TƯƠNG TÁC THÌ NHIỀU NHƯNG TƯƠNG QUAN THÌ ÍT – Lm. Anmai, CSsR

4

TƯƠNG TÁC THÌ NHIỀU NHƯNG TƯƠNG QUAN THÌ ÍT – Lm. Anmai, CSsR
Có những buổi tối, điện thoại vẫn sáng, nhưng lòng người đã mỏi. Màn hình liên tục hiện lên những lời nhắn, những biểu tượng cảm xúc, những thông báo nhắc rằng có người vừa thích một tấm ảnh, vừa bình luận một bài viết, vừa gọi tên ta trong một cuộc trò chuyện. Nhìn vào đó, người ta dễ nghĩ rằng đời mình đang được bao quanh bởi rất nhiều sự quan tâm. Ta xuất hiện ở nhiều nơi, nói chuyện với nhiều người, biết nhiều câu chuyện, tham gia nhiều nhóm, giữ liên lạc với nhiều khuôn mặt. Thế nhưng, sau một ngày đầy những âm thanh ấy, có người vẫn ngồi lặng trong căn phòng của mình, không biết phải gọi cho ai để nói một câu rất thật: “Hôm nay tôi buồn quá”. Có người nhận được hàng trăm lời chúc sinh nhật, nhưng đến khi cần một người ngồi bên cạnh trong lúc đau đớn lại không biết tìm ai. Có người được nhiều người nhận ra ngoài đường, nhưng chẳng có mấy người nhận ra sự mệt mỏi trong đôi mắt. Có người được gọi là người truyền cảm hứng, người luôn vui vẻ, người luôn tích cực, nhưng đã lâu không có một cuộc trò chuyện trong đó họ được phép yếu đuối mà không phải lập tức lấy lại tinh thần để tiếp tục truyền cảm hứng cho người khác. Những lúc như thế, ta chạm đến một khoảng trống khó gọi tên: quanh mình có nhiều người, nhưng lòng mình thiếu một nơi để trở về.
Chúng ta có thể tương tác rất nhiều mà vẫn chưa thật sự bước vào đời nhau. Tương tác là khi có một tín hiệu được gửi đi và một tín hiệu được đáp lại: tôi đăng, anh nhìn thấy; tôi hỏi, chị trả lời; tôi gửi một tấm hình, em thả một biểu tượng cảm xúc; tôi có việc cần, người kia phản hồi. Những điều ấy cần thiết, hữu ích và đôi khi rất ấm áp. Một lời nhắn ngắn có thể cứu một người khỏi cảm giác bị bỏ quên. Một cuộc gọi từ xa có thể đem lại niềm vui cho người mẹ đang nhớ con. Một câu hỏi đúng lúc có thể mở đầu cho một tình bạn đẹp. Nhưng tương quan lớn lên khi những tín hiệu ấy được nối với ký ức, sự quan tâm và lòng trung tín. Tôi nhớ điều anh đã kể. Tôi muốn biết chị đang sống thế nào sau chuyện ấy. Tôi giữ lời đã hứa với em. Tôi nhận ra mình đã làm anh đau và muốn sửa. Tôi còn tìm đến chị khi chị chẳng có điều gì hấp dẫn để chia sẻ. Tôi biết sự riêng tư em trao cần được giữ gìn. Khi ấy, người kia bắt đầu có một chỗ trong đời tôi, và tôi cũng học chịu trách nhiệm về cách mình hiện diện trong đời họ.
Điều làm chúng ta đau đôi khi không phải là không ai trả lời, mà là người ta trả lời nhưng chưa thật sự nghe. Một người kể rằng mình đang rất mệt, ta đáp: “Cố lên nhé”, rồi chuyển sang một câu chuyện khác. Một người nói về nỗi buồn, ta gửi một biểu tượng ôm, nhưng không đủ thời gian để hỏi điều gì đã xảy ra. Một người thú nhận mình đang khó khăn, ta kể ngay một kinh nghiệm của bản thân, khiến câu chuyện của họ dần biến mất trong câu chuyện của ta. Một người đang cần được hiểu, ta lập tức cho lời khuyên, giải thích, sửa lỗi, nhắc họ phải mạnh mẽ, phải tích cực, phải biết phó thác. Có thể tất cả những lời ấy xuất phát từ thiện chí, nhưng thiện chí vẫn cần học cách đến đúng nơi. Người đang đau có thể chưa cần một câu trả lời. Họ cần biết nỗi đau của mình được nhận ra, được nghe đến nơi, được đón nhận bằng sự tôn trọng. Có những lời khuyên đúng nhưng đến quá sớm, khiến người nghe cảm thấy mình phải mau chóng hết buồn để cuộc trò chuyện khỏi trở nên bất tiện.
Ta có thể nghe rất nhiều âm thanh mà vẫn ít lắng nghe con người. Khi người khác nói, trong đầu ta đã chuẩn bị điều sẽ đáp. Ta tìm xem chỗ nào họ sai, câu nào mình có thể phản bác, kinh nghiệm nào mình có thể đưa vào, lời nào sẽ khiến mình xuất hiện như người hiểu biết. Đôi khi, ta nghe để lấy thông tin; đôi khi nghe để tìm một chi tiết thú vị; đôi khi nghe để chờ đến lượt nói. Còn người đang kể cứ phải đi qua nhiều lần bị ngắt lời, bị chuyển đề tài, bị đoán trước. Cuối cùng, họ nói: “Thôi, không có gì đâu”, và ta tưởng câu chuyện đã xong. Nhưng câu chuyện chưa xong; chỉ có sự hy vọng được hiểu vừa khép lại. Sau nhiều lần như thế, con người học cách giữ điều quan trọng cho riêng mình. Họ vẫn nói chuyện, vẫn vui vẻ, vẫn trả lời những câu hỏi thông thường, nhưng phần sâu của đời sống đã được cất vào một nơi mà không còn dễ mở cửa.
Có một sự cô đơn rất khó nhận ra: sự cô đơn của người vẫn đang nói chuyện với nhiều người. Họ không thiếu những cuộc gặp, không thiếu lời chào, không thiếu những cuộc trao đổi. Họ có thể làm việc trong một tập thể đông, sống trong một gia đình nhiều thành viên, tham gia một cộng đoàn sôi động. Nhưng những cuộc gặp chỉ xoay quanh công việc, những cuộc trò chuyện chỉ dừng ở những điều an toàn, những lời hỏi thăm chỉ đủ để mọi người giữ phép lịch sự. Không ai biết họ đang sợ điều gì. Không ai biết có một câu nói đã làm họ tổn thương suốt nhiều tháng. Không ai biết họ đang nghi ngờ giá trị của chính mình. Có thể họ cũng chưa biết mở đầu thế nào, bởi trong một môi trường luôn bận, luôn vui, luôn có việc phải làm, nỗi buồn riêng dễ bị xem là điều nên giải quyết nhanh. Thế là họ sống cạnh người khác mà vẫn phải một mình mang những điều nặng nhất. Sự đông đúc che khuất sự lẻ loi, khiến người ngoài nhìn vào tưởng rằng mọi chuyện đều ổn.
Thời đại chúng ta có nhiều phương tiện để nối kết. Nhờ những phương tiện ấy, người xa quê được nghe giọng cha mẹ, người bệnh được tìm đến sự giúp đỡ, bạn bè ở xa vẫn có thể gìn giữ tình nghĩa, những cộng đoàn có thể chia sẻ công việc và lời cầu nguyện. Những điều tốt đẹp ấy rất đáng biết ơn. Nhưng một phương tiện chỉ có thể phục vụ điều con người thực sự muốn làm. Nếu ta muốn chăm sóc tình nghĩa, nó giúp ta chăm sóc. Nếu ta muốn tránh một cuộc đối thoại khó, nó cũng có thể giúp ta tránh. Ta có thể nhắn một lời hỏi thăm rất chân thành, cũng có thể nhắn cho đủ phép rồi vội rời đi. Ta có thể dùng cuộc gọi để hiện diện, cũng có thể để người kia nói trong khi mình làm nhiều việc khác. Điều cần xét lại là cách ta sử dụng sự thuận tiện. Sự thuận tiện giúp lời nói đi nhanh hơn; chiều sâu vẫn cần được tạo nên bằng lòng quan tâm, khả năng lắng nghe và sự trung tín của người gửi lời.
Một điều đáng suy nghĩ là chúng ta ngày càng biết nhiều thông tin về nhau, nhưng chưa chắc hiểu nhau hơn. Ta biết người bạn vừa đi đâu, vừa mua gì, vừa gặp ai, vừa được một thành công nào. Ta biết họ đổi công việc, chuyển nhà, tổ chức sinh nhật, đưa con đến trường. Nhưng biết một biến cố khác với hiểu biến cố ấy có ý nghĩa thế nào trong đời một người. Một người đổi việc có thể đang vui vì được bắt đầu lại, cũng có thể đang lo vì phải rời một nơi quen thuộc. Một người ít đăng hình có thể đang bận, cũng có thể đang thu mình vì một chuyện buồn. Một người cười rất tươi có thể thật sự hạnh phúc, cũng có thể vừa cố lấy lại vẻ bình thường sau một đêm khó ngủ. Những gì được chia sẻ có thể rất chân thành, nhưng vẫn chỉ là một phần. Nếu quên điều đó, ta dễ nghĩ mình đã hiểu một người chỉ vì thường xuyên nhìn thấy họ. Và khi đã tin rằng mình hiểu hết, ta ngừng hỏi, ngừng tìm hiểu, ngừng nhận ra những thay đổi âm thầm.
Con người cần được gặp như một con người đang sống, đang thay đổi, đang có những điều chưa dễ diễn tả. Người con hôm nay có thể khác đứa trẻ mà cha mẹ từng hiểu rất rõ. Người bạn đời sau nhiều năm có thể đang mang những nỗi lo chưa từng có trong ngày cưới. Người anh em trong cộng đoàn có thể đã đi qua một biến cố làm cách nhìn của họ thay đổi. Người bạn lâu năm có thể không còn đủ sức tiếp tục đóng vai người luôn vui vẻ trong nhóm. Một tương quan sâu cần cho nhau cơ hội được lớn lên và được hiểu lại. Những câu như “tôi biết anh quá rồi”, “chị lúc nào cũng thế”, “con từ nhỏ đã như vậy” có thể làm một người thấy mình bị nhốt trong một kết luận cũ. Khi ta gặp họ bằng những định kiến đã thành quen, lời mới họ muốn nói rất khó có chỗ. Tình thương cần một sự khiêm nhường: tôi đã biết anh một phần, nhưng vẫn còn những điều nơi anh tôi cần học để hiểu.
Trong gia đình, tương tác nhiều mà tương quan ít có thể hiện ra ngay giữa một ngày rất bình thường. Cha mẹ nhắc con dậy, hỏi đã ăn chưa, giục chuẩn bị đi học, kiểm tra bài vở, dặn giờ về. Con trả lời, xin tiền, báo lịch học, hỏi bữa tối có gì. Vợ chồng trao đổi về tiền điện, tiền nhà, công việc, chuyện đưa đón con, việc chăm sóc ông bà. Cả nhà nói với nhau rất nhiều, nhưng phần lớn lời nói đều nhằm tổ chức đời sống. Những việc ấy quan trọng; một gia đình cần được chăm lo bằng trách nhiệm cụ thể. Tuy nhiên, ngoài những việc phải làm, mỗi người còn có một tâm hồn cần được gặp. Đứa con có thể đang lo vì một tình bạn đổ vỡ. Người chồng có thể đang thấy mình thất bại trong công việc. Người vợ có thể đang kiệt sức vì nhiều trách nhiệm không được nhận ra. Người mẹ lớn tuổi có thể đang sợ một ngày mình trở thành gánh nặng. Nếu mọi cuộc trò chuyện chỉ xoay quanh việc nhà, những điều ấy sẽ nằm lại trong lòng từng người, dù mọi người vẫn gặp nhau mỗi ngày.
Có những bữa cơm đầy đủ mà thiếu sự hiện diện. Thức ăn được dọn, mọi người ngồi cùng bàn, nhưng mắt mỗi người hướng về một màn hình. Có tiếng nói, song nhiều câu chỉ để nhắc một việc hoặc trả lời cho xong. Một người muốn kể chuyện trong ngày, nhưng phải đợi người khác xem hết một đoạn video, trả lời xong một tin nhắn, đọc xong một thông báo. Đợi vài lần, họ thôi kể. Sự im lặng ấy dễ bị hiểu thành “không có gì để nói”, trong khi thật ra đã có điều muốn nói mà không tìm được người nghe. Một đứa trẻ nhìn người lớn bận rộn như thế sẽ dần học rằng những gì ở xa thường được ưu tiên hơn người đang ngồi trước mặt. Ta có thể thương gia đình rất nhiều, nhưng tình thương cần được nhận biết trong cách ta dành sự chú ý. Một ánh mắt đang nghe, một chiếc điện thoại được đặt xuống, một câu hỏi được hỏi thêm có thể làm bữa ăn trở lại là nơi con người gặp nhau.
Cha mẹ thường nói rằng mình hy sinh tất cả cho con. Nhiều khi đó là sự thật. Những năm tháng làm việc vất vả, những khoản tiền chắt chiu, những cơ hội riêng bị gác lại, những lo toan không kể hết đều mang dấu vết của tình thương. Nhưng một đứa trẻ còn cần được hiểu trong thế giới của nó. Con cần có người nghe câu chuyện ở trường mà chưa vội so sánh với thời của mình. Cần có người nhìn nhận một nỗi buồn nhỏ mà không nói “chuyện có vậy cũng buồn”. Cần có người hỏi vì sao con không muốn đi học, trước khi kết luận con lười. Cần có người nhận ra rằng một câu trả lời cáu gắt có thể là biểu hiện của điều con chưa biết diễn tả, dù thái độ ấy vẫn cần được sửa. Khi cha mẹ chỉ nghe để đánh giá, con sẽ chọn những câu an toàn. Khi cha mẹ nghe để hiểu, rồi hướng dẫn bằng sự rõ ràng và lòng thương, con có thêm cơ hội học sống thật. Một mái nhà đáng tin là nơi sự thành thật được chăm sóc, kể cả khi điều được nói ra khiến người lớn phải suy nghĩ lại.
Có những câu nói của trẻ làm người lớn rất đau: “Bố mẹ chẳng hiểu con”, “con không muốn nói nữa”, “con ghét ở nhà”. Ta có thể phản ứng ngay bằng giận dữ, cho rằng con vô ơn, thiếu lễ phép, không biết những hy sinh mình đã làm. Sự đau của cha mẹ là có thật, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta có thể bỏ lỡ lời kêu đang nằm phía sau cách diễn tả vụng về. Có khi con muốn nói rằng mình không được nghe. Có khi con đang thấy mọi lựa chọn đều bị quyết định thay. Có khi con cảm thấy chỉ được yêu khi đạt điểm tốt, cư xử đúng, làm người lớn hài lòng. Những điều ấy cần được tìm hiểu, không thể đoán chắc chỉ qua một câu. Cha mẹ có thể nói rõ rằng con cần diễn tả với sự tôn trọng, đồng thời vẫn mở cuộc đối thoại: “Điều gì ở nhà làm con khó chịu đến thế?”, “Có lúc nào bố mẹ đã khiến con cảm thấy không được hiểu không?”. Một câu hỏi khiêm nhường có thể mở điều một bài trách mắng dài không thể mở.
Vợ chồng cũng dễ mất dần tương quan ngay khi vẫn tương tác liên tục. Lúc mới yêu, người ta muốn biết nhau đang nghĩ gì, thích gì, sợ gì, mong gì. Khi đã chung sống, trách nhiệm lớn dần và những điều quen thuộc dễ bị xem là đã biết. Ta hỏi người bạn đời về việc cần giải quyết, nhưng ít hỏi họ đang có niềm vui hay nỗi buồn nào. Ta biết lịch của họ, nhưng không biết lòng họ. Ta nhớ những lỗi họ hay mắc, nhưng quên nhìn những cố gắng họ vẫn làm. Có những cuộc cãi vã bắt đầu từ chiếc chén chưa rửa, một cuộc gọi chưa nghe, một việc nhỏ bị quên, rồi kéo theo cả một câu chuyện dài về cảm giác không được coi trọng. “Lúc nào anh cũng vậy”, “em chẳng bao giờ hiểu”, “việc của người khác luôn quan trọng hơn gia đình”. Những câu ấy thường mang nhiều điều chưa được nói rõ. Nếu hai người chỉ tranh thắng ở sự việc trước mắt, nỗi buồn phía sau vẫn còn đó và sẽ trở lại trong một dịp khác.
Tình nghĩa vợ chồng cần những khoảng thời gian trong đó hai người được trở lại là hai con người đang cùng sống một hành trình. Một người có thể nói mình mệt mà không bị trả lời rằng người kia còn mệt hơn. Một người có thể nhận mình lo mà không bị chê yếu. Một người có thể trình bày điều làm mình tổn thương mà không lập tức bị nhắc về những lỗi cũ. Hai người cần học hỏi điều còn chưa hiểu, nhìn nhận phần trách nhiệm của mình, cảm ơn điều đã trở thành quen và cùng tìm cách điều chỉnh. Có khi chỉ là mười lăm phút mỗi tối, nhưng được dành trọn. Có khi là một cuộc đi bộ, một bữa ăn yên, một lời xin lỗi cụ thể. Tình yêu lâu năm không thể chỉ sống bằng ký ức về những ngày đầu. Nó cần được tiếp tục lựa chọn trong hoàn cảnh hiện tại, với con người hiện tại của nhau, kể cả những giới hạn và thay đổi mà trước đây ta chưa biết.
Đối với người cao tuổi, nhu cầu tương quan thường hiện ra bằng những điều rất nhỏ. Họ gọi điện hỏi một câu đã hỏi nhiều lần. Họ kể lại một chuyện cũ. Họ nhắc con cháu ăn uống, nghỉ ngơi, đi đường cẩn thận. Người trẻ có thể thấy những lời ấy lặp lại và vội trả lời: “Con biết rồi”, “mẹ nói rồi”, “để hôm khác nhé”. Nhưng trong những lời quen thuộc có thể có một nỗ lực giữ liên lạc. Người mẹ chưa chắc đang cần biết thêm thông tin; bà muốn nghe giọng con. Người cha chưa chắc cần giải quyết một việc; ông muốn được tham dự vào đời con bằng cách còn phù hợp với mình. Dĩ nhiên, con cháu có những công việc thật và những giới hạn thật. Điều cần thiết là nhìn thấy con người phía sau cuộc gọi, để cách trả lời giữ được lòng thương. Một cuộc hẹn gọi lại được thực hiện, một câu hỏi về ngày sống của cha mẹ, một chuyến thăm có sự chú ý có thể giúp người già cảm thấy mình vẫn có một chỗ trong đời những người mình đã nuôi lớn.
Trong tình bạn, ta có thể biết rất nhiều người nhưng thiếu những người đủ tin cậy để mình sống thật. Những cuộc gặp vui vẻ, những bức ảnh chung, những lời trêu đùa đều có giá trị. Nhưng một tình bạn cần thêm khả năng chứa những điều chưa đẹp: một thất bại, một nỗi sợ, một sự ghen tị, một sai lầm, một giai đoạn ta không còn dễ thương như trước. Có những nhóm bạn chỉ giữ được sự gần gũi khi mọi người còn vui, còn thành công, còn có điều thú vị để kể. Khi một người đau khổ lâu hơn mong đợi, họ bắt đầu thấy mình làm cuộc vui nặng đi và âm thầm rút lui. Tình bạn trưởng thành cần cho người ấy một nơi được nghe, đồng thời biết giới hạn của từng người và tìm sự giúp đỡ phù hợp khi cần. Một người bạn không thể gánh hết đời người kia, nhưng có thể hiện diện chân thành, giữ điều riêng tư, nói điều cần nói và tiếp tục hỏi thăm bằng lòng quan tâm. Tình nghĩa được nhận ra qua sự nhất quán ấy.
Có lúc, ta thấy rất cô đơn vì mình chỉ được biết đến qua vai trò. Người khác gọi ta khi cần chuyên môn, cần lời khuyên, cần một sự giúp đỡ, cần một công việc được hoàn thành. Ta có thể là người giỏi tổ chức, người luôn giải quyết được chuyện khó, người hay lắng nghe, người có khả năng làm mọi người vui. Những khả năng ấy quý, nhưng chúng không phải toàn bộ con người. Ta cũng có những ngày mệt, những việc không biết, những nỗi buồn không tự tháo gỡ được. Nếu mọi tương tác chỉ đến vì một nhu cầu, ta dễ tự hỏi: khi mình không còn giúp được như trước, có ai vẫn muốn gặp mình không? Câu hỏi ấy cần được nghe bằng lòng thương. Giá trị của một người cần được nhận biết cả trong những giai đoạn họ ít hữu ích, ít nổi bật, ít đem lại niềm vui cho người khác. Người đang yếu không nên phải làm thêm điều gì để chứng minh mình đáng được ở lại trong tình nghĩa.
Trong giáo xứ, chúng ta có nhiều sinh hoạt, nhiều cuộc họp, nhiều nhóm liên lạc, nhiều cơ hội gặp nhau. Nhưng một cộng đoàn đức tin vẫn cần tự hỏi những hoạt động ấy đã giúp con người đến gần nhau đến đâu. Ta biết ai phụ trách ca đoàn, ai đọc sách thánh, ai giúp lễ, ai giữ xe, ai lo trang trí, ai có thể giúp một khoản tiền. Ta nhớ họ rất nhanh khi cần phân công. Nhưng có biết người ấy đang chăm cha mẹ đau bệnh, đang gặp khó khăn trong gia đình, đang lo cho một đứa con, đang mệt vì công việc hay đang khô khan trong đức tin không? Có những người phục vụ nhiều năm, nhưng khi ngừng xuất hiện lại chỉ được hỏi vì sao chưa làm việc, ít được hỏi họ đang sống thế nào. Một cộng đoàn cần tổ chức tốt, đồng thời cần nhận ra con người phía sau phần việc. Khi một người vắng, sự quan tâm nên đi đến đời họ trước khi đi đến sự thiếu hụt trong chương trình.
Tình hiệp thông có hình hài khi người yếu vẫn được đón nhận, người mới vẫn có chỗ, người ít nói vẫn được nghe, người đang gặp biến cố được đến gần với sự tế nhị. Một gia đình mới đến giáo xứ có thể dự lễ nhiều tháng mà chưa ai biết tên. Một người lớn tuổi có thể ngồi một mình ở cuối nhà thờ. Một người trẻ có thể đang muốn tham gia nhưng ngại vì mọi nhóm đã quen nhau. Một người có hoàn cảnh phức tạp có thể sợ ánh mắt dò xét. Chúng ta không thể hiểu hết mọi người ngay, nhưng có thể bắt đầu bằng một lời chào, một cuộc trò chuyện, một sự hướng dẫn tử tế. Điều quan trọng là người được gặp cảm thấy phẩm giá của mình được tôn trọng. Sự quan tâm cũng cần giữ riêng tư, tránh biến một hoàn cảnh đau buồn thành điều nhiều người tò mò. Khi lòng bác ái có sự tế nhị, người đang khó khăn có thể đón nhận sự giúp đỡ mà không thấy mình bị phơi bày trước đám đông.
Người linh mục có thể sống giữa rất nhiều tương tác. Điện thoại reo, người đến gặp, lịch cử hành, cuộc họp, việc giấy tờ, lời xin cầu nguyện, chương trình mục vụ nối tiếp nhau. Sự bận rộn ấy thường mang một lòng quảng đại thật, nhưng cũng có thể làm sự hiện diện bị chia nhỏ. Người đến gặp cảm thấy mình phải nói nhanh, hỏi nhanh, rời nhanh để khỏi gây phiền. Cha có thể đã nghe câu hỏi, nhưng chưa có thời gian nghe con người đang đặt câu hỏi. Một điều tưởng chỉ là thủ tục có thể đi cùng một nỗi buồn. Một câu hỏi tưởng đơn giản có thể đã được người ấy đắn đo nhiều ngày. Cha không thể dành cùng một thời lượng cho mọi người, cũng không thể giải quyết mọi chuyện. Nhưng có thể giữ một cách hiện diện cho thấy người đến gặp được coi trọng: nhìn, nghe, nói rõ khi cần hẹn lại, giữ cuộc hẹn, hướng dẫn đến người có thể giúp phù hợp. Những việc ấy làm sứ vụ mang chiều sâu của một cuộc gặp.
Chính người linh mục cũng cần tương quan, cần những người đáng tin để được nghe bằng con người thật. Sự kính trọng của nhiều người không tự động xóa đi nỗi cô đơn. Có khi danh xưng và vai trò khiến người phục vụ khó nói rằng mình đang mệt, đang hoang mang, đang cần giúp đỡ. Người ta đến mong nhận được điều gì, nên cha dần quen với việc phải có điều để trao. Nếu không có một nơi an toàn để nhìn lại đời mình, sứ vụ có thể trở thành chuỗi tiếp xúc mà trong đó ai cũng biết cha làm gì, ít người biết cha đang sống thế nào. Tình huynh đệ linh mục, đời sống cộng đoàn, sự đồng hành và những tương quan trưởng thành giúp người phục vụ được nâng đỡ. Khi có nơi để nói thật, ta có thể tiếp tục phục vụ với lòng tự do hơn. Khi nhận biết giới hạn của mình, ta cũng dễ có lòng cảm thông với giới hạn của người khác.
Trong cộng đoàn tu trì, sự gần gũi về không gian có thể che giấu khoảng cách nội tâm. Chúng ta chung nhà nguyện, chung giờ kinh, chung bàn ăn, chung thời khóa biểu, nhưng chưa chắc chung được những điều đang làm mỗi người thao thức. Một người đang gặp khó khăn về ơn gọi có thể chỉ nói mình hơi mệt. Một người bị tổn thương có thể chọn im lặng vì sợ bị xem là thiếu bác ái. Một người quá tải có thể không dám xin điều chỉnh công việc vì sợ bị đánh giá là thiếu hy sinh. Một người lớn tuổi có thể thấy mình mất dần vị trí mà không biết bày tỏ. Những cuộc trao đổi vẫn diễn ra, mọi việc vẫn vận hành, nhưng đời sống thật được cất riêng. Cộng đoàn cần xem lại điều gì khiến một người khó nói thật: cách phản ứng quá nhanh, thói quen kể chuyện sau lưng, những nhãn đã được gắn, hay việc mọi khó khăn đều bị giải thích bằng một kết luận đạo đức. Khi sự chân thành trở nên nguy hiểm, tương quan sẽ nghèo đi dù tương tác vẫn rất nhiều.
Một cộng đoàn đáng tin cần biết giữ lời chia sẻ riêng, góp ý đúng nơi, xử lý vấn đề rõ ràng và bảo vệ phẩm giá người liên quan. Người nhận lỗi cần được giúp sửa, thay vì bị dùng lỗi ấy để hạ thấp trong mọi dịp sau này. Người đang buồn cần có thời gian, thay vì bị buộc phải mau bình an cho tập thể dễ chịu. Người chưa muốn kể cần được tôn trọng, thay vì bị hỏi đến mức phải nói. Người nói điều khó nghe cần được lắng nghe nghiêm túc, dù ý kiến ấy còn cần được phân định. Những điều ấy không làm cộng đoàn thiếu kỷ luật; chúng giúp trách nhiệm được thực hiện trong sự thật và lòng bác ái. Một mái nhà có chiều sâu là nơi con người có thể lớn lên, không phải nơi ai cũng phải luôn chứng tỏ mình đã trưởng thành. Chúng ta sống chung để nâng đỡ nhau trong hành trình, và hành trình ấy còn có những giới hạn, những vấp ngã, những mùa khô hạn cần được chăm sóc.
Một trở ngại thường gặp là chúng ta muốn được hiểu nhưng lại khó mở lòng. Ta muốn người khác nhận ra mình đang buồn, nhưng khi được hỏi lại nói “không sao”. Ta mong có người đến gần, nhưng giữ vẻ lạnh lùng để họ không thấy mình yếu. Ta chờ một lời hỏi thăm, song cũng sợ rằng nếu kể ra, mình sẽ bị đánh giá. Những cách tự bảo vệ ấy thường mang một lịch sử: đã từng tin và bị phản bội, từng nói và bị cười, từng cần và bị xem là phiền. Vì thế, không thể đơn giản trách một người khép kín. Tuy nhiên, muốn một tương quan lớn lên, ta cần tìm những bước mở lòng phù hợp. Có thể chỉ bắt đầu bằng một câu nhỏ: “Chuyện ấy làm tôi buồn”, “hôm nay tôi cần được nghe một chút”, “tôi chưa biết phải giải quyết thế nào”. Không cần kể mọi điều cho mọi người, nhưng cần cho người đáng tin một cơ hội hiểu mình. Sự gần gũi khó lớn lên nếu cả hai người đều phải đoán.
Cũng có khi ta kể rất nhiều mà vẫn chưa sống thật trong tương quan. Ta thuật lại các biến cố, phân tích người khác, trình bày nỗi buồn, nhưng luôn giữ mình ở phía đúng. Ta muốn người nghe xác nhận điều mình đã kết luận, hơn là giúp mình thấy điều chưa thấy. Khi họ đặt một câu hỏi khác, ta cảm thấy bị phản bội. Khi họ nhận ra phần trách nhiệm của mình, ta cho rằng họ không thương. Một tương quan trưởng thành cần đủ tin cậy để sự thật được nói, kể cả sự thật làm ta khó chịu. “Có thể tôi đã hiểu lầm”, “tôi nghĩ mình đang ghen”, “tôi đã nói một lời quá nặng”, “tôi muốn mọi chuyện theo ý mình”. Những lời ấy không làm phẩm giá mất đi. Chúng mở đường cho việc sửa đổi. Người thương ta có thể vừa cảm thông với nỗi đau, vừa giúp ta nhận trách nhiệm về điều mình làm. Khi chấp nhận được điều đó, tương quan có thể đưa cả hai người đến một sự trưởng thành sâu hơn.
Chúng ta cũng cần học cách sống với bất đồng. Trong những tương tác ngắn, điều thuận tiện là rời đi khi không thích, bỏ qua khi khó chịu, ngừng trả lời khi không muốn giải thích. Có những hoàn cảnh cần đặt giới hạn hoặc giữ khoảng cách, nhất là khi có hành vi gây hại. Nhưng với những tương quan đáng gìn giữ, khó khăn thường đòi một cuộc đối thoại có trách nhiệm. Ta cần nói rõ sự việc, điều nó làm mình cảm thấy, điều mình cần và phần trách nhiệm mình nhận. Những câu “tùy anh”, “không có gì”, “muốn hiểu sao thì hiểu” dễ để lại một khoảng mờ trong đó mỗi người tự suy diễn. Người kia khó sửa điều chưa được trình bày. Ta cũng khó hiểu họ nếu chỉ nghe phiên bản câu chuyện do mình hoàn tất trong đầu. Một cuộc đối thoại tử tế có thể vẫn căng thẳng, nhưng giúp con người nhìn thấy nhau rõ hơn và tìm được điều cần thay đổi.
Sự thật cần được nói bằng lòng bác ái. Có người tự hào mình thẳng tính, nhưng thường dùng lời nói để làm người khác mất mặt. Có người cho rằng mình thành thật, nhưng chỉ chú ý đến việc câu nói có đúng hay không, ít xét mục đích, giọng điệu và thời điểm. Một dữ kiện đúng vẫn có thể bị sử dụng để gây đau. Nếu ta góp ý trong cơn giận, muốn thắng, muốn chứng minh mình hơn, người kia sẽ phải bảo vệ phẩm giá trước khi có thể nghe điều cần sửa. Sự rõ ràng có ích khi đi cùng lòng tôn trọng. Ta có thể nói cụ thể về một hành động, tránh biến nó thành căn tính của cả con người. Ta có thể diễn tả ảnh hưởng, đề nghị cách sửa, cho người kia cơ hội trình bày. Đồng thời, sự dịu dàng cũng cần can đảm. Vì sợ mất lòng, ta có thể để điều gây hại tiếp tục. Tương quan sâu đòi ta học nói điều cần nói và chịu trách nhiệm về cách nói.
Tha thứ cũng cần một chiều sâu như thế. Một lời xin lỗi không nên chỉ nhằm làm người kia ngừng buồn để mọi chuyện trở lại thuận tiện. Người gây tổn thương cần nhìn nhận điều mình đã làm, hiểu ảnh hưởng và thực hiện việc sửa đổi. Người bị tổn thương có thể muốn tha thứ mà vẫn còn đau. Họ có thể cần thời gian, cần những giới hạn và cần thấy sự thay đổi nhất quán trước khi tin tưởng trở lại. Ta không thể đòi một người lập tức vui vẻ chỉ vì mình đã nói xin lỗi. Sự kiên nhẫn là một phần của việc hàn gắn. Có những tương quan được hồi phục nhờ nhiều bước nhỏ, nhiều lần giữ lời, nhiều cuộc đối thoại. Có những hoàn cảnh cần sự giúp đỡ của người thích hợp để xử lý an toàn và rõ ràng. Lòng thương cần đi cùng trách nhiệm, để lời tha thứ không trở thành cách bỏ qua điều vẫn đang làm người khác đau.
Một tiêu chuẩn rất cụ thể của tương quan là cách ta nói về người không có mặt. Có người ân cần khi gặp trực tiếp, nhưng khi người kia rời đi lại kể chuyện riêng, thêm nhận xét, dùng vài chi tiết để tạo một ấn tượng không công bằng. Những cuộc trò chuyện ấy có thể đem lại tiếng cười hoặc sự tò mò, nhưng làm niềm tin hao mòn. Người nghe rồi sẽ hiểu rằng câu chuyện của mình cũng có thể bị đối xử như thế. Có những lời bàn tán được mở đầu bằng “tôi nói vì lo”, nhưng người nghe không có trách nhiệm giải quyết và các chi tiết chỉ khiến họ biết thêm điều riêng tư. Nếu thật sự muốn giúp, ta cần tìm đúng người, nói điều cần thiết, giữ mục đích rõ ràng. Một người có thể chấp nhận ta không đồng ý với họ; họ sẽ rất khó mở lòng nếu biết sự tin cậy của mình có thể trở thành câu chuyện cho người khác. Muốn được trao điều thật, ta cần trở nên người biết giữ điều đã được trao.
Trong tương quan, có một điều rất quý là khả năng hiện diện mà không cần làm mình nổi bật. Ta có thể ngồi cạnh người bệnh, nghe một câu chuyện lặp lại, giúp một việc nhỏ, cùng cầu nguyện khi họ muốn. Ta có thể ở bên người đang chịu tang mà không cố tìm một lời giải thích đủ hay. Ta có thể nghe người đang thất vọng mà chưa vội chứng minh mình hiểu hết. Có những nỗi đau cần một sự hiện diện kiên nhẫn hơn là một câu nói khéo. Người đang đau biết mình có người ở bên, biết ngày mai vẫn có thể được hỏi thăm, biết sự im lặng của mình không làm người kia khó chịu. Một cuộc gặp như thế có thể chẳng có điều gì để đưa lên mạng, chẳng tạo một hình ảnh đặc biệt, nhưng nó đi vào ký ức con người rất sâu. Có khi nhiều năm sau, người ta không nhớ ta đã nói gì, nhưng vẫn nhớ rằng trong một ngày khó khăn, ta đã chịu ngồi lại.
Tin Mừng cho chúng ta gặp nơi Đức Giêsu một cách hiện diện biết nhận ra con người giữa đám đông. Trong cuộc gặp với người phụ nữ Samari, câu chuyện đi từ việc xin nước đến những điều sâu trong đời chị và khát vọng thờ phượng Thiên Chúa (x. Ga 4,1-42). Trên đường Emmaus, Người đồng hành với hai môn đệ, để họ trình bày sự thất vọng, rồi giúp họ đọc lại những điều đã xảy ra trong ánh sáng Lời Chúa (x. Lc 24,13-35). Với ông Dakêu, cuộc gặp mở ra một sự thay đổi được diễn tả bằng trách nhiệm cụ thể đối với người khác (x. Lc 19,1-10). Những trình thuật ấy gợi cho chúng ta một câu hỏi: sau khi gặp mình, người khác có được hiểu hơn, được tôn trọng hơn, được giúp sống trong sự thật hơn không? Sự hiện diện của ta có tạo một khoảng để họ nói thật, hay khiến họ phải giữ một hình ảnh cho vừa lòng ta? Đời sống Kitô hữu được mời gọi học cách gặp gỡ ấy, với sự chú ý, lòng thương và khả năng đồng hành.
Tương quan với Thiên Chúa cũng cần được sống sâu hơn những hoạt động quen thuộc. Chúng ta đọc kinh, dự lễ, nghe giảng, chia sẻ Lời Chúa, gửi lời chúc đạo đức. Những việc ấy có thể nuôi dưỡng đức tin rất sâu, nhưng ta cần để lòng mình tham dự. Có thể miệng đọc lời cầu nguyện mà tâm trí chỉ đang chờ xong một bổn phận. Có thể ta nói nhiều với Chúa về điều muốn Người giải quyết, nhưng ít khi lắng nghe điều Người đang mời mình thay đổi. Có thể ta xin bình an cho gia đình, trong khi vẫn tránh một cuộc đối thoại cần thiết. Có thể ta suy niệm về lòng thương xót, nhưng chưa chịu bớt cay nghiệt với người sống bên cạnh. Một tương quan sống động với Chúa dần đi vào cách sử dụng ngày sống, cách nhận lỗi, cách giữ lời và cách nhìn con người. Lời kinh cần được mang qua cửa nhà nguyện để tiếp tục có hình hài trong đời thường.
Cầu nguyện chân thành cho phép ta đem đến trước Chúa con người thật của mình: sự quảng đại và tính toán, niềm vui và mệt mỏi, lòng thương và ghen tị, những điều đã làm tốt và những việc đang cần sửa. Có những ngày, ta chỉ có thể thưa: “Lạy Chúa, con đang rất khó chịu với người ấy. Xin giúp con hiểu điều đang xảy ra trong lòng và biết cư xử cho đúng”. Có những ngày, lời cầu nguyện là một sự im lặng được giữ trong lòng tin. Có những ngày, ta cần nhận mình đã làm người khác đau và xin can đảm để sửa. Sự thật ấy giúp đời sống thiêng liêng chạm đến đời sống thực tế. Nếu chỉ mang đến những lời đẹp, ta có thể giữ nguyên những phần đang cần được thanh luyện. Khi học sống thật trước Chúa, ta cũng có cơ hội bớt phòng thủ trước người khác, bớt phải chứng minh mình luôn đúng và có thêm sự khiêm nhường để lắng nghe.
Có một nghịch lý chúng ta cần nhìn nhận: đôi khi ta rất nhạy cảm với người xa mà thiếu kiên nhẫn với người gần. Một câu chuyện trên mạng làm ta xúc động, nhưng lời than của người thân lại khiến ta bực. Ta viết những lời rất dịu dàng cho người chưa từng gặp, nhưng nói với người cùng nhà bằng giọng cộc. Ta có thể dành một giờ giúp người ngoài, rồi liên tục nói “để sau” khi cha mẹ muốn trò chuyện. Lòng thương dành cho người xa có thể chân thật; điều cần làm là đưa lòng thương ấy trở về với những người đang có quyền mong chờ sự hiện diện của ta. Người gần biết các giới hạn của mình, nhắc những điều ta không thích, có những nhu cầu lặp lại và những thói quen làm ta khó chịu. Vì vậy, yêu người gần cần sự trưởng thành bền bỉ. Họ không nên chỉ nhận phần chú ý còn sót lại sau khi ta đã trao hết sự dễ chịu cho những cuộc gặp khác.
Một tương quan lành mạnh còn cần tôn trọng giới hạn. Có người vì sợ làm người khác thất vọng mà luôn trả lời ngay, luôn nhận thêm, luôn sẵn sàng, cho đến lúc kiệt sức và thấy mọi lời nhắn đều thành gánh nặng. Có người muốn sự gần gũi bằng cách đòi được biết mọi chuyện, đòi phản hồi mọi lúc, đòi mình phải là người đầu tiên được tìm đến. Những điều ấy khiến tình nghĩa ngột ngạt. Quan tâm cần đi cùng tự do. Người kia có trách nhiệm, có thời gian nghỉ, có những tương quan khác và có quyền giữ một phần riêng tư. Ta cũng cần nói thật về khả năng của mình: “Lúc này tôi chưa nghe trọn được, tối nay mình nói nhé”; “tôi muốn giúp, nhưng việc ấy vượt quá điều tôi có thể làm”; “tôi cần nghỉ rồi sẽ trở lại”. Khi giới hạn được trình bày tử tế và lời hẹn được giữ, tương quan có thể trở nên rõ ràng, an toàn và bền hơn.
Muốn tương quan sâu hơn, chúng ta cần trả lại cho nhau một phần sự chú ý đang bị chia nhỏ. Khi gặp một người, hãy thử hiện diện với người ấy trong thời gian mình có. Đặt điện thoại xuống khi có thể. Nghe hết câu chuyện trước khi đáp. Hỏi thêm điều chưa hiểu. Nhớ lại điều đã được trao lần trước: “Mẹ anh khỏe hơn chưa?”, “chuyện ở trường con kể hôm trước thế nào rồi?”, “sau cuộc họp ấy, chị có còn buồn không?”. Những câu hỏi cho thấy người kia đã có một chỗ trong ký ức và lòng quan tâm. Không phải cuộc gặp nào cũng cần dài. Một lời nhắn ngắn vẫn có thể sâu nếu nó mang sự chú ý thật. Một cuộc gọi ít phút vẫn có thể ấm nếu người nghe được nhận ra. Điều cần tập là bớt làm nhiều việc trong cùng một cuộc gặp, bớt dùng người kia như một nơi để xả lời, thêm khả năng đón nhận điều họ đang muốn nói.
Tình nghĩa cũng được xây bằng những việc rất ít được nhìn thấy: gọi lại như đã hứa, báo khi không thể đến, trả điều đã mượn, cảm ơn điều đã nhận, nhận lỗi về một lời cụ thể, thực hiện phần trách nhiệm của mình. Những việc ấy trả lời một câu hỏi sâu: tôi có thể tin người này không? Nhiều tương quan mòn đi qua những lời hứa nhẹ, những cuộc hẹn bị quên, những sự quan tâm chỉ xuất hiện khi thuận tiện. Một người có thể nói rất nhiều lời thương mà vẫn khiến người kia sống trong chờ đợi và bất an. Vì thế, muốn đến gần nhau, ta cần nhìn lại sự nhất quán. Không thể luôn đáp ứng mọi nhu cầu, nhưng có thể nói rõ điều làm được và làm điều đã nhận. Một lời quan tâm có sức khi được nối với hành động. Sự đáng tin thường lớn lên chậm, qua ngày này đến ngày khác, và chính sự chậm ấy tạo nền cho chiều sâu.
Có những người cần ta chủ động đến gần vì họ đã im lặng quá lâu. Đó có thể là người cha ít nói, người mẹ quen chịu đựng, người bạn luôn cười để cuộc gặp nhẹ nhàng, người anh em mới chuyển đến, người cao tuổi ở cuối bàn, người giáo dân đã vắng nhiều tuần. Ta không nên ép họ chia sẻ, nhưng có thể mở một cánh cửa bằng sự tế nhị: một lời hỏi, một chỗ ngồi, một cuộc thăm, một sự giúp đỡ phù hợp. Không phải ai ít nói cũng muốn được hỏi nhiều; có người cần riêng tư và một nhịp chậm. Sự quan tâm cần biết tôn trọng điều ấy. Ta có thể cho họ biết mình sẵn sàng nghe, rồi kiên nhẫn để sự tin cậy lớn lên. Một người từng bị tổn thương có thể cần nhiều lần trải nghiệm rằng lời mình được giữ, cảm xúc mình được coi trọng và sự thành thật không khiến mình bị hạ thấp. Tương quan không thể bị thúc ép cho sâu; nó cần được chăm sóc để trở nên an toàn.
Khi than rằng không ai thật sự quan tâm, chúng ta cũng có thể nhìn lại cách mình tham dự vào tình nghĩa. Nỗi cô đơn cần được thương, đồng thời có những câu hỏi giúp ta bước ra khỏi sự chờ đợi: mình đã dành cho ai sự lắng nghe đang mong muốn chưa? Có thường tìm người khác chỉ khi cần một việc không? Có nhớ đến họ trong những ngày họ không chủ động liên lạc không? Có nói rõ nhu cầu hay luôn chờ họ đoán? Có đang mong một người luôn hiểu đúng, luôn có mặt, luôn đáp ứng, để rồi không nhận ra những cách thương còn vụng về nhưng chân thành? Những câu hỏi ấy không nhằm trách người đang buồn. Chúng giúp ta nhận lại phần tự do của mình trong việc xây dựng tương quan. Có thể bắt đầu bằng một cuộc hẹn chủ động đề nghị, một lời hỏi thăm chân thành, một câu nói rõ điều mình cần. Ta cần chọn người đáng tin, và cũng cần dám tham dự vào việc tạo nên sự tin cậy.
Cuối cùng, điều đáng nhìn lại sau một ngày có thể không nằm ở số lượng người đã đáp lại ta. Hãy thử nhớ xem mình đã thật sự gặp ai. Có ai được nghe trọn một câu chuyện vì ta chịu dừng lại? Có ai bớt thấy mình là gánh nặng nhờ cách ta nói? Có điều riêng tư nào được giữ gìn? Có lời hẹn nào được thực hiện? Có người thân nào được nhìn bằng một ánh mắt mới? Có một bất đồng nào được trình bày tử tế? Có một lỗi nào được nhận mà không tìm cách đẩy trách nhiệm? Những việc ấy ít gây chú ý, nhưng làm đời sống chung thay đổi. Một bữa ăn có thêm sự gặp gỡ. Một gia đình có thêm sự tin cậy. Một cộng đoàn có thêm chỗ cho người yếu. Một tình bạn có thêm sự tự do. Một giáo xứ có thêm những người cảm thấy mình được thuộc về. Chiều sâu được xây trong những điều cụ thể như thế.
Có thể chúng ta không cần được mọi người biết hết, nhưng cần có những người trước mặt họ mình được sống thật. Không cần mọi lời nói đều được tán thưởng, nhưng cần có người nghe để hiểu và góp ý bằng lòng thương. Không cần được nhắc tên liên tục, nhưng cần biết sự vắng mặt của mình sẽ được nhận ra. Không cần luôn vui để được đón nhận, luôn hữu ích để có chỗ, luôn mạnh để giữ phẩm giá. Và điều ta cần cũng là điều nhiều người quanh ta đang cần. Người mẹ gọi lại một chuyện cũ, người con nán bên cửa, người bạn gửi một lời chào, người anh em ăn cơm trong im lặng, người giáo dân đứng chờ sau lễ có thể đang mang một lời mời rất nhẹ: xin dành cho tôi một chút hiện diện thật. Nếu lòng mình bớt vội, ta có thể nghe được lời mời ấy và đáp lại bằng một việc vừa sức nhưng chân thành.
Một ngày nào đó, khi nhìn lại đời mình, có lẽ điều làm ta biết ơn sâu nhất sẽ là những con người đã chịu ở lại. Người nghe ta trong một giai đoạn khó. Người không đem sai lầm của ta đi kể. Người nhắc ta điều cần sửa mà vẫn giữ phẩm giá. Người nhận ra ta đang mệt dù ta chưa nói. Người giữ lời trong một việc nhỏ. Người trở lại hỏi thăm khi biến cố đã không còn mới. Những người ấy giúp ta tin rằng tình thương có thật và con người có thể trở nên nơi nâng đỡ cho nhau. Chúng ta cũng có thể trở thành một người như thế trong đời ai đó. Có thể mình không làm được nhiều việc lớn, nhưng có thể nghe một người cho đến nơi, giữ một điều riêng tư, thực hiện một lời hứa, sửa một cách cư xử, dành một khoảng hiện diện. Tương tác sẽ có chiều sâu khi con người được nhớ đến bằng trách nhiệm và lòng thương.
Lạy Chúa, giữa những ngày có quá nhiều thông tin và quá nhiều tiếng nói, xin giúp chúng con giữ khả năng lắng nghe. Xin cho chúng con nhận ra con người phía sau mỗi lời nhắn, mỗi câu chuyện và mỗi sự im lặng. Khi người khác tìm đến, xin cho chúng con bớt vội kết luận, bớt muốn chứng minh mình hiểu hết, bớt dùng lời khuyên để kết thúc một cuộc trò chuyện chưa được nghe trọn. Xin giúp chúng con biết hỏi bằng lòng quan tâm, nghe bằng sự khiêm nhường và nói bằng lòng bác ái. Xin cho những phương tiện đang có trở thành sự trợ giúp để chúng con gìn giữ tình nghĩa. Xin dạy chúng con biết đặt xuống điều đang làm mình phân tán, để nhìn người ở trước mặt với sự chú ý xứng đáng. Xin cho những cuộc gặp của chúng con có thêm sự thật, những lời hỏi thăm có thêm ký ức và những lời hứa có thêm trách nhiệm.
Xin thương các gia đình đang sống chung mà chưa hiểu nhau. Xin cho cha mẹ biết nghe thế giới của con, cho con cái biết nhận ra những hy sinh và giới hạn của cha mẹ, cho vợ chồng có can đảm nói điều đang làm mình xa nhau và có lòng khiêm nhường để sửa phần của mình. Xin cho người cao tuổi được nhớ đến bằng những cuộc gọi, những chuyến thăm và sự kiên nhẫn. Xin cho những cộng đoàn biết chăm sóc người yếu, nghe người ít nói, đón người mới và giữ phẩm giá người đang gặp khó khăn. Xin nâng đỡ những người linh mục, tu sĩ và những ai đang phục vụ, để họ có nơi được lắng nghe, được đồng hành và được làm mới tình yêu. Xin thương những người đang cô đơn giữa rất nhiều liên lạc, những người được nhiều người tìm đến mà chưa có ai để tìm về, những người đã khép lòng vì từng bị tổn thương. Xin gửi đến họ những tương quan đáng tin và giúp chúng con trở thành một phần của sự nâng đỡ ấy.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con cách ở lại với nhau trong những việc rất bình thường. Xin cho chúng con biết nghe khi người kia nói chậm, biết tôn trọng khi họ chưa thể mở lòng, biết nhận lỗi khi mình đã gây đau và biết giữ những giới hạn cần thiết để tình nghĩa được tự do. Xin gìn giữ chúng con khỏi thói quen kể chuyện người vắng mặt, khỏi sự quan tâm chỉ xuất hiện khi thuận tiện và khỏi việc đo giá trị con người bằng khả năng đem lại lợi ích. Xin cho mỗi người sống cạnh chúng con cảm nhận được rằng họ có một chỗ, được coi trọng, được nhớ đến và được thương. Và trong tương quan với Chúa, xin cho chúng con đem đến con người thật của mình, ở lại với Lời Chúa và để tình yêu Chúa đi vào cách chúng con gặp nhau. Xin làm cho đời sống chúng con có những tương quan được chăm sóc bằng sự trung tín, để giữa những giới hạn và đổi thay, chúng con vẫn có thể nâng đỡ nhau cùng bước đi. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Previous articleCHÚA CHUNG MỘT NHÀ, TÌNH THƯƠNG MỖI NGƯỜI MỘT KHÓA – Lm. Anmai, CSsR
Next articleTHUỘC ĐƯỜNG LÊN THIÊN ĐÀNG, QUÊN LỐI ĐẾN NHÀ NHAU – Lm. Anmai, CSsR