂN TÍNH ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN TRƯỚC KINH NGHIỆM TÂM LINH CỦA TÔN GIÁO KHÁC – Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG ĐỢI HẾT YẾU ĐUỐI MỚI ĐẾN VỚI CHÚA. HÃY ĐẾN VỚI CHÚA ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI BIẾN ĐỔI. – Lm. Anmai, CSsR

NHÌN VẬY CHỨ KHÔNG PHẢI VẬY – Lm. Anmai, CSsR
. – Lm. Anmai, CSsR

TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
Ngày 1 tháng 11 năm 2026
Linh mục Anmai, CSsR tổng hợp

TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Ngày 1 tháng 11 năm 2026 Linh mục Anmai, CSsR tổng hợp

Lễ các thánh nam nữ HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI, SỐNG THÁNH GIỮA ĐỜI THƯỜNG – Lm. Anmai, CSsR

Lễ các thánh nam nữ HƯỚNG VỀ SỰ THÁNH THIỆN QUA CON ĐƯỜNG BÁT PHÚC – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ
Ngày 01 tháng 11
Xin cho chúng con nên thánh giữa cuộc đời thường
Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, trong ngày mừng kính Các Thánh Nam Nữ, chúng con hướng lòng về trời với niềm vui và hy vọng. Chúng con tạ ơn Cha vì biết bao con người đã để ân sủng biến đổi đời mình, đã trung thành bước theo Đức Kitô và nay được hưởng hạnh phúc trong sự hiện diện của Cha. Có những vị được Hội Thánh tôn kính trên bàn thờ, có những người đã sống và ra đi âm thầm, chỉ mình Cha biết hết tình yêu cùng những hy sinh của họ. Xin cho chúng con nhận ra rằng giữa một thế giới còn nhiều bóng tối, sự thánh thiện vẫn đang lớn lên qua từng cuộc đời biết tin tưởng, tha thứ và trao ban.
Lạy Chúa Giêsu, khi chiêm ngắm các thánh, chúng con được thêm can đảm để bước tiếp. Các ngài cũng từng mang một thân phận yếu đuối, từng phải chọn lựa giữa điều dễ chịu và điều ngay lành, từng trải qua thử thách, nước mắt và những cuộc chiến trong lòng. Có những vị đã đứng dậy sau lỗi lầm, có những vị kiên trì trong bổn phận suốt bao năm không ai biết đến. Xin cho chúng con thôi nghĩ rằng nên thánh là điều quá xa vời. Xin giúp chúng con bắt đầu ngay hôm nay, bằng việc chu toàn trách nhiệm, giữ một lời hứa, sửa một tính xấu và yêu thương người Chúa đặt bên cạnh mình.
Xin khắc sâu trong lòng chúng con con đường các Mối Phúc. Xin cho chúng con có tinh thần nghèo khó, biết cậy dựa vào Chúa và sử dụng những gì mình có với lòng quảng đại. Xin cho chúng con hiền lành khi bị xúc phạm, biết làm chủ lời nói và không lấy tổn thương để đáp lại tổn thương. Khi phải khóc, xin cho chúng con được tựa vào Chúa; từ nỗi đau của mình, biết cảm thông với người đang đau khổ. Xin cho chúng con đói khát sự công chính, đủ can đảm sống ngay thẳng cả khi phải chịu thiệt thòi. Xin thanh luyện lòng chúng con khỏi những ý nghĩ gian dối, những toan tính ích kỷ và những ham muốn khiến chúng con xa Chúa.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết xót thương, bởi chính chúng con đã được Chúa thương xót biết bao lần. Xin giúp chúng con nhìn người lầm lỗi bằng ánh mắt còn hy vọng, biết sửa lỗi với sự tôn trọng và nâng đỡ người muốn làm lại cuộc đời. Xin cho chúng con trở thành người xây dựng hòa bình, bắt đầu từ một lời nói trong gia đình, một thái độ trong công việc, một điều chúng con chia sẻ trên mạng. Khi phải chịu hiểu lầm vì sống theo Tin Mừng, xin gìn giữ chúng con khỏi oán giận và giúp chúng con trung thành với điều thiện.
Chúng con xin dâng lên Chúa những mái nhà đang mong được bình an. Xin cho người cha nên thánh trong sự tận tụy, người mẹ nên thánh trong tình yêu kiên nhẫn, người con nên thánh trong lòng hiếu thảo và sự chân thành. Xin nâng đỡ ông bà đang âm thầm cầu nguyện cho con cháu, những người chăm sóc thân nhân đau bệnh, những người lao động vất vả mà vẫn giữ lòng ngay thẳng. Xin cho chúng con biết quý trọng những hy sinh ấy, biết nói lời cảm ơn khi còn có thể, biết cùng nhau gánh vác để không ai phải kiệt sức trong cô đơn.
Xin thương những người đang thất vọng về chính mình, những người đã nhiều lần quyết tâm rồi lại vấp ngã. Xin cho họ nghe được lời mời gọi trở về của Chúa và can đảm đón nhận ơn tha thứ trong bí tích Hòa Giải. Xin đừng để mặc cảm khiến họ xa lánh Chúa, cũng đừng để sự quen thuộc với tội lỗi làm họ thôi hoán cải. Nhờ lời chuyển cầu của Các Thánh Nam Nữ, xin giúp tất cả chúng con bền lòng trong cầu nguyện, trung thành với Thánh lễ và biết biến điều mình tin thành những việc bác ái cụ thể.
Lạy Chúa Giêsu, mỗi lần đón rước Chúa, xin làm lớn lên trong chúng con lòng yêu mến. Xin cho bàn tay được chắp lại trước bàn thờ cũng biết mở ra để giúp người túng thiếu; cho môi miệng ca ngợi Chúa cũng biết nói lời dịu dàng; cho trái tim khao khát Nước Trời cũng biết quan tâm đến những khổ đau ngay trước mắt. Xin cho chúng con sống mỗi ngày với lòng biết ơn, sử dụng thời gian còn được ban để yêu thương và làm điều lành.
Nhờ lời chuyển cầu của Các Thánh Nam Nữ, xin dẫn chúng con đi trọn hành trình đức tin. Khi mỏi mệt, xin nâng chúng con dậy; khi tự mãn, xin giúp chúng con khiêm nhường; khi lạc đường, xin đưa chúng con trở về. Và khi hoàn tất cuộc đời, xin thương đón chúng con vào nhà Cha, để cùng Đức Maria và toàn thể các thánh ca ngợi tình yêu Chúa đến muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI: MÙA HỒNG ÂN CỦA SỰ THÁNH THIỆN VÀ NIỀM HY VỌNG VĨNH CỬU
Khi bước chân vào cử hành phụng vụ thánh thiêng trong ngày kính trọng thể các Thánh nam nữ, tâm hồn mỗi người chúng ta như được cất nhắc vượt lên trên những bề bộn, lo toan, và những giòng xoáy tất bật của đời thường để hướng về một chiều kích cao cả hơn, sâu thẳm hơn: chiều kích của vinh quang vĩnh cửu và ơn gọi nên thánh mà Thiên Chúa đã phú bẩm cho nhân loại. Đại lễ này không chỉ đơn thuần là một mốc son lịch sử tôn kính những bậc vĩ nhân đã được Giáo Hội chính thức ghi tên trên bàn thờ, mà còn là bản giao hưởng tuyệt vời của hàng vạn tâm hồn vô danh, những con người âm thầm sống trọn vẹn tình yêu mến Chúa trong những nẻo đường dung dị nhất của cuộc đời. Họ chính là đám đông vô số kể, đến từ mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ, mọi quốc gia, đã giặt áo mình trong máu Chi Con và giờ đây đang đứng trước ngai tòa Thiên Chúa để hưởng trọn niềm hoan lạc ngút ngàn.
Nhìn lại lịch sử hành trình đức tin của nhân loại qua các thời đại, chúng ta thấy rõ rằng con người từ ngàn xưa luôn khao khát một sự vĩnh cửu, một chốn bình yên đích thực mà thế gian hữu hạn này không bao giờ có thể đáp ứng trọn vẹn. Thế giới trần gian với biết bao biến động, đau thương, chia rẽ và bất công đôi khi làm chùng bước chân của những ai đang lữ hành trong đêm tối đức tin. Tuy nhiên, ánh sáng của ngày lễ các Thánh lại bừng lên như một ngọn hải đăng soi rọi tâm hồn, khẳng định rằng hành trình đức tin của chúng ta không phải là một chuỗi những nỗ lực vô nghĩa hay một sự cược may rủi mơ hồ. Đã có biết bao nhiêu thế hệ đi trước chúng ta, bằng sự kiên định trong tình yêu, bằng sự nhẫn nại trong nghịch cảnh và lòng phó thác tuyệt đối vào ơn sủng, đã vượt qua ngưỡng cửa tử thần để bước vào vinh quang phục sinh của Đức Kitô. Họ tạo thành một “bức mây nhân chứng” hùng hậu, luôn hiện diện bằng linh hiệp thông mầu nhiệm để nâng đỡ, khích lệ và thúc đẩy chúng ta tiếp tục dấn bước trên con đường hẹp dẫn đến sự sống thật.
Chân lý nền tảng của đức tin Kitô giáo đặt để chúng ta vào một phẩm giá vô song: chúng ta không chỉ được gọi là con Thiên Chúa mà thực sự là con của Ngài. Sứ điệp của Thánh Gioan Tông Đồ vang lên trong tâm khảm chúng ta như một lời xác quyết đầy quyền năng và an ủi. Dù hiện tại chúng ta chưa thấy rõ mọi sự sẽ ra sao trong ngày sau hết, nhưng chúng ta vững vàng xác tín rằng khi Đức Kitô hiển trị, chúng ta sẽ nên giống như Ngài, vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài là. Phẩm giá làm con cái Chúa ấy không chờ đợi đến khi chúng ta chết đi mới bắt đầu bừng nở, mà nó đã được cấy gieo ngay trong tâm hồn mỗi tín hữu qua bí tích Thanh Tẩy, lớn lên qua đời sống cầu nguyện, và được nuôi dưỡng bằng chính Thịt Máu Thánh Chúa. Do đó, việc sống thánh không phải là một đặc ân dành riêng cho một nhóm tu sĩ khắc khổ, những vị linh mục thánh thiện hay những ẩn sĩ trong hang đá sâu thẳm, mà là bản án tình yêu và là lời mời gọi phổ quát gửi đến mọi người, bất kể tuổi tác, địa vị xã hội hay hoàn cảnh sống.
Khi suy ngẫm về các thánh, chúng ta dễ có thói quen tìm kiếm những phép lạ lớn lao, những hành tung lẫy lừng hoặc những hy sinh tử đạo chói ngời ánh hào quang. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào mầu nhiệm của đời sống thánh thiện, chúng ta sẽ nhận ra rằng phần lớn các thánh trên thiên quốc là những con người vô cùng bình dị. Họ đã sống những ngày tháng tầm thường của cuộc đời mình với một tình yêu phi thường. Họ không đi tìm những điều lớn lao hay vĩ đại vượt quá sức mình, nhưng họ chu toàn những bổn phận nhỏ nhặt nhất trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xóm làng và nơi sở làm với trọn vẹn tâm tình hiến dâng. Đó chính là con đường mà biết bao vị thánh ẩn mình giữa đời đã đi qua. Họ hiểu rằng, thánh thiện không phải là không bao giờ vấp ngã, mà là luôn đứng dậy sau mỗi lần sa ngã, luôn hướng về lòng thương xót Chúa với một tâm hồn nghèo khó và cậy trông.
Điểm tựa vững chắc nhất cho hành trình vươn tới sự thánh thiện ấy được Chúa Giêsu ban tặng qua Hiến chương Nước Trời, đó là các Mối Phúc Thật. Khi ngồi trên ngọn núi và cất tiếng giảng dạy đông đảo dân chúng, Chúa Giêsu không đưa ra những luật lệ khắt khe trói buộc con người vào các hình phạt nặng nề, nhưng Ngài mở ra một chân trời mới của hạnh phúc đích thực. Các Mối Phúc Thật chính là tấm gương phản chiếu chính cuộc đời của Chúa Giêsu, đồng thời là bản đồ chỉ đường cho bất kỳ ai muốn bước theo chân Ngài. Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Nghèo khó ở đây không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà trước hết là thái độ nội tâm biết buông bỏ mọi cậy dựa vào sức mình để hoàn toàn mở ra trước ơn sủng Chúa. Đó là sự trống rỗng thiêng liêng cần thiết để Thiên Chúa có thể đổ đầy tràn tình yêu và sức mạnh của Ngài vào tâm hồn con người.
Bên cạnh đó, cuộc sống trần thế không thể thiếu những giọt nước mắt của đau khổ, thử thách và tang tóc. Thế nhưng, Chúa Giêsu khẳng định: “Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an”. Sự đau buồn theo tinh thần Tin Mừng không phải là sự tuyệt vọng bi quan, mà là nỗi đau trước tội lỗi của thế gian, sự xót xa trước cảnh ngộ bất hạnh của tha nhân và sự kiên nhẫn chịu đựng những trái ý trong đời sống gia đình cũng như xã hội. Chính trong những khoảnh khắc tưởng chừng như yếu đuối và bất lực ấy, ơn Chúa lại hoạt động mạnh mẽ nhất để xoa dịu, biến đổi và ban tặng niềm vui nội tâm mà không thế lực nào có thể cướp đi được. Sự hiền lành, lòng khao khát điều công chính, lòng trót thương xót người, sự thanh sạch trong tâm hồn và nỗ lực xây dựng hòa bình là những viên gạch quý giá xây nên đền thờ tâm hồn vững chắc trước mọi giông bão cuộc đời.
Sự thánh thiện do đó mang tính chất nhập thể sâu sắc, gắn liền với nhịp sống hằng ngày của chúng ta. Nhiều người thường lầm tưởng rằng để nên thánh phải trốn chạy khỏi thế gian, phải từ bỏ mọi mối dây liên hệ xã hội để tìm về chốn thanh vắng tuyệt đối. Tất nhiên, Giáo Hội vẫn luôn trân trọng ơn gọi chiêm niệm trong các đan viện, nơi các đan sĩ ngày đêm dâng lời cầu nguyện chúc tụng Thiên Chúa thay cho toàn thể nhân loại. Nhưng đối với đại đa số Kitô hữu, sân khấu của sự thánh thiện chính là gia đình, nơi bàn ăn hằng ngày, nơi công sở bận rộn, nơi góc phố huyên náo và trong những mối tương quan chằng chịt của đời sống xã hội. Chính trong sự va chạm và cọ xát của đời sống chung, khi chúng ta biết nhẫn nhịn tha thứ cho nhau, khi người cha người mẹ biết hy sinh quên mình vì con cái, khi người con cái biết hiếu thảo và đền ơn đáp nghĩa, thì lúc đó thiên đàng đã bắt đầu hiện diện ngay trên mặt đất này.
Một trong những cản trở lớn nhất khiến chúng ta chần chừ không muốn bước vào con đường thánh thiện chính là sự tự mãn và ảo tưởng về bản thân. Chúng ta thường nghĩ rằng mình chưa đủ tốt, chưa đủ đạo đức, hay tội lỗi của mình quá nhiều nên Chúa chẳng thể đoái thương. Suy nghĩ đó hoàn toàn đi ngược lại với tinh thần Tin Mừng. Thiên Chúa không kêu gọi những kẻ hoàn hảo, Ngài kêu gọi những ai biết nhận ra sự bất toàn và nghèo hèn của mình để chạy đến với lòng thương xót hải hà của Ngài. Các thánh trên trời không phải là những pho tượng bằng đá cẩm thạch không tì vết, mà phần lớn họ từng là những con người yếu đuối, mang trên mình nhiều vết thương của cuộc đời, thậm chí có những vị từng chìm đắm trong lầm lạc trước khi được ánh sáng ân sủng biến đổi hoàn toàn. Điều làm nên sự khác biệt giữa họ và phần còn lại của thế giới không phải là sự hoàn hảo tự thân, mà là thái độ dám khiêm tốn buông mình để cho ơn thánh đắp bồi, gọt giũa và tái tạo.
Khi chúng ta chiêm ngắm số phận vinh quang của các thánh trong sách Khải Huyền với hình ảnh đoàn người đông đảo mặc áo trắng cầm nhánh lá chiến thắng trong tay, chúng ta được nhắc nhở rằng cuộc đời dương世 này chỉ là một chuyến lưu đày ngắn ngủi. Mọi đau khổ, thử thách, nghèo đói, bách hại hay sỉ nhục rồi sẽ qua đi, chỉ có tình yêu là trường tồn vĩnh cửu. Những ai kiên tâm bước đi trong đường lối Chúa, dẫu phải trải qua nhiều gian truân hoạn nạn, cuối cùng cũng sẽ được bước vào tiệc cưới chiên con, nơi không còn nước mắt, không còn tiếng than van, mà chỉ có hoan lạc muôn đời trong vòng tay yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là nguồn động lực lớn lao giúp chúng ta vượt qua những bức bối của hiện tại, không ngã lòng trước những thất bại tạm thời, và luôn giữ vững ngọn lửa hy vọng trong tim.
Hành trình tiến về quê trời đòi hỏi sự tỉnh thức liên tục và một quyết tâm sắt đá từ bỏ tinh thần thế tục. Thế giới hôm nay đang tung hô những giá trị ngược lại với Tin Mừng: chủ nghĩa hưởng thụ ích kỷ, tinh thần bạo lực, sự dửng dưng trước nỗi đau của tha nhân và việc loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống công cộng. Giữa một môi trường đầy rẫy những cám dỗ và cạm bẫy ấy, người môn đệ Chúa Kitô được mời gọi sống như những ánh sao chiếu rọi giữa thế gian tối tăm. Sự khác biệt của chúng ta không nằm ở thái độ kiêu ngạo tự phụ, mà nằm ở lối sống yêu thương phục vụ đến cùng, sẵn sàng chia sẻ cơm bánh với người nghèo, sẵn sàng tha thiết cầu nguyện cho kẻ thù và đem bình an đến cho những nơi có bất hòa chia rẽ.
Đời sống cầu nguyện chính là hơi thở nuôi dưỡng linh hồn trên con đường nên thánh ấy. Không thể có sự thánh thiện nếu thiếu vắng mối tương quan thâm thiết, sống động và thường xuyên với Thiên Chúa trong kinh nguyện. Cầu nguyện không đơn thuần là đọc lên những công thức có sẵn hay xin xắn ơn nghĩa vật chất, mà là khoảng lặng tâm hồn để ở lại với Chúa, để lắng nghe tiếng Ngài thì thầm trong lòng, và để cho tình yêu của Ngài thanh luyện những ích kỷ, hẹp hòi của con người tự nhiên. Qua Thánh lễ và các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Hòa Giải và Thánh Thể, chúng ta được nạp lại năng lượng thiêng liêng dồi dào, được thanh tẩy khỏi những vết nhơ tội lỗi và được kết hiệp mật khẩu với nguồn mạch sự sống đích thực.
Khi chúng ta mừng kính các Thánh nam nữ, chúng ta cũng đồng thời tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm “Các Thánh thông công”. Mầu nhiệm này nhắc nhở chúng ta rằng Giáo Hội là một thân thể mầu nhiệm duy nhất, trong đó các tín hữu ở trần gian (Giáo Hội chiến đấu), các linh hồn nơi luyện tội (GiBáo Hội đau khổ) và các thánh trên thiên quốc (Giáo Hội vinh thắng) luôn hiệp thông sâu sắc với nhau trong tình yêu thương. Các ngài không phải là những khán giả vô cảm trước cuộc chiến đấu của chúng ta nơi trần thế, mà là những người anh chị cả hằng chuyển cầu, che chở và nâng đỡ chúng ta bằng lời cầu bầu mạnh mẽ trước ngai tòa Thiên Chúa. Ngược lại, bổn phận của chúng ta là tiếp bước ngọn đuốc đức tin mà các ngài đã trao truyền, sống xứng đáng với dòng máu anh dũng và gương sáng ngời ngời của các ngài để một mai khi chu toàn sứ mạng trần thế, chúng ta cũng được chung phần vinh phúc với các ngài trên quê trời.
Chúng ta hãy suy ngẫm về sự ngắn ngủi của đời người. Thời gian trôi qua thật mau chóng, tuổi xuân rồi sẽ tàn phai, những danh vọng, tài sản, quyền lực của thế gian này rốt cuộc cũng chỉ là phù vân trước mặt Chúa. Điều còn lại duy nhất khi chúng ta giã từ cõi đời này để bước vào cõi vĩnh hằng chính là tình yêu: chúng ta đã yêu Chúa đến mức nào và chúng ta đã thể hiện tình yêu đó đối với anh chị em đồng loại ra sao? Mỗi ngày sống là một cơ hội vàng ngọc mà Thiên Chúa thương ban để chúng ta tích trữ kho tàng trên trời, nơi mối mọt không đục phá được và kẻ trộm không thể đào ngạch lấy đi. Hãy sống sao cho mỗi phút giây trôi qua đều đượm nồng hương thơm của lòng nhân hậu, sự tha thứ và lòng mến Chúa sâu xa.
Ước gì qua ngày lễ trọng thể này, ánh sáng từ cuộc đời của các thánh bừng lên trong tâm hồn mỗi người chúng ta, xua tan đi mọi mây mù của sợ hãi, lười biếng và tuyệt vọng. Xin cho chúng ta biết can đảm cất bước ra đi khỏi vùng an toàn của cái tôi ích kỷ để dấn thân trọn vẹn cho Tin Mừng. Xin các thánh nam nữ, đặc biệt là những vị thánh bổn mạng và những người thân yêu đã ra đi trước chúng ta trong dấu chỉ đức tin, luôn đồng hành, bầu cử và che chở chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Xin cho chúng ta biết noi gương các ngài, sống hiền lành, khiêm nhường, khao khát sự công chính và đượm nồng lòng thương xót, để cuối cuộc đời lữ hành trần thế này, chúng ta được Chúa dang rộng vòng tay đón nhận vào hưởng vinh quang ngập tràn hoan lạc bên Ngài muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

HƯỚNG VỀ SỰ THÁNH THIỆN QUA CON ĐƯỜNG BÁT PHÚC
Cuộc đời của con người chúng ta không phải là một chuỗi ngày ngẫu nhiên trôi dạt giữa không gian và thời gian vô định, nhưng là một hành trình có mục đích, có hướng đi và có cùng đích tối hậu. Chúng ta được tạo dựng nên là để hướng về trời cao, để đón nhận tình yêu hải hà của Thiên Chúa và sống hoan lạc đời đời trong Vương Quốc vĩnh cửu của Ngài. Từ ngàn xưa, Đức Giêsu Kitô – Con Một Thiên Chúa – đã tự lột bỏ vinh quang Thiên Quốc, bước xuống thế gian để vén mở cho nhân loại con đường chân chính dẫn từ trần thế bước vào vinh hiển thiên đàng. Hôm nay, khi toàn thể Hội Thánh hân hoan mừng kính các Thánh Nam Nữ trên trời, chúng ta không chỉ hướng tâm hồn về những bậc vĩ nhân đã hiên ngang bước đi trên con đường trọn lành và đạt tới đỉnh cao thánh thiện, mà còn nhìn lại chính bản thân mình để nhận ra ơn gọi cốt lõi của đời sống Kitô hữu: ai trong chúng ta cũng được mời gọi trở thành thánh, bởi vì Thiên Chúa là Đấng Thánh.
Các Thánh mà chúng ta kính nhớ hôm nay vô cùng đông đảo, đến nỗi không một ai có thể đếm nổi. Họ đến từ mọi quốc gia, mọi chi tộc, mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ trên khắp hoàn cầu. Họ bao gồm những vị linh mục nhiệt thành, những tu sĩ hy sinh quên mình, những bậc gia trưởng và hiền mẫu âm thầm vác thập giá hằng ngày, những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết và cả những em bé thơ ngây. Điểm chung duy nhất gắn kết họ lại với nhau, biến họ thành một đoàn ngũ khổng lồ chói ngời vinh quang, đó chính là việc họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. Họ đã giữ gìn chiếc áo trắng tân tháp của Bí tích Rửa Tội được tinh tuyền, không tì vết cho đến ngày bước qua ngưỡng cửa sự sống đời đời. Họ là những người mà sách Khải Huyền đã miêu tả bằng những cung bậc tráng lệ nhất, khi cất cao lời ca tụng muôn đời: “Ơn cứu độ thuộc về Thiên Chúa chúng ta, Đang ngự trên ngai vàng, và thuộc về Chiên Con.”
Thế nhưng, sự thánh thiện ấy không phải là một huy chương tự hào do sức lực phàm nhân tự kiếm tìm hay lập công đền tội mà có được. Thánh thiện trước hết và trên hết là một hồng ân tuyệt đỉnh phát xuất từ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Nhìn vào lịch sử cứu độ và cả cuộc đời của mỗi người, chúng ta thấy rõ chân lý rằng không ai trong chúng ta có thể tự tẩy rửa tâm hồn mình cho sạch vết nhơ tội lỗi bằng nỗ lực thuần túy tự nhiên. Tâm hồn con người qua bao thế kỷ bị vấy bẩn bởi lớp bụi mờ của ích kỷ, sự dữ, những toan tính và bất trung, tựa như những bức bích họa kiệt tác của Michelangelo trong nhà nguyện Sistine từng trải qua bao nhiêu thế kỷ bị khói nến, bụi bặm và ẩm mốc tàn phá, lu mờ đi vẻ đẹp tuyệt mỹ ban đầu. Để phục hồi kiệt tác ấy, cần phải có một cuộc đại trùng tu toàn diện, một công cuộc tẩy rửa tận căn từ ơn cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô trên Thập Giá.
Tất cả sức mạnh của Đấng đã chịu hiến tế và chịu đau khổ tột cùng trên Thập Giá tuôn đổ tràn trề vào sâu thẳm tâm hồn chúng ta, để tẩy xóa, để cạo sạch, để gột rửa từng ngóc ngách tối tăm trong cõi lòng phàm nhân, biến đổi chúng ta trở nên những tạo vật tinh tuyền rực rỡ. Bản chất của sự thánh thiện tuyệt đối không phải là việc chúng ta chưa bao giờ sa ngã hay vấp phạm trong đời sống dương gian này. Sự thánh thiện đích thực nằm ở chỗ chúng ta khiêm tốn mở toang cánh cửa tâm hồn để cho lòng thương xót của Đấng Cứu Chuộc ôm lấy, chữa lành và tái tạo chúng ta. Chúng ta không thể tự làm cho mình trở nên thánh thiện theo ý muốn ích kỷ của mình, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể cộng tác với ơn Chúa bằng cách dâng lên Ngài một ý chí tự do muốn đổi thay, một khát vọng chân thành hướng về điều thiện hảo.
Dù thiên đàng là một tặng phẩm nhưng không từ cõi trời ban tặng, Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của con người, đặt để vận mệnh vĩnh cửu của chúng ta vào chính những lựa chọn hằng ngày. Mỗi bước chân đi, mỗi ngã rẽ cuộc đời, mỗi quyết định nhỏ nhặt hay lớn lao đều là những ngã ba dẫn chúng ta tiến lại gần hoặc đẩy chúng ta ra xa Thiên Chúa. Đó là lựa chọn mang tính quyết định giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự thật và dối gian, giữa tình yêu vị tha và lòng ích kỷ gặm nhấm, giữa sự sống vĩnh cửu và cái chết linh hồn. Đức Giêsu Kitô đã đến để soi sáng cho con người thấy rõ con đường nào dẫn đến sự sống thật, đồng thời ban ơn trợ giúp để chúng ta đủ sức mạnh bước đi trên con đường đó. Tuy nhiên, giữa cuộc đời trần thế này, luôn có những tiếng gọi mời cám dỗ, những trào lưu sai lạc cổ võ con người đi ngược lại với đường lối của Thiên Chúa. Các Thánh chính là những người đã tỉnh thức, đã khôn ngoan lựa chọn tiếng nói của Chân Lý và kiên định bước đi theo vết chân Thầy Chí Thánh cho đến cùng.
Để chỉ rõ cho chúng ta con đường ngắn nhất và chắc chắn nhất dẫn về nhà Cha, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã ngự lên núi và công bố Hiến Chương của Nước Trời, đó chính là Tám Mối Phúc Thật. Ngài ngồi xuống, quy tụ các môn đệ và đám đông lại xung quanh để truyền dạy những chân lý đi ngược lại hoàn toàn với triết lý hưởng thụ, kiêu căng và ích kỷ của trần gian này. Những lời ấy vang lên đầy quyền năng, thách đố mọi nhãn quan phàm tục và mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc lội ngược dòng vĩ đại trong đời sống tinh thần.
Thế gian thường rỉ tai con người rằng: Muốn hạnh phúc thì phải giàu có, phải nắm giữ thật nhiều tiền tài của cải, phải vun vén cho bản thân thật nhiều vật chất thì mới có được sự an nh ổn định. Thế nhưng, Đức Giêsu lại cất tiếng phán dạy một cách quả quyết: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” Sự nghèo khó theo tinh thần Phúc Âm không có nghĩa là sự túng quẫn bi đát, mà là thái độ nội tâm biết đặt trọn vẹn niềm tin cậy nơi Thiên Chúa, nhận ra mình tay trắng trước mặt Ngài và không để tiền tài vật chất làm chủ tể giam hãm linh hồn. Người có tâm hồn nghèo khó hiểu rằng của cải đích thực duy nhất mà họ cần bám lấy chính là tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa.
Thế gian bảo rằng con người hạnh phúc là khi sống vô tư lự, không phải bận tâm đến ai, chỉ biết vui hưởng cuộc sống riêng tư, tìm kiếm lạc thú ngắn ngủi và mặc kệ nỗi đau đớn của tha nhân. Trái lại, Đức Giêsu khẳng định: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.” Ngài chúc phúc cho những ai biết mở rộng trái tim để cảm thông, chia sẻ nỗi đau của anh chị em đồng loại, những người biết khóc thương cho tội lỗi của chính mình và của thế gian, những người mang trong lòng nỗi khát khao công lý và tình thương ngập tràn. Chính những tâm hồn giàu thao thức và trắc ẩn ấy sẽ được bàn tay từ mẫu của Thiên Chúa ôm ấp, xoa dịu và ban ơn consolatio vĩnh cửu.
Những bậc trí thức kiêu ngạo của trần gian thường tung hô sức mạnh bạo lực, sự khôn ngoan lươn lẹo, khả năng áp đảo kẻ khác để giành lấy quyền bính và địa vị. Họ cho rằng chỉ có kẻ mạnh mới tồn tại và chiến thắng. Nhưng Đức Giêsu lại mỉm cười và tuyên bố: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.” Sự hiền lành trong nhãn quan của Tin Mừng tuyệt đối không phải là sự yếu đuối hèn nhát, mà là sức mạnh nội tâm phi thường được kiểm soát bởi tình yêu và lòng kiên nhẫn. Người hiền lành biết dung thứ, biết nhường nhịn, không dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn, và chính họ mới là những người thực sự làm chủ được bản thân cũng như chiếm hữu được cõi lòng của người khác.
Văn hóa đương đại ngày nay ngày càng cổ vũ cho thứ đạo đức tự do lỏng lẻo, chủ trương phóng túng dục vọng, xem nhẹ sự trinh trắng và thanh sạch tâm hồn, cổ xí cho lối sống buông thả theo bản năng thấp hèn. Giữa một xã hội đầy rẫy những cạm bẫy ô uế ấy, Đức Giêsu cất cao lời tiên tri đầy quyền năng: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” Sự trong sạch của tâm hồn là chiếc gương trong suốt phản chiếu ánh sáng vinh quang của Đấng Tối Cao. Người có tâm hồn trong sạch không để cho những ô nhơ của thế gian làm lu mờ hình ảnh Thiên Chúa khắc ghi trong cõi lòng họ; nhờ đó, ngay từ cuộc đời này và trọn vẹn trong cõi vĩnh hằng, họ được diễm phúc chiêm ngắm tôn nhan ngời chói của Ngài.
Người đời thường dạy nhau bài học “ăn miếng trả miếng”, không chịu thua kém bất cứ ai, phải kết thúc cuộc chiến bằng sự trả thù cay đắng để khẳng định cái tôi ngạo mạn. Thế nhưng, Đức Giêsu lại mở ra một chân trời mới của lòng thương xót: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương” và “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” Trở thành người kiến tạo hòa bình đòi hỏi lòng can đảm hy sinh cái tôi ích kỷ, sẵn sàng làm nhịp cầu nối kết những chia rẽ, hận thù trong gia đình, trong cộng đoàn và trong xã hội. Những ai mang ơn tha thứ và trao ban lòng xót thương sẽ nhận lại nguồn ơn cứu độ dạt dào từ chính tấm lòng nhân hậu của Cha trên trời.
Cuối cùng, khi xã hội ngày càng ca ngợi sự dĩ hòa vi quý, sự thỏa hiệp với cái ác để được lòng tất cả mọi người, thì Đức Giêsu lại đưa ra một viễn tượng hoàn toàn khác biệt: “Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều gian ác.” Những lời này thoạt nghe có vẻ lạ lùng, thậm chí nghịch lý đối với tư duy tự nhiên của con người. Đức Giêsu không giấu giếm các môn đệ về những thử thách, khó khăn và bắt bớ mà họ phải đối mặt khi quyết tâm trung thành với Tin Mừng. Ngài đặt để các Tông Đồ và tất cả những ai bước theo Ngài vào con đường thập giá, bởi vì chính Ngài đã đi trước và chịu đóng đinh trên cây gỗ tử hình vì tình yêu đối với nhân loại.
Nhìn vào cuộc đời của các Thánh, chúng ta thấy rõ hiện thân sống động của Tám Mối Phúc Thật. Các ngài chính là những con người bằng xương bằng thịt, cũng có những yếu đuối hỷ nộ ái ố như chúng ta, nhưng đã để cho ân sủng của Chúa biến đổi triệt để. Điển hình như các vị thánh trong lịch sử cận đại và ngay trong truyền thống phong phú của Hội Thánh, chẳng hạn như Chân phước Michael McGivney – vị linh mục quản xứ khiêm tốn, tận tụy tại New Haven, người đã sáng lập Hội Hiệp Sĩ Columbus. Ngài là hiện thân tuyệt vời của một mục tử nghèo khó về vật chất nhưng vô cùng giàu có trước mặt Chúa. Ngài đau xót trước những hoàn cảnh ngặt nghèo của các gia đình mất đi người trụ cột, và đã chủ động ra tay giúp đỡ những người góa bụa, trẻ mồ côi bằng những việc làm thiết thực đong đầy tình bác ái huynh đệ. Ngài có một tâm hồn trong sạch, biết nhìn thấy khuôn mặt đau khổ của Đức Giêsu ẩn hiện nơi những người nghèo đói, cô đơn, đau bệnh và bị bỏ rơi. Ngài sống hiền lành, bao dung, đem lại bình an cho những gia đình đang đứng bên bờ vực sụp đổ do chia rẽ và hận thù. Dù phải đối mặt với không ít sự chống đối, thành kiến kỳ thị tôn giáo cay nghiệt từ môi trường xung quanh thời bấy giờ, ngài vẫn kiên cường tiến bước với đức tin vững chắc và lòng nhiệt thành không mỏi mệt.
Bên cạnh đó, đời sống thánh hiếu trong Hội Thánh qua các dòng tu, các hội dòng thánh hiệt cũng đóng vai trò là ngọn hải đăng soi sáng cho toàn thể dân Chúa thấy rõ hướng đi đích thực về quê trời. Như lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II từng nhấn mạnh trong tông huấn Vita Consecrata, đời sống thánh hiến có sứ mạng đặc biệt là nhắc nhở toàn thể cộng đoàn dân Chúa về những giá trị nền tảng của Tin Mừng. Các tu sĩ nam nữ không chỉ đặt để Đức Kitô làm ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc đời mình, mà còn cố gắng tái hiện lại một cách sống động hình thức cuộc sống mà Con Thiên Chúa đã chọn lựa khi bước vào trần gian. Họ minh chứng cho thế giới thấy rằng hạnh phúc đích thực không nằm ở của cải vật chất hay danh vọng hão huyền, mà nằm ở sự từ bỏ trọn vẹn qua ba lời khuyên phúc âm: khó nghèo, vâng phục và khiết tịnh.
Sự nghèo khó của đời sống thánh hiến là lời ca tụng vẻ đẹp tuyệt mỹ của “kho báu vô giá” là Nước Trời. Sự khiết tịnh tận hiến là nhãn quan trong sạch giúp nhìn thấy tha nhân trong ánh sáng tôn nghiêm của Thiên Chúa. Sự vâng phục trong tinh thần hiền lành là sức mạnh chiến thắng sự tự phụ kiêu ngạo của con người xác thịt. Và trên hết, khát vọng tìm kiếm thánh ý Chúa, sẵn sàng chấp nhận mọi hiểu lầm, bách hại hay hy sinh vì tình yêu đối với Thầy Chí Thánh chính là nguồn mạch biến cuộc đời của các tu sĩ cũng như mọi Kitô hữu trở thành những chứng nhân sống động cho lòng thương xót Chúa giữa lòng nhân loại hôm nay.
Sống tinh thần Bát Phúc không phải là một lý thuyết suông hay một thứ đạo đức ngút ngàn xa vời không với tới được, mà là đòi hỏi thực tế cho từng ngày sống của mỗi chúng ta. Trong gia đình, việc sống Bát Phúc đòi hỏi người cha người mẹ biết hy sinh cái tôi, nhẫn nhịn và tha thứ cho nhau, dạy dỗ con cái trong sự kính sợ Chúa thay vì dùng bạo lực hay lời lẽ cay nghiệt. Nơi môi trường làm việc, việc sống Bát Phúc đòi hỏi chúng ta trung thực trong từng giao dịch, từ chối những gian lận bất chính, đối xử nhân ái với đồng nghiệp và nâng đỡ những kẻ yếu thế hơn mình thay vì chà đạp họ để leo lên vị trí cao hơn. Giữa lòng xã hội đầy những hơn thua, ganh tỵ và bạo lực, người môn đệ của Đức Giêsu được mời gọi trở thành sứ giả của lòng thương xót, đem bình an đến những nơi có chiến tranh tranh chấp, đem niềm vui đến những chốn u sầu tuyệt vọng.
Con đường thánh thiện mở ra thênh thang trước mắt mỗi người chúng ta, không loại trừ bất kỳ ai, bất kể quá khứ tội lỗi hay hoàn cảnh yếu hèn ra sao. Điều quan trọng nhất là chúng ta có dám dứt khoát đứng lên, từ bỏ con đường tối tăm của ích kỷ để bước theo ánh sáng của Thầy Chí Thánh hay không. Các Thánh trên trời không phải là những pho tượng bằng đá lạnh lùng xa cách, mà là những người anh chị em đi trước, đang dang tay chào đón, cầu bầu và cổ vũ chúng ta tiếp tục kiên trì chiến đấu trong trận chiến đức tin nơi trần thế này.
Mỗi khi chúng ta cảm thấy chán nản trước những yếu đuối của bản thân, hay mỏi mệt trước những giông bão thử thách của cuộc sống, hãy ngước nhìn lên các Thánh và lắng nghe lời mời gọi thiết tha từ Tám Mối Phúc Thật của Đức Giêsu. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải ngay lập tức trở thành những bậc vĩ nhân phi thường, nhưng Ngài mong mỏi chúng ta hãy sống trọn vẹn từng khoảnh khắc trong tình yêu mến, biết sống khó nghèo trong tâm hồn, biết xót thương tha nhân, biết khao khát sự công chính và giữ gìn lòng mình trong sạch giữa muôn vàn cám dỗ của trần gian.
Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria – Nữ Vương các Thánh, và của tất cả các bậc thánh nhân trên thiên quốc, ban xuống trên mỗi người chúng ta muôn ơn lành tràn trề. Xin cho ánh sáng của Tám Mối Phúc Thật soi rọi vào từng ngóc ngách tâm hồn chúng ta, biến đổi cuộc đời chúng ta thành những khúc ca hoan ca cảm tạ tri ân. Xin cho chúng ta biết can đảm lựa chọn con đường hẹp dẫn đến sự sống vĩnh cửu, để một mai, khi lữ hành dương thế khép lại, chúng ta cũng được chung phần vinh quang với đoàn ngũ đông đảo các thánh trên quê trời, cùng muôn đời ca tụng và ngợi khen tình yêu hải hà của Thiên Chúa Ba Ngôi đến muôn thuở muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

HƯỚNG TỚI SỰ THÁNH THIỆN: CĂN TÍNH, SỨ VỤ VÀ NHỮNG HỆ QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Đời sống nhân thế tự bản chất là một chuỗi những cuộc lữ hành dài dặc, nơi mà mỗi con người sinh ra đều mang trong mình những khát vọng sâu thẳm về hạnh phúc, chân lý và sự trọn lành. Giữa dòng đời xuôi ngược, đôi khi chúng ta dễ bị cuốn trôi vào những nhịp sống vội vã, những lo toan vật chất thực dụng và những giá trị chóng qua của trần thế. Thế nhưng, tận sâu thẳm cõi lòng, tiếng nói lương tâm và ơn sủng Thiên Chúa vẫn luôn thì thầm thức tỉnh chúng ta rằng con người được dựng nên cho một cùng đích cao cả hơn thế rất nhiều. Cùng đích ấy không gì khác hơn là sự nên thánh, là việc chung phần vào chính sự sống và vinh quang của Thiên Chúa Ba Ngôi. Lễ Các Thánh hằng năm không chỉ đơn thuần là một mốc thời gian trên lịch phụng vụ để tri ân những bậc anh hùng đức tin đã chiến thắng khải hoàn trên quê trời, mà còn là một cơ hội đặc ân để mỗi người chúng ta nhìn lại chính mình, định hướng lại lộ trình đức tin và canh tân đời sống bản thân trước nhan thánh Chúa.
Khi bàn về sự thánh thiện, quan niệm phổ biến của xã hội thường mang tính loại biệt và xa vời. Người ta thường nghĩ rằng sự thánh thiện là đặc quyền của những bậc tu trì khép mình trong tu viện, của những vị linh mục dâng hiến toàn thân, hay của những nhân vật siêu việt đã làm nên những phép lạ lùng, những công trình vĩ đại được ghi ơn trên những trang sử vàng của Giáo hội. Một cách vô thức, nhiều Kitô hữu tự nhủ rằng việc nên thánh là một mục tiêu quá cao siêu, vượt quá tầm với của một con người phàm trần yếu đuối, đầy rẫy bất toàn và bận rộn với cơm áo gạo tiền giữa chốn bụi trần. Tuy nhiên, Kinh Thánh và truyền thống tông truyền của Giáo hội qua bao thế kỷ đã liên tục vang lên một chân lý hoàn toàn trái ngược: nên thánh là ơn gọi phổ quát dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai. Từ người nông dân lam lũ đến bậc trí thức uyên bác, từ người trẻ tuổi đầy hoài bão đến người cao tuổi đang chờ ngày về với Chúa, tất cả đều được mời gọi bước vào con đường trọn lành ấy.
Sự thánh thiện, xét cho cùng, không phải là kết quả của năng lực phàm nhân hay sự hoàn hảo tuyệt đối do sức lực con người tự lập nên, mà trước hết là một hồng ân, là sự đáp trả tình yêu đối với ơn sủng mà Thiên Chúa đã tuôn đổ vào tâm hồn chúng ta. Thiên Chúa là Đấng Thánh, và Ngài muốn chia sẻ sự sống thánh thiêng ấy cho thụ tạo mà Ngài yêu dấu. Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa xuống thế làm người, đã đến để mở ra con đường sự sống mới, vén mở khuôn mặt nhân hậu của Chúa Cha và mời gọi mỗi người chúng ta hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện. Lời mời gọi ấy mang tính cấp bách và có tính hệ quyết định mạnh mẽ đối với từng hành vi, từng suy nghĩ và từng bước đi trong cuộc đời thường nhật của chúng ta. Trở nên thánh thiện đồng nghĩa với việc để cho quyền năng tình yêu của Thiên Chúa biến đổi tận căn từ bên trong, để khuôn mặt của Đức Kitô được phản chiếu rõ nét qua lời nói, thái độ và cung cách ứng xử của chúng ta trước mặt tha nhân.
Để hiểu rõ hơn về căn tính của sự thánh thiện, chúng ta không thể bỏ qua bản Hiến Chủng Lumen Gentium của Công đồng Vatican II, nơi khẳng định mạnh mẽ về ơn gọi nên thánh của toàn thể dân Chúa. Các thánh mà Giáo hội mừng kính không phải là những con người xa lạ, xuất thân từ một hành tinh khác, mà họ cũng từng là những con người bằng xương bằng thịt, mang lấy gánh nặng của sự yếu đuối, những giới hạn, những cám dỗ và những thử thách cam go của cuộc sống trần thế. Điểm khác biệt duy nhất và cốt lõi giữa họ và chúng ta không nằm ở chỗ họ không hề vấp ngã, nhưng nằm ở chỗ khi vấp ngã, họ biết khiêm tốn đứng dậy, biết bám chặt vào lòng thương xót của Thiên Chúa và kiên trì bước đi trong ơn sủng. Các ngài đã minh chứng bằng chính cuộc đời mình rằng tình yêu Thiên Chúa có sức mạnh vượt thắng mọi xiềng xích của tội lỗi và sự yếu hèn.
Nhìn ngắm các thánh trên thiên quốc, chúng ta thấy một bức tranh muôn màu muôn vẻ về sự thánh thiện. Có những vị thánh vĩ đại đã làm rung chuyển cả một thời đại bằng lòng nhiệt thành tông đồ, bằng những bài giảng hùng hồn hay những hy sinh tột cùng của máu đào tử đạo. Nhưng bên cạnh đó, có biết bao vị thánh thầm lặng, ẩn khuất sau lớp bụi mờ của những công việc tầm thường hằng ngày. Đó là những người cha, người mẹ tận tụy hy sinh cả cuộc đời vì hạnh phúc của con cái; là những người lao động chân chính đổ mồ hôi nước mắt để nuôi sống gia đình trong sự trung thực; là những bệnh nhân kiên cường vác thập giá đau khổ kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô; hay là những người âm thầm làm những việc bác ái nhỏ bé với một tình yêu vô bờ bến. Điều đó cho thấy rằng con đường nên thánh không đòi hỏi chúng ta phải làm những việc kinh thiên động địa, mà đòi hỏi chúng ta phải làm những việc tầm thường với một tình yêu phi thường.
Cuộc sống hiện đại với biết bao tiến bộ khoa học kỹ thuật đã mang lại cho con người nhiều tiện nghi vật chất, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách đố trầm trọng cho đời sống đức tin. Chủ nghĩa duy vật thực dụng, lối sống ích kỷ, sự dửng dưng vô cảm trước nỗi đau của đồng loại và những dòng chảy văn hóa đi ngược lại với luân lý Tin Mừng đang ngày đêm tấn công vào nền móng đạo đức của con người. Trong bối cảnh ấy, ơn gọi nên thánh của người Kitô hữu mang ý nghĩa là một sự phản kháng linh thánh, một lời chứng hùng hồn về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa lòng thế giới tục hóa. Trở nên thánh không có nghĩa là trốn chạy khỏi thế gian, buông xuôi trách nhiệm xã hội hay sống khép kín trong một chiếc tháp ngà đạo đức giả, nhưng là dấn thân trọn vẹn vào trần thế với một tâm hồn được thanh luyện, biết dùng Tin Mừng để soi sáng, cảm hóa và nâng đỡ những thực tại trần thế hướng về vinh quang Thiên Chúa.
Mỗi Kitô hữu khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy đã được mặc lấy Đức Kitô và được mời gọi trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần. Điều này đặt để lên vai chúng ta một trách nhiệm vô cùng cao cả nhưng cũng đầy trăn trở: sống sao cho xứng đáng với phẩm giá con cái Chúa. Căn tính Kitô giáo không phải là một chiếc áo khoác bên ngoài có thể cởi ra hay mặc vào tùy hứng, mà là một bản chất mới, một chiều kích hiện sinh chi phối toàn bộ đời sống nội tâm lẫn biểu hiện bên ngoài. Khi chúng ta đối diện với những quyết định quan trọng trong cuộc sống gia đình, công việc làm ăn, các mối quan hệ xã hội hay việc dấn thân phục vụ cộng đồng, lăng kính đức tin và sự thánh thiện phải là kim chỉ nam định hướng mọi suy nghĩ và hành động. Sống thánh thiện chính là việc thực thi giới răn yêu thương một cách triệt để, biến mỗi ngày sống thành một hiến lễ dâng lên Thiên Chúa qua những hành động bác ái thiết thực đối với anh chị em đồng loại.
Một trong những cạm bẫy lớn nhất trên hành trình vươn tới sự thánh thiện là sự thỏa mãn với hiện tại, hay còn gọi là sự lười biếng thiêng liêng. Nhiều người trong chúng ta thường tự mãn với một đời sống đạo hình thức, giữ chu đáo các luật lệ tôn giáo cơ bản như đi lễ ngày Chúa nhật, đọc vài lời kinh ngắn ngủi rồi sau đó để cho tinh thần trần tục chi phối toàn bộ phần thời gian còn lại trong tuần. Chúng ta tự nhủ rằng mình không phạm tội trọng, không hại ai, thế là đủ để vào nước trời. Tuy nhiên, sự thánh thiện không có chỗ đứng cho sự trì trệ hay tầm thường hóa ơn gọi. Đức cố Giáo hoàng Biển Đức XVI đã từng nhắc nhở rằng chúng ta không được dựng nên để sống một cuộc đời tầm thường, nhưng được dựng nên cho những điều vĩ đại, cho chính sự thánh thiện. Chúa Giêsu không mời gọi chúng ta dừng chân ở mức độ trung bình khá, nhưng Ngài mời gọi chúng ta hãy tiến ra vùng nước sâu của đời sống thiêng liêng, nơi mà ơn sủng của Ngài có thể hoạt động một cách mạnh mẽ và trọn vẹn nhất.
Để duy trì và nuôi dưỡng ngọn lửa thánh thiện trong tâm hồn, người Kitô hữu cần phải xây dựng một nền tảng đời sống thiêng liêng vững chắc dựa trên ba trụ cột truyền thống: cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích và thực thi bác ái. Cầu nguyện không chỉ là đọc lên những công thức có sẵn hay xin xỏ ơn huệ vật chất, mà là một cuộc gặp gỡ thân mật, một sự hiệp thông sống động giữa tâm hồn con người với Thiên Chúa hằng sống. Trong thinh lặng của cõi lòng, chúng ta để cho Lời Chúa thanh luyện, chất vấn và đổi mới. Các bí tích, đặc biệt là Bí tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể, chính là nguồn suối ân sủng dồi dào mà Chúa Kitô đã trao ban để chữa lành những thương tích do tội lỗi gây ra, đồng thời bồi dưỡng sức mạnh trên bước đường lữ hành đức tin. Không có sự gắn kết mật thiết với bàn tiệc Thánh Thể, nỗ lực nên thánh của chúng ta chỉ là những cố gắng phàm nhân mau chóng lụi tàn trước những giông bão của cuộc đời.
Bên cạnh đời sống cầu nguyện và phụng vụ, sự thánh thiện còn được minh chứng qua thái độ sống đối với tha nhân. Tình yêu mến Thiên Chúa và tình yêu thương đồng loại là hai mặt của một chiếc huy chương, không thể tách rời nhau. Một người tự xưng là yêu mến Chúa nhưng lại dửng dưng, cay độc hoặc ích kỷ trước những hoàn cảnh khốn khó của anh em xung quanh thì đó chỉ là một sự ảo tưởng thiêng liêng. Các thánh qua mọi thời đại luôn là những con người có trái tim nhạy cảm trước những nỗi thống khổ của tha nhân. Các ngài nhìn thấy khuôn mặt đau khổ của Chúa Giêsu đang ẩn hiện trong những người nghèo đói, bệnh tật, cô đơn, bị gạt ra bên lề xã hội hay những tâm hồn đang quằn quại trong vũng lầy tội lỗi. Dấn thân phục vụ tha nhân không phải là một gánh nặng ngoại tại, mà là hệ quả tất yếu của một tâm hồn đang tràn ngập niềm vui và ơn sủng Thiên Chúa.
Sự thánh thiện cũng đòi hỏi chúng ta phải có tinh thần từ bỏ và vác thập giá hằng ngày. Trong một xã hội đề cao chủ nghĩa hưởng thụ, nơi mà con người luôn tìm cách né Tránh khổ đau, hy sinh và tìm kiếm sự thỏa mãn tức thời, sứ điệp của Tin Mừng đi ngược lại dòng chảy ấy khi khẳng định rằng con đường dẫn đến sự sống đích thực phải đi qua cửa hẹp của sự hy sinh và từ bỏ ý riêng. Từ bỏ không có nghĩa là tiêu diệt những khát vọng chính đáng của con người, mà là đặt để những khát vọng ấy dưới quyền tể trị của tình yêu Thiên Chúa. Biết kiềm chế những ham muốn bất chính, biết tha thiết cầu nguyện cho kẻ thù, biết quảng đại chia sẻ những gì mình có cho những người thiếu thốn, và biết nhẫn nại chịu đựng những nghịch cảnh trong cuộc sống với lòng cậy trông phó thác – đó chính là những chất liệu quý giá để nhào nặn nên một tâm hồn thánh thiện.
Hành trình nên thánh chắc chắn không phải là một con đường rải đầy hoa hồng, mà là một cuộc chiến đấu thiêng liêng cam go diễn ra hằng ngày, hằng giờ ngay trong tâm hồn mỗi người. Đó là cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ơn sủng và tội lỗi, giữa ý muốn của Thiên Chúa và sự ích kỷ của bản ngã. Sẽ có những lúc chúng ta cảm thấy chán nản, kiệt sức trước những vấp ngã lặp đi lặp lại, hay cảm thấy cô độc giữa một thế giới dường như lãng quên những giá trị thiêng liêng. Những lúc ấy, điều quan trọng nhất là đừng bao giờ để sự thất vọng đè bẹp niềm hy vọng. Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta phải thành công bằng mọi giá, nhưng Ngài đòi hỏi chúng ta sự trung tín và lòng cậy trông tuyệt đối vào lòng thương xót vô biên của Ngài. Mỗi lần ngã xuống là một cơ hội khiêm tốn để nắm lấy bàn tay nhân ái của Chúa Giêsu, để được Ngài nâng dậy và tiếp bước với một nguồn sức mạnh mới mẻ hơn.
Nhìn về tương lai của Giáo hội và nhân loại, niềm hy vọng lớn lao nhất của chúng ta được neo giữ nơi lời hứa cứu độ của Thiên Chúa và sự chuyển cầu mạnh mẽ của các thánh trên trời. Các ngài không phải là những khán giả đứng nhìn chúng ta vật lộn giữa trần gian, mà là những người anh chị cả đang đồng hành, cổ vũ và cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước ngai tòa Thiên Chúa. Mỗi khi chúng ta mừng kính các thánh, chúng ta không chỉ hướng về quá khứ để tưởng nhớ, mà còn hướng về tương lai với một niềm khát khao cháy bỏng về quê hương vĩnh cửu. Cuộc đời trần thế này chỉ là một trạm dừng chân ngắn ngủi, một khoảng thời gian thử thách để chúng ta minh chứng tình yêu và sự trung thành của mình đối với Đấng đã dựng nên và cứu chuộc chúng ta. Cùng đích cuối cùng của đời người là được chung phần vào sự sống viên mãn trong vương quốc tình yêu của Thiên Chúa, nơi không còn nước mắt, đau khổ hay sự chết, mà chỉ có niềm vui hoan hỉ muôn đời bên các thánh.
Tóm lại, ơn gọi nên thánh không phải là một điều gì đó xa vời, trừu tượng hay bất khả thi, mà là sứ vụ cốt lõi, là căn tính đích thực của mỗi Kitô hữu ngay trong cuộc sống thường nhật hôm nay. Giữa một thế giới đang khát mòn những giá trị tinh thần, sự hiện diện của những tâm hồn thánh thiện chính là những đốm lửa ấm áp sưởi ấm lòng người, là ánh sáng chiếu soi dẫn dắt tha nhân tìm về nguồn ơn cứu độ. Ước gì qua hồng ân của Lễ Các Thánh và qua lời chuyển cầu thiết tha của các bậc tiền nhân trên quê trời, mỗi người chúng ta biết canh tân quyết tâm sống đẹp lòng Chúa, can đảm từ bỏ con đường tội lỗi, mở rộng cõi lòng đón nhận ơn sủng và dấn thân trọn vẹn cho sứ mạng yêu thương. Để rồi, khi trọn vẹn cuộc đời lữ hành trần thế này, chúng ta cũng được xứng đáng bước qua cánh cửa vĩnh cửu, cùng chung tiếng hát hoan ca với muôn vàn thần thánh ngợi khen vinh quang Thiên Chúa đến muôn thuở muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

VẺ ĐẸP CỦA SỰ THÁNH THIỆN TRONG CUỘC SỐNG THƯỜNG NHẬT VÀ HƯỚNG VỀ BẦU TRỜI CAO QUÝ
Khi bước vào cử hành phụng vụ ngày lễ kính tất cả các thánh, tâm hồn chúng ta được nâng lên khỏi những bụi bặm, lo toan và tất bật của cuộc sống thường nhật để hướng về một chiều kích vô biên, nơi mà lịch sử nhân loại giao hòa với vĩnh cửu. Lễ các Thánh không chỉ đơn thuần là dịp để chúng ta tưởng nhớ đến những vị anh hùng đức tin đã được Giáo hội chính thức tôn phong trên các bàn thờ, những vị mà tên tuổi được khắc ghi trong sử sách hay được tượng hình qua những bức tranh kính màu lung linh trong các thánh đường lớn. Hơn thế nữa, ngày lễ hôm nay là bản tụ ca vĩ đại về tình yêu thương bao la của Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi và quy tụ một đoàn người đông đảo không tài nào đếm nổi, từ mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ, mọi dân tộc và mọi quốc gia trên trái đất này. Họ là những con người bằng xương bằng thịt, từng trải qua những giông bão, thử thách, đau khổ và cả những yếu đuối của phận người, nhưng đã để cho ơn thánh biến đổi để trở nên những ngọn hải đăng chiếu rọi giữa trần gian.
Nhìn vào bức tranh toàn cảnh của ơn gọi thánh thiện, chúng ta thấy con người thường có xu hướng gán ghép sự thánh thiện vào những khuôn mẫu siêu phàm, xa vời, giống như những pho tượng đá lạnh lẽo hay những bức tranh cổ điển với vầng hào quang chói lọi trên đầu. Chúng ta dễ lầm tưởng rằng để nên thánh, con người phải sống tách biệt khỏi thế giới, phải thực hiện những điều kỳ lạ, những phép lạ lớn lao, hoặc phải đạt đến một trạng thái hoàn hảo không tì vết, không bao giờ vấp ngã, không bao giờ biết đến những nỗi buồn phiền hay sự khô khan trong tâm hồn. Có người còn nghĩ rằng sự thánh thiện chỉ là đặc quyền dành riêng cho các tu sĩ trong các tu viện kín cổng cao tường, hay những vị tử đạo chịu chết vì đức tin, chứ không phải là con đường dành cho những người đang lיm lũ vất vả mưu sinh ngoài xã hội. Chính những quan niệm sai lầm này đã tạo ra một bức tường vô hình, ngăn cách giữa con người hiện đại với khát vọng cao cả mà Thiên Chúa hằng mong đợi nơi mỗi người chúng ta.
Thế nhưng, khi lắng nghe Lời Chúa vang lên trong ngày lễ này, đặc biệt là qua Hiến Chấn Lumen Gentium của Công đồng Vatican II về ơn gọi phổ quát nên thánh, chúng ta được mời gọi nhìn nhận lại một cách sâu sắc rằng: sự thánh thiện không phải là một đích đến xa xôi chỉ đạt được sau khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay qua đời, mà là một hành trình thực tế phải bắt đầu ngay từ giây phút hiện tại, ngay trong từng hơi thở của cuộc sống thường nhật. Sự thánh thiện không đòi hỏi chúng ta phải trở thành những hình mẫu không tưởng, nhưng đòi hỏi chúng ta hãy sống trọn vẹn phẩm giá làm con Thiên Chúa với tất cả sự chân thành, lòng bác ái và sự dấn thân âm thầm. Những vị thánh thực sự trong lịch sử và cả những người thánh ẩn giấu xung quanh chúng ta không phải là những kẻ chưa từng phạm lỗi, mà là những người vấp ngã nhưng biết đứng lên, những người biết mỉm cười giữa những giông bão cuộc đời, những người mang trong mình một trái tim biết dung cảm, biết yêu thương và biết tha thứ.
Khi suy ngẫm về Tám Mối Phúc Thật mà Đức Giêsu đã công bố trên ngọn núi cao, chúng ta nhận ra một nghịch lý lớn lao giữa cách nhìn của Thiên Chúa và giá trị của thế gian. Thế giới trần tục này từ xưa đến nay vẫn luôn tôn vinh sức mạnh bạo lực, sự giàu sang phú quý, quyền lực tột đỉnh, danh vọng hão huyền và lối sống hưởng thụ ích kỷ. Xã hội thường ca tụng những kẻ biết tranh giành, những người nắm giữ tài nguyên vật chất khổng lồ, những kẻ đạp lên người khác để vươn lên đỉnh cao danh vọng, và coi thường những ai khiêm nhường, nghèo khó hay hiền lành. Thế nhưng, Đức Giêsu lại đảo lộn hoàn toàn những thước đo ấy. Ngài tuyên bố rằng phúc thay những ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ; phúc thay những ai hiền lành, vì họ sẽ được đất làm gia nghiệp; phúc thay những ai sầu khổ, vì họ sẽ đượcủi an; phúc thay những ai khát khao sự công chính, vì họ sẽ được thỏa lòng. Những lời phán dạy ấy không phải là những triết lý viển vông hay những điều luật khô cứng, mà chính là bản đồ chỉ đường, là chân dung sống động của chính Đức Giêsu, Đấng đã đến để mặc khải tình thương vô biên của Chúa Cha.
Hãy nhìn kỹ hơn vào từng mối phúc để thấy rằng chúng hiển hiện rất gần gũi trong đời sống hàng ngày của chúng ta. “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó.” Nghèo khó ở đây không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà là thái độ thiêng liêng biết buông bỏ sự tự phụ, không cậy dựa vào tiền tài, danh vọng hay khả năng bản thân, mà hoàn toàn phó thác đời mình vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Người có tâm hồn nghèo khó là người biết nhìn nhận giới hạn của chính mình, biết trân trọng từng ơn ban nhỏ bé và luôn mở rộng trái tim để đón nhận tha nhân. Trong một xã hội mà con người ngày càng bị cuốn vào vòng xoáy của chủ nghĩa tiêu thụ, việc giữ cho tâm hồn không bị ràng buộc bởi vật chất chính là một biểu hiện tuyệt vời của sự thánh thiện giữa đời thường.
Bên cạnh đó, “phúc thay ai hiền lành.” Sự hiền lành theo tinh thần Tin Mừng hoàn toàn không phải là sự yếu đuối, nhút nhát hay đầu hàng trước bất công. Trái lại, hiền lành là sức mạnh lớn lao của một tâm hồn đã được kìm nén bởi tình yêu, biết dùng sự ôn hòa để hóa giải hận thù, dùng sự nhẫn nại để đối diện với những nghịch cảnh. Thánh Phanxicô de Sales từng nhắc nhở rằng chúng ta có thể bắt được nhiều ruồi hơn bằng một thìa đường so với một thùng giấm. Trong gia đình, trong môi trường làm việc hay giữa các mối quan hệ xã hội, sự hiền lành chính là chất keo kết dính, là thứ ánh sáng dịu ngọt xua tan đi sự lạnh giá, ích kỷ và bạo lực đang có nguy cơ gặm nhấm tâm hồn con người hiện đại.
Đức Giêsu cũng ca ngợi những ai xót thương người khác. Lòng thương xót không chỉ là việc bố thí chút tiền bạc cho những mảnh đời bất hạnh ngoài đường phố, mà còn là thái độ thấu cảm sâu sắc trước nỗi đau khổ, sự cô đơn và những vấp ngã của anh chị em đồng loại. Người có lòng xót thương là người biết tha thiết cảm thông thay vì phán xét, biết mở rộng vòng tay bao dung thay vì đay nghiến lỗi lầm của người khác. Khi chúng ta tha thứ cho một ai đó đã xúc phạm mình, khi chúng ta kiên nhẫn lắng nghe một người đang gặp khủng hoảng tinh thần, khi chúng ta âm thầm san sẻ gánh nặng với một người hàng xóm đang khốn đốn, chính lúc đó chúng ta đang thực thi lòng thương xót của Thiên Chúa giữa lòng trần thế.
Một yếu tố quan trọng khác được đề cập trong các mối phúc chính là sự thanh sạch trong tâm hồn. “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” Tâm hồn trong sạch không bị vẩn đục bởi sự gian dối, ý đồ đen tối hay sự ích kỷ đố kỵ. Đó là một cõi lòng minh bạch, chân thành trong các mối quan hệ, biết hướng về điều thiện hảo và không bị những cám dỗ vật chất làm lòa mắt. Khi tâm hồn trong sạch, con người có khả năng nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong những điều rất bình dị của cuộc sống: trong nụ cười của một đứa trẻ, trong ánh mắt biết ơn của người già, trong vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên hay trong sự bình an nội tâm khi chúng ta làm được một việc nghĩa.
Không thể không nhắc đến những người kiến tạo hòa bình. Trong một thế giới đầy rẫy những xung đột, chia rẽ, chiến tranh và những cuộc tranh chấp không hồi kết từ bình diện quốc tế cho đến các mối quan hệ gia đình, vai trò của người kiến tạo hòa bình trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Họ là những nhịp cầu nối liền những bờ vực thẳm của sự nghi kỵ, là những người mang lại bầu khí hòa dịu, biết nhường nhịn, biết lắng nghe để thấu hiểu thay vì hơn thua tranh chấp. Đức Giêsu khẳng định rằng họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa, bởi vì họ đang tiếp nối chính sứ mạng của Con Một Ngài, Đấng đã đến để đem bình an đích thực cho nhân loại.
Cuối cùng, sự bách hại vì đức công chính hay vì danh Đức Giêsu không phải là điều gì quá xa lạ đối với những ai quyết tâm sống theo tinh thần Tin Mừng. Khi một người dám đứng lên bênh vực sự thật, chống lại sự bất công, gian dối và tham nhũng xung quanh mình, họ chắc chắn sẽ gặp phải sự chống đối, gièm pha hoặc thậm chí là cô lập. Tuy nhiên, Đức Giêsu khích lệ chúng ta hãy vui mừng hớn hở, bởi vì phần thưởng dành cho những ai kiên vững bước đi trên con đường chân lý là vô cùng lớn lao trên nước trời. Các ngôn sứ thời xưa và vô số các vị thánh trong lịch sử đã đi qua con đường thập giá ấy để đạt tới vinh quang phục sinh.
Nhìn lại lịch sử cứu độ và dòng chảy của thời gian, chúng ta thấy rằng các thánh không phải là những con người rơi từ trên trời xuống, mà họ được sinh ra từ lòng nhân loại đau khổ này. Họ cũng có những giọt nước mắt, những nỗi sợ hãi, những trăn trở và cả những cám dỗ giằng xé trong nội tâm. Điều làm nên sự khác biệt giữa họ và phần còn lại của thế giới không phải là việc họ không bao giờ vấp ngã, nhưng là việc họ không bao giờ buông xuôi hy vọng. Khi vấp ngã, họ biết khiêm tốn đứng dậy nhờ ơn Chúa; khi gặp bóng tối, họ biết bấu víu vào ánh sáng của lòng thương xót Chúa. Họ là những người cha, người mẹ đã âm thầm lao động cực nhọc để nuôi dạy con cái nên người trong đức tin; họ là những người bạn luôn sẵn sàng ở bên cạnh nhau trong những lúc hoạn nạn; họ là những thầy cô giáo tận tụy truyền đạt tri thức và nhân cách cho thế hệ trẻ; họ là những bệnh nhân kiên cường dâng hiến nỗi đau đớn của mình kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô.
Chính vì thế, khi cử hành lễ kính các thánh, chúng ta không chỉ hướng về quá khứ hay nhìn lên các bức tranh trên tường, mà chúng ta đang nhìn vào chính tiềm năng thánh thiện đang ẩn giấu trong tâm hồn mình. Mỗi người chúng ta đã nhận lãnh ơn tái sinh qua bí tích Thanh Tẩy, đã được ghi ấn tín của Chúa Thánh Thần và được nuôi dưỡng bằng chính Mình và Máu Thánh Đức Kitô trong mỗi thánh lễ. Đó là nguồn sức mạnh vô tận giúp chúng ta vượt qua những giới hạn mỏng dôi của phận người để vươn tới sự hoàn thiện theo ý muốn của Thiên Chúa. Sự thánh thiện không phải là một danh hiệu cao sang do người phàm ban tặng, mà là một ơn gọi phổ quát dành cho tất cả mọi người Kitô hữu. Bất kể chúng ta là ai, làm nghề nghiệp gì, đang sống trong hoàn cảnh gia đình hay xã hội nào, chúng ta đều được mời gọi trở thành thánh trong môi trường sống cụ thể của mình.
Đừng bao giờ nghĩ rằng mình quá nhỏ bé, tội lỗi hay bất xứng để có thể trở nên thánh thiện. Thiên Chúa không nhìn vào những thành tích lớn lao hay sự hoàn hảo bề ngoài theo tiêu chuẩn loài người, nhưng Ngài nhìn ngắm tấm lòng chân thành và nỗ lực bé nhỏ của chúng ta mỗi ngày. Một lời nói dịu dàng xoa dịu nỗi đau của người khác, một cái ôm tha thứ cho người lầm lỗi, một chén nước lạnh được trao ban với lòng bác ái, một giờ phút cầu nguyện thinh lặng giữa bộn bề lo toan… tất cả những hành động nhỏ bé ấy, nếu được làm với tình yêu mến lớn lao dành cho Thiên Chúa và tha nhân, đều trở thành những viên gạch quý giá xây dựng nên ngôi đền thánh thiện trong tâm hồn chúng ta.
Khi suy ngẫm về đích điểm của cuộc đời, chúng ta nhận ra rằng cái chết không phải là dấu chấm hết hay sự hủy diệt tuyệt đối, mà là cửa ngõ bước vào sự sống viên mãn, là cuộc gặp gỡ mặt đối mặt với Đấng mà chúng ta hằng yêu mến và tìm kiếm trong suốt cuộc đời dương thế. Sách Khải Huyền đã mô tả hình ảnh một đoàn người đông đảo không tài nào đếm nổi, mặc áo trắng tinh và cầm nhành lá tuế trong tay, tung hô ơn cứu độ thuộc về Thiên Chúa và Con Chiên. Áo trắng ấy chính là biểu tượng của sự thanh luyện qua ơn thánh, là kết quả của một đời sống biết từ bỏ sự dữ để mặc lấy tâm tình của Đức Kitô. Đó cũng chính là viễn tượng tương lai đang chờ đón mỗi người chúng ta nếu chúng ta biết kiên tâm bước đi trên con đường hẹp của các mối phúc thật.
Trong hành trình đức tin trần thế này, chúng ta không cô độc. Chúng ta có sự bầu cử mạnh mẽ của các thánh trên trời, những người đi trước đã khải hoàn và luôn sẵn sàng chuyển cầu ơn trợ giúp cho chúng ta. Đồng thời, chúng ta có sự đồng hành của cộng đoàn Hội Thánh, nơi chúng ta nâng đỡ, khích lệ và cùng nhau tiến bước về quê trời vĩnh hằng. Mỗi lần chúng ta tham dự Thánh lễ, rước Mình Thánh Chúa, chúng ta không chỉ nhận lấy lương thực cho thể lý hay tinh thần, mà chúng ta đang đón nhận chính nguồn mạch của sự thánh thiện, Đấng biến đổi chúng ta từ những con người yếu đuối thành những chứng nhân cho tình yêu và ánh sáng của Ngài giữa lòng thế giới tục hóa này.
Ước gì qua ngày lễ kính tất cả các thánh hôm nay, ngọn lửa khát vọng nên thánh lại được thắp lên mạnh mẽ trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Xin cho chúng ta biết buông bỏ những toan tính ích kỷ, những hận thù vụn vặt và những nỗi sợ hãi mơ hồ để can đảm sống theo tinh thần Tin Mừng. Xin cho chúng ta biết nhìn ngắm cuộc đời bằng đôi mắt của đức tin, biết trân trọng từng cơ hội mà Chúa ban tặng để làm cho cuộc sống này trở nên tốt đẹp hơn, đong đầy tình bác ái và sự thứ tha. Để rồi cuối cuộc hành trình trần thế này, khi khép lại đôi mắt trước những thăng trầm của thời gian, chúng ta cũng được chung phần vào đoàn người áo trắng đông đảo trên thiên quốc, cùng ca vang khúc ca ngợi khen Thiên Chúa muôn đời muôn thuở.
Lm. Anmai, CSsR

HÀNH TRÌNH TỪ KẺ XA LẠ TRỞ THÀNH BẠN HỮU THÂN THIẾT TRONG NHÀ CHÚA
Trong cõi trần thế mênh mông và đầy những lữ khách bơ vơ, kiếp nhân sinh đôi khi giống như một hành trình dài dằng dặc của những kẻ tha hương tìm đường về nhà. Mỗi chúng ta, qua biết bao thăng trầm, yếu đuối, lầm lỡ và những giọt nước mắt thầm lặng, thường mang trong lòng một cảm giác sâu thẳm về sự cô đơn, một nỗi niềm xa lạ ngay giữa lòng cuộc đời. Chúng ta nhìn vào sự thánh thiện cao vời của Thiên Chúa, nhìn vào các thánh rạng ngời vinh hiển trên thiên quốc, và có lúc tự thấy mình giống như những kẻ đứng bên lề, những vị khách không mời mà tới, những kẻ xa lạ chẳng chút xứng đáng bước vào đền vàng ngọc bích của Ngài. Cảm giác ấy đè nặng lên tâm hồn, khiến con người dễ rơi vào mặc cảm, sợ hãi, thậm chí buông xuôi trước cạm bẫy của tội lỗi và sự hoài nghi.
Thế nhưng, mầu nhiệm tuyệt vời của đức tin Kitô giáo không dừng lại ở sự xa cách nghìn trùng giữa Đấng Tạo Hóa và loài thụ tạo tội lỗi. Tin Mừng là một lời mời gọi đổi mới tận căn, là một tiếng gọi dịu ngọt biến đổi hoàn toàn cục diện sinh tồn của chúng ta: từ chỗ là những kẻ xa lạ, những người đứng bên lề ngước nhìn từ xa, chúng ta được kéo đến gần, được ôm ấp trong vòng tay yêu thương và được nâng lên hàng bạn hữu thân thiết của Thiên Chúa và của toàn thể triều thần thánh trên trời. Sự biến đổi kỳ diệu này không phát xuất từ công trạng tài năng hay sự hoàn hảo mang tính phàm nhân của chúng ta, nhưng phát xuất hoàn toàn từ lòng thương xót vô biên và thứ tình yêu cứu độ đã được thể hiện qua dòng máu chí thánh của Đức Giêsu Kitô trên cây thập giá.
Khi cử hành phụng vụ và suy ngẫm về mầu nhiệm các thánh, tâm hồn chúng ta không bị đè bẹp bởi sự hoàn hảo không với tới được của các ngài, trái lại, chúng ta được thắp lên một niềm khao khát cháy bỏng. Như thánh Bernard thành Clairvaux từng thổ lộ, việc tưởng nhớ các thánh chẳng thêm thắt được gì cho vinh quang vô tận của các ngài, nhưng lại khơi dậy trong lòng chúng ta một nỗi niềm thổn thức mãnh liệt, một khao khát được thuộc về gia đình của Thiên Chúa, được chung hưởng niềm vui vĩnh cửu với những con người bằng xương bằng thịt từng trải qua lầm than, khốn khó như chúng ta. Các ngài không phải là những thần tượng xa xôi lạnh lẽo, mà chính là những người bạn lớn, những người đồng hành đã đi trọn con đường đức tin, để lại dấu chân sáng ngời cho chúng ta noi theo.
Nghệ thuật Thiên Chúa giáo qua các thời kỳ vẫn luôn phác họa khung cảnh thiên đàng bằng những nét bút tràn ngập sự trìu mến và ấm áp. Trong bức họa thiên đàng của Beato Angelico, chúng ta thấy hình ảnh các thánh nắm tay nhau, nhảy múa, ôm ấp trong ánh sáng huy hoàng của vinh quang, hòa cùng các thiên thần thành một vòng tròn bất tận của niềm vui và sự hiệp thông trọn vẹn. Ở nơi chốn ấy, không ai cảm thấy lạc lõng, không ai phải dè dặt hay ngượng ngùng. Mọi sự xa cách, mọi lớp mặt nạ xã giao, mọi nỗi sợ bị phán xét đều bị thiêu rụi trong ngọn lửa tình yêu tinh tuyền. Đó là ngôi nhà đích thực, nơi mỗi người được thấu hiểu trọn vẹn, được đón nhận hoàn toàn, và được yêu thương bằng thứ tình yêu vượt lên trên mọi giới hạn trần gian.
Để bước vào cõi hạnh phúc ấy, nhân loại cần phải vượt qua một rào cản lớn lao, đó là cảm giác làm “kẻ xa lạ”. Thánh Phaolô từng nhắc nhở các tín hữu Êphêsô rằng trước kia họ từng là những kẻ ở ngoài, xa lạ với giao ước của lời hứa, không có niềm tin và không có Thiên Chúa ở thế gian. Sự xa lạ ấy không chỉ là khoảng cách địa lý hay văn hóa, mà là sự tha hóa nội tâm do tội lỗi gây ra, khiến con người tự cắt đứt mình khỏi nguồn mạch sự sống. Khi phạm tội, khi kiêu ngạo, khi ích kỷ hay dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại, chúng ta tự đặt mình vào vị thế của những người đứng ngoài rìa ánh sáng. Chúng ta cảm thấy mình giống thú tính hơn là thần linh, giống kẻ đạo đức giả hơn là người công chính. Sự giằng xé nội tâm giữa cái thiện cao cả và cái ác tầm thường cứ thế dằn vặt con người, biến chúng ta thành những kẻ tha hương ngay chính trong ngôi nhà của Cha mình.
Tuy nhiên, Tin Mừng loan báo một chân lý làm rung động đất trời: “Nhưng nay, trong Đức Giêsu Kitô, anh em là những người trước kia ở xa, đã được đưa lại gần nhờ máu của Đức Kitô”. Máu của Chiên Con vô tội chính là thứ keo kết dính những mảnh vỡ của nhân loại tội lỗi thành một khối duy nhất. Chúng ta không còn là người ngoại kiều hay khách trú, nhưng là người nhà trong gia đình Thiên Chúa, là đồng hương với các thánh. Sự gắn kết này không dựa trên dòng máu huyết thống phàm trần, mà dựa trên ơn cứu chuộc cao cả. Tất cả các thánh trên thiên quốc đều từng là những con người yếu đuối, mang trong mình những vết thương lòng, những khuynh hướng xấu xa, những chiến đấu nội tâm vô cùng khốc liệt. Có vị từng chìm đắm trong giận dữ, có vị chiến đấu trầy trật với tính kiêu ngạo, có vị chông chênh giữa sợ hãi và bất an. Nhưng điều làm nên sự khác biệt giữa các ngài và thế gian không phải là sự vô tội tuyệt đối từ tấm bé, mà là sự cam đảm quay về đón nhận lòng thương xót, để cho ơn thánh biến đổi từng bước âm thầm.
Chính kinh nghiệm chung về việc được tha thứ và được thương xót tạo nên sợi dây liên kết bền chặt nhất giữa các Kitô hữu. Trong cuộc sống đời thường, con người thường tụ họp với nhau vì sở thích chung, vì lợi ích chung, hay vì những mục tiêu chung. Nhưng tình bằng hữu trong Đức Kitô lại có một cội rễ thâm sâu hơn nhiều: đó là việc cùng chung một kinh nghiệm đã từng được yêu thương vô điều kiện khi còn là tội nhân. Người được tha nhiều sẽ yêu nhiều. Khi nhìn vào người anh em bên cạnh, một người Kitô hữu đích thực không nhìn qua lăng kính phán xét hay khinh miệt, mà nhìn với ánh mắt thấu cảm của một người bạn chiến đấu trong cùng một chiến hào. Chúng ta đều là những chiến sĩ đang phải đối mặt với muôn vàn cạm bẫy của thế gian, xác thịt và ma quỷ. Biết được điều đó, chúng ta không đành lòng đứng nhìn nhau ngã quỵ, nhưng tìm cách nâng đỡ,ủi an và vực nhau dậy.
Con đường để bước vào sự hiệp thông thánh thiện ấy được Chúa Giêsu vạch ra một cách tỏ tường qua Hiến Chương Nước Trời – Tám Mối Phúc Thật. Tám mối phúc không phải là những lề luật nặng nề giáng xuống đầu con người như những chiếc roi da, mà là chân dung tự họa của chính Chúa Giêsu, và đồng thời là bản đồ dẫn đường cho những ai muốn tìm về cội nguồn hạnh phúc đích thực. Sống tinh thần khó nghèo trong tâm hồn, hiền lành, sầu khổ vì tội lỗi, khao khát sự công chính, thương xót người, có tâm hồn trong sạch, xây dựng hòa bình và chịu bách hại vì sự công chính – đó chính là những viên gạch xây nên ngôi nhà hội thánh, là phẩm chất của những người công dân nước trời.
Thế nhưng, việc sống các mối phúc ấy giữa một thế giới đầy dẫy sự cạnh tranh, bạo lực và ích kỷ chưa bao giờ là điều dễ dàng. Đó là lý do tại sao chúng ta cần đến nhau. Cộng đoàn Giáo hội không phải là câu lạc bộ dành riêng cho những kẻ hoàn hảo, mà là bệnh viện dã chiến cho những tâm hồn bị thương tích, là mái nhà chung nơi những kẻ yếu đuối ôm lấy nhau để cùng tiến bước. Chúng ta giúp nhau tập làm quen với sự khó nghèo thiêng liện, giúp nhau giữ gìn sự trong sạch giữa dòng đời ô trược, nhắc nhở nhau thực thi lòng thương xót khi bản thân muốn buông lời oán hận. Sự nâng đỡ qua lại này biến cộng đoàn tín hữu thành một hình ảnh thu nhỏ của thiên đàng ngay trên mặt đất, nơi lòng quảng đại, sự trung tín, tình bằng hữu và niềm vui chiếm trọn ngôi vị tối cao.
Khi suy ngẫm về đời sống thiêng liêng, chúng ta nhận ra rằng mọi nỗ lực vượt thắng bản thân đều cần đến ơn trợ lực từ trên cao và sự cộng tác của anh chị em. Không ai có thể tự mình đơn độc lên thánh. Sự cô độc trong đời sống đạo thường là mảnh đất màu mỡ cho sự kiêu ngạo và nản lòng phát triển. Khi một người tự cho mình là đủ, tự cô lập mình khỏi sự hiệp thông của thân mình mầu nhiệm, họ dễ rơi vào cái bẫy tưởng rằng mình đạo đức hơn người khác. Ngược lại, việc hòa mình vào đời sống chung của giáo hội, với tất cả sự va chạm, thông cảm và tha thứ, sẽ mài giũa những góc cạnh xù xì của ích kỷ, tôi luyện ý chí và thanh luyện tâm hồn chúng ta trở nên mềm mại trước tình yêu của Chúa.
Các thánh trong lịch sử không bao giờ là những kẻ cô độc tự lập. Phía sau mỗi vị thánh vĩ đại luôn có sự nâng đỡ của ơn Chúa, lời chuyển cầu của các tầng trời và đôi khi là sự khích lệ âm thầm của những người bạn đường xung quanh. Các ngài đã chiến đấu đến cùng, không phải bằng sức mạnh cậy dựa vào bản thân, mà bằng sức mạnh của niềm hy vọng được neo giữ vào lòng thương xót Chúa. Và khi đã vượt qua ngưỡng cửa của sự sống đời đời, các ngài không quên những người anh em hãy còn đang lữ thứ trần gian. Các ngài đứng đó, dang rộng vòng tay chào đón chúng ta, những kẻ từng run rẩy bước đi trong bóng tối của tội lỗi và thử thách.
Hãy thử tưởng tượng ngày chúng ta bước vào cõi vĩnh hằng. Sẽ không còn sự sợ hãi, không còn những dằn vặt của quá khứ, không còn những lớp vỏ bọc ngụy trang che giấu sự yếu đuối. Chúng ta sẽ gặp lại biết bao nhiêu con người từng vật lộn với cuộc đời giống như chúng ta. Sẽ có những vị từng ngã quỵ rồi đứng dậy từ vũng lầy tội lỗi, có những vị từng sống trong sợ hãi nay được tràn ngập bình an, có những vị từng kiêu ngạo nay trở nên khiêm nhường tuyệt đối. Khi nhìn vào mắt nhau, chúng ta sẽ không cần phải thốt lên lời nào mà vẫn thấu hiểu trọn vẹn câu chuyện đời nhau. Ánh mắt ấy sẽ nói lên một niềm cảm thán nghẹn ngào: “Hãy nhìn xem điều Chúa đã làm cho tôi! Hãy nhìn xem điều Chúa đã làm cho bạn!”. Những vết sẹo của quá khứ đau thương giờ đây không còn là nỗi hổ thẹn, mà đã biến thành những huy hiệu vinh quang của lòng thương xót Chúa, minh chứng cho một tình yêu mạnh hơn sự chết, một ơn thánh đã biến đổi tro tàn thành hoa trái ngát hương.
Trong giờ phút hiện tại của cuộc đời trần thế này, khi chúng ta còn đang phải đối diện với muôn vàn khó khăn, lo toan, bệnh tật, cám dỗ và cả những lúc cô đơn lạc lõng tưởng chừng không lối thoát, hãy nhớ rằng chúng ta không hề đơn độc. Mỗi lần cảm thấy mình là kẻ xa lạ, mỗi lần bị chối từ hay hiểu lầm bởi thế gian, đó chính là lúc chúng ta được mời gọi hướng về nhà Cha trên trời, hướng về đại gia đình của các thánh, nơi mọi giọt nước mắt sẽ được lau sạch và mọi nỗi đau sẽ được biến thành khúc hoan ca. Hãy xem nhau là anh em chiến hữu, là những người bạn đồng hành đích thực trên con đường hướng về cõi trường sinh.
Đời sống Kitô hữu vì thế là một khúc ca khải hoàn được dệt nên từ những nốt nhạc của sự yếu đuối được ơn thánh vực dậy. Chúng ta không che giấu sự khốn cùng của mình, nhưng mang nó đặt vào trái tim nhân hậu của Chúa Giêsu, để Ngài thanh tẩy và biến đổi. Đồng thời, chúng ta cũng mở rộng trái tim để đón nhận, tha thứ và yêu thương những người anh em đang đi cùng nhịp bước với chúng ta. Bằng cách đó, chúng ta từng bước biến trần gian thành tiền sảnh của thiên đàng, nơi tình bằng hữu thiêng liêng đơm hoa kết trái và sự hiệp thông trở thành nhịp đập của toàn thể thân thể mầu nhiệm.
Nguyện xin ơn trên soi sáng và dẫn dắt bước chân chúng ta, để qua mọi thăng trầm của kiếp sống lữ hành, chúng ta luôn giữ vững niềm tin, cậy, mến. Xin cho mỗi người chúng ta, dẫu còn mang nặng những bất toàn và giới hạn của phận người, luôn cảm nhận sâu sắc rằng mình được Chúa gọi tên, được yêu thương đến cùng và được mời gọi bước vào bàn tiệc vĩnh cửu của tình bằng hữu thiêng liêng. Để rồi một ngày kia, khi hành trình dương thế khép lại, chúng ta sẽ được hòa chung tiếng hát muôn đời với các thánh trên cao, tung hô, chúc tụng và tôn vinh tình yêu xót thương của Thiên Chúa đến muôn thuở muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

HƯỚNG VỀ SỰ TRỌN LÀNH VÀ NIỀM VUI VĨNH CỬU: BÍ QUYẾT CỦA MỐI PHÚC TỐI CAO TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Khi bước lên ngọn núi cao của chân lý và tình yêu, Đức Giêsu Kitô – Vị Mục Tử tối cao của nhân loại – đã ngồi xuống và mở rộng tâm hồn để ban bố Hiến Chương Nước Trời. Đó là bài giảng trên núi, một kiệt tác của lòng thương xót Thiên Chúa, một bản tường trình về hạnh phúc đích thực mà không một triết gia trần gian nào có thể vạch ra hay định nghĩa trọn vẹn. Trong khung cảnh thanh bình ấy, giữa đám đông khao khát ơn cứu độ, tiếng Ngài cất lên như những giọt sương mai tưới gội khô cằn của thế gian, vạch ra một lộ trình thiêng liêng từ những bước chân đầu tiên cho đến đỉnh cao của sự thánh thiện. Các mối phúc thật không chỉ là những lời khuyên luân lý thông thường, mà chính là tấm gương phản chiếu dung mạo của chính Con Thiên Chúa, là ADN tâm linh của những công dân thuộc về vương quốc vĩnh cửu.
Từ ngàn xưa, các Hịch sĩ vĩ đại và các Tiến sĩ Hội Thánh như Thánh Augustinô hay Thánh Tôma Aquinô đã dành trọn cuộc đời để nghiên cứu, phân tích và chiêm ngứa các mối phúc này với một chiều sâu vô tận. Họ đã chứng minh rằng các mối phúc không đứng rời rạc, mà chúng cấu trúc thành một tòa nhà tinh thần nguy nga, một tiến trình tiệm tiến hướng dẫn con người từ thung lũng tội lỗi bước vào vinh quang thiên quốc. Bảy mối phúc đầu tiên đưa ra những hành động cụ thể, những nhân đức và ơn huệ của Chúa Thánh Thần giúp con người chiến thắng các ảo tưởng về hạnh phúc giả tạo, vượt qua cạm bẫy của vật chất, quyền lực ích kỷ, những đam mê dục vọng thấp hèn, để rồi dấn thân vào đời sống hoạt động bác ái và vươn tới đời sống chiêm niệm thâm sâu cùng Thiên Chúa.
Thế nhưng, khi đi đến mối phúc thứ tám – mối phúc cuối cùng và cũng là chóp đỉnh của toàn bộ hệ thống các mối phúc – Đức Giêsu đã đúc kết tất cả tinh túy của con đường thánh thiện vào trong một thực tại duy nhất đầy thử thách nhưng chan chứa vinh quang: đó là sự kiên vững chịu đựng bách hại, hiểu lầm, gian truân vì sự công chính và vì danh Thánh Ngài. Đây không phải là một mối phúc xa lạ hay tách biệt, mà thực chất là tấm gương tụ quang, thu gom toàn bộ ánh sáng của bảy mối phúc trước lại và chiếu rọi một cách mãnh liệt nhất. Tại sao mối phúc này lại đóng vai trò là tổng kết của tất cả các mối phúc khác? Bởi vì nếu một tâm hồn có thể đứng vững trước mọi giông bão của cuộc đời, trước những gông cùm của thử thách, trước sự chế giễu và chống đối của thế gian vì Đức Kitô, thì chắc chắn tâm hồn đó đã thực hành trọn vẹn tinh thần nghèo khó trong tâm hồn, biết đau buồn vì tội lỗi, hiền lành khiêm tốn, khao khát sự công chính, sống xót thương, có một tâm hồn trong sạch và trở thành sứ giả kiến tạo hòa bình đích thực.
Hành trình trần thế của người môn đệ theo chân Đấng Chịu Đóng Đinh chưa bao giờ là một con đường trải thảm hoa hồng. Thánh Phaolô Tông Đồ, trong bức thư thứ hai gửi người đệ tử yêu dấu Timôtê, đã khẳng định một cách đanh thép và không chút mơ hồ rằng: “Tất cả những ai muốn sống đạo đức trong Đức Kitô Giêsu đều sẽ bị bách hại.” Đó không phải là một lời nguyền rủa, mà là một quy luật tất yếu của tình yêu chân chính trong một thế giới còn đắm chìm trong bóng tối và sự dữ. Khi ánh sáng sự thật chiếu soi, bóng tối tất yếu sẽ phản ứng. Khi một linh hồn quyết tâm từ bỏ lối sống vị kỷ để thuộc trọn về Thiên Chúa, các thế lực của trần gian và của chúa tể gian trần sẽ không ngớt tìm cách lung lạc, cản trở và tấn công.
Sự bách hại và thử thách trong đời sống thiêng liêng mang nhiều hình thái vô cùng tinh vi. Đôi khi, nó xuất hiện dưới dạng những cuộc bách hại đẫm máu ngoài xã hội, nơi đức tin bị đe dọa bởi bạo lực và sự thù hận tôn giáo. Nhưng trong phần lớn thời gian của cuộc sống đời thường, bách hại lại ẩn mình dưới những hình thức tinh vi hơn rất nhiều: đó là sự cô lập, sự chế giễu nhạo báng đối với những ai dám sống lương thiện, là áp lực từ một nền văn hóa loại trừ Thiên Chúa, chạy theo chủ nghĩa hưởng thụ và vật chất cực đoan. Đáng sợ hơn nữa, mỗi người chúng ta hằng ngày đều phải đối mặt với những cuộc chiến nội tâm khốc liệt, nơi cám dỗ từ ma quỷ và xác thịt không ngừng day dứt. Ma quỷ, đúng như danh hiệu Satan mà Kinh Thánh đã trao cho nó, chính là “kẻ tố cáo”. Nó luôn tìm cách đánh gục hy vọng của chúng ta bằng cách nhắc đi nhắc lại những yếu đuối, tội lỗi quá khứ, gieo rắc sự hoang mang, thất vọng và chia rẽ vào sâu thẳm tâm hồn.
Chính trong cuộc chiến đấu cam go này, việc kiên nhẫn chịu đựng, chiến đấu không mệt mỏi với cám dỗ, và nhanh chóng trở về với lòng thương xót Chúa qua Bí tích Hòa Giải khi sa ngã chính là cách thức chúng ta thực thi mối phúc thứ tám. Đó là minh chứng hùng hồn nhất cho thấy chúng ta chọn Thiên Chúa thay vì chọn thế gian. Để đứng vững trước những đợt tấn công dồn dập ấy, người Kitô hữu không thể chỉ dựa vào sức lực tự nhiên mỏng manh của mình. Chúng ta cần phải được trang bị một thứ vũ khí tối tân và sắc bén nhất, đó chính là Lời của Thiên Chúa được ghi khắc trong Kinh Thánh.
Thánh Phaolô đã nhắc nhở Timôtê rằng toàn bộ Kinh Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục để con người nên trọn lành, sẵn sàng làm mọi việc thiện. Lời Chúa trong Kinh Thánh không chỉ là một tập hợp các tài liệu lịch sử hay văn học cổ đại, mà là “thanh gươm của Thần Khí”, là ngọn đèn soi cho bước chân chúng ta giữa đêm đen cuộc đời. Việc đọc, suy niệm và sống Lời Chúa hằng ngày chính là một thứ linh dược bảo vệ tâm tư, tình cảm và trí khôn của chúng ta khỏi những ảo tưởng sai lầm, khỏi những hy vọng đặt sai chỗ vào các giá trị tạm bợ của trần gian.
Nhìn lại lịch sử cứu độ và dòng chảy rực rỡ của các vị thánh nam nữ trên thiên quốc – những người mà Giáo Hội mừng kính trong ngày lễ Các Thánh – chúng ta nhận ra một mẫu số chung vô cùng rõ nét: không một ai có thể bước vào vinh quang thiên quốc mà lại đi trật khỏi con đường thập giá và sự thanh luyện qua thử thách. Họ đã để cho Lời Chúa nhào nặn, cắt tỉa và trang bị đầy đủ sức mạnh để hiên ngang đứng vững trước mọi cuồng phong bão táp. Khi chúng ta cầm lấy Kinh Thánh mỗi ngày, đọc những bài đọc mà Mẹ Giáo Hội dọn sẵn trong phụng vụ thánh thiêng, chúng ta đang tự trang bị cho mình chiếc áo giáp kiên cố nhất để chống lại những tin tức xấu xa, những cạm bẫy tinh vi của thời đại và những nỗi sợ hãi bất an trong lòng.
Hơn thế nữa, việc yêu mến và thực hành Lời Chúa phải trở thành một thói quen linh thánh, một thứ đạo đức bình dân cao quý giống như việc lần hạt Mân Côi hay ngắm Chặng Đàng Thánh Giá. Những thực hành đạo đức này cùng với Lời Chúa có một sức mạnh uy hiếp cường quyền của sự dữ, làm dịu đi những bão táp trong tâm hồn và hướng dẫn toàn bộ tư tưởng của chúng ta quy chiếu về một mối tình duy nhất: tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Không có sự huấn luyện nào kỹ càng hơn là sự huấn luyện đến từ Lời hằng sống của Đấng Tối Cao.
Vì thế, câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta trong giây phút hiện tại của cuộc đời là: Làm thế nào để tôi có thể kiên trì chịu đựng những bách hại, thử thách nhỏ nhoi hay lớn lao hằng ngày để rồi đạt được phần thưởng kiên cường? Làm thế nào để tôi có thể bước đi trọn vẹn trên con đường trở thành thánh nhân giữa lòng một xã hội đầy rẫy những cám dỗ và thách đố này? Câu trả lời vô cùng đơn giản nhưng đòi hỏi một quyết tâm triệt để: Hãy bắt đầu từ việc mở cuốn Kinh Thánh ra, đọc và chiêm ngắm những lời dạy ngàn vàng của Chúa, để Lời Ngài thấm đẫm vào từng mạch máu, từng nhịp đập của trái tim chúng ta.
Khi chúng ta đối diện với sự hiểu lầm của đồng nghiệp, sự chống đối của người thân, hay những nỗi đau đớn bệnh tật trong thân xác, đừng vội ngã lòng hay oán trách. Hãy nhớ rằng đó chính là cơ hội vàng để chúng ta thực hiện mối phúc tối cao, mối phúc tóm lược tất cả các mối phúc: “Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ.” Sự bách hại ấy, dù dưới hình thức nào, cũng chính là dấu chỉ chắc chắn nhất cho thấy chúng ta đang đi đúng bước chân của Thầy Chí Thánh. Đó là bảo chứng cho thấy chúng ta không thuộc về trần gian hư nát này, mà thuộc về một quê hương vĩnh cửu nơi trọn vẹn niềm vui và vinh quang đang chờ đón.
Hãy vui mừng và hân hoan nhảy múa, bởi vì phần thưởng dành cho những ai kiên vững đến cùng sẽ vô cùng lớn lao trên nước trời. Đó không phải là một niềm vui ảo tưởng, mà là niềm hoan hỉ sâu xa của một tâm hồn đã chiến thắng chính mình và thế gian nhờ ơn thánh Chúa. Chúng ta hãy bắt đầu ngày sống mới của mình bằng một quyết định cương quyết: sống gắn bó mật thiết với Lời Chúa, can đảm ôm lấy thánh giá hằng ngày với nụ cười của niềm tin tưởng phó thác. Để rồi, khi hành trình dương thế khép lại, chúng ta sẽ được bước qua cánh cửa vinh quang, hòa chung khúc ca khải hoàn với muôn vàn thiên thần và các thánh trên trời, ca tụng lòng thương xót Chúa đời đời kiếp kiếp trong vương quốc ánh sáng không bao giờ tàn lụi.
Lm. Anmai, CSsR

HƯỚNG VỀ BẦU TRỜI: CĂN CƯỚC THÁNH THIỆN VÀ NIỀM HY VỌNG KHÔNG BAO GIỜ THẤT VỌNG
Trong hành trình lữ hành trần thế, có những thời điểm tâm hồn chúng ta bỗng chốc lắng đọng để hướng về một thực tại vượt trên không gian và thời gian hữu hạn này. Cuộc sống của con người thường bị cuốn trôi bởi những tất bật lo toan, những nhịp sống vội vã, những lo âu cơm áo gạo tiền và cả những nỗi đau thương, mất mát đan xen giữa nụ cười và nước mắt. Thế nhưng, giữa dòng chảy cuồn cuộn của thời gian ấy, Phụng vụ Giáo hội mở ra trước mắt chúng ta một chân trời rực rỡ và đầy an bình: chân trời của quê hương vĩnh cửu, nơi cội nguồn và đích điểm của đời người được định hình rõ nét. Chúng ta không bước đi trong vô định, cũng không tiến về một cõi hư vô lạnh lẽo. Trái lại, đích điểm của sự hiện hữu chúng ta không phải là cái chết, mà chính là Thiên đàng. Đó là lời khẳng định mạnh mẽ, đánh thức tâm hồn mỗi người, phá tan bức màn u ám của sự tuyệt vọng để rọi chiếu ánh sáng niềm hy vọng vững bền vào cuộc đời nhân thế.
Khi nhắc đến thiên đàng và các thánh, phản ứng thường trực của con người trần gian là sự e dè, cảm thấy xa vời. Người ta dễ dàng nghĩ rằng sự thánh thiện là một đặc quyền dành riêng cho một nhóm người siêu việt, những bậc kỳ tài tâm linh được ghi danh trên những trang sử vàng với hào quang rực rỡ mà những người phàm trần bình thường không bao giờ có thể chạm tới. Chúng ta thường nhìn các thánh như những pho tượng đúc bằng đồng hay đá cẩm thạch, xa cách, không vướng bận bụi trần, không hề trải qua những giằng xé nội tâm hay yếu đuối xác thịt. Nhưng đó là một cái nhìn sai lầm, một sự bóp méo ơn gọi cao quý mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong tâm hồn mỗi người từ khi chịu phép rửa tội. Các vị thánh không phải là những siêu nhân, càng không phải sinh ra đã hoàn hảo hay từ một hành tinh khác rơi xuống. Họ hoàn toàn giống chúng ta, bằng xương bằng thịt, trải qua những buồn vui sướng khổ, những trăn trở, những vết thương lòng, những cuộc chiến đấu cam go giữa ánh sáng và bóng tối trong cõi lòng mình. Họ đã từng bước đi trên những con đường gập ghềnh bụi bặm của cuộc sống đời thường, từng đối mặt với những ngã rẽ cuộc đời, từng rơi nước mắt trước nghịch cảnh và thử thách.
Điều gì đã tạo nên bước ngoặt vĩ đại trong cuộc đời của các thánh? Đó không phải là năng lực phi thường của bản thân, cũng không phải là công trạng tự thân có thể mua chuộc được ơn thánh. Điểm mấu chốt nằm ở chỗ: họ đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa, nhận ra ánh mắt dịu dàng và lòng thương xót vô biên của Ngài đang ôm trọn lấy cuộc đời họ. Khi đã cảm nhận được tình yêu ấy, họ đã để cho ơn thánh biến đổi, đã quyết định bước theo Đấng Tình Quân của linh hồn mình với một trọn vẹn con tim, không giữ lại điều gì cho riêng mình, không thoả hiệp với sự giả hình hay lòng dạ hai mang. Họ đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời để phục vụ anh chị em đồng loại, những người nghèo khổ, những mảnh đời bất hạnh, những góc khuất bị xã hội bỏ quên. Trên hành trình phục vụ ấy, họ không tránh khỏi những đòn roi của nghịch cảnh, những oan khiên, những hiểu lầm, những bách hại và đau khổ tột cùng. Thế nhưng, có một thứ vũ khí tối thượng mà các thánh chưa bao giờ sử dụng, đó là lòng căm thù. Các thánh không bao giờ nuôi dưỡng sự thù hận trong tâm hồn. Họ hiểu rằng hận thù không đến từ Thiên Chúa, mà là thứ độc dược phát xuất từ tinh thần của ma quỷ, kẻ luôn chực chờ gieo rắc chia rẽ và tuyệt vọng vào trần gian. Các thánh đã chọn cách lội ngược dòng đời bằng thứ ngôn ngữ duy nhất có sức mạnh cải hóa vũ trụ: ngôn ngữ của tình yêu thương vô điều kiện, lấy ân báo oán, lấy hiền hòa đối chọi với bạo lực, đem lại niềm vui và bình an sâu thẳm cho những ai ngụp lặn trong khổ đau.
Chính vì thế, ơn gọi nên thánh không phải là một đặc quyền dành cho giới thượng lưu tinh hoa của Giáo hội, mà là ơn gọi phổ quát dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai. Trong ngày chịu phép lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, mỗi Kitô hữu chúng ta đã được trao ban một gia tài thiêng liêng vô giá, một hạt giống thần linh đủ sức vươn lên thành cây đại thụ của đời sống thánh thiện. Con đường nên thánh ấy không có gì xa lạ hay hão huyền, nó có một dung mạo rất cụ thể, một tên gọi rất gần gũi: đó chính là dung mạo của Đức Giêsu Kitô. Ngài là hiện thân tuyệt hảo của tình yêu Thiên Chúa giữa trần gian, và Ngài đã vạch sẵn cho chúng ta tấm bản đồ chỉ đường vô cùng rõ ràng, đó chính là Hiến chương Nước Trời – Tám Mối Phúc Thật. Tám mối phúc không phải là một danh sách những hình phạt hay những lề luật khô khan đè nặng lên vai con người, mà là tấm căn cước của người môn đệ Chúa, là chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc đích thực mà thế gian không thể tài nào lý giải nổi.
Khi nhìn vào Tám Mối Phúc Thật, chúng ta thấy một cuộc đảo lộn hoàn toàn những giá trị trần thế. Thế gian ca tụng quyền lực, tiền tài, sự kiêu hãnh, sự thỏa mãn bản thân và việc đạp lên người khác để tiến thân. Ngược lại, Tin Mừng của Chúa Giêsu lại tuyên bố phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, bởi vì Nước Trời là của họ. Nghèo khó ở đây không chỉ là sự thiếu thốn vật chất nghèo nàn, mà là thái độ nội tâm biết buông bỏ sự tự phụ, biết khiêm tốn mở rộng cõi lòng để đón nhận Thiên Chúa như nguồn sống duy nhất. Chỉ khi con người nhận ra sự bất lực và trống rỗng của chính mình, họ mới để cho quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa lấp đầy. Phúc cho những ai sầu khổ, bởi vì họ sẽ được ủi an. Làm sao nỗi buồn lại mang lại phúc lộc? Sầu khổ theo nghĩa Tin Mừng là sự nhạy cảm của một cõi lòng biết xót thương trước nỗi đau của anh chị em đồng loại, biết day dứt trước tội lỗi và sự dữ đang gặm nhấm thế giới, để từ đó mở ra nguồn ơn cứu độ và sự sẻ chia chân thành. Người biết khóc lóc trước nỗi khổ đau của người khác chính là người đang sở hữu một trái tim bằng thịt, một trái tim biết rung động và phản chiếu hình ảnh của Đấng Tối Cao.
Hành trình bước theo đường lối của Tám Mối Phúc Thật còn gọi mời chúng ta trở nên những con người hiền lành. Hiền lành không phải là yếu đuối, nhút nhát hay đầu hàng trước cường quyền, mà là sức mạnh nội tâm được kiểm soát bởi tình yêu, là thái độ kiên nhẫn chịu đựng những bất công mà không đáp trả bằng sự cay đắng, bạo tàn. Người hiền lành sẽ chiếm hữu được đất hứa, bởi vì sự dữ tự bản chất là sự hủy diệt, còn lòng hiền hậu có sức mạnh cảm hóa và xây dựng nền văn minh của tình thương. Phúc cho những ai khao khát sự công chính, những người không xu nịnh cái ác, không thỏa hiệp với gian xảo, mà luôn đấu tranh cho lẽ phải, cho phẩm giá con người và cho công lý được thực thi theo đường lối của Thiên Chúa. Sự khao khát ấy giống như cơn khát cháy cổ giữa sa mạc khô cằn, và chắc chắn sẽ được chính Thiên Chúa tưới mát và cho thỏa thuê.
Sự thánh thiện tiếp tục rực sáng nơi những ai có lòng xót thương. Lòng thương xót là chiếc cầu nối giữa trái tim con người với trái tim nhân hậu của Thiên Chúa. Người có lòng xót thương không phán xét, không kết án, nhưng biết cúi xuống băng bó những vết thương lòng của tha nhân, biết tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến mình bảy mươi lần bảy. Và chính họ sẽ nhận được sự thương xót hải hà từ nơi Thiên Chúa trong ngày phán xét chung. Kế đến là những người có tâm hồn trong sạch. Trong một thế giới ngập ngụa trong vũng bùn của sự ô uế, sự dối trá và những toan tính vị kỷ, những ai giữ cho tâm hồn mình trong sáng, chân thành, minh bạch trước mặt Chúa và trước anh chị em là những người hạnh phúc vô biên, bởi vì họ sẽ được chiêm ngưỡng dung nhan tuyệt mỹ của Thiên Chúa. Họ nhìn thế giới không qua lăng kính vụ lợi, ghen tương hay tăm tối, mà nhìn bằng đôi mắt trong sáng của tình yêu thuần khiết.
Cuối cùng, Chúa Giêsu ca ngợi những người kiến tạo hòa bình. Hòa bình không đơn thuần là sự vắng bóng chiến tranh hay xung đột vũ trang bên ngoài, mà là sự hài hòa sâu thẳm trong tâm hồn, là kết quả của một nỗ lực không mệt mỏi để hàn gắn những rạn nứt trong các mối tương quan gia đình, xã hội và cộng đoàn. Người kiến tạo hòa bình là sứ giả của niềm hy vọng, là nhịp cầu nối kết những bờ vực chia rẽ và hận thù. Họ được gọi là con cái Thiên Chúa, bởi vì họ đang bắt chước chính hành động của Cha trên trời, Đấng luôn sai mặt trời chiếu soi người lành lẫn kẻ dữ và ban mưa xuống cho người công chính lẫn kẻ bất lương. Những ai vì sống theo các giá trị này mà bị bách hại, bị phỉ báng, bị loại trừ, xin hãy hoan hỉ nhảy mừng, vì phần thưởng của họ lớn lao trên trời. Đó chính là con đường chông gai nhưng vô cùng vinh quang mà các thánh đã đi qua, để lại cho chúng ta những dấu chân rực rỡ soi sáng cả lịch sử nhân loại.
Khi suy ngẫm về các thánh, chúng ta không thể không nhắc đến một chiều kích hiện sinh vô cùng sâu sắc của đời sống đức tin: đó là ý thức về cõi đời tạm này và sự hướng thượng về cõi vĩnh hằng. Cuộc đời con người trên trần gian này giống như một chuyến lữ hành ngắn ngủi, một hơi thở mong manh trước gió. Sớm muộn gì, mỗi chúng ta cũng sẽ bước đến hoàng hôn của cuộc đời, nơi ánh sáng ngày tàn nhường chỗ cho bóng tối của sự chết, hay đúng hơn, là bước ngoặt vĩ đại để chuyển từ cuộc sống trần thế sang cõi vĩnh hằng. Khoảnh khắc hoàng hôn ấy rồi sẽ đến với tất cả mọi người, không loại trừ một ai, dù quyền quý hay nghèo hèn, dù thông thái hay dốt nát. Câu hỏi đặt ra cho mỗi chúng ta trước ngưỡng cửa của buổi chiều tà cuộc đời là: Khi giây phút ấy điểm triều, chúng ta sẽ bước qua cánh cửa tử vong trong tâm trạng nào? Liệu chúng ta có nhìn về tương lai với nỗi sợ hãi tột cùng của kẻ mất tất cả, hay chúng ta sẽ đón nhận nó với niềm hy vọng chứa chan niềm vui và sự bình an sâu thẳm?
Đối với người Kitô hữu, cái chết không phải là dấu chấm hết hay bức tường đen tối chặn đứng mọi ước mơ, mà là cánh cửa mở ra cuộc gặp gỡ đích thực với Đấng Tạo Hóa, là lúc người con hoang đàng trở về ngôi nhà của Cha nhân hậu sau chặng đường dài bôn ba chốn khách địa. Niềm hy vọng Kitô giáo là một niềm hy vọng không bao giờ làm thất vọng. Thánh Phaolô và các tông đồ đã từng nhấn mạnh rằng niềm hy vọng này được neo giữ vững chắc nơi máu của Chiên Con – Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chịu chết và Phục Sinh để mở đường vào cõi sống muôn đời. Chỉ nhờ vào công nghiệp cứu chuộc của Ngài, nhờ dòng máu vô nhiễm được đổ ra trên thập giá, chúng ta mới được thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ tội lỗi và được mặc lấy chiếc áo trắng tinh tuyệch của lòng thương xót. Những ai đã bước đi với Chúa trong cuộc đời này, những ai đã cố gắng sống theo đường lối của Ngài dẫu có lúc vấp ngã và đứng dậy nhờ ơn sànt hánh, sẽ được Chúa đón lấy bằng đôi tay dịu dàng của một người cha nhân từ để đưa vào vinh quang thiên quốc, nơi cha ông chúng ta đang ca tụng hồng ân Chúa muôn đời.
Niềm hy vọng ấy giống như men trong bột, âm thầm làm cho tâm hồn chúng ta nở lớn, vượt qua những chật hẹp của sự ích kỷ và những buốt giá của đau khổ. Cuộc đời không thiếu những ngọn gió ngược, những cơn bão giông của bệnh tật, khủng hoảng kinh tế, đổ vỡ gia đình, sự cô đơn và phản bội. Có những lúc, gánh nặng cuộc đời đè bẹp đôi vai khiến chúng ta chỉ muốn buông xuôi tất cả. Chính trong những thời khắc tăm tối nhất ấy, niềm hy vọng Kitô giáo lên tiếng nhắc nhở chúng ta ngẩng cao đầu nhìn về phía trước, nơi ánh sáng phục sinh đang bừng lên. Hy vọng giúp thanh luyện tâm hồn, làm cho con người trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng, không bị dính bén vào những thứ phù vân tạm bợ của trần thế, để sẵn sàng bước đi một cách hăng say, rạng rỡ mỗi khi Chúa gọi tên.
Hơn thế nữa, các thánh không chỉ là những mẫu gương để chúng ta chiêm ngưỡng từ xa, mà các ngài còn là những người anh chị em ruột thịt trong gia đình của Thiên Chúa, những người đang hiện diện rất gần gũi với chúng ta trong hiệp thông các thánh. Các ngài không dửng dưng trước những giọt nước mắt và tiếng thở than của chúng ta dưới trần gian này. Nhờ mối dây hiệp thông nhiệm mầu trong Nhiệm Thể của Đức Kitô, các thánh đang cầu intercession (chuyển cầu) cho chúng ta trước ngai tòa Thiên Chúa, tiếp thêm sức mạnh, khích lệ chúng ta đừng bỏ cuộc trên đường đua đức tin. Khi chúng ta vấp ngã, các ngài nâng đỡ; khi chúng ta lạc lối, các ngài soi đường; khi chúng ta cô đơn, các ngài thì thầm vào tai chúng ta rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi tạo vật mà Ngài đã dựng nên bằng tình yêu thương tột cùng.
Trong khung cảnh linh thiêng này, khi hướng lòng về các thánh và những người thân yêu đã đi trước chúng ta trong dấu chỉ đức tin, chúng ta được mời gọi sống trọn vẹn hiện tại với tinh thần tỉnh thức và dấn thân. Thánh hiến cuộc đời không có nghĩa là trốn chạy thế giới, sống khép kín trong các tu viện hay tách rời khỏi những đau khổ của xã hội loài người. Trái lại, sống thánh thiện chính là dấn thân sâu hơn vào lòng thế giới, đem Tin Mừng của tình yêu, sự tha thứ và niềm hy vọng đến cho những nơi u tối nhất. Các “thánh bên hàng xóm” – những con người bình dị mà chúng ta gặp gỡ hằng ngày: một người mẹ tận tụy hy sinh cả đời vì con cái, một người cha lao động chân chính nuôi gia đình trong liêm khiết, một người hàng xóm sẵn sàng sẻ chia bát cơm manh áo với kẻ nghèo, một y tá ân cần chăm sóc bệnh nhân bằng cả trái tim nhân hậu mà không màng danh lợi – chính là những nhân chứng sống động minh chứng rằng sự thánh thiện không phải là điều gì không thể với tới. Họ là những người đang giúp cho thế giới này tiếp tục chuyển động trong ơn sủng, ngăn chặn sự lan rộng của văn hóa sự chết bằng cách gieo mầm sự sống và lòng trắc ẩn.
Mỗi hành động yêu thương dù nhỏ bé đến đâu, mỗi nụ cười xoa dịu nỗi đau, mỗi cái ôm ấm áp dành cho kẻ cô độc, mỗi lời cầu nguyện âm thầm dâng lên cho người tội lỗi – tất cả những điều đó tưởng chừng như vô giá trị dưới con mắt thực dụng của trần gian, nhưng lại mang giá trị vĩnh cửu trước nhan Thiên Chúa. Bởi vì tình yêu và lòng trắc ẩn là những thực tại duy nhất mạnh hơn sự chết, tồn tại mãi mãi khi mọi vương quốc trần gian đã lụi tàn và sụp đổ. Những nghĩa cử ấy khắc ghi dấu ấn của sự sống thần linh vào trong lòng lịch sử nhân loại, biến những mảnh đất hoang mạc khô cằn của hận thù thành khu vườn xanh tươi trĩu quả bình an.
Khi suy ngẫm về sứ điệp cao cả này, chúng ta cũng được mời gọi hướng về những mảnh đời bất hạnh, những con người đang phải trải qua những hành trình lưu vong đầy nước mắt, những nạn nhân của bạo lực, chiến tranh, đói nghèo và bất công xã hội mà hằng ngày chúng ta vẫn thấy qua các phương tiện truyền thông hay chứng kiến ngay trong môi trường sống của mình. Bức tranh về những đoàn người trốn chạy trên những hoang mạc khô cằn, tìm kiếm một chốn dung thân an toàn cho tương lai con cái họ, là một tiếng kêu thấu đến trời xanh, thách thức lương tâm của cả nhân loại và của chính cộng đoàn đức tin chúng ta. Đứng trước những thảm kịch ấy, sự thờ ơ là một tội ác, và lòng vô cảm chính là thứ băng giá làm chết đi phần nhân tính cao đẹp nhất trong con người. Các thánh dạy chúng ta rằng chúng ta không thể gọi Thiên Chúa là Cha nếu chúng ta khép chặt trái tim trước người anh em đang đói rách, khát nước, bơ vơ hay bị bỏ rơi bên lề đường lịch sử. Lòng trắc ẩn không dừng lại ở những cảm xúc thương hại hời hợt, mà phải được cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực, bằng những lời cầu nguyện chân thành trong thinh lặng, bằng sự dấn thân bảo vệ phẩm giá con người và xây dựng một trật tự xã hội công bằng, nhân ái hơn.
Đời sống Kitô hữu vì thế là một cuộc chiến đấu đẹp đẽ, một hành trình vươn lên không mệt mỏi dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúng ta được mời gọi thanh luyện bản thân mỗi ngày, rũ bỏ những gánh nặng của sự ích kỷ, kiêu căng, giận hờn và ganh tị. Quá trình thanh luyện này đôi khi đòi hỏi những hy sinh đau đớn, những cuộc phẫu thuật thiêng liêng cắt bỏ đi những thói hư tật xấu bám rễ sâu trong tâm hồn. Nhưng sự đau đớn ấy hoàn toàn mang tính chữa lành, mở đường cho sự sống mới đơm hoa kết trái. Giống như cành nho muốn trúng mùa thì phải được cắt tỉa sạch sẽ bởi bàn tay của người làm vườn nhân hậu, người môn đệ Chúa cũng cần phải trải qua những thử thách và thanh luyện để trở nên tinh tuyền, trong sáng như Thầy Chí Thánh của mình.
Anh chị em thân mến, thiên đàng không phải là một địa điểm địa lý nằm ở một góc xa xôi nào đó của vũ trụ bao la, mà thiên đàng trước hết là trạng thái hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, là việc được chiêm ngắm dung nhan Ngài trong ánh sáng vĩnh cửu. Đó là ngôi nhà đích thực của chúng ta, nơi không còn nước mắt, không còn tang tóc, không còn kêu than hay đau khổ, bởi vì những điều cũ đã qua đi và tất cả đã được đổi mới trong tình yêu hải hà của Đấng ngự trên ngai. Khi chúng ta cử hành lễ kính nhớ các thánh và cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta không chỉ nhìn về quá khứ với niềm hoài niệm, mà chúng ta đang hướng về tương lai với niềm hy vọng tràn trề. Chúng ta đang nhìn trước số phận vinh quang mà Thiên Chúa đã chuẩn bị sẵn cho những ai yêu mến Ngài.
Hãy can đảm lên! Đừng để cho những yếu đuối, vấp ngã hay tội lỗi trong quá khứ làm cho chúng ta chùn bước hay rơi vào chiếc bẫy của sự thất vọng. Lòng thương xót của Thiên Chúa bao la hơn đại dương sâu thẳm, và ơn sủng của Ngài luôn đủ sức biến đổi những con người tội lỗi thành những vị thánh vĩ đại của thời đại mới. Các thánh chính là bằng chứng sống động nhất cho thấy ơn Chúa không bao giờ vô hiệu nơi những ai mở rộng tâm hồn đón nhận. Các ngài đã đi trước chúng ta, đã chiến thắng cuộc đua, đã giương cao ngọn cờ chiến thắng của tình yêu và hiện đang đứng đợi chúng ta tại ngưỡng cửa quê trời.
Xin Mẹ Maria, Nữ Vương các thánh và là Cửa Thiên Đàng, người Mẹ hiền luôn đồng hành che chở chúng ta trên từng bước đường đời, chuyển cầu ơn sủng xuống trên mỗi người chúng ta. Xin Mẹ nhen nhóm trong tâm hồn chúng ta ngọn lửa khát khao sự thánh thiện, giúp chúng ta biết bước đi can đảm trên con đường của Tám Mối Phúc Thật, biết sống yêu thương, phục vụ tha nhân với tất cả sự quảng đại và khiêm tốn. Để rồi, khi hoàng hôn cuộc đời khép lại và bình minh vĩnh cửu bừng sáng, chúng ta cũng được chung phần vào đoàn lũ áo trắng đông đảo không tài nào đếm nổi, cùng cất cao khúc ca hoan ca tạ ơn Thiên Chúa Ba Ngôi đến muôn đời muôn thuở. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleTIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Ngày 1 tháng 11 năm 2026 Linh mục Anmai, CSsR tổng hợp
Next articleBẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THẾ GIỚI Ngày 2 tháng 11 năm 2026 — Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời – Lm. Anmai, CSsR