T năm tuần 25 thường niên ANH MUỐN BIẾT CHÚA … – Lm. Anmai, CSsR
T năm tuần 25 TN Từ tò mò đến gặp gỡ Đức GS – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN: XIN CHO CON BIẾT TÌM CHÚA VÌ CHÍNH CHÚA
Lạy Chúa Giêsu, giữa biết bao điều con tìm kiếm mỗi ngày, xin cho con biết dừng lại để tự hỏi lòng mình: con đang tìm Chúa vì điều gì? Có khi con tìm Chúa vì sợ hãi, vì đau khổ, vì cần được chữa lành, vì mong một khó khăn được cất khỏi đời con; có khi con đến với Chúa chỉ vì thói quen, vì bổn phận, vì người khác vẫn làm như thế. Xin thanh luyện trái tim con, để con không chỉ tìm những ơn Chúa ban mà biết tìm chính Chúa; không chỉ muốn Chúa giải quyết những vấn đề của con mà còn biết để Chúa biến đổi con từ bên trong.
Lạy Chúa, xin đừng để con giống Hêrôđê, chỉ tò mò muốn biết Chúa là ai nhưng lại không muốn đổi đời. Xin cho mỗi lần con nghe Lời Chúa, dự lễ, cầu nguyện hay làm việc đạo đức đều trở thành một cuộc gặp gỡ thật sự với Chúa. Nếu trong con còn kiêu ngạo, xin Chúa dạy con khiêm nhường. Nếu trong con còn oán giận, xin Chúa dạy con tha thứ. Nếu trong con còn ích kỷ, tham lam, xét đoán và cố chấp, xin Chúa nhẹ nhàng chạm đến và chữa lành. Xin cho con đừng chỉ biết nhiều điều về Chúa, nhưng ngày càng biết Chúa bằng một trái tim yêu mến và một đời sống biết vâng theo ý Người.
Lạy Chúa Giêsu, những lúc lời cầu xin của con chưa được nhậm theo ý con, xin đừng để con thất vọng hay xa Chúa. Xin cho con hiểu rằng đôi khi phép lạ lớn nhất không phải là hoàn cảnh bên ngoài thay đổi, nhưng là chính trái tim con được đổi mới. Khi thập giá còn đó, xin cho con nhận ra Chúa đang ở bên. Khi đường đời tối tăm, xin cho con tin Chúa vẫn dẫn lối. Khi con yếu đuối và muốn bỏ cuộc, xin cho con nhớ rằng chính Chúa đã tìm con trước, đã gọi tên con và vẫn kiên nhẫn chờ con quay về.
Lạy Chúa, xin cho con biết tìm Chúa như người khát tìm nguồn nước, như người lạc đường tìm ánh sáng, như người con tìm đường trở về nhà. Và khi gặp Chúa, xin cho con đủ can đảm đứng dậy, bỏ lại những gì ngăn con thuộc trọn về Người. Xin cho con có thể thưa với Chúa mỗi ngày: “Lạy Chúa, con tìm Chúa không chỉ vì những gì Chúa có thể ban cho con, nhưng vì chính Chúa là gia nghiệp, là bình an và là cùng đích của đời con.” Xin ở lại với con hôm nay và mọi ngày, để giữa bao điều đổi thay, trái tim con chỉ tìm một điều không bao giờ mất: chính Chúa. Amen.
Ca nhập lễ
Chúa phán: Ta là phần rỗi của dân Ta. Họ đã kêu cầu Ta trong mọi nỗi gian truân. Ta đã nhậm lời họ, và Ta sẽ là Chúa của họ đến muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã thu gọn toàn thể lề luật thánh vào giới răn độc nhất là mến Chúa yêu người, xin giúp chúng con hằng vâng giữ điều Chúa truyền dạy, để sau này đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc Gv 1, 2-11
“Chẳng có chi mới lạ dưới mặt trời”.
Trích sách Giảng Viên.
Giảng viên đã nói: Phù vân trên mọi phù vân: phù vân trên mọi phù vân, và mọi sự đều là phù vân. Ích lợi gì cho con người làm lụng vất vả dưới mặt trời? Một thế hệ qua đi, một thế hệ khác lại đến: nhưng địa cầu vẫn đứng vững muôn đời. Mặt trời mọc lên rồi lại lặn xuống, trở về chỗ cũ nơi nó lại mọc lên. Gió thổi về hướng nam, rồi quay về hướng bắc; nó thổi xoay chiều khắp bốn phương, rồi quay về vòng cũ.
Mọi sông ngòi đều chảy ra biển mà biển không đầy tràn: nước sông trở về chỗ cũ rồi lại chảy đi.
Muôn vật đều phải làm việc vất vả, và không ai có thể cắt nghĩa tại sao. Mắt xem mãi cũng không chán, tai nghe hoài cũng không thoả.
Sự đã qua là gì? Chính nó là sự sẽ có. Sự đã xảy ra là gì? Chính nó là sự sẽ xảy ra. Chẳng có chi mới lạ dưới mặt trời, cũng chẳng ai nói được rằng: “Ðây cái này mới”. Vì nó đã có từ lâu đời trước chúng ta. Người ta cũng chẳng còn nhớ đến tổ tiên và những con cháu sau này; cũng chẳng nhớ đến những người sẽ đến sau.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 89, 3-4. 5-6. 12-13. 14 và 17
Ðáp: Thân lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia (c. 1).
Xướng: Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến con người trở về bụi đất, Ngài phán: “Hãy trở về gốc, hỡi con người”.
Xướng: Chúa khiến họ trôi đi, họ như kẻ mơ màng buổi sáng, họ như cây cỏ mọc xanh tươi. Ban sáng cỏ nở hoa và xanh tốt, buổi chiều nó bị xén đi và nó héo khô.
Xướng: Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ? Xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài.
Xướng: Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin cho chúng con được hưởng ân sủng Chúa là Thiên Chúa chúng con, sự nghiệp tay chúng con làm ra, xin Ngài củng cố, xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng con làm ra. – Ðáp.
Alleluia: Tv 24, 4c và 5a
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 9, 7-9
“Ông Gioan đã bị trẫm chém đầu rồi, ông này là ai mà trẫm nghe đồn làm những điều như thế”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, quận vương Hêrôđê nghe biết tất cả các việc Chúa Giêsu đã làm thì phân vân, vì có kẻ nói rằng: “Ông Gioan đã từ cõi chết sống lại”; còn kẻ khác lại nói: “Ông Êlia đã hiện ra”; kẻ khác nữa nói rằng: “Một tiên tri thời xưa đã sống lại”. Nhưng Hêrôđê thì nói: “Ông Gioan trẫm đã chém đầu rồi. Ông này là ai mà trẫm nghe đồn làm những điều như thế?” và vua tìm cách gặp Người.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận của lễ cộng đoàn chúng con dâng, và nhờ thánh lễ này, xin cho chúng con được hưởng những hồng ân cao cả, mà chúng con hết lòng tin tưởng cậy trông. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Chúa đã ban bố các huấn lệnh, để chúng tôi được tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường nẻo tôi vững chắc, để tuân giữ thánh chỉ của Chúa.
Hoặc đọc:
Chúa phán: Ta là mục tử tốt lành, ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô nuôi dưỡng chúng con; xin nâng đỡ và giữ gìn chúng con luôn mãi, để chúng con được hưởng nhờ hiệu quả ơn cứu chuộc trong thánh lễ cũng như trong đời sống hàng ngày. Chúng con cầu xin…
ANH MUỐN BIẾT CHÚA, HAY CHỈ MUỐN BIẾT VỀ CHÚA?
Có một câu hỏi rất ngắn trong Tin Mừng hôm nay nhưng lại có khả năng đi theo một người suốt cả cuộc đời: “Người này là ai?” Hêrôđê nghe người ta nói rất nhiều về Đức Giêsu. Người này bảo đó là Gioan Tẩy Giả sống lại, người khác nói Êlia xuất hiện, người khác nữa cho rằng một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Giữa bao nhiêu lời đồn đoán ấy, Hêrôđê bối rối. Ông nói: “Gioan thì chính ta đã chém đầu rồi. Vậy người này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Và Tin Mừng kết thúc bằng một câu đáng suy nghĩ: “Ông tìm cách gặp Đức Giêsu.”
Thoạt nghe, tưởng như Hêrôđê đang bắt đầu một hành trình đức tin. Ông tò mò về Đức Giêsu, ông muốn biết Người là ai, ông muốn tận mắt nhìn thấy Người. Nhưng Tin Mừng đặt trước chúng ta một sự khác biệt rất lớn: muốn thấy Đức Giêsu chưa chắc đã là muốn gặp Đức Giêsu; biết nhiều chuyện về Đức Giêsu chưa chắc đã là biết Đức Giêsu; tò mò về Đức Giêsu chưa chắc đã là tin vào Đức Giêsu. Người ta có thể nghe hàng trăm bài giảng về Chúa mà lòng vẫn xa Chúa. Người ta có thể học rất nhiều giáo lý mà đời sống chẳng thay đổi bao nhiêu. Người ta có thể đọc Kinh Thánh mỗi ngày nhưng vẫn giữ nguyên những ích kỷ, cay đắng, kiêu căng và những tính toán của mình. Người ta thậm chí có thể làm việc cho Giáo Hội rất nhiều nhưng lại rất ít khi thật sự ngồi xuống trước mặt Chúa để hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con trở thành người như thế nào?”
Hêrôđê biết nhiều chuyện liên quan đến Đức Giêsu, nhưng điều ông thiếu là một trái tim sẵn sàng để Đức Giêsu bước vào. Ông nghe người ta kể về những phép lạ, những lời giảng, những biến cố đang xảy ra, nhưng ông chưa sẵn sàng để sự thật ấy chạm đến lương tâm mình. Chính ông đã cho chém đầu Gioan Tẩy Giả. Tiếng nói của vị ngôn sứ từng làm lương tâm ông bất an, nhưng thay vì thay đổi đời sống, ông lại tìm cách làm cho tiếng nói ấy im đi. Đây có lẽ là một bi kịch rất lớn của đời sống con người: chúng ta muốn biết sự thật, nhưng đôi khi lại không muốn để sự thật sửa mình; muốn nghe Lời Chúa, nhưng không muốn Lời Chúa đụng đến những vùng mà ta không muốn thay đổi; muốn Chúa an ủi mình nhưng lại sợ Chúa đòi mình từ bỏ một điều gì đó.
Có những lúc ta cũng giống Hêrôđê hơn ta tưởng. Ta nghe nói về Chúa từ nhỏ. Ta thuộc kinh. Ta dự lễ. Ta nghe giảng. Ta biết những câu chuyện trong Tin Mừng. Ta biết Chúa sinh ra ở Bêlem, lớn lên ở Nadarét, chịu chết trên thập giá và sống lại. Nhưng thử hỏi một câu khó hơn: Chúa Giêsu là ai đối với chính tôi? Không phải trong sách giáo lý. Không phải trong bài giảng. Không phải trong kinh Tin Kính. Nhưng trong đời sống của tôi hôm nay, Chúa là ai? Là một nhân vật tôn giáo mà tôi kính trọng? Là một Đấng mà tôi tìm đến khi gặp khó khăn? Là một người bạn mà tôi nói chuyện mỗi ngày? Là một vị Thầy mà tôi thật sự nghe lời? Hay là Chúa của đời tôi, Đấng mà tôi dám đặt cả đời mình vào tay Người?
Điều đáng sợ trong đời sống đức tin không phải lúc nào cũng là bỏ Chúa. Đôi khi điều đáng sợ hơn là vẫn ở gần những gì thuộc về Chúa nhưng lòng lại rất xa Chúa. Vẫn đi lễ nhưng lòng không gặp Chúa. Vẫn đọc kinh nhưng miệng đọc còn tâm trí thì đi nơi khác. Vẫn nghe Lời Chúa nhưng chưa để một câu nào xuyên qua những lớp phòng thủ của tâm hồn mình. Vẫn nói về tình yêu nhưng không chịu tha thứ. Vẫn nói về khiêm nhường nhưng rất khó nhận mình sai. Vẫn nói về phó thác nhưng chuyện gì cũng muốn kiểm soát. Vẫn nói Chúa quan trọng nhất nhưng thực tế tiền bạc, danh dự, cảm xúc, cái tôi hay những lời người khác nói về mình lại quyết định tâm trạng cả ngày.
Đức Phanxicô từng nhấn mạnh rằng muốn biết Đức Giêsu, kiến thức giáo lý là cần thiết nhưng chưa đủ. Người ta phải biết Người bằng con tim trong cầu nguyện, và còn phải biết Người bằng việc bước theo Người, nghĩa là dấn thân đời mình vào con đường của Người. Đây là một chỉ dẫn rất đẹp cho đời sống đức tin. Biết Chúa bằng trí óc, gặp Chúa bằng con tim và theo Chúa bằng cuộc đời. Thiếu một trong ba, đời sống Kitô hữu rất dễ trở nên méo mó.
Biết Chúa bằng trí óc là điều cần thiết. Đức tin không phải là một cảm xúc mơ hồ. Ta cần học hỏi Kinh Thánh, giáo lý, giáo huấn của Hội Thánh. Ta cần hiểu mình tin ai và tin điều gì. Một đức tin không được nuôi dưỡng bằng hiểu biết rất dễ bị lung lay bởi những lời xuyên tạc, những trào lưu hoặc những thông tin sai lạc. Nhưng đức tin không thể dừng lại ở trí óc. Ta có thể biết rất đúng về Chúa mà chưa chắc yêu Chúa. Một người có thể biết rất nhiều về một nhân vật lịch sử mà chưa hề gặp người ấy. Cũng vậy, ta có thể có cả một kho kiến thức thần học nhưng trái tim lại khô khan, vì Chúa vẫn chỉ là “đối tượng nghiên cứu” chứ chưa phải là Đấng ta yêu.
Vì thế cần một bước thứ hai: gặp Chúa bằng con tim trong cầu nguyện. Có những điều về Chúa chỉ có thể hiểu được khi quỳ xuống. Có những điều về tình yêu Thiên Chúa không cuốn sách nào diễn tả hết được, nhưng một người đau khổ quỳ trước Nhà Tạm trong đêm tối có thể hiểu. Có những lúc chẳng biết nói gì với Chúa, chỉ ngồi yên trước mặt Người, nhưng chính sự thinh lặng ấy lại làm ta hiểu Chúa hơn nhiều bài giảng. Cầu nguyện không nhất thiết là nói thật nhiều. Cầu nguyện đôi khi chỉ là để Chúa nhìn mình và mình nhìn Chúa. Là đem cả một ngày sống đến trước Người: niềm vui, thất bại, xấu hổ, sợ hãi, những điều chưa nói được với ai, những vết thương vẫn còn đau, những tội lỗi vẫn còn làm ta buồn. Đặt tất cả trước mặt Chúa và nói: “Lạy Chúa, đây là con.”
Có lẽ nhiều người trong chúng ta mệt mỏi trong đời sống thiêng liêng vì cầu nguyện đã trở thành bổn phận chứ không còn là cuộc gặp gỡ. Ta đọc kinh vì phải đọc. Ta dự lễ vì đó là luật. Ta lần chuỗi vì thói quen. Những việc ấy đều tốt, nhưng nếu không có một trái tim gặp Chúa, chúng rất dễ trở thành những chuyển động bên ngoài. Điều Chúa mong không phải chỉ là ta đọc đủ bao nhiêu kinh, nhưng là sau lời kinh ấy, lòng ta có mềm hơn không; sau Thánh lễ ấy, ta có thương người khác hơn không; sau khi nghe Tin Mừng, ta có bớt xét đoán hơn không; sau một giờ cầu nguyện, ta có bình an hơn, khiêm nhường hơn và sẵn sàng xin lỗi hơn không.
Rồi còn một bước thứ ba: biết Chúa bằng việc bước theo Người. Đây có lẽ là bước khó nhất. Bởi vì đi theo Chúa nghĩa là không chỉ ngắm Chúa từ xa mà phải đặt chân mình vào dấu chân Người. Chúa đi con đường phục vụ, ta cũng phải tập phục vụ. Chúa tha thứ, ta cũng phải học tha thứ. Chúa cúi xuống với người yếu đuối, ta cũng phải tập cúi xuống. Chúa chấp nhận thập giá, ta cũng phải học không bỏ chạy khỏi mọi hy sinh. Chúa nói sự thật, ta cũng phải sống thành thật. Chúa yêu đến cùng, ta cũng phải học yêu khi không còn cảm xúc để yêu.
Có những chân lý chỉ hiểu được khi ta sống nó. Muốn hiểu tha thứ là gì, hãy thử tha thứ một người đã làm mình đau. Muốn hiểu lòng thương xót của Chúa, hãy thử thương một người không đáng thương theo suy nghĩ của mình. Muốn hiểu thập giá, hãy thử kiên nhẫn mang một gánh nặng không thể bỏ đi. Muốn hiểu phục vụ, hãy thử làm một việc tốt mà chẳng ai biết. Muốn hiểu khiêm nhường, hãy thử im lặng khi mình có đủ lý do để khoe mình. Muốn hiểu phó thác, hãy thử trao vào tay Chúa một điều mình không thể kiểm soát.
Đời Kitô hữu không phải là hành trình thu thập thật nhiều thông tin về Chúa, nhưng là hành trình để mình ngày càng trở nên giống Chúa. Một câu Tin Mừng được sống còn quý hơn hàng trăm câu Tin Mừng chỉ thuộc lòng. Một lần thật lòng tha thứ có khi đưa ta gần Chúa hơn rất nhiều bài đọc thiêng liêng. Một việc âm thầm hy sinh vì người thân có khi làm ta hiểu thập giá sâu hơn cả một cuốn sách thần học. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh, một người chồng kiên nhẫn với người vợ đang mệt mỏi, một người con chăm cha mẹ già, một linh mục lặng lẽ phục vụ cộng đoàn, một tu sĩ trung thành với những công việc nhỏ bé chẳng ai nhìn thấy — những con người ấy đang “học Đức Kitô” bằng chính đời sống mình.
Bài đọc thứ nhất từ sách Giảng Viên lại mở ra một chiều sâu khác khi nhắc rằng mọi sự dưới mặt trời đều chóng qua. Con người vất vả, các thế hệ đến rồi đi, mặt trời mọc rồi lặn, dòng sông cứ chảy nhưng biển chẳng bao giờ đầy. Những lời ấy không nhằm làm con người bi quan, nhưng đặt chúng ta trước một sự thật: nếu cuộc đời chỉ quanh quẩn trong tiền bạc, thành công, danh tiếng và những gì chóng qua, cuối cùng ta sẽ thấy lòng mình vẫn trống. Con mắt “không bao giờ no vì nhìn”, tai “không bao giờ đầy vì nghe”. Có lẽ đó cũng là kinh nghiệm rất hiện đại. Chúng ta có thể xem hàng trăm đoạn video mà vẫn thấy chán. Có thể mua thêm một món đồ mà vài ngày sau lại muốn món khác. Có thể được nhiều người biết đến nhưng vẫn thấy cô đơn. Có thể đạt một mục tiêu rồi lập tức thấy cần một mục tiêu khác. Trái tim con người quá lớn để những gì hữu hạn có thể lấp đầy.
Vì thế câu hỏi của Hêrôđê lại trở nên câu hỏi của chính chúng ta: “Người này là ai?” Có lẽ chỉ khi tìm được câu trả lời thật sự cho câu hỏi ấy, ta mới tìm được câu trả lời cho đời mình. Nếu Đức Giêsu chỉ là một nhân vật trong quá khứ, thì Kitô giáo chỉ còn là ký ức. Nếu Đức Giêsu chỉ là một nhà luân lý, thì Tin Mừng chỉ là một bộ nguyên tắc sống. Nếu Đức Giêsu chỉ là người làm phép lạ, ta sẽ chỉ tìm Người khi cần giải quyết vấn đề. Nhưng nếu Người thật sự là Chúa, là Đấng đang sống, là Con Thiên Chúa đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi, thì mọi sự thay đổi. Khi ấy cầu nguyện không còn là nghĩa vụ, nhưng là gặp Người mình yêu. Thánh lễ không còn là một giờ phải hoàn tất mỗi tuần, nhưng là bàn tiệc nơi Người trao chính mình. Giới răn không còn là gánh nặng, nhưng là con đường giúp ta sống giống Người.
Điều đáng suy nghĩ là Hêrôđê “tìm cách thấy Đức Giêsu”. Nhưng về sau, khi Đức Giêsu thật sự đứng trước mặt ông trong cuộc Thương Khó, Hêrôđê vẫn không nhận ra Người. Ông muốn xem Đức Giêsu làm phép lạ. Ông muốn được thỏa mãn sự tò mò. Và khi Đức Giêsu im lặng, ông khinh dể Người. Đó là một cảnh báo rất mạnh: có thể Chúa ở ngay trước mặt mà ta vẫn không nhận ra, nếu ta chỉ tìm một Đức Giêsu theo ý mình. Ta muốn Chúa làm phép lạ nhưng Chúa lại trao thập giá. Ta muốn Chúa giải quyết ngay nhưng Chúa dạy kiên nhẫn. Ta muốn Chúa thay đổi người khác nhưng Chúa lại bắt đầu bằng việc thay đổi ta. Ta muốn Chúa cho câu trả lời, nhưng đôi khi Người chỉ ở bên cạnh ta trong thinh lặng.
Có khi ta cầu xin rất nhiều mà không thấy Chúa trả lời, rồi nghĩ Chúa xa mình. Nhưng có lẽ Người đang hiện diện theo cách khác. Có khi Chúa không cất đau khổ nhưng ban sức để đi qua. Không lấy khỏi đời ta một con người khó chịu nhưng dùng người ấy để dạy ta nhẫn nại. Không mở ngay cánh cửa ta muốn nhưng đóng nó lại để dẫn ta sang một con đường khác. Không làm cho cuộc đời dễ hơn nhưng làm cho trái tim ta mạnh hơn. Đức tin trưởng thành bắt đầu khi ta không còn chỉ hỏi: “Chúa sẽ làm gì cho con?” nhưng bắt đầu hỏi: “Lạy Chúa, qua chuyện này, Chúa muốn con trở thành người thế nào?”
Và có một điều rất đẹp: câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” không thể trả lời một lần cho xong. Mỗi giai đoạn đời sống lại đưa ta đến một câu trả lời sâu hơn. Khi còn trẻ, ta có thể biết Chúa như người bạn đồng hành. Khi đau khổ, ta biết Người như Đấng ở cạnh mình trong đêm tối. Khi phạm tội, ta biết Người như Đấng giàu lòng thương xót. Khi thất bại, ta biết Người như Đấng vẫn tin vào ta. Khi mất một người thân, ta biết Người như sự sống lại và sự sống. Khi tuổi già đến, ta biết Người như quê hương cuối cùng đang đợi ta. Chúa không thay đổi, nhưng sự hiểu biết của ta về Người ngày càng sâu hơn qua từng mùa đời.
Có người gặp Chúa trong một biến cố lớn. Nhưng phần đông chúng ta gặp Chúa trong những điều rất bình thường. Một câu Kinh Thánh bỗng chạm vào lòng. Một Thánh lễ hôm ấy tự nhiên trở nên khác. Một biến cố đau đớn làm ta nhìn lại cuộc đời. Một người nghèo ta gặp trên đường khiến lòng mình day dứt. Một lời xin lỗi làm tan băng nhiều năm. Một phút ngồi yên trước Nhà Tạm khiến ta khóc mà chẳng hiểu vì sao. Chúa đi qua đời ta rất âm thầm. Điều quan trọng là ta có đủ thinh lặng để nhận ra Người hay không.
TỪ TÒ MÒ ĐẾN GẶP GỠ ĐỨC GIÊSU
Có một câu rất ngắn trong Tin Mừng hôm nay nhưng lại khiến người ta phải suy nghĩ thật lâu: “Hêrôđê tìm cách gặp Đức Giêsu.” Nghe qua, câu ấy tưởng như thật đẹp. Một con người quyền thế muốn gặp Chúa. Một vị vua muốn biết Đức Giêsu là ai. Một người từng nghe rất nhiều chuyện về những việc Đức Giêsu đã làm giờ đây muốn tận mắt nhìn thấy Người. Nhưng khi đọc kỹ hơn, chúng ta nhận ra rằng giữa “muốn nhìn thấy Đức Giêsu” và “muốn thuộc về Đức Giêsu” còn có một khoảng cách rất xa. Hêrôđê tò mò về Đức Giêsu, nhưng ông chưa thật sự tìm kiếm Đức Giêsu bằng trái tim của một người khát khao chân lý. Ông muốn biết Người là ai nhưng lại không muốn thay đổi đời mình. Ông muốn nhìn thấy Người nhưng lại không muốn để ánh mắt của Người soi vào những góc tối của lương tâm mình. Và có lẽ đó cũng là một trong những cám dỗ rất lớn của đời sống đức tin hôm nay: chúng ta có thể biết rất nhiều về Chúa mà vẫn chưa thật sự biết Chúa; chúng ta có thể nghe rất nhiều về Tin Mừng mà Tin Mừng vẫn chưa chạm được vào đời sống; chúng ta có thể tò mò về những điều thiêng liêng mà vẫn chưa bao giờ để Thiên Chúa bước vào nơi sâu nhất của lòng mình.
Hêrôđê nghe người ta nói đủ thứ về Đức Giêsu. Người này bảo Gioan Tẩy Giả đã sống lại, người khác bảo Êlia xuất hiện, người khác nữa lại nghĩ một vị ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Giữa vô số lời đồn đoán ấy, Hêrôđê hoang mang: “Ông Gioan thì chính ta đã chém đầu rồi. Vậy người này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Có một điều rất đáng suy nghĩ: Hêrôđê đã từng đứng rất gần một ngôn sứ của Thiên Chúa. Gioan Tẩy Giả đã nói trực tiếp với ông. Gioan không nói những điều dễ nghe, nhưng nói sự thật. Gioan chỉ cho ông thấy điều sai trái trong đời sống của ông. Thế nhưng thay vì lắng nghe tiếng nói của lương tâm, Hêrôđê đã chọn bịt miệng người nói sự thật. Ông đã cho chém đầu Gioan. Giờ đây, khi nghe nói về Đức Giêsu, ký ức ấy quay trở lại. Có lẽ ông tò mò, nhưng đằng sau sự tò mò ấy còn có cả bất an, sợ hãi và một lương tâm chưa bình an. Một người có thể trốn khỏi tiếng nói của người khác, nhưng rất khó trốn khỏi tiếng nói của lương tâm mình. Ta có thể đóng cửa không nghe lời khuyên, có thể tránh mặt người nói sự thật, có thể tìm đủ lý lẽ để biện minh, nhưng ở nơi sâu thẳm của lòng mình, ta vẫn biết có những điều cần phải thay đổi.
Đời sống chúng ta cũng nhiều lần giống Hêrôđê. Chúng ta thích một Đức Giêsu làm phép lạ, nhưng lại ngại một Đức Giêsu mời gọi hoán cải. Chúng ta thích nghe những lời an ủi của Tin Mừng, nhưng đôi khi không muốn nghe những lời Tin Mừng chất vấn mình. Chúng ta thích nghe rằng Thiên Chúa yêu thương, nhưng lại không muốn nghe rằng tình yêu ấy đòi ta phải tha thứ cho người đã làm mình đau. Chúng ta thích nghe về lòng thương xót, nhưng lại không muốn từ bỏ thói quen xét đoán. Chúng ta thích nói về đức tin, nhưng lại khó chịu khi đức tin đụng đến cách mình sử dụng tiền bạc, quyền lực, lời nói, thời gian và các tương quan. Chúng ta muốn gặp Chúa, nhưng đôi khi lại đặt ra một điều kiện ngầm: “Xin Chúa cứ ở đó, nhưng đừng thay đổi điều gì trong đời con.” Mà Đức Giêsu thì không bao giờ đến chỉ để làm thỏa mãn sự tò mò của chúng ta. Người đến để cứu độ chúng ta. Người đến để biến đổi chúng ta. Người đến để đưa chúng ta từ bóng tối ra ánh sáng, từ ích kỷ đến yêu thương, từ đóng kín đến mở lòng, từ sợ hãi đến tự do, từ một đời sống chỉ xoay quanh bản thân đến một đời sống biết trao ban.
Điều đáng buồn nhất trong đời sống đức tin không phải là không biết gì về Chúa, nhưng là biết rất nhiều về Chúa mà vẫn không để Chúa biến đổi mình. Có người đọc Kinh Thánh mỗi ngày nhưng vẫn giữ mãi sự cay đắng trong lòng. Có người đi lễ đều đặn nhưng vẫn không thể tha thứ cho người thân. Có người thuộc rất nhiều kinh nhưng lời nói vẫn làm người khác đau. Có người tham gia nhiều việc đạo đức nhưng trong gia đình lại thiếu kiên nhẫn và dịu dàng. Có người tranh luận rất giỏi về giáo lý nhưng lại không biết cảm thông với một con người đang khốn khổ. Khi đó, chúng ta biết về Chúa nhưng chưa chắc đã sống với Chúa. Tin Mừng không được ban cho chúng ta chỉ để có thêm kiến thức. Lời Chúa được ban để trở thành sự sống. Đức Giêsu không muốn chúng ta chỉ nói về Người; Người muốn chúng ta bước theo Người.
Muốn thật sự biết một người, ta không thể chỉ nghe thiên hạ nói về người ấy. Cũng vậy, muốn biết Đức Giêsu, ta không thể chỉ dừng lại ở những điều người khác nói về Người. Người ta có thể kể cho ta nghe hàng ngàn điều về Chúa, nhưng cuối cùng mỗi người vẫn phải bước vào một cuộc gặp gỡ riêng tư với Người. Có những điều về Thiên Chúa chỉ hiểu được khi ta quỳ xuống cầu nguyện. Có những lời của Tin Mừng chỉ sáng lên khi ta đã từng đau khổ. Có những điều về lòng thương xót chỉ thực sự hiểu được khi ta đã từng được tha thứ. Có những điều về thập giá chỉ hiểu khi chính mình phải vác một thập giá mà không thể trao cho ai khác. Có những điều về sự quan phòng chỉ hiểu khi mọi kế hoạch của mình sụp đổ mà vẫn còn đủ sức thưa: “Lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài.” Đức tin không phải chỉ là thông tin về Thiên Chúa; đức tin là một tương quan sống động với Thiên Chúa.
Có lẽ câu hỏi quan trọng của Tin Mừng hôm nay không phải chỉ là “Hêrôđê muốn gặp Đức Giêsu thế nào?” mà là: “Tôi muốn gặp Đức Giêsu thế nào?” Tôi đến với Người vì tò mò hay vì khát khao? Tôi tìm Người vì muốn xin một phép lạ hay vì muốn thuộc trọn về Người? Tôi cầu nguyện để xin Chúa thực hiện ý tôi hay để tìm biết ý Chúa? Tôi đọc Tin Mừng để tìm một câu làm mình dễ chịu, hay sẵn sàng để Lời Chúa sửa đổi những gì không đúng trong đời mình? Ranh giới giữa một người chỉ tò mò về Chúa và một môn đệ của Chúa nằm ở chỗ ấy. Môn đệ không chỉ hỏi: “Chúa là ai?” nhưng còn hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Môn đệ không chỉ muốn nhìn thấy Chúa mà còn muốn đi theo Chúa.
Đời sống Kitô hữu bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ. Không ai có thể sống bằng đức tin của người khác mãi mãi. Cha mẹ có thể dẫn con đến nhà thờ, linh mục có thể giảng, giáo lý viên có thể dạy, cộng đoàn có thể nâng đỡ, sách vở có thể soi sáng, nhưng đến một lúc mỗi người phải tự trả lời câu hỏi: “Đức Giêsu là ai đối với tôi?” Không phải Đức Giêsu trong sách vở, không phải Đức Giêsu mà cha mẹ kể lại, không phải Đức Giêsu trong bài giảng, nhưng là Đức Giêsu đã đi vào đời tôi như thế nào. Tôi đã gặp Người ở đâu? Có thể tôi gặp Người trong một lần thất bại. Có thể trong một căn bệnh. Có thể trong một biến cố gia đình. Có thể trong một người nghèo. Có thể trong phút cầu nguyện âm thầm trước Thánh Thể. Có thể trong ngày tôi tưởng mình không còn sức bước tiếp nhưng lại cảm nhận một sức mạnh vô hình nâng mình dậy. Thiên Chúa có rất nhiều con đường để đến với con người. Vấn đề là chúng ta có nhận ra Người hay không.
Nhiều khi chúng ta cứ mong Chúa xuất hiện thật phi thường. Nhưng Người thường đến rất nhẹ. Người đến trong một câu Lời Chúa làm ta thao thức. Người đến trong lời góp ý của một người thân mà ban đầu ta không muốn nghe. Người đến trong một tiếng khóc đang cần được an ủi. Người đến trong một người già cần ta ngồi bên ít phút. Người đến trong một người con đang mong cha mẹ đặt điện thoại xuống để lắng nghe. Người đến trong người bạn đời đang cần một lời xin lỗi. Người đến trong một người mà ta không thích nhưng lại cần ta tha thứ. Đừng chỉ tìm Đức Giêsu trong những điều ngoạn mục, bởi Người thường đứng rất gần chúng ta dưới những hình thức vô cùng bình thường.
Hêrôđê “tìm cách gặp Đức Giêsu”, nhưng lịch sử Tin Mừng cho thấy có một cuộc gặp không hề đủ nếu trái tim không mở ra. Sau này Hêrôđê thực sự gặp Đức Giêsu trong cuộc Thương Khó, nhưng cuộc gặp ấy vẫn không trở thành hoán cải. Điều ấy thật đáng sợ: một người có thể đứng rất gần Chúa mà vẫn rất xa Chúa. Người ta có thể sống cả đời giữa những dấu chỉ thánh thiêng mà lòng vẫn không đổi. Có thể nghe hàng ngàn bài giảng, dự hàng ngàn Thánh lễ, đọc rất nhiều sách đạo mà vẫn chưa để Chúa đụng vào vết thương sâu nhất, sự kiêu ngạo lớn nhất, nỗi oán giận lâu nhất hay sự ích kỷ kín đáo nhất của mình. Gặp Chúa thật sự luôn có một hệ quả: ta không thể hoàn toàn giữ nguyên con người cũ. Gặp Đức Giêsu thật sự là bắt đầu bước sang một đời sống khác.
Có người hỏi: “Làm sao biết mình đã thật sự gặp Chúa?” Có lẽ không cần tìm một cảm giác lạ thường. Một dấu hiệu rất đơn giản là sau cuộc gặp ấy, ta bắt đầu trở nên nhân hậu hơn, khiêm tốn hơn, nhẫn nại hơn, biết lắng nghe hơn, dễ tha thứ hơn và bớt đặt mình ở trung tâm hơn. Không phải trong một ngày ta trở nên thánh thiện, nhưng hướng đi của đời sống thay đổi. Nếu trước kia ta luôn muốn thắng, giờ ta học nhường. Nếu trước kia ta chỉ nhìn lỗi người khác, giờ ta biết nhìn lại mình. Nếu trước kia ta dễ nói những lời làm đau người khác, giờ ta biết giữ miệng. Nếu trước kia ta chỉ hỏi “người khác làm gì cho tôi?”, giờ ta bắt đầu hỏi “tôi có thể làm gì cho họ?” Đó chính là những phép lạ rất âm thầm mà Đức Giêsu tiếp tục làm mỗi ngày.
Tin Mừng hôm nay cũng mời chúng ta xét lại cách mình nghe. Hêrôđê “nghe nói” về Đức Giêsu. Chúng ta cũng nghe rất nhiều: nghe Tin Mừng, nghe bài giảng, nghe lời khuyên, nghe tiếng lương tâm. Nhưng nghe không phải lúc nào cũng là đón nhận. Lời Chúa có thể đi qua tai rồi biến mất, hoặc có thể đi xuống trái tim và thay đổi cuộc đời. Có những lời chúng ta đã nghe hàng trăm lần: “Hãy yêu kẻ thù.” “Đừng xét đoán.” “Hãy tha thứ.” “Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình.” “Phúc thay ai có lòng thương xót.” Những câu ấy quen đến mức đôi khi chúng ta không còn giật mình nữa. Nhưng nếu một ngày ta thật sự để một câu Tin Mừng đi vào lòng và quyết tâm sống câu ấy, đời ta có thể thay đổi.
Có lẽ điều chúng ta cần mỗi ngày không phải là nghe thêm thật nhiều điều mới, nhưng là sống sâu một điều đã nghe. Chỉ cần một lời của Chúa được sống nghiêm túc cũng đủ biến đổi một gia đình. Chỉ cần người chồng biết nói “anh xin lỗi”, người vợ biết nói “em tha thứ”, cha mẹ biết nói “cha mẹ sẽ lắng nghe con”, người con biết nói “con cảm ơn cha mẹ”, một người đang oán giận biết nói “tôi sẽ không giữ điều này trong lòng nữa”, thì Tin Mừng đã trở thành xác thịt giữa cuộc đời. Kitô giáo không phải một hệ thống tư tưởng nằm trên trang giấy. Kitô giáo là Đức Kitô sống trong con người và qua con người.
Vì thế, mỗi buổi sáng trước khi bước vào một ngày mới, ta có thể cầu nguyện thật đơn giản: “Lạy Chúa Giêsu, hôm nay xin cho con không chỉ nghe nói về Chúa nhưng gặp Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa trong những người con gặp, trong những việc con làm, trong những biến cố con không mong muốn. Xin cho con đủ thinh lặng để nghe tiếng Chúa, đủ khiêm tốn để nhận ra lỗi mình, đủ can đảm để sửa đổi và đủ yêu thương để làm điều Chúa muốn.” Nếu ta sống như thế, mỗi ngày sẽ trở thành một cuộc gặp gỡ.
Và khi chiều xuống, ta có thể tự hỏi: “Hôm nay Chúa đã đi ngang qua đời tôi ở đâu?” Có thể Người đã đến trong một người làm tôi khó chịu để dạy tôi kiên nhẫn. Có thể Người đến trong một người đau khổ để dạy tôi lòng thương xót. Có thể Người đến trong một thất bại để phá vỡ sự kiêu ngạo. Có thể Người đến trong một thành công để dạy tôi biết tạ ơn. Có thể Người đến trong một khoảng lặng để nhắc tôi rằng đời người không chỉ có công việc, tiền bạc và những bận tâm chóng qua. Nếu mỗi ngày ta tập nhìn như vậy, dần dần đời sống sẽ trở thành một cuốn Tin Mừng đang mở.
Thật ra Đức Giêsu không ở xa để chúng ta phải vất vả tìm kiếm. Người đang tìm chúng ta trước. Trước khi ta muốn gặp Người, Người đã muốn gặp ta. Trước khi ta gọi tên Người, Người đã biết tên ta. Trước khi ta mở cửa lòng, Người đã đứng ngoài và kiên nhẫn chờ đợi. Câu hỏi cuối cùng không phải là “Thiên Chúa có muốn gặp tôi không?” Câu trả lời chắc chắn là có. Câu hỏi là: tôi có thật sự muốn gặp Người không? Không phải gặp để thỏa mãn tò mò như Hêrôđê, nhưng gặp để nghe Người, để yêu Người, để để Người sửa đổi mình và rồi để bước theo Người.
Xin Chúa đừng để chúng ta trở thành những Kitô hữu chỉ biết rất nhiều về Đức Giêsu nhưng lại sống rất xa Đức Giêsu. Xin cho khoảng cách từ cái đầu xuống trái tim ngày càng ngắn lại. Xin cho điều chúng ta tin bằng môi miệng trở thành điều chúng ta sống bằng cuộc đời. Và xin cho lời “con muốn gặp Chúa” không bao giờ chỉ là một ước muốn thoáng qua, nhưng trở thành lời nguyện của cả đời mình: Lạy Chúa Giêsu, xin cho con được gặp Chúa, nhưng hơn thế nữa, xin cho con để Chúa gặp con; xin bước vào cuộc đời con, chạm đến những nơi con vẫn khóa kín, chữa lành điều đang tổn thương, sửa lại điều đang lệch lạc, và làm cho con mỗi ngày trở nên giống Chúa hơn.
Lm. Anmai, CSsR
KHÔNG CHỈ MUỐN NHÌN THẤY CHÚA, NHƯNG MUỐN THUỘC VỀ CHÚA
Có một câu rất ngắn trong Tin Mừng nhưng lại chạm đến một câu hỏi lớn nhất của đời người: “Người này là ai?” Hêrôđê nghe biết bao nhiêu chuyện về Đức Giêsu. Người ta nói về những phép lạ Người làm, những bệnh nhân được chữa lành, những lời Người giảng dạy, những đám đông đi theo Người. Tin tức về Đức Giêsu lan đi khắp nơi, đến nỗi ngay cả trong cung điện của một vị vua, người ta cũng không thể làm ngơ trước cái tên Giêsu. Và Hêrôđê bắt đầu băn khoăn: Gioan thì chính ông đã chém đầu rồi, vậy người này là ai? Tin Mừng còn nói thêm một chi tiết rất đáng suy nghĩ: ông tìm cách gặp Đức Giêsu. Nghe qua, chúng ta có thể nghĩ Hêrôđê đang có một khát vọng rất đẹp. Một người muốn gặp Chúa chẳng phải là điều đáng quý sao? Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: Hêrôđê muốn gặp Đức Giêsu để làm gì? Ông muốn gặp Người để được thay đổi, hay chỉ để thỏa mãn trí tò mò? Ông muốn nghe Người để hoán cải, hay chỉ muốn nhìn thấy một phép lạ? Ông muốn bước theo Người, hay chỉ muốn đưa Người vào trong danh sách những điều kỳ lạ mà ông đã từng chứng kiến? Đó cũng là câu hỏi dành cho mỗi người chúng ta hôm nay: Tôi muốn gặp Đức Giêsu để làm gì?
Có lẽ chúng ta đều biết rất nhiều điều về Chúa. Chúng ta biết Chúa sinh tại Bêlem, lớn lên ở Nazareth, rao giảng Tin Mừng, làm phép lạ, chịu đóng đinh trên thập giá và sống lại. Chúng ta đọc Kinh Tin Kính, học giáo lý, nghe giảng, đọc Kinh Thánh. Có người còn có thể nói rất hay về thần học, linh đạo, phụng vụ và đời sống Hội Thánh. Nhưng biết rất nhiều điều về Chúa chưa chắc đã có nghĩa là chúng ta biết Chúa. Người ta có thể biết tiểu sử của một con người mà chưa từng thật sự gặp con người ấy. Người ta có thể thuộc lòng những điều Đức Giêsu đã nói mà vẫn chưa để một lời nào của Người chạm đến những vùng sâu nhất của lòng mình. Người ta có thể đọc Tin Mừng mỗi ngày mà vẫn giữ nguyên sự cay nghiệt, ích kỷ, tham vọng và tự ái của mình. Khi ấy, Đức Giêsu vẫn chỉ là một nhân vật chúng ta nghe nói tới, chứ chưa phải là Đấng chúng ta đang sống cùng.
Hêrôđê chính là một hình ảnh rất đáng sợ cho đời sống đức tin: ở rất gần câu hỏi về Thiên Chúa nhưng lại rất xa sự hoán cải. Ông từng nghe Gioan Tẩy Giả nói. Ông từng được một ngôn sứ can đảm chỉ ra điều sai trái trong cuộc đời mình. Nhưng thay vì thay đổi, ông chọn bịt miệng tiếng nói ấy. Và cuối cùng, ông giết Gioan. Hêrôđê không thiếu lời cảnh tỉnh; điều ông thiếu là một trái tim sẵn sàng thay đổi. Đó cũng là điều có thể xảy ra nơi chúng ta. Không phải chúng ta thiếu lời Chúa. Có khi chúng ta đã nghe rất nhiều. Không phải chúng ta thiếu Thánh lễ. Có người tham dự Thánh lễ mỗi ngày. Không phải chúng ta thiếu những lời khuyên tốt. Có khi người thân, bạn bè, linh mục, cộng đoàn đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta. Điều thiếu đôi khi chỉ là một quyết định nhỏ nhưng đau đớn: dám thay đổi mình.
Chúng ta thường thích một Thiên Chúa an ủi mình hơn một Thiên Chúa sửa dạy mình. Chúng ta thích nghe rằng Chúa yêu thương, nhưng lại khó chịu khi Lời Chúa đụng đến một thói quen không tốt. Chúng ta thích nghe Chúa nói về lòng thương xót, nhưng lại không muốn nghe Người nói: “Hãy tha thứ.” Chúng ta thích nghe Chúa nói: “Đừng sợ,” nhưng lại ngại nghe Người nói: “Hãy từ bỏ mình.” Chúng ta thích Chúa chữa lành những vết thương của chúng ta, nhưng không thích Người chạm vào những ích kỷ mà chúng ta đang cố bảo vệ. Thật dễ để tìm kiếm một Đức Giêsu làm phép lạ cho mình; khó hơn nhiều để đón nhận một Đức Giêsu đòi mình phải chết đi cho cái tôi. Vì thế, có khi chúng ta cũng giống Hêrôđê: muốn nhìn thấy Chúa, nhưng không thực sự muốn nghe Chúa.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là Hêrôđê sau này thật sự đã gặp Đức Giêsu. Trong cuộc Thương Khó, Philatô gửi Đức Giêsu đến cho Hêrôđê. Và Tin Mừng kể rằng Hêrôđê rất vui vì từ lâu ông đã muốn gặp Người; ông hy vọng được xem Đức Giêsu làm một phép lạ. Cuối cùng, khát vọng của ông cũng thành hiện thực. Đức Giêsu đứng ngay trước mặt ông. Chúa mà ông từng nghe đồn đang ở cách ông chỉ vài bước chân. Nhưng thật bi thảm: gặp Chúa mà vẫn không gặp được Chúa. Hêrôđê hỏi rất nhiều, còn Đức Giêsu im lặng. Có lẽ sự im lặng ấy là một trong những lời cảnh tỉnh đau nhất của Tin Mừng. Bởi có những lúc Thiên Chúa đã nói với con người quá nhiều, nhưng con người không chịu nghe; rồi đến một ngày, sự im lặng của Thiên Chúa trở thành tấm gương cho họ thấy sự chai cứng của lòng mình.
Có những người cả đời đi tìm dấu lạ mà không bao giờ nhận ra Thiên Chúa đang ở trong những điều rất bình thường. Họ muốn Chúa phải làm một điều lớn lao để họ tin, nhưng họ không nhận ra một người đang âm thầm yêu thương họ chính là một hồng ân. Họ muốn nghe một tiếng nói từ trời, nhưng không nghe tiếng lương tâm đang nhắc họ hãy sống tử tế hơn. Họ muốn một phép lạ chữa bệnh, nhưng không nhận ra việc mình còn có thể thức dậy mỗi sáng, còn có người để yêu thương, còn có cơ hội để bắt đầu lại đã là một phép lạ. Họ muốn Chúa thay đổi hoàn cảnh, nhưng Chúa lại đang muốn thay đổi chính họ.
Câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” vì thế không phải là một câu hỏi dành riêng cho Hêrôđê. Đó là câu hỏi mỗi người phải trả lời bằng chính đời sống mình. Đức Giêsu là ai đối với tôi? Là một nhân vật tôn giáo? Là một vị thầy đạo đức? Là người tôi tìm đến khi đau khổ? Là Đấng tôi cầu xin khi bệnh tật, thất nghiệp, thất bại hay khủng hoảng? Hay Người thật sự là Chúa của đời tôi? Câu trả lời không nằm ở môi miệng mà nằm trong những lựa chọn hằng ngày. Nếu tôi nói Chúa là tất cả của đời tôi nhưng tiền bạc vẫn điều khiển mọi quyết định của tôi, thì có lẽ tiền bạc mới là “chúa” của tôi. Nếu tôi nói tôi yêu Chúa nhưng lòng vẫn ôm chặt một mối hận nhiều năm và không chịu tha thứ, thì có lẽ cái tôi vẫn lớn hơn Tin Mừng. Nếu tôi nói tôi tin Chúa nhưng mỗi khi gặp thử thách lại tuyệt vọng như thể cuộc đời hoàn toàn không có Chúa, thì đức tin ấy vẫn còn cần được lớn lên rất nhiều.
Biết Chúa không chỉ là có một câu trả lời đúng về thần học. Phêrô đã nói: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Nhưng chính Phêrô sau đó vẫn phải trải qua những lần vấp ngã, sợ hãi và chối Thầy để dần hiểu điều ông vừa tuyên xưng. Biết Chúa là một hành trình. Hôm nay ta biết Người một chút; ngày mai, qua một thử thách, ta lại biết Người sâu hơn. Có khi ta biết Chúa trong một giờ cầu nguyện bình an. Có khi lại biết Người giữa nước mắt. Có khi ta nhận ra Chúa trong thành công. Nhưng đôi khi chính những thất bại, mất mát, bệnh tật và những lần cuộc đời không đi theo điều mình mong muốn lại là nơi chúng ta gặp được khuôn mặt thật của Thiên Chúa: một Thiên Chúa không hứa cất khỏi ta mọi thập giá, nhưng hứa sẽ ở cùng ta trên mọi nẻo đường.
Thánh Phaolô từng nói một điều rất đẹp: ngài mong muốn biết Đức Kitô, biết quyền năng phục sinh của Người và được thông phần vào những đau khổ của Người. Đó là một cách biết hoàn toàn khác với sự tò mò của Hêrôđê. Hêrôđê muốn biết để nhìn. Phaolô muốn biết để sống. Hêrôđê muốn thấy phép lạ. Phaolô muốn nên giống Chúa. Hêrôđê đứng bên ngoài mầu nhiệm. Phaolô muốn bước vào bên trong mầu nhiệm ấy, đến mức có thể nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Đây mới là đích đến của đức tin. Không phải chỉ là tôi biết Đức Giêsu, nhưng để Đức Giêsu dần trở thành khuôn mẫu của cách tôi nghĩ, cách tôi nói, cách tôi yêu thương, cách tôi chịu đựng và cách tôi tha thứ.
Có lẽ câu hỏi quan trọng không còn là: “Tôi biết gì về Đức Giêsu?” nhưng là: “Sau bao nhiêu năm theo Chúa, tôi đã giống Người hơn chưa?” Tôi có hiền lành hơn trước không? Tôi có bớt xét đoán hơn không? Tôi có biết lắng nghe người khác hơn không? Tôi có dễ tha thứ hơn không? Tôi có bớt ích kỷ, bớt thích kiểm soát, bớt nóng giận hơn không? Nếu một người đi lễ mấy chục năm nhưng vẫn không ai dám đến gần vì tính nóng nảy, nếu một người đọc kinh mỗi ngày nhưng vẫn thích nói xấu, nếu một người làm rất nhiều việc đạo đức nhưng không biết thương người trong chính gia đình mình, thì chúng ta cần tự hỏi: mình đã thật sự gặp Chúa chưa?
Gặp Chúa thật sự luôn để lại một dấu vết. Mátthêu gặp Chúa và đứng dậy khỏi bàn thu thuế. Dakêu gặp Chúa và thay đổi cách sử dụng tiền bạc. Người phụ nữ Samaria gặp Chúa và để lại chiếc vò nước để chạy về thành loan báo Tin Mừng. Phaolô gặp Chúa trên đường Đamát và từ kẻ bắt đạo trở thành Tông đồ. Phêrô gặp ánh mắt của Chúa sau khi chối Thầy và khóc. Không ai thật sự gặp Đức Giêsu mà có thể cứ bình thản sống như trước. Nếu cuộc đời chúng ta hoàn toàn không thay đổi, có lẽ chúng ta mới chỉ đứng trong đám đông nghe người khác nói về Người.
Nhưng Tin Mừng hôm nay không nhằm làm chúng ta sợ. Trái lại, đây là một lời mời rất đẹp. Bởi Đức Giêsu vẫn đang để cho chúng ta tìm thấy Người. Người không trốn chúng ta. Người ở trong Lời Chúa. Người hiện diện trong Thánh Thể. Người đang chờ trong những phút thinh lặng mà ta thường tránh né. Người có mặt nơi một người nghèo, một người đau khổ, một người cô đơn. Người ở ngay trong gia đình mà có lúc chúng ta xem là quá quen thuộc để nhận ra sự thánh thiêng. Người có thể đang nói với chúng ta qua một biến cố khiến mình phải suy nghĩ lại về cuộc đời.
Điều Người cần không phải là sự tò mò của chúng ta nhưng là một trái tim rộng mở. Chúa không đòi ta phải hiểu hết mọi mầu nhiệm rồi mới đến với Người. Người chỉ cần ta thành thật. Có thể ta còn đầy nghi ngờ, hãy mang nghi ngờ ấy đến với Chúa. Có thể ta đang giận Chúa vì một đau khổ nào đó, hãy nói với Người. Có thể đức tin của ta rất yếu, hãy thưa như người cha trong Tin Mừng: “Con tin, nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của con.” Có thể ta đang sống trong một điều không ngay thẳng và chưa đủ can đảm từ bỏ, hãy để Chúa bắt đầu từ chính nơi đó. Thiên Chúa không ngại sự yếu đuối của con người. Điều đáng sợ nhất chỉ là một trái tim không còn muốn được thay đổi.
Có những lúc chúng ta nghĩ rằng muốn gặp Chúa thì phải có một cảm nghiệm thiêng liêng đặc biệt. Nhưng nhiều khi gặp Chúa chỉ bắt đầu từ một điều rất nhỏ: hôm nay tôi quyết định tha thứ cho một người; hôm nay tôi bớt một câu nói làm tổn thương người khác; hôm nay tôi dành năm phút thật sự thinh lặng trước Chúa; hôm nay tôi làm một việc tốt mà không cần ai biết; hôm nay tôi dám xin lỗi; hôm nay tôi dám từ bỏ một thói quen mà lương tâm đã nhắc mình quá lâu. Chính trong những điều ấy, gương mặt Đức Giêsu bắt đầu trở nên rõ hơn.
Điều đáng buồn nhất trong đời Kitô hữu không phải là đã từng phạm tội. Phêrô đã từng chối Chúa. Phaolô từng bắt bớ Hội Thánh. Mátthêu từng là người thu thuế. Điều đáng buồn nhất là không muốn thay đổi. Tội lỗi không phải là cánh cửa đóng kín nếu một người còn biết quay về. Nhưng sự tự mãn có thể khiến người ta đứng rất gần Chúa mà vẫn không nhận ra Người. Hêrôđê chính là một lời cảnh tỉnh về điều ấy.
Vì thế, hôm nay mỗi người hãy thử ngồi lại trước Chúa và hỏi thật lòng: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là ai đối với con?” Đừng vội trả lời bằng những câu thuộc lòng. Hãy để đời mình trả lời. Hãy nhìn vào cách mình sống, cách mình đối xử với người khác, cách mình sử dụng tiền bạc, thời gian, quyền lực, lời nói và những khả năng Chúa ban. Hãy nhìn vào điều mình sợ mất nhất, điều mình nghĩ tới nhiều nhất, điều đang điều khiển các quyết định của mình. Ở đó, ta sẽ biết điều gì thật sự đang chiếm vị trí trung tâm của trái tim.
Và có lẽ ta sẽ phải thưa với Chúa một lời rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con đã nghe nói về Chúa rất nhiều, nhưng con muốn biết Chúa thật sự. Con không muốn chỉ tò mò về Chúa. Con không muốn chỉ nhìn Chúa từ xa. Con không muốn chỉ tìm Chúa khi cần một phép lạ. Con muốn thuộc về Chúa. Xin cho con can đảm để Lời Chúa sửa lại những điều lệch lạc trong con. Xin cho con đủ khiêm tốn để thay đổi. Xin đừng để con sống cả đời bên cạnh Tin Mừng mà lại chưa bao giờ để Tin Mừng bước vào lòng mình.”
Đến cuối cùng, câu hỏi không phải chỉ là chúng ta có tìm cách nhìn thấy Đức Giêsu hay không. Hêrôđê cũng từng làm điều ấy. Câu hỏi sâu hơn là: sau khi nhìn thấy Người, ta có để Người nhìn vào mình không? Sau khi nghe Người, ta có để lời Người sửa đổi mình không? Sau khi biết Người, ta có dám thuộc về Người không? Bởi khi ta thực sự gặp Đức Kitô, căn tính của Người cũng dần trở thành căn tính của ta. Ta không còn sống chỉ cho mình nữa, nhưng sống cho Đấng đã yêu thương, đã chết và sống lại vì mình. Và có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của đời Kitô hữu: không chỉ biết Đức Giêsu là ai, nhưng để mọi người dần nhận ra Đức Giêsu qua chính cuộc đời của chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR
MUỐN THẤY CHÚA, NHƯNG CÓ MUỐN THAY ĐỔI KHÔNG?
Có một câu rất ngắn trong Tin Mừng hôm nay nhưng càng đọc lại càng thấy nhói lòng: “Hêrôđê tìm cách gặp Đức Giêsu.” Nghe qua, đây có vẻ là một điều rất đẹp. Một con người muốn gặp Chúa, muốn biết Chúa, muốn tận mắt nhìn thấy Đức Giêsu. Nhưng Tin Mừng cho chúng ta hiểu rằng không phải bất cứ ai “muốn gặp Chúa” cũng thật sự muốn để Chúa bước vào cuộc đời mình. Hêrôđê muốn thấy Đức Giêsu, nhưng ông không tìm kiếm Người bằng một tâm hồn khát khao chân lý. Ông đã từng nghe Gioan Tẩy Giả nói sự thật, nhưng thay vì thay đổi đời sống, ông lại cho chém đầu Gioan. Giờ đây, khi nghe người ta nói về những việc lạ lùng Đức Giêsu thực hiện, ông bối rối và tự hỏi: “Người này là ai?” Người ta bảo Đức Giêsu có thể là Gioan sống lại, có thể là Êlia xuất hiện, cũng có thể là một ngôn sứ xưa đã sống lại. Hêrôđê nghe tất cả những điều ấy, nhưng ông vẫn chỉ đứng bên ngoài mầu nhiệm. Ông muốn nhìn thấy Đức Giêsu bằng đôi mắt, nhưng dường như chưa bao giờ muốn để Đức Giêsu nhìn vào sâu thẳm tâm hồn mình.
Đó cũng có thể là một câu chuyện rất gần với đời sống đức tin của mỗi chúng ta. Có khi chúng ta cũng muốn “thấy Chúa”. Chúng ta thích nghe những câu chuyện về phép lạ, thích tìm những điều kỳ lạ, thích đến những nơi hành hương nổi tiếng, thích nghe những bài giảng gây xúc động, thích biết những câu chuyện đặc biệt về các thánh, thích đọc những lời tiên báo, những dấu lạ, những chuyện khiến người ta ngạc nhiên. Nhưng Đức Giêsu không đến chỉ để thỏa mãn sự tò mò của con người. Người đến để cứu con người. Người không chỉ muốn chúng ta đứng từ xa quan sát Người; Người muốn chúng ta đi theo Người. Người không chỉ muốn chúng ta hỏi: “Đức Giêsu là ai?” mà còn muốn chúng ta trả lời câu hỏi sâu hơn: “Đức Giêsu là ai đối với chính tôi?” Bài suy niệm của các tu sĩ Cát Minh trên Qumran cũng đặt lại chính câu hỏi ấy: Hêrôđê muốn thấy Đức Giêsu vì một thứ tò mò bất an, trong khi có những người tìm Đức Giêsu bởi họ đang khát một ý nghĩa cho cuộc đời. Vấn đề vì thế không chỉ là tôi có tìm Chúa hay không, nhưng là động lực nào đang khiến tôi tìm Chúa?
Có một điều đáng sợ nơi Hêrôđê: ông không phải là người hoàn toàn không biết gì về Thiên Chúa. Ông đã nghe Gioan. Ông biết Gioan là người công chính. Ông từng nghe những lời cảnh tỉnh. Nhưng biết sự thật không có nghĩa là sống theo sự thật. Nghe Lời Chúa không có nghĩa là để Lời Chúa thay đổi đời mình. Đó là một nguy cơ rất lớn trong đời sống đạo. Một người có thể nghe Lời Chúa suốt nhiều năm nhưng vẫn giữ nguyên những cay nghiệt cũ. Một người có thể đi lễ rất đều nhưng vẫn cố chấp trong một mối hận. Một người có thể đọc Kinh Thánh mỗi ngày nhưng vẫn sống gian dối trong công việc. Một người có thể nói rất nhiều về lòng thương xót nhưng lại không chịu tha thứ cho chính người đang sống bên cạnh mình. Một người có thể yêu mến các việc đạo đức nhưng lại khước từ bất cứ lời nào chạm đến điều mình không muốn thay đổi. Khi ấy, ta không khác Hêrôđê bao nhiêu: nghe rất nhiều, tò mò rất nhiều, biết rất nhiều, nhưng không để chân lý biến đổi mình.
Hêrôđê đặt một câu hỏi rất đúng: “Người này là ai?” Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn không phải là ông đã hỏi gì, mà là ông đã làm gì sau câu hỏi ấy. Có những câu hỏi có thể mở đời người ra với Thiên Chúa, nhưng cũng có những câu hỏi chỉ dừng ở trí óc. Một người có thể dành cả đời nghiên cứu về Đức Giêsu mà vẫn chưa thực sự gặp Đức Giêsu. Có thể biết rất rõ Đức Giêsu sinh ở đâu, sống thời nào, nói những dụ ngôn nào, làm những phép lạ gì, chết dưới thời tổng trấn nào, nhưng tất cả những kiến thức ấy vẫn chưa chắc đã biến người ấy thành môn đệ. Đức tin không chỉ là biết về Đức Kitô. Đức tin là bước vào tương quan với Đức Kitô. Có một khoảng cách rất xa giữa việc nói: “Tôi biết Đức Giêsu” và lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa.” Có một khoảng cách rất xa giữa sự tò mò và sự hoán cải, giữa việc đứng bên ngoài nhìn vào và quyết định đứng dậy đi theo Người.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là Hêrôđê muốn thấy Đức Giêsu, nhưng sau này khi thực sự đứng trước Đức Giêsu trong cuộc Thương Khó, ông lại không nhận được câu trả lời nào từ Người. Tin Mừng Luca kể rằng Hêrôđê hỏi Người rất nhiều điều, nhưng Đức Giêsu không trả lời. Bài chú giải của các tu sĩ Cát Minh nhấn mạnh một nghịch lý mạnh mẽ: Đức Giêsu không sợ Hêrôđê; quyền lực của Hêrôđê không thể làm Chúa chùn bước khỏi sứ mạng của Người. Có những lúc trong đời, Thiên Chúa nói với chúng ta rất nhiều, nhưng chúng ta không nghe. Đến một lúc nào đó, ta lại than rằng sao Chúa im lặng. Có khi Chúa không hề xa chúng ta; chỉ là trong quá khứ Người đã gõ cửa quá nhiều lần mà chúng ta cứ trì hoãn. Người đã nói qua một biến cố, một thất bại, một lời khuyên, một bài giảng, một người nghèo, một giọt nước mắt của người thân, một lần lương tâm cắn rứt, một biến cố bệnh tật, một nỗi cô đơn; nhưng ta cứ hẹn: “Mai con sẽ thay đổi.” Và những cái “mai” ấy có thể kéo dài cả một đời.
Chúng ta thường nghĩ rằng cơ hội gặp Chúa phải là một điều gì rất phi thường. Nhưng nhiều khi Chúa đang đi ngang đời ta bằng những điều rất bình thường. Chúa có thể đến qua người vợ đang mong chồng dành thời gian cho gia đình. Chúa có thể đến qua đứa con cần cha mẹ lắng nghe. Chúa có thể đến qua người già đang cô đơn. Chúa có thể đến qua một người mà ta không thích nhưng đang cần được tha thứ. Chúa có thể đến qua một bổn phận nhỏ mà ta cứ tìm cách né tránh. Chúa có thể đến qua một tiếng nói rất khẽ trong lương tâm: “Con biết điều ấy không đúng, hãy dừng lại.” Chúa có thể đến qua một lời mời gọi đơn giản: hãy thành thật hơn, hiền lành hơn, bớt ích kỷ hơn, bỏ một thói quen xấu, làm hòa với một người, xin lỗi một người, trả lại điều mình đã lấy, giữ lời mình đã hứa. Chúng ta cứ muốn nhìn thấy những dấu lạ lớn lao, trong khi Thiên Chúa lại thường đi qua cuộc đời trong sự âm thầm.
Và đây có lẽ là một câu hỏi cần mang về sau mỗi Thánh lễ: Tôi muốn gặp Đức Giêsu để làm gì? Tôi tìm Người vì sợ hãi? Vì đang gặp khó khăn? Vì mong Người giải quyết một vấn đề? Vì muốn được bình an? Những điều ấy không xấu. Rất nhiều người bắt đầu tìm Chúa từ chính những hoàn cảnh ấy. Nhưng nếu cuộc gặp với Chúa chỉ dừng ở đó thì chưa đủ. Đức Giêsu không chỉ là nơi để ta chạy đến khi thất bại rồi bỏ đi khi mọi chuyện ổn trở lại. Người không phải là một phương tiện để cuộc đời ta thuận lợi hơn. Người là Chúa. Và khi thật sự gặp Người, con người phải để Người định hướng lại cuộc đời mình.
Có những người cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thay đổi hoàn cảnh của con.” Nhưng có lẽ Chúa đang hỏi: “Con có cho Ta thay đổi chính con không?” Ta xin Chúa thay đổi người chồng, người vợ, con cái, cộng đoàn, xã hội, những người chung quanh. Ta mong mọi người trở nên giống điều ta muốn. Nhưng câu hỏi của Tin Mừng lại quay về phía chính chúng ta: Tôi có dám để Đức Giêsu thay đổi tôi không? Một cuộc gặp thật với Chúa luôn để lại dấu vết. Giakêu gặp Chúa thì mở túi tiền. Phêrô gặp Chúa thì bỏ lưới. Mátthêu gặp Chúa thì đứng dậy khỏi bàn thu thuế. Phaolô gặp Chúa thì đổi cả hướng cuộc đời. Người phụ nữ Samaria gặp Chúa thì bỏ vò nước lại và chạy về báo cho cả làng. Còn Hêrôđê thì muốn nhìn thấy, nhưng ông không muốn từ bỏ quyền lực, dục vọng và sự thỏa hiệp đang trói buộc mình. Vì thế ông có thể đến gần Đức Giêsu về khoảng cách, nhưng lại rất xa Đức Giêsu về tâm hồn.
Có lẽ bi kịch lớn nhất của đời sống thiêng liêng không phải là chưa từng nghe về Chúa, mà là nghe quá nhiều đến mức không còn thấy lời Chúa có sức lay động mình. Ta có thể thuộc lòng một đoạn Tin Mừng nhưng không còn để nó đụng vào lương tâm. Ta có thể nghe câu “hãy tha thứ” hàng trăm lần mà vẫn giữ nguyên một mối hận. Ta có thể nghe “hãy yêu thương nhau” đến mức câu ấy trở thành quen tai, trong khi ở nhà lại chẳng nói được với nhau một lời dịu dàng. Ta có thể quỳ trước Thánh Thể mà vẫn giữ trong lòng những tính toán hơn thua. Khi ấy, điều cần xin không phải là thêm kiến thức, mà là một trái tim biết rung động trước Lời Chúa.
“Người này là ai?” Câu hỏi của Hêrôđê cuối cùng trở thành câu hỏi dành cho mỗi người chúng ta. Đức Giêsu là ai đối với tôi? Là một nhân vật tôn giáo mà tôi biết từ nhỏ? Là Đấng tôi tìm đến khi gặp chuyện? Là một phần của truyền thống gia đình? Hay Người thực sự là Chúa của đời tôi? Nếu Người là Chúa, tôi có để Người can thiệp vào những lựa chọn của mình không? Nếu Người là Đường, tôi có chịu bước theo con đường của Người không? Nếu Người là Sự Thật, tôi có chấp nhận sự thật ấy ngay cả khi nó làm tôi khó chịu không? Nếu Người là Sự Sống, tôi có để sự sống của Người thay đổi những vùng đang chết trong lòng mình không?
Mỗi ngày, rất nhiều người “nghe nói về Đức Giêsu”. Người ta nghe qua mạng xã hội, qua sách vở, qua những bài giảng, qua những câu chuyện, qua lời kể của người khác. Nhưng Tin Mừng không mời chúng ta chỉ nghe người khác nói về Người. Tin Mừng mời chúng ta tự mình gặp Người. Và cuộc gặp ấy diễn ra rất cụ thể trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, trong bí tích Hòa Giải, trong người nghèo, trong bổn phận hằng ngày, trong những quyết định âm thầm không ai biết. Có khi ta cứ hỏi: “Chúa ở đâu?” trong khi Người đang đứng rất gần, chỉ chờ ta thôi nhìn ra bên ngoài để quay vào bên trong.
Đừng tìm Chúa chỉ vì tò mò. Đừng tìm Chúa chỉ vì muốn có một cảm giác thiêng liêng dễ chịu. Đừng tìm Chúa chỉ để được giải quyết những điều đang làm mình lo âu. Hãy tìm Người vì Người là Chúa. Hãy tìm Người vì không có Người, dù ta có tất cả, lòng ta vẫn còn thiếu một điều căn bản. Hãy tìm Người với sự can đảm của người sẵn sàng nói: “Lạy Chúa, nếu có điều gì trong con phải thay đổi, xin Chúa cứ nói. Nếu có điều gì con phải bỏ, xin cho con đủ can đảm mà bỏ. Nếu có một con đường con phải đi, xin cho con đủ tin tưởng để bước đi.”
Có lẽ điều đáng sợ không phải là chúng ta không bao giờ gặp Chúa. Điều đáng sợ hơn là Chúa đã đi ngang đời ta rất nhiều lần mà ta không nhận ra. Người đã nói, nhưng ta bận. Người đã gọi, nhưng ta trì hoãn. Người đã gõ cửa, nhưng ta nói: “Để hôm khác.” Người đã cho ta một cơ hội để làm hòa, nhưng ta chọn tự ái. Người cho ta một cơ hội để yêu thương, nhưng ta chọn lạnh lùng. Người cho ta một cơ hội để sống thật, nhưng ta chọn an toàn. Người cho ta một cơ hội để quay về, nhưng ta nghĩ mình còn nhiều thời gian.
Hêrôđê “tìm cách gặp Đức Giêsu”. Xin đừng để câu ấy chỉ là câu chuyện của Hêrôđê. Xin cho mỗi chúng ta cũng thật sự tìm gặp Chúa, nhưng tìm Người với một trái tim khác: không phải trái tim tò mò, mà là trái tim khát khao; không phải trái tim muốn kiểm soát, mà là trái tim sẵn sàng phó thác; không phải trái tim chỉ muốn nhìn thấy phép lạ, mà là trái tim chấp nhận chính mình được biến đổi thành một phép lạ của ân sủng. Và khi gặp Người, xin đừng chỉ hỏi: “Chúa là ai?” nhưng hãy đủ can đảm hỏi thêm: “Lạy Chúa, Chúa muốn con trở thành người như thế nào?” Bởi vì sau cùng, điều quan trọng không phải chúng ta đã nghe bao nhiêu điều về Đức Giêsu, nhưng là cuộc đời chúng ta đã thay đổi thế nào vì đã gặp Người.
Lm. Anmai, CSsR
HÃY ĐỂ CHÚA BƯỚC VÀO NHỮNG NƠI TA MUỐN GIẤU
Có những lúc chúng ta tưởng rằng đời sống đức tin là cố gắng làm cho mình trở nên tốt đẹp hơn để xứng đáng đến gần Thiên Chúa. Ta cố sửa mình, cố cầu nguyện nhiều hơn, cố tránh những lỗi lầm, cố làm cho đời mình trở nên ngay ngắn rồi mới dám bước đến trước mặt Chúa. Nhưng Tin Mừng lại cho chúng ta thấy một điều hoàn toàn khác: không phải vì chúng ta đã đẹp nên Thiên Chúa mới đến, nhưng chính vì chúng ta còn đầy những đổ vỡ nên Người đến để chữa lành; không phải vì lòng chúng ta đã sạch nên Người mới bước vào, nhưng chính vì trong lòng còn nhiều bóng tối nên Người muốn thắp lên ánh sáng. Điều Thiên Chúa cần nơi con người không phải là một cuộc đời hoàn hảo, mà là một cánh cửa được mở ra. Có thể căn phòng bên trong ta còn rất lộn xộn, có thể quá khứ còn những vết thương chưa lành, có thể ta đang mang một nỗi buồn không biết kể với ai, một thất bại không muốn nhớ lại, một tội lỗi cứ quay trở về, một mối tương quan đã đổ vỡ, một sự thất vọng về chính mình. Nhưng chính ở đó, Thiên Chúa muốn bước vào.
Con người thường thích trình diện với nhau phần đẹp nhất của mình. Ta muốn người khác thấy mình mạnh mẽ, bình an, thành công, đạo đức và ổn thỏa. Ít ai muốn người khác nhìn thấy những góc tối bên trong. Và đôi khi chúng ta cũng đối xử với Thiên Chúa như thế. Khi cầu nguyện, ta chỉ đem đến cho Người những lời đẹp. Khi vào nhà thờ, ta cố tạo cho mình dáng vẻ bình an. Khi đứng trước Thánh Thể, ta nghĩ rằng phải có những tâm tình thật cao đẹp mới xứng đáng ở lại với Chúa. Nhưng Chúa không cần một phiên bản được trang điểm của chúng ta. Người muốn gặp con người thật của ta. Người muốn ta đem đến cho Người cả niềm vui lẫn nước mắt, cả thành công lẫn thất bại, cả những điều đáng tự hào lẫn những điều khiến ta xấu hổ. Bởi vì chỉ những gì được đưa ra ánh sáng mới có thể được chữa lành; chỉ những gì được đặt vào tay Chúa mới có thể được biến đổi.
Có một hình ảnh rất đẹp: máng cỏ của Bêlem không phải là một chiếc nôi sang trọng. Nó chỉ là nơi chứa thức ăn cho súc vật, có rơm, có bụi, có sự nghèo nàn. Thế nhưng Con Thiên Chúa lại chọn chính nơi ấy để nằm xuống. Điều đó nói với chúng ta rằng Thiên Chúa không sợ sự nghèo nàn của con người. Người không đợi chúng ta biến trái tim thành một cung điện rồi mới đến. Người có thể sinh ra ngay trên đống rơm của đời ta. Người có thể bắt đầu một câu chuyện mới từ chính nơi chúng ta tưởng rằng chẳng còn gì đáng hy vọng. Điều quan trọng là ta có dành chỗ cho Người hay không. Có khi điều ngăn cản Chúa không phải là tội lỗi của ta, mà là việc ta không muốn cho Người chạm đến tội lỗi ấy. Không phải vết thương làm cho ta xa Chúa, mà là việc ta khép vết thương lại và nói: “Chỗ này xin Chúa đừng bước vào.”
Cuộc đời ai cũng có bóng tối. Có bóng tối của cô đơn khi sống giữa rất nhiều người mà chẳng tìm được một người thật sự hiểu mình. Có bóng tối của gia đình khi những người từng thương nhau lại làm nhau đau. Có bóng tối của thất bại khi cố gắng rất nhiều mà kết quả vẫn không như mong muốn. Có bóng tối của tuổi già, bệnh tật, mất mát. Có những bóng tối sâu hơn nữa: cảm giác mình vô dụng, mặc cảm vì những lỗi lầm quá khứ, sự cay đắng vì từng bị phản bội, nỗi đau vì một lời nói của ai đó cứ nằm mãi trong lòng nhiều năm. Và cũng có bóng tối do chính ta tạo ra: sự ích kỷ, nóng giận, ghen tương, tham lam, những ham muốn không được kiểm soát, những lần ta cố ý làm tổn thương người khác. Ta có thể che giấu tất cả những điều ấy trước mọi người, nhưng không cần che giấu trước Thiên Chúa. Người đã biết rồi. Và điều kỳ diệu là dù biết tất cả, Người vẫn yêu.
Đây có lẽ là điều khó tin nhất của Kitô giáo: Thiên Chúa biết con người thật của tôi mà vẫn yêu tôi. Con người thường yêu nhau với điều kiện. Khi ai đó dễ thương, ta dễ thương lại. Khi họ đáp ứng mong đợi của ta, ta vui vẻ với họ. Nhưng khi họ làm ta thất vọng, tình cảm có thể nguội lạnh. Thiên Chúa thì khác. Người không yêu một hình ảnh lý tưởng về ta; Người yêu chính con người này, trong hoàn cảnh này, với lịch sử này, với những vết thương và những yếu đuối này. Tình yêu ấy không có nghĩa là Người đồng ý với mọi điều ta làm. Chính vì yêu nên Người muốn kéo ta ra khỏi những gì đang hủy hoại ta. Ân sủng không phải là Thiên Chúa đứng bên ngoài và nói: “Con hãy cố lên.” Ân sủng là chính Thiên Chúa bước vào đời ta, nâng ta lên khi ta không còn sức để đứng dậy, tìm ta khi ta đi lạc, gọi ta trở về khi ta đã quen sống xa Người.
Nhiều khi nhìn lại đời mình, nếu đủ khiêm tốn, chúng ta sẽ nhận ra rằng Chúa đã cứu mình rất nhiều lần mà khi ấy mình không biết. Có những cánh cửa đóng lại mà ta từng trách Chúa, sau này mới hiểu rằng nếu cánh cửa ấy mở ra, có lẽ đời mình đã đi theo một hướng rất khác. Có những người rời khỏi ta khiến ta đau đớn, nhưng chính cuộc chia tay ấy lại buộc ta trưởng thành. Có những kế hoạch thất bại tưởng như mất tất cả, nhưng vài năm sau ta mới nhận ra thất bại ấy đã đưa mình đến một điều tốt đẹp hơn. Có những lần ta tưởng mình đang đi một mình, nhưng nhìn lại mới biết Chúa đã âm thầm đặt những con người, những biến cố, một câu Kinh Thánh, một bài giảng, một cuộc gặp gỡ vào đúng thời điểm để kéo ta khỏi vực sâu.
Vì thế, đời sống thiêng liêng không chỉ là xin Chúa ban thêm điều này điều kia. Có một lời cầu nguyện sâu hơn: “Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhận ra những gì Chúa đã làm trong đời con.” Chúng ta thường nhớ rất lâu điều mình thiếu nhưng lại quên rất nhanh điều mình đã nhận. Ta nhớ một lời xúc phạm hàng chục năm nhưng quên hàng ngàn lời tử tế. Ta nhớ một lần Chúa không ban điều mình xin nhưng quên vô số lần Người gìn giữ mình mà ta chẳng hề xin. Ta nhìn vào một cánh cửa đóng kín và than phiền, nhưng không nhận ra biết bao cánh cửa khác đang mở. Một trái tim biết tạ ơn không phải là trái tim không có đau khổ; đó là trái tim giữa đau khổ vẫn nhận ra mình chưa bao giờ bị Thiên Chúa bỏ rơi.
Và nơi Thánh Thể, chúng ta thấy rõ nhất Thiên Chúa yêu con người như thế nào. Người hiện diện trong sự nhỏ bé, thinh lặng và hiền lành. Người không ép ai phải đến. Người không dùng quyền lực để buộc chúng ta phải yêu Người. Người chờ. Người ở đó. Người trao mình. Một tấm bánh nhỏ bé lại chứa đựng một mầu nhiệm vô cùng lớn lao: Thiên Chúa chấp nhận trở nên lương thực để con người có thể sống. Đứng trước Thánh Thể, có lẽ đôi khi ta không cần nói quá nhiều. Chỉ cần nhìn Chúa và để Người nhìn mình. Trong ánh nhìn ấy, ta có thể hỏi: “Lạy Chúa, đời con có giống Chúa một chút nào chưa?”
Chúa là tấm bánh được trao ban. Còn tôi, tôi có biết trao ban đời mình không? Tôi giữ quá chặt thời gian, tiền bạc, khả năng và tình cảm của mình cho riêng tôi chăng? Chúa hiện diện trong thinh lặng. Còn tôi, tôi có biết im lặng để nghe người khác không, hay lúc nào cũng muốn người khác nghe mình? Chúa hiền lành. Còn tôi, trong gia đình, nơi cộng đoàn, ngoài xã hội, lời nói của tôi có làm người khác được bình an hay khiến họ bị thương? Chúa khiêm nhường đến mức ẩn mình trong một tấm bánh. Còn tôi, tôi có luôn cần được nhìn nhận, cần được khen, cần người khác biết những điều mình đã làm? Chúa bẻ mình ra để trở thành lương thực. Còn tôi, tôi có chấp nhận mất một chút quyền lợi, một chút tự ái, một chút tiện nghi để người khác được sống không?
Đức tin không thể chỉ nằm trong nhà thờ. Nếu chúng ta rước lễ rồi bước ra ngoài vẫn mang nguyên một trái tim cứng cỏi, vẫn thích xét đoán, vẫn không chịu tha thứ, vẫn làm tổn thương những người sống gần mình nhất, thì có lẽ ta đã đón Chúa bằng môi nhưng chưa để Người đi xuống thật sâu trong lòng. Thánh Thể muốn biến đổi chúng ta thành điều chúng ta lãnh nhận. Ta đón nhận một Đức Kitô tự hiến để rồi chính mình cũng học tự hiến. Ta đón nhận một Đức Kitô tha thứ để rồi học tha thứ. Ta đón nhận một Đức Kitô hiền lành để rồi bớt hung dữ trong lời nói. Ta đón nhận một Đức Kitô cúi xuống rửa chân môn đệ để rồi không còn coi việc phục vụ là hạ mình.
Điều đáng sợ trong đời sống Kitô hữu không phải là yếu đuối. Tất cả chúng ta đều yếu đuối. Điều đáng sợ là sống rất lâu bên Chúa mà trái tim không thay đổi. Đi lễ nhiều năm nhưng vẫn giữ một mối hận. Đọc kinh nhiều năm nhưng vẫn thích nói xấu. Làm việc đạo đức rất nhiều nhưng trong gia đình lại thiếu sự dịu dàng. Có thể nói những điều rất đẹp về Thiên Chúa nhưng lại làm cho người bên cạnh cảm thấy ngột ngạt. Đức tin thật luôn phải đi từ bàn thờ đến bàn ăn gia đình, từ nhà thờ đến nơi làm việc, từ kinh nguyện đến cách nói chuyện, từ việc rước Mình Thánh Chúa đến cách ta đối xử với một người mà mình không thích.
Có khi Chúa không đòi chúng ta làm một điều phi thường. Người chỉ hỏi: hôm nay con có thể bớt một lời làm người khác tổn thương không? Con có thể gọi điện hỏi thăm người đang cô đơn không? Con có thể thôi nhắc lại lỗi lầm của vợ, chồng, con cái, anh chị em mình không? Con có thể xin lỗi trước dù con nghĩ mình không hoàn toàn sai không? Con có thể bớt một chút thời gian trên điện thoại để ngồi nghe người thân kể chuyện không? Con có thể nhìn một người nghèo như một con người chứ không như một sự phiền toái không? Con có thể cầu nguyện cho người đã làm con đau không? Những việc nhỏ ấy chính là nơi Tin Mừng trở thành máu thịt.
Chúng ta thường mong Chúa thay đổi hoàn cảnh, nhưng nhiều khi điều Chúa muốn trước hết là thay đổi trái tim chúng ta trong hoàn cảnh ấy. Ta xin Chúa cất đi một người khó chịu; có khi Người lại muốn dùng người ấy để dạy ta kiên nhẫn. Ta xin Chúa loại bỏ một thử thách; có khi Người muốn dùng thử thách ấy để phá vỡ sự kiêu ngạo nơi ta. Ta xin Chúa làm cho con đường dễ hơn; có khi Người muốn làm đôi chân ta mạnh hơn. Ta xin Chúa lấy đi thập giá; có khi Người không lấy đi nhưng đứng bên cạnh để cùng ta vác nó. Và chính trong những lúc ấy, một điều nhiệm mầu xảy ra: hoàn cảnh có thể chưa đổi nhưng con người đã đổi; cơn bão có thể chưa ngừng nhưng trái tim bắt đầu bình an.
Có những vết thương Chúa chữa rất nhanh. Nhưng cũng có những vết thương Người chữa bằng một hành trình dài. Đừng thất vọng khi thấy mình vẫn còn yếu. Người thợ kiên nhẫn không vứt bỏ tác phẩm chỉ vì nó chưa hoàn thành. Thiên Chúa còn kiên nhẫn hơn thế. Người làm việc trong đời ta âm thầm như hạt giống nằm dưới lòng đất. Nhiều ngày nhìn bên ngoài ta chẳng thấy gì, nhưng dưới mặt đất, sự sống đang hình thành. Một ngày kia mầm xanh xuất hiện. Đời sống ân sủng cũng vậy. Có những năm tháng ta tưởng mình chẳng tiến bộ bao nhiêu, nhưng mỗi lần ta quay về, mỗi lần thú nhận lỗi lầm, mỗi lần bắt đầu lại, mỗi lần cố gắng yêu thêm một chút, Chúa đang âm thầm nhào nặn trái tim.
Vì vậy, đừng bao giờ tuyệt vọng về chính mình. Và cũng đừng tuyệt vọng về một người khác. Người mà hôm nay ta cho là không thể thay đổi, biết đâu một ngày kia lại trở nên một con người hoàn toàn khác dưới bàn tay của ân sủng. Một người đang chìm trong tội lỗi vẫn có thể đứng dậy. Một gia đình đang tan vỡ vẫn có thể tìm lại con đường đối thoại. Một trái tim khép kín nhiều năm vẫn có thể được mở ra. Một người từng xa Chúa rất lâu vẫn có thể quay về. Bởi vì câu chuyện của Thiên Chúa với con người không được viết bằng chữ “hết hy vọng”. Bao lâu một người còn sống, cánh cửa trở về vẫn còn mở.
Nhưng để Chúa biến đổi mình, chúng ta phải chấp nhận sự thật. Không thể chữa lành điều ta không chịu nhìn nhận. Có khi ta rất dễ thấy lỗi người khác nhưng lại có vô số lý do để biện minh cho mình. Ta nói người kia nóng tính nhưng không nhận ra cách nói của mình rất cay nghiệt. Ta trách người khác ích kỷ nhưng chính mình cũng chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình. Ta trách con cái không nghe lời nhưng chưa bao giờ tự hỏi mình có thật sự lắng nghe chúng không. Ta trách cộng đoàn thiếu tình thương nhưng chính mình lại đứng bên ngoài và chỉ trích. Gặp Chúa thật sự luôn dẫn con người đến sự thật về chính mình, nhưng đó không phải là sự thật để kết án. Đó là sự thật được soi sáng bởi lòng thương xót.
Chúa không chỉ nói: “Đây là tội của con.” Người còn nói: “Hãy đưa nó cho Cha.” Người không chỉ chỉ cho ta thấy vết thương. Người chạm vào nó. Người không chỉ nói: “Con đã sai.” Người còn nói: “Hãy đứng dậy.” Vì thế, Bí tích Hòa Giải không phải là phiên tòa nơi một tội nhân run sợ trước một vị quan tòa lạnh lùng. Đó là cuộc trở về của một đứa con. Ta đem đến những điều đã làm sai và nhận lại lòng thương xót. Ta bước vào với gánh nặng và bước ra với một khởi đầu mới. Điều kỳ diệu của Kitô giáo không phải là người Kitô hữu không bao giờ ngã. Điều kỳ diệu là sau mỗi lần ngã, vẫn có một bàn tay đưa ra và một tiếng nói: “Hãy đứng lên và đi tiếp.”
Cuối cùng, có lẽ điều Chúa muốn nhất không phải là ta làm cho đời mình thật lớn lao, nhưng là cho phép tình yêu của Người đi qua đời mình để đến với người khác. Một đời sống Kitô hữu đẹp không nhất thiết phải được nhiều người biết đến. Có thể đó chỉ là một người mẹ âm thầm chăm sóc gia đình, một người cha vất vả mà vẫn giữ lòng ngay thẳng, một người con kiên nhẫn chăm sóc cha mẹ già, một linh mục trung thành với những bổn phận nhỏ mỗi ngày, một tu sĩ sống âm thầm trong cầu nguyện, một người trẻ dám sống tử tế giữa môi trường đầy những cám dỗ. Những cuộc đời ấy không ồn ào, nhưng Thiên Chúa đang làm việc trong đó.
Rồi đến một lúc, chúng ta sẽ hiểu rằng điều quan trọng nhất của đời người không phải là mình đã có bao nhiêu tiền, được bao nhiêu người biết đến, đi được bao nhiêu nơi, đạt bao nhiêu thành tựu. Câu hỏi cuối cùng đơn giản hơn rất nhiều: Tôi đã để cho Thiên Chúa yêu tôi đến mức nào, và tình yêu ấy đã đi qua tôi để đến với bao nhiêu người?
Hôm nay, nếu lòng ta đang đầy ánh sáng, hãy tạ ơn. Nếu lòng ta đang tối, hãy mở cửa. Nếu ta đang bình an, hãy chia sẻ bình an. Nếu ta đang mang một vết thương, hãy đưa nó đến trước mặt Chúa. Nếu ta đã đi rất xa, hãy quay về. Nếu ta đã ngã, hãy đứng dậy. Nếu ta cảm thấy mình chỉ còn là một máng cỏ đầy rơm rạ, cũng đừng sợ. Thiên Chúa từng chọn một máng cỏ để bước vào thế giới này. Người vẫn có thể chọn chính sự nghèo nàn của chúng ta để bắt đầu một điều kỳ diệu.
Chỉ cần ta thưa với Người thật lòng: “Lạy Chúa, con không còn muốn giấu Chúa bất cứ căn phòng nào trong cuộc đời con nữa. Xin hãy bước vào. Những gì đẹp, xin Chúa nhận lấy. Những gì đổ vỡ, xin Chúa chữa lành. Những gì tối tăm, xin Chúa soi sáng. Những gì đã chết, xin Chúa làm cho sống lại. Và xin biến trái tim con thành nơi Chúa có thể ở lại, để từ đó tình yêu của Chúa có thể đến được với những người con gặp mỗi ngày.”
Lm. Anmai, CSsR
TÔI TÌM CHÚA, HAY CHỈ TÒ MÒ VỀ CHÚA?
Có những câu Tin Mừng rất ngắn nhưng đủ sức trở thành một câu hỏi theo ta suốt cả cuộc đời. Hôm nay, Hêrôđê nghe người ta nói về Đức Giêsu. Người thì bảo Gioan Tẩy Giả đã sống lại, người thì nói Êlia xuất hiện, người khác lại cho rằng một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Hêrôđê bối rối và tự hỏi: “Người này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Rồi Tin Mừng kết thúc bằng một câu tưởng như rất đẹp: “Ông tìm cách gặp Đức Giêsu.” Nhưng điều đáng suy nghĩ là: Hêrôđê muốn gặp Chúa để làm gì? Ông muốn gặp Đức Giêsu vì khao khát chân lý, hay chỉ vì tò mò? Ông muốn gặp Người để thay đổi đời mình, hay chỉ muốn xem một hiện tượng lạ? Ông muốn nghe lời Chúa, hay chỉ muốn chứng kiến một phép lạ? Chính câu hỏi ấy cũng phải trở thành câu hỏi của mỗi chúng ta: Tôi tìm Chúa, hay tôi chỉ tò mò về Chúa? Tôi muốn gặp Chúa, hay tôi chỉ muốn Chúa làm điều gì đó cho tôi?
Hêrôđê không phải là một người hoàn toàn không biết gì về Thiên Chúa. Ông từng biết Gioan Tẩy Giả. Ông từng nghe vị ngôn sứ ấy nói. Ông từng cảm nhận sức mạnh của sự thật nơi lời Gioan. Nhưng thay vì để sự thật làm mình thay đổi, ông đã tìm cách bịt miệng sự thật. Và cuối cùng, ông đã cho chém đầu Gioan. Đó là một bi kịch rất lớn của đời sống đức tin: nghe Lời Chúa mà không để Lời Chúa thay đổi mình. Người ta có thể nghe rất nhiều bài giảng, đọc rất nhiều sách đạo, thuộc rất nhiều kinh, đi lễ rất đều, biết rất nhiều chuyện về Đức Giêsu, nhưng vẫn có thể chưa thật sự để Đức Giêsu bước vào vùng sâu nhất của đời mình. Biết về Chúa chưa chắc đã là biết Chúa. Nói về Chúa chưa chắc đã sống với Chúa. Tìm hiểu về Chúa chưa chắc đã sẵn sàng để Chúa thay đổi mình.
Hêrôđê “muốn gặp Đức Giêsu”, nhưng cuộc gặp ấy về sau đã thật sự xảy ra trong cuộc Thương Khó. Đức Giêsu bị dẫn đến trước mặt ông. Vậy mà khi Chúa đứng ngay trước mặt mình, Hêrôđê vẫn không nhận ra Người. Ông mong Chúa làm một dấu lạ. Ông đặt nhiều câu hỏi. Nhưng Đức Giêsu im lặng. Có lẽ đó là một trong những sự im lặng đáng sợ nhất trong Tin Mừng. Chúa im lặng không phải vì Người không còn yêu Hêrôđê, nhưng bởi vì Hêrôđê muốn xem Chúa như một thứ giải trí, một người biểu diễn phép lạ, chứ không phải là Đấng mà ông phải quỳ xuống trước chân để hoán cải. Chúng ta cũng có thể rơi vào thái độ ấy. Ta tìm Chúa khi cần một phép lạ. Ta cầu nguyện khi gặp khó khăn. Ta chạy đến nhà thờ khi gia đình có chuyện. Ta xin lễ khi bệnh tật. Ta khấn xin khi công việc bế tắc. Tất cả những điều ấy không sai. Nhưng nếu chỉ tìm Chúa vì những điều ấy, thì đức tin của ta vẫn rất mong manh. Bởi khi phép lạ không xảy ra, khi bệnh không khỏi, khi công việc không thuận lợi, khi lời cầu xin dường như không được đáp lại, ta rất dễ thất vọng và rời xa Chúa.
Tin Mừng hôm nay mời chúng ta đi sâu hơn: đừng chỉ tìm bàn tay của Chúa; hãy tìm chính Chúa. Đừng chỉ tìm những gì Chúa ban; hãy tìm Đấng ban mọi sự. Đừng chỉ mong Chúa thay đổi hoàn cảnh; hãy xin Chúa thay đổi chính trái tim mình. Có những lúc điều ta cần nhất không phải là một phép lạ bên ngoài, mà là một cuộc hoán cải bên trong. Không phải Chúa làm cho người khác thay đổi để họ đối xử tốt với ta hơn, nhưng là Chúa làm cho ta có trái tim đủ rộng để tha thứ. Không phải Chúa lấy hết đau khổ khỏi cuộc đời, nhưng là Chúa cho ta đủ sức đi qua đau khổ mà không mất niềm tin. Không phải Chúa làm cho con đường trở nên dễ dàng, nhưng là Chúa nắm tay ta để ta có thể bước đi trên con đường khó khăn.
Bài đọc từ sách Giảng Viên hôm nay lại nói một câu làm người ta giật mình: “Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.” Đó không phải là một lời bi quan, càng không phải là lời mời gọi chúng ta chán đời. Đó là tiếng chuông đánh thức một con người đang tưởng rằng những gì mình đang nắm giữ sẽ tồn tại mãi mãi. Bao nhiêu thứ chúng ta đang bận tâm hôm nay rồi sẽ qua. Một căn nhà rồi cũng cũ. Một chiếc xe rồi cũng hỏng. Một chiếc điện thoại mới rồi cũng lỗi thời. Tiền bạc kiếm được rồi cũng phải để lại. Danh tiếng rồi cũng bị người đời quên. Nhan sắc rồi cũng phai. Sức khỏe rồi cũng suy giảm. Chức vụ rồi cũng có ngày bàn giao. Những lời khen hôm nay ngày mai có thể biến thành lời chê. Những người từng tung hô ta có thể một ngày quay lưng. Cả những thành công mà ta mất hàng chục năm để xây dựng cũng có thể tan biến rất nhanh. Điều ấy không có nghĩa những điều đời này là vô giá trị, nhưng có nghĩa rằng đừng trao cho những điều tạm bợ một giá trị tuyệt đối.
Chúng ta đau khổ rất nhiều chỉ vì cứ cố giữ những thứ vốn không thể giữ. Ta muốn giữ tuổi trẻ, giữ sức khỏe, giữ người mình yêu, giữ địa vị, giữ tiền bạc, giữ hình ảnh của mình trong mắt người khác. Nhưng càng cố giữ, ta càng sợ mất. Và càng sợ mất, ta càng mất bình an. Có lẽ sự khôn ngoan của người môn đệ Đức Kitô không nằm ở chỗ có thật nhiều, mà là biết điều gì đáng giữ và điều gì phải buông. Có những điều mất đi không phải là thảm họa. Mất một chút tiền không phải là mất tất cả. Mất một vị trí không phải là mất phẩm giá. Mất một lời khen không phải là mất giá trị. Mất một mối tương quan không còn lành mạnh đôi khi lại mở ra một con đường sống mới. Điều đáng sợ nhất không phải là mất những gì thuộc về trần gian; điều đáng sợ nhất là mải mê giữ những thứ chóng qua mà đánh mất chính linh hồn mình.
Một ngày nào đó, mỗi chúng ta đều phải rời khỏi tất cả. Chiếc giường ta nằm sẽ có người khác nằm. Căn phòng ta ở sẽ có người khác sử dụng. Những món đồ ta quý rồi sẽ được chia cho người khác. Tài khoản ngân hàng ta dành dụm cả đời rồi cũng sang tay. Người đời có thể nhớ tên ta một thời gian, rồi những thế hệ sau có thể chẳng còn biết ta là ai. Đó là sự thật không ai muốn nghĩ tới, nhưng chính sự thật ấy lại làm cho đời sống hôm nay trở nên đẹp hơn. Vì nếu biết thời gian hữu hạn, ta sẽ bớt phí thời gian cho những chuyện nhỏ nhặt. Nếu biết ngày mai không thuộc quyền mình, ta sẽ bớt để dành lời yêu thương. Nếu biết một ngày người thân sẽ rời xa, ta sẽ bớt làm tổn thương nhau. Nếu biết mọi thứ rồi sẽ qua, ta sẽ thôi sống như thể mình sẽ ở đây mãi mãi.
Có người dành cả đời để hơn thua, đến cuối đời mới hiểu rằng thắng một cuộc tranh cãi đôi khi lại thua một mối quan hệ. Có người dành cả đời để kiếm tiền, đến lúc bệnh mới hiểu tiền không mua lại được những năm tháng đã bỏ quên gia đình. Có người chạy theo danh vọng, đến lúc không còn chức vụ mới biết những người thật lòng thương mình chẳng liên quan gì đến chiếc ghế mình từng ngồi. Có người cả đời cố chứng minh mình đúng, cuối cùng lại cô độc vì không còn ai muốn ở bên một người luôn muốn chiến thắng. Lời sách Giảng Viên không nhằm làm ta buồn; nó muốn giúp ta sống tỉnh táo hơn. Đừng đợi đến cuối đời mới nhận ra điều gì thật sự quan trọng.
Và giữa một thế giới mà mọi sự đổi thay, Lời Chúa chỉ cho ta một nơi có thể đặt đời mình xuống mà không sợ mất: Thiên Chúa. Con người thay đổi. Hoàn cảnh thay đổi. Sức khỏe thay đổi. Tình cảm thay đổi. Thành công và thất bại thay phiên nhau. Nhưng Chúa vẫn còn đó. Khi ta trẻ, Chúa ở đó. Khi ta già, Chúa vẫn ở đó. Khi mọi người khen ta, Chúa ở đó. Khi mọi người bỏ ta, Chúa vẫn ở đó. Khi ta thành công, Chúa ở đó. Khi ta thất bại đến mức không còn nhận ra chính mình, Chúa vẫn ở đó. Vì thế Thánh Vịnh hôm nay mới có thể thưa: “Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.” Đời người chỉ thật sự bình an khi có một nơi trú ẩn không bị thời gian phá hủy.
Thế nhưng điều đáng buồn là nhiều khi ta chỉ tìm Chúa sau khi đã thử mọi nơi khác. Ta tìm tiền bạc trước, thấy không đủ mới tìm Chúa. Ta tìm người đời trước, bị phản bội mới tìm Chúa. Ta tìm thành công trước, thất bại mới tìm Chúa. Ta tìm thú vui trước, thấy trống rỗng mới tìm Chúa. Ta giống một người khát nước đi vòng quanh sa mạc, thử uống hết mọi thứ, cuối cùng mới nhận ra nguồn nước ở ngay bên cạnh mình. Chúa vẫn kiên nhẫn. Người không trách ta đến trễ. Chỉ cần ta thật sự đến với Người.
Nhưng tìm Chúa không phải chỉ là một cảm xúc đạo đức. Gặp Chúa bao giờ cũng kéo theo một sự thay đổi. Mátthêu gặp Chúa thì đứng dậy khỏi bàn thu thuế. Dakêu gặp Chúa thì trả lại những gì mình chiếm đoạt. Phêrô gặp Chúa thì bỏ lưới. Phaolô gặp Chúa thì thay đổi cả hướng đời. Người phụ nữ Samari gặp Chúa thì bỏ vò nước và chạy đi loan báo Tin Mừng. Không ai gặp Đức Giêsu thật sự mà vẫn hoàn toàn y như cũ. Vì thế, một câu hỏi rất thực tế dành cho mỗi chúng ta là: Bao nhiêu năm tôi đi lễ, tôi đã thay đổi điều gì? Bao nhiêu năm tôi đọc kinh, tôi đã bớt nóng giận chưa? Bao nhiêu năm tôi rước lễ, tôi đã biết tha thứ hơn chưa? Bao nhiêu lần tôi xưng tội, tôi có thật sự chiến đấu với một tật xấu nào chưa? Nếu đời sống đạo chỉ làm tăng kiến thức mà không làm mềm trái tim, có lẽ chúng ta vẫn đang đứng bên ngoài cánh cửa của cuộc gặp gỡ thật sự với Chúa.
Hêrôđê hỏi: “Người này là ai?” Đó không chỉ là câu hỏi dành cho Hêrôđê. Mỗi người chúng ta cũng phải trả lời câu ấy bằng cả cuộc đời mình. Đức Giêsu là ai đối với tôi? Một nhân vật lịch sử? Một vị thầy luân lý? Một Đấng làm phép lạ? Một người mà tôi tìm đến mỗi khi gặp rắc rối? Hay Người thật sự là Chúa của đời tôi? Bởi vì một khi tôi tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, tôi không thể tiếp tục sống như thể tôi là chủ tuyệt đối của đời mình. Có những điều tôi phải buông. Có những mối quan hệ tôi phải chữa lành. Có những lỗi lầm tôi phải thú nhận. Có những người tôi phải tha thứ. Có những thói quen tôi phải từ bỏ. Có những quyết định tôi phải đặt dưới ánh sáng Tin Mừng.
Có thể hôm nay Chúa không hỏi ta đã làm được những gì lớn lao. Người chỉ hỏi: Con có thật sự muốn gặp Ta không? Không phải gặp Ta để xin một phép lạ, nhưng gặp Ta để Ta chạm đến vết thương của con. Không phải gặp Ta để nghe một điều dễ chịu, nhưng để nghe cả những lời con không muốn nghe. Không phải gặp Ta để Ta đồng ý với mọi lựa chọn của con, nhưng để con học cách điều chỉnh lựa chọn theo ý Ta. Không phải gặp Ta vì tò mò, nhưng vì con biết rằng nếu không có Ta, con có thể có tất cả mà vẫn thấy đời mình trống rỗng.
Có những khoảng trống trong lòng người không tiền bạc nào lấp được. Có những cơn khát không một cuộc vui nào dập tắt. Có những nỗi cô đơn không phải chỉ cần thêm người bên cạnh. Có những câu hỏi không trường đại học nào trả lời được. “Tại sao tôi sống?” “Tôi sống để làm gì?” “Sau những thành công này rồi sao nữa?” “Sau những đau khổ này còn gì?” “Sau cái chết là gì?” Đó là những câu hỏi khiến con người cuối cùng phải bước ra khỏi bề mặt cuộc sống để tìm Đấng là nguồn của sự sống. Và có lẽ chính vì vậy, dù con người hiện đại có thêm vô số phương tiện giải trí, nhiều người vẫn cô đơn; dù có thêm vô số phương tiện liên lạc, người ta vẫn khó gặp nhau thật sự; dù có thêm vô số kiến thức, người ta vẫn không dễ trả lời câu hỏi về ý nghĩa đời mình.
Đức Giêsu không đến để thỏa mãn sự tò mò của chúng ta. Người đến để cứu chúng ta. Người không phải là một câu chuyện thú vị để nghe rồi quên. Người là Con Đường để bước theo, là Sự Thật để đón nhận, là Sự Sống để trao phó cả đời mình. Người không muốn ta đứng từ xa nhìn Người. Người nói: “Hãy theo Ta.” Đó là sự khác biệt giữa Hêrôđê và người môn đệ. Hêrôđê muốn “xem” Đức Giêsu; người môn đệ muốn “theo” Đức Giêsu. Hêrôđê muốn một dấu lạ; người môn đệ chấp nhận thập giá. Hêrôđê muốn thỏa mãn sự tò mò; người môn đệ để đời mình được biến đổi.
Hôm nay, có lẽ mỗi chúng ta nên dành một chút thinh lặng để hỏi lòng mình: Tôi đang theo đuổi điều gì? Điều gì đang chiếm phần lớn suy nghĩ của tôi? Tôi lo lắng nhất về điều gì? Điều gì nếu mất đi sẽ khiến tôi tưởng rằng đời mình sụp đổ? Chính câu trả lời có thể cho ta biết “vị thần” thật sự của đời mình đang là ai. Nếu mất tiền mà ta mất luôn bình an, có thể tiền đang giữ chỗ quá lớn. Nếu bị người khác chê mà ta mất luôn niềm vui sống, có thể hình ảnh của ta trong mắt người đời đã trở thành thần tượng. Nếu một kế hoạch thất bại khiến ta tuyệt vọng, có thể ta đang tin vào kế hoạch của mình hơn là tin vào Thiên Chúa.
Xin Chúa dạy chúng ta biết sống giữa những điều chóng qua mà không để lòng mình trở thành chóng qua. Biết sử dụng của cải mà không để của cải sở hữu mình. Biết yêu con người mà không biến con người thành thần tượng. Biết làm việc hết sức nhưng không lấy thành công làm căn tính. Biết đón nhận niềm vui mà không quên trời cao. Biết đi qua đau khổ mà không đánh mất hy vọng. Và nhất là, xin cho chúng ta đừng giống Hêrôđê: muốn gặp Chúa nhưng không muốn thay đổi. Xin cho ta gặp Chúa bằng một trái tim nghèo, một trái tim biết mình cần được cứu, một trái tim sẵn sàng để Người nói điều Người muốn nói và dẫn ta đến nơi Người muốn dẫn.
Rồi một ngày, mọi tiếng ồn quanh ta sẽ im. Những việc hôm nay ta cho là rất quan trọng sẽ không còn quan trọng nữa. Những cuộc tranh luận từng làm ta mất ngủ sẽ trở nên nhỏ bé. Những thứ ta từng cố giữ sẽ nằm lại phía sau. Lúc ấy, có lẽ chỉ còn một câu hỏi thật sự đáng kể: Trong những năm tháng Chúa ban cho tôi, tôi đã học yêu chưa? Tôi đã sống cho điều gì? Tôi đã có thật sự gặp Đức Giêsu chưa? Đừng đợi đến cuối đời mới trả lời. Hãy trả lời từ hôm nay, bằng cách sống hôm nay cho thật đẹp, yêu người bên cạnh khi còn có thể yêu, tha thứ khi còn có thể tha thứ, cầu nguyện khi còn thời gian cầu nguyện, làm điều thiện khi còn cơ hội làm điều thiện, và nhất là tìm Chúa khi Người vẫn đang lặng lẽ đi ngang qua cuộc đời ta.
Bởi cuối cùng, mọi sự dưới mặt trời đều qua đi. Nhưng một đời đã được đặt trong tay Chúa thì không mất. Một việc làm vì yêu thương thì không mất. Một giọt nước mắt được dâng cho Chúa thì không mất. Một sự hy sinh âm thầm thì không mất. Một lần tha thứ vì Tin Mừng thì không mất. Một đời dù nhỏ bé nhưng đã thuộc trọn về Đức Kitô thì không bao giờ là phù vân. Mọi sự rồi sẽ qua, nhưng Thiên Chúa còn mãi; và người nào sống trong tình yêu của Người cũng sẽ còn mãi với Người.
Lm. Anmai, CSsR
MUỐN GẶP CHÚA HAY CHỈ MUỐN NHÌN THẤY CHÚA?
Có những lúc con người tưởng rằng điều làm mình mệt mỏi nhất là thiếu tiền, thiếu thành công, thiếu một căn nhà đẹp, thiếu một vị trí xứng đáng, thiếu một người hiểu mình. Nhưng rồi đến một ngày, khi đã có được khá nhiều điều từng mơ ước, người ta lại khám phá ra một nỗi mệt khác sâu hơn: mệt vì chẳng biết mình đang sống để làm gì. Sách Giảng Viên mở đầu bằng một câu nghe có vẻ bi quan: “Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.” Mặt trời mọc rồi lặn, gió thổi đi rồi lại trở về, sông chảy mãi ra biển mà biển vẫn không đầy; mắt nhìn mãi vẫn chưa thỏa, tai nghe mãi vẫn chưa đủ. Cuộc đời cứ quay vòng. Hôm nay thức dậy, làm việc, lo toan, ăn uống, chuyện trò, chạy ngược chạy xuôi rồi ngủ; ngày mai lại bắt đầu một vòng mới. Nếu đời người chỉ có thế thì quả thật có lúc ta phải tự hỏi: “Rồi để làm gì?”
Điều đáng sợ không phải là cuộc đời có nhiều việc lặp đi lặp lại. Điều đáng sợ là chúng ta sống rất nhiều ngày mà không biết những ngày ấy đang dẫn mình đi đâu. Một người có thể bận rộn từ sáng tới khuya mà linh hồn vẫn trống rỗng. Một người có thể gặp rất nhiều người mà chẳng thực sự gặp được ai. Một người có thể biết rất nhiều chuyện nhưng lại không biết chính mình. Một người có thể nói về Thiên Chúa rất nhiều mà lại sống như thể Thiên Chúa chẳng có mặt trong cuộc đời mình. Bởi thế, lời “phù vân” của sách Giảng Viên không phải là lời mời gọi chúng ta chán đời, nhưng là một tiếng chuông đánh thức: đừng đặt điều vĩnh cửu vào những thứ chóng qua; đừng bắt của cải, danh vọng, quyền lực, hưởng thụ hay lời khen của người đời phải làm công việc mà chỉ Thiên Chúa mới có thể làm trong trái tim ta.
Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến với vua Hêrôđê, một con người dường như chẳng thiếu thứ gì. Ông có quyền lực, có cung điện, có người phục vụ, có khả năng quyết định số phận của người khác. Thế nhưng khi nghe những chuyện xảy ra quanh Đức Giêsu, ông lại bối rối. Người ta nói Gioan đã sống lại, người khác nói Êlia xuất hiện, người khác nữa cho rằng một ngôn sứ thời xưa đã trở về. Hêrôđê tự hỏi: “Gioan thì chính ta đã chém đầu rồi. Vậy người này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Và Tin Mừng kết thúc bằng một chi tiết rất đáng suy nghĩ: ông tìm cách gặp Đức Giêsu.
Thoạt nghe, câu ấy đẹp biết bao. Một vị vua muốn gặp Chúa. Một con người đầy quyền lực muốn nhìn thấy Đức Giêsu. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: Hêrôđê muốn thấy Đức Giêsu vì điều gì? Để hoán cải chăng? Để nghe lời Người chăng? Để nhìn lại cuộc đời mình chăng? Hay chỉ vì tò mò? Có một khoảng cách rất lớn giữa “muốn thấy Đức Giêsu” và “muốn theo Đức Giêsu”. Có một khoảng cách rất lớn giữa “biết chuyện về Chúa” và “biết Chúa”. Có một khoảng cách rất lớn giữa sự tò mò tôn giáo và đức tin. Người ta có thể thích nghe chuyện phép lạ, thích xem những điều lạ lùng, thích tranh luận chuyện đạo, thích đọc những tin tức về Giáo Hội, thích biết chuyện này chuyện kia liên quan đến các linh mục, giám mục, Đức Giáo hoàng, các lần hiện ra, các phép lạ… nhưng tất cả những điều ấy vẫn chưa chắc đưa người ta đến gần Chúa hơn.
Hêrôđê muốn gặp Đức Giêsu nhưng không muốn để Đức Giêsu chạm vào phần sâu nhất trong cuộc đời mình. Đó cũng có thể là bi kịch của mỗi chúng ta. Ta muốn Chúa an ủi nhưng không muốn Chúa sửa dạy. Ta muốn Chúa ban bình an nhưng không muốn Chúa đụng tới những thói quen xấu của mình. Ta muốn Chúa chữa lành nhưng không muốn Chúa yêu cầu mình tha thứ. Ta muốn Chúa ban phúc nhưng không muốn Chúa mời gọi mình từ bỏ. Ta muốn mang thánh giá trên cổ nhưng lại ngại mang thánh giá trong đời. Ta muốn Chúa hiện diện trong ngôi nhà mình, nhưng lại có những căn phòng trong lòng mà ta khóa kín và nói với Người: “Xin Chúa đừng vào đây.”
Có lẽ đó là câu hỏi mà Tin Mừng muốn đặt trước mỗi người hôm nay: Tôi tìm Chúa để làm gì? Tôi đến nhà thờ để làm gì? Tôi cầu nguyện để làm gì? Tôi đọc Lời Chúa để làm gì? Tôi có thật sự muốn gặp Chúa không, hay chỉ muốn Chúa giải quyết những vấn đề của tôi? Có những người tìm Chúa khi bệnh rồi khi khỏi bệnh lại quên. Có những người tìm Chúa khi gia đình gặp chuyện rồi khi mọi chuyện ổn thỏa lại trở về với đời sống cũ. Có những người cầu nguyện tha thiết trước kỳ thi, trước một chuyến đi, trước cuộc phẫu thuật, trước một quyết định quan trọng, nhưng sau đó Thiên Chúa lại bị đặt sang một bên. Chúng ta dễ biến Chúa thành người giải quyết những khẩn cấp của đời mình thay vì để Người trở thành trung tâm của đời mình.
Bi kịch của Hêrôđê càng lớn hơn bởi ông thực sự đã có cơ hội gặp Đức Giêsu. Trong cuộc Thương Khó, Philatô gửi Đức Giêsu đến cho Hêrôđê. Điều mà ông từng mong muốn cuối cùng đã đến: Đức Giêsu đứng ngay trước mặt ông. Nhưng cuộc gặp ấy không biến thành một cuộc hoán cải. Hêrôđê đặt nhiều câu hỏi, nhưng Đức Giêsu im lặng. Cuối cùng, ông và quân lính chế giễu Người rồi trả Người lại cho Philatô. Một con người đã từng muốn gặp Chúa, cuối cùng gặp Chúa mà vẫn bỏ lỡ Chúa. Đó là một trong những điều đáng sợ nhất của đời sống đức tin: Chúa có thể ở rất gần mà lòng người vẫn rất xa.
Chúng ta cũng có thể ở gần Chúa mà vẫn bỏ lỡ Chúa. Mỗi ngày có thể đi lễ nhưng tâm hồn lại ở nơi khác. Có thể nghe Tin Mừng hàng ngày nhưng chẳng câu nào làm thay đổi cách sống của mình. Có thể rước lễ nhiều năm nhưng vẫn giữ mãi một mối hận. Có thể lần chuỗi rất nhiều nhưng vẫn nói những lời làm tổn thương người khác. Có thể làm việc cho Giáo Hội nhưng lại quên sống với Chúa. Có thể đứng rất gần bàn thờ mà trái tim lại rất xa Người. Không phải cứ nhìn thấy Chúa là gặp Chúa; không phải cứ nghe Lời Chúa là đón nhận Lời Chúa; không phải cứ ở trong nhà Chúa là trái tim đã thuộc về Chúa.
Có lẽ bởi thế Thánh Vịnh hôm nay cầu xin một điều thật đẹp: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.” Khôn ngoan không phải là biết rất nhiều điều, mà là biết điều gì thật sự đáng sống. Có người rất thành công nhưng đến cuối đời mới nhận ra mình đã dành quá nhiều thời gian cho những chuyện chẳng quan trọng. Có người kiếm được rất nhiều tiền nhưng đánh mất gia đình. Có người bảo vệ danh dự của mình đến mức làm tổn thương những người yêu thương mình. Có người suốt đời cố gắng để người khác công nhận nhưng chưa bao giờ hỏi Thiên Chúa nghĩ gì về mình. Có người dành cả đời để xây một ngôi nhà lớn nhưng quên xây một mái ấm. Có người chăm sóc thân xác từng chút nhưng bỏ đói linh hồn nhiều năm.
Đếm tháng ngày mình sống không có nghĩa là sống trong sợ hãi về cái chết. Trái lại, chính vì biết đời mình hữu hạn nên ta càng biết quý từng ngày. Có những lời xin lỗi đừng để đến ngày mai. Có những cuộc hòa giải đừng trì hoãn. Có những người cha người mẹ cần được thăm hỏi khi họ còn sống. Có những đứa con cần được lắng nghe trước khi chúng lớn lên và đi xa. Có những người vợ người chồng cần được nói lời yêu thương khi họ vẫn còn ngồi bên cạnh. Có những việc lành cần làm ngay hôm nay. Có những thói quen cần từ bỏ ngay hôm nay. Có những bước trở về với Chúa cần bắt đầu ngay hôm nay. Bởi vì có những cơ hội một khi đi qua sẽ không trở lại.
Sách Giảng Viên nhìn mọi sự dưới mặt trời và thấy tất cả đều chóng qua. Nhưng người Kitô hữu không chỉ nhìn “dưới mặt trời”; chúng ta nhìn cuộc đời dưới ánh sáng của Đấng đã chết và sống lại. Vì thế, điều làm đời sống có ý nghĩa không phải là chúng ta giữ được bao nhiêu thứ, nhưng là chúng ta đã yêu được bao nhiêu. Không phải chúng ta được bao nhiêu người biết tới, nhưng là chúng ta đã làm bao nhiêu điều âm thầm trước mặt Thiên Chúa. Không phải căn nhà chúng ta lớn đến đâu, nhưng là trong căn nhà ấy có bao nhiêu sự tha thứ. Không phải tài khoản có bao nhiêu tiền, nhưng là đôi tay đã chia sẻ bao nhiêu. Không phải chúng ta sống bao nhiêu năm, nhưng là trong những năm ấy chúng ta đã sống thực sự bao nhiêu.
Có một nghịch lý: càng cố giữ mọi sự cho mình, con người càng thấy trống rỗng; càng biết trao ban, cuộc đời lại càng đầy. Một ngày dành cho chính mình có thể chóng qua và chẳng để lại gì; nhưng một giờ ngồi bên giường một người bệnh đôi khi ở lại trong ký ức suốt đời. Một khoản tiền mua thêm một món đồ có thể chỉ đem vui thú vài ngày; nhưng một khoản tiền giúp một gia đình nghèo có cơm ăn có thể trở thành một lời cầu nguyện không lời trước mặt Thiên Chúa. Một lời khen người ta dành cho ta có thể mau quên; nhưng một lời động viên ta trao cho người đang tuyệt vọng có thể cứu một cuộc đời. Chính tình yêu làm cho những điều nhỏ bé thoát khỏi sự phù vân.
Vì thế, Tin Mừng hôm nay không chỉ hỏi chúng ta: “Bạn có muốn gặp Đức Giêsu không?” mà còn hỏi sâu hơn: “Nếu gặp Người, bạn có sẵn sàng để Người thay đổi mình không?” Gặp Chúa thật sự luôn dẫn tới biến đổi. Phêrô gặp Chúa rồi bỏ lưới mà theo. Mátthêu gặp Chúa rồi đứng dậy khỏi bàn thu thuế. Giakêu gặp Chúa rồi mở két tiền ra để đền bù và chia sẻ. Người phụ nữ Samari gặp Chúa rồi bỏ vò nước mà chạy về làng loan báo Tin Mừng. Phaolô gặp Chúa trên đường Đamát rồi cả hướng đi cuộc đời ông thay đổi. Không ai thật sự gặp Đức Kitô mà có thể cứ sống y hệt như trước.
Bởi thế, điều chúng ta cần cầu xin không phải chỉ là “Lạy Chúa, cho con thấy Chúa”, mà là: “Lạy Chúa, xin cho con đủ can đảm để Chúa nhìn thấy con.” Nhìn thấy tất cả: những thành công lẫn thất bại, lòng quảng đại lẫn ích kỷ, những lời kinh sốt sắng lẫn những góc tối ta giấu kín. Hãy để Chúa nhìn thấy ta như ta là, bởi chỉ khi ấy cuộc gặp gỡ mới trở nên thật. Chúa không cần chúng ta đóng vai một người tốt trước mặt Người. Người biết rõ chúng ta hơn cả chính chúng ta biết mình. Điều Người cần chỉ là một trái tim chân thành dám nói: “Lạy Chúa, đây là con. Con chẳng có gì để khoe. Con còn nhiều yếu đuối. Nhưng con muốn thuộc về Chúa.”
Có lẽ một ngày nào đó, tất cả những điều chúng ta đang bận tâm hôm nay sẽ trở nên rất nhỏ. Những tranh cãi từng khiến ta mất ngủ, những lời người ta nói xấu ta, những thiệt hơn từng khiến ta đau lòng, những chuyện ta cố giành cho bằng được… rồi cũng đi qua. Ngày ấy, điều còn lại sẽ là: tôi đã yêu chưa? Tôi đã tha thứ chưa? Tôi đã sống với Chúa chưa? Tôi đã làm cuộc đời ai bớt đau hơn chưa? Tôi đã để lại trong lòng người khác điều gì? Tôi đã dùng những ngày Chúa cho như thế nào?
“Phù vân, quả là phù vân.” Đúng, mọi thứ đều chóng qua. Nhưng chính vì chóng qua nên hôm nay càng quý. Chính vì cuộc đời ngắn nên đừng phí nó cho hận thù. Chính vì con người mong manh nên hãy yêu nhau khi còn có thể. Chính vì tiền bạc không mang theo được nên hãy dùng nó để gieo điều tốt. Chính vì danh vọng sẽ phai nên đừng bán linh hồn mình để mua lời khen. Chính vì một ngày nào đó đôi tay này sẽ buông tất cả nên hôm nay hãy dùng đôi tay ấy để nắm lấy tay người cô đơn, nâng người ngã xuống và làm những việc lành.
Và trên tất cả, đừng giống Hêrôđê: dành cả đời tìm cách “xem” Đức Giêsu nhưng cuối cùng lại không nhận ra Người khi Người đứng ngay trước mặt. Chúa vẫn đi ngang qua cuộc đời ta mỗi ngày. Người có thể đến trong một đoạn Tin Mừng làm ta bứt rứt, một người nghèo gõ cửa, một đứa trẻ cần được quan tâm, một người già cần được lắng nghe, một người làm ta khó chịu nhưng đang cần được tha thứ, một biến cố khiến ta phải nhìn lại mình, một phút thinh lặng giữa bao ồn ào. Đừng chỉ tò mò về Người. Đừng chỉ nói về Người. Đừng chỉ tìm những điều lạ lùng nơi Người. Hãy để Người bước vào đời mình.
Lạy Chúa Giêsu, giữa một thế giới luôn thúc chúng con chạy nhanh hơn, có nhiều hơn, được biết đến nhiều hơn, xin cho chúng con biết dừng lại và tự hỏi mình đang đi đâu. Giữa những điều chóng qua, xin dạy chúng con chọn điều còn lại. Giữa bao nhiêu tiếng nói, xin cho chúng con nhận ra tiếng Chúa. Giữa bao nhiêu cuộc gặp gỡ, xin đừng để chúng con bỏ lỡ cuộc gặp quan trọng nhất là gặp chính Chúa. Và khi chúng con nói rằng muốn gặp Chúa, xin cho lời ấy không chỉ là tò mò như Hêrôđê, nhưng là một khát vọng chân thành: muốn biết Chúa hơn, yêu Chúa hơn và bước theo Chúa gần hơn từng ngày. Để đến cuối đời, khi những gì dưới mặt trời đã qua đi, chúng con có thể bình an nhận ra rằng đời mình không hề phù vân, bởi từng ngày đã được đặt trong tình yêu của Chúa và từng việc nhỏ đã được thực hiện vì tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỪNG ĐỂ CHÚA PHẢI CHỜ TRONG CHÍNH CUỘC ĐỜI MÌNH
Có một câu hỏi rất đáng để mỗi người mang theo sau khi nghe Lời Chúa hôm nay: Tôi đang xây dựng điều gì bằng chính cuộc đời mình, và tôi thật sự đang tìm kiếm điều gì? Ngôn sứ Khác-gai nhìn thấy một nghịch lý đau lòng nơi dân Chúa sau thời lưu đày: người ta đã trở về quê hương, đã có thể dựng lại nhà cửa, chăm lo cuộc sống, sửa sang nơi ở của mình, nhưng Đền Thờ của Chúa vẫn hoang tàn. Người ta không công khai từ chối Thiên Chúa. Họ cũng không tuyên bố rằng mình không cần Chúa nữa. Họ chỉ nói một câu rất quen thuộc: “Chưa phải lúc.” Chưa phải lúc xây lại Đền Thờ. Chưa phải lúc quan tâm đến chuyện của Chúa. Chưa phải lúc thay đổi. Chưa phải lúc cầu nguyện nghiêm túc. Chưa phải lúc trở về. Và chính cái “chưa phải lúc” ấy cứ kéo dài hết ngày này sang tháng khác, hết năm này sang năm khác. Trong khi đó, nhà riêng thì ngày càng được chăm chút, còn ngôi nhà dành cho Thiên Chúa cứ tiếp tục đổ nát. Ngôn sứ Khác-gai vì thế đã đánh thức dân bằng một lời rất mạnh: hãy nhìn lại đường lối của mình. Họ gieo nhiều mà thu ít, làm lụng nhiều mà vẫn thấy thiếu, cố gắng nhiều mà lòng vẫn trống rỗng. Không phải mọi khó khăn vật chất đều có thể giản đơn quy về một nguyên nhân thiêng liêng, nhưng sứ điệp của Khác-gai rất rõ: khi con người chỉ chăm chút cho thế giới bên ngoài mà bỏ hoang thế giới bên trong, thì dù có thêm rất nhiều thứ, lòng vẫn có thể nghèo đi. Khi mọi ưu tiên đều dành cho tiền bạc, công việc, tiện nghi, danh dự, thành công, còn Thiên Chúa luôn được xếp vào phần “khi nào rảnh”, thì đến một lúc người ta có thể sở hữu nhiều mà chẳng biết mình sống để làm gì.
Điều đáng sợ nhất trong đời sống đức tin đôi khi không phải là chống lại Thiên Chúa, mà là trì hoãn Thiên Chúa. Ít người nói thẳng: “Tôi không cần Chúa.” Nhưng rất nhiều người sống như thể có thể để Chúa chờ. Khi trẻ, ta bảo còn nhiều thời gian. Khi bận rộn, ta bảo đợi công việc ổn định. Khi gia đình nhiều chuyện, ta bảo đợi mọi thứ yên hơn. Khi phạm tội, ta bảo đợi một ngày thuận tiện rồi sẽ đi xưng tội. Khi giận ai, ta bảo đợi họ xin lỗi trước rồi mình mới tha thứ. Khi nhận ra một thói quen xấu, ta bảo từ từ rồi sửa. Khi Chúa mời gọi làm một điều tốt, ta lại hỏi: “Có cần ngay hôm nay không?” Và rất nhiều điều quan trọng trong đời thiêng liêng đã chết không phải vì ta nói “không”, mà vì ta cứ nói “để mai”. Ma quỷ đôi khi không cần thuyết phục một người bỏ Chúa; chỉ cần thuyết phục họ rằng chưa cần trở về hôm nay là đủ. Bởi vì ngày mai lại sinh ra một ngày mai khác, và có những cánh cửa khi ta muốn quay lại thì thời gian đã không còn như trước nữa.
Tin Mừng lại đưa chúng ta đến với Hêrôđê. Ông nghe rất nhiều điều về Đức Giêsu. Người ta nói Người là Gioan Tẩy Giả sống lại, là Êlia xuất hiện, hay một ngôn sứ thời xưa trở về. Hêrôđê bối rối và hỏi: “Người này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Rồi Tin Mừng nói ông tìm cách gặp Đức Giêsu. Nghe vậy, ta tưởng ông đang trên đường hoán cải. Nhưng không. Ông muốn gặp Chúa chủ yếu vì tò mò. Ông muốn biết Đức Giêsu có gì đặc biệt. Ông muốn nhìn thấy một hiện tượng đang được bàn tán. Và sau này, khi Đức Giêsu thật sự đứng trước mặt ông trong cuộc Thương Khó, Hêrôđê đã nhìn Chúa bằng mắt nhưng vẫn không nhận ra Chúa bằng lòng. Ông mong thấy một phép lạ, nhưng Đức Giêsu im lặng. Ông có cơ hội gặp Đấng Cứu Thế, nhưng cuối cùng lại biến cuộc gặp ấy thành trò chế nhạo. Có một bi kịch rất lớn ở đây: có thể đứng rất gần Chúa mà vẫn không gặp được Chúa; có thể nghe rất nhiều về Chúa mà vẫn chưa bao giờ mở lòng cho Chúa.
Điều ấy cũng có thể xảy ra với chúng ta. Một người có thể đọc rất nhiều sách đạo, nghe rất nhiều bài giảng, theo dõi rất nhiều trang Công giáo, biết khá nhiều chuyện về Giáo Hội, tranh luận rất giỏi về thần học, phụng vụ, giáo luật, nhưng vẫn chưa để Đức Giêsu đụng đến nơi sâu nhất của đời mình. Có sự khác biệt rất lớn giữa biết về Đức Giêsu và biết Đức Giêsu; giữa tò mò về Chúa và thuộc về Chúa; giữa tìm Chúa để thỏa mãn trí óc và tìm Chúa để đời mình được biến đổi. Hêrôđê muốn nhìn Đức Giêsu nhưng không muốn để Đức Giêsu nhìn vào lòng mình. Ông muốn Chúa biểu diễn trước mặt mình, nhưng không muốn mình phải thay đổi trước mặt Chúa. Và đó cũng là một cám dỗ rất hiện đại: ta muốn một Thiên Chúa làm cho mình cảm thấy dễ chịu, giải quyết vấn đề của mình, trả lời những điều mình thắc mắc, ban điều mình xin; nhưng khi Chúa đụng đến sự ích kỷ, lòng kiêu ngạo, tham vọng, những tương quan sai lệch, những tiền bạc không trong sạch, những vết thương ta nuôi dưỡng, những người ta không chịu tha thứ, thì ta lại không muốn nghe nữa.
Câu hỏi của Hêrôđê: “Người này là ai?” rồi sẽ nhận được một câu trả lời khác nơi thánh Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Nhưng điều quan trọng không chỉ là Phêrô trả lời đúng một công thức. Đức tin không phải là làm một bài trắc nghiệm giáo lý và chọn đúng đáp án. Câu “Thầy là Đấng Kitô” chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó trở thành nền móng của cuộc đời. Nếu Đức Giêsu thật sự là Chúa của tôi, thì Người phải có quyền bước vào những quyết định của tôi. Nếu Người là Chúa, tôi không thể chỉ dành cho Người vài phút còn thừa. Nếu Người là Chúa, tôi không thể giữ Người bên ngoài những lựa chọn về tiền bạc, gia đình, công việc, tình cảm, tha thứ, trách nhiệm và lương tâm. Nếu Đức Giêsu chỉ hiện diện trong nhà thờ nhưng không có tiếng nói gì trong phần còn lại của tuần sống, thì có thể Người vẫn chỉ là một nhân vật tôn giáo tôi biết đến, chứ chưa thật sự là trung tâm đời tôi. Chính bài giảng gốc đặt ra câu hỏi rất thực tế: tôi có đặt Đức Kitô ở trung tâm gia đình, việc học, công việc và đời sống mình hay tôi vẫn tiếp tục dành Người cho “lúc khác”?
Vì thế, hình ảnh Đền Thờ đổ nát trong sách Khác-gai cũng là một hình ảnh đáng để chúng ta soi vào lòng mình. Có thể căn nhà vật chất của ta rất đẹp, nhưng “ngôi đền” bên trong đã lâu không được sửa chữa. Có thể điện thoại đầy ứng dụng, lịch làm việc kín mít, tài khoản có thêm tiền, quan hệ xã hội rộng hơn, nhưng đời cầu nguyện thì ngày càng nghèo. Có thể ta lo rất kỹ cho sức khỏe thân xác nhưng linh hồn đã lâu không được nghỉ bên Chúa. Có thể ta chăm sóc danh tiếng rất nhiều nhưng lương tâm lại bị bỏ quên. Có thể ta dành rất nhiều thời gian để người khác thấy mình tốt, nhưng ít khi đứng thật trước mặt Chúa để nhận ra mình đang sống thế nào. Có những ngôi đền trong ta đang nứt: một cuộc hôn nhân mất đối thoại; một gia đình cùng sống dưới mái nhà nhưng mỗi người một thế giới; một đời tu vẫn làm việc đều đặn nhưng ngọn lửa ban đầu đã nguội; một tâm hồn vẫn đọc kinh nhưng không còn thiết tha; một mối quan hệ đã bị tổn thương quá lâu mà không ai chịu bước trước; một tội lỗi được giấu kỹ đến mức ta tưởng nó đã thành bình thường. Chúa hôm nay không đến để kết án những đổ vỡ ấy. Người chỉ nói: hãy bắt đầu xây lại.
Điều đẹp trong sách Khác-gai là dân cuối cùng đã nghe. Khi họ chịu bắt tay vào việc, Thiên Chúa đánh thức tinh thần của họ để họ đứng lên xây lại Đền Thờ. Điều này đem lại rất nhiều hy vọng. Chúa không hỏi tại sao ta đã để mọi thứ hoang phế lâu đến thế rồi mới cho ta cơ hội. Chỉ cần hôm nay ta chịu bắt đầu, Người có thể làm việc với phần đời còn lại. Một người đã xa bí tích nhiều năm vẫn có thể trở về. Một gia đình tưởng chẳng còn gì để nói với nhau vẫn có thể bắt đầu bằng một câu xin lỗi. Một người đã nguội lạnh trong đời sống cầu nguyện có thể bắt đầu bằng năm phút thật lòng trước Chúa. Một trái tim mang hận nhiều năm có thể bắt đầu bằng lời cầu nguyện cho người mình chưa thể tha thứ. Một linh hồn đã quen sống hời hợt có thể bắt đầu lại bằng việc mỗi ngày cầm Tin Mừng lên và để một câu Lời Chúa ở lại trong lòng. Chúa không đòi ta xây lại cả Đền Thờ trong một buổi sáng. Người chỉ cần ta nhặt viên đá đầu tiên lên.
Và viên đá đầu tiên ấy có thể rất nhỏ. Một Thánh lễ tham dự với lòng sốt sắng hơn. Một lần xét mình thật kỹ. Một cuộc xưng tội chân thành. Một lần tắt điện thoại để ngồi im với Chúa. Một bữa cơm không cầm điện thoại. Một lời nói dịu lại. Một món nợ được trả. Một sự thật được nói ra. Một người được tha thứ. Một người nghèo được giúp. Một bổn phận ta đã trì hoãn được làm ngay hôm nay. Những điều rất nhỏ ấy chính là những viên gạch xây lại ngôi đền của Thiên Chúa trong đời mình. Bởi Đền Thờ Chúa không chỉ được dựng lên bằng những giờ kinh dài, mà còn bằng lòng công bình, sự trung tín, lòng thương xót và những lựa chọn âm thầm mỗi ngày. Bài giảng gốc mời gọi người tín hữu “cầm lấy dụng cụ” qua những chọn lựa thường ngày và những việc công bình, bác ái để xây dựng lại sự hiện diện của Thiên Chúa trong gia đình và cộng đoàn.
Có lẽ hôm nay điều cần hỏi không phải là: “Tôi có tin Chúa không?” bởi nhiều người sẽ trả lời ngay là có. Câu hỏi sâu hơn là: “Chúa đang đứng ở vị trí nào trong đời tôi?” Người đứng ở trung tâm, hay chỉ được mời vào khi tôi gặp khó khăn? Người là Đấng hướng dẫn tôi, hay chỉ là nơi tôi tìm đến để xin giúp đỡ? Tôi có thật sự muốn gặp Chúa, hay chỉ giống Hêrôđê muốn nhìn Chúa vì tò mò? Tôi có muốn nghe điều Chúa nói, kể cả khi lời ấy làm tôi khó chịu? Tôi có để Chúa phá vỡ những lý lẽ mà tôi đã dùng nhiều năm để biện minh cho mình? Tôi có dám để Người bước vào căn phòng mà tôi luôn khóa lại trước mọi người không?
Thật ra, mỗi Thánh lễ là một cơ hội mà Hêrôđê từng khao khát nhưng đã không biết tận dụng: được gặp Đức Giêsu. Chúng ta không chỉ nghe nói về Người; chúng ta nghe chính Lời Người, được ở trước sự hiện diện của Người và được đón nhận Người nơi Thánh Thể. Vấn đề không phải Chúa có đến hay không. Chúa vẫn đến. Câu hỏi là lòng ta có mở hay không. Hêrôđê đã từng thấy Đức Giêsu nhưng vẫn bỏ lỡ Người. Chúng ta cũng có thể dự rất nhiều Thánh lễ mà lòng chẳng đổi; đọc rất nhiều kinh mà vẫn giữ nguyên tính ích kỷ; rước lễ rất nhiều lần nhưng vẫn không chịu hòa giải với người bên cạnh. Có khi điều làm Chúa đau không phải vì ta xa Người, mà vì ta ở rất gần Người nhưng vẫn không trao cho Người quyền biến đổi mình.
Lời Chúa hôm nay vì thế là một tiếng gọi rất nhẹ nhưng rất quyết liệt: đừng trì hoãn nữa. Có điều gì cần sửa, hãy bắt đầu sửa. Có ai cần tha thứ, hãy bắt đầu cầu nguyện cho họ. Có một bí tích đã lâu ta lãng quên, hãy trở về. Có một thói quen đang kéo mình xa Chúa, hãy cắt bỏ. Có một việc tốt ta biết phải làm, đừng chờ lúc thuận tiện hơn. Có một người cần được yêu thương, hãy yêu khi còn có thể. Có cha mẹ cần được thăm hỏi, hãy gọi khi họ còn nghe được tiếng mình. Có người bạn đời cần một lời cảm ơn, đừng đợi ngày mai. Có một người mà ta đã làm tổn thương, hãy xin lỗi khi vẫn còn cơ hội. Vì có những chữ “để mai” cuối cùng trở thành “giá như”.
Và rồi mỗi người có thể tự hỏi mình ba câu. Ngôi đền nào trong đời tôi đang bị bỏ hoang vì tôi quá bận với những điều khác? Tôi đang tìm Đức Giêsu với trái tim của một người muốn thuộc về Người, hay chỉ với sự tò mò của Hêrôđê? Và hôm nay, tôi có thể đặt viên đá nào đầu tiên để xây dựng lại sự hiện diện của Thiên Chúa trong gia đình, cộng đoàn và chính tâm hồn mình? Có khi ta không cần thêm một phép lạ. Ta chỉ cần đủ can đảm để bắt đầu điều mình đã biết từ lâu là phải làm. Thiên Chúa không đợi chúng ta trở nên hoàn hảo rồi mới bước đến. Người đứng ngay giữa đống đổ nát và nói: “Con hãy bắt đầu từ đây.” Chỉ cần ta chịu bắt đầu, Người sẽ cùng ta xây lại. Và có lẽ ngày đẹp nhất trong đời thiêng liêng không phải là ngày ta không còn gì đổ vỡ, nhưng là ngày ta thôi đứng nhìn đống đổ vỡ ấy và cúi xuống nhặt viên đá đầu tiên lên.
Lm. Anmai, CSsR
TÌM CHÚA ĐỂ LÀM GÌ?
Có một câu rất ngắn trong Tin Mừng hôm nay nhưng càng đọc càng thấy nó chạm vào tận đáy lòng: “Hêrôđê tìm cách gặp Đức Giêsu.” Nghe qua, người ta có thể nghĩ đây là một khởi đầu rất đẹp. Một con người đang muốn gặp Chúa, một người đã nghe nhiều điều về Đức Giêsu và nay muốn tận mắt nhìn thấy Người. Thế nhưng vấn đề không chỉ nằm ở chuyện có tìm Chúa hay không, mà còn nằm ở một câu hỏi sâu hơn rất nhiều: Ta tìm Chúa để làm gì? Hêrôđê cũng tìm Đức Giêsu. Đám đông cũng tìm Đức Giêsu. Người bệnh tìm Đức Giêsu. Người nghèo tìm Đức Giêsu. Các môn đệ tìm Đức Giêsu. Những người Pharisêu đôi khi cũng tìm Đức Giêsu. Nhưng không phải tất cả đều tìm Người bằng cùng một trái tim. Có người tìm vì yêu mến, có người tìm vì đau khổ, có người tìm vì muốn được chữa lành, có người tìm để thử thách, có người tìm vì tò mò, và cũng có người tìm để loại trừ Người. Bởi vậy, khoảng cách từ việc “tìm Đức Giêsu” đến việc “thuộc về Đức Giêsu” đôi khi còn xa hơn chúng ta tưởng.
Hêrôđê nghe người ta nói về những việc Đức Giêsu đang làm và ông bối rối. Người này nói Đức Giêsu là Gioan Tẩy Giả sống lại, người kia bảo là Êlia xuất hiện, người khác nữa cho rằng một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Hêrôđê nói: “Gioan thì chính ta đã chém đầu rồi. Vậy người này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Tin Mừng cho thấy ông “tìm cách gặp Đức Giêsu”. Câu hỏi “Người này là ai?” thực ra là câu hỏi quan trọng nhất của đời Kitô hữu. Nhưng câu trả lời không thể chỉ đến từ lời đồn của người khác. Hêrôđê biết rất nhiều chuyện về Đức Giêsu, nhưng ông chưa biết Đức Giêsu. Và đó cũng có thể là bi kịch âm thầm của chúng ta: biết rất nhiều về đạo mà chưa thật sự gặp Chúa; đọc nhiều sách đạo đức nhưng lòng vẫn xa Người; thuộc nhiều kinh nhưng đời sống chưa thay đổi; nghe biết bao bài giảng nhưng vẫn giữ nguyên những cố chấp, hơn thua, ích kỷ và tổn thương của mình. Chúng ta có thể biết Chúa bằng trí óc mà chưa bao giờ để Chúa bước xuống tận trái tim.
Có lẽ mỗi người nên tự hỏi: Tôi tìm Chúa vì điều gì? Tôi tìm Chúa vì yêu Người hay chỉ vì đang cần Người giải quyết một vấn đề? Tôi đến nhà thờ vì khao khát gặp Người hay chỉ vì thói quen? Tôi cầu nguyện vì muốn thuộc về Chúa hay vì muốn Chúa làm theo ý mình? Tôi lần chuỗi, dự lễ, đọc Kinh Thánh, làm việc bác ái vì muốn trái tim mình trở nên giống Chúa hơn, hay đôi khi chỉ để cảm thấy mình là người đạo đức? Những câu hỏi ấy không nhằm kết án ai, nhưng giúp chúng ta thanh luyện động cơ của đời sống đức tin. Vì một người có thể ở rất gần nhà thờ mà vẫn xa Thiên Chúa; có thể cầm tràng hạt trên tay mà lòng đầy oán giận; có thể nói rất nhiều về Chúa mà chưa biết im lặng trước Chúa; có thể làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng lại hiếm khi ngồi bên Chúa. Điều Chúa mong không phải trước hết là chúng ta làm bao nhiêu việc cho Người, nhưng là chúng ta có để Người chiếm lấy trái tim mình hay không.
Hêrôđê tò mò về Đức Giêsu, nhưng tò mò chưa phải là đức tin. Người ta có thể tò mò về một phép lạ, một dấu lạ, một câu chuyện kỳ lạ, một hiện tượng tôn giáo, nhưng tất cả những điều ấy chưa chắc đưa người ta tới hoán cải. Đức tin bắt đầu thực sự khi một người không chỉ hỏi: “Đức Giêsu là ai?”, mà dám hỏi tiếp: “Nếu Người thật sự là Chúa của đời tôi, vậy tôi phải thay đổi điều gì?” Đây mới là câu hỏi khó. Chúng ta thích một Đức Giêsu an ủi mình, nhưng lại ngại một Đức Giêsu sửa dạy mình. Chúng ta thích nghe Chúa nói: “Con được tha thứ”, nhưng khó nghe Người nói: “Con hãy tha thứ cho người khác.” Chúng ta thích nghe: “Ta yêu con”, nhưng lại lưỡng lự khi Chúa nói: “Hãy yêu kẻ làm con đau.” Chúng ta thích Chúa chữa lành vết thương của mình, nhưng không phải lúc nào cũng muốn Người đụng đến lòng kiêu ngạo, sự tham lam, tính nóng nảy, thói xét đoán hay những mối quan hệ không ngay thẳng của mình.
Bởi vậy, gặp Đức Giêsu thật sự bao giờ cũng có một cái giá. Mátthêu gặp Chúa và phải đứng dậy khỏi bàn thu thuế. Giakêu gặp Chúa và phải thay đổi cách sử dụng tiền bạc. Phêrô gặp Chúa và phải bỏ lưới. Phaolô gặp Chúa và cả hướng đi của cuộc đời bị đảo ngược. Người phụ nữ Samari gặp Chúa và không thể tiếp tục sống như trước. Người trộm lành gặp Chúa trong những phút cuối và cả cõi đời đời của anh được mở ra. Không ai thật sự gặp Đức Giêsu mà có thể bình thản nói: “Tôi vẫn cứ sống như cũ.” Nếu sau nhiều năm theo đạo, chúng ta không hiền hơn, không khiêm nhường hơn, không biết tha thứ hơn, không bớt tham lam, bớt xét đoán, bớt nóng giận và bớt quy mọi sự về mình, có lẽ ta cần tự hỏi: Mình đã thật sự gặp Chúa chưa, hay mới chỉ nghe nói về Người?
Điều đáng sợ nhất trong câu chuyện Hêrôđê không phải là ông hoàn toàn thờ ơ với Đức Giêsu. Ngược lại, ông quan tâm. Ông muốn gặp. Nhưng cái muốn gặp ấy chưa trở thành một hành trình hoán cải. Có những lúc chúng ta cũng giống như vậy. Ta rất thích nghe những câu chuyện về phép lạ, những chứng từ hoán cải, những hiện tượng đặc biệt. Ta có thể đi hành hương rất xa, đến nhiều nơi thánh, tham dự nhiều chương trình đạo đức. Những điều ấy tự nó rất tốt. Nhưng cuối cùng phải trở về câu hỏi căn bản: Sau tất cả những chuyến đi ấy, lòng tôi có gần Chúa hơn không? Tôi có sống tử tế hơn với người bên cạnh không? Tôi có bớt làm đau người trong gia đình không? Tôi có trung thực hơn trong công việc không? Tôi có biết xin lỗi khi mình sai không? Tôi có biết cúi xuống trước nỗi đau của người nghèo không? Nếu không, chúng ta có thể đã đi rất nhiều nơi để tìm Chúa mà lại bỏ quên Người đang đứng ngay bên cạnh mình.
Đôi khi người ta tìm Chúa chỉ khi đau khổ. Khi bình an, chúng ta bận rộn với cuộc sống của mình; đến lúc bệnh tật, thất bại, mất mát, bị phản bội hoặc rơi vào ngõ cụt, ta mới nhớ đến Chúa. Nhưng Chúa không vì thế mà từ chối chúng ta. Người vẫn đón nhận. Thật ra có những cuộc đời chỉ bắt đầu biết cầu nguyện thật sự sau một biến cố đau đớn. Nỗi đau có thể trở thành cánh cửa đưa ta về nhà. Điều quan trọng là sau khi đã bước qua cánh cửa ấy, đừng chỉ tìm Chúa như một phương án cứu nguy. Hãy để thử thách giúp ta khám phá rằng Chúa đáng được yêu không chỉ vì Người ban điều ta xin, nhưng vì chính Người là Chúa, là Đấng yêu ta ngay cả khi cuộc đời không diễn ra như mong muốn.
Có những lúc chúng ta cầu nguyện và chẳng thấy gì thay đổi. Bệnh vẫn còn. Khó khăn vẫn đó. Một người thân vẫn chưa trở về. Công việc vẫn bế tắc. Những câu hỏi vẫn chưa có lời giải. Chính lúc ấy, động cơ tìm Chúa của ta được thanh luyện. Nếu chỉ tìm Chúa để nhận một phép lạ, ta rất dễ thất vọng. Nhưng nếu tìm Chúa vì chính Chúa, ta sẽ khám phá một phép lạ sâu hơn: hoàn cảnh có thể chưa đổi, nhưng trái tim ta bắt đầu đổi. Ta có thêm sức để chịu đựng, thêm bình an giữa bất an, thêm hy vọng giữa bóng tối. Có những lúc Chúa không cất thập giá khỏi vai ta, nhưng Người bước vào và cùng vác với ta. Có những lúc Người không làm biển đời lặng ngay, nhưng Người làm lòng ta lặng trước khi sóng gió bên ngoài lặng xuống.
Con người thời nay tìm kiếm rất nhiều thứ. Ta tìm tiền bạc, địa vị, sự công nhận, thành công, sức khỏe, tình yêu, những lượt thích, những lời khen. Nhưng thật lạ, càng có nhiều thứ để lấp đầy cuộc sống, nhiều người lại càng cảm thấy trống rỗng. Bởi có một khoảng trống trong lòng con người mà không một thành công nào lấp đầy được. Có người đạt được điều mình mơ ước rồi lại hỏi: “Rồi sao nữa?” Có người sở hữu rất nhiều mà vẫn cô đơn. Có người nổi tiếng mà vẫn bất an. Có người được rất nhiều người biết đến nhưng chính mình lại không biết mình đang sống để làm gì. Bởi sâu xa, trái tim con người không chỉ cần những thứ thuộc về đời này. Nó cần một ý nghĩa lớn hơn chính nó. Nó cần được yêu bằng một tình yêu không phụ thuộc vào thành tích. Nó cần biết rằng sự hiện hữu của mình không vô nghĩa. Và ở nơi sâu nhất ấy, Thiên Chúa vẫn âm thầm chờ đợi.
Có lẽ Chúa cũng hỏi chúng ta hôm nay: “Con tìm Ta vì điều gì?” Câu hỏi này không dễ trả lời. Nhiều khi chính chúng ta cũng không biết rõ động cơ của mình. Nhưng không sao. Ta có thể đến với Chúa bằng một trái tim còn lẫn lộn nhiều điều. Các môn đệ thuở ban đầu đâu phải ai cũng hoàn toàn thanh sạch trong ý hướng. Có người mơ chức quyền, có người muốn ngồi bên hữu bên tả, có người yếu đuối và sợ hãi. Nhưng điều quan trọng là họ ở lại với Chúa đủ lâu để Chúa thanh luyện họ. Ta cũng vậy. Có thể ban đầu ta tìm Chúa vì sợ hãi, vì đau khổ, vì cần một điều gì đó. Hãy cứ đến. Nhưng đừng dừng lại ở đó. Hãy để Chúa dần dần dẫn ta từ chỗ tìm những gì Chúa ban đến chỗ tìm chính Chúa.
Và rồi ta sẽ nhận ra điều rất đẹp: trong khi ta tưởng mình đang tìm Chúa, thật ra từ rất lâu Chúa đã đi tìm ta trước. Người tìm Adam khi ông trốn trong vườn. Người tìm dân Israel giữa sa mạc. Người tìm người tội lỗi bên vệ đường. Người tìm Giakêu trên cây sung. Người tìm người phụ nữ Samari bên bờ giếng. Người tìm Phêrô sau ba lần chối Thầy. Người tìm hai môn đệ đang buồn bã trên đường Emmaus. Và hôm nay Người vẫn tìm chúng ta giữa những bộn bề, những đổ vỡ, những thất vọng và những bí mật không ai biết. Có khi ta chạy rất xa khỏi Chúa, nhưng Người vẫn kiên nhẫn đứng ở một khúc quanh nào đó của đời ta, chờ ta quay về.
Vì thế, câu hỏi sau cùng không chỉ là: “Tôi có tìm Chúa không?” mà còn là: “Khi Chúa tìm tôi, tôi có để Người tìm thấy không?” Người có thể đang tìm tôi qua một lời nhắc của người thân, một biến cố bất ngờ, một thất bại, một đoạn Tin Mừng, một tiếng lương tâm, một người nghèo gặp bên đường, một phút thinh lặng hiếm hoi giữa ngày sống. Nhưng tôi có nhận ra không? Hay tôi vẫn chạy theo quá nhiều tiếng động đến mức không còn nghe tiếng Người?
Xin cho chúng ta đừng tìm Đức Giêsu chỉ như Hêrôđê tìm một nhân vật lạ lùng để thỏa trí tò mò. Xin cho ta tìm Người như người khát tìm nước, như người lạc đường tìm ánh sáng, như người con tìm đường trở về nhà. Và khi đã gặp Người, xin đừng chỉ đứng nhìn. Hãy để Người gọi tên mình, chạm vào đời mình, sửa lại những gì lệch lạc, chữa lành những gì thương tích và dẫn mình đi con đường mới. Vì cuối cùng, hạnh phúc của đời Kitô hữu không phải là biết thật nhiều điều về Đức Giêsu, nhưng là có thể thưa với Người bằng tất cả sự chân thành của trái tim: “Lạy Chúa, con tìm Chúa không chỉ vì những gì Chúa có thể làm cho con. Con tìm Chúa vì con cần chính Chúa. Và nếu gặp được Chúa mà con phải bỏ lại một điều gì, phải thay đổi một điều gì, phải tha thứ cho một người nào đó, phải đứng dậy khỏi một nơi con đã ngồi quá lâu, thì xin cho con đủ can đảm để đứng dậy. Vì có Chúa rồi, dù phải mất nhiều thứ, con vẫn không mất tất cả; còn nếu mất Chúa, cho dù có cả thế gian, lòng con vẫn mãi là một căn nhà trống.”
Lm. Anmai, CSsR

















