
VƯỢT LÊN TRÊN NHỮNG ỒN ÀO – Lm. Anmai, CSsR
Học nơi Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen cách lắng nghe Thiên Chúa giữa một thế giới không ngừng lên tiếng
Có những tiếng ồn ta nghe được bằng tai: tiếng xe cộ ngoài đường, tiếng chuông điện thoại, tiếng một đoạn phim tự động phát, tiếng nhiều người cùng nói trong một căn phòng. Chỉ cần đóng cửa hoặc đi đến một nơi yên tĩnh, những âm thanh ấy có thể nhỏ lại. Nhưng còn một thứ ồn ào khác khó rời xa hơn nhiều. Nó theo ta vào phòng ngủ, theo ta đến nhà thờ, theo ta cả vào những phút ta tưởng mình đang cầu nguyện. Đó là tiếng của những việc chưa làm xong; của một lời nhận xét làm ta tổn thương; của nỗi sợ mình không đủ giỏi, không đủ tốt, không được yêu; của nhu cầu phải theo kịp người khác; của hàng trăm câu hỏi nhỏ chen nhau đến mức ta không còn nghe được câu hỏi lớn nhất: “Lạy Chúa, con đang sống đời con trước mặt Ngài như thế nào?” Bởi vậy, giữa thời đại có quá nhiều phương tiện để nói, điều con người thiếu chưa chắc là thêm một lời nói. Có khi điều ta cần nhất là tìm lại một nơi để lòng mình được lắng xuống.
Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen bước vào câu hỏi ấy từ một cuộc đời tưởng chừng thuộc về phía đối diện của thinh lặng. Ngài là một người rao giảng có sức thu hút đặc biệt, một vị giám mục đã dùng phát thanh và truyền hình để đem những câu hỏi về đức tin vào đời sống thường ngày của hàng triệu người. Trên chương trình The Catholic Hour rồi Life Is Worth Living, ngài nói về Thiên Chúa, tình yêu, tự do, cám dỗ, đau khổ và ý nghĩa cuộc sống bằng ngôn ngữ người nghe có thể đem về suy nghĩ trong chính gia đình mình. Nhưng đằng sau tiếng nói công khai ấy là một thực hành âm thầm: trong nhiều thập niên, ngài dành một Giờ thánh mỗi ngày trước Thánh Thể. Đức cha Louis Tylka, khi suy tư về chứng tá của ngài trước lễ phong Chân phước, đã đặt hai khung cảnh đó cạnh nhau: người nói với hàng triệu người cũng là người học cách thinh lặng trước Đức Kitô. Chính nơi không có máy quay và khán giả, sứ vụ công khai của ngài tìm thấy nguồn sống.
Ta có thể ngưỡng mộ một người nói hay mà chưa hiểu điều làm cho lời nói ấy đáng nghe. Tài hùng biện có thể giữ sự chú ý của khán giả trong một lúc. Sự thông minh có thể khiến họ kinh ngạc. Kỹ thuật trình bày có thể giúp một ý tưởng lan rất xa. Nhưng để một lời nói tìm được đường vào lương tâm, chạm đến nơi một người đang đau, đang hối hận hay đang tìm đường trở về, người nói phải mang đến nhiều hơn kỹ năng. Họ cần biết điều mình nói đã được thử thách trong đời mình. Họ cần đủ khiêm tốn để hiểu rằng người ngồi phía bên kia màn hình không phải một con số, mà là một con người với một lịch sử không thể thu gọn vào lượt xem. Họ cần biết dừng lại trước Thiên Chúa để chính mình được hỏi, được sửa dạy, được an ủi. Một người chỉ tìm cách thu hút có thể khiến đám đông quay đầu về phía mình. Một chứng nhân chân thật giúp người khác nhận ra Đức Kitô. Đó là sự khác biệt rất lớn, dù bề ngoài cả hai đều đang cầm micro.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà gần như bất cứ ai cũng có thể cất tiếng nói trước công chúng. Chỉ với chiếc điện thoại, một người có thể chia sẻ suy nghĩ của mình cho hàng nghìn người trong vài giây. Điều đó mở ra nhiều điều tốt đẹp. Một giáo lý viên ở nơi xa có thể nghe một bài giảng hữu ích. Một người bệnh không thể đến nhà thờ có thể theo dõi lời cầu nguyện của cộng đoàn. Một bạn trẻ ngại đặt câu hỏi trực tiếp có thể tìm thấy một lời giải thích sáng sủa về đức tin. Một gia đình đang sống giữa những ngày nặng nề có thể bất ngờ gặp một câu Tin Mừng giúp họ đủ sức đi tiếp. Nhưng cùng một phương tiện ấy cũng có thể khiến ta quen sống trong sự phân tán. Vừa nghe một người nói, ta đã nghĩ đến việc khác; vừa đọc một đoạn văn, ta đã nhìn sang thông báo mới; vừa bắt đầu một cuộc trò chuyện, ta đã đưa tay tìm điện thoại. Chúng ta được nối với rất nhiều nơi nhưng không dễ ở trọn vẹn tại nơi mình đang đứng. Bài viết của Đức cha Tylka nhận ra nghịch lý ấy: phương tiện giúp con người liên lạc dễ hơn vẫn có thể đi cùng cảm giác cô đơn, chia rẽ và khát khao một tương quan thật.
Nỗi cô đơn ấy có thể hiện diện ngay trong một căn nhà đông người. Buổi tối, cha mẹ và con cái ngồi gần nhau nhưng mỗi người nhìn vào một màn hình. Bữa ăn có đủ món mà không có câu chuyện nào được kể đến cuối. Một em nhỏ muốn khoe chuyện ở trường, thấy người lớn vừa nghe vừa trả lời tin nhắn, nên em nói ngắn dần. Một người mẹ có điều lo lắng, nhưng nhìn quanh ai cũng bận, nên tự nhủ để ngày mai. Một người cha trở về sau một ngày thất bại, không biết bắt đầu từ đâu, nên nói mình chỉ mệt. Từng chuyện riêng lẻ có vẻ nhỏ. Không ai cố ý đẩy ai ra xa. Vậy mà qua nhiều tháng, nhiều năm, những điều chưa được nghe có thể tích lại thành khoảng cách. Người ta vẫn ở cùng một mái nhà, vẫn chăm sóc nhau, vẫn nhắn cho nhau những việc cần làm, nhưng thiếu cảm giác được gặp thật sự. Khi ấy, lời mời gọi thinh lặng không chỉ dành cho lúc một người ngồi một mình trong nhà nguyện. Nó còn là lời mời đặt điện thoại xuống để nhìn người đang ở trước mặt, nghe trọn một câu trả lời, chịu đựng vài giây ngập ngừng mà không vội lấp đầy bằng lời khuyên.
Có lẽ chính vì vậy mà cuộc đối thoại quan trọng nhất của đời người, như bài suy tư về Đức Tổng Giám mục Sheen gợi mở, phải bắt đầu nơi sâu thẳm của tâm hồn. Ở đó, ta không còn có thể nấp sau một hồ sơ được chọn lọc kỹ, một bức ảnh đẹp hay một câu trả lời nhanh. Ta gặp con người thật của mình. Người ấy có thể rất tốt bụng mà vẫn ích kỷ trong vài hoàn cảnh; có thể mạnh mẽ trước mặt nhiều người mà lại sợ hãi khi ở một mình; có thể yêu Chúa chân thành mà vẫn có những vùng chưa muốn Chúa chạm vào. Cầu nguyện không đòi ta sửa xong tất cả rồi mới bước vào. Cầu nguyện là bước vào với tất cả những điều còn chưa xong và thưa: “Lạy Chúa, đây là con.” Đôi khi chỉ một câu đơn sơ ấy cũng đã khó, bởi ta quen trình bày với người khác phiên bản mình muốn họ thấy. Trước mặt Chúa, ta được mời bỏ công sức giữ hình ảnh ấy. Ta được phép là người cần được yêu thương và cứu độ.
Đức Tổng Giám mục Sheen không tìm đến Thánh Thể để trốn trách nhiệm lên tiếng trước thế giới. Cuộc đời ngài cho thấy điều ngược lại: từ cuộc gặp gỡ với Chúa, ngài có thể bước vào những phương tiện mới và những câu hỏi khó của thời mình. Đây là một bài học cần thiết. Có người nghĩ đời sống nội tâm là chuyện rút lui khỏi những vấn đề cụ thể, vào một nơi an toàn, chỉ lo giữ tâm hồn mình bình an. Nhưng nếu một người cầu nguyện thật, họ sẽ dần nhìn thế giới rõ hơn. Họ thấy người nghèo không phải một đề tài, mà là những con người có tên và có nhu cầu. Họ thấy người đang bất đồng với mình không chỉ là một ý kiến sai cần phản bác, mà là một người phải được tôn trọng. Họ thấy những bất công trong cộng đoàn không thể được che lại bằng những lời đạo đức chung chung. Họ thấy mình cũng có phần trách nhiệm trong những tổn thương đã gây ra. Thinh lặng trước Chúa có thể đem lại bình an, nhưng thứ bình an ấy không đồng nghĩa với việc tránh mọi điều làm mình khó chịu. Nó cho ta đủ tự do để nhìn sự thật mà không lập tức chạy trốn.
Điều ấy đặc biệt quan trọng khi chúng ta nói về truyền thông tôn giáo. Tin Mừng không phải một món nội dung cần được trang trí thật hấp dẫn để thắng một cuộc cạnh tranh chú ý. Tin Mừng là tin về Đức Giêsu Kitô, Đấng gặp con người trong sự thật của họ và mời họ bước vào một đời sống mới. Vì thế, cách nói về Tin Mừng phải tôn trọng chính những người được mời nghe. Nếu dùng nỗi sợ để giữ người xem, dùng sự tức giận để đẩy lượt chia sẻ, dùng chuyện đau khổ của người khác làm chất liệu gây xúc động mà quên hỏi họ có muốn câu chuyện ấy được kể hay không, ta có thể đạt được sự lan truyền nhưng đánh mất điều mình muốn phục vụ. Nếu một bản tin Công giáo nhanh mà thiếu chính xác, hậu quả không dừng ở chuyện một thông tin sai đã được đăng. Có người bị hiểu lầm, có người chịu tổn thương, có người mất lòng tin. Một lời được nói ra dưới danh nghĩa đức tin càng cần được chuẩn bị bằng lương tâm cẩn trọng. Trước khi nhấn nút đăng, ta có thể dừng lại và hỏi: điều này có đúng không, có công bằng không, có cần nói theo cách này không, và người sẽ nhận nó là ai?
Không phải câu hỏi nào cũng trả lời được trong vài giây. Sự chậm lại vì thế có giá trị đạo đức. Một người vội vàng có thể tưởng mình đang bảo vệ chân lý khi thực ra đang bảo vệ sự tự ái. Một người thấy một tin phù hợp với điều mình đã tin sẵn có thể chia sẻ ngay mà không kiểm chứng. Một người vừa bị phản đối có thể viết lời đáp sắc bén đến mức thắng được cuộc tranh luận nhưng làm một tương quan không còn đường hàn gắn. Trái lại, một người chịu cầu nguyện trước khi trả lời có thể nhận ra mình đang giận; một người chịu đọc trọn câu chuyện có thể nhận ra sự việc phức tạp hơn; một người chịu hỏi ý người liên quan có thể tránh được điều bất công. Thinh lặng trong trường hợp ấy không phải thiếu can đảm. Đó là cách để lời nói, khi đến lúc cần nói, mang theo sự thật và lòng bác ái.
Đức Tổng Giám mục Sheen đã sống vào thời truyền hình còn đem đến cho người ta cảm giác mới mẻ. Hình ảnh một vị giám mục đứng trước máy quay với chiếc bảng đen và trình bày những vấn đề lớn của đời người là một lựa chọn sáng tạo. Hôm nay, nếu chỉ sao chép hình thức ấy, có lẽ ta sẽ bỏ lỡ bài học sâu hơn. Điều đáng học không phải nhất thiết là phải chọn một phương tiện giống ngài, một giọng nói giống ngài, hay một kiểu xuất hiện giống ngài. Điều đáng học là khả năng nhận ra con người thời mình đang ở đâu và đem lời hy vọng đến đó mà không đánh mất linh hồn mình. Nếu người ta đang tìm kiếm trên mạng, Hội Thánh cần có những người đủ hiểu môi trường ấy để hiện diện cách sáng suốt. Nếu người ta đang cô đơn trong một thành phố đông đúc, Hội Thánh cần những cộng đoàn biết mở cửa và biết dành thời gian. Nếu người trẻ sợ bị xét đoán khi đến nhà thờ, họ cần được gặp những con người có thể nghe câu hỏi của họ đến cuối. Sáng tạo mục vụ bắt đầu khi ta quan tâm thật đến người mình muốn phục vụ.
Song sáng tạo nào cũng cần được soi xét bằng mục đích. Một video có thể rất đẹp, nhưng nó có mở lối vào cuộc gặp gỡ với Chúa không? Một buổi sinh hoạt có thể rất đông, nhưng người tham dự có được nhận ra và chăm sóc sau khi chương trình kết thúc không? Một bài viết có thể được chia sẻ rộng rãi, nhưng nó có giúp người đọc sống hiền hòa hơn với người trong nhà không? Một người có thể được mời nói ở nhiều nơi, nhưng còn có ai dám nói thật với họ khi họ sai không? Thành công bên ngoài đôi khi làm một người bận đến mức mất liên hệ với chính lòng mình. Bởi vậy, Giờ thánh hằng ngày của Đức Tổng Giám mục Sheen mang một ý nghĩa rất thực tế: giữa bao nhiêu lời mời, bao nhiêu công việc và bao nhiêu ánh nhìn hướng về mình, ngài vẫn cần một nơi để đứng trước Đấng không bị lóa mắt bởi thành tích của ngài. Ở đó, ngài vẫn là một người môn đệ.
Tôi nghĩ nhiều đến những linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, người làm bác ái, người phụ trách các trang truyền thông giáo xứ. Họ thường dành phần lớn thời gian cho những nhu cầu có thật của người khác. Có người vừa kết thúc lớp giáo lý đã phải đến bệnh viện. Có người soạn bài chia sẻ vào giờ người khác nghỉ. Có người trả lời những câu hỏi đức tin rất khó trong khi chính mình chưa kịp cầu nguyện. Có người đứng giữa đám đông vui vẻ mà tối về lại cảm thấy một nỗi trống vắng không gọi tên được. Sự mệt mỏi ấy cần được nhìn nhận bằng lòng thương, không phải bằng lời trách. Chứng tá của Đức Tổng Giám mục Sheen không phải một cây thước dùng để khiến người đang kiệt sức cảm thấy mình còn thiếu sót. Nó là lời nhắc rằng người chăm sóc cũng cần được chăm sóc; người trao hy vọng cũng cần trở về với nguồn hy vọng; người rao giảng về Chúa cũng cần được phép ngồi trước Chúa mà không phải chuẩn bị điều gì để nói. Một giờ cầu nguyện, hay một khoảng cầu nguyện vừa sức trong hoàn cảnh cụ thể, có thể là cách người phục vụ nhớ lại rằng mình không phải Đấng Cứu Độ. Công trình của Chúa không hoàn toàn nằm trên đôi vai một mình họ.
Đời sống nội tâm còn giúp ta nhận ra điều thường bị tiếng ồn che phủ: chúng ta không thật sự làm chủ mọi kết quả. Người ta có thể chuẩn bị một bài giảng cẩn thận mà không biết câu nào sẽ ở lại với người nghe. Một giáo lý viên có thể nghĩ buổi học của mình chẳng có gì đặc biệt, nhưng nhiều năm sau một em nhỏ vẫn nhớ cách mình được đối xử hôm ấy. Một lời thăm hỏi tưởng rất thường có thể đến đúng lúc một người đang định bỏ cuộc. Ngược lại, một chương trình được chuẩn bị lớn lao có thể không sinh hoa trái theo cách ta dự tính. Đức Giáo hoàng Lêô XIV, theo bài viết của Đức cha Tylka, đã nhắc đến ảnh hưởng sứ vụ truyền thông của Đức Tổng Giám mục Sheen trên chính tuổi thơ của mình. Một người rao giảng không thể biết hết lời mình sẽ đi đến đâu. Ý thức ấy giúp ta làm việc tận tâm và đồng thời khiêm tốn. Ta gieo hạt bằng tất cả khả năng mình có, rồi để Thiên Chúa làm điều chỉ Người biết làm.
Có lẽ đó là lý do tên chương trình Life Is Worth Living vẫn lay động sau nhiều thập niên. “Cuộc đời đáng sống” không phải câu nói dễ dàng nếu được nghe bởi người đang chịu đau khổ. Một người mất con không cần ai vội giải thích vì sao đời họ vẫn đáng sống. Một bệnh nhân đau kéo dài không cần một khẩu hiệu lạc quan để nỗi đau của mình bị xem nhẹ. Một người trẻ đang mang trầm buồn không cần được bảo rằng chỉ việc suy nghĩ tích cực là đủ. Nếu nói cuộc đời đáng sống theo tinh thần Tin Mừng, ta phải đủ kiên nhẫn để ở bên con người trong cả những ngày họ không cảm thấy điều đó. Ta nói bằng việc bảo vệ sự sống của họ, bằng chăm sóc, bằng một bữa ăn, bằng chuyến đi bệnh viện, bằng sự hiện diện sau những lời chia buồn đầu tiên đã qua. Ta nói bằng việc nhắc họ rằng phẩm giá không rời khỏi họ khi sức khỏe suy yếu, khi việc làm mất đi, khi họ cần người khác giúp đỡ. Những điều ấy cho câu nói một trọng lượng thật.
Từ đó, ta hiểu thinh lặng và lời nói không hề xa nhau. Có một thứ im lặng do sợ hãi, khiến ta không dám bênh vực người bị đối xử bất công. Có một thứ im lặng do dửng dưng, khiến ta biết người khác cần giúp mà vẫn quay đi. Những sự im lặng ấy không phải điều Đức Tổng Giám mục Sheen gợi lên. Sự thinh lặng của cầu nguyện giúp ta nghe rõ lúc nào phải lên tiếng. Có thể phải nói một lời xin lỗi mà mình đã né tránh. Có thể phải can đảm báo cho người có trách nhiệm về một nguy cơ đối với trẻ em. Có thể phải từ chối lan truyền một câu chuyện chưa được kiểm chứng dù mọi người xung quanh đang chia sẻ. Có thể phải nói với người thân rằng mình yêu họ, trước khi lại tự nhủ lúc nào họ cũng biết rồi. Có thể phải nói với một người đang tuyệt vọng rằng mình sẽ ở lại và giúp họ tìm người đồng hành. Lời nói được sinh ra từ thinh lặng có khi rất nhỏ, nhưng đến đúng nơi cần đến.
Hành trình tiến tới lễ phong Chân phước của Đức Tổng Giám mục Sheen cũng đưa ta đến một bài học về sự kiên nhẫn trước lịch sử. Ngài được nhìn nhận là Đấng Đáng Kính năm 2012; một phép lạ được quy cho lời chuyển cầu của ngài được công nhận năm 2019. Lễ phong Chân phước từng được dự kiến vào cuối năm đó, rồi được hoãn để xem xét thêm những quan ngại liên quan đến thời gian ngài lãnh đạo Giáo phận Rochester. Năm 2026, Tòa Thánh cho biết tiến trình có thể tiếp tục và ấn định Thánh lễ phong Chân phước ngày 24 tháng 9 tại St. Louis. Những dữ kiện ấy cần được nói chính xác, vì đời sống Hội Thánh không được phục vụ bằng sự hấp tấp. Lòng yêu mến một chứng nhân không buộc ta giả vờ rằng các câu hỏi khó chưa từng được nêu lên. Trái lại, càng trân trọng sự thánh thiện, ta càng phải coi trọng sự thật.
Điều ấy càng quan trọng đối với những câu hỏi liên quan đến lạm dụng và cách những người có trách nhiệm đã hành động. Đằng sau các hồ sơ, các cuộc điều tra và những thuật ngữ pháp lý luôn có những con người thật. Người bị hại không phải một dòng chú thích bên lề niềm vui của cộng đoàn. Có những người mất nhiều năm mới đủ can đảm kể điều đã xảy ra. Có người phải mang tổn thương đi qua tuổi trẻ, qua đời sống gia đình, qua cả mối tương quan với Thiên Chúa. Nếu Hội Thánh muốn rao giảng một Thiên Chúa biết nghe tiếng kêu của con người, Hội Thánh phải tập nghe những tiếng kêu ấy với sự kính trọng. Điều này đòi hỏi bảo vệ người dễ bị tổn thương, tìm hiểu sự việc nghiêm túc, chịu trách nhiệm và tránh mọi lời lẽ khiến người bị hại tưởng rằng nỗi đau của họ đang cản trở một ngày lễ. Đó cũng là cách thực hành bài học về sự thinh lặng: ngừng tự vệ đủ lâu để nghe một người khác kể sự thật của họ.
Khi nói về một vị sắp được phong Chân phước, chúng ta cũng cần nhớ phong Chân phước không có nghĩa biến một con người thành nhân vật không còn thuộc lịch sử. Các chứng nhân của đức tin đã sống giữa hoàn cảnh cụ thể, làm những việc cụ thể, có trách nhiệm cụ thể. Hội Thánh phân định chứng tá của họ để mời tín hữu tạ ơn Thiên Chúa và học những điều tốt đẹp nơi cuộc đời ấy. Việc học hỏi đó càng sâu sắc khi được thực hiện với lương tâm ngay thẳng. Ta không cần làm cho Đức Tổng Giám mục Sheen thành một biểu tượng có thể trả lời thay mọi câu hỏi của hiện tại. Ta có thể học nơi ngài tình yêu Thánh Thể, lòng nhiệt thành loan báo Tin Mừng, khả năng dùng truyền thông cách sáng tạo, và đồng thời tiếp tục nghiêm túc với trách nhiệm bảo vệ con người trong Hội Thánh hôm nay. Một lòng yêu mến trưởng thành có chỗ cho cả lòng biết ơn lẫn sự thật.
Câu chuyện phép lạ liên quan đến bé James Fulton Engstrom làm sáng lên một phương diện khác của hành trình này. Em chào đời năm 2010 trong tình trạng không có mạch. Gia đình và những người chung quanh đã cầu xin Đức Tổng Giám mục Sheen chuyển cầu; sau các nỗ lực hồi sức, tim em đập trở lại và em hồi phục. Hội Thánh đã điều tra rồi nhìn nhận phép lạ được quy cho lời chuyển cầu ấy. Với gia đình em, đó là một ký ức mà không từ ngữ nào có thể kể hết: giờ phút sợ hãi bên một đứa con vừa chào đời, những lời cầu nguyện khẩn thiết, những người chăm sóc y tế làm tất cả điều có thể, rồi niềm vui khi sự sống tiếp tục. Khi nói về câu chuyện ấy, chúng ta quy mọi ơn lành về Thiên Chúa và hiểu lời chuyển cầu của các thánh trong mối hiệp thông của Hội Thánh.
Tuy nhiên, lòng biết ơn trước một phép lạ phải làm trái tim ta rộng ra, chứ không khiến ta quên những gia đình không có một kết thúc như thế. Có những người cha người mẹ đã cầu nguyện đến cạn lời mà vẫn phải ôm con lần cuối. Có những người bệnh tin Chúa hết lòng nhưng vẫn qua đời. Có những người chăm sóc âm thầm nhiều năm mà không thấy một sự chữa lành nào rõ rệt. Đứng trước họ, ta phải cẩn thận với mọi câu nói gợi ý rằng nếu họ có đủ đức tin thì kết quả đã khác. Không ai trong chúng ta có quyền đọc mầu nhiệm đau khổ của một người khác bằng một công thức đơn giản. Niềm tin vào phép lạ có thể giúp ta tiếp tục cầu xin, tiếp tục hy vọng, tiếp tục mở lòng trước điều Thiên Chúa có thể thực hiện. Cùng lúc, niềm tin ấy mời ta trung thành ở bên nhau khi điều được xin chưa xảy ra. Người ngồi bên giường bệnh, lau trán cho bệnh nhân và cầu nguyện cùng gia đình cũng đang làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa.
Thật ra, nhiều điều thay đổi đời người không xuất hiện như một biến cố lớn. Một đứa trẻ được một người lớn lắng nghe nghiêm túc có thể tìm lại lòng tin. Một bạn trẻ được hỏi “Con có muốn kể thêm không?” thay vì bị mắng ngay có thể lần đầu dám nói mình đang gặp nguy hiểm. Một người vợ được chồng nhận ra sự mệt mỏi sau nhiều tháng có thể cảm thấy gánh nặng trên vai nhẹ đi. Một người đàn ông lớn tuổi được con gọi điện và không vội kết thúc cuộc nói chuyện có thể vui suốt cả tuần. Những việc ấy không làm người ta kinh ngạc như phép lạ được thuật lại trong một hồ sơ phong Chân phước. Nhưng chúng nhắc ta rằng Thiên Chúa cũng làm việc qua sự trung thành rất bình thường của con người. Một đời sống cầu nguyện chân thành phải giúp ta nhận ra những cơ hội yêu thương nhỏ ấy.
Nếu hỏi Giờ thánh của Đức Tổng Giám mục Sheen có thể được “dịch” sang đời sống hôm nay như thế nào, ta không nhất thiết bắt đầu bằng một chương trình thật lớn. Ta có thể bắt đầu bằng một khoảng thời gian có thật và được giữ thật. Trước khi chạm vào điện thoại buổi sáng, dành ít phút đặt ngày mới trong tay Chúa. Khi đến nhà thờ, đừng vội rời đi ngay sau Thánh lễ nếu hoàn cảnh cho phép; hãy ở lại để tạ ơn. Mỗi tuần, tìm một lần ngồi trước Thánh Thể mà không mang theo mục tiêu phải có cảm xúc đặc biệt. Đọc một đoạn Tin Mừng chậm đến mức một chữ nào đó có thể ở lại trong lòng. Tập kể với Chúa không chỉ những điều mình nghĩ một người đạo đức nên nói, mà cả điều mình thật sự đang sống. Một người có thể thưa: “Con chán nản.” Người khác có thể thưa: “Con ganh tị.” Người khác nữa: “Con đã làm điều tốt, nhưng con mong được khen hơn con tưởng.” Không có khởi đầu nào quá nhỏ cho một cuộc đối thoại thành thật.
Những phút đầu có thể rất khó. Tâm trí vẫn quay về việc phải làm; bàn tay muốn kiểm tra thông báo; sự im lặng có vẻ không sinh ra điều gì. Đôi khi người ta bỏ cuộc vì nghĩ cầu nguyện đúng nghĩa phải đem lại bình an ngay. Nhưng một mối tương quan không được đo chỉ bằng cảm giác trong vài phút gặp gỡ. Có những ngày ta ngồi trước Chúa mà thấy lòng khô khan. Có những ngày câu duy nhất ta nói được là “Lạy Chúa, con ở đây.” Chính sự trở lại ấy cũng có giá trị. Ta đã dành cho Chúa một phần thời gian của mình, một phần đời thật của mình. Dần dần, ta có thể nhận ra mình ít phản ứng hấp tấp hơn; biết nhận lỗi sớm hơn; nhận ra nỗi mệt trước khi trút nó lên người khác; đủ yên để nghe một câu hỏi của con mà trước đây mình sẽ gạt đi. Hoa trái của cầu nguyện nhiều khi được người sống gần ta nhận thấy trước cả bản thân ta.
Người trẻ hôm nay cần được mời vào sự thinh lặng bằng lòng kiên nhẫn đặc biệt. Nhiều bạn đã lớn lên trong một môi trường luôn tranh giành sự chú ý. Các em học, giải trí, kết bạn, nhận lời khen và chịu lời chê trên cùng một thiết bị. Bảo một bạn trẻ “cất điện thoại đi” mà không hiểu những mối tương quan, những lo âu và cả áp lực học tập đang nằm trong đó sẽ khó giúp bạn ấy thay đổi. Tốt hơn là cùng các bạn khám phá mình cảm thấy thế nào sau một giờ lướt mạng; những tài khoản nào làm mình vui và những tài khoản nào khiến mình khinh thường bản thân; lúc nào mình tìm điện thoại vì có việc cần, lúc nào vì sợ ở yên. Từ nhận biết ấy, ta có thể tập những lựa chọn nhỏ: ăn một bữa không màn hình, dành thời gian với một người bạn ngoài đời, để điện thoại xa giường khi ngủ, cầu nguyện trước khi bước vào một cuộc tranh luận. Những lựa chọn này giúp các bạn lấy lại tự do nội tâm. Và tự do ấy tạo chỗ cho một cuộc gặp gỡ sâu hơn với Chúa.
Người lớn cũng cần sự khiêm tốn ấy. Ta dễ than phiền rằng người trẻ chỉ biết nhìn màn hình, trong khi chính mình có khi kiểm tra tin nhắn lúc con đang kể chuyện. Ta đòi các em chú ý trong Thánh lễ, nhưng vừa ra khỏi nhà thờ đã không ngừng nói về những việc phải đăng. Ta lo các em chịu ảnh hưởng của đám đông, nhưng bản thân cũng có thể bị cuốn vào những luồng phẫn nộ trên mạng. Một gia đình muốn học sống chậm phải bắt đầu từ sự thật của mọi thành viên, không đổ mọi vấn đề lên vai một thế hệ. Cha mẹ có thể nói với con: “Ba mẹ cũng đang tập đặt điện thoại xuống. Tối nay mình thử nghe nhau.” Một câu nói như thế mở ra sự cộng tác. Trẻ em thường nhận ra rất nhanh sự khác nhau giữa một quy tắc được áp đặt và một cách sống được người lớn cùng thực hành.
Trong cộng đoàn giáo xứ, việc tạo chỗ cho sự lắng nghe cũng cần hơn những khẩu hiệu về hiệp nhất. Một người mới đến có thể đứng lẻ loi sau Thánh lễ trong nhiều tuần vì ai cũng bận nói chuyện với nhóm quen. Một người vừa trở lại nhà thờ sau nhiều năm có thể sợ bị hỏi tại sao trước đây vắng mặt. Một gia đình có con nhỏ có thể thấy mình chỉ làm phiền người khác vì em bé khóc. Một người nghèo có thể quen được trao quà mà hiếm khi được hỏi họ thật sự cần điều gì. Một cộng đoàn học từ Đức Tổng Giám mục Sheen không chỉ hỏi làm sao phát lời Chúa đi xa hơn. Cộng đoàn ấy còn hỏi khi người ta tìm đến, ai sẽ ở đó để đón họ. Truyền thông có thể mời một người bước tới cửa; sự hiện diện của cộng đoàn giúp họ có can đảm bước vào. Nếu những bài viết của một giáo xứ nói nhiều về lòng thương xót, người đến giáo xứ phải có cơ hội gặp lòng thương xót ấy trong cách được chào hỏi, hướng dẫn và đồng hành.
Có một khoảng cách giữa việc biết nhiều về Chúa và để Chúa thay đổi mình. Người ta có thể thuộc nhiều câu nói hay về sự tha thứ nhưng vẫn giữ một cuộc chiến lạnh lùng trong nhà. Có thể chia sẻ những bài viết về thinh lặng mà luôn ngắt lời người khác. Có thể say mê một vị giảng thuyết nổi tiếng nhưng không chịu nghe bài học nhỏ Chúa đang dạy qua người thân bên cạnh. Kính mến Đức Tổng Giám mục Sheen cách sâu sắc không dừng ở việc sưu tầm các bài nói của ngài. Ta cần để chứng tá ấy đặt câu hỏi lên chính nếp sống mình. Trong một ngày, ta đã lắng nghe ai? Ta có chịu để một người nói hết điều khiến mình không thoải mái không? Ta có một khoảng thời gian nào không phải để giải trí, làm việc hay chứng tỏ, mà đơn giản để ở trước Chúa? Ta đã dùng tiếng nói của mình để chữa lành hay để làm một vết thương sâu hơn?
Những câu hỏi ấy không phải để kết án bản thân. Chúng mở đường cho hoán cải. Con người thường sợ nhìn vào sự thật vì tưởng rằng nếu thấy mình chưa tốt, mình sẽ bị Chúa rời bỏ. Nhưng Tin Mừng kể một câu chuyện khác: chính khi ta nhận ra mình cần được cứu, ta có thể mở cửa cho Đấng Cứu Độ. Thinh lặng trước Thánh Thể là nơi ta tập ở lại đủ lâu để tin điều ấy. Ta không phải che sự yếu đuối bằng một giọng nói chắc chắn hơn. Ta có thể thưa: “Lạy Chúa, con đã nói về lòng nhân từ hôm nay, nhưng con đã thiếu nhân từ. Xin dạy con bắt đầu lại.” Câu cầu nguyện này giản dị mà can đảm. Nó khiến lời rao giảng ngày mai bớt tự mãn. Nó giúp ta nhìn người khác, kể cả người đang lầm lỗi, bằng đôi mắt biết mình cũng sống nhờ ơn tha thứ.
Tôi nghĩ đến hình ảnh cuối ngày của một người làm truyền thông. Sau nhiều giờ viết, sửa, đăng, trả lời, họ nhìn lại bảng thống kê. Có bài được xem nhiều; có bài họ bỏ rất nhiều tâm sức lại hầu như không ai chú ý. Sự vui và buồn ấy rất con người. Ta không cần giả vờ mình hoàn toàn không quan tâm đến kết quả. Nhưng nếu các con số bắt đầu quyết định giá trị bản thân, người ấy sẽ ngày càng dễ bị kéo xa khỏi lý do mình đã bắt đầu. Khi đó, có lẽ cần một phút tắt màn hình, đặt tay lên bàn và hỏi: “Hôm nay tôi đã trung thành với sự thật chưa? Tôi đã làm việc bằng tình yêu chưa? Tôi có dành chỗ cho Chúa hoạt động theo cách tôi không nhìn thấy không?” Một lời được gửi đi với sự cẩn trọng có thể âm thầm ở lại với một người rất lâu. Ta không có bảng thống kê nào đo trọn điều đó.
Ta cũng không thể đo mọi hoa trái của một cuộc gặp gỡ. Một linh mục ngồi nghe một người xưng tội có thể không biết người ấy đã phải đấu tranh bao nhiêu tháng mới dám bước đến. Một người giáo dân chào hỏi một khách lạ sau Thánh lễ có thể không biết đó là lần đầu người ấy vào nhà thờ sau nhiều năm. Một người mẹ ngồi yên bên con có thể không biết chính buổi tối ấy sẽ khiến con nhớ rằng mình có thể kể sự thật khi gặp chuyện nghiêm trọng. Nếu chỉ trân trọng những gì dễ đếm, ta sẽ bỏ qua nhiều điều giữ cho đời sống con người không đổ vỡ. Sự thinh lặng dạy ta chú ý đến điều nhỏ: giọng một người chợt đổi khi nhắc đến gia đình; ánh mắt một em bé nhìn quanh tìm ai đó; khoảng ngập ngừng sau câu “con ổn”. Đó không phải những dữ liệu để khai thác. Đó là lời mời yêu thương.
Đức Tổng Giám mục Sheen đã dùng sức mạnh của một phương tiện truyền thông để nói về những điều không thể giải quyết bằng kỹ thuật. Hôm nay, ta có công cụ mạnh hơn rất nhiều, nhưng những câu hỏi căn bản vẫn còn đó. Làm sao yêu một người khó yêu? Làm sao đi qua bệnh tật mà không mất hết hy vọng? Làm sao đối diện lỗi lầm mình đã gây ra? Làm sao sống giữa những khác biệt mà không khinh thường nhau? Làm sao tin Thiên Chúa gần mình khi mình không cảm thấy gì? Không một ứng dụng nào có thể sống hộ những câu hỏi ấy. Ta có thể tìm thông tin, tìm lời giải thích, tìm người đồng hành qua phương tiện kỹ thuật số. Nhưng sau cùng, ta vẫn cần lựa chọn, cầu nguyện, đối thoại, xin tha thứ, ở lại và bắt đầu lại trong cuộc sống thật. Một bài giảng hay có thể mở cửa; người nghe vẫn phải bước qua cánh cửa ấy bằng chính đôi chân của mình.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2026, khi Hội Thánh cử hành lễ phong Chân phước Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen như lịch đã công bố, nhiều người sẽ hướng về St. Louis với lòng biết ơn. Trước ngày lễ, chúng ta gọi ngài là Đấng Đáng Kính và chờ giây phút Hội Thánh chính thức công bố tước hiệu Chân phước. Người ta sẽ nhớ những bài giảng của ngài, nhớ công việc truyền thông, nhớ tình yêu Thánh Thể, nhớ câu chuyện phép lạ và nhớ hành trình dài của tiến trình phong Chân phước. Nhưng một ngày lễ chỉ thực sự đi vào đời sống của chúng ta khi sau những lời tạ ơn, mỗi người mang về một điều để thực hành. Có thể đó là quyết tâm dành vài phút mỗi ngày cho Chúa. Có thể là sửa cách mình đưa tin về người khác. Có thể là nghe người bị tổn thương kể chuyện mà không tìm cách kết thúc cuộc trò chuyện quá nhanh. Có thể là trở về nhà, ngồi xuống với gia đình và hỏi điều lâu nay mình chưa hỏi.
Nếu được chọn một hình ảnh để giữ lại từ cuộc đời Đức Tổng Giám mục Sheen, tôi muốn giữ hình ảnh ngài ngồi trước Thánh Thể khi không có ai xem. Ngài có thể rời nơi ấy để đi nói với rất nhiều người, nhưng rồi lại trở về. Sự trở về ấy nhắc tôi rằng người Kitô hữu không thể sống mãi bằng những gì mình đã nghe về Chúa, cũng không thể nuôi đời sống thiêng liêng chỉ bằng công việc mình làm nhân danh Chúa. Ta cần gặp Người. Ta cần ở lại khi chưa biết nói gì. Ta cần cho Người thấy những điều ta thường cố giấu. Ta cần nghe Lời Người sửa những động cơ thiếu ngay thẳng và nâng những phần trong ta đã mệt. Rồi từ cuộc gặp ấy, ta đi ra, không phải như người đã có đáp án cho mọi đau khổ, nhưng như người đã được yêu và muốn yêu thương người khác cách chân thật hơn.
Vượt lên trên những ồn ào, sau cùng, không có nghĩa ta sẽ tìm được một cuộc đời không còn tiếng động, không còn trách nhiệm, không còn tranh luận hay những ngày lo lắng. Điều ấy không thực tế. Người cha vẫn phải đi làm, người mẹ vẫn phải chăm con, người trẻ vẫn phải học tập, linh mục vẫn phải trả lời những nhu cầu của cộng đoàn, người làm truyền thông vẫn phải theo kịp những sự kiện cần được đưa tin. Sự khác biệt nằm ở nơi trái tim tìm về giữa tất cả những điều đó. Nếu trái tim chỉ chạy theo tiếng gọi mới nhất, ta sẽ luôn bị kéo đi. Nếu trái tim có một nơi để trở về với Chúa, ta có thể sống giữa nhiều âm thanh mà không đánh mất khả năng lắng nghe. Ta có thể dùng phương tiện truyền thông mà không để nó quyết định phẩm giá của mình. Ta có thể lên tiếng mạnh mẽ khi sự thật và người yếu thế cần được bảo vệ, đồng thời giữ sự khiêm tốn để học hỏi. Ta có thể chịu đựng những lúc mình chưa được hiểu, vì biết giá trị của một đời người không nằm trọn trong ánh nhìn của đám đông.
Có lẽ tối nay, sau khi đọc xong bài này, điều hữu ích nhất không phải là tìm thêm một bài viết khác ngay lập tức. Ta có thể tắt màn hình ít phút. Ta có thể thưa với Chúa một câu thật: “Lạy Chúa, con đang ở đây.” Rồi ta lắng nghe lòng mình. Nếu nghe thấy sự mệt mỏi, hãy đem sự mệt mỏi ấy đến với Người. Nếu nhớ ra một người mình đã bỏ quên, hãy cầu nguyện cho họ và tìm một cách cụ thể để liên lạc. Nếu nhận ra mình đã nói quá vội, hãy chuẩn bị một lời xin lỗi. Nếu thấy bản thân đang sợ một sự thật, hãy xin ơn đủ can đảm bước về phía nó. Ta không cần làm tất cả trong một đêm. Chỉ cần bắt đầu bằng một bước có thật. Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen đã đi đến với hàng triệu người từ một đời sống biết trở về trước Chúa. Chúng ta cũng có thể bắt đầu từ nơi rất gần: một khoảng lặng, một lời cầu nguyện, một con người được lắng nghe. Khi ấy, giữa bao nhiêu tiếng ồn của thế giới, điều được truyền đi qua đời ta có thể là một âm thanh khác hẳn: tiếng của lòng thương xót.
Lm. Anmai, CSsR.

















