30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG – Lm. Anmai, CSsR

24

30 ngày sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương
30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG
NGÀY 1 – MẸ DẠY CON LẮNG NGHE
Cuộc sống của con người hôm nay có quá nhiều âm thanh. Tiếng điện thoại báo tin, tiếng người nói, tiếng xe cộ, tiếng tranh luận, tiếng khen chê, tiếng quảng cáo, tiếng mời gọi của tiền bạc, danh vọng và hưởng thụ. Giữa biết bao âm thanh ấy, con người vẫn có thể rơi vào một sự thinh lặng đáng sợ: không còn nghe được tiếng lòng mình, không nghe được tiếng của người bên cạnh và nhất là không nghe được tiếng Thiên Chúa. Người ta nói rất nhiều nhưng nghe rất ít. Người ta muốn người khác hiểu mình nhưng lại không đủ kiên nhẫn để hiểu người khác. Người ta dễ dàng trả lời khi người đối diện chưa nói hết, dễ phán đoán khi chưa biết rõ câu chuyện, dễ nổi giận vì chỉ nghe một phần sự thật. Bởi đó, trong ngày đầu tiên của hành trình ba mươi ngày sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, Mẹ mời gọi mỗi người học một bài học rất căn bản nhưng vô cùng cần thiết: học lắng nghe.
Đức Maria là người nữ của sự lắng nghe. Trước khi Mẹ nói lời “Xin vâng”, Mẹ đã lắng nghe lời sứ thần. Trước khi cưu mang Ngôi Lời trong lòng mình, Mẹ đã mở lòng đón nhận Lời Thiên Chúa. Biến cố Truyền Tin không bắt đầu bằng một bài diễn văn dài của Đức Maria, nhưng bắt đầu bằng việc Mẹ lắng nghe. Sứ thần Gabriel đến và chào Mẹ: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Trước lời chào ấy, Đức Maria không vội vàng đáp lại. Tin Mừng cho biết Mẹ bối rối và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì. Sự bối rối của Mẹ không phải là thái độ khép lòng hay nghi ngờ Thiên Chúa, nhưng là thái độ của một tâm hồn biết suy nghĩ, biết phân định và biết dành chỗ cho tiếng Chúa. Mẹ không hấp tấp. Mẹ không để cảm xúc nhất thời dẫn dắt. Mẹ lắng nghe, suy đi nghĩ lại và tìm hiểu xem Thiên Chúa muốn gì nơi cuộc đời mình.
Lắng nghe không có nghĩa là chỉ im lặng bên ngoài. Có những người không nói nhưng trong lòng vẫn đầy tiếng chống đối, thành kiến và kết án. Có những người ngồi trước mặt người khác nhưng tâm trí lại đang ở nơi xa. Có những người nghe bằng tai nhưng không nghe bằng trái tim. Lắng nghe theo gương Đức Maria là mở cả tâm trí và tâm hồn để đón nhận. Mẹ không chỉ nghe những lời dễ chịu. Mẹ còn nghe những lời làm đảo lộn mọi dự tính riêng. Mẹ đã đính hôn với thánh Giuse và có thể đã hình dung về một mái ấm đơn sơ, bình dị tại Nazareth. Thế nhưng Thiên Chúa lại mời Mẹ bước vào một con đường hoàn toàn mới, một con đường vượt quá mọi suy nghĩ của con người. Lắng nghe tiếng Chúa khiến Mẹ phải buông bỏ những dự tính riêng, phải chấp nhận những điều chưa hiểu và phải bước đi trong đức tin. Chính vì biết lắng nghe nên Mẹ mới có thể thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
Con người thường thích nghe những điều hợp với ý mình. Khi ai khen, ta dễ dàng lắng nghe. Khi ai đồng tình, ta cảm thấy họ khôn ngoan. Nhưng khi có người góp ý, sửa lỗi hoặc nói điều trái với suy nghĩ của ta, ta lập tức khép lòng. Có khi người khác chưa nói xong, ta đã tìm lý lẽ để tự bảo vệ. Có khi một lời góp ý chân thành lại bị ta xem như sự xúc phạm. Có khi Thiên Chúa dùng một người rất bình thường, thậm chí một người ta không thích, để nhắc nhở ta, nhưng vì thành kiến nên ta không đón nhận. Đức Maria dạy con rằng người biết lắng nghe không chỉ nghe những điều mình muốn nghe, nhưng còn can đảm nghe những điều cần thiết cho sự trưởng thành của mình.
Mẹ đã lắng nghe tiếng Chúa trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Mẹ nghe lời sứ thần trong căn nhà nhỏ tại Nazareth. Mẹ nghe lời chúc tụng của bà Êlisabét khi đến thăm người chị họ. Mẹ nghe lời các mục đồng kể lại những điều thiên thần đã loan báo về Hài Nhi. Mẹ nghe lời cụ già Simêon tiên báo rằng một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Mẹ. Mẹ nghe những lời của Con trẻ Giêsu trong Đền Thờ, dù lúc ấy Mẹ chưa hiểu hết. Mẹ nghe Chúa Giêsu giảng dạy giữa dân chúng. Mẹ nghe những lời chế nhạo, kết án và nguyền rủa hướng về Con mình trên đường lên Núi Sọ. Dưới chân thập giá, Mẹ nghe lời Chúa Giêsu trối người môn đệ yêu dấu cho Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Suốt cuộc đời, Mẹ không ngừng lắng nghe. Có những lời đem đến niềm vui, nhưng cũng có những lời khiến trái tim Mẹ tan nát. Dù vậy, Mẹ vẫn đón nhận tất cả trong niềm tin và đem mọi sự suy đi nghĩ lại trong lòng.
Thánh sử Luca hai lần nhấn mạnh thái độ ấy của Đức Maria: Mẹ ghi nhớ và suy đi nghĩ lại mọi sự trong lòng. Mẹ không hiểu mọi việc ngay tức khắc. Mẹ cũng không được Thiên Chúa giải thích trước toàn bộ con đường phải đi. Mẹ chỉ nhận đủ ánh sáng cho từng bước chân. Nhưng Mẹ không vì chưa hiểu mà từ chối lắng nghe. Đây là bài học rất quý giá cho đời sống đức tin. Nhiều khi ta chỉ muốn nghe Chúa khi Chúa giải thích rõ ràng, khi mọi sự phù hợp với lý trí và khi biết chắc kết quả sẽ tốt đẹp. Ta muốn Chúa cho biết trước tại sao đau khổ xảy đến, tại sao lời cầu nguyện chưa được nhận lời, tại sao người tốt gặp gian nan, tại sao người thân phải đau bệnh, tại sao gia đình lại gặp bất hòa. Khi chưa nhận được câu trả lời, ta dễ khép lòng hoặc trách móc Thiên Chúa. Đức Maria dạy ta rằng lắng nghe Chúa không phải là hiểu hết mọi sự, nhưng là tin rằng Thiên Chúa vẫn đang hiện diện và dẫn dắt, ngay cả khi con đường trước mặt còn phủ đầy bóng tối.
Muốn nghe được tiếng Chúa, con người cần có thinh lặng. Không phải lúc nào Thiên Chúa cũng nói qua những biến cố lớn lao. Rất nhiều khi Người nói trong sự nhẹ nhàng của lương tâm, trong một câu Kinh Thánh, trong lời khuyên của một người thân, trong tiếng khóc của người nghèo, trong ánh mắt buồn của một người cô đơn, trong sự mệt mỏi của cha mẹ, trong nỗi lo lắng của người bạn đời, trong câu hỏi đơn sơ của một đứa trẻ. Nhưng vì quá bận rộn, ta đã đi ngang qua những tiếng nói ấy. Ta cầu nguyện mà chỉ nói với Chúa, không để Chúa nói. Ta đọc kinh thật nhiều nhưng tâm hồn vẫn xao động. Ta dự lễ nhưng tâm trí lại chạy theo công việc, tiền bạc và những dự định riêng. Ta xin Chúa hướng dẫn nhưng lại không dành một khoảng lặng nào để nhận ra sự hướng dẫn của Người.
Đức Maria Trinh Vương mời con bước vào trường học của sự thinh lặng. Sự thinh lặng của Mẹ không phải là trốn tránh cuộc đời, nhưng là một sự thinh lặng đầy sức sống. Trong thinh lặng, Mẹ nghe Chúa. Trong thinh lặng, Mẹ hiểu nhu cầu của người khác. Trong thinh lặng, Mẹ nhận ra tiệc cưới Cana đang thiếu rượu. Tin Mừng không kể rằng có ai đến báo cho Mẹ biết. Có lẽ vì Mẹ có một trái tim luôn chú ý nên đã nhận ra sự bối rối của gia chủ. Người biết lắng nghe không cần người khác phải kêu thật lớn mới nhận ra nỗi đau của họ. Một người mẹ biết lắng nghe có thể nhận ra con mình đang buồn dù nó vẫn nói rằng không có chuyện gì. Một người chồng biết lắng nghe sẽ nhận ra sự mệt mỏi của vợ sau một ngày vất vả. Một người vợ biết lắng nghe có thể hiểu được áp lực mà chồng đang mang. Một mục tử biết lắng nghe sẽ nhận ra những vết thương ẩn kín trong lòng người giáo dân. Một người con biết lắng nghe sẽ hiểu rằng đằng sau những lời nhắc nhở của cha mẹ là cả một tình thương và sự lo lắng.
Nhiều đổ vỡ trong gia đình không bắt đầu từ những vấn đề quá lớn, nhưng từ việc người ta không còn lắng nghe nhau. Cha mẹ chỉ muốn con cái nghe lời mình nhưng không muốn nghe những áp lực, sợ hãi và thao thức của con. Con cái cho rằng cha mẹ cổ hủ nên không còn kiên nhẫn nghe những lời nhắc nhở. Vợ chồng sống chung một mái nhà nhưng mỗi người lại ở trong thế giới riêng. Khi người này nói, người kia nhìn vào điện thoại. Khi người này tâm sự, người kia chỉ đưa ra những lời phán xét. Dần dần, người ta không còn muốn nói nữa vì cảm thấy có nói cũng chẳng ai nghe. Sự im lặng lúc ấy không còn là bình an mà trở thành một bức tường ngăn cách.
Đức Maria dạy con lắng nghe không phải để tìm lỗi, nhưng để yêu thương. Khi một người đang đau khổ, điều họ cần trước hết có khi không phải là một lời khuyên, nhưng là một người ngồi bên và lắng nghe. Có những nỗi đau không thể giải quyết bằng vài câu nói. Có những vết thương cần thời gian. Có những người chỉ cần biết rằng họ không cô đơn. Ta thường vội vàng nói: “Đừng buồn nữa”, “Có gì đâu mà lo”, “Người khác còn khổ hơn”, “Phải mạnh mẽ lên”. Những lời ấy có thể xuất phát từ thiện ý nhưng đôi khi lại làm người đau khổ cảm thấy mình không được thấu hiểu. Mẹ Maria không nói nhiều, nhưng sự hiện diện của Mẹ luôn đem lại bình an. Mẹ đứng dưới chân thập giá, không thể cất đi đau khổ của Chúa Giêsu, nhưng Mẹ hiện diện, lắng nghe và cùng Con mình đi đến cùng con đường hiến tế.
Lắng nghe cũng đòi hỏi sự khiêm nhường. Người kiêu ngạo cho rằng mình đã biết hết, không cần ai góp ý. Người khiêm nhường hiểu rằng mình có thể sai, có thể thiếu sót và luôn cần học hỏi. Đức Maria được đầy ân sủng nhưng Mẹ vẫn lắng nghe. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa nhưng Mẹ vẫn giữ thái độ của một nữ tỳ. Mẹ không lấy địa vị cao trọng để buộc người khác phải phục vụ mình. Mẹ lên đường đến với bà Êlisabét và ở lại phục vụ người chị họ suốt ba tháng. Mẹ lắng nghe tiếng gọi của tình yêu và mau mắn đáp lại bằng hành động. Lắng nghe thật sự không dừng lại ở việc nghe, nhưng dẫn đến thay đổi và phục vụ. Khi nghe được tiếng Chúa mà đời sống không biến đổi, có thể ta mới chỉ nghe bằng tai chứ chưa nghe bằng lòng.
Trong đời sống đạo, ta có thể đọc rất nhiều sách, nghe rất nhiều bài giảng, tham dự nhiều khóa học, nhưng vẫn không trưởng thành nếu không biết lắng nghe và đem Lời Chúa ra thực hành. Có người thích nghe những bài giảng mới lạ nhưng lại không thay đổi cách cư xử với người thân. Có người thuộc nhiều câu Kinh Thánh nhưng vẫn nói lời làm tổn thương người khác. Có người siêng năng đọc kinh nhưng lại không nghe được tiếng kêu của người nghèo. Chúa Giêsu đã nói: “Ai có tai thì nghe.” Ai cũng có đôi tai thể lý, nhưng không phải ai cũng có đôi tai tâm hồn. Đức Maria là người đã nghe Lời Chúa, giữ lấy Lời và để Lời sinh hoa trái trong cuộc đời mình.
Trong ngày thứ nhất của hành trình này, mỗi người được mời gọi nhìn lại cách mình lắng nghe. Ta có thật sự nghe người khác nói hay chỉ chờ đến lượt mình lên tiếng? Ta có lắng nghe người thân hay chỉ nghe những người bên ngoài? Ta có nghe lời góp ý hay lập tức tự ái? Ta có nghe tiếng lương tâm khi làm điều sai trái hay tìm cách biện minh? Ta có lắng nghe Lời Chúa trong Thánh Kinh và trong các biến cố hằng ngày không? Ta có dành cho Chúa một khoảng thinh lặng hay mọi giờ phút đều bị lấp đầy bởi màn hình, công việc và những âm thanh không cần thiết?
Hôm nay, hãy tập một việc rất nhỏ: khi một người nói với ta, hãy nhìn họ, để điện thoại xuống, không ngắt lời, không vội phán xét và không chuẩn bị câu trả lời khi họ còn đang nói. Hãy cố gắng nghe cả những điều họ nói lẫn những điều họ chưa thể nói thành lời. Trong cầu nguyện, sau khi đọc kinh, hãy dành vài phút thinh lặng. Đừng bắt Chúa phải trả lời ngay. Chỉ cần ở trước mặt Người như Đức Maria đã ở trước mặt sứ thần. Hãy mở lòng và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy phán, vì con đang lắng nghe.” Trong ngày sống, hãy chú ý đến những dấu chỉ nhỏ bé: một người cần được hỏi thăm, một người đang cần được giúp đỡ, một người lâu ngày không ai trò chuyện, một thành viên trong gia đình đang lặng lẽ mang một nỗi buồn.
Có thể ta sẽ nhận ra rằng lâu nay mình đã nói quá nhiều và nghe quá ít. Có thể ta sẽ thấy nhiều lần mình làm tổn thương người khác vì không nghe hết câu chuyện. Có thể ta sẽ hiểu rằng một số xung đột không đến từ ác ý, nhưng từ việc hai bên đều muốn được nghe mà không ai chịu lắng nghe. Đừng thất vọng khi nhận ra những giới hạn của mình. Đức Maria không kết án nhưng dịu dàng dẫn ta trở lại. Mẹ mời ta bắt đầu từ hôm nay, từ một cuộc trò chuyện, một giờ cầu nguyện, một lần kiềm chế không nói lời nóng giận.
Mẹ Maria là Trinh Vương không phải vì Mẹ ngồi trên ngai vàng trần thế, nhưng vì Mẹ để Thiên Chúa hoàn toàn ngự trị trong tâm hồn. Ngai tòa của Mẹ được xây bằng sự khiêm nhường, vâng phục và lắng nghe. Mẹ làm Nữ Vương bởi Mẹ đã trở thành người môn đệ hoàn hảo của Lời. Mẹ không đặt ý mình trên ý Chúa, nhưng đặt cuộc đời mình trong bàn tay Chúa. Vì thế, sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương là học để Thiên Chúa cũng được làm Vua trong lòng ta. Muốn như vậy, điều đầu tiên ta phải làm là lắng nghe Người.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ của sự lắng nghe và thinh lặng, xin dạy con biết dừng lại giữa những ồn ào của cuộc sống. Xin giúp con biết nghe tiếng Chúa trong Lời Người, trong lương tâm, trong những biến cố và trong những con người Chúa gửi đến. Xin cho con đừng chỉ nghe những điều hợp ý mình, nhưng biết khiêm nhường đón nhận cả những lời góp ý, sửa dạy và mời gọi hoán cải. Xin dạy con biết lắng nghe người thân bằng một trái tim không phán xét, biết lắng nghe người đau khổ bằng sự cảm thông, biết lắng nghe người nghèo bằng lòng trắc ẩn và biết lắng nghe những người bé nhỏ mà thế gian thường bỏ quên.
Lạy Mẹ, đã nhiều lần con nói mà không nghe, đã nhiều lần con vội vàng kết luận khi chưa hiểu rõ, đã nhiều lần con làm người khác đau lòng vì sự nóng nảy và thành kiến. Xin Mẹ giúp con sửa đổi. Xin ban cho gia đình con biết lắng nghe nhau, để những khoảng cách được thu hẹp, những hiểu lầm được tháo gỡ và những vết thương được chữa lành. Xin giúp các bậc cha mẹ biết nghe con cái, con cái biết nghe cha mẹ, vợ chồng biết lắng nghe và nâng đỡ nhau. Xin cho các cộng đoàn Kitô hữu biết lắng nghe tiếng Chúa và lắng nghe nhau để cùng bước đi trong hiệp nhất.
Hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Mẹ, con quyết tâm bớt một lời nói không cần thiết, dành thêm một phút thinh lặng trước Chúa và lắng nghe một người bằng tất cả sự hiện diện của mình. Xin Mẹ nắm tay con trong ngày đầu tiên này. Xin Mẹ dạy con biết lắng nghe như Mẹ, để con có thể thưa lời xin vâng trong mọi hoàn cảnh và để Lời Chúa được lớn lên, sinh hoa kết quả trong cuộc đời con. Amen.
30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG
NGÀY 2 – MẸ DẠY CON XIN VÂNG
Trong hành trình ba mươi ngày sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, ngày thứ hai đưa chúng ta trở về với một lời rất ngắn nhưng đã làm thay đổi cả lịch sử nhân loại: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời “xin vâng” của Đức Maria không phải là một câu nói được thốt lên trong phút giây bồng bột, cũng không phải là sự chấp nhận dễ dàng trước một con đường đã được nhìn thấy rõ ràng. Đó là lời đáp của một tâm hồn hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, một tâm hồn dám trao tương lai, danh dự, sự an toàn và cả mạng sống của mình cho chương trình nhiệm mầu của Người. Khi sứ thần Gabriel đến với Đức Maria, Mẹ đang sống một cuộc đời bình dị tại làng Nazareth. Mẹ đã đính hôn với thánh Giuse và chắc hẳn cũng có những ước mơ rất đơn sơ về một mái ấm gia đình. Thế nhưng Thiên Chúa đã bước vào cuộc đời Mẹ bằng một lời mời gọi vượt quá mọi suy nghĩ của con người: Mẹ sẽ cưu mang và sinh hạ Con Đấng Tối Cao. Trước lời truyền tin ấy, Đức Maria bối rối. Mẹ không hiểu hết mọi sự. Mẹ hỏi sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Câu hỏi của Mẹ không phải là sự nghi ngờ, chống đối hay đòi Thiên Chúa phải chứng minh. Mẹ hỏi để hiểu mình phải cộng tác với Chúa thế nào. Và khi được sứ thần cho biết quyền năng Thánh Thần sẽ bao phủ Mẹ, Đức Maria đã không đòi thêm một dấu chỉ nào cho riêng mình, không đặt ra một điều kiện nào để bảo đảm tương lai, nhưng khiêm tốn cúi mình thưa lời xin vâng.
Lời xin vâng của Đức Maria bắt nguồn từ một đức tin sâu xa. Mẹ tin rằng Thiên Chúa là Đấng trung tín. Mẹ tin rằng điều Thiên Chúa muốn luôn tốt đẹp, dù trong giây phút hiện tại con người chưa thể hiểu hết. Mẹ tin rằng quyền năng của Thiên Chúa có thể thực hiện những điều tưởng như không thể. Vì tin nên Mẹ dám phó thác. Vì phó thác nên Mẹ dám vâng phục. Và vì vâng phục nên Mẹ trở thành người nữ diễm phúc, trở thành Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, trở thành người cộng tác cách đặc biệt vào công trình cứu độ của Thiên Chúa. Lời xin vâng của Mẹ mở cửa tâm hồn để Thiên Chúa đi vào lịch sử loài người. Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người trong cung lòng Đức Maria, không phải vì Mẹ có quyền lực, địa vị hay sự giàu có, nhưng vì Mẹ đã hoàn toàn để cho Thiên Chúa thực hiện ý định của Người nơi cuộc đời mình. Chính trong sự nhỏ bé, khiêm nhường và vâng phục ấy, Đức Maria được tôn vinh làm Trinh Vương. Vương quyền của Mẹ không được xây dựng bằng sức mạnh trần gian, nhưng bằng sự hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Triều thiên của Mẹ được kết bằng những lời xin vâng âm thầm trong suốt cả cuộc đời.
Thật vậy, lời xin vâng tại Nazareth không phải là lời xin vâng duy nhất của Đức Maria. Đó là khởi đầu của một chuỗi những lời xin vâng kéo dài cho đến chân thập giá. Mẹ xin vâng khi phải đối diện với ánh mắt nghi ngờ của người đời. Mẹ xin vâng khi thánh Giuse chưa hiểu điều đang xảy ra nơi Mẹ. Mẹ xin vâng khi phải lên đường về Bêlem trong những ngày sắp sinh con. Mẹ xin vâng khi không tìm được chỗ trong quán trọ và phải sinh Con Thiên Chúa nơi máng cỏ nghèo hèn. Mẹ xin vâng khi giữa đêm khuya phải bồng Con trốn sang Ai Cập để tránh bàn tay sát hại của vua Hêrôđê. Mẹ xin vâng trong những năm tháng sống âm thầm tại Nazareth, làm những công việc nhỏ bé và bình thường của một người mẹ. Mẹ xin vâng khi Con bắt đầu đời sống công khai và rời mái nhà gia đình. Mẹ xin vâng khi nghe người ta chống đối, vu khống và loại trừ Con mình. Mẹ xin vâng khi đứng dưới chân thập giá, nhìn Con yêu dấu chịu đóng đinh và chết trong đau đớn. Có những lúc Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ vẫn tin. Có những lúc lòng Mẹ bị lưỡi gươm đâm thâu, nhưng Mẹ vẫn trung thành. Có những lúc mọi hy vọng dường như đã bị chôn vùi trong ngôi mộ, nhưng Mẹ vẫn kiên trì chờ đợi. Lời xin vâng của Đức Maria không loại trừ đau khổ, nhưng giúp Mẹ đi qua đau khổ trong niềm tin. Lời xin vâng không làm con đường trở nên dễ dàng, nhưng làm cho con đường ấy trở thành con đường có Thiên Chúa đồng hành.
Ngày hôm nay, Đức Maria Trinh Vương cũng dạy mỗi người chúng ta biết thưa lời xin vâng với Thiên Chúa. Nhiều khi chúng ta muốn theo Chúa, nhưng chỉ muốn theo khi con đường của Chúa trùng với ý riêng của mình. Chúng ta dễ dàng xin vâng khi mọi việc thuận lợi, khi lời cầu nguyện được nhận lời, khi gia đình bình an, công việc thành công và sức khỏe ổn định. Nhưng khi thử thách xảy đến, khi kế hoạch bị đảo lộn, khi bệnh tật ghé thăm, khi bị hiểu lầm, khi phải hy sinh hoặc khi Thiên Chúa mời gọi bước ra khỏi vùng an toàn, lời xin vâng trở nên khó khăn. Chúng ta bắt đầu hỏi tại sao Chúa lại để điều này xảy ra, tại sao Chúa không làm theo điều chúng ta cầu xin, tại sao Chúa im lặng trước nỗi đau của chúng ta. Trong những lúc ấy, Đức Maria không trách cứ chúng ta, nhưng nhẹ nhàng nhắc chúng ta rằng xin vâng không có nghĩa là đã hiểu tất cả; xin vâng là tin rằng Thiên Chúa hiểu tất cả. Xin vâng không có nghĩa là không còn sợ hãi; xin vâng là dù sợ hãi vẫn đặt tay mình trong tay Chúa. Xin vâng không phải là thái độ cam chịu thụ động, nhưng là sự cộng tác tích cực với ân sủng. Người xin vâng không ngồi yên để mặc cho cuộc đời trôi đi, nhưng lắng nghe Chúa, phân định ý Chúa và can đảm thực hiện điều Chúa muốn.
Lời xin vâng cũng cần được sống trong những điều rất nhỏ bé mỗi ngày. Có khi Chúa không yêu cầu chúng ta làm những việc lớn lao, nhưng mời gọi chúng ta xin vâng trong bổn phận hiện tại. Một người cha xin vâng khi trung thành chăm lo cho gia đình, dù công việc vất vả. Một người mẹ xin vâng khi kiên nhẫn nuôi dạy con cái, âm thầm hy sinh mà ít khi được nhìn nhận. Một người trẻ xin vâng khi sống trung thực, trong sạch và có trách nhiệm giữa một môi trường đầy cám dỗ. Một người đau bệnh xin vâng khi đón nhận giới hạn của mình với niềm tín thác, đồng thời tích cực chữa trị và không để đau khổ làm mình trở nên cay đắng. Một người sống đời thánh hiến xin vâng khi trung thành với lời khấn, với cộng đoàn và sứ vụ, kể cả trong những ngày không còn cảm thấy hứng khởi. Một linh mục xin vâng khi tiếp tục phục vụ đoàn chiên bằng lòng yêu mến, ngay cả lúc mệt mỏi, cô đơn hay bị hiểu lầm. Mỗi lời xin vâng nhỏ bé được dâng lên trong tình yêu đều có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta có thể không thấy ngay hoa trái, nhưng Thiên Chúa có thể dùng sự trung tín âm thầm của chúng ta để đem lại bình an, chữa lành và ơn cứu độ cho nhiều người.
Đức Maria còn dạy chúng ta rằng muốn xin vâng, trước hết phải biết lắng nghe. Mẹ đã có thể nhận ra tiếng Chúa vì tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa. Một tâm hồn đầy ắp tiếng ồn, tham vọng, lo lắng và ý riêng sẽ rất khó nhận biết điều Thiên Chúa muốn. Chúng ta thường xin Chúa chỉ đường, nhưng lại không dành thời gian thinh lặng để nghe Người. Chúng ta xin Chúa hướng dẫn, nhưng trong lòng đã quyết định sẵn điều mình muốn làm. Chúng ta đọc kinh rất nhiều, nhưng đôi khi chỉ nói với Chúa mà không để Chúa nói với mình. Nhìn lên Đức Maria, chúng ta được mời gọi trở về với thinh lặng nội tâm, chuyên cần lắng nghe Lời Chúa và suy đi nghĩ lại trong lòng. Khi Lời Chúa được đón nhận, ánh sáng sẽ dần xuất hiện. Có thể Thiên Chúa không cho chúng ta thấy toàn bộ con đường, nhưng Người luôn ban đủ ánh sáng cho bước chân kế tiếp. Đức Maria không được cho biết trước mọi biến cố sẽ xảy ra trong đời Mẹ. Mẹ chỉ nhận được lời mời gọi cho giây phút hiện tại, và Mẹ đã xin vâng. Chính từng lời xin vâng nối tiếp nhau đã đưa Mẹ đi trọn con đường Thiên Chúa dành cho Mẹ.
Có những người sợ thưa xin vâng vì nghĩ rằng làm theo ý Chúa là đánh mất tự do và hạnh phúc. Nhưng Đức Maria cho thấy điều ngược lại. Mẹ hoàn toàn tự do khi thưa xin vâng, bởi Mẹ không bị nô lệ cho cái tôi, sự sợ hãi hay những tính toán ích kỷ. Sự vâng phục của Mẹ không hủy diệt tự do, nhưng đưa tự do đạt đến sự viên mãn. Con người chỉ thật sự tự do khi có khả năng chọn điều thiện, chọn yêu thương và chọn Thiên Chúa. Khi khăng khăng giữ ý riêng, chúng ta tưởng mình tự do, nhưng nhiều khi lại trở thành nô lệ cho tham vọng, tự ái, đam mê và sự kiểm soát. Khi thưa xin vâng với Thiên Chúa, chúng ta không đánh mất chính mình, nhưng tìm lại căn tính sâu xa nhất của mình trong tình yêu của Người. Thiên Chúa không lấy đi điều tốt đẹp nơi chúng ta. Người thanh luyện, kiện toàn và làm cho cuộc đời chúng ta sinh hoa trái vượt quá những gì chúng ta có thể tự mình thực hiện.
Tuy nhiên, xin vâng không đồng nghĩa với việc nhắm mắt làm theo mọi tiếng nói hay cam chịu trước bất công. Đức Maria xin vâng với Thiên Chúa, chứ không phải với sự dữ. Vì thế, người Kitô hữu cần phân định để nhận ra đâu là ý Chúa. Ý Chúa không bao giờ trái với Tin Mừng, không dẫn chúng ta vào tội lỗi, không buộc chúng ta chà đạp phẩm giá của mình hay của người khác. Có những hoàn cảnh chúng ta phải can đảm nói không với điều xấu để có thể nói xin vâng với Thiên Chúa. Nói không với gian dối là xin vâng với sự thật. Nói không với hận thù là xin vâng với tình yêu. Nói không với tham lam là xin vâng với sự công bằng. Nói không với một mối quan hệ độc hại, bạo lực hay tội lỗi cũng có thể là một lời xin vâng trước ý muốn bảo vệ sự sống và phẩm giá con người của Thiên Chúa. Đức Maria hiền lành nhưng không yếu đuối; khiêm nhường nhưng không nhu nhược; vâng phục nhưng hoàn toàn tự do và can đảm.
Trong ngày thứ hai này, chúng ta hãy nhìn lại những nơi trong đời mình đang khó thưa xin vâng. Có thể đó là một bổn phận chúng ta đang muốn trốn tránh, một người chúng ta chưa thể tha thứ, một quyết định cần được thực hiện theo lương tâm, một thói quen xấu cần từ bỏ, một sự thật về bản thân cần can đảm nhìn nhận, một đau khổ phải học cách đón nhận hoặc một lời mời gọi của Chúa mà chúng ta vẫn trì hoãn. Chúng ta hãy thành thật nói với Mẹ: “Mẹ ơi, con muốn xin vâng, nhưng con còn sợ. Con muốn làm theo ý Chúa, nhưng ý riêng của con còn quá mạnh. Con muốn trao phó, nhưng con vẫn muốn kiểm soát mọi sự. Xin Mẹ cầm tay con, dạy con tin như Mẹ đã tin, dạy con phó thác như Mẹ đã phó thác.” Mẹ không đòi chúng ta phải trở nên hoàn hảo ngay lập tức. Mẹ chỉ mời chúng ta bắt đầu bằng một lời xin vâng chân thành trong ngày hôm nay.
Hôm nay, mỗi khi gặp một điều trái ý, thay vì phản ứng nóng nảy, chúng ta hãy dừng lại và thưa: “Lạy Chúa, xin cho con nhận ra điều Chúa muốn dạy con.” Khi phải làm một việc bổn phận, thay vì than phiền, chúng ta hãy âm thầm dâng lên Chúa. Khi đối diện với một người khó yêu, chúng ta hãy xin Mẹ giúp mình biết kiên nhẫn và nhìn họ bằng ánh mắt thương xót. Khi tương lai làm chúng ta lo lắng, hãy nhớ rằng Đức Maria đã trao tương lai cho Thiên Chúa mà không có trong tay bất cứ bảo đảm nào ngoài lời của Người. Mỗi lần chúng ta thưa xin vâng, dù rất nhỏ, là mỗi lần chúng ta cho phép Thiên Chúa bước vào và hành động trong cuộc đời mình.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã thưa xin vâng trong đức tin, khi chưa nhìn thấy trọn vẹn con đường phía trước. Mẹ đã thưa xin vâng trong khó nghèo, trong âm thầm, trong thử thách và dưới chân thập giá. Xin Mẹ dạy con biết lắng nghe tiếng Chúa giữa những ồn ào của cuộc đời. Xin giúp con từ bỏ ý riêng ích kỷ để tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa. Xin cho con đừng chỉ xin vâng bằng môi miệng, nhưng biết xin vâng bằng những chọn lựa, hy sinh và việc làm cụ thể. Khi con sợ hãi, xin Mẹ nhắc con rằng Thiên Chúa luôn trung tín. Khi con không hiểu, xin Mẹ dạy con biết tin tưởng. Khi con muốn bỏ cuộc, xin Mẹ giúp con đứng vững và tiếp tục bước đi. Xin cho lời xin vâng của con hôm nay, dù nhỏ bé và yếu đuối, cũng trở thành một khoảng trống để Chúa Giêsu được sinh ra, lớn lên và hiện diện trong cuộc đời con. Lạy Mẹ Maria Trinh Vương, xin hướng dẫn con biết sống từng ngày với tâm tình: “Này con đây, con là tôi tớ của Chúa, xin Chúa thực hiện nơi con điều đẹp ý Người.” Amen.
NGÀY 3 – MẸ DẠY CON KHIÊM NHƯỜNG
Khi nghĩ đến Đức Maria Trinh Vương, người ta có thể nghĩ đến một người Mẹ được đội triều thiên, được tôn vinh trên các thiên thần và các thánh, được Hội Thánh ca tụng là Nữ Vương trời đất. Thế nhưng, con đường đưa Mẹ đến vinh quang không phải là con đường của quyền lực, danh tiếng hay sự tự tôn. Con đường của Mẹ là con đường khiêm nhường. Chính vì Mẹ đã tự hạ trước mặt Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã nâng Mẹ lên. Chính vì Mẹ không tìm vinh quang cho mình, nên muôn thế hệ đã khen Mẹ diễm phúc. Chính vì Mẹ tự nhận mình chỉ là nữ tỳ hèn mọn của Chúa, nên Mẹ đã được chọn làm Mẹ của Ngôi Lời nhập thể và được tôn kính là Nữ Vương của toàn thể tạo thành.
Khiêm nhường là vẻ đẹp sâu xa nhất nơi tâm hồn Đức Maria. Trong biến cố Truyền Tin, khi sứ thần Gabriel hiện đến và cất lời chào: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”, Mẹ không tự mãn, không vui sướng vì được ca tụng, cũng không nghĩ rằng mình cao trọng hơn những người khác. Tin Mừng kể rằng Mẹ bối rối và tự hỏi lời chào ấy có ý nghĩa gì. Sự bối rối của Mẹ cho thấy một tâm hồn trong sáng, không quen nghe những lời tán dương, không tìm kiếm địa vị và cũng không nghĩ mình xứng đáng với một ân huệ lớn lao như thế. Khi hiểu được chương trình của Thiên Chúa, Mẹ chỉ thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Mẹ không nói: “Tôi là người được tuyển chọn.” Mẹ không nói: “Tôi sẽ trở thành người phụ nữ cao trọng nhất.” Mẹ chỉ nhận mình là nữ tỳ. Đó là sự khiêm nhường chân thật: biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa và để cho Thiên Chúa thực hiện điều Người muốn.
Khiêm nhường không phải là tự coi thường mình, cũng không phải là phủ nhận những khả năng và ân huệ Thiên Chúa ban. Người khiêm nhường không nói rằng mình vô dụng, không có giá trị hay không làm được điều gì. Khiêm nhường là nhìn nhận mọi sự tốt đẹp nơi mình đều bắt nguồn từ Thiên Chúa. Đức Maria biết rằng Mẹ được Thiên Chúa ban cho những ân huệ đặc biệt, nhưng Mẹ không chiếm giữ những ân huệ ấy làm của riêng. Trong bài ca Magnificat, Mẹ đã thốt lên: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới.” Mẹ không phủ nhận việc mình được chúc phúc. Mẹ biết rằng từ nay hết mọi đời sẽ khen Mẹ diễm phúc. Nhưng Mẹ lập tức quy hướng tất cả về Thiên Chúa: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Mẹ không nói mình đã làm được những điều cao cả, nhưng tuyên xưng chính Thiên Chúa đã làm những điều cao cả nơi Mẹ.
Đó cũng là bài học đầu tiên Mẹ muốn dạy mỗi người chúng ta trong ngày thứ ba của hành trình sống dưới sự hướng dẫn của Mẹ: hãy tập nhìn nhận mọi sự mình có là quà tặng. Tài năng là quà tặng. Sức khỏe là quà tặng. Thành công là quà tặng. Chức vụ là quà tặng. Cơ hội phục vụ là quà tặng. Đức tin là quà tặng. Ngay cả khả năng cầu nguyện, làm việc thiện và hy sinh cho người khác cũng là ân sủng Thiên Chúa ban. Khi ý thức như thế, ta sẽ không còn lý do để kiêu ngạo, khinh thường hay so sánh mình với người khác. Ta chỉ có thể cảm tạ và cố gắng sử dụng những gì đã lãnh nhận để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.
Trong đời sống thường ngày, lòng kiêu ngạo thường ẩn mình rất khéo léo. Không phải lúc nào kiêu ngạo cũng biểu lộ qua những lời khoe khoang lớn tiếng. Có khi kiêu ngạo xuất hiện trong việc ta luôn muốn mình đúng. Ta không chịu lắng nghe, không chấp nhận góp ý, không muốn người khác sửa lỗi cho mình. Chỉ một lời phê bình nhỏ cũng làm ta khó chịu. Chỉ một lần người khác không công nhận công lao của ta cũng khiến ta buồn bực. Ta có thể phục vụ rất nhiều, nhưng lại âm thầm chờ đợi được khen. Ta có thể hy sinh, nhưng muốn người khác biết đến sự hy sinh của mình. Ta có thể làm việc cho cộng đoàn, nhưng nếu tên mình không được nhắc tới, ta cảm thấy bị coi thường. Ta có thể nói mình làm mọi sự vì Chúa, nhưng trong lòng vẫn mong được chú ý, được công nhận và được xem là quan trọng.
Đức Maria thì hoàn toàn khác. Mẹ hiện diện trong những biến cố quan trọng nhất của lịch sử cứu độ, nhưng luôn âm thầm. Mẹ cưu mang Con Thiên Chúa, sinh Người trong hang đá, đưa Người trốn sang Ai Cập, nuôi dưỡng Người tại Nazareth và đồng hành với Người đến tận đồi Canvê. Mẹ đã làm những việc không một thụ tạo nào khác có thể làm, nhưng Mẹ không bao giờ tìm cách đặt mình ở vị trí trung tâm. Trung tâm cuộc đời Mẹ luôn là Chúa Giêsu. Mẹ không giữ người ta lại với mình, nhưng luôn đưa họ đến với Con của Mẹ. Tại tiệc cưới Cana, sau khi nhận ra gia đình chủ tiệc đã hết rượu, Mẹ không tìm cách tự mình giải quyết vấn đề để được ca ngợi. Mẹ đến với Chúa Giêsu và sau đó nói với những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó là lời của một người hoàn toàn quên mình. Mẹ chỉ cho người ta thấy Chúa Giêsu, rồi âm thầm lui lại phía sau.
Sống khiêm nhường là tập để cho Chúa Giêsu lớn lên và cái tôi của mình nhỏ lại. Điều này không dễ, bởi con người tự nhiên luôn muốn được nhìn thấy, được nghe đến và được công nhận. Ta muốn người khác làm theo ý mình. Ta muốn lời mình có trọng lượng. Ta muốn công việc mình làm được đánh giá cao. Ta muốn những hy sinh của mình được ghi nhận. Nhưng Đức Maria nhắc chúng ta rằng giá trị của một việc tốt không nằm ở chỗ có bao nhiêu người biết đến, mà ở chỗ việc ấy được làm với bao nhiêu tình yêu trước mặt Thiên Chúa. Một việc nhỏ được làm trong âm thầm nhưng với lòng yêu mến chân thành có thể quý giá hơn một công việc lớn được thực hiện để tìm tiếng khen.
Mẹ đã sống gần ba mươi năm âm thầm tại Nazareth. Đó là những năm tháng không có đám đông, không có tiếng tung hô, không có những việc lạ lùng được người đời biết đến. Mẹ nấu ăn, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc Thánh Giuse và Hài Nhi Giêsu. Những việc rất bình thường ấy đã trở thành thánh thiện vì được Mẹ làm với một tình yêu phi thường. Mẹ không cho rằng mình là Mẹ Đấng Cứu Thế nên không cần làm những việc nhỏ bé. Trái lại, chính trong những bổn phận âm thầm ấy, Mẹ đã sống trọn vẹn ơn gọi của mình. Mẹ dạy chúng ta rằng khiêm nhường không nằm ở những lời nói đẹp, nhưng được thể hiện qua việc vui lòng làm những điều nhỏ bé, những việc không ai để ý, những công việc không đem lại danh tiếng.
Có những người chỉ muốn làm những việc lớn, nhưng lại tránh những việc nhỏ. Có người sẵn sàng đứng trước đám đông để nói về tình yêu, nhưng không sẵn lòng rửa một chiếc chén trong gia đình. Có người muốn tham gia những hoạt động nổi bật, nhưng không muốn âm thầm chăm sóc người già yếu. Có người muốn được trao trách nhiệm quan trọng, nhưng lại khó chịu khi phải làm một việc bình thường. Đôi khi ta nghĩ rằng những việc nhỏ không xứng với khả năng của mình. Chính lúc ấy, Mẹ Maria mời gọi ta trở về Nazareth để học lại bài học khiêm nhường. Trong nhà Nazareth, Con Thiên Chúa đã sống như một người thợ. Mẹ Thiên Chúa đã sống như một người nội trợ. Thánh Giuse, người được trao phó kho tàng cao quý nhất của Thiên Chúa, đã âm thầm lao động để nuôi sống gia đình. Trước mặt Thiên Chúa, không có việc nào thấp hèn khi việc ấy được thực hiện vì tình yêu.
Khiêm nhường còn là biết lắng nghe. Người kiêu ngạo thường nói nhiều về mình, về suy nghĩ của mình và về những việc mình đã làm. Người khiêm nhường biết lắng nghe người khác, bởi họ không cho rằng mình đã biết tất cả. Đức Maria là người nữ của sự lắng nghe. Mẹ lắng nghe lời sứ thần. Mẹ lắng nghe lời bà Êlisabét. Mẹ lắng nghe lời các mục đồng. Mẹ lắng nghe lời ông Simêon trong Đền Thờ. Mẹ lắng nghe những lời Chúa Giêsu nói và ghi nhớ tất cả trong lòng. Có những điều Mẹ chưa hiểu ngay, nhưng Mẹ không vội phản đối hay xét đoán. Mẹ giữ lấy, suy đi nghĩ lại và chờ đợi ánh sáng của Thiên Chúa. Mẹ không bắt Thiên Chúa phải giải thích mọi sự cho mình trước khi Mẹ vâng phục.
Trong khi đó, chúng ta thường khó lắng nghe vì nghĩ mình biết rồi. Khi người khác nói, ta đã chuẩn bị sẵn câu trả lời. Khi được góp ý, ta tìm cách biện minh. Khi nghe một quan điểm khác, ta vội cho rằng người kia sai. Ta muốn người khác hiểu mình nhưng lại ít cố gắng hiểu người khác. Ta muốn người khác đón nhận ý kiến của mình nhưng không sẵn lòng đón nhận ý kiến của họ. Mẹ dạy ta rằng muốn trở nên khiêm nhường, trước hết phải biết im lặng. Im lặng để nghe Chúa. Im lặng để nghe người bên cạnh. Im lặng để nhận ra những giới hạn và sai lầm của chính mình. Nhiều cuộc xung đột trong gia đình và cộng đoàn sẽ được hóa giải nếu mỗi người biết bớt nói về mình và biết lắng nghe người khác nhiều hơn.
Khiêm nhường cũng là dám nhận lỗi. Người kiêu ngạo sợ nhận lỗi vì nghĩ rằng nhận lỗi sẽ làm mình mất giá trị. Nhưng thật ra, người dám nói lời xin lỗi mới là người mạnh mẽ. Xin lỗi không làm ta nhỏ đi, nhưng giúp ta trưởng thành. Có những gia đình sống trong lạnh nhạt nhiều năm chỉ vì không ai chịu nói lời xin lỗi trước. Có những mối tương quan bị đổ vỡ không phải vì lỗi lầm quá lớn, nhưng vì mỗi người đều muốn bảo vệ cái tôi của mình. Ai cũng chờ người kia xuống nước. Ai cũng nghĩ rằng mình bị tổn thương nhiều hơn. Ai cũng muốn người kia thay đổi trước. Mẹ Maria mời ta bước xuống khỏi chiếc ngai của tự ái để chủ động làm hòa, để dám nói: “Tôi đã sai”, “Xin hãy tha thứ cho tôi”, “Tôi đã làm bạn buồn”, “Chúng ta hãy bắt đầu lại.”
Khiêm nhường không làm con người trở nên yếu đuối, trái lại, khiêm nhường đem lại một sức mạnh phi thường. Đức Maria là người khiêm nhường nhất nhưng cũng là người can đảm nhất. Mẹ đủ can đảm để thưa tiếng xin vâng dù chưa biết tương lai sẽ ra sao. Mẹ đủ can đảm để đối diện với nguy cơ bị hiểu lầm khi mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Mẹ đủ can đảm để lên đường đến Bêlem trong những ngày sắp sinh. Mẹ đủ can đảm để đưa Con trốn sang Ai Cập. Mẹ đủ can đảm để đứng dưới chân thập giá khi nhiều môn đệ đã bỏ trốn. Sự khiêm nhường của Mẹ không phải là sự sợ hãi hay thụ động. Mẹ không yếu đuối trước sự dữ, nhưng mạnh mẽ trong sự tín thác. Vì không dựa vào mình, Mẹ hoàn toàn dựa vào Thiên Chúa. Chính vì thế, Mẹ có thể đứng vững giữa những thử thách mà sức riêng của con người không thể chịu nổi.
Người kiêu ngạo tưởng rằng mình mạnh vì không cần ai. Người khiêm nhường biết mình yếu và cần đến Thiên Chúa. Người kiêu ngạo nói: “Tôi có thể tự làm tất cả.” Người khiêm nhường thưa: “Lạy Chúa, nếu không có Chúa, con chẳng làm được gì.” Người kiêu ngạo che giấu sự yếu đuối của mình. Người khiêm nhường đặt sự yếu đuối ấy trong tay Thiên Chúa và để cho sức mạnh của Người hoạt động. Bởi thế, khiêm nhường không phải là chối bỏ bản thân, mà là đặt bản thân đúng vị trí: con là thụ tạo, Chúa là Đấng Tạo Hóa; con là người được yêu thương, Chúa là nguồn mạch tình yêu; con là người cộng tác, Chúa mới là Đấng hoàn thành mọi sự.
Dưới chân thập giá, sự khiêm nhường của Mẹ đạt đến mức trọn vẹn. Mẹ đã nghe sứ thần loan báo rằng Con của Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ được trao ngai vàng vua Đavít và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận. Thế nhưng, trên đồi Canvê, Mẹ lại nhìn thấy Người bị kết án, bị chế nhạo, bị đóng đinh và chết như một tội nhân. Mẹ không hiểu hết mầu nhiệm ấy, nhưng Mẹ vẫn tin. Mẹ không đòi Thiên Chúa phải giải thích. Mẹ không nói rằng mình đã hy sinh quá nhiều nên không đáng phải chịu đau khổ như vậy. Mẹ không dùng địa vị làm Mẹ Thiên Chúa để xin được miễn trừ khỏi thập giá. Mẹ đứng đó, lặng lẽ hiệp dâng Con và hiệp dâng chính mình. Khiêm nhường sâu xa nhất là vẫn tín thác khi chương trình của Thiên Chúa khác với mong muốn của ta.
Trong đời sống, ta thường dễ khiêm nhường khi mọi sự diễn ra thuận lợi. Nhưng khi gặp thất bại, bị hiểu lầm, bị bỏ quên hoặc phải chịu thiệt thòi, cái tôi bắt đầu phản ứng. Ta hỏi tại sao người khác được thành công còn mình lại thất bại. Ta đau vì không được đánh giá đúng. Ta buồn vì công sức mình không được ghi nhận. Ta khó chịu khi một người kém hơn mình lại được trao trách nhiệm lớn hơn. Ta ghen tị khi người khác được khen. Ta âm thầm so sánh và để lòng mình mất bình an. Những lúc ấy, hãy nhìn lên Mẹ. Mẹ là người cao trọng nhất nhưng chưa bao giờ tranh giành vị trí. Mẹ được tuyển chọn đặc biệt nhưng không coi thường bất cứ ai. Mẹ đầy ân sủng nhưng không xem mình vượt trội. Mẹ được tôn làm Nữ Vương nhưng luôn sống như một nữ tỳ.
Sự khiêm nhường đích thực giúp ta vui trước thành công của người khác. Người khiêm nhường không xem tài năng của người khác là một mối đe dọa. Họ không cần phải hạ thấp ai để nâng mình lên. Họ có thể khen ngợi người khác cách chân thành, bởi họ hiểu rằng mỗi người đều có một chỗ riêng trong chương trình của Thiên Chúa. Khi đến thăm bà Êlisabét, Đức Maria không nói về đặc ân lớn lao mình vừa lãnh nhận. Mẹ đến để phục vụ người chị họ lớn tuổi đang mang thai. Mẹ vui với niềm vui của bà Êlisabét. Mẹ ở lại khoảng ba tháng để giúp đỡ bà. Người đang cưu mang Con Thiên Chúa lại cúi xuống phục vụ một người khác. Đó chính là dấu chỉ chắc chắn của khiêm nhường: càng nhận được nhiều, càng thấy mình có trách nhiệm phục vụ nhiều hơn.
Chức vụ, địa vị và trách nhiệm không được ban để chúng ta đứng trên người khác, nhưng để phục vụ người khác. Người có quyền mà thiếu khiêm nhường dễ biến quyền bính thành phương tiện khẳng định bản thân. Họ muốn mọi người phải nghe mình, kính trọng mình và làm theo ý mình. Nhưng Đức Maria Trinh Vương cho thấy một kiểu vương quyền hoàn toàn khác. Mẹ là Nữ Vương vì Mẹ phục vụ. Mẹ cao trọng vì Mẹ biết cúi xuống. Mẹ quyền thế vì Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Vương quyền của Mẹ không đè nặng trên ai, nhưng che chở, nâng đỡ, an ủi và dẫn đưa con cái đến với Chúa Giêsu. Mẹ không cai trị bằng mệnh lệnh, nhưng hướng dẫn bằng tình yêu.
Ngày hôm nay, Mẹ mời gọi con xét lại cách con đang sống. Con có thường tìm lời khen không? Con có buồn khi người khác không công nhận mình không? Con có khó chịu khi bị góp ý không? Con có luôn muốn phần đúng thuộc về mình không? Con có âm thầm so sánh mình với người khác không? Con có ghen tị trước thành công của họ không? Con có xem thường những người ít học, nghèo khó, yếu đuối hoặc không có địa vị không? Con có sẵn sàng làm những việc nhỏ bé mà không ai biết đến không? Con có đủ khiêm nhường để nói lời xin lỗi, để nhận mình sai, để xin người khác giúp đỡ và để bắt đầu lại không?
Có thể con vẫn nghĩ mình là người khiêm nhường vì con ít nói hoặc không thích xuất hiện trước đám đông. Nhưng khiêm nhường không chỉ là vẻ bề ngoài. Một người có thể rất im lặng nhưng bên trong lại đầy tự ái. Một người có thể không khoe khoang bằng lời nói nhưng âm thầm xem thường người khác. Một người có thể từ chối lời khen ngoài miệng nhưng trong lòng lại mong được khen nhiều hơn. Vì thế, khiêm nhường phải bắt đầu từ bên trong, từ cách con nhìn nhận chính mình trước mặt Thiên Chúa. Con không cần phải chứng minh giá trị của mình bằng việc hơn người khác. Giá trị của con nằm ở chỗ con là con của Thiên Chúa, được Người yêu thương và cứu chuộc. Khi biết mình được yêu vô điều kiện, con không còn phải tranh giành lời khen hay sự công nhận.
Mẹ Maria không cần người đời khẳng định giá trị của Mẹ, bởi Mẹ biết Mẹ thuộc về Thiên Chúa. Khi một người biết mình thuộc về Chúa, họ có thể sống tự do. Họ không bị điều khiển bởi tiếng khen hay tiếng chê. Được khen, họ cảm tạ Chúa. Bị chê, họ bình tâm xét lại. Thành công, họ không tự cao. Thất bại, họ không tuyệt vọng. Được trao nhiệm vụ lớn, họ phục vụ với lòng biết ơn. Phải làm việc nhỏ, họ vẫn chu toàn với tình yêu. Họ không đặt giá trị bản thân trên ánh mắt thay đổi của người đời, nhưng trên tình yêu trung tín của Thiên Chúa.
Muốn học khiêm nhường với Mẹ, con hãy bắt đầu bằng những việc rất cụ thể. Hôm nay, con có thể nhường cho người khác nói trước. Con có thể lắng nghe mà không cắt ngang. Con có thể làm một việc tốt mà không kể cho ai. Con có thể vui lòng nhận một góp ý. Con có thể xin lỗi một người mình đã làm tổn thương. Con có thể cảm ơn người đã giúp mình. Con có thể khen một người mà lâu nay con vẫn âm thầm ghen tị. Con có thể phục vụ một người không có khả năng đáp trả. Con có thể nhận một việc nhỏ mà không than phiền. Con có thể cầu nguyện cho một người thành công hơn mình. Những việc ấy tuy nhỏ nhưng sẽ giúp cái tôi của con được thanh luyện từng ngày.
Khiêm nhường là một hành trình dài, bởi cái tôi luôn tìm cách trở lại. Hôm nay ta có thể khiêm nhường, nhưng ngày mai lại tự mãn. Hôm nay ta vui lòng phục vụ âm thầm, nhưng ngày mai lại mong được công nhận. Bởi thế, ta cần đến sự hướng dẫn liên lỉ của Mẹ. Mỗi sáng, hãy xin Mẹ giúp mình sống như một nữ tỳ, một tôi tớ nhỏ bé trong nhà Chúa. Mỗi tối, hãy cùng Mẹ nhìn lại những lúc ta đã tìm mình, bảo vệ mình, đề cao mình hoặc làm tổn thương người khác vì tự ái. Đừng thất vọng khi nhận ra mình còn nhiều kiêu ngạo. Việc nhìn thấy sự kiêu ngạo của bản thân đã là một bước đầu của khiêm nhường. Hãy trao những yếu đuối ấy cho Mẹ và xin Mẹ giúp ta bắt đầu lại.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ được Thiên Chúa nâng lên cao bởi Mẹ đã sống một đời khiêm nhường sâu thẳm. Xin dạy con biết nhận mình là một thụ tạo nhỏ bé, được sống hoàn toàn nhờ ân sủng và tình thương của Thiên Chúa. Xin giải thoát con khỏi lòng tự cao, tính tự ái, sự ganh tị và khát vọng được người khác công nhận. Xin giúp con biết vui trước những điều tốt đẹp nơi người khác, biết lắng nghe khi được góp ý, biết nhận lỗi khi sai và biết âm thầm làm những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao.
Lạy Mẹ, xin dạy con không tìm vinh quang cho mình, nhưng tìm vinh quang cho Thiên Chúa. Xin dạy con không giữ người khác lại với mình, nhưng luôn dẫn họ đến với Chúa Giêsu. Xin cho con biết cúi xuống để phục vụ, biết lui lại để người khác được lớn lên, biết im lặng để nghe được tiếng Chúa và biết đón nhận những giới hạn của mình trong bình an. Khi được thành công, xin giữ con khỏi tự mãn. Khi gặp thất bại, xin giữ con khỏi thất vọng. Khi được khen, xin cho con biết tạ ơn Chúa. Khi bị hiểu lầm, xin cho con biết kiên nhẫn và tín thác.
Lạy Mẹ là Nữ Vương khiêm nhường, xin đồng hành với con trong ngày hôm nay. Xin giúp con nhớ rằng mọi điều tốt đẹp nơi con đều là hồng ân. Xin cho lời nói, việc làm và cách cư xử của con không làm nổi bật cái tôi, nhưng làm cho khuôn mặt Chúa Giêsu được tỏ hiện. Xin dạy con biết thưa như Mẹ: “Này con là tôi tớ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho con như lời Người muốn.” Và xin cho con hiểu rằng con đường đi lên với Thiên Chúa luôn bắt đầu bằng việc cúi xuống trong yêu thương, bởi ai tự nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được Thiên Chúa nâng lên.
Thực hành ngày thứ ba: Hôm nay, con sẽ âm thầm làm một việc tốt mà không để người khác biết; con sẽ vui lòng đón nhận ít nhất một lời góp ý mà không biện minh; con sẽ chân thành khen ngợi một điều tốt nơi người khác; và trước khi đi ngủ, con sẽ thưa với Mẹ: “Lạy Mẹ Maria, xin dạy con biết sống nhỏ bé để Chúa được lớn lên trong con.”
NGÀY 4 – MẸ DẠY CON THINH LẶNG
Giữa một thế giới đầy âm thanh, con người hôm nay dường như sợ thinh lặng. Vừa thức dậy, nhiều người đã vội cầm lấy điện thoại để đọc tin tức, xem những dòng thông báo, nghe những câu chuyện đang được bàn tán. Trong ngày, người ta liên tục nói, liên tục nghe, liên tục phản ứng và liên tục bày tỏ ý kiến. Tối đến, dù thân xác đã mệt mỏi, tâm trí vẫn bị lấp đầy bởi những tiếng động, những hình ảnh và những cuộc trò chuyện không bao giờ dứt. Người ta sống giữa rất nhiều âm thanh nhưng lại ngày càng khó nghe được tiếng nói sâu thẳm của tâm hồn. Người ta biết nhiều chuyện đang xảy ra chung quanh nhưng lại không biết điều gì đang xảy ra trong chính lòng mình. Người ta dễ dàng nói về người khác nhưng ít khi đủ can đảm để thinh lặng nhìn lại bản thân. Chính trong một thế giới ồn ào như thế, Đức Maria Trinh Vương hiện lên như một người Mẹ của thinh lặng, một người Mẹ không nói nhiều nhưng mỗi lời Mẹ nói đều phát xuất từ một tâm hồn đầy tràn Thiên Chúa. Mẹ không dùng những lời lớn lao để chứng minh giá trị của mình. Mẹ không tìm cách làm cho người khác chú ý đến mình. Mẹ không vội vàng lên tiếng trước mọi biến cố. Mẹ biết im lặng để lắng nghe, biết âm thầm để suy niệm, biết giữ kín trong lòng những điều chưa thể hiểu và biết trao tất cả cho Thiên Chúa. Vì thế, bước vào ngày thứ tư sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, Mẹ mời gọi mỗi người chúng ta học lại bài học tưởng như rất đơn giản nhưng vô cùng khó khăn: bài học thinh lặng.
Thinh lặng của Đức Maria không phải là sự câm nín vì sợ hãi, cũng không phải là thái độ thờ ơ trước những gì đang xảy ra. Thinh lặng của Mẹ là một sự hiện diện sâu xa, một sự lắng nghe trọn vẹn và một thái độ mở lòng để Thiên Chúa hành động. Trong biến cố Truyền Tin, trước lời chào và sứ điệp của sứ thần Gabriel, Mẹ không phản ứng hấp tấp. Mẹ bối rối và tự hỏi lời chào ấy có ý nghĩa gì. Mẹ không vội tin theo một cách mù quáng, nhưng cũng không dùng những lý luận của mình để khước từ chương trình Thiên Chúa. Mẹ lắng nghe, suy nghĩ, đặt câu hỏi và cuối cùng thưa lời xin vâng. Chính trong thinh lặng, Mẹ nhận ra tiếng Chúa. Chính trong thinh lặng, Mẹ phân định điều Thiên Chúa muốn. Chính trong thinh lặng, Mẹ có đủ tự do nội tâm để trao cả cuộc đời cho một chương trình lớn hơn mọi dự tính riêng tư. Nếu tâm hồn Mẹ đầy những tiếng nói của tham vọng, lo sợ, tự ái hay tính toán, có lẽ Mẹ đã không thể nghe được lời mời gọi của Thiên Chúa. Nếu Mẹ chỉ muốn bảo vệ sự an toàn của mình, Mẹ đã không thể thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời xin vâng ấy được sinh ra từ một tâm hồn đã biết thinh lặng trước mặt Chúa.
Khi Chúa Giêsu được sinh ra tại Bêlem, chung quanh Hài Nhi có tiếng hát của các thiên thần, có lời kể của các mục đồng, có sự ngạc nhiên của những người nghe biết sự việc. Tin Mừng cho biết mọi người đều ngạc nhiên về những điều các mục đồng thuật lại, còn Đức Maria thì ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ không vội giải thích. Mẹ không tìm cách kể cho mọi người nghe về đặc ân của mình. Mẹ không đứng giữa đám đông để nói rằng mình đã được sứ thần truyền tin, rằng Con Trẻ này là Con Đấng Tối Cao, rằng mình là người được Thiên Chúa tuyển chọn. Mẹ chỉ lặng lẽ ghi nhớ và suy niệm. Có những điều quá lớn lao mà ngôn ngữ con người không thể diễn tả. Có những mầu nhiệm chỉ có thể được đón nhận trong thinh lặng. Có những công trình của Thiên Chúa cần thời gian để hiểu, cần cầu nguyện để nhận ra và cần lòng tin để đón nhận. Đức Maria không đòi phải hiểu mọi sự ngay lập tức. Mẹ chấp nhận bước đi từng ngày trong ánh sáng vừa đủ mà Thiên Chúa ban cho. Đây là điều rất khác với con người hôm nay. Chúng ta thường muốn có câu trả lời ngay, muốn biết rõ mọi chuyện, muốn hiểu hết mọi biến cố và muốn Thiên Chúa giải thích cho mình vì sao điều này hay điều kia xảy đến. Khi không hiểu, chúng ta dễ than trách. Khi không thấy đường đi, chúng ta dễ mất bình an. Khi lời cầu xin chưa được đáp lại, chúng ta dễ tưởng rằng Thiên Chúa đã bỏ quên mình. Đức Maria dạy chúng ta rằng có những lúc đức tin không phải là hiểu hết, nhưng là biết thinh lặng, ghi nhớ và tiếp tục bước đi.
Thinh lặng của Mẹ còn hiện rõ trong những năm tháng tại Nazareth. Tin Mừng không thuật lại nhiều về quãng đời ẩn dật của Chúa Giêsu. Ba mươi năm sống trong một mái nhà nghèo khó hầu như trôi qua trong thinh lặng. Không có những phép lạ vang dội, không có những đám đông đi theo, không có những lời tung hô, cũng không có những hoạt động khiến mọi người phải chú ý. Chỉ có những công việc rất bình thường: cầu nguyện, lao động, chăm sóc gia đình, chuẩn bị bữa ăn, giữ gìn mái ấm và sống những bổn phận nhỏ bé mỗi ngày. Đức Maria đã sống phần lớn cuộc đời mình trong sự âm thầm ấy. Mẹ không cần phải xuất hiện trước công chúng để cảm thấy mình có giá trị. Mẹ không cần người khác nhìn thấy những hy sinh của mình. Mẹ không cần được khen ngợi mới tiếp tục phục vụ. Mẹ hiểu rằng trước mặt Thiên Chúa, một công việc nhỏ được thực hiện với tình yêu cũng có giá trị lớn lao. Một bữa cơm được chuẩn bị trong yêu thương, một căn nhà được chăm sóc trong bình an, một lời cầu nguyện thầm kín, một hy sinh không ai biết đến đều có thể trở thành của lễ đẹp lòng Chúa. Nhìn vào đời sống của Đức Maria, chúng ta nhận ra rằng sự thánh thiện không nhất thiết phải ồn ào. Những gì cao quý nhất thường được hình thành trong âm thầm. Hạt giống nảy mầm trong lòng đất mà không gây tiếng động. Men làm dậy cả khối bột một cách kín đáo. Ánh bình minh đến rất nhẹ nhàng nhưng có thể xua tan cả một đêm dài. Thiên Chúa cũng thường thực hiện những công trình lớn lao trong những tâm hồn biết sống âm thầm và thinh lặng.
Trong biến cố tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền Thờ, Đức Maria và thánh Giuse đã trải qua ba ngày đau khổ vì không thấy Con. Khi tìm được Chúa, Mẹ hỏi: “Con ơi, sao Con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha Con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm Con!” Chúa Giêsu trả lời rằng Người phải ở nhà của Cha Người. Tin Mừng ghi nhận Đức Maria và thánh Giuse không hiểu lời Người nói, nhưng Mẹ tiếp tục ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Mẹ không hiểu nhưng không nổi giận. Mẹ không hiểu nhưng không từ bỏ. Mẹ không hiểu nhưng vẫn tin tưởng. Thinh lặng của Mẹ ở đây không phải là thinh lặng của một người không có gì để nói, mà là thinh lặng của một người chấp nhận rằng Thiên Chúa có những con đường vượt quá suy nghĩ của mình. Có lẽ trong đời sống, chúng ta cũng nhiều lần không hiểu được những gì Chúa cho phép xảy ra. Chúng ta không hiểu vì sao người tốt phải đau khổ, vì sao một gia đình đạo đức lại gặp nhiều thử thách, vì sao người thân ra đi quá sớm, vì sao một lời cầu nguyện chân thành vẫn chưa được đáp lại, vì sao một dự tính tốt đẹp lại thất bại. Trong những lúc ấy, con người thường vội kết luận, vội trách Chúa, vội tìm người để đổ lỗi. Đức Maria lại chọn thinh lặng và ghi nhớ. Mẹ không giải quyết mầu nhiệm bằng sự nóng nảy. Mẹ mang điều mình chưa hiểu vào trong cầu nguyện. Mẹ để thời gian và ân sủng Thiên Chúa soi sáng. Mẹ tin rằng dù chưa hiểu, mình vẫn đang được Thiên Chúa dẫn dắt.
Thinh lặng của Mẹ đặc biệt sâu thẳm dưới chân thập giá. Trên đồi Canvê, Mẹ chứng kiến Con mình bị chế nhạo, bị đánh đập, bị đóng đinh và chết trong đau đớn. Không ai có thể hiểu hết nỗi đau của Mẹ lúc ấy. Con mà Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và yêu thương nay bị đối xử như một tội nhân. Con là Đấng vô tội nhưng lại chịu bản án bất công. Con đã chữa lành, tha thứ và ban sự sống, nhưng đáp lại, người ta trao cho Người thập giá. Trước tất cả những điều ấy, Đức Maria không nguyền rủa những kẻ làm hại Con mình. Mẹ không gào thét đòi công lý cho bản thân. Mẹ không bỏ chạy khỏi thập giá. Mẹ đứng đó. Sự thinh lặng của Mẹ dưới chân thập giá là một sự thinh lặng đầy đau đớn nhưng cũng đầy lòng tin. Mẹ không hiểu vì sao lời sứ thần nói rằng Con của Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ trị vì và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận, nay dường như lại kết thúc trong thất bại. Mẹ không thấy trước được ánh sáng Phục Sinh, nhưng Mẹ vẫn ở lại. Thinh lặng của Mẹ không phải là đầu hàng tuyệt vọng, mà là lòng trung tín đến cùng. Mẹ tin vào Thiên Chúa ngay cả khi mọi dấu chỉ bên ngoài dường như trái ngược với lời hứa. Mẹ dạy chúng ta rằng thinh lặng đẹp nhất không phải là thinh lặng khi mọi sự thuận lợi, nhưng là thinh lặng của lòng tin giữa những lúc đau đớn và tối tăm.
Ngày nay, nhiều người nói rất nhanh nhưng nghe rất chậm. Người ta dễ đáp trả trước khi hiểu, dễ phê phán trước khi biết đầy đủ sự việc, dễ truyền đi một thông tin trước khi kiểm chứng và dễ làm tổn thương người khác bằng những lời nói thiếu suy nghĩ. Chỉ một câu nói trong nóng giận có thể phá vỡ một tương quan đã được xây dựng nhiều năm. Chỉ một lời nhận xét thiếu tế nhị có thể để lại vết thương lâu dài trong lòng người khác. Chỉ một tin đồn được chia sẻ vô trách nhiệm có thể làm tổn hại danh dự của một con người. Nhiều gia đình mất bình an không phải vì những vấn đề quá lớn, nhưng vì các thành viên không biết dừng lại trước khi nói. Vợ chồng nói với nhau trong lúc tức giận. Cha mẹ quở trách con cái bằng những lời quá nặng nề. Con cái trả lời cha mẹ bằng thái độ thiếu kính trọng. Trong cộng đoàn, người ta dễ bàn tán về khuyết điểm của nhau hơn là cầu nguyện cho nhau. Trên mạng xã hội, người ta sẵn sàng phán xét một con người chỉ từ một hình ảnh, một đoạn phim hay một câu chuyện chưa được kiểm chứng. Đức Maria Trinh Vương mời gọi chúng ta tập thinh lặng, không phải để trốn tránh sự thật, nhưng để lời nói của mình được thanh luyện bởi tình yêu, sự khôn ngoan và lòng kính trọng.
Thinh lặng giúp chúng ta không nói những điều không cần nói. Có những điều đúng nhưng không nhất thiết phải nói ra. Có những sự thật cần được trình bày đúng lúc, đúng nơi và với đúng thái độ. Nói sự thật không có nghĩa là được phép làm nhục người khác. Góp ý không đồng nghĩa với chỉ trích. Sửa lỗi không có nghĩa là hạ thấp. Có những người lấy lý do mình thẳng tính để nói những lời gây tổn thương. Họ cho rằng mình chỉ nói thật, nhưng sự thật không đi cùng bác ái có thể trở thành một thứ vũ khí. Đức Maria dạy chúng ta biết giữ lại một lời có thể làm đau người khác, biết chờ cho cơn nóng giận qua đi, biết cầu nguyện trước khi góp ý và biết đặt câu hỏi: lời mình sắp nói có cần thiết không, có đúng sự thật không, có giúp ích không, có phát xuất từ tình yêu không? Một người trưởng thành không phải là người có thể nói mọi điều mình nghĩ, mà là người biết điều gì nên nói, nói lúc nào và nói bằng cách nào.
Thinh lặng cũng giúp chúng ta lắng nghe người khác. Nhiều khi chúng ta tưởng mình đang lắng nghe, nhưng thực ra chỉ đang chờ người khác nói xong để đưa ra ý kiến của mình. Chúng ta nghe bằng đôi tai nhưng không nghe bằng trái tim. Khi người khác chia sẻ nỗi đau, chúng ta vội đưa ra lời khuyên. Khi họ kể một thất bại, chúng ta vội phân tích xem họ đã sai ở đâu. Khi họ khóc, chúng ta vội bảo họ phải mạnh mẽ. Có những lúc người đau khổ không cần một bài giảng, không cần một lời giải thích, cũng không cần ai đó sửa chữa tất cả mọi vấn đề. Họ chỉ cần một người có thể ngồi bên cạnh và lắng nghe. Sự hiện diện thinh lặng đôi khi có sức an ủi hơn rất nhiều lời nói. Đức Maria tại tiệc cưới Cana đã nhận ra nỗi thiếu thốn của gia chủ. Mẹ không làm cho họ xấu hổ, không nói lớn tiếng cho mọi người biết họ đã hết rượu. Mẹ âm thầm trình bày với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Sự tế nhị của Mẹ được sinh ra từ một tâm hồn biết thinh lặng, quan sát và cảm thông. Người nói quá nhiều thường khó nhận ra nỗi đau âm thầm của người khác. Người biết thinh lặng sẽ nghe được cả những điều không được nói thành lời.
Thinh lặng còn là điều kiện để con người gặp gỡ chính mình. Khi không còn những tiếng động bên ngoài, chúng ta mới có thể nghe thấy những xáo trộn bên trong. Có những nỗi buồn chúng ta cố che lấp bằng công việc. Có những vết thương chúng ta tránh đối diện bằng những cuộc vui. Có những sai lầm chúng ta không muốn nhìn nhận nên luôn tìm cách nói về lỗi của người khác. Có những khoảng trống trong tâm hồn chúng ta cố lấp đầy bằng mua sắm, giải trí, điện thoại hay mạng xã hội. Nhưng khi thinh lặng, chúng ta bắt đầu nhận ra mình đang mệt mỏi, đang giận dữ, đang ghen tị, đang bất an hay đang sống xa Chúa. Chính vì thế, nhiều người sợ thinh lặng. Họ sợ phải gặp lại chính mình. Họ sợ những câu hỏi mà tâm hồn có thể đặt ra. Họ sợ nhận thấy đời sống mình đang đi sai hướng. Đức Maria không sợ thinh lặng bởi tâm hồn Mẹ thuộc trọn về Chúa. Mẹ mời chúng ta bước vào thinh lặng không phải để tự kết án, nhưng để cho ánh sáng Chúa soi chiếu, chữa lành và dẫn đường. Chỉ khi thành thật với chính mình, chúng ta mới có thể bắt đầu lại.
Thinh lặng Kitô giáo không chỉ là không nói. Một người có thể không nói gì nhưng tâm trí vẫn đầy những tranh luận, phán xét và giận dữ. Một người có thể ngồi yên nhưng bên trong lại ồn ào bởi tham vọng, ganh tị, sợ hãi hay lo lắng. Thinh lặng thật sự là sự bình an của một tâm hồn đặt mình trước mặt Chúa. Đó là lúc con người ngừng tìm cách kiểm soát mọi sự, ngừng bắt Thiên Chúa phải làm theo ý mình và ngừng để những tiếng nói của thế gian chi phối. Trong thinh lặng, chúng ta không chỉ nói với Chúa mà còn để Chúa nói với chúng ta. Nhiều khi giờ cầu nguyện của chúng ta đầy lời. Chúng ta đọc hết kinh này đến kinh khác, trình bày hết nhu cầu này đến nhu cầu khác, nhưng không dành một phút để lắng nghe. Chúng ta muốn Chúa nghe mình mà ít khi tự hỏi mình có đang nghe Chúa hay không. Đức Maria Trinh Vương dạy chúng ta một lối cầu nguyện sâu xa hơn: ở lại trước mặt Chúa, trao cho Người những gì đang có trong lòng rồi thinh lặng để Người hành động.
Trong thinh lặng, Lời Chúa mới có thể bén rễ. Nếu chỉ đọc Lời Chúa rồi lập tức chuyển sang một công việc khác, Lời ấy khó thấm sâu vào tâm hồn. Đức Maria không chỉ nghe lời sứ thần rồi quên đi. Mẹ ghi nhớ và suy niệm. Mỗi người chúng ta cũng cần có những khoảng dừng để một câu Lời Chúa đi vào cuộc sống. Có thể đó là lời: “Đừng sợ.” Có thể là: “Ơn Ta đủ cho con.” Có thể là: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Có thể là: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình.” Một câu Lời Chúa được giữ trong lòng có thể nâng đỡ chúng ta suốt cả ngày. Nhưng để giữ được Lời, tâm hồn phải có chỗ trống. Một căn phòng chất đầy đồ đạc thì không còn chỗ để đón thêm điều gì. Một tâm hồn đầy tiếng ồn cũng khó có chỗ cho Lời Chúa. Bởi thế, thinh lặng không phải là một sự lãng phí thời gian. Thinh lặng là dọn chỗ cho Thiên Chúa.
Mẹ cũng dạy chúng ta thinh lặng trước những lời khen. Khi được bà Êlisabét ca ngợi là người có phúc, Đức Maria không giữ lời khen cho mình. Mẹ lập tức hướng tất cả về Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” Người khiêm nhường không cần phải phủ nhận những điều tốt đẹp Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình, nhưng họ biết rằng mọi sự đều là ân huệ. Trong cuộc sống, khi được khen ngợi, chúng ta dễ nói nhiều về mình, dễ kể thêm những thành công và dễ tìm cách để người khác tiếp tục chú ý. Đức Maria lại thinh lặng trước vinh quang riêng và cất tiếng ca tụng Thiên Chúa. Mẹ nhắc chúng ta rằng điều tốt đẹp nơi mình không phải để mình tự tôn, nhưng để làm cho người khác nhận ra lòng thương xót của Chúa. Một tâm hồn biết thinh lặng trước lời khen sẽ không dễ bị kiêu ngạo điều khiển.
Mẹ còn dạy chúng ta thinh lặng trước những hiểu lầm. Có những lúc người khác nghĩ sai về chúng ta. Có những lời giải thích không được lắng nghe. Có những việc tốt bị hiểu theo hướng tiêu cực. Phản ứng tự nhiên của con người là muốn biện minh ngay, muốn chứng minh mình đúng và muốn mọi người đứng về phía mình. Dĩ nhiên, có những hoàn cảnh cần phải lên tiếng để bảo vệ sự thật, công lý hay người vô tội. Nhưng cũng có những trường hợp càng giải thích càng làm cho sự việc phức tạp hơn. Khi ấy, thinh lặng không phải là yếu đuối mà là một sức mạnh. Đức Maria đã mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, nhưng Mẹ không tự mình đi khắp nơi để giải thích. Mẹ tín thác rằng Thiên Chúa sẽ có cách bảo vệ công trình của Người. Thinh lặng trước hiểu lầm đòi hỏi lòng khiêm nhường rất lớn, bởi chúng ta phải chấp nhận rằng không phải ai cũng hiểu mình và không phải lúc nào danh dự của mình cũng được phục hồi ngay. Người sống trước mặt Thiên Chúa có thể bình an ngay cả khi chưa được con người nhìn nhận đúng.
Tuy nhiên, học thinh lặng với Đức Maria không có nghĩa là im tiếng trước bất công, bạo lực hay sự dữ. Đức Maria thinh lặng để nghe Chúa và thưa lời xin vâng. Mẹ cũng lên tiếng khi cần thiết. Mẹ cất lời ca ngợi Thiên Chúa trong bài Magnificat, một lời kinh mạnh mẽ loan báo rằng Thiên Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Mẹ lên tiếng tại Cana để trình bày nhu cầu của người khác. Vì thế, thinh lặng Kitô giáo không phải là thái độ nhu nhược. Thinh lặng giúp lời nói trở nên đúng đắn hơn. Người biết thinh lặng sẽ không nói vì tự ái, nhưng nói vì sự thật. Họ không lên tiếng để thắng một cuộc tranh luận, nhưng để bảo vệ con người. Họ không nói nhằm làm mình nổi bật, nhưng để Thiên Chúa được nhận biết. Có lúc yêu thương đòi ta im lặng. Có lúc yêu thương buộc ta phải lên tiếng. Chỉ một tâm hồn thinh lặng trước Chúa mới có thể phân định được lúc nào nên nói và lúc nào nên im.
Trong ngày thứ tư này, Mẹ mời chúng ta thực hành những khoảng thinh lặng cụ thể. Hãy bắt đầu ngày mới bằng vài phút không điện thoại, không tin tức và không những âm thanh bên ngoài. Hãy làm dấu thánh giá, ý thức mình đang ở trước mặt Chúa và thưa: “Lạy Chúa, xin cho con nghe được tiếng Ngài.” Hãy chọn một câu Lời Chúa để ghi nhớ trong ngày. Khi gặp một điều trái ý, đừng phản ứng ngay. Hãy hít thở, đọc thầm một kinh Kính Mừng và xin Mẹ giúp mình trả lời bằng bình an. Khi nghe một câu chuyện liên quan đến khuyết điểm của người khác, hãy biết dừng lại, không thêm thắt, không truyền đi và không biến đời tư của họ thành đề tài giải trí. Khi có người cần chia sẻ, hãy lắng nghe họ cho trọn câu. Đừng cắt lời. Đừng vội phán xét. Đừng biến câu chuyện của họ thành câu chuyện của mình. Buổi tối, hãy tắt bớt những thiết bị gây tiếng động, ngồi thinh lặng trước Chúa và nhìn lại ngày sống: hôm nay mình đã nói lời nào không cần thiết, lời nào làm tổn thương người khác, lời nào phát xuất từ tự ái? Đồng thời, cũng hãy nhận ra những lúc mình đã biết im lặng, biết lắng nghe và biết gìn giữ bình an.
Có thể chúng ta sẽ thấy thinh lặng rất khó. Chỉ vài phút yên tĩnh, tâm trí đã chạy theo hàng trăm ý nghĩ. Những việc chưa làm, những lời người khác đã nói, những lo lắng cho ngày mai và những ký ức cũ liên tục xuất hiện. Đừng nản lòng. Thinh lặng cũng là một nhân đức cần được tập luyện. Khi tâm trí phân tán, hãy nhẹ nhàng trở về với sự hiện diện của Chúa. Có thể lặp lại một lời nguyện ngắn: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa”; hoặc: “Lạy Mẹ Maria, xin giữ lòng con trong bình an.” Không cần cố tạo ra cảm xúc đặc biệt. Không cần phải thấy điều gì lạ thường. Chỉ cần ở lại. Một đứa trẻ ngồi bên mẹ không nhất thiết phải nói liên tục. Chỉ cần biết mẹ đang ở đó, nó đã cảm thấy an toàn. Chúng ta cũng vậy. Trong cầu nguyện, có những lúc không biết phải nói gì, nhưng chỉ cần ở lại trước Chúa. Chính sự hiện diện trung thành ấy đã là một lời cầu nguyện.
Đức Maria Trinh Vương là Nữ Vương của thinh lặng vì cả cuộc đời Mẹ là một không gian dành cho Thiên Chúa. Mẹ không chiếm chỗ của Chúa bằng cái tôi của mình. Mẹ không làm lu mờ Con bằng những đòi hỏi riêng. Mẹ luôn hướng về Chúa Giêsu và dẫn người khác đến với Người. Lời cuối cùng của Mẹ được ghi lại trong Tin Mừng là: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Sau lời ấy, Mẹ lui vào thinh lặng. Mẹ không giữ người khác lại bên mình. Mẹ trao họ cho Chúa Giêsu. Đây cũng là dấu chỉ của một đời sống thiêng liêng trưởng thành: càng gần Mẹ, chúng ta càng biết lắng nghe Chúa Giêsu; càng yêu mến Mẹ, chúng ta càng để lời Chúa hướng dẫn; càng sống dưới sự che chở của Mẹ, chúng ta càng bớt nói về mình và biết làm theo điều Chúa muốn.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, giữa một thế giới đầy tiếng động, xin Mẹ dạy con yêu quý sự thinh lặng. Xin giúp con biết thinh lặng để nghe tiếng Chúa, thinh lặng để hiểu chính mình, thinh lặng để cảm nhận nỗi đau của người khác và thinh lặng để không làm tổn thương ai bằng những lời thiếu suy nghĩ. Xin Mẹ giữ miệng lưỡi con khỏi những lời nói xấu, những lời nóng giận, những lời khoe khoang và những lời xét đoán. Xin cho con biết nói khi sự thật và tình yêu đòi hỏi, nhưng cũng biết im lặng khi lời nói chỉ làm gia tăng chia rẽ. Khi con chưa hiểu đường lối của Chúa, xin dạy con ghi nhớ và suy niệm như Mẹ. Khi con bị hiểu lầm, xin cho con biết tín thác. Khi con đau khổ, xin giúp con đứng vững dưới chân thập giá. Khi lòng con xao động, xin đưa con trở về với sự hiện diện bình an của Thiên Chúa. Xin biến tâm hồn con thành một căn phòng thinh lặng, nơi Chúa Giêsu được đón nhận, yêu mến và tôn thờ. Và xin cho từ sự thinh lặng ấy, mọi lời con nói ra đều mang lại sự thật, lòng thương xót, niềm hy vọng và bình an cho những người con gặp gỡ. Amen.
NGÀY 5 – MẸ DẠY CON CẦU NGUYỆN
Trong hành trình ba mươi ngày sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, hôm nay con được Mẹ dẫn vào một nơi rất sâu, rất lặng và cũng rất cần thiết cho đời sống đức tin: đó là cầu nguyện. Mẹ không dạy con cầu nguyện bằng những lời cao siêu, cũng không đặt trên vai con những đòi hỏi nặng nề. Mẹ chỉ nhẹ nhàng đưa con trở về trước mặt Chúa, giúp con biết ở lại với Chúa, biết lắng nghe Chúa và biết trao cả cuộc đời mình cho Chúa. Nhìn vào cuộc đời của Mẹ, con nhận ra rằng Mẹ là người phụ nữ của cầu nguyện. Mọi biến cố vui buồn, mọi chọn lựa lớn nhỏ, mọi thử thách và hy vọng của Mẹ đều được đặt trong tương quan với Thiên Chúa. Mẹ cầu nguyện không chỉ khi cuộc đời bình an, nhưng cả khi không hiểu điều đang xảy đến. Mẹ cầu nguyện không chỉ trong Đền Thờ, nhưng giữa những công việc âm thầm của mái nhà Nadarét, trên đường đi thăm bà Êlisabét, trong cảnh nghèo khó tại Bêlem, trên hành trình trốn sang Ai Cập, trong những năm tháng nuôi dưỡng Chúa Giêsu và cả dưới chân thập giá. Đời Mẹ trở thành một lời cầu nguyện liên lỉ bởi vì Mẹ luôn sống trước mặt Chúa.
Cầu nguyện trước hết không phải là nói thật nhiều, nhưng là nhận ra rằng Chúa đang ở đó và con đang ở trước mặt Người. Có những lúc con nghĩ rằng mình chỉ cầu nguyện khi đọc thật nhiều kinh, khi nói được những lời hay, khi cảm thấy lòng sốt sắng hoặc khi tìm được một nơi hoàn toàn yên tĩnh. Nhưng Mẹ dạy con rằng cầu nguyện bắt đầu từ một trái tim biết hướng về Chúa. Một ánh mắt ngước lên Chúa, một tiếng thở dài trong đau đớn, một lời cảm tạ nhỏ bé, một sự thinh lặng đầy tín thác cũng có thể trở thành lời cầu nguyện. Mẹ đã không để lại cho con những bài diễn thuyết dài, nhưng cuộc đời Mẹ lại là một cuộc đối thoại không ngừng với Thiên Chúa. Trong ngày Truyền Tin, Mẹ đã lắng nghe. Khi chưa hiểu, Mẹ đã hỏi. Khi nhận ra thánh ý Chúa, Mẹ đã thưa xin vâng. Khi được đầy tràn niềm vui, Mẹ đã cất lời ngợi khen: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” Khi gặp những điều khó hiểu, Mẹ ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Cầu nguyện nơi Mẹ vừa có lời nói, vừa có sự thinh lặng; vừa có niềm vui, vừa có nước mắt; vừa có câu hỏi, vừa có sự phó thác.
Mẹ dạy con đừng chỉ tìm đến Chúa khi gặp khó khăn. Thật ra, nhiều lần con chỉ nhớ đến việc cầu nguyện khi bệnh tật, khi công việc bế tắc, khi gia đình bất hòa, khi lòng đau khổ hoặc khi không còn tìm được một lối thoát. Khi ấy, con chạy đến với Chúa như người ta tìm một phương thế giải quyết vấn đề. Nếu lời cầu xin được nhận lời theo ý mình, con vui mừng và cảm tạ; nhưng nếu phải chờ đợi, con lại buồn phiền, thất vọng, thậm chí nghi ngờ tình thương của Chúa. Mẹ dạy con một cách cầu nguyện trưởng thành hơn. Cầu nguyện không phải là buộc Chúa làm theo điều con muốn, nhưng là để Chúa biến đổi lòng con, giúp con nhận ra điều Người muốn và ban cho con sức mạnh để thi hành. Mẹ đã không cầu xin để cuộc đời mình khỏi mọi gian nan, nhưng Mẹ xin cho thánh ý Chúa được thực hiện. Mẹ không được miễn trừ khỏi đau khổ, nhưng nhờ cầu nguyện, Mẹ có đủ sức đứng vững trong đau khổ. Mẹ không luôn hiểu ngay mọi biến cố, nhưng Mẹ tin rằng Thiên Chúa vẫn đang dẫn dắt lịch sử đời Mẹ.
Con người hôm nay thường sống quá vội. Ngay từ sáng sớm, lòng con đã đầy những công việc, những cuộc hẹn, những tin tức và những bận tâm. Con cầm điện thoại trước khi làm dấu thánh giá, đọc những lời của người đời trước khi đọc Lời Chúa, để những âm thanh của thế gian đi vào lòng trước khi dành cho Chúa một phút thinh lặng. Con nói rằng mình không có thời giờ cầu nguyện, nhưng lại có thể dành nhiều giờ cho những điều không thực sự cần thiết. Mẹ không trách mắng con, nhưng Mẹ dịu dàng mời con sắp xếp lại đời sống. Không phải vì Chúa cần những lời cầu nguyện của con, nhưng vì chính con cần được ở bên Chúa. Một ngày không cầu nguyện rất dễ trở thành một ngày con chỉ sống bằng sức riêng, hành động theo cảm xúc riêng và đánh giá mọi sự bằng cái nhìn hạn hẹp của mình. Khi thiếu cầu nguyện, con dễ nóng giận, dễ tổn thương, dễ nói lời làm đau người khác, dễ tìm mình trong công việc và dễ ngã lòng trước những khó khăn. Cầu nguyện không làm cho mọi vấn đề lập tức biến mất, nhưng làm cho con có một trái tim khác để đối diện với vấn đề.
Mẹ dạy con hãy dành cho Chúa những giờ phút tốt đẹp nhất, chứ không phải chỉ dành cho Chúa phần thời gian còn thừa. Có thể con không bắt đầu bằng những giờ cầu nguyện dài. Mẹ chỉ mời con trung thành với những điều nhỏ bé. Mỗi sáng, trước khi bước vào công việc, con có thể thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con xin dâng ngày hôm nay cho Chúa. Xin hướng dẫn mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của con.” Trong ngày, giữa những bận rộn, con có thể dừng lại một chút để nhớ rằng Chúa đang hiện diện. Khi gặp một người khó chịu, con có thể âm thầm xin Chúa ban cho mình sự hiền lành. Khi đứng trước một quyết định, con có thể hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Khi nhận được một niềm vui, con hãy cảm tạ. Khi phạm lỗi, con hãy thành thật xin tha thứ. Khi đêm xuống, con nhìn lại một ngày đã qua trong ánh sáng của Chúa, cảm ơn vì những điều tốt lành, xin lỗi vì những thiếu sót và phó thác giấc ngủ trong tay Người. Những lời nguyện nhỏ bé ấy, khi được lặp lại bằng lòng trung thành, sẽ dần biến cả ngày sống thành một lời cầu nguyện.
Mẹ cũng dạy con cầu nguyện bằng Lời Chúa. Có lúc con không biết phải nói gì với Chúa, vì lòng quá khô khan hoặc vì nỗi đau quá lớn. Khi ấy, con hãy mở Kinh Thánh và để Chúa nói trước. Một câu Tin Mừng được đọc chậm rãi có thể trở thành ánh sáng cho cả ngày. Con không cần đọc thật nhiều, nhưng cần đọc với lòng lắng nghe. Con có thể tự hỏi: Chúa đang nói gì với con qua lời này? Điều gì trong đời con cần được thay đổi? Chúa đang mời con tin tưởng, tha thứ, phục vụ hay từ bỏ điều gì? Mẹ là người đã cưu mang Ngôi Lời trong lòng và trong thân xác. Mẹ cũng muốn dạy con biết cưu mang Lời Chúa trong tâm hồn, để Lời ấy lớn lên, biến đổi con và sinh hoa trái trong đời sống. Khi cầu nguyện với Lời Chúa, con không chỉ tìm một ý tưởng đẹp, nhưng để chính Chúa gặp gỡ và dẫn dắt con.
Mẹ dạy con đừng sợ những lúc cầu nguyện khô khan. Có những ngày con cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì. Lời kinh trở nên nặng nề, tâm trí chia trí, lòng không có chút sốt sắng nào. Con tưởng rằng những giờ cầu nguyện ấy vô ích. Nhưng Mẹ nhắc con rằng giá trị của cầu nguyện không nằm nơi cảm xúc, mà nằm ở tình yêu và lòng trung thành. Một người mẹ ngồi bên giường đứa con đau bệnh có thể không nói được lời nào, nhưng sự hiện diện của bà đã là tình yêu. Cũng vậy, khi con ở lại trước mặt Chúa dù lòng khô khan, con đang thưa với Người rằng: “Lạy Chúa, dù con không cảm thấy gì, con vẫn tin Chúa đang ở đây. Dù con không biết nói gì, con vẫn muốn ở lại với Chúa.” Chính những lúc ấy, lời cầu nguyện được thanh luyện khỏi việc tìm kiếm cảm giác dễ chịu. Con học yêu Chúa vì chính Chúa, chứ không chỉ vì những an ủi Chúa ban.
Mẹ cũng dạy con đem cả những yếu đuối và tội lỗi vào trong cầu nguyện. Đừng đợi đến khi con trở nên tốt lành rồi mới đến với Chúa. Đừng vì vừa phạm lỗi mà trốn tránh ánh mắt Người. Chúa không ngạc nhiên trước sự yếu đuối của con. Người đã biết con mỏng giòn hơn chính con biết về mình. Điều Người mong là con thành thật trở về. Khi con cầu nguyện bằng một trái tim sám hối, con có thể nói với Chúa tất cả: sự ích kỷ, lòng ghen tị, những đam mê, sự nóng giận, những vết thương, những thất vọng và cả những điều con xấu hổ không dám nói với ai. Chúa không khinh thường con. Người muốn chữa lành và giải thoát con. Mẹ là người mẹ không bao giờ dẫn con xa Chúa, nhưng luôn đưa con đến gần lòng thương xót của Người. Mẹ không bao che tội lỗi, nhưng cũng không để con tuyệt vọng vì tội lỗi. Mẹ nhắc con hãy đứng dậy, trở về, lãnh nhận bí tích Hòa Giải và bắt đầu lại.
Mẹ dạy con cầu nguyện cho người khác. Tại tiệc cưới Cana, Mẹ đã nhìn thấy nỗi thiếu thốn mà người khác chưa kịp nói ra: “Họ hết rượu rồi.” Lời chuyển cầu của Mẹ rất ngắn, nhưng chứa đầy sự quan tâm và lòng tín thác. Mẹ không ra lệnh cho Chúa Giêsu phải làm gì. Mẹ chỉ trình bày nhu cầu rồi tin tưởng trao tất cả cho Người. Con cũng được mời gọi cầu nguyện như thế. Trong gia đình, có những người đang đau khổ mà không nói. Trong cộng đoàn, có những người mang gánh nặng sau một nụ cười. Trong xã hội, có biết bao bệnh nhân, người nghèo, người già neo đơn, trẻ em bất hạnh, người đang mất niềm tin và những gia đình đứng trước nguy cơ tan vỡ. Cầu nguyện cho họ là một hình thức yêu thương. Có thể con chưa làm được điều gì lớn lao, nhưng con có thể mang tên tuổi và hoàn cảnh của họ đến trước mặt Chúa. Tuy nhiên, lời cầu nguyện chân thành cũng sẽ thôi thúc con hành động. Con không thể xin Chúa an ủi một người đau khổ mà lại lạnh lùng khi gặp họ. Con không thể xin Chúa ban cơm bánh cho người nghèo mà lại đóng kín bàn tay mình. Cầu nguyện đích thực luôn mở lòng con ra với tha nhân.
Mẹ còn dạy con cầu nguyện cho những người làm con đau khổ. Đây là lời cầu nguyện khó nhất. Con dễ cầu xin cho người con yêu mến, nhưng rất khó cầu nguyện cho người xúc phạm, phản bội hoặc hiểu lầm con. Nhiều khi con quỳ trước Chúa mà trong lòng vẫn giữ chặt một nỗi oán giận. Con xin bình an nhưng lại không muốn tha thứ. Con xin Chúa thương xót mình nhưng lại khắt khe với lỗi lầm của người khác. Mẹ đứng dưới chân thập giá, giữa những người chế nhạo và kết án Con của Mẹ. Mẹ không nguyền rủa, không trả thù, không để sự dữ biến trái tim mình thành cay độc. Mẹ muốn dạy con đem người làm con đau khổ vào lời cầu nguyện, không phải để Chúa trừng phạt họ, nhưng để Chúa chữa lành cả họ lẫn con. Có thể con chưa thể tha thứ ngay trong một ngày, nhưng mỗi lần cầu nguyện cho họ, xiềng xích của oán hận sẽ dần được tháo cởi.
Cầu nguyện cũng là biết thinh lặng trước mầu nhiệm. Có những câu hỏi không có lời giải thích dễ dàng: vì sao người tốt lại chịu đau khổ, vì sao một lời cầu xin chân thành vẫn chưa được đáp lại, vì sao một người thân phải ra đi, vì sao những kế hoạch tốt đẹp lại đổ vỡ. Mẹ đã đi qua những câu hỏi ấy. Lời tiên báo của cụ Simêon về lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn chắc chắn không phải là điều dễ hiểu. Việc lạc mất Chúa Giêsu trong Đền Thờ, những năm tháng Chúa rời gia đình để thi hành sứ vụ và nhất là cái chết đau thương trên thập giá đều là những mầu nhiệm lớn. Mẹ không có mọi câu trả lời, nhưng Mẹ có một niềm tin lớn hơn mọi câu hỏi. Mẹ ở lại. Mẹ tin. Mẹ chờ đợi. Mẹ trao phó. Cầu nguyện không phải lúc nào cũng giúp con hiểu tại sao, nhưng giúp con tin rằng ngay cả khi con không hiểu, Chúa vẫn yêu thương và không bỏ rơi con.
Mẹ dạy con cầu nguyện với cả thân xác và đời sống. Một đôi tay làm việc lương thiện có thể trở thành đôi tay cầu nguyện. Những bước chân đi thăm một người bệnh có thể trở thành lời kinh. Sự kiên nhẫn chăm sóc người già, nuôi dạy con cái, phục vụ cộng đoàn, âm thầm chu toàn trách nhiệm mỗi ngày đều có thể được dâng lên Chúa. Mẹ đã biến những việc rất bình thường tại Nadarét thành của lễ yêu thương. Mẹ nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc gia đình, đồng hành với Chúa Giêsu và thánh Giuse. Mẹ không cần làm những việc khiến người đời kinh ngạc. Mẹ chỉ làm mọi sự với tình yêu lớn lao và trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Mẹ muốn con hiểu rằng cầu nguyện không tách con khỏi đời sống, nhưng giúp con sống đời thường với một tinh thần mới. Khi con làm việc vì yêu Chúa và yêu người, chính công việc ấy trở thành lời cầu nguyện.
Hôm nay, Mẹ mời con nhìn lại đời sống cầu nguyện của mình. Có phải con chỉ cầu nguyện theo thói quen mà lòng ở xa Chúa? Có phải con đọc kinh thật nhanh để hoàn thành một bổn phận? Có phải con xin nhiều nhưng ít cảm tạ, nói nhiều nhưng ít lắng nghe, mong Chúa thay đổi hoàn cảnh nhưng không muốn Chúa thay đổi lòng mình? Có phải con bỏ cầu nguyện vì quá bận, trong khi chính vì bận rộn mà con càng cần cầu nguyện hơn? Mẹ không muốn con tự kết án. Mẹ chỉ mời con bắt đầu lại từ hôm nay. Con hãy dành một khoảng thời gian cụ thể cho Chúa. Hãy tắt bớt những âm thanh bên ngoài. Hãy đặt mình trước sự hiện diện của Người. Hãy nói với Chúa như người con nói với người Cha đầy yêu thương. Hãy kể cho Chúa nghe điều đang làm con vui, điều khiến con lo, người con đang thương, người con đang giận và con đường con chưa biết phải chọn. Sau đó, hãy thinh lặng để Chúa nhìn con và để con được nghỉ ngơi trong Người.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ là người phụ nữ của cầu nguyện, xin dạy con biết tìm Chúa trong mọi hoàn cảnh của đời mình. Xin giúp con không cầu nguyện chỉ bằng môi miệng, nhưng bằng cả tâm hồn và cuộc sống. Xin dạy con biết lắng nghe trước khi nói, biết cảm tạ trước khi xin, biết phó thác thay vì đòi hỏi và biết tìm thánh ý Chúa hơn là tìm ý riêng. Khi con khô khan, xin giúp con trung thành. Khi con đau khổ, xin giúp con tín thác. Khi con phạm tội, xin dẫn con trở về. Khi con nhận được niềm vui, xin dạy con ngợi khen. Khi con không hiểu đường Chúa dẫn, xin giúp con ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng như Mẹ. Xin Mẹ đưa con đến gần Chúa Giêsu, để mỗi ngày của con, từ lúc thức dậy cho đến khi đêm xuống, đều trở thành một lời cầu nguyện sống động dâng lên Thiên Chúa. Amen.
NGÀY 6 – MẸ DẠY CON PHỤC VỤ
Có những người nghĩ rằng phục vụ là làm những việc thật lớn lao, phải đứng ở nơi nhiều người nhìn thấy, phải đảm nhận những công việc quan trọng và phải được người khác ghi nhận. Thế nhưng, khi nhìn lên Đức Maria Trinh Vương, ta lại gặp một con đường hoàn toàn khác. Mẹ không phục vụ bằng tiếng trống, tiếng kèn hay những lời giới thiệu long trọng. Mẹ phục vụ trong âm thầm, trong sự tế nhị, trong những việc nhỏ bé và trong một tình yêu không đòi được đáp trả. Chính vì thế, sự phục vụ của Mẹ trở nên cao quý. Mẹ là Nữ Vương, nhưng là một Nữ Vương cúi xuống; Mẹ được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng không bao giờ dùng đặc ân ấy để nâng mình lên trên người khác; Mẹ mang trong cung lòng Con Thiên Chúa, nhưng vẫn mau mắn lên đường để chăm sóc người chị họ Êlisabét. Nơi Mẹ, ta hiểu rằng càng gần Thiên Chúa, con người càng biết cúi xuống để phục vụ anh chị em mình.
Sau lời truyền tin, Đức Maria vừa đón nhận một mầu nhiệm vô cùng lớn lao. Mẹ đã trở thành Mẹ của Ngôi Lời nhập thể. Thế nhưng, Mẹ không khép mình trong niềm vui riêng, cũng không ở lại để suy nghĩ về địa vị mà Thiên Chúa vừa ban cho mình. Tin người chị họ đang mang thai trong tuổi già, Mẹ vội vã lên đường. Tin Mừng nói rằng Mẹ “vội vã đi lên miền núi”. Sự vội vã ấy không phải là hấp tấp, nhưng là sự mau mắn của tình yêu. Người yêu thương thật lòng không đợi được mời mới đến, không chờ người khác phải van xin mới giúp, không tính toán xem mình sẽ được gì sau khi phục vụ. Đức Maria lên đường bởi Mẹ nhận ra một nhu cầu. Mẹ biết người chị họ cần có người ở bên. Mẹ hiểu tuổi già, thai nghén và những công việc trong gia đình sẽ trở thành gánh nặng. Mẹ không nói: “Tôi cũng đang mang thai, tôi cũng có những khó khăn của riêng mình.” Mẹ không viện lý do để đứng ngoài. Mẹ quên mình để nghĩ đến người khác.
Mẹ dạy con rằng phục vụ trước hết là biết nhìn thấy. Trong cuộc sống, có biết bao người đang cần được nâng đỡ, nhưng vì quá bận rộn với chính mình nên ta không nhận ra. Có người sống ngay trong gia đình ta mà đang rất cô đơn. Có người ngày ngày làm việc bên cạnh ta mà đang mang một vết thương sâu kín. Có người vẫn cười nói bình thường, nhưng trong lòng đang rơi vào tuyệt vọng. Có người già cần một lời hỏi thăm. Có em nhỏ cần được lắng nghe. Có người bệnh cần một bàn tay nắm lấy. Có người nghèo không chỉ cần tiền bạc mà còn cần được tôn trọng. Có người lầm lỗi không cần thêm lời kết án mà cần một cơ hội để đứng lên. Muốn phục vụ như Đức Maria, con phải xin Mẹ ban cho con một đôi mắt biết nhìn, một trái tim biết rung động và một tâm hồn không dửng dưng trước nỗi đau của người khác.
Đức Maria phục vụ không phải để chứng tỏ mình tốt lành. Mẹ không biến sự phục vụ thành phương tiện để tìm danh tiếng. Mẹ không kể công, không nhắc lại những hy sinh của mình và cũng không đòi người khác phải biết ơn. Mẹ ở lại nhà bà Êlisabét khoảng ba tháng, nghĩa là Mẹ không chỉ ghé qua cho có lệ. Mẹ ở lại đủ lâu để chia sẻ gánh nặng, để đỡ đần công việc, để hiện diện trong thời gian người chị họ cần Mẹ nhất. Sự phục vụ thật không nằm ở một vài phút xúc động, nhưng ở lòng trung thành. Nhiều khi ta dễ hăng hái lúc khởi đầu, nhưng lại mau chán khi công việc trở nên âm thầm, lặp đi lặp lại và không được ai nhìn nhận. Ta có thể làm một việc bác ái thật lớn trước mặt mọi người, nhưng lại thiếu kiên nhẫn với một người đau yếu trong gia đình. Ta có thể nói những lời rất hay về yêu thương, nhưng lại khó chịu khi phải phục vụ một bữa ăn, dọn một căn phòng hay dành thời gian cho người đang cần mình. Đức Maria nhắc ta rằng tình yêu không chỉ nằm trên môi miệng. Tình yêu được chứng minh bằng việc ở lại, bằng sự kiên nhẫn và bằng những hy sinh không ai biết đến.
Mẹ dạy con phục vụ với niềm vui. Khi Mẹ đến nhà bà Êlisabét, sự hiện diện của Mẹ mang theo bình an và làm cho hài nhi trong lòng người chị họ nhảy mừng. Người phục vụ bằng tình yêu không mang đến bầu khí nặng nề. Họ không vừa giúp vừa than, không vừa cho vừa trách, không làm cho người được giúp cảm thấy mình là một gánh nặng. Có những lúc ta phục vụ nhưng nét mặt cau có, lời nói khó chịu và thái độ lạnh lùng. Việc làm có thể đúng, nhưng cách làm lại khiến người khác tổn thương. Đức Maria không chỉ mang đôi tay phục vụ đến nhà bà Êlisabét; Mẹ còn mang Chúa Giêsu. Vì có Chúa trong lòng, Mẹ đem niềm vui đến cho người khác. Đó cũng là điều con cần học nơi Mẹ: trước khi làm điều gì cho người khác, con cần mang Chúa trong tâm hồn. Nếu lòng con đầy tự ái, bực bội, ganh tị và hơn thua, việc phục vụ của con dễ trở thành một gánh nặng. Nhưng nếu lòng con có Chúa, dù chỉ làm một việc nhỏ, con cũng có thể đem lại bình an.
Phục vụ theo gương Đức Maria không có nghĩa là làm thay tất cả mọi người hay để người khác lợi dụng mình. Phục vụ đích thực luôn đi cùng với sự khôn ngoan. Mẹ không phục vụ để người khác lệ thuộc vào Mẹ, nhưng để họ được nâng đỡ và có thể đứng vững. Có khi phục vụ là trao một phần cơm; có khi lại là giúp người khác có phương tiện tự nuôi sống mình. Có khi phục vụ là an ủi; có khi lại là chân thành nói cho người ta biết một điều họ cần sửa đổi. Có khi phục vụ là ở lại; có khi lại là biết lùi xa để người khác trưởng thành. Có khi phục vụ là nói; nhưng cũng có khi phục vụ là thinh lặng và lắng nghe. Đức Maria luôn hành động trong sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Vì thế, con cần cầu nguyện để biết người khác thật sự cần gì, chứ không chỉ làm điều con thích làm.
Mẹ cũng dạy con phục vụ ngay trong bổn phận hằng ngày. Người ta thường mơ đến những sứ vụ xa xôi, nhưng lại quên những người đang sống bên cạnh mình. Một người cha phục vụ gia đình khi trung thành lao động, sống trách nhiệm và dành thời gian cho vợ con. Một người mẹ phục vụ bằng biết bao công việc không tên, bằng những đêm thao thức và những hy sinh âm thầm. Con cái phục vụ cha mẹ khi biết vâng lời, chia sẻ việc nhà, chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già. Một người tu sĩ phục vụ không chỉ trong những công việc bên ngoài, nhưng còn bằng sự trung thành với đời sống cầu nguyện, cộng đoàn và sứ vụ được trao. Một linh mục phục vụ không phải để xây dựng tên tuổi của mình, nhưng để đưa người ta đến với Chúa, để chữa lành những tâm hồn bị thương và để sống giữa đoàn chiên như người mục tử biết từng con chiên. Người làm việc nơi công sở phục vụ bằng sự trung thực, tận tâm và tôn trọng đồng nghiệp. Người buôn bán phục vụ bằng việc không gian dối. Người có trách nhiệm phục vụ bằng cách không lạm dụng quyền lực. Bất cứ ai cũng có thể phục vụ, vì phục vụ không tùy thuộc vào địa vị, nhưng tùy thuộc vào tình yêu.
Đức Maria là Nữ Vương, nhưng vương quyền của Mẹ không tách rời khỏi sự phục vụ. Mẹ làm Nữ Vương vì Mẹ đã trở thành người tôi tớ của Thiên Chúa. Trong ngày truyền tin, Mẹ nói: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa.” Mẹ không nói mình là người có quyền, nhưng là nữ tỳ. Đây chính là con đường của Chúa Giêsu, Đấng đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Mẹ đã bước theo Con mình trên con đường ấy. Từ Bêlem đến Nadarét, từ tiệc cưới Cana đến đồi Canvê, Mẹ luôn phục vụ chương trình cứu độ. Mẹ phục vụ Chúa bằng cách trao trọn cuộc đời cho Người. Mẹ phục vụ nhân loại bằng cách trao ban Chúa Giêsu. Sự phục vụ lớn nhất của Mẹ không phải là một công việc bên ngoài, nhưng là để Thiên Chúa sử dụng trọn vẹn cuộc đời Mẹ cho phần rỗi muôn người.
Ngày hôm nay, Mẹ mời con xét lại cách phục vụ của mình. Con phục vụ vì yêu Chúa hay vì muốn được khen? Con có buồn khi người khác không ghi nhận công lao của con không? Con có chọn việc dễ, việc nổi bật và tránh những việc âm thầm không? Con có sẵn lòng phục vụ những người không dễ thương, những người từng làm con tổn thương hay những người không có khả năng trả ơn cho con không? Con có dùng sự phục vụ để kiểm soát người khác, khiến họ phải lệ thuộc hoặc mắc nợ con không? Con có kể đi kể lại những gì mình đã làm để đòi lòng biết ơn không? Những câu hỏi ấy có thể làm con khó chịu, nhưng lại giúp con thanh luyện ý hướng. Không phải cứ làm nhiều việc là đã phục vụ đúng tinh thần Tin Mừng. Có khi con hoạt động rất nhiều nhưng chỉ đang tìm kiếm chính mình. Phục vụ thật là để Chúa lớn lên, để người khác được sống và để con biết nhỏ lại.
Mẹ Maria không giữ Chúa Giêsu cho riêng mình. Mẹ đem Người đến cho bà Êlisabét, cho ông Dacaria, cho hài nhi Gioan và cho cả gia đình ấy. Người phục vụ theo gương Mẹ cũng phải biết trao Chúa cho người khác. Có thể con không giảng những bài thật hay, nhưng một thái độ hiền hòa có thể làm người khác cảm nhận được lòng thương xót của Chúa. Có thể con không có nhiều tiền, nhưng một lời chân thành có thể giúp người tuyệt vọng tìm lại hy vọng. Có thể con không giải quyết được vấn đề của ai đó, nhưng sự hiện diện trung tín của con có thể giúp họ không còn cảm thấy bị bỏ rơi. Đôi khi, phục vụ không phải là làm một điều phi thường, nhưng chỉ là ngồi xuống bên một người đau khổ và nói: “Tôi ở đây với bạn.” Đức Maria đã đứng dưới chân thập giá. Mẹ không thể làm cho cây thập giá biến mất, nhưng Mẹ hiện diện. Sự hiện diện ấy là một hình thức phục vụ cao quý. Có những nỗi đau ta không thể cất đi, nhưng ta có thể ở lại bên người đang đau.
Phục vụ còn đòi con biết từ bỏ ý riêng. Có những công việc con thích làm, nhưng không phải là điều cộng đoàn hay gia đình cần. Có những việc con không thích, nhưng lại là điều cần thiết. Nếu chỉ làm điều mình thích, con chưa thực sự phục vụ; con chỉ đang thỏa mãn bản thân dưới danh nghĩa phục vụ. Đức Maria đã không chọn trước con đường cho mình. Mẹ để Thiên Chúa dẫn đi qua những lối Mẹ không thể hiểu hết: sinh con nơi hang đá, trốn sang Ai Cập, trở về sống âm thầm tại Nadarét, lạc mất Con trong Đền Thờ và đứng dưới chân thập giá. Trong mọi hoàn cảnh, Mẹ vẫn trung thành. Mẹ phục vụ không theo cảm xúc nhất thời, nhưng theo thánh ý Thiên Chúa. Con cũng cần học phục vụ ngay cả khi mệt mỏi, khi bị hiểu lầm, khi không được đáp lại và khi kết quả không như mong đợi. Chính trong những lúc ấy, tình yêu được thanh luyện và sự phục vụ trở nên giống Chúa Giêsu hơn.
Tuy nhiên, con cũng cần nhớ rằng con không thể phục vụ lâu dài nếu không biết trở về với Chúa. Đức Maria là người phục vụ, nhưng Mẹ cũng là người biết thinh lặng, cầu nguyện và ghi nhớ mọi sự trong lòng. Nếu chỉ cho đi mà không đón nhận sức mạnh từ Thiên Chúa, con sẽ kiệt sức, dễ thất vọng và dễ trở nên cay đắng. Có khi con bực bội vì người khác không biết ơn, bởi con đã phục vụ bằng sức riêng. Có khi con đòi hỏi người khác phải thay đổi, bởi con nghĩ kết quả tùy thuộc hoàn toàn vào mình. Đức Maria dạy con trở về với Chúa, kín múc nơi Người tình yêu rồi mới trao ban. Chúa mới là Đấng cứu độ; con chỉ là người cộng tác. Con không cần làm tất cả, không cần giải quyết mọi chuyện và cũng không cần trở thành người không thể thay thế. Con chỉ cần trung thành làm phần việc Chúa trao, rồi phó thác phần còn lại trong tay Người.
Hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, con hãy chọn một việc phục vụ thật cụ thể. Có thể là dọn dẹp một nơi mà không chờ ai nhắc; gọi điện hỏi thăm một người đang cô đơn; nhường một điều thuận lợi cho người khác; lắng nghe một người mà con thường né tránh; chăm sóc một người đau yếu; tha thứ cho người đã làm con tổn thương; làm một việc tốt mà không để ai biết; hoặc đơn giản là hoàn thành bổn phận hằng ngày với một thái độ vui tươi hơn. Đừng đợi đến khi có điều kiện hoàn hảo mới bắt đầu. Đức Maria đã vội vã lên đường. Con cũng hãy bắt đầu từ hôm nay, từ người gần con nhất và từ việc nhỏ nhất đang chờ con.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ là Nữ Vương của tình yêu phục vụ, xin dạy con biết cúi xuống như Mẹ. Xin giúp con biết nhìn thấy những nhu cầu đang ẩn giấu nơi anh chị em con. Xin giải thoát con khỏi thói ích kỷ, sự lười biếng, lòng tự ái và khát vọng được người khác ghi nhận. Xin cho con biết phục vụ trong âm thầm, với niềm vui, sự tế nhị và lòng trung thành. Khi con mệt mỏi, xin Mẹ nhắc con nhớ rằng Chúa Giêsu đang hiện diện nơi người bé nhỏ. Khi con bị hiểu lầm, xin cho con biết nhìn lên Chúa chịu đóng đinh. Khi con muốn bỏ cuộc, xin Mẹ giúp con tiếp tục yêu thương. Xin đừng để con phục vụ nhằm tìm kiếm chính mình, nhưng biết để Chúa được tôn vinh và để anh chị em con được nâng đỡ. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa Giêsu, Đấng đã rửa chân cho các môn đệ và hiến mạng sống vì nhân loại. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, xin biến cuộc đời con thành một lời “xin vâng”, một đôi tay sẵn sàng và một trái tim luôn rộng mở trước mọi người. Amen.
NGÀY 7 – MẸ DẠY CON LÊN ĐƯỜNG
Trong hành trình đức tin, có những lúc con muốn được dừng lại. Con muốn ở mãi trong nơi quen thuộc, bên những người quen thuộc, với những công việc quen thuộc. Con sợ những đổi thay, sợ phải bắt đầu lại, sợ phải bước vào một con đường mà con chưa nhìn thấy rõ. Con muốn mọi sự phải chắc chắn rồi mới bước đi, muốn mọi câu hỏi phải có lời giải đáp rồi mới dám thưa tiếng xin vâng. Thế nhưng, khi nhìn lên Đức Maria Trinh Vương, con nhận ra rằng cuộc đời của Mẹ là một cuộc lên đường không ngừng. Mẹ không khép mình trong sự an toàn của bản thân, nhưng luôn sẵn sàng rời bỏ điều quen thuộc để đi đến nơi Thiên Chúa muốn Mẹ hiện diện. Sau biến cố truyền tin, Mẹ đã vội vã lên đường đến miền núi để thăm bà Êlisabét. Mẹ vừa đón nhận một mầu nhiệm quá lớn lao, vừa mang trong lòng biết bao điều chưa thể hiểu hết, nhưng Mẹ không ngồi lại để chỉ nghĩ về mình. Mẹ lên đường. Mẹ mang Chúa Giêsu đến cho người khác. Mẹ biến niềm vui được Thiên Chúa viếng thăm thành một hành động cụ thể của yêu thương và phục vụ.
Mẹ lên đường không phải vì con đường ấy dễ dàng. Từ Nadarét đến miền núi Giuđê không phải là một quãng đường ngắn, cũng không phải là một hành trình nhẹ nhàng đối với một thiếu nữ đang mang thai. Mẹ lên đường vì tình yêu thôi thúc. Khi nghe sứ thần báo tin người chị họ đã mang thai trong lúc tuổi già, Mẹ hiểu rằng bà Êlisabét cần một người ở bên, cần một bàn tay giúp đỡ, cần một sự hiện diện cảm thông và chia sẻ. Mẹ không viện lý do rằng mình cũng đang có nhiều điều phải lo. Mẹ không nói rằng mình vừa trải qua một biến cố quá lớn và cần thời gian nghỉ ngơi. Mẹ cũng không chờ người khác lên tiếng mời gọi. Tình yêu đã giúp Mẹ nhận ra điều cần phải làm, và tình yêu cũng ban cho Mẹ sức mạnh để lập tức thực hiện điều ấy. Chính vì thế, việc lên đường của Mẹ không chỉ là một cuộc di chuyển từ nơi này đến nơi khác, nhưng là cuộc ra khỏi chính mình. Mẹ rời bỏ sự tiện nghi để đến với người đang cần Mẹ. Mẹ rời bỏ những bận tâm riêng để quan tâm đến nỗi vất vả của người khác. Mẹ không giữ Chúa Giêsu cho riêng mình, nhưng đem Người đến cho gia đình ông Dacaria. Nơi nào Mẹ đến, nơi đó có Chúa hiện diện; nơi nào có Chúa hiện diện, nơi đó niềm vui được khơi lên, sự sống được thức tỉnh và lời ca ngợi Thiên Chúa được cất cao.
Mẹ Maria kính yêu, nhiều khi con đã không muốn lên đường. Con dễ bằng lòng với đời sống đạo bình lặng của mình. Con nghĩ rằng chỉ cần đọc kinh, dự lễ và tránh phạm tội là đủ. Con quên rằng người môn đệ của Chúa không chỉ được gọi đến để ở bên Chúa, nhưng còn được sai đi. Đức tin không thể chỉ được cất giữ trong nhà thờ, trong sách kinh hay trong những phút cầu nguyện riêng tư. Đức tin phải trở thành những bước chân đi đến với anh chị em. Lời cầu nguyện chân thành phải đưa con đến gần người đau khổ. Thánh lễ con tham dự phải tiếp tục nơi bàn ăn gia đình, nơi công sở, nơi trường học, ngoài đường phố và giữa những cảnh đời đang cần được yêu thương. Nếu con nói rằng con yêu Chúa mà con không muốn đến với người nghèo, người bệnh, người già yếu, người cô đơn, người bị bỏ rơi, thì tình yêu của con vẫn chỉ là lời nói. Nếu con đón nhận Chúa trong Bí tích Thánh Thể mà không muốn đem lòng thương xót của Chúa đến cho người khác, thì con chưa thật sự để Chúa sống trong con.
Mẹ dạy con lên đường không nhất thiết là phải đi đến một nơi thật xa. Có khi cuộc lên đường khó khăn nhất lại là bước từ căn phòng riêng ra để ngồi bên một người thân đang buồn. Có khi lên đường là chủ động gọi điện hỏi thăm một người đã lâu con không quan tâm. Có khi lên đường là đến làm hòa với người mà con đang giận. Có khi lên đường là bước qua thành kiến để đến gần một người con không thích. Có khi lên đường là rời bỏ chiếc điện thoại, một thú vui hay một cuộc giải trí để dành thời gian cho cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em và những người đang cần con hiện diện. Có khi lên đường là ra khỏi sự tự ái, ra khỏi cái tôi, ra khỏi những tính toán hơn thua để thực hiện một nghĩa cử âm thầm. Có khi lên đường là dám bắt đầu lại sau một lần thất bại, dám đứng lên sau một lần vấp ngã, dám trở về với Chúa sau một thời gian sống xa Người. Mỗi cuộc lên đường như thế đều đòi con phải từ bỏ một phần con người cũ, nhưng cũng mở ra trong con một không gian mới để ân sủng của Chúa hoạt động.
Mẹ đã lên đường với Chúa Giêsu trong lòng. Đây chính là bí quyết giúp Mẹ vượt qua những đoạn đường khó khăn. Mẹ không đi một mình. Mẹ mang Đấng Cứu Thế trong cung lòng. Dù con đường có gập ghềnh, dù tương lai còn nhiều điều chưa rõ, Mẹ vẫn bình an vì biết rằng Chúa đang ở cùng Mẹ. Con cũng chỉ có thể lên đường một cách bền bỉ khi con mang Chúa trong lòng. Nếu con chỉ dựa vào sức riêng, con sẽ mau mệt mỏi. Nếu con chỉ hành động vì muốn được khen ngợi, con sẽ dễ thất vọng khi không ai ghi nhận. Nếu con phục vụ để tìm một vị trí, con sẽ chán nản khi phải làm những công việc âm thầm. Nếu con đến với người khác chỉ vì bổn phận, con sẽ dễ bực bội khi gặp sự vô ơn. Nhưng khi con mang Chúa trong lòng, mỗi bước chân của con sẽ trở thành một lời cầu nguyện. Khi con ý thức mình đang đem Chúa đến cho người khác, con sẽ không còn quá bận tâm người ta có biết ơn hay không. Con chỉ mong sao qua lời nói, ánh mắt, nụ cười, sự lắng nghe và những việc làm nhỏ bé của con, người khác cảm nhận được rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương họ.
Cuộc lên đường của Mẹ không dừng lại ở nhà bà Êlisabét. Mẹ còn lên đường về Bêlem trong hoàn cảnh khó khăn. Mẹ lên đường sang Ai Cập giữa đêm tối để bảo vệ Hài Nhi Giêsu. Mẹ lên đường trở về Nadarét để sống những tháng năm âm thầm. Mẹ đồng hành với Chúa trên những nẻo đường rao giảng. Mẹ bước theo Con trên đường lên đồi Canvê. Sau khi Chúa về trời, Mẹ tiếp tục hiện diện giữa các môn đệ trong lời cầu nguyện và hy vọng. Mỗi cuộc lên đường của Mẹ đều gắn liền với thánh ý Thiên Chúa. Có con đường dẫn đến niềm vui gặp gỡ; có con đường dẫn vào cảnh lưu đày; có con đường chan chứa bình an; cũng có con đường thấm đầy nước mắt. Nhưng dù đi qua con đường nào, Mẹ vẫn trung tín. Mẹ không chọn đường dễ, Mẹ chọn con đường Chúa muốn. Mẹ không tìm sự an toàn cho mình, Mẹ tìm cách bảo vệ và thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Mẹ Maria Trinh Vương dạy con rằng lên đường còn là chấp nhận để Thiên Chúa phá vỡ những dự định riêng. Con thường lập kế hoạch cho cuộc đời mình và mong Chúa chúc lành cho những gì con đã chọn. Khi mọi sự diễn ra đúng ý, con vui vẻ tạ ơn. Nhưng khi Chúa dẫn con sang một hướng khác, con lại lo lắng, than trách và kháng cự. Mẹ thì khác. Mẹ để Thiên Chúa viết nên cuộc đời Mẹ. Mẹ không biết mọi chi tiết của ngày mai, nhưng Mẹ biết Đấng đang dẫn đường là Đấng trung tín. Mẹ không cần nhìn thấy toàn bộ hành trình, Mẹ chỉ cần ánh sáng đủ cho bước chân hiện tại. Mẹ không đòi Thiên Chúa phải giải thích tất cả, Mẹ chỉ hỏi điều mình cần làm và rồi can đảm thực hiện. Xin Mẹ dạy con biết lên đường trong sự phó thác như thế. Xin cho con hiểu rằng sự an toàn đích thực không nằm ở chỗ con kiểm soát được mọi việc, nhưng ở chỗ con để Chúa nắm tay và dẫn dắt.
Có những lần Chúa mời con lên đường qua một biến cố không mong đợi: một căn bệnh, một mất mát, một sự thay đổi công việc, một cuộc chia ly, một thất bại hay một trách nhiệm mới. Những lúc ấy, con chỉ nhìn thấy sự bất tiện và đau đớn, nên con muốn quay lại với quá khứ. Nhưng Mẹ nhắc con rằng có những cánh cửa phải khép lại thì một cánh cửa khác mới có thể mở ra. Có những nơi con phải rời đi để trưởng thành. Có những điều con phải buông bỏ để đôi tay được tự do đón nhận ân sủng mới. Lên đường không có nghĩa là con không sợ, nhưng là con vẫn bước đi trong khi lòng còn sợ hãi. Can đảm không phải là không biết yếu đuối, nhưng là tin rằng sức mạnh của Chúa lớn hơn sự yếu đuối của mình. Mẹ cũng đã từng đứng trước những điều vượt quá khả năng hiểu biết của một con người, nhưng Mẹ không để nỗi sợ giữ chân. Mẹ tin, Mẹ thưa xin vâng và Mẹ bước đi.
Mẹ cũng dạy con rằng người lên đường với Chúa phải có một tâm hồn nhẹ nhàng. Không ai có thể đi xa khi mang quá nhiều hành trang. Con cũng không thể tự do bước theo Chúa nếu lòng còn chất đầy giận hờn, oán trách, tham vọng, thành kiến và những quyến luyến không lành mạnh. Có những hành trang con đã mang quá lâu: một lời xúc phạm năm xưa, một thất bại không thể quên, một mối quan hệ đã đổ vỡ, một ước mơ không thành, một hình ảnh về chính mình mà con luôn cố bảo vệ. Những điều ấy khiến bước chân con nặng nề. Xin Mẹ giúp con biết đặt xuống những gì không còn cần thiết. Xin Mẹ dạy con tha thứ để tâm hồn được nhẹ nhàng, khiêm nhường để không phải luôn chứng minh mình đúng, đơn sơ để không tìm kiếm những điều phức tạp, nghèo khó để không bị của cải trói buộc, và tín thác để không phải mang theo quá nhiều nỗi lo cho ngày mai.
Ngày hôm nay, Mẹ mời con lên đường. Mẹ không đòi con phải làm những việc lớn lao. Mẹ chỉ mời con bắt đầu bằng một bước chân nhỏ. Có thể đó là bước đến gần người trong gia đình mà con đã vô tình xa cách. Có thể đó là một lời hỏi thăm, một lời xin lỗi, một lời cảm ơn, một lời động viên hay một sự giúp đỡ cụ thể. Có thể đó là việc con đến thăm một người đau yếu, dành thời giờ lắng nghe một người cô đơn, chia sẻ một phần của cải với người thiếu thốn, hoặc âm thầm cầu nguyện cho một người đang gặp khó khăn. Điều quan trọng không phải con đi bao xa, nhưng là con có thật sự ra khỏi mình hay không. Một bước chân được thực hiện vì yêu thương cũng có thể trở thành con đường đưa Chúa đến với một tâm hồn.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã lên đường trong sự vâng phục, phục vụ và yêu thương. Xin đừng để con trở thành người chỉ biết đứng nhìn cuộc đời trôi qua. Xin đánh thức con khỏi sự trì trệ, ích kỷ và sợ hãi. Xin giúp con nghe được những tiếng kêu âm thầm của người bên cạnh. Xin cho con nhận ra những nơi đang cần sự hiện diện của con, những người đang chờ một lời an ủi, những tâm hồn đang cần một dấu chỉ hy vọng. Xin Mẹ cầm tay con, dạy con bước đi với Chúa Giêsu trong lòng. Khi đường dài làm con mệt mỏi, xin Mẹ nâng đỡ. Khi bóng tối làm con hoang mang, xin Mẹ nhắc con tin tưởng. Khi thất bại làm con muốn quay về, xin Mẹ giúp con kiên trì. Khi thành công khiến con tự mãn, xin Mẹ giữ con trong khiêm nhường. Xin cho mỗi cuộc lên đường của con không nhằm tìm kiếm bản thân, nhưng để mang Chúa đến cho người khác.
Hôm nay, con xin chọn một người để đến gần, một việc tốt để thực hiện và một sự an toàn ích kỷ để bước ra. Con không chờ đến khi mình hoàn hảo mới lên đường, bởi chính trên đường đi, Chúa sẽ đào luyện và biến đổi con. Con cũng không chờ đến khi mình có đủ mọi điều kiện, bởi điều Chúa cần trước hết là một trái tim sẵn sàng. Xin cho con biết cùng Mẹ thưa với Chúa: “Này con đây.” Xin cho con đứng dậy, mang Chúa trong lòng và vui vẻ bước đi. Bởi nơi nào con đến với tình yêu chân thành, nơi ấy Chúa có thể làm nảy sinh niềm vui; nơi nào con phục vụ trong âm thầm, nơi ấy Nước Chúa đang được mở rộng; và nơi nào con dám ra khỏi mình, nơi ấy con sẽ gặp được chính Chúa đang chờ con nơi những người bé nhỏ nhất.
NGÀY 9 – MẸ DẠY CON GIỮ LÒNG TRONG SẠCH
Lạy Đức Maria Trinh Vương, hôm nay con đến bên Mẹ với một tâm hồn còn nhiều xao động, nhiều vết nhơ và nhiều điều chưa đẹp lòng Chúa. Con muốn nhìn lên Mẹ, Đấng được Thiên Chúa gìn giữ tinh tuyền ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời, để học nơi Mẹ cách giữ lòng mình trong sạch giữa một thế giới có quá nhiều điều làm tâm hồn con bị vẩn đục. Sự trong sạch của Mẹ không chỉ là sự thanh khiết nơi thân xác, nhưng trước hết là một trái tim hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, không chia sẻ cho những tham vọng thấp hèn, không bị chi phối bởi lòng ích kỷ, không để cho gian dối, hận thù, ganh ghét và kiêu ngạo tìm được chỗ trú ngụ. Trái tim Mẹ trong sạch vì trái tim ấy chỉ muốn điều Chúa muốn, chỉ yêu điều Chúa yêu và chỉ sống để làm vinh danh Chúa.
Người ta thường nghĩ giữ lòng trong sạch chỉ là tránh những tư tưởng hay hành động liên quan đến đức khiết tịnh. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Một trái tim có thể không phạm những lỗi lầm rõ ràng bên ngoài nhưng vẫn bị vẩn đục bởi lòng hơn thua, bởi những suy nghĩ xấu về người khác, bởi sự cay cú, bởi những lời nói hai nghĩa, bởi thái độ giả hình và bởi những tính toán chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Có khi con giữ được vẻ đạo đức trước mặt mọi người nhưng trong lòng lại nuôi dưỡng sự bất mãn, đố kỵ và tự mãn. Có khi miệng con đọc kinh nhưng tâm trí lại chạy theo những hình ảnh, ham muốn và dự tính không đẹp lòng Chúa. Có khi con vẫn phục vụ, vẫn hy sinh, vẫn tỏ ra nhiệt thành, nhưng tận sâu trong lòng con lại muốn được người khác nhìn nhận, ca ngợi và biết ơn. Tất cả những điều ấy làm cho tâm hồn con không còn trong suốt trước mặt Thiên Chúa.
Mẹ Maria giữ lòng trong sạch bởi Mẹ luôn sống dưới ánh mắt của Chúa. Mẹ không sống để làm vừa lòng người đời, cũng không tìm cách xây dựng một hình ảnh đẹp cho mình. Mẹ chỉ quan tâm đến việc làm đẹp lòng Thiên Chúa. Khi sứ thần truyền tin, Mẹ không nghĩ đến danh dự của mình, không tính toán xem người đời sẽ hiểu Mẹ ra sao, cũng không tìm một con đường an toàn cho bản thân. Mẹ chỉ hỏi để hiểu ý Chúa, rồi khi nhận ra thánh ý Ngài, Mẹ đã thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời xin vâng ấy phát xuất từ một trái tim tinh tuyền, không bị pha trộn bởi những ý riêng, không đặt điều kiện với Thiên Chúa và không giữ lại cho mình một khoảng riêng nào ngoài sự hiện diện của Ngài.
Giữ lòng trong sạch là tập sống ngay thẳng trước mặt Chúa. Điều con nghĩ, điều con nói và điều con làm cần phải ngày càng trở nên thống nhất. Con không thể nói rằng mình yêu Chúa mà lại cố tình nuôi dưỡng tội lỗi. Con không thể đọc kinh xin ơn tha thứ nhưng vẫn giữ mãi sự oán hận đối với anh chị em. Con không thể xin Chúa ban bình an nhưng lại dùng lời nói gây chia rẽ. Con không thể tự nhận mình là người phục vụ mà lúc nào cũng muốn người khác chiều theo ý mình. Một trái tim trong sạch không phải là một trái tim chưa bao giờ yếu đuối, nhưng là một trái tim không muốn sống hai mặt; biết thành thật nhìn nhận những giới hạn của mình, biết sám hối khi sa ngã và biết mau mắn trở về với lòng thương xót của Chúa.
Mẹ Maria dạy con phải cẩn thận với những gì con để đi vào tâm hồn mình. Mắt con nhìn điều gì, tai con lắng nghe điều gì, trí tưởng tượng con giữ lại điều gì, tất cả đều có thể trở thành hạt giống tốt hoặc hạt giống xấu. Nếu mỗi ngày con để tâm trí mình ngập tràn những hình ảnh thiếu lành mạnh, những câu chuyện vô bổ, những lời nói tục tĩu, những tin tức gây kích động và những cuộc tranh cãi đầy hận thù, con khó có thể giữ được một tâm hồn bình an và trong sáng. Nếu con thường xuyên tò mò về khuyết điểm của người khác, thích nghe chuyện riêng tư, thích phán xét và loan truyền những điều chưa được kiểm chứng, tâm hồn con sẽ dần dần trở nên đục tối. Con có thể không nhận ra ngay, nhưng những điều con nhìn, con nghe và con suy nghĩ mỗi ngày đang âm thầm tạo nên con người của con.
Trong thời đại hôm nay, việc giữ lòng trong sạch càng trở nên khó khăn. Chỉ cần một chiếc điện thoại nhỏ bé, con có thể tiếp xúc với vô số hình ảnh, lời nói và nội dung. Có những điều thoạt nhìn tưởng vô hại nhưng lại từ từ làm con mất sự nhạy bén đối với tội lỗi. Có những hình ảnh đánh thức dục vọng, có những lời nói nuôi dưỡng sự bạo lực, có những câu chuyện khiến con quen với việc chế giễu phẩm giá của người khác. Có những lúc con lướt mạng mà không có mục đích, để rồi tâm trí trở nên nặng nề, trí tưởng tượng bị xáo trộn và đời sống cầu nguyện trở nên khô khan. Mẹ không bảo con phải chạy trốn khỏi thế giới, nhưng Mẹ dạy con biết làm chủ bản thân, biết chọn lựa điều cần xem, biết từ chối điều không lành mạnh và biết dừng lại trước khi tâm hồn bị cuốn đi quá xa.
Giữ lòng trong sạch cũng là giữ cho cái nhìn của con về người khác được trong sáng. Người trước mặt con không phải là một món đồ để con chiếm hữu, không phải là phương tiện để con thỏa mãn nhu cầu hay đạt được mục tiêu. Mỗi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa, có phẩm giá, có những tổn thương, có một lịch sử và có một hành trình riêng. Khi cái nhìn của con thiếu trong sạch, con dễ đánh giá người khác dựa trên ngoại hình, tiền bạc, địa vị hoặc lợi ích họ có thể đem lại cho con. Con quý người này vì họ có thể giúp mình, nhưng xem nhẹ người kia vì họ nghèo, yếu đuối hoặc không có tiếng nói. Mẹ dạy con nhìn mọi người bằng ánh mắt của Chúa Giêsu: tôn trọng người già, bảo vệ trẻ thơ, cảm thông với người tội lỗi, nâng đỡ người bị bỏ rơi và không bao giờ lợi dụng sự yếu đuối của bất cứ ai.
Một trong những điều làm trái tim mất trong sạch chính là sự gian dối. Khi con che giấu sự thật để bảo vệ mình, bóp méo câu chuyện để người khác có lợi cho con, nói nửa sự thật để làm hại ai đó hoặc dùng những lời đạo đức để che đậy ý đồ riêng, tâm hồn con sẽ mất bình an. Gian dối có thể giúp con tránh được một sự khó chịu nhất thời, nhưng nó khiến con phải sống trong sợ hãi và làm cho tương quan với Chúa bị tổn thương. Mẹ Maria không có gì phải che giấu trước mặt Chúa. Mẹ sống đơn sơ, chân thật và trong suốt. Mẹ không nói nhiều, nhưng lời Mẹ nói luôn xuất phát từ một trái tim không quanh co. Theo Mẹ, con cũng phải tập nói thật trong bác ái, nhận lỗi khi mình sai và không dùng sự im lặng như một cách che giấu trách nhiệm.
Lòng trong sạch còn đòi con thanh luyện những ý hướng khi làm việc thiện. Có những việc bên ngoài rất tốt nhưng động cơ bên trong lại chưa tốt. Con giúp người nhưng muốn họ lệ thuộc vào con. Con cho đi nhưng mong được nhắc tên. Con phục vụ nhưng khó chịu khi người khác không biết ơn. Con làm việc chung nhưng luôn tìm cách chứng minh mình giỏi hơn. Con nói những lời tốt đẹp nhưng trong lòng lại mong người khác thất bại. Mẹ dạy con hãy làm mọi việc vì lòng yêu mến Chúa và vì lợi ích thật sự của tha nhân. Khi trao ban, hãy trao ban mà không tính toán. Khi phục vụ, hãy phục vụ mà không đòi đền đáp. Khi làm được điều tốt, hãy âm thầm cảm tạ Chúa, bởi chính Ngài đã ban cho con sức khỏe, khả năng và cơ hội để thực hiện điều ấy.
Mẹ Maria cũng dạy con giữ lòng trong sạch bằng việc biết gìn giữ sự thinh lặng. Không phải mọi điều con biết đều cần phải nói ra. Không phải mọi lỗi lầm của người khác đều cần được kể lại. Không phải mọi suy nghĩ xuất hiện trong đầu đều phải biến thành lời nói. Có những lúc sự trong sạch của trái tim được bảo vệ nhờ một sự im lặng đúng lúc. Thinh lặng giúp con không buông lời làm tổn thương người khác trong lúc nóng giận. Thinh lặng giúp con không tham dự vào những câu chuyện nói xấu. Thinh lặng giúp con phân định xem điều mình sắp nói có thật không, có cần thiết không và có đem lại ích lợi không. Tuy nhiên, thinh lặng không có nghĩa là làm ngơ trước bất công hoặc che giấu sự dữ. Mẹ dạy con một sự thinh lặng có trách nhiệm, biết lên tiếng để bảo vệ sự thật nhưng không dùng sự thật như một vũ khí làm nhục người khác.
Muốn giữ lòng trong sạch, con cần siêng năng xét mình. Mỗi ngày, con hãy dành một ít phút đứng trước mặt Chúa và tự hỏi: Hôm nay tâm trí con đã dừng lại quá lâu ở điều gì? Ánh mắt con đã nhìn ai với sự thiếu tôn trọng? Con đã nói lời nào không ngay thật? Con có nuôi sự giận dữ hay ý muốn trả đũa không? Trong việc phục vụ, con có tìm chính mình không? Con có cố tình xem, nghe hoặc tìm kiếm những nội dung không lành mạnh không? Con có biết tránh những hoàn cảnh dễ làm mình sa ngã không? Việc xét mình không nhằm làm con sợ hãi hay thất vọng, nhưng giúp con nhận ra những bụi bẩn nhỏ đang bám vào tâm hồn để kịp thời thanh tẩy trước khi chúng trở thành thói quen.
Bí tích Hòa Giải là một món quà lớn lao Chúa ban để thanh tẩy tâm hồn. Khi sa ngã, con đừng chạy trốn Chúa, đừng nghĩ mình không còn xứng đáng đến với Ngài. Chính lúc yếu đuối là lúc con càng cần trở về. Điều nguy hiểm không phải chỉ là con đã phạm tội, nhưng là con cố chấp ở lại trong tội, biện minh cho mình hoặc mất lòng cậy trông. Mẹ Maria không khinh chê người tội lỗi. Mẹ luôn dẫn con đến với Chúa Giêsu, Đấng có quyền tha tội và làm cho mọi sự nên mới. Một lời thú nhận chân thành, một lòng sám hối thật và một quyết tâm sửa đổi sẽ mở cửa cho ân sủng bước vào. Tâm hồn con có thể đã bị tổn thương, nhưng lòng thương xót của Chúa mạnh hơn mọi vết nhơ.
Giữ lòng trong sạch không thể chỉ dựa vào sức riêng. Con cần cầu nguyện, cần Lời Chúa và cần Thánh Thể. Lời Chúa soi sáng để con nhận ra những điều đang ẩn khuất trong lòng. Thánh Thể nuôi dưỡng con bằng chính sự sống của Chúa Giêsu. Cầu nguyện giúp con đặt những tư tưởng, cảm xúc và ham muốn dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Khi lòng con bị cám dỗ, con hãy mau mắn chạy đến với Chúa và Mẹ. Đừng đối thoại quá lâu với cám dỗ, bởi càng đối thoại, con càng dễ tìm lý do để thỏa hiệp. Hãy lập tức đổi hướng suy nghĩ, rời khỏi hoàn cảnh nguy hiểm, tìm một công việc hữu ích, đọc một đoạn Tin Mừng, lần một chục kinh Mân Côi hoặc tâm sự với một người khôn ngoan có thể giúp con đứng vững.
Mẹ Maria dạy con rằng trong sạch không làm con trở nên khô cứng hay xa cách con người. Trái lại, một trái tim trong sạch là một trái tim biết yêu cách tự do. Vì không muốn chiếm hữu nên con có thể tôn trọng người khác. Vì không tìm lợi ích riêng nên con có thể phục vụ cách quảng đại. Vì không bị ghen tị chi phối nên con có thể vui trước thành công của anh chị em. Vì không nuôi thù hận nên con có thể tha thứ. Vì không tìm cách thống trị nên con có thể lắng nghe. Trái tim Mẹ trong sạch nên Mẹ yêu Chúa Giêsu bằng tình yêu trọn vẹn, yêu thánh Giuse bằng tình yêu trung tín và yêu nhân loại bằng tình mẫu tử không loại trừ một ai.
Có khi con nghĩ sự trong sạch là điều quá cao xa, chỉ dành cho những người thánh thiện. Nhưng Mẹ nhắc con rằng sự trong sạch được xây dựng từ những chọn lựa rất nhỏ mỗi ngày: tắt đi một nội dung không lành mạnh; không đọc tiếp một câu chuyện gây tò mò xấu; không tham gia nói hành nói xấu; không nhìn người khác với ý chiếm hữu; không giữ lại một ý nghĩ trả thù; thành thật nhận lỗi; tránh một cuộc gặp gỡ dễ làm con sa ngã; dành thời gian cầu nguyện thay vì để tâm trí trôi dạt vô định. Mỗi lần con nói “không” với điều xấu là một lần con nói “có” với Thiên Chúa. Mỗi hy sinh nhỏ bé vì tình yêu sẽ làm trái tim con tự do hơn.
Lạy Mẹ Maria Trinh Vương, xin Mẹ giúp con đừng tự tin thái quá vào sức mình. Có những người đã từng nghĩ mình vững vàng nên không biết tránh dịp tội, để rồi sa ngã. Xin cho con biết mình yếu đuối để sống khiêm tốn và tỉnh thức. Xin dạy con biết đặt những giới hạn cần thiết trong các mối tương quan, biết tôn trọng sự riêng tư và phẩm giá của người khác, biết cẩn trọng trong cách nói chuyện, nhắn tin và gặp gỡ. Xin cho con đừng đùa giỡn với cám dỗ, đừng thử xem mình có thể đi gần tội lỗi đến mức nào, nhưng biết chọn điều tốt ngay từ đầu.
Xin Mẹ thanh luyện ký ức của con khỏi những hình ảnh xấu, thanh luyện trí tưởng tượng khỏi những ham muốn lệch lạc, thanh luyện môi miệng khỏi lời gian dối, thanh luyện đôi mắt khỏi cái nhìn thiếu tôn trọng, thanh luyện đôi tay khỏi những hành động ích kỷ và thanh luyện trái tim khỏi lòng kiêu ngạo. Xin Mẹ giúp con biết quý trọng thân xác mình như đền thờ của Chúa Thánh Thần, đồng thời biết tôn trọng thân xác của người khác. Xin đừng để con làm tổn thương người khác bằng ánh mắt, lời nói, hành vi hay những mối tương quan không ngay chính.
Trong ngày thứ chín sống dưới sự hướng dẫn của Mẹ, con xin chọn một quyết tâm cụ thể: con sẽ can đảm loại bỏ khỏi đời sống mình một điều đang làm tâm hồn con mất trong sạch. Đó có thể là một nội dung con thường xem, một mối tương quan thiếu lành mạnh, một thói quen nói xấu, một sự gian dối, một lòng oán hận hay một ý muốn tìm kiếm lời khen. Con sẽ không chỉ hứa bằng lời nhưng sẽ thực hiện bằng một hành động rõ ràng. Con tin rằng khi con cộng tác với ân sủng, Chúa sẽ giúp con từng bước trở nên tự do.
Lạy Mẹ Maria Trinh Vương, Mẹ có trái tim tinh tuyền, xin che chở trái tim con. Giữa một thế giới nhiều cám dỗ, xin giữ con khỏi những điều làm con xa Chúa. Khi con yếu đuối, xin nâng con dậy. Khi con mất phương hướng, xin dẫn con về với Chúa Giêsu. Khi tâm hồn con bị vẩn đục bởi tội lỗi, xin giúp con can đảm tìm đến Bí tích Hòa Giải. Xin cho con biết yêu sự trong sạch không vì sợ hãi hình phạt, nhưng vì con khao khát có một trái tim tự do để yêu Chúa và yêu người cách chân thành.
Lạy Chúa Giêsu, nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria Trinh Vương, xin tạo cho con một trái tim trong sạch và đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy. Xin cho tư tưởng của con được ngay lành, lời nói của con được chân thật, ánh mắt của con được nhân hậu và mọi việc con làm đều phát xuất từ lòng mến. Xin đừng để con sống hai mặt, nhưng cho con trở nên trong suốt trước mặt Chúa. Xin cho con luôn ghi nhớ lời Chúa: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” Amen.
NGÀY 8 – MẸ DẠY CON SỐNG ĐƠN SƠ
Giữa một thế giới ngày càng phức tạp, người ta thường thích làm cho mọi sự trở nên rắc rối. Người ta nghĩ nhiều, tính nhiều, lo nhiều, nói nhiều, nhưng đôi khi lại sống quá ít. Người ta có thể mất rất nhiều thời gian để xây dựng một hình ảnh đẹp trước mặt người khác, nhưng lại không còn đủ thời gian để chăm sóc vẻ đẹp thật của tâm hồn mình. Người ta có thể cố gắng làm cho mình nổi bật giữa đám đông, nhưng rồi lại đánh mất sự bình an trong thẳm sâu lòng mình. Trong hành trình 30 ngày sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, hôm nay Mẹ dạy con một điều thật nhẹ nhàng nhưng cũng thật khó thực hiện: sống đơn sơ. Đơn sơ không phải là ngây thơ, không phải là thiếu hiểu biết, cũng không phải là sống dễ dãi, hời hợt hay không có lập trường. Đơn sơ là có một trái tim trong sáng, một tâm hồn không quanh co, một lối sống không giả tạo và một niềm tin không bị chia cắt. Người đơn sơ biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa, biết mình đang sống vì điều gì và biết điều gì thực sự cần thiết cho cuộc đời mình.
Đức Maria là người nữ đơn sơ nhất vì cả cuộc đời Mẹ chỉ hướng về một mình Thiên Chúa. Trong ngày Truyền Tin, Mẹ không đòi những dấu chỉ lớn lao, không đặt ra những điều kiện để bảo đảm cho tương lai, không tính toán xem lời xin vâng sẽ đem lại cho mình vinh dự hay đau khổ. Mẹ chỉ hỏi để hiểu điều Thiên Chúa muốn, rồi khi đã nhận ra thánh ý Người, Mẹ khiêm tốn thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Câu trả lời của Mẹ thật đơn sơ, nhưng chứa đựng cả một cuộc đời hiến dâng. Mẹ không nói những lời hoa mỹ, không đưa ra những lời hứa lớn lao, nhưng Mẹ sống trọn vẹn điều Mẹ đã thưa. Nơi Đức Maria, lời nói và đời sống là một. Tâm hồn và hành động là một. Đức tin và sự vâng phục là một. Đó chính là vẻ đẹp của sự đơn sơ.
Mẹ sống đơn sơ tại căn nhà nhỏ ở Nadarét. Mẹ không tìm kiếm một cuộc sống khác thường, không đòi hỏi những ưu đãi đặc biệt vì mình là Mẹ của Con Thiên Chúa. Mẹ vẫn âm thầm làm những công việc bình thường của một người vợ, người mẹ trong gia đình. Mẹ chăm sóc Thánh Giuse, chăm sóc Hài Nhi Giêsu, chuẩn bị bữa ăn, thu xếp nhà cửa, chia sẻ những nhọc nhằn của đời sống lao động và giữ gìn ngọn lửa yêu thương trong mái ấm Nadarét. Không ai nhìn thấy những hy sinh nhỏ bé của Mẹ, nhưng Thiên Chúa nhìn thấy. Không ai ca ngợi những công việc âm thầm của Mẹ, nhưng từng việc nhỏ được Mẹ làm với tình yêu đều trở thành của lễ quý giá trước mặt Thiên Chúa. Mẹ dạy con hiểu rằng sự thánh thiện không nhất thiết hệ tại ở việc làm những điều phi thường, nhưng trước hết là làm những điều bình thường với một tình yêu phi thường.
Sống đơn sơ là biết vui với những gì mình đang có. Con người thường bất hạnh không hẳn vì thiếu thốn, nhưng vì luôn nhìn vào những gì mình chưa có. Có người có một mái nhà nhưng lại buồn vì mái nhà ấy không đẹp bằng nhà người khác. Có người có một gia đình nhưng lại không biết trân trọng vì cứ nhìn vào những điều chưa hoàn hảo. Có người có sức khỏe, công việc, những người thân yêu bên cạnh, nhưng vẫn thấy đời mình trống rỗng vì tâm hồn luôn chạy theo những điều xa vời. Đức Maria dạy con biết dừng lại, biết nhận ra những ân huệ nhỏ bé Thiên Chúa ban mỗi ngày và biết nói lời tạ ơn. Một bữa cơm đơn sơ, một lời hỏi thăm, một người vẫn còn ở bên cạnh, một ngày bình an, một cơ hội để làm lại, một khoảnh khắc cầu nguyện trong thinh lặng – tất cả đều là hồng ân. Chỉ có tâm hồn đơn sơ mới nhận ra vẻ đẹp của những điều bé nhỏ ấy.
Sống đơn sơ còn là sống thật với chính mình. Có những lúc con cố tỏ ra mạnh mẽ dù bên trong đang mệt mỏi. Có những lúc con cười để che giấu nỗi buồn. Có những lúc con tỏ ra đạo đức nhưng lòng lại đầy ghen tị, tự ái và hơn thua. Có những lúc con nói những lời tốt đẹp nhưng cách cư xử lại làm người khác tổn thương. Có những lúc con sợ người khác nhìn thấy sự yếu đuối của mình nên cố tạo ra một hình ảnh không thật. Mẹ Maria không dạy con phô bày mọi chuyện riêng tư của mình, nhưng Mẹ dạy con đừng sống hai mặt. Trước mặt Thiên Chúa, con không cần đóng vai. Con có thể đến với Người bằng tất cả sự thật của mình, với những vết thương, những lầm lỗi, những sợ hãi và những ước mong còn dang dở. Thiên Chúa không yêu một hình ảnh hoàn hảo do con tạo ra. Thiên Chúa yêu chính con, một con người thật đang cần được chữa lành và biến đổi.
Người sống đơn sơ không tìm cách làm cho mình trở nên quan trọng trong mắt người khác. Mẹ Maria được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá cao cả hơn mọi loài thụ tạo, nhưng Mẹ không bao giờ lấy đó làm lý do để tự tôn mình. Khi đến thăm bà Êlisabét, Mẹ không chờ được phục vụ nhưng vội vã lên đường để phục vụ. Tại tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra sự thiếu thốn của gia chủ nhưng không làm ồn ào, không khiến họ xấu hổ và cũng không tìm cách để mọi người biết rằng chính Mẹ đã can thiệp. Mẹ chỉ nhẹ nhàng nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Sau đó, Mẹ âm thầm lui về phía sau và nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ không giữ người khác lại cho mình, nhưng luôn dẫn họ đến với Chúa Giêsu. Người đơn sơ không tìm cách chiếm lấy ánh sáng, nhưng vui khi người khác tìm thấy ánh sáng nơi Thiên Chúa.
Sống đơn sơ là bớt đi những nhu cầu không cần thiết. Có những nhu cầu thật sự cần cho đời sống, nhưng cũng có nhiều nhu cầu do con tự tạo ra vì muốn bằng người này, hơn người kia hoặc vì sợ mình bị xem thường. Con có thể mua sắm những thứ không thật sự cần, nói những điều không thật sự có ích, tham gia những cuộc tranh luận không đem lại bình an và chạy theo những mối quan hệ chỉ làm tâm hồn thêm mệt mỏi. Mẹ dạy con biết chọn điều cần thiết. Mẹ giúp con hiểu rằng càng chất đầy cuộc đời bằng những thứ bên ngoài, con càng khó nghe được tiếng Chúa bên trong. Một tâm hồn đầy tham vọng, tiếng ồn, hơn thua và tự ái sẽ không còn chỗ cho sự bình an của Thiên Chúa. Đơn sơ là can đảm buông bỏ những gì không giúp con đến gần Chúa, không giúp con yêu thương tha nhân và không làm cho con trở nên tốt hơn.
Sống đơn sơ cũng là đơn sơ trong lời nói. Có những lời nói quá dài nhưng không chứa đựng tình yêu. Có những lời giải thích thật nhiều chỉ để che giấu một điều không thành thật. Có những lời nói mang vẻ đạo đức nhưng bên trong lại là sự xét đoán. Có những lời khen chỉ để lấy lòng, những lời hỏi thăm chỉ vì tò mò và những lời góp ý chỉ để chứng tỏ mình đúng. Đức Maria là người nữ của những lời ít nhưng thật. Tin Mừng không ghi lại nhiều lời của Mẹ, nhưng mỗi lời của Mẹ đều phát xuất từ một tâm hồn trong sáng. Mẹ biết lúc nào cần nói và lúc nào cần thinh lặng. Mẹ không dùng lời nói để làm tổn thương, không dùng lời nói để đề cao mình và cũng không dùng lời nói để áp đặt người khác. Mẹ dạy con hãy nói điều chân thật trong tình yêu, hãy giữ im lặng khi lời nói không đem lại ích lợi và hãy dùng miệng lưỡi để an ủi, khích lệ, chữa lành hơn là phê phán, chia rẽ hay kết án.
Một tâm hồn đơn sơ cũng không tích trữ những oán giận phức tạp. Nhiều khi sự việc đã qua từ lâu nhưng con vẫn giữ lại trong lòng. Con nhớ từng câu nói làm mình đau, từng thái độ khiến mình tổn thương, từng lần người khác không hiểu mình. Con suy nghĩ, phân tích rồi tự làm cho vết thương sâu thêm. Con muốn tha thứ nhưng lại sợ người khác nghĩ mình yếu đuối. Con muốn làm hòa nhưng lại chờ người kia lên tiếng trước. Mẹ Maria đã trải qua biết bao đau khổ, nhưng Tin Mừng không cho thấy Mẹ oán trách bất cứ ai. Mẹ không oán trách người Bêlem vì đã không mở cửa đón Con Mẹ. Mẹ không oán trách những người hiểu lầm Chúa Giêsu. Mẹ không nguyền rủa những kẻ đóng đinh Con mình. Mẹ đứng dưới chân thập giá trong đau đớn nhưng lòng vẫn thuộc trọn về Thiên Chúa. Sự đơn sơ giúp Mẹ không để sự dữ của người khác biến thành bóng tối trong lòng mình.
Đơn sơ còn là biết tín thác. Người không đơn sơ thường muốn kiểm soát mọi sự. Họ muốn biết trước tương lai, muốn mọi việc diễn ra theo kế hoạch và muốn người khác hành động theo ý mình. Khi sự việc không như mong đợi, họ lo lắng, bực bội và mất bình an. Đức Maria không biết hết con đường phía trước khi thưa lời xin vâng. Mẹ không biết tại sao phải sinh Con trong cảnh nghèo khó, tại sao phải trốn sang Ai Cập, tại sao Con mình bị hiểu lầm, chống đối và cuối cùng bị đóng đinh. Mẹ không hiểu hết, nhưng Mẹ tin. Mẹ không nắm giữ tương lai trong tay, nhưng Mẹ để mình được nắm giữ trong bàn tay Thiên Chúa. Đó là sự đơn sơ của đức tin: không đòi hiểu hết rồi mới tin, nhưng vì tin nên tiếp tục bước đi ngay cả khi chưa hiểu hết.
Mẹ dạy con sống đơn sơ trong tương quan với người khác. Đừng đến với người khác chỉ vì họ có thể đem lại lợi ích cho con. Đừng yêu thương theo kiểu tính toán: ai tốt với con thì con tốt lại, ai giúp con thì con mới giúp, ai khen con thì con mới quý. Tình yêu đơn sơ không mặc cả. Tình yêu đơn sơ trao ban vì người khác cần được yêu thương. Mẹ đã lên đường đến với bà Êlisabét không phải để được khen ngợi, nhưng vì biết người chị họ đang cần sự hiện diện và giúp đỡ. Mẹ ở đó trong ba tháng, âm thầm phục vụ mà không đòi đáp trả. Mẹ mời con xét lại những việc tốt mình làm: Con làm vì yêu thương hay vì muốn được công nhận? Con phục vụ vì người khác cần hay vì muốn giữ một vị trí? Con cho đi với niềm vui hay trong lòng vẫn chờ người ta biết ơn? Chỉ khi tình yêu được thanh luyện khỏi tính toán, con mới thật sự có một tâm hồn đơn sơ.
Đơn sơ không có nghĩa là không khôn ngoan. Chính Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ phải “khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.” Người đơn sơ không phải là người để ai muốn làm gì thì làm, nhưng là người không dùng sự khôn ngoan để lừa dối, thao túng hay làm hại người khác. Họ có thể nhìn thấy sự phức tạp của cuộc đời nhưng không để lòng mình trở nên phức tạp. Họ biết sự dữ đang hiện diện nhưng không chọn sự dữ làm phương thế. Họ biết con người có thể phản bội nhưng vẫn chọn sống trung thành. Họ biết mình có thể bị hiểu lầm nhưng vẫn chọn sống chân thật. Sự đơn sơ đích thực cần rất nhiều can đảm, bởi giữa một thế giới quen với lớp mặt nạ, sống thật là điều không dễ; giữa một thế giới đề cao hơn thua, sống khiêm nhường là điều khó; giữa một thế giới thích ồn ào, chọn âm thầm là một thách đố.
Ngày hôm nay, Mẹ mời con trở về với những điều căn bản nhất của đời sống Kitô hữu: yêu Chúa, yêu người, chu toàn bổn phận và giữ tâm hồn bình an. Có thể con đang làm quá nhiều việc nhưng lại quên cầu nguyện. Có thể con biết nhiều điều về đạo nhưng chưa thật sự sống gắn bó với Chúa. Có thể con tham gia nhiều hoạt động nhưng lại thiếu sự dịu dàng với người trong gia đình. Có thể con nói về yêu thương nhưng vẫn chưa chịu tha thứ. Mẹ nhắc con rằng đời sống đức tin không nằm ở những điều hào nhoáng, nhưng ở sự trung thành mỗi ngày. Một kinh Kính Mừng đọc với lòng sốt sắng, một việc nhỏ làm với tình yêu, một lời xin lỗi chân thành, một cử chỉ nhường nhịn, một quyết định từ bỏ điều xấu – đó là những bước đơn sơ đưa con đến gần Chúa.
Con hãy xin Mẹ giúp con bớt tìm cách làm hài lòng tất cả mọi người để chỉ tìm điều đẹp lòng Thiên Chúa. Khi con quá bận tâm về ánh mắt của người đời, con sẽ dễ đánh mất chính mình. Người ta khen thì con vui, người ta chê thì con buồn; người ta đón nhận thì con hăng hái, người ta không ghi nhận thì con thất vọng. Đức Maria không sống theo dư luận. Mẹ sống dưới ánh mắt Thiên Chúa. Chính vì thế, Mẹ có thể bình an giữa những hiểu lầm và trung thành giữa những thử thách. Mẹ dạy con hãy làm điều tốt vì đó là điều tốt, hãy phục vụ vì yêu thương, hãy cầu nguyện vì con cần Chúa và hãy sống ngay lành ngay cả khi chẳng ai nhìn thấy.
Hôm nay, con có thể thực hành sự đơn sơ bằng những điều rất nhỏ: dọn lại một góc phòng đang bừa bộn, bớt một giờ sử dụng điện thoại, không tham gia vào một câu chuyện nói xấu, nói một lời chân thành với người thân, hoàn thành một việc còn dang dở, dành ít phút ngồi yên trước mặt Chúa hoặc cho đi một món đồ mà con không còn cần nhưng người khác đang thiếu. Đừng chờ làm những việc lớn. Mẹ không dẫn con đến với sự thánh thiện bằng những bước nhảy vọt, nhưng bằng những bước nhỏ trung thành. Mỗi lần con bớt một chút ích kỷ, bớt một lời khoe khoang, bớt một sự tính toán và bớt một nhu cầu không cần thiết, tâm hồn con lại có thêm một khoảng trống để Thiên Chúa ngự vào.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã sống một cuộc đời thật cao cả trong những điều hết sức đơn sơ. Xin Mẹ dạy con biết trở về với sự thật của lòng mình, biết sống chân thành trước mặt Chúa và trước mặt anh chị em. Xin Mẹ giúp con thoát khỏi những lớp mặt nạ, những tính toán quanh co, những tham vọng không cần thiết và những lo lắng làm tâm hồn con nặng nề. Xin cho con biết vui với điều nhỏ bé, trung thành trong bổn phận, trong sáng trong lời nói, quảng đại trong phục vụ và bình an trong sự tín thác. Xin Mẹ giúp con hiểu rằng hạnh phúc không nằm ở việc sở hữu thật nhiều, được nhiều người biết đến hay luôn thành công, nhưng ở chỗ có một trái tim thuộc trọn về Thiên Chúa.
Lạy Mẹ Maria, hôm nay con xin đặt vào tay Mẹ tất cả những phức tạp trong đời con. Xin Mẹ gỡ khỏi lòng con những nút thắt của tự ái, ganh tị, hơn thua, giả tạo và sợ hãi. Xin Mẹ dẫn con trở lại con đường đơn sơ của Tin Mừng, con đường mà Chúa Giêsu đã sống: yêu thương không tính toán, phục vụ không phô trương, trao ban không giữ lại và tín thác không điều kiện. Xin Mẹ dạy con sống sao để lời nói của con thật, việc làm của con trong sáng và trái tim con không chia đôi. Xin cho con mỗi ngày biết nói một lời “xin vâng” đơn sơ như Mẹ, để cuộc đời con dù nhỏ bé vẫn có thể trở thành nơi Thiên Chúa thực hiện những điều tốt đẹp cho anh chị em con. Amen.
NGÀY 10 – MẸ DẠY CON TIN KHI CHƯA HIỂU
Có những lúc trong cuộc đời, con người chỉ muốn tin khi đã hiểu rõ mọi sự. Ta muốn biết con đường sẽ dẫn về đâu rồi mới bước đi; muốn chắc chắn mình sẽ thành công rồi mới dấn thân; muốn thấy lời cầu nguyện được đáp lời rồi mới tiếp tục cầu nguyện; muốn nhận ra ý nghĩa của thử thách rồi mới sẵn lòng đón nhận. Thế nhưng đời sống đức tin không phải lúc nào cũng được xây dựng trên những điều ta đã nhìn thấy và hiểu thấu. Đức tin thường bắt đầu ngay tại nơi lý trí phải dừng lại, nơi con người không còn nắm được câu trả lời, nơi trước mắt chỉ là bóng tối và lòng ta chỉ còn có thể thưa lên: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con tin Chúa.” Trong hành trình ấy, Đức Maria Trinh Vương là người Mẹ, người môn đệ và người hướng dẫn tuyệt vời nhất. Mẹ không phải là người đã hiểu hết mọi sự ngay từ đầu, nhưng Mẹ là người đã tin trọn vẹn vào Thiên Chúa ngay cả khi chưa hiểu điều gì đang chờ đợi mình.
Ngày sứ thần Gabriel đến truyền tin, Mẹ Maria được nghe một lời vừa cao cả vừa vượt quá mọi hiểu biết của con người: Mẹ sẽ thụ thai và sinh một người con, Người Con ấy sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ nhận ngai vàng vua Đavít và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận. Trước lời loan báo ấy, Mẹ không thể hiểu ngay mọi sự. Mẹ đã hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Câu hỏi của Mẹ không phải là sự nghi ngờ hay chống đối, nhưng là lời thưa của một tâm hồn muốn tìm ánh sáng để biết mình phải cộng tác với Thiên Chúa như thế nào. Mẹ không đòi Thiên Chúa phải giải thích toàn bộ chương trình. Mẹ không yêu cầu được biết mọi khó khăn sẽ xảy ra. Mẹ không hỏi người đời sẽ nghĩ gì, thánh Giuse sẽ phản ứng thế nào, tương lai của Mẹ sẽ ra sao, hay Con Trẻ sẽ được bảo vệ bằng cách nào. Khi được sứ thần cho biết rằng quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Mẹ và “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Mẹ đã thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
Lời “xin vâng” của Mẹ không phát xuất từ chỗ Mẹ đã hiểu hết, nhưng phát xuất từ việc Mẹ biết mình đang tin vào ai. Mẹ chưa hiểu con đường, nhưng Mẹ biết Đấng đang dẫn đường. Mẹ chưa nhìn thấy tương lai, nhưng Mẹ biết Đấng nắm giữ tương lai. Mẹ chưa biết những gì sẽ xảy đến, nhưng Mẹ biết Thiên Chúa là Đấng trung tín, yêu thương và không bao giờ bỏ rơi người đặt trọn niềm cậy trông nơi Ngài. Chính vì thế, đức tin của Mẹ không dựa trên những bảo đảm của con người, nhưng đặt nền trên chính Thiên Chúa. Đây là điều Mẹ muốn dạy mỗi người chúng ta: đức tin không có nghĩa là hiểu được tất cả, nhưng là phó thác tất cả cho Đấng hiểu biết mọi sự.
Sau biến cố Truyền Tin, những điều xảy đến trong cuộc đời Mẹ vẫn tiếp tục là những mầu nhiệm khó hiểu. Mẹ mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, nhưng Mẹ phải đối diện với sự bối rối của thánh Giuse. Mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế, nhưng lại phải lên đường về Bêlem trong hoàn cảnh khó khăn. Mẹ sinh Con Thiên Chúa, nhưng không tìm được chỗ trong quán trọ. Mẹ đặt Hài Nhi trong máng cỏ, giữa cảnh nghèo nàn và thiếu thốn. Các mục đồng đến thờ lạy, các nhà chiêm tinh từ phương Đông tìm đến, nhưng rồi vua Hêrôđê lại tìm cách giết Hài Nhi. Gia đình Thánh Gia phải trốn sang Ai Cập như những người tị nạn. Tất cả những điều ấy dường như không phù hợp với lời sứ thần đã loan báo về một vị Vua cao cả và một triều đại không bao giờ cùng tận. Thế nhưng Mẹ vẫn tin.
Tin khi chưa hiểu không có nghĩa là không đau. Mẹ Maria không phải là một con người không biết lo âu, sợ hãi hay buồn phiền. Mẹ cũng mang một trái tim bằng thịt, cũng biết rung động trước niềm vui và quặn đau trước khổ đau. Khi không tìm thấy Chúa Giêsu trong chuyến hành hương trở về từ Giêrusalem, Mẹ và thánh Giuse đã phải đau khổ tìm kiếm suốt ba ngày. Khi gặp lại Con trong Đền Thờ, Mẹ đã hỏi: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” Chúa Giêsu trả lời rằng Người phải ở nhà của Cha Người. Thánh Luca ghi lại một chi tiết rất chân thật: “Ông bà không hiểu lời Người vừa nói.” Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ không vì thế mà khép lòng, trách móc hay từ bỏ. Mẹ “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.”
Đó là thái độ của một tâm hồn có đức tin trưởng thành. Khi chưa hiểu, Mẹ không vội kết luận. Khi chưa thấy rõ, Mẹ không phán xét chương trình của Thiên Chúa. Khi câu trả lời chưa đến, Mẹ không để lòng mình rơi vào cay đắng. Mẹ giữ mọi sự trong lòng, cầu nguyện, suy niệm và chờ đợi ánh sáng của Thiên Chúa. Có những điều Mẹ chỉ hiểu được nhiều năm sau đó. Có những lời của Chúa Giêsu chỉ sáng tỏ khi Người bước vào cuộc khổ nạn và phục sinh. Có những mầu nhiệm có lẽ Mẹ chỉ hoàn toàn nhận ra khi đứng trong ánh sáng vĩnh cửu của Thiên Chúa. Nhưng trong suốt hành trình, Mẹ vẫn trung thành. Mẹ không cần phải hiểu hết mới vâng phục; Mẹ vâng phục để rồi dần dần được dẫn vào sự hiểu biết sâu xa hơn.
Con người chúng ta thường làm ngược lại. Ta muốn Thiên Chúa cho mình hiểu trước rồi mới vâng lời. Ta muốn biết lý do của mọi biến cố rồi mới chấp nhận. Ta muốn Thiên Chúa trình bày toàn bộ kế hoạch rồi mới chịu lên đường. Khi gặp một điều trái ý, ta dễ hỏi: “Tại sao Chúa lại để điều này xảy ra?” Khi lời cầu nguyện chưa được nhận lời, ta dễ nghĩ Chúa không nghe. Khi người tốt phải đau khổ, ta dễ nghi ngờ lòng nhân lành của Thiên Chúa. Khi một cánh cửa đóng lại, ta tưởng rằng Chúa đã bỏ quên mình. Khi cuộc đời không diễn ra như mong đợi, ta dễ đánh mất bình an và buông lời than trách. Thật ra, điều làm ta đau khổ không chỉ là những gì xảy đến, mà còn là việc ta muốn kiểm soát tất cả, muốn hiểu tất cả và muốn mọi sự phải diễn ra theo ý mình.
Mẹ Maria dạy con rằng có những lúc con phải chấp nhận giới hạn của mình. Con không phải là Thiên Chúa. Con không thể nhìn thấy toàn bộ con đường. Con chỉ thấy một đoạn ngắn trước mắt, còn Thiên Chúa thấy cả hành trình. Con chỉ thấy một biến cố riêng lẻ, còn Thiên Chúa thấy biến cố ấy trong toàn bộ chương trình cứu độ. Con chỉ thấy mất mát của hôm nay, còn Thiên Chúa thấy những hoa trái sẽ nảy sinh mai sau. Con chỉ thấy cánh cửa vừa đóng, còn Thiên Chúa biết cánh cửa nào cần mở. Con chỉ cảm nhận sự thinh lặng, còn Thiên Chúa vẫn đang âm thầm hành động. Vì thế, đức tin mời gọi con không ngừng tìm hiểu, nhưng đồng thời cũng biết khiêm tốn thưa rằng: “Lạy Chúa, trí con nhỏ bé, con không hiểu hết được đường lối của Ngài.”
Tin khi chưa hiểu không phải là nhắm mắt tin một cách mù quáng. Đức tin Kitô giáo không chống lại lý trí. Thiên Chúa ban cho con người trí khôn để tìm kiếm sự thật, phân định và nhận ra ý Ngài. Mẹ Maria cũng đã hỏi sứ thần, đã suy đi nghĩ lại và đã ghi nhớ mọi sự trong lòng. Nhưng khác với sự nghi ngờ khép kín, câu hỏi của đức tin luôn mở ra cho Thiên Chúa. Người không tin thường hỏi để phủ nhận, còn người có đức tin hỏi để bước sâu hơn vào mầu nhiệm. Người không tin đòi phải hiểu hết rồi mới tin, còn người có đức tin vừa tìm hiểu vừa phó thác. Đức tin không loại bỏ câu hỏi, nhưng giúp ta đặt câu hỏi trong khiêm nhường, kiên nhẫn và tin tưởng.
Có thể hôm nay con đang đứng trước một điều chưa thể hiểu được. Con đã cầu nguyện rất lâu nhưng bệnh tật vẫn chưa thuyên giảm. Con đã sống tử tế nhưng lại bị hiểu lầm và tổn thương. Con đã cố gắng giữ gìn gia đình nhưng những rạn nứt vẫn xảy ra. Con hết lòng phục vụ nhưng nhận lại sự vô ơn. Con đã dâng hiến cuộc đời cho Chúa nhưng có lúc lại cảm thấy khô khan, trống rỗng và cô đơn. Con đã lựa chọn điều ngay lành nhưng con đường vẫn đầy thử thách. Con nhìn vào thế giới và không hiểu tại sao chiến tranh, bạo lực, bất công và đau khổ vẫn còn quá nhiều. Con nhìn vào Giáo Hội và buồn vì những yếu đuối của con người. Con nhìn vào chính mình và không hiểu tại sao đã quyết tâm nhiều lần mà vẫn sa ngã. Trong những hoàn cảnh ấy, Mẹ không bảo con phải giả vờ rằng mình không đau, cũng không buộc con phải có ngay một lời giải thích. Mẹ chỉ nhẹ nhàng mời con ở lại với Thiên Chúa, đừng bỏ cầu nguyện và đừng đánh mất niềm tin.
Đỉnh cao của đức tin nơi Mẹ chính là dưới chân thập giá. Khi đứng trên đồi Canvê, Mẹ thấy người Con mà thiên thần từng loan báo là Con Đấng Tối Cao lại bị treo giữa hai người tử tội. Đấng được hứa ban ngai vàng vua Đavít giờ đây chỉ có một tấm bảng chế nhạo ghi danh hiệu “Vua dân Do Thái”. Người Con vô tội bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị đóng đinh và hấp hối trong đau đớn. Những lời hứa năm xưa dường như hoàn toàn sụp đổ. Triều đại vô cùng vô tận ở đâu? Ơn cứu độ nhân loại ở đâu? Quyền năng của Thiên Chúa ở đâu? Trong giờ phút ấy, Mẹ có thể hiểu được điều gì? Có lẽ Mẹ không hiểu hết, nhưng Mẹ vẫn đứng đó.
Tin khi chưa hiểu đôi khi chỉ đơn giản là đứng lại. Không chạy trốn. Không quay lưng. Không bỏ Chúa. Không để đau khổ biến mình thành người cay nghiệt. Mẹ đứng dưới chân thập giá không phải vì Mẹ không đau, nhưng vì Mẹ yêu. Mẹ không thể tháo những chiếc đinh ra khỏi tay chân Con, không thể ngăn lưỡi đòng đâm thấu cạnh sườn Người, không thể thay đổi bản án của Philatô, nhưng Mẹ có thể hiện diện. Sự hiện diện trung thành của Mẹ là lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ nhất: dù mọi sự trước mắt dường như thất bại, Mẹ vẫn tin Thiên Chúa trung tín; dù không nhìn thấy ánh sáng phục sinh, Mẹ vẫn không rời khỏi thập giá.
Nhiều lúc trong cuộc đời, Chúa cũng không đòi con phải giải quyết được mọi vấn đề. Chúa chỉ mời con đứng vững trong đức tin. Khi một người thân đau bệnh, con không thể chữa lành họ, nhưng con có thể ở bên và yêu thương. Khi gia đình gặp khủng hoảng, con không thể thay đổi người khác ngay lập tức, nhưng con có thể trung thành cầu nguyện, đối thoại và tha thứ. Khi sứ vụ gặp thất bại, con không thể làm cho mọi người hiểu mình, nhưng con có thể giữ lòng ngay thẳng. Khi tâm hồn khô khan, con không thể tạo ra cảm xúc sốt sắng, nhưng con vẫn có thể tiếp tục cầu nguyện. Khi không biết tương lai sẽ thế nào, con vẫn có thể hoàn thành bổn phận của ngày hôm nay. Đức tin không nhất thiết làm biến mất bóng tối ngay lập tức, nhưng ban cho con đủ ánh sáng để bước thêm một bước.
Mẹ Maria cũng dạy con đừng đồng hóa sự thinh lặng của Thiên Chúa với sự vắng mặt của Ngài. Trong ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, mọi sự chìm trong im lặng. Chúa Giêsu đã nằm trong mồ. Các môn đệ hoang mang, sợ hãi và thất vọng. Nhưng trong sự thinh lặng ấy, công trình cứu độ không hề dừng lại. Thiên Chúa vẫn đang hành động ở nơi mắt người không thấy. Hạt lúa đã rơi xuống đất và đang chuẩn bị sinh nhiều bông hạt. Bình minh phục sinh đang đến, dù đêm tối vẫn bao phủ. Mẹ tin khi chưa hiểu, chờ đợi khi chưa thấy và hy vọng khi mọi dấu chỉ bên ngoài dường như không còn gì để hy vọng.
Trong đời con cũng có những “ngày Thứ Bảy Tuần Thánh” như thế: những giai đoạn Chúa dường như im lặng, lời cầu xin chưa có hồi đáp, con đường phía trước chưa mở ra và những gì con từng tin tưởng dường như đã bị chôn vùi. Mẹ dạy con đừng vội tuyệt vọng. Một ngôi mộ đóng kín không có nghĩa là Thiên Chúa đã thất bại. Một thời gian chờ đợi kéo dài không có nghĩa là lời cầu nguyện bị bỏ quên. Một dự định không thành không có nghĩa là đời con mất ý nghĩa. Có thể Thiên Chúa đang chuẩn bị một điều vượt quá điều con suy tưởng. Có thể Ngài đang thanh luyện lòng con, giúp con trưởng thành, giải thoát con khỏi sự bám víu và đưa con đến một sự tự do sâu xa hơn. Có thể Ngài không thay đổi hoàn cảnh ngay, nhưng đang biến đổi chính con trong hoàn cảnh ấy.
Dĩ nhiên, không phải mọi đau khổ đều do Thiên Chúa trực tiếp gửi đến. Có những đau khổ phát sinh từ tội lỗi, ích kỷ, sự vô trách nhiệm và những lựa chọn sai lầm của con người. Có những hoàn cảnh bất công mà người Kitô hữu phải can đảm lên tiếng và hành động để thay đổi. Tin tưởng vào Thiên Chúa không có nghĩa là thụ động trước sự dữ, cam chịu bạo lực hay dung túng bất công. Mẹ Maria tin tưởng nhưng không thụ động. Mẹ vội vã lên đường phục vụ bà Êlisabét; Mẹ nhạy bén nhận ra sự thiếu rượu tại Cana; Mẹ hiện diện bên cộng đoàn các môn đệ. Đức tin thật luôn dẫn đến hành động, nhưng đó là hành động được soi sáng bởi sự phó thác, chứ không phải hành động do sợ hãi, nóng vội hay tuyệt vọng.
Tin khi chưa hiểu còn đòi con biết buông bỏ ý riêng. Nhiều khi con nói mình tin Chúa, nhưng thật ra con chỉ tin khi Chúa làm đúng điều con muốn. Con cầu nguyện, nhưng trong lòng đã chuẩn bị sẵn câu trả lời và chỉ mong Chúa xác nhận. Con xin Chúa hướng dẫn, nhưng lại không muốn từ bỏ kế hoạch riêng. Con nói “xin vâng”, nhưng kèm theo nhiều điều kiện. Mẹ Maria thì khác. Mẹ trao cho Chúa một tờ giấy trắng để Ngài viết lên đó điều Ngài muốn. Mẹ không ký với Chúa một bản hợp đồng trong đó Mẹ được bảo đảm sẽ không đau khổ. Mẹ không xin Chúa miễn cho mình khỏi những thử thách. Mẹ chỉ nhận mình là nữ tỳ của Chúa và để Ngài thực hiện chương trình của Ngài.
Đó là sự tự do cao quý của đức tin: không còn bắt Thiên Chúa phải phục vụ chương trình của con, nhưng để đời con phục vụ chương trình của Thiên Chúa. Khi con thật sự tin, con có thể thưa: “Lạy Chúa, xin cho điều Chúa muốn được thực hiện, dù điều ấy không giống điều con mong đợi. Xin dẫn con đi trên con đường Chúa chọn, dù con chưa nhìn thấy nơi đến. Xin giữ con trung thành, dù con chưa hiểu tại sao phải trải qua thử thách này.” Lời cầu nguyện ấy không dễ. Có khi con phải thưa đi thưa lại mỗi ngày, giữa nước mắt và giằng co. Nhưng chính trong sự giằng co ấy, đức tin của con được thanh luyện và lớn lên.
Mẹ cũng dạy con rằng muốn tin khi chưa hiểu, con cần sống bằng ký ức về lòng trung tín của Thiên Chúa. Mẹ đã hát trong kinh Magnificat rằng: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.” Mẹ nhớ lại những việc kỳ diệu Chúa đã làm cho dân Israel, nhớ lời hứa với tổ phụ Abraham, nhớ lòng thương xót trải dài qua mọi thế hệ. Vì nhớ những gì Thiên Chúa đã làm, Mẹ có sức tin vào những gì Ngài sẽ làm. Trong lúc khó khăn, con cũng cần nhớ lại những lần Chúa đã nâng đỡ mình, những cánh cửa Ngài từng mở, những nguy hiểm Ngài đã gìn giữ, những con người Ngài đã gửi đến và những ân sủng âm thầm con từng nhận được. Ký ức về lòng thương xót sẽ trở thành chiếc neo giữ con khỏi trôi dạt trong cơn bão hiện tại.
Ma quỷ thường làm cho con chỉ nhìn thấy khó khăn trước mắt và quên mọi ân huệ đã qua. Nó khiến con nghĩ rằng Chúa chưa từng thương con, chưa từng nghe con và sẽ không bao giờ cứu giúp con. Nhưng đức tin nhắc con: Đấng đã trung thành hôm qua vẫn là Đấng trung thành hôm nay và mãi mãi. Có thể cách Chúa đáp lời không giống như con mong muốn, nhưng tình yêu của Ngài không thay đổi. Có thể Chúa không cất chén đắng khỏi con, nhưng Ngài sẽ ban sức mạnh để con uống chén ấy. Có thể Chúa không dẹp bỏ cơn bão ngay lập tức, nhưng Ngài sẽ ở trong thuyền với con. Có thể Chúa không giải thích mọi sự, nhưng chính Ngài sẽ là câu trả lời đủ cho đời con.
Để học tin khi chưa hiểu, con cần tập sống từng ngày. Nhiều người sợ hãi vì muốn giải quyết cả tương lai trong một lúc. Họ mang những gánh nặng của ngày mai, năm sau và nhiều năm nữa đặt lên đôi vai của hôm nay. Nhưng ơn Chúa luôn được ban cho từng ngày. Mẹ Maria không nhận được toàn bộ ánh sáng cho cả cuộc đời trong ngày Truyền Tin. Mẹ nhận đủ ánh sáng để thưa “xin vâng” trong ngày hôm ấy. Sau đó, từng bước một, Thiên Chúa tiếp tục dẫn Mẹ. Khi phải lên đường về Bêlem, Mẹ đi. Khi phải trốn sang Ai Cập, Mẹ đi. Khi được báo trở về, Mẹ trở về. Khi Con bắt đầu sứ vụ, Mẹ dõi theo. Khi Con lên Giêrusalem chịu chết, Mẹ cùng đi. Mỗi ngày là một tiếng xin vâng mới.
Con cũng vậy. Có thể con chưa biết năm tới sẽ thế nào, nhưng hôm nay con có thể sống trung thành. Con chưa biết bệnh tật sẽ diễn tiến ra sao, nhưng hôm nay con có thể đón nhận việc điều trị và trao mình cho Chúa. Con chưa biết một tương quan có được hàn gắn hay không, nhưng hôm nay con có thể nói một lời chân thành. Con chưa biết sứ vụ có sinh hoa trái không, nhưng hôm nay con có thể làm việc với tình yêu. Con chưa biết tương lai của Giáo Hội hay cộng đoàn sẽ ra sao, nhưng hôm nay con có thể sống thánh thiện hơn. Đức tin không đòi con thấy toàn bộ chiếc cầu; đức tin chỉ mời con bước lên tấm ván đang ở trước chân mình.
Tin khi chưa hiểu cũng cần sự đồng hành của Lời Chúa. Nếu chỉ lắng nghe những tiếng nói của sợ hãi, con sẽ mất phương hướng. Nếu chỉ dựa vào cảm xúc, con sẽ dễ dao động. Nếu chỉ nhìn vào dư luận, con sẽ không còn biết đâu là sự thật. Mẹ Maria đã để Lời Chúa ở lại trong lòng. Mẹ suy niệm, gìn giữ và để Lời ấy soi sáng từng biến cố. Con cũng cần dành thời gian đọc và suy niệm Kinh Thánh, không phải chỉ để tìm những câu trả lời mau chóng, nhưng để tâm hồn được uốn lại theo trái tim Thiên Chúa. Có những lúc hoàn cảnh chưa thay đổi, nhưng một câu Lời Chúa đủ làm con bình an. Có những lúc bóng tối vẫn còn, nhưng Lời Chúa trở thành ngọn đèn soi cho bước chân. Có những lúc con chưa hiểu điều đang xảy ra, nhưng Lời Chúa giúp con tin rằng đời mình vẫn nằm trong bàn tay của Cha.
Con cũng cần Thánh Thể. Mỗi thánh lễ là một trường học của đức tin. Trước mắt con chỉ là tấm bánh nhỏ bé, nhưng con tin đó là Mình Chúa Kitô. Con không nhìn thấy vinh quang của Người bằng đôi mắt thể xác, nhưng con tin Người đang hiện diện thật. Chính nơi Thánh Thể, Chúa dạy con nhận ra rằng những thực tại lớn lao nhất thường được ẩn giấu dưới dáng vẻ đơn sơ nhất. Từ đó, con học nhìn những biến cố đời mình bằng ánh mắt mới: trong điều nhỏ bé có thể có một ân sủng lớn lao; trong thất bại có thể ẩn chứa một khởi đầu; trong thập giá có thể đang nảy mầm sự sống; trong sự thinh lặng có thể có một lời đáp sâu xa hơn mọi tiếng nói.
Mẹ Maria Trinh Vương không đưa con đến một thứ đức tin dễ dãi, nơi mọi vấn đề đều được giải quyết và mọi đau khổ đều biến mất. Mẹ đưa con đến một đức tin vững vàng, có thể đi qua đêm tối mà không đánh mất phương hướng, có thể khóc mà vẫn hy vọng, có thể đặt câu hỏi mà vẫn trung thành, có thể không hiểu mà vẫn yêu mến Thiên Chúa. Mẹ không hứa rằng người tin sẽ không bao giờ bị thử thách; Mẹ cho thấy người tin có thể bước qua thử thách mà không bị nó đánh bại.
Hôm nay, con hãy nhìn lại điều gì đang làm con bối rối nhất. Có quyết định nào con chưa biết phải chọn lựa? Có đau khổ nào con không tìm thấy ý nghĩa? Có lời cầu nguyện nào dường như chưa được Chúa đáp lại? Có con đường nào trước mắt đang mờ mịt? Con hãy mang tất cả đến với Mẹ. Đừng che giấu nỗi sợ. Đừng giả vờ mình mạnh mẽ. Hãy nói với Mẹ như người con thưa chuyện với người mẹ hiền: “Thưa Mẹ, con không hiểu. Con sợ. Con mệt. Con không biết điều gì sẽ xảy ra. Nhưng xin Mẹ giúp con đừng rời xa Chúa.”
Mẹ sẽ không luôn giải thích cho con biết tại sao, nhưng Mẹ sẽ nắm tay con và dẫn con đến với Chúa Giêsu. Mẹ sẽ nhắc con lời Người đã nói tại tiệc cưới Cana: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó chính là bí quyết để bước đi trong những ngày chưa hiểu: hãy làm điều Chúa mời gọi trong giây phút hiện tại. Hãy tiếp tục cầu nguyện. Hãy chu toàn bổn phận. Hãy sống bác ái. Hãy tránh tội. Hãy tha thứ. Hãy tìm kiếm sự thật. Hãy kiên nhẫn. Hãy phó thác. Những điều nhỏ bé ấy sẽ giữ con trên con đường của Thiên Chúa cho đến khi ánh sáng xuất hiện.
Có những điều hôm nay con chưa hiểu, nhưng một ngày nào đó con sẽ nhìn lại và nhận ra rằng Chúa đã âm thầm dẫn dắt. Con sẽ hiểu tại sao có những cánh cửa phải đóng, tại sao có những cuộc chia xa, tại sao có những thời gian chờ đợi và tại sao có những giọt nước mắt. Nhưng cũng có thể có những điều con sẽ không bao giờ hiểu trọn vẹn ở đời này. Đức tin không hứa rằng mọi bí ẩn sẽ được giải đáp trong thời gian, nhưng bảo đảm rằng mọi giọt nước mắt, mọi hy sinh và mọi tiếng xin vâng trung thành đều được gìn giữ trong tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa. Đến ngày gặp Ngài, con sẽ không còn hỏi “tại sao” nữa, bởi con sẽ nhìn thấy mọi sự trong ánh sáng của tình yêu.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã tin khi chưa hiểu, đã vâng phục khi chưa nhìn thấy con đường, đã hy vọng khi mọi sự dường như chìm trong bóng tối và đã đứng vững dưới chân thập giá khi những lời hứa của Thiên Chúa tưởng như không còn hy vọng thực hiện. Xin Mẹ dạy con biết tin như Mẹ. Khi con không hiểu chương trình của Chúa, xin giúp con đừng nghi ngờ tình yêu của Ngài. Khi lời cầu nguyện chưa được đáp lại, xin giúp con kiên trì. Khi con đường phía trước mờ tối, xin giúp con bước đi từng ngày. Khi thập giá trở nên nặng nề, xin giúp con đứng vững và không chạy trốn. Khi lòng con bị cám dỗ muốn buông xuôi, xin nhắc con rằng Thiên Chúa vẫn trung tín.
Lạy Mẹ, xin dạy con biết giữ mọi sự trong lòng, biết cầu nguyện trước khi phán xét, biết chờ đợi trước khi thất vọng và biết phó thác trước những điều vượt quá khả năng của con. Xin giúp con không đòi Thiên Chúa phải làm theo ý mình, nhưng biết khiêm nhường tìm kiếm và thi hành thánh ý Ngài. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa Giêsu, để trong Người, con tìm được sức mạnh cho những ngày thử thách, ánh sáng cho những giờ tăm tối và bình an giữa những điều con chưa hiểu.
Hôm nay, con xin dâng cho Chúa một điều mà con vẫn chưa thể hiểu. Con không xin Chúa phải giải thích mọi sự ngay lập tức. Con chỉ xin Ngài ban cho con đủ đức tin để không rời xa Ngài, đủ hy vọng để tiếp tục bước đi và đủ tình yêu để sống trung thành. Cùng với Mẹ Maria, con xin thưa: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con tin. Con chưa thấy đường, nhưng con tin Ngài đang dẫn con. Con chưa biết ngày mai ra sao, nhưng con biết đời con thuộc về Ngài. Xin Chúa cứ thực hiện nơi con điều đẹp lòng Chúa.”
NGÀY 11 – MẸ DẠY CON CHỜ ĐỢI
Chờ đợi là một trong những điều khó nhất của đời người. Con người thường thích mọi chuyện phải nhanh, phải rõ ràng, phải có kết quả ngay. Gieo hôm nay thì mong ngày mai được gặt. Cầu nguyện hôm nay thì mong ngày mai Chúa đáp lời. Hy sinh một chút thì mong người khác lập tức nhận ra. Làm một việc tốt thì mong sớm nhìn thấy hoa trái. Khi gặp đau khổ, ta mong nó mau qua. Khi mang một vết thương, ta mong nó chóng lành. Khi đứng trước một cánh cửa đóng kín, ta mong cánh cửa ấy phải mở ra theo đúng thời gian mình đã dự tính. Thế nhưng, đường lối của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng giống với sự tính toán của con người. Có những điều Thiên Chúa ban ngay, nhưng cũng có những điều Người để ta phải chờ. Có những lời cầu xin được đáp lại bằng một ân huệ, nhưng cũng có những lời cầu xin được đáp lại bằng một thời gian dài thinh lặng. Có những lúc Chúa dẫn ta đi trên con đường đầy ánh sáng, nhưng cũng có những lúc Người để ta bước trong đêm tối, không nhìn thấy gì ngoài một bước chân nhỏ bé trước mặt. Chính trong những thời gian ấy, Đức Maria Trinh Vương đến bên con, nhẹ nhàng nắm tay con và dạy con nghệ thuật chờ đợi.
Cuộc đời của Đức Maria là một cuộc đời biết chờ đợi trong niềm tin. Ngay từ khi còn là một thiếu nữ tại làng Nadarét, Mẹ đã sống trong niềm mong đợi chung của dân Israel. Dân Chúa đã trải qua nhiều thế hệ đợi chờ Đấng Cứu Thế. Bao lời ngôn sứ đã được loan báo. Bao lời cầu nguyện đã được dâng lên. Bao tâm hồn công chính đã mong mỏi ngày Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người. Mẹ Maria cũng sống trong dòng chảy của niềm hy vọng ấy. Nhưng có lẽ Mẹ không bao giờ nghĩ rằng chính mình sẽ được chọn để trở thành Mẹ của Đấng muôn dân mong đợi. Khi sứ thần Gabriel đến truyền tin, Mẹ đã thưa lời xin vâng. Lời xin vâng ấy không làm cho mọi sự ngay lập tức trở nên dễ dàng. Trái lại, lời xin vâng mở ra cho Mẹ một hành trình dài của chờ đợi, thử thách, hy sinh và phó thác.
Sau lời truyền tin, Mẹ mang Con Thiên Chúa trong lòng. Chín tháng cưu mang là chín tháng đợi chờ. Mẹ không thể nhìn thấy rõ khuôn mặt của Hài Nhi, nhưng Mẹ tin Người đang sống trong cung lòng mình. Mẹ không biết tương lai sẽ diễn ra thế nào, nhưng Mẹ tin lời Thiên Chúa đã hứa. Mẹ không có trong tay một kế hoạch chi tiết, không có một bản đồ rõ ràng cho từng chặng đường, nhưng Mẹ có lời của Thiên Chúa. Đối với Mẹ, như thế là đủ. Mỗi ngày trôi qua, Mẹ chờ đợi bằng cách sống trọn vẹn bổn phận của ngày hôm ấy. Mẹ không ngồi yên để mơ tưởng. Mẹ không nóng lòng thúc ép thời gian. Mẹ âm thầm làm việc, cầu nguyện, phục vụ và gìn giữ sự sống đang lớn lên trong lòng mình. Nơi Mẹ, chờ đợi không phải là một thái độ thụ động. Chờ đợi là để cho Thiên Chúa thực hiện công trình của Người trong thời gian của Người.
Mẹ chờ ngày sinh Con trong hoàn cảnh chẳng mấy thuận lợi. Đến Bêlem, Mẹ và thánh Giuse không tìm được chỗ trong quán trọ. Có lẽ Mẹ đã từng nghĩ Con Thiên Chúa sẽ được sinh ra trong một nơi bình an hơn, xứng đáng hơn, ấm áp hơn. Nhưng giờ của Thiên Chúa lại đến giữa một đêm lạnh, trong cảnh nghèo hèn của hang đá. Mẹ đã không trách móc, không than phiền, không hỏi tại sao Thiên Chúa lại để Con của Người sinh ra như thế. Mẹ đón nhận giây phút ấy với tất cả sự nghèo khó và tín thác. Mẹ hiểu rằng Thiên Chúa không chậm trễ. Thiên Chúa cũng không nhầm lẫn. Người đến đúng lúc, nhưng “đúng lúc” của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng giống với “đúng lúc” theo suy nghĩ của con người.
Rồi khi dâng Hài Nhi trong Đền Thờ, Mẹ nghe ông Simêon nói về một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Mẹ. Một lời tiên báo đầy bí ẩn và đau đớn. Mẹ không biết lưỡi gươm ấy sẽ đến lúc nào, bằng cách nào và sâu đến đâu. Mẹ chỉ biết giữ lời ấy trong lòng. Từ đó, Mẹ tiếp tục sống, tiếp tục yêu thương, tiếp tục chăm sóc Chúa Giêsu và tiếp tục chờ đợi mầu nhiệm được tỏ bày. Mẹ không sống trong hoảng sợ, cũng không để tương lai chưa biết cướp mất bình an của hiện tại. Mẹ biết ngày mai thuộc về Thiên Chúa. Phần của Mẹ là trung tín hôm nay.
Ba mươi năm Chúa Giêsu sống ẩn dật tại Nadarét cũng là ba mươi năm Mẹ chờ đợi. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, nhưng Người không lập tức ra đi rao giảng. Người sống âm thầm trong một gia đình nghèo, làm những công việc bình thường và vâng phục cha mẹ. Mẹ Maria nhìn thấy Con lớn lên từng ngày. Mẹ biết Người có một sứ mạng, nhưng Mẹ không thúc giục. Mẹ không nói: “Con đã trưởng thành rồi, tại sao chưa bắt đầu công việc của Thiên Chúa?” Mẹ không đem Con ra khoe với mọi người. Mẹ không tìm cách đẩy nhanh chương trình cứu độ. Mẹ tôn trọng thời giờ của Thiên Chúa. Mẹ chờ đợi trong âm thầm, bởi Mẹ biết hạt giống cần có thời gian nằm trong lòng đất trước khi vươn lên thành cây.
Tại tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra người ta hết rượu. Mẹ trình bày nhu cầu ấy với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Nhưng câu trả lời của Chúa nghe như một lời từ chối: “Giờ của tôi chưa đến.” Mẹ không tranh luận. Mẹ cũng không thất vọng. Mẹ chỉ nói với những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó là thái độ của một người biết chờ đợi. Mẹ không ra lệnh cho Chúa. Mẹ không ép Chúa phải làm phép lạ. Mẹ trao vấn đề cho Chúa rồi tin tưởng chờ đợi. Và chính trong sự chờ đợi đầy tín thác ấy, nước đã hóa thành rượu ngon. Có những lúc lời cầu nguyện của con cũng gặp một câu trả lời tưởng như lạnh lùng. Có những khi con xin mà không thấy được ban. Con gõ mà cánh cửa vẫn đóng. Con tìm mà chưa gặp. Mẹ dạy con đừng vội nghĩ rằng Chúa đã bỏ quên con. Có thể “giờ” chưa đến. Có thể Chúa đang chuẩn bị một điều lớn hơn. Có thể Người đang biến đổi chính con trước khi biến đổi hoàn cảnh của con.
Chờ đợi không có nghĩa là không đau. Mẹ Maria đã chờ đợi trong đau khổ dưới chân thập giá. Mẹ đã theo Con trên đường lên đồi Canvê. Mẹ nhìn thấy Con bị kết án, bị đánh đòn, bị đóng đinh và chết trong nhục nhã. Trong những giờ phút ấy, dường như mọi lời hứa đều tan biến. Sứ thần từng nói Con của Mẹ sẽ nên cao cả, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ ngự trên ngai vua Đavít và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận. Nhưng giờ đây, Con của Mẹ đang hấp hối trên thập giá. Ngai vàng là cây gỗ. Vương miện là vòng gai. Thần dân là những kẻ chế nhạo. Vinh quang bị che khuất bởi máu và nước mắt. Mẹ đứng đó. Mẹ không hiểu hết, nhưng Mẹ vẫn tin. Mẹ không nhìn thấy ngày phục sinh, nhưng Mẹ không rời khỏi thập giá. Mẹ chờ đợi ngay giữa lúc mọi sự tưởng như đã kết thúc.
Chính nơi đồi Canvê, Mẹ dạy con rằng chờ đợi thật sự là vẫn đứng vững khi không còn thấy dấu hiệu nào của hy vọng. Tin khi mọi việc tốt đẹp thì không quá khó. Hy vọng khi cánh cửa đã hé mở thì không quá nặng nề. Nhưng tiếp tục tin khi cánh cửa đóng kín, tiếp tục yêu khi bị tổn thương, tiếp tục cầu nguyện khi trời cao thinh lặng, tiếp tục trung thành khi không ai ghi nhận, đó mới là sự chờ đợi được tinh luyện bằng đức tin. Mẹ không chạy khỏi Canvê. Mẹ không tìm một con đường dễ dàng hơn. Mẹ ở lại và chờ Thiên Chúa hoàn tất điều mà con người không thể hiểu.
Sau khi Chúa Giêsu được mai táng, Mẹ bước vào ngày thứ Bảy thinh lặng. Đó có lẽ là ngày chờ đợi dài nhất của cuộc đời Mẹ. Con đã chết. Tảng đá đã lấp cửa mồ. Các môn đệ tan tác. Mọi tiếng reo vui của ngày Chúa vào thành Giêrusalem chỉ còn là ký ức xa xôi. Nhưng Mẹ vẫn tin. Tin không phải vì Mẹ nhìn thấy ngôi mộ mở, nhưng vì Mẹ đã trao đời mình cho lời Thiên Chúa. Mẹ chờ đợi bình minh phục sinh trong đêm tối của đau thương. Và bình minh ấy đã đến. Chúa đã sống lại. Sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Nước mắt không có tiếng nói cuối cùng. Ngôi mộ không có tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa mới là Đấng nói lời cuối cùng.
Sau khi Chúa về trời, Mẹ lại cùng các Tông đồ chờ đợi Chúa Thánh Thần. Mẹ hiện diện giữa cộng đoàn đang sợ hãi và hoang mang. Mẹ cùng họ cầu nguyện, nâng đỡ họ và giúp họ bền lòng chờ đợi lời hứa của Chúa. Mẹ không biết chính xác Chúa Thánh Thần sẽ đến vào giờ nào, dưới hình thức nào, nhưng Mẹ tin chắc Người sẽ đến. Và trong ngày lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần đã ngự xuống, biến những con người sợ hãi thành những chứng nhân can đảm. Mẹ cho con thấy rằng thời gian chờ đợi không hề vô ích. Đó là thời gian Thiên Chúa chuẩn bị tâm hồn con để đón nhận ân huệ. Đó là thời gian con học cầu nguyện, học kiên nhẫn, học buông bỏ ý riêng và học để cho Chúa làm chủ đời mình.
Mẹ Maria ơi, con thường thiếu kiên nhẫn. Con muốn Chúa làm theo lịch trình của con. Con muốn mọi khó khăn được giải quyết ngay. Con muốn người con yêu thương phải thay đổi tức khắc. Con muốn những lời cầu xin của con được đáp lại theo đúng cách con mong muốn. Khi phải chờ đợi, con dễ sinh buồn bực. Khi chưa thấy kết quả, con dễ nản lòng. Khi bị trì hoãn, con dễ nghi ngờ tình thương của Chúa. Có khi con nghĩ rằng vì Chúa không trả lời nên Chúa không nghe. Vì Chúa chưa hành động nên Chúa không quan tâm. Vì cánh cửa chưa mở nên Chúa đã từ chối con. Nhưng Mẹ dạy con hiểu rằng sự thinh lặng của Chúa không có nghĩa là Chúa vắng mặt. Sự chậm trễ của Chúa không có nghĩa là Chúa quên con. Đôi khi Thiên Chúa im lặng vì Người đang làm một công việc sâu xa hơn điều con nhìn thấy.
Một hạt giống được gieo xuống đất phải nằm lại trong bóng tối. Nó không lập tức trồi lên. Người gieo hạt không thể mỗi ngày đào đất lên để xem hạt đã nảy mầm chưa. Nếu cứ nóng lòng kiểm tra, hạt giống sẽ bị tổn thương. Người gieo chỉ có thể tưới nước, chăm sóc rồi kiên nhẫn chờ đợi. Đời sống thiêng liêng của con cũng vậy. Có những hạt giống Chúa đã gieo vào lòng con từ lâu. Có thể đó là một lời mời gọi, một ước muốn nên thánh, một quyết tâm thay đổi, một lời cầu nguyện cho gia đình hay một hy vọng về tương lai. Dù chưa nhìn thấy mầm xanh, con vẫn phải tin rằng Thiên Chúa đang âm thầm làm việc dưới lòng đất của đời con. Chờ đợi chính là tin vào điều đang diễn ra mà mắt con chưa thể nhìn thấy.
Có những người đang chờ một công việc ổn định. Có người đang chờ bệnh tật thuyên giảm. Có người đang chờ một người thân trở về. Có người chờ đứa con thay đổi đời sống. Có người chờ một cuộc hòa giải trong gia đình. Có người chờ một lời xin lỗi không biết bao giờ mới đến. Có người chờ tìm được hướng đi cho cuộc đời. Có người chờ một ơn gọi được xác định rõ ràng. Có người chờ sau nhiều năm cầu nguyện mà vẫn chưa thấy câu trả lời. Mỗi sự chờ đợi đều mang theo một nỗi mệt mỏi riêng. Không ai có thể hiểu hết nỗi đau của người phải chờ ngoài chính người ấy và Thiên Chúa. Nhưng hôm nay Mẹ đến và nói với con: “Đừng bỏ cuộc. Đừng rời khỏi vị trí Chúa đã đặt con. Đừng tự mình mở những cánh cửa mà Chúa chưa mở. Đừng vì nóng lòng mà chọn một con đường không thuộc về con. Hãy tin rằng Thiên Chúa biết điều Người đang làm.”
Mẹ dạy con phân biệt giữa chờ đợi và trì hoãn. Chờ đợi trong Chúa không phải là lười biếng, không làm gì và khoác cho sự thụ động một danh nghĩa đạo đức. Người biết chờ đợi vẫn làm hết phần của mình. Mẹ Maria đã chờ đợi, nhưng Mẹ vẫn lên đường thăm bà Êlisabét. Mẹ chờ ngày sinh Con, nhưng Mẹ vẫn chăm lo công việc gia đình. Mẹ chờ Chúa tỏ mình, nhưng Mẹ vẫn hiện diện tại Cana và nhận ra nhu cầu của người khác. Mẹ chờ phục sinh, nhưng Mẹ vẫn đứng dưới chân thập giá. Mẹ chờ Chúa Thánh Thần, nhưng Mẹ cùng các Tông đồ chuyên cần cầu nguyện. Chờ đợi đích thực luôn đi kèm với sự trung tín trong bổn phận hiện tại.
Nhiều khi con quá bận tâm đến điều mình đang chờ đến mức quên sống ngày hôm nay. Con nghĩ rằng chỉ khi đạt được điều ấy con mới hạnh phúc. Chỉ khi vấn đề được giải quyết con mới bình an. Chỉ khi người kia thay đổi con mới có thể yêu thương. Chỉ khi hoàn cảnh thuận lợi con mới bắt đầu sống tốt. Nhưng Mẹ dạy con rằng sự sống không bắt đầu vào ngày mai. Ơn thánh không chỉ hiện diện sau khi điều con mong ước thành sự. Thiên Chúa đang hiện diện ngay trong hôm nay, ngay trong khoảng thời gian chưa hoàn tất, ngay trong câu hỏi chưa có câu trả lời. Nếu con chỉ nhìn về điều đang chờ, con sẽ bỏ lỡ những hồng ân nhỏ bé Chúa đang ban trên đường.
Chờ đợi cũng là lúc con học biết mình. Khi mọi việc diễn ra như ý, con dễ nghĩ mình có đức tin mạnh. Nhưng khi phải chờ lâu, những điều ẩn giấu trong lòng bắt đầu xuất hiện: sự nóng nảy, ích kỷ, kiêu ngạo, nhu cầu kiểm soát, nỗi sợ hãi và sự nghi ngờ. Chính vì thế, thời gian chờ đợi trở thành một trường học. Trong ngôi trường ấy, Thiên Chúa không chỉ chuẩn bị điều Người sẽ ban; Người còn chuẩn bị con để con có thể đón nhận điều ấy cách trưởng thành. Có những ân huệ nếu được ban quá sớm sẽ làm con kiêu ngạo. Có những trách nhiệm nếu đến quá nhanh sẽ khiến con gục ngã. Có những cánh cửa nếu mở trước thời điểm sẽ đưa con vào nơi con chưa đủ sức đứng vững. Vì yêu con, Chúa để con chờ. Vì yêu con, Người uốn nắn con. Vì yêu con, Người không trao cho con một điều tốt vào một thời điểm không tốt.
Mẹ Maria không chỉ chờ đợi một sự kiện; Mẹ chờ đợi chính Thiên Chúa. Vì thế, sự chờ đợi của Mẹ không trống rỗng. Khi con chỉ chờ một kết quả, con sẽ thất vọng nếu kết quả không đến. Nhưng khi con chờ Chúa, mỗi ngày chờ đợi đều trở thành một ngày gặp gỡ. Con có thể không nhận được điều mình xin, nhưng con nhận được chính Chúa. Con có thể chưa bước ra khỏi thử thách, nhưng con khám phá ra Chúa đang ở trong thử thách với con. Con có thể chưa thấy con đường, nhưng con học nắm lấy bàn tay Đấng dẫn đường. Và đến một lúc nào đó, con sẽ nhận ra điều quý nhất không phải là việc Chúa đã đưa con đến đâu, nhưng là trong suốt hành trình, con đã trở nên gần Chúa hơn.
Mẹ dạy con chờ đợi với lòng bình an. Bình an không có nghĩa là không còn lo lắng, nhưng là giữa những lo lắng, con vẫn tin mình đang ở trong tay Chúa. Bình an không có nghĩa là mọi vấn đề đã được giải quyết, nhưng là con không còn để vấn đề ấy làm chủ tâm hồn. Bình an không phải là chắc chắn về tương lai, nhưng là chắc chắn về tình yêu của Thiên Chúa. Khi biết mình được yêu, con có thể chờ. Khi biết Đấng dẫn dắt mình là Đấng trung tín, con có thể bước chậm lại. Khi tin rằng không một giọt nước mắt nào bị lãng quên, con có thể tiếp tục hy vọng.
Có những lúc con cần chờ đợi người khác. Một người thân chưa hiểu con. Một người trong gia đình chưa thay đổi. Một người đã làm con tổn thương nhưng chưa nhận ra lỗi của mình. Con dễ mất kiên nhẫn, dễ kết án và muốn người ấy phải thay đổi theo thời hạn con đặt ra. Nhưng Mẹ dạy con nhớ rằng Thiên Chúa đã kiên nhẫn với con biết bao. Chúa đã chờ con quay trở lại sau bao lần con lạc xa. Chúa đã chờ con mở lòng sau bao lần con khép kín. Chúa đã chờ con trưởng thành sau bao lần con yếu đuối. Nếu Chúa kiên nhẫn với con như thế, con cũng phải học kiên nhẫn với anh chị em mình. Chờ đợi không có nghĩa là dung túng điều sai trái, nhưng là không đóng cánh cửa hy vọng trên cuộc đời của bất cứ ai.
Có những lúc con phải chờ đợi chính mình. Con muốn mình thay đổi thật nhanh, muốn loại bỏ ngay mọi yếu đuối, muốn trở nên thánh thiện chỉ sau vài lần cố gắng. Khi sa ngã, con thất vọng về mình. Khi thấy những thói quen cũ trở lại, con nghĩ mọi cố gắng đều vô ích. Nhưng Mẹ dạy con kiên nhẫn với tiến trình Thiên Chúa đang thực hiện nơi con. Một đứa trẻ không thể trưởng thành trong một ngày. Một cây cổ thụ không thể mọc lên sau một đêm. Sự thánh thiện cũng được hình thành qua từng chọn lựa nhỏ, từng lần đứng dậy, từng lần xin lỗi, từng lần trở về và từng ngày trung tín. Con không được lấy sự kiên nhẫn làm lý do để dễ dãi với mình, nhưng cũng không được lấy sự yếu đuối làm lý do để tuyệt vọng.
Mẹ Maria ơi, xin dạy con biết chờ mà không than trách, biết hy vọng mà không đòi hỏi, biết cầu nguyện mà không ra điều kiện với Chúa. Xin dạy con biết làm điều cần làm hôm nay và trao ngày mai cho Thiên Chúa. Xin đừng để con vì nóng lòng mà đi trước Chúa, cũng đừng để con vì sợ hãi mà tụt lại phía sau. Xin giúp con bước đúng nhịp của ân sủng. Khi Chúa bảo con đi, xin cho con can đảm lên đường. Khi Chúa bảo con dừng, xin cho con biết ở lại. Khi Chúa im lặng, xin cho con tiếp tục tin. Khi Chúa đóng một cánh cửa, xin cho con đừng vội phá cửa. Khi Chúa chưa cho con câu trả lời, xin cho con biết ôm lấy câu hỏi trong bình an.
Hôm nay, con xin đặt dưới chân Mẹ điều con đang chờ đợi. Có thể đó là một ước mong con đã giữ trong lòng nhiều năm. Có thể đó là một lời cầu xin con đã lặp đi lặp lại mỗi ngày. Có thể đó là một nỗi đau con không biết đến bao giờ mới chấm dứt. Có thể đó là một người con không biết phải yêu thương và kiên nhẫn thế nào. Con xin trao tất cả cho Mẹ. Xin Mẹ giúp con tin rằng Chúa không đến trễ. Người chỉ đến vào thời điểm tốt nhất. Xin Mẹ giúp con đừng phí thời gian chờ đợi bằng than van, nhưng biết biến thời gian ấy thành lời cầu nguyện, thành việc phục vụ, thành sự trưởng thành và thành tình yêu.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã kiên nhẫn chờ đợi trong suốt cuộc đời. Mẹ đã chờ lời hứa thành sự, chờ giờ của Chúa đến, chờ ánh sáng bừng lên sau đêm tối và chờ Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Hội Thánh. Xin Mẹ đồng hành với con trong những ngày con chưa thấy đường. Xin Mẹ ngồi bên con trong những đêm dài của thử thách. Xin Mẹ nhắc con rằng sau ngày thứ Bảy thinh lặng luôn có bình minh phục sinh; sau mùa đông lạnh giá luôn có ngày cây cối đâm chồi; sau thời gian gieo trong nước mắt sẽ có ngày gặt trong hân hoan. Xin cho con biết chờ đợi không phải với đôi tay buông xuôi, nhưng với đôi tay cầu nguyện; không phải với trái tim cay đắng, nhưng với trái tim đầy hy vọng; không phải trong sự nghi ngờ, nhưng trong niềm xác tín rằng Thiên Chúa là Cha và Người luôn dành điều tốt đẹp cho con.
Ngày hôm nay, con sẽ không hỏi Chúa: “Đến bao giờ?” bằng sự trách móc, nhưng con sẽ thưa: “Lạy Chúa, trong khi chờ đợi, Chúa muốn con sống thế nào?” Con sẽ không chỉ xin Chúa thay đổi hoàn cảnh, nhưng xin Chúa thay đổi tâm hồn con. Con sẽ không cố đoán trước mọi điều, nhưng sẽ học bước từng bước trong ánh sáng Chúa ban. Con tin rằng thời gian của Chúa luôn hoàn hảo. Con tin rằng lời hứa của Chúa không bao giờ thất bại. Con tin rằng điều Chúa khởi sự, Người sẽ hoàn tất. Và con tin rằng, dưới sự hướng dẫn của Mẹ Maria Trinh Vương, sự chờ đợi của con sẽ không còn là một khoảng thời gian trống rỗng, nhưng sẽ trở thành một hành trình đức tin, một trường học hy vọng và một cuộc gặp gỡ sâu xa với Thiên Chúa.
Mẹ Maria ơi, xin dạy con chờ đợi như Mẹ: âm thầm mà không buồn bã, kiên nhẫn mà không mệt mỏi, hy vọng mà không ảo tưởng, tín thác mà không nghi ngờ. Xin dạy con biết rằng khi con đang chờ Chúa, Chúa cũng đang chờ con: chờ con mở lòng hơn, chờ con buông bỏ ý riêng hơn, chờ con trưởng thành hơn và chờ con hoàn toàn thuộc về Người. Xin Mẹ dẫn con đi qua ngày hôm nay bằng một tâm hồn bình an. Dù điều con mong ước chưa đến, xin cho con vẫn biết tạ ơn. Dù câu trả lời chưa rõ, xin cho con vẫn biết yêu thương. Dù con đường còn dài, xin cho con vẫn bước đi. Bởi con tin rằng Mẹ đang đi cùng con và Thiên Chúa đang âm thầm chuẩn bị một bình minh mà hôm nay con chưa thể nhìn thấy.
NGÀY 12 – MẸ DẠY CON NHẬN RA NHU CẦU CỦA NGƯỜI KHÁC
Trong cuộc sống, người ta thường dễ nhận ra nhu cầu của chính mình nhưng lại rất chậm để nhận ra nhu cầu của người khác. Ta biết mình đang mệt, đang buồn, đang thiếu thốn, đang bị tổn thương và đang cần được quan tâm, nhưng lại không dễ nhìn thấy người bên cạnh cũng đang mang trong lòng những nỗi mệt mỏi, những khoảng trống và những khát khao chưa thể nói thành lời. Có khi người khác đã ở rất gần ta, đã nhiều lần phát ra những tín hiệu âm thầm, nhưng vì quá bận rộn với mình, quá chú tâm đến chương trình của mình và quá quen nhìn cuộc đời bằng những đòi hỏi của mình, ta đã không nhận ra họ đang cần gì. Hôm nay, trong ngày thứ mười hai của hành trình sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, Mẹ dạy ta một bài học rất đẹp nhưng cũng rất khó: biết ra khỏi chính mình để nhận ra nhu cầu của người khác.
Tin Mừng tiệc cưới Cana cho ta thấy nơi Đức Maria một trái tim vô cùng nhạy cảm. Giữa một đám cưới đông người, có biết bao tiếng nói, tiếng cười, lời chúc mừng và những niềm vui đang diễn ra. Chắc hẳn nhiều người đang mải mê với bữa tiệc, với thức ăn, với câu chuyện và với niềm vui của riêng mình. Nhưng giữa khung cảnh náo nhiệt ấy, Đức Maria lại nhận ra một sự thiếu thốn mà có lẽ chưa nhiều người biết: “Họ hết rượu rồi.” Một câu nói rất ngắn nhưng chứa đựng cả một chiều sâu của lòng yêu thương. Mẹ không chờ gia chủ phải đến than phiền. Mẹ không chờ đôi tân hôn phải công khai sự bối rối. Mẹ cũng không đợi cho sự thiếu hụt trở thành một vụ việc khiến mọi người xôn xao. Mẹ đã nhận ra trước khi người ta lên tiếng. Mẹ thấy điều người khác đang thiếu, hiểu nỗi khó xử họ đang mang và âm thầm tìm cách giúp đỡ.
Để nhận ra nhu cầu của người khác, trước hết cần có một trái tim biết quan sát. Đức Maria không sống hời hợt. Mẹ hiện diện trọn vẹn nơi mình đang ở. Mẹ không chỉ có mặt bằng thân xác nhưng còn có mặt bằng cả tâm hồn. Mẹ nhìn thấy những điều nhỏ bé mà người khác dễ bỏ qua. Mẹ nghe được những tiếng thở dài bị che lấp bởi tiếng cười. Mẹ cảm được nỗi bối rối ẩn sau những khuôn mặt đang cố tỏ ra bình thản. Mẹ hiểu rằng một đám cưới hết rượu không chỉ là thiếu một thức uống, nhưng còn có thể trở thành nỗi xấu hổ lớn lao cho gia đình, làm niềm vui của đôi tân hôn bị phủ bóng và khiến ngày trọng đại của họ trở thành một kỷ niệm buồn. Mẹ nhìn xa hơn sự việc bên ngoài để thấy nỗi đau có thể xảy đến trong lòng con người.
Nhiều khi ta không nhận ra nhu cầu của người khác không phải vì nhu cầu ấy quá kín đáo, nhưng vì tâm trí ta quá ồn ào. Ta bận nghĩ xem người khác phải làm gì cho mình, phải đối xử với mình ra sao, phải nói với mình thế nào. Ta bước vào gia đình với mong muốn được phục vụ, đi vào cộng đoàn với đòi hỏi được tôn trọng, đến với người khác trong tâm thế chờ họ làm cho mình vui. Vì thế, ta dễ thất vọng, dễ trách móc và dễ cho rằng chẳng ai hiểu mình. Nhưng ta ít khi tự hỏi: hôm nay người bên cạnh ta đang cần gì? Người cha già đang cần tiền hay đang cần một cuộc trò chuyện? Người mẹ trong gia đình đang cần thêm một món quà hay chỉ cần được chia sẻ gánh nặng? Người anh em trong cộng đoàn đang cần một lời khuyên hay trước hết cần một người biết lắng nghe? Đứa trẻ đang cần thêm những bài học đạo đức hay cần cha mẹ dành thời gian ở bên? Người đang đau khổ cần ta giải thích thật nhiều hay chỉ cần ta im lặng ngồi cạnh họ?
Đức Maria dạy ta rằng tình yêu thật không chỉ trao điều mình muốn trao, nhưng biết trao điều người khác thật sự cần. Có những người rất quảng đại nhưng sự quảng đại ấy đôi khi vẫn đặt cái tôi ở trung tâm. Họ trao điều họ thích, làm theo cách họ muốn rồi chờ người khác biết ơn. Khi người khác không đón nhận như mong đợi, họ buồn và cho rằng người kia vô ơn. Nhưng yêu thương theo gương Đức Maria là bước vào hoàn cảnh của người khác, nhìn bằng đôi mắt của họ, cảm bằng trái tim của họ và tự hỏi đâu là điều ích lợi nhất cho họ lúc này. Có khi điều họ cần không phải là tiền bạc nhưng là sự tôn trọng. Có khi không phải là những lời an ủi dài dòng nhưng là một khoảng lặng. Có khi không phải là ta làm thay mọi việc nhưng là cho họ cơ hội đứng lên. Có khi không phải là bênh vực họ trong mọi chuyện nhưng là chân thành giúp họ nhận ra điều cần sửa đổi.
Mẹ Maria nhận ra nhu cầu của gia đình Cana nhưng không làm cho họ xấu hổ. Đây là nét đẹp rất đáng để ta học hỏi. Có người nhận ra sự thiếu thốn của tha nhân nhưng lại nói ra cho nhiều người biết. Có người giúp đỡ nhưng khiến người nhận phải cúi đầu. Có người làm một việc tốt rồi kể đi kể lại như thể người khác mắc nợ mình. Đức Maria không như thế. Mẹ không chạy giữa đám tiệc và lớn tiếng báo rằng nhà này đã hết rượu. Mẹ không trách chủ tiệc thiếu chuẩn bị. Mẹ không phê bình những người phục vụ sơ suất. Mẹ giữ kín sự thiếu thốn của họ và âm thầm mang điều ấy đến với Chúa Giêsu. Lòng tế nhị của Mẹ đã bảo vệ danh dự của người đang gặp khó khăn. Tình yêu nơi Mẹ không phô trương, không gây tổn thương và không biến nỗi thiếu thốn của người khác thành cơ hội để mình được khen ngợi.
Trong cuộc sống hôm nay, biết bao người đang cần được giúp đỡ nhưng không dám lên tiếng vì sợ bị xét đoán, sợ bị khinh thường hoặc sợ câu chuyện của mình trở thành đề tài bàn tán. Có người nghèo nhưng vẫn cố giữ phẩm giá. Có người đang gặp khó khăn trong hôn nhân nhưng bên ngoài vẫn mỉm cười. Có người đang chịu áp lực trong công việc nhưng không biết chia sẻ với ai. Có người đang rơi vào khủng hoảng đức tin mà vẫn đều đặn đến nhà thờ. Có người đang sống giữa cộng đoàn nhưng lòng lại cô đơn hơn bao giờ hết. Có người mang một vết thương rất sâu, nhưng vì đã từng bị người khác thiếu tế nhị nên họ chọn im lặng. Nếu muốn trở thành người môn đệ của Chúa và người con của Đức Maria, ta cần học cách đến gần họ bằng sự kính trọng, kiên nhẫn và kín đáo.
Nhận ra nhu cầu của người khác không có nghĩa là tò mò về đời tư của họ. Đức Maria quan tâm nhưng không xâm phạm. Mẹ nhìn thấy nhưng không soi mói. Mẹ giúp đỡ nhưng không kiểm soát. Đây là ranh giới rất quan trọng. Có những sự quan tâm thực chất là muốn biết chuyện. Có những lời hỏi han chỉ nhằm thỏa mãn sự tò mò. Có những hành động giúp đỡ lại kèm theo ý muốn can thiệp và điều khiển cuộc đời người khác. Tình yêu chân thật luôn tôn trọng tự do, phẩm giá và không gian riêng của mỗi người. Ta có thể mở một cánh cửa, nhưng không được lôi người khác bước qua khi họ chưa sẵn sàng. Ta có thể nói rằng mình đang ở đây, nhưng không buộc họ phải kể hết mọi điều. Ta có thể đưa tay ra, nhưng cần kiên nhẫn chờ họ tự nguyện nắm lấy.
Sau khi nhận ra gia đình Cana hết rượu, Đức Maria đã đến với Chúa Giêsu. Mẹ dạy ta một cách rất đẹp để giúp đỡ người khác: trước hết hãy mang họ đến với Chúa trong lời cầu nguyện. Có những nhu cầu vượt quá khả năng của ta. Có những nỗi đau ta không thể chữa lành. Có những bế tắc không thể giải quyết chỉ bằng lời khuyên hay tiền bạc. Có những người ta rất muốn giúp nhưng càng nói họ càng khép lòng. Khi ấy, điều ta có thể làm là đặt họ trước mặt Chúa. Đừng vội nghĩ rằng cầu nguyện là việc cuối cùng khi ta đã bất lực. Đối với Đức Maria, cầu nguyện là hành động đầu tiên của một tình yêu biết mình không phải là Đấng Cứu Độ. Mẹ không tự biến mình thành trung tâm của phép lạ. Mẹ chỉ đưa nhu cầu của con người đến với Chúa Giêsu và tin tưởng vào cách thức cũng như thời điểm của Người.
Câu nói “Họ hết rượu rồi” cũng là một lời cầu nguyện mẫu mực. Mẹ không áp đặt Chúa phải hành động thế nào. Mẹ không trình bày một chương trình dài dòng. Mẹ chỉ nói lên sự thật và trao sự thật ấy cho Chúa. Trong đời sống cầu nguyện, nhiều khi ta muốn chỉ cho Chúa biết phải làm gì, phải thay đổi ai và phải giải quyết vấn đề theo cách nào. Nhưng Đức Maria dạy ta chỉ cần chân thành thưa với Chúa: “Lạy Chúa, gia đình này đang đau khổ”; “Lạy Chúa, người anh em của con đang mất phương hướng”; “Lạy Chúa, người bệnh này đang mệt mỏi”; “Lạy Chúa, đứa con này đang xa Chúa”; “Lạy Chúa, cộng đoàn này đang thiếu tình thương.” Rồi ta tin rằng Chúa biết điều gì là tốt nhất.
Tuy nhiên, nhận ra nhu cầu của người khác không dừng lại ở cảm xúc hay lời cầu nguyện. Đức Maria còn nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ nối kết nhu cầu của con người với sự vâng phục Thiên Chúa. Mẹ không làm phép lạ thay Chúa, nhưng Mẹ khơi lên nơi con người thái độ sẵn sàng cộng tác. Những người phục vụ phải đổ nước đầy các chum. Họ phải làm phần việc của mình. Điều ấy nhắc ta rằng khi cầu nguyện cho một người đang thiếu thốn, ta cũng cần tự hỏi Chúa đang muốn ta làm gì. Ta không thể xin Chúa an ủi một người trong khi chính ta lại lạnh lùng với họ. Ta không thể xin Chúa giúp người nghèo nhưng lại đóng chặt bàn tay. Ta không thể cầu nguyện cho sự hiệp nhất mà vẫn giữ mãi lòng giận dữ. Ta không thể xin Chúa nâng đỡ người bệnh nhưng chẳng bao giờ dành thời gian thăm hỏi. Lời cầu nguyện chân thành luôn mở ra một trách nhiệm cụ thể.
Nhận ra nhu cầu của người khác đòi ta phải sống chậm lại. Một người luôn vội vàng sẽ khó nhìn thấy nỗi đau âm thầm. Một người lúc nào cũng nhìn vào màn hình sẽ dễ bỏ quên khuôn mặt thật đang ở trước mắt. Một người luôn chuẩn bị câu trả lời sẽ không thật sự lắng nghe. Một người chỉ quan tâm đến hiệu quả công việc sẽ dễ xem người khác như những công cụ. Đức Maria dạy ta dừng lại, quan sát và hiện diện. Có những nhu cầu không được diễn tả bằng lời, nhưng bằng ánh mắt, sự im lặng, một thay đổi nhỏ trong cách cư xử hay một sự vắng mặt bất thường. Muốn nhận ra những dấu chỉ ấy, ta phải có một tâm hồn đủ bình an và một trái tim đủ quan tâm.
Trong gia đình, bài học này thật cần thiết. Vợ chồng có thể sống chung một mái nhà nhưng không nhận ra nhau đang cần gì. Người chồng nghĩ rằng chỉ cần chăm lo kinh tế là đủ, trong khi người vợ đang khát một lời cảm thông. Người vợ bận tâm đến mọi việc trong nhà nhưng không nhận ra người chồng đang chịu áp lực nặng nề. Cha mẹ cho con nhiều điều nhưng có thể không nhận ra điều con cần nhất là được lắng nghe mà không bị trách mắng. Con cái mua cho cha mẹ những món quà đắt tiền nhưng không nhận ra tuổi già của cha mẹ cần nhất là sự hiện diện. Nhiều gia đình không thiếu vật chất nhưng lại thiếu sự quan tâm thật sự. Họ có thể ngồi rất gần nhau nhưng tâm hồn lại rất xa nhau.
Trong cộng đoàn cũng vậy. Ta có thể cùng cầu nguyện, cùng ăn uống, cùng làm việc nhưng vẫn không biết người bên cạnh đang sống ra sao. Có người thường xuyên vui vẻ nhưng đó có thể là cách họ che giấu nỗi buồn. Có người hay nóng nảy vì đang mang một vết thương chưa được chữa lành. Có người trở nên khép kín vì đã nhiều lần thất vọng. Có người làm việc kém hiệu quả không phải do lười biếng nhưng vì đang kiệt sức. Nếu chỉ nhìn hành vi bên ngoài, ta dễ phán xét. Nhưng nếu có trái tim của Mẹ, ta sẽ tự hỏi điều gì đang xảy ra trong lòng người ấy. Câu hỏi ấy không nhằm bao che mọi sai lầm, nhưng giúp ta đối xử với họ bằng lòng thương xót thay vì thành kiến.
Nhận ra nhu cầu của người khác cũng có nghĩa là biết nhìn đến những người thường bị quên lãng. Trong một tập thể, người nổi bật thường dễ được quan tâm, còn người âm thầm dễ bị bỏ qua. Người nói giỏi dễ được lắng nghe, còn người ít nói có thể chẳng ai biết họ nghĩ gì. Người có khả năng thường được mời gọi, còn người yếu kém dễ cảm thấy mình vô dụng. Đức Maria là Mẹ của những người bé nhỏ, nghèo hèn và không có tiếng nói. Theo Mẹ, ta được mời gọi nhìn thấy người ngồi một mình, người không được ai nhắc đến, người không thể tự bảo vệ mình, người không biết cách trình bày nhu cầu và cả người bị nhiều người cho là khó gần.
Đôi khi nhu cầu lớn nhất của một người chỉ là được nhìn nhận như một con người. Người nghèo không chỉ cần một phần quà nhưng còn cần được tôn trọng. Người bệnh không chỉ cần thuốc men nhưng còn cần được gọi bằng tên, được trò chuyện và được đối xử cách dịu dàng. Người già không chỉ cần được chăm sóc thân xác nhưng còn cần cảm thấy mình vẫn có giá trị. Người phạm lỗi không chỉ cần bị sửa dạy nhưng còn cần được tin rằng họ có thể thay đổi. Người đang thất bại không chỉ cần những lời chỉ dẫn nhưng còn cần một người không bỏ họ. Đức Maria nhìn mỗi người bằng ánh mắt của một người mẹ. Trong ánh mắt ấy, không ai chỉ là một vấn đề cần giải quyết; mỗi người là một người con cần được yêu thương.
Có lúc ta nhận ra nhu cầu của người khác nhưng lại sợ phiền, sợ mất thời gian, sợ liên lụy hoặc sợ mình không đủ khả năng. Đức Maria mời gọi ta đừng quá lo mình phải làm được những điều lớn lao. Tại Cana, Mẹ chỉ làm điều Mẹ có thể: nhìn thấy, cảm thông, nói với Chúa và mời gọi người khác vâng nghe Người. Một cuộc điện thoại, một lời hỏi thăm chân thành, một bữa cơm, một lần thăm viếng, một sự giúp đỡ kín đáo, một lời cầu nguyện hay chỉ một thái độ không phán xét cũng có thể trở thành chum nước được Chúa biến thành rượu ngon. Phép lạ thuộc về Chúa, nhưng Người vẫn cần sự cộng tác nhỏ bé của ta.
Ta cũng cần sự khôn ngoan để phân biệt giữa nhu cầu thật và đòi hỏi nhất thời. Không phải điều người khác muốn đều là điều tốt cho họ. Một đứa trẻ có thể muốn được chiều chuộng nhưng điều nó cần là giới hạn và kỷ luật. Một người đang sai có thể muốn được bênh vực nhưng điều họ cần là sự thật được nói trong tình yêu. Một người lệ thuộc có thể muốn ta tiếp tục làm thay mọi việc, nhưng điều họ cần là được giúp để trưởng thành. Đức Maria không dạy ta đáp ứng mọi đòi hỏi một cách mù quáng. Mẹ dạy ta tìm kiếm điều thực sự giúp người khác lớn lên trong phẩm giá, tự do và tình yêu đối với Thiên Chúa.
Muốn có được sự tinh tế ấy, ta cần xin Mẹ thanh luyện ánh mắt mình. Ánh mắt ích kỷ chỉ thấy điều người khác thiếu sót. Ánh mắt ganh tị chỉ thấy điều người khác hơn mình. Ánh mắt kiêu ngạo chỉ thấy người khác cần mình. Nhưng ánh mắt của Mẹ thấy một con người đang cần được yêu. Mẹ không nhìn gia đình Cana để xét đoán họ chuẩn bị thiếu sót, nhưng để cảm thông với sự bối rối của họ. Nếu học được ánh mắt ấy, ta sẽ bớt hỏi: “Tại sao người ấy cư xử với tôi như vậy?” và bắt đầu hỏi: “Có thể họ đang phải chịu điều gì?” Ta sẽ bớt nói: “Họ thật khó chịu” và tự hỏi: “Họ đang thiếu điều gì trong lòng?” Ta sẽ bớt kết án và biết cầu nguyện nhiều hơn.
Ngày hôm nay, Mẹ mời ta thực hành bài học này bằng những việc rất cụ thể. Hãy nhìn kỹ hơn khuôn mặt của người đang sống bên cạnh. Hãy đặt điện thoại xuống khi ai đó muốn nói chuyện. Hãy hỏi một câu chân thành và kiên nhẫn nghe câu trả lời. Hãy nhớ đến một người lâu nay không ai thăm hỏi. Hãy làm một việc nhỏ mà không chờ được cảm ơn. Hãy bảo vệ danh dự của người đang gặp khó khăn. Hãy mang nhu cầu của họ đến với Chúa và xin Người chỉ cho ta biết phần việc của mình. Đừng chờ đến khi người khác kêu cứu thật lớn, bởi có những người chỉ có thể khóc trong thinh lặng.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ có trái tim luôn hướng về Thiên Chúa và mở ra trước những nhu cầu của con người. Xin dạy con biết bước ra khỏi cái tôi chật hẹp để nhìn thấy những người đang ở bên con. Xin cho con đôi mắt tinh tế để nhận ra nỗi buồn sau nụ cười, sự mệt mỏi sau vẻ mạnh mẽ và lời cầu cứu ẩn trong sự im lặng. Xin giữ con khỏi thái độ tò mò, phán xét và phô trương khi giúp đỡ người khác. Xin dạy con biết quan tâm mà vẫn tôn trọng, giúp đỡ mà không làm tổn thương, cho đi mà không đòi đáp trả. Xin cho con biết mang những nhu cầu của anh chị em đến với Chúa Giêsu và sẵn sàng làm bất cứ điều gì Người truyền dạy.
Lạy Mẹ Maria, giữa tiệc cưới Cana, Mẹ đã nhận ra điều người khác chưa kịp nói. Hôm nay, xin Mẹ cũng mở mắt lòng con. Xin đừng để con vô tình bước qua một người đang cần được nâng đỡ. Đừng để con quá bận rộn với công việc mà quên mất con người. Đừng để con chỉ biết nói về yêu thương nhưng lại không nhận ra người đang cần tình yêu ngay bên cạnh. Xin biến trái tim con thành một trái tim biết lắng nghe, biết rung động, biết cầu nguyện và biết hành động. Nhờ sự hướng dẫn của Mẹ, xin cho từng cuộc gặp gỡ của con trở thành cơ hội để Chúa Giêsu đem rượu mới của niềm vui, hy vọng và bình an đến cho những người đang thiếu thốn. Amen.
NGÀY 13 – MẸ DẠY CON NÓI LỜI ĐÚNG LÚC
Có những lời nói chỉ mất vài giây để thốt ra nhưng lại có thể ở lại trong lòng một người suốt cả cuộc đời. Có những lời tưởng như rất bình thường nhưng lại trở thành ánh sáng cho một tâm hồn đang chìm trong bóng tối. Có những lời nói đúng lúc đã cứu một người khỏi tuyệt vọng, giúp một gia đình tránh được đổ vỡ, làm dịu đi một cuộc tranh cãi và mở lại cánh cửa mà sự giận dữ đã đóng kín. Thế nhưng cũng có những lời được nói không đúng lúc, dù nội dung có thể đúng, vẫn trở thành một nhát dao làm đau người khác. Lời nói là một ân huệ Thiên Chúa ban cho con người, nhưng cũng là một trách nhiệm rất lớn. Không phải cứ biết điều gì là phải nói ngay điều ấy. Không phải cứ thấy người khác sai là phải lập tức lên tiếng sửa dạy. Không phải cứ mình đang buồn, đang bực, đang tổn thương là có quyền nói tất cả những gì đang chất chứa trong lòng. Người khôn ngoan không chỉ biết nói điều đúng mà còn biết chọn đúng thời điểm, đúng cách thức và đúng tâm tình để nói. Trong ngày thứ mười ba của hành trình sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, Mẹ dạy chúng ta một bài học rất cần thiết: nói lời đúng lúc.
Nhìn vào cuộc đời Đức Maria, chúng ta nhận ra Mẹ là người phụ nữ của thinh lặng, nhưng sự thinh lặng nơi Mẹ không phải là sự khép kín, lạnh lùng hay thờ ơ. Mẹ thinh lặng để lắng nghe Thiên Chúa, để hiểu người khác và để nhận biết lúc nào cần lên tiếng. Tin Mừng không ghi lại nhiều lời của Mẹ, nhưng mỗi lời Mẹ nói đều có sức nặng, đều phát xuất từ một tâm hồn đầy đức tin và tình yêu. Trong biến cố Truyền Tin, khi sứ thần Gabriel loan báo một điều vượt quá sự hiểu biết của con người, Mẹ không phản ứng vội vàng, không nói theo cảm xúc nhất thời, cũng không đặt mình làm trung tâm. Mẹ chỉ khiêm tốn hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Câu hỏi của Mẹ không phải là sự nghi ngờ, nhưng là lời tìm kiếm ánh sáng để có thể đáp lại ý Chúa cách tự do và trọn vẹn. Sau khi lắng nghe lời giải thích của sứ thần, Mẹ nói lời quan trọng nhất trong cuộc đời mình: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Mẹ đã nói đúng lời vào đúng lúc. Lời “xin vâng” ấy đã mở cửa cho Ngôi Lời nhập thể, mở đầu một trang sử mới của ơn cứu độ và đem niềm hy vọng đến cho toàn thể nhân loại.
Tại tiệc cưới Cana, Mẹ lại cho chúng ta thấy sự tinh tế trong lời nói. Khi nhận ra gia đình chủ tiệc đang đứng trước nguy cơ xấu hổ vì hết rượu, Mẹ không loan báo sự thiếu thốn ấy cho mọi người, không trách móc những người có trách nhiệm, không làm cho đôi tân hôn thêm bối rối. Mẹ chỉ nhẹ nhàng thưa với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Một lời rất ngắn, nhưng chứa đựng cả một tấm lòng. Mẹ không ra lệnh cho Chúa phải làm điều gì, không trình bày dài dòng, không biến lời cầu xin thành một áp lực. Mẹ chỉ đặt nhu cầu của người khác trước mặt Chúa với niềm tin tưởng sâu xa. Rồi Mẹ quay sang những người giúp việc và nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đây là lời cuối cùng của Đức Maria được Tin Mừng ghi lại, và cũng là lời Mẹ vẫn đang nói với mỗi người chúng ta hôm nay. Mẹ không giữ chúng ta lại cho riêng Mẹ nhưng luôn dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu. Mẹ nói đúng lúc để cứu một gia đình khỏi bối rối và để đức tin của các môn đệ được lớn lên.
Nói lời đúng lúc trước hết đòi chúng ta phải biết lắng nghe. Người không biết lắng nghe thường nói quá nhiều, nói quá nhanh và nói khi chưa hiểu hết sự việc. Nhiều tổn thương trong gia đình và cộng đoàn không bắt nguồn từ những vấn đề quá lớn, nhưng từ việc người ta không chịu nghe nhau. Người này chưa nói hết, người kia đã cắt ngang. Người khác đang đau, ta lại vội vàng đưa ra lời khuyên. Có người chỉ cần được cảm thông, ta lại biến cuộc gặp gỡ thành một buổi giảng dạy. Có người đang nóng giận, ta vẫn cố tranh luận để chứng minh mình đúng. Có người vừa thất bại, ta lại nhắc cho họ nhớ những lỗi lầm cũ. Có người đang khóc, ta lại nói: “Có gì đâu mà buồn.” Những lời ấy có thể không mang ác ý, nhưng vì được nói không đúng lúc nên không chữa lành mà còn làm nỗi đau thêm sâu. Đức Maria dạy chúng ta phải nghe bằng đôi tai, bằng ánh mắt và bằng cả trái tim. Chỉ khi lắng nghe đủ lâu, chúng ta mới biết lời nào cần nói và lúc nào nên nói.
Có những lúc lời nói cần được cất lên để an ủi. Một người vừa mất đi người thân không cần nghe những lời giải thích dài dòng về đau khổ. Họ cần một sự hiện diện chân thành, một bàn tay nắm lấy bàn tay và một lời đơn sơ: “Tôi ở đây với anh, với chị.” Một người đang mệt mỏi vì gánh nặng gia đình có thể được nâng đỡ chỉ bằng một lời: “Bạn đã cố gắng rất nhiều rồi.” Một đứa trẻ vừa thất bại cần nghe rằng nó vẫn được yêu thương, chứ không phải một chuỗi so sánh với người khác. Một người già cô đơn cần được hỏi thăm bằng sự kiên nhẫn, không phải bằng thái độ làm cho xong bổn phận. Một người đang mang mặc cảm tội lỗi cần được nhắc rằng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn mọi yếu đuối của con người. Đừng coi thường những lời nói nhỏ bé. Một lời khích lệ đúng lúc có thể giúp người khác đứng dậy. Một lời cảm ơn đúng lúc có thể làm ấm lại một trái tim. Một lời xin lỗi chân thành có thể nối lại một tương quan. Một lời tha thứ có thể giải thoát cả người nói lẫn người nghe.
Có những lúc chúng ta phải nói lời sự thật. Tuy nhiên, nói sự thật không có nghĩa là nói bất cứ điều gì mình nghĩ, vào bất cứ lúc nào mình muốn và bằng bất cứ cách nào mình thích. Sự thật của Tin Mừng luôn đi cùng với tình yêu. Một lời góp ý chỉ thực sự có giá trị khi người nói muốn giúp người kia tốt hơn, chứ không nhằm làm họ xấu hổ, chứng minh mình vượt trội hay trút bỏ sự bực tức. Khi đang giận dữ, chúng ta rất khó nói sự thật bằng tình yêu, bởi trong cơn nóng giận, lời nói thường bị pha trộn với tự ái và sự kết án. Vì thế, có những điều cần được giữ lại cho đến khi lòng mình bình an hơn. Có những cuộc trao đổi nên được hoãn lại để cả hai bên có thời gian cầu nguyện và suy nghĩ. Có những lời sửa dạy phải được nói riêng tư, không phải giữa đám đông. Có những lỗi lầm của người khác cần được che chở, không phải đem ra làm câu chuyện cho thiên hạ bàn tán. Nói lời đúng lúc không làm giảm giá trị của sự thật, nhưng giúp sự thật có cơ hội được đón nhận.
Có những lúc chúng ta cần can đảm lên tiếng. Thinh lặng không phải lúc nào cũng là nhân đức. Khi thấy người yếu thế bị chèn ép, người vô tội bị vu khống, sự thật bị bóp méo, phẩm giá con người bị xúc phạm hay điều xấu được dung túng, chúng ta không thể lấy lý do “giữ bình an” để im lặng. Một sự bình an được xây dựng trên bất công chỉ là sự yên ổn giả tạo. Đức Maria là người dịu dàng nhưng không yếu đuối. Lời kinh Magnificat của Mẹ là tiếng nói mạnh mẽ của một người nữ tin vào sự công chính của Thiên Chúa: Người hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường, kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng. Mẹ không nói để kích động hận thù, nhưng để công bố rằng Thiên Chúa đứng về phía người bé nhỏ và không bỏ quên tiếng kêu của người đau khổ. Noi gương Mẹ, người Kitô hữu phải biết lên tiếng cho sự thật, cho công lý và cho phẩm giá con người, nhưng phải nói với lòng khiêm nhường, không biến mình thành quan tòa của anh chị em.
Có những lúc điều đúng nhất lại là không nói gì. Sự thinh lặng đúng lúc cũng là một ngôn ngữ của tình yêu. Trước những lời khiêu khích, im lặng có thể giúp ngăn một cuộc xung đột. Trước những câu chuyện làm tổn hại danh dự người vắng mặt, im lặng là cách từ chối tham gia vào việc nói xấu. Trước một nỗi đau quá lớn mà không lời nào có thể giải thích, sự hiện diện âm thầm có khi quý hơn ngàn lời an ủi. Trước mầu nhiệm của Thiên Chúa, thinh lặng là thái độ của người biết mình nhỏ bé. Đức Maria đã thinh lặng dưới chân thập giá. Tin Mừng không ghi lại một lời than trách nào của Mẹ. Không phải Mẹ không đau, nhưng có những nỗi đau chỉ có thể được đặt vào lòng Thiên Chúa. Mẹ đứng đó, hiện diện, trung thành và yêu thương. Sự thinh lặng của Mẹ dưới chân thập giá không phải là sự bất lực nhưng là lời “xin vâng” được sống đến tận cùng.
Chúng ta thường hối tiếc vì đã nói quá nhanh hơn là vì đã im lặng thêm một chút. Một lời đã nói ra không thể thu lại hoàn toàn. Dù có xin lỗi, dấu vết của nó đôi khi vẫn còn trong lòng người nghe. Vì thế, trước khi nói, chúng ta cần tập dừng lại. Hãy tự hỏi: Điều tôi sắp nói có đúng không? Có cần thiết không? Có đem lại ích lợi không? Đây có phải là lúc thích hợp không? Tôi đang nói vì yêu thương hay vì muốn giải tỏa sự bực tức? Tôi muốn giúp người kia hay muốn làm họ đau? Tôi có sẵn sàng nói điều này trước mặt Chúa Giêsu và Đức Maria không? Những câu hỏi ấy có thể giúp chúng ta tránh được rất nhiều lời vô ích và gây tổn thương. Thánh Giacôbê đã nhắc nhở rằng mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói và khoan giận. Đó là một nguyên tắc rất đơn sơ nhưng cần được thực hành mỗi ngày.
Trong đời sống gia đình, lời nói đúng lúc có sức gìn giữ tình yêu. Vợ chồng đừng chỉ nói với nhau khi có vấn đề, nhưng hãy biết nói lời biết ơn khi người kia âm thầm hy sinh. Cha mẹ đừng chỉ lên tiếng khi con cái sai lỗi, nhưng cũng cần khen ngợi khi các em có một cố gắng nhỏ. Con cái đừng chờ đến khi cha mẹ già yếu mới bày tỏ lòng hiếu thảo. Anh chị em đừng để những hiểu lầm kéo dài chỉ vì không ai muốn nói lời trước. Một lời “xin lỗi” nói sớm có thể ngăn vết thương trở nên trầm trọng. Một lời “cảm ơn” được nói mỗi ngày có thể giúp người thân nhận ra rằng những hy sinh của họ không bị coi là điều đương nhiên. Một lời “con thương cha mẹ”, “anh thương em”, “em biết ơn anh” đôi khi khó nói vì chúng ta ngại ngùng, nhưng chính những lời đơn sơ ấy làm cho mái nhà trở thành nơi người ta muốn trở về.
Trong đời sống cộng đoàn và Giáo Hội, nói lời đúng lúc càng cần thiết. Cộng đoàn không thể lớn lên nếu mọi người chỉ nói về nhau mà không nói với nhau. Nhiều khi ta dễ dàng kể khuyết điểm của một người cho rất nhiều người khác, nhưng lại không đủ can đảm gặp chính người ấy trong tình bác ái. Có người im lặng trước mặt nhưng phê bình sau lưng. Có người không góp ý khi sự việc còn có thể sửa chữa, đến khi hậu quả xảy ra lại nói: “Tôi đã biết trước rồi.” Có người chỉ lên tiếng để bảo vệ quyền lợi của mình, nhưng lại im lặng trước nỗi đau của người khác. Đức Maria dạy chúng ta nói bằng tâm hồn của một người mẹ: không làm nhục, không kết án, không thêm dầu vào lửa, nhưng cũng không thỏa hiệp với điều sai trái. Lời nói của chúng ta phải góp phần xây dựng sự hiệp nhất, chữa lành những rạn nứt và dẫn mọi người đến gần Chúa hơn.
Trong thời đại mạng xã hội, bài học nói lời đúng lúc càng trở nên khẩn thiết. Ngày nay, chỉ cần một vài giây là một lời bình luận có thể đến với hàng trăm, hàng ngàn người. Người ta dễ dàng viết những điều mà nếu gặp mặt trực tiếp có lẽ không bao giờ dám nói. Có những lời chế giễu được gọi là vui đùa, những lời xúc phạm được biện minh là nói thẳng, những thông tin chưa kiểm chứng được chia sẻ chỉ vì muốn mình là người biết trước. Có những người trở thành nạn nhân của đám đông chỉ vì một đoạn video bị cắt khỏi bối cảnh hay một câu chuyện chưa được nghe từ nhiều phía. Người môn đệ của Đức Kitô phải có trách nhiệm với từng lời mình viết, từng điều mình chia sẻ và từng phản ứng mình bày tỏ. Trước khi bấm nút đăng, hãy dừng lại và cầu nguyện. Điều này có làm người khác bị tổn thương không? Có xâm phạm danh dự của ai không? Có đúng sự thật không? Có cần thiết phải đưa lên công khai không? Có làm cho thế giới nhiều ánh sáng hơn không? Nếu chưa chắc chắn, im lặng vẫn tốt hơn.
Mẹ dạy con nói lời đúng lúc, nhưng trước hết Mẹ dạy con để Lời Chúa ở trong lòng. Một trái tim đầy giận dữ sẽ nói ra những lời giận dữ. Một trái tim đầy ghen tị sẽ nói những lời hạ thấp người khác. Một trái tim chất chứa tự ái sẽ luôn tìm cách bảo vệ mình. Nhưng một tâm hồn đầy Lời Chúa sẽ dần biết nói những lời mang lại sự sống. Đức Maria đã cưu mang Ngôi Lời trong cung lòng và cưu mang Lời Chúa trong tâm hồn. Mẹ ghi nhớ mọi điều và suy đi nghĩ lại trong lòng. Chính vì thế, lời của Mẹ không ồn ào nhưng có sức dẫn đường. Muốn nói lời đúng lúc, chúng ta phải học cầu nguyện trước khi nói, để Chúa thanh luyện ý hướng, chữa lành những vết thương và đặt vào miệng chúng ta lời Ngài muốn chúng ta nói.
Ngày hôm nay, hãy nhìn lại cách mình sử dụng lời nói. Có ai đang cần một lời xin lỗi mà ta vẫn trì hoãn không? Có ai đang mệt mỏi và cần một lời động viên không? Có người thân nào lâu rồi chưa được nghe ta nói lời yêu thương và biết ơn không? Có sự thật nào cần được nói ra với lòng can đảm và bác ái không? Có câu chuyện nào ta phải giữ kín để bảo vệ danh dự của người khác không? Có cuộc tranh luận nào ta nên dừng lại vì càng nói chỉ càng gây tổn thương không? Có lời bình luận nào trên mạng xã hội cần được xóa bỏ không? Có ai đang đau khổ và chỉ cần ta ngồi bên cạnh trong thinh lặng không? Xin đừng để ngày hôm nay trôi qua mà ta bỏ lỡ cơ hội nói một lời đem lại bình an. Đôi khi ngày mai sẽ là quá muộn. Một lời yêu thương cần được nói khi người ta còn có thể nghe. Một lời cảm ơn cần được thốt lên khi người hy sinh còn hiện diện. Một lời tha thứ cần được trao ban trước khi khoảng cách trở nên quá lớn.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ của Lời nhập thể, xin dạy con biết lắng nghe trước khi lên tiếng. Xin giữ miệng lưỡi con khỏi những lời nóng nảy, kiêu căng, xét đoán và làm tổn thương người khác. Xin giúp con đừng nói chỉ để chứng minh mình đúng, nhưng biết nói để đem lại sự thật, bình an và chữa lành. Khi cần im lặng, xin cho con đủ khôn ngoan để im lặng. Khi cần lên tiếng, xin cho con đủ can đảm để nói. Khi phải góp ý, xin cho con nói bằng lòng bác ái. Khi gặp người đau khổ, xin cho con biết nói lời cảm thông. Khi gặp người tuyệt vọng, xin cho con biết gieo một lời hy vọng. Khi người khác xúc phạm con, xin cho con đừng lấy lời cay độc đáp lại, nhưng biết đặt mọi sự trong bàn tay Thiên Chúa.
Lạy Mẹ, xin đặt vào môi miệng con những lời dịu dàng của Mẹ, đặt vào trái tim con sự tinh tế của Mẹ và đặt vào tâm hồn con sự thinh lặng thánh thiện của Mẹ. Xin cho con biết nói lời đúng người, đúng việc và đúng lúc; để lời con không trở thành gánh nặng nhưng là sự nâng đỡ, không làm người khác khép lại nhưng mở lòng họ ra, không dẫn đến chia rẽ nhưng xây dựng hiệp nhất. Xin cho mỗi lời con nói đều được đi qua trái tim của Chúa Giêsu, để giữa một thế giới đầy tiếng ồn, lời con có thể trở thành một tiếng nói nhỏ bé của Tin Mừng, một lời đem lại sự sống, một lời giúp người khác nhận ra rằng họ được yêu thương và không bao giờ bị Thiên Chúa bỏ quên.
NGÀY 14 – MẸ DẠY CON Ở LẠI TRONG ĐAU KHỔ
Trong đời, ai cũng muốn tìm niềm vui và tránh né đau khổ. Người ta thường cầu xin cho mình được bình an, khỏe mạnh, thành công; cầu xin cho gia đình không gặp tai ương, cho công việc không đổ vỡ, cho những người thân yêu không phải ra đi. Những lời cầu xin ấy rất chân thành và chính đáng. Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, Người không vui thích khi thấy con cái mình phải khổ đau. Thế nhưng, có những lúc dù đã cầu nguyện thật nhiều, đau khổ vẫn còn đó. Căn bệnh vẫn kéo dài, một người thân vẫn nhắm mắt lìa đời, một tương quan vẫn tan vỡ, một lời hiểu lầm vẫn chưa được hóa giải, một vết thương trong lòng vẫn chưa lành. Khi ấy, con người dễ rơi vào hoang mang, thất vọng và tự hỏi: Thiên Chúa đang ở đâu? Tại sao Người lại im lặng? Tại sao Người không cất chén đắng này khỏi đời tôi? Trong những giờ phút như thế, Đức Maria Trinh Vương không giải thích cho ta mọi lý do của đau khổ, nhưng Mẹ âm thầm dạy ta một điều rất khó: hãy ở lại. Ở lại bên Chúa, ở lại bên người đang đau khổ, ở lại với bổn phận, ở lại trong niềm tin, ngay cả khi ta chưa hiểu được điều gì đang xảy ra.
Cuộc đời Đức Maria không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Ngay từ những ngày đầu đáp lời xin vâng, Mẹ đã phải bước vào một hành trình đầy bất định. Mẹ mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, nhưng làm sao giải thích được mầu nhiệm ấy với thánh Giuse và những người chung quanh? Mẹ sinh Con Thiên Chúa trong cảnh nghèo hèn của hang đá Bêlem. Mẹ nghe lời ông Simêon báo trước rằng một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Mẹ. Mẹ phải ôm Hài Nhi trốn sang Ai Cập giữa đêm tối để tránh lưỡi gươm của vua Hêrôđê. Mẹ từng lo lắng tìm kiếm Chúa Giêsu suốt ba ngày, từng chứng kiến Con mình bị chống đối, bị hiểu lầm, bị kết án và cuối cùng bị treo trên thập giá. Có lẽ không một người mẹ nào lại không đau đớn khi thấy con mình bị hành hạ và chết trong nhục nhã. Thế nhưng Tin Mừng không kể rằng Mẹ chạy trốn hay buông lời oán trách. Tin Mừng chỉ nói một câu ngắn gọn nhưng chất chứa cả một vực sâu đau khổ và trung tín: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ đứng đó. Mẹ ở lại đó. Mẹ không thể tháo những chiếc đinh khỏi tay chân Con, không thể làm cho những kẻ kết án thay đổi lòng dạ, không thể ngăn ngọn giáo đâm vào cạnh sườn Con, nhưng Mẹ có thể ở lại. Và sự hiện diện trung thành của Mẹ đã trở thành một lời yêu thương mạnh hơn mọi lời nói.
Ở lại trong đau khổ không có nghĩa là yêu thích đau khổ, tìm kiếm đau khổ hay cam chịu một cách thụ động trước sự dữ. Người Kitô hữu không được phép lấy hai chữ “thánh giá” để biện minh cho bất công, bạo lực, áp bức hay sự vô trách nhiệm. Có những hoàn cảnh ta phải lên tiếng, phải tìm sự trợ giúp, phải chữa trị, phải bảo vệ người yếu thế và phải can đảm rời khỏi điều đang hủy hoại phẩm giá của mình. Đức Maria không dạy ta cúi đầu trước sự dữ, nhưng Mẹ dạy ta đừng bỏ Chúa khi sự dữ xảy đến. Mẹ dạy ta đừng để đau khổ biến mình thành người cay độc, khép kín và tuyệt vọng. Mẹ dạy ta ở lại trong tình yêu ngay giữa hoàn cảnh mà ta không thể thay đổi tức khắc. Ở lại là không chạy trốn khỏi sự thật của đời mình. Ở lại là dám nhìn nhận rằng mình đang đau, đang yếu, đang sợ hãi và cần được nâng đỡ. Ở lại là tiếp tục cầu nguyện ngay cả khi lời cầu nguyện dường như khô khan. Ở lại là vẫn tin rằng Thiên Chúa đang hiện diện dù đôi mắt đẫm lệ của ta chưa nhận ra Người.
Con người thường có nhiều cách chạy trốn đau khổ. Có người lao vào công việc để khỏi phải đối diện với nỗi trống vắng trong lòng. Có người tìm quên trong rượu chè, giải trí, mua sắm hay những cuộc vui chóng qua. Có người thu mình lại, không muốn gặp gỡ ai và cũng không để ai đến gần. Có người dùng mạng xã hội để tạo ra một hình ảnh luôn vui vẻ, thành công, trong khi tâm hồn bên trong đang tan vỡ. Có người lại trút nỗi đau của mình lên người khác bằng những lời cáu gắt, phán xét và xúc phạm. Những cách chạy trốn ấy có thể giúp ta quên trong chốc lát, nhưng không thể chữa lành tận căn. Vết thương bị che giấu vẫn là vết thương. Nỗi buồn bị đè nén vẫn âm thầm lớn lên. Đức Maria mời ta dừng lại và đem tất cả những gì đang đè nặng tâm hồn đến trước mặt Chúa. Ta không cần phải tỏ ra mạnh mẽ trước mặt Người. Ta có thể khóc. Ta có thể thưa với Chúa rằng mình mệt mỏi, thất vọng, thậm chí không hiểu nổi đường lối của Người. Cầu nguyện không phải lúc nào cũng là nói những lời đẹp đẽ. Đôi khi cầu nguyện chỉ là ngồi yên trước Chúa, để nước mắt rơi và thưa: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây. Con chưa hiểu, nhưng con không muốn rời xa Chúa.”
Mẹ Maria đã ở lại dưới chân thập giá, không phải vì Mẹ hiểu hết mọi sự, nhưng vì Mẹ yêu. Tình yêu chân thật không chỉ hiện diện trong những ngày vui mà còn được thử luyện trong những giờ phút đen tối. Thật dễ dàng để ở bên một người khi họ mạnh khỏe, thành công và mang lại niềm vui cho ta. Khó hơn nhiều là ở lại khi họ đau bệnh, thất bại, cáu gắt, mất phương hướng hay không còn có thể đáp lại tình thương của ta. Có những gia đình đã kiệt sức khi chăm sóc một người bệnh lâu ngày. Có những người vợ, người chồng phải gánh lấy nỗi đau vì người bạn đời gặp khủng hoảng. Có những bậc cha mẹ âm thầm khóc vì con cái lầm đường. Có những người con phải nhìn cha mẹ già yếu dần mà không thể làm gì để đảo ngược thời gian. Trong những hoàn cảnh ấy, ta thường cảm thấy mình bất lực. Nhưng Mẹ dạy rằng có một sự hiện diện không bao giờ vô ích. Một bàn tay được nắm lấy, một bữa cơm được chuẩn bị, một đêm thức bên giường bệnh, một lời cầu nguyện thì thầm, một ánh mắt không kết án, đôi khi quý giá hơn tất cả những lời khuyên.
Ở lại không phải là làm những điều lớn lao. Đức Maria dưới chân thập giá không giảng một bài dài, không thực hiện một phép lạ, không làm thay đổi đám đông. Mẹ chỉ đứng gần Con. Đời sống của chúng ta cũng vậy. Có lúc ta không thể chữa lành bệnh tật của người thân, không thể xóa đi quá khứ đau buồn, không thể trả lời câu hỏi tại sao, nhưng ta có thể làm cho người đau khổ biết rằng họ không cô độc. Người đang chịu đau khổ không phải lúc nào cũng cần nghe những lời như: “Đừng buồn nữa”, “Phải mạnh mẽ lên”, “Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi”. Những câu ấy có thể xuất phát từ thiện ý, nhưng nhiều khi lại khiến người đau khổ cảm thấy nỗi đau của mình không được thấu hiểu. Họ cần một người biết lắng nghe mà không vội sửa chữa, biết ngồi bên mà không sốt ruột, biết tôn trọng nước mắt mà không đòi họ phải mau chóng vui trở lại. Mẹ Maria là người của sự hiện diện ấy. Mẹ không lấy lời nói để che phủ mầu nhiệm đau khổ. Mẹ ở lại, lắng nghe và cùng đau với Con.
Tuy nhiên, ở lại trong đau khổ không chỉ là ở lại bên người khác mà còn là ở lại với chính mình. Có những lúc ta dễ chăm sóc người khác nhưng lại không biết dịu dàng với bản thân. Ta trách mình yếu đuối, trách mình không đủ đức tin, trách mình vì vẫn còn buồn sau một biến cố đã xảy ra từ lâu. Ta muốn ép trái tim phải hồi phục ngay, trong khi mọi vết thương đều cần thời gian. Đức Maria mời ta học sự kiên nhẫn. Mẹ không vội vàng chạy khỏi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Mẹ bước qua ngày Thứ Bảy thinh lặng trước khi gặp ánh sáng Phục Sinh. Đời ta cũng có những ngày Thứ Bảy kéo dài, khi cái cũ đã mất đi mà cái mới chưa xuất hiện, khi lời hứa của Chúa chưa được hoàn tất trước mắt ta. Đó là khoảng thời gian rất khó khăn, bởi ta phải sống giữa mất mát và hy vọng. Nhưng chính trong khoảng thinh lặng ấy, Thiên Chúa vẫn đang hoạt động. Hạt giống nằm trong lòng đất tưởng như đã chết, nhưng bên trong nó, sự sống đang âm thầm chuẩn bị để vươn lên.
Mẹ dạy ta rằng đau khổ không phải là tiếng nói cuối cùng. Thập giá không phải là điểm kết thúc của cuộc đời Chúa Giêsu. Sau chiều Canvê là buổi sáng Phục Sinh. Nhưng muốn đi đến Phục Sinh, người môn đệ phải can đảm đi qua thập giá. Nhiều khi ta muốn Chúa đưa mình đến bình minh mà không phải trải qua đêm tối, muốn được chữa lành mà không cần chạm đến vết thương, muốn được trưởng thành mà không phải đi qua thử thách. Thế nhưng chính trong đau khổ, nhiều điều giả tạo nơi ta được bóc đi. Ta nhận ra mình không toàn năng, không kiểm soát được mọi sự và không thể sống nếu thiếu Chúa. Đau khổ có thể làm lòng người chai đá, nhưng cũng có thể làm con tim trở nên mềm mại hơn. Một người từng trải qua bệnh tật thường dễ cảm thông với người đau bệnh. Một người từng mất mát thường biết trân trọng hơn những gì mình đang có. Một người từng được tha thứ thường dễ mở lòng tha thứ. Đau khổ tự nó không phải là điều tốt, nhưng khi được đặt trong tay Thiên Chúa, nó có thể trở thành nơi tình yêu được thanh luyện và đức tin được trưởng thành.
Đức Maria Trinh Vương là Nữ Vương không phải vì Mẹ tránh được đau khổ, nhưng vì Mẹ đã để tình yêu chiến thắng đau khổ. Mẹ không cai trị bằng quyền lực, nhưng bằng sự trung thành. Mẹ không đứng trên ngai vàng xa cách con người, nhưng đứng dưới chân thập giá cùng với những người đang khóc. Chính vì thế, ai đang đau khổ đều có thể tìm đến với Mẹ. Mẹ hiểu nỗi đau của người mẹ mất con, hiểu sự lo lắng của gia đình phải chạy trốn, hiểu cảm giác bị người khác hiểu lầm, hiểu nỗi cô đơn khi không thể làm gì cho người mình yêu. Ta không cần giải thích quá nhiều với Mẹ. Chỉ cần gọi: “Mẹ ơi!” là đã đủ. Trong tiếng gọi ấy có tất cả nỗi sợ hãi, cô đơn và bất lực của một người con. Mẹ sẽ không luôn cất đau khổ khỏi ta theo cách ta mong muốn, nhưng Mẹ sẽ ở bên để ta không gục ngã. Mẹ sẽ dẫn ta đến với Chúa Giêsu, Đấng đã mang lấy mọi thương tích của nhân loại và biến thập giá thành nguồn cứu độ.
Có người hỏi: Tại sao Chúa quyền năng mà lại để con người đau khổ? Không có một câu trả lời đơn giản nào đủ sức giải thích mọi giọt nước mắt trên trần gian. Đứng trước những bi kịch lớn lao, đôi khi lời khôn ngoan nhất là thinh lặng và khóc với người đang khóc. Chúa Giêsu cũng đã khóc trước mộ Ladarô. Người không đứng ngoài đau khổ của con người để đưa ra một bài giải thích lạnh lùng. Người bước vào đau khổ, mang lấy thân phận con người và chịu chết trên thập giá. Đức tin Kitô giáo không nói rằng Thiên Chúa miễn cho ta mọi đau khổ, nhưng tuyên xưng rằng không một đau khổ nào của ta còn xa lạ với Thiên Chúa. Người hiện diện trong phòng bệnh, trong căn nhà có người vừa qua đời, trong gia đình đang đổ vỡ, trong tâm hồn đang bị hiểu lầm, trong đêm dài của người mất phương hướng. Người không luôn trả lời bằng cách thay đổi hoàn cảnh, nhưng nhiều lần Người trả lời bằng cách ở lại với ta trong hoàn cảnh ấy.
Ở lại trong đau khổ còn có nghĩa là trung thành với những điều tốt lành, dù chưa thấy kết quả. Có người cầu nguyện nhiều năm cho một người thân trở về mà chưa thấy gì thay đổi. Có người âm thầm gieo hạt yêu thương nhưng chỉ nhận lại sự lạnh nhạt. Có người sống ngay thẳng mà vẫn bị thiệt thòi. Có người phục vụ tận tâm nhưng không được ghi nhận. Khi đó, cám dỗ lớn nhất là bỏ cuộc và nghĩ rằng mọi cố gắng đều vô ích. Đức Maria dạy ta đừng đo lường sự trung thành bằng kết quả trước mắt. Mẹ đã xin vâng và đi trọn con đường của mình, ngay cả khi lời hứa về một Đấng ngự trị đến muôn đời dường như hoàn toàn sụp đổ trên thập giá. Mẹ vẫn tin rằng Thiên Chúa trung tín. Đức tin không phải là chỉ tin khi mọi việc xảy ra đúng ý mình; đức tin là vẫn nắm lấy tay Chúa khi con đường phía trước bị che phủ bởi bóng tối.
Ngày hôm nay, có thể con đang mang một nỗi đau mà chẳng ai biết. Có thể con vẫn cười, vẫn làm việc, vẫn gặp gỡ mọi người, nhưng trong lòng có một khoảng trống rất sâu. Có thể con đang đau vì một người đã ra đi, vì một lời phản bội, một thất bại, một căn bệnh hay một tương lai bất định. Có thể con đã cầu nguyện lâu ngày và bắt đầu mệt mỏi. Mẹ Maria không bảo con phải giả vờ rằng mọi sự đều ổn. Mẹ mời con đến đứng bên Mẹ dưới chân thập giá. Hãy để Mẹ ôm lấy con. Hãy nói với Mẹ tất cả những gì con không thể nói với người khác. Hãy để Mẹ dạy con cầu nguyện bằng sự hiện diện, bằng nước mắt và bằng lòng trung tín. Con không cần nhìn thấy ngay câu trả lời. Hôm nay, con chỉ cần ở lại thêm một chút với Chúa. Chỉ cần đừng buông tay. Chỉ cần làm điều tốt nhỏ bé mà con có thể làm trong ngày hôm nay.
Có những ngày ta không đủ sức nghĩ đến cả một chặng đường dài. Mẹ không đòi ta phải mang thập giá của ngày mai ngay trong hôm nay. Mẹ chỉ dạy ta bước từng bước nhỏ. Hôm nay hãy ăn một bữa cho tử tế, ngủ một giấc nếu có thể, gọi điện cho một người đáng tin cậy, đến gặp một người có khả năng nâng đỡ, đọc một đoạn Tin Mừng, lần một chục kinh Mân Côi, thắp một ngọn nến trước ảnh Mẹ. Những việc ấy dường như rất nhỏ, nhưng chính chúng giúp ta tiếp tục sống. Trong những lúc khủng hoảng, việc tìm đến bác sĩ, chuyên viên tâm lý hay người đồng hành thiêng liêng không phải là thiếu đức tin. Thiên Chúa có thể dùng kiến thức, sự hiện diện và lòng tận tâm của người khác để nâng đỡ ta. Đừng tự cô lập mình trong đau khổ. Ngay cả Chúa Giêsu trên đường thập giá cũng đã đón nhận sự trợ giúp của ông Simon thành Kyrênê. Ta cần Chúa, nhưng ta cũng cần những người anh chị em mà Chúa gửi đến.
Mẹ Maria cũng dạy ta biết phân biệt giữa việc ở lại trong đau khổ và ở lại trong sự hủy diệt. Ta không được lấy gương Mẹ dưới chân thập giá để khuyên một người tiếp tục chịu bạo hành, che giấu tội ác hay từ chối sự trợ giúp cần thiết. Có những lúc trung thành với Thiên Chúa đòi ta phải rời khỏi một hoàn cảnh nguy hiểm, phải nói lên sự thật, phải nhờ đến cộng đoàn và những người có trách nhiệm. Thập giá của Chúa Giêsu là sự hiến dâng tự do vì tình yêu, chứ không phải là lời biện minh cho việc người mạnh chà đạp người yếu. Mẹ ở lại trong tình yêu, không ở lại trong sự đồng lõa với bất công. Vì thế, khi ta giúp một người đau khổ, đừng chỉ bảo họ chịu đựng. Hãy giúp họ tìm con đường an toàn, công lý và chữa lành. Hãy ở bên họ bằng trách nhiệm chứ không bằng những lời đạo đức dễ dãi.
Bài học của ngày hôm nay rất đơn sơ nhưng không dễ thực hiện: khi đau khổ đến, đừng vội chạy khỏi Chúa. Hãy ở lại. Khi một người thân đang đau, đừng vội giảng giải. Hãy ở lại. Khi lời cầu nguyện chưa được đáp lại, đừng vội kết luận rằng Chúa đã bỏ rơi mình. Hãy ở lại. Khi tâm hồn chưa lành, đừng trách mình vì hồi phục quá chậm. Hãy kiên nhẫn ở lại. Khi bóng tối khiến con không thấy đường, hãy để Mẹ nắm tay và dẫn con đi từng bước. Đêm tối có thể dài, nhưng không kéo dài mãi mãi. Thập giá có thể nặng, nhưng không phải là tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa vẫn đang làm việc trong thinh lặng. Sự sống mới vẫn đang nảy mầm trong nơi tưởng như chỉ có mất mát và chết chóc.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã đứng vững dưới chân thập giá khi trái tim Mẹ bị lưỡi gươm đau khổ đâm thâu. Xin dạy con đừng bỏ chạy mỗi khi cuộc đời trở nên nặng nề. Xin dạy con biết ở lại bên Chúa khi con chưa hiểu đường lối của Người, biết ở lại bên người đau khổ mà không vội phán xét hay nói những lời dễ dãi. Xin cho con biết thinh lặng khi lời nói không còn cần thiết, biết lắng nghe khi người khác cần được sẻ chia, biết đưa tay nâng đỡ khi họ không thể tự mình đứng dậy. Xin Mẹ gìn giữ con khỏi sự cay đắng, oán hận và tuyệt vọng. Xin giúp con tin rằng trong mọi đêm tối, Chúa vẫn hiện diện; trong mọi vết thương, Chúa vẫn có thể mở ra con đường chữa lành; và sau mọi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ánh sáng Phục Sinh vẫn đang chờ đợi. Lạy Mẹ, khi con không còn đủ sức bước tiếp, xin Mẹ đứng bên con. Khi con không thể cầu nguyện, xin Mẹ cầu nguyện thay con. Khi con muốn buông xuôi, xin Mẹ nhắc con rằng Chúa chưa bao giờ buông tay con. Xin dạy con hôm nay biết ở lại trong đau khổ bằng một tình yêu trung thành, để chính nơi nước mắt của con, hạt giống hy vọng được âm thầm nảy mầm.
NGÀY 15 – MẸ DẠY CON THA THỨ
Trong hành trình 30 ngày sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, hôm nay chúng ta dừng lại bên Mẹ để học một bài học rất khó nhưng cũng rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu: bài học tha thứ. Tha thứ là điều ai cũng biết phải làm, nhưng không phải ai cũng dễ dàng thực hiện. Có những vết thương chỉ thoáng qua rồi nguôi ngoai, nhưng cũng có những nỗi đau âm thầm kéo dài nhiều năm. Có những lời nói tưởng như vô tình nhưng lại đâm sâu vào lòng người khác. Có những sự phản bội, hiểu lầm, bất công và xúc phạm khiến người ta dù muốn quên cũng không thể quên được. Chính trong những lúc ấy, Đức Maria Trinh Vương đến bên chúng ta, không phải để phủ nhận nỗi đau, nhưng để nhẹ nhàng dẫn chúng ta đi vào con đường tha thứ của Chúa Giêsu.
Cuộc đời Đức Maria không phải là một hành trình được miễn trừ khỏi đau khổ. Ngay từ khi thưa tiếng “Xin vâng”, Mẹ đã bước vào một con đường đầy thử thách. Mẹ phải đối diện với ánh mắt nghi ngờ của người đời khi mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Mẹ phải sinh Con trong cảnh nghèo hèn nơi máng cỏ Bêlem. Mẹ phải cùng thánh Giuse bồng Con trốn sang Ai Cập giữa đêm tối vì vua Hêrôđê tìm giết Hài Nhi. Mẹ đã từng lo lắng khi lạc mất Con trong Đền Thờ. Mẹ đã chứng kiến người ta hiểu lầm, chống đối, vu khống và kết án Con mình. Đau đớn nhất là Mẹ đứng dưới chân thập giá, nhìn người Con vô tội bị hành hạ, sỉ nhục và đóng đinh như một tội nhân. Nếu có ai có lý do để oán trách, thì Đức Maria có rất nhiều lý do. Nếu có ai có quyền chất vấn công lý của con người, thì Mẹ hoàn toàn có quyền. Thế nhưng Tin Mừng không ghi lại một lời nguyền rủa nào trên môi Mẹ, không có một tiếng kêu báo thù nào, không có một thái độ căm hận nào hướng về những kẻ đã làm khổ Con Mẹ.
Đức Maria đứng dưới chân thập giá trong thinh lặng. Nhưng sự thinh lặng ấy không phải là sự bất lực, càng không phải là thái độ dửng dưng. Đó là sự thinh lặng của một trái tim đang hiệp thông sâu xa với trái tim Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, chắc chắn Mẹ cũng đã kết hợp lời cầu của mình với lời cầu của Con. Mẹ tha thứ không phải vì những người làm hại Chúa Giêsu xứng đáng được tha, nhưng vì Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót. Mẹ không để sự dữ của người khác biến đổi trái tim mình thành một trái tim đầy cay đắng. Người ta có thể đóng đinh Con của Mẹ, nhưng họ không thể đóng đinh tình yêu trong lòng Mẹ. Người ta có thể gây cho Mẹ những vết thương, nhưng họ không thể buộc Mẹ phải sống trong hận thù.
Tha thứ không có nghĩa là cho rằng điều sai trái chưa từng xảy ra. Tha thứ cũng không có nghĩa là coi nhẹ sự xúc phạm, dung túng cho bất công hoặc để người khác tiếp tục làm tổn thương mình. Đức Maria không dạy chúng ta giả vờ rằng mình không đau. Mẹ hiểu nước mắt của con người, bởi chính Mẹ đã khóc. Mẹ hiểu cảm giác mất mát, bởi Mẹ đã từng phải ôm xác Con mình trong vòng tay. Mẹ hiểu nỗi cô đơn của người bị hiểu lầm, bởi Mẹ đã từng phải giữ trong lòng biết bao điều không thể giải thích với người khác. Tha thứ, theo gương Mẹ, là nhìn nhận mình đã bị tổn thương nhưng không để vết thương ấy điều khiển cuộc đời mình. Tha thứ là trao quyền xét xử cho Thiên Chúa, thay vì tự biến mình thành thẩm phán của anh chị em. Tha thứ là từ chối nuôi dưỡng hận thù, dù ký ức đau buồn vẫn còn đó.
Có người nói: “Con muốn tha thứ, nhưng con không thể quên.” Thật ra, tha thứ và quên đi không hoàn toàn giống nhau. Có những chuyện trí nhớ con người không thể xóa bỏ. Có những vết sẹo vẫn còn dù vết thương đã lành. Điều quan trọng không phải là chúng ta có còn nhớ hay không, nhưng là chúng ta nhớ lại với thái độ nào. Khi nhớ lại mà lòng vẫn muốn trả đũa, muốn người kia phải đau khổ như mình đã đau khổ, thì việc tha thứ vẫn chưa trọn vẹn. Khi nhớ lại mà lòng có thể cầu nguyện cho người đã làm mình tổn thương, có thể xin Chúa biến đổi họ và chữa lành chính mình, thì con đường tha thứ đã bắt đầu. Đức Maria không quên đồi Canvê, nhưng Mẹ không sống mãi trong bóng tối của Canvê. Mẹ mang ký ức thập giá đi vào ánh sáng Phục Sinh. Mẹ không để ngày Thứ Sáu Tuần Thánh trở thành lời cuối cùng của đời mình, bởi Mẹ tin rằng tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn sự chết, lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi và ơn tha thứ mạnh hơn hận thù.
Nhiều khi chúng ta không tha thứ được vì trong lòng vẫn mong người kia phải chủ động xin lỗi trước. Chúng ta nghĩ rằng chỉ khi họ nhận ra lỗi lầm, hối hận và đến xin tha thì mình mới có thể tha thứ. Dĩ nhiên, một lời xin lỗi chân thành có thể mở đường cho sự hòa giải. Nhưng nếu người làm tổn thương chúng ta không nhận lỗi, không thay đổi hoặc thậm chí không còn cơ hội gặp lại, liệu chúng ta có phải mang theo gánh nặng ấy suốt đời không? Đức Maria dạy chúng ta rằng tha thứ trước hết là một quyết định của người bị tổn thương trước mặt Thiên Chúa. Đó là quyết định không để người khác tiếp tục chiếm giữ tâm trí mình bằng sự cay đắng. Đó là hành động tháo bỏ xiềng xích đang trói buộc trái tim. Khi tha thứ, có thể người kia chưa thay đổi, nhưng chính chúng ta bắt đầu được tự do.
Có những người tưởng rằng giữ mãi sự giận dữ là cách bảo vệ công bằng. Họ sợ rằng nếu tha thứ, người làm điều sai sẽ thắng, còn mình trở thành người yếu đuối. Nhưng nhìn lên Đức Maria dưới chân thập giá, chúng ta hiểu rằng tha thứ không phải là yếu đuối. Để nuôi hận thù không cần nhiều sức mạnh; chỉ cần buông mình theo cảm xúc. Nhưng để tha thứ, con người cần một lòng can đảm rất lớn. Tha thứ đòi chúng ta chiến thắng chính mình, chiến thắng niềm kiêu hãnh, chiến thắng khát vọng trả đũa và chiến thắng cả sự thích thú âm thầm khi thấy người khác gặp bất hạnh. Đức Maria là Nữ Vương không phải vì Mẹ thống trị người khác, nhưng vì Mẹ để ân sủng Thiên Chúa thống trị lòng mình. Mẹ là Nữ Vương vì giữa đau khổ, Mẹ vẫn không đánh mất lòng nhân hậu; giữa bất công, Mẹ vẫn trung thành với tình yêu; giữa bóng tối, Mẹ vẫn giữ được ánh sáng của lòng thương xót.
Trong gia đình, có những vết thương phát sinh từ những người gần gũi nhất. Một lời nói thiếu tế nhị của vợ hoặc chồng, một sự vô tâm của con cái, một cách cư xử thiên vị của cha mẹ, một sự tranh chấp giữa anh chị em có thể tạo nên khoảng cách lâu dài. Có những người cùng sống chung một mái nhà nhưng không còn nói chuyện với nhau. Có những gia đình chỉ vì một mảnh đất, một phần gia sản hoặc một câu nói trong lúc nóng giận mà trở thành xa lạ. Họ vẫn đọc kinh, vẫn đi lễ, vẫn cầu xin Chúa ban bình an, nhưng trong lòng lại đóng kín cánh cửa đối với người thân. Đức Maria mời gọi chúng ta nhìn lại: Làm sao có thể xin Chúa tha thứ cho mình mỗi ngày mà lại nhất quyết không tha thứ cho anh chị em? Làm sao có thể đọc kinh “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” mà vẫn giữ một danh sách dài những người mình không muốn tha?
Trong đời sống cộng đoàn, giáo xứ và Giáo hội, sự tha thứ cũng vô cùng cần thiết. Nơi nào có con người, nơi đó có giới hạn, va chạm và hiểu lầm. Có khi một lời góp ý không khéo làm người khác buồn. Có khi một việc phục vụ không được ghi nhận khiến người ta thất vọng. Có khi sự khác biệt trong cách suy nghĩ làm nảy sinh chia rẽ. Nếu ai cũng muốn bảo vệ cái tôi của mình, cộng đoàn sẽ trở thành nơi tranh chấp hơn là mái nhà hiệp thông. Đức Maria hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ sau khi Chúa Giêsu về trời. Mẹ quy tụ những con người rất khác nhau, kể cả những người đã từng bỏ chạy trong cuộc thương khó. Mẹ không trách móc Phêrô vì đã chối Thầy, không khơi lại sự hèn nhát của các môn đệ, nhưng cùng họ cầu nguyện và chờ đợi Chúa Thánh Thần. Mẹ dạy chúng ta rằng cộng đoàn chỉ có thể được xây dựng khi mỗi người biết bỏ qua, biết bắt đầu lại và biết cho nhau một cơ hội mới.
Tha thứ cũng không phải là việc chỉ làm một lần. Có những vết thương đòi hỏi một hành trình dài. Hôm nay ta quyết định tha thứ, ngày mai ký ức lại trở về và lòng lại đau. Khi ấy, ta phải tiếp tục tha thứ. Không phải vì quyết định hôm qua là giả tạo, nhưng vì trái tim cần thời gian để được chữa lành. Chúa Giêsu bảo Phêrô phải tha “bảy mươi lần bảy”, nghĩa là tha thứ không giới hạn. Mỗi lần nỗi đau trỗi dậy, chúng ta lại dâng nó cho Chúa. Mỗi lần cơn giận trở về, chúng ta lại nép mình bên Đức Maria và thưa: “Lạy Mẹ, con vẫn còn đau. Con chưa thể yêu người ấy như trước, nhưng con không muốn ghét họ. Xin Mẹ giúp con.” Lời cầu nguyện ấy tuy đơn sơ nhưng rất đẹp lòng Chúa, vì nó diễn tả một trái tim đang muốn bước đi trong ánh sáng.
Đôi khi người khó tha thứ nhất lại chính là bản thân mình. Chúng ta day dứt vì những sai lầm đã phạm, những cơ hội đã bỏ lỡ, những lời không nên nói và những việc lẽ ra phải làm. Chúng ta tin rằng Chúa có thể tha thứ cho người khác, nhưng lại không tin Người có thể tha thứ cho mình. Ta tự kết án mình, sống mãi trong mặc cảm và nghĩ rằng mình không còn xứng đáng được yêu thương. Đức Maria Trinh Vương mời gọi ta trở về với lòng thương xót của Thiên Chúa. Mẹ không bao giờ dẫn chúng ta đến sự tuyệt vọng. Mẹ luôn đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu, Đấng đã đổ máu để tha thứ tội lỗi nhân loại. Khi đã thành thật sám hối và lãnh nhận ơn tha thứ, chúng ta phải tập đón nhận chính mình như một người đã được Chúa cứu chuộc. Không tha thứ cho bản thân đôi khi cũng là một hình thức kiêu ngạo, vì ta đặt lời kết án của mình cao hơn lời tha thứ của Thiên Chúa.
Ngày hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, mỗi người hãy dành một khoảng lặng để gọi tên người đã làm mình tổn thương. Đừng vội biện minh, cũng đừng cố nén cảm xúc. Hãy nói thật với Chúa về nỗi đau của mình. Sau đó, hãy xin Mẹ đứng bên cạnh, như Mẹ đã đứng dưới chân thập giá. Có thể chúng ta chưa thể nói ngay rằng mình đã tha thứ hoàn toàn, nhưng hãy bắt đầu bằng một lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội người ấy. Xin chữa lành họ và chữa lành con. Xin đừng để sự dữ họ đã làm tiếp tục sinh ra sự dữ trong lòng con.” Nếu có thể, hãy thực hiện một cử chỉ hòa giải: một lời chào, một tin nhắn, một cuộc gọi, một sự im lặng không còn mang tính trừng phạt, hay ít nhất là ngừng kể lại lỗi lầm của người kia để làm họ mất danh dự.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ của lòng thương xót, Mẹ đã đứng dưới chân thập giá mà không nguyền rủa những người làm hại Con Mẹ. Xin dạy con biết tha thứ như Mẹ. Khi lòng con bị tổn thương, xin đừng để con khép kín trong cay đắng. Khi con nhớ lại những điều đau buồn, xin giúp con nhìn chúng dưới ánh sáng Phục Sinh. Khi con muốn trả đũa, xin nhắc con nhớ đến lời Chúa Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi con quá yếu đuối để tha thứ, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp để ân sủng Chúa làm điều con không thể tự mình thực hiện.
Lạy Mẹ, con xin trao cho Mẹ tất cả những người đã làm con đau khổ, những người đã hiểu lầm, phản bội, xúc phạm hoặc bỏ rơi con. Con cũng xin trao cho Mẹ những người mà chính con đã làm tổn thương. Xin Mẹ dẫn chúng con đến với Chúa Giêsu, để trong trái tim bị đâm thâu của Người, mọi vết thương được chữa lành, mọi hận thù được hóa giải và mọi tương quan đổ vỡ tìm được con đường trở về. Xin cho con hiểu rằng tha thứ không làm con nhỏ bé, nhưng làm con trở nên giống Chúa hơn; tha thứ không xóa bỏ công lý, nhưng mở đường cho lòng thương xót; tha thứ không thay đổi quá khứ, nhưng có thể giải thoát hiện tại và mở ra một tương lai mới.
Hôm nay, con xin chọn tha thứ. Có thể lòng con vẫn còn đau, nước mắt con vẫn còn rơi và ký ức vẫn chưa phai, nhưng con không muốn tiếp tục sống như một tù nhân của hận thù. Con xin đặt bàn tay mình trong tay Mẹ và bước từng bước nhỏ trên con đường hòa giải. Xin Đức Maria Trinh Vương dạy con biết sống hiền lành, bao dung và nhân hậu, để từ trái tim đã được chữa lành của con, bình an của Chúa có thể lan tỏa đến gia đình, cộng đoàn và tất cả những người con gặp gỡ.
30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG
NGÀY 16 – MẸ DẠY CON SỐNG NGHÈO KHÓ
Có lẽ khi nghe nói đến hai chữ “nghèo khó”, nhiều người cảm thấy sợ. Người ta sợ nghèo vì nghèo thường đi chung với thiếu thốn, vất vả, thua thiệt và bất an. Người ta cố gắng làm việc, tích lũy và tìm kiếm thật nhiều để không phải rơi vào cảnh nghèo. Điều ấy không sai, bởi con người có trách nhiệm lo cho cuộc sống của mình và những người thân yêu. Thế nhưng, nghèo khó mà Tin Mừng nói đến không chỉ là không có tiền bạc hay của cải. Nghèo khó theo tinh thần của Chúa là một thái độ nội tâm: biết mình không phải là chủ nhân tuyệt đối của mọi sự, biết đón nhận tất cả như ân ban, biết sử dụng những gì mình có trong tinh thần trách nhiệm, biết chia sẻ với người thiếu thốn và biết đặt trọn niềm cậy trông nơi Thiên Chúa. Nhìn lên Đức Maria Trinh Vương, ta gặp một người Mẹ đã sống trọn vẹn tinh thần nghèo khó ấy. Mẹ không có ngai vàng theo kiểu trần gian, không có cung điện nguy nga, không có quyền lực, không có một cuộc đời được bao bọc bởi những tiện nghi. Mẹ chỉ có một tâm hồn rộng mở để Thiên Chúa làm chủ, một đôi tay sẵn sàng phục vụ và một trái tim hoàn toàn thuộc về Chúa.
Mẹ Maria đã sống trong một gia đình bình dị tại làng Nadarét, một ngôi làng nhỏ bé không mấy ai biết đến. Cuộc sống của Mẹ gắn liền với những công việc âm thầm, với bếp lửa gia đình, với từng bữa ăn đạm bạc, với những nhọc nhằn quen thuộc của người dân nghèo. Khi thiên thần đến truyền tin, Mẹ không đưa ra một bảng thành tích, không kể những gì mình đang có, cũng không đòi hỏi Thiên Chúa phải bảo đảm cho mình một tương lai dễ dàng. Mẹ chỉ nói: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời xin vâng ấy là tiếng nói của một tâm hồn nghèo khó. Người nghèo khó đích thực không bám víu vào chương trình riêng, không xem ý muốn của mình là trung tâm, nhưng để Thiên Chúa hướng dẫn. Mẹ đã trao cho Chúa cả tương lai, cả danh dự, cả đời sống và mọi dự tính riêng tư. Mẹ chấp nhận để cuộc đời mình bước sang một hướng hoàn toàn mới, dù chưa biết phía trước sẽ có những gì. Đó không phải là sự thụ động, nhưng là lòng tin mạnh mẽ của người biết rằng Thiên Chúa chính là gia nghiệp quý giá nhất.
Mẹ nghèo khó vì Mẹ không xem mình là trung tâm. Mẹ không giữ Chúa Giêsu cho riêng mình. Vừa cưu mang Con Thiên Chúa, Mẹ đã vội vã lên đường đến thăm bà Êlisabét. Mẹ mang Chúa đến cho người khác, đem niềm vui đến cho một gia đình đang cần sự hiện diện và giúp đỡ. Người sống nghèo khó không đóng kín đời mình trong ích kỷ. Họ hiểu rằng những gì họ có đều là hồng ân và hồng ân chỉ thật sự sinh hoa trái khi được trao ban. Mẹ đã nhận được ân huệ lớn lao nhất là được làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nhưng Mẹ không tự hào, không đòi người khác phục vụ, không tìm kiếm sự tôn kính. Mẹ lại trở thành người phục vụ. Mẹ cúi xuống trước nhu cầu của tha nhân. Mẹ làm những việc nhỏ bé và bình thường với một tình yêu lớn lao. Chính vì không giữ lại cho mình nên tâm hồn Mẹ luôn rộng rãi. Chính vì không bị của cải, danh vọng và cái tôi chiếm giữ nên Mẹ có chỗ cho Thiên Chúa và tha nhân.
Tại Bêlem, Mẹ đã sinh Chúa Giêsu trong cảnh nghèo khó. Con Thiên Chúa không chào đời trong cung điện, không nằm trên giường sang trọng, nhưng được đặt trong máng cỏ vì không tìm được chỗ trong nhà trọ. Trong hoàn cảnh ấy, Mẹ không than trách, không cay đắng, không so sánh mình với người khác. Mẹ lặng lẽ đón nhận và chăm sóc Hài Nhi bằng tất cả tình yêu. Có lẽ lòng Mẹ đau khi không thể dành cho Con những điều tốt đẹp hơn theo cách nhìn của con người. Nhưng chính nơi sự nghèo khó ấy, vinh quang của Thiên Chúa lại được tỏ hiện. Những người đầu tiên đến thờ lạy Hài Nhi không phải là vua chúa hay những người quyền thế, nhưng là các mục đồng nghèo hèn. Thiên Chúa đã chọn sự nghèo khó làm nơi gặp gỡ con người. Mẹ Maria hiểu rằng điều làm nên giá trị của một mái nhà không phải là sự sang trọng nhưng là tình yêu; điều làm nên sự giàu có của một gia đình không phải là có thật nhiều của cải nhưng là có Chúa hiện diện.
Mẹ cũng đã trải qua cảnh phải bồng Con trốn sang Ai Cập. Mẹ trở thành người lữ hành, người tị nạn, người phải rời bỏ quê hương để bảo vệ sự sống của Con. Mẹ không có sự bảo đảm nào ngoài lời Chúa và sự đồng hành của thánh Giuse. Trong hành trình đầy bất trắc ấy, Mẹ tiếp tục sống nghèo khó bằng niềm phó thác. Nghèo khó không chỉ là thiếu thốn vật chất, nhưng còn là chấp nhận sự mong manh của phận người. Có những lúc ta không kiểm soát được cuộc sống, không biết ngày mai sẽ ra sao, không biết con đường trước mặt dẫn về đâu. Những lúc ấy, con người dễ hoang mang, trách móc và muốn tìm một điểm tựa chắc chắn nơi tiền bạc, quyền lực hay các mối quan hệ. Mẹ dạy ta rằng điểm tựa vững chắc nhất không nằm trong những gì ta nắm giữ, nhưng nằm trong Đấng đang nắm giữ cuộc đời ta.
Ở Nadarét, Mẹ đã sống những năm tháng dài trong âm thầm và đơn sơ. Mẹ không cần được người khác biết đến. Mẹ không tìm một vị trí nổi bật. Mẹ không biến đặc ân được làm Mẹ Thiên Chúa thành lý do để đòi hỏi quyền lợi. Mẹ sống như một người phụ nữ bình thường giữa xóm làng, chu toàn những bổn phận hằng ngày với tất cả lòng trung tín. Tinh thần nghèo khó của Mẹ được thể hiện trong việc không tìm kiếm lời khen, không đòi được nhìn nhận, không sống nhờ ánh mắt của người khác. Nhiều khi ta không nghèo tiền bạc nhưng lại rất nghèo bình an, bởi ta quá lệ thuộc vào sự đánh giá của người đời. Ta muốn được chú ý, muốn được ca ngợi, muốn người khác biết những việc tốt ta đã làm. Khi không được ghi nhận, ta buồn phiền, chán nản, thậm chí bỏ cuộc. Mẹ Maria dạy ta làm mọi sự vì yêu Chúa, cho dù chẳng ai biết, chẳng ai khen và chẳng ai cảm ơn. Một việc nhỏ làm trong âm thầm với lòng yêu mến vẫn quý giá trước mặt Thiên Chúa hơn một việc lớn được thực hiện chỉ để tìm vinh quang cho bản thân.
Tại tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra gia chủ hết rượu. Mẹ không có của cải để giúp họ, nhưng Mẹ có niềm tin. Mẹ không tự mình giải quyết mọi sự, nhưng đưa nhu cầu của họ đến với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Người nghèo khó thật sự biết mình không thể làm được tất cả. Họ không tự cho mình là vị cứu tinh của người khác. Họ biết giới hạn của mình và biết chạy đến với Thiên Chúa. Nhiều lúc ta mệt mỏi vì muốn kiểm soát mọi người, giải quyết mọi vấn đề và buộc mọi chuyện phải xảy ra theo ý mình. Ta tưởng rằng nếu không có ta thì mọi sự sẽ sụp đổ. Mẹ dạy ta biết làm phần của mình, biết trình bày nhu cầu với Chúa, rồi khiêm tốn để Chúa hành động theo cách của Người. Nghèo khó là biết rằng mình chỉ là khí cụ, còn Thiên Chúa mới là Đấng thực hiện những điều lớn lao.
Đỉnh cao của đời sống nghèo khó nơi Mẹ là dưới chân thập giá. Tại đó, Mẹ gần như mất tất cả. Người Con yêu dấu bị đóng đinh, các môn đệ bỏ trốn, đám đông chế nhạo, những hy vọng theo cái nhìn con người dường như tan vỡ. Mẹ không còn gì để nắm giữ ngoài đức tin. Thế nhưng Mẹ vẫn đứng đó. Mẹ không bỏ đi, không oán trách, không tuyệt vọng. Mẹ hiến dâng chính Con của mình cho chương trình cứu độ. Người nghèo khó nhất không hẳn là người không có tiền, nhưng là người dám để Thiên Chúa lấy đi những điểm tựa mà mình từng bám víu, để chỉ còn lại một mình Chúa. Dưới chân thập giá, Mẹ đã sống sự nghèo khó trọn vẹn: không giữ lại điều gì cho mình, kể cả Người Con yêu quý nhất. Mẹ trở nên hoàn toàn trống rỗng để đón nhận một sứ mạng mới: trở thành Mẹ của người môn đệ và Mẹ của toàn thể nhân loại.
Sống nghèo khó theo gương Mẹ không có nghĩa là khinh thường của cải hay cố tình sống thiếu trách nhiệm. Tiền bạc và vật chất tự chúng không xấu. Chúng cần thiết cho cuộc sống, cho gia đình, cho việc giáo dục, chữa bệnh và phục vụ cộng đồng. Điều nguy hiểm là khi của cải từ một phương tiện trở thành ông chủ; khi con người đánh giá nhau bằng những gì họ sở hữu; khi lòng tham khiến người ta bất chấp công bằng, lương tâm và tình nghĩa; khi ta có thật nhiều nhưng vẫn không bao giờ thấy đủ. Một người có thể sở hữu nhiều của cải mà vẫn sống nghèo khó trong tinh thần nếu biết sử dụng chúng theo ý Chúa, biết chia sẻ và không để chúng chiếm lấy trái tim. Ngược lại, một người không có nhiều tiền vẫn có thể đầy tham lam, ghen tị và cay đắng. Vì thế, nghèo khó trước hết là sự tự do nội tâm. Ta có thể sử dụng của cải, nhưng không để của cải sử dụng ta. Ta có thể sở hữu một số thứ, nhưng không để những thứ ấy sở hữu trái tim mình.
Mẹ dạy con sống nghèo khó bằng cách biết đủ. Biết đủ không phải là ngừng cố gắng hay chấp nhận sự lười biếng. Biết đủ là nhận ra mình đã được ban cho rất nhiều và biết tạ ơn. Người không biết đủ luôn thấy thiếu, dù đang có rất nhiều. Họ nhìn lên những người giàu hơn để rồi bất mãn, ghen tị và chạy theo những nhu cầu không cần thiết. Người biết đủ nhìn vào những gì mình đang có: một mái nhà, một bữa cơm, sức khỏe, công việc, gia đình, những người yêu thương, cơ hội để sống và phục vụ. Khi biết đủ, ta được giải thoát khỏi cuộc chạy đua mệt mỏi với người khác. Ta không còn phải mua sắm để chứng minh giá trị, không còn phải khoe khoang để được nhìn nhận, không còn phải sống một cuộc đời vượt quá khả năng chỉ vì sợ thua kém. Mẹ đã sống đơn sơ vì Mẹ biết Thiên Chúa là đủ cho đời mình.
Mẹ dạy con sống nghèo khó bằng cách biết chia sẻ. Có những thứ ta giữ quá lâu đến mức quên rằng chúng có thể trở thành niềm vui cho người khác. Trong tủ có những bộ quần áo nhiều năm không dùng đến, trong nhà có những vật dụng dư thừa, trên bàn có thức ăn bị bỏ phí, trong khi đâu đó vẫn có người đang thiếu thốn. Chia sẻ không chỉ là cho đi những gì dư thừa, nhưng đôi khi là bớt đi một phần của mình để người khác được sống tốt hơn. Tuy nhiên, sự nghèo khó Kitô giáo còn đi xa hơn vật chất. Ta có thể chia sẻ thời gian, khả năng, kiến thức, sự lắng nghe, lời an ủi và lòng cảm thông. Có người không cần tiền của ta nhưng cần ta ngồi lại để nghe họ nói. Có người không cần một món quà đắt tiền nhưng cần một lời hỏi thăm chân thành. Có người không thiếu cơm áo nhưng thiếu sự hiện diện yêu thương. Mẹ đã trao cho tha nhân không chỉ những gì Mẹ có, nhưng trao cả chính mình.
Mẹ dạy con sống nghèo khó bằng cách không phung phí. Mỗi hạt gạo, mỗi giọt nước, mỗi món đồ và mỗi tài nguyên đều là quà tặng của Thiên Chúa và là công sức của biết bao người. Sống nghèo khó là biết trân trọng những điều nhỏ bé, sử dụng vừa đủ, giữ gìn đồ dùng, không chạy theo thời trang và quảng cáo một cách mù quáng. Có những thứ ta mua không vì cần nhưng vì muốn lấp đầy một khoảng trống trong lòng. Mua sắm có thể đem lại niềm vui nhất thời nhưng không thể chữa lành sự trống rỗng sâu xa. Chỉ có Thiên Chúa mới lấp đầy trái tim con người. Mẹ Maria không tìm sự an toàn trong việc tích lũy. Mẹ tìm bình an trong việc thuộc trọn về Chúa. Khi lòng ta đầy Chúa, ta sẽ không còn phải dùng vật chất để chứng minh mình quan trọng hay để trốn tránh những nỗi buồn bên trong.
Mẹ dạy con sống nghèo khó bằng cách tôn trọng người nghèo. Ta có thể làm từ thiện nhưng vẫn nhìn người nghèo bằng ánh mắt thương hại hoặc coi thường. Ta có thể cho đi một món quà nhưng lại làm tổn thương phẩm giá người nhận. Người nghèo không phải là đối tượng để ta phô bày lòng tốt. Họ là anh chị em của ta. Họ có nhân phẩm, ước mơ, nỗi đau và lòng tự trọng. Khi giúp đỡ, ta cần tế nhị, khiêm tốn và chân thành. Đừng dùng một món quà nhỏ để mua lấy lời cảm ơn, một tấm hình hay tiếng khen. Mẹ Maria luôn hiện diện âm thầm, không biến sự phục vụ thành sân khấu. Mẹ dạy ta trao ban bằng bàn tay kín đáo và bằng trái tim tôn trọng. Điều người nghèo cần không chỉ là vật chất, nhưng còn là công bằng, cơ hội, sự cảm thông và một chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng.
Mẹ cũng dạy con chấp nhận sự nghèo khó của chính mình. Mỗi người đều có những giới hạn, yếu đuối và thiếu sót. Ta nghèo về tài năng, nghèo về kiên nhẫn, nghèo về đức tin, nghèo về tình yêu. Nhiều lúc ta cố che giấu sự yếu đuối để người khác nghĩ rằng mình mạnh mẽ. Ta sợ thú nhận rằng mình không biết, không làm được hoặc đang cần giúp đỡ. Nhưng khi dám nhận mình nghèo, ta mở lòng cho ân sủng. Thiên Chúa không thể đổ đầy một chiếc bình luôn tự cho rằng mình đã đầy. Mẹ Maria đã nhìn nhận thân phận nữ tỳ nhỏ bé, và chính vì thế Thiên Chúa đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả. Người khiêm nhường không xấu hổ vì giới hạn của mình. Họ biết rằng mọi điều tốt đẹp đều đến từ Chúa và họ cần anh chị em đồng hành.
Sống nghèo khó còn là biết từ bỏ những thứ không còn giúp ta đến gần Chúa. Có những mối bận tâm, thói quen, danh vọng, chức vụ và sự kiểm soát mà ta ôm giữ quá chặt. Có những tổn thương ta giữ mãi như một tài sản riêng, không chịu buông bỏ. Có những thành công trong quá khứ ta cứ nhắc lại để tìm sự kính trọng. Có những vai trò ta sợ mất vì nghĩ rằng không còn chúng thì mình chẳng còn giá trị. Mẹ dạy ta rằng giá trị của một người không nằm ở việc họ có gì, làm chức vụ gì hay được bao nhiêu người biết đến. Giá trị của ta nằm ở chỗ ta là con của Thiên Chúa. Khi nhận ra căn tính ấy, ta có thể nhẹ nhàng buông xuống những gì không cần thiết và tự do bước theo Chúa.
Ngày hôm nay, giữa một thế giới luôn thúc giục con người phải có nhiều hơn, mua nhiều hơn, nổi bật hơn và hưởng thụ nhiều hơn, đời sống nghèo khó theo Tin Mừng trở thành một lời chứng mạnh mẽ. Một gia đình biết sống giản dị, không chạy theo hình thức, biết dành phần cho người thiếu thốn là một gia đình đang loan báo Tin Mừng. Một người trẻ biết từ chối lối sống phô trương, không đánh giá bạn bè qua quần áo, điện thoại hay tiền bạc là một người trẻ đang làm chứng cho Chúa. Một người có trách nhiệm, có điều kiện nhưng biết sống thanh thoát, minh bạch và quảng đại là người đang cho thấy rằng hạnh phúc không hệ tại ở việc sở hữu thật nhiều. Một cộng đoàn biết dành ưu tiên cho người yếu thế, sử dụng tài sản chung cách cẩn trọng và không biến vật chất thành thước đo thành công là một cộng đoàn đang bước đi dưới sự hướng dẫn của Đức Maria.
Mẹ ơi, con nhận ra lòng con vẫn còn đầy những ham muốn. Con thường so sánh mình với người khác, thường buồn vì những điều mình không có mà quên tạ ơn vì những điều đang được nhận. Con có lúc mua sắm vì sĩ diện, tích lũy vì sợ hãi, giữ lại vì ích kỷ và tiêu dùng mà không nghĩ đến người nghèo. Con cũng nhiều lần muốn được chú ý, được ca ngợi và được nhìn nhận. Xin Mẹ dạy con trở nên nghèo khó trong tâm hồn, để con không còn bị tiền bạc, danh vọng và cái tôi điều khiển. Xin Mẹ dạy con biết đủ, biết tạ ơn, biết sử dụng mọi sự trong tinh thần trách nhiệm và biết quảng đại chia sẻ với những người đang thiếu thốn. Xin cho con đừng bao giờ khinh thường người nghèo, nhưng nhận ra nơi họ khuôn mặt của Chúa Giêsu.
Mẹ ơi, xin giúp con hiểu rằng điều quý giá nhất trong cuộc đời không phải là những gì con có thể cầm giữ trong tay, nhưng là tình yêu con đã trao đi. Đến cuối cuộc đời, con không thể mang theo tiền bạc, nhà cửa, chức vụ hay danh tiếng. Điều còn lại trước mặt Chúa là những lần con đã yêu thương, những giọt nước mắt con đã lau, những người đói con đã cho ăn, những người cô đơn con đã đến thăm và những món quà con đã âm thầm chia sẻ. Xin Mẹ giúp con sống mỗi ngày với một trái tim thanh thoát, để con có thể trao ban mà không tính toán, phục vụ mà không đòi đáp trả và bước theo Chúa mà không mang theo quá nhiều hành trang.
Trong ngày thứ mười sáu sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, con xin chọn một việc cụ thể: nhìn lại những gì con đang sở hữu, can đảm bỏ bớt một điều không cần thiết, chia sẻ một phần cho người đang thiếu thốn và tập nói lời tạ ơn thay vì than phiền. Con xin dành ít phút thinh lặng để tự hỏi: Điều gì đang chiếm giữ trái tim con? Con đang đặt sự an toàn nơi Thiên Chúa hay nơi tiền bạc và những gì mình sở hữu? Con có biết đủ hay luôn cảm thấy thiếu? Con đã sử dụng những ân huệ Chúa ban để phục vụ người khác chưa? Xin Mẹ cầm tay con, dẫn con vào con đường nghèo khó của Tin Mừng, để tâm hồn con được tự do, đôi tay con được rộng mở và cuộc đời con chỉ còn một kho tàng duy nhất là chính Chúa.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã sống nghèo khó, khiêm nhường và hoàn toàn phó thác nơi Thiên Chúa. Xin dạy con biết sống đơn sơ giữa một thế giới chạy theo hưởng thụ; biết thanh thoát giữa những lời mời gọi tích lũy; biết chia sẻ giữa một xã hội còn nhiều bất công; biết tôn trọng người nghèo và nhận ra Chúa Giêsu nơi những người bé nhỏ. Xin giúp con không cậy dựa vào của cải chóng qua, nhưng đặt trọn niềm hy vọng nơi Thiên Chúa. Xin làm cho trái tim con trở nên trống rỗng khỏi tham lam, ích kỷ và kiêu căng, để được đầy tràn tình yêu, lòng thương xót và sự hiện diện của Chúa. Mẹ dạy con sống nghèo khó, để con hiểu rằng khi có Chúa, con có tất cả; và khi không có Chúa, dù sở hữu cả thế gian, lòng con vẫn mãi nghèo nàn.
30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG
NGÀY 17 – MẸ DẠY CON YÊU GIA ĐÌNH
Gia đình là món quà đầu tiên Thiên Chúa trao cho mỗi người khi bước vào cuộc đời. Trước khi biết đến trường học, xã hội hay những tương quan rộng lớn bên ngoài, ta đã được đón nhận trong một mái nhà, được gọi bằng một cái tên, được nuôi dưỡng bởi những bàn tay thân thuộc và được lớn lên giữa những khuôn mặt gần gũi. Thế nhưng, chính vì quá gần gũi nên đôi khi ta lại dễ quên giá trị của gia đình. Ta có thể tử tế với người ngoài nhưng lại nóng nảy với người thân; có thể nhẫn nại với đồng nghiệp nhưng lại thiếu kiên nhẫn với cha mẹ, vợ chồng, anh chị em và con cái; có thể nói những lời lịch sự với người xa lạ nhưng lại dùng những lời làm tổn thương người sống chung một mái nhà. Hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, ta được mời gọi trở về với gia đình, nhìn lại cách mình đang yêu thương những người gần gũi nhất và xin Mẹ dạy ta biết xây dựng mái ấm bằng sự hiện diện, lòng bao dung, tinh thần phục vụ và đời sống cầu nguyện.
Đức Maria đã sống trọn vẹn ơn gọi của mình trong một gia đình rất bình thường. Mái nhà Nazareth không phải là một cung điện sang trọng, cũng chẳng phải là nơi luôn vang tiếng chúc tụng. Đó là ngôi nhà nghèo của một bác thợ mộc, một người mẹ trẻ và một người con lớn lên trong âm thầm. Gia đình ấy cũng phải đối diện với biết bao thử thách: sự hiểu lầm trước mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, hành trình vất vả về Bêlem, cảnh không tìm được chỗ trọ, cuộc sinh hạ trong hang đá nghèo nàn, cuộc trốn chạy sang Ai Cập, những tháng ngày tha hương, nỗi lo lắng khi lạc mất Chúa Giêsu trong Đền Thờ và sau cùng là đau khổ khi nhìn Người Con yêu dấu bị khước từ rồi chịu chết trên thập giá. Gia đình Thánh Gia không được miễn trừ khỏi gian nan, nhưng giữa mọi gian nan, tình yêu vẫn được gìn giữ bởi lòng tin vào Thiên Chúa. Mẹ Maria không yêu gia đình bằng những lời nói lớn lao, nhưng bằng sự hiện diện âm thầm, sự chăm sóc tận tụy và thái độ sẵn sàng đón nhận từng thành viên như một hồng ân của Chúa.
Mẹ dạy ta rằng yêu gia đình trước hết là biết hiện diện. Ngày nay, nhiều người sống chung một ngôi nhà nhưng tâm hồn lại cách xa nhau. Mỗi người có một màn hình, một công việc, một nỗi bận tâm và một thế giới riêng. Có những bữa cơm đông đủ người nhưng thiếu tiếng nói chân thành; có những người cha người mẹ biết rất nhiều chuyện bên ngoài nhưng không biết con mình đang vui hay buồn; có những người con chăm chú đến những lời bình luận trên mạng nhưng không nghe thấy tiếng thở dài của cha mẹ; có những người vợ người chồng cùng nằm bên nhau nhưng đã lâu không còn hỏi nhau một câu thật lòng. Sự hiện diện không chỉ là có mặt về thể lý. Hiện diện là biết dừng công việc để lắng nghe, biết đặt điện thoại xuống để nhìn vào mắt người đối diện, biết nhận ra sự mệt mỏi ẩn sau một nụ cười và biết dành thời gian cho nhau ngay cả khi chẳng có chuyện gì đặc biệt. Có khi điều gia đình cần không phải là thêm tiền bạc hay quà tặng, nhưng chỉ là một người chịu ngồi lại, chịu lắng nghe và chịu ở bên.
Mẹ cũng dạy ta yêu gia đình bằng những việc nhỏ bé. Tại Nazareth, chắc hẳn Mẹ đã làm những công việc rất bình thường: chuẩn bị bữa ăn, giữ gìn mái nhà, chăm sóc Chúa Giêsu, chia sẻ những nhọc nhằn với thánh Giuse. Những việc ấy không được người đời biết đến, nhưng lại làm nên vẻ đẹp của mái ấm. Tình yêu gia đình cũng thường được diễn tả qua những điều nhỏ như vậy: một bữa cơm được chuẩn bị bằng sự quan tâm, một căn phòng được dọn dẹp, một ly nước được đem đến, một lời hỏi thăm khi người thân trở về, một sự nhường nhịn trong lúc mệt mỏi, một cánh cửa được mở, một ngọn đèn được để lại cho người về muộn. Đừng coi thường những việc nhỏ. Gia đình không được xây dựng chỉ bằng những biến cố lớn, nhưng bằng hàng ngàn hành động âm thầm được lặp lại mỗi ngày. Một mái nhà ấm áp không nhất thiết là mái nhà có nhiều tiện nghi, nhưng là nơi mỗi người biết rằng mình được nhớ đến, được chờ đợi và được yêu thương.
Yêu gia đình còn là học cách đón nhận những khác biệt. Trong một mái nhà, không phải ai cũng nghĩ giống nhau, sống giống nhau hay biểu lộ tình cảm giống nhau. Có người nói nhiều, có người ít nói; có người nhanh nhẹn, có người chậm chạp; có người dễ bộc lộ cảm xúc, có người giữ mọi chuyện trong lòng. Nhiều xung đột gia đình bắt đầu từ việc ta muốn người khác phải giống mình. Ta lấy sở thích, kinh nghiệm và cách suy nghĩ của mình làm tiêu chuẩn rồi trách móc người thân khi họ không đáp ứng điều ta mong đợi. Mẹ Maria dạy ta nhìn mỗi người như một mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ngay cả khi chưa hiểu hết Chúa Giêsu, Mẹ vẫn ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ không áp đặt, không chiếm hữu và không giữ Con cho riêng mình. Mẹ tôn trọng hành trình mà Thiên Chúa đang thực hiện nơi từng người. Yêu một người không có nghĩa là buộc người ấy trở thành điều mình mong muốn, nhưng là đồng hành để họ trở nên điều Thiên Chúa muốn.
Mẹ dạy ta yêu gia đình bằng lòng bao dung và tha thứ. Không gia đình nào hoàn hảo, bởi không thành viên nào hoàn hảo. Cha mẹ có thể có những thiếu sót; con cái có thể bồng bột; vợ chồng có thể vô tình làm tổn thương nhau; anh chị em có thể tranh giành, hiểu lầm hoặc xa cách. Có những vết thương trong gia đình không đến từ ác ý nhưng từ sự vụng về, mệt mỏi và giới hạn của con người. Nếu cứ đòi người thân phải hoàn hảo rồi mới yêu, ta sẽ chẳng bao giờ yêu được ai. Tình yêu thật không phủ nhận lỗi lầm, nhưng đủ lớn để không đóng khung một con người trong lỗi lầm của họ. Tha thứ không có nghĩa là coi điều sai trái như chưa từng xảy ra, cũng không có nghĩa là tiếp tục chấp nhận sự xúc phạm hay bạo hành. Tha thứ là không để hận thù điều khiển trái tim, là trao cho mình và người khác một cơ hội chữa lành, đồng thời biết đặt ra những giới hạn cần thiết để bảo vệ phẩm giá và sự bình an.
Trong gia đình, lời nói có sức xây dựng nhưng cũng có thể phá hủy. Một lời động viên có thể giúp người thân đứng lên; một lời miệt thị có thể trở thành vết thương theo họ suốt đời. Có những người đã trưởng thành nhưng vẫn đau vì một câu nói của cha mẹ năm xưa. Có những người con mất tự tin vì liên tục bị so sánh. Có những người vợ, người chồng sống trong cô đơn vì ngày nào cũng nghe những lời trách móc, mỉa mai. Mẹ Maria là người nữ của sự dịu dàng và thinh lặng. Mẹ không dùng lời nói để làm tổn thương, không biến sự thật thành vũ khí để hạ nhục người khác. Mẹ dạy ta trước khi nói hãy tự hỏi: lời này có đúng không, có cần thiết không, có được nói bằng tình yêu không? Nói sự thật nhưng thiếu tình yêu có thể trở thành sự tàn nhẫn; yêu thương mà không dám nói sự thật có thể trở thành nuông chiều. Trong gia đình, ta cần vừa chân thành vừa nhân hậu, vừa góp ý vừa tôn trọng, vừa sửa lỗi vừa giữ gìn phẩm giá của nhau.
Yêu gia đình cũng là biết hiếu kính cha mẹ. Không phải cha mẹ nào cũng giàu có, thành công hay khéo léo trong cách biểu lộ tình cảm. Có những người cha cả đời ít nói nhưng âm thầm gánh vác; có những người mẹ chẳng biết dùng lời hoa mỹ nhưng đã dành cả tuổi xuân cho con cái. Khi còn nhỏ, ta cần cha mẹ; khi trưởng thành, ta dễ nghĩ mình không còn cần đến họ. Ta có thể gửi tiền nhưng thiếu một cuộc gọi; mua quà nhưng không dành thời gian; lo cho cha mẹ đầy đủ vật chất nhưng lại khiến họ cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Hiếu kính không chỉ là phụng dưỡng, nhưng còn là kính trọng, lắng nghe, kiên nhẫn và gìn giữ phẩm giá cho cha mẹ khi các ngài tuổi cao sức yếu. Khi cha mẹ lặp lại một câu chuyện nhiều lần, khi bước đi chậm hơn, khi trí nhớ không còn như trước, đó là lúc người con phải học lại sự nhẫn nại mà cha mẹ từng dành cho mình thuở bé.
Với những người làm cha làm mẹ, yêu gia đình là biết trao cho con cái không chỉ cơm áo và học vấn mà còn cả đức tin, nhân cách và một mẫu gương sống. Con cái thường nhớ cách cha mẹ sống hơn là những điều cha mẹ dạy. Một người cha bảo con phải cầu nguyện nhưng chính mình không bao giờ cầu nguyện thì lời dạy khó có sức thuyết phục. Một người mẹ dạy con phải hiền hòa nhưng thường xuyên nói xấu, cay nghiệt thì đứa trẻ sẽ học sự cay nghiệt nhiều hơn lời khuyên. Giáo dục gia đình không chỉ là kiểm soát điểm số, thành tích hay tương lai nghề nghiệp, nhưng là giúp con trở thành một con người biết yêu thương, trung thực, trách nhiệm và biết kính sợ Thiên Chúa. Cha mẹ không thể đi thay cuộc đời của con, nhưng có thể trao cho con một nền móng vững chắc để khi bước vào đời, con biết phân biệt điều tốt và điều xấu, biết đứng dậy sau thất bại và biết trở về khi lạc đường.
Với những người sống đời vợ chồng, Mẹ dạy rằng yêu gia đình là trung thành với lời cam kết mỗi ngày. Hôn nhân không chỉ được xây dựng bằng cảm xúc ban đầu, vì cảm xúc có thể đổi thay. Hôn nhân được gìn giữ bởi quyết định tiếp tục yêu ngay cả khi mệt mỏi, bất đồng và thất vọng. Vợ chồng không phải là hai đối thủ tranh phần đúng, nhưng là hai người cùng đứng về một phía để bảo vệ mái ấm. Có những cuộc tranh luận chẳng ai thắng, bởi khi một người bị tổn thương thì cả gia đình đều thua. Đôi khi giữ gìn hạnh phúc không đòi những việc phi thường, nhưng cần biết xin lỗi trước, biết cảm ơn nhau, biết không nhắc lại lỗi cũ, biết tôn trọng gia đình hai bên và biết dành thời gian riêng để hâm nóng tình nghĩa. Đừng để người bạn đời phải đi tìm sự lắng nghe và cảm thông nơi một người xa lạ chỉ vì họ không tìm thấy điều ấy trong chính gia đình mình.
Mẹ Maria còn dạy ta rằng gia đình phải là nơi mọi người cùng hướng về Thiên Chúa. Thánh Gia không chỉ gắn bó với nhau bằng tình cảm tự nhiên, nhưng được liên kết trong sự vâng phục thánh ý Chúa. Một gia đình chỉ dựa vào cảm xúc sẽ dễ tan vỡ khi cảm xúc nguội lạnh; một gia đình chỉ dựa vào lợi ích sẽ chia rẽ khi lợi ích xung đột. Gia đình cần một nền móng lớn hơn chính mình, đó là Thiên Chúa. Một lời kinh chung vào buổi tối, một thánh lễ Chúa nhật, một phút tạ ơn trước bữa ăn, một lần cùng nhau đọc Tin Mừng, một lời cầu nguyện khi gia đình gặp khó khăn có thể trở thành sợi dây thiêng liêng nối kết mọi thành viên. Cầu nguyện chung không làm gia đình hết khó khăn, nhưng giúp mọi người biết mình không phải chiến đấu một mình. Khi cùng quỳ trước mặt Chúa, người ta dễ hạ bớt cái tôi, dễ tha thứ và dễ nhìn nhau bằng ánh mắt nhân hậu hơn.
Có những gia đình hôm nay đang mang nhiều thương tích. Có gia đình chia rẽ vì tiền bạc; có gia đình lạnh nhạt vì ngoại tình; có gia đình kiệt sức vì bệnh tật; có gia đình đau đớn vì con cái hư hỏng; có gia đình không còn nói chuyện với nhau; có người đã mất cha mẹ, mất người bạn đời hoặc phải sống xa quê hương. Mẹ Maria hiểu những giọt nước mắt ấy. Mẹ từng sống cảnh phải rời bỏ quê nhà, từng lo lắng tìm Con, từng đứng dưới chân thập giá và từng trở về trong căn nhà vắng bóng Người Con yêu dấu. Vì thế, ai đang đau khổ trong gia đình có thể chạy đến với Mẹ. Mẹ không hứa làm mọi vấn đề biến mất tức khắc, nhưng Mẹ sẽ ở bên, nâng đỡ và dẫn ta đến với Chúa Giêsu. Đôi khi phép lạ đầu tiên không phải là người khác thay đổi, nhưng là trái tim ta được chữa lành để có thể nhìn vấn đề bằng một cách mới, biết nói một lời dịu dàng hơn và can đảm thực hiện bước hòa giải đầu tiên.
Tuy nhiên, yêu gia đình không có nghĩa là che giấu mọi điều sai trái để giữ vẻ bình yên bên ngoài. Một mái nhà có bạo lực, nghiện ngập, xúc phạm hoặc lạm dụng cần được trợ giúp đúng đắn. Sự im lặng vì sợ hãi không phải lúc nào cũng là hy sinh. Có những trường hợp cần tìm đến người có trách nhiệm, chuyên viên, mục tử hay cơ quan bảo vệ để ngăn chặn tổn thương. Tình yêu chân thật luôn bảo vệ sự sống, phẩm giá và sự an toàn của con người. Mẹ Maria dịu dàng nhưng không yếu đuối; Mẹ khiêm nhường nhưng đầy can đảm. Mẹ đã đứng dưới chân thập giá khi nhiều người bỏ chạy. Xin Mẹ ban cho những người đang đau khổ trong gia đình sự khôn ngoan để biết điều gì cần chịu đựng trong yêu thương, điều gì cần đối thoại và điều gì cần can đảm lên tiếng.
Hôm nay, Mẹ mời ta đừng chỉ nói chung chung rằng mình yêu gia đình, nhưng hãy làm một điều cụ thể. Có thể là gọi điện cho cha mẹ, ngồi ăn một bữa cơm không dùng điện thoại, xin lỗi một người thân, tha thứ cho một lỗi lầm cũ, thăm một người đang đau bệnh, chơi với con, lắng nghe người bạn đời hoặc cùng gia đình đọc một kinh Kính Mừng. Đừng chờ đến khi mất nhau mới tiếc những điều chưa nói. Đừng chờ gia đình xảy ra biến cố mới nhận ra thời gian dành cho nhau quý giá thế nào. Cuộc đời rất mong manh. Một ngày nào đó, chiếc ghế quen thuộc có thể trống, giọng nói thân thương có thể không còn và cánh cửa ta từng bước vào có thể chỉ còn trong ký ức. Vì thế, hãy yêu khi còn có thể, hãy nói lời cảm ơn khi người thân còn nghe được và hãy ôm lấy nhau khi vòng tay còn đủ ấm.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ của Thánh Gia Nazareth, xin dạy con biết yêu gia đình bằng một tình yêu chân thành và cụ thể. Xin giúp con biết trân trọng những người đang sống bên con, biết lắng nghe thay vì phán xét, biết cảm thông thay vì trách móc, biết phục vụ thay vì đòi hỏi và biết tha thứ thay vì ghi nhớ lỗi lầm. Xin gìn giữ cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em và những người thân yêu của con. Xin chữa lành những vết thương, nối lại những tương quan đã đổ vỡ và đem bình an của Chúa đến những mái nhà đang gặp thử thách. Xin giúp gia đình con trở thành một Nazareth nhỏ bé, nơi Chúa Giêsu được đón nhận, nơi mọi người biết cầu nguyện với nhau, hy sinh cho nhau và cùng nhau bước đi trong thánh ý Thiên Chúa. Mẹ ơi, xin dạy con hiểu rằng yêu gia đình không phải là làm những điều quá lớn lao, nhưng là trung thành với những việc nhỏ bé mỗi ngày. Xin cho con biết bắt đầu từ hôm nay, từ chính mái nhà của con và từ những người gần gũi nhất mà Chúa đã trao phó cho con. Amen.
30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG
NGÀY 18 – MẸ DẠY CON TÔN TRỌNG SỰ SỐNG
Sự sống là quà tặng cao quý mà Thiên Chúa trao ban cho con người. Không ai trong chúng ta tự mình làm nên sự sống của mình. Ta không chọn ngày mình được sinh ra, không chọn cha mẹ, không chọn hình hài, không chọn hoàn cảnh gia đình và cũng không thể tự quyết định được nhịp đập đầu tiên của trái tim. Mỗi người hiện diện trên trần gian này là do tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa. Chính Người là Đấng gọi ta từ hư vô bước vào cuộc đời, là Đấng gìn giữ ta qua từng ngày và là Đấng mời gọi ta sống cuộc đời mình trong yêu thương, trách nhiệm và hy vọng. Bởi đó, tôn trọng sự sống không chỉ là một đòi hỏi của luân lý, nhưng trước hết là thái độ của người biết kính sợ Thiên Chúa, biết cúi mình trước mầu nhiệm và biết nhìn nhận rằng mọi sự sống đều thuộc về Người. Khi chiêm ngắm Đức Maria Trinh Vương, ta gặp được một người Mẹ đã đón nhận, cưu mang, bảo vệ và phục vụ sự sống bằng cả đức tin, lòng khiêm nhường và sự hy sinh của mình. Mẹ dạy ta rằng sự sống phải được tôn trọng từ giây phút đầu tiên cho đến hơi thở cuối cùng; phải được nâng niu khi còn bé nhỏ, được chăm sóc khi yếu đau, được bảo vệ khi bị đe dọa và được đồng hành khi bước vào tuổi già hay đối diện với cái chết.
Trong biến cố Truyền Tin, Đức Maria được sứ thần báo rằng Mẹ sẽ thụ thai và sinh hạ một người Con. Lời loan báo ấy đã làm đảo lộn mọi dự tính riêng tư của Mẹ. Đức Maria chưa về chung sống với thánh Giuse. Mẹ hiểu rằng lời “xin vâng” có thể khiến Mẹ đối diện với những ánh mắt nghi ngờ, những lời dị nghị, sự hiểu lầm và thậm chí cả nguy hiểm đến tính mạng. Thế nhưng, Mẹ không khép lòng trước sự sống mà Thiên Chúa muốn trao ban. Mẹ không đặt sự an toàn, danh dự hay những tính toán cá nhân lên trên chương trình của Thiên Chúa. Mẹ khiêm tốn thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời xin vâng của Mẹ là lời đón nhận sự sống. Lời xin vâng ấy mở ra một mái nhà cho Ngôi Lời nhập thể, mở ra một cung lòng để Con Thiên Chúa làm người và mở ra một con đường cứu độ cho toàn thể nhân loại. Đức Maria không xem thai nhi trong lòng mình như một gánh nặng hay một sự cố làm hỏng kế hoạch riêng. Mẹ đón nhận Hài Nhi Giêsu như hồng ân, như thánh ý và như kho tàng Thiên Chúa ký thác. Nhìn vào Mẹ, ta hiểu rằng mỗi sự sống được hình thành trong lòng người mẹ đều là một mầu nhiệm thánh thiêng. Dù sự sống ấy được đón nhận trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, dù đứa trẻ khỏe mạnh hay mang những giới hạn, dù gia đình đã sẵn sàng hay còn nhiều lo lắng, sự sống ấy vẫn mang phẩm giá bất khả xâm phạm vì được Thiên Chúa yêu thương và gọi tên.
Đức Maria không chỉ đón nhận sự sống bằng lời nói nhưng còn chăm sóc sự sống bằng những hy sinh âm thầm. Mẹ mang thai trong cảnh đơn nghèo, lên đường về Bêlem giữa lúc gần ngày sinh nở, chịu cảnh không tìm được chỗ trọ và phải sinh Con nơi máng cỏ lạnh lẽo. Không lâu sau đó, Mẹ lại cùng thánh Giuse đưa Hài Nhi trốn sang Ai Cập để tránh cuộc sát hại của vua Hêrôđê. Mẹ trở thành người tị nạn, phải rời quê hương, bỏ lại những gì quen thuộc để bảo vệ mạng sống của Con. Mẹ không than trách rằng vì đứa trẻ này mà đời Mẹ trở nên vất vả. Mẹ cũng không tìm cách thoát khỏi trách nhiệm. Mẹ ôm Con vào lòng và đi trong đêm tối, bước qua sợ hãi bằng niềm tin vào Thiên Chúa. Qua thái độ ấy, Mẹ dạy ta rằng tôn trọng sự sống bao giờ cũng đòi hỏi một cái giá. Có khi đó là thời gian, tiền bạc và sức lực. Có khi đó là việc phải từ bỏ tiện nghi, kế hoạch và niềm vui riêng. Có khi đó là những đêm thức trắng bên giường bệnh, những tháng ngày kiên nhẫn chăm sóc một người già, một người khuyết tật hay một đứa trẻ yếu đau. Tôn trọng sự sống không phải chỉ là nói những lời cao đẹp, nhưng là dám hiện diện, dám phục vụ, dám chịu phiền và dám cùng người khác đi qua những đoạn đường khó khăn nhất.
Ngày hôm nay, sự sống con người đang bị đe dọa dưới nhiều hình thức. Có những sự sống chưa kịp chào đời đã bị từ chối vì người lớn sợ trách nhiệm, sợ dư luận, sợ khó khăn hay muốn bảo vệ những dự tính riêng. Có những người già bị xem như gánh nặng vì không còn làm ra của cải, không còn nhanh nhẹn và phải phụ thuộc vào con cháu. Có những bệnh nhân bị bỏ mặc trong cô đơn vì việc chăm sóc quá tốn kém và mệt mỏi. Có những người khuyết tật bị đánh giá bằng khả năng lao động thay vì bằng phẩm giá con người. Có những người nghèo bị xua đuổi, người nghiện bị khinh miệt, người lầm lỗi bị đóng khung trong quá khứ, người mắc bệnh tâm lý bị coi là phiền phức. Thậm chí trong đời sống thường ngày, ta có thể làm tổn thương sự sống của người khác bằng lời nói cay nghiệt, thái độ lạnh lùng, sự loại trừ, bạo lực gia đình, bắt nạt học đường, vu khống trên mạng xã hội hay sự vô cảm trước nỗi đau của tha nhân. Không phải chỉ khi cướp đi mạng sống thể lý của người khác ta mới xúc phạm đến sự sống. Mỗi lần ta làm cho một người mất hy vọng, cảm thấy mình vô giá trị, bị cô lập hay không còn muốn sống, ta cũng đang gây thương tích cho sự sống mà Thiên Chúa đã trao ban.
Đức Maria Trinh Vương dạy ta biết nhìn con người bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Đối với Thiên Chúa, không ai là đồ bỏ đi. Không có người nào quá nhỏ bé đến mức không đáng được quan tâm. Không có bệnh nhân nào quá yếu đến mức không còn phẩm giá. Không có người già nào quá chậm chạp đến mức trở nên vô ích. Không có tội nhân nào quá xa xôi đến mức không thể trở về. Không có thai nhi nào quá bé nhỏ đến mức chưa được gọi là một con người. Mỗi người đều mang hình ảnh của Thiên Chúa. Giá trị của một người không nằm ở sắc đẹp, tài năng, tiền bạc, chức vụ, sức khỏe hay khả năng đóng góp cho xã hội. Giá trị ấy nằm ở chính việc người đó được Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương. Xã hội có thể đánh giá con người theo hiệu quả, nhưng Thiên Chúa nhìn họ bằng tình phụ tử. Thế gian có thể quý trọng người mạnh và loại trừ người yếu, nhưng Tin Mừng mời gọi ta cúi xuống với những người bé mọn nhất. Đức Maria đã sống tinh thần ấy khi vội vã lên đường thăm bà Êlisabét. Mẹ nhận ra một người chị họ đang mang thai trong tuổi già cần được giúp đỡ. Mẹ không chờ người khác yêu cầu, không viện lý do mình cũng đang mang thai và cũng có nhiều điều phải lo. Mẹ lên đường, ở lại và phục vụ. Chính sự hiện diện của Mẹ đã làm cho hài nhi Gioan nhảy mừng trong lòng mẹ. Nơi đâu Đức Maria hiện diện, nơi đó sự sống được nhận ra, được nâng đỡ và được vui mừng.
Mẹ cũng dạy ta tôn trọng sự sống của chính mình. Có những người yêu thương người khác nhưng lại không biết quý trọng bản thân. Họ làm việc đến kiệt sức, sống trong lo âu triền miên, bỏ bê sức khỏe, dung dưỡng những thói quen nguy hiểm hoặc để mặc tâm hồn chìm sâu trong buồn chán. Có người vì một thất bại, một lời chê bai, một mối tình tan vỡ hay một biến cố đau thương mà nghĩ rằng đời mình không còn ý nghĩa. Có người so sánh mình với người khác rồi ghét bỏ hình hài, khả năng và hoàn cảnh của mình. Đức Maria nhắc ta rằng sự sống của ta cũng là quà tặng Chúa ban. Ta không được quyền khinh thường hay hủy hoại chính mình. Chăm sóc thân xác, giữ gìn sức khỏe, nghỉ ngơi hợp lý, tránh xa những điều gây nghiện, tìm sự giúp đỡ khi tinh thần suy sụp và học cách tha thứ cho những giới hạn của bản thân cũng là những cách tôn trọng sự sống. Yêu mình đúng nghĩa không phải là ích kỷ nhưng là đón nhận mình như một thụ tạo được Thiên Chúa yêu thương. Khi biết quý trọng bản thân, ta mới có thể yêu thương người khác một cách lành mạnh và trưởng thành.
Tôn trọng sự sống còn là tôn trọng thiên nhiên, môi trường và ngôi nhà chung. Con người không thể sống nếu nguồn nước bị ô nhiễm, đất đai bị tàn phá, không khí bị đầu độc và muôn loài bị khai thác vô trách nhiệm. Khi vì lợi nhuận mà hủy hoại môi trường, ta không chỉ gây tổn thương cho cây cỏ hay động vật nhưng còn đe dọa sự sống của những người nghèo, của trẻ em và của các thế hệ tương lai. Đức Maria sống đời nghèo khó, đơn sơ và biết đủ. Mẹ không chiếm hữu, không phung phí và không đặt hạnh phúc nơi vật chất. Học với Mẹ, ta được mời gọi sử dụng của cải cách có trách nhiệm, tránh lãng phí thức ăn, tiết kiệm nước và điện, giảm bớt những nhu cầu không cần thiết, giữ gìn môi trường sạch đẹp và biết chia sẻ với những người thiếu thốn. Một hành động nhỏ được thực hiện bằng tình yêu vẫn có thể trở nên lời tuyên xưng rằng sự sống là quý giá và mọi tạo vật đều đáng được trân trọng.
Trong gia đình, bài học tôn trọng sự sống phải được bắt đầu từ những điều rất cụ thể. Cha mẹ tôn trọng sự sống khi đón nhận con cái như quà tặng chứ không chỉ như phương tiện để thực hiện ước mơ của mình. Con cái tôn trọng sự sống khi kính yêu, chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già, không xem các ngài là gánh nặng. Vợ chồng tôn trọng sự sống khi không dùng bạo lực thể xác hay tinh thần để làm tổn thương nhau. Anh chị em tôn trọng sự sống khi không chế giễu khuyết điểm, không ganh ghét và không làm cho nhau phải sống trong sợ hãi. Người lớn tôn trọng sự sống của trẻ nhỏ khi lắng nghe, bảo vệ và giáo dục các em bằng yêu thương thay vì bằng những lời lăng mạ. Con người cần cơm bánh để sống, nhưng cũng cần được công nhận, được lắng nghe và được yêu thương. Một mái nhà đầy đủ vật chất mà thiếu sự dịu dàng vẫn có thể làm cho sự sống bị héo mòn. Một gia đình không giàu có nhưng biết nâng đỡ nhau lại có thể trở thành chiếc nôi giúp sự sống lớn lên trong bình an.
Trong cộng đoàn và xã hội, ta cũng cần xét lại cách mình nhìn người khác. Ta có tôn trọng người phục vụ, người lao công, người bán vé số, người khuyết tật và người không cùng quan điểm với ta không? Ta có dùng lời nói để hạ nhục người khác chỉ vì họ phạm sai lầm không? Ta có dễ dàng chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, khiến danh dự và cuộc đời của một người bị tổn hại không? Có những vết thương thể xác rồi sẽ lành, nhưng vết thương do lời nói và sự khinh miệt có thể theo một người suốt cả đời. Tôn trọng sự sống đòi ta phải có trách nhiệm với từng lời mình nói, từng điều mình viết và từng nội dung mình chia sẻ. Trước khi lên án một người, hãy nhớ rằng ta không biết họ đã trải qua những gì. Trước khi cười nhạo một khuyết điểm, hãy nhớ rằng không ai muốn mình sinh ra với giới hạn ấy. Trước khi loại bỏ một người lầm lỗi, hãy nhớ rằng chính ta cũng đang sống nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Đức Maria là người Mẹ dịu dàng. Sự dịu dàng của Mẹ không yếu đuối nhưng là sức mạnh bảo vệ sự sống. Một lời nói hiền hòa, một ánh mắt cảm thông, một bàn tay nâng đỡ hay một sự hiện diện âm thầm đôi khi có thể cứu một người khỏi tuyệt vọng.
Đặc biệt, Mẹ dạy ta đứng về phía những người không có tiếng nói. Thai nhi chưa thể tự bảo vệ mình. Người già yếu có thể không còn đủ sức để đòi hỏi quyền lợi. Người nghèo thường bị bỏ qua. Người bệnh có thể không nói được nỗi đau của mình. Trẻ em bị bạo hành có thể sống trong sợ hãi và im lặng. Nạn nhân của bạo lực có thể không biết tìm ai để giúp đỡ. Tôn trọng sự sống không chỉ là không làm điều ác, nhưng còn là dám lên tiếng, can thiệp và hành động để điều ác không tiếp tục xảy ra. Im lặng trước bất công đôi khi là để cho sự sống tiếp tục bị chà đạp. Tuy nhiên, việc bảo vệ sự sống cần được thực hiện với lòng thương xót, sự khôn ngoan và tinh thần chữa lành. Ta không bảo vệ sự sống bằng cách kết án tàn nhẫn những người đang hoang mang hay đã từng có quyết định sai lầm. Ta bảo vệ sự sống bằng cách mở ra những con đường hy vọng, đồng hành với người mẹ mang thai trong hoàn cảnh khó khăn, nâng đỡ gia đình nghèo, giúp người lầm lỗi tìm lại bình an và tạo điều kiện để những người yếu thế được sống xứng đáng.
Dưới chân thập giá, Đức Maria đã chứng kiến sự sống của Con mình bị bạo lực nghiền nát. Mẹ thấy Chúa Giêsu bị đánh đòn, sỉ nhục, đóng đinh và từ từ trút hơi thở. Không ai hiểu nỗi đau của người mẹ mất con sâu sắc hơn Mẹ. Nhưng ngay trong giờ phút ấy, Mẹ không để hận thù chiến thắng. Mẹ đứng đó trong đau đớn, hiệp thông với hy lễ của Con và đón nhận nhân loại làm con mình. Đức Maria cho thấy rằng tôn trọng sự sống còn là phá vỡ vòng xoáy của bạo lực và trả thù. Hận thù không thể bảo vệ sự sống. Bạo lực chỉ sinh thêm bạo lực. Muốn xây dựng nền văn hóa sự sống, ta phải học tha thứ, đối thoại, hòa giải và chữa lành. Điều đó không có nghĩa là dung túng sự dữ hay bỏ qua công lý, nhưng là không để sự dữ biến trái tim mình thành một trái tim độc ác. Mẹ đứng dưới chân thập giá như một chứng nhân của tình yêu mạnh hơn sự chết. Mẹ tin rằng sự sống không bị tiêu diệt bởi ngôi mộ, bởi Con của Mẹ sẽ phục sinh và mở ra niềm hy vọng cho mọi người.
Ngày hôm nay, Đức Maria Trinh Vương hỏi mỗi người chúng ta: Con đang đối xử thế nào với sự sống Chúa trao cho con? Con có biết cảm tạ vì mình đang hiện hữu không? Con có chăm sóc thân xác và tâm hồn mình không? Con có làm cho người bên cạnh được sống vui hơn, bình an hơn và hy vọng hơn không? Trong gia đình con, có ai đang bị bỏ quên? Trong cộng đoàn con, có ai đang cần một lời hỏi thăm? Có người già nào lâu ngày không được thăm viếng? Có bệnh nhân nào đang nằm một mình? Có người mẹ nào đang lo lắng vì mang thai ngoài dự tính? Có đứa trẻ nào đang chịu bạo lực? Có một người nào đang tuyệt vọng vì nghĩ rằng mình không còn giá trị? Tôn trọng sự sống bắt đầu từ việc nhận ra những con người cụ thể ấy. Ta không thể nói mình yêu sự sống nói chung nhưng lại lạnh lùng trước một con người bằng xương bằng thịt đang cần ta.
Xin Mẹ dạy con biết trân trọng từng ngày sống Chúa ban, dù ngày ấy vui hay buồn, thành công hay thất bại. Xin Mẹ dạy con biết nhìn mỗi người bằng ánh mắt yêu thương, không phân biệt giàu nghèo, khỏe mạnh hay đau yếu, hữu ích hay bị coi là vô dụng. Xin Mẹ giúp con biết bảo vệ những mầm sống còn bé nhỏ, nâng đỡ những người yếu thế, chăm sóc người đau bệnh, kính trọng người cao tuổi và gieo hy vọng cho những ai đang tuyệt vọng. Xin Mẹ giữ môi miệng con khỏi những lời làm tổn thương, giữ đôi tay con khỏi mọi hành động bạo lực và giữ trái tim con khỏi sự vô cảm. Xin Mẹ giúp con hiểu rằng mỗi lần con phục vụ một người bé mọn là con đang phục vụ chính Chúa Giêsu. Xin cho gia đình con trở thành mái ấm của sự sống, nơi mọi người được đón nhận, được lắng nghe, được tha thứ và được yêu thương. Xin cho cộng đoàn con trở thành nơi không ai bị bỏ lại phía sau, không ai bị coi thường và không ai phải đau khổ trong cô độc.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã đón nhận Chúa Giêsu trong cung lòng và đã bảo vệ Người bằng tất cả tình yêu của một người mẹ, xin giúp chúng con biết cúi mình trước mầu nhiệm sự sống. Xin cho chúng con đừng bao giờ coi con người như một đồ vật, một con số hay một phương tiện. Xin giúp chúng con nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi từng khuôn mặt, nhất là nơi những khuôn mặt bị cuộc đời làm cho méo mó, mệt mỏi và tổn thương. Xin Mẹ dẫn chúng con đến với Chúa Giêsu, Đấng đã đến để mọi người được sống và sống dồi dào. Dưới sự hướng dẫn của Mẹ, xin cho chúng con trở thành những người gìn giữ sự sống, bảo vệ phẩm giá con người và gieo rắc tình yêu trong một thế giới còn nhiều bạo lực, loại trừ và vô cảm. Xin cho mỗi ngày sống của chúng con trở nên lời tạ ơn Thiên Chúa và trở nên món quà trao tặng cho anh chị em. Amen.
30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG
NGÀY 19 – MẸ DẠY CON SỐNG BÌNH AN
Cuộc đời con người ai cũng mong được bình an, nhưng bình an lại là điều không dễ tìm thấy. Người ta có thể có một mái nhà đẹp mà lòng vẫn bất an, có thể có tiền bạc dư dật mà đêm về vẫn trằn trọc, có thể được nhiều người biết đến mà trong tâm hồn vẫn cô đơn, có thể bên ngoài luôn tươi cười nhưng bên trong lại chất chứa bao nhiêu lo lắng, tổn thương và sợ hãi. Có những người đi tìm bình an bằng cách tránh né mọi khó khăn, có người tìm bình an trong tiền bạc, tiện nghi, quyền lực hay những lời khen của người khác. Thế nhưng, tất cả những điều ấy đều mong manh. Chỉ cần một biến cố xảy đến, một người quay lưng, một kế hoạch đổ vỡ, một căn bệnh bất ngờ hay một mất mát không báo trước, thứ bình an được xây trên những điều bên ngoài sẽ nhanh chóng tan biến. Nhìn lên Đức Maria Trinh Vương, con nhận ra nơi Mẹ có một sự bình an rất khác. Đó không phải là sự bình an của một cuộc đời không có sóng gió, nhưng là sự bình an của một tâm hồn luôn ở trong Thiên Chúa. Mẹ không được miễn trừ khỏi đau khổ. Cuộc đời Mẹ đã đi qua biết bao biến cố làm lòng người phải xao xuyến: lời truyền tin vượt quá trí hiểu, hành trình vội vã đến thăm bà Êlisabét, những ngày gần đến lúc sinh Con mà không tìm được chỗ trọ, đêm tối đưa Hài Nhi trốn sang Ai Cập, những năm tháng nghèo khó tại Nadarét, ba ngày lạc mất Con trong Đền Thờ, những lời người ta chống đối Chúa Giêsu, và sau cùng là con đường thập giá dẫn đến đồi Canvê. Mẹ đã chứng kiến Người Con vô tội bị khước từ, bị kết án, bị đánh đòn, bị đóng đinh và chết trong đau đớn. Thế nhưng giữa tất cả những biến cố ấy, Mẹ vẫn đứng vững. Mẹ không bình an vì Mẹ hiểu hết mọi sự, nhưng vì Mẹ tin Thiên Chúa. Mẹ không bình an vì mọi chuyện đều diễn ra theo ý Mẹ, nhưng vì Mẹ trao đời mình cho thánh ý Chúa. Mẹ không bình an vì không có nước mắt, nhưng vì ngay trong nước mắt, Mẹ vẫn biết rằng Thiên Chúa không bỏ rơi Mẹ.
Mẹ dạy con rằng bình an trước hết không phải là một hoàn cảnh thuận lợi, nhưng là một tương quan đúng đắn với Thiên Chúa. Khi lòng con xa Chúa, dù mọi sự bên ngoài có ổn định, con vẫn dễ bất an. Khi lòng con ở trong Chúa, dù cuộc đời có những biến động, con vẫn có thể tìm được nơi nương tựa. Có những lúc con bất an vì cứ muốn mọi sự phải theo ý mình. Con muốn người khác phải hiểu con, phải cư xử với con theo cách con mong đợi. Con muốn công việc phải thành công, sức khỏe phải ổn định, gia đình phải êm ấm, tương lai phải rõ ràng. Khi một điều gì đó không diễn ra như dự tính, lòng con liền rối bời. Con lo lắng, trách móc, giận dữ, than phiền, thậm chí nghi ngờ cả tình thương của Chúa. Mẹ dạy con biết thưa lời “xin vâng” trong những lúc như thế. “Xin vâng” không có nghĩa là con thụ động hay buông xuôi, nhưng là con làm hết phần mình rồi trao phần còn lại cho Thiên Chúa. Có những điều con phải cố gắng thay đổi, nhưng cũng có những điều con phải khiêm tốn chấp nhận. Có những cánh cửa con phải kiên trì gõ, nhưng cũng có những cánh cửa khi đã khép lại, con cần bình an bước sang một con đường khác. Có những câu hỏi hôm nay chưa có lời giải đáp, nhưng con không cần vì thế mà đánh mất niềm tin. Mẹ đã không hiểu hết lời sứ thần, không hiểu hết những lời ông Simêon tiên báo, không hiểu hết những gì Chúa Giêsu nói khi Người ở lại trong Đền Thờ, nhưng Mẹ “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Mẹ không để những điều chưa hiểu biến thành sự nổi loạn. Mẹ đưa những điều chưa hiểu vào cầu nguyện. Chính nơi cầu nguyện, những bối rối dần trở thành tín thác, những câu hỏi dần trở thành sự chờ đợi và nỗi sợ dần nhường chỗ cho bình an.
Mẹ dạy con sống bình an bằng cách giữ lòng mình khỏi những xáo trộn không cần thiết. Có những bất an không đến từ biến cố, nhưng đến từ cách con nhìn biến cố. Một lời nói vô tình của người khác cũng đủ làm con suy nghĩ nhiều ngày. Một ánh mắt lạnh nhạt cũng khiến con tưởng tượng ra biết bao câu chuyện. Một sự chậm trễ nhỏ cũng làm con nóng lòng. Một điều người khác có mà con chưa có cũng khiến con so sánh, buồn phiền và mất bình an. Con thường để tâm trí mình chạy theo những điều chưa chắc đã xảy ra. Con lo cho ngày mai, cho tháng tới, cho những chuyện rất xa, rồi quên mất ân sủng Chúa đang ban cho con trong ngày hôm nay. Con muốn biết trước mọi chuyện để cảm thấy an toàn, nhưng cuộc sống không bao giờ hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của con. Mẹ dạy con trở về với giây phút hiện tại. Hôm nay con có thể cầu nguyện, thì hãy cầu nguyện. Hôm nay con có thể yêu thương, thì hãy yêu thương. Hôm nay con có thể làm một việc tốt, thì hãy làm. Hôm nay con có thể nói một lời hòa giải, thì đừng trì hoãn. Hôm nay con có thể sống tử tế, chân thành và trách nhiệm, thì hãy sống trọn vẹn. Ngày mai thuộc về Thiên Chúa. Bình an lớn lên khi con thôi cố gắng sống trước những ngày chưa đến và biết đón nhận ngày hôm nay như một món quà.
Mẹ cũng dạy con rằng muốn sống bình an, con phải học tha thứ. Trong lòng còn giữ hận thù thì không thể có bình an. Khi con cứ nhớ mãi một lời xúc phạm, một lần bị phản bội, một bất công đã chịu hay một tổn thương người khác gây ra, con đang để quá khứ tiếp tục làm đau hiện tại. Có thể người gây tổn thương cho con đã quên, nhưng con vẫn mang vết thương ấy đi khắp nơi. Con kể lại, suy nghĩ lại, tưởng tượng lại và làm cho nó sống lại từng ngày. Mẹ đứng dưới chân thập giá, nghe những lời chế nhạo, thấy người ta đối xử tàn nhẫn với Con Mẹ, nhưng Mẹ không để lòng mình bị thống trị bởi hận thù. Mẹ hiệp thông với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Mẹ dạy con rằng tha thứ không phải là nói điều sai trở thành đúng, cũng không phải là phủ nhận vết thương, nhưng là không để sự dữ của người khác biến con thành một con người cay đắng. Tha thứ là trao quyền xét xử cho Thiên Chúa, là xin Chúa chữa lành ký ức, là từ chối nuôi dưỡng ý muốn trả đũa. Có thể con chưa thể quên ngay, nhưng con có thể bắt đầu bằng việc không nói xấu, không nguyền rủa, không tìm cách làm tổn thương người đã làm con đau. Mỗi lần ký ức cũ trở về, con có thể thưa: “Lạy Chúa, con trao người ấy và vết thương này cho Chúa.” Tha thứ là một hành trình, nhưng mỗi bước tha thứ đều mở thêm một khoảng trống để bình an của Chúa đi vào lòng con.
Muốn sống bình an, con còn phải học hòa giải với chính mình. Có những người luôn dịu dàng với người khác nhưng lại rất khắc nghiệt với bản thân. Con không tha thứ cho những sai lầm của mình, không chấp nhận những giới hạn của mình, luôn dằn vặt vì những điều đã qua. Con tiếc nuối những quyết định cũ, trách mình vì những cơ hội đã bỏ lỡ, xấu hổ vì những lần yếu đuối, rồi nghĩ rằng mình không còn xứng đáng được yêu thương. Mẹ dạy con nhìn mình bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Chúa biết rõ con yếu đuối nhưng vẫn yêu con. Chúa không đồng hóa con với một lần vấp ngã. Chúa không khép lại tương lai của con vì một quá khứ sai lầm. Khi con thật lòng sám hối, chạy đến với bí tích Hòa Giải và quyết tâm sửa đổi, con phải tin vào lòng thương xót của Chúa. Không được nhân danh sự khiêm nhường để tiếp tục kết án chính mình sau khi Chúa đã tha thứ. Mẹ không dẫn con đến với nỗi tuyệt vọng, nhưng luôn đưa con về với Chúa Giêsu, Đấng chữa lành và phục hồi. Bình an không đến từ việc con hoàn hảo, nhưng từ việc con biết mình được yêu ngay cả khi còn bất toàn và biết để cho tình yêu ấy biến đổi mình mỗi ngày.
Mẹ dạy con giữ bình an trong lời nói. Nhiều xáo trộn trong gia đình, cộng đoàn và xã hội bắt đầu từ một lời nói thiếu suy nghĩ. Một lời nóng giận có thể phá hỏng mối tương quan được xây dựng nhiều năm. Một câu chuyện chưa được kiểm chứng có thể làm tổn thương danh dự của người khác. Một lời phê bình thiếu bác ái có thể để lại vết thương sâu trong lòng người nghe. Có những lúc con mất bình an rồi đem sự mất bình an ấy truyền sang cho người khác qua giọng nói gay gắt, thái độ khó chịu và những lời trách móc. Mẹ là người phụ nữ của thinh lặng và của những lời nói đúng lúc. Trong tiệc cưới Cana, Mẹ không làm mọi người hoảng hốt, không công khai sự thiếu thốn của gia chủ, không trách móc ai. Mẹ chỉ nhẹ nhàng nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi”, rồi nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ dạy con rằng người sống bình an không làm cho vấn đề trở nên ồn ào hơn, nhưng biết âm thầm tìm cách giải quyết. Người sống bình an không dùng lời nói để đổ dầu vào lửa, nhưng dùng lời nói để hàn gắn, nâng đỡ và mở ra hy vọng. Trước khi nói, con cần tự hỏi: điều này có đúng không, có cần thiết không, có bác ái không và có đúng lúc không? Nếu một lời nói chỉ làm người khác đau mà không giúp họ tốt hơn, nhiều khi thinh lặng lại là một việc lành.
Mẹ dạy con rằng bình an không có nghĩa là trốn tránh sự thật hay né tránh trách nhiệm. Có một thứ yên ổn giả tạo được xây trên sự im lặng trước điều sai, trên thái độ “mặc kệ” để khỏi phiền lòng, trên việc không dám nói sự thật vì sợ mất lòng. Đó không phải là bình an của Tin Mừng. Chúa Giêsu là Hoàng Tử Bình An, nhưng Người vẫn can đảm lên tiếng trước giả hình, bất công và tội lỗi. Mẹ cũng không sống một đời khép kín để bảo vệ sự yên ổn riêng. Mẹ vội vã lên đường phục vụ bà Êlisabét. Mẹ quan tâm đến sự thiếu rượu của đôi tân hôn. Mẹ hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ đang sợ hãi sau cái chết của Chúa Giêsu. Bình an đích thực làm cho con mạnh mẽ hơn trong việc thiện, chứ không biến con thành người thờ ơ. Khi lòng con bình an trong Chúa, con có thể góp ý mà không xúc phạm, đấu tranh cho sự thật mà không nuôi hận thù, bảo vệ người yếu thế mà không dùng bạo lực, đối diện khó khăn mà không tuyệt vọng. Bình an của Chúa không làm con chạy khỏi cuộc đời, nhưng giúp con bước vào giữa cuộc đời với một trái tim vững vàng.
Mẹ dạy con sống bình an trong gia đình. Gia đình là nơi người ta yêu thương nhau, nhưng cũng là nơi người ta dễ làm tổn thương nhau nhất, vì sống gần nhau, biết rõ những điểm yếu của nhau và đôi khi coi sự hiện diện của nhau là điều đương nhiên. Một mái ấm mất bình an không nhất thiết vì thiếu tiền, nhưng nhiều khi vì thiếu lắng nghe, thiếu tôn trọng và thiếu những lời dịu dàng. Vợ chồng dễ làm tổn thương nhau bằng sự lạnh nhạt. Cha mẹ dễ tạo áp lực cho con cái bằng những kỳ vọng quá lớn. Con cái dễ làm cha mẹ buồn bằng sự vô tâm. Anh chị em dễ chia rẽ vì tiền bạc, quyền lợi hay những chuyện nhỏ nhặt được giữ lại nhiều năm. Mẹ dạy con bắt đầu kiến tạo bình an từ những điều rất nhỏ: biết chào hỏi nhau, biết nói lời cảm ơn, biết xin lỗi khi sai, biết lắng nghe mà không ngắt lời, biết dành thời gian cho nhau, biết cầu nguyện chung và biết đặt tình thân cao hơn hơn thua. Đừng chờ người khác thay đổi trước rồi con mới sống hiền hòa. Đừng chờ người khác xin lỗi trước rồi con mới mở lời. Người môn đệ của Chúa phải là người chủ động xây dựng hòa bình. Có khi một bữa cơm bình an quan trọng hơn một cuộc tranh luận để chứng minh mình đúng. Có khi một cái ôm chân thành chữa lành nhiều hơn một bài giảng dài. Có khi chỉ cần con hạ giọng, ngưng một lời cay nghiệt và nói “chúng ta cùng bình tĩnh lại”, bầu khí gia đình đã có thể đổi khác.
Mẹ dạy con gìn giữ bình an giữa một thế giới quá nhiều tiếng động. Mỗi ngày con đón nhận vô số thông tin, lời bình luận, hình ảnh và tranh cãi. Con có thể vừa mở mắt đã cầm điện thoại, vừa ăn vừa xem tin, trước khi ngủ vẫn tiếp tục theo dõi những chuyện khiến lòng thêm xao động. Có những thông tin con cần biết, nhưng cũng có rất nhiều điều chỉ làm tâm trí con mệt mỏi, so sánh và bất an. Con không thể giữ được bình an nếu lúc nào lòng trí cũng bị kéo đi bởi những tiếng nói bên ngoài. Mẹ mời con trở về với thinh lặng. Thinh lặng không phải là trống rỗng, nhưng là không gian để con nghe tiếng Chúa, nhận ra cảm xúc của mình và phân định điều gì thực sự quan trọng. Mỗi ngày con cần có một khoảng thời gian tắt bớt những âm thanh bên ngoài, đặt điện thoại xuống, ngồi trước Chúa, đọc chậm một đoạn Tin Mừng và để tâm hồn được nghỉ ngơi trong sự hiện diện của Người. Nhiều nỗi lo không được giải quyết bằng việc suy nghĩ thêm, nhưng bằng việc quỳ xuống cầu nguyện. Nhiều xáo trộn không cần thêm một lời tranh luận, nhưng cần một khoảng lặng để lòng người dịu lại. Người biết thinh lặng trước Chúa sẽ ít gây ồn ào trong cuộc đời người khác.
Mẹ dạy con sống bình an khi đối diện với bệnh tật, tuổi già và sự chết. Đây là những thực tại khiến con người sợ hãi nhất, vì chúng nhắc con rằng mình mong manh và không làm chủ được sự sống. Có người sống khỏe mạnh nhưng ngày nào cũng sợ bệnh. Có người còn trẻ nhưng đã lo sợ tuổi già. Có người không dám nghĩ đến cái chết nên càng bám víu vào mọi điều chóng qua. Mẹ đã đứng trước cái chết của Chúa Giêsu và Mẹ hiểu nỗi đau mất mát. Nhưng Mẹ cũng là người tin vào lời hứa phục sinh. Mẹ dạy con rằng cuộc đời trần thế không phải là tất cả. Con được sinh ra không chỉ để sống một số năm rồi tan biến, nhưng để trở về nhà Cha. Vì thế, con cần chăm sóc sức khỏe nhưng không biến sức khỏe thành thần tượng; cần trân trọng sự sống nhưng không tuyệt vọng khi phải đối diện giới hạn; cần yêu những người thân yêu nhưng cũng biết trao họ cho Chúa. Bình an Kitô giáo không xóa nỗi đau chia ly, nhưng đặt nỗi đau ấy trong niềm hy vọng. Khi biết đời mình ở trong tay Chúa, con có thể sống từng ngày với lòng biết ơn thay vì luôn bị ám ảnh bởi điều sẽ mất.
Mẹ dạy con sống bình an bằng lòng biết ơn. Một tâm hồn chỉ nhìn vào điều thiếu sẽ luôn bất an, còn một tâm hồn nhận ra những ân huệ nhỏ bé sẽ dần trở nên thanh thản. Con thường buồn vì điều mình chưa có mà quên cảm tạ vì biết bao điều đang có. Con có thể than phiền vì một ngày không như ý nhưng quên rằng mình vẫn còn được sống. Con có thể buồn vì một người không hiểu mình nhưng quên rằng vẫn có những người âm thầm yêu thương mình. Con có thể bận tâm vì một cánh cửa đóng lại nhưng quên bao cánh cửa Chúa đã mở ra. Bài ca Magnificat của Mẹ là lời ca của một tâm hồn bình an vì nhận ra những việc lớn lao Thiên Chúa đã làm. Mẹ không phủ nhận sự nhỏ bé, nghèo hèn của mình, nhưng Mẹ nhìn tất cả trong ánh sáng lòng thương xót Chúa. Khi con tập cảm tạ, con không còn xem mọi điều tốt đẹp là chuyện đương nhiên. Một bữa cơm, một giấc ngủ, một người bạn, một ngày còn sức khỏe, một cơ hội phục vụ, một lời động viên, một lần được làm lại – tất cả đều có thể trở thành lý do để con bình an.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, xin dạy con hiểu rằng bình an không phải là không có thập giá, nhưng là có Chúa ở cùng khi con vác thập giá. Xin giúp con đừng chạy theo một thứ bình an giả tạo dựa trên tiền bạc, thành công, lời khen hay sự kiểm soát. Xin dạy con biết trao những lo âu cho Chúa, biết sống trọn vẹn giây phút hiện tại, biết tha thứ cho người khác và hòa giải với chính mình. Xin giữ môi miệng con khỏi những lời gây chia rẽ, giữ lòng con khỏi hận thù, ghen tị và hơn thua, giữ tâm trí con khỏi những tưởng tượng tiêu cực và những lo sợ không cần thiết. Khi gặp điều trái ý, xin cho con biết dừng lại, cầu nguyện và phân định trước khi phản ứng. Khi bị hiểu lầm, xin cho con đừng vội cay đắng. Khi phải chờ đợi, xin cho con biết tín thác. Khi đau khổ, xin cho con biết ở lại bên Chúa. Khi thành công, xin cho con giữ lòng khiêm nhường. Khi thất bại, xin cho con không đánh mất hy vọng.
Lạy Mẹ là Nữ Vương Bình An, xin bước vào gia đình con, cộng đoàn con và những mối tương quan của con. Nơi nào đang có căng thẳng, xin Mẹ dạy chúng con biết lắng nghe. Nơi nào đang có chia rẽ, xin Mẹ giúp chúng con can đảm hòa giải. Nơi nào đang có tổn thương, xin Mẹ dẫn chúng con đến với lòng thương xót của Chúa Giêsu. Xin làm cho con trở thành người mang bình an chứ không phải người gieo thêm xáo trộn; trở thành người biết nối lại chứ không cắt đứt; biết cảm thông chứ không xét đoán; biết cầu nguyện chứ không than phiền; biết xây dựng chứ không phá đổ. Xin cho sự hiện diện của con làm người khác cảm thấy được tôn trọng, được lắng nghe và được nâng đỡ. Xin cho con có đủ bình an để không cần phải thắng trong mọi cuộc tranh luận, không cần được mọi người khen ngợi, không cần kiểm soát mọi chuyện và không cần giữ mãi những điều đã qua.
Hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, con quyết tâm dành một khoảng thời gian thinh lặng trước Chúa, gọi tên điều đang làm lòng con bất an và trao điều ấy vào tay Người. Con sẽ không để nỗi lo dẫn dắt lời nói và hành động của mình. Con sẽ cố gắng làm hòa với một người, tha thứ một lỗi lầm, ngưng một lời phàn nàn và nói một lời đem lại hy vọng. Con sẽ nhắc mình rằng Chúa vẫn đang hiện diện, ngay cả khi con chưa hiểu con đường phía trước. Con xin học nơi Mẹ một trái tim biết tin tưởng, một tâm hồn biết cầu nguyện và một đời sống trở thành khí cụ bình an. Bởi vì khi có Chúa trong lòng, con không cần đợi cho sóng gió qua đi mới được bình an; con có thể bình an ngay giữa sóng gió, vì biết rằng con thuyền đời con vẫn ở trong tay Thiên Chúa.
30 NGÀY SỐNG DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA ĐỨC MARIA TRINH VƯƠNG
NGÀY 20 – MẸ DẠY CON KHÔNG TÌM HƯ DANH
Con người sống ở đời, ai cũng mong được nhìn nhận, được tôn trọng và được yêu thương. Ước muốn ấy tự nó không xấu, bởi mỗi người đều mang phẩm giá cao quý và cần được đón nhận trong tương quan với người khác. Thế nhưng, từ ước muốn chính đáng được nhìn nhận đến cơn khát hư danh chỉ cách nhau một ranh giới rất mong manh. Khi lòng người không còn bình an với giá trị mà Thiên Chúa ban tặng, người ta bắt đầu tìm cách chứng minh mình, đánh bóng mình, làm cho người khác chú ý đến mình và sống lệ thuộc vào những lời khen chê. Hư danh không nhất thiết xuất hiện trong những điều lớn lao. Nó có thể ẩn mình trong một câu nói tưởng như khiêm tốn, trong một việc phục vụ nhưng mong được nhắc tên, trong một nghĩa cử tốt đẹp nhưng cần người khác biết đến, trong một bài viết hay nhưng âm thầm chờ đợi những lời ca tụng, trong một hy sinh nhỏ bé nhưng lại buồn bực khi không ai nhận ra. Hư danh khiến con người làm điều tốt nhưng không còn hoàn toàn vì điều tốt; phục vụ nhưng không còn hoàn toàn vì tình yêu; nói về Chúa nhưng đôi khi lại kín đáo tìm vinh quang cho chính mình.
Trong hành trình hôm nay, Đức Maria Trinh Vương dạy con không tìm hư danh. Mẹ không dạy bằng những lời lẽ cao xa, nhưng bằng chính cuộc đời âm thầm, đơn sơ và hoàn toàn hướng về Thiên Chúa. Mẹ là người được Thiên Chúa tuyển chọn để làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nhưng Mẹ không biến đặc ân ấy thành lý do để tự tôn mình. Mẹ được sứ thần gọi là Đấng đầy ân sủng, nhưng Mẹ không kể công, không khoe mình, không đòi hỏi một vị trí đặc biệt trong mắt người đời. Trước lời truyền tin, Mẹ chỉ nhận mình là “nữ tỳ của Chúa” và xin được thực hiện theo thánh ý Ngài. Câu trả lời ấy không phải là một lời xã giao khiêm nhường, nhưng là sự thật sâu xa nhất nơi tâm hồn Đức Maria. Mẹ biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa. Mẹ biết mọi sự nơi Mẹ đều là ân sủng. Mẹ biết điều cao cả nhất không phải là được người đời ca tụng, nhưng là được thuộc trọn về Chúa và trở thành khí cụ cho chương trình cứu độ của Ngài.
Sau biến cố Truyền Tin, Đức Maria không vội vàng loan báo cho mọi người biết rằng mình vừa được trao một sứ mạng lớn lao. Mẹ không tìm cách thuyết phục người khác nhìn nhận địa vị của Mẹ. Mẹ không đứng lại để tận hưởng niềm kiêu hãnh được tuyển chọn, nhưng vội vã lên đường đến miền núi thăm bà Êlisabét. Người mang trong lòng Con Thiên Chúa lại trở thành người phục vụ. Người được chúc phúc hơn mọi người nữ lại âm thầm bước vào căn nhà nhỏ để chia sẻ công việc với một người chị họ đang cần được nâng đỡ. Chính ở đây, Mẹ cho con thấy phương thuốc chữa hư danh: thay vì nghĩ đến mình, hãy nghĩ đến người khác; thay vì tìm cách để người ta phục vụ mình, hãy mau mắn phục vụ; thay vì bận tâm đến danh tiếng, hãy để lòng mình bận tâm đến nhu cầu của tha nhân.
Khi bà Êlisabét cất tiếng ca tụng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc”, Đức Maria không phủ nhận ân huệ Thiên Chúa đã ban, nhưng Mẹ cũng không giữ lời khen ấy cho riêng mình. Mẹ lập tức hướng tất cả về Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Mẹ không nói: “Tôi đã làm được điều lớn lao”, nhưng nói: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Đó là thái độ của một tâm hồn không tìm hư danh. Người khiêm nhường không phủ nhận điều tốt đẹp nơi mình, cũng không giả vờ cho rằng mình không có khả năng. Khiêm nhường là nhìn nhận mọi điều tốt đẹp như ân huệ được trao ban, để rồi dùng ân huệ ấy phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh chị em. Đức Maria không tự hạ mình theo cách giả tạo. Mẹ không chối bỏ công trình Chúa thực hiện nơi Mẹ. Mẹ chỉ đặt mọi sự đúng vị trí: Thiên Chúa là Đấng thực hiện, còn Mẹ là người đón nhận, cộng tác và tạ ơn.
Hư danh thường bắt đầu khi con người quên rằng mọi sự mình có đều là quà tặng. Ta có sức khỏe, trí tuệ, khả năng, cơ hội, địa vị, thành công, uy tín hay những hoa trái trong đời sống thiêng liêng, nhưng không có điều gì hoàn toàn do ta tự tạo nên. Ta được sinh ra trong một gia đình, được nuôi dưỡng bởi biết bao người, được giáo dục nhờ công sức của thầy cô, được trưởng thành qua những nâng đỡ âm thầm, được Chúa ban sức mạnh và mở ra những cơ hội. Thế nhưng, khi thành công, ta rất dễ nghĩ rằng tất cả đều do tài năng của mình. Ta quên những bàn tay từng nâng đỡ, quên những lời cầu nguyện từng chở che, quên cả Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi điều thiện hảo. Khi ấy, thành công không còn là cơ hội để tạ ơn và phục vụ, nhưng trở thành chiếc bục để ta đứng lên cao hơn người khác.
Đức Maria dạy con rằng điều quan trọng không phải là mình được bao nhiêu người biết đến, nhưng là Thiên Chúa có nhận ra sự trung tín của mình hay không. Có những việc không ai thấy, nhưng Chúa thấy. Có những hy sinh không ai ghi nhận, nhưng Chúa ghi nhận. Có những giọt nước mắt rơi trong thinh lặng, không một lời an ủi, nhưng Chúa biết. Có những lần ta nhẫn nhịn, tha thứ, chịu thiệt thòi và âm thầm cầu nguyện cho người làm mình tổn thương, chẳng ai hay, nhưng tất cả đều quý giá trước mặt Chúa. Thế gian thường đánh giá con người qua những gì nổi bật, còn Thiên Chúa nhìn vào chiều sâu tâm hồn. Thế gian đếm số người theo dõi, số lời tán thưởng, số thành tích và những điều có thể trình bày; Thiên Chúa lại nhìn vào tình yêu, ý hướng, lòng trung thành và sự thật trong từng việc nhỏ.
Ngày nay, hư danh càng dễ len lỏi vào đời sống vì con người sống giữa một thế giới luôn mời gọi phải xuất hiện, phải chứng minh và phải làm cho mình được chú ý. Người ta có thể đăng tải mọi khoảnh khắc, từ niềm vui đến nỗi buồn, từ việc bác ái đến đời sống cầu nguyện. Những phương tiện truyền thông tự nó không xấu, nhưng nếu không tỉnh thức, ta có thể dần dần sống không phải để yêu thương, mà để có hình ảnh đẹp; không phải để phục vụ, mà để được ngợi khen; không phải để chia sẻ điều thiện, mà để xây dựng danh tiếng cho mình. Có khi ta làm một việc bác ái và điều đầu tiên nghĩ đến là chụp một tấm hình. Có khi ta cầu nguyện, nhưng lại muốn người khác biết mình đạo đức. Có khi ta lên tiếng bênh vực sự thật, nhưng trong lòng lại mong được nhìn nhận là người hiểu biết và can đảm. Có khi ta nói những lời rất hay về khiêm nhường, nhưng lại không chịu nổi khi người khác được khen hơn mình.
Hư danh không chỉ làm cho con người thích được khen, mà còn khiến người ta sợ bị lãng quên. Khi không được chú ý, ta cảm thấy mình vô nghĩa. Khi việc mình làm không được nhắc đến, ta thấy bị tổn thương. Khi người khác thành công, ta khó vui thật lòng. Khi người khác được chọn thay cho mình, ta sinh buồn bực, đố kỵ hoặc tìm cách hạ thấp họ. Khi bị góp ý, ta phản ứng mạnh mẽ vì hình ảnh tốt đẹp về mình bị đụng chạm. Hư danh khiến lòng người trở nên mong manh, bởi niềm vui của ta bị đặt trong tay người khác. Hôm nay họ khen, ta vui; ngày mai họ chê, ta buồn; hôm nay họ tung hô, ta hăng hái; ngày mai họ im lặng, ta mất động lực. Một người sống nhờ lời khen sẽ dễ dàng chết chìm trong lời chê.
Đức Maria không sống bằng ánh mắt của người đời. Mẹ sống dưới ánh mắt của Thiên Chúa. Bởi thế, Mẹ có thể bình an trong những năm tháng hoàn toàn âm thầm tại Nadarét. Suốt phần lớn cuộc đời, Mẹ không xuất hiện trước đám đông, không làm những việc khiến người khác trầm trồ, không có những bài diễn thuyết được ghi chép, không có những thành tích được người đời tôn vinh. Mẹ nấu ăn, giặt giũ, chăm sóc gia đình, làm những công việc nhỏ bé mà biết bao phụ nữ cùng thời vẫn làm. Nhưng chính trong những điều bình thường ấy, Mẹ yêu Chúa bằng một tình yêu phi thường. Mẹ cho con hiểu rằng giá trị của một đời người không nằm ở sự ồn ào của những gì ta làm, nhưng ở tình yêu được đặt vào trong từng việc.
Có những người cả đời làm rất nhiều việc nhưng lòng vẫn trống rỗng, bởi mọi việc đều được dùng để xây dựng hình ảnh của bản thân. Cũng có những người sống rất âm thầm nhưng cuộc đời đầy ý nghĩa, bởi họ đặt tình yêu vào từng bổn phận nhỏ bé. Một người mẹ âm thầm thức đêm chăm con, không ai trao bằng khen, nhưng tình yêu ấy làm nên một mái ấm. Một người cha lặng lẽ lao động, chịu bao vất vả để nuôi gia đình, ít người biết đến, nhưng sự hy sinh ấy quý giá trước mặt Chúa. Một người tu sĩ trung thành với giờ kinh, với bổn phận, với cộng đoàn, dù không được giao những công việc nổi bật, vẫn đang xây dựng Hội Thánh bằng chính sự trung tín của mình. Một giáo dân âm thầm quét nhà thờ, thăm người bệnh, giúp người nghèo mà không mong được cảm ơn, đang làm cho Tin Mừng trở nên sống động. Một người đau yếu dâng những khổ đau để cầu nguyện cho người khác, dù không thể làm gì được thấy bằng mắt, vẫn có thể sinh hoa trái lớn lao trong nhiệm thể Chúa Kitô.
Không tìm hư danh không có nghĩa là sống thụ động, sợ trách nhiệm hay chôn giấu khả năng. Đức Maria không tìm hư danh, nhưng Mẹ vẫn can đảm cộng tác vào chương trình của Chúa. Mẹ không tìm nổi bật, nhưng khi cần lên đường, Mẹ lên đường; khi cần lên tiếng tại tiệc cưới Cana, Mẹ lên tiếng; khi cần đứng dưới chân thập giá, Mẹ đứng đó; khi cần hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ, Mẹ hiện diện. Người không tìm hư danh vẫn có thể làm những việc lớn, vẫn có thể lãnh đạo, giảng dạy, sáng tạo và đảm nhận trách nhiệm. Khác biệt nằm ở chỗ họ không làm để tôn mình lên, nhưng để điều tốt được thực hiện; không giữ công lao cho mình, nhưng biết cộng tác; không dùng người khác làm nền cho mình nổi bật, nhưng nâng đỡ để mọi người cùng trưởng thành.
Đôi khi, người ta có thể tìm hư danh ngay cả trong sự khiêm nhường giả tạo. Có người luôn nói mình không có khả năng chỉ để chờ người khác phủ nhận và khen ngợi. Có người từ chối được ghi nhận ngoài miệng, nhưng trong lòng lại mong người khác nài nỉ. Có người kể rất nhiều về những hy sinh của mình, nhưng kể dưới hình thức than thở, để mọi người nhận ra mình đã vất vả thế nào. Có người luôn tự nhận mình nhỏ bé, nhưng lại không chấp nhận khi bị đối xử như một người nhỏ bé. Khiêm nhường thật không cần diễn. Người khiêm nhường không quá bận tâm đến việc người khác đánh giá mình là khiêm nhường hay không. Họ chỉ cố gắng sống thật trước mặt Chúa, nhận trách nhiệm khi cần, lùi lại khi thích hợp và vui khi người khác được thành công.
Đức Maria dạy con biết lùi lại để Chúa Giêsu được lớn lên. Từ khi Chúa bắt đầu sứ vụ công khai, Mẹ xuất hiện rất ít. Mẹ không dùng tư cách làm Mẹ để can thiệp, chi phối hay đòi hỏi quyền lợi. Mẹ để Con thực hiện sứ mạng Chúa Cha trao phó. Tại Cana, sau khi nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, Mẹ lui vào phía sau. Mẹ không giữ đám đông lại quanh mình, nhưng dẫn họ đến với Chúa Giêsu. Đây cũng là dấu chỉ giúp con nhận ra mình có đang tìm hư danh trong việc phục vụ Chúa hay không: sau khi gặp ta, người khác có đến gần Chúa hơn, hay chỉ ngưỡng mộ ta hơn? Khi ta giảng dạy, chia sẻ hoặc làm việc tông đồ, người nghe có nhớ đến Tin Mừng, hay chỉ nhớ đến tài năng của ta? Khi ta giúp đỡ ai đó, họ có được tự do và trưởng thành, hay bị giữ trong sự lệ thuộc vào ta? Người môn đệ đích thực không thu hút người khác về mình, nhưng dẫn họ đến với Chúa.
Hư danh còn làm người ta khó cộng tác. Người tìm hư danh muốn mình là trung tâm, muốn ý kiến của mình được chọn, muốn tên mình được nhắc đến và công lao mình được ghi nhận. Họ có thể vui khi công việc thành công, nhưng chỉ vui trọn vẹn khi thành công ấy gắn với tên mình. Nếu một sáng kiến tốt được thực hiện bởi người khác, họ cảm thấy tiếc nuối. Nếu người khác được khen, họ cho rằng mình bị xem nhẹ. Nếu phải làm công việc hậu trường, họ thiếu nhiệt tình. Đức Maria thì khác. Mẹ cộng tác với thánh Giuse trong âm thầm, cộng tác với gia đình Êlisabét, cộng tác với các môn đệ và cộng đoàn Hội Thánh sơ khai. Mẹ không tranh giành vị trí, nhưng hiện diện đúng nơi Chúa muốn. Nơi nào cần sự phục vụ, Mẹ phục vụ. Nơi nào cần thinh lặng, Mẹ thinh lặng. Nơi nào cần đứng vững, Mẹ đứng vững.
Dưới chân thập giá, Đức Maria bị tước đi mọi vinh quang theo cái nhìn của thế gian. Người Con mà Mẹ đã cưu mang được treo giữa trời và đất như một tội nhân. Những lời sứ thần năm xưa dường như bị bóng tối che phủ. Mẹ không được tung hô là Mẹ của Đấng Cứu Thế, nhưng phải đứng giữa những tiếng nhạo cười và xúc phạm. Nếu Mẹ tìm vinh quang loài người, giờ phút ấy hẳn là một sự sụp đổ hoàn toàn. Nhưng vì Mẹ tìm thánh ý Thiên Chúa, nên Mẹ vẫn đứng đó. Mẹ không bỏ đi để giữ danh dự. Mẹ không chối bỏ Chúa Giêsu vì sợ liên lụy. Mẹ trung thành khi mọi ánh hào quang biến mất. Đây là phép thử thật sự đối với mỗi người: ta có còn trung thành khi không được khen, khi bị hiểu lầm, khi việc tốt của mình không sinh kết quả tức thì, khi sự phục vụ đem lại thập giá hơn là danh tiếng hay không?
Có những lúc Chúa cho phép ta bị quên lãng để thanh luyện ý hướng. Ta làm việc mà không ai cảm ơn. Ta cố gắng nhưng người khác lại được ghi nhận. Ta hy sinh nhưng bị hiểu sai. Ta sống tốt mà vẫn bị phê bình. Những kinh nghiệm ấy đau đớn, nhưng cũng có thể trở thành ân sủng, vì chúng giúp ta nhận ra mình đang phục vụ Chúa hay phục vụ hình ảnh của bản thân. Khi mọi lời khen biến mất, điều gì còn lại? Khi chẳng ai biết đến, ta còn muốn làm điều tốt không? Khi người khác không đáp lại, ta còn yêu thương không? Khi không có phần thưởng trước mắt, ta còn trung tín không? Chính trong những giờ phút ấy, Chúa mời ta bước vào sự tự do của Đức Maria: làm mọi sự vì yêu, rồi để kết quả và vinh quang thuộc về Thiên Chúa.
Muốn không tìm hư danh, trước hết con cần trở về với căn tính của mình trước mặt Chúa. Con không cần phải chứng minh mình đáng được yêu, bởi con đã được Chúa yêu. Con không cần phải hơn người khác để có giá trị, bởi phẩm giá của con không đến từ sự so sánh. Con không cần gom góp lời khen để lấp đầy tâm hồn, bởi chỉ tình yêu Thiên Chúa mới có thể làm lòng con no thỏa. Khi con biết mình là người con được Chúa yêu thương, con sẽ không còn quá lệ thuộc vào dư luận. Con có thể đón nhận lời khen mà không say mê, đón nhận lời chê mà không tuyệt vọng, đón nhận thành công với lòng biết ơn và đón nhận thất bại với sự bình an.
Đức Maria cũng dạy con tập sống những việc tốt âm thầm. Không phải mọi điều thiện đều cần công bố. Có những việc càng kín đáo càng trong sáng. Hãy thử làm một điều tốt mà không để ai biết; cầu nguyện cho một người nhưng không nói cho họ; giúp đỡ một người mà không chờ cảm ơn; hy sinh một sở thích để đem lại niềm vui cho gia đình; nhường một cơ hội cho người khác; âm thầm nhận phần khó hơn; làm một việc chung thật chu đáo dù tên mình không được nhắc đến. Những việc nhỏ ấy giúp trái tim thoát khỏi cơn nghiện được nhìn nhận. Chúng dạy ta tìm niềm vui trong ánh mắt Chúa hơn là trong tiếng vỗ tay của con người.
Con cũng cần tập vui trước thành công của người khác. Đây là một phương thế rất cụ thể để chữa hư danh. Khi thấy người khác được khen, hãy tạ ơn Chúa vì điều tốt nơi họ. Khi thấy người khác tiến bộ, hãy chân thành khích lệ. Khi một người làm tốt hơn con, đừng vội tìm khuyết điểm của họ để tự an ủi mình. Hãy học nơi họ. Hãy cầu nguyện để ân sủng Chúa tiếp tục sinh hoa trái trong họ. Niềm vui trước thành công của người khác cho thấy trái tim con đang được tự do. Con không mất đi giá trị vì người khác tỏa sáng. Bầu trời không nghèo đi khi có thêm một vì sao. Hội Thánh không bị chia nhỏ khi có thêm một người phục vụ tốt. Vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ qua nhiều khuôn mặt, nhiều khả năng và nhiều ơn gọi khác nhau.
Khi được khen, con hãy học cách đón nhận với lòng biết ơn mà không chiếm lấy vinh quang. Không cần phủ nhận sạch trơn, cũng không cần kể thêm thành tích. Chỉ cần chân thành cảm ơn và thầm dâng lời tạ ơn Chúa. Có thể tự nhắc mình rằng: “Điều tốt này là ân huệ Chúa ban và cũng là hoa trái từ sự nâng đỡ của nhiều người.” Khi bị chê, con hãy bình tĩnh xem xét điều gì đúng để sửa đổi. Đừng vì bảo vệ danh tiếng mà từ chối mọi góp ý. Người không tìm hư danh không sợ sự thật. Họ biết mình có giới hạn, có thể sai và cần được uốn nắn. Họ không xem lời góp ý như sự phủ nhận toàn bộ con người mình, nhưng như cơ hội để trưởng thành.
Trong đời sống đức tin, con càng phải tỉnh thức. Có thể con đọc kinh nhiều, tham dự thánh lễ, làm việc bác ái, phục vụ cộng đoàn, nhưng vẫn âm thầm tìm mình. Con có thể muốn người khác biết mình đạo đức, hiểu biết hoặc hy sinh. Con có thể khó chịu khi một người mới đến lại được chú ý hơn. Con có thể dùng lời Chúa để sửa người khác mà quên để lời Chúa sửa chính mình. Vì thế, mỗi ngày con cần xét lại ý hướng: “Tôi làm việc này để làm gì? Nếu không ai biết, tôi có còn làm không? Nếu người khác được khen thay tôi, tôi có vui không? Nếu công việc thành công mà tên tôi không xuất hiện, tôi có bình an không?” Những câu hỏi ấy không nhằm làm con sợ hãi, nhưng giúp tâm hồn con trở nên trong sáng hơn.
Mẹ Maria ơi, con nhận ra trong lòng con vẫn còn nhiều khát vọng hư danh. Con thích được khen, thích được nhìn nhận và dễ buồn khi người khác không chú ý đến những điều con đã làm. Có khi con nói rằng mình phục vụ Chúa, nhưng lại muốn người ta biết đến con. Có khi con tỏ ra khiêm nhường, nhưng trong lòng vẫn mong được nâng lên. Có khi con khó vui trước thành công của anh chị em, bởi con sợ mình trở nên mờ nhạt. Xin Mẹ dạy con biết sống dưới ánh mắt Chúa. Xin giúp con tin rằng một việc nhỏ được làm với tình yêu còn quý hơn một việc lớn được thực hiện chỉ để tìm tiếng khen. Xin cho con biết âm thầm gieo hạt, kiên nhẫn phục vụ và để Chúa quyết định mùa gặt.
Mẹ Maria ơi, xin dạy con biết nói như Mẹ: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Khi thành công, xin cho con biết tạ ơn. Khi được khen, xin cho con biết quy hướng về Chúa. Khi bị lãng quên, xin cho con vẫn trung thành. Khi người khác được nâng lên, xin cho con biết vui mừng. Khi phải làm những công việc nhỏ bé, xin cho con đừng xem thường. Khi phục vụ mà không được ghi nhận, xin cho con nhớ rằng Chúa nhìn thấy mọi sự. Khi bị hiểu lầm, xin cho con biết thinh lặng và phó thác, không tìm cách bảo vệ hình ảnh của mình bằng mọi giá.
Ngày hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, con xin tập không tìm hư danh. Con sẽ làm ít nhất một việc tốt trong âm thầm mà không nói cho ai biết. Con sẽ chân thành khen ngợi một điều tốt nơi người khác. Con sẽ không tìm cách kể lại công lao của mình. Con sẽ đón nhận một góp ý với thái độ bình tĩnh. Con sẽ dâng mọi thành công cho Chúa và không để một lời chê làm mình đánh mất bình an. Con xin nhớ rằng đời con không được đo bằng số người biết đến, nhưng bằng mức độ con đã yêu thương; không được định giá bằng tiếng vỗ tay, nhưng bằng lòng trung thành; không trở nên cao quý vì con đứng trên người khác, nhưng vì con biết cúi xuống để phục vụ.
Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi nỗi sợ bị quên lãng và khỏi cơn khát được tung hô. Xin thanh luyện mọi ý hướng trong con, để con làm điều tốt vì yêu mến Chúa và vì hạnh phúc của anh chị em. Xin cho con biết sử dụng mọi khả năng Chúa ban mà không kiêu căng, đón nhận mọi thành công mà không chiếm lấy vinh quang, chịu đựng mọi thất bại mà không thất vọng. Xin cho con được tự do trước lời khen tiếng chê, chỉ tìm kiếm thánh ý Chúa và niềm vui được thuộc về Ngài. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria Trinh Vương, xin làm cho cuộc đời con trở nên một bài ca Magnificat, để trong mọi sự, không phải tên con, nhưng Danh Chúa được nhận biết, yêu mến và tôn vinh. Amen.
NGÀY 21 – MẸ DẠY CON BƯỚC THEO CHÚA
Trong hành trình ba mươi ngày sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, hôm nay chúng ta cùng dừng lại bên Mẹ để học một bài học quan trọng, có thể nói là bài học quyết định toàn bộ đời sống đức tin của người Kitô hữu: Mẹ dạy con bước theo Chúa. Tin Chúa là điều cần thiết, yêu Chúa là điều cao quý, cầu nguyện với Chúa là điều không thể thiếu, nhưng tất cả những điều ấy phải dẫn đến một chọn lựa cụ thể, đó là bước theo Chúa mỗi ngày. Theo Chúa không chỉ là mang danh Kitô hữu, không chỉ là đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, không chỉ là thỉnh thoảng đến nhà thờ, đọc một vài kinh hay làm một số việc đạo đức. Theo Chúa là để cho Chúa đi trước, còn ta đi sau; là để Lời Chúa hướng dẫn suy nghĩ, lời nói, chọn lựa và hành động của ta; là can đảm từ bỏ những con đường không thuộc về Chúa để bước vào con đường mà Người mời gọi, dù con đường ấy đôi khi hẹp, khó khăn và có bóng dáng thập giá.
Đức Maria là người môn đệ đầu tiên và hoàn hảo nhất của Chúa Giêsu. Trước khi trở thành Mẹ của Chúa theo huyết nhục, Mẹ đã trở thành người môn đệ của Chúa bằng đức tin, bằng sự lắng nghe và bằng lời xin vâng trọn vẹn. Khi sứ thần Gabriel đến truyền tin, Mẹ chưa nhìn thấy toàn bộ con đường phía trước. Mẹ không biết cuộc đời mình sẽ thay đổi ra sao. Mẹ không biết người đời sẽ nghĩ gì, thánh Giuse sẽ phản ứng thế nào, những khó khăn nào sẽ xảy đến, hay lời tiên báo về Con Trẻ sẽ được thực hiện bằng cách nào. Mẹ chỉ biết rằng Thiên Chúa đang gọi và Mẹ đã đáp lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Từ giây phút ấy, Mẹ không còn đi theo kế hoạch riêng của mình nữa nhưng bước theo chương trình của Thiên Chúa. Lời xin vâng không chỉ được nói một lần rồi chấm dứt. Lời xin vâng ấy được Mẹ sống lại qua từng ngày, trong từng biến cố, từ mái nhà đơn sơ tại Nazareth đến Bêlem lạnh giá, từ cuộc trốn chạy sang Ai Cập đến những tháng năm âm thầm, từ tiệc cưới Cana đến con đường lên đồi Canvê, từ dưới chân thập giá đến nhà Tiệc Ly cùng các Tông đồ chờ đợi Chúa Thánh Thần.
Mẹ bước theo Chúa không phải trong một con đường đầy hoa hồng. Ngay từ khi Con Thiên Chúa đến trong lòng Mẹ, những thử thách đã bắt đầu. Mẹ phải đối diện với nguy cơ bị hiểu lầm, bị xét đoán, thậm chí bị loại trừ. Khi gần đến ngày sinh, Mẹ phải lên đường về Bêlem. Mệt mỏi, thiếu thốn, không tìm được chỗ trong quán trọ, Mẹ sinh Con trong cảnh nghèo khó của hang đá. Chưa kịp hưởng niềm vui yên ổn, Mẹ lại phải ôm Hài Nhi trốn sang Ai Cập giữa đêm khuya để tránh bàn tay sát hại của vua Hêrôđê. Theo Chúa với Mẹ là lên đường khi Chúa muốn, ở lại khi Chúa muốn, trở về khi Chúa muốn và chấp nhận sống trong âm thầm khi Chúa muốn. Mẹ không đòi Thiên Chúa phải giải thích mọi sự trước. Mẹ cũng không nói rằng khi nào hiểu hết thì Mẹ mới vâng phục. Mẹ bước đi trong đức tin, tin rằng Thiên Chúa biết đường và chương trình của Người luôn tốt đẹp, ngay cả khi con người chưa thể hiểu được.
Cuộc đời chúng ta cũng vậy. Nhiều khi ta muốn theo Chúa nhưng lại muốn Chúa đi theo ý mình. Ta xin Chúa chúc lành cho những kế hoạch ta đã vạch sẵn. Ta muốn Chúa mở những cánh cửa mà ta thích, ban cho ta những điều ta mong, đưa ta đến những nơi ta chọn. Khi mọi sự thuận lợi, ta vui vẻ nói rằng Chúa yêu thương ta. Nhưng khi những dự tính đổ vỡ, khi bệnh tật xảy đến, khi công việc thất bại, khi gia đình bất hòa, khi bị hiểu lầm hay khi lời cầu nguyện dường như chưa được đáp lại, ta bắt đầu nghi ngờ và muốn dừng bước. Ta quên rằng theo Chúa không phải là bắt Chúa đi trên con đường của ta, nhưng là ta bước vào con đường của Chúa. Có những đoạn đường ta không chọn nhưng Chúa lại dùng chính đoạn đường ấy để thanh luyện, đào tạo và đưa ta đến gần Người hơn.
Nhìn lên Đức Maria, ta thấy Mẹ không chọn con đường dễ dàng nhưng chọn con đường trung thành. Mẹ không tìm kiếm một cuộc sống nổi bật nhưng chọn một cuộc đời hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Sau biến cố tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền Thờ, Tin Mừng nói rằng Người trở về Nazareth và hằng vâng phục các ngài, còn Mẹ Maria thì ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Ba mươi năm tại Nazareth là ba mươi năm âm thầm. Không có những phép lạ vang dội, không có đám đông tung hô, không có những lời ca tụng của người đời. Chỉ có một mái nhà nghèo, những công việc quen thuộc và những ngày tháng bình thường. Thế nhưng chính nơi đời sống bình thường ấy, Mẹ vẫn đang bước theo Chúa. Mẹ bước theo Chúa trong việc chăm sóc gia đình, trong lao động, trong cầu nguyện, trong sự hiện diện và trong tình yêu âm thầm.
Điều đó dạy ta rằng bước theo Chúa không nhất thiết phải là làm những việc phi thường. Đa số chúng ta được mời gọi theo Chúa ngay trong những công việc rất nhỏ và rất quen. Người cha bước theo Chúa khi trung thành với gia đình, sống trách nhiệm, làm việc lương thiện và biết dành thời gian cho vợ con. Người mẹ bước theo Chúa khi âm thầm hy sinh, chăm sóc những người thân yêu mà không tính toán hơn thiệt. Người con bước theo Chúa khi biết kính trọng cha mẹ, chăm chỉ học hành, sống thật thà và tránh xa những điều xấu. Người trẻ bước theo Chúa khi can đảm giữ lòng trong sạch, không chạy theo lối sống hưởng thụ, không để mạng xã hội hay dư luận điều khiển cuộc đời mình. Người đau yếu bước theo Chúa khi biết kết hợp những đau đớn với thập giá của Chúa Giêsu. Người già bước theo Chúa bằng lời cầu nguyện, sự kiên nhẫn và thái độ bình an. Người tu sĩ, linh mục bước theo Chúa khi trung thành với ơn gọi, sống khiêm nhường, phục vụ đoàn chiên và không tìm vinh quang cho bản thân.
Theo Chúa là một hành trình, không phải chỉ là một cảm xúc nhất thời. Có những lúc ta rất sốt sắng, cảm thấy lòng đầy bình an và sẵn sàng làm mọi sự cho Chúa. Nhưng cũng có những lúc tâm hồn khô khan, cầu nguyện không cảm thấy gì, làm việc tốt nhưng không được ghi nhận, phục vụ nhưng bị hiểu lầm. Khi ấy, ta dễ nghĩ rằng Chúa đã bỏ mình hoặc con đường mình đang đi không còn ý nghĩa. Đức Maria dạy ta rằng người môn đệ không sống nhờ cảm xúc nhưng sống nhờ đức tin. Mẹ đã không rời bỏ Chúa Giêsu khi đám đông quay lưng, khi các môn đệ chạy trốn và khi Người bị kết án như một tội nhân. Mẹ vẫn bước theo Con trên con đường thập giá. Mỗi bước chân của Chúa Giêsu lên đồi Canvê cũng là một nhát đau trong trái tim Mẹ, nhưng Mẹ không bỏ cuộc. Mẹ không thể mang thập giá thay Con, nhưng Mẹ có thể hiện diện. Mẹ không thể ngăn những chiếc đinh, nhưng Mẹ có thể yêu đến cùng. Mẹ không thể thay đổi bản án của con người, nhưng Mẹ vẫn tin vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Có lẽ giây phút đứng dưới chân thập giá là lúc lời xin vâng của Mẹ đạt đến sự trọn vẹn sâu xa nhất. Ngày truyền tin, Mẹ xin vâng để đón Con Thiên Chúa vào lòng. Trên đồi Canvê, Mẹ xin vâng để trao Người Con ấy lại cho Chúa Cha. Ngày truyền tin, Mẹ đón nhận một lời hứa đầy hy vọng. Dưới chân thập giá, Mẹ đối diện với một thực tại dường như hoàn toàn thất bại. Tuy nhiên, Mẹ vẫn đứng đó. Tin Mừng không nói Mẹ ngã quỵ trong tuyệt vọng, nhưng nói Mẹ đứng gần thập giá Đức Giêsu. Cái đứng của Mẹ là cái đứng của đức tin, của tình yêu và của sự trung tín. Mẹ không hiểu hết nhưng Mẹ tin. Mẹ đau khổ nhưng không oán trách. Mẹ mất Con nhưng không mất Thiên Chúa. Chính vì thế, Mẹ trở thành người hướng dẫn tuyệt vời cho những ai muốn bước theo Chúa giữa thử thách.
Mẹ dạy ta rằng muốn bước theo Chúa, trước hết phải biết lắng nghe. Không ai có thể đi theo một người nếu không nghe tiếng người ấy. Giữa thế giới hôm nay, có quá nhiều tiếng nói đang tranh giành tâm trí và trái tim ta. Tiếng của quảng cáo bảo ta phải có thật nhiều mới hạnh phúc. Tiếng của dư luận bảo ta phải giống người khác mới được chấp nhận. Tiếng của ích kỷ bảo ta chỉ cần lo cho mình. Tiếng của tự ái bảo ta phải thắng, phải hơn, phải được công nhận. Tiếng của sợ hãi bảo ta đừng dấn thân, đừng tha thứ, đừng yêu thương vì có thể bị tổn thương. Còn tiếng Chúa thường rất nhẹ nhàng. Chúa mời ta sống chân thật, khiêm nhường, quảng đại, bao dung và trung tín. Nếu không có những khoảng thinh lặng, ta sẽ khó nhận ra tiếng Chúa. Đức Maria là người nữ của thinh lặng. Mẹ không nói nhiều nhưng Mẹ lắng nghe sâu. Mẹ ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Nhờ lắng nghe, Mẹ nhận ra đường Chúa và có sức bước đi.
Muốn bước theo Chúa, ta cũng phải biết từ bỏ. Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Từ bỏ chính mình không có nghĩa là coi thường bản thân hay hủy bỏ giá trị của mình. Từ bỏ chính mình là không để cái tôi ích kỷ làm chủ. Đó là biết bỏ ý riêng khi ý riêng trái với ý Chúa; bỏ một thói quen xấu; bỏ tính nóng nảy, kiêu căng, ghen tị, nói hành nói xấu; bỏ nhu cầu luôn phải được khen; bỏ thái độ chỉ muốn nhận mà không muốn cho. Có khi từ bỏ chỉ là im lặng trước một lời xúc phạm để giữ bình an. Có khi là chủ động làm hòa dù mình cảm thấy bị tổn thương. Có khi là bớt một cuộc vui để dành thời gian thăm người đau yếu. Có khi là từ chối một lợi ích bất chính để giữ lương tâm trong sạch. Có khi là chấp nhận thiệt thòi để bảo vệ sự thật. Những từ bỏ ấy có thể nhỏ bé trước mắt người đời, nhưng chính là những bước chân thật trên con đường theo Chúa.
Đức Maria đã từ bỏ nhiều điều. Mẹ từ bỏ sự an toàn của một cuộc đời đã được dự tính để đón nhận một sứ mạng lớn lao. Mẹ từ bỏ những đòi hỏi của bản thân để phục vụ bà Êlisabét. Mẹ từ bỏ sự yên ổn để lên đường đến Bêlem, sang Ai Cập rồi trở về Nazareth. Mẹ từ bỏ quyền giữ Con cho riêng mình để Chúa Giêsu lên đường thi hành sứ vụ. Mẹ chấp nhận đứng phía sau, không chiếm lấy ánh sáng, không tìm kiếm một vị trí giữa đám đông. Tại Cana, Mẹ nhận ra nhu cầu của đôi tân hôn và chỉ nói với những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó cũng là lời Mẹ nói với mỗi người chúng ta hôm nay. Mẹ không giữ ta lại bên Mẹ nhưng luôn đưa ta đến với Chúa Giêsu. Lòng sùng kính đích thực đối với Đức Maria không làm ta dừng lại nơi Mẹ mà giúp ta yêu Chúa hơn, nghe Lời Chúa hơn và can đảm thực hiện điều Chúa dạy.
Bước theo Chúa còn là bước theo Người trên con đường phục vụ. Chúa Giêsu không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Đức Maria cũng sống tinh thần ấy. Sau khi đón nhận lời truyền tin, Mẹ không khép mình trong niềm vui riêng nhưng vội vã lên đường đến miền núi để phục vụ bà Êlisabét. Người thật sự gặp Chúa sẽ không thể chỉ sống cho mình. Người thật sự theo Chúa sẽ biết nhìn thấy nhu cầu của người khác. Có những người ở ngay bên cạnh đang cần một lời hỏi thăm, một sự lắng nghe, một bàn tay nâng đỡ hay một sự tha thứ. Có những người không cần ta giảng nhiều nhưng cần ta sống tử tế. Có những người đã nghe rất nhiều lời về tình yêu Thiên Chúa nhưng lại chưa cảm nhận được tình yêu ấy qua cách cư xử của những người mang danh Kitô hữu.
Ta có thể đi lễ mỗi ngày nhưng vẫn chưa thật sự theo Chúa nếu ra khỏi nhà thờ mà tiếp tục sống gian dối, ích kỷ và vô cảm. Ta có thể đọc nhiều kinh nhưng chưa bước theo Chúa nếu không chịu tha thứ. Ta có thể làm nhiều việc đạo đức nhưng vẫn đứng yên nếu chỉ tìm tiếng khen. Ta có thể nói rất hay về Tin Mừng nhưng chưa đi trên đường Tin Mừng nếu lời nói làm người khác bị tổn thương. Theo Chúa không được đo bằng số lượng những lời ta nói về Chúa, nhưng bằng mức độ ta trở nên giống Chúa trong đời sống. Một người càng bước gần Chúa thì càng khiêm nhường, hiền lành, chân thật, biết thương xót và biết phục vụ. Nếu càng sống đạo lâu mà càng khó tính, xét đoán, kiêu căng và lạnh lùng, ta cần tự hỏi mình đang bước theo Chúa hay chỉ đang đi theo một hình ảnh do chính mình tạo ra.
Mẹ cũng dạy ta bước theo Chúa trong cộng đoàn. Sau khi Chúa Giêsu về trời, Mẹ hiện diện giữa các Tông đồ trong nhà Tiệc Ly. Các ông từng sợ hãi, từng bỏ chạy, từng tranh giành địa vị và có người đã chối Thầy. Mẹ không đứng đó để trách móc họ. Mẹ hiện diện để cầu nguyện cùng họ và chờ đón Chúa Thánh Thần. Theo Chúa không phải là một cuộc hành trình cô độc. Ta cần Giáo Hội, cần cộng đoàn, cần anh chị em nâng đỡ. Dĩ nhiên, cộng đoàn nào cũng có những giới hạn. Gia đình nào cũng có những bất đồng. Giáo xứ hay hội đoàn nào cũng có những con người chưa hoàn hảo. Nhưng ta không thể vì vài tổn thương mà rời bỏ cộng đoàn hay tự cho mình là người duy nhất đúng. Đức Maria dạy ta ở lại, cầu nguyện, kiên nhẫn và góp phần xây dựng sự hiệp nhất.
Bước theo Chúa còn đòi ta phải biết phân định. Không phải mọi con đường dễ dàng đều là đường Chúa muốn, và không phải mọi con đường khó khăn đều chắc chắn là ý Chúa. Ta cần cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, tham khảo những người khôn ngoan và nhìn vào hoa trái của chọn lựa. Con đường thuộc về Chúa sẽ dẫn ta đến sự thật, tình yêu, bình an sâu xa và tự do nội tâm, dù có thể phải trả giá. Con đường không thuộc về Chúa thường nuôi lớn sự ích kỷ, tham lam, kiêu ngạo, chia rẽ và bất an. Đức Maria luôn quy hướng về Thiên Chúa. Trong bài Magnificat, Mẹ không ca tụng bản thân nhưng ca ngợi những điều cao cả Chúa đã làm. Vì thế, khi đứng trước một chọn lựa, ta có thể tự hỏi: Điều này có giúp tôi yêu Chúa và yêu người hơn không? Điều này có làm tôi sống chân thật hơn không? Điều này có đem lại bình an cho lương tâm không? Điều này có phục vụ ích chung hay chỉ thỏa mãn cái tôi của tôi?
Theo Chúa cũng có nghĩa là chấp nhận đi từng bước. Đôi khi ta muốn thay đổi thật nhanh, muốn trở nên thánh thiện ngay lập tức, nhưng rồi thất vọng vì thấy mình vẫn yếu đuối và dễ sa ngã. Đức Maria nhắc ta rằng đời sống đức tin là một hành trình dài. Điều quan trọng không phải là chưa bao giờ vấp ngã, nhưng là sau mỗi lần vấp ngã biết đứng lên và trở về. Chúa không đòi ta phải nhìn thấy hết con đường. Người chỉ mời ta trung thành với bước chân hôm nay. Hôm nay hãy cầu nguyện chân thành hơn một chút. Hôm nay hãy nhẫn nại với một người làm ta khó chịu. Hôm nay hãy từ bỏ một lời nói gây tổn thương. Hôm nay hãy làm một việc tốt mà không cần ai biết. Hôm nay hãy can đảm nói không với một cám dỗ. Hôm nay hãy dành thời gian cho gia đình. Hôm nay hãy đến gần Chúa hơn. Những bước nhỏ được lặp lại trong tình yêu sẽ tạo thành một hành trình lớn.
Có những người muốn theo Chúa nhưng cứ chờ một ngày thuận lợi hơn. Họ nói khi nào bớt bận sẽ cầu nguyện, khi nào có điều kiện sẽ làm việc bác ái, khi nào người kia thay đổi họ sẽ tha thứ, khi nào cuộc sống ổn định họ sẽ dấn thân. Nhưng ngày ấy có thể không bao giờ đến. Chúa gọi ta bước theo Người ngay trong hoàn cảnh hiện tại, với những giới hạn, những thiếu thốn và cả những vết thương ta đang mang. Đức Maria đã không chờ mọi sự hoàn hảo mới xin vâng. Mẹ xin vâng giữa những điều chưa rõ ràng. Mẹ lên đường khi đang mang thai. Mẹ chăm sóc Chúa Giêsu trong cảnh nghèo. Mẹ đứng dưới chân thập giá giữa đau khổ. Mẹ cho thấy rằng chính trong thực tại cụ thể, ta có thể sống trọn vẹn cho Thiên Chúa.
Ngày hôm nay, Mẹ Trinh Vương hỏi mỗi người chúng ta: Con đang bước theo ai? Con đang để điều gì dẫn dắt cuộc đời con? Là tiếng Chúa hay tiếng của đám đông? Là Tin Mừng hay những giá trị chóng qua? Là tình yêu hay lòng ích kỷ? Là sự thật hay lợi ích riêng? Là con đường thập giá dẫn đến sự sống hay con đường dễ dãi dẫn đến trống rỗng? Có thể môi miệng ta nói rằng mình theo Chúa, nhưng đôi chân ta lại đang chạy theo tiền bạc, danh vọng, quyền lực, sự hưởng thụ hoặc lời khen của người đời. Mẹ mời ta dừng lại để nhìn hướng đi của mình. Không phải cứ đi nhanh là đi đúng. Không phải cứ thành công là đang ở trong ý Chúa. Điều quan trọng là ta đang đi về đâu và ai đang dẫn đường.
Lạy Mẹ Maria Trinh Vương, Mẹ đã bước theo Chúa từ Nazareth đến Bêlem, từ Ai Cập trở về quê nhà, từ những ngày âm thầm đến đồi Canvê, từ bóng tối của Thứ Sáu Tuần Thánh đến ánh sáng Phục Sinh. Xin Mẹ cầm tay con và dạy con biết bước theo Chúa. Khi con sợ hãi trước tương lai, xin Mẹ giúp con tin tưởng. Khi con mệt mỏi vì thử thách, xin Mẹ giúp con kiên trì. Khi con bị cám dỗ chọn con đường dễ dàng, xin Mẹ giúp con trung thành với Tin Mừng. Khi con vấp ngã, xin Mẹ nâng con đứng dậy. Khi con không hiểu đường Chúa, xin Mẹ dạy con biết suy niệm và chờ đợi. Khi con phải vác thập giá, xin Mẹ cùng đi với con. Khi con muốn quay lại, xin Mẹ nhắc con nhớ rằng Chúa Giêsu đang đi phía trước.
Lạy Mẹ, xin đừng để con chỉ yêu Chúa bằng lời nói, nhưng biết chứng minh tình yêu ấy bằng đời sống. Xin đừng để con chỉ đứng nhìn Chúa từ xa, nhưng can đảm bước theo Người. Xin đừng để con chỉ tìm Chúa trong những lúc bình an, nhưng biết nhận ra Người cả trong những ngày giông bão. Xin dạy con biết đi chậm lại để nghe tiếng Chúa, biết dừng lại để nâng đỡ người bên đường, biết cúi xuống để phục vụ và biết đứng vững khi gặp thập giá. Xin Mẹ dạy con hiểu rằng con đường theo Chúa có thể hẹp nhưng dẫn đến sự sống; có thể nhiều hy sinh nhưng đem lại tự do; có thể có nước mắt nhưng sẽ kết thúc trong niềm vui phục sinh.
Hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Mẹ, con xin chọn một bước cụ thể để theo Chúa. Con sẽ dành thời gian cầu nguyện và đọc Lời Chúa. Con sẽ từ bỏ một thói quen đang làm con xa Chúa. Con sẽ làm hòa với một người mà con đang giận. Con sẽ phục vụ một người đang cần giúp đỡ. Con sẽ chu toàn bổn phận của mình với lòng yêu mến. Con không xin được nhìn thấy cả con đường, chỉ xin đủ ánh sáng cho bước chân hôm nay. Con tin rằng khi bước theo Chúa cùng với Mẹ, con sẽ không lạc đường, bởi Mẹ luôn dẫn con đến gần Chúa Giêsu, Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
NGÀY 22 – MẸ DẠY CON MANG CHÚA ĐẾN CHO NGƯỜI KHÁC
Có một điều rất đẹp nơi Đức Maria mà mỗi người Kitô hữu cần phải học, đó là Mẹ không bao giờ giữ Chúa cho riêng mình. Sau khi thưa lời xin vâng và cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng, Mẹ đã không khép cửa ở lại trong căn nhà nhỏ bé của mình để tận hưởng niềm vui riêng tư. Mẹ đã vội vã lên đường, vượt qua những con đường miền núi khó khăn để đến thăm bà Êlisabét. Mẹ lên đường không phải chỉ để thăm hỏi một người chị họ, cũng không chỉ để giúp đỡ một người phụ nữ đang mang thai trong tuổi già, nhưng sâu xa hơn, Mẹ đã mang chính Chúa Giêsu đến cho gia đình ông Dacaria. Mẹ vừa bước vào nhà và cất lời chào, hài nhi Gioan đã nhảy mừng trong lòng mẹ, còn bà Êlisabét được tràn đầy Thánh Thần. Sự hiện diện của Mẹ đem lại niềm vui, bình an và ân sủng, bởi vì trong lòng Mẹ có Chúa. Mẹ không nói nhiều về mình, không kể những điều kỳ diệu vừa xảy ra trong cuộc đời mình, không tìm cách làm cho người khác chú ý đến mình. Mẹ chỉ âm thầm hiện diện, phục vụ và để cho Chúa trong lòng Mẹ chạm đến những người Mẹ gặp gỡ. Đó là cách Mẹ mang Chúa đến cho người khác.
Ngày hôm nay, Mẹ cũng dạy con rằng đã tin Chúa, đã đón nhận Chúa và đã có Chúa trong đời thì con không thể chỉ giữ Chúa cho riêng mình. Đức tin không phải là một kho báu để con cất kín trong chiếc tủ tâm hồn. Tình yêu của Chúa không phải là một ngọn đèn để con đặt dưới đáy thùng. Ơn cứu độ không phải là đặc quyền chỉ dành cho riêng con. Khi Chúa bước vào cuộc đời con, Người muốn con trở thành con đường để Người bước đến với người khác; trở thành một cánh cửa để người khác có thể gặp Người; trở thành một khí cụ nhỏ bé để tình yêu, lòng thương xót và bình an của Người được lan tỏa giữa cuộc đời. Có thể con nghĩ rằng mang Chúa đến cho người khác là phải làm những điều thật lớn lao, phải giảng thật hay, phải nói thật nhiều, phải có kiến thức sâu rộng hoặc phải thực hiện những công việc đặc biệt. Thế nhưng Mẹ Maria cho con thấy rằng mang Chúa đến cho người khác trước hết là mang một tâm hồn có Chúa đến giữa cuộc đời. Khi lòng con có Chúa, lời nói của con sẽ bớt cay nghiệt; ánh mắt của con sẽ bớt lạnh lùng; bàn tay của con sẽ biết mở ra; đôi chân của con sẽ biết lên đường; trái tim của con sẽ biết rung động trước nỗi đau của người khác. Khi lòng con có Chúa, sự hiện diện của con sẽ không trở thành gánh nặng, nhưng trở thành niềm an ủi; không gieo thêm chia rẽ, nhưng xây dựng hiệp nhất; không làm người khác tổn thương, nhưng giúp họ được chữa lành.
Mang Chúa đến cho người khác không nhất thiết phải bắt đầu từ những nơi xa xôi. Nơi đầu tiên con cần mang Chúa đến chính là gia đình của con. Có khi con rất nhiệt thành với công việc của giáo xứ, rất hăng say trong những hoạt động bác ái, rất vui vẻ với những người bên ngoài, nhưng khi trở về nhà, con lại dễ nổi nóng với cha mẹ, lạnh nhạt với vợ chồng, thiếu kiên nhẫn với con cái, khó chịu với anh chị em. Con nói về Chúa rất nhiều, nhưng những người sống gần con lại không cảm nhận được sự dịu dàng của Chúa nơi con. Con cầu nguyện mỗi ngày, nhưng bầu khí gia đình vẫn đầy căng thẳng vì những lời nói thiếu yêu thương của con. Con tham dự Thánh lễ đều đặn, nhưng vẫn cố chấp, hơn thua và không chịu tha thứ. Nếu như thế, con đang mang tên của Chúa mà chưa mang được tình yêu của Chúa. Mẹ dạy con hãy bắt đầu từ những điều rất nhỏ: một lời hỏi thăm chân thành, một bữa cơm được chuẩn bị bằng tình thương, một sự nhẫn nại trước những giới hạn của người thân, một lời xin lỗi khi con sai, một quyết định tha thứ khi bị tổn thương, một chút thời gian để lắng nghe người đang buồn, một sự hiện diện bên người đang đau bệnh. Những việc nhỏ ấy có thể không được ai khen ngợi, nhưng lại là những con đường rất thật để Chúa bước vào gia đình con.
Mang Chúa đến cho người khác cũng là mang niềm hy vọng đến cho những người đang tuyệt vọng. Chung quanh con có biết bao người đang âm thầm mang những nỗi đau mà con không nhìn thấy. Có người đang đau vì bệnh tật, có người đang khủng hoảng trong gia đình, có người vừa mất đi một người thân, có người thất bại trong công việc, có người bị phản bội, có người mang mặc cảm vì quá khứ, có người đang sống giữa đám đông nhưng tâm hồn lại vô cùng cô độc. Họ có thể vẫn cười, vẫn làm việc, vẫn nói chuyện bình thường, nhưng bên trong là một trái tim đang rạn vỡ. Mẹ dạy con đừng đi ngang qua nỗi đau của người khác với thái độ vô cảm. Đừng vội phán xét khi chưa hiểu câu chuyện của họ. Đừng dùng những lời đạo đức để che lấp sự thiếu quan tâm của mình. Đôi khi người đau khổ không cần con giải thích vì sao họ phải đau; họ chỉ cần con ngồi lại bên họ. Người thất bại không cần nghe con kể về những thành công của con; họ cần một lời khích lệ để có thể đứng lên. Người phạm lỗi không cần thêm một viên đá ném vào đời họ; họ cần một bàn tay giúp họ tìm lại con đường trở về. Khi con biết lắng nghe mà không kết án, biết đồng hành mà không áp đặt, biết nâng đỡ mà không kể công, lúc ấy con đang mang Chúa đến cho họ.
Mang Chúa đến cho người khác không có nghĩa là ép buộc người khác phải suy nghĩ, cầu nguyện và sống giống như con. Chúa không đến để cưỡng ép nhưng để mời gọi. Mẹ Maria cũng không áp đặt mình trên bất cứ ai. Mẹ hiện diện khiêm tốn và để cho ân sủng của Chúa âm thầm hoạt động. Có khi con quá nóng lòng muốn người khác thay đổi nên con trở nên khắt khe. Con dùng lời Chúa như một vũ khí để lên án, lấy luật lệ làm thước đo để loại trừ, lấy sự hiểu biết của mình để coi thường những người yếu đuối. Con tưởng rằng mình đang bảo vệ Chúa, nhưng có khi cách hành xử của con lại làm người khác sợ Chúa và xa Chúa hơn. Mẹ dạy con rằng chân lý phải luôn đi cùng tình yêu, sự sửa dạy phải đi cùng lòng thương xót, lời chứng phải đi cùng đời sống. Người khác có thể tranh luận với những điều con nói, nhưng rất khó phủ nhận một đời sống chân thành, khiêm nhường, bác ái và đầy lòng cảm thông. Một người Kitô hữu sống tử tế, công bằng, biết giữ lời, biết tôn trọng người khác, biết nhận lỗi và biết hy sinh sẽ trở thành một bài giảng sống động về Chúa giữa cuộc đời.
Có những lúc con muốn mang Chúa đến cho người khác, nhưng chính lòng con lại thiếu Chúa. Con nói về bình an trong khi tâm hồn đầy bất an. Con khuyên người khác tha thứ nhưng trong lòng vẫn giữ những oán hận cũ. Con nói về lòng thương xót nhưng lại không chấp nhận những yếu đuối của người sống bên cạnh. Con khuyên người khác cầu nguyện, còn đời sống cầu nguyện của con lại khô cạn. Con nói về sự khiêm nhường nhưng vẫn âm thầm tìm kiếm lời khen. Con muốn phục vụ, nhưng khi không được nhìn nhận thì lại buồn bực và bỏ cuộc. Mẹ nhắc con rằng con chỉ có thể trao cho người khác điều con thực sự có. Muốn mang Chúa đến cho người khác, trước tiên con phải để Chúa ở lại trong con. Con cần trở về với Thánh lễ, với Lời Chúa, với những phút cầu nguyện thinh lặng, với Bí tích Hòa giải, với sự xét mình chân thành. Con phải để Chúa thanh luyện những ý hướng không trong sáng, chữa lành những vết thương chưa được chữa lành, uốn nắn những góc cạnh còn cứng cỏi và lấp đầy những khoảng trống trong tâm hồn. Khi con ở lại với Chúa, con không cần phải cố gắng tỏ ra thánh thiện; chính Chúa sẽ tỏa sáng qua những điều rất bình thường nơi con.
Mẹ Maria đã mang Chúa đến cho người khác bằng sự phục vụ âm thầm. Mẹ ở lại nhà bà Êlisabét khoảng ba tháng, nghĩa là Mẹ không chỉ đến chào hỏi cho có lệ rồi vội vàng ra về. Mẹ ở lại để chia sẻ công việc, để nâng đỡ người chị họ trong những tháng ngày nặng nhọc, để biến niềm vui thiêng liêng thành những hành động cụ thể. Điều ấy nhắc con rằng tình yêu thật không chỉ dừng lại ở lời nói. Con có thể nói rằng con thương người nghèo, nhưng điều quan trọng là con có biết chia sẻ hay không. Con có thể nói rằng con quan tâm đến người bệnh, nhưng điều quan trọng là con có dành thời gian thăm hỏi hay không. Con có thể nói rằng con yêu gia đình, nhưng điều quan trọng là con có hiện diện với gia đình hay không. Con có thể nói rằng con yêu Giáo Hội, nhưng điều quan trọng là con có góp phần xây dựng sự hiệp nhất hay chỉ gieo thêm những lời chỉ trích. Mẹ không làm những điều ồn ào, nhưng từng công việc nhỏ của Mẹ đều chứa đựng tình yêu của Chúa. Khi con phục vụ bằng một trái tim khiêm tốn, không tính toán, không tìm tiếng khen và không chờ đợi đáp trả, con đang làm cho người khác gặp được Chúa.
Trong thời đại hôm nay, con còn được mời gọi mang Chúa đến cho người khác qua cách con sử dụng mạng xã hội. Mỗi lời con viết, mỗi hình ảnh con chia sẻ, mỗi bình luận con để lại đều có thể gieo một hạt giống tốt hoặc tạo nên một vết thương. Con có thể dùng mạng xã hội để loan truyền niềm vui, nâng đỡ người yếu đuối, chia sẻ những điều chân thật và tốt đẹp; nhưng con cũng có thể biến nó thành nơi phán xét, công kích, bêu xấu và lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng. Có những người đọc lời con viết rồi cảm thấy được khích lệ, nhưng cũng có thể có những người bị tổn thương vì sự nóng giận và thiếu thận trọng của con. Mẹ dạy con trước khi nói hoặc viết điều gì, hãy tự hỏi: lời này có đem người khác đến gần Chúa hơn không? Lời này có xây dựng sự hiệp nhất không? Lời này có tôn trọng phẩm giá của người được nhắc đến không? Lời này phát xuất từ tình yêu hay từ sự hơn thua? Không phải cứ đăng nhiều câu đạo đức là đã mang Chúa đến cho người khác. Đôi khi một lời nói hiền hòa, một thái độ tôn trọng, một sự im lặng đúng lúc và một quyết định không tham gia vào việc nói xấu lại là những lời chứng mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Mẹ cũng dạy con mang Chúa đến cho người khác bằng niềm vui. Đức tin không làm cho con trở nên u buồn, khép kín và nặng nề. Người có Chúa không phải là người không bao giờ gặp thử thách, nhưng là người vẫn giữ được hy vọng giữa thử thách. Niềm vui Kitô giáo không phải là tiếng cười hời hợt, cũng không phải là sự giả vờ rằng mọi chuyện đều tốt đẹp. Đó là niềm xác tín rằng dù cuộc đời có những đêm tối, Chúa vẫn hiện diện; dù con người có yếu đuối, lòng thương xót vẫn lớn hơn tội lỗi; dù sự chết có vẻ như là tiếng nói cuối cùng, Đức Kitô phục sinh đã mở ra con đường sự sống. Khi con sống niềm vui bình an, không than trách liên tục, không gieo sự bi quan, không làm cho người khác mệt mỏi vì những bất mãn của mình, con đang cho họ thấy rằng có một sức mạnh lớn hơn những khó khăn của cuộc đời. Một người có Chúa là người biết khóc với người đang khóc, nhưng cũng biết thắp lên một tia hy vọng để họ không tuyệt vọng.
Có khi con ngại mang Chúa đến cho người khác vì con thấy mình bất xứng. Con ý thức rằng đời con còn nhiều giới hạn, nhiều sa ngã và thiếu sót. Con sợ rằng người khác sẽ nhìn vào những yếu đuối của con mà từ chối điều con nói. Nhưng Mẹ nhắc con rằng Chúa không đòi con phải hoàn hảo rồi mới sai con đi. Người chỉ cần con chân thành, khiêm tốn và sẵn sàng để Người sử dụng. Con không mang chính mình đến cho người khác; con mang Chúa. Con không loan báo rằng con tốt lành; con làm chứng rằng Chúa giàu lòng thương xót. Con không kể về một đời sống không có vấp ngã; con kể về một Thiên Chúa luôn nâng con đứng dậy. Chính những vết thương đã được Chúa chữa lành có thể giúp con cảm thông hơn với những người đang bị tổn thương. Chính những lần con được tha thứ có thể giúp con biết tha thứ. Chính những lúc con được nâng đỡ có thể dạy con cách nâng đỡ người khác. Con chỉ cần đừng lấy những yếu đuối của mình làm lý do để đứng yên, nhưng hãy để Chúa biến chúng thành nơi biểu lộ quyền năng và lòng thương xót của Người.
Mẹ Maria mang Chúa đến cho bà Êlisabét không bằng những kế hoạch phức tạp, nhưng bằng một cuộc lên đường. Con cũng vậy, có thể con đã có nhiều dự định tốt đẹp nhưng vẫn chưa bắt đầu. Con muốn thăm một người bệnh nhưng cứ trì hoãn. Con muốn gọi điện hỏi thăm một người đang buồn nhưng cứ nghĩ để lúc khác. Con muốn hòa giải với một người thân nhưng lòng tự ái giữ chân con lại. Con muốn chia sẻ với người nghèo nhưng vẫn tính toán hơn thiệt. Con muốn phục vụ trong cộng đoàn nhưng lại sợ phiền, sợ mệt, sợ mất thời gian. Mẹ dạy con rằng tình yêu thật luôn có đôi chân. Tình yêu không chỉ là những cảm xúc đẹp trong lòng, nhưng là sự dám bước ra khỏi sự tiện nghi của mình để đến với người khác. Có những cuộc lên đường không cần đi xa, chỉ cần con bước sang phòng bên cạnh để hỏi thăm cha mẹ; bước ra khỏi cái tôi để xin lỗi; bước qua thành kiến để đón nhận một người; bước qua sự bận rộn để dành thời gian cho người đang cần con. Mỗi bước chân được thực hiện vì tình yêu đều có thể trở thành bước chân mang Chúa đến cho người khác.
Lạy Mẹ Maria Trinh Vương, Mẹ đã cưu mang Chúa trong lòng và đem Chúa đến cho gia đình bà Êlisabét. Xin dạy con biết đón Chúa vào đời con mỗi ngày, để từ sự kết hợp với Chúa, con có thể đem tình yêu của Người đến cho những người con gặp gỡ. Xin giúp con đừng chỉ nói về Chúa bằng môi miệng, nhưng biết làm chứng cho Chúa bằng đời sống. Xin cho lời nói của con đem lại sự nâng đỡ, ánh mắt của con đem lại sự cảm thông, đôi tay của con đem lại sự phục vụ và sự hiện diện của con đem lại bình an. Xin giữ con khỏi thái độ phô trương, tự mãn và áp đặt. Xin dạy con biết âm thầm như Mẹ, tế nhị như Mẹ, quảng đại như Mẹ và mau mắn lên đường như Mẹ. Xin cho con biết nhận ra những người đang cần được an ủi, những người đang cô đơn, những người đang đau khổ và những người đang mất hy vọng, để con không vô tình đi ngang qua họ.
Lạy Mẹ, hôm nay con xin trao cho Mẹ gia đình, cộng đoàn và những người con sẽ gặp. Xin Mẹ giúp con mang Chúa đến cho họ không chỉ bằng những lời đạo đức, nhưng bằng một trái tim biết yêu thương thật sự. Khi con muốn nổi nóng, xin dạy con biết dịu dàng. Khi con muốn phán xét, xin dạy con biết cảm thông. Khi con muốn khép lòng, xin dạy con biết mở ra. Khi con muốn tìm mình, xin dạy con biết quên mình để phục vụ. Khi con mệt mỏi, xin nhắc con rằng chỉ một việc nhỏ được làm bằng tình yêu cũng có thể đem lại ánh sáng cho một tâm hồn. Xin cho con biết sống sao để những người gặp con có thể cảm nhận được một chút bình an của Chúa, một chút lòng thương xót của Chúa và một chút niềm vui của Tin Mừng. Xin cho cuộc đời con trở thành một cuộc viếng thăm liên lỉ, trong đó con mang Chúa đến với người khác và đưa người khác đến gần Chúa hơn.
Hôm nay, con quyết tâm thực hiện một hành động cụ thể để mang Chúa đến cho người khác: con sẽ thăm hỏi một người đang đau yếu, gọi điện cho một người đang buồn, tha thứ cho một người đã làm con tổn thương, giúp đỡ một người đang gặp khó khăn hoặc nói một lời khích lệ với người đang thất vọng. Con sẽ không chờ đến khi có điều kiện hoàn hảo, nhưng sẽ bắt đầu từ điều nhỏ bé mà con có thể làm ngay hôm nay. Con tin rằng khi con thực hiện điều ấy với tình yêu chân thành, chính Chúa sẽ dùng sự nhỏ bé của con để chạm đến một tâm hồn. Mẹ Maria Trinh Vương ơi, xin cùng đi với con, để từng bước chân của con trở thành bước chân của người môn đệ, từng việc làm của con trở thành một lời loan báo Tin Mừng và cả cuộc đời con trở thành con đường đưa Chúa đến cho mọi người. Amen.
NGÀY 23 – MẸ DẠY CON TRUNG THÀNH
Trong cuộc đời, người ta có thể bắt đầu rất nhiều điều với tất cả sự nhiệt thành, nhưng không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để đi đến cùng. Có người khởi đầu một công việc với biết bao ước mơ, nhưng khi gặp trở ngại thì chán nản. Có người bắt đầu một mối tương quan bằng những lời hứa thật đẹp, nhưng khi phải hy sinh thì lại buông tay. Có người bước vào đời sống đức tin với lòng sốt sắng, nhưng chỉ cần một lời cầu xin chưa được đáp lại, một biến cố đau lòng xảy đến hay một chút thử thách kéo dài, họ đã hoang mang và muốn quay về. Bắt đầu thì tương đối dễ, nhưng trung thành mới là điều khó. Chính vì thế, trong ngày thứ hai mươi ba của hành trình sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, ta được mời gọi đến gần Mẹ để học một bài học rất quan trọng: Mẹ dạy con trung thành.
Cuộc đời Đức Maria là một hành trình trung thành không ngơi nghỉ. Mẹ không chỉ thưa lời “xin vâng” trong ngày truyền tin rồi thôi. Lời xin vâng ấy đã trở thành nhịp sống của Mẹ, theo Mẹ qua từng ngày bình thường, qua những chặng đường xa xôi, qua những biến cố không thể hiểu, qua những mất mát khiến trái tim tan nát và cả dưới chân thập giá. Khi sứ thần Gabriel đến với Mẹ, Mẹ đã đón nhận ý định của Thiên Chúa bằng một lòng tin khiêm tốn: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Mẹ không biết con đường phía trước sẽ ra sao. Mẹ không được cho biết mọi chi tiết. Mẹ cũng không nhận được một bản bảo đảm rằng đời Mẹ từ đó sẽ bình an, dễ dàng và được mọi người thấu hiểu. Mẹ chỉ biết rằng Thiên Chúa đang gọi, và Mẹ đã trao trọn cuộc đời mình cho Người. Sự trung thành của Mẹ bắt đầu từ lòng tín thác ấy.
Trung thành không có nghĩa là hiểu hết mọi điều. Trung thành là vẫn bước đi khi chưa nhìn thấy trọn con đường. Mẹ Maria đã mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, nhưng Mẹ phải đối diện với nguy cơ bị hiểu lầm, bị xét đoán và bị khước từ. Mẹ không dùng lời lẽ để bảo vệ mình. Mẹ không tìm cách chứng minh rằng mình đúng. Mẹ trao mọi sự trong tay Thiên Chúa. Thiên Chúa đã hành động nơi thánh Giuse, nhưng trước khi mọi sự được sáng tỏ, chắc chắn Mẹ đã trải qua những giây phút đầy lo âu và đau đớn. Mẹ trung thành không phải vì Mẹ không biết sợ, nhưng vì lòng tin của Mẹ lớn hơn nỗi sợ. Mẹ trung thành không phải vì mọi chuyện đều thuận lợi, nhưng vì Mẹ đã đặt đời mình vào tay Đấng trung tín.
Rồi Mẹ lên đường về Bêlem trong những ngày thai nghén. Đường xa, thân thể mệt mỏi, nơi ăn chốn ở thiếu thốn, nhưng Mẹ vẫn đi. Khi không tìm được chỗ trong quán trọ, Mẹ không trách móc. Khi phải sinh Con Thiên Chúa trong cảnh nghèo hèn, Mẹ không quay lưng với tiếng xin vâng của mình. Mẹ đã đón nhận Chúa Giêsu trong máng cỏ bằng tất cả tình yêu của một người mẹ và bằng đức tin của người nữ tỳ. Những gì xảy ra dường như không giống với điều người ta vẫn hình dung về một vị Vua. Không cung điện, không quyền lực, không tiếng tung hô của thế gian, chỉ có một Hài Nhi bé nhỏ, chuồng vật nghèo nàn, những người mục đồng đơn sơ và đêm tối lạnh lẽo. Nhưng Mẹ vẫn tin. Mẹ không để hoàn cảnh bên ngoài làm lung lay điều Thiên Chúa đã gieo vào lòng Mẹ.
Sự trung thành của Mẹ lại được thử thách khi vua Hêrôđê tìm giết Hài Nhi. Mẹ phải cùng thánh Giuse bồng Con trốn sang Ai Cập. Một lần nữa, Mẹ lên đường trong đêm tối. Mẹ trở thành người di cư nơi đất khách. Mẹ rời bỏ quê hương, gia đình, những gì quen thuộc để bảo vệ sự sống của Con. Mẹ không hỏi tại sao Thiên Chúa quyền năng lại để Con của Người bị đe dọa. Mẹ không đòi một con đường dễ dàng hơn. Mẹ chỉ lặng lẽ làm điều cần phải làm. Trung thành nhiều khi không phải là thực hiện những điều lớn lao trước mắt mọi người, nhưng là âm thầm chu toàn bổn phận giữa những hoàn cảnh không ai muốn đón nhận.
Sau những năm tháng lưu lạc, Mẹ trở về Nadarét và sống một cuộc đời bình thường. Ba mươi năm ẩn dật của Chúa Giêsu cũng là ba mươi năm trung thành âm thầm của Mẹ. Không có những biến cố chấn động mỗi ngày, không có đám đông tung hô, không có những dấu lạ liên tiếp xảy ra trong mái nhà Nadarét. Mẹ sống với những công việc rất đỗi quen thuộc: nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc gia đình, cầu nguyện, lao động và yêu thương. Nhưng chính trong những điều bình thường ấy, sự trung thành của Mẹ được thể hiện cách sâu sắc. Mẹ không cần được chú ý để tiếp tục yêu thương. Mẹ không cần được khen ngợi để chu toàn trách nhiệm. Mẹ không cần thấy ngay kết quả để tiếp tục gieo những hạt giống tốt lành. Mẹ hiểu rằng Thiên Chúa hiện diện cả trong những công việc nhỏ bé được làm với một tình yêu lớn.
Ngày nay, ta thường muốn làm những điều gây tiếng vang, nhưng lại dễ coi thường những bổn phận âm thầm. Ta muốn được trao những sứ mạng lớn, nhưng có khi lại thiếu trung thành với lời cầu nguyện mỗi ngày. Ta muốn thay đổi thế giới, nhưng lại không đủ kiên nhẫn để lắng nghe một người thân. Ta muốn phục vụ nhiều người, nhưng lại dễ cáu gắt với những người đang sống ngay bên cạnh. Ta muốn có một đời sống thiêng liêng sâu sắc, nhưng lại ngại dành thời gian thinh lặng trước Chúa. Ta thích những cảm xúc sốt sắng, nhưng lại buông xuôi khi tâm hồn khô khan. Nhìn vào Đức Maria, ta hiểu rằng sự thánh thiện không chỉ được tạo nên bởi những giây phút phi thường, nhưng còn bởi sự trung thành trong vô số điều nhỏ bé của đời thường.
Mẹ đã trung thành khi tìm kiếm Chúa Giêsu bị lạc trong Đền Thờ. Ba ngày không thấy Con là ba ngày trái tim Mẹ bị nghiền nát bởi lo âu. Khi gặp lại Con, Mẹ nghe một câu trả lời mà Mẹ chưa thể hiểu hết: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Tin Mừng nói rằng Mẹ ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ không chống lại. Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ tiếp tục yêu. Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ vẫn đồng hành với Con. Trung thành đôi khi là ở lại trong một mầu nhiệm chưa có lời giải đáp. Trung thành là không vội vàng khép lại một câu chuyện chỉ vì ta chưa hiểu cách Thiên Chúa đang hành động.
Trong đời sống của mỗi người, có những lúc ta cũng không hiểu Chúa. Ta cầu nguyện nhưng dường như Chúa im lặng. Ta cố gắng sống tốt nhưng vẫn gặp đau khổ. Ta trung thực nhưng lại chịu thiệt thòi. Ta yêu thương nhưng không được đáp lại. Ta hy sinh nhưng chẳng ai ghi nhận. Ta phục vụ nhưng lại bị hiểu lầm. Ta tự hỏi Chúa đang ở đâu và tại sao Chúa không can thiệp. Trong những lúc ấy, cám dỗ lớn nhất là bỏ cuộc, là ngừng cầu nguyện, là khép lòng, là cho rằng mọi hy sinh của mình đều vô ích. Mẹ Maria dạy ta đừng vội rời bỏ con đường chỉ vì chưa hiểu. Có những điều hôm nay ta không thể hiểu, nhưng trong ánh sáng của Thiên Chúa, một ngày nào đó ta sẽ nhận ra rằng Người chưa từng bỏ rơi ta.
Sự trung thành của Mẹ còn được biểu lộ trong tiệc cưới Cana. Khi nhận ra đôi tân hôn hết rượu, Mẹ đã kín đáo trình bày với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Câu trả lời của Chúa có vẻ như tạo ra một khoảng cách: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.” Nhưng Mẹ không mất lòng tin. Mẹ nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ tin vào Con ngay cả khi chưa thấy phép lạ. Mẹ không ép Chúa phải làm theo ý Mẹ, nhưng Mẹ tin rằng Chúa sẽ làm điều tốt đẹp nhất. Trung thành với Chúa không phải là buộc Chúa đáp ứng mọi mong muốn của mình, nhưng là tín thác rằng Chúa biết điều gì thực sự đem lại ơn cứu độ.
Khi Chúa Giêsu bắt đầu đời sống công khai, Mẹ phải chấp nhận để Con ra đi. Mẹ không giữ Chúa cho riêng mình. Mẹ không đòi hỏi Chúa phải luôn ở bên cạnh để chăm sóc Mẹ. Mẹ hiểu rằng Con thuộc về sứ mạng của Chúa Cha. Đây cũng là một hình thức trung thành rất cao cả: trung thành với ý Chúa ngay cả khi điều đó đòi ta phải từ bỏ điều mình yêu quý. Nhiều khi ta yêu một người nhưng lại muốn sở hữu người ấy. Ta phục vụ một cộng đoàn nhưng lại muốn cộng đoàn ấy lệ thuộc vào mình. Ta làm một công việc nhưng lại muốn công việc ấy trở thành nơi khẳng định giá trị cá nhân. Mẹ Maria yêu mà không chiếm giữ. Mẹ đồng hành mà không kiểm soát. Mẹ hiện diện mà không đặt mình vào trung tâm.
Đỉnh cao của sự trung thành nơi Mẹ là dưới chân thập giá. Trên đồi Canvê, mọi lời hứa dường như sụp đổ. Người Con mà sứ thần đã loan báo là Con Đấng Tối Cao, là Đấng sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, giờ đây bị treo trên thập giá như một tội nhân. Đám đông chế nhạo. Các môn đệ bỏ trốn. Những kẻ thù tưởng rằng họ đã chiến thắng. Mẹ đứng đó, nhìn Con hấp hối trong đau đớn. Tin Mừng không nói Mẹ đã kêu gào, cũng không kể Mẹ đã nói những lời oán trách. Tin Mừng chỉ nói Mẹ đứng gần thập giá. Hai chữ “đứng gần” diễn tả cả một cuộc đời trung thành. Mẹ không thể làm cho Con hết đau, nhưng Mẹ có thể ở lại. Mẹ không thể ngăn những chiếc đinh, nhưng Mẹ có thể yêu thương. Mẹ không thể thay đổi lòng người, nhưng Mẹ có thể không rời bỏ Con.
Ở lại là một hình thức trung thành rất đẹp. Khi mọi việc thuận lợi, người ta dễ ở bên nhau. Khi một người thành công, có nhiều người muốn làm bạn. Khi một cộng đoàn phát triển, có nhiều người muốn góp mặt. Khi một gia đình bình an, mọi người dễ vui vẻ. Nhưng khi thất bại xảy đến, khi bệnh tật kéo dài, khi danh dự bị tổn thương, khi một người trở nên yếu đuối, khi một cộng đoàn bước vào khủng hoảng, khi một gia đình gặp thử thách, lúc ấy mới biết ai thực sự trung thành. Mẹ Maria đã ở lại khi không còn gì để hy vọng theo cách nhìn của con người. Mẹ đứng đó không phải vì Mẹ vô cảm trước đau khổ, nhưng vì tình yêu của Mẹ mạnh hơn đau khổ.
Mẹ dạy con trung thành với Thiên Chúa. Sự trung thành ấy trước hết được thể hiện qua đời sống cầu nguyện. Không phải ngày nào ta cũng cảm thấy thích cầu nguyện. Có những ngày tâm hồn sốt sắng, nhưng cũng có những ngày khô khan. Có những lúc đọc một đoạn Tin Mừng, ta cảm thấy được đánh động sâu xa; nhưng cũng có lúc ta đọc mà chẳng thấy gì. Nếu chỉ cầu nguyện khi có cảm xúc, đời sống đức tin của ta sẽ rất mong manh. Mẹ dạy ta vẫn đến với Chúa, vẫn thinh lặng, vẫn đọc Lời Chúa, vẫn tham dự thánh lễ và vẫn đặt mình trước mặt Người ngay cả khi không cảm nhận được sự an ủi. Trung thành không dựa trên cảm xúc nhất thời, nhưng dựa trên một quyết định yêu thương bền vững.
Mẹ dạy con trung thành với ơn gọi của mình. Mỗi người được Thiên Chúa gọi trong một bậc sống khác nhau. Có người sống đời gia đình, có người sống đời thánh hiến, có người lãnh nhận chức linh mục, có người sống độc thân giữa đời để phục vụ. Ơn gọi nào cũng có vẻ đẹp và thập giá riêng. Lúc ban đầu, mọi sự có thể đầy hứng khởi, nhưng theo năm tháng, những khác biệt, giới hạn và mệt mỏi dần xuất hiện. Trung thành không có nghĩa là không bao giờ mệt. Trung thành cũng không có nghĩa là không bao giờ có những giây phút muốn buông xuôi. Trung thành là sau mỗi lần yếu đuối, ta lại trở về với lời cam kết ban đầu; sau mỗi lần vấp ngã, ta lại đứng lên; sau mỗi lần thất vọng, ta lại xin Chúa thanh luyện tình yêu của mình.
Trong đời sống gia đình, trung thành không chỉ là không phản bội nhau. Trung thành còn là tiếp tục quan tâm khi sự mới mẻ ban đầu đã qua, tiếp tục lắng nghe khi đã quá quen thuộc với nhau, tiếp tục nhẫn nại khi người bạn đời không thay đổi như mình mong muốn, tiếp tục chăm sóc nhau khi tuổi già và bệnh tật xuất hiện. Trung thành là không dùng những yếu đuối của nhau để làm tổn thương nhau. Trung thành là bảo vệ phẩm giá của nhau ngay cả trong lúc giận dữ. Trung thành là mỗi ngày lại lựa chọn yêu người mình đã chọn, không chỉ bằng lời nói nhưng bằng trách nhiệm, sự hy sinh và lòng bao dung.
Trong đời sống thánh hiến và linh mục, trung thành không phải chỉ là ở lại trong một cơ cấu hay mặc một tu phục. Trung thành là giữ cho ngọn lửa ơn gọi không bị dập tắt bởi thói quen, quyền lực, tiện nghi hay danh vọng. Có thể một người vẫn ở trong nhà dòng, vẫn thi hành công việc mục vụ, nhưng tâm hồn đã xa Chúa. Có thể một người vẫn giữ lịch làm việc rất dày, nhưng đời sống nội tâm đã khô cạn. Mẹ Maria mời gọi người môn đệ trở về với điều cốt lõi: ở lại trong Chúa, nghe Lời Chúa, để cho Chúa thanh luyện động lực phục vụ và tập làm mọi sự vì tình yêu chứ không vì được công nhận. Trung thành với ơn gọi là trung thành với Đấng đã gọi mình, chứ không chỉ trung thành với những công việc bên ngoài.
Mẹ dạy con trung thành với những người Thiên Chúa trao phó. Trong cuộc sống, có những tương quan làm ta vui, nhưng cũng có những tương quan khiến ta mệt mỏi. Có những người dễ thương, nhưng cũng có những người khó gần. Có những người biết ơn, nhưng cũng có những người vô tâm. Ta dễ trung thành với một người khi người ấy đáp lại tình yêu của ta, nhưng ta khó ở lại khi chỉ nhận về sự lạnh nhạt. Mẹ dạy ta yêu với một trái tim tự do. Trung thành không có nghĩa là dung túng cho điều sai trái hay chấp nhận bị xúc phạm vô hạn, nhưng là không để sự thất vọng biến ta thành người cay độc. Có những lúc ta cần giữ khoảng cách để bảo vệ sự bình an, nhưng ngay cả khi phải giữ khoảng cách, ta vẫn có thể cầu nguyện, tha thứ và mong điều tốt lành cho người kia.
Mẹ dạy con trung thành với những bổn phận nhỏ bé mỗi ngày. Một người có thể nói những lời rất cao đẹp nhưng lại thiếu trách nhiệm trong những việc bình thường. Có người hứa rất nhiều nhưng làm rất ít. Có người nhiệt tình khi được chú ý, nhưng chểnh mảng khi không ai giám sát. Có người chỉ làm tốt những việc mình thích, còn những việc âm thầm thì đùn đẩy cho người khác. Sự trung thành thật được nhìn thấy qua cách ta đúng giờ, giữ lời, hoàn thành công việc, chăm sóc những gì được trao, trung thực trong tiền bạc, có trách nhiệm với lời nói và biết xin lỗi khi sai. Những điều ấy có vẻ nhỏ, nhưng chính chúng làm nên phẩm chất của một con người.
Mẹ cũng dạy con trung thành trong lúc thất bại. Khi thành công, ta dễ tin rằng Chúa đang ở với mình. Khi thất bại, ta lại nghĩ rằng Chúa đã rời bỏ mình. Nhưng Thiên Chúa không chỉ hiện diện trong những thành công. Có khi chính thất bại làm ta trưởng thành hơn, khiêm nhường hơn và biết cậy dựa vào Chúa hơn. Mẹ Maria đã nhìn Con mình bị cả thế gian xem là thất bại trên thập giá, nhưng Mẹ không đánh mất niềm tin. Mẹ không biết chính xác buổi sáng Phục Sinh sẽ diễn ra thế nào, nhưng Mẹ vẫn hy vọng. Sự trung thành Kitô giáo luôn gắn với niềm hy vọng rằng Thiên Chúa có thể mở ra một con đường ngay cả khi mọi cánh cửa dường như đã đóng lại.
Nhiều người bỏ cuộc không phải vì thập giá quá nặng, nhưng vì họ phải vác thập giá quá lâu. Một nỗi đau bất ngờ có thể khiến ta khóc, nhưng một nỗi đau kéo dài có thể làm ta kiệt sức. Chăm sóc một người bệnh trong vài ngày đã khó, nhưng chăm sóc trong nhiều năm còn khó hơn. Cầu nguyện cho một người thay đổi trong vài tuần đã là thử thách, nhưng chờ đợi nhiều năm có thể làm ta nản lòng. Làm một việc tốt mà chưa thấy kết quả dễ khiến ta tự hỏi mình cố gắng để làm gì. Trong những lúc ấy, Mẹ đứng bên ta và nhắc rằng tình yêu thật luôn có sức chịu đựng. Không phải chịu đựng trong tuyệt vọng, nhưng chịu đựng trong niềm tin rằng không một điều thiện nào được làm trong Chúa lại trở nên vô nghĩa.
Tuy nhiên, trung thành không phải là sự cố chấp. Có người cứ bám lấy một lựa chọn sai lầm rồi gọi đó là trung thành. Có người bảo vệ cái tôi, danh dự hay quyền lợi của mình rồi nói rằng mình đang kiên định. Trung thành Kitô giáo luôn hướng về sự thật và tình yêu. Ta trung thành với Thiên Chúa chứ không trung thành với những thành kiến của mình. Ta trung thành với ơn gọi chứ không trung thành với cách làm đã trở nên lỗi thời. Ta trung thành với sứ mạng chứ không trung thành với quyền lực. Có những lúc để trung thành với Chúa, ta phải can đảm thay đổi chính mình, từ bỏ một thói quen xấu, sửa lại một cách cư xử và học một lối phục vụ mới.
Mẹ Maria trung thành vì Mẹ luôn lắng nghe. Người không lắng nghe sẽ dễ trung thành với ý riêng hơn là với ý Chúa. Nếu không cầu nguyện và phân định, ta có thể rất nhiệt thành nhưng lại đi sai đường. Mẹ luôn ghi nhớ và suy đi nghĩ lại những điều Thiên Chúa thực hiện. Mẹ không hành động hấp tấp. Mẹ để Lời Chúa soi sáng từng bước đi. Muốn sống trung thành, ta cũng phải thường xuyên trở về với Lời Chúa để kiểm tra hướng đi của mình. Ta cần hỏi: Điều tôi đang làm có thực sự đẹp lòng Chúa không? Cách tôi đối xử với người khác có phản ánh Tin Mừng không? Tôi đang phục vụ vì yêu Chúa hay vì muốn khẳng định mình? Tôi đang ở lại vì tình yêu hay chỉ vì sợ thay đổi? Những câu hỏi thành thật giúp sự trung thành của ta được thanh luyện và trưởng thành.
Mẹ dạy con đừng sợ bắt đầu lại. Trung thành không có nghĩa là chưa bao giờ sai. Thánh Phêrô đã từng chối Chúa, nhưng ông biết khóc lóc, sám hối và trở về. Người trung thành không phải là người không bao giờ ngã, nhưng là người không để cú ngã cuối cùng quyết định đời mình. Có thể ta đã nhiều lần thất hứa với Chúa. Có thể ta đã bỏ cầu nguyện, sống nguội lạnh, làm tổn thương người khác hoặc trốn tránh trách nhiệm. Đừng vì thế mà nghĩ rằng mọi sự đã hết. Hãy trở về. Hãy xin lỗi. Hãy sửa lại. Hãy bắt đầu từ một việc nhỏ. Thiên Chúa không mệt mỏi khi đón nhận người biết quay về.
Ngày hôm nay, ta hãy nhìn lại những điều mình đã cam kết. Ta đã hứa điều gì với Chúa? Ta đã hứa điều gì với gia đình? Ta đã nhận trách nhiệm nào trong cộng đoàn? Ta có đang âm thầm bỏ bê điều gì không? Có ai đang chờ một lời hỏi thăm, một sự hiện diện hay một lời xin lỗi của ta không? Có bổn phận nào ta cứ trì hoãn vì không còn hứng thú? Có lời cầu nguyện nào ta đã bỏ quên? Có một con người nào ta muốn từ bỏ chỉ vì họ không đáp ứng mong đợi của ta? Đừng cố sửa mọi thứ trong một ngày. Hãy chọn một điều cụ thể và thực hiện bằng tất cả lòng yêu mến.
Ta có thể bắt đầu bằng việc dành lại thời gian cầu nguyện mỗi sáng. Ta có thể trung thành tham dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Ta có thể hoàn thành một công việc đã hứa. Ta có thể gọi điện hỏi thăm cha mẹ, thăm một người đau yếu, giữ lời với con cái hay làm hòa với người thân. Ta có thể trở lại với một sứ vụ đã làm cách miễn cưỡng và xin Chúa ban cho mình một trái tim mới. Mỗi hành động nhỏ được lặp lại trong tình yêu sẽ dần tạo nên một con người trung thành.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã trung thành với Thiên Chúa từ ngày truyền tin cho đến dưới chân thập giá. Mẹ đã không rút lại lời xin vâng khi con đường trở nên khó khăn. Mẹ đã không bỏ cuộc khi không hiểu. Mẹ đã không rời xa Chúa Giêsu khi Người bị khước từ và đóng đinh. Xin Mẹ dạy con biết ở lại với Chúa trong những ngày vui cũng như những ngày buồn, trong lúc sốt sắng cũng như khi khô khan, trong thành công cũng như thất bại. Xin Mẹ giúp con trung thành với ơn gọi, với gia đình, với cộng đoàn và với những trách nhiệm Chúa đã trao.
Xin Mẹ gìn giữ con khỏi sự thay đổi thất thường của cảm xúc, khỏi lòng ham muốn những điều mới lạ và khỏi cám dỗ bỏ cuộc khi chưa thấy kết quả. Xin cho con hiểu rằng những việc nhỏ được làm mỗi ngày với tình yêu có giá trị hơn những lời hứa lớn lao nhưng chóng qua. Khi con mệt mỏi, xin Mẹ nâng đỡ. Khi con nghi ngờ, xin Mẹ giúp con nhớ lại những ơn lành Chúa đã ban. Khi con vấp ngã, xin Mẹ dẫn con trở về. Khi con muốn rời bỏ thập giá, xin Mẹ cho con biết nhìn lên Chúa Giêsu và học nơi Người tình yêu trung tín đến cùng.
Xin Mẹ dạy con biết trung thành không phải vì con mạnh mẽ, nhưng vì Thiên Chúa là Đấng trung tín. Người đã yêu con trước, đã gọi con, đã nâng đỡ con và sẽ không bao giờ bỏ rơi con. Xin cho con biết đặt bàn tay yếu đuối của mình trong bàn tay Mẹ, để từng ngày con tiếp tục bước đi trên con đường Chúa đã mở ra. Dù đường dài, dù có đêm tối, dù đôi lúc chỉ có thể tiến lên bằng những bước rất nhỏ, xin cho con vẫn không quay lại phía sau.
Hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, con xin thưa lại lời xin vâng của đời con. Con xin trung thành trong cầu nguyện, trung thành trong bổn phận, trung thành trong tình yêu, trung thành với sự thật và trung thành với con đường Chúa đã gọi con bước theo. Con không biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng con tin rằng Mẹ sẽ đồng hành và Chúa sẽ ban đủ ơn cho từng ngày. Xin cho con khi kết thúc hành trình trần thế cũng có thể khiêm tốn thưa với Chúa rằng: con đã chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa, đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin.
NGÀY 24 – MẸ DẠY CON ĐỨNG DẬY SAU VẤP NGÃ
Trong hành trình làm người và làm con Chúa, chẳng ai có thể tự hào rằng mình chưa từng vấp ngã. Có những vấp ngã đến từ sự yếu đuối của bản thân, có những vấp ngã vì một phút thiếu tỉnh thức, có những vấp ngã bởi ta quá tin vào sức riêng, cũng có những vấp ngã xảy đến khi ta tưởng mình đang đứng rất vững. Có người vấp ngã trong lời nói, có người vấp ngã trong cách cư xử, có người vấp ngã vì nóng giận, ghen tương, tự ái, tham lam, ích kỷ hay đam mê. Có người vấp ngã trước một cám dỗ tưởng rất nhỏ nhưng rồi lại để nó kéo mình đi rất xa. Có người vấp ngã trong đời sống gia đình, trong tình bạn, trong ơn gọi, trong trách nhiệm, trong đời sống đức tin và cả trong những quyết định quan trọng của cuộc đời. Vấp ngã vốn là kinh nghiệm chung của phận người, nhưng điều đáng sợ không phải chỉ là ngã xuống. Điều đáng sợ hơn cả là sau khi ngã, con người không còn muốn đứng lên; sau khi phạm lỗi, con người buông xuôi; sau khi thất bại, con người kết luận rằng đời mình đã hết; sau khi yếu đuối, con người không còn tin rằng Thiên Chúa vẫn có thể nâng mình dậy và làm cho cuộc đời mình trở nên tốt đẹp.
Hôm nay, trong ngày thứ hai mươi bốn của hành trình sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, Mẹ dạy ta một bài học rất cần thiết: hãy đứng dậy sau vấp ngã. Mẹ không dạy ta sống ảo tưởng rằng theo Chúa là sẽ không còn yếu đuối. Mẹ không bảo ta phải giả vờ mạnh mẽ khi tâm hồn đang tan vỡ. Mẹ cũng không thúc ép ta che giấu những thất bại của mình dưới một vẻ ngoài đạo đức. Mẹ dẫn ta về với sự thật: ta là những con người giới hạn, dễ tổn thương và có thể sa ngã. Nhưng Mẹ cũng nhắc ta rằng giới hạn không phải là bản án, lỗi lầm không phải là dấu chấm hết và vấp ngã không có quyền quyết định toàn bộ cuộc đời ta. Ta có thể đã ngã, nhưng ta vẫn còn có thể đứng lên. Ta có thể đã đi sai, nhưng ta vẫn có thể quay trở về. Ta có thể đã làm tổn thương người khác, nhưng ta vẫn có thể xin lỗi, sửa chữa và bắt đầu lại. Ta có thể đã phụ lòng Chúa, nhưng Chúa chưa bao giờ thôi yêu thương và chờ đợi ta.
Đức Maria không được Tin Mừng trình bày như một con người phải trải qua những sa ngã luân lý, bởi Mẹ được Thiên Chúa gìn giữ và luôn trung thành với ân sủng. Tuy nhiên, Mẹ đã đi qua rất nhiều thử thách, đau khổ, hụt hẫng và những hoàn cảnh có thể làm một con người bình thường quỵ ngã. Khi nghe lời sứ thần truyền tin, Mẹ phải đối diện với một tương lai hoàn toàn nằm ngoài dự tính. Khi cưu mang Ngôi Lời, Mẹ phải đón nhận nguy cơ bị hiểu lầm, bị khước từ và bị kết án. Khi đưa Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai Cập, Mẹ bước vào cảnh tha hương, bất an và nghèo khó. Khi lạc mất Con trong Đền Thờ, Mẹ đã đau khổ tìm kiếm suốt ba ngày. Khi Chúa Giêsu rời mái nhà Nadarét để lên đường thi hành sứ vụ, Mẹ phải học cách để Con thuộc trọn về chương trình của Chúa Cha. Khi đứng dưới chân thập giá, Mẹ chứng kiến Người Con vô tội bị sỉ nhục, đánh đập và đóng đinh. Mọi ước mơ tưởng như đã tan vỡ, mọi lời hứa tưởng như đã chìm trong bóng tối, nhưng Mẹ vẫn đứng đó. Tin Mừng không nói Mẹ gào thét, oán trách hay bỏ cuộc. Tin Mừng chỉ cho ta thấy Mẹ đứng dưới chân thập giá. Đứng không có nghĩa là Mẹ không đau. Đứng không có nghĩa là Mẹ không khóc. Đứng không có nghĩa là Mẹ không bị một lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn. Mẹ đứng vì Mẹ tin. Mẹ đứng vì Mẹ yêu. Mẹ đứng vì Mẹ đã trao cuộc đời cho Thiên Chúa và không rút lại lời xin vâng, ngay cả khi chẳng còn hiểu được điều gì đang xảy ra.
Mẹ dạy ta rằng đứng dậy sau vấp ngã không bắt đầu bằng việc chứng minh mình mạnh mẽ, nhưng bắt đầu bằng việc khiêm tốn nhìn nhận mình đã ngã. Rất nhiều người không thể đứng dậy vì không dám thừa nhận sự thật. Họ tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác, cho quá khứ, cho gia đình, cho cộng đoàn, cho xã hội hay thậm chí cho Thiên Chúa. Dĩ nhiên, trong một thất bại có thể có nhiều nguyên nhân và không phải lúc nào lỗi cũng hoàn toàn thuộc về một người. Tuy nhiên, nếu cứ mãi tìm người để trách móc, ta sẽ không bao giờ thực sự chữa lành. Khiêm tốn là dám nói: tôi đã sai; tôi đã nóng nảy; tôi đã làm người khác tổn thương; tôi đã không giữ lời; tôi đã sống ích kỷ; tôi đã thiếu trách nhiệm; tôi đã để cơn giận điều khiển; tôi đã chạy theo điều không thuộc về Chúa; tôi đã bỏ cầu nguyện; tôi đã để lòng mình nguội lạnh. Lời thú nhận chân thành không làm ta nhỏ bé đi. Trái lại, đó là bước đầu tiên đưa ta ra khỏi bóng tối.
Có những người sau khi phạm lỗi thì chìm sâu trong mặc cảm. Họ không chỉ nói: “Tôi đã làm một điều xấu”, nhưng dần dần lại kết luận: “Tôi là một con người xấu, tôi không còn giá trị, tôi không đáng được yêu thương, tôi không thể thay đổi.” Đó là một trong những cạm bẫy nguy hiểm nhất. Thiên Chúa làm cho ta biết đau đớn vì tội lỗi để ta trở về, còn ma quỷ dùng tội lỗi để làm ta tuyệt vọng. Thiên Chúa đánh thức lương tâm nhưng không nghiền nát con người. Thiên Chúa chỉ cho ta thấy vết thương để chữa lành, còn ma quỷ cứ bắt ta nhìn vào vết thương cho đến khi ta quên mất Đấng chữa lành. Thiên Chúa nói: “Con đã sai, hãy trở về với Cha.” Còn tiếng của bóng tối lại nói: “Con đã sai, vậy con không còn xứng đáng trở về nữa.” Mẹ Maria giúp ta phân biệt hai tiếng nói ấy. Mẹ không dung túng cho tội lỗi, nhưng Mẹ cũng không để ta tuyệt vọng. Mẹ đưa ta đến với Chúa Giêsu, Đấng đã đến không phải để kết án nhưng để cứu độ.
Đứng dậy sau vấp ngã cũng có nghĩa là tin rằng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của ta. Nhiều người tin Chúa tha thứ cho người khác nhưng lại không tin Chúa có thể tha thứ cho chính mình. Họ nghĩ tội của họ quá lớn, quá xấu hổ, quá nhiều lần tái phạm nên Thiên Chúa chắc đã mệt mỏi. Thế nhưng lòng thương xót của Chúa không vận hành theo sự kiên nhẫn giới hạn của con người. Chúa không đếm số lần ta quay về để rồi đến một lúc nào đó đóng cửa lại. Chúa chỉ mong ta trở về với một tâm hồn chân thành. Người con hoang đàng trong Tin Mừng không trở về với một quá khứ sạch sẽ. Anh trở về trong tình trạng rách rưới, đói khát và nhục nhã. Nhưng người cha không bắt anh đứng ngoài cổng để chịu phạt, không bắt anh kể hết mọi tội lỗi trước mặt mọi người, cũng không nhắc lại những tổn thương mà anh đã gây ra. Người cha chạy ra ôm lấy anh, trao áo mới, đeo nhẫn và mở tiệc. Không phải vì tội lỗi của anh không nghiêm trọng, nhưng vì tình yêu của người cha lớn hơn sự phản bội của người con.
Nhiều lần ta vấp ngã vì quá tin vào mình. Ta tưởng mình đã đủ trưởng thành, đủ đạo đức, đủ kinh nghiệm, đủ bản lĩnh để không còn sa ngã. Ta xem thường những cám dỗ nhỏ, bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo và không còn tha thiết cầu nguyện. Ta giống như Phêrô đã từng mạnh mẽ tuyên bố rằng dù mọi người bỏ Thầy, ông cũng sẽ không bỏ. Ông sẵn sàng vào tù và chết với Thầy. Nhưng chỉ ít giờ sau, trước câu hỏi của một người đầy tớ, ông đã ba lần chối không biết Chúa Giêsu. Phêrô đã ngã đúng nơi ông tưởng mình mạnh nhất. Ông từng nghĩ lòng trung thành của mình không gì lay chuyển nổi, nhưng rồi ông nhận ra sức riêng của mình quá mong manh. Điều cứu Phêrô không phải là một bản thành tích hoàn hảo, mà là ánh mắt của Chúa Giêsu và những giọt nước mắt sám hối. Phêrô đã khóc, nhưng ông không tuyệt vọng. Ông trở về với cộng đoàn. Ông đón nhận sự tha thứ. Ông để Chúa hỏi lại ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Và từ một người đã từng chối Thầy, ông trở thành người được trao nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên.
Cuộc đời ta cũng vậy. Chúa có thể biến chính những vấp ngã thành trường học của lòng khiêm nhường. Sau khi ngã, ta bớt xét đoán người khác. Sau khi được tha thứ, ta biết cảm thông hơn với những người yếu đuối. Sau khi trải qua đổ vỡ, ta biết trân trọng hơn những gì đang có. Sau khi thất bại, ta hiểu rằng thành công không hoàn toàn do tài năng của mình. Sau khi lạc đường, ta biết quý giá trị của việc được dẫn trở về. Thiên Chúa không muốn ta phạm tội để học bài học, nhưng một khi ta đã sa ngã, Người vẫn có thể dùng chính kinh nghiệm ấy để thanh luyện, uốn nắn và làm cho ta trưởng thành. Một trái tim từng tan vỡ nhưng được Chúa chữa lành thường biết yêu thương sâu sắc hơn. Một người từng được kéo lên khỏi vực sâu thường có thể chìa tay nâng đỡ người đang nằm dưới đáy.
Mẹ Maria dạy ta đừng nằm mãi bên cạnh vết thương. Có những người đã được tha thứ nhưng cứ sống như thể mình chưa bao giờ được tha. Họ lặp đi lặp lại lỗi lầm cũ trong đầu, tự trừng phạt bản thân và không cho phép mình bắt đầu lại. Họ nghĩ rằng giữ mãi cảm giác tội lỗi là một cách thể hiện lòng sám hối. Nhưng sám hối Kitô giáo không phải là giam mình trong quá khứ. Sám hối thật là quay về với Thiên Chúa, để Người đổi mới hiện tại và mở ra tương lai. Khi Chúa đã tha, ta cần học cách đón nhận sự tha thứ. Khi Chúa đã nâng dậy, ta đừng cố nằm xuống nữa. Khi Chúa mở cửa, ta đừng tự nhốt mình trong căn phòng mặc cảm. Tin vào lòng thương xót không phải là xem nhẹ tội lỗi, mà là tin tưởng quyền năng cứu độ của Chúa.
Tuy nhiên, đứng dậy không chỉ là cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm. Đứng dậy còn đòi hỏi quyết tâm sửa chữa. Nếu đã làm tổn thương ai, ta cần xin lỗi. Nếu đã lấy đi điều không thuộc về mình, ta cần hoàn trả. Nếu đã nói xấu người khác, ta cần ngừng lại và tìm cách phục hồi danh dự cho họ. Nếu đã thất hứa, ta cần sống có trách nhiệm hơn. Nếu đã để một thói quen xấu thống trị, ta cần cắt bỏ những dịp dẫn đến sa ngã. Nếu đã sống buông thả, ta cần lập lại kỷ luật cho đời mình. Nếu đã xa Chúa, ta cần trở về với cầu nguyện, Lời Chúa, các bí tích và đời sống cộng đoàn. Không thể nói mình đã đứng dậy mà vẫn tiếp tục nằm trong chính hoàn cảnh khiến mình sa ngã. Không thể xin Chúa giải thoát nhưng vẫn ôm chặt những sợi dây đang trói buộc. Không thể cầu xin bình an nhưng cứ nuôi dưỡng oán hận. Không thể xin một đời sống mới mà vẫn giữ nguyên những lựa chọn cũ.
Đứng dậy đôi khi phải bắt đầu bằng những bước rất nhỏ. Một người đang chìm trong thất vọng không thể ngay lập tức trở nên mạnh mẽ. Một người đã sống lâu năm trong một thói quen xấu không thể chỉ sau một đêm thay đổi hoàn toàn. Một gia đình đã trải qua nhiều tổn thương không thể chỉ bằng một lời xin lỗi mà mọi vết thương biến mất. Một ơn gọi đang khủng hoảng không thể chỉ nhờ một cảm xúc sốt sắng mà tìm lại được sự bình an. Mẹ Maria dạy ta kiên nhẫn. Hài Nhi Giêsu không lớn lên trong một ngày. Đời sống Nadarét được dệt nên từ những công việc nhỏ, những ngày bình thường, những hy sinh âm thầm và sự trung thành bền bỉ. Việc đứng dậy cũng thế. Hôm nay ta cầu nguyện lại một kinh. Hôm nay ta gọi điện xin lỗi một người. Hôm nay ta từ chối một dịp tội. Hôm nay ta hoàn thành một trách nhiệm còn bỏ dở. Hôm nay ta đến với bí tích Hòa Giải. Hôm nay ta nói một lời tử tế thay vì nổi nóng. Hôm nay ta không bỏ cuộc. Những bước nhỏ được lặp lại trong ân sủng sẽ dần dần tạo nên một con người mới.
Mẹ cũng dạy ta biết nhờ người khác nâng đỡ. Có lúc ta nghĩ mình phải tự đứng dậy để chứng minh bản thân. Nhưng đời sống đức tin không phải là hành trình cô độc. Chúa Giêsu đã thiết lập Hội Thánh như một cộng đoàn. Người trao cho ta những mục tử, những người bạn, những người thân, những người đồng hành để nâng đỡ nhau. Khi vấp ngã, đừng ngại tìm đến một người đáng tin cậy. Đừng giấu mãi nỗi đau cho đến khi nó trở thành bóng tối. Đừng để sự xấu hổ ngăn ta đến với bí tích Hòa Giải. Đừng để lòng tự ái khiến ta từ chối một bàn tay đang chìa ra. Có những lần Chúa nâng ta dậy qua một lời khuyên. Có những lần Chúa chữa lành ta qua sự hiện diện lặng lẽ của một người bạn. Có những lần Chúa trả lại hy vọng qua một ánh mắt cảm thông. Và cũng có những lần ta cần sự trợ giúp chuyên môn để vượt qua những tổn thương sâu xa của tâm lý và quá khứ. Tìm kiếm sự giúp đỡ không phải là yếu đuối, nhưng là khôn ngoan và khiêm tốn.
Đừng quên rằng có những vấp ngã không hoàn toàn do tội lỗi, nhưng là những thất bại, mất mát và đổ vỡ của cuộc sống. Một kỳ thi không đạt, một công việc thất bại, một kế hoạch không thành, một mối quan hệ tan vỡ, một lời từ chối, một căn bệnh, một sự hiểu lầm hay một biến cố bất ngờ đều có thể khiến ta mất thăng bằng. Khi ấy, đứng dậy không có nghĩa là phủ nhận đau khổ hay ép mình phải vui ngay. Đứng dậy là cho phép mình đau nhưng không để nỗi đau định nghĩa tương lai. Đứng dậy là chấp nhận có những điều không thể lấy lại nhưng vẫn còn những điều có thể xây dựng. Đứng dậy là nhìn vào cánh cửa đã đóng mà không quên rằng Thiên Chúa vẫn có thể mở một con đường khác. Đứng dậy là không đồng hóa thất bại của một công việc với sự thất bại của toàn bộ con người mình. Ta có thể thất bại trong một dự định, nhưng ta không phải là một kẻ thất bại. Ta có thể bị người khác từ chối, nhưng ta không phải là người không đáng được yêu thương. Ta có thể mất một cơ hội, nhưng Thiên Chúa chưa mất khả năng dẫn ta vào một tương lai mới.
Mẹ Maria đã đứng dưới chân thập giá khi mọi sự bên ngoài dường như là một thất bại hoàn toàn. Người ta chế nhạo Chúa Giêsu. Các môn đệ bỏ chạy. Đám đông từng tung hô nay quay lưng. Thân xác Chúa bị treo trên thập giá giữa hai người trộm cướp. Nếu nhìn bằng con mắt thế gian, đó là sự kết thúc nhục nhã. Nhưng chính nơi tưởng như thất bại ấy, ơn cứu độ đã được hoàn thành. Chính từ cạnh sườn bị đâm thâu, máu và nước đã chảy ra. Chính qua cái chết, sự sống được ban tặng. Chính sau chiều Thứ Sáu đau thương là bình minh Phục Sinh. Mẹ không nhìn thấy hết mầu nhiệm, nhưng Mẹ tin vào Thiên Chúa. Mẹ dạy ta rằng đừng vội kết luận về cuộc đời trong lúc đang đứng giữa ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Có thể hiện tại chỉ toàn bóng tối, nhưng câu chuyện của Chúa không kết thúc trong mồ. Có thể ta chưa thấy đường, nhưng Thiên Chúa vẫn đang làm việc. Có thể ta tưởng mọi sự đã mất, nhưng ân sủng có thể làm nảy sinh sự sống từ chính nơi khô cằn nhất.
Một trong những điều khiến con người không thể đứng dậy là cứ so sánh mình với người khác. Ta nhìn thấy thành công của họ nhưng không biết những lần họ đã khóc. Ta nhìn thấy sự vững vàng của họ nhưng không biết bao lần họ từng muốn bỏ cuộc. Ta nhìn thấy đời sống đạo đức của họ nhưng không biết cuộc chiến âm thầm trong lòng họ. Rồi ta tự trách mình vì sao yếu đuối hơn, chậm chạp hơn, nhiều lỗi lầm hơn. Mẹ Maria không dẫn ta đi trên con đường so sánh. Mẹ chỉ đưa ta về với ơn gọi riêng Chúa dành cho mỗi người. Điều quan trọng không phải là ta đứng dậy nhanh như ai, nhưng là ta thực sự đứng dậy. Điều quan trọng không phải là ta tiến được bao xa so với người khác, nhưng là hôm nay ta có tiến gần Chúa hơn hôm qua hay không. Thiên Chúa không đòi ta sống cuộc đời của người khác. Người chỉ mời gọi ta trung thành với con đường của mình.
Cũng đừng ngạc nhiên khi có những vấp ngã lặp lại. Có những điểm yếu ta đã chiến đấu nhiều năm nhưng vẫn còn đó. Có những cơn nóng giận, tự ái, sợ hãi, ham muốn hay thói quen cũ cứ quay lại. Điều này không có nghĩa mọi cố gắng đều vô ích. Một cuộc chiến kéo dài vẫn có thể là một cuộc chiến có ý nghĩa. Có thể trước đây ta ngã mỗi ngày, nay chỉ còn ngã mỗi tuần. Có thể trước đây ta nằm rất lâu, nay biết đứng dậy nhanh hơn. Có thể trước đây ta giấu lỗi, nay biết khiêm tốn xin lỗi. Có thể trước đây ta đổ lỗi, nay biết nhận trách nhiệm. Đó đều là những dấu hiệu của ân sủng. Chúa không chỉ nhìn vào số lần ta ngã, nhưng còn nhìn vào lòng khao khát đứng lên và chiến đấu của ta. Dẫu vậy, ta cũng không được lấy sự yếu đuối làm lý do để dễ dãi với bản thân. Lòng thương xót không phải là giấy phép để tiếp tục phạm tội. Chính vì được yêu thương, ta càng phải nghiêm túc thay đổi.
Khi thấy người khác vấp ngã, Mẹ Maria cũng dạy ta đừng vội ném đá. Người đã từng được Chúa nâng dậy phải biết chìa tay nâng người khác. Người đã từng được tha thứ phải biết tha thứ. Người biết mình yếu đuối sẽ không quá khắt khe với anh chị em. Điều đó không có nghĩa ta gọi điều sai là đúng hay dung túng cho sự dữ. Nhưng khi sửa lỗi, ta sửa trong tình yêu; khi góp ý, ta góp ý với lòng tôn trọng; khi thấy ai ngã, ta đừng vui mừng vì họ thất bại. Có những người không thể đứng dậy vì xung quanh họ chỉ có những lời kết án. Có những người mất hết hy vọng vì lỗi lầm của họ bị nhắc đi nhắc lại. Có những người muốn làm lại nhưng không được ai cho cơ hội. Người môn đệ của Chúa không được trở thành kẻ đẩy người khác xuống sâu hơn. Ta phải là người mở ra con đường trở về.
Mẹ Maria Trinh Vương không cai trị bằng quyền lực làm người khác sợ hãi. Mẹ là Nữ Vương của lòng thương xót, của sự dịu dàng và hy vọng. Vương quyền của Mẹ được biểu lộ trong việc Mẹ dẫn những người yếu đuối đến với Con của Mẹ. Khi ta ngã, Mẹ không đứng xa để kết án. Mẹ đến gần, như một người mẹ đến bên đứa con bị thương. Mẹ không bảo rằng vết thương chẳng có gì, nhưng Mẹ rửa sạch, băng bó và nâng con dậy. Mẹ không hứa rằng con đường sau này sẽ không còn đá sỏi, nhưng Mẹ dạy ta bước đi cẩn thận hơn, khiêm tốn hơn và bám chặt vào Chúa hơn.
Ngày hôm nay, mỗi người hãy nhìn lại xem mình đang nằm ở đâu. Có thể ta đang nằm trong một lỗi lầm cũ. Có thể ta nằm trong mặc cảm vì một quyết định sai. Có thể ta nằm trong sự thất vọng sau một thất bại. Có thể ta nằm trong nỗi buồn vì bị phản bội. Có thể ta nằm trong sự nguội lạnh của đời sống đức tin. Có thể ta vẫn đi lại, làm việc và cười nói bình thường, nhưng sâu trong lòng ta đã ngã quỵ từ lâu. Mẹ Maria đến và nói với ta: “Con hãy đứng dậy.” Không phải đứng dậy bằng sức riêng, nhưng bằng ân sủng của Chúa. Không phải đứng dậy để chứng minh cho người khác thấy, nhưng để tiếp tục sống ơn gọi Chúa trao. Không phải đứng dậy rồi tự hào rằng mình mạnh, nhưng để nhận ra rằng mình được nâng đỡ.
Hãy đứng dậy bằng một lời cầu nguyện chân thành. Hãy đứng dậy bằng việc xưng thú tội lỗi. Hãy đứng dậy bằng một lời xin lỗi. Hãy đứng dậy bằng việc tha thứ cho chính mình sau khi đã được Chúa tha thứ. Hãy đứng dậy bằng một quyết định cụ thể để tránh xa dịp tội. Hãy đứng dậy bằng cách tìm lại một người đồng hành. Hãy đứng dậy bằng việc thực hiện điều tốt đang ở ngay trước mắt. Hãy đứng dậy dù chân còn run, lòng còn đau và nước mắt chưa khô. Ta không cần phải đợi đến khi hoàn toàn mạnh mẽ mới bắt đầu lại. Chính khi bắt đầu lại, ta sẽ dần dần trở nên mạnh mẽ trong Chúa.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ của những người đang mệt mỏi và thất vọng, xin Mẹ đến bên con trong những lần con vấp ngã. Xin đừng để con chạy trốn Chúa vì xấu hổ, nhưng biết chạy về với lòng thương xót của Người. Xin dạy con khiêm tốn nhìn nhận lỗi lầm, thành tâm sám hối và can đảm sửa đổi. Xin giúp con tin rằng không có tội lỗi nào lớn hơn tình yêu của Chúa, không có thất bại nào có thể đóng lại tương lai khi con còn biết trở về. Khi con muốn buông xuôi, xin Mẹ nhắc con nhớ đến thập giá và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Khi con bị quá khứ ám ảnh, xin Mẹ giúp con sống giây phút hiện tại trong ân sủng. Khi con thấy người khác vấp ngã, xin cho con biết cảm thông, nâng đỡ và mở cho họ một con đường trở về. Xin Mẹ cầm tay con, nâng con lên và dẫn con bước tiếp. Con đã có thể ngã nhiều lần, nhưng nhờ Chúa và dưới sự hướng dẫn của Mẹ, con sẽ không nằm mãi trong tuyệt vọng. Con sẽ đứng dậy, bắt đầu lại và tiếp tục bước đi trên con đường yêu thương.
NGÀY 25 – MẸ DẠY CON SỐNG BIẾT ƠN
Có những điều trong cuộc đời, khi đang có trong tay, ta thường xem là bình thường; chỉ đến lúc mất đi, ta mới nhận ra đó là một hồng ân. Có những con người vẫn âm thầm ở bên ta, yêu thương, nâng đỡ và chịu đựng ta mỗi ngày, nhưng vì quá quen thuộc nên ta ít khi nói một lời cảm ơn. Có những ơn lành Chúa ban liên tục từ sáng đến tối, từ khi ta mở mắt thức dậy cho đến lúc bình an khép lại một ngày, thế mà lòng ta vẫn dễ bận tâm về điều còn thiếu hơn là vui mừng vì những gì mình đang có. Bởi vậy, trong ngày thứ hai mươi lăm của hành trình sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, Mẹ muốn dạy con một bài học rất đơn sơ nhưng cần thiết cho đời sống đức tin: bài học sống biết ơn. Biết ơn không chỉ là một lời nói lịch sự. Biết ơn là thái độ của một tâm hồn nhận ra rằng mình không tự làm nên chính mình, không tự mình có được mọi sự và cũng không thể sống mà không cần đến Thiên Chúa cũng như tha nhân. Người biết ơn là người ý thức rằng mỗi ngày mình đang sống là một món quà, mỗi hơi thở là một ân huệ, mỗi người gặp gỡ đều có thể trở thành khí cụ Chúa dùng để yêu thương, sửa dạy hoặc nâng đỡ mình.
Đức Maria là người nữ của lòng biết ơn. Khi sứ thần Gabriel đến truyền tin, Mẹ không tự hào vì được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ không xem đặc ân ấy như thành quả do công lao riêng của mình. Mẹ chỉ khiêm tốn thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời “xin vâng” ấy phát xuất từ một tâm hồn biết rằng tất cả đều là ân sủng. Mẹ không giữ ơn Chúa cho riêng mình nhưng lập tức lên đường đến thăm bà Êlisabét. Và tại nhà người chị họ, Mẹ đã cất lên lời kinh Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Mẹ không ngợi khen chính mình. Mẹ không kể công trạng của mình. Mẹ không nói rằng mình xứng đáng hơn người khác. Mẹ nhìn tất cả những gì đang xảy ra trong đời mình như công trình của Thiên Chúa: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Đó là đỉnh cao của lòng biết ơn: nhìn thấy bàn tay Chúa trong cuộc đời và quy hướng mọi vinh quang về cho Người.
Mẹ dạy con rằng muốn sống biết ơn, trước hết con phải biết dừng lại. Một người sống quá vội vàng sẽ khó nhận ra ân huệ. Khi chỉ mải chạy theo công việc, danh vọng, tiền bạc và những dự định riêng, con dễ xem mọi sự mình đang có là đương nhiên. Con xem sức khỏe là đương nhiên cho đến khi đau bệnh. Con xem gia đình là đương nhiên cho đến khi có người ra đi. Con xem tình bạn là đương nhiên cho đến khi cô đơn. Con xem một bữa cơm là đương nhiên cho đến khi chứng kiến người khác thiếu đói. Con xem tự do là đương nhiên cho đến khi bị giới hạn. Con xem Thánh lễ, bí tích, Lời Chúa và cộng đoàn đức tin là điều quen thuộc cho đến khi có lúc không còn cơ hội tham dự. Mẹ mời con sống chậm lại, không phải để lười biếng hay trốn tránh bổn phận, nhưng để nhận ra rằng cuộc đời được đan dệt bằng vô số ân huệ nhỏ bé. Một ánh nắng buổi sáng, một cơn mưa làm dịu đất trời, một lời hỏi thăm, một chén nước, một bữa cơm giản dị, một mái nhà, một người còn nhớ đến mình, một đêm ngủ bình an, một cơ hội sửa sai, tất cả đều có thể trở thành lý do để con tạ ơn.
Lòng biết ơn bắt đầu từ việc nhận ra mình đã được nhận lãnh. Người không biết ơn thường nghĩ rằng mọi điều tốt đẹp mình có đều do sức riêng, tài năng riêng và công lao riêng. Vì thế, họ dễ kiêu ngạo khi thành công, dễ trách móc khi thất bại và dễ khó chịu khi người khác không đáp ứng mong muốn của họ. Trái lại, người biết ơn hiểu rằng dù mình có cố gắng đến đâu, vẫn có biết bao điều nằm ngoài khả năng của mình. Con có thể gieo trồng nhưng không thể ra lệnh cho hạt giống nảy mầm. Con có thể chăm sóc thân thể nhưng không thể tự ban cho mình sự sống. Con có thể học hỏi, làm việc và tích lũy kinh nghiệm, nhưng tài năng, trí khôn, cơ hội, những người hướng dẫn và cả thời gian để thực hiện mọi việc đều là những món quà. Ý thức ấy không làm con thụ động, nhưng giúp con khiêm tốn hơn, quảng đại hơn và bớt xét đoán người khác hơn.
Mẹ cũng dạy con biết ơn không chỉ khi nhận được điều vừa ý. Tạ ơn trong những ngày bình an tương đối dễ; tạ ơn trong thử thách mới là dấu chỉ của một đức tin trưởng thành. Cuộc đời Đức Maria không chỉ có niềm vui của ngày Truyền Tin, cuộc gặp gỡ với bà Êlisabét hay đêm Bêlem có tiếng thiên thần hát mừng. Đời Mẹ còn có những ngày không tìm được chỗ trọ, những bước chân trốn sang Ai Cập, những năm tháng nghèo khó ở Nadarét, nỗi đau khi lạc mất Con, sự khó hiểu trước những lựa chọn của Chúa Giêsu và cuối cùng là đứng dưới chân thập giá nhìn Con mình chịu chết. Mẹ không biết ơn vì đau khổ tự nó là điều tốt. Mẹ biết ơn vì giữa đau khổ, Mẹ vẫn tin Thiên Chúa không bỏ rơi Mẹ và chương trình cứu độ của Người vẫn đang được thực hiện. Mẹ không hiểu hết nhưng vẫn tín thác. Mẹ không nhìn thấy ánh sáng ngay lập tức nhưng vẫn ở lại. Mẹ không đòi Chúa giải thích mọi sự rồi mới tin. Chính vì thế, lòng biết ơn của Mẹ không phụ thuộc vào hoàn cảnh thuận lợi, nhưng được đặt nền trên sự trung tín của Thiên Chúa.
Có khi con rất khó nói lời tạ ơn vì con đang mang trong lòng nhiều tổn thương. Con đã cầu nguyện nhưng chưa được như ý. Con đã sống tốt nhưng vẫn gặp hiểu lầm. Con đã tận tụy nhưng không được ghi nhận. Con đã yêu thương nhưng bị phản bội. Con đã hy vọng nhưng phải đối diện với mất mát. Trong những lúc ấy, Mẹ không bắt con giả vờ vui vẻ hay phủ nhận nỗi đau. Mẹ hiểu nước mắt của con, vì chính Mẹ đã từng bị lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn. Mẹ chỉ nhẹ nhàng nhắc rằng, ngay cả khi con chưa thể tạ ơn vì điều đang xảy ra, con vẫn có thể tạ ơn vì Chúa đang ở bên con trong điều ấy. Con có thể tạ ơn vì con chưa bị bỏ rơi. Con có thể tạ ơn vì vẫn còn một người lắng nghe. Con có thể tạ ơn vì sau mỗi vấp ngã, con vẫn còn cơ hội đứng dậy. Con có thể tạ ơn vì nỗi đau đang giúp con hiểu những người đau khổ hơn. Con có thể tạ ơn vì thử thách làm lộ ra những bám víu, kiêu ngạo và yếu đuối mà trước đây con chưa nhận thấy. Có những ân huệ chỉ được nhận ra sau một thời gian rất dài. Có những cánh cửa đóng lại để con tránh một con đường không phù hợp. Có những lần thất bại giúp con bớt tự mãn. Có những lần bị từ chối đưa con đến một sứ mạng khác tốt đẹp hơn. Có những mất mát không bao giờ hết đau, nhưng lại làm trái tim con trở nên nhân hậu và biết trân trọng hơn.
Mẹ dạy con biết ơn Thiên Chúa bằng một đời sống cụ thể, chứ không chỉ bằng lời nói. Có người đọc rất nhiều kinh tạ ơn nhưng vẫn phàn nàn suốt ngày. Có người nói mình biết ơn Chúa nhưng lại lãng phí sức khỏe, thời gian và tài năng Chúa ban. Có người cảm tạ vì được tha thứ nhưng lại không chịu tha thứ cho người khác. Có người xin Chúa cho mình có việc làm, đến khi có việc lại làm cách hời hợt. Có người xin Chúa cho gia đình bình an, nhưng khi trở về nhà lại chỉ đem theo sự cáu gắt. Lòng biết ơn chân thật phải biến thành trách nhiệm. Biết ơn sự sống thì phải biết bảo vệ sự sống. Biết ơn sức khỏe thì phải biết chăm sóc thân thể. Biết ơn thời gian thì đừng phung phí thời gian vào những điều vô ích. Biết ơn tài năng thì hãy dùng tài năng để phục vụ. Biết ơn của cải thì hãy biết chia sẻ. Biết ơn vì được Chúa thương xót thì hãy sống nhân từ với anh chị em. Biết ơn vì được nghe Lời Chúa thì hãy đem Lời ấy ra thực hành. Biết ơn vì được tham dự Thánh lễ thì hãy trở thành tấm bánh được bẻ ra cho người khác.
Mẹ cũng muốn con học cách biết ơn những người gần gũi nhất. Thật lạ, con thường dễ nói lời cảm ơn với người xa lạ nhưng lại quên nói với cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp hay những người cùng sống trong cộng đoàn. Vì quá quen, con nghĩ rằng họ phải làm điều đó cho con. Cha mẹ phải hy sinh cho con, người bạn đời phải quan tâm đến con, con cái phải vâng lời con, cộng sự phải hỗ trợ con, người phục vụ phải chu toàn trách nhiệm. Chính chữ “phải” ấy làm lòng biết ơn dần biến mất. Mẹ mời con nhìn lại: có biết bao người đã âm thầm chịu đựng tính khí của con, kiên nhẫn với những thiếu sót của con, cầu nguyện cho con khi con không hay biết, nhường nhịn con, làm thay con những công việc nhỏ bé, cho con một cơ hội, sửa lỗi cho con, bảo vệ danh dự của con hoặc chỉ đơn giản là hiện diện khi con cần. Một lời cảm ơn chân thành có thể chữa lành một mối quan hệ. Một sự ghi nhận đúng lúc có thể nâng đỡ người đang mệt mỏi. Một cử chỉ biết ơn có thể giúp người âm thầm phục vụ cảm thấy những hy sinh của họ không bị xem thường.
Tuy nhiên, biết ơn không phải là tâng bốc hay mắc nợ cách lệ thuộc. Mẹ không dạy con biết ơn để rồi đánh mất tự do, không dám nói sự thật hay chấp nhận điều sai trái. Lòng biết ơn chân chính luôn đi cùng sự khôn ngoan. Con có thể biết ơn một người vì điều tốt họ đã làm, nhưng không vì thế mà phải đồng lõa với những việc không đúng của họ. Con có thể trân trọng quá khứ nhưng vẫn cần bước ra khỏi một tương quan độc hại. Con có thể ghi nhận những gì mình đã nhận lãnh nhưng không để người khác dùng ân huệ ấy làm công cụ điều khiển hay xúc phạm phẩm giá của con. Đức Maria luôn biết ơn Thiên Chúa, nhưng Mẹ cũng sống trong sự tự do của người nữ thuộc trọn về Chúa. Lòng biết ơn đích thực không làm con trở thành nô lệ của con người; trái lại, nó giải thoát con khỏi sự ích kỷ, kiêu ngạo và thái độ coi mọi sự là đương nhiên.
Người biết ơn thường có một tâm hồn bình an hơn. Không phải vì họ không có khó khăn, nhưng vì họ không để khó khăn che khuất mọi điều tốt đẹp. Người hay than phiền nhìn một điểm tối rồi kết luận rằng cả cuộc đời chỉ là bóng tối. Người biết ơn vẫn nhìn thấy điểm tối, nhưng cũng nhận ra quanh đó còn có nhiều ánh sáng. Họ không phủ nhận điều mình thiếu, nhưng không quên điều mình có. Họ có thể buồn vì một cánh cửa đóng lại nhưng vẫn tạ ơn vì còn những con đường khác. Họ có thể đau vì một người ra đi nhưng vẫn trân trọng những năm tháng đã được sống bên nhau. Họ có thể thất vọng về bản thân nhưng vẫn cảm tạ vì Chúa cho họ cơ hội bắt đầu lại. Chính lòng biết ơn giúp con không bị lòng tham điều khiển. Khi không biết ơn, con luôn nghĩ mình cần thêm một chút nữa mới hạnh phúc: thêm tiền bạc, thêm lời khen, thêm quyền lực, thêm sự chú ý, thêm tiện nghi. Nhưng càng có, con lại càng muốn có hơn. Lòng biết ơn giúp con nhận ra rằng hạnh phúc không chỉ nằm ở việc sở hữu nhiều, nhưng ở khả năng nhận biết và trân trọng điều mình đang được trao ban.
Mẹ dạy con hãy tập tạ ơn từ những việc nhỏ. Mỗi sáng thức dậy, trước khi cầm điện thoại hay nghĩ đến công việc, con hãy nói: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì một ngày mới.” Khi dùng bữa, đừng chỉ đọc lời kinh cách máy móc, nhưng hãy nhớ đến những người đã vất vả để làm nên bữa ăn ấy. Khi gặp một người giúp đỡ mình, hãy nói lời cảm ơn ngay khi còn có thể. Khi một ngày kết thúc, hãy nhìn lại ít là ba điều tốt đẹp Chúa đã ban. Có thể đó chỉ là một cuộc trò chuyện nhẹ nhàng, một công việc hoàn thành, một người bệnh được đỡ hơn, một lần con kiềm chế được cơn nóng giận, một lời xin lỗi được đón nhận hay một phút con cảm thấy lòng mình bình an. Tập nhận ra những ân huệ nhỏ sẽ làm con nhạy bén hơn với sự hiện diện của Chúa. Dần dần, con sẽ hiểu rằng đời mình không phải là một chuỗi ngẫu nhiên vô nghĩa, nhưng là một hành trình được gìn giữ bằng tình yêu quan phòng.
Mẹ cũng mời con tập cảm ơn chính những người đã sửa dạy con. Điều này không dễ, vì ai cũng thích được khen hơn bị góp ý. Tuy nhiên, có những người dám nói thật vì họ quan tâm đến con. Có những lời góp ý làm con khó chịu nhưng lại giúp con tránh được một sai lầm lớn. Có những lần bị từ chối khiến con đau nhưng giúp con trưởng thành. Có những người không làm theo ý con, nhờ vậy con học được rằng thế giới không xoay quanh mình. Dĩ nhiên, không phải lời phê bình nào cũng đúng và không phải sự chống đối nào cũng có thiện ý. Nhưng ngay cả khi gặp một lời bất công, con vẫn có thể xin Chúa giúp mình nhìn xem có điều gì cần học. Mẹ đã “ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Mẹ không phản ứng vội vàng, không để cảm xúc nhất thời điều khiển, nhưng đem mọi sự vào trong cầu nguyện. Con cũng hãy học nơi Mẹ thái độ ấy để biết đón nhận cả điều dễ chịu lẫn điều làm mình tổn thương trong ánh sáng của Chúa.
Lòng biết ơn còn giúp con chữa lành ký ức. Có những người chỉ nhớ những gì người khác đã làm sai mà quên tất cả những điều tốt họ từng nhận được. Một lỗi lầm có thể xóa sạch trong tâm trí họ nhiều năm hy sinh. Một câu nói vô tình có thể che khuất hàng trăm cử chỉ yêu thương. Mẹ không bảo con quên đi những tổn thương cần được chữa lành, nhưng Mẹ dạy con đừng để sự cay đắng chiếm hết ký ức. Hãy nhìn một con người trong toàn bộ hành trình của họ, với cả ánh sáng lẫn bóng tối. Hãy nhớ rằng chính con cũng có những thiếu sót nhưng vẫn mong người khác nhìn nhận điều tốt nơi mình. Khi tập nhớ lại điều tốt người khác đã làm, con sẽ bớt khắt khe và dễ mở lòng hơn với sự tha thứ. Biết ơn không xóa bỏ công lý, nhưng giúp công lý không biến thành trả thù. Biết ơn không phủ nhận vết thương, nhưng không cho phép vết thương trở thành căn tính duy nhất của con.
Hôm nay, Mẹ mời con tự hỏi: Bao lâu rồi con chưa nói lời cảm ơn với Chúa bằng cả tấm lòng? Bao lâu rồi con chưa cảm ơn cha mẹ, người thân, người cùng sống hay những người đã âm thầm phục vụ con? Con đang tập trung quá nhiều vào điều chưa có mà quên những điều đang có không? Con có đang nghĩ rằng người khác phải hy sinh cho mình không? Con có thường xuyên than phiền, so sánh và bất mãn không? Con có biết sử dụng những ân huệ Chúa ban cách có trách nhiệm không? Con có thể tạ ơn Chúa ngay cả khi chưa hiểu hết những điều đang xảy ra không? Những câu hỏi ấy không nhằm làm con mặc cảm, nhưng giúp con trở về với sự thật: con là người đã được yêu thương rất nhiều. Dù cuộc đời có những thiếu thốn, dù con đã trải qua những thất vọng, vẫn có biết bao ân huệ đang nâng đỡ con từng ngày mà có thể con chưa nhận ra.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ của tâm hồn biết tạ ơn, xin dạy con biết nhìn cuộc đời bằng ánh mắt của Mẹ. Xin giúp con nhận ra những điều cao cả Thiên Chúa đã làm cho con, không chỉ trong những biến cố lớn lao nhưng cả trong những điều bình thường nhỏ bé. Xin chữa lành nơi con thói quen than phiền, sự ích kỷ, lòng tham và thái độ xem mọi sự là đương nhiên. Xin dạy con biết cảm ơn Chúa khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như khi thất bại, khi được nâng đỡ cũng như lúc phải bước đi trong đêm tối. Xin cho con biết trân trọng những người đang hiện diện bên mình, biết nói lời cảm ơn khi còn cơ hội, biết đáp lại ân tình bằng một đời sống yêu thương và phục vụ. Xin giúp con đừng chỉ biết ơn bằng môi miệng, nhưng bằng cách sử dụng tốt thời gian, sức khỏe, khả năng và những điều kiện Chúa đã trao ban. Xin cho đời con trở thành một bài ca Magnificat, không ca ngợi bản thân, nhưng loan báo rằng Đấng Toàn Năng đã làm cho con biết bao điều cao cả và danh Người thật chí thánh.
Ngày hôm nay, con hãy thực hiện một việc rất cụ thể: dành ít phút thinh lặng để ghi nhớ năm điều con muốn tạ ơn Chúa; sau đó, hãy chủ động nói lời cảm ơn với ít nhất một người mà lâu nay con đã vô tình xem sự hiện diện hoặc hy sinh của họ là điều đương nhiên. Đừng đợi đến khi mất đi mới biết trân trọng. Đừng đợi đến lúc chia xa mới nói lời biết ơn. Đừng đợi một dịp đặc biệt mới bày tỏ tình cảm. Một lời cảm ơn được nói hôm nay có thể trở thành niềm an ủi cho một tâm hồn đang mệt mỏi. Một cử chỉ biết ơn hôm nay có thể làm một mái nhà ấm hơn, một cộng đoàn gần nhau hơn và chính lòng con cũng bình an hơn. Dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, xin cho con học sống mỗi ngày như người đã được nhận lãnh tất cả từ tình yêu Thiên Chúa, để từng lời nói, từng việc làm và cả cuộc đời con trở thành lời tạ ơn không ngừng dâng lên Người.
NGÀY 26 – MẸ DẠY CON YÊU NGƯỜI NGHÈO
Có những người nghèo mà ta dễ nhận ra vì họ không có cơm ăn, không có áo mặc, không có mái nhà che mưa che nắng. Nhưng cũng có những người nghèo sống ngay bên cạnh ta mà ta không hề nhận biết. Đó có thể là một người già có đủ tiền bạc nhưng không có ai ngồi bên cạnh để lắng nghe; một đứa trẻ có đầy đủ đồ chơi nhưng thiếu vòng tay yêu thương của cha mẹ; một người bệnh nằm trong căn phòng sạch sẽ nhưng ngày ngày phải đối diện với nỗi cô đơn; một người đang cười nói vui vẻ nhưng trong lòng mang những vết thương không biết chia sẻ cùng ai. Nghèo không chỉ là thiếu vật chất. Nghèo còn là thiếu tình thương, thiếu sự cảm thông, thiếu niềm hy vọng, thiếu một ánh mắt nhìn mình như một con người có phẩm giá. Hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, ta được mời gọi học nơi Mẹ một bài học rất đẹp, rất gần gũi nhưng cũng rất khó thực hành: yêu người nghèo bằng một tình yêu chân thành, khiêm tốn và cụ thể.
Đức Maria là một người nữ nghèo. Mẹ không sinh ra trong một gia đình quyền quý, không sống giữa giàu sang, cũng không có địa vị nổi bật trong xã hội. Mẹ chỉ là một thiếu nữ bình thường ở làng Nadarét, một ngôi làng nhỏ bé đến nỗi người ta từng nghi ngờ rằng từ nơi ấy có thể xuất hiện điều gì tốt đẹp. Mẹ sống đời sống giản dị, âm thầm, lao động bằng đôi tay và tin tưởng vào Thiên Chúa. Khi được truyền tin sẽ trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ không được hứa ban một cung điện, một cuộc sống giàu sang hay một tương lai không có thử thách. Mẹ chỉ nhận được lời bảo đảm rằng Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Chính trong sự nghèo khó ấy, Mẹ đã mở lòng hoàn toàn cho Thiên Chúa. Mẹ không có nhiều của cải để bám víu nên Mẹ đặt tất cả niềm tin nơi Chúa. Mẹ không tìm sự an toàn nơi những gì mình sở hữu nhưng tìm sự bình an trong việc thuộc trọn về Thiên Chúa. Vì đã sống nghèo, Mẹ hiểu được người nghèo. Vì từng nếm trải thiếu thốn, Mẹ biết nhìn thấy những thiếu thốn của tha nhân. Vì từng phải đi tìm một chỗ trọ trong đêm Bêlem mà không ai đón tiếp, Mẹ hiểu nỗi đau của người bị khước từ. Vì từng phải sinh Con trong máng cỏ nghèo hèn, Mẹ hiểu hoàn cảnh của những bà mẹ không có điều kiện chăm sóc con mình. Vì từng phải bồng Con chạy trốn sang Ai Cập, Mẹ hiểu thân phận của người di dân, người tị nạn và những gia đình phải rời bỏ quê hương trong bất an.
Mẹ yêu người nghèo không phải bằng những lời nói hoa mỹ nhưng bằng chính đời sống của Mẹ. Khi nghe tin bà Êlisabét đang mang thai trong tuổi già, Mẹ lập tức lên đường. Mẹ không nghĩ đến sự mệt nhọc của mình, không viện lý do rằng mình cũng đang mang thai, không chờ người khác lên tiếng cầu xin. Mẹ nhìn thấy nhu cầu và Mẹ đi. Mẹ đến không phải để được ca ngợi nhưng để phục vụ. Mẹ ở lại với bà Êlisabét khoảng ba tháng, chia sẻ những công việc hằng ngày, nâng đỡ người chị họ trong những tháng cuối của thai kỳ. Đó là cách Mẹ yêu người nghèo: yêu bằng sự hiện diện, yêu bằng thời gian, yêu bằng đôi tay, yêu bằng sự hy sinh âm thầm. Người nghèo đôi khi không chỉ cần tiền. Họ cần một người chịu dừng lại, một người không vội vàng, một người sẵn sàng bước vào hoàn cảnh của họ và ở lại với họ. Ta có thể cho người nghèo một ít tiền rồi đi ngay, nhưng để ngồi lại nghe họ kể chuyện, để nhìn vào mắt họ, để gọi họ bằng tên và đối xử với họ như một người anh chị em, điều đó đòi ta phải có một trái tim thật sự biết yêu.
Tại tiệc cưới Cana, Đức Maria lại cho thấy sự nhạy cảm của một trái tim luôn hướng về những người đang gặp khó khăn. Chủ tiệc không lên tiếng xin Mẹ giúp đỡ. Có lẽ phần đông khách dự tiệc vẫn chưa hay biết rằng rượu đã hết. Nhưng Mẹ nhận ra. Mẹ thấy được sự bối rối của gia đình đôi bạn trẻ, thấy nguy cơ niềm vui ngày cưới biến thành sự xấu hổ. Mẹ không trách họ tính toán thiếu sót, không phê bình người phục vụ, cũng không kể chuyện ấy cho nhiều người nghe. Mẹ âm thầm đến với Chúa Giêsu và nói: “Họ hết rượu rồi.” Câu nói thật ngắn nhưng chứa đựng một tình yêu lớn lao. Mẹ không xin gì cho mình. Mẹ chỉ trình bày nỗi thiếu thốn của người khác. Người nghèo cần những con người giống như Mẹ, những người biết nhận ra nỗi đau trước khi họ phải van xin, biết giữ gìn phẩm giá của họ, biết giúp đỡ kín đáo để họ không bị tổn thương. Có những cách cho làm người nhận thấy mình thấp kém. Có những lời giúp đỡ lại khiến người nghèo cảm thấy bị xúc phạm. Có những món quà được trao đi chỉ để người cho chụp hình, kể công hoặc tìm sự tán thưởng. Đức Maria dạy ta rằng tình yêu thật không phô trương. Tình yêu thật bảo vệ phẩm giá của người được yêu. Tình yêu thật giúp người khác mà không biến họ thành phương tiện để tô đẹp hình ảnh của mình.
Yêu người nghèo trước hết là nhận ra nơi họ hình ảnh của Thiên Chúa. Người nghèo không phải là một gánh nặng xã hội, không phải là những con số trong một bản báo cáo, cũng không phải là đối tượng để ta ban ơn. Họ là anh chị em của ta. Họ có tên gọi, có một cuộc đời, có những ước mơ, có những nỗi đau và có phẩm giá bất khả xâm phạm. Khi ta cúi xuống phục vụ người nghèo, không phải ta từ trên cao ban phát cho người thấp hơn, nhưng ta đang gặp chính Chúa Giêsu hiện diện trong một hình thức âm thầm và bé nhỏ. Người nghèo trao cho ta cơ hội bước ra khỏi sự ích kỷ của mình. Người nghèo giúp ta hiểu rằng của cải không phải là điều quan trọng nhất. Người nghèo nhắc ta nhớ rằng con người không sống chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn nhờ tình yêu, lòng thương xót và sự liên đới. Người nghèo cũng có thể trao cho ta rất nhiều điều: sự kiên nhẫn, lòng quảng đại, niềm tin, khả năng biết đủ và niềm vui từ những điều nhỏ bé. Nhiều khi ta tưởng mình đến để giúp người nghèo nhưng rồi chính họ lại giúp ta trở thành người hơn, biết cảm thông hơn và biết tạ ơn hơn.
Điều khó nhất không phải là yêu người nghèo ở một nơi xa xôi mà là nhận ra người nghèo đang ở ngay trong nhà mình, trong cộng đoàn mình và trên con đường mình đi qua mỗi ngày. Có thể cha mẹ ta đang nghèo một cuộc điện thoại hỏi thăm. Có thể người bạn đời đang nghèo một lời cảm ơn. Có thể con cái đang nghèo sự hiện diện của cha mẹ. Có thể một người anh em trong cộng đoàn đang nghèo sự cảm thông vì ai cũng nhìn thấy khuyết điểm nhưng không ai hiểu được những tổn thương bên trong. Có thể một người hàng xóm đang nghèo một lời chào, một nụ cười và một chút quan tâm. Có thể người làm công đang nghèo sự tôn trọng. Có thể một người lầm lỗi đang nghèo một cơ hội để bắt đầu lại. Có thể một người bị mọi người xa lánh đang nghèo một người dám ngồi cạnh. Yêu người nghèo không nhất thiết bắt đầu bằng những việc lớn lao. Nó bắt đầu bằng việc mở mắt ra để nhìn, mở tai ra để nghe và mở lòng ra để cảm. Một bữa cơm được chia sẻ, một chiếc áo được trao tặng, một khoản học phí được nâng đỡ, một người bệnh được thăm viếng, một người thất nghiệp được giới thiệu công việc, một cụ già được đưa đi khám bệnh, một em nhỏ được đến trường, một người tuyệt vọng được lắng nghe: những việc ấy có thể nhỏ bé trong mắt người đời nhưng lại lớn lao trước mặt Thiên Chúa.
Đức Maria cũng dạy ta yêu người nghèo bằng cách sống giản dị và biết chia sẻ. Ta không thể thật sự yêu người nghèo nếu lúc nào cũng chạy theo sự hưởng thụ, nếu lòng ta luôn bị ám ảnh bởi việc phải có nhiều hơn, dùng đồ tốt hơn, ăn uống sang trọng hơn và được người khác nhìn nhận hơn. Khi nhu cầu của ta cứ tăng lên mãi, ta sẽ luôn cảm thấy không đủ để chia sẻ. Ta có thể có rất nhiều nhưng vẫn nói rằng mình chưa có khả năng giúp ai. Trong khi đó, một người có ít nhưng có trái tim rộng lại có thể sẻ chia cách quảng đại. Sống đơn sơ không có nghĩa là phủ nhận mọi tiện nghi hay coi thường những điều tốt đẹp. Sống đơn sơ là biết đâu là đủ, biết sử dụng của cải như phương tiện chứ không biến nó thành ông chủ, biết tiết chế những nhu cầu không cần thiết để có thể dành phần cho người khác. Một bữa ăn bớt xa hoa có thể trở thành bữa cơm cho một gia đình nghèo. Một món đồ chưa thật sự cần thiết có thể đổi thành sách vở cho một em học sinh. Một buổi vui chơi ít đi có thể trở thành tiền thuốc cho một người bệnh. Khi biết sống giản dị, ta không mất đi niềm vui nhưng khám phá một niềm vui sâu hơn: niềm vui làm cho người khác được sống.
Tuy nhiên, yêu người nghèo không chỉ dừng ở việc bố thí. Bố thí là cần thiết, nhất là khi một người đang đói, đang bệnh hoặc đang gặp nguy hiểm. Nhưng tình yêu đích thực còn mời gọi ta tìm hiểu vì sao họ nghèo, điều gì đang đẩy họ vào cảnh bất công và ta có thể làm gì để họ tự đứng vững. Cho một người bữa cơm là quý, nhưng giúp họ có việc làm còn quý hơn. Trao học bổng cho một em nhỏ là tốt, nhưng đồng hành để em được học hành đến nơi đến chốn còn tốt hơn. Giúp một gia đình vượt qua cơn khủng hoảng là cần, nhưng hướng dẫn họ cách tổ chức cuộc sống, chăm sóc sức khỏe và nuôi dạy con cái sẽ tạo ra một thay đổi bền vững. Tình yêu không biến người nghèo thành người lệ thuộc. Tình yêu nâng họ đứng dậy, khơi lại lòng tự trọng và giúp họ nhận ra khả năng Thiên Chúa đã đặt nơi họ. Ta không làm thay tất cả nhưng cùng đi với họ. Ta không quyết định cuộc đời họ nhưng lắng nghe và tôn trọng họ. Ta không xem mình là vị cứu tinh bởi chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng Cứu Độ. Ta chỉ là người được Chúa dùng để mang đến một chút ánh sáng, một chút hy vọng và một con đường.
Có khi ta ngại đến gần người nghèo vì sợ phiền, sợ họ xin thêm, sợ bị lợi dụng hoặc sợ phải đối diện với những hoàn cảnh quá phức tạp. Những nỗi sợ ấy đôi khi có lý do và ta cần sự khôn ngoan. Yêu thương không có nghĩa là thiếu phân định. Giúp đỡ cũng phải đúng cách, đúng nhu cầu và hướng đến điều tốt thật sự. Nhưng ta đừng lấy sự khôn ngoan làm cái cớ để đóng cửa lòng mình. Có người đã từng bị lừa một lần rồi từ đó không còn tin bất cứ người nghèo nào. Có người nhìn thấy một vài trường hợp lợi dụng lòng tốt rồi kết luận rằng tất cả người nghèo đều lười biếng. Những phán đoán ấy dễ dàng nhưng không công bằng. Mỗi con người là một câu chuyện khác nhau. Có những người nghèo vì bệnh tật, vì tai nạn, vì thiên tai, vì bị bỏ rơi, vì thiếu cơ hội học hành, vì gánh nặng gia đình hoặc vì những cơ cấu bất công mà họ không đủ sức vượt qua. Họ cần sự phân định của ta nhưng trước hết họ cần lòng thương xót.
Đức Maria đứng dưới chân thập giá là hình ảnh đẹp nhất của tình yêu dành cho những người nghèo khổ. Khi ấy Chúa Giêsu trở thành người nghèo nhất: bị lột áo, bị sỉ nhục, bị môn đệ bỏ rơi, không còn gì để tựa đầu, ngay cả sự sống cũng sắp bị lấy đi. Mẹ không thể tháo đinh cho Con, không thể ngăn cản bản án, cũng không thể làm nỗi đau biến mất. Nhưng Mẹ đứng đó. Mẹ không bỏ đi. Mẹ ở bên Chúa Giêsu trong giờ phút khốn cùng nhất. Đây là một bài học quan trọng: có những hoàn cảnh ta không thể giải quyết, có những căn bệnh ta không thể chữa, có những mất mát ta không thể bù đắp, nhưng ta vẫn có thể ở lại. Sự hiện diện trung thành đôi khi là món quà lớn nhất. Một người hấp hối không cần những lời giải thích dài dòng nhưng cần một bàn tay nắm lấy. Một người vừa mất người thân không cần nghe nhiều lời khuyên nhưng cần một người ngồi cạnh. Một người đang tuyệt vọng không cần bị trách móc nhưng cần biết rằng họ không đơn độc. Mẹ Maria dạy ta rằng yêu là không bỏ chạy khi người khác đau khổ, không quay mặt đi khi ta cảm thấy bất lực và không chỉ ở bên người khác lúc họ vui vẻ, thành công.
Người nghèo cũng có thể làm ta khó chịu. Họ có thể không sạch sẽ, không nói năng lịch sự, không biết bày tỏ lòng biết ơn như ta mong đợi. Có người sau khi được giúp đỡ vẫn không thay đổi. Có người còn than phiền hoặc đòi hỏi thêm. Khi ấy tình yêu của ta bị thử thách. Ta nhận ra rằng nhiều lúc ta không giúp người khác chỉ vì thương họ, nhưng còn muốn họ đáp lại bằng lời cảm ơn và sự kính trọng. Đức Maria dạy ta yêu mà không đòi phần thưởng. Mẹ phục vụ bà Êlisabét rồi âm thầm trở về. Mẹ giúp tiệc cưới Cana nhưng không đứng ra nhận công. Mẹ trao Chúa Giêsu cho nhân loại dù biết rằng nhiều người sẽ từ chối Người. Tình yêu theo gương Mẹ là làm điều tốt vì đó là điều tốt, không phải để đổi lấy tiếng khen. Dĩ nhiên, ta vẫn cần hướng người được giúp đỡ đến trách nhiệm và lòng biết ơn, nhưng đừng để sự vô ơn của một người làm trái tim ta trở nên lạnh lùng với tất cả những người còn lại.
Hôm nay, Mẹ mời ta nhìn lại cách mình đối xử với người nghèo. Ta có tránh ánh mắt của họ vì sợ bị xin tiền không? Ta có coi thường người ăn mặc cũ kỹ, người ít học hoặc người làm những công việc thấp bé không? Ta có trả công công bằng cho người lao động không? Ta có làm khó người nghèo chỉ vì họ không có tiếng nói không? Ta có lãng phí thức ăn trong khi nhiều người đang đói không? Ta có mua sắm quá mức chỉ để thỏa mãn sở thích nhất thời không? Ta có dùng lời nói làm tổn thương những người yếu thế không? Ta có bao giờ cầu nguyện cho người nghèo hay chỉ nghĩ đến họ khi có một đợt quyên góp? Những câu hỏi ấy không nhằm kết án nhưng giúp ta thức tỉnh. Có thể ta chưa làm được nhiều, nhưng ta luôn có thể bắt đầu bằng một hành động cụ thể ngay hôm nay.
Hãy xin Mẹ Maria cho ta một đôi mắt biết nhìn thấy người nghèo, một đôi tai biết nghe những tiếng kêu không thành lời và một trái tim không vô cảm trước đau khổ. Xin Mẹ giúp ta hiểu rằng mọi của cải ta có đều là ân huệ Chúa trao để ta sử dụng có trách nhiệm và chia sẻ với tha nhân. Xin Mẹ chữa lành nơi ta lòng tham, sự ích kỷ, thói quen hưởng thụ và thái độ thờ ơ. Xin Mẹ dạy ta cho đi cách tế nhị, phục vụ cách âm thầm và yêu thương mà không làm tổn thương phẩm giá của bất cứ ai. Xin Mẹ cho ta biết sống đơn sơ để có phần dành cho người khác, biết bớt đi một chút cho mình để người bên cạnh có thêm một chút hy vọng. Xin Mẹ giúp ta đừng chỉ yêu người nghèo bằng cảm xúc nhất thời nhưng bằng một lựa chọn bền bỉ mỗi ngày.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ đã sống nghèo khó nhưng tâm hồn Mẹ luôn giàu lòng tin, giàu tình yêu và giàu sự quảng đại. Xin Mẹ dạy con biết nhận ra Chúa Giêsu nơi những người đói khát, bệnh tật, cô đơn, bị bỏ rơi và bị coi thường. Xin đừng để con bước qua một người đau khổ mà lòng vẫn bình thản. Xin cho con biết chia sẻ không chỉ những gì dư thừa nhưng cả những gì quý giá đối với con: thời gian, sự quan tâm, khả năng, sức lực và tình thương. Xin cho con biết giúp người nghèo bằng sự tôn trọng, biết lắng nghe trước khi hành động và biết ở lại khi không thể làm gì hơn. Xin Mẹ dẫn con đến gần những người bé nhỏ, để mỗi lần con cúi xuống phục vụ họ, con nhận ra mình đang được cúi xuống trước chính Chúa Giêsu. Và xin cho con hiểu rằng ngày sau, khi đứng trước mặt Chúa, điều còn lại không phải là con đã sở hữu bao nhiêu, nhưng là con đã yêu thương và chia sẻ như thế nào. Amen.
Việc thực hành hôm nay: Con hãy dành một phần tiền bạc, thời gian hoặc công sức để giúp một người đang thiếu thốn. Con hãy thực hiện cách kín đáo, không kể công, không chụp hình phô trương và không chờ đợi lời cảm ơn. Nếu chưa gặp một người nghèo vật chất, con hãy tìm đến một người đang nghèo tình thương, nghèo sự lắng nghe hoặc nghèo niềm hy vọng, để trao cho họ sự hiện diện chân thành của con.
Lời nhắn của Mẹ: Con của Mẹ, đừng sợ mở bàn tay vì khi con biết trao đi, Thiên Chúa sẽ mở rộng trái tim con. Đừng nhìn người nghèo như người xa lạ, bởi họ là anh chị em của con và là hình ảnh của Con Mẹ. Điều con làm cho một người bé nhỏ, chính là con làm cho Chúa. Hãy yêu thương cách âm thầm, cho đi cách khiêm tốn và phục vụ bằng niềm vui. Mẹ sẽ cùng con đến với những người đang cần được yêu thương.
NGÀY 27 – MẸ DẠY CON CẦU CHO KẺ CÓ TỘI
Trong kinh Kính Mừng mà người Công giáo vẫn đọc mỗi ngày, có một lời cầu rất quen thuộc: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử.” Lời kinh ấy quen đến nỗi đôi khi ta đọc rất nhanh, đọc theo thói quen, đọc mà chưa kịp để lòng mình dừng lại trước một sự thật vừa đau đớn vừa đầy hy vọng: chúng ta là những kẻ có tội và chúng ta cần được cầu nguyện cho. Không ai trong chúng ta có thể tự hào rằng mình hoàn toàn trong sạch, không ai có thể đứng trước mặt Thiên Chúa mà nói rằng mình không cần lòng thương xót. Chính vì biết thân phận yếu đuối của con người nên Hội Thánh đã đặt trên môi chúng ta lời khẩn cầu hướng về Đức Maria. Chúng ta xin Mẹ cầu cho mình, nhưng khi sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, chúng ta cũng được Mẹ dạy biết cầu nguyện cho những người tội lỗi khác. Mẹ không dạy chúng ta kết án. Mẹ không dạy chúng ta xa lánh. Mẹ không dạy chúng ta vui mừng khi thấy người khác sa ngã. Mẹ dạy chúng ta đau nỗi đau của Thiên Chúa trước một linh hồn lạc xa Ngài và kiên trì cầu nguyện để người ấy được trở về.
Đức Maria là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng Mẹ không hề khinh thường những người có tội. Mẹ hoàn toàn tinh tuyền, nhưng sự tinh tuyền của Mẹ không biến thành khoảng cách lạnh lùng đối với những con người yếu đuối. Trái lại, chính vì Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa nên trái tim Mẹ càng gần với những người đang cần được cứu độ. Người thánh thiện thật không phải là người chỉ biết giữ mình khỏi vấy bẩn rồi quay lưng trước người sa ngã. Người thánh thiện thật là người càng đến gần Thiên Chúa thì càng mang trong lòng nỗi thao thức cứu độ của Thiên Chúa. Đức Maria đã sống điều ấy cách trọn vẹn. Trong biến cố Truyền Tin, khi thưa lời xin vâng, Mẹ không chỉ đón nhận một niềm vui riêng tư cho mình. Mẹ đón nhận Con Thiên Chúa đến để cứu dân Người khỏi tội lỗi. Lời xin vâng của Mẹ gắn liền với chương trình cứu độ những người có tội. Mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế trong lòng, đem Người đến cho nhân loại và đồng hành với Người trên con đường tìm kiếm những con người lạc mất.
Trong Tin Mừng, Đức Maria không xuất hiện như một người thích giảng giải hay lên án người khác. Mẹ hiện diện âm thầm, lặng lẽ nhưng đầy lòng thương xót. Tại tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra sự thiếu thốn của gia đình chủ tiệc và kín đáo trình bày với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Mẹ không chỉ nhìn thấy sự thiếu thốn vật chất; Mẹ còn có khả năng nhìn thấy những thiếu thốn sâu xa trong tâm hồn con người. Có những người hết niềm vui. Có những người hết hy vọng. Có những người hết sức chống lại cám dỗ. Có những người vì một phút yếu lòng mà rơi vào tội lỗi. Có những người đã sống quá lâu trong bóng tối đến mức không còn tin mình có thể trở về. Trước những con người ấy, Đức Maria không nói: “Họ đáng bị như thế.” Mẹ trình bày họ với Chúa. Mẹ đem sự thiếu thốn của họ đến trước lòng thương xót của Con Mẹ. Mẹ tin rằng Chúa có thể biến nước lã thành rượu ngon, biến một cuộc đời khô cạn thành một cuộc đời tràn đầy ân sủng, biến một tội nhân thành một chứng nhân của tình yêu.
Dưới chân thập giá, Mẹ đứng bên Chúa Giêsu trong giờ Người hiến mạng vì tội lỗi nhân loại. Thập giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào, nhưng đồng thời cũng cho thấy tình yêu của Thiên Chúa lớn lao biết bao. Con Thiên Chúa không xuống thế để kết án những người có tội nhưng để cứu họ. Người không chết cho những người hoàn hảo, bởi chẳng có ai hoàn hảo. Người chết cho những người yếu đuối, phản bội, vô ơn và lạc đường. Trong giờ phút đau thương ấy, Đức Maria đã nghe Con mình cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Chắc chắn lời cầu của Chúa Giêsu đã đi sâu vào trái tim Mẹ. Mẹ hiểu rằng thái độ của người môn đệ trước tội nhân không thể là hận thù, nhưng phải là cầu nguyện. Không phải cầu nguyện để Thiên Chúa trừng phạt họ, nhưng cầu xin cho họ được mở mắt, được đánh động, được tha thứ và được biến đổi.
Cầu cho kẻ có tội không có nghĩa là coi nhẹ tội lỗi. Tội lỗi vẫn là điều xấu, làm tổn thương mối tương quan với Thiên Chúa, gây đau khổ cho bản thân và cho người khác. Có những tội lỗi để lại hậu quả rất nặng nề. Có những người vì ích kỷ mà làm tan vỡ một gia đình. Có người vì tham lam mà chà đạp người nghèo. Có người vì nóng giận mà gây nên những vết thương khó chữa lành. Có người vì quyền lực mà làm cho người khác mất danh dự, mất công việc, mất cả niềm tin. Có người nghiện ngập, gian dối, ngoại tình, bạo lực, nói xấu, vu khống hoặc cố tình sống xa Chúa. Chúng ta không thể gọi điều xấu là điều tốt. Chúng ta cũng không được dung túng cho bất công. Tuy nhiên, lên án tội lỗi không đồng nghĩa với kết án người có tội. Ta có thể mạnh mẽ chống lại điều sai trái mà vẫn cầu mong người làm điều sai được hoán cải. Ta có thể bảo vệ nạn nhân mà không nuôi lòng trả thù. Ta có thể nói sự thật mà không loại trừ người lầm lỗi khỏi tình thương của mình.
Điều khó nhất là cầu nguyện cho những người đã làm tổn thương ta. Cầu cho một người tội lỗi ở đâu đó có thể không quá khó, nhưng cầu cho người đã lừa dối ta, xúc phạm ta, phản bội ta hoặc làm ta đau khổ lại là một hành trình rất dài. Có khi ta vẫn đọc kinh, vẫn tham dự Thánh lễ, vẫn làm việc đạo đức, nhưng trong lòng lại giữ một danh sách những người mà ta không muốn Thiên Chúa thương xót. Ta muốn họ phải trả giá. Ta muốn họ nếm trải điều họ đã gây ra. Ta muốn thấy họ thất bại để lòng mình được hả hê. Khi ấy, ta quên rằng chính mình cũng sống nhờ lòng thương xót. Ta xin Chúa tha tội cho mình, nhưng lại không muốn Chúa tha cho người khác. Ta xin Đức Mẹ cầu cho mình là kẻ có tội, nhưng lại không muốn cầu cho một kẻ có tội khác. Đức Maria Trinh Vương mời ta bước ra khỏi sự khép kín ấy. Mẹ dạy ta nhìn người làm ta đau không chỉ qua lỗi lầm của họ, nhưng còn như một linh hồn đang cần được cứu. Điều đó không xóa đi trách nhiệm của họ, nhưng giúp trái tim ta không bị đầu độc bởi thù hận.
Có thể ta sẽ nói: “Người ấy không đáng được tôi cầu nguyện cho.” Nhưng trước mặt Thiên Chúa, ai trong chúng ta thật sự xứng đáng với ơn cứu độ? Nếu Thiên Chúa chỉ yêu người xứng đáng, có lẽ chẳng ai được cứu. Tình yêu của Chúa đi trước sự hoán cải của con người. Chính vì được yêu mà tội nhân có sức đứng lên. Chúa Giêsu đã nhìn Phêrô sau ba lần ông chối Thầy. Ánh mắt ấy không nghiền nát ông nhưng làm ông khóc. Chúa đã đón nhận người phụ nữ tội lỗi đến khóc dưới chân Người. Chúa đã vào nhà ông Dakêu, khiến một người thu thuế tham lam trở thành người biết đền bù và chia sẻ. Chúa đã mở cửa thiên đàng cho người trộm lành ngay trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Không có tội nhân nào nằm ngoài khả năng cứu độ của Thiên Chúa, miễn là người ấy mở lòng đón nhận lòng thương xót. Vì thế, ta không được tuyệt vọng về bất cứ ai.
Có những bậc cha mẹ đau khổ vì con cái xa rời đức tin. Ngày còn nhỏ, con vẫn theo cha mẹ đến nhà thờ, vẫn học giáo lý, vẫn đọc kinh. Khi lớn lên, con bắt đầu thờ ơ, bỏ lễ, sống theo ý mình, thậm chí công khai chống lại đức tin. Cha mẹ khuyên bảo nhiều lần nhưng chỉ nhận lại sự khó chịu. Trong hoàn cảnh ấy, Đức Maria dạy cha mẹ đừng ngừng cầu nguyện. Những lời khuyên có thể bị từ chối, nhưng lời cầu nguyện chân thành không bao giờ vô ích. Ân sủng của Thiên Chúa có những con đường mà mắt ta không nhìn thấy. Một biến cố, một cuộc gặp gỡ, một nỗi đau, một câu nói, một kỷ niệm thời thơ ấu cũng có thể trở thành cánh cửa để người con trở về. Điều quan trọng là cha mẹ đừng biến việc cầu nguyện thành sự kết án. Đừng mỗi lần gặp con lại chỉ nhắc tội. Hãy giữ một cánh cửa yêu thương mở rộng, để khi con mỏi mệt, con biết mình vẫn còn một mái nhà để trở về.
Có những người vợ cầu nguyện nhiều năm cho chồng bỏ rượu chè, cờ bạc hoặc một mối quan hệ sai trái. Có những người chồng âm thầm cầu nguyện cho vợ được chữa lành khỏi những tổn thương và cay đắng. Có những người anh chị em trong gia đình đã bất hòa quá lâu, chẳng ai muốn xuống nước trước. Có những cộng đoàn mang trong mình những đổ vỡ vì hiểu lầm, tranh chấp hoặc tham vọng. Có những người phục vụ trong Hội Thánh nhưng lại làm gương xấu. Tất cả những hoàn cảnh ấy đều cần lời cầu nguyện. Cầu nguyện không thay thế cho đối thoại, sửa lỗi hay những biện pháp cần thiết, nhưng cầu nguyện làm cho mọi hành động của ta được thực hiện trong sự thật và tình yêu. Khi cầu nguyện cho người có lỗi, ta xin Chúa thay đổi họ, nhưng đồng thời ta cũng để Chúa thay đổi chính mình. Có khi trong lúc cầu cho người khác hoán cải, ta nhận ra mình cũng có nhiều điều phải sửa đổi.
Cầu cho kẻ có tội trước hết là ý thức rằng chính mình cũng là kẻ có tội. Người cầu nguyện thật không đứng ở vị trí cao hơn để nhìn xuống. Ta không nói: “Lạy Chúa, xin thương người kia vì họ xấu xa.” Ta phải nói: “Lạy Chúa, xin thương chúng con, vì tất cả chúng con đều yếu đuối.” Khi người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bị đưa đến trước Chúa Giêsu, những người tố cáo muốn ném đá chị. Chúa không phủ nhận tội của chị, nhưng Người đặt mỗi người trước lương tâm của chính mình: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Cuối cùng, không ai dám ném. Họ lần lượt bỏ đi. Chỉ còn lại Chúa Giêsu và người phụ nữ. Chúa nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Đó là con đường của lòng thương xót: không kết án con người, nhưng cũng không thỏa hiệp với tội lỗi; tha thứ, nhưng đồng thời mời gọi đổi đời.
Đức Maria dạy ta cầu nguyện bằng một trái tim kiên trì. Có những lời cầu xin được nhận lời rất nhanh, nhưng cũng có những lời cầu kéo dài nhiều năm. Thánh Monica đã cầu nguyện và khóc nhiều năm cho người con là Augustinô. Trong thời gian ấy, có lẽ bà từng mệt mỏi, từng đau đớn, từng tưởng như lời cầu của mình không được đáp lại. Nhưng bà không bỏ cuộc. Cuối cùng, Augustinô không chỉ trở về với Chúa mà còn trở thành một vị thánh lớn của Hội Thánh. Ta không biết lời cầu của mình sẽ sinh hoa trái vào lúc nào. Có thể ta sẽ thấy người ấy thay đổi. Có thể ta chỉ nhìn thấy một chút chuyển biến. Cũng có thể ta không còn sống để chứng kiến ngày người ấy trở về. Nhưng không một lời cầu chân thành nào bị mất trước mặt Thiên Chúa. Mỗi lời kinh là một hạt giống được gieo. Thiên Chúa biết thời gian nào thích hợp để hạt giống nảy mầm.
Cầu cho kẻ có tội còn là cầu cho những người mà xã hội đã loại bỏ. Đó có thể là những người đang ở trong tù, những người nghiện ngập, những người sống ngoài lề xã hội, những người làm nghề bất chính, những người gây nên tội ác khiến dư luận phẫn nộ. Trước những câu chuyện đau lòng, ta dễ tức giận và có quyền đòi hỏi công lý. Nhưng người Kitô hữu không dừng lại ở việc mong người phạm tội bị trừng phạt. Ta còn cầu mong họ nhận ra sự dữ mình đã làm, thật lòng sám hối, chấp nhận trách nhiệm, đền bù trong khả năng và tìm lại con đường làm người. Công lý không loại trừ lòng thương xót. Hình phạt có thể cần thiết để bảo vệ cộng đồng và giúp người phạm lỗi ý thức trách nhiệm, nhưng hình phạt không được biến thành việc phủ nhận phẩm giá của họ. Dù đã phạm tội nặng đến đâu, họ vẫn là một con người được Thiên Chúa dựng nên và được Đức Kitô đổ máu cứu chuộc.
Ta cũng cần cầu cho những người đang gây ra chiến tranh, bạo lực và bất công. Ta cầu cho những nhà lãnh đạo đang dùng quyền lực sai cách, những người buôn bán con người, những kẻ bóc lột người nghèo, những người làm giàu trên nước mắt của đồng loại. Cầu nguyện cho họ không phải là đồng lõa với việc họ làm. Trái lại, ta xin ánh sáng của Thiên Chúa chiếu vào lương tâm họ, phá tan sự chai đá và đánh thức trách nhiệm. Một trái tim quyền lực được hoán cải có thể ngăn chặn biết bao đau khổ. Một quyết định đúng đắn có thể cứu sống nhiều người. Vì thế, thay vì chỉ nguyền rủa bóng tối, người Kitô hữu thắp lên ánh sáng bằng lời cầu nguyện, bằng việc lên tiếng cho sự thật và bằng những hành động cụ thể để bảo vệ người yếu thế.
Có khi người tội lỗi mà ta cần cầu nguyện cho lại chính là mình. Ta có thể mang một tội lỗi lặp đi lặp lại, đã xưng thú nhiều lần nhưng vẫn tái phạm. Ta thất vọng về chính mình và nghĩ rằng Chúa đã chán ngán. Ta cảm thấy xấu hổ đến mức không muốn cầu nguyện, không muốn đến nhà thờ, không muốn lãnh nhận Bí tích Hòa Giải. Trong những lúc ấy, hãy đến với Đức Maria. Mẹ không thay thế Chúa, nhưng Mẹ đưa ta đến với Chúa. Mẹ không bảo ta ở lại trong tội, nhưng nắm tay ta đứng lên. Mẹ nói với ta bằng sự dịu dàng của một người mẹ: “Con đừng chạy trốn khỏi lòng thương xót. Con hãy trở về.” Đứa trẻ khi té ngã không cần nằm đó khóc mãi; nó cần đưa tay cho mẹ để được nâng dậy. Người có tội cũng vậy. Điều nguy hiểm nhất không phải là đã ngã, nhưng là không còn muốn đứng lên.
Khi lần chuỗi Mân Côi, chúng ta hãy nhớ cầu cho những người đang sống trong tội lỗi. Mỗi chục kinh có thể được dâng cho một ý chỉ cụ thể: cầu cho người thân xa Chúa, cầu cho những người nghiện ngập, cầu cho người đang nuôi lòng thù hận, cầu cho những người phá thai và những người chịu tổn thương vì phá thai, cầu cho những người đang làm điều bất chính, cầu cho những người hấp hối chưa kịp giao hòa với Chúa. Đừng chỉ đọc kinh bằng môi miệng. Hãy gọi tên họ trong lòng. Hãy trao họ cho Mẹ. Có thể ta không biết phải nói gì nhiều, chỉ cần thưa: “Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dẫn người ấy về với Chúa.” Một lời nguyện đơn sơ nhưng được nói bằng tình yêu có thể trở thành nguồn ân sủng lớn lao.
Cầu nguyện cho kẻ có tội còn phải đi đôi với đời sống hy sinh. Đức Maria không chỉ cầu nguyện bằng lời; Mẹ đã hiến dâng cả cuộc đời. Ta có thể dâng một việc hy sinh nhỏ để cầu cho một người trở về: bớt một lời than phiền, nhịn một món mình thích, kiên nhẫn với một người khó chịu, chu toàn công việc bổn phận, thăm một người đau yếu, tha thứ cho một người xúc phạm mình. Những hy sinh âm thầm được kết hợp với hy tế của Chúa Giêsu có một giá trị mà ta không thể đo lường. Đừng nghĩ rằng chỉ những việc lớn lao mới cứu được các linh hồn. Một lời kinh đọc trong mệt mỏi, một giọt nước mắt dâng lên trong đêm, một sự nhịn nhục vì tình yêu cũng có thể trở thành lời chuyển cầu mạnh mẽ.
Trong ngày thứ hai mươi bảy sống dưới sự hướng dẫn của Đức Maria Trinh Vương, ta được mời gọi xét lại cách mình nhìn người có tội. Ta có thích kể lỗi của người khác không? Ta có vui khi thấy người đã làm mình đau gặp thất bại không? Ta có cầu nguyện cho họ hay chỉ nói về họ? Ta có nhớ rằng mình cũng cần được tha thứ không? Ta có sẵn sàng trở thành chiếc cầu đưa người lầm lạc về với Chúa không? Đức Maria dạy ta đừng dùng miệng lưỡi để đẩy một người xa Chúa hơn. Có những người đã lầm lỗi, nhưng điều khiến họ tuyệt vọng không chỉ là tội của họ mà còn là thái độ khinh miệt của người chung quanh. Một lời nói đầy hy vọng, một thái độ tôn trọng, một cơ hội được làm lại đôi khi có thể mở ra con đường hoán cải.
Lạy Đức Maria Trinh Vương, Mẹ là nơi nương náu của những người tội lỗi, xin dạy con biết đau với nỗi đau của Chúa khi một linh hồn xa lìa Ngài. Xin đừng để con trở thành người xét đoán, khinh chê hay loại trừ anh chị em mình. Xin cho con biết ghét tội lỗi nhưng luôn yêu thương người có tội; biết bảo vệ sự thật nhưng không đánh mất lòng nhân hậu; biết đòi hỏi công lý nhưng không nuôi lòng trả thù. Xin Mẹ cầu cho những người đang sống xa Chúa, những người không còn tin vào lòng thương xót, những người đang bị trói buộc bởi đam mê, nghiện ngập, hận thù và tuyệt vọng. Xin Mẹ đặc biệt cầu cho những người đã làm con đau khổ. Con xin trao họ cho Mẹ, vì con biết trái tim con còn quá hẹp hòi để yêu thương họ như Chúa muốn.
Lạy Mẹ Maria, xin cầu cho chính con là kẻ có tội. Xin giúp con can đảm nhìn nhận lỗi lầm, khiêm tốn đến với Bí tích Hòa Giải và thật lòng sửa đổi đời sống. Xin đừng để con chỉ lo cầu cho người khác thay đổi mà quên rằng chính con cũng cần hoán cải mỗi ngày. Xin Mẹ dẫn tất cả chúng con đến với Chúa Giêsu, Đấng đã đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi. Xin cho không một ai trong chúng con phải hư mất, nhưng tất cả được trở về, được chữa lành và được sống trong bình an của lòng thương xót Chúa. Amen.