SỐNG CHỨNG TÁ NIỀM VUI TIN MỪNG
Lm. Anmai, CSsR
Vài lời
Anh chị em thân mến,
Con viết những dòng này không phải vì con đã sống trọn vẹn niềm vui của Tin Mừng, càng không phải vì con nghĩ mình đã hiểu hết thế nào là một đời sống luôn vui trong Chúa. Con viết bởi vì, trên hành trình rất thật của đời mình, con đã có những lần được niềm vui ấy chạm tới. Có khi chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ trong cầu nguyện. Có khi là một ánh mắt bình an của một người đang đau bệnh. Có khi là nụ cười của một người nghèo mà cuộc đời dường như chẳng còn gì để bám víu. Có khi là một Thánh lễ trong một ngày lòng con nặng trĩu, nhưng đến lúc nâng Mình Thánh Chúa lên, con bất chợt nhận ra rằng Chúa vẫn còn đó, vẫn yêu, vẫn ở lại, và chỉ cần như thế thôi cũng đủ để lòng mình có thể bắt đầu lại. Con đã được chạm đến niềm vui ấy không phải trong những ngày mọi sự đều thuận lợi, nhưng rất nhiều lần lại chính trong những ngày con chẳng còn lý do nào để vui theo cách của con người.
Có những ngày lòng con trống rỗng đến lạ. Vẫn công việc ấy, vẫn những con người ấy, vẫn lời kinh ấy, vẫn những bổn phận quen thuộc ấy, nhưng bên trong dường như chẳng còn một tiếng vang. Có những buổi sáng thức dậy, con biết mình phải tiếp tục, phải gặp gỡ, phải lắng nghe, phải nói lời nâng đỡ người khác, nhưng chính con lại cảm thấy mình cần được nâng đỡ hơn bất cứ ai. Có những đêm mệt mỏi đến mức con chỉ muốn khép tất cả các cánh cửa lại, không nghe thêm một câu chuyện, không nhận thêm một nỗi buồn, không mang thêm một gánh nặng nào của người khác nữa. Có những lúc nhìn vào Giáo Hội, nhìn vào những đổ vỡ, những giới hạn, những bất toàn, những lời nói làm nhau đau, những chia rẽ, những thất vọng, con thấy lòng mình nặng hơn là vui. Và có lẽ điều đau hơn cả là khi con quay lại nhìn chính mình, con nhận ra rằng những gì làm mình mệt mỏi nơi người khác đôi khi cũng đang nằm trong chính mình: sự khép kín, sự ích kỷ, những thành kiến, những vết thương chưa lành, những toan tính rất con người, những lúc phục vụ mà vẫn âm thầm mong được nhìn nhận, những lần nói về tình yêu nhưng lại thiếu dịu dàng, những lúc rao giảng niềm hy vọng nhưng trong lòng chính mình lại đầy nản chí.
Thế nhưng, qua từng ấy năm tháng, con hiểu thêm một điều: Chúa Giêsu không dễ dàng để niềm vui của Ngài chết trong lòng chúng ta. Con người có thể làm niềm vui ấy bị che khuất. Những thất vọng có thể phủ lên nó một lớp tro dày. Những vết thương có thể khiến ta tưởng rằng ngọn lửa đã tắt. Những biến cố bất ngờ của cuộc đời có thể làm chúng ta không còn cảm thấy gì. Nhưng ở một nơi rất sâu trong tâm hồn của người đã từng để Chúa chạm tới, vẫn còn một đốm lửa. Và Chúa kiên nhẫn đến bên đốm lửa nhỏ bé ấy. Ngài không trách móc vì sao ta yếu. Ngài không đứng xa để hỏi vì sao ta đã để lòng mình nguội lạnh. Ngài chỉ đến. Có khi Ngài đến qua một câu Lời Chúa. Có khi qua một người bạn. Có khi qua một biến cố tưởng là đau đớn. Có khi qua một giọt nước mắt. Có khi qua chính sự thinh lặng. Và rồi, bằng cách của Ngài, Chúa lại thổi hơi vào phần tưởng đã tàn lụi trong ta, để niềm vui được sống lại.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã mở đầu Tông huấn Evangelii Gaudium bằng một xác tín thật đẹp: “Niềm vui của Tin Mừng đổ đầy trái tim và cuộc sống của tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giêsu.” Đó không chỉ là câu mở đầu cho một văn kiện. Đó là tiếng gọi trở về với cội nguồn của đời Kitô hữu. Bởi cuối cùng, Kitô giáo không bắt đầu từ một hệ thống những điều phải làm. Kitô giáo bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ. Không phải trước hết là chúng ta tìm thấy Chúa, nhưng là Chúa đã đi tìm chúng ta. Không phải trước hết là chúng ta yêu Ngài, nhưng là Ngài đã yêu chúng ta trước. Không phải chúng ta tự mình tạo ra một thứ niềm vui thiêng liêng để rồi cố giữ lấy nó, nhưng là khi gặp Đức Kitô, chúng ta nhận ra đời mình đã được yêu bằng một tình yêu mà chẳng gì có thể xóa đi. Và chính từ đó, một niềm vui rất khác bắt đầu được sinh ra.
Niềm vui ấy không giống tiếng cười của một cuộc vui chóng qua. Nó cũng không phải tâm trạng phấn chấn của những ngày thuận lợi. Nó càng không phải việc người Kitô hữu phải lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ để chứng minh mình có đức tin. Có những nụ cười rất lớn nhưng phía sau lại là một trái tim rất cô đơn. Có những khuôn mặt luôn tươi nhưng đêm về lại phải chiến đấu với biết bao khoảng trống. Niềm vui Tin Mừng sâu hơn tất cả những điều đó. Nó có thể ở trong một người đang khóc. Nó có thể ở trong một người đang đứng bên quan tài của người mình yêu thương. Nó có thể có mặt trong một bệnh nhân vừa nhận một tin chẳng lành. Nó có thể được tìm thấy nơi một người cha thất nghiệp nhưng vẫn tin rằng gia đình mình không bị Chúa bỏ rơi. Nó có thể sáng lên trong một người mẹ thức suốt đêm bên đứa con đau yếu. Nó có thể ẩn trong sự trung tín của một linh mục vẫn tiếp tục dâng lễ sau những ngày bị hiểu lầm. Nó có thể hiện diện trong một tu sĩ vẫn âm thầm phục vụ dù chẳng ai nhớ tên. Niềm vui Tin Mừng không xóa nước mắt, nhưng khiến nước mắt không trở thành tuyệt vọng. Nó không lấy đi thập giá, nhưng làm cho thập giá không còn là dấu chấm hết. Nó không bảo đảm rằng cuộc đời sẽ dễ dàng, nhưng trao cho chúng ta một lý do để tiếp tục bước đi ngay cả khi con đường thật khó.
Vì thế, những trang sách này không được viết ra với tham vọng giải thích thêm một văn kiện của Giáo Hội. Có những người uyên bác hơn con rất nhiều để làm việc đó. Con cũng không muốn viết thêm một tập sách về niềm vui theo nghĩa người đọc sẽ tìm thấy vài công thức để sống nhẹ nhàng hơn. Điều con mong mỏi đơn sơ hơn nhưng cũng khó hơn nhiều: cùng anh chị em ngồi lại trước câu hỏi rất thật của đời mình: Làm sao để sống chứng tá niềm vui Tin Mừng giữa một thế giới đang có quá nhiều lý do để buồn?
Làm sao để một linh mục có thể nói về niềm vui mà không biến bục giảng thành nơi chỉ có những lời đúng nhưng lạnh? Làm sao để một tu sĩ có thể mang niềm vui của đời dâng hiến khi cộng đoàn cũng có những va chạm, những hiểu lầm và những ngày rất mệt? Làm sao để một người cha trở về sau một ngày áp lực mà vẫn đủ bình an để ngồi xuống nghe con mình kể một câu chuyện tưởng chẳng có gì quan trọng? Làm sao để một người mẹ giữa trăm công nghìn việc vẫn giữ được sự dịu dàng, để căn nhà không chỉ là nơi người ta trở về ngủ mà thật sự là nơi người ta muốn trở về? Làm sao một bạn trẻ có thể vui trong một thế giới liên tục nói với mình rằng phải đẹp hơn, giỏi hơn, giàu hơn, nổi tiếng hơn, có nhiều người theo dõi hơn mới đáng được yêu? Làm sao một người cao tuổi có thể sống bình an khi sức khỏe giảm đi, khi những người quen lần lượt ra đi, khi cảm giác mình trở thành gánh nặng đôi khi len vào lòng? Làm sao một người bệnh vẫn có thể tin rằng cuộc đời mình không trở nên vô nghĩa chỉ vì không còn làm được những điều mình từng làm? Làm sao một người đang thất nghiệp, đang mang nợ, đang chịu một cuộc hôn nhân đổ vỡ, đang trải qua mất mát, đang sống cô đơn, vẫn có thể nghe được lời Chúa nói: “Con vẫn quý giá trong mắt Ta”?
Đó là những câu hỏi con muốn mang theo suốt cuốn sách này.
Bởi Tin Mừng chỉ thật sự trở thành Tin Mừng khi nó đi vào những nơi ấy. Nếu niềm vui Kitô giáo chỉ có thể tồn tại trong nhà thờ, trong giờ kinh, trong những ngày lễ trọng, trong những cuộc tĩnh tâm hay những lúc tâm hồn sốt sắng, thì niềm vui ấy chưa đi đủ sâu. Chúa Giêsu đã đi vào những căn nhà có người bệnh. Ngài đi vào những bàn ăn của người tội lỗi. Ngài đứng trước những nấm mồ. Ngài gặp người đàn bà đang khóc. Ngài chạm vào người phong cùi mà ai cũng tránh xa. Ngài ngồi bên giếng nước nói chuyện với một người phụ nữ mang một quá khứ rối bời. Ngài ở trên thuyền với những môn đệ đang hoảng loạn giữa bão tố. Và cuối cùng, Ngài bước vào chính cõi chết. Tin Mừng đã đi qua tất cả những nơi đó. Vậy thì niềm vui của Tin Mừng cũng phải có khả năng đi vào tất cả những nơi rất thật của đời người.
Con tin rằng một trong những khủng hoảng lớn của đời sống Kitô hữu hôm nay không hẳn là người ta không còn nghe nói về Chúa, nhưng là người ta đã nghe rất nhiều mà lại ít gặp những con người thực sự được Chúa làm cho sống. Chúng ta có thể nói rất đúng về Thiên Chúa nhưng lại sống rất căng thẳng. Chúng ta có thể bảo người khác hãy tin tưởng nhưng chính mình lại luôn lo sợ mất phần. Chúng ta có thể nói về lòng thương xót nhưng lại rất nhanh trong việc phán xét. Chúng ta có thể bảo người ta hãy tha thứ nhưng chính mình giữ một câu chuyện buồn suốt nhiều năm. Chúng ta có thể hát “Chúa là nguồn vui của con” nhưng khi bước ra khỏi nhà thờ lại sống như thể tất cả gánh nặng của thế giới nằm trên vai mình. Có lẽ người thời nay không cần thêm thật nhiều lời giải thích về niềm vui bằng việc được gặp một Kitô hữu mà ở nơi người ấy, họ nhận ra rằng: sống với Chúa quả thật làm con người trở nên khác.
Không phải khác vì người ấy không còn yếu đuối. Không phải khác vì chẳng bao giờ buồn. Không phải khác vì không mắc sai lầm. Nhưng khác ở chỗ người ấy biết trở về. Ngã mà biết đứng dậy. Đau mà không làm người khác đau theo. Bị tổn thương mà không biến vết thương thành vũ khí. Có quyền nhưng biết cúi xuống. Có lý nhưng không nhất thiết phải thắng. Được khen mà không bay lên. Bị chê mà không sụp đổ. Thành công mà biết tạ ơn. Thất bại mà không tuyệt vọng. Được yêu thì biết trân trọng. Bị bỏ rơi vẫn không thôi tin vào tình yêu. Đó là những chứng tá mà thế giới đang cần.
Niềm vui Tin Mừng không phải là một thứ trang sức chúng ta đeo lên đời Kitô hữu. Nó là dấu hiệu cho thấy Tin Mừng đã chạm đến tận đáy lòng. Một cây không cần nói nó đang sống; khi đến mùa, nó trổ lá, đâm chồi, kết trái. Một người thật sự sống trong Chúa cũng vậy. Có thể người ấy không nói rất nhiều về niềm vui. Nhưng người khác ở gần họ sẽ cảm thấy lòng mình được nhẹ hơn. Có người chỉ cần bước vào một căn phòng là bầu khí đã trở nên nặng nề. Cũng có người chẳng cần làm gì lớn, chỉ cần hiện diện thôi mà người khác cảm thấy được bình an. Chứng tá Kitô giáo đôi khi bắt đầu từ chính điều rất nhỏ ấy: chúng ta mang theo bầu khí nào đến cho những nơi mình hiện diện?
Con đã nghĩ rất nhiều về điều đó.
Khi bước vào một gia đình, con mang bình an vào hay mang căng thẳng vào? Khi trở về cộng đoàn, con làm cho anh em nhẹ lòng hơn hay phải dè chừng hơn? Khi sử dụng mạng xã hội, con để lại ánh sáng hay thêm một chút tối tăm? Khi gặp người yếu đuối, họ cảm thấy được nâng lên hay cảm thấy mình càng nhỏ bé? Khi một người phạm lỗi tìm đến, ánh mắt của con làm họ muốn quay về với Chúa hay khiến họ muốn bỏ chạy xa hơn? Có lẽ việc loan báo Tin Mừng bắt đầu từ những câu hỏi nhỏ như thế.
Cuốn sách này vì vậy không muốn nói đến một thứ niềm vui trừu tượng. Con muốn nói đến niềm vui có chân, có tay, có ánh mắt, có giọng nói. Niềm vui biết rửa chén. Niềm vui biết nhường một câu. Niềm vui biết lắng nghe một người già kể lại câu chuyện cũ lần thứ mười. Niềm vui biết tắt điện thoại để nhìn vào mắt người đang ngồi trước mặt. Niềm vui biết xin lỗi trước dù mình chưa chắc hoàn toàn sai. Niềm vui biết dừng một lời nói có thể làm tổn thương. Niềm vui biết chia một phần tiền cho người túng thiếu. Niềm vui biết đến thăm một người bệnh. Niềm vui biết ngồi yên bên một người đang khóc mà không vội giảng giải. Niềm vui biết cầu nguyện cho người mình không thích. Niềm vui biết tiếp tục làm điều tốt ngay cả khi chẳng ai nhìn thấy.
Bởi nếu niềm vui Tin Mừng không bước xuống được những điều rất nhỏ ấy, cuối cùng nó chỉ còn là một ý tưởng đẹp.
Con cũng không viết cuốn sách này từ vị trí của một người đã đến nơi. Con viết như một người đang đi. Có khi đi rất chậm. Có lúc lại đi vòng. Có những chặng tưởng đã học xong một bài học, rồi vài năm sau lại thấy Chúa đưa mình trở lại đúng bài học ấy, chỉ sâu hơn. Con vẫn đang học cách vui trong Chúa mà không lệ thuộc vào việc người khác nghĩ gì về mình. Vẫn học phục vụ mà không chờ ghi nhận. Vẫn học yêu mà không chiếm hữu. Vẫn học tha thứ cho những điều mình từng nghĩ sẽ không bao giờ quên được. Vẫn học chấp nhận giới hạn của tuổi đời, sức khỏe, khả năng, hoàn cảnh. Vẫn học rằng mình không phải là người cứu thế, rằng Giáo Hội thuộc về Chúa, rằng công việc của Chúa không đứng hay ngã vì con, rằng đôi khi điều đạo đức nhất con có thể làm là nghỉ ngơi, im lặng và để Chúa tiếp tục công việc của Ngài.
Và có lẽ chính ở đó, niềm vui bắt đầu trở nên thật.
Khi con không còn phải chứng minh mình là ai. Khi con không còn cần tất cả mọi người hiểu mình. Khi con không còn nghĩ mọi việc phải theo ý mình mới là tốt. Khi con thôi giữ quá chặt những gì vốn không thuộc về con. Khi con tập đặt lại trong tay Chúa những con người con yêu, những việc con đang làm, những ước mơ con đang mang, những dự định con còn dang dở. Khi ấy con nhận ra: phần lớn sự mệt mỏi của chúng ta không đến từ việc phải mang thập giá, nhưng từ việc chúng ta cứ muốn mang cả những điều Chúa chưa từng trao cho mình.
Có một thứ bình an chỉ đến khi ta biết nói: “Lạy Chúa, việc này là của Chúa. Con đã làm phần của con. Phần còn lại, xin Chúa lo liệu.”
Và có một thứ niềm vui chỉ xuất hiện sau lời phó thác đó.
Anh chị em thân mến, thế giới chúng ta đang sống có rất nhiều tiếng cười nhưng dường như lại thiếu niềm vui. Người ta có nhiều phương tiện giải trí hơn bất cứ thời đại nào, nhưng sự cô đơn cũng nhiều hơn. Có vô số cách để kết nối, nhưng lại không dễ tìm được một người thật sự lắng nghe. Chúng ta biết rất nhiều điều đang xảy ra trên thế giới nhưng đôi khi không biết điều gì đang xảy ra trong trái tim của người sống cùng một mái nhà. Người ta có thể thức hàng giờ để theo dõi cuộc đời của một người xa lạ trên màn hình, nhưng lại không có vài phút để hỏi người thân của mình: “Hôm nay con có ổn không?” Chúng ta có rất nhiều thứ để lấp thời gian nhưng vẫn không lấp được sự trống rỗng. Và chính trong một thế giới như thế, chứng tá về niềm vui của người môn đệ Chúa Giêsu trở nên cấp thiết biết bao.
Không phải niềm vui ồn ào.
Không phải một Kitô giáo lúc nào cũng phải cười.
Không phải sự lạc quan ngây thơ.
Nhưng là một bình an có chiều sâu. Một ánh mắt vẫn còn hy vọng. Một trái tim không trở nên cay đắng. Một con người đã nếm đủ những đắng cay của cuộc đời nhưng vẫn chọn hiền lành. Một người bị tổn thương mà vẫn còn khả năng yêu. Một người đã mất rất nhiều nhưng không đánh mất Chúa. Đó là niềm vui Tin Mừng.
Và có lẽ đó cũng là phép lạ đẹp nhất Chúa muốn làm nơi chúng ta.
Không nhất thiết là chữa hết mọi bệnh tật.
Không nhất thiết là giải quyết ngay mọi khó khăn.
Không nhất thiết là đưa chúng ta ra khỏi mọi cơn bão.
Nhưng là giữa tất cả những điều ấy, làm cho trái tim chúng ta vẫn sống.
Một trái tim vẫn biết cảm động.
Vẫn biết biết ơn.
Vẫn biết tha thứ.
Vẫn biết cười.
Vẫn biết khóc với người khóc.
Vẫn biết nhìn thấy một bông hoa nhỏ bên đường.
Vẫn biết ngạc nhiên trước một buổi bình minh.
Vẫn biết cảm tạ vì một bữa cơm bình thường.
Vẫn biết trân trọng một người còn đang ngồi cạnh mình.
Vẫn biết quỳ xuống.
Vẫn biết ngước lên.
Và vẫn dám tin rằng ngày mai, dù chưa biết điều gì đang chờ đợi, Thiên Chúa vẫn sẽ ở đó.
Con mong rằng khi đi qua từng chương của cuốn sách này, anh chị em không chỉ gặp những câu chữ. Con mong anh chị em có thể gặp lại chính mình: những niềm vui đã từng có, những vết thương còn mang, những người mình đã yêu, những điều mình đang sợ, những nơi lòng mình đang khép kín, những vùng tối mình chưa dám đưa cho Chúa. Và rồi, giữa tất cả những điều ấy, con mong anh chị em có thể nhận ra một Người vẫn đang đứng đó, rất gần, như buổi chiều năm xưa Ngài đứng bên hai môn đệ trên đường Emmau. Có thể chúng ta đang buồn đến mức không nhận ra Ngài. Có thể chúng ta đang kể cho Ngài nghe chính câu chuyện của Ngài mà vẫn chưa biết Ngài là ai. Nhưng Ngài vẫn bước cùng. Ngài vẫn lắng nghe. Ngài vẫn giải thích Kinh Thánh. Ngài vẫn ngồi xuống bẻ bánh. Và rồi sẽ có một lúc mắt chúng ta mở ra.
“Thì ra Chúa đã ở đây.”
Có lẽ đó là nguồn của mọi niềm vui.
Không phải vì đời không còn khó.
Nhưng vì Chúa ở đây.
Không phải vì mọi câu hỏi đã có lời giải.
Nhưng vì Chúa ở đây.
Không phải vì người mình yêu sẽ chẳng bao giờ rời xa.
Nhưng vì Chúa ở đây.
Không phải vì mình sẽ không bao giờ thất bại.
Nhưng vì Chúa ở đây.
Không phải vì tương lai đã rõ.
Nhưng vì Chúa ở đây.
Và nếu Chúa còn ở đây, chúng ta vẫn còn lý do để hy vọng.
Con xin Chúa Thánh Thần thổi hơi vào từng trang sách này. Xin Ngài làm điều mà chữ nghĩa tự nó không thể làm. Xin Ngài đưa một câu nào đó đến đúng một người đang cần. Xin Ngài dùng một ý tưởng rất nhỏ để mở một cánh cửa đã khép lâu ngày. Xin Ngài làm cho một người đang mệt tìm lại được can đảm để bước tiếp. Xin Ngài làm cho một người đang cay đắng biết khóc và biết tha thứ. Xin Ngài làm cho một gia đình đang xa nhau biết ngồi lại. Xin Ngài làm cho một linh mục đang kiệt sức nhớ lại ngày đầu mình đã yêu Chúa thế nào. Xin Ngài làm cho một tu sĩ đang chao đảo tìm lại niềm vui của lời khấn. Xin Ngài làm cho một người trẻ đang mất hướng biết rằng đời mình quý giá. Xin Ngài làm cho một người bệnh hiểu rằng sự hiện diện của họ vẫn là một món quà. Xin Ngài làm cho một người đang cô đơn nhận ra rằng chẳng có đêm tối nào có thể ngăn Thiên Chúa bước vào.
Và nếu sau khi đọc hết cuốn sách này, anh chị em chỉ giữ lại được một điều, con mong đó là điều này: niềm vui Kitô giáo không phải là phần thưởng dành cho những người có một cuộc đời suôn sẻ; đó là hồng ân dành cho những ai để Chúa Giêsu bước vào cuộc đời thật của mình.
Hãy để Ngài bước vào.
Không phải khi chúng ta đã tốt.
Không phải khi mọi sự đã ổn.
Không phải khi chúng ta đã cầu nguyện đủ.
Không phải khi đã giải quyết xong mọi vấn đề.
Hãy để Ngài bước vào ngay căn phòng đang bừa bộn của lòng mình. Ngay nơi mình đang yếu. Ngay điều mình đang xấu hổ. Ngay vết thương mình chưa hiểu. Ngay thất bại mình không muốn ai biết. Ngay sự cô đơn mình vẫn giấu sau nụ cười.
Bởi Chúa không chờ chúng ta sửa xong căn nhà rồi mới đến.
Ngài đến để cùng chúng ta sửa lại căn nhà ấy.
Ngài không chờ trái tim chúng ta sáng rồi mới bước vào.
Ngài bước vào để thắp sáng trái tim.
Và từ cuộc gặp gỡ ấy, niềm vui lại bắt đầu.
Có thể rất nhỏ.
Có thể chỉ như một đốm sáng.
Có thể ban đầu chưa đủ để soi hết con đường.
Nhưng đủ cho một bước.
Rồi một bước nữa.
Rồi thêm một bước nữa.
Cho đến một ngày nhìn lại, chúng ta sẽ nhận ra rằng điều giữ mình đi qua biết bao thung lũng tối không phải là sức mạnh của mình, mà là một bàn tay chưa bao giờ buông.
Với Đức Kitô, niềm vui luôn luôn được tái sinh.
Không phải chỉ một lần.
Mà mỗi ngày.
Mỗi sáng.
Mỗi lần trở về.
Mỗi lần tha thứ.
Mỗi lần bắt đầu lại.
Mỗi lần chúng ta dám tin rằng, sau tất cả, tình yêu vẫn mạnh hơn hận thù, ánh sáng vẫn mạnh hơn bóng tối, lòng thương xót vẫn mạnh hơn tội lỗi, sự sống vẫn mạnh hơn cái chết.
Và Chúa vẫn mạnh hơn tất cả những gì đang làm chúng ta sợ hãi.
Ước gì những trang sách này có thể trở thành một người bạn nhỏ trên hành trình ấy. Không phải để nói với anh chị em rằng phải vui lên, nhưng để cùng anh chị em đi tìm lại nguồn vui. Không phải để bảo anh chị em hãy quên đau khổ, nhưng để cùng nhìn đau khổ dưới ánh sáng Phục Sinh. Không phải để đưa ra những câu trả lời dễ dàng, nhưng để cùng nhau trở về với Đấng là Câu Trả Lời.
Và rồi, khi đã được Ngài chạm đến, xin chúng ta đừng giữ niềm vui ấy cho riêng mình.
Hãy mang nó về gia đình.
Mang vào cộng đoàn.
Mang đến nơi làm việc.
Mang vào một cuộc điện thoại.
Mang vào một tin nhắn.
Mang đến bên giường bệnh.
Mang đến cho một người đang thất vọng.
Mang vào cả mạng xã hội.
Mang đến nơi nào đang có quá nhiều lời cay nghiệt.
Mang đến nơi có người đang cần được nghe rằng họ vẫn còn đáng được yêu.
Có thể chúng ta không thay đổi được cả thế giới.
Nhưng chúng ta có thể làm cho thế giới quanh mình bớt lạnh đi một chút.
Có thể chúng ta không làm được những điều lớn lao.
Nhưng chúng ta có thể khiến một người hôm nay cảm thấy đời đáng sống hơn.
Và biết đâu, chỉ một chút ánh sáng ấy lại là cách Chúa đang dùng chúng ta để cứu một trái tim.
Anh chị em thân mến, con xin được bắt đầu hành trình này cùng anh chị em bằng một lời cầu xin rất đơn sơ:
Lạy Chúa Giêsu, xin đừng để chúng con quen với một đời sống Kitô hữu không còn niềm vui. Xin đừng để chúng con nói về Chúa mà lòng không còn rung động vì Chúa. Xin đừng để chúng con phục vụ quá nhiều đến mức quên ngồi lại bên chân Chúa. Xin đừng để những thất vọng làm chúng con trở thành những người cay nghiệt. Xin đừng để những vết thương khiến chúng con làm tổn thương người khác. Xin đưa chúng con trở lại nguồn suối đầu tiên, nơi chúng con đã từng nhận ra mình được yêu. Xin làm cho trái tim chúng con sống lại. Và khi đã được sống lại trong tình yêu của Chúa, xin sai chúng con đi, để nơi đâu chúng con hiện diện, nơi đó có thêm một chút bình an; nơi đâu chúng con lên tiếng, nơi đó có thêm một chút hy vọng; nơi đâu chúng con chạm đến, nơi đó có một người cảm thấy mình được yêu thương hơn.
Xin cho niềm vui của Chúa ở trong chúng con.
Và xin cho niềm vui ấy được nên trọn vẹn.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 1
NIỀM VUI KHÔNG ĐẾN TỪ CHÚNG TA – NIỀM VUI ĐẾN TỪ CUỘC GẶP GỠ
Có một sự thật rất đơn giản, đơn giản đến mức nhiều khi chúng ta đi qua cả một quãng dài của đời sống đức tin mà vẫn chưa thực sự hiểu hết: người Kitô hữu không phải là người tự mình sản xuất ra niềm vui. Niềm vui Kitô giáo không phải là một thành quả do ý chí mạnh mẽ, không phải là kết quả của một phương pháp sống tích cực, càng không phải là một lớp sơn tươi sáng được phủ lên trên những vết thương chưa lành để người khác nhìn vào mà tưởng rằng chúng ta đang bình an. Niềm vui ấy không bắt đầu từ chúng ta. Nó bắt đầu từ Thiên Chúa. Nó không phải là thứ chúng ta chế tạo, nhưng là điều chúng ta đón nhận. Nó không phải là một cảm xúc chúng ta cố giữ, nhưng là một sự sống được trao ban. Và bởi thế, muốn hiểu niềm vui của người Kitô hữu, trước hết phải hiểu một điều rất căn bản: trước khi chúng ta tìm Chúa, Chúa đã tìm chúng ta; trước khi chúng ta nhớ đến Chúa, Chúa đã nhớ đến chúng ta; trước khi chúng ta yêu Chúa, Chúa đã yêu chúng ta; trước khi chúng ta biết vui vì có Chúa, chính Chúa đã cúi xuống trên cuộc đời chúng ta và làm cho trái tim tưởng như đã nguội lạnh ấy có khả năng vui trở lại. Thánh Gioan đã viết một câu rất ngắn nhưng có thể đủ để chúng ta suy niệm cả đời: “Chúng ta yêu mến, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19). Câu ấy không chỉ đúng với tình yêu. Nó cũng đúng với niềm vui. Chúng ta có thể nói rằng: chúng ta vui, bởi vì Thiên Chúa đã đặt niềm vui của Người vào trong chúng ta trước. Chúng ta có thể sống, bởi vì Người đã gọi chúng ta ra khỏi những ngôi mộ trong lòng mình trước. Chúng ta có thể hy vọng, bởi vì Người đã không tuyệt vọng về chúng ta trước. Chúng ta có thể đứng lên sau những lần vấp ngã, bởi vì Người đã chìa tay về phía chúng ta trước. Và chúng ta có thể mỉm cười ngay giữa những ngày nước mắt chưa khô, bởi vì sâu hơn mọi nỗi buồn của chúng ta vẫn có một Đấng đang ở đó, lặng lẽ nhưng trung tín, âm thầm nhưng không bao giờ rời bỏ. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy đã nói với anh em những điều ấy, để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15,11). Ta hãy để ý thật kỹ: Người không nói “để anh em có một chút niềm vui”, cũng không nói “để anh em tự tìm lấy niềm vui”, nhưng Người nói đến “niềm vui của Thầy”. Nghĩa là có một niềm vui thuộc về chính Đức Kitô, phát xuất từ mối tương quan giữa Người với Chúa Cha, phát xuất từ tình yêu, từ sự tự hiến, từ việc thuộc trọn về Cha và hoàn tất ý Cha; và điều kỳ diệu là Chúa Giêsu không giữ niềm vui ấy cho riêng Người. Người muốn đặt niềm vui ấy vào lòng các môn đệ. Người muốn điều đang ở trong Người cũng ở trong chúng ta. Người muốn sự sống của Người trở thành sự sống của chúng ta. Người muốn niềm vui của Người trở thành nguồn mạch bên trong cuộc đời chúng ta. Vì thế, niềm vui Kitô giáo trước hết là niềm vui được thông phần vào chính sự sống của Đức Kitô. Người Kitô hữu không vui vì đời mình không có thập giá; người Kitô hữu vui vì trên thập giá của mình có Đức Kitô. Người Kitô hữu không vui vì không có nước mắt; người Kitô hữu vui vì trong những giọt nước mắt ấy vẫn có một bàn tay đang lau khô. Người Kitô hữu không vui vì mọi lời cầu nguyện đều được đáp lại theo ý mình; người Kitô hữu vui vì ngay cả khi không hiểu, họ vẫn biết Đấng đang dẫn mình là Cha. Người Kitô hữu không vui vì họ mạnh hơn người khác; họ vui vì trong sự yếu đuối của mình, họ biết mình không bị bỏ rơi. Đó là một niềm vui rất khác với niềm vui mà thế gian thường hiểu, rất khác với sự hưng phấn nhất thời, rất khác với một buổi tiệc, một thành công, một khoản tiền, một lời khen, một cuộc vui hay một cảm giác được người khác ngưỡng mộ. Những thứ ấy không xấu tự thân, nhưng chúng không thể mang nổi sức nặng của một đời người. Chúng đến rồi đi. Chúng sáng rồi tắt. Chúng làm lòng ta phấn khởi một lúc, rồi nhiều khi lại để lại một khoảng trống lớn hơn. Có những người đã dành gần hết tuổi trẻ để đi tìm niềm vui ở bên ngoài, đến khi cầm được điều mình tưởng là hạnh phúc trong tay mới giật mình nhận ra rằng lòng mình vẫn lạnh. Có những người có đủ tiền để mua rất nhiều thứ nhưng không mua nổi một giấc ngủ bình an. Có những người được hàng ngàn người biết đến nhưng lại không có một người để thật lòng ngồi xuống bên cạnh khi họ suy sụp. Có những người mỗi ngày đăng lên rất nhiều nụ cười nhưng đêm về lại phải đối diện với một căn phòng đầy trống rỗng. Có những người tưởng rằng chỉ cần bận rộn là sẽ không buồn, nên lấp kín mọi khoảng thời gian bằng công việc, gặp gỡ, mạng xã hội, những chuyến đi, những tiếng động, rồi đến một lúc thân xác kiệt sức, tiếng ồn dừng lại, họ mới nghe thấy trong lòng mình một câu hỏi mà đã quá lâu không dám nghe: “Tôi đang sống để làm gì?” Chính ở nơi câu hỏi ấy, con người bắt đầu hiểu rằng niềm vui không phải là chuyện có thêm, mà nhiều khi là chuyện gặp được. Không phải có thêm tiền, thêm danh, thêm người biết đến mình, thêm những trải nghiệm mới, thêm những thứ để sở hữu; mà là gặp được một Đấng khiến ta không còn phải chạy trốn khỏi chính mình. Gặp được một Đấng biết rõ ta mà không khinh thường ta. Gặp được một Đấng thấy hết những ngóc ngách tối tăm trong lòng ta mà vẫn nói: “Con là của Ta.” Gặp được một Đấng biết ta đã vấp ngã ở đâu, đã phản bội bao nhiêu lần, đã yếu đuối đến mức nào, nhưng vẫn không thu hồi tình yêu. Gặp được một Đấng không đứng từ xa để xét xử nhưng bước vào tận trong vết thương của đời ta. Và khi cuộc gặp gỡ ấy xảy ra, niềm vui không cần phải được diễn. Nó tự mọc lên, đôi khi rất nhỏ, đôi khi chỉ như một mầm xanh giữa đất cằn, nhưng đó là mầm sống thật.
Có lẽ một trong những ngộ nhận lớn nhất trong đời sống đức tin là chúng ta dễ đồng hóa niềm vui với cảm giác vui vẻ. Vì thế khi mệt mỏi, ta tưởng mình đã mất Chúa; khi buồn, ta nghĩ đức tin của mình yếu; khi nước mắt chảy, ta cảm thấy mình đang thất bại trong đời sống thiêng liêng. Nhưng Tin Mừng không bao giờ hứa với chúng ta rằng người có Chúa sẽ không buồn. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô. Người đã thổn thức trước Giêrusalem. Trong vườn Cây Dầu, Người đã buồn đến chết được. Trên thập giá, Người đã thốt lên lời tưởng như chạm đến tận đáy của cô đơn: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nếu niềm vui Kitô giáo đồng nghĩa với việc lúc nào cũng cười, thì chính Đức Giêsu đã không sống niềm vui ấy. Nhưng ở đây có một mầu nhiệm lớn hơn: giữa đau khổ, Người vẫn thuộc về Cha; giữa nước mắt, Người vẫn tín thác; giữa bóng tối, Người vẫn trao phó; giữa cái chết, Người vẫn yêu. Và đó chính là chiều sâu của niềm vui Kitô giáo. Niềm vui ấy không loại bỏ nỗi buồn nhưng đi sâu hơn nỗi buồn. Nó không ngăn nước mắt nhưng không cho nước mắt trở thành tiếng nói cuối cùng. Nó không làm cho vết thương biến mất tức khắc nhưng làm cho vết thương không còn là nơi tuyệt vọng. Người có niềm vui Kitô giáo vẫn có những ngày không muốn nói với ai, vẫn có những đêm ngủ không ngon, vẫn có những lần thất vọng vì người mình thương, vẫn có những biến cố làm mình choáng váng, vẫn có những phút giây đứng trước tương lai mà không biết phải đi về đâu. Họ vẫn là con người. Đức tin không biến họ thành đá. Trái lại, càng gần Chúa, nhiều khi họ càng nhạy cảm hơn trước khổ đau của mình và của người khác. Nhưng điều khác biệt là họ biết nỗi đau của mình không rơi vào khoảng không vô nghĩa. Họ có thể mang nỗi đau ấy đến với Chúa. Họ có thể khóc trước mặt Chúa. Họ có thể ngồi yên trong nhà tạm mà chẳng nói được câu nào ngoài một tiếng thở dài. Họ có thể lặp đi lặp lại: “Lạy Chúa, con không hiểu”, nhưng trong tiếng “không hiểu” ấy vẫn còn một tương quan. Họ vẫn nói “Lạy Chúa”. Họ chưa quay lưng. Họ chưa cắt đứt. Và chỉ cần còn có thể gọi tên Chúa giữa bóng tối, đã có một tia sáng rất nhỏ được giữ lại. Nhiều khi niềm vui Kitô giáo không biểu hiện bằng tiếng cười, mà biểu hiện bằng khả năng không bỏ cuộc. Có khi niềm vui là sáng hôm sau vẫn bước xuống khỏi giường sau một đêm nặng nề và nói: “Lạy Chúa, hôm nay con lại bắt đầu với Chúa.” Có khi niềm vui là sau một lần phạm tội, thay vì trốn chạy, ta đủ khiêm tốn bước vào tòa giải tội. Có khi niềm vui là sau một cuộc hôn nhân đầy sóng gió, hai người vẫn còn đủ yêu để ngồi lại nói với nhau. Có khi niềm vui là một linh mục đã mệt mỏi vẫn bước lên bàn thờ và thì thầm: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em.” Có khi niềm vui là người mẹ chăm một đứa con đau yếu trong nhiều năm mà vẫn có thể vuốt tóc con với một tình yêu không cạn. Có khi niềm vui là một người già ngồi lặng lẽ lần chuỗi Mân Côi, biết rằng nhiều người mình thương đã đi trước, biết rằng sức khỏe mình đang yếu dần, nhưng lòng không tuyệt vọng vì biết phía cuối con đường không phải là vực thẳm mà là một vòng tay. Niềm vui như thế không ồn ào. Nó không cần sân khấu. Nó không cần người khác chứng kiến. Nó giống như ánh đèn nhỏ trong một căn nhà đêm khuya: từ xa không ai thấy, nhưng với người đang sống trong căn nhà ấy, ánh đèn đủ để họ biết mình chưa ở trong bóng tối hoàn toàn. Và chính thứ niềm vui âm thầm ấy mới làm nên sức mạnh của người Kitô hữu.
Khi nói rằng niềm vui đến từ cuộc gặp gỡ, chúng ta phải dám hỏi một câu rất thật: tôi đã gặp Chúa chưa? Không phải: tôi có biết về Chúa không? Không phải: tôi có đi lễ không? Không phải: tôi có đọc Kinh Thánh không? Không phải: tôi có giữ những thực hành đạo đức không? Tất cả những điều ấy quan trọng, nhưng người ta vẫn có thể làm nhiều việc đạo đức mà lòng chưa bao giờ thực sự chạm tới Chúa. Một người có thể thuộc rất nhiều kinh nhưng không biết nói với Chúa một lời từ tận đáy lòng. Một người có thể đọc nhiều sách thần học nhưng Chúa vẫn chỉ là một khái niệm trong trí. Một người có thể làm rất nhiều việc trong giáo xứ, sinh hoạt đoàn thể, phục vụ cộng đoàn, tham dự hội họp, tổ chức chương trình, nhưng bên trong lại khô cạn vì đã từ lâu chỉ làm việc “cho Chúa” mà quên ở “với Chúa”. Đây là một nguy cơ rất thật. Ta có thể sống gần những điều thánh mà lòng lại xa Đấng Thánh. Ta có thể đứng gần bàn thờ nhưng tâm hồn chạy rất xa. Ta có thể nói rất nhiều về cầu nguyện mà bản thân lại không còn cầu nguyện thật. Ta có thể giảng về tình yêu nhưng trong lòng đầy cay đắng. Ta có thể khuyên người khác tín thác nhưng chính mình lại sống như thể mọi sự hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng của mình. Ta có thể mời người khác gặp Chúa nhưng chính ta đang sống bằng ký ức về một cuộc gặp gỡ đã xảy ra từ nhiều năm trước. Vì thế đời sống đức tin không thể sống bằng vốn cũ. Cuộc gặp với Chúa hôm qua không miễn cho tôi khỏi phải gặp Người hôm nay. Ân sủng của ngày truyền chức không thay thế cho giờ cầu nguyện sáng nay. Nước mắt của một kỳ tĩnh tâm năm nào không thể nuôi tôi suốt đời nếu hôm nay tôi không còn mở lòng. Một lời Chúa từng làm tôi bừng cháy không bảo đảm rằng hôm nay lòng tôi vẫn còn cháy. Chúa vẫn là Chúa, nhưng trái tim ta có thể nguội. Chúa vẫn đến, nhưng ta có thể đóng cửa. Chúa vẫn gọi, nhưng tiếng ồn bên trong có thể làm ta không nghe thấy. Và bởi thế, niềm vui luôn phải được tái sinh trong cuộc gặp gỡ mới. Đức Phanxicô từng nhắc rằng với Đức Kitô, niềm vui luôn luôn được tái sinh. Chữ “luôn luôn” thật đẹp. Nó có nghĩa là không có một thất bại nào phải là thất bại cuối cùng. Không có một mùa khô hạn nào phải kéo dài mãi mãi. Không có một người nào đã đi quá xa đến mức Chúa không thể tìm lại. Không có một tâm hồn nào quá nguội lạnh đến mức Thánh Thần không thể thổi lên một ngọn lửa mới. Không có một đời sống tu trì nào đã mệt đến mức không thể bắt đầu lại. Không có một cuộc hôn nhân nào chỉ vì đã trải qua năm tháng lạnh nhạt mà tất yếu phải chết. Không có một tội nhân nào buộc phải trở thành tù nhân vĩnh viễn của quá khứ. “Luôn luôn được tái sinh” nghĩa là mỗi lần trở về, ta có thể lại vui. Mỗi lần xưng thú, ta có thể lại nhẹ. Mỗi lần để Chúa nhìn mình, ta có thể lại sống. Mỗi sáng thức dậy, ta lại nhận được một ngày mà hôm qua mình chưa có. Mỗi Thánh lễ là một lời mời mới. Mỗi lần rước lễ là một cuộc viếng thăm mới. Mỗi trang Tin Mừng là một cánh cửa mới. Mỗi lần quỳ xuống là một khả năng mới cho trái tim mình được chạm đến. Chính vì thế Kitô giáo không phải là tôn giáo của những người chưa từng vấp ngã, mà là con đường của những người biết đứng lên vì đã gặp Đấng luôn luôn đưa tay cho họ. Thánh Phêrô đã có thể trở thành vị Tông đồ trưởng không phải vì ông chưa từng phản bội, mà vì sau khi phản bội, ông đã để ánh mắt Chúa tìm lại mình. Maria Mađalêna trở thành người loan báo Tin Mừng Phục Sinh đầu tiên không phải vì đời bà không có bóng tối, nhưng vì bà đã gặp Đấng gọi tên mình giữa nước mắt. Hai môn đệ Emmau đã từ chỗ thất vọng đến mức bỏ Giêrusalem mà đi, nhưng chỉ một cuộc đồng hành với Người Khách Lạ đã làm tim họ nóng lên, và khi nhận ra Người trong việc bẻ bánh, họ lập tức đứng dậy quay trở lại con đường cũ với một con người mới. Saolô lên đường để bắt bớ các Kitô hữu, nhưng một cuộc gặp gỡ trên đường Đamas đã làm cả hướng đi của đời ông đảo ngược. Những câu chuyện ấy cho thấy Kitô giáo không bắt đầu từ việc con người cố gắng trở thành tốt hơn để xứng đáng với Chúa. Kitô giáo bắt đầu từ việc Thiên Chúa bước vào cuộc đời con người, gọi tên họ, chạm đến họ, đánh thức họ, rồi từ cuộc gặp gỡ ấy, một cuộc đời mới bắt đầu. Không ai vui vì mình hoàn hảo. Ta vui vì được yêu ngay cả khi chưa hoàn hảo. Không ai vui vì quá khứ của mình sạch không tì vết. Ta vui vì biết quá khứ ấy đã được đặt trong lòng thương xót. Không ai vui vì mình không còn yếu đuối. Ta vui vì ngay trong yếu đuối, Chúa vẫn có thể làm nên điều tốt lành. Và đó là một thứ tự do sâu xa: tôi không còn phải gồng mình chứng minh rằng tôi đáng được yêu, vì tôi đã được yêu rồi.
Có một hình ảnh rất đẹp trong Tin Mừng: Đức Giêsu thường đi ngang qua đời người khác và chỉ một cuộc gặp gỡ với Người cũng đủ làm mọi sự thay đổi. Ông Giakêu leo lên cây chỉ để nhìn Chúa từ xa, nhưng cuối cùng Chúa lại ngước lên gọi tên ông và nói: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.” Giakêu không nhận được một bài giảng dài về tham nhũng trước khi thay đổi. Ông được đón nhận trước, rồi chính việc được đón nhận làm ông đổi khác. Người phụ nữ Samari đi kín đáo ra giếng giữa trưa, có lẽ vì không muốn gặp ai, nhưng sau cuộc đối thoại với Đức Giêsu, bà bỏ vò nước lại và chạy vào thành nói với mọi người về Người mình vừa gặp. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bước vào giữa một vòng tròn của những ánh mắt kết án; bà tưởng mình sắp chết dưới những viên đá, nhưng cuối cùng lại nghe một lời mở ra tương lai: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Người trộm lành trên thập giá không còn thời gian để sửa lại đời mình, không còn thời gian để làm những việc lớn lao, chỉ còn đủ thời gian quay đầu về phía Đức Giêsu và nói một câu: “Khi vào Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và câu trả lời của Chúa là: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Hãy nhìn những cuộc gặp gỡ ấy. Trong mỗi trường hợp, niềm vui bắt đầu ở chỗ con người nhận ra rằng mình không vô hình trước mặt Thiên Chúa. Chúa thấy họ. Chúa biết họ. Chúa gọi tên họ. Chúa bước vào câu chuyện riêng của họ. Có lẽ đây chính là điều rất nhiều người thời nay đang khát mà không biết gọi tên: được ai đó thực sự nhìn thấy. Chúng ta sống trong một thế giới mà ai cũng muốn được nhìn thấy, nên người ta đăng hình, đăng trạng thái, kể về mình, đếm lượt thích, đếm lượt theo dõi, chờ phản hồi, chờ người khác xác nhận giá trị của mình. Sâu dưới rất nhiều hành vi ấy là một lời cầu xin âm thầm: “Xin hãy nhìn tôi. Xin hãy cho tôi biết rằng tôi có ý nghĩa. Xin đừng để tôi biến mất.” Nhưng ánh mắt con người không bao giờ đủ. Hôm nay họ khen ta, ngày mai họ có thể quên. Hôm nay họ nâng ta lên, ngày mai chính họ có thể kéo ta xuống. Nếu giá trị của ta tùy thuộc hoàn toàn vào việc người khác nhìn mình thế nào, ta sẽ sống trong một sự bất an khủng khiếp. Nhưng khi gặp Chúa, ta bắt đầu nhận ra có một ánh mắt khác. Một ánh mắt không thay đổi theo thành tích. Một ánh mắt không biến mất khi ta già đi. Một ánh mắt không bớt yêu khi ta thất bại. Một ánh mắt thấy ta lúc không ai thấy, biết ta lúc không ai hiểu, ở với ta lúc người khác đã đi. Chỉ cần một lần thật sự để ánh mắt ấy chạm vào lòng mình, con người đã có thể bắt đầu được chữa lành. Có thể các vấn đề bên ngoài chưa thay đổi, nhưng bên trong đã có một điểm tựa. Ta không còn hoàn toàn lệ thuộc vào việc thế giới nghĩ gì về mình. Ta dần học được cách sống từ tình yêu mình đã nhận, thay vì sống để xin tình yêu từ mọi người.
Thế nhưng điều đáng buồn là con người có thể đứng rất gần nguồn nước mà vẫn chết khát. Có thể ở trong Giáo Hội mà lòng vẫn khô. Có thể nghe Lời Chúa mỗi ngày nhưng để Lời ấy lướt qua mình. Có thể rước lễ rất nhiều lần nhưng không còn ngạc nhiên trước việc Thiên Chúa đến với mình. Có thể quen với những điều thánh đến mức mất khả năng rung động. Đây có lẽ là một trong những bi kịch âm thầm nhất của đời sống thiêng liêng: sự quen thuộc làm tê liệt trái tim. Lúc mới biết Chúa, một lời Tin Mừng cũng đủ làm ta xúc động. Lúc mới vào dòng, một giờ chầu cũng có thể trở thành một cuộc gặp gỡ sâu xa. Ngày mới chịu chức, bàn tay run khi cầm Mình Thánh. Ngày mới lập gia đình, một bữa cơm đơn sơ cũng đầy niềm vui. Ngày đứa con đầu tiên chào đời, chỉ một tiếng khóc cũng làm cha mẹ rơi nước mắt. Nhưng năm tháng đi qua, cái lạ trở thành quen, điều quý trở thành bình thường, và những gì từng làm ta biết ơn dần bị coi là đương nhiên. Khi đó, niềm vui mất đi không phải vì ân sủng ít đi, mà vì khả năng đón nhận của ta giảm xuống. Thiên Chúa vẫn ban, nhưng ta không còn biết ngạc nhiên. Người vẫn đến, nhưng ta tiếp Người như một thói quen. Người vẫn nói, nhưng ta nghe như người đã biết hết rồi. Và khi trái tim không còn ngạc nhiên, nó rất dễ rơi vào sự tự mãn. Ta bắt đầu nghĩ mình biết Chúa. Ta nghĩ mình hiểu đức tin. Ta nghĩ mình đã trưởng thành đủ. Ta nghĩ mình không cần phải trở lại những điều căn bản. Nhưng chính lúc ấy, có khi ta ở xa Chúa hơn lúc mình còn là một người mới bắt đầu. Người mới bắt đầu biết mình nghèo nên còn mở tay. Người tự mãn tưởng mình đã đầy nên không còn chỗ để nhận. Vì thế, nguy hiểm lớn nhất của đời sống thiêng liêng đôi khi không phải là một cú ngã ồn ào mà là sự nguội lạnh rất từ từ. Nó không làm ta bỏ lễ ngay. Nó chỉ làm ta đi lễ mà không còn gặp Chúa. Nó không làm ta bỏ cầu nguyện ngay. Nó chỉ làm cầu nguyện trở thành việc phải làm cho xong. Nó không làm ta bỏ phục vụ. Nó chỉ làm việc phục vụ trở thành nơi tìm mình thay vì tìm Chúa. Nó không làm ta công khai phản bội. Nó chỉ khiến lòng ta dần dần thuộc về những thứ khác. Và bởi vì không có biến cố nào quá nghiêm trọng, ta cứ tưởng mọi sự vẫn ổn. Nhưng thật ra niềm vui đang chết dần. Một trái tim nguội lạnh thường rất khó nhận ra mình đang nguội lạnh, bởi nó vẫn tiếp tục hoạt động. Nó vẫn nói, vẫn làm, vẫn xuất hiện, vẫn cười. Chỉ có điều bên trong không còn sự sống. Đó là lý do chúng ta cần thường xuyên trở lại với câu hỏi: hôm nay tôi có còn thật sự muốn gặp Chúa không? Không phải tôi có muốn làm việc cho Người, nhưng tôi có muốn ở với Người không? Không phải tôi có muốn nói về Người, nhưng tôi có muốn nghe Người nói với tôi không? Không phải tôi có muốn người khác thấy tôi đạo đức, nhưng tôi có còn khao khát ánh mắt Người trong nơi kín đáo không? Nếu câu trả lời bắt đầu mờ đi, đó không phải là lúc hoảng sợ. Đó là lúc trở về.
Thế giới hôm nay nói rất nhiều về hạnh phúc nhưng lại có quá nhiều người buồn. Chúng ta có nhiều phương tiện để kết nối hơn bao giờ hết, nhưng không chắc đã gần nhau hơn. Chúng ta có nhiều cách giải trí hơn, nhưng không chắc đã bình an hơn. Chúng ta có nhiều tiện nghi hơn, nhưng cũng có rất nhiều tâm hồn kiệt sức. Con người hiện đại có thể thức dậy và ngay lập tức biết chuyện đang xảy ra ở bên kia thế giới, nhưng lại không biết điều gì đang xảy ra trong chính lòng mình. Chúng ta có thể nói chuyện với hàng chục người trong một ngày mà vẫn không có một cuộc trò chuyện thật. Ta có thể xem hàng trăm hình ảnh đẹp mà không còn biết ngắm một hoàng hôn. Có thể nghe hàng ngàn bài hát mà không chịu được vài phút thinh lặng. Có thể tiêu thụ vô số nội dung nhưng lòng vẫn đói. Có thể mua nhiều thứ để tự thưởng cho mình, nhưng niềm vui chỉ kéo dài một thời gian rất ngắn rồi lại cần một thứ mới. Chính cơ chế ấy dễ biến con người thành kẻ chạy không ngừng. Ta không biết mình đang chạy đi đâu, chỉ biết không được dừng lại, vì nếu dừng lại có thể sẽ phải đối diện với khoảng trống bên trong. Và đó là một trong những nỗi buồn lớn nhất của thời đại: nỗi buồn của người có nhiều thứ nhưng không có chính mình; nỗi buồn của người được rất nhiều người nhìn thấy nhưng không biết mình là ai; nỗi buồn của người bận rộn từ sáng đến tối nhưng không biết vì sao mình thức dậy mỗi ngày. Đối với một tâm hồn như thế, Tin Mừng không đưa thêm một thứ để sở hữu. Tin Mừng đưa đến một cuộc gặp gỡ. Đức Giêsu không nói: “Hãy đến với Thầy, Thầy sẽ cho anh em thêm thật nhiều việc.” Người nói: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Điều con người cần không phải lúc nào cũng là thêm một giải pháp. Có những lúc điều ta cần nhất là một nơi để đặt gánh xuống. Và Đức Kitô chính là nơi ấy. Không phải Người luôn cất gánh đi ngay, nhưng Người làm cho ta không còn phải mang một mình. Không phải Người luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng Người thay đổi cách ta ở trong hoàn cảnh. Không phải Người trả lời mọi câu hỏi theo kiểu ta muốn, nhưng sự hiện diện của Người làm cho nhiều câu hỏi không còn đủ sức nghiền nát ta. Đây là điều rất khó giải thích cho người chưa trải qua. Cũng giống như khó giải thích cho một người chưa từng yêu biết tình yêu là gì. Ta có thể định nghĩa, có thể mô tả, có thể nói rất hay, nhưng chỉ khi bước vào một tương quan, người ta mới hiểu. Đức tin cũng vậy. Kitô giáo sẽ luôn nặng nề nếu chỉ là một hệ thống bổn phận. Nhưng khi là một cuộc gặp với một Người, mọi sự đổi khác. Thánh lễ không còn là “phải đi” mà là được đến. Cầu nguyện không còn là “phải đọc” mà là được ở. Giới răn không còn chỉ là một hàng rào cấm đoán mà là con đường bảo vệ một tình yêu. Hy sinh không còn chỉ là mất mát mà là cách tình yêu lớn lên. Sám hối không còn là sự tự hành hạ bản thân mà là trở về nhà. Tòa giải tội không còn là phòng xử mà là nơi người con hoang đàng nghe tiếng Cha nói: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu.” Khi không có cuộc gặp, mọi điều trong đạo dễ trở thành gánh. Khi có cuộc gặp, ngay cả thập giá cũng mang một ý nghĩa khác.
Chính ở đây ta hiểu tại sao chứng tá đầu tiên của người Kitô hữu không phải là nói thật nhiều về Chúa, nhưng là để Chúa làm cho mình sống. Một người có thể nói rất đúng mà vẫn không hấp dẫn ai đến với Tin Mừng nếu khuôn mặt họ luôn toát ra sự cay đắng, phán xét, nặng nề và mệt mỏi. Người ta không chỉ nghe lời chúng ta. Người ta đọc cả cách chúng ta sống. Họ nhìn cách ta đối xử với người yếu hơn mình, cách ta phản ứng khi bị xúc phạm, cách ta nói về người vắng mặt, cách ta sống trong gia đình, cách ta đối diện với thất bại, cách ta dùng tiền, cách ta cư xử với người không thể đem lại lợi ích cho ta. Và từ tất cả những điều ấy, họ tự hỏi: đức tin của người này có làm họ sống hơn không? Có làm họ tự do hơn không? Có làm họ nhân hậu hơn không? Có làm họ biết tha thứ hơn không? Có làm họ bớt ám ảnh về mình không? Có cho họ một niềm vui mà hoàn cảnh không dễ lấy mất không? Nếu câu trả lời là không, thì những bài giảng hay đến đâu cũng có thể trở nên nhạt. Có một kiểu Kitô hữu sống đạo như thể đang gánh một bản án. Họ làm mọi sự đúng nhưng không vui. Họ giữ luật nhưng không có lòng thương xót. Họ cầu nguyện nhưng luôn cau có. Họ nói về Thiên Chúa nhưng người bên cạnh lại cảm thấy sợ hãi hơn là được yêu. Họ bảo vệ chân lý nhưng làm người khác bị thương. Họ phục vụ nhiều nhưng lúc nào cũng mang tâm trạng mình đang bị người khác lợi dụng. Họ hy sinh nhưng liên tục nhắc người khác nhớ những gì mình đã hy sinh. Một đời sống như thế rất dễ làm người ngoài đạo hiểu sai về Thiên Chúa. Họ có thể nghĩ: nếu tin Chúa mà trở thành khô cứng như vậy thì tôi không cần. Nếu sống đạo mà lúc nào cũng nặng nề như vậy thì tôi không muốn. Và đó là một lời cảnh tỉnh rất lớn. Không phải chúng ta cần diễn ra vẻ vui vẻ để thu hút người khác. Sự giả tạo còn nguy hiểm hơn. Nhưng chúng ta cần để Chúa chữa những nguồn cay đắng bên trong mình. Chúng ta cần để Tin Mừng đi sâu đủ để không chỉ thay đổi những điều ta nói mà thay đổi khí hậu của tâm hồn. Người có Chúa không nhất thiết phải nói lớn. Nhiều khi chỉ cần ở gần họ, người khác cảm thấy dễ thở hơn. Chỉ cần nói chuyện với họ, người khác thấy mình không bị xét đoán. Chỉ cần nhìn vào cách họ chịu đựng một biến cố, người khác tự hỏi: “Điều gì giữ họ đứng được?” Đó là chứng tá. Chứng tá không nhất thiết là làm những điều phi thường. Đôi khi chứng tá là một người vẫn tử tế sau khi bị đối xử tệ. Là một người vẫn giữ bình an khi mọi chuyện không theo ý mình. Là một người có quyền nhưng không làm người khác sợ. Là một người thành công nhưng không coi thường ai. Là một người đau khổ nhưng không biến nỗi đau thành lý do làm người khác đau. Là một người biết xin lỗi. Là một người biết cười với trẻ nhỏ. Là một linh mục còn khả năng ngồi nghe một giáo dân già kể đi kể lại một câu chuyện. Là một tu sĩ không dùng đời sống thánh hiến để tạo khoảng cách nhưng để đến gần hơn. Là một người cha trở về sau ngày làm việc mệt vẫn biết đặt điện thoại xuống để nghe con nói. Là một người mẹ giữa bao lo toan vẫn biết làm dấu thánh giá trên trán con trước khi ngủ. Những điều ấy nhỏ, nhưng nơi đó Tin Mừng có da có thịt.
Người đã thực sự gặp Chúa thường không cần cố chứng minh mình đã gặp Chúa. Có một ánh sáng rất khó giả trong mắt họ. Ánh sáng ấy không phải sự phấn khích. Nó có thể đi cùng những nếp nhăn, những vết thương, những năm tháng đã nếm đủ gian nan. Có những người rất ít nói nhưng chỉ cần nhìn họ ta cảm thấy bình an. Có những cụ già đã mất gần hết những gì thế gian coi là quan trọng, sức khỏe giảm, người thân lần lượt ra đi, nhưng khi họ làm dấu thánh giá, ta biết niềm tin ấy đã đi qua lửa. Có những linh mục già đôi chân đã chậm, giọng nói đã yếu, bài giảng không còn hùng hồn, nhưng khi các ngài nâng chén thánh, cả đời các ngài như hiện diện trong cử chỉ ấy. Có những nữ tu âm thầm sống hàng chục năm ở một nơi chẳng ai biết, chăm người bệnh, dạy trẻ em, nấu bếp, giặt quần áo, cầu nguyện, và khuôn mặt họ có một nét hiền mà không trường lớp nào đào tạo được. Có những giáo dân đơn sơ không biết nói những lời thần học cao siêu, nhưng khi biến cố xảy đến, họ chỉ nói: “Thôi thì mình phó thác cho Chúa,” và câu ấy không phải là khẩu hiệu. Nó là kết tinh của cả một đời đã từng được Chúa đỡ nâng. Chính những con người như thế làm ta hiểu rằng niềm vui Kitô giáo không nhất thiết ồn ào. Nó có thể rất lặng. Nhưng nó có sức nặng. Nó làm người khác muốn đến gần. Nó không nói: “Hãy nhìn tôi.” Nó làm người ta tự hỏi: “Đấng mà người này tin là ai?” Đó là chứng tá đẹp nhất.
Nhưng để có được niềm vui như thế, con người phải chấp nhận một cuộc hoán cải sâu: từ việc lấy mình làm trung tâm sang để Chúa làm trung tâm. Một trong những nguyên nhân khiến ta mất niềm vui là vì ta đặt quá nhiều điều kiện cho niềm vui của mình. Ta nói: tôi sẽ vui nếu người kia thay đổi; tôi sẽ vui nếu bệnh này khỏi; tôi sẽ vui nếu con tôi thành công; tôi sẽ vui nếu cộng đoàn công nhận tôi; tôi sẽ vui nếu bề trên hiểu tôi; tôi sẽ vui nếu người khác đối xử công bằng với tôi; tôi sẽ vui nếu kế hoạch này thành công; tôi sẽ vui nếu tôi có điều kia. Và rồi cuộc đời trở thành một chuỗi “nếu”. Ta trao chìa khóa bình an của mình vào tay hoàn cảnh và người khác. Chỉ cần họ không làm theo ý ta, niềm vui biến mất. Chỉ cần một lời chê, cả ngày ta tối lại. Chỉ cần một người không biết ơn, ta cảm thấy mọi hy sinh vô nghĩa. Chỉ cần một kế hoạch thất bại, ta nghi ngờ cả ơn gọi. Khi ấy ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng thật ra ta chỉ vui khi Chúa làm đúng điều mình muốn. Cuộc gặp với Chúa đích thực sẽ dần dần thanh luyện điều ấy. Ta bắt đầu nhận ra Chúa không phải phương tiện giúp ta đạt đời sống mình đã vẽ sẵn. Người là chính cùng đích. Có Chúa không có nghĩa là mọi điều khác sẽ vào đúng vị trí ta muốn, nhưng là ngay cả khi nhiều điều không đúng ý, ta vẫn còn một nền tảng không bị lấy mất. Đây là con đường rất dài. Không ai học được trong một ngày. Chính các môn đệ đã phải học. Họ đi theo Chúa nhưng vẫn muốn ai lớn nhất. Họ chứng kiến phép lạ nhưng vẫn sợ hãi. Họ tuyên xưng Người là Đấng Kitô nhưng lại không chấp nhận con đường thập giá. Họ yêu Người nhưng lúc nguy hiểm vẫn bỏ chạy. Chỉ sau Phục Sinh, sau nhiều lần ngã, sau khi được tha thứ, sau khi lãnh nhận Thánh Thần, họ mới bắt đầu sống một niềm vui không còn dựa trên việc mọi sự dễ dàng. Sách Công vụ kể họ bị đánh đòn mà vẫn vui mừng vì được chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu. Điều gì đã xảy ra? Hoàn cảnh tệ hơn, nhưng niềm vui sâu hơn. Bên ngoài mất tự do, bên trong lại tự do hơn. Đó là điều không thể giải thích nếu chỉ dùng tâm lý học. Nó là hoa trái của một cuộc gặp gỡ đã đi đến tận căn tính: họ biết mình thuộc về ai.
Có lẽ mỗi chúng ta cần trở lại với những cuộc gặp đầu tiên của đời mình với Chúa. Không nhất thiết đó là một biến cố lớn. Có thể là một lần rất trẻ, quỳ trong nhà thờ và bỗng cảm thấy Chúa gần. Có thể là một mùa tĩnh tâm khi một câu Lời Chúa đụng đúng vết thương. Có thể là sau một lần phạm tội nặng, bước ra khỏi tòa giải tội và lần đầu hiểu thế nào là được tha thứ. Có thể là một đêm đau bệnh, khi mọi người đã ngủ và ta chỉ còn biết nắm chuỗi Mân Côi. Có thể là trong tang lễ một người thân, khi giữa tất cả mất mát bỗng có một sự bình an khó hiểu. Có thể là lần đầu tiên nghe tiếng gọi ơn gọi. Có thể là ngày chịu chức. Có thể là ngày thành hôn. Có thể là lúc ôm đứa con đầu tiên. Có thể chỉ là một khoảnh khắc hết sức bình thường: ánh nắng xuyên qua cửa kính nhà thờ, một câu thánh ca, tiếng chuông, mùi nhang, một sự thinh lặng, rồi lòng mình chợt mềm đi. Chúa đi vào đời chúng ta theo nhiều cách. Điều quan trọng không phải trải nghiệm ấy có ngoạn mục không, mà là ta có để nó tiếp tục sinh hoa trái không. Có nhiều người từng gặp Chúa nhưng rồi để cuộc sống phủ bụi lên ký ức ấy. Và khi mệt mỏi, có khi điều cần không phải là tìm một kinh nghiệm hoàn toàn mới, mà là trở về với nơi tình yêu đã bắt đầu. Chúa nói với Hội Thánh Êphêsô trong sách Khải Huyền: “Ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu.” Câu ấy cũng có thể dành cho mỗi người. Không phải họ mất hết đức tin. Họ vẫn làm nhiều việc. Nhưng lửa ban đầu không còn. Và Chúa mời họ nhớ lại. Có một sức mạnh rất lớn trong việc nhớ. Nhớ không phải để sống với quá khứ, nhưng để thấy bàn tay Chúa đã dẫn mình thế nào. Khi một linh mục mệt mỏi, hãy nhớ ngày mình nằm phủ phục trên nền nhà thờ và nghe cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Khi một tu sĩ chán nản, hãy nhớ ngày mình dám thưa lời khấn với đôi bàn tay run. Khi một đôi vợ chồng đi qua giai đoạn lạnh nhạt, hãy nhớ vì sao ngày trước đã chọn nhau. Khi một người mẹ kiệt sức vì con, hãy nhớ buổi đầu tiên bế con trong tay. Khi một Kitô hữu nguội lạnh, hãy nhớ những lần mình đã được Chúa cứu khỏi những ngõ cụt tưởng như không thể thoát. Ký ức về ân sủng là một cách nuôi niềm vui.
Dẫu vậy, chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào một sự thật khác: có những lúc niềm vui biến mất vì chúng ta đã để tâm hồn bị lấp đầy bởi quá nhiều thứ nhỏ bé. Không phải lúc nào điều làm ta xa Chúa cũng là một tội lớn. Nhiều khi là hàng ngàn điều vụn vặt. Một chút tự ái. Một chút hơn thua. Một chút ghen tị. Một chút ham được công nhận. Một chút cay cú vì không được nhắc tên. Một chút buồn vì người khác được khen. Một chút khó chịu vì không được hỏi ý. Một chút tham muốn. Một chút dính bén. Một chút tò mò vô ích. Một chút lệ thuộc vào điện thoại. Một chút nghiện tiếng khen. Một chút thích kiểm soát. Từng thứ rất nhỏ, nhưng tích tụ lại có thể làm trái tim nặng đến mức không còn bay lên được. Ta vẫn cầu nguyện, nhưng trong đầu chỉ nghĩ ai đã làm mình buồn. Ta vẫn dự lễ, nhưng lòng đầy so sánh. Ta vẫn rước Chúa, nhưng ngay sau đó lại tiếp tục nuôi một mối hận. Ta vẫn đọc kinh, nhưng không chịu buông một ý riêng. Và ta hỏi tại sao mình không vui. Nhiều khi câu trả lời đơn giản là vì trong lòng không còn chỗ. Niềm vui không thể lớn trong một trái tim chật kín cái tôi. Chúa không thiếu khả năng ban, nhưng ta không mở tay. Bàn tay đang nắm chặt sẽ không thể nhận gì. Hoán cải vì thế không chỉ là bỏ một hành vi xấu; hoán cải là mở tay. Là bớt chiếm hữu. Là bớt đòi đời phải theo ý mình. Là thôi nhai đi nhai lại một tổn thương. Là chấp nhận người khác không hoàn hảo. Là cho phép mình không được hiểu hết. Là dám để một số điều đi qua mà không cần thắng. Là nói: “Lạy Chúa, chuyện này con trao lại cho Chúa.” Mỗi lần thật sự buông được một điều, lòng ta rộng thêm một chút. Và niềm vui có chỗ để quay về.
Niềm vui đến từ cuộc gặp gỡ cũng có nghĩa là niềm vui không thể tách khỏi cầu nguyện. Không có cuộc gặp nào bền nếu không có thời gian dành cho nhau. Trong đời sống con người, tình yêu nào cũng cần sự hiện diện. Một người chồng nói rằng yêu vợ nhưng không bao giờ có thời gian cho vợ, tình yêu ấy sẽ khô. Một người cha nói thương con nhưng luôn nhìn vào điện thoại khi con nói, khoảng cách sẽ lớn. Với Chúa cũng vậy. Ta không thể nói Chúa là trung tâm mà Người chỉ nhận được phần thời gian dư. Ta không thể sống niềm vui của Đức Kitô nếu mỗi ngày không có một khoảng nào để thật sự ở với Người. Cầu nguyện không nhất thiết luôn có cảm xúc. Có những giờ cầu nguyện rất khô. Có những ngày đọc một đoạn Lời Chúa mà không thấy gì. Có những lần ngồi trước Thánh Thể, đầu óc đi lang thang khắp nơi. Nhưng lòng trung thành trong những thời điểm ấy rất quý. Bởi cuộc gặp không chỉ được đo bằng cảm giác, mà bằng sự hiện diện. Có những cặp vợ chồng già ngồi bên nhau rất lâu mà không cần nói nhiều; sự hiện diện đã là ngôn ngữ. Cũng vậy, nhiều khi ngồi trước Chúa và nói: “Lạy Chúa, hôm nay con không biết nói gì, nhưng con ở đây,” đã là một lời cầu nguyện rất thật. Chính trong sự ở lại ấy, Chúa dần làm công việc của Người. Có thể ta không cảm nhận ngay. Nhưng giống như đất âm thầm nhận mưa, trái tim dần mềm. Những góc cạnh bớt sắc. Những cay đắng bớt độc. Ta bắt đầu nhìn người khác khác đi. Ta dễ xin lỗi hơn. Ta ít cần phải thắng hơn. Ta dễ xúc động trước nỗi đau hơn. Đó là dấu hiệu cuộc gặp với Chúa đang sinh hoa trái. Đừng chỉ hỏi sau giờ cầu nguyện tôi cảm thấy gì. Hãy hỏi: tôi đang trở thành người thế nào? Nếu cầu nguyện thật, ta sẽ dần giống Đấng mình gặp.
Và rồi một điều rất đẹp xảy ra: người đã gặp Chúa sẽ bắt đầu gặp con người khác theo một cách mới. Niềm vui Kitô giáo không khép ta vào một thế giới riêng tư giữa “tôi và Chúa”. Gặp Đức Kitô luôn đẩy ta về phía anh em. Maria Mađalêna gặp Chúa Phục Sinh rồi chạy đi báo tin. Hai môn đệ Emmau nhận ra Chúa rồi lập tức quay về Giêrusalem. Người phụ nữ Samari gặp Chúa rồi vào thành. Giakêu gặp Chúa rồi nghĩ đến những người mình đã làm thiệt hại. Một cuộc gặp thật với Chúa luôn làm trái tim rộng ra. Nếu đời sống đạo của ta khiến ta ngày càng khép kín, ngày càng nghi ngờ, ngày càng khắt khe, ngày càng khó chịu với người khác, có lẽ cần xem lại ta đang gặp ai trong cầu nguyện. Bởi Đức Kitô thật luôn đưa ta đến gần những người bé nhỏ. Người làm ta nhận ra mỗi người đều đang mang một câu chuyện. Người giúp ta bớt vội phán xét. Người dạy ta nhìn sau một thái độ khó chịu là một vết thương; sau một người nóng nảy có thể là một đời thiếu được yêu; sau một thanh niên bất cần có thể là một đứa trẻ từng bị bỏ rơi; sau một người hay khoe khoang có thể là một tâm hồn rất bất an; sau một người quá im lặng có thể là một nỗi buồn không biết kể với ai. Người đã được Chúa nhìn bằng lòng thương xót sẽ dần biết nhìn người khác bằng lòng thương xót. Và chính lòng thương xót ấy sinh ra niềm vui. Có một niềm vui rất đặc biệt khi ta không còn sống chỉ cho mình. Có một sự nhẹ nhàng khi ta thôi ám ảnh về việc mình được gì. Người càng cho đi vì yêu càng khám phá rằng lòng mình không nghèo đi mà rộng hơn. Đây là nghịch lý của Tin Mừng: ai giữ mạng sống mình thì mất, ai dám mất vì Chúa và vì anh em thì lại tìm thấy. Thế gian nói hạnh phúc là tích lũy; Chúa Giêsu nói hạnh phúc có khi là trao đi. Thế gian nói vui khi được phục vụ; Đức Giêsu cúi xuống rửa chân. Thế gian nói muốn lớn phải đi lên; Đức Giêsu đi xuống. Và lạ thay, chính con đường đi xuống ấy lại là con đường dẫn đến niềm vui sâu nhất, bởi đó là con đường của tình yêu.
Vì vậy, khi nói về chứng tá niềm vui Tin Mừng, chúng ta không thể bắt đầu bằng kỹ thuật truyền giáo. Phải bắt đầu bằng đời sống. Trước khi hỏi phải nói gì với thế giới, hãy hỏi trái tim mình đang sống thế nào. Trước khi tổ chức thêm chương trình, hãy hỏi cộng đoàn mình có còn vui khi ở với nhau không. Trước khi nói với người trẻ rằng Chúa yêu họ, hãy hỏi họ có cảm nhận được tình yêu ấy khi bước vào cộng đoàn của ta không. Trước khi mời gọi ơn gọi, hãy hỏi đời sống của những người đã dâng hiến có đủ đẹp để một người trẻ nhìn vào và nghĩ: “Tôi cũng muốn sống như thế.” Không ai bị hấp dẫn bởi một lời mời bước vào sự nặng nề. Một linh mục có thể nói rất hay về ơn gọi, nhưng nếu lúc nào cũng than mệt, cay đắng về cộng đoàn, bực bội với giáo dân, chán nản về sứ vụ, thì người trẻ sẽ nghe không phải lời giảng mà nghe chính đời sống ấy. Một gia đình có thể nói với con cái về đức tin, nhưng nếu mỗi bữa cơm đầy căng thẳng, cha mẹ xúc phạm nhau, cầu nguyện chỉ là bổn phận, thì đứa trẻ sẽ vô thức liên kết đạo với sự nặng nề. Một cộng đoàn tu trì có thể nói về tình huynh đệ, nhưng nếu trong nhà đầy phe nhóm, đố kỵ và những vết thương không được chữa lành, người mới bước vào sẽ cảm nhận rất nhanh. Vì thế truyền giáo bắt đầu từ việc để Tin Mừng thật sự trở thành Tin Mừng trong chính nhà mình. Tin Mừng phải là “tin vui” trước hết cho người sống cạnh ta. Nếu người ở gần ta không cảm nhận được một chút bình an nào từ đời sống của ta, rất khó để người ở xa tin lời ta nói.
Nhưng điều này không có nghĩa chúng ta phải trở thành những con người hoàn hảo rồi mới làm chứng. Nếu phải chờ hoàn hảo, sẽ không ai có thể làm chứng. Chứng tá Kitô giáo không phải chứng tá của người không bao giờ yếu đuối, mà là chứng tá của người biết mình yếu nhưng biết đường quay về. Có khi điều chạm đến người khác không phải việc ta không bao giờ sai, mà là cách ta nhận lỗi khi sai. Không phải việc gia đình ta không có xung đột, mà là cách ta hòa giải. Không phải việc linh mục không bao giờ mệt, mà là cách ngài trở về với Chúa trong mệt mỏi. Không phải việc người tín hữu không bao giờ khóc, mà là việc trong nước mắt họ vẫn không buông tay Chúa. Một niềm vui thật luôn có dấu vết của thập giá. Nó không bóng bẩy. Nó có những vết nứt. Nhưng ánh sáng thường đi qua chính những vết nứt ấy. Người ta dễ tin một người nói: “Tôi cũng đã từng ngã, nhưng Chúa đã đỡ tôi,” hơn là một người đứng cao và chỉ nói: “Bạn đừng ngã.” Người ta dễ đến gần một Giáo Hội biết cúi xuống hơn một Giáo Hội chỉ biết giơ ngón tay. Người ta dễ mở lòng trước một Kitô hữu biết khóc với họ hơn một người lập tức đưa ra lời khuyên. Chúa Giêsu không cứu chúng ta từ trên cao. Người đã trở nên xác phàm. Người đi vào bụi đất. Người biết mệt. Người biết đói. Người biết bị hiểu lầm. Người biết bị phản bội. Người biết khóc. Và chính vì Người đã đi vào tận cùng thân phận con người, niềm vui Người ban không phải một lời an ủi xa xôi. Đó là niềm vui của Đấng đã đi qua cái chết và biết cái chết không thắng được tình yêu.
Đây là nền tảng sâu nhất của niềm vui Kitô giáo: Đức Kitô đã sống lại. Nếu không có Phục Sinh, mọi điều chúng ta nói về niềm vui chỉ là tự an ủi. Nhưng bởi mồ đã trống, nên bóng tối không có tiếng nói cuối. Bởi Đức Kitô đã sống lại, nên tội lỗi không phải định mệnh. Bởi Đức Kitô đã sống lại, nên cái chết không phải bức tường mà là cánh cửa. Bởi Đức Kitô đã sống lại, nên mọi hy sinh vì tình yêu không bao giờ vô ích. Bởi Đức Kitô đã sống lại, nên có những hạt lúa phải mục đi nhưng không phải để mất, mà để sinh nhiều bông hạt. Người Kitô hữu có thể nhìn thẳng vào sự chết không phải vì họ coi thường sự sống, nhưng vì họ biết sự sống mạnh hơn sự chết. Có lẽ đây là điều thế giới cần thấy nơi chúng ta nhất: một niềm hy vọng không ngây thơ. Không phải thứ hy vọng nhắm mắt trước thực tế, mà là hy vọng đã nhìn vào thập giá và vẫn tin vào bình minh. Người Kitô hữu không nói: “Không sao đâu,” khi thật sự có sao. Họ không phủ nhận đau khổ. Họ không dùng những câu đạo đức để che cảm xúc. Họ có thể nói: “Chuyện này đau lắm. Tôi chưa hiểu. Tôi đang rất buồn.” Nhưng rồi họ thêm: “Tuy vậy, tôi vẫn tin Chúa ở đây.” Hai chữ “tuy vậy” ấy chính là nơi niềm tin sống. Abraham không thấy lời hứa thành toàn ngay, tuy vậy ông vẫn đi. Đức Maria không hiểu lời sứ thần đến đâu, tuy vậy Mẹ thưa xin vâng. Gió bão vẫn có, tuy vậy Chúa đang ở trong thuyền. Lazarô đã chết, tuy vậy Đức Giêsu nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống.” Thập giá đứng đó, tuy vậy sáng ngày thứ nhất trong tuần ngôi mộ đã trống. Cả đời người Kitô hữu sống trong chữ “tuy vậy”: tôi yếu, tuy vậy Chúa mạnh; tôi tội lỗi, tuy vậy lòng thương xót lớn hơn; tôi cô đơn, tuy vậy Chúa không bỏ tôi; tôi chưa thấy đường, tuy vậy Chúa biết; tôi đang mất mát, tuy vậy không gì có thể tách tôi khỏi tình yêu của Người. Từ chữ “tuy vậy” ấy mọc lên một niềm vui mà thế gian không hiểu.
Và cũng chính ở đây chúng ta phải cảnh giác với những thứ thay thế giả cho niềm vui. Có những thú vui không xấu, nhưng nếu ta dùng chúng để tránh gặp chính mình, chúng sẽ trở thành thuốc gây mê. Có những thành công tốt, nhưng nếu ta dùng thành công để chứng minh giá trị bản thân, nó sẽ biến thành nhà tù. Có những mối quan hệ đẹp, nhưng nếu ta đòi một con người phải lấp đầy khoảng trống chỉ Thiên Chúa mới lấp được, ta sẽ làm họ ngạt thở. Có những hoạt động tôn giáo tốt, nhưng nếu dùng chúng để chạy trốn đời sống nội tâm, chúng cũng có thể thành một thứ nghiện. Ta có thể nghiện làm việc cho Chúa để không phải ở một mình với Chúa. Ta có thể nghiện việc được cần đến. Nhiều người không chịu được khi không ai cần mình, vì khi đó họ không biết mình là ai. Họ cảm thấy chỉ có giá trị khi đang hữu ích. Nhưng Chúa yêu ta trước khi ta hữu ích. Người yêu ta cả khi ta bệnh. Người yêu ta khi tuổi già đến và sức lực giảm. Người yêu ta khi không còn đứng trên bục, không còn giữ chức vụ, không còn ai vỗ tay. Đây là sự tự do cực lớn. Nếu niềm vui đặt trên sứ vụ, khi sứ vụ thay đổi ta sẽ sụp. Nếu niềm vui đặt trên chức vụ, khi hết chức ta sẽ trống. Nếu niềm vui đặt trên lời khen, khi người ta ngừng khen ta sẽ cay. Chỉ khi niềm vui đặt trên cuộc gặp với Đức Kitô, ta mới có thể đi qua những chuyển đổi của đời mà không đánh mất chính mình. Một ngày nào đó, mọi chức vụ đều phải trao lại. Mọi sân khấu sẽ có người khác đứng. Mọi tên tuổi sẽ nhạt dần. Mọi thân xác sẽ yếu. Những người từng cần ta có thể không cần nữa. Khi ấy, điều còn lại là câu hỏi: nếu tôi không còn làm được gì cho Chúa, tôi có vẫn biết mình được Chúa yêu không? Đây là một câu hỏi rất sâu. Người nào trả lời được sẽ có một sự bình an đặc biệt.
Niềm vui của cuộc gặp gỡ cũng đòi ta phải học sống trong hiện tại. Rất nhiều nỗi buồn không đến từ điều đang xảy ra, mà từ việc lòng ta ở mãi trong quá khứ hoặc chạy quá xa vào tương lai. Ta nhai lại một câu người ta nói nhiều năm trước. Ta dựng lại một biến cố cũ. Ta tự hỏi nếu ngày ấy mình chọn khác thì sao. Ta tưởng tượng hàng chục điều tồi tệ có thể xảy ra ngày mai. Và giữa những điều đã qua với những điều chưa tới, ta đánh mất ngày hôm nay, nơi duy nhất Chúa đang thật sự gặp ta. Thiên Chúa tự giới thiệu là “Đấng Hằng Hữu”, Đấng đang là. Ân sủng luôn đến trong hiện tại. Ta không thể rước lễ hôm qua, cũng không thể cầu nguyện ngày mai. Ta chỉ có thể mở lòng bây giờ. Người sống trong cuộc gặp với Chúa sẽ dần học được nghệ thuật của “hôm nay”. Hôm nay đủ ơn cho hôm nay. Hôm nay tôi làm điều tốt mà tôi có thể. Hôm nay tôi tha thứ một chút. Hôm nay tôi cầu nguyện. Hôm nay tôi gọi cho người mình đã lâu không hỏi thăm. Hôm nay tôi xin lỗi. Hôm nay tôi cám ơn. Hôm nay tôi ngồi lại với con. Hôm nay tôi dừng điện thoại để nghe một người. Hôm nay tôi đặt một gánh nặng vào tay Chúa. Chính những cái “hôm nay” rất nhỏ ấy làm nên một đời vui. Ta thường chờ một biến cố lớn để thay đổi, nhưng Thiên Chúa lại đến trong những điều nhỏ. Bethlehem nhỏ. Nazareth nhỏ. Một chút bánh và cá nhỏ. Hạt cải nhỏ. Men nhỏ. Một đồng xu bà góa nhỏ. Một ly nước lã nhỏ. Tin Mừng đầy những điều nhỏ mà Thiên Chúa dùng để làm việc lớn. Niềm vui cũng vậy. Đừng chờ một cảm xúc vĩ đại. Hãy biết vui vì sáng nay còn thức dậy. Vui vì có một người để cầu nguyện cho. Vui vì vẫn còn khả năng làm lại. Vui vì một bữa cơm. Vui vì tiếng chuông nhà thờ. Vui vì có thể bước vào nhà Chúa. Vui vì sau bao nhiêu lần mình xa, Chúa vẫn không khóa cửa. Người biết nhận ra ân huệ nhỏ sẽ khó bị thế gian cướp hết niềm vui, bởi niềm vui của họ không phụ thuộc vào những điều hiếm hoi.
Biết ơn vì thế là một cánh cửa lớn của niềm vui. Một trái tim vô ơn sẽ luôn thấy thiếu. Dù nhận bao nhiêu, nó vẫn nhìn thứ chưa có. Một trái tim biết ơn có thể nghèo mà vẫn thấy mình giàu. Không phải vì nó lãng mạn hóa khó khăn, nhưng vì nó có khả năng nhận ra ân sủng trong thực tại. Có người chỉ khi mất sức khỏe mới biết một ngày bình thường từng là hồng ân. Chỉ khi người thân qua đời mới nhớ những bữa cơm từng rất quý. Chỉ khi mất tự do mới hiểu được việc tự mình bước ra ngoài là một quà tặng. Tại sao phải chờ mất rồi mới biết quý? Cuộc gặp với Chúa dạy ta nhận ra mọi sự là quà. Hơi thở là quà. Đức tin là quà. Ơn gọi là quà. Người bên cạnh là quà, dù nhiều khi họ cũng là thập giá. Một cơ hội để phục vụ là quà. Một ngày còn có thể xin lỗi là quà. Một ngày còn có thể nói “con thương mẹ”, “anh yêu em”, “con cám ơn cha”, “tôi tha thứ cho anh” là quà. Ngày mai không thuộc quyền ta. Khi hiểu điều đó, ta bớt hoang phí hiện tại. Và kỳ lạ thay, niềm vui thường không đến khi ta có thêm, mà khi ta nhận ra mình đang có nhiều hơn mình tưởng.
Cuối cùng, niềm vui Kitô giáo không phải là một thành tựu để chúng ta tự hào. Nó luôn là ân ban. Người có niềm vui thật không nhìn người buồn với thái độ trách móc. Ta không được nói với người đang đau: “Anh phải vui lên vì có Chúa.” Câu ấy có thể trở thành một gánh nặng. Có những vết thương cần thời gian. Có những người đang ở trong đêm tối mà việc cần nhất không phải là bảo họ cười, mà là ngồi với họ. Chúa Giêsu đã không đứng ngoài mộ Lazarô và nói với hai chị em rằng đừng khóc. Người khóc với họ. Đây cũng là cách ta làm chứng cho niềm vui: không phải lúc nào cũng bằng nụ cười, mà bằng sự hiện diện không bỏ đi. Có khi ta trở thành dấu chỉ niềm vui của Chúa cho người khác chỉ bằng việc ở lại bên họ đủ lâu. Không giải thích. Không sửa chữa. Không biến nỗi đau của họ thành một bài giảng. Chỉ ở đó. Cũng như Chúa đã ở với ta. Bởi niềm vui sâu nhất không phải là cười một mình. Niềm vui sâu nhất là biết mình không một mình.
Và có lẽ sau tất cả những gì đã nói, ta trở về lại một điều rất nhỏ: niềm vui bắt đầu từ ánh mắt. Ánh mắt của Đức Kitô nhìn Phêrô sau khi ông chối Thầy. Ánh mắt nhìn Giakêu trên cây. Ánh mắt nhìn người thanh niên giàu có và “đem lòng yêu mến”. Ánh mắt nhìn đám đông bơ vơ như chiên không người chăn. Ánh mắt nhìn người đàn bà còng lưng suốt mười tám năm. Ánh mắt nhìn bà góa bỏ hai đồng tiền nhỏ. Ánh mắt nhìn những kẻ đóng đinh mình và nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu một ngày nào đó ta hiểu rằng ánh mắt ấy cũng đang nhìn mình, mọi thứ sẽ bắt đầu thay đổi. Không phải tất cả cùng một lúc. Nhưng từ từ. Ta sẽ bớt sợ. Ta sẽ bớt phải chứng minh. Ta sẽ bớt cần được tất cả mọi người thích. Ta sẽ bớt chạy. Ta sẽ có thể đối diện với những phần xấu xí của mình mà không tuyệt vọng. Ta sẽ có can đảm thú nhận mình cần được cứu. Và chính nơi đó, một niềm vui bắt đầu sinh ra. Niềm vui của người con biết mình có Cha. Niềm vui của con chiên biết mình được tìm. Niềm vui của người tội lỗi biết cửa nhà vẫn mở. Niềm vui của kẻ mỏi mệt tìm được nơi tựa đầu. Niềm vui của người đã tưởng mình hết đường nhưng bỗng thấy trước mặt một con đường mới. Niềm vui ấy không phải do ta tạo ra. Nó đến từ cuộc gặp gỡ. Nó đến khi Đức Kitô bước vào căn phòng đã khóa kín trong lòng ta và nói: “Bình an cho anh em.” Nó đến khi Người gọi tên ta. Nó đến khi Người bẻ bánh. Nó đến khi ta chạm vào những dấu đinh và nhận ra Đấng đứng trước mặt mình chính là Đấng đã chịu chết mà nay đang sống. Nó đến khi ta hiểu rằng không một lỗi lầm nào của ta lớn hơn lòng thương xót của Người, không một đêm tối nào dài hơn ngày Phục Sinh, không một sa mạc nào có thể ngăn Thiên Chúa làm bật lên nguồn nước.
Vì thế, nếu hôm nay ai đó hỏi: “Tôi phải làm gì để có niềm vui?”, có lẽ câu trả lời đầu tiên không phải là hãy cố vui. Cũng không phải hãy nghĩ tích cực hơn. Hãy gặp Chúa. Hãy trở về với Người. Hãy thôi trốn. Hãy nói thật. Hãy để Người bước vào chỗ đau nhất. Hãy mở cuốn Tin Mừng ra không phải để tìm một ý tưởng hay, nhưng để tìm một khuôn mặt. Hãy quỳ xuống trước Thánh Thể không phải để hoàn thành một việc đạo đức, nhưng để được nhìn. Hãy bước vào tòa giải tội không phải như người bị triệu tập ra trước tòa, nhưng như người con đang quay về. Hãy gọi Người bằng chính những gì thật nhất trong lòng: “Lạy Chúa, con đang mệt. Con đang buồn. Con đang giận. Con đang ghen. Con đang sợ. Con đang trống rỗng. Con không biết phải làm gì. Nhưng con đến đây.” Không cần lời đẹp. Thiên Chúa không bị chinh phục bởi những câu chữ trau chuốt. Người chỉ cần cánh cửa mở. Và có khi chỉ một khe rất nhỏ thôi, ánh sáng đã đủ đi vào.
Rồi từ cuộc gặp ấy, hãy để Chúa làm phần của Người. Đừng đòi tất cả phải thay đổi ngay. Có những chữa lành cần thời gian. Có những xiềng xích được tháo từng mắt. Có những vùng đất trong lòng đã khô quá lâu nên phải nhận nhiều cơn mưa mới mềm. Nhưng đừng nghi ngờ công việc của ân sủng chỉ vì chưa thấy kết quả lớn. Một mầm cây không phát tiếng động khi nảy. Bình minh cũng không ồn ào khi đến. Ân sủng thường làm việc lặng lẽ. Một ngày ta chợt nhận ra mình không còn giận dữ như trước. Một câu từng làm ta đau giờ không còn quyền lực ấy. Ta bỗng có thể cầu nguyện cho người từng làm mình tổn thương. Ta thấy mình dễ cảm thông hơn. Ta bớt xét đoán. Ta bớt cần người khác công nhận. Ta có thể ở một mình mà không thấy cô độc. Ta có thể im lặng mà không thấy trống. Đó là lúc niềm vui đang lớn. Không phải niềm vui của tiếng cười nhất thời, mà là niềm vui của một tâm hồn đang được đặt lại đúng chỗ.
Và khi niềm vui ấy lớn lên, đừng giữ nó cho mình. Hãy để nó đi ra bằng cách sống. Không cần lúc nào cũng nói về Chúa. Hãy để cách ta sống khiến người ta nhớ đến Chúa. Hãy để ai đó sau khi gặp ta cảm thấy mình có giá trị hơn, không phải nhỏ bé hơn. Hãy để người yếu cảm thấy an toàn. Hãy để người lầm lỗi cảm thấy vẫn còn con đường quay về. Hãy để người đang tuyệt vọng cảm thấy ngày mai vẫn đáng sống. Hãy để con trẻ nhìn đức tin và thấy đó là một ngôi nhà có ánh sáng. Hãy để người già nhìn Giáo Hội và cảm thấy mình không bị bỏ quên. Hãy để người nghèo biết họ không phải gánh nặng. Hãy để người có quá khứ phức tạp biết Chúa vẫn gọi tên họ. Hãy để một lời nói, một ánh mắt, một sự kiên nhẫn, một bàn tay, một sự hiện diện của ta trở thành khe cửa để người khác thấy một chút khuôn mặt Đức Kitô. Đó là truyền giáo. Không phải trước hết là thuyết phục, mà là làm cho người khác khát nguồn nước đã làm ta sống.
Có thể chúng ta sẽ không bao giờ biết hết một niềm vui nhỏ mình trao đã đi xa đến đâu. Một nụ cười thật lòng có thể cứu một người khỏi một buổi chiều rất tối. Một cuộc điện thoại có thể ngăn ai đó nghĩ rằng mình đã bị quên. Một lời “tôi hiểu” có thể làm một trái tim bớt cô đơn. Một lần không trả đũa có thể chặn lại cả một chuỗi hận thù. Một lời xin lỗi có thể cứu một gia đình. Một lần ngồi nghe có thể làm một người không bỏ cuộc. Một linh mục dành thêm mười phút cho một người đang khóc có thể trở thành ký ức cứu họ nhiều năm sau. Một người mẹ âm thầm cầu nguyện cho con có thể gieo một hạt mà phải rất lâu mới nảy. Đừng coi thường những điều nhỏ. Chúa đã bắt đầu cứu thế giới bằng một Hài Nhi trong máng cỏ.
Niềm vui Tin Mừng là như thế. Nó không từ ta mà có, nên ta không cần căng thẳng giữ nó bằng sức mình. Chỉ cần ở gần nguồn. Một nhánh nho không phải cố tạo nhựa sống. Nó chỉ cần ở lại trong cây nho. Đức Giêsu đã nói: “Hãy ở lại trong Thầy.” Có lẽ đây là bí quyết cuối cùng và cũng là bí quyết đầu tiên. Ở lại. Khi vui, ở lại. Khi buồn, ở lại. Khi thành công, ở lại. Khi thất bại, ở lại. Khi hiểu, ở lại. Khi không hiểu gì, vẫn ở lại. Khi thấy mình thánh thiện, đừng tự mãn, hãy ở lại. Khi thấy mình tội lỗi, đừng trốn, hãy ở lại. Khi đời đầy ánh sáng, ở lại. Khi đêm tối kéo dài, vẫn ở lại. Bởi nhánh nho không chết vì mùa đông; nó chết khi lìa cây. Người Kitô hữu cũng vậy. Điều đáng sợ nhất không phải là có những ngày buồn, mà là trong những ngày buồn ta rời khỏi nguồn. Không phải là ta yếu, mà là ta nghĩ mình có thể sống không cần Chúa. Không phải là ta té, mà là sau khi té ta không chịu đưa tay.
Xin cho chúng ta đủ nghèo để biết mình cần Người. Đủ thật để không diễn. Đủ khiêm tốn để quay về. Đủ thinh lặng để nghe tiếng Người. Đủ can đảm để cho Người đi vào những căn phòng ta đã khóa lâu năm. Và đủ kiên nhẫn để chờ ân sủng làm việc. Rồi một ngày, có thể rất âm thầm, chúng ta sẽ nhận ra điều Đức Giêsu hứa đã trở thành sự thật: “Niềm vui của Thầy ở trong anh em.” Không phải bên cạnh. Không phải thỉnh thoảng ghé qua. Ở trong. Một nguồn nước ở trong. Một sự sống ở trong. Một bình an ở trong. Và từ nơi sâu thẳm ấy, dù cuộc đời bên ngoài vẫn có nắng có mưa, có gặp gỡ có chia ly, có tiếng cười có nước mắt, có thành công có thất bại, lòng ta vẫn biết một điều: tôi đã gặp Đấng mà không gì có thể lấy khỏi tôi.
Đó là khởi đầu của mọi chứng tá.
Không phải chúng ta cố tỏ ra vui để người khác tin.
Nhưng vì đã được gặp Người, chúng ta không thể sống như thể chưa từng được gặp.
Và có khi, chỉ cần như thế thôi, giữa một thế giới đang mang quá nhiều nỗi buồn giấu kín, một người Kitô hữu bình an cũng đã là một lời loan báo Tin Mừng rất lớn.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 2
ĐỪNG ĐỂ KHUÔN MẶT CHÚNG TA NHƯ NGƯỜI VỪA TỪ ĐÁM TANG VỀ
Có một câu của Đức Phanxicô mà tôi đọc rồi cứ nhớ mãi, nhớ không phải vì câu chữ cầu kỳ, cũng chẳng phải vì đó là một nhận định mới lạ gì cho lắm, nhưng bởi nó đụng đúng vào một căn bệnh rất âm thầm của đời sống Kitô hữu hôm nay: “Người loan báo Tin Mừng không bao giờ được mang khuôn mặt của người vừa từ đám tang trở về.” Đọc câu ấy, tôi thấy vừa buồn cười mà cũng vừa chạnh lòng. Buồn cười vì hình ảnh quá thật. Chạnh lòng vì có khi người mang khuôn mặt ấy lại chính là tôi, là anh chị em mình, là những người vẫn ngày ngày đọc kinh, đi lễ, phục vụ, làm mục vụ, giảng dạy, nói về Chúa, nói về Tin Mừng, nói về niềm hy vọng, nhưng nét mặt thì lúc nào cũng nặng như mang cả thế giới trên vai. Có những người bước vào nhà thờ rất nghiêm trang, bước ra cũng nghiêm trang; đi họp đạo đức cũng nghiêm trang; đứng trước cộng đoàn càng nghiêm trang hơn nữa, đến độ người ta có cảm giác theo Chúa là một chuyện gì thật nặng nề, dường như càng gần Chúa thì càng phải bớt cười, càng đạo đức thì càng phải cau mày, càng thánh thiện thì càng phải lạnh lùng. Và rồi, rất vô tình, chúng ta biến Tin Mừng vốn có nghĩa là “Tin Vui” thành một thứ tin làm người khác sợ. Người ngoài nhìn vào đời sống chúng ta mà không thấy điều gì đáng ao ước. Họ thấy bổn phận, thấy cấm đoán, thấy luật lệ, thấy những khuôn mặt căng thẳng, thấy những lời trách móc, thấy những cuộc hơn thua rất đạo đức, nhưng lại ít thấy cái gì đó khiến họ thốt lên: “Ước gì tôi cũng có được sự bình an như người này; ước gì tôi cũng gặp được một Thiên Chúa làm cho con người ta sống nhẹ nhàng và yêu thương đến thế.” Đó mới là điều đáng sợ. Không phải sợ vì chúng ta buồn, bởi ai mà chẳng có lúc buồn. Không phải sợ vì chúng ta khóc, bởi chính Chúa Giêsu đã khóc. Điều đáng sợ là chúng ta có thể nói về một Đức Kitô phục sinh mà lại sống như thể Người vẫn còn nằm trong mồ; có thể hát Alleluia thật lớn mà tâm hồn lại chẳng có chút ánh sáng Phục Sinh nào; có thể rao giảng về niềm hy vọng trong khi chính cách sống của mình lại làm cho người khác mất hy vọng.
Câu nói của Đức Phanxicô, vì thế, không phải là một lời đùa vui về khuôn mặt. Đó là một lời cảnh tỉnh về đức tin. Khuôn mặt chỉ là phần nổi. Điều nằm phía sau khuôn mặt mới là điều quan trọng. Một tâm hồn gặp Chúa thật sự rồi thì sớm muộn gì cũng sẽ để lộ ra nơi ánh mắt, nơi cách nói, nơi cách đối xử, nơi sự bình tĩnh trước nghịch cảnh, nơi khả năng mỉm cười ngay cả khi đời không chiều mình. Còn nếu năm này qua năm khác chúng ta vẫn sống trong cay đắng, vẫn thích than thở, vẫn nhìn mọi người bằng ánh mắt nghi ngờ, vẫn dễ nổi nóng, dễ kết án, dễ bi quan, dễ làm cho bầu khí chung trở nên nặng nề, thì có lẽ phải tự hỏi lại: tôi đã thực sự để cho Tin Mừng chạm vào đời mình chưa? Tôi đã thực sự tin rằng Chúa sống lại chưa, hay chuyện Phục Sinh chỉ còn là một tín điều tôi đọc trong Kinh Tin Kính? Tôi tin bằng môi miệng hay tôi tin bằng cả cuộc đời? Bởi vì Phục Sinh không chỉ là một biến cố để tưởng niệm mỗi năm một lần. Phục Sinh phải trở thành một cách sống. Người tin vào Phục Sinh không phải là người không gặp thất bại, nhưng là người không để thất bại có tiếng nói cuối cùng. Người tin vào Phục Sinh không phải là người không bao giờ rơi nước mắt, nhưng là người biết rằng nước mắt hôm nay không phải là kết luận của cuộc đời. Người tin vào Phục Sinh không phải là người lúc nào cũng cười nói vui vẻ như thể chẳng có chuyện gì, nhưng là người dù đau vẫn không tuyệt vọng, dù ngã vẫn muốn đứng lên, dù bị tổn thương vẫn còn muốn yêu, dù bị phụ bạc vẫn không để trái tim mình trở thành đá.
Chúng ta phải phân biệt cho rõ niềm vui Kitô giáo với một thứ vui vẻ dễ dãi. Đức tin không bắt chúng ta phải diễn. Giáo Hội cũng không bảo người đang đau phải cười cho đẹp. Có những mất mát mà phải khóc. Có những vết thương mà phải mất nhiều năm mới lành. Có những ngày người ta chỉ đủ sức ngồi yên trước mặt Chúa mà chẳng nói được một lời. Có những tang tóc không thể bước qua bằng vài câu đạo đức. Khi Lazarô chết, Chúa Giêsu đã khóc. Người không đứng trước mộ bạn mình rồi bảo mọi người: “Đừng khóc nữa, phải vui lên, phải có đức tin.” Không. Người khóc với họ. Một Thiên Chúa biết khóc là một Thiên Chúa rất gần con người. Các thánh cũng khóc. Đức Maria đã đứng dưới chân thập giá, trái tim như bị lưỡi gươm đâm thấu. Các Tông đồ đã từng sợ hãi, thất vọng, bỏ trốn. Những người yêu Chúa sâu xa nhất vẫn có những đêm tối của tâm hồn. Bởi vậy, nói về niềm vui không có nghĩa là phủ nhận nỗi buồn, càng không có nghĩa là đòi người khác phải che giấu nỗi đau của họ. Có khi một giọt nước mắt trước mặt Chúa thật hơn cả một tràng cười ngoài môi. Có khi chính lúc chúng ta dám khóc thật, dám đau thật, dám nhìn nhận sự bất lực của mình, niềm vui sâu xa mới bắt đầu có chỗ để nảy mầm. Niềm vui Kitô giáo không đi vòng qua thập giá. Nó đi xuyên qua thập giá. Nó không xóa đêm tối, nhưng thắp một ngọn đèn trong đêm tối. Nó không nói rằng đau khổ không đau, nhưng nói rằng đau khổ không thể chiến thắng tình yêu. Nó không bảo cái chết là chuyện nhỏ, nhưng tuyên xưng rằng cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng.
Có lẽ đây là điều chúng ta cần học lại trong một thế giới quá thích những niềm vui tức thời. Người ta vui khi mua được món mình thích, khi được khen, khi được chú ý, khi có thêm một thành công, khi tài khoản tăng lên, khi hình ảnh của mình được nhiều người yêu thích. Những niềm vui ấy không phải là xấu, nhưng chúng rất mong manh. Chúng tùy thuộc vào hoàn cảnh. Hoàn cảnh đổi, niềm vui cũng đổi. Hôm nay được khen thì vui, ngày mai bị chê thì buồn. Hôm nay thành công thì thấy đời đáng sống, ngày mai thất bại thì thấy mình vô nghĩa. Hôm nay người ấy còn ở cạnh thì hạnh phúc, ngày mai người ấy quay lưng thì cả thế giới sụp đổ. Nếu niềm vui của chúng ta chỉ đứng trên những cái ấy, chẳng lạ gì đời sống cứ bị kéo lên kéo xuống như chiếc lá theo chiều gió. Tin Mừng trao cho chúng ta một niềm vui khác. Một niềm vui có gốc. Gốc ấy là biết mình được Thiên Chúa yêu. Không phải được yêu vì mình hoàn hảo. Không phải được yêu vì mình làm được nhiều chuyện lớn lao. Không phải được yêu vì mình đạo đức hơn người. Được yêu chỉ vì mình là con của Người. Khi điều đó đi từ đầu xuống tim, con người sẽ thay đổi. Ta không còn sống để van xin người khác công nhận mình. Ta không cần thắng mọi cuộc tranh luận. Ta không cần ai cũng phải hiểu mình. Ta không hoảng loạn khi bị quên lãng. Ta không suy sụp chỉ vì một người không trân trọng mình. Bởi có một ánh mắt khác vẫn nhìn ta. Có một tình yêu khác vẫn giữ ta. Có một bàn tay khác vẫn không buông ta.
Đó là lý do vì sao niềm vui sâu xa nhất không đến từ việc cuộc đời luôn thuận lợi, nhưng từ kinh nghiệm được Chúa ở cùng. Có Chúa ở cùng không có nghĩa là sóng yên biển lặng. Các môn đệ có Chúa trên thuyền mà vẫn gặp bão. Có Chúa ở cùng không có nghĩa là khỏi bệnh. Thánh Phaolô đã cầu xin nhiều lần để cái dằm trong thân xác được lấy đi mà Chúa vẫn không lấy. Có Chúa ở cùng không có nghĩa là không bị hiểu lầm, không bị phản bội, không bị mất mát. Chính Chúa Giêsu đã trải qua tất cả những điều ấy. Nhưng có Chúa nghĩa là tôi không còn phải đi qua chúng một mình. Có Chúa nghĩa là giữa bão vẫn còn một Đấng có thể nói với lòng tôi: “Thầy đây, đừng sợ.” Có Chúa nghĩa là khi mọi cửa đóng lại, vẫn còn một cánh cửa không ai đóng được. Có Chúa nghĩa là ngay cả trong phần đời tôi tưởng như đã chết, Người vẫn có thể làm cho một mầm sống mới mọc lên. Đó chính là niềm vui Phục Sinh.
Thế nhưng niềm vui ấy không phải là thứ ta có một lần rồi giữ mãi. Nó cần được nuôi dưỡng. Một ngọn lửa không được thêm củi thì sẽ tắt. Một dòng suối không còn nguồn thì sẽ cạn. Một tình yêu không được chăm sóc thì sẽ nguội lạnh. Niềm vui của người Kitô hữu cũng vậy. Chúng ta có thể đã từng rất sốt sắng. Có thể từng có một thời cầu nguyện thấy ngọt ngào, đi lễ thấy hạnh phúc, làm việc mục vụ đầy nhiệt huyết, phục vụ chẳng biết mệt. Nhưng rồi năm tháng đi qua, những va chạm xảy đến, những thất vọng chồng lên nhau, những điều không như ý cứ xuất hiện, và nếu không trở lại nguồn, tâm hồn sẽ khô lúc nào chẳng hay. Người ta vẫn làm việc, nhưng không còn vui. Vẫn phục vụ, nhưng hay bực. Vẫn giữ bổn phận, nhưng thấy mọi thứ như gánh nặng. Vẫn nói về Chúa, nhưng bên trong chẳng còn rung động. Vẫn đứng trước cộng đoàn, nhưng chỉ mong cho xong. Đây là một nguy hiểm rất thật, nhất là với những người làm việc trong Giáo Hội lâu năm. Ta có thể quen với những điều thánh đến mức không còn thấy chúng thánh nữa. Ta có thể cầm Mình Thánh Chúa mỗi ngày mà trái tim nguội lạnh. Ta có thể giảng về Lời Chúa mỗi tuần mà bản thân không còn để Lời ấy đụng tới mình. Ta có thể phục vụ người nghèo mà trong lòng lại bắt đầu khinh người nghèo. Ta có thể nói về lòng thương xót mà trở nên cứng cỏi. Ta có thể nói về hiệp nhất mà lại đầy chia rẽ. Đó là lúc khuôn mặt “người vừa từ đám tang về” xuất hiện, không phải vì cuộc đời quá đau, nhưng vì đời thiêng liêng đã cạn nguồn.
Nguồn đầu tiên của niềm vui luôn là ở lại với Chúa. Không có con đường khác. Người Kitô hữu không thể sống bằng ký ức của một lần gặp Chúa năm xưa. Cũng giống như hôn nhân không thể sống mãi bằng kỷ niệm ngày cưới, đời sống đức tin không thể sống mãi bằng một cuộc tĩnh tâm thời thanh xuân, một ơn sốt sắng ngày khấn, một cảm xúc ngày chịu chức, một kinh nghiệm mạnh mẽ nào đó trong quá khứ. Mỗi ngày phải gặp lại Người. Mỗi ngày phải để Người nhìn mình. Mỗi ngày phải có một khoảng mà ta không làm gì cho Chúa, chỉ ở với Chúa. Đây là điều rất khó đối với người bận rộn. Ta dễ đồng hóa tình yêu với công việc. Ta nghĩ làm nhiều cho Chúa là đủ. Nhưng có khi chúng ta làm rất nhiều việc của Chúa mà lại không còn ở với Chúa nữa. Đó là bi kịch. Một linh mục có thể chạy từ Thánh lễ này sang cuộc họp khác, từ bệnh nhân này đến tang lễ kia, từ lớp giáo lý đến công việc xây dựng, hết ngày không còn phút nào để ngồi yên. Một tu sĩ có thể đầy lịch phục vụ. Một giáo dân có thể bận rộn với đủ sinh hoạt đoàn thể. Và rồi, từ từ, Chúa trở thành đề tài công việc thay vì trở thành Đấng mình yêu. Khi đó, niềm vui sẽ cạn rất nhanh.
Cầu nguyện không phải là một bổn phận phụ thêm cho đời sống. Cầu nguyện là nơi trái tim được thở. Một người không cầu nguyện lâu ngày giống như người chỉ thở ra mà không hít vào. Sớm muộn cũng kiệt sức. Trong cầu nguyện, ta không cần phải nói hay. Ta cũng không cần lúc nào cũng cảm thấy sốt sắng. Có những ngày ngồi trước Chúa mà tâm trí cứ chạy lung tung. Có những ngày mở Kinh Thánh mà đọc mãi chẳng thấy gì. Có những ngày lần chuỗi chỉ vì biết rằng mình cần bám vào một điều gì đó để khỏi rơi. Không sao. Trung thành quan trọng hơn cảm xúc. Ở lại quan trọng hơn cảm giác. Có khi ta ngồi trước Nhà Tạm mười lăm phút mà tưởng như chẳng được gì, nhưng chính mười lăm phút ấy giữ cho trái tim khỏi chai. Có khi một câu Lời Chúa nghe đi nghe lại nhiều năm bỗng đến một ngày trở thành chiếc phao cứu mình. Có khi Thánh lễ hôm ấy ta chẳng cảm thấy gì đặc biệt, nhưng Mình Máu Chúa âm thầm nuôi một sức sống mà ta không nhìn thấy. Thiên Chúa làm việc sâu hơn cảm giác của chúng ta rất nhiều.
Và nếu phải nói đến một nguồn niềm vui đặc biệt của đời Kitô hữu, tôi không thể không nói tới Thánh Thể. Có lẽ chúng ta đã quen quá nên quên mất điều kinh khủng tuyệt đẹp này: Thiên Chúa tự trở thành tấm bánh để ở lại với con người. Người không chỉ đứng xa mà bảo chúng ta phải cố gắng lên. Người trao chính mình. Một linh hồn biết trở về với Thánh Thể sẽ từ từ học được niềm vui của sự trao ban. Bởi mỗi Thánh lễ đều nói với chúng ta rằng hạnh phúc không nằm ở giữ lại mà ở trao đi; sự sống không lớn lên khi bo bo giữ lấy mà khi dám bẻ ra; tình yêu không phải là chiếm hữu nhưng là trở thành của ăn cho người khác. Ai sống Thánh Thể thật sự sẽ không thể mãi sống trong cái tôi khép kín. Mỗi lần nghe “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em”, ta cũng được mời gọi hỏi mình: phần nào trong đời tôi cần được “bẻ ra” hôm nay để người khác được sống? Có thể chỉ là một chút thời gian. Một lời hỏi thăm. Một sự nhịn nhường. Một việc làm âm thầm. Một cuộc điện thoại cho người đang cô độc. Một sự tha thứ mà ta đã trì hoãn quá lâu. Và rất lạ, chính khi cho đi, lòng ta lại nhẹ. Đó là nghịch lý của Tin Mừng.
Niềm vui cũng được nuôi bằng Lời Chúa. Chúng ta đang sống giữa quá nhiều tiếng nói. Mỗi ngày điện thoại đổ vào đầu ta hàng trăm câu chuyện: tin tức, tranh luận, scandal, quảng cáo, phán xét, giận dữ, so sánh. Nếu không cẩn thận, tâm hồn sẽ đầy tiếng người mà vắng tiếng Chúa. Và khi bên trong chứa quá nhiều tiếng ồn, khuôn mặt rất khó bình an. Người ta mệt không chỉ vì làm nhiều, mà vì nghe quá nhiều thứ không cần nghe. Có những sáng vừa mở mắt đã cầm điện thoại, chưa kịp thưa với Chúa một câu đã để thế giới nói vào mình. Rồi cả ngày sống bằng những thứ ấy. Tin buồn làm ta lo. Tin giật gân làm ta bực. Người khác thành công làm ta so sánh. Một lời bình luận làm ta tổn thương. Đến tối tâm hồn rã rời. Trong khi đó, Lời Chúa nằm yên trên kệ. Không lạ gì niềm vui cạn. Tâm hồn ăn thứ gì thì sẽ trở thành thứ ấy. Nếu mỗi ngày chỉ ăn lo âu, giận dữ, so sánh và thị phi, chẳng thể mong khuôn mặt mình tỏa bình an. Cần dành chỗ cho Lời Chúa. Không cần đọc thật nhiều. Có khi một câu thôi, nhưng mang theo suốt ngày. “Đừng sợ.” “Thầy ở cùng anh em.” “Ơn Ta đủ cho con.” “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” “Phúc thay ai xây dựng hòa bình.” Một câu Lời Chúa được giữ trong lòng có thể đổi cách ta bước qua cả một ngày khó khăn.
Nguồn thứ hai của niềm vui là cộng đoàn. Con người không được tạo dựng để sống một mình. Đức tin cũng không phải chuyện riêng giữa tôi với Chúa. Chúng ta được cứu trong một dân. Được gọi vào một gia đình. Và điều này vừa đẹp vừa khó. Đẹp vì có người cùng đi. Khó vì người cùng đi lại không phải lúc nào cũng giống ý ta. Cộng đoàn là nơi niềm vui có thể được nhân lên, nhưng cũng là nơi niềm vui dễ bị thử thách nhất. Không ít người bỏ sinh hoạt, bỏ phục vụ, thậm chí xa dần Giáo Hội không phải vì họ mất niềm tin vào Thiên Chúa, mà vì họ bị tổn thương bởi con người trong Giáo Hội. Một lời nói không đúng lúc. Một thái độ coi thường. Một cuộc tranh chấp quyền lợi. Một sự thiên vị. Một hiểu lầm không chịu giải thích. Một nhóm nhỏ chia phe. Một người thích kiểm soát. Một người hay nói xấu. Những thứ tưởng nhỏ ấy có thể làm bầu khí cộng đoàn ngột ngạt đến mức người ta bước vào mà thấy mệt hơn khi bước ra.
Nếu muốn sống chứng tá niềm vui, chúng ta phải rất nghiêm túc với cách mình làm cho người khác cảm thấy khi ở gần mình. Có người đi đâu là nơi đó nhẹ lên. Có người đi đâu là bầu khí nặng xuống. Có người chẳng cần nói gì nhiều nhưng sự hiện diện của họ làm người khác cảm thấy được đón nhận. Có người nói toàn lời đạo đức nhưng ai cũng phải dè chừng. Đừng vội hỏi mình đã làm bao nhiêu việc cho cộng đoàn. Hãy hỏi cộng đoàn có dễ thở hơn vì có mình không. Đừng chỉ hỏi mình có giữ luật không. Hãy hỏi người yếu đuối có dám đến gần mình không. Đừng chỉ hỏi mình có nói đúng không. Hãy hỏi cách mình nói có làm người khác được nâng lên hay bị nghiền xuống. Một người có thể rất đúng mà vẫn rất thiếu Tin Mừng. Bởi Tin Mừng không chỉ là chân lý. Tin Mừng là chân lý được trao trong tình yêu.
Một cộng đoàn vui không phải là cộng đoàn không có vấn đề. Trên đời làm gì có cộng đoàn như thế. Mười hai Tông đồ sống cạnh Chúa mà còn tranh nhau ai lớn hơn. Giáo Hội sơ khai đã có bất đồng. Các dòng tu, giáo xứ, gia đình Công giáo đều có những khác biệt. Niềm vui không đến từ việc mọi người giống nhau, mà từ việc dù khác nhau vẫn chọn yêu nhau. Một cộng đoàn trưởng thành là nơi người ta có thể bất đồng mà không biến nhau thành kẻ thù. Có thể góp ý mà không hạ nhục. Có thể sửa lỗi mà không kết án. Có thể đau vì nhau nhưng vẫn không bỏ nhau. Có thể nói “tôi sai” mà không thấy mất mặt. Có thể nói “xin lỗi” mà không đợi người kia xin lỗi trước. Có thể tha thứ dù ký ức chưa biến mất. Những điều ấy mới làm nên vẻ đẹp của Giáo Hội.
Tôi vẫn nghĩ một trong những điều làm Tin Mừng mất sức hấp dẫn nhất là khi người ta thấy những người nói về yêu thương lại không yêu nhau. Chúng ta có thể xây nhà thờ đẹp, tổ chức lễ rất lớn, làm truyền thông rất chuyên nghiệp, giảng rất hay, nhưng nếu cộng đoàn đầy chia rẽ thì tất cả những thứ kia mất đi rất nhiều sức mạnh. Chúa Giêsu không nói: người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy vì anh em tổ chức giỏi. Người nói: vì anh em yêu thương nhau. Tình yêu giữa chúng ta chính là bài giảng mà thế gian hiểu nhanh nhất. Một giáo xứ nơi người nghèo được tôn trọng, người già được quan tâm, trẻ em được lắng nghe, người lầm lỗi có cơ hội quay về, người khác biệt không bị loại trừ, đó đã là một bài Tin Mừng sống động. Một cộng đoàn tu trì nơi anh em có thể cười với nhau, chịu đựng nhau, chăm sóc nhau lúc bệnh, không tranh phần hơn, không nói xấu sau lưng, đó đã là một chứng tá. Một gia đình nơi cha mẹ biết xin lỗi con cái, con cái biết kính trọng cha mẹ, vợ chồng biết ngồi xuống nói chuyện thay vì chiến tranh lạnh, đó cũng là truyền giáo.
Niềm vui được nhân lên khi ta biết chia sẻ. Có những lúc mình không còn sức vui, nhưng cộng đoàn vui thay cho mình. Khi một người yếu, người khác đỡ. Khi một người mất hy vọng, người khác giữ hy vọng hộ. Đây là vẻ đẹp rất lớn của đức tin cộng đoàn. Có những ngày tôi không cầu nguyện được, nhưng Giáo Hội cầu nguyện cho tôi. Có những ngày tôi không tin nổi vào ngày mai, nhưng một người anh em tin thay tôi. Có những ngày tôi không còn hát được Alleluia, nhưng cả cộng đoàn hát quanh tôi cho tới khi lòng tôi có thể hát lại. Chính vì thế, đừng tự cô lập khi đau khổ. Bản năng của người bị thương là thu mình. Nhưng càng thu mình, vết thương càng dễ nói quá lớn. Hãy tìm một người có thể ngồi cạnh mình mà không phán xét. Hãy cho phép mình được giúp. Khiêm nhường không chỉ là biết cho đi. Khiêm nhường còn là biết nhận.
Nguồn thứ ba của niềm vui là ra đi. Đây là điều rất lạ: người ta thường nghĩ muốn vui thì phải lo cho mình trước, phải tìm sự thoải mái cho mình, phải làm những gì mình thích. Nhưng Tin Mừng lại chỉ một con đường gần như ngược hẳn: muốn có sự sống, hãy trao sự sống. Muốn tìm lại mình, hãy quên mình. Muốn niềm vui lớn lên, hãy chia sẻ niềm vui. Một đức tin chỉ lo giữ cho bản thân sớm muộn sẽ thành tù đọng. Nước không chảy thì hôi. Ánh sáng bị che thì vô ích. Muối không đi vào thức ăn thì chẳng có ý nghĩa gì. Tin Mừng cũng vậy. Niềm vui mà Chúa trao không phải là tài sản riêng. Nó mang bản chất truyền giáo. Nó thúc người ta đi ra.
Ra đi không nhất thiết phải đi thật xa. Đôi khi khoảng cách xa nhất là từ căn phòng của mình sang căn phòng của người đang buồn. Từ chiếc điện thoại đang cầm xuống để nhìn vào mắt người trước mặt. Từ cái tôi bị tổn thương đến một lời làm hòa. Từ sự tiện nghi của mình đến bên giường người bệnh. Từ sự phán xét đến lòng cảm thông. Có người đi truyền giáo hàng ngàn cây số nhưng trong cộng đoàn không thể chịu nổi người ở phòng bên. Có người nói rất hay về phục vụ người nghèo mà không tử tế với người làm chung. Ra đi trước tiên là ra khỏi mình. Ra khỏi nhu cầu luôn đúng. Ra khỏi thói quen muốn được chú ý. Ra khỏi nỗi sợ mất phần. Ra khỏi sự lười biếng của trái tim.
Tôi đã gặp những người rất nghèo mà họ có một thứ ánh sáng kỳ lạ. Nhà chẳng có gì. Bữa ăn đơn sơ. Bệnh tật còn đó. Tương lai chẳng chắc chắn. Nhưng họ vẫn có thể cười. Không phải nụ cười vô tư của người chưa biết đau, mà là nụ cười của người đã đi qua nhiều đau đớn và vẫn còn tin. Có cụ già bệnh nặng, thân thể gầy đi từng ngày, nhưng mỗi khi có ai đến thăm vẫn hỏi ngược lại: “Con khỏe không?” Có người mẹ rất nghèo, chắt chiu từng bữa, nhưng khi hàng xóm gặp nạn vẫn mang qua một phần gạo. Có người bệnh chẳng còn đi được, nhưng mỗi ngày cầu nguyện cho bao nhiêu người khác. Tôi nhìn họ và nhiều lần thấy xấu hổ. Bởi mình có nhiều hơn mà than nhiều hơn. Mình khỏe hơn mà bực bội hơn. Mình được học nhiều hơn mà lòng lại hẹp hơn. Có lẽ vì họ đã khám phá ra một điều: niềm vui không nhất thiết đến từ việc có nhiều, mà đến từ việc biết mình thuộc về ai và biết đời mình vẫn có thể trở nên món quà.
Ngược lại, tôi cũng gặp những người có gần như mọi thứ mà người khác mơ ước. Nhà đẹp, xe tốt, công việc ổn, danh tiếng có, tiền bạc không thiếu, đi đâu cũng được phục vụ. Nhưng ánh mắt họ mệt. Nói chuyện một lúc là thấy trong lòng có một khoảng trống rất sâu. Họ sợ mất. Sợ người khác hơn mình. Sợ già. Sợ bệnh. Sợ bị quên. Sợ không được trọng vọng. Có nhiều nhưng không yên. Và rồi tôi hiểu, sự khác biệt không chỉ nằm ở hoàn cảnh. Có những nỗi đau do nghèo đói thật, không thể lãng mạn hóa. Có những bất công phải được thay đổi. Có những bệnh tật cần chữa trị, những thiếu thốn cần được đáp ứng. Nhưng sau tất cả, con người vẫn còn một cơn đói mà vật chất không no được. Đó là cơn đói ý nghĩa. Cơn đói được yêu vô điều kiện. Cơn đói biết rằng đời mình không vô ích. Chỉ Thiên Chúa mới chạm đến tận đáy cơn đói ấy.
Vậy thì tại sao có lúc người đạo đức lại buồn hơn người không đạo? Có lẽ vì chúng ta giữ đạo nhưng chưa để Chúa giải thoát mình. Chúng ta vẫn mang theo hàng đống nỗi sợ. Sợ người khác nghĩ gì. Sợ mất vị trí. Sợ bị coi thường. Sợ phải thay đổi. Sợ tha thứ. Sợ sống thật. Có người sống đạo cả đời nhưng vẫn bị cái nhìn của thiên hạ điều khiển. Làm gì cũng nghĩ người ta sẽ nói sao. Được khen thì vui cả ngày, bị chê thì mất ngủ cả đêm. Làm việc tốt cũng mong được biết đến. Bị quên tên trong lời cảm ơn thì giận. Không được mời vào chỗ danh dự thì buồn. Thật khó có niềm vui khi đời mình lệ thuộc quá nhiều vào tiếng vỗ tay. Chúa Giêsu tự do hơn chúng ta rất nhiều. Người có thể được tung hô hôm nay và bị kết án ngày mai mà vẫn trung thành với điều Chúa Cha muốn. Người không sống để giữ hình ảnh. Người sống để yêu.
Niềm vui Kitô giáo, vì vậy, có liên hệ rất sâu với tự do nội tâm. Người càng tự do, càng dễ vui. Tự do không phải muốn làm gì thì làm. Tự do là không để những điều nhỏ kéo trái tim mình đi. Một lời chê không đủ làm ta đánh mất bình an. Một người không thích ta không đủ làm ta nghi ngờ giá trị của mình. Một thất bại không đủ định nghĩa cả đời ta. Một sai lầm quá khứ không đủ đóng cửa tương lai. Một mất mát không đủ khiến ta nghĩ Thiên Chúa bỏ mình. Người tự do biết mình là ai trước mặt Chúa, nên không cần người khác mỗi ngày xác nhận.
Có một loại “khuôn mặt đám tang” khác mà chúng ta ít để ý: khuôn mặt của người lúc nào cũng bất mãn. Cái gì cũng chê. Thời trước tốt hơn thời nay. Người xưa đạo đức hơn người nay. Giới trẻ hư. Gia đình hỏng. Xã hội xuống cấp. Giáo Hội chẳng còn như trước. Ai làm khác mình là sai. Dĩ nhiên có nhiều điều đáng lo thật. Không phải cứ vui là nhắm mắt trước vấn đề. Nhưng một người Kitô hữu chỉ nhìn thấy bóng tối thì có điều gì đó không ổn trong cách nhìn. Thánh Thần vẫn hoạt động. Hạt giống Nước Trời vẫn mọc. Có vô số người đang âm thầm sống tử tế mà chẳng ai lên báo. Có biết bao cha mẹ hy sinh cho con. Có biết bao người trẻ phục vụ người nghèo. Có biết bao linh mục, tu sĩ làm việc trong những nơi chẳng ai biết. Có biết bao giáo dân trung tín với Chúa giữa cuộc đời rất khó. Nếu ta chỉ nhìn scandal mà không nhìn ân sủng, ta sẽ tưởng Giáo Hội đang chết. Nếu chỉ nhìn cỏ lùng mà quên lúa, ta sẽ thành người bi quan. Đức tin không ngây thơ, nhưng đức tin biết nhìn sâu hơn sự dữ để nhận ra Thiên Chúa vẫn làm việc.
Người vui trong Chúa cũng là người biết biết ơn. Biết ơn là một con đường rất ngắn dẫn đến niềm vui. Người không biết ơn thì dù được bao nhiêu vẫn thấy thiếu. Người biết ơn thì ngay trong thiếu thốn vẫn nhận ra mình còn nhiều điều để sống. Chúng ta thường nhìn vào cái mình chưa có hơn là cái đang có. Đau vì người không thương mình mà quên những người vẫn ở bên. Buồn vì một cánh cửa đóng mà quên bao cánh cửa đang mở. Bực vì một điều không như ý mà bỏ qua cả ngày đầy ân huệ. Chỉ đến khi mất sức khỏe mới biết một ngày không đau là quà. Chỉ khi người thân qua đời mới biết một bữa cơm có đủ mọi người quý thế nào. Chỉ khi mất bình an mới hiểu những ngày bình thường từng là hạnh phúc. Có khi chúng ta đi qua phép lạ mỗi ngày mà chẳng nhận ra, chỉ vì phép lạ ấy lặp lại quá thường xuyên. Mặt trời mọc. Ta còn thở. Còn người gọi tên mình. Còn một mái nhà để về. Còn có thể cầu nguyện. Còn có cơ hội sửa sai. Còn được Chúa cho thêm một ngày. Những điều ấy không nhỏ.
Tập biết ơn không làm vấn đề biến mất, nhưng làm trái tim đổi chỗ đứng. Thay vì đứng trong thiếu thốn để nhìn mọi thứ, ta đứng trong ân huệ. Mỗi tối, thử hỏi mình ba điều hôm nay đáng cảm ơn. Ban đầu có thể khó. Sau một thời gian, mắt sẽ học lại cách nhìn. Ta sẽ thấy một ly nước mát cũng là quà. Một người nhường đường cũng là quà. Một cuộc gặp bất ngờ cũng là quà. Một lần kiềm được lời nóng giận cũng là quà. Một lỗi lầm được nhận ra cũng là quà. Thậm chí một thử thách làm mình trưởng thành, sau nhiều năm nhìn lại, cũng có thể trở thành quà. Người biết ơn không phải người có cuộc đời tốt hơn người khác. Họ chỉ có đôi mắt khác.
Niềm vui cũng cần sự hài hước lành mạnh. Điều này đôi khi bị xem nhẹ trong đời sống đạo. Có người tưởng nghiêm nghị mới là thánh. Nhưng một người biết cười chính mình thường dễ sống với người khác hơn rất nhiều. Biết cười chính mình là dấu hiệu ta không thần thánh hóa cái tôi. Mình sai thì nhận. Mình vụng thì cười. Mình có tật xấu thì sửa mà không tự hành hạ mình. Có những cộng đoàn thiếu niềm vui chỉ vì ai cũng quá quan trọng hóa bản thân. Một câu nói lỡ lời thành chuyện lớn. Một vị trí bị thay đổi thành vết thương danh dự. Một ý kiến không được nghe theo thành khủng hoảng. Nếu biết mình chỉ là một thụ tạo bé nhỏ được Chúa thương, nhiều chuyện sẽ nhẹ đi rất nhiều.
Tuy vậy, đừng biến niềm vui thành tiếng cười vô cảm. Có lúc cần vui với người vui, nhưng có lúc phải khóc với người khóc. Người vui trong Chúa không phải lúc nào cũng kể chuyện cười. Họ biết hiện diện đúng cách. Có người đang chịu tang, điều họ cần không phải là một bài giảng về Phục Sinh ngay lập tức, mà là một bàn tay nắm lấy tay họ. Có người đang mất việc, đừng nói quá nhanh “Chúa sẽ lo”, rồi bỏ đi. Có người đang bệnh, đừng bắt họ phải tỏ ra mạnh mẽ để mình dễ chịu. Niềm vui Kitô giáo luôn đi cùng lòng trắc ẩn. Chính vì có hy vọng nên ta dám bước vào nỗi đau của người khác mà không sợ bị chìm trong đó. Chúa Giêsu đã làm thế. Người đi vào nhà người chết. Chạm vào người phong cùi. Ngồi với người tội lỗi. Khóc bên mộ Lazarô. Nhưng ở đâu Người đi vào, ở đó sự sống bắt đầu cựa mình.
Đây cũng là cách người loan báo Tin Mừng tránh được “khuôn mặt đám tang”: đừng chỉ nói Tin Mừng bằng miệng, hãy để Tin Mừng đi qua cách mình hiện diện. Có những người chẳng nói câu nào về Chúa nhưng người khác gặp họ lại cảm được Chúa. Họ biết lắng nghe. Họ không làm người yếu phải xấu hổ. Họ không lợi dụng bí mật của người khác để kể. Họ không tranh thủ chứng minh mình đúng khi người kia đang đau. Họ có thể ngồi rất lâu với một người già nói đi nói lại một câu. Có thể kiên nhẫn với một đứa trẻ. Có thể phục vụ người không bao giờ cảm ơn. Có thể tử tế với người chẳng mang lại lợi ích gì cho mình. Đó là khuôn mặt của Tin Mừng.
Có lẽ chúng ta cần tự hỏi: nếu một người chưa biết Chúa gặp tôi trong một tuần, họ sẽ hình dung Thiên Chúa tôi tin là người thế nào? Nếu tôi hay cáu, họ có nghĩ Thiên Chúa rất khó chịu không? Nếu tôi thích kết án, họ có nghĩ Thiên Chúa chỉ chờ bắt lỗi không? Nếu tôi lạnh lùng, họ có nghĩ Thiên Chúa xa cách không? Nếu tôi vui tươi, hiền hòa, kiên nhẫn, có lẽ họ sẽ nghĩ: “Nếu đức tin làm một người trở nên như thế, có lẽ tôi muốn biết thêm.” Truyền giáo bắt đầu từ đó. Không phải trước tiên là thuyết phục ai bằng lý luận, mà là sống một đời khiến người ta tò mò về nguồn bình an của mình.
Thánh Phêrô đã nói tới việc sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng nơi chúng ta. Nhưng người ta chỉ chất vấn khi họ nhìn thấy niềm hy vọng trước đã. Nếu đời chúng ta chẳng khác gì mọi người trong cách lo âu, cạnh tranh, nóng giận, nói xấu, tham lam, thì ai hỏi? Nếu người Công giáo trong khu phố cũng gian dối như người khác, cũng ích kỷ như người khác, cũng nói lời độc địa như người khác, tấm bảng Công giáo chẳng có sức gì. Còn nếu giữa một môi trường ai cũng trả đũa mà có một người chọn tha thứ; giữa chỗ ai cũng giành phần mà có một người chịu nhường; giữa lúc ai cũng than mà có một người vẫn biết cảm ơn; giữa khi ai cũng bỏ người yếu mà có một người đứng lại, người ta sẽ hỏi. Và lúc ấy Tin Mừng có cửa đi vào.
Niềm vui truyền giáo còn có một đặc tính nữa: càng cho đi càng tăng. Một người cứ lo chăm sóc cảm xúc của mình thường lại càng dễ buồn. Nhưng khi bước ra phục vụ, rất nhiều nỗi buồn tự nhiên đổi tỷ lệ. Không phải biến mất, nhưng không còn chiếm cả bầu trời. Có những lần mình mệt mỏi, đi thăm một bệnh nhân còn mệt hơn mình, lại trở về với lòng nhẹ. Có những ngày thấy đời mình đầy vấn đề, nhưng khi ngồi nghe một người đang mất tất cả, tự nhiên thấy mình vẫn còn quá nhiều ân huệ. Phục vụ làm ta thoát khỏi cái nhà tù của việc chỉ nhìn vào mình. Và đó là một ơn lớn.
Tuy nhiên, cũng cần cẩn thận. Ra đi phục vụ không có nghĩa là chạy trốn nội tâm. Có người làm việc không ngừng chỉ vì sợ ngồi lại với nỗi trống rỗng bên trong. Càng buồn càng lao vào hoạt động. Càng khủng hoảng càng nhận thêm việc. Người ngoài nhìn tưởng nhiệt thành, nhưng thật ra đang kiệt quệ. Niềm vui bền vững cần một nhịp sống quân bình: ở lại và ra đi; cầu nguyện và phục vụ; thinh lặng và gặp gỡ; cho đi và biết nghỉ. Chúa Giêsu cũng rút vào nơi thanh vắng. Người không chữa hết mọi bệnh nhân trong toàn thế giới khi còn tại thế. Người biết lúc nào phải rời đám đông để cầu nguyện. Nếu chính Người còn sống nhịp ấy, chúng ta không thể tưởng mình mạnh hơn.
Một khuôn mặt vui không thể được tạo bằng mỹ phẩm. Nó phải đi từ một trái tim được nghỉ trong Chúa. Người mệt quá sẽ khó vui. Người bị vắt kiệt lâu ngày sẽ dễ cáu. Vì vậy, chăm sóc bản thân đúng nghĩa cũng là một bổn phận thiêng liêng. Ngủ đủ khi có thể. Biết nghỉ. Biết đi bộ. Biết ngắm trời. Biết ăn một bữa không vội. Biết gặp người bạn lành. Biết tắt điện thoại. Biết có những giờ không làm việc. Không phải ích kỷ. Một cây muốn cho bóng mát phải còn sống. Một chiếc bình muốn rót nước phải có nước. Đừng nhân danh phục vụ mà tự phá hủy mình rồi sau đó đổ sự cay đắng lên cộng đoàn.
Tôi nghĩ một trong những điều đẹp nhất nơi các thánh là họ không phải những người không có thử thách, nhưng họ có một thứ nhẹ nhàng giữa thử thách. Có người rất hài hước. Có người gần gũi. Có người làm trẻ con chạy tới chứ không sợ. Sự thánh thiện thật không làm con người trở nên khó gần. Càng gần Chúa, lẽ ra càng nhân bản hơn. Càng cầu nguyện, càng dễ thương hơn. Càng hiểu mình được tha, càng bớt xét đoán. Càng biết Chúa kiên nhẫn với mình, càng kiên nhẫn với người khác. Nếu đời sống thiêng liêng làm ta ngày càng khắc nghiệt, phải coi lại. Có thể thứ ta đang nuôi không phải là đức tin mà là cái tôi tôn giáo.
Cũng đừng nghĩ niềm vui phải biểu lộ giống nhau nơi mọi người. Có người hướng ngoại, tiếng cười lớn, dễ bộc lộ. Có người trầm lặng, niềm vui nằm trong ánh mắt và sự bình an. Không cần ép ai thành một kiểu. Điều quan trọng không phải là cười bao nhiêu lần, nhưng là người khác có cảm thấy sự sống nơi mình không. Có những cụ già rất ít nói, nét mặt nghiêm, nhưng ngồi cạnh lại thấy ấm. Có những người nói cười suốt mà bên trong làm người khác mệt. Niềm vui Kitô giáo sâu hơn tính khí. Nó là một sự an trú. Một người có thể đang khóc mà vẫn có niềm vui sâu. Có thể đang đau mà vẫn không oán. Có thể đang hấp hối mà vẫn bình an. Đó là điều thế gian rất khó hiểu.
“Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em lại thấy Thầy.” Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trước cuộc Thương Khó. Người không giấu họ việc sẽ khóc lóc than van. Nhưng Người hứa: “Nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.” Không phải nỗi buồn sẽ bị xóa như chưa từng có. Nó sẽ trở thành niềm vui. Đây là một mầu nhiệm rất đẹp. Có những vết thương sau này trở thành nơi ta biết cảm thông với người khác. Có những thất bại sau này cứu ta khỏi kiêu ngạo. Có những mất mát dạy ta biết điều gì thật sự quý. Có những đêm tối làm đức tin trưởng thành. Chúa không phí phạm nước mắt của con người. Nếu trao cho Người, ngay cả điều đau nhất cũng có thể được biến đổi.
Nhìn lại đời mình, có lẽ ai cũng thấy những chuyện khi xảy ra tưởng như tận thế, nhưng nhiều năm sau lại nhận ra nhờ đó mình thành người khác. Một cánh cửa đóng khiến ta đau, rồi hóa ra dẫn tới một con đường tốt hơn. Một mối quan hệ tan vỡ làm ta tưởng không sống nổi, rồi sau đó học được cách yêu trưởng thành hơn. Một lần thất bại làm ta mất mặt, rồi nhờ thế bớt sống vì sĩ diện. Một cơn bệnh buộc ta dừng lại, rồi mới biết bao năm qua mình sống quá vội. Không phải mọi đau khổ đều dễ giải thích. Có những điều đến cuối đời ta vẫn không hiểu. Nhưng đức tin cho phép ta nói một câu rất khiêm nhường: “Con chưa hiểu, nhưng con tin Ngài vẫn ở đây.”
Chính niềm tin ấy cứu khuôn mặt khỏi tuyệt vọng. Không phải vì ta biết trước kết quả. Mà vì biết ai đang ở cùng mình. Một đứa trẻ đi qua chỗ tối không hết sợ vì nó hiểu bóng tối, nhưng vì nắm tay cha. Đức tin cũng gần như thế. Chúng ta không có lời giải cho mọi chuyện. Có những câu hỏi đau đến mức chẳng có câu nào đủ. Nhưng có một bàn tay. Có một sự hiện diện. Có Đấng đã đi qua cả cái chết. Vì thế, chúng ta có quyền hy vọng.
Người loan báo Tin Mừng không được mang khuôn mặt của người vừa từ đám tang về, không phải vì trên đời không còn đám tang. Ngày nào cũng có người chết. Ngày nào cũng có gia đình mất người thân. Chính chúng ta rồi cũng sẽ có ngày được người khác đưa ra nghĩa trang. Nhưng ngay giữa nghĩa trang, Kitô giáo đã dám hát về sự sống. Đó là điều táo bạo. Trước quan tài, Giáo Hội không giả vờ cái chết không đau. Giáo Hội đốt nến Phục Sinh. Đọc Lời Chúa. Dâng Thánh lễ. Phó thác người chết cho lòng thương xót. Đó là một tuyên ngôn: cái chết có thật, nhưng Chúa lớn hơn cái chết. Nước mắt có thật, nhưng tình yêu lớn hơn nước mắt. Chia ly có thật, nhưng hiệp thông trong Chúa sâu hơn chia ly.
Nếu hiểu như thế, khuôn mặt của người Kitô hữu phải mang nét của buổi sáng Phục Sinh. Không phải chói lòa. Có khi vẫn còn dấu nước mắt. Maria Mađalêna sáng Phục Sinh đã khóc. Nhưng giữa nước mắt, bà nghe một tiếng gọi tên mình: “Maria!” Và từ khoảnh khắc ấy, cả thế giới thay đổi. Nhiều khi điều chúng ta cần nhất không phải là hết mọi vấn đề, mà là nghe lại Chúa gọi tên. Nghe lại rằng ta thuộc về Người. Nghe lại rằng mình không bị quên. Nghe lại rằng Người đã sống lại và đang đi trước mình.
Có lẽ mỗi người chúng ta cần có những lúc đứng trước gương tâm hồn mà hỏi: khuôn mặt đức tin của tôi đang kể câu chuyện gì? Có phải câu chuyện của một người luôn thiếu thốn? Một người luôn bị xúc phạm? Một người lúc nào cũng chờ người khác thay đổi? Một người giữ đạo vì sợ? Hay câu chuyện của một người đã được thương? Tôi không cần khuôn mặt lúc nào cũng cười. Tôi chỉ cần khuôn mặt thật. Nhưng trong cái thật ấy, xin có ánh sáng. Ánh sáng của người biết mình được cứu. Ánh sáng của người đã ngã mà được nâng. Ánh sáng của người đã phạm tội mà được tha. Ánh sáng của người không hoàn hảo nhưng vẫn được Chúa dùng. Ánh sáng ấy không làm người khác chói mắt. Nó làm họ ấm.
Và có lẽ đây là một việc mục vụ rất quan trọng mà chúng ta thường bỏ quên: trả lại niềm vui cho đời sống đạo. Trẻ em phải cảm thấy nhà thờ là nơi có tình yêu, không phải chỉ là nơi bị nhắc nhở. Người trẻ phải thấy đức tin mở rộng đời họ, không phải làm họ nghẹt thở. Người tội lỗi phải biết Giáo Hội có cửa quay về. Người khổ phải cảm thấy có chỗ để khóc. Người nghèo phải thấy mình không phải khách hạng hai. Người già phải biết họ chưa vô dụng. Người bệnh phải biết họ vẫn có giá trị. Nếu một cộng đoàn làm được như thế, chẳng cần quảng cáo nhiều, người ta sẽ muốn đến.
Chúng ta cũng phải trả niềm vui về cho cách rao giảng. Có những bài giảng chỉ toàn cảnh báo, đe dọa, trách móc. Nghe xong người ta thấy Chúa như một vị quan tòa khó tính hơn là một Người Cha đang chờ. Dĩ nhiên Tin Mừng có lời mời sám hối. Không thể biến Kitô giáo thành một thứ dễ dãi. Nhưng sám hối trong Tin Mừng luôn mở về sự sống. “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Nghĩa là quay lại vì có Tin Vui đang chờ. Người con hoang đàng trở về không gặp một bài diễn văn dài về tội lỗi, mà gặp người cha chạy ra ôm. Chính cái ôm ấy làm nó hiểu tội mình sâu hơn mọi lời mắng.
Khi người rao giảng đã thực sự nếm lòng thương xót, giọng nói sẽ khác. Họ vẫn nói thật, nhưng không nghiền nát. Vẫn gọi tội là tội, nhưng không đồng hóa con người với tội của họ. Vẫn mời thay đổi, nhưng cho thấy thay đổi là có thể. Vẫn nói về thập giá, nhưng không quên mồ trống. Người ta cần nghe rằng Chúa không bỏ cuộc với họ. Bao nhiêu người đã tự bỏ cuộc với mình rồi. Đừng để Giáo Hội là nơi đóng thêm cánh cửa cuối cùng.
Có lẽ mỗi sáng chúng ta nên cầu một lời rất đơn giản: “Lạy Chúa, xin đừng để hôm nay con làm ai mất hy vọng.” Chỉ vậy thôi. Đừng để một lời nói của con làm một người thấy mình vô giá trị. Đừng để một ánh mắt của con khiến người yếu cảm thấy bị khinh. Đừng để sự khó chịu của con biến căn nhà, cộng đoàn, văn phòng thành nơi nặng nề. Đừng để con nhân danh sự thật mà làm người khác bị thương không cần thiết. Xin cho con có thể là một chút ánh sáng.
Và tối đến, hỏi lại: hôm nay có ai vui hơn vì gặp tôi không? Có ai được nâng lên không? Có ai cảm thấy được lắng nghe không? Có ai bớt cô đơn không? Nếu có, hãy tạ ơn. Nếu không, ngày mai làm lại. Đời sống thánh thiện không phải là không bao giờ sai. Là mỗi ngày chịu để Chúa sửa mình một chút.
Rốt cuộc, khuôn mặt của người Kitô hữu không phải sản phẩm của một kỹ thuật sống tích cực. Nó là hoa trái của một cuộc gặp. Gặp Đấng Phục Sinh. Nếu chưa gặp, ta sẽ phải cố cười. Nếu gặp rồi, ngay cả khi khóc vẫn có một điều gì không bị dập tắt. Các môn đệ trên đường Emmau đã đi với khuôn mặt buồn rầu. Họ kể về Giêsu như một chuyện đã qua: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng…” Hai chữ “trước đây” nghe đau vô cùng. Họ từng hy vọng, nhưng giờ không nữa. Rồi Chúa đi bên cạnh. Người giải thích Kinh Thánh. Bẻ bánh. Và họ nhận ra. Điều thay đổi không chỉ là kiến thức. Trái tim họ nóng lên. Họ quay lại Giêrusalem ngay trong đêm. Người đã mất hy vọng trở thành người chạy đi loan báo. Đó chính là điều Phục Sinh làm.
Có thể hôm nay có người đang sống ở đoạn đầu của đường Emmau. Vẫn đi, nhưng buồn. Vẫn giữ đạo, nhưng lòng nguội. Vẫn phục vụ, nhưng không còn thấy ý nghĩa. Vẫn cầu nguyện, nhưng như nói vào khoảng trống. Đừng vội kết luận. Chúa có thể đang đi bên cạnh mà ta chưa nhận ra. Có thể Người đang nói qua một câu Lời Chúa, một người bạn, một biến cố, một sự im lặng. Cứ mời Người ở lại: “Xin ở lại với con, vì trời đã xế chiều.” Có khi niềm vui bắt đầu lại từ chính lời xin ấy.
Và khi niềm vui trở lại, đừng giữ cho mình. Hãy quay về Giêrusalem. Hãy kể rằng mình đã gặp Người. Không cần kể bằng những câu lớn lao. Kể bằng đời sống. Bằng khuôn mặt. Bằng cách tha thứ. Bằng cách làm việc. Bằng cách chịu đau. Bằng cách sử dụng tiền bạc. Bằng cách đối xử với người không có lợi gì cho mình. Bằng cách bước qua thất bại mà không cay độc. Bằng cách già đi mà không trở thành người suốt ngày than về quá khứ. Bằng cách chấp nhận mình không còn ở trung tâm. Đó là những bài giảng rất mạnh.
Tôi mong chúng ta đừng hiểu câu nói của Đức Phanxicô như một áp lực phải luôn vui. Hãy hiểu nó như một lời mời trở về nguồn. Nếu khuôn mặt nặng nề, đừng vội trang điểm nụ cười. Hãy hỏi trái tim đang thiếu gì. Có phải đã lâu không cầu nguyện thật? Có phải đang ôm một mối giận? Có phải sống quá sức? Có phải đang so sánh mình với người khác? Có phải đã quá lâu chỉ cho mà không nhận? Có phải đang cố kiểm soát những thứ không thuộc quyền mình? Có phải đã quên mình được yêu? Tìm đúng căn nguyên, rồi đưa nó đến với Chúa.
Đôi khi cần giải tội. Có những niềm vui bị bóp nghẹt bởi tội lỗi chưa chịu buông. Đôi khi cần hòa giải với một người. Có những gương mặt mệt vì phải mang một mối hận quá lâu. Đôi khi cần nghỉ. Có những nỗi buồn chỉ là cơ thể kêu cứu. Đôi khi cần nói chuyện với một người đáng tin. Có những gánh nặng không nên mang một mình. Đôi khi cần ngừng nhìn người khác và trở về với đời mình. Có những bất mãn sinh ra vì ngày nào cũng so sánh.
Nhưng sâu hơn tất cả, cần trở lại với câu hỏi căn bản: tôi có tin Tin Mừng là Tin Vui cho chính tôi không? Không phải chỉ cho người khác. Không phải chỉ để giảng. Cho tôi. Tôi có tin rằng Chúa vui vì tôi hiện hữu? Tôi có tin rằng lòng thương xót lớn hơn lỗi lầm? Tôi có tin rằng sau mọi lần ngã vẫn có đường về? Tôi có tin rằng cái chết không thắng? Nếu những điều ấy thật, thì dù đời còn nhiều chuyện khiến ta khóc, tận đáy lòng vẫn phải có một ngọn lửa.
Xin cho ngọn lửa ấy đừng tắt. Xin cho các gia đình Kitô hữu có tiếng cười. Xin cho các cộng đoàn tu trì có sự nhẹ nhàng. Xin cho các giáo xứ đừng trở thành những nơi người ta phải căng thẳng để chứng minh mình đạo đức. Xin cho người trẻ nhìn vào chúng ta mà thấy theo Chúa không phải là đánh mất tuổi xuân, nhưng là tìm được một lý do rất đẹp để sống. Xin cho những người đang đau khi bước vào nhà thờ gặp được những khuôn mặt có lòng thương xót. Xin cho những người đã mất hy vọng gặp nơi chúng ta một chút hy vọng vay mượn, cho tới khi chính họ có thể hy vọng lại.
Và xin cho chính chúng ta, sau bao nhiêu năm đi đạo, đừng trở thành những người đã quá quen với Chúa đến mức chẳng còn vui vì Chúa nữa. Thật đáng buồn nếu người mới trở lại đạo còn háo hức, còn ta chỉ còn thói quen. Nếu trẻ nhỏ còn ngạc nhiên trước hang đá, còn ta chỉ lo trang trí cho xong. Nếu một người nghèo nhận Mình Thánh mà rưng rưng, còn ta rước Chúa như một động tác lặp lại. Xin Chúa trả lại cho ta khả năng kinh ngạc. Vì niềm vui thường chết khi con người không còn biết kinh ngạc.
Mỗi Thánh lễ là một điều không thể tưởng: Trời đất gặp nhau. Mỗi lần giải tội là một phép lạ: quá khứ không còn quyền tuyệt đối trên tương lai. Mỗi lần cầu nguyện là một mầu nhiệm: thụ tạo được gọi Thiên Chúa là Cha. Mỗi sáng thức dậy là thêm một ngày chưa từng có. Mỗi người ta gặp là một câu chuyện không lặp lại. Nếu còn biết kinh ngạc, đời sẽ bớt cũ.
Cho nên, đừng để khuôn mặt chúng ta như người vừa từ đám tang về. Nhưng cũng đừng cố mang một nụ cười giả. Hãy mang khuôn mặt của người đã đi qua một đám tang và biết rằng mồ không phải chặng cuối. Mang khuôn mặt của Maria Mađalêna đã khóc nhưng rồi nghe gọi tên. Mang khuôn mặt của Phêrô đã chối Chúa nhưng được hỏi lại ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Mang khuôn mặt của hai môn đệ Emmau đã thất vọng nhưng trái tim lại bừng cháy. Mang khuôn mặt của Phaolô từng bắt đạo nhưng được sai đi loan báo ân sủng. Mang khuôn mặt của những con người không hoàn hảo nhưng đã được lòng thương xót chạm đến.
Một khuôn mặt như thế không cần đẹp theo tiêu chuẩn thế gian. Có thể đã nhiều nếp nhăn. Có thể mỏi mệt. Có thể có vết của bệnh tật, tuổi tác, lao nhọc. Nhưng trong mắt có bình an. Trong lời có lòng nhân. Trong cách đối xử có sự dịu dàng. Và người khác nhìn vào sẽ nhận ra: người này đã đi qua đau khổ nhưng không bị đau khổ làm cho độc ác; đã biết thất vọng nhưng không trở thành người bi quan; đã bị tổn thương nhưng không biến thành kẻ chuyên làm người khác tổn thương; đã khóc nhưng vẫn tin vào bình minh.
Đó mới là chứng tá của niềm vui Tin Mừng. Không ồn ào. Không giả tạo. Không cần biểu diễn. Một niềm vui có dấu thập giá. Một niềm vui đã được tinh luyện trong nước mắt. Một niềm vui biết rằng mọi thứ ở đời rồi sẽ qua, nhưng tình yêu của Thiên Chúa không qua. Một niềm vui có thể ngồi bên giường bệnh mà không hoảng. Có thể đứng trước nấm mồ mà vẫn thưa “Amen”. Có thể mất một điều quý mà không mất tất cả. Có thể nói trong đêm: “Con chưa thấy sáng, nhưng con tin trời sẽ sáng.”
Và có lẽ thế giới hôm nay đang rất cần những khuôn mặt như thế. Thế giới đã có quá nhiều tin buồn. Quá nhiều khuôn mặt lo âu. Quá nhiều người kiếm tiền mà không biết để làm gì, kết nối rất nhiều mà vẫn cô đơn, nói rất nhiều mà không được lắng nghe, có đủ tiện nghi nhưng không biết nghỉ. Giữa thế giới ấy, một người có bình an đã là một dấu hỏi. Một cộng đoàn có niềm vui đã là một lời loan báo. Một gia đình biết tha thứ đã là một phép lạ. Một người đau mà không oán đã là một bài giảng.
Chúng ta không cần trở thành những người cười nhiều nhất. Chỉ cần trở thành những người hy vọng dai dẳng nhất. Khi người khác nói hết rồi, ta vẫn tin Chúa còn đường. Khi người khác bảo không thể thay đổi, ta vẫn tin ân sủng có thể làm lại. Khi người khác chỉ thấy tội nhân, ta còn thấy một người con có thể trở về. Khi người khác nhìn cây thập giá chỉ thấy thất bại, ta thấy tình yêu đã đi tới cùng. Khi người khác nhìn ngôi mộ, ta nhớ ngôi mộ đã từng trống.
Đó là lý do người Kitô hữu có quyền vui. Không vì cuộc đời dễ. Không vì mình giỏi. Không vì chẳng có chuyện gì phải lo. Nhưng vì Đức Kitô đã sống lại. Và nếu Người đã sống lại, không bóng tối nào là tuyệt đối. Không thất bại nào là cuối cùng. Không tội lỗi nào lớn hơn lòng thương xót nếu con người chịu trở về. Không nước mắt nào bị quên. Không tình yêu nào trao đi trong Chúa là vô ích.
Xin cho niềm vui ấy đi vào từng ngày rất bình thường của chúng ta. Đi vào bữa cơm. Đi vào cách chúng ta trả lời điện thoại. Đi vào cách chúng ta lái xe. Đi vào những cuộc họp. Đi vào bài giảng. Đi vào giờ kinh. Đi vào lúc bất đồng. Đi vào cách ta dùng mạng xã hội. Đi vào cả lúc ta mệt. Để người khác không chỉ nghe chúng ta nói “Chúa yêu bạn”, mà thật sự cảm được một chút tình yêu ấy khi gặp chúng ta.
Và nếu một ngày nào đó soi lại mình, ta thấy khuôn mặt vẫn còn buồn, đừng thất vọng. Chỉ cần quay lại với Người. Chúa không đòi chúng ta tự sản xuất niềm vui. Người mời ta nhận niềm vui từ Người: “Thầy nói với anh em những điều ấy để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.” Niềm vui trước hết là niềm vui của Thầy. Không phải của ta. Ta chỉ đón nhận. Đó là điều làm ta nhẹ.
Lạy Chúa, có lẽ chúng con đã nhiều lần làm Tin Mừng của Chúa trở nên nặng nề vì chính khuôn mặt và cách sống của mình. Có khi chúng con nói về Chúa phục sinh nhưng lại sống như những người chẳng còn hy vọng. Có khi chúng con phục vụ mà không có niềm vui, giữ đạo mà không có bình an, làm việc tốt mà trong lòng đầy cay đắng. Xin tha thứ cho chúng con. Xin dẫn chúng con trở lại nguồn. Cho chúng con biết ở lại với Chúa đủ lâu để trái tim được chữa lành; biết ở lại với anh chị em đủ thật để học yêu thương; biết ra đi đủ xa khỏi cái tôi để niềm vui được sinh hoa trái. Xin cho nước mắt của chúng con không trở thành cay đắng, nhưng thành đất ẩm cho niềm hy vọng mọc lên. Xin cho những vết thương không làm chúng con khép lại, nhưng làm chúng con dịu hơn với nỗi đau của người khác. Xin cho chúng con đừng chỉ rao giảng về Phục Sinh bằng lời, nhưng mang Phục Sinh trên khuôn mặt, trong ánh mắt, trong đôi tay và trong cách chúng con đối xử với nhau.
Và khi người ta gặp chúng con, xin đừng để họ có cảm giác vừa gặp một người đi ra từ đám tang của một Thiên Chúa đã chết. Xin cho họ gặp một người đã biết khóc, nhưng vẫn hy vọng; đã từng ngã, nhưng được nâng dậy; đã đi qua những đêm dài, nhưng vẫn tin bình minh; đã đứng dưới chân thập giá, nhưng không quên ngôi mộ trống. Xin cho đời chúng con, dù nghèo nàn và nhiều giới hạn, vẫn nói lên được một điều thật đơn sơ mà thế giới đang rất cần nghe: Chúa vẫn sống. Tình yêu vẫn còn. Hy vọng vẫn còn. Và vì thế, chúng ta vẫn còn lý do để vui.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 3
CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG – HÌNH THỨC LOAN BÁO ĐẦU TIÊN VÀ KHÔNG THỂ THAY THẾ
Có lẽ một trong những ngộ nhận âm thầm nhưng khá phổ biến trong đời sống Kitô hữu là chúng ta thường nghĩ rằng loan báo Tin Mừng trước hết phải là nói về Chúa, phải đứng trước một cộng đoàn để giảng, phải đi đến một nơi xa xôi nào đó để truyền giáo, phải tổ chức những chương trình thật lớn, phải có những phương tiện thật hiện đại, phải có khả năng ăn nói lưu loát, phải hiểu biết nhiều về thần học, Kinh Thánh, giáo lý, phải có những sáng kiến mục vụ hấp dẫn và phải làm sao để càng nhiều người nghe đến danh Chúa càng tốt. Những điều ấy không sai. Giáo Hội cần những người biết rao giảng, cần những nhà truyền giáo, cần những chương trình mục vụ, cần truyền thông, cần giáo lý, cần những con người biết nói một cách có sức thuyết phục về niềm tin của mình. Nhưng trước tất cả những điều ấy, trước khi có một bài giảng hay, trước khi có một chương trình lớn, trước khi có một phương tiện truyền thông hiện đại, trước khi có một chiến lược loan báo Tin Mừng bài bản, vẫn có một điều căn bản hơn, đơn sơ hơn, thầm lặng hơn và cũng khó hơn rất nhiều: đó là chính đời sống của người môn đệ Đức Kitô. Bởi Tin Mừng không chỉ là một điều để nói. Tin Mừng trước hết là một điều để sống. Và một khi Tin Mừng đã thật sự đi vào đời sống của một con người, Tin Mừng ấy tự nó sẽ có tiếng nói. Có những tiếng nói phát ra từ môi miệng, nhưng cũng có những tiếng nói phát ra từ một cách sống. Có những bài giảng kéo dài ba mươi phút, một giờ, nhưng cũng có những bài giảng kéo dài suốt một đời người. Có những bài giảng được nghe trong nhà thờ rồi có thể quên ngay sau đó, nhưng cũng có những bài giảng không cần bục giảng, không cần micro, không cần một câu chữ nào, vậy mà người ta nhớ mãi bởi bài giảng ấy được viết bằng sự hiền lành của một người cha, bằng lòng thủy chung của một người mẹ, bằng sự tận tụy của một linh mục, bằng sự khiêm nhường của một tu sĩ, bằng sự ngay thẳng của một người làm ăn, bằng lòng bao dung của một người từng bị xúc phạm, bằng sự bình an của một người đang đi qua đau khổ. Đó chính là chứng tá đời sống. Và có thể nói, đây là hình thức loan báo Tin Mừng đầu tiên, căn bản nhất và không gì có thể thay thế được.
Điều đáng suy nghĩ là trong đời sống đức tin, người ta có thể học cách nói về Chúa rất nhanh, nhưng để sống giống Chúa lại là cả một hành trình dài. Người ta có thể thuộc nhiều câu Kinh Thánh, nhưng để một câu Kinh Thánh trở thành máu thịt của mình thì không dễ. Người ta có thể giảng rất hay về yêu thương nhưng vẫn có thể làm tổn thương người sống bên cạnh. Người ta có thể nói rất cảm động về tha thứ nhưng trong lòng lại giữ một mối hận suốt nhiều năm. Người ta có thể nói về nghèo khó, đơn sơ mà đời sống lại quá lệ thuộc vào tiện nghi và những gì bên ngoài. Người ta có thể giảng về khiêm nhường nhưng chỉ một lời góp ý cũng đủ khiến mình nổi giận. Người ta có thể nói về phó thác nhưng khi gặp một biến cố nhỏ đã hoảng loạn, bất an, trách Chúa, trách người. Chính vì thế, điều làm người khác xa Chúa đôi khi không phải vì họ chưa bao giờ nghe nói về Tin Mừng, mà bởi họ đã nghe quá nhiều Tin Mừng từ miệng những người không sống Tin Mừng. Đó là một sự thật đau lòng. Có những người chưa từng mở Kinh Thánh nhưng họ đọc đời sống của người Kitô hữu mỗi ngày. Họ nhìn cách người Công giáo làm ăn, cách người Công giáo cư xử trong gia đình, cách họ đối xử với người nghèo, cách họ nói về người khác, cách họ phản ứng khi bị xúc phạm, cách họ sử dụng tiền bạc, quyền lực, chức vụ, cách linh mục sống, cách tu sĩ sống, cách các gia đình Công giáo đối xử với nhau. Và rồi, dù chúng ta không để ý, từ đời sống của chúng ta họ đang tự hình thành một hình ảnh nào đó về Thiên Chúa. Nếu họ gặp nơi chúng ta lòng nhân hậu, họ có thể tin rằng Thiên Chúa là Đấng nhân hậu. Nếu họ gặp nơi chúng ta sự công bằng, họ có thể tin rằng đạo Chúa là một con đường làm con người trở nên ngay thẳng hơn. Nếu họ gặp nơi chúng ta lòng bao dung, họ có thể bắt đầu hiểu thế nào là tha thứ. Nhưng nếu họ gặp nơi chúng ta sự gian dối, ích kỷ, chia rẽ, kiêu căng, tham lam, độc đoán, họ cũng có thể tự hỏi: nếu tin Chúa mà con người vẫn sống như thế, vậy tin Chúa để làm gì?
Không ai có thể trao cho người khác điều mình không có. Câu nói ấy nghe rất đơn giản nhưng lại chạm đến tận căn của đời sống loan báo Tin Mừng. Muốn trao bình an, trước hết trong lòng phải có bình an. Muốn nói với người khác về niềm vui của Tin Mừng, trước hết chính mình phải từng nếm một chút niềm vui ấy. Muốn mời người khác tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa, trước hết bản thân phải là người biết để cho mình được thương xót và biết thương xót người khác. Muốn nói với người khác rằng Chúa là đủ cho cuộc đời, người môn đệ phải tập sống sao để người ta thấy Chúa thật sự có một vị trí quan trọng trong cuộc đời mình. Nếu miệng nói rằng Thiên Chúa là trên hết nhưng mọi quyết định trong đời lại chỉ xoay quanh tiền bạc, danh dự, địa vị, tiện nghi, thì lời nói của chúng ta sẽ tự mâu thuẫn với đời sống. Khi ấy, Tin Mừng không được nâng đỡ mà bị che khuất bởi chính người mang Tin Mừng. Điều đáng sợ không phải chỉ là người khác không tin lời chúng ta nói, mà là vì đời sống của chúng ta, họ có thể nghi ngờ cả điều chúng ta đang nói về Thiên Chúa. Một đời sống không phù hợp với điều mình rao giảng không chỉ làm suy yếu lời rao giảng; đôi khi nó còn trở thành phản chứng. Người ta có thể tha thứ cho một Kitô hữu yếu đuối, nhưng người ta khó chấp nhận một Kitô hữu giả hình. Người ta có thể thông cảm cho một người đang cố gắng nhưng còn vấp ngã, nhưng họ rất nhạy với một người chỉ đòi hỏi người khác sống điều mình không muốn sống. Người ta không cần nhìn thấy nơi chúng ta một con người hoàn hảo. Họ chỉ cần nhìn thấy một con người thật.
Chính ở điểm này, cần nói rõ rằng chứng tá đời sống không có nghĩa là Kitô hữu phải trở nên một mẫu người không bao giờ sai, không bao giờ yếu đuối, không bao giờ nóng giận, không bao giờ thất vọng, không bao giờ vấp ngã. Nếu hiểu như thế, chẳng ai trong chúng ta có thể làm chứng cho Tin Mừng. Chứng tá Kitô giáo không phải là chứng tá về sự hoàn hảo của con người, nhưng là chứng tá về sức mạnh biến đổi của ân sủng Thiên Chúa nơi một con người còn rất bất toàn. Có một khác biệt rất lớn giữa “tỏ ra mình tốt” và “để Chúa làm mình nên tốt hơn”. Tỏ ra mình tốt thường khiến con người phải che giấu khuyết điểm, phải giữ một hình ảnh đẹp trước mắt thiên hạ, phải sợ người khác biết những giới hạn của mình. Còn để Chúa biến đổi là dám nhìn nhận mình yếu đuối, dám sửa sai, dám xin lỗi, dám bắt đầu lại, dám để cho ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua một chút. Một người cha có thể từng nóng tính nhưng đang tập kiềm chế vì yêu vợ con. Một người mẹ có thể từng hay than phiền nhưng đang học biết cảm tạ nhiều hơn. Một người trẻ có thể từng sống buông thả nhưng đang cố gắng trở về với đời sống trong sạch. Một linh mục có thể từng có những quyết định vụng về nhưng đủ khiêm tốn để nhận lỗi. Một tu sĩ có thể từng ganh tị nhưng đang học cách vui với thành công của người khác. Chính những thay đổi âm thầm ấy lại là chứng tá. Người ta không chỉ thấy chúng ta thế nào, họ còn thấy Chúa đang làm gì trong chúng ta. Và có lẽ chứng tá đẹp nhất không phải là khiến người khác nghĩ: “Người này tốt quá”, nhưng là khiến họ có thể nghĩ: “Chắc phải có một sức mạnh nào đó đang giúp người này thay đổi.”
Đời sống chứng tá, vì thế, luôn gắn liền với sự trung thực. Trung thực trước Thiên Chúa, trung thực với chính mình và trung thực với người khác. Chúng ta không cần đóng vai thánh nhân. Chúng ta chỉ cần thật lòng đi trên con đường nên thánh. Không cần nói rằng mình không bao giờ sợ; chỉ cần trong nỗi sợ vẫn biết quay về với Chúa. Không cần chứng minh rằng mình không bao giờ buồn; chỉ cần giữa nỗi buồn vẫn không mất hy vọng. Không cần làm ra vẻ mình không có những cám dỗ; chỉ cần trong cám dỗ vẫn biết chiến đấu. Không cần che giấu rằng mình từng thất bại; chỉ cần thất bại không trở thành lý do để bỏ cuộc. Một người Kitô hữu chân thành có khi nói với con mình: “Ba cũng sai, ba xin lỗi con.” Một người mẹ có thể nói: “Mẹ đã nóng giận quá, mẹ xin lỗi.” Một linh mục có thể nói với cộng đoàn: “Trong việc này tôi đã thiếu khôn ngoan.” Một tu sĩ có thể nhận rằng: “Tôi cần học lại cách sống bác ái.” Những lời như thế không làm giảm uy tín của người môn đệ. Trái lại, nhiều khi chính sự khiêm tốn ấy làm lời chứng trở nên đáng tin hơn. Bởi người ta hiểu rằng đức tin không làm con người trở thành những kẻ giả vờ hoàn hảo, nhưng làm họ đủ can đảm để đối diện với sự thật và để cho Chúa chữa lành.
Trong bối cảnh Việt Nam hôm nay, chứng tá đời sống lại càng mang một sức nặng đặc biệt. Người Việt Nam vốn sống nhiều bằng tình cảm, tương quan và trực giác về con người. Có thể họ không tranh luận với chúng ta về thần học, nhưng họ quan sát rất kỹ cách chúng ta sống. Một người hàng xóm không Công giáo có thể chẳng bao giờ hỏi về mầu nhiệm Ba Ngôi, nhưng họ biết gia đình Công giáo bên cạnh có sống hòa thuận không. Một đồng nghiệp không theo đạo có thể chẳng hiểu gì về các bí tích, nhưng họ biết người Kitô hữu làm chung với mình có trung thực trong công việc không. Một người chưa biết Chúa có thể không bao giờ đọc một thông điệp của Giáo Hội, nhưng họ biết ông chủ Công giáo có trả lương công bằng không, có tôn trọng nhân viên không. Một người trẻ có thể không hiểu thần học đời thánh hiến, nhưng họ nhìn một tu sĩ để xem người ấy có vui không, có hiền không, có gần gũi không. Một giáo dân có thể không biết hết giáo luật, nhưng họ cảm nhận rất nhanh một linh mục có thật sự yêu dân hay chỉ làm cho xong trách nhiệm. Chính vì vậy, nhiều khi con đường đầu tiên dẫn một người đến gần Giáo Hội không phải là một cuốn sách giáo lý, mà là một người Công giáo tử tế mà họ từng gặp. Và ngược lại, điều làm một người xa Giáo Hội đôi khi cũng không phải là họ đã đọc một lý thuyết chống đạo nào, mà chỉ vì họ từng bị tổn thương bởi một người mang danh Kitô hữu.
Có những người đã bước vào nhà thờ chỉ vì một lần được một người Công giáo giúp đỡ khi gặp khó khăn. Có người bắt đầu tìm hiểu đạo vì thấy gia đình của một người bạn sống với nhau quá đẹp. Có người cảm phục đời tu vì gặp một nữ tu âm thầm chăm sóc người bệnh. Có người trở lại với đức tin vì gặp một linh mục biết lắng nghe mà không kết án. Cũng có người giữ lại một hình ảnh tốt về Giáo Hội chỉ vì giữa lúc túng thiếu, có một cộng đoàn đã mở cửa đón họ. Những câu chuyện như thế không ồn ào. Không có sân khấu. Không có khẩu hiệu. Nhưng đó là truyền giáo. Một bữa cơm trao cho người đói là truyền giáo. Một thái độ tôn trọng dành cho người dưới quyền là truyền giáo. Một lần không gian lận dù có thể hưởng lợi cũng là truyền giáo. Một lời xin lỗi chân thành cũng có thể là truyền giáo. Một quyết định tha thứ khi hoàn toàn có lý do để trả đũa chính là Tin Mừng được viết bằng hành động.
Chứng tá đời sống trước hết là chứng tá về đức tin. Nói cách khác, đời sống của người Kitô hữu phải cho thấy rằng Thiên Chúa không chỉ là một ý niệm trong đầu, không chỉ là một truyền thống gia đình, không chỉ là một tên gọi được nhắc đến trong kinh nguyện, nhưng là một sự hiện diện có thật. Chúng ta nói mình tin Thiên Chúa hiện hữu. Nhưng đời sống của chúng ta có thật sự được xây trên niềm tin ấy không? Chúng ta nói mình tin Chúa Giêsu đã chết và sống lại. Nhưng trong những mất mát, thất bại, đau khổ, chúng ta có còn hy vọng không? Chúng ta nói mình tin có sự sống đời đời. Nhưng chúng ta đang sống như người chuẩn bị cho đời đời hay như thể cuộc đời này là tất cả? Những câu hỏi ấy không nhằm kết án ai. Đó là những câu hỏi cần thiết để người môn đệ nhìn lại xem đức tin của mình đang ở trong môi miệng hay đã đi xuống tận nếp sống.
Một người sống đức tin không phải chỉ là người đọc nhiều kinh. Cầu nguyện rất quan trọng, nhưng hoa trái của cầu nguyện phải đi vào cách sống. Một người có thể quỳ trước Thánh Thể hàng giờ nhưng khi đứng dậy lại khinh thường người khác thì chắc chắn vẫn còn một khoảng cách giữa bàn thờ và đời sống. Một người có thể dự lễ mỗi ngày nhưng luôn gieo chia rẽ trong gia đình thì Thánh Lễ chưa thấm đủ sâu. Một người có thể đọc Kinh Mân Côi đều đặn nhưng miệng vẫn nói những lời làm tổn thương anh chị em thì chắc chắn cần để những lời kinh đi sâu hơn nữa vào tâm hồn. Chúng ta không nói như thế để coi nhẹ kinh nguyện hay bí tích. Trái lại, vì các bí tích quá cao quý nên chúng phải sinh hoa trái. Thánh Thể không chỉ là điều chúng ta đón nhận; Thánh Thể phải dần làm chúng ta trở thành con người biết trao ban. Bí tích Hòa Giải không chỉ là nơi được tha thứ; nó còn phải giúp chúng ta biết tha thứ. Cầu nguyện không chỉ giúp tâm hồn bình an; cầu nguyện phải làm ánh mắt chúng ta hiền hơn, lời nói mềm hơn, lòng mình rộng hơn. Nếu mỗi lần cầu nguyện mà chúng ta vẫn trở lại với cùng một thái độ cứng cỏi, độc đoán và cay nghiệt mà không hề thấy cần thay đổi, thì cần hỏi lại mình đang cầu nguyện với Chúa hay chỉ đang nói với chính mình.
Chứng tá đức tin rõ nhất không phải trong những ngày bình an, mà trong những ngày thử thách. Khi mọi chuyện thuận lợi, ai cũng có thể nói “tạ ơn Chúa”. Nhưng khi bệnh tật đến, khi một người thân ra đi, khi công việc đổ vỡ, khi bị hiểu lầm, khi cầu nguyện mãi mà dường như Chúa im lặng, lúc đó người ta mới thấy đức tin đã bén rễ sâu đến đâu. Chứng tá không có nghĩa là không khóc. Đức Giêsu cũng đã khóc. Chứng tá không có nghĩa là không đau. Người tin vẫn đau như mọi người. Nhưng trong nước mắt, vẫn còn một sợi dây nối họ với Chúa. Trong đổ vỡ, vẫn còn một lời thầm thì: “Con không hiểu, nhưng con vẫn tin.” Trong bóng tối, vẫn còn một chút ánh sáng không chịu tắt. Chính cách một người Kitô hữu đi qua đau khổ đôi khi lại là bài giảng mạnh nhất về niềm hy vọng phục sinh. Người khác có thể nhìn họ và tự hỏi: tại sao người này đau như thế mà vẫn không cay độc? Tại sao mất mát như vậy mà vẫn còn lòng thương người? Tại sao bệnh tật như vậy mà vẫn biết tạ ơn? Những câu hỏi ấy là cánh cửa để Tin Mừng bước vào lòng họ.
Chứng tá thứ hai là chứng tá về các giá trị Tin Mừng. Đây là nơi đức tin đi vào những lựa chọn rất cụ thể của đời sống hằng ngày: công bình, bác ái, trung thực, khiêm nhường, tha thứ, tôn trọng phẩm giá con người. Nếu không đi vào những điều cụ thể này, đức tin rất dễ chỉ còn là cảm xúc đạo đức. Mà Tin Mừng không bao giờ dừng ở cảm xúc. Đức Giêsu không chỉ dạy chúng ta nghĩ điều tốt; Người mời chúng ta sống điều tốt. Người không chỉ nói “hãy yêu thương”; Người cúi xuống rửa chân. Người không chỉ nói “hãy tha thứ”; trên thập giá Người đã tha thứ. Người không chỉ nói “hãy phục vụ”; Người trở thành người phục vụ. Người không chỉ nói “hãy yêu người nghèo”; Người đặt mình về phía những kẻ bé nhỏ. Chính vì thế, người môn đệ cũng không thể chỉ dùng lời để nói về những giá trị Tin Mừng. Chúng ta phải làm cho những giá trị ấy có một khuôn mặt.
Trong gia đình, chứng tá Tin Mừng có thể rất nhỏ bé. Đó là người chồng biết tôn trọng vợ. Là người vợ biết gìn giữ sự thủy chung. Là cha mẹ không biến con cái thành nơi trút giận. Là con cái biết hiếu thảo với cha mẹ già. Là anh chị em trong nhà biết nhường nhịn nhau. Là một gia đình dù không giàu nhưng không vì tiền mà đánh mất tình nghĩa. Là một mái nhà có thể có những bất đồng nhưng không dùng lời xúc phạm nhau. Một gia đình như thế tự nó đã là một lời loan báo Tin Mừng. Người ngoài nhìn vào sẽ không cần nghe gia đình ấy nói quá nhiều về đạo. Họ sẽ cảm nhận được rằng niềm tin nơi Thiên Chúa đã tạo nên một cách sống khác.
Trong môi trường làm việc, chứng tá Tin Mừng là sự trung thực ngay cả khi gian lận dễ dàng hơn. Đó là không lấy của công làm của riêng. Không vì một khoản lợi mà bán rẻ lương tâm. Không vì cạnh tranh mà hạ bệ đồng nghiệp. Không vì quyền lực mà làm nhục người yếu thế. Không vì thành tích mà bóp méo sự thật. Một người Công giáo đứng trước lựa chọn giữa lợi ích và lương tâm chính là đang đứng trước một nơi truyền giáo. Có khi chẳng ai thấy. Có khi làm đúng còn thiệt. Có khi trung thực khiến mất cơ hội. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, Tin Mừng được làm chứng. Không phải bằng miệng, mà bằng giá phải trả cho sự thật.
Trong tương quan xã hội, chứng tá Tin Mừng còn nằm ở cách chúng ta đối xử với những người không giống mình. Rất dễ yêu người hợp ý. Rất dễ tử tế với người có thể mang lại lợi ích. Nhưng Tin Mừng đòi một bước xa hơn: tôn trọng người khác biệt, không khinh thường người nghèo, không xem nhẹ người ít học, không dè bỉu người lầm lỗi, không biến người yếu thế thành đối tượng để mình tỏ lòng thương hại từ trên xuống. Bác ái Kitô giáo không phải là bố thí chút dư thừa để thấy mình tốt. Bác ái là nhận ra người kia có cùng một phẩm giá trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, đôi khi một cách gọi tôn trọng cũng là Tin Mừng. Một ánh mắt không khinh miệt cũng là Tin Mừng. Ngồi xuống nghe một người nghèo kể chuyện mà không tỏ ra sốt ruột cũng là Tin Mừng. Không đăng hình người đang đau khổ chỉ để chứng minh mình đã làm việc thiện cũng là Tin Mừng. Có những điều rất nhỏ nhưng cho thấy người Kitô hữu có thật sự nhìn con người bằng ánh mắt của Chúa hay không.
Riêng với linh mục, chứng tá đời sống mang một sức nặng đặc biệt bởi đời sống của linh mục luôn được nhìn thấy nhiều hơn. Giáo dân có thể quên một bài giảng, nhưng khó quên cách một linh mục đối xử với họ lúc họ đau khổ. Họ có thể quên một câu thần học, nhưng nhớ rất lâu ánh mắt của cha khi họ đến xin giúp đỡ. Một linh mục không nhất thiết phải là người nói hay nhất. Nhưng nếu ngài đơn sơ, gần gũi, biết lắng nghe, không phân biệt giàu nghèo, không làm người ta sợ, không quá bận tâm đến danh dự của mình, người ta sẽ cảm nhận được khuôn mặt của vị Mục Tử. Một linh mục vui tươi giữa những hy sinh âm thầm đã là một lời chứng mạnh về niềm vui Tin Mừng. Một linh mục không than trách về bổn phận, không biến chức thánh thành đặc quyền, không xa cách những người bé nhỏ, không dùng quyền để bảo vệ cái tôi, chính là đang loan báo Đức Kitô bằng đời sống. Ngược lại, nếu một linh mục nói nhiều về phục vụ nhưng lại thích được phục vụ, nói về nghèo khó nhưng sống quá xa hoa, nói về khiêm nhường nhưng không chịu nghe ai, thì dù bài giảng hay đến đâu, người nghe vẫn cảm thấy có gì đó không ổn. Không ai đòi linh mục hoàn hảo. Giáo dân hiểu linh mục cũng là con người. Nhưng họ cần thấy nơi linh mục một sự chân thành trên đường trở nên giống Đức Kitô.
Với tu sĩ cũng thế. Lời khấn không tự động làm nên chứng tá. Chính cách sống lời khấn mới làm nên chứng tá. Khấn nghèo khó nhưng luôn so đo tiện nghi thì lời khấn chưa nói được gì nhiều. Khấn khiết tịnh nhưng đời sống thiếu tự do nội tâm thì chứng tá còn mờ nhạt. Khấn vâng phục nhưng lúc nào cũng tìm cách làm theo ý mình thì lời khấn dễ chỉ còn trên giấy. Chứng tá đời tu đẹp không phải vì tu sĩ làm những điều phi thường, mà vì đời sống của họ cho thấy có một Tình Yêu đủ lớn để con người dám trao cả đời mình. Một tu sĩ vui vẻ, bình an, sống đơn sơ, không tranh giành, không tìm mình, sẵn sàng phục vụ những công việc không ai thấy, đó là một dấu chỉ mạnh. Người ta sẽ tự hỏi: điều gì khiến người này có thể sống như thế? Và chính câu hỏi ấy có thể mở ra cho họ một con đường đến với Chúa.
Người trẻ Công giáo hôm nay cũng đang đứng trước một sứ mạng chứng tá rất lớn. Một người trẻ không cần phải nói đạo suốt ngày. Chỉ cần sống khác đi giữa một môi trường nơi ai cũng nghĩ phải giống số đông. Một người trẻ biết giữ sự trong sạch khi bạn bè xem đó là lỗi thời. Một người trẻ không quay cóp khi việc gian lận trở thành bình thường. Một người trẻ không dùng mạng xã hội để hạ nhục người khác. Một người trẻ dám nói không với điều sai dù có thể bị chê cười. Một người trẻ biết dành thời gian cho gia đình, biết quan tâm đến cha mẹ, biết cầu nguyện, biết phục vụ người nghèo, tự nó đã là chứng tá. Thế giới hôm nay không thiếu lời nói. Mạng xã hội mỗi ngày có vô số lời. Điều hiếm là một đời sống có chiều sâu. Và chính vì hiếm nên một người trẻ có đời sống thật lại càng có sức thuyết phục.
Cũng phải nói đến chứng tá trên mạng xã hội, bởi đó đã trở thành một phần đời sống. Người Kitô hữu không thể trong nhà thờ là một người khác, lên mạng lại trở thành một người khác. Nếu trên mạng chúng ta dễ dàng chửi bới, chế giễu, kết án, lan truyền tin chưa kiểm chứng, tham gia vào những cuộc “ném đá”, thì lời tuyên xưng đức tin của chúng ta sẽ mất sức. Một bức ảnh Đức Mẹ trên trang cá nhân không tự động biến trang ấy thành nơi có Tin Mừng. Tin Mừng có mặt khi cách chúng ta bình luận mang tinh thần của Tin Mừng. Khi ta biết dừng lại trước khi chia sẻ một tin gây tổn thương. Khi ta không dùng danh nghĩa bảo vệ sự thật để xúc phạm người khác. Khi ta không vui vì ai đó bị hạ nhục. Khi ta biết rằng phía sau mỗi tài khoản là một con người có trái tim. Cách sử dụng mạng xã hội cũng là một phần của đời sống chứng tá.
Chứng tá đời sống còn đòi hỏi sự nhất quán. Không thể ở nhà thờ một kiểu, về nhà một kiểu. Không thể đối với người ngoài rất tử tế nhưng với người thân lại lạnh lùng. Không thể ở trước mặt linh mục thì đạo đức nhưng về nơi làm việc lại gian dối. Không thể đi làm việc bác ái xa xôi mà chính người sống cùng mình lại không nhận được một chút yêu thương. Có một cám dỗ rất tinh tế là chúng ta thích làm những việc tốt mà người khác nhìn thấy, trong khi những bổn phận âm thầm hằng ngày lại bỏ quên. Nhưng đời sống chứng tá bắt đầu ngay từ nơi gần nhất. Nếu muốn loan báo Tin Mừng, hãy bắt đầu từ người ngồi bên cạnh bàn ăn. Hãy bắt đầu từ người cùng làm việc. Hãy bắt đầu từ người làm chúng ta khó chịu. Hãy bắt đầu từ cách mình cư xử khi không có ai nhìn.
Đời sống chứng tá cũng không phải là một dự án tạo hình ảnh đẹp cho Giáo Hội. Nếu sống tốt chỉ để người ta khen đạo mình tốt thì vẫn chưa đủ. Chứng tá phải xuất phát từ tình yêu đối với Chúa và con người. Một đời sống thật không cần liên tục tự quảng bá. Có những người làm rất nhiều việc tốt nhưng chẳng ai biết. Và chính sự âm thầm ấy lại đẹp. Chúa không cần chúng ta diễn một vai đẹp cho thế giới xem. Người cần chúng ta thật sự trở nên người của Tin Mừng. Khi cây tốt, nó sẽ sinh trái. Không cần dán bảng nói “đây là cây tốt”. Khi một đời sống có Chúa, sớm muộn sự hiện diện của Chúa sẽ lộ ra qua cách sống.
Có lẽ điều này cũng giúp chúng ta hiểu rằng loan báo Tin Mừng không dành riêng cho một nhóm người có chuyên môn. Mọi Kitô hữu đều có thể loan báo Tin Mừng bởi ai cũng có một đời sống để làm chứng. Một người già nằm bệnh vẫn có thể loan báo Tin Mừng bằng sự kiên nhẫn và lời cầu nguyện. Một người nội trợ có thể loan báo Tin Mừng qua sự hy sinh âm thầm cho gia đình. Một người công nhân có thể loan báo Tin Mừng bằng lao động trung thực. Một học sinh có thể loan báo Tin Mừng bằng lòng ngay thẳng. Một người buôn bán có thể loan báo Tin Mừng bằng việc không gian lận. Một người bệnh có thể loan báo Tin Mừng bằng cách đón nhận đau khổ mà không đánh mất lòng tin. Không ai quá nhỏ để làm chứng cho Chúa. Không ai quá ít kiến thức để sống Tin Mừng.
Điều quan trọng là mỗi người phải để cho Tin Mừng đi vào những nơi rất cụ thể của đời mình. Chúng ta thường thích những điều lớn lao vì chúng tạo cảm giác mạnh. Nhưng Thiên Chúa thường làm việc qua những điều nhỏ. Một ngày không nói xấu ai. Một lần nhịn được một câu cay nghiệt. Một lần chủ động xin lỗi. Một buổi tối tắt điện thoại để ngồi nghe con. Một lần thăm người bệnh. Một quyết định không lấy phần hơn về mình. Một lần từ chối khoản tiền không ngay chính. Một lời cầu nguyện cho người mình không ưa. Một cái ôm dành cho người đã làm mình buồn. Những điều ấy nhỏ lắm. Nhưng chính những hạt nhỏ ấy làm thành đời sống chứng tá.
Và rồi, chứng tá không chỉ hướng ra ngoài. Nó còn có sức truyền giáo ngay bên trong Giáo Hội. Một người giáo dân nhiệt thành có thể nâng đỡ đức tin của người khác. Một gia đình bền vững có thể giúp một gia đình đang khủng hoảng có thêm hy vọng. Một linh mục trung tín có thể nâng đỡ một linh mục đang mệt mỏi. Một tu sĩ vui tươi có thể giúp người trẻ nhận ra vẻ đẹp của đời thánh hiến. Chúng ta không bao giờ biết đời sống của mình đang ảnh hưởng đến ai. Có khi chỉ một cử chỉ nhỏ của mình lại trở thành ký ức nâng đỡ một người rất lâu sau đó. Chính vì vậy, đừng bao giờ nghĩ đời sống mình không có ý nghĩa truyền giáo.
Thật ra, thế giới hôm nay không thiếu những người biết nói. Điều thế giới đang thiếu là những người đáng tin. Người ta đã nghe quá nhiều khẩu hiệu, quá nhiều lời hứa, quá nhiều diễn văn. Họ mệt với những lời hay mà không đi kèm sự thật. Chính trong bối cảnh ấy, người Kitô hữu được mời gọi trở thành một con người mà lời nói và đời sống không quá xa nhau. Có thể chúng ta chưa sống trọn vẹn điều mình tin, nhưng hãy để người ta thấy mình đang thật sự cố gắng. Có thể chúng ta vẫn vấp ngã, nhưng hãy để họ thấy mình biết đứng lên. Có thể chúng ta chưa yêu được như Chúa, nhưng hãy để người ta thấy trái tim mình đang lớn lên trong tình yêu.
Sau cùng, chứng tá đời sống luôn là hoa trái của việc ở lại trong Đức Kitô. Không ai có thể tự mình sống Tin Mừng bằng ý chí riêng. Nếu chỉ cố gắng làm người tốt để làm gương, sớm muộn chúng ta sẽ mệt. Chứng tá Kitô giáo không phải là kết quả của việc căng mình để giữ một hình ảnh đạo đức. Nó là kết quả của một đời sống được nuôi dưỡng bởi Chúa. Cành nho không tự mình sinh trái nếu tách khỏi thân nho. Người môn đệ cũng thế. Muốn có lòng yêu thương, phải ở lại trong Đấng là Tình Yêu. Muốn có sức tha thứ, phải để mình được tha thứ. Muốn có lòng khiêm nhường, phải thường xuyên đứng trước Chúa để nhận ra mình chỉ là thụ tạo. Muốn có bình an giữa thử thách, phải sống sâu trong niềm tín thác. Chính đời sống cầu nguyện, Thánh Thể, Lời Chúa, bí tích Hòa Giải và tương quan thân tình với Chúa sẽ âm thầm biến đổi người môn đệ. Và khi một người thật sự ở với Chúa đủ lâu, họ sẽ mang một điều gì đó của Chúa đi vào cuộc đời, đôi khi chính họ cũng không nhận ra.
Có lẽ, điều đẹp nhất trong đời sống chứng tá là khi người khác gặp chúng ta và cảm thấy muốn trở nên tốt hơn. Không phải vì chúng ta đã giảng cho họ một bài, nhưng vì họ thấy lòng mình được đánh thức. Gặp một người hiền lành, họ muốn hiền hơn. Gặp một người biết tha thứ, họ muốn buông bỏ hận thù. Gặp một người sống đơn sơ, họ tự hỏi tại sao mình phải chạy theo quá nhiều thứ. Gặp một người đau khổ nhưng vẫn hy vọng, họ nhận ra cuộc đời chưa hết đường. Gặp một người sống có Chúa, họ bắt đầu tò mò về Chúa. Đó chính là lúc Tin Mừng đã được loan báo.
Vì thế, trước khi hỏi chúng ta phải nói gì để người khác tin, có lẽ nên hỏi trước: đời sống của tôi đang nói gì? Trước khi nghĩ đến việc đưa người khác đến với Chúa, hãy hỏi: khi họ đến gần tôi, họ có cảm nhận được chút gì về Chúa không? Trước khi tổ chức thêm một chương trình truyền giáo, có lẽ mỗi người nên trở về xem gia đình, cộng đoàn, nơi làm việc của mình có đang trở thành một “bài giảng sống” hay không. Bởi cuối cùng, Tin Mừng sẽ chỉ thật sự có sức thuyết phục khi người ta nhìn thấy Tin Mừng ấy có thể làm cho một con người trở nên tốt hơn, tự do hơn, nhân ái hơn, bình an hơn. Và khi đời sống chúng ta phản ánh được một chút khuôn mặt của Đức Kitô, dù không nói nhiều, chúng ta vẫn đang loan báo. Có khi một đời sống thánh thiện âm thầm nói mạnh hơn cả ngàn bài giảng. Có khi một việc làm bác ái nhỏ bé mở được cánh cửa mà bao nhiêu lý luận không thể mở. Có khi một thái độ tha thứ khiến người ta bắt đầu tin rằng Thiên Chúa là có thật. Và có khi cả cuộc đời của một con người, lặng lẽ đi qua trần thế, lại trở thành lời loan báo Tin Mừng đẹp nhất mà họ để lại.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 4
NIỀM VUI TRONG GIA ĐÌNH – NƠI CHỨNG TÁ ĐẦU TIÊN VÀ QUAN TRỌNG NHẤT
Có lẽ không nơi nào người ta nhìn thấy một con người thật rõ bằng trong chính gia đình của họ. Ngoài xã hội, ta có thể giữ được một nụ cười. Ở công sở, ta có thể nói những lời rất đẹp. Trong nhà thờ, ta có thể chắp tay rất sốt sắng. Trên mạng xã hội, ta có thể viết những câu thật cảm động về tình yêu, lòng bao dung, sự tử tế và niềm vui Kitô giáo. Nhưng khi cánh cửa nhà khép lại, khi chiếc áo chỉnh tề được thay ra, khi những tiếng chào hỏi xã giao không còn cần thiết, khi ta trở về với vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em của mình, lúc ấy con người thật bắt đầu lộ ra. Chính vì thế, gia đình luôn là nơi thử nghiệm đầu tiên và cũng là nơi chứng tá khó nhất của Tin Mừng. Người ta có thể giảng rất hay về yêu thương nhưng lại lạnh lùng với người thân. Người ta có thể khuyên người khác tha thứ nhưng giữ trong lòng một lời trách móc với vợ mình suốt nhiều năm. Người ta có thể làm nhiều việc bác ái bên ngoài nhưng lại không có nổi một buổi tối ngồi nghe con mình nói. Người ta có thể dành hàng giờ cho công việc của giáo xứ nhưng khi về nhà lại chỉ còn sự cáu gắt dành cho những người gần gũi nhất. Và như thế, có một câu hỏi rất đáng để mỗi người chúng ta tự hỏi mình: niềm vui Tin Mừng có thật sự bước vào căn nhà của tôi chưa, hay nó mới chỉ dừng ở ngoài cửa? Gia đình được gọi là Giáo Hội tại gia không phải vì trong nhà có bàn thờ đẹp, có tượng thánh, có tràng hạt treo trên tường hay có những tấm ảnh ngày Rửa Tội, Rước Lễ, Thêm Sức của con cái được đóng khung trang trọng. Những điều ấy đáng quý, nhưng chưa đủ. Một gia đình trở thành Giáo Hội tại gia khi người ta có thể nhận ra Chúa Giêsu đang sống giữa những tương quan rất thật của gia đình ấy; khi lời nói của vợ với chồng có sự kính trọng; khi cha mẹ biết lắng nghe con cái; khi con cái biết quan tâm đến cha mẹ già; khi người ta biết dừng lại trước khi nói một lời làm đau người khác; khi bữa cơm không chỉ là nơi ăn uống mà còn là nơi các thành viên gặp nhau; khi người trong nhà có thể khóc với nhau mà không sợ bị chế giễu, có thể thú nhận một lỗi lầm mà không bị kết án, có thể yếu đuối mà vẫn biết mình được yêu thương. Nếu Tin Mừng không trở thành bầu khí của một mái nhà, thì rất khó để Tin Mừng trở thành sức sống ngoài xã hội. Nếu một đứa trẻ không cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa qua vòng tay của cha mẹ, nó sẽ rất khó hiểu thế nào là một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Nếu một người vợ không tìm được nơi người chồng sự an toàn và lòng chung thủy, những lời nói về tình yêu giao ước có thể trở nên xa lạ. Nếu một người chồng trở về nhà mà chỉ gặp lời trách móc, so sánh, coi thường, thì căn nhà dần không còn là nơi nghỉ ngơi của tâm hồn. Nếu người già cảm thấy mình trở thành gánh nặng, nếu con trẻ cảm thấy mình chỉ được yêu khi đạt điểm cao, nếu người thất bại cảm thấy mình không còn giá trị trong mắt gia đình, thì ngôi nhà ấy dù có đầy đủ tiện nghi vẫn có thể rất nghèo tình thương.
Có một thực tế không thể phủ nhận là rất nhiều gia đình hôm nay đang mệt. Không hẳn họ hết yêu nhau. Có khi họ vẫn thương nhau rất nhiều, nhưng họ mệt đến mức không còn biết diễn tả tình thương ấy thế nào. Cha mẹ sáng sớm đã tất bật ra khỏi nhà, chiều tối trở về với một thân xác rã rời và một cái đầu đầy những con số, những khoản nợ, những kế hoạch, những áp lực chưa giải quyết xong. Người mẹ vừa làm việc ngoài xã hội vừa mang theo vô số bổn phận trong nhà. Người cha có khi chịu áp lực phải là chỗ dựa kinh tế đến mức không dám nói rằng mình đang kiệt sức. Con cái đi học cả ngày, trở về lại tiếp tục với bài vở, học thêm, những kỳ vọng và sự cạnh tranh. Người trẻ sống trong thế giới mà chỉ cần cầm điện thoại lên là đã phải đối diện với hàng ngàn hình ảnh về một cuộc sống dường như hoàn hảo hơn đời mình: người khác đẹp hơn, giàu hơn, thành công hơn, vui hơn, hạnh phúc hơn. Và thế là cùng sống dưới một mái nhà nhưng mỗi người có thể đang ở trong một thế giới riêng. Cha nhìn điện thoại. Mẹ nhìn màn hình. Con đeo tai nghe. Bữa cơm có đủ món nhưng thiếu một cuộc trò chuyện. Căn phòng có máy lạnh nhưng lòng người không còn ấm. Nhà có wifi mạnh nhưng tương quan thì yếu. Người ta có thể biết chuyện xảy ra ở một đất nước xa xôi chỉ trong vài giây nhưng lại không biết hôm nay người ngồi bên cạnh mình đang buồn chuyện gì. Có những đứa trẻ tối nào cũng ở bên cha mẹ nhưng đã lâu lắm không được nghe một câu: “Hôm nay con có vui không?” Có những người vợ sống bên chồng hai mươi năm nhưng trong lòng chất đầy những điều chưa bao giờ được nói. Có những người chồng im lặng không phải vì không có chuyện để nói nhưng vì nhiều lần họ cảm thấy nói ra cũng không được hiểu. Có những người già ngồi trong căn nhà của chính mình mà cảm thấy như người thừa. Họ không thiếu cơm ăn, nhưng thiếu một người ngồi xuống hỏi chuyện. Họ không thiếu thuốc uống, nhưng thiếu một bàn tay nắm lấy. Họ không thiếu con cháu, nhưng thiếu sự hiện diện. Đó là một trong những nghịch lý buồn nhất của đời sống hiện đại: càng có nhiều phương tiện kết nối, người ta càng có nguy cơ xa nhau; càng có nhiều tiện nghi, người ta càng dễ thiếu kiên nhẫn; càng có nhiều thứ để giải trí, người ta càng khó ngồi yên với nhau.
Và chính trong một thế giới như thế, chứng tá của một gia đình Kitô giáo vui tươi trở nên quý giá biết bao. Tôi không nói đến một gia đình không có nước mắt, không có bất đồng, không có bệnh tật, không có khó khăn tài chính, không có những ngày vợ chồng giận nhau, cha mẹ buồn con, con cái thất vọng về cha mẹ. Không có gia đình nào như thế cả. Một gia đình Kitô giáo không phải là gia đình không có vấn đề. Điểm khác biệt nằm ở chỗ họ biết đem những vấn đề ấy đến đâu và họ đối xử với nhau thế nào trong những ngày khó khăn. Niềm vui Kitô giáo không phải là tiếng cười được tạo ra để che giấu đau khổ. Niềm vui ấy sâu hơn. Đó là sự bình an đến từ niềm xác tín rằng dù căn nhà này có những vết nứt, Chúa vẫn ở đây; dù chúng ta chưa hiểu nhau, chúng ta vẫn thuộc về nhau; dù hôm nay có người phạm lỗi, cánh cửa trở về vẫn còn mở; dù kinh tế khó khăn, phẩm giá của một người không được đo bằng số tiền họ kiếm được; dù con cái chưa trở thành điều cha mẹ mong muốn, chúng vẫn là quà tặng Thiên Chúa trao; dù tuổi già làm cha mẹ chậm chạp, yếu đuối, lặp đi lặp lại những câu chuyện cũ, họ vẫn là những người đã từng thức bao đêm khi ta còn bé. Niềm vui của gia đình Kitô giáo được xây dựng trên lòng trung thành, lòng biết ơn và niềm hy vọng hơn là trên hoàn cảnh thuận lợi.
Điều đầu tiên để một gia đình tìm lại niềm vui chính là đặt Chúa trở về vị trí trung tâm. Điều này nghe có vẻ quen thuộc đến mức nhiều người không còn cảm nhận hết sức nặng của nó. Chúng ta thường nói: “Gia đình Công giáo phải có Chúa.” Nhưng có Chúa nghĩa là gì? Không phải chỉ là có một góc cầu nguyện. Không phải chỉ là trong nhà có ảnh Thánh Tâm, tượng Đức Mẹ, thánh giá trên tường. Cũng không phải chỉ là cả nhà đều có tên thánh và khi có dịp thì vẫn đi lễ. Đặt Chúa ở giữa gia đình nghĩa là để cách nghĩ của Chúa thấm vào cách ta cư xử với nhau. Chúa ở giữa khi người chồng dù đang giận vẫn không xúc phạm vợ mình. Chúa ở giữa khi người vợ không lấy những yếu đuối của chồng ra làm vũ khí trong lúc tranh cãi. Chúa ở giữa khi cha mẹ không biến con cái thành nơi gửi gắm những giấc mơ dang dở của chính mình. Chúa ở giữa khi con cái nhớ rằng cha mẹ không hoàn hảo nhưng vẫn xứng đáng được kính trọng. Chúa ở giữa khi cả nhà biết cầu nguyện cho người đang làm mình đau. Chúa ở giữa khi trước một quyết định lớn, người ta không chỉ hỏi: “Điều này có lợi không?” nhưng còn hỏi: “Điều này có đúng trước mặt Chúa không?” Chúa ở giữa khi tiền bạc không trở thành ông chủ của gia đình. Chúa ở giữa khi danh dự không quan trọng hơn tình nghĩa. Chúa ở giữa khi người ta có thể nói: “Tôi đúng nhưng tôi không muốn vì cái đúng của mình mà làm tan vỡ tình thân.” Có những lúc gia đình rơi vào một tình thế mà lời nói của con người không đủ. Hai người đã nói quá nhiều nhưng vẫn không hiểu nhau. Cha mẹ khuyên con mãi mà con vẫn xa cách. Vợ chồng đã cố gắng nhiều mà vết thương vẫn còn đó. Chính lúc ấy, cầu nguyện không phải là trốn chạy nhưng là thừa nhận rằng có những điều tình yêu của chúng ta không đủ sức chữa lành và cần một tình yêu lớn hơn đi vào.
Một cảnh tượng rất đẹp mà tôi nghĩ nhiều gia đình nên tìm lại là cảnh cả nhà cùng cầu nguyện. Không cần dài. Không cần phải có những lời hoa mỹ. Có thể chỉ là vài phút trước khi ngủ. Một kinh Lạy Cha. Một kinh Kính Mừng. Một đoạn Tin Mừng ngắn. Một lời cảm ơn về điều tốt đẹp trong ngày. Một lời xin lỗi vì điều chưa tốt. Một ý cầu nguyện cho người đang đau bệnh, cho một người thân gặp khó khăn, cho một người mình đang bất hòa. Những phút cầu nguyện tưởng nhỏ bé ấy có thể trở thành sợi chỉ giữ một gia đình qua rất nhiều giông bão. Bởi khi một người chồng nghe vợ mình cầu nguyện cho mình, trái tim anh có thể mềm lại. Khi một người con nghe cha mình xin Chúa tha thứ vì đã nóng giận, nó học được rằng cha không cần phải hoàn hảo mới là một người cha đáng kính. Khi cha mẹ cùng đặt tay trên đầu đứa con trước ngày thi và cầu xin Chúa chúc lành, đứa trẻ hiểu rằng giá trị của nó lớn hơn một kết quả học tập. Khi cả gia đình cầu nguyện bên giường người bệnh, đau khổ không còn là chuyện của riêng một người mà trở thành điều cả nhà cùng mang lấy. Tôi vẫn tin rằng có những gia đình không tan vỡ không phải vì họ giỏi giải quyết xung đột hơn người khác, nhưng vì sau cùng họ còn biết quỳ xuống. Khi người ta cùng quỳ trước Chúa, thật khó để tiếp tục đứng quá cao trước nhau. Khi biết mình đều là những người cần được thương xót, ta bớt khắt khe với lỗi lầm của người khác.
Cùng với cầu nguyện là Thánh Lễ. Có những gia đình đã đánh mất dần thói quen cùng nhau đi lễ. Mỗi người một giờ. Ai tiện thì đi. Ai bận thì thôi. Chủ nhật dần trở thành ngày ngủ bù, mua sắm, ăn uống, vui chơi mà thiếu khoảnh khắc cả gia đình đứng bên nhau trước bàn thờ Chúa. Dĩ nhiên hoàn cảnh mỗi nhà khác nhau và không phải lúc nào mọi người cũng có thể cùng một giờ lễ. Nhưng nếu có thể, hình ảnh cha mẹ đưa con đến nhà thờ, cả nhà cùng lắng nghe Lời Chúa, cùng lãnh nhận Thánh Thể, cùng trở về nhà sau Thánh Lễ mang một giá trị giáo dục đức tin mạnh hơn rất nhiều lời giảng. Đứa trẻ sẽ nhớ không chỉ bài giáo lý mà còn nhớ bàn tay cha dắt mình vào nhà thờ, nhớ mẹ sửa lại cổ áo trước cửa thánh đường, nhớ những sáng Chúa nhật cả nhà cùng đi lễ dưới mưa, nhớ những lần sau lễ được cha mẹ mua cho một món ăn nhỏ. Đức tin lớn lên bằng ký ức của tình yêu như thế. Có người khi trưởng thành đi rất xa, thậm chí có lúc nguội lạnh, nhưng đến một thời điểm nào đó, chính những ký ức ấy gọi họ về. Họ nhớ tiếng chuông nhà thờ. Nhớ buổi tối gia đình đọc kinh. Nhớ dáng mẹ quỳ. Nhớ lời cha làm dấu trước bữa ăn. Và đôi khi Thiên Chúa dùng những ký ức nhỏ bé ấy để mở lại cánh cửa đức tin đã khép trong nhiều năm.
Điều thứ hai làm sống lại niềm vui trong gia đình chính là tha thứ. Đây có lẽ là một trong những điều khó nhất. Người ngoài làm ta đau, ta có thể tránh họ. Người trong nhà làm ta đau, ta vẫn phải gặp mỗi ngày. Chính vì gần nhau nên những vết thương trong gia đình thường sâu hơn. Một lời nói của người lạ ta có thể quên sau vài ngày, nhưng một câu nói của cha mẹ có khi ám ảnh một người con suốt nhiều năm. Một sự phản bội trong hôn nhân có thể để lại vết nứt rất lâu. Một lần bị so sánh với anh chị em có thể làm đứa trẻ cảm thấy mình kém giá trị. Một thái độ coi thường của chồng có thể khiến người vợ âm thầm tổn thương. Một lời nói thiếu kính trọng của con cái có thể làm cha mẹ đau mà không muốn nói. Vấn đề là nhiều gia đình không giải quyết vết thương; họ chỉ phủ lên nó bằng im lặng. Bề ngoài mọi thứ vẫn bình thường. Vẫn ăn chung. Vẫn chụp hình trong những dịp lễ. Vẫn gọi nhau là vợ chồng, cha mẹ, con cái. Nhưng bên dưới là những lớp đau chưa được chữa lành. Và càng lâu, chúng càng trở thành khoảng cách.
Tha thứ không có nghĩa là coi như không có chuyện gì xảy ra. Tha thứ cũng không có nghĩa là dung túng cho điều sai. Tha thứ không xóa bỏ trách nhiệm của người gây ra tổn thương. Nhưng tha thứ là từ chối để vết thương trở thành ông chủ của tương lai. Tha thứ là nói rằng: điều anh đã làm khiến tôi đau, nhưng tôi không muốn dành phần đời còn lại để nuôi sự oán hận ấy. Trong gia đình, có hai câu rất ngắn nhưng rất khó nói: “Tôi sai” và “Tôi xin lỗi”. Có những cuộc hôn nhân khô cứng nhiều năm chỉ vì không ai chịu nói câu đầu tiên. Có những cha mẹ nghĩ rằng xin lỗi con cái sẽ làm mất uy. Thực ra, một người cha biết xin lỗi không nhỏ đi trong mắt con; ông trở nên lớn hơn. Một người mẹ biết nói: “Hôm qua mẹ nóng quá, mẹ đã nói lời làm con buồn, mẹ xin lỗi” đang dạy con một bài học về nhân bản sâu hơn hàng trăm bài giảng. Và ngược lại, con cái cũng phải học xin lỗi cha mẹ. Không thể nhân danh tự do cá nhân mà coi thường những người sinh thành. Không thể viện cớ “khác thế hệ” để biện minh cho sự vô lễ. Tình yêu không xóa ranh giới của kính trọng.
Tôi nghĩ một gia đình rất cần tập một thói quen: đừng để cơn giận qua đêm quá nhiều lần. Không phải bất cứ mâu thuẫn nào cũng phải giải quyết ngay lập tức, vì có những lúc cả hai bên cần thời gian để bình tĩnh. Nhưng đừng biến im lặng thành hình phạt. Có những người không đánh vợ, không mắng chồng, nhưng dùng sự im lặng như một hình thức bạo lực tinh thần. Họ không nói một lời suốt nhiều ngày để người kia phải đau khổ. Đó không phải là bình tĩnh; đó là trừng phạt. Người Kitô hữu được mời gọi tìm một con đường khác. Có thể nói: “Bây giờ tôi còn giận, tôi sợ nếu nói sẽ làm tổn thương nhau. Cho tôi một chút thời gian, nhưng tôi vẫn yêu bạn và tôi muốn chúng ta sẽ nói lại chuyện này.” Chỉ một câu như thế cũng đủ để người kia biết rằng cánh cửa vẫn mở. Những kỹ năng nhỏ như vậy giữ được rất nhiều hôn nhân. Bởi gia đình không tan vỡ chỉ vì một cuộc cãi nhau lớn; nhiều khi nó chết dần vì hàng ngàn lần người ta không còn muốn hiểu nhau nữa.
Một điều khác cũng rất quan trọng là học cách xin lỗi đúng. Nhiều người tưởng mình xin lỗi nhưng thật ra đang biện minh. “Anh xin lỗi, nhưng tại em làm anh tức.” “Mẹ xin lỗi, nhưng con cũng phải biết con sai.” Đó chưa phải là xin lỗi trọn vẹn. Một lời xin lỗi thật cần có sự nhìn nhận phần trách nhiệm của mình mà không ngay lập tức chuyển lỗi sang người khác. “Anh đã nói câu ấy và nó làm em tổn thương. Anh sai. Anh xin lỗi.” Chỉ vậy thôi. Sau này có thể cùng nhau nói thêm về nguyên nhân, nhưng giây phút xin lỗi cần sạch khỏi sự tự vệ. Và khi người kia xin lỗi chân thành, ta cũng học cách đón nhận. Đừng lấy quá khứ ra nhắc mãi. Đừng mỗi lần cãi nhau lại đào tất cả những chuyện của mười năm trước. Nếu một lỗi lầm đã được thực sự tha thứ, hãy để nó nằm trong quá khứ. Một gia đình không thể vui nếu mọi người phải sống dưới bản án vĩnh viễn của những sai lầm đã qua.
Điều thứ ba là học lại nghệ thuật vui với những điều rất nhỏ. Thế giới tiêu dùng dạy chúng ta rằng hạnh phúc luôn ở món đồ tiếp theo. Có nhà rồi thì muốn nhà lớn hơn. Có xe rồi thì muốn xe tốt hơn. Có điện thoại rồi thì đợi phiên bản mới. Có chuyến du lịch này rồi thì nghĩ đến nơi xa hơn. Và thế là con người sống trong tâm trạng luôn thiếu một chút nữa mới hạnh phúc. Nhưng kỳ lạ thay, khi đạt được điều từng mong đợi, niềm vui thường chỉ kéo dài rất ngắn rồi ta lại quen. Nếu một gia đình xây hạnh phúc trên vật chất, họ sẽ phải chạy suốt đời mà không đến nơi. Niềm vui Kitô giáo có một bí quyết khác: biết nhận ra ân huệ trong điều bình thường. Một bữa cơm có đủ mặt mọi người là ân huệ. Một buổi sáng mở mắt thấy người thân còn khỏe là ân huệ. Một đứa con chạy về kể chuyện trường lớp là ân huệ. Một người chồng về nhà bình an sau một ngày làm việc là ân huệ. Một người mẹ vẫn còn đủ sức nấu một món ăn cho con cháu là ân huệ. Một người cha già vẫn còn ngồi ngoài hiên đợi con về là ân huệ. Những điều ấy rất thường đến nỗi ta quên rằng một ngày nào đó chúng sẽ không còn.
Có lẽ chỉ khi mất đi, người ta mới hiểu những điều bình thường từng quý thế nào. Khi một người mẹ qua đời, căn bếp vẫn đó nhưng không còn mùi món ăn quen thuộc. Khi người cha mất, chiếc ghế ông thường ngồi bỗng trở nên trống lạ lùng. Khi con cái lớn lên đi xa, căn nhà từng ồn ào bỗng im. Khi vợ hoặc chồng không còn, người ở lại mới nhận ra cả tiếng càm ràm ngày trước cũng trở thành điều đáng nhớ. Vì thế, đừng chờ đến lúc mất mới biết quý. Hãy học niềm vui của hiện tại. Hãy ăn một bữa cơm mà không cầm điện thoại. Hãy nhìn người đối diện khi họ nói. Hãy hỏi cha mẹ một câu về quá khứ và nghe họ kể, dù có thể đó là câu chuyện mình đã nghe nhiều lần. Hãy ôm con khi nó còn muốn được ôm. Có một ngày nó sẽ lớn và vòng tay ấy không còn tự nhiên như trước. Hãy nói với người bạn đời rằng mình biết ơn họ. Đừng nghĩ sống với nhau lâu rồi thì không cần nói. Tình yêu nếu chỉ giữ trong lòng mà không được diễn tả thì người kia rất khó cảm nhận. Một câu “cảm ơn em”, “cảm ơn anh”, “ba thương con”, “mẹ tự hào vì con đã cố gắng”, “con cảm ơn ba mẹ” có sức chữa lành mà ta không ngờ.
Một căn nhà vui không nhất thiết là căn nhà lúc nào cũng ồn ào tiếng cười. Có những niềm vui rất tĩnh. Đó là cảm giác được bình an khi bước qua cánh cửa nhà. Là biết dù ngoài kia có chuyện gì, mình vẫn có nơi để trở về. Là không phải diễn. Là được yếu. Là có thể nói: “Hôm nay tôi mệt” mà không bị xem thường. Là có thể thất bại mà không sợ bị bỏ rơi. Tôi nghĩ đó chính là một trong những quà tặng lớn nhất gia đình có thể trao cho mỗi người: một nơi mà tình yêu không hoàn toàn phụ thuộc vào thành tích. Thế giới đánh giá con người bằng hiệu quả. Công ty nhìn năng suất. Trường học nhìn điểm số. Xã hội nhìn địa vị. Mạng xã hội nhìn lượt thích. Nhưng gia đình phải là nơi một người có thể nghe: “Dù con chưa thành công, con vẫn là con của ba mẹ.” “Dù anh thất bại, em vẫn ở đây.” “Dù em già đi, bệnh tật, anh vẫn chọn em.” Nếu gia đình cũng chỉ yêu nhau dựa trên thành tích, con người sẽ không còn nơi nào để nghỉ.
Đặc biệt, cha mẹ cần cẩn thận với một kiểu yêu thương có điều kiện mà đôi khi chính mình không nhận ra. “Con phải giỏi thì ba mẹ mới vui.” “Con phải đậu trường này thì mới làm ba mẹ nở mặt.” “Con nhìn con nhà người ta kìa.” Những lời ấy có thể xuất phát từ mong muốn tốt nhưng lại gieo vào trẻ cảm giác rằng mình chỉ đáng yêu khi đáp ứng kỳ vọng. Có những đứa trẻ lớn lên rất thành công nhưng bên trong luôn sợ thất bại, vì thất bại đồng nghĩa với không còn được yêu. Gia đình Kitô giáo phải nói một ngôn ngữ khác: “Ba mẹ mong con cố gắng hết sức, nhưng giá trị của con không nằm ở điểm số.” “Con có thể sai, nhưng con phải học từ sai lầm.” “Ba mẹ không đồng ý với việc con làm, nhưng ba mẹ không ngừng yêu con.” Đó chính là cách Thiên Chúa yêu con người: Ngài không gọi điều sai là đúng, nhưng Ngài vẫn tìm kiếm người sai để đưa họ trở về.
Với vợ chồng, niềm vui cũng cần được chăm sóc. Nhiều người sau khi cưới nghĩ rằng tình yêu sẽ tự tồn tại. Không phải vậy. Hôn nhân cũng như một khu vườn. Nếu không tưới, không chăm, cỏ dại sẽ mọc. Ban đầu hai người nói chuyện với nhau hàng giờ. Sau vài năm, họ chỉ còn nói về tiền điện, học phí, con cái, lịch làm việc, việc nhà. Hai người trở thành một đội quản lý gia đình rất hiệu quả nhưng không còn là đôi bạn đời. Vì thế, cần bảo vệ những khoảng thời gian dành cho nhau. Không nhất thiết phải đi đâu sang trọng. Có thể chỉ là một buổi tối ngồi bên nhau sau khi con ngủ. Một ly trà. Một đoạn đi bộ. Một cuộc trò chuyện không có điện thoại. Hỏi nhau: “Dạo này em thật sự thế nào?” “Anh có điều gì đang lo không?” Những câu hỏi ấy có thể cứu một mối quan hệ khỏi sự xa cách âm thầm.
Vợ chồng cũng cần học ngôn ngữ của sự trân trọng. Trong đời sống lâu dài, người ta rất dễ nhìn thấy điều chưa tốt hơn điều tốt. Chồng làm mười việc thì vợ chỉ nhớ một việc chưa làm. Vợ hy sinh cả ngày thì chồng chỉ chú ý món ăn hôm nay hơi mặn. Những điều như thế tích tụ thành sự tổn thương. Hãy tập nói điều tốt ra thành lời. “Anh biết em mệt mà vẫn chăm con, cảm ơn em.” “Em biết anh đang cố gắng vì gia đình.” “Hôm nay anh về sớm, các con vui lắm.” Lời trân trọng không phải nịnh. Nó là sự công bằng của tình yêu. Người ta có thể chịu được rất nhiều vất vả nếu cảm thấy những hy sinh của mình được nhìn thấy.
Còn con cái cũng cần hiểu rằng gia đình không phải khách sạn, nơi mình chỉ về ăn, ngủ và được phục vụ. Mỗi thành viên phải góp phần xây mái nhà. Một đứa trẻ biết dọn bàn, rửa chén, gấp quần áo, chăm ông bà, nhường nhịn em nhỏ không chỉ đang học việc nhà; nó đang học tình yêu. Tình yêu không phải cảm xúc. Tình yêu có bàn tay. Có mồ hôi. Có việc phải làm dù không thích. Nếu cha mẹ làm tất cả cho con, con dễ lớn lên với tâm thế được phục vụ hơn là phục vụ. Sau này bước vào hôn nhân, người trẻ có thể nghĩ vợ hoặc chồng có trách nhiệm làm cho mình hạnh phúc. Đó là một nền tảng rất nguy hiểm. Gia đình Kitô giáo phải là trường học đầu tiên của sự cho đi.
Niềm vui gia đình cũng được bảo vệ bằng cách biết đặt giới hạn cho công nghệ. Điện thoại tự nó không xấu. Mạng xã hội cũng có nhiều điều tốt. Nhưng khi chiếc điện thoại trở thành người thứ ba trong mọi cuộc trò chuyện, nó đang lấy đi điều gì đó. Có những bữa ăn mà bốn người ngồi bên nhau nhưng mỗi người nhìn một màn hình. Có cha mẹ than con nghiện điện thoại nhưng chính mình không rời điện thoại. Trẻ học bằng mắt nhiều hơn bằng tai. Nếu chúng thấy cha mẹ luôn cầm máy, lời dạy “con đừng dùng điện thoại nhiều” rất khó thuyết phục. Có lẽ mỗi gia đình nên có những vùng không điện thoại: bàn ăn, giờ cầu nguyện, một khoảng thời gian trước khi ngủ. Không phải để chống công nghệ, nhưng để bảo vệ tương quan. Chúng ta phải đủ can đảm nói rằng có những con người trước mặt quan trọng hơn những thông báo trên màn hình.
Một nguồn làm chết niềm vui khác là sự so sánh. Ngày trước người ta so với hàng xóm. Hôm nay người ta so với cả thế giới. Thấy người khác đi du lịch, ta thấy nhà mình chật chội. Thấy người khác khoe thành tích con cái, ta thấy con mình kém. Thấy một đôi vợ chồng đăng ảnh hạnh phúc, ta bắt đầu nhìn người bên cạnh với sự thất vọng. Nhưng mạng xã hội thường là chiếc tủ kính trưng bày những khoảnh khắc đẹp nhất của người khác, trong khi ta lại dùng nó để so với những ngày bình thường nhất của chính mình. Không công bằng. Một gia đình muốn giữ niềm vui phải học biết ơn câu chuyện riêng của mình. Nhà người khác có điều nhà mình không có, nhưng nhà mình cũng có ân huệ riêng. Người khác có thể giàu hơn, nhưng chưa chắc bình an hơn. Người khác có thể thành công hơn, nhưng chưa chắc gần nhau hơn. Đừng để sự so sánh đánh cắp niềm vui của những gì mình đang có.
Và rồi, gia đình chỉ thực sự trở thành chứng tá khi không khép kín trong chính mình. Một mái nhà càng có Chúa ở giữa càng mở cửa ra. Tình yêu Kitô giáo luôn có xu hướng lan rộng. Gia đình không phải pháo đài để bảo vệ hạnh phúc riêng khỏi thế giới. Gia đình là nơi người ta học yêu để rồi đem tình yêu ra ngoài. Có những gia đình dù không giàu nhưng luôn dành một phần nhỏ giúp người khó khăn. Có những bà mẹ dạy con mỗi dịp lễ hãy chọn vài bộ quần áo còn tốt để tặng trẻ em nghèo. Có những người cha dẫn con đi thăm một người bệnh, để con hiểu cuộc đời không chỉ có nhu cầu của mình. Có những gia đình dành một chỗ ở bàn ăn cho một người sống xa quê vào dịp lễ. Có những đôi vợ chồng nhận đỡ đầu một hoàn cảnh khó khăn. Những hành động ấy dạy con cái một điều vô cùng quan trọng: niềm vui không giảm đi khi chia sẻ; nó lớn lên.
Tôi đã gặp những gia đình rất nghèo nhưng khiến người bước vào cảm thấy ấm. Căn nhà nhỏ. Bàn ghế đơn sơ. Bữa ăn chẳng có gì sang. Nhưng người ta mời nhau bằng cả tấm lòng. Trẻ con cười. Người lớn nói chuyện. Có một sự tự nhiên khiến khách không cảm thấy mình là người ngoài. Tôi cũng từng bước vào những căn nhà rất đẹp, mọi thứ đắt tiền và hoàn hảo, nhưng bầu khí lại lạnh. Người ta nói chuyện với nhau bằng những câu cần thiết. Không ai nhìn ai lâu. Mỗi người một phòng. Và lúc ấy tôi càng hiểu rằng sự giàu có của một gia đình không nằm trong giá trị căn nhà mà trong chất lượng những tương quan sống bên trong nó.
Gia đình nào cũng sẽ có những mùa khác nhau. Có mùa sinh con, căn nhà đầy tiếng khóc và những đêm thiếu ngủ. Có mùa con tuổi thiếu niên, cha mẹ cảm giác đứa trẻ ngày nào bỗng trở thành người lạ. Có mùa con trưởng thành rời nhà. Có mùa cha mẹ già bệnh. Có mùa kinh tế thuận lợi. Có mùa thất nghiệp, nợ nần. Có mùa người thân đau bệnh. Có mùa tang chế. Niềm vui Kitô giáo phải đi qua tất cả những mùa ấy. Nó không chỉ tồn tại trong những ngày cưới, ngày sinh nhật, Giáng Sinh hay Tết. Nó phải có khả năng ở lại bên giường bệnh. Ở lại trong căn phòng nơi người ta vừa nghe một tin dữ. Ở lại giữa thời kỳ thất nghiệp. Ở lại khi một đứa con đi lạc khỏi con đường cha mẹ mong muốn. Đó là lúc niềm vui trở thành hy vọng. Có những ngày gia đình không thể cười, nhưng vẫn có thể tin. Và đôi khi chỉ cần còn tin rằng Chúa chưa bỏ căn nhà này, người ta đã có đủ sức để bước tiếp một ngày nữa.
Tôi đặc biệt nghĩ đến những gia đình đang mang những vết thương lớn. Có người đọc những dòng này và cảm thấy gia đình mình quá xa với hình ảnh đẹp đẽ được nói đến. Có thể vợ chồng đang ở bên bờ đổ vỡ. Có thể con cái không còn nói chuyện với cha mẹ. Có thể một người trong nhà nghiện ngập. Có thể có sự phản bội. Có thể những năm tháng xung đột đã khiến ai đó gần như tuyệt vọng. Với những gia đình ấy, đừng bắt đầu bằng giấc mơ sửa tất cả trong một ngày. Hãy bắt đầu bằng một khe sáng nhỏ. Một câu cầu nguyện. Một lời xin lỗi. Một quyết định không nói thêm lời làm đau. Một bữa cơm không điện thoại. Một tin nhắn hỏi thăm. Một cuộc gặp với người có thể giúp. Ơn Chúa thường đi vào qua những khe rất nhỏ. Không ai xây lại một căn nhà đổ chỉ bằng một viên gạch, nhưng phải có viên gạch đầu tiên. Điều quan trọng là đừng tuyệt vọng đến mức không đặt viên gạch ấy.
Có lẽ một trong những dấu chỉ đẹp nhất của gia đình Kitô giáo là khả năng bắt đầu lại. Mỗi sáng là một cơ hội. Người chồng hôm qua nóng giận có thể hôm nay dịu dàng hơn. Người vợ hôm qua đã nói điều không nên nói có thể hôm nay xin lỗi. Người con từng làm cha mẹ đau có thể trở về. Người cha từng xa cách con có thể học lại cách làm cha. Không ai bị đóng khung mãi trong lỗi lầm của mình. Tin Mừng là Tin Mừng của những khởi đầu mới. Nếu Thiên Chúa cho con người cơ hội trở về, gia đình cũng phải là nơi cho nhau cơ hội ấy.
Một gia đình vui cũng là gia đình biết làm lễ cho những điều nhỏ. Không cần chờ sự kiện lớn. Có thể mừng ngày một đứa trẻ hoàn thành năm học. Mừng người cha vượt qua một giai đoạn khó khăn. Mừng ông bà thêm một tuổi. Mừng một người tìm được việc. Mừng một thành viên trở về sau thời gian xa nhà. Người Do Thái có truyền thống kể lại những việc Thiên Chúa đã làm; gia đình Kitô giáo cũng cần có ký ức biết ơn. Có thể trong bữa cơm cuối năm, mỗi người nói một điều mình biết ơn. Có thể ngày kỷ niệm hôn nhân, cha mẹ kể cho con nghe câu chuyện họ gặp nhau. Có thể giữ một cuốn sổ nhỏ ghi những lời cầu nguyện đã được nhậm. Những điều ấy tạo nên căn tính gia đình. Trẻ sẽ lớn lên không chỉ với ký ức về những lần bị la mà còn với ký ức rằng nhà mình từng cười cùng nhau, từng cầu nguyện cùng nhau, từng vượt qua khó khăn cùng nhau.
Tôi cũng muốn nói đến vai trò đặc biệt của người già trong gia đình. Một xã hội chạy nhanh dễ coi người già là những người không còn năng suất. Tin Mừng nhìn khác. Ông bà là kho ký ức. Là chiếc cầu nối các thế hệ. Là những người có thể truyền đức tin bằng những câu chuyện rất đơn sơ. Đứa trẻ ngồi nghe bà kể ngày xưa gia đình đã vượt qua chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật thế nào sẽ học được sức mạnh mà sách vở không dạy. Một người ông chậm rãi lần chuỗi mỗi tối đang để lại một gia tài vô hình. Đừng để ông bà sống những năm cuối trong cảm giác mình phiền. Hãy cho trẻ cơ hội gần người già. Có thể chúng sẽ học được sự kiên nhẫn, lòng biết ơn, sự mong manh của đời người và giá trị của một bàn tay nắm lấy nhau.
Cha mẹ cũng cần nhớ rằng điều con cái cần không chỉ là tiền. Có những người hy sinh tất cả để kiếm tiền cho con rồi một ngày đau đớn nhận ra rằng mình đã vắng mặt trong tuổi thơ của chúng. Không ai phủ nhận trách nhiệm kinh tế. Nhưng cần tự hỏi: tôi đang kiếm sống cho gia đình hay đang đánh mất gia đình vì kiếm sống? Một đứa trẻ có thể không nhớ đôi giày đắt tiền cha mua, nhưng sẽ nhớ buổi chiều cha đến xem nó biểu diễn. Nó có thể không nhớ chiếc điện thoại mẹ tặng, nhưng sẽ nhớ những đêm mẹ ngồi cạnh khi nó bệnh. Điều con người mang theo suốt đời thường không phải giá trị vật chất của món quà mà là cảm giác được yêu khi nhận món quà ấy.
Và cũng cần nói với con cái trưởng thành: đừng đợi cha mẹ già yếu mới bắt đầu quan tâm. Có những người rất thành công ngoài xã hội nhưng mỗi năm chỉ gọi cha mẹ vài lần. Họ có thể nói chuyện hàng giờ với đối tác nhưng không có mười phút cho người sinh ra mình. Thời gian của cha mẹ không vô hạn. Một ngày kia, số điện thoại quen thuộc sẽ không còn ai bắt máy. Chiếc ghế sẽ trống. Căn phòng sẽ còn nguyên nhưng người không còn. Khi ấy, điều đau nhất không chỉ là mất cha mẹ mà còn là những câu “giá như”: giá như mình về nhiều hơn, giá như mình bớt bận một chút, giá như mình kiên nhẫn nghe cha kể chuyện cũ, giá như mình nói “con thương ba mẹ” khi còn có thể. Đừng để tình yêu trở thành điều chỉ được nói trong tang lễ.
Gia đình là nơi chúng ta học những chữ đầu tiên của Tin Mừng trước khi biết đọc Kinh Thánh. Một đứa trẻ học về lòng thương xót khi làm vỡ đồ nhưng vẫn được cha mẹ ôm sau khi được sửa dạy. Nó học về lòng trung thành khi thấy cha mẹ ở bên nhau trong bệnh tật. Nó học về bác ái khi thấy gia đình chia sẻ với người nghèo. Nó học về cầu nguyện khi thấy cha mẹ quỳ xuống. Nó học về phẩm giá khi thấy người lớn đối xử tử tế với người giúp việc, với hàng xóm, với người khác biệt. Và ngược lại, nếu đứa trẻ nghe cha mẹ nói về Chúa nhưng thấy họ gian dối trong làm ăn, nói xấu người khác, khinh người nghèo, sống hai mặt, thì bài giáo lý mạnh nhất mà nó nhận được lại là sự mâu thuẫn. Con trẻ có thể quên những điều cha mẹ dạy bằng lời nhưng hiếm khi quên cách cha mẹ sống.
Chứng tá gia đình có sức truyền giáo đặc biệt chính vì nó không cần diễn đàn. Một gia đình hàng xóm nhìn thấy vợ chồng kia sống với nhau tử tế suốt nhiều năm sẽ tự hỏi điều gì giúp họ giữ được sự bình an ấy. Một người trẻ đến chơi nhà bạn và thấy cả nhà ăn cơm cùng nhau, cầu nguyện trước bữa ăn, nói chuyện không la mắng có thể lần đầu cảm nhận một kiểu gia đình khác. Một người đang khủng hoảng hôn nhân được một đôi vợ chồng khác lắng nghe và đồng hành có thể tìm lại hy vọng. Có những bài giảng không được nói trên bục giảng. Chúng được nói qua cách một người chồng mở cửa cho vợ, cách một người con đút cháo cho mẹ già, cách một gia đình đón một người cô đơn vào bàn ăn. Đó là những bài giảng mà người ta khó phản bác.
Điều này cũng nhắc chúng ta đừng chỉ chăm chút hình ảnh gia đình bên ngoài. Có những gia đình cố gắng giữ danh tiếng bằng mọi giá: trước mặt người khác phải đẹp, phải hạnh phúc, phải thành công. Nhưng bên trong ai cũng ngột ngạt. Tin Mừng không đòi chúng ta trưng bày một gia đình hoàn hảo. Tin Mừng mời gọi một gia đình thật. Một gia đình có thể nói: chúng tôi có khó khăn, nhưng chúng tôi đang học yêu nhau. Chúng tôi có lúc thất bại, nhưng chúng tôi không bỏ cuộc. Chúng tôi cần Chúa vì tự sức mình chúng tôi không làm nổi. Chính sự thật ấy có sức thuyết phục hơn vẻ hoàn hảo giả tạo.
Niềm vui trong gia đình cũng cần được nuôi bằng óc hài hước và sự nhẹ nhàng. Có những nhà quá nghiêm. Mọi chuyện đều thành vấn đề lớn. Một cái ly vỡ cũng có thể dẫn đến một trận la mắng. Một điểm thấp trở thành thảm họa. Một sai sót nhỏ bị nhắc mãi. Sống như thế rất mệt. Có lúc cần biết cười với sự bất toàn của nhau. Có những chuyện sau vài năm nhớ lại chỉ là chuyện vui, vậy tại sao hôm nay phải biến nó thành chiến tranh? Một mái nhà có tiếng cười là một ân huệ. Nhưng tiếng cười không được xây trên việc chế giễu một thành viên. Đừng biến khuyết điểm của chồng, vợ hay con thành trò đùa trước người khác. Hài hước thật làm người ta nhẹ đi, không làm ai bị hạ thấp.
Tôi vẫn tin rằng hạnh phúc gia đình được dệt từ những điều nhỏ lặp lại mỗi ngày hơn là từ những sự kiện lớn. Một lời chào buổi sáng. Một cái hôn trước khi đi làm. Một tin nhắn “về cẩn thận”. Một bữa cơm chờ nhau. Một câu hỏi “hôm nay của con thế nào?”. Một lời cầu nguyện trước khi ngủ. Một cái chăn kéo lên cho người kia lúc đêm khuya. Những việc ấy không lên báo, không ai vỗ tay, không có hình ảnh hào nhoáng, nhưng chính chúng làm nên một cuộc đời.
Nếu ai hỏi tôi đâu là dấu chỉ một gia đình thật sự có Chúa, tôi sẽ không vội nhìn vào số ảnh thánh trên tường hay số lần họ tham gia sinh hoạt đạo đức. Tôi sẽ nhìn cách họ nói với nhau khi không đồng ý. Tôi sẽ nhìn cách họ đối xử với người yếu nhất trong nhà. Tôi sẽ nhìn người con thất bại có còn dám về nhà không. Tôi sẽ nhìn người vợ mệt có được chồng nhận ra không. Tôi sẽ nhìn người cha già có được con cái kiên nhẫn nghe không. Tôi sẽ nhìn lúc một người phạm lỗi, cánh cửa có còn mở không. Vì chính ở đó Tin Mừng trở thành thịt da.
Gia đình nào cũng có thể bắt đầu lại từ hôm nay. Không cần chờ có nhiều tiền hơn. Không cần chờ con ngoan hơn. Không cần chờ chồng thay đổi trước. Không cần chờ vợ xin lỗi trước. Có thể bắt đầu bằng một việc nhỏ: tối nay cả nhà ăn chung mà không cầm điện thoại. Tối nay cha mẹ làm dấu trên trán con trước khi ngủ. Tối nay một người nói lời cảm ơn. Ngày mai một người gọi điện cho cha mẹ. Chúa nhật này cố gắng cùng nhau đi lễ. Tuần này dành một ít tiền cho một người khó khăn. Tháng này tổ chức một buổi tối gia đình. Hạt cải nhỏ sẽ lớn. Một mái nhà được chữa lành không phải nhờ những tuyên bố lớn lao mà nhờ những lựa chọn âm thầm được lặp lại với tình yêu.
Và có lẽ sau tất cả, điều quyết định niềm vui của một gia đình không nằm ở việc họ sở hữu bao nhiêu mà ở chỗ ai đang ở giữa họ. Nếu tiền ở giữa, họ sẽ tranh nhau quyền lợi. Nếu cái tôi ở giữa, họ sẽ tranh nhau đúng sai. Nếu danh dự ở giữa, họ sẽ sống để giữ hình ảnh. Nếu con cái ở giữa như một thứ thần tượng, cha mẹ sẽ dễ đánh mất nhau. Nhưng nếu Chúa ở giữa, mọi thứ dần tìm lại đúng vị trí. Tiền trở thành phương tiện. Thành công trở thành ân huệ chứ không phải căn tính. Con cái là quà tặng chứ không phải tài sản. Vợ chồng là người đồng hành chứ không phải người phải đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Cha mẹ già là phúc lành chứ không phải gánh nặng. Và căn nhà trở thành nơi người ta tập sống thiên đàng bằng những việc rất trần thế: nấu cơm, rửa chén, đi làm, chăm con, chăm người bệnh, xin lỗi, tha thứ, cầu nguyện và bắt đầu lại.
Tôi đã thấy những gia đình chẳng có bao nhiêu tiền nhưng có một thứ rất quý: ai bước vào cũng muốn ở lâu hơn một chút. Bởi nơi ấy người ta cảm thấy được đón nhận. Tôi cũng đã thấy những căn nhà đầy đủ mọi thứ nhưng người trong nhà chỉ muốn đi ra ngoài. Sự khác biệt không nằm ở diện tích, không nằm ở nội thất, không nằm ở tài khoản ngân hàng. Sự khác biệt nằm trong bầu khí của tình yêu. Và bầu khí ấy không tự nhiên mà có. Nó được tạo nên từng ngày bởi những con người biết đặt Chúa ở giữa, biết hạ cái tôi xuống, biết nói lời xin lỗi, biết tha thứ, biết ăn mừng những điều bé nhỏ, biết mở cửa cho người khác và biết rằng người bên cạnh mình quý hơn mọi thứ mình đang cố gắng kiếm tìm.
Ước gì mỗi gia đình Kitô hữu trở thành một ngọn đèn nhỏ. Không cần quá sáng để người ta chú ý, chỉ cần đủ ấm để người bước đến cảm thấy lòng mình được sưởi. Ước gì con cái khi nghĩ về nhà không chỉ nghĩ đến một địa chỉ nhưng nghĩ đến một nơi mình được yêu. Ước gì người chồng sau những vất vả ngoài đời vẫn mong trở về. Ước gì người vợ không cảm thấy mình phải một mình gánh cả căn nhà. Ước gì cha mẹ già biết rằng những năm cuối đời họ vẫn có chỗ trong trái tim con cháu. Ước gì những người trẻ dù bay xa đến đâu vẫn mang theo trong mình ký ức về một mái nhà có lời kinh, có bữa cơm, có tiếng cười, có những lần cãi nhau nhưng rồi lại làm hòa, có những bàn tay đã nắm nhau qua rất nhiều giông bão.
Bởi cuối cùng, gia đình không cần trở thành một nơi hoàn hảo. Chỉ cần trở thành nơi người ta không ngừng học yêu. Và mỗi lần một người chọn nhịn một lời để giữ bình an, mỗi lần một người can đảm xin lỗi, mỗi lần cha mẹ ngồi xuống nghe con, mỗi lần con cái trở về thăm cha mẹ, mỗi lần vợ chồng cầu nguyện với nhau, mỗi lần cả nhà chia sẻ cho một người nghèo, Nước Thiên Chúa lại âm thầm lớn lên giữa bốn bức tường rất bình thường ấy. Khi đó, gia đình thật sự trở thành Giáo Hội tại gia; không phải vì treo nhiều ảnh thánh nhưng vì người ta bắt đầu nhận ra khuôn mặt của Chúa trong nhau. Và đó có lẽ là chứng tá Tin Mừng đầu tiên, gần gũi nhất, khó nhất nhưng cũng đẹp nhất: một mái nhà nơi người ta vẫn còn muốn trở về, vẫn còn có thể tha thứ, vẫn còn biết cầu nguyện, vẫn còn tiếng cười sau nước mắt và vẫn còn đủ chỗ cho Chúa ngồi ở giữa mọi người.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 5
TRONG GIÁO XỨ VÀ CỘNG ĐOÀN – SỐNG NHƯ NHỮNG MÔN ĐỆ THỪA SAI
Có một điều mà có lẽ chúng ta phải can đảm nhìn nhận với nhau, đó là trong đời sống đức tin, rất dễ có lúc chúng ta vô tình biến giáo xứ thành một nơi cung cấp những “dịch vụ tôn giáo”, còn chính mình thì trở thành những người đến để sử dụng những dịch vụ ấy. Ta đến nhà thờ để dự lễ, để xin lễ, để lãnh nhận các bí tích, để cho con cái học giáo lý, để làm giấy tờ hôn phối, để xin chứng nhận, để dự một vài sinh hoạt, rồi trở về với cuộc sống riêng của mình. Nếu mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, ta thấy giáo xứ “tốt”. Nếu có điều gì chưa vừa ý, ta dễ than phiền rằng giáo xứ “chưa phục vụ tốt”. Cách nghĩ ấy nghe qua tưởng chẳng có gì nghiêm trọng, nhưng nếu nó âm thầm bén rễ trong lòng người tín hữu, giáo xứ sẽ dần bị biến thành một nơi người ta đến để nhận hơn là một cộng đoàn trong đó mỗi người nhận ra mình đã được sai đi. Giáo xứ không phải là một cửa hàng thiêng liêng. Giáo xứ cũng không phải là một trạm cung cấp bí tích. Giáo xứ càng không phải chỉ là nơi cha xứ làm mục vụ, các hội đoàn tổ chức sinh hoạt, còn phần đông giáo dân đứng bên ngoài quan sát hoặc thỉnh thoảng tham gia khi có nhu cầu. Giáo xứ, theo đúng căn tính của mình, là một cộng đoàn của những người đã gặp Đức Kitô, đã được Đức Kitô biến đổi, và vì thế không thể không mang Đức Kitô đến cho người khác. Nói cách khác, giáo xứ phải là cộng đoàn của những môn đệ thừa sai. Hai chữ ấy không thể tách rời nhau. Đã là môn đệ thì phải học nơi Thầy, ở lại với Thầy, để Thầy uốn nắn, chữa lành và biến đổi. Nhưng đã thật sự ở lại với Thầy rồi thì không thể cứ ở mãi trong căn phòng đóng kín. Người môn đệ đích thực rồi sẽ được sai đi. Và người được sai đi cũng không được quên rằng mình chỉ có thể sinh hoa trái khi vẫn còn là môn đệ, vẫn còn biết ngồi dưới chân Chúa, vẫn còn biết trở về với Chúa trong thinh lặng, trong Lời Chúa, trong Thánh Thể và trong cầu nguyện. Nếu chỉ làm mà không ở lại với Chúa, người ta sẽ kiệt sức. Nếu chỉ ở lại mà không chịu lên đường, người ta sẽ khô cằn. Một giáo xứ sống động là nơi hai chiều ấy luôn gặp nhau: ở lại với Chúa và lên đường vì Chúa.
Đức Phanxicô đã nhiều lần diễn tả ước mơ về một Giáo Hội mang lấy một “lựa chọn truyền giáo”, nghĩa là truyền giáo không phải là một sinh hoạt thêm vào bên cạnh những sinh hoạt khác, càng không phải là công việc của một nhóm chuyên trách, nhưng là linh hồn chi phối toàn bộ đời sống Giáo Hội. Khi tinh thần truyền giáo thật sự được đặt vào trung tâm, người ta sẽ bắt đầu đặt lại rất nhiều câu hỏi. Tại sao chúng ta làm việc này? Tại sao chúng ta duy trì thói quen kia? Tại sao chúng ta tổ chức chương trình nọ? Những điều ấy có thực sự giúp người ta gặp Chúa không? Có làm cho người đau khổ được nâng đỡ không? Có giúp người xa Chúa muốn trở về không? Có mở cửa cho người ngoài bước vào không? Có làm cho người nghèo cảm thấy mình thuộc về cộng đoàn không? Có giúp một người trẻ đang mất phương hướng nhận ra rằng đời mình vẫn còn có ý nghĩa không? Có giúp một gia đình đang rạn nứt tìm lại được hy vọng không? Có giúp một người đã lâu không đến nhà thờ cảm thấy rằng Giáo Hội vẫn chờ họ, vẫn yêu họ và chưa bao giờ đóng cửa với họ không? Một giáo xứ mang lấy lựa chọn truyền giáo sẽ không chỉ hỏi làm sao giữ cho mọi thứ vận hành, nhưng còn hỏi làm sao để mọi thứ đang vận hành trở thành con đường đưa con người đến gần Tin Mừng hơn. Không chỉ hỏi làm sao cho nhà thờ đông, nhưng hỏi làm sao những người bước vào nhà thờ được gặp Chúa thật. Không chỉ hỏi làm sao các hội đoàn mạnh, nhưng hỏi sức mạnh ấy có trở thành tình yêu dành cho những người chưa thuộc hội đoàn không. Không chỉ hỏi chương trình có thành công hay không, nhưng hỏi sau chương trình ấy có ai được chữa lành, có ai được đánh động, có ai được kéo gần lại với Chúa, có ai cảm thấy mình không còn cô đơn nữa hay không.
Một giáo xứ có thể có nhà thờ rất đẹp, có khuôn viên rộng, có nhiều hội đoàn, có lịch sinh hoạt dày đặc, có những dịp lễ hội tưng bừng, có những chương trình quy mô, có ngân quỹ vững vàng và có hàng ngàn giáo dân ghi danh trong sổ sách, nhưng tất cả những điều ấy vẫn chưa đủ để nói rằng đó là một giáo xứ sống động theo tinh thần Tin Mừng. Bởi có những cộng đoàn rất bận rộn nhưng không thật sự sống. Có những giáo xứ có rất nhiều người mà lòng người lại xa nhau. Có những nơi tổ chức việc gì cũng đông nhưng khi một người đau khổ thì chẳng mấy ai biết. Có những cộng đoàn hát rất hay trong nhà thờ nhưng lời nói ngoài sân nhà thờ lại dễ làm người khác tổn thương. Có những nơi quy củ đến từng chi tiết nhưng một người mới bước vào lại không biết ngồi đâu, hỏi ai, tìm ai, và cảm thấy mình như một người thừa. Có những hội đoàn mặc đồng phục rất đẹp nhưng lại vô tình tạo nên những vòng tròn khép kín, nơi người quen thì được đón tiếp còn người lạ thì đứng ngoài. Có những cộng đoàn rất mạnh trong việc bảo vệ những tập tục đã có nhưng lại yếu trong việc tìm kiếm những con người đang thất lạc. Có những nơi người ta tranh luận nhiều về việc phải làm thế nào cho đúng, nhưng ít ai dừng lại để hỏi người bên cạnh đang đau ở đâu. Khi ấy, cái thiếu không nhất thiết là chương trình, cơ cấu hay nhân lực. Cái thiếu có thể chính là niềm vui của Tin Mừng và con tim truyền giáo.
Niềm vui truyền giáo không phải là một thứ vui dễ dãi, càng không phải là bầu khí lúc nào cũng cười nói hay tổ chức những sinh hoạt náo nhiệt. Niềm vui Tin Mừng sâu hơn rất nhiều. Đó là niềm vui của một người biết rằng mình được Thiên Chúa yêu dù mình bất toàn. Đó là niềm vui của người đã từng yếu đuối nhưng được nâng lên. Đó là niềm vui của người từng lạc đường nhưng được tìm thấy. Đó là niềm vui của người từng mang mặc cảm nhưng biết rằng mình vẫn có chỗ trong trái tim Thiên Chúa. Đó là niềm vui không đến từ việc mọi chuyện đều thuận lợi, nhưng đến từ xác tín rằng giữa mọi chuyện, Chúa vẫn đang hiện diện. Một cộng đoàn chỉ có thể trao niềm vui ấy cho người khác khi chính cộng đoàn đã sống từ niềm vui ấy. Người ta không thể cho điều mình không có. Một giáo xứ mang nhiều gương mặt căng thẳng, nhiều lời than phiền, nhiều tranh chấp, nhiều phe nhóm, nhiều cạnh tranh và nhiều đố kỵ thì rất khó thuyết phục người ngoài rằng Tin Mừng là nguồn vui. Còn một giáo xứ nơi người ta biết chào nhau, biết lắng nghe nhau, biết đỡ nâng nhau, biết xin lỗi nhau, biết tha thứ cho nhau, biết kiên nhẫn với nhau, biết chia sẻ với người nghèo, biết tìm đến người bệnh, biết quan tâm người già, biết đồng hành với người trẻ, biết mở lòng với những gia đình đang bất ổn, thì dù không cần quảng cáo nhiều, cộng đoàn ấy tự nó đã trở thành một lời loan báo.
Điều quan trọng nhất làm nên sức sống của một cộng đoàn thừa sai chính là kerygma, lời công bố căn bản và luôn mới mẻ của Tin Mừng: Chúa Giêsu yêu thương bạn; Ngài đã hiến mạng sống vì bạn; Ngài đã sống lại và đang sống bên bạn; Ngài không bỏ bạn một mình; Ngài muốn giải thoát, chữa lành, đổi mới và dẫn bạn vào sự sống. Có lẽ vì đã nghe những lời này quá nhiều, chúng ta dễ tưởng mình đã hiểu. Nhưng trong thực tế, rất nhiều Kitô hữu sống cả đời trong nhà thờ mà vẫn chưa thật sự để cho Tin Mừng căn bản ấy chạm vào tim. Họ biết nhiều điều về đạo, nhưng chưa chắc đã xác tín sâu xa rằng mình được Chúa yêu. Họ thuộc nhiều kinh, nhưng trong những lúc khủng hoảng vẫn nghĩ rằng Chúa đã bỏ mình. Họ tham dự nhiều nghi thức, nhưng vẫn sống dưới sức nặng của mặc cảm, sợ hãi và cảm giác không xứng đáng. Họ biết các điều răn, nhưng chưa nếm được sự dịu dàng của lòng thương xót. Họ rất sợ phạm tội, nhưng chưa chắc đã biết vui vì được làm con. Khi kerygma không còn ở trung tâm, đức tin có nguy cơ bị biến thành một hệ thống bổn phận. Người ta đi lễ vì sợ thiếu lễ, đọc kinh vì sợ bỏ kinh, giữ luật vì sợ tội, làm việc đạo đức vì sợ Chúa phạt, và dần dần mối tương quan với Chúa trở thành một gánh nặng. Nhưng Tin Mừng không khởi đầu bằng câu “bạn phải làm điều này”. Tin Mừng khởi đầu bằng câu “Thiên Chúa đã yêu bạn trước”. Và chỉ khi một người được chạm đến bởi tình yêu ấy, họ mới có sức để sống những đòi hỏi của Tin Mừng không như nô lệ nhưng như người con.
Bởi vậy, kerygma phải thấm vào từng hơi thở của đời sống giáo xứ. Không chỉ được nhắc đến trong bài giảng, nhưng phải hiện diện trong cách cha xứ tiếp một người lâu ngày mới trở lại. Phải hiện diện trong cách người giữ cổng nhìn một người ăn mặc không giống số đông. Phải hiện diện trong cách giáo lý viên đối xử với một đứa trẻ chậm hiểu. Phải hiện diện trong cách hội đoàn tiếp nhận một thành viên mới. Phải hiện diện trong cách cộng đoàn nói về một gia đình đang đổ vỡ. Phải hiện diện trong cách người ta đối xử với một thanh niên đã từng sa ngã. Phải hiện diện trong cách giáo xứ đón một người nghèo không có gì đóng góp. Phải hiện diện trong cách cộng đoàn đi bên một bà mẹ đơn thân, một người nghiện đang cố gắng làm lại, một người từng bỏ lễ nhiều năm, một người bị tai tiếng, một người vừa ra tù, một người đang đau buồn vì mất người thân, một người mất việc, một người đang vật lộn với đời sống hôn nhân. Nếu lời chúng ta nói là “Chúa yêu bạn” nhưng ánh mắt chúng ta lại khiến họ thấy mình bị loại trừ, thì lời công bố kia trở thành vô nghĩa. Nếu chúng ta nói “Giáo Hội là nhà” nhưng người yếu đuối bước vào lại cảm thấy bị xét đoán, thì căn nhà ấy chưa thực sự có hơi ấm của Tin Mừng.
Một trong những thử thách lớn của giáo xứ là vô tình hình thành tâm lý “người trong” và “người ngoài”. Người trong là những người quen biết cha, quen việc, quen sinh hoạt, có vị trí trong hội đoàn, có tiếng nói trong cộng đoàn. Người ngoài là người mới đến, người ít tham gia, người nghèo, người sống xa nhà thờ, người hôn nhân phức tạp, người trẻ tóc tai khác thường, người không biết cách cư xử theo nếp quen của cộng đoàn. Chúng ta có thể không chủ ý loại trừ ai, nhưng thái độ, ánh mắt và những nhóm nhỏ thân quen đôi khi đủ khiến người khác cảm thấy mình không thuộc về nơi này. Một giáo xứ truyền giáo phải học nghệ thuật mở cửa không chỉ bằng cánh cửa nhà thờ mà bằng cánh cửa con tim. Người ta cần được cảm thấy rằng: “Ở đây có chỗ cho tôi.” Không phải chỉ khi tôi hoàn hảo, không phải chỉ khi đời tôi ổn thỏa, không phải chỉ khi tôi có điều kiện đóng góp, mà ngay lúc tôi yếu đuối, hoang mang và lộn xộn nhất, tôi vẫn có một nơi để trở về. Giáo Hội không phải là câu lạc bộ của những người hoàn hảo. Giáo Hội là gia đình của những người được cứu bởi lòng thương xót. Nếu chúng ta quên điều đó, cộng đoàn sẽ sớm trở thành nơi người ta phải đeo mặt nạ. Ai cũng cố tỏ ra mình ổn, gia đình mình ổn, đức tin mình ổn, trong khi bên trong lại có thể là vô số vết nứt. Và chính vì không dám thật, người ta cũng không thể được chữa lành.
Sống như những môn đệ thừa sai còn đòi hỏi một sự thay đổi rất lớn nơi ý thức của người giáo dân. Không ai đã chịu phép Rửa lại có thể nói: “Truyền giáo là việc của linh mục, tu sĩ hay những người chuyên môn.” Phép Rửa đã đặt vào mỗi người một ơn gọi. Người mẹ dạy con làm dấu trước bữa ăn đang truyền giáo. Người cha biết xin lỗi con mình khi nóng giận đang truyền giáo. Một chủ doanh nghiệp đối xử công bằng với nhân viên đang truyền giáo. Một người trẻ từ chối gian lận dù bạn bè đều làm đang truyền giáo. Một bác sĩ cúi xuống lắng nghe bệnh nhân với lòng nhân hậu đang truyền giáo. Một giáo viên không coi thường học sinh yếu đang truyền giáo. Một người buôn bán không vì lợi nhuận mà lừa dối khách hàng đang truyền giáo. Một bà cụ âm thầm lần chuỗi cầu nguyện cho con cháu đang truyền giáo. Một người hàng xóm mang tô cháo sang cho nhà bên cạnh khi họ có người bệnh đang truyền giáo. Một người công giáo trên mạng xã hội biết dừng lại trước khi viết một lời cay nghiệt cũng đang truyền giáo. Truyền giáo không bắt đầu bằng micro. Truyền giáo bắt đầu bằng một đời sống để cho Tin Mừng chi phối từng lựa chọn nhỏ.
Vì thế, giáo xứ phải là nơi đánh thức nơi mỗi người ý thức rằng họ có một sứ mạng. Chúng ta không đến nhà thờ chỉ để “được phục vụ”, nhưng để được nuôi dưỡng rồi được sai đi. Thánh lễ không kết thúc khi linh mục ban phép lành. Chính lúc ấy, một phần rất quan trọng của Thánh lễ mới bắt đầu: hãy đi. Hãy đem điều vừa lãnh nhận vào gia đình, nơi làm việc, khu phố, trường học, chợ búa, bệnh viện, công xưởng, văn phòng, đồng ruộng và cả không gian mạng. Nếu ta rước lấy Mình Thánh Chúa rồi ra khỏi nhà thờ vẫn chửi mắng, gian dối, lạnh lùng, bất công và ích kỷ như cũ, thì đời sống phụng vụ chưa thật sự sinh hoa trái. Nếu ta nghe Lời Chúa nói về tha thứ nhưng nhất quyết ôm mối hận, thì Lời chưa đi vào đời. Nếu ta nghe về người nghèo nhưng không bao giờ biết tên một người nghèo sống gần mình, thì Tin Mừng vẫn đang ở trên sách. Giáo xứ của những môn đệ thừa sai là giáo xứ nơi bàn thờ nối liền với đường phố. Nơi điều được cử hành trong nhà thờ tiếp tục được sống bên ngoài.
Cũng cần nói đến một điều rất quan trọng: sự tham gia của mọi người. Có những cộng đoàn mà mọi công việc gần như luôn nằm trong tay một nhóm rất nhỏ. Những người ấy thường rất nhiệt thành, hy sinh và đáng trân trọng. Nhưng nếu qua năm này sang năm khác vẫn chỉ có từng ấy khuôn mặt làm mọi việc, chúng ta phải đặt câu hỏi: phải chăng cộng đoàn đang thiếu khả năng đánh thức ơn gọi nơi những người khác? Một giáo xứ thừa sai không tìm cách gom mọi việc vào tay một số người, nhưng giúp càng nhiều người càng tốt khám phá ân ban Chúa đã đặt nơi họ. Người này có khả năng dạy giáo lý, người kia biết lắng nghe, người khác biết tổ chức, người khác nữa biết thăm bệnh, người này yêu thích âm nhạc, người kia có khả năng truyền thông, có người giỏi đồng hành với giới trẻ, có người lại đặc biệt nhạy bén trước những hoàn cảnh nghèo. Không ai có tất cả. Nhưng mỗi người đều có một điều gì đó để trao. Khi người ta được tin tưởng, được mời gọi và được trao cơ hội, rất nhiều khả năng âm thầm sẽ được đánh thức.
Điều nguy hiểm là đôi khi trong cộng đoàn xuất hiện một thứ “độc quyền phục vụ”. Có người làm lâu năm rồi xem công việc như phần riêng của mình. Có người sợ người mới làm không tốt. Có người thấy người trẻ thiếu kinh nghiệm nên không dám trao việc. Có người nói rằng không ai chịu làm, nhưng thật ra cũng chưa bao giờ thực sự mời gọi, hướng dẫn hay kiên nhẫn đào tạo họ. Nếu một cây cổ thụ che hết ánh sáng, những cây non bên dưới rất khó lớn. Cộng đoàn cần những người đi trước, nhưng những người đi trước đẹp nhất là những người biết tạo chỗ cho người đến sau. Người lãnh đạo đẹp nhất không phải là người làm được mọi thứ, mà là người giúp người khác lớn lên. Người phục vụ lâu năm đáng quý nhất không phải là người không ai thay thế được, mà là người âm thầm chuẩn bị để đến một ngày người khác có thể tiếp tục công việc ấy tốt hơn mình. Trong Nước Chúa, thành công không nằm ở việc giữ cho mình một vị trí, mà ở việc làm cho ân sủng được lan rộng.
Giáo xứ muốn trở thành nơi chứng tá niềm vui còn phải học một việc rất đơn giản nhưng ngày càng hiếm: biết vui với nhau và biết khóc với nhau. Có người lấy vợ gả chồng, cộng đoàn biết chúc mừng. Có gia đình có em bé, cộng đoàn biết chia vui. Có người thành công, cộng đoàn không ganh tị. Có người thi đậu, có việc làm, vượt qua bệnh tật, giáo xứ biết cảm tạ cùng họ. Nhưng rồi cũng có người mất người thân, có người con hư, có gia đình tan vỡ, có người bệnh lâu ngày, có người rơi vào khủng hoảng, có người nợ nần, có người không còn muốn sống, có người già bị con cái bỏ quên. Những lúc ấy, người ta cần một cộng đoàn không chỉ biết đọc kinh nhưng biết ngồi xuống. Có khi không cần nói gì nhiều. Chỉ cần có mặt. Chỉ cần nắm một bàn tay. Chỉ cần nói: “Chúng tôi ở đây với anh, với chị.” Nhiều khi một sự hiện diện thinh lặng loan báo Tin Mừng mạnh hơn một bài giảng dài.
Có những giáo xứ rất giỏi tổ chức nhưng chưa giỏi đồng hành. Mà con người hôm nay lại đang rất cần được đồng hành. Chúng ta sống trong một thế giới kết nối rất nhiều nhưng cô đơn cũng rất nhiều. Người trẻ có hàng trăm bạn trên mạng nhưng nhiều em không có ai để kể một điều thật lòng. Có những cặp vợ chồng sống chung một mái nhà nhưng lâu rồi không còn nói chuyện với nhau. Có những người lớn tuổi mỗi ngày ngồi trước cửa nhìn người qua lại nhưng chẳng ai ghé thăm. Có những người đau bệnh suốt tháng mà cộng đoàn không biết. Có những người từng nhiệt thành nhưng sau một biến cố đã xa Giáo Hội, rồi vì không ai hỏi han nên khoảng cách cứ ngày một lớn. Sống tinh thần thừa sai đôi khi không đòi chúng ta đi đâu xa. Có khi chỉ là đi qua một con hẻm, gõ một cánh cửa và hỏi: “Dạo này bác khỏe không?” Có khi chỉ là một cuộc điện thoại cho người đã lâu không thấy đi lễ. Có khi chỉ là nhắn một tin hỏi thăm một người vừa mất mẹ. Có khi là ghé thăm một gia đình đang gặp khó khăn trước khi họ phải mở lời xin giúp. Tin Mừng đi vào lòng người qua những con đường rất nhỏ như thế.
Một cộng đoàn truyền giáo cũng phải dám dành ưu tiên cho người nghèo, bởi đó không phải là chuyện tùy chọn. Người nghèo là một phần trung tâm trong sứ mạng của Đức Kitô. Nếu giáo xứ tổ chức những bữa tiệc lớn nhưng quanh nhà thờ vẫn có những gia đình thiếu ăn mà không ai biết, có điều gì đó cần phải xét lại. Nếu ngân sách cho hình thức thì nhiều mà phần dành cho người khốn khó quá ít, có lẽ chúng ta phải tự hỏi điều gì đang thật sự quan trọng. Dĩ nhiên vẻ đẹp của phụng vụ, sự trang nghiêm của nhà thờ và những cơ sở cần thiết đều có giá trị. Nhưng một nhà thờ đẹp nhất vẫn là một cộng đoàn có trái tim biết đau trước nỗi đau của người khác. Một bàn thờ được trang hoàng lộng lẫy sẽ càng đẹp hơn khi quanh bàn thờ ấy có những con người biết bẻ bánh đời mình cho người nghèo. Người nghèo không phải chỉ là đối tượng để chúng ta làm bác ái. Họ là những người có thể dạy chúng ta rất nhiều về Tin Mừng. Đến với họ không phải để chúng ta thấy mình tốt, mà để gặp một khuôn mặt khác của Đức Kitô.
Tuy nhiên, đi ra với người nghèo không chỉ là trao một phần quà. Có những kiểu giúp đỡ khiến người nhận mang ơn nhưng không được tôn trọng. Có những việc bác ái làm rất lớn nhưng người nghèo vẫn cảm thấy mình ở bên ngoài cộng đoàn. Sứ mạng của giáo xứ không chỉ là giúp họ bớt thiếu, mà còn giúp họ cảm thấy mình thuộc về. Đừng chỉ đưa cho họ gạo rồi thôi. Hãy biết tên họ. Hãy biết con họ đang học lớp nào. Hãy biết trong nhà họ có người bệnh không. Hãy hỏi họ cần gì ngoài vật chất. Có khi họ cần một công việc hơn một phần quà. Có khi họ cần người hướng dẫn con cái hơn vài ký gạo. Có khi họ cần một người bênh vực trước bất công. Có khi họ chỉ cần được lắng nghe. Bác ái Kitô giáo không ném vật chất từ trên xuống. Bác ái cúi xuống, nhìn vào mắt và gặp một người anh em.
Cũng cần phải đi tìm những người đã xa Giáo Hội. Đây là một trong những nhóm dễ bị lãng quên nhất, bởi họ không còn xuất hiện trước mắt chúng ta. Người vẫn đi lễ thì ta gặp mỗi tuần. Người đã bỏ lễ thì dần dần biến mất khỏi tầm nhìn. Và rất dễ để chúng ta nghĩ: “Họ không muốn đi thì thôi.” Nhưng một cộng đoàn thừa sai không dễ dàng nói “thôi”. Người mục tử trong Tin Mừng bỏ chín mươi chín con để đi tìm một con lạc không phải vì con lạc tốt hơn, nhưng vì nó đang có nguy cơ không trở về được. Trong giáo xứ của chúng ta có bao nhiêu người từng đi lễ đều đặn nhưng giờ không còn? Có bao nhiêu người vì hôn nhân rắc rối mà cảm thấy mình không còn chỗ trong Giáo Hội? Bao nhiêu người từng bị tổn thương bởi một lời nói của linh mục hay giáo dân rồi lặng lẽ rời đi? Bao nhiêu người trẻ sau khi lên thành phố học tập rồi dần mất kết nối? Bao nhiêu người vì scandal, vì hoài nghi, vì thất vọng, vì thấy Giáo Hội xa cách nên không còn đến nữa? Nếu chúng ta chỉ ngồi chờ họ trở lại, rất có thể nhiều người sẽ chẳng bao giờ trở lại. Phải có ai đó đi tìm.
Đi tìm không có nghĩa là đi trách móc. Đừng gõ cửa một người lâu ngày không đi lễ rồi mở đầu bằng câu: “Sao bỏ lễ lâu vậy?” Có thể chỉ một câu ấy đủ làm họ đóng cửa lần nữa. Hãy đến như một người bạn. Hãy hỏi cuộc sống của họ. Hãy nghe câu chuyện của họ. Có thể sau nhiều năm, điều họ cần trước hết không phải một bài giáo huấn nhưng là một người chịu nghe vì sao họ bỏ đi. Có thể có những lý do ta không đồng ý, nhưng ta vẫn có thể lắng nghe. Lắng nghe không có nghĩa là chấp nhận tất cả, mà là tôn trọng một hành trình. Đức Kitô đã không bắt đầu với người phụ nữ Samari bằng việc liệt kê mọi sai lầm của bà. Ngài bắt đầu bằng một cuộc gặp gỡ. Người ta thường trở lại với Chúa qua một cuộc gặp gỡ hơn là qua một cuộc tranh luận.
Giáo xứ thừa sai cũng phải đặc biệt quan tâm đến người trẻ. Người trẻ không phải chỉ là “tương lai của Giáo Hội”. Họ là hiện tại. Nếu luôn nói rằng họ là tương lai, có khi chúng ta vô tình bảo họ chờ đến ngày nào đó mới được có tiếng nói. Người trẻ cần được trao chỗ ngay hôm nay. Họ cần được lắng nghe, được tin tưởng, được giao trách nhiệm thật, được phép thử và cũng được phép sai. Một cộng đoàn mà người trẻ chỉ được mời đến để múa hát, bê bàn ghế hoặc làm truyền thông nhưng không được tham dự vào suy tư và phân định sẽ khó giữ họ lâu dài. Người trẻ có những câu hỏi mà thế hệ trước có khi thấy khó chịu. Họ hỏi về tính xác thực, về công bằng, về những scandal, về lối sống của người lãnh đạo, về tương quan giữa đức tin và khoa học, về giới tính, tình yêu, nghề nghiệp, môi trường, công nghệ và rất nhiều vấn đề mới. Nếu cộng đoàn chỉ trả lời bằng những công thức cũ mà không chịu bước vào thế giới của họ, khoảng cách sẽ lớn dần. Truyền giáo cho người trẻ không phải là cố làm cho Giáo Hội “trẻ” bằng âm thanh lớn hơn hay sân khấu đẹp hơn, mà là để họ gặp một Giáo Hội thật, một Giáo Hội dám nghe, dám đối thoại, dám thừa nhận khi mình chưa có câu trả lời.
Người trẻ cũng cần thấy niềm vui. Nếu họ nhìn những người lớn trong giáo xứ suốt ngày tranh cãi vì chức vụ, hơn thua vì hội đoàn, nói xấu nhau, giành nhau chỗ đứng, họ sẽ không bị thuyết phục bởi lời chúng ta mời gọi họ dấn thân. Không ai muốn bước vào một cộng đoàn mà vào đó chỉ để thêm mệt. Người trẻ rất nhạy với sự giả tạo. Họ có thể chấp nhận một Giáo Hội có giới hạn, nhưng rất khó chấp nhận một Giáo Hội nói một đàng sống một nẻo. Chính đời sống hiệp nhất của cộng đoàn là bài giáo lý mạnh nhất cho họ. Khi họ thấy người lớn biết xin lỗi nhau, biết tha thứ, biết cộng tác dù khác tính, biết đặt việc chung trên cái tôi, họ sẽ hiểu Tin Mừng là thật.
Một thách đố khác của đời sống giáo xứ là các phe nhóm. Hễ nơi nào có con người, nơi đó có khác biệt. Khác biệt không phải là vấn đề. Vấn đề là khi khác biệt biến thành chia rẽ. Hội này không ưa hội kia. Nhóm này nói nhóm nọ. Người này thân với cha thì bị người khác ghen. Người kia được giao việc thì có người cảm thấy bị bỏ qua. Một quyết định mục vụ đôi khi bị nhìn bằng lăng kính “ai thắng ai thua” thay vì “điều gì ích lợi cho cộng đoàn”. Rồi những chuyện rất nhỏ cũng có thể làm mất tình nghĩa lâu năm. Một cộng đoàn như thế sẽ mất sức truyền giáo, bởi phần lớn năng lượng bị tiêu hao vào việc xử lý những va chạm nội bộ. Khi chiếc thuyền cứ bận cãi nhau xem ai ngồi ở đâu, thuyền chẳng thể đi xa.
Bởi vậy, sống như môn đệ thừa sai luôn đòi một cuộc hoán cải khỏi cái tôi. Có những lúc ta phải chấp nhận việc tốt được thực hiện mà không mang tên mình. Có những lúc ta phải vui vì người khác làm tốt hơn mình. Có những lúc phải lùi lại để người trẻ tiến lên. Có những lúc phải bỏ ý riêng để giữ hiệp nhất. Có những lúc phải im một câu dù mình có lý, vì nói ra chỉ làm tổn thương. Có những lúc phải là người đầu tiên xin lỗi dù không hoàn toàn là lỗi của mình. Có những lúc phải chấp nhận bị hiểu lầm để việc chung không tan vỡ. Nếu ai cũng muốn bảo vệ cái tôi, giáo xứ sẽ nhỏ lại. Nếu nhiều người biết chết đi cho cái tôi, Giáo Hội sẽ lớn lên.
Cha xứ, hội đồng mục vụ, các ban ngành và những người lãnh đạo trong cộng đoàn giữ một vai trò rất lớn trong việc tạo nên văn hóa truyền giáo. Người lãnh đạo không chỉ điều hành công việc mà còn tạo bầu khí. Một cha xứ có thể vô tình làm giáo xứ trở nên khép kín nếu mọi quyết định đều tập trung vào mình, không tin ai và không trao quyền. Ngược lại, một cha xứ biết lắng nghe, biết mời gọi cộng tác, biết nhận ra đặc sủng của giáo dân và dám để họ trưởng thành sẽ tạo nên một cộng đoàn sống động. Cũng vậy, một hội đồng mục vụ không thể chỉ là nhóm người lo tài chính, xây dựng hay tổ chức lễ hội. Hội đồng mục vụ phải là những người cùng cha xứ phân định xem Chúa đang mời gọi giáo xứ đi đâu. Trong địa bàn này, ai đang bị bỏ quên? Người trẻ đang gặp vấn đề gì? Các gia đình cần được hỗ trợ ra sao? Người nghèo đang thiếu điều gì? Những người xa Chúa có thể được tiếp cận thế nào? Có thể làm gì để phụng vụ trở nên nơi nuôi dưỡng đời sống chứ không chỉ là nghi thức? Có thể đào tạo những người mới ra sao? Những câu hỏi ấy mới là nhịp tim mục vụ.
Một giáo xứ thừa sai không thể thiếu việc đào tạo. Lòng nhiệt thành rất quý nhưng nếu thiếu đào tạo, lòng nhiệt thành có khi gây tổn thương. Người dạy giáo lý cần được đào tạo không chỉ về kiến thức nhưng cả về nghệ thuật đồng hành. Người thăm bệnh cần biết cách lắng nghe. Người làm bác ái cần học cách tôn trọng phẩm giá. Người phục vụ giới trẻ cần hiểu thế giới của người trẻ. Người làm truyền thông cần biết rằng một bài đăng cũng có thể xây dựng hoặc phá hủy. Người lãnh đạo hội đoàn cần học cách giải quyết xung đột. Người giúp lễ, ca đoàn, người đọc sách, ban phụng vụ, tất cả đều cần hiểu rằng mình không chỉ “làm một việc”, mà đang phục vụ cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Khi hiểu sứ mạng, người ta sẽ làm khác. Một người giữ xe biết mình đang là người đầu tiên đón giáo dân vào nhà thờ sẽ mỉm cười khác. Một người trực văn phòng giáo xứ biết người trước mặt mình có thể đang rất đau khổ sẽ nói chuyện khác. Một người phụ trách âm thanh biết có người chỉ có một giờ trong tuần để được lắng lòng trước Chúa sẽ phục vụ khác. Chính ý thức sứ mạng biến những việc rất bình thường thành việc truyền giáo.
Giáo xứ cũng phải học nghệ thuật của lòng hiếu khách. Có những người bước vào nhà thờ lần đầu chỉ vì tò mò. Có người là bạn của một người Công giáo. Có người đang đau khổ và chẳng biết đi đâu nên bước đại vào. Có người là người khác đạo đi theo vợ hoặc chồng. Có người đang tìm hiểu đức tin. Cách họ được đón tiếp trong mười phút đầu tiên có thể ảnh hưởng rất lâu đến cách họ nhìn Giáo Hội. Nếu không ai chào, không ai chỉ chỗ, mọi người nhìn họ như người lạ, họ sẽ cảm thấy khoảng cách. Ngược lại, một nụ cười, một lời chào, một người chủ động giúp họ theo dõi phụng vụ có thể mở ra một cánh cửa. Truyền giáo nhiều khi bắt đầu bằng một cử chỉ bé hơn chúng ta tưởng.
Một cộng đoàn mang niềm vui Tin Mừng cũng không thể sống bằng văn hóa chỉ trích. Trong nhiều giáo xứ, có một thứ “truyền thông hành lang” rất mạnh. Tin chưa rõ đã kể. Việc chưa biết đầu đuôi đã bình luận. Người này nói về người kia. Một lỗi nhỏ được truyền đi rất nhanh. Một điều tốt thì ít ai nhắc, nhưng một sai sót thì cả xóm biết. Kiểu văn hóa ấy đầu độc cộng đoàn. Nó khiến người tốt cũng mệt mỏi, người mới không dám dấn thân, người sai thì không có cơ hội sửa, và người trẻ học được rằng Giáo Hội cũng chẳng khác thế gian. Người môn đệ thừa sai phải tập nói một ngôn ngữ khác. Không phải che giấu sự thật, nhưng nói sự thật bằng tình yêu. Không phải dung túng điều sai, nhưng sửa lỗi với lòng muốn cứu người chứ không muốn hạ người. Không phải im lặng trước bất công, nhưng cũng không biến việc bảo vệ công lý thành cái cớ để làm nhục người khác.
Giáo xứ càng phải cẩn thận với mạng xã hội. Ngày nay, một xung đột nhỏ trong giáo xứ có thể chỉ sau vài giờ trở thành một cuộc tranh cãi công khai. Một lời nói trong cuộc họp có thể bị cắt ra, kể lại theo một chiều rồi đưa lên mạng. Một quyết định chưa hiểu rõ có thể bị bình luận nặng nề. Và khi đó, chứng tá bị tổn thương không chỉ trong nội bộ mà trước cả những người ngoài. Người ta nhìn vào và tự hỏi: “Đây là cộng đoàn của tình yêu sao?” Chúng ta cần nhớ rằng truyền giáo không dừng ở cổng nhà thờ. Cách một người Công giáo bình luận, chia sẻ, tranh luận trên mạng cũng là một phần chứng tá. Nếu tài khoản của chúng ta đầy những lời chửi bới, nhục mạ, chế giễu và kết án, rồi cuối tuần lại đăng hình đi lễ, có một sự mâu thuẫn rất lớn. Tin Mừng phải đi vào cả ngón tay đang gõ trên màn hình.
Một giáo xứ mang tinh thần truyền giáo cũng cần bước ra khỏi não trạng “bảo tồn”. Bảo tồn điều tốt là cần. Truyền thống quý giá phải được gìn giữ. Nhưng có sự khác biệt giữa trung thành và sợ thay đổi. Có những cách làm đã từng hiệu quả nhưng nay không còn chạm đến con người. Có những giờ giấc phù hợp với thế hệ trước nhưng gây khó cho người lao động hiện nay. Có những phương pháp giáo lý nặng ghi nhớ nhưng thiếu gặp gỡ. Có những sinh hoạt kéo dài chỉ vì “xưa nay vẫn vậy”. Một cộng đoàn thừa sai phải đủ tự do để hỏi: điều này còn phục vụ con người không? Nếu không, cần thay đổi ra sao? Đổi mới không phải vì chạy theo thời đại, mà vì Tin Mừng đáng được trao bằng những con đường mà con người hôm nay có thể đón nhận.
Tuy nhiên, truyền giáo không có nghĩa là biến giáo xứ thành nơi lúc nào cũng hoạt động. Có một nguy cơ ngược lại: vì muốn năng động, chúng ta tổ chức quá nhiều. Lịch kín, người phục vụ kiệt sức, gia đình bị bỏ quên, và cuối cùng người ta làm việc cho Chúa nhưng không còn thời gian ở với Chúa. Một giáo xứ truyền giáo phải biết cân bằng giữa hoạt động và chiều sâu. Cần có chỗ cho thinh lặng. Cần có chỗ cho chầu Thánh Thể. Cần có chỗ cho học hỏi Lời Chúa. Cần có những ngày tĩnh tâm. Cần có những khoảng dừng để người phục vụ được chăm sóc. Người thừa sai không phải cỗ máy. Nếu bên trong không được nuôi dưỡng, bên ngoài sẽ sớm cạn. Nhiều người rời công việc phục vụ không phải vì họ hết yêu Chúa, mà vì đã cho quá nhiều mà không ai giúp họ được nhận lại, không ai hỏi họ có mệt không, không ai cho phép họ nghỉ.
Giáo xứ thừa sai cũng phải là nơi người phục vụ được quyền yếu đuối. Có những người làm việc trong cộng đoàn lâu năm nên ai cũng nghĩ họ mạnh. Nhưng họ cũng có gia đình, sức khỏe, áp lực và những vết thương. Có người cười rất nhiều trong các buổi sinh hoạt nhưng tối về lại khóc. Có người luôn giúp người khác nhưng chẳng ai hỏi họ cần được giúp gì. Một cộng đoàn biết chăm sóc những người đang chăm sóc người khác mới là cộng đoàn trưởng thành. Đừng chỉ cảm ơn họ khi tổng kết cuối năm. Hãy quan tâm trong hành trình. Hãy cho họ nghỉ khi cần. Hãy có người thay phiên. Hãy tạo văn hóa không ai là không thể thay thế. Khi mọi người cùng gánh, niềm vui sẽ bền.
Điều làm nên sức hấp dẫn mạnh mẽ nhất của một giáo xứ không phải là quảng cáo hay chương trình, mà là tình yêu cụ thể giữa các thành viên. Đức Giêsu không nói người ta sẽ nhận biết các môn đệ của Ngài vì họ xây nhà thờ đẹp nhất hay tổ chức chương trình lớn nhất, nhưng vì họ yêu thương nhau. Đây vừa là điều đơn giản nhất vừa là điều khó nhất. Bởi yêu thương nhau khi mọi người dễ thương thì không khó. Nhưng yêu người khác tính, người từng làm mình tổn thương, người không cùng quan điểm, người làm việc chậm, người hay quên, người không biết nói lời dễ nghe, đó mới là nơi Tin Mừng trở thành thật. Chính trong cộng đoàn, chúng ta được huấn luyện để yêu không theo cảm tính. Nếu ta chỉ muốn làm việc với người mình hợp, cộng đoàn sẽ thành nhóm bạn. Giáo Hội lớn hơn thế. Giáo Hội gom những con người rất khác nhau và mời họ trở thành anh chị em.
Có lẽ đôi khi chúng ta mơ về một giáo xứ không có vấn đề. Điều ấy không có thật. Cộng đoàn nào cũng có giới hạn, vì được làm nên từ những con người giới hạn. Sẽ có hiểu lầm. Sẽ có va chạm. Sẽ có người làm ta thất vọng. Sẽ có quyết định chưa hoàn hảo. Sẽ có những lần chính cha xứ cũng sai. Sẽ có giáo dân cư xử chưa đúng. Nhưng điều làm chứng cho Tin Mừng không phải là cộng đoàn không bao giờ có xung đột, mà là cách cộng đoàn đi qua xung đột. Có biết nói chuyện trực tiếp không? Có biết xin lỗi không? Có biết tha thứ không? Có biết sửa sai không? Có biết đặt tình hiệp nhất lên trên tự ái không? Một cộng đoàn biết chữa lành những đổ vỡ của mình sẽ trở thành dấu chỉ hy vọng cho một xã hội đầy chia rẽ.
Một giáo xứ thừa sai còn phải nhìn ra ngoài ranh giới hành chính của mình. Người không Công giáo sống quanh nhà thờ không phải là “người ngoài” theo nghĩa xa lạ. Họ là hàng xóm, bạn bè, anh chị em trong cùng một cộng đồng xã hội. Giáo xứ có thể làm rất nhiều điều để hiện diện với họ mà không cần bắt đầu bằng lời giảng. Một chương trình hiến máu, một hoạt động bảo vệ môi trường, một lớp học cho trẻ nghèo, một nhóm chăm sóc người già neo đơn, một chương trình hỗ trợ thiên tai, một sự chung tay khi địa phương gặp khó khăn — tất cả đều có thể trở thành những cây cầu. Người ta có thể chưa hiểu giáo lý của chúng ta, nhưng họ hiểu lòng tốt. Có thể họ chưa bước vào nhà thờ, nhưng họ sẽ bắt đầu đặt câu hỏi khi thấy người Công giáo sống tử tế. Rao giảng không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng lời. Nhiều khi lời chỉ có ý nghĩa sau khi đời sống đã mở đường.
Đặc biệt, trong bối cảnh ngày nay, giáo xứ cần trở thành nơi chữa lành những vết thương xã hội. Gia đình đang chịu rất nhiều sức ép. Người trẻ chịu áp lực thành công. Người lao động đối diện bất ổn kinh tế. Người già dễ cô đơn. Trẻ em lớn lên trong thế giới màn hình. Nhiều người bị cuốn vào nghiện ngập, cờ bạc, nợ nần, bạo lực gia đình, đổ vỡ hôn nhân và khủng hoảng tâm lý. Nếu giáo xứ chỉ lo những sinh hoạt nội bộ mà không nhìn thấy những điều ấy, chúng ta đang trả lời những câu hỏi mà ít người hỏi. Truyền giáo bắt đầu bằng việc nghe tiếng kêu thật của con người. Chúa Giêsu đi đến đâu cũng nhìn thấy con người cụ thể. Ngài không chữa bệnh “nói chung”. Ngài dừng lại với từng người. Người mù, người phong, người góa phụ, người bị quỷ ám, người thu thuế, người phụ nữ tội lỗi. Giáo xứ cũng phải học cái nhìn ấy: không nhìn đám đông nhưng nhìn khuôn mặt.
Có những người ở ngay trong cộng đoàn mà hàng năm trời không ai biết câu chuyện của họ. Người phụ nữ đi lễ sáng nào cũng ngồi cuối nhà thờ có thể đang chăm chồng liệt. Người đàn ông đứng ngoài sân có thể vừa mất việc. Em thiếu niên hay quậy có thể đang sống trong một gia đình bạo lực. Đứa trẻ học giáo lý không thuộc bài có thể vì tối nào cha mẹ cũng cãi nhau nên nó không ngủ được. Khi chỉ nhìn hành vi, ta dễ phán xét. Khi biết câu chuyện, lòng thương xót sẽ lớn lên. Một giáo xứ thừa sai là giáo xứ biết câu chuyện của con người.
Trong tất cả những điều ấy, Thánh Thể vẫn phải là trung tâm. Bởi chúng ta không thể tự sản xuất tình yêu đủ lớn cho một sứ mạng như vậy. Chúng ta cần được nuôi. Mỗi Thánh lễ là nơi Đức Kitô tập hợp những người rất khác nhau quanh một bàn. Người giàu và người nghèo, người học cao và người bình dân, người đang vui và người đang khóc, người thánh thiện và người đang yếu đuối, tất cả cùng đến vì đều là người cần ơn Chúa. Bánh được bẻ ra trên bàn thờ cũng là lời mời chúng ta trở thành những con người biết bẻ đời mình ra. Chén được trao là lời mời bước vào tình yêu tự hiến. Nếu cộng đoàn thật sự sống điều mình cử hành, Thánh lễ sẽ không khép lại nơi cửa nhà thờ. Nó tiếp tục nơi những bàn ăn gia đình, nơi bệnh viện, nơi nhà tù, nơi nhà trọ công nhân, nơi những căn nhà nghèo và nơi mọi chỗ con người đang cần được yêu.
Và rồi có lẽ chúng ta phải trở lại câu hỏi ban đầu: làm sao giáo xứ trở thành nơi chứng tá niềm vui? Câu trả lời không nằm trong một dự án duy nhất. Không có công thức thần kỳ. Niềm vui được tạo nên từ hàng trăm chọn lựa nhỏ mỗi ngày. Khi một người chọn chào thay vì làm ngơ. Khi một người chọn tha thứ thay vì nuôi hận. Khi một hội đoàn chọn cộng tác thay vì cạnh tranh. Khi người lãnh đạo chọn lắng nghe thay vì áp đặt. Khi người lớn chọn tin người trẻ. Khi cộng đoàn chọn người nghèo trước sự phô trương. Khi một người chọn đi thăm người bệnh thay vì chỉ cầu nguyện từ xa. Khi giáo xứ chọn đi tìm người đã xa thay vì chờ họ tự về. Khi mọi người chọn nói tốt hơn là nói xấu. Khi một người phục vụ chọn làm vì Chúa thay vì vì danh tiếng. Từng chọn lựa nhỏ ấy sẽ tạo nên một văn hóa khác.
Giáo xứ sẽ trở nên vui không phải vì không còn vấn đề, mà vì giữa vấn đề người ta vẫn biết mình thuộc về nhau. Giáo xứ sẽ trở nên hấp dẫn không phải vì có mọi tiện nghi, mà vì con người được nhìn thấy, được gọi tên và được yêu. Giáo xứ sẽ trở nên truyền giáo không phải trước hết vì có nhiều chương trình truyền giáo, mà vì từng người bắt đầu sống với ý thức mình được sai đi. Và có lẽ dấu hiệu đẹp nhất của một giáo xứ trưởng thành không phải là nhà thờ càng ngày càng đầy người, dù đó là điều đáng mừng, mà là càng ngày càng có nhiều người từ nhà thờ đi ra để trở thành ánh sáng ở những nơi khác.
Đừng sợ một Giáo Hội lấm lem vì đã bước ra đường. Đức Phanxicô đã từng bày tỏ rằng ngài thích một Giáo Hội bị thương tích, bị bầm giập và lấm bẩn vì đã đi ra hơn một Giáo Hội bệnh tật vì đóng kín và bám víu sự an toàn của mình. Hình ảnh ấy đáng để mỗi giáo xứ suy nghĩ. Một cộng đoàn chỉ lo giữ cơ sở, giữ số lượng, giữ truyền thống, giữ uy tín, giữ sự yên ổn có thể rất an toàn nhưng dần mất sức sống. Tin Mừng vốn mang động từ “đi”. Abraham phải đi. Môsê phải đi. Các ngôn sứ phải đi. Đức Maria sau khi nhận lời sứ thần đã vội vã lên đường. Các môn đệ được sai đi. Phaolô đi hết thành này đến thành khác. Giáo Hội được sinh ra trong chuyển động. Khi dừng lại quá lâu để bảo vệ mình, Giáo Hội bắt đầu quên căn tính.
Nhưng “đi ra” cũng có nghĩa là bước ra khỏi những an toàn bên trong chính mình. Có người chưa bao giờ bước ra khỏi quan điểm riêng. Có người không thể làm việc với ai khác ý. Có người chỉ chơi với nhóm của mình. Có người chỉ thương những người dễ thương. Có người chỉ giúp những người biết ơn. Đó cũng là những chiếc cửa đóng. Truyền giáo đòi mở cửa lòng trước khi mở cửa nhà thờ. Có khi vùng ngoại biên gần nhất không ở một nơi xa xôi nào, mà là người trong gia đình chúng ta lâu nay ta không nói chuyện. Có khi người cần được loan báo Tin Mừng đầu tiên là người đồng nghiệp mà ta vẫn khó chịu. Có khi chuyến truyền giáo đầu tiên là bước sang nhà hàng xóm mà nhiều năm ta không chào. Thiên Chúa thường đặt sứ mạng rất gần.
Giáo xứ của những môn đệ thừa sai sẽ không hỏi: “Ai sẽ làm?” rồi nhìn về phía linh mục. Mỗi người sẽ hỏi: “Phần của tôi là gì?” Người lớn tuổi có phần của người lớn tuổi. Người trẻ có phần của người trẻ. Người bệnh cũng có sứ mạng qua lời cầu nguyện. Người nghèo cũng có ân ban để trao. Trẻ em cũng có thể truyền giáo bằng sự đơn sơ. Không ai quá nhỏ bé để không có chỗ trong sứ mạng của Chúa. Và không ai quá quan trọng đến mức có thể làm mọi thứ một mình.
Đến cuối cùng, điều một giáo xứ để lại không phải chỉ là những công trình đã xây, những đại lễ đã tổ chức hay những con số thống kê đẹp. Điều còn lại sẽ là những con người đã được giúp gặp Chúa. Một em bé lớn lên và vẫn giữ được đức tin vì từng gặp một giáo lý viên yêu thương nó. Một người trẻ tìm lại hướng đi vì có ai đó lắng nghe. Một đôi vợ chồng không ly dị vì được cộng đoàn đồng hành đúng lúc. Một người tội lỗi dám bước trở về vì không bị xét đoán. Một người nghèo vượt qua giai đoạn khó khăn vì giáo xứ không bỏ rơi. Một người hấp hối ra đi bình an vì có cộng đoàn cầu nguyện bên cạnh. Một người ngoài Công giáo bắt đầu cảm phục Đức Kitô vì thấy những người mang danh Ngài sống tử tế. Đó mới là những “công trình” đẹp nhất.
Có thể chúng ta không bao giờ xây được một giáo xứ hoàn hảo. Nhưng chúng ta có thể xây một giáo xứ biết yêu hơn hôm qua. Có thể chưa thể thay đổi tất cả cơ cấu, nhưng có thể thay đổi cách mình đối xử với một người. Có thể chưa thể đi đến vùng truyền giáo xa xôi, nhưng có thể đi đến một gia đình đang đau trong khu phố. Có thể chưa nói được những bài giảng lớn lao, nhưng có thể nói một lời nâng đỡ. Có thể chưa làm được điều gì vang dội, nhưng có thể mở cửa cho một người bước vào. Và có lẽ Nước Trời thường bắt đầu bằng những điều nhỏ như thế.
Ước gì mỗi giáo xứ thật sự trở thành một mái nhà có cửa rộng mở, nơi người thánh thiện được nuôi dưỡng, người yếu đuối được nâng lên, người tội lỗi được mời trở về, người nghèo được tôn trọng, người trẻ được lắng nghe, người già được trân quý, người khác biệt được đón nhận, người bị tổn thương được chữa lành, và những người đang tìm kiếm có thể nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn đang sống giữa dân Ngài. Ước gì khi một người bước vào giáo xứ, điều đầu tiên họ cảm nhận không phải là những quy định, những nhóm riêng hay những khoảng cách, nhưng là một bầu khí khiến họ nghĩ: “Ở đây có điều gì đó rất khác. Ở đây người ta biết thương nhau.” Và nếu họ hỏi điều gì làm nên sự khác biệt ấy, chúng ta có thể khiêm tốn trả lời: không phải vì chúng tôi tốt hơn ai, nhưng vì chúng tôi đã gặp một Đấng yêu chúng tôi trước.
Và rồi từ mái nhà ấy, mỗi người lại được sai đi. Đi không nhất thiết đến một miền đất xa, nhưng đi vào chính đời thường. Đi về với gia đình và yêu lại người thân. Đi đến nơi làm việc và sống trung thực. Đi vào xã hội và bênh vực người yếu. Đi lên mạng và gieo lời hiền lành. Đi đến người đau khổ và mang theo sự hiện diện. Đi đến người xa Chúa không phải với ngón tay chỉ trích nhưng với bàn tay mời gọi. Đi như những người đã nhận một niềm vui quá lớn nên không thể giữ riêng.
Bởi niềm vui Tin Mừng, nếu thật sự là niềm vui, luôn có khuynh hướng lan ra. Một ngọn lửa không được sinh ra để giấu kín. Một dòng nước không được sinh ra để đứng yên. Một Tin Mừng không được trao đi sẽ dần trở thành một hệ thống khô cứng. Giáo xứ cũng vậy. Khi chỉ quay vào trong, niềm vui sẽ chết dần trong những cuộc tranh luận nhỏ, những nỗi sợ nhỏ và những hơn thua nhỏ. Nhưng khi dám đi ra, điều kỳ lạ sẽ xảy ra: chính trong khi trao đi, cộng đoàn lại tìm thấy chính mình. Chính khi chăm sóc người nghèo, người giàu được chữa lành khỏi ích kỷ. Chính khi đi tìm người lạc, người đang ở trong nhà cũng hiểu lại giá trị của việc thuộc về. Chính khi lắng nghe người trẻ, người lớn cũng được đổi mới. Chính khi mở cửa cho người khác, căn nhà Giáo Hội trở nên rộng hơn.
Và như thế, giáo xứ không còn chỉ là nơi chúng ta “đi lễ”, mà là nơi chúng ta được biến đổi để sống lễ. Không còn chỉ là nơi chúng ta nhận bí tích, mà là nơi bí tích biến đời ta thành dấu chỉ. Không còn chỉ là nơi chúng ta gặp những người cùng đạo, mà là trường học của tình huynh đệ. Không còn chỉ là nơi để giữ đức tin cho mình, mà là nơi đức tin được thắp lên để mang ra thế giới. Không còn là một cơ cấu phải duy trì, mà là một thân thể đang sống, đang thở, đang yêu và đang được sai đi.
Nếu một ngày người ta nhìn vào giáo xứ chúng ta và nói rằng: “Họ không hoàn hảo, nhưng họ thương nhau; họ có khác biệt, nhưng họ không bỏ nhau; họ có khó khăn, nhưng họ vẫn biết vui; họ giữ đức tin, nhưng không khép kín; họ yêu Chúa, nên họ cũng yêu người; họ không chỉ chờ người khác đến, họ đi tìm người đang xa,” thì có lẽ hôm ấy chúng ta đã bắt đầu sống đúng căn tính của mình.
Và khi ấy, lời công bố căn bản sẽ không chỉ vang lên từ bục giảng, mà từ chính đời sống cộng đoàn: Chúa Giêsu yêu thương bạn. Ngài đã hiến mạng sống cho bạn. Ngài đang sống. Ngài không bỏ bạn. Và nếu bạn muốn biết tình yêu ấy có thật hay không, hãy nhìn những con người đang cố gắng yêu nhau ở đây.
Đó chính là một giáo xứ thừa sai.
Đó chính là một cộng đoàn mang niềm vui Tin Mừng.
Đó chính là một Giáo Hội đang sống.
Và đó cũng chính là điều Đức Kitô vẫn chờ nơi mỗi chúng ta.
CHƯƠNG 6
NIỀM VUI GIỮA NHỮNG THỬ THÁCH – KHI THẬP GIÁ KHÔNG GIẾT CHẾT NIỀM VUI
Có một sự hiểu lầm rất lâu đời, rất phổ biến, và cũng rất dễ làm người ta thất vọng trong đời sống đức tin, đó là nghĩ rằng một khi đã có Chúa, một khi đã tin, đã cầu nguyện, đã sống tử tế, đã cố gắng trung thành với bổn phận, thì cuộc đời mình sẽ bớt đau khổ, thậm chí sẽ được miễn trừ khỏi những nghịch cảnh mà người khác phải chịu. Người ta dễ nghĩ rằng niềm vui là dấu hiệu của một cuộc đời thuận lợi, rằng bình an là kết quả của việc mọi chuyện diễn ra đúng ý mình, rằng người có Chúa thì nhà cửa phải yên, con cái phải ngoan, công việc phải hanh thông, sức khỏe phải ổn định, những người mình yêu thương phải ở lại bên mình, những dự tính mình ấp ủ phải thành công. Và rồi đến một ngày, bệnh tật gõ cửa, một người thân ra đi, một tương quan đổ vỡ, một sự phản bội xảy đến, một biến cố bất ngờ quật ngã những gì ta tưởng là chắc chắn, ta bỗng hoang mang tự hỏi: Chúa ở đâu? Nếu Chúa thương tôi, tại sao chuyện này lại xảy ra? Nếu tôi đã sống tốt, tại sao tôi lại phải chịu điều này? Nếu niềm vui Kitô giáo là thật, tại sao nước mắt vẫn cứ chảy? Những câu hỏi ấy không lạ. Đó là những câu hỏi rất người. Đó cũng là những câu hỏi đã đi qua lịch sử đức tin từ thời ông Gióp cho đến những con người đang lặng lẽ khóc hôm nay. Nhưng có lẽ điều chúng ta cần học lại từ đầu là: niềm vui Kitô giáo chưa bao giờ đồng nghĩa với một cuộc đời không có thập giá. Trái lại, niềm vui ấy chỉ bộc lộ chiều sâu thật sự khi con người đi qua thập giá mà không đánh mất Chúa, đi qua bóng tối mà không để bóng tối cướp mất hy vọng, đi qua nước mắt mà vẫn còn có thể thưa rằng: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con vẫn tin rằng Chúa không bỏ con.” Niềm vui của Tin Mừng không phải là lớp sơn phủ lên một cuộc đời đau khổ để làm ra vẻ mọi sự đều ổn. Nó không phải là nụ cười gượng gạo của một người đang vỡ vụn bên trong nhưng cố tỏ ra mạnh mẽ. Nó không phải là thái độ phủ nhận cảm xúc, càng không phải là lời khuyên lạnh lùng rằng người có đức tin thì không được buồn, không được khóc, không được thất vọng. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Đức Giêsu đã xao xuyến trước giờ thương khó. Đức Giêsu đã cầu nguyện trong Vườn Dầu với tâm hồn buồn đến chết được. Đức Giêsu đã kêu lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Kitô giáo không thần thánh hóa sự vô cảm. Kitô giáo không dạy chúng ta chối bỏ nỗi đau. Kitô giáo dạy chúng ta đi xuyên qua nỗi đau trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Đó là điều hoàn toàn khác.
Bởi thế, khi nói đến niềm vui giữa những thử thách, điều đầu tiên phải xác tín là: đau khổ tự nó không phải là điều tốt, thập giá tự nó không phải là thứ người tín hữu phải đi tìm, và Thiên Chúa không vui thích trước nước mắt con người. Kitô giáo không ca tụng bệnh tật, không tôn vinh mất mát, không bảo rằng càng đau càng thánh. Điều làm nên vẻ đẹp của thập giá không phải là gỗ, đinh và máu; điều làm nên vẻ đẹp của thập giá là tình yêu đã đi xuyên qua đau khổ mà không ngừng yêu. Chính tình yêu biến thập giá từ dụng cụ hành hình thành cây cứu độ. Chính tình yêu làm cho những gì tưởng như chỉ còn là thất bại lại trở thành con đường dẫn tới sự sống. Chính tình yêu khiến cái chết không còn có tiếng nói cuối cùng. Vì thế, niềm vui Kitô giáo không bắt nguồn từ đau khổ, mà bắt nguồn từ việc ngay trong đau khổ, người tín hữu khám phá rằng mình vẫn đang được giữ trong tình yêu Thiên Chúa. Có những ngày ta không thể vui theo nghĩa cảm xúc. Có những ngày lòng ta nặng đến mức chẳng muốn nói chuyện với ai. Có những buổi sáng thức dậy mà ta chỉ ước mình có thể ngủ tiếp để khỏi phải đối diện với những điều đang chờ. Có những lúc một câu kinh cũng khó đọc trọn, một bài thánh ca cũng chẳng còn làm lòng rung động, một Thánh lễ cũng chỉ được tham dự bằng sự hiện diện mệt mỏi của thân xác. Nhưng chính ở những nơi ấy, đức tin có thể trở nên tinh tuyền hơn bao giờ hết. Vì lúc mọi cảm xúc an ủi biến mất, ta mới biết mình tìm Chúa vì điều gì. Ta tìm Chúa vì Chúa hay vì những cảm giác Chúa mang lại? Ta tin vì được đáp lời hay ta vẫn còn tin khi lời cầu xin chưa được đáp theo cách ta mong? Ta yêu Chúa vì cuộc đời thuận lợi hay ta vẫn dám nắm lấy tay Ngài khi con đường trở nên tối? Có những trưởng thành chỉ xảy ra trong những mùa mà người ta không còn gì để bám vào ngoài Thiên Chúa. Và cũng có những niềm vui chỉ được sinh ra sau khi một con người đã từng đi qua tận cùng của nước mắt.
Thánh Phaolô là một chứng nhân lạ lùng của loại niềm vui ấy. Ngài không nói: “Hãy vui luôn trong Chúa” khi đang sống những ngày dễ chịu, được mọi người tán thưởng, mọi cánh cửa đều mở ra. Ngài viết lời ấy trong cảnh tù đày: “Hãy vui luôn trong Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (Pl 4,4). Nếu đọc câu này ngoài bối cảnh, người ta có thể tưởng đó là lời của một người quá lạc quan. Nhưng biết Phaolô là ai, đã chịu những gì, đã từng bị đánh đòn, bị ném đá, bị tù, bị hiểu lầm, bị chống đối, bị chính những người mình yêu thương làm cho đau lòng, ta mới hiểu lời “vui lên” ấy không hề nhẹ ký. Đó là niềm vui đã được trả giá. Đó là niềm vui của người đã mất nhiều thứ nhưng không mất được Đấng mà mình thuộc về. Đó là niềm vui của một người hiểu rằng tự do sâu nhất không nằm ở chỗ cánh cửa nhà tù mở hay đóng, nhưng ở chỗ trái tim có còn thuộc trọn về Đức Kitô hay không. Một con người có thể bị giam trong bốn bức tường mà vẫn tự do. Một con người có thể sở hữu rất nhiều mà vẫn bị giam cầm trong sợ hãi, tham vọng, hận thù, hơn thua. Phaolô vui không phải vì nhà tù dễ chịu. Phaolô vui vì nhà tù cũng không tách ngài ra khỏi Đức Kitô. “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” Câu hỏi ấy không phải là lý thuyết. Đó là câu hỏi của một người từng thử đi qua hoạn nạn, bắt bớ, đói khát, hiểm nguy, và cuối cùng nhận ra rằng có một điều không ai cướp được: mình được yêu. Có lẽ trong những ngày đau nhất của đời, ta không cần phải hiểu hết tại sao mình đau. Nhiều khi chỉ cần giữ được một xác tín này: mình vẫn được yêu. Tôi có thể mất một người, nhưng tôi không mất Thiên Chúa. Tôi có thể mất một cơ hội, nhưng tôi không mất giá trị của mình trước mặt Ngài. Tôi có thể bị hiểu lầm, nhưng Thiên Chúa biết sự thật của lòng tôi. Tôi có thể bị người khác bỏ rơi, nhưng Đấng đã gọi tên tôi vẫn ở đó. Tôi có thể không còn nhìn thấy con đường phía trước, nhưng người Mục Tử vẫn biết đường. Chừng ấy thôi đôi khi đã đủ để người ta không gục xuống hoàn toàn.
Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu cũng để lại một chứng từ vô cùng đẹp về niềm vui được thanh luyện trong đêm tối. Nhiều người chỉ nhớ đến Têrêsa với hình ảnh những cánh hoa hồng, những nụ cười, con đường thơ ấu thiêng liêng, những lời dịu dàng về tình yêu. Nhưng đằng sau vẻ dịu dàng ấy là một tâm hồn đã trải qua đêm tối đức tin rất sâu. Trong những tháng cuối đời, khi bệnh tật hành hạ thân xác và bóng tối bao phủ tâm hồn, Têrêsa không còn cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa theo cách dễ chịu nữa. Những điều trước kia sáng rõ trở nên mờ tối. Niềm tin vào quê trời bị thử thách. Nhưng điều đáng kinh ngạc là giữa tất cả những điều ấy, Têrêsa vẫn tiếp tục yêu. Nụ cười của thánh nữ lúc ấy không phải nụ cười của người không đau, mà là nụ cười của người không muốn để nỗi đau làm mình thôi yêu người khác. Có những nụ cười nông, sinh ra từ thuận lợi. Nhưng cũng có những nụ cười rất sâu, sinh ra từ quyết định không để đau khổ biến mình thành người cay đắng. Đây có lẽ là một trong những phép lạ âm thầm nhất của ân sủng: một người đã bị tổn thương nhưng không trở nên độc ác; một người đã bị phản bội nhưng vẫn còn khả năng tin; một người đã bị coi thường nhưng vẫn không dùng sự khinh miệt để đáp lại; một người đã mất mát nhưng vẫn còn lòng biết ơn; một người đang đau nhưng vẫn đủ chỗ trong lòng để quan tâm đến nỗi đau của người khác. Nếu có thứ ánh sáng nào làm cho thế giới này còn đáng sống, có lẽ chính là thứ ánh sáng ấy.
Các vị tử đạo Việt Nam cũng sống một niềm vui mà người đời rất khó hiểu. Trong cảnh xiềng xích, tù đày, nhục hình và cái chết cận kề, nhiều vị vẫn cầu nguyện, vẫn tha thứ, vẫn hát, vẫn khích lệ nhau. Điều ấy không có nghĩa các ngài không sợ đau. Các ngài cũng là con người. Thân xác vẫn run khi đối diện cực hình. Trái tim vẫn nhớ gia đình. Nhưng có một điều lớn hơn sự sợ hãi: đó là niềm xác tín rằng sự sống của mình thuộc về Chúa và cái chết không phải là dấu chấm hết. Nếu không có Phục Sinh, tử đạo chỉ là một bi kịch. Nếu Đức Kitô không sống lại, thập giá chỉ là thất bại. Nhưng vì ngôi mộ đã trống, mọi nước mắt của người tin đều có một chân trời. Chính chân trời ấy làm nên niềm vui. Có lẽ nhiều người trong chúng ta chưa phải chịu tử đạo bằng máu, nhưng hầu như ai cũng phải đi qua những cuộc tử đạo nhỏ của đời thường: tử đạo của việc phải trung thành khi chẳng ai nhìn thấy; tử đạo của việc phải nhịn một lời khi mình hoàn toàn có lý nhưng nói ra chỉ làm người khác tổn thương; tử đạo của người cha phải thức dậy mỗi sáng đi làm trong khi lòng nặng trĩu vì bao lo toan; tử đạo của người mẹ chăm sóc đứa con bệnh tật suốt nhiều năm; tử đạo của người vợ cố giữ gia đình khi chồng đang sa sút; tử đạo của người chồng âm thầm chịu đựng những khó khăn không biết nói cùng ai; tử đạo của một linh mục vẫn đứng trước bàn thờ dâng lễ trong những ngày chính mình đang đau, vẫn ngồi tòa giải tội nghe nỗi khổ người khác khi trong lòng mình cũng có những vết thương, vẫn rao giảng về hy vọng trong khi bản thân cũng phải chiến đấu từng ngày để giữ hy vọng ấy. Có những thập giá chẳng ai biết tên, chẳng ai chụp hình, chẳng ai tán thưởng. Nhưng chính trong những thập giá âm thầm ấy, niềm vui của Tin Mừng được kiểm chứng.
Ta phải phân biệt rất rõ giữa niềm vui và cảm giác vui. Cảm giác vui có thể đến rồi đi tùy hoàn cảnh. Một cuộc gặp gỡ dễ thương làm ta vui. Một món quà làm ta vui. Một tin tốt làm ta vui. Một ngày khỏe mạnh, công việc thuận lợi, người khác khen ngợi, tất cả đều có thể tạo nên cảm giác vui. Những niềm vui ấy rất đáng quý và nên được đón nhận với lòng biết ơn. Nhưng niềm vui Kitô giáo sâu hơn nhiều. Nó giống như mạch nước ngầm dưới lòng đất. Có những mùa mưa, mạch nước đầy; có những mùa nắng, mặt đất khô nứt, nhưng sâu bên dưới nước vẫn còn. Cảm xúc có thể cạn, nhưng niềm xác tín vẫn còn. Tôi có thể đang buồn mà vẫn có niềm vui. Tôi có thể khóc mà vẫn có bình an. Tôi có thể đau mà vẫn hy vọng. Tôi có thể không hiểu mà vẫn tin. Đây là điều thế gian rất khó hiểu, bởi thế gian thường nghĩ mọi đối nghịch không thể cùng tồn tại: vui thì không buồn, mạnh thì không yếu, tin thì không nghi ngờ. Nhưng đời sống thiêng liêng cho thấy những thực tại ấy có thể cùng tồn tại trong một trái tim trưởng thành. Một người có thể vừa khóc vừa cầu nguyện. Một người có thể vừa sợ vừa bước tiếp. Một người có thể vừa trải qua hoang mang vừa không buông tay Thiên Chúa. Đức tin không phải là không còn câu hỏi. Đức tin nhiều khi là tiếp tục bước đi trong khi câu hỏi vẫn còn đó.
Có những lúc tối tăm nhất, niềm vui thật sự chỉ còn lại như một tia sáng rất mỏng: “Dù sao thì tôi vẫn được yêu thương vô cùng.” Câu ấy nghe đơn sơ, nhưng ai từng rơi vào một đêm tối thật sự mới biết giữ được nó khó đến mức nào. Khi người ta thất bại, người ta dễ đồng hóa thất bại với căn tính: tôi thất bại, nên tôi là kẻ thất bại. Khi một tương quan tan vỡ, người ta dễ nghĩ mình không đáng được yêu. Khi một người bị bỏ rơi, họ dễ kết luận rằng mình không có giá trị. Khi một lời cầu xin kéo dài nhiều năm mà chưa được đáp, người ta dễ nghĩ Chúa quên mình. Khi tội lỗi lặp đi lặp lại, người ta dễ chán nản đến mức cho rằng mình chẳng bao giờ thay đổi được nữa. Nhưng Tin Mừng đến để phá vỡ những kết luận tuyệt vọng ấy. Anh thất bại, nhưng anh không phải là thất bại. Chị bị bỏ rơi, nhưng chị không phải là người không đáng yêu. Anh đã phạm tội, nhưng anh không phải chỉ là tội lỗi của anh. Chị đang ở trong bóng tối, nhưng bóng tối không phải căn tính của chị. Chúng ta là những người được gọi tên, được yêu trước khi mình làm được điều gì xứng đáng, được gìn giữ không phải vì mình hoàn hảo nhưng vì Thiên Chúa trung tín. Đây là nền móng của niềm vui mà thập giá không giết chết được.
Đau khổ nguy hiểm không chỉ vì nó làm ta đau, mà còn vì nó có thể làm ta khép lòng. Người ta đau rồi dễ phòng thủ. Bị tổn thương rồi người ta sợ yêu thêm. Bị phản bội rồi người ta nghi ngờ tất cả. Bị hiểu lầm rồi người ta chọn im lặng và xa cách. Bị đối xử bất công rồi người ta muốn trả lại bất công. Có những người trước khi chịu tổn thương rất hiền, nhưng sau biến cố trở nên cứng. Có những người từng rất quảng đại, nhưng vì bị lợi dụng nên từ đó không muốn giúp ai. Có người từng tin người, nhưng sau một lần bị lừa thì nhìn mọi người bằng ánh mắt nghi ngờ. Đó là điều đau khổ có thể làm: không chỉ để lại một vết thương, mà còn dựng lên một bức tường. Và có khi bức tường ấy bảo vệ ta khỏi bị đau thêm, nhưng đồng thời cũng ngăn tình yêu bước vào. Vì vậy, một trong những cách quan trọng nhất để giữ niềm vui khi đau khổ là đừng để nỗi đau đóng cửa trái tim mình. Điều ấy không có nghĩa phải ngây thơ, không có nghĩa tiếp tục để người khác làm tổn thương mình, không có nghĩa bỏ mọi ranh giới cần thiết. Nhưng nó có nghĩa: tôi sẽ không để điều xấu người khác làm quyết định tôi trở thành người thế nào. Họ đã làm tôi đau, nhưng tôi không trao cho họ quyền biến tôi thành một người cay độc. Họ đã phản bội, nhưng tôi sẽ không vì thế mà mất luôn khả năng trung tín. Họ đã nói xấu, nhưng tôi sẽ không lấy vu khống để đáp lại. Họ đã làm tôi mất niềm tin, nhưng tôi sẽ nhờ Chúa học lại cách tin một cách khôn ngoan. Đó là một cuộc chiến rất lớn. Và chiến thắng trong cuộc chiến ấy chính là một dạng của Phục Sinh.
Đưa nỗi đau đến với Chúa là một việc nghe tưởng đơn giản nhưng nhiều khi chúng ta lại không làm. Ta nói về nỗi đau với rất nhiều người, nghĩ về nó cả ngày, nhắc lại nó trong đầu hàng trăm lần, kể cho người này người kia, nhưng lại ít khi ngồi thật sự trước mặt Chúa với nỗi đau ấy. Có người cầu nguyện mà chỉ nói những lời đạo đức. Có người bước vào nhà thờ rồi nghĩ mình phải trình bày với Chúa một phiên bản đẹp đẽ của bản thân. Nhưng cầu nguyện thật sự bắt đầu khi ta dám nói: “Lạy Chúa, con đang giận. Con đang thất vọng. Con không hiểu Chúa. Con thấy bất công. Con thấy mệt. Con không muốn cố nữa.” Thiên Chúa không sợ những lời ấy. Thánh Vịnh đầy những lời như vậy. Đau khổ chỉ trở nên nguy hiểm khi ta giấu nó khỏi Thiên Chúa, khi ta để nó âm thầm lên men thành cay đắng. Còn khi nó được đặt trước mặt Ngài, nỗi đau có cơ hội được biến đổi. Chúa không phải lúc nào cũng lấy đi nguyên nhân của đau khổ, nhưng Ngài có thể thay đổi cách đau khổ sống trong ta. Ngài có thể làm cho một vết thương không còn chảy máu mỗi lần ta nhớ tới. Ngài có thể giúp ta nhìn một biến cố cũ bằng ánh mắt mới. Ngài có thể làm cho điều từng khiến ta chỉ muốn nguyền rủa trở thành nơi ta học được lòng thương xót. Ngài có thể biến chính nơi ta yếu nhất thành nơi ta hiểu người khác sâu nhất.
Có người chỉ hiểu nỗi đau của người mất con sau khi chính mình từng trải qua một mất mát. Có người chỉ thực sự biết lắng nghe một người bị trầm uất sau khi bản thân từng đi qua những ngày tối. Có người chỉ biết dịu dàng với một người thất bại sau khi mình từng bị cuộc đời quật ngã. Có người chỉ biết thương một gia đình đổ vỡ sau khi gia đình mình cũng từng nhiều lần bên bờ tan vỡ. Điều đó không có nghĩa cứ phải đau mới có lòng thương xót, nhưng đau khổ được trao vào tay Chúa có thể mở rộng trái tim. Người đã từng khóc thường biết lau nước mắt người khác bằng bàn tay nhẹ hơn. Người đã từng nằm ở đáy vực thường ít vội phán xét người đang ở dưới đó. Người đã từng được tha thứ nhiều thường có khả năng tha thứ sâu hơn. Đây chính là một trong những cách Chúa làm điều tốt phát sinh từ điều xấu mà Ngài không hề mong muốn. Người ta có thể đi qua đau khổ và trở nên cay độc hơn, nhưng cũng có thể đi qua đau khổ và trở nên nhân hậu hơn. Khác biệt nằm ở chỗ ta đi qua đau khổ một mình hay cùng Chúa.
Một điều khác không kém phần quan trọng là đừng chịu đau một mình. Có một thứ kiêu hãnh rất tinh vi khiến người ta nghĩ mình phải tự gánh được mọi chuyện, không được làm phiền ai, không được để ai thấy mình yếu. Người ta nói “tôi ổn” trong khi rõ ràng không ổn. Người ta cười ở nơi đông người rồi đêm về khóc một mình. Người ta sợ chia sẻ vì sợ bị đánh giá, sợ trở thành gánh nặng, sợ người khác không hiểu. Nhưng đời sống Kitô giáo chưa bao giờ là một hành trình cô độc. Đức Giêsu sai các môn đệ đi từng hai người. Hội Thánh ngay từ đầu đã là cộng đoàn của những người nâng đỡ nhau. Khi một chi thể đau, toàn thân đau. Khi một người yếu, người khác có trách nhiệm nâng lên. Có những thập giá quá nặng để một người tự vác. Ngay cả Đức Giêsu trên đường lên Canvê cũng đã để ông Simon thành Kyrênê vác đỡ thập giá. Điều ấy thật đẹp. Con Thiên Chúa đã không khước từ sự trợ giúp của một con người. Thế mà chúng ta lại nghĩ mình phải mạnh đến mức không cần ai. Có khi phép lạ Chúa gửi đến không phải là làm cho thập giá biến mất, mà là gửi một người đến để cùng ta vác.
Có những thời điểm ta cần một người chỉ để ngồi bên cạnh. Không lời khuyên. Không bài giảng. Không cố giải thích “tại sao Chúa để xảy ra như thế”. Chỉ cần một người ở đó. Một bàn tay nắm lấy tay. Một tin nhắn ngắn: “Tôi đang cầu nguyện cho anh.” Một bữa cơm được đem tới nhà một gia đình đang tang chế. Một người bạn kiên nhẫn nghe ta nói cùng một câu chuyện nhiều lần vì biết rằng có những vết thương cần được kể đi kể lại trước khi chúng thôi làm đau. Một linh mục không vội đưa ra đáp án nhưng ngồi im nghe giáo dân khóc. Một cộng đoàn biết đón người yếu đuối thay vì biến họ thành chủ đề bàn tán. Đó là những nơi niềm vui dần trở lại. Không phải bằng những tiếng cười lớn, mà bằng cảm giác: mình không cô độc. Con người chịu được nhiều đau đớn hơn khi biết có người cùng đi. Nhiều khi điều đáng sợ nhất không phải là thập giá, mà là phải vác thập giá một mình.
Cộng đoàn Kitô hữu vì thế không thể chỉ là nơi người ta đến tham dự phụng vụ rồi ai về nhà nấy. Cộng đoàn phải là nơi người đau được nhìn thấy, người yếu được nâng lên, người thất bại không bị loại bỏ, người mất niềm vui được người khác gìn giữ niềm vui giúp cho một thời gian. Có những ngày tôi không đủ sức tin, nhưng người anh em tin giúp tôi. Có những ngày tôi không cầu nguyện nổi, nhưng cộng đoàn cầu nguyện cho tôi. Có những lúc hy vọng của tôi chỉ như cây đèn gần tắt, và một ai đó lấy ngọn lửa của họ châm lại. Đó là vẻ đẹp của Hội Thánh. Chúng ta không chỉ chia sẻ với nhau những lúc hạnh phúc. Chúng ta mang lấy nhau trong những mùa giông bão.
Nhưng cuối cùng, nền móng sâu nhất để thập giá không giết chết niềm vui vẫn là niềm tin vào Phục Sinh. Nếu không có Phục Sinh, mọi lời nói về niềm vui trong đau khổ chỉ là một cách tự trấn an. Nếu Đức Giêsu chết rồi hết, chúng ta chẳng có lý do gì để nói hy vọng mạnh hơn cái chết. Nhưng Kitô giáo được dựng trên một ngôi mộ trống. Đức tin của chúng ta đứng hay ngã ở đó. Chúa Giêsu không né thập giá. Ngài đi xuyên qua thập giá và bước ra khỏi mồ. Vì thế, người Kitô hữu không tin rằng mình sẽ tránh được mọi Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng tin rằng không có Thứ Sáu Tuần Thánh nào là vĩnh viễn. Bóng tối có giờ của nó. Mồ đá có thời gian của nó. Nước mắt có đêm của nó. Nhưng bình minh thuộc về Thiên Chúa. Đó là lý do người Kitô hữu có thể khóc mà không tuyệt vọng. Ta khóc vì đau là thật, nhưng ta không tuyệt vọng vì đau không phải là tất cả. Ta để tang người thân, nhưng trong lời cầu nguyện vẫn có câu “chúng con mong đợi ngày xác loài người sống lại”. Ta đứng trước những điều đổ vỡ, nhưng vẫn tin Chúa có thể làm nên điều mới. Ta nhìn thấy sự ác dường như thắng một thời gian, nhưng không trao cho nó chiến thắng cuối cùng.
“Thập giá không phải là điểm cuối. Phục Sinh mới là điểm cuối.” Câu ấy nên được ghi sâu vào trái tim mỗi người. Không phải theo nghĩa mọi chuyện đời này rồi sẽ diễn ra đúng ý ta. Có những vết thương sẽ để lại sẹo. Có những mất mát sẽ không được bù lại theo cách ta mong. Có những người đã ra đi và không trở lại trong đời này. Có những cánh cửa đóng là đóng thật. Có những căn bệnh không được chữa khỏi. Có những tương quan không thể hàn gắn nguyên trạng. Nhưng Phục Sinh có nghĩa là Thiên Chúa có thể tạo nên sự sống ngay nơi ta chỉ thấy cái chết. Có những người sau một mất mát lớn lại sống sâu hơn. Có người sau một thất bại mới tìm được hướng đi thật của đời mình. Có người sau khi bị tổn thương lại học yêu chính mình đúng cách. Có người sau khi mọi tự tin sụp đổ mới thôi dựa vào bản thân và bắt đầu đặt đời mình trong tay Chúa. Có người sau một giai đoạn rất tối mới biết quý từng điều nhỏ bé. Phục Sinh không xóa dấu đinh. Đức Giêsu sống lại vẫn mang các vết thương. Điều ấy rất quan trọng. Vết thương không biến mất, nhưng chúng không còn là dấu của thất bại; chúng trở thành dấu của tình yêu đã chiến thắng. Có lẽ đời ta cũng vậy. Chúa không nhất thiết xóa hết sẹo. Ngài có thể biến sẹo thành chứng từ.
Đôi khi ta tưởng niềm vui là phải trở lại như trước biến cố. Nhưng có những biến cố làm ta không bao giờ trở lại như trước nữa. Và điều đó không có nghĩa đời mình hỏng. Chúa không nhất thiết đưa ta trở lại con người cũ; Ngài có thể làm nên một con người mới. Một người từng vô tư có thể trở nên sâu sắc. Một người từng sống vội có thể biết trân trọng. Một người từng mải miết chạy theo công việc có thể học dành thời gian cho gia đình. Một người từng tự tin vào tiền bạc có thể hiểu thế nào là sự mong manh. Một người từng nghĩ mình mạnh có thể học khiêm nhường. Đó không phải là lý tưởng hóa đau khổ. Đó là nhìn nhận quyền năng ân sủng: Chúa có thể dùng ngay cả những mảnh vỡ để tạo nên một hình dáng mới.
Có một nguy cơ khác trong thử thách là chúng ta bắt đầu so sánh đau khổ của mình với đời người khác. Ta nhìn thấy họ vui vẻ, thành công, gia đình yên ổn, rồi tự hỏi vì sao đời mình lại nhiều chuyện đến thế. Nhưng ta không biết hết câu chuyện của ai. Những gì người ta đăng lên mạng không phải toàn bộ đời họ. Nụ cười của một người không kể cho ta biết đêm qua họ đã khóc thế nào. Căn nhà đẹp không cho ta biết trong đó có bình an hay không. Sự thành công không nói hết những vết thương. So sánh thường làm thập giá nặng thêm, bởi ta không chỉ phải vác nỗi đau của mình mà còn thêm câu hỏi: tại sao tôi không được như họ? Người giữ được niềm vui là người dần học nhìn đời mình bằng ánh mắt của Chúa hơn là bằng thước đo của người khác. Chúa không yêu ta theo bảng xếp hạng. Ngài không hỏi vì sao ta không giống người kia. Ngài hỏi ta có trung tín với phần đường của mình không.
Có những người chịu thử thách rồi cầu xin rất nhiều nhưng không thấy gì thay đổi. Đây là nơi đức tin thường đau nhất. Khi cầu nguyện mãi mà bệnh vẫn còn, người thân vẫn chưa trở về, con cái vẫn chưa đổi, công việc vẫn bế tắc, ta có thể bắt đầu nghĩ cầu nguyện vô ích. Nhưng có lẽ đôi khi ta phải học một cách cầu nguyện khác. Ban đầu ta cầu: “Lạy Chúa, xin cất điều này khỏi con.” Và đó là lời cầu rất chính đáng. Đức Giêsu cũng đã cầu: “Xin cất chén này khỏi con.” Nhưng rồi đến một lúc, lời cầu nguyện có thể sâu hơn: “Nếu điều này chưa được cất khỏi con, xin đừng để con đi qua nó một mình. Xin cho con đủ sức cho hôm nay. Xin đừng để nỗi đau làm con mất lòng nhân hậu. Xin giữ con khỏi cay đắng. Xin dạy con điều con cần học. Xin giúp con sống ngày hôm nay với tình yêu.” Khi lời cầu xin thay đổi như thế, không phải ta đã đầu hàng. Ta đang bước vào thái độ của Đức Giêsu: “Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Đây không phải là cam chịu mù quáng, mà là tín thác. Cam chịu nói: chẳng còn gì để làm. Tín thác nói: con chưa thấy đường, nhưng con tin Đấng dẫn đường.
Niềm vui trong thử thách còn được giữ bằng lòng biết ơn. Nghe điều này có thể khó khi người ta đang đau. Không ai nên nói với một người vừa chịu mất mát rằng “hãy biết ơn đi” như thể cảm xúc của họ không quan trọng. Nhưng khi thời gian đủ để lòng lắng xuống, biết ơn trở thành một sức mạnh kỳ lạ. Đau khổ có xu hướng chiếm trọn tầm nhìn, khiến ta chỉ thấy điều đã mất. Lòng biết ơn giúp ta nhận ra điều vẫn còn. Tôi mất một điều, nhưng không mất tất cả. Tôi đang bệnh, nhưng vẫn có người chăm sóc. Tôi thất bại trong công việc, nhưng vẫn còn một mái nhà. Tôi đang buồn, nhưng sáng nay vẫn có mặt trời. Tôi chưa thấy lời giải, nhưng tôi còn có thể cầu nguyện. Không phải những điều nhỏ ấy làm đau khổ biến mất, nhưng chúng giữ ta khỏi rơi vào ảo tưởng rằng cả thế giới chỉ còn bóng tối. Một tia sáng nhỏ trong đêm vẫn là ánh sáng.
Có khi niềm vui Kitô giáo đơn sơ đến mức chỉ là khả năng tiếp tục làm những việc cần làm trong ngày. Thức dậy. Gấp chăn. Pha một ly cà phê. Đi lễ. Đi làm. Chăm sóc con. Tưới cây. Trả lời một tin nhắn. Mỉm cười với người bán hàng. Đọc một đoạn Tin Mừng. Ngồi yên trước Nhà Tạm năm phút. Nhiều người nghĩ chiến thắng phải là những khoảnh khắc rất lớn. Nhưng trong những giai đoạn đau buồn, có khi chiến thắng chỉ là hôm nay tôi không bỏ cuộc. Hôm nay tôi vẫn ăn. Hôm nay tôi vẫn cầu nguyện dù chẳng cảm thấy gì. Hôm nay tôi vẫn chọn tử tế dù trong lòng đầy mệt mỏi. Hôm nay tôi vẫn tin rằng ngày mai có thể khác. Những điều ấy không nhỏ. Đó là sự sống đang âm thầm chống lại cái chết.
Thập giá cũng thanh luyện cách ta hiểu niềm vui. Trước kia ta có thể nghĩ vui là được sở hữu, được khẳng định, được công nhận. Sau nhiều va đập, ta bắt đầu thấy niềm vui giản dị hơn. Có sức khỏe để bước đi là niềm vui. Còn cha còn mẹ để gọi một cuộc điện thoại là niềm vui. Gia đình ngồi cùng một bàn ăn mà không giận nhau là niềm vui. Một đêm ngủ yên là niềm vui. Có một người hiểu mình là niềm vui. Được tha thứ là niềm vui. Còn có thể bắt đầu lại là niềm vui. Có khi đau khổ tước khỏi ta nhiều thứ, nhưng cũng tước khỏi ta ảo tưởng rằng hạnh phúc phải thật lớn lao. Ta bắt đầu biết nhặt những mảnh sáng nhỏ trong ngày. Và kỳ lạ thay, người đã từng mất nhiều thường biết vui vì những điều nhỏ hơn người chưa từng mất.
Có một câu hỏi rất quan trọng: tại sao có người sau đau khổ trở nên thánh thiện hơn, còn có người lại trở nên cay nghiệt hơn? Có lẽ vì đau khổ không tự động làm chúng ta tốt. Nó chỉ làm lộ ra và khuếch đại những gì ta chọn. Đau khổ có thể là lò lửa thanh luyện, nhưng cũng có thể là nơi oán hận lớn lên. Bởi vậy, thập giá phải được vác với Chúa. Không phải chỉ chịu đựng nó. Hai người có thể chịu cùng một biến cố nhưng đi về hai hướng khác nhau. Một người nói: “Từ nay tôi không tin ai nữa.” Người kia nói: “Tôi hiểu người bị tổn thương hơn.” Một người nói: “Đời bất công nên tôi chẳng cần sống tốt.” Người kia nói: “Vì tôi biết nỗi đau là gì nên tôi sẽ cố không làm người khác đau.” Sự khác biệt ấy chính là nơi tự do của con người gặp ân sủng.
Đối với người sống đời dâng hiến hay linh mục, niềm vui giữa thử thách lại càng là một chứng tá đặc biệt. Có người tưởng linh mục phải luôn vui, luôn mạnh, luôn có câu trả lời. Nhưng linh mục cũng là con người, cũng có những đêm không ngủ, những thất vọng, những hiểu lầm, những cô đơn rất khó gọi tên. Có khi người linh mục vừa chôn cất một người thân buổi sáng, chiều lại phải đứng trước cộng đoàn nói về niềm hy vọng. Có khi ngài đang mang những gánh nặng riêng nhưng vẫn phải ngồi hàng giờ nghe người khác trút nỗi buồn. Có khi ngài bị chính những người mình phục vụ hiểu lầm. Có khi những cố gắng âm thầm chẳng ai thấy, trong khi một sai sót nhỏ lại bị nhắc nhiều năm. Có khi điều khó nhất không phải là công việc nhiều, mà là cảm giác cô đơn giữa một cộng đoàn đông người. Nhưng chính ở đó, nếu người linh mục giữ được niềm vui không phải bằng cách che giấu đau đớn mà bằng cách ở lại với Chúa, ngài trở thành một lời giảng sống động hơn mọi bài giảng. Giáo dân không cần một vị mục tử chưa từng đau. Họ cần một vị mục tử đã đau mà không mất lòng thương xót, đã bị tổn thương mà không trở nên cay nghiệt, đã có lúc mệt nhưng vẫn biết nơi trở về, đã có lúc rơi lệ nhưng vẫn tin vào bình minh.
Gia đình cũng là nơi niềm vui chịu nhiều thử thách nhất. Hôn nhân không chỉ có những ngày cưới. Làm cha mẹ không chỉ có những bức ảnh đẹp. Gia đình thật có bệnh tật, tiền bạc, xung đột, khác biệt tính cách, những vết thương từ quá khứ, những giai đoạn con cái xa cách, những lúc người ta không còn dễ dàng nhìn nhau bằng ánh mắt ban đầu. Có những gia đình giữ được niềm vui không phải vì họ không có vấn đề, mà vì họ không bỏ nhau trong vấn đề. Niềm vui nằm ở chỗ sau một trận cãi vã vẫn có người đủ khiêm nhường nói: “Tôi xin lỗi.” Sau một thất vọng vẫn có người đủ kiên nhẫn để bắt đầu lại. Khi một người ngã xuống, người kia không nói: “Tôi đã bảo rồi,” mà nói: “Đứng lên, tôi ở đây.” Đó là Phục Sinh trong đời thường.
Và rồi có những thử thách không đến từ biến cố bên ngoài mà từ chính bên trong ta. Có những ngày chẳng có chuyện gì đặc biệt nhưng lòng vẫn nặng. Có giai đoạn ta thấy đời nhạt, cầu nguyện khô, mọi thứ mất ý nghĩa. Có thể đó là mệt mỏi, kiệt sức, hay những vấn đề tâm lý cần được nhìn nhận nghiêm túc và tìm sự trợ giúp thích hợp. Đức tin không thay thế cho mọi trợ giúp chuyên môn. Cầu nguyện không loại trừ việc tìm một bác sĩ, một chuyên gia, một người đồng hành đáng tin. Thiên Chúa có thể chữa lành qua nhiều con đường. Điều quan trọng là đừng tự kết án mình vì không cảm thấy vui. Niềm vui Kitô giáo không phải mệnh lệnh cảm xúc. “Hãy vui” không có nghĩa ép bản thân cười khi đang đau. Nó là lời mời quay lại nguồn sâu hơn của sự sống, nơi ta được nhắc rằng cảm xúc này không phải toàn bộ con người tôi và mùa này không phải toàn bộ cuộc đời tôi.
Có lẽ hình ảnh đẹp nhất cho niềm vui giữa thử thách là cây thập giá có bình minh phía sau. Thập giá vẫn đó. Không bị xóa. Nhưng ánh sáng đang lên. Người Kitô hữu không quay mặt khỏi thập giá. Ta nhìn thẳng vào nó, nhưng không chỉ nhìn nó. Ta nhìn xuyên qua thập giá để thấy Phục Sinh. Chính vì thế mà niềm vui Kitô giáo mang một nét rất lạ: nó có nước mắt. Có những nụ cười mà trong mắt vẫn còn nước. Có những lời tạ ơn phát ra từ một trái tim còn đau. Có những bài hát được hát bằng giọng run. Nhưng có lẽ chính vì thế mà nó thật.
Cuối cùng, điều giữ chúng ta đứng vững không phải là khả năng giải thích mọi đau khổ, mà là mối tương quan với Đấng đã đi vào đau khổ trước chúng ta. Đức Kitô không đứng bên ngoài thập giá để giảng cho con người phải chịu đựng thế nào. Ngài đã bước vào nó. Ngài biết cảm giác bị phản bội, bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị đau thể xác, bị nhục mạ, bị mất tất cả. Khi ta nói với Chúa “Chúa không hiểu con đâu”, thập giá là câu trả lời: “Ta hiểu.” Không phải cái hiểu của lý thuyết, mà cái hiểu của vết thương. Và bởi Đấng chịu đóng đinh cũng là Đấng sống lại, nên ta biết vết thương không có quyền nói lời cuối.
Sẽ có những ngày niềm vui trong ta rực rỡ như buổi sáng Phục Sinh. Nhưng cũng sẽ có những ngày niềm vui chỉ còn như một ngọn đèn nhỏ trước gió. Đừng khinh thường ngọn đèn ấy. Chỉ cần nó chưa tắt. Chỉ cần trong tận sâu vẫn còn một lời rất nhỏ: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây.” Có khi đức tin lớn nhất không phải là hát thật to, mà là không bỏ đi trong đêm tối. Có khi tình yêu lớn nhất không phải là cảm thấy nồng nàn, mà là vẫn trung tín khi mọi cảm xúc đã nguội. Có khi niềm vui sâu nhất không phải là cười, mà là biết rằng mình vẫn thuộc về Thiên Chúa.
Rồi một ngày nhìn lại, ta có thể ngạc nhiên thấy những nơi từng tưởng sẽ giết chết mình lại trở thành nơi mình gặp Chúa sâu nhất. Cái mất mát từng làm ta nghĩ đời chấm hết lại dạy ta điều gì là thực sự quan trọng. Vết thương từng khiến ta xấu hổ lại trở thành cánh cửa để ta chạm tới vết thương của người khác. Một mùa khô hạn từng khiến ta nghĩ Chúa xa lại là thời gian rễ đức tin đi sâu hơn xuống lòng đất. Bởi cây chỉ đứng vững trong bão khi rễ sâu. Đức tin cũng vậy. Niềm vui cũng vậy. Có những niềm vui phải đi qua nước mắt mới thành thật. Có những bình an phải đi qua giông bão mới biết giá trị. Có những tiếng “Alleluia” phải đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh mới có trọng lượng.
Vì thế, nếu hôm nay ai đó đang ở giữa thử thách, xin đừng vội kết luận rằng niềm vui đã chết. Có thể nó chỉ đang nằm sâu hơn. Nếu hôm nay ta chưa cười được, không sao. Nếu hôm nay ta chỉ có thể cầu một câu rất ngắn, hãy cầu câu ấy. Nếu hôm nay ta không đủ sức bước xa, hãy bước một bước. Nếu hôm nay ta chỉ còn đủ niềm tin để nói “Lạy Chúa, xin đừng bỏ con”, thì lời ấy đã là cầu nguyện. Nếu hôm nay ta chỉ còn một tia sáng: “Dù sao thì tôi vẫn được yêu thương vô cùng”, hãy bảo vệ tia sáng ấy. Nó nhỏ, nhưng đủ. Một hạt cải cũng nhỏ. Một tia bình minh cũng nhỏ ở chân trời, nhưng nó báo rằng đêm sắp hết.
Và xin nhớ: thập giá không có quyền giết chết niềm vui, trừ khi chúng ta trao cho nó quyền ấy. Đau khổ có thể lấy đi nhiều thứ: sức khỏe, kế hoạch, tài sản, những người ta yêu, những cảm giác dễ chịu. Nhưng trong Đức Kitô, nó không thể lấy đi lời hứa cuối cùng. “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Không phải chỉ những ngày tốt. Mọi ngày. Ngày vui và ngày buồn. Ngày đứng vững và ngày ngã. Ngày lòng đầy ánh sáng và ngày chẳng cảm thấy gì. Mọi ngày.
Đó là bí mật của niềm vui Kitô giáo: không phải không có thập giá, mà là không có thập giá nào phải vác một mình; không phải không có đêm tối, mà là không có đêm nào không có bình minh; không phải không có cái chết, mà là cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng. Điểm cuối không phải là Canvê. Điểm cuối là khu vườn sáng sớm, ngôi mộ mở, tảng đá lăn ra, và lời loan báo vang lên qua mọi thế hệ: “Người không còn ở đây. Người đã sống lại.”
Và vì Người đã sống lại, chúng ta cũng có thể sống. Vì Người đã thắng, chúng ta có thể hy vọng. Vì Người yêu cho đến cùng, chúng ta có thể tiếp tục yêu ngay cả khi đang đau. Và chính lúc ấy, giữa những vết thương còn chưa lành, giữa những câu hỏi chưa có đáp án, giữa những giọt nước mắt còn nóng trên gương mặt, ta vẫn có thể nghe rất khẽ trong lòng một lời không ai lấy mất được: Vui lên. Thập giá chưa bao giờ là trang cuối.
CHƯƠNG 7
TRỞ THÀNH CHỨNG NHÂN NIỀM VUI TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY
Có lẽ chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện để tìm vui như hôm nay, nhưng cũng có lẽ chưa bao giờ người ta lại phải vất vả đi tìm niềm vui đến thế. Chỉ cần một chiếc điện thoại trong tay, người ta có thể nghe nhạc, xem phim, trò chuyện, mua sắm, du lịch bằng hình ảnh, theo dõi cuộc sống của hàng ngàn người, bước vào hàng trăm thế giới khác nhau chỉ trong một buổi tối. Mỗi ngày có vô số chương trình giải trí được sản xuất, vô số hình ảnh rực rỡ được đăng tải, vô số lời mời gọi chúng ta hãy tận hưởng, hãy trải nghiệm, hãy sống hết mình, hãy làm điều khiến mình vui. Nhưng giữa tất cả những âm thanh ấy, có một nghịch lý rất lạ: càng có nhiều thứ để giải trí, con người lại càng khó ở một mình; càng có nhiều cách để kết nối, con người lại càng dễ cô đơn; càng có nhiều điều để khoe rằng mình đang hạnh phúc, người ta lại càng sợ phải nhìn sâu vào lòng mình. Có những khuôn mặt cười rất tươi trên mạng nhưng đêm về lại khó ngủ. Có những căn nhà đầy đủ tiện nghi nhưng bữa cơm chẳng còn mấy lời để nói với nhau. Có những con người thành công, được nhiều người biết đến, có tiền bạc, địa vị, những chuyến đi đẹp, những bức ảnh khiến người khác ngưỡng mộ, vậy mà trong lòng vẫn có một khoảng trống không biết lấy gì lấp cho đầy. Thế giới hôm nay không thiếu tiếng cười, nhưng đang thiếu bình an. Không thiếu những cuộc vui, nhưng đang thiếu niềm vui. Không thiếu những khoảnh khắc kích thích cảm xúc, nhưng đang thiếu một lý do đủ sâu để con người có thể thức dậy mỗi sáng và nói rằng: dù đời tôi không hoàn hảo, dù hôm nay còn nhiều điều phải đối diện, tôi vẫn biết đời mình có ý nghĩa, tôi vẫn biết mình được yêu, tôi vẫn biết mình không bị bỏ rơi, tôi vẫn biết có một Đấng đang ở cùng tôi. Chính ở nơi cơn đói rất âm thầm ấy, người Kitô hữu được gọi để hiện diện. Không phải để chứng minh rằng mình hơn người khác. Không phải để cho thấy người có đạo thì không bao giờ buồn, không bao giờ thất bại, không bao giờ đau khổ. Càng không phải để khoác lên khuôn mặt một nụ cười giả tạo như thể đức tin buộc chúng ta phải vui vẻ trong mọi hoàn cảnh. Chứng nhân niềm vui không phải là người không có nước mắt, nhưng là người có thể khóc mà không tuyệt vọng; không phải là người không có vết thương, nhưng là người không để vết thương biến mình thành cay nghiệt; không phải là người chưa từng mất mát, nhưng là người giữa mất mát vẫn không đánh mất Thiên Chúa; không phải là người chưa từng đi qua bóng tối, nhưng là người đã nhận ra rằng trong bóng tối vẫn có một bàn tay đang dẫn mình đi.
Niềm vui mà Tin Mừng trao ban khác rất xa niềm vui mà thế gian thường quảng cáo. Thế gian thường bảo chúng ta: muốn vui thì phải có thêm. Có thêm tiền, thêm thành công, thêm sự công nhận, thêm người yêu quý mình, thêm những gì khiến mình nổi bật, thêm quyền lựa chọn, thêm khả năng kiểm soát cuộc đời. Tin Mừng lại đưa chúng ta đi theo một con đường gần như ngược lại: đôi khi muốn có niềm vui, ta phải biết bớt đi. Bớt cái tôi. Bớt nhu cầu phải hơn người. Bớt đòi hỏi người khác phải làm theo ý mình. Bớt sự lệ thuộc vào lời khen. Bớt ham muốn chứng minh giá trị của mình trước thiên hạ. Bớt những điều chiếm quá nhiều chỗ trong trái tim đến nỗi Chúa không còn chỗ để bước vào. Thế gian nói hạnh phúc là đứng trên cao để nhiều người nhìn thấy; Chúa Giêsu lại quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Thế gian nói hạnh phúc là được phục vụ; Chúa nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ.” Thế gian nói phải giữ thật chặt để khỏi mất; Chúa nói ai liều mất mạng sống mình vì Người thì sẽ tìm được. Thế gian bảo hãy lo cho mình trước; Tin Mừng nói hãy yêu người thân cận như chính mình. Thế gian bảo nếu ai làm tổn thương ta, hãy làm cho họ biết ta không dễ bị coi thường; Chúa lại nói hãy tha thứ. Những điều ấy nghe có vẻ như làm con người thiệt thòi, nhưng kỳ lạ thay, chính khi sống như thế, lòng người lại nhẹ hơn. Vì có rất nhiều nỗi buồn trong đời không đến từ hoàn cảnh, nhưng đến từ cái tôi quá lớn. Có rất nhiều mệt mỏi không phải vì chúng ta làm quá nhiều, nhưng vì chúng ta muốn kiểm soát quá nhiều. Có rất nhiều bất an không phải vì chúng ta thiếu thốn thật sự, nhưng vì chúng ta cứ nhìn sang người khác và tự hỏi tại sao họ có mà mình không có. Bao lâu con người còn đo hạnh phúc bằng sự so sánh, bấy lâu niềm vui vẫn mong manh. Hôm nay ta vui vì hơn người này, ngày mai sẽ buồn vì gặp người hơn ta. Hôm nay ta hãnh diện vì được khen, ngày mai sẽ khổ vì một lời chê. Hôm nay ta thấy mình có giá trị vì có người cần mình, ngày mai ta sẽ hoảng sợ khi họ không còn cần nữa. Nhưng khi một người thật sự biết mình được Thiên Chúa yêu, một nền tảng khác được hình thành. Tôi không còn phải giành giật để chứng minh rằng mình đáng giá, vì tôi đã có giá trong mắt Chúa. Tôi không cần mọi người hiểu mình, vì có một Đấng hiểu tận đáy lòng tôi. Tôi không cần ai cũng yêu tôi, vì tình yêu nền tảng của đời tôi không đến từ số lượng người yêu mến tôi. Tôi không cần thành công trong mọi việc để cảm thấy đời mình có ý nghĩa, vì ý nghĩa sâu nhất của đời tôi nằm ở chỗ tôi thuộc về Thiên Chúa và được mời gọi yêu thương. Chính từ đó một thứ tự do rất âm thầm xuất hiện, và tự do ấy sinh ra niềm vui.
Trở thành chứng nhân niềm vui trong thế giới hôm nay vì thế đòi chúng ta phải dám sống khác. Không khác để lập dị, không khác để chứng tỏ mình thánh thiện, nhưng khác vì những giá trị ta chọn không hoàn toàn giống với những giá trị mà đám đông đang chạy theo. Khi người ta xem tiền bạc như thước đo cuối cùng của thành công, người Kitô hữu phải dám nói bằng đời sống rằng có những điều tiền không mua được: một gia đình bình an, một lương tâm thanh thản, một tình bạn chân thành, một đêm ngủ không phải sợ hãi, một trái tim còn biết rung động trước nỗi đau của người khác. Khi người ta coi quyền lực là khả năng khiến người khác phục tùng mình, người môn đệ của Chúa phải cho thấy quyền bính đẹp nhất là khả năng phục vụ. Khi người ta coi nổi tiếng là bằng chứng của giá trị, người Kitô hữu phải biết làm những việc tốt mà không cần ai biết. Khi người ta dạy rằng phải trả đũa để khỏi bị xem thường, người có Tin Mừng trong lòng phải can đảm tha thứ, không phải vì yếu nhưng vì không muốn để người gây tổn thương quyết định mình sẽ trở thành người như thế nào. Khi xã hội ngày càng đề cao tốc độ, người Kitô hữu phải biết dừng lại. Khi mọi người nói cùng lúc, chúng ta phải biết lắng nghe. Khi thế giới không ngừng thúc giục “hãy mua thêm”, chúng ta phải biết nói “đủ rồi”. Khi người ta bị cuốn vào việc xây dựng hình ảnh, chúng ta phải trở về với con người thật của mình trước mặt Chúa. Khi người ta quen hỏi “điều này có lợi gì cho tôi?”, chúng ta tập hỏi “điều này có làm ai đó được sống hơn không?”. Những lựa chọn ấy không ồn ào. Nhiều khi chẳng ai biết. Nhưng chính đó là cách Tin Mừng trở nên hữu hình giữa đời thường.
Đi ngược dòng luôn có giá của nó. Một người sống thật có thể bị xem là ngây thơ trong một môi trường quen khôn lỏi. Một người không tham gia nói xấu có thể bị xem là khó hòa đồng. Một người từ chối những điều trái lương tâm có thể mất cơ hội. Một người sống giản dị có thể bị coi là không biết hưởng thụ. Một người chọn dành thời gian cho gia đình thay vì chỉ chạy theo công việc có thể bị cho rằng thiếu tham vọng. Một người dám xin lỗi trước dù chưa chắc mình sai hết có thể bị xem là yếu. Một người tha thứ trong khi dư luận đòi trừng phạt có thể bị hiểu lầm. Nhưng đời Kitô hữu chưa bao giờ là con đường tìm sự tán thưởng của số đông. Chúa Giêsu không hứa rằng ai theo Người sẽ luôn được hiểu. Người chỉ hứa rằng ai ở lại trong Người sẽ sinh hoa trái. Và có khi hoa trái ấy phải mất rất lâu mới nhìn thấy. Có những người cha người mẹ sống cả đời âm thầm, chẳng ai gọi họ là chứng nhân, nhưng chính sự kiên nhẫn, lòng chung thủy và cách họ yêu nhau khi già yếu đã gieo vào lòng con cái một niềm tin vào tình yêu. Có những người bệnh nằm một chỗ, tưởng như chẳng làm được gì cho ai, nhưng cách họ chịu đau mà không nguyền rủa cuộc đời, cách họ vẫn hỏi thăm người khác, vẫn cảm ơn một ly nước được trao, vẫn cầu nguyện cho con cháu, lại trở thành bài giảng mà không một bục giảng nào có thể thay thế. Có những người lao động rất bình thường, mỗi ngày làm công việc chẳng ai chú ý, nhưng họ ngay thẳng, không gian dối, không lợi dụng người khác, biết chia sẻ với người khó khăn hơn mình; chính họ đang làm cho Tin Mừng có một khuôn mặt giữa phố phường. Chứng nhân niềm vui không nhất thiết là người nói những điều lớn lao. Nhiều khi đó chỉ là người khiến người khác cảm thấy cuộc đời này vẫn còn tử tế.
Một trong những thách đố lớn nhất của chứng tá hôm nay là làm sao vui khi hoàn cảnh không vui. Chúng ta cần nói thật với nhau rằng có những giai đoạn trong đời chẳng có lý do tự nhiên nào để vui cả. Một người vừa mất người thân không thể bị yêu cầu phải tươi cười. Một gia đình đang mang món nợ lớn không thể giả vờ mọi sự đều nhẹ nhàng. Một người bị phản bội, một người thất nghiệp, một người đau bệnh, một người đang chăm sóc người thân lâu ngày, một người sống trong cuộc hôn nhân nhiều tổn thương, một linh mục mệt mỏi trong mục vụ, một tu sĩ đang đi qua khủng hoảng ơn gọi, một người trẻ thất bại sau nhiều năm cố gắng… tất cả những người ấy đều có quyền buồn, có quyền khóc, có quyền nói với Chúa rằng con mệt. Niềm vui Kitô giáo không bắt chúng ta phủ nhận những điều ấy. Ngược lại, nó bắt đầu từ sự thật. Chúa Giêsu ở vườn Cây Dầu đã buồn đến chết được. Người đã khóc trước mộ Ladarô. Người đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức tin của chúng ta không được xây dựng trên một Thiên Chúa không biết đau, nhưng trên một Thiên Chúa đã bước vào nỗi đau của con người. Vì thế, chứng nhân niềm vui không phải là người luôn miệng nói “không sao đâu” khi mọi thứ đang thực sự có sao. Đôi lúc câu “không sao đâu” lại rất tàn nhẫn. Có những nỗi đau cần được nhìn nhận. Có những mất mát không thể thay thế. Có những vết thương cần nhiều năm để lành. Nhưng chính ở đó, niềm vui Tin Mừng xuất hiện không như tiếng cười mà như một niềm xác tín: đau khổ này không có tiếng nói cuối cùng. Cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Thất bại không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về tình yêu của Thiên Chúa. Và đôi khi tất cả điều một người có thể làm trong một ngày tăm tối chỉ là thì thầm: “Lạy Chúa, con chưa thấy đường, nhưng con vẫn ở lại.” Chừng ấy thôi cũng đã là một hành vi hy vọng rất lớn.
Thế giới hôm nay cần những người dám hy vọng khi mọi sự dường như tuyệt vọng. Nhưng hy vọng Kitô giáo không phải là lạc quan dễ dãi. Lạc quan thường dựa trên dự đoán rằng rồi mọi chuyện sẽ tốt lên. Hy vọng lại có thể tồn tại ngay cả khi ta chưa biết chuyện có tốt lên hay không. Người lạc quan nói: chắc chắn bệnh sẽ khỏi. Người hy vọng nói: dù bệnh có diễn tiến thế nào, Chúa vẫn ở cùng tôi. Người lạc quan nói: chắc chắn công việc này sẽ thành công. Người hy vọng nói: tôi sẽ làm hết sức, nhưng giá trị của đời tôi không chết theo kết quả này. Người lạc quan nói: rồi người ấy sẽ quay về. Người hy vọng nói: dù người ấy có quay về hay không, Chúa sẽ cho tôi đủ sức để đi tiếp mà không biến mình thành cay đắng. Hy vọng vì thế sâu hơn cảm xúc. Nó giống như một chiếc neo được thả xuống đáy biển khi mặt nước bên trên đang nổi sóng. Con thuyền vẫn lắc, nhưng không trôi vô định. Có những ngày chúng ta vẫn buồn, vẫn lo, vẫn không biết phải làm gì, nhưng ở một nơi sâu hơn tất cả những cảm xúc ấy, ta biết rằng đời mình vẫn được giữ. Đó là thứ bình an mà thế gian rất khó hiểu. Và cũng chính thứ bình an ấy khiến người khác bắt đầu đặt câu hỏi: tại sao người này có thể đứng vững? Tại sao sau tất cả những gì họ trải qua, họ vẫn không trở nên cay nghiệt? Tại sao họ vẫn còn có thể yêu? Khi người khác bắt đầu đặt những câu hỏi ấy, chứng tá đã bắt đầu, ngay cả trước khi ta nói đến Chúa.
Trong thời đại số, chứng tá niềm vui mang thêm một chiều kích mà những thế hệ trước chưa từng phải đối diện: cách chúng ta hiện diện trên mạng. Mạng xã hội không phải một thế giới giả hoàn toàn tách khỏi đời thật. Những gì ta nói ở đó cũng đi ra từ trái tim, cũng ảnh hưởng đến người khác, cũng có thể xây dựng hoặc phá hủy. Chúng ta thường nghĩ mình chỉ đang viết một bình luận, chia sẻ một bài, bấm một nút, nhưng phía bên kia màn hình là một con người thật. Một câu nói của ta có thể khiến người khác được nâng lên, nhưng cũng có thể khiến họ mang một vết thương suốt nhiều ngày. Một lời chế giễu ta cho là vô hại có thể rơi đúng vào chỗ yếu nhất của ai đó. Một tin chưa kiểm chứng ta chia sẻ chỉ vì thấy gây sốc có thể làm tổn hại danh dự của một con người mà ta chưa từng gặp. Một đám đông trên mạng có thể hủy hoại một người chỉ trong vài giờ, và điều đáng sợ là mỗi cá nhân trong đám đông ấy lại nghĩ rằng mình chỉ nói một câu thôi. Người Kitô hữu không thể bước vào không gian mạng rồi bỏ lại Tin Mừng ở ngoài cửa. Nếu Chúa là Chúa của đời tôi, Người cũng là Chúa của cách tôi bình luận. Nếu tôi tin con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, thì điều đó cũng đúng với người đang bất đồng với tôi. Nếu tôi tin vào lòng thương xót, tôi không thể vui sướng trước việc ai đó bị hạ nhục công khai. Nếu tôi tin vào sự thật, tôi không thể lan truyền một điều chỉ vì nó hợp với định kiến của tôi. Nếu tôi tin lời nói có thể đem lại sự sống, tôi phải học cách dùng ngôn ngữ sao cho sau khi đọc lời tôi, người khác vẫn còn cảm thấy mình được tôn trọng như một con người.
Có một thứ tiêu cực rất dễ lây trên mạng: thói quen chỉ nhìn thấy điều xấu. Người ta phê bình mọi thứ, chế giễu mọi người, nghi ngờ mọi động cơ, biến mọi câu chuyện thành dịp để tức giận. Dần dần, chính người sống trong bầu khí ấy cũng mất khả năng nhận ra điều tốt. Họ có thể mở mắt ra mỗi sáng và chỉ thấy điều đáng bực. Họ đi lễ cũng thấy chuyện để chê. Họ nhìn Giáo Hội cũng chỉ thấy khuyết điểm. Họ nhìn gia đình chỉ thấy những gì chưa vừa ý. Họ nhìn xã hội chỉ thấy sự suy đồi. Họ nhìn người khác chỉ thấy điều đáng nghi. Rồi họ gọi đó là “thẳng thắn” hoặc “tỉnh thức”, trong khi trái tim đã trở nên rất mệt. Chứng nhân niềm vui không phải là người nhắm mắt trước cái xấu. Chúng ta cần biết phân định, biết lên tiếng trước bất công, biết bảo vệ sự thật. Nhưng sự thật của Kitô giáo không bao giờ cho phép chúng ta mất lòng thương xót. Có cách nói đúng mà vẫn làm người khác chết. Có cách bảo vệ chân lý mà làm cho chân lý trở nên đáng ghét. Có cách nói về Thiên Chúa mà khiến người nghe chỉ thấy một Thiên Chúa chuyên kết án. Nếu mỗi lần chúng ta xuất hiện, bầu khí trở nên nặng nề hơn; nếu ai cũng cảm thấy phải phòng thủ trước chúng ta; nếu chúng ta luôn có nhu cầu sửa người khác nhưng hiếm khi tự xét lại mình; nếu lời nào của ta cũng mang mùi cay cú, thì cho dù nội dung có đúng đến đâu, chúng ta cũng cần tự hỏi Tin Mừng đang ở chỗ nào trong cách mình hiện diện.
Chia sẻ ánh sáng trên mạng không có nghĩa là mỗi ngày phải đăng những câu đạo đức. Một người có thể đăng rất nhiều câu Kinh Thánh mà vẫn gây tổn thương cho người khác bằng cách nói chuyện. Chứng tá số bắt đầu từ những lựa chọn nhỏ: không chia sẻ điều mình chưa chắc là thật; không bình luận khi đang nóng giận; không dùng nỗi đau của người khác làm nội dung câu tương tác; không biến sai lầm của một người thành cơ hội để mình tỏ ra đạo đức; không hùa theo đám đông chỉ vì sợ mình khác người; biết chúc mừng thành công của người khác mà không ghen tị; biết nói một lời cảm ơn; biết nhắn cho một người đang buồn; biết chia sẻ một câu chuyện đẹp mà không cần thêm sự mỉa mai; biết dừng lại trước khi bấm “gửi” và hỏi: điều này có thật không, có cần thiết không, có tử tế không? Có khi đó là một hình thức khổ chế rất mới của thời đại chúng ta: khổ chế ngón tay. Không phải điều gì nghĩ ra cũng phải đăng. Không phải điều gì nghe được cũng phải kể. Không phải cuộc tranh luận nào cũng cần tham gia. Không phải ai hiểu lầm mình cũng cần giải thích. Có những lần giữ im lặng là bảo vệ bình an. Có những lần rời khỏi một cuộc cãi vã là một chiến thắng lớn hơn việc nói câu cuối cùng. Có những lần không đáp trả sự xúc phạm không phải vì không có gì để nói, nhưng vì mình không muốn để bóng tối của người khác kéo mình ra khỏi ánh sáng.
Tuy vậy, sau tất cả, chứng tá mạnh nhất vẫn là đời sống thật. Mạng xã hội có thể giúp người khác biết chúng ta nghĩ gì, nhưng đời sống cho họ biết chúng ta thực sự là ai. Có một nguy cơ rất lớn trong thời đại hôm nay là chúng ta chăm chút hình ảnh tinh thần của mình nhiều hơn đời sống tinh thần. Ta có thể chụp một bức ảnh rất đẹp khi đi lễ nhưng suốt Thánh lễ tâm trí chẳng ở đó. Ta có thể viết một bài rất cảm động về gia đình nhưng về nhà lại không có thời gian nghe người thân nói. Ta có thể chia sẻ về lòng thương xót nhưng đối xử rất khắc nghiệt với người cộng tác cùng mình. Ta có thể nói về người nghèo nhưng khó chịu khi một người nghèo làm phiền. Ta có thể viết về khiêm nhường nhưng âm thầm đau khổ vì không được ghi nhận. Ta có thể nói về tha thứ cho hàng ngàn người đọc nhưng vẫn không nói chuyện với một người ruột thịt đã nhiều năm. Khi ấy khoảng cách giữa hình ảnh và đời thật ngày càng lớn, và sớm muộn chính chúng ta cũng mệt vì phải duy trì một con người mà mình không thật sự là. Tin Mừng không mời gọi chúng ta xây dựng thương hiệu cá nhân thánh thiện. Tin Mừng mời gọi chúng ta trở nên thật. Thật trước mặt Chúa, thật với chính mình, thật với người khác. Nếu yếu thì nhận mình yếu. Nếu sai thì xin lỗi. Nếu chưa làm được thì đừng giả vờ đã làm được. Nếu đang khủng hoảng thì tìm người giúp đỡ. Nếu có giới hạn thì học cách chấp nhận giới hạn. Một người chân thật dù còn nhiều thiếu sót vẫn dễ làm người khác tin hơn một người tỏ ra hoàn hảo.
Chúng ta không cần trở thành những người hoàn hảo để làm chứng cho Tin Mừng. Thật ra, đôi khi chính những vết nứt của chúng ta lại là nơi ánh sáng lọt qua. Một người từng nóng tính nhưng đang học kiềm chế từng ngày có thể làm chứng cho sức biến đổi của ân sủng. Một người từng sống ích kỷ nhưng bây giờ biết chia sẻ có thể nói về lòng thương xót bằng chính hành trình của mình. Một gia đình từng nhiều xung đột nhưng đã học cách ngồi xuống, xin lỗi và bắt đầu lại có sức thuyết phục hơn rất nhiều lý thuyết về hôn nhân. Một người từng xa Chúa nhưng được chạm đến và trở về có thể hiểu những người đang đứng ngoài Giáo Hội bằng một sự dịu dàng mà người chưa từng lạc đường khó có. Điều quan trọng không phải là quá khứ của tôi sạch đến đâu, nhưng hôm nay tôi có để Chúa bước vào không. Thánh thiện không phải là không bao giờ ngã. Thánh thiện là không biến nơi mình ngã thành nơi mình ở luôn. Là mỗi lần ngã lại để Chúa đỡ dậy. Là dần dần học được rằng ân sủng không làm tôi trở thành một con người không còn yếu đuối, nhưng làm tôi trở thành một con người không còn tuyệt vọng về chính mình.
Chứng nhân niềm vui trước hết là người đã để mình được yêu. Điều này nghe rất đơn giản, nhưng có lẽ đây là một trong những điều khó nhất. Rất nhiều người trong chúng ta tin rằng Thiên Chúa yêu nhân loại, nhưng lại khó tin rằng Người yêu chính mình. Chúng ta chấp nhận một giáo lý về tình yêu Thiên Chúa nhưng chưa chắc đã sống từ tình yêu ấy. Bằng chứng là chúng ta vẫn dễ bị một lời chê làm sụp đổ, dễ ghen khi người khác được công nhận, dễ bực khi không được chú ý, dễ cố gắng quá mức để chứng tỏ giá trị. Đằng sau nhiều điều ấy có khi là một câu hỏi âm thầm: tôi có đáng được yêu không? Người thật sự để Chúa yêu mình dần dần không còn sống như một người ăn xin tình cảm trước cửa nhà người khác. Họ vẫn cần tình yêu con người, vẫn vui khi được trân trọng, vẫn đau khi bị từ chối, nhưng không còn đặt toàn bộ giá trị đời mình vào tay người khác. Họ biết mình đã được gọi bằng tên. Biết có một tình yêu đi trước mọi thành công và tồn tại sau mọi thất bại. Biết Chúa yêu mình không phải vì mình hữu ích cho Người. Điều này đặc biệt quan trọng trong một thế giới thường định giá con người bằng năng suất. Người làm được nhiều thì được trọng. Người đẹp thì được chú ý. Người giỏi thì được săn đón. Người có ảnh hưởng thì được lắng nghe. Còn người già, người bệnh, người khuyết tật, người không còn khả năng đóng góp, người thất bại dễ cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Tin Mừng công bố một điều hoàn toàn khác: giá trị của một người không nằm ở số việc họ làm được. Trước khi làm bất cứ điều gì, họ đã là người con được yêu. Một em bé chưa làm được gì vẫn đáng yêu. Một người già nằm bất động vẫn có phẩm giá trọn vẹn. Một người thất bại không mất tư cách làm con Thiên Chúa. Khi sống thật điều ấy, người Kitô hữu trở thành một chứng tá rất lớn cho thế giới này.
Và khi biết mình được yêu, tình yêu ấy phải chảy ra. Nếu nó chỉ dừng ở cảm xúc thiêng liêng, nó chưa hoàn tất. Niềm vui thật luôn có xu hướng chia sẻ. Người hạnh phúc vì được tha thứ sẽ dễ tha thứ hơn. Người biết mình đã được kiên nhẫn sẽ biết kiên nhẫn với người khác. Người từng được Chúa tìm thấy khi lạc đường sẽ bớt khắt khe với người đang lạc. Càng cảm nghiệm ân sủng, chúng ta càng ít nhu cầu phán xét. Một người càng gần Chúa đáng lẽ càng dễ thương, chứ không phải càng khó gần. Càng cầu nguyện nhiều, đáng lẽ càng biết lắng nghe. Càng hiểu Kinh Thánh, càng biết cúi xuống trước sự mầu nhiệm của một con người. Càng sống đời thiêng liêng, càng bớt dùng tôn giáo để làm người khác sợ. Nếu đời sống đạo làm chúng ta trở nên kiêu căng, lạnh lùng, thích phân loại ai tốt ai xấu, thì chúng ta cần xem lại mình đã gặp Chúa hay chỉ mới gặp những ý tưởng về Chúa. Chúa Giêsu thu hút những người tội lỗi không phải vì Người coi tội lỗi là chuyện nhỏ, nhưng vì họ cảm thấy nơi Người có một con đường để trở về. Người phụ nữ ngoại tình không được Chúa bảo rằng cứ tiếp tục như cũ, nhưng trước khi nói “đừng phạm tội nữa”, Người đã cứu chị khỏi những bàn tay đang muốn ném đá. Dakêu thay đổi đời mình vì trước đó Chúa đã nhìn lên và nói muốn ở lại nhà ông. Phêrô có thể trở thành đá tảng sau khi chối Thầy không phải vì lỗi ấy không nghiêm trọng, nhưng vì ánh mắt Chúa đã không đóng cuộc đời ông lại ở thất bại ấy. Chứng nhân niềm vui là người khiến người khác cảm thấy rằng dù họ đang ở đâu, với Chúa vẫn còn một con đường phía trước.
Có một cách làm chứng rất âm thầm nhưng vô cùng cần thiết hôm nay: trở thành người mà bên cạnh ta, người khác có thể thở được. Thế giới này đã đủ áp lực. Người ta bị đánh giá ở trường học, ở công sở, trên mạng, trong những mối quan hệ, thậm chí ngay trong gia đình. Nhiều người sống mỗi ngày với cảm giác phải chứng minh mình đủ tốt. Nếu gặp một Kitô hữu mà họ lại tiếp tục thấy mình bị cân đo, xét nét, họ sẽ rất khó nhận ra khuôn mặt của Tin Mừng. Nhưng nếu gặp chúng ta và có thể nói thật mà không sợ bị kết án; nếu họ có thể kể một thất bại mà không lập tức nhận một bài giảng; nếu họ có thể khóc mà không bị thúc phải “mạnh mẽ lên”; nếu họ có thể đặt câu hỏi về đức tin mà không bị cho là thiếu đạo; nếu họ có thể khác quan điểm mà vẫn được tôn trọng, thì khi ấy có điều gì đó của Chúa đang hiện diện. Chúng ta không luôn cần có câu trả lời. Nhiều lúc món quà lớn nhất là ở lại. Có những người không cần ta giải quyết cuộc đời họ, họ chỉ cần biết rằng lúc họ yếu nhất, vẫn có người không bỏ đi. Đức Maria đã đứng dưới chân thập giá như thế. Mẹ không thể tháo đinh, không thể dừng cuộc hành hình, không thể làm biến mất đau khổ của Con, nhưng Mẹ ở đó. Có những hình thức yêu thương không thay đổi được hoàn cảnh nhưng thay đổi hoàn toàn cách người ta đi qua hoàn cảnh.
Trở thành chứng nhân niềm vui cũng có nghĩa là tập nhận ra và biết ơn những điều nhỏ. Một trong những lý do khiến chúng ta đánh mất niềm vui là vì quá quen với ân huệ. Ta chỉ thấy điều mình thiếu mà không còn nhận ra điều đang có. Một đôi mắt còn nhìn được, một bữa cơm nóng, một người còn ngồi cạnh mình, một sáng thức dậy còn đủ sức bước xuống giường, một người bạn có thể gọi lúc buồn, một nhà thờ còn mở cửa, một lời Kinh Thánh chạm đến lòng, một đứa trẻ chạy ra ôm khi ta về, một cơn gió mát sau ngày nóng, một giấc ngủ bình yên… những điều ấy rất dễ trở thành bình thường cho đến ngày ta mất chúng. Biết ơn không làm biến mất khó khăn, nhưng làm thay đổi tỉ lệ của chúng trong tâm hồn. Khi chỉ nhìn điều chưa có, nỗi thiếu thốn chiếm cả bầu trời. Khi bắt đầu nhìn cả những gì đang được trao, ta nhận ra đời mình không chỉ có bóng tối. Một người biết tạ ơn thường có một vẻ đẹp rất riêng. Họ không phải người có nhiều nhất, nhưng là người nhận ra nhiều nhất. Họ không coi mọi điều tốt là quyền đương nhiên. Vì thế họ có thể vui với một điều rất nhỏ. Và người có khả năng vui với điều nhỏ sẽ ít bị thế giới thao túng bằng lời hứa rằng phải mua thêm mới hạnh phúc.
Niềm vui cũng cần được bảo vệ. Không phải mọi thứ đều đáng bước vào tâm hồn. Nếu mỗi ngày chúng ta nạp vào mình hàng giờ tranh cãi, tin xấu, đố kỵ, hình ảnh hào nhoáng, lời phán xét, thì rất khó giữ được một nội tâm bình an. Chúng ta có trách nhiệm với cánh cửa tâm hồn mình. Có thể cần giới hạn thời gian trên mạng. Có thể cần ngừng theo dõi những nội dung luôn làm mình so sánh. Có thể cần tắt điện thoại một lúc để ngồi thật sự với gia đình. Có thể cần một buổi sáng không mở mạng ngay khi thức dậy mà mở ngày mới bằng một lời cầu nguyện. Có thể cần một khoảng thinh lặng mỗi tuần để nghe lại lòng mình. Chúng ta thường nghĩ hy sinh là làm thêm điều gì đó, nhưng đôi khi hy sinh là bỏ bớt. Bỏ bớt tiếng ồn để nghe được Chúa. Bỏ bớt cuộc tranh luận vô ích để giữ lòng hiền hòa. Bỏ bớt nhu cầu biết mọi chuyện để tâm hồn có chỗ nghỉ. Bỏ bớt việc xem cuộc đời người khác để trở về sống cuộc đời của mình. Một đời sống quá đầy thông tin rất dễ trở nên nghèo chiều sâu. Ta biết quá nhiều chuyện ngoài kia nhưng không còn biết trong lòng mình đang xảy ra điều gì. Chứng nhân niềm vui là người biết trở về căn phòng nội tâm, nơi không có lượt thích, không có khán giả, chỉ có mình và Chúa.
Thế giới hôm nay không nhất thiết cần thêm những bài diễn văn về niềm vui. Nó cần gặp những người có niềm vui. Một người bán hàng tử tế. Một giáo viên không làm nhục học sinh yếu. Một bác sĩ còn biết nhìn bệnh nhân như con người chứ không chỉ là ca bệnh. Một người chủ trả lương công bằng. Một nhân viên không gian dối dù không ai kiểm tra. Một người con biết về thăm cha mẹ già. Một cặp vợ chồng sau nhiều năm vẫn biết nói cảm ơn nhau. Một linh mục dù bận vẫn ngồi nghe một người nghèo kể chuyện. Một tu sĩ không để những va chạm cộng đoàn làm mình trở nên chua chát. Một người trẻ dám sống trong sạch giữa một nền văn hóa chế giễu sự trong sạch. Một doanh nhân biết từ chối lợi nhuận nếu lợi nhuận ấy phải trả bằng phẩm giá người khác. Một người có quyền lực nhưng biết xin lỗi người dưới. Một người bị xúc phạm nhưng không lấy sự xúc phạm ấy làm lý do để xúc phạm lại. Đó là những bài giảng sống. Không cần micro. Không cần sân khấu. Không cần hàng ngàn người theo dõi. Nhưng mỗi lần một con người sống như thế, thế giới bớt đi một chút bóng tối.
Có lẽ chúng ta nên ngừng hỏi: “Tôi phải làm điều gì thật lớn để loan báo Tin Mừng?” và bắt đầu hỏi: “Hôm nay, ai ở cạnh tôi cần gặp một chút Tin Mừng qua cách tôi sống?” Có thể là người chồng hay người vợ mình đã quá quen đến mức không còn nói lời tử tế. Có thể là một đứa con đang cần được nghe hơn là được dạy. Có thể là một đồng nghiệp thường làm mình khó chịu. Có thể là người phục vụ mà ta chưa bao giờ nhìn vào mắt khi nói cảm ơn. Có thể là một người trên mạng đang bị cả đám đông tấn công. Có thể là người già trong nhà kể đi kể lại một câu chuyện cũ. Có thể là chính bản thân mình, người đã quá lâu chỉ nghe những lời trách móc từ bên trong. Loan báo Tin Mừng bắt đầu rất gần. Chúng ta thường mơ những sứ vụ xa xôi trong khi Chúa đặt trước mặt mình một con người cụ thể và nói: hãy yêu người này hôm nay.
Chứng nhân niềm vui cũng không phải là người lúc nào cũng hoạt động. Có một niềm vui của phục vụ, nhưng cũng có một niềm vui của nghỉ ngơi trong Chúa. Người không biết nghỉ cuối cùng sẽ phục vụ bằng sự cáu gắt. Người luôn cho mà không biết nhận sẽ sớm cạn. Chính Chúa Giêsu cũng nói với các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Chúng ta không phải Đấng Cứu Thế. Thế giới không nằm trên vai ta. Có lúc phải biết trao lại cho Chúa những điều mình không thể sửa. Có người chúng ta không thể thay đổi. Có vấn đề không thể giải quyết trong hôm nay. Có vết thương cần thời gian. Có kết quả không thuộc quyền mình. Bình an bắt đầu khi ta phân biệt được đâu là phần của mình và đâu là phần phải phó thác. Làm điều mình có thể, rồi để phần còn lại trong tay Chúa. Điều đó không phải vô trách nhiệm, mà là khiêm nhường. Rất nhiều bất an đến từ ảo tưởng rằng mọi thứ phải tùy thuộc vào mình.
Sau cùng, để trở thành chứng nhân niềm vui, chúng ta phải luôn trở lại với nguồn vui. Không ai có thể cho điều mình không nhận. Nếu không có đời sống cầu nguyện, niềm vui Kitô giáo dần biến thành tính cách vui vẻ hoặc một kỹ năng giao tiếp. Chúng ta có thể cố gắng tử tế một thời gian bằng ý chí, nhưng để yêu những người khó yêu, để tha thứ khi bị tổn thương, để hy vọng khi mất hết chỗ dựa, chúng ta cần nhiều hơn sức riêng. Chúng ta cần được ở lại trong Chúa. Có những ngày lời cầu nguyện rất sốt sắng. Có những ngày chỉ là ngồi trước mặt Người trong mệt mỏi. Có những ngày đọc được nhiều. Có ngày chỉ nói nổi: “Lạy Chúa, con đây.” Nhưng chính sự ở lại ấy từ từ biến đổi trái tim. Như cành nho không phải cố gắng để tạo nhựa sống, nó chỉ cần ở lại trong thân nho. Chúng ta cũng vậy. Niềm vui không được sản xuất. Nó là hoa trái. Hoa trái của việc ở lại. Hoa trái của một đời được tưới bằng Lời Chúa, được nuôi bằng Thánh Thể, được thanh tẩy bởi việc sám hối, được mở rộng qua phục vụ. Nếu tách khỏi nguồn, sớm muộn ta cũng khô. Và khi khô, chúng ta dễ biến việc đạo thành bổn phận nặng nề, biến phục vụ thành than phiền, biến sứ vụ thành nơi tìm sự công nhận. Nhưng khi trở lại nguồn, những điều cũ có thể được làm với một trái tim mới.
Có lẽ chứng tá đẹp nhất mà người Kitô hữu có thể trao cho thế giới hôm nay không phải là chứng minh rằng đời mình dễ dàng hơn người khác, nhưng là cho thấy rằng giữa một đời cũng đầy phức tạp, đầy giới hạn và nước mắt như mọi người, vẫn có thể sống với một trái tim không bị bóng tối chiếm lấy. Ta vẫn có thể tin khi chưa thấy. Vẫn có thể yêu sau khi bị tổn thương. Vẫn có thể tha thứ mà không phủ nhận sự thật. Vẫn có thể sống giản dị giữa một nền văn hóa tiêu thụ. Vẫn có thể trung tín giữa một thời đại dễ bỏ cuộc. Vẫn có thể tử tế khi sự tử tế không đem lại lợi ích ngay. Vẫn có thể nói sự thật mà không làm nhục người khác. Vẫn có thể khác biệt mà không khinh thường. Vẫn có thể bước qua đau khổ mà không đánh mất khả năng ngạc nhiên trước một điều đẹp. Vẫn có thể đứng trước cái chết mà không coi cái chết là dấu chấm hết. Đó là một niềm vui không ồn ào nhưng có sức thuyết phục lạ lùng.
Ngày hôm nay, có thể nhiều người sẽ không đọc Tin Mừng. Họ cũng không bước vào nhà thờ. Họ chưa chắc nghe một bài giảng. Nhưng họ sẽ gặp chúng ta. Họ sẽ làm việc cùng chúng ta, sống cạnh chúng ta, nhìn cách chúng ta xử lý một thất bại, nghe cách chúng ta nói về một người vắng mặt, quan sát cách chúng ta đối xử với người không đem lại lợi ích gì cho mình. Họ sẽ thấy chúng ta khi mệt, khi bị hiểu lầm, khi mất tiền, khi đau bệnh, khi thành công, khi có quyền. Và chính những lúc ấy họ đọc một thứ “Tin Mừng” không viết bằng mực mà viết bằng cách sống của ta. Câu hỏi không phải là chúng ta có đang làm chứng hay không. Chúng ta luôn làm chứng. Câu hỏi chỉ là đời sống chúng ta đang làm chứng cho điều gì. Cho một Thiên Chúa làm người ta sợ hay một Thiên Chúa đến để cứu? Cho một tôn giáo nặng gánh hay cho Tin Mừng giải thoát? Cho một cộng đoàn thích xét đoán hay cho một gia đình biết đón nhận? Cho một đức tin chỉ tồn tại trong lời nói hay cho một cuộc gặp gỡ có khả năng làm con người đổi khác?
Xin đừng nghĩ rằng chúng ta phải làm tất cả ngay lập tức. Chúa không đòi một đời hoàn hảo trong một ngày. Người chỉ mời ta trung tín với bước kế tiếp. Hôm nay bớt một lời than phiền. Hôm nay nói một lời cảm ơn. Hôm nay không tham gia một câu chuyện nói xấu. Hôm nay gọi cho một người đang cô đơn. Hôm nay dành mười phút ngồi yên trước Chúa. Hôm nay xin lỗi người trong nhà. Hôm nay tha cho chính mình một lỗi lầm đã ăn năn nhưng cứ mang theo. Hôm nay nhìn một người bằng ánh mắt dịu hơn. Hôm nay chia sẻ một điều đem lại hy vọng thay vì thêm vào nỗi sợ. Hôm nay biết đủ. Hôm nay làm một việc tốt không cho ai biết. Những điều ấy rất nhỏ, nhưng Nước Trời luôn bắt đầu từ những điều nhỏ: một hạt cải, một chút men, năm chiếc bánh và hai con cá, một chén nước lã, một đồng tiền của bà góa. Thiên Chúa chưa bao giờ coi thường những khởi đầu nhỏ.
Thế giới đang đói niềm vui thật. Có thể chúng ta không chữa được mọi nỗi buồn của thế giới. Có thể chúng ta không đủ sức thay đổi những cơ cấu lớn, không đủ tiếng nói để ảnh hưởng đám đông, không đủ khả năng giải quyết những khủng hoảng của thời đại. Nhưng chúng ta có thể không làm thế giới buồn thêm. Ta có thể làm cho căn nhà mình ấm hơn. Làm cho cộng đoàn mình nhẹ hơn. Làm cho nơi làm việc bớt độc hại hơn. Làm cho mạng xã hội quanh mình bớt cay nghiệt hơn. Làm cho một người hôm nay cảm thấy họ còn được trân trọng. Có khi đó đã là một sứ vụ rất lớn. Một ngọn đèn không cần chiếu sáng cả thành phố để có ý nghĩa. Nó chỉ cần sáng nơi nó được đặt. Và người Kitô hữu cũng thế. Ta không được gọi để trở thành mặt trời. Chỉ có Chúa là Mặt Trời. Ta chỉ được gọi để phản chiếu một chút ánh sáng đã nhận.
Rồi sẽ có những ngày ta làm chưa tốt. Có lúc chính chúng ta sẽ là người nặng nề, cáu gắt, thiếu hy vọng. Có lúc ta nói điều làm người khác tổn thương. Có lúc ta lại chạy theo những thứ mình từng biết là phù phiếm. Không sao, miễn đừng biến sự yếu đuối thành lý do để bỏ cuộc. Hãy quay lại. Xin lỗi. Làm lại. Đời Kitô hữu không phải một đường thẳng không sai sót, nhưng là một đời luôn có khả năng trở về. Có lẽ chính sự khiêm tốn ấy cũng là chứng tá. Thế giới đã có quá nhiều người cố chứng minh mình đúng. Nó cần những người đủ tự do để nói: tôi đã sai. Đã có quá nhiều người đổ lỗi. Nó cần người dám nhận trách nhiệm. Đã có quá nhiều người xây hình ảnh hoàn hảo. Nó cần gặp những con người thật, biết mình cần ơn Chúa mỗi ngày.
Nếu một ngày nào đó, sau nhiều năm sống đạo, người khác nhớ đến chúng ta không phải vì những bài ta đã nói, những chức vụ ta từng giữ, những chương trình ta từng tổ chức, mà chỉ vì họ nói: “Ở bên người ấy, tôi thấy nhẹ lòng hơn. Người ấy làm tôi tin rằng Thiên Chúa vẫn còn yêu tôi. Người ấy giúp tôi muốn sống tốt hơn mà không làm tôi thấy mình bị kết án. Người ấy đã đi qua nhiều đau khổ nhưng vẫn giữ được lòng hiền hậu.” Nếu được như thế, có lẽ đời ta đã loan báo Tin Mừng rất nhiều rồi. Vì cuối cùng, chứng nhân niềm vui không phải người đi quanh nói cho mọi người biết mình vui. Chứng nhân niềm vui là người đã để Chúa đi sâu vào những vùng tối nhất của đời mình, và từ đó, bằng một cách rất âm thầm, ánh sáng bắt đầu đi ra. Họ không sở hữu ánh sáng. Họ chỉ không che nó lại.
Xin cho chúng ta trở thành những con người như thế giữa thế giới hôm nay: không ngây thơ trước đau khổ nhưng không đầu hàng bi quan; không chạy trốn sự thật nhưng cũng không dùng sự thật như vũ khí; không sống để được mọi người yêu thích nhưng cũng không lấy “thẳng tính” làm lý do để làm đau người khác; không tìm một đời không có thập giá nhưng biết rằng sau thập giá có Phục Sinh; không cần mọi hoàn cảnh phải vui mới có thể mang niềm vui. Xin cho ta biết sống giữa thế gian mà không để tinh thần thế gian chiếm lấy lòng mình; biết sử dụng những phương tiện của thời đại mà không trở thành nô lệ cho chúng; biết hiện diện trên mạng bằng cùng một lòng tử tế mà ta muốn sống ngoài đời; biết nói những lời làm người khác đứng lên; biết im lặng khi lời nói chỉ làm tăng bóng tối; biết vui với niềm vui của người khác; biết khóc với người đang khóc; biết ở lại bên một người đau khổ mà không vội dạy họ bài học nào. Và trên hết, xin cho ta mỗi ngày lại nhớ một điều rất đơn sơ: chúng ta chỉ có thể là chứng nhân niềm vui khi chính mình vẫn còn trở về với Đấng là nguồn vui.
Bởi cuối cùng, người ta có thể tranh luận với giáo lý của chúng ta, có thể không đồng ý với quan điểm của chúng ta, có thể không bước vào nhà thờ của chúng ta, nhưng rất khó tranh luận với một đời sống đã được biến đổi bởi tình yêu. Một người cay đắng trở nên hiền hòa. Một người ích kỷ học cách cho đi. Một người tuyệt vọng tìm lại được lý do để sống. Một người từng khép kín bắt đầu biết mở lòng. Một người từng không thể tha thứ nay có thể cầu nguyện cho kẻ làm mình đau. Những điều ấy là thứ ngôn ngữ mà ai cũng hiểu. Và có lẽ đó chính là cách thế giới hôm nay cần được nghe Tin Mừng nhất: không phải trước tiên bằng những lời thật lớn, nhưng qua những con người thật, mang trong mình một niềm vui đã đi qua thập giá, một niềm vui không cần giả vờ, một niềm vui đủ sâu để ở lại khi những cảm xúc đẹp đã qua, một niềm vui sinh ra từ xác tín không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
Hãy sống như thế. Hãy để mỗi ngày của chúng ta trở thành một trang Tin Mừng nhỏ. Hãy để bàn tay biết phục vụ, đôi mắt biết cảm thông, miệng biết nói lời xây dựng, đôi chân biết đi đến với người bị bỏ quên, trái tim biết rung động trước nỗi đau và tâm hồn biết trở về với Chúa. Chúng ta không biết mình sẽ gặp ai trong ngày hôm nay. Có thể một người đang đứng rất gần bờ vực tuyệt vọng nhưng không ai biết. Có thể một lời tử tế của ta là điều duy nhất họ nhận được trong ngày. Có thể một nụ cười thật, một sự kiên nhẫn, một lần không nổi nóng, một tin nhắn hỏi thăm, một lời “tôi hiểu”, một cái nắm tay sẽ trở thành sợi dây giữ họ lại với cuộc đời. Đừng coi thường những điều nhỏ. Thiên Chúa rất thường đi vào đời người qua những cánh cửa nhỏ như thế.
Và khi đêm xuống, nếu có thể, hãy hỏi mình một câu thôi: hôm nay, vì tôi đã hiện diện, có ai vui hơn một chút không? Có ai nhẹ hơn một chút không? Có ai bớt cô đơn hơn một chút không? Có ai cảm thấy mình được yêu hơn một chút không? Nếu câu trả lời là có, dù chỉ với một người, hãy tạ ơn Chúa. Nếu câu trả lời là chưa, cũng đừng tuyệt vọng. Ngày mai lại bắt đầu. Bao lâu ta còn sống, ta còn có thể yêu. Bao lâu còn có thể yêu, ta còn có thể làm chứng. Và bao lâu còn để Chúa yêu mình, niềm vui Tin Mừng vẫn còn có thể đi qua đời ta để chạm đến một thế giới đang rất khát một niềm vui không chóng qua.
CHƯƠNG 8 ĐỨC MARIA – MẸ CỦA NIỀM VUI VÀ CỦA VIỆC LOAN BÁO
Có những niềm vui chỉ cần một tiếng cười là người khác có thể nhận ra. Có những niềm vui được biểu lộ bằng những ngày bình an, bằng những thành công, bằng những điều thuận lợi đến trong cuộc sống. Nhưng cũng có một thứ niềm vui sâu đến mức không phải lúc nào người ta cũng nhìn thấy bằng mắt, không phải lúc nào cũng nghe được bằng tiếng cười, bởi nó nằm ở một nơi rất sâu của tâm hồn, nơi con người biết mình đang thuộc về ai, biết đời mình đang nằm trong bàn tay nào, và biết rằng cho dù con đường phía trước chưa hề sáng rõ, vẫn có một Đấng đang âm thầm dẫn mình đi. Niềm vui của Đức Maria là một niềm vui như thế. Nếu chỉ nhìn cuộc đời Mẹ bằng cái nhìn của người đời, có lẽ chúng ta phải ngạc nhiên khi gọi Mẹ là người của niềm vui, bởi đời Mẹ đâu phải là một hành trình chỉ có hoa hồng, đâu phải là một đời sống được miễn trừ khỏi lo âu, thử thách, mất mát và những câu hỏi không có lời giải đáp tức thời. Ngay từ khi còn rất trẻ, Mẹ đã được đặt trước một lời mời gọi có thể làm đảo lộn tất cả những dự tính bình thường của một thiếu nữ. Một lời mời gọi quá lớn, quá nhiệm mầu, đến nỗi trí hiểu con người không thể nắm bắt trọn vẹn: trở thành Mẹ của Con Đấng Tối Cao. Mẹ đã hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào?”, nhưng sau khi nghe lời sứ thần, Mẹ đã không đòi thêm một bảo đảm nào cho tương lai. Mẹ không yêu cầu Thiên Chúa cho mình thấy trước mọi chặng đường. Mẹ không xin được biết Giuse sẽ phản ứng thế nào, người làng sẽ nghĩ gì, Hêrôđê sẽ làm gì, cuộc đời của Hài Nhi sẽ ra sao, hay chính trái tim Mẹ rồi sẽ phải đi qua những lưỡi gươm nào. Mẹ chỉ nói một câu mà từ đó cả lịch sử cứu độ như mở sang một trang mới: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời “Xin vâng” ấy không phải là lời của một người đã hiểu hết. Đó là lời của một người đã tin đủ. Không phải tin vì mọi sự đã rõ, nhưng tin vì biết Đấng đang gọi mình là Đấng trung tín. Và có lẽ đây chính là cánh cửa đầu tiên dẫn chúng ta vào mầu nhiệm niềm vui của Mẹ: niềm vui không sinh ra từ việc cuộc đời nằm trong sự kiểm soát của mình, nhưng từ việc đời mình nằm trong tay Thiên Chúa.
Con người chúng ta thường chỉ vui khi mọi sự diễn ra đúng ý mình. Công việc thuận lợi thì vui. Gia đình bình an thì vui. Sức khỏe ổn định thì vui. Được người khác hiểu, công nhận, yêu thương thì vui. Những điều ấy hoàn toàn chính đáng và đáng quý. Nhưng nếu niềm vui của chúng ta chỉ có thể tồn tại khi hoàn cảnh thuận lợi, thì niềm vui ấy rất mong manh. Chỉ cần một biến cố ngoài ý muốn, một lời nói làm tổn thương, một cánh cửa đóng lại, một người thân ra đi, một dự tính đổ vỡ, là cả thế giới nội tâm có thể tối đi. Đức Maria dạy chúng ta một niềm vui khác. Mẹ không đặt nền niềm vui trên sự dễ dàng của cuộc sống. Mẹ đặt niềm vui trên sự trung tín của Thiên Chúa. Vì thế, sau biến cố Truyền Tin, Mẹ có thể vội vã lên đường đến miền sơn cước thăm bà Êlisabét. Mẹ không ngồi yên để thưởng thức đặc ân vừa nhận được. Mẹ không giữ niềm vui cho riêng mình. Niềm vui thật bao giờ cũng có khuynh hướng đi ra. Khi tâm hồn thực sự đầy Thiên Chúa, con người sẽ muốn bước ra khỏi mình để đến với người khác. Và thật đẹp khi Tin Mừng kể rằng Mẹ “vội vã” lên đường. Tình yêu thường khiến người ta bước nhanh hơn. Người ích kỷ có thể có nhiều thời gian cho chính mình nhưng rất ít thời gian cho người khác. Người yêu thì luôn thấy có một ai đó đang cần mình, có một nỗi nhọc nhằn nào đó mình có thể chia sẻ, có một mái nhà nào đó mình nên ghé đến, có một con người nào đó đang chờ một sự hiện diện hơn là chờ một lời khuyên. Đức Maria trở thành người loan báo Tin Mừng đầu tiên không phải bằng một bài giảng, không phải bằng một cuộc tranh luận thần học, nhưng bằng chính sự hiện diện của Mẹ mang Chúa Giêsu đến cho một gia đình. Mẹ bước vào nhà Dacaria, và niềm vui bừng lên. Gioan nhảy mừng trong lòng mẹ. Êlisabét được đầy Thánh Thần. Một ngôi nhà bình thường bỗng trở thành nơi chan chứa niềm vui bởi vì có một người phụ nữ đã mang Chúa vào trong đó. Đó cũng là một câu hỏi rất đáng để mỗi người chúng ta tự hỏi mình: khi chúng ta bước vào một ngôi nhà, bước vào một cộng đoàn, bước vào một cuộc gặp gỡ, chúng ta mang điều gì vào đó? Chúng ta mang thêm bình an hay mang thêm căng thẳng? Mang sự cảm thông hay mang những lời xét đoán? Mang niềm hy vọng hay mang sự bi quan? Mang Chúa đến hay chỉ mang cái tôi của mình đến? Có những người không cần nói nhiều, nhưng sự hiện diện của họ làm người khác thấy nhẹ lòng. Cũng có những người rất đạo đức trong lời nói, nhưng nơi nào họ đến, nơi ấy lại thêm nặng nề. Đức Maria không cần làm cho người khác chú ý đến Mẹ. Chính vì Mẹ không tìm mình nên người khác có thể nhận ra Chúa nơi Mẹ.
Và rồi từ tâm hồn ấy bật lên bài Magnificat, bài ca của một người biết mình nhỏ bé nhưng không tự ti, biết mình được chọn nhưng không kiêu ngạo, biết mình được đầy ân sủng nhưng không chiếm giữ ân sủng như một sở hữu riêng. “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Mẹ vui không phải trước hết vì mình sẽ trở nên nổi tiếng. Mẹ vui vì Thiên Chúa là Đấng cứu độ. Mẹ không hát về những gì Mẹ sẽ đạt được, nhưng về những gì Thiên Chúa đã làm. Bao nhiêu lần chúng ta không vui được chỉ vì mắt chúng ta nhìn quá lâu vào những gì mình thiếu, những gì mình chưa có, những người hơn mình, những điều mình chưa đạt tới. Chúng ta nhìn vào mình nhiều quá đến mức không còn nhìn thấy những điều kỳ diệu Thiên Chúa vẫn đang làm. Magnificat dạy chúng ta đổi hướng cái nhìn. Thay vì luôn hỏi: “Tại sao tôi không có điều này?”, hãy thử hỏi: “Thiên Chúa đã làm gì cho tôi?” Thay vì chỉ nhớ những cánh cửa đóng lại, hãy nhớ những lần Chúa mở một con đường giữa nơi tưởng như không còn đường. Thay vì chỉ nhớ những người đã làm mình tổn thương, hãy nhớ những người Chúa đã gửi đến để nâng mình dậy. Thay vì chỉ đếm những thất bại, hãy đếm những lần mình đã được gìn giữ mà chính mình cũng không hiểu tại sao. Người biết tạ ơn thường là người có khả năng giữ được niềm vui lâu nhất, bởi họ không đòi cuộc đời phải hoàn hảo mới chịu vui. Họ nhận ra ân sủng trong những điều nhỏ bé. Một ngày còn được thức dậy. Một người thân vẫn còn bên cạnh. Một bữa cơm đơn sơ. Một người lắng nghe mình. Một cơ hội để làm lại. Một Thánh lễ. Một lần được tha thứ. Một buổi chiều bình yên. Một lời cầu nguyện không ai biết. Những điều ấy nhỏ thôi, nhưng đời người được dệt nên chính bằng những điều nhỏ. Đức Maria đã sống một đời biết nhìn thấy Thiên Chúa trong những điều như thế.
Nhưng niềm vui của Đức Maria sẽ rất dễ để chúng ta ngưỡng mộ nếu cuộc đời Mẹ dừng lại ở Truyền Tin, ở cuộc thăm viếng Êlisabét hay ở đêm Bêlem đầy tiếng hát thiên thần. Vấn đề là cuộc đời Mẹ không dừng ở đó. Niềm vui của Mẹ phải đi qua những chặng đường rất tối. Có một Bêlem không tìm được chỗ trọ. Có một máng cỏ giữa đêm đông. Có một cuộc chạy trốn sang Ai Cập trong đêm vì một bạo chúa tìm giết Hài Nhi. Có những năm tháng âm thầm ở Nadarét. Có ngày Mẹ lạc mất Con và ba ngày đi tìm trong đau đớn. Có những lúc Mẹ không hiểu hết những gì đang xảy ra nhưng “ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Câu Tin Mừng ấy diễn tả một nét đẹp rất sâu của Đức Maria. Mẹ không phải là người hiểu ngay mọi chương trình của Thiên Chúa. Mẹ là người biết mang những điều chưa hiểu vào trong lòng và chờ cho thời gian của Thiên Chúa mở nghĩa cho chúng. Chúng ta thì thường ngược lại. Khi không hiểu, ta dễ bực bội. Khi không biết tại sao Chúa để một điều xảy ra, ta vội kết luận. Khi cầu nguyện mà chưa thấy lời đáp, ta nghĩ Chúa im lặng. Khi đường đi khó hơn dự tính, ta tưởng mình đi sai. Đức Maria dạy một sự trưởng thành rất đẹp của đức tin: không phải điều gì chưa hiểu cũng phải lập tức có câu trả lời. Có những điều chỉ có thể hiểu sau khi đã đi qua. Có những câu hỏi phải mang theo nhiều năm. Có những đau khổ chỉ đến cuối đời ta mới thấy nó đã làm tâm hồn mình sâu hơn thế nào. Có những cánh cửa Chúa đóng lại mà rất lâu sau ta mới hiểu nếu ngày ấy cánh cửa ấy mở, có lẽ đời mình đã đi về một phía khác. Mẹ đã “ghi nhớ”. Một người biết ghi nhớ ân sủng sẽ không dễ tuyệt vọng khi đi vào đêm tối.
Rồi Mẹ hiện diện ở Cana. Một chi tiết rất bình thường: một đám cưới hết rượu. Có lẽ không ai muốn một vấn đề như thế làm hỏng ngày vui của đôi tân hôn. Nhưng Mẹ nhận ra trước nhiều người khác. Đây là một đặc điểm khác của trái tim Đức Maria: Mẹ nhìn thấy những thiếu thốn mà người khác chưa kịp nói ra. Người yêu thật thường có đôi mắt như thế. Họ nhìn thấy sự mệt mỏi sau một nụ cười. Họ nhận ra một người đang buồn dù người ấy nói “không sao”. Họ nghe được tiếng thở dài mà người khác bỏ qua. Họ hiểu có những nỗi đau không thể nói bằng lời. Đức Maria thấy họ “hết rượu”, và Mẹ đưa điều ấy đến với Chúa Giêsu. Mẹ không biến mình thành trung tâm giải quyết vấn đề. Mẹ chỉ đưa vấn đề đến với Chúa và nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó có lẽ là một trong những câu đẹp nhất để hiểu vai trò của Đức Maria trong đời sống người Kitô hữu. Mẹ không giữ chúng ta lại ở nơi Mẹ. Mẹ luôn đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu. Lòng sùng kính Đức Maria chân thật không bao giờ kết thúc ở Đức Maria. Nó dẫn đến việc lắng nghe Đức Kitô, làm điều Đức Kitô dạy, sống như Đức Kitô muốn. Mẹ không nói: “Hãy nhìn tôi.” Mẹ nói: “Hãy nghe Người.” Và nếu chúng ta muốn trở thành những người loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay, có lẽ chúng ta cũng cần học lại điều ấy. Loan báo Tin Mừng không phải là làm cho người ta khâm phục mình, nhưng giúp người ta gặp Chúa. Không phải làm cho người khác nhớ tên mình, nhưng giúp họ nhớ rằng họ được Thiên Chúa yêu. Không phải để người khác lệ thuộc vào mình, nhưng để họ đủ trưởng thành mà đi với Chúa bằng đôi chân của họ.
Đức Maria còn là Mẹ của niềm vui bởi Mẹ đã biết ở lại khi niềm vui dường như hoàn toàn biến mất. Dưới chân thập giá, không có tiếng hát thiên thần như đêm Bêlem. Không có những mục đồng vội vã chạy đến. Không có ngôi sao. Không có các đạo sĩ quỳ xuống dâng lễ vật. Không có tiếng tung hô của dân chúng. Chỉ có tiếng chế nhạo, tiếng đóng đinh, tiếng đau đớn, máu, nước mắt và một Người Con đang chết trước mắt Mẹ. Nếu niềm vui Kitô giáo chỉ là cảm xúc dễ chịu, nó đã chết dưới chân thập giá. Nhưng chính nơi ấy, chúng ta hiểu niềm vui Kitô giáo sâu đến mức nào. Niềm vui ấy không phải là cười khi chẳng có gì đau. Niềm vui ấy là tin khi chưa thấy. Là ở lại khi có đủ lý do để bỏ đi. Là yêu khi tình yêu không còn nhận lại điều gì. Là không để bóng tối cuối cùng có quyền định nghĩa toàn bộ câu chuyện. Đức Maria đứng dưới chân thập giá. Tin Mừng nói Mẹ “đứng”. Một từ rất ngắn, nhưng đằng sau đó là cả một sức mạnh của đức tin. Có những đau khổ khiến người ta gục xuống. Có những mất mát làm người ta không còn muốn bước tiếp. Có những biến cố khiến mọi lời khuyên trở nên vô nghĩa. Trong những giờ phút ấy, có lẽ điều lớn lao nhất không phải là hiểu, cũng không phải là nói được những lời đạo đức, mà đơn giản là còn đứng được. Còn đứng trước mặt Chúa. Còn không bỏ Người. Còn giữ một khoảng rất nhỏ trong tâm hồn cho niềm hy vọng. Đức Maria đã đứng như thế. Mẹ không làm phép lạ để đưa Con xuống khỏi thập giá. Mẹ không tranh cãi với đám đông. Mẹ không giải thích chương trình cứu độ. Mẹ chỉ ở đó. Và đôi khi sự hiện diện trung tín là một bài giảng mạnh hơn hàng ngàn lời nói.
Có những người trong cuộc đời chúng ta không cần chúng ta giải quyết vấn đề của họ. Họ chỉ cần chúng ta ở lại. Một người mẹ bên giường bệnh của con. Một người vợ bên người chồng đang hấp hối. Một người bạn ngồi cạnh người bạn vừa mất người thân. Một linh mục ngồi lặng bên một tâm hồn đang đổ vỡ. Một người con nắm tay cha mẹ già. Có những lúc mọi lời đều trở nên nhỏ. Chỉ còn sự hiện diện. Đức Maria dưới chân thập giá dạy Giáo Hội nghệ thuật ở lại. Một Giáo Hội loan báo Tin Mừng không chỉ bằng những chương trình, những chiến dịch, những bài viết, những bài giảng, những phương tiện truyền thông, nhưng còn bằng việc ở lại bên những người đau khổ. Ở lại bên người nghèo. Ở lại bên gia đình đang rạn nứt. Ở lại bên người thất bại. Ở lại bên người già cô đơn. Ở lại bên người trẻ đang mất phương hướng. Ở lại bên người đã phạm sai lầm nhưng đang muốn làm lại. Ở lại không phải để đồng tình với mọi điều, nhưng để nói bằng sự hiện diện rằng: “Bạn vẫn còn đáng được yêu. Bạn vẫn chưa bị bỏ rơi. Chúa chưa xong công việc của Người nơi bạn.” Thế giới hôm nay có rất nhiều người nói, nhưng không có nhiều người thật sự ở lại. Có rất nhiều người bình luận về nỗi đau của người khác, nhưng ít người bước vào nỗi đau ấy bằng lòng thương xót. Đức Maria đứng dưới thập giá không đưa ra một bình luận nào. Mẹ trao cho Con sự hiện diện cuối cùng của một người mẹ. Và chính trong nơi tưởng như mọi sự đã kết thúc ấy, Mẹ nhận một sứ mạng mới: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Từ đây, trái tim Mẹ mở rộng đến từng môn đệ. Nỗi đau không làm trái tim Mẹ khép lại; trái lại, nó làm trái tim Mẹ trở nên rộng hơn. Đây cũng là một dấu chỉ của sự trưởng thành thiêng liêng: đau khổ có thể làm một người cay đắng, nhưng cũng có thể làm một người nhân hậu hơn. Có người sau một lần bị phản bội không còn tin ai. Có người sau một lần thất bại không còn dám yêu. Có người sau khi bị làm tổn thương lại đi làm tổn thương người khác. Nhưng cũng có những người vì đã từng khóc nên biết lau nước mắt cho người khác. Vì đã từng bị bỏ rơi nên họ không muốn bỏ rơi ai. Vì đã từng nghèo nên họ hiểu người nghèo. Vì từng đi trong bóng tối nên họ biết một tia sáng nhỏ quý đến chừng nào. Đức Maria là Mẹ của những con người ấy.
Nếu chỉ nhìn đến chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, có lẽ chúng ta sẽ nghĩ lời hứa của Thiên Chúa đã thất bại. Nhưng Đức Maria là người đã học cả đời rằng Thiên Chúa không bao giờ viết dấu chấm hết ở nơi con người tưởng mọi sự đã xong. Sau Thứ Sáu là ngày thứ nhất trong tuần. Sau ngôi mộ là Phục Sinh. Sau sự im lặng của Thiên Chúa là một bình minh mà không ai có thể ngăn lại. Đây là nền tảng sâu nhất của niềm vui Kitô giáo: chúng ta không phải là những người chưa từng đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh; chúng ta là những người biết Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là ngày cuối cùng. Chúng ta không phủ nhận nước mắt. Chúng ta không tô hồng đau khổ. Chúng ta không nói với người đang khổ rằng “đừng buồn nữa” như thể đức tin có thể xóa đi mọi cảm xúc của con người. Chúng ta có thể khóc. Chúa Giêsu đã khóc. Đức Maria chắc chắn đã khóc. Nhưng nước mắt của người tin không rơi vào hư vô. Nó rơi trong lời hứa. Có một bàn tay đón lấy. Có một Đấng có thể biến những gì tưởng là kết thúc thành một khởi đầu khác. Vì thế, người Kitô hữu có một thứ hy vọng đôi khi chính mình cũng không giải thích được. Không phải hy vọng vì tình hình đang tốt lên, nhưng hy vọng vì Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa. Không phải vì ta nhìn thấy đường, nhưng vì Đấng dẫn đường không biến mất.
Rồi chúng ta gặp Đức Maria giữa cộng đoàn các môn đệ trước lễ Ngũ Tuần. Mẹ không đứng riêng một nơi như người đã hoàn thành sứ mạng và không còn cần cộng đoàn. Mẹ ở giữa các môn đệ, cùng cầu nguyện, cùng chờ đợi Thánh Thần. Mẹ đã cưu mang Chúa Giêsu trong thân xác, và giờ đây Mẹ hiện diện khi Giáo Hội được khai sinh trong quyền năng Thánh Thần. Có một vẻ đẹp rất âm thầm ở đó. Mẹ không chiếm diễn đàn. Mẹ không cần một vị trí đặc biệt. Mẹ chỉ hiện diện. Giáo Hội cần những sự hiện diện như thế biết bao: những con người không cần được nhắc tên nhưng vẫn trung thành cầu nguyện; những người không đứng trên bục nhưng âm thầm nâng đỡ sứ mạng; những người không xuất hiện trước đám đông nhưng sau mỗi công việc tốt đẹp của cộng đoàn lại có những giờ cầu nguyện họ đã dâng mà không ai biết. Nếu việc loan báo Tin Mừng chỉ được đo bằng những gì nhìn thấy, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu hết hoạt động của Thiên Chúa. Có những nhà truyền giáo đi rất xa. Có những người mẹ không đi đâu cả, nhưng mỗi tối quỳ xuống cầu nguyện cho con mình, và chính lời cầu nguyện ấy giữ một ơn gọi không bị mất. Có những linh mục giảng cho hàng ngàn người. Có một cụ già âm thầm lần chuỗi trong căn phòng nhỏ, và có thể lời cầu nguyện của cụ đang nâng đỡ một linh mục không bỏ cuộc. Có người làm những việc khiến nhiều người biết. Có người làm những việc chỉ Thiên Chúa biết. Trong Nước Trời, có lẽ chúng ta sẽ kinh ngạc khi thấy nhiều công trình lớn được xây trên những lời cầu nguyện rất nhỏ mà chẳng ai từng nhắc đến.
Đức Maria được gọi là Ngôi Sao của công cuộc Tân Phúc Âm hóa bởi Mẹ không giữ ánh sáng cho riêng mình. Ngôi sao không phải là mặt trời; nó chỉ phản chiếu ánh sáng. Mẹ cũng vậy. Mẹ không thay thế Chúa Kitô. Mẹ dẫn đến Chúa Kitô. Mẹ không phải là Tin Mừng; Mẹ cưu mang Tin Mừng. Mẹ không nói lời cuối cùng; Mẹ giúp chúng ta nghe Lời. Và người loan báo Tin Mừng chân thật cũng phải biết mình chỉ là người chỉ đường. Có một cám dỗ rất tinh tế trong mọi sứ vụ: bắt đầu bằng ý muốn phục vụ Chúa nhưng rồi dần dần lại muốn người khác nhìn vào mình; bắt đầu vì Tin Mừng nhưng rồi đau khổ khi mình không được ghi nhận; bắt đầu để đưa người ta đến với Chúa nhưng sau cùng lại muốn họ cần mình. Đức Maria chữa chúng ta khỏi cám dỗ ấy. Mẹ luôn lùi lại để Đức Kitô lớn lên. Ngay cả những lời cuối cùng của Mẹ được Tin Mừng ghi lại cũng là lời hướng về Chúa Giêsu: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Có lẽ người môn đệ trưởng thành nhất là người đến một ngày có thể vui khi người khác không còn cần mình nữa vì họ đã biết đi với Chúa. Cha mẹ tốt là cha mẹ chuẩn bị cho con trưởng thành, chứ không giữ con mãi lệ thuộc. Người mục tử tốt không xây cộng đoàn quanh cá nhân mình, nhưng giúp cộng đoàn trưởng thành trong Chúa. Người đồng hành tốt không đưa ra mọi quyết định thay cho người khác, nhưng giúp họ học phân định. Người loan báo Tin Mừng tốt không tạo ra những người hâm mộ, nhưng góp phần hình thành những môn đệ.
Thế giới hôm nay đang rất cần hình ảnh Đức Maria bởi con người thời nay sống giữa quá nhiều tiếng ồn. Mỗi ngày chúng ta bị bao quanh bởi thông báo, tin tức, ý kiến, video, tranh luận, quảng cáo, những lời mời gọi phải nhìn cái này, mua cái kia, phản ứng với điều nọ. Người ta nói rất nhiều nhưng nghe rất ít. Người ta biết rất nhiều thông tin nhưng không chắc hiểu mình hơn. Người ta kết nối với hàng ngàn người nhưng vẫn có thể cô đơn. Trong một thế giới như thế, Đức Maria dạy sự thinh lặng có chiều sâu. “Mẹ ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Thinh lặng của Mẹ không phải là trốn chạy thực tại. Đó là nơi Mẹ để thực tại đi qua ánh sáng của Thiên Chúa trước khi phản ứng. Chúng ta cần học điều ấy biết bao. Bao nhiêu lời làm tổn thương nhau chỉ vì chúng ta phản ứng quá nhanh. Bao nhiêu mối quan hệ đổ vỡ vì một tin nhắn được gửi lúc đang nóng giận. Bao nhiêu cuộc tranh luận trên mạng trở thành cuộc chiến vì không ai chịu dừng lại vài phút trước khi viết. Bao nhiêu lần chúng ta nói một điều đúng nhưng nói bằng cách làm người khác không còn muốn nghe điều đúng ấy nữa. Đức Maria dạy một cung cách khác của việc loan báo: trước khi nói, hãy mang điều mình muốn nói vào trong cầu nguyện. Trước khi phản ứng, hãy hỏi xem phản ứng ấy đến từ tình yêu hay từ tự ái. Trước khi chia sẻ một thông tin, hãy hỏi nó có thật không, có cần thiết không, có làm người khác tốt hơn không. Trước khi phán xét một người, hãy nhớ rằng ta không biết hết câu chuyện của họ. Một người có Đức Maria trong đời sống thiêng liêng sẽ dần học được sự dịu dàng không yếu đuối, sự im lặng không hèn nhát, sự mạnh mẽ không gây tổn thương.
Đức Maria cũng dạy chúng ta rằng niềm vui không có nghĩa là luôn nói về những điều vui. Có lúc lòng thương xót đòi chúng ta dám nhìn vào những đau khổ của thế giới. Mẹ đã không quay mặt khỏi thập giá. Người Kitô hữu không thể xây dựng một niềm vui bằng cách nhắm mắt trước nước mắt của người khác. Một niềm vui chỉ biết tìm sự thoải mái cho riêng mình không phải là niềm vui Tin Mừng. Niềm vui của Chúa có một đặc tính rất lạ: càng chia sẻ, càng lớn; càng cúi xuống với người đau khổ, càng trở nên thật. Một giáo xứ có thể tổ chức rất nhiều lễ hội, nhưng nếu người nghèo trong khu xóm không cảm thấy được nhìn thấy, niềm vui ấy vẫn còn thiếu. Một gia đình có thể có đầy đủ phương tiện, nhưng nếu các thành viên không còn lắng nghe nhau, căn nhà vẫn thiếu niềm vui. Một cộng đoàn có thể hát rất hay, sinh hoạt rất sôi nổi, nhưng nếu người yếu đuối luôn cảm thấy bị loại ra, đó chưa phải là niềm vui của Tin Mừng. Đức Maria đến với Êlisabét vì biết một người chị họ đang cần sự hiện diện. Mẹ nhận ra đôi tân hôn ở Cana đang lúng túng. Mẹ đứng bên Con trong giờ hấp hối. Niềm vui của Mẹ luôn có đôi mắt nhìn thấy người khác.
Có lẽ một trong những điều khiến nhiều Kitô hữu hôm nay mất niềm vui là chúng ta sống quá lâu trong việc so sánh. Mạng xã hội làm sự so sánh ấy mạnh hơn. Ta nhìn thấy người khác thành công, du lịch, đẹp đẽ, được yêu mến, có gia đình lý tưởng, có cộng đoàn lớn, có sứ vụ được nhiều người biết đến, và ta âm thầm cảm thấy đời mình nhỏ quá. Đức Maria giải thoát chúng ta khỏi điều đó bằng một câu rất đơn giản: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới.” Mẹ không cần trở thành ai khác. Mẹ vui vì được Thiên Chúa nhìn đến trong chính sự nhỏ bé của mình. Có một sự bình an rất lớn khi con người ngừng cố gắng trở thành một người khác. Thiên Chúa không gọi chúng ta sống cuộc đời của người bên cạnh. Người gọi chúng ta trung tín với phần đời được trao cho mình. Có người được gọi đến những nơi xa. Có người được gọi ở lại chăm sóc cha mẹ già. Có người giảng trước hàng ngàn người. Có người dạy giáo lý cho mười đứa trẻ trong một giáo họ nhỏ. Có người làm những việc lớn. Có người mỗi ngày chỉ cố sống tử tế với gia đình. Trong mắt thế gian, những điều ấy có thể rất khác nhau. Trong mắt Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là sân khấu lớn đến đâu, mà là tình yêu có thật đến mức nào. Đức Maria đã sống phần lớn cuộc đời trong một ngôi làng nhỏ đến mức Kinh Thánh gần như không kể gì. Ba mươi năm Nadarét âm thầm, chỉ vài năm công khai, rồi thập giá. Nếu đo theo tiêu chuẩn của sự nổi tiếng, cuộc đời Mẹ quá âm thầm. Nhưng chính trong sự âm thầm ấy, Thiên Chúa chuẩn bị ơn cứu độ cho thế giới.
Điều đó đem lại một sự an ủi rất lớn cho những ai đang sống những ngày tưởng như chẳng có gì đáng kể. Những bà mẹ ngày nào cũng nấu ăn, giặt giũ, chăm con, rồi sáng hôm sau lại bắt đầu như thế. Những người cha làm việc mệt nhọc, ít nói về hy sinh của mình. Những tu sĩ sống trong một cộng đoàn nhỏ, công việc không ai biết. Những linh mục ở một giáo xứ xa xôi, không có chương trình lớn, chỉ đều đặn dâng lễ, giải tội, thăm bệnh, chôn cất người qua đời, rửa tội cho trẻ nhỏ và lắng nghe những câu chuyện lặp đi lặp lại của giáo dân. Những người già ngày càng ít có thể làm việc, chỉ còn cầu nguyện. Những người bệnh nằm trên giường nhiều tháng. Đừng nghĩ đời mình không còn hữu ích chỉ vì mình không làm được những điều người ta nhìn thấy. Nadarét nói rằng Thiên Chúa làm những việc vĩ đại trong những ngày rất bình thường. Đức Maria đã sống hàng ngàn ngày không có thiên thần hiện ra, không có phép lạ xảy ra, không có một lời nào được ghi lại. Mẹ chỉ sống, yêu, chăm sóc, làm việc và trung tín. Chính những ngày không có gì đặc biệt ấy đã chuẩn bị Mẹ đứng vững trong những ngày đặc biệt nhất.
Khi chúng ta mệt mỏi trong việc loan báo Tin Mừng, hãy nhìn lên Mẹ. Có những lúc người làm việc tông đồ cảm thấy mình cho đi nhiều mà chẳng thấy kết quả. Giảng mà người ta vẫn vậy. Khuyên mà người ta không nghe. Làm điều tốt nhưng bị hiểu lầm. Phục vụ nhưng không được cảm ơn. Có những lúc ta tự hỏi liệu tất cả những gì mình đang làm có ý nghĩa gì không. Đức Maria hiểu những cảm giác đó hơn ta tưởng. Mẹ đã nhìn Con mình bị rất nhiều người từ chối. Mẹ đã thấy những đám đông từng tung hô rồi biến mất. Mẹ đã thấy một môn đệ phản bội, một môn đệ chối Thầy, những người khác bỏ chạy. Nếu thành công mục vụ được đo bằng số người đứng quanh thập giá, thì Thứ Sáu Tuần Thánh là một thất bại. Nhưng Thiên Chúa nhìn khác. Có những hạt giống chỉ nảy mầm sau khi người gieo đã đi xa. Có những lời ta nói hôm nay, mười năm sau một người mới nhớ lại. Có những hành động tử tế ta quên rồi nhưng một người khác vẫn mang theo suốt đời. Có những lời cầu nguyện ta tưởng không được nhậm nhưng Thiên Chúa đang trả lời theo một cách khác. Chúng ta không được gọi để kiểm soát kết quả. Chúng ta được gọi để trung tín. Đức Maria không cứu thế giới. Mẹ trao cho thế giới Đấng Cứu Thế. Phần còn lại thuộc về Thiên Chúa.
Có những ngày niềm vui ở rất xa. Chúng ta cầu nguyện mà không cảm thấy gì. Đi lễ nhưng lòng khô khan. Làm việc bổn phận chỉ vì biết mình phải làm. Trong những ngày như thế, đừng vội nghĩ mình mất đức tin. Đức tin không phải lúc nào cũng có cảm xúc. Đức Maria không thể đứng dưới chân thập giá bằng cảm xúc dễ chịu. Mẹ đứng bằng một sự trung tín đã được rèn luyện qua nhiều năm. Niềm vui sâu nhất cũng vậy. Có lúc nó không phải là tiếng cười, mà chỉ là một quyết định nhỏ: hôm nay tôi vẫn tin. Hôm nay tôi vẫn cầu nguyện. Hôm nay tôi vẫn không trả đũa. Hôm nay tôi vẫn chọn yêu. Hôm nay tôi vẫn bước tiếp dù chưa biết ngày mai ra sao. Có những ngày niềm vui chỉ còn là một ngọn lửa rất nhỏ được che bằng hai bàn tay để gió không thổi tắt. Đừng coi thường ngọn lửa nhỏ ấy. Đức tin trưởng thành nhiều khi không phải là cảm thấy Chúa rất gần, nhưng là tiếp tục đi khi cảm giác về sự hiện diện của Chúa dường như rất xa.
Và khi không còn biết cầu nguyện thế nào, hãy đến với Đức Maria bằng những lời rất đơn sơ. Không nhất thiết phải có những lời dài. Có thể chỉ cần nói: “Mẹ ơi, con mệt.” “Mẹ ơi, con sợ.” “Mẹ ơi, con không hiểu.” “Mẹ ơi, xin giúp con đừng bỏ cuộc.” Một người mẹ hiểu cả những điều con mình chưa nói. Đời sống thiêng liêng đôi khi trở nên phức tạp bởi chúng ta nghĩ cầu nguyện phải có những lời hay. Nhưng một đứa trẻ chạy về với mẹ không cần soạn bài diễn văn. Nó chỉ cần chạy về. Đức Maria không thay Thiên Chúa, nhưng Mẹ có một sứ mạng rất đẹp: nắm tay chúng ta và dẫn về với Chúa Giêsu. Người Công giáo yêu mến Đức Maria không phải vì muốn đứng lại ở nơi Mẹ, nhưng vì biết Mẹ luôn nói cùng một điều: “Hãy đến với Con của Mẹ.”
Nếu muốn học niềm vui nơi Đức Maria, chúng ta phải học lời “Xin vâng”. Nhiều nỗi buồn trong đời đến từ việc ta chống lại những điều mình không thể thay đổi. Có những thực tại cần đấu tranh để thay đổi, nhưng cũng có những điều chỉ có thể đón nhận và biến đổi cách mình sống với nó. Tuổi tác. Một giới hạn. Một vết thương quá khứ. Một người thân mà ta không thể buộc họ thay đổi. Một con đường đời khác với điều mình từng mơ. “Xin vâng” không phải là thái độ thụ động. Đó là sức mạnh để nói: “Con không chọn điều này, nhưng nếu nó đã ở trong đời con, xin Chúa dạy con sống nó với tình yêu.” Có những người cả đời mất bình an vì cứ muốn quá khứ phải khác đi. Nhưng quá khứ không thể viết lại. Điều có thể thay đổi là cách ta để Thiên Chúa bước vào quá khứ ấy và làm cho nó không còn quyền giam giữ mình. Đức Maria không chọn thập giá, nhưng khi thập giá đến, Mẹ đứng đó. Mẹ không để đau khổ biến mình thành người cay đắng. Đó là một chiến thắng rất lớn.
Nếu muốn học niềm vui nơi Mẹ, chúng ta phải học Magnificat, tức là học tạ ơn. Mỗi ngày hãy nhớ một điều đáng tạ ơn. Đừng chờ một phép lạ lớn. Một người đã gọi cho ta. Một bữa cơm còn đủ người. Một người bệnh có một ngày đỡ đau hơn. Một đứa con trở về nhà. Một cuộc cãi vã đã có thể dừng lại trước khi nói những lời quá nặng. Một sai lầm đã được tha thứ. Một ngày làm việc kết thúc bình an. Tạ ơn không làm các vấn đề biến mất, nhưng nó làm đôi mắt chúng ta thay đổi. Người chỉ nhìn vào thiếu thốn sẽ luôn cảm thấy đời mình nghèo. Người biết tạ ơn khám phá mình giàu hơn mình nghĩ.
Nếu muốn học niềm vui nơi Mẹ, chúng ta phải học Cana: biết nhận ra nhu cầu của người khác. Mỗi ngày thử hỏi: hôm nay có ai quanh tôi đang “hết rượu” không? Có thể họ không hết rượu theo nghĩa vật chất, nhưng hết kiên nhẫn, hết hy vọng, hết sức lực, hết cảm giác mình có giá trị. Một lời hỏi thăm đúng lúc có thể là một bình rượu mới. Một cuộc điện thoại có thể cứu một ngày rất tối của ai đó. Một lời xin lỗi có thể cứu một mối quan hệ. Một bữa cơm mời người cô đơn có thể là Tin Mừng. Một người cha chịu tắt điện thoại để nghe con nói có thể là Tin Mừng. Một người vợ thôi nhắc lại lỗi cũ của chồng có thể là Tin Mừng. Một người chồng nói lời cảm ơn vợ sau nhiều năm coi mọi hy sinh là chuyện đương nhiên có thể là Tin Mừng. Tin Mừng không chỉ được loan bằng microphone. Nó được loan bằng cách con người đối xử với nhau.
Nếu muốn học niềm vui nơi Mẹ, chúng ta phải học dưới chân thập giá: biết ở lại. Thời đại hôm nay có một cám dỗ lớn là rời đi quá nhanh. Một mối quan hệ khó là bỏ. Một cộng đoàn có vấn đề là rời. Một người làm ta thất vọng là cắt đứt. Dĩ nhiên có những hoàn cảnh cần phải rời đi để bảo vệ điều chính đáng, nhưng cũng có rất nhiều trường hợp chúng ta bỏ quá sớm chỉ vì mọi sự không còn dễ chịu. Tình yêu trưởng thành không chỉ được chứng minh trong những ngày đẹp. Nó được thử trong những ngày ta không còn cảm thấy người kia đáng yêu. Đức Maria đã ở lại khi không còn gì đẹp để nhìn. Mẹ dạy rằng đôi khi yêu là không đi đâu cả.
Nếu muốn học niềm vui nơi Mẹ, chúng ta phải học nhà Tiệc Ly: biết cầu nguyện cùng cộng đoàn. Đức tin cá nhân rất quan trọng, nhưng Kitô giáo không phải là hành trình đơn độc. Có những lúc ta không thể tự mình giữ được ngọn lửa. Ta cần người khác cầu nguyện cùng. Ta cần cộng đoàn. Ta cần Giáo Hội. Cũng như một cục than lấy ra khỏi bếp sẽ nguội rất nhanh, người Kitô hữu tách khỏi đời sống cộng đoàn lâu ngày cũng dễ mất lửa. Đức Maria ở giữa các môn đệ cho thấy Mẹ không dẫn người ta ra khỏi Giáo Hội. Mẹ dẫn người ta sâu hơn vào mầu nhiệm Giáo Hội.
Và nếu muốn loan báo Tin Mừng như Mẹ, có lẽ trước hết chúng ta phải hỏi: chúng ta có thực sự mang Chúa trong lòng không? Không ai có thể đem đến điều mình không có. Đức Maria mang Chúa Giêsu trong lòng nên nơi Mẹ đến, niềm vui xuất hiện. Chúng ta có thể nói rất nhiều về Chúa nhưng nếu không dành thời gian ở với Chúa, lời nói sớm muộn sẽ cạn. Người làm việc tông đồ có một nguy hiểm lớn: quá bận làm việc cho Chúa đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Ta chuẩn bị bài giảng, tổ chức sinh hoạt, lo công việc giáo xứ, gặp gỡ người này người kia, trả lời tin nhắn, giải quyết vấn đề, và đến một ngày trái tim mệt đến mức mọi việc trở thành bổn phận. Đức Maria nhắc ta trở lại Nadarét, trở lại những giờ thinh lặng, trở lại căn nhà nơi Chúa được sống cùng chứ không chỉ được nói về. Một linh mục cần những giờ không phải là cha xứ của ai, không phải người giải quyết vấn đề của ai, mà chỉ là một người con ngồi trước mặt Chúa. Một tu sĩ cần những giờ mình không làm công việc sứ vụ nào, chỉ để nhớ lại mình đã yêu ai khi bắt đầu ơn gọi. Một giáo dân cần những phút trong ngày tắt màn hình để tâm hồn thở trước mặt Thiên Chúa. Nếu không, chúng ta sẽ cố cho người khác thứ ánh sáng mà chính mình không còn được sưởi ấm bởi ánh sáng ấy.
Đức Maria, Mẹ của niềm vui, không hứa một cuộc đời không nước mắt. Mẹ hứa một sự hiện diện. Mẹ đã đi qua những con đường chúng ta đi. Mẹ biết thế nào là bất an trước tương lai. Biết thế nào là phải rời quê hương. Biết thế nào là không hiểu Con mình. Biết thế nào là tìm kiếm trong lo âu. Biết thế nào là đứng trước đau khổ của người mình yêu mà không thể làm gì để cất nó đi. Biết thế nào là mất. Biết thế nào là chờ. Và chính vì thế, Mẹ không phải là một hình ảnh xa xôi, quá hoàn hảo để chúng ta chỉ ngước nhìn. Mẹ là người mẹ có thể đi cùng.
Có những tối trong đời, ta không cần ai giải thích tại sao trời tối. Ta chỉ cần một người ngồi cạnh cho đến khi trời sáng. Đức Maria là người mẹ của những đêm như thế. Mẹ không luôn nói với chúng ta khi nào bình minh đến. Mẹ chỉ nhắc: bình minh sẽ đến. Mẹ đã nhìn thấy một ngôi mộ tưởng như kết thúc tất cả, và Mẹ đã sống để thấy Giáo Hội được sinh ra. Bởi vậy, mỗi khi cảm thấy mình đang ở trong một chương quá tối, hãy nhớ rằng ta chưa đọc hết cuốn sách Thiên Chúa đang viết. Đừng lấy một trang buồn làm kết luận cho cả cuộc đời. Đừng lấy một thất bại làm căn tính của mình. Đừng lấy một tội lỗi đã được tha làm tên gọi cuối cùng của mình. Đừng lấy một người từ chối mình làm bằng chứng rằng mình không đáng được yêu. Đừng lấy một cánh cửa đóng làm dấu hiệu rằng tất cả mọi con đường đã hết. Thiên Chúa có khả năng mở những con đường mà chúng ta chưa từng nghĩ tới.
Thế giới hôm nay đang đói những người như Đức Maria: những người mang Chúa thay vì mang thêm tiếng ồn; những người đem bình an thay vì thêm chia rẽ; những người biết lắng nghe trước khi nói; những người có khả năng đứng bên đau khổ mà không quay mặt; những người không cần được nhìn thấy nhưng vẫn làm điều tốt; những người biết vui vì điều tốt xảy ra nơi người khác; những người không đặt cái tôi vào trung tâm mọi câu chuyện; những người đủ tự do để nói “Xin vâng” với Thiên Chúa và đủ dịu dàng để nói “họ hết rượu” thay cho người đang thiếu thốn. Một thế giới như thế sẽ nhận ra Tin Mừng không phải trước hết qua những khẩu hiệu, nhưng qua những con người đã được Tin Mừng làm cho khác đi.
Có lẽ cuối cùng, điều chúng ta xin Đức Maria không phải là xin Mẹ cất hết khó khăn khỏi đời mình. Nếu Mẹ đã không được miễn khỏi thập giá, tại sao chúng ta lại nghĩ đức tin có nghĩa là được miễn khỏi mọi đau khổ? Điều ta xin là một điều sâu hơn: xin Mẹ cho chúng ta trái tim có thể đi qua khó khăn mà không đánh mất Chúa, có thể đi qua thất vọng mà không trở nên cay đắng, có thể bị tổn thương mà vẫn không thôi yêu, có thể đứng trước những điều không hiểu mà vẫn còn tin. Xin Mẹ dạy chúng ta lời “Xin vâng” khi Thiên Chúa mời gọi. Xin Mẹ dạy chúng ta bài Magnificat khi nhận ra ân sủng. Xin Mẹ dạy chúng ta bước vội vã đến với người đang cần. Xin Mẹ dạy chúng ta nhận ra những bình rượu đã cạn trong đời người khác. Xin Mẹ dạy chúng ta thinh lặng ở Nadarét. Xin Mẹ dạy chúng ta ở lại dưới chân thập giá. Xin Mẹ dạy chúng ta chờ đợi trong nhà Tiệc Ly. Xin Mẹ dạy chúng ta không giữ Chúa cho riêng mình.
Và có lẽ, vào những ngày ta cảm thấy mình đã mất niềm vui, đừng vội đi tìm những điều lớn lao. Hãy trở về với những điều Đức Maria đã sống. Một lời cầu nguyện đơn sơ. Một việc phục vụ nhỏ. Một người đang cần ta. Một lời cảm ơn. Một sự tha thứ. Một phút thinh lặng. Một lần nhìn lên thập giá mà nói: “Con vẫn tin.” Niềm vui đôi khi trở lại rất nhẹ, không ồn ào. Nó giống như ánh sáng đầu tiên của bình minh: lúc đầu chỉ là một vệt rất nhỏ phía chân trời, nhưng nếu ta chờ, cả bầu trời sẽ sáng.
Lạy Đức Maria, Mẹ của niềm vui Tin Mừng, có những ngày chúng con rất dễ nói về niềm vui nhưng lại không còn cảm thấy niềm vui ấy trong lòng. Có những ngày chúng con làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng lòng lại xa Chúa. Có những ngày chúng con thất vọng vì người khác, thất vọng vì chính mình, thất vọng vì những điều đã cầu xin quá lâu mà chưa được đáp lại. Có những ngày chúng con thấy thập giá nhiều hơn thấy Phục Sinh. Xin Mẹ đứng bên chúng con trong những ngày ấy. Xin Mẹ đừng để chúng con bỏ cuộc quá sớm. Xin nhắc chúng con rằng Thiên Chúa vẫn làm việc cả khi chúng con không nhìn thấy. Xin dạy chúng con đừng đòi hiểu hết mới chịu tin, đừng đòi cuộc đời dễ dàng mới chịu vui, đừng đòi người khác hoàn hảo mới chịu yêu. Xin cho chúng con một trái tim giống Mẹ: đủ thinh lặng để nghe Chúa, đủ khiêm nhường để không tìm mình, đủ nhạy cảm để nhận ra người đang cần, đủ can đảm để đứng dưới thập giá, đủ kiên nhẫn để chờ bình minh và đủ vui để mang Chúa đến cho người khác.
Xin cho mỗi gia đình Kitô hữu trở thành một Nadarét nhỏ, nơi Chúa được đón nhận trong những điều bình thường. Xin cho mỗi giáo xứ trở thành một Cana, nơi người ta biết nhìn ra những thiếu thốn của nhau trước khi quá muộn. Xin cho mỗi cộng đoàn trở thành một nhà Tiệc Ly, nơi người ta biết cùng nhau cầu nguyện và chờ đợi Thánh Thần. Xin cho mỗi người môn đệ biết trở thành như Mẹ, mang Chúa vào những nơi mình đi qua, để một căn phòng bớt lạnh, một gia đình bớt căng thẳng, một người cô đơn bớt cảm thấy bị bỏ rơi, một người tuyệt vọng có thêm lý do để bước tiếp.
Và nếu một ngày nào đó người khác gặp chúng con mà họ không nhớ chúng con đã nói gì, không nhớ chúng con đã làm những công việc lớn lao nào, chỉ cần họ nhớ rằng khi ở gần chúng con họ cảm thấy mình được tôn trọng hơn, được hy vọng hơn, được bình an hơn, được gần Chúa hơn, thì có lẽ đời chúng con đã loan báo Tin Mừng. Bởi đó chính là điều Đức Maria đã làm. Mẹ bước vào một ngôi nhà, và niềm vui bừng lên. Mẹ hiện diện ở một đám cưới, và sự thiếu thốn được biến đổi thành dư đầy. Mẹ đứng dưới một cây thập giá, và từ nơi của cái chết, Mẹ trở thành Mẹ của một gia đình mới. Mẹ ở trong nhà Tiệc Ly, và Giáo Hội bắt đầu lên đường.
Xin cho chúng con biết vui như Mẹ đã vui, không phải vì cuộc đời luôn dễ dàng, nhưng vì Thiên Chúa vẫn trung tín. Xin cho chúng con biết tin như Mẹ đã tin, không phải vì mọi sự đều rõ ràng, nhưng vì Đấng đã hứa không bao giờ lừa dối. Xin cho chúng con biết đứng như Mẹ đã đứng, không phải vì không đau, nhưng vì tình yêu mạnh hơn nỗi đau. Xin cho chúng con biết lên đường như Mẹ đã lên đường, không giữ niềm vui cho riêng mình, nhưng mang Chúa đến nơi người khác đang chờ. Và xin cho đến cuối đời, giữa tất cả những điều đến rồi đi, thành công rồi phai nhạt, những lời khen rồi bị quên, những công việc rồi có người khác tiếp tục, chúng con vẫn giữ được điều Mẹ đã giữ từ Nadarét đến Canvê, từ Canvê đến nhà Tiệc Ly: một trái tim thuộc trọn về Chúa.
Bởi khi trái tim thật sự thuộc về Chúa, người ta có thể khóc mà không tuyệt vọng, có thể mất mà không hoàn toàn trắng tay, có thể đi trong đêm mà vẫn tin có bình minh, có thể đứng dưới thập giá mà vẫn biết Phục Sinh đang đến. Và có lẽ đó chính là niềm vui sâu nhất mà Đức Maria muốn dạy chúng ta: niềm vui không phải vì ta giữ được mọi thứ, nhưng vì giữa mọi biến đổi của cuộc đời, có một điều không bao giờ thay đổi — Thiên Chúa vẫn yêu, Thiên Chúa vẫn ở đó, và lời hứa của Người vẫn đang âm thầm đi đến chỗ hoàn thành.
Lạy Mẹ Maria, Ngôi Sao của công cuộc loan báo Tin Mừng, xin đi cùng chúng con. Khi đường sáng, xin giữ chúng con khiêm nhường. Khi đường tối, xin giữ chúng con hy vọng. Khi thành công, xin giữ chúng con nhớ rằng mọi sự là ân sủng. Khi thất bại, xin giữ chúng con đừng nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ mình. Khi được yêu, xin dạy chúng con biết tạ ơn. Khi bị hiểu lầm, xin dạy chúng con biết thinh lặng. Khi phải lựa chọn, xin dạy chúng con hỏi điều gì làm đẹp lòng Chúa hơn. Khi gặp người đau khổ, xin cho chúng con đừng đi ngang qua. Khi gặp người lầm lỗi, xin cho chúng con đừng vội ném đá. Khi có cơ hội nói về Chúa, xin cho lời chúng con có tình yêu. Khi không thể nói gì, xin cho đời sống chúng con trở thành một lời chứng.
Và một ngày nào đó, khi hành trình này đi đến chiều muộn, khi những điều từng làm chúng con bận tâm không còn quan trọng nữa, khi những tiếng ồn của thế gian lắng xuống, xin cho chúng con có thể nhìn lại đời mình mà bình an vì đã cố sống một lời “Xin vâng”. Không phải một lời “Xin vâng” hoàn hảo, bởi chúng con yếu đuối; nhưng là một lời “Xin vâng” được lặp lại sau mỗi lần ngã, mỗi lần sợ, mỗi lần muốn bỏ cuộc. Xin cho chúng con có thể nói rằng dù đã có những ngày buồn, chúng con vẫn không thôi tin vào niềm vui; dù đã có những đêm rất dài, chúng con vẫn chờ ánh sáng; dù đã gặp những người làm mình tổn thương, chúng con vẫn không để trái tim mình biến thành đá; dù đã có những thập giá, chúng con vẫn tin rằng câu chuyện của Thiên Chúa luôn đi về phía Phục Sinh.
Khi ấy, có lẽ chúng con sẽ hiểu sâu hơn bài Magnificat mà Mẹ đã hát từ thuở còn rất trẻ. Chúng con sẽ hiểu rằng điều lớn lao nhất trong đời không phải là mình đã làm được bao nhiêu, nhưng là Thiên Chúa đã làm gì trong sự nhỏ bé của mình; không phải là mình đã được bao người biết đến, nhưng là mình đã giúp được bao người nhận ra Chúa; không phải là mình đã giữ được bao nhiêu thứ, nhưng là mình đã để tình yêu của Chúa đi qua đời mình đến với người khác thế nào. Và nếu có một lời cuối cùng để kết thúc chương nói về Mẹ của niềm vui và của việc loan báo, có lẽ chỉ cần một lời rất đơn sơ: Mẹ đã mang Chúa Giêsu đến cho thế giới. Xin cho đời chúng con, bằng cách riêng mà Thiên Chúa đã trao, cũng làm được điều ấy.
Mang Chúa đến trong một ánh mắt không xét đoán. Mang Chúa đến trong một lời nói không làm đau. Mang Chúa đến trong một sự tha thứ mà người khác không ngờ tới. Mang Chúa đến trong một lần biết cúi xuống. Mang Chúa đến trong một sự hiện diện khi ai đó đang cô đơn. Mang Chúa đến trong một lời cầu nguyện âm thầm. Mang Chúa đến trong một gia đình đang mệt mỏi. Mang Chúa đến trong một cộng đoàn đang chia rẽ. Mang Chúa đến giữa thế giới đang có quá nhiều lý do để buồn và quá ít lý do để hy vọng. Và khi chúng ta làm được như thế, dù rất nhỏ thôi, chúng ta đang bước theo dấu chân Đức Maria, người phụ nữ đã không giữ Đấng Cứu Thế cho riêng mình, nhưng đã trao Người cho nhân loại.
Đó là niềm vui của Mẹ. Và đó cũng là niềm vui của người môn đệ: đã gặp Chúa, đã để Chúa sống trong mình, rồi âm thầm mang Chúa đến cho người khác, cho đến ngày mọi cuộc lên đường kết thúc trong ngôi nhà vĩnh cửu, nơi không còn nước mắt, không còn chia lìa, không còn những câu hỏi chưa có lời đáp, và niềm vui mà chúng ta từng chỉ nếm được từng chút trên đường đời sẽ trở thành niềm vui trọn vẹn không bao giờ bị lấy mất.
TẠM KẾT :
Con muốn khép lại những trang viết này bằng một lời nhắn nhủ mà Đức Phanxicô đã nhiều lần tha thiết gửi đến toàn thể Hội Thánh, một lời vừa như khích lệ, vừa như cảnh tỉnh, vừa như đánh thức những tâm hồn đang dần mỏi mệt trên hành trình đức tin và sứ vụ: “Đừng để bị đánh cắp niềm vui của việc loan báo Tin Mừng!” Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà ngài phải nhắc đi nhắc lại điều ấy. Bởi niềm vui, tưởng như là điều rất tự nhiên nơi một người đã gặp Chúa, lại là điều rất dễ mất. Không phải lúc nào người ta cũng đánh cắp niềm vui của chúng ta bằng những biến cố lớn lao. Nhiều khi niềm vui bị lấy đi từng chút một, âm thầm đến nỗi chính chúng ta cũng không nhận ra. Một chút tự mãn làm ta không còn thấy cần Chúa. Một chút sợ hãi làm ta co lại. Một chút thất vọng khiến ta ngại bước tiếp. Một vài lời chỉ trích làm lòng ta chùng xuống. Một lần bị hiểu lầm khiến ta khép cửa. Một chút ganh tị, một chút so sánh, một chút hơn thua, một chút mong được công nhận, tất cả cộng lại có thể làm cho một trái tim từng rất nóng dần trở nên nguội lạnh. Có những người đã từng bắt đầu rất đẹp. Họ đã từng hăng say, từng quảng đại, từng sẵn sàng cho đi, từng thao thức làm một điều gì đó cho Chúa và cho anh chị em mình. Nhưng rồi thời gian đi qua, những va chạm xảy đến, những giới hạn của con người xuất hiện, những thất bại chen vào, và họ bắt đầu mệt. Họ vẫn làm việc, nhưng không còn vui. Họ vẫn phục vụ, nhưng trong lòng nặng nề. Họ vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện, vẫn nói những lời đạo đức, nhưng đâu đó trong sâu thẳm, ngọn lửa ngày đầu đã yếu đi rất nhiều. Điều đáng sợ không phải là mệt, vì ai cũng có lúc mệt; điều đáng sợ là chúng ta quen với sự mệt mỏi ấy đến mức không còn muốn tìm lại niềm vui ban đầu nữa.
Niềm vui Tin Mừng có thể bị đánh cắp khi chúng ta bắt đầu nghĩ rằng mọi sự tùy thuộc vào mình. Khi công việc thành công, ta vui vì nghĩ mình giỏi. Khi công việc thất bại, ta buồn vì thấy mình bất lực. Khi người khác khen, ta hăng hái. Khi người khác chê, ta chán nản. Khi có người ủng hộ, ta tiến bước. Khi bị bỏ rơi, ta muốn buông xuôi. Nếu niềm vui của chúng ta được xây trên thành công, trên lời khen, trên vị trí, trên sự nhìn nhận của người khác, thì niềm vui ấy quá mong manh. Chỉ một biến cố nhỏ cũng đủ làm nó sụp đổ. Niềm vui Kitô giáo không thể đặt nền trên những điều dễ thay đổi như thế. Niềm vui của người môn đệ phải bắt nguồn từ một sự thật sâu xa hơn: con được Chúa yêu. Con được Chúa gọi. Con thuộc về Chúa. Và dù con thành công hay thất bại, dù con được hiểu hay bị hiểu lầm, dù con đứng giữa ánh sáng hay đi qua một quãng đường tăm tối, Chúa vẫn là Chúa của con, và con vẫn là người được Ngài yêu thương. Chính nơi đó, niềm vui tìm được chỗ đứng vững chắc nhất. Không phải vì đời không còn bão tố, nhưng vì giữa bão tố vẫn có một bàn tay không buông con. Không phải vì mọi người đều hiểu con, nhưng vì có Đấng hiểu tận đáy lòng. Không phải vì con không bao giờ thất bại, nhưng vì ngay cả sau thất bại, con vẫn có thể đứng dậy và trở về.
Có khi niềm vui bị đánh cắp bởi chính đời sống đạo quá quen thuộc. Chúng ta nghe Lời Chúa mỗi ngày nhưng không còn để Lời ấy chạm đến tim. Chúng ta đọc những kinh đã thuộc lòng nhưng môi đọc mà lòng đi xa. Chúng ta bước vào nhà thờ, nhìn thấy thánh giá, nhìn thấy bàn thờ, nhìn thấy Nhà Tạm, nhưng tất cả đã trở nên quá quen đến mức không còn làm lòng mình rung động. Chúng ta phục vụ quá nhiều đến mức quên mất mình phục vụ vì ai. Chúng ta nói về Chúa quá nhiều đến mức quên nói với Chúa. Chúng ta làm việc của Chúa rất nhiều nhưng lại dành quá ít thời gian để ở với Chúa. Và rồi, một ngày kia, chúng ta chợt thấy mình đầy công việc mà trống rỗng bên trong. Đó là một cám dỗ rất thật. Người ta có thể bận rộn với những điều rất thánh thiện mà vẫn dần xa nguồn của sự thánh thiện. Người ta có thể rao giảng về cầu nguyện mà chính mình không cầu nguyện đủ. Người ta có thể nói cho người khác về niềm vui mà bản thân lại sống trong cay đắng. Người ta có thể nâng đỡ bao người nhưng tâm hồn mình lại không còn biết tựa vào Chúa. Vì thế, muốn giữ được niềm vui, chúng ta phải không ngừng trở về nguồn. Trở về không phải là đi tìm một cảm xúc thiêng liêng mới lạ, nhưng là trở lại với điều căn bản nhất: ở lại với Chúa Giêsu. Có những lúc không cần làm thêm điều gì lớn lao; chỉ cần ngồi lại trước Chúa lâu hơn một chút. Im lặng hơn một chút. Thành thật hơn một chút. Không cần nói những lời đẹp. Không cần cố tạo cảm xúc. Chỉ cần thưa: “Lạy Chúa, con đây. Con mệt. Con yếu. Con đã đi xa khỏi niềm vui ngày đầu. Xin kéo con về.” Một lời cầu nguyện đơn sơ như thế đôi khi đủ mở lại một cánh cửa mà chúng ta đã tưởng bị khóa từ lâu.
Con nghĩ rằng trong đời sống đức tin, một trong những điều quan trọng nhất không phải là đừng bao giờ mất niềm vui, nhưng là biết đường trở lại với niềm vui mỗi khi nó bị che khuất. Có những ngày chúng ta sẽ buồn. Có những ngày nước mắt nhiều hơn nụ cười. Có những ngày cầu nguyện mà không cảm thấy gì. Có những ngày vừa thức dậy đã thấy đời nặng trĩu. Có những ngày bị tổn thương đến mức không muốn nói chuyện với ai. Đừng vội nghĩ rằng như thế là chúng ta đã mất Chúa. Niềm vui Kitô giáo không phải là trạng thái hưng phấn kéo dài, càng không phải là một nụ cười được gắn lên khuôn mặt để che giấu những vết thương. Niềm vui Tin Mừng sâu hơn cảm xúc rất nhiều. Có người đang khóc mà trong sâu thẳm vẫn có bình an. Có người đang bệnh nhưng vẫn biết mình được yêu. Có người vừa tiễn một người thân ra nghĩa trang nhưng vẫn có thể thưa: “Con tin vào sự sống đời đời.” Có người đang chịu một bất công mà vẫn không để lòng mình trở thành cay độc. Có người thất bại nhưng vẫn không mất hy vọng. Đó là niềm vui đã đi qua thập giá. Một niềm vui không ồn ào, không phô trương, nhưng rất bền. Niềm vui ấy không phủ nhận bóng tối; nó chỉ không cho bóng tối quyền nói lời cuối cùng.
Đức Phanxicô nhiều lần nhắc chúng ta đừng mang khuôn mặt của người vừa từ đám tang trở về khi loan báo Tin Mừng. Câu nói ấy có thể làm chúng ta bật cười, nhưng nếu suy nghĩ kỹ, đó là một lời xét mình rất mạnh. Bởi người Kitô hữu tuyên xưng Chúa đã sống lại. Chúng ta đọc Kinh Tin Kính và tuyên xưng sự sống đời sau. Chúng ta hát Alleluia. Chúng ta mừng lễ Phục Sinh. Chúng ta tin rằng ngôi mộ đã trống, rằng sự chết đã bị đánh bại, rằng bóng tối không thể giữ ánh sáng mãi mãi. Thế nhưng nếu đời sống chúng ta chỉ đầy cau có, than phiền, chỉ trích, bi quan, thì chính cách sống ấy có thể phủ nhận điều môi miệng đang tuyên xưng. Người ta không cần chúng ta lúc nào cũng phải tươi cười. Nhưng họ cần nhìn thấy nơi chúng ta một niềm hy vọng. Họ cần biết rằng giữa cuộc đời đầy bất ổn này vẫn có một nơi để bám vào. Họ cần gặp những người đã đau mà không tuyệt vọng, đã mất mà không cay đắng, đã thất bại mà vẫn tin, đã bị tổn thương mà vẫn còn khả năng yêu. Đó là chứng tá rất mạnh. Có khi mạnh hơn một bài giảng dài. Có khi một người không nhớ những gì chúng ta đã nói, nhưng họ nhớ ánh mắt bình an của chúng ta trong một biến cố khó khăn. Họ nhớ cách chúng ta đối xử với người làm mình tổn thương. Họ nhớ rằng giữa lúc mọi người đều hoảng loạn, chúng ta vẫn không mất lòng tin. Và chính những điều âm thầm ấy có thể trở thành cánh cửa để họ gặp Chúa.
Anh chị em thân mến, con nghĩ điều đẹp nhất mà chúng ta có thể làm sau khi đọc những trang này không phải là quyết tâm trở thành những con người lúc nào cũng vui vẻ, mà là xin Chúa làm cho trái tim mình sống lại. Có khi chúng ta đã sống quá lâu bằng thói quen. Có khi đức tin đã trở thành bổn phận hơn là cuộc gặp gỡ. Có khi chúng ta giữ đạo rất đầy đủ nhưng trong lòng thiếu lửa. Có khi chúng ta đã từng yêu Chúa rất nhiều nhưng những lo toan của cuộc đời làm tình yêu ấy bị phủ bụi. Hôm nay, xin đừng vội trách mình. Chỉ cần quay về. Chúa không mệt khi đợi chúng ta. Ngài không đứng đó để hỏi tại sao con đã đi xa lâu như thế, nhưng Ngài đứng đó để nói: “Con về rồi sao?” Chỉ thế thôi. Một người cha không cần đứa con hoang đàng phải trình bày hết bài diễn văn nó đã chuẩn bị. Ông chạy ra ôm lấy nó trước. Đó là Tin Mừng. Và chính Tin Mừng ấy là nguồn của niềm vui. Chúng ta vui không phải vì mình tốt đủ, nhưng vì lòng thương xót của Chúa lớn hơn những yếu đuối của mình. Chúng ta vui không phải vì chưa từng sa ngã, nhưng vì mỗi lần ngã vẫn có một bàn tay đỡ lên. Chúng ta vui không phải vì đời mình không có những trang tối, nhưng vì Chúa có thể viết tiếp sau những trang tối ấy.
Hãy để Chúa yêu chúng ta một lần nữa. Câu nói ấy nghe thật đơn giản, nhưng có lẽ là điều khó nhất. Nhiều người trong chúng ta rất giỏi yêu người khác, phục vụ người khác, chăm sóc người khác, hy sinh cho người khác, nhưng lại không biết để mình được Chúa yêu. Chúng ta luôn muốn chứng minh điều gì đó với Ngài. Chúng ta nghĩ mình phải làm tốt hơn, cầu nguyện nhiều hơn, sống thánh thiện hơn thì mới xứng đáng với tình yêu của Chúa. Nhưng Tin Mừng bắt đầu ở một nơi khác: Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Ngài yêu khi chúng ta còn yếu. Ngài yêu khi chúng ta còn lạc đường. Ngài yêu không phải vì chúng ta hoàn hảo, nhưng tình yêu của Ngài làm chúng ta dần được chữa lành và biến đổi. Khi một người thực sự biết mình được yêu, họ bắt đầu nhẹ đi. Họ bớt phải cạnh tranh. Bớt phải chứng minh. Bớt sợ người khác hơn mình. Bớt cay cú khi không được nhìn nhận. Bớt giữ chặt những gì mình có. Và chính lúc ấy, niềm vui bắt đầu lớn lên một cách rất tự nhiên. Vì sâu thẳm của mọi bất an nhiều khi là nỗi sợ mình không đủ giá trị, không đủ được yêu. Khi Chúa lấp đầy chỗ ấy, con người bắt đầu được tự do.
Rồi từ sự tự do ấy, Chúa sai chúng ta đi. Đừng nghĩ việc loan báo Tin Mừng nhất thiết phải bắt đầu bằng những điều lớn lao. Có thể hôm nay Chúa không sai chúng ta đến một vùng đất xa lạ. Ngài chỉ sai chúng ta về lại căn nhà của mình với một trái tim khác. Sai chúng ta trở lại bàn ăn gia đình để biết lắng nghe hơn. Sai chúng ta đến nơi làm việc để bớt một lời cay nghiệt. Sai chúng ta vào mạng xã hội để không góp thêm độc tố. Sai chúng ta đến với một người đang buồn để ngồi cạnh họ mà không cần nói nhiều. Sai chúng ta gặp một người từng làm mình tổn thương để bắt đầu một bước hòa giải. Sai chúng ta bước ra khỏi cái tôi để nhận ra quanh mình có những người đang cần một ánh mắt, một lời hỏi thăm, một chút kiên nhẫn. Loan báo Tin Mừng có thể bắt đầu từ rất gần. Và niềm vui cũng vậy. Một người biết làm cho người khác nhẹ lòng hơn sau một cuộc gặp, người ấy đang làm chứng cho Tin Mừng. Một người biết giữ hy vọng khi mọi người muốn buông xuôi, người ấy đang làm chứng. Một người biết xin lỗi, biết cảm ơn, biết tha thứ, biết chờ đợi, biết không trả đũa, biết chia sẻ, người ấy đang rao giảng bằng đời sống của mình.
Đừng để ai đánh cắp niềm vui ấy khỏi chúng ta. Đừng để lời nói của người khác quyết định giá trị của mình. Đừng để một thất bại khiến chúng ta kết luận rằng đời mình vô ích. Đừng để một lần bị phản bội khiến chúng ta không còn tin vào tình người. Đừng để những khuyết điểm của Giáo Hội làm chúng ta quên vẻ đẹp của Đức Kitô. Đừng để những giới hạn của người phục vụ Chúa làm chúng ta quay lưng với chính Chúa. Đừng để scandal mạnh hơn Tin Mừng. Đừng để bóng tối của thời đại làm chúng ta quên rằng ánh sáng vẫn đang cháy ở rất nhiều nơi, trong những gia đình âm thầm yêu thương nhau, trong những linh mục trung tín mà không ai nhắc tên, trong những tu sĩ phục vụ nơi không ai biết, trong những người cha người mẹ mỗi ngày hy sinh mà chẳng bao giờ được lên báo, trong những người trẻ chọn sống tử tế giữa một thế giới đầy cám dỗ, trong những người bệnh vẫn cầu nguyện cho người khác từ giường đau, trong những người nghèo vẫn biết chia phần cơm ít ỏi của mình. Nước Thiên Chúa vẫn đang lớn lên như hạt cải, rất nhỏ, rất âm thầm, nhưng không gì ngăn được.
Đừng để sự chia rẽ đánh cắp niềm vui. Có một nỗi buồn rất lớn trong đời sống cộng đoàn là khi những người cùng tin một Chúa lại làm khổ nhau vì những điều rất nhỏ. Một lời nói không vừa ý. Một cách làm khác mình. Một vị trí. Một trách nhiệm. Một chuyện hơn thua. Một sự hiểu lầm không chịu ngồi lại. Và rồi những người đáng lẽ cùng nhau loan báo tình yêu lại trở thành lý do khiến người khác không còn tin vào tình yêu ấy. Chúng ta cần nhớ rằng ma quỷ không nhất thiết phải làm cho Hội Thánh mất hết những người tài; đôi khi nó chỉ cần làm cho những người tài không thể ngồi với nhau. Nó không cần khiến chúng ta bỏ việc đạo; chỉ cần làm cho chúng ta làm việc đạo trong chia rẽ, trong cạnh tranh, trong cay cú, thì chứng tá đã bị tổn thương rất nhiều. Vì thế, giữ niềm vui cũng là giữ hiệp nhất. Biết nhường một câu. Biết bỏ qua một chuyện. Biết chủ động làm hòa. Biết nhìn người khác bằng lòng thương thay vì nghi ngờ. Biết rằng không phải mọi trận chiến đều cần thắng. Có khi giữ được một người anh em quý hơn giữ được phần đúng của mình.
Đừng để sự mệt mỏi đánh cắp niềm vui. Nghỉ ngơi không phải là thiếu nhiệt thành. Có những người vì muốn làm nhiều cho Chúa mà quên rằng mình cũng là một thụ tạo có giới hạn. Họ không biết nghỉ, không biết dừng, không biết nói “đủ rồi”, và cuối cùng trở nên cạn kiệt. Khi cạn kiệt, người ta dễ cáu gắt, dễ phán xét, dễ mất kiên nhẫn, dễ thấy mọi người là gánh nặng. Chúa Giêsu cũng đã từng nói với các môn đệ: hãy lui vào nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút. Một người phục vụ lâu dài cần học nghệ thuật dừng lại. Dừng để cầu nguyện. Dừng để thở. Dừng để nhìn lại. Dừng để nhận ra mình không phải là Đấng Cứu Thế. Thế giới vẫn tiếp tục khi con nghỉ một ngày. Giáo Hội vẫn là của Chúa. Công việc vẫn là của Chúa. Con chỉ là một người được mời cộng tác. Nhận ra điều đó không làm ta vô trách nhiệm; trái lại, nó làm ta khiêm tốn và tự do hơn. Và chính sự tự do ấy bảo vệ niềm vui.
Đừng để quá khứ đánh cắp niềm vui. Có những người mang theo một lỗi lầm cũ suốt nhiều năm. Họ đã được Chúa tha thứ nhưng chưa tha thứ cho chính mình. Họ cứ quay lại với vết thương, với thất bại, với câu nói “giá như”. Giá như ngày ấy con đừng làm vậy. Giá như con chọn khác. Giá như con biết sớm hơn. Nhưng quá khứ không thể sửa bằng việc tự hành hạ mình. Nó chỉ có thể được cứu chuộc bằng cách để Chúa đi vào đó. Có những vết sẹo không biến mất, nhưng chúng có thể trở thành nơi ánh sáng đi qua. Có những thất bại khiến ta khiêm tốn hơn. Có những lần lạc đường làm ta biết cảm thông hơn với người đang lạc. Có những giọt nước mắt làm trái tim mềm đi. Nếu trao cho Chúa, ngay cả điều ta từng muốn quên nhất cũng có thể trở thành một phần của sứ vụ. Thánh Phêrô đã từng chối Thầy. Thánh Phaolô đã từng bắt bớ Hội Thánh. Nhưng Chúa không đóng dấu họ bằng quá khứ. Ngài gọi họ bằng tương lai.
Đừng để tương lai đánh cắp niềm vui hôm nay. Chúng ta thường lo những chuyện chưa xảy ra. Lo sức khỏe. Lo con cái. Lo tuổi già. Lo công việc. Lo Giáo Hội rồi sẽ ra sao. Lo thế giới này rồi sẽ đi về đâu. Những nỗi lo ấy có lý do của nó, nhưng nếu để nó thống trị, chúng ta sẽ đánh mất ngày hôm nay, là ngày duy nhất mình đang thực sự có. Chúa không hứa rằng ngày mai sẽ dễ. Ngài chỉ hứa rằng ngày mai, Ngài vẫn ở đó. Điều cần làm không phải là biết hết tương lai, mà là tin Đấng đang nắm tương lai. Con đường đức tin không phải là được trao bản đồ toàn bộ, nhưng là được trao một bàn tay. Chỉ cần nắm lấy bàn tay ấy và đi bước hôm nay.
Anh chị em thân mến, cuối cùng rồi mọi cuốn sách cũng phải khép lại, mọi bài giảng cũng phải kết thúc, mọi lời nói rồi cũng im. Nhưng điều con mong còn lại sau những trang viết này không phải là một vài câu hay để nhớ, mà là một ước muốn được sống khác đi một chút. Sáng mai, khi thức dậy, xin hãy thử bắt đầu ngày mới bằng một lời cảm ơn. Cảm ơn vì mình còn sống. Cảm ơn vì vẫn có người để yêu. Cảm ơn vì vẫn còn cơ hội sửa một điều chưa tốt. Cảm ơn vì Chúa vẫn kiên nhẫn với mình. Rồi trong ngày, hãy tìm một người để trao một lời khích lệ. Một người để lắng nghe. Một việc tốt nhỏ để làm mà không cần ai biết. Một lời than phiền để giữ lại. Một lời tiêu cực để đừng nói. Một sự tha thứ để bắt đầu. Một phút để vào nhà thờ hay ngồi yên trước Chúa. Những điều nhỏ ấy, nếu được sống mỗi ngày, sẽ dần biến đổi khuôn mặt chúng ta. Không phải thành một khuôn mặt luôn cười, nhưng thành khuôn mặt có ánh sáng. Có bình an. Có lòng thương. Có một điều gì đó khiến người khác cảm thấy được nâng lên khi ở gần.
Xin đừng quên rằng niềm vui chúng ta nhận được không bao giờ chỉ dành cho riêng mình. Nước bị giữ lại sẽ tù. Ánh sáng bị che kín sẽ vô ích. Tình yêu chỉ lớn khi được trao. Niềm vui cũng vậy. Càng chia sẻ, nó càng sâu. Một người khích lệ người khác thường chính mình cũng được khích lệ. Một người tha thứ thường chính mình được giải thoát trước. Một người mang hy vọng đến cho người đang tuyệt vọng cũng cảm thấy hy vọng của mình được lớn lên. Thiên Chúa có một cách rất lạ: Ngài làm đầy đôi tay chúng ta khi chúng ta mở tay ra. Ngài làm đầy trái tim chúng ta khi chúng ta cho đi những gì đã nhận.
Và nếu có ngày nào đó con không còn cảm thấy niềm vui nữa, xin đừng vội kết luận rằng mọi sự đã hết. Hãy trở về. Trở về với Thánh Thể. Trở về với Lời Chúa. Trở về với một góc yên tĩnh. Trở về với những ngày đầu. Trở về với câu hỏi đơn sơ: “Lạy Chúa, Chúa đã gặp con ở đâu? Chúa đã gọi con thế nào? Khi nào trái tim con từng cháy lên vì Chúa?” Đôi khi phải trở lại nơi mình đã bắt đầu để nhớ tại sao mình đã lên đường. Và ở đó, chúng ta sẽ nhận ra Chúa chưa từng bỏ đi. Có thể chúng ta đổi khác, hoàn cảnh đổi khác, con người đổi khác, nhưng Chúa vẫn ở đó, trung tín như ngày đầu tiên.
Con xin khép lại bằng một lời nguyện rất đơn sơ: Lạy Chúa Giêsu, xin đừng để chúng con trở thành những người nói về niềm vui mà không còn niềm vui, nói về hy vọng mà lòng đã tuyệt vọng, nói về tình yêu mà trái tim đã khép kín. Xin đưa chúng con trở lại với Chúa mỗi ngày. Xin chữa lành những gì trong chúng con đã chai cứng. Xin thắp lại những gì đã nguội lạnh. Xin nâng dậy những gì đã ngã xuống. Xin làm cho khuôn mặt chúng con mang một chút ánh sáng Phục Sinh, để ai gặp chúng con cũng có thể cảm nhận rằng Chúa đang sống, rằng tình yêu vẫn còn, rằng hy vọng chưa chết. Xin cho chúng con biết vui mà không hời hợt, biết khóc mà không tuyệt vọng, biết đau mà không cay đắng, biết phục vụ mà không tìm mình, biết cho đi mà không tính toán, biết yêu ngay cả khi tình yêu đòi phải trả giá. Xin cho chúng con đừng bao giờ để thế gian, thất bại, lời khen tiếng chê, sự mệt mỏi, nỗi sợ hãi hay chính những giới hạn của mình đánh cắp niềm vui mà Chúa đã đặt vào lòng chúng con.
Xin Đức Maria, người nữ của lời Xin Vâng, người đã mang Chúa Giêsu trong lòng và mang Ngài đến cho người khác, dạy chúng con biết giữ niềm vui trong những ngày sáng cũng như những ngày tối. Mẹ đã không được miễn khỏi đau khổ, nhưng đau khổ không lấy được niềm tin của Mẹ. Mẹ đã đứng dưới chân thập giá nhưng không rời bỏ Chúa. Mẹ đã đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh để bước vào bình minh Phục Sinh. Xin Mẹ nắm tay chúng con khi đức tin yếu, khi lòng mệt, khi con đường dài, khi lời cầu nguyện khô khan, khi sứ vụ nặng nề. Xin Mẹ nhắc chúng con rằng sau mọi Canvê vẫn có một buổi sáng Phục Sinh, sau mọi đêm dài vẫn có bình minh, và sau mọi giọt nước mắt được trao cho Chúa vẫn có thể nở ra một niềm vui mà thế gian không thể ban và cũng không thể lấy mất.
Anh chị em thân mến, hãy đi. Hãy đi với trái tim đã được yêu. Hãy đi với đôi mắt biết nhìn thấy điều tốt giữa một thế giới đầy điều khiến người ta thất vọng. Hãy đi với đôi tay sẵn sàng nâng người khác dậy. Hãy đi với một lời lành trên môi. Hãy đi với niềm xác tín rằng chúng ta không cô độc. Hãy đi như những người đã gặp Đấng Phục Sinh. Hãy sống sao để khi người khác gặp chúng ta, họ không chỉ nghe một bài giảng về Tin Mừng, nhưng họ chạm được một chút Tin Mừng bằng xương bằng thịt nơi cách chúng ta hiện diện, cách chúng ta nói, cách chúng ta tha thứ, cách chúng ta chịu đựng, cách chúng ta hy vọng và cách chúng ta yêu.
Đừng để bị đánh cắp niềm vui. Đừng để bị đánh cắp hy vọng. Đừng để bị đánh cắp sự dịu dàng. Đừng để bị đánh cắp ước muốn làm điều thiện. Đừng để bị đánh cắp niềm xác tín rằng Chúa vẫn đang làm việc trong thế giới này, ngay cả khi chúng ta chưa nhìn thấy. Và nhất là, đừng để bất cứ điều gì đánh cắp khỏi chúng ta niềm vui được thuộc về Chúa, được Chúa yêu, được Chúa gọi, và được Chúa sai đi.
Bởi cuối cùng, đó chính là Tin Mừng: Chúa đã yêu chúng ta. Chúa vẫn yêu chúng ta. Chúa đang ở với chúng ta. Và Chúa sai chúng ta mang tình yêu ấy đến cho thế giới.
Xin niềm vui của Chúa ở lại trong chúng ta, để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn.
Amen.
