Phụng vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Suy niệm Lời Chúa (Youtube và bản văn) Lễ Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu – Lm. Anmai, CSsR

4

BẢN TIN CÔNG GIÁO NGÀY 1 THÁNG 10 NĂM 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

TRỞ NÊN BÉ NHỎ ĐỂ YÊU THƯƠNG LỚN LAO lễ kính thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, trinh nữ, tiến sĩ Hội Thánh

NHỎ BÉ TRONG TAY CHÚA, RỘNG LỚN TRONG TÌNH YÊU mừng kính thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, trinh nữ, tiến sĩ Hội Thánh

LỜI NGUYỆN MỪNG KÍNH THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay, cùng với Hội Thánh, chúng con mừng kính thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Cuộc đời thánh nữ âm thầm sau cánh cửa đan viện, nhưng tình yêu của chị đã đi rất xa. Chị không tìm những việc lớn lao để được người đời biết đến; chị chọn làm những việc nhỏ bé với một tình yêu lớn lao. Xin dạy chúng con nhận ra rằng con đường nên thánh cũng bắt đầu ngay nơi cuộc sống thường ngày: trong một lời nói dịu dàng, một sự nhẫn nại khi mệt mỏi, một việc phục vụ không ai nhìn thấy, một lời cầu nguyện cho người đang đau khổ.
Lạy Chúa, có những ngày chúng con thấy mình yếu đuối, cầu nguyện khô khan và cố gắng mãi mà vẫn chưa đổi thay. Xin cho chúng con nhớ lời chứng của thánh Têrêsa: chúng con được đến với Chúa bằng đôi tay nhỏ bé, với lòng tin của người con biết mình luôn cần Cha. Xin cứu chúng con khỏi sự kiêu căng khi làm được điều tốt, và khỏi nỗi thất vọng khi nhận ra những giới hạn của mình. Xin cho chúng con biết bắt đầu lại mỗi ngày, tin rằng lòng thương xót Chúa lớn hơn mọi yếu đuối của chúng con.
Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa, xin chúc lành cho những người đang sống âm thầm: các bậc cha mẹ tận tụy với gia đình, những người chăm sóc bệnh nhân, các tu sĩ trung thành trong đời sống cầu nguyện, và những ai đang lặng lẽ mang gánh nặng mà chẳng biết thổ lộ cùng ai. Xin cho họ cảm nhận rằng Chúa thấy, Chúa hiểu và Chúa ở gần. Xin khơi lên trong Hội Thánh lòng nhiệt thành truyền giáo, để từ lời cầu nguyện và những cử chỉ yêu thương bé nhỏ, Tin Mừng của Chúa được đem đến cho những người chưa biết Chúa.
Lạy thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin dạy chúng con yêu Chúa trong những điều ở ngay trước mắt, tin tưởng khi đường đời mờ tối, và trao cho Chúa cả những việc nhỏ nhất của ngày hôm nay. Ước gì đời chúng con, dù âm thầm, cũng trở thành một lời loan báo rằng Thiên Chúa yêu thương con người. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Ca nhập lễ
Chúng ta hãy vui mừng và hân hoan, vì Chúa muôn loài đã yêu thương trinh nữ thánh thiện và hiển vinh.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Cha nhân lành, Chúa mở cửa Nước Trời cho những người bé mọn. Xin cho chúng con hằng ngày biết theo chân thánh nữ Tê-rê-xa Hài Ðồng Giê-su bước đi trên con đường phó thác để muôn đời được chiêm ngưỡng Thánh Nhan. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Is 66, 10-14c
“Ðây Ta khiến sông bình an chảy vào nó”.
Trích sách Tiên tri I-sai-a.
Các ngươi hãy vui mừng với Giê-ru-sa-lem và hết thảy những ai yêu quý nó, hãy nhảy mừng vì nó. Hỡi các ngươi là những kẻ than khóc nó, hãy hân hoan vui mừng với nó, để các ngươi bú sữa no nê nơi vú an ủi của nó, để các ngươi sung sướng bú đầy sữa vinh quang của nó. Vì chưng Chúa phán thế này: “Ta sẽ làm cho sự bình an chảy đến nó như con sông và vinh quang chư dân tràn tới như thác lũ, các ngươi sẽ được bú sữa, được ẵm vào lòng và được nâng niu trên đầu gối. Ta sẽ vỗ về các ngươi như người mẹ nâng niu con, và tại Giê-ru-sa-lem, các ngươi sẽ được an ủi. Các ngươi sẽ xem thấy, lòng các ngươi sẽ hân hoan, và các ngươi sẽ nảy nở như hoa cỏ, và tôi tớ Chúa sẽ nhìn biết bàn tay của Chúa”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 130, 1. 2. 3
Ðáp: Lạy Chúa, xin giữ linh hồn con trong bình an của Chúa.
Xướng: Lạy Chúa, lòng con không tự đắc, và mắt con chẳng liếc nhìn cao, con cũng không lo nghĩ những việc lớn lao hay là những điều quá tầm trí mọn.
Xướng: Nhưng con lo giữ linh hồn cho thinh lặng và thanh thản. Như trẻ thơ sống trong lòng thân mẫu, linh hồn con cũng như thế ở trong con.
Xướng: Ít-ra-en hãy cậy trông vào Chúa, tự bây giờ và cho tới muôn đời.
Alleluia: x. Mt 11, 25
Alleluia, alleluia! – Lạy Cha là Chúa trời đất, chúc tụng Cha, vì Cha đã mạc khải các mầu nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 18, 1-4
“Nếu không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời”.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mát-thêu.
Khi ấy, các môn đệ đến bên Chúa Giê-su mà hỏi rằng: “Thưa Thầy, ai là kẻ lớn nhất trong Nước Trời?” Chúa Giê-su gọi một trẻ nhỏ lại, đặt nó giữa các ông mà phán rằng: “Thật, Thầy bảo các con: nếu các con không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời. Vậy ai hạ mình xuống như trẻ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con ca tụng Chúa đã làm nhiều việc kỳ diệu nơi thánh nữ Tê-rê-xa Hài Ðồng Giê-su. Xin vui lòng chấp nhận lễ tế chúng con thành kính dâng lên Chúa và xin ban cho chúng con trung thành phụng sự Chúa suốt cả cuộc đời. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Người trinh nữ khôn ngoan đã chọn lấy phần tốt nhất, và sẽ không bị ai lấy mất.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin cho bí tích chúng con vừa lãnh nhận nhóm lên trong lòng chúng con lửa mến yêu xưa đã thúc đẩy thánh nữ Tê-rê-xa hiến cuộc đời cho Chúa để cầu xin cho mọi người được ơn cứu độ. Chúng con cầu xin…

THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU: KHI TIẾNG “VÂNG” CỦA CON ĐƯỢC ĐẶT TRONG TIẾNG “VÂNG” CỦA CHÚA
Bài suy niệm nhân lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Anh chị em thân mến, khi nói đến thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, người ta thường nghĩ ngay đến một khuôn mặt trẻ trung, một bó hoa hồng, một con đường nhỏ, một lời mời gọi làm những việc bé nhỏ với tình yêu lớn lao. Những hình ảnh ấy đẹp, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta có thể đi ngang qua điều sâu thẳm nhất nơi vị thánh trẻ này. Bởi vì con đường nhỏ của Têrêsa không phải là một con đường được trải hoa từ đầu đến cuối. Đó là con đường đi qua những giới hạn của bản thân, những va chạm của đời sống chung, những ngày không cảm thấy Chúa gần, những đêm đức tin tối đến mức không còn nhìn rõ lối đi. Điều làm nên sự thánh thiện của Têrêsa không phải là chị đã luôn cảm thấy mình mạnh mẽ và đầy sốt sắng. Điều làm nên sự thánh thiện của chị là, qua tất cả những đổi thay ấy, chị vẫn để mình được Thiên Chúa yêu thương. Chị vẫn thưa “vâng” với Người, và càng đi xa, chị càng nhận ra tiếng “vâng” nhỏ bé của mình được nâng đỡ bởi một tiếng “vâng” đi trước: Thiên Chúa đã chọn yêu thương con người trước khi con người biết đáp lại Người.
Ngày bước vào đan viện Cát Minh, Têrêsa còn rất trẻ. Một người trẻ có thể bước qua cánh cổng tu viện với nhiều mộng tưởng. Người ấy có thể hình dung đời tu như một khoảng trời luôn tĩnh lặng, nơi mọi người đều dịu dàng, mọi giờ cầu nguyện đều ngọt ngào, mọi hy sinh đều được đón nhận bằng lòng biết ơn. Nhưng đời sống thực không vận hành theo những hình dung ấy. Ở đâu có con người, ở đó có tính tình khác biệt, có sự vụng về, có những điều không được như ý, có ngày thân xác mệt mỏi và trái tim cũng mệt mỏi. Bài giảng tiếng Pháp cha gửi lưu ý một nét rất đáng suy nghĩ: khi nhìn lại việc mình vào Cát Minh, Têrêsa không kể câu chuyện ấy như một giấc mơ đẹp đột ngột tan vỡ. Chị biết mình đến đó để sống với Chúa giữa một đời sống rất thật. Chị bước vào vì xác tín mình được Chúa gọi, và muốn ở đó vì Chúa Giêsu. Đó là điểm khởi đầu của một đức tin trưởng thành: tôi không theo Chúa vì mọi sự chắc chắn sẽ dễ chịu; tôi theo Chúa vì chính Người đang gọi tôi.
Điều ấy chạm đến đời chúng ta hôm nay. Có người bước vào hôn nhân với một tình yêu chân thành, nhưng rồi khám phá rằng yêu một con người thật khó hơn yêu hình ảnh mình từng có về người ấy. Có người bước vào đời tu với lòng quảng đại, nhưng dần hiểu rằng sống với cộng đoàn là để cho Chúa uốn nắn mình qua cả những điều mình không chọn. Có người nhận một công việc phục vụ trong giáo xứ, ban đầu rất hăng hái, sau đó đau lòng vì bị hiểu lầm hoặc vì chẳng ai nhận ra phần việc âm thầm của mình. Có người cầu nguyện nhiều năm, mong gia đình được bình an, nhưng gia đình vẫn đầy những nỗi lo chưa giải quyết. Trong những lúc ấy, chúng ta thường tự hỏi: “Con đã chọn sai sao? Nếu Chúa thực sự gọi con, tại sao con lại gặp những điều này?” Têrêsa dịu dàng trả lời bằng chính cuộc đời chị: được Chúa gọi không có nghĩa là được miễn khỏi sự thật của đời sống. Được Chúa gọi có nghĩa là giữa sự thật ấy, chúng ta có một Đấng để yêu, một Đấng để tin, một Đấng cùng đi với mình.
Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng thưa một tiếng “vâng” rất đẹp. Ngày chịu phép Rửa, cha mẹ và người đỡ đầu thay chúng ta tuyên xưng đức tin. Ngày lãnh nhận bí tích Hôn Phối, hai người thưa lời ưng thuận trước mặt Chúa. Ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày nhận một sứ vụ, ngày quyết định tha thứ, ngày chọn giữ sự trung thực dù phải chịu thiệt, mỗi ngày ấy đều có một tiếng “vâng”. Nhưng một tiếng “vâng” nói trong giây phút sáng rõ cần được sống tiếp trong những ngày chẳng còn sáng rõ. Một lời hứa trước bàn thờ phải đi vào căn bếp, phòng bệnh, bàn làm việc, những cuộc trò chuyện khó khăn và cả những giờ im lặng. Tiếng “vâng” với Chúa, nếu là tiếng “vâng” của tình yêu, sẽ không đứng yên ở khoảnh khắc đầu tiên. Nó lớn lên khi được lặp lại. Có hôm ta lặp lại tiếng “vâng” ấy bằng niềm vui. Có hôm chỉ bằng việc thức dậy, làm điều cần làm và không bỏ đi. Có hôm bằng một lời xin lỗi. Có hôm bằng cách giữ lòng mình khỏi một câu nói sắc nhọn. Có hôm bằng cách quỳ xuống cầu nguyện trong khi chẳng còn biết phải nói gì.
Têrêsa đã hiểu rằng muốn trung thành lâu dài, con người không thể chỉ nương tựa vào cảm xúc ban đầu. Cảm xúc quý giá, nhưng cảm xúc thay đổi. Sự hăng hái ban đầu quý giá, nhưng nó không gánh được cả một cuộc đời. Chính tại đây, đức tin của Têrêsa đi vào chiều sâu. Chị không chỉ hỏi: “Con đã yêu Chúa đủ chưa?” Chị bắt đầu để cho một câu hỏi lớn hơn mở lòng mình ra: “Chúa đã yêu con đến mức nào?” Thư thứ nhất của thánh Gioan nói rằng tình yêu khởi đi từ Thiên Chúa: Người yêu chúng ta trước. Đây không phải một câu để đọc rồi đi qua. Đây là điều có thể thay đổi cách một người sống đạo. Nếu tôi nghĩ Thiên Chúa chỉ yêu tôi sau khi tôi cầu nguyện đủ lâu, làm việc đủ tốt, chiến thắng đủ nhiều yếu đuối, thì cả đời tôi sẽ sống như người đứng trước một cánh cửa đóng, cố gắng chứng minh mình xứng đáng được mở cửa. Tôi sẽ đo tình yêu Chúa bằng thành tích của mình. Tôi sẽ vui khi làm được điều tốt và tuyệt vọng khi sa ngã. Tôi sẽ nhìn người khác như đối thủ trên một bảng điểm vô hình. Nhưng nếu tôi dám tin rằng Thiên Chúa đã yêu tôi trước, thì việc cầu nguyện, hy sinh và phục vụ trở thành lời đáp của một người con. Tôi vẫn cần hoán cải, vẫn cần chiến đấu với tội lỗi, nhưng tôi chiến đấu trong niềm tin rằng Chúa muốn cứu tôi, chữa lành tôi và dẫn tôi về với Người.
Đây là một trong những điều khó tin nhất đối với trái tim con người. Chúng ta có thể dễ dàng nói “Thiên Chúa là tình yêu”, nhưng lại sống như thể tình yêu ấy luôn phải được mua bằng công trạng. Ta dễ tin Chúa yêu một người đạo đức hơn mình, một người chưa từng phạm sai lầm như mình, một người cầu nguyện sốt sắng hơn mình. Còn khi nhìn vào chính mình, ta chỉ thấy những lần nóng nảy, ganh tị, lười biếng, những lời nói làm người khác tổn thương, những điều đã hứa rồi không giữ. Ta biết quá rõ mình nên khó chấp nhận rằng Chúa cũng biết rõ mình mà vẫn không thôi gọi mình đến gần. Têrêsa mời chúng ta đừng tô đẹp bản thân để đến với Thiên Chúa. Hãy đến với Người bằng con người thật. Một đứa con không cần giả làm người lớn để được mẹ bồng. Một người bệnh không cần giả vờ khỏe mạnh để được thầy thuốc chữa. Tâm hồn bé nhỏ, theo con đường của Têrêsa, là tâm hồn đủ thật thà để nói: “Lạy Chúa, con cần Chúa.”
Bé nhỏ không đồng nghĩa với dễ dãi. Một đứa trẻ tin cha mình sẽ đỡ nó không vì thế mà ngừng tập bước. Trái lại, chính vì tin có bàn tay ấy, nó dám bước tiếp. Tin vào lòng thương xót của Chúa cũng thế. Lòng thương xót không mời ta ở yên trong ích kỷ; lòng thương xót làm ta có can đảm nhìn thẳng vào ích kỷ và để Chúa biến đổi nó. Có những người tưởng rằng phải tự sửa mình cho sạch sẽ rồi mới trở về nhà Chúa. Vì thế họ trì hoãn việc xưng tội, trì hoãn cầu nguyện, trì hoãn làm hòa. Họ đợi đến lúc mình khá hơn. Nhưng làm sao trái tim được chữa lành nếu cứ tránh xa Đấng chữa lành? Têrêsa nhắc ta bắt đầu từ nơi mình đang đứng. Nếu hôm nay chỉ đủ sức dâng một lời cầu nguyện vụng về, hãy dâng lời ấy. Nếu chỉ đủ sức thôi nói một câu cay nghiệt, hãy bắt đầu từ đó. Nếu đã ngã, hãy trở về. Điều đáng sợ không phải là ta còn yếu. Điều đáng sợ là ta tin sự yếu đuối của mình lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu cất tiếng ngợi khen Chúa Cha vì mầu nhiệm Nước Trời được tỏ lộ cho những người bé mọn. Người bé mọn là người biết mình không tự nắm giữ được tất cả. Họ biết đón nhận. Họ có thể học. Họ có thể ngạc nhiên. Họ có chỗ trong lòng cho Thiên Chúa. Trái lại, một người có thể thuộc rất nhiều kinh, làm rất nhiều việc đạo đức, nhưng nếu đã quyết rằng mình hiểu hết Chúa, hiểu hết người khác và không còn cần được hoán cải, thì lòng người ấy trở nên chật. Đức Giêsu không bảo chúng ta ngừng suy nghĩ. Người mời chúng ta suy nghĩ với một trái tim khiêm nhường. Kiến thức đức tin là một ân huệ lớn; nhưng kiến thức chỉ sinh hoa trái khi dẫn ta đến gần Chúa và gần anh chị em mình hơn. Têrêsa, một nữ tu trẻ sống trong một đan viện kín, đã trở thành một người thầy của Hội Thánh vì chị đi sâu vào điều căn bản nhất: để cho mình được yêu và học yêu như mình đã được yêu.
Tuy nhiên, con đường ấy có một thử thách mà không ai có thể né mãi: sẽ đến lúc ta không cảm thấy tình yêu của Chúa. Có lúc cầu nguyện mà lời kinh rơi xuống như hạt giống trên đất khô. Có lúc ngồi trong nhà thờ mà lòng trống rỗng. Có lúc nhìn Thánh Giá mà không thấy được an ủi. Có lúc những biến cố đau đớn dồn đến, khiến ta không dám nói với ai câu “Chúa yêu con”, vì chính mình cũng đang vật lộn để tin câu ấy. Những giờ như vậy không có gì đáng xấu hổ. Têrêsa đã đi qua một cuộc thử thách đức tin sâu xa trong giai đoạn cuối đời, cùng với đau đớn thể xác. Bài giảng cha gửi nhấn mạnh rằng chị vẫn đặt lòng tín thác nơi Chúa ngay khi không còn cảm nhận được sự hiện diện an ủi của Người. Đó là một vẻ đẹp âm thầm và nghiêm nghị hơn rất nhiều so với những bức ảnh hoa hồng thường thấy. Một người ở lại với Chúa khi còn cảm thấy vui là điều đẹp. Một người ở lại khi không cảm thấy gì, chỉ vì tin Chúa là Chúa, đã trao cho Người điều rất sâu trong trái tim mình.
Có thể hôm nay trong cộng đoàn này có người đang sống một đêm như thế. Người ấy vẫn đi lễ, vẫn làm dấu thánh giá, vẫn hát cùng cộng đoàn, nhưng bên trong đang mang một nỗi buồn không ai biết. Có người chăm sóc người thân bệnh nặng suốt nhiều tháng và đã kiệt sức. Có người cầu xin cho con mình trở lại, nhưng những cuộc nói chuyện càng lúc càng khó. Có người sống ơn gọi của mình một cách trung thành mà lâu rồi không còn cảm nhận niềm vui. Có người vừa mất một người mình yêu thương và mỗi lần nghe nói về sự quan phòng của Chúa lại thấy lòng đau thêm. Nếu đó là anh chị em, xin đừng nghĩ mình đứng ngoài con đường nên thánh. Têrêsa ở gần những ai đang phải tin trong bóng tối. Chị không trao cho chúng ta một công thức để hết đau ngay. Chị chỉ cho thấy có thể đem cả nỗi đau vào mối tương quan với Chúa; có thể thưa: “Con không thấy đường, nhưng xin giữ tay con.” Lời cầu ấy nhỏ, mà không hề yếu.
Chúng ta thường nghĩ đức tin mạnh là đức tin không có câu hỏi. Nhưng có những câu hỏi được thốt lên ngay trong lòng tin. Người mẹ đau khổ hỏi Chúa tại sao con mình phải chịu bệnh. Người cha mất việc hỏi ngày mai gia đình sẽ sống thế nào. Người trẻ đang phân định hỏi vì sao Chúa im lặng. Họ vẫn hướng câu hỏi về Người. Có những lúc lòng tin chỉ còn là hướng ấy: thay vì quay lưng, ta vẫn quay mặt về phía Chúa, dù mắt mình đầy nước. Têrêsa dạy chúng ta trân trọng cả những hành vi đức tin rất nhỏ. Đừng khinh thường một người đã phải gom hết sức mới đến được nhà thờ hôm nay. Đừng vội bảo một người đang chịu tang rằng họ cần vui lên vì người thân đã về với Chúa. Hãy ngồi bên họ. Hãy cầu nguyện cùng họ. Hãy để tình thương của Hội Thánh có một khuôn mặt, một giọng nói, một bàn tay. Có thể chính qua sự hiện diện bình dị ấy, họ nhận ra Chúa chưa bỏ họ.
Nếu Thiên Chúa yêu chúng ta trước, thì cách chúng ta nhìn nhau cũng phải thay đổi. Chúng ta không thể vui vì mình được Chúa kiên nhẫn rồi lại đòi người khác phải hoàn hảo mới đáng được mình kiên nhẫn. Ta không thể xin Chúa dịu dàng với những lỗi lầm giấu kín của mình, nhưng công khai phán xét một người chỉ vì biết một phần câu chuyện của họ. Con đường nhỏ của Têrêsa đi vào những điều rất cụ thể này. Đó là nhường một lời cuối trong cuộc tranh cãi. Đó là làm một việc phục vụ mà không cần kể cho nhiều người nghe. Đó là nghe người già lặp lại cùng một câu chuyện mà không tỏ vẻ khó chịu. Đó là đối xử tử tế với người có tính khí khó hòa hợp. Đó là cầu nguyện cho một người mình chưa thể có cảm tình. Đó cũng là biết nhận mình sai, bởi sự bé nhỏ thật không cần luôn giữ hình ảnh mình đúng.
Trong gia đình, những việc nhỏ ấy quyết định bầu khí của cả một mái nhà. Một đứa trẻ có thể không nhớ cha mẹ đã nói bao nhiêu bài giáo lý về tình yêu Thiên Chúa, nhưng nó sẽ nhớ cách cha mẹ nói chuyện với nhau khi mệt. Nó sẽ nhớ lúc mình phạm lỗi, cha mẹ sửa dạy ra sao. Nó sẽ nhớ bữa cơm có chỗ cho nó kể nỗi buồn hay chỉ có những câu hỏi về điểm số. Một người vợ, một người chồng có thể chờ đợi nhiều năm một hành động lớn để chứng minh tình yêu, trong khi điều họ cần trước hết là được lắng nghe mười phút mà không bị ngắt lời. Một gia đình có thể bắt đầu con đường nhỏ bằng một câu rất đơn sơ: “Hôm nay anh mệt lắm phải không?” hoặc “Em xin lỗi, lúc nãy em đã nói quá nặng.” Sự thánh thiện không ở xa những câu nói ấy. Nó có thể bắt đầu ngay khi một người thôi bảo vệ cái tôi của mình để giữ lấy trái tim của người mình thương.
Trong đời sống cộng đoàn và giáo xứ cũng thế. Chúng ta có thể tổ chức những ngày lễ lớn, làm những công việc tốt, xây dựng nhiều chương trình, nhưng bầu khí Tin Mừng còn được nhận ra ở cách ta đối xử với một người mới đến, một người làm sai, một người ít khả năng đóng góp, một người không thuộc nhóm thân quen. Người ấy bước vào cộng đoàn và cảm thấy mình có chỗ hay không? Người ấy có được gọi bằng tên không? Khi họ ngã, có ai giúp họ đứng dậy không? Khi họ đau, có ai ở lại nghe không? Têrêsa sống âm thầm trong đan viện, nhưng đời sống âm thầm ấy nói với cả Hội Thánh rằng tình yêu là hơi thở của mọi sứ vụ. Nếu thiếu tình yêu, những việc lớn dần thành gánh nặng và người phục vụ dần thành người cay đắng. Nếu có tình yêu, cả một việc ít ai thấy cũng có thể đem sự sống đến cho người khác.
Tình yêu ấy bắt đầu từ việc nhớ mình đã được nhận lãnh. Hôm nay, ta thử nhìn lại những người đã giúp mình tin. Có thể là bà ngoại lần chuỗi trong căn nhà nhỏ. Có thể là người mẹ đánh thức con đi lễ sáng Chúa nhật. Có thể là một giáo lý viên đã kiên nhẫn trả lời những câu hỏi khó. Có thể là một linh mục đã không vội trách khi ta đến xưng tội sau nhiều năm. Có thể là một người bạn ở lại bên mình trong thời gian đức tin chao đảo. Đức tin của chúng ta thường có khuôn mặt của những con người như thế. Bài giảng tiếng Pháp cũng mời người nghe tạ ơn Chúa vì những người đã làm chứng cho đức tin trên hành trình đời mình. Khi biết ơn họ, ta hiểu mình cũng được mời trở thành một người như thế cho ai đó: một người giúp người khác dễ tin vào sự dịu dàng của Chúa hơn.
Thánh Têrêsa đã thưa “vâng” khi bước vào Cát Minh. Chị tiếp tục thưa “vâng” trong những ngày bình thường. Chị thưa “vâng” khi nhận ra mọi sự mình có đều đến từ tình yêu nhưng không của Chúa. Và chị tiếp tục thưa “vâng” giữa bóng tối. Chúng ta không cần bắt chước hoàn cảnh sống của chị để bước theo con đường chị chỉ. Người mẹ đang chăm con nhỏ có một cánh đồng nên thánh của mình. Người cha đi làm xa có một cánh đồng nên thánh của mình. Người trẻ đang chống chọi với sự so sánh và cô đơn có một cánh đồng nên thánh của mình. Người bệnh nằm trên giường cũng có thể dâng lên Chúa những tiếng “vâng” mà chẳng ai nghe thấy. Mỗi người có thể hỏi: “Trong hoàn cảnh thật của tôi hôm nay, tình yêu đang mời tôi làm điều gì?” Rồi làm điều ấy, dù nhỏ. Làm với Chúa. Làm lại vào ngày mai.
Anh chị em thân mến, Đức Giêsu mời những người đang vất vả và mang gánh nặng đến với Người. Lời mời ấy dành cho chúng ta hôm nay. Ta có thể mang đến cho Người lòng nhiệt thành và cả sự nguội lạnh; những điều đã làm được và những điều vẫn chưa thể làm; tiếng “vâng” mạnh mẽ ngày xưa và tiếng “vâng” run rẩy hôm nay. Chúa không đợi ta trở thành một người khác rồi mới đón nhận ta. Người đón nhận ta để từ đó dạy ta sống như người con. Có lẽ sau Thánh lễ này, nhiều vấn đề của chúng ta vẫn còn nguyên. Người thân vẫn cần được chăm sóc. Một cuộc hòa giải vẫn cần bắt đầu. Một quyết định khó vẫn đang chờ. Nhưng ta có thể ra về với một điều được đặt lại cho đúng chỗ: trước khi tôi cố nắm lấy bàn tay Chúa, bàn tay Người đã đưa về phía tôi. Trước khi tôi tìm được lời để thưa “con yêu Chúa”, Người đã yêu tôi. Trước khi tôi đủ can đảm đi hết con đường, Người đã bước vào con đường ấy với tôi.
Xin thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Xin chị giúp những người đang đầy nhiệt thành biết yêu Chúa trong cả những ngày bình thường. Xin chị giúp những người đang mệt mỏi đừng nghĩ mình bị Chúa bỏ quên. Xin chị giúp những người đang mặc cảm vì lỗi lầm dám trở về với lòng thương xót. Xin chị giúp các gia đình biết bắt đầu lại bằng những cử chỉ nhỏ và thật. Xin chị giúp Hội Thánh chúng ta có một trái tim biết đón nhận, biết kiên nhẫn, biết đem niềm hy vọng đến cho người đang sống trong đêm tối. Và xin cho mỗi người, giữa hoàn cảnh riêng của mình, có thể thưa với Chúa hôm nay: “Lạy Chúa Giêsu, tiếng ‘vâng’ của con nhỏ lắm. Có ngày con nói được rõ ràng, có ngày con chỉ còn thì thầm. Xin đặt tiếng ‘vâng’ ấy trong tình yêu của Chúa. Xin dạy con tin rằng Chúa đã yêu con trước, đang yêu con hôm nay, và sẽ dẫn con đi tiếp.” Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

BÉ NHỎ ĐỂ ĐƯỢC CHÚA BỒNG LÊN
Bài suy niệm lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Anh chị em thân mến, có những lời của Chúa Giêsu chúng ta nghe nhiều đến mức tưởng mình đã hiểu. “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.” Lời ấy dịu dàng, nhưng cũng làm người lớn chúng ta bối rối. Sau bao năm học hành, làm việc, gánh vác gia đình, chịu đựng mất mát và cố đứng vững trước đời, tại sao Chúa lại bảo chúng ta trở nên như trẻ nhỏ? Có phải Người muốn chúng ta quên kinh nghiệm sống, thôi suy nghĩ chín chắn, thôi chịu trách nhiệm về những việc mình làm? Không. Chúa không bảo người lớn trở lại một tuổi thơ đã qua. Người mời chúng ta tìm lại một điều có thể đã đánh mất khi lớn lên: biết mình cần được yêu thương, biết mình không thể tự cứu mình, và dám tin cậy nơi Chúa Cha.
Đó là điều thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống. Trong bài giảng lễ kính thánh nữ năm 2013, Đức Hồng y André Vingt-Trois nhấn mạnh rằng con đường thơ ấu thiêng liêng của Têrêsa là một hành trình thanh luyện, đơn sơ và nhìn thẳng vào sự yếu đuối của mình, để nhận ra điều Thiên Chúa thực hiện nơi con người bé nhỏ. Ngài cũng chỉ ra một điều rất đáng suy nghĩ: sự tín thác ấy không làm Têrêsa kém trưởng thành; chính nhờ đặt niềm cậy trông nơi Thiên Chúa, thánh nữ đã có thể chọn lựa và bước đi với lòng kiên định. Diocèse de Paris
Chúng ta thường nghĩ người mạnh là người không cần ai. Người mạnh phải tự giải quyết mọi chuyện, tự nuốt nước mắt, tự mang lấy gánh nặng, tự tìm lối ra. Có lúc, ngay cả trong đời sống đức tin, chúng ta cũng mang não trạng ấy vào trước mặt Chúa. Ta muốn cầu nguyện cho hay, sống đạo cho tốt, thắng mọi cám dỗ, sửa được mọi tật xấu, rồi mới dám đến gần Người. Ta nghĩ rằng sau khi mình trở nên xứng đáng, Chúa mới hài lòng. Và khi thất bại, ta thất vọng đến nỗi không muốn cầu nguyện nữa. Ta không chỉ buồn vì đã làm điều sai; ta còn đau vì hình ảnh đẹp đẽ về chính mình bị rạn nứt. Con đường của Têrêsa bắt đầu ngay tại vết rạn ấy. Thánh nữ không bảo chúng ta coi nhẹ tội lỗi hay buông xuôi trước sự yếu đuối. Thánh nữ dạy chúng ta đem con người thật của mình đến với Chúa: “Lạy Chúa, con muốn yêu Chúa, nhưng sức con nhỏ quá. Xin Chúa đừng để con rời khỏi tay Người.”
Một em bé không ngừng là con chỉ vì hôm nay em ngã. Khi tập đi, em ngã rồi đưa tay ra. Em không ngồi dưới đất tính xem mình đã ngã bao nhiêu lần, cũng không đợi đến lúc tự đi thật giỏi mới cho phép cha mẹ bồng mình. Em khóc, em đưa tay, em đứng dậy trong vòng tay của người yêu em. Chúng ta thì khác. Ta ngã và thường giấu bàn tay đi. Ta sợ người khác thấy mình yếu; rồi dần dần, ta cũng sợ Chúa thấy mình yếu. Nhưng Chúa đã thấy rồi. Người thấy từ trước khi ta biết gọi tên nỗi yếu đuối ấy. Người không đợi ta trình bày một phiên bản tốt hơn của mình. Người mời ta trở lại, đưa tay ra và để Người nâng dậy.
Tuy nhiên, đừng hiểu lầm rằng nên như trẻ nhỏ là luôn thấy lòng mình nhẹ nhàng. Có những ngày cầu nguyện mà lòng khô như đất hạn. Có những ngày đi lễ, miệng vẫn thưa “Amen” nhưng trong đầu chỉ đầy những khoản tiền chưa trả, một người thân đang bệnh, một đứa con đang xa nhà, một cuộc hôn nhân đang nguội lạnh. Có những ngày ta muốn tin mà không cảm thấy tin được. Têrêsa không xa lạ với đau khổ và bóng tối. Cuộc đời ngắn ngủi của thánh nữ có mất mát, bệnh tật và thử thách. Vì thế, lời mời gọi tín thác không phải một lời an ủi dễ dãi dành cho người chưa từng đau. Tín thác là có lúc mắt chưa thấy đường mà lòng vẫn nói: “Lạy Cha, con ở đây. Xin Cha đừng buông con.”
Anh chị em thân mến, có một thứ mệt mỏi rất sâu mà nhiều người không dám kể: mệt vì luôn phải chứng tỏ mình có giá trị. Trong công việc, ta phải giỏi. Trong gia đình, ta phải vững. Trong giáo xứ, ta phải hữu ích. Trên mạng, ta phải có một đời sống đáng ngưỡng mộ. Ngay trong việc đạo đức, ta cũng âm thầm so sánh: người ấy cầu nguyện sốt sắng hơn mình, người kia hy sinh nhiều hơn mình, người khác nói về Chúa hay hơn mình. Tâm hồn trở thành một căn phòng đầy tiếng chấm điểm. Đứa con bé nhỏ trước mặt Chúa Cha không cần sống trong căn phòng ấy. Nó vẫn học, vẫn làm việc, vẫn cố gắng sống tốt; nhưng nó biết giá trị của mình bắt đầu từ tình yêu của Cha, chứ không bắt đầu từ thành tích của mình.
Thánh Phaolô nói rằng chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí làm cho nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Ápba! Cha ơi!” Lời ấy không chỉ dành cho lúc mọi sự suôn sẻ. Người con vẫn được gọi Cha khi vừa phạm lỗi và đang hổ thẹn; khi đã già và không còn làm được nhiều việc; khi bệnh tật khiến mình phải nhờ người khác chăm sóc; khi cầu nguyện mãi mà chưa thấy câu trả lời. Nếu chỉ lúc thành công ta mới dám gọi Chúa là Cha, thì tiếng gọi ấy còn bị trói vào thành công. Chính trong lúc bé nhỏ nhất, tiếng “Cha ơi” mới có thể trở thành lời cầu nguyện chân thật nhất.
Có người nghe nói đến “con đường bé nhỏ” và nghĩ: vậy là chỉ làm những việc nhỏ, khỏi cần ước mơ lớn. Nhưng Têrêsa đã cho thấy điều ngược lại. Một tâm hồn bé nhỏ vẫn có thể mang một tình yêu rộng lớn. Người ta có thể sống trong một không gian rất hẹp mà trái tim không hẹp. Có thể chẳng được nhiều người biết đến mà vẫn cầu nguyện cho cả thế giới. Có thể làm những việc lặp đi lặp lại mỗi ngày mà vẫn đặt vào đó một tình yêu mới. Sự bé nhỏ trước mặt Chúa không đo bằng kích thước công việc. Nó được nhận ra ở chỗ: khi làm việc lớn cũng không tự tôn mình; khi làm việc nhỏ cũng không khinh thường tình yêu mình có thể trao.
Trong một gia đình, việc nhỏ ấy có thể là người mẹ mệt đến rã rời nhưng vẫn ngồi xuống nghe con kể một chuyện rất dài mà người lớn thấy chẳng có gì quan trọng. Là người cha sau một ngày căng thẳng đã dừng lại trước cửa nhà, tự nhủ không đem cơn giận ở chỗ làm trút lên vợ con. Là người chồng nhận ra mình đã nói một câu làm vợ đau và tập nói: “Anh xin lỗi.” Là người vợ thôi dùng sự im lặng để trừng phạt chồng. Là một người con gọi điện cho mẹ già, không vội cúp máy khi mẹ kể lại câu chuyện đã kể hôm qua. Không việc nào trong đó làm người ta nổi tiếng. Nhưng đôi khi một mái nhà được cứu bằng những việc chẳng ai đăng lên mạng.
Trong giáo xứ cũng vậy. Có người chuẩn bị một buổi lễ và được mọi người nhìn thấy. Có người đến sớm mở cửa nhà thờ, xếp lại ghế, lau một vệt bụi, rồi lặng lẽ về. Có người giảng dạy giáo lý trước một lớp đông. Có người kiên nhẫn ngồi với một em nhỏ học mãi chưa thuộc một lời kinh. Có người hát thật hay. Có người giọng đã yếu, chỉ còn biết ngồi cuối nhà thờ và cầu nguyện cho người khác. Tình yêu không bắt đầu từ chỗ đứng trên cung thánh hay dưới hàng ghế. Tình yêu bắt đầu từ trái tim biết trao điều mình có cho Chúa. Và một cộng đoàn sẽ trở nên dịu dàng hơn biết bao khi người ta thôi hỏi ai quan trọng hơn ai, để bắt đầu hỏi ai đang cần được nâng đỡ.
Chúa Giêsu đặt một em nhỏ ở giữa các môn đệ vào lúc họ bận tâm đến chuyện ai là người lớn nhất trong Nước Trời. Hình ảnh ấy thật mạnh. Các môn đệ nhìn lên cao; Chúa bảo họ nhìn vào giữa. Các ông nghĩ đến vị trí; Chúa chỉ cho họ một con người. Các ông muốn biết thước đo của sự lớn lao; Chúa dẫn đến trước mặt họ một em nhỏ vốn không có gì để đòi địa vị. Câu trả lời của Chúa không chỉ mời ta khiêm nhường trong lòng. Nó còn hỏi ta đang đối xử thế nào với những người nhỏ bé ở giữa đời mình. Một người tin rằng mình là con được Chúa yêu sẽ dần học cách đón nhận người khác, nhất là người chẳng có gì để đáp trả.
Vì vậy, chúng ta cần coi chừng một lối đạo đức rất kín đáo: thích nói về sự bé nhỏ của mình, nhưng lại không chịu được khi người khác đối xử với mình như một người bé nhỏ. Ta vui lòng nhận mình khiêm nhường, miễn là vẫn được công nhận. Ta thích làm việc âm thầm, miễn là sau đó có người phát hiện. Ta nói “mọi sự là ơn Chúa”, nhưng khi ai được khen thay mình, trong lòng lại đau nhói. Điều ấy không khiến ta trở thành người xấu hơn người khác. Nó chỉ cho thấy hành trình nên bé nhỏ vẫn còn ở phía trước. Ta có thể đem chính nỗi đau ấy vào lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, con vẫn muốn được người ta thấy. Xin dạy con vui khi điều tốt được thực hiện, ngay cả lúc người được nhắc tên không phải là con.”
Sự khiêm nhường thật cũng không phải tự hạ nhục mình. Có người đã bị chê bai quá nhiều từ nhỏ, đến nỗi họ tin rằng mình chẳng đáng được yêu. Có người sống trong một mối quan hệ làm họ luôn sợ hãi và tưởng rằng nhẫn nhịn mọi tổn thương là sống con đường bé nhỏ. Chúa không mời ai phủ nhận phẩm giá của mình. Đứa con trước mặt Cha biết mình cần Cha, đồng thời biết mình quý giá đối với Cha. Têrêsa tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa; niềm tin ấy giúp thánh nữ bước đi với sự tự do và trưởng thành. Khiêm nhường không có nghĩa là đồng ý với mọi lời người ta dùng để làm mình đau. Khiêm nhường là sống trong sự thật: tôi có giới hạn, tôi cần ơn Chúa, và cuộc đời tôi đáng quý vì được Người yêu.
Một trong những thử thách lớn nhất của con đường bé nhỏ là chấp nhận ngày hôm nay. Chúng ta thường muốn yêu Chúa bằng một cuộc đời khác: nếu tôi khỏe hơn, nếu tôi có nhiều thời gian hơn, nếu gia đình tôi ít rắc rối hơn, nếu cộng đoàn dễ thương hơn, nếu tôi được trao một công việc hợp ý hơn. Ta hứa rằng đến lúc ấy mình sẽ thánh thiện. Nhưng hôm nay, trước mắt ta, có thể chỉ là một căn bếp bừa bộn, một công việc đơn điệu, một người thân khó tính, một cơn đau chưa dứt, một bổn phận phải bắt đầu lại. Chính tại đây Chúa chờ ta. Ngày mai có thể mở ra những việc mới; còn ngày hôm nay là nơi ta có thể yêu thật. Một lời nói dịu hơn, một việc làm tận tâm hơn, một phút cầu nguyện thành thật hơn: con đường bé nhỏ bước bằng những bước như thế.
Ta cũng cần học đón nhận việc mình chưa thấy kết quả. Cha mẹ yêu con mà chưa thể đưa con trở lại với đức tin. Linh mục tận tâm mà vẫn có người rời giáo xứ. Người chăm sóc bệnh nhân cầu nguyện nhiều mà bệnh tình không thuyên giảm. Có những hạt giống được gieo trong nước mắt, lâu đến nỗi người gieo tưởng mình đã làm uổng công. Tín thác không bảo ta giả vờ rằng thất vọng không đau. Tín thác giúp ta trao phần không nằm trong tay mình cho Thiên Chúa, rồi tiếp tục làm phần việc hôm nay với lòng yêu mến. Ta không biết Chúa đang làm gì trong lòng người khác. Ta cũng không biết một cử chỉ hiền lành của mình sẽ được người ấy nhớ lại vào lúc nào. Phần của ta là yêu cho thật; hoa trái thuộc về Chúa.
Có lẽ lúc này có người đang mang một thất bại riêng mà không ai biết. Người ấy đã hứa bỏ một thói quen xấu rồi lại ngã. Đã quyết sống hiền hòa rồi lại nổi nóng. Đã nghĩ mình tha thứ được, nhưng khi gặp lại người làm mình đau, vết thương vẫn nhức. Nếu đó là anh chị em, xin đừng biến lần ngã ấy thành lý do để xa Chúa. Hãy đến với Người bằng một lời cầu nguyện rất ngắn, thậm chí chỉ một tiếng “Cha ơi”. Rồi nếu đã làm tổn thương ai, hãy tìm cách nhận lỗi và sửa điều có thể sửa. Nếu cần bí tích Hòa Giải, hãy đến. Nếu cần người đồng hành, hãy tìm một người đáng tin. Con đường bé nhỏ không cho phép ta nằm mãi dưới đất và gọi đó là tín thác. Nó dạy ta để Chúa nâng mình dậy và tập bước lại.
Anh chị em thân mến, một người đã từng được yêu trong sự yếu đuối sẽ dễ thương người yếu đuối hơn. Khi ta biết Chúa đã kiên nhẫn với mình thế nào, ta bớt nóng lòng đòi người khác phải thay đổi tức khắc. Ta biết một lời trách có thể đúng mà vẫn làm người nghe tuyệt vọng; một lời nâng đỡ có thể giúp họ đủ can đảm nhìn nhận sự thật. Người cha biết mình cũng cần được tha thứ sẽ dễ ôm đứa con vừa phạm lỗi. Người linh mục biết mình được Chúa gìn giữ mỗi ngày sẽ dễ ngồi lâu hơn với người đến xưng tội trong nước mắt. Người giáo dân biết mình sống nhờ ân sủng sẽ bớt vội đóng cửa với một người mới trở lại nhà thờ. Lòng thương xót ta nhận được cần tìm đường đi qua đôi tay và lời nói của ta.
Hôm nay, nếu đứng trước Chúa mà không biết dâng gì, anh chị em hãy dâng một điều rất thật: sự mệt mỏi, nỗi sợ, niềm vui nhỏ, một lỗi lầm đang cần sửa, một người mình chưa thể tha thứ, một việc tốt không ai biết. Chúa không cần một câu chuyện đã được đánh bóng. Người muốn gặp chính người con của Người. Và nếu anh chị em đang có những ngày bình an, hãy tạ ơn bằng cách nhìn quanh: ai đang thấy mình quá bé nhỏ để dám ngước lên? Ai đang cần một lời cho họ biết rằng họ vẫn có chỗ trong nhà Chúa?
Trong Thánh lễ, chúng ta tiến lên rước lễ với hai bàn tay mở. Cử chỉ ấy nói hộ cả một đời sống đức tin. Ta không nắm lấy Chúa như một phần thưởng mình đã kiếm được. Ta đón nhận Người như lương thực mình cần để tiếp tục bước đi. Bàn tay mở ấy cũng nhắc ta mở lòng: cho Chúa bước vào những nơi ta vẫn giấu kín, và cho tình yêu Người đi từ lòng ta đến những người đang sống cạnh mình. Có thể khi ra khỏi nhà thờ, hoàn cảnh chưa thay đổi. Nhưng một người con đã nhớ lại mình có Cha sẽ trở về nhà với một trái tim khác.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã gọi một em nhỏ đến đứng giữa các môn đệ để dạy họ con đường vào Nước Trời. Xin gọi chúng con đến gần Chúa như thế. Khi chúng con mải chứng tỏ mình mạnh, xin cho chúng con can đảm nhận rằng mình cần Chúa. Khi chúng con ngã, xin dạy chúng con đưa tay ra. Khi chúng con được giao việc lớn, xin giữ lòng chúng con đơn sơ. Khi chúng con chỉ làm được một việc rất nhỏ, xin giúp chúng con đặt trọn tình yêu vào việc ấy. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin cho chúng con tin vào lòng thương xót của Chúa, sống trưởng thành trong sự tín thác, và biết yêu thương những người bé nhỏ Chúa đặt giữa cuộc đời mình. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

NHỎ BÉ ĐỂ NƯỚC CHÚA LỚN LÊN
Suy niệm lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Có một điều rất lạ trong đời sống đức tin: chúng ta thường nghĩ muốn làm được việc lớn cho Thiên Chúa thì trước hết mình phải trở thành một người lớn lao. Phải có khả năng, phải được nhiều người biết đến, phải có một công việc nổi bật, phải đủ mạnh để không còn vấp ngã. Rồi vì thấy mình vẫn yếu đuối, vẫn dễ tự ái, vẫn mệt mỏi với những bổn phận hằng ngày, ta âm thầm kết luận rằng việc xây dựng Nước Chúa là chuyện của người khác. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu bước vào chính chỗ ấy của lòng ta. Chị không đưa ra một con đường dành riêng cho người phi thường. Chị chỉ cho ta thấy Thiên Chúa có thể làm những điều rất lớn trong một tâm hồn dám đến với Người bằng hai bàn tay nhỏ bé, trống không và đầy tin tưởng.
Chúng ta hãy đặt thánh Têrêsa bên cạnh lời mời gọi loan báo Nước Thiên Chúa: người môn đệ được sai đi giữa một thế giới không luôn đón nhận mình, mang theo điều cần thiết nhất là chính Tin Mừng. Đó là một cách nhìn rất đẹp về chị thánh. Một nữ tu sống sau cánh cửa đan viện mà lại được đặt giữa cánh đồng truyền giáo; một người không đi xa mà lòng yêu mến đi rất xa; một cuộc đời ngắn ngủi và kín đáo mà vẫn nhắc Hội Thánh hôm nay phải ra đi. Nếu chỉ nhìn bằng mắt thường, người ta có thể hỏi: Têrêsa đã đi đâu, đã giảng cho bao nhiêu đám đông, đã lập được công trình nào? Nhưng Nước Thiên Chúa không được đo bằng số dặm chân người tông đồ đã bước, cũng không chỉ được đo bằng số người nhìn thấy việc họ làm. Có những bước chân đi rất xa mà trái tim vẫn ở lại với mình. Cũng có một trái tim ở trong căn phòng nhỏ mà ngày đêm mở ra cho cả thế giới.
Têrêsa không được miễn khỏi những giới hạn của con người. Chị biết mất mát, biết bệnh tật, biết cuộc sống chung có những va chạm nhỏ làm đau lòng, biết cầu nguyện trong khô khan và biết thế nào là bóng tối của thử thách đức tin. Đức Bênêđictô XVI nhắc rằng vào cuối đời, chị đã sống đau khổ trong thân xác và một thử thách sâu xa trong tâm hồn; chính khi ấy chị vẫn yêu thương cộng đoàn, cầu nguyện cho các linh mục, cho các nhà truyền giáo và cho những người ở xa đức tin. Nói điều này để chúng ta đừng biến thánh Têrêsa thành một bức ảnh đạo đức chỉ có hoa hồng và nụ cười. Hoa hồng của chị đã lớn lên trong một khu vườn có cả gai. Con đường nhỏ của chị không phải con đường không đau; đó là con đường đưa nỗi đau, sự nghèo nàn và cả bóng tối của mình vào trong lòng thương xót Chúa.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đang sống một đời rất “nhỏ”. Một người mẹ lặp đi lặp lại những việc chẳng ai ghi nhớ. Một người cha đi làm, trở về khi mọi người đã ngủ, chỉ mong ngày mai đủ sức tiếp tục. Một cụ già không còn đi lại được, nghe tiếng chuông nhà thờ từ xa. Một người bệnh thấy ngày của mình được chia bằng giờ uống thuốc. Một tu sĩ làm công việc âm thầm và đôi khi tự hỏi đời mình có ích gì. Một linh mục giảng, giải tội, thăm bệnh, rồi có những tối trở về với nỗi mệt không biết nói cùng ai. Một người trẻ cố sống ngay thẳng giữa những lời rủ rê, nhưng chẳng ai thấy cuộc chiến trong lòng mình. Đối với mỗi người ấy, Têrêsa như nói rất khẽ: chính ở đây, nơi con đang sống, Nước Thiên Chúa có thể bắt đầu.
Nước Chúa không chỉ đến khi một việc lớn hoàn thành. Nước Chúa đến khi một người không còn phải sợ bị bỏ rơi vì đã gặp được lòng thương xót. Nước Chúa đến khi trong một mái nhà, có người quyết định nói lời xin lỗi trước. Nước Chúa đến khi người yếu thế được đối xử như một con người có tên, có câu chuyện và có phẩm giá. Nước Chúa đến khi một người đang giận vẫn chọn không dùng lời nói để làm người khác đau thêm. Nước Chúa đến khi ta cầu nguyện cho người mình khó thương, không phải vì lòng mình đã dễ chịu, nhưng vì ta muốn Chúa được tự do hành động trong lòng cả hai. Những điều ấy nhỏ đến mức có thể trôi qua mà không ai chú ý. Nhưng hạt giống cũng nhỏ. Nếu cứ đòi nhìn thấy một cây lớn ngay trong ngày gieo hạt, ta sẽ bỏ qua biết bao mùa gieo của Thiên Chúa.
Điểm sâu nhất trong con đường của Têrêsa là lòng tin cậy. Tin cậy không có nghĩa là tự bảo mình mọi sự đều ổn khi sự thật không như vậy. Tin cậy là dám đến với Chúa cùng sự thật ấy. Tôi đang yếu, nhưng tôi đến. Tôi đã phạm lỗi, nhưng tôi trở về. Tôi không cảm thấy mình thánh thiện, nhưng tôi không vì thế mà trốn khỏi ánh mắt Chúa. Tôi chưa yêu được người bên cạnh như mình muốn, nhưng tôi xin Chúa dạy tôi bắt đầu bằng một cử chỉ nhỏ. Trẻ thơ thiêng liêng không phải là không biết trách nhiệm. Trẻ thơ thiêng liêng là biết mình không thể tự cứu lấy mình, nên không ngừng đưa tay về phía Cha. Theo Đức Bênêđictô XVI, hai nét sáng soi trọn hành trình của Têrêsa là tin tưởng và yêu mến; lòng tin của người con đi liền với quyết tâm trao ban chính mình trong tình yêu.
Chúng ta thường muốn trình diện trước mặt Chúa một phiên bản đã được sửa sang: cầu nguyện sốt sắng hơn, bỏ được một thói xấu rồi, bớt khô khan hơn, biết tha thứ rồi. Ta tưởng đó là lòng kính trọng Chúa. Nhưng nếu cứ đợi đến ngày hoàn hảo mới dám đến, ta sẽ mãi đứng ngoài cửa. Chúa Giêsu không bảo người mệt mỏi hãy tự chữa mình xong rồi mới đến với Người. Chúa đón họ ngay trong cơn mệt. Người không yêu một con người lý tưởng ta hy vọng một ngày kia sẽ trở thành; Người yêu con người thật đang đứng trước mặt Người hôm nay. Têrêsa đã hiểu điều ấy. Chị không lấy sự bất lực của mình làm lý do bỏ cuộc, cũng không lấy những việc lành của mình làm lý do tự mãn. Chị đặt cả hai vào tay Chúa. Và khi một người thôi dùng đời mình để chứng minh mình đáng được yêu, người ấy mới có thể bắt đầu yêu một cách tự do.
Điều này rất cần cho người sống giữa cộng đoàn và gia đình. Ta có thể làm nhiều việc tốt mà vẫn đau đáu chờ người khác nhận ra mình. Ta chăm sóc, phục vụ, hy sinh, nhưng trong lòng luôn giữ một cuốn sổ vô hình: hôm nay ai đã cảm ơn, ai đã quên, ai đã được khen nhiều hơn? Không phải khát khao được thấu hiểu là xấu. Ai cũng cần được nhìn thấy và nâng đỡ. Nhưng nếu giá trị của mình hoàn toàn lệ thuộc vào sự chú ý của người khác, ta sẽ dần kiệt sức. Têrêsa nhắc ta nhớ rằng có một ánh nhìn đã đến trước mọi lời khen chê. Thiên Chúa thấy điều người khác không thấy. Người thấy cả việc ta làm được lẫn sức lực ta đã phải bỏ ra để làm việc ấy. Người thấy nụ cười rất khó khăn trên môi một người đang buồn. Người thấy lời cầu nguyện vụng về của người tưởng mình chẳng biết cầu nguyện.
Tuy nhiên, sống con đường nhỏ không phải là chịu đựng mọi điều một cách thụ động. Lòng yêu mến không đòi người bị tổn thương phải giả vờ rằng mình không đau, không buộc người gặp bất công phải gọi bất công là chuyện nhỏ. Yêu thương cần sự thật. Có lúc việc nhỏ mà ta phải làm chính là nói một lời chân thật, xin giúp đỡ, bảo vệ một người đang bị chèn ép, hoặc đặt một ranh giới cần thiết. Sự dịu dàng của Tin Mừng không phải vẻ mềm yếu cho phép sự dữ tiếp tục. Chúa Giêsu sai các môn đệ đi như những con chiên giữa bầy sói; Người muốn họ mang bình an, nhưng bình an ấy có xương sống của sự thật. Người môn đệ có thể nghèo phương tiện mà không nghèo lòng can đảm.
Ở đây, thánh Têrêsa giúp ta hiểu sứ vụ cách sâu xa hơn. Truyền giáo không bắt đầu từ một kỹ thuật nói chuyện sao cho người khác nghe mình. Truyền giáo bắt đầu từ việc chính ta để cho Tin Mừng chạm đến cách mình đối xử với người khác. Một người có thể nói rất hay về lòng thương xót nhưng làm người nhà sợ mình. Một cộng đoàn có thể tổ chức nhiều chương trình loan báo nhưng không còn chỗ cho người lạc lõng. Một người có thể chia sẻ Lời Chúa mỗi ngày trên mạng mà không còn thời gian nghe tiếng nói của người ngồi bên cạnh. Nếu Nước Chúa là sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa giữa con người, thì tin ấy phải có thể nhận ra ở bàn ăn, ngoài hành lang, trong phòng bệnh, nơi hàng ghế cuối nhà thờ, trong cách ta đáp lại người không đồng ý với mình.
Têrêsa đã muốn cứu các linh hồn và cầu nguyện cho các linh mục; chị đem nỗi khao khát ấy vào đời sống đan viện thay vì đợi đến khi có thể làm một việc khác. Đó là một câu hỏi rất gần với chúng ta: tôi có đang trì hoãn việc yêu thương vì cứ chờ một hoàn cảnh thuận lợi hơn không? Chờ hết bận rồi mới cầu nguyện. Chờ người kia thay đổi rồi mới làm hòa. Chờ mình có nhiều tiền rồi mới giúp ai đó. Chờ được giao việc lớn rồi mới phục vụ tận tâm. Chờ giáo xứ hoàn hảo rồi mới yêu giáo xứ. Chờ lòng mình nóng lên rồi mới đến với Chúa. Nhưng đời sống phần lớn được làm bằng những ngày bình thường. Nếu hôm nay không thể là nơi ta đáp lại Chúa, ngày mai cũng sẽ dễ trở thành một lời hẹn khác.
Có một lời mời rất dịu mà cũng rất đòi hỏi trong con đường thơ ấu thiêng liêng: hãy để Chúa là Chúa. Chúng ta muốn kiểm soát kết quả của lòng tốt mình làm. Ta muốn lời cầu nguyện đem lại một câu trả lời đúng lúc, việc phục vụ đem lại một sự đổi thay có thể nhìn thấy, lòng kiên nhẫn khiến người khác nhận lỗi. Nhưng hạt giống Nước Chúa thường âm thầm lớn lên ngoài tầm tay người gieo. Ta có thể tưới; ta không thể kéo mầm cây lên cho nhanh. Ta có thể nói lời thật bằng tình yêu; ta không thể buộc trái tim khác mở ra đúng giờ mình muốn. Ta có thể cầu cho một người con, một người bạn, một người đã rời xa đức tin; ta không thể sống thay hành trình của họ. Tin cậy là làm phần việc của mình cách trung thành rồi trao phần còn lại cho Chúa, kể cả khi phải chờ rất lâu.
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhiều lần đặt một trẻ nhỏ giữa những người lớn đang bận nghĩ về chỗ đứng của mình. Cử chỉ ấy cứ làm ta bối rối, vì ai trong chúng ta cũng có một phần muốn được công nhận. Ta muốn biết mình ở đâu trong lòng người khác, công lao mình có được tính không, sự hiện diện của mình có quan trọng không. Têrêsa không trách ta vì những khao khát ấy. Chị dẫn ta tới một câu hỏi khác: nếu biết chắc mình được Chúa yêu, hôm nay ta có còn cần tranh lấy phần hơn trong mọi chuyện không? Ta có thể để người khác được tỏa sáng mà lòng mình vẫn bình an không? Ta có thể âm thầm làm một việc tốt mà không vội kể ra không? Ta có thể vui khi một người từng làm mình khó chịu nhận được điều lành không? Những câu hỏi ấy đi thẳng vào nơi Nước Chúa đang muốn lớn lên trong ta.
Và rồi có một thử thách sâu hơn: khi ta không còn cảm thấy Chúa gần. Nhiều người tưởng thánh nhân hẳn luôn được an ủi khi cầu nguyện. Nhưng Têrêsa đã đi qua bóng tối đức tin. Chị không biến cảm giác khô khan thành bằng chứng rằng Chúa đã bỏ mình. Chị tiếp tục yêu giữa lúc không nắm được sự ngọt ngào của niềm tin. Điều ấy an ủi biết bao người đang ngồi trong nhà thờ mà lòng trống rỗng, đọc kinh mà tâm trí rối bời, đi lễ giữa lúc gia đình có chuyện không biết giải quyết ra sao. Đức tin không phải lúc nào cũng là ánh sáng rực rỡ. Có khi đức tin là một ngọn nến nhỏ được che bằng hai bàn tay, đủ để ta đi thêm một bước. Chúa không chê bước ấy nhỏ. Có khi chính bước ấy là lời thưa yêu mến chân thật nhất của cả một giai đoạn đời người.
Thánh Têrêsa mang tên Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan. Nơi Hài Nhi, chị chiêm ngắm Thiên Chúa đã đến thật gần, nhỏ đến mức con người có thể bồng ẵm. Nơi Thánh Nhan của Đấng chịu thương khó, chị gặp tình yêu ở lại với con người ngay cả khi gương mặt bị đau khổ che phủ. Hai khuôn mặt ấy không tách rời nhau. Chúa làm người không chỉ để chia sẻ niềm vui dễ mến của cuộc đời; Người đi vào tận nơi con người bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị đau đớn và sợ hãi. Đức Bênêđictô XVI xem chính tên dòng của Têrêsa như một nét tóm lược cuộc đời chị trong mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ. Bởi thế, khi bước theo Têrêsa, ta không đi tìm một tuổi thơ không có nước mắt. Ta học tin rằng ngay cả giữa nước mắt, mình vẫn là con được Cha nắm tay.
Lạy thánh Têrêsa, có lẽ điều chúng con cần học nơi chị không phải một cách làm cho đời sống đạo trở nên dễ dàng, nhưng là một cách ở lại với Chúa trong mọi điều. Ở lại khi được an ủi và khi lòng khô khan. Ở lại khi làm được việc tốt và khi phải xin tha thứ. Ở lại khi người khác hiểu mình và khi chẳng ai nhận ra. Ở lại để tình yêu Chúa sửa lại nơi chúng con những điều cứng cỏi; ở lại để bàn tay mình bớt khép chặt quanh nỗi sợ, danh dự và những tính toán riêng. Xin dạy chúng con đừng coi thường ngày sống hôm nay. Một lời nói hiền, một lần lắng nghe, một việc làm tử tế, một lời cầu cho người mình chưa thể tha thứ: xin giúp chúng con trao từng điều nhỏ ấy vào tay Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hiểu rằng Nước Chúa có thể khởi đầu nơi một trái tim chịu mở cửa. Xin gìn giữ người đang mệt vì phục vụ mà không thấy kết quả. Xin ở gần người đang đau đến mức không còn đọc được một lời kinh dài. Xin nâng đỡ những gia đình đang cố nói với nhau một lời dịu dàng sau nhiều ngày căng thẳng. Xin cho các linh mục, tu sĩ và mọi người loan báo Tin Mừng biết yêu những con người cụ thể Chúa đặt bên cạnh mình. Và khi chúng con thấy mình quá nhỏ trước những nhu cầu lớn của Hội Thánh và thế giới, xin nhắc chúng con rằng chính Chúa làm cho hạt giống nảy mầm. Phần chúng con là gieo hạt bằng lòng tin, chăm sóc bằng tình yêu và không bỏ cuộc.
Thánh Têrêsa đã không cần trở thành người khác để thuộc trọn về Chúa. Chị đã để Chúa đi vào cuộc đời thật của mình, với những giới hạn thật, những bổn phận thật, những đau đớn thật. Từ đó, một đời sống tưởng như khuất sau bức tường đan viện đã trở nên gần gũi với biết bao người. Hôm nay, mỗi chúng ta cũng có thể bắt đầu như thế. Ta không cần đợi ngày mình trở nên lớn lao. Ta chỉ cần đem con người mình đến với Chúa, rồi bước vào ngày hôm nay bằng một tình yêu cụ thể hơn hôm qua. Nước Thiên Chúa có thể lớn lên từ chính bước nhỏ ấy.
Lm. Anmai, CSsR.

Ở TRÁI TIM HỘI THÁNH, CON SẼ LÀ TÌNH YÊU
Có những người đi rất xa mà lòng vẫn không đến được với ai. Có những người sống cả đời trong một căn phòng nhỏ, vậy mà tình yêu của họ đi đến tận những miền đất họ chưa từng đặt chân. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là một người như thế. Chị không đứng trước những đám đông để giảng thuyết, không vượt biển để lập giáo điểm, không viết một bộ thần học đồ sộ. Cuộc đời chị ngắn, thân thể chị yếu, chân trời bên ngoài của chị dường như được giới hạn bởi những bức tường đan viện. Nhưng trái tim chị không chịu ở yên trong những bức tường ấy. Chị yêu Chúa Giêsu, và vì yêu Chúa Giêsu, chị muốn Tin Mừng đến với mọi người. Chị muốn có mặt bên người chưa biết Chúa, bên vị thừa sai mỏi mệt, bên người tội lỗi đang sợ trở về, bên người hấp hối cần một lời hy vọng. Chị đã tìm được cách đi đến tất cả: đi bằng cầu nguyện, bằng hiệp thông, bằng từng hy sinh âm thầm, bằng tình yêu đặt vào những việc nhỏ nhất của một ngày sống.
Ngày 19 tháng 10 năm 1997, khi tuyên phong Têrêsa là Tiến sĩ Hội Thánh, Thánh Gioan Phaolô II đã đặt cuộc đời chị trong khung cảnh Chúa nhật Truyền giáo. Sự chọn lựa ấy giúp chúng ta hiểu một điều rất đẹp: sứ mạng loan báo Tin Mừng không chỉ thuộc về những bàn chân lên đường. Sứ mạng ấy còn được nâng đỡ bởi những đầu gối quỳ xuống, những đôi tay phục vụ, những trái tim biết dâng cho Chúa nỗi đau của mình để cầu cho người khác. Đức Giáo hoàng nhắc rằng mọi người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội đều được dự phần vào sứ mạng của Hội Thánh. Và nơi Têrêsa, ngài chỉ cho chúng ta thấy một người nữ trẻ, sống đời chiêm niệm, đã trở thành nhà truyền giáo bằng cách đi sâu vào chính trái tim của Hội Thánh.
Điều ấy chạm đến chúng ta hôm nay. Nhiều người vẫn nghĩ muốn làm điều gì cho Chúa thì trước hết phải có một cơ hội lớn: một tài năng nổi bật, một nhiệm vụ được trao, một nơi chốn thuận lợi, một đời sống đã thu xếp ổn thỏa. Người mẹ đang quanh quẩn giữa bếp núc và việc chăm con nghĩ rằng mình chưa thể truyền giáo. Người bệnh nằm lâu trên giường nghĩ rằng mình chỉ còn là gánh nặng. Người già không đi lại được nghĩ rằng công việc của mình trong Hội Thánh đã hết. Một người trẻ nhút nhát, không biết nói những lời đạo đức cho trôi chảy, tưởng rằng mình không có gì để trao. Têrêsa bước đến bên từng người và nói bằng chính cuộc đời chị: nơi con đang đứng có thể trở thành nơi con yêu; điều con đang phải mang có thể trở thành của lễ; một ngày bình thường của con có thể được mở ra cho cả thế giới, nếu con sống ngày ấy với Chúa.
Têrêsa không dạy chúng ta xem nhẹ những việc lớn lao. Chị từng ước ao đi truyền giáo, từng mang trong lòng những khát vọng rộng đến mức cuộc sống cụ thể không thể chứa hết. Chính vì những khát vọng ấy quá lớn mà chị đã phải đi tìm: giữa biết bao ơn gọi trong Hội Thánh, đâu là chỗ của mình? Chị đọc về Hội Thánh như một thân thể có nhiều chi thể. Chị hiểu rằng có người rao giảng, có người phục vụ, có người chịu đau khổ, có người đi đến những vùng xa. Rồi chị nhận ra điều khiến mọi chi thể sống và hoạt động: tình yêu. Nếu trái tim ngừng đập, những bàn chân sẽ không còn sức đi và những đôi tay sẽ không còn sức làm. Từ đó, chị tìm thấy ơn gọi của mình ở trái tim Hội Thánh: yêu Chúa và làm cho tình yêu ấy chảy đến mọi chi thể. Thánh Gioan Phaolô II đã xem khám phá này là một đỉnh cao trong giáo huấn thiêng liêng của Têrêsa.
Chúng ta cần ở lại lâu với hình ảnh trái tim ấy. Hội Thánh có những công việc hiện ra trước mắt: thánh lễ được cử hành, Tin Mừng được rao giảng, người nghèo được chăm sóc, trẻ em được dạy giáo lý, người bệnh được thăm viếng. Tất cả đều quý. Nhưng trong mỗi công việc luôn có một câu hỏi âm thầm: trái tim đang đập vì điều gì? Một bài giảng có thể đầy kiến thức mà thiếu sự dịu dàng dành cho người nghe. Một chương trình bác ái có thể rất quy mô mà người nhận trợ giúp vẫn cảm thấy mình chỉ là một con số. Một gia đình có thể đọc kinh đều đặn mà những người trong nhà không còn biết lắng nghe nhau. Một cộng đoàn có thể bận rộn với việc của Chúa đến mức không ai nhận ra một người đang lặng lẽ đau khổ giữa mình. Têrêsa không bảo chúng ta dừng các công việc ấy. Chị mời chúng ta đưa trái tim trở lại trong từng việc, để người ta gặp được tình yêu của Chúa qua những gì chúng ta làm.
Tình yêu mà Têrêsa nói đến cũng không phải một cảm giác êm đềm luôn hiện diện. Nếu chỉ yêu khi lòng mình ấm áp, có lẽ chúng ta sẽ yêu được rất ít. Yêu trong Tin Mừng thường bắt đầu đúng lúc ta mệt, lúc bị hiểu lầm, lúc công việc lặp đi lặp lại, lúc người trước mặt không dễ thương, lúc chẳng ai biết mình đã cố gắng đến thế nào. Một câu trả lời hiền hòa sau một ngày kiệt sức có thể khó hơn một bài diễn thuyết về lòng bác ái. Một lần nhẫn nại với người già hay nhắc đi nhắc lại cùng một câu chuyện có thể đòi hỏi sự từ bỏ mình thật sự. Một người âm thầm cầu nguyện cho người đã làm mình tổn thương đang bước vào cuộc chiến của tình yêu, dù không có ai chứng kiến. Con đường nhỏ của Têrêsa được dệt bằng những điều như vậy. Nó ở rất gần đời thường, nhưng chẳng hề dễ dãi. Đức Gioan Phaolô II gọi đó là con đường tín thác và phó thác vào ân sủng, một con đường mở ra cho mọi người mà vẫn mang đòi hỏi nghiêm túc của Tin Mừng.
Có lẽ điều làm chúng ta ngần ngại nhất khi nghe nói đến sự thánh thiện là cảm giác mình phải trở nên một người khác. Ta nhìn các thánh rồi nhìn lại mình: lòng còn nhiều ganh tị, lời nói còn nóng nảy, việc cầu nguyện còn chia trí, những quyết tâm tốt lành thường chỉ đi được một quãng ngắn. Ta tự hỏi: với con người như thế này, làm sao mình nên thánh? Têrêsa dẫn chúng ta đến trước Chúa như một đứa trẻ đến với cha mình. Đứa trẻ không cần giả vờ rằng chân nó đã vững khi nó còn đang tập đi. Nó đưa tay ra. Nó ngã thì lại để người cha nâng dậy. Sự bé nhỏ trước mặt Chúa không phải là buông xuôi cho tính xấu. Đó là sự thật lòng nhận biết mình cần ơn Chúa, và can đảm trở về mỗi khi đã đi sai.
Chúng ta thường muốn dâng lên Chúa một bản thân đã được sửa xong. Ta hẹn: khi nào cầu nguyện sốt sắng hơn, khi nào bỏ được một thói quen xấu, khi nào lòng bớt khô khan, khi nào gia đình yên ổn, con sẽ đến gần Chúa. Nhưng nếu phải đợi đến lúc ấy, có khi chúng ta sẽ đứng rất lâu ngoài cửa. Têrêsa nhắc ta rằng lòng thương xót của Chúa đến với con người thật của ta hôm nay. Người mẹ đang khóc trong nhà bếp, người cha lo không đủ tiền cho con, người tu sĩ thấy lòng mình khô cạn, người trẻ vừa thất bại trong một điều mình từng hứa: tất cả đều có thể thưa với Chúa, ngay lúc này, “Con ở đây.” Chúa có thể bắt đầu với một lời thưa chân thành như vậy.
Hãy nhìn một ngày rất bình thường. Buổi sáng, một người mẹ phải gọi con dậy nhiều lần. Đứa nhỏ cáu kỉnh, chồng đang vội, bữa ăn chưa xong. Trong khoảnh khắc ấy, chị có thể nghĩ: hôm nay tôi chưa làm được gì cho Chúa. Nhưng chính nơi ấy, một lời nói bớt gay gắt, một cái nhìn giúp đứa trẻ biết mình vẫn được thương dù vừa làm mẹ phiền lòng, có thể là một việc của tình yêu. Trưa đến, một nhân viên biết đồng nghiệp vừa bị khiển trách. Anh có thể góp thêm một câu chế giễu để được đám đông tán thưởng, hoặc giữ miệng và hỏi người ấy có cần giúp gì không. Chiều xuống, một người con đi ngang phòng cha già, thấy ông lại muốn kể câu chuyện cũ. Anh có thể dừng lại vài phút, ngồi xuống và nghe. Không có tiếng chuông nào báo rằng Nước Trời vừa đến gần. Nhưng tình yêu đã có mặt ở đó.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nghe Têrêsa cho đúng. Con đường nhỏ không phải lời mời chịu đựng mọi điều sai trái trong im lặng. Người bị bạo hành cần được bảo vệ; người kiệt sức cần được nghỉ ngơi và giúp đỡ; người chịu bất công cần có thể nói lên sự thật. Một việc nhỏ làm vì tình yêu đôi khi chính là nhờ người khác giúp mình, tìm một nơi an toàn, đặt một giới hạn rõ ràng, hoặc bênh vực một người yếu thế. Sống khiêm nhường không có nghĩa là xem phẩm giá của mình không đáng quý. Têrêsa dạy ta phó thác cho lòng thương xót Chúa; lòng thương xót ấy cũng muốn con người được sống trong sự thật.
Khi Hội Thánh gọi Têrêsa là Tiến sĩ, Hội Thánh cho chúng ta một bài học sâu xa về sự khôn ngoan. Chị không được học tại đại học, không có nhiều năm để xây dựng một sự nghiệp, cũng không có vị thế mà người đời thường dựa vào để đánh giá một nhà tư tưởng. Thế nhưng kinh nghiệm sống với Chúa của chị soi sáng mầu nhiệm đức tin cho biết bao người. Thánh Gioan Phaolô II giải thích rằng giáo huấn của các thánh có giá trị vì sự thật họ nhận biết đã đi vào đời sống và được thử luyện trong đời sống. Ở Têrêsa, điều chị viết và điều chị sống gặp nhau.
Đó là một lời chất vấn dịu dàng cho những người thường nói về Chúa, trong đó có chúng ta. Có thể ta biết rất nhiều câu đúng về tình yêu mà trong nhà chẳng ai dám đến gần khi ta đang giận. Có thể ta giảng về lòng thương xót rất hay, nhưng một người tìm đến sau nhiều năm xa Hội Thánh lại nghe từ ta trước hết là sự trách móc. Có thể ta nói rằng mọi người đều quý giá trước mặt Chúa, nhưng khi họ làm việc chậm, nói năng vụng về hoặc không có địa vị, ta tỏ ra thiếu kiên nhẫn. Sự khôn ngoan của Têrêsa hỏi ta: điều con tin đã đi được bao xa vào giọng nói, cách nhìn và cách đối xử của con?
Một linh mục có thể học từ Têrêsa cách chuẩn bị bài giảng. Trước khi tìm một câu văn đẹp, cha có thể nghĩ đến những người sẽ ngồi dưới nhà thờ: một bà mẹ vừa mất con; một đôi vợ chồng đang cố ngồi cạnh nhau sau nhiều tháng xa cách; một người trẻ đến lễ mà vẫn chưa biết có nên tiếp tục tin hay không; một cụ già nghe không rõ nhưng vẫn mong nhận được chút hy vọng. Lời giảng cần trung thành với Tin Mừng, và cũng cần một trái tim biết những lời ấy sẽ rơi vào đời sống thật của người nghe. Một giáo lý viên có thể học từ Têrêsa rằng đứa trẻ hỏi một câu tưởng như ngây ngô đang mở cửa cho một cuộc gặp gỡ. Một người phụ trách cộng đoàn có thể học rằng trước mỗi kế hoạch là những con người cần được gọi bằng tên.
Sự thánh thiện ấy đặc biệt an ủi những người cảm thấy đời mình bị thu hẹp. Một căn bệnh có thể làm người ta không đi đến nơi mình muốn. Tuổi già lấy dần sức lực, trí nhớ, khả năng tự lo cho mình. Nghèo khó có thể khiến một người phải từ bỏ nhiều dự định. Có những trách nhiệm gia đình giữ người ta lại một chỗ trong nhiều năm. Têrêsa hiểu khát vọng muốn đi và kinh nghiệm phải ở lại. Chị không xóa bỏ nỗi buồn vì những cánh cửa không mở. Nhưng chị cho thấy: dù không đi được bằng đôi chân, ta vẫn có thể mở lòng mình để yêu những người ở xa. Người bệnh cầu cho một bác sĩ đang điều trị những ca khó. Người già lần chuỗi cho đứa cháu đã lâu không về nhà. Một người mẹ dâng sự mệt nhọc trong ngày để cầu cho một gia đình khác đang tan vỡ. Chúng ta không thể đo được hoa trái của những lời cầu nguyện ấy; chúng ta có thể tin rằng Chúa đón nhận tình yêu chân thành của người dâng.
Têrêsa đã cầu nguyện và gắn bó cụ thể với các nhà truyền giáo, trong đó có hai linh mục đang phục vụ tại châu Phi và Trung Hoa. Chị biết tên, biết sứ vụ của họ, và mang họ trong lời cầu nguyện. Chi tiết ấy giúp ta hiểu cầu nguyện cho truyền giáo không phải một ý tưởng mơ hồ. Hôm nay, một giáo xứ có thể nhớ đến một linh mục đang phục vụ ở miền xa, một nữ tu đang chăm sóc người bệnh, một giáo lý viên giữa vùng thiếu thốn, hay một gia đình phải sống đức tin trong cảnh cô đơn. Khi cầu nguyện cho họ, ta bước vào sứ mạng với họ.
Nhưng lời cầu nguyện cũng cần mở mắt ta. Nếu tôi cầu cho người nghèo, tôi sẽ nhận ra một người nghèo đang ở gần cửa nhà mình. Nếu tôi cầu cho người trẻ, tôi sẽ muốn nghe họ kể vì sao họ mệt, vì sao họ hoài nghi, vì sao đôi khi họ thấy mình không có chỗ trong cộng đoàn. Nếu tôi cầu cho ơn gọi, tôi sẽ bớt biến người trẻ thành đối tượng để thúc ép và bắt đầu đồng hành với tự do của họ. Nếu tôi cầu cho gia đình, tôi sẽ xem lại lời nói của mình trong chính gia đình tôi. Cầu nguyện thật không kéo ta ra khỏi con người. Cầu nguyện đưa ta trở về với họ bằng một trái tim được Chúa sửa dạy.
Có một nỗi đau âm thầm trong đời sống đức tin: nhiều người tưởng Chúa chỉ vui khi họ làm được việc đáng kể. Họ nhìn một ngày có nhiều việc dang dở rồi kết luận ngày ấy vô ích. Họ thấy mình chỉ chăm một người thân, dạy vài đứa trẻ, dọn một góc nhà thờ, nấu một bữa ăn cho cộng đoàn, nên nghĩ chẳng có gì để kể. Têrêsa giúp ta nhận ra giá trị của một ngày nằm ở tình yêu được sống trong ngày ấy. Cùng một việc rửa chén, người ta có thể làm trong bực bội và khinh thường, hoặc làm như một phần chăm sóc những người sẽ dùng bữa. Cùng một cuộc thăm viếng, người ta có thể đi để hoàn thành trách nhiệm, hoặc thật sự hiện diện bên người bệnh. Cùng một lời xin lỗi, người ta có thể nói để sớm kết thúc chuyện, hoặc nói vì muốn chữa lành điều mình đã gây ra. Việc nhỏ không tự động trở nên thánh. Tình yêu, sự thật và ơn Chúa thấm vào việc ấy mới làm đời thường trở thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa.
Tình yêu ấy cũng đòi chúng ta bỏ bớt thói quen so sánh. Trong một cộng đoàn, ta dễ nhìn người khác và hỏi: tại sao họ được giao việc ấy, được nhắc tên, được tín nhiệm, còn tôi thì không? Trong gia đình, ta dễ nghĩ công sức của mình nhiều hơn mà chẳng ai ghi nhận. Trên mạng, ta nhìn thấy thành quả của người khác liên tục và thấy cuộc đời mình nhạt đi. Têrêsa không giải quyết nỗi đau này bằng cách bảo ta thôi ước mong. Chị đưa ta đến một câu hỏi khác: hôm nay Chúa đang mời tôi yêu ở đâu? Người có ơn gọi đi xa hãy đi bằng cả trái tim. Người được mời ở lại hãy ở lại bằng cả trái tim. Người có tiếng nói hãy dùng tiếng nói để nâng đỡ. Người làm công việc kín đáo hãy biết công việc ấy vẫn có thể sinh hoa trái. Mỗi người có một chỗ trong thân thể Hội Thánh; không ai phải chiếm chỗ của người khác mới trở nên quý giá.
Chúng ta nhớ lời Đức Giêsu ngợi khen Chúa Cha vì những điều sâu nhiệm được tỏ cho những người bé mọn. Nơi Têrêsa, sự bé mọn không ngăn cản trí tuệ; nó làm trí tuệ biết cúi xuống trước mầu nhiệm tình yêu. Chúng ta vẫn cần học hỏi nghiêm túc, cần thần học, cần phân định và cần trả lời những câu hỏi khó của thời đại. Đồng thời, ta cần một trái tim đủ đơn sơ để nhận ra Chúa nơi những điều không đem lại danh tiếng. Một người có thể giải thích rất giỏi về cầu nguyện nhưng đã lâu không còn thưa chuyện thật với Chúa. Một người khác chỉ biết nói: “Lạy Chúa, hôm nay con mệt, xin ở với con,” và trong lời nguyện ngắn ấy có cả một đời tín thác. Ước gì việc học giúp chúng ta yêu sâu hơn, và việc yêu khiến chúng ta khao khát hiểu Chúa hơn.
Có người sẽ hỏi: làm sao yêu khi lòng mình không còn sức? Đây là lúc con đường nhỏ trở nên quý. Têrêsa không đặt gánh nặng phải tạo ra tình yêu bằng ý chí riêng. Chị hướng lòng về ân sủng Chúa. Ta có thể thưa: “Lạy Chúa, con không yêu nổi người này theo cách con muốn. Xin Chúa dạy con bước đầu tiên.” Bước đầu tiên có thể là ngừng một lời làm tổn thương. Có thể là nghỉ ngơi để khỏi trút mệt mỏi lên người khác. Có thể là cầu nguyện cho người ấy dù lòng vẫn còn đau. Có thể là nhờ người đáng tin giúp hai bên nói chuyện trong sự thật. Chúa thường dẫn ta đi bằng một bước cụ thể như thế, rồi thêm một bước nữa.
Trong những thời gian khô khan, việc cầu nguyện cũng trở nên nhỏ bé. Ta ngồi trước Chúa mà không nghĩ được gì đẹp, không cảm thấy bình an, đọc một câu kinh rồi tâm trí lại tản đi. Đừng vội cho rằng cuộc gặp gỡ ấy thất bại. Một người con ngồi yên bên giường cha mình lúc cha bệnh nặng có thể chẳng nói gì, mà tình yêu vẫn ở đó. Ta cũng có thể ở trước mặt Chúa với sự nghèo nàn của mình. “Lạy Chúa, con vẫn đến.” Có những ngày, câu ấy là tất cả những gì ta dâng được. Và có khi chính sự ở lại nghèo nàn ấy dạy ta yêu Chúa vì Chúa, chứ không chỉ vì cảm giác dễ chịu khi cầu nguyện.
Têrêsa còn nói với chúng ta về niềm hy vọng cho người yếu đuối. Khi nhìn thấy lỗi lầm của mình, ta thường đi theo một trong hai lối: hoặc bào chữa để khỏi phải đổi thay, hoặc kết án bản thân đến mức không dám trở lại. Lòng thương xót mở lối thứ ba. Ta gọi đúng tên điều sai, xin tha thứ, sửa chữa điều có thể sửa, rồi để Chúa nâng mình lên. Một người đã nóng giận với con có thể đến bên con và nói: “Ba đã nói điều làm con đau. Ba xin lỗi.” Đứa trẻ không cần một người cha chưa từng sai; nó cần biết người cha ấy yêu mình đủ để nhận lỗi và học cách yêu tốt hơn. Một cộng đoàn cũng vậy. Khi dám nhận những điều mình đã làm tổn thương người khác, cộng đoàn mới có thể trở thành nơi người ta tin rằng Tin Mừng đang được sống.
Bởi thế, con đường nhỏ không làm tình yêu trở nên nhỏ. Nó đưa tình yêu vào những nơi sự kiêu hãnh của ta thường bỏ qua. Chúng ta thích nghĩ đến việc cứu giúp cả một đám đông, nhưng lại thấy phiền khi phải nghe một người kể nỗi buồn quá lâu. Ta muốn người khác nhận ra mình quảng đại, nhưng ngần ngại làm việc tốt nếu chẳng ai biết. Ta mong Hội Thánh đổi mới, nhưng không muốn sửa giọng nói của mình trong một cuộc họp. Têrêsa mời ta bắt đầu từ chỗ gần nhất. Nếu trái tim Hội Thánh cần đập bằng tình yêu, trái tim tôi hôm nay sẽ đập như thế nào trước người đang sống cùng tôi?
Câu hỏi ấy cũng dành cho người đang thấy mình đã phí mất nhiều năm. Có người tiếc vì không giữ được lời hứa. Có người tiếc một ơn gọi từng sáng rõ rồi bị phủ bởi lo toan. Có người nghĩ mình đã quá muộn để bắt đầu đời sống cầu nguyện. Nhưng con đường nhỏ bắt đầu ở hiện tại. Hôm nay ta có thể trở về với Chúa. Hôm nay ta có thể nói một lời thật. Hôm nay ta có thể thăm một người, trả một món nợ, ngừng một thói quen gây đau, dành mười phút lắng nghe con, hoặc bước vào tòa giải tội sau nhiều năm ngại ngùng. Tình yêu không đòi ta quay lại sống lại ngày hôm qua. Tình yêu mời ta trao cho Chúa ngày hôm nay.
Ta cũng đừng tưởng rằng sống vì tình yêu sẽ luôn thấy mình thành công. Têrêsa ra đi khi còn rất trẻ. Chị không được nhìn thấy bằng mắt những miền đất mình cầu nguyện cho, không thể kiểm đếm những cuộc đời đã được nâng đỡ bởi lời cầu của chị. Người gieo hạt nhiều khi không ở đó vào ngày hạt nảy mầm. Một bà nội kiên trì dạy cháu làm dấu có thể qua đời trước khi đứa cháu hiểu điều bà đã trao. Một giáo lý viên chăm sóc một em nhỏ khó dạy có thể chẳng bao giờ biết em ấy đã giữ lại trong lòng câu nào. Một linh mục dành thời gian cho người đang rối trí có thể chỉ thấy cuộc gặp ấy chấm dứt mà không có lời giải. Ta được mời trung tín với tình yêu, còn hoa trái nằm trong tay Chúa.
Vì thế, ngày mừng Thánh Têrêsa không chỉ là ngày ngắm một vị thánh đáng yêu. Đây là ngày để Hội Thánh xét lại nhịp đập của mình. Những người đến với giáo xứ có gặp được sự tiếp đón không? Những ai đang đau khổ có chỗ để nói thật không? Người trẻ có thể đặt câu hỏi mà không lập tức bị xem là chống đối không? Người nghèo có được gọi bằng tên và được tôn trọng không? Người đã vấp ngã có thấy một con đường trở về không? Khi câu trả lời còn làm ta ngập ngừng, Têrêsa không đứng đó để trách móc. Chị đưa ta trở lại với nguồn mạch: hãy đến gần Chúa Giêsu, đón nhận tình yêu của Người, rồi để tình yêu ấy tìm đường đi qua đời mình.
Chúng ta tạ ơn Chúa Cha về sự khôn ngoan và tình yêu Người đã ban cho Têrêsa. Ngài cũng nhắc đến ước nguyện của chị được tiếp tục làm điều tốt cho trần gian sau khi về trời. Ta có thể hiểu ước nguyện ấy như phần tiếp nối của cả cuộc đời chị: tình yêu không khép lại nơi bản thân mình. Khi đã gặp Chúa là nguồn tình yêu, người ta càng muốn người khác được sống, được an ủi, được tìm thấy đường về. Têrêsa đã ở lại bên Hội Thánh bằng chứng tá và lời chuyển cầu của chị. Và hôm nay, chị như hỏi từng người chúng ta: con sẽ để tình yêu Chúa đi qua con đến với ai?
Có thể người ấy đang ở ngay bên cạnh. Một người trong nhà lâu rồi ta chỉ nói chuyện công việc. Một người bạn đang trả lời tin nhắn rất ngắn vì chẳng biết bắt đầu kể nỗi đau từ đâu. Một cụ già thường ngồi một mình sau lễ. Một người từng rời xa cộng đoàn và đang sợ ánh mắt của người khác. Một đứa trẻ làm ta mệt vì cứ hỏi mãi. Hôm nay, ta không cần ôm hết mọi nỗi đau của thế giới. Ta có thể nhìn thật kỹ một người Chúa đặt trên đường mình đi, và yêu người ấy bằng một việc cụ thể.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con đừng khinh thường ngày sống của mình vì nó quá bình thường. Xin cho con nhận ra rằng giữa những công việc lặp lại, những giới hạn không tự chọn và những cuộc gặp gỡ rất nhỏ, Chúa vẫn đang mời con yêu. Khi con muốn được nhìn nhận, xin dạy con vui với điều tốt được làm trong âm thầm. Khi con mỏi mệt, xin cho con biết nghỉ trong lòng thương xót Chúa và đón nhận sự giúp đỡ. Khi con lỗi phạm, xin cho con đủ khiêm nhường để xin lỗi và đủ tin tưởng để bắt đầu lại. Khi con thấy một người khó yêu, xin giúp con nhìn người ấy như một con người đang cần được hiểu, được tôn trọng và được Chúa chạm đến.
Lạy Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan, xin cầu cho chúng con. Xin dạy chúng con yêu Chúa trong sự thật của đời mình, cầu nguyện cho những người đang lên đường loan báo Tin Mừng, và trung tín với phần việc Chúa trao hôm nay. Xin giúp Hội Thánh có một trái tim luôn đập bằng tình yêu: để lời giảng có sự dịu dàng, việc phục vụ có sự tôn trọng, và người yếu đuối tìm được nơi trở về. Xin cho chúng con hiểu rằng một đời sống được trao cho Chúa, dù âm thầm đến đâu, vẫn có thể đem hơi ấm đến những nơi rất xa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR