NHỮNG ĐIỂM DỪNG TRÊN HÀNH TRÌNH DÂNG HIẾN
Người lữ khách trên đường cũng cần có những điểm dừng. Sau một chặng đường dài, con người cần nghỉ chân để lấy lại sức lực; phương tiện cũng cần được tiếp thêm năng lượng để tiếp tục hành trình phía trước. Không ai khôn ngoan đến mức cứ đi mãi mà không dừng. Không ai khỏe mạnh đến mức cứ chạy mãi mà không nghỉ. Một chiếc xe dù tốt đến đâu cũng cần nhiên liệu, cần kiểm tra lại động cơ, cần thay dầu, cần nhìn lại những tín hiệu cảnh báo trên bảng điều khiển. Một người đi đường dù quen lối đến đâu cũng có lúc phải ngồi xuống dưới một bóng cây, uống một ngụm nước, lau giọt mồ hôi, nhìn lại con đường vừa qua và nhìn về con đường còn ở phía trước. Điểm dừng không phải là chấm hết của hành trình. Điểm dừng cũng không phải là dấu hiệu của yếu đuối. Trái lại, nhiều khi chính nhờ biết dừng đúng lúc mà người ta mới có thể đi xa, đi bền và đi đến nơi cần đến. Có những người không thất bại vì đường quá dài, nhưng vì họ đã không chịu dừng khi cần phải dừng. Có những chiếc xe không hỏng vì đường xấu, nhưng vì người lái đã bỏ qua những dấu hiệu nhỏ báo rằng máy đang nóng, dầu đang cạn, lốp đang mòn. Đời người cũng thế. Và hành trình dâng hiến càng như thế.
Đời dâng hiến trước hết là một hành trình. Ngày khấn dòng không phải là ngày đã đến đích. Ngày chịu chức không phải là ngày đã hoàn tất. Ngày bước vào nhà tập, ngày mặc áo dòng, ngày tuyên khấn, ngày lãnh nhận sứ vụ, ngày đặt tay trên đầu để được thánh hiến cho chức linh mục, tất cả chỉ là những cột mốc trên một con đường dài. Một con đường mà người ta phải bước đi từng ngày với Chúa, bước trong ánh sáng nhưng cũng có lúc qua bóng tối, bước giữa niềm vui nhưng cũng có lúc đi trong nước mắt, bước với những ngày lòng đầy hăng say nhưng cũng có những ngày chỉ còn một chút trung thành mong manh để bám vào. Đã là hành trình thì phải có mệt. Đã là đường dài thì phải có bụi. Đã là đời sống thật thì sẽ có va chạm, có giới hạn, có những khúc quanh không đoán trước được. Ai nghĩ đời dâng hiến chỉ là một chuỗi những ngày sốt sắng, những Thánh lễ đẹp, những giờ kinh êm đềm, những sứ vụ thành công, những cộng đoàn ấm áp và những lời cảm ơn, người ấy sẽ sớm thất vọng. Vì đời dâng hiến cũng có những ngày cầu nguyện khô khan, những ngày cộng đoàn làm mình mệt, những ngày công việc chồng chất, những ngày bị hiểu lầm, những ngày chính mình cũng không hiểu nổi mình, những ngày tưởng như mình đã cho quá nhiều mà chẳng nhận lại được bao nhiêu, những ngày nhìn lại và tự hỏi: mình đang đi đâu, tại sao mình lại ở đây, và mình còn muốn tiếp tục nữa không?
Chính trong những lúc như thế, con người dâng hiến rất cần những điểm dừng. Dừng lại không phải để bỏ cuộc. Dừng lại để khỏi bỏ cuộc. Dừng lại không phải để rời khỏi ơn gọi. Dừng lại để trở về với cội nguồn của ơn gọi. Dừng lại không phải vì đã hết yêu Chúa, nhưng vì cần để Chúa làm mới lại tình yêu đang mỏi mệt trong mình. Có những lúc ta làm việc cho Chúa quá nhiều đến nỗi quên ở với Chúa. Có những lúc ta nói về Chúa rất hay nhưng lòng mình lại xa Chúa. Có những lúc ta chăm sóc đời sống thiêng liêng của biết bao người nhưng đời sống thiêng liêng của chính mình thì khô cằn. Có những lúc ta khuyên người khác tin tưởng, bình an, tha thứ, cầu nguyện, nhưng chính ta lại mang trong lòng đầy bất an, tổn thương, cay đắng và mỏi mệt. Nếu không có những điểm dừng, người ta rất dễ sống bằng quán tính. Vẫn dâng lễ, vẫn giảng, vẫn họp, vẫn mục vụ, vẫn điều hành, vẫn cười, vẫn nói, vẫn xuất hiện trước cộng đoàn như không có chuyện gì, nhưng bên trong thì ngọn lửa đã nhỏ dần. Không phải mọi người bỏ ơn gọi đều bỏ trong một ngày. Nhiều khi người ta rời khỏi ơn gọi từ rất lâu trong lòng trước khi đôi chân thật sự bước ra. Có thể hình thức vẫn còn, áo dòng vẫn còn, sứ vụ vẫn còn, danh xưng vẫn còn, nhưng niềm vui đã mất, tình yêu ban đầu đã nguội, tương quan với Chúa chỉ còn là bổn phận. Và đó mới là điều đáng sợ.
Bởi thế, điểm dừng đầu tiên của người dâng hiến phải là điểm dừng trước mặt Chúa. Không có gì thay thế được điều này. Không một khóa học nào, không một kỳ nghỉ nào, không một chuyến du lịch nào, không một cuộc vui nào có thể chữa được tận căn sự mệt mỏi của một người dâng hiến nếu cái mệt ấy bắt nguồn từ việc họ đã quá xa nguồn. Cành nho không chết vì thiếu hoạt động, nhưng vì lìa khỏi thân nho. Người tận hiến không cạn kiệt trước hết vì làm nhiều, nhưng nhiều khi vì làm nhiều mà không còn kín múc từ Chúa. Có thể cùng một lượng công việc, người này làm trong bình an, người kia làm trong cay đắng; người này càng làm càng thấy mình được nuôi dưỡng, người kia càng làm càng thấy mình bị vắt cạn. Khác nhau không hẳn ở công việc, mà ở nguồn sống. Nếu đời sống nội tâm được nuôi dưỡng, hoạt động trở thành hoa trái. Nếu đời sống nội tâm khô cạn, hoạt động dễ biến thành gánh nặng. Cho nên có những lúc phải dám đóng cửa lại, tắt điện thoại, rời bàn làm việc, tạm gác những tin nhắn, những kế hoạch, những cuộc họp, những người đang chờ mình, để ngồi trước Nhà Tạm và nói với Chúa một câu thật lòng: “Lạy Chúa, con mệt rồi.” Không cần lời hay. Không cần giảng cho Chúa. Không cần diễn trước mặt Chúa. Chỉ cần thật.
Thật ra Chúa không sợ những lời than thở thật lòng. Chúa chỉ buồn khi ta không còn đến với Người nữa. Có người nghĩ người tu phải mạnh, linh mục phải vững, bề trên phải bình tĩnh, người phục vụ phải luôn sẵn sàng. Vì thế họ giấu hết mệt mỏi, giấu nước mắt, giấu cả những câu hỏi rất thật của mình. Họ sợ nếu thú nhận mình yếu thì người khác sẽ nghĩ họ thiếu đức tin. Nhưng Kinh Thánh không phải là câu chuyện của những con người không biết mệt. Êlia đã từng ngồi dưới cây kim tước và xin được chết. Giêrêmia đã từng than trách vì sứ mạng quá nặng nề. Các Thánh Vịnh đầy những tiếng kêu của người đau khổ. Chính Đức Giêsu trong Vườn Cây Dầu cũng đã nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Người không che giấu nỗi buồn. Người không làm ra vẻ mình không đau. Nhưng Người mang tất cả vào trong tương quan với Chúa Cha. Đó là khác biệt. Người dâng hiến không được miễn khỏi yếu đuối. Điều quan trọng là yếu đuối ấy được đem đi đâu. Đem đi than trách khắp nơi thì nó có thể trở thành cay đắng. Đem đến trước mặt Chúa, nó có thể trở thành lời cầu nguyện.
Có những điểm dừng Chúa không chờ ta tự chọn, nhưng chính Người đặt vào đời ta. Một cơn bệnh. Một thất bại. Một lần bị chuyển nhiệm sở. Một sứ vụ bị lấy đi. Một người thân qua đời. Một cộng đoàn không còn cần mình như trước. Một tuổi già bắt đầu làm chậm bước chân. Một căn phòng bệnh thay cho phòng làm việc. Một chiếc gậy thay cho những chuyến đi dài. Một trí nhớ không còn nhanh, đôi mắt không còn tinh, đôi chân không còn khỏe. Những điểm dừng như thế nhiều khi làm ta khó chịu, vì ta quen nghĩ giá trị của mình nằm ở việc mình còn làm được gì. Người ta hỏi ta: “Cha đang làm gì?” “Sơ đang phụ trách gì?” “Thầy đang đảm nhiệm việc gì?” Và dần dần ta cũng vô thức đồng hóa chính mình với chức vụ, sứ vụ, trách nhiệm. Đến khi không còn những thứ ấy, ta cảm thấy mình như không còn giá trị. Nhưng có lẽ lúc ấy Chúa đang dạy ta một bài học sâu hơn: giá trị của đời dâng hiến không nằm trước hết ở việc làm được bao nhiêu, mà ở việc thuộc về Chúa đến đâu. Có một thời ta dâng cho Chúa đôi chân để đi. Rồi sẽ có lúc ta chỉ còn có thể dâng sự bất động. Có một thời ta dâng tiếng nói để giảng. Rồi có lúc ta chỉ còn có thể dâng sự thinh lặng. Có một thời ta dâng sức khỏe để phục vụ. Rồi có lúc ta dâng chính bệnh tật của mình. Có một thời ta làm cho Chúa. Rồi đến lúc ta phải học để Chúa làm nơi mình. Và đôi khi đây mới là cuộc dâng hiến khó nhất.
Điểm dừng trong đời dâng hiến cũng là lúc phải nhìn lại hành trang. Đi đường lâu, người ta thường mang thêm nhiều thứ. Có thứ cần thiết, nhưng cũng có thứ chẳng biết từ lúc nào đã thành gánh nặng. Đời dâng hiến cũng vậy. Ngày đầu đi theo Chúa, lòng đơn sơ lắm. Chỉ có một ước muốn: thuộc về Chúa, sống cho Chúa, phục vụ anh chị em. Nhưng đi lâu rồi, hành trang dễ nặng thêm. Một chút tự ái. Một vài nỗi bực bội. Một số vết thương không chịu chữa. Những lời nói của người khác ta vẫn nhớ. Những lần mình bị đối xử không như mong đợi. Một chút nhu cầu được công nhận. Một chút thói quen muốn kiểm soát. Một chút đòi hỏi người khác phải hiểu mình. Một chút so sánh. Một chút hơn thua. Một chút tiếc nuối về những gì mình không có. Mỗi thứ chỉ một chút, nhưng góp lại thành một chiếc ba lô rất nặng. Rồi ta tự hỏi tại sao đời tu mệt quá. Có khi không phải vì đường quá dốc, mà vì ta mang quá nhiều thứ không cần mang.
Những giờ tĩnh tâm, những ngày hồi tâm, những kỳ nghỉ thiêng liêng, những lần linh thao, những khoảng thinh lặng chính là thời gian để mở chiếc ba lô ấy ra. Phải có can đảm lấy từng thứ ra và nhìn. Đây là một vết thương tôi đã mang mười năm. Đây là một người tôi vẫn chưa tha thứ. Đây là một thất bại tôi chưa chấp nhận. Đây là một tham vọng tôi đã khoác cho nó cái tên “vì sứ vụ”. Đây là một sự ghen tị tôi vẫn khéo léo che bằng những lý do rất đạo đức. Đây là một nỗi sợ tuổi già. Đây là sự khó chịu khi thấy người trẻ hơn được trọng dụng. Đây là nỗi cay đắng vì mình đã hy sinh nhiều nhưng ít ai biết. Đây là nhu cầu được yêu mến. Đây là sự cô đơn tôi chưa từng dám gọi tên. Chừng nào những thứ ấy còn nằm lẫn lộn trong lòng, chúng vẫn âm thầm điều khiển ta. Điểm dừng là lúc đưa chúng ra ánh sáng của Chúa. Không để tự kết án mình, nhưng để được chữa lành. Không ai trưởng thành thiêng liêng bằng cách giả vờ mình không có bóng tối. Người trưởng thành là người dám để Chúa bước vào bóng tối ấy.
Điểm dừng cũng là lúc đặt lại câu hỏi ban đầu: “Vì ai mà tôi đã bắt đầu?” Câu hỏi này tưởng đơn giản nhưng càng đi lâu càng cần hỏi. Ngày đầu vào dòng, ta nói vì Chúa. Ngày chịu chức, ta nói vì Chúa và vì đoàn chiên. Nhưng nhiều năm sau, động cơ có thể âm thầm thay đổi. Ta có thể làm vì thành công. Làm vì uy tín. Làm vì người ta khen. Làm vì không muốn thua người khác. Làm vì sợ bị đánh giá. Làm vì muốn chứng minh mình có khả năng. Làm vì đó là “việc của tôi”, là “chỗ của tôi”, là “công trình của tôi”. Cũng vẫn là việc đạo, vẫn là nhà thờ, vẫn là mục vụ, vẫn là công trình tông đồ, nhưng cái tôi đã len vào trung tâm. Và cái tôi có một đặc điểm: nó không bao giờ đủ. Nếu làm vì Chúa, một việc âm thầm cũng có thể đem lại bình an. Nếu làm vì mình, bao nhiêu thành quả vẫn chưa đủ. Vì thế điểm dừng giúp ta thanh luyện lại lý do mình đang bước. Có khi phải hỏi rất đau: Nếu ngày mai Chúa lấy khỏi tôi công việc tôi yêu nhất, tôi còn yêu Chúa không? Nếu không ai biết đến những gì tôi làm, tôi còn làm không? Nếu người khác được khen còn tôi bị quên, tôi có còn bình an không? Nếu sứ vụ sinh hoa trái nhưng người ta không nhắc tên tôi, tôi có vui không? Những câu hỏi ấy bóc trần nhiều điều.
Người dâng hiến cũng cần điểm dừng để học lại sự giới hạn. Khi còn trẻ, ta dễ nghĩ mình làm được nhiều. Có sức khỏe, có ý tưởng, có nhiệt tình, có khả năng thức khuya dậy sớm, chạy từ nơi này sang nơi khác, gánh nhiều công việc cùng lúc. Và đôi khi thành công làm ta lầm tưởng mình là người không thể thiếu. Nhưng chẳng ai không thể thiếu trong công trình của Chúa. Giáo Hội đã sống trước khi ta sinh ra và sẽ tiếp tục sống sau khi ta chết. Sứ vụ là của Chúa. Đoàn chiên là của Chúa. Hội dòng là của Chúa. Giáo xứ là của Chúa. Những người ta đang phục vụ là của Chúa. Ta chỉ được trao cho một đoạn đường, một khoảng thời gian, một phần việc. Nhận ra điều ấy không làm ta bớt trách nhiệm, nhưng giúp ta bớt chiếm hữu. Làm hết lòng nhưng không nghĩ mình là chủ. Yêu hết lòng nhưng không biến người khác thành của mình. Xây dựng hết sức nhưng biết ngày kia mình phải trao lại. Nếu không học được điều đó, người dâng hiến sẽ rất đau mỗi lần bị thuyên chuyển, rất khó chịu khi người sau làm khác mình, rất sợ khi người khác giỏi hơn mình. Nhưng nếu biết mình chỉ là người quản lý, ta sẽ nhẹ.
Có những điểm dừng đến dưới hình thức một lần đổi nhiệm sở. Đó là một kinh nghiệm rất đặc biệt của đời dâng hiến. Mình đã quen con người, quen ngôi nhà, quen cộng đoàn, quen cách làm việc, quen những khuôn mặt mỗi sáng. Rồi một ngày có quyết định: đi nơi khác. Có khi vui, có khi buồn, có khi bất ngờ, có khi không muốn. Đó là lúc sự vâng phục không còn là khái niệm. Người ta chỉ thật sự biết mình có tự do hay không khi phải rời khỏi điều mình yêu. Cắm rễ ở một nơi thì dễ. Thuộc về Chúa đủ để có thể nhổ rễ khi Người gọi mới khó. Những lần chuyển đi như thế là những điểm dừng để hỏi: tôi thuộc về sứ vụ này hay thuộc về Chúa? Tôi yêu nơi này vì Chúa hay tôi đã biến nó thành phần nối dài của cái tôi? Có những cuộc chia tay rất đau, nhưng đôi khi chính nhờ bị nhổ khỏi một nơi mà ta nhận ra rễ của đời mình cần cắm sâu hơn vào Chúa.
Điểm dừng còn là lúc chăm sóc chính con người mình. Người tận hiến không phải thiên thần. Có thân xác, có tâm lý, có cảm xúc, có nhu cầu nghỉ ngơi, có những giới hạn sinh học rất bình thường. Đôi khi người ta nhân danh hy sinh để bỏ bê sức khỏe, rồi đến lúc thân xác phản kháng. Người ta làm việc quá mức, thiếu ngủ, ăn uống thất thường, không vận động, không biết nghỉ, rồi nghĩ đó là quảng đại. Nhưng quảng đại không đồng nghĩa với thiếu khôn ngoan. Thân xác này cũng là quà Chúa trao để phục vụ. Giữ gìn sức khỏe không phải ích kỷ nếu mục đích là để sống ơn gọi cách bền vững. Đức Giêsu cũng từng bảo các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Người không nói: “Anh em cứ làm cho đến kiệt sức.” Người biết họ cần nghỉ. Cái nghỉ trong đời dâng hiến cũng cần được thanh luyện: không phải chạy trốn trách nhiệm, nhưng là cho thân xác và tâm hồn một khoảng không để hồi phục. Có những ngày nghỉ mà trở về còn mệt hơn vì ta chỉ đổi kiểu bận rộn. Cần học một thứ nghỉ thật sự đem con người trở lại sự quân bình.
Cũng có những lúc phải dừng để lắng nghe cộng đoàn. Đi lâu trong ơn gọi, ta có thể quá quen với chính mình đến nỗi không còn thấy những góc cạnh của mình. Khi trẻ, ta dễ nhận góp ý hơn vì còn biết mình đang học. Càng có tuổi, càng có kinh nghiệm, càng có vị trí, người ta càng dễ nghĩ mình đã biết. Nguy hiểm không phải là không có ai góp ý, mà là người ta không còn dám góp ý. Một người dâng hiến có thể rất đạo đức nhưng sống chung rất khó. Có thể giảng về yêu thương rất hay nhưng trong cộng đoàn lại làm người khác mệt. Có thể nói về khiêm nhường nhưng không chịu ai sửa mình. Có thể nói về đối thoại nhưng lúc nào cũng phải là người nói cuối cùng. Điểm dừng là lúc tự hỏi: người sống gần tôi có bình an vì sự hiện diện của tôi không? Tôi có tạo ra bầu khí cho người khác được là chính họ không? Tôi có biết xin lỗi không? Tôi có biết nói cảm ơn không? Tôi có biết thừa nhận mình sai không? Một đời dâng hiến đẹp không chỉ được đo bằng những điều lớn lao ngoài xã hội, nhưng còn bằng cách ta đối xử với người ngồi cùng bàn ăn mỗi ngày.
Cần có những điểm dừng để nhớ lại những người đã đi cùng ta. Đường dâng hiến không ai đi một mình. Có cha mẹ đã âm thầm khóc ngày con vào dòng. Có anh chị em đã chấp nhận để một người của gia đình thuộc về một gia đình lớn hơn. Có những người đào tạo đã kiên nhẫn chịu đựng ta khi còn vụng về. Có những bề trên đã tin tưởng. Có những anh em trong cộng đoàn đã che chở những lúc yếu đuối. Có những giáo dân đã nuôi ta bằng lòng yêu mến rất đơn sơ. Có những người nghèo dạy ta biết Tin Mừng. Có những bệnh nhân dạy ta cách cầu nguyện. Có những người đã xúc phạm ta nhưng nhờ họ ta học tha thứ. Có những người rời khỏi đời ta nhưng để lại một bài học không bao giờ quên. Điểm dừng giúp ta nhìn lại để biết ơn. Người biết ơn sẽ ít cay đắng. Vì khi nhìn kỹ, đời mình không chỉ có những gì đã mất; còn vô số điều đã được nhận mà ta thường quên.
Và có lẽ một trong những điểm dừng quan trọng nhất là đứng dưới chân Thập Giá. Mỗi đời dâng hiến cuối cùng đều phải trở về đó. Ngày đầu người ta có thể đi theo Chúa bằng lý tưởng. Sau nhiều năm, chỉ lý tưởng thôi không đủ. Người ta phải đi sâu vào tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh. Thập Giá là nơi ta học lại tại sao mình ở đây. Không phải vì đời tu dễ. Không phải vì chức linh mục làm mình được kính trọng. Không phải vì cộng đoàn lúc nào cũng nâng đỡ. Không phải vì sứ vụ luôn thành công. Nhưng vì có một Đấng đã yêu ta đến cùng. Khi mọi lý do phụ đều sụp, chỉ còn lý do ấy có thể giữ người môn đệ ở lại. Phêrô đã từng nói rất hùng hồn, rồi lại chối Thầy. Sau Phục Sinh, Chúa không hỏi ông về kế hoạch mục vụ, không hỏi ông có học đủ chưa, không hỏi ông có còn tự tin không. Người chỉ hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” Đời dâng hiến sau cùng cũng chỉ còn câu ấy. Qua bao năm tháng, Chúa vẫn hỏi: “Con có còn yêu Thầy không?” Có thể tình yêu ấy không còn rực rỡ như thời trẻ. Nhưng nó có thể sâu hơn. Không còn nhiều cảm xúc, nhưng nhiều trung thành hơn. Không còn muốn làm những điều lớn, nhưng muốn ở lại. Không còn nghĩ mình sẽ hiến dâng điều gì cho Chúa, nhưng bắt đầu hiểu rằng chính Chúa đang đòi lấy cả con người mình.
Điểm dừng của tuổi già trong đời dâng hiến là một điểm dừng rất thánh. Người trẻ dừng để lấy sức mà đi tiếp trong hoạt động. Người già dừng để chuẩn bị cho một cuộc lên đường khác. Càng về cuối đời, hành trang càng phải nhẹ. Những chức vụ đã trao lại. Những chìa khóa đã giao cho người khác. Những căn phòng đã đổi. Những người từng gọi mình mỗi ngày giờ có thể ít gọi hơn. Những thế hệ mới xuất hiện, nói một ngôn ngữ khác, làm mục vụ theo cách khác. Nếu không có đời sống nội tâm sâu, tuổi già rất dễ biến thành một mùa cay đắng vì cảm giác bị bỏ quên. Nhưng nếu đi với Chúa đủ lâu, người tận hiến cao niên sẽ hiểu rằng đây không phải là lúc bị bỏ sang bên, mà là lúc sống phần tinh ròng nhất của lời khấn: không còn gì để bám ngoài Chúa. Một người già ngồi cầu nguyện trong âm thầm có thể đang làm cho Hội Thánh nhiều hơn người ấy tưởng. Một linh mục không còn giảng nổi nhưng âm thầm dâng những cơn đau cho đoàn chiên vẫn đang là mục tử. Một tu sĩ không còn đi truyền giáo nhưng cầu nguyện cho những người đang đi vẫn là nhà truyền giáo. Sứ vụ thay hình thức, nhưng tình yêu không nghỉ hưu.
Rồi sẽ đến điểm dừng cuối cùng. Ngày ấy không còn là một kỳ tĩnh tâm, một chuyến nghỉ, một lần đổi nhiệm sở hay một cơn bệnh ngắn. Đó là lúc mọi hành trình trần thế khép lại. Người lữ khách đặt hành trang xuống lần cuối. Chiếc áo dòng được mặc cho thân xác bất động. Đôi tay từng làm biết bao việc được đặt yên trên ngực. Đôi chân từng đi biết bao nơi không còn bước nữa. Giọng nói từng giảng, từng khuyên, từng hát Thánh Vịnh, từng đọc lời truyền phép, giờ thinh lặng. Có thể hôm ấy cộng đoàn sẽ đọc lại đôi dòng tiểu sử: sinh năm nào, vào dòng năm nào, khấn khi nào, chịu chức lúc nào, phục vụ những nơi đâu. Nhưng trước mặt Chúa, có lẽ câu chuyện sẽ đơn giản hơn nhiều. Người không hỏi ta có làm những việc khiến người ta nhớ tên không. Người hỏi ta đã yêu đến đâu. Ta có giữ được lòng mình không? Ta có trung thành sau những lần vấp ngã không? Ta có biết trở về không? Ta có để cho ơn gọi biến đổi mình thành người hiền lành hơn, nhân hậu hơn, khiêm nhường hơn không? Ta đã thuộc về Người thật chưa?
Vì thế, đừng sợ những điểm dừng. Chỉ sợ một đời cứ chạy mà không biết mình chạy về đâu. Đừng sợ một ngày phải ngồi xuống vì mệt. Hãy sợ một trái tim đã mệt nhưng vẫn cố tỏ ra mạnh, rồi dần dần trở nên chai cứng. Đừng sợ phải thú nhận mình cần được nâng đỡ. Đời dâng hiến không phải cuộc thi xem ai chịu đựng giỏi hơn. Ta cần Chúa. Ta cũng cần anh em. Ta cần một người để nói chuyện thật lòng. Ta cần một cha linh hướng, một người bạn khôn ngoan, một cộng đoàn có thể nâng ta lên. Có những gánh nặng không được trao đi sẽ biến thành vết thương. Có những câu hỏi nếu được nói ra đúng lúc sẽ không trở thành khủng hoảng. Có những giọt nước mắt nếu được khóc trước mặt một người đáng tin sẽ cứu một đời ơn gọi.
Người đi xa không chỉ cần chân khỏe mà cần biết dừng đúng chỗ. Người dâng hiến cũng không chỉ cần nhiệt thành mà cần chiều sâu. Không chỉ cần làm nhiều mà cần biết ở lại. Không chỉ cần nói về Chúa mà phải để Chúa nói với mình. Không chỉ cần chăm sóc đoàn chiên mà cần cho phép mình được Chúa chăm sóc. Không chỉ cần cho đi mà cần biết nhận. Không chỉ cần trung thành với công việc mà phải trung thành với tương quan ban đầu. Có những lần dừng mà sau đó ta đi chậm hơn nhưng đúng hơn. Có những lần dừng mà Chúa lấy khỏi ta một số ảo tưởng để trả lại sự tự do. Có những lần dừng rất đau nhưng lại cứu ta khỏi một con đường sai. Có những lần dừng khiến ta tưởng mọi thứ đang sụp đổ, nhưng thật ra Chúa chỉ đang tháo bớt những thứ phụ để giữ lại điều chính yếu.
Có thể hôm nay ai đó đang ở một điểm dừng như thế. Không còn nhiệt tình như trước. Cầu nguyện khó. Công việc mệt. Cộng đoàn nặng. Tương lai mù mờ. Đừng vội kết luận rằng ơn gọi đã hết. Có khi chỉ là Chúa đang gọi ta đi vào một tầng sâu khác. Thuở ban đầu, Chúa hấp dẫn ta bằng niềm vui. Sau này, Người thanh luyện ta bằng sự khô khan. Ban đầu ta theo Chúa vì thấy đẹp. Rồi Người dạy ta theo vì tin. Ban đầu ta phục vụ vì được đáp lại. Rồi Người dạy ta yêu ngay cả khi không được biết ơn. Ban đầu ta tưởng dâng hiến là trao cho Chúa những gì mình có. Về sau mới hiểu dâng hiến là để Chúa lấy cả điều mình muốn giữ.
Vậy thì hãy dừng. Nhưng dừng bên Chúa. Hãy nghỉ. Nhưng nghỉ trong lòng Người. Hãy khóc, nếu cần, nhưng đừng khóc một mình. Hãy nhìn lại, nhưng đừng chỉ nhìn vào những thất bại. Hãy nhìn xa hơn để thấy bàn tay Chúa đã dẫn mình qua biết bao khúc quanh. Hãy bỏ xuống những gánh nặng không thuộc về mình. Hãy xin lỗi người cần xin lỗi. Hãy tha thứ người cần tha thứ. Hãy đi ngủ sớm một hôm nếu thân xác đã kiệt. Hãy bỏ một cuộc họp không cần thiết để giữ một giờ cầu nguyện rất cần thiết. Hãy bớt một công việc nếu cái giá của nó là mất bình an và mất chính mình. Hãy học nói “không” với điều phụ để còn nói “xin vâng” với điều chính yếu. Hãy trở lại trước Nhà Tạm như ngày xưa, khi chưa có chức vụ, chưa có người biết đến, chưa có những công trình, chưa có cả một lịch làm việc dày đặc. Khi ấy chỉ có Chúa và mình. Có lẽ chính ở đó ta sẽ nghe lại tiếng gọi năm nào.
Người lữ khách dừng rồi lại đi. Nhưng sau mỗi lần dừng đúng nghĩa, người ấy không còn đi như trước. Có thể bước chân vẫn vậy, con đường vẫn vậy, những con người quanh mình vẫn vậy, công việc vẫn vậy, nhưng trái tim khác. Và khi trái tim khác, cả hành trình khác. Đời dâng hiến cần những điểm dừng không phải để giảm bớt tình yêu, mà để tình yêu được thanh luyện. Không phải để tìm một đời dễ hơn, mà để tìm lại lý do khiến ta có thể đi qua những điều khó. Không phải để tránh Thập Giá, mà để biết mình đang vác Thập Giá với ai.
Ngày nào còn biết dừng trước mặt Chúa, ngày ấy đời dâng hiến còn hy vọng. Ngày nào còn có thể nói thật với Người, ngày ấy tương quan chưa chết. Ngày nào còn đau vì mình xa Chúa, ngày ấy lòng vẫn còn yêu. Chỉ đáng sợ khi không còn thấy gì, không còn cần gì, không còn muốn trở về. Vì vậy, những lúc mệt mỏi có khi lại là một ân huệ. Nó làm ta bớt ảo tưởng về sức mình. Nó buộc ta tìm nguồn. Nó làm ta nhận ra mình không phải máy móc. Nó nhắc ta rằng ơn gọi này được bắt đầu bằng một tiếng gọi và chỉ có thể tiếp tục bằng một tương quan.
Và rồi sau những điểm dừng của đời này, sẽ có một điểm đến. Người dâng hiến đã đi qua bao nhiêu nhà, bao nhiêu sứ vụ, bao nhiêu cộng đoàn, bao nhiêu vui buồn, cuối cùng cũng chỉ mong được nghe một lời: “Hãy vào hưởng niềm vui của chủ anh.” Lúc ấy những đêm mất ngủ sẽ qua. Những hiểu lầm sẽ qua. Những công trình rồi cũng ở lại sau lưng. Những chức vụ chẳng còn ý nghĩa. Chỉ còn tình yêu đã được trao và tình yêu đã nhận. Và ta sẽ hiểu rằng từng điểm dừng trên đường không hề vô ích. Có những điểm dừng giúp ta khỏi lạc. Có những điểm dừng giúp ta khỏi gãy. Có những điểm dừng giúp ta biết buông. Có những điểm dừng giúp ta học phó thác. Có những điểm dừng tưởng là mất mát nhưng hóa ra lại chuẩn bị cho một cuộc gặp gỡ sâu hơn với Chúa.
Xin cho người dâng hiến biết đi khi Chúa bảo đi, biết ở khi Chúa muốn ở, biết làm khi cần làm và biết dừng khi cần dừng. Xin cho ta đừng biến sự bận rộn thành thước đo của lòng trung thành. Xin cho ta hiểu rằng có những giờ quỳ yên trước Chúa sinh hoa trái hơn cả trăm công việc làm trong xao động. Xin cho những ai đang mệt biết rằng họ không cần phải chứng minh mình mạnh trước mặt Chúa. Xin cho những ai đang ở giữa khủng hoảng đủ khiêm tốn để tìm người đồng hành. Xin cho những ai đang tuổi già hiểu rằng sự hiện diện cầu nguyện của họ vẫn là một kho tàng cho Hội Thánh. Xin cho những người trẻ biết xây đời dâng hiến trên tương quan với Chúa chứ không trên những cảm xúc ban đầu. Và xin cho tất cả chúng ta, sau mỗi chặng đường, biết trở về ngồi bên Chúa một chút, để Người lau bụi đường trên tâm hồn, chữa những vết xước, đổ đầy lại bình dầu đã vơi, rồi nhẹ nhàng nói với ta: “Con nghỉ đủ rồi, hãy đứng dậy, chúng ta lại đi.”
Bởi cuối cùng, người tận hiến không được gọi để đi thật nhanh, cũng không nhất thiết phải đi thật xa trong mắt người đời. Người tận hiến được gọi để đi đúng đường và đi với Chúa. Có Chúa, một bước chậm cũng là tiến. Không có Chúa, chạy thật nhanh nhiều khi chỉ là đi xa hơn khỏi nguồn. Vì thế, giữa hành trình dâng hiến dài rộng ấy, xin đừng quên những điểm dừng. Có thể chính tại nơi tưởng như mình không đi đâu ấy, Chúa lại làm nơi ta công việc sâu nhất. Có thể chính trong thinh lặng, Người đang sửa lại hướng đi. Có thể chính trong một mùa yếu đuối, Người đang dạy ta yêu bằng một tình yêu tinh ròng hơn. Có thể chính lúc hai bàn tay không còn làm được nhiều, Người đang mở chúng ra để ta học đón nhận. Và có thể chính ở điểm dừng cuối cùng, khi mọi sức lực của đời này đã cạn, ta mới nhận ra rằng suốt cả cuộc hành trình, không phải mình đã cố gắng nắm lấy Chúa, nhưng chính Chúa đã âm thầm nắm lấy mình, chưa từng buông tay.
Lm. Anmai, CSsR
ĐIỂM DỪNG TRÊN HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI
Giữa những chuyển động uyển chuyển của một điệu múa, có những lúc người nghệ sĩ bất ngờ dừng lại. Thân thể tưởng như bất động, đôi chân không còn chuyển bước, cánh tay giữ nguyên trong một dáng thế nào đó, ánh mắt dừng lại ở một điểm, và cả sân khấu như chùng xuống trong vài giây ngắn ngủi. Thế nhưng chính khoảnh khắc tưởng chừng không có chuyển động ấy lại thường là khoảnh khắc chứa nhiều chuyển động nhất trong lòng người xem. Đó là lúc cảm xúc được dồn lại, ý nghĩa được cô đọng, vẻ đẹp được nâng lên, và điều người nghệ sĩ muốn nói bỗng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Nếu chỉ có chuyển động liên tục, đôi khi người ta sẽ không kịp cảm nhận. Nếu chỉ có bước chân nối tiếp bước chân, đôi khi người ta sẽ không kịp nhận ra mình vừa đi ngang qua điều gì. Chính vì vậy mà trong nghệ thuật, điểm dừng không phải là sự thiếu vắng của chuyển động, nhưng là một phần của chuyển động; không phải là khoảng trống vô nghĩa, nhưng là khoảng lặng làm cho những gì trước đó và những gì tiếp theo trở nên có ý nghĩa hơn. Cuộc đời con người cũng vậy. Chúng ta đi rất nhiều, chạy rất nhiều, làm rất nhiều, lo rất nhiều, tính toán rất nhiều, nhưng có lẽ điều chúng ta thiếu nhất lại chính là những điểm dừng. Người lữ khách đi trên một con đường dài phải có lúc nghỉ chân. Không ai có thể đi mãi mà không mệt. Không có đôi chân nào đủ khỏe để bước mãi mà không cần ngồi xuống. Không có chiếc xe nào có thể chạy hết hành trình mà không cần nhiên liệu. Không có cỗ máy nào hoạt động liên tục mà không cần bảo dưỡng. Vậy mà có một điều thật lạ: con người rất hiểu rằng chiếc xe cần xăng, điện thoại cần sạc pin, máy móc cần nghỉ, nhưng nhiều khi lại tưởng rằng chính mình thì không cần. Ta ép thân xác chạy, ép đầu óc nghĩ, ép trái tim chịu đựng, ép đời mình phải luôn có năng suất, luôn phải làm được điều gì đó, luôn phải tiến về phía trước. Và rồi một ngày, ta ngạc nhiên vì thấy mình mệt. Ta ngạc nhiên vì thấy lòng mình khô. Ta ngạc nhiên vì thấy những điều từng khiến mình vui nay chẳng còn làm ta vui nữa. Ta ngạc nhiên vì thấy mình dễ cáu gắt hơn, dễ tổn thương hơn, dễ thất vọng hơn, dễ buông xuôi hơn. Nhưng thật ra chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Một tâm hồn không có điểm dừng rồi cũng sẽ cạn. Một con người chỉ biết chạy mà không biết dừng rồi cũng sẽ có ngày không còn biết mình đang chạy về đâu.
Có những lúc ta phải dừng lại không phải vì đường hết, nhưng để biết mình có đang đi đúng đường hay không. Đây có lẽ là một trong những điều quan trọng nhất của đời người. Đi nhanh không quan trọng bằng đi đúng hướng. Có những người cả đời rất bận rộn, nhưng đến cuối cùng lại chợt nhận ra mình bận rộn với những điều không thật sự cần thiết. Có những người đã leo rất cao trên chiếc thang thành công, nhưng khi lên đến đỉnh mới cay đắng nhận ra chiếc thang ấy đã tựa nhầm bức tường. Có những người đã dành những năm tháng đẹp nhất của đời mình để kiếm tiền, xây dựng địa vị, làm cho người khác nể phục, nhưng đến lúc sức khỏe suy giảm mới hiểu rằng có những bữa cơm gia đình mình đã bỏ lỡ, có những cuộc trò chuyện với cha mẹ mình đã không dành thời gian, có những ngày thơ ấu của con cái đã đi qua mà không bao giờ quay lại. Có những người lao vào công việc với lý do lo cho gia đình, nhưng cuối cùng lại để mất chính gia đình vì quá ít hiện diện. Có những người mải mê bảo vệ danh dự đến mức đánh mất bình an. Có những người muốn thắng mọi cuộc tranh luận đến mức đánh mất những người mình yêu. Có những người cố chứng minh mình đúng đến mức quên hỏi một câu rất đơn giản: đúng rồi thì sao, nếu sau cùng chỉ còn lại một trái tim lạnh lẽo và những mối tương quan đổ vỡ? Điểm dừng của đời người là lúc ta can đảm hỏi mình: Tôi đang sống thế nào? Tôi đang đi về đâu? Điều gì đang thật sự điều khiển cuộc đời tôi? Tôi đang sống vì điều gì? Tôi đang hy sinh những gì, và những điều tôi hy sinh có đáng không? Tôi đang có rất nhiều, nhưng tôi có bình an không? Tôi đang được nhiều người biết đến, nhưng có ai thật sự biết tôi không? Tôi đang nói rất nhiều, nhưng tôi có còn nghe được tiếng lòng mình không? Tôi đang lo cho tất cả mọi người, nhưng tôi có đang bỏ quên chính tâm hồn mình không? Những câu hỏi ấy không dễ chịu. Có những câu hỏi làm ta đau. Có những câu hỏi khiến ta phải nhìn nhận rằng lâu nay ta đã sai. Có những câu hỏi buộc ta phải thay đổi. Bởi vậy người ta thường thích chạy hơn là dừng. Chạy giúp ta khỏi phải đối diện. Bận rộn nhiều khi là một cách trốn chạy rất lịch sự. Người ta có thể trốn chính mình bằng công việc, bằng điện thoại, bằng những cuộc hẹn, bằng những cuộc vui, bằng mạng xã hội, bằng hàng trăm việc có vẻ quan trọng. Chỉ cần đừng im lặng. Chỉ cần đừng ngồi một mình. Chỉ cần đừng phải đối diện với câu hỏi: Tôi có thật sự hạnh phúc không? Nhưng đến một lúc nào đó, đời sẽ bắt ta dừng. Một cơn bệnh có thể bắt ta dừng. Một thất bại có thể bắt ta dừng. Một cái chết trong gia đình có thể bắt ta dừng. Một cuộc chia tay có thể bắt ta dừng. Một cú sốc có thể bắt ta dừng. Một ngày nhìn mình trong gương và thấy tóc đã bạc nhiều hơn có thể khiến ta dừng. Và lạ lùng thay, những điểm dừng mà ta không chọn đôi khi lại cứu ta khỏi một cuộc đời đi sai hướng quá lâu.
Trong đời sống đức tin cũng vậy, điểm dừng là điều không thể thiếu. Chúa Giêsu đã sống giữa một đời hoạt động không ngừng. Người đi từ làng này sang làng khác, giảng dạy, chữa lành, gặp gỡ dân chúng, đối diện với những tranh luận, lắng nghe những người đau khổ, tiếp đón những kẻ bị loại trừ. Đám đông liên tục tìm đến Người. Có lúc người ta đông đến nỗi Người và các môn đệ không có thời giờ ăn uống. Thế nhưng Tin Mừng nhiều lần kể rằng Người lui vào nơi hoang vắng để cầu nguyện. Người biết dừng. Người không để nhu cầu của đám đông cuốn mình đi đến mức đánh mất sự kết hiệp với Chúa Cha. Người không xem cầu nguyện như một công việc thêm vào những công việc khác, nhưng là nơi mọi công việc được sinh ra và được thanh luyện. Người không đợi đến khi rảnh mới cầu nguyện, bởi nếu đợi rảnh thì chẳng bao giờ rảnh. Người dành thời gian cho Chúa Cha ngay giữa lúc mọi người đang cần Người. Điều đó dạy chúng ta một bài học rất sâu: không phải cứ làm nhiều việc cho Chúa là đang sống gần Chúa. Không phải cứ bận rộn với công việc đạo đức là tâm hồn đã thuộc về Chúa. Có khi người ta có thể lo rất nhiều việc trong nhà Chúa mà lại rất ít ở với Chúa. Có khi người ta có thể nói về Chúa rất hay mà đã lâu không thật sự ngồi trước mặt Chúa trong thinh lặng. Có khi người ta có thể hướng dẫn người khác cầu nguyện mà chính lòng mình đã khô cạn. Có khi người ta có thể nâng đỡ cả trăm người nhưng chẳng biết làm gì với nỗi cô đơn của chính mình. Có khi người ta có thể thành công trong sứ vụ mà thất bại trong đời sống nội tâm. Và đây chính là một nguy hiểm rất lớn của người tông đồ: tưởng rằng hoạt động thay thế được cầu nguyện, tưởng rằng thành quả có thể thay thế sự kết hiệp, tưởng rằng vì mình đang làm việc cho Chúa nên tự nhiên mình cũng đang sống với Chúa. Không. Một cành nho có thể mang nhiều lá nhưng nếu không còn gắn với thân nho, sớm hay muộn cũng sẽ khô. Một người có thể có nhiều hoạt động nhưng nếu thiếu những điểm dừng trước mặt Thiên Chúa, có ngày những hoạt động ấy chỉ còn là tiếng động của một tâm hồn đã mệt.
Điểm dừng trước mặt Chúa không phải là lúc con người ngừng sống, nhưng là lúc con người học lại cách sống. Có những điều chỉ nhìn thấy khi ta đứng yên. Nước đục cần được để yên mới lắng xuống. Tâm hồn cũng vậy. Khi ta chạy quá nhanh, mọi sự trong lòng cứ bị khuấy lên: những lo lắng, tức giận, tham vọng, tổn thương, tự ái, thành công, thất bại, những điều người khác nói về ta, những điều ta muốn người khác nghĩ về ta. Tất cả trộn lẫn với nhau đến mức ta không còn biết đâu là tiếng của Chúa, đâu là tiếng của cái tôi, đâu là điều thật sự cần thiết. Phải dừng lại. Dừng lại trong cầu nguyện. Dừng lại trước Thánh Thể. Dừng lại với một đoạn Lời Chúa. Dừng lại trong một buổi chiều không cầm điện thoại. Dừng lại trong một ngày tĩnh tâm. Dừng lại bên một nghĩa trang. Dừng lại bên giường một người đau bệnh. Dừng lại trước một đứa trẻ đang ngủ. Dừng lại trước gương mặt đã già của cha mẹ. Dừng lại trước Thập Giá. Khi ấy nhiều thứ tự nhiên sẽ trở về đúng kích thước của nó. Một lời người khác nói xấu ta mà hôm qua tưởng như trời sập, hôm nay nhìn lại thấy chẳng đáng để mất bình an. Một cuộc hơn thua tưởng rất quan trọng, đứng trước một quan tài bỗng thấy nhỏ bé. Một món đồ ta từng khao khát đến mất ngủ, khi nhìn một người sắp lìa đời, ta hiểu chẳng ai mang theo được. Một danh hiệu từng khiến ta tự hào, đứng dưới chân Thập Giá, ta nhận ra cuối cùng điều quan trọng nhất vẫn chỉ là mình đã yêu được bao nhiêu. Điểm dừng giúp con người lấy lại tỷ lệ của cuộc đời. Có nhiều điều vì ta đứng quá gần nên thấy nó quá lớn. Lùi lại một chút, ta mới thấy nó chỉ là một phần rất nhỏ của đời mình.
Điểm dừng cũng là nơi ta học cách biết ơn. Khi chạy, người ta thường chỉ nhìn về phía trước. Ta nhìn những gì chưa có, những gì chưa đạt, những gì còn thiếu. Ta nghĩ rằng khi có thêm điều này mình sẽ vui, khi đạt thêm điều kia mình sẽ bình an. Nhưng rồi cái “thêm một chút nữa” ấy không bao giờ kết thúc. Có thêm rồi lại muốn thêm. Đạt được rồi lại sợ mất. Đang đứng ở bậc này lại nhìn lên bậc cao hơn. Và cứ thế cuộc đời trở thành một cuộc chạy đua mà không có vạch đích. Chỉ khi dừng lại, ta mới nhìn quanh và nhận ra mình đã được ban cho quá nhiều. Ta còn thở. Ta còn có thể nhìn trời chiều. Ta còn nghe được tiếng của người thân. Ta còn một mái nhà để trở về. Ta còn những người yêu thương mình dù mình chẳng hoàn hảo. Ta còn một đôi tay để làm việc, đôi chân để bước đi, đôi mắt để nhìn, trái tim còn rung động. Ta còn một ngày mới. Những điều bình thường ấy chỉ trở nên quý giá khi một ngày nào đó ta có nguy cơ mất nó. Người khỏe mạnh đôi khi xem chuyện hít thở là điều hiển nhiên, nhưng người đang nằm trong phòng hồi sức mới hiểu một hơi thở quý thế nào. Người đang có cha mẹ đôi khi thấy những lời nhắc nhở thật phiền, nhưng người đứng trước ngôi mộ cha mẹ mới hiểu giá như còn được nghe thêm một lần những lời “phiền” ấy cũng là một ân huệ. Người sống cùng gia đình đôi khi mệt vì những va chạm nhỏ, nhưng người cô độc mới hiểu một bữa cơm có tiếng người hỏi han là điều đáng quý. Dừng lại giúp ta thấy rằng hạnh phúc không phải lúc nào cũng ở phía trước. Có khi nó đang ở ngay bên cạnh mà ta đi quá nhanh nên không nhận ra.
Có những điểm dừng mang tên thất bại. Không ai thích thất bại. Ta thường xem thất bại như một vết đen, một bằng chứng rằng mình không đủ giỏi, không đủ mạnh, không được chúc phúc. Nhưng nhiều khi thất bại là một điểm dừng cần thiết. Nó làm cho người kiêu ngạo biết mình có giới hạn. Nó giúp người luôn nghĩ mình đúng bắt đầu biết lắng nghe. Nó khiến người chỉ tin vào khả năng của mình học lại cách cậy dựa vào Thiên Chúa. Có những thành công đưa người ta xa Chúa hơn, trong khi có những thất bại lại đưa người ta về gần Chúa. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta khóc rất nhiều, nhưng nhiều năm sau nhìn lại, ta mới hiểu nếu cánh cửa ấy không đóng, ta đã đi vào một con đường không dành cho mình. Có những dự định đổ vỡ tưởng như mất tất cả, nhưng chính trên đống đổ vỡ ấy, một con người mới được hình thành. Không phải mọi thất bại đều tốt, nhưng nếu biết dừng lại để học từ thất bại, nó có thể trở thành một người thầy. Điều đáng sợ không phải là ngã, nhưng là ngã mà không học được gì. Điều đáng sợ không phải là phải dừng, nhưng là dừng rồi lại tiếp tục đi theo đúng con đường sai cũ.
Có những điểm dừng mang tên bệnh tật. Một căn bệnh có thể làm đảo lộn cả đời người. Những lịch trình quan trọng bỗng mất ý nghĩa. Những cuộc họp không còn là ưu tiên. Những kế hoạch vài năm tới được thay bằng câu hỏi hôm nay sức khỏe thế nào. Người bệnh bắt đầu sống theo từng ngày, đôi khi từng giờ. Khi ấy họ hiểu những điều mà người khỏe chưa chắc hiểu. Sự sống mong manh. Thân xác có giới hạn. Tiền bạc rất cần nhưng không mua được tất cả. Có những lúc ta có tiền nhưng không mua được giấc ngủ. Có địa vị nhưng không mua được sức khỏe. Có nhiều người quen nhưng không mua được một người thật lòng ngồi bên cạnh khi đau đớn. Bệnh tật là một điểm dừng rất khó, nhưng đôi khi trong điểm dừng ấy con người học lại điều gì là quan trọng. Có người sau một cơn bệnh trở nên hiền hơn. Có người bớt hơn thua. Có người bắt đầu dành thời gian cho gia đình. Có người bắt đầu cầu nguyện thật sự, không còn như một thói quen. Có người lần đầu tiên hiểu rằng cuộc đời mình không nằm trọn trong tay mình. Không ai xin Chúa cho mình bệnh, nhưng khi bệnh đến, ta vẫn có thể xin Chúa đừng để đau khổ ấy trở thành vô nghĩa.
Có những điểm dừng mang tên mất mát. Một người ra đi và căn nhà vẫn còn đó, chiếc ghế vẫn còn đó, đôi dép vẫn còn đó, điện thoại vẫn còn tên người ấy, nhưng người ấy không còn nữa. Những lúc như thế, thời gian dường như đứng lại. Và cũng trong những lúc ấy, ta thấy rõ một sự thật mà khi bận rộn ta thường quên: đời người rất ngắn. Ta cứ nghĩ còn nhiều thời gian. Còn ngày mai để nói lời yêu thương. Còn tuần sau để gọi điện. Còn dịp khác để xin lỗi. Còn lúc nào đó để về thăm. Còn khi rảnh để ngồi ăn với nhau một bữa. Nhưng có những “lúc nào đó” chẳng bao giờ đến. Cái chết không chỉ là điểm dừng của người ra đi; nó cũng phải trở thành điểm dừng của người còn sống. Dừng để tự hỏi mình đang sống thế nào. Dừng để thôi giận nhau vì những chuyện chẳng đáng. Dừng để gọi một cuộc điện thoại. Dừng để nói lời xin lỗi khi còn có thể. Dừng để ôm người mình yêu khi còn được ôm. Dừng để hiểu rằng một ngày nào đó căn phòng ta đang ở sẽ có người khác bước vào, chiếc ghế ta đang ngồi sẽ có người khác ngồi, công việc ta tưởng không ai thay được rồi cũng có người thay. Cuối cùng, điều ở lại không phải là ta đã kiểm soát được bao nhiêu chuyện, nhưng là ta đã để lại bao nhiêu tình yêu.
Điểm dừng còn là nơi con người học tha thứ cho chính mình. Có những người mang một lỗi lầm cũ đi suốt nhiều năm. Họ đã được người khác tha, có khi đã được Chúa tha qua bí tích Hòa Giải, nhưng họ vẫn không tha cho mình. Họ liên tục chạy vì sợ nếu dừng lại những ký ức ấy sẽ trở về. Nhưng ta không thể chạy khỏi quá khứ. Ta chỉ có thể đi xuyên qua nó bằng ánh sáng của lòng thương xót. Có lúc cần ngồi xuống, nhìn lại câu chuyện của mình, nhận trách nhiệm về những điều đã sai, xin lỗi nếu còn có thể, sửa chữa điều có thể sửa, rồi để phần còn lại trong tay Thiên Chúa. Không ai có thể quay ngược thời gian. Ta không thể trở về mười năm trước để làm khác. Nhưng ta có thể sống hôm nay khác đi. Một lỗi lầm không nhất thiết phải trở thành bản án chung thân cho cả cuộc đời. Phêrô đã có một điểm dừng rất đau sau tiếng gà gáy. Ông đã khóc. Nhưng chính từ những giọt nước mắt ấy, một con người mới bắt đầu. Nếu ông chạy mãi để trốn nỗi xấu hổ, có lẽ ông đã không trở thành người mục tử mà Chúa giao phó đoàn chiên. Điểm dừng của sám hối không phải là nằm mãi trong mặc cảm, nhưng là đủ can đảm nhận ra điều đã sai để bước tiếp bằng một trái tim khiêm tốn hơn.
Đời sống của người linh mục, tu sĩ, người làm việc tông đồ càng cần những điểm dừng như thế. Có một sự mệt mỏi không đến từ việc làm quá nhiều, nhưng từ việc làm quá lâu mà không trở về nguồn. Người ta có thể tiếp tục giảng, tiếp tục phục vụ, tiếp tục tổ chức, tiếp tục giải quyết vô số chuyện, nhưng bên trong đã cạn. Khi đó người tông đồ rất dễ trở nên khó tính, dễ mất kiên nhẫn, dễ coi người khác là gánh nặng, dễ tìm niềm vui bù trừ ở những nơi không lành mạnh, dễ biến sứ vụ thành công việc, biến chức vụ thành quyền lực, biến cộng đoàn thành nơi mình phải được công nhận. Những dấu hiệu ấy không phải lúc nào cũng vì người ta xấu. Nhiều khi đơn giản vì họ đã quá lâu không dừng. Một linh mục cần có lúc không phải làm cha của ai cả, nhưng chỉ là một người con ngồi trước mặt Chúa. Một tu sĩ cần có lúc không phải hoàn thành trách nhiệm nào, nhưng chỉ để Thiên Chúa nhìn mình. Một người tông đồ cần có lúc không phải nói, nhưng nghe. Không phải dạy, nhưng học. Không phải trao đi, nhưng nhận lại. Không phải giải quyết vấn đề của ai, nhưng để Chúa chạm vào vấn đề của mình. Không có những điểm dừng ấy, sứ vụ dễ trở thành một cuộc chạy dài không có linh hồn.
Điểm dừng lớn nhất và sâu nhất của người Kitô hữu có lẽ là đứng dưới chân Thập Giá. Thập Giá là nơi mọi chuyển động của thế gian dường như dừng lại. Một con người bị đóng đinh. Đôi chân không còn bước. Đôi tay không còn làm gì. Người đã từng đi khắp Galilê nay bị giữ chặt trên một thân gỗ. Người đã từng chữa lành cho người khác nay không tự cứu mình. Người đã từng làm cho kẻ chết sống lại nay đang tiến đến cái chết. Nhìn từ bên ngoài, đó dường như là thất bại tuyệt đối. Nhưng chính trong điểm dừng ấy, công trình cứu độ đạt tới đỉnh cao. Chính nơi không còn bước chân, tình yêu đi xa nhất. Chính nơi đôi tay không còn cử động, Thiên Chúa ôm cả nhân loại. Chính nơi môi miệng chỉ còn đủ sức thốt vài lời, những lời ấy lại vang qua muôn thế hệ: “Lạy Cha, xin tha cho họ”; “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng”; “Này là con bà”; “Tôi khát”; “Thế là đã hoàn tất”; “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Thập Giá nói với ta rằng có những lúc dường như cuộc đời không còn tiến về phía trước, nhưng Thiên Chúa vẫn đang làm việc trong chiều sâu. Có những ngày ta không làm được gì lớn lao. Có những giai đoạn ta buộc phải chậm lại. Có khi tuổi già làm ta không còn sức như trước. Có khi bệnh tật giới hạn mọi khả năng. Có khi hoàn cảnh khiến ta chỉ còn biết chờ đợi. Đừng vội nghĩ rằng những ngày ấy vô nghĩa. Một đời người không chỉ có giá trị khi còn sản xuất, còn đóng góp, còn chạy được, còn nói được, còn được người khác cần. Giá trị của con người không nằm ở hiệu suất. Một người nằm trên giường bệnh vẫn có thể yêu. Một cụ già không còn làm được gì vẫn có thể cầu nguyện. Một người đang âm thầm chịu đau khổ vẫn có thể hiến dâng. Thập Giá dạy ta rằng có những điểm dừng tưởng là bất lực lại có thể trở thành nơi tình yêu tinh ròng nhất.
Và rồi, sau mỗi điểm dừng, đời sống lại tiếp tục. Người lữ khách nghỉ chân không phải để ở mãi bên đường. Xe dừng lại để tiếp nhiên liệu rồi lại đi. Người nghệ sĩ dừng một nhịp rồi điệu múa lại tiếp diễn. Cũng vậy, cầu nguyện không làm ta trốn khỏi cuộc đời nhưng giúp ta trở lại cuộc đời với một trái tim khác. Tĩnh tâm không phải là rời bỏ trách nhiệm nhưng để nhìn lại trách nhiệm bằng ánh sáng mới. Nghỉ ngơi không phải là lười biếng nếu nó giúp ta sống tốt hơn. Dừng lại không đồng nghĩa với bỏ cuộc. Có những người rất sợ nghỉ vì tưởng rằng mình đang phí thời gian. Nhưng có khi một giờ nghỉ đúng lúc cứu được nhiều ngày kiệt sức. Một ngày tĩnh tâm có thể cứu một đời sống thiêng liêng đang khô cạn. Một cuộc trò chuyện chân thành có thể cứu một cuộc hôn nhân đang rạn nứt. Một lời xin lỗi được nói đúng lúc có thể cứu một tình bạn. Một lần đi khám sức khỏe có thể cứu một mạng người. Một khoảnh khắc dừng trước khi nổi nóng có thể cứu một câu nói mà sau này ta sẽ ân hận cả đời. Không phải mọi chậm lại đều là mất mát. Có những chậm lại chính là cách nhanh nhất để không đi sai.
Có lẽ mỗi người cần tự tạo cho mình những điểm dừng nhỏ trong ngày. Một vài phút buổi sáng trước khi mở điện thoại. Một kinh nguyện đọc chậm chứ không vội. Một bữa cơm không cầm màn hình trên tay. Một vài phút cuối ngày nhìn lại xem hôm nay mình đã sống thế nào. Một Chủ nhật thật sự là ngày của Chúa và gia đình, chứ không phải thêm một ngày để chen công việc vào. Một khoảng thời gian đều đặn để đọc, để cầu nguyện, để đi bộ, để ngồi yên, để nhìn lại. Những điều ấy nghe rất bình thường nhưng chúng bảo vệ tâm hồn ta khỏi bị cuộc đời cuốn đi. Cũng như trên đường dài có biển báo, trạm nghỉ và những khoảng dừng, đời người cũng cần những cột mốc. Sinh nhật là một điểm dừng. Ngày kỷ niệm khấn dòng là một điểm dừng. Ngày thụ phong là một điểm dừng. Năm mới là một điểm dừng. Một lần xưng tội là một điểm dừng. Một mùa Chay là một điểm dừng. Một cuộc tĩnh tâm là một điểm dừng. Nếu ta biết sử dụng những thời khắc ấy, chúng không chỉ là ngày tháng đi qua, nhưng là cơ hội để định hướng lại cuộc đời.
Rồi sẽ đến một điểm dừng cuối cùng. Một ngày nào đó, mỗi người chúng ta sẽ dừng tất cả. Chiếc đồng hồ vẫn chạy nhưng thời gian của ta đã hết. Người khác vẫn đi làm, vẫn ăn uống, vẫn trò chuyện, vẫn lo lắng đủ chuyện, nhưng ta đã rời khỏi cuộc hành trình này. Đó là điểm dừng mà không ai tránh được. Nghĩ đến điều ấy không phải để bi quan, nhưng để biết sống. Người biết mình sẽ chết sẽ biết quý sự sống hơn. Người biết thời gian hữu hạn sẽ bớt phí nó vào những chuyện vô nghĩa. Người biết một ngày mình phải rời mọi thứ sẽ học cách nắm nhẹ hơn. Người biết sẽ gặp Chúa sẽ tự hỏi liệu những chọn lựa hôm nay có đưa mình gần Ngài hơn không. Thật đáng buồn nếu cuối đời ta mới nhận ra mình đã sống quá vội, đã giận quá lâu, đã tích lũy quá nhiều thứ không cần thiết, đã dành quá ít thời gian cho những người đáng lẽ phải được yêu nhiều hơn. Vì vậy, trước khi cuộc đời buộc ta phải dừng, hãy tự cho mình những điểm dừng. Dừng để nhìn. Dừng để nghe. Dừng để cầu nguyện. Dừng để biết ơn. Dừng để xin lỗi. Dừng để tha thứ. Dừng để yêu. Dừng để nhớ mình từ đâu đến và đang đi về đâu.
Có những lúc đời người cần bước thật nhanh. Có những lúc phải quyết đoán. Có những lúc cơ hội không chờ ta. Nhưng cũng có những lúc khôn ngoan nhất lại là biết dừng. Dừng không phải vì hết đường, nhưng để thấy đường. Dừng không phải vì yếu, nhưng vì biết giới hạn. Dừng không phải để bỏ cuộc, nhưng để đi tiếp tốt hơn. Dừng không phải vì chẳng còn gì để làm, nhưng vì có những điều chỉ được hiểu khi ta không làm gì cả. Trong một thế giới luôn thúc giục phải nhanh hơn, cao hơn, nhiều hơn, có lẽ người trưởng thành là người biết khi nào phải tiến và khi nào phải dừng. Người khôn ngoan không chỉ biết nắm lấy cơ hội nhưng còn biết buông những gì làm mình kiệt sức. Người có đời sống nội tâm không chỉ biết nói mà còn biết im. Người có đức tin không chỉ biết làm việc cho Chúa mà còn biết ngồi với Chúa. Và người thật sự hiểu đời sẽ nhận ra rằng đôi khi một bước tiến quan trọng nhất lại bắt đầu từ một điểm dừng rất nhỏ.
Nếu hôm nay lòng ta đang quá mệt, hãy cho mình một điểm dừng. Nếu đã lâu ta không còn nghe được tiếng của chính mình, hãy dừng. Nếu ta đang chạy mà chẳng biết mình chạy về đâu, hãy dừng. Nếu một mối tương quan đang rạn nứt, hãy dừng trước khi nói thêm một lời làm đau nhau. Nếu đã lâu ta không cầu nguyện thật sự, hãy dừng trước Chúa. Nếu đang mang trong lòng một nỗi giận quá lâu, hãy dừng để hỏi liệu nó còn đáng mang nữa không. Nếu đang quá tự hào về thành công, hãy dừng để nhớ rằng mọi sự rồi sẽ qua. Nếu đang tuyệt vọng vì thất bại, hãy dừng để nhớ rằng một chặng đường hỏng không có nghĩa cả hành trình đã hết. Nếu đang đau khổ, hãy dừng dưới chân Thập Giá. Và nếu đang hạnh phúc, cũng hãy dừng để tạ ơn, vì niềm vui mà không được biết ơn rất dễ trở thành điều ta xem là đương nhiên.
Cuộc đời không đẹp chỉ vì có những bước đi uyển chuyển. Cuộc đời đẹp còn vì có những điểm dừng đúng lúc. Như một bản nhạc cần cả âm thanh lẫn khoảng lặng, như một điệu múa cần cả chuyển động lẫn khoảnh khắc bất động, như một hành trình cần cả những cây số nối dài lẫn những trạm nghỉ ven đường, đời người cũng cần biết tiến và biết dừng. Và đôi khi, chính tại điểm dừng, ta mới gặp lại điều đã bị đánh mất giữa những tháng năm chạy vội: gặp lại chính mình, gặp lại người mình yêu, gặp lại ý nghĩa của hành trình, và trên hết, gặp lại Thiên Chúa vẫn âm thầm chờ ta trong thinh lặng. Có thể Người đã ở đó từ rất lâu. Chỉ vì ta đi quá nhanh nên chưa kịp nhận ra.
Lm. Anmai, CSsR
KHOẢNG LẶNG ĐỂ TRỞ VỀ VỚI CHÚA
Giữa bao nhịp sống của sứ vụ, giữa những tất bật của công việc mục vụ và những thao thức của đời thánh hiến, người tu sĩ rất cần có những khoảng lặng. Không phải để dừng bước, nhưng để trở về với Chúa; không phải để trốn tránh sứ mạng, nhưng để kín múc lại nguồn mạch của sứ mạng. Bởi người môn đệ không thể đi mãi nếu không biết dừng lại, và cũng không thể trao ban Đức Kitô nếu chính mình không còn ở lại với Người. Có những lúc trong đời dâng hiến, người ta vẫn đi, vẫn làm, vẫn nói, vẫn phục vụ, vẫn hiện diện trong hàng trăm công việc, nhưng bên trong lại âm thầm cạn dần. Cạn mà không hay. Mệt mà không dám nhận. Khô mà vẫn phải nói những lời sốt sắng. Trống mà vẫn phải trao cho người khác những điều chính mình đang thiếu. Đó là một trong những nghịch lý đau đớn nhất của đời tông đồ: có thể mang nước đến cho người khác mà giếng lòng mình đã gần khô; có thể chỉ đường cho người khác đến với Chúa mà chính mình lại đang đứng xa Người; có thể nói rất hay về cầu nguyện mà đời cầu nguyện đã trở thành vội vàng, máy móc; có thể giảng về sự bình an mà trong lòng đầy bất an; có thể kêu gọi người khác phó thác mà chính mình lại ôm chặt bao lo toan không chịu trao vào tay Chúa. Chính vì thế, khoảng lặng không phải là một điều xa xỉ của đời thánh hiến, càng không phải là phần dư thừa dành cho những lúc rảnh rỗi. Khoảng lặng là nhu cầu sống còn. Đó là lúc người môn đệ trở về với căn tính của mình, trở về với tiếng gọi đầu tiên, trở về với ánh mắt đã từng làm mình bỏ mọi sự mà đi theo, trở về với Đấng đã gọi tên mình giữa bao nhiêu người, để một lần nữa nghe lại câu rất đơn sơ nhưng đã làm thay đổi cả cuộc đời: “Hãy theo Thầy.”
Có lẽ điều làm người tu sĩ mệt mỏi nhất không hẳn là nhiều việc, nhưng là làm quá nhiều việc mà không còn biết mình làm vì ai. Khi lý do sâu xa của đời dâng hiến mờ đi, sứ vụ sẽ trở thành gánh nặng. Khi Đức Kitô không còn đứng ở trung tâm, những việc rất thánh cũng có thể trở thành nơi nuôi dưỡng cái tôi. Ta bắt đầu buồn khi mình không được ghi nhận, chạnh lòng khi người khác được đánh giá cao hơn, khó chịu khi ý kiến mình không được nghe, tổn thương khi công việc mình làm không được biết đến, mệt mỏi vì phải phục vụ những người không biết cảm ơn, và đôi khi âm thầm hỏi: “Tôi hy sinh như thế để làm gì?” Câu hỏi ấy không hẳn là xấu. Nó chỉ cho thấy lòng mình đang cần một cuộc trở về. Bởi nếu đã từng thật sự đặt đời mình trong tay Chúa, ta sẽ hiểu rằng đời dâng hiến không được đo bằng số việc đã làm, số nơi đã đi, số người đã gặp, số thành quả đã đạt, nhưng bằng mức độ ta thuộc về Chúa. Có những người làm rất ít nhưng thuộc về Chúa rất sâu. Có những người làm rất nhiều nhưng chính mình lại bị công việc chiếm hữu. Có những người nhân danh sứ vụ mà dần dần đánh mất đời sống nội tâm. Đáng sợ nhất không phải là thất bại trong một công việc, nhưng là thành công trong nhiều công việc mà linh hồn mình lại xa Chúa.
Chúa Giêsu khi còn sống giữa trần gian cũng đã cho các môn đệ thấy một nhịp sống rất đẹp: đi rồi trở về, rao giảng rồi lui vào nơi thanh vắng, ở giữa đám đông rồi lại lên núi một mình, chữa lành cho người khác rồi tìm giờ ở riêng với Chúa Cha. Người không để nhu cầu của đám đông cuốn mình đi đến mức đánh mất tương quan với Cha. Có những lúc người ta tìm Người, kéo đến với Người, chờ đợi Người, nhưng Người vẫn lui vào nơi thanh vắng mà cầu nguyện. Điều ấy nhắc người môn đệ rằng không phải mọi nhu cầu trước mắt đều là tiếng gọi phải lập tức đáp ứng. Không phải cứ bận là trung thành. Không phải cứ làm không nghỉ là nhiệt thành. Có những sự bận rộn rất đạo đức nhưng lại làm ta xa Chúa. Có những lịch làm việc kín mít khiến người khác tưởng ta đang sống một đời tông đồ đầy lửa, nhưng chính ta biết ngọn lửa bên trong đang nhỏ dần vì không được châm thêm dầu. Đời sống thiêng liêng không tự nhiên mà mạnh lên chỉ vì ta làm việc cho Chúa. Làm việc cho Chúa không thể thay thế việc ở với Chúa. Nói về Chúa không thể thay thế việc lắng nghe Chúa. Phục vụ Giáo Hội không thể thay thế việc để Chúa phục vụ và chữa lành tâm hồn mình. Người tông đồ nếu chỉ cho đi mà không nhận lại từ nguồn, sớm muộn cũng sẽ cạn.
Khoảng lặng vì thế là nơi ta thôi diễn. Trước mặt Chúa, ta không cần phải tỏ ra mạnh mẽ. Không cần phải đóng vai người đạo đức. Không cần phải là người có câu trả lời cho mọi vấn đề. Không cần phải cố chứng minh mình vẫn ổn. Người đời có thể nhìn thấy chiếc áo dòng, chức vụ, bài giảng, công việc, thành quả, nhưng Chúa nhìn thấy trái tim. Người biết những nơi trong ta đang mỏi mệt, những tổn thương ta không nói, những ghen tị ta ngại nhìn nhận, những bất mãn ta cố che bằng nụ cười, những hụt hẫng ta giấu dưới vẻ bình thản, những khát vọng rất người vẫn đang âm thầm lên tiếng. Và có lẽ chỉ khi dám ngồi yên trước mặt Chúa, ta mới đủ thật để nhận ra mình không thánh thiện như mình tưởng, cũng không mạnh như người khác nghĩ. Ta mang trong mình những yếu đuối rất thật. Ta cũng cần được yêu, cần được lắng nghe, cần được chữa lành, cần được nâng đỡ. Người tu sĩ không trở thành thiên thần chỉ vì đã khấn. Linh mục không thôi là con người chỉ vì đã chịu chức. Một đời dâng hiến không xóa bỏ những mong manh của kiếp người. Nếu không đem những mong manh ấy đặt trước mặt Chúa, chúng sẽ âm thầm tìm cho mình những lối thoát khác, có khi rất nguy hiểm. Khoảng lặng chính là nơi ta dám cho Chúa bước vào những căn phòng mình thường khóa kín.
Có những khoảng lặng không dễ chịu chút nào. Bởi khi tiếng ồn bên ngoài ngừng lại, ta bắt đầu nghe rõ tiếng ồn bên trong. Bao lâu còn bận rộn, ta có thể tránh gặp chính mình. Bao lâu còn hết việc này sang việc khác, ta có thể chưa phải đối diện với những câu hỏi khó: Tôi có còn yêu Chúa như ngày đầu không? Tôi đang phục vụ vì Chúa hay vì thói quen? Tôi có đang tìm kiếm Chúa hay tìm kiếm chính mình trong những điều của Chúa? Tôi có còn vui vì được thuộc về Người không? Tôi có đang sống lời khấn hay chỉ đang giữ hình thức của lời khấn? Tôi có còn để Lời Chúa chất vấn hay chỉ dùng Lời Chúa để chất vấn người khác? Tôi có còn để Chúa sai đi hay đã tự chọn nơi mình muốn ở, việc mình muốn làm, người mình muốn phục vụ? Tôi có thật sự nghèo khó hay chỉ nghèo theo giấy tờ? Tôi có thật sự vâng phục hay chỉ vâng khi điều được yêu cầu hợp ý mình? Tôi có thật sự khiết tịnh trong trái tim hay vẫn để lòng mình bám víu vào bao tình cảm, nhu cầu và lệ thuộc kín đáo? Những câu hỏi ấy không nhằm kết án, nhưng để cứu. Chỉ điều gì được đưa ra ánh sáng mới có thể được chữa lành.
Người lữ khách trên đường cũng cần những điểm dừng. Sau một chặng đường dài, con người cần nghỉ chân để lấy lại sức lực; phương tiện cũng cần được tiếp thêm năng lượng để tiếp tục hành trình phía trước. Và trong hành trình dâng hiến cũng thế. Có những lúc dừng lại không phải vì yếu, nhưng vì khôn ngoan. Dừng để biết mình đang ở đâu. Dừng để xem con đường mình đang đi có còn là con đường Chúa muốn không. Dừng để nhận ra mình đang bước quá nhanh mà tâm hồn không theo kịp. Dừng để vá lại những vết rách đã lâu mình không chú ý. Dừng để tháo khỏi vai những gánh nặng không phải Chúa trao nhưng do chính mình ôm vào. Dừng để buông những chuyện đã qua. Dừng để tha thứ cho một người. Dừng để xin lỗi một người. Dừng để chấp nhận giới hạn của bản thân. Dừng để nhận ra có những việc không có mình vẫn chạy, có những nơi không có mình vẫn tồn tại, có những người không cần mình cứu vì Đấng Cứu Độ không phải là mình. Một trong những cám dỗ tinh vi của người làm mục vụ là tưởng mình không thể thiếu. Khi nghĩ cộng đoàn không thể thiếu mình, giáo xứ không thể thiếu mình, công việc này không thể thiếu mình, ta đã vô tình chiếm chỗ của Chúa. Khoảng lặng trả ta về đúng vị trí: mình chỉ là khí cụ. Khí cụ có giá trị vì nằm trong tay Người Thợ. Rời khỏi tay Người, dù sắc bén đến đâu cũng chỉ là một vật nằm im.
Có những người sợ khoảng lặng vì cảm giác dừng lại là lãng phí. Họ cảm thấy phải làm gì đó mới có giá trị. Phải tạo ra một kết quả nào đó mới yên tâm. Phải có người cần mình mới thấy mình có ích. Nhưng đời dâng hiến không bắt đầu bằng “làm” mà bằng “ở”. Tin Mừng nói rằng Chúa Giêsu gọi các ông đến với Người để các ông ở với Người rồi Người mới sai các ông đi rao giảng. Trật tự ấy không được đảo. Ở với Chúa trước, rồi mới đi cho Chúa. Nếu bỏ chữ “ở”, việc “đi” sẽ nhanh chóng trở thành chạy. Và càng chạy, càng mệt; càng mệt, càng khó yêu; càng khó yêu, sứ vụ càng dễ biến thành bổn phận khô cứng. Người ta có thể hoàn thành mọi công việc nhưng không còn trao chính mình. Có thể đúng giờ, đúng chương trình, đúng luật, nhưng thiếu một trái tim. Khi ấy người được phục vụ nhận được công việc, nhưng không gặp được Đức Kitô.
Khoảng lặng còn là nơi người tu sĩ học lại nghệ thuật để Chúa yêu mình. Điều này tưởng dễ nhưng thật ra rất khó. Chúng ta thường quen với việc phải làm gì cho Chúa. Cầu nguyện, hy sinh, phục vụ, giảng dạy, thăm viếng, dấn thân. Nhưng đời thiêng liêng không chỉ là chuyện mình làm gì cho Chúa; sâu hơn, đó là chuyện ta cho phép Chúa làm gì trong mình. Có khi điều Chúa muốn nhất không phải là ta làm thêm một việc, nhưng là để Người ôm lấy sự mệt mỏi của ta. Không phải nói thêm một lời, nhưng là im để Người nói. Không phải cố gắng mạnh mẽ, nhưng là chấp nhận mình yếu và để ân sủng nâng đỡ. Không phải chứng minh mình đáng yêu, nhưng là tin rằng mình đã được yêu trước khi làm được bất cứ điều gì. Ngày nào người tu sĩ còn nghĩ giá trị của mình nằm trong thành quả, ngày ấy người ấy còn bất an. Khi công việc thuận lợi thì vui; khi thất bại thì sụp; khi được khen thì phấn khởi; khi bị chê thì buồn; khi được trao trách nhiệm thì thấy mình quan trọng; khi bị thay thế thì tổn thương. Nhưng nếu biết mình được yêu vì mình là con của Chúa, ta sẽ tự do hơn. Ta làm hết lòng nhưng không để kết quả làm chủ lòng mình. Ta vui khi thành công nhưng không xây căn tính trên thành công. Ta chấp nhận thất bại mà không nghĩ đời mình vô ích. Ta có thể rời một nơi mình đã gắn bó mà không cay đắng, vì sứ vụ thuộc về Chúa.
Đời thánh hiến có những mùa rất đẹp, nhưng cũng có những mùa rất khô. Có thời gian lời cầu nguyện ngọt ngào, lòng đầy sốt sắng, sứ vụ nhiều niềm vui, cộng đoàn ấm áp, người ta dễ cảm thấy Chúa gần. Nhưng cũng có những giai đoạn cầu nguyện không cảm được gì, công việc nặng nề, anh em khó hiểu nhau, sức khỏe giảm sút, lòng mất hứng thú, những hy sinh ngày xưa từng thấy nhẹ nay lại thấy nặng. Có người hoảng sợ vì tưởng mình đã mất ơn gọi. Thật ra, chính những mùa khô đôi khi là lúc ơn gọi trưởng thành. Tình yêu ban đầu thường có nhiều cảm xúc. Tình yêu trưởng thành học trung thành ngay cả khi không cảm thấy gì. Người tu sĩ trẻ có thể theo Chúa bằng nhiệt huyết. Người tu sĩ đi lâu năm phải học theo Chúa bằng lòng trung tín. Thuở ban đầu, ta dễ nói “con xin dâng tất cả”. Sau nhiều năm, Chúa mới từ từ cho ta hiểu “tất cả” nghĩa là gì. Có khi là dâng tuổi trẻ. Có khi là dâng sức khỏe. Có khi là dâng một ước mơ. Có khi là dâng một công việc mình yêu. Có khi là dâng danh tiếng. Có khi là dâng quyền quyết định. Có khi là dâng cả cảm giác mình còn hữu dụng. Và có một ngày, điều Chúa xin dâng có thể chính là sự bất lực của tuổi già. Khi ấy, người môn đệ không còn đi nhiều, làm nhiều, nói nhiều, nhưng lại có thể yêu nhiều hơn, cầu nguyện sâu hơn, phó thác thật hơn.
Khoảng lặng giúp ta nhớ lại rằng ơn gọi không phải là một nghề nghiệp. Người tu sĩ không phải nhân viên tôn giáo. Linh mục không phải nhà cung cấp dịch vụ thiêng liêng. Nếu đời tu chỉ còn là lịch làm việc, nếu chức linh mục chỉ còn là chuỗi trách nhiệm, nếu ngày sống chỉ được chia bằng giờ lễ, giờ họp, giờ tiếp khách, giờ soạn bài, giờ xử lý công việc, thì điều cốt lõi đã bị che khuất. Ta được gọi trước hết để thuộc về Chúa. Chính sự thuộc về ấy làm cho mọi việc có linh hồn. Không có nó, người ta rất dễ rơi vào một thứ “chuyên nghiệp mục vụ”: làm đúng, làm nhanh, làm hiệu quả, nhưng thiếu lửa. Có thể tổ chức một chương trình rất hay mà không cầu nguyện. Có thể chuẩn bị một bài giảng rất kỹ nhưng không để Lời Chúa chạm vào mình. Có thể điều hành cộng đoàn rất tốt nhưng lại thiếu lòng thương xót. Có thể giữ luật rất nghiêm nhưng trái tim cứng. Có thể nói nhiều về Đức Kitô nhưng khuôn mặt mình chẳng còn giống Người. Vì thế, khoảng lặng không phải để ta “nạp năng lượng” theo nghĩa tâm lý đơn thuần. Sâu hơn, đó là để ta được tái định hình theo Đức Kitô.
Có khi ta cần một ngày tĩnh lặng. Có khi cần một giờ trước Thánh Thể. Có khi chỉ cần mười phút thật sự yên trước mặt Chúa. Điều quan trọng không phải kéo dài bao lâu mà là có dám ở thật hay không. Nhiều lúc thân xác ngồi trong nhà nguyện mà đầu óc vẫn chạy khắp nơi. Tay lần chuỗi nhưng trí vẫn soạn việc. Môi đọc kinh nhưng lòng vẫn tính toán. Ta có mặt mà không hiện diện. Khoảng lặng thật sự đòi ta đặt xuống mọi thứ: điện thoại, chương trình, công việc, vai trò, cả những câu trả lời có sẵn. Để chỉ là một người nghèo trước mặt Chúa. Không linh mục. Không bề trên. Không người phụ trách. Không nhà giảng thuyết. Không cố vấn của ai. Chỉ là một người con. Một người cần Cha. Có lẽ đó là tư thế đẹp nhất của người tận hiến.
Trong khoảng lặng, ta cũng học lại cách nghe. Sứ vụ khiến ta nói rất nhiều. Giảng, dạy, khuyên, hướng dẫn, trả lời. Dần dần ta có nguy cơ quen với tiếng nói của mình đến mức không còn nghe tiếng Chúa. Có người đọc Tin Mừng chỉ để tìm ý giảng. Đọc một câu rồi lập tức nghĩ phải nói cho giáo dân thế nào. Nhưng Lời Chúa trước hết không được ban cho cộng đoàn qua ta; Lời ấy phải đi qua chính trái tim ta. Trước khi là người giảng, ta là người nghe. Trước khi Lời thành bài giảng, Lời phải thành nhát cắt. Trước khi dùng Tin Mừng để soi người khác, hãy để Tin Mừng soi mình. Nếu không, ta sẽ trở thành người phân phát một thứ lương thực mà chính mình không ăn. Lâu ngày, bài giảng có thể vẫn đúng nhưng thiếu sức sống, vì không được sinh ra từ một cuộc gặp gỡ.
Khoảng lặng cũng là nơi những cay đắng được thanh luyện. Sống cộng đoàn không dễ. Làm mục vụ không dễ. Sống với con người càng không dễ. Có những lời làm ta đau. Có những cách đối xử khiến ta hụt hẫng. Có những bất công thật sự. Có những hiểu lầm không thể giải thích. Có khi ta đã cố gắng hết sức mà vẫn bị trách. Có khi một người mình từng giúp lại quay lưng. Có khi chính người gần mình nhất lại làm mình tổn thương. Nếu không mang những điều ấy vào trong cầu nguyện, chúng sẽ đóng cặn. Một chút buồn thành lạnh nhạt. Một chút tổn thương thành phòng thủ. Một chút thất vọng thành cay đắng. Rồi người tông đồ vẫn phục vụ nhưng không còn mềm lòng. Vẫn làm việc nhưng thiếu niềm vui. Vẫn nói về tha thứ nhưng giữ một danh sách những người mình không muốn gặp. Khoảng lặng là nơi ta đem từng khuôn mặt đặt trước Thập Giá. Không phải để biện minh cho điều sai họ đã làm, nhưng để mình không bị điều ấy giam giữ. Tha thứ là cách trả tự do cho trái tim mình để nó còn chỗ cho Chúa.
Đôi khi khoảng lặng sẽ làm ta khóc. Và điều đó không có gì đáng xấu hổ. Có những giọt nước mắt lâu năm bị giữ lại vì người tu sĩ nghĩ mình phải mạnh. Có những nỗi cô đơn không biết nói cùng ai. Có những ngày mỏi mệt đến mức chỉ muốn có một người hỏi thật lòng: “Anh có ổn không?” Nhưng vì ai cũng nghĩ người tu là người nâng đỡ người khác, ít ai nghĩ họ cũng cần được nâng đỡ. Chúa biết. Trong thinh lặng, ta có thể thôi giữ mình. Có thể khóc. Có thể nói với Chúa: “Con mệt.” Có thể thú nhận: “Con không muốn làm việc này nữa.” Có thể nói: “Con đang giận.” Có thể thưa: “Con thấy cô đơn.” Có thể thú thật: “Con sợ.” Một lời cầu nguyện thật dù vụng về vẫn đẹp hơn trăm lời đạo đức không xuất phát từ lòng. Chúa không cần ta diễn trước mặt Người.
Người tu sĩ cần khoảng lặng để nhớ rằng đời mình đang đi về đâu. Khi còn trẻ, ta nghĩ thời gian rất dài. Ta lên kế hoạch, xây chương trình, đặt mục tiêu, mong làm nhiều điều. Nhưng rồi năm tháng qua nhanh. Mái tóc đổi màu. Sức khỏe không còn như trước. Những người từng đi với mình lần lượt rời đi. Một ngày nhìn lại, ta nhận ra phần lớn đời mình đã ở phía sau. Khi ấy câu hỏi không còn là “tôi đã làm được bao nhiêu?” nhưng là “tôi đã trở thành người thế nào?” Sau từng ấy năm theo Chúa, tôi có hiền hơn không? Có bớt tự ái không? Có dễ tha thứ hơn không? Có bớt tranh phần đúng không? Có ít cần được công nhận hơn không? Có thương người yếu đuối hơn không? Có gần Chúa hơn không? Nếu càng làm việc cho Chúa mà càng khó chịu, càng cứng cỏi, càng tự mãn, thì có điều gì đó cần được xem lại. Hoa trái thật của đời thánh hiến không chỉ nằm ngoài đời ta, nhưng phải mọc trong chính con người ta.
Khoảng lặng không lấy người tu sĩ ra khỏi sứ vụ; nó trả người tu sĩ lại cho sứ vụ bằng một trái tim tinh sạch hơn. Sau khi ở với Chúa, ta vẫn trở về với những việc cũ, những con người cũ, những khó khăn cũ. Nhưng có thể cách nhìn đã khác. Người từng làm ta bực nay được nhìn bằng lòng thương. Công việc từng thấy nặng nay được đón nhận như một cơ hội yêu. Điều không thay đổi bên ngoài lại được biến đổi từ bên trong. Đó là điều cầu nguyện làm: không nhất thiết thay đổi hoàn cảnh, nhưng thay đổi người đang sống trong hoàn cảnh ấy.
Có một nguy cơ lớn của đời dâng hiến là sống bằng quán tính. Thức dậy vì chuông. Đi lễ vì lịch. Đọc kinh vì luật. Làm việc vì phân công. Sống cộng đoàn vì không còn lựa chọn nào khác. Mọi thứ đều đúng nhưng thiếu một “tại sao” sống động. Khoảng lặng làm sống lại câu hỏi “tại sao”. Tại sao tôi còn ở đây? Tại sao tôi đã bỏ một con đường khác? Tại sao tôi đã nói lời khấn ấy? Tại sao tôi nhận chức linh mục? Tại sao bao năm rồi tôi vẫn tiếp tục? Nếu câu trả lời chỉ là “vì đã lỡ”, thật buồn. Nhưng nếu sâu trong lòng vẫn có thể thưa: “Vì con đã gặp Người; vì con biết con được yêu; vì dù con bất xứng, Người vẫn gọi con; vì ngoài Người con không biết đi với ai”, thì ơn gọi vẫn còn sống.
Đừng sợ những lúc phải dừng. Một cánh cung kéo mãi sẽ gãy. Một mảnh đất không có mùa nghỉ sẽ bạc màu. Một con tim cứ cho mà không được trở về nguồn sẽ kiệt sức. Chúa không muốn người môn đệ của Người chỉ tồn tại. Người muốn ta sống. Sống trong Người. Sống từ Người. Sống cho Người. Có lẽ đôi khi điều đạo đức nhất ta cần làm không phải nhận thêm một công việc, nhưng biết nói “đủ”; không phải trả lời thêm một tin nhắn, nhưng tắt điện thoại để cầu nguyện; không phải cố giải quyết mọi vấn đề, nhưng trao một số vấn đề cho Chúa; không phải chứng minh mình hữu ích, nhưng chấp nhận rằng mình cũng có giới hạn.
Khoảng lặng cuối cùng đưa ta về Thập Giá. Ở đó mọi ảo tưởng về mình được tháo xuống. Ta nhìn thấy một Đức Kitô không chạy, không chứng minh, không tự cứu, không tranh cãi với người kết án mình. Người chỉ yêu. Người để cho tình yêu đi đến tận cùng. Và chính tại Thập Giá, người tu sĩ hiểu lại đời mình. Không phải sống để thành công, nhưng để trung tín. Không phải sống để được biết đến, nhưng để được thuộc về. Không phải sống để người khác nhớ tên mình, nhưng để qua đời mình họ nhớ đến Chúa. Không phải sống để tránh mọi đau khổ, nhưng để mọi đau khổ được biến thành tình yêu. Chỉ khi đứng lâu dưới chân Thập Giá, ta mới hiểu tại sao cần khoảng lặng: bởi nếu không dừng trước Đấng Chịu Đóng Đinh, ta dễ chạy theo một kiểu thành công hoàn toàn xa lạ với Tin Mừng.
Rồi sau khoảng lặng, người môn đệ lại lên đường. Nhưng không phải như cũ. Có thể việc vẫn nhiều, sức vẫn ít, khó khăn vẫn còn. Nhưng lòng đã được đặt lại đúng chỗ. Ta biết mình không đi một mình. Ta biết sứ vụ không phải của mình. Ta biết người ta cần không phải tài năng của ta trước hết, nhưng Đức Kitô trong ta. Ta biết mình không cần cứu cả thế giới, vì thế giới đã có một Đấng Cứu Độ. Ta chỉ cần trung thành với phần Chúa trao hôm nay. Một người. Một việc. Một lời. Một hy sinh. Một Thánh lễ. Một giờ cầu nguyện. Một cuộc gặp. Một nụ cười. Một sự tha thứ. Từng chút như thế, đời dâng hiến trở lại đơn sơ.
Có lẽ điều đẹp nhất của một đời tu không phải là chưa bao giờ mệt, nhưng là mỗi lần mệt vẫn biết đường trở về. Không phải chưa bao giờ khô khan, nhưng khi khô vẫn biết tìm nguồn. Không phải chưa bao giờ lạc hướng, nhưng luôn biết nhìn lại Thập Giá để định hướng. Không phải lúc nào cũng đầy nhiệt huyết, nhưng trong mọi mùa vẫn giữ một đốm lửa không tắt: “Lạy Chúa, con vẫn thuộc về Chúa.” Đời dâng hiến không cần một con người lúc nào cũng mạnh. Đời dâng hiến cần một con người biết mình yếu và biết chạy về với Đấng là sức mạnh của mình.
Giữa bao nhịp sống của sứ vụ, xin cho người tận hiến biết quý những khoảng lặng. Biết dừng trước khi mình cạn. Biết cầu nguyện trước khi nói. Biết lắng nghe trước khi quyết định. Biết trở về với Chúa trước khi chạy đến với người khác. Biết để Người yêu mình trước khi mình cố yêu mọi người. Biết để Người chữa lành trước khi mình chữa lành ai. Và mỗi lần trở về như thế, đời tu lại được sinh lại. Ơn gọi lại tươi. Sứ vụ lại nhẹ. Trái tim lại mềm. Bước chân lại vững. Không phải vì đường đã dễ hơn, nhưng vì người môn đệ đã nhớ lại mình đang đi với Ai.
Sau cùng, có thể cả đời dâng hiến chỉ là học một nhịp rất đơn sơ: ở lại rồi lên đường, lên đường rồi trở lại ở với Chúa. Đi để trao ban điều mình đã nhận. Trở về để nhận lại điều mình đã trao. Cứ thế cho đến ngày cuộc hành trình kết thúc, khi không còn phải dừng chân để lấy sức nữa, bởi ta đã về đến Nhà; không còn cần những giờ chầu ngắn ngủi, vì được ở mãi trước mặt Người; không còn phải tìm những khoảng lặng giữa tiếng ồn cuộc đời, vì chính ta bước vào sự thinh lặng vĩnh cửu đầy tình yêu của Thiên Chúa. Và khi ấy, điều còn lại không phải bao nhiêu công việc đã hoàn thành, bao nhiêu người đã biết đến ta, bao nhiêu trách nhiệm đã từng đảm nhận, nhưng chỉ một điều: ta đã để Đức Kitô yêu mình và đã cố gắng yêu Người bằng cả một đời.
Lm. Anmai, CSsR
KỲ TĨNH TÂM NĂM – MỘT “ĐIỂM DỪNG” HỒNG PHÚC
Giữa những chuyển động không ngừng của cuộc đời, người ta thường nghĩ rằng phải đi thật nhanh mới tới, phải làm thật nhiều mới có kết quả, phải xuất hiện thật nhiều mới chứng tỏ được giá trị của mình. Thế nhưng, càng sống lâu, càng đi nhiều, càng trải qua những thăng trầm của phận người, ta càng hiểu rằng có những lúc điều quan trọng nhất không phải là bước thêm một bước, nhưng là biết dừng lại. Có những điểm dừng không làm cho hành trình chậm đi, trái lại còn cứu cả một hành trình khỏi lạc hướng. Có những khoảng lặng không làm cho đời người trở nên vô ích, nhưng chính trong khoảng lặng ấy người ta mới nghe được tiếng sâu nhất của lòng mình, mới nhận ra những mỏi mệt đã bị che khuất bởi công việc, mới biết mình đang đi đâu, đang tìm gì, đang sống vì ai và cuối cùng sẽ trở về đâu. Người lữ khách trên một chặng đường dài cần có nơi nghỉ chân; chiếc xe sau bao cây số cần dừng lại để kiểm tra, tiếp nhiên liệu, sửa chữa những gì đã hao mòn; mảnh đất sau một mùa gieo trồng cũng cần được nghỉ ngơi để lấy lại màu mỡ; trái tim con người sau bao ngày sống giữa tiếng động cũng cần một khoảng thinh lặng để trở về với chính mình. Và với người tận hiến, với người đã một lần thưa tiếng xin vâng để bước theo Đức Kitô, kỳ tĩnh tâm năm chính là một “điểm dừng” hồng phúc như thế. Không phải dừng lại vì hết đường, nhưng dừng lại để nhìn rõ con đường. Không phải dừng lại vì mệt mỏi muốn bỏ cuộc, nhưng dừng lại để được Chúa nâng dậy mà đi tiếp. Không phải dừng lại để trốn khỏi sứ vụ, nhưng để tìm lại Đấng đã trao sứ vụ cho mình. Không phải dừng lại để khép cửa với anh chị em, nhưng để mở lòng sâu hơn với Thiên Chúa, nhờ đó khi trở về với cộng đoàn và với những con người mình được sai đến phục vụ, ta có một trái tim mới hơn, một ánh nhìn hiền hơn, một lời nói dịu hơn và một tình yêu trong trẻo hơn.
Kỳ tĩnh tâm năm không phải trước hết là một bổn phận phải làm cho đủ, một chương trình được quy định trong đời tu, một số ngày phải có trong niên lịch cộng đoàn, hay một khoảng thời gian tạm ngưng công việc để nghe vài bài giảng thiêng liêng. Nếu chỉ nhìn tĩnh tâm như thế, người ta có thể đi vào tĩnh tâm với thân xác nhưng tâm trí vẫn ở ngoài; có thể ngồi trong nhà nguyện nhiều giờ mà lòng vẫn chạy theo hàng trăm công việc; có thể nghe rất nhiều lời hay nhưng chẳng để một lời nào đụng đến nơi sâu nhất của đời mình; có thể hoàn tất kỳ tĩnh tâm mà chẳng có gì thật sự thay đổi. Tĩnh tâm chỉ thực sự trở thành hồng phúc khi người ta dám bước vào đó như một cuộc trở về. Trở về với Chúa sau những tháng ngày có khi ta đã vô tình đặt công việc của Chúa cao hơn chính Chúa. Trở về với tình yêu ban đầu sau những năm tháng mà lời khấn, chức vụ, bổn phận và thói quen có thể đã phủ lên ngọn lửa ban đầu một lớp tro dày. Trở về với câu hỏi căn bản nhất: tại sao tôi ở đây? Tại sao tôi đã chọn đời sống này? Tại sao một ngày nào đó tôi đã bỏ lại những con đường khác để đi trên con đường này? Tôi đã đi theo ai? Tôi đang sống cho ai? Tôi đang phục vụ ai? Và Người mà tôi đã từng say mê ấy hôm nay còn là trung tâm của đời tôi không? Những câu hỏi ấy nghe tưởng đơn giản, nhưng nếu người tu sĩ không còn dám hỏi thì đời tận hiến rất dễ trở thành một guồng máy. Ta vẫn thức đúng giờ, vẫn đọc kinh đúng giờ, vẫn dự lễ, vẫn làm việc, vẫn họp, vẫn đi mục vụ, vẫn thi hành những trách nhiệm được trao; mọi thứ bên ngoài có thể vẫn chạy rất đều, nhưng bên trong có khi đã cạn từ lúc nào không hay. Một chiếc đồng hồ vẫn có thể chạy mà người đeo nó chẳng biết mình đang đi về đâu. Một người tu sĩ cũng có thể rất bận rộn mà đã lâu không còn thật sự gặp Chúa. Và đó có lẽ là một trong những nghịch lý đau nhất của đời tận hiến: làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng dần dần xa Chúa; nói rất nhiều về Chúa nhưng ít nói với Chúa; đưa người khác đến gặp Chúa nhưng chính mình lại ít ở lại với Người.
Bởi thế, kỳ tĩnh tâm năm là lúc Chúa nhẹ nhàng gọi ta ra khỏi những náo động ấy để nói một lời rất cũ mà rất mới: “Hãy ở lại với Thầy.” Không cần làm gì ngay. Không cần chứng minh gì. Không cần giải quyết cả thế giới. Không cần lập tức nghĩ đến những chương trình sắp tới. Chỉ cần ở lại. Ở lại như Gioan tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa Tiệc Ly. Ở lại như Maria ngồi dưới chân Chúa mà lắng nghe. Ở lại như các môn đệ được Chúa gọi lên núi để ở riêng với Người. Ở lại như người con sau một hành trình dài trở về nhà Cha, để nhận ra căn nhà ấy vẫn còn đó, vòng tay ấy vẫn mở, và mình vẫn là người được yêu ngay cả khi mình đã mỏi mệt, vụng về, yếu đuối và nhiều lần bất xứng. Trong đời sống thường ngày, người tu sĩ dễ quen với vai trò của người cho: cho lời khuyên, cho sự hiện diện, cho giờ giấc, cho sức lực, cho bài giảng, cho sự phục vụ, cho lòng cảm thông. Nhưng trong kỳ tĩnh tâm, cần học trở lại tư thế của người nhận. Nhận ánh mắt Chúa. Nhận sự tha thứ. Nhận lòng thương xót. Nhận lại bình an. Nhận lại niềm vui. Nhận lại chính mình từ bàn tay Đấng đã gọi mình. Bởi ta không thể trao mãi nếu không nhận; không thể yêu mãi bằng một trái tim không được yêu; không thể làm chứng cho niềm vui Tin Mừng nếu bên trong chỉ còn mệt mỏi; không thể nói cho người khác về lòng thương xót nếu chính mình không chịu để lòng thương xót của Chúa chạm tới những phần yếu đuối và tăm tối nhất của đời mình.
Có những điều trong đời chỉ có thể nhìn thấy khi dừng lại. Khi đang chạy, ta nhìn được phía trước nhưng khó nhìn được chính mình. Khi quá bận, ta có thể nhận ra lỗi của người khác rất nhanh nhưng không còn đủ thinh lặng để nhận ra những lệch lạc trong lòng mình. Kỳ tĩnh tâm năm vì thế còn là một tấm gương lớn mà Chúa đặt trước mặt ta. Trong tấm gương ấy, ta không nhìn mình bằng ánh mắt khắt khe của người khác, cũng không bằng ánh mắt tự biện hộ của chính mình, nhưng bằng ánh mắt của Chúa. Và ánh mắt của Chúa lạ lắm: Người nhìn thấy tất cả mà không làm ta tuyệt vọng; Người biết hết những yếu đuối mà vẫn không rút lại tình yêu; Người biết cả những góc tối mà chính ta ngại nhìn tới, nhưng ánh sáng của Người không đến để kết án mà để chữa lành. Có những vết thương ta mang suốt nhiều năm mà cứ nghĩ mình đã quên. Có những lời nói của ai đó vẫn còn âm thầm làm ta đau. Có những thất bại mục vụ khiến ta mất tự tin. Có những hiểu lầm trong cộng đoàn làm lòng ta chai lại. Có những so sánh, ghen tị, hơn thua mà ta không muốn gọi đúng tên. Có những lần ta bị bỏ qua, không được nhìn nhận, không được trao điều mình mong muốn, và từ đó trong lòng xuất hiện một chút cay đắng. Có những lần ta làm điều tốt nhưng sâu xa vẫn mong được biết đến. Có những lúc ta phục vụ nhưng muốn người khác nhớ ơn. Có những ngày ta cầu nguyện mà đầu óc chỉ nghĩ đến mình. Có những khoảng thời gian ta sống lời khấn nhưng thiếu niềm vui. Có những mối quan hệ cần được thanh luyện. Có những đính bén rất nhỏ mà lâu ngày đã trở thành sợi dây rất lớn. Bình thường ta dễ tránh tất cả những điều ấy bằng công việc. Nhưng trong tĩnh tâm, khi những tiếng động bên ngoài được giảm xuống, những tiếng nói bên trong bắt đầu hiện lên. Đó không phải là điều đáng sợ. Trái lại, đó là ân huệ. Vì chỉ những gì được đưa ra ánh sáng mới có thể được chữa lành.
Tĩnh tâm không phải là cuộc kiểm toán khô khan của lương tâm, càng không phải là mấy ngày ngồi đếm lỗi rồi tự trách mình. Nếu tĩnh tâm chỉ làm ta buồn hơn, khép kín hơn, sợ Chúa hơn, có lẽ ta chưa đi vào trái tim của Tin Mừng. Tĩnh tâm đích thực là để ta nhìn thấy tội lỗi của mình trong ánh sáng của một tình yêu lớn hơn tội lỗi ấy. Phêrô sau ba lần chối Thầy không được Chúa hỏi: “Tại sao anh tệ như thế?” Chúa chỉ hỏi: “Anh có yêu Thầy không?” Câu hỏi ấy đi sâu hơn mọi bản cáo trạng. Chúa không phủ nhận sự phản bội của Phêrô, nhưng Người biết điều có thể làm mới Phêrô không phải là mặc cảm, mà là tình yêu. Kỳ tĩnh tâm cũng vậy. Chúa không gọi ta vào thinh lặng để nhấn chìm ta trong quá khứ, nhưng để hỏi lại điều căn bản: “Con có yêu Thầy không?” Có thể nhiều năm về trước ta trả lời câu ấy rất nhanh. Nhưng hôm nay, sau những thăng trầm của cuộc đời, sau những thành công và thất bại, sau những kinh nghiệm đẹp và cả những va chạm đau lòng, câu trả lời có lẽ phải sâu hơn. “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu Chúa, nhưng Chúa cũng biết lòng con đã bị chia nhỏ bởi nhiều thứ. Chúa biết con muốn thuộc trọn về Chúa, nhưng có những điều con vẫn chưa buông. Chúa biết con đã khấn hứa, nhưng đôi lúc con sống như thể đời mình vẫn thuộc về mình. Chúa biết con đã nói về tình yêu, nhưng nhiều lúc con thiếu yêu thương với người gần mình nhất. Chúa biết con đã dạy người khác tha thứ, nhưng có những vết thương con vẫn giữ. Chúa biết con đã mời người ta tín thác, nhưng chính con vẫn lo âu về tương lai. Chúa biết con đã nói về sự nghèo khó, nhưng lòng con vẫn thích sở hữu. Chúa biết con nói về khiêm nhường, nhưng tự ái con vẫn rất lớn. Chúa biết tất cả, và chính vì Chúa biết tất cả mà hôm nay con chỉ có thể nói như Phêrô: Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết con yêu Chúa.”
Kỳ tĩnh tâm năm còn là lúc nhìn lại con đường đã qua bằng lòng biết ơn. Người ta thường nhìn năm tháng bằng những việc chưa hoàn thành, những dự định chưa đạt, những người chưa thay đổi, những điều chưa như ý. Nhưng nếu biết nhìn bằng đức tin, ta sẽ phát hiện mỗi năm đời mình chứa đầy những dấu chân âm thầm của Chúa. Có những lúc ta tưởng mình tự đứng vững, nhưng thật ra một bàn tay vô hình đã đỡ ta. Có những cánh cửa từng đóng lại làm ta buồn, nhưng sau này mới hiểu nếu cánh cửa ấy mở có lẽ đời ta đã đi sai hướng. Có những người Chúa gửi đến chỉ trong một đoạn ngắn của hành trình nhưng đã để lại nơi ta một bài học suốt đời. Có những thử thách tưởng làm ta gục xuống, nhưng chính qua đó cái tôi của ta được mài bớt. Có những lần cầu xin mãi mà Chúa không ban điều ta muốn, để rồi nhiều năm sau mới hiểu sự im lặng ấy cũng là một lời đáp. Có những lúc Chúa lấy khỏi tay ta điều mình bám víu để hai bàn tay trống ấy có thể nắm lấy Người. Tĩnh tâm là lúc gom nhặt những mảnh đời như thế và đọc lại dưới ánh sáng quan phòng. Ta sẽ nhận ra Chúa trung tín hơn mình tưởng. Ta thay đổi, Người không thay đổi. Ta có lúc nguội lạnh, Người vẫn âm thầm chờ. Ta có lúc chạy xa, Người vẫn đi tìm. Ta có khi đóng cửa, Người vẫn đứng ngoài mà gõ. Ta có lúc chỉ nhớ đến Người khi khổ đau, nhưng Người chưa từng quên ta một giây phút nào.
Và cũng trong điểm dừng ấy, ta cần nhìn lại đời cầu nguyện của mình. Có lẽ đây là câu hỏi rất quan trọng đối với mọi người tận hiến: tôi còn cầu nguyện thật không? Không phải tôi còn đọc bao nhiêu kinh, nhưng tôi còn gặp Chúa không? Không phải tôi còn tham dự bao nhiêu giờ phụng vụ, nhưng lòng tôi có còn đứng trước mặt Người không? Có những khi môi đọc kinh mà lòng ở rất xa. Có những lúc ta trung thành với giờ nguyện ngắm nhưng đã lâu chẳng còn để Lời Chúa chất vấn. Có những ngày ta mở Sách Thánh để tìm ý cho bài giảng hơn là để Lời ấy hoán cải chính mình. Có khi ta quá quen với những điều thánh thiêng đến mức không còn ngạc nhiên trước mầu nhiệm nữa. Bàn thờ trở thành nơi quen thuộc. Nhà tạm trở thành một phần của khung cảnh. Thánh lễ có thể trở thành một công việc phải cử hành. Kinh nguyện có thể trở thành một lịch trình phải hoàn tất. Và chính sự quen thuộc ấy, nếu không cẩn thận, có thể làm cho điều linh thánh mất đi vẻ linh thánh trong lòng ta. Tĩnh tâm là lúc xin Chúa trả lại cho mình khả năng kinh ngạc. Kinh ngạc vì mỗi ngày vẫn được đến gần bàn thờ. Kinh ngạc vì Chúa vẫn chịu đặt mình trong đôi bàn tay con người. Kinh ngạc vì ta bất toàn như thế mà Người vẫn dùng ta. Kinh ngạc vì sau bao năm, câu Tin Mừng quen thuộc vẫn có thể mở ra một chiều sâu mới. Kinh ngạc vì một Thiên Chúa lớn lao lại kiên nhẫn với một con người nhỏ bé như ta.
Đời tận hiến không chết trước hết vì thiếu công việc, mà có thể chết vì thiếu nguồn. Một cành cây không chết vì không cố gắng đủ, nó chết vì tách khỏi thân. Người tông đồ cũng thế. “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” Lời ấy nghe rất quen, nhưng có lẽ phải đi qua nhiều thất bại ta mới hiểu. Ta có thể làm được nhiều thứ không có Chúa: tổ chức một chương trình, xây dựng một cơ sở, điều hành một cộng đoàn, nói một bài thật hay, được nhiều người quý mến, có hàng ngàn người theo dõi, hoàn thành một dự án lớn. Nhưng cái mà Tin Mừng gọi là “sinh hoa trái” thì khác. Hoa trái của Nước Trời không chỉ là kết quả bên ngoài. Hoa trái là khi qua mình, một người cảm thấy được Chúa yêu; một người tội lỗi dám trở về; một người tuyệt vọng tìm lại hy vọng; một người bị bỏ rơi nhận ra mình còn giá trị; một cộng đoàn trở nên hiệp nhất hơn; một người đau khổ cảm nhận có ai đó cùng mang thập giá với họ. Những hoa trái như thế không sinh từ kỹ năng đơn thuần, nhưng từ một đời sống ở lại trong Chúa. Vì vậy, kỳ tĩnh tâm không phải là thời gian bị lấy mất khỏi sứ vụ; đó là thời gian làm cho sứ vụ có linh hồn.
Tĩnh tâm cũng là một cơ hội quý để nhìn lại các mối tương quan trong cộng đoàn. Đời tu không chỉ là chuyện giữa “tôi với Chúa”. Chúa gọi ta vào một cộng đoàn, và chính cộng đoàn nhiều khi trở thành nơi thanh luyện thật nhất. Yêu người ở xa không khó bằng yêu người sống cạnh mình mỗi ngày. Cảm thông với một người chỉ gặp một lần dễ hơn kiên nhẫn với một người có những tính khí làm ta mệt mỏi suốt nhiều năm. Ta có thể dịu dàng với giáo dân mà lại cộc cằn với anh em. Ta có thể giảng rất hay về tha thứ nhưng mang một sự lạnh nhạt âm thầm với người cùng nhà. Ta có thể nói về hiệp nhất mà trong lòng chia người này người kia thành phe mình thích và phe mình không thích. Tĩnh tâm là lúc thành thật hỏi: trong cộng đoàn, sự hiện diện của tôi đem bình an hay tạo thêm căng thẳng? Tôi có biết lắng nghe không? Tôi có nói về người vắng mặt bằng sự tôn trọng không? Tôi có vui trước thành công của anh em hay âm thầm khó chịu? Tôi có biết xin lỗi không? Tôi có dễ nhận lỗi không? Khi người khác góp ý, phản ứng đầu tiên của tôi là đón nhận hay tự vệ? Tôi có dùng kinh nghiệm, tuổi tác, chức vụ hay kiến thức để làm người khác cảm thấy nhỏ bé không? Có người nào tôi cần phải tha thứ? Có ai đang chờ một lời xin lỗi từ tôi? Có mối tương quan nào Chúa đang mời tôi làm lại từ đầu? Những câu hỏi ấy không dễ, nhưng nếu không dám để Chúa chạm tới những tương quan rất cụ thể ấy, đời sống thiêng liêng của ta dễ trở thành điều rất đẹp trong ý tưởng nhưng xa đời thật.
Tĩnh tâm năm còn là lúc học lại nghệ thuật buông. Càng đi lâu trong đời tận hiến, ta càng tích lũy nhiều thứ: kinh nghiệm, ký ức, công việc, các mối quan hệ, vị trí, thành công, những điều mình đã xây dựng, những cách làm mình đã quen. Và rồi rất âm thầm, ta có thể bám vào chúng. Điều đáng sợ không phải chỉ là sở hữu tiền bạc; đáng sợ hơn là sở hữu vai trò. Có người có thể sống rất nghèo về vật chất nhưng lại bám rất chặt vào quyền quyết định. Có người không có của riêng nhưng lại sở hữu danh tiếng. Có người bỏ gia đình để vào đời tu nhưng lại tạo quanh mình một vùng ảnh hưởng mà ai đụng tới cũng làm mình bất an. Tĩnh tâm nhắc ta rằng ngày khấn dòng, ngày chịu chức hay ngày bắt đầu sứ vụ, ta đã đặt đời mình trong tay Chúa. Và điều đã đặt vào tay Chúa thì không còn là của ta để giữ theo ý mình. Có ngày Chúa trao. Có ngày Chúa lấy lại. Có lúc Người đặt ta ở nơi được nhiều người biết đến. Có lúc Người đưa ta về một góc rất nhỏ. Có giai đoạn ta khỏe mạnh, làm được nhiều. Có ngày sức lực giảm đi và phải để người khác làm thay. Có thời người ta tìm đến ta. Có lúc chẳng còn mấy ai nhớ. Nếu căn tính của ta dựa trên việc mình làm, ta sẽ rất đau khi không làm được nữa. Nếu giá trị của ta dựa trên sự nhìn nhận, ta sẽ rất buồn khi bị quên lãng. Nhưng nếu căn tính của ta là “người được Chúa yêu”, thì dù ở đâu, làm gì, còn khỏe hay yếu, được biết hay không ai biết, ta vẫn bình an.
Một kỳ tĩnh tâm tốt vì thế không nhất thiết phải đem lại cho ta những cảm xúc lớn. Có người mong vào tĩnh tâm phải được sốt sắng, phải cảm thấy Chúa gần, phải có những khám phá thiêng liêng đặc biệt. Nhưng Chúa không phải lúc nào cũng đến trong cảm xúc. Có những kỳ tĩnh tâm rất khô khan lại trở thành một bước ngoặt sâu sắc. Có khi hồng phúc không nằm ở chỗ ta cảm thấy nhiều, mà ở chỗ ta trung thành ở lại. Có khi Chúa chẳng nói điều gì mới, Người chỉ nhắc lại một điều đã nói từ rất lâu mà ta chưa sống. Có khi cả kỳ tĩnh tâm chỉ còn lại một câu Lời Chúa. Nhưng nếu câu ấy đi vào đời, thế là đủ. Đừng đo kỳ tĩnh tâm bằng số trang đã ghi chép, bằng số quyết tâm đã viết hay bằng số cảm xúc đã trải qua. Hãy đo bằng câu hỏi: tôi có để Chúa tiến gần tôi hơn không? Tôi có thành thật hơn với Người không? Tôi có bớt che giấu không? Tôi có sẵn sàng thay đổi một điều cụ thể không? Tôi có ra khỏi tĩnh tâm với lòng thương người hơn không? Bởi gặp Chúa thật thì bao giờ cũng làm người ta mềm đi. Càng gần Chúa, ta càng bớt xét đoán. Càng hiểu lòng thương xót, ta càng kiên nhẫn với yếu đuối của người khác. Càng thấy mình được tha thứ, ta càng dễ tha thứ.
Điểm dừng hồng phúc ấy cũng mời gọi ta nghĩ đến cái chết, không phải với sợ hãi, nhưng với sự khôn ngoan. Mỗi kỳ tĩnh tâm năm đi qua là một năm đời người đã đi qua. Ta không biết mình còn bao nhiêu kỳ tĩnh tâm nữa. Có thể rất nhiều. Có thể chỉ vài lần. Và một ngày nào đó, sẽ có một kỳ tĩnh tâm cuối cùng mà ta không biết đó là kỳ cuối. Nghĩ như thế không làm đời sống u buồn; trái lại, giúp ta sống thật hơn. Những điều ta đang giận liệu có đáng để mang đến cuối đời không? Những hơn thua mình đang giữ liệu có nghĩa gì trước nấm mồ? Danh tiếng mà mình lo bảo vệ sẽ còn lại bao lâu? Điều gì thật sự đáng để tiêu hao đời mình? Nếu hôm nay Chúa gọi, ta có bình an không? Có điều gì chưa nói? Có người nào chưa tha? Có món nợ yêu thương nào chưa trả? Có lời xin lỗi nào chưa thốt ra? Có ơn gọi nào ta đang sống nửa vời? Memento mori – nhớ mình sẽ chết – không phải để sợ chết, nhưng để biết sống. Người biết cuộc đời hữu hạn sẽ không tiêu đời mình vào những chuyện nhỏ. Người nhớ ngày phải đứng trước Chúa sẽ bớt ham thắng trước mặt người đời. Người biết cuối cùng mình chỉ mang theo tình yêu sẽ học yêu ngay từ hôm nay.
Và rồi kỳ tĩnh tâm cũng phải kết thúc. Ta lại mở cửa phòng. Lại bước ra đường. Lại trở về cộng đoàn. Điện thoại lại reo. Tin nhắn lại đến. Công việc lại chờ. Những con người quen thuộc vẫn đó, với những ưu điểm và cả những điều từng làm ta khó chịu. Sứ vụ không tự nhiên nhẹ hơn chỉ vì ta vừa tĩnh tâm. Những vấn đề cũ có thể vẫn chưa được giải quyết. Nhưng người trở về có thể là một con người khác. Hoàn cảnh chưa đổi, nhưng ánh nhìn đổi. Công việc vẫn thế, nhưng động cơ đổi. Người anh em vẫn vậy, nhưng lòng mình mềm hơn. Thập giá vẫn còn đó, nhưng ta biết ai đang cùng mang. Tĩnh tâm không đưa ta ra khỏi cuộc sống; tĩnh tâm đưa ta trở lại cuộc sống với một trái tim đã được đặt lại đúng chỗ. Nếu sau tĩnh tâm ta cầu nguyện chậm hơn một chút, lắng nghe nhiều hơn một chút, nói ít tổn thương hơn một chút, bớt nóng giận một chút, biết xin lỗi sớm hơn một chút, sống đơn sơ hơn một chút, bớt tìm mình hơn một chút, yêu Chúa thật hơn một chút, thì kỳ tĩnh tâm ấy đã sinh hoa trái.
Điều đẹp nhất của kỳ tĩnh tâm có lẽ không phải là những gì ta nói với Chúa, nhưng là việc ta để Chúa nói lại cho ta biết mình là ai. Giữa cuộc đời, rất nhiều tiếng nói định nghĩa ta. Người khen bảo ta giỏi. Người chê khiến ta nghĩ mình thất bại. Thành công bảo ta có giá trị. Thất bại khiến ta nghi ngờ bản thân. Chức vụ cho ta một tên gọi. Công việc cho ta cảm giác mình cần thiết. Nhưng trong thinh lặng, Chúa nói một điều sâu hơn tất cả: “Con là của Cha.” Trước khi là linh mục, tu sĩ, nhà truyền giáo, người phụ trách hay bất cứ vai trò nào, ta là người con được yêu. Và nếu giữ được chân lý ấy, đời ta sẽ nhẹ hơn rất nhiều. Ta không cần chứng minh mình hơn ai. Không cần giành phần nổi bật. Không cần buồn khi người khác được khen. Không cần sợ khi phải lui vào hậu trường. Không cần cay đắng khi công sức không được ghi nhận. Vì Cha thấy. Cha biết. Cha yêu. Chừng ấy đủ rồi.
Có lẽ sau bao nhiêu năm đời tu, điều Chúa mong nơi ta không phải là làm thêm thật nhiều, nhưng là thuộc về Người sâu hơn. Những ngày đầu, ta dễ nghĩ đời dâng hiến là mình trao cho Chúa rất nhiều. Càng đi lâu, ta càng hiểu chính Chúa mới là Đấng trao tất cả. Ta trao cho Người một đời bé nhỏ; Người trao cho ta chính Người. Ta bỏ một vài con đường; Người mở ra cho ta cả một chân trời. Ta từ bỏ một vài mối dây; Người cho ta một gia đình rộng lớn. Ta cho Người những năm tháng tốt đẹp nhất; Người biến chính những năm tháng ấy thành câu chuyện ân sủng. Và ngay cả những yếu đuối, những sai sót, những vụng về của ta, nếu đặt trong tay Người, cũng có thể trở thành nơi lòng thương xót được tỏ hiện.
Bởi vậy, xin đừng xem kỳ tĩnh tâm năm như một khoảng trống giữa hai giai đoạn làm việc. Đó là một phần của sứ vụ. Xin đừng tiếc những ngày “không làm gì” cho Chúa, bởi có khi chính những ngày ấy Chúa đang làm rất nhiều trong ta. Xin đừng sợ thinh lặng. Ban đầu thinh lặng có thể làm ta khó chịu vì trong đó ta gặp chính mình. Nhưng nếu ở đủ lâu, ta sẽ gặp Chúa đang chờ ở tầng sâu hơn. Xin đừng vội lấp những khoảng trống bằng điện thoại, tin tức hay những câu chuyện bên ngoài. Có những điều Chúa chỉ nói rất nhỏ, và nếu lòng quá ồn ta sẽ không nghe. Xin hãy bước vào kỳ tĩnh tâm như người khát đi tìm nguồn, như người con đi về nhà, như người môn đệ trở lại bên chân Thầy, như Phêrô trở lại bờ hồ sau một đêm trắng tay và nghe Chúa hỏi lại câu hỏi căn bản nhất của đời mình: “Con có yêu Thầy không?”
Và nếu cuối kỳ tĩnh tâm, ta không mang về được điều gì khác ngoài một lời cầu nguyện đơn sơ, có lẽ cũng đã đủ: “Lạy Chúa, con lại trở về đây. Con không còn trẻ như ngày đầu theo Chúa. Con đã đi qua nhiều con đường, gặp nhiều người, làm nhiều việc, có những điều làm được và có những điều dang dở. Con đã có những ngày rất sốt sắng và cũng có những ngày nguội lạnh. Có lúc con mạnh mẽ, có lúc con yếu đuối. Có khi con trung thành, cũng có khi lòng con chia trí. Nhưng hôm nay, sau tất cả, con vẫn muốn thưa với Chúa một điều: xin giữ con ở lại trong Chúa. Đừng để công việc lấy mất Chúa khỏi đời con. Đừng để thành công làm con xa Chúa. Đừng để thất bại làm con nghi ngờ tình yêu Chúa. Đừng để tuổi tác làm con chai cứng. Đừng để kinh nghiệm khiến con tự mãn. Đừng để những vết thương làm lòng con trở nên cay đắng. Đừng để những lời khen làm con quên mình là ai. Đừng để những lời chê khiến con quên Chúa là ai. Xin cho con biết bắt đầu lại. Bắt đầu lại cầu nguyện. Bắt đầu lại yêu thương. Bắt đầu lại tha thứ. Bắt đầu lại sống lời khấn. Bắt đầu lại phục vụ. Bắt đầu lại nhìn anh chị em bằng ánh mắt của Chúa. Và nếu ngày mai con lại yếu đuối, xin lại kéo con về.”
Kỳ tĩnh tâm năm chính là một “điểm dừng” hồng phúc, bởi ở đó ta dừng chân không phải trước một khoảng trống, nhưng trước một Đấng đang chờ. Người đã chờ ta từ ngày đầu ơn gọi. Người đã đi bên ta trong những năm tháng ta chẳng hề nhận ra. Người có mặt trong những niềm vui lẫn nước mắt. Người đã không rời bỏ ta khi ta yếu đuối nhất. Và hôm nay Người vẫn ở đó, không hỏi ta đã thành công bao nhiêu, không hỏi bao nhiêu người biết đến ta, không hỏi ta đã xây được gì hay giữ được vị trí nào. Người chỉ nhìn ta bằng ánh mắt đã từng nhìn Phêrô bên bờ hồ, nhìn người thanh niên giàu có, nhìn Maria Mađalêna, nhìn người trộm lành trên thập giá, và Người hỏi: “Con có còn muốn đi với Thầy không?” Nếu còn có thể trả lời: “Lạy Chúa, có. Dù yếu đuối, dù vụng về, dù đã bao lần vấp ngã, con vẫn muốn đi với Chúa”, thì kỳ tĩnh tâm ấy đã đạt đến nơi sâu nhất của nó. Vì cuối cùng đời tận hiến không phải là một hành trình của những người không bao giờ mệt, nhưng của những người mỗi khi mệt biết dừng lại bên Chúa; không phải hành trình của những người không bao giờ lạc, nhưng của những người mỗi khi nhận ra mình lạc biết quay về; không phải cuộc đời của những con người hoàn hảo, nhưng của những con người dám để lòng thương xót hoàn thiện mình từng ngày.
Rồi ta lại lên đường. Nhưng lần này không đi một mình. Thật ra chưa bao giờ ta đi một mình. Chỉ là có lúc ta quá bận nên quên mất Người vẫn đang bước bên cạnh. Kỳ tĩnh tâm giúp ta nhớ lại điều ấy. Và có lẽ đó chính là hồng phúc lớn nhất của một điểm dừng: không phải để ta ở lại mãi nơi điểm dừng, nhưng để khi tiếp tục hành trình, ta biết mình đang đi với Ai, đang đi vì Ai, và cuối con đường sẽ trở về với Ai. Khi ấy, từng bước chân sứ vụ, từng Thánh lễ, từng giờ kinh, từng cuộc gặp, từng lời an ủi, từng hy sinh âm thầm, từng giọt mồ hôi, từng nỗi cô đơn và cả từng giọt nước mắt đều có thể trở thành một lời thưa: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa.” Và đến một ngày, khi cuộc hành trình trần thế đi tới điểm dừng cuối cùng, ta mong rằng điểm dừng ấy cũng sẽ là một điểm dừng hồng phúc nhất: nơi không còn phải lên đường nữa, bởi người lữ khách đã về Nhà; không còn phải đi tìm nữa, bởi đã gặp Đấng mình tìm kiếm suốt đời; không còn phải tĩnh tâm nữa, bởi đời mình đã hoàn toàn an nghỉ trong trái tim Thiên Chúa.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỜI CHÚNG TA CẦN NHỮNG ĐIỂM DỪNG ĐỂ Ở LẠI VỚI CHÚA
Có những lúc trong đời, điều cần thiết nhất không phải là bước nhanh hơn, làm nhiều hơn, nói hay hơn hay cố gắng thêm một chút nữa, nhưng đơn giản chỉ là biết dừng lại. Dừng lại không có nghĩa là bỏ cuộc. Dừng lại không có nghĩa là mệt mỏi đến độ buông xuôi. Dừng lại cũng không phải là đứng bên lề cuộc đời để nhìn người khác đi qua. Có những điểm dừng rất cần thiết, rất đẹp, rất thánh, bởi chính nơi đó con người có cơ hội tìm lại điều mình đã đánh mất giữa những bước chân quá vội. Đời chúng ta có điểm dừng để lắng nghe. Có điểm dừng để nhìn lại. Và trên hết, có điểm dừng để ở lại lâu hơn với Chúa. Càng sống lâu, càng đi nhiều, càng làm nhiều việc, người ta càng hiểu rằng điều làm cho đời mình kiệt sức không hẳn là vì con đường quá dài, nhưng nhiều khi vì ta đã đi quá lâu mà không chịu dừng lại; điều khiến tâm hồn khô cạn không hẳn vì cuộc đời thiếu những nguồn nước, nhưng vì ta đã chạy quá nhanh đến độ không còn nhận ra có một dòng suối vẫn âm thầm chảy bên đường. Có những người cả đời rất bận, nhưng khi nhìn lại lại không biết mình đã bận vì điều gì. Có những người làm biết bao nhiêu việc cho Chúa, nhưng lại ít khi ngồi lại thật lâu với chính Chúa. Có những người nói về Chúa mỗi ngày, giảng về Chúa, phục vụ vì Chúa, lo cho công việc của Chúa, nhưng sâu trong tâm hồn lại có một khoảng trống rất khó gọi tên, bởi đã từ lâu họ không còn dành cho Chúa một khoảng thời gian đủ dài để Chúa được nói, được nhìn, được chạm vào những điều sâu kín nhất trong lòng mình. Đó là một nghịch lý rất dễ xảy ra trong đời sống đức tin: người ta có thể rất gần những sự thuộc về Chúa mà lại xa Chúa; có thể ở trong nhà Chúa mà lòng lại lang thang ở đâu đó; có thể tay làm việc của Chúa mà tâm hồn đã lâu không còn nghe được tiếng Chúa. Vì thế, điểm dừng không phải là một sự xa xỉ dành cho những người nhàn rỗi. Điểm dừng là nhu cầu sống còn của tâm hồn.
Cuộc đời chúng ta đầy tiếng động. Có tiếng động ngoài đường phố, tiếng động của công việc, điện thoại, tin nhắn, mạng xã hội, những cuộc gặp gỡ, những thông tin nối tiếp nhau không ngừng; nhưng đáng sợ hơn cả là những tiếng động ở bên trong. Đó là tiếng của lo lắng, của hơn thua, của thành công và thất bại, của những điều người khác nghĩ về ta, của những lời khen ta muốn được nghe, của những lời chê ta không thể quên, của những tổn thương cũ cứ trở đi trở lại, của những dự tính chưa hoàn thành, của những tham vọng có khi chính ta cũng không dám gọi đúng tên. Tâm hồn có thể đang quỳ trong nhà nguyện mà bên trong vẫn ồn ào như một khu chợ. Môi có thể đọc kinh mà trí đang đi hết chuyện này đến chuyện khác. Thân xác có thể hiện diện trước Thánh Thể mà lòng lại đang bận tính toán ngày mai. Vì vậy, có một điểm dừng chưa chắc đã có thinh lặng. Muốn thật sự dừng lại, ta phải tập lắng xuống. Lắng không chỉ cái miệng nhưng cả trái tim. Lắng không chỉ âm thanh bên ngoài nhưng cả những tiếng đòi hỏi bên trong. Lắng để có thể nghe một tiếng rất nhẹ mà giữa những ồn ào ta thường bỏ qua: tiếng Chúa. Chúa hiếm khi chen vào giữa những tiếng động của ta để giành phần nói. Người không la lớn hơn thế gian để buộc chúng ta phải nghe. Người vẫn nói bằng thứ ngôn ngữ của thinh lặng, của Lời Chúa, của một ánh sáng bất chợt soi vào lương tâm, của một nỗi thao thức thánh thiện, của một câu Tin Mừng đã nghe trăm lần bỗng hôm nay đâm thẳng vào lòng. Chúa vẫn nói, nhưng vấn đề là chúng ta có còn đủ yên để nghe hay không.
Điểm dừng đầu tiên vì thế là dừng để lắng nghe. Trong Tin Mừng, trước những quyết định quan trọng, Đức Giêsu thường tìm về nơi thanh vắng. Người lên núi một mình. Người thức đêm cầu nguyện. Người rời đám đông. Người không để những tiếng tung hô quyết định căn tính và sứ mạng của mình. Chính Người, Con Thiên Chúa, còn cần những giờ phút ở riêng với Chúa Cha, huống gì chúng ta, những con người mong manh, dễ bị kéo đi bởi bao nhiêu tiếng gọi. Ta thường tưởng rằng muốn làm được nhiều việc thì phải giảm bớt giờ cầu nguyện; muốn giải quyết mọi chuyện nhanh hơn thì phải rút ngắn thời gian thinh lặng; muốn phục vụ tốt hơn thì phải luôn luôn có mặt, luôn luôn chạy, luôn luôn trả lời, luôn luôn đáp ứng. Nhưng rồi có lúc ta nhận ra càng chạy càng mệt, càng làm càng dễ cáu, càng phục vụ càng thấy người khác trở thành gánh nặng, càng dấn thân càng dễ than phiền. Khi đó vấn đề có khi không nằm ở công việc. Vấn đề nằm ở nguồn. Một dòng sông không thể chảy mãi nếu không được nuôi bởi nguồn. Một ngọn đèn không thể sáng mãi nếu dầu đã cạn. Một cành cây không thể sinh trái chỉ bằng ý chí của nó nếu nó đã lìa thân. Người môn đệ cũng vậy. Không thể trao Chúa mãi cho người khác nếu chính mình không trở về nhận Chúa. Không thể nói những lời bình an nếu lòng đã mất bình an. Không thể nói về lòng thương xót nếu bên trong đầy cay đắng. Không thể dạy người khác phó thác nếu chính mình sống trong lo sợ. Không thể mời người khác cầu nguyện nếu đời mình chỉ còn những giờ cầu nguyện vội vã.
Có điểm dừng để lắng nghe Chúa, nhưng cũng có điểm dừng để lắng nghe chính mình. Điều này rất quan trọng. Bởi người ta có thể sống rất lâu mà không thật sự biết điều gì đang xảy ra trong lòng mình. Ta biết lịch làm việc, biết giờ hẹn, biết tin tức, biết chuyện của người khác, biết những gì người khác đang làm, nhưng lại không biết tâm hồn mình đang vui hay buồn, đang bình an hay bất an, đang yêu mến hay chỉ đang làm vì bổn phận, đang phục vụ vì Chúa hay âm thầm tìm chính mình. Có những nỗi buồn bị che bằng sự bận rộn. Có những vết thương bị phủ lên bằng hoạt động. Có những bất mãn được ngụy trang dưới danh nghĩa nhiệt thành. Có những tham vọng rất tinh tế khoác áo của sứ vụ. Có khi ta nói mình làm vì Chúa, nhưng nếu người khác không ghi nhận thì lòng buồn; nói rằng tất cả là để phục vụ, nhưng nếu ý kiến mình không được chọn thì khó chịu; nói rằng chẳng cần ai biết, nhưng khi chẳng ai biết thật thì lại thấy hụt hẫng. Những điều ấy không phải để ta kết án mình, nhưng để thấy rằng tâm hồn con người phức tạp và mong manh biết bao. Chỉ trong những điểm dừng đủ sâu, ta mới nhìn thấy chúng. Và chỉ khi nhìn thấy, ta mới có thể đem chúng đến cho Chúa chữa lành.
Có điểm dừng để nhìn lại. Đây có lẽ là điều con người hiện đại rất thiếu. Chúng ta quen nhìn tới trước: kế hoạch tiếp theo, dự án tiếp theo, cuộc hẹn tiếp theo, công việc tiếp theo, chặng đường tiếp theo. Nhưng nếu chỉ nhìn phía trước mà không bao giờ nhìn lại, ta rất dễ mang theo những sai lầm cũ vào những con đường mới. Nhìn lại không phải để sống với quá khứ, càng không phải để ngồi đó tiếc nuối điều đã mất. Nhìn lại là để nhận ra Chúa đã đi với mình thế nào, mình đã đáp lại Chúa ra sao, đâu là những ơn lành cần tạ ơn, đâu là những bất trung cần xin tha thứ, đâu là những bài học cần ghi nhớ, đâu là những điều phải can đảm buông xuống. Có những chặng đời khi đang đi qua ta không hiểu. Chỉ nhiều năm sau nhìn lại, ta mới thấy bàn tay Chúa. Có những cánh cửa ngày ấy đóng lại làm ta khóc rất nhiều, nhưng sau này mới hiểu nếu cánh cửa đó không đóng, có lẽ đời ta đã đi một hướng hoàn toàn khác. Có những người rời khỏi đời ta khiến ta thấy trống vắng, nhưng chính sự ra đi đó dạy ta rằng không ai có thể chiếm chỗ của Thiên Chúa. Có những thất bại tưởng như làm ta mất tất cả, nhưng lại cứu ta khỏi một thứ kiêu ngạo mà thành công đã âm thầm nuôi lớn. Có những năm tháng ta chỉ thấy mình bị lấy đi, nhưng nhìn lại mới biết Chúa đang làm cho đôi tay mình trống để có thể nhận một điều khác sâu hơn.
Nhìn lại đời mình dưới ánh sáng của Chúa khác hoàn toàn với việc ngồi kiểm điểm mình bằng ánh mắt khắt khe. Nếu chỉ nhìn lại bằng cái tôi, ta dễ hoặc tự hào hoặc thất vọng. Thành công thì thấy mình giỏi. Thất bại thì thấy mình vô dụng. Nhưng nhìn lại cùng Chúa là một cái nhìn khác. Trong cái nhìn ấy, ngay cả thành công cũng trở thành lý do để khiêm nhường vì biết tất cả là ân sủng; ngay cả thất bại cũng có thể trở thành nơi gặp Chúa, bởi giữa những đổ vỡ ta nhận ra lòng thương xót. Người trưởng thành trong đời sống thiêng liêng không phải là người không còn thất bại, nhưng là người biết đọc thất bại của mình dưới ánh sáng của Chúa; không phải là người không còn yếu đuối, nhưng là người không còn sợ đưa sự yếu đuối ấy ra trước mặt Chúa; không phải là người có một quá khứ hoàn hảo, nhưng là người để Chúa cứu chuộc cả những phần không hoàn hảo nhất của quá khứ.
Có những điểm dừng trong đời do ta chủ động chọn, nhưng cũng có những điểm dừng mà cuộc đời đặt trước mặt ta. Một cơn bệnh khiến ta buộc phải nằm xuống. Một thất bại khiến mọi kế hoạch phải ngưng lại. Một người thân ra đi khiến ta không thể tiếp tục sống hời hợt như trước. Một sự thay đổi trong sứ vụ. Một tuổi già đang đến. Một sức khỏe không còn như xưa. Một lần bị hiểu lầm. Một thời gian phải sống trong cô đơn. Có những lúc ta không muốn dừng mà vẫn phải dừng. Và chính những điểm dừng ấy thường đau. Ta thấy mình bị lấy mất quyền điều khiển. Ta quen với việc tự quyết định đường đi, nay bỗng phải đứng lại. Ta quen được người khác cần, nay có lúc cảm thấy mình không còn hữu dụng như xưa. Ta quen cho đi, bỗng có ngày phải học để người khác chăm sóc mình. Những điểm dừng ấy có thể trở thành khủng hoảng, nhưng cũng có thể trở thành ân sủng nếu ta biết để Chúa bước vào. Bởi đôi khi chỉ khi ta không còn chạy được nữa, ta mới chịu nhìn thấy Đấng đã đi bên cạnh mình từ lâu. Chỉ khi đôi tay không còn bận làm, ta mới học được cách mở tay ra. Chỉ khi không còn có thể nói nhiều, ta mới bắt đầu nghe. Chỉ khi không còn chắc chắn về ngày mai, ta mới hiểu thế nào là phó thác.
Và trên hết, đời chúng ta cần có điểm dừng để ở lại lâu hơn với Chúa. Hai chữ “ở lại” nghe thật đơn sơ, nhưng lại có lẽ là một trong những động từ đẹp nhất của đời môn đệ. Chúa không chỉ gọi chúng ta làm việc cho Người. Người gọi ta ở với Người. Trước khi sai các Tông đồ đi rao giảng, Đức Giêsu gọi họ đến để họ “ở với Người”. Trước mọi sứ vụ là sự hiện diện. Trước mọi lời rao giảng là một mối tương quan. Trước mọi hoạt động là tình thân. Cái nguy hiểm của đời sống thiêng liêng là dần dần ta có thể biến Chúa thành một “công việc”. Ta chuẩn bị bài về Chúa. Ta nói chuyện về Chúa. Ta tổ chức chương trình cho Chúa. Ta giải quyết những vấn đề của cộng đoàn Chúa. Ta chăm lo cho những người thuộc về Chúa. Và tất cả những việc ấy đều tốt. Nhưng nếu thiếu “ở lại”, chúng có thể trở thành một guồng máy khiến ta càng làm càng xa nguồn. Chúa Giêsu không nói: “Ai làm thật nhiều thì sẽ sinh nhiều hoa trái.” Người nói: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sinh nhiều hoa trái.” Hoa trái của đời môn đệ không phát xuất trước hết từ hiệu suất, tài năng hay số lượng công việc. Hoa trái đến từ sự hiệp thông.
Ở lại với Chúa đôi khi chẳng cần nói gì. Có những tình yêu càng sâu thì càng ít cần nhiều lời. Một người con ngồi bên cha mẹ già có khi không cần nói gì cả. Một người bạn ngồi bên người bạn đang đau khổ không cần phải tìm đủ lời để giải thích. Sự hiện diện đã là một ngôn ngữ. Với Chúa cũng thế. Ta thường nghĩ cầu nguyện là phải nói rất nhiều. Ta đọc hết kinh này đến kinh khác, trình bày hết chuyện này đến chuyện kia, xin hết điều nọ đến điều khác. Điều đó không sai. Nhưng có lúc cầu nguyện chỉ là ở đó. Thật sự ở đó. Không cầm điện thoại. Không nhìn đồng hồ. Không vội vàng. Không cố tạo cảm xúc. Không đòi Chúa phải cho mình một câu trả lời ngay. Chỉ ngồi trước Thánh Thể và để Chúa nhìn mình. Chỉ để cho lòng mình thưa rất nhỏ: “Lạy Chúa, con ở đây.” Đơn giản thế thôi. Có những giờ cầu nguyện tưởng như chẳng “được” gì, nhưng sau đó ta nhận ra mình đã khác. Ta hiền hơn. Ta bớt nóng hơn. Ta nhìn người khác dễ thương hơn. Ta chịu đựng được điều trước đây mình không chịu nổi. Ta bớt nhu cầu phải thắng. Ta dễ tha thứ hơn. Đó là lúc ta hiểu Chúa đã làm việc trong thinh lặng.
Ở lại lâu hơn với Chúa còn là để Người bóc đi khỏi ta những lớp mặt nạ mà chính ta đã quen mang đến độ tưởng đó là con người thật của mình. Trước người khác, ta có thể giữ hình ảnh. Trước Chúa thì không. Ta có thể làm người mạnh mẽ trước cộng đoàn, nhưng trước Chúa được phép khóc. Ta có thể tỏ ra bình tĩnh trước người khác, nhưng với Chúa có thể thú nhận rằng mình đang sợ. Ta có thể nói những lời rất đạo đức trước người đời, nhưng trong nhà nguyện phải dám nói với Chúa rằng lòng mình đang khô khan. Ta có thể được người khác kính trọng, nhưng trước Chúa phải nhận mình chỉ là một kẻ nghèo. Và kỳ lạ thay, chính khi không cần giữ hình ảnh trước Chúa, tâm hồn mới thật sự được nghỉ ngơi. Người ta mệt không chỉ vì làm nhiều, nhưng còn vì phải giữ quá nhiều hình ảnh về mình. Ta muốn người này nghĩ tốt về ta, muốn người kia hiểu đúng về ta, muốn người khác công nhận ta, muốn bảo vệ tiếng tăm của mình. Cả một sức lực khổng lồ được dùng chỉ để giữ lấy một cái tôi. Khi ở với Chúa đủ lâu, ta học được sự tự do của người biết mình là ai trong mắt Chúa. Khi ấy, người khác khen cũng không bay quá cao, người khác chê cũng không rơi quá sâu. Bởi căn tính của ta không còn nằm trong miệng người đời nhưng trong ánh mắt Thiên Chúa.
Điểm dừng với Chúa cũng là nơi ta học lại cách phân định. Không phải mọi cánh cửa mở đều là ý Chúa. Không phải mọi việc ta có thể làm đều là việc ta phải làm. Không phải mọi lời mời gọi đều cần đáp lại. Có những điều rất tốt nhưng không phải là điều Chúa muốn ta làm lúc này. Có những công việc rất đạo đức nhưng lại trở thành cách khiến ta trốn khỏi điều Chúa đang thật sự muốn chạm đến trong lòng. Chúng ta cần những điểm dừng để hỏi: “Lạy Chúa, điều gì thật sự quan trọng? Điều gì Chúa đang muốn nơi con? Con đang sống vì điều gì? Con đang chạy về đâu?” Nếu không hỏi những câu ấy, rất có thể ta sẽ dùng cả cuộc đời để leo thật nhanh một cái thang rồi đến cuối mới đau đớn nhận ra cái thang ấy đã được dựng nhầm bức tường.
Có một sự nghèo khó rất khó chấp nhận: nghèo vì nhận ra mình không thể làm tất cả. Ta không thể cứu hết mọi người. Không thể giải quyết hết mọi vấn đề. Không thể làm vừa lòng tất cả. Không thể hiện diện mọi nơi. Không thể giữ mãi sức khỏe. Không thể kiểm soát tương lai. Và cũng không thể giữ mãi những người mình yêu. Điểm dừng trước Chúa dạy ta chấp nhận giới hạn ấy mà không tuyệt vọng. Ta làm phần của mình, nhưng biết Thiên Chúa mới là Thiên Chúa. Có những điều sau khi đã làm hết sức, ta chỉ có thể đặt xuống trước mặt Người và nói: “Phần còn lại là của Chúa.” Câu nói ấy nghe đơn giản nhưng phải mất rất nhiều năm người ta mới học được. Khi còn trẻ, ta thường nghĩ mọi thứ tùy thuộc vào cố gắng của mình. Khi trưởng thành hơn, ta hiểu cố gắng là cần, nhưng ân sủng còn cần hơn. Ta gieo, người khác tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Và có những hạt ta gieo cả đời cũng không được nhìn thấy ngày trổ bông. Không sao. Người môn đệ không được gọi để kiểm soát mùa gặt, nhưng được gọi để trung thành gieo hạt.
Có điểm dừng để ta hỏi lại một câu rất căn bản: “Tôi còn yêu Chúa không?” Không phải: “Tôi còn làm việc cho Chúa không?” Không phải: “Tôi còn giữ đủ bổn phận không?” Không phải: “Người khác còn thấy tôi đạo đức không?” Nhưng: “Tôi còn yêu Chúa không?” Một câu hỏi vừa đơn giản vừa đáng sợ. Vì có thể vẫn còn mọi hình thức mà ngọn lửa bên trong đã yếu. Vẫn đọc kinh, vẫn dâng lễ, vẫn phục vụ, vẫn nói những lời đúng, vẫn giữ lịch sống đều đặn, nhưng niềm vui ban đầu đã phai đi đâu đó. Chúa đã trở thành quen. Thánh lễ trở thành quen. Nhà tạm trở thành quen. Tin Mừng trở thành quen. Những điều thánh thiêng quá gần có thể trở nên bình thường nếu tâm hồn không biết dừng lại mà ngỡ ngàng. Một trong những nguy hiểm lớn nhất không phải là ta bỏ Chúa, nhưng là ta quen với Chúa đến độ không còn ngạc nhiên trước tình yêu Người. Ta có thể đi ngang Thánh Giá mỗi ngày mà không còn rung động. Có thể cầm Mình Thánh Chúa trong tay mà lòng vẫn lạnh. Có thể đọc câu “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” mà nghe như một câu quá quen. Điểm dừng giúp ta trở lại sự kinh ngạc đầu tiên: Đấng là Thiên Chúa thật sự yêu tôi. Đấng vô hạn biết tên tôi. Đấng dựng nên trời đất vẫn chờ tôi trong thinh lặng của nhà tạm.
Có những lúc chúng ta không cần thêm một cuốn sách, thêm một bài giảng, thêm một chương trình hay thêm một phương pháp cầu nguyện mới. Có lẽ ta chỉ cần trở về và ngồi lâu hơn trước mặt Chúa. Cái biết về Chúa không thể thay cho việc biết Chúa. Kiến thức thần học rất quý, nhưng không thể thay thế tương quan. Người ta có thể nói rất chính xác về tình yêu mà chưa chắc đã yêu; có thể phân tích cầu nguyện mà không cầu nguyện; có thể giảng về thinh lặng nhưng không chịu được năm phút thinh lặng. Đời sống thiêng liêng không lớn lên chỉ bằng điều ta biết, nhưng bằng điều ta sống. Và có những điều chỉ học được bằng cách ở lại. Gioan tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa Tiệc Ly đã nghe một nhịp tim mà không cuốn sách nào mô tả được. Maria ngồi dưới chân Chúa đã chọn “phần tốt nhất” không phải vì công việc của Mácta xấu, nhưng bởi có một lúc điều cần nhất không phải là làm cho Chúa mà là để Chúa làm gì đó trong mình.
Đời chúng ta cần điểm dừng để những vết thương có cơ hội lên tiếng. Có những tổn thương ta mang nhiều năm vì không bao giờ chịu ngồi xuống với chúng. Ta cứ đi, cứ làm, cứ cười, cứ nói rằng mình ổn. Nhưng trong một khoảnh khắc thinh lặng, chỉ một câu Kinh Thánh, một bài hát, một ký ức cũng có thể khiến nước mắt chảy ra. Đừng vội sợ những giọt nước mắt ấy. Có những giọt nước mắt là lời cầu nguyện sâu nhất mà con người có thể dâng. Khi lời không còn, nước mắt nói thay. Khi ta không biết giải thích nỗi đau của mình với Chúa thế nào, cứ để Chúa nhìn. Người biết. Người hiểu trước khi ta nói. Những vết thương không được nhìn nhận thường biến thành sự cứng cỏi. Một người bị tổn thương mà không được chữa lành rất dễ làm tổn thương người khác. Một người mang cay đắng lâu ngày có thể gọi sự cay đắng ấy là “thẳng thắn”. Một người thất vọng có thể gọi thái độ lạnh lùng của mình là “khôn ngoan”. Một người bị xem thường có thể tìm cách kiểm soát người khác để bù lại cảm giác bất lực. Chỉ trước Chúa, trong những điểm dừng thật sâu, ta mới có thể phân biệt đâu là sức mạnh thật và đâu chỉ là lớp áo che một trái tim đang đau.
Có điểm dừng để tha thứ. Đôi khi ta nói mình đã tha thứ nhưng chỉ vì không còn gặp người ấy nữa. Ta tưởng vết thương đã lành chỉ vì đã học cách tránh đụng đến nó. Nhưng rồi một cái tên được nhắc lên, một câu chuyện được kể lại, lòng bỗng nhói. Tha thứ không thể vội. Có những tha thứ cần được cầu nguyện nhiều năm. Và điểm dừng với Chúa là nơi ta đem tên người làm ta đau vào trong ánh sáng của Người. Không phải để bảo rằng điều họ làm là đúng, nhưng để xin Chúa đừng để cái sai của họ tiếp tục làm chủ lòng mình. Nếu ta cứ giữ một người trong nhà tù của sự oán giận, nhiều khi chính ta là người phải đứng canh nhà tù ấy suốt đời. Chúa muốn giải thoát ta. Không phải lúc nào Người thay đổi quá khứ, nhưng Người có thể thay đổi quyền lực của quá khứ trên ta.
Có điểm dừng để tạ ơn. Con người có một trí nhớ rất lạ: điều đau thì nhớ lâu, điều tốt lại quên nhanh. Một câu xúc phạm có thể nhớ mười năm, một trăm điều tử tế người khác làm cho mình lại xem như bình thường. Một lần Chúa không cho điều mình xin thì chất vấn, còn ngàn điều Chúa ban mỗi ngày lại ít khi để ý. Điểm dừng giúp ta đếm lại ân sủng. Một ngày còn được thức dậy. Một người vẫn còn bên cạnh. Một bữa cơm. Một sức khỏe tuy không hoàn hảo nhưng còn đủ để bước đi. Một người bạn. Một cộng đoàn. Một Thánh lễ. Một cơ hội để sửa sai. Một ngày nữa để yêu. Tất cả đều là quà. Khi ta biết dừng để tạ ơn, cuộc sống không nhất thiết thay đổi nhưng cái nhìn thay đổi. Và khi cái nhìn thay đổi, chính cuộc sống cũng trở nên khác.
Rồi sẽ đến một ngày có một điểm dừng cuối cùng mà chẳng ai tránh được. Một ngày ta không còn lịch hẹn tiếp theo. Không còn dự án cần hoàn thành. Không còn những điều phải tranh luận. Không còn danh hiệu để giữ. Không còn tiền để tính. Không còn ai hỏi ta đã thành công đến đâu. Cái chết là điểm dừng cuối cùng của mọi cuộc chạy. Nghĩ đến điều đó không phải để bi quan nhưng để sống khôn ngoan hơn. Nếu biết đời ngắn, ta sẽ bớt phí thời gian cho những giận hờn nhỏ nhặt. Nếu biết rồi một ngày phải bỏ tất cả, ta sẽ bớt nắm chặt. Nếu biết người bên cạnh mình cũng mong manh, ta sẽ yêu họ dịu dàng hơn. Nếu biết có ngày không còn nói được nữa, ta sẽ nói lời xin lỗi sớm hơn, nói lời cảm ơn nhiều hơn, nói lời yêu thương khi còn có thể. Và nếu biết cuối con đường ta sẽ gặp Chúa, ta sẽ hiểu tại sao hôm nay cần dừng để gặp Người mỗi ngày. Người nào đã tập ở với Chúa trong những điểm dừng nhỏ của cuộc đời sẽ không quá xa lạ với điểm dừng cuối cùng, bởi cái chết khi ấy chỉ là bước qua một cánh cửa để ở lại mãi mãi với Đấng mình đã tập yêu trong từng ngày.
Thật ra, Chúa vẫn chờ ta ở những điểm dừng ấy. Chúa không chỉ chờ ta trong những biến cố lớn, trong những lần tĩnh tâm đặc biệt, trong những giờ cầu nguyện cảm động. Người chờ trong những khoảng rất bình thường: vài phút buổi sáng trước khi ngày mới bắt đầu; một phút yên lặng sau Thánh lễ; một lúc ngồi lại trước nhà tạm; một đoạn Lời Chúa đọc chậm thay vì đọc cho xong; một buổi chiều tắt điện thoại sớm hơn để lòng bớt ồn; một đêm trước khi ngủ nhìn lại ngày sống. Thánh thiện không phải lúc nào cũng được tạo nên bởi những điều phi thường. Nhiều khi đời sống với Chúa được xây bằng những lần dừng rất nhỏ nhưng trung thành. Một phút mỗi ngày rồi thành một đời. Một lần trở về rồi thành thói quen trở về. Một ánh nhìn lên Thánh Giá rồi từ từ thay đổi cả cách ta nhìn cuộc đời.
Ước gì ta đừng đợi đến khi kiệt sức mới chịu dừng. Đừng đợi tâm hồn khô cạn mới tìm nguồn. Đừng đợi tình yêu nguội lạnh mới nhớ đến những ngày đầu. Đừng đợi một biến cố đau đớn mới nhận ra mình đã sống quá vội. Hãy tự cho mình những điểm dừng thánh thiện. Dừng để nghe Chúa trước khi nghe cả thế giới. Dừng để nhìn vào lòng trước khi chỉ nhìn lỗi người khác. Dừng để xét lại đường đi trước khi cố chạy nhanh hơn. Dừng để xin lỗi. Dừng để tạ ơn. Dừng để khóc nếu cần. Dừng để cười với những điều rất nhỏ. Dừng để nhớ mình chỉ là thụ tạo, không phải Đấng Cứu Thế. Dừng để đặt lại trên tay Chúa những người ta không thể giữ. Dừng để giao cho Chúa những việc ta không thể giải quyết. Dừng để thừa nhận rằng mình mệt. Dừng để cho phép ân sủng nâng mình lên.
Và trên hết, hãy dừng để ở lại lâu hơn với Chúa. Đừng vội nói. Đừng vội xin. Đừng vội đứng dậy. Cứ ở lại. Có khi chẳng cảm thấy gì. Cứ ở lại. Có khi lòng khô như đất hạn. Cứ ở lại. Có khi những câu hỏi chưa có lời đáp. Cứ ở lại. Có khi thấy mình bất xứng. Càng phải ở lại. Có khi vừa phạm một lỗi khiến ta xấu hổ. Đừng chạy khỏi Chúa; hãy chạy về phía Người. Người không chờ ta hoàn hảo rồi mới cho phép đến gần. Người muốn ta đến như mình đang là để Người làm cho ta trở nên con người mà Người muốn. Trong đời sống thiêng liêng, không phải lúc nào ở lại cũng cho ta một cảm giác dễ chịu, nhưng chính sự trung thành ở lại sẽ biến đổi ta. Mặt trời không cần nói gì với mảnh đất, chỉ cần chiếu đủ lâu thì đất ấm. Chúa cũng vậy. Chỉ cần ta đặt mình đủ lâu trong ánh nhìn của Người, nhiều điều trong ta sẽ dần thay đổi mà chính ta không nhận ra.
Rốt cuộc, điều quan trọng không phải là trong đời ta đã đi bao nhiêu nơi, làm bao nhiêu việc, được bao nhiêu người biết đến, hoàn thành bao nhiêu công trình. Điều quan trọng hơn là giữa tất cả những điều ấy, ta có còn biết đường trở về không. Trở về với căn phòng nội tâm. Trở về với Lời Chúa. Trở về với Thánh Thể. Trở về với ánh mắt Đức Kitô. Trở về với câu hỏi đầu tiên của tình yêu. Cuộc đời có thể đưa ta đi rất xa, nhưng đừng để nó đưa ta xa khỏi Chúa. Công việc có thể chất đầy ngày tháng, nhưng đừng để nó lấy hết khoảng dành cho Người. Người khác có thể cần ta, nhưng chính ta cần Chúa hơn tất cả.
Đời chúng ta có điểm dừng để lắng nghe. Có điểm dừng để nhìn lại. Và trên hết, có điểm dừng để ở lại lâu hơn với Chúa. Có lẽ sau tất cả những chặng đường dài, ta sẽ hiểu rằng những phút tưởng như “không làm gì” trước mặt Chúa lại là những phút quan trọng nhất; những lúc tưởng như đứng yên lại chính là lúc đời ta được chỉnh lại hướng đi; những khoảnh khắc không ai nhìn thấy lại là lúc Chúa đang âm thầm làm một công việc sâu nhất trong linh hồn. Bởi người môn đệ không sống nhờ chạy thật nhanh, nhưng nhờ biết mình đang đi với Ai. Không sống nhờ làm thật nhiều, nhưng nhờ biết nguồn sức mạnh của mình ở đâu. Không sống nhờ được người đời giữ lại, nhưng nhờ biết cuối cùng mình thuộc về Chúa.
Vậy nên, giữa một ngày quá nhiều tiếng gọi, hãy dành một khoảng để nghe tiếng Người. Giữa một đời quá nhiều đường đi, hãy có một con đường dẫn về nhà tạm. Giữa bao nhiêu khuôn mặt phải gặp, hãy đừng quên khuôn mặt Đức Kitô. Giữa bao nhiêu lời phải nói, hãy còn một khoảng thinh lặng để Chúa được nói với mình. Giữa bao nhiêu điều cần giữ, hãy biết buông những gì không cần thiết. Giữa bao nhiêu lần phải bước tiếp, hãy đừng sợ một điểm dừng. Bởi có những điểm dừng không làm hành trình ngắn lại nhưng làm hành trình đúng hướng hơn; không lấy mất thời gian nhưng trả lại ý nghĩa cho thời gian; không làm ta yếu đi nhưng nối ta lại với nguồn sức mạnh; không kéo ta khỏi sứ vụ nhưng đưa sứ vụ trở về đúng nguồn.
Và biết đâu, vào một buổi chiều nào đó, khi ta đã đi qua gần hết cuộc đời, ngồi thật yên trước Chúa và nhìn lại, ta sẽ hiểu rằng điều quý nhất không phải là mình đã làm được bao nhiêu điều cho Người, nhưng là giữa bao nhiêu năm tháng ấy, Người đã kiên nhẫn ở lại với mình biết bao. Những lúc ta quên, Người vẫn nhớ. Những lúc ta đi xa, Người vẫn chờ. Những lúc ta yếu, Người vẫn đỡ. Những lúc ta thất tín, Người vẫn trung tín. Những lúc ta không còn biết cầu nguyện thế nào, Người vẫn ở đó. Và lúc ấy, ta chỉ còn biết thưa một lời rất nhỏ, rất thật, rất nghèo mà có lẽ là lời đẹp nhất của cả một đời người: “Lạy Chúa, con chẳng có gì để khoe với Chúa. Con chỉ biết rằng qua bao nhiêu năm tháng, Chúa đã không bỏ con. Và hôm nay, con lại trở về, chỉ để được ở lại với Chúa.”
Lm. Anmai, CSsR
SỐNG CHỨNG TÁ NIỀM VUI TIN MỪNG
Có lẽ một trong những câu hỏi đáng để người Kitô hữu chúng ta mang theo suốt đời không phải chỉ là: tôi đã biết Chúa bao nhiêu, đã đọc bao nhiêu sách đạo, đã tham dự bao nhiêu Thánh lễ, đã làm bao nhiêu việc trong giáo xứ, đã giữ được bao nhiêu luật lệ, nhưng còn là một câu hỏi gần gũi và có phần nhức nhối hơn nhiều: người khác có nhìn thấy niềm vui của Tin Mừng nơi cuộc đời tôi hay không? Bởi Tin Mừng, ngay từ tên gọi của nó, đã là Tin Vui. Chúa Giêsu đến không phải để đặt thêm một gánh nặng trên vai con người, nhưng để loan báo một Thiên Chúa đang đến gần, một Thiên Chúa yêu thương, tha thứ, chữa lành, tìm kiếm người tội lỗi, nâng người ngã xuống, lau nước mắt người đau khổ và mở ra cho con người một con đường sống. Thế nhưng điều đáng buồn là đôi khi người ta gặp chúng ta, những người mang danh Kitô hữu, mà lại không cảm được chút nào niềm vui ấy. Người ta thấy nơi chúng ta sự cau có nhiều hơn bình an, lời phê phán nhiều hơn cảm thông, sự nặng nề nhiều hơn thanh thoát, tranh hơn thua nhiều hơn lòng bao dung, sợ hãi nhiều hơn tín thác, và thậm chí có lúc người ta nhìn vào đời sống đạo của chúng ta rồi tưởng rằng theo Chúa là bước vào một cuộc đời buồn bã, căng thẳng và đầy những điều cấm đoán. Nếu như vậy thì có điều gì đó cần được chúng ta nhìn lại thật nghiêm túc, bởi một người đã thật sự gặp Đức Kitô không thể cứ mãi sống như thể đời mình chẳng có một Tin Vui nào.
Niềm vui Tin Mừng không phải là một thứ vui bên ngoài, càng không phải là nụ cười xã giao mà ta cố giữ trên môi để người khác tưởng mình ổn. Niềm vui Kitô giáo không phải tiếng cười của người chưa từng đau khổ, cũng chẳng phải tâm trạng phấn chấn của người mọi chuyện đều thuận lợi. Nếu niềm vui chỉ có khi khỏe mạnh, khi có tiền, khi được người ta quý trọng, khi công việc thành công, khi gia đình yên ấm, khi lời cầu nguyện được đáp ứng đúng ý mình, thì niềm vui ấy chẳng khác gì niềm vui mà bất cứ ai trên đời cũng có thể có. Niềm vui Tin Mừng sâu hơn thế rất nhiều. Đó là niềm vui của một người biết rằng dù đời mình có thế nào thì mình vẫn được Thiên Chúa yêu. Là niềm vui của người có thể khóc nhưng không tuyệt vọng; có thể thất bại nhưng không nghĩ đời mình vô nghĩa; có thể bị hiểu lầm mà vẫn không cần trả đũa; có thể mất mát mà lòng vẫn còn một nơi để bám víu; có thể bước qua đêm tối nhưng tin chắc rằng bình minh vẫn thuộc về Thiên Chúa. Niềm vui ấy không loại trừ nước mắt. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá chắc chắn không phải là một người mẹ đang vui theo nghĩa thông thường, nhưng giữa tận cùng đau đớn, Mẹ vẫn đứng đó với một lòng tin không sụp đổ. Các Tông đồ sau này bị bắt bớ, đánh đòn, tù đày, nhưng vẫn có một niềm vui kỳ lạ mà thế gian không thể hiểu. Thánh Phaolô viết thư về niềm vui không phải từ một cung điện nhưng nhiều khi từ xiềng xích. Chính vì thế, niềm vui Tin Mừng không nằm ở chỗ cuộc đời chúng ta không còn thập giá, nhưng ở chỗ giữa thập giá ấy chúng ta biết Ai đang cùng vác với mình.
Chúa Giêsu chính là nguồn mạch của niềm vui ấy. Người bước vào đời người như ánh sáng bước vào một căn phòng tối. Người không phủ nhận bóng tối, nhưng làm cho bóng tối không còn tiếng nói cuối cùng. Hãy nhìn những người gặp Chúa trong Tin Mừng. Dakêu sau cuộc gặp với Chúa đã đổi cả cách sống. Người phụ nữ Samari bỏ vò nước lại mà chạy về thành. Maria Mađalêna từ một người khóc bên mộ trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Hai môn đệ Emmau trước khi nhận ra Chúa thì bước đi với khuôn mặt buồn bã; nhưng sau khi nhận ra Người trong lúc bẻ bánh, họ lập tức đứng dậy quay về Giêrusalem dù trời đã tối. Điều gì đã thay đổi? Con đường vẫn vậy. Đêm vẫn vậy. Giêrusalem vẫn còn những nguy hiểm. Hoàn cảnh khách quan chưa chắc đã tốt hơn. Chỉ có một điều thay đổi: họ biết rằng Chúa đang sống. Và một khi biết Chúa đang sống, người ta có đủ sức quay lại con đường mình vừa muốn bỏ.
Có lẽ nhiều khi chúng ta muốn làm chứng cho Tin Mừng bằng những điều quá lớn mà quên rằng chứng tá thuyết phục nhất lại bắt đầu từ cách sống rất bình thường. Một người Kitô hữu biết mỉm cười giữa những vất vả đời thường đã là một chứng tá. Một người đi làm mà không gian dối, không nói xấu đồng nghiệp, không đạp người khác xuống để mình bước lên, đó là chứng tá. Một người mẹ đã mệt rã rời nhưng vẫn dịu dàng với con, một người cha gánh bao áp lực nhưng không trút bực bội lên vợ con, một người con biết nhẫn nại với cha mẹ già, một người bán hàng không cân thiếu, một người làm ăn không vì lợi nhuận mà đánh mất lương tâm, một người bị xúc phạm nhưng biết dừng lại trước khi nói một câu làm tổn thương người khác, tất cả đều có thể trở thành những trang Tin Mừng sống động. Người ta có thể không đọc Kinh Thánh, nhưng người ta đọc đời sống chúng ta mỗi ngày. Có khi một người chưa bao giờ bước vào nhà thờ lại đang hình dung về Thiên Chúa từ chính cách một người Công giáo đối xử với họ. Nếu chúng ta tử tế, có thể họ nghĩ: Thiên Chúa của người này chắc phải là một Thiên Chúa rất nhân hậu. Nếu chúng ta biết tha thứ, có thể họ tự hỏi: điều gì làm cho con người này không nuôi hận? Nếu chúng ta bình an giữa thử thách, có thể họ sẽ thắc mắc: người này đang tựa vào đâu mà mạnh mẽ như thế? Chính những câu hỏi ấy nhiều khi là cánh cửa đầu tiên để Tin Mừng bước vào một tâm hồn.
Sống chứng tá niềm vui Tin Mừng vì thế không có nghĩa là phải nói về Chúa trong mọi câu chuyện. Có những lúc càng nói nhiều về Chúa người ta càng xa Chúa, nếu cách sống của chúng ta không đi cùng lời nói. Người ta không cần nghe chúng ta nói một trăm lần rằng Thiên Chúa là tình yêu nếu vừa ra khỏi nhà thờ chúng ta đã lạnh lùng với người nghèo, gay gắt với người phục vụ, thiếu công bằng với nhân viên, bất hòa với anh chị em mình. Người ta cũng khó tin rằng Tin Mừng đem lại bình an nếu những người giữ đạo lại là những người thích gây chia rẽ, thích xét đoán, thích đưa chuyện người khác ra bàn luận. Có khi một lời cầu nguyện rất dài không có sức thuyết phục bằng một lần biết xin lỗi. Một bài giáo lý rất hay không có sức đánh động bằng một nghĩa cử tha thứ thật lòng. Một câu nói đạo đức không có sức mạnh bằng một bàn tay đưa ra đúng lúc người khác đang tuyệt vọng. Tin Mừng phải đi từ trang sách vào trái tim, rồi từ trái tim đi vào đôi mắt, lời nói, bàn tay, cách ứng xử và những chọn lựa rất cụ thể của người tin.
Điều làm cho chứng tá Kitô hữu mất sức hấp dẫn không hẳn là vì chúng ta yếu đuối. Người ta có thể thông cảm cho sự yếu đuối. Điều khiến người khác khó chấp nhận hơn chính là sự giả hình: nói một đằng sống một nẻo, đòi người khác điều mình không làm, dùng đạo để xét đoán nhưng lại không để Tin Mừng xét lại chính mình. Chúa Giêsu chưa bao giờ đòi môn đệ phải hoàn hảo ngay lập tức. Phêrô yếu đuối, nóng nảy, từng chối Thầy. Tôma cứng lòng. Giacôbê và Gioan từng tranh chỗ cao. Các môn đệ nhiều lần không hiểu Thầy. Nhưng Chúa kiên nhẫn đào luyện họ. Do đó, người Kitô hữu không cần đóng vai người hoàn hảo. Có khi một chứng tá đẹp lại là dám nhìn nhận: tôi đã sai; xin tha thứ cho tôi; tôi cũng yếu đuối; tôi đang cố sống tốt hơn nhờ ơn Chúa. Một người biết khiêm tốn nhận lỗi đôi khi làm cho người khác thấy Chúa gần hơn nhiều so với một người luôn muốn mình đúng.
Niềm vui Tin Mừng cũng được chứng tỏ bằng khả năng biết ơn. Một trong những căn bệnh của con người hôm nay là rất dễ quen với những điều mình có và chỉ nhìn những điều mình thiếu. Có sức khỏe thì than công việc. Có công việc thì than lương ít. Có gia đình thì than những điều chưa vừa ý. Có cơm ăn, áo mặc, mái nhà để về, người thân để thương mà vẫn thấy đời chẳng có gì đáng vui. Chúng ta dễ đếm những gì Chúa chưa cho mà quên đếm những gì Chúa đã ban. Khi lòng biết ơn biến mất, niềm vui cũng khô dần. Người biết ơn một chén cơm, một buổi sáng thức dậy, một người còn ở bên cạnh, một lần được tha thứ, một cơ hội làm lại, một ngày bình an rất bình thường, người ấy sẽ khám phá cuộc đời có vô vàn phép lạ bé nhỏ. Không phải phép lạ nào cũng làm người chết sống lại. Có những phép lạ chẳng ai để ý: sáng nay mình vẫn còn thở; hôm nay vẫn còn người gọi mình bằng một tiếng thân thương; chiều về vẫn còn căn nhà có ánh đèn; sau bao lỗi lầm Chúa vẫn cho mình một ngày mới. Người Kitô hữu phải là người biết nhìn thấy ân sủng trong những điều rất nhỏ. Và khi một tâm hồn đầy lòng biết ơn, khuôn mặt tự nhiên sẽ có ánh sáng.
Nhưng cũng phải nói thật rằng có những giai đoạn người ta rất khó vui. Có những vết thương kéo dài nhiều năm. Có người vừa mất một người thân. Có người đang đối diện với bệnh tật. Có người nhìn gia đình mình rạn vỡ mà chẳng biết phải làm gì. Có người cầu nguyện mãi nhưng dường như Chúa vẫn im lặng. Có những đêm một người ngồi trước Nhà Tạm mà chẳng còn lời nào để nói. Những lúc ấy, đừng bắt mình phải cười. Đức tin không phải là diễn kịch. Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta giả vờ vui khi trái tim đang vỡ. Người chỉ mời chúng ta đừng tuyệt vọng. Có lúc chứng tá cho niềm vui Tin Mừng chỉ đơn giản là vẫn còn cầu nguyện khi chẳng cảm thấy gì; vẫn đi lễ khi tâm hồn khô khan; vẫn không bỏ Chúa dù chẳng hiểu Chúa đang làm gì; vẫn có thể thưa trong nước mắt rằng: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin.” Có những nụ cười là chứng tá, nhưng cũng có những giọt nước mắt đầy đức tin còn là chứng tá mạnh hơn.
Chúng ta cũng cần tự hỏi tại sao nhiều người giữ đạo lâu năm lại đánh mất niềm vui thuở ban đầu. Có thể vì Chúa dần dần bị biến thành một bổn phận. Cầu nguyện thành việc phải làm. Thánh lễ thành thói quen. Kinh đọc bằng môi mà lòng chạy đi nơi khác. Phục vụ biến thành trách nhiệm rồi trách nhiệm biến thành gánh nặng. Một người có thể làm rất nhiều việc cho Chúa mà lại ở rất xa Chúa. Có thể chạy khắp nơi vì công việc nhà Chúa nhưng chẳng còn thời gian ngồi yên trước mặt Chúa. Và khi không còn kín múc từ nguồn, người ta bắt đầu cạn. Cạn rồi thì dễ cáu. Cạn rồi thì dễ than. Cạn rồi thì thấy người khác là gánh nặng. Cạn rồi thì việc phục vụ trở thành dịp để tìm lời khen. Cạn rồi thì bất cứ lời góp ý nào cũng làm mình tổn thương. Bởi vậy, muốn sống chứng tá niềm vui Tin Mừng, điều trước tiên không phải cố tỏ ra vui, nhưng là trở về ở lại với Chúa. Cành nho không cần cố gắng để trông xanh; nó chỉ cần gắn với thân nho. Khi nhựa sống còn chảy, lá sẽ xanh. Người môn đệ cũng vậy. Khi còn ở lại trong Chúa, hoa trái sẽ đến.
Niềm vui Kitô giáo còn được nhận ra rất rõ qua cách chúng ta đối diện với người khác. Một người thật sự có Chúa trong lòng sẽ ngày càng bớt nhu cầu phải thắng người khác. Họ có thể giữ quan điểm mà không xúc phạm. Có thể nói sự thật mà không nghiền nát người nghe. Có thể bất đồng mà không biến người kia thành kẻ thù. Có thể sửa lỗi nhưng trong lòng vẫn thương. Đây là điều rất cần trong một thời đại người ta có thể làm tổn thương nhau chỉ bằng vài dòng trên mạng xã hội. Nhiều người nhân danh sự thật để nói những lời không có tình yêu. Nhưng sự thật của Đức Kitô luôn mang khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh. Chúa nói sự thật, nhưng Chúa cũng chết cho chính người chống lại sự thật ấy. Nếu điều ta nói đúng mà cách ta nói khiến người khác chỉ cảm thấy bị khinh bỉ, có lẽ chúng ta vẫn chưa nói theo cách của Tin Mừng. Một người sống niềm vui Tin Mừng không đi khắp nơi tìm lỗi người khác. Họ bận nhìn lại lòng mình, bận cảm tạ Chúa, bận làm điều tốt, bận chữa lành hơn là kết án.
Gia đình phải là nơi chứng tá niềm vui ấy được nhìn thấy đầu tiên. Thật vô lý nếu một người ra ngoài rất đạo đức, với ai cũng nhẹ nhàng, nhưng về nhà lại là nỗi sợ của vợ con. Thật đáng buồn nếu một người có thể phục vụ cả giáo xứ nhưng không có thời gian ngồi cạnh cha mẹ già. Chứng tá Kitô giáo bắt đầu sau cánh cửa nhà mình. Một bữa cơm bớt tiếng điện thoại và thêm tiếng hỏi han. Một lần vợ chồng chịu ngồi xuống nghe nhau thay vì cố chứng minh mình đúng. Một người cha dám ôm con và nói “ba thương con”. Một người mẹ biết xin lỗi con khi mình nóng giận. Một người con gọi điện về cho cha mẹ chỉ để hỏi hôm nay cha mẹ khỏe không. Những chuyện tưởng rất nhỏ ấy lại là Tin Mừng. Bởi ở đâu con người biết yêu nhau như Đức Kitô dạy, ở đó Nước Thiên Chúa đang âm thầm đến.
Cộng đoàn Kitô hữu cũng phải là nơi người ta cảm thấy mình được đón nhận. Giáo xứ không thể chỉ đẹp vì nhà thờ lớn, phụng vụ trang nghiêm hay nhiều sinh hoạt; điều làm một cộng đoàn thật sự đẹp là một người xa lạ bước vào đó và cảm thấy mình có chỗ. Một người nghèo không thấy mặc cảm. Một người tội lỗi không thấy mình bị nhìn bằng ánh mắt kết án. Một người đang khủng hoảng có ai đó chịu ngồi nghe. Một người mới đến có người mỉm cười chào hỏi. Giáo Hội sẽ thuyết phục không chỉ bằng những lời giảng đúng, mà bằng những cộng đoàn nơi người ta cảm nhận được rằng tình yêu là có thật. Chúa Giêsu từng nói người ta sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ Người nếu chúng ta yêu thương nhau. Người không nói người ta sẽ nhận biết nhờ chúng ta tổ chức giỏi, xây dựng lớn hay tranh luận thắng. Dấu hiệu nhận diện môn đệ vẫn chỉ là tình yêu.
Cũng đừng nghĩ sống chứng tá niềm vui Tin Mừng là chuyện dành riêng cho linh mục, tu sĩ hay những người chuyên lo việc đạo. Không. Một bác sĩ chăm sóc bệnh nhân bằng lương tâm đang loan báo Tin Mừng. Một thầy cô không bỏ rơi học trò yếu đang loan báo Tin Mừng. Một người công nhân làm việc trung thực đang loan báo Tin Mừng. Một doanh nhân biết lợi nhuận không phải là tất cả đang loan báo Tin Mừng. Một người trẻ dám sống trong sạch giữa một môi trường coi mọi giới hạn là lỗi thời đang loan báo Tin Mừng. Một người già chịu đựng tuổi tác với lòng phó thác, không biến đau bệnh thành lý do để làm mọi người quanh mình đau theo, cũng đang loan báo Tin Mừng. Mỗi người đều có một bục giảng. Bục giảng của người mẹ là căn bếp. Bục giảng của người cha là nơi làm việc. Bục giảng của người trẻ là trường học, công ty, mạng xã hội. Bục giảng của người bệnh có thể là chính chiếc giường họ nằm. Không phải bài giảng nào cũng được nói bằng miệng.
Có một chứng tá rất đẹp mà thế giới hôm nay đặc biệt cần: sự bình an. Con người hiện đại có quá nhiều thứ nhưng lại thiếu bình an. Tin tức làm họ lo. Công việc làm họ kiệt sức. Tiền bạc làm họ căng thẳng. Những so sánh trên mạng xã hội khiến họ thấy mình luôn thua kém. Ai cũng vội. Ai cũng sợ bị bỏ lại. Ai cũng cố chứng minh mình đáng giá. Trong một thế giới như vậy, một người sống bình an là một câu hỏi lớn. Tại sao họ không hoảng loạn như mọi người? Tại sao họ không cần khoe khoang? Tại sao họ có thể vui với thành công của người khác? Tại sao họ không sụp đổ khi bị thất bại? Bởi họ biết giá trị của mình không nằm trong ánh mắt người đời. Họ biết mình là con Thiên Chúa. Một khi căn tính ấy đủ sâu, người ta không cần xin thế giới mỗi ngày một lời xác nhận rằng mình quan trọng.
Và rồi chứng tá lớn nhất vẫn luôn là tình yêu. Không phải tình yêu bằng cảm xúc nhưng bằng hy sinh. Đức Kitô không cứu thế giới bằng một bài diễn văn về tình yêu. Người yêu bằng cách rửa chân. Người yêu bằng cách ngồi ăn với người bị khinh thường. Người yêu bằng cách chạm vào người phong cùi. Người yêu bằng cách để cho người tội lỗi đến gần. Người yêu đến tận Thập Giá. Vì vậy, ai muốn làm chứng cho Tin Mừng thì cuối cùng cũng phải đi con đường ấy: bớt mình đi để người khác được sống. Có những lúc yêu nghĩa là nhịn một lời. Có lúc là thức một đêm chăm người bệnh. Có lúc là tha thứ cho người chẳng hề xin lỗi. Có lúc là cho đi mà không ai biết. Có lúc là tiếp tục tử tế với một người đã làm mình thất vọng. Có lúc là chịu thiệt một chút để giữ bình an. Chúng ta thường muốn làm những điều lớn cho Chúa nhưng Thiên Chúa đặt trước mặt ta những con người rất cụ thể và nói: hãy yêu người này trước đã.
Sống chứng tá niềm vui Tin Mừng cũng có nghĩa là không để cái xấu làm mình trở thành người xấu. Đây là một cuộc chiến rất khó. Khi bị người khác cư xử tệ, phản ứng tự nhiên là cư xử tệ lại. Khi bị nói xấu, ta muốn nói xấu lại. Khi bị tổn thương, ta muốn người kia đau như mình. Nhưng nếu cứ như thế thì bóng tối sinh thêm bóng tối. Chúa mời người môn đệ làm một điều khác: dừng vòng luẩn quẩn ấy lại nơi mình. Người khác cay nghiệt không buộc mình phải cay nghiệt. Người khác gian dối không cho mình quyền gian dối. Người khác bất công không biến bất công của mình thành điều đúng. Đó là sức mạnh Tin Mừng: tôi không để cách người khác đối xử quyết định tôi sẽ trở thành người nào. Tôi thuộc về Đức Kitô, vì vậy tôi chọn cách của Đức Kitô.
Chắc chắn chúng ta sẽ thất bại nhiều lần. Có ngày ta chẳng vui nổi. Có lúc ta nóng giận. Có khi một câu nói làm người khác đau. Có lúc ta sống rất xa điều mình tin. Nhưng Tin Mừng cũng chính là Tin Vui cho những lần thất bại ấy. Chúng ta có thể bắt đầu lại. Phêrô đã bắt đầu lại. Người con hoang đàng đã bắt đầu lại. Người trộm lành ở những phút cuối cùng vẫn được bắt đầu lại. Chúa không bao giờ mệt mỏi mở cửa cho người muốn quay về. Vì vậy, một người sống niềm vui Tin Mừng không phải người không bao giờ té, nhưng là người không bao giờ để lần té cuối cùng quyết định số phận mình. Họ đứng dậy bởi biết có một bàn tay đang đưa ra.
Có lẽ thế giới hôm nay không thiếu những người nói về Thiên Chúa. Điều thế giới thiếu là những người làm cho người khác muốn biết Thiên Chúa sau khi gặp mình. Đây mới là câu hỏi lớn. Sau khi nói chuyện với tôi, một người có thấy lòng mình nhẹ hơn không? Sau khi sống cùng tôi, gia đình có cảm thấy được yêu hơn không? Sau khi làm việc với tôi, đồng nghiệp có thấy rằng trung thực vẫn còn có thể không? Sau khi tranh luận với tôi, người bất đồng có còn cảm thấy mình được tôn trọng không? Sau khi tôi đi qua một nơi, tôi để lại bình an hay căng thẳng, hy vọng hay nặng nề, chữa lành hay tổn thương? Đời sống chúng ta luôn để lại một dấu vết. Và người môn đệ phải xin Chúa cho dấu vết mình để lại mang hương của Tin Mừng.
Ước gì mỗi buổi sáng thức dậy, chúng ta không chỉ xin Chúa cho hôm nay mọi chuyện thuận lợi, nhưng có thể cầu nguyện đơn sơ: “Lạy Chúa, hôm nay xin cho ai gặp con cũng gặp được một chút lòng nhân hậu của Chúa. Ai đang buồn gặp con thì bớt buồn. Ai đang cô độc gặp con thì thấy mình không bị bỏ quên. Ai đang giận dữ gặp con thì được bình tâm. Ai đang mất hy vọng gặp con thì nhận được một chút ánh sáng. Xin đừng để vì lời nói, ánh mắt hay cách cư xử của con mà người khác có một hình ảnh méo mó về Ngài.” Nếu mỗi Kitô hữu bắt đầu ngày mới với tâm tình ấy và cố sống chỉ một phần nhỏ thôi, thế giới sẽ đổi khác rất nhiều.
Cuối cùng, sống chứng tá niềm vui Tin Mừng không phải là mang một chiếc mặt nạ vui vẻ trên khuôn mặt, nhưng là mang Đức Kitô trong lòng. Có Người rồi, ta vẫn khóc nhưng nước mắt không còn tuyệt vọng; vẫn vác thập giá nhưng thập giá không còn vô nghĩa; vẫn trải qua tuổi già, bệnh tật, chia lìa và mất mát nhưng không đi một mình. Người Kitô hữu vui không phải vì cuộc đời luôn đẹp, mà vì biết rằng ngay cả trong những ngày không đẹp, Thiên Chúa vẫn ở đó. Ta vui không phải vì mọi lời cầu xin đều được đáp theo ý ta, nhưng vì tin rằng đời mình nằm trong một bàn tay lớn hơn những tính toán của mình. Ta vui không phải vì không có ngày mai đáng sợ, nhưng vì Đấng đi cùng ta hôm nay cũng đã ở trong ngày mai ấy trước ta rồi.
Ước gì chúng ta đừng chỉ nói về Tin Mừng, nhưng trở nên Tin Mừng cho nhau. Đừng chỉ bảo người khác rằng Chúa yêu họ, nhưng hãy yêu họ bằng một cách nào đó để họ cảm được điều ấy. Đừng chỉ nói Thiên Chúa tha thứ, hãy tập tha thứ. Đừng chỉ nói Chúa nhân hậu, hãy bớt khắt khe. Đừng chỉ nói Chúa là bình an, hãy thôi gieo bất an. Đừng chỉ nói Chúa là niềm vui, hãy để khuôn mặt và cuộc sống mình kể một câu chuyện khác với sự buồn bã của thế gian. Và nếu có ai đó một ngày hỏi ta rằng: “Tại sao giữa bao nhiêu chuyện như thế mà anh, mà chị vẫn còn có thể hy vọng, vẫn còn tử tế, vẫn còn yêu thương, vẫn còn tin?” thì lúc ấy có lẽ ta không cần phải nói quá nhiều. Chỉ cần nhẹ nhàng trả lời: bởi vì tôi đã gặp một Người, và Người ấy là Đức Giêsu Kitô. Người đã yêu tôi khi tôi chẳng đáng yêu, đã tha thứ khi tôi lầm lỗi, đã nâng tôi dậy khi tôi ngã, đã ở lại khi người khác bỏ đi, và đã hứa rằng không gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Người. Chính Người là niềm vui của đời tôi.
Một đời người rồi cũng qua. Thành công sẽ qua. Tiền bạc sẽ ở lại. Những lời khen rồi người ta quên. Những điều ta từng hơn thua đến cuối đời nhìn lại có khi chẳng còn nghĩa gì. Nhưng có một điều sẽ còn: những con người đã từng được chúng ta yêu thương, những tâm hồn từng được nâng lên bởi một lời tốt lành, những người từng tìm lại hy vọng vì thấy chúng ta vẫn tin giữa gian nan, những người từng đến gần Chúa hơn vì thấy một chút khuôn mặt hiền hậu của Người nơi đời chúng ta. Nếu cuối đời có thể để lại được một chứng tá như thế, có lẽ đời Kitô hữu của chúng ta đã không sống uổng. Xin Chúa cho chúng ta đừng trở thành những người chỉ giữ đạo, nhưng trở thành những con người có Chúa; đừng chỉ thuộc những lời của Tin Mừng, nhưng để Tin Mừng thuộc lấy đời mình; đừng chỉ tuyên xưng Đức Kitô bằng môi miệng, nhưng bằng một cuộc đời vui, hiền lành, biết ơn, tha thứ, bình an và đầy hy vọng. Để giữa một thế giới đang có quá nhiều tiếng thở dài, cuộc đời người môn đệ có thể trở thành một lời rất nhỏ mà rất thật nói với mọi người rằng: Thiên Chúa vẫn đang yêu thế gian này, và vì thế, chúng ta vẫn còn lý do để vui, để hy vọng, để yêu thương và để bắt đầu lại mỗi ngày.
Lm. Anmai, CSsR
TÔI ĐÃ SỐNG SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG NHƯ THẾ NÀO?
Có những câu hỏi người ta có thể trả lời rất nhanh, bởi chỉ cần nhớ lại vài con số, vài công việc, vài thành quả đã đạt được. Nhưng cũng có những câu hỏi không thể trả lời vội vàng, bởi để trả lời, người ta phải dừng lại, phải im lặng, phải trở về với chính mình, phải đặt cả một quãng đời dưới ánh sáng của Chúa và để cho Chúa nói. “Tôi đã sống sứ vụ loan báo Tin Mừng như thế nào?” là một câu hỏi như thế. Câu hỏi ấy không chỉ đòi tôi kể lại mình đã làm bao nhiêu việc, đã đi bao nhiêu nơi, đã gặp bao nhiêu người, đã tổ chức bao nhiêu chương trình, đã giảng bao nhiêu bài, đã cử hành bao nhiêu Thánh lễ, đã hoàn thành bao nhiêu trách nhiệm. Câu hỏi ấy đi sâu hơn những con số. Nó chạm vào căn tính của đời tôi. Nó hỏi rằng giữa tất cả những gì tôi đã làm, người ta có gặp được Đức Kitô không? Giữa tất cả những lời tôi đã nói, người ta có nghe được một chút âm vang của Tin Mừng không? Giữa tất cả những công việc tôi đã miệt mài thực hiện, có bao nhiêu việc thực sự phát xuất từ lòng yêu mến Chúa và yêu thương con người, và có bao nhiêu việc chỉ phát xuất từ thói quen, trách nhiệm, danh dự, nhu cầu được công nhận hay nỗi sợ bị đánh giá? Sau một năm miệt mài với công việc, có lẽ điều cần nhất không phải là lập một bản thành tích, nhưng là đặt mình trước mặt Chúa và hỏi thật lòng: “Lạy Chúa, một năm qua con đã thuộc về Chúa hơn chưa? Con đã giống Chúa hơn chưa? Người ta ở gần con có cảm thấy mình được yêu thương hơn không? Những người đau khổ đi ngang đời con có được nâng đỡ hơn không? Những người tội lỗi có dám tin rằng Chúa vẫn còn chờ họ không? Những người mỏi mệt có tìm thấy nơi con một chút bình an không? Những người thất vọng có nhận được từ đời con một lý do để tiếp tục hy vọng không?”
Loan báo Tin Mừng trước hết không phải là nói về Chúa thật nhiều, nhưng là để cho Chúa trở thành sự sống của mình. Có khi chúng ta nói về Chúa rất hay nhưng chính mình lại ít sống với Chúa. Có khi chúng ta giảng về cầu nguyện nhưng đời cầu nguyện của mình lại khô cạn. Có khi chúng ta nói về lòng thương xót nhưng trong lòng lại còn đầy những xét đoán. Có khi chúng ta mời gọi người khác tha thứ trong khi chính mình vẫn giữ rất kỹ những vết thương và những món nợ tình cảm. Có khi chúng ta nói về sự nghèo khó nhưng vẫn âm thầm tìm kiếm những bảo đảm, những tiện nghi, những vị trí, những ưu tiên dành cho mình. Có khi chúng ta nói về khiêm nhường nhưng lại nhạy cảm vô cùng khi không được ghi nhận. Có khi chúng ta nói rất nhiều về hiệp thông nhưng chỉ cần một lời trái ý là lòng đã khép lại. Có khi chúng ta nói về phục vụ nhưng lại mong người khác phục vụ mình. Có khi chúng ta nói về thập giá nhưng lại tìm đủ mọi cách để tránh những thập giá nhỏ bé trong cộng đoàn, trong sứ vụ, trong tương quan hằng ngày. Bởi thế, mỗi lần nhìn lại sứ vụ loan báo Tin Mừng, điều đầu tiên cần nhìn không phải là bên ngoài, mà là bên trong. Không phải là tôi đã làm được gì cho Chúa, nhưng là Chúa đã làm được gì trong tôi. Không phải là tôi đã thay đổi được bao nhiêu người, nhưng là chính tôi đã để cho Tin Mừng thay đổi mình đến đâu.
Một năm đã trôi qua. Bao nhiêu sáng thức dậy vội vàng. Bao nhiêu cuộc điện thoại. Bao nhiêu cuộc gặp. Bao nhiêu kế hoạch. Bao nhiêu công việc nối tiếp nhau. Có những ngày vừa mở mắt đã nghĩ đến việc phải làm, đến người phải gặp, đến vấn đề phải giải quyết. Có những tối thân xác mệt rã rời mà đầu óc vẫn còn quay cuồng với sứ vụ ngày mai. Có những lúc cảm thấy mình cần thiết đến mức dường như nếu mình dừng lại thì mọi chuyện sẽ đổ vỡ. Nhưng chính trong những ngày như thế, Tin Mừng lại nhắc tôi một điều rất đơn sơ mà rất khó sống: tôi không phải là Đấng Cứu Thế. Tôi chỉ là người được sai đi. Tôi không phải nguồn mạch. Tôi chỉ là chiếc máng nhỏ bé để ân sủng đi qua. Tôi không phải ánh sáng. Tôi chỉ được mời gọi phản chiếu ánh sáng. Tôi không phải người làm cho hạt giống nảy mầm. Tôi chỉ gieo, chỉ tưới, chỉ chăm sóc; còn Thiên Chúa mới là Đấng làm cho lớn lên. Nhận ra điều ấy không làm tôi bớt nhiệt thành, nhưng giúp tôi nhiệt thành đúng cách hơn. Bởi nếu tôi nghĩ mọi sự tùy thuộc vào tôi, tôi sẽ mau kiệt sức, mau thất vọng, mau bực bội, mau trách người khác, mau buồn khi kết quả không như mong đợi. Nhưng nếu tôi nhớ rằng sứ vụ là của Chúa, tôi sẽ học làm hết sức mình mà vẫn biết trao lại kết quả cho Chúa. Tôi sẽ học gieo trong bình an, phục vụ trong tự do, làm việc trong lòng tín thác. Tôi sẽ bớt muốn kiểm soát mọi sự. Tôi sẽ bớt sợ thất bại. Tôi sẽ bớt tìm thành công như một bằng chứng cho giá trị của mình.
Nhìn lại một năm, có lẽ đã có những hoa trái rất rõ. Có người được nâng đỡ. Có người tìm lại được đức tin. Có người sau nhiều năm xa Chúa đã trở về với Bí tích Hòa Giải. Có một gia đình đang rạn nứt đã biết ngồi lại với nhau. Có một người trẻ đang chao đảo đã lấy lại được hướng đi. Có một người bệnh đã ra đi trong bình an hơn. Có một cụ già đã cảm thấy mình không bị bỏ quên. Có một người nghèo được chia sẻ. Có một tâm hồn đang tuyệt vọng đã tìm thấy một chút hy vọng. Có một người đã từng nghĩ mình không còn xứng đáng với Chúa nhưng rồi lại dám tin vào lòng thương xót của Người. Có những hoa trái mình nhìn thấy. Nhưng chắc chắn còn rất nhiều hoa trái mình không bao giờ biết. Một câu nói tưởng như rất bình thường có thể đã ở lại trong lòng ai đó nhiều năm. Một lần mình lắng nghe ai đó trong lúc họ tưởng chẳng ai hiểu mình có thể đã cứu họ khỏi một quyết định sai lầm. Một ánh mắt cảm thông, một cuộc thăm viếng, một lời cầu nguyện, một lần mình nhịn đi một lời gay gắt, một lần mình kiên nhẫn với một người khó chịu, một lần mình âm thầm tha thứ, một lần mình tiếp tục yêu dù không được hiểu… tất cả đều có thể trở thành những hạt giống của Tin Mừng. Có những hoa trái không mang tên mình. Có những hoa trái nảy mầm rất lâu sau khi mình đã đi khỏi. Có những điều mình tưởng là thất bại nhưng Thiên Chúa lại dùng chính thất bại ấy để mở một cánh cửa khác. Có những lời mình nói không ai phản ứng gì, nhưng nhiều năm sau một người mới nhớ lại. Có những người mình tưởng chẳng thay đổi gì, nhưng Thiên Chúa đã âm thầm làm việc trong chiều sâu tâm hồn họ. Vì thế, khi nhìn lại những hoa trái của một năm, tôi phải rất khiêm tốn. Không phải hoa trái nào tôi cũng nhìn thấy. Và những hoa trái tôi nhìn thấy cũng không phải do một mình tôi tạo nên. Nếu có gì tốt đẹp, đó trước hết là ân sủng. Nếu một lời của tôi chạm được lòng người, đó là vì Chúa đã đi trước lời ấy. Nếu một việc tôi làm mang lại bình an, đó là vì Chúa đã làm cho việc nhỏ bé ấy sinh ích. Nếu một người được biến đổi, chính Thánh Thần là Đấng chạm tới họ. Tôi chỉ là khí cụ. Và một khí cụ không có lý do gì để tự hào khi âm nhạc vang lên.
Nhưng nhìn lại một năm cũng không thể chỉ nhìn những điều đẹp. Tĩnh tâm mà chỉ nhớ lại những gì tốt đẹp về mình thì chưa chắc là tĩnh tâm. Trước mặt Chúa, tôi cũng phải đủ can đảm để nhìn những vùng tối trong sứ vụ của mình. Có những lúc tôi đã phục vụ mà trong lòng có chút cay đắng. Có những việc tôi làm vì bổn phận nhiều hơn vì tình yêu. Có những người tôi gặp mà tôi không thật sự hiện diện với họ, bởi trong lúc họ nói, tôi đã nghĩ đến công việc kế tiếp. Có những lúc tôi nghe nhưng không lắng nghe. Có những lần tôi trả lời quá nhanh mà chưa kịp hiểu hết nỗi đau của người đối diện. Có những lúc tôi quá bận để nhận ra một người đang cần mình. Có những ngày tôi chăm lo biết bao việc của Chúa mà lại dành quá ít thời giờ ở với chính Chúa. Có khi tôi bận đến mức cầu nguyện trở thành phần việc cuối cùng trong ngày, nếu còn giờ. Có khi tôi chuẩn bị rất kỹ bài nói cho người khác nhưng không chuẩn bị tâm hồn để chính mình nghe Lời Chúa. Có khi tôi đứng trước bàn thờ mà tâm trí vẫn còn ở trong điện thoại, trong cuộc họp, trong kế hoạch, trong những điều đang dang dở. Có khi miệng đọc kinh mà lòng đã chạy đi rất xa. Có khi tôi muốn cho người khác gặp Chúa nhưng chính tôi lại ít gặp Người trong thinh lặng. Và đây có lẽ là một trong những nguy cơ lớn nhất của người làm sứ vụ: làm rất nhiều việc cho Chúa đến độ không còn giờ ở với Chúa. Khi ấy, sứ vụ vẫn tiếp tục, nhưng nguồn mạch dần cạn. Bên ngoài vẫn hoạt động, nhưng bên trong bắt đầu khô. Lời nói vẫn trôi chảy, nhưng lửa trong lòng nguội đi. Người khác có thể chưa nhận ra ngay, nhưng chính mình sẽ cảm thấy: mình dễ cáu hơn, dễ mệt hơn, dễ thất vọng hơn, dễ tổn thương hơn, dễ so sánh hơn, dễ cần người khác công nhận hơn. Đó là dấu hiệu cho thấy cành nho đang xa thân nho.
Có một câu hỏi rất cần thiết khi nhìn lại đời tông đồ: “Tôi có còn vui không?” Không phải niềm vui bề ngoài, không phải sự phấn khởi khi công việc thành công, nhưng là niềm vui sâu xa của người biết mình thuộc về Chúa. Bởi Tin Mừng vốn là Tin Mừng của niềm vui. Nếu sau nhiều năm sống đời dâng hiến, nhiều năm phục vụ, nhiều năm rao giảng, tôi ngày càng trở nên nặng nề, khó gần, hay trách móc, dễ cay nghiệt, dễ chán nản, thì tôi cần tự hỏi: Tin Mừng tôi đang loan báo đã đi qua tim tôi chưa? Một người có thể rất chính xác về giáo lý nhưng lại không làm người khác cảm nhận được niềm vui của đức tin. Một người có thể rất nghiêm túc về kỷ luật nhưng lại khiến người khác sợ hãi hơn là yêu mến Chúa. Một người có thể nói rất đúng nhưng nói theo cách khiến người khác bị tổn thương. Một người có thể bảo vệ chân lý nhưng đánh mất bác ái. Và khi ấy, chân lý được nói ra nhưng khuôn mặt Tin Mừng lại bị che khuất. Chứng tá của niềm vui Tin Mừng không có nghĩa là lúc nào cũng cười, lúc nào cũng dễ chịu, lúc nào cũng không có đau khổ. Chứng tá của niềm vui Tin Mừng là ngay giữa đau khổ, người khác vẫn nhận ra nơi tôi một niềm hy vọng; ngay giữa thất bại, tôi vẫn không tuyệt vọng; ngay khi bị hiểu lầm, tôi vẫn không cay độc; ngay khi bị tổn thương, tôi vẫn còn khả năng tha thứ; ngay khi tuổi tác, bệnh tật, giới hạn làm mình bất lực, tôi vẫn có thể nói: “Chúa vẫn đủ cho tôi.”
Có lẽ một trong những hoa trái quan trọng nhất sau một năm không phải là tôi đã làm được nhiều hơn, mà là tôi đã biết mình nhỏ bé hơn. Ban đầu, người ta thường nghĩ trưởng thành là càng ngày càng mạnh. Nhưng trong đời sống thiêng liêng, trưởng thành nhiều khi lại là càng ngày càng ý thức mình yếu. Trước đây tôi tưởng mình có thể thay đổi người khác bằng lời nói. Bây giờ tôi hiểu rằng có những người chỉ có thể thay đổi bằng lời cầu nguyện và sự kiên nhẫn. Trước đây tôi tưởng nhiệt thành là làm thật nhiều. Bây giờ tôi hiểu nhiệt thành còn là biết dừng đúng lúc để nghe Chúa. Trước đây tôi tưởng yêu người là giúp họ giải quyết vấn đề. Bây giờ tôi hiểu đôi khi điều họ cần nhất chỉ là có người ngồi bên và không bỏ đi. Trước đây tôi tưởng mình phải có câu trả lời cho mọi câu hỏi. Bây giờ tôi hiểu có những đau khổ không cần câu trả lời, chỉ cần một sự hiện diện. Trước đây tôi sợ người khác thấy giới hạn của mình. Bây giờ tôi hiểu chính khi mình không còn giả vờ mạnh mẽ, ân sủng mới có chỗ để hoạt động. Trước đây tôi muốn được hiểu. Bây giờ tôi bắt đầu học yêu cả khi không được hiểu. Trước đây tôi muốn công việc phải theo ý mình. Bây giờ tôi tập để cho Chúa dẫn mình qua những con đường không dự tính. Nếu một năm qua giúp tôi khiêm tốn hơn, hiền hơn, chậm xét đoán hơn, biết lắng nghe hơn, biết cầu nguyện hơn, biết thương người yếu đuối hơn, thì đó là những hoa trái rất lớn, dù chẳng ai đưa chúng vào báo cáo cuối năm.
Và rồi câu hỏi khó nhất vẫn là: “Đâu là điều tôi còn phải hoán cải?” Hoán cải không phải chỉ dành cho những người xa Chúa. Người làm việc cho Chúa cũng phải hoán cải. Người giảng Tin Mừng cũng phải để Tin Mừng xét xử mình mỗi ngày. Có lẽ tôi phải hoán cải khỏi sự tự mãn âm thầm, tưởng rằng mình đã biết đủ, đã sống đủ, đã cho đi đủ. Tôi phải hoán cải khỏi thói quen lấy công việc che lấp sự trống rỗng bên trong. Tôi phải hoán cải khỏi nhu cầu được nhìn nhận. Có những việc tôi làm rất tốt nhưng lòng lại buồn nếu không ai biết. Có những lời khen khiến tôi vui quá lâu, những lời chê khiến tôi mất bình an quá lâu. Như thế nghĩa là lòng tôi vẫn chưa hoàn toàn tự do. Tôi phải hoán cải khỏi việc so sánh. Tại sao người kia được trọng dụng hơn? Tại sao họ được yêu mến hơn? Tại sao công việc của họ được ghi nhận còn việc của tôi thì không? Những câu hỏi ấy nếu không được đặt dưới thập giá sẽ từ từ làm tâm hồn cạn kiệt. Tôi phải hoán cải khỏi sự nóng vội muốn thấy kết quả ngay. Thiên Chúa gieo hạt theo thời gian của Người, không theo đồng hồ của tôi. Tôi phải hoán cải khỏi sự cứng nhắc, khỏi quan niệm rằng chỉ có cách của mình là đúng. Tôi phải hoán cải khỏi những lời nói thiếu dịu dàng. Tôi phải hoán cải khỏi thói quen nói về người khác nhiều hơn nói với người khác. Tôi phải hoán cải khỏi việc giữ khoảng cách với những người làm mình khó chịu. Tôi phải hoán cải khỏi những lần chọn sự an toàn thay vì dấn thân. Tôi phải hoán cải khỏi sự cầu toàn làm mình khắt khe với mình và với người. Tôi phải hoán cải khỏi não trạng coi người khác như “đối tượng mục vụ” thay vì như một người anh em, một người chị em có khuôn mặt, có lịch sử, có những vết thương, những hy vọng và những nỗi sợ riêng.
Tôi còn phải hoán cải trong cách sử dụng thời gian. Có lẽ tôi đã dành quá nhiều giờ cho những điều khẩn cấp mà quá ít giờ cho những điều quan trọng. Điện thoại khẩn cấp. Tin nhắn khẩn cấp. Cuộc họp khẩn cấp. Công việc khẩn cấp. Nhưng cầu nguyện thì có thể để sau. Thăm một người già thì có thể để sau. Ngồi lại với một người anh em đang buồn thì có thể để sau. Đọc chậm một đoạn Tin Mừng thì có thể để sau. Nghỉ ngơi một chút để lấy lại sự quân bình cũng có thể để sau. Và cứ thế, những điều quan trọng nhất trong đời thường bị hy sinh cho những điều ồn ào nhất. Hoán cải đôi khi chỉ là sắp lại thứ tự. Chúa trước công việc của Chúa. Con người trước chương trình. Tình yêu trước hiệu quả. Cầu nguyện trước hoạt động. Hiện diện trước vội vàng. Sự thật trước hình ảnh. Bình an nội tâm trước nhu cầu chứng minh mình cần thiết.
Tôi còn phải hoán cải trong cách nhìn người. Có những người dễ thương thì dễ yêu. Có những người đồng quan điểm thì dễ gần. Có những người biết ơn thì phục vụ họ thấy vui. Nhưng Tin Mừng không dừng ở đó. Tin Mừng hỏi tôi: tôi đối xử thế nào với người hay làm phiền mình? Tôi nói thế nào về người đã làm mình tổn thương? Tôi phản ứng thế nào khi bị hiểu lầm? Tôi có cầu nguyện cho người mình không thích không? Tôi có thể nhìn thấy điều tốt nơi người mà mình đã có thành kiến không? Tôi có sẵn sàng nhận rằng có thể mình sai không? Có lẽ chứng tá Tin Mừng rõ nhất không nằm ở cách tôi đối xử với những người yêu mến tôi, mà ở cách tôi đối xử với những người không đồng thuận với tôi. Bởi yêu người dễ thương thì ai cũng có thể làm. Còn yêu người làm mình đau mới là nơi Tin Mừng trở nên thật.
Tôi còn phải hoán cải để sứ vụ bớt mang khuôn mặt của tôi và mang khuôn mặt Đức Kitô hơn. Có một cám dỗ rất kín đáo là dùng sứ vụ để xây dựng cái tôi. Khi ấy, chương trình phải mang dấu ấn của mình. Người khác phải làm theo cách của mình. Thành công phải gắn với tên mình. Khi mình rời đi, mình sợ mọi thứ sẽ không còn như trước. Nhưng người tông đồ đích thực phải biết biến mất. Gioan Tẩy Giả đã nói một câu thật đẹp: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Câu ấy phải trở thành nhịp thở của người loan báo Tin Mừng. Nếu cuối cùng người ta chỉ nhớ tôi mà không nhớ Chúa, sứ vụ của tôi có điều gì đó lệch hướng. Nếu người ta lệ thuộc vào tôi đến mức không thể tự đứng trên đôi chân đức tin của họ, có lẽ tôi chưa giúp họ đủ. Sứ vụ không phải gom người về quanh mình, mà đưa họ đến với Đức Kitô. Người tông đồ không phải là đích đến, chỉ là bảng chỉ đường. Một bảng chỉ đường hoàn thành sứ mạng khi người lữ khách nhìn qua nó để đi tiếp, chứ không đứng mãi ngắm bảng.
Sau một năm, điều tôi cần hỏi không chỉ là “Tôi đã làm gì?” mà còn là “Tôi đã trở thành người thế nào?” Tôi có trở thành người dễ mến hơn không? Có hiền hơn không? Có kiên nhẫn hơn không? Có tự do hơn trước lời khen tiếng chê không? Có bớt xét đoán không? Có dễ tha thứ hơn không? Có biết xin lỗi hơn không? Có biết nói “tôi sai” không? Có biết cảm ơn hơn không? Có biết vui trước thành công của người khác không? Có bớt phàn nàn không? Có cầu nguyện sâu hơn không? Có yêu Thánh Thể hơn không? Có gần người nghèo hơn không? Có đau với nỗi đau của thế giới hơn không? Nếu công việc tăng lên nhưng lòng bác ái giảm xuống, đó không phải là tiến bộ. Nếu danh tiếng lớn lên nhưng đời nội tâm nhỏ lại, đó không phải là hoa trái. Nếu người ta biết đến tôi nhiều hơn nhưng tôi biết Chúa ít hơn, đó là một cảnh báo. Nếu tôi nói về Tin Mừng ngày càng hay nhưng sống Tin Mừng ngày càng khó, tôi cần dừng lại thật lâu trước mặt Chúa.
Và có lẽ sau tất cả, điều Chúa hỏi tôi không phải là “Con đã thành công đến đâu?” nhưng là “Con có yêu không?” Con có yêu Ta khi công việc không như ý không? Con có yêu Ta khi người ta hiểu lầm con không? Con có yêu Ta khi tuổi tác làm sức lực giảm đi không? Con có yêu Ta khi con không còn ở vị trí quan trọng không? Con có yêu Ta khi chẳng ai cảm ơn không? Con có yêu Ta khi phải làm lại từ đầu không? Con có yêu những người Ta trao cho con, cả khi họ làm con mệt không? Con có yêu đến mức sẵn sàng để đời mình bị bẻ ra như tấm bánh không? Bởi cuối cùng, hoa trái sâu nhất của Tin Mừng vẫn là tình yêu. Không phải những điều lớn lao, mà là khả năng yêu như Đức Kitô: yêu không tính toán, yêu không đòi đáp trả, yêu đến cùng.
Một năm trôi qua cũng là một lời nhắc rằng đời tôi đang ngắn lại. Mỗi năm sống không chỉ là thêm một năm tuổi, mà là bớt đi một năm trong quỹ thời gian được trao. Điều ấy không làm tôi bi quan, nhưng làm tôi tỉnh thức. Tôi không thể sống mãi như thể còn vô tận ngày tháng phía trước. Có những lời yêu thương phải nói hôm nay. Có những người phải tha thứ hôm nay. Có những cuộc trở về không nên trì hoãn. Có những thói quen xấu phải cắt bỏ. Có những giờ cầu nguyện phải tìm lại. Có những tương quan cần chữa lành. Có những việc phải buông. Có những khoảng lặng phải có. Có những quyết định phải can đảm thực hiện. Bởi không ai biết mình còn bao nhiêu mùa tĩnh tâm nữa, bao nhiêu năm sứ vụ nữa, bao nhiêu lần đứng trên bục giảng nữa, bao nhiêu lần nâng chén thánh nữa, bao nhiêu cơ hội để nói một lời tử tế nữa. Ý thức ấy làm cho mỗi ngày trở nên quý giá.
Vậy tôi mong gì cho năm sứ vụ sắp tới? Có lẽ không phải làm nhiều hơn, mà sống sâu hơn. Không phải nói hay hơn, mà yêu thật hơn. Không phải được nhiều người biết đến hơn, mà để Chúa được biết đến hơn. Không phải có nhiều chương trình hơn, mà có nhiều cuộc gặp gỡ thật hơn. Không phải chứng minh mình hữu ích, mà sống như một người con biết mình được yêu. Tôi muốn bắt đầu ngày mới từ Chúa chứ không từ điện thoại. Tôi muốn đọc Tin Mừng chậm hơn. Tôi muốn dành cho Thánh Thể những giờ không vội. Tôi muốn học nghe người khác cho đến cuối câu. Tôi muốn bớt phản ứng, bớt phán đoán, bớt bảo vệ mình. Tôi muốn biết dừng lại trước khi nói một lời có thể làm người khác đau. Tôi muốn khi người khác đến với mình, họ cảm thấy được đón nhận chứ không bị thẩm vấn; được chữa lành chứ không bị kết án; được nâng dậy chứ không bị làm cho xấu hổ. Tôi muốn khi bước vào một căn nhà, tôi mang theo bình an. Khi rời một cuộc gặp, tôi để lại hy vọng. Khi giảng, người ta không chỉ hiểu một điều về Chúa mà còn muốn yêu Chúa hơn. Khi tôi im lặng, người ta vẫn cảm nhận được một sự hiện diện hiền lành. Khi tôi già đi, tôi không trở thành người cay đắng vì những gì đã mất, nhưng trở nên một người tự do vì đã trao tất cả.
Tôi cũng muốn học biết vui. Vui vì mình được gọi. Vui vì được thuộc về Chúa. Vui vì được phục vụ. Vui ngay cả khi sứ vụ âm thầm. Vui khi thấy người khác làm tốt hơn mình. Vui khi một người anh em được khen. Vui vì Hội Thánh có biết bao người đang âm thầm làm điều thiện. Vui vì Thiên Chúa có thể làm việc mà không cần tôi. Niềm vui ấy là một hình thức nghèo khó. Người chỉ vui khi được thành công thì vẫn lệ thuộc vào thành công. Người chỉ vui khi được trọng dụng thì vẫn lệ thuộc vào vị trí. Người chỉ vui khi được yêu mến thì vẫn lệ thuộc vào sự công nhận. Còn người có niềm vui Tin Mừng thì có thể vui ngay cả khi bị quên lãng, bởi niềm vui của họ nằm ở chỗ tên mình được ghi trên trời, chứ không phải được ghi trên bảng thành tích của trần gian.
Cuối kỳ tĩnh tâm, có lẽ tôi không cần mang về thật nhiều quyết tâm. Quyết tâm nhiều quá thường rồi cũng quên. Chỉ cần một vài điều thật cụ thể, thật trung thành. Mỗi ngày ở với Chúa lâu hơn một chút. Mỗi ngày bớt một lời không cần thiết. Mỗi ngày làm một điều tốt mà không để ai biết. Mỗi ngày cầu nguyện cho một người mình khó yêu. Mỗi tuần dành một khoảng thời gian nhìn lại lòng mình. Mỗi khi bị tổn thương, đừng phản ứng ngay. Mỗi khi được khen, hãy trả vinh quang về cho Chúa. Mỗi khi thất bại, hãy hỏi Chúa muốn dạy mình điều gì. Mỗi khi mệt, đừng quên mình là một con người chứ không phải một cỗ máy mục vụ. Mỗi khi thấy mình quá bận, hãy nhớ rằng Đức Giêsu cũng từng rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Và mỗi tối trước khi ngủ, chỉ cần hỏi ba câu: hôm nay tôi đã nhận được gì từ Chúa? Hôm nay tôi đã trao gì cho người khác? Và ngày mai tôi cần hoán cải điều gì?
“Tôi đã sống sứ vụ loan báo Tin Mừng như thế nào?” Có lẽ tôi sẽ không bao giờ trả lời trọn vẹn câu hỏi này. Nhưng chỉ cần tôi còn dám hỏi, còn dám để Chúa soi sáng, còn dám nhận ra lỗi mình, còn dám bắt đầu lại, thì ân sủng vẫn còn đường để đi vào. Điều đáng sợ không phải là mình còn nhiều thiếu sót. Điều đáng sợ là mình không còn muốn thay đổi. Điều đáng sợ không phải là một năm qua mình đã có những thất bại. Điều đáng sợ là mình biến thất bại thành cay đắng. Điều đáng sợ không phải là mình yếu. Điều đáng sợ là mình không còn cần Chúa. Bởi chính nơi những chỗ yếu nhất, Thiên Chúa thường bắt đầu công trình đẹp nhất của Người.
Và vì thế, sau một năm miệt mài, tôi không muốn kết thúc bằng một bản tổng kết, nhưng bằng một lời tạ ơn. Tạ ơn Chúa vì những điều đã làm được. Tạ ơn Chúa cả vì những điều chưa làm được. Tạ ơn vì những người đã thương tôi. Tạ ơn cả vì những người đã làm tôi đau, bởi qua họ tôi biết mình còn phải lớn lên nhiều. Tạ ơn vì những thành công. Tạ ơn cả vì những thất bại đã giúp tôi bớt kiêu ngạo. Tạ ơn vì những lúc mạnh mẽ. Tạ ơn cả vì những lúc yếu đuối khiến tôi phải bám lấy Chúa. Tạ ơn vì những ngày đầy ánh sáng. Tạ ơn cả vì những đêm tối, bởi chính trong đêm tối tôi học tin mà không cần thấy. Và tôi xin Chúa một ơn rất nhỏ mà cũng rất lớn: xin cho tôi đừng bao giờ quen với Tin Mừng đến mức không còn để Tin Mừng làm mình ngạc nhiên; đừng bao giờ quen với Thánh Thể đến mức cử hành như một thói quen; đừng bao giờ quen với con người đến mức nhìn họ như hồ sơ, công việc hay gánh nặng; đừng bao giờ quen với ơn gọi đến mức quên rằng mỗi ngày được theo Chúa vẫn là một phép lạ.
Lạy Chúa, một năm qua con đã làm nhiều điều, nhưng có những điều con làm chưa vì yêu. Con đã nói nhiều lời về Chúa, nhưng có những lúc con chưa để Chúa nói trong con. Con đã giúp nhiều người, nhưng có những lúc con lại quên chăm sóc linh hồn mình. Con đã đi nhiều nơi, nhưng có khi con xa Chúa ngay giữa những chuyến đi cho Chúa. Con đã cố gắng trung thành, nhưng con biết trong lòng vẫn còn biết bao vùng cần được Tin Mừng hóa. Xin đừng để con bằng lòng với chính mình. Xin đừng để thành công làm con tự mãn, thất bại làm con chán nản, lời khen làm con say, lời chê làm con mất bình an. Xin cho con mỗi ngày biết trở về, trở về với căn phòng nhỏ của cầu nguyện, trở về với Lời Chúa, trở về với Thánh Thể, trở về với lời gọi đầu tiên, trở về với câu hỏi đơn sơ: “Con có yêu Thầy không?” Và khi Chúa hỏi như thế, xin cho con không trả lời bằng những công việc đã làm, nhưng bằng chính cuộc đời đang cố gắng trao đi.
Xin cho đời con trở thành một chứng tá của niềm vui Tin Mừng, không phải vì con không còn nước mắt, nhưng vì trong nước mắt con vẫn tin Chúa ở cùng; không phải vì con không còn thập giá, nhưng vì con biết trên thập giá ấy Chúa đã đi trước; không phải vì đời con luôn thành công, nhưng vì ngay trong thất bại con vẫn biết mình được yêu; không phải vì con hoàn hảo, nhưng vì mỗi ngày con còn muốn hoán cải. Và nếu một ngày nào đó người ta quên hết những gì con đã nói, quên những công việc con đã làm, quên những chương trình con đã tổ chức, nhưng chỉ còn nhớ rằng đã có một người đi qua đời họ, làm họ tin hơn một chút rằng Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, rằng Tin Mừng là tin vui, rằng Hội Thánh vẫn là một mái nhà, rằng cuộc đời đáng để hy vọng, thì có lẽ sứ vụ của con đã không uổng phí.
Sau cùng, con hiểu rằng hoa trái lớn nhất Thiên Chúa muốn thực hiện sau mỗi năm sứ vụ không nằm ngoài con, nhưng chính là con. Chúa không chỉ sai con đi để biến đổi thế giới. Chúa dùng chính thế giới, những con người, những thành công, thất bại, những va chạm, những niềm vui, những vết thương trong sứ vụ để biến đổi con. Mỗi người con gặp là một trang Tin Mừng Chúa đặt trước mặt con. Mỗi nghịch cảnh là một bài học. Mỗi lần con phải tha thứ là một lần Chúa mở rộng trái tim con. Mỗi lần con bị hiểu lầm là một lần Chúa thanh luyện nhu cầu được công nhận. Mỗi lần con bất lực là một lần Chúa dạy con phó thác. Mỗi lần con thành công là một lần Chúa hỏi con có biết trả vinh quang cho Người không. Và như thế, cả cuộc đời sứ vụ thực ra là một cuộc hoán cải dài, một hành trình Chúa kiên nhẫn gọt giũa một con người để con người ấy ngày càng mang khuôn mặt của Đức Kitô hơn.
Chỉ mong rằng sau từng năm sống, tôi có thể nói được một điều rất nhỏ: tôi chưa tốt, nhưng tôi đã mềm hơn trong tay Chúa; tôi chưa thánh thiện, nhưng tôi đã biết cần Chúa hơn; tôi chưa yêu được như Chúa, nhưng tôi đã biết đau hơn khi mình không yêu; tôi chưa hoàn toàn tự do, nhưng tôi đã bắt đầu buông; tôi chưa hoàn toàn hiền lành, nhưng tôi đã biết hối hận sau những lần làm người khác tổn thương; tôi chưa cầu nguyện như phải cầu nguyện, nhưng tôi đã biết nhớ Chúa khi lòng mình khô khan; tôi chưa phải là một chứng nhân trọn vẹn của Tin Mừng, nhưng tôi vẫn muốn đời mình, từ hôm nay, trở thành một câu Tin Mừng được viết bằng chính những ngày còn lại.
Và đó có lẽ là lời nguyện đẹp nhất của một người sau một năm sứ vụ: “Lạy Chúa, xin đừng cho con chỉ làm việc cho Chúa. Xin cho con sống với Chúa. Xin đừng cho con chỉ nói về Tin Mừng. Xin biến chính con thành Tin Mừng. Xin đừng cho con chỉ đem Chúa đến với người khác. Xin làm cho người khác gặp được Chúa qua cách con nhìn, cách con nói, cách con im lặng, cách con tha thứ, cách con chịu đựng, cách con phục vụ và cách con yêu. Để một ngày kia, khi con không còn làm được gì nữa, khi tay con không còn đủ sức để phục vụ, khi miệng con không còn đủ sức để giảng, khi đôi chân con không còn đủ khỏe để đi, thì chỉ cần con hiện diện thôi, người ta vẫn nhận ra rằng con đã sống một đời với Chúa, và niềm vui Tin Mừng đã kịp trở thành hơi thở của con.”
Lm. Anmai, CSsR
ĐIỂM DỪNG ĐỂ NHÌN MỌI SỰ BẰNG ÁNH MẮT CỦA THIÊN CHÚA
Có những lúc trong đời, chúng ta tưởng rằng điều cần thiết nhất là phải bước tiếp. Bước nhanh hơn một chút. Làm nhiều hơn một chút. Cố gắng thêm một chút. Chịu khó thêm một chút. Và nhất là đừng để mình bị tụt lại phía sau. Cuộc đời cứ thế đẩy con người đi tới. Công việc đẩy ta đi tới. Trách nhiệm đẩy ta đi tới. Những kỳ vọng của người khác đẩy ta đi tới. Chính những mong muốn của mình cũng đẩy ta đi tới. Có khi ta đi rất xa, làm rất nhiều, đạt được không ít, nhưng đến một ngày bất chợt, ta mới nhận ra một điều đáng sợ: mình đã đi quá lâu mà không biết mình đang đi về đâu; đã làm quá nhiều mà không còn nhớ mình làm vì ai; đã cố gắng quá sức mà không biết điều mình đang theo đuổi có thực sự là điều Chúa muốn hay chỉ là điều mình muốn rồi vô tình gắn tên Chúa vào đó. Bởi vậy, trong hành trình đức tin, điểm dừng không phải là chuyện phụ. Điểm dừng không phải là phần thừa của cuộc sống. Điểm dừng cũng không phải là dấu hiệu của mệt mỏi, yếu đuối hay thất bại. Nhiều khi, chính lúc biết dừng lại, con người mới bắt đầu nhìn thấy rõ. Và có lẽ một trong những ơn lớn nhất Chúa ban cho một người môn đệ không phải là khả năng chạy thật nhanh, nhưng là ơn biết dừng đúng lúc để nhận ra Chúa đang ở đâu, Chúa đang nói gì, Chúa đang dẫn mình về hướng nào.
Điểm dừng của người Kitô hữu trước hết không phải để ngồi đếm những thành công hay thất bại của mình. Điều đó không có nghĩa là ta không cần nhìn lại những gì đã qua. Trái lại, nhìn lại là điều cần thiết. Nhưng điều quan trọng là ta nhìn lại bằng ánh mắt nào. Nếu chỉ nhìn bằng ánh mắt của cái tôi, thành công dễ làm ta kiêu ngạo và thất bại dễ làm ta chán nản. Nếu chỉ nhìn bằng tiêu chuẩn của thế gian, ta sẽ đánh giá đời mình bằng những con số, bằng kết quả, bằng lời khen, bằng vị trí, bằng những gì người khác nhìn thấy. Ta sẽ vui khi được công nhận và buồn khi bị quên lãng. Ta sẽ thấy mình đáng giá khi công việc thuận lợi và thấy mình vô dụng khi mọi sự không theo ý muốn. Ta sẽ tưởng rằng nơi nào đông người là nơi Chúa đang chúc lành, việc nào được tiếng khen là việc Chúa muốn, điều gì đem lại kết quả tức thời là điều tốt, còn những gì âm thầm, nhỏ bé, chậm chạp thì chẳng đáng kể. Nhưng cách nhìn của Thiên Chúa rất khác. Có những điều trước mặt người đời là thành công nhưng trước mặt Thiên Chúa lại là thất bại. Và cũng có những điều người đời xem là thất bại nhưng lại là một cuộc chiến thắng rất lớn trong lòng Chúa.
Thập Giá của Đức Giêsu là bằng chứng rõ nhất. Nếu đứng dưới chân đồi Canvê chiều hôm ấy và nhìn bằng mắt người đời, ai có thể gọi đó là thành công? Một con người ba năm đi rao giảng, chữa bệnh, quy tụ môn đệ, làm bao dấu lạ, cuối cùng bị kết án như một tội nhân, bị treo giữa hai người trộm, môn đệ phần lớn bỏ chạy, đám đông chế nhạo, các nhà lãnh đạo tôn giáo tưởng rằng đã loại trừ được một mối nguy. Nếu chỉ nhìn bằng tiêu chuẩn bên ngoài, cuộc đời Đức Giêsu dường như kết thúc trong thất bại. Nhưng chính nơi tưởng như thất bại hoàn toàn ấy lại là lúc tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn nhất, ơn cứu độ được hoàn tất, tội lỗi bị đánh bại, sự chết bắt đầu mất quyền thống trị. Điều mắt người gọi là thất bại, Thiên Chúa gọi là hoàn tất. Điều mắt người gọi là nhục nhã, Thiên Chúa làm thành vinh quang. Điều mắt người tưởng là chấm hết, Thiên Chúa biến thành khởi đầu. Vì vậy, nếu không biết dừng lại để học nhìn bằng ánh mắt Thiên Chúa, chúng ta rất dễ đánh giá sai cả cuộc đời mình.
Có những người suốt một năm làm việc rất nhiều, nhưng cuối năm điều họ nhớ nhất lại chỉ là những việc chưa làm được. Có người đã hy sinh rất nhiều cho cộng đoàn, nhưng chỉ vì một lời phê bình mà quên hết bao nhiêu điều tốt đẹp Chúa đã thực hiện. Có người đã âm thầm giữ lòng trung tín giữa nhiều thử thách, nhưng vì công việc bên ngoài không có kết quả như mong muốn nên nghĩ mình thất bại. Có người được nhiều người khen ngợi, công việc thành công, mọi thứ tưởng như tốt đẹp, nhưng nếu thật lòng dừng lại trước Chúa, họ có thể nhận ra rằng chính trong những thành công ấy, lòng mình đã bắt đầu xa Chúa, cầu nguyện trở nên hời hợt, sự tự mãn lớn dần, nhu cầu được công nhận ngày càng mạnh, và cái tôi len lỏi vào những việc tưởng như đang làm cho Chúa. Bởi vậy, điều quan trọng không phải là hỏi: “Năm qua tôi thành công hay thất bại?” nhưng là hỏi: “Trong tất cả những điều đã xảy ra, Chúa đã làm gì nơi tôi? Và Chúa muốn nói gì với tôi qua tất cả những điều ấy?”
Có những việc chúng ta chỉ hiểu sau khi đã đi qua. Khi đang ở trong biến cố, cảm xúc quá mạnh, tự ái quá lớn, nỗi buồn quá sâu, áp lực quá nhiều khiến ta không thể nhìn mọi sự cách bình tâm. Ta phản ứng trước khi kịp phân định. Ta kết luận trước khi kịp cầu nguyện. Ta cho rằng người kia sai, mình đúng. Ta cho rằng cánh cửa đóng lại là một tai họa. Ta cho rằng sự chậm trễ là thất bại. Ta cho rằng một người rời bỏ mình là mất mát. Ta cho rằng một lời chống đối là bất công. Nhưng vài tháng hay vài năm sau, khi nhìn lại, ta mới hiểu rằng có những cánh cửa Chúa đóng để cứu ta khỏi một con đường không thuộc về mình; có những kế hoạch Chúa làm cho thất bại để bảo vệ ta khỏi một thành công có thể làm ta xa Người; có những người Chúa cho rời khỏi đời ta để ta thôi dựa vào con người và học dựa vào Chúa; có những nỗi đau Chúa cho phép xảy ra để phá vỡ một lớp kiêu ngạo rất sâu mà bình thường ta không nhận ra. Khi đang bước đi, ta chỉ thấy bụi đường. Khi dừng lại, đôi khi ta mới thấy bàn tay Chúa.
Và vì thế, thinh lặng trở thành một ân huệ. Không phải thứ thinh lặng của trống rỗng, nhưng là thinh lặng để những tiếng ồn bên trong lắng xuống. Con người chúng ta rất sợ thinh lặng, bởi trong thinh lặng, không còn gì để che chắn nữa. Khi còn bận rộn, ta có thể trốn chính mình trong công việc. Khi còn nói, ta có thể né tránh những câu hỏi khó. Khi còn tất bật với những chương trình, ta có thể tưởng rằng đời sống thiêng liêng của mình vẫn ổn. Nhưng khi dừng lại trước Chúa, những gì sâu kín bắt đầu xuất hiện. Ta thấy sự mệt mỏi mình đã cố che giấu. Ta thấy những tổn thương mình tưởng đã quên. Ta thấy lòng ghen tị mà lâu nay ta không muốn gọi tên. Ta thấy nhu cầu được người khác công nhận. Ta thấy những bực bội tích tụ. Ta thấy những so sánh âm thầm. Ta thấy sự nguội lạnh trong đời sống cầu nguyện. Ta thấy mình đang làm nhiều việc cho Chúa nhưng lại ít ở với Chúa. Và đôi khi điều đau nhất là nhận ra rằng mình đã nói về Chúa rất nhiều nhưng lại sống với Chúa quá ít.
Điểm dừng vì thế có thể làm ta đau. Nhưng đó là nỗi đau lành mạnh. Giống như khi căn phòng lâu ngày không mở cửa, ánh sáng chiếu vào sẽ làm lộ bụi. Không phải ánh sáng làm căn phòng bẩn. Ánh sáng chỉ cho thấy điều vốn đã có ở đó. Cũng vậy, Lời Chúa không làm cho ta tệ hơn. Lời Chúa chỉ soi sáng để ta nhìn thấy sự thật về mình. Và sự thật ấy, nếu ta đủ khiêm tốn để đón nhận, sẽ không giết chết ta nhưng giải thoát ta. Chúa không bao giờ cho ta nhìn thấy sự thật để làm ta tuyệt vọng. Chúa cho ta nhìn thấy sự thật để chữa lành. Người chỉ cho ta thấy vết thương vì Người muốn băng bó. Người vạch ra bóng tối vì Người muốn đưa ánh sáng vào. Người cho ta thấy chỗ mình đang đi sai vì Người còn muốn dẫn ta về.
Dưới ánh sáng Lời Chúa, nhiều điều chúng ta tưởng là quan trọng sẽ trở nên nhỏ lại. Và nhiều điều ta xem là nhỏ bé lại trở nên rất quan trọng. Ta có thể đã dành nhiều thời gian để lo một chương trình thành công, nhưng Lời Chúa hỏi ta đã yêu những người cùng làm với mình như thế nào. Ta có thể đã cố gắng để bài giảng được hay, nhưng Lời Chúa hỏi lời giảng ấy đã đi qua đời sống cầu nguyện của ta chưa. Ta có thể đã điều hành rất nhiều việc, nhưng Lời Chúa hỏi ta có biết phục vụ không. Ta có thể đã bảo vệ sự thật rất mạnh mẽ, nhưng Lời Chúa hỏi ta có nói sự thật trong tình yêu hay không. Ta có thể đã làm những việc được xem là rất đạo đức, nhưng Lời Chúa hỏi động lực sâu xa của mình là gì. Có những việc bên ngoài giống hệt nhau, nhưng trước mặt Chúa lại hoàn toàn khác nhau, chỉ vì động lực khác nhau. Một người phục vụ vì yêu Chúa và một người phục vụ vì muốn được nhìn nhận có thể làm cùng một công việc. Một người im lặng vì hiền lành và một người im lặng vì sợ hãi có thể có cùng một dáng vẻ bên ngoài. Một người từ bỏ vì tự do nội tâm và một người từ bỏ vì bất lực có thể cùng mất một điều. Chỉ trong thinh lặng trước Chúa, ta mới bắt đầu nhận ra những phân biệt rất tinh tế ấy.
Điều khó nhất của đời sống thiêng liêng có lẽ không phải là biết điều gì tốt và điều gì xấu. Nhiều khi điều đó khá rõ. Điều khó hơn là phân biệt giữa một điều tốt và điều Chúa muốn. Không phải mọi điều tốt đều là điều Chúa muốn ta làm lúc này. Có khi ta có thể làm một việc rất tốt, nhưng Chúa lại muốn ta làm một việc khác nhỏ hơn. Có khi ta muốn nhận thêm một trách nhiệm vì nghĩ đó là phục vụ, nhưng Chúa lại muốn ta học từ chối để giữ đời sống nội tâm. Có khi ta muốn nói một lời đúng, nhưng Chúa muốn ta im lặng. Có khi ta muốn im lặng để tránh phiền phức, nhưng Chúa lại muốn ta lên tiếng. Có khi ta muốn tiếp tục một công việc vì đã đầu tư quá nhiều, nhưng Chúa muốn ta buông. Có khi ta muốn buông vì mệt, nhưng Chúa muốn ta trung thành thêm một đoạn nữa. Không có một công thức đơn giản cho những điều ấy. Cần cầu nguyện. Cần thinh lặng. Cần phân định. Cần một trái tim đủ tự do để hỏi Chúa mà không âm thầm ép Chúa phải trả lời theo ý mình.
Thật ra, một trong những cám dỗ tinh vi nhất là xin Chúa soi sáng nhưng trong lòng đã quyết định sẵn. Ta cầu nguyện nhưng chỉ muốn Chúa xác nhận điều mình thích. Ta hỏi ý Chúa nhưng chỉ đón nhận câu trả lời hợp với ý mình. Ta có thể tìm những người cố vấn chỉ vì biết họ sẽ đồng ý với mình. Ta có thể trích Lời Chúa theo cách nâng đỡ quyết định của mình. Ta có thể gọi một sự cố chấp là lòng trung thành, gọi một tham vọng là nhiệt thành, gọi nhu cầu kiểm soát là trách nhiệm, gọi sự hiếu thắng là bảo vệ sự thật, gọi sự sợ hãi là thận trọng. Con người rất giỏi đặt những cái tên đẹp cho những động lực chưa được thanh luyện. Chính vì vậy, điểm dừng thật sự luôn đòi một sự thành thật rất lớn trước mặt Chúa.
Có những giờ cầu nguyện ta chẳng cần nói nhiều. Chỉ cần đặt cuộc đời mình trước Chúa và xin một điều rất đơn sơ: “Lạy Chúa, xin cho con thấy con như Chúa thấy con.” Lời cầu ấy nghe nhẹ nhàng nhưng rất nguy hiểm cho cái tôi, bởi nếu Chúa nhận lời, nhiều ảo tưởng sẽ sụp xuống. Ta sẽ thấy mình không tốt như mình tưởng, nhưng cũng không tệ như mình sợ. Ta sẽ thấy có những điều mình tự hào thật ra chẳng đáng tự hào. Ta cũng sẽ thấy những việc âm thầm mình từng coi thường lại rất đẹp trước mắt Chúa. Ta sẽ thấy người mà mình từng phán xét có những nỗi đau mình chưa từng biết. Ta sẽ thấy biến cố mình từng oán trách lại chứa một ân sủng kín đáo. Ta sẽ thấy chính trong một mùa khô khan, Chúa đã thanh luyện đức tin của mình sâu hơn rất nhiều so với những lúc đầy cảm xúc sốt sắng.
Ánh mắt Thiên Chúa không giống ánh mắt chúng ta. Chúng ta nhìn kết quả; Chúa nhìn lòng trung tín. Chúng ta nhìn hình thức; Chúa nhìn động lực. Chúng ta nhìn những gì nổi bật; Chúa nhìn những điều âm thầm. Chúng ta nhìn một khoảnh khắc; Chúa nhìn cả hành trình. Chúng ta nhìn một lỗi lầm và dễ đóng khung một con người; Chúa nhìn cả lịch sử của họ, những vết thương, những cố gắng, những lần đứng dậy mà chẳng ai biết. Chúng ta nhìn điều đang mất; Chúa nhìn điều đang được sinh ra. Chúng ta nhìn mùa đông của cành cây; Chúa đã thấy mầm xuân còn nằm sâu trong thân gỗ. Bởi thế, học nhìn bằng ánh mắt Thiên Chúa là một hành trình rất dài, có lẽ kéo suốt cả đời.
Có người bước vào tĩnh tâm với mong muốn tìm câu trả lời cho một vấn đề. Nhưng đôi khi Chúa không cho câu trả lời ngay. Người làm một điều sâu hơn: Người thay đổi cách ta đặt câu hỏi. Ta đến với câu hỏi: “Tại sao người ấy lại làm thế với con?” Và sau những ngày thinh lặng, câu hỏi có thể trở thành: “Lạy Chúa, qua biến cố này Chúa muốn chữa lành điều gì nơi con?” Ta đến với câu hỏi: “Tại sao công việc này thất bại?” Và dần dần câu hỏi trở thành: “Điều gì trong con đang quá lệ thuộc vào thành công?” Ta đến với câu hỏi: “Tại sao chẳng ai hiểu con?” Và rồi có thể Chúa cho ta hỏi: “Con đã thật sự hiểu người khác chưa?” Ta đến để tìm một giải pháp bên ngoài, nhưng Chúa lại dẫn vào một cuộc hoán cải bên trong. Chính đó là điều thường xảy ra trong những điểm dừng thật sự với Chúa.
Và điều đáng quý là Chúa Thánh Thần thường làm việc rất nhẹ. Người không phải lúc nào cũng đến bằng những cảm xúc mạnh hay những điều lạ thường. Nhiều khi chỉ là một câu Lời Chúa bỗng chạm vào lòng. Một ký ức lâu năm chợt hiện lên dưới một ánh sáng khác. Một gương mặt mà ta đang giận bỗng khiến lòng ta mềm xuống. Một điều ta từng cố biện minh bỗng trở nên rõ ràng. Một quyết định mà trước đó rất rối bỗng có một sự bình an lạ. Chúa Thánh Thần không nhất thiết làm cho mọi chuyện dễ dàng, nhưng Người đem đến một thứ ánh sáng giúp ta biết mình phải đi đâu, dù con đường ấy vẫn khó.
Để nhận ra điều đó, cần có sự bình tâm. Bình tâm không phải là không có cảm xúc. Bình tâm là không để cảm xúc làm ông chủ. Người bình tâm vẫn có thể buồn, nhưng không vì buồn mà quyết định sai. Vẫn có thể giận, nhưng không vì giận mà nói điều phải hối tiếc. Vẫn có thể sợ, nhưng không để nỗi sợ điều khiển hướng đi của mình. Vẫn có thể thích một điều, nhưng đủ tự do để buông nếu nhận ra Chúa muốn điều khác. Một trái tim bình tâm không phải là trái tim lạnh. Đó là trái tim rất sống, rất nhạy, nhưng đã học đặt mọi cảm xúc dưới ánh sáng Chúa.
Và chính tại đây, ta mới hiểu điểm dừng quý giá đến mức nào. Bởi khi còn chạy, ta thường phản ứng. Khi dừng lại, ta mới có thể đáp trả. Phản ứng thường đi từ bản năng, tự ái, sợ hãi, tổn thương. Đáp trả đi từ cầu nguyện và tự do. Một lời xúc phạm đến với ta, phản ứng đầu tiên là muốn đáp trả. Nhưng nếu biết dừng lại, ta có thể chọn một lời khác. Một sự bất công xảy ra, phản ứng đầu tiên là muốn chứng minh mình đúng. Nhưng nếu biết dừng lại, ta có thể hỏi điều gì thật sự cần cho sự thật và bình an. Một thành công đến, phản ứng đầu tiên là hãnh diện. Nhưng nếu biết dừng lại, ta có thể tạ ơn và nhớ rằng tất cả là ân huệ. Một thất bại xảy ra, phản ứng đầu tiên là thất vọng. Nhưng nếu biết dừng lại, ta có thể hỏi Chúa muốn dạy gì qua điều đó.
Đời sống thánh hiến, đời linh mục, đời người tông đồ càng cần những điểm dừng như thế. Bởi người sống cho sứ vụ rất dễ bị sứ vụ cuốn đi. Có một nghịch lý là ta có thể làm việc cho Chúa đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Ta có thể nói cho người khác về cầu nguyện nhưng chính mình cầu nguyện vội vàng. Ta có thể giúp người khác phân định nhưng chính mình ít khi ngồi yên để phân định. Ta có thể khuyên người khác phó thác nhưng trong lòng lại kiểm soát mọi sự. Ta có thể mời người khác sống niềm vui Tin Mừng nhưng chính mình dần trở nên căng thẳng, nóng nảy, khô cứng. Không phải vì ta xấu, mà vì chiếc bình nếu cứ rót ra mãi mà không được đổ đầy thì sẽ cạn.
Chúa Giêsu cũng đã có những điểm dừng. Giữa đám đông, Người rút vào nơi thanh vắng. Sau những ngày hoạt động, Người lên núi cầu nguyện. Trước những quyết định quan trọng, Người ở lại với Chúa Cha. Ngay cả khi mọi người đang tìm Người, Người vẫn không để nhu cầu của đám đông quyết định hoàn toàn nhịp sống của mình. Người sống từ Chúa Cha, rồi mới đi đến với con người. Đó là trật tự mà người môn đệ rất dễ đảo ngược: ta lao vào công việc trước, rồi nếu còn thời gian mới cầu nguyện. Nhưng nơi Đức Giêsu, cầu nguyện không phải phần còn lại của ngày sống; cầu nguyện là nguồn mạch từ đó mọi hành động được sinh ra.
Một điểm dừng thật sự sẽ đưa ta trở về với câu hỏi căn bản: Tôi đang sống từ đâu? Tôi làm việc từ một trái tim được Chúa yêu hay từ nhu cầu chứng minh giá trị của mình? Tôi phục vụ vì biết mình đã được nhận lãnh quá nhiều hay vì sợ mình trở nên vô nghĩa nếu không còn làm việc? Tôi trung thành vì yêu Chúa hay vì sợ ánh mắt người khác? Tôi khó chịu khi người khác làm khác ý mình vì lo cho ích chung hay vì cái tôi bị đụng chạm? Những câu hỏi ấy không dễ. Nhưng nếu không dám hỏi, ta có thể đi rất xa trong một hướng sai mà vẫn tưởng mình đang trung thành.
Điểm dừng còn giúp ta nhận ra những hoa trái Thiên Chúa đã làm mà bình thường ta không thấy. Có thể trong một năm, điều lớn nhất Chúa làm không phải là cho ta hoàn thành một dự án, nhưng là giúp ta bớt nóng hơn. Có thể không phải là có thêm nhiều người biết đến mình, nhưng là ta biết lắng nghe hơn. Có thể không phải là một thành tích rõ ràng, nhưng là một vết thương cũ bắt đầu được chữa lành. Có thể là ta đã biết xin lỗi một người. Đã biết tha thứ một chuyện. Đã bớt phán xét. Đã cầu nguyện đều hơn. Đã học sống với một giới hạn mà trước đây luôn chống lại. Đã bắt đầu chấp nhận rằng mình không phải là trung tâm của mọi sự. Những hoa trái ấy ít được nhìn thấy, ít được vỗ tay, nhưng trước mặt Chúa, đôi khi chúng quý hơn rất nhiều thành công bên ngoài.
Và cũng trong điểm dừng, ta nhận ra điều cần hoán cải. Không phải để tự kết án, nhưng để bước đi nhẹ hơn. Có những hành trang ta mang quá lâu mà không cần thiết: một sự giận dữ, một nỗi tự ái, một tham vọng, một thói quen kiểm soát, một hình ảnh về bản thân mà ta cố bảo vệ. Chúa có thể nhẹ nhàng nói: “Con không cần mang nó nữa.” Nhưng muốn nghe câu ấy, phải dừng. Người đang chạy rất khó nghe tiếng nói nhỏ. Êlia đã không gặp Chúa trong bão tố, động đất hay lửa, nhưng trong tiếng gió hiu hiu. Chúa vẫn thường đến như thế. Không áp đặt. Không ồn ào. Người kiên nhẫn chờ ta ngừng nói để Người có thể nói.
Và có lẽ, cuối cùng, điều đẹp nhất của một điểm dừng không phải là ta giải quyết được bao nhiêu vấn đề, nhưng là ta ở lại với Chúa. Nhiều khi chúng ta đến cầu nguyện như đến một nơi sửa chữa: có vấn đề thì đem đến, mong Chúa giải quyết, rồi đi. Nhưng cầu nguyện còn là ở với Người chỉ vì Người là Chúa. Như một đứa trẻ ngồi bên cha mình mà không cần nói gì. Như một người bạn ngồi với người bạn thân trong thinh lặng. Như Gioan tựa đầu vào ngực Đức Giêsu. Có những giờ cầu nguyện chẳng có cảm giác gì, chẳng tìm được câu trả lời gì, nhưng nếu ta trung thành ở lại, chính sự hiện diện của Chúa sẽ từ từ sắp xếp lại lòng mình.
Sau một điểm dừng thật sự, có thể hoàn cảnh không thay đổi nhưng ánh mắt ta thay đổi. Người làm ta khó chịu vẫn là người ấy, nhưng ta nhìn họ với lòng thương hơn. Công việc vẫn khó, nhưng ta bớt cay đắng. Một giới hạn vẫn còn, nhưng ta không còn xem nó như kẻ thù. Một mất mát không được trả lại, nhưng ta bắt đầu thấy Chúa vẫn đang ở đó. Và đó là điều kỳ diệu: nhiều khi Chúa không đổi con đường, Người đổi người đang bước trên đường.
Có lẽ chúng ta không cần xin Chúa cho đời mình ít vấn đề hơn. Có lẽ ta cần xin một ánh mắt mới. Xin nhìn thành công mà không kiêu. Nhìn thất bại mà không tuyệt vọng. Nhìn người khác mà không vội phán xét. Nhìn chính mình mà không tự tôn cũng không tự khinh. Nhìn quá khứ mà biết tạ ơn. Nhìn hiện tại mà biết trung tín. Nhìn tương lai mà biết phó thác. Và nhìn mọi sự bằng ánh mắt của Thiên Chúa, nghĩa là nhìn bằng lòng thương xót.
Điểm dừng vì vậy không làm ta chậm lại. Trái lại, nó giúp ta khỏi đi sai đường quá lâu. Một người có thể chạy rất nhanh nhưng nếu sai hướng, chạy nhanh chỉ làm họ xa đích hơn. Có khi mất một ngày để dừng lại lại giúp ta tiết kiệm nhiều năm đi lạc. Có khi một tuần tĩnh tâm thay đổi một quyết định có thể ảnh hưởng cả cuộc đời. Có khi một giờ thinh lặng giúp ta không nói một lời gây thương tổn nhiều năm. Có khi vài phút trước Thánh Thể giúp ta nhận ra một điều mà hàng tháng suy nghĩ trong đầu vẫn không thấy.
Và rồi, sau tất cả, người môn đệ lại lên đường. Điểm dừng Kitô giáo không phải nơi ở vĩnh viễn. Ta dừng để đi. Ta ở với Chúa để trở lại với con người. Ta lắng nghe để biết phải nói gì. Ta nhìn lại để biết bước tới thế nào. Ta để Chúa chữa lành để có thể chữa lành người khác. Ta để Chúa yêu mình để biết yêu. Ta để ánh mắt Người thanh luyện ánh mắt mình để khi trở về với đời thường, ta nhìn mọi người khác đi.
Có thể đó là điều chúng ta cần nhất trong những ngày tĩnh tâm: không phải một danh sách dài những quyết tâm, nhưng một ánh mắt mới. Bởi khi ánh mắt đổi, mọi sự đổi theo. Khi nhìn người anh em bằng ánh mắt Chúa, ta bớt muốn kết án. Khi nhìn chính mình bằng ánh mắt Chúa, ta bớt phải chứng minh. Khi nhìn thất bại bằng ánh mắt Chúa, ta có thể tìm thấy một hạt giống đang chết để sinh hoa trái. Khi nhìn thành công bằng ánh mắt Chúa, ta biết cúi đầu tạ ơn. Khi nhìn sứ vụ bằng ánh mắt Chúa, ta hiểu rằng điều quan trọng không phải là tên mình được nhắc đến, nhưng là Đức Kitô được nhận biết và yêu mến.
Xin cho mỗi điểm dừng trong đời không trở thành một cuộc kiểm kê thành tích, càng không phải là một phiên tòa nơi ta xét xử chính mình và người khác. Xin cho đó là căn phòng thinh lặng nơi ta đem cả cuộc đời đặt dưới ánh mắt Chúa. Những gì đẹp, xin Người nhận lấy như lời tạ ơn. Những gì sai, xin Người thanh luyện. Những gì tổn thương, xin Người chữa lành. Những gì chưa hiểu, xin Người cho ta kiên nhẫn. Những gì cần buông, xin Người cho ta can đảm. Những gì phải tiếp tục, xin Người cho ta trung thành.
Và khi rời khỏi điểm dừng để lại bước vào những ngày tháng phía trước, có lẽ ta không cần biết hết mọi chuyện sẽ xảy ra. Chỉ cần biết một điều: nếu còn để Chúa dẫn, ta sẽ không đi một mình. Nếu còn biết trở về với Lời Chúa, ta sẽ không hoàn toàn mất hướng. Nếu còn biết lắng nghe Chúa Thánh Thần, giữa vô số tiếng nói của cuộc đời, ta vẫn có thể nhận ra tiếng gọi rất nhẹ nhưng rất thật của Đấng đã yêu ta từ trước khi ta biết yêu Người.
Cuối cùng, điều làm nên vẻ đẹp của một đời người không phải là chưa từng đi sai, nhưng là mỗi khi nhận ra mình đi sai, còn biết dừng lại và quay về. Không phải là chưa từng thất bại, nhưng là sau thất bại vẫn biết hỏi Chúa đang mở ra điều gì. Không phải là đã làm được bao nhiêu việc lớn, nhưng là qua từng ngày, ánh mắt mình có trở nên giống ánh mắt Đức Kitô hơn không. Bởi đến cuối đời, có lẽ Chúa không hỏi chúng ta đã chạy nhanh đến đâu. Người chỉ hỏi: trong tất cả những nẻo đường đã đi qua, con có để Ta dẫn con không? Con có học nhìn anh em bằng ánh mắt của Ta không? Con có để trái tim mình được biến đổi không?
Đó mới là ý nghĩa sâu xa của mọi điểm dừng: dừng lại không phải để đứng yên, nhưng để Chúa chỉnh lại hướng đi; không phải để tiếc nuối quá khứ, nhưng để đọc quá khứ bằng ánh sáng của ân sủng; không phải để sợ tương lai, nhưng để đặt tương lai vào tay Người; không phải để nhìn mình mãi, nhưng để ngước mắt lên nhìn Chúa. Và khi đã nhìn Chúa đủ lâu, chúng ta sẽ bắt đầu nhìn cuộc đời khác đi, nhìn con người khác đi, nhìn cả những vết thương của mình khác đi. Khi ấy, ta mới hiểu rằng có những điều ta từng gọi là thất bại lại là ân sủng; có những điều từng làm ta khóc lại trở thành con đường đưa ta gần Chúa; có những điều ta tưởng mình đã mất, nhưng chính khi mất nó, ta lại tìm thấy điều quan trọng hơn.
Xin cho chúng ta biết dành cho đời mình những điểm dừng như thế. Những điểm dừng không đầy tiếng nói của mình nhưng đầy sự hiện diện của Chúa. Những điểm dừng không để cái tôi tổng kết, nhưng để Chúa Thánh Thần soi sáng. Những điểm dừng không làm ta khép lại, nhưng mở ta ra cho một hành trình mới. Và trên hết, xin cho sau mỗi lần dừng lại, ta có thể bước tiếp với một trái tim nhẹ hơn, một tâm hồn tự do hơn, một đức tin sâu hơn, và một ánh mắt đã được chạm đến bởi ánh mắt của Thiên Chúa.
Lm. Anmai, CSsR
MỘT ĐIỂM DỪNG… ĐỂ TIẾP TỤC LÊN ĐƯỜNG
Có những lúc trong đời, người ta cứ tưởng rằng phải đi thật nhanh mới là nhiệt thành, phải làm thật nhiều mới là hữu ích, phải xuất hiện thật thường xuyên mới là đang sống trọn vẹn sứ mạng của mình. Nhất là trong một thế giới mà mọi thứ đều được đo bằng tốc độ, bằng lượt xem, bằng số người theo dõi, bằng mức độ lan truyền, bằng những con số tăng lên từng giờ, người làm truyền thông rất dễ bị cuốn vào một nhịp sống mà chính mình cũng không còn kịp hỏi: tôi đang đi đâu, tôi đang làm điều này cho ai, và điều tôi đang thực hiện có thực sự đưa người khác đến gần Chúa hơn hay chỉ làm cho họ biết đến tôi nhiều hơn? Có lẽ chính vì thế mà những ngày tĩnh tâm luôn là một hồng ân đặc biệt. Tĩnh tâm không làm cho sứ mạng bị gián đoạn. Tĩnh tâm là để sứ mạng khỏi bị lạc hướng. Tĩnh tâm không làm cho người tông đồ rời khỏi cánh đồng truyền giáo. Tĩnh tâm là để người tông đồ biết mình phải gieo gì, gieo ở đâu, gieo bằng tâm tình nào và gieo cho ai. Có những bước chân cần phải dừng lại, không phải vì đã hết đường, nhưng vì nếu cứ bước tiếp trong vô thức, ta có thể đi rất xa mà lại đi sai hướng. Có những con người tưởng rằng mình đang làm việc cho Chúa, nhưng lâu dần lại chỉ còn làm việc theo thói quen, theo khả năng, theo kế hoạch, theo sức riêng và đôi khi theo cả nhu cầu được nhìn nhận của chính mình. Đến một lúc nào đó, Chúa phải đưa ta vào một khoảng lặng để ta nhận ra rằng sứ mạng không bắt đầu từ khả năng của ta, nhưng bắt đầu từ việc ta thuộc về Người.
Tôi được phục vụ trong lãnh vực truyền thông và loan báo Tin Mừng trên không gian số. Đó là một ơn gọi rất đặc biệt của thời đại hôm nay. Nếu ngày xưa các nhà truyền giáo phải vượt núi, băng rừng, xuống thuyền, vượt biển, chấp nhận sốt rét, đói khát, hiểm nguy và cô độc để đem Tin Mừng đến những miền đất xa xôi, thì hôm nay Thiên Chúa lại mở ra trước mắt Giáo Hội một lục địa khác. Không có những ranh giới địa lý rõ ràng. Không có những con đường mòn xuyên rừng. Không có những bản đồ truyền giáo như ngày trước. Nhưng ở đó có hàng triệu, hàng tỷ con người đang hiện diện mỗi ngày. Đó là thế giới kỹ thuật số. Một không gian tưởng như vô hình nhưng lại đang chi phối rất thật cách con người suy nghĩ, yêu thương, chọn lựa, tổn thương, hy vọng và tuyệt vọng. Chỉ cần một chiếc điện thoại trong tay, người ta có thể bước vào cả một thế giới. Chỉ một vài giây, người ta có thể gặp một con người ở bên kia địa cầu. Chỉ một dòng chữ, một tấm hình, một đoạn phim ngắn, một lời chia sẻ, một chứng từ nhỏ cũng có thể đi rất xa, xa hơn rất nhiều so với những gì người viết tưởng tượng. Và trong chính không gian ấy, có biết bao tâm hồn đang lặng lẽ đi tìm một lời an ủi. Có người đang thức lúc nửa đêm vì đau khổ. Có người đang rơi nước mắt mà không biết tâm sự cùng ai. Có người đang chán nản vì gia đình tan vỡ. Có người đang hoang mang trước một quyết định lớn của đời mình. Có người đang mang mặc cảm tội lỗi. Có người đang mất niềm tin. Có người không bước vào nhà thờ đã nhiều năm nhưng vẫn âm thầm đọc một bài viết về Chúa. Có người không biết cầu nguyện thế nào nhưng đêm ấy lại vô tình nghe được một đoạn Lời Chúa. Có người tưởng rằng Thiên Chúa đã bỏ mình, nhưng giữa hàng trăm thứ lướt qua màn hình, bỗng dừng lại nơi một câu đơn sơ: “Đừng sợ, Thầy đây mà.” Và biết đâu chính khoảnh khắc ấy lại là khởi đầu của một cuộc trở về.
Bởi thế, không gian số thực sự là một cánh đồng truyền giáo. Một cánh đồng mênh mông, đông đúc, nhộn nhịp và đầy tiềm năng, nhưng cũng là một cánh đồng rất nhiều cỏ lùng. Ở đó có sự thật nhưng cũng có giả dối. Có lòng tốt nhưng cũng có sự độc ác. Có những lời chữa lành nhưng cũng có những lời đủ sức giết chết một tâm hồn. Có những người dùng truyền thông để kết nối, nhưng cũng có người dùng truyền thông để chia rẽ. Có người lên mạng để tìm hiểu, nhưng cũng có người lên mạng để kết án. Có những trang được lập ra để rao giảng Tin Mừng, nhưng cũng có những nơi nhân danh đạo đức để làm tổn thương người khác. Có những người nói rất nhiều về Chúa, nhưng cách họ nói lại khiến người nghe xa Chúa hơn. Có người bảo vệ chân lý nhưng đánh mất lòng bác ái. Có người nhân danh sự thật để làm nhục anh em mình. Có người nhân danh việc “bảo vệ Giáo Hội” để gieo nghi kỵ, chia rẽ, đẩy người khác vào tâm trạng cay đắng. Điều ấy buộc người làm truyền thông Công giáo phải tự hỏi rất nghiêm túc: mình đang mang Tin Mừng lên mạng, hay mình chỉ đang mang những tranh cãi của mình lên mạng? Mình đang giúp người khác gặp Đức Kitô, hay đang khiến họ mắc kẹt trong những cuộc hơn thua? Mình đang gieo bình an hay gieo thêm bất an? Mình đang giúp người ta có ánh sáng để bước đi hay chỉ làm cho họ thêm mỏi mệt giữa một thế giới vốn đã quá nhiều tiếng ồn?
Sứ mạng truyền thông Công giáo vì thế không thể chỉ là chuyện làm nội dung. Nếu chỉ làm nội dung thì người ngoài đời làm hay hơn ta rất nhiều. Họ có kỹ thuật tốt hơn, ekip mạnh hơn, máy móc hiện đại hơn, cách kể chuyện hấp dẫn hơn, khả năng tiếp thị giỏi hơn. Nếu cuộc loan báo Tin Mừng trên không gian số chỉ là cuộc chạy đua về kỹ thuật, Giáo Hội không nhất thiết thắng. Điều làm nên căn tính của người tông đồ không phải là máy quay mình dùng, phần mềm mình biết, số lượng nội dung mình sản xuất, hay tốc độ mình bắt kịp xu hướng. Điều làm nên sức mạnh của truyền thông Kitô giáo chính là Đức Kitô hiện diện trong người truyền thông. Không có Người, những gì ta làm dù đẹp đến đâu cũng có thể chỉ còn là sản phẩm. Có Người, ngay một lời rất đơn sơ cũng có thể trở thành hạt giống. Một bài viết có thể không nhiều người đọc nhưng lại cứu một người khỏi tuyệt vọng. Một đoạn chia sẻ có thể không được lan truyền rộng rãi nhưng lại làm cho một người quyết định đi xưng tội sau nhiều năm. Một lời cầu nguyện ngắn có thể không gây ấn tượng trên mạng nhưng lại trở thành lời cầu nguyện đầu tiên của một người đang khô khan. Một chứng từ thật có thể chẳng bóng bẩy gì nhưng lại giúp một tâm hồn nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn còn ở bên mình. Hoa trái của Tin Mừng không phải lúc nào cũng hiện ra bằng con số.
Đó có lẽ là một trong những cám dỗ lớn nhất của người làm truyền thông hôm nay: cám dỗ lấy những tiêu chuẩn của thế gian để đo lường hoa trái của Nước Thiên Chúa. Thế gian hỏi: bao nhiêu lượt xem? Tin Mừng hỏi: bao nhiêu trái tim được đánh động? Thế gian hỏi: bao nhiêu người theo dõi? Chúa hỏi: có ai nhờ đó mà theo Chúa hơn không? Thế gian hỏi: nội dung ấy có gây chú ý không? Chúa hỏi: nội dung ấy có giúp người ta yêu thương hơn không? Thế gian hỏi: có trở thành xu hướng không? Chúa hỏi: có trở thành hạt giống không? Thế gian cần tốc độ. Tin Mừng cần chiều sâu. Thế gian cần những thứ làm người ta không thể rời màn hình. Tin Mừng lại muốn đưa người ta từ màn hình trở về với cuộc sống thật, với gia đình thật, với tha nhân thật, với nhà thờ thật, với Bí tích thật, với thinh lặng thật và trên hết là với Thiên Chúa thật.
Tôi chợt nhận ra rằng sứ mạng của người làm truyền thông Công giáo không phải là giữ cho người ta ở lại thật lâu trước màn hình, nhưng là giúp họ đủ can đảm rời màn hình để trở về với cuộc gặp gỡ thật cùng Thiên Chúa và với anh chị em mình. Nghĩ như thế, tự nhiên ta thấy mọi tiêu chuẩn đều phải thay đổi. Một nội dung thành công không phải là nội dung khiến người ta xem hết năm mươi phút, nhưng có khi chỉ là một câu đủ làm người ta tắt điện thoại và quỳ xuống cầu nguyện. Một video thành công không nhất thiết là video giữ chân người xem thật lâu, nhưng có thể là video khiến một người đứng dậy đi xin lỗi vợ mình, gọi điện cho cha mẹ mình, tha thứ cho một người mình đang giận, mở Kinh Thánh sau nhiều năm, hoặc bước đến gặp một linh mục để xin hòa giải với Chúa. Một bài viết thành công không phải chỉ vì được chia sẻ hàng ngàn lần, nhưng vì ở một nơi nào đó có một người đã đọc nó trong nước mắt và nói với Chúa: “Lạy Chúa, con muốn trở về.”
Không phải chỉ làm cho một bài viết được lan truyền, nhưng làm cho Lời Chúa được lan tỏa. Hai điều ấy nghe gần nhau nhưng thật ra khác nhau rất xa. Một bài viết có thể lan truyền vì gây sốc. Có thể lan truyền vì đánh trúng sự tò mò. Có thể lan truyền vì tranh cãi. Có thể lan truyền vì chạm vào cảm xúc đám đông. Nhưng Lời Chúa lan tỏa theo một cách khác. Lời Chúa giống như hạt giống rơi vào lòng đất. Có khi âm thầm. Có khi rất lâu mới nảy mầm. Có khi người gieo chẳng bao giờ được thấy mùa gặt. Người tông đồ gieo hôm nay, một người khác tưới ngày mai, và chính Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Nếu hiểu như thế, người làm truyền thông sẽ bớt sốt ruột. Ta không còn phải chứng minh rằng những gì mình làm đang “hiệu quả”. Ta chỉ cần trung thành. Ta gieo bằng tất cả sự cẩn trọng, chân thành, cầu nguyện và trách nhiệm. Hoa trái thuộc về Chúa.
Không phải chỉ tạo nên những cảm xúc nhất thời, nhưng khơi lên một cuộc hoán cải trong tâm hồn. Đây mới là điều khó. Làm người ta xúc động không quá khó. Một bản nhạc hay, một hình ảnh đẹp, một câu chuyện buồn, vài lời chạm đến hoàn cảnh riêng là đủ khiến người ta rơi nước mắt. Nhưng nước mắt không đồng nghĩa với hoán cải. Một người có thể xúc động khi nghe một bài giảng rồi hôm sau vẫn sống như cũ. Có thể cảm thấy rất gần Chúa trong vài phút nhưng rồi vẫn không thay đổi điều gì trong đời mình. Loan báo Tin Mừng không dừng ở xúc động. Tin Mừng luôn mời gọi một bước đi. “Hãy theo Thầy.” “Hãy đứng dậy.” “Hãy đi và đừng phạm tội nữa.” “Hãy yêu thương nhau.” “Hãy tha thứ.” “Hãy bán những gì anh có.” “Hãy vác thập giá mình.” Lời của Chúa luôn có sức kéo người ta khỏi chỗ họ đang đứng. Vì thế, truyền thông Công giáo nếu chỉ khiến người xem cảm thấy dễ chịu mà không bao giờ mời họ thay đổi thì chưa đủ. Nếu chỉ làm người ta thích nghe về Chúa nhưng không giúp họ sống như Chúa thì vẫn còn thiếu.
Không phải chỉ chạm vào ánh mắt, nhưng chạm đến trái tim. Trong thế giới hình ảnh hôm nay, người ta có thể nhìn hàng ngàn hình ảnh mỗi ngày mà chẳng giữ lại điều gì. Mắt nhìn rất nhiều, nhưng lòng lại ngày càng trống. Người ta biết chuyện của cả thế giới nhưng không biết người đang sống cạnh mình đang buồn. Người ta theo dõi hàng trăm con người nhưng không thật sự đồng hành với một ai. Người ta có hàng ngàn “bạn” nhưng có khi chẳng có một người để khóc cùng. Bởi thế người làm truyền thông Tin Mừng không thể chỉ chăm lo hình ảnh đẹp. Hình ảnh phải dẫn vào chiều sâu. Lời nói phải có hồn. Nội dung phải đi ra từ một trái tim từng biết đau với nỗi đau của người khác, từng biết khóc trước mặt Chúa, từng biết im lặng trước mầu nhiệm đời người. Một người chưa từng ngồi đủ lâu bên cạnh nỗi đau của con người rất dễ nói những câu đạo đức nhưng vô tình làm người đang đau bị đau hơn. Một người chưa từng đi qua sa mạc nội tâm rất dễ đưa ra những câu trả lời đơn giản cho những vấn đề phức tạp của người khác. Truyền thông Tin Mừng cần sự thật, nhưng cũng cần lòng thương xót. Cần ánh sáng, nhưng ánh sáng ấy phải là ánh sáng của Đức Kitô, Đấng không dập tắt tim đèn còn khói.
Và rồi sau những ngày tĩnh tâm tại Hưng Hóa, tôi hiểu sâu hơn một điều tưởng như rất quen: việc đầu tiên của người làm truyền thông không phải là tạo ra nhiều nội dung hơn, nhưng là ở lại với Chúa nhiều hơn. Có lẽ đây là điều người tông đồ dễ quên nhất. Ta rất dễ nghĩ rằng thời gian cầu nguyện lấy mất thời gian làm việc. Ta có hàng trăm việc phải làm. Bài chưa viết. Video chưa dựng. Tin chưa đăng. Người này đang chờ. Việc kia chưa xong. Ta vội vã với lý do rất đạo đức: đang làm việc cho Chúa. Nhưng đôi khi chính vì làm quá nhiều việc cho Chúa mà ta lại không còn thời gian ở với Chúa. Và đó là khởi đầu của một sự nghèo nàn rất nguy hiểm. Bên ngoài vẫn hoạt động. Bên trong bắt đầu khô. Bên ngoài vẫn nói về Chúa. Bên trong lại ít nói với Chúa. Bên ngoài vẫn khuyên người ta cầu nguyện. Bên trong chính mình lại cầu nguyện vội vàng. Bên ngoài vẫn nói về bình an. Bên trong lại đầy căng thẳng. Bên ngoài vẫn rao giảng lòng thương xót. Bên trong lại dễ cáu gắt và xét đoán. Bên ngoài vẫn làm ra những sản phẩm đạo đức. Bên trong mối tương quan với Chúa ngày càng xa.
Đó là lúc người môn đệ phải dừng lại. Không phải để bỏ việc, nhưng để cứu chính sứ vụ của mình. Chúa Giêsu không gọi các môn đệ trước hết để sai họ đi. Tin Mừng nói Người gọi họ “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng”. Ở với Người trước. Được sai đi sau. Trật tự ấy không thể đảo. Nếu bỏ phần “ở với Người”, phần “được sai đi” sẽ rất nhanh biến thành một nghề. Người ta có thể trở thành một nhà truyền thông tôn giáo rất giỏi nhưng không còn là một người môn đệ. Có thể nói về Chúa mỗi ngày mà lòng mình rất xa Chúa. Có thể giúp người khác cầu nguyện nhưng mình thì không cầu nguyện. Có thể viết những câu rất hay về khiêm nhường nhưng bên trong lại khát khao được khen. Có thể nói về sự hiệp nhất nhưng lại không chịu nổi một người khác ý. Có thể rao giảng thập giá nhưng luôn tìm cách tránh mọi hy sinh. Đây mới là điều đáng sợ.
Bởi chỉ một trái tim đã được Chúa biến đổi mới có thể trở thành khí cụ để biến đổi những trái tim khác. Chúng ta thường muốn thay đổi người khác bằng lời. Chúa lại muốn thay đổi chúng ta trước. Ta muốn người khác sống Tin Mừng. Chúa hỏi ta đã sống Tin Mừng đến đâu. Ta muốn người khác khiêm nhường. Chúa chỉ cho ta thấy sự kiêu ngạo của mình. Ta muốn người khác bớt tranh cãi. Chúa cho ta thấy những hơn thua trong lòng ta. Ta muốn người khác sống bác ái. Chúa cho ta gặp một người rất khó yêu. Ta muốn nói về tha thứ. Chúa để một vết thương cũ hiện lên. Ta muốn giảng về phó thác. Chúa cho ta đi vào một hoàn cảnh không còn kiểm soát được. Như thế, trước khi Chúa dùng lời ta nói, Người muốn dùng chính đời ta. Trước khi biến ta thành người truyền thông Tin Mừng, Người muốn biến ta thành Tin Mừng.
Và chỉ khi người môn đệ biết dừng lại trước mặt Chúa, mọi lời nói, hình ảnh hay thước phim họ thực hiện mới không còn là sản phẩm của kỹ năng nhưng trở thành hoa trái của một đời sống kết hiệp với Đức Kitô. Kỹ năng cần thiết. Giáo Hội không bao giờ cổ võ sự cẩu thả. Làm truyền thông phải học. Phải làm tốt. Phải chuyên nghiệp. Phải tôn trọng sự thật. Phải kiểm chứng thông tin. Phải biết ngôn ngữ của thời đại. Phải hiểu tâm lý con người. Phải biết cách sử dụng hình ảnh, âm thanh, chữ nghĩa cách thích hợp. Nhưng tất cả những điều ấy chỉ là phương tiện. Linh hồn của truyền thông Kitô giáo vẫn là một trái tim có Chúa. Khi trái tim ấy có Chúa, người ta sẽ biết lúc nào nên nói và lúc nào nên im. Biết điều gì nên đăng và điều gì không nên đăng. Biết một sự thật có thể nói nhưng chưa chắc lúc này nên nói. Biết một điều đúng nhưng nếu nói bằng giọng khinh miệt thì sự đúng ấy đã bị méo mó. Biết một câu chuyện có thể thu hút rất nhiều lượt xem nhưng nếu làm tổn thương phẩm giá một người thì không đáng để đổi lấy bất cứ con số nào.
Người làm truyền thông Công giáo cần học lại sự thánh thiện của nút “đăng”. Trước khi nhấn đăng một điều gì, có lẽ nên biết dừng vài giây và hỏi: điều này có thật không? Điều này có cần thiết không? Điều này có bác ái không? Điều này có giúp ích cho ai không? Điều này có làm một người vô tội bị tổn thương không? Điều này có tạo thêm chia rẽ không? Nếu Đức Giêsu ngồi bên cạnh tôi lúc này, Người có muốn tôi đăng điều này không? Chỉ vài câu hỏi ấy có thể cứu chúng ta khỏi rất nhiều sai lầm. Trong thế giới số, một lời đã nói có thể đi rất xa. Một lời sai có thể được chụp lại dù đã xóa. Một sự xúc phạm có thể ở mãi trong ký ức một người. Một tin chưa kiểm chứng có thể phá hỏng danh dự của cả một con người. Và người Kitô hữu không được quyền dùng sự nhanh nhạy của truyền thông để chậm lại trong đức ái.
Có khi truyền thông Tin Mừng lại bắt đầu từ việc biết không đăng. Không phải câu chuyện nào mình biết cũng cần kể. Không phải lỗi lầm nào của người khác cũng phải công khai. Không phải tranh luận nào mình cũng phải tham gia. Không phải lời chỉ trích nào mình cũng phải đáp lại. Có những chiến thắng trên mạng lại là thất bại trước mặt Chúa. Ta có thể thắng một cuộc tranh luận mà mất một người anh em. Có thể chứng minh mình đúng mà làm người khác không còn muốn bước vào nhà thờ. Có thể bảo vệ một giáo huấn bằng một thái độ hoàn toàn trái Tin Mừng. Chúa không cần ta bảo vệ Người bằng sự cay nghiệt. Chân lý không trở nên mạnh hơn vì ta nói lớn tiếng hơn. Tin Mừng có sức mạnh của chính Tin Mừng. Phần ta là làm chứng bằng sự thật trong tình yêu.
Không gian số cũng là nơi buộc người tông đồ học khiêm nhường. Vì người ta có thể khen mình hôm nay và quên mình ngày mai. Một bài rất tâm đắc có thể ít người đọc. Một điều mình viết rất đơn sơ lại bỗng lan tỏa. Điều ấy nhắc ta rằng ta không kiểm soát được hoa trái. Có những thời điểm lượt xem tăng làm ta vui. Có những lúc con số giảm làm ta chùng xuống. Nếu không cẩn thận, đời sống thiêng liêng sẽ bị kéo lên kéo xuống theo những con số ấy. Khi được khen thì hăng hái. Khi ít tương tác thì buồn. Khi người ta đồng ý thì bình an. Khi bị phản đối thì mất ngủ. Lúc đó ta phải tự hỏi: tôi đang phục vụ Tin Mừng hay đang phục vụ hình ảnh của chính mình? Điều làm tôi vui là người ta gặp Chúa hay người ta nhắc đến tên tôi? Nếu ngày mai Thiên Chúa muốn dùng một người khác hiệu quả hơn tôi, tôi có vui không? Nếu một điều mình làm không ai biết nhưng Chúa biết, như thế có đủ không?
Tĩnh tâm vì thế là lúc ta đặt lại tất cả trước mặt Chúa. Những thành công, nếu có, xin trả lại cho Chúa. Những thất bại, nếu có, cũng đặt trong tay Người. Những lời khen, xin đừng giữ làm của riêng. Những lời chê, xin đừng để nó lấy mất bình an. Những gì làm được, tạ ơn Chúa. Những gì chưa làm được, xin Chúa bổ túc. Những gì làm sai, can đảm nhìn nhận. Những động cơ chưa tinh tuyền, xin Chúa thanh luyện. Có thể ta bắt đầu một công việc với ý tốt nhưng dần dần ý tốt bị pha trộn. Ban đầu muốn phục vụ Chúa. Sau đó lại muốn chứng minh mình. Ban đầu muốn loan báo Tin Mừng. Sau đó lại bận tâm với việc được công nhận. Ban đầu chỉ muốn gieo một hạt giống. Sau đó lại muốn mình phải nhìn thấy mùa gặt. Tĩnh tâm là để Chúa tháo từng lớp ấy khỏi lòng ta.
Một điểm dừng… để tiếp tục lên đường. Tôi rất thích hình ảnh ấy. Điểm dừng của đời Kitô hữu không phải là dấu chấm hết. Nó giống như trạm nghỉ của người lữ khách. Dừng để uống lại nguồn nước. Dừng để xem bản đồ. Dừng để nhận ra mình đang đi lệch. Dừng để chữa một vết thương ở chân. Dừng để bỏ bớt những hành lý không cần thiết. Dừng để nhớ lại vì sao mình lên đường từ đầu. Có những người đi quá lâu đến mức quên mất lý do mình đi. Có những người phục vụ quá nhiều đến mức quên mất Đấng mình đang phục vụ. Có những người nói về Tin Mừng quá nhiều đến mức quên để Tin Mừng nói với mình. Vì vậy, Chúa cho những điểm dừng.
Có lẽ sau mỗi lần dừng lại với Chúa, người môn đệ không nhất thiết trở về với nhiều kế hoạch hơn. Có khi Chúa lại bảo mình làm ít hơn nhưng yêu nhiều hơn. Viết ít hơn nhưng cầu nguyện nhiều hơn. Nói ít hơn nhưng lắng nghe nhiều hơn. Đăng ít hơn nhưng phân định kỹ hơn. Chạy theo ít thứ hơn nhưng trung thành với điều Chúa trao hơn. Thế giới không thiếu nội dung. Thế giới đang thiếu chứng nhân. Mạng xã hội không thiếu tiếng nói. Nó đang thiếu những tiếng nói phát ra từ một tâm hồn bình an. Người ta không thiếu người chỉ cho họ phải nghĩ gì. Họ đang thiếu những người giúp họ gặp được một Thiên Chúa biết họ, hiểu họ và vẫn yêu họ.
Tôi càng thấy rõ rằng truyền thông Tin Mừng không thể tách khỏi đời sống cầu nguyện. Người ta không thể trao cho người khác điều mình không có. Nếu lòng mình không có bình an, mình sẽ truyền đi bất an. Nếu lòng đầy hơn thua, lời mình sẽ có mùi hơn thua. Nếu lòng mang cay đắng, dù nói về bác ái, người nghe vẫn cảm được cay đắng. Nếu lòng mình thật sự được Chúa an ủi, những lời mình viết sẽ có khả năng an ủi. Nếu mình đã từng được Chúa tha thứ sâu xa, cách mình nói với những người yếu đuối cũng sẽ khác. Nếu mình đã từng quỳ thật lâu trước Thập Giá và nhận ra Chúa đã kiên nhẫn với mình thế nào, mình sẽ bớt khắc nghiệt với lỗi lầm của anh em.
Điều ấy khiến tôi nghĩ rất nhiều đến Đức Giêsu. Người không có mạng xã hội. Người không có máy quay. Người không có phương tiện truyền thông theo nghĩa hôm nay. Nhưng không ai truyền thông về Thiên Chúa như Người. Người truyền thông bằng ánh mắt nhìn người phụ nữ ngoại tình mà không kết án. Bằng việc ngồi bên giếng với người phụ nữ Samari. Bằng bàn tay chạm vào người phong cùi. Bằng nước mắt trước mộ Ladarô. Bằng việc ngồi ăn với người tội lỗi. Bằng sự thinh lặng trước Philatô. Bằng lời tha thứ trên Thập Giá. Truyền thông của Đức Giêsu không chỉ là lời. Chính con người Người là sứ điệp. Có lẽ đó cũng phải là chuẩn mực cuối cùng cho mọi người làm truyền thông Công giáo: trước khi hỏi hôm nay mình sẽ đăng gì, hãy hỏi hôm nay mình sẽ sống thế nào.
Bởi vì cuối cùng, Tin Mừng mạnh nhất vẫn là một đời sống được Tin Mừng biến đổi. Một bài nói về yêu thương không bằng một hành động yêu thương. Một ngàn lời nói về khiêm nhường không bằng việc âm thầm nhận lỗi. Một video về tha thứ không bằng việc thật sự tha cho người đã làm mình đau. Một bài viết về cầu nguyện không bằng một giờ quỳ trước Nhà Tạm. Một nội dung nói về phục vụ không bằng một việc nhỏ không ai biết mình đã làm. Nếu đời sống người truyền thông và nội dung họ truyền đi cách nhau quá xa, sớm muộn người khác cũng nhận ra. Nhưng nếu hai điều ấy dần dần trở thành một, lời nói sẽ có sức nặng.
Tôi không mong mình trở thành một người làm truyền thông được nhiều người biết. Tôi chỉ mong qua những điều rất nhỏ mình làm, có người biết Chúa thêm một chút. Tôi không mong mỗi nội dung đều lan truyền. Tôi mong Lời Chúa tìm được đường đến một tâm hồn đang cần nó. Tôi không mong người ta nhớ tên người viết. Tôi mong sau khi đọc xong, họ nhớ đến Đức Giêsu. Tôi không mong giữ người ta thật lâu trước màn hình. Tôi mong đến một lúc nào đó, chính nội dung ấy khiến họ đặt điện thoại xuống, nhìn người bên cạnh, đi vào nhà thờ, mở Kinh Thánh, lặng lẽ cầu nguyện và nói: “Lạy Chúa, con đây.”
Và nếu có điều gì tôi cần xin sau một kỳ tĩnh tâm, có lẽ không phải là xin Chúa cho mình làm được nhiều hơn. Tôi xin Người cho mình thuộc về Người nhiều hơn. Xin cho khi nói về Chúa, tôi đã nói với Chúa trước. Khi viết về Lời Chúa, tôi đã để Lời ấy xét xử và chữa lành chính mình trước. Khi mời người khác trở về, tôi cũng đang trở về. Khi kêu gọi người khác hoán cải, chính tôi cũng để Chúa hoán cải. Khi nói về thinh lặng, tôi biết thinh lặng. Khi nói về cầu nguyện, tôi thật sự cầu nguyện. Khi nói về Thập Giá, tôi dám ôm lấy những thập giá Chúa gửi trong đời mình. Chỉ như thế, truyền thông mới không còn đơn thuần là việc tôi làm mà trở thành một phần của đời dâng hiến.
Có một ngày tất cả những bài viết rồi sẽ trôi xuống. Những video hôm nay còn được xem rồi cũng sẽ bị thay thế bằng vô vàn nội dung mới. Những thuật toán sẽ thay đổi. Những nền tảng hôm nay rất phổ biến có thể một ngày biến mất. Những con số hôm nay làm ta vui rồi cũng chẳng còn nghĩa gì. Nhưng nếu qua một lời mình viết có một người đến gần Chúa hơn, điều ấy còn lại. Nếu qua một đoạn phim có một người quyết định tha thứ, điều ấy còn lại. Nếu qua một bài chia sẻ có một người từ bỏ ý định tuyệt vọng và bắt đầu lại, điều ấy còn lại. Nếu có ai đó nhờ một lời rất nhỏ mà bước vào tòa giải tội sau nhiều năm, điều ấy thuộc về đời đời. Đó mới là “thành tựu” của truyền thông Tin Mừng.
Và như thế, một điểm dừng không làm tôi muốn ở lại mãi nơi điểm dừng. Trái lại, điểm dừng làm tôi muốn lên đường trở lại với một trái tim khác. Vẫn công việc ấy. Vẫn những con chữ ấy. Vẫn máy quay ấy. Vẫn màn hình ấy. Vẫn những nền tảng ấy. Nhưng người làm đã khác đi một chút. Nhẹ hơn. Tự do hơn. Bình an hơn. Ít muốn chứng minh hơn. Ít chạy theo con số hơn. Cẩn trọng hơn với mỗi lời nói. Thương con người hơn. Sợ làm tổn thương người khác hơn. Và trên hết, ý thức rằng mình chỉ là người gieo. Hạt giống là Lời Chúa. Cánh đồng là lòng người. Mùa gặt thuộc về Thiên Chúa.
Một điểm dừng… để tiếp tục lên đường. Nhưng lần lên đường này, tôi không muốn đi trước Chúa. Tôi muốn đi sau Người. Không muốn bắt Chúa chúc lành cho những kế hoạch tôi đã tự quyết. Tôi muốn hỏi Người: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Không muốn chỉ đưa Chúa vào nội dung của mình. Tôi muốn chính Chúa trở thành nguồn mạch của mọi điều mình làm. Không muốn mang Chúa đến cho người khác như thể mình sở hữu Người. Tôi chỉ muốn làm một người dẫn đường nhỏ bé, chỉ cho họ thấy rằng Người vẫn đang ở đó, vẫn chờ, vẫn gọi, vẫn yêu.
Thế giới số sẽ còn thay đổi rất nhanh. Công nghệ sẽ còn đi xa. Trí tuệ nhân tạo sẽ còn tạo ra những điều chúng ta hôm nay chưa tưởng tượng được. Cách con người tiếp nhận thông tin sẽ tiếp tục thay đổi. Nhưng có một điều không thay đổi: con người vẫn cần được yêu. Con người vẫn cần sự thật. Con người vẫn sợ cô độc. Vẫn mang những câu hỏi về ý nghĩa đời mình. Vẫn có những đêm không biết bám víu vào đâu. Và Đức Kitô vẫn là câu trả lời sâu xa nhất cho cơn khát ấy. Vì vậy, dù phương tiện đổi thay thế nào, sứ mạng của người loan báo Tin Mừng vẫn là đưa người ta đến gặp Người.
Xin cho tôi biết sử dụng không gian số nhưng không để không gian số chiếm lấy tâm hồn mình. Xin cho tôi biết dùng công nghệ nhưng đừng để công nghệ làm tôi mất khả năng thinh lặng. Xin cho tôi biết nói với hàng ngàn người nhưng vẫn đủ kiên nhẫn lắng nghe một người. Xin cho tôi có thể hiện diện trên mạng mà không đánh mất sự hiện diện trước mặt Chúa. Xin cho tôi có thể viết rất nhiều về Tin Mừng nhưng quan trọng hơn, xin cho đời tôi mỗi ngày trở nên một trang Tin Mừng nhỏ. Xin cho những điều tôi làm không kéo người ta về phía mình, nhưng nhẹ nhàng dẫn họ về phía Đức Kitô.
Và rồi, sau những ngày dừng chân, tôi lại lên đường. Không phải vì đã hiểu hết mọi sự. Không phải vì đã trở nên hoàn thiện. Không phải vì những yếu đuối đã biến mất. Tôi lên đường vì biết rằng Chúa vẫn đang đi trước. Tôi lên đường với những giới hạn của mình nhưng không còn quá sợ giới hạn ấy. Tôi lên đường với những công việc còn dang dở, nhưng lòng bình an hơn vì hiểu rằng công trình là của Chúa. Tôi lên đường, tiếp tục viết, tiếp tục nói, tiếp tục làm những thước phim, tiếp tục bước vào cánh đồng truyền giáo không biên giới này, nhưng tôi muốn mang theo trong lòng một xác tín đơn sơ: trước khi là người làm truyền thông, tôi phải là người môn đệ; trước khi nói về Đức Kitô, tôi phải ở với Đức Kitô; trước khi mong Lời Chúa chạm đến người khác, tôi phải để Lời ấy chạm đến tôi.
Và có lẽ, đó chính là ý nghĩa đẹp nhất của một điểm dừng: dừng lại không phải để thôi lên đường, nhưng để khi lên đường, ta biết mình đang đi với Ai; dừng lại không phải để trốn khỏi sứ mạng, nhưng để tìm lại linh hồn của sứ mạng; dừng lại không phải vì mệt mỏi với cánh đồng, nhưng để nghe lại tiếng Chủ mùa gặt; dừng lại không phải để thu mình, nhưng để trái tim được mở rộng hơn trước những con người mà Chúa sẽ gửi đến. Một điểm dừng trong thinh lặng. Một điểm dừng dưới chân Chúa. Một điểm dừng để trái tim được chỉnh lại nhịp với trái tim Đức Kitô. Rồi từ nơi ấy, lại tiếp tục lên đường, không bằng sự náo động của một người muốn làm nên điều lớn lao, nhưng bằng sự bình an của một người biết mình đang được sai đi.
Lm. Anmai, CSsR
MỘT ĐIỂM DỪNG… ĐỂ TIẾP TỤC LÊN ĐƯỜNG
Có những lúc trong đời, người ta cứ tưởng rằng phải đi thật nhanh mới là nhiệt thành, phải làm thật nhiều mới là hữu ích, phải xuất hiện thật thường xuyên mới là đang sống trọn vẹn sứ mạng của mình. Nhất là trong một thế giới mà mọi thứ đều được đo bằng tốc độ, bằng lượt xem, bằng số người theo dõi, bằng mức độ lan truyền, bằng những con số tăng lên từng giờ, người làm truyền thông rất dễ bị cuốn vào một nhịp sống mà chính mình cũng không còn kịp hỏi: tôi đang đi đâu, tôi đang làm điều này cho ai, và điều tôi đang thực hiện có thực sự đưa người khác đến gần Chúa hơn hay chỉ làm cho họ biết đến tôi nhiều hơn? Có lẽ chính vì thế mà những ngày tĩnh tâm luôn là một hồng ân đặc biệt. Tĩnh tâm không làm cho sứ mạng bị gián đoạn. Tĩnh tâm là để sứ mạng khỏi bị lạc hướng. Tĩnh tâm không làm cho người tông đồ rời khỏi cánh đồng truyền giáo. Tĩnh tâm là để người tông đồ biết mình phải gieo gì, gieo ở đâu, gieo bằng tâm tình nào và gieo cho ai. Có những bước chân cần phải dừng lại, không phải vì đã hết đường, nhưng vì nếu cứ bước tiếp trong vô thức, ta có thể đi rất xa mà lại đi sai hướng. Có những con người tưởng rằng mình đang làm việc cho Chúa, nhưng lâu dần lại chỉ còn làm việc theo thói quen, theo khả năng, theo kế hoạch, theo sức riêng và đôi khi theo cả nhu cầu được nhìn nhận của chính mình. Đến một lúc nào đó, Chúa phải đưa ta vào một khoảng lặng để ta nhận ra rằng sứ mạng không bắt đầu từ khả năng của ta, nhưng bắt đầu từ việc ta thuộc về Người.
Tôi được phục vụ trong lãnh vực truyền thông và loan báo Tin Mừng trên không gian số. Đó là một ơn gọi rất đặc biệt của thời đại hôm nay. Nếu ngày xưa các nhà truyền giáo phải vượt núi, băng rừng, xuống thuyền, vượt biển, chấp nhận sốt rét, đói khát, hiểm nguy và cô độc để đem Tin Mừng đến những miền đất xa xôi, thì hôm nay Thiên Chúa lại mở ra trước mắt Giáo Hội một lục địa khác. Không có những ranh giới địa lý rõ ràng. Không có những con đường mòn xuyên rừng. Không có những bản đồ truyền giáo như ngày trước. Nhưng ở đó có hàng triệu, hàng tỷ con người đang hiện diện mỗi ngày. Đó là thế giới kỹ thuật số. Một không gian tưởng như vô hình nhưng lại đang chi phối rất thật cách con người suy nghĩ, yêu thương, chọn lựa, tổn thương, hy vọng và tuyệt vọng. Chỉ cần một chiếc điện thoại trong tay, người ta có thể bước vào cả một thế giới. Chỉ một vài giây, người ta có thể gặp một con người ở bên kia địa cầu. Chỉ một dòng chữ, một tấm hình, một đoạn phim ngắn, một lời chia sẻ, một chứng từ nhỏ cũng có thể đi rất xa, xa hơn rất nhiều so với những gì người viết tưởng tượng. Và trong chính không gian ấy, có biết bao tâm hồn đang lặng lẽ đi tìm một lời an ủi. Có người đang thức lúc nửa đêm vì đau khổ. Có người đang rơi nước mắt mà không biết tâm sự cùng ai. Có người đang chán nản vì gia đình tan vỡ. Có người đang hoang mang trước một quyết định lớn của đời mình. Có người đang mang mặc cảm tội lỗi. Có người đang mất niềm tin. Có người không bước vào nhà thờ đã nhiều năm nhưng vẫn âm thầm đọc một bài viết về Chúa. Có người không biết cầu nguyện thế nào nhưng đêm ấy lại vô tình nghe được một đoạn Lời Chúa. Có người tưởng rằng Thiên Chúa đã bỏ mình, nhưng giữa hàng trăm thứ lướt qua màn hình, bỗng dừng lại nơi một câu đơn sơ: “Đừng sợ, Thầy đây mà.” Và biết đâu chính khoảnh khắc ấy lại là khởi đầu của một cuộc trở về.
Bởi thế, không gian số thực sự là một cánh đồng truyền giáo. Một cánh đồng mênh mông, đông đúc, nhộn nhịp và đầy tiềm năng, nhưng cũng là một cánh đồng rất nhiều cỏ lùng. Ở đó có sự thật nhưng cũng có giả dối. Có lòng tốt nhưng cũng có sự độc ác. Có những lời chữa lành nhưng cũng có những lời đủ sức giết chết một tâm hồn. Có những người dùng truyền thông để kết nối, nhưng cũng có người dùng truyền thông để chia rẽ. Có người lên mạng để tìm hiểu, nhưng cũng có người lên mạng để kết án. Có những trang được lập ra để rao giảng Tin Mừng, nhưng cũng có những nơi nhân danh đạo đức để làm tổn thương người khác. Có những người nói rất nhiều về Chúa, nhưng cách họ nói lại khiến người nghe xa Chúa hơn. Có người bảo vệ chân lý nhưng đánh mất lòng bác ái. Có người nhân danh sự thật để làm nhục anh em mình. Có người nhân danh việc “bảo vệ Giáo Hội” để gieo nghi kỵ, chia rẽ, đẩy người khác vào tâm trạng cay đắng. Điều ấy buộc người làm truyền thông Công giáo phải tự hỏi rất nghiêm túc: mình đang mang Tin Mừng lên mạng, hay mình chỉ đang mang những tranh cãi của mình lên mạng? Mình đang giúp người khác gặp Đức Kitô, hay đang khiến họ mắc kẹt trong những cuộc hơn thua? Mình đang gieo bình an hay gieo thêm bất an? Mình đang giúp người ta có ánh sáng để bước đi hay chỉ làm cho họ thêm mỏi mệt giữa một thế giới vốn đã quá nhiều tiếng ồn?
Sứ mạng truyền thông Công giáo vì thế không thể chỉ là chuyện làm nội dung. Nếu chỉ làm nội dung thì người ngoài đời làm hay hơn ta rất nhiều. Họ có kỹ thuật tốt hơn, ekip mạnh hơn, máy móc hiện đại hơn, cách kể chuyện hấp dẫn hơn, khả năng tiếp thị giỏi hơn. Nếu cuộc loan báo Tin Mừng trên không gian số chỉ là cuộc chạy đua về kỹ thuật, Giáo Hội không nhất thiết thắng. Điều làm nên căn tính của người tông đồ không phải là máy quay mình dùng, phần mềm mình biết, số lượng nội dung mình sản xuất, hay tốc độ mình bắt kịp xu hướng. Điều làm nên sức mạnh của truyền thông Kitô giáo chính là Đức Kitô hiện diện trong người truyền thông. Không có Người, những gì ta làm dù đẹp đến đâu cũng có thể chỉ còn là sản phẩm. Có Người, ngay một lời rất đơn sơ cũng có thể trở thành hạt giống. Một bài viết có thể không nhiều người đọc nhưng lại cứu một người khỏi tuyệt vọng. Một đoạn chia sẻ có thể không được lan truyền rộng rãi nhưng lại làm cho một người quyết định đi xưng tội sau nhiều năm. Một lời cầu nguyện ngắn có thể không gây ấn tượng trên mạng nhưng lại trở thành lời cầu nguyện đầu tiên của một người đang khô khan. Một chứng từ thật có thể chẳng bóng bẩy gì nhưng lại giúp một tâm hồn nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn còn ở bên mình. Hoa trái của Tin Mừng không phải lúc nào cũng hiện ra bằng con số.
Đó có lẽ là một trong những cám dỗ lớn nhất của người làm truyền thông hôm nay: cám dỗ lấy những tiêu chuẩn của thế gian để đo lường hoa trái của Nước Thiên Chúa. Thế gian hỏi: bao nhiêu lượt xem? Tin Mừng hỏi: bao nhiêu trái tim được đánh động? Thế gian hỏi: bao nhiêu người theo dõi? Chúa hỏi: có ai nhờ đó mà theo Chúa hơn không? Thế gian hỏi: nội dung ấy có gây chú ý không? Chúa hỏi: nội dung ấy có giúp người ta yêu thương hơn không? Thế gian hỏi: có trở thành xu hướng không? Chúa hỏi: có trở thành hạt giống không? Thế gian cần tốc độ. Tin Mừng cần chiều sâu. Thế gian cần những thứ làm người ta không thể rời màn hình. Tin Mừng lại muốn đưa người ta từ màn hình trở về với cuộc sống thật, với gia đình thật, với tha nhân thật, với nhà thờ thật, với Bí tích thật, với thinh lặng thật và trên hết là với Thiên Chúa thật.
Tôi chợt nhận ra rằng sứ mạng của người làm truyền thông Công giáo không phải là giữ cho người ta ở lại thật lâu trước màn hình, nhưng là giúp họ đủ can đảm rời màn hình để trở về với cuộc gặp gỡ thật cùng Thiên Chúa và với anh chị em mình. Nghĩ như thế, tự nhiên ta thấy mọi tiêu chuẩn đều phải thay đổi. Một nội dung thành công không phải là nội dung khiến người ta xem hết năm mươi phút, nhưng có khi chỉ là một câu đủ làm người ta tắt điện thoại và quỳ xuống cầu nguyện. Một video thành công không nhất thiết là video giữ chân người xem thật lâu, nhưng có thể là video khiến một người đứng dậy đi xin lỗi vợ mình, gọi điện cho cha mẹ mình, tha thứ cho một người mình đang giận, mở Kinh Thánh sau nhiều năm, hoặc bước đến gặp một linh mục để xin hòa giải với Chúa. Một bài viết thành công không phải chỉ vì được chia sẻ hàng ngàn lần, nhưng vì ở một nơi nào đó có một người đã đọc nó trong nước mắt và nói với Chúa: “Lạy Chúa, con muốn trở về.”
Không phải chỉ làm cho một bài viết được lan truyền, nhưng làm cho Lời Chúa được lan tỏa. Hai điều ấy nghe gần nhau nhưng thật ra khác nhau rất xa. Một bài viết có thể lan truyền vì gây sốc. Có thể lan truyền vì đánh trúng sự tò mò. Có thể lan truyền vì tranh cãi. Có thể lan truyền vì chạm vào cảm xúc đám đông. Nhưng Lời Chúa lan tỏa theo một cách khác. Lời Chúa giống như hạt giống rơi vào lòng đất. Có khi âm thầm. Có khi rất lâu mới nảy mầm. Có khi người gieo chẳng bao giờ được thấy mùa gặt. Người tông đồ gieo hôm nay, một người khác tưới ngày mai, và chính Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Nếu hiểu như thế, người làm truyền thông sẽ bớt sốt ruột. Ta không còn phải chứng minh rằng những gì mình làm đang “hiệu quả”. Ta chỉ cần trung thành. Ta gieo bằng tất cả sự cẩn trọng, chân thành, cầu nguyện và trách nhiệm. Hoa trái thuộc về Chúa.
Không phải chỉ tạo nên những cảm xúc nhất thời, nhưng khơi lên một cuộc hoán cải trong tâm hồn. Đây mới là điều khó. Làm người ta xúc động không quá khó. Một bản nhạc hay, một hình ảnh đẹp, một câu chuyện buồn, vài lời chạm đến hoàn cảnh riêng là đủ khiến người ta rơi nước mắt. Nhưng nước mắt không đồng nghĩa với hoán cải. Một người có thể xúc động khi nghe một bài giảng rồi hôm sau vẫn sống như cũ. Có thể cảm thấy rất gần Chúa trong vài phút nhưng rồi vẫn không thay đổi điều gì trong đời mình. Loan báo Tin Mừng không dừng ở xúc động. Tin Mừng luôn mời gọi một bước đi. “Hãy theo Thầy.” “Hãy đứng dậy.” “Hãy đi và đừng phạm tội nữa.” “Hãy yêu thương nhau.” “Hãy tha thứ.” “Hãy bán những gì anh có.” “Hãy vác thập giá mình.” Lời của Chúa luôn có sức kéo người ta khỏi chỗ họ đang đứng. Vì thế, truyền thông Công giáo nếu chỉ khiến người xem cảm thấy dễ chịu mà không bao giờ mời họ thay đổi thì chưa đủ. Nếu chỉ làm người ta thích nghe về Chúa nhưng không giúp họ sống như Chúa thì vẫn còn thiếu.
Không phải chỉ chạm vào ánh mắt, nhưng chạm đến trái tim. Trong thế giới hình ảnh hôm nay, người ta có thể nhìn hàng ngàn hình ảnh mỗi ngày mà chẳng giữ lại điều gì. Mắt nhìn rất nhiều, nhưng lòng lại ngày càng trống. Người ta biết chuyện của cả thế giới nhưng không biết người đang sống cạnh mình đang buồn. Người ta theo dõi hàng trăm con người nhưng không thật sự đồng hành với một ai. Người ta có hàng ngàn “bạn” nhưng có khi chẳng có một người để khóc cùng. Bởi thế người làm truyền thông Tin Mừng không thể chỉ chăm lo hình ảnh đẹp. Hình ảnh phải dẫn vào chiều sâu. Lời nói phải có hồn. Nội dung phải đi ra từ một trái tim từng biết đau với nỗi đau của người khác, từng biết khóc trước mặt Chúa, từng biết im lặng trước mầu nhiệm đời người. Một người chưa từng ngồi đủ lâu bên cạnh nỗi đau của con người rất dễ nói những câu đạo đức nhưng vô tình làm người đang đau bị đau hơn. Một người chưa từng đi qua sa mạc nội tâm rất dễ đưa ra những câu trả lời đơn giản cho những vấn đề phức tạp của người khác. Truyền thông Tin Mừng cần sự thật, nhưng cũng cần lòng thương xót. Cần ánh sáng, nhưng ánh sáng ấy phải là ánh sáng của Đức Kitô, Đấng không dập tắt tim đèn còn khói.
Và rồi sau những ngày tĩnh tâm tại Hưng Hóa, tôi hiểu sâu hơn một điều tưởng như rất quen: việc đầu tiên của người làm truyền thông không phải là tạo ra nhiều nội dung hơn, nhưng là ở lại với Chúa nhiều hơn. Có lẽ đây là điều người tông đồ dễ quên nhất. Ta rất dễ nghĩ rằng thời gian cầu nguyện lấy mất thời gian làm việc. Ta có hàng trăm việc phải làm. Bài chưa viết. Video chưa dựng. Tin chưa đăng. Người này đang chờ. Việc kia chưa xong. Ta vội vã với lý do rất đạo đức: đang làm việc cho Chúa. Nhưng đôi khi chính vì làm quá nhiều việc cho Chúa mà ta lại không còn thời gian ở với Chúa. Và đó là khởi đầu của một sự nghèo nàn rất nguy hiểm. Bên ngoài vẫn hoạt động. Bên trong bắt đầu khô. Bên ngoài vẫn nói về Chúa. Bên trong lại ít nói với Chúa. Bên ngoài vẫn khuyên người ta cầu nguyện. Bên trong chính mình lại cầu nguyện vội vàng. Bên ngoài vẫn nói về bình an. Bên trong lại đầy căng thẳng. Bên ngoài vẫn rao giảng lòng thương xót. Bên trong lại dễ cáu gắt và xét đoán. Bên ngoài vẫn làm ra những sản phẩm đạo đức. Bên trong mối tương quan với Chúa ngày càng xa.
Đó là lúc người môn đệ phải dừng lại. Không phải để bỏ việc, nhưng để cứu chính sứ vụ của mình. Chúa Giêsu không gọi các môn đệ trước hết để sai họ đi. Tin Mừng nói Người gọi họ “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng”. Ở với Người trước. Được sai đi sau. Trật tự ấy không thể đảo. Nếu bỏ phần “ở với Người”, phần “được sai đi” sẽ rất nhanh biến thành một nghề. Người ta có thể trở thành một nhà truyền thông tôn giáo rất giỏi nhưng không còn là một người môn đệ. Có thể nói về Chúa mỗi ngày mà lòng mình rất xa Chúa. Có thể giúp người khác cầu nguyện nhưng mình thì không cầu nguyện. Có thể viết những câu rất hay về khiêm nhường nhưng bên trong lại khát khao được khen. Có thể nói về sự hiệp nhất nhưng lại không chịu nổi một người khác ý. Có thể rao giảng thập giá nhưng luôn tìm cách tránh mọi hy sinh. Đây mới là điều đáng sợ.
Bởi chỉ một trái tim đã được Chúa biến đổi mới có thể trở thành khí cụ để biến đổi những trái tim khác. Chúng ta thường muốn thay đổi người khác bằng lời. Chúa lại muốn thay đổi chúng ta trước. Ta muốn người khác sống Tin Mừng. Chúa hỏi ta đã sống Tin Mừng đến đâu. Ta muốn người khác khiêm nhường. Chúa chỉ cho ta thấy sự kiêu ngạo của mình. Ta muốn người khác bớt tranh cãi. Chúa cho ta thấy những hơn thua trong lòng ta. Ta muốn người khác sống bác ái. Chúa cho ta gặp một người rất khó yêu. Ta muốn nói về tha thứ. Chúa để một vết thương cũ hiện lên. Ta muốn giảng về phó thác. Chúa cho ta đi vào một hoàn cảnh không còn kiểm soát được. Như thế, trước khi Chúa dùng lời ta nói, Người muốn dùng chính đời ta. Trước khi biến ta thành người truyền thông Tin Mừng, Người muốn biến ta thành Tin Mừng.
Và chỉ khi người môn đệ biết dừng lại trước mặt Chúa, mọi lời nói, hình ảnh hay thước phim họ thực hiện mới không còn là sản phẩm của kỹ năng nhưng trở thành hoa trái của một đời sống kết hiệp với Đức Kitô. Kỹ năng cần thiết. Giáo Hội không bao giờ cổ võ sự cẩu thả. Làm truyền thông phải học. Phải làm tốt. Phải chuyên nghiệp. Phải tôn trọng sự thật. Phải kiểm chứng thông tin. Phải biết ngôn ngữ của thời đại. Phải hiểu tâm lý con người. Phải biết cách sử dụng hình ảnh, âm thanh, chữ nghĩa cách thích hợp. Nhưng tất cả những điều ấy chỉ là phương tiện. Linh hồn của truyền thông Kitô giáo vẫn là một trái tim có Chúa. Khi trái tim ấy có Chúa, người ta sẽ biết lúc nào nên nói và lúc nào nên im. Biết điều gì nên đăng và điều gì không nên đăng. Biết một sự thật có thể nói nhưng chưa chắc lúc này nên nói. Biết một điều đúng nhưng nếu nói bằng giọng khinh miệt thì sự đúng ấy đã bị méo mó. Biết một câu chuyện có thể thu hút rất nhiều lượt xem nhưng nếu làm tổn thương phẩm giá một người thì không đáng để đổi lấy bất cứ con số nào.
Người làm truyền thông Công giáo cần học lại sự thánh thiện của nút “đăng”. Trước khi nhấn đăng một điều gì, có lẽ nên biết dừng vài giây và hỏi: điều này có thật không? Điều này có cần thiết không? Điều này có bác ái không? Điều này có giúp ích cho ai không? Điều này có làm một người vô tội bị tổn thương không? Điều này có tạo thêm chia rẽ không? Nếu Đức Giêsu ngồi bên cạnh tôi lúc này, Người có muốn tôi đăng điều này không? Chỉ vài câu hỏi ấy có thể cứu chúng ta khỏi rất nhiều sai lầm. Trong thế giới số, một lời đã nói có thể đi rất xa. Một lời sai có thể được chụp lại dù đã xóa. Một sự xúc phạm có thể ở mãi trong ký ức một người. Một tin chưa kiểm chứng có thể phá hỏng danh dự của cả một con người. Và người Kitô hữu không được quyền dùng sự nhanh nhạy của truyền thông để chậm lại trong đức ái.
Có khi truyền thông Tin Mừng lại bắt đầu từ việc biết không đăng. Không phải câu chuyện nào mình biết cũng cần kể. Không phải lỗi lầm nào của người khác cũng phải công khai. Không phải tranh luận nào mình cũng phải tham gia. Không phải lời chỉ trích nào mình cũng phải đáp lại. Có những chiến thắng trên mạng lại là thất bại trước mặt Chúa. Ta có thể thắng một cuộc tranh luận mà mất một người anh em. Có thể chứng minh mình đúng mà làm người khác không còn muốn bước vào nhà thờ. Có thể bảo vệ một giáo huấn bằng một thái độ hoàn toàn trái Tin Mừng. Chúa không cần ta bảo vệ Người bằng sự cay nghiệt. Chân lý không trở nên mạnh hơn vì ta nói lớn tiếng hơn. Tin Mừng có sức mạnh của chính Tin Mừng. Phần ta là làm chứng bằng sự thật trong tình yêu.
Không gian số cũng là nơi buộc người tông đồ học khiêm nhường. Vì người ta có thể khen mình hôm nay và quên mình ngày mai. Một bài rất tâm đắc có thể ít người đọc. Một điều mình viết rất đơn sơ lại bỗng lan tỏa. Điều ấy nhắc ta rằng ta không kiểm soát được hoa trái. Có những thời điểm lượt xem tăng làm ta vui. Có những lúc con số giảm làm ta chùng xuống. Nếu không cẩn thận, đời sống thiêng liêng sẽ bị kéo lên kéo xuống theo những con số ấy. Khi được khen thì hăng hái. Khi ít tương tác thì buồn. Khi người ta đồng ý thì bình an. Khi bị phản đối thì mất ngủ. Lúc đó ta phải tự hỏi: tôi đang phục vụ Tin Mừng hay đang phục vụ hình ảnh của chính mình? Điều làm tôi vui là người ta gặp Chúa hay người ta nhắc đến tên tôi? Nếu ngày mai Thiên Chúa muốn dùng một người khác hiệu quả hơn tôi, tôi có vui không? Nếu một điều mình làm không ai biết nhưng Chúa biết, như thế có đủ không?
Tĩnh tâm vì thế là lúc ta đặt lại tất cả trước mặt Chúa. Những thành công, nếu có, xin trả lại cho Chúa. Những thất bại, nếu có, cũng đặt trong tay Người. Những lời khen, xin đừng giữ làm của riêng. Những lời chê, xin đừng để nó lấy mất bình an. Những gì làm được, tạ ơn Chúa. Những gì chưa làm được, xin Chúa bổ túc. Những gì làm sai, can đảm nhìn nhận. Những động cơ chưa tinh tuyền, xin Chúa thanh luyện. Có thể ta bắt đầu một công việc với ý tốt nhưng dần dần ý tốt bị pha trộn. Ban đầu muốn phục vụ Chúa. Sau đó lại muốn chứng minh mình. Ban đầu muốn loan báo Tin Mừng. Sau đó lại bận tâm với việc được công nhận. Ban đầu chỉ muốn gieo một hạt giống. Sau đó lại muốn mình phải nhìn thấy mùa gặt. Tĩnh tâm là để Chúa tháo từng lớp ấy khỏi lòng ta.
Một điểm dừng… để tiếp tục lên đường. Tôi rất thích hình ảnh ấy. Điểm dừng của đời Kitô hữu không phải là dấu chấm hết. Nó giống như trạm nghỉ của người lữ khách. Dừng để uống lại nguồn nước. Dừng để xem bản đồ. Dừng để nhận ra mình đang đi lệch. Dừng để chữa một vết thương ở chân. Dừng để bỏ bớt những hành lý không cần thiết. Dừng để nhớ lại vì sao mình lên đường từ đầu. Có những người đi quá lâu đến mức quên mất lý do mình đi. Có những người phục vụ quá nhiều đến mức quên mất Đấng mình đang phục vụ. Có những người nói về Tin Mừng quá nhiều đến mức quên để Tin Mừng nói với mình. Vì vậy, Chúa cho những điểm dừng.
Có lẽ sau mỗi lần dừng lại với Chúa, người môn đệ không nhất thiết trở về với nhiều kế hoạch hơn. Có khi Chúa lại bảo mình làm ít hơn nhưng yêu nhiều hơn. Viết ít hơn nhưng cầu nguyện nhiều hơn. Nói ít hơn nhưng lắng nghe nhiều hơn. Đăng ít hơn nhưng phân định kỹ hơn. Chạy theo ít thứ hơn nhưng trung thành với điều Chúa trao hơn. Thế giới không thiếu nội dung. Thế giới đang thiếu chứng nhân. Mạng xã hội không thiếu tiếng nói. Nó đang thiếu những tiếng nói phát ra từ một tâm hồn bình an. Người ta không thiếu người chỉ cho họ phải nghĩ gì. Họ đang thiếu những người giúp họ gặp được một Thiên Chúa biết họ, hiểu họ và vẫn yêu họ.
Tôi càng thấy rõ rằng truyền thông Tin Mừng không thể tách khỏi đời sống cầu nguyện. Người ta không thể trao cho người khác điều mình không có. Nếu lòng mình không có bình an, mình sẽ truyền đi bất an. Nếu lòng đầy hơn thua, lời mình sẽ có mùi hơn thua. Nếu lòng mang cay đắng, dù nói về bác ái, người nghe vẫn cảm được cay đắng. Nếu lòng mình thật sự được Chúa an ủi, những lời mình viết sẽ có khả năng an ủi. Nếu mình đã từng được Chúa tha thứ sâu xa, cách mình nói với những người yếu đuối cũng sẽ khác. Nếu mình đã từng quỳ thật lâu trước Thập Giá và nhận ra Chúa đã kiên nhẫn với mình thế nào, mình sẽ bớt khắc nghiệt với lỗi lầm của anh em.
Điều ấy khiến tôi nghĩ rất nhiều đến Đức Giêsu. Người không có mạng xã hội. Người không có máy quay. Người không có phương tiện truyền thông theo nghĩa hôm nay. Nhưng không ai truyền thông về Thiên Chúa như Người. Người truyền thông bằng ánh mắt nhìn người phụ nữ ngoại tình mà không kết án. Bằng việc ngồi bên giếng với người phụ nữ Samari. Bằng bàn tay chạm vào người phong cùi. Bằng nước mắt trước mộ Ladarô. Bằng việc ngồi ăn với người tội lỗi. Bằng sự thinh lặng trước Philatô. Bằng lời tha thứ trên Thập Giá. Truyền thông của Đức Giêsu không chỉ là lời. Chính con người Người là sứ điệp. Có lẽ đó cũng phải là chuẩn mực cuối cùng cho mọi người làm truyền thông Công giáo: trước khi hỏi hôm nay mình sẽ đăng gì, hãy hỏi hôm nay mình sẽ sống thế nào.
Bởi vì cuối cùng, Tin Mừng mạnh nhất vẫn là một đời sống được Tin Mừng biến đổi. Một bài nói về yêu thương không bằng một hành động yêu thương. Một ngàn lời nói về khiêm nhường không bằng việc âm thầm nhận lỗi. Một video về tha thứ không bằng việc thật sự tha cho người đã làm mình đau. Một bài viết về cầu nguyện không bằng một giờ quỳ trước Nhà Tạm. Một nội dung nói về phục vụ không bằng một việc nhỏ không ai biết mình đã làm. Nếu đời sống người truyền thông và nội dung họ truyền đi cách nhau quá xa, sớm muộn người khác cũng nhận ra. Nhưng nếu hai điều ấy dần dần trở thành một, lời nói sẽ có sức nặng.
Tôi không mong mình trở thành một người làm truyền thông được nhiều người biết. Tôi chỉ mong qua những điều rất nhỏ mình làm, có người biết Chúa thêm một chút. Tôi không mong mỗi nội dung đều lan truyền. Tôi mong Lời Chúa tìm được đường đến một tâm hồn đang cần nó. Tôi không mong người ta nhớ tên người viết. Tôi mong sau khi đọc xong, họ nhớ đến Đức Giêsu. Tôi không mong giữ người ta thật lâu trước màn hình. Tôi mong đến một lúc nào đó, chính nội dung ấy khiến họ đặt điện thoại xuống, nhìn người bên cạnh, đi vào nhà thờ, mở Kinh Thánh, lặng lẽ cầu nguyện và nói: “Lạy Chúa, con đây.”
Và nếu có điều gì tôi cần xin sau một kỳ tĩnh tâm, có lẽ không phải là xin Chúa cho mình làm được nhiều hơn. Tôi xin Người cho mình thuộc về Người nhiều hơn. Xin cho khi nói về Chúa, tôi đã nói với Chúa trước. Khi viết về Lời Chúa, tôi đã để Lời ấy xét xử và chữa lành chính mình trước. Khi mời người khác trở về, tôi cũng đang trở về. Khi kêu gọi người khác hoán cải, chính tôi cũng để Chúa hoán cải. Khi nói về thinh lặng, tôi biết thinh lặng. Khi nói về cầu nguyện, tôi thật sự cầu nguyện. Khi nói về Thập Giá, tôi dám ôm lấy những thập giá Chúa gửi trong đời mình. Chỉ như thế, truyền thông mới không còn đơn thuần là việc tôi làm mà trở thành một phần của đời dâng hiến.
Có một ngày tất cả những bài viết rồi sẽ trôi xuống. Những video hôm nay còn được xem rồi cũng sẽ bị thay thế bằng vô vàn nội dung mới. Những thuật toán sẽ thay đổi. Những nền tảng hôm nay rất phổ biến có thể một ngày biến mất. Những con số hôm nay làm ta vui rồi cũng chẳng còn nghĩa gì. Nhưng nếu qua một lời mình viết có một người đến gần Chúa hơn, điều ấy còn lại. Nếu qua một đoạn phim có một người quyết định tha thứ, điều ấy còn lại. Nếu qua một bài chia sẻ có một người từ bỏ ý định tuyệt vọng và bắt đầu lại, điều ấy còn lại. Nếu có ai đó nhờ một lời rất nhỏ mà bước vào tòa giải tội sau nhiều năm, điều ấy thuộc về đời đời. Đó mới là “thành tựu” của truyền thông Tin Mừng.
Và như thế, một điểm dừng không làm tôi muốn ở lại mãi nơi điểm dừng. Trái lại, điểm dừng làm tôi muốn lên đường trở lại với một trái tim khác. Vẫn công việc ấy. Vẫn những con chữ ấy. Vẫn máy quay ấy. Vẫn màn hình ấy. Vẫn những nền tảng ấy. Nhưng người làm đã khác đi một chút. Nhẹ hơn. Tự do hơn. Bình an hơn. Ít muốn chứng minh hơn. Ít chạy theo con số hơn. Cẩn trọng hơn với mỗi lời nói. Thương con người hơn. Sợ làm tổn thương người khác hơn. Và trên hết, ý thức rằng mình chỉ là người gieo. Hạt giống là Lời Chúa. Cánh đồng là lòng người. Mùa gặt thuộc về Thiên Chúa.
Một điểm dừng… để tiếp tục lên đường. Nhưng lần lên đường này, tôi không muốn đi trước Chúa. Tôi muốn đi sau Người. Không muốn bắt Chúa chúc lành cho những kế hoạch tôi đã tự quyết. Tôi muốn hỏi Người: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Không muốn chỉ đưa Chúa vào nội dung của mình. Tôi muốn chính Chúa trở thành nguồn mạch của mọi điều mình làm. Không muốn mang Chúa đến cho người khác như thể mình sở hữu Người. Tôi chỉ muốn làm một người dẫn đường nhỏ bé, chỉ cho họ thấy rằng Người vẫn đang ở đó, vẫn chờ, vẫn gọi, vẫn yêu.
Thế giới số sẽ còn thay đổi rất nhanh. Công nghệ sẽ còn đi xa. Trí tuệ nhân tạo sẽ còn tạo ra những điều chúng ta hôm nay chưa tưởng tượng được. Cách con người tiếp nhận thông tin sẽ tiếp tục thay đổi. Nhưng có một điều không thay đổi: con người vẫn cần được yêu. Con người vẫn cần sự thật. Con người vẫn sợ cô độc. Vẫn mang những câu hỏi về ý nghĩa đời mình. Vẫn có những đêm không biết bám víu vào đâu. Và Đức Kitô vẫn là câu trả lời sâu xa nhất cho cơn khát ấy. Vì vậy, dù phương tiện đổi thay thế nào, sứ mạng của người loan báo Tin Mừng vẫn là đưa người ta đến gặp Người.
Xin cho tôi biết sử dụng không gian số nhưng không để không gian số chiếm lấy tâm hồn mình. Xin cho tôi biết dùng công nghệ nhưng đừng để công nghệ làm tôi mất khả năng thinh lặng. Xin cho tôi biết nói với hàng ngàn người nhưng vẫn đủ kiên nhẫn lắng nghe một người. Xin cho tôi có thể hiện diện trên mạng mà không đánh mất sự hiện diện trước mặt Chúa. Xin cho tôi có thể viết rất nhiều về Tin Mừng nhưng quan trọng hơn, xin cho đời tôi mỗi ngày trở nên một trang Tin Mừng nhỏ. Xin cho những điều tôi làm không kéo người ta về phía mình, nhưng nhẹ nhàng dẫn họ về phía Đức Kitô.
Và rồi, sau những ngày dừng chân, tôi lại lên đường. Không phải vì đã hiểu hết mọi sự. Không phải vì đã trở nên hoàn thiện. Không phải vì những yếu đuối đã biến mất. Tôi lên đường vì biết rằng Chúa vẫn đang đi trước. Tôi lên đường với những giới hạn của mình nhưng không còn quá sợ giới hạn ấy. Tôi lên đường với những công việc còn dang dở, nhưng lòng bình an hơn vì hiểu rằng công trình là của Chúa. Tôi lên đường, tiếp tục viết, tiếp tục nói, tiếp tục làm những thước phim, tiếp tục bước vào cánh đồng truyền giáo không biên giới này, nhưng tôi muốn mang theo trong lòng một xác tín đơn sơ: trước khi là người làm truyền thông, tôi phải là người môn đệ; trước khi nói về Đức Kitô, tôi phải ở với Đức Kitô; trước khi mong Lời Chúa chạm đến người khác, tôi phải để Lời ấy chạm đến tôi.
Và có lẽ, đó chính là ý nghĩa đẹp nhất của một điểm dừng: dừng lại không phải để thôi lên đường, nhưng để khi lên đường, ta biết mình đang đi với Ai; dừng lại không phải để trốn khỏi sứ mạng, nhưng để tìm lại linh hồn của sứ mạng; dừng lại không phải vì mệt mỏi với cánh đồng, nhưng để nghe lại tiếng Chủ mùa gặt; dừng lại không phải để thu mình, nhưng để trái tim được mở rộng hơn trước những con người mà Chúa sẽ gửi đến. Một điểm dừng trong thinh lặng. Một điểm dừng dưới chân Chúa. Một điểm dừng để trái tim được chỉnh lại nhịp với trái tim Đức Kitô. Rồi từ nơi ấy, lại tiếp tục lên đường, không bằng sự náo động của một người muốn làm nên điều lớn lao, nhưng bằng sự bình an của một người biết mình đang được sai đi.
Lm. Anmai, CSsR
KHOẢNG LẶNG ĐỂ TRỞ VỀ VỚI CHÚA VÀ TRỞ THÀNH CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM HY VỌNG
Có những lúc trong đời, Thiên Chúa không đưa chúng ta đi nhanh hơn, không mở ra trước mắt chúng ta thêm một công việc mới, cũng không trao vào tay chúng ta một chương trình lớn lao hơn, nhưng Người nhẹ nhàng kéo chúng ta ra khỏi những tất bật quen thuộc để đặt chúng ta vào một khoảng lặng. Thoạt nhìn, khoảng lặng ấy có thể khiến ta tưởng rằng mình đang dừng lại, đang chậm đi, đang tạm rời xa những gì vẫn được gọi là sứ vụ. Nhưng rồi khi bình tâm hơn, ta mới nhận ra rằng có những khoảng lặng không phải do mình chọn, mà chính Thiên Chúa đã dành riêng cho mình; có những lần dừng lại không phải vì hành trình đã hết, nhưng vì Chúa muốn người môn đệ biết mình đang đi đâu, đi với ai và đi vì điều gì. Với tôi, khoảng lặng ấy trở thành một ân huệ. Nó cho tôi cơ hội nhìn lại chính mình, nhìn lại những năm tháng đã đi qua, nhìn lại những công việc mình đã làm, những dự định mình đang mang, những thành công từng làm mình vui, những thất bại từng khiến mình buồn, những lời khen đã có lúc làm lòng mình ấm lên, và cả những lời phê bình có khi khiến mình thao thức rất lâu. Nhưng càng ở lại trong thinh lặng, tôi càng hiểu rằng điều quan trọng nhất không phải là những gì đã xảy ra quanh tôi, mà là điều gì đang xảy ra trong lòng tôi trước mặt Thiên Chúa. Có thể mình đã làm rất nhiều việc cho Chúa mà lòng lại ít ở với Chúa. Có thể mình đã nói rất nhiều về Tin Mừng mà chính mình chưa để Tin Mừng đi đủ sâu vào những góc tối của tâm hồn. Có thể mình đã dành rất nhiều giờ để phục vụ người khác mà lại quên dành những giờ thật sự lặng lẽ để Chúa phục vụ lại mình bằng Lời của Người, bằng sự hiện diện của Người, bằng ánh mắt yêu thương của Người. Có thể người môn đệ cứ tưởng rằng Chúa đang cần bàn tay mình, trong khi thật ra điều Chúa cần trước hết lại là trái tim mình. Và vì thế, khoảng lặng trở thành một lời gọi trở về. Trở về không phải vì đã bỏ Chúa, nhưng vì rất có thể giữa quá nhiều công việc nhân danh Chúa, ta đã vô tình đứng xa Chúa lúc nào không hay. Trở về không phải để phủ nhận tất cả những gì mình đã làm, nhưng để đặt lại mọi sự vào đúng chỗ của nó. Trở về để nhận ra rằng sứ mạng chỉ có ý nghĩa khi bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ với Đức Ki-tô; lời nói chỉ có sức nặng khi được sinh ra từ thinh lặng; việc làm chỉ có sức sống khi được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện; và người môn đệ chỉ có thể trao Chúa cho người khác khi chính mình đang mang Chúa trong lòng. Chúa Giêsu đã nói rất rõ: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” và “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sinh nhiều hoa trái” (x. Ga 15,5). Câu Lời Chúa ấy nghe qua tưởng rất quen, nhưng càng sống lâu trong đời dâng hiến, càng đi nhiều năm trên con đường sứ vụ, tôi càng thấy đó không phải chỉ là một lời khuyên đạo đức, mà là nguyên tắc sống còn của đời người môn đệ. Chúng ta không được mời gọi chỉ để làm việc cho Chúa. Chúng ta được gọi trước hết để ở với Chúa. Và chỉ từ việc ở với Chúa, chúng ta mới được sai đi. Tin Mừng kể rằng Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng”. Thứ tự ấy rất đáng để người làm sứ vụ hôm nay suy nghĩ. Ở với Người trước, được sai đi sau. Gắn bó trước, hoạt động sau. Đón nhận trước, trao ban sau. Nếu đảo thứ tự ấy, đời sứ vụ rất dễ trở thành một guồng máy. Người môn đệ vẫn làm việc, vẫn chạy, vẫn tổ chức, vẫn nói, vẫn xuất hiện, vẫn sản xuất, vẫn hoàn thành biết bao chương trình, nhưng bên trong lại dần khô cạn. Đến một lúc nào đó, ta vẫn có thể làm đúng mọi việc, nhưng không còn biết vì sao mình đang làm. Ta có thể nói rất hay về Chúa, nhưng lại không còn thấy lòng mình rung động khi đứng trước Chúa. Ta có thể mang niềm vui đến cho nhiều người, nhưng chính mình lại đánh mất niềm vui ban đầu. Ta có thể giúp người khác tìm thấy hy vọng, còn mình thì sống bằng thói quen nhiều hơn bằng xác tín. Đó là một nguy cơ rất thật, nhất là đối với những người được trao phó những công việc luôn đòi phải xuất hiện, phải đáp ứng, phải sáng tạo, phải lên tiếng và phải có mặt. Bởi vậy, có khi ân huệ lớn nhất Thiên Chúa dành cho người môn đệ không phải là thêm một cơ hội để hoạt động, mà là cho họ một khoảng lặng để được chữa lành khỏi chính cơn nghiện hoạt động của mình; không phải cho họ thêm một diễn đàn để nói, mà cho họ một căn phòng để thinh lặng; không phải thêm một đám đông để phục vụ, mà là một khoảng thời gian đủ dài để họ một mình đối diện với Chúa và với chính mình. Trong khoảng lặng ấy, nhiều câu hỏi tự nhiên hiện ra: Tôi đang sống sứ mạng hay đang chạy theo công việc? Tôi đang tìm vinh quang của Chúa hay đôi khi âm thầm tìm một chút thỏa mãn cho chính mình? Tôi có còn vui khi việc mình làm không được ai biết đến? Tôi có bình an khi người khác được thành công hơn mình? Tôi có thể tiếp tục phục vụ khi không còn lời khen, không còn sự chú ý, không còn những con số khiến mình thấy mình “có ảnh hưởng”? Nếu một ngày tất cả những gì mình đang làm phải dừng lại, liệu tôi có còn biết mình là ai trước mặt Chúa không? Những câu hỏi ấy không dễ trả lời, nhưng lại cần thiết. Bởi người môn đệ phải luôn phân biệt giữa căn tính và công việc. Công việc có thể thay đổi, sứ vụ có thể thay đổi, phương tiện có thể thay đổi, môi trường có thể thay đổi, nhưng căn tính người môn đệ thì không thay đổi: tôi là người được Chúa gọi, được Chúa yêu, được Chúa giữ lại bên Người và được Người sai đi. Nếu căn tính ấy vững, ta có thể làm nhiều mà không kiêu, làm ít mà không mặc cảm, được khen mà không bay lên, bị chê mà không gục xuống, thành công mà không tưởng mình là trung tâm, thất bại mà không nghĩ đời mình vô nghĩa. Nhưng nếu căn tính ấy không vững, mọi sự bên ngoài đều có thể trở thành cái cân đo giá trị của ta. Khi ấy, một lời khen có thể làm ta sung sướng quá mức, một lời chê có thể lấy mất bình an cả ngày; một bài viết được nhiều người đọc làm ta phấn khởi, một bài ít ai quan tâm lại làm ta tự hỏi mình có còn hữu ích hay không; một chương trình thành công khiến ta tưởng mình đang làm được việc lớn cho Chúa, còn một chương trình thất bại lại làm ta hụt hẫng như thể chính Chúa đã thất bại. Khoảng lặng giúp ta tháo gỡ những lẫn lộn ấy. Nó trả ta về với sự thật đơn sơ: giá trị của người môn đệ không nằm ở số việc đã làm, không nằm ở số người biết đến mình, không nằm ở khả năng tạo ảnh hưởng, mà nằm ở việc người ấy có ở lại trong tình yêu Đức Ki-tô hay không.
Đặc biệt, khi nhìn lại sứ mạng truyền thông mà Hội dòng trao phó, tôi càng cảm nhận rõ hơn rằng đây là một vùng truyền giáo rất đặc biệt. Chưa bao giờ con người có nhiều thông tin như hôm nay. Chỉ cần một chiếc điện thoại trong tay, người ta có thể biết chuyện đang xảy ra ở một nơi rất xa, có thể nghe một bài giảng, đọc một bài suy niệm, xem một thánh lễ, theo dõi một biến cố của Giáo Hội, biết một câu chuyện vừa xảy ra ở bên kia thế giới chỉ trong vài phút. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà thông tin không còn khan hiếm. Trái lại, con người nhiều khi bị ngập trong thông tin. Mỗi ngày có biết bao tiếng nói chen nhau để giành lấy sự chú ý. Người ta thức dậy với màn hình, làm việc bên màn hình, nghỉ ngơi cũng bên màn hình, trước khi ngủ vẫn còn nhìn màn hình. Mỗi người vừa là người nhận thông tin vừa có thể trở thành người phát thông tin. Một câu nói có thể đi rất xa. Một hình ảnh có thể chạm đến hàng triệu người. Một lời bình luận có thể nâng một người đứng dậy, nhưng cũng có thể khiến một người bị tổn thương rất lâu. Một bản tin có thể phục vụ sự thật, nhưng cũng có thể làm sự thật méo mó. Một nội dung có thể dẫn người ta đến với điều thiện, nhưng cũng có thể kích động sợ hãi, giận dữ, chia rẽ và phán xét. Giữa một thế giới như thế, tôi nhận ra rằng điều con người thiếu nhất không hẳn là thêm một nguồn thông tin. Có khi họ đã quá nhiều thông tin rồi. Điều họ thiếu là những con người giúp họ nhìn thông tin bằng đôi mắt của Tin Mừng; những con người không lợi dụng nỗi sợ của người khác để kiếm sự chú ý; không tận dụng scandal để tìm lượt xem; không biến đau khổ của một con người thành chất liệu giải trí; không biến lỗi lầm của một người thành cơ hội để cả cộng đồng ném đá; không lấy sự thật làm vũ khí để hạ nhục, nhưng dùng sự thật như ánh sáng để chữa lành. Thế giới hôm nay thiếu những chứng nhân của niềm hy vọng. Hai chữ “chứng nhân” làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Bởi truyền thông Kitô giáo không thể chỉ dừng lại ở việc nói những điều đúng. Người làm truyền thông Công giáo phải sống sao để chính cách mình nói, cách mình chọn tin, cách mình đặt tựa, cách mình sử dụng hình ảnh, cách mình phản ứng trước một biến cố, cách mình đối xử với người bất đồng, cách mình tôn trọng nhân phẩm của người đang phạm sai lầm cũng trở thành một phần của Tin Mừng. Có khi nội dung là Công giáo nhưng cách truyền đạt lại không có tinh thần của Đức Kitô. Có khi người ta nói về lòng thương xót bằng giọng điệu không thương xót. Nói về hiệp nhất nhưng cách nói lại gây chia rẽ. Nói về sự thật nhưng dùng sự thật để làm nhục người khác. Nói về Giáo Hội nhưng biến mình thành quan tòa của anh chị em. Nói về Chúa nhưng giọng nói đầy cay nghiệt. Đó là nghịch lý mà người làm truyền thông phải luôn cảnh giác nơi chính mình. Bởi chúng ta không thể rao giảng một Đức Kitô hiền lành bằng thái độ hung hăng. Không thể nói về Đấng tha thứ trong khi mình nuôi dưỡng văn hóa kết án. Không thể mời người ta gặp Chúa trong khi chính cách mình truyền thông làm họ cảm thấy bị khinh miệt, bị áp đặt hay bị làm tổn thương. Đức Kitô không chỉ là nội dung chúng ta loan báo; Người còn phải là cung cách chúng ta loan báo. Đức Kitô không chỉ nằm trong câu chữ; Người phải hiện diện trong giọng điệu. Không chỉ trong điều ta nói, mà trong cách ta nhìn con người. Không chỉ trong chân lý ta bảo vệ, mà trong tình yêu ta dành cho người chưa hiểu chân lý ấy. Chân lý Kitô giáo không bao giờ tách khỏi tình yêu, bởi chính Đức Kitô là Chân Lý và Người cũng là Tình Yêu đến cùng. Cho nên người truyền thông Công giáo đích thực không phải là người thắng được nhiều cuộc tranh luận, nhưng là người giúp con người gặp được ánh sáng mà không bị xúc phạm phẩm giá; không phải là người nói câu cuối cùng, mà là người mở ra một cánh cửa để người khác còn muốn tiếp tục tìm kiếm; không phải người khiến đám đông vỗ tay, nhưng là người giúp một tâm hồn đang thất vọng có thể tin rằng ngày mai vẫn còn ánh sáng. Trong bối cảnh đó, niềm hy vọng không phải là thứ ngôn ngữ ngọt ngào để né tránh sự thật. Hy vọng Kitô giáo không phải là nói rằng mọi sự đều tốt khi thực tế đang rất đau. Hy vọng cũng không phải là che giấu điều xấu, bỏ qua bất công hay giả vờ rằng không có khủng hoảng. Người chứng nhân của niềm hy vọng là người dám nhìn thẳng vào bóng tối nhưng không để bóng tối có tiếng nói cuối cùng. Là người dám nói về vết thương nhưng đồng thời chỉ cho người ta thấy vẫn còn con đường chữa lành. Là người dám nói về tội nhưng không quên nói về lòng thương xót. Dám nói về thất bại nhưng không biến thất bại thành bản án cuối cùng của một đời người. Dám nhìn vào một Giáo Hội có những vết thương nhưng vẫn yêu Giáo Hội bởi tin rằng Chúa Thánh Thần chưa bao giờ bỏ Giáo Hội. Dám nhìn một con người đang sa ngã mà không đồng hóa họ với chính lỗi lầm của họ. Dám tin rằng nơi một tâm hồn tưởng đã cằn cỗi, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh mầm sống. Chứng nhân hy vọng không rao bán ảo tưởng. Họ trao một niềm xác tín đã được trả giá bằng Thập Giá và được xác nhận bằng ngôi mộ trống. Chính vì vậy, người làm truyền thông Kitô giáo cần mang trong mình một ánh nhìn Phục Sinh. Không phải ánh nhìn ngây thơ, nhưng là ánh nhìn đã đi qua chiều thứ Sáu Tuần Thánh mà vẫn tin vào bình minh ngày thứ nhất trong tuần. Giữa biết bao nội dung dễ gây hoang mang, sợ hãi, giận dữ và nghi kỵ, người môn đệ được mời gọi trở thành người gieo bình an. Không phải thứ bình an dễ dãi, mà là bình an của người biết Thiên Chúa đang làm việc ngay cả khi mắt mình chưa thấy. Có lẽ thế giới hôm nay không cần thêm những tiếng hét. Nó cần những tiếng nói đủ sâu để người ta dừng lại. Không cần thêm những bản án, nhưng cần những lời giúp người ta tìm đường quay về. Không cần thêm những cuộc săn lùng sai phạm, nhưng cần những người can đảm đồng hành với người yếu đuối. Không cần thêm những người kích động đám đông, nhưng cần những người biết giữ cho một con người khỏi bị đám đông nghiền nát. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu chưa bao giờ xem con người như một vấn đề cần giải quyết. Người gặp từng người như một mầu nhiệm cần được yêu thương. Người dừng lại với người phụ nữ Samari. Người ngước nhìn ông Dakêu. Người để người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Người hỏi anh mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Người hỏi người bệnh ở hồ Bếtdatha: “Anh có muốn khỏi bệnh không?” Người không áp đặt câu trả lời trước khi nghe tiếng lòng của con người. Chính cách Chúa gặp gỡ con người trở thành mẫu mực cho truyền thông Kitô giáo. Truyền thông đích thực trước hết là một cuộc gặp gỡ. Đằng sau mỗi tài khoản là một con người. Đằng sau một bình luận có thể là một tâm hồn đang tổn thương. Đằng sau một lời phản ứng gay gắt có thể là nhiều năm thất vọng. Đằng sau một câu hỏi tưởng như chống đối đức tin có khi lại là một người đang đau đớn đi tìm Thiên Chúa mà chưa biết cách diễn tả. Nếu chỉ nhìn chữ mà không nhìn người, ta rất dễ trả lời đúng nhưng lại làm tổn thương. Nếu chỉ lo bảo vệ lập trường mà quên người đang đứng trước mặt mình, truyền thông sẽ trở thành một cuộc đối đầu. Còn nếu biết nhìn người khác bằng ánh mắt của Đức Kitô, ta sẽ học được cách lắng nghe trước khi trả lời, hiểu trước khi phán xét, tôn trọng trước khi thuyết phục, và yêu thương ngay cả khi không đồng ý. Có những người sẽ không nhớ nội dung mình đã nói, nhưng họ sẽ nhớ cách họ được đối xử khi nói chuyện với mình. Có những người chưa thể tin điều mình tin, nhưng họ có thể bắt đầu tin rằng Tin Mừng là điều đáng tìm hiểu nếu họ gặp một người Kitô hữu biết tôn trọng họ. Có những cuộc loan báo Tin Mừng không bắt đầu bằng một bài giáo lý, nhưng bằng một thái độ tử tế. Không bắt đầu bằng một lập luận thần học, nhưng bằng một người chịu ngồi nghe một người khác kể hết nỗi đau của mình. Không bắt đầu bằng việc chứng minh ai đúng ai sai, nhưng bằng việc để người kia biết rằng họ không bị bỏ rơi. Chúa Giêsu đã làm như thế. Người không biến những cuộc gặp gỡ thành diễn đàn để thể hiện mình. Người để con người được gặp chính mình trong ánh sáng của Thiên Chúa.
Tôi cũng hiểu rằng truyền thông Công giáo không thể chỉ chạy theo logic của thế giới số. Thế giới số luôn hỏi: nội dung này có bao nhiêu người xem, bao nhiêu lượt thích, bao nhiêu lượt chia sẻ, bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu phút xem, khả năng lan truyền đến đâu. Những con số ấy không phải vô nghĩa. Người làm truyền thông cần hiểu phương tiện, cần học hỏi kỹ năng, cần biết cách trình bày sao cho Tin Mừng có thể đến được với nhiều người hơn. Sự cẩu thả không bao giờ là dấu chỉ của lòng đạo đức. Làm việc cho Chúa cũng cần chuyên nghiệp, cần học hỏi, cần sáng tạo, cần trách nhiệm. Nhưng vấn đề xuất hiện khi phương tiện trở thành mục đích, khi người phục vụ Tin Mừng bắt đầu đánh giá hoa trái sứ vụ chỉ bằng những con số mà nền tảng cung cấp. Một bài viết ít người đọc không có nghĩa là nó không sinh hoa trái. Một video chỉ chạm đến một người đúng lúc người ấy đang tuyệt vọng có khi còn quý hơn một video được hàng trăm ngàn lượt xem nhưng không thay đổi được một trái tim nào. Một lời nguyện âm thầm đến được với một người đang nằm trong bệnh viện, một câu Lời Chúa giúp một gia đình đang xung đột biết dừng lại, một bài chia sẻ khiến một người nhiều năm xa Chúa muốn trở về với bí tích Hòa Giải, một nội dung giúp một người đang căm giận có can đảm tha thứ – những điều ấy không một thuật toán nào đo hết được. Thiên Chúa có những cách tính khác chúng ta. Người không hỏi hạt giống đã được bao nhiêu người vỗ tay khi rơi xuống đất. Người chỉ hỏi nó có chịu chết đi để sinh hoa trái hay không. Chính vì thế, một trong những cám dỗ kín đáo nhất của truyền thông hôm nay là biến sứ vụ thành cuộc tìm kiếm sự chú ý. Người ta có thể bắt đầu rất trong sáng, chỉ muốn làm cho Chúa được biết đến; nhưng dần dần, vì những cơ chế của mạng xã hội, người làm truyền thông có thể không nhận ra rằng mình đang ngày càng cần phản ứng của đám đông để cảm thấy công việc có ý nghĩa. Ta dễ vui hơn khi được khen, dễ sốt ruột khi ít người xem, dễ chọn những chủ đề gây tranh cãi vì biết sẽ có nhiều tương tác, dễ đặt những cái tựa mạnh hơn sự thật cho phép, dễ nhấn vào điều gây sốc thay vì điều giúp người ta trưởng thành. Khi ấy, Tin Mừng có nguy cơ trở thành sản phẩm, sứ vụ trở thành thương hiệu, và người môn đệ trở thành người xây hình ảnh cho chính mình. Khoảng lặng trước Chúa giúp ta nhìn thấy những cám dỗ tinh tế đó. Không phải để tự kết án, nhưng để thanh luyện động cơ. Tôi phải luôn hỏi mình: nếu không ai biết tôi là người đã làm nội dung này, tôi còn vui không? Nếu tên mình bị xóa khỏi bài viết, tôi còn muốn bài viết ấy lan tỏa không? Nếu một người khác được khen vì công việc mình âm thầm góp phần thực hiện, lòng mình có bình an không? Nếu một ngày Hội dòng trao sứ vụ này cho người khác, tôi có thể vui vẻ rời khỏi nó không? Những câu hỏi nhỏ đó nhiều khi chạm tới chỗ sâu nhất của tự do nội tâm. Bởi phục vụ chỉ thật sự là phục vụ khi ta sẵn sàng để công việc thuộc về Chúa, chứ không phải để Chúa trở thành lý do cho công việc thuộc về mình. Người môn đệ phải học vui khi mình nhỏ đi để Chúa lớn lên. Gioan Tẩy Giả đã nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Có lẽ đó cũng là linh đạo rất cần cho người làm truyền thông. Hình ảnh của mình có thể nhỏ lại, nhưng hình ảnh Đức Kitô phải lớn lên. Tên mình có thể ít được nhắc đến, nhưng tên Chúa phải được yêu mến hơn. Người ta có thể quên mình, nhưng nếu họ nhớ một câu Lời Chúa và nhờ đó sống tốt hơn, sứ vụ đã có ý nghĩa. Có khi người môn đệ phải can đảm biến mất sau điều mình đã làm. Hạt muối hòa tan thì món ăn mới có vị. Men không đứng riêng ra để được nhìn thấy; nó biến mất trong bột để cả khối bột dậy lên. Ánh sáng không chiếu vào chính nó; ánh sáng giúp người khác nhìn thấy đường. Nếu truyền thông Công giáo muốn trở thành Tin Mừng, người làm truyền thông cũng phải mang linh đạo của muối, men và ánh sáng: hiện diện thật sự nhưng không chiếm trung tâm; tác động sâu nhưng không nhất thiết phải được nhìn thấy; làm cho người khác gặp Chúa hơn là gặp mình. Điều ấy rất khó trong một nền văn hóa luôn khuyến khích con người xây dựng hình ảnh cá nhân. Nhưng chính vì khó nên nó càng trở thành chứng tá. Thế giới cần nhìn thấy những người có thể làm việc lớn mà vẫn sống khiêm nhường; có thể có ảnh hưởng mà không sống vì ảnh hưởng; có thể có tiếng nói mà không nghiện tiếng vỗ tay; có thể được nhiều người biết mà vẫn biết mình chỉ là người đầy tớ vô dụng đã làm điều phải làm.
Khoảng lặng cũng giúp tôi hiểu lại ý nghĩa của hoa trái. Chúa không nói: “Ai làm nhiều việc sẽ sinh nhiều hoa trái.” Người nói: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sinh nhiều hoa trái.” Như vậy, hoa trái không phải trước hết là thành tích của cành, mà là kết quả của việc cành còn gắn với cây. Cành không cần căng thẳng để chứng minh mình có thể sinh quả. Nó chỉ cần đừng tách khỏi thân cây. Nhựa sống âm thầm đi qua nó, rồi đến mùa, hoa trái xuất hiện. Hình ảnh ấy đem lại một sự bình an rất lớn. Người môn đệ không cần sống trong nỗi lo âu phải liên tục chứng minh sự hữu ích của mình. Chúng ta chỉ cần trung thành ở lại. Chính Chúa làm phần còn lại. “Ở lại” không phải là thụ động. Ở lại là cầu nguyện khi không thấy cảm xúc. Ở lại là trung thành với Thánh lễ, với Lời Chúa, với đời sống cộng đoàn, với những bổn phận nhỏ bé hằng ngày. Ở lại là không bỏ Chúa khi đời sứ vụ khô khan. Ở lại là vẫn ngồi trước Nhà Tạm khi trong đầu còn đầy việc chưa xong. Ở lại là dám tắt màn hình để tâm hồn có thể mở ra trước Thiên Chúa. Ở lại là để Chúa nói trước khi mình nói. Ở lại là để Chúa nhìn mình trước khi mình nhìn thế giới. Ở lại là để cho Lời Chúa chất vấn những điều mình vẫn tưởng là đúng. Ở lại là để Thánh Thần sửa lại những động cơ pha trộn giữa yêu Chúa và yêu mình, giữa phục vụ và tìm khẳng định, giữa nhiệt thành và hiếu thắng. Ở lại đôi khi đau, bởi trong thinh lặng, ta không còn nhiều thứ để che chắn cho mình. Khi hoạt động, ta có thể trốn khỏi chính mình bằng công việc. Khi thinh lặng, những tiếng nói bên trong hiện ra. Ta thấy những vết thương chưa lành, những tự ái vẫn còn, những lần mình không được công nhận vẫn làm mình buồn, những người mình chưa tha thứ, những tham vọng được khoác áo đạo đức, những sợ hãi mình chưa dám gọi tên. Nhưng chính tại đó, Chúa gặp ta. Chúa không chờ ta hoàn hảo mới yêu. Người chỉ cần ta thật. Người không chữa một con người giả vờ mạnh mẽ. Người chữa người biết thú nhận mình đang yếu. Người không biến đổi một người luôn nghĩ mình đúng. Người biến đổi người dám nói: “Lạy Chúa, xin chỉ cho con thấy điều con chưa thấy.” Khoảng lặng trở thành nơi những lớp mặt nạ từ từ rơi xuống. Người môn đệ thôi phải đóng vai người luôn biết câu trả lời. Có lúc chỉ còn biết thưa: “Lạy Chúa, con không biết. Xin Chúa dạy con.” Và kỳ lạ thay, chính lúc không còn phải chứng minh mình mạnh, ta bắt đầu được mạnh trong Chúa. Chính lúc không còn cố chứng minh mình hữu ích, ta bắt đầu trở nên khí cụ hữu ích hơn. Chính lúc ta nhận ra mình nghèo, Chúa mới có chỗ để đặt kho tàng của Người vào. Có lẽ vì thế, những người thực sự có chiều sâu thiêng liêng thường không nói quá nhiều về mình. Họ đã đứng đủ lâu trước Thiên Chúa để biết mọi sự là ân sủng. Họ không cần tranh phần hơn, vì biết tất cả đều thuộc về Chúa. Họ không dễ kết án, bởi đã nhìn thấy sự yếu đuối của chính mình. Họ không vội trả lời, bởi đã học biết giá trị của thinh lặng. Họ không cần làm cho người khác thấy mình thánh thiện, vì chỉ cần Chúa biết họ là đủ. Một người như thế bước vào truyền thông sẽ mang theo một khí hậu khác. Nội dung của họ có thể không ồn ào, nhưng có sức ở lại. Lời họ có thể không sắc bén theo nghĩa gây sốc, nhưng lại xuyên sâu vì phát xuất từ một trái tim đã được Lời Chúa cắt tỉa. Họ không cần liên tục tạo cảm xúc mạnh; chỉ cần nói điều thật bằng tình yêu. Và điều thật được nói trong tình yêu luôn có con đường riêng để đến với tâm hồn.
Tôi cũng nhận ra rằng người làm truyền thông phải thường xuyên để Chúa thanh luyện chính cái nhìn của mình. Bởi chúng ta không chỉ truyền tải điều mình biết; nhiều khi chúng ta truyền tải cả con người mình mà không hay. Một tâm hồn đầy bình an sẽ truyền bình an. Một tâm hồn chất chứa giận dữ rất dễ truyền giận dữ, dù đề tài đang nói có vẻ đạo đức. Một người hay nghi ngờ sẽ nhìn mọi sự bằng nghi ngờ và khiến người nghe cũng nghi ngờ. Một người bị tổn thương mà chưa chữa lành có thể dùng truyền thông để phản ứng với chính những vết thương của mình. Một người thích hơn thua có thể biến việc bảo vệ đức tin thành chiến trường. Vì thế, việc quan trọng trước khi truyền thông là để Chúa truyền thông với mình. Trước khi đưa một lời ra ngoài, phải để Lời đi vào trong. Trước khi phản ứng với một biến cố, phải hỏi Chúa muốn mình nhìn biến cố ấy thế nào. Trước khi nói về lỗi lầm của người khác, phải nhớ những lần Chúa đã kiên nhẫn với lỗi lầm của mình. Trước khi viết một câu có thể làm ai đó đau, phải tự hỏi liệu Đức Kitô có nói câu ấy theo cách ấy không. Không phải vì ta sợ nói sự thật, nhưng vì sự thật của Chúa luôn nhằm cứu người, không nhằm nghiền nát người. Chúa Giêsu có lúc nói rất mạnh. Người gọi tên sự giả hình, đối diện bất công, vạch trần việc biến nhà Cha thành nơi buôn bán. Nhưng ngay cả sự mạnh mẽ ấy cũng phát xuất từ tình yêu cứu độ. Người không hạ nhục để cảm thấy mình cao hơn. Người sửa dạy để mở đường cho hoán cải. Đây là tiêu chuẩn rất khó nhưng rất đẹp cho truyền thông Công giáo: điều ta nói có mở đường cho người khác trở về không, hay chỉ đẩy họ sâu hơn vào chỗ bị kết án? Ta có làm người có lỗi thấy mình vẫn còn một con đường để đứng lên không? Ta có thể gọi sai là sai mà vẫn giúp người sai tin rằng họ không bị loại khỏi tình yêu của Thiên Chúa không? Đó chính là nghệ thuật của lòng thương xót. Thế giới số thường chia con người thành hai nhóm rất nhanh: phe đúng và phe sai, người tốt và người xấu, người đáng bênh và người đáng loại trừ. Tin Mừng thì khác. Tin Mừng phân biệt rất rõ tội và người tội lỗi. Tội cần được gọi tên, nhưng người tội lỗi cần được cứu. Điều sai cần được sửa, nhưng người sai vẫn phải được tôn trọng. Chính tôi cũng là người đã nhiều lần sai mà vẫn được Chúa kiên nhẫn. Nhớ điều đó sẽ làm giọng nói của người truyền thông dịu lại. Không phải yếu đi, mà là có chiều sâu hơn. Có những lời càng nhỏ nhẹ càng mạnh. Có những sự thật càng được nói với lòng thương xót càng có khả năng đi xa. Một người đang bị hàng ngàn tiếng nói kết án có thể không cần thêm một tiếng kết án nữa. Họ có thể cần một tiếng nói nói rằng: điều anh làm là sai, nhưng đời anh chưa kết thúc. Có thể cần một người nhắc rằng: Chúa không đồng ý với tội của anh, nhưng Chúa vẫn chờ anh trở về. Đó chính là niềm hy vọng. Và đó là điều truyền thông Công giáo phải khác với truyền thông chỉ tìm kiếm phản ứng.
Trong những ngày được Chúa cho dừng lại, tôi càng thấy cần xin một ơn rất căn bản: ơn giữ trái tim mình thuộc về Chúa. Bởi điều đáng sợ nhất không phải là mình làm ít, mà là làm nhiều nhưng lòng dần xa Chúa. Không phải là một nội dung thất bại, mà là sứ vụ thành công nhưng linh hồn người làm sứ vụ lại khô héo. Không phải là người ta không biết đến mình, mà là được rất nhiều người biết trong khi mình ngày càng ít biết Chúa hơn. Không phải là bị người khác quên, mà là trong lúc cố để mình khỏi bị quên, ta quên mất Đấng đã gọi mình. Câu hỏi cuối cùng của đời người môn đệ không phải là: “Con đã có bao nhiêu người theo dõi?” nhưng có lẽ là: “Con có theo Thầy đến cùng không?” Không phải: “Con đã làm được bao nhiêu chương trình?” nhưng là: “Trong tất cả những chương trình ấy, con có yêu Thầy hơn không?” Không phải: “Bao nhiêu người đã biết tên con?” mà là: “Qua đời con, có ai yêu danh Chúa hơn không?” Nếu một ngày mọi thiết bị đều tắt, mọi tài khoản đều biến mất, mọi bài viết không còn ai tìm thấy, mọi video không còn ai xem, thì điều còn lại sẽ là gì? Chỉ còn một điều: tương quan của ta với Đức Kitô và những gì tình yêu ấy đã sinh ra trong đời người khác. Cho nên, khoảng lặng không lấy tôi ra khỏi sứ mạng. Trái lại, nó đưa tôi trở lại trung tâm của sứ mạng. Trung tâm ấy không phải là truyền thông. Trung tâm ấy là Đức Kitô. Truyền thông chỉ là một con đường. Đức Kitô mới là Đích. Nội dung chỉ là phương tiện. Cuộc gặp gỡ mới là mục tiêu. Lượt xem chỉ là con số. Một tâm hồn được đánh động mới là hoa trái. Công nghệ có thể thay đổi từng ngày. Nền tảng hôm nay còn, ngày mai có thể mất. Cách con người tiếp nhận thông tin có thể hoàn toàn khác chỉ sau vài năm. Nhưng trái tim con người thì vẫn khát điều đã khát từ thuở ban đầu: được yêu, được hiểu, được tha thứ, được biết cuộc đời mình có ý nghĩa, được hy vọng rằng đau khổ không phải tiếng nói cuối cùng, và được gặp một tình yêu lớn hơn tất cả những gì mình có thể tự tạo ra. Đó là nơi Tin Mừng luôn mới. Đức Giêsu Kitô vẫn là câu trả lời cho cơn khát sâu nhất ấy, không phải như một công thức, mà như một Con Người sống động. Và người làm truyền thông Công giáo chỉ thực sự làm tròn sứ mạng khi giúp người khác đi qua nội dung để gặp Người. Nếu sau khi xem một video, người ta chỉ nhớ người nói, sứ vụ vẫn còn thiếu điều gì đó. Nếu sau khi đọc một bài, người ta chỉ thấy tác giả viết hay, vẫn chưa đủ. Nhưng nếu một câu nào đó khiến họ muốn mở Tin Mừng; nếu một hình ảnh khiến họ muốn cầu nguyện; nếu một chia sẻ giúp họ gọi điện xin lỗi người thân; nếu một lời chứng khiến họ can đảm bước vào nhà thờ sau nhiều năm xa cách; nếu một bản tin giúp họ cầu nguyện cho người đang đau khổ thay vì tò mò; nếu một cuộc đối thoại làm họ bớt căm giận; nếu một nội dung khiến họ tắt màn hình và quỳ xuống trước Chúa, khi ấy truyền thông đã đi đến điểm đẹp nhất của nó. Người truyền thông Kitô giáo không giữ người ta trước màn hình càng lâu càng tốt. Người ấy phải đủ khiêm nhường để dẫn người ta ra khỏi màn hình mà bước vào một cuộc gặp gỡ thật: với Thiên Chúa, với gia đình, với cộng đoàn, với người nghèo, với người đang cần được lắng nghe, với chính lương tâm mình. Có một nghịch lý đẹp ở đây: thành công của truyền thông Tin Mừng đôi khi chính là lúc người xem không còn cần nhìn màn hình nữa, bởi họ đã được đánh động để đi sống điều vừa nghe. Một bài về tha thứ thành công khi người ta đứng dậy đi làm hòa. Một bài về cầu nguyện thành công khi người ta đặt điện thoại xuống và bắt đầu cầu nguyện. Một bài về lòng bác ái thành công khi người ta bước ra khỏi căn phòng của mình để thăm một người cô đơn. Một bài về Thánh Thể thành công khi người ta muốn đến với Thánh lễ. Một bài về gia đình thành công khi một người cha quay về ngồi ăn cơm với con. Khi ấy, nội dung đã hoàn thành sứ mạng và có thể lùi lại. Tin Mừng đã bắt đầu đi bằng đôi chân của một con người.
Có lẽ điều đẹp nhất tôi nhận được từ khoảng lặng này là sự xác tín rằng tôi không cần trở thành một người làm được mọi sự. Tôi chỉ cần trở thành người để Chúa có thể làm điều Người muốn qua mình. Hai điều ấy rất khác nhau. Khi nghĩ mình phải làm được mọi sự, ta dễ căng thẳng, dễ lo, dễ so sánh, dễ mệt mỏi và dễ thất vọng. Khi biết mình chỉ là khí cụ, ta học bình an hơn. Khí cụ không chọn mình phải vang lên ở đâu; người nghệ sĩ chọn. Cây bút không quyết định mình sẽ viết câu nào; bàn tay người viết quyết định. Người môn đệ cũng thế. Chúng ta không cần biết toàn bộ kế hoạch. Chúng ta chỉ cần ở trong bàn tay Chúa. Nếu hôm nay Chúa dùng mình để nói, hãy nói. Nếu ngày mai Chúa muốn mình thinh lặng, hãy thinh lặng. Nếu Chúa cho công việc mình lan rộng, hãy tạ ơn. Nếu Chúa để nó nhỏ bé, cũng tạ ơn. Nếu Chúa cho một mùa gặt, hãy cúi xuống biết mình chỉ là người được sai đến. Nếu Chúa cho một mùa gieo hạt mà không được thấy kết quả, vẫn trung thành gieo. Có những hạt giống phải nhiều năm sau mới nảy mầm. Có những câu nói hôm nay ta tưởng người nghe đã quên, nhưng mười năm sau Chúa có thể dùng nó để đánh thức họ. Chúng ta không phải là chủ mùa gặt. Chúng ta chỉ là người gieo. Và bình an lớn nhất của người gieo là biết mảnh đất thuộc về Chúa, hạt giống là của Chúa, mưa nắng cũng do Chúa, còn mình chỉ cần trung thành với phần việc được giao. Điều đó giải thoát người làm truyền thông khỏi áp lực phải liên tục tạo ra “kết quả”. Ta có thể làm việc rất nghiêm túc mà lòng vẫn nhẹ. Có thể chuẩn bị rất kỹ mà không xem kết quả như quyền sở hữu. Có thể mong nội dung đến được nhiều người mà không để con số quyết định niềm vui của mình. Có thể sử dụng mọi kỹ thuật tốt nhất của thời đại mà không làm nô lệ cho thuật toán. Có thể bước vào thế giới số mà lòng vẫn cắm rễ trong cõi thinh lặng của Thiên Chúa. Tôi nghĩ đó là hình ảnh đẹp của người thừa sai hôm nay: một tay chạm vào thế giới rất nhanh của công nghệ, nhưng trái tim lại neo thật sâu trong Đức Kitô. Nếu chỉ có công nghệ mà không có chiều sâu, người ta nhanh chóng trở thành người sản xuất nội dung. Nếu chỉ có chiều sâu mà không hiểu ngôn ngữ của thời đại, sứ điệp tốt có thể không đến được với người cần nghe. Sứ mạng đòi cả hai, nhưng thứ tự không thể đảo: trước hết là một đời sống thuộc về Chúa, rồi từ đó mới dùng mọi khả năng để phục vụ Người. Người truyền thông Công giáo phải vừa học kỹ thuật, vừa học quỳ gối. Vừa hiểu thuật toán, vừa hiểu Tin Mừng. Vừa biết kể chuyện, vừa biết thinh lặng. Vừa biết nói sao cho người ta nghe, vừa biết nghe điều Chúa muốn mình nói. Vừa bước nhanh với thời đại, vừa không để thời đại kéo mình khỏi nhịp bước của Đức Kitô. Đây là cuộc quân bình không bao giờ đạt một lần là xong. Mỗi ngày đều phải trở lại. Mỗi ngày đều phải hỏi lại: tôi đang dùng phương tiện hay phương tiện đang dùng tôi? Tôi đang phục vụ Tin Mừng hay đang dần biến Tin Mừng thành công cụ cho một nhu cầu nào đó của chính mình? Tôi có còn đủ tự do để tắt máy khi đến giờ cầu nguyện? Tôi có thể im lặng trước một cuộc tranh luận đang nóng nếu biết rằng tham gia chỉ làm tăng chia rẽ? Tôi có thể không đăng một nội dung dù biết nó sẽ rất nhiều lượt xem nếu nội dung ấy có nguy cơ làm tổn thương phẩm giá một người? Tôi có đủ chậm để kiểm chứng trước khi chia sẻ một tin? Tôi có đủ khiêm nhường để đính chính khi mình sai? Tôi có đủ bác ái để xóa một câu mình viết trong lúc nóng giận? Tôi có đủ tự do để không phải nói về mọi chuyện? Những điều ấy cũng là khổ chế của người thừa sai trên không gian số. Ngày xưa, nhà truyền giáo phải chịu nắng, chịu rét, chịu đường xa. Người truyền giáo hôm nay có một loại khổ chế khác: khổ chế khỏi nhu cầu phải phản ứng ngay; khổ chế khỏi ham muốn được chú ý; khổ chế khỏi cám dỗ nói khi chưa đủ hiểu; khổ chế khỏi việc biến mọi biến cố thành “nội dung”; khổ chế khỏi việc xem người khác như đối tượng tương tác. Nếu không có đời sống nội tâm đủ mạnh, thế giới số sẽ dễ nuốt người thừa sai vào nhịp của nó.
Và rồi cuối cùng, khoảng lặng đưa tôi đến một lời cầu nguyện rất đơn sơ: Lạy Chúa, xin đừng để con làm việc cho Chúa nhiều đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Xin đừng để con nói về Chúa rất hay nhưng lại nghe tiếng Chúa rất ít. Xin đừng để con có thể chạm đến nhiều người mà trái tim mình lại ngày càng xa Đấng đã gọi con. Xin đừng để con tìm cách làm cho Lời Chúa lan truyền mà quên để Lời ấy trước hết biến đổi chính con. Xin cho con hiểu rằng điều Chúa cần nơi con không phải là một người lúc nào cũng bận rộn, nhưng là một người luôn có thể được Chúa sử dụng; không phải một người phải chứng minh mình cần thiết, nhưng là một người sẵn sàng; không phải một người luôn đứng trước đám đông, nhưng là một người biết quỳ xuống khi không ai nhìn thấy. Xin cho mỗi bài viết trước khi trở thành chữ trên màn hình đã từng là lời cầu nguyện trong lòng. Xin cho mỗi lời con nói được đi qua sự thinh lặng. Xin cho mỗi lần con muốn phản ứng, con biết dừng lại hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con nói gì? Chúa muốn con im lặng điều gì? Người con đang nói đến là con cái Chúa; con phải đối xử với họ thế nào?” Xin cho truyền thông của con không làm người ta sợ Chúa, nhưng giúp họ dám đến gần Chúa; không làm họ cảm thấy bị kết án, nhưng đánh thức trong họ ước muốn hoán cải; không nuôi thêm giận dữ, nhưng mở ra một con đường hòa giải; không biến Giáo Hội thành một nơi của tranh chấp, nhưng giúp người ta nhận ra Giáo Hội vẫn là mái nhà của những người đang trên đường trở nên thánh. Xin cho con trở thành chứng nhân của niềm hy vọng trong một thế giới có quá nhiều lý do để thất vọng. Không phải bằng những lời hoa mỹ, nhưng bằng một đời sống bình an. Không phải bằng việc che giấu đau khổ, nhưng bằng cách đi qua đau khổ với niềm tin. Không phải bằng cách nói rằng mọi sự đều dễ dàng, nhưng bằng cách chỉ cho người ta thấy rằng dù đường có khó đến đâu, Chúa vẫn đang đi cùng. Xin cho con nhớ rằng người truyền thông đầu tiên của Tin Mừng không phải là chiếc máy quay, không phải micro, không phải điện thoại, không phải mạng xã hội, mà là chính đời sống của người môn đệ. Một con người bình an là một thông điệp. Một con người biết tha thứ là một thông điệp. Một linh mục sống đơn sơ là một thông điệp. Một tu sĩ không cay đắng giữa khó khăn là một thông điệp. Một người dám nhận lỗi là một thông điệp. Một người không trả đũa khi bị hiểu lầm là một thông điệp. Một người vẫn phục vụ khi không ai biết đến là một thông điệp. Có những Tin Mừng không cần chữ mà người khác vẫn đọc được. Và có lẽ đó mới là truyền thông sâu nhất: khi chính cuộc đời trở thành một bản văn để người ta đọc thấy Đức Kitô.
Sau tất cả, tôi hiểu rằng khoảng lặng Thiên Chúa dành cho tôi không phải là một khoảng trống giữa hai giai đoạn công việc. Nó là một phần của chính sứ mạng. Chính trong khoảng lặng ấy, Chúa chỉnh lại la bàn của đời tôi. Người đặt lại câu hỏi căn bản: “Con có ở lại trong Thầy không?” Chỉ thế thôi. Trước mọi kế hoạch, trước mọi dự định, trước mọi phương tiện, trước mọi ước mơ sứ vụ, câu hỏi vẫn là câu ấy. Bởi nếu còn ở lại trong Người, mọi sự khác có thể được sắp xếp lại. Nếu không ở lại, dù bên ngoài có đẹp đến đâu, bên trong vẫn thiếu nguồn sống. Tôi muốn học lại việc ở lại. Ở lại khi vui. Ở lại khi buồn. Ở lại khi sứ vụ thuận lợi. Ở lại khi gặp chống đối. Ở lại khi được hiểu. Ở lại khi bị hiểu lầm. Ở lại khi nội dung được đón nhận. Ở lại khi những gì mình làm như rơi vào im lặng. Ở lại khi cảm thấy mình hữu ích. Ở lại cả khi Chúa cho thấy mình hoàn toàn có thể được thay thế. Bởi đời người môn đệ không được bảo đảm bởi công việc, mà bởi tình yêu. “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Đó mới là nhà. Và chỉ ai có nhà mới có thể đi xa mà không lạc. Tôi muốn bước trở lại vào thế giới truyền thông với xác tín ấy: không đi để tìm mình, nhưng để chỉ về Chúa; không đi để thu hút người ta về phía mình, nhưng để dẫn họ đến với Đức Kitô; không đi để gia tăng tiếng nói của bản thân, nhưng để giữa vô vàn tiếng ồn, Lời của Chúa vẫn được nghe; không đi để thắng người khác, nhưng để cùng họ tìm chân lý; không đi để phán xét thế giới, nhưng để yêu thế giới như Chúa đã yêu; không đi để xây một hình ảnh, nhưng để trở thành một chứng nhân. Và nếu một ngày ai đó hỏi đâu là thành công của sứ mạng truyền thông, có lẽ tôi sẽ không còn nghĩ ngay đến những con số nữa. Tôi sẽ nghĩ đến một người đã tìm lại hy vọng. Một người đã dám tha thứ. Một người đã trở về với Chúa. Một gia đình đã biết ngồi lại. Một người trẻ đã không buông xuôi. Một người đang đau khổ nhận ra mình không cô độc. Một người xa Giáo Hội bỗng muốn bước qua cánh cửa nhà thờ. Một người đang giận dữ biết dừng lại trước khi làm tổn thương người khác. Một người đang hoang mang tìm được một lời chân thật. Một người đã đặt điện thoại xuống để cầu nguyện. Nếu chỉ có một người như thế, sứ mạng đã không vô ích. Bởi trước mặt Thiên Chúa, một linh hồn luôn đáng giá hơn tất cả những con số. Và nếu Chúa muốn dùng những việc rất nhỏ bé của tôi để chạm đến một tâm hồn nào đó, thế là đủ. Phần còn lại xin để Người lo.
Khoảng lặng rồi sẽ qua. Tôi lại phải trở về với nhịp sống, với công việc, với những trách nhiệm Hội dòng trao phó, với những chương trình cần hoàn thành, những bài cần viết, những nội dung cần thực hiện, những người cần gặp, những tiếng gọi cần đáp lại. Nhưng tôi mong khoảng lặng ấy không kết thúc khi mình rời nơi tĩnh lặng. Tôi mong mang nó theo trong lòng. Giữa một ngày bận rộn, vẫn có một khoảng lặng nhỏ để hỏi Chúa. Giữa nhiều tiếng nói, vẫn giữ một nơi trong lòng chỉ dành cho tiếng của Người. Giữa tốc độ của thế giới số, vẫn có khả năng dừng lại. Giữa những thông báo liên tục hiện lên trên màn hình, vẫn nghe được tiếng Chúa rất khẽ. Giữa áp lực phải làm, vẫn nhớ mình được gọi trước hết để “ở”. Giữa những thành công, vẫn nhớ mình chỉ là cành. Giữa những thất bại, vẫn nhớ cây nho vẫn còn đó. Giữa những lúc thấy mình yếu đuối, vẫn nhớ nhựa sống không đến từ mình. Và giữa mọi sứ mạng, vẫn luôn trở lại với lời của Chúa: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” Câu ấy không làm tôi sợ. Ngược lại, nó giải thoát tôi. Tôi không phải gánh cả sứ mạng trên vai mình. Sứ mạng là của Chúa. Giáo Hội là của Chúa. Thế giới này cũng là của Chúa. Những con người tôi gặp thuộc về Chúa trước khi thuộc về trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ cần trung thành với phần nhỏ của mình, làm hết lòng, làm với tình yêu, làm trong cầu nguyện, rồi trao mọi kết quả vào tay Người. Chính từ sự phó thác ấy, người môn đệ mới có thể phục vụ lâu mà không kiệt sức, yêu nhiều mà không chiếm hữu, làm việc hết mình mà không đánh mất linh hồn, hiện diện giữa thế giới mà lòng vẫn thuộc về trời. Và có lẽ đó là điều tôi muốn mang theo sau khoảng lặng này: không phải thêm một kế hoạch, nhưng một tương quan sâu hơn; không phải thêm nhiều điều để làm, nhưng một cách sống mới trong những điều vẫn phải làm; không phải quyết tâm trở thành người truyền thông thành công hơn, nhưng xin trở thành người môn đệ trung thành hơn. Bởi cuối cùng, điều Chúa mong nơi tôi không phải là tôi đã làm được bao nhiêu, nhưng là giữa tất cả những gì đã làm, tôi có còn ở lại với Người hay không. Và chỉ khi ở lại trong Đức Ki-tô, tôi mới có thể trở thành điều thế giới hôm nay đang rất cần: không chỉ một người truyền thông, nhưng một chứng nhân; không chỉ một người chuyển tải thông tin, nhưng một người trao niềm hy vọng; không chỉ một tiếng nói giữa muôn tiếng nói, nhưng một cuộc gặp gỡ nơi con người được lắng nghe, được tôn trọng, được yêu thương và cuối cùng được dẫn về với Chân Lý là chính Đức Giêsu Kitô.
Lm. Anmai, CSsR
KHOẢNG LẶNG ĐỂ TRỞ VỀ VỚI CHÚA VÀ TRỞ THÀNH CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM HY VỌNG
Có những lúc trong đời, Thiên Chúa không đưa chúng ta đi nhanh hơn, không mở ra trước mắt chúng ta thêm một công việc mới, cũng không trao vào tay chúng ta một chương trình lớn lao hơn, nhưng Người nhẹ nhàng kéo chúng ta ra khỏi những tất bật quen thuộc để đặt chúng ta vào một khoảng lặng. Thoạt nhìn, khoảng lặng ấy có thể khiến ta tưởng rằng mình đang dừng lại, đang chậm đi, đang tạm rời xa những gì vẫn được gọi là sứ vụ. Nhưng rồi khi bình tâm hơn, ta mới nhận ra rằng có những khoảng lặng không phải do mình chọn, mà chính Thiên Chúa đã dành riêng cho mình; có những lần dừng lại không phải vì hành trình đã hết, nhưng vì Chúa muốn người môn đệ biết mình đang đi đâu, đi với ai và đi vì điều gì. Với tôi, khoảng lặng ấy trở thành một ân huệ. Nó cho tôi cơ hội nhìn lại chính mình, nhìn lại những năm tháng đã đi qua, nhìn lại những công việc mình đã làm, những dự định mình đang mang, những thành công từng làm mình vui, những thất bại từng khiến mình buồn, những lời khen đã có lúc làm lòng mình ấm lên, và cả những lời phê bình có khi khiến mình thao thức rất lâu. Nhưng càng ở lại trong thinh lặng, tôi càng hiểu rằng điều quan trọng nhất không phải là những gì đã xảy ra quanh tôi, mà là điều gì đang xảy ra trong lòng tôi trước mặt Thiên Chúa. Có thể mình đã làm rất nhiều việc cho Chúa mà lòng lại ít ở với Chúa. Có thể mình đã nói rất nhiều về Tin Mừng mà chính mình chưa để Tin Mừng đi đủ sâu vào những góc tối của tâm hồn. Có thể mình đã dành rất nhiều giờ để phục vụ người khác mà lại quên dành những giờ thật sự lặng lẽ để Chúa phục vụ lại mình bằng Lời của Người, bằng sự hiện diện của Người, bằng ánh mắt yêu thương của Người. Có thể người môn đệ cứ tưởng rằng Chúa đang cần bàn tay mình, trong khi thật ra điều Chúa cần trước hết lại là trái tim mình. Và vì thế, khoảng lặng trở thành một lời gọi trở về. Trở về không phải vì đã bỏ Chúa, nhưng vì rất có thể giữa quá nhiều công việc nhân danh Chúa, ta đã vô tình đứng xa Chúa lúc nào không hay. Trở về không phải để phủ nhận tất cả những gì mình đã làm, nhưng để đặt lại mọi sự vào đúng chỗ của nó. Trở về để nhận ra rằng sứ mạng chỉ có ý nghĩa khi bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ với Đức Ki-tô; lời nói chỉ có sức nặng khi được sinh ra từ thinh lặng; việc làm chỉ có sức sống khi được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện; và người môn đệ chỉ có thể trao Chúa cho người khác khi chính mình đang mang Chúa trong lòng. Chúa Giêsu đã nói rất rõ: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” và “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sinh nhiều hoa trái” (x. Ga 15,5). Câu Lời Chúa ấy nghe qua tưởng rất quen, nhưng càng sống lâu trong đời dâng hiến, càng đi nhiều năm trên con đường sứ vụ, tôi càng thấy đó không phải chỉ là một lời khuyên đạo đức, mà là nguyên tắc sống còn của đời người môn đệ. Chúng ta không được mời gọi chỉ để làm việc cho Chúa. Chúng ta được gọi trước hết để ở với Chúa. Và chỉ từ việc ở với Chúa, chúng ta mới được sai đi. Tin Mừng kể rằng Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng”. Thứ tự ấy rất đáng để người làm sứ vụ hôm nay suy nghĩ. Ở với Người trước, được sai đi sau. Gắn bó trước, hoạt động sau. Đón nhận trước, trao ban sau. Nếu đảo thứ tự ấy, đời sứ vụ rất dễ trở thành một guồng máy. Người môn đệ vẫn làm việc, vẫn chạy, vẫn tổ chức, vẫn nói, vẫn xuất hiện, vẫn sản xuất, vẫn hoàn thành biết bao chương trình, nhưng bên trong lại dần khô cạn. Đến một lúc nào đó, ta vẫn có thể làm đúng mọi việc, nhưng không còn biết vì sao mình đang làm. Ta có thể nói rất hay về Chúa, nhưng lại không còn thấy lòng mình rung động khi đứng trước Chúa. Ta có thể mang niềm vui đến cho nhiều người, nhưng chính mình lại đánh mất niềm vui ban đầu. Ta có thể giúp người khác tìm thấy hy vọng, còn mình thì sống bằng thói quen nhiều hơn bằng xác tín. Đó là một nguy cơ rất thật, nhất là đối với những người được trao phó những công việc luôn đòi phải xuất hiện, phải đáp ứng, phải sáng tạo, phải lên tiếng và phải có mặt. Bởi vậy, có khi ân huệ lớn nhất Thiên Chúa dành cho người môn đệ không phải là thêm một cơ hội để hoạt động, mà là cho họ một khoảng lặng để được chữa lành khỏi chính cơn nghiện hoạt động của mình; không phải cho họ thêm một diễn đàn để nói, mà cho họ một căn phòng để thinh lặng; không phải thêm một đám đông để phục vụ, mà là một khoảng thời gian đủ dài để họ một mình đối diện với Chúa và với chính mình. Trong khoảng lặng ấy, nhiều câu hỏi tự nhiên hiện ra: Tôi đang sống sứ mạng hay đang chạy theo công việc? Tôi đang tìm vinh quang của Chúa hay đôi khi âm thầm tìm một chút thỏa mãn cho chính mình? Tôi có còn vui khi việc mình làm không được ai biết đến? Tôi có bình an khi người khác được thành công hơn mình? Tôi có thể tiếp tục phục vụ khi không còn lời khen, không còn sự chú ý, không còn những con số khiến mình thấy mình “có ảnh hưởng”? Nếu một ngày tất cả những gì mình đang làm phải dừng lại, liệu tôi có còn biết mình là ai trước mặt Chúa không? Những câu hỏi ấy không dễ trả lời, nhưng lại cần thiết. Bởi người môn đệ phải luôn phân biệt giữa căn tính và công việc. Công việc có thể thay đổi, sứ vụ có thể thay đổi, phương tiện có thể thay đổi, môi trường có thể thay đổi, nhưng căn tính người môn đệ thì không thay đổi: tôi là người được Chúa gọi, được Chúa yêu, được Chúa giữ lại bên Người và được Người sai đi. Nếu căn tính ấy vững, ta có thể làm nhiều mà không kiêu, làm ít mà không mặc cảm, được khen mà không bay lên, bị chê mà không gục xuống, thành công mà không tưởng mình là trung tâm, thất bại mà không nghĩ đời mình vô nghĩa. Nhưng nếu căn tính ấy không vững, mọi sự bên ngoài đều có thể trở thành cái cân đo giá trị của ta. Khi ấy, một lời khen có thể làm ta sung sướng quá mức, một lời chê có thể lấy mất bình an cả ngày; một bài viết được nhiều người đọc làm ta phấn khởi, một bài ít ai quan tâm lại làm ta tự hỏi mình có còn hữu ích hay không; một chương trình thành công khiến ta tưởng mình đang làm được việc lớn cho Chúa, còn một chương trình thất bại lại làm ta hụt hẫng như thể chính Chúa đã thất bại. Khoảng lặng giúp ta tháo gỡ những lẫn lộn ấy. Nó trả ta về với sự thật đơn sơ: giá trị của người môn đệ không nằm ở số việc đã làm, không nằm ở số người biết đến mình, không nằm ở khả năng tạo ảnh hưởng, mà nằm ở việc người ấy có ở lại trong tình yêu Đức Ki-tô hay không.
Đặc biệt, khi nhìn lại sứ mạng truyền thông mà Hội dòng trao phó, tôi càng cảm nhận rõ hơn rằng đây là một vùng truyền giáo rất đặc biệt. Chưa bao giờ con người có nhiều thông tin như hôm nay. Chỉ cần một chiếc điện thoại trong tay, người ta có thể biết chuyện đang xảy ra ở một nơi rất xa, có thể nghe một bài giảng, đọc một bài suy niệm, xem một thánh lễ, theo dõi một biến cố của Giáo Hội, biết một câu chuyện vừa xảy ra ở bên kia thế giới chỉ trong vài phút. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà thông tin không còn khan hiếm. Trái lại, con người nhiều khi bị ngập trong thông tin. Mỗi ngày có biết bao tiếng nói chen nhau để giành lấy sự chú ý. Người ta thức dậy với màn hình, làm việc bên màn hình, nghỉ ngơi cũng bên màn hình, trước khi ngủ vẫn còn nhìn màn hình. Mỗi người vừa là người nhận thông tin vừa có thể trở thành người phát thông tin. Một câu nói có thể đi rất xa. Một hình ảnh có thể chạm đến hàng triệu người. Một lời bình luận có thể nâng một người đứng dậy, nhưng cũng có thể khiến một người bị tổn thương rất lâu. Một bản tin có thể phục vụ sự thật, nhưng cũng có thể làm sự thật méo mó. Một nội dung có thể dẫn người ta đến với điều thiện, nhưng cũng có thể kích động sợ hãi, giận dữ, chia rẽ và phán xét. Giữa một thế giới như thế, tôi nhận ra rằng điều con người thiếu nhất không hẳn là thêm một nguồn thông tin. Có khi họ đã quá nhiều thông tin rồi. Điều họ thiếu là những con người giúp họ nhìn thông tin bằng đôi mắt của Tin Mừng; những con người không lợi dụng nỗi sợ của người khác để kiếm sự chú ý; không tận dụng scandal để tìm lượt xem; không biến đau khổ của một con người thành chất liệu giải trí; không biến lỗi lầm của một người thành cơ hội để cả cộng đồng ném đá; không lấy sự thật làm vũ khí để hạ nhục, nhưng dùng sự thật như ánh sáng để chữa lành. Thế giới hôm nay thiếu những chứng nhân của niềm hy vọng. Hai chữ “chứng nhân” làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Bởi truyền thông Kitô giáo không thể chỉ dừng lại ở việc nói những điều đúng. Người làm truyền thông Công giáo phải sống sao để chính cách mình nói, cách mình chọn tin, cách mình đặt tựa, cách mình sử dụng hình ảnh, cách mình phản ứng trước một biến cố, cách mình đối xử với người bất đồng, cách mình tôn trọng nhân phẩm của người đang phạm sai lầm cũng trở thành một phần của Tin Mừng. Có khi nội dung là Công giáo nhưng cách truyền đạt lại không có tinh thần của Đức Kitô. Có khi người ta nói về lòng thương xót bằng giọng điệu không thương xót. Nói về hiệp nhất nhưng cách nói lại gây chia rẽ. Nói về sự thật nhưng dùng sự thật để làm nhục người khác. Nói về Giáo Hội nhưng biến mình thành quan tòa của anh chị em. Nói về Chúa nhưng giọng nói đầy cay nghiệt. Đó là nghịch lý mà người làm truyền thông phải luôn cảnh giác nơi chính mình. Bởi chúng ta không thể rao giảng một Đức Kitô hiền lành bằng thái độ hung hăng. Không thể nói về Đấng tha thứ trong khi mình nuôi dưỡng văn hóa kết án. Không thể mời người ta gặp Chúa trong khi chính cách mình truyền thông làm họ cảm thấy bị khinh miệt, bị áp đặt hay bị làm tổn thương. Đức Kitô không chỉ là nội dung chúng ta loan báo; Người còn phải là cung cách chúng ta loan báo. Đức Kitô không chỉ nằm trong câu chữ; Người phải hiện diện trong giọng điệu. Không chỉ trong điều ta nói, mà trong cách ta nhìn con người. Không chỉ trong chân lý ta bảo vệ, mà trong tình yêu ta dành cho người chưa hiểu chân lý ấy. Chân lý Kitô giáo không bao giờ tách khỏi tình yêu, bởi chính Đức Kitô là Chân Lý và Người cũng là Tình Yêu đến cùng. Cho nên người truyền thông Công giáo đích thực không phải là người thắng được nhiều cuộc tranh luận, nhưng là người giúp con người gặp được ánh sáng mà không bị xúc phạm phẩm giá; không phải là người nói câu cuối cùng, mà là người mở ra một cánh cửa để người khác còn muốn tiếp tục tìm kiếm; không phải người khiến đám đông vỗ tay, nhưng là người giúp một tâm hồn đang thất vọng có thể tin rằng ngày mai vẫn còn ánh sáng. Trong bối cảnh đó, niềm hy vọng không phải là thứ ngôn ngữ ngọt ngào để né tránh sự thật. Hy vọng Kitô giáo không phải là nói rằng mọi sự đều tốt khi thực tế đang rất đau. Hy vọng cũng không phải là che giấu điều xấu, bỏ qua bất công hay giả vờ rằng không có khủng hoảng. Người chứng nhân của niềm hy vọng là người dám nhìn thẳng vào bóng tối nhưng không để bóng tối có tiếng nói cuối cùng. Là người dám nói về vết thương nhưng đồng thời chỉ cho người ta thấy vẫn còn con đường chữa lành. Là người dám nói về tội nhưng không quên nói về lòng thương xót. Dám nói về thất bại nhưng không biến thất bại thành bản án cuối cùng của một đời người. Dám nhìn vào một Giáo Hội có những vết thương nhưng vẫn yêu Giáo Hội bởi tin rằng Chúa Thánh Thần chưa bao giờ bỏ Giáo Hội. Dám nhìn một con người đang sa ngã mà không đồng hóa họ với chính lỗi lầm của họ. Dám tin rằng nơi một tâm hồn tưởng đã cằn cỗi, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh mầm sống. Chứng nhân hy vọng không rao bán ảo tưởng. Họ trao một niềm xác tín đã được trả giá bằng Thập Giá và được xác nhận bằng ngôi mộ trống. Chính vì vậy, người làm truyền thông Kitô giáo cần mang trong mình một ánh nhìn Phục Sinh. Không phải ánh nhìn ngây thơ, nhưng là ánh nhìn đã đi qua chiều thứ Sáu Tuần Thánh mà vẫn tin vào bình minh ngày thứ nhất trong tuần. Giữa biết bao nội dung dễ gây hoang mang, sợ hãi, giận dữ và nghi kỵ, người môn đệ được mời gọi trở thành người gieo bình an. Không phải thứ bình an dễ dãi, mà là bình an của người biết Thiên Chúa đang làm việc ngay cả khi mắt mình chưa thấy. Có lẽ thế giới hôm nay không cần thêm những tiếng hét. Nó cần những tiếng nói đủ sâu để người ta dừng lại. Không cần thêm những bản án, nhưng cần những lời giúp người ta tìm đường quay về. Không cần thêm những cuộc săn lùng sai phạm, nhưng cần những người can đảm đồng hành với người yếu đuối. Không cần thêm những người kích động đám đông, nhưng cần những người biết giữ cho một con người khỏi bị đám đông nghiền nát. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu chưa bao giờ xem con người như một vấn đề cần giải quyết. Người gặp từng người như một mầu nhiệm cần được yêu thương. Người dừng lại với người phụ nữ Samari. Người ngước nhìn ông Dakêu. Người để người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Người hỏi anh mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Người hỏi người bệnh ở hồ Bếtdatha: “Anh có muốn khỏi bệnh không?” Người không áp đặt câu trả lời trước khi nghe tiếng lòng của con người. Chính cách Chúa gặp gỡ con người trở thành mẫu mực cho truyền thông Kitô giáo. Truyền thông đích thực trước hết là một cuộc gặp gỡ. Đằng sau mỗi tài khoản là một con người. Đằng sau một bình luận có thể là một tâm hồn đang tổn thương. Đằng sau một lời phản ứng gay gắt có thể là nhiều năm thất vọng. Đằng sau một câu hỏi tưởng như chống đối đức tin có khi lại là một người đang đau đớn đi tìm Thiên Chúa mà chưa biết cách diễn tả. Nếu chỉ nhìn chữ mà không nhìn người, ta rất dễ trả lời đúng nhưng lại làm tổn thương. Nếu chỉ lo bảo vệ lập trường mà quên người đang đứng trước mặt mình, truyền thông sẽ trở thành một cuộc đối đầu. Còn nếu biết nhìn người khác bằng ánh mắt của Đức Kitô, ta sẽ học được cách lắng nghe trước khi trả lời, hiểu trước khi phán xét, tôn trọng trước khi thuyết phục, và yêu thương ngay cả khi không đồng ý. Có những người sẽ không nhớ nội dung mình đã nói, nhưng họ sẽ nhớ cách họ được đối xử khi nói chuyện với mình. Có những người chưa thể tin điều mình tin, nhưng họ có thể bắt đầu tin rằng Tin Mừng là điều đáng tìm hiểu nếu họ gặp một người Kitô hữu biết tôn trọng họ. Có những cuộc loan báo Tin Mừng không bắt đầu bằng một bài giáo lý, nhưng bằng một thái độ tử tế. Không bắt đầu bằng một lập luận thần học, nhưng bằng một người chịu ngồi nghe một người khác kể hết nỗi đau của mình. Không bắt đầu bằng việc chứng minh ai đúng ai sai, nhưng bằng việc để người kia biết rằng họ không bị bỏ rơi. Chúa Giêsu đã làm như thế. Người không biến những cuộc gặp gỡ thành diễn đàn để thể hiện mình. Người để con người được gặp chính mình trong ánh sáng của Thiên Chúa.
Tôi cũng hiểu rằng truyền thông Công giáo không thể chỉ chạy theo logic của thế giới số. Thế giới số luôn hỏi: nội dung này có bao nhiêu người xem, bao nhiêu lượt thích, bao nhiêu lượt chia sẻ, bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu phút xem, khả năng lan truyền đến đâu. Những con số ấy không phải vô nghĩa. Người làm truyền thông cần hiểu phương tiện, cần học hỏi kỹ năng, cần biết cách trình bày sao cho Tin Mừng có thể đến được với nhiều người hơn. Sự cẩu thả không bao giờ là dấu chỉ của lòng đạo đức. Làm việc cho Chúa cũng cần chuyên nghiệp, cần học hỏi, cần sáng tạo, cần trách nhiệm. Nhưng vấn đề xuất hiện khi phương tiện trở thành mục đích, khi người phục vụ Tin Mừng bắt đầu đánh giá hoa trái sứ vụ chỉ bằng những con số mà nền tảng cung cấp. Một bài viết ít người đọc không có nghĩa là nó không sinh hoa trái. Một video chỉ chạm đến một người đúng lúc người ấy đang tuyệt vọng có khi còn quý hơn một video được hàng trăm ngàn lượt xem nhưng không thay đổi được một trái tim nào. Một lời nguyện âm thầm đến được với một người đang nằm trong bệnh viện, một câu Lời Chúa giúp một gia đình đang xung đột biết dừng lại, một bài chia sẻ khiến một người nhiều năm xa Chúa muốn trở về với bí tích Hòa Giải, một nội dung giúp một người đang căm giận có can đảm tha thứ – những điều ấy không một thuật toán nào đo hết được. Thiên Chúa có những cách tính khác chúng ta. Người không hỏi hạt giống đã được bao nhiêu người vỗ tay khi rơi xuống đất. Người chỉ hỏi nó có chịu chết đi để sinh hoa trái hay không. Chính vì thế, một trong những cám dỗ kín đáo nhất của truyền thông hôm nay là biến sứ vụ thành cuộc tìm kiếm sự chú ý. Người ta có thể bắt đầu rất trong sáng, chỉ muốn làm cho Chúa được biết đến; nhưng dần dần, vì những cơ chế của mạng xã hội, người làm truyền thông có thể không nhận ra rằng mình đang ngày càng cần phản ứng của đám đông để cảm thấy công việc có ý nghĩa. Ta dễ vui hơn khi được khen, dễ sốt ruột khi ít người xem, dễ chọn những chủ đề gây tranh cãi vì biết sẽ có nhiều tương tác, dễ đặt những cái tựa mạnh hơn sự thật cho phép, dễ nhấn vào điều gây sốc thay vì điều giúp người ta trưởng thành. Khi ấy, Tin Mừng có nguy cơ trở thành sản phẩm, sứ vụ trở thành thương hiệu, và người môn đệ trở thành người xây hình ảnh cho chính mình. Khoảng lặng trước Chúa giúp ta nhìn thấy những cám dỗ tinh tế đó. Không phải để tự kết án, nhưng để thanh luyện động cơ. Tôi phải luôn hỏi mình: nếu không ai biết tôi là người đã làm nội dung này, tôi còn vui không? Nếu tên mình bị xóa khỏi bài viết, tôi còn muốn bài viết ấy lan tỏa không? Nếu một người khác được khen vì công việc mình âm thầm góp phần thực hiện, lòng mình có bình an không? Nếu một ngày Hội dòng trao sứ vụ này cho người khác, tôi có thể vui vẻ rời khỏi nó không? Những câu hỏi nhỏ đó nhiều khi chạm tới chỗ sâu nhất của tự do nội tâm. Bởi phục vụ chỉ thật sự là phục vụ khi ta sẵn sàng để công việc thuộc về Chúa, chứ không phải để Chúa trở thành lý do cho công việc thuộc về mình. Người môn đệ phải học vui khi mình nhỏ đi để Chúa lớn lên. Gioan Tẩy Giả đã nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Có lẽ đó cũng là linh đạo rất cần cho người làm truyền thông. Hình ảnh của mình có thể nhỏ lại, nhưng hình ảnh Đức Kitô phải lớn lên. Tên mình có thể ít được nhắc đến, nhưng tên Chúa phải được yêu mến hơn. Người ta có thể quên mình, nhưng nếu họ nhớ một câu Lời Chúa và nhờ đó sống tốt hơn, sứ vụ đã có ý nghĩa. Có khi người môn đệ phải can đảm biến mất sau điều mình đã làm. Hạt muối hòa tan thì món ăn mới có vị. Men không đứng riêng ra để được nhìn thấy; nó biến mất trong bột để cả khối bột dậy lên. Ánh sáng không chiếu vào chính nó; ánh sáng giúp người khác nhìn thấy đường. Nếu truyền thông Công giáo muốn trở thành Tin Mừng, người làm truyền thông cũng phải mang linh đạo của muối, men và ánh sáng: hiện diện thật sự nhưng không chiếm trung tâm; tác động sâu nhưng không nhất thiết phải được nhìn thấy; làm cho người khác gặp Chúa hơn là gặp mình. Điều ấy rất khó trong một nền văn hóa luôn khuyến khích con người xây dựng hình ảnh cá nhân. Nhưng chính vì khó nên nó càng trở thành chứng tá. Thế giới cần nhìn thấy những người có thể làm việc lớn mà vẫn sống khiêm nhường; có thể có ảnh hưởng mà không sống vì ảnh hưởng; có thể có tiếng nói mà không nghiện tiếng vỗ tay; có thể được nhiều người biết mà vẫn biết mình chỉ là người đầy tớ vô dụng đã làm điều phải làm.
Khoảng lặng cũng giúp tôi hiểu lại ý nghĩa của hoa trái. Chúa không nói: “Ai làm nhiều việc sẽ sinh nhiều hoa trái.” Người nói: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sinh nhiều hoa trái.” Như vậy, hoa trái không phải trước hết là thành tích của cành, mà là kết quả của việc cành còn gắn với cây. Cành không cần căng thẳng để chứng minh mình có thể sinh quả. Nó chỉ cần đừng tách khỏi thân cây. Nhựa sống âm thầm đi qua nó, rồi đến mùa, hoa trái xuất hiện. Hình ảnh ấy đem lại một sự bình an rất lớn. Người môn đệ không cần sống trong nỗi lo âu phải liên tục chứng minh sự hữu ích của mình. Chúng ta chỉ cần trung thành ở lại. Chính Chúa làm phần còn lại. “Ở lại” không phải là thụ động. Ở lại là cầu nguyện khi không thấy cảm xúc. Ở lại là trung thành với Thánh lễ, với Lời Chúa, với đời sống cộng đoàn, với những bổn phận nhỏ bé hằng ngày. Ở lại là không bỏ Chúa khi đời sứ vụ khô khan. Ở lại là vẫn ngồi trước Nhà Tạm khi trong đầu còn đầy việc chưa xong. Ở lại là dám tắt màn hình để tâm hồn có thể mở ra trước Thiên Chúa. Ở lại là để Chúa nói trước khi mình nói. Ở lại là để Chúa nhìn mình trước khi mình nhìn thế giới. Ở lại là để cho Lời Chúa chất vấn những điều mình vẫn tưởng là đúng. Ở lại là để Thánh Thần sửa lại những động cơ pha trộn giữa yêu Chúa và yêu mình, giữa phục vụ và tìm khẳng định, giữa nhiệt thành và hiếu thắng. Ở lại đôi khi đau, bởi trong thinh lặng, ta không còn nhiều thứ để che chắn cho mình. Khi hoạt động, ta có thể trốn khỏi chính mình bằng công việc. Khi thinh lặng, những tiếng nói bên trong hiện ra. Ta thấy những vết thương chưa lành, những tự ái vẫn còn, những lần mình không được công nhận vẫn làm mình buồn, những người mình chưa tha thứ, những tham vọng được khoác áo đạo đức, những sợ hãi mình chưa dám gọi tên. Nhưng chính tại đó, Chúa gặp ta. Chúa không chờ ta hoàn hảo mới yêu. Người chỉ cần ta thật. Người không chữa một con người giả vờ mạnh mẽ. Người chữa người biết thú nhận mình đang yếu. Người không biến đổi một người luôn nghĩ mình đúng. Người biến đổi người dám nói: “Lạy Chúa, xin chỉ cho con thấy điều con chưa thấy.” Khoảng lặng trở thành nơi những lớp mặt nạ từ từ rơi xuống. Người môn đệ thôi phải đóng vai người luôn biết câu trả lời. Có lúc chỉ còn biết thưa: “Lạy Chúa, con không biết. Xin Chúa dạy con.” Và kỳ lạ thay, chính lúc không còn phải chứng minh mình mạnh, ta bắt đầu được mạnh trong Chúa. Chính lúc không còn cố chứng minh mình hữu ích, ta bắt đầu trở nên khí cụ hữu ích hơn. Chính lúc ta nhận ra mình nghèo, Chúa mới có chỗ để đặt kho tàng của Người vào. Có lẽ vì thế, những người thực sự có chiều sâu thiêng liêng thường không nói quá nhiều về mình. Họ đã đứng đủ lâu trước Thiên Chúa để biết mọi sự là ân sủng. Họ không cần tranh phần hơn, vì biết tất cả đều thuộc về Chúa. Họ không dễ kết án, bởi đã nhìn thấy sự yếu đuối của chính mình. Họ không vội trả lời, bởi đã học biết giá trị của thinh lặng. Họ không cần làm cho người khác thấy mình thánh thiện, vì chỉ cần Chúa biết họ là đủ. Một người như thế bước vào truyền thông sẽ mang theo một khí hậu khác. Nội dung của họ có thể không ồn ào, nhưng có sức ở lại. Lời họ có thể không sắc bén theo nghĩa gây sốc, nhưng lại xuyên sâu vì phát xuất từ một trái tim đã được Lời Chúa cắt tỉa. Họ không cần liên tục tạo cảm xúc mạnh; chỉ cần nói điều thật bằng tình yêu. Và điều thật được nói trong tình yêu luôn có con đường riêng để đến với tâm hồn.
Tôi cũng nhận ra rằng người làm truyền thông phải thường xuyên để Chúa thanh luyện chính cái nhìn của mình. Bởi chúng ta không chỉ truyền tải điều mình biết; nhiều khi chúng ta truyền tải cả con người mình mà không hay. Một tâm hồn đầy bình an sẽ truyền bình an. Một tâm hồn chất chứa giận dữ rất dễ truyền giận dữ, dù đề tài đang nói có vẻ đạo đức. Một người hay nghi ngờ sẽ nhìn mọi sự bằng nghi ngờ và khiến người nghe cũng nghi ngờ. Một người bị tổn thương mà chưa chữa lành có thể dùng truyền thông để phản ứng với chính những vết thương của mình. Một người thích hơn thua có thể biến việc bảo vệ đức tin thành chiến trường. Vì thế, việc quan trọng trước khi truyền thông là để Chúa truyền thông với mình. Trước khi đưa một lời ra ngoài, phải để Lời đi vào trong. Trước khi phản ứng với một biến cố, phải hỏi Chúa muốn mình nhìn biến cố ấy thế nào. Trước khi nói về lỗi lầm của người khác, phải nhớ những lần Chúa đã kiên nhẫn với lỗi lầm của mình. Trước khi viết một câu có thể làm ai đó đau, phải tự hỏi liệu Đức Kitô có nói câu ấy theo cách ấy không. Không phải vì ta sợ nói sự thật, nhưng vì sự thật của Chúa luôn nhằm cứu người, không nhằm nghiền nát người. Chúa Giêsu có lúc nói rất mạnh. Người gọi tên sự giả hình, đối diện bất công, vạch trần việc biến nhà Cha thành nơi buôn bán. Nhưng ngay cả sự mạnh mẽ ấy cũng phát xuất từ tình yêu cứu độ. Người không hạ nhục để cảm thấy mình cao hơn. Người sửa dạy để mở đường cho hoán cải. Đây là tiêu chuẩn rất khó nhưng rất đẹp cho truyền thông Công giáo: điều ta nói có mở đường cho người khác trở về không, hay chỉ đẩy họ sâu hơn vào chỗ bị kết án? Ta có làm người có lỗi thấy mình vẫn còn một con đường để đứng lên không? Ta có thể gọi sai là sai mà vẫn giúp người sai tin rằng họ không bị loại khỏi tình yêu của Thiên Chúa không? Đó chính là nghệ thuật của lòng thương xót. Thế giới số thường chia con người thành hai nhóm rất nhanh: phe đúng và phe sai, người tốt và người xấu, người đáng bênh và người đáng loại trừ. Tin Mừng thì khác. Tin Mừng phân biệt rất rõ tội và người tội lỗi. Tội cần được gọi tên, nhưng người tội lỗi cần được cứu. Điều sai cần được sửa, nhưng người sai vẫn phải được tôn trọng. Chính tôi cũng là người đã nhiều lần sai mà vẫn được Chúa kiên nhẫn. Nhớ điều đó sẽ làm giọng nói của người truyền thông dịu lại. Không phải yếu đi, mà là có chiều sâu hơn. Có những lời càng nhỏ nhẹ càng mạnh. Có những sự thật càng được nói với lòng thương xót càng có khả năng đi xa. Một người đang bị hàng ngàn tiếng nói kết án có thể không cần thêm một tiếng kết án nữa. Họ có thể cần một tiếng nói nói rằng: điều anh làm là sai, nhưng đời anh chưa kết thúc. Có thể cần một người nhắc rằng: Chúa không đồng ý với tội của anh, nhưng Chúa vẫn chờ anh trở về. Đó chính là niềm hy vọng. Và đó là điều truyền thông Công giáo phải khác với truyền thông chỉ tìm kiếm phản ứng.
Trong những ngày được Chúa cho dừng lại, tôi càng thấy cần xin một ơn rất căn bản: ơn giữ trái tim mình thuộc về Chúa. Bởi điều đáng sợ nhất không phải là mình làm ít, mà là làm nhiều nhưng lòng dần xa Chúa. Không phải là một nội dung thất bại, mà là sứ vụ thành công nhưng linh hồn người làm sứ vụ lại khô héo. Không phải là người ta không biết đến mình, mà là được rất nhiều người biết trong khi mình ngày càng ít biết Chúa hơn. Không phải là bị người khác quên, mà là trong lúc cố để mình khỏi bị quên, ta quên mất Đấng đã gọi mình. Câu hỏi cuối cùng của đời người môn đệ không phải là: “Con đã có bao nhiêu người theo dõi?” nhưng có lẽ là: “Con có theo Thầy đến cùng không?” Không phải: “Con đã làm được bao nhiêu chương trình?” nhưng là: “Trong tất cả những chương trình ấy, con có yêu Thầy hơn không?” Không phải: “Bao nhiêu người đã biết tên con?” mà là: “Qua đời con, có ai yêu danh Chúa hơn không?” Nếu một ngày mọi thiết bị đều tắt, mọi tài khoản đều biến mất, mọi bài viết không còn ai tìm thấy, mọi video không còn ai xem, thì điều còn lại sẽ là gì? Chỉ còn một điều: tương quan của ta với Đức Kitô và những gì tình yêu ấy đã sinh ra trong đời người khác. Cho nên, khoảng lặng không lấy tôi ra khỏi sứ mạng. Trái lại, nó đưa tôi trở lại trung tâm của sứ mạng. Trung tâm ấy không phải là truyền thông. Trung tâm ấy là Đức Kitô. Truyền thông chỉ là một con đường. Đức Kitô mới là Đích. Nội dung chỉ là phương tiện. Cuộc gặp gỡ mới là mục tiêu. Lượt xem chỉ là con số. Một tâm hồn được đánh động mới là hoa trái. Công nghệ có thể thay đổi từng ngày. Nền tảng hôm nay còn, ngày mai có thể mất. Cách con người tiếp nhận thông tin có thể hoàn toàn khác chỉ sau vài năm. Nhưng trái tim con người thì vẫn khát điều đã khát từ thuở ban đầu: được yêu, được hiểu, được tha thứ, được biết cuộc đời mình có ý nghĩa, được hy vọng rằng đau khổ không phải tiếng nói cuối cùng, và được gặp một tình yêu lớn hơn tất cả những gì mình có thể tự tạo ra. Đó là nơi Tin Mừng luôn mới. Đức Giêsu Kitô vẫn là câu trả lời cho cơn khát sâu nhất ấy, không phải như một công thức, mà như một Con Người sống động. Và người làm truyền thông Công giáo chỉ thực sự làm tròn sứ mạng khi giúp người khác đi qua nội dung để gặp Người. Nếu sau khi xem một video, người ta chỉ nhớ người nói, sứ vụ vẫn còn thiếu điều gì đó. Nếu sau khi đọc một bài, người ta chỉ thấy tác giả viết hay, vẫn chưa đủ. Nhưng nếu một câu nào đó khiến họ muốn mở Tin Mừng; nếu một hình ảnh khiến họ muốn cầu nguyện; nếu một chia sẻ giúp họ gọi điện xin lỗi người thân; nếu một lời chứng khiến họ can đảm bước vào nhà thờ sau nhiều năm xa cách; nếu một bản tin giúp họ cầu nguyện cho người đang đau khổ thay vì tò mò; nếu một cuộc đối thoại làm họ bớt căm giận; nếu một nội dung khiến họ tắt màn hình và quỳ xuống trước Chúa, khi ấy truyền thông đã đi đến điểm đẹp nhất của nó. Người truyền thông Kitô giáo không giữ người ta trước màn hình càng lâu càng tốt. Người ấy phải đủ khiêm nhường để dẫn người ta ra khỏi màn hình mà bước vào một cuộc gặp gỡ thật: với Thiên Chúa, với gia đình, với cộng đoàn, với người nghèo, với người đang cần được lắng nghe, với chính lương tâm mình. Có một nghịch lý đẹp ở đây: thành công của truyền thông Tin Mừng đôi khi chính là lúc người xem không còn cần nhìn màn hình nữa, bởi họ đã được đánh động để đi sống điều vừa nghe. Một bài về tha thứ thành công khi người ta đứng dậy đi làm hòa. Một bài về cầu nguyện thành công khi người ta đặt điện thoại xuống và bắt đầu cầu nguyện. Một bài về lòng bác ái thành công khi người ta bước ra khỏi căn phòng của mình để thăm một người cô đơn. Một bài về Thánh Thể thành công khi người ta muốn đến với Thánh lễ. Một bài về gia đình thành công khi một người cha quay về ngồi ăn cơm với con. Khi ấy, nội dung đã hoàn thành sứ mạng và có thể lùi lại. Tin Mừng đã bắt đầu đi bằng đôi chân của một con người.
Có lẽ điều đẹp nhất tôi nhận được từ khoảng lặng này là sự xác tín rằng tôi không cần trở thành một người làm được mọi sự. Tôi chỉ cần trở thành người để Chúa có thể làm điều Người muốn qua mình. Hai điều ấy rất khác nhau. Khi nghĩ mình phải làm được mọi sự, ta dễ căng thẳng, dễ lo, dễ so sánh, dễ mệt mỏi và dễ thất vọng. Khi biết mình chỉ là khí cụ, ta học bình an hơn. Khí cụ không chọn mình phải vang lên ở đâu; người nghệ sĩ chọn. Cây bút không quyết định mình sẽ viết câu nào; bàn tay người viết quyết định. Người môn đệ cũng thế. Chúng ta không cần biết toàn bộ kế hoạch. Chúng ta chỉ cần ở trong bàn tay Chúa. Nếu hôm nay Chúa dùng mình để nói, hãy nói. Nếu ngày mai Chúa muốn mình thinh lặng, hãy thinh lặng. Nếu Chúa cho công việc mình lan rộng, hãy tạ ơn. Nếu Chúa để nó nhỏ bé, cũng tạ ơn. Nếu Chúa cho một mùa gặt, hãy cúi xuống biết mình chỉ là người được sai đến. Nếu Chúa cho một mùa gieo hạt mà không được thấy kết quả, vẫn trung thành gieo. Có những hạt giống phải nhiều năm sau mới nảy mầm. Có những câu nói hôm nay ta tưởng người nghe đã quên, nhưng mười năm sau Chúa có thể dùng nó để đánh thức họ. Chúng ta không phải là chủ mùa gặt. Chúng ta chỉ là người gieo. Và bình an lớn nhất của người gieo là biết mảnh đất thuộc về Chúa, hạt giống là của Chúa, mưa nắng cũng do Chúa, còn mình chỉ cần trung thành với phần việc được giao. Điều đó giải thoát người làm truyền thông khỏi áp lực phải liên tục tạo ra “kết quả”. Ta có thể làm việc rất nghiêm túc mà lòng vẫn nhẹ. Có thể chuẩn bị rất kỹ mà không xem kết quả như quyền sở hữu. Có thể mong nội dung đến được nhiều người mà không để con số quyết định niềm vui của mình. Có thể sử dụng mọi kỹ thuật tốt nhất của thời đại mà không làm nô lệ cho thuật toán. Có thể bước vào thế giới số mà lòng vẫn cắm rễ trong cõi thinh lặng của Thiên Chúa. Tôi nghĩ đó là hình ảnh đẹp của người thừa sai hôm nay: một tay chạm vào thế giới rất nhanh của công nghệ, nhưng trái tim lại neo thật sâu trong Đức Kitô. Nếu chỉ có công nghệ mà không có chiều sâu, người ta nhanh chóng trở thành người sản xuất nội dung. Nếu chỉ có chiều sâu mà không hiểu ngôn ngữ của thời đại, sứ điệp tốt có thể không đến được với người cần nghe. Sứ mạng đòi cả hai, nhưng thứ tự không thể đảo: trước hết là một đời sống thuộc về Chúa, rồi từ đó mới dùng mọi khả năng để phục vụ Người. Người truyền thông Công giáo phải vừa học kỹ thuật, vừa học quỳ gối. Vừa hiểu thuật toán, vừa hiểu Tin Mừng. Vừa biết kể chuyện, vừa biết thinh lặng. Vừa biết nói sao cho người ta nghe, vừa biết nghe điều Chúa muốn mình nói. Vừa bước nhanh với thời đại, vừa không để thời đại kéo mình khỏi nhịp bước của Đức Kitô. Đây là cuộc quân bình không bao giờ đạt một lần là xong. Mỗi ngày đều phải trở lại. Mỗi ngày đều phải hỏi lại: tôi đang dùng phương tiện hay phương tiện đang dùng tôi? Tôi đang phục vụ Tin Mừng hay đang dần biến Tin Mừng thành công cụ cho một nhu cầu nào đó của chính mình? Tôi có còn đủ tự do để tắt máy khi đến giờ cầu nguyện? Tôi có thể im lặng trước một cuộc tranh luận đang nóng nếu biết rằng tham gia chỉ làm tăng chia rẽ? Tôi có thể không đăng một nội dung dù biết nó sẽ rất nhiều lượt xem nếu nội dung ấy có nguy cơ làm tổn thương phẩm giá một người? Tôi có đủ chậm để kiểm chứng trước khi chia sẻ một tin? Tôi có đủ khiêm nhường để đính chính khi mình sai? Tôi có đủ bác ái để xóa một câu mình viết trong lúc nóng giận? Tôi có đủ tự do để không phải nói về mọi chuyện? Những điều ấy cũng là khổ chế của người thừa sai trên không gian số. Ngày xưa, nhà truyền giáo phải chịu nắng, chịu rét, chịu đường xa. Người truyền giáo hôm nay có một loại khổ chế khác: khổ chế khỏi nhu cầu phải phản ứng ngay; khổ chế khỏi ham muốn được chú ý; khổ chế khỏi cám dỗ nói khi chưa đủ hiểu; khổ chế khỏi việc biến mọi biến cố thành “nội dung”; khổ chế khỏi việc xem người khác như đối tượng tương tác. Nếu không có đời sống nội tâm đủ mạnh, thế giới số sẽ dễ nuốt người thừa sai vào nhịp của nó.
Và rồi cuối cùng, khoảng lặng đưa tôi đến một lời cầu nguyện rất đơn sơ: Lạy Chúa, xin đừng để con làm việc cho Chúa nhiều đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Xin đừng để con nói về Chúa rất hay nhưng lại nghe tiếng Chúa rất ít. Xin đừng để con có thể chạm đến nhiều người mà trái tim mình lại ngày càng xa Đấng đã gọi con. Xin đừng để con tìm cách làm cho Lời Chúa lan truyền mà quên để Lời ấy trước hết biến đổi chính con. Xin cho con hiểu rằng điều Chúa cần nơi con không phải là một người lúc nào cũng bận rộn, nhưng là một người luôn có thể được Chúa sử dụng; không phải một người phải chứng minh mình cần thiết, nhưng là một người sẵn sàng; không phải một người luôn đứng trước đám đông, nhưng là một người biết quỳ xuống khi không ai nhìn thấy. Xin cho mỗi bài viết trước khi trở thành chữ trên màn hình đã từng là lời cầu nguyện trong lòng. Xin cho mỗi lời con nói được đi qua sự thinh lặng. Xin cho mỗi lần con muốn phản ứng, con biết dừng lại hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con nói gì? Chúa muốn con im lặng điều gì? Người con đang nói đến là con cái Chúa; con phải đối xử với họ thế nào?” Xin cho truyền thông của con không làm người ta sợ Chúa, nhưng giúp họ dám đến gần Chúa; không làm họ cảm thấy bị kết án, nhưng đánh thức trong họ ước muốn hoán cải; không nuôi thêm giận dữ, nhưng mở ra một con đường hòa giải; không biến Giáo Hội thành một nơi của tranh chấp, nhưng giúp người ta nhận ra Giáo Hội vẫn là mái nhà của những người đang trên đường trở nên thánh. Xin cho con trở thành chứng nhân của niềm hy vọng trong một thế giới có quá nhiều lý do để thất vọng. Không phải bằng những lời hoa mỹ, nhưng bằng một đời sống bình an. Không phải bằng việc che giấu đau khổ, nhưng bằng cách đi qua đau khổ với niềm tin. Không phải bằng cách nói rằng mọi sự đều dễ dàng, nhưng bằng cách chỉ cho người ta thấy rằng dù đường có khó đến đâu, Chúa vẫn đang đi cùng. Xin cho con nhớ rằng người truyền thông đầu tiên của Tin Mừng không phải là chiếc máy quay, không phải micro, không phải điện thoại, không phải mạng xã hội, mà là chính đời sống của người môn đệ. Một con người bình an là một thông điệp. Một con người biết tha thứ là một thông điệp. Một linh mục sống đơn sơ là một thông điệp. Một tu sĩ không cay đắng giữa khó khăn là một thông điệp. Một người dám nhận lỗi là một thông điệp. Một người không trả đũa khi bị hiểu lầm là một thông điệp. Một người vẫn phục vụ khi không ai biết đến là một thông điệp. Có những Tin Mừng không cần chữ mà người khác vẫn đọc được. Và có lẽ đó mới là truyền thông sâu nhất: khi chính cuộc đời trở thành một bản văn để người ta đọc thấy Đức Kitô.
Sau tất cả, tôi hiểu rằng khoảng lặng Thiên Chúa dành cho tôi không phải là một khoảng trống giữa hai giai đoạn công việc. Nó là một phần của chính sứ mạng. Chính trong khoảng lặng ấy, Chúa chỉnh lại la bàn của đời tôi. Người đặt lại câu hỏi căn bản: “Con có ở lại trong Thầy không?” Chỉ thế thôi. Trước mọi kế hoạch, trước mọi dự định, trước mọi phương tiện, trước mọi ước mơ sứ vụ, câu hỏi vẫn là câu ấy. Bởi nếu còn ở lại trong Người, mọi sự khác có thể được sắp xếp lại. Nếu không ở lại, dù bên ngoài có đẹp đến đâu, bên trong vẫn thiếu nguồn sống. Tôi muốn học lại việc ở lại. Ở lại khi vui. Ở lại khi buồn. Ở lại khi sứ vụ thuận lợi. Ở lại khi gặp chống đối. Ở lại khi được hiểu. Ở lại khi bị hiểu lầm. Ở lại khi nội dung được đón nhận. Ở lại khi những gì mình làm như rơi vào im lặng. Ở lại khi cảm thấy mình hữu ích. Ở lại cả khi Chúa cho thấy mình hoàn toàn có thể được thay thế. Bởi đời người môn đệ không được bảo đảm bởi công việc, mà bởi tình yêu. “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Đó mới là nhà. Và chỉ ai có nhà mới có thể đi xa mà không lạc. Tôi muốn bước trở lại vào thế giới truyền thông với xác tín ấy: không đi để tìm mình, nhưng để chỉ về Chúa; không đi để thu hút người ta về phía mình, nhưng để dẫn họ đến với Đức Kitô; không đi để gia tăng tiếng nói của bản thân, nhưng để giữa vô vàn tiếng ồn, Lời của Chúa vẫn được nghe; không đi để thắng người khác, nhưng để cùng họ tìm chân lý; không đi để phán xét thế giới, nhưng để yêu thế giới như Chúa đã yêu; không đi để xây một hình ảnh, nhưng để trở thành một chứng nhân. Và nếu một ngày ai đó hỏi đâu là thành công của sứ mạng truyền thông, có lẽ tôi sẽ không còn nghĩ ngay đến những con số nữa. Tôi sẽ nghĩ đến một người đã tìm lại hy vọng. Một người đã dám tha thứ. Một người đã trở về với Chúa. Một gia đình đã biết ngồi lại. Một người trẻ đã không buông xuôi. Một người đang đau khổ nhận ra mình không cô độc. Một người xa Giáo Hội bỗng muốn bước qua cánh cửa nhà thờ. Một người đang giận dữ biết dừng lại trước khi làm tổn thương người khác. Một người đang hoang mang tìm được một lời chân thật. Một người đã đặt điện thoại xuống để cầu nguyện. Nếu chỉ có một người như thế, sứ mạng đã không vô ích. Bởi trước mặt Thiên Chúa, một linh hồn luôn đáng giá hơn tất cả những con số. Và nếu Chúa muốn dùng những việc rất nhỏ bé của tôi để chạm đến một tâm hồn nào đó, thế là đủ. Phần còn lại xin để Người lo.
Khoảng lặng rồi sẽ qua. Tôi lại phải trở về với nhịp sống, với công việc, với những trách nhiệm Hội dòng trao phó, với những chương trình cần hoàn thành, những bài cần viết, những nội dung cần thực hiện, những người cần gặp, những tiếng gọi cần đáp lại. Nhưng tôi mong khoảng lặng ấy không kết thúc khi mình rời nơi tĩnh lặng. Tôi mong mang nó theo trong lòng. Giữa một ngày bận rộn, vẫn có một khoảng lặng nhỏ để hỏi Chúa. Giữa nhiều tiếng nói, vẫn giữ một nơi trong lòng chỉ dành cho tiếng của Người. Giữa tốc độ của thế giới số, vẫn có khả năng dừng lại. Giữa những thông báo liên tục hiện lên trên màn hình, vẫn nghe được tiếng Chúa rất khẽ. Giữa áp lực phải làm, vẫn nhớ mình được gọi trước hết để “ở”. Giữa những thành công, vẫn nhớ mình chỉ là cành. Giữa những thất bại, vẫn nhớ cây nho vẫn còn đó. Giữa những lúc thấy mình yếu đuối, vẫn nhớ nhựa sống không đến từ mình. Và giữa mọi sứ mạng, vẫn luôn trở lại với lời của Chúa: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” Câu ấy không làm tôi sợ. Ngược lại, nó giải thoát tôi. Tôi không phải gánh cả sứ mạng trên vai mình. Sứ mạng là của Chúa. Giáo Hội là của Chúa. Thế giới này cũng là của Chúa. Những con người tôi gặp thuộc về Chúa trước khi thuộc về trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ cần trung thành với phần nhỏ của mình, làm hết lòng, làm với tình yêu, làm trong cầu nguyện, rồi trao mọi kết quả vào tay Người. Chính từ sự phó thác ấy, người môn đệ mới có thể phục vụ lâu mà không kiệt sức, yêu nhiều mà không chiếm hữu, làm việc hết mình mà không đánh mất linh hồn, hiện diện giữa thế giới mà lòng vẫn thuộc về trời. Và có lẽ đó là điều tôi muốn mang theo sau khoảng lặng này: không phải thêm một kế hoạch, nhưng một tương quan sâu hơn; không phải thêm nhiều điều để làm, nhưng một cách sống mới trong những điều vẫn phải làm; không phải quyết tâm trở thành người truyền thông thành công hơn, nhưng xin trở thành người môn đệ trung thành hơn. Bởi cuối cùng, điều Chúa mong nơi tôi không phải là tôi đã làm được bao nhiêu, nhưng là giữa tất cả những gì đã làm, tôi có còn ở lại với Người hay không. Và chỉ khi ở lại trong Đức Ki-tô, tôi mới có thể trở thành điều thế giới hôm nay đang rất cần: không chỉ một người truyền thông, nhưng một chứng nhân; không chỉ một người chuyển tải thông tin, nhưng một người trao niềm hy vọng; không chỉ một tiếng nói giữa muôn tiếng nói, nhưng một cuộc gặp gỡ nơi con người được lắng nghe, được tôn trọng, được yêu thương và cuối cùng được dẫn về với Chân Lý là chính Đức Giêsu Kitô.
Lm. Anmai, CSsR
ĐIỂM DỪNG ĐỂ LẠI LÊN ĐƯỜNG
Có những lúc trong đời, người ta cứ nghĩ rằng phải đi thật nhanh mới là tiến, phải làm thật nhiều mới là sống có ích, phải xuất hiện thật nhiều mới là đang hiện diện, phải nói thật nhiều mới là đang loan báo, phải tạo ra thật nhiều công việc mới là đang nhiệt thành với sứ vụ. Thế nhưng càng đi qua những năm tháng của đời người, càng trải qua những vui buồn, thành công thất bại, gặp gỡ chia xa, càng đứng trước những biến cố mà mình không thể tính toán hay sắp đặt, tôi càng nhận ra một điều rất đơn sơ: có những lúc muốn đi xa hơn thì phải biết dừng lại. Có những lúc muốn nói một lời có sức chạm đến lòng người thì trước hết phải biết im lặng. Có những lúc muốn tiếp tục trao ban thì phải trở về với nguồn mạch để chính mình được lấp đầy. Và có lẽ vì thế mà trong hành trình của đời sống đức tin, trong đời sống tận hiến và trong sứ mạng loan báo Tin Mừng, những “điểm dừng” không hề là những khoảng thời gian vô ích. Điểm dừng không phải là dấu chấm hết của một hành trình. Điểm dừng cũng không phải là một cuộc rút lui vì mệt mỏi, càng không phải là một khoảng trống của sự bất lực. Trái lại, nhiều khi chính ở nơi chúng ta chịu dừng lại, Thiên Chúa lại âm thầm chuẩn bị những điều sâu xa nhất cho một cuộc lên đường mới. Có những điều Chúa không thể nói với ta khi lòng ta còn quá ồn. Có những điều Chúa không thể trao cho ta khi hai tay ta còn ôm quá nhiều dự tính riêng. Có những con đường Chúa chưa thể mở ra khi ta còn mải miết chạy trên con đường do chính mình vạch sẵn. Và cũng có những vết thương Chúa chưa thể chữa lành khi ta cứ cố che giấu chúng dưới lớp áo của công việc, của trách nhiệm, của thành công, của những lời khen, của sự bận rộn và cả của những hoạt động tưởng như rất đạo đức.
Con người ngày hôm nay dường như rất sợ dừng lại. Dừng lại một chút là thấy sốt ruột. Im lặng một chút là thấy trống trải. Không cầm điện thoại một lúc là thấy như mình đang bỏ lỡ điều gì đó. Không làm việc một ngày là thấy như mình đang lãng phí thời gian. Thậm chí trong đời sống thiêng liêng, người ta cũng có thể biến đời sống với Chúa thành một chuỗi những hoạt động liên tục: đọc kinh, giảng dạy, tổ chức, phục vụ, viết lách, truyền thông, hội họp, lên kế hoạch, chạy chương trình, giải quyết biết bao chuyện lớn nhỏ. Tất cả những điều ấy đều cần thiết và tốt đẹp. Nhưng có một nguy cơ rất âm thầm: ta có thể làm rất nhiều việc cho Chúa mà lại ít ở với Chúa. Ta có thể nói rất nhiều về Chúa mà lòng mình lại thiếu những khoảng thinh lặng để nghe Chúa nói. Ta có thể khuyên người khác cầu nguyện trong khi chính mình đã lâu không ngồi thật lâu trước mặt Chúa chỉ để nói với Người rằng: “Lạy Chúa, con đây.” Ta có thể giúp bao người tìm được niềm hy vọng, nhưng sâu trong lòng mình lại đang mỏi mệt. Ta có thể đem đến cho người khác những lời thật đẹp về bình an, nhưng chính mình lại không còn bình an. Ta có thể nói với người khác về sự phó thác, nhưng trong lòng lại đang níu giữ biết bao dự tính và toan tính của riêng mình. Chính vì thế, một điểm dừng thật sự trước mặt Thiên Chúa luôn là một ân huệ. Nó cho ta cơ hội tháo bỏ những chiếc mặt nạ mà cuộc đời và sứ vụ đôi khi buộc ta phải mang. Nó cho ta được trở về làm một người môn đệ trước khi là người hướng dẫn người khác. Nó cho ta được trở về làm một người con trước khi là người phải lo cho bao người. Nó cho ta được thừa nhận sự mỏng giòn của mình trước khi tiếp tục bước ra với khuôn mặt mạnh mẽ. Và trên hết, nó cho ta cơ hội để nhớ lại rằng căn tính sâu xa nhất của đời mình không nằm ở chỗ mình làm được bao nhiêu việc, được bao nhiêu người biết đến, có bao nhiêu thành quả, nhưng ở chỗ mình thuộc về ai.
Có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của một điểm dừng trong Chúa. Dừng lại không phải để ngắm nhìn mình, nhưng để nhìn lại mình dưới ánh mắt của Chúa. Dừng lại không phải để tính toán xem mình thành công hay thất bại, nhưng để hỏi xem trong tất cả những gì đã qua, đâu là dấu chân của Chúa, đâu là tiếng Chúa mời gọi, đâu là những khúc quanh mà Người đã âm thầm dẫn mình đi qua. Có những chuyện khi đang xảy ra ta không hiểu. Có những người xuất hiện trong đời ta tưởng là tình cờ. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta thất vọng. Có những dự định không thành khiến ta buồn. Có những thử thách làm ta tưởng như mình đã mất quá nhiều. Nhưng khi dừng lại đủ lâu, người ta mới thấy có những lần chính một cánh cửa đóng lại đã cứu mình khỏi một con đường không dành cho mình; có những lần một thất bại đã làm cho mình khiêm tốn hơn; có những lần một nỗi đau đã khiến mình biết thương những người đau khổ; có những lần một sự hiểu lầm đã giúp mình học cách im lặng; có những lần một sự cô đơn đã mở ra cho mình một cuộc gặp gỡ sâu hơn với Chúa; và cũng có những lần tưởng như Chúa lấy đi, nhưng thật ra Người đang làm cho lòng ta trống đi để có chỗ đón nhận một ân huệ lớn hơn.
Đức Giêsu cũng đã sống những điểm dừng như thế. Giữa đám đông chen lấn, Người lui vào nơi thanh vắng. Giữa những nhu cầu dồn dập của con người, Người lên núi cầu nguyện. Trước những quyết định lớn, Người ở lại trong thinh lặng với Cha. Trước cuộc thương khó, Người bước vào vườn Cây Dầu. Chính Đức Giêsu, Đấng có thể chữa lành mọi bệnh tật, giảng dạy mọi nơi, làm biết bao dấu lạ và lôi kéo đám đông, vẫn không biến cuộc đời mình thành một hành trình hoạt động không ngừng. Người biết dừng lại. Người biết rời khỏi đám đông. Người biết đi vào nơi thanh vắng. Người biết dành thời gian cho Chúa Cha. Và chính từ những điểm dừng ấy, Người lại bước xuống núi, trở về với con người, chữa lành, giảng dạy, tha thứ, đón nhận, nâng đỡ và cuối cùng trao ban chính mạng sống mình. Nhìn vào Đức Giêsu, tôi hiểu rằng điểm dừng của người môn đệ không bao giờ là nơi để trốn sứ vụ, nhưng là nơi sứ vụ được thanh luyện. Không phải để bỏ cuộc, nhưng để hỏi lại xem mình đang làm việc của Chúa hay đang làm việc của mình dưới danh nghĩa của Chúa. Không phải để rút lui khỏi con người, nhưng để học lại cách yêu con người bằng trái tim của Đức Kitô chứ không chỉ bằng thiện chí tự nhiên của mình.
Có những lúc chúng ta cần dừng lại để Chúa sửa lại động cơ của mình. Bởi trong sứ vụ, động cơ rất dễ bị pha trộn. Ban đầu ta làm vì yêu Chúa. Nhưng rồi một lúc nào đó, ta có thể bắt đầu cần được nhìn nhận. Ban đầu ta nói vì muốn người khác gặp được Tin Mừng. Nhưng rồi ta có thể vui quá khi người ta khen mình nói hay. Ban đầu ta viết vì muốn nâng đỡ một tâm hồn. Nhưng rồi ta có thể buồn khi bài viết không được đón nhận. Ban đầu ta phục vụ vì muốn trao ban. Nhưng rồi ta có thể mong người khác biết ơn. Ban đầu ta đi vì vâng lời. Nhưng rồi ta có thể dần dần muốn chứng minh rằng mình giỏi. Những chuyển động ấy rất nhỏ và âm thầm. Nếu không dừng lại, có khi chính ta cũng không nhận ra. Và rồi ta cứ tiếp tục lao đi, nhưng càng đi càng nặng. Bởi khi công việc của Chúa trở thành nơi để cái tôi tìm kiếm sự khẳng định, thì sứ vụ không còn làm cho ta tự do nữa. Ta bắt đầu lệ thuộc vào lời khen. Ta dễ tổn thương vì lời chê. Ta dễ so sánh. Ta dễ nhìn người khác như đối thủ. Ta dễ buồn khi người khác thành công. Ta dễ thấy khó chịu khi mình không được nhắc đến. Và chính lúc đó, điểm dừng trở thành một ân huệ cứu độ. Chúa mời ta trở về, không phải để trách móc, nhưng để trả lại cho ta sự tự do ban đầu: làm tất cả chỉ vì yêu Người.
Đối với người làm truyền thông Công giáo, điều này lại càng cần thiết. Không gian số là một cánh đồng truyền giáo rất rộng, nhưng cũng là một nơi đầy những cám dỗ tinh vi. Những con số xuất hiện từng giờ: lượt xem, lượt thích, lượt chia sẻ, lượt theo dõi, lượt tương tác. Không thể phủ nhận rằng những điều ấy có giá trị nhất định. Chúng giúp chúng ta hiểu người đọc, giúp nội dung có thể lan tỏa, giúp một thông điệp đi xa hơn. Nhưng chúng không thể trở thành thước đo cuối cùng của sứ mạng. Một bài viết có hàng trăm ngàn lượt xem mà không làm cho một người nào đến gần Chúa hơn thì vẫn có thể là một thành công của truyền thông nhưng chưa chắc là hoa trái của Tin Mừng. Ngược lại, một bài viết chỉ có vài trăm người đọc, nhưng trong số đó có một người đang tuyệt vọng tìm lại được lý do để sống, một người đang giận dữ quyết định tha thứ, một người đang xa Chúa dám bước vào nhà thờ, một người đang mỏi mệt tìm lại được bình an trong lời cầu nguyện, thì bài viết ấy đã mang trong nó một vẻ đẹp mà không thuật toán nào đo được. Tin Mừng chưa bao giờ được đo bằng số đông. Một con chiên lạc cũng đủ để Người Mục Tử bỏ chín mươi chín con kia mà đi tìm. Một người phụ nữ Samari cũng đủ để Đức Giêsu ngồi chờ bên bờ giếng. Một ông Giakêu cũng đủ để Người dừng lại dưới gốc cây. Một người trộm lành trên thập giá cũng đủ để Đức Giêsu nói lời mở cửa thiên đàng. Thiên Chúa không coi nhẹ một tâm hồn chỉ vì đó là “một người”. Và người làm truyền thông Công giáo cũng phải học lại cái nhìn ấy.
Vì thế, có lẽ trước mỗi bài viết, mỗi video, mỗi bài giảng, mỗi chương trình, người môn đệ nên tự hỏi một câu rất đơn giản: điều này có đưa ai đó đến gần Chúa hơn không? Không phải chỉ hỏi: nội dung có hấp dẫn không? Không phải chỉ hỏi: tiêu đề có gây chú ý không? Không phải chỉ hỏi: liệu người ta có chia sẻ không? Nhưng phải hỏi sâu hơn: điều này có chữa lành hay làm tổn thương? Điều này có soi sáng hay chỉ kích thích tò mò? Điều này có giúp người đọc hy vọng hay chỉ làm họ thêm sợ hãi? Điều này có giúp con người gặp được khuôn mặt nhân hậu của Thiên Chúa hay lại vô tình biến tôn giáo thành một nơi của tranh cãi, kết án và hơn thua? Bởi người làm truyền thông cho Tin Mừng không chỉ chịu trách nhiệm về điều mình nói đúng hay sai, mà còn phải chịu trách nhiệm về cách mình nói. Sự thật nếu không có tình yêu có thể trở thành một lưỡi dao. Giáo lý nếu không có lòng thương xót có thể trở thành gánh nặng. Lời Chúa nếu được dùng để thắng một cuộc tranh luận có thể khiến người ta xa Chúa hơn. Chúng ta không được trao Tin Mừng như người ném một viên đá, nhưng như người trao một ngọn đèn.
Và muốn trao được một ngọn đèn, chính mình phải được thắp sáng trước. Muốn nói về bình an, chính lòng mình phải thường xuyên trở về với nguồn bình an. Muốn giúp người khác nghe được tiếng Chúa, chính mình phải là người tập lắng nghe Chúa. Muốn những lời mình viết có linh hồn, đời sống nội tâm của mình không thể cạn kiệt. Chính vì thế, tôi ngày càng cảm nhận sâu xa câu này: trước khi nói về Chúa, hãy để Chúa nói với lòng mình. Đây không chỉ là một lời nhắc đạo đức, nhưng là một nguyên tắc của mọi sứ vụ. Người ta có thể học thần học để biết nói về Chúa. Người ta có thể học kỹ năng để nói hay về Chúa. Người ta có thể học truyền thông để nói sao cho hấp dẫn về Chúa. Nhưng chỉ khi người ta để Chúa nói trong lòng mình, lời nói ấy mới mang hơi ấm của một kinh nghiệm sống. Có một khoảng cách rất xa giữa người nói về cầu nguyện và người đã cầu nguyện, giữa người nói về tha thứ và người đã phải trả giá để tha thứ, giữa người nói về thập giá và người đã từng khóc dưới chân thập giá, giữa người nói về lòng thương xót và người biết mình đã được Chúa thương xót thế nào. Người nghe có thể không gọi tên được sự khác biệt ấy, nhưng họ cảm được. Một lời đi ra từ kiến thức có thể thuyết phục trí óc. Một lời đi ra từ kinh nghiệm với Chúa có thể chạm đến trái tim.
Và trước khi mong chạm đến muôn người, hãy để chính trái tim mình được Chúa chạm đến. Có lẽ đây là điều khó hơn rất nhiều. Bởi chúng ta thích làm người trao ban hơn là người đón nhận. Chúng ta thích làm người hướng dẫn hơn là người cần được hướng dẫn. Chúng ta thích nói lời chữa lành hơn là thừa nhận rằng mình cũng có những vết thương cần được Chúa chữa. Nhưng người môn đệ chỉ có thể dẫn người khác đến một nơi mà chính mình đã từng bước qua. Nếu lòng ta chưa từng để Chúa đụng đến những góc tối, lời ta nói về ánh sáng sẽ rất dễ trở thành lý thuyết. Nếu ta chưa từng để Chúa chạm vào nỗi sợ, lời ta nói về phó thác có thể chỉ là một công thức đẹp. Nếu ta chưa từng để Chúa đụng đến lòng tự ái, lời ta nói về khiêm nhường có thể chỉ là bài học dành cho người khác. Nếu ta chưa từng để Chúa chạm đến những vết thương mình che giấu, lời ta nói về chữa lành sẽ thiếu chiều sâu. Chính vì thế, điểm dừng trước mặt Chúa là lúc ta không cần phải tỏ ra mạnh. Ta có thể thú nhận mình mệt. Ta có thể nói rằng mình thất vọng. Ta có thể thừa nhận rằng mình đang giận. Ta có thể nhận rằng mình đang sợ. Ta có thể mang đến cho Chúa cả những điều chẳng đẹp đẽ gì. Và thật lạ, chính khi dám thật với Chúa, con người lại được chữa lành sâu nhất.
Hưng Hóa, trong ý nghĩa ấy, không chỉ là một địa danh. Hưng Hóa có thể trở thành một biểu tượng của một điểm dừng. Một nơi mà người môn đệ tạm rời khỏi những âm thanh quen thuộc của sứ vụ để nghe lại nhịp đập của lòng mình. Một nơi để nhìn những chặng đường đã đi qua, không phải bằng ánh mắt tự hào hay thất vọng, nhưng bằng lòng biết ơn. Một nơi để nhận ra rằng có những ngày mình đã nhiệt thành, nhưng cũng có những ngày mình làm việc mà quên cầu nguyện; có những lúc mình đã rất quảng đại, nhưng cũng có những lúc cái tôi len vào; có những người mình đã nâng đỡ, nhưng cũng có những người có lẽ vì vô tình mình đã làm họ tổn thương; có những lời mình nói ra giúp người khác bình an, nhưng cũng có những lời lẽ ra mình nên im lặng. Điểm dừng trở thành nơi ta can đảm nhìn lại tất cả, không để kết án mình, nhưng để cho Chúa thanh luyện. Thiên Chúa không cần ta hoàn hảo rồi mới sử dụng. Người chỉ cần ta đủ khiêm tốn để cho Người tiếp tục sửa chữa.
Có một điều tôi ngày càng hiểu hơn: Chúa thường chuẩn bị những cuộc lên đường mới không bằng cách trao cho ta ngay một bản đồ rõ ràng, nhưng bằng cách đổi mới trái tim ta. Ta thường muốn biết: sắp tới mình sẽ làm gì? Chúa muốn mình đi đâu? Công việc nào đang chờ phía trước? Nhưng có khi Chúa không trả lời ngay những câu hỏi ấy. Người chỉ âm thầm làm một việc sâu hơn: làm cho ta bớt nóng vội, bớt tự ái, bớt muốn kiểm soát, bớt tìm mình, bớt sợ hãi, bớt lệ thuộc vào thành công. Và khi trái tim đã thay đổi, con đường tự nhiên trở nên rõ hơn. Một người chưa được biến đổi thì dù đi đến nơi nào cũng mang theo con người cũ. Một người đã được Chúa chạm đến thì ngay cả khi trở về đúng nơi cũ, mọi sự cũng trở nên mới bởi chính ánh mắt của họ đã mới.
Bởi thế, sau một điểm dừng, cuộc lên đường thật sự không nhất thiết phải bắt đầu bằng những kế hoạch lớn. Có khi nó chỉ bắt đầu bằng một quyết tâm rất nhỏ: cầu nguyện chậm hơn một chút. Lắng nghe người khác lâu hơn một chút. Bớt phản ứng vội vàng. Bớt nói một câu làm đau lòng người khác. Bớt quan tâm đến việc mình được nhìn nhận. Biết cám ơn nhiều hơn. Biết xin lỗi sớm hơn. Biết dành thời gian cho những người âm thầm bên cạnh mình. Biết bước vào nhà nguyện không chỉ khi cần soạn bài giảng. Biết mở Kinh Thánh không chỉ để tìm một câu trích dẫn cho bài viết, nhưng để Lời ấy chất vấn chính mình. Biết nhìn một người khó chịu với mình như một người cũng đang mang những vết thương mà mình không biết. Biết cầu nguyện cho người làm mình tổn thương. Biết để cho sứ vụ không chỉ nằm trên bàn làm việc, nhưng đi vào cách mình sống từng ngày. Những cuộc hoán cải lớn thường bắt đầu từ những bước nhỏ như thế.
Và rồi ta lại lên đường. Nhưng lần lên đường này không giống lần trước. Ta vẫn trở về với những công việc quen thuộc, vẫn là những con người ấy, những trách nhiệm ấy, những thách đố ấy. Nhưng nếu ta thật sự đã gặp Chúa trong điểm dừng, lòng ta đã khác. Ta không còn phải chứng minh quá nhiều. Ta bớt sợ khi người khác không hiểu. Ta bớt nôn nóng khi thành quả chưa đến. Ta biết mình chỉ là người gieo hạt. Có hạt nảy mầm ngay, có hạt nằm lâu trong lòng đất, có hạt người khác sẽ tưới, và có hạt có lẽ chỉ Thiên Chúa biết nó đã sinh hoa trái nơi đâu. Sự tự do ấy quý vô cùng. Bởi từ đó, người môn đệ làm việc hết lòng nhưng không còn coi kết quả là của mình. Họ yêu con người nhưng không cần chiếm hữu. Họ nói sự thật nhưng không cần thắng ai. Họ phục vụ nhưng không đòi được nhớ đến. Họ trao ban rồi biết lui lại. Họ gieo và để Chúa làm cho lớn lên.
Niềm vui Tin Mừng cũng bắt đầu từ đó. Nó không phải là niềm vui của người lúc nào cũng cười, cũng không phải một thứ lạc quan dễ dãi trước cuộc đời. Niềm vui Tin Mừng là niềm vui của người biết mình được yêu ngay cả khi yếu đuối; biết mình được tha thứ ngay cả khi đã từng sai; biết Chúa vẫn đang làm việc ngay cả khi mình chưa thấy; biết cuộc đời mình không vô nghĩa ngay cả khi những cố gắng chưa được ghi nhận. Người mang niềm vui Tin Mừng không cần ồn ào. Có khi chỉ một ánh mắt bình an đã là lời loan báo. Một cách lắng nghe không phán xét đã là lời loan báo. Một sự kiên nhẫn với người khó chịu đã là lời loan báo. Một câu nói tử tế giữa một môi trường đầy cay nghiệt đã là lời loan báo. Một sự trung thành âm thầm trong bổn phận đã là lời loan báo. Một đời sống không chạy theo hào nhoáng cũng có thể trở thành một bài giảng rất dài về Thiên Chúa.
Thế giới hôm nay không thiếu thông tin. Mỗi ngày con người nhận quá nhiều thông tin đến mức tâm trí mệt mỏi. Thế giới cũng không thiếu những người nói. Ai cũng có thể lên tiếng. Ai cũng có thể bình luận. Ai cũng có thể bày tỏ ý kiến. Điều thế giới đang thiếu có lẽ là những con người có một trái tim đã được tĩnh lặng trước Chúa. Những người không nói chỉ để được nghe. Những người không xuất hiện chỉ để được thấy. Những người không làm điều tốt chỉ để được khen. Những người có thể bước vào giữa một thế giới ồn ào mà mang theo một sự bình an khác. Những người khi nói về Chúa, người ta cảm nhận được rằng họ đã ở với Người. Những người khi nói về lòng thương xót, người ta cảm nhận được họ cũng từng là người nhận lòng thương xót. Những người khi nói về hy vọng, người ta cảm nhận được họ đã từng đi qua đêm tối.
Có lẽ đó là sứ mạng đẹp nhất của chúng ta: không phải mang thật nhiều lời về Chúa đến cho thế giới, nhưng mang một chút gì đó của chính Chúa trong cách chúng ta hiện diện. Bởi cuối cùng, con người không chỉ cần nghe rằng Thiên Chúa yêu họ. Họ cần gặp một người yêu họ bằng tình yêu có bóng dáng của Thiên Chúa. Họ không chỉ cần nghe rằng Thiên Chúa tha thứ. Họ cần gặp một người biết tha thứ. Họ không chỉ cần nghe rằng Thiên Chúa kiên nhẫn. Họ cần gặp một người không vội kết án họ. Họ không chỉ cần nghe rằng Tin Mừng là niềm vui. Họ cần gặp một người mà ngay giữa thập giá vẫn không đánh mất bình an.
Và để trở thành một người như thế, chúng ta cần những điểm dừng. Cần những lúc tắt đi những âm thanh bên ngoài để nghe tiếng Chúa bên trong. Cần những ngày đặt xuống công việc để nhớ rằng mình không phải là cứu tinh của thế giới. Cần những lần rời khỏi đám đông để đứng một mình trước mặt Chúa. Cần những phút không làm gì ngoài việc ở lại. Bởi đời sống Kitô hữu không được xây chỉ bằng những lần “làm cho Chúa”, mà còn bằng những lần “ở với Chúa”. Và chính việc ở với Chúa mới làm cho việc làm của ta không trở thành hoạt động rỗng.
Cho nên, nếu phải mang theo một điều từ điểm dừng Hưng Hóa để tiếp tục hành trình, tôi muốn mang theo lời nhắc rất đơn sơ này: trước khi nói về Chúa, hãy để Chúa nói với lòng mình; trước khi mong chạm đến muôn người, hãy để chính trái tim mình được Chúa chạm đến. Bởi một trái tim chưa để Chúa chạm đến rất dễ dùng lời của Chúa mà làm đau người khác. Một trái tim chưa được Chúa chữa lành có thể vô tình trao những vết thương của mình cho những người mình phục vụ. Một trái tim quá đầy cái tôi thì dù nói điều hay đến đâu cũng khó làm người khác gặp được Chúa. Nhưng một trái tim đã từng tan vỡ trước mặt Chúa, đã từng được Người nâng dậy, đã từng cảm nghiệm sự dịu dàng của Người, sẽ biết cách đối xử dịu dàng với anh chị em mình.
Hưng Hóa rồi cũng sẽ trở thành một kỷ niệm. Những ngày tĩnh lặng rồi sẽ qua. Những giờ cầu nguyện rồi sẽ nhường chỗ cho lịch trình quen thuộc. Điện thoại sẽ lại reo. Tin nhắn sẽ lại đến. Công việc sẽ lại đầy. Những bài viết sẽ lại phải viết. Những chương trình sẽ lại phải thực hiện. Những cuộc gặp gỡ sẽ lại nối tiếp. Nhưng mong rằng có một điều không qua đi: ký ức về một lần mình đã dừng lại. Một lần mình nhận ra Chúa chưa bao giờ thôi chờ mình. Một lần mình thấy rằng điều quan trọng nhất không phải là mình làm được bao nhiêu, mà là mình có còn ở trong Chúa hay không. Một lần mình hiểu rằng sứ mạng không bắt đầu từ màn hình, bục giảng hay bàn làm việc, nhưng bắt đầu từ một trái tim quỳ xuống.
Và rồi chúng ta lại lên đường. Không phải lên đường bằng sức của mình, nhưng bằng sức Chúa. Không phải lên đường để xây dựng tên tuổi của mình, nhưng để làm cho Danh Chúa được nhận biết. Không phải lên đường để kéo người khác về phía mình, nhưng để dẫn họ đến với Đức Kitô. Không phải lên đường với ảo tưởng rằng mình sẽ thay đổi thế giới, nhưng với niềm tin khiêm tốn rằng Chúa có thể dùng một lời nhỏ, một việc nhỏ, một cuộc gặp nhỏ, một bài viết nhỏ, một video nhỏ, một lời cầu nguyện âm thầm để chạm đến một linh hồn. Và một linh hồn đã được Chúa chạm đến thì quý hơn mọi con số.
Có lẽ vì thế, “điểm dừng” không phải là điểm kết thúc của hành trình, nhưng là nơi Thiên Chúa âm thầm chuẩn bị cho một cuộc lên đường mới. Người cho ta dừng lại để bớt mang theo những điều không cần thiết. Dừng lại để bỏ xuống những tự ái. Dừng lại để chữa những mỏi mệt. Dừng lại để sửa lại hướng đi. Dừng lại để nhớ mình là ai. Dừng lại để nhớ mình thuộc về ai. Dừng lại để nghe lại tiếng gọi đã từng làm tim mình rung động thuở ban đầu. Và rồi khi Chúa nói: “Hãy đi”, ta lại đi. Có thể con đường phía trước vẫn khó. Có thể sứ vụ vẫn đầy thách đố. Có thể thế giới vẫn ồn ào. Có thể những con số vẫn có lúc làm ta vui buồn. Có thể những hiểu lầm, thất bại, mệt mỏi vẫn còn đó. Nhưng điều khác biệt là ta biết mình không đi một mình.
Dừng lại để gặp Chúa. Dừng lại để được biến đổi. Dừng lại để trái tim mình được sắp xếp lại dưới ánh sáng của Tin Mừng. Dừng lại để những gì quá ồn trong ta được lắng xuống. Dừng lại để những gì đã nguội lạnh được nhóm lên. Dừng lại để những gì lệch hướng được uốn lại. Dừng lại để những vết thương được chạm đến. Dừng lại để lòng mình lại biết rung động trước một con người đau khổ, lại biết xót xa trước một tâm hồn lạc lối, lại biết vui vì một người trở về, lại biết khóc với người đang khóc, lại biết kiên nhẫn với người chậm chạp, lại biết dịu dàng với người yếu đuối.
Và rồi từ đó, lại lên đường. Lên đường không phải với một trái tim muốn chinh phục, nhưng với một trái tim muốn phục vụ. Lên đường không phải như người sở hữu chân lý để xét xử, nhưng như người đã được chân lý giải thoát và muốn chia sẻ. Lên đường không phải để làm cho người khác thán phục mình, nhưng để họ nhận ra Thiên Chúa vẫn đang yêu họ. Lên đường không phải để xây thêm những bức tường, nhưng để mở những cánh cửa. Lên đường không phải chỉ để làm cho Tin Mừng được nghe thấy, nhưng để Tin Mừng có thể được nhìn thấy qua cách chúng ta sống.
Nếu một ngày nào đó, giữa những bộn bề của sứ vụ, lòng lại mỏi; nếu một ngày nào đó, giữa quá nhiều tiếng nói, ta lại không nghe được tiếng Chúa; nếu một ngày nào đó, giữa những con số lên xuống, ta lại quên mất một linh hồn quý giá đến thế nào; nếu một ngày nào đó, giữa những thành công, ta lại tưởng mình là trung tâm; hay giữa những thất bại, ta lại tưởng mọi sự đã hết, thì hãy nhớ về điểm dừng. Hãy nhớ rằng Thiên Chúa vẫn có những Hưng Hóa cho mỗi người trong cuộc đời: một nhà nguyện vắng, một giờ chầu, một thánh lễ, một trang Tin Mừng, một đêm mất ngủ, một biến cố bất ngờ, một người bạn chân thành, một thất bại, một nỗi đau, một buổi chiều im lặng. Bất cứ nơi đâu Chúa làm cho ta dừng lại để gặp Người, nơi đó có thể trở thành Hưng Hóa của đời ta.
Và có lẽ cuối cùng, điều đẹp nhất sau mọi cuộc lên đường không phải là chúng ta đã đi được bao xa, nhưng là qua từng bước, ta đã thuộc về Chúa hơn bao nhiêu; không phải chúng ta đã chạm được bao nhiêu người, nhưng là chính chúng ta đã để Chúa chạm sâu đến mức nào; không phải chúng ta đã nói được bao nhiêu điều hay về Tin Mừng, nhưng là Tin Mừng đã biến đổi đời mình ra sao. Bởi người loan báo Tin Mừng trước hết phải là người được Tin Mừng loan báo mỗi ngày. Người nói về sự hoán cải trước hết phải là người đang hoán cải. Người nói về hy vọng trước hết phải là người không ngừng đặt lại hy vọng nơi Chúa. Người dẫn người khác đến với Đức Kitô trước hết phải là người ngày ngày trở về với Đức Kitô.
Vậy thì xin cảm ơn những điểm dừng. Cảm ơn những lúc Chúa không cho ta đi nhanh như mình muốn. Cảm ơn những lúc Người kéo ta ra khỏi đám đông. Cảm ơn những lúc Người làm ta im lặng. Cảm ơn cả những lúc Người để một vài kế hoạch không thành. Bởi biết đâu chính trong những điều ấy, Chúa đang cứu ta khỏi việc đi quá xa mà quên mất Người. Biết đâu Người đang đưa ta trở về nguồn để rồi từ đó sứ vụ không chỉ còn là công việc, nhưng trở thành hoa trái của tình yêu.
Hưng Hóa – một điểm dừng. Nhưng không phải điểm cuối. Một điểm dừng để gặp Chúa. Một điểm dừng để nhìn lại mình. Một điểm dừng để được chữa lành. Một điểm dừng để được biến đổi. Một điểm dừng để nghe lại tiếng gọi. Một điểm dừng để nhắc rằng mọi sứ vụ chỉ có ý nghĩa khi bắt đầu từ Chúa và đưa con người về với Chúa. Và rồi, từ điểm dừng ấy, người môn đệ lại đứng lên. Không ồn ào. Không cần những lời tuyên bố lớn lao. Chỉ âm thầm mang theo một trái tim đã được Chúa chạm đến, để bước vào thế giới và tiếp tục làm một việc thật giản dị: mang niềm vui Tin Mừng đến với mọi người.
Lm. Anmai, CSsR.
KHI HẬN THÙ KHÔNG CHỈ LÀ CHUYỆN CỦA HAI NGƯỜI
Có một câu hỏi đôi khi làm tôi suy nghĩ rất lâu: những người sống trong thù hận, trong bất hòa, trong cảnh không nhìn mặt nhau nhiều năm, họ có thật sự bình an không? Tôi không dám trả lời thay cho họ. Bởi lòng người là một cõi rất sâu, có những điều người ngoài nhìn thấy mà chưa chắc đã hiểu, và cũng có những điều chính người trong cuộc mang theo suốt bao năm mà không đủ lời để gọi tên. Có thể bên ngoài họ lạnh lùng với nhau, không nói chuyện, không qua lại, không bước chân vào nhà nhau, nhưng tận sâu trong lòng, có khi họ cũng chẳng còn cay cú như ngày đầu nữa. Có khi cơn giận đã nguội. Có khi vết thương đã bớt đau. Có khi họ đã thôi nhắc đến chuyện cũ. Có khi trong những đêm rất yên, họ cũng nhớ đến người kia, cũng chạnh lòng, cũng muốn một lần ngồi lại, nhưng rồi vì tự ái, vì sĩ diện, vì sợ bị tổn thương thêm một lần nữa, vì không biết phải bắt đầu bằng câu nào, nên mọi sự lại tiếp tục như cũ. Người ta có thể đã tha thứ trong lòng phần nào, nhưng chưa đủ can đảm bước tới để bắt tay làm hòa. Và thế là một khoảng cách tưởng chỉ nằm giữa hai người lại âm thầm trở thành một bức tường chắn ngang cả một gia đình, thậm chí chắn ngang nhiều thế hệ.
Có những cuộc bất hòa bắt đầu từ một chuyện rất nhỏ. Một câu nói không vừa ý. Một phần đất chia không đều. Một món tiền chưa rõ ràng. Một lần cư xử thiếu tế nhị. Một hiểu lầm trong ngày cưới, ngày giỗ, ngày tang. Một chuyện anh em bênh người này, trách người kia. Một lời người lớn nói trong lúc nóng giận. Ban đầu, người ta tưởng chỉ giận nhau vài hôm rồi thôi. Nhưng vài hôm thành vài tháng. Vài tháng thành vài năm. Rồi một ngày nhìn lại, tóc đã bạc mà vẫn chưa bước qua được cánh cửa nhà nhau. Điều đáng buồn là sau nhiều năm, đôi khi chính người trong cuộc cũng không còn nhớ thật rõ nguyên nhân ban đầu là gì. Họ chỉ nhớ rằng “nhà đó với nhà mình không qua lại”, “ông ấy với tôi không nhìn mặt”, “bên đó đã đối xử với tôi như vậy”, “tôi không bao giờ bước chân sang đó nữa”. Câu chuyện dần dần không còn được kể bằng sự kiện, nhưng được kể bằng cảm xúc. Và cảm xúc được truyền từ người này sang người khác, từ cha mẹ sang con cái, từ anh chị sang các em, từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Khi ấy, một vết thương của người lớn bắt đầu trở thành một di sản buồn cho những người trẻ vốn chẳng liên quan gì đến câu chuyện cũ.
Tôi nghĩ đây mới là điều đáng sợ nhất của những mối quan hệ bất hòa: hậu quả của nó không dừng lại nơi hai người đang giận nhau. Người lớn có thể nghĩ rằng: “Tôi không chơi với nó nữa thì thôi, có ảnh hưởng gì đến ai đâu.” Nhưng thật ra ảnh hưởng rất nhiều. Hai anh em không nhìn mặt nhau thì con cái của họ cũng ít có cơ hội gặp nhau. Hai chị em không bước chân vào nhà nhau thì những đứa cháu lớn lên như những người xa lạ. Một gia đình không dự đám giỗ bên kia thì những đứa trẻ cũng chẳng biết mặt bà con. Những người đáng lẽ phải gọi nhau bằng hai tiếng “anh em”, “chị em”, “cô cháu”, “chú cháu”, “anh họ”, “em họ”, cuối cùng lại chỉ biết nhau qua vài lời kể, mà đôi khi những lời kể ấy còn mang theo sự thiên lệch, cay đắng và thành kiến của người lớn. Không gặp nhau thì làm sao hiểu nhau. Không hiểu nhau thì làm sao thương nhau. Không có những bữa cơm chung, không có những ngày giỗ chung, không có những lần cùng ngồi bên người bệnh, không có những buổi gặp gỡ đầu năm cuối năm, thì tình thân lấy gì để lớn lên? Máu mủ không tự động tạo ra tình yêu. Tình yêu cần sự hiện diện. Tình thân cần những cuộc gặp gỡ. Và sự gần gũi cần được vun đắp bằng những điều rất nhỏ mỗi ngày.
Có những đứa trẻ lớn lên nghe cha mẹ dặn: “Đừng qua nhà đó.” Nó không hiểu tại sao. Nó chỉ biết vâng lời. Có những đứa trẻ gặp một người bà con ngoài đường nhưng không được chào, vì người lớn đang giận nhau. Có những đứa cháu đến ngày cưới mới phát hiện mình có một người cô mà từ nhỏ chưa từng được gặp. Có những người anh em họ sống cùng một thành phố, đi ngang qua nhau nhiều lần mà không biết nhau. Có những gia đình đến lúc có tang mới miễn cưỡng đứng chung một mái nhà, nhưng ngay cả trước linh cữu của người thân vẫn còn những ánh mắt tránh nhau. Nghĩ đến đó, tôi thấy buồn. Bởi cuộc đời vốn đã ngắn. Người thân rồi cũng lần lượt đi xa. Vậy mà có những năm tháng đáng lẽ được ngồi bên nhau, người ta lại dùng để tránh mặt nhau. Có những lời đáng lẽ phải nói khi còn kịp, người ta giữ lại đến lúc chẳng còn ai để nghe. Có những cái ôm đáng lẽ chỉ cần một bước chân là có thể trao cho nhau, người ta lại để tự ái kéo dài khoảng cách cho đến khi một nấm mộ xuất hiện giữa hai bên.
Con người thường nghĩ rằng mình đang bảo vệ lòng tự trọng khi không chịu làm hòa trước. Nhưng nhiều khi đó không phải lòng tự trọng mà chỉ là cái tôi đang được che giấu dưới một cái tên đẹp hơn. “Tại sao tôi phải xuống nước?” “Tại sao tôi phải qua trước?” “Nó sai chứ tôi có sai đâu.” “Nếu tôi mở lời, người ta sẽ nghĩ tôi thua.” Những câu nói ấy quen lắm. Chúng ta đã nghe chúng trong gia đình, ngoài xã hội, thậm chí có khi chính mình cũng từng nói. Nhưng hòa giải đâu phải là chuyện thắng thua. Người bước tới trước không phải là người thua. Nhiều khi đó lại là người mạnh hơn, bởi họ đủ mạnh để vượt qua cái tôi của mình. Người nói lời xin lỗi trước không có nghĩa là họ nhận hết lỗi về mình. Có khi họ chỉ đang nói rằng: “Tình thân này đối với tôi quan trọng hơn việc chứng minh ai đúng ai sai.” Và người biết mở lòng trước cũng không phải là người yếu đuối. Họ chỉ hiểu rằng đời người quá ngắn để dùng nhiều năm tháng giữ một cơn giận.
Đôi khi người ta bảo: “Tôi tha thứ rồi, nhưng tôi không muốn gặp nữa.” Tôi hiểu. Có những vết thương rất sâu. Có những mối quan hệ không thể trở lại nguyên trạng. Có những trường hợp khoảng cách là cần thiết để tránh tiếp tục làm tổn thương nhau. Tha thứ không đồng nghĩa với việc phủ nhận chuyện đã xảy ra. Tha thứ cũng không buộc người ta phải quay lại một mối quan hệ độc hại như chưa từng có gì. Nhưng giữa việc giữ một khoảng cách cần thiết và việc nuôi dưỡng thù hận là hai chuyện khác nhau. Ta có thể không gần gũi như xưa, nhưng vẫn có thể thôi nói xấu. Ta có thể chưa đủ sức ngồi ăn chung, nhưng vẫn có thể cầu bình an cho nhau. Ta có thể chưa thể ôm nhau, nhưng ít nhất cũng đừng dạy con cái ghét nhau. Ta có thể chưa đủ can đảm bước vào nhà nhau, nhưng cũng đừng khóa con cháu trong một cuộc chiến mà chúng không hề khởi đầu. Đây là điều những người lớn cần suy nghĩ thật kỹ: mình có quyền mang vết thương của mình, nhưng mình không có quyền biến vết thương ấy thành định mệnh của con cháu.
Nhiều bậc cha mẹ không nhận ra rằng khi họ kể đi kể lại chuyện xấu của một người bà con trước mặt con cái, họ đang gieo vào lòng con một định kiến mà đứa trẻ chưa từng có cơ hội kiểm chứng. Đứa trẻ yêu cha mẹ nên tự nhiên đứng về phía cha mẹ. Nó ghét một người chỉ vì cha mẹ ghét. Nó tránh một gia đình chỉ vì cha mẹ tránh. Nó mang một mối hận mà bản thân chẳng có kỷ niệm nào về nguyên nhân của mối hận đó. Và rồi một ngày, cha mẹ qua đời, nhưng sự lạnh nhạt vẫn còn. Người gây ra xung đột ban đầu có khi đã nằm dưới mộ, vậy mà con cháu vẫn tiếp tục không nhìn mặt nhau. Như thế chẳng phải là đáng tiếc lắm sao? Người chết mang chuyện cũ theo xuống mồ, nhưng người sống lại tiếp tục gánh cái giá của nó. Có những cuộc chiến không ai còn nhớ ai đã bắn phát súng đầu tiên, nhưng hai bên vẫn đứng ở hai phía chiến hào chỉ vì đã quen với việc đứng như thế.
Đức tin Kitô giáo không cho phép chúng ta xem chuyện hòa giải như một điều phụ thuộc vào cảm hứng. Đức Giêsu nói rất rõ: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Lời này khó lắm. Chúa không nói: nếu anh thấy mình sai thì hãy làm hòa. Chúa cũng không nói: nếu người kia xin lỗi trước thì anh hãy tha. Chúa nói chỉ cần “sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh” thì hãy đi làm hòa. Điều Chúa quan tâm không chỉ là ai đúng ai sai, nhưng là tương quan đang bị đổ vỡ. Điều Chúa muốn chữa lành không chỉ là lỗi lầm, mà còn là mối dây huynh đệ đã bị tổn thương. Bởi người ta có thể rất đúng mà vẫn rất cô đơn. Người ta có thể thắng một cuộc tranh luận nhưng mất một người anh em. Người ta có thể giữ được danh dự của mình nhưng làm tan nát một gia đình. Đứng trước Thiên Chúa, đôi khi câu hỏi không phải là “ai đúng?”, mà là “con đã làm gì để gìn giữ tình yêu?”
Tôi vẫn nghĩ một trong những nỗi đau lớn của tuổi già là nhìn quanh và thấy những chiếc ghế trống. Người ta đi dần. Cha mẹ mất. Anh em mất. Bạn bè mất. Những người từng tranh cãi với ta cũng mất. Khi còn trẻ, ta tưởng còn nhiều thời gian để làm hòa. Ta nghĩ sang năm cũng được. Sau Tết cũng được. Đợi người kia thay đổi rồi tính. Đợi dịp thuận tiện. Nhưng thời gian không báo trước. Có người tối còn ngồi uống trà, sáng đã không dậy nữa. Có người hôm qua còn khỏe, vài tháng sau đã ra đi. Khi ấy, cái giá của tự ái trở nên quá đắt. Một lời xin lỗi nói trước quan tài thường chỉ còn làm đau chính người nói. Một cái nắm tay dành cho người đã lạnh không còn được đáp lại. Một tiếng “anh ơi”, “chị ơi”, “em ơi” nói bên nấm mồ nghe xót xa vô cùng, bởi giá như nó được nói sớm hơn một chút, có lẽ cả hai đã có thêm vài năm được sống như người nhà.
Tha thứ luôn khó, bởi tha thứ đụng tới cái tôi bị tổn thương. Nhưng giữ hận cũng mệt lắm. Người bị ghét chưa chắc mất ngủ, nhưng người ôm sự cay đắng thì nhiều khi mất bình an trước. Ta mang người mình ghét trong đầu đi khắp nơi. Ăn cũng nhớ. Ngủ cũng nhớ. Nghe ai nhắc tên là lòng nổi sóng. Thấy hình là khó chịu. Đến một nơi sợ gặp họ. Đi dự một đám cưới cũng phải hỏi “nhà đó có đi không?”. Như thế chẳng phải chính mình đang bị cầm tù sao? Có khi người kia đã sống đời họ từ lâu, chỉ còn ta vẫn mang chuyện cũ trên lưng. Tha thứ trước hết không phải là giải thoát người kia khỏi tội của họ, nhưng là giải thoát lòng mình khỏi việc phải sống mãi dưới bóng của điều đã xảy ra.
Tuy nhiên, tôi cũng không muốn nói về hòa giải bằng những lời quá dễ dàng. Có những người đã cố gắng làm hòa và lại bị tổn thương thêm. Có những lời xin lỗi không được đón nhận. Có những bàn tay đưa ra nhưng bị từ chối. Có những người muốn trở về nhưng bên kia chưa sẵn sàng. Trong những trường hợp ấy, điều ta có thể làm là giữ cho lòng mình không biến thành nơi cư trú của hận thù. Nếu chưa thể gặp nhau, hãy cầu nguyện cho nhau. Nếu chưa thể nói chuyện, hãy thôi kể xấu. Nếu chưa thể trở thành bạn, ít nhất đừng trở thành kẻ thù. Nếu chưa thể mời nhau về nhà, hãy để con cái tự do chào hỏi và yêu thương nhau. Và nếu ta đã làm phần của mình trong sự chân thành, ta có thể trao phần còn lại cho Chúa. Hòa giải luôn cần hai phía, nhưng tha thứ có thể bắt đầu từ một phía.
Có lẽ một trong những món quà quý nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con cháu không phải là một mảnh đất rộng, một căn nhà lớn hay một số tiền nhiều, nhưng là một gia đình còn biết nhìn mặt nhau. Một gia đình mà ngày giỗ còn ngồi chung được một mâm cơm. Một gia đình mà con cháu biết nhà của cô dì chú bác ở đâu. Một gia đình mà khi có người bệnh, mọi người còn gọi điện hỏi thăm. Một gia đình mà khi có tang, người ta đến với nhau không phải vì phép lịch sự, nhưng vì thật lòng thương. Một gia đình như thế không tự nhiên mà có. Nó được xây bằng rất nhiều lần nhịn nhau, tha nhau, bước qua chuyện nhỏ, biết im khi cần im, biết nói khi cần nói, biết xin lỗi khi cần xin lỗi, và nhất là biết đặt tình thân cao hơn cái tôi.
Ngược lại, cũng có những gia tài rất buồn. Cha mẹ để lại cho con cái đất đai nhưng kèm theo tranh chấp. Để lại tiền bạc nhưng kèm theo nghi ngờ. Để lại những câu chuyện cũ mà con cháu được dặn phải nhớ để mà giận. “Ngày xưa bên đó làm với nhà mình thế này.” “Con nhớ đừng bao giờ tin họ.” “Đời cha đã vậy thì đời con cũng phải vậy.” Những lời ấy giống như một bản di chúc của hận thù. Người Kitô hữu không thể để lại cho con cháu một gia tài như thế. Nếu đời mình chưa đủ sức nối lại hết những gì đã vỡ, ít nhất cũng đừng làm nó vỡ thêm. Nếu mình chưa đủ sức yêu lại người kia, ít nhất hãy để con cái mình có quyền yêu con cái họ. Đừng bắt thế hệ sau trả một món nợ mà chúng không vay.
Tôi thiết tưởng, nhiều người trong chúng ta cần tự hỏi: nếu hôm nay mình chết, những mối bất hòa mình đang giữ sẽ đi đâu? Chúng sẽ chấm dứt cùng mình hay tiếp tục sống trong con cháu? Những lời mình đã nói về người kia sẽ trở thành hạt giống gì trong tâm hồn những đứa trẻ? Những lần mình cấm con cái gặp bà con có làm chúng nghèo đi một phần tình thân không? Và liệu một ngày nào đó, khi chúng lớn lên, chúng có hỏi: “Tại sao ngày xưa người lớn không làm hòa với nhau sớm hơn?” Lúc ấy, chúng ta trả lời thế nào?
Có những chuyện phải đến khi tuổi đã xế chiều người ta mới hiểu: phần lớn những điều mình từng giận dữ đến mất ăn mất ngủ rồi cuối cùng cũng chẳng đáng bao nhiêu. Nhiều cuộc tranh hơn thua sau vài chục năm nhìn lại chỉ thấy nhỏ bé. Một phần đất rồi cũng để lại. Một món tiền rồi cũng tiêu hết. Một câu xúc phạm rồi cũng phai. Chỉ có những năm tháng mất nhau là không lấy lại được. Một bữa cơm gia đình đã bỏ lỡ thì không thể quay lại đúng ngày đó. Một mùa Tết cha mẹ còn sống nhưng anh em không chịu ngồi chung, qua năm sau có thể cha mẹ đã không còn. Một đứa cháu lớn lên không biết mặt ông cậu, bà dì, đến khi muốn tìm lại thì mọi người đã già. Có những mất mát chỉ khi không còn sửa được nữa, người ta mới nhận ra cái giá của nó.
Bởi vậy, nếu hôm nay trong lòng ta đang có một người khiến ta khó chịu mỗi khi nhớ đến, hãy thử đặt người ấy trước mặt Chúa. Không cần ép mình phải lập tức có cảm xúc tốt. Chỉ cần nói thật: “Lạy Chúa, con chưa thương được người này. Con vẫn còn đau. Con vẫn còn giận. Nhưng con không muốn sự giận dữ này cai trị đời con. Xin Chúa làm phần con chưa làm được.” Có khi hòa giải không bắt đầu bằng một cuộc gặp gỡ lớn lao, mà bằng một lời cầu nguyện như thế. Rồi một ngày, ta có thể nhắn một câu hỏi thăm. Một ngày khác, ta có thể gửi lời chia buồn khi nhà họ có tang. Một dịp khác, ta có thể chúc mừng khi con họ cưới. Những chiếc cầu đôi khi không được xây trong một ngày. Nhưng chỉ cần có người đặt viên đá đầu tiên, dòng sông chia cách đã bắt đầu có hy vọng được bắc qua.
Và nếu người kia không đáp lại thì sao? Ta vẫn cứ để lòng mình tự do. Ta không kiểm soát được trái tim của họ, nhưng ta có thể giữ trái tim mình khỏi trở nên khô cứng. Chúa không hỏi ta đã làm cho người kia thay đổi chưa. Chúa sẽ hỏi ta đã yêu thế nào trong hoàn cảnh mình được đặt vào. Có khi sự thánh thiện của ta nằm chính ở chỗ vẫn giữ được lòng hiền lành trước một người chưa thể hòa giải. Không nói xấu họ. Không kéo người khác về phe mình. Không vui khi họ gặp chuyện. Không gieo vào con cái sự khinh miệt đối với họ. Đó đã là một cuộc chiến rất lớn với chính mình.
Tôi cũng nghĩ rằng trong các gia đình, những người trẻ đôi khi có thể trở thành chiếc cầu mà người lớn không còn đủ can đảm bước qua. Nếu cha mẹ có bất hòa với anh chị em của mình, đừng biến con cái thành chiến binh của phe mình. Hãy cho chúng được chào cô, chào chú, thăm ông bà, chơi với anh em họ. Người lớn có thể chưa nói chuyện được với nhau, nhưng đừng đóng cánh cửa tình thân trước mặt trẻ nhỏ. Biết đâu chính sự vô tư của những đứa trẻ lại làm mềm những trái tim đã cứng. Một đứa cháu chạy đến ôm người bác mà cha nó đã không nói chuyện nhiều năm có khi là lời mời gọi hòa giải mạnh hơn cả trăm bài giảng. Một đám cưới, một đám tang, một người bệnh, một đứa trẻ mới sinh đôi khi là cơ hội Thiên Chúa đặt trước mặt chúng ta để những bức tường cũ bắt đầu rạn nứt. Chỉ tiếc là nhiều người vì tự ái đã bỏ qua cả những cánh cửa ấy.
Cuối cùng, bình an không đơn giản là không cãi nhau. Có người không cãi nhưng trong lòng đầy chiến tranh. Không nói chuyện với nhau nhiều năm chưa chắc là bình an; đôi khi chỉ là một cuộc chiến đã chuyển từ tiếng nói sang im lặng. Bình an thật không nhất thiết có nghĩa là mọi mối quan hệ đều trở lại như xưa, nhưng là lòng mình không còn mong điều xấu cho người khác. Là khi nhắc tên họ, ta không còn muốn kể lại câu chuyện cũ để chứng minh mình đúng. Là khi thấy họ thành công, ta không khó chịu. Là khi nghe họ gặp chuyện, ta vẫn có thể cầu nguyện. Là khi con cái mình chơi với con cái họ, ta không ngăn cản. Là khi nghĩ đến cái chết, ta không còn thấy trong lòng một món nợ chưa thanh toán.
Đời người quá ngắn để dành nhiều năm cho hận thù. Gia đình quá quý để một câu chuyện cũ chia cắt đến nhiều thế hệ. Và những đứa trẻ sinh ra sau cuộc bất hòa không đáng phải lớn lên trong cái bóng của một cuộc chiến mà chúng chẳng hề gây ra. Nếu có thể làm hòa, hãy làm khi còn kịp. Nếu có thể gọi một cuộc điện thoại, đừng đợi đến ngày đưa tang. Nếu có thể bước qua một cánh cửa, đừng để đến lúc cánh cửa ấy đóng lại mãi mãi. Nếu có thể nói một câu “thôi, chuyện qua rồi”, hãy nói khi người kia còn nghe được. Bởi có những ngày ta sẽ hiểu rằng điều đáng tiếc nhất không phải là mình đã chịu thiệt một chút, mà là mình đã để cái tôi lấy mất quá nhiều năm tháng của yêu thương.
Và nếu hôm nay ta chưa thể bắt tay làm hòa, thì ít nhất hãy bắt đầu bằng một quyết định rất nhỏ nhưng rất quan trọng: chuyện buồn này sẽ dừng lại ở đời tôi. Tôi sẽ không truyền nó cho con cháu. Tôi sẽ không dạy chúng ghét người mà tôi từng giận. Tôi sẽ không biến tổn thương của mình thành một di sản. Tôi có thể chưa làm được mọi điều, nhưng tôi sẽ không để một vết thương cũ tiếp tục sinh thêm những vết thương mới. Có lẽ đó đã là bước đầu của tha thứ. Có lẽ đó cũng là lúc bình an bắt đầu trở về. Và biết đâu, chính từ một người dám dừng lại, cả một dòng họ sẽ thôi phải mang theo câu chuyện buồn đã kéo dài quá lâu.
Lm. Anmai, CSsR
THA THỨ – PHÉP LẠ GIẢI THOÁT CON NGƯỜI
“Tha thứ là phép lạ vĩ đại nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân và tha nhân.” Tôi rất đồng tình với chia sẻ ấy. Càng đi qua những va chạm của đời người, càng chứng kiến những đổ vỡ trong gia đình, những rạn nứt giữa bạn bè, những tổn thương trong cộng đoàn, những hiểu lầm giữa người với người, tôi càng thấy tha thứ quả thật là một phép lạ. Không phải phép lạ làm cho người mù lập tức nhìn thấy, người què đứng dậy bước đi hay người chết sống lại trước mắt đám đông, nhưng là một phép lạ diễn ra trong phần sâu nhất của con người: một trái tim tưởng như đã hóa đá lại có thể mềm ra; một ký ức từng chỉ cần chạm nhẹ cũng đau buốt lại có thể được nhắc đến mà không còn muốn trả đũa; một con người từng thề rằng suốt đời này sẽ không nhìn mặt ai đó nữa, một ngày kia lại có thể bình thản cầu chúc điều lành cho chính người đã làm mình đau. Có những phép lạ khiến người ta kinh ngạc trong vài phút, nhưng tha thứ có khi là phép lạ cần cả một đời để thành hình. Và chính vì thế, nó vĩ đại.
Người ta thường nghĩ tha thứ là một ân huệ mình ban cho kẻ khác. Nghĩ như thế không sai, nhưng chưa đủ. Trước khi giải thoát người làm mình đau, tha thứ giải thoát chính mình. Khi không tha thứ, người ta tưởng rằng mình đang giữ kẻ khác trong nhà tù của sự kết án, nhưng nhiều khi chính mình mới là người bị nhốt ở bên trong. Người kia có thể đã đi rất xa, đã sống một cuộc đời khác, thậm chí có khi chẳng còn nhớ rõ chuyện đã từng xảy ra, trong khi mình vẫn ngày ngày ngồi lại với câu chuyện cũ, nhai lại lời nói cũ, nhìn lại vết thương cũ và sống tiếp những ngày hôm nay bằng nỗi đau của ngày hôm qua. Có người làm ta đau một lần, nhưng vì không thể buông, ta tự làm mình đau hàng trăm lần bằng ký ức. Có người xúc phạm ta trong vài phút, nhưng ta cho phép lời xúc phạm ấy ở lại trong tim hàng chục năm. Có người bước ra khỏi cuộc đời ta từ rất lâu, nhưng vì lòng oán giận, ta vẫn dành cho họ một căn phòng rất lớn trong tâm hồn mình. Căn phòng ấy tối, chật, ngột ngạt, nhưng ngày nào ta cũng bước vào. Và rồi ta tưởng mình đang trừng phạt người khác, trong khi người bị lấy mất bình an lại chính là mình.
Bởi vậy, tha thứ không trước hết là tuyên bố rằng người kia vô tội. Tha thứ không làm cho điều sai trở thành đúng, không biến bất công thành công bằng, không gọi phản bội là yêu thương, không coi xúc phạm như chưa từng xảy ra. Tha thứ càng không có nghĩa là người bị tổn thương phải phủ nhận nước mắt của mình, phải tỏ ra mạnh mẽ khi trong lòng còn tan nát, phải quay trở lại ngay với một mối quan hệ độc hại hay tiếp tục để người khác chà đạp phẩm giá của mình. Có những khoảng cách cần được giữ. Có những giới hạn phải được đặt ra. Có những sai phạm cần được nói thật. Có những trách nhiệm cần được đòi hỏi. Có những mối quan hệ sau một biến cố sẽ không thể trở lại như xưa. Nhưng ngay cả khi phải giữ khoảng cách, con người vẫn có thể tha thứ. Tha thứ là không để sự dữ của người khác tiếp tục sinh thêm sự dữ trong lòng mình. Tha thứ là từ chối để vết thương biến mình thành một phiên bản khác của kẻ đã làm mình tổn thương. Tha thứ là dừng lại chuỗi truyền dẫn của oán hờn.
Có một điều rất lạ trong đời sống con người: đau khổ nếu không được chữa lành thường tìm cách truyền mình sang một người khác. Một người lớn lên trong những lời miệt thị rất dễ học cách miệt thị người khác. Một người từng bị phản bội có thể bước vào mọi mối quan hệ mới với sự nghi ngờ. Một người bị đối xử khắc nghiệt có thể trở thành người khắc nghiệt. Một đứa trẻ lớn lên giữa những trận cãi vã có thể mang tiếng cãi vã ấy vào chính gia đình mình sau này. Một gia đình giữ mối hận nhiều năm có thể khiến những đứa con chẳng liên quan gì cũng lớn lên trong sự xa cách. Đó là bi kịch của những vết thương không được chữa lành: chúng không chịu chết cùng quá khứ, nhưng đi tìm một thế hệ mới để tiếp tục sống. Vì vậy, khi một người thực sự tha thứ, người ấy không chỉ chữa lành cho mình mà còn có thể chặn đứng cả một dòng chảy của cay đắng đang chuẩn bị đi qua những người khác. Chỉ một người quyết định không trả đũa cũng có thể làm đổi hướng lịch sử của một gia đình. Chỉ một người chịu hạ giọng cũng có thể cứu một cuộc chia rẽ. Chỉ một người dám nói “thôi, chuyện ấy dừng lại ở đây” cũng có thể giữ cho con cháu mình khỏi mang một gánh nặng vốn chưa bao giờ thuộc về chúng. Đó chẳng phải là phép lạ sao?
Nhưng tha thứ khó lắm. Nói về tha thứ bao giờ cũng dễ hơn tha thứ thật. Khi vết thương còn ở trên giấy, chúng ta có thể nói những lời rất đẹp. Nhưng khi vết thương ở trong tim mình, mọi lý thuyết bỗng trở nên nhạt nhòa. Có những nỗi đau không thể chữa bằng một câu khuyên “hãy bỏ qua đi”. Có những người mất cả tuổi trẻ vì sự phản bội của người khác. Có người mất danh dự vì một lời vu khống. Có người mang vết thương từ những người đáng lẽ phải bảo vệ mình. Có người đã hết lòng mà chỉ nhận lại sự bạc bẽo. Có người bị những người thân nhất làm cho đau nhất. Bởi thế, khi đứng trước một người đang bị tổn thương, đừng vội thúc họ tha thứ như thể tha thứ là một nút bấm. Đừng biến Tin Mừng thành một gánh nặng mới đặt trên vai người đang khóc. Thiên Chúa kiên nhẫn với con người hơn chúng ta tưởng. Người không đứng trước một trái tim tan vỡ mà ra lệnh: “Phải hết đau ngay.” Người ở lại. Người lắng nghe. Người đón lấy tiếng khóc. Người chữa lành từng chút. Và khi lòng người đủ mềm, tha thứ mới có thể nảy mầm.
Tha thứ nhiều khi không bắt đầu bằng cảm xúc mà bằng một quyết định. Có thể lòng mình vẫn còn đau. Có thể nhắc đến chuyện cũ vẫn còn buồn. Có thể nước mắt chưa khô. Có thể chưa thể nhìn người kia bằng sự bình thản hoàn toàn. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng một quyết định rất nhỏ: tôi không trả thù. Tôi không nguyền rủa. Tôi không lấy nỗi đau của mình làm lý do để gây đau cho người khác. Tôi không kể lại câu chuyện chỉ để hạ nhục người kia. Tôi không muốn đời mình bị định nghĩa mãi bởi một biến cố đã qua. Tôi chưa thể yêu như trước, nhưng tôi xin Chúa đừng để lòng mình trở nên độc địa. Chỉ bấy nhiêu thôi đôi khi đã là khởi đầu của một hành trình rất lớn.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu không chỉ dạy tha thứ; Người đã sống tha thứ đến tận cùng. Trên Thập Giá, nơi con người tưởng rằng sự dữ đã chiến thắng, một lời cầu nguyện vang lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đó là một trong những câu đáng sợ nhất và cũng đẹp nhất của Kitô giáo. Đáng sợ, bởi nó đưa tình yêu đến một nơi mà bản năng con người không muốn đi tới. Đẹp, bởi nó cho thấy tình yêu của Thiên Chúa không bị quyết định bởi cách con người đối xử với Người. Người ta đóng đinh Đức Giêsu, nhưng không thể đóng đinh lòng thương xót của Người. Người ta lấy đi áo của Người, lấy đi tự do của Người, lấy đi danh dự của Người, lấy đi cả mạng sống của Người, nhưng không lấy được khả năng yêu của Người. Đó là chiến thắng thật sự của Thập Giá. Không phải Đức Giêsu thắng bằng cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng bằng cách từ chối trở thành giống như kẻ thù. Bạo lực đến với Người nhưng không thể sinh ra bạo lực từ Người. Hận thù trút xuống Người nhưng không thể sản sinh hận thù trong Người. Và từ một nơi tưởng như chỉ có cái chết, sự tha thứ mở ra con đường của sự sống.
Có lẽ vì thế mà tha thứ đưa con người bước vào “vương quốc của Thiên Chúa”, vương quốc của tình yêu. Vương quốc ấy không phải chỉ là một nơi chờ ta sau khi chết. Nó bắt đầu ngay trong những lựa chọn rất cụ thể hôm nay. Khi ta chọn yêu thay vì trả thù, Nước Chúa bắt đầu. Khi ta chọn im một lời có thể giết chết người khác, Nước Chúa bắt đầu. Khi ta dám xin lỗi dù cái tôi đang chống lại, Nước Chúa bắt đầu. Khi ta chịu nghe một câu chuyện từ phía người mình từng kết án, Nước Chúa bắt đầu. Khi hai người từng quay lưng có thể ngồi lại, dù chỉ để nói một lời chân thành, Nước Chúa bắt đầu. Khi một người quyết định không truyền mối hận của cha mẹ sang con cái, Nước Chúa bắt đầu. Nước ấy lớn lên âm thầm như hạt cải, nhưng có sức thay đổi cả một đời người.
Nhiều người nói: “Tôi tha thứ nhưng không quên.” Câu nói ấy đôi khi bị hiểu như một sự mâu thuẫn, nhưng thật ra con người không thể ra lệnh cho trí nhớ. Có những chuyện không thể quên. Và cũng không nhất thiết phải quên. Điều quan trọng không phải là ký ức có biến mất hay không, mà là ký ức ấy còn có quyền cai trị mình hay không. Có những vết sẹo vẫn còn trên da nhưng không còn đau nữa. Có những câu chuyện ta vẫn nhớ rất rõ nhưng khi kể lại, trong giọng nói không còn độc tố. Có những người ta không còn đi chung đường, nhưng khi nghe tên họ, lòng không còn nổi sóng. Đó có thể chính là dấu hiệu đẹp nhất của sự chữa lành. Tha thứ không xóa lịch sử; tha thứ đổi cách lịch sử sống trong ta. Quá khứ vẫn ở đó, nhưng không còn cầm chìa khóa của tương lai.
Và cũng cần nhớ rằng người cần được tha thứ đôi khi lại chính là mình. Có người có thể tha thứ cho cả thế gian nhưng không thể tha thứ cho bản thân. Họ sống mãi với một lựa chọn sai, một lần yếu đuối, một biến cố khiến họ hối hận. Nhiều năm đã qua, Thiên Chúa có thể đã tha, người khác có thể đã tha, nhưng họ vẫn tự kết án. Mỗi ngày họ dựng lại một tòa án trong lòng, vừa làm công tố viên, vừa làm quan tòa, vừa làm tù nhân. Họ không cho mình quyền bắt đầu lại. Nhưng nếu Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, tại sao ta lại muốn nghiêm khắc với chính mình hơn Thiên Chúa? Ăn năn là điều cần thiết, sửa sai là điều cần thiết, chịu trách nhiệm là điều cần thiết, nhưng tự hành hạ mình mãi không phải là khiêm nhường. Khiêm nhường thật là dám thú nhận mình đã sai và cũng dám tin rằng tình thương của Thiên Chúa lớn hơn cái sai ấy. Có lúc phép lạ lớn nhất không phải là tha cho người khác, mà là nhìn mình trong gương và nói: “Tôi đã sai. Tôi đã trả giá. Tôi đã học được điều cần học. Và với ơn Chúa, tôi sẽ sống phần đời còn lại khác đi.”
Điều kỳ diệu của tha thứ là nó trao lại quyền tự do. Khi oán hận, ta để người làm mình đau tiếp tục điều khiển cảm xúc của mình từ xa. Họ vui, ta khó chịu. Họ thành công, ta bực bội. Họ xuất hiện, lòng ta xáo trộn. Ai đó nhắc tên họ, cả ngày ta mất bình an. Như thế, dù họ không còn hiện diện, họ vẫn đang giữ một loại quyền lực trong ta. Tha thứ là lấy lại quyền lực ấy. Tôi không thể thay đổi điều anh đã làm, nhưng tôi có thể quyết định điều ấy sẽ không tiếp tục quyết định con người tôi. Tôi không thể viết lại ngày hôm qua, nhưng tôi có thể không để ngày hôm qua viết thay ngày mai. Tôi không thể bắt người kia xin lỗi, nhưng tôi có thể không buộc bình an của mình phải chờ một lời xin lỗi có thể không bao giờ đến.
Đây là một trong những chiều kích khó nhất của tha thứ: có lúc ta phải tha cho một người không hề xin lỗi. Công lý tự nhiên trong ta phản ứng rất mạnh trước điều này. Ta nghĩ: “Tại sao tôi phải tha khi họ chẳng thấy mình sai?” Nhưng tha thứ không phải phần thưởng trao cho người biết hối lỗi. Tha thứ trước hết là con đường cứu tâm hồn mình khỏi bị trói vào sai lỗi của người kia. Có những lời xin lỗi sẽ không bao giờ được nói. Có những người mang món nợ sang tận bên kia cuộc đời. Nếu bình an của ta phụ thuộc hoàn toàn vào việc họ phải nhận lỗi, nghĩa là ta đã giao chìa khóa bình an của mình cho một người có thể không bao giờ trao nó lại. Tha thứ lúc ấy là lấy chiếc chìa khóa ấy về. Không phải vì người kia xứng đáng, nhưng vì tâm hồn ta xứng đáng được tự do.
Dĩ nhiên, tha thứ không làm cho mọi mối quan hệ được phục hồi. Tha thứ và hòa giải có liên hệ nhưng không đồng nhất. Tha thứ có thể là quyết định của một người; hòa giải cần hai phía. Muốn hòa giải thật, cần sự thật, lòng ăn năn, thay đổi, trách nhiệm và thời gian. Nếu một người liên tục làm tổn thương, từ chối nhận trách nhiệm và tiếp tục hành vi sai trái, người bị tổn thương có quyền giữ khoảng cách. Tình yêu Kitô giáo không phải sự ngây thơ. Đức ái không đòi ta cho phép người khác tiếp tục phá hủy đời mình. Có khi tha thứ được biểu lộ bằng một khoảng cách bình an, thay vì một sự thân mật giả tạo. Điều quan trọng là trong khoảng cách ấy, ta không nuôi ý muốn tiêu diệt người kia.
Tôi nghĩ đến biết bao gia đình mà chỉ một chuyện rất nhỏ ban đầu đã trở thành một vết nứt kéo dài hàng chục năm. Một câu nói trong đám giỗ. Một chuyện chia đất. Một món tiền. Một hiểu lầm giữa hai chị em. Một lần cha mẹ thiên vị. Một câu nói của con dâu. Một cách hành xử của anh rể. Ban đầu chỉ là một chuyện. Rồi người này kể cho người kia. Mỗi lần kể lại, câu chuyện thêm một chút cay đắng. Con cái nghe. Cháu chắt nghe. Người ta bắt đầu đứng về phe. Những người chẳng có mặt khi chuyện xảy ra cũng trở thành kẻ thù của nhau. Tết đến tránh mặt. Đám cưới không mời. Đám tang cũng lạnh nhạt. Hai ngôi nhà cách nhau vài bước nhưng người trong nhà sống như hai thế giới. Đến một ngày những người khởi đầu câu chuyện đã già, thậm chí đã mất, nhưng mối hận vẫn sống rất khỏe trong con cháu. Đó là điều đau lòng. Nếu có một người đủ can đảm để phá vòng tròn ấy, người đó đang làm một việc rất gần với Tin Mừng.
Có khi người ta sợ tha thứ vì nghĩ tha thứ là thua. Nhưng thật ra trả thù mới dễ. Tha thứ mới cần sức mạnh. Người yếu thường phản ứng ngay theo bản năng. Người mạnh mới có thể chịu đau mà không vội phóng nỗi đau ấy trở lại. Tha thứ không phải cúi đầu vì hèn. Tha thứ nhiều khi là đứng rất thẳng trước người đã làm mình tổn thương và nói: “Điều anh làm là sai. Tôi không phủ nhận điều ấy. Nhưng tôi cũng không cho phép cái sai ấy biến tôi thành một con người đầy hận thù.” Đó là sức mạnh. Một sức mạnh không ồn ào, không cần khán giả, nhưng đủ làm rung chuyển cả thế giới bên trong.
Cuối cùng, chúng ta tha thứ được không phải vì mình tốt hơn người khác, mà vì chính mình cũng sống bằng sự tha thứ. Người Kitô hữu mỗi ngày đọc: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Câu ấy nếu đọc chậm sẽ thấy rất đáng suy nghĩ. Chúng ta đứng trước Thiên Chúa không phải như những người chưa từng làm ai đau. Ta cũng từng nói một câu khiến người khác tổn thương. Từng vô tâm. Từng thất hứa. Từng ích kỷ. Từng kết án. Từng làm người khác thất vọng. Có những lỗi ta biết, có những lỗi có lẽ ta chẳng bao giờ biết. Nếu cuộc đời ta cần lòng thương xót đến thế, làm sao ta có thể sống mãi bằng sự kết án người khác? Người càng ý thức mình được tha nhiều, càng dễ mở lòng để tha. Không phải vì nỗi đau không còn quan trọng, nhưng vì lòng thương xót đã trở thành một kinh nghiệm sống.
Có lẽ cuối cùng, tha thứ không làm thay đổi quá khứ, nhưng có thể thay đổi toàn bộ ý nghĩa của quá khứ. Một vết thương từng làm ta cay đắng có thể trở thành nơi ta học được lòng trắc ẩn. Một lần bị phản bội có thể khiến ta biết quý sự trung thành. Một thời gian bị hiểu lầm có thể dạy ta đừng vội kết án ai. Một ký ức đau có thể trở thành nơi Thiên Chúa làm phát sinh sự trưởng thành. Khi ấy, điều từng muốn phá hủy ta lại trở thành chất liệu để Thiên Chúa làm nên một con người sâu sắc hơn. Đó chính là cách Thiên Chúa cứu chuộc những điều tưởng như đã mất.
Tha thứ là một phép lạ vì nó làm điều mà sức con người nhiều khi không thể làm nổi. Nó biến giận dữ thành bình an, biến ký ức đau thành lòng cảm thông, biến một cánh cửa đã đóng thành một khe sáng, biến một con người từng bị quá khứ cầm tù thành một người có thể bước tiếp. Nhưng phép lạ ấy hiếm khi xảy ra trong một khoảnh khắc. Có khi hôm nay ta tha được một chút, ngày mai ký ức trở lại, ta lại phải tha thêm một lần nữa. Có khi ta phải nói với Chúa rất nhiều lần: “Con chưa làm được, nhưng con muốn muốn tha.” Chỉ cần còn muốn muốn tha, cánh cửa đã hé mở. Chúa có thể làm phần còn lại.
Và rồi một ngày, có thể ta sẽ ngạc nhiên nhận ra người mình từng không thể nhắc tên mà không giận nay chỉ còn là một con người yếu đuối đáng thương trong ký ức. Ta không còn cần họ thất bại để mình thấy công bằng. Không còn mong họ đau để bù lại nỗi đau của mình. Không còn kể câu chuyện cũ để tìm sự đồng tình. Trong lòng chỉ còn một lời rất nhẹ: “Xin Chúa thương họ. Và xin Chúa thương con.” Khi có thể cầu được như thế, phép lạ đã xảy ra.
Nếu phải chọn một dấu chỉ cho thấy một tâm hồn đang đến gần Thiên Chúa, có lẽ đó không phải là người ấy nói về đạo hay đến mức nào, biết bao nhiêu điều, làm được bao nhiêu việc, nhưng là trái tim họ ngày càng bớt chỗ cho hận thù. Bởi Thiên Chúa là tình yêu. Đi gần Người thì lòng phải rộng hơn, mềm hơn, nhân hậu hơn. Và tha thứ chính là một trong những con đường khó nhất nhưng đẹp nhất dẫn ta vào trái tim ấy.
Tha thứ cho người khác để họ được tự do. Tha thứ cho chính mình để mình được tự do. Xin người khác tha thứ khi ta đã làm họ đau để tình yêu có cơ hội sống lại. Và trên tất cả, hãy để mình được Thiên Chúa tha thứ, bởi chỉ người đã thật sự nếm được lòng thương xót mới hiểu tại sao tha thứ là phép lạ vĩ đại nhất.
Có những phép lạ thay đổi thân xác. Tha thứ thay đổi trái tim. Có những phép lạ giúp con người sống thêm vài năm. Tha thứ có thể trả lại cho con người cả một đời sống mà họ tưởng mình đã đánh mất. Có những phép lạ làm người ta kinh ngạc. Tha thứ làm người ta trở nên tự do. Và có lẽ đó chính là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Nước Trời ngay giữa cuộc đời này: nơi con người không còn sống bằng món nợ của nhau, nhưng sống bằng lòng thương xót; không còn hỏi ai mắc nợ mình bao nhiêu, nhưng nhớ mình đã được Thiên Chúa tha thứ biết chừng nào.
Lm. Anmai, CSsR
HÃY TRỞ THÀNH NHỮNG NHỊP CẦU KẾT NỐI YÊU THƯƠNG
Thế giới hôm nay không thiếu những người có khả năng nói thật hay, cũng không thiếu những người biết tạo ảnh hưởng, biết truyền cảm hứng, biết khơi dậy nơi người khác những ước mơ lớn lao. Chúng ta có rất nhiều những diễn giả truyền động lực, những người truyền lửa, những người có thể bằng vài câu nói làm cho đám đông xúc động, bằng một bài viết làm cho hàng ngàn người suy nghĩ, bằng một câu chuyện khiến người ta muốn thay đổi cuộc đời mình. Tất cả những điều ấy đều đáng quý. Một lời nói đúng lúc có thể nâng một người đang tuyệt vọng đứng dậy; một chứng tá chân thành có thể giúp người khác tìm lại niềm tin; một con người đầy nhiệt huyết có thể đánh thức những tâm hồn đang nguội lạnh. Nhưng càng sống lâu, càng nhìn sâu vào những đổ vỡ của con người, tôi càng cảm thấy rằng thế giới này có lẽ không chỉ cần thêm những người truyền cảm hứng hay truyền lửa. Điều thế giới đang rất thiếu chính là những người biết kết nối. Bởi lửa có thể bùng lên rồi tắt. Cảm hứng có thể đến rồi đi. Một bài nói hay có thể làm ta xúc động trong một buổi tối, nhưng sáng hôm sau ta vẫn phải trở về với căn nhà có những người đang không nói chuyện với nhau, với một gia đình đã chia rẽ nhiều năm, với một cộng đoàn đang có những khoảng cách âm thầm, với những người từng thân thiết nhưng nay nhìn nhau như người xa lạ. Những lúc ấy, điều cần nhất không hẳn là một bài nói lớn, nhưng có khi chỉ cần một con người đủ hiền để bước vào giữa hai phía, đủ khiêm tốn để nghe cả hai bên, đủ kiên nhẫn để không vội phán xét, đủ yêu thương để không đổ thêm dầu vào lửa, và đủ cầu nguyện để biết rằng mình không phải là người cứu thế, mình chỉ là một nhịp cầu nhỏ mà Thiên Chúa có thể dùng để đưa một người trở lại với một người. Tôi nghĩ đó là một trong những ơn gọi đẹp nhất mà mỗi người chúng ta đều có thể sống: trở thành nhịp cầu kết nối yêu thương. Không phải ai cũng có khả năng đứng trước đám đông. Không phải ai cũng có tài ăn nói. Không phải ai cũng có sức thu hút người khác. Không phải ai cũng viết hay, hát giỏi, tổ chức giỏi hay lãnh đạo giỏi. Nhưng ai cũng có thể cầu nguyện. Ai cũng có thể yêu thương. Ai cũng có thể tập lắng nghe. Ai cũng có thể lựa chọn nói một lời làm dịu thay vì một lời làm đau. Ai cũng có thể từ chối trở thành người chuyển tiếp những câu chuyện làm tổn thương người khác. Ai cũng có thể đứng trước một người đang bị cô lập và nói với họ bằng sự hiện diện của mình rằng: bạn không cô đơn. Và chính từ những điều nhỏ bé ấy, những chiếc cầu được xây nên.
Tôi vẫn nghĩ rằng phần lớn những chia rẽ trên đời này không bắt đầu từ những biến cố quá lớn. Nhiều khi chúng bắt đầu chỉ từ một câu nói không đúng lúc, một sự hiểu lầm không được giải thích, một lời xin lỗi đến quá muộn, một chút tự ái được nuôi quá lâu, một câu chuyện được kể đi kể lại qua nhiều người đến nỗi nó không còn giống câu chuyện ban đầu nữa. Một người nghe một phía, rồi tin hoàn toàn phía ấy. Một người khác nghe phía kia, rồi cũng tin hoàn toàn như thế. Từ đó người ta chia phe. Người vốn không có chuyện gì với nhau cũng bắt đầu nhìn nhau bằng ánh mắt nghi ngại chỉ vì nghe kể. Gia đình này không sang nhà gia đình kia. Anh em không mời nhau trong những dịp quan trọng. Người lớn giận nhau rồi con cháu lớn lên trong khoảng cách mà chúng chẳng hề tạo ra. Có những đứa trẻ chưa từng được gặp anh em họ của mình chỉ vì ông bà hoặc cha mẹ chúng có một mối bất hòa từ nhiều năm trước. Có những người sống cùng một giáo xứ nhưng cố tránh nhau. Có những người cùng phục vụ một cộng đoàn nhưng chỉ giao tiếp khi thật cần thiết. Có những người cùng đọc một kinh, cùng rước một Chúa, cùng gọi nhau là anh chị em trong Đức Kitô, nhưng trong lòng lại dựng lên những bức tường không ai nhìn thấy. Điều đáng buồn là đôi khi chúng ta quen với những bức tường ấy đến mức tưởng rằng đó là chuyện bình thường. Ta nói: “Tôi không ghét họ, tôi chỉ không muốn liên quan.” Ta nói: “Tôi tha thứ rồi, nhưng đừng bao giờ nhắc đến tên người ấy trước mặt tôi.” Ta nói: “Tôi không thù, nhưng từ nay đường ai nấy đi.” Có thể trong một vài hoàn cảnh, giữ khoảng cách là điều cần thiết để tránh những tổn thương tiếp tục xảy ra. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận sự thật, cũng không có nghĩa là để cho người khác tiếp tục làm hại mình. Nhưng điều đáng sợ là khi khoảng cách bên ngoài dần trở thành một bức tường bên trong. Khi ta không còn mong điều lành cho người kia nữa. Khi nghe họ gặp chuyện không may, trong lòng ta có một chút thỏa mãn. Khi nghe người khác nói xấu họ, ta im lặng để mặc câu chuyện lan đi vì ta thấy điều ấy có lợi cho mình. Khi có cơ hội nói tốt cho họ, ta cố tình không nói. Khi có thể giúp hai người hiểu nhau, ta lại làm cho họ hiểu lầm nhau hơn. Khi ấy, có lẽ ta cần thành thật nhìn lại xem mình đã thật sự tha thứ chưa, và sâu hơn nữa, mình đang xây cầu hay đang xây tường.
Chúa Giêsu đã đến thế gian không phải để dựng thêm những bức tường, nhưng để phá bỏ những bức tường ngăn cách. Người là Đấng nối trời với đất, nối Thiên Chúa với con người, nối những kẻ tội lỗi với lòng thương xót, nối những người bị loại trừ trở lại với cộng đoàn. Cả cuộc đời của Chúa là một hành trình đi đến với những người mà người khác muốn tránh xa. Người chạm đến người phong cùi. Người ngồi ăn với người thu thuế. Người trò chuyện với người phụ nữ Samari. Người để cho người phụ nữ tội lỗi lấy nước mắt mà rửa chân mình. Người bước vào nhà Dakêu giữa bao ánh mắt khó chịu của những người tự cho mình là công chính. Người bảo vệ người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội giữa một đám đông đang cầm đá. Người gọi những người rất khác nhau về tính cách, hoàn cảnh và quan điểm vào cùng một nhóm môn đệ. Có một Matthêu từng làm nghề thu thuế cho đế quốc Rôma, và cũng có một Simon thuộc nhóm Nhiệt thành vốn chống Rôma. Nếu theo lẽ thường, hai con người ấy khó mà ngồi cùng bàn. Nhưng Đức Giêsu đã đặt họ cạnh nhau. Không phải vì Người không biết những khác biệt giữa họ, nhưng bởi Người cho thấy rằng trong Người, những khoảng cách tưởng không thể vượt qua vẫn có thể được chữa lành. Đức Kitô không xóa cá tính của mỗi người, nhưng Người đem họ vào một tương quan mới, nơi người ta không còn nhìn nhau trước hết bằng quá khứ, phe phái hay định kiến, nhưng bằng ánh mắt của những người cùng được Thiên Chúa yêu thương. Và đỉnh cao của việc kết nối ấy chính là Thập Giá. Thập Giá là chiếc cầu lớn nhất mà Thiên Chúa dựng nên giữa trời và đất. Hai thanh gỗ giao nhau như thể nói lên hai chiều của tình yêu: chiều dọc nối con người với Thiên Chúa, chiều ngang nối con người với con người. Không thể thật sự yêu Thiên Chúa mà mãi khước từ người anh em. Không thể đứng dưới chân Thập Giá mà vẫn bình thản nuôi thù hận. Không thể mỗi ngày đọc lời “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” mà không ít lần giật mình vì chính miệng mình đang xin Thiên Chúa đối xử với mình theo cách mình đối xử với người khác.
Nhưng để trở thành người kết nối, điều đầu tiên chúng ta cần không phải là kỹ năng giao tiếp, mà là một tâm hồn cầu nguyện. Một người không cầu nguyện rất dễ kết nối người khác theo ý riêng của mình, còn một người cầu nguyện sẽ học dần cách kết nối theo ý Chúa. Có những việc ta rất muốn hòa giải nhưng chưa đến lúc. Có những lời ta tưởng nên nói nhưng thực ra nên im lặng. Có những cuộc gặp cần chuẩn bị bằng nhiều tháng cầu nguyện hơn là vài phút thuyết phục. Có những vết thương người khác chưa sẵn sàng mở ra. Có những con người cần được lắng nghe trước khi được khuyên bảo. Nếu thiếu cầu nguyện, người đi hòa giải rất dễ trở thành người nhiều chuyện. Nếu thiếu cầu nguyện, người kết nối có thể vô tình mang chuyện bên này sang bên kia, rồi làm vết thương lớn hơn. Nếu thiếu cầu nguyện, ta có thể thích cảm giác mình là người quan trọng, người đứng giữa, người biết chuyện của cả hai phía. Khi ấy việc hòa giải không còn là sứ mạng, mà trở thành một cách kín đáo để cái tôi được nuôi dưỡng. Vì thế, người muốn trở thành nhịp cầu trước hết phải học quỳ xuống. Quỳ trước Chúa để xin Người thanh luyện động cơ của mình. Quỳ xuống để xin cho lời mình nói không mang nọc độc của thành kiến. Quỳ xuống để biết khi nào nên bước tới và khi nào nên lùi lại. Quỳ xuống để xin được nhìn mỗi người bằng ánh mắt của Chúa. Bởi có những người mà ta rất khó thương nếu chỉ nhìn bằng mắt mình. Nhưng khi ta đem họ vào trong cầu nguyện, điều lạ lùng xảy ra: có thể hoàn cảnh chưa thay đổi, người kia chưa thay đổi, nhưng trái tim ta bắt đầu thay đổi. Ta không còn chỉ nhớ đến điều họ đã làm đau mình; ta bắt đầu nhớ rằng họ cũng là một con người với những tổn thương, những giới hạn, những trận chiến âm thầm mà mình không biết. Ta bắt đầu có khả năng tách con người ra khỏi lỗi lầm của họ. Ta vẫn gọi điều sai là sai, nhưng không vì thế mà kết luận cả con người ấy là xấu. Ta không đồng ý với việc họ làm, nhưng vẫn có thể cầu xin điều lành cho họ. Đó là một bước rất lớn của tự do nội tâm.
Người kết nối cũng cần một trái tim yêu thương. Mà yêu thương ở đây không phải là cảm xúc dễ chịu dành cho tất cả mọi người. Không ai có thể có cùng một cảm xúc với tất cả. Tình yêu Tin Mừng sâu hơn cảm xúc. Yêu là muốn điều tốt cho người khác ngay cả khi mình không thích họ. Yêu là không lợi dụng điểm yếu của người khác để hạ họ. Yêu là giữ lại một câu chuyện có thể phá hủy danh dự của người khác dù kể ra có thể khiến ta được chú ý. Yêu là không biến lỗi lầm của một người thành căn tính của cả đời họ. Yêu là biết rằng ai cũng có một lịch sử mà mình chưa được đọc hết. Có những người nóng nảy vì họ đã sống quá lâu trong bất an. Có những người khép kín vì từng bị phản bội. Có những người kiểm soát người khác vì sâu bên trong họ rất sợ bị bỏ rơi. Có những người luôn tỏ ra mạnh mẽ vì chưa từng được phép yếu đuối. Điều đó không biện minh cho hành vi sai trái, nhưng giúp ta bớt đơn giản hóa con người. Khi ta chỉ nhìn một người bằng lỗi họ đã gây ra, ta đóng cánh cửa của hy vọng. Khi ta nhìn họ bằng ánh mắt thương xót, ta mở ra khả năng rằng con người có thể thay đổi. Chúa đã nhìn Phêrô không chỉ bằng ba lần chối Thầy, nhưng bằng sứ mạng Người còn muốn trao cho ông. Chúa nhìn người trộm lành không chỉ bằng quá khứ tội lỗi, nhưng bằng một trái tim có thể mở ra trong những giây phút cuối đời. Chúa nhìn Phaolô không chỉ như người bách hại Hội Thánh, nhưng như một Tông đồ tương lai. Nếu Thiên Chúa chỉ giữ chúng ta lại trong giây phút tệ nhất của đời mình, không ai trong chúng ta có cơ hội để bắt đầu lại. Vì vậy, người xây cầu phải là người tin rằng con người có thể thay đổi bởi ân sủng.
Có lẽ chúng ta cũng cần tự hỏi mình một câu rất đơn giản: sự hiện diện của tôi trong một nhóm người thường làm cho người ta gần nhau hơn hay xa nhau hơn? Sau khi nói chuyện với tôi, người này hiểu người kia hơn hay ghét họ hơn? Khi ai đó đến kể cho tôi một câu chuyện về người thứ ba, tôi làm gì với câu chuyện ấy? Tôi giúp họ bình tâm lại, nhìn sự việc rộng hơn, hay tôi lập tức thêm vào vài câu để nỗi bực tức của họ mạnh hơn? Có những người mang một khả năng rất đặc biệt: đi đến đâu cũng có thể tạo bình an. Họ không nhất thiết nói nhiều. Nhưng bên cạnh họ, người ta không sợ bị phán xét. Người ta biết rằng những gì mình tâm sự sẽ không trở thành câu chuyện ở bàn khác. Người ta biết rằng họ không dùng nỗi yếu đuối của mình làm chất liệu cho những cuộc trò chuyện. Người ta cảm thấy được tôn trọng. Những người ấy quý lắm. Ngược lại, cũng có những người đi đến đâu là ở đó bắt đầu hình thành phe nhóm. Họ thu thập những câu chuyện, nối những lời nói rời rạc, suy diễn động cơ người khác, rồi kể bằng một giọng như thể họ biết toàn bộ sự thật. Có khi họ không ý thức rằng mình đang phá cầu. Một câu nói của họ có thể khiến hai người hiểu lầm nhau nhiều năm. Một lời thêm thắt có thể làm một gia đình rạn nứt. Một tin nhắn được chuyển đi không đúng chỗ có thể phá hỏng danh dự người khác. Một tấm ảnh, một đoạn ghi âm, một câu chuyện chưa kiểm chứng được đưa lên mạng có thể khiến một người chịu đựng những tổn thương mà chúng ta không bao giờ đo được. Thời đại mạng xã hội cho mỗi người một khả năng rất lớn để kết nối, nhưng đồng thời cũng cho ta một khả năng rất lớn để chia rẽ. Chỉ một nút “chia sẻ” thôi cũng có thể làm ánh sáng lan đi hoặc làm bóng tối lan đi. Bởi vậy, trước khi gửi một điều gì, có lẽ nên tự hỏi: điều này có thật không? Có cần thiết không? Có bác ái không? Nếu người đang được nói đến đứng ngay bên cạnh tôi, tôi có nói như vậy không? Nếu chính tôi là người trong câu chuyện ấy, tôi có muốn nó được lan truyền như thế không?
Xây cầu không có nghĩa là phủ nhận sự khác biệt. Người hòa giải không phải là người luôn nói rằng ai cũng đúng. Có khi một bên rõ ràng đã sai. Có những bất công cần được gọi tên. Có những sự thật cần được nói ra. Có những giới hạn cần được thiết lập. Có những mối quan hệ không thể trở lại như trước. Có những trường hợp hòa giải đòi hỏi cả sự thật, trách nhiệm, sửa sai và thời gian. Nhưng ngay cả khi phải nói sự thật, ta vẫn có thể nói mà không làm nhục người khác. Ngay cả khi phải góp ý, ta vẫn có thể góp ý với lòng thương. Ngay cả khi phải giữ khoảng cách, ta vẫn có thể không nuôi hận. Ngay cả khi một mối quan hệ không thể tiếp tục, ta vẫn có thể trao người kia lại cho Thiên Chúa và xin cho họ được bình an. Hòa giải theo Tin Mừng không phải là tô sơn lên một bức tường đang nứt để làm như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Hòa giải thật cần sự thật. Nhưng sự thật mà không có tình yêu có thể trở thành một thứ vũ khí. Tình yêu mà không có sự thật lại trở thành dễ dãi. Đức Kitô cho chúng ta cả hai: đầy ân sủng và sự thật. Người không kết án người phụ nữ ngoại tình, nhưng cũng nói: “Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Người không loại trừ Phêrô sau khi ông chối Thầy, nhưng cũng đưa ông trở lại với câu hỏi đau đáu: “Con có yêu mến Thầy không?” Tình yêu của Chúa chữa lành bằng cách đưa con người trở lại với sự thật, nhưng là một sự thật mở ra tương lai chứ không đóng chặt đời người trong quá khứ.
Có những người nghĩ rằng mình quá bình thường để có thể làm điều gì đáng kể cho thế giới. Tôi lại nghĩ rằng một người bình thường biết sống như nhịp cầu có thể làm được nhiều hơn họ tưởng. Một người mẹ không nói xấu cha trước mặt con cái dù hai người đang có mâu thuẫn, người mẹ ấy đang xây cầu. Một người cha dạy con biết tôn trọng ông bà bên nội lẫn bên ngoại bất chấp những chuyện cũ của người lớn, người cha ấy đang xây cầu. Một người con chủ động gọi điện cho người anh em đã lâu không nói chuyện, người ấy đang xây cầu. Một linh mục không để những khác biệt quan điểm trở thành khoảng cách huynh đệ, vị ấy đang xây cầu. Một tu sĩ biết đến với người anh em trong cộng đoàn đang bị hiểu lầm, đang xây cầu. Một giáo dân từ chối nghe thêm những chuyện nói xấu và khéo léo đổi câu chuyện sang hướng tích cực, đang xây cầu. Một người trẻ thấy bạn mình bị loại khỏi nhóm và chủ động ngồi bên cạnh, đang xây cầu. Một người trên mạng xã hội không hùa theo đám đông để xúc phạm một người đang bị chỉ trích, đang xây cầu. Một người biết nói: “Có lẽ chúng ta chưa biết hết câu chuyện,” đang xây cầu. Một người dám nói: “Tôi đã sai, xin lỗi bạn,” đang xây cầu. Một người dám bước tới trước dù người kia chưa bước tới, đang xây cầu. Những chiếc cầu lớn trên đời đều được xây từ vô số viên đá nhỏ như thế.
Nhưng làm nhịp cầu cũng có cái giá của nó. Cầu là nơi người ta bước qua. Cầu không dành cho chính mình. Người muốn kết nối đôi khi phải chịu hiểu lầm từ cả hai phía. Khi ta không hùa theo bên này nói xấu bên kia, bên này có thể nghĩ ta không đứng về họ. Khi ta cố hiểu cả hai, người ta có thể nói ta “ba phải”. Khi ta đề nghị tha thứ, người đang đau có thể cảm thấy ta chưa hiểu họ. Khi ta nhắc người có lỗi phải nhận trách nhiệm, họ có thể cho rằng ta chống lại họ. Vì vậy, làm người hòa giải không phải là một sứ mạng dễ chịu. Chính Đức Giêsu, Đấng hòa giải trời đất, đã bị đóng đinh giữa hai phía. Người giang hai tay ra như muốn ôm lấy tất cả, nhưng bàn tay ấy bị đóng vào gỗ. Hình ảnh ấy nói với tôi rất nhiều. Người xây cầu đôi khi cũng phải chấp nhận bị tổn thương. Nhưng nếu việc ta làm xuất phát từ cầu nguyện, sự thật và tình yêu, thì ngay cả khi không thấy kết quả, ta vẫn có thể bình an. Bởi ta không có trách nhiệm ép mọi người phải hòa giải. Ta chỉ có trách nhiệm không làm cho chia rẽ lớn thêm và làm điều phần mình có thể làm. Phần còn lại là công việc của ân sủng.
Có những cuộc hòa giải cần nhiều năm. Có những người hôm nay chưa thể nói chuyện nhưng ngày mai có thể. Có những cánh cửa đã đóng rất lâu nhưng không có nghĩa là nó sẽ đóng mãi. Vì thế, đừng vội tuyệt vọng về bất cứ mối quan hệ nào. Khi chưa thể gặp nhau, hãy cầu nguyện cho nhau. Khi chưa thể bắt tay, ít nhất đừng tiếp tục nói xấu. Khi chưa thể trở lại như xưa, ít nhất đừng làm thêm điều khiến con đường trở về khó hơn. Khi chưa thể yêu bằng cảm xúc, hãy bắt đầu bằng việc không mong điều dữ. Có những bước rất nhỏ nhưng lại là những bước thật. Tha thứ không phải lúc nào cũng xảy ra trong một khoảnh khắc. Có khi đó là hành trình phải lựa chọn lại mỗi ngày. Sáng nay tôi tha, chiều nay ký ức trở lại và lòng tôi lại đau. Tôi lại phải tha. Ngày mai gặp một người nhắc lại chuyện cũ, vết thương lại nhói lên. Tôi lại phải trao nó cho Chúa. Tha thứ như vậy không phải là giả. Đó là một cuộc chiến nội tâm. Và chính trong cuộc chiến ấy, ta dần được tự do.
Tôi mong rằng trong gia đình, trong cộng đoàn, trong Giáo Hội và trong xã hội, chúng ta sẽ có thêm nhiều người như thế. Không cần nổi tiếng. Không cần xuất chúng. Không cần có hàng ngàn người theo dõi. Chỉ cần có một tâm hồn cầu nguyện và một trái tim biết đau với nỗi đau của người khác. Chỉ cần trước mỗi câu chuyện, biết chậm lại một chút. Trước mỗi lời phán xét, biết tự hỏi mình đã biết hết chưa. Trước mỗi xung đột, biết xin Chúa cho mình đừng trở thành người làm nó lớn thêm. Chỉ cần mỗi ngày nối lại được một mối quan hệ nhỏ, giữ được một lời nói khỏi trở thành vết thương, mở được một cánh cửa đã khép, đặt được một bàn tay lên vai người cô độc, nói được một câu: “Tôi vẫn ở đây,” thì thế giới này đã khác đi một chút rồi. Thiên Chúa không luôn thay đổi thế giới bằng những con người phi thường. Rất nhiều lần Người thay đổi thế giới bằng những người bình thường biết để tình yêu của Người đi qua đời mình.
Có lẽ cuối cùng, câu hỏi không phải là tôi đã truyền cảm hứng cho bao nhiêu người, có bao nhiêu người nhớ lời tôi nói, bao nhiêu người tán thưởng việc tôi làm. Câu hỏi sâu hơn là: sau khi đi qua cuộc đời này, tôi đã nối được bao nhiêu bờ xa cách? Có ai nhờ tôi mà bớt cô đơn không? Có ai nhờ một lời của tôi mà thôi ghét một người không? Có một gia đình nào vì sự hiện diện của tôi mà hiểu nhau hơn không? Có một người đang muốn bỏ cuộc nhưng vì được lắng nghe mà có thể bước tiếp không? Có một người bị cả đám đông lên án nhưng qua tôi vẫn cảm nhận được rằng Thiên Chúa chưa bao giờ từ bỏ họ không? Và ngược lại, có bao nhiêu khoảng cách đã lớn thêm vì lời tôi? Có bao nhiêu người từng thân nhau nhưng sau khi nghe tôi kể chuyện lại bắt đầu nghi ngờ nhau? Đó là những câu hỏi không dễ chịu, nhưng cần thiết. Bởi đời người qua rất nhanh. Cuối cùng ta sẽ không mang theo những lần mình thắng trong tranh luận, cũng không mang theo những lần mình chứng minh được người khác sai. Điều còn lại có lẽ chỉ là tình yêu mình đã gieo, những vết thương mình đã chữa, những bàn tay mình đã nối lại và những chiếc cầu mình đã kiên nhẫn dựng nên.
Thế giới này đã có rất nhiều người truyền lửa. Xin Chúa cho thế giới có thêm những người giữ lửa bằng yêu thương. Thế giới đã có rất nhiều người truyền cảm hứng. Xin Chúa cho có thêm những người biến cảm hứng thành những cuộc gặp gỡ thật. Thế giới có quá nhiều người biết nói. Xin Chúa cho có thêm những người biết nghe. Thế giới có quá nhiều người đứng về phía này để chống phía kia. Xin Chúa cho có những người dám đứng ở khoảng giữa không phải vì thiếu chính kiến, nhưng vì muốn mở một con đường cho hai phía có thể bước về nhau. Và nếu một ngày nào đó Chúa hỏi tôi đã làm gì với cuộc đời được trao, tôi chỉ mong có thể thưa rằng: con không làm được điều gì lớn lao; con chỉ cố gắng đừng dựng thêm những bức tường nơi vốn đã có quá nhiều chia rẽ; con chỉ cố đặt vài viên đá nhỏ để người này có thể bước đến người kia; con chỉ cố làm một chiếc cầu. Có thể chiếc cầu ấy nhỏ bé, có thể chẳng ai nhớ tên người xây, nhưng nếu trên chiếc cầu ấy đã từng có hai con người tìm lại được nhau, đã từng có một người con trở về với cha mẹ, một người anh làm hòa với người em, một người bạn thôi giận một người bạn, một tâm hồn trở về với Chúa, thì cuộc đời ấy đã không sống uổng.
Xin Chúa cho mỗi chúng ta biết trở thành một nhịp cầu. Nhịp cầu nối người với người. Nhịp cầu nối những thế hệ đang ngày càng xa nhau. Nhịp cầu nối những người khác biệt về suy nghĩ, hoàn cảnh, quá khứ. Nhịp cầu nối người đau khổ với niềm hy vọng, người lầm lỗi với cơ hội bắt đầu lại, người cô đơn với một cộng đoàn biết đón nhận, người thất vọng với lòng thương xót của Thiên Chúa. Và hơn hết, xin cho đời chúng ta trở thành một nhịp cầu đưa con người đến với Đức Kitô, bởi chỉ nơi Người mọi chia rẽ sâu nhất mới được chữa lành, mọi khoảng cách cuối cùng mới được lấp đầy. Có thể chúng ta không làm cho cả thế giới hết hận thù, nhưng ít nhất trong khoảng đời Chúa giao cho mình, trong gia đình Chúa đặt mình vào, trong cộng đoàn mình đang sống, trong những con người Chúa cho mình gặp, ta có thể làm cho hận thù bớt đi một chút, hiểu lầm bớt đi một chút, cô đơn bớt đi một chút và yêu thương nhiều lên một chút. Chỉ một chút thôi, nhưng nếu mỗi người đều làm phần nhỏ bé ấy, biết đâu một ngày nhìn lại, chúng ta sẽ nhận ra rằng Thiên Chúa đã dùng những nhịp cầu rất bé nhỏ để nối lại cả một thế giới đang tưởng chừng tan vỡ.
Lm. Anmai, CSsR
CÒN HỌC ĐƯỢC LÀ CÒN THẤY MÌNH CHƯA ĐỦ
Đến giờ, dù tuổi đời đã thêm lên từng năm, tôi vẫn còn mê học. Có người hỏi tôi: tuổi này rồi còn học để làm gì, còn đọc thêm để làm gì, còn tìm tòi thêm để làm gì, có những điều đâu còn cần cho công việc trước mắt nữa. Tôi chỉ cười. Bởi với tôi, học chưa bao giờ chỉ là chuyện lấy thêm một tấm bằng, thêm một danh xưng, thêm một mảnh giấy chứng nhận để treo trên tường. Học cũng không phải để chứng minh rằng mình biết nhiều hơn ai, càng không phải để có thêm những thứ đem ra khoe với đời. Tôi học vì càng sống lâu, tôi càng nhận ra mình biết quá ít. Tôi học vì mỗi ngày bước đi trong đời sống thánh hiến, tôi càng thấy con người là một mầu nhiệm, cuộc đời là một cuốn sách không bao giờ đọc hết, Thiên Chúa lại càng là một đại dương mà cả đời người có cúi xuống múc từng gáo nước cũng chẳng thể nào chạm đến đáy. Tôi học bất cứ điều gì tốt cho đời tu, tốt cho sứ vụ, tốt cho cách mình sống với anh em, tốt cho khả năng hiểu con người, và cả những tri thức rất đời thường nếu chúng giúp tôi sống tử tế hơn, sâu hơn, quân bình hơn và hữu ích hơn cho người khác. Có những điều tôi học từ sách. Có những điều học từ những trang thần học khó nhọc. Có những điều học từ một người già ít chữ. Có điều học nơi một em bé. Có điều học từ một lần thất bại. Có điều học trong một đêm mất ngủ. Có điều học từ nước mắt của người khác. Có điều học ngay chính nơi những sai lầm của mình. Và càng học, tôi càng nhận ra rằng trường học lớn nhất của đời thánh hiến không nằm trong bất kỳ giảng đường nào, mà chính là cuộc đời được đặt dưới ánh sáng của Thiên Chúa.
Người tu sĩ mà ngừng học rất dễ bắt đầu sống bằng vốn cũ. Vốn cũ của kinh nghiệm, vốn cũ của cách nghĩ, vốn cũ của những điều đã từng thành công, vốn cũ của những câu trả lời đã thuộc lòng. Mà cuộc đời thì không đứng lại. Con người hôm nay không còn đặt những câu hỏi giống hệt con người của hai mươi hay ba mươi năm trước. Những người trẻ đang lớn lên trong một thế giới khác. Những gia đình đang đối diện với những vết thương mới. Công nghệ thay đổi cách người ta suy nghĩ, yêu thương, tranh luận, làm việc và cô đơn. Những vấn đề luân lý, văn hóa, xã hội, truyền thông, tâm lý và đời sống đức tin đan xen nhau ngày một phức tạp. Nếu người tu sĩ bằng lòng với những điều mình đã biết thì rất có thể một ngày nào đó chúng ta vẫn đang nói những câu đúng nhưng không còn chạm được vào nỗi đau thật của con người. Vẫn giảng những chân lý đúng nhưng ngôn ngữ đã cách xa tâm hồn người nghe. Vẫn có lòng nhiệt thành nhưng không còn hiểu thời đại mình đang phục vụ. Vì thế, học đối với tôi không phải là một thú vui trí thức. Học là trách nhiệm đối với sứ vụ. Tôi học để đừng làm tổn thương người khác chỉ vì sự thiếu hiểu biết của mình. Tôi học để khi nói về Thiên Chúa, lời mình không trở nên nghèo nàn vì đầu óc lười biếng. Tôi học để khi đứng trước một vấn đề phức tạp, tôi biết khiêm tốn nói rằng mình cần tìm hiểu thêm thay vì vội vàng kết luận. Tôi học để biết rằng không phải cái gì mình quen cũng là chân lý, không phải cái gì mình nghĩ lâu năm cũng đương nhiên là đúng, và không phải kinh nghiệm nào của quá khứ cũng có thể đem nguyên xi áp lên hoàn cảnh của hôm nay.
Nhưng càng học, tôi lại càng thấm một điều khác: tri thức tự nó không đủ làm nên một người tu sĩ. Một cái đầu đầy chữ mà một trái tim khô cằn thì có thể làm người khác sợ hơn là làm người khác được nâng đỡ. Một người biết nhiều về Thiên Chúa chưa chắc đã là một người biết Thiên Chúa. Người ta có thể nói rất hay về cầu nguyện mà không còn cầu nguyện. Có thể giảng rất sâu về lòng thương xót nhưng sống với anh em lại lạnh lùng. Có thể phân tích rất chính xác về đức khiêm nhường mà trong lòng luôn muốn mình được công nhận. Có thể thuộc lòng Kinh Thánh mà chưa để một câu Lời Chúa nào đâm thấu vào nơi cứng cỏi nhất của lòng mình. Bởi vậy, việc học trong đời thánh hiến chỉ thực sự có ý nghĩa khi tri thức đi xuống được trái tim, khi cái biết trở thành cái sống, khi điều mình suy tư trở thành một cách hiện hữu trước mặt Thiên Chúa và anh em. Chính ở điểm này, tôi thường nghĩ đến Đức Maria. Nếu phải nói về một người học trò tuyệt vời nhất trong trường học của Thiên Chúa, tôi nghĩ đó là Mẹ.
Mẹ Maria không để lại cho chúng ta một bộ sách thần học, nhưng cả cuộc đời Mẹ là thần học sống. Mẹ không đứng trên giảng đường, nhưng Mẹ học từng ngày dưới mái nhà Nazareth, trên đường lên Bêlem, trong đêm sinh Con giữa nghèo hèn, khi trốn sang Ai Cập, khi trở về quê nhà, trong những năm tháng âm thầm của Đức Giêsu, trong ngày mất Con giữa đám đông hành hương, trong tiệc cưới Cana, trên những nẻo đường Con đi rao giảng, và nhất là dưới chân Thập Giá. Mỗi biến cố là một bài học. Mỗi biến cố có những điều Mẹ hiểu và có những điều Mẹ chưa hiểu. Tin Mừng có một chi tiết mà càng suy niệm tôi càng thấy đẹp: Mẹ “ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Đó là một thái độ của người học thật sự. Không vội giải thích tất cả. Không đòi hiểu ngay tất cả. Không vì chưa hiểu mà bỏ cuộc. Mẹ giữ lại, mang vào lòng, cầu nguyện, chiêm niệm, để thời gian và Thần Khí dần dần mở ra ý nghĩa. Người học trò của Thiên Chúa là người biết giữ trong lòng cả những điều mình chưa hiểu. Đời tu cũng vậy. Có biết bao điều trong hành trình ơn gọi chúng ta không thể hiểu ngay khi nó xảy đến. Có những lần bị hiểu lầm. Có những lần đổi sứ vụ. Có một biến cố đau lòng. Có một cánh cửa đóng lại. Có một người mình thương mà không thể cứu. Có những lời cầu xin kéo dài nhưng không được đáp lại theo cách mình mong. Nếu chỉ dùng trí óc để giải thích, đôi khi ta sẽ mệt mỏi. Nhưng nếu biết học như Mẹ, ta giữ lấy những điều ấy trong lòng và để chúng trở thành chất liệu của cầu nguyện. Có khi năm năm sau mới hiểu một phần. Có khi mười năm sau mới thấy ơn lành ẩn trong một chuyện tưởng chỉ toàn mất mát. Có khi cả đời vẫn chưa hiểu hết. Nhưng người tin không nhất thiết phải hiểu hết mới có thể trung thành.
Tôi càng có tuổi lại càng quý thái độ ấy. Hồi trẻ, người ta dễ muốn có câu trả lời nhanh. Học được điều gì cũng muốn kết luận. Đọc vài quyển sách đã tưởng mình hiểu một vấn đề. Trải qua vài kinh nghiệm đã muốn đem kinh nghiệm ấy thành quy luật cho người khác. Tuổi trẻ có cái đẹp của nhiệt thành, nhưng cũng có cái mong manh của sự hấp tấp. Càng đi qua năm tháng, tôi thấy mình phải học một điều khó hơn mọi môn học: học biết nói “tôi chưa biết”. Ba chữ ấy có khi cứu mình khỏi rất nhiều kiêu ngạo. Tôi chưa biết hết câu chuyện của người này, nên tôi đừng phán xét họ quá nhanh. Tôi chưa biết những đêm họ đã khóc ra sao, nên tôi đừng vội nói họ yếu đức tin. Tôi chưa biết lịch sử của một gia đình, nên tôi đừng dùng vài nguyên tắc khô cứng để kết án. Tôi chưa biết hết ý Chúa, nên ngay cả trong điều tưởng như thất bại tôi cũng chưa nên tuyệt vọng. Người càng học thật càng bớt kiêu ngạo, bởi chân trời tri thức càng mở rộng thì người ta càng nhận ra vùng mình chưa biết lớn đến mức nào.
Đó cũng là điều làm tôi yêu việc học cho đến hôm nay. Không phải vì tôi nghĩ mình còn có thể biết hết, mà chính vì tôi biết chắc rằng mình không thể biết hết. Mỗi cuốn sách tốt làm tôi nhìn thấy thêm một cửa sổ. Mỗi cuộc gặp gỡ chân thành cho tôi thêm một góc nhìn. Mỗi ngành tri thức nghiêm túc đều có thể giúp người tu sĩ hiểu thêm một chút về thế giới mà Thiên Chúa yêu thương. Tôi đọc thần học vì đó là công việc của một người muốn hiểu đức tin mình đang sống và phục vụ. Tôi đọc Kinh Thánh vì càng đọc càng thấy Lời Chúa không cũ, chỉ có lòng mình đôi lúc cũ đi. Tôi tìm hiểu lịch sử để đừng tưởng mọi vấn đề của hôm nay đều chưa từng xảy ra. Tôi đọc tâm lý để bớt dùng những lời đạo đức quá dễ dàng cho những vết thương rất thật của con người. Tôi tìm hiểu truyền thông và công nghệ vì con người hôm nay đang sống ở đó, vui buồn ở đó, tìm kiếm ý nghĩa ở đó, và cũng có thể bị tổn thương ở đó. Tôi học những điều rất nhỏ của cuộc sống vì đời thánh hiến không diễn ra trên mây. Một người có đời sống thiêng liêng tốt cũng cần biết giao tiếp, biết lắng nghe, biết quản lý thời giờ, biết trân trọng sức khỏe, biết làm việc với người khác, biết đón nhận khác biệt, biết dùng tiền cách có trách nhiệm, biết nói lời cảm ơn và xin lỗi. Không phải điều gì đời thường cũng là nhỏ. Nhiều khủng hoảng lớn bắt đầu từ những kỹ năng rất nhỏ mà ta đã xem thường.
Tuy nhiên, mọi tri thức trong đời thánh hiến phải được đặt dưới ánh sáng cầu nguyện. Nếu không, điều ta biết có thể trở thành một thứ quyền lực. Kiến thức rất dễ làm người ta có cảm giác mình đứng cao hơn người khác. Khi biết nhiều hơn, ta dễ nói nhiều hơn. Khi đọc nhiều hơn, ta dễ tưởng ý kiến mình chắc chắn hơn. Khi có bằng cấp, ta dễ vô thức phân loại người khác theo trình độ. Khi được người ta tìm đến hỏi han, ta dễ thích cảm giác mình là người có câu trả lời. Đó là một cám dỗ tinh vi. Tri thức lúc ấy không còn phục vụ tình yêu nhưng phục vụ cái tôi. Và cái tôi mang áo tri thức có khi còn khó nhận diện hơn cái tôi bình thường, bởi nó biết dùng lý lẽ để bảo vệ chính mình. Vì vậy, tôi nghĩ người tu sĩ học nhiều càng phải cầu nguyện nhiều. Càng đọc sách càng phải đọc lòng mình. Càng tranh luận về những vấn đề lớn càng phải dành thời gian thinh lặng. Càng đứng trước người khác với vai trò người dạy càng phải quỳ trước Thiên Chúa với tư cách một người học trò. Nếu một ngày nào đó tôi mở sách rất nhiều nhưng quỳ gối rất ít, có lẽ việc học của tôi đã bắt đầu đi chệch đường.
Thần học mà tách khỏi cầu nguyện có thể trở thành một thứ lý trí kiêu ngạo, khô cằn và trống rỗng. Người ta có thể bàn rất chính xác về Thiên Chúa nhưng lại sống như thể Thiên Chúa không hiện diện. Có thể phân tích mầu nhiệm Thập Giá nhưng lại chạy trốn mọi thập giá trong đời mình. Có thể nói về Ba Ngôi mà sống cộng đoàn đầy chia rẽ. Có thể nói về Bí tích Thánh Thể mà chẳng biết trở nên tấm bánh cho ai. Có thể viết về Đức Maria mà thiếu sự dịu dàng với một người đang yếu đuối. Những nghịch lý ấy nhắc ta rằng thần học không phải chỉ là biết những mệnh đề đúng. Thần học, nếu đúng nghĩa, phải dẫn người ta vào trong sự kinh ngạc trước mầu nhiệm. Học càng sâu, lẽ ra ta càng thinh lặng nhiều hơn trước Thiên Chúa. Biết càng nhiều, lẽ ra lời cầu nguyện càng khiêm tốn hơn. Người thật sự chạm đến mầu nhiệm không nói như người sở hữu Thiên Chúa. Họ nói như người vừa được cúi mình uống nước từ một nguồn suối mà họ biết mình không bao giờ có thể mang cả nguồn suối ấy về nhà.
Nhưng chiều ngược lại cũng phải được nói rõ: cầu nguyện mà không được soi sáng bởi một nền thần học lành mạnh và một việc học nghiêm túc rất dễ trôi vào cảm tính. Không phải cảm xúc nào xuất hiện trong cầu nguyện cũng là tiếng Chúa. Không phải suy nghĩ nào nảy ra khi mình đang sốt sắng cũng là mặc khải. Không phải kinh nghiệm cá nhân nào cũng có thể trở thành chuẩn mực cho người khác. Có người nhân danh cầu nguyện để từ chối suy nghĩ. Có người nhân danh Thần Khí để khước từ học hỏi. Có người thích những điều lạ lùng hơn là những điều đúng đắn. Có người tìm kiếm cảm giác thiêng liêng mà không muốn bước vào kỷ luật của đời sống đức tin. Khi ấy, lòng đạo rất dễ trở thành đất cho mê tín, chủ quan hoặc cực đoan mọc lên. Chính vì vậy, đời sống thiêng liêng và tri thức thánh khoa cần nhau. Cầu nguyện làm cho tri thức có linh hồn. Tri thức giúp cầu nguyện có chiều sâu và có nền tảng. Trí óc và con tim không phải hai kẻ thù. Thiên Chúa ban cả hai, và Người muốn cả hai cùng hướng về Người.
Nói như thế không có nghĩa việc học luôn đẹp đẽ và hứng thú. Có những ngày đọc một trang mà đầu óc không vào được một dòng. Có những thời điểm bài vở chất chồng, đầu óc mệt mỏi, sức khỏe xuống, và một câu hỏi nhỏ cũng trở thành áp lực. Có những lúc người trẻ đang trong thời gian đào tạo nhìn những cuốn sách dày mà chỉ muốn đóng lại. Có những suy tư lưng chừng của tuổi mới lớn trong ơn gọi: mình có đi đúng đường không, mình có đủ khả năng không, tại sao người khác học nhanh hơn mình, vì sao điều này khó quá, học bao nhiêu rồi mai này có dùng được gì không? Những lúc ấy, hình ảnh Đức Maria lại trở nên thật gần. Mẹ không hát Magnificat vì đời Mẹ không có khó khăn. Mẹ hát giữa một hoàn cảnh đầy bất định. Một thiếu nữ mang thai trong một bối cảnh mà Mẹ không thể giải thích cho mọi người hiểu. Tương lai phía trước hoàn toàn mờ mịt. Thế nhưng Mẹ vẫn có thể cất tiếng: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa”. Magnificat không phải bài hát của người không có vấn đề. Đó là bài hát của người đặt vấn đề của mình trong một chân trời lớn hơn là lòng trung tín của Thiên Chúa.
Nếu người tu sĩ học được điều đó, ngay cả những giờ học khó nhọc cũng trở thành một phần của đời sống thiêng liêng. Một bài luận làm mãi chưa xong có thể dạy ta kiên nhẫn. Một môn học mình không thích có thể dạy ta kỷ luật. Một giáo sư khó tính có thể dạy ta chịu sửa. Một lần điểm thấp có thể bóc khỏi ta chút tự ái. Một đề tài khó có thể dạy ta biết cầu cứu người khác. Một sai lầm trong nghiên cứu có thể dạy ta tôn trọng sự thật. Và có khi chính cảm giác bất lực trước một môn học lại đưa ta đến một lời cầu nguyện thật hơn hàng trăm lời cầu nguyện dễ dàng: “Lạy Chúa, con không làm được nếu không có Chúa”. Lúc ấy, việc học không còn là điều ở bên cạnh đời tu. Chính nó trở thành phòng tập của nhân đức.
Tôi nghĩ một trong những điều đẹp nhất của người còn ham học khi đã có tuổi là họ vẫn giữ được khả năng ngạc nhiên. Tuổi tác có một nguy cơ là người ta tưởng mình đã thấy hết rồi. Một câu chuyện mới nghe giống chuyện cũ. Một người trẻ trình bày một ý tưởng thì người già dễ nói: “Ngày xưa tôi đã biết rồi.” Một phương pháp mới xuất hiện thì ta bảo: “Mấy thứ đó không bằng cách cũ.” Cứ như thế, nếu không cẩn thận, tuổi đời tăng nhưng tâm hồn lại đóng. Tôi không muốn như vậy. Tôi muốn khi còn có thể đọc, còn có thể nghe, còn có thể đặt câu hỏi, tôi vẫn học. Một người trẻ có thể biết một điều tôi không biết. Một người ngoài Công giáo có thể cho tôi thấy một khía cạnh đẹp của nhân sinh. Một nhà khoa học có thể giúp tôi thêm kinh ngạc về công trình sáng tạo. Một người nghèo có thể dạy tôi về lòng tín thác. Một người đã lập gia đình có thể giúp tôi hiểu những gánh nặng mà đời tu không bao giờ trải nghiệm theo cùng một cách. Một người đang ở cuối đời có thể dạy tôi về sự buông bỏ. Chừng nào tôi còn có thể học từ người khác, chừng đó lòng tôi còn trẻ.
Có lẽ cái già thật sự đáng sợ không phải là tóc bạc hay sức yếu. Cái già đáng sợ là khi người ta không còn muốn thay đổi một nhận định nào, không còn tò mò điều gì, không còn lắng nghe ai, không còn nghĩ rằng mình có thể sai. Một người như vậy dù bốn mươi tuổi cũng đã già. Ngược lại, có người tám mươi tuổi vẫn hỏi, vẫn đọc, vẫn ghi chép, vẫn nghe người trẻ, vẫn vui khi hiểu thêm một điều mới. Đó là một tuổi già đẹp. Đời tu càng cần vẻ đẹp ấy, bởi người tu sĩ không bao giờ tốt nghiệp khỏi trường của Tin Mừng. Khấn trọn không có nghĩa đã học xong cách nghèo khó. Chịu chức linh mục không có nghĩa đã học xong cách phục vụ. Làm bề trên không có nghĩa đã học xong cách lắng nghe. Sống năm mươi năm trong đời tu không có nghĩa đã học xong cách yêu. Có những bài học Thiên Chúa chỉ bắt đầu dạy ta khi tóc đã bạc.
Tôi càng ngày càng xác tín rằng tri thức đích thực phải làm cho “dung lượng trái tim” lớn lên. Nếu học xong mà mình chỉ giỏi tranh luận hơn, có lẽ chưa đủ. Nếu học xong mà mình chỉ thấy lỗi người khác nhanh hơn, có lẽ có điều gì sai. Nếu học xong mà mình khinh những người ít học hơn, việc học ấy đang phản bội chính mục đích cao đẹp của nó. Người biết nhiều hơn phải có khả năng hiểu nhiều hơn, không phải kết án nhiều hơn. Biết thêm về tâm lý để cảm thông với người đang yếu đuối. Biết thêm về xã hội để hiểu những áp lực họ đang mang. Biết thêm thần học để trình bày đức tin cách trung thực nhưng cũng nhân hậu. Biết thêm Kinh Thánh để đưa người ta đến gặp Chúa chứ không dùng câu chữ làm vũ khí. Biết thêm về con người để bớt đơn giản hóa những nỗi đau phức tạp. Nếu tri thức không mở trái tim, nó sẽ chỉ làm lớn cái đầu. Và một cái đầu lớn mà trái tim nhỏ là một bi kịch.
Mẹ Maria dạy ta một kiểu tri thức khác: tri thức của lòng ghi nhớ. Mẹ không chỉ nhớ sự kiện. Mẹ giữ chúng trong tương quan với Thiên Chúa. Tôi nghĩ người sống đời thánh hiến cũng cần có một ký ức như thế. Nhớ những lần Chúa đã nâng mình dậy. Nhớ những người đã âm thầm giúp mình. Nhớ những ngày đầu của ơn gọi khi lòng còn đơn sơ. Nhớ những thất bại đã dạy mình bớt kiêu. Nhớ những lần đã tưởng hết đường nhưng rồi Chúa vẫn mở lối. Một trí nhớ được cầu nguyện hóa sẽ trở thành nguồn khôn ngoan. Bởi có những kiến thức không nằm trong sách nhưng được viết bằng nước mắt của chính đời mình. Người nào đọc lại đời mình dưới ánh sáng Thiên Chúa, người ấy đang học một môn rất quan trọng: thần học về đời mình.
Đến một lúc nào đó, ta sẽ nhận ra rằng Chúa cũng dùng chính những điều mình từng không muốn để dạy mình. Tôi từng muốn khỏe, Chúa có thể dùng bệnh tật để dạy sự giới hạn. Tôi muốn được hiểu, Chúa có thể cho tôi đi qua một lần bị hiểu lầm để học lòng cảm thông với người bị oan. Tôi muốn làm được nhiều, Chúa có thể cho một giai đoạn bất lực để tôi học rằng giá trị đời mình không chỉ nằm ở năng suất. Tôi muốn được thành công, Chúa có thể để một dự án thất bại để tôi học làm việc vì Người chứ không phải vì tiếng khen. Những môn học ấy không có giáo trình, nhưng điểm số lại được ghi rất sâu trong nhân cách. Người ta có thể có học vị cao mà trượt những môn như kiên nhẫn, tha thứ, khiêm nhường, trung tín, biết ơn. Ngược lại, có những người chưa từng bước vào đại học nhưng lại đỗ rất cao trong trường của tình yêu.
Vì thế, tôi không xem thường bất cứ kiểu học chân chính nào. Đọc một cuốn sách hay là học. Nghe một người kể đời họ là học. Đi đến một nơi mới là học. Làm một việc mình chưa từng làm là học. Ngồi bên một bệnh nhân là học. Tiễn một người qua đời là học. Xin lỗi một người sau khi mình sai là học. Nhận một lời phê bình mà không tự vệ ngay cũng là học. Và có lẽ bài học khó nhất là học chính mình. Ta thường rất giỏi phân tích người khác nhưng rất chậm hiểu chính mình. Tại sao một câu nói ấy làm mình giận? Tại sao mình lại cần được khen đến thế? Tại sao mình khó chịu khi người khác thành công? Tại sao một sự thay đổi nhỏ làm mình bất an? Tại sao mình luôn muốn kiểm soát? Những câu hỏi đó khó hơn rất nhiều bài thi, vì đáp án không nằm cuối sách. Nó nằm trong sự trung thực của cầu nguyện.
Việc học, vì vậy, phải luôn đưa người tu sĩ trở lại với thinh lặng. Thinh lặng không phải là không có tư tưởng. Thinh lặng là nơi tư tưởng được thanh lọc. Một ngày đọc nhiều mà không có khoảng lặng, kiến thức có thể chỉ chất đầy trí nhớ. Nhưng khi đem điều đã đọc vào cầu nguyện, nó bắt đầu lắng xuống. Có điều bị bỏ đi. Có điều sáng lên. Có điều chạm vào một góc đời mình. Có khi chỉ một câu trong cả cuốn sách ở lại và theo ta nhiều năm. Mẹ Maria chính là người của khoảng lặng ấy. Mẹ không ồn ào giải thích Thiên Chúa. Mẹ để Thiên Chúa lớn lên trong lòng Mẹ, trong thân thể Mẹ, trong lịch sử Mẹ. Đó là kiểu “học” mà mọi nhà thần học, mọi người giảng thuyết, mọi người sống đời thánh hiến đều cần.
Có lần tôi nghĩ: người giảng hay nhất có lẽ không hẳn là người đọc nhiều nhất, mà là người đã để những điều mình đọc đi qua kinh nghiệm quỳ gối. Một câu nói đi ra từ trí nhớ và một câu nói đi ra từ đời sống có sức nặng khác nhau. Người nghe có thể không phân tích được, nhưng họ cảm được. Một linh mục nói về hy vọng sau khi chính mình đã đi qua một đêm tối sẽ khác người chỉ đọc định nghĩa về hy vọng. Một người nói về tha thứ sau khi đã phải vật lộn để tha thứ sẽ khác người chỉ biết trích dẫn. Đó không phải là phủ nhận sách vở. Trái lại, sách vở cho ngôn ngữ, cho nền tảng, cho sự chính xác; nhưng đời sống cầu nguyện làm lời ấy có thịt có máu. Vì thế, tôi vẫn học, nhưng tôi mong mình đừng bao giờ chỉ trở thành một người chứa sách. Tôi muốn những gì mình học giúp mình trở thành người hơn, linh mục hơn, môn đệ hơn.
Đời thánh hiến là một hành trình học cả đời. Ngày vào nhà dòng, ta học bỏ một số thói quen. Những năm đầu, ta học sống với những người mình không chọn. Rồi học vâng phục. Học nghèo khó. Học khiết tịnh. Học làm việc. Học chịu trách nhiệm. Học đi sứ vụ. Học thất bại. Học nhìn người khác được trao những điều mình mong mà không ganh tị. Học ở nơi không thích. Học rời nơi mình rất yêu. Học đón người mới. Học tiễn người cũ. Học sống với bệnh tật. Học già đi. Học để người trẻ làm những việc mà trước đây mình từng làm. Học chấp nhận mình chậm hơn. Học bớt xuất hiện. Học trao lại. Và cuối cùng, học bài học khó nhất: học chết. Nếu nhìn như vậy, cả đời tu là một chương trình đào tạo liên tục mà vị Thầy duy nhất là Đức Kitô.
Có lẽ vì thế tôi vẫn mê học. Tôi không biết mình còn đọc được bao nhiêu cuốn nữa. Không biết trí nhớ còn giữ được bao nhiêu điều. Không biết tuổi tác còn cho phép mình theo kịp bao nhiêu thay đổi của thế giới. Nhưng chừng nào còn sáng mắt để đọc, còn tỉnh trí để nghĩ, còn trái tim để ngạc nhiên, tôi vẫn muốn học. Học một điều hay về thần học. Học một khám phá khoa học. Học một kỹ năng mới. Học cách dùng một phương tiện mới nếu nó có thể phục vụ Tin Mừng. Học một kinh nghiệm của người trẻ. Học một bài học từ quá khứ. Học cả những điều rất bình thường miễn là nó làm đời mình tốt hơn và giúp mình phục vụ con người tốt hơn. Tôi không ngại việc phải bắt đầu lại từ con số không ở một lĩnh vực mới. Bởi làm học trò đôi khi là một ân huệ. Nó giữ mình khỏi ảo tưởng rằng mình đã hoàn tất.
Tôi cũng mong những người trẻ trong đời tu đừng coi việc học như một gánh nặng mà nhà đào tạo bắt phải mang. Những năm học có thể rất dài. Có những môn tưởng như xa đời sống mục vụ. Có những buổi thức khuya. Có những kỳ thi mệt mỏi. Có những ngày chẳng muốn đọc thêm một dòng. Nhưng nếu đi xuyên qua chúng bằng một tâm hồn đúng, những năm đó sẽ tạo nên một nền móng mà nhiều năm sau mới thấy giá trị. Một linh mục trẻ có thể thấy đọc thần học thật vất vả. Nhưng hai mươi năm sau, khi đứng trước một câu hỏi khó của một người đau khổ, những gì đã học có thể giúp cha không đưa ra một câu trả lời hời hợt. Một tu sĩ học nhân bản hôm nay có thể thấy khô, nhưng mai này chính khả năng hiểu tâm lý con người sẽ giúp tránh một lời nói làm đau người khác. Không phải tri thức nào cũng cho trái ngay lập tức. Có những hạt được gieo trong những năm đào tạo và hàng chục năm sau mới nảy mầm.
Tuy vậy, người trẻ cũng đừng biến học tập thành nơi xây căn cước cho mình. Điểm cao không làm ta thánh hơn. Bằng cấp không làm ta đáng yêu hơn trước mặt Chúa. Một học vị chỉ chứng minh rằng ta đã hoàn tất một chương trình nhất định; nó không chứng minh ta đã trưởng thành trong nhân đức. Đừng dùng việc học để cạnh tranh trong đời tu. Một cộng đoàn sẽ rất buồn nếu người ta bắt đầu so nhau bằng bằng cấp, chức vụ, nơi du học, ngoại ngữ hay khả năng trí thức. Tất cả đều là quà tặng để phục vụ. Người được học nhiều mắc nợ cộng đoàn nhiều hơn, không phải có quyền đứng trên cộng đoàn. Được trao cơ hội học là được giao thêm trách nhiệm. Nếu hiểu như thế, ta sẽ biết ơn chứ không kiêu hãnh.
Mẹ Maria giúp ta giữ quân bình đó. Mẹ đầy ân sủng mà không bao giờ dùng ân sủng làm khoảng cách. Mẹ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa nhưng lại đi thăm bà Êlisabét và phục vụ. Mẹ nhận một mầu nhiệm lớn lao nhưng không bước vào đời với dáng vẻ của người sở hữu chân lý. Mẹ khiêm tốn đi trong đức tin. Tri thức thánh khoa cũng phải có dáng vẻ ấy: càng nhận nhiều càng đi phục vụ. Càng hiểu một chút về Thiên Chúa càng kính trọng mầu nhiệm nơi người khác. Càng hiểu phẩm giá con người càng không dùng ai làm phương tiện. Càng biết về Tin Mừng càng thấy mình phải hoán cải.
Và có một điều nữa tôi học được theo năm tháng: học không chỉ là thu vào, mà còn là bỏ bớt. Có những thứ mình phải “học quên”. Học quên một định kiến. Học bỏ một cách đánh giá quá cứng. Học tháo một nhãn mình đã dán lên người khác. Học bỏ ý nghĩ rằng chỉ cách của mình mới đúng. Học bỏ những kiến thức đã lỗi thời. Học điều mới đòi hỏi một khoảng trống trong lòng. Một chiếc ly đầy thì không rót thêm được. Con người cũng vậy. Nếu mình đã chắc tất cả, Chúa khó dạy thêm. Vì thế, thái độ căn bản của người học không phải là thông minh mà là khiêm nhường.
Tôi mong mình còn giữ được sự khiêm nhường ấy đến cuối đời. Một ngày kia, khi không còn đọc nổi những trang sách nhỏ, có lẽ tôi sẽ học bằng cách khác. Học chấp nhận người khác đọc cho mình nghe. Học ngồi yên. Học không còn làm được điều mình từng làm. Học để người khác chăm sóc. Học buông. Học đón nhận. Và biết đâu chính những năm cuối đời lại là trường thần học sâu nhất: khi mọi khái niệm về phó thác phải trở thành phó thác thật, mọi bài giảng về sự chết phải đi vào chính thân phận mình, mọi lời về sự sống đời sau phải trở thành niềm hy vọng mình nắm lấy trong đêm tối.
Cuối cùng, điều tôi mong không phải là đến cuối đời người ta nói tôi biết nhiều. Tôi mong, nếu được, Chúa nhìn thấy rằng những gì tôi đã học đã làm cho lòng tôi rộng hơn một chút. Rộng hơn để hiểu người. Rộng hơn để chịu đựng. Rộng hơn để tha thứ. Rộng hơn để lắng nghe. Rộng hơn để không kết án quá nhanh. Rộng hơn để phục vụ. Rộng hơn để yêu Hội Thánh với cả những giới hạn của Hội Thánh. Rộng hơn để yêu con người với cả những phức tạp của họ. Và nhất là rộng hơn để đón chính Thiên Chúa, Đấng luôn lớn hơn mọi điều tôi có thể hiểu.
Nếu một ngày việc học chỉ làm tôi tự hào, xin Chúa lấy khỏi tôi niềm tự hào ấy. Nếu tri thức làm tôi xa người đơn sơ, xin Chúa làm tôi đơn sơ lại. Nếu những gì tôi biết khiến tôi nói nhiều hơn nghe, xin Chúa dạy tôi thinh lặng. Nếu tôi dùng chân lý mà không có tình yêu, xin Chúa bẻ gãy sự cứng cỏi của tôi. Nếu tôi cầu nguyện mà lười suy nghĩ, xin Chúa đánh thức trí óc tôi. Nếu tôi suy nghĩ nhiều mà quên cầu nguyện, xin Chúa đưa tôi trở lại trước Nhà Tạm. Và nếu tuổi tác làm tôi nghĩ mình đã học đủ, xin Chúa cho tôi nhìn lên Đức Maria, người nữ đã học suốt đời bằng việc ghi nhớ và suy niệm mọi sự trong lòng.
Đến giờ, dù có tuổi, tôi vẫn còn mê học. Có lẽ tôi sẽ còn mê học cho đến khi không thể học bằng sách nữa. Và khi ấy, tôi mong mình vẫn là một học trò của Chúa bằng cách cuối cùng: nằm yên trong tay Người và học bài học phó thác hoàn toàn. Bởi đời thánh hiến, xét cho cùng, không phải là một hành trình của người đã biết đường, nhưng là hành trình của người mỗi ngày để cho Đức Kitô dạy mình bước thêm một bước. Chúng ta học để biết Người hơn. Học để yêu Người sâu hơn. Học để hiểu con người hơn. Học để phục vụ tốt hơn. Học để cái đầu sáng mà trái tim vẫn mềm. Học để đức tin không trở thành mê muội và tri thức không trở thành kiêu căng. Học để một ngày, sau bao nhiêu sách đã đọc, bao nhiêu bài đã viết, bao nhiêu điều đã biết rồi cũng phải bỏ lại, ta có thể bình an thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con vẫn chỉ là một học trò. Và điều lớn nhất con học được sau cả một đời chính là biết rằng con cần Chúa.”
Lm. Anmai, CSsR
KHI TRI THỨC THÁNH KHOA MANG HƠI THỞ CỦA CUỘC ĐỜI
Có một điều tôi càng sống lâu, càng đi nhiều, càng gặp nhiều người và càng có dịp ngồi lại với chính mình, tôi càng thấy rõ: học không phải để chất thêm kiến thức vào đầu, càng không phải để một ngày nào đó mình có thể nói những điều thật cao siêu khiến người khác phải trầm trồ, nhưng học là để hiểu đời hơn, hiểu người hơn, hiểu mình hơn và trên hết là hiểu được cách Thiên Chúa đang âm thầm đi vào những ngóc ngách rất thật của phận người hôm nay. Nếu việc học chỉ làm cho người ta giỏi hơn mà không làm cho trái tim người ta mềm hơn, biết thương hơn, biết cúi xuống hơn, thì có lẽ cái học ấy vẫn còn thiếu một điều gì rất căn bản. Với người sống đời thánh hiến, điều ấy càng quan trọng. Triết học, thần học, Kinh Thánh, Giáo luật, luân lý, mục vụ, giáo lý hay bất cứ ngành học nào trong đời tu đều quý, đều cần, đều là những phương thế giúp người môn đệ đào sâu mầu nhiệm Thiên Chúa và con người. Nhưng sẽ rất đáng tiếc nếu tất cả những kiến thức ấy chỉ nằm yên trên những trang sách, trong những bài thi, trong những luận văn, trong những bằng cấp được đóng khung cẩn thận, còn khi bước ra khỏi cổng nhà dòng, bước vào một bệnh viện, một xóm lao động nghèo, một gia đình đang tan vỡ, một căn phòng nơi một người trẻ đang mất phương hướng, hay chỉ đơn giản ngồi trước một người đang khóc mà ta lại không biết nói gì, không biết nghe gì, không biết phải đặt bàn tay mình ở đâu. Khi đó, kiến thức dù nhiều đến mấy cũng có thể trở thành một thứ hành trang rất nặng mà không giúp ta đi được bao xa.
Tôi vẫn nghĩ rằng tri thức thánh khoa chỉ thật sự nở hoa khi nó chạm được vào đời sống. Thần học không phải là một lâu đài đẹp để người ta đứng ngoài ngắm nhìn, nhưng là ánh sáng để soi vào những đêm tối của con người. Triết học không phải chỉ là những khái niệm, trường phái hay những cuộc tranh luận kéo dài về bản thể, hiện hữu, chân lý và tự do, nhưng phải giúp người học có khả năng đặt những câu hỏi sâu hơn về con người, nhận ra những điều đang chi phối con người, thấy được đâu là cái thật giữa bao nhiêu thứ giả, đâu là tự do giữa rất nhiều hình thức lệ thuộc được tô son bằng những mỹ từ hấp dẫn. Giáo lý cũng không thể chỉ là những công thức thuộc lòng. Giáo lý phải trở thành Tin Mừng được diễn tả bằng một ngôn ngữ mà người cha đang thất nghiệp có thể hiểu, người mẹ đang ôm đứa con bệnh tật có thể tìm thấy chút hy vọng, người trẻ đang hoang mang về tương lai có thể nhận ra mình vẫn có một giá trị không ai tước mất được, và cả người đã rời xa Giáo hội nhiều năm cũng có thể cảm thấy cánh cửa nhà Cha vẫn còn mở. Một người tu sĩ học thật nhiều nhưng chỉ biết trả lời những câu hỏi mà sách giáo khoa đặt ra, trong khi không nghe được những câu hỏi âm thầm đang cháy trong lòng người thời đại, thì cái học ấy có nguy cơ biến thành một tháp ngà. Trong tháp ngà ấy có thể rất yên tĩnh, rất trật tự, rất đúng công thức, nhưng bên ngoài kia, con người đang đau.
Con người hôm nay có rất nhiều phương tiện nhưng không chắc có nhiều bình an hơn. Thành phố càng lớn, người ta càng dễ trở nên nhỏ bé. Đường phố càng đông, nhiều người lại càng cô đơn. Điện thoại chứa hàng ngàn số liên lạc nhưng có khi đến lúc đau khổ người ta không biết gọi cho ai. Mạng xã hội cho phép người ta nói với cả thế giới nhưng lại khiến không ít người không còn khả năng ngồi yên bên cạnh một người đang buồn. Người ta có thể biết một biến cố vừa xảy ra cách nửa vòng trái đất chỉ trong vài giây, nhưng lại không biết người sống chung một mái nhà đang mang trong lòng nỗi đau nào. Đó là một nghịch lý rất lớn của thời đại. Chúng ta sống giữa một biển thông tin nhưng khát sự thật; giữa vô số kết nối nhưng thiếu gặp gỡ; giữa một nền văn minh nói rất nhiều về tự do nhưng con người lại bị trói buộc bởi tiền bạc, thành công, hình ảnh, dư luận, hưởng thụ và nỗi sợ bị bỏ lại phía sau. Rất nhiều người đang chạy. Họ chạy từ sáng đến tối, chạy để kiếm sống, chạy để giữ vị trí, chạy để không thua bạn bè, chạy để con mình không thua con người khác, chạy để chứng minh mình có giá trị. Nhưng càng chạy, họ càng mệt. Và điều đau nhất là nhiều người không biết mình đang chạy về đâu.
Trong hoàn cảnh ấy, người tu sĩ không thể đứng bên lề đời sống và chỉ nói những điều mà mình đã học bằng một thứ ngôn ngữ quá xa lạ. Con người không cần ta giảm nhẹ chân lý, nhưng họ cần ta nói chân lý bằng ngôn ngữ của tình thương. Họ không cần một Kitô giáo dễ dãi, nhưng họ cần thấy Tin Mừng có thể đỡ họ dậy thế nào khi cuộc đời quá nặng. Có những lúc một người đến với ta không phải để hỏi định nghĩa về ân sủng, nhưng họ đang cần được giúp hiểu rằng sau một thất bại, họ vẫn còn được Thiên Chúa yêu. Có người không hỏi về tín điều nhưng đang hỏi trong nước mắt rằng tại sao Chúa lại để người thân của họ chết. Có người không hỏi về luân lý theo cách sách vở, nhưng đang đứng trước một quyết định rất khó, nơi họ cảm thấy bất cứ chọn lựa nào cũng làm ai đó đau. Có người trẻ không phủ nhận Thiên Chúa, họ chỉ không biết Thiên Chúa có liên quan gì đến những bấp bênh họ đang sống. Có những gia đình không chống lại Giáo hội, họ chỉ quá kiệt sức vì cơm áo, vì nợ nần, vì mâu thuẫn, vì những vết thương không ai chịu nói ra. Nếu người môn đệ chỉ mang tới những câu trả lời được đóng gói sẵn mà không có khả năng bước vào câu chuyện của họ, rất có thể ta nói đúng mà người nghe vẫn cảm thấy mình không được hiểu.
Tôi nghĩ người học thần học càng nhiều càng phải học cách im lặng trước nỗi đau. Không phải nỗi đau nào cũng cần một câu trả lời. Có những lúc điều con người cần không phải một lời giải thích nhưng là một người ở lại. Chúa Giêsu không đến trần gian như một nhà lý thuyết đứng bên ngoài thân phận con người để nói về đau khổ. Người bước vào đau khổ. Người khóc trước mộ Lazarô. Người chạnh lòng trước đám đông bơ vơ. Người chạm vào người phong cùi. Người ngồi ăn với người bị coi là tội lỗi. Người để cho một người phụ nữ đầy nước mắt lấy tóc lau chân mình. Người nghe tiếng kêu của người mù bên vệ đường dù đám đông muốn anh im đi. Người đi cùng hai môn đệ Emmau rất lâu trước khi giúp họ hiểu điều đã xảy ra. Và cuối cùng, Người không giải thích về Thập Giá từ xa; Người chịu đóng đinh trên Thập Giá. Đó là trường thần học lớn nhất của người môn đệ. Muốn nói với người khác về Thiên Chúa của lòng thương xót, trước hết ta phải biết ở bên con người như Chúa đã ở bên.
Chính vì thế, việc học của người sống đời thánh hiến không bao giờ được đóng kín trong một ngành duy nhất. Ta cần thần học nhưng cũng cần biết về tâm lý con người. Ta cần Kinh Thánh nhưng cũng cần hiểu những chuyển động của văn hóa. Ta cần giáo lý nhưng cũng cần nhận ra các vấn đề xã hội đang làm con người tổn thương. Ta cần học luân lý nhưng cũng phải hiểu sức ép mà một gia đình đang mang, hiểu những phức tạp trong công việc, trong hôn nhân, trong giáo dục con cái, trong thế giới kỹ thuật số, trong những thay đổi của nền kinh tế và những biến động của đời sống xã hội. Không phải để người tu sĩ trở thành chuyên gia tất cả mọi lĩnh vực. Điều ấy không thể và cũng không cần. Nhưng người tu sĩ phải đủ khiêm tốn để biết rằng mình không biết mọi sự, đủ cởi mở để lắng nghe những người có chuyên môn, và đủ khôn ngoan để đưa những điều học được vào trong một cái nhìn đức tin. Có những điều một nhà tâm lý giúp ta hiểu về vết thương con người mà một cuốn sách thần học không diễn tả hết. Có những điều một bác sĩ giúp ta nhận ra về giới hạn của thân phận mà những khái niệm trừu tượng không thể thay thế. Có những gì một người lao động nghèo dạy ta về niềm tin mà giảng đường không có. Có những điều một người mẹ nuôi con bệnh lâu năm có thể nói về hy vọng sâu sắc hơn nhiều bài giảng.
Bởi vậy, mở cửa giảng đường cho đời sống đi vào không làm nghèo thần học; ngược lại, làm cho thần học trở về đúng nơi nó phải đứng. Thiên Chúa mà chúng ta học hỏi không phải là một ý niệm. Người là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp; Thiên Chúa của những con người có lịch sử, có nước mắt, có những lần ngã xuống và những lần đứng lên. Ngôi Lời đã làm người chứ không làm một khái niệm. Đức Kitô sinh trong một gia đình, lớn lên trong một làng quê, đi trên những con đường bụi bặm, gặp người bệnh, người nghèo, người bị loại trừ, những người bị xã hội nhìn bằng ánh mắt khinh thường. Nếu thần học nói về Đức Kitô mà càng học càng khiến ta xa con người, chắc chắn phải có điều gì đó cần xem lại. Thần học chân chính phải đưa ta đến gần con người hơn bởi càng hiểu Thiên Chúa, ta càng hiểu Người yêu con người đến mức nào.
Có lẽ một trong những thách đố rất lớn của thời đại chúng ta là sự đảo lộn của những giá trị. Nhiều khi cái xấu không còn xuất hiện dưới khuôn mặt xấu. Nó mặc áo đẹp, nói lời hay, đi cùng những lời quảng cáo rất quyến rũ. Có những ích kỷ được gọi là quyền cá nhân. Có những tham lam được gọi là khát vọng thành công. Có những lừa dối được gọi là khôn ngoan. Có những vô cảm được gọi là biết bảo vệ mình. Có những xúc phạm người khác được biện minh dưới danh nghĩa nói sự thật. Có những tham vọng quyền lực khoác áo phục vụ. Có những thứ tưởng là tự do nhưng thực ra biến người ta thành nô lệ. Trong một thế giới như thế, người tu sĩ càng cần học để phân định. Tri thức không làm ta khỏi sai, nhưng tri thức được nuôi trong cầu nguyện và khiêm tốn giúp ta có khả năng nhận ra những lớp vỏ bên ngoài, đi sâu hơn vào bản chất của sự việc và không bị cuốn theo những trào lưu chỉ vì chúng đang thịnh hành.
Thế nhưng, sự phân định ấy cũng không được biến người tu sĩ thành người đứng trên cao để phán xét thời đại. Rất dễ nhìn thế giới rồi than rằng người hôm nay sống hời hợt, giới trẻ mất đức tin, gia đình xuống cấp, đạo đức suy đồi. Có thể những nhận định ấy phần nào đúng, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì quá dễ. Điều khó hơn là hỏi: tại sao họ sống như thế? Đằng sau lựa chọn đó là nỗi sợ nào? Đằng sau sự nổi loạn ấy là vết thương gì? Đằng sau việc một người bỏ nhà thờ là câu chuyện nào mà ta chưa từng chịu nghe? Đằng sau một gia đình đổ vỡ có bao nhiêu năm cô đơn? Đằng sau một người trẻ nghiện mạng xã hội có thể là một khao khát được công nhận mà trong đời thật em chưa bao giờ nhận được. Đằng sau một người chạy theo tiền có thể là ký ức nghèo đói từng làm họ sợ hãi. Đằng sau một người nóng nảy có thể là những tổn thương đã bị nén quá lâu. Học để hiểu những điều đó không phải để biện minh cho cái sai, nhưng để biết phải bắt đầu từ đâu nếu muốn đưa một con người trở về.
Chúa Giêsu luôn nhìn sâu hơn hành vi bên ngoài. Khi người ta chỉ thấy người phụ nữ ngoại tình và tội của chị, Chúa thấy một con người cần được cứu. Khi người ta chỉ thấy Giakêu là kẻ thu thuế tham lam, Chúa thấy nơi ông một khả năng thay đổi. Khi mọi người chỉ nghe tiếng kêu khó chịu của Bartimê, Chúa nghe một lời cầu cứu. Khi người anh trong dụ ngôn chỉ thấy người em hoang đàng không xứng đáng, người cha thấy đứa con đã chết nay sống lại. Cái nhìn mục vụ phải là cái nhìn như thế: không mù trước tội lỗi, nhưng cũng không để tội lỗi che khuất con người. Không gọi điều sai là đúng, nhưng không bao giờ quên rằng người đang sai vẫn là người được Thiên Chúa yêu.
Tôi rất sợ một thứ kiến thức làm cho người ta trở nên cứng. Học nhiều mà khó cảm thông hơn thì phải coi lại cách học. Học nhiều mà thích sửa người khác hơn sửa chính mình thì việc học ấy chưa tới nơi. Học nhiều mà lời nói ngày càng sắc, người yếu đuối càng sợ đến gần thì có lẽ ta mới chỉ tích lũy thông tin chứ chưa đạt tới sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Tin Mừng luôn có một độ mềm. Không phải mềm vì không có nguyên tắc, nhưng mềm vì hiểu con người. Một người mục tử có thể nói một điều rất rõ, rất thẳng, nhưng người nghe vẫn cảm thấy mình được tôn trọng. Đó là nghệ thuật không đến từ kỹ thuật giao tiếp mà trước hết đến từ một trái tim đã được Chúa uốn nắn.
Tri thức mục vụ vì thế chính là một chiếc cầu. Bên này là kho tàng đức tin của Giáo hội, bên kia là cuộc đời cụ thể của con người. Nếu không có chiếc cầu ấy, hai bên có thể đứng nhìn nhau mà không gặp được nhau. Một bên sở hữu kho tàng quý giá nhưng không biết trao thế nào; một bên đang khát mà không biết nguồn nước ở đâu. Người mục tử được gọi để làm nhịp cầu. Mà làm cầu thì phải chấp nhận để người khác bước qua mình. Cây cầu không giữ ai lại cho mình. Nó chỉ vui vì người ta qua được bờ bên kia. Đời người tu sĩ cũng vậy. Kiến thức không để tạo vị thế, nhưng để phục vụ. Học không phải để người khác gọi mình là chuyên gia, là tiến sĩ hay học giả. Những danh xưng ấy, nếu có, cũng chỉ là trách nhiệm lớn hơn. Điều quan trọng là nhờ cái học của mình, có ai đó bớt hoang mang không, có ai đó nhìn thấy ánh sáng không, có một gia đình nào tìm lại được đường đi không, có một người trẻ nào thấy rằng Giáo hội hiểu câu hỏi của họ không, có một người tội lỗi nào tin rằng họ vẫn còn đường về không.
Nhiều khi tôi nghĩ cái học đẹp nhất của đời tu là học để nói được ngôn ngữ của lòng thương xót. Ngôn ngữ ấy không phải là thứ ngôn ngữ ủy mị hay dễ dãi. Lòng thương xót rất thật. Nó gọi tội là tội, nhưng vẫn mở một con đường cho người tội lỗi. Nó không che giấu sự thật nhưng không dùng sự thật như hòn đá để ném người khác. Nó biết khi nào phải nói, khi nào phải im, khi nào phải khuyên, khi nào chỉ cần ngồi cạnh. Có những người cả đời bị người khác nói vào mặt điều họ sai. Có thể họ biết rồi. Điều họ chưa từng nghe là: “Tôi tin anh vẫn có thể bắt đầu lại.” Có những người đã quá quen với việc bị kết án. Họ cần một người nói với họ bằng ánh mắt của Đức Kitô. Một ánh mắt không phủ nhận bóng tối nhưng nhìn thấy một bình minh có thể xuất hiện.
Muốn có ngôn ngữ ấy, người tu sĩ phải bước ra. Phải đi. Phải gặp. Phải chịu khó nghe những câu chuyện không giống mình. Nếu chỉ sống giữa những người cùng suy nghĩ, cùng ngôn ngữ, cùng môi trường, ta rất dễ tưởng mình hiểu thế giới. Nhưng thế giới rộng hơn rất nhiều những gì ta quen biết. Có người trẻ sống trong một không gian văn hóa hoàn toàn khác thế hệ của ta. Có những người lao động đang đối diện những áp lực mà người sống trong cộng đoàn tu trì không hề biết. Có những gia đình sáng mở mắt đã lo tiền học, tiền nhà, tiền thuốc. Có những người di dân sống xa quê, thiếu mọi mạng lưới nâng đỡ. Có những người làm công nghệ đang phải đối diện với những câu hỏi đạo đức mới mà vài chục năm trước chưa tồn tại. Có những người đang bị kéo vào một thế giới ảo nơi danh dự con người có thể bị phá hủy chỉ trong vài giờ. Nếu ta không bước vào những thực tại ấy với thái độ học hỏi, lời rao giảng rất dễ trở thành tiếng nói từ một thế giới khác.
Tất nhiên, bước vào đời không có nghĩa là để đời cuốn đi. Càng gần thực tế, người tu sĩ càng cần đời sống nội tâm. Nếu chỉ mở cửa cho thế giới vào mà không ở lại sâu trong Chúa, ta sẽ nhanh chóng bị phân tán. Học nhiều lĩnh vực, nghe nhiều ý kiến, tiếp xúc nhiều vấn đề có thể khiến người ta mất phương hướng nếu không có một trung tâm. Trung tâm ấy là Đức Kitô. Mọi kiến thức phải được đưa về trước mặt Người. Mọi phân tích phải được soi dưới ánh sáng Tin Mừng. Mọi phương pháp mục vụ phải bắt đầu từ câu hỏi: Chúa Giêsu sẽ nhìn con người này thế nào? Người sẽ nói gì? Người sẽ làm gì? Người sẽ ở lại với họ bao lâu? Không có đời sống cầu nguyện, tri thức mục vụ rất dễ trở thành kỹ thuật. Có thể hiệu quả, nhưng thiếu linh hồn.
Người đời hôm nay rất tinh. Họ có thể nhận ra khá nhanh ai đang nói bằng kiến thức và ai đang nói bằng trải nghiệm đã được trả giá. Một bài giảng về đau khổ sẽ khác nếu người giảng từng ngồi lâu bên một người hấp hối. Một bài nói về gia đình sẽ khác nếu người nói thật sự biết những giọt nước mắt của cha mẹ và con cái. Một bài nói về nghèo khó sẽ khác nếu người nói từng bước vào căn nhà nơi một bữa cơm cũng là một âu lo. Một lời về tha thứ sẽ khác nếu chính người nói đã phải vật lộn nhiều năm để tha thứ cho ai đó. Chính đời sống làm cho tri thức có máu thịt. Và khi tri thức có máu thịt, người nghe sẽ cảm thấy Tin Mừng không còn xa.
Tôi nghĩ người thánh hiến học không chỉ bằng sách. Ta học bằng những lần thất bại trong mục vụ. Học khi nói một điều với ý tốt nhưng làm người khác tổn thương. Học khi một kế hoạch mình tưởng rất hay lại không đáp ứng nhu cầu thực tế. Học khi một người mình cố gắng giúp vẫn bỏ đi. Học khi bị hiểu lầm. Học khi nhận ra mình đã vội phán xét. Học khi thấy một giáo dân bình thường có cách yêu thương mà mình chưa làm được. Học khi một người nghèo cho mình bài học về lòng quảng đại. Học khi một bệnh nhân giúp ta hiểu giá trị một ngày sống. Học khi một người già cho ta thấy cầu nguyện đôi khi chỉ là ngồi im trước Chúa. Đó là những lớp học không cấp bằng nhưng lại tạo nên người mục tử.
Càng học, ta càng phải bớt tự tin vào mình theo nghĩa kiêu căng và càng tin vào ân sủng hơn. Bởi đời người phức tạp hơn tất cả những công thức. Có những trường hợp không thể chỉ mở sách ra là biết phải làm gì. Khi ấy cần phân định, cầu nguyện, tham khảo, khiêm tốn và đôi khi phải chấp nhận mình chưa có câu trả lời. Tôi thấy nói “tôi chưa biết” không làm người mục tử nhỏ đi. Có khi còn làm họ đáng tin hơn. Người ta không cần một linh mục biết mọi thứ. Họ cần một linh mục thành thật, biết giới hạn của mình và sẵn lòng đi tìm câu trả lời cùng họ.
Và cuối cùng, mọi cái học phải dẫn tới phục vụ. Nếu tôi biết một điều mà điều ấy không làm tôi yêu người khác hơn, tôi phải tự hỏi mình biết để làm gì. Nếu tôi có khả năng phân tích một vấn đề xã hội rất sắc bén nhưng không bao giờ bước đến gần một con người đang chịu hậu quả của vấn đề ấy, phân tích của tôi còn thiếu. Nếu tôi hiểu rất rõ giáo huấn về người nghèo mà đời sống tôi không có chỗ cho người nghèo, kiến thức ấy đang đứng ngoài đời mình. Nếu tôi nói rất hay về lòng thương xót mà người sống với tôi không cảm thấy được thương xót, tôi phải học lại. Thiên Chúa không hỏi ta đã đọc bao nhiêu sách. Người sẽ hỏi ta đã làm gì cho những anh chị em bé nhỏ nhất. Câu hỏi cuối cùng không phải là tri thức của ta rộng bao nhiêu nhưng tình yêu của ta đã đi được bao xa.
Có một vẻ đẹp rất sâu nơi người tu sĩ vừa có chiều sâu tri thức vừa có sự gần gũi của một con người bình thường. Họ có thể nói chuyện thần học nhưng cũng ngồi ăn một bữa cơm đơn sơ với người nghèo. Họ có thể đứng lớp nhưng cũng biết cúi xuống lắng nghe. Họ có thể bảo vệ chân lý nhưng không làm ai bị nghiền nát dưới chân lý ấy. Họ có thể nhận ra những vấn đề rất phức tạp của thời đại nhưng không cay nghiệt với thời đại. Họ biết thế giới có bóng tối nhưng vẫn yêu thế giới vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một. Họ học không phải để chạy trốn đời mà để bước sâu hơn vào đời với ánh sáng của Đức Kitô.
Tôi mong người sống đời thánh hiến không bao giờ thôi học. Học những điều mới. Học cả những gì mình tưởng mình đã biết. Học từ sách, từ người, từ đời, từ những thành công và nhất là từ những va vấp. Nhưng xin đừng học chỉ để biết. Hãy học để nhìn một người sâu hơn vẻ bên ngoài. Học để nghe được tiếng kêu đằng sau một thái độ khó chịu. Học để nhận ra những dấu chỉ của Thiên Chúa giữa một thời đại tưởng như quá tục hóa. Học để biết nói một lời đúng lúc. Học để không lấy sự thiếu hiểu biết của mình làm người khác đau. Học để đừng vội lên án điều mình chưa hiểu. Học để phân biệt giữa điều Tin Mừng đòi hỏi và những thói quen do chính chúng ta tạo ra. Học để Giáo hội không trở thành một căn nhà cửa đóng then cài trước những khắc khoải rất thật của con người.
Tri thức thánh khoa đẹp nhất không nằm trên giá sách. Nó đẹp nhất khi trở thành ánh mắt biết cảm thông, đôi tai biết lắng nghe, cái đầu biết phân định, bàn tay biết nâng dậy và đôi chân biết đi đến những nơi người khác ngại đến. Khi đó thần học trở thành mục vụ. Giáo lý trở thành lời an ủi. Kinh Thánh trở thành bánh bẻ ra. Triết học trở thành khả năng hiểu con người. Luân lý trở thành ánh sáng giúp người ta chọn điều thiện chứ không phải cái roi để đánh người yếu đuối. Và đời thánh hiến trở thành một câu trả lời sống động cho câu hỏi của thời đại: giữa một thế giới nhiều bất an như thế này, còn có nơi nào để con người hy vọng không?
Có. Còn. Niềm hy vọng ấy không nằm trong những lý thuyết đẹp nhưng nằm nơi Đức Kitô đang sống giữa dân Người. Và người tu sĩ, nếu thật sự chịu học, chịu cầu nguyện, chịu đi vào cuộc đời và chịu để nỗi đau của con người chạm tới mình, có thể trở thành một dấu chỉ nhỏ của niềm hy vọng ấy. Khi ấy, người ta đến với ta không chỉ nghe một bài học về Chúa nhưng có thể cảm được một chút cách Chúa nhìn họ. Không chỉ nghe giáo huấn của Giáo hội nhưng cảm được Giáo hội đang ở bên mình. Không chỉ nhận một lời khuyên nhưng gặp một người anh em. Và có lẽ đó mới là hoa trái đẹp nhất của tri thức: không phải tạo ra những con người biết rất nhiều về Thiên Chúa, nhưng tạo ra những con người đủ gần Thiên Chúa để có thể đến rất gần với anh chị em mình.
Học cho đến cùng, vì con người vẫn còn rất nhiều nỗi đau mà ta chưa hiểu. Học cho đến cuối đời, vì thế giới mỗi ngày lại đặt ra những câu hỏi mới. Học trong khiêm tốn, bởi không ai sở hữu trọn vẹn chân lý. Học trong cầu nguyện, để kiến thức không làm lòng mình khô cứng. Học giữa đời, để điều mình biết không trở thành xa lạ với những người mình được sai đến phục vụ. Và học với một trái tim luôn nhớ rằng cuối cùng, tất cả những gì ta biết, tất cả những gì ta nói, tất cả những gì ta làm, nếu không đưa một con người đến gần tình yêu của Thiên Chúa hơn, thì vẫn còn thiếu điều quan trọng nhất.
Lm. Anmai, CSsR
HỌC THẦN HỌC ĐỂ BIẾT MÌNH ĐANG TIN AI, ĐANG THEO AI VÀ ĐANG SỐNG VÌ AI
Có người vẫn thường hỏi tôi rằng: đi tu rồi thì học thần học nhiều để làm gì? Người tu đâu phải ai cũng trở thành giáo sư, cũng đâu phải ai cũng đứng trên bục giảng hay viết những công trình nghiên cứu hàn lâm. Đời tu, xét cho cùng, chẳng phải chỉ cần một tấm lòng ngay thẳng, một đời sống cầu nguyện chân thành, một chút hy sinh, một chút quảng đại và lòng yêu mến Chúa là đủ hay sao? Câu hỏi ấy nghe qua rất có lý, thậm chí có vẻ đạo đức, nhưng càng sống lâu trong đời tu, càng đi qua nhiều khúc quanh của đời sống và sứ vụ, tôi càng thấy vấn đề không đơn giản như thế. Quả thật, đời tu không thể sống chỉ bằng những khái niệm thần học, cũng không ai trở nên thánh chỉ vì có nhiều bằng cấp. Một người có thể biết rất nhiều mà vẫn chẳng yêu Chúa hơn ai. Một người có thể thuộc lòng những định tín rất chính xác mà lòng vẫn khô cứng. Một người có thể nói về đức ái rất hay mà sống với anh em lại chẳng chút cảm thông. Nhưng từ đó mà kết luận rằng người đi tu không cần học thần học cách bài bản thì cũng giống như bảo người thủy thủ chỉ cần có lòng can đảm mà không cần hải đồ, người thầy thuốc chỉ cần có lòng thương bệnh nhân mà không cần hiểu y khoa, hay người hướng dẫn chỉ cần thiện chí mà không cần biết con đường mình đang dẫn người khác đi. Lòng chân thành là điều không thể thiếu, nhưng lòng chân thành không tự động bảo đảm cho sự đúng đắn. Có những người rất chân thành mà vẫn có thể hiểu sai. Có những người rất nhiệt thành mà vẫn có thể làm tổn thương người khác. Có những người rất sốt sắng mà vẫn có thể biến ý riêng của mình thành ý Chúa. Có những người rất đạo đức mà vì thiếu nền tảng, thiếu phân định, thiếu chiều sâu nên cuối cùng lại sống đức tin theo cảm tính, thích điều nào thì giữ, khó điều nào thì bỏ, hợp với mình thì cho là đúng, trái với suy nghĩ mình thì cho là sai. Chính vì thế, người đi tu càng cần học, và không chỉ học đôi chút cho có, nhưng phải học đến nơi đến chốn, học để hiểu, học để cầu nguyện, học để phân định, học để phục vụ và sâu xa hơn cả là học để biết Đấng mình đã trao cả cuộc đời cho Người là ai.
Thế gian này là một cái guồng quay rất mạnh. Người ta cứ tưởng mình đang đứng vững, nhưng thật ra nếu không có một điểm tựa chắc chắn, con người rất dễ bị kéo đi lúc nào không hay. Hôm nay người ta nói thế này, ngày mai lại nói thế khác. Điều hôm qua còn bị xem là sai thì hôm nay có thể được tung hô như một tiến bộ. Điều hôm qua còn được coi là giá trị thì hôm nay có thể bị chế giễu như cổ hủ. Các trào lưu tư tưởng thay nhau xuất hiện. Các giá trị liên tục bị đảo lộn. Những lời mời gọi của tiền bạc, hưởng thụ, quyền lực, tự do tuyệt đối, chủ nghĩa cá nhân, sự nổi tiếng và nhu cầu khẳng định mình len lỏi vào đời sống con người từng ngày, kể cả vào đời tu. Người tu sĩ không sống ngoài thế gian. Tu viện không phải là một hòn đảo cách biệt hoàn toàn với những biến động của nhân loại. Điện thoại vẫn ở đó. Mạng xã hội vẫn ở đó. Những tiếng nói của thời đại vẫn đi vào tâm trí mỗi người. Những tiêu chuẩn thành công của xã hội vẫn có thể âm thầm trở thành tiêu chuẩn đánh giá trong đời tu. Người ta có thể bắt đầu đời tu bằng khát vọng tìm Chúa, rồi không biết từ lúc nào lại bắt đầu tìm mình. Ban đầu muốn phục vụ, sau đó muốn được nhìn nhận. Ban đầu muốn trở nên nhỏ bé, rồi dần dần lại muốn có tiếng nói, có vị trí, có ảnh hưởng. Ban đầu bước vào đời tu để thuộc về Chúa, nhưng nếu không tỉnh thức, con người có thể dùng cả những điều thuộc về Chúa để xây dựng cái tôi của mình. Chính trong một thế giới như thế, thần học không phải là món trang sức của đời tu, càng không phải một thứ bằng cấp để treo trên tường, nhưng là một phần của hành trang giúp người tận hiến biết mình đang đứng ở đâu, đang đi về đâu và tại sao mình lại chọn con đường này.
Học thần học trước hết là học để đức tin của mình có nền có gốc. Đức tin Kitô giáo không phải là một mớ cảm xúc tôn giáo. Đức tin có cảm xúc, nhưng không chỉ là cảm xúc. Đức tin có kinh nghiệm, nhưng không chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân. Đức tin có lòng sốt mến, nhưng lòng sốt mến phải được đặt trên chân lý. Có những ngày ta cầu nguyện rất dễ. Có những ngày đọc một đoạn Lời Chúa mà lòng xúc động. Có những lúc trong thánh lễ thấy tâm hồn tràn đầy bình an. Nhưng cũng có những ngày cầu nguyện chẳng cảm thấy gì. Có những giai đoạn mọi sự trở nên khô khan. Có những thời điểm Thiên Chúa dường như im lặng. Nếu đức tin chỉ được xây trên cảm xúc, người ta sẽ dễ nghĩ rằng khi không còn cảm xúc thì Chúa cũng đã đi xa. Nếu đời tu chỉ dựa trên những phút sốt sắng ban đầu, thì đến khi nhiệt huyết lắng xuống, người tu sĩ rất dễ hoang mang. Thần học giúp người ta hiểu rằng Thiên Chúa không thay đổi theo trạng thái tâm lý của mình. Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa khi tôi cảm thấy Người gần, và Người vẫn là Thiên Chúa khi tôi chẳng cảm thấy gì. Tình yêu của Thiên Chúa không tăng lên khi tôi sốt sắng và cũng chẳng giảm xuống khi tôi khô khan. Có một nền tảng chân lý sâu hơn cảm giác của tôi. Chính nền tảng ấy giúp người tu không sống đời thánh hiến như một cuộc phiêu lưu của cảm xúc, mà như một lời đáp bền bỉ trước một Đấng đã gọi, đã yêu và vẫn trung tín.
Học Kinh Thánh là để biết câu chuyện mình đang thuộc về. Người tu không thể chỉ nhặt vài câu Kinh Thánh hợp với hoàn cảnh rồi dùng như những câu khẩu hiệu. Kinh Thánh không phải một cuốn sách bói thiêng liêng, mở ngẫu nhiên một trang để tìm câu trả lời cho mọi vấn đề. Kinh Thánh là lịch sử cứu độ, là câu chuyện dài về một Thiên Chúa đi tìm con người, kiên nhẫn với con người, lập giao ước với con người, tha thứ cho con người, giáo dục con người và cuối cùng trao chính Con Một của Người cho nhân loại. Khi học Kinh Thánh cách nghiêm túc, ta dần nhận ra rằng Lời Chúa có bối cảnh, có lịch sử, có ngôn ngữ, có thể loại, có chiều sâu thần học và có một dòng chảy xuyên suốt. Ta không còn tùy tiện dùng Lời Chúa để chứng minh cho ý mình nữa, nhưng để Lời Chúa chất vấn, sửa dạy và uốn nắn mình. Đó là một cuộc hoán cải rất lớn. Có lúc ta tưởng mình đang giải thích Kinh Thánh, nhưng thật ra Kinh Thánh đang giải thích đời ta. Có lúc ta tưởng mình đang học về Abraham, Môsê, Đavít, các ngôn sứ, Phêrô hay Phaolô, nhưng rồi nhận ra những câu chuyện ấy cũng đang soi vào những vùng rất sâu của chính mình: những sợ hãi, tham vọng, phản bội, yếu đuối, hy vọng và lòng trung tín. Học Kinh Thánh vì vậy không làm đời tu khô đi; ngược lại, nếu học đúng, nó làm cho đời sống cầu nguyện có chiều sâu hơn, bởi ta không còn cầu nguyện với một Thiên Chúa do mình tưởng tượng, nhưng với Thiên Chúa đã tự mặc khải trong lịch sử cứu độ.
Học tín lý là để biết mình đang tuyên xưng điều gì. Nhiều khi ta đọc Kinh Tin Kính rất thuộc nhưng không chắc đã suy nghĩ thật sâu về những lời mình đọc. “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng.” Nói câu ấy là nói gì giữa một thế giới đầy đau khổ? “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa.” Câu ấy nói gì về căn tính của Đức Giêsu? “Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người.” Tại sao mầu nhiệm Nhập Thể lại quan trọng đến thế? “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta.” Tại sao Thập Giá là trung tâm của Kitô giáo? “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.” Chúa Thánh Thần là ai trong đời sống Hội Thánh và trong chính đời tôi? “Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.” Làm sao vừa tin Hội Thánh thánh thiện vừa đối diện với những yếu đuối và tội lỗi của những con người trong Hội Thánh? Những câu hỏi ấy không thể giải quyết bằng vài cảm xúc đạo đức. Người tu sĩ phải suy tư, phải học, phải biết truyền thống Hội Thánh đã cầu nguyện, tranh luận, phân định và tuyên xưng ra sao suốt bao thế kỷ. Không phải để khoe kiến thức, nhưng để đức tin mình không bị rút gọn thành những cảm nhận riêng tư. Tôi càng học, tôi càng thấy đức tin của Hội Thánh rộng hơn suy nghĩ của tôi, sâu hơn kinh nghiệm của tôi và giàu có hơn rất nhiều so với những gì tôi từng tưởng tượng.
Học luân lý là để hiểu rằng đời sống theo Chúa không phải chuyện thích gì làm nấy rồi xin Chúa chúc lành. Lương tâm cần được đào luyện. Người ta thường nói: “Tôi cứ làm theo lương tâm.” Điều ấy đúng nếu lương tâm là một lương tâm được giáo dục trong chân lý. Nhưng nếu lương tâm bị chi phối bởi ích kỷ, thành kiến, lợi ích, tự ái hay môi trường, thì người ta có thể rất yên tâm khi làm một điều không đúng. Người tu sĩ càng cần học luân lý vì mỗi lời khuyên, mỗi quyết định mục vụ, mỗi cách đồng hành với người khác đều có thể ảnh hưởng đến một đời người. Có những vấn đề rất tế nhị trong hôn nhân, gia đình, sự sống, công bằng xã hội, kinh tế, giới tính, y khoa, công nghệ, môi trường, chiến tranh, lương tâm và trách nhiệm cá nhân. Không thể trả lời tất cả chỉ bằng một câu “cứ cầu nguyện đi” hay “Chúa thương hết”. Đúng, Chúa thương hết, nhưng chính vì Chúa thương nên Người mời gọi con người bước vào sự thật. Lòng thương xót không xóa bỏ chân lý, và chân lý Kitô giáo không bao giờ được sử dụng như cây gậy để đánh người khác. Thần học luân lý, khi được học trong tinh thần Tin Mừng, giúp người tu sĩ giữ được cả hai: sự trung thành với chân lý và sự dịu dàng với con người.
Học phụng vụ là để hiểu rằng những gì ta cử hành không phải là những nghi thức trống rỗng. Có những người sống trong nhà Chúa rất lâu nhưng vẫn có nguy cơ làm mọi sự theo thói quen. Thánh lễ mỗi ngày, các giờ kinh mỗi ngày, những mùa phụng vụ cứ trở lại từng năm. Nếu không đào sâu, điều thánh thiêng nhất cũng có thể trở thành điều quen thuộc đến mức ta không còn rung động. Thần học phụng vụ giúp ta nhìn lại bàn thờ, lời nguyện, dấu thánh giá, bánh và rượu, nước, dầu, ánh sáng, màu sắc, cử chỉ, thinh lặng, lời tung hô và toàn bộ đời sống bí tích bằng một đôi mắt khác. Ta nhận ra rằng phụng vụ không phải sân khấu do con người dàn dựng, mà là hành động của Đức Kitô và Hội Thánh. Ta không phải chủ nhân của phụng vụ, nhưng là người được mời bước vào mầu nhiệm. Khi hiểu như thế, mỗi cử hành không còn là công việc phải hoàn thành, mà là một cuộc gặp gỡ phải sống.
Nhưng có lẽ điều quý nhất mà thần học mang lại cho người tu không phải là nhiều câu trả lời, mà là dạy người ta biết đặt câu hỏi cho đúng và biết khiêm tốn trước mầu nhiệm. Người học hời hợt thường dễ nói chắc. Người học sâu lại càng thấy có những điều cần im lặng. Càng bước vào thần học, ta càng nhận ra Thiên Chúa lớn hơn mọi khái niệm của mình. Ta có thể nói về Người, vì Người đã mặc khải, nhưng không bao giờ có thể nhốt Người vào trong những công thức. Những tín điều không phải những chiếc hộp giam Thiên Chúa, nhưng giống như những cột mốc bảo vệ con đường, để ta khỏi lạc vào những hình ảnh méo mó về Người. Học thần học đến một mức nào đó phải dẫn người ta đến quỳ gối. Nếu học càng nhiều mà càng kiêu ngạo thì chắc chắn ta đã học sai. Nếu kiến thức khiến ta nhìn người ít học bằng ánh mắt khinh thường thì kiến thức ấy chưa trở thành sự khôn ngoan. Nếu biết nhiều về Chúa mà không yêu người hơn, chưa chắc ta đã thật sự biết Chúa. Thần học đích thực không làm người ta đứng cao hơn anh em, nhưng làm người ta cúi thấp hơn trước mầu nhiệm Thiên Chúa và trước nỗi đau của con người.
Đời tu là một hành trình ngược dòng, nhưng phải hiểu đúng chữ ngược dòng. Người tu không chống lại con người, không khinh thường thế gian, không trốn chạy cuộc đời. Ngược dòng ở đây là không để mình bị cuốn theo những gì làm con người xa khỏi cội nguồn. Khi thế gian bảo rằng giá trị của bạn nằm ở chỗ bạn có bao nhiêu, đời tu nói rằng giá trị của con người nằm ở chỗ họ được Thiên Chúa yêu. Khi thế gian bảo phải tranh giành để nổi bật, đời tu học cách ẩn mình. Khi thế gian nói hạnh phúc là sở hữu thật nhiều, đời tu chọn khó nghèo. Khi thế gian nói tự do là làm bất cứ điều gì mình muốn, đời tu khám phá tự do trong vâng phục chân lý. Khi thế gian biến thân xác thành món hàng, đời tu làm chứng rằng thân xác là đền thờ. Khi thế gian xem quyền lực là khả năng bắt người khác phục vụ mình, Đức Kitô dạy quyền lực là cúi xuống rửa chân. Nhưng để sống được sự ngược dòng ấy một cách trưởng thành, người tu cần hiểu tại sao mình sống như thế. Nếu không, nghèo khó sẽ biến thành thiếu thốn miễn cưỡng, khiết tịnh thành đè nén, vâng phục thành phục tùng mù quáng, đời cộng đoàn thành gánh nặng và sứ vụ thành công việc. Thần học giúp ta khám phá ý nghĩa bên trong của những chọn lựa ấy, để thấy lời khấn không phải những cái “không” cắt bớt cuộc đời, nhưng là những tiếng “xin vâng” mở đời mình về phía Thiên Chúa.
Thần học còn giúp người tu đối diện với đau khổ. Đời tu không miễn trừ ai khỏi bệnh tật, hiểu lầm, thất bại, cô đơn, bị từ chối hay những đêm tối nội tâm. Có lúc người tận hiến cũng hỏi: tại sao? Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Tại sao mình đã cố gắng mà vẫn thất bại? Tại sao người tốt lại chịu thiệt? Tại sao cầu nguyện mãi mà chẳng thấy gì thay đổi? Nếu không có một nền tảng thần học đủ sâu, ta rất dễ rơi vào hai cực đoan: hoặc trách Chúa, hoặc đưa ra những lời giải thích đơn giản đến tàn nhẫn. Có người nhìn người đang đau khổ rồi nói: “Chắc Chúa thử thách.” Có người gặp bệnh tật liền bảo: “Phải có ý Chúa.” Những câu ấy có thể đúng ở một tầng nào đó nhưng nếu nói hời hợt sẽ làm người đau càng đau hơn. Thần học không cho ta một lời giải đáp dễ dãi về sự dữ. Trái lại, thần học dẫn ta đến Thập Giá. Ở đó Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ để giải thích, nhưng bước vào đau khổ cùng con người. Người không trả lời tất cả câu hỏi của chúng ta bằng một lý thuyết, nhưng bằng chính Con Một bị đóng đinh. Khi hiểu điều ấy, người tu không còn vội vàng giải thích nỗi đau của người khác, nhưng biết hiện diện. Không phải câu hỏi nào cũng cần một câu trả lời; có những câu hỏi cần một người ngồi bên cạnh.
Học thần học còn bảo vệ đời tu khỏi những thứ mê tín được khoác áo đạo đức. Đức tin không đồng nghĩa với cả tin. Đời sống thiêng liêng không phải chạy theo những hiện tượng lạ, những lời đồn đoán, những mặc khải riêng chưa được phân định, những chuyện giật gân hay những lối giải thích thần bí cho mọi biến cố. Người được đào tạo thần học biết phân biệt giữa mặc khải công khai và mặc khải tư, giữa tín điều và lòng đạo đức bình dân, giữa phụng vụ và những thực hành đạo đức, giữa điều Hội Thánh dạy và điều người ta truyền miệng. Sự phân biệt ấy không làm người ta bớt đạo đức, nhưng làm lòng đạo đức được thanh luyện. Chúng ta không cần tạo ra một Thiên Chúa kỳ bí để tin; Thiên Chúa của Tin Mừng đã đủ lớn lao rồi.
Có một cám dỗ rất tinh vi trong đời tu là nghĩ mình đã học xong. Học xong triết, học xong thần học, chịu chức, khấn trọn, rồi xem như việc học đã kết thúc. Nhưng con người thay đổi, xã hội thay đổi, các câu hỏi thay đổi, ngôn ngữ thay đổi, những thách đố mục vụ cũng thay đổi. Người mục tử của hai mươi năm trước chưa chắc có thể dùng nguyên cách tiếp cận của mình để hiểu người trẻ hôm nay. Những câu hỏi về trí tuệ nhân tạo, đạo đức sinh học, truyền thông số, sức khỏe tinh thần, cô đơn, môi trường, di dân, chiến tranh, văn hóa mạng và nhiều vấn đề mới đòi người phục vụ phải tiếp tục học. Không phải chạy theo mọi trào lưu, nhưng để có khả năng đối thoại. Nếu người tu chỉ lặp lại những câu trả lời thuộc lòng cho những câu hỏi mà người thời nay không còn đặt nữa, chúng ta có nguy cơ nói rất đúng mà chẳng chạm được ai.
Tôi vẫn nghĩ người đi tu phải giữ trong mình một tâm hồn học trò. Học trò trước Chúa, học trò trước Lời Chúa, học trò trước Hội Thánh, học trò trước cuộc đời và học trò trước những con người mình gặp. Có những điều sách dạy ta. Có những điều người nghèo dạy ta. Có những điều bệnh nhân dạy ta. Có những điều một đứa trẻ dạy ta. Có những điều chỉ những người từng đau khổ mới có thể dạy ta. Thần học đích thực không đóng người tu trong thư viện, nhưng mở cánh cửa thư viện ra với cuộc đời. Việc học không được dừng ở việc biết về Thiên Chúa, mà phải dẫn đến việc nhận ra Thiên Chúa đang hoạt động nơi con người hôm nay. Một người học rất giỏi nhưng không biết nghe tiếng khóc của tha nhân thì tri thức ấy chưa nở hoa trong sứ vụ.
Và cũng phải nói thật rằng tri thức thánh khoa không phải chiếc áo giáp khiến người tu miễn nhiễm với mọi cám dỗ. Có người học rất cao vẫn có thể sa ngã. Có người hiểu thần học sâu vẫn có thể sống hai mặt. Kiến thức không tự động thánh hóa ai. Chính vì thế việc học phải luôn đi chung với cầu nguyện. Thần học mà không cầu nguyện dễ trở thành một thứ giải phẫu Thiên Chúa bằng khái niệm. Cầu nguyện mà không chịu học hỏi lại dễ rơi vào chủ quan. Lý trí và đức tin không loại trừ nhau. Lý trí giúp đức tin khỏi trở thành mê tín, còn đức tin mở lý trí về phía một chân trời vượt quá những gì con người tự mình đạt tới. Đời tu đẹp nhất khi bàn học ở gần nhà nguyện; khi trang sách dẫn người học đến Thánh Thể; khi điều vừa học trong lớp trở thành chất liệu cho giờ cầu nguyện; và khi những gì nhận ra trong cầu nguyện lại khiến người ta muốn đào sâu hơn mầu nhiệm Thiên Chúa.
Có khi người ta sợ học nhiều sẽ mất đơn sơ. Tôi lại nghĩ khác. Học đúng không làm mất đơn sơ; học đúng làm ta bớt đơn giản hóa. Đơn sơ là một nhân đức, còn đơn giản hóa những mầu nhiệm phức tạp là một nguy cơ. Một vị mục tử đơn sơ không có nghĩa là vị ấy phải ít hiểu biết. Có những người học rất cao nhưng nói được những điều rất sâu bằng ngôn ngữ rất giản dị, bởi điều họ nói đã đi qua trí óc, qua cầu nguyện, qua đời sống và cuối cùng trở thành sự khôn ngoan. Ngược lại, có khi người ta nói rối rắm không phải vì tư tưởng sâu, mà vì chính mình chưa hiểu rõ. Học càng kỹ, người ta càng có khả năng nói đơn giản.
Đời tận hiến vốn là một cuộc lên đường dài. Những năm đầu, ta có thể đi nhờ nhiệt huyết. Nhưng nhiệt huyết rồi sẽ có lúc giảm. Có những giai đoạn ta đi nhờ kỷ luật. Có lúc lại đi nhờ tình huynh đệ. Có những ngày chỉ còn biết nắm lấy lời đã khấn. Và có những đêm, tất cả những gì còn giữ ta ở lại có khi chỉ là một xác tín rất âm thầm: tôi biết tôi đã tin vào ai. Câu nói ấy của Thánh Phaolô càng sống lâu càng thấy thấm. Không phải “tôi biết nhiều điều về đạo”, nhưng “tôi biết tôi đã tin vào ai”. Thần học, ở tầng sâu nhất, phải đưa ta đến chỗ đó. Học để biết Người. Biết không phải như biết một đối tượng nghiên cứu, nhưng như người môn đệ biết Thầy mình, như người bạn biết người mình yêu. Kiến thức lúc ấy không còn nằm trên trang giấy mà trở thành một phần của căn tính.
Và có lẽ đây là điều tôi muốn nhắc chính mình nhiều nhất: đừng bao giờ học để hơn người khác. Đừng học để có một danh xưng. Đừng học để trong một cuộc tranh luận mình luôn thắng. Đừng học để người ta phải nể. Học như thế sớm muộn cũng làm lòng mình chai cứng. Hãy học để mình bớt nói sai về Chúa. Hãy học để khi đứng trước nỗi đau của ai đó, mình đừng nhân danh Chúa mà làm họ đau thêm. Hãy học để khi hướng dẫn một tâm hồn, mình biết kính trọng mầu nhiệm Thiên Chúa đang làm việc trong họ. Hãy học để khi đứng trên bục giảng, lời mình không chỉ có cảm xúc nhưng có nền tảng. Hãy học để biết lúc nào cần nói, lúc nào cần im. Hãy học để nhận ra đâu là giáo huấn của Hội Thánh và đâu chỉ là thói quen văn hóa của mình. Hãy học để mỗi ngày cái tôi nhỏ đi và mầu nhiệm Thiên Chúa lớn lên.
Người ta có thể hỏi: nếu cuối cùng phải trở nên nhỏ bé như trẻ thơ, tại sao lại cần học nhiều đến thế? Tôi nghĩ chính vì muốn trở nên nhỏ bé thật mà ta càng cần học. Đứa trẻ nhỏ không phải vì nó ngu dốt, nhưng vì nó biết mình cần được dẫn. Người học thật càng học càng nhận ra mình chưa biết. Kẻ kiêu ngạo thường là người tưởng mình đã đủ. Thần học chân chính cuối cùng dẫn người ta đến sự khiêm nhường: Thiên Chúa là Thiên Chúa, còn tôi là thọ tạo. Tôi được yêu vô cùng nhưng tôi không phải trung tâm. Tôi có trách nhiệm sử dụng lý trí, nhưng lý trí tôi có giới hạn. Tôi được phép đặt câu hỏi, nhưng không phải mầu nhiệm nào cũng có thể bị ép vào câu trả lời của tôi.
Thế gian sẽ còn quay. Những cơn gió tư tưởng sẽ còn đổi chiều. Những hấp lực của danh vọng, tiền bạc, ảnh hưởng và quyền lực vẫn còn. Những khủng hoảng trong đời tu vẫn có thể đến. Nhưng người tận hiến nếu đã bén rễ trong Lời Chúa, trong truyền thống Hội Thánh, trong đời sống bí tích và trong một đức tin được đào sâu bằng lý trí sẽ có một điểm tựa để không bị cuốn đi. Không phải họ không chao đảo. Cây có rễ sâu vẫn rung khi bão đến. Nhưng nó không dễ bật gốc. Và có lẽ mục đích đẹp nhất của việc học thần học trong đời tu cũng chỉ là thế: làm cho rễ sâu hơn.
Sau cùng, thần học không phải để người tu biết nhiều về trời mà xa đất. Thần học phải làm người ta yêu đất này hơn vì biết Thiên Chúa đã nhập thể trên đất này. Không phải để coi thường thế gian, nhưng để yêu thế gian bằng tình yêu của Thiên Chúa. Không phải để chạy khỏi con người, nhưng để đến gần con người hơn. Không phải để nói những lời cao siêu, nhưng để có thể cúi xuống bên một người đang đau và biết rằng nơi đó cũng có một mầu nhiệm. Không phải để biến đời tu thành một cuộc đời của sách vở, nhưng để mỗi trang sách cuối cùng trở thành một bước chân sứ vụ.
Tôi vẫn tin rằng đời tu trước hết cần một trái tim yêu Chúa. Không có trái tim ấy, mọi kiến thức chỉ là tiếng vang rỗng. Nhưng một trái tim yêu Chúa thật sẽ muốn biết Người sâu hơn. Người ta không thể nói yêu một người mà lại không muốn hiểu người ấy. Càng yêu, càng muốn biết. Càng biết, càng khám phá còn nhiều điều để yêu. Và cứ như thế, thần học và đời sống thiêng liêng gặp nhau. Việc học trở thành cầu nguyện. Cầu nguyện trở thành khát vọng học hỏi. Tri thức trở thành phục vụ. Phục vụ lại đưa ta trở về với mầu nhiệm.
Đi tu không phải để biết thật nhiều. Nhưng vì đã trao cả cuộc đời cho Thiên Chúa, người tu không thể bằng lòng với một hiểu biết hời hợt về Người. Đi tu không phải để trở thành học giả. Nhưng vì phải đồng hành với những tâm hồn, ta không thể lấy sự thiếu hiểu biết làm nhân đức. Đi tu không phải để thu gom bằng cấp. Nhưng vì đang bước giữa một thế giới đầy những tiếng nói cạnh tranh nhau, ta cần một nền tảng đủ vững để không lạc đường. Và cuối cùng, ta học không phải để sở hữu chân lý, nhưng để chân lý chiếm hữu mình; không phải để nắm bắt Thiên Chúa, nhưng để càng ngày càng để cho Thiên Chúa nắm lấy cuộc đời mình.
Đến một ngày, sách rồi cũng phải khép lại. Những bài thi rồi cũng qua. Những văn bằng rồi cũng nằm im trong một ngăn tủ. Có những điều từng học ta sẽ quên. Nhưng nếu qua bao năm học hỏi, ta trở thành một con người khiêm nhường hơn, cầu nguyện sâu hơn, yêu Hội Thánh trưởng thành hơn, hiểu con người hơn, biết đau với nỗi đau của họ hơn, biết phân định tốt hơn, biết sống lời khấn thật hơn và nhất là biết mình đang tin vào ai, đang theo ai, đang sống vì ai, thì những năm tháng học thần học ấy không hề uổng phí.
Bởi sau tất cả, tri thức thánh khoa không phải là đích đến. Thiên Chúa mới là đích đến. Thần học chỉ là ngọn đèn. Đức Kitô mới là Đường. Thần học chỉ cho ta nhìn. Đức Kitô mới là Ánh Sáng. Thần học giúp ta hiểu lời mời gọi. Nhưng chính tình yêu mới khiến ta có thể đi đến cùng.
Và người tu sĩ, giữa một thế giới không ngừng chuyển động, vẫn cần cầm ngọn đèn ấy trong tay mà bước. Không phải để tự hào mình có ánh sáng, nhưng để khỏi lạc đường; và nếu có thể, để soi một chút ánh sáng cho những người đang cùng mình đi trong đêm.
Lm. Anmai, CSsR
HỌC TRONG THINH LẶNG – ĐỂ TRÍ TUỆ TRỞ THÀNH ÁNH SÁNG CHO ĐỜI DÂNG HIẾN
Có những điều trong đời chỉ có thể đạt được bằng cái giá của hy sinh. Không có mùa gặt nào lại bắt đầu từ sự nhàn hạ, không có một cánh đồng trĩu hạt nào lại lớn lên mà không trải qua những ngày người nông dân cúi mình dưới nắng, và cũng không có một đời sống nội tâm trưởng thành nào lại được xây nên từ sự dễ dãi với chính mình. Việc học cũng thế. Nhất là việc học trong đời tu, việc học không phải là một thú vui để giết thời gian, càng không phải là một món trang sức để người ta mang ra khoe rằng mình biết nhiều, đọc rộng, bằng cấp cao hay có thể nói những điều người khác không nói được. Học trong đời dâng hiến, nếu hiểu cho đúng, là một hình thức khổ chế. Đó là một cuộc chiến âm thầm với sự lười biếng, với tính dễ dãi, với thói quen muốn chọn điều nhẹ nhàng hơn điều cần thiết, muốn tìm sự giải trí hơn là đào sâu, muốn lướt qua hơn là ở lại, muốn nghe một câu trả lời nhanh hơn là kiên nhẫn đi đến tận căn nguyên của một vấn đề. Có lẽ ai từng ngồi trước một trang sách khó vào một buổi tối thân xác đã mỏi, đầu óc đã nặng và lòng chỉ muốn buông xuống, mới hiểu việc học có những lúc thật sự là một hy sinh. Có những trang sách đọc đi đọc lại vẫn chưa hiểu. Có những khái niệm thần học tưởng như lạnh lùng và xa lạ. Có những đoạn Kinh Thánh càng đọc càng thấy mình bé nhỏ. Có những câu hỏi luân lý khiến người ta không thể trả lời vội vàng. Có những vấn đề của con người hôm nay đòi người mục tử phải đọc thêm, suy nghĩ thêm, cầu nguyện thêm, và nhất là phải khiêm tốn thú nhận rằng mình chưa biết đủ. Nhưng cũng chính trong những giờ phút ấy, đời tu được thanh luyện một cách rất âm thầm. Bởi người ta không chỉ học một môn học; người ta đang học cách từ bỏ mình.
Tôi nghĩ rằng một trong những nghèo nàn đáng sợ của con người không phải là không biết, mà là không còn muốn biết thêm. Người không biết mà còn khao khát học thì vẫn còn rất nhiều hy vọng; người biết một chút mà tưởng mình đã biết đủ thì bắt đầu đóng cửa đời mình. Điều ấy lại càng nguy hiểm trong đời tu. Bởi càng sống lâu, càng làm mục vụ nhiều, càng đứng trước cộng đoàn nhiều, người ta càng dễ có cảm giác rằng mình đã nghe rồi, đã đọc rồi, đã giảng rồi, đã trải qua rồi. Một bài Tin Mừng quen thuộc có thể được đọc bằng ánh mắt cũ. Một vấn đề mục vụ mới có thể bị giải quyết bằng kinh nghiệm của hai mươi năm trước. Một con người đang đau có thể bị đặt vào một cái khung giáo lý có sẵn trước khi ta kịp lắng nghe câu chuyện thật sự của họ. Và như thế, tri thức không còn lớn lên mà bắt đầu hóa đá. Người ta vẫn nói, vẫn dạy, vẫn hướng dẫn, nhưng bên trong không còn cuộc lên đường nào nữa. Đó là lúc đáng sợ nhất của người phục vụ Lời Chúa: không phải lúc họ chưa biết, nhưng là lúc họ không còn thấy cần phải học.
Học đòi hỏi một sự dứt khoát. Không thể học sâu nếu chỉ học vào phần thời gian thừa. Không thể xây dựng một đời sống trí thức nghiêm túc nếu lúc nào cũng đợi “rảnh rồi sẽ đọc”. Thực tế, đời sống chẳng bao giờ hoàn toàn rảnh. Việc này nối việc kia, điện thoại này nối điện thoại khác, một tin nhắn kéo theo nhiều tin nhắn, một cuộc gặp dẫn sang một cuộc gặp, và nếu con người không tự đặt ra cho mình những khoảng thời gian bất khả xâm phạm dành cho học hỏi, thì đời sống sẽ âm thầm lấy mất tất cả. Điều đáng buồn là chúng ta có thể dành rất nhiều giờ cho những thứ sau đó chẳng còn nhớ mình đã xem gì, nhưng lại thấy một giờ đọc sách là dài. Có thể lướt qua hàng trăm thông tin trong một buổi tối mà không thấy mệt, nhưng chỉ vài chục trang sách đã thấy nặng nề. Có thể ngồi lâu trong những câu chuyện không đưa mình đi đến đâu, nhưng lại thấy khó khăn khi ngồi yên một mình trước một trang sách. Đó không chỉ là vấn đề kỷ luật trí óc; sâu xa hơn, đó là vấn đề của đời sống nội tâm. Bởi học nghiêm túc bắt con người phải ở lại. Mà con người hôm nay rất sợ ở lại. Ta quen chuyển nhanh từ chuyện này sang chuyện khác, quen phản ứng nhanh, trả lời nhanh, kết luận nhanh, nhưng chân lý lại không thường xuất hiện trong sự vội vàng. Chân lý thích những người biết chờ.
Có khi người ta nói rằng đời tu chỉ cần cầu nguyện là đủ. Câu nói ấy nghe rất đạo đức, nhưng nếu hiểu một cách đơn giản thì lại nguy hiểm. Cầu nguyện chân thật không bao giờ làm con người khinh thường trí tuệ. Chính cầu nguyện phải làm cho người ta khao khát hiểu biết hơn Đấng mình yêu, hiểu sâu hơn Lời mình đang nghe, hiểu đúng hơn đức tin mình tuyên xưng, hiểu tinh tế hơn con người mình được sai đến. Tôi không thể nói rằng mình yêu Chúa mà lại không muốn hiểu Lời Chúa. Tôi không thể nói rằng mình yêu Hội Thánh mà lại không muốn đào sâu giáo huấn của Hội Thánh. Tôi không thể nói rằng mình yêu con người mà lại bằng lòng với những phán đoán hời hợt về nỗi khổ của họ. Tình yêu chân thật luôn có một sự tò mò thánh thiện: muốn biết người mình yêu, muốn hiểu điều người ấy đang sống, muốn nghe cả những điều chưa được nói thành lời. Vì thế, đối với người tu sĩ, học không đứng đối diện với cầu nguyện; học phải được sinh ra từ cầu nguyện và rồi lại dẫn về cầu nguyện. Có những trang thần học mà nếu chỉ đọc bằng cái đầu, người ta thấy khô khan; nhưng khi đọc bằng một tâm hồn đã quỳ trước Thánh Thể, bỗng một khái niệm trở thành lời thú nhận đức tin. Có những đoạn Kinh Thánh từng rất quen, nhưng một ngày kia sau nhiều năm, trong một hoàn cảnh cụ thể, bỗng mở ra một vực sâu chưa từng nhận thấy. Có những chân lý tín lý từng tưởng chỉ thuộc về sách vở, nhưng khi đứng cạnh một người hấp hối, người ta mới hiểu tại sao Hội Thánh đã gìn giữ chân lý ấy bằng nước mắt và bằng cả máu của các vị tử đạo.
Vấn đề không phải tri thức khô khan, mà là trái tim con người đã để tri thức đứng ngoài đời sống của mình. Bản thân một chân lý không khô. Chân lý về Thiên Chúa Ba Ngôi không khô; đó là mầu nhiệm của một Thiên Chúa không cô độc nhưng là hiệp thông tình yêu. Chân lý về Nhập Thể không khô; đó là việc Thiên Chúa đã bước vào thân phận mong manh của con người, đã mang lấy thịt xương, nước mắt, đói khát và đau đớn của chúng ta. Chân lý về Thập Giá không khô; đó là tình yêu đi đến tận cùng khi không còn gì để giữ lại. Chân lý về Phục Sinh không khô; đó là niềm hy vọng rằng cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Luân lý Kitô giáo không phải là một tập hợp những điều cấm đoán vô hồn; đó là nỗ lực giúp con người sống sao cho phẩm giá của họ không bị đánh mất. Phụng vụ không phải là một chuỗi nghi thức máy móc; đó là nơi Hội Thánh bước vào mầu nhiệm cứu độ bằng thân xác, lời nói, thinh lặng, dấu chỉ, thời gian và cộng đoàn. Kinh Thánh không phải là một cuốn sách cổ; đó là ký ức sống động của một dân tộc đã gặp Thiên Chúa giữa những thăng trầm thật nhất của lịch sử. Nếu ta thấy tất cả những điều ấy khô khan, có khi điều cần xem lại không phải là chân lý, nhưng là cách ta đang đến với chân lý.
Có những người học để có câu trả lời. Nhưng càng học sâu, người ta càng nhận ra giá trị lớn hơn của việc học là giúp mình biết đặt câu hỏi cho đúng. Người biết ít thường trả lời rất nhanh. Người hiểu sâu thường thận trọng hơn. Không phải vì họ không có lập trường, nhưng vì họ biết thực tại con người phức tạp đến mức nào. Một người đang ở trong khủng hoảng hôn nhân không chỉ cần nghe một nguyên tắc. Một người trẻ đang mất đức tin không chỉ cần bị nhắc rằng phải tin. Một người đang phạm một sai lầm luân lý không chỉ cần bị kết án từ xa. Một người đau khổ không chỉ cần nghe những câu nói đạo đức. Muốn đồng hành với họ, ta cần thần học, nhưng cũng cần tâm lý; cần giáo luật, nhưng cũng cần sự hiểu biết hoàn cảnh; cần luân lý, nhưng cũng cần lương tâm mục tử; cần nguyên tắc, nhưng cũng cần lòng thương xót. Và chính việc học nghiêm túc giúp người phục vụ Hội Thánh thoát khỏi nguy cơ biến một chân lý đúng thành một lời nói gây tổn thương chỉ vì được nói không đúng lúc, không đúng cách, không hiểu đúng con người đang đứng trước mình.
Tôi càng ngày càng thấy rằng sự dốt nát nếu đi chung với nhiệt thành có thể gây ra rất nhiều tai họa. Người ta có thể rất sốt sắng mà làm tổn thương người khác. Có thể rất muốn bảo vệ chân lý mà lại bóp méo chân lý bằng cách diễn giải tùy tiện. Có thể rất yêu Giáo Hội mà lại nói những điều Giáo Hội chưa bao giờ nói. Có thể rất nhiệt tình truyền giáo nhưng làm người khác xa Chúa hơn vì thái độ thiếu hiểu biết và thiếu tinh tế. Có những câu trả lời sai được nhân danh đức tin. Có những định kiến cá nhân được khoác áo giáo lý. Có những suy nghĩ văn hóa của một thời đại bị tưởng là giáo huấn bất biến. Chính vì vậy, học không chỉ để làm cho ta giỏi; học còn để ngăn ta gây hại. Người càng có trách nhiệm với nhiều linh hồn càng cần khiêm tốn với tri thức. Một lời sai của người bình thường có thể chỉ dừng ở một cuộc nói chuyện; một lời sai của người có uy tín thiêng liêng đôi khi nằm lại trong lương tâm của người nghe nhiều năm.
Nhưng học thật sự khó bởi nó buộc ta phải chấp nhận mình nhỏ bé. Càng đọc, ta càng thấy biển tri thức rộng hơn. Càng đi sâu vào Kinh Thánh, ta càng thấy những cách hiểu đơn giản trước đây của mình chưa đủ. Càng học thần học, ta càng thấy mầu nhiệm Thiên Chúa không thể bị nhốt trong những công thức của con người. Càng gặp nhiều người, ta càng thấy đời sống không dễ phân chia thành những ô vuông trắng đen như ta tưởng. Và khi đó, tri thức đích thực dẫn ta đến khiêm nhường. Nếu học nhiều mà ngày càng kiêu căng, có lẽ ta đã tích lũy thông tin nhưng chưa thật sự được giáo dục. Người học thật thường bớt thích khoe mình biết. Họ không cần phải chứng minh mình thông minh trong mọi cuộc trò chuyện. Họ không vội sửa người khác vì một chi tiết nhỏ. Họ biết nói “tôi chưa biết” mà không thấy xấu hổ. Họ biết về đọc lại, hỏi lại, kiểm chứng lại. Họ không xem việc thay đổi một nhận định cũ khi có ánh sáng mới là thua cuộc. Trái lại, họ hiểu đó là dấu hiệu của một trí tuệ còn sống.
Và có lẽ đây là một trong những hoa trái đẹp nhất của học hỏi trong đời tu: người ta được giải thoát khỏi ảo tưởng về chính mình. Một người có thể bước vào đời thánh hiến với rất nhiều ý tưởng đẹp, nhưng cũng mang theo nhiều giới hạn của gia đình, văn hóa, tính khí, giáo dục và kinh nghiệm cá nhân. Nếu không học, không đọc, không đối thoại và không mở lòng với truyền thống lớn hơn chính mình, ta rất dễ biến cách nghĩ riêng thành chân lý chung. Ta dễ tưởng sở thích thiêng liêng của mình là con đường duy nhất. Ta dễ lấy kinh nghiệm bản thân làm thước đo người khác. Ta dễ phán đoán những gì mình chưa từng trải qua. Việc học mở những cánh cửa ấy. Nó cho ta gặp các thế kỷ của Hội Thánh, gặp các Giáo phụ, các vị thánh, các nhà thần học, gặp những nền văn hóa khác, những câu hỏi khác, những cách diễn đạt đức tin khác. Nó kéo ta ra khỏi căn phòng chật hẹp của cái tôi để bước vào căn nhà rộng lớn của truyền thống.
Nhưng muốn học được như thế, cần thinh lặng. Tôi rất thích hai chữ “học trong thinh lặng”. Không chỉ bởi học cần một nơi ít tiếng động, mà bởi thinh lặng là điều kiện để chân lý lắng xuống. Có người đọc rất nhiều nhưng trong lòng quá ồn. Họ đọc để tìm câu phản bác người khác, đọc để có thêm lý lẽ thắng một cuộc tranh luận, đọc để thu thập câu chữ cho bài nói của mình. Đọc như thế vẫn có thể biết thêm, nhưng chưa chắc đã được biến đổi. Học trong thinh lặng thì khác. Ta đọc một câu rồi dừng lại. Ta để câu ấy hỏi mình. Ta không chỉ hỏi “tác giả muốn nói gì?” mà còn hỏi “điều này đụng đến đời tôi ở đâu?”. Ta không chỉ ghi chú cho bài giảng, mà ghi nhận một điều mình cần hoán cải. Ta không chỉ tìm kiến thức cho sứ vụ ngày mai, mà để ánh sáng ấy soi vào những góc tối của chính mình hôm nay. Khi đó, trang sách trở thành một phần của cầu nguyện.
Có những lúc tôi nghĩ rằng căn phòng học của người tu sĩ cũng có thể là một nhà nguyện. Không phải theo nghĩa thay thế nhà nguyện, nhưng vì ở đó cũng diễn ra một cuộc gặp gỡ. Chiếc bàn, cây bút, cuốn sách, quyển Kinh Thánh, ánh đèn khuya và sự thinh lặng có thể trở thành nơi con người phụng sự Thiên Chúa bằng trí tuệ. Một giờ học thật sự nghiêm túc cũng có thể là một giờ dâng hiến. Tôi dâng cho Chúa sự mỏi mệt của đầu óc. Dâng cho Chúa sự kiên nhẫn phải đọc lại. Dâng cho Chúa việc từ bỏ một chương trình giải trí để hiểu thêm một vấn đề phục vụ dân Chúa. Dâng cho Chúa sự khó chịu khi nhận ra điều mình từng tin chắc hóa ra chưa đầy đủ. Dâng cả sự khiêm tốn khi phải học từ một người trẻ hơn, một người khác truyền thống, một người mình từng nghĩ không có gì để dạy mình. Nếu làm với tình yêu, những điều ấy đều có giá trị thiêng liêng.
Người ta thường nói đến những hy sinh lớn trong đời tu: từ bỏ gia đình, từ bỏ tài sản, sống độc thân, vâng phục, chấp nhận những bổ nhiệm mình không chọn. Nhưng có những hy sinh rất nhỏ làm nên phẩm chất của cả một đời dâng hiến mà ít người nhìn thấy. Dậy sớm hơn một chút để đọc. Tắt điện thoại một giờ để suy nghĩ. Không xem thêm một chương trình dù rất thích vì ngày mai phải chuẩn bị bài giảng nghiêm túc. Mang theo một cuốn sách trong chuyến đi. Học lại một ngoại ngữ dù tuổi đã cao. Ngồi nghe một bài giảng của người khác với tâm thế của người học chứ không phải của người chấm điểm. Đọc một văn kiện Giáo Hội đến tận nơi chứ không chỉ đọc vài câu trích trên mạng. Kiểm chứng một thông tin trước khi chia sẻ. Tra lại một nguồn Kinh Thánh thay vì dựa hoàn toàn vào trí nhớ. Những việc rất nhỏ ấy không tạo nên tiếng vang, nhưng âm thầm làm nên một con người có chiều sâu.
Tôi nghĩ đời tu rất sợ sự hời hợt. Bởi một người hời hợt vẫn có thể hoạt động rất nhiều. Họ có thể bận từ sáng tới tối, có mặt ở mọi nơi, làm vô số công việc, nói rất nhiều, đăng rất nhiều, tổ chức rất nhiều. Nhưng bận không đồng nghĩa với sâu. Có khi bận chính là cách con người trốn khỏi việc phải đối diện với chiều sâu. Vì khi dừng lại học, dừng lại đọc, dừng lại suy niệm, ta buộc phải gặp chính mình. Ta nhận ra có những lỗ hổng trong hiểu biết. Nhận ra những thành kiến. Nhận ra sự lười biếng. Nhận ra những năm tháng mình đã để trôi qua trong những thứ không thật sự nuôi lớn đời sống. Thinh lặng đáng sợ vì nó làm lộ ra điều tiếng ồn vẫn che kín. Nhưng chính nơi ấy, con người mới bắt đầu trưởng thành.
Học trong thinh lặng còn là một cách thanh luyện lời nói. Người không học đủ thường phải nói bằng cảm tính. Người học nghiêm túc biết sức nặng của từng chữ. Họ biết một thuật ngữ thần học không thể dùng tùy tiện. Họ biết một câu Kinh Thánh tách khỏi bối cảnh có thể bị bóp méo. Họ biết một vấn đề luân lý không thể được giải quyết chỉ bằng vài dòng trên mạng xã hội. Họ biết có những lúc phải nói, nhưng cũng có những lúc sự thật đòi mình im lặng thêm một chút để hiểu cho đúng. Trong một thời đại mà người ta được khuyến khích phát biểu về mọi thứ, có lẽ một trong những dấu chỉ của trưởng thành trí thức là biết mình không cần có ý kiến về tất cả mọi chuyện.
Và từ thinh lặng ấy, người học bắt đầu chạm đến một dòng suối khác. Ban đầu, việc học có thể là bổn phận. Sau đó, nó trở thành niềm vui. Có một niềm vui rất riêng khi hiểu được điều trước đây chưa hiểu. Không phải niềm vui tự mãn, nhưng là cảm giác như một cánh cửa mở ra. Một đoạn sách khó bỗng sáng lên. Một chân lý tưởng xa vời bỗng nối được với kinh nghiệm sống. Một câu của thánh Augustinô, Tôma Aquinô, Anphongsô, Gioan Thánh Giá hay Têrêsa có khi làm ta nhận ra người xưa đã đi qua chính nỗi vật lộn mà mình đang mang hôm nay. Ta bỗng hiểu mình không cô độc. Những thế hệ người tin trước ta cũng đã hỏi, đã tìm, đã đau, đã cầu nguyện và đã để lại dấu chân. Học lúc ấy trở thành cuộc trò chuyện với một truyền thống sống.
Đặc biệt trong đời tu, việc đào sâu thần học giúp người ta đứng vững trước những cơn dao động của cảm xúc. Cảm xúc thiêng liêng rất quý, nhưng không bền. Có những thời gian cầu nguyện sốt sắng, lòng đầy an ủi, cảm thấy Chúa rất gần. Nhưng cũng sẽ có ngày kinh nguyện trở nên khô, Thánh lễ dường như không đem lại cảm xúc nào, sứ vụ mệt mỏi, cộng đoàn có va chạm, lời khấn trở thành một gánh nặng và chính ơn gọi mình từng chắc chắn bỗng bị đặt câu hỏi. Nếu đức tin chỉ được xây trên cảm giác, những ngày ấy sẽ trở thành động đất. Nhưng người đã bén rễ trong một nền thần học vững chắc hiểu rằng Thiên Chúa không biến mất chỉ vì tôi không cảm thấy Người. Giao ước không mất giá trị vì một ngày lòng tôi nguội lạnh. Ơn gọi không nhất thiết là sai chỉ vì tôi đang mệt. Lời khấn không chỉ là một cảm xúc đẹp của ngày tuyên khấn, nhưng là sự đáp trả đối với một Thiên Chúa trung tín. Tri thức lúc ấy không còn là lý thuyết; nó trở thành xương sống.
Một người được học hành nghiêm túc cũng ít bị cuốn theo những trào lưu thiêng liêng nhất thời. Thời đại nào cũng có những hiện tượng gây tò mò: những lời tiên đoán, những mặc khải được lan truyền, những cách diễn giải tận thế, những phương pháp cầu nguyện được quảng bá như chìa khóa duy nhất, những nhân vật có sức hút lớn, những câu chuyện đánh mạnh vào cảm xúc. Nếu thiếu nền tảng, người ta dễ bị cuốn đi. Điều nghe cảm động được tưởng là đúng. Điều nhiều người chia sẻ được tưởng là đáng tin. Điều mang màu sắc đạo đức được tưởng là của Thiên Chúa. Nhưng một trí tuệ được rèn luyện biết phân định. Không phải phân định bằng sự nghi ngờ lạnh lùng, nhưng bằng tình yêu đối với chân lý. Họ biết đặt một hiện tượng trong ánh sáng Kinh Thánh, Thánh Truyền, Huấn quyền và lý trí. Họ không dễ chạy theo điều lạ, bởi đã được nuôi bằng điều sâu.
Học còn giúp người tu sĩ đối diện với thế giới hiện đại mà không sợ hãi. Một đức tin yếu thường sợ câu hỏi. Một đức tin trưởng thành không sợ. Khoa học tiến bộ không phải là kẻ thù của đức tin. Những khám phá về vũ trụ, sinh học, não bộ, tâm lý con người không làm Thiên Chúa nhỏ đi. Ngược lại, nếu biết học với một cái nhìn quân bình, chúng có thể làm ta kinh ngạc hơn trước công trình tạo dựng. Những câu hỏi mới về trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, môi trường, chiến tranh, kinh tế, truyền thông, giới trẻ, gia đình, tính dục, công bằng xã hội… đặt người phục vụ Tin Mừng trước những thách đố chưa từng có. Không thể dùng câu trả lời của một trăm năm trước mà không có sự nghiên cứu để trả lời mọi vấn đề hôm nay. Chân lý đức tin không thay đổi, nhưng câu hỏi của con người thay đổi, ngôn ngữ thay đổi, hoàn cảnh thay đổi. Muốn nói được chân lý vĩnh cửu cho một con người cụ thể của thời đại này, ta phải biết họ đang sống trong thế giới nào.
Có lẽ vì thế mà học là một bổn phận bác ái. Người ta thường nghĩ bác ái là cho tiền, thăm bệnh, giúp người nghèo, tha thứ, phục vụ. Đúng, nhưng chuẩn bị một bài giảng tử tế cũng là bác ái. Học để không trả lời sai một vấn đề luân lý cũng là bác ái. Đọc thêm để hiểu tâm lý của một người đang khủng hoảng cũng là bác ái. Nghiên cứu kỹ trước khi lên tiếng về một vấn đề xã hội cũng là bác ái. Không chia sẻ một thông tin chưa kiểm chứng cũng là bác ái. Bởi đức ái không chỉ muốn điều tốt cho người khác; đức ái còn đòi ta đừng làm họ tổn thương bằng sự cẩu thả của mình.
Có những bài giảng được chuẩn bị trong vài phút nhưng cộng đoàn phải nghe suốt hai mươi phút. Có những câu nói người nói quên ngay nhưng người nghe mang theo nhiều năm. Điều ấy làm tôi luôn thấy sợ một cách lành mạnh trước trách nhiệm của lời nói. Người ta trao cho người linh mục một tòa giảng, nhưng tòa giảng không phải là giấy phép để nói bất cứ điều gì mình nghĩ. Đó là nơi lời nói phải được thanh luyện bằng cầu nguyện, học hỏi và tình yêu. Dân Chúa xứng đáng nhận được một bài giảng đã được người mục tử suy nghĩ, chứ không phải vài ý ngẫu hứng. Họ xứng đáng nhận một lời được nghiền ngẫm, không phải những câu chuyện để lấp thời gian. Và nếu mỗi tuần người giảng dành nhiều giờ để chuẩn bị, điều ấy không bao giờ uổng phí. Có thể không ai biết. Có thể người nghe không nhận ra đằng sau mười lăm phút ấy là bao nhiêu trang sách, bao nhiêu lần sửa, bao nhiêu giờ cầu nguyện. Nhưng Thiên Chúa biết. Và có khi chỉ một câu trong bài giảng ấy giữ được một người khỏi tuyệt vọng.
Học trong thinh lặng cuối cùng dẫn con người trở về với chính mình. Điều này nghe có vẻ lạ, vì ta tưởng học là đi ra ngoài để thu thập thêm kiến thức. Nhưng càng học nghiêm túc, người ta càng gặp chính mình. Một cuốn sách hay không chỉ cho ta biết điều mới; nó làm lộ ra những câu hỏi cũ nằm trong lòng. Một chân lý lớn không chỉ soi thế giới; nó soi người đang đọc nó. Ta học về tự do rồi nhận ra mình đang bị trói bởi điều gì. Học về ân sủng rồi thấy mình đã sống như thể mọi thứ chỉ tùy sức mình. Học về lòng thương xót rồi phát hiện mình vẫn giữ những bản án âm thầm dành cho một số người. Học về hiệp thông rồi nhận ra mình đang sống khép kín. Học về nghèo khó rồi thấy có bao nhiêu điều mình đang bám víu. Học về vâng phục rồi thấy ý riêng của mình mạnh đến mức nào. Lúc ấy, tri thức trở thành tấm gương.
Có thể nói sự học đúng nghĩa luôn dẫn đến một cuộc sám hối nào đó. Nếu một người học thần học nhiều năm mà đời sống không mềm lại, có lẽ còn thiếu điều gì. Nếu học về Đức Kitô mà ngày càng thích thống trị hơn phục vụ, có điều gì đó sai. Nếu học luân lý mà ngày càng dễ kết án người yếu đuối, ta chưa hiểu trái tim của luân lý Kitô giáo. Nếu học Kinh Thánh mà ngày càng dùng Lời Chúa như một vũ khí, ta chưa để Lời Chúa cắt vào mình. Nếu học linh đạo mà ngày càng thấy mình đạo đức hơn người khác, ta đang tích lũy một thứ kiêu ngạo thiêng liêng rất nguy hiểm. Tri thức chỉ thực sự trở thành ánh sáng khi nó đi qua trái tim.
Tôi rất quý hình ảnh một người lớn tuổi vẫn còn cầm sách học. Có điều gì đẹp hơn khi một người đã đi qua nhiều năm sứ vụ vẫn còn có thể nói: “Tôi đang học.” Câu ấy nói lên một tâm hồn chưa già. Tuổi già không bắt đầu từ tóc bạc; có khi nó bắt đầu từ ngày người ta không còn tò mò trước chân lý. Một người tám mươi tuổi vẫn đọc, vẫn hỏi, vẫn nghe, vẫn học có thể trẻ hơn một người ba mươi tuổi đã đóng kín mọi cửa. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Còn học là còn nhận mình chưa hoàn tất. Còn học là còn để Thiên Chúa làm mình ngạc nhiên. Còn học là còn cho người khác cơ hội dạy mình điều gì đó. Còn học là còn khả năng thay đổi.
Và khi việc học đi cùng thinh lặng, nó tạo ra một sự bình an rất khác. Không phải bình an vì ta đã có câu trả lời cho mọi thứ. Trái lại, càng hiểu sâu ta càng biết có nhiều điều không thể giải hết. Nhưng ta bình an vì biết đâu là nền móng. Ta biết điều gì thuộc về cốt lõi, điều gì chỉ là phụ thuộc. Biết đâu là tín điều, đâu là ý kiến thần học. Biết đâu là nguyên tắc phải giữ, đâu là lãnh vực cần khôn ngoan phân định. Biết điều gì mình có thể nói chắc, điều gì cần nói với sự dè dặt. Người không có nền tảng thường bất an trước mọi khác biệt; người có nền tảng vững không cần hoảng hốt mỗi khi gặp một ý kiến khác mình.
Sự bình an ấy rồi trở thành quà tặng cho người khác. Người mục tử bình an sẽ không làm cộng đoàn hoảng sợ. Người hướng dẫn thiêng liêng bình an sẽ không ép người khác vào khuôn của mình. Người có chiều sâu sẽ không cần dùng tiếng nói lớn để chứng minh quyền uy. Họ có một sức nặng lặng lẽ. Người ta ngồi bên họ và cảm thấy được lắng nghe. Không phải vì họ có giải pháp cho tất cả, nhưng vì họ không bị cuốn đi bởi sự hỗn loạn của người đối diện. Họ có một nơi để đứng. Và nơi đứng ấy được xây bằng nhiều năm cầu nguyện, học hỏi, thất bại, suy niệm và để cho chân lý sửa mình.
Thế giới hôm nay có quá nhiều thông tin nhưng không vì thế mà có nhiều khôn ngoan hơn. Chúng ta có thể tìm một câu trả lời trong vài giây, nhưng để có một phán đoán trưởng thành vẫn cần nhiều năm. Có thể đọc hàng ngàn trang trên màn hình nhưng không thật sự đào sâu một vấn đề. Có thể nghe vô số bài giảng nhưng không tiêu hóa được một chân lý. Chính vì vậy, kỷ luật học hỏi trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Người ta phải tập lại nghệ thuật đọc chậm. Tập ở lại với một cuốn sách. Tập ghi chú. Tập suy nghĩ. Tập không bị mỗi thông báo kéo mình đi. Tập giữ một khoảng thinh lặng không có màn hình. Tập chịu đựng cảm giác ban đầu của sự khó hiểu thay vì bỏ cuộc ngay. Những kỹ năng ấy tưởng thuộc về trí thức, nhưng thực ra cũng là những bài tập của tự do.
Tự do là khả năng không phải làm mọi điều mình thích trong phút này. Tự do còn là khả năng nói không với một thú vui nhỏ vì một điều lớn hơn. Người ngồi học trong khi thân xác muốn lười đang thực tập tự do. Người đóng mạng xã hội để đọc một chương sách đang thực tập tự do. Người bỏ qua một cuộc tranh luận vô ích để dành thời gian suy nghĩ đang thực tập tự do. Người chấp nhận rằng mình chưa hiểu và phải tìm hiểu thêm đang thực tập tự do khỏi cái tôi. Từng hy sinh nhỏ ấy tích lại thành một nhân cách.
Không phải ai cũng được gọi trở thành học giả. Không phải người tu sĩ nào cũng phải viết những tác phẩm thần học lớn. Nhưng mọi người sống đời thánh hiến đều được mời gọi đừng ngừng học. Bởi sứ vụ thay đổi, con người thay đổi, chính bản thân ta cũng thay đổi. Một kiến thức từng đủ cho giai đoạn đào tạo ban đầu không thể đủ cho cả năm mươi năm đời tu. Một người được truyền chức không có nghĩa việc đào tạo đã kết thúc. Khấn trọn không phải tốt nghiệp khỏi trường của cuộc đời. Có lẽ đúng hơn, từ đó việc học mới đi vào một giai đoạn sâu hơn, khi những điều từng đọc trong sách bắt đầu được kiểm chứng trong nước mắt, xung đột, trách nhiệm, bệnh tật, mất mát và những vui buồn thật của kiếp người.
Sau nhiều năm, người ta có thể không còn nhớ hết định nghĩa, nhưng nếu đã học đúng, tri thức sẽ ở lại dưới hình thức khôn ngoan. Người ta biết nghe lâu hơn. Biết nói ít hơn. Biết phân biệt điều quan trọng với điều ồn ào. Biết không cần phải thắng mọi cuộc tranh luận. Biết một linh hồn quý hơn một lý lẽ. Biết chân lý không cần sự dữ để bảo vệ. Biết có lúc sự dịu dàng nói được điều mà sự cứng rắn không thể nói. Biết có những vết thương chỉ lành trong thời gian. Biết có những người không cần một bài giảng mà chỉ cần một người ngồi bên. Tất cả những điều ấy không có trong một giáo trình duy nhất, nhưng một trí tuệ được rèn luyện lâu năm sẽ dần nhận ra.
Cuối cùng, tôi nghĩ học trong đời tu là một cách yêu Chúa bằng trí khôn. Chúa đã ban trí tuệ không phải để ta bỏ quên nó khi bước vào nhà tu. Trái lại, cả con người được mời gọi dâng cho Chúa: thân xác, tình cảm, ý chí, trí nhớ, trí hiểu. Có một sự thờ phượng diễn ra khi con người sử dụng trí khôn cách nghiêm túc để đi tìm chân lý. Và có một niềm vui rất sâu khi sau bao nhiêu giờ mỏi mệt, ta hiểu thêm được một điều về Thiên Chúa, về con người hay về chính mình, rồi âm thầm nói: “Lạy Chúa, hóa ra là thế.” Khoảnh khắc ấy có thể không lớn lao, nhưng rất đẹp. Đó là lúc trí tuệ quỳ xuống.
Thinh lặng để học, học trong thinh lặng, rồi đem điều đã học trở lại cuộc đời. Có lẽ vòng tròn ấy phải tiếp tục cho đến cuối đời. Ta học không để rời xa con người nhưng để trở về với họ sâu hơn. Ta vào thư viện không phải để trốn cuộc đời nhưng để khi bước ra, có thể nhìn cuộc đời sáng hơn. Ta đọc về đau khổ để khi gặp người đau khổ, bớt nói những lời nông cạn. Ta học về lòng thương xót để biết cúi xuống. Ta học về chân lý để không bị lừa bởi điều giả. Ta học về Thiên Chúa để càng nhận ra Người lớn hơn mọi điều ta từng nghĩ về Người.
Rồi một ngày, khi tuổi đã cao, mắt có thể mờ hơn, trí nhớ không còn như trước, sức học không còn mạnh, có lẽ điều quý nhất không phải là nhớ mình đã đọc bao nhiêu cuốn sách, có bao nhiêu bằng cấp hay từng giảng dạy những môn gì. Điều quý nhất là nhìn lại và nhận ra mình đã để chân lý uốn mình trở thành một con người hiền hơn, sâu hơn, khiêm tốn hơn và bình an hơn. Nếu sự học làm được điều ấy, thì không một giờ nào đã bỏ ra là uổng phí. Mọi đêm thức, mọi trang khó, mọi lần phải đọc lại, mọi cuộc vật lộn với sự lười biếng, mọi hy sinh những thú vui nhỏ đều đã trở thành vật liệu cho Thiên Chúa xây dựng bên trong ta một ngôi nhà.
Và từ ngôi nhà ấy, những người mệt mỏi có thể tìm thấy một chỗ nghỉ. Những người hoang mang có thể nhận được một lời sáng. Những người đau khổ có thể gặp một sự hiện diện không vội vàng. Những người đang đi tìm Thiên Chúa có thể bắt gặp nơi ta không phải một kho kiến thức, mà là một con người đã để kiến thức trở thành tình yêu.
Có lẽ đó mới là đích đến của việc học trong đời dâng hiến.
Không phải để biết nhiều hơn người khác.
Mà để yêu đúng hơn.
Không phải để nói những điều cao siêu hơn.
Mà để lời mình ít làm tổn thương hơn.
Không phải để đứng cao hơn.
Mà để cúi xuống sâu hơn.
Không phải để trở thành người có mọi câu trả lời.
Mà để trở thành một con người biết cùng người khác đi tìm ánh sáng.
Và nếu một ngày nào đó, sau tất cả những năm tháng miệt mài học hỏi, người ta chỉ còn nhớ nơi ta một điều rằng: ở gần con người ấy, tôi thấy lòng mình bớt bất an, tôi được hiểu hơn, tôi có thêm hy vọng và tôi cảm thấy Thiên Chúa không xa mình đến thế, thì có lẽ mọi hy sinh của việc học đã được trả lại gấp trăm.
Lm. Anmai, CSsR
KHI CON NGƯỜI KHÔNG CÒN BIẾT NÓI VỚI NHAU BẰNG TIẾNG NGƯỜI
Lướt mạng xã hội những ngày này, tôi cũng thấy nhiều thứ “ngôn ngữ” lạ lùng lắm! Lạ đến mức có lúc xem xong một đoạn video, đọc xong vài dòng tin, tôi cứ ngồi thừ ra mà tự hỏi: không biết con người hôm nay đang tiến bộ hay đang âm thầm trở về với một thứ bản năng rất xa lạ với phẩm giá mà Thiên Chúa đã trao ban cho mình. Chẳng hạn nhé, người chồng chẳng cần nói gì nhiều với vợ, nhưng lại dùng thứ “ngôn ngữ” thượng cẳng tay hạ cẳng chân ngay giữa phố, trước bao nhiêu người qua lại, chỉ vì một lý do nghe qua đã thấy quá nhỏ bé so với sự nhục nhã mà người phụ nữ phải chịu. Rồi có hai thanh niên bước xuống khỏi một chiếc xe sang, dáng vẻ có lẽ rất tự tin, ăn mặc cũng chẳng đến nỗi nào, nhưng thứ “ngôn ngữ” họ dùng với một người phụ nữ trẻ lại là thứ ngôn ngữ “ong bướm”, khiêu khích, thô tục; mà vì có lẽ chị không hiểu, hoặc không muốn hiểu, nên họ lập tức đổi sang “ngôn ngữ” tay chân. Những thứ ngôn ngữ như vậy mới thật sự là lạ! Lạ đến nỗi cư dân mạng cũng phải thốt lên: “Không hiểu kiểu gì?”, “Ai giải thích hộ!”, “Chắc hư cấu!”. Tiếc thay, đó lại không phải hư cấu. Đó là những mảnh vụn rất thật của một xã hội mà ở đó có những người đang đánh mất khả năng làm người ngay trong cách họ đối xử với một con người khác.
Tôi nghĩ, ngôn ngữ là một trong những món quà đẹp nhất Thiên Chúa ban cho con người. Con vật có tiếng kêu, con người có lời nói. Nhưng lời nói của con người không chỉ dùng để phát âm, chuyển tải dữ kiện hay ra lệnh; lời nói còn là chiếc cầu nối hai tâm hồn, là nơi một người trao chính mình cho một người khác. Một lời xin lỗi có thể cứu một cuộc hôn nhân. Một lời cảm ơn có thể làm ấm cả một ngày mệt nhọc. Một câu “tôi hiểu bạn” đôi khi đủ để giữ một người đang tuyệt vọng ở lại với cuộc đời. Một lời “anh sai rồi” có thể chặn đứng cả một chuỗi đổ vỡ. Một tiếng “mẹ ơi” có thể làm người mẹ quên hết những tháng ngày nhọc nhằn. Một câu “Chúa vẫn thương con” có thể vực dậy một tâm hồn tưởng mình đã rơi ra khỏi lòng thương xót. Ngôn ngữ cao quý là như thế. Nó không chỉ diễn tả suy nghĩ, nhưng làm lộ ra phẩm chất của trái tim. Người ta có thể mặc một bộ đồ rất đẹp, đi một chiếc xe rất sang, ở một căn nhà rất lớn, có học vị rất cao, nhưng chỉ cần mở miệng ra vài câu, hoặc chỉ cần nhìn cách người ấy đối xử với người yếu thế, đôi khi người ta đã biết bên trong tâm hồn ấy được giáo dục đến đâu.
Đau nhất là khi nắm đấm trở thành ngôn ngữ. Khi ấy, người ta không còn muốn hiểu nhau nữa; người ta chỉ muốn buộc người khác phải phục tùng mình. Một cái tát vào mặt người vợ không chỉ làm đau làn da. Nó còn có thể làm tan vỡ lòng tự trọng, làm một người bắt đầu sợ chính người từng hứa sẽ yêu thương mình suốt đời. Một cú đá không chỉ để lại vết bầm trên thân thể. Nó có thể để lại một ký ức nhiều năm sau vẫn chưa lành. Một đứa trẻ đứng bên đường nhìn thấy cha đánh mẹ có thể không khóc ngay lúc đó, nhưng hình ảnh ấy có thể đi vào trong tuổi thơ nó và âm thầm làm méo mó cách nó hiểu về gia đình, tình yêu, hôn nhân và quyền lực. Đừng tưởng bạo lực chỉ xảy ra giữa hai người. Mỗi hành vi bạo lực đều phát tán những vòng sóng rất xa. Người bị đánh mang thương tích. Con cái mang nỗi sợ. Cha mẹ hai bên mang đau lòng. Người chứng kiến mang bất an. Xã hội dần quen mắt với cái ác. Và nguy hiểm nhất là đến một ngày người ta xem việc đánh nhau như một thứ bình thường, một “nội dung” để quay, để đăng, để bình luận, để mua vui.
Có người nói: “Chuyện nhà người ta, mình không biết đầu đuôi, đừng phán xét.” Điều đó đúng ở chỗ ta không được hồ đồ kết án con người khi chưa biết hết sự việc. Nhưng có những điều không cần biết “đầu đuôi” mới gọi đúng tên được. Đánh người là sai. Làm nhục người khác là sai. Dùng sức mạnh thể xác để giải quyết mâu thuẫn là sai. Hạ nhục phụ nữ là sai. Lấy số đông để uy hiếp người yếu hơn là hèn. Những điều ấy không cần phải đợi điều tra tâm lý hay phân tích hàng trăm trang mới nhận ra được. Ta có thể chưa biết hết câu chuyện, nhưng không vì thế mà cái ác được đổi tên thành “nóng giận”, sự hèn hạ được gọi là “bốc đồng”, hay bạo lực được giảm nhẹ thành “mất kiểm soát”. Có những chữ nghe nhẹ đi, nhưng vết thương của nạn nhân thì không vì thế mà nhẹ hơn.
Tôi vẫn thường nghĩ, người mạnh thật sự không phải là người có thể đánh ngã một người khác. Người mạnh thật sự là người đang rất giận mà vẫn còn đủ sức không đưa tay lên. Người mạnh là người bị xúc phạm nhưng còn đủ tỉnh táo để bước đi. Người mạnh là người có quyền nhưng không dùng quyền để làm người khác run sợ. Người mạnh là người thắng được chính phần thú tính trong mình. Còn một người đàn ông to lớn đánh một người phụ nữ yếu hơn, hoặc vài người hợp lại uy hiếp một người đơn độc, thì đó chẳng có gì đáng gọi là sức mạnh. Nó chỉ cho thấy một sự yếu đuối bị che đậy bằng cơ bắp. Nắm đấm nhiều khi là lý lẽ cuối cùng của một người không còn lý lẽ. Tiếng quát tháo nhiều khi là chiếc áo khoác của một sự bất lực nội tâm. Càng thiếu khả năng kiểm soát mình, người ta càng muốn kiểm soát người khác.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là tại sao con người dễ nổi nóng đến vậy. Chỉ một va quẹt ngoài đường, một ánh nhìn bị cho là “nhìn đểu”, một câu nói không vừa tai, một lần bóp còi, một cuộc tranh cãi trên bàn nhậu, một vài dòng bình luận trên mạng cũng có thể đưa người ta từ những người xa lạ thành kẻ thù trong vài chục giây. Có phải vì chúng ta đang sống quá vội nên không còn đủ thời gian để hiểu nhau? Có phải vì lòng người đang tích tụ quá nhiều áp lực, bực bội và tổn thương mà không biết đặt xuống ở đâu, nên chỉ chờ một cái cớ rất nhỏ là phát nổ? Hay phải chăng vì chúng ta nói quá nhiều về quyền của mình nhưng lại quên mất phẩm giá của người khác? Tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều: một xã hội càng văn minh về kỹ thuật mà càng thô bạo trong tương quan thì sự văn minh ấy vẫn còn rất đáng lo.
Chúng ta có những chiếc điện thoại thông minh hơn bao giờ hết nhưng có khi cách chúng ta nói với nhau lại kém khôn ngoan hơn ngày trước. Chúng ta có thể gửi một tin nhắn sang bên kia thế giới trong vài giây, nhưng lại không biết nói một câu tử tế với người đang ngồi bên cạnh. Chúng ta có hàng ngàn biểu tượng cảm xúc trên bàn phím, nhưng nhiều khi ngoài đời lại nghèo cảm xúc đến lạ. Chúng ta biết “thả tim” cho một người xa lạ, nhưng có thể suốt một ngày chẳng nói nổi một lời dịu dàng với người bạn đời. Có người trên mạng viết về đạo lý rất hay, về yêu thương rất đẹp, nhưng ngoài đời lại nói với cha mẹ như nói với người mắc nợ mình. Có người bình luận kêu gọi chống bạo lực nhưng khi trở về nhà lại làm cả gia đình sống trong sợ hãi. Như thế mới thấy, văn minh không nằm ở thiết bị ta sử dụng, mà nằm ở cách ta đối xử với con người.
Ngôn ngữ của đôi tay vốn dĩ đẹp lắm. Đôi tay sinh ra không chỉ để cầm nắm, càng không phải để đánh nhau. Đôi tay người mẹ ôm đứa con vào lòng. Đôi tay người cha dắt con qua đường. Đôi tay bác sĩ khâu lại một vết thương. Đôi tay người nông dân gieo hạt. Đôi tay người công nhân dựng nhà. Đôi tay linh mục nâng Bánh Thánh. Đôi tay của những người thiện nguyện trao suất cơm cho người nghèo. Đôi tay một người bạn đặt lên vai người đang khóc. Đôi tay vợ chồng nắm lấy nhau khi tuổi đã xế chiều. Đôi tay ấy đẹp biết bao! Vậy mà cũng chính đôi tay ấy, khi lòng người mất bình an, lại có thể trở thành một thứ vũ khí. Điều làm tôi buồn không phải chỉ là một cú đánh, mà là việc một con người đã dùng món quà Thiên Chúa cho mình để làm tổn thương một món quà khác của Thiên Chúa.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu cũng có đôi tay. Nhưng đôi tay của Người thật khác. Người đặt tay trên bệnh nhân để chữa lành. Người chạm vào người phong cùi mà xã hội không muốn chạm tới. Người cầm tay con gái ông Giairô và kéo em đứng dậy. Người bẻ bánh cho đám đông đang đói. Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Cuối cùng, đôi tay ấy bị đóng đinh trên thập giá. Một Thiên Chúa quyền năng lại chọn để đôi tay mình bị đóng đinh thay vì dùng đôi tay ấy đánh trả những kẻ làm hại Người. Đó là ngôn ngữ thật lạ của Thiên Chúa: bị đánh mà không đánh lại, bị nhục mà không làm nhục lại, bị giết mà vẫn xin Cha tha cho những kẻ giết mình. Thập giá vì thế là lời phê phán mạnh nhất đối với mọi thứ bạo lực nhân danh danh dự, quyền lực, tiền bạc hay tự ái.
Nhưng đừng vội nghĩ bạo lực chỉ là nắm đấm. Có những người cả đời không đánh ai nhưng lại dùng lời nói như dao. Có những cái tát không bằng tay nhưng bằng miệng. Có những câu nói người nghe mang theo vài chục năm vẫn đau. “Mày chẳng làm nên trò trống gì đâu.” “Tao lấy mày đúng là sai lầm.” “Có mày chỉ thêm nhục.” “Giá mày đừng sinh ra.” “Anh chẳng bằng chồng người ta.” “Cô chẳng đáng là phụ nữ.” Có thể người nói chỉ buông ra trong vài giây tức giận, nhưng người nghe có khi mất nhiều năm để chữa lành. Vì vậy, đừng chỉ học cách giữ tay; hãy học cách giữ miệng. Đừng chỉ tránh đấm người; hãy tránh đâm người bằng lời. Đừng nói rằng “tôi nói thẳng tính thôi”. Nói thật không có nghĩa là được quyền tàn nhẫn. Sự thật mà thiếu tình yêu đôi khi trở thành một thứ vũ khí.
Mạng xã hội lại càng làm thứ bạo lực bằng lời này lan nhanh khủng khiếp. Một đoạn video được cắt ra vài chục giây, một tấm hình không rõ đầu đuôi, một câu chuyện chỉ nghe từ một phía, thế là hàng ngàn người lập tức biến mình thành thẩm phán. Người thì chửi. Người thì nguyền rủa. Người thì đào bới đời tư. Người thì chế giễu ngoại hình. Người thì lôi cả cha mẹ, vợ chồng, con cái của người trong cuộc vào cuộc. Ta chống lại một cú đánh bằng hàng vạn cú đánh khác bằng bàn phím. Ta lên án sự làm nhục bằng cách làm nhục người gây ra sự việc. Rồi ta gọi đó là công lý. Tôi không nghĩ như thế. Công lý không cần thêm hận thù. Phản đối cái sai không có nghĩa ta được phép trở nên sai theo một kiểu khác.
Có lần tôi tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra nếu trước khi bình luận một câu cay độc trên mạng, người ta phải đọc to câu ấy trước mặt người mình sắp xúc phạm? Có lẽ rất nhiều người sẽ không dám nói. Bởi màn hình tạo cho ta ảo giác vô danh. Ngồi sau bàn phím, người ta dễ quên rằng phía bên kia cũng là một con người bằng xương bằng thịt, có cha mẹ, có gia đình, có nước mắt, có những vùng rất dễ tổn thương. Một câu viết ra chỉ mất mười giây, nhưng có thể trở thành chiếc gai trong lòng một con người rất lâu. Tôi không bảo phải bao che cái sai. Tôi chỉ nghĩ rằng ngay cả khi sửa lỗi, chúng ta vẫn phải nhớ người mình đang sửa lỗi là một con người.
Ngôn ngữ lạ nhất của thời đại này có lẽ không phải là tiếng nước ngoài ta chưa học. Đó là thứ ngôn ngữ mà người ta hiểu nhau bằng bạo lực, giải quyết khác biệt bằng nhục mạ, bảo vệ danh dự bằng cách chà đạp danh dự người khác. Tôi mong thứ “ngôn ngữ” ấy ngày càng trở nên xa lạ với chúng ta. Tôi mong một người chồng khi giận vợ biết bước ra ngoài vài phút thay vì đưa tay lên. Tôi mong một người vợ khi tổn thương biết nói điều mình đau thay vì gom từng chuyện cũ để đay nghiến. Tôi mong một người trẻ khi bị khiêu khích có thể quay đi mà không thấy mình hèn. Thật ra, quay đi khỏi một cuộc đánh nhau đôi khi cần nhiều bản lĩnh hơn lao vào nó. Tôi mong người ta biết xin lỗi trước khi mọi chuyện quá muộn. Tôi mong cha mẹ đừng đánh con chỉ vì mình không biết phải nói với con thế nào. Tôi mong những người đang yêu nhau hiểu rằng tình yêu không cho ai quyền sở hữu thân thể và tự do của người khác. Người yêu không phải tài sản. Vợ không phải tài sản. Chồng cũng không phải tài sản. Không ai được phép đánh một con người chỉ vì “người đó là người nhà của tôi”.
Có một nghịch lý rất đau: nhiều người cư xử tử tế với người ngoài nhưng lại thô bạo với người thân. Ra đường nói năng nhỏ nhẹ; về nhà quát tháo. Với đồng nghiệp biết giữ ý; với vợ chồng thì muốn nói gì nói. Với khách hàng rất lịch sự; với cha mẹ già thì cộc lốc. Ta thường nghĩ người nhà sẽ hiểu, người nhà sẽ bỏ qua, người nhà chẳng đi đâu. Nhưng chính vì họ là người nhà nên họ càng xứng đáng nhận được phần đẹp nhất trong cách cư xử của ta, chứ không phải phần còn lại sau một ngày ta đã đem hết lịch sự chia cho thiên hạ. Một gia đình không tan vỡ chỉ bởi một biến cố lớn. Nhiều gia đình chết dần bởi những lời khinh thường nhỏ lặp lại mỗi ngày.
Người Kitô hữu lại càng phải học một thứ ngôn ngữ khác. Không phải thứ ngôn ngữ khiến mình thắng một cuộc tranh cãi, nhưng là ngôn ngữ của Tin Mừng. Ngôn ngữ ấy có chữ “xin lỗi”. Có chữ “cảm ơn”. Có chữ “xin phép”. Có chữ “tôi đã sai”. Có câu “tôi tha thứ”. Có câu “chúng ta nói lại chuyện này khi cả hai bình tĩnh hơn”. Có cả sự thinh lặng đúng lúc. Đức tin không chỉ thể hiện ở việc ta đọc bao nhiêu kinh, dự bao nhiêu thánh lễ, thuộc bao nhiêu câu Kinh Thánh. Đức tin còn được nhìn thấy rất rõ ở khoảnh khắc ta đang giận. Khi bình an thì ai cũng có thể tử tế. Khi bị xúc phạm mà ta vẫn không muốn làm người kia bị tổn thương, lúc ấy mới thấy Tin Mừng đã đi vào máu thịt ta đến đâu.
Đôi khi người ta hỏi: làm sao để bớt bạo lực? Tôi nghĩ phải bắt đầu rất sớm, từ những gia đình. Đứa trẻ cần được dạy rằng mạnh không phải là đánh thắng bạn. Con trai cần được dạy rằng nam tính không phải là làm phụ nữ sợ mình. Con gái cần được dạy rằng không ai có quyền làm nhục hay đánh mình rồi nói đó là vì yêu. Trẻ con cần thấy cha mẹ bất đồng mà vẫn nói chuyện được với nhau. Chúng cần nhìn thấy cha biết xin lỗi mẹ và mẹ biết xin lỗi cha. Chúng cần hiểu rằng tức giận là một cảm xúc bình thường nhưng bạo lực là một lựa chọn. Ta không thể dạy con bình an bằng một trận đòn. Không thể dạy con tôn trọng bằng cách sỉ nhục nó. Không thể dạy con biết lắng nghe trong khi người lớn chỉ biết quát.
Cũng phải học cách rời khỏi một cuộc đối đầu trước khi quá trễ. Không phải chuyện gì cũng cần giải quyết ngay lúc nóng giận. Có những lúc khôn ngoan nhất là im. Có những tin nhắn nên để sáng mai mới trả lời. Có những cuộc tranh cãi phải ngừng lại để đôi bên nguội xuống. Có những lời đang nằm trên đầu lưỡi mà nuốt xuống được thì cứu được rất nhiều chuyện. Người ta thường tiếc vì đã không nói một lời yêu thương, nhưng cũng có nhiều người cả đời phải tiếc vì đã nói một câu trong phút nóng giận.
Và tôi nghĩ chúng ta cần trở lại với một điều rất căn bản: nhìn người trước mặt như một con người. Không phải “con vợ”, “thằng chồng”, “con nhỏ kia”, “thằng đó”, “đứa tao ghét”, mà là một con người. Khi tôi còn nhìn người kia như một con người, tôi sẽ biết đau khi làm họ đau. Còn khi tôi đã biến họ thành một đối tượng, một kẻ thù, một món đồ thuộc quyền sở hữu của mình, thì mọi tàn nhẫn đều trở nên dễ dàng. Chiến tranh cũng bắt đầu từ đó. Bạo hành gia đình cũng bắt đầu từ đó. Bắt nạt học đường cũng bắt đầu từ đó. Người ta phải hạ phẩm giá đối phương trong đầu trước rồi mới có thể dễ dàng hạ họ bằng tay.
Trở lại với những đoạn video tôi xem trên mạng, tôi không biết những người trong cuộc rồi sẽ ra sao. Có thể pháp luật sẽ xử lý. Có thể họ sẽ xin lỗi. Có thể vài ngày nữa cộng đồng mạng lại chạy theo một câu chuyện mới. Nhưng với tôi, điều đáng giữ lại không phải là sự tò mò về số phận của một vụ việc, mà là câu hỏi dành cho chính mình: tôi đang dùng thứ ngôn ngữ nào với những người quanh tôi? Đôi tay tôi đang làm gì? Miệng tôi đang nói gì? Bàn phím tôi đang viết gì? Người sống cạnh tôi có bình an khi ở bên tôi không? Con cái có sợ khi tôi bước vào nhà không? Vợ hay chồng tôi có phải đoán tâm trạng tôi trước khi dám nói một điều không? Những người yếu thế có thấy được tôn trọng khi đứng trước tôi không? Nếu câu trả lời khiến ta không thoải mái, có lẽ đừng vội nhìn những đoạn video kia để chỉ trích người khác. Ta cũng cần sửa thứ “ngôn ngữ” của mình.
Tôi tin thế giới này chưa bao giờ thiếu người biết nói. Chúng ta đang sống trong một thời đại quá nhiều tiếng nói. Chỉ cần mở điện thoại là hàng triệu người đang nói cùng lúc. Nhưng có lẽ thế giới đang thiếu những người biết nói sao cho người khác được sống. Thiếu những lời làm dịu một cơn giận. Thiếu những lời nối lại một tương quan. Thiếu những người dám nói “đủ rồi, đừng đánh nữa”. Thiếu những người có khả năng đứng giữa hai phía và hạ nhiệt thay vì đổ thêm dầu vào lửa. Thiếu những người có thể nói sự thật mà không làm nhục người khác. Thiếu những người đủ lòng thương xót để khi nhìn thấy người khác ngã, điều đầu tiên không phải là rút điện thoại ra quay.
Có lẽ ngôn ngữ đẹp nhất vẫn là ngôn ngữ của lòng nhân hậu. Nó không cần học ở trường ngoại ngữ. Nó được học trong gia đình, trong cầu nguyện, trong những lần ta biết kìm mình lại vì thương người khác. Một ánh mắt biết cảm thông cũng là ngôn ngữ. Một bàn tay đưa ra để nâng người ngã dậy cũng là ngôn ngữ. Một người đang nóng nhưng tự bước lui vài bước cũng là ngôn ngữ. Một người có thể đánh nhưng quyết định không đánh – đó là một câu rất đẹp. Một người có thể trả thù nhưng chọn tha thứ – đó là một bài thơ. Một người có thể làm nhục nhưng lại giữ danh dự cho đối phương – đó là văn hóa. Một người bị tổn thương nhưng vẫn không muốn biến mình thành kẻ gây tổn thương cho người khác – đó là trưởng thành. Và một người sống được như thế, dù chẳng nói gì về đạo, đôi khi chính cuộc đời họ đã là một bài giảng rất hay.
Xin đừng để đôi tay mình trở thành thứ ngôn ngữ khiến một người khác phải sợ. Xin đừng để cái miệng của mình trở thành nơi người khác bị đóng đinh mỗi ngày. Xin đừng để bàn phím của mình trở thành bãi ném đá. Và xin đừng tưởng rằng chỉ những người trong các đoạn clip đang lan truyền mới cần học lại cách làm người. Mỗi chúng ta đều cần. Tôi cũng cần. Bởi ranh giới giữa bình tĩnh và nổi giận, giữa một lời dịu dàng và một câu tàn nhẫn, đôi khi mỏng lắm. Chỉ một chút tự ái, một chút men rượu, một chút mất kiểm soát, một chút muốn hơn thua là con người có thể trở thành một phiên bản mà chính mình sau đó cũng không nhận ra.
Ước gì sau khi xem những “ngôn ngữ lạ” ấy trên mạng, thay vì chỉ thốt lên “không hiểu kiểu gì”, ta lại hiểu thêm một điều: xã hội sẽ không bớt bạo lực chỉ nhờ những lời lên án. Nó chỉ thực sự bớt bạo lực khi từng người học cách bình an hơn trong chính căn nhà mình, tử tế hơn trong từng tương quan, có trách nhiệm hơn với từng lời nói và làm chủ hơn từng cử động của đôi tay. Một thế giới hiền hòa không bắt đầu từ những nghị quyết lớn lao. Nó bắt đầu từ khoảnh khắc một người đang rất giận nhưng không đánh. Một người đang rất đau nhưng không nguyền rủa. Một người đang có lý nhưng không hạ nhục. Một người đủ mạnh để đặt cái tôi xuống và nói: “Thôi, chúng ta đừng làm nhau đau thêm nữa.”
Và có lẽ đó mới là thứ ngôn ngữ mà thế giới hôm nay cần học lại nhất: ngôn ngữ của con người nói với con người, ngôn ngữ của lòng trắc ẩn, ngôn ngữ của sự tôn trọng, ngôn ngữ của tha thứ, ngôn ngữ của một đôi tay biết nâng đỡ thay vì đánh xuống. Với người Kitô hữu, sâu xa hơn nữa, đó chính là ngôn ngữ của Đức Kitô: đôi tay dang ra chứ không nắm lại thành quả đấm, đôi tay chịu đóng đinh chứ không đóng đinh người khác, đôi tay vẫn mở ra đến giây phút cuối cùng như muốn nói với cả nhân loại rằng: đừng làm đau nhau nữa, đời người ngắn lắm, hãy dùng những ngày còn lại để thương nhau cho tử tế.
Lm. Anmai, CSsR
KHÔNG CẦN CẢ THẾ GIAN VỖ TAY, CHỈ CẦN ĐẸP LÒNG THIÊN CHÚA
Có một lúc nào đó trong đời, người ta sẽ mỏi mệt vì phải sống dưới ánh mắt của quá nhiều người. Mỏi mệt vì phải giải thích mình. Mỏi mệt vì phải chứng minh thiện chí của mình. Mỏi mệt vì cứ phải bận tâm xem người này nghĩ gì, người kia nói gì, người khác đánh giá ra sao. Có những ngày ta đã cố gắng hết sức mà vẫn bị hiểu lầm. Có những việc ta làm bằng cả tấm lòng nhưng người đời chỉ nhìn thấy một góc rất nhỏ rồi vội vàng kết luận. Có những hy sinh không ai biết. Có những nước mắt không ai thấy. Có những đêm dài chỉ mình ta và Chúa hiểu được cái giá của sự trung thành. Và rồi, nếu không đủ tỉnh thức, ta rất dễ rơi vào một thứ nô lệ âm thầm nhưng khủng khiếp: nô lệ ánh mắt người đời. Ta sống để được khen. Ta làm để được nhìn nhận. Ta nói để tránh bị chê. Ta chọn lựa điều này hay điều kia không còn vì lương tâm, không còn vì Tin Mừng, không còn vì điều Chúa muốn, mà chỉ vì sợ người khác buồn lòng, sợ mất thiện cảm, sợ người ta không còn yêu quý mình. Càng sống lâu, tôi càng thấy đó là một trong những cái bẫy tinh vi nhất của đời người, và cũng là một trong những cái bẫy nguy hiểm nhất của đời sống đức tin. Bởi người môn đệ của Chúa không được sinh ra để trở thành một bản sao của đám đông, càng không được gọi để uốn mình theo mọi luồng dư luận, nhưng được gọi để trở nên khí cụ sống động trong tay Thiên Chúa, để giữa một thế giới nhiều tiếng nói, vẫn còn có một tiếng nói của chân lý; giữa một thế giới nhiều bóng tối, vẫn còn có một ngọn đèn không chịu tắt; giữa một thế giới dễ thỏa hiệp, vẫn còn có những con người dám đứng thẳng vì biết mình đang đứng trước mặt Chúa.
Tu sĩ hay giáo dân cũng vậy, một khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, một khi đã mang danh Kitô hữu, thì cuộc đời không còn chỉ thuộc về mình nữa. Ta được mời gọi trở thành nơi Chúa Thánh Thần hành động, trở thành khí cụ để Người chạm đến những phận người khác, trở thành một nhịp cầu để ánh sáng của Thiên Chúa có thể đi qua mà đến với những miền đời đang tối tăm. Nhưng muốn trở thành khí cụ của Chúa Thánh Thần, trước hết phải để Chúa Thánh Thần làm việc nơi mình. Một cây sáo muốn phát ra âm thanh đẹp phải để người nghệ sĩ thổi vào. Một ngọn đèn muốn sáng phải được nối với nguồn điện. Một người môn đệ muốn trở nên hữu ích cho Nước Chúa cũng phải sống trong sự gắn bó sâu xa với Thiên Chúa. Nếu không, ta có thể rất hoạt động nhưng không sinh hoa trái; rất nói về Chúa nhưng lại không mang Chúa; rất hăng say nhưng chỉ là hăng say của bản tính; rất nhiệt thành nhưng đôi khi lại làm người khác tổn thương. Có những người tưởng mình đang bảo vệ chân lý nhưng thực ra chỉ đang bảo vệ cái tôi. Có những người tưởng mình đang chiến đấu cho Giáo Hội nhưng thực ra đang chiến đấu cho quan điểm riêng. Có những người nói rất nhiều về lòng thương xót nhưng lời nói lại đầy cay nghiệt. Có những người nhân danh điều đúng để làm điều thiếu tình yêu. Vì thế, trở nên khí cụ của Chúa Thánh Thần không phải là nói thật nhiều về Chúa, mà trước hết là để đời mình được Chúa thanh luyện đến mức khi ta nói, người khác nghe được chút âm vang của Tin Mừng; khi ta hiện diện, người khác cảm được chút bình an của Chúa; khi ta hành xử, người khác nhận ra còn có một cách sống khác hơn là tranh giành, hơn thua và trả đũa.
Tôi vẫn tin rằng thế giới hôm nay không thiếu ánh sáng, nhưng nhiều người không biết tìm ánh sáng ở đâu. Không thiếu lời nói, nhưng thiếu những lời có khả năng chữa lành. Không thiếu kiến thức, nhưng thiếu sự khôn ngoan. Không thiếu những người lên tiếng, nhưng thiếu những người dám nói bằng một lương tâm đã được thanh luyện. Những góc tối của cuộc đời không chỉ là tội lỗi công khai, những bất công lớn lao hay những thảm kịch được đưa lên báo chí. Góc tối còn là căn phòng của một người đang tuyệt vọng mà không ai hay biết. Góc tối là bữa cơm gia đình nơi mọi người ngồi gần nhau nhưng trái tim đã xa nhau. Góc tối là một tu sĩ đang âm thầm khủng hoảng ơn gọi nhưng không dám mở lời. Góc tối là một người trẻ tưởng mình vô dụng vì cả đời chỉ được nghe những lời so sánh và chê trách. Góc tối là một người già sống giữa con cháu nhưng vẫn cô độc. Góc tối là một cuộc hôn nhân chỉ còn hình thức. Góc tối là một trái tim đã nhiều năm không thể tha thứ. Góc tối là một người mang trong mình một nỗi oan nhưng không ai chịu nghe. Góc tối là khi con người mất ý nghĩa sống, mất niềm tin vào chính mình, mất niềm tin vào người khác và dần dần mất cả cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính trong những góc tối ấy, người Kitô hữu được sai đến không phải như một quan tòa, nhưng như một ngọn đèn; không phải như người cầm đá, nhưng như người cầm dầu để xoa dịu vết thương; không phải như người đứng trên cao phán xét, nhưng như người biết cúi xuống. Ánh sáng của chân lý không bao giờ đồng nghĩa với sự lạnh lùng. Chân lý của Đức Kitô luôn có khuôn mặt của tình yêu. Chúa nói sự thật với người phụ nữ Samari, nhưng Người không làm nhục chị. Chúa vạch trần tội lỗi, nhưng không nghiền nát tội nhân. Chúa mạnh mẽ với giả hình, nhưng dịu dàng với những người tan nát. Đó là cách ánh sáng của Thiên Chúa chiếu soi: không làm người ta mù mắt, mà giúp người ta nhìn thấy đường về.
Khi một tu sĩ sống đúng căn tính của mình, đời sống ấy tự nó đã là một lời chứng. Không cần phải nói quá nhiều. Một đời sống cầu nguyện trung thành giữa bao bận rộn là một lời chứng. Một sự vâng phục khiêm nhường trong lúc ý riêng bị đụng chạm là một lời chứng. Một đời sống thanh bần không chạy theo tiện nghi và hưởng thụ là một lời chứng. Một sự khiết tịnh trong sáng giữa một thế giới thương mại hóa thân xác là một lời chứng. Một cộng đoàn biết tha thứ cho nhau là một lời chứng. Một linh mục không tìm quyền lực, không biến sứ vụ thành sân khấu của mình, biết hiện diện bên người nghèo, người đau khổ, người bị bỏ rơi, đó là một lời chứng mạnh hơn rất nhiều bài giảng. Cũng vậy, một người giáo dân sống tử tế trong môi trường đầy gian dối, làm ăn ngay thẳng giữa những cám dỗ của lợi nhuận, giữ lòng chung thủy trong hôn nhân, nuôi dạy con cái bằng yêu thương và kỷ luật, chăm sóc cha mẹ già, không nói xấu, không trả đũa, không lấy điều ác đáp lại điều ác, đó cũng chính là một bài giảng hùng hồn. Chúng ta đừng nghĩ chỉ những việc lớn lao mới làm sáng danh Chúa. Có khi một lời nói dịu dàng trong lúc đáng lẽ có thể nổi nóng đã là ánh sáng. Một lần im lặng thay vì đáp trả cay độc đã là ánh sáng. Một cuộc điện thoại thăm hỏi người đang đau buồn đã là ánh sáng. Một lời xin lỗi chân thành đã là ánh sáng. Một sự nhường nhịn mà không kể công đã là ánh sáng. Một quyết định trung thực dù phải chịu thiệt đã là ánh sáng. Chúa Thánh Thần không chỉ dùng những con người đứng trên bục giảng; Người dùng cả những người âm thầm trong gia đình, nơi công sở, ngoài chợ, trong bệnh viện, trên đường phố và trong những nơi chẳng ai biết tên.
Nhưng để có thể chiếu ánh sáng vào những góc tối, trước hết ta phải can đảm đối diện với bóng tối của chính mình. Đây có lẽ là việc khó nhất. Ta rất dễ nhìn thấy lỗi của người khác, nhưng khó nhìn ra những vùng chưa được hoán cải trong lòng mình. Ta dễ nói về sự khiêm nhường, nhưng lại đau khi không được công nhận. Ta dễ giảng về tha thứ, nhưng vẫn nhớ rất kỹ ai đã làm mình tổn thương. Ta dễ nói về phó thác, nhưng lại mất ngủ vì những điều không nằm trong tay mình. Ta dễ nói rằng chỉ cần làm hài lòng Chúa, nhưng một lời phê bình nhỏ cũng đủ làm ta buồn cả ngày. Điều đó cho thấy hành trình tự do nội tâm còn dài. Không ai một sớm một chiều thoát khỏi nhu cầu được người khác nhìn nhận. Chúng ta đều là con người, đều cần được yêu, được lắng nghe, được trân trọng. Điều ấy không sai. Sai là khi nhu cầu ấy trở thành ông chủ của đời mình. Sai là khi vì sợ mất lòng người ta mà ta phản bội điều đúng. Sai là khi vì muốn giữ hình ảnh mà ta không dám nhận lỗi. Sai là khi vì quá bận tâm người khác nghĩ gì nên ta không còn hỏi Chúa muốn gì. Trưởng thành trong đức tin là từng ngày chuyển tâm điểm đời mình từ cái nhìn của người khác về lại cái nhìn của Thiên Chúa. Người đời có thể hiểu lầm, nhưng Chúa hiểu. Người đời có thể quên, nhưng Chúa nhớ. Người đời có thể đánh giá sai, nhưng Chúa nhìn thấy tận đáy lòng. Người đời chỉ thấy kết quả, còn Chúa thấy cả hành trình. Người đời chỉ nghe lời nói, còn Chúa biết cả những cuộc chiến âm thầm trong tâm hồn.
Ta sinh ra không phải để làm hài lòng tất cả mọi người. Thực ra, đó là một việc không thể. Hôm nay ta làm thế này, người ta bảo nên làm thế khác. Ngày mai ta đổi theo họ, người khác lại không bằng lòng. Ta im lặng thì bị cho là lạnh lùng. Ta lên tiếng thì bị cho là nhiều chuyện. Ta cứng rắn thì bị nói thiếu cảm thông. Ta mềm mỏng thì bị cho là yếu đuối. Ta sống đơn giản thì có người bảo thiếu chí tiến thủ. Ta thành công thì có người bảo tham vọng. Ta thất bại thì có người coi thường. Nếu cứ chạy theo những chiếc bóng của dư luận, cả đời ta sẽ kiệt sức mà chẳng bao giờ tới được nơi bình an. Điều quan trọng không phải là mọi người đều hiểu ta, mà là ta có sống ngay thẳng trước mặt Chúa hay không. Không phải ai cũng thích ta, nhưng ta có yêu họ hay không. Không phải ai cũng công nhận ta, nhưng ta có trung thành với điều Chúa giao hay không. Đó là sự tự do rất sâu mà người môn đệ phải học. Tự do ấy không phải thái độ bất cần, càng không phải một sự kiêu căng kiểu “tôi chẳng cần ai”. Người thật sự tự do trước dư luận lại là người rất biết lắng nghe. Họ có thể đón nhận góp ý, biết sửa sai, biết học hỏi, nhưng họ không để lời khen làm mình bay lên cũng không để lời chê nhấn mình xuống. Họ phân định. Điều gì đúng thì nhận. Điều gì sai thì bỏ. Điều gì cần sửa thì sửa. Điều gì chỉ là thành kiến thì phó cho Chúa. Đó là bình an của một lương tâm sống dưới ánh mắt Thiên Chúa.
Cũng chính từ sự tự do ấy, ta mới dám dùng tri thức Chúa ban để phục vụ chân lý. Tri thức không được trao để ta kiêu ngạo, càng không để ta hơn thua. Càng học nhiều, người ta càng phải khiêm tốn. Một chút hiểu biết dễ làm người ta tưởng mình biết tất cả, nhưng càng đi sâu vào chân lý, ta càng nhận ra mình nhỏ bé. Một linh mục học thần học không phải để có những từ ngữ cao siêu làm người khác choáng ngợp, nhưng để hiểu mầu nhiệm đức tin sâu hơn và diễn tả mầu nhiệm ấy cho con người hôm nay. Một tu sĩ học không phải để sở hữu bằng cấp, nhưng để phục vụ sứ mạng với một trí tuệ sáng, một đức tin vững và một trái tim rộng. Một giáo dân học hỏi Giáo lý, Kinh Thánh, xã hội, khoa học và những vấn đề của con người không phải để tranh luận cho thắng, mà để sống đức tin cách trưởng thành và làm chứng cho Tin Mừng giữa đời. Tri thức khi tách khỏi tình yêu dễ trở thành kiêu căng; nhưng tri thức được đặt trong tay Chúa Thánh Thần sẽ thành ngọn đèn. Nó giúp ta phân biệt thật giả, tốt xấu, điều cốt lõi và điều phụ thuộc. Nó giúp ta không bị cuốn theo những trào lưu chóng qua. Nó giúp ta biết đối thoại với thế giới mà không đánh mất căn tính. Nó giúp ta giải thích niềm hy vọng của mình với sự hiền hòa và tôn trọng. Nó cũng giúp ta nhận ra rằng rất nhiều đau khổ của con người không thể giải quyết bằng những câu đạo đức dễ dãi.
Thế giới hôm nay có quá nhiều tiếng than. Than vì chiến tranh. Than vì bệnh tật. Than vì cô đơn. Than vì gia đình đổ vỡ. Than vì áp lực kinh tế. Than vì bất công. Than vì những ước mơ không thành. Than vì con cái. Than vì cha mẹ. Than vì tuổi già. Than vì tình yêu phản bội. Than vì người tốt chịu thiệt, kẻ gian lại thành công. Than vì đã cầu nguyện rất lâu mà dường như Chúa vẫn im lặng. Chúng ta không nên coi thường những tiếng than ấy. Kinh Thánh cũng đầy những tiếng than. Các Thánh Vịnh có rất nhiều lời kêu than tưởng như tuyệt vọng. Chính Đức Giêsu trên thập giá cũng cất tiếng: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đức tin không bắt con người phải giả vờ vui khi đang đau. Đức tin cho phép ta khóc. Đức tin cho phép ta đặt câu hỏi. Đức tin không phủ nhận đêm tối. Nhưng đức tin không để tiếng than là câu cuối cùng. Chính ở đó, mầu nhiệm Magnificat trở nên thật đẹp. Đức Maria không hát Magnificat vì cuộc đời Mẹ từ nay sẽ dễ dàng. Không. Ngay sau tiếng hát ấy là biết bao bất trắc: hành trình về Bêlem, sinh con trong nghèo khó, trốn sang Ai Cập, những năm tháng âm thầm, nỗi đau dưới chân thập giá. Magnificat không phải bài ca của một người không biết đau, nhưng là bài ca của một người đã đặt đau khổ vào trong lòng tin. “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” không có nghĩa mọi sự đã sáng tỏ, nhưng là dù chưa sáng tỏ, tôi vẫn tin Người đang làm việc.
Đó chính là sứ mạng tuyệt đẹp của người Kitô hữu: không bịt miệng tiếng than của nhân loại, nhưng đồng hành đủ lâu để tiếng than ấy dần được biến đổi thành hy vọng. Có người không cần ta giảng, chỉ cần ta ngồi cạnh họ. Có người không cần lời giải thích, chỉ cần một người chịu nghe họ khóc. Có người đã nghe quá nhiều lời khuyên nhưng chưa từng được ai thực sự hiểu. Đôi khi ta vội vàng nói: “Phải tin Chúa”, trong khi người kia đang cần một bờ vai. Ta nói: “Mọi sự đều có ý Chúa”, trong khi họ đang tan nát vì mất người thân. Những câu ấy có thể đúng, nhưng đúng không đúng lúc cũng có thể làm đau. Người mang ánh sáng của Chúa Thánh Thần phải học nghệ thuật ở lại. Chúa Giêsu trên đường Emmau đã không xuất hiện rồi lập tức trách hai môn đệ thiếu đức tin. Người đi cùng họ. Người hỏi. Người nghe. Người giải thích. Người ở lại. Và chỉ sau tất cả những điều đó, mắt họ mới mở ra. Chúng ta cũng vậy. Muốn biến khúc than của nhân loại thành Magnificat, ta phải bước cùng họ trên con đường từ thất vọng đến hy vọng, từ hoang mang đến nhận ra Chúa, từ nước mắt đến bình an.
Tôi rất thích hình ảnh “Người Lữ Khách Tối Cao” vẫn âm thầm bước bên ta. Có những chặng đường ta tưởng chỉ còn mình ta. Những người từng hứa sẽ đồng hành đã rẽ hướng. Những người từng thân thiết đã xa. Những điều từng chắc chắn bỗng sụp đổ. Những kế hoạch được chuẩn bị kỹ càng bỗng tan như khói. Có những lúc ngay cả trong đời tu, ta cũng có thể thấy mình cô đơn. Cộng đoàn vẫn đó nhưng tâm hồn trống trải. Công việc vẫn nhiều nhưng bên trong cạn kiệt. Người ta vẫn nhìn mình như một người mạnh mẽ, nhưng chỉ mình biết có những đêm lòng mình chông chênh thế nào. Chính trong những khoảnh khắc ấy, ký ức đức tin phải lên tiếng: tôi không đi một mình. Trên con đường Emmaus của đời tôi, có một Người đang đi bên cạnh, dù đôi mắt tôi có khi chưa nhận ra Người. Trên biển hồ dậy sóng, có một Người đang bước đến và nói: “Cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ.” Trên con đường thập giá, có một Người đã đi trước. Trong vườn Cây Dầu, có một Người đã nếm trải nỗi cô độc tận cùng. Không một con đường nước mắt nào của ta hoàn toàn xa lạ với Đức Kitô.
Vì thế, dù tương lai còn nhiều chông gai, ta vẫn có thể mỉm cười tiến bước. Nụ cười ấy không phải nụ cười của người không biết sợ, mà là nụ cười của người biết mình được dẫn đi. Không phải nụ cười của sự lạc quan dễ dãi, mà là nụ cười được sinh ra từ một niềm hy vọng đã từng đi qua thử thách. Người có đức tin không được miễn khỏi gian nan. Tu sĩ không được miễn khỏi khủng hoảng. Linh mục không được miễn khỏi tổn thương. Giáo dân không được miễn khỏi nước mắt. Nhưng trong tất cả những điều ấy, ta có một điều khác: ta biết đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Ta biết thập giá không kết thúc ở chiều thứ Sáu. Ta biết ngôi mộ dù có khép lại cũng không giữ được Đấng Phục Sinh. Chính niềm xác tín ấy làm cho người Kitô hữu có thể đứng giữa một thế giới đầy bất an mà vẫn mang bình an, có thể đi qua mất mát mà không đánh mất hy vọng, có thể bị phản bội mà vẫn không biến thành người cay độc.
Đời người ngắn lắm. Sống để chiều lòng tất cả mọi người là một sự phí phạm khủng khiếp. Hôm nay họ khen, ngày mai có thể họ chê. Hôm nay họ tung hô, ngày mai có thể họ quay lưng. Đám đông từng hô “Hosanna” cũng chính là đám đông sau đó hét “Đóng đinh nó vào thập giá”. Nếu Đức Giêsu sống để làm hài lòng đám đông, Người đã không đi đến Calvê. Nếu các ngôn sứ chỉ muốn được hoan nghênh, họ đã không nói những lời khó nghe. Nếu các thánh chỉ tìm sự an toàn của dư luận, Giáo Hội đã không có những chứng nhân tử đạo. Có một cái giá phải trả khi sống thật với Tin Mừng. Đôi khi giá ấy là bị hiểu lầm. Đôi khi là cô đơn. Đôi khi là mất một vài mối quan hệ. Đôi khi là chịu thiệt. Nhưng bình an của một lương tâm ngay thẳng quý hơn rất nhiều sự tán thưởng của cả đám đông. Đến cuối đời, điều ta phải đối diện không phải là bảng thống kê bao nhiêu người thích ta, mà là ánh mắt của Đấng đã trao cho ta một đời để sống.
Và nếu chỉ duy một mình Thiên Chúa là Đấng ta muốn làm hài lòng, mọi sự sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Không dễ hơn, nhưng đơn giản hơn. Ta vẫn phải làm việc chăm chỉ, vẫn phải sống có trách nhiệm, vẫn phải tôn trọng người khác, vẫn phải sửa mình khi sai, vẫn phải học hỏi không ngừng, nhưng lòng không còn bị xé nát bởi quá nhiều tiếng nói. Trước một quyết định, ta hỏi: điều này có đẹp lòng Chúa không? Trước một lời muốn nói, ta hỏi: lời này có mang lại sự thật và tình yêu không? Trước một mâu thuẫn, ta hỏi: Chúa muốn tôi phản ứng thế nào? Trước một thành công, ta hỏi: tôi có đang chiếm lấy vinh quang thuộc về Chúa không? Trước một thất bại, ta hỏi: Chúa muốn dạy tôi điều gì? Một người sống như thế dần dần sẽ có sự thống nhất nội tâm rất lớn. Họ không còn phải đóng quá nhiều vai. Trước mặt cộng đoàn là một người, khi ở riêng lại là một người khác. Trước công chúng rất đạo đức, trong đời thường lại thiếu bác ái. Không. Người sống dưới ánh mắt Chúa học cách trở thành một con người duy nhất, chân thật, bình an.
Tri thức Chúa ban cũng chỉ có ý nghĩa khi được dùng để thắp sáng trần gian bằng ngọn lửa tình yêu. Một người biết rất nhiều nhưng không biết yêu thì cái biết ấy còn nghèo. Một nhà thần học có thể nói những điều sâu xa về Thiên Chúa, nhưng nếu không biết cúi xuống trước người đau khổ thì thần học ấy vẫn còn thiếu máu thịt. Một người am hiểu Kinh Thánh nhưng dùng Lời Chúa như viên đá ném vào người khác thì chưa hiểu tinh thần Kinh Thánh. Một Kitô hữu giỏi tranh luận đến mức không ai thắng nổi nhưng đi đến đâu cũng gây chia rẽ, thì có lẽ cần học lại bài học đầu tiên của Tin Mừng là hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Kiến thức thật phải làm cho con người rộng hơn, không hẹp lại; nhân hậu hơn, không khắc nghiệt hơn; khiêm tốn hơn, không kiêu căng hơn; biết lắng nghe hơn, không chỉ thích nói. Chân lý khi đi qua trái tim Đức Kitô luôn trở thành lòng thương xót. Và tình yêu khi được soi sáng bởi chân lý sẽ không trở thành thứ cảm xúc mù quáng.
Có lẽ điều đẹp nhất cuối cùng không phải là ta đã làm được bao nhiêu việc lớn, mà là bao nhiêu lần Chúa đã có thể dùng ta như một khí cụ. Một ngày nào đó, có thể ta sẽ không còn đứng ở vị trí hiện tại. Sức khỏe giảm. Công việc ít đi. Người khác thay thế. Tên tuổi phai dần. Những điều hôm nay tưởng rất quan trọng rồi cũng qua. Nhưng nếu một lời ta từng nói đã giúp ai đó không tuyệt vọng, điều ấy còn. Nếu một lần ta tha thứ đã chặn đứng một chuỗi hận thù, điều ấy còn. Nếu một bài giảng từng đưa ai đó trở về với Chúa, điều ấy còn. Nếu một sự hy sinh âm thầm đã làm cho một cộng đoàn bình an hơn, điều ấy còn. Nếu một lần ta dám bảo vệ người bị oan dù phải chịu thiệt, điều ấy còn. Nếu một người nhìn vào cuộc đời ta mà tin rằng Thiên Chúa vẫn đáng để yêu, điều ấy còn. Những điều ấy sẽ được ghi trong cuốn sách mà không ai dưới thế nhìn thấy, nhưng Thiên Chúa thấy.
Tôi nghĩ mỗi chúng ta nên nhiều lần tự hỏi: Nếu hôm nay không còn ai khen tôi nữa, tôi có còn trung thành không? Nếu việc tôi làm chẳng ai biết đến, tôi có còn làm không? Nếu nói điều đúng khiến tôi mất một số thiện cảm, tôi có dám nói không? Nếu tha thứ không được người kia đáp lại, tôi có còn tha thứ không? Nếu cầu nguyện mãi mà không cảm thấy gì, tôi có còn cầu nguyện không? Nếu đời tận hiến không còn những hào quang ban đầu, tôi có còn yêu Chúa không? Những câu hỏi ấy đi thẳng vào cốt lõi. Chúng lột bỏ những lớp trang điểm tinh thần để ta nhìn xem mình đang sống vì ai. Có khi ta tưởng mình làm cho Chúa, nhưng sâu bên dưới lại đang làm cho hình ảnh của mình. Có khi ta tưởng mình phục vụ, nhưng lại rất cần người khác biết mình phục vụ. Chúa thanh luyện ta không phải để làm ta buồn, nhưng để đưa ta đến một tình yêu tinh tuyền hơn, một tự do lớn hơn.
Ước mong rồi sẽ đến một ngày ta đủ bình an để nghe lời khen mà không kiêu, nghe lời chê mà không sụp, gặp người hiểu mình mà biết ơn, gặp người hiểu lầm mình mà vẫn cầu nguyện cho họ. Ước mong ta đủ tự do để không phải thắng mọi cuộc tranh luận, không phải giải thích mọi hiểu lầm, không phải giữ bằng được mọi mối quan hệ. Có những điều cần nói. Có những điều cần im. Có những người cần đối thoại. Có những người chỉ có thể giao cho Chúa. Cuộc đời sẽ nhẹ hơn khi ta hiểu rằng không phải trận chiến nào cũng cần mình bước vào. Không phải lời phán xét nào cũng cần trả lời. Không phải ai rời xa mình cũng là một thất bại. Đôi khi Chúa dùng chính sự mất mát để giải phóng ta khỏi một sự lệ thuộc.
Và khi lòng đã tự do, ta hãy đi. Đi vào những góc tối. Đi đến những người không ai muốn đến. Đi bên những người không có gì để trả lại. Đi bằng tất cả tri thức đã học, nhưng cũng bằng tất cả lòng trắc ẩn đã được uốn luyện trong cầu nguyện. Đi với sự can đảm của chân lý và sự dịu dàng của tình yêu. Đi để nói với người thất vọng rằng vẫn còn hy vọng. Đi để nói với người mang mặc cảm rằng họ vẫn có phẩm giá. Đi để nói với người tội lỗi rằng cửa nhà Cha vẫn mở. Đi để nói với người đang khóc rằng nước mắt của họ không vô nghĩa. Đi để biến những tiếng thở dài thành lời cầu nguyện, những lời cầu nguyện thành niềm tín thác, niềm tín thác thành Magnificat. Có lẽ đó là phép lạ đẹp nhất Chúa Thánh Thần vẫn làm qua những con người rất bình thường.
Ngày mai sẽ ra sao, ta không biết. Đời còn bao nhiêu đoạn đường, ta cũng chẳng rõ. Có thể phía trước là những con đường bằng phẳng, cũng có thể có những dốc cao bất ngờ. Có thể ta còn gặp nhiều người tốt, cũng có thể phải đi qua vài lần phản bội. Có thể công việc thuận lợi, cũng có thể Chúa dẫn ta vào một mùa rất im lặng. Nhưng có một điều ta biết: Người Lữ Khách Tối Cao vẫn đi bên cạnh. Khi ta mệt, Người không bỏ. Khi ta sai, Người sửa. Khi ta ngã, Người đỡ. Khi ta tưởng đã đi quá xa, Người vẫn tìm. Khi ta đứng trước một ngã rẽ không biết chọn đường nào, Người vẫn âm thầm nói trong lương tâm. Chỉ cần ta đừng tắt tiếng Người bằng quá nhiều tiếng ồn của thế gian.
Cho nên cứ mỉm cười mà đi. Không phải vì đời dễ, nhưng vì Chúa trung tín. Cứ học, cứ cầu nguyện, cứ phục vụ, cứ yêu thương. Cứ để Chúa Thánh Thần dùng trí tuệ mình, dùng đôi tay mình, dùng lời nói mình, dùng cả những vết thương đã được chữa lành của mình để làm điều gì đó đẹp cho thế giới. Đừng quá bận tâm chuyện người ta có hiểu hết mình không. Chỉ cần đêm về, đặt mình trước Chúa và có thể bình an thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con đã cố gắng sống điều Chúa muốn.” Như thế là đủ.
Ta sinh ra không phải để làm hài lòng tất cả mọi người. Ta sinh ra để học yêu tất cả mọi người và làm hài lòng một mình Thiên Chúa. Khác nhau rất nhiều. Làm hài lòng mọi người sẽ khiến ta đánh mất mình; yêu mọi người trong Chúa sẽ giúp ta tìm lại mình. Sống dưới ánh mắt người đời làm ta bất an; sống dưới ánh mắt Chúa làm ta tự do. Và chính từ sự tự do ấy, người tu sĩ cũng như người giáo dân mới thực sự trở nên khí cụ sống động của Chúa Thánh Thần, dũng cảm cầm ngọn đèn chân lý đi qua những góc tối của cuộc đời, không để kết án nhưng để soi đường, không để thiêu đốt nhưng để sưởi ấm, không để chứng tỏ mình nhưng để người ta nhận ra Thiên Chúa. Để rồi, một ngày kia, từ những căn nhà từng đầy tiếng khóc, từ những tâm hồn từng ngập bóng đêm, từ những cuộc đời tưởng như không còn gì để hy vọng, lại vang lên một bài ca rất cũ mà luôn luôn mới: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Đó là Magnificat của những con người đã đi qua đêm tối mà không đánh mất niềm tin. Đó là Magnificat của những khí cụ đã chịu để Chúa Thánh Thần sử dụng. Đó là Magnificat của những cuộc đời không cần cả thế gian vỗ tay, chỉ cần một ngày kia được nghe Đấng mình yêu nói rằng: con đã sống không uổng phí, con đã giữ được ngọn lửa, con đã làm cho một góc nhỏ của trần gian này sáng hơn bằng tình yêu của Ta.
Lm. Anmai, CSsR
KHI CON NGƯỜI KHÔNG CÒN BIẾT NÓI VỚI NHAU BẰNG TIẾNG NGƯỜI
Lướt mạng xã hội những ngày này, tôi cũng thấy nhiều thứ “ngôn ngữ” lạ lùng lắm! Lạ đến mức có lúc xem xong một đoạn video, đọc xong vài dòng tin, tôi cứ ngồi thừ ra mà tự hỏi: không biết con người hôm nay đang tiến bộ hay đang âm thầm trở về với một thứ bản năng rất xa lạ với phẩm giá mà Thiên Chúa đã trao ban cho mình. Chẳng hạn nhé, người chồng chẳng cần nói gì nhiều với vợ, nhưng lại dùng thứ “ngôn ngữ” thượng cẳng tay hạ cẳng chân ngay giữa phố, trước bao nhiêu người qua lại, chỉ vì một lý do nghe qua đã thấy quá nhỏ bé so với sự nhục nhã mà người phụ nữ phải chịu. Rồi có hai thanh niên bước xuống khỏi một chiếc xe sang, dáng vẻ có lẽ rất tự tin, ăn mặc cũng chẳng đến nỗi nào, nhưng thứ “ngôn ngữ” họ dùng với một người phụ nữ trẻ lại là thứ ngôn ngữ “ong bướm”, khiêu khích, thô tục; mà vì có lẽ chị không hiểu, hoặc không muốn hiểu, nên họ lập tức đổi sang “ngôn ngữ” tay chân. Những thứ ngôn ngữ như vậy mới thật sự là lạ! Lạ đến nỗi cư dân mạng cũng phải thốt lên: “Không hiểu kiểu gì?”, “Ai giải thích hộ!”, “Chắc hư cấu!”. Tiếc thay, đó lại không phải hư cấu. Đó là những mảnh vụn rất thật của một xã hội mà ở đó có những người đang đánh mất khả năng làm người ngay trong cách họ đối xử với một con người khác.
Tôi nghĩ, ngôn ngữ là một trong những món quà đẹp nhất Thiên Chúa ban cho con người. Con vật có tiếng kêu, con người có lời nói. Nhưng lời nói của con người không chỉ dùng để phát âm, chuyển tải dữ kiện hay ra lệnh; lời nói còn là chiếc cầu nối hai tâm hồn, là nơi một người trao chính mình cho một người khác. Một lời xin lỗi có thể cứu một cuộc hôn nhân. Một lời cảm ơn có thể làm ấm cả một ngày mệt nhọc. Một câu “tôi hiểu bạn” đôi khi đủ để giữ một người đang tuyệt vọng ở lại với cuộc đời. Một lời “anh sai rồi” có thể chặn đứng cả một chuỗi đổ vỡ. Một tiếng “mẹ ơi” có thể làm người mẹ quên hết những tháng ngày nhọc nhằn. Một câu “Chúa vẫn thương con” có thể vực dậy một tâm hồn tưởng mình đã rơi ra khỏi lòng thương xót. Ngôn ngữ cao quý là như thế. Nó không chỉ diễn tả suy nghĩ, nhưng làm lộ ra phẩm chất của trái tim. Người ta có thể mặc một bộ đồ rất đẹp, đi một chiếc xe rất sang, ở một căn nhà rất lớn, có học vị rất cao, nhưng chỉ cần mở miệng ra vài câu, hoặc chỉ cần nhìn cách người ấy đối xử với người yếu thế, đôi khi người ta đã biết bên trong tâm hồn ấy được giáo dục đến đâu.
Đau nhất là khi nắm đấm trở thành ngôn ngữ. Khi ấy, người ta không còn muốn hiểu nhau nữa; người ta chỉ muốn buộc người khác phải phục tùng mình. Một cái tát vào mặt người vợ không chỉ làm đau làn da. Nó còn có thể làm tan vỡ lòng tự trọng, làm một người bắt đầu sợ chính người từng hứa sẽ yêu thương mình suốt đời. Một cú đá không chỉ để lại vết bầm trên thân thể. Nó có thể để lại một ký ức nhiều năm sau vẫn chưa lành. Một đứa trẻ đứng bên đường nhìn thấy cha đánh mẹ có thể không khóc ngay lúc đó, nhưng hình ảnh ấy có thể đi vào trong tuổi thơ nó và âm thầm làm méo mó cách nó hiểu về gia đình, tình yêu, hôn nhân và quyền lực. Đừng tưởng bạo lực chỉ xảy ra giữa hai người. Mỗi hành vi bạo lực đều phát tán những vòng sóng rất xa. Người bị đánh mang thương tích. Con cái mang nỗi sợ. Cha mẹ hai bên mang đau lòng. Người chứng kiến mang bất an. Xã hội dần quen mắt với cái ác. Và nguy hiểm nhất là đến một ngày người ta xem việc đánh nhau như một thứ bình thường, một “nội dung” để quay, để đăng, để bình luận, để mua vui.
Có người nói: “Chuyện nhà người ta, mình không biết đầu đuôi, đừng phán xét.” Điều đó đúng ở chỗ ta không được hồ đồ kết án con người khi chưa biết hết sự việc. Nhưng có những điều không cần biết “đầu đuôi” mới gọi đúng tên được. Đánh người là sai. Làm nhục người khác là sai. Dùng sức mạnh thể xác để giải quyết mâu thuẫn là sai. Hạ nhục phụ nữ là sai. Lấy số đông để uy hiếp người yếu hơn là hèn. Những điều ấy không cần phải đợi điều tra tâm lý hay phân tích hàng trăm trang mới nhận ra được. Ta có thể chưa biết hết câu chuyện, nhưng không vì thế mà cái ác được đổi tên thành “nóng giận”, sự hèn hạ được gọi là “bốc đồng”, hay bạo lực được giảm nhẹ thành “mất kiểm soát”. Có những chữ nghe nhẹ đi, nhưng vết thương của nạn nhân thì không vì thế mà nhẹ hơn.
Tôi vẫn thường nghĩ, người mạnh thật sự không phải là người có thể đánh ngã một người khác. Người mạnh thật sự là người đang rất giận mà vẫn còn đủ sức không đưa tay lên. Người mạnh là người bị xúc phạm nhưng còn đủ tỉnh táo để bước đi. Người mạnh là người có quyền nhưng không dùng quyền để làm người khác run sợ. Người mạnh là người thắng được chính phần thú tính trong mình. Còn một người đàn ông to lớn đánh một người phụ nữ yếu hơn, hoặc vài người hợp lại uy hiếp một người đơn độc, thì đó chẳng có gì đáng gọi là sức mạnh. Nó chỉ cho thấy một sự yếu đuối bị che đậy bằng cơ bắp. Nắm đấm nhiều khi là lý lẽ cuối cùng của một người không còn lý lẽ. Tiếng quát tháo nhiều khi là chiếc áo khoác của một sự bất lực nội tâm. Càng thiếu khả năng kiểm soát mình, người ta càng muốn kiểm soát người khác.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là tại sao con người dễ nổi nóng đến vậy. Chỉ một va quẹt ngoài đường, một ánh nhìn bị cho là “nhìn đểu”, một câu nói không vừa tai, một lần bóp còi, một cuộc tranh cãi trên bàn nhậu, một vài dòng bình luận trên mạng cũng có thể đưa người ta từ những người xa lạ thành kẻ thù trong vài chục giây. Có phải vì chúng ta đang sống quá vội nên không còn đủ thời gian để hiểu nhau? Có phải vì lòng người đang tích tụ quá nhiều áp lực, bực bội và tổn thương mà không biết đặt xuống ở đâu, nên chỉ chờ một cái cớ rất nhỏ là phát nổ? Hay phải chăng vì chúng ta nói quá nhiều về quyền của mình nhưng lại quên mất phẩm giá của người khác? Tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều: một xã hội càng văn minh về kỹ thuật mà càng thô bạo trong tương quan thì sự văn minh ấy vẫn còn rất đáng lo.
Chúng ta có những chiếc điện thoại thông minh hơn bao giờ hết nhưng có khi cách chúng ta nói với nhau lại kém khôn ngoan hơn ngày trước. Chúng ta có thể gửi một tin nhắn sang bên kia thế giới trong vài giây, nhưng lại không biết nói một câu tử tế với người đang ngồi bên cạnh. Chúng ta có hàng ngàn biểu tượng cảm xúc trên bàn phím, nhưng nhiều khi ngoài đời lại nghèo cảm xúc đến lạ. Chúng ta biết “thả tim” cho một người xa lạ, nhưng có thể suốt một ngày chẳng nói nổi một lời dịu dàng với người bạn đời. Có người trên mạng viết về đạo lý rất hay, về yêu thương rất đẹp, nhưng ngoài đời lại nói với cha mẹ như nói với người mắc nợ mình. Có người bình luận kêu gọi chống bạo lực nhưng khi trở về nhà lại làm cả gia đình sống trong sợ hãi. Như thế mới thấy, văn minh không nằm ở thiết bị ta sử dụng, mà nằm ở cách ta đối xử với con người.
Ngôn ngữ của đôi tay vốn dĩ đẹp lắm. Đôi tay sinh ra không chỉ để cầm nắm, càng không phải để đánh nhau. Đôi tay người mẹ ôm đứa con vào lòng. Đôi tay người cha dắt con qua đường. Đôi tay bác sĩ khâu lại một vết thương. Đôi tay người nông dân gieo hạt. Đôi tay người công nhân dựng nhà. Đôi tay linh mục nâng Bánh Thánh. Đôi tay của những người thiện nguyện trao suất cơm cho người nghèo. Đôi tay một người bạn đặt lên vai người đang khóc. Đôi tay vợ chồng nắm lấy nhau khi tuổi đã xế chiều. Đôi tay ấy đẹp biết bao! Vậy mà cũng chính đôi tay ấy, khi lòng người mất bình an, lại có thể trở thành một thứ vũ khí. Điều làm tôi buồn không phải chỉ là một cú đánh, mà là việc một con người đã dùng món quà Thiên Chúa cho mình để làm tổn thương một món quà khác của Thiên Chúa.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu cũng có đôi tay. Nhưng đôi tay của Người thật khác. Người đặt tay trên bệnh nhân để chữa lành. Người chạm vào người phong cùi mà xã hội không muốn chạm tới. Người cầm tay con gái ông Giairô và kéo em đứng dậy. Người bẻ bánh cho đám đông đang đói. Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Cuối cùng, đôi tay ấy bị đóng đinh trên thập giá. Một Thiên Chúa quyền năng lại chọn để đôi tay mình bị đóng đinh thay vì dùng đôi tay ấy đánh trả những kẻ làm hại Người. Đó là ngôn ngữ thật lạ của Thiên Chúa: bị đánh mà không đánh lại, bị nhục mà không làm nhục lại, bị giết mà vẫn xin Cha tha cho những kẻ giết mình. Thập giá vì thế là lời phê phán mạnh nhất đối với mọi thứ bạo lực nhân danh danh dự, quyền lực, tiền bạc hay tự ái.
Nhưng đừng vội nghĩ bạo lực chỉ là nắm đấm. Có những người cả đời không đánh ai nhưng lại dùng lời nói như dao. Có những cái tát không bằng tay nhưng bằng miệng. Có những câu nói người nghe mang theo vài chục năm vẫn đau. “Mày chẳng làm nên trò trống gì đâu.” “Tao lấy mày đúng là sai lầm.” “Có mày chỉ thêm nhục.” “Giá mày đừng sinh ra.” “Anh chẳng bằng chồng người ta.” “Cô chẳng đáng là phụ nữ.” Có thể người nói chỉ buông ra trong vài giây tức giận, nhưng người nghe có khi mất nhiều năm để chữa lành. Vì vậy, đừng chỉ học cách giữ tay; hãy học cách giữ miệng. Đừng chỉ tránh đấm người; hãy tránh đâm người bằng lời. Đừng nói rằng “tôi nói thẳng tính thôi”. Nói thật không có nghĩa là được quyền tàn nhẫn. Sự thật mà thiếu tình yêu đôi khi trở thành một thứ vũ khí.
Mạng xã hội lại càng làm thứ bạo lực bằng lời này lan nhanh khủng khiếp. Một đoạn video được cắt ra vài chục giây, một tấm hình không rõ đầu đuôi, một câu chuyện chỉ nghe từ một phía, thế là hàng ngàn người lập tức biến mình thành thẩm phán. Người thì chửi. Người thì nguyền rủa. Người thì đào bới đời tư. Người thì chế giễu ngoại hình. Người thì lôi cả cha mẹ, vợ chồng, con cái của người trong cuộc vào cuộc. Ta chống lại một cú đánh bằng hàng vạn cú đánh khác bằng bàn phím. Ta lên án sự làm nhục bằng cách làm nhục người gây ra sự việc. Rồi ta gọi đó là công lý. Tôi không nghĩ như thế. Công lý không cần thêm hận thù. Phản đối cái sai không có nghĩa ta được phép trở nên sai theo một kiểu khác.
Có lần tôi tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra nếu trước khi bình luận một câu cay độc trên mạng, người ta phải đọc to câu ấy trước mặt người mình sắp xúc phạm? Có lẽ rất nhiều người sẽ không dám nói. Bởi màn hình tạo cho ta ảo giác vô danh. Ngồi sau bàn phím, người ta dễ quên rằng phía bên kia cũng là một con người bằng xương bằng thịt, có cha mẹ, có gia đình, có nước mắt, có những vùng rất dễ tổn thương. Một câu viết ra chỉ mất mười giây, nhưng có thể trở thành chiếc gai trong lòng một con người rất lâu. Tôi không bảo phải bao che cái sai. Tôi chỉ nghĩ rằng ngay cả khi sửa lỗi, chúng ta vẫn phải nhớ người mình đang sửa lỗi là một con người.
Ngôn ngữ lạ nhất của thời đại này có lẽ không phải là tiếng nước ngoài ta chưa học. Đó là thứ ngôn ngữ mà người ta hiểu nhau bằng bạo lực, giải quyết khác biệt bằng nhục mạ, bảo vệ danh dự bằng cách chà đạp danh dự người khác. Tôi mong thứ “ngôn ngữ” ấy ngày càng trở nên xa lạ với chúng ta. Tôi mong một người chồng khi giận vợ biết bước ra ngoài vài phút thay vì đưa tay lên. Tôi mong một người vợ khi tổn thương biết nói điều mình đau thay vì gom từng chuyện cũ để đay nghiến. Tôi mong một người trẻ khi bị khiêu khích có thể quay đi mà không thấy mình hèn. Thật ra, quay đi khỏi một cuộc đánh nhau đôi khi cần nhiều bản lĩnh hơn lao vào nó. Tôi mong người ta biết xin lỗi trước khi mọi chuyện quá muộn. Tôi mong cha mẹ đừng đánh con chỉ vì mình không biết phải nói với con thế nào. Tôi mong những người đang yêu nhau hiểu rằng tình yêu không cho ai quyền sở hữu thân thể và tự do của người khác. Người yêu không phải tài sản. Vợ không phải tài sản. Chồng cũng không phải tài sản. Không ai được phép đánh một con người chỉ vì “người đó là người nhà của tôi”.
Có một nghịch lý rất đau: nhiều người cư xử tử tế với người ngoài nhưng lại thô bạo với người thân. Ra đường nói năng nhỏ nhẹ; về nhà quát tháo. Với đồng nghiệp biết giữ ý; với vợ chồng thì muốn nói gì nói. Với khách hàng rất lịch sự; với cha mẹ già thì cộc lốc. Ta thường nghĩ người nhà sẽ hiểu, người nhà sẽ bỏ qua, người nhà chẳng đi đâu. Nhưng chính vì họ là người nhà nên họ càng xứng đáng nhận được phần đẹp nhất trong cách cư xử của ta, chứ không phải phần còn lại sau một ngày ta đã đem hết lịch sự chia cho thiên hạ. Một gia đình không tan vỡ chỉ bởi một biến cố lớn. Nhiều gia đình chết dần bởi những lời khinh thường nhỏ lặp lại mỗi ngày.
Người Kitô hữu lại càng phải học một thứ ngôn ngữ khác. Không phải thứ ngôn ngữ khiến mình thắng một cuộc tranh cãi, nhưng là ngôn ngữ của Tin Mừng. Ngôn ngữ ấy có chữ “xin lỗi”. Có chữ “cảm ơn”. Có chữ “xin phép”. Có chữ “tôi đã sai”. Có câu “tôi tha thứ”. Có câu “chúng ta nói lại chuyện này khi cả hai bình tĩnh hơn”. Có cả sự thinh lặng đúng lúc. Đức tin không chỉ thể hiện ở việc ta đọc bao nhiêu kinh, dự bao nhiêu thánh lễ, thuộc bao nhiêu câu Kinh Thánh. Đức tin còn được nhìn thấy rất rõ ở khoảnh khắc ta đang giận. Khi bình an thì ai cũng có thể tử tế. Khi bị xúc phạm mà ta vẫn không muốn làm người kia bị tổn thương, lúc ấy mới thấy Tin Mừng đã đi vào máu thịt ta đến đâu.
Đôi khi người ta hỏi: làm sao để bớt bạo lực? Tôi nghĩ phải bắt đầu rất sớm, từ những gia đình. Đứa trẻ cần được dạy rằng mạnh không phải là đánh thắng bạn. Con trai cần được dạy rằng nam tính không phải là làm phụ nữ sợ mình. Con gái cần được dạy rằng không ai có quyền làm nhục hay đánh mình rồi nói đó là vì yêu. Trẻ con cần thấy cha mẹ bất đồng mà vẫn nói chuyện được với nhau. Chúng cần nhìn thấy cha biết xin lỗi mẹ và mẹ biết xin lỗi cha. Chúng cần hiểu rằng tức giận là một cảm xúc bình thường nhưng bạo lực là một lựa chọn. Ta không thể dạy con bình an bằng một trận đòn. Không thể dạy con tôn trọng bằng cách sỉ nhục nó. Không thể dạy con biết lắng nghe trong khi người lớn chỉ biết quát.
Cũng phải học cách rời khỏi một cuộc đối đầu trước khi quá trễ. Không phải chuyện gì cũng cần giải quyết ngay lúc nóng giận. Có những lúc khôn ngoan nhất là im. Có những tin nhắn nên để sáng mai mới trả lời. Có những cuộc tranh cãi phải ngừng lại để đôi bên nguội xuống. Có những lời đang nằm trên đầu lưỡi mà nuốt xuống được thì cứu được rất nhiều chuyện. Người ta thường tiếc vì đã không nói một lời yêu thương, nhưng cũng có nhiều người cả đời phải tiếc vì đã nói một câu trong phút nóng giận.
Và tôi nghĩ chúng ta cần trở lại với một điều rất căn bản: nhìn người trước mặt như một con người. Không phải “con vợ”, “thằng chồng”, “con nhỏ kia”, “thằng đó”, “đứa tao ghét”, mà là một con người. Khi tôi còn nhìn người kia như một con người, tôi sẽ biết đau khi làm họ đau. Còn khi tôi đã biến họ thành một đối tượng, một kẻ thù, một món đồ thuộc quyền sở hữu của mình, thì mọi tàn nhẫn đều trở nên dễ dàng. Chiến tranh cũng bắt đầu từ đó. Bạo hành gia đình cũng bắt đầu từ đó. Bắt nạt học đường cũng bắt đầu từ đó. Người ta phải hạ phẩm giá đối phương trong đầu trước rồi mới có thể dễ dàng hạ họ bằng tay.
Trở lại với những đoạn video tôi xem trên mạng, tôi không biết những người trong cuộc rồi sẽ ra sao. Có thể pháp luật sẽ xử lý. Có thể họ sẽ xin lỗi. Có thể vài ngày nữa cộng đồng mạng lại chạy theo một câu chuyện mới. Nhưng với tôi, điều đáng giữ lại không phải là sự tò mò về số phận của một vụ việc, mà là câu hỏi dành cho chính mình: tôi đang dùng thứ ngôn ngữ nào với những người quanh tôi? Đôi tay tôi đang làm gì? Miệng tôi đang nói gì? Bàn phím tôi đang viết gì? Người sống cạnh tôi có bình an khi ở bên tôi không? Con cái có sợ khi tôi bước vào nhà không? Vợ hay chồng tôi có phải đoán tâm trạng tôi trước khi dám nói một điều không? Những người yếu thế có thấy được tôn trọng khi đứng trước tôi không? Nếu câu trả lời khiến ta không thoải mái, có lẽ đừng vội nhìn những đoạn video kia để chỉ trích người khác. Ta cũng cần sửa thứ “ngôn ngữ” của mình.
Tôi tin thế giới này chưa bao giờ thiếu người biết nói. Chúng ta đang sống trong một thời đại quá nhiều tiếng nói. Chỉ cần mở điện thoại là hàng triệu người đang nói cùng lúc. Nhưng có lẽ thế giới đang thiếu những người biết nói sao cho người khác được sống. Thiếu những lời làm dịu một cơn giận. Thiếu những lời nối lại một tương quan. Thiếu những người dám nói “đủ rồi, đừng đánh nữa”. Thiếu những người có khả năng đứng giữa hai phía và hạ nhiệt thay vì đổ thêm dầu vào lửa. Thiếu những người có thể nói sự thật mà không làm nhục người khác. Thiếu những người đủ lòng thương xót để khi nhìn thấy người khác ngã, điều đầu tiên không phải là rút điện thoại ra quay.
Có lẽ ngôn ngữ đẹp nhất vẫn là ngôn ngữ của lòng nhân hậu. Nó không cần học ở trường ngoại ngữ. Nó được học trong gia đình, trong cầu nguyện, trong những lần ta biết kìm mình lại vì thương người khác. Một ánh mắt biết cảm thông cũng là ngôn ngữ. Một bàn tay đưa ra để nâng người ngã dậy cũng là ngôn ngữ. Một người đang nóng nhưng tự bước lui vài bước cũng là ngôn ngữ. Một người có thể đánh nhưng quyết định không đánh – đó là một câu rất đẹp. Một người có thể trả thù nhưng chọn tha thứ – đó là một bài thơ. Một người có thể làm nhục nhưng lại giữ danh dự cho đối phương – đó là văn hóa. Một người bị tổn thương nhưng vẫn không muốn biến mình thành kẻ gây tổn thương cho người khác – đó là trưởng thành. Và một người sống được như thế, dù chẳng nói gì về đạo, đôi khi chính cuộc đời họ đã là một bài giảng rất hay.
Xin đừng để đôi tay mình trở thành thứ ngôn ngữ khiến một người khác phải sợ. Xin đừng để cái miệng của mình trở thành nơi người khác bị đóng đinh mỗi ngày. Xin đừng để bàn phím của mình trở thành bãi ném đá. Và xin đừng tưởng rằng chỉ những người trong các đoạn clip đang lan truyền mới cần học lại cách làm người. Mỗi chúng ta đều cần. Tôi cũng cần. Bởi ranh giới giữa bình tĩnh và nổi giận, giữa một lời dịu dàng và một câu tàn nhẫn, đôi khi mỏng lắm. Chỉ một chút tự ái, một chút men rượu, một chút mất kiểm soát, một chút muốn hơn thua là con người có thể trở thành một phiên bản mà chính mình sau đó cũng không nhận ra.
Ước gì sau khi xem những “ngôn ngữ lạ” ấy trên mạng, thay vì chỉ thốt lên “không hiểu kiểu gì”, ta lại hiểu thêm một điều: xã hội sẽ không bớt bạo lực chỉ nhờ những lời lên án. Nó chỉ thực sự bớt bạo lực khi từng người học cách bình an hơn trong chính căn nhà mình, tử tế hơn trong từng tương quan, có trách nhiệm hơn với từng lời nói và làm chủ hơn từng cử động của đôi tay. Một thế giới hiền hòa không bắt đầu từ những nghị quyết lớn lao. Nó bắt đầu từ khoảnh khắc một người đang rất giận nhưng không đánh. Một người đang rất đau nhưng không nguyền rủa. Một người đang có lý nhưng không hạ nhục. Một người đủ mạnh để đặt cái tôi xuống và nói: “Thôi, chúng ta đừng làm nhau đau thêm nữa.”
Và có lẽ đó mới là thứ ngôn ngữ mà thế giới hôm nay cần học lại nhất: ngôn ngữ của con người nói với con người, ngôn ngữ của lòng trắc ẩn, ngôn ngữ của sự tôn trọng, ngôn ngữ của tha thứ, ngôn ngữ của một đôi tay biết nâng đỡ thay vì đánh xuống. Với người Kitô hữu, sâu xa hơn nữa, đó chính là ngôn ngữ của Đức Kitô: đôi tay dang ra chứ không nắm lại thành quả đấm, đôi tay chịu đóng đinh chứ không đóng đinh người khác, đôi tay vẫn mở ra đến giây phút cuối cùng như muốn nói với cả nhân loại rằng: đừng làm đau nhau nữa, đời người ngắn lắm, hãy dùng những ngày còn lại để thương nhau cho tử tế.
Lm. Anmai, CSsR
XIN CHÚA THÁNH THẦN DẠY CHÚNG TA NÓI NHỮNG “TIẾNG LẠ” CỦA TÌNH YÊU
Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải tha thiết xin Chúa Thánh Thần ban cho mình khả năng nói “tiếng lạ”. Không hẳn là thứ tiếng lạ khiến người ta kinh ngạc vì âm thanh khác thường, cũng không phải thứ ngôn ngữ để người nói trở thành trung tâm của sự chú ý, nhưng là những thứ tiếng đang ngày càng trở nên hiếm hoi giữa một thế giới tưởng như đã quá dư thừa phương tiện để nói với nhau. Con người hôm nay có điện thoại trong tay, có mạng xã hội trước mặt, có thể gửi một dòng chữ đi nửa vòng trái đất chỉ trong vài giây, có thể nói chuyện với hàng trăm, hàng ngàn người cùng một lúc, nhưng lạ thay, càng nhiều phương tiện để giao tiếp, người ta dường như càng khó hiểu nhau. Người ta nói rất nhiều nhưng nghe rất ít. Người ta phản ứng rất nhanh nhưng suy nghĩ rất chậm. Người ta có thể dễ dàng gõ xuống màn hình những câu chữ mà nếu đứng trước mặt nhau có lẽ chẳng ai đủ can đảm để nói. Người ta có thể dùng lời nói như một lưỡi dao rồi bình thản bước đi, để mặc người khác ở lại với vết thương. Và vì thế, điều thế giới đang thiếu không hẳn là thêm một thứ ngôn ngữ mới, mà là tìm lại những ngôn ngữ rất cũ, rất đẹp, rất người và cũng rất thuộc về Thiên Chúa: ngôn ngữ của lòng tử tế, ngôn ngữ của sự cảm thông, ngôn ngữ của tha thứ, ngôn ngữ của sự thật được nói bằng tình yêu, ngôn ngữ của đôi tay biết nâng người khác dậy thay vì đẩy họ ngã xuống, ngôn ngữ của đôi mắt biết nhìn người bên cạnh như một con người chứ không phải như một đối tượng để phán xét, ngôn ngữ của sự thinh lặng đúng lúc, của lời xin lỗi chân thành, của một câu “tôi hiểu”, của một lời “cảm ơn”, của hai tiếng “xin lỗi”, của một câu rất đơn sơ “tôi ở đây với bạn”. Những tiếng nói ấy nghe thì quá bình thường, nhưng càng ngày lại càng trở nên “xa xỉ”.
Ngày lễ Ngũ Tuần kể rằng các Tông đồ được đầy tràn Chúa Thánh Thần và bắt đầu nói các thứ tiếng khác nhau tùy theo Thần Khí ban cho. Điều kỳ diệu hôm ấy không chỉ nằm ở chỗ các ông có thể nói những thứ ngôn ngữ trước đó mình chưa từng học. Điều lớn lao hơn là những con người đến từ nhiều vùng đất khác nhau lại nghe các ông nói bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình. Từ một nhóm môn đệ còn sợ hãi, còn đóng kín cửa vì lo âu, Thánh Thần đã làm cho họ bước ra ngoài. Từ những con người từng tranh giành địa vị, từng bỏ Thầy chạy trốn, từng chối Thầy, Thánh Thần biến họ thành những chứng nhân can đảm của Tin Mừng. Và điều đó cho thấy tiếng nói đích thực của Chúa Thánh Thần bao giờ cũng là thứ tiếng phá vỡ những bức tường, nối lại những chia cắt và đưa con người đến gần nhau. Babel ngày xưa là hình ảnh của con người nói mà không hiểu nhau; Ngũ Tuần là hình ảnh của con người khác nhau nhưng lại có thể nghe và hiểu nhau. Có lẽ phép lạ mà thế giới hôm nay cần nhất cũng chính là phép lạ ấy: giữa quá nhiều tiếng nói, xin cho người ta nghe được nhau; giữa quá nhiều tranh cãi, xin cho người ta hiểu được nhau; giữa quá nhiều khác biệt, xin cho người ta vẫn còn nhận ra nhau là anh chị em.
Nhìn vào đời sống hằng ngày, ta thấy quả thật có những thứ “ngôn ngữ lạ” rất đáng sợ đang được sử dụng mỗi lúc một nhiều. Có thứ ngôn ngữ của nắm đấm. Có thứ ngôn ngữ của bạo lực. Có thứ ngôn ngữ của nhục mạ, chửi rủa và miệt thị. Có thứ ngôn ngữ của những dòng bình luận ác độc trên mạng xã hội, nơi một người chẳng hề quen biết một người khác vẫn có thể buông ra những lời làm đau nhau đến tận đáy lòng. Có thứ ngôn ngữ của những cái nhìn khinh miệt. Có thứ ngôn ngữ của quyền lực, khi người mạnh dùng vị trí của mình để chèn ép người yếu. Có thứ ngôn ngữ của tiền bạc, khi mọi mối quan hệ đều bị quy ra lợi ích. Có thứ ngôn ngữ của sự lạnh lùng, khi người ta nhìn thấy một người đau khổ mà vẫn có thể thản nhiên bước qua. Có thứ ngôn ngữ của tin giả, của cắt ghép, của bóp méo, của đưa một nửa sự thật để giết chết danh dự của một con người. Có thứ ngôn ngữ còn đáng sợ hơn cả lời nói, đó là sự im lặng đồng lõa trước cái xấu. Những thứ tiếng ấy không cần học trường lớp nào, nhưng dường như con người lại học rất nhanh. Chỉ cần một chút nóng giận, một chút tự ái, một chút ích kỷ là người ta đã có thể nói rất thành thạo ngôn ngữ của tổn thương.
Bởi vậy, nói “tiếng lạ” của Chúa Thánh Thần trong thời đại này có khi lại là biết nói một lời hiền lành giữa lúc mọi người đang cay nghiệt. Khi cả đám đông đang kết án một người, tiếng lạ của Thánh Thần là dám hỏi: “Chúng ta có biết hết sự thật chưa?” Khi một người bị vấp ngã, tiếng lạ của Thánh Thần không phải là chụp hình, quay phim rồi đưa lên mạng, nhưng là đưa tay ra đỡ họ dậy. Khi người khác có lỗi, tiếng lạ của Thánh Thần là góp ý mà vẫn giữ cho người ấy phẩm giá. Khi mình bị xúc phạm, tiếng lạ của Thánh Thần là không vội trả đũa bằng cùng một thứ ngôn ngữ. Khi trong gia đình đang căng thẳng, tiếng lạ của Thánh Thần là có một người chịu hạ giọng trước. Khi vợ chồng bất hòa, tiếng lạ của Thánh Thần có thể chỉ là một câu rất ngắn: “Thôi, mình đừng làm đau nhau thêm nữa.” Khi cha mẹ và con cái không hiểu nhau, tiếng lạ của Thánh Thần là chịu ngồi xuống để nghe nhau nói hết câu. Khi một người đang đau khổ, tiếng lạ của Thánh Thần đôi khi không phải là một bài giảng dài, nhưng là ngồi cạnh họ trong thinh lặng. Khi ai đó thất bại, tiếng lạ của Thánh Thần là không nhắc lại quá khứ để làm nhục họ, nhưng mở cho họ một con đường để đứng dậy.
Ngôn ngữ của Thánh Thần còn là ngôn ngữ của sự thật. Nhưng sự thật của Thiên Chúa không bao giờ là cây gậy để đánh người khác. Có người tưởng rằng mình bảo vệ sự thật nên có quyền nói bất cứ cách nào. Không phải thế. Một sự thật được nói mà thiếu tình yêu có thể trở thành tàn nhẫn. Một lời đúng nhưng được nói với ý muốn làm nhục người khác thì cái đúng ấy đã bị pha lẫn với cái sai trong tâm hồn người nói. Chúa Giêsu là Sự Thật, nhưng Người cũng là Tình Yêu. Người nói rất thẳng với những gì giả hình, nhưng Người không dập tắt tim đèn còn khói. Người không gọi người phụ nữ ngoại tình bằng quá khứ của chị. Người không đóng đinh Phêrô vào ba lần chối Thầy. Người không gọi Matthêu mãi mãi là tên thu thuế. Người nhìn thấy nơi mỗi con người một khả năng có thể đổi mới. Bởi thế, nếu một lời ta nói khiến người khác tuyệt vọng, có lẽ ta cần tự hỏi lời ấy có thực sự đến từ Thánh Thần không. Thánh Thần soi sáng tội lỗi để con người hoán cải, chứ không đẩy người ta vào ngõ cụt của tuyệt vọng.
Điều này đặc biệt đáng suy nghĩ trong thế giới truyền thông hôm nay. Chưa bao giờ một người bình thường lại có khả năng truyền đi lời nói của mình xa đến thế. Chỉ một chiếc điện thoại nhỏ thôi cũng đủ để một câu chuyện, một hình ảnh, một lời bình luận có thể đến với hàng chục ngàn người. Truyền thông vì thế là một sức mạnh khủng khiếp. Nó có thể dựng một con người lên, nhưng cũng có thể nghiền nát một con người. Nó có thể mang niềm hy vọng đến cho người đang tuyệt vọng, nhưng cũng có thể khiến một người vốn đã đau càng thêm đau. Một bức ảnh đẹp có thể đánh thức lòng thương xót. Một câu chuyện tử tế có thể khiến hàng ngàn người muốn làm điều tốt. Một lời chứng chân thành có thể đưa một tâm hồn trở về với Chúa. Nhưng cũng chính truyền thông có thể biến thành đám đông ném đá nếu những người sử dụng nó không có lương tâm. Chúng ta đã quá quen với chuyện một biến cố xảy ra, chỉ vài phút sau đã có hàng ngàn lời bình luận. Rất nhiều người chưa biết đầu đuôi câu chuyện nhưng đã sẵn sàng kết án. Người ta muốn mình là người đưa tin nhanh nhất nhưng lại ít bận tâm xem điều mình đưa có đúng không. Người ta muốn có thật nhiều lượt xem nhưng không hỏi xem nhân phẩm của người xuất hiện trong hình ảnh ấy sẽ ra sao. Người ta muốn câu chuyện lan nhanh nhưng quên rằng phía sau màn hình là một con người có cha mẹ, có vợ chồng, có con cái, có danh dự, có nước mắt và có cả những vết thương mà ta không nhìn thấy.
Vì thế, nếu muốn xin Thánh Thần ban ơn nói tiếng lạ, có lẽ trước hết phải xin Người thanh tẩy cách ta sử dụng truyền thông. Xin cho đôi tay cầm điện thoại biết dừng lại trước khi nhấn nút chia sẻ. Xin cho đôi mắt biết nhìn hình ảnh của người khác bằng lòng thương xót. Xin cho trí óc biết kiểm chứng trước khi tin. Xin cho trái tim biết tự hỏi: “Điều này nếu lan truyền sẽ làm người khác tốt hơn hay chỉ làm họ bị tổn thương thêm?” Không phải cái gì đúng cũng cần công khai. Không phải điều gì mình biết cũng phải kể. Không phải bức ảnh nào mình có cũng nên đăng. Không phải lỗi lầm nào của người khác cũng biến thành nội dung. Có những điều được che lại không phải vì bao che cho cái xấu, nhưng vì bảo vệ phẩm giá của một con người đang cần cơ hội sửa đổi. Đức ái cũng có sự kín đáo của nó. Lòng thương xót không phủ nhận sự thật, nhưng biết cách để sự thật chữa lành thay vì giết chết.
Tôi nghĩ rất cần một “làn gió” mới trên không gian truyền thông. Không phải một làn gió của những khẩu hiệu đẹp, nhưng là làn gió của Thánh Thần thổi vào từng trang mạng, từng tài khoản cá nhân, từng nhóm trò chuyện, từng tòa soạn, từng người cầm máy quay, từng người viết bài, từng người bình luận. Làn gió ấy giúp chúng ta biết chia sẻ nhiều hơn những điều tử tế. Thế gian này vốn đã quá nhiều tin buồn. Mỗi ngày người ta mở điện thoại ra là gặp chiến tranh, tai nạn, tranh cãi, lừa đảo, bạo lực, scandal, đổ vỡ. Không phải những chuyện ấy không cần được nói, nhưng nếu chỉ nhìn thấy bóng tối mãi, con người dễ nghĩ rằng cuộc đời chỉ toàn bóng tối. Trong khi đó, mỗi ngày vẫn có biết bao điều tốt đang âm thầm diễn ra mà ít ai kể. Có người mẹ thức trắng đêm chăm con bệnh. Có người con nghèo vẫn cố chăm sóc cha mẹ già. Có bác sĩ lặng lẽ cứu một bệnh nhân trong giờ nguy cấp. Có người trẻ nhặt được của rơi rồi tìm cách trả lại. Có người hàng xóm mỗi ngày mang phần cơm sang cho một cụ già sống một mình. Có người đi ngang đường thấy tai nạn liền dừng xe giúp đỡ. Có người bị đối xử không tốt nhưng vẫn chọn tha thứ. Có người âm thầm cầu nguyện cho kẻ làm mình đau. Những chuyện ấy không gây “bão mạng”, nhưng chính những điều nhỏ như thế đang giữ cho thế giới khỏi trở thành một nơi quá lạnh lẽo.
Tại sao chúng ta không dùng truyền thông để kể nhiều hơn những câu chuyện như thế? Một hình ảnh đẹp về sự tử tế có thể trở thành một bài giảng không lời. Một đoạn phim ngắn về lòng nhân ái có thể làm mềm một trái tim đang chai cứng. Một câu chuyện về tha thứ có thể giúp một người đang ôm hận suy nghĩ lại. Một lời chứng về người dám sống trung thực có thể khích lệ một người khác không thỏa hiệp với gian dối. Một hình ảnh gia đình biết chăm sóc nhau có thể nhắc ai đó đang mải mê công việc nhớ về nhà sớm hơn. Một câu chuyện về một linh mục, tu sĩ, giáo dân âm thầm phục vụ người nghèo có thể làm cho Tin Mừng trở nên hữu hình. Truyền thông lúc ấy không chỉ là truyền tin, mà thực sự trở thành truyền cảm hứng, truyền hy vọng và truyền sự sống.
Tuy nhiên, để truyền thông có thể nói những ngôn ngữ của Thánh Thần, người làm truyền thông trước hết phải để Thánh Thần nói trong lòng mình. Không ai trao sự bình an nếu trong lòng mình đầy giận dữ. Không ai truyền hy vọng nếu bản thân sống trong cay cú. Không ai xây dựng sự hiệp nhất nếu chính mình nghiện tranh luận và thích hơn thua. Có khi điều chúng ta cần không phải học thêm kỹ thuật truyền thông nhưng học lại nghệ thuật cầu nguyện. Trước khi đăng một điều gì, biết dừng lại vài giây. Trước khi phản ứng, biết thinh lặng. Trước khi nói về một người, biết đặt họ trước mặt Chúa. Trước khi viết một câu phê bình, thử hình dung mình đang nói câu ấy trực tiếp trước mặt người đó. Và trước khi nhấn nút gửi, thử hỏi: “Nếu Chúa Giêsu đọc những chữ này, Người có vui không?”
Chúng ta thường nghĩ Chúa Thánh Thần chỉ hoạt động trong những điều lớn lao, nhưng có khi Người bắt đầu từ một cái rất nhỏ: làm cho ta xóa đi một câu bình luận vừa gõ vì nhận ra nó quá cay nghiệt. Người khiến ta không chia sẻ một đoạn clip có thể làm nhục người khác. Người thúc đẩy ta nhắn cho một người đang buồn một câu hỏi thăm. Người làm ta nhớ đến một người từng làm mình tổn thương và cầu nguyện cho họ. Người giúp ta đủ khiêm nhường để nói “tôi sai rồi”. Đó cũng là những phép lạ. Và có lẽ đó là những phép lạ thế giới hôm nay đang rất cần.
Tôi vẫn nghĩ rằng điều làm người ta cảm động nhất không phải là những bài nói thật hay, nhưng là gặp được một con người mà nơi họ mình cảm thấy được tôn trọng, được đón nhận và được bình an. Đó là thứ ngôn ngữ không cần phiên dịch. Một người Việt Nam, một người châu Phi, một người châu Âu, dù khác ngôn ngữ nhưng đều hiểu một nụ cười chân thành. Một đứa trẻ chưa biết đọc vẫn hiểu vòng tay của mẹ. Một người bệnh không cần nghe những lời cao siêu vẫn hiểu bàn tay người thân đang nắm tay mình. Một người cô độc có thể không cần câu trả lời cho mọi vấn đề, nhưng họ hiểu khi có ai đó ngồi lại bên mình. Tình yêu vốn là thứ tiếng mẹ đẻ của nhân loại, bởi con người được dựng nên từ tình yêu của Thiên Chúa. Chỉ tiếc rằng lớn lên, chúng ta học quá nhiều ngôn ngữ khác rồi đôi khi quên mất thứ tiếng đầu tiên ấy.
Thành thử ra, xin Chúa Thánh Thần cho chúng ta biết nói tiếng lạ, nhưng trước hết là biết nói lại những thứ tiếng tưởng đã quen mà nay đang dần bị quên. Xin cho ta nói tiếng của lòng biết ơn trong một xã hội thường coi mọi thứ mình nhận được là đương nhiên. Xin cho ta nói tiếng của xin lỗi giữa một thời đại mà ai cũng muốn chứng minh mình đúng. Xin cho ta nói tiếng của tha thứ khi người ta thường thích ghi nhớ lỗi của nhau. Xin cho ta nói tiếng của khiêm nhường giữa một thế giới thích phô diễn. Xin cho ta nói tiếng của trung thực giữa một xã hội đôi khi xem gian dối như sự khôn ngoan. Xin cho ta nói tiếng của hy sinh giữa một nền văn hóa chỉ thích hưởng thụ. Xin cho ta nói tiếng của trách nhiệm giữa một thời đại người ta rất dễ đổ lỗi. Xin cho ta nói tiếng của chung thủy trong những mối quan hệ ngày càng mong manh. Xin cho ta nói tiếng của lòng thương xót khi con người quá dễ trở thành quan tòa của nhau.
Và xin cho những người làm truyền thông, dù là chuyên nghiệp hay chỉ đơn giản là người có một tài khoản mạng xã hội, hiểu rằng mình đang cầm trong tay một phương tiện có thể gieo ánh sáng hoặc gieo bóng tối. Mỗi lượt chia sẻ là một sự lựa chọn. Mỗi câu bình luận là một hạt giống. Mỗi hình ảnh mình đăng có thể tác động đến một tâm hồn mà mình không bao giờ gặp. Đừng coi thường những điều nhỏ ấy. Một lời động viên đúng lúc có thể cứu một người khỏi tuyệt vọng. Một câu chế giễu đúng vào lúc người ta yếu đuối nhất cũng có thể trở thành giọt nước làm tràn một nỗi đau. Không ai biết hết hậu quả của lời mình nói. Vì thế, người khôn ngoan không phải là người nói được nhiều, nhưng là người biết điều gì nên nói, nói lúc nào và nói bằng tâm tình nào.
Nếu ngày lễ Ngũ Tuần năm xưa Thánh Thần làm cho các dân tộc hiểu nhau, thì xin Người cũng làm một lễ Ngũ Tuần mới trong thế giới chúng ta. Một lễ Ngũ Tuần trên mạng xã hội. Một lễ Ngũ Tuần trong gia đình. Một lễ Ngũ Tuần trong cộng đoàn. Một lễ Ngũ Tuần giữa những người đang bất hòa. Một lễ Ngũ Tuần trong Giáo Hội. Một lễ Ngũ Tuần trong từng trái tim. Xin cho những ngọn lửa của Thánh Thần không chỉ ở trên đầu các Tông đồ năm xưa, nhưng cháy trong lòng mỗi chúng ta, đốt đi sự nóng giận, kiêu căng, ganh ghét, thành kiến và những ham muốn làm tổn thương người khác. Xin cho làn gió của Người thổi qua những vùng đất khô cằn của lòng người, làm hồi sinh lòng trắc ẩn đã nguội lạnh, làm sống lại sự tử tế đã bị lãng quên, làm cho người ta biết nhìn nhau bằng ánh mắt dịu dàng hơn.
Thế giới này không thiếu người nói giỏi. Có lẽ nó đang thiếu người nói làm sao để người nghe muốn sống tốt hơn. Thế giới không thiếu thông tin. Nó đang thiếu những lời có thể chữa lành. Thế giới không thiếu tiếng động. Nó đang thiếu những âm thanh của bình an. Và truyền thông cũng không thiếu những hình ảnh gây sốc; điều truyền thông rất cần là những hình ảnh khiến người ta còn tin rằng cuộc đời này đáng yêu, con người này vẫn đáng tin, và lòng tốt vẫn chưa biến mất. Nếu mỗi người trong chúng ta mỗi ngày chia sẻ một điều đẹp thay vì một điều độc hại, nói một lời xây dựng thay vì một lời hạ nhục, giữ lại một tin chưa kiểm chứng thay vì vội phát tán, cầu nguyện cho một người mình không thích thay vì công kích họ, biết đâu đó chính là cách chúng ta đang cộng tác với Chúa Thánh Thần để làm mới bộ mặt trái đất.
Đừng mong mình sẽ thay đổi cả thế giới. Chỉ cần hôm nay, nơi phần rất nhỏ mình có thể chạm đến, hãy để Thánh Thần dùng mình. Có thể là một trang Facebook nhỏ. Một nhóm gia đình. Một nhóm giáo xứ. Một cuộc trò chuyện. Một bài viết. Một bức ảnh. Một lời bình luận. Một tin nhắn. Chỉ cần ở đó xuất hiện một chút ánh sáng, một chút lòng thương xót, một chút bình an, thì bóng tối đã bớt đi một phần. Và khi rất nhiều con người cùng làm những điều nhỏ bé như thế, cả thế giới sẽ dần có một ngôn ngữ mới. Hay đúng hơn, đó là thứ ngôn ngữ rất xưa của Thiên Chúa mà nhân loại cần học lại.
Xin Chúa Thánh Thần đến. Xin Người dạy chúng ta nói tiếng lạ của hiền lành giữa bạo lực, tiếng lạ của tha thứ giữa hận thù, tiếng lạ của chân thật giữa giả dối, tiếng lạ của khiêm nhường giữa tự cao, tiếng lạ của chia sẻ giữa ích kỷ, tiếng lạ của hiệp nhất giữa chia rẽ, tiếng lạ của hy vọng giữa tuyệt vọng, tiếng lạ của tình yêu giữa một thế giới nhiều tổn thương. Và xin Người biến mỗi phương tiện truyền thông trong tay chúng ta thành một chiếc cửa sổ mở ra ánh sáng, chứ không thành một viên đá ném vào người khác; thành một nhịp cầu nối những trái tim, chứ không thành bức tường ngăn cách; thành một nơi Tin Mừng được nhìn thấy qua những điều rất thật, rất đẹp, rất người.
Nếu được như thế, có lẽ một ngày nào đó, người ta sẽ không còn ngạc nhiên vì những “ngôn ngữ lạ” của bạo lực nữa, nhưng sẽ ngạc nhiên trước một con người biết tha thứ khi họ hoàn toàn có quyền trả đũa; ngạc nhiên trước một người biết im lặng khi họ có thể làm nhục kẻ khác; ngạc nhiên trước một người dám bảo vệ người yếu thế; ngạc nhiên trước một cộng đồng biết nâng nhau dậy thay vì kéo nhau xuống; ngạc nhiên trước một thế giới truyền thông biết làm cho lòng người hiền hơn. Và khi ấy, người ta sẽ nhận ra rằng Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động, không ồn ào nhưng mạnh mẽ, không phô trương nhưng âm thầm làm cho thế giới này còn đáng sống.
Có lẽ đó mới thật sự là “nói tiếng lạ”: nói thứ tiếng mà ai cũng có thể hiểu dù chẳng cần từ điển, thứ tiếng của lòng nhân ái. Một thứ tiếng không bắt đầu từ môi miệng mà bắt đầu từ trái tim. Và một khi trái tim đã để cho Chúa Thánh Thần ngự vào, thì đôi mắt sẽ biết nhìn khác, đôi tai sẽ biết nghe khác, đôi tay sẽ biết làm khác, và lời nói tự nhiên cũng sẽ khác. Người có Thánh Thần không cần cố tỏ ra mình đạo đức. Chỉ cần đi đến đâu, người ấy làm cho nơi đó bớt lạnh. Nói với ai, người ấy làm cho người đó bớt đau. Gặp ai, người ấy làm cho người ấy cảm thấy mình vẫn có giá trị. Có mặt ở đâu, người ấy gieo một chút bình an. Đó có lẽ là bài giảng đẹp nhất, là thứ truyền thông mạnh nhất và cũng là thứ tiếng lạ đẹp nhất mà thế giới hôm nay đang chờ được nghe.
Lm. Anmai, CSsR
AI CŨNG CÓ MỘT BUỔI CHIỀU
Mỗi người chúng ta, dù đang ở độ tuổi nào, dù giữ vị trí nào trong xã hội, dù đang đứng ở nơi người ta gọi là thành công hay đang lặng lẽ đi qua một quãng đời chẳng mấy ai biết đến, đều có riêng cho mình một khoảng lặng mang tên “buổi chiều”. Buổi chiều không chỉ là vài giờ đồng hồ nằm giữa trưa và tối. Nếu chỉ hiểu như thế thì buổi chiều quá đơn giản. Buổi chiều của đời người là một trạng thái của tâm hồn, là lúc ánh sáng vẫn còn đó nhưng đã không còn gay gắt như buổi trưa, là lúc người ta chợt nhận ra ngày đang ngắn lại, bóng mình đang dài thêm, và những gì tưởng còn rất lâu bỗng nhiên đã ở phía sau lưng. Có những buổi chiều đẹp đến nao lòng, nắng rơi xuống mái nhà dịu dàng như một lời chúc phúc, gió lay những tán cây như bàn tay của một người mẹ đang vuốt nhẹ trên mái đầu đứa con mệt mỏi. Có những buổi chiều người ta ngồi bên tách trà, nghe tiếng chim trở về tổ, nhìn một làn khói mỏng bay lên từ căn bếp nhỏ mà thấy lòng mình bình yên đến lạ. Nhưng cũng có những buổi chiều dài đến mênh mang, cái chiều không đo bằng kim đồng hồ mà đo bằng nỗi nhớ, bằng sự cô đơn, bằng những câu chuyện đã cũ nhưng chẳng thể quên, bằng những người đã đi khỏi đời ta mà bóng dáng vẫn ngồi nguyên một chỗ trong trái tim. Có những buổi chiều người ta không còn muốn nói với ai điều gì nữa, chỉ muốn ngồi yên, bởi nói cũng chẳng biết bắt đầu từ đâu. Có những buổi chiều người ta bỗng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ căn nhà ngày xưa, nhớ tiếng gọi ngoài sân, nhớ một bữa cơm nghèo mà đủ mặt mọi người. Khi còn trẻ, ta cứ nghĩ những điều ấy bình thường lắm. Cha mẹ vẫn còn đó, anh chị em vẫn còn đó, bạn bè vẫn còn đó, sức khỏe vẫn còn đó, thời gian vẫn còn đó. Ta cứ tưởng đời mình là một buổi sáng dài bất tận. Ta tiêu xài thời gian như một người giàu có không bao giờ sợ hết tiền. Ta hẹn ngày mai sẽ về thăm mẹ. Ta nghĩ tuần sau sẽ gọi cho cha. Ta bảo khi nào rảnh sẽ ngồi lại với người bạn cũ. Ta nói lúc khác sẽ xin lỗi người mình đã làm tổn thương. Ta tự nhủ rồi sẽ có ngày mình cầu nguyện đàng hoàng hơn, sống tử tế hơn, bớt giận hơn, biết ơn hơn. Nhưng rồi một buổi chiều nào đó, ta chợt nhận ra có những ngày mai đã không đến, có những cánh cửa đã khép, có những cuộc điện thoại không còn ai bắt máy, có những lời xin lỗi đã trở thành muộn màng, và có những người ta từng nghĩ sẽ còn bên mình thật lâu nay chỉ còn là một tấm hình để ta ngồi nhìn trong lặng lẽ. Khi ấy ta mới hiểu rằng đời người thật sự có buổi chiều.
Buổi chiều của đời không nhất thiết bắt đầu khi tóc bạc, lưng còng hay bước chân chậm lại. Có người mới ba mươi tuổi đã bước vào một buổi chiều rất dài vì một biến cố bất ngờ. Có người bốn mươi tuổi đang ở đỉnh cao công việc nhưng trong lòng lại tối đến mức không còn biết mình đang sống để làm gì. Có người năm mươi tuổi vẫn còn cười nói, vẫn đi đây đi đó, vẫn hiện diện giữa đám đông nhưng sâu trong lòng lại là một cánh đồng vắng sau mùa gặt. Và có những người đã ngoài tám mươi mà tâm hồn vẫn như buổi sớm, vẫn biết vui với một đóa hoa, biết cười với một đứa trẻ, biết cảm ơn vì thêm một ngày Chúa ban. Thế nên buổi chiều không nằm trong tuổi tác mà nằm trong cảm nhận của con người trước sự hữu hạn của chính mình. Một ngày kia, chúng ta sẽ nhận ra sức mình không còn như trước. Những bậc thang ngày xưa bước hai bậc một giờ phải đi chậm từng bậc. Những con đường từng rong ruổi không biết mỏi nay đi một đoạn đã phải tìm chỗ ngồi. Những cuộc vui từng kéo dài đến khuya nay mới chập tối đã thấy mệt. Những tiếng ồn ào từng hấp dẫn ta nay chỉ làm ta muốn tìm về một góc yên tĩnh. Ta bắt đầu thích ngồi với những người hiểu mình hơn là chen vào những nơi đông người nhưng chẳng ai thật sự biết mình. Ta bắt đầu quý một cuộc trò chuyện chân thành hơn một bữa tiệc sang trọng. Ta bắt đầu nhận ra một người hỏi mình “hôm nay có khỏe không?” bằng cả tấm lòng quý hơn trăm lời tâng bốc. Và lạ lùng thay, càng về chiều, con người càng hiểu ra rằng những thứ mình từng chạy theo suốt bao năm phần lớn chỉ là bụi đường. Danh tiếng, tiền bạc, chỗ đứng, sự hơn thua, lời khen tiếng chê, những cuộc tranh cãi để chứng minh mình đúng, những lần giận dữ chỉ vì ai đó không làm theo ý mình, những đêm mất ngủ vì một câu nói của thiên hạ, tất cả rồi cũng nhạt dần dưới ánh hoàng hôn của đời người. Có người dành cả tuổi trẻ để xây cho mình một ngôi nhà thật lớn nhưng đến buổi chiều mới nhận ra điều mình cần nhất không phải căn nhà lớn mà là người ngồi ăn cơm cùng mình. Có người tích lũy rất nhiều nhưng cuối đời mới thấy thứ mình thiếu lại là một bàn tay để nắm. Có người cả đời lo giữ thể diện trước thiên hạ nhưng quên giữ trái tim cho gia đình. Có người bước qua quá nhiều người để tiến lên phía trước, đến lúc đứng rất cao mới nhận ra quanh mình chẳng còn ai. Có người thắng mọi cuộc tranh luận nhưng lại thua mất một người thân. Có người giữ được tiền nhưng mất tình nghĩa. Có người giữ được chức vụ nhưng đánh mất sự bình an. Và đến một ngày, khi bóng chiều kéo dài, ta mới thấy đời chẳng hỏi ta đã ngồi chiếc ghế nào lâu bao nhiêu, nhưng hỏi ta đã yêu được bao nhiêu người; chẳng hỏi ta được bao nhiêu người biết đến, nhưng hỏi trong những người biết ta có bao nhiêu người được bình an hơn vì đã gặp ta.
Có lẽ nỗi buồn sâu nhất của buổi chiều đời người không phải là tuổi già, cũng không hẳn là bệnh tật, mà là những chữ “giá như” xuất hiện quá nhiều. Giá như ngày ấy tôi bớt nóng giận một chút. Giá như tôi chịu nghe người ấy nói hết câu. Giá như tôi về thăm cha sớm hơn. Giá như tôi ngồi bên mẹ lâu hơn. Giá như tôi đừng lấy công việc làm lý do cho sự vô tâm. Giá như tôi đừng vì một chút tự ái mà cắt đứt một tình thân. Giá như tôi nói lời cảm ơn khi còn kịp. Giá như tôi nói lời xin lỗi trước khi quá muộn. Giá như tôi đã ôm con mình nhiều hơn khi nó còn nhỏ. Giá như tôi đã dành thời giờ cho gia đình thay vì suốt ngày chạy theo những cuộc hẹn mà hôm nay chẳng còn nhớ nổi là với ai. Giá như tôi đã cầu nguyện nhiều hơn. Giá như tôi đã sống chậm lại để nghe tiếng Chúa trong lòng mình. Chữ “giá như” là một trong những chữ buồn nhất của đời người, bởi nó nói về một cánh cửa từng mở nhưng nay đã đóng. Nó nói về một cơ hội từng ở trong tay nhưng ta đã để rơi. Nó nói về những phút giây bình thường mà khi còn có chúng ta chẳng biết đó là hồng ân. Có những người chỉ khi mẹ mất mới hiểu tiếng mẹ gọi ăn cơm là một thứ âm thanh không gì thay thế được. Có người chỉ khi cha nằm xuống mới nhận ra những lời cha nhắc ngày xưa không phải khó tính mà là yêu thương. Có người chỉ sau khi một cuộc hôn nhân đổ vỡ mới hiểu rằng có những lúc chỉ cần nhường nhau một câu thì căn nhà đã không lạnh đến thế. Có người chỉ khi con cái đi xa mới thấy những bữa cơm đông đủ ngày xưa quý giá nhường nào. Có người chỉ khi sức khỏe mất đi mới hiểu một sáng thức dậy không đau ở đâu là một gia tài. Có người chỉ khi không còn bước được mới nhớ những ngày mình từng đi lại tự do mà chẳng một lần tạ ơn. Con người chúng ta kỳ lạ lắm. Cái đang có thì coi thường, cái mất rồi mới thấy quý. Người còn bên cạnh thì đôi khi lạnh nhạt, người đã đi xa lại thương nhớ khôn nguôi. Chúng ta sẵn sàng lịch sự với người ngoài nhưng lại dễ cau có với người nhà; có thể kiên nhẫn nghe một người xa lạ nhưng lại thiếu kiên nhẫn với cha mẹ đã già; có thể bỏ hàng giờ nhìn một chiếc màn hình nhưng bảo ngồi mười phút bên người thân thì thấy không có thời gian. Rồi một buổi chiều, đời sẽ buộc ta ngồi xuống và nhìn lại tất cả. Khi ấy, những thành tích có thể vẫn còn trên giấy, những bằng cấp vẫn treo trên tường, những danh thiếp vẫn nằm trong ngăn kéo, nhưng điều làm mắt ta cay lại chỉ là một khuôn mặt thân quen, một giọng nói cũ, một bữa cơm xưa, một bàn tay đã từng nắm tay mình.
Nhưng buổi chiều không chỉ để tiếc nuối. Nếu chỉ nhìn buổi chiều như lúc ánh sáng tắt dần thì buồn quá. Với người có đức tin, buổi chiều còn là giờ của trở về. Chính vào buổi chiều, người con hoang đàng của đời ta có thể thôi chạy, thôi chống chọi, thôi cố chứng minh với thiên hạ rằng mình mạnh mẽ, để quay về với căn nhà của Cha. Có những điều buổi sáng ta không hiểu, buổi trưa ta không muốn hiểu, nhưng đến buổi chiều lại hiểu rất sâu. Ta hiểu rằng Thiên Chúa đã kiên nhẫn với mình biết bao. Ta đi vòng vèo bao nhiêu năm, Người vẫn ở đó. Ta quên Người, Người không quên ta. Ta giận Người vì những điều không theo ý mình, nhưng Người vẫn âm thầm dẫn ta qua những con đường mà về sau nhìn lại ta mới thấy nếu ngày ấy Chúa cho đúng điều mình xin có khi đời mình đã khác theo một cách chẳng tốt đẹp gì. Có những cánh cửa đóng lại từng làm ta khóc, nhưng nhiều năm sau ta mới hiểu đó là một ơn cứu độ. Có những người rời đi khiến ta tưởng đời mình sụp đổ, nhưng nhờ sự ra đi ấy ta học được cách đứng một mình, học được sự phân định, học được không đặt một con người nào vào chỗ chỉ thuộc về Thiên Chúa. Có những thất bại từng làm ta xấu hổ, nhưng chính thất bại ấy đập vỡ cái tôi mà thành công đã âm thầm nuôi lớn. Có những căn bệnh buộc ta nằm xuống để lần đầu tiên sau nhiều năm biết ngước lên. Có những thời gian cô độc khiến ta tưởng bị bỏ rơi, nhưng chính trong cô độc ấy ta lại nghe rõ hơn một Đấng đã ở với mình từ đầu mà vì cuộc đời quá ồn ta chẳng nhận ra. Thiên Chúa có một cách rất lạ để dùng những buổi chiều của đời ta. Người không nhất thiết làm cho mặt trời quay ngược trở lại buổi sáng. Người không trả lại tuổi trẻ đã qua, không xóa hết những nếp nhăn, không đưa mọi người đã mất trở về. Nhưng Người có thể làm cho buổi chiều ấy trở nên thánh. Người có thể đặt bình an vào nơi tưởng chỉ còn tiếc nuối. Người có thể biến nước mắt thành lời cầu nguyện. Người có thể làm cho một con người tưởng đời mình đã muộn nhận ra rằng trong tình yêu của Chúa không bao giờ có chữ quá muộn để bắt đầu lại. Người trộm lành chỉ cần vài phút cuối đời để nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” và ông đã nghe một lời hứa làm thay đổi cả cõi đời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Một đời sai lạc có thể gặp được lòng thương xót trong một khoảnh khắc thật lòng quay về. Một trái tim đã chai cứng nhiều năm vẫn có thể mềm lại trong một buổi chiều. Một người đã xa Chúa rất lâu vẫn có thể trở về trong một tiếng thở dài. Thiên Chúa không hỏi ta đã đi lạc bao xa; Người chỉ mong ta quay mặt về phía Người.
Và có lẽ vì thế, càng đi qua nhiều năm tháng, tôi càng thấy người ta không cần sống quá ồn. Khi còn trẻ, ta thích giải thích mình với thiên hạ. Bị hiểu lầm là khó chịu. Bị nói sai về mình là muốn thanh minh. Bị chê là đau. Bị quên là buồn. Bị người khác hơn mình là thấy lòng không yên. Nhưng rồi đời dạy ta một điều rất đơn giản: chẳng ai có đủ thời gian để giải thích mình cho tất cả mọi người, và cũng chẳng cần. Người thương ta sẽ hiểu dù ta không nói hết. Người không muốn hiểu thì ta nói bao nhiêu cũng vậy. Có những chuyện cứ để thời gian trả lời. Có những oan ức cứ để Chúa biết là đủ. Có những cuộc tranh luận thắng rồi mà lòng chẳng vui thì thắng để làm gì. Có những người mình phải buông không phải vì ghét họ mà vì giữ họ mãi chỉ làm trái tim cả hai thêm mỏi mệt. Buổi chiều dạy con người biết bớt. Bớt nói một câu làm người khác đau. Bớt hơn thua một chuyện chẳng đáng. Bớt phán xét khi chưa biết nước mắt phía sau nụ cười của người ta. Bớt đòi hỏi người khác phải sống theo kỳ vọng của mình. Bớt tiếc những thứ vốn không thuộc về mình. Bớt mang chuyện cũ ra làm vũ khí trong chuyện mới. Bớt để lòng mình bị điều khiển bởi những người thậm chí không yêu thương mình. Và khi bớt được những điều ấy, ta lại có chỗ cho những điều đáng giữ hơn: thêm một chút bao dung, thêm một lời hỏi han, thêm một phút cầu nguyện, thêm một bữa cơm chung, thêm một lần nói “cảm ơn”, thêm một lần nói “tôi thương bạn”, thêm một lần chủ động hòa giải, thêm một lần gọi điện cho người thân chỉ để hỏi nhau hôm nay thế nào. Con người không già đi chỉ vì thêm tuổi. Con người thật sự già khi trái tim không còn khả năng rung động trước một điều tử tế, khi không còn muốn tha thứ, không còn biết ngạc nhiên trước vẻ đẹp của một buổi sáng, không còn biết cảm ơn một chén cơm, một ly nước, một người đang ở bên mình. Có người tóc bạc nhưng lòng rất trẻ vì vẫn biết yêu. Có người tuổi còn trẻ mà tâm hồn đã cằn vì chỉ biết mình.
Buổi chiều cũng là lúc ta học cách làm hòa với chính mình. Đây có lẽ là cuộc hòa giải khó nhất. Có những người tha thứ được cho cả thế gian nhưng không tha thứ nổi cho bản thân. Họ mang một lỗi lầm cũ đi suốt đời như vác theo một tảng đá. Họ cứ tự kết án mình về những điều đã qua. Họ nghĩ nếu ngày ấy mình khác đi thì mọi chuyện đã khác. Nhưng đời không cho ta quay lại để sửa quá khứ. Điều duy nhất ta có thể làm là để quá khứ dạy mình sống tốt hơn hôm nay. Một vết sẹo không có nghĩa vết thương vẫn còn chảy máu. Nó chỉ nói rằng nơi ấy từng đau và đã lành. Người trưởng thành không phải là người chưa từng sai, mà là người dám nhìn vào cái sai của mình, nhận trách nhiệm, xin lỗi khi cần, sửa đổi điều có thể và rồi tiếp tục bước đi. Đừng dùng sự khiêm nhường giả tạo để tự hành hạ mình mãi. Nếu Chúa đã tha, tại sao ta lại nghĩ mình có quyền không tha cho chính mình? Nếu Chúa vẫn cho ta một ngày mới, nghĩa là Người vẫn còn điều muốn ta thực hiện. Nếu sáng nay ta còn thức dậy, có nghĩa là cuộc đời chưa viết xong câu cuối. Có thể ta không còn đủ sức làm những chuyện lớn, nhưng vẫn còn có thể làm một điều nhỏ bằng một tình yêu lớn. Một người già ngồi trong phòng có thể không đi truyền giáo ở đâu, nhưng lời cầu nguyện của họ có thể âm thầm nâng đỡ bao người. Một người bệnh không còn làm được nhiều việc có thể biến nỗi đau thành của lễ. Một người từng vấp ngã có thể dùng chính kinh nghiệm ấy để hiểu và nâng dậy một người đang vấp ngã. Có khi những năm cuối đời lại là những năm đẹp nhất nếu con người biết sống chúng trong bình an. Đẹp không phải vì không còn đau, mà vì trong đau đã bớt chống cự. Đẹp không phải vì không còn mất mát, mà vì sau mất mát đã biết điều gì không bao giờ mất. Đẹp không phải vì có thêm nhiều thứ, mà vì bắt đầu biết thế nào là đủ.
Tôi nghĩ một trong những ơn lớn nhất của buổi chiều là nó giúp người ta nhìn cái chết một cách bình thản hơn. Khi còn trẻ, người ta thường tránh nói về cái chết như tránh một điều xui xẻo. Nhưng thật ra cái chết không phải chuyện dành cho người già. Nó là sự thật của mọi đời người. Chỉ vì không biết ngày nào nên ta mới tưởng còn lâu. Chúng ta có thể chuẩn bị rất kỹ cho một chuyến du lịch vài ngày, chuẩn bị tiền bạc, quần áo, giấy tờ, lịch trình, nhưng lại ít khi chuẩn bị cho chuyến đi chắc chắn nhất đời mình. Bao nhiêu năm sống đạo, ta nghe nói về quê trời, về đời sau, về sự sống vĩnh cửu, nhưng có lúc ta vẫn bám vào trần gian như thể đây là quê cuối cùng. Thực ra, người tin Chúa không yêu cái chết; người tin Chúa yêu sự sống. Chính vì yêu sự sống nên họ không tuyệt đối hóa phần đời chóng qua này. Họ biết mọi cái ôm rồi có lúc phải buông, mọi cuộc gặp rồi có lúc phải chia tay, mọi mái nhà rồi có lúc phải rời khỏi. Nhưng nếu cuộc đời chỉ dừng ở nấm mồ thì Tin Mừng đâu còn là Tin Mừng. Đức Kitô đã đi qua cái chết để mở cho chúng ta một con đường. Vì thế, buổi chiều của đời Kitô hữu không phải buổi chiều chìm vào đêm tối vô nghĩa. Nó giống một buổi chiều trước ngày trở về. Như người lữ khách sau một hành trình dài nhìn thấy ánh đèn nhà mình từ xa. Mệt nhưng vui. Chậm nhưng lòng nóng lên. Có lẽ khi ấy ta sẽ không tiếc vì mình không kiếm được thêm bao nhiêu tiền, không buồn vì người ta không còn nhắc tên mình, không tiếc một chiếc ghế mình từng ngồi. Điều ta sẽ tự hỏi chỉ là: tôi đã yêu đủ chưa? Tôi đã tha thứ chưa? Tôi đã làm hòa chưa? Tôi đã cảm ơn những người cần cảm ơn chưa? Tôi đã xin lỗi người cần xin lỗi chưa? Tôi đã để Chúa bước vào những căn phòng khóa kín trong lòng chưa? Tôi đã sẵn sàng chưa?
Thế nên nếu hôm nay ai đó đang sống trong một “buổi chiều” rất dài, xin đừng vội nghĩ đời mình đã hết. Có thể mặt trời đang xuống, nhưng ánh chiều vẫn đẹp theo cách riêng của nó. Hoa buổi sớm có vẻ đẹp của buổi sớm; hoàng hôn có vẻ đẹp của hoàng hôn. Không cần quay lại thành người của hai mươi năm trước. Cũng đừng tốn những năm còn lại để thương tiếc những năm đã mất. Hãy sống phần đời đang có. Nếu cha mẹ còn sống, hãy về với cha mẹ khi còn có thể. Nếu người thân đang ở cạnh, hãy bớt nhìn vào màn hình để nhìn vào mắt nhau. Nếu có người cần được tha thứ, hãy tha thứ trước khi lòng mình quá mỏi. Nếu có lời xin lỗi phải nói, nói đi. Nếu có lời cảm ơn đã để lâu, nói đi. Nếu có một người đã lâu chưa gọi, hãy gọi. Nếu có một bàn thờ trong nhà đã lâu chỉ phủ bụi, hãy thắp lại một ngọn đèn. Nếu đã lâu không quỳ xuống, hãy quỳ xuống. Không cần nói lời gì đẹp. Chúa hiểu cả tiếng thở dài. Chỉ cần nói: “Lạy Chúa, con đây.” Có khi cả một đời người trở lại từ ba chữ đơn sơ ấy.
Rồi một ngày, buổi chiều cuối cùng của mỗi chúng ta cũng sẽ đến. Không ai biết hôm ấy bầu trời ngoài cửa sổ màu gì, có nắng hay mưa, có ai ngồi bên giường hay ta ra đi trong thinh lặng. Nhưng tôi mong khi ngày đó đến, lòng mình không còn quá nhiều điều phải nuối tiếc. Mong rằng ta có thể nhìn lại và nói: đời tôi không hoàn hảo, tôi đã sai nhiều, đã vấp nhiều, đã có lúc làm người khác đau, đã có lúc khiến Chúa buồn, nhưng tôi đã cố gắng yêu. Tôi đã biết quay về. Tôi đã học tha thứ. Tôi đã biết cúi đầu. Tôi đã biết cảm ơn. Tôi đã nhận ra rằng tất cả chỉ là ân huệ. Và quan trọng hơn hết, tôi biết ở cuối con đường không phải một khoảng không lạnh lẽo đang chờ tôi, nhưng là vòng tay của một Người Cha. Khi ấy, cái chết sẽ không còn là kẻ cướp đi tất cả, mà chỉ là cánh cửa mở sang một căn nhà khác. Căn nhà nơi không còn một buổi chiều nào phải cô đơn, không còn một tiếng thở dài nào phải giấu, không còn một cuộc chia ly nào nữa.
Chiều nay, nếu có dịp ngồi yên một chút, hãy thử nhìn nắng xuống. Đừng vội cầm điện thoại. Đừng vội tìm chuyện gì để lấp đầy khoảng lặng. Cứ ngồi đó thôi. Nhìn một chiếc lá lay, nghe một tiếng chim, nhìn bóng nắng đi chậm trên nền nhà. Rồi hỏi lòng mình: nếu đời tôi cũng đang đi vào một buổi chiều, tôi muốn sống phần chiều còn lại thế nào? Tôi còn giận ai không? Tôi còn mắc nợ ai một lời xin lỗi không? Tôi còn quên cảm ơn ai không? Tôi còn đang cố giữ một điều mà đáng lẽ phải buông không? Tôi có đang sống quá vội để rồi một ngày phải tiếc không? Và nhất là, trong những năm tháng đã qua, tôi đã để Chúa đứng ngoài cửa lòng mình bao lâu rồi? Có thể câu trả lời sẽ làm ta im lặng. Nhưng không sao. Có những im lặng là khởi đầu của chữa lành.
Buổi chiều nào rồi cũng hết. Một ngày nào rồi cũng qua. Một đời người nào rồi cũng đến lúc phải khép lại. Nhưng điều đáng sợ không phải là ngày tắt nắng. Điều đáng sợ là khi nắng còn mà ta không biết quý; người còn mà ta không biết thương; sức khỏe còn mà ta không biết sống; cơ hội còn mà ta không biết làm hòa; Chúa còn kiên nhẫn gọi mà ta cứ mãi trì hoãn. Xin đừng chờ đến buổi chiều cuối mới học cách yêu buổi sáng. Xin đừng chờ một bàn tay lạnh rồi mới muốn nắm. Xin đừng chờ một căn phòng trống rồi mới nhớ tiếng cười. Xin đừng chờ người ta nằm xuống mới nói những lời đẹp mà khi sống họ chưa từng được nghe. Hoa trên mộ dù đẹp đến đâu cũng không bằng một đóa hoa trao khi người ấy còn có thể mỉm cười. Một tràng chuỗi đọc bên quan tài rất quý, nhưng một lời cầu nguyện cùng nhau khi còn sống còn quý biết bao. Một lời điếu văn hay không thể thay cho một câu “con thương mẹ”, “con thương cha”, “anh thương em”, “tôi cảm ơn bạn” đã không kịp nói lúc người ta còn nghe được.
Vậy thì hãy sống sao cho mỗi buổi chiều không phải là giờ đếm những mất mát, mà là giờ tạ ơn vì những gì vẫn còn. Còn nhìn thấy nhau, tạ ơn. Còn gọi được tên nhau, tạ ơn. Còn ngồi ăn cùng một bàn, tạ ơn. Còn có thể bước đến nhà thờ, tạ ơn. Còn có thể làm dấu Thánh Giá, tạ ơn. Còn biết lòng mình đau vì đã làm người khác buồn, cũng tạ ơn, vì trái tim ấy chưa chai đá. Còn muốn trở về, tạ ơn, bởi Chúa chưa bao giờ đóng cửa. Và khi một ngày nào đó tất cả những điều “còn” của trần gian này trở thành “đã từng”, xin cho ta vẫn còn điều duy nhất không ai lấy được: một đời đã đặt vào tay Chúa.
Có lẽ hạnh phúc sau cùng của con người không phải là kéo dài buổi sáng mãi mãi, mà là biết đón nhận cả buổi chiều trong bình an. Không chống lại thời gian. Không cay đắng với tuổi tác. Không tuyệt vọng vì những gì đã qua. Không hoảng sợ vì những gì đang đến. Chỉ lặng lẽ trao mình vào tay Đấng đã cho ta buổi sáng, đã đi với ta giữa buổi trưa, và sẽ đứng chờ ta nơi cuối buổi chiều. Khi ấy, ta hiểu rằng đời mình từ đầu đến cuối chưa từng là một cuộc đi một mình. Có một Người đã bước cùng ta qua tất cả những con đường, cả khi ta biết lẫn khi ta không biết; cả khi ta trung thành lẫn lúc ta lạc xa; cả khi ta vui lẫn khi ta khóc. Và rồi ở cuối buổi chiều ấy, Người sẽ nói với ta điều mà cả đời ta vẫn mong được nghe: về nhà thôi con, trời đã tối rồi.
Lm. Anmai, CSsR
KHI HOÀNG HÔN CHẠM VÀO NỖI CÔ ĐƠN CỦA KIẾP NGƯỜI
Có những buổi chiều người ta chỉ thấy mặt trời lặn, nhưng cũng có những buổi chiều người ta nhìn thấy cả một đời mình đang chậm rãi đi về phía bóng tối. Khi hoàng hôn buông xuống, vạn vật bắt đầu chìm vào một thứ ánh sáng nhạt dần, tiếng ồn ào của phố thị xô bồ ban ngày cũng từ từ lắng xuống, những con đường vẫn còn người qua lại, những ngọn đèn bắt đầu sáng, những căn nhà dần khép cửa, nhưng lạ thay, chính trong giờ phút ấy, lòng người lại dễ mở ra những khoảng trống mà ban ngày ta đã cố tình che lấp bằng công việc, bằng những cuộc trò chuyện, bằng những tiếng cười, bằng điện thoại, bằng mạng xã hội, bằng những bận rộn không tên. Ban ngày người ta còn có thể chạy, còn có thể né tránh, còn có thể tự ru mình rằng mình đang rất cần thiết cho ai đó, rằng mình đang có rất nhiều người chung quanh, rằng mình có nhiều mối quan hệ, nhiều cuộc gọi, nhiều tin nhắn, nhiều người biết đến mình; nhưng khi chiều xuống, nhất là khi một ngày gần tàn và căn phòng chỉ còn lại tiếng quạt quay đều, tiếng kim đồng hồ nhích từng nhịp, tiếng xe ngoài đường thưa dần, khi đó người ta mới thật sự đối diện với một câu hỏi rất cũ mà cũng rất đau: rốt cuộc, ai là người thực sự ở lại với mình? Có khi giữa cuộc đời đông đúc, người ta bỗng nhận ra cái cảm giác “không người quen, không tiếng vỗ về” mới là cảm giác thật nhất của lòng mình. Không phải không có người quen theo nghĩa thông thường. Danh bạ điện thoại có thể dài hàng trăm cái tên. Danh sách bạn bè trên mạng xã hội có thể lên đến hàng ngàn người. Mỗi ngày vẫn có người bấm thích, có người để lại một biểu tượng trái tim, có người gửi một lời chúc, một câu hỏi thăm. Nhưng giữa những liên hệ tưởng như dày đặc ấy, có khi chẳng mấy người biết ta đang thật sự mệt. Chẳng mấy người nghe được tiếng thở dài sau một câu trả lời “tôi ổn”. Chẳng mấy người nhận ra đằng sau một bức ảnh cười tươi là một đêm dài không ngủ. Chẳng mấy người có đủ kiên nhẫn ngồi xuống bên ta mà không vội khuyên nhủ, không vội phán xét, không vội hỏi cho xong chuyện, chỉ đơn giản là ở đó, hiện diện và để cho ta được yếu đuối. Có lẽ bi kịch lớn của con người hôm nay không hẳn là thiếu phương tiện để kết nối, mà là có quá nhiều phương tiện để liên lạc nhưng lại quá ít cuộc gặp gỡ thật sự. Chúng ta biết nhau nhiều hơn, nhưng hiểu nhau ít hơn. Chúng ta nhìn thấy nhau thường xuyên hơn qua màn hình, nhưng lại chạm được vào lòng nhau ít hơn. Chúng ta biết hôm nay người kia ăn gì, đi đâu, chụp hình với ai, nhưng không biết đêm qua họ đã khóc bao lâu. Chúng ta biết ai đó vừa đi du lịch, vừa mua nhà, vừa nhận bằng, vừa được khen thưởng, nhưng không biết trong chính thành công ấy họ có đang cảm thấy rỗng không. Thế giới càng đông, nỗi cô đơn có khi càng sâu. Và hoàng hôn, bằng một cách rất lặng lẽ, thường kéo tấm màn che ấy xuống để con người nhìn thẳng vào sự trống vắng của mình.
“Bóng đêm giăng giăng khắp trời” vì thế không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên. Có một thứ bóng đêm còn dày hơn màn đêm ngoài cửa sổ, đó là bóng đêm của lòng người không còn biết ngày mai mình sẽ đi đâu, không biết những điều mình đang cố gắng có còn ý nghĩa gì, không biết những hy sinh âm thầm của mình có ai hiểu, không biết những người mình thương có còn cần mình, không biết cái tuổi đang chồng lên trên vai sẽ dẫn mình về đâu. Bóng đêm của sự vô định đáng sợ bởi nó không ập xuống một lần rồi thôi. Nó thấm từ từ. Nó đi vào trong những khoảng im lặng. Nó làm người ta bỗng thấy một căn nhà rộng trở nên lạnh. Một chiếc giường quen bỗng trở nên dài. Một chiếc ghế bên cạnh bỗng trở nên trống trải. Có những người sợ nhất không phải là nghèo, cũng không phải là bệnh, mà là một ngày nào đó thức dậy và nhận ra mình chẳng còn là điều quan trọng đối với ai. Có những người cha đã dành cả đời cho con cái, đến lúc tuổi già lại ngồi đợi một cuộc điện thoại. Có những người mẹ đã nuôi con bằng tất cả những tháng năm thanh xuân, cuối đời chỉ mong một bữa cơm đủ mặt cũng thành điều khó. Có những người chồng, người vợ sống chung dưới một mái nhà nhưng tâm hồn đã xa nhau đến mức một người đau mà người kia không biết, một người khóc mà người kia cũng không còn hỏi. Có những tu sĩ ở giữa cộng đoàn vẫn cô đơn. Có những linh mục mỗi ngày gặp rất nhiều giáo dân, đứng trước cộng đoàn, giảng dạy, cười nói, lo toan đủ việc, nhưng đêm về vẫn có những khoảng lặng chẳng biết tâm sự cùng ai. Có những người trẻ cả ngày nói cười rôm rả với bạn bè, tối về ôm điện thoại đến khuya chỉ vì sợ đặt nó xuống thì sẽ phải đối diện với chính mình. Có những người già cố tình mở tivi thật lớn, không hẳn vì muốn xem, mà vì sợ sự im lặng của căn nhà. Đằng sau rất nhiều tiếng động của đời sống hiện đại là một nỗi sợ im lặng; bởi khi im lặng, những câu hỏi không thể trốn tránh sẽ trở về.
Người ta thường nghĩ cô đơn là không có ai bên cạnh. Thực ra, có một nỗi cô đơn còn đau hơn: có người bên cạnh nhưng không ai đi vào được lòng mình. Có thể ngồi chung một bàn, ngủ chung một mái nhà, làm chung một cơ quan, cầu nguyện chung một nhà thờ, sống chung một cộng đoàn, nhưng vẫn có thể xa nhau nghìn trùng. Khoảng cách đáng sợ nhất không đo bằng cây số, mà đo bằng sự không còn hiểu nhau. Một lời đáng lẽ cần được nói thì giữ lại. Một lời xin lỗi đáng lẽ cần nói từ lâu thì vì tự ái mà không nói. Một cái ôm đáng lẽ có thể chữa lành thì lại thấy ngượng ngùng. Một câu “tôi cần bạn” đáng lẽ có thể kéo hai tâm hồn lại gần thì bị chặn bởi sĩ diện. Thế rồi mỗi người lùi vào thế giới riêng. Một người chờ. Người kia cũng chờ. Một người muốn được hiểu. Người kia cũng muốn được hiểu. Nhưng chẳng ai bước trước. Năm tháng đi qua, sự im lặng trở thành bức tường. Đến một ngày, hai người ngồi bên nhau mà chẳng biết nói gì. Đó là một thứ hoàng hôn rất buồn trong các mối tương quan của con người.
Có những chiều người ta xót xa cho chính kiếp sống lẻ loi của mình. Xót xa không phải vì mình không có gì, mà có khi vì mình đã có rất nhiều nhưng vẫn không có được điều mình cần nhất. Có người có tiền nhưng không có ai để tin. Có người có địa vị nhưng không có ai để dựa. Có người nổi tiếng nhưng không có một nơi được phép yếu đuối. Có người cả đời lo cho người khác, đến lúc mệt lại không biết gọi ai. Đó là lúc câu hỏi bật lên thật đau: giữa hơn tám tỷ người trên trái đất này, tại sao tôi lại thấy mình như một hòn đảo cô độc giữa đại dương mênh mông? Câu hỏi ấy không hề vô lý. Nó là một trong những câu hỏi sâu nhất về phận người. Bởi con người sinh ra vốn không phải để sống một mình. Từ trong bản chất, con người là một hữu thể của tương quan. Ta cần được nhìn thấy, cần được gọi tên, cần được chấp nhận, cần được yêu thương không phải vì thành tích, không phải vì hữu dụng, không phải vì ta đem lợi ích gì cho người khác, nhưng chỉ vì ta là ta. Thế nhưng cuộc đời nhiều khi lại dạy người ta một bài học rất lạnh: khi ta còn hữu dụng, người ta tìm đến; khi ta có vị trí, người ta vây quanh; khi ta có điều gì để cho, người ta nhớ đến; nhưng khi ta yếu đi, khi tiếng nói không còn trọng lượng, khi bàn tay không còn làm được nhiều việc, khi đời sống đi về phía bên kia của dốc tuổi, những vòng tròn quanh ta cũng có thể thưa dần. Chính khi ấy, ta mới phân biệt được người quen và người thương, người đi cùng và người ở lại, người đến vì ta có gì và người ở lại vì ta là ai.
Nhưng nếu chỉ nhìn cô đơn bằng đôi mắt buồn bã, ta sẽ dễ rơi vào tuyệt vọng. Có một điều phải nói thật: cô đơn không chỉ là một vết thương; đôi khi nó còn là một lời mời. Có những chân lý về đời mình chỉ có thể nghe được khi những tiếng ồn đã tắt. Có những gương mặt chỉ có thể nhớ rõ khi ta ngồi một mình. Có những sai lầm chỉ có thể nhìn ra khi không còn ai để đổ lỗi. Có những ân huệ chỉ có thể nhận biết khi ta thôi chạy theo những điều khác. Và có một Đấng rất thường bị quên trong những giờ đông vui, nhưng lại trở nên gần lạ thường khi mọi thứ chung quanh bắt đầu lùi xa. Đó là Thiên Chúa. Đời người có thể đi qua rất nhiều cuộc gặp gỡ, rất nhiều cái bắt tay, rất nhiều đám đông, nhưng cuối cùng vẫn có những đoạn đường ta phải đi một mình. Không ai có thể đau thay ta. Không ai có thể già thay ta. Không ai có thể chết thay ta. Không ai có thể đứng trước mặt Thiên Chúa thay ta. Đến tận cùng, cuộc đời mỗi người vẫn có một chiều sâu riêng tư mà chỉ Thiên Chúa mới bước vào được. Có những góc tối trong tâm hồn ta ngay cả người thân nhất cũng không biết. Có những tiếng khóc ta không thể kể thành lời. Có những vết thương ta không muốn cho ai chạm tới. Có những câu hỏi mà chính ta cũng không biết diễn tả thế nào. Nhưng Thiên Chúa biết. Ngài biết không phải kiểu của một người đứng ngoài quan sát, mà là biết từ bên trong. Ngài biết ta được nắn nên thế nào. Ngài biết những năm tháng ta đã đi qua. Ngài biết những điều ta chịu đựng mà không ai thấy. Ngài biết những lần ta muốn bỏ cuộc nhưng vẫn cố đứng dậy. Ngài biết cả những tội lỗi ta xấu hổ, những yếu đuối ta che giấu, những thất bại ta không muốn nhắc đến. Và điều lạ lùng là sau khi biết tất cả những điều ấy, Ngài vẫn không bỏ ta.
Có lẽ trong đời, điều làm người ta đau nhất không phải là một mình, mà là tưởng rằng mình bị bỏ rơi. Chúa Giêsu cũng đã đi qua kinh nghiệm ấy. Trên thập giá, Người đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đó không phải là lời của một Thiên Chúa xa lạ với nỗi cô đơn của con người. Đó là tiếng kêu của Đấng đã đi vào tận cùng bóng tối của phận người. Người đã từng bị bạn hữu bỏ chạy. Người đã từng bị phản bội bằng một nụ hôn. Người đã từng bị chối bỏ bởi chính người môn đệ đã thề sẽ không bao giờ bỏ Người. Người đã từng đứng giữa đám đông mà không ai thực sự hiểu điều Người đang mang trong lòng. Người đã từng cầu nguyện một mình trong Vườn Dầu, trong lúc những người thân tín nhất ngủ say. Người đã từng bước lên đồi Canvê giữa tiếng la ó, và trong giờ cuối cùng, cái chết của Người mang dáng dấp của một con người bị bỏ mặc giữa đất và trời. Chính vì đã đi qua vực thẳm ấy, Đức Kitô không đứng ngoài nỗi cô đơn của chúng ta. Khi ta ngồi trong một căn phòng và nghĩ rằng chẳng ai hiểu mình, Người hiểu. Khi ta mất một người thân và cảm thấy cả căn nhà trống rỗng, Người hiểu. Khi ta bị người mình yêu quay lưng, Người hiểu. Khi ta thất bại, bị hiểu lầm, bị loại trừ, bị lãng quên, Người hiểu. Khi tuổi già kéo đến và những người từng đi bên ta lần lượt ra đi, Người hiểu. Và có lẽ đức tin không hứa rằng người tin Chúa sẽ không bao giờ cô đơn. Đức tin chỉ nói một điều sâu xa hơn: trong nỗi cô đơn, ta không bao giờ hoàn toàn một mình.
Có những lúc trong đời, ta phải tập nhận ra sự hiện diện của Chúa không bằng cảm xúc, mà bằng lòng tin. Có những buổi cầu nguyện rất sốt sắng, nhưng cũng có những buổi ta ngồi trước Nhà Tạm mà lòng khô như đất nẻ. Có những lúc đọc Lời Chúa thấy ấm áp, nhưng cũng có những lúc từng dòng chữ trôi qua mà không chạm được gì. Có những ngày ta cảm thấy Chúa thật gần, nhưng cũng có những đêm ta gọi mãi mà chỉ nghe sự im lặng. Chính trong những lúc ấy, đức tin trưởng thành. Tin không phải vì đang cảm thấy. Tin là ngay cả khi không cảm thấy vẫn biết rằng Người ở đó. Người ở đó như mặt trời vẫn tồn tại sau lớp mây dày. Người ở đó như nền đất vẫn đỡ lấy bước chân dù ta ít khi nghĩ tới. Người ở đó như hơi thở âm thầm đi cùng ta từng giây phút. Ta có thể không nhận ra, nhưng Ngài chưa từng rời đi.
Hoàng hôn còn gợi cho người ta nghĩ đến tuổi đời. Có một buổi chiều của ngày, và cũng có một buổi chiều của kiếp người. Khi còn trẻ, ta thường nghĩ con đường phía trước rất dài. Ta tiêu thời gian dễ dàng như người giàu tiêu những đồng tiền nhỏ. Ta hẹn ngày mai sẽ thăm cha mẹ. Ngày mai sẽ gọi cho một người bạn. Ngày mai sẽ làm hòa. Ngày mai sẽ cầu nguyện nhiều hơn. Ngày mai sẽ sống tử tế hơn. Nhưng đời người đi nhanh hơn ta tưởng. Mới hôm nào tóc còn xanh, một ngày soi gương đã thấy những sợi bạc. Mới hôm nào con còn nhỏ trong vòng tay, một ngày chúng đã có mái nhà riêng. Mới hôm nào cha mẹ còn khỏe, một ngày ta phải dìu các ngài bước từng bước. Mới hôm nào bạn bè còn đông, rồi dần dần mỗi năm lại nghe thêm một tin buồn. Buổi chiều của đời người đến không báo trước. Và khi bóng chiều dài ra, ta bỗng nhận ra điều đáng tiếc nhất không phải là mình đã không kiếm đủ nhiều tiền, không có đủ chức vụ, không được đủ nổi tiếng; điều đáng tiếc nhất thường là những yêu thương đã không kịp trao, những lời tử tế đã không kịp nói, những cuộc gặp đã cứ hẹn rồi để đó, những người đáng lẽ phải được trân trọng thì ta lại xem là đương nhiên.
Có người mất nửa đời để xây một căn nhà thật lớn, đến lúc về già mới nhận ra căn nhà rộng không làm cho lòng bớt trống. Có người dành cả đời tìm kiếm sự công nhận, đến lúc có được rồi mới biết lời khen của người đời chóng phai. Có người tranh hơn thua từng chút, đến cuối cùng mới thấy những điều từng làm mình tức tối thật ra chẳng đáng gì. Có người giữ một mối hận suốt nhiều năm, đến ngày người kia qua đời mới hiểu rằng mình đã đánh mất cơ hội nói một lời tha thứ. Cái đau của buổi chiều đời người không chỉ là tuổi già, mà là sự sáng ra quá muộn. Muộn mới hiểu cha mẹ đã thương ta thế nào. Muộn mới biết người bạn đời đã nhường nhịn mình bao nhiêu. Muộn mới hiểu sức khỏe quý hơn rất nhiều thứ ta từng lao theo. Muộn mới nhận ra những bữa cơm gia đình mới là tài sản. Muộn mới biết bình an quý hơn thắng thua. Muộn mới hiểu được yêu thương quan trọng hơn đúng sai. Vì thế, hoàng hôn không phải chỉ để buồn. Hoàng hôn còn nhắc người ta rằng ngày sắp hết, hãy làm điều cần làm khi ánh sáng vẫn còn.
Nếu hôm nay còn cha mẹ, xin hãy gọi. Nếu còn người mình thương, xin hãy trân trọng. Nếu đang giận ai đó và vẫn còn khả năng làm hòa, xin đừng để lòng kiêu hãnh kéo dài một mùa đông không đáng có. Nếu biết mình đã sai, hãy tập nói lời xin lỗi. Nếu đã mang ơn ai, hãy nói lời cảm ơn khi họ còn nghe được. Nếu có ai đang cô đơn, hãy đến với họ khi vẫn còn kịp. Một cuộc điện thoại đôi khi cứu được một buổi tối. Một câu hỏi thật lòng đôi khi cứu được một tâm hồn. Một bữa cơm có người ngồi bên đôi khi quý hơn một món quà đắt tiền. Một cái nắm tay trong bệnh viện có khi mạnh hơn mọi lời khuyên. Con người không cần lúc nào cũng được giải quyết vấn đề; nhiều lúc họ chỉ cần biết rằng trong bóng tối của họ vẫn có ai đó ngồi bên.
Tôi nghĩ đến bao người già đang sống trong những căn phòng nhỏ, mỗi chiều đều ngồi nhìn ra cửa. Không phải họ chờ điều gì lớn. Họ chỉ chờ tiếng xe quen, một bước chân, một cuộc gọi, một câu: “Má ơi, hôm nay má khỏe không?”, “Ba ơi, con ghé thăm ba một chút.” Người trẻ chúng ta thường nghĩ mình bận. Nhưng người già cũng từng bận như ta. Họ đã từng trẻ. Họ cũng từng có những cuộc hẹn, những công việc, những dự tính. Chỉ khác là trong những năm tháng bận rộn nhất, họ đã dành phần lớn thời gian cho ta. Đến khi ta trưởng thành, ta lại dễ lấy sự bận rộn làm lý do để vắng mặt. Đến một ngày chiếc ghế quen trống đi, ta mới hiểu một buổi chiều có cha mẹ ngồi đó quý đến thế nào. Khi ấy, dẫu có muốn bận ít lại cũng không còn nơi để trở về. Có những người chỉ sau một đám tang mới biết mình đã yêu nhiều đến đâu. Nhưng tình yêu được nhận ra sau khi người kia đã mất luôn mang theo một nỗi đau rất khác: nỗi đau của điều không thể làm lại.
Cũng có những người không chỉ cô đơn vì thiếu người bên cạnh, mà vì họ đã tự khép lòng mình lại sau quá nhiều tổn thương. Từng bị phản bội nên không dám tin nữa. Từng bị bỏ rơi nên không dám gắn bó nữa. Từng trao hết lòng mà nhận lại sự lạnh lùng nên chọn cách sống cứng cỏi. Bề ngoài họ có vẻ mạnh. Họ nói: “Tôi không cần ai.” Nhưng có khi đó chỉ là lớp áo giáp. Bên trong vẫn là một tâm hồn mong được yêu nhưng sợ phải đau lần nữa. Chúng ta đừng vội phán xét những con người khó gần. Đằng sau một người lạnh lùng có thể là một lịch sử bị tổn thương. Đằng sau một người ít nói có thể là quá nhiều điều từng nói ra nhưng không được lắng nghe. Đằng sau một người không còn tin vào tình yêu có thể là một lần đã tin quá nhiều. Muốn đi vào lòng người, đôi khi không cần những bài giảng dài; cần sự kiên nhẫn. Tình thương chân thành không phá cửa. Nó đứng ngoài, gõ nhẹ, và chờ người bên trong đủ an toàn để mở.
Nỗi cô đơn còn có một khuôn mặt rất đặc biệt trong thời đại này: cô đơn giữa sự trình diễn. Người ta phải luôn tỏ ra mình ổn, mình vui, mình thành công, mình có đời sống đáng ngưỡng mộ. Mạng xã hội làm ta rất dễ so sánh hậu trường đầy vết xước của đời mình với sân khấu đã được người khác chỉnh sửa. Ta nhìn thấy những chuyến đi của họ, những bữa ăn đẹp, những gia đình hạnh phúc, những thành công rực rỡ rồi quay lại nhìn đời mình và thấy thiếu. Nhưng ta đâu thấy được những cánh cửa đóng lại sau tấm hình ấy. Ta đâu biết một cặp đôi cười rạng rỡ trước máy ảnh có thể đã im lặng với nhau cả tuần. Ta đâu biết người đang đứng trên đỉnh thành công có thể tối về phải dùng thuốc mới ngủ được. Ta đâu biết một người đăng rất nhiều câu tích cực có khi đang cố cứu chính mình. Vì thế, đừng vội nghĩ người khác hạnh phúc hơn ta. Và cũng đừng biến đời mình thành một cuộc thi chứng minh mình hạnh phúc. Hạnh phúc thật không cần phô trương. Bình an thật thường rất yên.
Đến một lúc nào đó, ta phải học làm bạn với chính mình. Không phải theo kiểu đóng cửa với mọi người, nhưng để sự bình an của mình không hoàn toàn lệ thuộc vào việc hôm nay ai nhớ tới, ai khen, ai nhắn tin, ai ở bên. Một tâm hồn chỉ sống được khi được người khác liên tục xác nhận sẽ rất mệt. Ta cần học ngồi một mình mà không thấy mình vô nghĩa. Học đi một mình mà không cảm thấy bị bỏ rơi. Học ăn một bữa đơn giản mà vẫn biết ơn. Học cầu nguyện trong căn phòng vắng mà biết mình đang được yêu. Học nhìn hoàng hôn mà không chỉ thấy ngày sắp tắt, nhưng thấy một vẻ đẹp rất dịu dàng của việc mọi sự biết dừng đúng lúc. Mặt trời lặn không phải vì nó thất bại. Một ngày kết thúc không có nghĩa là ngày ấy vô nghĩa. Có những điều phải khép lại để điều khác bắt đầu.
Kitô giáo cho chúng ta một cái nhìn rất lạ về bóng tối. Kinh Thánh bắt đầu với một thế giới hỗn mang và tối tăm, nhưng Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Đêm Bêlem là đêm tối, nhưng một Hài Nhi đã sinh ra. Đêm Vượt Qua là đêm của cái chết, nhưng bình minh Phục Sinh đã đến. Vì thế, đối với người tin, bóng tối không bao giờ có tiếng nói cuối cùng. Có thể hôm nay lòng ta đang ở trong hoàng hôn. Có thể một điều gì đó đang khép lại. Có thể một mối quan hệ vừa mất. Có thể sức khỏe đã không còn. Có thể tuổi trẻ đã đi qua. Có thể một người rất thân không còn bên cạnh. Có thể một ước mơ đã vỡ. Nhưng xin đừng vội nghĩ mọi sự đã hết. Thiên Chúa rất giỏi bắt đầu từ những nơi con người tưởng là kết thúc. Ngài làm mầm cây mọc từ hạt đã chết trong lòng đất. Ngài làm sự sống đi ra từ ngôi mộ. Ngài làm ánh sáng xuất hiện từ đêm tối. Điều ta gọi là hết có khi chỉ là dấu chấm mà Thiên Chúa dùng để bắt đầu một câu mới.
Và rồi ta hiểu rằng cô đơn có thể trở thành nơi gặp gỡ nếu biết đem nó vào cầu nguyện. Đừng chỉ ngồi với nỗi cô đơn của mình; hãy mời Chúa ngồi cùng. Hãy nói với Người như nói với một người bạn. Không cần những câu hoa mỹ. Có khi chỉ cần: “Lạy Chúa, chiều nay con buồn.” “Lạy Chúa, con nhớ một người.” “Lạy Chúa, con mệt.” “Lạy Chúa, con sợ tuổi già.” “Lạy Chúa, con không biết ngày mai thế nào.” Một lời cầu nguyện thật luôn quý hơn một bài kinh dài đọc mà lòng ở nơi khác. Thiên Chúa không ngại những lời vụn vỡ. Người không yêu ta vì ta cầu nguyện hay. Người yêu ta vì ta là con của Người. Và có lẽ một trong những kinh nghiệm đẹp nhất của đời sống thiêng liêng là lúc con người không còn gì để nói, chỉ ngồi đó, và biết mình được ở trong một sự hiện diện.
Nhìn lại, ta cũng nên tự hỏi mình đã làm gì trước nỗi cô đơn của người khác. Đừng chỉ than rằng không ai hiểu ta nếu chính ta chưa bao giờ chịu hiểu ai. Đừng chỉ mong người khác gọi cho mình nếu mình luôn chờ họ gọi trước. Đừng chỉ mong được yêu nếu ta quá dè sẻn tình thương. Có khi Thiên Chúa chữa nỗi cô đơn của ta bằng cách gửi ta đến với một người cô đơn hơn. Khi thăm một bệnh nhân, ta lại thấy mình được an ủi. Khi ngồi với một người già, ta lại học được sự bình an. Khi giúp một người đang tuyệt vọng, ta bỗng nhận ra đời mình còn có ích. Tình yêu có một quy luật rất lạ: càng giữ, càng thấy thiếu; càng cho, càng thấy mình giàu. Có những căn phòng trong lòng ta chỉ được thắp sáng khi ta mang một ngọn đèn sang nhà người khác.
Chiều xuống rồi đêm sẽ đến. Đó là quy luật. Không ai giữ được mặt trời lại. Cũng như đời người, không ai giữ được tuổi xuân, giữ được sức khỏe mãi, giữ được những người mình yêu bên mình mãi. Nhưng điều quan trọng không phải là làm sao để hoàng hôn đừng đến; điều quan trọng là ta đã sống ngày hôm nay thế nào trước khi chiều xuống. Nếu đã yêu đủ, đã tha thứ đủ, đã biết ơn đủ, đã sống thật đủ, thì hoàng hôn có thể buồn nhưng không tuyệt vọng. Khi ấy, ta có thể nhìn đời bằng ánh mắt thanh thản hơn. Ta hiểu rằng mọi người chỉ đi cùng ta một đoạn. Người đi sớm, người đi muộn. Có người đồng hành rất lâu, có người chỉ xuất hiện một thời gian ngắn nhưng để lại dấu ấn cả đời. Ta không thể giữ ai mãi. Điều ta có thể làm là khi còn đi cùng nhau, hãy tử tế.
Rồi một ngày, hoàng hôn cuối cùng của đời ta cũng sẽ đến. Có thể trong một căn phòng bệnh. Có thể giữa người thân. Có thể rất lặng lẽ. Khi ấy, những điều từng làm ta bận tâm sẽ trở nên nhỏ. Tiền bạc ở lại. Nhà cửa ở lại. Danh tiếng ở lại. Điện thoại ở lại. Những con số từng khiến ta vui buồn cũng ở lại. Thứ đi theo ta chỉ là một đời đã sống trong tình yêu đến mức nào. Khi đứng trước Thiên Chúa, có lẽ câu hỏi lớn nhất không phải là ta đã được bao nhiêu người biết đến, mà là đã có bao nhiêu người được yêu hơn vì đã gặp ta. Không phải ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, mà là đã chữa lành bao nhiêu vết thương. Không phải ta đã giữ được bao nhiêu điều cho mình, mà là đã trao đi bao nhiêu. Không phải ta có bao nhiêu người theo dõi, mà là đã thực sự đồng hành được với ai.
Vì thế, nếu chiều nay lòng ai đó đang chùng xuống, xin đừng sợ hoàng hôn. Nếu căn phòng bỗng vắng, nếu một ký ức cũ trở về, nếu tiếng ồn ngoài kia nhỏ dần và ta nghe rõ sự cô đơn trong lòng mình, hãy cứ để nó hiện diện. Đừng vội chạy trốn. Có thể trong khoảng lặng ấy, Thiên Chúa đang muốn nói một điều mà cả ngày ta quá bận để nghe. Có thể Người muốn nhắc rằng ta không phải là một hòn đảo vô nghĩa giữa đại dương tám tỷ con người. Ta là một người được biết tên. Được tạo dựng. Được yêu. Được chờ đợi. Được giữ gìn. Không phải lúc nào ta cũng cảm thấy điều ấy, nhưng tình yêu của Thiên Chúa không thay đổi theo cảm xúc của ta. Khi không còn tiếng vỗ về của người đời, vẫn còn tiếng rất nhẹ của Đấng nói trong lòng: “Ta ở đây.” Khi không còn bàn tay nào nắm lấy, vẫn còn một bàn tay đã từng bị đóng đinh vì ta. Khi con đường tối đi, vẫn có một Đấng đã đi qua đêm tối trước ta.
Hoàng hôn có thể dài. Có những buổi chiều của đời người dường như kéo mãi. Có những năm tháng con người phải sống với bệnh tật, mất mát, tuổi già, sự lãng quên. Nhưng xin nhớ: hoàng hôn không phải quê hương cuối cùng của ánh sáng. Sau đêm là bình minh. Đối với người Kitô hữu, sau cái chết là sự sống. Sau chia lìa là gặp lại. Sau nước mắt là ngày Thiên Chúa lau sạch mọi lệ. Vì thế, trong bóng đêm của phận người vẫn có thể giữ một ngọn đèn nhỏ. Ngọn đèn ấy tên là hy vọng. Không phải hy vọng rằng đời này sẽ không còn đau, mà là hy vọng rằng nỗi đau không vô nghĩa. Không phải hy vọng rằng mình sẽ không còn cô đơn, mà là tin rằng trong cô đơn vẫn có Đấng đồng hành. Không phải hy vọng giữ được mọi người bên mình mãi, mà là tin rằng mọi tình yêu chân thật đều được giữ lại trong trái tim Thiên Chúa.
Chiều rồi. Nếu còn ai bên cạnh, hãy thương nhau hơn một chút. Nếu đang một mình, hãy dịu dàng với mình hơn một chút. Nếu đang giận, hãy bớt đi một chút tự ái. Nếu đang nhớ, cứ để mình nhớ. Nếu đang buồn, đừng xấu hổ vì nước mắt. Nếu đã lâu chưa cầu nguyện, hãy thử nói với Chúa một câu. Và nếu biết một người đang sống trong bóng tối, đừng chờ họ kêu cứu; hãy chủ động thắp cho họ một ngọn đèn. Cuộc đời này có thể quá rộng để ta làm mọi điều, nhưng luôn đủ nhỏ để ta làm một điều tử tế cho một người đang ở gần mình.
Bởi cuối cùng, điều giúp con người đi qua những buổi chiều dài nhất không phải là có thật nhiều người chung quanh, mà là biết rằng mình được yêu thật sự. Và nếu một ngày mọi tiếng nói của trần gian đều im, mọi gương mặt quen đều khuất, mọi bàn tay từng nắm tay ta đều phải buông, thì vẫn còn một tình yêu không đi mất. Tình yêu ấy đã có trước khi ta sinh ra và vẫn còn khi ta khép mắt. Trong tình yêu ấy, không một hoàng hôn nào là tận cùng. Không một bóng đêm nào là vĩnh viễn. Không một nỗi cô đơn nào có thể nuốt chửng con người. Bởi phía bên kia bóng tối vẫn là ánh sáng, và phía sau mọi cuộc chia ly của người tin vẫn là lời hẹn gặp lại trong căn nhà của Cha.
Lm. Anmai, CSsR
CÀNG ĐI QUA CUỘC ĐỜI, CÀNG THẤM MỘT CHỮ ĐỜI
Có những điều trong cuộc đời, khi còn trẻ người ta nghe thì hiểu bằng tai, đọc thì hiểu bằng mắt, suy nghĩ thì tưởng mình đã hiểu bằng trí, nhưng phải đi qua một đoạn đường thật dài, phải vài lần hụt chân, vài lần trắng tay, vài lần ngồi một mình giữa đêm khuya không biết nói cùng ai, người ta mới bắt đầu hiểu bằng chính cuộc đời mình. Cái hiểu ấy không còn là hiểu của chữ nghĩa, không còn là một định nghĩa đẹp đẽ được chép lại từ một quyển sách, cũng chẳng phải vài câu triết lý nghe qua tưởng rất sâu sắc. Nó là một thứ hiểu đã ngấm vào thịt da, một cái hiểu đi qua những vết thương, những mất mát, những lần tin lầm người, những lần trao nhầm lòng tốt, những lần cố gắng hết sức mà vẫn không giữ được điều mình quý nhất. Người đời thường gọi đó là “thấm”. Mà quả thật, một chữ “thấm” nghe nhẹ tênh nhưng phía sau nó là cả một đoạn đời. Thấm cuộc đời không phải là đứng ngoài nhìn người khác sống rồi bình phẩm; thấm cuộc đời là đã từng bước vào giữa cuộc đời, đã để gió bụi quất vào mặt mình, đã có những ngày cười rất vui và cũng có những đêm nước mắt rơi mà chẳng muốn cho ai biết. Có những người tuổi chưa nhiều nhưng đời đã dạy họ quá nhiều. Cũng có những người tóc đã bạc nhưng dường như vẫn còn đứng ngoài cửa cuộc đời, bởi họ chưa từng để những biến cố đi sâu vào tâm hồn mình. Bởi thế, thấm không hẳn nằm ở số tuổi, mà nằm ở những gì một người đã trải qua, đã chịu đựng, đã suy nghĩ và đã học được từ những điều ấy.
Thuở còn trẻ, ai chẳng từng bước đi với đôi chân đầy kiêu hãnh. Người trẻ thường nghĩ đường đời rộng lắm, chỉ cần mình cố gắng là sẽ đi đến nơi mình muốn. Ta tin vào tài năng của mình, tin vào những mối quan hệ quanh mình, tin rằng người mình thương sẽ ở lại, người mình giúp sẽ nhớ ơn, người mình đối xử tử tế sẽ đối xử tử tế lại với mình. Ta tưởng sống thật lòng thì sẽ gặp thật lòng, sống ngay thẳng thì chẳng có gì phải sợ, làm điều tốt rồi cuộc đời sẽ trả về điều tốt. Những niềm tin ấy không sai, nhưng cuộc đời phức tạp hơn rất nhiều so với những gì một trái tim trẻ có thể hình dung. Rồi một ngày, ta nhận ra người từng nói sẽ không bao giờ rời xa mình lại có thể quay lưng rất nhanh. Người từng nhận nơi mình bao nhiêu nghĩa tình đôi khi lại chính là người làm mình tổn thương nhất. Có những lời hứa được nói ra rất đẹp nhưng chỉ cần hoàn cảnh thay đổi là hóa thành mây khói. Có những cuộc tình tưởng sẽ đi đến cuối đời lại dừng ở một khúc quanh không ai ngờ. Có những người thân thiết từng ăn chung một mâm, từng ngồi bên nhau trong những ngày khốn khó, vậy mà chỉ vì một chút quyền lợi, một mảnh đất, một món tiền, một chút hơn thua mà thành người xa lạ. Có những người khi mình còn hữu dụng thì gọi điện hỏi han, đến lúc mình không còn mang lại lợi ích gì thì im lặng đến lạnh người. Đi qua vài chuyện như thế, con người không thể nào còn nhìn cuộc đời bằng đôi mắt nguyên sơ như thuở ban đầu. Đôi chân vẫn bước, nhưng không còn bước nhẹ như xưa. Trên đôi chân ấy đã có bụi.
Bụi đời không phải chỉ là nghèo khó hay cơ cực. Có người giàu sang mà bụi đời còn phủ dày hơn người nghèo. Bụi ấy là những lo toan cơm áo mỗi ngày, là hóa đơn chờ thanh toán, là tiền học của con, là thuốc men của cha mẹ già, là những trách nhiệm không thể buông dù bản thân đã mệt mỏi. Bụi ấy là một người đàn ông sáng ra khỏi nhà phải tỏ ra mạnh mẽ dù trong túi chẳng còn bao nhiêu tiền, chiều trở về vẫn cố cười với vợ con dù ngoài kia vừa chịu bao nhiêu cay đắng. Bụi ấy là người mẹ cả đời chẳng mua cho mình một bộ đồ đẹp nhưng cứ đến năm học mới lại lo đủ sách vở cho con. Bụi ấy là người con trưởng thành đi làm nơi xa, mỗi khi điện thoại nhà gọi đến đều giật mình sợ nghe một tin chẳng lành. Bụi ấy là những đêm mất ngủ vì một khoản nợ, một căn bệnh, một đứa con đang đi lạc đường, một cuộc hôn nhân đứng bên bờ rạn vỡ. Bụi ấy là trách nhiệm. Khi còn nhỏ, ta chỉ nghĩ cuộc đời là điều mình muốn; lớn lên mới hiểu phần lớn cuộc đời lại là điều mình phải gánh. Có những việc ta không thích nhưng vẫn phải làm. Có những người ta mệt mỏi nhưng vẫn phải chăm sóc. Có những nỗi đau ta không muốn nhận nhưng vẫn phải ôm lấy. Có những ngày bản thân rất cần một người vỗ về, nhưng cuối cùng lại phải trở thành chỗ dựa cho người khác. Trưởng thành nhiều khi không phải là mình mạnh hơn, mà là dù mệt vẫn không được phép ngã.
Càng đi xa trên đường đời, ta càng hiểu một điều rất đau mà rất thật: không phải lúc nào lòng tốt cũng được đáp lại bằng lòng tốt. Có những người ta giúp rồi họ biết ơn. Nhưng cũng có người nhận sự giúp đỡ quá lâu rồi nghĩ đó là bổn phận của ta. Có người khi khốn khó tìm đến, ta mở lòng; đến khi khá hơn, họ chẳng nhớ mình là ai. Có người ta nâng họ qua một đoạn đường, rồi đến lúc đứng cao hơn một chút, họ quay xuống nhìn mình bằng một ánh mắt khác. Người sống tử tế vì thế đôi khi mệt. Không phải vì họ tiếc lòng tốt đã cho đi, mà vì đau khi nhận ra lòng tốt của mình bị người khác xem nhẹ. Có những tổn thương không đến từ kẻ thù, bởi kẻ thù làm ta đau thì cũng chẳng lạ. Nỗi đau sâu nhất thường đến từ người mình từng tin. Chính vì từng tin nên mới trao cho họ một vị trí đặc biệt; chính vì từng quý nên khi bị phụ bạc mới đau lâu đến thế. Một người lạ nói xấu mình, ta có thể bỏ qua rất nhanh. Nhưng một người từng hiểu mình mà lại dùng chính điều họ hiểu để làm tổn thương mình, cái đau ấy khó gọi thành tên. Đời là vậy. Có những vết thương chẳng nhìn thấy máu nhưng phải rất nhiều năm mới lành.
Thấm đời rồi, người ta cũng bớt trách người khác hơn. Không phải vì những điều sai bỗng trở thành đúng, nhưng vì ta bắt đầu hiểu rằng mỗi người đều mang một câu chuyện phía sau mà ta không biết hết. Người nóng nảy kia có thể đang mang trong lòng quá nhiều đổ vỡ. Người lạnh lùng kia có thể từng tin ai đó quá sâu rồi bị phản bội. Người hay tính toán có thể lớn lên giữa thiếu thốn nên sợ mất mát. Người ít nói có thể đã từng nói thật lòng quá nhiều lần mà không ai chịu nghe. Một người khi chưa từng đau thường dễ phán xét người đang đau. Nhưng khi chính mình đã đi qua những ngày tưởng không thể vượt qua, ta bắt đầu dịu lại. Ta hiểu rằng có những cuộc chiến âm thầm mà chẳng ai nhìn thấy. Có những người mỗi ngày vẫn đi làm, vẫn cười, vẫn nói chuyện bình thường, nhưng trong lòng là một vùng đất tan hoang. Bởi vậy, người từng trải thật sự thường không ồn ào phán xét. Càng sống lâu, họ càng tiết kiệm lời nặng. Họ biết một câu nói vô tình đôi khi có thể trở thành giọt nước cuối cùng trong một tâm hồn đã quá mỏi mệt. Họ hiểu rằng đời người vốn đã nặng, nếu không thể đỡ người khác một đoạn thì ít nhất cũng đừng chất thêm đá lên vai họ.
Có lẽ cái giá đắt nhất của trưởng thành chính là phải từ giã dần sự hồn nhiên. Ngày nhỏ buồn thì khóc, vui thì cười. Lớn lên có những lúc buồn vẫn phải cười, đau vẫn phải nói “không sao”, mệt vẫn phải trả lời rằng “ổn”. Không phải vì con người giả tạo hơn, nhưng vì càng trưởng thành càng hiểu rằng không phải nỗi niềm nào cũng có nơi để gửi. Có những chuyện nói ra chẳng ai giải quyết được, nên thôi giữ lại cho mình. Có những nỗi buồn nếu kể với cha mẹ, chỉ làm cha mẹ thêm lo. Có những áp lực nếu nói với con cái, chỉ làm chúng bất an. Có những chuyện trong đời sống vợ chồng không thể mang ra ngoài. Có những gánh nặng trong đời tu, đời linh mục cũng chẳng thể tùy tiện giãi bày. Thế là người ta học cách im lặng. Và có lẽ đây chính là một trong những dấu hiệu rất rõ của người đã đi qua nhiều đoạn đời: họ không còn nhu cầu kể hết câu chuyện mình cho thiên hạ nghe. Không phải vì không có gì để kể, nhưng vì đã hiểu rằng đôi khi im lặng bình an hơn giải thích, và có những người dù mình giải thích cả nghìn lần họ vẫn sẽ hiểu theo cách họ muốn.
Cô độc vì thế dường như là một người bạn song hành với trưởng thành. Nghe chữ cô độc, người ta dễ nghĩ tới một căn phòng vắng, một người không gia đình, không bạn bè. Nhưng cô độc sâu nhất lại có thể xảy ra giữa đám đông. Có người sống giữa gia đình rất đông mà chẳng biết tâm sự cùng ai. Có người điện thoại đầy danh bạ nhưng đêm xuống chẳng biết gọi cho ai để nói một câu thật lòng. Có người cả ngày tiếp xúc hàng trăm người nhưng trong lòng lại là một khoảng trống rất lớn. Có những nỗi cô độc của người giữ trách nhiệm mà người ngoài không hiểu. Người đứng đầu thường phải quyết định những điều không ai muốn quyết. Cha mẹ có những nỗi lo không nói với con. Người làm chồng có những thất bại không dám kể với vợ. Người làm vợ có những tủi thân chẳng biết nói sao để chồng hiểu. Người linh mục có những đêm trở về căn phòng riêng sau một ngày gặp biết bao người, nghe biết bao câu chuyện, an ủi biết bao tâm hồn, rồi chợt nhận ra mình cũng có những nỗi niềm chẳng biết nói cùng ai. Đó không phải bi kịch, mà là một phần của thân phận con người. Đến một lúc nào đó, mỗi người đều phải học cách đi một đoạn đường chỉ có mình với mình và, nếu có đức tin, mình với Chúa.
Điều đáng sợ không phải là cô độc. Điều đáng sợ là để cô độc biến mình thành cay nghiệt. Có người sau vài lần bị lừa thì quyết không tin ai nữa. Sau một lần bị phản bội thì đóng cửa trái tim cả đời. Sau khi bị tổn thương thì bắt đầu làm tổn thương người khác. Họ gọi đó là kinh nghiệm, nhưng thực chất có khi chỉ là vết thương chưa lành. Trưởng thành thật không phải là biến thành một người lạnh lùng. Thấm đời không phải là học cách nghi ngờ tất cả. Khôn ngoan cũng không có nghĩa là trở nên tính toán. Cái đẹp của một người từng trải nằm ở chỗ đã biết đời có thể bạc mà mình vẫn không bạc; đã gặp người xấu nhưng không vì thế mà đánh mất lòng tin nơi người tốt; đã bị tổn thương mà vẫn giữ được khả năng yêu thương. Đó mới là điều khó. Một bông hoa nở trong vườn được chăm sóc thì đẹp, nhưng một bông hoa mọc lên từ khe đá còn đáng quý hơn. Một người tử tế vì chưa từng bị đời làm đau thì đáng quý; nhưng một người đã từng bị phản bội, từng bị hiểu lầm, từng bị lợi dụng mà vẫn chọn sống đàng hoàng, ấy mới là một sự tử tế đã được thử trong lửa.
Người thấm đời cũng sẽ hiểu rằng tiền rất cần nhưng tiền không phải tất cả. Điều này nghe ai cũng biết, nhưng phải đến lúc có tiền mà không giữ được người mình thương, hoặc có tiền mà không mua được sức khỏe, người ta mới hiểu thật. Có những ngày ta chạy thật nhanh để kiếm thêm một chút, rồi ngoảnh lại thấy cha mẹ đã già. Có khi mải xây nhà mà quên xây mái ấm. Mải dành dụm cho tương lai mà quên rằng con cái chỉ bé một lần. Mải chứng minh mình thành công với thiên hạ mà quên hỏi người nằm cạnh mình có còn hạnh phúc hay không. Cuộc đời trớ trêu ở chỗ khi trẻ có sức khỏe thì không có tiền, lúc có tiền lại bắt đầu phải dùng tiền để giữ sức khỏe. Khi con cái cần ta nhất, ta thường bận nhất. Đến lúc ta rảnh thì chúng lại có cuộc đời riêng. Khi cha mẹ còn khỏe, ta nghĩ còn nhiều thời gian. Đến khi nghe một cuộc điện thoại báo cha hay mẹ bệnh nặng mới cuống cuồng trở về và nhận ra thời gian không hề đứng đợi. Bởi vậy, người hiểu đời dần học được cách phân biệt cái gì quan trọng và cái gì chỉ có vẻ quan trọng. Một hợp đồng có thể quan trọng, nhưng một bữa cơm với cha mẹ già cũng quan trọng. Một cuộc họp có thể quan trọng, nhưng lời con muốn kể cho ta sau giờ học cũng quan trọng. Tiền bạc cần, sự nghiệp cần, danh dự cần, nhưng chẳng thứ nào có thể thay thế một mái nhà còn tiếng cười.
Thấm đời rồi cũng hiểu rằng danh tiếng là thứ rất mong manh. Hôm nay người ta khen, ngày mai có thể người ta chê. Hôm nay được tung hô, mai chẳng còn ai nhớ. Có người dành cả đời để sống theo ánh mắt thiên hạ, cuối cùng khi tuổi già đến mới phát hiện mình chưa từng thực sự sống cho chính điều mình tin là đúng. Càng lớn, người ta càng thấy mệt với chuyện chứng minh. Khi còn trẻ, bị hiểu lầm một chút là muốn giải thích cho bằng được. Về sau mới hiểu có những hiểu lầm không cần tháo gỡ, bởi người thương mình sẽ hỏi, người hiểu mình không vội kết luận, còn người đã muốn nghĩ xấu thì mình nói gì họ cũng sẽ tìm cách nghĩ khác. Bình an bắt đầu từ ngày ta không còn đặt hạnh phúc của mình vào miệng người khác. Người ta khen, cảm ơn. Người ta chê, xét lại điều đúng thì sửa, điều không đúng thì thôi. Chứ nếu cứ chạy theo từng lời bình phẩm, đời ta sẽ giống chiếc lá bị gió thổi bên nào cũng nghiêng. Làm người rất cần một cái gốc. Với người có đức tin, cái gốc ấy phải là Thiên Chúa. Người đời hôm nay có thể nâng mình lên, ngày mai cũng chính họ có thể kéo mình xuống. Chỉ có Chúa biết mình thật sự là ai.
Có những năm tháng đi qua, người ta cũng bắt đầu bớt ham tranh phần đúng. Thời trẻ, ai nói sai về mình là phải nói lại. Ai đụng đến mình là muốn phân bua. Ai tranh hơn thì mình cũng muốn hơn. Nhưng sau nhiều lần mệt mỏi, ta hiểu rằng thắng một cuộc cãi vã chưa chắc đã giữ được một mối quan hệ. Có những điều đúng nhưng không nhất thiết phải nói ngay. Có những sự thật nếu thiếu tình thương sẽ trở thành một lưỡi dao. Có những lúc im lặng không phải là yếu, mà là biết điều gì đáng để giữ. Con người trưởng thành bắt đầu chọn trận mà chiến đấu. Họ không dùng sức cho mọi chuyện. Họ biết đời mình hữu hạn nên không thể tiêu hao tâm hồn vào từng lời nói xấu, từng ánh mắt khó chịu, từng người không thích mình. Có người ghét ta chẳng vì ta đã làm gì họ, chỉ vì sự hiện diện của ta làm họ khó chịu. Thế thì đành chịu. Chẳng ai sinh ra để làm hài lòng hết mọi người. Đức Giêsu sống trọn tình yêu mà vẫn có người muốn giết Người. Thì ta là ai mà mong ai cũng hiểu, ai cũng thương, ai cũng công nhận mình?
Càng thấm đời, ta càng sợ làm tổn thương người khác. Thuở trẻ có khi nóng giận buông lời rồi quên. Sau này mới biết người nói có thể quên nhưng người nghe nhớ rất lâu. Có câu nói chỉ mất vài giây để thốt ra nhưng để lại vết thương vài chục năm. Cha mẹ nói với con trong lúc giận rằng “mày chẳng làm nên trò trống gì”, có khi đứa trẻ mang câu ấy đến tận tuổi trung niên. Người chồng trong lúc cãi nhau đem khuyết điểm của vợ ra giày vò, vợ có thể tha nhưng vết thương vẫn còn. Người vợ đem chồng mình so sánh với người đàn ông khác, không biết đã làm lòng tự trọng của chồng đau tới mức nào. Một người có trách nhiệm trong cộng đoàn chỉ cần một lời miệt thị cũng đủ làm người dưới quyền mất hết nhiệt huyết. Bởi vậy, người thấm đời nói chậm hơn. Không phải vì họ thiếu lời, mà vì biết lời nói có sức dựng và cũng có sức phá. Nhiều khi chỉ một câu “tôi hiểu”, một câu “không sao đâu”, một câu “cứ từ từ rồi sẽ ổn”, có thể cứu một người khỏi một ngày rất tệ.
Rồi có những biến cố lớn hơn dạy ta thấm một điều không ai muốn học: mọi thứ đều có thể mất. Sức khỏe có thể mất. Công việc có thể mất. Tiền của có thể mất. Người mình yêu có thể mất. Ngày hôm qua còn ngồi uống cà phê, hôm nay có thể đã trở thành di ảnh trên bàn thờ. Hôm qua còn nghe tiếng mẹ gọi, một ngày nào đó muốn nghe lại cũng không được nữa. Hôm qua còn cãi nhau với một người thân, hôm nay đứng trước quan tài mới thấy những chuyện từng tưởng nghiêm trọng hóa ra nhỏ đến nao lòng. Cái chết là người thầy nghiêm khắc nhất của cuộc đời. Nó lấy đi tất cả những ảo tưởng rằng ta còn nhiều thời gian. Có người cứ nói “khi nào rảnh sẽ về thăm cha mẹ”, “mai sẽ gọi cho người ấy”, “một ngày nào đó sẽ làm hòa”, “đợi lúc thuận tiện rồi sống tốt hơn”. Nhưng đời đâu ký hợp đồng cho ta một ngày mai. Có những lời xin lỗi không nói sớm rồi không còn cơ hội nói. Có cái ôm cứ ngại ngùng chẳng trao, đến ngày muốn ôm chỉ còn tấm ảnh. Có lời cảm ơn giữ trong lòng quá lâu, đến khi muốn nói thì người nghe đã không còn. Ai từng đứng trước một quan tài của người mình thương sẽ hiểu đời mỏng đến thế nào.
Có lẽ vì vậy mà càng thấm đời, người ta càng biết quý những điều rất nhỏ. Một buổi sáng còn mở mắt nhìn thấy ánh nắng là quý. Một bữa cơm còn đủ mặt gia đình là quý. Cha mẹ còn gọi điện hỏi “ăn cơm chưa?” là quý. Có người để chờ mình về nhà là quý. Có người thật lòng hỏi mình “dạo này khỏe không?” là quý. Có sức khỏe để tự đi lại, tự ăn, tự tắm, tự làm công việc của mình là quý. Những điều ấy khi đang có ta thường xem là bình thường. Chỉ tới khi mất một trong những điều đó mới biết hai chữ “bình thường” thật ra là một ân huệ rất lớn. Hạnh phúc của đời người có khi chẳng nằm trong những điều quá xa. Nó nằm ở một thân thể còn tương đối khỏe, một mái nhà còn có nơi trở về, một vài người thật lòng thương mình, một lương tâm còn bình an và mỗi tối còn có thể đặt đầu xuống gối mà không phải sợ mình đã sống quá tệ với ai.
Thấm đời cũng là hiểu rằng không phải cuộc gặp gỡ nào cũng để ở lại. Có người đến để đồng hành lâu dài. Có người chỉ đi với ta một đoạn. Có người đến để cho ta niềm vui. Có người đến để dạy ta một bài học. Có người bước vào đời mình như một món quà. Có người bước vào như một phép thử. Khổ nhất là cố giữ một người đã muốn đi. Có những cánh cửa khép lại không phải vì ta không xứng đáng, mà đơn giản vì hành trình chung đã hết. Tuổi trẻ thường đau đáu hỏi: “Tại sao họ thay đổi?” Người từng trải dần hiểu: con người thay đổi, hoàn cảnh thay đổi, lòng người cũng đổi. Có những mối quan hệ kết thúc không cần phải có kẻ xấu. Chỉ là đến một ngày, hai con đường rẽ sang hai hướng khác nhau. Điều cần học là biết ơn những tháng ngày đã có, rồi để người đi thì đi. Không phải ai rời khỏi cuộc đời ta cũng là mất mát. Có những sự rời đi lại là cách Thiên Chúa dọn chỗ cho một điều khác tốt hơn, hoặc ít nhất là cách Người cứu ta khỏi một con đường không còn dành cho mình.
Nhưng có một sự thật còn đau hơn: đôi khi người phải thay đổi không phải người khác mà là chính ta. Rất dễ nhìn thấy khuyết điểm của người bên cạnh. Khó nhất là nhận ra mình cũng đã góp phần làm mọi thứ trở nên tệ hơn. Có những cuộc hôn nhân rạn nứt không phải một ngày, mà từ những lần vợ chồng thôi lắng nghe nhau. Có những tình bạn tan không chỉ vì người kia thay đổi mà bởi chính mình cũng vô tâm. Có những mối tương quan trong cộng đoàn căng thẳng không chỉ vì người khác khó tính mà có khi cái tôi của mình cũng quá lớn. Thấm đời thật sự phải dẫn đến khiêm tốn. Nếu sau bao nhiêu va vấp mà ta chỉ thấy người khác sai, có lẽ ta chưa học được gì nhiều. Cuộc đời như một tấm gương. Có những biến cố xảy ra không chỉ để ta biết người khác là ai, mà còn để biết chính mình là ai khi bị tổn thương, khi thất bại, khi mất mát, khi bị coi thường. Lúc mọi sự thuận lợi, ai cũng có thể tử tế. Chỉ khi bị đụng tới quyền lợi, danh dự, cái tôi, ta mới thấy điều gì thật sự đang ở trong lòng mình.
Với người Kitô hữu, thấm đời mà chỉ dừng ở sự từng trải vẫn chưa đủ. Nếu chỉ trải qua đau khổ để rồi trở nên khôn lỏi, lạnh lùng, dè chừng, đó chưa phải trưởng thành trong đức tin. Người có Chúa được mời gọi đi xa hơn: để những gì đời làm mình đau trở thành nơi Thiên Chúa làm mình sâu. Có những nỗi đau nếu nhìn bằng mắt người đời chỉ là mất mát, nhưng dưới ánh sáng đức tin có thể trở thành cuộc thanh luyện. Có những thất bại làm ta bớt kiêu căng. Có những lần bị từ chối dạy ta đừng đặt giá trị mình vào sự công nhận của con người. Có những lần cô độc đẩy ta trở về với Chúa. Có những lúc mọi cánh cửa đều đóng lại để cuối cùng ta mới chịu quỳ xuống. Con người lạ lắm. Khi mọi chuyện tốt đẹp, ta dễ nói mình tin Chúa. Nhưng chỉ khi chẳng còn gì để bám, ta mới biết mình có thật sự tin hay không. Có những lời cầu nguyện đẹp nhất không được đọc lên từ một nhà thờ đông người, mà từ một căn phòng tối khi một người chỉ còn biết thưa: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con xin phó thác.”
Đức Giêsu không hứa với các môn đệ một con đường trải hoa. Người nói rất rõ về thập giá. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Thập giá đời mỗi người khác nhau. Có người mang bệnh tật. Có người mang một cuộc hôn nhân nhiều nước mắt. Có người mang một đứa con khiến mình đau lòng. Có người mang cô đơn. Có người mang một vết thương từ quá khứ. Có người mang trách nhiệm chẳng ai hiểu. Điều làm nên người môn đệ không phải là có thập giá hay không, bởi chẳng ai không có; điều quan trọng là ta mang nó thế nào. Mang trong cay đắng hay mang trong hy vọng. Mang để oán trách hay để lớn lên. Mang một mình hay biết trao vào tay Chúa. Không phải thập giá nào cũng biến mất sau cầu nguyện, nhưng rất nhiều khi chính con người được biến đổi để có thể mang thập giá ấy với một trái tim khác.
Nhìn lại cuộc đời, có lẽ điều đáng biết ơn không chỉ là những người đã thương mình, mà đôi khi còn cả những người từng làm mình đau. Không phải cảm ơn cái xấu họ gây ra, nhưng vì qua đó ta học được một điều mà bình yên không dạy nổi. Có người khiến ta biết phải chọn bạn. Có người dạy ta biết giữ giới hạn. Có người khiến ta hiểu lòng tốt cũng cần khôn ngoan. Có người buộc ta học cách đứng dậy bằng chính đôi chân mình. Có lần mất hết mới biết ai còn ở lại. Có lần bệnh mới biết ai thật sự quan tâm. Có lần thất bại mới biết đâu là người thương mình vì mình chứ không vì cái mình có. Cuộc đời có một cách rất lạ để sàng lọc các mối quan hệ. Khi ta đang ở trên cao, quanh mình nhiều người. Khi rơi xuống thấp, số người còn bên cạnh ít đi rất nhanh. Nhưng đôi khi chính nhờ những ngày dưới đáy mà ta tìm được vài tấm lòng quý hơn cả trăm cuộc vui trên đỉnh cao.
Càng thấm đời, ta càng không muốn có quá nhiều người bên cạnh, chỉ cần vài người thật. Không cần hàng nghìn người bấm thích một tấm hình, chỉ cần khi mình yếu lòng có một người gọi và nói: “Tôi ở đây.” Không cần cả thiên hạ tung hô, chỉ cần gia đình còn hiểu nhau. Không cần ai cũng biết tên mình, chỉ cần vài người khi nhắc đến mình có thể nói rằng: “Người ấy sống đàng hoàng.” Đời người cuối cùng đâu mang theo được tiếng vỗ tay. Khi nằm xuống, chức vụ ở lại, tiền bạc ở lại, danh tiếng rồi cũng phai. Điều đi theo ta chính là những gì ta đã trở thành và tình yêu ta đã gieo. Có lẽ đến cuối đời, câu hỏi lớn nhất không phải “tôi đã có bao nhiêu?” mà là “tôi đã yêu thế nào?”
Người thật sự thấm cuộc đời thường có một vẻ bình thản rất riêng. Không phải họ hết buồn, nhưng biết nỗi buồn rồi sẽ qua. Không phải họ không bị xúc phạm, nhưng biết không cần phản ứng với mọi thứ. Không phải họ không gặp chuyện khó, nhưng từng vượt qua những ngày còn khó hơn. Họ hiểu chẳng có mùa mưa nào kéo dài mãi. Họ không quá vui khi được khen vì biết lời khen rồi cũng qua; cũng không quá đau khi bị chê vì biết lời chê cũng chẳng tồn tại mãi. Họ sống chậm hơn một chút, ít tranh hơn một chút, ít chứng minh hơn một chút. Họ học cách uống một ly trà và thấy ngon, ngồi với một người bạn cũ và thấy quý, gọi về hỏi cha mẹ một câu và thấy đủ. Có lẽ đó mới là sự giàu có mà tuổi trẻ chưa dễ hiểu.
Ta thường nghĩ trưởng thành là học được thêm nhiều điều. Nhưng có khi trưởng thành là bỏ bớt đi rất nhiều thứ: bỏ nhu cầu được tất cả mọi người hiểu mình, bỏ thói quen so sánh đời mình với người khác, bỏ những mối quan hệ chỉ khiến mình kiệt sức, bỏ cái tôi luôn muốn thắng, bỏ những kỳ vọng quá sức lên người mình thương, bỏ thói quen ôm mãi chuyện cũ. Cuộc đời càng đi về chiều càng phải học nhẹ đi. Chiếc vali càng đầy càng khó bước. Tâm hồn cũng vậy. Nếu cứ mang mọi lời xúc phạm, mọi lần thất vọng, mọi món nợ tình cảm từ mười năm hai mươi năm trước, ta sẽ không còn sức để sống ngày hôm nay. Tha thứ vì vậy trước hết là giải phóng chính mình. Tha thứ không có nghĩa là điều sai chưa từng xảy ra. Cũng chẳng phải tiếp tục để người khác làm mình tổn thương. Tha thứ là thôi để quá khứ tiếp tục có quyền làm độc hiện tại của mình.
Có những người cả đời khổ không phải vì chuyện đã xảy ra quá lớn, mà vì họ sống lại nó quá nhiều lần trong trí nhớ. Một lời làm đau xảy ra một lần, nhưng họ nhắc lại nó một nghìn lần. Một người phản bội họ một lần, nhưng trong lòng họ để người ấy phản bội thêm mỗi ngày. Càng thấm đời, ta càng hiểu phải biết đóng những cánh cửa đã qua. Không phải quên sạch, nhưng nhớ mà không còn đau như trước. Nhắc đến mà lòng không còn hận. Gặp lại mà có thể bình an. Đó là dấu hiệu một vết thương đã thành sẹo. Sẹo vẫn còn, nhưng nó không còn chảy máu.
Có lẽ điều đẹp nhất của một đời người không phải là chưa từng bị cuộc đời làm hoen bụi, mà là sau tất cả bụi trần vẫn giữ được ánh sáng trong mắt. Đôi chân có thể mỏi nhưng lòng đừng độc. Tóc có thể bạc nhưng tâm hồn đừng cằn. Ta có thể hiểu quá rõ những góc tối của con người nhưng vẫn chọn nhìn người bằng lòng thương. Có thể biết tiền bạc làm đổi lòng người nhưng vẫn không bán rẻ lương tâm. Có thể bị dối lừa mà vẫn không trở thành kẻ dối lừa. Có thể chứng kiến quá nhiều bất công mà vẫn giữ được niềm tin rằng điều thiện đáng để sống. Đó là chiến thắng rất lớn. Bởi cuộc đời không chỉ thử xem ta chịu đựng được bao nhiêu, nó còn thử xem sau tất cả ta sẽ trở thành người như thế nào.
Một người bước qua nửa đời thường bắt đầu thấy cái chết không còn quá xa. Khi còn hai mươi, ta nghĩ đời dài lắm. Qua năm mươi, sáu mươi, ngoảnh lại mới thấy mấy chục năm trôi nhanh như một giấc ngủ. Những chuyện từng mất ăn mất ngủ giờ nghĩ lại thấy chẳng đáng gì. Người từng làm ta giận dữ có khi chẳng còn gặp nữa. Nơi từng tranh giành rồi cũng thuộc về người khác. Tiền từng cực khổ kiếm, cuối cùng cũng chỉ đổi chủ. Tất cả đi qua nhanh hơn ta tưởng. Chính vì thế, tuổi đời càng cao, người khôn ngoan càng ít muốn lãng phí thời gian vào hận thù. Một ngày sống trong giận là một ngày đời mình bị lấy mất. Một năm không nói chuyện với người thân vì tự ái là một năm chẳng bao giờ lấy lại. Đến lúc một người nằm xuống rồi, đứng bên quan tài khóc cũng chẳng làm sống lại những tháng ngày đáng lẽ đã có thể yêu thương nhau.
Vậy nên nếu còn có thể, hãy làm hòa sớm một chút. Hãy gọi cho cha mẹ khi còn được nghe tiếng trả lời. Hãy nói lời yêu thương khi người mình thương còn ngồi bên cạnh. Hãy cảm ơn một người từng giúp mình. Hãy xin lỗi khi biết mình sai. Hãy thôi trì hoãn những điều tử tế. Bởi một đời người nhìn thì dài nhưng thật ra chỉ là vài chục mùa mưa nắng. Ta cứ nghĩ còn nhiều ngày, đến khi một mùa Tết trở về thiếu đi một chiếc ghế mới biết thời gian tàn nhẫn thế nào.
Và trên tất cả, hãy tập sống sao để mỗi ngày khi khép mắt có thể bình an trước Chúa. Đời có thể không công bằng với ta, nhưng ta đừng bất công với người. Người khác có thể không tử tế với ta, nhưng đó không phải lý do để ta từ bỏ sự tử tế. Có thể cả đời chẳng ai hiểu hết những hy sinh của mình, nhưng Chúa biết. Có những giọt nước mắt chẳng ai thấy, Chúa thấy. Có những điều tốt ta làm chẳng ai nhớ, Chúa nhớ. Có những oan ức ta không thể giải thích, Chúa hiểu. Khi một người thực sự tin được điều ấy, họ sẽ bớt mệt vì cuộc đời rất nhiều. Ta đâu cần được cả thiên hạ minh oan nếu lương tâm bình an trước mặt Chúa.
Thấm cuộc đời, cuối cùng, không phải là một cái nhìn chán chường rằng đời toàn giả dối. Nếu sau nhiều năm sống mà ta chỉ kết luận “chẳng tin được ai”, đó có thể là cay đắng chứ chưa chắc là khôn ngoan. Thấm đời đúng nghĩa là thấy được cả tối lẫn sáng. Biết có lọc lừa nhưng cũng biết có những người tử tế đến tận cùng. Biết có phản bội nhưng vẫn có những người sống thủy chung suốt đời. Biết có những đứa con vô tâm nhưng cũng có người con bỏ cả tương lai để chăm cha mẹ già. Biết có những cuộc hôn nhân tan vỡ nhưng cũng có những đôi vợ chồng già nắm tay nhau đi qua bệnh tật. Biết có những người dùng đạo để tô điểm bản thân nhưng cũng có biết bao con người âm thầm sống Tin Mừng chẳng cần ai biết. Đời không chỉ có bùn. Trong bùn vẫn mọc sen.
Và có lẽ, sau bao nhiêu năm, ta hiểu một điều thật giản dị: cuộc đời không cần ta phải trở thành người chiến thắng trong mắt thiên hạ. Chỉ cần cuối hành trình, khi nhìn lại, ta không xấu hổ vì đã sống một đời quá nhỏ nhen. Ta đã có thể sai, có thể ngã, có thể yếu đuối; nhưng mong rằng ta đã biết đứng lên, biết xin lỗi, biết tha thứ, biết thương người, biết quay về với Chúa. Đến một ngày đôi chân từng kiêu hãnh ấy thực sự mỏi, ta sẽ đặt xuống tất cả. Bụi đường cũng rơi lại phía sau. Những chức danh người đời từng gọi cũng không còn cần thiết. Khi ấy, điều còn lại chỉ là một con người đứng trước Thiên Chúa, trần trụi với tất cả những gì mình đã sống.
Cho nên, nếu hôm nay đôi chân đã nặng bụi đời, cũng đừng buồn. Bụi chứng tỏ ta đã bước đi. Những vết sẹo chứng tỏ ta đã từng bị thương nhưng vẫn sống. Những giọt nước mắt chứng tỏ trái tim ta từng thật lòng. Những lần thất bại chứng tỏ ta đã từng dám thử. Những lần bị phản bội cho thấy ta đã từng dám tin. Và những ngày cô độc có thể chính là khoảng trời Thiên Chúa dùng để dạy ta gặp lại chính mình. Điều quan trọng không phải là đời đã làm gì với ta, nhưng là sau tất cả, ta để Chúa làm gì trong ta.
Có một ngày, ta sẽ hiểu rằng trưởng thành không phải là hết đau, mà là đau mà không làm người khác đau. Không phải là không còn thất vọng, mà là sau thất vọng vẫn biết hy vọng. Không phải là không còn cô đơn, mà là giữa cô đơn vẫn biết mình không bị bỏ rơi. Không phải là không còn nước mắt, mà là nước mắt đã biết chảy vào lời cầu nguyện. Không phải là biết đời bạc để sống bạc hơn, mà là biết đời bạc để càng quý những tấm lòng chân thật. Không phải là khôn đến mức không ai lừa được mình, mà là dù đời có làm mình mất nhiều thứ, nhất định không để đời lấy mất lòng nhân hậu.
Đôi chân rồi sẽ già. Mắt rồi sẽ mờ. Người từng chạy rất nhanh một ngày sẽ bước thật chậm. Nhà cao cửa rộng rồi cũng trao cho con cháu. Những gì từng tranh giành sẽ thành chuyện của người sau. Chỉ mong đến lúc ấy, trong lòng mình đủ nhẹ để mỉm cười. Nhìn lại những người đã đi ngang cuộc đời, người thương ta, người bỏ ta, người giúp ta, người làm ta đau, ta có thể nói một câu: “Cảm ơn.” Cảm ơn người tốt vì đã cho ta biết thế gian vẫn còn ấm. Cảm ơn người làm ta đau vì đã dạy ta mạnh hơn. Cảm ơn những lần thất bại vì giúp ta bớt kiêu. Cảm ơn những lúc cô độc vì nhờ đó ta biết tìm Chúa. Cảm ơn những ngày khó khăn vì khiến những ngày bình thường trở nên quý giá.
Và rồi sau tất cả, có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất của một người đã thấm cuộc đời chẳng cần dài: “Lạy Chúa, con chẳng xin một đời không có giông bão. Con chỉ xin giữa giông bão đừng đánh mất Chúa. Con chẳng xin không bao giờ bị người đời làm tổn thương. Con chỉ xin đừng vì tổn thương mà trở thành người làm đau người khác. Con chẳng xin ai cũng thương con. Con chỉ xin mình còn đủ lòng để thương những người Chúa đặt trên đường đời. Con chẳng xin sống thật lâu. Con chỉ xin những ngày còn lại được sống thật, sống tử tế và sống sao để khi trở về, con không phải hối tiếc vì đã lãng phí một đời cho những chuyện hơn thua.”
Thấm đời là vậy. Là đã biết nước mắt mặn mà vẫn yêu nụ cười. Biết lòng người khó đo mà vẫn sống chân thành. Biết mọi cuộc gặp rồi có thể chia xa mà vẫn trân trọng từng ngày còn được bên nhau. Biết thân phận mong manh mà không tuyệt vọng. Biết một ngày mình sẽ trở về cát bụi nên thôi kiêu căng, thôi tranh chấp, thôi làm khổ nhau vì những điều chẳng mang được qua bên kia sự chết. Và cao hơn hết, là hiểu rằng sau tất cả những bão giông, cái còn lại không phải là ta đã hơn được ai, mà là ta có còn một trái tim biết yêu hay không.
Đời người càng đi càng ngắn, nhưng nếu biết sống, lòng người có thể càng ngày càng rộng. Bụi đường có thể phủ lên đôi chân, nhưng đừng để nó phủ lên linh hồn. Vết thương có thể nằm lại trên thân phận, nhưng đừng để nó biến thành độc tố trong trái tim. Cứ đi. Chậm cũng được. Mỏi thì nghỉ. Đau thì khóc. Nhưng đừng bỏ cuộc. Và nhất là đừng quên ngước lên. Bởi cuối mọi con đường của người có đức tin không phải là một vực tối, mà là vòng tay của Đấng đã âm thầm đi bên ta từ bước đầu tiên, cả những lúc ta không nhận ra Người. Đến khi ấy, có lẽ ta mới hiểu hết một chữ “đời”: đời không chỉ là những gì ta đã chịu, mà còn là nơi Thiên Chúa từng ngày dạy ta yêu, dạy ta buông, dạy ta tha thứ, dạy ta khiêm nhường và chuẩn bị ta cho cuộc trở về.
Lm. Anmai, CSsR
KHI BUỔI CHIỀU GỌI TA VỀ VỚI TUỔI THƠ
Có những buổi chiều đi qua đời người rất nhẹ, nhẹ như một làn gió chạm vào mái tóc rồi tan đi, chẳng để lại gì ngoài một chút dịu dàng. Nhưng cũng có những buổi chiều không chịu đi qua. Nó ở lại. Nó ngồi xuống bên cạnh ta. Nó kéo chiếc ghế cũ của ký ức ra giữa căn phòng tâm hồn, rồi lặng lẽ mở từng trang đời đã cũ. Khi ấy, chẳng cần ai hỏi, lòng ta tự nhiên chùng xuống. Một tiếng chim xa, một vệt nắng cuối ngày đổ dài trên hiên nhà, một con đường vắng, một cơn gió thổi qua hàng cây, một tiếng rao khuất dần ở cuối ngõ… tất cả đều có thể trở thành chiếc chìa khóa mở cánh cửa của một thời đã mất. Và rất lạ, trong những giờ phút con người thấy mình cô đơn nhất, mỏi mệt nhất, đời sống hiện tại nặng nề nhất, ký ức lại thường đưa ta trở về nơi xa xôi mà gần gũi nhất: tuổi thơ. Dường như tâm hồn biết tự tìm đường về mái nhà cũ mỗi khi nó bị thương. Dường như trong sâu thẳm mỗi người đều có một miền bình yên đã từng tồn tại, và mỗi khi đời quá lạnh, ta lại vô thức tìm về đó để sưởi ấm chính mình.
Tuổi thơ là vậy. Khi đang sống trong tuổi thơ, ta đâu biết đó là những ngày đẹp. Ta chỉ biết sáng thức dậy, chiều chạy chơi, tối ngủ ngon. Ta đâu biết một bữa cơm có cha có mẹ rồi sẽ có ngày trở thành một điều xa xỉ trong ký ức. Ta đâu biết tiếng mẹ gọi ngoài sân, tiếng cha ho nhẹ trong nhà, tiếng anh chị em cãi nhau vì một món đồ chơi, tiếng dép của bà bước chậm chậm bên hiên… rồi có lúc ta muốn nghe lại một lần mà chẳng thể nào nghe được nữa. Ngày ấy, hạnh phúc nhỏ lắm. Một cây kem. Một chiếc bánh. Một buổi được nghỉ học. Một trận mưa lớn để lũ trẻ ùa ra tắm. Một cánh diều no gió. Một đám bạn gọi nhau ngoài cổng. Một ngày Tết có bộ quần áo mới. Một bữa cơm có món mình thích. Một đêm được nằm cạnh mẹ nghe kể chuyện. Một buổi chiều ngồi sau xe cha đi đâu đó thật xa mà trong trí nhớ của đứa trẻ tưởng như đang được đi đến tận cùng thế giới. Hạnh phúc khi ấy không cần lý luận, không cần chứng minh, không cần điều kiện. Đứa trẻ cười vì vui, khóc vì đau, giận rồi quên, buồn rồi chạy đi chơi. Nó không mang theo những chiếc túi vô hình của nghi ngờ, tính toán, hơn thua, thành bại. Tâm hồn nó trong trẻo như giọt sương đầu ngày, chưa biết đời có những cuộc chia tay không hẹn ngày trở lại, chưa hiểu lòng người có thể thay đổi, chưa biết có những lời hứa được nói ra rất dễ nhưng giữ lại thì khó vô cùng. Và có lẽ chính vì chưa biết nhiều nên nó lại có một thứ giàu có mà người lớn càng sống càng đánh mất: sự đơn sơ.
Lớn lên rồi, người ta có nhiều thứ hơn nhưng lại thường vui ít hơn. Có tiền nhưng lo mất tiền. Có vị trí nhưng sợ mất vị trí. Có danh tiếng nhưng sợ người khác không còn nhìn mình như trước. Có nhiều mối quan hệ nhưng lại ít người có thể ngồi bên cạnh mà không cần phòng thủ. Có chiếc điện thoại chứa hàng ngàn số liên lạc nhưng đôi khi đến lúc lòng tan nát lại chẳng biết gọi cho ai. Có căn nhà rộng nhưng những người ở trong nhà lại sống mỗi người trong một thế giới. Có những bữa ăn đắt tiền nhưng chẳng ngon bằng chén cơm nguội ngày xưa mẹ chan chút nước cá. Có những chuyến đi xa thật đẹp nhưng trong lòng vẫn nhớ con đường đất nhỏ từng đi chân trần. Có những buổi tiệc đầy ánh sáng mà ta vẫn thèm một đêm mất điện của tuổi thơ, cả nhà quây quần bên ngọn đèn dầu, nghe người lớn kể chuyện rồi ngủ quên lúc nào không biết. Thời gian đã cho ta rất nhiều nhưng cũng lấy đi rất nhiều. Nó cho ta sự trưởng thành, nhưng lấy đi sự ngây thơ. Nó cho ta kinh nghiệm, nhưng lấy đi sự hồn nhiên. Nó cho ta đôi mắt biết nhìn xa, nhưng đôi khi lại lấy mất khả năng nhìn một bông hoa mà vui cả buổi. Nó dạy ta biết đề phòng, nhưng cũng làm ta khó tin. Nó cho ta biết giá trị của đồng tiền nhưng đôi khi khiến ta quên giá trị của một cái ôm. Nó bắt ta học cách bước nhanh giữa cuộc đời, nhưng rồi đến một buổi chiều nào đó, chính ta lại chỉ ước được đi thật chậm về con ngõ năm xưa.
Nỗi buồn của buổi chiều thường có một cách rất riêng để gọi ký ức trở về. Buổi sáng người ta còn bận. Ban trưa người ta còn phải chạy. Nhưng chiều xuống, khi ánh sáng yếu dần, khi phố xá bắt đầu mang màu mỏi mệt, khi ngày giống như một người đã đi hết chặng đường của mình và đang cúi đầu trước bóng tối, lòng người cũng dễ mềm lại. Có những người ngồi bên cửa sổ nhìn nắng tắt mà nhớ mẹ. Có người nghe tiếng trẻ con ngoài đường mà nhớ những người bạn đã thất lạc từ lâu. Có người nhìn mái nhà cũ và chợt giật mình nhận ra cha mẹ đã già. Có người trở lại quê hương nhưng căn nhà vẫn đó mà người xưa không còn. Có người đứng giữa sân trường cũ, chạm tay lên thân cây đã lớn và bỗng thấy mình bé lại. Có người nghe một bài hát từ mấy chục năm trước mà nước mắt cứ thế rơi xuống không vì một lý do rõ ràng nào. Thật ra không phải họ yếu đuối. Chỉ là ký ức có những con đường riêng để đi đến trái tim. Có những cánh cửa ta tưởng đã khóa, nhưng chỉ một mùi hương, một tiếng chuông, một chiều mưa, một tiếng gọi quen quen cũng đủ làm nó bật mở. Và phía sau cánh cửa ấy là cả một thế giới đang còn nguyên vẹn: mẹ vẫn còn trẻ, cha vẫn khỏe mạnh, ông bà vẫn còn ngồi đó, lũ bạn vẫn chưa đi mỗi đứa một phương, căn bếp vẫn còn khói, sân nhà vẫn đầy nắng, và chính ta vẫn là đứa trẻ chưa biết sợ ngày mai.
Có lẽ đau nhất không phải là tuổi thơ đã đi qua, mà là ta biết nó không thể quay lại. Nếu tuổi thơ chỉ đi đâu đó rồi một ngày có thể trở về, chắc con người đã không buồn đến thế khi nhớ lại. Nhưng không. Có những thứ một khi đã qua là qua vĩnh viễn. Ta có thể trở về ngôi nhà cũ, nhưng không thể trở về thời gian cũ. Ta có thể mua lại món đồ chơi ngày xưa, nhưng không thể mua lại ánh mắt của mình ngày ấy. Ta có thể đứng dưới gốc cây năm nào, nhưng những người từng đứng cạnh ta có thể đã không còn. Ta có thể tìm lại con đường, nhưng không tìm lại được đôi chân bé nhỏ từng chạy trên con đường ấy. Ta có thể gọi tên một người đã khuất, nhưng không thể nghe họ trả lời như xưa. Đó là sự nghiệt ngã mà cũng là vẻ đẹp đau đớn của thời gian: mọi khoảnh khắc chỉ đến một lần. Chính vì chỉ đến một lần nên nó quý. Chính vì không thể giữ nên nó trở thành kỷ niệm. Chính vì đã mất nên ta mới hiểu ngày ấy mình đã từng giàu có biết bao.
Có khi ta ngồi giữa một buổi chiều rất vắng và tự hỏi: tại sao ngày ấy vui dễ dàng đến vậy, còn bây giờ muốn bình an một chút cũng khó? Ngày ấy chẳng có gì nhiều. Một căn nhà đơn sơ. Một chiếc quạt cũ. Một chiếc bàn gỗ. Một mảnh sân. Một vài món đồ chơi vụng về. Vậy mà vui. Bây giờ tiện nghi hơn, đủ đầy hơn, biết nhiều hơn, đi nhiều hơn, nhưng đôi lúc tâm hồn lại khô khan như một mảnh đất lâu ngày không mưa. Có lẽ không phải vì cuộc đời hôm nay không còn điều đẹp, mà vì mắt ta đã phức tạp. Đứa trẻ nhìn một cánh bướm và chạy theo. Người lớn nhìn cánh bướm rồi vẫn nghĩ đến công việc. Đứa trẻ thấy trời mưa thì thích. Người lớn thấy trời mưa thì lo kẹt xe, lo áo quần, lo lịch trình. Đứa trẻ có thể ngồi hàng giờ với một món đồ chơi. Người lớn có cả thế giới trong chiếc điện thoại mà vẫn thấy trống. Đứa trẻ dễ tha thứ vì nó không biết nuôi hận. Người lớn nhớ rất lâu một câu làm mình tổn thương. Đứa trẻ thấy ai cũng có thể thành bạn. Người lớn phải cân nhắc ai đáng tin. Có phải vì vậy mà tuổi thơ giống như một thiên đường? Không hẳn vì đời sống lúc ấy hoàn hảo, nhưng vì tâm hồn ta lúc ấy còn biết đón nhận mọi sự với đôi bàn tay mở.
Càng lớn, ta càng mang nhiều lớp áo. Lớp áo của vai trò. Lớp áo của trách nhiệm. Lớp áo của địa vị. Lớp áo của thể diện. Lớp áo của những điều người khác mong đợi nơi ta. Ta học cách nói câu thích hợp, cười lúc cần cười, im lúc cần im. Ta học cách che giấu mỏi mệt. Ta học cách nói “không sao” ngay cả khi trong lòng có rất nhiều chuyện. Ta học cách tiếp tục đi dù bên trong gần như kiệt sức. Và rồi trong một buổi chiều ít người qua lại, khi chẳng còn phải diễn vai nào nữa, tâm hồn bỗng nhớ đến đứa trẻ ngày xưa. Đứa trẻ ấy không biết giấu nước mắt. Đau thì khóc. Vui thì cười. Nhớ thì chạy đi tìm. Thương thì ôm. Không thích thì nói không thích. Nó chân thật đến mức người lớn chúng ta nhiều khi phải ghen tị. Có lẽ điều ta nhớ không chỉ là tuổi thơ. Ta nhớ chính mình trước khi đời dạy mình phải phức tạp.
Nhưng nếu chỉ nhìn tuổi thơ như một thiên đường đã mất thì ký ức rất dễ trở thành nơi khiến ta buồn hơn. Điều đáng quý không phải là cố quay lại làm một đứa trẻ, vì không ai có thể sống ngược dòng thời gian. Điều đáng quý là học lại từ đứa trẻ năm xưa cách sống hôm nay. Ta không thể bé lại nhưng có thể đơn sơ hơn. Ta không thể không biết những cay đắng của đời, nhưng có thể không để cay đắng biến lòng mình thành chua chát. Ta không thể tránh mọi tổn thương, nhưng có thể không biến những vết thương thành lý do để làm tổn thương người khác. Ta không thể sống vô tư như ngày bé, nhưng có thể giữ lại một góc tâm hồn không bị tiền bạc, hơn thua và danh vọng chiếm hết. Ta có thể học lại cách ngạc nhiên trước một bình minh. Học lại cách cảm ơn một bữa cơm. Học lại cách gọi cho một người thân chỉ để hỏi họ có khỏe không. Học lại cách ngồi cạnh ai đó mà không cầm điện thoại. Học lại cách nghe tiếng gió, nhìn một hàng cây, bước chậm qua một con đường. Học lại cách xin lỗi nhanh hơn và giận lâu ít hơn. Học lại cách đặt tay lên ngực mà hỏi: “Điều mình đang theo đuổi có thật sự đáng để đánh đổi bình an này không?”
Và rồi, giữa tất cả nỗi nhớ ấy, đức tin mở cho ta một cánh cửa khác. Tuổi thơ có thể qua, người thân có thể mất, mái nhà xưa có thể thay đổi, nhưng Thiên Chúa thì không đi qua đời ta như thời gian. Người ở lại. Người đã có mặt trong những buổi sáng ta chạy chân trần trên sân đất. Người có mặt trong bữa cơm nghèo mà ấm. Người có mặt trong tiếng mẹ ru, trong bàn tay cha, trong lời kinh bà dạy. Khi ấy ta chưa hiểu Người, nhưng Người đã hiểu ta. Khi ấy ta chưa biết gọi tên ân sủng, nhưng ân sủng đã bao phủ những tháng ngày bình dị. Có lẽ nhiều năm sau nhìn lại, ta mới nhận ra tuổi thơ không chỉ là một quãng đời đẹp, mà còn là một dấu tích của tình thương Thiên Chúa. Người đã cho ta nếm trước một chút cảm giác được chở che để sau này giữa những cơn bão, ta biết bình an không phải là điều hoàn toàn xa lạ. Người đã đặt vào ta ký ức về một mái nhà để khi mỏi mệt, ta hiểu lòng mình vẫn đang khao khát một mái nhà lớn hơn: mái nhà của Thiên Chúa.
Có những lúc ta trách thời gian. Ta nói thời gian lấy cha mẹ đi. Lấy tuổi trẻ đi. Lấy bạn bè đi. Lấy sự hồn nhiên đi. Nhưng có lẽ thời gian cũng là một người thầy nghiêm khắc. Nó lấy đi để ta học biết quý. Khi cha mẹ còn trẻ, ta cứ tưởng họ sẽ mãi như vậy. Đến lúc tóc họ bạc, ta mới hiểu mỗi lần còn được nghe tiếng họ gọi là một ân huệ. Khi còn đông đủ anh em trong nhà, ta cứ nghĩ Tết nào cũng vậy. Đến lúc mỗi người một nơi, ta mới hiểu một bữa cơm đủ mặt quý đến mức nào. Khi bạn bè còn ngày nào cũng gặp, ta không nghĩ sẽ có ngày tìm nhau trên mạng chỉ để thấy một bức ảnh đã cũ. Khi còn sức khỏe, ta không biết một giấc ngủ yên là quà. Khi còn có thể đi nhanh, ta không biết một bước chân bình thường là phép lạ. Bởi vậy, nhớ tuổi thơ mà chỉ tiếc thì chưa đủ. Ký ức phải dạy ta biết sống hôm nay.
Có lẽ một trong những bi kịch của con người là thường yêu những điều đã mất hơn những điều đang còn. Khi mẹ còn bên cạnh, ta bận. Khi mẹ đi rồi, ta có cả một đời để nhớ. Khi cha còn khỏe, ta ít ngồi nói chuyện. Khi cha yếu, ta mới mong có thêm một buổi chiều được nghe cha kể chuyện cũ. Khi con còn bé, cha mẹ mong con lớn thật nhanh. Khi con trưởng thành và đi xa, cha mẹ lại ước nó nhỏ lại. Khi còn trẻ, ta mong sớm thành công. Khi đi qua nửa đời người, ta chỉ mong có một ngày không phải vội. Ta cứ đuổi theo phía trước rồi quay lại thương phía sau. Có lẽ vì thế mà những buổi chiều hoang vắng rất cần thiết. Nó làm ta chậm lại. Nó buộc ta nghe tiếng lòng. Nó hỏi ta một câu mà giữa những tiếng ồn ban ngày ta thường tránh né: “Những gì đang còn quanh mình, liệu một ngày nào đó cũng trở thành điều mình đau đáu nhớ hay không?”
Nếu câu trả lời là có, thì sao không yêu ngay hôm nay? Sao không gọi cho mẹ khi còn có thể? Sao không ngồi với cha thêm một chút? Sao không ôm con mình lâu hơn? Sao không tha thứ cho người anh em trước khi một biến cố bất ngờ biến câu xin lỗi thành quá muộn? Sao không đi về quê khi đôi chân còn khỏe? Sao không bước vào căn nhà cũ và ngồi thật lâu với những người đang còn hiện diện? Sao cứ phải để một điều trở thành ký ức rồi mới nhận ra nó quý? Con người thật lạ. Cái đang có thì xem là bình thường. Cái đã mất thì nâng thành báu vật. Có lẽ trưởng thành không phải là thôi nhớ quá khứ, mà là biết dùng nỗi nhớ quá khứ để yêu hiện tại tử tế hơn.
Và trong đời sống thiêng liêng cũng thế. Có những người nhớ một thời đạo đức sốt sắng, nhớ những ngày đầu ơn gọi, nhớ những lần cầu nguyện mà lòng cháy lên, rồi than rằng bây giờ khô khan quá. Có người nhớ thuở đầu đi tu, mọi sự sao đẹp, sao nhẹ, sao đầy nhiệt huyết. Có người nhớ ngày chịu chức, ngày khấn, ngày đầu bước vào sứ vụ, rồi nhìn hiện tại mà mỏi mệt. Nhưng Thiên Chúa không chỉ ở trong những “ngày xưa đẹp nhất”. Người cũng đang ở trong buổi chiều hôm nay, ngay giữa cơn mỏi mệt, ngay trong sự khô khan, ngay trong những điều tưởng như chẳng còn cảm xúc. Đức tin không phải là cố tìm lại cảm giác của ngày đầu, mà là tiếp tục yêu trong ngày hôm nay, với một trái tim đã trải qua nhiều vết xước hơn nhưng cũng có thể sâu hơn. Đứa trẻ yêu vì đơn sơ. Người trưởng thành được mời gọi yêu vì trung tín. Và sự trung tín ấy đôi khi đẹp hơn cả những rung động ban đầu.
Buổi chiều hoang vắng, vì thế, không nhất thiết phải kết thúc bằng một tiếng thở dài. Nó có thể bắt đầu bằng nỗi buồn, nhưng đừng để nó kết thúc trong tuyệt vọng. Hãy để điệp khúc của hy vọng vang lên. Hãy để lời cầu nguyện len vào giữa những kỷ niệm. Hãy nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con nhớ những ngày đã qua. Con nhớ những người đã không còn. Con nhớ chính con của một thuở xa xưa. Nhưng con tin những điều tốt đẹp ấy không biến mất vô nghĩa. Chúng đang sống trong con, đang làm nên con của hôm nay. Xin cho con đừng chỉ khóc vì những gì đã mất, nhưng biết cảm tạ vì con đã từng được có. Xin cho con đừng khép lòng trước ngày hôm nay chỉ vì ngày hôm qua quá đẹp. Xin cho con biết đón lấy tuổi đời hiện tại như một món quà mới.”
Có một điều rất lạ trong đức tin Kitô giáo: với Chúa, ký ức không phải là nghĩa trang của những điều đã chết. Ký ức có thể trở thành nơi của lòng biết ơn. Ta nhớ cha mẹ không phải chỉ để khóc, mà để sống tử tế như họ từng dạy. Ta nhớ tuổi thơ không phải để ghét tuổi già, mà để gìn giữ sự trong sáng giữa những phức tạp. Ta nhớ những người đã khuất không phải như những người biến mất, nhưng như những người đã đi trước. Ta nhớ những niềm vui cũ để hiểu rằng nguồn của niềm vui chưa bao giờ chỉ nằm trong hoàn cảnh. Nếu một căn nhà nhỏ ngày xưa có thể chứa cả thiên đường, thì căn phòng hiện tại cũng có thể trở thành nơi bình an nếu trong đó có tình yêu. Nếu một bữa cơm nghèo ngày xưa có thể ngon đến thế, thì hôm nay ta vẫn có thể hạnh phúc khi biết ngồi ăn với lòng biết ơn. Nếu ngày xưa ta vui vì một món quà nhỏ, thì hôm nay ta vẫn có thể vui nếu không để lòng mình trở thành chiếc giếng không đáy.
Ta thường nói “ước gì được trở lại ngày xưa”. Nhưng có lẽ Chúa không muốn ta quay lại. Người muốn ta đi tới, mang theo những gì tinh đẹp nhất của ngày xưa. Mang theo sự đơn sơ. Mang theo lòng tin. Mang theo khả năng vui vì điều bé nhỏ. Mang theo cách tha thứ mau lẹ. Mang theo ánh mắt nhìn người khác ít thành kiến hơn. Mang theo lòng biết ơn. Mang theo một trái tim không ngại nói lời yêu thương. Đó mới là cách làm cho tuổi thơ sống lại, không phải trong thời gian nhưng trong cách sống.
Rồi sẽ đến một ngày, chính buổi chiều hôm nay cũng trở thành “ngày xưa”. Căn phòng ta đang ngồi, người đang ở cạnh ta, công việc đang khiến ta mệt, con đường ta đang đi, khuôn mặt ta đang thấy mỗi ngày… tất cả rồi có thể thành kỷ niệm. Nghĩ như thế, tự nhiên ta thấy đời dịu lại. Những điều làm ta bực hôm nay có thể chẳng đáng gì sau mười năm. Những cuộc hơn thua đang khiến ta mất ngủ rồi sẽ trở nên nhỏ bé. Những người ta đang giận, có thể một ngày ta chỉ còn mong được gặp lại. Thời gian sẽ làm rất nhiều thứ đổi khác. Vậy thì tại sao không hiền hơn một chút? Tại sao không nhẫn hơn một chút? Tại sao không bỏ bớt một cuộc tranh cãi vô ích? Tại sao không bớt một lời làm đau nhau? Tại sao không sống như thể mỗi cuộc gặp đều có thể là một trong những cuộc gặp cuối cùng?
Tuổi thơ dạy ta điều ấy. Nó dạy ta rằng những gì quý nhất thường rất bình thường khi đang có. Một tiếng gọi. Một mái nhà. Một bữa cơm. Một người đợi cửa. Một bàn tay đặt lên vai. Một buổi chiều không có gì đặc biệt. Ta không biết ngày nào là ngày cuối cùng mẹ còn khỏe. Không biết bữa cơm nào là bữa cuối còn đủ người. Không biết lần gặp nào sẽ thành lần cuối. Và có lẽ chính vì không biết, ta cần yêu trọn vẹn hơn. Không phải sống trong sợ hãi mất mát, mà sống trong tỉnh thức của lòng biết ơn.
Chiều càng xuống thấp, bóng tối càng nhiều. Nhưng người có đức tin không sợ hoàng hôn. Hoàng hôn không phải dấu chấm hết. Nó chỉ nhắc rằng một ngày đang khép lại để một ngày khác được sinh ra. Tuổi thơ đã khép, tuổi trẻ rồi cũng khép, những chặng đời khác rồi sẽ khép, nhưng cuộc sống không vì thế mà trở nên vô nghĩa. Người Kitô hữu biết rằng mọi buổi chiều của đời người đều đang hướng về một bình minh khác. Có một quê nhà mà ở đó những điều tốt đẹp không còn bị thời gian lấy đi. Có một bàn tiệc nơi những cuộc chia ly được chữa lành. Có một mái nhà nơi người ta không còn sợ mất nhau. Có một Người Cha vẫn đứng đợi. Và có lẽ sâu trong nỗi nhớ quê cũ, nhớ tuổi thơ, nhớ những người thân yêu, ta đang mang một nỗi nhớ lớn hơn mà chính mình nhiều khi không nhận ra: nỗi nhớ Thiên Đàng.
Phải chăng vì vậy mà có những buổi chiều khiến ta buồn không gọi thành tên? Ta tưởng mình chỉ nhớ một mái nhà cũ, nhưng biết đâu linh hồn đang nhớ Ngôi Nhà thật. Ta tưởng chỉ nhớ vòng tay mẹ, nhưng biết đâu lòng ta đang khao khát vòng tay của Đấng đã tạo dựng ta. Ta tưởng chỉ tiếc một tuổi thơ đã mất, nhưng biết đâu tận đáy sâu tâm hồn là khát vọng trở về với sự nguyên tuyền mà tội lỗi và cuộc đời đã nhiều lần làm tổn thương. Thánh Augustinô đã hiểu điều ấy khi nói lòng con người khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa. Mọi nỗi nhớ đẹp nhất của đời này có thể chỉ là những tiếng vọng xa của một nỗi nhớ căn nguyên: nhớ Thiên Chúa.
Bởi vậy, mỗi khi buổi chiều xuống và lòng chợt buồn, đừng vội chống lại nỗi buồn. Có những nỗi buồn cần được ngồi cạnh. Hãy để nó kể chuyện. Hãy nghe nó nói về mẹ, về cha, về căn nhà, về lũ bạn, về những ngày nghèo mà vui, về những điều đã mất. Nhưng rồi đừng dừng ở đó. Hãy cầm từng ký ức lên và biến nó thành lời cảm tạ. “Tạ ơn Chúa vì con đã có một tuổi thơ. Tạ ơn Chúa vì con đã từng được yêu. Tạ ơn Chúa vì con đã có một mái nhà để nhớ, một người để thương, một nơi để quay về trong tâm tưởng. Tạ ơn Chúa cả vì những điều đã đi qua, bởi nếu chưa từng có, hôm nay con cũng chẳng có gì để mà nhớ.”
Khi lời tạ ơn xuất hiện, nỗi buồn đổi màu. Nó vẫn buồn nhưng không còn tối. Nó có ánh sáng. Nước mắt vẫn rơi nhưng không còn là nước mắt tuyệt vọng. Đó là nước mắt của một người biết mình đã được ban cho nhiều hơn điều mình từng nhận ra. Lúc ấy, quá khứ không còn là bàn tay kéo ta lùi lại mà trở thành bàn tay đẩy ta về phía trước. Ta sống tốt hơn vì biết đời ngắn. Ta yêu nhiều hơn vì biết người không ở mãi. Ta tha thứ nhanh hơn vì biết ngày tháng trôi mau. Ta cầu nguyện sâu hơn vì biết chỉ có Chúa là nơi mọi điều được gìn giữ trọn vẹn.
Có thể ngày mai ta vẫn mệt. Có thể cuộc đời vẫn còn những điều không như ý. Có thể những buổi chiều hoang vắng vẫn trở lại. Nhưng mỗi lần như thế, hãy nhớ: ta không chỉ là người bị thời gian lấy mất tuổi thơ. Ta còn là người được Thiên Chúa trao cho một hiện tại để tiếp tục sống, tiếp tục yêu, tiếp tục làm nên những kỷ niệm mới cho chính mình và cho người khác. Biết đâu một đứa trẻ nào đó hôm nay đang sống tuổi thơ bên cạnh ta. Nó sẽ nhớ gì về ta sau vài chục năm nữa? Nó sẽ nhớ ta là người luôn cau có, bận rộn, hay là người từng cúi xuống nghe nó kể một câu chuyện rất ngớ ngẩn nhưng rất quan trọng đối với nó? Nó sẽ nhớ một căn nhà đầy tiếng cãi vã, hay một mái nhà có những bữa cơm bình thường nhưng ấm? Nó sẽ nhớ cha mẹ luôn nhìn màn hình, hay nhớ những buổi chiều được dắt tay đi bộ? Có khi thiên đường tuổi thơ của một người đang được tạo nên từ chính cách ta sống hôm nay.
Vậy thì đừng chỉ tiếc tuổi thơ của mình. Hãy làm cho tuổi thơ của người khác trở thành ký ức đẹp. Hãy tạo cho con trẻ một ngôi nhà mà sau này chúng có thể nhớ đến với lòng biết ơn. Hãy để cha mẹ già có những buổi chiều không quá cô đơn. Hãy gọi cho người anh em. Hãy ngồi cạnh người đang mỏi mệt. Hãy nói một lời tử tế. Hãy bớt phán xét. Hãy giữ lại trong đời một góc thật hiền. Bởi biết đâu nhiều năm sau, chính một lời hôm nay của ta sẽ trở thành ký ức cứu ai đó khỏi một buổi chiều tuyệt vọng.
Và khi chiều nay tắt nắng, ta có thể vẫn nghe một tiếng thở dài từ sâu trong lòng. Nhưng hãy để sau tiếng thở dài ấy là một lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, con không xin thời gian quay lại. Con chỉ xin cho con đủ khôn ngoan để sống phần đời còn lại sao cho một ngày nhìn lại, con không phải nói quá nhiều chữ ‘giá như’. Con không xin được trở lại làm đứa trẻ. Con chỉ xin giữ được một trái tim trẻ thơ trước mặt Ngài. Con không xin những người đã đi xa trở lại theo cách con muốn. Con chỉ xin tin rằng trong tình yêu của Ngài, không một yêu thương chân thành nào bị mất. Con không xin đời hết hoàng hôn. Con chỉ xin trong mỗi hoàng hôn, con còn nhìn thấy ánh sáng của Ngài.”
Rồi có lẽ ta sẽ hiểu, buổi chiều hoang vắng không phải chỉ là lúc một ngày tàn. Nó có thể là giờ của ân sủng. Giờ con người thôi chạy để nhớ mình là ai. Giờ những chiếc mặt nạ rơi xuống. Giờ ta nghe tiếng một đứa trẻ năm xưa trong chính mình vẫn đang gọi: “Đừng sống khó quá. Đừng để lòng mình thành đá. Đừng quên vui. Đừng quên thương. Đừng quên nhà. Đừng quên Chúa.”
Nếu còn nghe được tiếng gọi ấy, thì tuổi thơ chưa mất hoàn toàn. Nó đã đi qua khỏi lịch thời gian, nhưng tinh thần của nó vẫn có thể ở lại trong một trái tim biết đơn sơ, trong sạch, biết tin, biết yêu và biết trở về. Và nếu mỗi buổi chiều của cuộc đời giúp ta trở về gần Chúa hơn, gần người thân hơn, gần chính mình hơn, thì ngay cả nỗi buồn cũng không còn vô ích. Nó trở thành một con đường. Một con đường âm thầm dẫn từ ký ức đến lòng biết ơn, từ tiếc nuối đến tỉnh thức, từ cô đơn đến cầu nguyện, từ hoàng hôn của một ngày đã qua đến hy vọng về một bình minh không bao giờ tắt.
Có những thiên đường ta đã đi qua và không thể trở lại. Nhưng có một Thiên Đàng ta đang đi tới. Và có lẽ đó chính là lời an ủi sâu xa nhất cho mọi nỗi nhớ của kiếp người.
Lm. Anmai, CSsR
NGUYỆN XIN Ở LẠI VỚI CON
Có những lời cầu nguyện được cất lên bằng môi miệng, có những lời cầu nguyện được đọc theo thói quen, có những lời cầu nguyện người ta vẫn nói mỗi ngày mà lòng chưa chắc đã rung động; nhưng cũng có những lời cầu nguyện không còn là lời nữa, bởi nó đã trở thành tiếng thở dài của tâm hồn, thành tiếng nấc của một con người đứng trước sự mong manh của chính mình và chỉ còn biết níu lấy Thiên Chúa. “Nguyện xin ở lại với con” là một lời như thế. Nghe tưởng đơn sơ, nhưng nếu đã từng đi qua những ngày dài của cô độc, từng trải qua những đêm không ngủ vì nỗi lo, từng nếm cái lạnh lẽo của sự hiểu lầm, từng chứng kiến những người mình yêu thương lần lượt rời xa, từng có lúc thấy sức lực mình cạn dần mà con đường trước mặt vẫn hun hút, ta mới hiểu được lời ấy sâu đến chừng nào. Đó không phải là một lời yêu cầu của kẻ có quyền đòi hỏi Thiên Chúa phải làm theo ý mình, nhưng là lời van nài của một phận người biết rằng nếu Chúa không ở lại thì mình chẳng còn gì để bám víu. Nó gợi lại chiều Em-mau năm xưa, khi hai môn đệ đã đi một quãng đường dài với một trái tim tan vỡ. Người họ từng đặt tất cả hy vọng đã chết. Những giấc mơ tưởng như rất đẹp đã tan. Những lời hứa về Nước Trời dường như cũng bị đóng đinh trên thập giá. Họ rời Giêrusalem như những người thất trận, bước đi mà lòng nặng trĩu. Giữa lúc ấy, Đức Giêsu đến gần và cùng đi với họ, nhưng mắt họ còn bị ngăn cản nên chưa nhận ra Người. Có lẽ đời ta cũng thế. Chúa vẫn đi bên cạnh mà ta không nhận ra. Chúa vẫn nghe những câu chuyện của ta, nhưng ta tưởng Người im lặng. Chúa vẫn âm thầm giải thích những gì đang xảy ra, nhưng lòng ta bị phủ bởi quá nhiều thất vọng nên không hiểu. Cho đến khi chiều xuống, đường dài sắp hết, bóng tối dần phủ lên mọi vật, hai môn đệ mới thốt lên: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Một lời mời rất đơn sơ, nhưng sau đó là cả một phép lạ: Chúa bước vào nhà, bẻ bánh, mắt họ mở ra, và trái tim tưởng đã nguội lạnh lại bừng cháy. Có lẽ trong đời sống đức tin, chúng ta không cần xin quá nhiều điều, chỉ cần xin cho được điều ấy: Chúa ở lại.
Có những lúc ta tưởng mình cần tiền bạc để giải quyết mọi khó khăn, cần một người có quyền lực để đỡ nâng, cần một người hiểu mình để vỗ về, cần một cánh cửa mở ra để thoát khỏi bế tắc. Những điều ấy không sai, bởi con người vẫn là con người, vẫn cần cơm ăn áo mặc, cần tình thân, cần bạn bè, cần những bàn tay của nhau. Nhưng rồi sẽ có một ngày ta nhận ra có những nỗi đau tiền bạc không chữa được, có những khoảng trống không một con người nào lấp đầy, có những đêm mà lời an ủi của người khác cũng trở nên bất lực. Có những cánh cửa đóng lại không phải vì ta thiếu tài khéo, nhưng vì đời sống vốn có những giới hạn ta không thể vượt qua bằng sức mình. Có người đứng trước bệnh tật của người thân mà thấy mọi khả năng của mình nhỏ bé. Có người nhìn một cuộc hôn nhân đang rạn vỡ mà chẳng biết phải nói gì. Có người ôm đứa con lầm lạc trong lòng mà chỉ biết khóc. Có người đi qua tuổi già, nhìn căn nhà từng đông vui nay mỗi ngày một vắng, mới hiểu rằng rồi ai cũng phải bước vào một miền cô tịch của đời mình. Và chính trong những lúc ấy, lời cầu nguyện “Nguyện xin ở lại với con” mới không còn là một câu đạo đức, nhưng trở thành hơi thở cuối cùng của niềm tin. Chúa ơi, con không xin Chúa cất hết mọi đau khổ, con chỉ xin Chúa ở lại. Con không xin Chúa làm cho con đường trước mặt luôn bằng phẳng, chỉ xin Chúa cùng đi với con. Con không xin Chúa cho mọi người đều hiểu con, chỉ xin khi người ta hiểu lầm con thì Chúa vẫn biết lòng con. Con không xin Chúa giữ mãi những người con thương bên cạnh, chỉ xin khi họ phải rời đi, Chúa đừng rời bỏ con. Con không xin Chúa cho đời con không có đêm tối, chỉ xin trong đêm tối ấy con vẫn còn nhìn thấy một ánh sáng nhỏ từ sự hiện diện của Ngài.
“Đừng lìa bỏ con, Ngài đừng lãng quên thân phận đời con.” Lời ấy chạm đến một nỗi sợ rất sâu của con người: sợ bị bỏ rơi. Có lẽ ngay từ thuở bé, ai trong chúng ta cũng đã từng sợ bị bỏ lại một mình. Một đứa trẻ giữa đám đông không nhìn thấy mẹ có thể òa khóc dù xung quanh có rất nhiều người. Nó không cần cả đám đông, nó chỉ cần một người quen thuộc. Lớn lên, nỗi sợ ấy không mất đi, chỉ khoác những chiếc áo khác. Ta sợ người mình yêu thay lòng. Ta sợ bạn bè quên ta. Ta sợ khi mình không còn hữu ích thì chẳng ai cần đến nữa. Ta sợ già yếu, bệnh tật, sợ trở thành gánh nặng. Ta sợ một ngày nào đó điện thoại im lặng, nhà cửa im lặng, và chẳng còn ai hỏi: “Hôm nay anh khỏe không? Hôm nay chị có ổn không?” Có những người bên ngoài rất mạnh mẽ nhưng bên trong chỉ mong có một người thật lòng ở lại. Có những người cả ngày cười nói nhưng tối về lại đối diện với một căn phòng lạnh và một nỗi buồn không gọi được thành tên. Có những người có hàng ngàn người theo dõi trên mạng xã hội nhưng lại không có một người để gọi lúc hai giờ sáng khi lòng mình tan vỡ. Con người thời nay có thể kết nối với cả thế giới, nhưng chưa chắc đã thoát khỏi cảm giác bị bỏ rơi. Và nếu nỗi sợ lớn nhất của ta là bị con người rời bỏ, thì niềm an ủi lớn nhất của đức tin là biết rằng Thiên Chúa không bỏ rơi ta.
Kinh Thánh là câu chuyện dài về một Thiên Chúa cứ mãi ở lại với con người, ngay cả khi con người nhiều lần bỏ Người. Từ vườn địa đàng, sau khi Ađam và Evà phạm tội, chính Thiên Chúa là Đấng đi tìm: “Ngươi ở đâu?” Con người trốn, Chúa tìm. Con người sợ, Chúa gọi. Con người phản bội, Chúa vẫn mở một con đường trở về. Dân Israel bao lần cứng lòng trong sa mạc, Chúa vẫn đi với họ trong cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm. Họ than trách, Người vẫn cho manna. Họ kêu khát, Người cho nước từ tảng đá. Họ chạy theo ngẫu tượng, Người sửa dạy nhưng không xóa tên họ khỏi lòng mình. Các ngôn sứ nhiều lần diễn tả tình yêu Thiên Chúa bằng những lời rất cảm động: dù người mẹ có thể quên đứa con mình đã mang nặng đẻ đau, Thiên Chúa vẫn không quên dân Người. Rồi đến khi Đức Giêsu bước vào lịch sử, lời hứa ấy mang một khuôn mặt cụ thể: Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúa không cứu con người từ xa. Người bước xuống, ở trong một gia đình, đi trên những con đường bụi bặm, ngồi ăn với người tội lỗi, chạm đến người phong cùi, khóc trước mồ Ladarô, mệt mỏi bên bờ giếng, ngủ trên thuyền, đau đớn trong vườn Cây Dầu, cô đơn trên thập giá. Không có một nỗi đau nào của con người mà Đức Kitô hoàn toàn xa lạ. Vì vậy, khi ta xin Người ở lại, ta không xin một Thiên Chúa chưa bao giờ biết buồn, nhưng xin một Đấng đã từng rơi lệ. Ta không xin một Thiên Chúa chưa bao giờ biết cô đơn, nhưng xin Đấng đã từng thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Ta không xin một Thiên Chúa đứng ngoài cuộc đời, nhưng xin một Đấng đã bước vào tận cùng thân phận con người để không một ai còn phải nói rằng Thiên Chúa không hiểu mình.
Có khi chúng ta trách Chúa đã bỏ mình chỉ vì Chúa không làm điều ta muốn. Ta cầu xin mà bệnh vẫn không khỏi. Ta cầu nguyện cho gia đình mà bất hòa vẫn còn. Ta xin cho con cái thay đổi mà chúng vẫn đi xa. Ta xin cho một dự định tốt đẹp được thành công nhưng cánh cửa vẫn đóng. Ta xin cho người mình yêu được sống, cuối cùng vẫn phải đứng bên quan tài. Ta tưởng Thiên Chúa đã lìa bỏ mình. Nhưng ở lại không có nghĩa là Chúa luôn thay đổi hoàn cảnh theo ý ta. Ở lại là Người không để ta một mình trong hoàn cảnh ấy. Có một sự khác biệt rất lớn giữa việc không còn bão và việc có Chúa ở trong thuyền. Đời người môn đệ không được hứa là sẽ không có bão, nhưng được bảo đảm rằng giữa bão tố, Chúa vẫn có mặt. Có những phép lạ làm biển lặng; nhưng cũng có những phép lạ lớn hơn: biển không lặng mà lòng người lại bình an. Có những phép lạ chữa khỏi bệnh; nhưng cũng có những phép lạ là người bệnh đi đến cuối hành trình trong bình an và tín thác. Có những phép lạ làm một vấn đề biến mất; nhưng cũng có những phép lạ là vấn đề vẫn còn mà con người bỗng có sức mạnh để mang lấy nó. Chúng ta thường muốn Chúa đưa mình ra khỏi thập giá, nhưng nhiều khi Chúa lại chọn đứng dưới thập giá với ta. Ta xin Người cất chén đắng, nhưng Người trao cho ta sức mạnh để uống chén ấy. Ta xin Người rút ngắn đêm tối, nhưng Người thắp một ngọn đèn để ta đi qua đêm tối. Đến cuối cùng, có lẽ điều quý nhất không phải là đời mình đã thoát được bao nhiêu thử thách, nhưng là giữa từng ấy thử thách, mình vẫn không đánh mất Chúa.
“Nguyện xin ở lại với con.” Lời ấy cũng nhắc ta đến những buổi chiều của cuộc đời. Không phải chỉ là buổi chiều của một ngày, nhưng là buổi chiều của tuổi tác, buổi chiều của sức khỏe, buổi chiều của một hành trình, buổi chiều của một mối quan hệ, buổi chiều của một đời người. Khi trẻ, người ta thường nghĩ còn rất nhiều thời gian. Ta chạy, ta mơ, ta dự định. Có những cuộc vui tưởng kéo dài mãi. Có những người bên cạnh tưởng chẳng bao giờ mất. Có một sức khỏe khiến ta tưởng thân xác mình bền vững. Nhưng đời sống âm thầm trôi đi. Một ngày soi gương thấy tóc bạc thêm. Một ngày bước cầu thang thấy chân chậm lại. Một ngày nhìn cha mẹ thấy họ già. Một ngày đứa trẻ ta từng bế trên tay đã thành người lớn và đi về một phương trời khác. Một ngày những người bạn cùng thời bắt đầu có người ra đi. Ta mới hiểu “ngày sắp tàn” không phải là một câu nói dành riêng cho những người hấp hối. Nó là sự thật của mọi phận người. Ai cũng đang đi về một buổi chiều. Chỉ khác nhau là người này ở buổi sáng, người kia đang trưa, người khác đã xế chiều. Và nếu vậy, lời khôn ngoan nhất có lẽ không phải là hỏi mình đã tích lũy được bao nhiêu, nổi tiếng đến đâu, hơn ai những gì, nhưng là hỏi: khi chiều xuống, ai sẽ ở lại với tôi? Những gì tôi đang chạy theo hôm nay có đi cùng tôi qua cửa sự chết không? Những lời khen có đi theo không? Tiền bạc có đi theo không? Chức vụ có đi theo không? Những cuộc hơn thua có còn nghĩa gì không? Cuối cùng, có lẽ chỉ còn lại một điều: tôi đã yêu Chúa thế nào, đã yêu người ra sao, và tôi có để Chúa ở lại trong đời mình hay không.
Nhưng xin Chúa ở lại cũng đồng nghĩa với việc ta phải mở cửa cho Người. Hai môn đệ Em-mau nói: “Mời ông ở lại với chúng tôi.” Họ phải mời. Đức Giêsu không cưỡng ép bước vào. Chúa có thể đứng rất gần nhưng vẫn tôn trọng cánh cửa lòng người. Có những người cầu xin Chúa ở lại nhưng lại không dành cho Chúa một chỗ nào trong ngày sống. Sáng mở mắt đã cầm điện thoại, tối nhắm mắt cũng còn nhìn màn hình. Cả ngày đầy tiếng nói, tin nhắn, công việc, tranh luận, nhưng không có năm phút thinh lặng. Ta nói “Chúa ở lại với con” nhưng lòng lại đầy những thứ Chúa không thể vui lòng ở cùng: sự cay độc, ganh ghét, tham lam, giả dối, những mối thù giữ mãi không buông. Ta muốn Chúa ở lại trong nhà nhưng lại không muốn Chúa đụng vào những căn phòng khóa kín của đời mình. Ta muốn Người an ủi, nhưng không muốn Người sửa dạy. Ta muốn Người ban bình an, nhưng không muốn từ bỏ những gì làm mất bình an. Ta muốn Người đi cùng, nhưng lại muốn tự chọn mọi con đường. Nếu thực sự xin Chúa ở lại, ta phải chấp nhận để Người trở thành chủ nhà chứ không chỉ là một vị khách đến khi mình buồn rồi lại mời đi khi mọi sự yên ổn.
Ở lại với Chúa là học sống chậm lại một chút. Không phải chậm vì lười, nhưng chậm để nhận ra. Có bao nhiêu điều đẹp đã đi ngang đời ta mà ta không thấy vì quá vội. Bao nhiêu người thương ta mà ta coi là đương nhiên. Bao nhiêu ân huệ được ban mà ta chỉ chú ý đến điều còn thiếu. Có người có gia đình nhưng cứ nhìn gia đình người khác. Có người có sức khỏe nhưng chỉ thấy mình chưa giàu. Có người được yêu thương nhưng cứ ám ảnh vì một người không thích mình. Có người có cơm ăn, nhà ở, bình an, nhưng lòng lúc nào cũng bất mãn. Đến khi mất đi mới tiếc. Ở lại với Chúa giúp ta học lại nghệ thuật biết đủ. Một chén cơm nóng cũng là ân huệ. Một buổi sáng còn thức dậy cũng là ân huệ. Một người còn ngồi bên bàn ăn với mình cũng là ân huệ. Một cuộc điện thoại của cha mẹ còn đổ chuông cũng là ân huệ. Một tiếng cười của con trẻ cũng là ân huệ. Một ngày còn có thể bước vào nhà thờ, làm dấu thánh giá và nói “Lạy Chúa” cũng đã là một đặc ân lớn. Khi ở với Chúa đủ lâu, ta bắt đầu nhìn cuộc đời bằng ánh mắt khác. Những điều nhỏ trở nên quý. Những điều từng làm ta nổi giận bỗng nhẹ hơn. Những người từng khiến ta khó chịu bỗng đáng thương hơn. Ta bớt đòi hỏi thế giới phải chiều mình, bớt ép người khác phải sống theo ý mình, bớt trách móc vì những chuyện không đáng. Không phải vì đời đã hoàn hảo, nhưng vì lòng đã có một nơi để neo đậu.
Có một điều rất lạ: càng già đi, con người càng hiểu rằng sự hiện diện quan trọng hơn lời nói. Khi ai đó đang đau khổ, đôi khi ta không cần nói gì cao siêu. Ngồi bên họ đã là đủ. Khi một người mất người thân, những lời giải thích thần học dài dòng chưa chắc làm họ bớt đau bằng một cái nắm tay. Khi ai đó sắp chết, có khi họ không còn cần lời khuyên, chỉ cần biết bên giường mình có một người. Thiên Chúa cũng cứu ta nhiều khi bằng sự hiện diện như thế. Người không luôn giải thích tất cả. Có những câu hỏi ta mang cả đời vẫn không có câu trả lời rõ ràng. Tại sao người tốt lại đau khổ? Tại sao có những đứa trẻ phải chịu bệnh tật? Tại sao có người cầu nguyện rất nhiều mà điều xấu vẫn xảy ra? Ta không đủ sức trả lời hết. Đức tin không phải là có lời giải cho mọi bí ẩn, nhưng là giữa bí ẩn vẫn tin rằng mình không một mình. Đứa trẻ ngủ yên trong vòng tay mẹ không phải vì nó hiểu hết những nguy hiểm ngoài kia, nhưng vì nó biết mẹ đang ở đó. Người Kitô hữu cũng vậy. Bình an không phải vì ta hiểu hết đường Chúa dẫn, mà vì biết bàn tay Người vẫn nắm tay mình.
Có những đêm đời người rất dài. Một đêm nằm trong bệnh viện nghe tiếng máy đo nhịp tim. Một đêm chờ người thân từ phòng cấp cứu. Một đêm một người mẹ chờ đứa con chưa về. Một đêm người vợ biết chồng phản bội. Một đêm người cha biết con mình đã sa vào con đường xấu. Một đêm người linh mục ngồi một mình sau những giờ mục vụ, thấy cả thân xác lẫn tâm hồn mỏi mệt. Một đêm người tu sĩ đối diện với câu hỏi về ơn gọi. Một đêm người già nghe tiếng mưa ngoài cửa sổ và nhớ những người đã khuất. Trong những đêm như thế, có khi chẳng cầu nguyện được nhiều. Chuỗi Mân Côi cầm trên tay mà tâm trí chẳng tập trung. Mở sách kinh mà mắt đọc nhưng lòng trống rỗng. Khi ấy đừng sợ. Chỉ cần nói: “Chúa ơi, ở lại với con.” Có khi đó đã là một lời cầu nguyện hoàn hảo. Chúa không cần ta phải nói đẹp. Người không chấm điểm câu chữ. Người nghe tiếng thở dài mà người khác không nghe. Người đọc được giọt nước mắt chưa kịp rơi. Người biết cả điều ta không đủ sức nói ra.
Và cũng có khi chính lúc cảm thấy Chúa xa nhất lại là lúc Người gần nhất. Trên đường Em-mau, các môn đệ tưởng Chúa đã chết và mọi chuyện đã hết, nhưng thực ra Chúa Phục Sinh đang đi ngay cạnh họ. Maria Mađalêna khóc bên mộ vì nghĩ mất Chúa, nhưng Đấng bà tìm đang đứng ngay phía sau. Các môn đệ hoảng loạn giữa biển vì tưởng là ma, nhưng đó là Đức Giêsu đang bước đến. Đời sống đức tin nhiều lần có nghịch lý như vậy. Ta nhìn một cánh cửa đóng và nghĩ Chúa bỏ mình, nhưng vài năm sau mới hiểu đó là cánh cửa Người đóng để cứu ta khỏi một con đường sai. Ta đau vì mất một điều, rồi sau này mới biết chính sự mất mát ấy đã làm ta trưởng thành. Ta buồn vì một người rời đi, nhưng nhờ thế học được rằng không thể xây cả cuộc đời trên một con người. Ta bị tổn thương, rồi qua thời gian học được lòng cảm thông với những người đang đau giống mình. Không phải mọi đau khổ đều được giải thích, cũng không nên dễ dàng gán mọi tai họa là “ý Chúa”; nhưng người có đức tin tin rằng không một giọt nước mắt nào bị lãng phí nếu ta để Chúa bước vào trong đó.
“Đừng lãng quên thân phận đời con.” Thân phận ấy quả thật nhỏ bé. Kinh Thánh ví đời người như cỏ ngoài đồng: sáng nở chiều tàn. Ta đến thế gian tay trắng và sẽ rời thế gian cũng tay trắng. Có người từng rất quyền lực, cuối cùng cũng nằm trên một chiếc giường như bao người khác. Có người từng sở hữu nhiều đất đai, cuối cùng chỉ cần một phần đất nhỏ. Có người từng được đám đông tung hô, đến một ngày tên tuổi cũng phai mờ. Nếu nhìn như thế, đời người có vẻ buồn. Nhưng đức tin lại mở ra một chân trời khác: ta nhỏ bé nhưng không vô nghĩa; ta là bụi đất nhưng là bụi đất được Thiên Chúa yêu; ta mong manh nhưng được khắc tên trong lòng Người. Giá trị của ta không nằm ở việc bao nhiêu người nhớ đến mình sau khi chết, nhưng ở chỗ Thiên Chúa nhớ. Con người có thể quên công lao của ta. Người ta có thể hiểu sai câu chuyện đời ta. Có khi ta đã hy sinh rất nhiều mà chẳng ai biết. Có những người mẹ cả đời sống cho gia đình nhưng hiếm khi được cảm ơn. Có những người cha lao động đến còng lưng mà con cái không hiểu. Có những tu sĩ âm thầm phục vụ ở một nơi chẳng ai nhắc tên. Có những linh mục sống cả đời ở một giáo xứ nhỏ, không viết sách, không nổi tiếng, không có đám đông, nhưng từng ngày đã âm thầm trao các bí tích, thăm người đau, an ủi người buồn, chôn người chết, rửa tội cho trẻ nhỏ, gìn giữ một cộng đoàn. Thế gian có thể không ghi lại, nhưng Thiên Chúa không quên một chén nước lã được trao vì yêu mến Người. Đó là niềm hy vọng rất lớn.
Vì vậy, xin Chúa ở lại không phải là lời cầu của người yếu đuối theo nghĩa tiêu cực, nhưng là lời cầu của người đã trưởng thành đủ để biết giới hạn mình. Khi trẻ, ta dễ nghĩ mình làm được tất cả. Sau nhiều năm sống, mới hiểu có những điều chỉ ân sủng mới làm được. Ta có thể ép mình im lặng, nhưng chỉ Chúa mới chữa được lòng giận. Ta có thể giữ khuôn mặt bình thản, nhưng chỉ Chúa mới làm cho trái tim thật sự tha thứ. Ta có thể nói lời đạo đức, nhưng chỉ Chúa mới làm tâm hồn nên thánh. Ta có thể che giấu vết thương trước mọi người, nhưng chỉ Chúa biết nó sâu đến đâu. Thánh thiện không phải là trở thành một con người không cần Chúa, nhưng càng ngày càng biết mình cần Chúa. Người thánh không phải là người không bao giờ ngã, nhưng là người mỗi lần ngã đều biết quay về. Người cầu nguyện không phải là người lúc nào cũng có cảm xúc sốt sắng, nhưng là người ngay cả khi khô khan vẫn nói: “Con ở đây, Chúa ơi. Xin Chúa cũng ở lại.”
Và nếu ta thực sự cảm nghiệm được Chúa ở lại, đời ta cũng phải trở thành sự hiện diện cho người khác. Không thể cầu “Chúa đừng bỏ con” rồi ta lại dễ dàng bỏ những người đang cần mình. Có một người già trong nhà đang cần được trò chuyện. Có một đứa trẻ đang cần cha mẹ thực sự lắng nghe. Có một người vợ cần chồng hiện diện hơn là chỉ mang tiền về. Có một người chồng cũng cần được hiểu, không chỉ bị đòi hỏi. Có một người bạn đang im lặng bất thường. Có một tu sĩ trong cộng đoàn đang mệt mà không nói. Có một linh mục sống cô độc giữa rất nhiều công việc. Có một người bệnh cần một cuộc thăm hỏi. Có một người vừa mất người thân cần ai đó ngồi bên. Có khi Thiên Chúa trả lời lời cầu “xin ở lại với con” bằng cách gửi một người đến. Và cũng có khi Chúa muốn trả lời lời cầu của ai đó bằng cách gửi chính ta. Nếu ta đã từng sợ bị bỏ rơi, hãy cố đừng bỏ rơi người khác. Nếu ta từng cần một lời hỏi thăm, hãy biết hỏi thăm. Nếu ta từng đau vì một lời lạnh lùng, hãy bớt lạnh lùng. Nếu ta từng được cứu bởi một sự hiện diện, hãy trở thành sự hiện diện ấy cho người khác.
Chiều Em-mau kết thúc bằng một điều rất đẹp. Sau khi nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh, hai môn đệ lập tức quay trở lại Giêrusalem. Họ không còn là những người thất vọng bỏ đi nữa. Sự hiện diện của Chúa đã biến đổi hướng đi của họ. Đó là dấu hiệu thật của việc gặp Chúa. Nếu cầu nguyện xong mà lòng vẫn cay độc như cũ, vẫn muốn trả đũa, vẫn đóng kín trước người khác, ta phải tự hỏi mình đã thật sự để Chúa ở lại chưa. Chúa ở lại không chỉ để an ủi, nhưng để biến đổi. Người bẻ bánh để mắt ta mở ra. Người đốt cháy lòng ta để chân ta quay lại. Người làm ta từ người chạy trốn trở thành chứng nhân. Một người thực sự có Chúa ở cùng sẽ có thể vẫn buồn nhưng không tuyệt vọng, vẫn khóc nhưng không mất niềm tin, vẫn bị tổn thương nhưng không muốn làm tổn thương người khác, vẫn gặp bất công nhưng không để hận thù chiếm linh hồn. Đó là phép lạ âm thầm mà sự hiện diện của Chúa tạo nên.
Rồi sẽ đến một buổi chiều cuối cùng của mỗi người. Ta không biết khi nào. Có người được báo trước bằng tuổi già, bệnh tật; có người ra đi rất bất ngờ. Nhưng chắc chắn sẽ có lúc mọi công việc phải dừng, mọi cuộc hẹn bị bỏ lại, mọi dự tính trở thành dang dở. Khi ấy, có lẽ lời cầu đẹp nhất vẫn là lời của Em-mau: “Lạy Chúa, xin ở lại với con, vì trời đã xế chiều và ngày đời con sắp tàn.” Khi mắt không còn nhìn rõ, xin Chúa là ánh sáng. Khi tai không còn nghe được tiếng người thân, xin lòng vẫn nghe được tiếng Chúa. Khi đôi tay không còn sức nắm lấy ai, xin Chúa nắm tay con. Khi hơi thở trở nên ngắn, xin Danh Chúa vẫn còn ở trên môi hoặc ít nhất còn trong trái tim. Khi mọi người phải đứng lại bên cửa phòng, xin Chúa bước tiếp với con qua cánh cửa mà không một người thân nào có thể đi thay. Đó là lúc lời hứa của Đức Kitô trở nên quý hơn tất cả: Người ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.
Có lẽ suốt cuộc đời, ta đã cầu xin rất nhiều. Xin sức khỏe, xin thành công, xin công việc, xin bình an, xin gia đình, xin những dự định được thành tựu. Tất cả đều là những lời cầu chính đáng. Nhưng càng đi sâu vào đời sống, ta càng nhận ra chỉ có một lời cầu bao trùm tất cả: xin Chúa ở lại. Nếu Chúa ở lại, nghèo vẫn có thể bình an. Nếu Chúa ở lại, đau khổ vẫn có ý nghĩa. Nếu Chúa ở lại, cô đơn không còn là vực thẳm. Nếu Chúa ở lại, thất bại không phải dấu chấm hết. Nếu Chúa ở lại, tuổi già không chỉ là tàn úa nhưng có thể là mùa của khôn ngoan. Nếu Chúa ở lại, sự chết không phải là mất tất cả mà là bước qua một cánh cửa để gặp Người trọn vẹn hơn.
Vậy nên, tối nay hay bất cứ buổi tối nào lòng ta mỏi mệt, đừng cố nói với Chúa quá nhiều. Có thể chỉ cần ngồi yên trước Người. Để những tiếng ồn lắng xuống. Để những vai diễn ngoài đời được đặt sang một bên. Không còn chức vụ, không còn danh xưng, không còn những gì phải chứng minh. Chỉ là một con người nhỏ bé trước Đấng đã dựng nên mình. Rồi nói rất chậm: “Lạy Chúa, xin ở lại với con. Đừng lìa bỏ con. Đừng lãng quên thân phận đời con.” Và tin rằng ngay cả trước khi ta nói, Người đã ở đó. Có lẽ Chúa chưa bao giờ rời đi. Chỉ là ta đã quá bận để nhận ra. Có lẽ trong những ngày ta tưởng mình bước một mình, chính Người đã âm thầm mang ta đi. Có lẽ những lần ta tưởng đã rơi xuống tận đáy, bàn tay Người vẫn ở dưới đó. Có lẽ những giọt nước mắt ta tưởng chẳng ai thấy đều đã rơi vào lòng Người.
Lạy Chúa, đời con rồi cũng sẽ có một buổi chiều. Ánh nắng sẽ nhạt dần, sức lực sẽ hao đi, những người thân yêu rồi người còn người mất, và những gì hôm nay con tưởng là quan trọng sẽ trở nên rất nhỏ. Khi ấy, xin cho con đừng hoảng sợ. Xin cho con nhớ rằng có một Đấng vẫn ở lại. Khi người đời quên con, xin cho con nhớ Chúa không quên. Khi thân xác yếu đi, xin linh hồn con mạnh hơn trong niềm cậy trông. Khi những cánh cửa trần gian lần lượt đóng lại, xin cánh cửa nhà Cha mở ra. Khi mọi tiếng nói xung quanh nhỏ dần, xin tiếng Chúa rõ hơn. Và nếu có lúc con chẳng còn đủ sức để cầu nguyện, xin Chúa đọc lời cầu trong chính hơi thở của con. Chỉ một lời thôi: Ở lại với con.
Bởi sau tất cả những gì một đời người tìm kiếm, có lẽ hạnh phúc sâu nhất không phải là có nhiều, không phải là được biết đến, không phải là chưa từng đau khổ, nhưng là đi qua cuộc đời này với niềm xác tín rằng mình chưa bao giờ thực sự bước một mình. Có một Đấng đã đi bên ta trong những ngày nắng đẹp và cả những đêm tối. Có một Đấng đã thấy những điều người khác không thấy, hiểu những điều ta không thể giải thích, tha thứ những điều ta xấu hổ, nâng ta lên những lần ta gục ngã và vẫn kiên nhẫn đợi ta sau những lần ta đi xa. Đấng ấy không chỉ ở lại cho đến chiều. Người ở lại qua cả đêm tối. Người ở lại qua cái chết. Và bên kia cái chết, chính Người là Bình Minh không bao giờ tắt.
Lm. Anmai, CSsR
CÓ NHỮNG BUỔI CHIỀU – ĐỂ TA BIẾT MÌNH CẦN MỘT BẾN ĐỖ
Có những buổi chiều không chỉ đi qua bầu trời, mà đi qua cả một đời người. Có những buổi chiều mặt trời vẫn còn đó, phố xá vẫn đông, tiếng xe vẫn chạy, người ta vẫn cười nói, vẫn mua bán, vẫn hối hả trở về nhà, vậy mà trong lòng một người nào đó, bóng tối đã xuống từ rất lâu. Có những buổi chiều chẳng hề mưa mà lòng người ướt sũng. Có những buổi chiều chẳng hề có gió mà một đời người nghiêng ngả. Có những buổi chiều ta ngồi giữa những người thân quen mà vẫn thấy mình xa lạ, cầm điện thoại trong tay, danh bạ có biết bao nhiêu cái tên, những dòng tin nhắn vẫn sáng lên không ngừng, nhưng lại chẳng biết phải gọi cho ai để nói một câu thật lòng rằng: hôm nay tôi mệt quá. Đời người lạ lắm. Có những ngày ta tưởng mình mạnh mẽ đến mức chẳng cần ai, rồi cũng chính ta trong một khoảnh khắc nào đó chỉ mong có một bàn tay đặt nhẹ trên vai, một ánh mắt nhìn mình mà không phán xét, một người ngồi bên cạnh mà không cần nói gì. Bởi vậy, “có những buổi chiều” không bao giờ chỉ là chuyện của một người. Nó là câu chuyện của phận người. Nó là một chặng đường mà sớm hay muộn, người giàu hay nghèo, người thành công hay thất bại, người đang được tung hô hay kẻ bị bỏ quên, ai rồi cũng có lần phải đi qua. Cuộc đời không phải là một con đường chỉ có nắng. Nếu ai nói đời mình chưa bao giờ có giông bão, có lẽ người ấy chưa đi đủ xa. Nếu ai nói lòng mình chưa bao giờ chùng xuống, có lẽ người ấy chưa từng yêu đủ sâu. Nếu ai nói mình chưa bao giờ cô đơn, có lẽ người ấy chưa từng có lúc đứng trước chính mình trong một đêm thật vắng. Chúng ta vẫn thường nhìn cuộc đời của người khác qua những phần sáng. Ta nhìn ngôi nhà đẹp của họ mà không biết trong căn nhà ấy có những đêm hai người quay lưng về hai phía. Ta nhìn nụ cười của họ mà không biết nụ cười ấy đã phải được tập luyện bao nhiêu lần để che đi một trái tim vừa tan vỡ. Ta nhìn thành công của họ mà không thấy những tháng năm mất ngủ, những thất vọng, những phản bội, những lần đứng trước gương mà tự hỏi mình còn đủ sức bước tiếp hay không. Ta nhìn một linh mục trên cung thánh, một tu sĩ trong bộ tu phục, một người cha đang gánh vác gia đình, một người mẹ đang chăm lo cho con cái, một người trẻ đang thành đạt, rồi ta tưởng rằng họ bình an. Nhưng có ai biết trong sâu thẳm mỗi tâm hồn đều có một căn phòng mà người khác không bước vào được. Trong căn phòng ấy có những câu hỏi chưa bao giờ được trả lời, những giọt nước mắt chưa bao giờ rơi trước mặt ai, những vết thương tưởng đã lành nhưng chỉ cần một lời nói, một kỷ niệm, một mùi hương quen thuộc, một buổi chiều rất giống ngày xưa là tất cả lại nhói lên. Chính vì thế, những buổi chiều của đời người nhiều khi là lúc các lớp vỏ bên ngoài rơi xuống. Ban ngày ta còn bận để sống cho vai trò của mình, còn phải làm cha, làm mẹ, làm chồng, làm vợ, làm linh mục, làm tu sĩ, làm người lãnh đạo, làm người mạnh mẽ, làm người gánh vác, làm người mà ai cũng trông cậy. Nhưng khi chiều xuống, công việc chậm lại, tiếng ồn lùi xa, ta bắt đầu đối diện với con người thật của mình. Và không phải lúc nào cuộc gặp gỡ ấy cũng dễ chịu.
Có những buổi chiều người ta kiệt sức không phải vì đã làm quá nhiều việc, mà vì đã phải cố tỏ ra ổn quá lâu. Cái mệt của thân xác, một giấc ngủ có thể làm dịu. Nhưng cái mệt của tâm hồn thì không đơn giản như thế. Có người ngủ tám tiếng mà sáng thức dậy vẫn mệt, vì suốt đêm trái tim họ không ngủ. Có người đi nghỉ ở một nơi thật đẹp mà vẫn không bình an, vì điều họ cần trốn không phải là thành phố ồn ào, mà là những tiếng động trong lòng mình. Có người đổi công việc, đổi chỗ ở, đổi những mối quan hệ, mong đổi luôn được nỗi buồn, nhưng rồi một ngày nhận ra rằng có những điều đi theo ta không phải vì chúng ở ngoài ta, mà vì chúng ở trong ta. Nhiều lúc người ta tưởng rằng cô đơn là không có ai bên cạnh. Không hẳn. Cô đơn sâu nhất là có người bên cạnh mà không ai hiểu được mình; là nói rất nhiều nhưng chẳng có lời nào chạm đến điều lòng mình đang đau; là trở về một căn nhà đông đủ nhưng không tìm được một nơi để tâm hồn được nghỉ. Đó là cái cô đơn của một người cha không dám nói rằng mình sợ, vì cả nhà đều xem ông là chỗ dựa. Đó là cái cô đơn của một người mẹ khóc trong nhà tắm để con không nhìn thấy. Đó là cái cô đơn của một linh mục vừa nói lời an ủi cho hàng trăm người, rồi trở về căn phòng riêng không biết sẽ nói nỗi mệt của mình với ai. Đó là cái cô đơn của một người trẻ có hàng ngàn người theo dõi trên mạng nhưng không có một người thật sự biết họ đang tuyệt vọng thế nào. Đó là cái cô đơn của người già ngồi bên cửa sổ mỗi chiều, chờ tiếng con cháu mà cả ngày chẳng thấy một cuộc điện thoại. Những cô đơn ấy không ồn ào. Chúng lặng lẽ như bóng chiều bò lên bậc cửa. Nhưng chính trong những giờ phút ấy, con người mới nhận ra một sự thật mà khi vui ta thường quên: ta không thể tự đủ cho chính mình. Bao lâu còn thành công, ta tưởng tiền bạc là chỗ dựa. Bao lâu còn khỏe mạnh, ta tưởng sức lực là bến đỗ. Bao lâu còn được người khác quý mến, ta tưởng tình cảm con người sẽ không bao giờ thay đổi. Bao lâu mọi sự thuận lợi, ta tưởng đời mình đang nằm trong tay mình. Chỉ khi một biến cố bất ngờ xảy đến, một người quay lưng, một cánh cửa đóng lại, một kết quả xét nghiệm làm tim ta thắt lại, một người thân ra đi không kịp nói lời sau cùng, một dự định từng đặt cả đời vào đó đột nhiên tan vỡ, ta mới thấy những thứ mình bám vào mong manh biết bao. Có những buổi chiều được phép xảy đến để bóc khỏi ta ảo tưởng rằng mình có thể sống mà không cần một bến đỗ sâu hơn tất cả những bến đỗ của trần gian.
Thật ra, điều đáng sợ nhất không phải là buổi chiều. Đáng sợ nhất là khi ta tưởng buổi chiều sẽ kéo dài mãi mãi. Khi đau, người ta thường có cảm giác nỗi đau này sẽ không bao giờ hết. Khi thất bại, ta tưởng đời mình đã khép lại. Khi một người ra đi, ta tưởng chẳng bao giờ có thể sống bình thường nữa. Khi bị phản bội, ta tưởng từ đây không thể tin ai. Khi mang một vết thương quá sâu, ta có thể nhìn cả tương lai qua màu của vết thương ấy. Nhưng đời sống dạy ta một điều rất âm thầm: không buổi chiều nào giữ được mặt trời mãi ở phía chân trời, và cũng không đêm nào có quyền ngăn bình minh đến. Có thể đêm rất dài. Có thể nước mắt rất nhiều. Có thể có những nỗi đau phải mang cả đời chứ không biến mất hoàn toàn. Nhưng con người vẫn có thể học một cách mới để sống với vết thương của mình, không phải như một kẻ bị nó giam cầm, mà như một người đã đi xuyên qua lửa và hiểu được giá trị của một giọt nước. Những người từng đau sâu thường có khả năng thương người sâu hơn, nếu họ không để nỗi đau biến thành cay độc. Người từng bị bỏ rơi sẽ hiểu một sự hiện diện quý đến mức nào. Người từng thất bại sẽ biết nâng một người đang ngã bằng bàn tay dịu dàng hơn. Người từng bị hiểu lầm sẽ cẩn trọng hơn trước khi kết luận về người khác. Người từng đi qua một đêm dài sẽ không dễ coi thường giọt nước mắt của ai. Có những vết thương không đến để giết chết ta, nhưng để mở trong ta một cánh cửa mà trước đó chưa từng mở: cánh cửa của lòng trắc ẩn. Có những buổi chiều không đến để báo rằng đời đã hết, mà để ta thôi chạy. Ta chạy suốt những năm tháng tuổi trẻ để tìm thành công, tìm chỗ đứng, tìm sự thừa nhận, tìm người yêu mình, tìm điều chứng minh rằng ta có giá trị. Ta chạy đến mức nhiều khi chẳng biết mình đang chạy về đâu. Và rồi một biến cố buộc ta dừng lại. Trong cái dừng đầy đau đớn ấy, ta bắt đầu hỏi những câu mà trước kia không có thời gian hỏi: Tôi đang sống vì điều gì? Nếu ngày mai mọi thứ tôi đang có biến mất, điều gì còn lại? Nếu người khác không còn khen tôi, tôi có còn biết mình là ai không? Nếu sức khỏe không còn, tiền bạc không còn, địa vị không còn, những mối quan hệ tưởng bền chặt cũng đổi thay, tôi sẽ tựa vào đâu? Những câu hỏi ấy làm ta sợ, bởi chúng đụng đến nền móng. Nhưng nếu dám ngồi lại với chúng đủ lâu, chúng có thể cứu một đời người khỏi sống hời hợt.
Đối với người tin, buổi chiều còn có một ý nghĩa sâu xa hơn. Kinh Thánh cũng có rất nhiều buổi chiều. Có buổi chiều hai môn đệ rời Giêrusalem đi Emmau với trái tim nặng trĩu. Họ đã đặt hy vọng nơi Đức Giêsu, nhưng cái chết của Người trên thập giá dường như đã chôn luôn hy vọng ấy. Họ đi với nhau mà lòng tối. Họ nói về Chúa mà không nhận ra Chúa đang đi ngay bên cạnh. Một chi tiết thật đẹp mà càng sống lâu càng thấy thấm: có khi Chúa ở rất gần ta trong chính lúc ta tưởng Người vắng mặt nhất. Hai môn đệ Emmau không nhận ra Đức Giêsu vì nỗi buồn đã che mắt họ. Và có lẽ chúng ta cũng vậy. Khi đau quá, ta chỉ nhìn thấy điều đã mất. Khi thất vọng quá, ta chỉ nhìn thấy cánh cửa đóng lại. Khi cầu nguyện mãi mà không thấy câu trả lời, ta có thể tưởng Chúa im lặng nghĩa là Chúa không có mặt. Nhưng Chúa vẫn đi. Người không nhất thiết lập tức lấy đi con đường buồn của hai môn đệ. Người đi cùng họ trên chính con đường ấy. Người hỏi, Người lắng nghe, Người giải thích, Người làm lòng họ nóng lên từ từ. Rồi khi chiều xuống, họ thưa: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Lời ấy không chỉ là lời mời một người khách vào nhà. Đó là lời cầu nguyện của cả nhân loại. Lạy Chúa, xin ở lại, vì đời con đang xế chiều. Xin ở lại, vì con không thấy đường. Xin ở lại, vì những điều con từng tin đang lung lay. Xin ở lại, vì người con yêu thương không còn ở đây. Xin ở lại, vì sức con đã cạn. Xin ở lại, vì nếu Người rời đi, con không biết mình còn bấu víu vào đâu. Và điều cảm động là Chúa ở lại. Người luôn có một sự yếu lòng rất thánh trước lời van xin của những trái tim thành thật. Chúa không khinh một tâm hồn tan vỡ. Chúa không xấu hổ vì nước mắt của ta. Người không bảo ta phải mạnh lên rồi mới đến với Người. Người không đòi ta giải quyết hết đời mình rồi mới cầu nguyện. Người đến ngay giữa mớ hỗn độn ấy. Người ngồi vào bàn trong căn nhà buồn ấy. Và trong cử chỉ bẻ bánh, mắt họ mở ra. Có những điều phải đi qua buổi chiều ta mới nhìn thấy. Có những sự hiện diện phải đến khi mọi tiếng ồn đã lắng, ta mới nhận ra.
Nhiều người trong chúng ta sợ những khoảng lặng bởi vì trong thinh lặng, những điều bị chôn xuống bắt đầu nói. Ta quen mở tivi, mở điện thoại, lướt mạng, tìm một cuộc trò chuyện, một công việc, một tiếng động nào đó để không phải ở một mình với chính mình. Nhưng một đời sống không có khoảng lặng sẽ dần trở thành một đời sống mất phương hướng. Người ta có thể bận rộn đến mức thành công mà vẫn không biết mình đang đánh mất điều gì. Ta có thể kiếm được rất nhiều tiền nhưng đánh mất gia đình. Ta có thể xây được một sự nghiệp nhưng đánh mất sức khỏe. Ta có thể được mọi người công nhận nhưng đánh mất sự bình an. Ta có thể làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng đánh mất chính mối tương quan với Chúa. Đó là bi kịch âm thầm của con người hôm nay: chúng ta biết cách đi nhanh hơn nhưng không chắc biết mình đang đi đâu. Biết cách kết nối với cả thế giới nhưng đôi khi không biết kết nối với người ngồi cạnh. Biết cập nhật chuyện của thiên hạ từng phút nhưng không biết hôm nay lòng mình đang thế nào. Biết nói về mọi vấn đề nhưng không biết gọi đúng tên nỗi buồn của mình. Vì thế, những buổi chiều của đời, cho dù không ai mong, có khi lại là ân huệ được giấu trong một hình thức khó chịu. Nó buộc ta giảm tốc. Nó lấy khỏi tay ta những thứ ta đang nắm quá chặt. Nó làm những tiếng ồn bên ngoài nhỏ đi để một tiếng nói sâu hơn có thể được nghe thấy. Có người chỉ sau một cơn bệnh mới hiểu sức khỏe là quà tặng. Có người chỉ sau một tang lễ mới về nhà ôm cha mẹ lâu hơn. Có người chỉ sau một lần hôn nhân suýt tan mới hiểu một bữa cơm chung quý hơn bao nhiêu lời thắng thua. Có người chỉ sau khi mất một người thân mới thôi để dành những lời yêu thương cho ngày mai. Có linh mục, tu sĩ chỉ sau một giai đoạn khủng hoảng mới nhận ra rằng mình đã làm quá nhiều việc “cho Chúa” nhưng lại ít “ở với Chúa”. Không ai nên cầu xin đau khổ. Đức tin không phải là thứ đạo đức hóa nỗi đau, càng không phải bảo người đang đau rằng cứ đau đi vì đau là tốt. Nhưng đức tin cho ta một ánh sáng khác: ngay cả điều xấu xảy đến, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh một điều lành mà ta chưa nhìn thấy. Thập giá là bằng chứng lớn nhất. Điều tưởng là thất bại tận cùng lại trở thành cửa ngõ của ơn cứu độ. Ngày thứ Sáu ấy tối đến mức các môn đệ bỏ chạy, nhưng ngày Chúa Nhật đang âm thầm đến. Không ai đứng dưới thập giá chiều Thứ Sáu có thể thấy bình minh Phục Sinh. Nhưng việc họ chưa thấy không có nghĩa bình minh không tồn tại.
Có những buổi chiều ta cần học cách đừng vội giải quyết đời mình. Có những vết thương không cần một lời khuyên, mà cần một sự hiện diện. Có những câu hỏi không có câu trả lời ngay. Có những mất mát không thể bù bằng một câu “hãy cố lên”. Khi một người vừa mất cha, mất mẹ, mất người bạn đời, ta đừng vội giảng cho họ về sự mạnh mẽ. Hãy cho họ được khóc. Khi một người vừa bị phản bội, đừng vội bảo họ phải tha thứ ngay như thể tha thứ là một nút bấm. Hãy cho vết thương có thời gian được gọi tên, được chữa lành trong ánh sáng của sự thật. Khi một người đang kiệt sức, đừng chỉ bảo họ cầu nguyện nhiều hơn như thể mệt mỏi là dấu hiệu của đức tin yếu. Có khi điều họ cần là nghỉ ngơi, được lắng nghe, được nâng đỡ, được tìm đến những trợ giúp thích hợp. Thiên Chúa dựng nên ta có thân xác, tâm lý, ký ức, các mối quan hệ; ơn Chúa không hủy bỏ những chiều kích ấy. Chính Đức Giêsu cũng mệt, cũng ngủ trên thuyền, cũng khóc trước mộ Ladarô, cũng buồn đến chết được trong vườn Cây Dầu. Người không diễn vai một Thiên Chúa vô cảm. Vì thế, trưởng thành trong đức tin không phải là trở thành người không còn buồn, không còn sợ, không còn khóc. Trưởng thành là trong buồn vẫn biết mình không bị bỏ rơi; trong sợ vẫn có thể nắm một bàn tay; trong nước mắt vẫn còn một nơi để quay về. Có những người hiểu sai bình an. Họ tưởng bình an nghĩa là không còn bão. Nhưng bình an Kitô giáo sâu hơn: có khi bão vẫn còn mà trong lòng có một Đấng đang ở đó. Con thuyền các môn đệ vẫn chao đảo, gió vẫn thổi, sóng vẫn đánh, nhưng điều thay đổi tất cả là Chúa đang ở trong thuyền. Ta cũng vậy. Có những hoàn cảnh chưa đổi ngay, bệnh chưa khỏi ngay, nợ chưa hết ngay, người mình chờ chưa trở về, một mối quan hệ chưa được chữa lành, một nỗi tiếc nuối vẫn còn đó. Đức tin không phải một cây đũa thần biến mọi buổi chiều thành nắng. Đức tin là khả năng nhìn vào chiều tối và nói: tôi chưa biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng tôi biết mình không phải đi một mình.
Càng sống lâu, người ta càng nhận ra bến đỗ đích thực của tâm hồn không phải là một nơi chốn, càng không phải một con người hữu hạn nào. Ta cần nhau, rất cần. Một cuộc đời không có tình thân là cuộc đời nghèo nàn. Nhưng nếu bắt một người khác phải trở thành tất cả hạnh phúc của mình, ta đặt lên vai họ một gánh nặng mà không con người nào mang nổi. Chồng không thể cứu hết mọi cô đơn của vợ. Vợ không thể chữa hết mọi vết thương của chồng. Con cái không thể trở thành lý do duy nhất để cha mẹ sống. Bạn bè không thể luôn có mặt. Cha xứ, bề trên, người đồng hành, dù tốt đến đâu, cũng có giới hạn. Con người thay đổi, sức khỏe thay đổi, hoàn cảnh thay đổi, cái chết rồi cũng đến. Nếu bến đỗ cuối cùng của đời ta chỉ nằm trong một thụ tạo, ngày thụ tạo ấy mất đi, đời ta có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Bởi thế, mọi tình yêu đẹp trên đời cuối cùng đều phải giúp ta học cách yêu mà không biến người mình yêu thành Thiên Chúa. Ta biết ơn họ, trân trọng họ, chăm sóc họ, có mặt cho họ, nhưng không đòi họ lấp đầy một vực sâu mà chỉ Đấng Vĩnh Cửu mới lấp đầy được. Thánh Augustinô đã nói một điều qua bao thế kỷ vẫn đúng với từng trái tim: lòng chúng ta không yên cho đến khi nghỉ yên trong Chúa. Người ta có thể tranh luận rất nhiều về tôn giáo, nhưng có một kinh nghiệm khó chối cãi: lòng người luôn muốn nhiều hơn những gì thế gian có thể cho. Có tiền rồi muốn được yêu. Được yêu rồi muốn tình yêu không bao giờ mất. Có sức khỏe rồi muốn không bao giờ già. Có người thân rồi muốn họ đừng bao giờ chết. Mọi khát vọng sâu nhất của con người cuối cùng đều mang dấu vết của vĩnh cửu. Ta khổ vì đem một trái tim được dựng cho vô biên đi xin những điều hữu hạn làm nó no thỏa hoàn toàn. Không phải những điều hữu hạn là xấu. Một bữa cơm gia đình rất đẹp. Một tình bạn chân thành rất quý. Một mái nhà bình yên là ơn lớn. Một đời sống thành công đáng biết ơn. Nhưng tất cả đều là những chiếc cầu, không phải quê hương cuối cùng.
Và có lẽ vì thế, những buổi chiều làm ta nhớ quê hương. Người trẻ thường nhìn về phía trước. Người lớn tuổi dần dần hay nhìn lại. Càng về cuối một đời, ta càng thấy những điều từng làm mình bận tâm hóa ra nhỏ bé biết bao. Có người đã mất hàng chục năm để giận một người, đến cuối đời mới thấy đáng lẽ nên tha thứ sớm hơn. Có người đã hy sinh sức khỏe để kiếm thật nhiều tiền, đến lúc nằm trên giường bệnh lại chỉ mong có thêm một buổi sáng bình thường để đi bộ dưới nắng. Có người dành cả đời cố làm vừa lòng thiên hạ, cuối cùng mới hiểu thiên hạ chưa bao giờ ngồi lại để chịu trách nhiệm về đời mình. Có người quá bận với công việc đến mức con cái lớn lúc nào không biết; đến khi muốn gần con thì chúng đã có thế giới riêng. Có người cả đời theo đuổi danh tiếng, đến tuổi già lại chỉ mong một người thật lòng ngồi uống chén trà. Những buổi chiều cuối đời dạy ta bài học mà đáng lẽ ta nên học từ sớm: thứ đáng giữ nhất không phải là những gì ta sở hữu, mà là con người ta trở thành. Khi nhắm mắt, ta không mang theo căn nhà. Ta mang theo cách mình đã sống trong căn nhà ấy. Ta không mang theo tiền. Ta mang theo điều mình đã làm với tiền. Ta không mang theo chức vụ. Ta mang theo cách mình đã dùng quyền để nâng người hay đè người. Ta không mang theo những tràng pháo tay. Ta mang theo sự thật về đời mình. Ta không mang theo số người biết tên ta. Ta mang theo những người đã được ta yêu thương. Và người tin còn mang một niềm hy vọng sâu hơn: ở cuối buổi chiều cuối cùng ấy có một Đấng đang chờ.
Thành ra, đừng nguyền rủa mọi buổi chiều. Có những buổi chiều đau nhưng rất thật. Có những buổi chiều làm một người trở nên hiền hơn. Có những buổi chiều sau khi khóc, người ta biết gọi điện xin lỗi. Có những buổi chiều người cha lần đầu nói với con trai: cha thương con. Có những buổi chiều người chồng đang giận vợ chợt nghĩ đời ngắn quá, rồi quay về nhà sớm. Có những buổi chiều một người con đang bận chợt bỏ điện thoại xuống để ngồi bên mẹ già. Có những buổi chiều một linh mục đóng máy tính, tắt điện thoại, bước vào nhà nguyện và không nói gì, chỉ ngồi đó trước Nhà Tạm như một người mệt mỏi trở về nhà. Có những buổi chiều một tu sĩ nhận ra mình đã sống quá lâu trong việc so sánh và bắt đầu học biết biết ơn. Có những buổi chiều một người từng bị tổn thương quyết định không truyền tiếp vết thương ấy cho thế hệ sau. Có những buổi chiều một người đã sống nhiều năm trong giận dữ bỗng thấy mình không muốn mang cục đá ấy vào phần đời còn lại. Đó là những buổi chiều có ơn. Không ồn ào. Không phép lạ trước mắt. Chỉ là một cái gì rất nhỏ đổi hướng trong lòng. Nhưng nhiều khi cả một đời người được cứu từ những đổi hướng rất nhỏ ấy.
Ta cũng cần học cách đi qua buổi chiều của người khác. Đừng chỉ đòi người khác hiểu buổi chiều của mình. Biết đâu người đang nóng nảy với ta vừa nhận một tin rất xấu. Biết đâu người ít nói kia đang mang một đám tang trong lòng. Biết đâu người làm ta khó chịu đang chiến đấu với một vấn đề họ không kể được. Điều ấy không có nghĩa mọi cách cư xử sai đều được biện minh, nhưng nó nhắc ta chậm phán xét. Chúng ta thường thấy hành vi nhưng không thấy câu chuyện phía sau. Thấy một lời nói lạnh mà không biết người ấy đã trải qua bao lần thất vọng. Thấy một người khép kín mà không biết họ từng bị phản bội thế nào. Thấy một người già hay cáu mà không hiểu nỗi bất lực của tuổi tác. Thấy một người trẻ nổi loạn mà không biết em đang khao khát được cha mẹ nhìn thấy. Thấy một linh mục mệt mỏi mà chỉ kết luận ngài khô khan. Thấy một tu sĩ ít cười mà vội bảo thiếu niềm vui. Chỉ Thiên Chúa biết đầy đủ một trái tim. Vì thế, nếu không thể làm mặt trời cho ai, ít nhất đừng làm thêm bóng tối. Nếu không biết nói lời chữa lành, ít nhất đừng nói lời làm đau sâu hơn. Nếu không thể giải quyết vấn đề cho họ, hãy ở lại. Một sự hiện diện thật đôi khi quý hơn trăm lời khuyên. Hai môn đệ Emmau được biến đổi không phải vì Chúa đứng từ xa hét cho họ một bài học, mà vì Người bước cùng tốc độ của họ. Đó cũng là một kiểu yêu rất đẹp: đi cùng tốc độ của người đang đau. Không kéo họ chạy theo tốc độ chữa lành mà ta muốn. Không trách sao lâu quá vẫn chưa quên. Không ép một người đang khóc phải cười để ta đỡ khó chịu. Không dùng đạo đức để bịt miệng một nỗi đau. Cứ đi cùng. Cứ ở lại. Có những người sẽ không bao giờ quên một người đã không rời đi trong buổi chiều tăm tối nhất của họ.
Nhưng rồi cuối cùng, mỗi người vẫn phải học đi vào căn phòng sâu nhất của lòng mình một mình với Chúa. Người khác có thể đồng hành đến cửa, không ai sống thay đời ta được. Có những quyết định phải tự mình đưa ra. Có những lần tha thứ phải tự trái tim mình chọn. Có những giọt nước mắt phải tự mình khóc. Có những lời cầu nguyện chỉ mình và Chúa hiểu. Đời sống thiêng liêng sâu nhất thường được xây không phải trong những giờ phút hoành tráng mà trong những buổi chiều như thế: khi ta không còn cảm xúc đạo đức, không thấy Chúa gần, không có câu trả lời, nhưng vẫn ngồi lại. Một người trưởng thành trong đức tin không phải là người luôn cảm thấy Chúa, mà là người khi không cảm thấy gì vẫn chọn ở lại. Tình yêu thật luôn có một giai đoạn đi qua cảm xúc để trở thành trung tín. Đời sống vợ chồng cũng vậy. Ơn gọi cũng vậy. Đức tin cũng vậy. Có những ngày cầu nguyện đầy sốt sắng. Có những ngày chỉ là một sự hiện diện khô khan. Nhưng chính những ngày khô khan có khi làm rễ bám sâu. Cây đứng được trong bão không nhờ những cành đẹp mà nhờ bộ rễ người ta không nhìn thấy. Con người cũng thế. Điều giữ ta trong những buổi chiều không phải những gì thiên hạ nhìn thấy nơi ta, mà là những chiếc rễ âm thầm: thói quen cầu nguyện, lòng biết ơn, ký ức về những lần Chúa đã dẫn qua, những người mình biết mình có thể gọi, một đời sống trung thực, khả năng xin giúp đỡ, sự khiêm tốn biết rằng mình không phải lúc nào cũng phải mạnh.
Nếu chiều nay lòng ai đang rất tối, có lẽ chưa cần nghĩ quá xa. Đừng bắt mình giải hết cả cuộc đời trong một tối. Có khi chỉ cần đi qua hôm nay. Ăn một bữa. Uống một ly nước. Nghỉ một chút. Gọi cho một người đáng tin. Bước vào nhà thờ. Ngồi trước Chúa. Nói thật một câu: “Con mệt.” Cầu nguyện đôi khi không cần lời đẹp. Trước Thiên Chúa, ta không cần đóng vai. Người biết ta trước cả lúc ta mở miệng. Có những lời cầu nguyện lớn nhất chỉ là: “Lạy Chúa, xin ở lại.” Có khi chẳng còn sức đọc hết một kinh dài. Một tiếng “Giêsu” cũng đủ. Có khi không biết cầu gì. Hãy để nước mắt cầu thay. Đừng xấu hổ vì yếu. Phêrô từng chìm và chỉ kêu được: “Lạy Thầy, xin cứu con!” Chúa không đứng trên mặt nước giảng cho ông một bài về kỹ năng bơi. Người đưa tay ra. Đức tin Kitô giáo bắt đầu từ bàn tay ấy: không phải bàn tay của một Thiên Chúa đứng xa đau khổ, mà bàn tay mang dấu đinh.
Rồi một ngày khi nhìn lại, ta sẽ thấy có những buổi chiều mình từng tưởng là tận cùng, hóa ra chỉ là một khúc quanh. Có những người mình từng nghĩ mất họ là không sống nổi, nhưng mình vẫn sống, và sống trưởng thành hơn. Có những cánh cửa mình khóc vì bị đóng, sau này lại biết ơn vì nếu nó mở, có thể mình đã đi sai cả đời. Có những điều Chúa không cho ta điều mình xin, rồi sau nhiều năm ta mới hiểu Người đã cứu ta khỏi chính điều ta tưởng là hạnh phúc. Không phải lúc nào ta cũng có thể giải thích đau khổ. Có những đau khổ trên đời này, đứng trước nó chỉ nên cúi đầu và khóc với người đang khóc. Nhưng người tin dám tin rằng câu chuyện của đời mình không kết thúc ở trang đang đọc. Thiên Chúa vẫn viết tiếp. Khi ta chỉ thấy dấu chấm, có thể Người đang đặt một dấu phẩy. Khi ta tưởng Người im lặng, có thể Người đang làm việc ở tầng sâu mà mắt ta chưa nhìn được. Hạt giống trong đất cũng trải qua một mùa tối trước khi mọc lên. Không ai đào đất mỗi ngày để hỏi tại sao hạt chưa nảy mầm. Có những công trình của ân sủng cần bóng tối.
“Có những buổi chiều” vì thế không chỉ là lời than. Nó là lời mời. Mời ta sống chậm lại. Mời ta nhìn sâu hơn. Mời ta bớt kiêu hãnh về sự mạnh mẽ của mình. Mời ta thương người hơn. Mời ta tha thứ sớm hơn. Mời ta nói lời yêu khi còn kịp. Mời ta đừng hoãn những điều tốt đẹp đến ngày mai. Mời ta thôi lấy những thứ chóng qua làm nền móng cuối cùng. Và trên hết, mời ta tìm lại bến đỗ đích thực của tâm hồn. Một ngày nào đó, mỗi người sẽ có buổi chiều cuối cùng của đời mình. Có thể khi ấy ngoài cửa sổ thật sự là một hoàng hôn. Có thể là buổi sáng. Có thể giữa đêm. Không ai biết. Nhưng khoảnh khắc ấy sẽ đến. Những gì từng làm ta mất ngủ có thể khi ấy chẳng còn quan trọng. Những cuộc hơn thua, những lời khen chê, những tranh chấp, những điều ta đã cố chứng minh sẽ lùi xa. Chỉ còn câu hỏi giản dị: tôi đã yêu thế nào? Tôi có để Chúa yêu tôi không? Tôi có làm cho đời một ai đó nhẹ hơn không? Tôi có biết xin lỗi không? Tôi có biết tha thứ không? Tôi có biết trở về không?
Nếu đã biết cuối con đường là một cuộc trở về, ta sẽ sống hôm nay khác đi. Ta sẽ bớt làm đau nhau vì những chuyện nhỏ. Ta sẽ bớt giữ trong lòng những món nợ cảm xúc không đáng giữ. Ta sẽ trân trọng bữa cơm có đủ người. Ta sẽ nghe lâu hơn khi cha mẹ kể chuyện cũ. Ta sẽ ôm con khi chúng còn cho ôm. Ta sẽ nói cảm ơn những người phục vụ âm thầm. Ta sẽ thôi nghĩ rằng mình còn vô số ngày để làm điều tử tế. Cuộc đời dài khi nhìn về phía trước, nhưng ngắn lắm khi ngoảnh lại. Một đứa bé chớp mắt đã thành người lớn. Một người trẻ chớp mắt đã có tóc bạc. Những người từng dắt ta đi một ngày nào đó lại cần ta dìu. Ngôi nhà từng đầy tiếng trẻ con rồi sẽ có những căn phòng vắng. Không có gì đứng yên. Vì thế, chính sự mong manh làm đời sống trở nên quý. Hoàng hôn đẹp vì nó không ở lại mãi. Một cái ôm quý vì sẽ có ngày không còn cơ hội để ôm. Một lời “con thương mẹ” quý vì không phải lúc nào mẹ cũng còn ở đó để nghe. Một lần quỳ bên Nhà Tạm quý vì có thể ngày mai sức ta không còn như hôm nay. Hiểu sự hữu hạn không làm ta bi quan. Nó làm ta sống sâu.
Và rồi, khi có những buổi chiều thật sự rất dài, hãy nhớ rằng Chúa Giêsu cũng đã đi qua một buổi chiều như thế. Chiều trên đồi Golgotha. Bầu trời tối lại. Những người thân đứng xa. Các môn đệ tản mác. Người kêu lên lời đau đớn của một con người chạm tận đáy cô đơn: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Không có nỗi cô đơn nào của ta mà Người hoàn toàn xa lạ. Không có bóng tối nào của ta mà Người chưa từng bước vào. Nhưng ngay trong buổi chiều ấy, Người cũng thưa: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.” Đó là điểm tận cùng của đức tin: khi không còn hiểu, vẫn phó thác. Khi không còn nắm được điều gì, để mình được nắm. Có những lúc trong đời, ta không cần cố giữ Chúa; chỉ cần để Chúa giữ ta. Một đứa trẻ ngủ bình an không phải vì nó hiểu con đường chiếc xe đang đi, mà vì nó biết mình nằm trong vòng tay người cha người mẹ. Có lẽ đức tin sau cùng cũng đơn sơ như thế.
Vậy nên, nếu đời có những buổi chiều, xin đừng vội sợ. Nếu lòng có những khoảng tối, xin đừng vội nghĩ mọi thứ đã hết. Nếu đang cô đơn, hãy nhớ có một Đấng từng đứng ngoài cửa và nói rằng Người sẽ vào dùng bữa với ai mở cửa cho Người. Nếu đang kiệt sức, đừng xấu hổ khi cần nghỉ. Nếu đang đau, đừng vội biến đau thành hận. Nếu bị tổn thương, đừng để người làm đau mình quyết định con người mình sẽ trở thành. Nếu đã lỡ làm đau ai, đừng đợi đến buổi chiều cuối cùng mới xin lỗi. Nếu đang có một người bên cạnh, hãy trân trọng khi họ còn đó. Nếu còn cha còn mẹ, hãy trở về. Nếu còn một người bạn thật, hãy biết ơn. Nếu còn sức cầu nguyện, hãy cầu nguyện. Và nếu một ngày chẳng còn lời nào để cầu, chỉ cần nói: “Lạy Chúa, xin ở lại với con.”
Bởi sau tất cả, buổi chiều không phải lời kết. Bóng tối cũng không phải quê hương. Nỗi cô đơn không phải căn tính của con người. Thất bại không phải tên cuối cùng của một đời. Vết thương không có quyền định nghĩa mãi ta là ai. Người bỏ ta không phải người quyết định giá trị của ta. Những gì đã mất không xóa được những gì vẫn còn. Và cái chết, trong ánh sáng Đức Kitô, cũng không còn là cánh cửa đóng kín, mà là cửa mở vào nhà Cha. Chúng ta là những người đang đi qua nhiều buổi chiều để học khao khát một bình minh không bao giờ tắt. Có lẽ đó là lý do sâu nhất khiến những buổi chiều, dù buồn, vẫn mang một vẻ đẹp rất riêng: chúng làm ta nhớ mình là lữ khách. Ta không ở đây mãi. Ta có một quê hương. Ta có một bến đỗ. Ta có một Người đang đợi.
Có những buổi chiều ta ngỡ mình chẳng còn gì, nhưng biết đâu chính lúc ấy ta lại đang có điều quan trọng nhất: cơ hội để trở về. Trở về với chính mình sau bao năm sống cho ánh mắt người khác. Trở về với gia đình sau bao ngày chạy theo công việc. Trở về với một người mà ta đã giận quá lâu. Trở về với căn nhà nguyện nhỏ, với một lời kinh từng quen nhưng đã bỏ quên. Trở về với Thiên Chúa, không như người công chính đến báo thành tích, mà như đứa con mỏi mệt trở về nhà. Và Cha không đứng đó để hỏi tại sao con về muộn. Người chạy ra.
Nếu đời cho ta thêm một buổi chiều nữa, xin hãy sống buổi chiều ấy dịu dàng. Dịu dàng với người khác. Dịu dàng với chính mình. Dịu dàng với quá khứ mà ta không thể thay đổi. Dịu dàng với những người đã không biết cách yêu ta như ta mong. Dịu dàng với những thiếu sót của bản thân nhưng không ngừng cố gắng trở nên tốt hơn. Và dịu dàng với cả những bí nhiệm của Thiên Chúa mà hiện tại ta chưa hiểu. Có những điều hôm nay chỉ có thể tin, mai sau mới thấy. Có những câu hỏi dưới đất sẽ chỉ được trả lời trên trời. Cho đến ngày ấy, hãy cứ bước. Chậm cũng được. Khóc cũng được. Nghỉ một chút cũng được. Chỉ đừng quay lưng với ánh sáng.
Rồi mặt trời sẽ xuống. Đèn sẽ được thắp. Có thể ta vẫn chưa giải quyết xong mọi điều. Nhưng lòng ta biết có một nơi để nghỉ. Và có lẽ, sau bao nhiêu năm đi qua được mất, thành bại, gặp gỡ chia lìa, người ta mới hiểu hạnh phúc không phải là không bao giờ có buổi chiều buồn. Hạnh phúc là giữa buổi chiều buồn vẫn biết đường về nhà. Bình an không phải là đời không còn giông bão. Bình an là giữa giông bão vẫn biết có một bến bờ. Đức tin không phải là nhìn thấy hết con đường. Đức tin là khi trời đã xế chiều, ngày sắp tàn, vẫn đủ tin để thưa với Đấng đang âm thầm bước bên mình một lời rất nhỏ mà chứa cả một đời người:
Xin ở lại với con.
Vì chiều đã xuống.
Vì con mệt rồi.
Vì con đã đi quá nhiều đường.
Vì con đã thử quá nhiều bến đỗ.
Và bây giờ con hiểu, chỉ trong Ngài, lòng con mới thực sự được nghỉ yên.
Lm. Anmai, CSsR
Ở LẠI VỚI CON – KHI HOÀNG HÔN KHÔNG CÒN LÀ NỖI SỢ
Có những lời cầu nguyện được thốt lên bằng môi miệng, nhưng cũng có những lời cầu nguyện chẳng cần thành tiếng, bởi chính nước mắt đã nói thay tất cả. Có những lúc con người còn đủ mạnh để xin Chúa ban cho mình điều này điều kia, xin thành công, xin sức khỏe, xin bình an, xin cho một công việc được thuận lợi, xin một nỗi khó khăn sớm đi qua. Nhưng rồi cũng có những chặng đời mà mọi lời xin dường như trở nên quá xa xỉ, bởi người ta đã mệt đến mức chẳng còn biết phải xin gì nữa. Khi ấy, từ tận cùng của sự mong manh chỉ còn bật lên một lời rất ngắn: “Lạy Chúa, xin ở lại với con.” Đó không phải là lời của một con người đang mạnh mẽ, cũng chẳng phải tiếng nói của một tâm hồn đang đầy hưng phấn. Trái lại, rất có thể đó là tiếng thở dài của một người đã bước quá lâu trên con đường đời, đôi chân rã rời, tâm hồn phủ bụi, nhiều điều từng tin tưởng nay đã vụn vỡ, nhiều khuôn mặt từng thân quen đã trở thành xa lạ, nhiều ước mơ từng cháy bỏng đã hóa thành những dấu chấm lặng buồn tênh giữa miền ký ức. Thế nhưng chính từ lời van xin tưởng như yếu đuối ấy, một hành trình mới lại bắt đầu. Bởi khi con người thôi dựa vào sức riêng để thú nhận rằng mình cần Thiên Chúa, đó cũng là lúc Thiên Chúa có thể bắt đầu làm một điều sâu xa hơn trong cuộc đời họ. Ngài không chỉ đến để giải quyết một vấn đề, nhưng đến để biến đổi cả một con người; không chỉ đến để đưa ta ra khỏi một cơn đau, nhưng để dạy ta cách bước đi trong đau đớn mà không tuyệt vọng; không chỉ đến để lau một giọt nước mắt, nhưng để cho ta hiểu rằng ngay cả nước mắt cũng có thể trở thành thứ nước nhiệm mầu tưới lên những hạt giống của niềm hy vọng.
“Ở lại với con” nghe thật đơn sơ, nhưng càng sống lâu, ta càng hiểu đó là một trong những lời cầu nguyện lớn lao nhất mà con người có thể dâng lên Thiên Chúa. Bởi cuối cùng, điều ta thật sự cần không phải lúc nào cũng là một phép lạ làm thay đổi hoàn cảnh. Nhiều lần ta xin Chúa lấy đi bệnh tật, nhưng bệnh tật vẫn còn; xin Chúa cất đi một người gây tổn thương, nhưng người ấy vẫn ở đó; xin Chúa mở cho ta một con đường, nhưng trước mặt vẫn là cánh cửa đóng kín; xin Chúa giải thích cho ta tại sao chuyện ấy xảy ra, nhưng Thiên Chúa vẫn thinh lặng. Nếu đức tin của ta chỉ đặt trên việc Chúa phải làm cho mọi sự diễn ra như ý mình, rất có thể ta sẽ thất vọng. Nhưng nếu điều sâu nhất ta xin là: “Chúa ơi, dù chuyện gì xảy ra, xin Chúa đừng bỏ con; dù con chưa hiểu, xin Chúa vẫn ở đây; dù con chưa thoát khỏi thử thách, xin cho con được đi qua thử thách ấy cùng Chúa”, thì chính lúc đó đời sống đức tin bắt đầu trưởng thành. Người có Chúa không nhất thiết là người không gặp giông bão. Người có Chúa là người biết rằng giữa giông bão mình không cô độc. Người tin không phải là người chưa từng khóc. Người tin là người có thể khóc mà vẫn giữ được một mảnh hy vọng nhỏ nhoi trong đáy lòng. Người sống với Chúa không phải lúc nào cũng nhìn thấy con đường trước mặt. Có khi họ chỉ nhìn thấy một bước chân kế tiếp. Nhưng một bước ấy cũng đủ, bởi bàn tay họ đang nằm trong bàn tay của Đấng biết rõ con đường.
Cuộc đời con người lạ lắm. Thuở trẻ ta thường muốn Chúa đi theo kế hoạch của mình. Ta có những dự định rất đẹp, những hoài bão rất lớn, những tính toán tưởng rằng chắc chắn. Ta vạch ra con đường phải đi, những thành công phải có, những người phải ở bên cạnh mình, những cánh cửa phải mở ra đúng lúc. Thế rồi đời sống từ từ dạy ta rằng chẳng có con đường nào hoàn toàn như dự kiến. Có người từng nghĩ sẽ khỏe mạnh đến tuổi già nhưng lại gặp bệnh tật khi còn quá sớm. Có người tưởng cuộc hôn nhân sẽ mãi yên vui nhưng bỗng một ngày phải học cách sống với những vết nứt. Có người dành cả đời cho con cái rồi về già lại thấy căn nhà rộng hơn vì tiếng cười thưa dần. Có người phục vụ rất nhiều nhưng rồi bị hiểu lầm. Có người sống tử tế mà vẫn bị phản bội. Có người chân thành mà vẫn bị lợi dụng. Có người giữ đạo cả đời nhưng tới một lúc nào đó vẫn phải đi qua cơn khô khan đến mức không còn cảm thấy Chúa đâu nữa. Chính những lúc ấy, lời “ở lại với con” không còn là một câu đạo đức đẹp đẽ, mà trở thành tiếng kêu của một linh hồn đứng bên bờ vực của chính mình. Và có lẽ phải đi đến tận cùng của những giới hạn ấy, ta mới hiểu một sự thật rất sâu: Thiên Chúa không hứa cho ta một cuộc đời không có thập giá, nhưng Ngài hứa sẽ không để ta vác thập giá một mình.
Được ở lại trong Thiên Chúa không có nghĩa là ngày mai mọi nỗi buồn đều biến mất. Nhưng từ ngày có Ngài, nỗi buồn không còn là căn phòng khóa kín. Được ở lại trong Chúa không có nghĩa là mọi vết thương lập tức lành lại. Nhưng từ ngày có Ngài, vết thương không còn chỉ là dấu tích của đau đớn, nó có thể trở thành nơi lòng thương xót đi vào đời ta. Được ở lại trong Ngài không có nghĩa là ta thôi nhớ những người đã rời xa, thôi đau vì những điều đã mất, thôi tiếc những gì không thể trở lại. Nhưng Ngài giúp ta mang ký ức mà không để ký ức nghiền nát hiện tại. Ngài dạy ta nhớ mà không oán hờn, buồn mà không tuyệt vọng, cô đơn mà không khép kín, mất mát mà không đánh mất chính mình. Có những điều thời gian không thể chữa lành hoàn toàn, nhưng ân sủng có thể làm cho ta đủ rộng lòng để sống chung với một vết sẹo mà vẫn biết yêu thương. Đó đã là một phép lạ rất lớn rồi.
Ta mang trên đôi chân mình quá nhiều bụi trần. Bụi của những ngày mưu sinh tất tả. Bụi của những lần tranh hơn thua. Bụi của những lời nói từng làm đau người khác. Bụi của những lần ta ích kỷ, tự ái, cay cú, ganh tị. Bụi của những ngày ta chỉ nghĩ đến mình. Bụi của thất bại, của nhục nhằn, của những lần quỵ ngã mà chẳng muốn ai biết. Bụi của cả những thành công nữa, bởi thành công cũng có thể làm đôi chân con người nặng nề khi nó khiến ta tưởng mình quan trọng hơn thực chất. Đi lâu giữa cõi đời, không ai còn giữ được đôi chân hoàn toàn sạch. Có người nhìn bề ngoài rất chỉnh tề nhưng bên trong chứa biết bao ngổn ngang. Có người cười nói rất vui nhưng đêm xuống lại thấy lòng mình như căn nhà không đèn. Có người được nhiều người biết đến nhưng sâu thẳm vẫn cảm thấy chẳng ai thật sự hiểu mình. Có người sở hữu rất nhiều mà vẫn thấy thiếu một điều không thể gọi tên. Bởi cái thiếu tận cùng của con người không phải là thiếu tiền, thiếu danh, thiếu người khen hay thiếu một vị trí. Cái thiếu sâu nhất là thiếu một nơi để tâm hồn được thuộc về. Và nơi ấy, cuối cùng, không một tạo vật nào có thể lấp đầy hoàn toàn. Chỉ Thiên Chúa.
Khi Chúa ở lại, những bụi trần trên đôi chân mỏi mệt được gột rửa không phải bằng cách xóa sạch quá khứ, nhưng bằng cách cho quá khứ một ý nghĩa mới. Ta vẫn là con người từng sai lầm, nhưng không còn bị sai lầm định nghĩa. Ta vẫn là người từng bị tổn thương, nhưng không còn để tổn thương quyết định cách mình đối xử với người khác. Ta vẫn nhớ những ngày tăm tối, nhưng không còn coi bóng tối ấy là toàn bộ cuộc đời mình. Trong Thiên Chúa, quá khứ không bị phủ nhận; nó được cứu chuộc. Những mảnh đời tưởng chừng vô ích lại trở thành chất liệu cho lòng cảm thông. Người từng đau sẽ hiểu người đang đau hơn. Người từng thất bại nếu biết khiêm nhường sẽ dịu dàng hơn với thất bại của người khác. Người từng sống cô đơn sẽ biết quý một lời thăm hỏi. Người từng bị phản bội có thể học cách gìn giữ lòng trung tín. Người từng đi qua đêm tối có thể trở thành một ngọn đèn nhỏ cho người đang lạc đường. Thiên Chúa vẫn thường làm như thế: Ngài không vứt đi những mảnh vỡ của đời ta; Ngài nhặt chúng lên, ghép chúng lại, rồi bằng một cách rất riêng, khiến chính những đường nứt trở thành nơi ánh sáng có thể xuyên qua.
Chiếc áo cuộc đời ai rồi cũng có những vết úa. Ngày mới bước vào đời, ta thường nghĩ mình sẽ giữ được mọi thứ thật nguyên vẹn. Tình bạn sẽ không đổi thay. Lời hứa sẽ không phai. Lòng nhiệt thành sẽ không nguội. Đức tin sẽ luôn sốt sắng. Những người ta thương sẽ mãi ở bên mình. Nhưng thời gian đi qua, chiếc áo ấy bắt đầu mang dấu vết của cuộc đời. Có chỗ bạc màu vì tháng năm. Có vết nhăn của lo toan. Có giọt nước mắt khô lại thành một vùng thẫm. Có chỗ bị rách bởi một cú ngã. Có những vết úa từ chính lỗi lầm ta gây ra. Có những vết lại đến từ bàn tay người khác. Ta có thể cố giấu đi, nhưng càng sống lâu càng hiểu chẳng ai bước đến cuối đời với chiếc áo hoàn toàn không dấu tích. Điều kỳ diệu của Tin Mừng không phải là Chúa bắt ta giả vờ chiếc áo ấy chưa từng bị bẩn. Ngài mặc cho ta một phẩm giá mới. Màu trắng phục sinh không phải màu trắng của một con người chưa từng sa ngã, nhưng là màu trắng của người đã được yêu sau những sa ngã; không phải vẻ tinh tuyền tự sức mình mà có, nhưng là món quà của lòng thương xót. Điều đẹp nhất nơi một người Kitô hữu không phải là họ có một quá khứ không tì vết, nhưng là dù quá khứ có thế nào, họ vẫn để Thiên Chúa viết tiếp câu chuyện.
Có những người đã sống nhiều năm trong mặc cảm vì một lỗi lầm cũ. Họ tin Chúa tha thứ nhưng lại không thể tha thứ cho chính mình. Họ đem theo một bản án trong lòng, ngày nào cũng âm thầm xét xử mình. Họ nghĩ đời mình hỏng rồi. Họ nhìn những năm tháng trước mặt như một quãng đời chỉ để trả giá. Nhưng Thiên Chúa không đến để đóng đinh ta mãi vào quá khứ. Thập giá của Đức Kitô đã đủ rồi. Ngài muốn mở ra một con đường phục sinh. Có những lỗi lầm cần sửa, có những hậu quả cần chịu trách nhiệm, có những tổn thương phải đền bù, nhưng không có nghĩa con người phải tuyệt vọng. Sám hối thật không phải là suốt đời cúi đầu trong mặc cảm; sám hối thật là dám quay lại với tình yêu và bắt đầu sống một cuộc đời mới. Nếu Phêrô chỉ ngồi mãi ở sân dinh thượng tế để khóc vì ba lần chối Thầy, Giáo Hội đã mất đi một vị tông đồ. Nếu Phaolô chỉ sống với ký ức từng bắt bớ các Kitô hữu, ngài đã không thể trở thành nhà truyền giáo của muôn dân. Thiên Chúa không phủ nhận tội lỗi, nhưng tình yêu Ngài lớn hơn tội lỗi. Không có vết úa nào trên chiếc áo đời ta mà máu Đức Kitô không thể chạm tới.
Thiên Chúa không cất đi mọi buổi chiều thử thách. Đây là một điều ta phải học rất lâu mới chấp nhận được. Có khi ta nghĩ: nếu Chúa thương tôi, tại sao Ngài để chuyện này xảy ra? Nếu Chúa ở cùng tôi, tại sao tôi vẫn đau? Nếu Chúa nghe lời cầu nguyện, sao bệnh chưa khỏi? Sao gia đình chưa hòa thuận? Sao người thân vẫn ra đi? Sao điều bất công kia chưa được sửa? Ta muốn sự hiện diện của Chúa phải được chứng minh bằng một kết quả cụ thể. Nhưng có lẽ dấu chỉ lớn nhất của sự hiện diện Thiên Chúa không phải lúc nào cũng là cơn bão biến mất; đôi khi là sức mạnh lạ lùng giúp ta đứng được giữa cơn bão. Có những người sau một biến cố rất đau vẫn có thể nói: “Tôi không biết tại sao Chúa để điều ấy xảy ra, nhưng tôi biết nếu không có Chúa, tôi đã không đi tới hôm nay.” Câu ấy quý hơn rất nhiều lời giải thích.
Thử thách không tự nó làm con người tốt hơn. Có người đau khổ rồi trở nên cay nghiệt. Có người bị phản bội rồi không còn tin bất cứ ai. Có người gặp bất công rồi quyết định sống bất công với đời. Có người chịu một vết thương rồi đem vết thương ấy đi làm đau những người vô tội. Nhưng khi một con người để Thiên Chúa đi vào trong đau khổ của họ, chính nơi ấy có thể bắt đầu một cuộc biến đổi. Nước mắt không còn chỉ là dấu hiệu của tuyệt vọng mà trở thành lời cầu nguyện. Nỗi đau không còn chỉ là cái hố chôn vùi tâm hồn mà trở thành mảnh đất sâu cho lòng trắc ẩn mọc lên. Sự cô đơn không còn chỉ là căn phòng lạnh lẽo mà có thể trở thành nơi người ta học ở lại với Chúa. Thất bại không còn là bằng chứng rằng đời mình vô nghĩa mà trở thành trường học của khiêm nhường. Có lẽ nhiều điều sâu sắc nhất trong một đời người không được học vào những ngày mọi chuyện thuận lợi. Chính trong những chiều buồn ta mới biết mình thật sự cần ai. Chính khi mất đi một điều ta từng dựa vào, ta mới khám phá đâu là nền đá, đâu chỉ là cát.
Có những giọt sầu úa tàn, nhưng dưới bàn tay Thiên Chúa chúng có thể trở thành hạt mầm của niềm trông cậy. Hạt mầm nào cũng phải trải qua bóng tối của lòng đất trước khi thấy ánh sáng. Nếu một hạt giống biết nói, có lẽ khi bị chôn xuống nó sẽ nghĩ đời mình đã kết thúc. Nó không biết rằng chính cái nơi tối tăm tưởng như là nấm mồ ấy lại đang chuẩn bị cho một mầm sống mới. Đời người cũng vậy. Có những giai đoạn ta tưởng mọi thứ chấm dứt, nhưng thực ra chỉ là một cách sống cũ đang phải chết đi để một điều mới có thể được sinh ra. Có những cánh cửa đóng lại cứu ta khỏi một con đường không dành cho mình. Có những người rời đi dạy ta thôi đặt cả đời mình vào tay một con người. Có những thất bại phá vỡ cái tôi để ta biết khiêm nhường. Có những khoảng trống khiến ta bắt đầu tìm Thiên Chúa nghiêm túc hơn. Có những chiều hoang vắng trở thành khởi điểm của một bình minh mà khi đang khóc ta chưa thể nhìn thấy.
Niềm trông cậy Kitô giáo không phải là thái độ tự trấn an rằng “rồi mọi chuyện sẽ ổn” theo kiểu mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như ta muốn. Có nhiều chuyện sẽ không trở lại như cũ. Người đã mất không trở về trong đời này. Tuổi trẻ đã qua không quay lại. Có những cơ hội bỏ lỡ mãi mãi. Có những hậu quả ta phải mang suốt đời. Niềm trông cậy sâu hơn thế. Đó là xác tín rằng dù có những điều không thể sửa lại, Thiên Chúa vẫn có thể dẫn đời ta đến một ý nghĩa không ai lấy mất được. Ngài có thể làm cho điều tưởng là tận cùng trở thành một ngưỡng cửa. Ngài có thể cho sự sống mọc lên giữa những nơi tưởng chỉ còn tro tàn. Ngài có thể mở một con đường xuyên qua biển mà trước đó ta chỉ thấy nước mênh mông. Hy vọng không phủ nhận đau khổ. Hy vọng nhìn thẳng vào đau khổ và vẫn nói: đây chưa phải là lời cuối cùng.
Nối kết cuộc đời mình vào tình yêu Thiên Chúa, con người mới dần tìm thấy câu trả lời tối hậu cho sự tồn tại của bản thân. Ta sống để làm gì? Câu hỏi ấy đôi khi bị che lấp bởi những bận rộn. Buổi sáng thức dậy, chạy theo công việc. Chiều về lo gia đình. Tối đến nhìn điện thoại, nghe tin tức, giải quyết thêm vài chuyện. Ngày nối ngày, tháng nối tháng. Có thể ta rất bận nhưng lại không biết mình đang đi đâu. Có thể ta tích lũy nhiều nhưng càng ngày càng rỗng. Có thể ta được công nhận nhưng vẫn không biết giá trị thật của mình nằm ở đâu. Chỉ khi đứng trước Thiên Chúa, ta mới nhớ mình không phải một sản phẩm của thành công hay thất bại. Ta không đáng giá vì có bao nhiêu người biết đến mình. Ta không đáng giá vì kiếm được bao nhiêu tiền. Ta cũng không mất giá vì một người nào đó không còn yêu mình. Giá trị sâu nhất của con người đến từ việc họ được Thiên Chúa gọi tên, được Ngài tạo dựng, yêu thương và mời gọi vào sự sống đời đời.
Điều ấy nghe quen nhưng sống được lại rất khó. Bởi thế gian không ngừng hỏi ta: anh đã làm được gì? Anh sở hữu gì? Anh hơn ai? Người ta nhìn bảng thành tích, địa vị, nhan sắc, khả năng, ảnh hưởng. Và chính ta cũng dễ nhìn mình bằng những thước đo ấy. Khi được khen ta vui. Khi bị quên lãng ta buồn. Khi thành công ta tưởng mình giá trị. Khi thất bại ta tưởng mình vô dụng. Nhưng Thiên Chúa nhìn khác. Ngài nhìn con người trước khi nhìn thành tích của họ. Ngài yêu trước khi họ kịp chứng minh bất cứ điều gì. Đứa con hoang đàng chưa kịp làm thuê để chuộc lỗi, người cha đã chạy ra ôm lấy. Phêrô chưa làm được điều gì để sửa ba lần chối Thầy, Đức Kitô Phục Sinh đã tìm đến. Tên trộm bên hữu chẳng còn thời gian để có một cuộc đời đạo đức, vậy mà lời van xin cuối cùng vẫn mở ra cánh cửa thiên đàng. Tình yêu Thiên Chúa không phải phần thưởng dành cho những người hoàn hảo. Chính tình yêu ấy làm người tội lỗi có thể bắt đầu lại.
Thiên Chúa là điểm khởi đầu và cũng là đích đến duy nhất. Nếu quên điểm khởi đầu, ta dễ tưởng mình tự nhiên mà có, rồi sống như thể chẳng mắc nợ ai. Nếu quên đích đến, ta biến cuộc đời thành cuộc chạy đua vô tận để có thêm, hơn thêm, được nhìn nhận thêm. Nhưng người nhớ mình từ Thiên Chúa mà đến và đang trở về với Thiên Chúa sẽ biết đặt mọi sự vào đúng chỗ. Tiền bạc cần, nhưng không phải Chúa. Công việc quan trọng, nhưng không phải tất cả đời người. Gia đình vô cùng quý giá, nhưng cả người thân yêu nhất cũng không thể thay thế Thiên Chúa. Danh dự đáng giữ, nhưng không đáng để ta bán linh hồn. Thành công đáng mừng, nhưng không thể mang theo qua cánh cửa sự chết. Ta ra đi khỏi đời này như khi đến: hai bàn tay trống. Chỉ có tình yêu đã sống là còn lại.
Vì vậy, điều đáng sợ nhất không phải là một ngày phải già. Không phải là những nếp nhăn hay mái tóc bạc. Cũng không phải việc một ngày tiếng bước chân mình chậm hơn, căn phòng trở nên im hơn, bạn bè ít dần. Điều đáng sợ hơn là sống hết một đời mà chưa từng biết mình đang sống vì điều gì; có mọi thứ mà đánh mất linh hồn; được thiên hạ biết đến nhưng lại xa lạ với chính Thiên Chúa; xây bao căn nhà nhưng không xây được một mái ấm trong lòng; nói rất nhiều mà không có một đời sống nội tâm; thành công trước người đời nhưng thất bại trước tình yêu. Tuổi già sẽ không quá đáng sợ nếu đời ta có một nơi để trở về. Cái chết cũng không phải vực thẳm nếu phía bên kia có một vòng tay đang chờ.
Có lẽ vì vậy mà càng đi gần về phía hoàng hôn đời mình, con người càng cần lời “ở lại với con”. Khi tuổi trẻ qua đi, ta không còn nhiều ảo tưởng. Những gì từng hấp dẫn dần trở nên nhẹ hơn. Ta hiểu lời khen hôm nay rồi mai sẽ qua. Người ta có thể tung hô một người rồi cũng rất nhanh quên họ. Một căn nhà đẹp rồi cũng cũ. Một cơ thể khỏe mạnh rồi cũng suy. Một chức vụ rồi cũng đến lúc trao lại. Một tài khoản rồi cuối cùng cũng thuộc về người khác. Những điều từng tưởng là rất lớn bắt đầu nhỏ đi, và những gì âm thầm từng bị xem nhẹ lại hiện ra quý giá: một bữa cơm còn đủ người, một người bạn thật lòng, một lời xin lỗi nói kịp lúc, một buổi tối ngủ được bình yên, một trái tim không còn oán hận, một lương tâm thanh thản, một giờ cầu nguyện được ở yên trước Chúa.
“Ở lại với con” còn là lời xin khi những người khác không thể ở lại. Chúng ta thương nhau, nhưng không ai có thể hứa sẽ đi cùng nhau đến tận cuối theo nghĩa tuyệt đối. Có người đi trước bằng cái chết. Có người rời ta bởi những lựa chọn khác nhau. Có tình bạn xa dần theo năm tháng. Có người từng thân thiết rồi trở thành ký ức. Có cha mẹ phải nhìn con rời nhà. Có con cái một ngày đứng trước di ảnh cha mẹ. Có vợ chồng từng nắm tay nhau rất lâu nhưng rồi cũng đến lúc một người ở lại, một người ra đi. Cuộc đời mang trong mình quy luật chia lìa mà chẳng ai tránh khỏi. Bởi thế, nếu ta đặt toàn bộ đời mình vào một con người, sớm muộn ta sẽ gặp một khoảng trống không ai bù nổi. Chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng có thể nói với ta: “Dù người mẹ có quên con mình, Ta cũng chẳng quên ngươi.” Ngài là Người Ở Lại cuối cùng khi mọi cuộc gặp gỡ trần gian đã khép lại.
Đó không phải một ý tưởng để an ủi người yếu lòng. Đó là nền tảng của đức tin phục sinh. Đức Kitô đã đi vào chính nỗi cô đơn tận cùng của con người, đi vào đau khổ, đi vào cái chết và bước ra khỏi mồ. Vì thế không còn nơi tối tăm nào ta phải bước vào mà Ngài chưa từng đi qua. Khi đau, ta không cầu nguyện với một vị thần đứng xa nhìn xuống. Ta cầu nguyện với Đấng từng đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu. Khi bị bỏ rơi, ta hướng về Đấng từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Khi đối diện cái chết, ta nhìn Đấng đã nằm trong mộ ba ngày. Chính vì Ngài đã đi qua mọi hoàng hôn sâu nhất của phận người, ta có thể tin Ngài cũng có thể dẫn ta xuyên qua bóng tối để đến bình minh.
Vượt qua hoàng hôn trần thế, bước thăng trầm của thời gian sẽ dẫn đưa ta về một ngày không còn hoàng hôn nữa. Đó là niềm hy vọng đẹp nhất của người Kitô hữu. Ta không tin vào sự sống đời đời như một cách trốn chạy đời này. Trái lại, chính vì biết đời này có đích đến, ta càng sống nó nghiêm túc hơn. Một ngày không còn nước mắt khiến ta hôm nay biết lau nước mắt cho nhau. Một quê hương không còn chia ly khiến ta hôm nay biết trân trọng những người đang ở cạnh mình. Một Nước Trời của tình yêu khiến ta hôm nay không thể bình thản sống trong hận thù. Một cuộc gặp gỡ cuối cùng với Thiên Chúa khiến ta hôm nay phải tự hỏi: nếu tối nay là buổi chiều cuối của đời mình, có điều gì ta cần làm ngay không? Có người nào ta cần tha thứ? Có lời nào ta cần xin lỗi? Có một cuộc điện thoại nào nên gọi? Có một người cha, người mẹ nào ta đã lâu không thăm? Có một người từng làm tổn thương ta mà đã đến lúc buông xuống? Có một tội lỗi nào cần trở về với bí tích hòa giải? Có một lời yêu thương nào nên nói khi người kia vẫn còn nghe được?
Rất nhiều nỗi ân hận của con người bắt đầu từ hai chữ “giá như”. Giá như ngày ấy tôi chịu nhường. Giá như tôi gọi cho mẹ sớm hơn. Giá như tôi bớt tự ái. Giá như tôi đừng nói câu ấy. Giá như tôi dành thời gian cho gia đình thay vì lúc nào cũng bận. Giá như tôi nói lời cảm ơn. Giá như tôi kịp làm hòa. Giá như tôi sống gần Chúa hơn. Nhưng không ai có thể quay về ngày hôm qua. Ta chỉ còn hôm nay. Vì thế lời “ở lại với con” cũng là lời xin Chúa giúp ta sống phần đời còn lại sao cho đến khi chiều xuống, lòng không còn quá nhiều điều hối tiếc. Không cần làm những điều phi thường. Chỉ cần sống tử tế hơn một chút. Nói nhẹ hơn một chút. Bớt phán xét một chút. Tha thứ sớm hơn một chút. Cầu nguyện thật hơn một chút. Yêu những người bên cạnh khi họ còn ở đó.
Có những người dành gần hết đời mình tìm bình an ở bên ngoài. Họ nghĩ khi có đủ tiền sẽ bình an. Đến khi có tiền lại sợ mất tiền. Họ nghĩ có một vị trí sẽ bình an. Có vị trí rồi lại sợ người khác vượt mình. Họ nghĩ được nhiều người yêu mến sẽ bình an. Được yêu mến rồi lại sợ bị quên. Ta cứ đặt bình an lên những điều có thể thay đổi, rồi thắc mắc vì sao lòng mình luôn bất an. Bình an thật không phải là mọi sự đứng yên. Đời không đứng yên. Con người không đứng yên. Sức khỏe không đứng yên. Tình cảm cũng có những thăng trầm. Bình an thật là có một điểm tựa không đổi giữa muôn điều thay đổi. Thiên Chúa là điểm tựa ấy.
Khi biết Chúa ở cùng, ta bắt đầu học cách mỉm cười bình an bước tiếp. Không phải nụ cười của người chưa từng trải. Không phải nụ cười ngây thơ nghĩ cuộc đời chỉ có màu hồng. Nhưng là nụ cười của một người đã biết thế nào là đêm tối mà vẫn còn tin vào bình minh. Có những người càng trải qua nhiều khổ đau lại càng hiền. Gương mặt họ có nhiều nếp nhăn nhưng ánh mắt rất bình an. Họ không nói những lời lớn lao. Họ chỉ bảo: “Chuyện gì rồi cũng đặt trong tay Chúa.” Câu ấy không phải sự buông xuôi. Nó là kết quả của cả một đời học tín thác.
Tín thác không phải ngồi yên không làm gì. Tín thác là làm hết phần của mình rồi biết phần còn lại thuộc về Thiên Chúa. Bác sĩ chữa bệnh, nhưng sự sống vẫn ở trong tay Chúa. Cha mẹ giáo dục con, nhưng không thể sống thay con. Người mục tử gieo hạt, nhưng Thiên Chúa làm cho hạt mọc. Ta cố gắng sửa chữa một mối quan hệ, nhưng không thể ép người khác thay đổi. Ta chuẩn bị cho ngày mai, nhưng không ai làm chủ ngày mai. Khi hiểu giới hạn ấy, ta bớt căng thẳng vì những điều mình không thể kiểm soát. Ta thôi ôm cả thế giới lên vai. Có những chuyện cần giao lại cho Chúa.
Và rồi một ngày, lời “ở lại với con” sẽ mang ý nghĩa cuối cùng. Đó có thể là một căn phòng bệnh. Một buổi chiều rất yên. Một người đã đi gần hết hành trình. Những điều của trần thế dần lùi xa. Có thể quanh giường còn người thân, có thể chỉ là tiếng máy đều đều. Khi ấy chức vụ không còn ý nghĩa. Tiền bạc không giúp mua thêm vô hạn thời gian. Những lời khen không còn quan trọng. Chỉ còn một câu hỏi: tôi sắp gặp Ai? Nếu suốt đời ta đã quen nói “Lạy Chúa, xin ở lại với con”, có lẽ trong giờ cuối ta sẽ nghe một lời ngược lại: “Con hãy ở lại với Ta.”
Và đó mới thật sự là nhà.
Nhà không chỉ là nơi ta sinh ra. Không chỉ là căn nhà có mái ngói, cửa sổ, bàn ăn và những tấm ảnh cũ. Tất cả rồi cũng ở lại phía sau. Nhà cuối cùng là nơi ta không còn phải đi đâu nữa. Không còn sợ bị bỏ lại. Không còn lo người mình yêu ra đi. Không còn bệnh tật. Không còn nước mắt. Không còn những cuộc tiễn đưa. Không còn những lời chưa kịp nói. Không còn chiếc ghế trống trong bữa cơm. Không còn những đêm mất ngủ vì một nỗi đau chẳng biết kể cùng ai. Không còn bóng tối, bởi chính Thiên Chúa là ánh sáng.
Nếu thật sự tin như thế, ta có thể sống hôm nay nhẹ hơn. Không cần giành giật quá nhiều. Không cần thắng mọi cuộc tranh luận. Không cần chứng minh mình đúng trong mọi chuyện. Không cần giữ mãi một cơn giận làm gì. Cuộc đời ngắn lắm. Một buổi sáng nhìn thấy nhau, một buổi chiều có thể chỉ còn một tấm hình. Có những người ta tưởng ngày mai sẽ gặp nhưng rồi chẳng có ngày mai ấy nữa. Vì vậy hãy yêu khi còn có thể. Hãy làm hòa khi còn kịp. Hãy nói cảm ơn khi người kia còn nghe. Hãy trở về với Chúa khi trái tim còn đủ sức rung động.
Có lẽ cuối cùng, tất cả hành trình đức tin chỉ gom lại trong hai chữ: ở lại. Chúa ở lại với ta. Ta ở lại với Chúa. Và nhờ ở lại trong Ngài, ta học cách ở lại với nhau trong yêu thương. Ở lại khi người kia không còn dễ thương. Ở lại với người đau bệnh. Ở lại bên một người đang buồn mà không vội giảng giải. Ở lại với gia đình khi có những vết nứt. Ở lại trong bổn phận khi không ai vỗ tay. Ở lại với ơn gọi khi nhiệt huyết thuở đầu không còn nguyên vẹn. Ở lại trong cầu nguyện cả những ngày khô khan. Trung tín nhiều khi không có gì rực rỡ. Nó chỉ là quyết định mỗi ngày: hôm nay tôi vẫn ở đây.
Thiên Chúa đã ở lại với nhân loại như thế. Ngài ở lại trong một máng cỏ nghèo. Ở lại trên những nẻo đường bụi bặm. Ở lại bên người tội lỗi. Ở lại với môn đệ dù họ chậm hiểu. Ở lại trong vườn Cây Dầu khi mọi người ngủ. Ở lại trên thập giá khi người ta nhạo báng. Và sau phục sinh, Ngài vẫn ở lại trong tấm bánh rất nhỏ của Thánh Thể. Một Thiên Chúa toàn năng đã chọn phương cách lạ lùng nhất để bày tỏ tình yêu: ở lại.
Vì vậy, trong những buổi chiều của đời người, khi nắng bắt đầu nhạt, khi bước chân chậm lại, khi những tiếng ồn ngoài kia không còn đủ sức lấp đầy khoảng trống trong lòng, ta hãy trở về với lời nguyện rất cũ mà lúc nào cũng mới: “Lạy Chúa, xin ở lại với con.” Xin ở lại khi con vui để con không quên Chúa. Xin ở lại khi con thành công để con không kiêu ngạo. Xin ở lại khi con thất bại để con không tuyệt vọng. Xin ở lại khi người đời hiểu con, để con biết tạ ơn. Xin ở lại khi người đời hiểu lầm con, để con không cay đắng. Xin ở lại khi con còn khỏe mạnh để con biết dùng đời mình cho điều có ý nghĩa. Xin ở lại khi bệnh tật đến để con không sợ. Xin ở lại những ngày lòng con đầy ánh sáng. Và nhất là xin ở lại những đêm mà con chẳng cảm thấy Ngài đâu.
Xin Chúa ở lại với những vết thương con không kể được với ai. Ở lại với những câu hỏi chưa có lời đáp. Ở lại với những người con thương mà con không thể giữ mãi bên mình. Ở lại với những lỗi lầm con đang cố sửa. Ở lại với phần đời đã qua mà con không thể thay đổi. Ở lại với phần đời phía trước mà con chưa biết sẽ ra sao. Ở lại với tuổi già. Ở lại với những mất mát. Ở lại trong giờ hấp hối. Và khi đôi mắt này khép lại trước ánh sáng của trần gian, xin chính Ngài mở cho con thấy ánh sáng không bao giờ tắt.
Để rồi một ngày, khi mọi buổi chiều thế gian đã đi qua, ta sẽ hiểu rằng suốt cả hành trình, có những lúc tưởng mình bước một mình nhưng thật ra Chúa vẫn ở đó. Có những đoạn đường ta chỉ thấy một hàng dấu chân vì chính Ngài đã bế ta đi. Có những lần ta nghĩ Chúa im lặng nhưng hóa ra Ngài đang âm thầm giữ cho linh hồn ta khỏi vỡ. Có những mất mát ta từng oán trách rồi một ngày nhìn lại mới hiểu chính giữa khoảng trống ấy ta đã gặp Chúa sâu hơn. Ta sẽ hiểu không một giọt nước mắt nào thực sự vô nghĩa khi nó được đặt trong tay Thiên Chúa.
Và nếu hôm nay ai đó đang đi qua một buổi chiều rất dài, xin đừng nghĩ rằng bóng tối là dấu chấm hết. Chiều xuống không phải để mặt trời chết, nhưng để chuẩn bị cho một bình minh khác. Có thể ta chưa nhìn thấy. Có thể đêm nay còn dài. Nhưng cứ đi. Đi chậm cũng được. Khóc cũng được. Nghỉ một chút cũng được. Chỉ đừng buông bàn tay Thiên Chúa. Và nếu chẳng còn đủ sức nói một lời cầu nguyện dài, hãy nói một câu thôi: “Lạy Chúa, xin ở lại với con.”
Thế là đủ.
Bởi có Chúa ở lại, căn phòng cô quạnh cũng có thể thành nơi gặp gỡ. Có Chúa ở lại, nước mắt vẫn rơi nhưng lòng không tuyệt vọng. Có Chúa ở lại, quá khứ dù nhiều vết xước vẫn có thể được chữa lành. Có Chúa ở lại, cái chết không còn là bức tường cuối cùng mà trở thành cánh cửa. Có Chúa ở lại, ta không cần biết toàn bộ con đường phía trước; chỉ cần biết bước chân kế tiếp đang đi về phía Ngài.
Và rồi giữa buổi chiều của đời mình, ta có thể bình thản nhìn nắng tắt, không phải vì chẳng còn gì để tiếc, nhưng vì biết phía sau hoàng hôn ấy đang có một Bình Minh không bao giờ lặn. Ta có thể mỉm cười trước những đổi thay của thời gian, bởi điều quý nhất đời mình đã được đặt vào nơi thời gian không thể lấy mất. Ta có thể nhẹ nhàng buông những điều phải buông, tha thứ những người cần tha thứ, yêu những người còn ở cạnh, hoàn thành bổn phận hôm nay, rồi phó dâng ngày mai cho Thiên Chúa.
Bởi từ nay cho đến cuối cuộc đời, ta không còn đi một mình.
Ngài ở lại.
Và chỉ cần Ngài ở lại, thế là đủ cho một kiếp người.
Lm. Anmai, CSsR
Có những hình ảnh chỉ thoáng qua trước mắt nhưng lại ở rất lâu trong lòng người. Với tôi, hình ảnh các Tông đồ đặt tay trên những người được tuyển chọn để trao phó sứ vụ phục vụ cộng đoàn luôn là một trong những hình ảnh như thế. Chỉ một cử chỉ đặt tay thôi mà chứa đựng cả một chiều dài lịch sử của Hội Thánh, một sự tiếp nối âm thầm từ thế hệ này sang thế hệ khác, một dòng chảy của ân sủng không ngừng tuôn qua những con người rất bình thường nhưng được Thiên Chúa gọi, chọn và sai đi. Ngày ấy, khi cộng đoàn tín hữu đầu tiên ngày một đông hơn, các Tông đồ đã nhận ra rằng không thể để việc loan báo Lời Chúa bị xao nhãng, nhưng đồng thời cũng không thể bỏ quên những nhu cầu rất cụ thể của anh chị em, nhất là những người yếu thế, những quả phụ, những người cần được chăm sóc. Vì thế, những người đầy Thánh Thần và khôn ngoan được chọn ra để phục vụ. Từ đó, một khuôn mặt rất đẹp của Hội Thánh được hình thành: Hội Thánh không chỉ là nơi công bố những chân lý cao siêu, nhưng còn là nơi có những đôi tay biết cúi xuống, có những bàn chân biết đi đến, có những trái tim biết chạnh lòng, có những con người sẵn sàng đứng ở chỗ âm thầm nhất để anh chị em mình được nâng lên. Nhìn vào cội nguồn ấy, tôi lại nghĩ đến ơn gọi của quý Thầy hôm nay. Qua bao tháng năm được đào luyện, qua những ngày học hành, cầu nguyện, mục vụ, những lúc hăng say và cả những lúc mỏi mệt, quý Thầy đang tiến đến một dấu mốc rất đẹp trên hành trình đời mình. Nhưng dấu mốc ấy không phải là một bậc thang để bước cao hơn người khác, càng không phải là một danh vị để từ nay được người đời kính nể hơn. Nếu hiểu như thế thì sẽ rất dễ đi lạc khỏi tinh thần của Tin Mừng. Chức Phó tế, ngay trong tên gọi của mình, đã mang nghĩa phục vụ. Đó là một lời nhắc mạnh mẽ rằng càng được trao ban nhiều thì càng phải biết cúi xuống sâu hơn, càng đứng gần bàn thờ thì càng phải bước gần hơn đến với những con người đau khổ, càng được Hội Thánh tín nhiệm thì càng phải sống khiêm nhường, âm thầm và quảng đại hơn. Người Phó tế không bước vào thánh chức để tìm cho mình một chỗ đứng, nhưng để chấp nhận đứng ở nơi người khác cần mình; không bước vào thánh chức để được người ta phục vụ, nhưng để học lại mỗi ngày bài học của Đức Giê-su: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”
Có lẽ giữa một thế giới vốn quen đo giá trị con người bằng chức vụ, danh tiếng, quyền lực và khả năng được người khác biết đến, Tin Mừng về người phục vụ trở nên một nghịch lý thật lớn. Người đời thường nghĩ càng thành công thì càng phải đứng cao, càng có vị trí thì càng phải được ưu tiên, càng có quyền thì càng có nhiều người phục vụ. Nhưng con đường của Đức Ki-tô lại hoàn toàn ngược lại. Người là Thầy, là Chúa, vậy mà đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người có thể chọn ngai vàng nhưng lại chọn máng cỏ. Người có thể được tung hô nhưng lại chọn thập giá. Người có thể dùng quyền năng để bắt người khác cúi đầu nhưng lại cúi xuống trước nỗi đau của con người, chạm vào người phong cùi, dừng lại bên người mù, lắng nghe tiếng khóc của bà góa, tha thứ cho người tội lỗi và cuối cùng tự hiến hoàn toàn trên thập giá. Nếu có một định nghĩa ngắn gọn nhất về quyền bính trong Hội Thánh thì có lẽ đó chính là quyền được phục vụ nhiều hơn. Và nếu có một dấu hiệu cho thấy một người đang thật sự tiến sâu trong đời sống thánh hiến và sứ vụ, thì không phải là họ được biết đến nhiều hơn, nhưng là họ trở nên dễ cúi xuống hơn, dễ cảm thông hơn, dễ tha thứ hơn, dễ chấp nhận phần thiệt hơn và dễ dành chỗ tốt cho người khác hơn. Bởi thế, những lời nhắc nhở rằng người Phó tế không tìm kiếm địa vị nhưng phải mang tinh thần “đi ra” thật sự đáng để suy nghĩ rất lâu. “Đi ra” không chỉ là rời nhà xứ để đến một vùng xa, cũng không chỉ là tham gia thêm nhiều công việc mục vụ. Có khi đi ra khó nhất lại là đi ra khỏi cái tôi của mình, ra khỏi những tự ái, những thói quen, những định kiến, những vùng an toàn mà ta đã quen trú ẩn. Có khi đi ra là dám bước đến với một người mình không thích. Đi ra là ngồi xuống bên cạnh một người không có gì để đáp trả. Đi ra là chấp nhận lắng nghe một câu chuyện mình đã nghe rất nhiều lần nhưng với người đang kể thì đó lại là nỗi đau duy nhất họ có. Đi ra là tìm đến một gia đình nghèo mà không mang theo thái độ ban ơn. Đi ra là đến với một người đang xa đức tin mà không vội kết án. Đi ra là đủ hiền để người tội lỗi dám đến gần, đủ bao dung để người lầm lỡ còn tin rằng họ có đường trở về, đủ kiên nhẫn để người yếu đuối không cảm thấy mình là gánh nặng. Người Phó tế được gọi để trở thành nhịp cầu như thế: nối bàn thờ với đời sống, nối Lời Chúa với những phận người cụ thể, nối Hội Thánh với những ai đang đứng ngoài cánh cửa, nối niềm hy vọng của Tin Mừng với những cuộc đời tưởng như đã cạn hy vọng.
Tôi rất thích hình ảnh bông lúa chín. Có lẽ bởi bông lúa là một bài giảng mà đồng ruộng đã âm thầm nói với con người từ bao đời. Khi còn non, bông lúa thường ngẩng cao. Khi hạt bắt đầu chắc, bông lúa từ từ cúi xuống. Càng đầy hạt càng cúi. Một bông lúa lép có thể đứng rất thẳng giữa trời, nhưng bông lúa nặng hạt thì không thể không cúi. Con người cũng vậy. Người thật sự trưởng thành không cần cố chứng minh mình trưởng thành. Người thật sự có chiều sâu không cần nói quá nhiều về chiều sâu của mình. Người thật sự được Thiên Chúa đụng chạm sẽ dần mất đi nhu cầu phải hơn người khác. Càng hiểu nhiều, họ càng thấy mình biết quá ít. Càng được tin tưởng, họ càng thấy trách nhiệm lớn hơn. Càng đứng gần Chúa, họ càng nhận ra sự nghèo nàn của bản thân. Càng làm nhiều việc cho Hội Thánh, họ càng thấy điều kỳ diệu không nằm ở sức mình nhưng ở ân sủng Thiên Chúa. Đời thánh hiến sẽ rất đẹp khi người ta trưởng thành theo kiểu của bông lúa: không phải càng lớn càng cứng, mà càng lớn càng mềm; không phải càng có kinh nghiệm càng khó gần, mà càng có kinh nghiệm càng dễ cảm thông; không phải càng được trao trách nhiệm càng thích sai khiến, mà càng được trao trách nhiệm càng biết đỡ nâng. Tôi nghĩ đó cũng là điều quý Thầy sẽ phải học suốt đời. Ngày chịu chức không phải là ngày kết thúc việc đào luyện, nhưng chỉ là ngày một cuộc đào luyện sâu hơn bắt đầu. Những năm trong chủng viện hay học viện có thể cho ta kiến thức, phương pháp, kỷ luật và một đời sống khá ổn định. Nhưng rồi khi bước vào sứ vụ, những bài học thật sự nhiều khi không còn nằm trên trang sách. Một cụ già đau yếu sẽ dạy ta về sự kiên nhẫn. Một gia đình tan vỡ sẽ dạy ta sự thận trọng trong lời nói. Một người nghèo sẽ dạy ta thế nào là lòng tự trọng của người túng thiếu. Một đứa trẻ mất cha mẹ sẽ dạy ta rằng có những nỗi đau không thể trả lời bằng những công thức. Một người từng bỏ Giáo Hội sẽ dạy ta rằng đôi khi thứ họ cần trước tiên không phải là một bài giáo lý, nhưng là được lắng nghe mà không bị phán xét. Một người chống đối có thể dạy ta khiêm tốn. Một thất bại mục vụ có thể dạy ta cầu nguyện. Một sự hiểu lầm có thể dạy ta im lặng. Một lần bị tổn thương có thể dạy ta tha thứ. Những điều ấy chẳng dễ dàng gì, nhưng chính trong đó, người phục vụ được uốn nắn để trở thành người của Thiên Chúa.
Người Phó tế được sai đến với bàn thờ, nhưng bàn thờ không giữ người Phó tế lại cho riêng mình. Bàn thờ sai người phục vụ đi vào giữa đời. Ở bàn thờ, người Phó tế phục vụ mầu nhiệm thánh; ngoài cuộc đời, người Phó tế phục vụ Đức Ki-tô đang ẩn mình trong người nghèo, người cô đơn, người bệnh tật, người bị bỏ quên. Nếu chỉ sốt sắng trước Thánh Thể mà lạnh lùng trước người đau khổ, đời sống của người môn đệ sẽ có một khoảng cách đáng sợ. Nếu nâng chén thánh thật trang nghiêm mà lại không biết nâng một tâm hồn đang gục xuống, ta chưa hiểu hết bàn thờ. Nếu công bố Tin Mừng bằng giọng thật hay nhưng lời nói hằng ngày lại dễ gây tổn thương, ta chưa sống Tin Mừng mình công bố. Nếu chuẩn bị phụng vụ rất chỉn chu nhưng không dành được chút thời gian cho một người nghèo đang chờ ngoài cổng, ta cần tự hỏi mình đang phục vụ ai. Đức Ki-tô trong nhà tạm và Đức Ki-tô trong người bé mọn không phải là hai Đức Ki-tô khác nhau. Chính vì vậy, chức Phó tế là một lời nhắc thường xuyên cho cả Hội Thánh rằng phụng vụ phải dẫn đến đức ái, cầu nguyện phải mở ra phục vụ, gặp Chúa phải dẫn ta đến gặp người. Không phải ngẫu nhiên mà từ cộng đoàn đầu tiên, việc tuyển chọn những người phục vụ gắn liền với những nhu cầu rất cụ thể của người yếu thế. Hội Thánh từ thuở ban đầu đã hiểu rằng nếu rao giảng một Thiên Chúa tình yêu mà bỏ quên người đang đói, đang cô độc hay bị đối xử bất công thì lời rao giảng ấy sẽ trở nên nghèo nàn. Phục vụ không phải là một hoạt động phụ của Hội Thánh. Phục vụ nằm trong căn tính của Hội Thánh, bởi Đấng sáng lập Hội Thánh là Đấng Phục Vụ.
Tôi nghĩ rồi đây quý Thầy sẽ gặp rất nhiều người. Có người đón tiếp quý Thầy với lòng kính trọng. Có người gọi quý Thầy bằng những danh xưng thật đẹp. Có người sẽ tìm đến để xin lời khuyên, xin cầu nguyện, xin giúp đỡ. Nhưng cũng sẽ có người chẳng biết quý Thầy là ai, thậm chí chẳng quan tâm quý Thầy đã học bao nhiêu năm hay đang giữ trách nhiệm gì. Có người sẽ hiểu lầm. Có người sẽ đòi hỏi nhiều hơn khả năng của mình. Có người đã được giúp nhưng không một lời cảm ơn. Có người còn trách ngược lại. Chính lúc ấy, tinh thần Phó tế sẽ được thử lửa. Bởi phục vụ khi được biết ơn thì dễ, phục vụ khi bị quên lãng mới khó. Yêu người dễ thương thì dễ, yêu người gây phiền phức mới khó. Cúi xuống với người biết tôn trọng mình thì dễ, cúi xuống trước người từng làm mình tổn thương mới khó. Chấp nhận việc âm thầm khi không có ai nhìn thấy mới thật sự cho thấy ta đang làm vì ai. Nếu làm cho Chúa, ta không quá bận tâm người đời có ghi nhận hay không. Nếu phục vụ vì Tin Mừng, một lời cảm ơn là điều đáng quý nhưng không phải lý do khiến ta tiếp tục. Nếu đã chọn Đức Ki-tô làm gia nghiệp, ta sẽ hiểu rằng phần thưởng sâu xa nhất của người môn đệ chính là được nên giống Thầy mình. Thầy đã từng cho rất nhiều mà ít người hiểu. Thầy chữa mười người phong, chỉ một người trở lại cám ơn. Thầy nuôi đám đông ăn no, rồi cũng chính đám đông có người bỏ đi. Thầy yêu các môn đệ đến cùng, vậy mà có người phản bội, có người chối, có người bỏ chạy. Thế nhưng Người vẫn yêu. Đó là con đường của phục vụ Ki-tô giáo: không để lòng tốt của mình phụ thuộc hoàn toàn vào cách người khác đáp trả.
Trong hành trình ấy, quý Thầy cũng cần giữ cho mình một trái tim luôn còn khả năng xúc động. Tôi vẫn nghĩ một người phục vụ đáng sợ nhất không phải là người làm ít việc, nhưng là người làm rất nhiều mà trái tim dần chai cứng. Khi đã tiếp xúc quá nhiều với đau khổ, ta có thể quen với đau khổ đến mức không còn chạnh lòng. Khi đã gặp quá nhiều người nghèo, ta có thể bắt đầu nhìn họ như những trường hợp cần giải quyết. Khi đã nghe quá nhiều tâm sự, ta có thể coi nỗi đau của người khác là chuyện bình thường. Khi đó, sứ vụ có thể vẫn chạy, chương trình vẫn đầy, công việc vẫn hoàn thành nhưng người mục tử bên trong đang dần cạn. Phục vụ kiểu Đức Ki-tô không chỉ là làm một việc tốt, nhưng là để trái tim mình bị chạm đến bởi người mình phục vụ. Tin Mừng nhiều lần nói Đức Giê-su “chạnh lòng thương”. Người không chỉ nhìn thấy đám đông; Người nhìn thấy những con người mệt mỏi và bơ vơ. Người không chỉ nhìn thấy người mù; Người nghe tiếng kêu của họ. Người không chỉ nhìn thấy bà góa bỏ hai đồng tiền; Người nhận ra cả cuộc đời đang được đặt vào đó. Người không chỉ nhìn thấy người phụ nữ tội lỗi; Người nhìn thấy những giọt nước mắt, lòng sám hối và khát vọng được làm lại cuộc đời. Xin đừng bao giờ để những công việc mục vụ lấy mất khả năng chạnh lòng của người phục vụ. Có những lúc một ánh mắt cảm thông giá trị hơn một bài nói rất hay. Một cái nắm tay có thể nói nhiều hơn cả một trang thần học. Một lần dừng lại đủ lâu bên người đau khổ có thể đưa họ đến gần Thiên Chúa hơn rất nhiều lời khuyên.
Nhưng muốn cúi xuống được lâu dài, người Phó tế trước hết phải biết quỳ xuống trước Chúa. Nếu không quỳ trước Chúa, chúng ta rất dễ muốn người khác quỳ trước mình. Nếu không ở lại trong cầu nguyện, chúng ta sẽ nhanh chóng cạn kiệt bởi những nhu cầu vô tận của sứ vụ. Không ai có thể cho mãi nếu không trở về với nguồn. Không ai có thể yêu mãi bằng sức riêng. Những năm đầu sứ vụ có thể đầy nhiệt huyết, nhưng rồi thời gian, mệt mỏi, va chạm, thất vọng, bệnh tật, những giới hạn của cộng đoàn và của chính mình sẽ làm ta hiểu rằng lòng nhiệt thành của tuổi trẻ chưa đủ. Muốn trung thành đến cuối đời cần một đời sống nội tâm sâu. Chúa không chỉ cần những bàn tay hoạt động, Người cần một trái tim thuộc về Người. Người không chỉ cần người làm việc, Người cần môn đệ. Đây là điều rất dễ quên. Ta có thể bận rộn với việc của Chúa đến mức không còn thời giờ cho chính Chúa. Ta có thể nói về cầu nguyện nhiều nhưng chính mình lại cầu nguyện rất ít. Ta có thể phục vụ bàn thờ hằng ngày nhưng lòng lại xa bàn thờ. Vì thế, càng đi vào sứ vụ, quý Thầy càng phải giữ những khoảng thinh lặng cho Chúa. Khi vui cũng trở về. Khi buồn càng phải trở về. Khi thành công phải trở về để biết tất cả là ân sủng. Khi thất bại phải trở về để nhận lại bình an. Khi được khen phải trở về để khỏi kiêu. Khi bị chê cũng trở về để khỏi cay đắng. Chỉ trong cầu nguyện, người phục vụ mới dần học được cách nhìn mình và mọi người bằng ánh mắt của Đức Ki-tô.
Có một điều nữa cũng rất quan trọng: cúi xuống không có nghĩa là tự hạ giá mình, càng không phải là nhu nhược. Khiêm nhường Ki-tô giáo không phải là nghĩ mình chẳng có gì, nhưng là biết rõ điều mình có đến từ đâu. Người khiêm nhường không phủ nhận khả năng Chúa ban; họ chỉ không biến khả năng ấy thành lý do để coi mình hơn người khác. Họ có thể nói rất mạnh khi cần bảo vệ sự thật, nhưng không dùng sự thật để làm nhục người khác. Họ có thể lãnh đạo, quyết định, tổ chức, nhưng quyền bính của họ không mang mùi thống trị. Họ có thể đứng trước cộng đoàn, nhưng trong lòng vẫn biết mình cũng là một người tội lỗi cần lòng thương xót. Một người Phó tế khiêm nhường không phải là người lúc nào cũng rụt rè, nhưng là người tự do khỏi nhu cầu phải chứng minh bản thân. Họ dám nhận việc khó, dám nhận lỗi, dám xin lỗi, dám nói “tôi không biết”, dám hỏi người khác, dám học từ người ít tuổi hơn mình, dám để người khác giỏi hơn, dám mừng khi người khác thành công. Đó là thứ khiêm nhường trưởng thành. Và có lẽ đây cũng là điều mà bông lúa nhắc chúng ta: cúi xuống không làm nó mất giá trị; chính vì có hạt nên nó mới cúi. Người càng có thật bên trong càng không cần phô bày bên ngoài.
Rồi mai này, có thể quý Thầy sẽ bước tiếp đến chức linh mục. Nhưng tôi mong tinh thần Phó tế đừng bao giờ bị bỏ lại phía sau. Phó tế không chỉ là một giai đoạn phải đi qua để đến một chức vụ khác. Nếu người linh mục không còn là người phục vụ, linh mục ấy đang đánh mất điều cốt lõi. Chức linh mục không hủy bỏ tinh thần Phó tế mà phải làm tinh thần ấy sâu hơn. Một người có thể được gọi là “cha” nhưng chỉ thật sự sống tư cách người cha khi biết phục vụ con cái mình. Một người có thể đứng chủ sự bàn thờ nhưng chỉ thật sự là mục tử khi dám mang lấy mùi của đàn chiên, biết tên, biết nỗi đau và biết đi tìm con chiên đang lạc. Bởi vậy, ngày chịu chức Phó tế rất đẹp vì nó khắc vào đời người thụ phong một dấu ấn không nên phai: từ nay, đời mình là để phục vụ. Sau này dù ở nhiệm sở nào, giữ chức vụ nào, được trao trách nhiệm lớn đến đâu, xin vẫn nhớ đôi tay từng chắp lại nhận lời nguyện truyền chức, nhớ thân mình từng phủ phục trên nền cung thánh, nhớ rằng trước khi được nâng dậy để thi hành thừa tác vụ, ta đã nằm xuống. Hình ảnh phủ phục ấy đủ để nhắc suốt đời rằng ơn gọi không phải là công trình của mình. Ta nằm xuống bởi biết mình chẳng có gì để tự hào trước Thiên Chúa. Ta được nâng lên bởi lòng thương xót của Người. Và đã được nâng lên rồi thì hãy dùng đời mình để nâng người khác.
Tôi lại nghĩ đến những người nghèo, người bị bỏ rơi, người xa lạ với đức tin mà quý Thầy được mời gọi bước đến. Họ có thể không bao giờ đọc một văn kiện của Hội Thánh, không hiểu những thuật ngữ thần học, không biết phân biệt các phẩm trật trong bí tích Truyền chức. Nhưng họ sẽ hiểu một người biết yêu. Họ sẽ hiểu một người đến thăm khi không ai đến. Họ sẽ hiểu một người chịu ngồi nghe chuyện của họ. Họ sẽ hiểu một lời nói không khinh miệt. Họ sẽ hiểu một bữa cơm được chia sẻ. Họ sẽ hiểu một người mặc áo nhà tu nhưng vẫn gần gũi, chân thành, không giữ khoảng cách quyền uy. Có lẽ từ những điều rất nhỏ như vậy, họ sẽ bắt đầu hiểu Thiên Chúa là ai. Người nghèo thường đọc Tin Mừng không phải bằng sách nhưng qua cuộc đời những người mang danh Chúa. Nếu gặp một người môn đệ hiền lành, họ có thể tin Thiên Chúa hiền lành. Nếu gặp một người môn đệ biết cảm thông, họ có thể tin Thiên Chúa biết cảm thông. Nhưng nếu gặp những người nói rất nhiều về Chúa mà cư xử lạnh lùng, họ có quyền tự hỏi Tin Mừng ấy có thật không. Trách nhiệm của người thừa tác viên vì thế vừa đẹp vừa nặng. Chúng ta mang khuôn mặt của Hội Thánh đến với người khác, dù muốn hay không. Một thái độ của mình có thể mở một cánh cửa nhưng cũng có thể đóng một cánh cửa rất lâu. Một lời nói thiếu suy nghĩ có thể khiến một người xa Giáo Hội thêm nhiều năm. Ngược lại, một sự tử tế âm thầm có khi trở thành hạt giống đức tin mà ta không bao giờ biết.
Có lẽ vì vậy, người Phó tế cần luôn giữ sự hiền lành. Không phải thứ hiền lành yếu đuối, nhưng sự hiền lành sinh ra từ một nội tâm đã được Thiên Chúa chạm đến. Thế giới hôm nay có quá nhiều tiếng lớn. Ai cũng muốn nói, ai cũng muốn thắng, ai cũng muốn chứng minh mình đúng. Ngay cả trong đời sống tôn giáo, đôi khi chúng ta cũng dễ dùng sự thật như một vũ khí hơn là như ánh sáng. Nhưng người phục vụ của Đức Ki-tô phải học cách nói sự thật bằng tình yêu. Có những người chưa trở về với Chúa không phải vì họ không muốn, nhưng vì họ sợ ánh mắt kết án của chúng ta. Có những người trẻ đang rất xa Giáo Hội không hẳn vì họ ghét Thiên Chúa, nhưng vì họ chưa gặp được nơi những người có đạo một khuôn mặt đủ gần gũi để họ tin rằng mình được đón nhận. “Đi ra” vì thế còn là dám bước ra khỏi cung cách mục vụ chỉ quen chờ người ta tìm đến mình. Người Phó tế phải học cách đến với nơi người ta đang sống, kể cả những không gian mới của thời đại, những vùng ngoại vi xã hội, văn hóa và cả kỹ thuật số. Ở đâu có con người, ở đó có cánh đồng phục vụ. Ở đâu có cô đơn, ở đó cần sự hiện diện. Ở đâu có vết thương, ở đó cần lòng thương xót. Ở đâu có bóng tối, ở đó người môn đệ được sai mang một chút ánh sáng.
Và rồi, trong tất cả những điều ấy, xin đừng quên niềm vui. Người phục vụ mà luôn mang vẻ nặng nề thì rất dễ làm người khác nghĩ theo Chúa là một gánh nặng. Phục vụ sẽ có mệt, có nước mắt, có những lúc cảm thấy sức mình quá nhỏ trước bao nhu cầu, nhưng tận sâu bên trong phải có niềm vui của người biết mình thuộc về Chúa. Niềm vui ấy không ồn ào. Đó là niềm vui của bông lúa biết mình đang chín dần trong âm thầm. Niềm vui của hạt lúa chấp nhận mục đi để sinh nhiều hạt khác. Niềm vui của người không cần người khác nhớ tên mình, chỉ cần qua đời mình ai đó nhớ đến Chúa. Có thể đó mới là vẻ đẹp sâu nhất của thừa tác vụ: biến mình dần nhỏ đi để Đức Ki-tô lớn lên trong lòng người khác. Một ngày nào đó, sau rất nhiều năm sứ vụ, nếu có ai nhớ đến một người Phó tế, một người linh mục và nói rằng: “Nhờ gặp vị ấy, tôi thấy Chúa gần hơn”, có lẽ không cần một lời khen nào lớn hơn nữa.
Hôm nay nhìn những bàn tay được đặt lên đầu người tiến chức, tôi lại nghĩ đến biết bao bàn tay mà sau này họ sẽ được mời gọi chạm tới. Bàn tay của một người già run rẩy. Bàn tay của người bệnh. Bàn tay chai sần của người lao động. Bàn tay của một đứa trẻ. Bàn tay của người nghèo đang chìa ra. Bàn tay của người tội lỗi ngập ngừng muốn trở về. Bàn tay của người đang hấp hối. Cùng một đôi tay ấy sẽ phục vụ bàn thờ, nâng sách Tin Mừng, chuẩn bị chén thánh, trao Mình Thánh Chúa, và cũng đôi tay ấy sẽ được sai để phục vụ anh chị em. Xin cho đôi tay ấy đừng bao giờ trở thành đôi tay chỉ biết nhận. Xin cho đôi tay ấy luôn còn biết mở ra. Xin cho trái tim đi cùng đôi tay ấy không bao giờ khép lại. Và xin cho đôi chân người Phó tế luôn đủ khỏe để đi tới những nơi không ai muốn tới.
Cuối cùng, tôi vẫn trở về với bông lúa. Cả đời nó hút lấy nhựa sống từ đất, nhận nắng, nhận mưa, nhận biết bao điều từ trời và từ đất, nhưng khi hạt đã đầy, nó không giữ cho mình. Nó được gặt về để trở thành lương thực. Đời người môn đệ cũng thế. Bao nhiêu năm học, bao nhiêu ân huệ, bao nhiêu cơ hội, bao nhiêu lần được Chúa tha thứ, nâng đỡ và đào luyện cuối cùng không phải để ta giữ lấy làm vốn riêng, nhưng để trở thành tấm bánh cho người khác. Người đã nhận nhiều phải cho nhiều. Người đã được tha thứ phải biết tha thứ. Người đã được yêu phải biết yêu. Người đã được nâng lên phải biết cúi xuống. Và người đã được sai đi thì không còn sống cho chính mình nữa. Càng đầy hạt càng cúi, càng nhận lãnh càng trao ban, càng tiến sâu trong ơn gọi càng phải trở nên nhỏ bé, âm thầm và dịu dàng. Nếu một ngày nào đó người đời chỉ nhìn thấy nơi quý Thầy một con người bình thường, không phô trương, không tìm vị trí, chẳng ồn ào nhưng luôn có mặt khi người ta cần, luôn biết lắng nghe, luôn sẵn sàng phục vụ, luôn đứng về phía những người yếu thế và luôn đưa người khác đến gần Chúa hơn, thì có lẽ khi ấy chức Phó tế đã trở thành một bài giảng sống động.
Xin Chúa cho quý Thầy biết giữ mãi tinh thần của ngày đầu được trao sứ vụ: trái tim còn nóng, đôi tay còn mở, đôi chân còn muốn đi, đầu gối còn biết quỳ và đời sống còn biết cúi. Xin đừng để những năm tháng sau này làm ta quen với chức vụ mà quên mất ơn gọi; quen với áo thánh mà quên mất chiếc khăn Đức Giê-su đã thắt ngang lưng để rửa chân; quen với lời người khác kính trọng mà quên rằng mình vẫn chỉ là người đầy tớ vô dụng được Chúa thương dùng. Và xin mỗi lần đứng trước bàn thờ, mỗi lần công bố Tin Mừng, mỗi lần phục vụ cộng đoàn, quý Thầy lại nhớ rất rõ một điều: chúng ta không được gọi để bước lên cao hơn người khác, nhưng được gọi để cúi xuống thấp hơn, để từ chỗ thấp ấy nâng anh chị em mình lên. Bởi cuối cùng, trước mặt Thiên Chúa, đời người môn đệ không được đo bằng mình đã đứng cao đến đâu, nhưng bằng mình đã cúi xuống sâu đến mức nào vì tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR
CÀNG ĐƯỢC TRAO PHÓ, CÀNG PHẢI BIẾT CÚI XUỐNG
Có những bước ngoặt trong đời người nhìn bên ngoài tưởng như là một lần “được thêm lên”, nhưng nếu nhìn bằng con mắt đức tin, lại là một lần được mời gọi “bớt mình đi”. Có những ngày người ta mặc thêm một phẩm phục, nhận thêm một tác vụ, đứng vào một vị trí mới giữa cộng đoàn, nhưng thực ra điều Thiên Chúa chờ đợi không phải là từ hôm ấy người ấy được người khác nhìn lên nhiều hơn, mà là chính người ấy biết cúi xuống nhiều hơn. Ơn gọi Phó tế là một trong những nghịch lý đẹp như thế. Phó tế không chỉ là một chức vụ trong cơ cấu của Hội Thánh, càng không phải là một bậc thang để người ta bước qua cho đến một ngày tiến tới chức linh mục. Nếu chỉ nhìn như vậy thì người ta đã làm nghèo đi một ân sủng rất lớn. Phó tế trước hết là một cách sống, một khuôn mặt của Đức Kitô Tôi Tớ được trao cho một con người để từ đó, qua từng việc nhỏ, từng hy sinh âm thầm, từng lần cúi xuống, từng bước chân đi đến với người nghèo, người đau yếu, người cô độc, người bị quên lãng, người Phó tế làm cho cộng đoàn thấy rõ hơn một Thiên Chúa không đứng xa để được phụng sự, nhưng đã cúi mình xuống để rửa chân cho con người. Chính vì thế, càng đi sâu vào ơn gọi này, người ta càng nhận ra rằng đường đi của mình không phải là con đường đi lên theo kiểu thế gian, mà là con đường đi xuống theo dấu chân Đức Giêsu. Đi xuống khỏi cái tôi. Đi xuống khỏi nhu cầu được công nhận. Đi xuống khỏi sự tự ái. Đi xuống khỏi những mơ ước được người ta nhớ tên, khen ngợi, trân trọng. Đi xuống để có thể chạm tới những nơi mà tình yêu chỉ có thể đến được khi con người biết cúi mình.
Nhìn lại trang Tin Mừng, ta thấy cả cuộc đời Đức Giêsu là một cuộc cúi xuống không ngừng. Người cúi xuống khi nhập thể làm người. Cúi xuống khi sinh ra trong máng cỏ nghèo hèn. Cúi xuống khi sống ba mươi năm âm thầm tại Nazareth. Cúi xuống trước người đau yếu, người phong cùi, người bị xã hội ruồng bỏ. Cúi xuống để viết trên đất trước người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội. Cúi xuống để rửa chân cho các môn đệ. Và cuối cùng, Người cúi xuống tận cùng trong cái chết trên thập giá. Có lẽ không hình ảnh nào diễn tả căn tính của người Phó tế đẹp hơn hình ảnh Đức Giêsu quỳ xuống trước chân các môn đệ trong đêm Tiệc Ly. Người là Thầy, là Chúa, vậy mà lại cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và rửa chân cho từng người. Đôi tay từng làm phép lạ, từng chạm đến người mù, người điếc, người phong cùi, giờ đây lại chạm vào những bàn chân bụi bặm. Một Thiên Chúa quỳ xuống trước con người. Đó là điều làm đảo lộn mọi quan niệm của thế gian về quyền bính, chức vụ và phẩm giá. Trong thế gian, càng có chức càng có người phục vụ mình. Trong Tin Mừng, càng được trao phó nhiều, càng phải phục vụ nhiều hơn. Trong thế gian, càng đứng cao càng được miễn trừ nhiều việc nhỏ. Trong Hội Thánh của Đức Kitô, càng đứng gần bàn thờ càng phải học cúi xuống sâu hơn trước những nỗi đau của con người. Nếu quên điều đó, người ta có thể mang đúng phẩm phục nhưng lại sống sai tinh thần. Có thể đứng rất gần bàn thờ nhưng lòng lại xa Đức Kitô. Có thể đọc Tin Mừng rất trang trọng nhưng đời sống lại không trở thành Tin Mừng cho một ai.
Phó tế vì thế là lời nhắc rất mạnh rằng trong Hội Thánh, chức thánh không bao giờ được hiểu như một đặc quyền nhưng là một trách nhiệm. Không phải được trao thêm danh dự mà là được trao thêm người để yêu. Không phải được bước vào một vị trí cao hơn mà là bước vào một đòi hỏi sâu hơn. Không phải được người khác phục vụ tốt hơn mà là phải học phục vụ cả khi mệt, cả khi không được hiểu, cả khi bị quên, cả khi việc mình làm chẳng ai nhắc tới. Có những hy sinh thật đẹp vì được mọi người nhìn thấy. Nhưng cũng có những hy sinh đẹp hơn nhiều vì chẳng ai hay biết. Có những ngày người Phó tế hiện diện giữa cộng đoàn, phục vụ bàn thờ, công bố Tin Mừng, trợ giúp trong phụng vụ, ai cũng nhìn thấy. Nhưng có những ngày khác chẳng có tiếng vỗ tay nào: một cuộc điện thoại lúc đêm khuya của một gia đình đang có chuyện buồn; một người đau yếu cần được thăm viếng; một cụ già chỉ cần ai đó ngồi nghe; một người trẻ đang hoang mang cần một lời hướng dẫn; một người nghèo đến xin giúp đỡ giữa lúc bản thân cũng mệt mỏi; một cộng đoàn có những điều khó chịu phải kiên nhẫn gánh lấy; một người nói lời không đẹp nhưng mình vẫn phải giữ lòng hiền hòa. Chính ở đó, chức Phó tế được sống thật. Không phải lúc lễ nghi long trọng, mà có khi ở những nơi chẳng có máy ảnh, chẳng có hoa, chẳng có ai đứng chúc mừng. Chính những khoảnh khắc ấy mới làm cho ơn gọi dần chín.
Bông lúa chín bao giờ cũng cúi. Hình ảnh ấy đơn sơ nhưng càng nghĩ càng thấm. Cây lúa lúc còn non thường ngẩng thẳng. Khi hạt càng đầy, bông càng nặng, thân càng cong xuống. Người môn đệ của Chúa cũng vậy. Khi còn ít trải nghiệm, ta dễ nghĩ mình biết nhiều. Khi còn chưa va chạm, ta dễ phán xét người khác. Khi chưa được trao trách nhiệm, ta dễ nghĩ phục vụ là chuyện đẹp và nhẹ nhàng. Nhưng càng bước sâu, càng gặp nhiều phận người, càng nghe nhiều câu chuyện, càng nhìn thấy những đau khổ không thể giải quyết bằng vài lời đạo đức, người ta càng bớt nói cứng, bớt tự tin vào mình, bớt vội phê phán. Người trưởng thành trong đời sống thiêng liêng không phải là người có câu trả lời cho mọi chuyện, mà là người biết im lặng đúng lúc, biết lắng nghe, biết cảm thông và biết thú nhận rằng có những điều mình cũng bất lực, chỉ còn biết đem người khác đặt trước mặt Chúa. Sự khiêm nhường ấy không phải là yếu đuối. Trái lại, đó là dấu hiệu của một tâm hồn đã được chạm vào bởi ân sủng. Càng nhận lãnh nhiều càng hiểu rằng mình chẳng có gì là của riêng mình. Ơn gọi không do mình tạo ra. Khả năng không do mình tự làm nên. Người đến với mình không thuộc về mình. Sứ vụ cũng không phải sân khấu của mình. Tất cả đều là của Chúa. Khi hiểu được như thế, người ta nhẹ hơn rất nhiều. Không cần giữ hình ảnh. Không cần cố chứng minh. Không cần bận tâm quá mức xem người khác đánh giá mình ra sao. Chỉ cần một điều: hôm nay mình đã phục vụ Chúa nơi anh chị em mình như thế nào.
Nhưng nói về cúi xuống thì dễ, sống được sự cúi xuống ấy lại là một hành trình dài. Bởi ai trong chúng ta cũng có cái tôi. Cái tôi không phải lúc nào cũng xuất hiện dưới những hình thức lớn. Nó len vào rất khéo. Một lời góp ý cũng có thể làm mình khó chịu. Một sự phân công không đúng ý cũng có thể khiến mình chạnh lòng. Một việc mình làm rất nhiều nhưng chẳng ai biết tới cũng có thể khiến mình buồn. Một người khác được khen còn mình thì không cũng có thể làm lòng mình dao động. Những điều ấy rất người, rất thật, và có lẽ không ai tránh khỏi. Chính vì thế, người Phó tế phải cúi xuống trước cả những giới hạn của chính mình. Đây có lẽ là cái cúi khó nhất. Cúi trước Thiên Chúa đã khó, cúi trước người khác còn khó hơn, nhưng cúi xuống nhìn nhận mình yếu đuối, nóng nảy, tự ái, thích được công nhận, thích được đúng, thích người khác theo ý mình, đó là điều cần cả một đời tập luyện. Có khi Thiên Chúa không cho ta những thử thách lớn, Người chỉ cho ta sống với những con người rất khác mình. Vậy là đủ để thánh hóa rồi. Có khi Chúa không gửi đến những cuộc tử đạo đẫm máu, Người chỉ gửi một người khó tính trong cộng đoàn, một công việc lặp đi lặp lại, một trách nhiệm không ai muốn nhận, một lời hiểu lầm phải kiên nhẫn chịu đựng. Những điều nhỏ bé ấy, nếu đón nhận bằng tình yêu, lại trở thành bàn thờ hiến lễ của đời phục vụ.
Cũng sẽ có những ngày rất đẹp. Ngày thấy một người lâu năm xa Chúa tìm lại được đức tin. Ngày một gia đình đang tan vỡ biết ngồi lại với nhau. Ngày một người nghèo mỉm cười vì được giúp. Ngày một người trẻ tìm được hướng đi sau bao tháng chông chênh. Ngày cộng đoàn cùng nhau cầu nguyện trong bình an. Những ngày ấy làm người phục vụ thấy hạnh phúc và cảm nhận rất rõ sự hiện diện của Chúa. Nhưng cũng không thiếu những ngày rất lặng lẽ. Làm hết sức mà kết quả chẳng bao nhiêu. Nói điều tốt mà người ta không nghe. Giúp một người rồi vẫn bị hiểu lầm. Trao đi rất nhiều mà chẳng nhận lại gì. Có khi mệt đến mức chỉ muốn khép cửa lại, không nghe điện thoại nữa, không gặp ai nữa. Có khi trong chính đời sống thiêng liêng cũng có những khoảng khô khan, cầu nguyện mà như chẳng cảm thấy gì, phục vụ mà lòng nặng nề. Những ngày ấy không có gì đáng xấu hổ. Người phục vụ không phải là một cỗ máy. Người Phó tế vẫn là con người, vẫn có giới hạn, vẫn có mỏi mệt. Điều quan trọng không phải là lúc nào cũng mạnh, nhưng là trong lúc yếu vẫn biết trở về với Chúa. Chính lúc đó, lời cầu nguyện không còn là những câu đẹp mà trở thành tiếng thở dài rất thật: “Lạy Chúa, con mệt rồi. Xin ở lại với con. Xin cho con sức để ngày mai lại bắt đầu.” Có những lời cầu nguyện ngắn như thế nhưng đôi khi thật hơn cả những giờ kinh rất dài.
Cúi trước Thiên Chúa trong cầu nguyện là điều không thể thiếu. Không ai có thể phục vụ lâu dài nếu không biết kín múc từ nguồn. Có thể người ta làm được nhiều việc bằng năng lực, tổ chức tốt nhiều chương trình bằng kỹ năng, nói hay bằng trí tuệ, tạo thiện cảm bằng tính cách, nhưng để yêu một cách bền bỉ thì chỉ sức người không đủ. Có những người ban đầu rất nhiệt thành, việc gì cũng nhận, ở đâu cũng có mặt, nhưng sau một thời gian lại kiệt sức, chán nản, cay đắng. Không hẳn vì họ thiếu thiện chí, mà có thể vì họ đã lấy chính mình làm nguồn năng lượng. Người Phó tế phải nhớ rằng mình không phải nguồn. Chúa mới là nguồn. Mình chỉ là chiếc máng nhỏ để dòng nước đi qua. Nếu chiếc máng tách khỏi nguồn, sớm muộn cũng khô. Vì thế, trước khi cúi xuống phục vụ con người, phải quỳ xuống trước Thiên Chúa. Trước khi nói Lời Chúa cho người khác, phải để Lời Chúa phán xét và chữa lành chính mình. Trước khi đem bình an đến cho người khác, phải xin Chúa đặt bình an vào lòng mình. Có những lúc điều cộng đoàn cần nơi người Phó tế không phải là một bài nói thật hay, nhưng là một con người đã cầu nguyện. Người đã cầu nguyện thì ánh mắt khác, giọng nói khác, cách phản ứng khác. Người ấy ít làm tổn thương người khác hơn. Ít muốn thắng hơn. Ít cần khẳng định mình hơn. Vì trong thinh lặng trước Chúa, cái tôi dần được mài mòn.
Phục vụ cộng đoàn cũng không có nghĩa chỉ phục vụ những người dễ thương. Điều đó ai cũng làm được. Tin Mừng đòi đi xa hơn. Phục vụ cả người không hợp tính với mình. Phục vụ người chẳng bao giờ nói lời cảm ơn. Phục vụ người có khi còn làm mình tổn thương. Phục vụ mà không biến sự phục vụ thành một món nợ để rồi chờ ngày người khác phải biết ơn. Đức Giêsu đã rửa chân cho cả Giuđa. Chi tiết ấy đáng sợ nếu ta suy nghĩ thật lâu. Người biết Giuđa sẽ phản bội, vẫn quỳ xuống rửa chân cho ông. Người biết Phêrô sẽ chối mình, vẫn rửa chân cho Phêrô. Người biết các môn đệ sẽ bỏ chạy, vẫn rửa chân cho họ. Đó mới là tình yêu phục vụ theo Tin Mừng. Yêu không vì người kia xứng đáng, nhưng vì chính mình đã được Thiên Chúa yêu trước. Nếu người Phó tế chỉ phục vụ người biết quý mình, đó là sự trao đổi. Nếu chỉ tử tế với người tử tế với mình, đó là phép lịch sự. Phục vụ của Tin Mừng bắt đầu ở chỗ ta vẫn có thể làm điều tốt ngay cả khi người khác không đối xử tốt với ta.
Có lẽ chính vì thế mà chức Phó tế là một trường học tuyệt vời để chuẩn bị con tim của một mục tử. Trước khi có thể đứng trước cộng đoàn như người chủ sự, cần học đứng bên cạnh cộng đoàn như người phục vụ. Trước khi một ngày nào đó giơ tay ban phép lành, cần biết dùng chính đôi tay ấy nâng người yếu dậy. Trước khi ngồi tòa giải tội để lắng nghe những đổ vỡ của con người, phải học đừng vội phán xét những yếu đuối mình thấy mỗi ngày. Trước khi nói về lòng thương xót, phải tập sống lòng thương xót. Trước khi nói người khác hãy khiêm nhường, phải để những va chạm nhỏ làm mình nhận ra mình chưa khiêm nhường đến đâu. Không có bài học mục vụ nào sâu hơn những bài học như thế.
Và rồi, ngày qua ngày, ơn gọi cứ âm thầm chín. Chín không phải nhờ những khoảnh khắc lớn lao, mà nhờ vô số điều rất nhỏ. Chín trong một lần kiềm lại câu nói có thể làm tổn thương người khác. Chín trong một buổi tối vẫn đến thăm một người bệnh dù rất mệt. Chín trong một lần nhận lỗi trước cộng đoàn. Chín trong một việc chẳng ai muốn làm mà mình âm thầm nhận. Chín trong một lời cầu nguyện cho người mình không thích. Chín trong một lần không thanh minh dù bị hiểu sai, khi biết thanh minh chỉ làm câu chuyện thêm rối. Chín trong một ngày công việc đầy mà vẫn dành thời gian ngồi bên một người đang khổ. Ơn gọi được xây từ những viên gạch nhỏ như thế. Không ai nhìn thấy cả quá trình. Chỉ đến một ngày, người ta gặp một người Phó tế có ánh mắt hiền hơn, lời nói chậm hơn, cách sống khiêm nhường hơn, và họ không biết rằng đằng sau sự hiền lành ấy là biết bao lần bản thân đã phải chết đi.
Đời phục vụ cũng sẽ dạy một điều rất quan trọng: không phải vấn đề nào cũng giải quyết được. Có những nỗi đau mình không chữa được. Có những gia đình mình không cứu nổi. Có những người mình khuyên mãi họ vẫn chọn con đường khác. Có những lời cầu nguyện tưởng như chưa được đáp lại. Lúc ấy người phục vụ phải học từ bỏ ảo tưởng mình là Đấng Cứu Thế. Ta chỉ là người chỉ đường. Chúa mới là Đấng cứu. Ta gieo, Chúa cho mọc. Ta đồng hành, Chúa chữa lành. Ta nói một lời, nhưng chỉ Chúa mới chạm được tận đáy lòng. Biết giới hạn của mình cũng là một hình thức khiêm nhường. Người nào cứ tưởng mọi chuyện đều tùy thuộc mình sẽ rất dễ mệt và dễ thất vọng. Người biết mọi sự cuối cùng thuộc về Chúa thì có thể làm hết sức rồi bình an trao lại.
Có một vẻ đẹp rất đặc biệt nơi những người phục vụ lâu năm. Họ thường ít nói về điều mình đã làm. Không phải vì họ chẳng có gì để kể, nhưng vì đã hiểu rằng điều đáng kể nhất không phải mình đã làm gì cho Chúa, mà là Chúa đã kiên nhẫn làm gì nơi mình. Sau nhiều năm phục vụ, điều còn lại không phải là danh sách công việc, mà là một con tim đã được biến đổi. Nếu sau tất cả những năm tháng ấy, ta hiền hơn, dễ tha thứ hơn, biết lắng nghe hơn, bớt tự ái hơn, bớt ham được khen hơn, đó mới là hoa trái thật. Còn nếu công việc nhiều lên mà cái tôi cũng lớn lên, chức vụ cao hơn mà lòng lại khó gần hơn, thì có lẽ ta phải dừng lại thật lâu trước Thánh Thể để hỏi xem mình đang đi theo ai.
Tôi vẫn nghĩ rằng điều cộng đoàn nhớ nhất về một người phục vụ không phải là người ấy đã tổ chức bao nhiêu chương trình, xây dựng được bao nhiêu công trình hay nói những bài giảng hay đến đâu. Người ta sẽ nhớ cảm giác khi ở gần người ấy. Có được lắng nghe không? Có được tôn trọng không? Có thấy mình được yêu thương không? Người ta có thể quên rất nhiều lời ta nói, nhưng khó quên cách ta đã đối xử với họ khi họ yếu đuối. Một người Phó tế có thể không có tài ăn nói, không nổi bật, không làm những việc lớn, nhưng nếu người nghèo cảm thấy được đón nhận, người già cảm thấy được lắng nghe, người trẻ cảm thấy được tin tưởng, người tội lỗi không cảm thấy bị kết án, thì có lẽ người ấy đã làm được điều rất lớn rồi.
Cho nên, ngày lãnh nhận chức Phó tế không phải là ngày bắt đầu được gọi bằng một danh xưng mới, mà là ngày phải tự nhắc mình về một lối sống mới. Từ nay bàn tay không chỉ để nhận mà để trao. Bàn chân không chỉ đi đến nơi mình thích mà phải sẵn sàng đi đến nơi người ta cần. Đôi tai không chỉ nghe lời khen mà phải nghe cả những than phiền. Trái tim không chỉ dành cho những người gần gũi mà phải rộng thêm cho cả những phận người xa lạ. Và đầu gối phải biết quỳ nhiều hơn. Quỳ trước Thánh Thể. Quỳ trước mầu nhiệm. Quỳ trước những điều mình không hiểu. Quỳ xuống để nhớ rằng không có Chúa, mình chẳng làm được gì.
Rồi sẽ đến lúc quý Thầy nhận ra rằng những ngày đáng nhớ nhất của đời Phó tế có khi không phải là ngày lễ truyền chức, nhưng là một ngày rất bình thường nào đó, khi đang cúi xuống buộc lại dây giày cho một cụ già, đẩy xe lăn cho một người bệnh, mang phần cơm cho người nghèo, ngồi nghe một người khóc, hoặc lặng lẽ dọn dẹp sau khi mọi người đã về. Chính lúc ấy, không ai gọi tên mình, nhưng Thiên Chúa biết. Không ai chụp hình, nhưng trời cao ghi nhớ. Không có tiếng vỗ tay, nhưng Tin Mừng được sống. Và có lẽ Thiên Chúa chẳng cần gì hơn.
Xin quý Thầy đừng sợ những ngày lặng lẽ. Đừng sợ những hy sinh không ai thấy. Đừng buồn khi có những cố gắng chẳng ai gọi tên. Bởi hạt giống lớn lên trong lòng đất cũng rất lặng lẽ. Bông lúa trổ đòng không gây tiếng động. Bình minh đến từng chút một. Ân sủng cũng thường hoạt động như vậy. Có những điều hôm nay ta nghĩ là nhỏ, nhiều năm sau nhìn lại mới biết chính nó đã làm nên con người mình. Một lần nhẫn nhịn. Một lời xin lỗi. Một đêm thức bên người bệnh. Một việc âm thầm. Một giọt nước mắt không kể với ai. Tất cả có thể trở thành chất liệu để Thiên Chúa nắn nên một người môn đệ có trái tim giống Chúa hơn.
Và cuối cùng, điều đẹp nhất của chức Phó tế có lẽ nằm trong chính tên gọi của nó: người phục vụ. Không cần thêm gì nữa. Được làm người phục vụ trong nhà Chúa đã là một ân huệ. Nếu một ngày nhìn lại chặng đường đã qua, quý Thầy có thể nói rằng mình đã yêu nhiều hơn, cúi xuống nhiều hơn, tha thứ nhiều hơn, biết khóc với người khóc và vui với người vui, biết để người khác lớn lên còn mình nhỏ lại, thì chức Phó tế đã trổ sinh hoa trái. Còn nếu sau những năm tháng phục vụ, người ta vẫn thấy mình dễ tự ái, thích được trọng vọng, khó đón nhận người khác, thì vẫn còn phải học lại bài học đầu tiên dưới chân Đức Giêsu: “Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.”
Xin Chúa cho quý Thầy bước vào sứ vụ này với một trái tim đơn sơ. Đừng mong làm những điều quá lớn. Hãy trung thành với những điều nhỏ. Đừng mong được nhiều người biết đến. Hãy mong người đau khổ biết rằng vẫn có người ở bên họ. Đừng mong người ta nhớ tên mình. Hãy mong qua đời mình, họ nhớ đến lòng nhân hậu của Chúa. Đừng sợ cúi xuống, vì chính nơi thấp nhất của đời phục vụ, người ta thường gặp Chúa rõ nhất. Đức Kitô đã ở đó trước ta rồi. Người ở nơi đôi chân bụi bặm của các môn đệ. Người ở nơi người nghèo. Người ở nơi người bé nhỏ. Người ở nơi những việc không ai muốn làm. Người ở nơi những giọt mồ hôi không ai biết. Và Người vẫn đang đợi người Phó tế nơi những chỗ như thế.
Cầu chúc quý Thầy mỗi ngày càng trở thành những bông lúa chín. Càng được trao phó càng khiêm nhường. Càng hiểu biết càng bao dung. Càng phục vụ càng quên mình. Càng ở gần bàn thờ càng biết đi về phía con người. Càng được cộng đoàn kính trọng càng nhớ mình được gọi để cúi xuống. Để rồi một ngày, khi nhìn lại, điều đẹp nhất không phải là mình đã đứng ở đâu, giữ chức gì, được gọi bằng danh xưng nào, nhưng là đã có bao nhiêu lần mình cúi xuống vì yêu. Bởi trong Nước Thiên Chúa, người lớn nhất không phải là người đứng cao nhất, mà là người biết hạ mình xuống thấp nhất để nâng anh em mình lên.
Lm. Anmai, CSsR
CÀNG THUỘC VỀ CHÚA, CÀNG BIẾT CÚI XUỐNG
Có lẽ một trong những điều đẹp nhất nơi đời sống của người Phó tế không nằm ở những gì người ta có thể nhìn thấy bên ngoài, cũng không nằm ở số công việc đã thực hiện, số bài giảng đã nói, số nghi thức đã cử hành hay bao nhiêu người biết đến mình, nhưng lại nằm ở một điều rất âm thầm: sự trung tín. Trung tín với Chúa. Trung tín với Giáo Hội. Trung tín với lời đã hứa. Trung tín với cộng đoàn được trao phó. Trung tín với những bổn phận tưởng như rất nhỏ, rất quen, rất bình thường của từng ngày. Đời người thường thích những gì lớn lao. Người ta dễ bị thu hút bởi những điều gây tiếng vang, dễ ngưỡng mộ những thành công rực rỡ, dễ nhìn về phía những con người nổi bật giữa đám đông. Nhưng Thiên Chúa dường như lại có một cách nhìn khác. Ngài không chỉ nhìn điều con người làm được, Ngài nhìn trái tim con người khi làm điều ấy. Ngài không chỉ nhìn kết quả, Ngài nhìn sự trung tín trong hành trình. Ngài không chỉ nhìn người đứng trước ánh sáng, Ngài còn nhìn người âm thầm ở trong góc tối, lặng lẽ làm điều phải làm mà chẳng ai biết, chẳng ai khen, chẳng ai nhớ đến. Chính ở nơi đó, ơn gọi được tinh luyện. Chính ở nơi đó, tình yêu trở nên thật. Chính ở nơi đó, người Phó tế dần học được bài học lớn nhất của đời mình: không cần phải làm những điều phi thường, chỉ cần làm những điều bình thường bằng một tình yêu phi thường dành cho Thiên Chúa.
Tôi rất thích hình ảnh bông lúa. Cánh đồng lúa khi còn non thì xanh mướt, những bông lúa còn nhẹ thì thường đứng thẳng, nhưng khi hạt bắt đầu đầy, bông lúa lại từ từ cúi xuống. Càng đầy hạt càng cúi. Càng chín càng thấp. Càng có giá trị lại càng âm thầm. Có lẽ ơn gọi Phó tế cũng đẹp theo một cách như thế. Không phải càng được trao chức thánh thì càng đứng cao hơn người khác, nhưng càng được trao ban thì càng phải biết cúi xuống. Không phải càng có trách nhiệm thì càng mong người khác phục vụ mình, nhưng càng nhận trách nhiệm thì càng học để phục vụ người khác nhiều hơn. Không phải càng hiểu biết thì càng có quyền phán xét, nhưng càng hiểu biết thì càng biết cảm thông. Không phải càng gần bàn thờ thì càng xa đời thường, nhưng càng gần bàn thờ càng phải gần với những con người khổ đau, những gia đình đang rạn vỡ, những người nghèo, những người cô đơn, những con người bị bỏ quên ở bên lề. Bông lúa không nói về giá trị của mình. Nó chỉ âm thầm mang hạt. Người Phó tế cũng vậy. Giá trị của đời Phó tế không nằm ở chỗ người khác nhắc đến tên mình bao nhiêu lần, nhưng ở chỗ đời sống của mình đã mang được bao nhiêu hạt yêu thương, bao nhiêu hạt hy sinh, bao nhiêu hạt kiên nhẫn, bao nhiêu hạt tha thứ, bao nhiêu hạt âm thầm mà chỉ Chúa biết.
Có những việc nhỏ bé đến mức người ta tưởng rằng chẳng đáng kể. Một giờ Kinh đọc đúng giờ trong lúc thân xác mệt mỏi. Một lần bước ra khỏi sự thoải mái của mình để đến thăm một người đau yếu. Một cuộc điện thoại hỏi thăm người đang buồn. Một lời nói dịu dàng khi mình hoàn toàn có thể nổi nóng. Một lần giữ im lặng trước một sự hiểu lầm thay vì tìm cách thanh minh cho bằng được. Một lần nhận lỗi khi lòng tự ái đang phản kháng. Một buổi sáng thức dậy sớm để cầu nguyện trong khi đêm trước gần như không ngủ đủ. Một lần phục vụ mà người được phục vụ chẳng nói được một câu cảm ơn. Một lần bị quên tên sau bao nhiêu công sức đã bỏ ra. Một lần thấy người khác được ghi nhận trong khi mình chỉ đứng phía sau. Những chuyện đó không có gì ngoạn mục. Chẳng ai chụp hình. Chẳng ai đăng lên mạng. Chẳng ai vỗ tay. Nhưng rất có thể chính những điều ấy lại là những hạt lúa làm cho ơn gọi nên chín. Thiên Chúa không đo cuộc đời chúng ta bằng tiếng vỗ tay. Ngài đo bằng tình yêu. Và tình yêu thật bao giờ cũng được thử thách trong những điều rất nhỏ.
Ngày nay, con người dễ bị cuốn vào một thứ văn hóa của sự nổi bật. Phải làm gì đó để người khác nhìn thấy. Phải nói gì đó để người khác chú ý. Phải có một dấu ấn để người ta nhớ đến. Ngay cả trong đời sống đạo, đôi khi người ta cũng có thể vô tình mang não trạng ấy vào trong việc phục vụ. Làm một việc nhưng mong được nhìn nhận. Hy sinh nhưng vẫn mong người khác biết mình đã hy sinh. Khiêm nhường nhưng lại mong được người ta khen là khiêm nhường. Phục vụ nhưng trong sâu thẳm vẫn muốn có một vị trí. Đó là cám dỗ rất tinh vi. Không ai hoàn toàn miễn nhiễm. Và có lẽ chỉ khi trở về với Chúa thật nhiều, người Phó tế mới đủ tỉnh táo để nhận ra trong lòng mình có những góc nhỏ đang tìm kiếm chính mình thay vì tìm kiếm Chúa. Có khi miệng nói phục vụ nhưng lòng lại cần lời khen. Có khi đứng trước cộng đoàn với dáng vẻ khiêm tốn nhưng bên trong lại bị tổn thương chỉ vì người ta không nhắc đến mình. Có khi vẫn làm việc nhưng lòng bắt đầu nặng nề vì cảm giác mình không được tôn trọng. Có khi vẫn cười nhưng bên trong âm thầm so sánh mình với anh em. Tất cả những điều ấy rất người. Và chính vì rất người nên người Phó tế càng cần đời sống cầu nguyện, cần giờ Kinh, cần sự thinh lặng, cần những lúc đứng trước Chúa mà không cần đóng một vai nào cả.
Thiên Chúa nhìn vào điều kín đáo. Chúa Giêsu từng nói về Đấng thấu suốt những gì kín đáo. Điều ấy thật an ủi mà cũng thật đáng sợ. An ủi bởi vì có những hy sinh chẳng ai thấy nhưng Chúa thấy. Có những giọt nước mắt chẳng ai biết nhưng Chúa biết. Có những đêm thao thức vì cộng đoàn mà sáng hôm sau vẫn phải mỉm cười, Chúa biết. Có những lần bị hiểu lầm nhưng không muốn làm tổn thương ai nên đành giữ lấy phần thiệt về mình, Chúa biết. Có những lần lòng muốn bỏ cuộc nhưng vẫn quỳ xuống đọc giờ Kinh, Chúa biết. Có những lúc mệt đến rã rời nhưng vẫn bước đi vì bổn phận, Chúa biết. Không một điều gì của tình yêu bị mất đi trước mặt Thiên Chúa. Nhưng đồng thời cũng đáng sợ bởi vì Chúa không chỉ thấy việc ta làm, Ngài còn thấy động cơ sâu kín nhất. Ngài thấy lúc ta phục vụ vì yêu và cũng thấy lúc ta phục vụ vì muốn chứng minh. Ngài thấy lúc ta nói lời đạo đức nhưng tâm hồn lại tìm kiếm chính mình. Vì thế, một trong những ơn lớn nhất cần xin trong đời Phó tế có lẽ là ơn có một tâm hồn ngay thẳng: làm điều phải làm chỉ vì Chúa, tiếp tục yêu dù không được đáp lại, tiếp tục phục vụ dù chẳng được ghi công, tiếp tục bước đi dù có lúc con đường chỉ còn mình ta với Chúa.
Lời tuyên hứa sống độc thân vì Nước Trời là một trong những lời hứa đẹp mà cũng rất đòi hỏi. Người ngoài đôi khi chỉ nhìn độc thân như một sự từ bỏ hôn nhân. Nhưng nếu chỉ hiểu như thế thì quá nghèo. Đời độc thân thánh hiến không phải là một khoảng trống, mà phải trở thành một khoảng đầy. Không phải không yêu ai, nhưng là học một cách yêu rộng hơn. Không phải khước từ tình yêu, mà là để tình yêu được thanh luyện khỏi sự chiếm hữu. Không phải chọn cô đơn, mà là chọn thuộc trọn về Thiên Chúa để trái tim có thể mở ra cho nhiều người. Nhưng những lời ấy chỉ đẹp khi được sống bằng sự thật. Bởi người Phó tế vẫn là con người, vẫn có trái tim, vẫn có nhu cầu được yêu thương, vẫn có những ngày thấy cô độc, vẫn có những lúc thèm một mái nhà của riêng mình, một người để chia sẻ những chuyện nhỏ bé đời thường. Đời độc thân không biến người ta thành đá. Trái lại, càng sống thật, người ta càng nhận ra mình mỏng manh. Và chính nơi sự mỏng manh đó, lời tuyên hứa mới trở thành một hành vi đức tin. Mỗi ngày người Phó tế lại thưa với Chúa bằng đời sống của mình: Con chọn Ngài. Không phải vì con mạnh, nhưng vì con tin. Không phải vì con không biết cô đơn, nhưng vì ngay trong cô đơn con vẫn tin Ngài đủ cho con. Không phải vì con không cần tình yêu của con người, nhưng vì con muốn mọi tình yêu trong đời con đi qua Ngài, được Ngài thanh luyện và trở nên tự do.
Sẽ có những giai đoạn lời hứa độc thân được sống trong niềm vui và bình an. Nhưng cũng sẽ có những mùa rất khô khan. Khi ấy, điều giữ người Phó tế lại không phải cảm xúc ban đầu, mà là lòng trung tín. Ơn gọi nào cũng có mùa xuân và mùa đông. Không phải ngày nào cũng nghe Chúa thật gần. Không phải ngày nào cầu nguyện cũng sốt sắng. Không phải ngày nào sứ vụ cũng cho hoa trái. Có những ngày chỉ còn bổn phận. Và chính những ngày tưởng như chỉ còn bổn phận ấy lại là lúc tình yêu được thanh luyện nhất. Khi còn cảm xúc, ta dễ nghĩ mình yêu Chúa. Nhưng khi chẳng còn cảm xúc gì mà vẫn ở lại, vẫn giữ lời, vẫn cầu nguyện, vẫn sống trong sạch, vẫn tránh những gì làm tổn thương giao ước với Chúa, thì khi ấy tình yêu mới bắt đầu có chiều sâu. Lòng trung tín không phải một cảm giác. Trung tín là quyết định được lặp lại mỗi ngày.
Cũng vậy, lời hứa trung thành với Kinh Phụng vụ không phải là một điều phụ thêm vào đời Phó tế. Có lẽ đôi khi vì quá nhiều công việc, người ta dễ xem giờ Kinh như một bổn phận phải hoàn tất. Đọc cho xong. Đọc cho đủ. Đọc vì luật. Nhưng nếu chỉ còn như thế thì đáng tiếc biết bao. Kinh Phụng vụ là hơi thở của Giáo Hội. Khi người Phó tế cầm sách giờ Kinh lên, không phải chỉ một cá nhân đang cầu nguyện. Người ấy đang bước vào lời cầu nguyện của toàn thể Hội Thánh. Ở nơi nào đó, có một đan sĩ đang hát Thánh vịnh. Ở nơi khác, có một linh mục già đang đọc giờ Kinh trong căn phòng nhỏ. Có một nữ tu đang quỳ trong nhà nguyện. Có một giám mục giữa lịch trình nặng nề đang dừng lại để cầu nguyện. Và có một người Phó tế đang mang trong lòng cả một cộng đoàn mà dâng lên Chúa. Những con người ấy có thể chẳng bao giờ gặp nhau, nhưng trong giờ Kinh họ cùng thở chung một nhịp thở của Giáo Hội.
Đẹp lắm khi nghĩ rằng mỗi ngày, dù sứ vụ đưa người Phó tế đi đâu, vẫn có những chiếc “cọc neo” giữ đời mình lại với Chúa qua các giờ Kinh. Sáng chưa biết một ngày sẽ ra sao, đã dâng ngày cho Chúa. Giữa những bận rộn, lại dừng lại để nhớ mình thuộc về ai. Chiều xuống, mang cả niềm vui lẫn mệt mỏi về trước mặt Chúa. Tối đến, trao lại ngày sống với những điều đã làm được và những điều còn dang dở. Nhờ đó, đời Phó tế không bị công việc nuốt chửng. Có người phục vụ rất nhiều nhưng dần đánh mất đời sống nội tâm. Có người làm việc cho Chúa nhưng ít còn ở với Chúa. Có người nói rất nhiều về Chúa nhưng lòng lại thiếu thời gian để nghe Chúa nói. Đó là một nguy cơ thật. Công việc mục vụ có thể trở thành một nơi trốn chạy rất tinh vi. Người ta bận đến mức không còn thời gian nhìn lại mình. Càng hoạt động càng dễ được người khác ghi nhận nên càng khó dừng lại. Nhưng cuối cùng, người phục vụ Chúa mà không ở lại với Chúa sẽ sớm cạn. Một chiếc bình không được đổ đầy thì lấy gì để rót cho người khác?
Giờ Kinh vì thế không lấy mất thời gian của sứ vụ. Giờ Kinh cứu sứ vụ khỏi trở thành hoạt động thuần túy. Cầu nguyện không làm người Phó tế xa con người, nhưng giúp họ đến với con người bằng một trái tim khác. Một trái tim đã được Chúa chạm đến sẽ dịu hơn. Người đã khóc trước Chúa sẽ bớt làm người khác khóc. Người đã được Chúa tha thứ sẽ bớt khắt khe với lỗi lầm của anh em. Người đã nhận ra mình yếu đuối sẽ bớt vội vàng phán xét sự yếu đuối của người khác. Người đã từng nhiều lần xin Chúa kiên nhẫn với mình sẽ hiểu tại sao mình phải kiên nhẫn với cộng đoàn. Và người đã nhiều lần nghe Chúa âm thầm hỏi “Con có yêu Thầy không?” sẽ hiểu rằng mọi sứ vụ cuối cùng đều quy về một điều rất đơn giản: yêu.
Có lẽ vì thế mà người Phó tế càng cầu nguyện thật càng bớt muốn chứng minh mình. Khi đứng đủ lâu trước Thiên Chúa, những chiếc mặt nạ dần rơi xuống. Ta biết mình chẳng lớn lao như ta tưởng. Ta thấy trong lòng vẫn còn rất nhiều ích kỷ, tự ái, ham được công nhận, dễ tổn thương và dễ mệt mỏi. Ta biết nếu không có ơn Chúa, chỉ vài biến cố thôi cũng đủ làm mình chao đảo. Sự nhận biết ấy không làm ta bi quan. Trái lại, nó làm ta khiêm nhường. Một sự khiêm nhường thật không phải là nói xấu về mình, càng không phải giả vờ phủ nhận những khả năng Chúa ban. Khiêm nhường là biết mình là ai trước mặt Chúa. Biết điều tốt trong mình là ân ban. Biết điều yếu nơi mình cần được chữa lành. Biết mình có thể phục vụ hôm nay là vì Chúa còn thương dùng. Và biết rằng đến một ngày mình không còn ở vị trí ấy, Giáo Hội vẫn tiếp tục, Nước Chúa vẫn lớn lên, Thiên Chúa vẫn có muôn cách để thực hiện công trình của Ngài.
Một sự khiêm nhường đủ sâu thì không cần chứng minh. Câu ấy thật đáng suy nghĩ. Bởi có những lúc ta phải chứng minh chính vì lòng ta chưa đủ bình an. Người thật sự biết mình là ai không cần lúc nào cũng tự bảo vệ mình. Người thật sự biết mình thuộc về Chúa không quá hoảng hốt khi người khác hiểu lầm. Người thật sự đã đặt căn tính nơi Chúa không sụp đổ chỉ vì không được khen. Dĩ nhiên, ai cũng có cảm xúc, ai cũng có lúc đau. Nhưng khi gốc rễ cắm đủ sâu vào Thiên Chúa, những cơn gió bên ngoài không còn dễ nhổ bật ta lên. Có người khen, cảm ơn Chúa. Có người chê, xét lại mình. Có người hiểu, vui. Có người hiểu lầm, cầu nguyện. Không phải vì không đau, mà vì biết mình không sống chỉ để làm hài lòng ánh mắt con người.
Và một tình yêu đủ thật thì tiếp tục cho đi ngay cả khi không được đáp lại. Có lẽ đây là phần khó nhất của phục vụ. Yêu người dễ thương thì không khó. Phục vụ người biết điều cũng không khó. Hy sinh cho người biết cảm ơn thường đem lại niềm vui. Nhưng đời mục vụ không chỉ gặp những người như thế. Sẽ có người đòi hỏi. Sẽ có người chỉ trích. Sẽ có người nhận mà không biết ơn. Sẽ có người hiểu sai thiện ý. Sẽ có lúc đã cố hết sức nhưng vẫn bị nói là chưa đủ. Sẽ có lúc một câu nói vô tình của ai đó đủ làm tim đau nhiều ngày. Khi ấy mới biết tình yêu của mình đang đặt trên điều gì. Nếu chỉ phục vụ để được yêu lại, ta sẽ sớm thất vọng. Nếu chỉ cho đi với điều kiện được công nhận, ta sẽ mau kiệt sức. Nhưng nếu phục vụ bởi vì trước hết mình đã được Chúa yêu, thì dần dần ta có thể tiếp tục yêu ngay cả khi không nhận lại gì.
Chúa Giêsu đã yêu theo cách đó. Ngài rửa chân cho cả những người lát nữa sẽ bỏ chạy. Ngài bẻ bánh cho người sẽ phản bội. Ngài chữa lành cho nhiều người mà không phải tất cả đều quay lại cảm ơn. Ngài giảng dạy dù có những kẻ chỉ chờ bắt lỗi. Ngài bước lên thập giá giữa tiếng chế nhạo. Sứ vụ Phó tế chỉ có ý nghĩa khi mang một chút dáng vẻ của Đấng Phục Vụ ấy. Chiếc dây stola mang chéo trên vai không chỉ là dấu hiệu phụng vụ đẹp mắt. Nó nhắc người Phó tế rằng đời mình đã được đặt dưới một ách. Ách của tình yêu. Ách của phục vụ. Ách ấy vừa nhẹ vừa nặng. Nhẹ bởi Chúa cùng mang. Nặng bởi tình yêu thật luôn phải trả giá.
Có những ngày quý Thầy sẽ thấy mình rất hạnh phúc vì được phục vụ. Nhưng cũng sẽ có những ngày mỏi mệt đến mức chỉ muốn được người khác phục vụ một lần. Điều ấy không có gì đáng xấu hổ. Người Phó tế cũng cần được nâng đỡ, cũng cần anh em, cũng cần một người để sẻ chia. Không ai phục vụ tốt nếu tự biến mình thành một người cô độc. Nhưng ngay cả khi được nâng đỡ, điều sâu xa vẫn phải là trở về nguồn. Và nguồn đó là Đức Kitô. Không phải công việc. Không phải sự thành công. Không phải tiếng tốt. Không phải những mối quan hệ. Chỉ có Chúa mới đủ sức nuôi một đời hiến dâng dài lâu. Những nguồn khác có thể giúp, nhưng chúng có thể thay đổi. Người thương mình hôm nay có thể ngày mai xa cách. Cộng đoàn yêu mến hôm nay có thể ngày mai không còn. Sức khỏe đang tốt có thể một ngày suy yếu. Khả năng rồi cũng giảm. Danh tiếng rồi cũng phai. Nhưng nếu tâm hồn đã học cách ở lại trong Chúa thì dù ngoại cảnh thay đổi, vẫn còn một nơi để trở về.
Tôi nghĩ đến hình ảnh người Phó tế quỳ xuống trong ngày chịu chức. Có những lời hứa được nói ra giữa thánh đường, trước mặt Giám mục, linh mục đoàn, gia đình và cộng đoàn. Khoảnh khắc ấy thật đẹp. Nhưng vẻ đẹp của lời hứa không được quyết định ở ngày tuyên hứa. Nó được quyết định ở những năm tháng sau đó. Một lời “con hứa” chỉ mất vài giây để nói, nhưng có khi cần cả đời để sống. Và những lời hứa lớn thường được giữ bằng những hành động rất nhỏ. Độc thân không chỉ được giữ trong những quyết định lớn mà còn trong cách nhìn, cách gặp gỡ, cách giữ khoảng cách cần thiết, cách sống nội tâm, cách không nuôi dưỡng những gì mình biết có thể đưa lòng đi xa. Giờ Kinh không chỉ được giữ trong những ngày thuận tiện mà đặc biệt trong những ngày quá bận. Đức vâng phục không chỉ được sống khi điều được trao hợp ý, mà cả khi điều ấy làm mình phải từ bỏ chương trình riêng. Tinh thần phục vụ không chỉ được thể hiện trong những việc trọng đại mà trong cách người Phó tế cư xử với người không có gì để đáp lại cho mình.
Mỗi ngày một chút. Bông lúa cũng không đầy hạt trong một đêm. Nó cần nắng, cần mưa, cần cả những ngày gió. Ơn gọi cũng vậy. Không ai trở thành người phục vụ đẹp lòng Chúa chỉ sau ngày chịu chức. Chức thánh trao một ân sủng, nhưng ân sủng ấy cần được cộng tác với từng ngày. Cần để cho Chúa sửa. Cần chấp nhận mình còn phải học. Cần đủ khiêm nhường để nghe lời góp ý. Cần đủ thành thật để nhận lỗi. Cần đủ can đảm để xin giúp đỡ khi yếu đuối. Đáng sợ nhất không phải là một người Phó tế có giới hạn. Ai cũng có giới hạn. Đáng sợ là khi không còn nhận ra giới hạn của mình. Khi đã nghĩ mình đủ tốt. Khi không còn ai nói được với mình. Khi lời khuyên nào cũng bị xem như xúc phạm. Khi chức vụ trở thành chiếc áo che cho cái tôi. Lúc ấy bông lúa không còn cúi xuống nữa.
Cầu mong quý Thầy luôn là những bông lúa biết cúi. Cúi trước Thiên Chúa vì biết mình là thụ tạo. Cúi trước Lời Chúa vì biết mình còn phải được dạy. Cúi trước Giáo Hội vì biết ơn gọi này không phải do mình tự chọn lấy mà là được trao. Cúi trước người nghèo vì nơi họ có khuôn mặt Đức Kitô. Cúi trước người đau khổ vì đau khổ của họ đáng được lắng nghe hơn những bài diễn thuyết dài. Cúi trước những người lầm lỗi không phải để đồng lõa với sai trái nhưng để giúp họ đứng lên mà không làm họ mất phẩm giá. Cúi trước anh em vì biết mình cũng có lúc cần anh em nâng đỡ. Và có những ngày phải cúi trước chính sự thật về bản thân: tôi cũng mỏng manh, tôi cũng cần Chúa cứu, tôi cũng chẳng hơn ai.
Nếu sống được như thế, lời tuyên hứa độc thân sẽ không còn chỉ là một luật phải giữ nhưng trở thành một khoảng trời rộng cho tình yêu. Giờ Kinh không còn chỉ là bổn phận nhưng trở thành dòng nước nuôi tâm hồn. Sứ vụ không còn là sân khấu nhưng thành bàn chân biết đi tới. Chức thánh không còn là điều để tự hào nhưng là lời nhắc mình phải phục vụ nhiều hơn. Và đời Phó tế sẽ giống bông lúa cuối mùa: không ồn ào nhưng đầy hạt, không đứng cao nhưng cúi xuống, không cần ai ca ngợi nhưng chỉ mong ngày mùa về, Chủ ruộng thấy đời mình đã không sống uổng.
Rồi sẽ có một ngày, mọi chức vụ cũng qua. Áo lễ sẽ được cất đi. Những bài giảng rồi người ta cũng quên. Những công việc mình từng nghĩ là quan trọng có khi chẳng còn ai nhắc tới. Người trẻ sẽ thay thế người già. Những khuôn mặt mới bước lên. Đó là quy luật. Nếu căn tính của ta đặt vào chức vụ, ngày ấy sẽ buồn lắm. Nhưng nếu căn tính đặt nơi Chúa, ta có thể bình an. Vì cuối cùng Chúa không hỏi ta đã nổi tiếng đến đâu. Có lẽ Ngài chỉ hỏi ta đã yêu thế nào. Không hỏi bao nhiêu người biết tên ta nhưng hỏi có bao nhiêu người nhờ ta mà cảm nhận được họ vẫn đáng được yêu. Không hỏi ta đã đứng ở đâu trong Giáo Hội nhưng hỏi ta đã cúi xuống với ai. Không hỏi đã làm bao nhiêu điều lớn nhưng hỏi những việc nhỏ được trao, ta đã có trung tín hay không.
Cho nên, quý Thầy thân mến, xin đừng sợ đời mình âm thầm. Đừng sợ những việc nhỏ. Đừng sợ một hành trình mà chẳng mấy ai biết. Đừng sợ những ngày chỉ còn mình với Chúa. Hạt lúa lớn lên trong thinh lặng. Rễ cây ăn sâu trong bóng tối. Những điều bền vững nhất của đời thiêng liêng thường xảy ra ở nơi không ai nhìn thấy. Một người Phó tế có thể chẳng bao giờ làm được điều gì khiến cả thế giới nhắc tên, nhưng chỉ cần trung tín mỗi ngày, Chúa có thể dùng đời ấy để âm thầm làm ấm biết bao tâm hồn.
Xin Chúa cho quý Thầy đủ khiêm nhường để chẳng cần chứng minh mình. Đủ tự do để không lệ thuộc vào lời khen. Đủ mạnh để nhận lời sửa dạy. Đủ yếu để biết chạy đến với Chúa. Đủ yêu để tiếp tục cho đi cả khi không được đáp lại. Đủ bình an để không cần hơn thua. Đủ sâu để giữa một thế giới nhiều tiếng động vẫn nghe được tiếng Chúa. Đủ trung tín để mỗi ngày mở sách giờ Kinh dù lòng khô khan. Đủ trong sạch để giữ trái tim thuộc trọn về Ngài. Đủ gần Chúa để khi đến gần con người, người ta không gặp cái tôi của mình nhưng gặp được một chút lòng thương xót của Đức Kitô.
Và nếu một ngày nào đó trên hành trình dài, quý Thầy cảm thấy mỏi mệt, xin hãy nhớ lại bông lúa. Nó không cúi vì yếu. Nó cúi vì đã đầy. Người phục vụ cũng vậy. Cúi xuống không phải vì thấp kém nhưng vì đã nhận quá nhiều. Nhận tình yêu nên biết yêu. Nhận tha thứ nên biết tha thứ. Nhận lòng thương xót nên biết xót thương. Nhận một ơn gọi không do mình xứng đáng nên không còn gì để tự phụ. Khi hiểu mình đã nhận quá nhiều từ Thiên Chúa, người ta không còn muốn đứng cao. Người ta chỉ muốn cúi xuống mà thôi.
Ước chi một ngày, khi nhìn lại hành trình Phó tế của mình, điều đẹp nhất không phải là “tôi đã làm được gì”, nhưng là “Chúa đã làm gì nơi đời tôi”. Chúa đã dùng những bổn phận nhỏ để uốn lòng tôi. Chúa đã dùng những giờ Kinh tưởng khô khan để giữ tôi lại. Chúa đã dùng sự cô đơn để dạy tôi thuộc về Ngài. Chúa đã dùng những người khó thương để mở rộng trái tim tôi. Chúa đã dùng những lần thất bại để làm tôi khiêm nhường. Chúa đã dùng cả những điều chẳng ai biết để làm ơn gọi của tôi chín dần. Và đến cuối cùng, khi bông lúa đã thật đầy, chỉ còn một dáng cúi rất sâu trước mặt Thiên Chúa, với một lời đơn sơ: “Lạy Chúa, tất cả là hồng ân. Con chẳng có gì ngoài điều con đã nhận từ Chúa. Xin nhận lại đời con như một hạt lúa nhỏ đã cố gắng trung tín trong cánh đồng của Ngài.”
Lm. Anmai, CSsR
CÀNG ĐẦY ƠN, CÀNG BIẾT CÚI XUỐNG
Có những điều trong đời càng đi lâu người ta càng hiểu ra rằng vẻ đẹp thật không nằm ở chỗ mình đứng cao bao nhiêu, được bao nhiêu người nhìn thấy, được gọi bằng danh xưng nào, được trao cho quyền hạn gì, nhưng nằm ở chỗ giữa những điều mình đã nhận lãnh, mình còn giữ được một trái tim biết cúi xuống hay không. Cúi xuống nghe tưởng như là một chuyển động rất nhỏ của thân thể, nhưng thật ra lại là một chuyển động rất lớn của tâm hồn. Có người cả đời vẫn đứng thẳng mà lòng đã cong queo vì tự mãn. Có người ở vị trí rất cao mà tâm hồn lại thấp vì chỉ biết nghĩ đến mình. Nhưng cũng có những con người chẳng cần nói nhiều, chẳng cần làm điều gì khiến thiên hạ phải trầm trồ, chỉ bằng cách họ bước vào một căn phòng, bằng cách họ lắng nghe một người đau khổ, bằng cách họ kiên nhẫn với một người khó chịu, bằng cách họ âm thầm làm một công việc chẳng ai biết đến, người khác đã cảm nhận được ở nơi họ một điều gì đó rất gần với Tin Mừng. Tôi nghĩ người Phó tế cũng được mời gọi đi vào vẻ đẹp ấy. Ngày được đặt tay, ngày mang dây stola chéo trên vai, ngày bước lên cung thánh trong một vai trò mới, chắc chắn là một ngày có rất nhiều niềm vui, rất nhiều lời chúc, rất nhiều ánh mắt yêu thương. Nhưng rồi ngày lễ sẽ qua. Hoa sẽ tàn. Những tấm hình đẹp rồi cũng nằm lại trong điện thoại hay trong một cuốn album nào đó. Những lời chúc tụng rồi cũng lắng xuống. Điều còn lại chính là đời sống thật. Và đời sống thật của một Phó tế không được đo bằng bao nhiêu lần được xuất hiện trước cộng đoàn, nhưng bằng bao nhiêu lần biết cúi xuống trước những con người mà Chúa gửi đến trong đời mình.
Xin quý Thầy hãy giữ cho mình một trái tim biết cúi xuống. Tôi nói “giữ”, bởi vì lòng khiêm nhường không phải là điều có một lần rồi giữ được mãi mãi. Nó có thể hao mòn rất âm thầm. Ban đầu ta đi vào sứ vụ với một trái tim rất đơn sơ, chỉ mong phục vụ Chúa và anh chị em. Nhưng rồi theo năm tháng, nếu không tỉnh thức, ta có thể bắt đầu quen với việc được kính trọng, quen với việc người khác lắng nghe mình, quen với những lời “thưa Thầy”, quen với chỗ ngồi dành riêng, quen với việc mình được hỏi ý kiến, quen với cảm giác mình là người có vai trò. Những điều ấy tự nó không xấu. Cộng đoàn kính trọng thừa tác viên của Giáo Hội là một điều đẹp. Nhưng cái nguy hiểm là có một ngày, thay vì đón nhận sự kính trọng ấy như một lời nhắc mình phải sống xứng đáng hơn, ta lại bắt đầu xem nó như một quyền lợi. Từ đó, trái tim rất dễ thay đổi mà chính mình không hay biết. Ta bắt đầu muốn người khác phải hiểu mình, phải tôn trọng mình, phải làm theo ý mình. Ta dễ khó chịu khi không được hỏi đến. Ta dễ buồn khi người khác được chú ý hơn. Ta dễ nghĩ rằng mình đã hy sinh nhiều nên phải được ghi nhận. Và có khi người ta vẫn thấy ta phục vụ, nhưng bên trong ta đã không còn tự do như những ngày đầu nữa. Chính vì vậy, điều cần gìn giữ nhất trong đời Phó tế không phải là một hình ảnh đẹp trước mặt người khác, mà là trái tim nguyên tuyền trước mặt Thiên Chúa.
Cúi xuống không có nghĩa là nghĩ mình vô dụng. Khiêm nhường không phải là tự coi mình chẳng ra gì. Càng không phải là một thái độ khúm núm hay giả vờ nhỏ bé để được khen là đạo đức. Cúi xuống là biết rất rõ mình đã nhận được quá nhiều. Chính vì biết mình được trao ban nhiều nên mình càng không dám tự cao. Bông lúa lép thì thường vươn thẳng, còn bông lúa đầy hạt lại cúi xuống. Hình ảnh ấy bình dị đến mức ai cũng từng nhìn thấy, nhưng phải sống rất lâu người ta mới thấm. Khi trong lòng chưa có bao nhiêu, người ta hay muốn chứng minh. Khi kiến thức chưa sâu, người ta hay thích nói. Khi đời sống nội tâm còn mỏng, người ta dễ bám vào danh xưng. Khi lòng tự tin chưa đủ vững, người ta lại cần được người khác công nhận. Nhưng một con người đã đi sâu với Chúa thì khác. Họ không cần chứng minh mình là ai nữa, vì họ biết mình thuộc về Ai. Họ không cần dành phần hơn, vì niềm vui của họ không nằm ở việc hơn người khác. Họ không sợ bị quên, vì họ biết mình không bao giờ bị Thiên Chúa lãng quên. Và chính lúc ấy, họ có thể cúi xuống một cách tự do. Cúi xuống để rửa chân. Cúi xuống để nâng một người đang ngã. Cúi xuống để nghe một câu chuyện đã được kể đi kể lại nhiều lần bởi một cụ già cô độc. Cúi xuống để chơi với một đứa trẻ. Cúi xuống để bước vào căn nhà của một người nghèo. Cúi xuống để nhận lỗi khi mình sai. Cúi xuống để xin lỗi dù mình là người có chức vụ. Cúi xuống để im lặng khi không cần phải thắng trong một cuộc tranh luận. Cúi xuống để người khác được lớn lên.
Đức Giêsu đã chọn cách ấy. Thật lạ lùng, Con Thiên Chúa đến trần gian không chọn một ngai vàng nhưng chọn một máng cỏ. Người không sinh ra giữa những kẻ quyền thế nhưng giữa sự nghèo khó của Bêlem. Người không đi tìm những môn đệ hoàn hảo nhưng gọi những con người rất đỗi bình thường. Người không tránh người phong hủi nhưng chạm vào họ. Người không khinh người tội lỗi nhưng ngồi ăn với họ. Và trong những giờ cuối cùng trước khi bước vào cuộc thương khó, Người còn cúi xuống thấp hơn nữa. Người quỳ trước những con người mà chỉ ít giờ sau sẽ bỏ Người mà chạy. Người rửa chân cho Phêrô, kẻ sẽ chối Người. Người cũng rửa chân cho Giuđa, kẻ đã mang trong lòng ý định phản bội. Tôi vẫn nghĩ đây là một trong những hình ảnh gây bối rối nhất của Tin Mừng. Nếu là chúng ta, có lẽ ta sẽ chọn rửa chân cho người tốt với mình. Ta dễ phục vụ người biết cảm ơn. Ta dễ yêu người yêu mình. Ta dễ kiên nhẫn với người dễ thương. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống trước cả người làm Người đau. Người không cúi vì Người yếu. Người cúi vì Người yêu. Không phải vì Người thấp hơn các môn đệ nhưng vì tình yêu của Người lớn hơn sự phản bội của họ. Chính ở điểm ấy, ta hiểu rằng cúi xuống không phải là thua. Cúi xuống có khi là biểu hiện cao nhất của một con người thực sự mạnh mẽ.
Đời Phó tế, nếu muốn mang lấy khuôn mặt của Đức Kitô, chắc chắn sẽ phải học bài học ấy mỗi ngày. Có những ngày quý Thầy sẽ được đón tiếp bằng nụ cười, nhưng cũng có ngày lời mình nói không được đón nhận. Có người quý mến mình, cũng sẽ có người hiểu lầm mình. Có những việc làm được nhìn thấy, nhưng còn nhiều hơn là những việc không ai biết. Có những hy sinh được cảm ơn, nhưng cũng có những hy sinh người khác xem như chuyện đương nhiên. Có lúc làm hết lòng mà kết quả chẳng được bao nhiêu. Có lúc muốn giúp người ta nhưng chính mình lại bị tổn thương. Có lúc mang Tin Mừng đến cho người khác mà lòng mình lại khô khan. Có khi vừa nâng đỡ một người xong, quay về căn phòng riêng lại thấy mình mệt đến rã rời. Chính những lúc ấy mới biết ơn gọi của mình bén rễ đến đâu. Bởi phục vụ khi vui thì không khó. Phục vụ lúc được trân trọng cũng không khó. Khó nhất là vẫn giữ được lòng tử tế khi bị hiểu lầm, vẫn giữ được sự dịu dàng khi đang mỏi mệt, vẫn trung thành với bổn phận khi chẳng còn cảm xúc, vẫn cúi xuống dù trong lòng có một tiếng nói rất người đang muốn đứng lên để bảo vệ cái tôi của mình.
Có một cám dỗ rất tinh vi trong đời sống phục vụ, đó là ban đầu ta muốn làm việc cho Chúa, nhưng lâu dần ta lại muốn công việc của Chúa phải được làm theo cách của ta. Ranh giới ấy mong manh lắm. Ta có thể cầu nguyện rất nhiều, làm việc rất nhiều, nhiệt thành rất nhiều, nhưng vẫn ngấm ngầm muốn người khác nhìn nhận phương pháp của mình là hay nhất, ý kiến của mình là đúng nhất, kinh nghiệm của mình là đáng nghe nhất. Và khi ai đó không đồng ý, ta dễ cho rằng họ thiếu thiện chí. Đời sống thiêng liêng trưởng thành không phải là khi mình luôn đúng, mà là khi mình đủ tự do để người khác có thể đúng. Không phải lúc nào người trẻ hơn cũng ít kinh nghiệm hơn. Không phải lúc nào người giáo dân cũng chẳng có gì để dạy ta. Có những bài học Thiên Chúa gửi đến từ một bà mẹ nghèo, từ một người bệnh nằm trên giường nhiều năm, từ một em bé, từ một người đang loay hoay với đức tin, thậm chí từ một người mà ta từng đánh giá thấp. Nếu trái tim Phó tế biết cúi xuống, quý Thầy sẽ nhận ra Thiên Chúa có thể nói bằng rất nhiều tiếng nói. Và khi ấy, đời phục vụ không còn là chuyện ta mang Chúa đến cho người khác, nhưng còn là chuyện ta khám phá Chúa đã ở đó trước mình từ lâu.
Xin giữ một trái tim biết cúi xuống cả trước chính những giới hạn của bản thân. Điều này không dễ. Người ta dễ chấp nhận giới hạn của người khác hơn là giới hạn của chính mình. Ta muốn mình mạnh. Ta muốn mình làm được nhiều việc. Ta muốn mình hữu ích. Ta muốn mình là chỗ dựa cho người khác. Nhưng rồi có ngày sức khỏe không cho phép. Có ngày trí nhớ không còn như trước. Có ngày ta thấy một người khác làm tốt hơn mình. Có ngày một công việc từng do mình phụ trách được trao cho người khác. Có ngày tuổi tác đến và âm thầm lấy đi rất nhiều thứ. Nếu đời phục vụ của ta chỉ dựa trên khả năng, ta sẽ rất đau khi khả năng giảm sút. Nhưng nếu đời phục vụ của ta đặt nền trên tình yêu, thì ngay cả lúc không còn làm được nhiều, ta vẫn có thể yêu nhiều. Có những người cuối đời chẳng còn đi đâu được, chẳng còn đứng lâu được, chẳng còn giảng hùng hồn được, nhưng sự hiện diện bình an của họ lại trở thành một bài giảng rất lớn. Chỉ cần nhìn cách họ đón nhận tuổi già, cách họ mỉm cười giữa bệnh tật, cách họ cầu nguyện cho người khác, người ta đã thấy Tin Mừng. Đó cũng là một cách cúi xuống: chấp nhận rằng không phải lúc nào mình cũng là người làm được tất cả.
Và xin quý Thầy đừng bao giờ quên người nghèo. Phó tế sinh ra từ nhu cầu phục vụ cộng đoàn, đặc biệt là những người dễ bị bỏ quên. Cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đã không thể bình an khi có những người góa bụa bị bỏ sót trong việc phân phát hằng ngày. Giáo Hội từ thuở đầu đã hiểu rằng bàn thờ và người nghèo không thể tách nhau. Một Phó tế có thể phục vụ bàn thờ rất trang nghiêm, nhưng nếu không nhận ra khuôn mặt Đức Kitô nơi người nghèo thì vẫn còn thiếu một điều rất căn bản. Đừng chỉ tìm người nghèo ở nơi xa. Có những cái nghèo ngay bên cạnh ta: người già không ai nói chuyện, đứa trẻ có đủ vật chất nhưng thiếu tình thương, người thanh niên đang mất hướng, gia đình đang đứng trên bờ đổ vỡ, một người vừa chịu tang, một người bị mang tiếng xấu, một người đã lâu không dám đến nhà thờ vì nghĩ mình không xứng đáng. Họ không phải lúc nào cũng cần một bài giảng. Nhiều khi họ chỉ cần một người chịu ngồi xuống cạnh họ. Sứ vụ đôi lúc chẳng có gì “lớn lao” hơn thế.
Tôi rất thích hình ảnh cánh đồng lúa chín. Nó không ồn ào. Lúa chín không gây tiếng động lớn. Không có tiếng vỗ tay khi một bông lúa đầy hạt. Nó chỉ âm thầm đổi màu dưới nắng, âm thầm nặng hạt, rồi âm thầm cúi xuống. Nhưng chính sự cúi xuống ấy báo cho người nông dân biết mùa gặt đã đến. Đời Phó tế cũng vậy. Một ơn gọi chín không nhất thiết phải biểu lộ bằng những việc khiến người khác trầm trồ. Có khi sự trưởng thành được nhận ra ở cách một người bớt nói về mình. Ở chỗ họ không còn dễ tổn thương vì những chuyện nhỏ. Ở chỗ họ kiên nhẫn hơn với người khác. Ở chỗ họ biết nghe nhiều hơn. Ở chỗ trong mắt họ bớt sự phán xét. Ở chỗ họ không còn phải thắng. Ở chỗ họ có thể vui khi người khác thành công. Ở chỗ họ biết lui lại đúng lúc để người khác tiến lên. Những điều ấy chẳng ai trao bằng khen. Nhưng Thiên Chúa nhìn thấy.
Có lẽ một trong những dấu hiệu đẹp nhất của người thực sự thuộc về Chúa là ở gần họ, người khác cảm thấy mình được tôn trọng. Không bị xét đoán. Không bị xem thường. Không cảm thấy mình phải co lại. Có những người rất đạo đức nhưng người khác lại sợ đến gần. Có những người kiến thức rất cao nhưng nói chuyện với họ ta cảm thấy mình quá nhỏ bé. Có những người giữ chức vụ trong Giáo Hội nhưng cách họ cư xử khiến người khác thấy khoảng cách rất xa. Tôi mong đời Phó tế của quý Thầy sẽ đi theo chiều ngược lại. Càng được trao nhiều, càng gần người khác hơn. Càng hiểu biết, càng kiên nhẫn với người chưa hiểu. Càng được kính trọng, càng kính trọng người khác. Càng đứng gần bàn thờ, càng nhạy cảm với những vết thương ngoài đời. Càng đọc Tin Mừng nhiều, càng nói ít những lời làm người khác đau.
Đừng sợ âm thầm. Thời đại này làm người ta sợ âm thầm. Chúng ta đang sống trong một thế giới nơi một việc làm nếu không được chụp hình thì dường như chưa xảy ra, một điều tốt nếu không được đăng tải thì dường như ít giá trị. Người ta dễ bị cuốn vào việc xây dựng hình ảnh hơn là xây dựng nội tâm. Nhưng Tin Mừng đi một con đường khác. Đức Maria sống ba mươi năm ở Nadarét trong một sự âm thầm đến kinh ngạc. Thánh Giuse không để lại một lời nào trong Kinh Thánh. Đức Giêsu dành ba mươi năm đời Người cho một cuộc sống rất bình thường trước ba năm rao giảng công khai. Thiên Chúa không sợ những năm tháng chẳng ai biết đến. Có lẽ vì với Người, điều quan trọng chưa bao giờ là có bao nhiêu người nhìn thấy, mà là tình yêu có thật hay không. Vì vậy, nếu một ngày quý Thầy làm một việc rất tốt mà không ai biết, xin đừng buồn. Nếu một hy sinh chẳng ai ghi nhận, hãy để nó thuộc riêng về Chúa. Có những điều càng ít người biết lại càng tinh tuyền.
Nhưng cúi xuống cũng không có nghĩa là dung túng điều sai hay im lặng trước bất công. Đức Giêsu rất hiền lành nhưng Người không nhu nhược. Người rửa chân cho môn đệ nhưng cũng dám lật bàn những kẻ biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Người tha thứ cho người phụ nữ phạm tội nhưng vẫn nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Khiêm nhường Kitô giáo không phải là thiếu bản lĩnh. Trái lại, một người càng ít bị cái tôi chi phối càng can đảm nói sự thật, bởi họ không cần dùng sự thật để bảo vệ danh dự bản thân. Người Phó tế sẽ có lúc phải nói những điều không dễ nghe. Nhưng xin hãy nói như một người đã từng khóc, chứ đừng nói như một thẩm phán. Hãy sửa dạy như một người biết chính mình cũng cần lòng thương xót. Sự thật chỉ thật sự trở thành Tin Mừng khi nó đi qua một trái tim yêu thương.
Nếu có lúc nào đó mỏi mệt, xin nhớ rằng chính khi quý Thầy biết cúi xuống, ơn gọi đang lớn lên. Câu này nghe có vẻ nghịch lý, nhưng hành trình của Đức Kitô cũng là nghịch lý ấy. Người đi xuống để nâng chúng ta lên. Người tự hạ để Chúa Cha tôn vinh. Người mất mạng sống để ban sự sống. Người trở nên người phục vụ để mặc khải khuôn mặt của Thiên Chúa. Thế nên có những giai đoạn quý Thầy tưởng như mình đang lùi lại, nhưng trước mặt Chúa lại đang đi tới. Có những lần phải nhường, nhưng thật ra là đang lớn. Có những lúc phải nhận lỗi, nhưng lại là lúc phẩm giá được sáng hơn. Có những khi phải buông một điều mình yêu thích để vâng phục, và chính trong sự buông ấy ơn gọi lại bén rễ sâu hơn.
Đường phía trước chắc chắn còn dài. Sẽ có ngày nắng đẹp. Cũng sẽ có những mùa mưa. Có lúc đồng lúa vàng rực, nhưng cũng có lúc chỉ thấy đất khô nứt nẻ. Không ai sống ơn gọi mà không có mùa sa mạc. Nhưng sa mạc không phải luôn là dấu Chúa bỏ ta. Nhiều khi chính trong sa mạc, gốc rễ mới học cách đi sâu xuống để tìm mạch nước. Nếu có ngày cầu nguyện không còn ngọt ngào, xin cứ ở lại. Nếu có ngày phục vụ trở thành gánh nặng, xin đừng vội nghĩ mình đã sai đường. Nếu có ngày thấy người khác chẳng hiểu mình, hãy trở về với Đức Kitô chịu đóng đinh. Người hiểu. Và nếu một ngày chẳng còn ai khen, cũng chẳng còn ai nhận ra những gì mình đang âm thầm làm, hãy nhớ rằng có một ánh mắt chưa bao giờ rời khỏi quý Thầy.
Cuối cùng, tôi chỉ mong mỗi người Phó tế giữ được điều rất đơn sơ của ngày đầu: “Con ở đây để phục vụ.” Đừng để năm tháng biến câu ấy thành một khẩu hiệu đẹp. Hãy để nó trở thành nhịp đập. Mỗi sáng thức dậy, hỏi Chúa: hôm nay con phải cúi xuống ở đâu? Trước ai? Trong việc gì? Có khi Chúa chẳng giao một công việc lớn. Có khi chỉ là kiên nhẫn với một người anh em trong cộng đoàn. Có khi là gọi điện thăm một người bệnh. Có khi là dừng lại nghe một người đang buồn. Có khi là làm một việc chẳng ai thích làm. Có khi chỉ là không nói một lời đáng lẽ mình rất muốn nói. Những hạt lúa được tích tụ bằng những điều nhỏ như thế. Và cứ vậy, ngày qua ngày, một đời Phó tế sẽ chín.
Xin Chúa cho quý Thầy càng ngày càng đầy mà càng ngày càng cúi. Đầy Lời Chúa để không cần đầy lời mình. Đầy lòng thương xót để bớt phán xét. Đầy sự khôn ngoan để biết lúc nào nên nói và lúc nào nên thinh lặng. Đầy tình yêu để không còn phải tính toán mình cho bao nhiêu và nhận lại bao nhiêu. Đầy Chúa đến mức người khác gặp quý Thầy mà thấy lòng mình nhẹ hơn, thấy cuộc đời vẫn còn hy vọng, thấy Giáo Hội vẫn là một mái nhà, thấy Thiên Chúa vẫn thật gần.
Và một ngày nào đó, khi nhìn lại hành trình đã qua, có lẽ quý Thầy sẽ hiểu: những điều đẹp nhất không phải là những lần mình đứng trước rất đông người, nhưng là những lần mình đã cúi xuống bên một con người đang đau. Không phải những lời mình đã nói rất hay, nhưng là những lần mình đã ngồi yên để nghe một trái tim thổn thức. Không phải bao nhiêu người nhớ tên mình, nhưng là bao nhiêu người nhờ gặp mình mà nhớ đến Chúa.
Cánh đồng lúa chín đẹp không phải vì những bông lúa cố vươn lên trời cao, nhưng vì tất cả đều biết cúi xuống khi đã đầy hạt. Xin đời Phó tế của quý Thầy cũng đẹp như thế: lặng lẽ, hiền lành, sâu sắc; không tìm chỗ cao nhưng luôn tìm nơi cần một người quỳ xuống; không tìm người phục vụ mình nhưng đi tìm người đang cần được phục vụ; không tích giữ ân ban nhưng trao đi. Và nếu có ai hỏi đâu là dấu hiệu một Phó tế đã thật sự trưởng thành trong ơn gọi, có lẽ chẳng cần một câu trả lời dài. Chỉ cần nhìn cách người ấy cúi xuống.
Bởi khi một người cúi xuống vì yêu, chính lúc ấy họ đang đứng rất gần Đức Kitô.
Lm. Anmai, CSsR
ĐI QUA MỘT ĐỜI, ĐIỀU CÒN LẠI VẪN LÀ TÌNH YÊU
Có những người đã rời khỏi cuộc đời này rất lâu rồi, lâu đến nỗi căn phòng họ từng ở đã đổi màu sơn, chiếc ghế họ từng ngồi đã cũ đi, những bộ quần áo họ từng mặc không còn ai giữ lại, những vật dụng thân quen cũng lần lượt thất lạc theo năm tháng, thế nhưng lạ lùng thay, tình yêu của họ vẫn còn ở đó. Nó không nằm trong một chiếc tủ khóa kín, không được cất trong két sắt, không thể đem ra cân đo, nhưng lại hiện diện âm thầm trong từng góc nhỏ của một mái nhà. Có khi chỉ là một buổi chiều mưa, ai đó vô tình nhắc lại một câu nói quen thuộc của người đã khuất, cả nhà bỗng im đi. Có khi là một món ăn ngày xưa mẹ vẫn nấu, một bài hát cha từng thích nghe, một thói quen rất nhỏ mà bao năm sau con cháu vẫn còn giữ. Có khi chỉ là nhìn thấy một người già lom khom ngoài đường, bất chợt nhớ đến dáng lưng của cha; bắt gặp một người phụ nữ ngồi vá chiếc áo cũ, bỗng nhớ bàn tay của mẹ. Và lúc ấy mới hiểu rằng có những người đã chết, nhưng tình yêu của họ thì chưa chết. Họ không còn hiện diện bằng tiếng nói, dáng hình, bước chân hay hơi thở, nhưng lại ở lại bằng những điều tốt đẹp mà họ từng gieo vào lòng người khác. Có lẽ vì thế mà sau cùng, đời người không được tính bằng những năm tháng mình đã sống, càng không được đo bằng những gì mình từng sở hữu, nhưng được đo bằng những gì còn lại trong lòng người khác sau khi mình đã đi xa.
Con người ta sống ở đời thường mất rất nhiều thời gian để giữ. Giữ tiền, giữ của, giữ nhà, giữ đất, giữ danh, giữ vị trí, giữ thể diện, giữ một chút hơn thua, giữ những điều mình cho là thuộc về mình. Từ nhỏ đến lớn, ta được dạy phải cố gắng để có thêm, phải làm việc để tích góp, phải tranh thủ khi còn trẻ, phải tạo dựng một tương lai thật vững vàng. Những điều ấy không sai. Cơm áo vẫn cần, mái nhà vẫn cần, trách nhiệm với gia đình vẫn cần. Không ai có thể sống mà hoàn toàn không cần đến những phương tiện vật chất. Nhưng điều đáng buồn là đôi khi trong hành trình mải miết xây dựng những thứ bên ngoài, ta lại quên xây dựng những gì ở bên trong. Ta có thể dành mười năm để mua một căn nhà, nhưng lại không dành nổi mười phút để ngồi yên nghe người thân nói hết một câu chuyện. Ta có thể thức khuya dậy sớm để kiếm thêm một khoản tiền, nhưng lại tiếc một buổi chiều để về thăm cha mẹ. Ta có thể nhớ rất rõ ngày phải đóng tiền ngân hàng, ngày ký hợp đồng, ngày họp công ty, nhưng lại quên ngày sinh của mẹ, quên một cuộc gọi cho cha, quên hỏi người bạn đời hôm nay có mệt không, quên nhìn vào mắt con cái để xem trong đó đang có nỗi buồn nào. Ta cứ nghĩ rằng những người mình thương sẽ luôn còn ở đó, căn nhà ấy sẽ luôn sáng đèn, cha mẹ sẽ luôn ngồi chờ, người bạn đời sẽ luôn bên cạnh, anh chị em sẽ còn nhiều dịp gặp nhau. Nhưng cuộc đời chưa bao giờ ký với ta một bản cam kết như thế. Có những cuộc chia tay xảy ra mà không kịp một lời báo trước. Có người sáng còn ngồi uống với nhau một ly cà phê, tối đã thành người thiên cổ. Có người hôm qua còn giận nhau, hôm nay muốn xin lỗi cũng không còn cơ hội. Có người cứ nghĩ Tết này bận thì Tết sau sẽ về, nhưng rồi Tết sau chỉ còn một bàn thờ nghi ngút khói hương. Đến lúc ấy, tất cả những điều ta từng cho là quan trọng bỗng trở nên nhỏ bé đến đau lòng.
Đời người có một nghịch lý rất lạ: khi còn trẻ, ta tưởng mình có rất nhiều thời gian; khi có sức khỏe, ta tưởng ngày mai đương nhiên sẽ đến; khi người thân còn ở bên, ta tưởng tình thân là một thứ không bao giờ mất. Chính cái cảm giác “còn nhiều thời gian” khiến ta trì hoãn yêu thương. Ta để dành một lời cảm ơn cho ngày khác, để dành một lời xin lỗi cho lúc thuận tiện hơn, để dành một chuyến về quê cho khi bớt bận, để dành một cái ôm cho khi tâm trạng tốt hơn, để dành một bữa cơm chung cho lúc công việc nhẹ đi. Nhưng có những điều nếu không làm hôm nay thì ngày mai đã thành muộn. Tình yêu cũng có mùa của nó. Có những người ta chỉ có thể ôm khi họ còn sống. Có những bàn tay ta chỉ có thể nắm khi còn hơi ấm. Có những lời “con thương cha”, “con thương mẹ”, “anh cảm ơn em”, “em xin lỗi anh”, “cha thương các con”, “mẹ nhớ các con” chỉ thực sự có ý nghĩa trọn vẹn khi người nghe còn đang ở trước mặt. Nói với tấm ảnh cũng được, khóc trước nấm mồ cũng được, thắp một nén nhang cũng được, nhưng tất cả những điều ấy không thể thay thế hoàn toàn cho một lời yêu thương đã không kịp nói khi người kia còn sống. Có những giọt nước mắt rơi trên quan tài không chỉ là nước mắt của mất mát, mà còn là nước mắt của tiếc nuối. Tiếc vì đã từng có thời gian mà không dành cho nhau. Tiếc vì đã từng ngồi chung một mái nhà mà mỗi người nhìn một màn hình. Tiếc vì đã từng giận nhau quá lâu vì một chuyện rất nhỏ. Tiếc vì đã từng đặt cái tôi cao hơn tình nghĩa. Tiếc vì lúc còn có thể yêu thì lại bận chứng minh ai đúng ai sai.
Rồi một ngày nào đó, mỗi người chúng ta cũng sẽ phải ra đi. Không ai biết mình sẽ rời cuộc đời vào một buổi sáng có nắng, một buổi chiều đầy gió hay một đêm rất yên. Không ai biết mình còn bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày. Nhưng có một điều chắc chắn: ngày ta nhắm mắt, ta sẽ bỏ lại tất cả. Căn nhà rộng đến đâu cũng không mang theo được. Chiếc xe sang đến mấy cũng dừng lại ngoài nghĩa trang. Tiền trong ngân hàng vẫn nằm đó. Quần áo đẹp, đồng hồ quý, những món đồ ta từng nâng niu rồi cũng thuộc về một người khác. Chức vụ từng khiến bao người kính nể rồi sẽ có người thay. Danh tiếng tưởng lớn lao rồi cũng phai theo thời gian. Có khi chưa đầy vài năm sau, người ta đã không còn nhớ rõ ta từng làm gì, giữ chức gì, kiếm được bao nhiêu. Nhưng có những thứ lạ lùng hơn, rất nhỏ thôi, lại sống lâu hơn cả chính ta. Đó là một lời an ủi ta từng nói với người đang tuyệt vọng. Một lần ta chìa tay giúp ai đó khi họ không còn biết bám vào đâu. Một bữa cơm ta âm thầm mang đến cho người nghèo. Một lần ta nhịn đi một lời cay nghiệt để giữ bình an cho gia đình. Một lần ta tha thứ cho người đã làm mình đau. Một ngày ta bỏ công việc để ngồi bên giường bệnh của mẹ. Một buổi tối ta thức cùng người bạn đời đang kiệt sức. Một khoảnh khắc ta ôm đứa con đang thất bại và nói rằng: “Dù thế nào con vẫn là con của cha mẹ.” Những điều ấy tưởng rất nhỏ, nhưng có thể ở lại trong một đời người. Và chính những điều ấy làm cho đời ta, dù đã kết thúc, vẫn tiếp tục sinh hoa trái.
Tôi từng nghĩ nhiều về những đám tang. Ở đó, con người bỗng trở nên thật hơn. Đứng trước một quan tài, ít ai còn khoe mình giàu. Ít ai còn hỏi người nằm đó từng có bao nhiêu tài sản. Những lời người ta kể về người quá cố thường không phải là: ông ấy có bao nhiêu căn nhà, bà ấy có bao nhiêu tiền, người ấy từng đi xe gì. Người ta thường nhớ những điều khác: “Ông ấy sống hiền lắm.” “Bà ấy thương con cháu vô cùng.” “Anh ấy chưa từng để ai đến nhà mà ra về với cái bụng đói.” “Chị ấy hay giúp người.” “Cha ấy sống tử tế.” “Mẹ ấy cả đời hy sinh.” “Người đó nói ít nhưng thương người lắm.” Đến cuối cùng, bản tổng kết đời người lại không giống những gì ta đã chạy theo suốt đời. Chẳng ai đứng trước linh cữu mà đọc bảng thành tích tài chính. Người ta kể về nhân cách. Người ta kể về lòng tốt. Người ta kể về những lần được thương. Người ta kể về một ánh mắt, một bàn tay, một câu nói, một cách sống. Hóa ra thứ ta mang đi không phải là những gì ta gom lại, nhưng là con người mà ta đã trở thành. Và thứ ta để lại không phải là những gì ta từng nắm trong tay, nhưng là những gì ta đã đặt vào trái tim người khác.
Có những người cha suốt đời ít nói. Cha không biết nói những câu ngọt ngào. Cha chỉ biết sáng sớm thức dậy đi làm, trời nắng cũng đi, trời mưa cũng đi. Áo cha bạc màu, đôi dép cha mòn, bàn tay cha thô ráp. Con cái ngày nhỏ đôi khi chẳng hiểu được đó là tình yêu. Chúng chỉ thấy cha nghiêm, cha khó, cha ít cười. Đến khi lớn lên, một ngày chợt nhận ra chiếc lưng cha đã còng, mái tóc đã bạc, mới hiểu cả tuổi trẻ của cha đã nằm trong những bữa cơm mình từng ăn, trong những cuốn sách mình từng học, trong căn nhà mình từng ngủ bình yên. Rồi khi cha mất, mỗi lần gặp khó khăn, người con lại thèm được nghe một tiếng ho của cha ngoài hiên, thèm một câu rất bình thường: “Về rồi đó hả con?” Khi ấy mới biết một câu nói đơn sơ có thể trở thành điều xa xỉ nhất trên đời.
Cũng có những người mẹ cả đời chỉ quanh quẩn bếp núc, ruộng vườn, chợ búa, con cái. Mẹ không có bằng cấp lớn, không làm những việc khiến người đời chú ý, nhưng mẹ thuộc lòng từng đứa con thích ăn món gì, sợ điều gì, đau chỗ nào. Con đi xa, mẹ chẳng biết nói gì nhiều, chỉ hỏi: “Ăn uống được không con?” Một câu hỏi nghe mãi thành quen, có khi còn thấy phiền. Nhưng đến ngày mẹ không còn nữa, muốn được nghe lại cũng không thể. Cái đau của mất mẹ đôi khi không nằm ở những điều lớn lao, mà nằm trong những chuyện rất nhỏ. Một tô canh không còn đúng vị cũ. Một ngày giỗ, căn bếp đông người nhưng thiếu một dáng quen. Một sáng mưa, nhớ ngày trước mẹ luôn nhắc mang áo mưa. Người ta có thể trưởng thành, có thể đi xa, có thể thành đạt đến đâu, nhưng khi mẹ mất, trong lòng vẫn như có một căn phòng vĩnh viễn tắt đèn.
Bởi vậy, yêu thương không bao giờ là chuyện thừa. Một câu hỏi thăm không làm ta nghèo đi. Một cuộc điện thoại về nhà không lấy mất bao nhiêu thời gian. Một cái ôm không cần tiền. Một lời xin lỗi không hạ thấp phẩm giá. Một sự tha thứ không làm ta yếu đi. Trái lại, những điều ấy làm cho một mái nhà có hơi ấm. Đáng tiếc là nhiều người rất rộng rãi với người ngoài nhưng lại hà tiện tình cảm với người thân. Ra đường có thể niềm nở với bao người, về nhà lại mang khuôn mặt mệt mỏi, cáu gắt. Có thể dành hàng giờ trò chuyện với bạn bè, nhưng vài phút nghe vợ chồng, cha mẹ, con cái lại thấy dài. Có thể dễ dàng nói lời cảm ơn với một người xa lạ, nhưng với người đã nấu cho mình hàng ngàn bữa cơm thì lại coi là chuyện đương nhiên. Cái gì quá gần thường bị ta xem nhẹ. Cũng như không khí, vì có quanh mình mỗi ngày nên ta quên rằng không có nó thì chẳng sống được. Tình thân cũng vậy. Khi còn đó, ta coi là bình thường. Khi mất rồi, mới hiểu đó từng là một ân huệ quá lớn.
Trong đời sống gia đình, không phải lúc nào tình yêu cũng mang khuôn mặt dịu dàng. Có lúc yêu là nhẫn nhịn. Có lúc yêu là im đi một lời để khỏi làm người kia tổn thương. Có lúc yêu là nhường một chút dù mình không sai hoàn toàn. Có lúc yêu là ngồi lại sau một cuộc cãi vã và nói: “Thôi, mình đừng làm đau nhau nữa.” Có lúc yêu là chăm một người bệnh năm này qua năm khác, chẳng ai biết, chẳng ai khen. Có lúc yêu là tiếp tục trung thành khi những cảm xúc ban đầu đã phai. Tình yêu thật không chỉ là những ngày hạnh phúc. Tình yêu thật nhiều khi nằm trong những ngày rất mệt mà người ta vẫn không bỏ nhau. Không phải vì không đau, nhưng vì biết người trước mặt đáng để mình ở lại. Và chính những năm tháng âm thầm ấy sẽ trở thành di sản lớn nhất sau này. Con cái có thể quên cha mẹ đã mua cho mình bao nhiêu món đồ, nhưng thường không quên cha mẹ đã đối xử với nhau thế nào. Chúng sẽ nhớ căn nhà ngày ấy có bình an không. Chúng sẽ nhớ trong những ngày thất bại, mình có được đón nhận hay bị chì chiết. Chúng sẽ nhớ mình đã lớn lên trong tiếng cười hay tiếng cãi vã. Tình yêu của cha mẹ không chỉ nuôi con bằng cơm áo, mà còn tạo nên cách một đứa trẻ nhìn thế giới. Một đứa trẻ được lớn lên trong yêu thương sẽ mang hơi ấm ấy đi rất xa, có khi trao lại cho những người cha mẹ chưa bao giờ gặp.
Vì thế, di sản quý nhất một người để lại cho con cháu không nhất thiết là một ngôi nhà hay một số tiền. Những thứ ấy tốt nếu có, nhưng nếu chỉ có chúng mà thiếu tình yêu thì gia đình vẫn có thể tan vỡ. Có những gia đình cha mẹ để lại rất nhiều tài sản nhưng anh em trở mặt vì chia của. Cũng có những gia đình cha mẹ chẳng để lại gì đáng giá về vật chất, chỉ để lại lời dặn: “Anh em phải thương nhau”, vậy mà mấy chục năm sau con cháu vẫn sum họp, vẫn nâng đỡ nhau mỗi khi có chuyện. Một mái nhà giàu không bằng một mái nhà thuận. Một gia đình nhiều của không bằng một gia đình nhiều tình. Tiền có thể mua chiếc giường tốt nhưng không mua được giấc ngủ bình an. Tiền có thể mua bàn ăn đẹp nhưng không mua được bữa cơm có tiếng cười. Tiền có thể xây căn nhà lớn nhưng không bảo đảm trong nhà có người thật lòng muốn trở về. Hạnh phúc của một gia đình không nằm ở diện tích căn nhà, mà ở khoảng cách giữa những trái tim.
Có những người suốt đời chỉ mong con cái thành công mà quên mong chúng thành người tử tế. Có người hỏi con kiếm được bao nhiêu mà ít hỏi con có bình an không. Có người tự hào vì con có chức, có danh, nhưng chưa bao giờ hỏi trong nhà con có hạnh phúc không. Cuộc đời này đã đủ khắc nghiệt rồi, gia đình đáng lẽ phải là nơi người ta trở về để được yêu mà không cần chứng minh. Nơi ấy, một đứa con dù năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi vẫn có thể được cha mẹ gọi bằng một tiếng “con”. Một người đàn ông dù ngoài đời mạnh mẽ đến đâu vẫn có thể trở về bên vợ mà thú nhận mình đang mệt. Một người phụ nữ dù gánh cả gia đình vẫn cần một bàn tay hỏi: “Hôm nay em có ổn không?” Chúng ta thường đánh giá thấp sức mạnh của những câu nói đơn giản. Có người vượt qua được một giai đoạn tăm tối chỉ vì một câu: “Tôi vẫn ở đây.” Có người chịu đựng thêm được một ngày vì biết có người mong mình trở về. Có người đang tuyệt vọng nhưng được cứu lại bởi cảm giác mình vẫn còn được yêu.
Tin Mừng cũng không ngừng nhắc con người về một sự thật rất đơn sơ: cuối cùng, Thiên Chúa không hỏi ta đã giữ được bao nhiêu nhưng hỏi ta đã trao đi bao nhiêu. Đức Giêsu không để lại cho nhân loại vàng bạc, đất đai hay quyền lực. Ngài để lại một tình yêu đến tận cùng. Trước khi chết, Ngài không có một gia tài vật chất để phân chia. Điều Ngài để lại là một tấm bánh bẻ ra, một chén rượu trao đi, một thân mình hiến dâng, một lời tha thứ từ trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Và lạ lùng thay, chính một đời đã cho đi tất cả ấy lại trở thành nguồn sống cho hàng tỷ con người qua bao thế kỷ. Quy luật của Tin Mừng khác quy luật thế gian. Thế gian bảo giữ thì mới còn. Chúa lại dạy trao đi thì mới còn mãi. Hạt lúa nếu giữ nguyên trong tay thì chỉ là một hạt lúa; nếu chịu vùi xuống đất, chịu mục đi, nó mới sinh nhiều bông hạt. Tình yêu cũng vậy. Tình yêu bị giữ lại sẽ chết trong ích kỷ. Tình yêu được trao đi sẽ tiếp tục sống trong những người đã nhận nó.
Có lẽ vì vậy mà những người sống đẹp thường không cần một tượng đài. Tượng đài thật của họ chính là lòng người. Một người mẹ đã chết nhưng con cái vẫn sống tử tế vì nhớ lời mẹ dạy, ấy là mẹ vẫn còn. Một người cha đã mất nhưng các con vẫn thương nhau vì nhớ cha từng nói “đừng bao giờ bỏ nhau”, ấy là cha vẫn còn. Một người thầy đã khuất nhưng học trò vẫn biết cúi xuống trước người yếu thế vì ngày xưa được thầy dạy như thế, ấy là thầy vẫn còn. Một linh mục đã qua đời nhưng những người từng gặp ngài vẫn nhớ một lời giải tội, một câu giảng, một lần ngài ngồi bên giường bệnh, ấy là đời ngài vẫn đang sinh hoa trái. Có những người không còn tên trên môi số đông, nhưng sống rất lâu trong một trái tim. Và có lẽ đó mới là sự bất tử đẹp nhất mà một con người có thể có trên trần gian này.
Thật ra, chúng ta không cần làm những điều quá lớn lao mới gọi là yêu. Phần lớn tình yêu được tạo nên từ những việc rất nhỏ lặp lại mỗi ngày. Là khi thức dậy, nhớ hỏi người bên cạnh ngủ có ngon không. Là khi ăn một món ngon, nghĩ đến người ở nhà. Là khi bận nhưng vẫn nhắn một câu: “Con vẫn ổn, cha mẹ đừng lo.” Là khi biết người kia đã sai nhưng không dùng lỗi lầm ấy để xúc phạm họ. Là khi cha mẹ già nói đi nói lại một câu, ta vẫn cố nghe vì biết có thể một ngày rất gần sẽ không còn ai nói câu ấy nữa. Là khi con trẻ kể một câu chuyện tưởng ngớ ngẩn, ta vẫn nhìn vào mắt nó, vì đối với nó câu chuyện ấy là cả thế giới. Là khi vợ chồng đã sống với nhau mấy chục năm vẫn giữ cho nhau một sự tử tế mà ngày mới yêu từng có. Đừng nghĩ rằng tình yêu chỉ nằm trong những khoảnh khắc phi thường. Cuộc đời được làm nên từ những ngày bình thường. Và nếu ta biết yêu trong những ngày bình thường, đến cuối đời ta sẽ có một đời phi thường.
Có một điều đáng sợ hơn cái chết, đó là sống cả một đời mà chưa thật sự yêu ai. Một người có thể rất thành công nhưng nếu lúc già không có ai thật lòng muốn ngồi cạnh thì sự thành công ấy có lẽ vẫn thiếu một điều gì. Một người có thể nổi tiếng nhưng nếu trong gia đình chẳng ai cảm thấy được yêu thì cái tên vang xa kia cũng không khỏa lấp được căn phòng lạnh. Có người dành cả tuổi trẻ để đi tìm sự công nhận của thiên hạ, đến khi tuổi già mới nhận ra những người quan trọng nhất lại chính là những người từng đợi mình trong căn nhà nhỏ. Người đời vỗ tay vài phút rồi quên. Gia đình mới là nơi mang những vết thương và niềm vui của ta suốt một đời. Thế nhưng trớ trêu thay, ta thường dành phiên bản tốt nhất của mình cho người ngoài và đem phiên bản tệ nhất về cho người nhà. Ra ngoài lịch sự, về nhà cộc cằn. Ra ngoài nhẫn nại, về nhà nóng nảy. Ra ngoài luôn miệng cảm ơn, về nhà nghĩ rằng “người nhà thì cần gì khách sáo”. Chính vì thế có những mái nhà đầy đủ mọi thứ mà thiếu hơi ấm. Và có những con người rất được yêu ngoài xã hội nhưng người thân lại sống trong tổn thương.
Đời ngắn lắm. Nói câu ấy khi còn trẻ thường nghe như một lời sáo rỗng. Nhưng đi qua một đoạn đời, tiễn vài người mình thương, nhìn một vài chiếc ghế trong nhà vĩnh viễn để trống, ta mới hiểu hai chữ “đời ngắn” không phải triết lý, mà là sự thật. Mới ngày nào cha mẹ còn trẻ, chớp mắt tóc đã bạc. Mới ngày nào con còn nằm trong nôi, quay đi quay lại đã lớn và chuẩn bị rời nhà. Mới ngày nào vợ chồng mới cưới, một sáng soi gương thấy trên tóc nhau đã lấm tấm màu thời gian. Thời gian không lên tiếng nhưng lấy đi mọi thứ rất đều đặn. Nó lấy tuổi trẻ, lấy sức khỏe, lấy những mùa đoàn tụ, rồi đến một ngày lấy cả những người ta yêu. Điều duy nhất ta có thể làm trước sự trôi chảy ấy không phải là giữ thời gian lại, vì chẳng ai giữ được, mà là làm cho những ngày còn lại có ý nghĩa.
Nếu còn cha mẹ, hãy về thăm khi còn có thể. Đừng đợi đến lúc đứng trước một nấm mộ mới mua những bó hoa đẹp nhất. Khi cha mẹ còn sống, một bữa cơm có mặt con quý hơn rất nhiều vòng hoa ngày tang lễ. Nếu còn anh chị em, đừng để chuyện tiền bạc, đất đai hay một câu nói làm mất nhau. Cha mẹ sinh ra ta trong cùng một mái nhà không phải để đến khi cha mẹ nhắm mắt, các con quay lưng. Nếu còn người bạn đời, hãy bớt một phần cái tôi. Đừng biến căn nhà thành nơi phân xử thắng thua. Trong hôn nhân, có những cuộc tranh luận mình thắng nhưng tình yêu lại thua. Nếu còn con cái ở nhà, hãy dành thời gian cho chúng. Một ngày nào đó căn phòng chúng sẽ trống, giày dép ngoài cửa sẽ ít đi, bữa cơm sẽ vắng người, và lúc ấy ta mới hiểu những tiếng ồn ngày xưa từng là hạnh phúc. Nếu đang giận ai đó mà vẫn còn thương, hãy tìm cách hòa giải. Đừng để một cuộc gọi sau cùng trở thành cuộc gọi không bao giờ được thực hiện.
Và nếu chính ta đang được ai đó yêu thương, xin đừng coi điều ấy là chuyện đương nhiên. Không ai buộc phải ở bên ta mãi. Không ai có nghĩa vụ phải chịu đựng mọi tính khí của ta chỉ vì họ là người thân. Mỗi tình yêu mình nhận được đều là một món quà. Biết ơn là cách giữ tình yêu khỏi trở thành thói quen vô cảm. Hãy biết cảm ơn người nấu cho mình một bữa cơm. Cảm ơn người đã chờ mình về. Cảm ơn người đã im lặng để nhường mình. Cảm ơn cha mẹ vì đã già đi trong khi mình lớn lên. Cảm ơn vợ chồng vì đã cùng mình đi qua những ngày không dễ dàng. Cảm ơn con cái vì chính chúng cũng dạy cha mẹ lớn lên. Cảm ơn những người bạn đã ở lại trong những năm mình chẳng có gì đáng để tự hào. Những lời cảm ơn nói khi còn sống bao giờ cũng đẹp hơn lời điếu văn nói khi người kia đã không còn nghe được.
Có thể chúng ta không thay đổi được cả thế giới, nhưng ai cũng có thể làm cho thế giới của một người nào đó bớt lạnh. Một cái ôm đúng lúc có thể cứu một ngày tồi tệ. Một lời tha thứ có thể kết thúc nhiều năm nặng lòng. Một bữa cơm chung có thể nối lại một gia đình đang xa nhau. Một cuộc gọi có thể làm một người già thôi tủi thân. Một câu “con nhớ mẹ” có thể làm mẹ vui cả tuần. Tình yêu có những phép lạ rất âm thầm. Nó không làm báo chí đưa tin. Không có tiếng vỗ tay. Không có huy chương. Nhưng nó giữ một con người khỏi gục xuống. Nó giữ một mái nhà khỏi tan. Nó giữ một đứa trẻ khỏi lớn lên trong cô đơn. Nó giữ một người già khỏi cảm thấy mình bị bỏ quên. Và có khi đó mới là những phép lạ mà cuộc đời cần nhất.
Người có đức tin lại càng phải hiểu rằng tình yêu không bao giờ mất. Trong Thiên Chúa, mọi điều được làm vì yêu đều có giá trị đời đời. Một chén nước lã trao cho người bé nhỏ không bị quên. Một giọt nước mắt âm thầm vì thương người không bị quên. Một hy sinh không ai biết không bị quên. Thế gian có thể không ghi tên ta, nhưng Thiên Chúa biết. Người đời có thể không nhớ những điều ta làm, nhưng trong trái tim người được ta yêu thương, chúng đã để lại một dấu vết. Và chính tình yêu ấy chuẩn bị chúng ta cho cuộc gặp gỡ cuối cùng với Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa là Tình Yêu. Có lẽ khi đứng trước Ngài, bao nhiêu điều ta từng xem trọng sẽ rơi xuống. Ta không thể nói: “Con đã có thật nhiều.” Có lẽ câu hỏi quan trọng hơn sẽ là: “Con đã làm gì với những người Cha trao vào đời con? Con đã yêu họ chưa? Con có làm họ bớt đau không? Có ai được bình an hơn vì con từng hiện diện không? Có ai được đứng dậy vì con từng chìa tay không?”
Nếu một ngày ta ra đi, điều gì sẽ còn lại? Câu hỏi ấy không phải để làm ta buồn, nhưng để giúp ta sống tỉnh thức hơn. Nếu ngày mai không còn nữa, hôm nay ta có muốn tiếp tục giận người ấy không? Nếu đây là bữa cơm cuối cùng với cha mẹ, ta có vừa ăn vừa nhìn điện thoại không? Nếu đây là lần cuối ta nhìn thấy người bạn đời bước ra khỏi cửa, ta có để họ đi trong một lời lạnh nhạt không? Nếu đây là lần cuối con mình chạy đến ôm, ta có gạt nó ra vì đang bận không? Không ai sống nổi nếu lúc nào cũng nghĩ đây là lần cuối. Nhưng thỉnh thoảng nhớ rằng mọi điều đều có thể là lần cuối sẽ giúp ta biết quý từng lần đang có.
Đừng chờ đến khi mất nhau mới học cách thương nhau. Đừng để những người còn sống phải đói tình yêu trong khi mình dành những lời đẹp nhất cho người đã chết. Đừng để một người phải nằm xuống rồi mới nghe thiên hạ kể rằng họ đáng quý thế nào. Nếu thấy cha mẹ đáng quý, hãy nói khi cha mẹ còn nghe được. Nếu thương vợ, thương chồng, hãy thể hiện khi người ấy còn bên mình. Nếu tự hào về con, hãy cho con biết. Nếu biết ơn một người, hãy nói. Nếu cần xin lỗi, hãy xin lỗi. Nếu có thể tha thứ, hãy tha thứ. Bởi sau cùng, người ta hiếm khi hối tiếc vì đã yêu quá nhiều. Người ta thường chỉ hối tiếc vì đã yêu quá muộn.
Cuộc đời mỗi người rồi sẽ giống như một ngọn đèn. Có ngọn cháy lâu, có ngọn tắt sớm. Nhưng điều quan trọng không phải ngọn đèn cháy được bao lâu, mà trong thời gian cháy, nó đã soi ấm được những ai. Một cuộc đời dài mà lạnh lẽo chưa chắc đã quý bằng một cuộc đời ngắn nhưng đầy yêu thương. Có người chỉ sống vài chục năm mà khiến bao người nhớ mãi. Có người sống gần một thế kỷ nhưng sau khi đi, chẳng ai thật sự thấy thiếu. Điều làm nên độ sâu của đời người không phải số năm, mà là lượng tình yêu được đặt vào những năm ấy.
Rồi sẽ đến một ngày căn phòng ta từng ở thuộc về người khác. Những món đồ ta từng nâng niu bị cho đi. Ảnh của ta có thể vẫn treo trên tường một thời gian, rồi qua vài thế hệ tên tuổi cũng nhạt dần. Đó là quy luật bình thường. Không cần buồn vì điều ấy. Ta đâu sinh ra để được người đời nhớ mãi. Ta sinh ra để yêu trong quãng thời gian được trao. Một đời đáng sống không cần phải nổi tiếng. Chỉ cần khi ta ra đi, có một vài người có thể nói bằng tất cả sự chân thành rằng: “Nhờ có người ấy mà đời tôi ấm hơn.” Chỉ vậy thôi, có lẽ cũng đã đủ.
Cho nên, nếu hôm nay còn có thể về nhà, hãy về. Còn có thể gọi, hãy gọi. Còn có thể ôm, hãy ôm. Còn có thể nói yêu thương, đừng ngại. Còn có thể làm hòa, đừng đợi. Còn có thể ngồi bên nhau, đừng để màn hình lấy hết thời gian. Còn có thể ăn chung một bữa cơm, hãy trân trọng. Còn có thể nhìn cha mẹ già chậm rãi bước đi trước sân, hãy nhìn thật lâu, bởi sẽ có ngày ta nhớ chính dáng đi ấy đến quặn lòng. Còn có thể nghe con trẻ gọi mình, đừng cáu vì tiếng gọi ấy quá nhiều, bởi sẽ đến ngày ngôi nhà im đến mức ta chỉ mong nghe lại một tiếng gọi ngày xưa. Còn có người đợi ta, hãy biết mình đang giàu. Còn có người để thương, hãy thương khi còn kịp.
Và nếu hôm nay chúng ta đã mất một người rất thương, xin đừng nghĩ rằng tất cả đã kết thúc. Nỗi nhớ chính là một cách tình yêu tiếp tục tồn tại. Ta không còn được nắm tay họ, nhưng có thể tiếp tục sống những điều tốt đẹp họ từng dạy. Ta không còn nghe tiếng họ, nhưng có thể để lời họ trở thành hướng dẫn cho cách mình sống. Ta không còn ngồi chung bàn, nhưng có thể giữ gia đình đoàn kết như điều họ từng mong. Cách đẹp nhất để tưởng nhớ một người không phải chỉ là khóc thật nhiều, nhưng là sống sao cho tình yêu họ từng trao không bị dừng lại nơi mình. Nếu mẹ từng thương người, mình hãy tiếp tục thương người. Nếu cha từng dạy anh em phải đùm bọc nhau, hãy giữ lời ấy. Nếu người đã khuất từng sống tử tế, hãy để sự tử tế ấy được nhân lên trong đời mình. Như thế, người ấy tuy đã đi nhưng tình yêu vẫn đang đi tiếp.
Có những người rời khỏi cuộc đời này, nhưng tình yêu họ để lại vẫn đủ sưởi ấm cả một gia đình suốt nhiều năm sau đó. Một lời dặn vẫn được nhắc lại. Một nếp sống vẫn được giữ gìn. Một tấm lòng vẫn được noi theo. Đó là một thứ gia tài không bị mối mọt làm hư, không mất giá theo thời gian, không ai tranh giành được. Gia tài của tình yêu càng chia càng nhiều, càng trao càng đầy. Và có lẽ, đến cuối cùng, đó mới là thứ đáng để một đời người tích góp.
Bởi vậy, điều quan trọng nhất trong đời không phải là mình giữ được bao nhiêu thứ cho riêng mình, mà là mình đã yêu thương được bao nhiêu người khi còn có thể. Không phải ta đã được bao nhiêu người biết đến, mà là có bao nhiêu người từng cảm thấy mình được trân trọng khi ở bên ta. Không phải ta từng đứng ở vị trí nào, mà là ta đã cúi xuống với ai. Không phải ta có bao nhiêu tiền trong tay, mà là bàn tay ấy đã từng lau nước mắt cho ai. Không phải nhà ta lớn bao nhiêu, mà là có bao nhiêu người tìm được bình an khi bước vào. Không phải ta sống bao nhiêu năm, mà là trong những năm được sống, ta đã để tình yêu đi qua mình thế nào.
Một mai khi khép mắt, xin cho ta không phải mang theo quá nhiều câu “giá như”. Giá như tôi đã về thăm mẹ nhiều hơn. Giá như tôi đã bớt cứng đầu với cha. Giá như tôi đã nói yêu thương với vợ chồng mình. Giá như tôi đã dành thời gian cho con. Giá như anh em chúng tôi đừng vì chút của cải mà mất nhau. Giá như tôi đã tha thứ. Giá như tôi đã sống hiền hơn. Xin đừng để đời mình trở thành một chuỗi những điều hiểu ra quá muộn. Hôm nay còn thời gian. Hôm nay còn người để thương. Hôm nay còn cơ hội sửa lại một điều đã hỏng. Hôm nay còn có thể sống khác đi.
Và nếu phải chọn một điều để mang theo qua hết những mùa còn lại của cuộc đời, tôi xin chọn một trái tim biết yêu. Bởi người có trái tim biết yêu thì dù nghèo vẫn có thứ để cho. Dù già vẫn có thể trao. Dù đau vẫn có thể an ủi. Dù sắp rời đời vẫn có thể để lại hơi ấm. Đến một ngày, đôi tay ta sẽ trắng. Nhưng nếu những năm tháng đã qua, đôi tay ấy từng nắm lấy những bàn tay khác, từng nâng một người dậy, từng trao một miếng bánh, từng đặt trên vai ai đó trong lúc họ khóc, thì đôi tay trắng ấy không hề trắng. Nó mang theo cả một đời yêu thương.
Xin cho chúng ta sống sao để một ngày khi mình không còn, người ở lại không chỉ nhớ đến khuôn mặt mình mà còn nhớ cảm giác được mình yêu. Nhớ rằng từng có một người làm cho căn nhà này ấm. Từng có một người khiến họ thấy mình có giá trị. Từng có một người dù chẳng hoàn hảo nhưng đã hết lòng. Từng có một người đi qua cuộc đời họ và để lại một chút ánh sáng. Nếu làm được như thế, cái chết cũng không thể lấy hết một đời người. Bởi thân xác có thể nằm xuống, nhưng tình yêu thì tiếp tục sống, tiếp tục đi qua những thế hệ, tiếp tục nở hoa trong những con người từng được ta thương.
Và rồi, ở cuối con đường, có lẽ ta sẽ hiểu rằng mình chưa bao giờ thực sự sở hữu điều gì trên đời. Mọi thứ chỉ được trao cho ta một thời gian: cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè, sức khỏe, tuổi trẻ, ngôi nhà, công việc và cả chính hơi thở. Tất cả đều là những món quà được ký gửi. Việc của ta không phải là giữ chúng mãi, vì không thể, mà là yêu chúng cho tử tế trong khoảng thời gian chúng còn ở bên mình. Đến lúc phải trao trả, ta có thể đau, có thể khóc, nhưng ít nhất lòng không quá nặng vì đã từng hết lòng.
Đời người rồi cũng qua. Mùa xuân nào cũng sẽ sang hạ, hạ rồi sang thu, thu rồi sang đông. Mái tóc đen rồi sẽ bạc. Bàn tay khỏe rồi sẽ run. Bước chân nhanh rồi sẽ chậm. Những tiếng cười đang rộn rã quanh ta rồi cũng có ngày chỉ còn trong ký ức. Nhưng nếu mỗi ngày ta biết sống thêm một chút yêu thương, biết nhịn đi một chút hơn thua, biết trao thêm một lời dịu dàng, biết dành thời gian cho người cần mình, biết sống tử tế ngay cả khi không ai nhìn thấy, thì khi buổi chiều cuối cùng của đời mình đến, ta có thể ra đi trong bình an. Không phải vì ta đã có tất cả, nhưng vì ta đã trao tất cả những gì đáng trao. Không phải vì đời ta không có thiếu sót, nhưng vì giữa những thiếu sót ấy, ta đã cố gắng yêu.
Sau cùng, xin nhớ một điều thôi: đừng dành cả cuộc đời để chất đầy căn nhà mà bỏ đói trái tim những người đang sống trong căn nhà ấy. Đừng quá mải kiếm một tương lai tốt đẹp mà làm mất những người đang cùng mình đi qua hiện tại. Đừng chờ giàu mới cho đi, đừng chờ rảnh mới về thăm, đừng chờ người khác thay đổi rồi mình mới dịu dàng, đừng chờ gần mất mới biết quý. Hãy yêu ngay trong lúc còn có thể. Vì đến cuối cùng, tất cả rồi sẽ ở lại phía sau. Chỉ có tình yêu là đi được xa hơn cái chết. Và một người đã từng sống bằng tình yêu, dù họ rời khỏi thế gian, họ vẫn không hoàn toàn biến mất. Họ tiếp tục hiện diện trong cách người khác biết thương nhau hơn, biết tha thứ hơn, biết trở về với gia đình hơn, biết quý những điều nhỏ bé hơn. Đó là lúc một đời người đã kết thúc mà vẫn còn tiếp tục. Đó là lúc ta hiểu: điều đẹp nhất mình có thể để lại cho thế gian không phải một cái tên, không phải một tài sản, mà là một chút tình yêu đã từng đi qua trái tim mình và làm ấm một trái tim khác.
Lm. Anmai, CSsR
RỒI CUỐI CÙNG, CHỈ CÓ TÌNH YÊU Ở LẠI
Có lẽ phải đi qua một quãng đời đủ dài, phải nhìn thấy vài mái đầu từ xanh chuyển bạc, phải tiễn đưa một vài người thân yêu về bên kia cuộc đời, phải từng đứng lặng trước một căn phòng bỗng dưng thiếu đi một tiếng nói quen, một chỗ ngồi quen, một dáng người quen, người ta mới bắt đầu hiểu rằng đời sống này thật ra mong manh hơn những gì mình từng tưởng. Khi còn trẻ, ta cứ nghĩ phía trước còn rất nhiều thời gian. Ta nghĩ ngày mai còn dài, tháng sau còn đó, năm tới vẫn sẽ gặp nhau, vẫn còn dịp để nói một lời xin lỗi, vẫn còn lúc để ngồi lại bên nhau, vẫn còn một ngày thuận tiện hơn để về thăm cha mẹ, vẫn còn cơ hội khác để nắm lấy bàn tay của người mình thương và nói một câu thật lòng. Vì cứ nghĩ còn nhiều thời gian nên con người thường phung phí chính những điều quý giá nhất. Ta dành những giờ đẹp nhất cho công việc, dành sức lực cho những bon chen, dành tâm trí cho những chuyện hơn thua, dành sự dịu dàng cho người ngoài nhưng đôi khi lại dành sự nóng nảy cho người trong nhà. Ta biết mỉm cười với người xa lạ nhưng lại dễ cau có với người thân. Ta có thể kiên nhẫn trong một cuộc họp hàng giờ nhưng lại thiếu kiên nhẫn khi nghe cha già kể đi kể lại một câu chuyện cũ. Ta có thể bỏ cả buổi để làm hài lòng một người không mấy quan trọng trong đời mình nhưng lại tiếc một cuộc điện thoại năm phút dành cho mẹ. Ta thường nghĩ những người thân yêu sẽ luôn còn đó. Chính vì nghĩ họ luôn còn đó nên ta dễ quên rằng một ngày nào đó, chiếc ghế kia sẽ trống, căn phòng kia sẽ im, số điện thoại kia vẫn nằm trong danh bạ nhưng sẽ chẳng bao giờ còn sáng lên bằng một cuộc gọi nữa. Và đến lúc ấy, rất nhiều thứ ta từng coi là quan trọng bỗng trở nên nhỏ bé vô cùng.
Có lẽ, đến cuối đời, điều người ta mang theo không phải là mình đã sống bao lâu, mà là mình đã yêu thương nhau thế nào. Một đời người dài tám mươi năm mà sống trong lạnh lùng, ích kỷ, hơn thua thì chưa chắc đã phong phú bằng một đời ngắn ngủi nhưng biết trao đi tình thương. Bởi giá trị của đời người đâu nằm trong số năm tháng được cộng lại, mà nằm trong những gì ta đã gieo vào lòng nhau. Có người sống rất lâu nhưng khi họ đi rồi, chẳng mấy ai nhớ ngoài những tài sản họ để lại. Cũng có người sống chẳng bao lâu, chẳng giàu có, chẳng danh giá, chẳng làm điều gì khiến thiên hạ phải nhắc tên, vậy mà khi họ mất đi, người ta vẫn nhớ một nụ cười, một bàn tay đã từng nâng đỡ, một câu nói từng cứu mình khỏi tuyệt vọng, một bữa cơm giản dị họ từng sẻ chia, một lần họ đã bao dung cho lỗi lầm của mình. Con người có thể rời khỏi cuộc đời, nhưng tình yêu mà họ đã trao thì không dễ gì chết. Có những người đã nằm xuống nhiều năm, vậy mà mỗi lần nhắc tên, cả căn nhà vẫn ấm lên. Có người mẹ mất rồi nhưng con cái vẫn sống bằng những lời mẹ dạy. Có người cha đi xa rồi nhưng cái cách ông sống tử tế vẫn trở thành chiếc la bàn cho các con. Có người bạn không còn nữa nhưng một nghĩa cử của họ năm xưa vẫn đủ nâng ta dậy trong những ngày khó khăn. Có người ta chỉ gặp một đoạn ngắn trong đời nhưng sự chân thành của họ đủ khiến ta nhớ mãi. Đó là điều kỳ diệu của tình yêu: thân xác có thể trở về với bụi đất, giọng nói có thể im đi, bước chân có thể không còn vang trên thềm cũ, nhưng điều người ấy gieo bằng tình thương vẫn âm thầm sống tiếp trong những người ở lại.
Rồi sẽ có một ngày mọi thứ đều phải dừng lại. Công việc từng khiến ta mất ngủ bao đêm rồi sẽ có người khác tiếp nhận. Cái bàn ta từng ngồi sẽ thuộc về người khác. Chức vụ từng khiến bao người nể trọng rồi cũng sẽ chỉ còn là một dòng trong tiểu sử. Những cuộc tranh luận ta từng quyết thắng cho bằng được rồi cũng chẳng còn ai nhớ đúng sai thuộc về phía nào. Những thứ ta từng tích cóp, nâng niu, giữ gìn, rồi cuối cùng cũng ở lại phía sau. Ngôi nhà ta dành cả đời xây dựng sẽ có người khác bước vào. Chiếc xe ta từng tự hào sẽ cũ đi. Những bộ quần áo đẹp sẽ bạc màu. Tiền bạc được trao lại cho người khác. Những tấm bằng, những huy chương, những lời khen từng làm ta vui rồi sẽ nằm yên trong một ngăn tủ. Ngay cả khuôn mặt từng quen thuộc trong gương cũng sẽ thay đổi từng ngày. Cuộc đời âm thầm lấy lại tất cả những gì nó đã cho mượn. Và cuối cùng, người ta chẳng thể nắm chặt được gì trong tay. Bàn tay khi sinh ra trống không, lúc rời đời cũng chẳng thể mang theo một đồng bạc. Thế mà suốt một đời, biết bao người lại vì những thứ không thể mang theo ấy mà làm tổn thương những người mình có thể sẽ chẳng bao giờ gặp lại lần thứ hai.
Nghĩ đến đó mới thấy nhiều cuộc giận nhau thật đáng tiếc. Có những anh chị em ruột thịt vì một miếng đất mà không nhìn mặt nhau nhiều năm. Có những người con giận cha mẹ vì vài câu nói không vừa ý rồi bỏ đi, nghĩ rằng khi nào nguôi sẽ trở về, nhưng đến lúc trở về thì cánh cửa đã phủ khăn tang. Có những đôi vợ chồng từng yêu nhau tha thiết, rồi vì cơm áo, vì tự ái, vì những lời vô tâm mà biến căn nhà thành nơi lạnh nhất. Họ có thể ngủ chung một mái nhà nhưng lòng đã ở cách nhau rất xa. Có những người bạn từng sống chết với nhau rồi quay lưng chỉ vì một hiểu lầm nhỏ mà chẳng ai chịu bước tới trước. Người này chờ người kia xin lỗi, người kia chờ người này xuống nước, rồi năm tháng cứ thế trôi qua. Đến một ngày nghe tin người kia không còn nữa, tất cả lòng tự trọng từng giữ chặt bỗng trở nên vô nghĩa. Khi ấy người ta mới muốn nói: “Giá mà hôm đó mình gọi một cuộc điện thoại. Giá mà mình bớt cố chấp. Giá mà mình chịu nói một câu thôi: thôi, bỏ qua đi.” Nhưng đời thường đau ở chỗ: có những cánh cửa một khi đã khép lại thì không mở được nữa. Có những lời nếu không nói hôm nay thì ngày mai không còn người để nghe. Có những cái ôm nếu cứ ngại ngần giữ lại, sẽ có ngày hai cánh tay chỉ còn biết ôm lấy một khoảng trống.
Bởi vậy, nếu còn thương nhau thì xin đừng thương nhau quá muộn. Nếu còn cha mẹ thì xin hãy về khi còn có thể nghe tiếng cha ho, thấy mẹ chờ ngoài cửa. Đừng đợi đến ngày căn nhà đầy người đến viếng mới tiếc rằng khi cha mẹ còn sống mình lại quá ít khi ngồi bên. Một bó hoa đặt trên mộ không thể thay được một lần ta mang về cho mẹ khi mẹ còn nhìn thấy. Một mâm cơm cúng thật lớn không bằng một bữa cơm nhỏ ta từng ngồi ăn với cha lúc ông còn sống. Một bài điếu văn thật hay không bù được những tháng năm ta đã không chịu nói với người thân một lời dịu dàng. Người đã mất không cần ta mua cho họ thứ gì nữa. Người còn sống mới cần. Người còn sống cần một cuộc gọi. Cần một buổi ghé thăm. Cần một câu hỏi: “Hôm nay cha có khỏe không?” “Mẹ ăn cơm chưa?” “Dạo này anh có ổn không?” “Em có chuyện gì buồn không?” Những câu tưởng nhỏ ấy nhiều khi lại là những viên gạch xây nên một đời sống ấm áp. Tình yêu hiếm khi nằm trong những điều vĩ đại. Tình yêu thường trú ngụ trong những chuyện rất nhỏ mà người ta làm đều đặn mỗi ngày.
Tình yêu là khi ta biết ngồi xuống để nghe người khác nói cho hết câu, dù câu chuyện ấy có khi mình đã nghe nhiều lần. Là khi ta biết im lặng trước một cơn nóng giận thay vì trả lại bằng một cơn nóng giận khác. Là khi ta biết đặt cái tôi xuống thấp hơn một chút để giữ lại một người. Là khi ta nhận ra rằng thắng một cuộc cãi vã nhưng mất một mối quan hệ thì chẳng có gì gọi là chiến thắng. Là khi vợ chồng biết nhìn nhau không chỉ qua lỗi lầm hiện tại mà còn nhớ đến những năm tháng đã cùng nhau đi qua. Là khi anh chị em trong nhà biết rằng vài mét đất không đáng để đánh đổi tình ruột thịt. Là khi con cái hiểu rằng cha mẹ già có thể trở nên chậm chạp, khó tính, hay quên, nhưng chính những con người ấy đã từng thức trắng bao đêm khi mình sốt, đã từng nhịn ăn để mình được no, đã từng dành cả tuổi trẻ cho mình. Là khi ta hiểu một người đang cáu gắt có khi không phải vì ghét mình mà vì họ đang mệt. Một người ít nói có khi không phải vô tâm mà vì họ đang chịu đựng điều gì đó. Một người phạm sai lầm không có nghĩa toàn bộ con người họ là sai lầm. Yêu thương là nhìn người khác rộng hơn lỗi của họ.
Đời người có nhiều điều cần học, nhưng có lẽ bài học khó nhất là học cách yêu mà không làm nhau đau. Bởi ta thường làm đau người mình yêu không phải vì không yêu mà vì yêu theo cách của mình. Ta muốn người khác phải hiểu mình nhưng ít chịu hiểu người khác. Ta muốn được tha thứ nhưng lại nhớ rất lâu lỗi của người ta. Ta muốn người khác nói nhẹ với mình nhưng lúc nóng giận lại buông những câu có thể khiến họ đau cả đời. Có những vết thương trên thân xác vài tuần sẽ lành, nhưng có những câu nói nằm trong lòng vài chục năm vẫn chưa lành. Một đứa trẻ có thể mang suốt đời câu cha mẹ từng nói trong lúc tức giận: “Mày chẳng làm được gì nên hồn.” Một người vợ có thể nhớ mãi một lần chồng làm nhục mình trước mặt người khác. Một người chồng có thể im lặng nhiều năm vì câu khinh thường của vợ đã chạm vào lòng tự trọng sâu nhất. Anh chị em có thể xa nhau chỉ bởi vài lời quá nặng. Vì thế, yêu thương còn là biết sợ những lời mình nói khi giận dữ. Có những câu nói ra chỉ mất vài giây nhưng người nghe phải mất nhiều năm mới quên được. Và đôi khi họ chẳng bao giờ quên.
Đến một tuổi nào đó, người ta không còn muốn chứng minh mình đúng nhiều như trước. Đi qua nhiều mất mát rồi mới hiểu bình an quý hơn phần thắng. Có những chuyện nếu quay lại tuổi trẻ, ta sẽ cãi đến cùng; nhưng khi tóc đã bạc, ta chỉ muốn mỉm cười rồi thôi. Không phải vì mình yếu đi, mà vì đã hiểu rằng đời quá ngắn để dùng cho những cuộc chiến không đáng. Ngày tháng của mỗi người đều hữu hạn. Mỗi buổi sáng thức dậy là ta đã dùng thêm một ngày trong số những ngày đời mình. Chẳng ai biết con số ấy còn lại bao nhiêu. Có người tối qua còn nói chuyện, sáng nay đã thành người thiên cổ. Có người vừa hẹn tuần sau gặp nhau, vậy mà cuộc hẹn ấy chẳng bao giờ đến. Có người hôm qua còn khỏe, hôm nay đời đã sang một ngã khác. Cái chết chẳng báo trước. Chính vì thế, đừng giữ yêu thương trong lòng như giữ một món quà chưa trao. Đừng nghĩ người kia tự hiểu. Hãy nói khi còn có thể nói. Hãy cảm ơn khi còn có người để cảm ơn. Hãy xin lỗi khi người kia còn ngồi trước mặt. Hãy tha thứ khi lòng còn có cơ hội nhẹ đi. Hãy ôm cha mẹ khi hai cánh tay của họ còn có thể ôm lại mình.
Tha thứ, xét cho cùng, cũng là một hình thức rất sâu của tình yêu. Không phải vì người kia luôn xứng đáng được tha thứ, mà vì trái tim ta không nên trở thành nhà tù của những tổn thương cũ. Có người mang một nỗi giận suốt hai mươi năm. Người làm họ đau có khi đã quên từ lâu, còn họ ngày nào cũng sống với vết thương. Tha thứ không có nghĩa là nói điều sai thành đúng, cũng không có nghĩa là quay lại một mối quan hệ độc hại như chưa từng có chuyện gì. Tha thứ là đặt xuống một tảng đá mình đã vác quá lâu. Là trả quyền phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa. Là không để một người từng làm đau mình tiếp tục điều khiển những năm tháng còn lại của đời mình. Và nhiều khi, tha thứ chẳng cần một cuộc gặp lớn lao. Chỉ cần trong lòng mình có thể nhắc tên người ấy mà không còn muốn trả đũa. Chỉ cần ta cầu được một lời bình an cho họ. Chỉ cần ta thôi kể đi kể lại lỗi của họ để nuôi vết thương của mình. Đó đã là một con đường dài của chữa lành.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là chết, mà là đến lúc sắp chết mới nhận ra mình đã sống sai điều quan trọng. Một người nằm trên giường bệnh có lẽ ít nghĩ đến chuyện chiếc xe của mình đời nào, căn nhà bao nhiêu mét vuông, tài khoản còn bao nhiêu tiền. Họ thường muốn nhìn thấy người thân. Muốn nắm một bàn tay. Muốn nghe một giọng nói quen. Muốn sửa lại một điều đã làm người khác tổn thương. Muốn nói một lời cảm ơn. Muốn được tha thứ. Muốn biết những người mình yêu rồi sẽ ổn. Cuối đời, trái tim tự biết lọc bỏ những điều không quan trọng. Điều còn lại thường chỉ là các mối tương quan. Ta đã yêu ai? Ai đã yêu ta? Có ai vì ta mà cuộc đời tốt đẹp hơn không? Có ai nhớ đến ta bằng lòng biết ơn không? Có ai khi nhắc tên ta thì thấy ấm áp chứ không phải thấy đau?
Nếu vậy, tại sao không sống từ hôm nay bằng những điều mà đến cuối đời ta sẽ thấy là quan trọng? Tại sao phải đợi bệnh mới biết sức khỏe quý? Tại sao phải đợi mất nhau mới biết sự hiện diện quý? Tại sao phải đến đám tang mới nói hết lời tốt đẹp về một người? Khi người ấy sống, sao ta không nói? Có những người cả đời chẳng được nghe một lời khen từ chính người nhà, đến khi chết thì người ta đứng trước quan tài kể bao điều tốt đẹp. Nghe mà xót. Giá mà những lời ấy được nói sớm hơn vài năm. Giá mà người nằm trong quan tài đã từng nghe: “Cha là người cha tốt.” “Mẹ đã hy sinh cho chúng con nhiều lắm.” “Anh đã làm cho gia đình này ấm áp.” “Em cảm ơn chị.” “Tôi quý bạn.” Những lời ấy đâu tốn tiền. Nhưng lạ thay, con người lại thường tiết kiệm chính những thứ miễn phí nhất: lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời động viên, lời yêu thương.
Ta cũng cần học cách yêu những người đang ở bên mình bằng sự hiện diện thật sự. Thời đại này con người ở gần nhau nhưng tâm trí lại ở rất xa. Một gia đình ngồi cùng bàn nhưng mỗi người nhìn một màn hình. Một đôi vợ chồng bên nhau nhưng mỗi người ở trong một thế giới riêng. Cha mẹ muốn nói chuyện, con cái bảo bận. Con cái muốn kể chuyện, cha mẹ lại đang xem điện thoại. Chúng ta có thể trả lời người ở cách nửa vòng trái đất trong vài giây nhưng lại nhiều ngày không hỏi người đang ngủ phòng bên cạnh một câu: “Con có ổn không?” Có khi điều người thân cần chẳng phải tiền bạc, chẳng phải món quà đắt tiền, mà chỉ cần ta nghe họ bằng một trái tim không vội. Một người già cần có người ngồi cạnh. Một đứa trẻ cần ánh mắt cha mẹ khi nó kể chuyện ở trường. Người vợ cần chồng nghe nỗi buồn mà không lập tức giảng giải. Người chồng cần một nơi được yếu đuối mà không bị khinh thường. Tình yêu trưởng thành không phải lúc nào cũng biết giải quyết vấn đề; nhiều khi chỉ là biết ở lại.
“Ở lại” là một từ rất đẹp. Ở lại với một người khi họ không còn vui vẻ như trước. Ở lại khi bệnh tật làm họ thay đổi. Ở lại khi họ thất bại. Ở lại khi họ chẳng còn gì khiến thế gian ngưỡng mộ. Có rất nhiều người đến trong ngày vui nhưng ít người ở trong ngày tối. Có nhiều người yêu một khuôn mặt đẹp, một vị trí tốt, một sự thành công, nhưng tình yêu thật chỉ hiện ra khi những thứ ấy mất đi. Khi người kia già đi. Khi họ bệnh. Khi họ thất nghiệp. Khi họ sa sút. Khi họ chẳng còn mang lại lợi ích gì cho ta. Lúc ấy mới biết tình yêu là gì. Chúa Giêsu cũng đã yêu con người theo cách ấy: không phải chỉ yêu khi con người tốt, mà yêu ngay trong yếu đuối và tội lỗi của họ. Người không đứng xa phán xét nhưng bước vào thân phận con người, ngồi cùng bàn với những người bị khinh chê, chạm đến những kẻ bị loại trừ, khóc trước mộ người bạn, cúi xuống rửa chân cho môn đệ, và trên thập giá vẫn còn nói lời tha thứ. Kitô giáo nếu không đưa ta đến chỗ biết yêu như thế thì đức tin của ta vẫn còn ở bên ngoài trái tim.
Cuối đời, điều còn lại không phải là ta được bao nhiêu người biết đến mà là ta đã thực sự biết yêu những người được gửi đến đời mình hay chưa. Một linh mục có thể giảng rất nhiều bài, làm rất nhiều việc, được nhiều người quý mến, nhưng điều Thiên Chúa hỏi có lẽ vẫn là: con đã yêu chưa? Một người cha có thể xây được căn nhà lớn nhưng nếu con cái sợ về nhà thì căn nhà ấy có nghĩa gì? Một người mẹ có thể lo cho con đủ thứ nhưng nếu chưa bao giờ ôm con và nói “mẹ hiểu con”, có lẽ vẫn còn một khoảng trống. Một người thành công có thể làm chủ nhiều thứ nhưng nếu không làm chủ được nóng giận, ích kỷ, kiêu căng của mình thì vẫn còn nghèo. Đời sống thiêng liêng rốt cuộc không đo bằng những gì người ta thấy bên ngoài mà bằng khả năng yêu thương. Thánh Phaolô đã nói rất mạnh: nếu nói được các thứ tiếng, nếu có ơn hiểu biết, nếu có đức tin chuyển núi dời non, nếu đem hết tài sản bố thí, mà không có đức mến thì cũng chẳng là gì. Những lời ấy nghe qua tưởng quen nhưng càng sống lâu càng thấy thật. Cuối cùng, trước mặt Chúa, có lẽ mọi lớp áo danh dự đều rơi xuống, chỉ còn câu hỏi đơn sơ: trong những năm tháng được sống, con đã đối xử với người khác thế nào?
Có những người rời khỏi cuộc đời này nhưng tình yêu họ để lại đủ sưởi ấm một gia đình nhiều thế hệ. Ta vẫn gặp những bà mẹ đã qua đời từ lâu nhưng con cháu mỗi lần tụ họp đều kể về bà với ánh mắt sáng lên. Người ta nhớ bà không phải vì bà có gì lớn lao, mà vì ngày ấy ai đến nhà cũng được bà mời bát cơm, đứa cháu nào buồn cũng được bà ôm, ai sai bà cũng trách nhưng rồi vẫn thương. Có những người cha nghèo chẳng để lại tài sản đáng kể, nhưng để lại cho con cái sự ngay thẳng. Nhiều năm sau, giữa lúc có cơ hội kiếm tiền bằng gian dối, người con lại nhớ câu cha từng nói và quyết định sống cho tử tế. Đó là gia tài. Một căn nhà có thể bán, tiền có thể hết, đất có thể chia, nhưng một nhân cách được truyền bằng yêu thương thì còn đi rất xa.
Ngược lại, cũng có những gia đình có rất nhiều tài sản mà con cái không ngồi được với nhau một bữa cơm. Di sản vật chất lớn nhưng di sản tình thương quá nhỏ. Cha mẹ mất đi, anh em đưa nhau ra tòa. Những gì người đi trước dành cả đời tích lũy bỗng trở thành nguyên nhân làm con cháu xa nhau. Nếu người nằm dưới mộ biết được, có lẽ họ đau lắm. Vì thế, người khôn ngoan không chỉ để lại cho con cái “có cái mà sống”, mà còn dạy chúng “biết sống với nhau”. Hãy để lại một gia đình trong đó người ta biết nhường nhau, biết nhớ tình hơn nhớ của, biết coi anh em quý hơn tiền bạc. Đó mới là di chúc đẹp nhất.
Đời sống thật sự ngắn. Mấy chục năm nghe thì dài, nhưng quay lại chỉ như một cái chớp mắt. Mới ngày nào còn chạy chân đất ngoài sân, đã thấy cha mẹ già. Mới ngày nào đi học, đã thấy con mình trưởng thành. Mới ngày nào tóc còn xanh, một sáng nhìn gương đã thấy bạc. Thời gian không ồn ào. Nó cứ lặng lẽ lấy đi từng ngày. Ta không cảm thấy một ngày trôi qua đáng kể, nhưng hàng ngàn ngày đi qua thì cả đời người đã khác. Và chính vì thời gian lặng lẽ nên ta dễ quên quý nó. Ta cứ hẹn. Hẹn một ngày rảnh sẽ về thăm. Hẹn khi công việc ổn sẽ dành thời gian cho gia đình. Hẹn lúc bớt bận sẽ cầu nguyện nhiều hơn. Hẹn khi nguôi giận sẽ làm hòa. Nhưng đời không ký với ta một hợp đồng nào rằng ta chắc chắn có ngày mai.
Nếu hôm nay còn có người để thương, đó đã là một ân huệ. Nếu sáng nay còn nghe tiếng cha mẹ, hãy biết đó là điều nhiều người sẵn sàng đổi rất nhiều thứ để được nghe lại một lần. Nếu còn người bạn đời nằm bên cạnh, dù hai người có những điều chưa hiểu nhau, hãy nhớ có người đang đi về một căn nhà trống và ước gì còn một người để giận rồi lại làm hòa. Nếu con cái còn ở trong nhà, hãy tận hưởng tiếng ồn của chúng, bởi một ngày căn nhà sẽ im khi chúng lớn và đi xa. Nếu còn anh chị em, hãy giữ lấy nhau. Cha mẹ rồi sẽ mất, và đến một lúc nào đó, anh chị em là những người hiếm hoi còn nhớ cùng một tuổi thơ với mình. Đừng để tiền bạc, tự ái hay lời người ngoài làm đứt một mối dây mà khi mất rồi chẳng thể mua lại.
Và nếu hôm nay lòng ta đang có một người cần tha thứ, hãy cầu xin Chúa cho mình đủ can đảm bắt đầu. Không nhất thiết phải giải quyết tất cả trong một ngày. Có những tổn thương cần thời gian. Nhưng ít nhất, đừng nuôi thêm hận. Nếu ta là người sai, đừng đợi người kia lên tiếng. Một lời “tôi xin lỗi” không làm ta thấp đi. Trái lại, chỉ người đủ mạnh mới dám nhận lỗi. Nếu ta yêu ai, hãy nói. Nếu biết ơn ai, hãy nói. Nếu nhớ ai, hãy gọi. Nếu lâu rồi chưa về nhà, hãy về. Bởi một ngày, ta có thể có tất cả thời gian trên đời để muốn nói nhưng người cần nghe lại không còn nữa.
Có người hỏi: sống thế nào để khi chết không hối tiếc? Có lẽ chẳng ai có thể sống hoàn toàn không hối tiếc, vì con người luôn bất toàn. Nhưng ta có thể giảm đi rất nhiều những chữ “giá như” bằng cách sống tử tế hơn từ hôm nay. Đừng để đến ngày người thân mất mới tự trách: giá như mình dịu dàng hơn. Giá như mình bớt bận. Giá như mình chịu nghe. Giá như hôm ấy mình đừng nói câu đó. Giá như mình về sớm hơn. Giá như mình chịu làm hòa. Hai chữ “giá như” thường nặng nhất khi đứng trước một quan tài. Vì ở đó người ta hiểu mọi cơ hội đã hết. Vậy hãy biến “giá như” của ngày mai thành “may mà” của hôm nay: may mà mình đã kịp về thăm. May mà đã nói lời cảm ơn. May mà đã xin lỗi. May mà đã ôm nhau. May mà lần cuối gặp nhau không phải trong giận dữ.
Người có đức tin còn được mời gọi nhìn sâu hơn. Cái chết không phải là dấu chấm hết, nhưng là cánh cửa đi vào sự sống khác trong Thiên Chúa. Tuy nhiên, chính niềm tin vào sự sống đời sau lại càng thôi thúc ta sống tốt đời này. Vì ta sẽ phải trả lời trước Đấng đã ban cho ta từng con người trên hành trình: ta đã yêu họ ra sao? Trong dụ ngôn phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu không hỏi những điều quá xa vời. Người nói đến đói và cho ăn, khát và cho uống, khách lạ và tiếp đón, trần truồng và cho mặc, đau yếu và thăm viếng. Nghĩa là tình yêu được đo bằng những việc rất cụ thể. Ta có thể nói về Chúa rất nhiều nhưng nếu người sống bên cạnh ta chẳng cảm nhận được chút lòng thương nào, có lẽ cần xem lại. Thiên Chúa không cần những lời yêu mến được nói thật lớn bằng một trái tim lạnh với anh em.
Rồi ngày cuối cùng của mỗi người cũng đến. Có thể đó là một buổi sáng rất bình thường. Có thể chẳng ai kịp chuẩn bị. Có thể ta ra đi giữa người thân hoặc chỉ một mình. Nhưng chắc chắn một điều: tất cả những gì ta từng nắm sẽ phải buông. Khi ấy, điều đẹp nhất có lẽ là được ra đi với một trái tim bình an, không giữ thù hận, không mang theo một lời xin lỗi chưa nói, không đau đáu vì đã bỏ quên người mình yêu. Và với những người ở lại, điều quý nhất là nhớ về ta mà không bị cắn rứt bởi một mối quan hệ dang dở. Họ có thể khóc vì nhớ nhưng trong nước mắt vẫn có bình an: “May mà khi còn sống chúng tôi đã thương nhau.” Câu đó đẹp biết bao.
Đừng chờ một dịp thật đặc biệt để yêu thương. Hôm nay chính là dịp. Bữa cơm tối nay là dịp. Cuộc điện thoại chiều nay là dịp. Một cái nhìn dịu dàng là dịp. Một lần nhường nhau là dịp. Một lời cảm ơn là dịp. Một phút ngồi cạnh người già là dịp. Một lần nghe con trẻ nói hết câu là dịp. Một lần chịu thua trong cuộc tranh luận để giữ bình an là dịp. Một lời cầu nguyện cho người làm mình tổn thương cũng là dịp. Đời sống được xây nên không phải chủ yếu bằng vài khoảnh khắc lớn, mà bằng hàng ngàn lựa chọn nhỏ như thế.
Ta không biết mình còn bao nhiêu năm, nhưng ta có thể quyết định những năm còn lại sẽ được sống thế nào. Ta không thể giữ người thân ở lại mãi, nhưng có thể yêu họ thật đầy khi họ còn ở đây. Ta không thể ngăn thời gian lấy đi tuổi trẻ, nhưng có thể khiến tuổi già của mình không đầy tiếc nuối. Ta không thể kiểm soát ngày mình phải ra đi, nhưng có thể chuẩn bị cho ngày ấy bằng một trái tim nhẹ. Và có lẽ sự chuẩn bị đẹp nhất cho cái chết không phải là nghĩ về cái chết thật nhiều, mà là yêu thật nhiều khi còn sống.
Đến cuối cùng, căn nhà rồi cũng có người khác ở. Tiền bạc sẽ sang tay. Tên tuổi sẽ mờ dần. Những tấm hình rồi cũng cũ. Có thể vài thế hệ sau, chẳng ai còn nhớ chính xác khuôn mặt ta. Nhưng tình yêu có một cách tồn tại kỳ lạ. Một người con từng được cha yêu thương sẽ dễ biết yêu con mình. Một đứa trẻ từng được mẹ tha thứ sẽ học cách bao dung. Một người từng được ai đó giúp lúc khốn khó có thể mang lòng biết ơn ấy đi giúp một người khác. Như vậy, tình yêu truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, như một ngọn lửa được chuyền tay mà người châm ngọn lửa đầu tiên có khi đã đi xa từ lâu. Đó là cách con người ở lại với cuộc đời dù thân xác đã khuất.
Vậy nên, đừng hỏi mình đã tích lũy được bao nhiêu trước khi hỏi mình đã trao đi được bao nhiêu. Đừng hỏi có bao nhiêu người nể mình trước khi hỏi có bao nhiêu người được bình an khi ở cạnh mình. Đừng chỉ lo đời này mình phải thành công ra sao, mà hãy nghĩ nếu mai mình không còn, người thân sẽ nhớ gì về mình. Một khuôn mặt luôn căng thẳng? Một người chỉ biết công việc? Một người hay quát mắng? Hay họ sẽ nhớ một người dù nhiều thiếu sót nhưng luôn thương họ, biết xin lỗi khi sai, biết ôm khi họ buồn, biết ở cạnh khi họ cần?
Có lẽ chẳng cần một cuộc đời hoàn hảo. Chỉ cần một cuộc đời đủ chân thành để người khác cảm thấy mình đã được yêu. Chẳng cần làm được chuyện gì vang dội. Chỉ cần đừng đi qua đời nhau như những người xa lạ. Chẳng cần ai dựng tượng nhớ mình. Chỉ cần trong trái tim một vài người có một góc ấm mỗi khi nhắc đến tên mình đã là phúc lớn. Và nếu một ngày ta rời đi, mong rằng những người ở lại có thể khóc nhưng không ân hận, có thể nhớ nhưng không đau vì những điều chưa kịp nói, có thể nhìn lên trời mà thầm cảm ơn Chúa: cảm ơn vì đã cho chúng con một quãng đời được thương nhau.
Bởi rồi mọi thứ sẽ qua. Ngày vui qua. Ngày buồn cũng qua. Thành công qua. Thất bại qua. Tuổi trẻ qua. Sức khỏe qua. Những tiếng vỗ tay qua. Những lời chê trách cũng qua. Một đời người rồi cũng qua như cơn gió qua hiên nhà. Nhưng có một thứ, nếu đã được gieo thật lòng, sẽ ở lại rất lâu sau khi ta đi: tình yêu.
Và có lẽ, đến cuối đời, điều quan trọng nhất không phải là ta đã sống được bao nhiêu năm, mà là trong những năm tháng ấy, ta đã yêu được bao nhiêu. Không phải ta đã giữ được bao nhiêu người bên mình, mà là khi còn có nhau, ta đã đối xử với nhau thế nào. Không phải ta đã nói bao nhiêu lời hay, mà là đã có bao nhiêu lời đủ dịu để chữa lành. Không phải ta tránh được mọi chia ly, bởi chia ly là điều không ai tránh khỏi, mà là trước lúc chia ly, ta đã kịp thương nhau chưa.
Xin hãy thương khi còn có thể. Xin hãy bao dung khi còn cơ hội. Xin hãy ngồi xuống với nhau trước khi một chiếc ghế trở thành vĩnh viễn trống không. Xin hãy nói những lời cần nói trước khi một người chỉ còn hiện diện trong tấm ảnh trên bàn thờ. Xin hãy ôm nhau trước khi đôi tay chỉ còn biết chắp lại trong lời cầu nguyện. Xin hãy sống sao để nếu hôm nay là lần cuối gặp một người, điều cuối cùng giữa ta và họ không phải là một ánh mắt lạnh, một câu nói đau, một sự im lặng đầy tự ái, mà là một điều gì đó đủ ấm để cả hai có thể mang theo.
Bởi đời người, rốt cuộc, chẳng dài như ta nghĩ. Và khi mọi thứ đã dừng lại, tình yêu là điều duy nhất khiến một người dù đã đi rất xa vẫn như còn ngồi đâu đó trong căn nhà cũ, còn hiện diện trong cách ta sống, còn ấm trong ký ức của những người ở lại.
Rồi cuối cùng, chỉ có tình yêu ở lại.
Lm. Anmai, CSsR
SAU MỌI CUỘC CHIA XA, ĐIỀU CÒN LẠI LÀ TÌNH YÊU
Có lẽ phải đi qua một đoạn đời đủ dài, phải chứng kiến đủ những cuộc gặp gỡ rồi chia xa, đủ những lần nắm tay rồi buông tay, đủ những tiếng cười từng vang trong căn nhà quen thuộc rồi một ngày chỉ còn lại sự im vắng, người ta mới hiểu rằng cuối cùng đời người thật ra chẳng giữ được bao nhiêu. Lúc còn trẻ, ta thường nghĩ cuộc đời phía trước còn dài lắm. Ta nghĩ còn nhiều ngày để yêu thương, còn nhiều dịp để nói một lời xin lỗi, còn nhiều cơ hội để về thăm cha mẹ, còn nhiều thời gian để ngồi lại với người thân, còn nhiều năm để sửa chữa những điều dang dở. Ta cứ sống như thể ngày mai chắc chắn sẽ đến, như thể những người mình thương sẽ mãi còn đó, như thể cánh cửa căn nhà quen thuộc lúc nào cũng mở, như thể chiếc ghế của cha vẫn còn nơi góc phòng, tiếng mẹ vẫn còn vọng lên từ gian bếp, người bạn đời vẫn còn ngồi đó chờ ta sau một ngày tất bật, anh chị em rồi cũng sẽ gặp nhau trong một dịp khác. Nhưng cuộc đời chưa bao giờ hứa với ai điều ấy. Có những cuộc chia tay mà khi bước ra khỏi cửa, ta đâu biết đó là lần cuối. Có những cái ôm tưởng như bình thường nhưng rồi trở thành cái ôm sau cùng. Có những bữa cơm ta ăn vội, lòng còn bận nghĩ chuyện làm ăn, để rồi nhiều năm sau chỉ ao ước được một lần ngồi lại nơi chiếc bàn cũ, nghe một tiếng gọi thân quen mà không thể nào có lại. Đời người kỳ lạ lắm. Khi còn nhau, ta thường nhìn thấy những điều chưa vừa ý. Khi mất nhau rồi, ta lại chỉ nhớ những điều đáng thương. Khi còn ở bên nhau, một câu nói vụng về cũng đủ làm ta giận vài ngày. Đến khi một người đi xa thật rồi, ta lại sẵn lòng đánh đổi rất nhiều chỉ để nghe lại giọng nói ấy thêm một lần, dù người ấy có nói điều gì đi nữa. Bởi vậy, sau cùng, bài học lớn nhất mà thời gian dạy con người không phải là cách làm sao để có thật nhiều, mà là làm sao biết trân trọng những gì mình đang có trước khi tất cả trở thành kỷ niệm.
Con người có thể dành gần cả đời để tích góp. Tích góp tiền bạc, nhà cửa, đất đai, danh vọng, địa vị, thành tích, bằng cấp, những mối quan hệ mà mình cho là quan trọng. Ta cẩn thận tính toán từng khoản tiền, cân nhắc từng cơ hội, lo sợ mình thua người khác một bước, sợ nhà mình nhỏ hơn, xe mình cũ hơn, chức vụ mình thấp hơn, tên tuổi mình ít được nhắc đến hơn. Bao nhiêu ngày tháng của đời người bị cuốn vào những cuộc so đo chẳng bao giờ có điểm dừng. Có một rồi lại muốn hai. Được khen rồi lại muốn được khen nhiều hơn. Có một chỗ đứng rồi lại lo người khác vượt qua mình. Thế nhưng đến một lúc nào đó, khi tuổi già ghé đến, khi thân xác bắt đầu mỏi mệt, khi đôi chân không còn đi nhanh như trước, khi mắt đã mờ, tai đã lãng, khi một người nằm yên trong căn phòng bệnh và nghe tiếng máy móc đều đều bên cạnh, những điều từng khiến ta thao thức cả đêm bỗng nhỏ bé lạ thường. Lúc ấy người ta ít hỏi mình có bao nhiêu tiền trong tài khoản, mà chỉ mong có một bàn tay nắm lấy tay mình. Người ta không còn thiết tha người đời gọi mình bằng danh xưng nào, mà chỉ mong nghe một tiếng “ba ơi”, “mẹ ơi”, “anh ơi”, “em ơi” thật gần. Người ta không còn nhớ mình đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng có khi lại ray rứt vì một người mình từng làm tổn thương mà chưa kịp xin lỗi. Người ta không còn cần căn nhà rộng đến đâu, bởi cuối cùng thân xác cũng chỉ cần một chỗ rất nhỏ để nằm xuống. Những thứ từng làm cho ta ngẩng cao đầu trước thiên hạ sẽ ở lại hết. Cái ta mang đi chẳng phải giấy tờ sở hữu, chẳng phải số tiền đã kiếm được, chẳng phải những tràng pháo tay, cũng chẳng phải những bức ảnh từng khiến người khác trầm trồ. Điều đi theo một con người sâu nhất, và cũng là điều ở lại trong lòng người khác lâu nhất, chính là cách người ấy đã sống và đã yêu thương.
Có những người rời khỏi thế gian đã lâu, vậy mà mỗi khi nhắc đến, người nhà vẫn thấy lòng mình ấm lại. Người ấy có thể chẳng giàu có, chẳng làm được chuyện gì vang dội, chẳng được báo chí nhắc tên, nhưng trong ký ức của con cháu, người ấy là một người cha luôn để dành phần ngon cho con; là người mẹ đêm nào cũng chờ con về mới chịu đi ngủ; là người chồng vụng về chẳng nói được những lời hoa mỹ nhưng chưa bao giờ bỏ vợ một mình giữa những ngày khốn khó; là người vợ suốt đời âm thầm vá lại những đổ vỡ của gia đình bằng sự nhẫn nại; là người anh biết nhường; là người chị biết thương; là người bạn đã ở lại khi mọi người khác quay lưng. Những con người ấy ra đi, nhưng họ không hoàn toàn biến mất. Họ sống trong cách những người còn lại đối xử với nhau. Một người mẹ hiền qua đời nhưng lòng nhân hậu của bà tiếp tục sống nơi những đứa con biết thương người nghèo. Một người cha ngay thẳng không còn nữa nhưng sự tử tế của ông vẫn âm thầm dẫn đường cho con cháu. Một người đã từng tha thứ cho ta có thể không còn trên đời, nhưng chính ký ức về sự bao dung ấy khiến ta biết tha thứ cho người khác. Đó là một thứ gia tài không ai đem bán được, cũng chẳng ai cướp mất được. Tiền bạc chia ra rồi sẽ vơi. Nhà cửa rồi cũng sang tên. Vật dụng cũ dần. Nhưng tình yêu chân thành một người để lại có thể đi qua nhiều thế hệ. Có khi người đã khuất không để lại cho con cháu bao nhiêu tài sản, nhưng để lại một mái nhà mà anh em còn biết thương nhau, một nếp sống mà người trẻ còn biết kính trên nhường dưới, một lời nhắc mà nhiều năm sau con cháu vẫn nhớ: “Sống sao cho có tình có nghĩa.” Gia tài ấy mới thật sự lớn.
Khổ một nỗi là con người thường hiểu giá trị của nhau quá muộn. Ta dễ dàng tử tế với người ngoài nhưng lại cộc cằn với người nhà, bởi trong lòng ta ngầm nghĩ người nhà rồi cũng sẽ hiểu. Ta có thể dành hàng giờ trò chuyện với khách nhưng chỉ đáp cha mẹ vài câu vội vàng. Ta vui vẻ với đồng nghiệp suốt ngày rồi mang vẻ mặt mỏi mệt về trao cho vợ con. Ta sẵn lòng nhắn một lời chúc sinh nhật thật đẹp cho người quen nhưng nhiều khi quên hỏi người thân bên cạnh: “Hôm nay em có mệt không?”, “Ba khỏe không?”, “Mẹ có cần gì không?” Ta thường dành phần tốt đẹp nhất của mình cho thế giới bên ngoài, rồi đem phần còn lại, phần mệt mỏi, nóng nảy, cáu gắt, về cho những người yêu mình nhất. Đó là nghịch lý buồn của rất nhiều gia đình. Bởi người thân không đòi hỏi, nên ta tưởng họ không cần. Bởi họ luôn tha thứ, nên ta nghĩ mình có thể làm họ tổn thương thêm một lần nữa. Bởi họ vẫn ở đó, nên ta tưởng họ sẽ ở đó mãi. Nhưng không ai ở mãi. Một ngày nào đó, căn nhà quen thuộc có thể vẫn nguyên như cũ mà một người đã vắng. Chén cơm vẫn đặt trên bàn, chiếc giường vẫn ở đó, đôi dép cũ vẫn nằm nơi góc cửa, nhưng người từng mang đôi dép ấy không còn bước về nữa. Lúc đó ta mới thấy có những lời muốn nói mà chẳng còn ai nghe, có những món quà muốn mua mà chẳng còn ai nhận, có những bữa cơm muốn mời mà người ấy chẳng còn ngồi xuống. Những chữ “giá như” bắt đầu xuất hiện. Giá như ngày ấy mình bớt nóng. Giá như hôm đó mình chịu ngồi lại nghe cha nói thêm vài phút. Giá như mình đừng vì một câu chuyện nhỏ mà giận mẹ lâu đến thế. Giá như mình biết nhường người bạn đời một chút. Giá như mình chịu gọi điện. Giá như mình về sớm hơn. Giá như mình ôm người ấy lâu thêm một chút. Nhưng cuộc đời đau ở chỗ chữ “giá như” thường đến sau chữ “muộn rồi”.
Thế nên, khi còn có thể, xin hãy yêu thương nhau cho đàng hoàng. Đừng đợi đến lúc người mình thương nằm xuống mới nói rằng người ấy quý giá với mình biết bao. Đừng đợi khi cha mẹ yếu rồi mới nhận ra bao năm họ đã hy sinh. Đừng đợi mái tóc của mẹ bạc hết mới nhớ thuở nào mẹ từng trẻ, từng có ước mơ, từng hy sinh cả tuổi thanh xuân để nuôi mình. Đừng đợi lưng cha còng rồi mới hiểu sau dáng lưng ấy là cả một đời gánh gồng. Đừng đợi người bạn đời mỏi mệt quay lưng mới nhận ra những năm tháng họ đã nhẫn nhịn. Đừng đợi một người bạn biến mất khỏi cuộc đời mới nhớ rằng đã từng có một người hiểu mình mà không cần mình giải thích quá nhiều. Đừng để những người mình yêu chỉ biết mình thương họ qua vòng hoa ngày tang lễ, qua bài điếu văn, qua những giọt nước mắt đến sau cùng. Hoa đẹp nhất là hoa trao khi người ta còn nhìn thấy. Lời yêu thương quý nhất là lời được nói khi người ta còn nghe được. Cái nắm tay ấm nhất là cái nắm tay khi người ta còn cảm nhận được. Một bữa cơm đơn sơ còn có mặt nhau quý hơn rất nhiều mâm cỗ linh đình khi một người đã vắng. Một cuộc gọi năm phút hôm nay có khi quý hơn hàng ngàn lời tiếc nuối của ngày mai.
Yêu thương không nhất thiết phải là điều gì lớn. Nhiều khi cả đời người được nâng đỡ chỉ bằng những chuyện nhỏ. Là một câu hỏi: “Hôm nay có ổn không?” Là biết rót cho nhau ly nước. Là đợi nhau về ăn cơm. Là nhắn một dòng rằng “đến nơi nhớ báo”. Là lúc giận vẫn biết giữ lời để không làm nhau đau thêm. Là khi người kia lỡ sai thì không bới lại những lỗi cũ. Là thấy cha mẹ kể lại một câu chuyện đã nghe mười lần nhưng vẫn kiên nhẫn nghe lần thứ mười một. Là biết người già đôi khi nói nhiều không phải vì họ muốn làm phiền, mà vì thế giới của họ ngày càng ít người để chuyện trò. Là hiểu một đứa trẻ nhiều lúc chẳng cần thêm món đồ chơi mà cần cha mẹ cất điện thoại xuống và nhìn vào mắt nó. Là biết người vợ có khi không cần chồng giải quyết mọi vấn đề, chỉ cần chồng chịu ngồi nghe. Là hiểu người chồng đôi khi không nói mệt nhưng cũng cần một nơi được yếu lòng mà không bị phán xét. Là giữa anh chị em, có chuyện chẳng đáng bao nhiêu thì nhường nhau một chút để giữ tình thân. Là với một người từng làm mình buồn, nếu có thể tha thì tha, bởi đời quá ngắn để ôm một cục đá trong lòng suốt mấy chục năm. Đôi khi chúng ta cứ đợi những dịp trọng đại mới yêu thương, trong khi cuộc đời thật sự lại được xây bằng những điều rất bình thường như thế.
Có người hỏi: “Nếu yêu thương mà người khác không đáp lại thì sao?” Thì ít ra lòng mình đã không mắc nợ. Có những tình yêu không được hiểu, có những hy sinh chẳng ai biết, có những lần ta nhường mà người kia không nhận ra, có những sự tử tế bị xem là đương nhiên. Nhưng điều đó không làm tình yêu trở nên vô nghĩa. Một việc tốt không mất giá chỉ vì không được cảm ơn. Một sự tha thứ không nhỏ đi vì người kia chưa kịp thay đổi. Một lời tử tế vẫn là lời tử tế ngay cả khi người nhận nó không biết trân trọng. Bởi cuối cùng, yêu thương trước hết nói lên mình là ai. Ta không tử tế để được ghi công; ta tử tế vì ta không muốn trái tim mình trở thành khô cằn. Ta không tha thứ vì người khác luôn xứng đáng; có những lúc ta tha vì chính mình cần được tự do khỏi món nợ của oán giận. Ta không về thăm cha mẹ chỉ vì cha mẹ yêu cầu; ta về vì biết một ngày nào đó con đường về nhà vẫn còn mà người đứng chờ trước cửa có thể không còn nữa.
Cuộc đời vốn là một chuỗi những lần chia tay. Đứa trẻ chia tay tuổi thơ. Người trẻ chia tay những ngày vô tư. Con cái trưởng thành rời mái nhà. Bạn bè mỗi người đi một hướng. Cha mẹ già đi. Con cái lớn lên. Có người gặp nhau chỉ một đoạn rồi xa. Có người đồng hành với ta mấy mươi năm rồi cũng đến lúc phải buông tay. Không có cuộc gặp nào trên trần gian kéo dài mãi mãi. Chính vì hữu hạn nên từng phút giây ở bên nhau mới quý. Nếu mọi người đều bất tử, có lẽ chẳng ai vội nói lời yêu thương. Nếu ngày mai được bảo đảm, có lẽ ta còn trì hoãn rất nhiều. Nhưng bởi không ai biết một cái hẹn nào là cái hẹn cuối, nên sống đẹp với nhau hôm nay không phải chuyện lãng mạn mà là một sự khôn ngoan. Người khôn ngoan không phải là người tính được hết lợi hại, mà đôi khi là người biết điều gì rồi sẽ không thể mua lại. Thời gian với cha mẹ không mua lại được. Tuổi thơ của con không mua lại được. Sức khỏe của một người không mua lại được. Một người đã đi xa không gọi về được. Một lời nói làm đau người khác có thể xin lỗi, nhưng không phải lúc nào cũng xóa được vết sẹo. Vì thế, mỗi ngày còn thức dậy và còn có người để yêu thương đã là một đặc ân.
Rồi một ngày chính ta cũng sẽ rời khỏi cuộc đời. Có thể ngày đó rất xa, cũng có thể gần hơn ta tưởng. Khi ấy, điều ta mong người khác nhớ về mình là gì? Một căn nhà đẹp chăng? Một chức vụ cao chăng? Một tài khoản lớn chăng? Hay ta mong con cái nói: “Ba tôi sống rất thương người.” Mong người bạn đời có thể nhớ: “Suốt những năm bên nhau, người ấy đã không bỏ tôi trong lúc khó nhất.” Mong bạn bè nói: “Có lúc tôi cùng đường, người ấy đã chìa tay.” Mong một người xa lạ nào đó vẫn nhớ: “Ngày ấy khi mọi người coi thường tôi, người ấy đã đối xử với tôi như một con người.” Một đời sống được nhớ bằng tình thương là một đời sống không uổng. Có những người ra đi mà để lại nhiều tài sản nhưng con cái tranh giành, anh em không nhìn mặt nhau. Có người chẳng để lại bao nhiêu tiền nhưng để lại một gia đình biết thương nhau. Theo lẽ đời, người thứ nhất có vẻ giàu hơn. Nhưng trước chiều sâu của phận người, chưa chắc.
Đức tin lại cho chúng ta một ánh sáng sâu hơn nữa: tình yêu không chỉ là điều đẹp nhất còn lại sau một cuộc đời; tình yêu còn là điều làm cho đời người có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Thánh Phaolô từng nói rất mạnh rằng dù con người có nói được các thứ tiếng, có hiểu biết nhiều điều, có đức tin chuyển núi, có phân phát hết gia tài, mà không có đức mến thì cũng chẳng là gì. Cuối cùng, Thiên Chúa không hỏi chúng ta đã nổi tiếng đến đâu, nhưng có lẽ Ngài sẽ hỏi ta đã làm gì cho người bé nhỏ bên cạnh. Ta đã sống thế nào với người già yếu? Đã đối xử ra sao với người làm ta phiền? Đã có biết cho người đói một miếng ăn, cho người cô đơn một sự hiện diện, cho người lầm lỗi một cơ hội hay không? Đạo không chỉ nằm trong những lời kinh đọc thật nhiều, nếu sau giờ kinh ta vẫn làm đau người sống chung nhà. Đạo không chỉ nằm ở việc biết nhiều điều về Thiên Chúa, nếu trái tim ta ngày càng khó gần và lạnh lẽo. Một người có thể nói những điều rất cao siêu về tình yêu nhưng điều đáng tin nhất vẫn là cách họ cư xử với người yếu thế, với người không mang lại lợi ích gì cho họ, với người thân trong những lúc không ai nhìn thấy.
Chúa Giêsu đã không để lại cho các môn đệ vàng bạc. Người để lại một giới răn: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Và Người không chỉ nói. Người quỳ xuống rửa chân. Người chạm vào người phong cùi. Người dừng lại trước tiếng kêu của người mù. Người bênh vực kẻ bị khinh miệt. Người ăn cùng những người bị xem là tội lỗi. Người tha thứ ngay cả khi đang bị đóng đinh. Nghĩa là tình yêu Kitô giáo không phải một thứ cảm xúc êm ái. Nó có đôi tay. Nó biết cúi xuống. Nó biết chịu thiệt. Nó biết ở lại. Nó biết tha. Và nhiều lúc nó phải trả giá. Nếu ta muốn để lại điều gì sau đời mình, hãy để lại một chút dấu vết của kiểu yêu thương ấy.
Có khi điều đau nhất của một cuộc chia xa không phải vì người kia ra đi, mà vì ta biết mình đã có cơ hội yêu họ tốt hơn nhưng đã bỏ lỡ. Vì vậy, ngày hôm nay, nếu còn ai đó mình đang giận chỉ vì một chuyện không đáng, hãy nghĩ xem chuyện ấy có đáng để đổi lấy vài năm không nhìn mặt nhau hay không. Nếu có một cuộc điện thoại nên gọi, hãy gọi. Nếu có một người mình cần xin lỗi, đừng chờ lòng tự ái biến thành một bức tường. Nếu cha mẹ còn, hãy về khi còn có thể. Không cần đợi Tết, không cần đợi lễ, không cần đợi có quà thật lớn. Về chỉ để ngồi đó cũng được. Nếu người bạn đời còn bên cạnh, hãy biết ơn sự hiện diện ấy. Đừng coi một người đã cùng mình đi qua bao mưa nắng như một món đồ quen thuộc trong nhà. Nếu con cái còn bé, hãy chơi với chúng. Rồi chúng sẽ lớn rất nhanh. Sẽ có ngày căn nhà yên tĩnh như ta từng mong, nhưng chính lúc ấy ta lại nhớ tiếng chúng cười đùa. Nếu có người từng giúp mình, hãy nói cảm ơn khi họ còn nghe. Nếu có một người mình thương, hãy nói cho họ biết. Đừng mắc cỡ với những điều tốt đẹp. Một đời người ngắn hơn ta tưởng rất nhiều.
Rồi những tranh chấp hôm nay, nghĩ cho cùng, cũng sẽ thành vô nghĩa. Mảnh đất từng làm anh em từ nhau, vài chục năm nữa thuộc về ai? Số tiền từng làm vợ chồng bất hòa, khi một người nằm xuống còn nghĩa gì? Câu nói ta nhất quyết phải thắng, sau một đám tang còn ai nhớ? Có những gia đình mất nhau chỉ vì một chuyện rất nhỏ nhưng lòng tự ái quá lớn. Mấy chục năm không nhìn mặt, tới khi nghe tin người kia mất mới lặng người. Cầm nén nhang đứng trước di ảnh, bao lời trách móc ngày xưa tự nhiên tan hết. Lúc ấy mới thấy người mình từng giận đến vậy chẳng qua cũng là một kiếp người mong manh. Giá như ta thấy sự mong manh ấy sớm hơn, có lẽ ta đã hiền với nhau hơn.
Sau mọi cuộc chia xa, người ở lại không nhớ chúng ta đã dùng chiếc điện thoại gì, mặc quần áo hiệu nào, đi chiếc xe nào. Họ nhớ một bữa cơm. Nhớ một câu nói. Nhớ cái cách ta từng gọi tên họ. Nhớ bàn tay đặt lên vai lúc họ thất vọng. Nhớ một lần ta chịu đứng về phía họ khi cả thế giới quay lưng. Nhớ món ăn ta từng nấu. Nhớ tiếng ho vào đêm khuya. Nhớ cả những điều rất vụn vặt mà khi người còn sống chẳng ai cho là quan trọng. Đời người được kết thành từ những điều nhỏ như thế. Và tình yêu cũng thường giấu mình trong những điều nhỏ như thế.
Có lẽ đến cuối cùng, thành công đẹp nhất của đời người không phải là đứng cao hơn bao nhiêu người, mà là khi mình ra đi vẫn có những trái tim cảm thấy đời họ đã tốt hơn vì từng gặp mình. Không cần hàng ngàn người nhớ. Chỉ cần những người gần mình nhất có thể nhớ về mình mà không phải mang quá nhiều vết thương. Chỉ cần con cái không phải chữa lành suốt đời vì những lời của cha mẹ. Chỉ cần người bạn đời khi nhìn lại không thấy những năm tháng ấy chỉ toàn cô đơn dù sống cạnh một người. Chỉ cần cha mẹ lúc tuổi già cảm thấy mình không bị bỏ quên. Chỉ cần những người yếu thế từng gặp ta cảm thấy họ được tôn trọng. Chỉ cần thế thôi, có lẽ một đời đã đáng.
Và rồi, khi phải buông tay thật sự, ta cũng có thể ra đi nhẹ hơn nếu biết rằng mình đã yêu khi còn có thể. Ta đã nói những điều cần nói. Đã xin lỗi khi cần xin lỗi. Đã tha khi còn có thể tha. Đã về nhà khi người nhà còn đợi. Đã ngồi cạnh người đau khi họ cần. Đã không vì bận bịu mà quên mất những gương mặt quan trọng. Dĩ nhiên chẳng ai yêu hoàn hảo. Ai cũng có những thiếu sót, những lúc nóng nảy, những ngày ích kỷ. Nhưng điều quan trọng là khi còn thời gian, ta biết sửa. Hạnh phúc không thuộc về những người chưa từng làm ai tổn thương, bởi gần như chẳng có người như thế; hạnh phúc thuộc về những ai biết nhận ra, biết quay lại, biết nói “tôi sai”, biết ôm lấy nhau trước khi quá muộn.
Cuối cùng, sau mọi cuộc chia xa, điều còn lại không phải là vật chất, cũng không phải những điều lớn lao. Cuối cùng, thứ còn lại chỉ là cách chúng ta đã yêu thương nhau khi còn có thể. Là ta đã từng ngồi xuống bên nhau hay cứ mãi chạy theo cuộc đời. Là ta đã từng chịu nghe nhau hay chỉ muốn người kia nghe mình. Là ta đã từng tha thứ hay nhất định mang theo nỗi giận đến tận cuối đường. Là ta đã từng để một người cảm thấy họ có giá trị hay đã khiến họ đau vì sự lạnh lùng của mình. Là ta đã sống đủ chậm để nhìn thấy những người bên cạnh hay không.
Đời rồi sẽ khép. Một ngày căn phòng mình từng ở sẽ thuộc về người khác. Chiếc áo mình từng thích sẽ cũ đi. Những vật mình từng nâng niu sẽ nằm đâu đó mà chẳng còn ai biết câu chuyện đằng sau chúng. Tên mình có thể được nhắc một thời gian rồi thưa dần. Hình mình có thể còn trên bàn thờ, rồi thế hệ sau cũng chỉ biết qua lời kể. Nhưng một điều có thể đi rất xa: tình yêu mình đã gieo. Một đứa trẻ từng được yêu sẽ biết yêu con của nó. Một người từng được tha thứ sẽ biết mở lòng với người khác. Một gia đình từng được một người hy sinh gìn giữ có thể tiếp tục giữ lấy nhau qua nhiều thế hệ. Tình yêu có một sức sống lạ lùng như thế. Người gieo hạt có thể đã đi, nhưng cái cây vẫn lớn.
Vậy nên, nếu hôm nay còn có một người để thương, xin đừng tiếc tình thương. Nếu còn một người để gọi, hãy gọi. Nếu còn một mái nhà để về, hãy về. Nếu còn một bữa cơm có thể ăn chung, đừng vì chiếc điện thoại mà bỏ qua ánh mắt của nhau. Nếu còn một lời xin lỗi đang mắc nơi cổ họng, hãy nói. Nếu còn một cái ôm chưa trao, hãy trao. Nếu còn cha mẹ, xin đừng để công việc trở thành lý do cho tất cả những lần vắng mặt. Nếu còn con cái, xin đừng chỉ để lại cho chúng tiền; hãy để lại cho chúng ký ức rằng mình đã được yêu. Nếu còn người bạn đời, đừng chỉ sống cạnh nhau; hãy sống với nhau. Nếu còn một người đang đau, hãy ở cạnh họ. Nhiều khi ta không cần nói gì cả. Sự hiện diện đã là một cách yêu.
Và nếu hôm nay trong lòng ta vẫn còn vết thương từ một cuộc chia xa đã xảy ra, hãy thử nhớ người ấy bằng những điều đẹp. Có thể vẫn còn điều chưa nói, vẫn còn nỗi tiếc, vẫn còn một câu “giá như”. Ta không thể quay lại để sửa ngày hôm qua, nhưng ta có thể để những tiếc nuối ấy dạy mình yêu những người còn lại tốt hơn hôm nay. Đó cũng là cách biến đau thương thành ân phúc. Người đã ra đi không trở về, nhưng tình yêu ta từng dành cho họ có thể làm lòng ta mềm hơn. Và nếu tin vào Thiên Chúa, ta còn có một niềm hy vọng rằng chia xa không phải lời cuối cùng. Trong Chúa, sự chết không xóa tình yêu; nó chỉ tạm thời ngăn một cuộc gặp gỡ. Những người đã yêu nhau trong Chúa rồi sẽ có một ngày được gặp lại trong một quê hương không còn nước mắt, không còn bệnh tật, không còn tiếng “vĩnh biệt”.
Cho nên, sống hôm nay sao cho mai này khi phải chia xa, điều còn lại giữa những người thương không phải là oán trách mà là biết ơn. Không phải “sao ngày ấy anh đã…” mà là “cảm ơn vì anh từng ở đây”. Không phải “giá như mẹ thương con hơn” mà là “con biết đời mẹ đã vì con rất nhiều”. Không phải một đống tài sản chia nhau, mà là một gia đình vẫn ngồi được với nhau sau tang lễ. Không phải một tấm bia thật lớn, mà là một ký ức hiền lành trong lòng những người còn sống.
Bởi rốt cuộc, đời người chẳng cần quá nhiều điều để được gọi là một đời đẹp. Được sinh ra, được yêu và biết yêu. Được đi qua cuộc đời mà không làm trái tim mình hóa đá. Được gặp những người đáng quý và biết rằng họ đáng quý trước khi họ rời đi. Được nói “cảm ơn”, “xin lỗi”, “tôi thương bạn”, “tôi nhớ bạn”, “về nhà nhé” khi vẫn còn kịp. Được cúi xuống khi có thể thắng, được tha khi có thể giận, được cho khi có thể giữ, được ở lại khi người khác cần mình. Đó là những điều chẳng có tiếng vỗ tay nào, nhưng có thể làm một đời người trở nên thật sự giàu có.
Mai này, mọi tiếng ồn rồi sẽ lắng. Những bước chân từng vội vã rồi cũng dừng. Những cuộc hơn thua sẽ chẳng còn ai phân xử. Bàn tay từng cố giữ rất nhiều rồi cũng phải buông hết. Và trong khoảnh khắc cuối của một kiếp người, có lẽ ta sẽ hiểu trọn vẹn điều mà hôm nay đôi khi ta còn quên: mình đến thế gian với đôi tay trắng, rồi cũng trở về với đôi tay trắng. Khoảng giữa hai bàn tay trắng ấy, điều duy nhất làm đời sống có ý nghĩa chính là những gì ta đã trao cho nhau bằng tình thương.
Xin đừng đợi đến cuối đời mới học điều ấy.
Hãy yêu nhau khi còn có thể.
Hãy thương nhau khi còn kịp.
Bởi một ngày nào đó, sau tất cả những cuộc gặp gỡ và chia xa, sau những mùa vui buồn của kiếp người, sau tất cả điều từng tưởng là rất quan trọng, thứ ở lại sâu nhất trong lòng người vẫn chỉ là một câu rất đơn sơ: ngày ấy, chúng ta đã thật lòng yêu thương nhau.
Lm. Anmai, CSsR
ƠN GỌI LÀ SÁNG KIẾN CỦA THIÊN CHÚA, CÒN ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT LỜI ĐÁP
Có một điều mà càng sống lâu trong đời dâng hiến, người ta càng thấy phải nói lại với chính mình thật nhiều lần: ơn gọi không bắt đầu từ con người, ơn gọi bắt đầu từ Thiên Chúa. Không phải một ngày đẹp trời nào đó ta bỗng dưng thấy đời tu thi vị, thấy chiếc áo dòng đẹp, thấy bàn thờ lung linh, thấy đời linh mục cao quý rồi tự mình quyết định chọn lấy một con đường khác với mọi người. Nếu ơn gọi chỉ bắt đầu từ một cảm xúc như thế, thì có lẽ khi cảm xúc qua đi, ơn gọi cũng sẽ qua đi. Nếu ơn gọi chỉ bắt đầu từ một ước mơ của tuổi trẻ, thì đến lúc tuổi trẻ không còn, giấc mơ ấy cũng rất dễ bạc màu. Nếu ơn gọi chỉ bắt đầu từ sự ngưỡng mộ một linh mục, một tu sĩ, một cộng đoàn nào đó, thì khi con người mình từng ngưỡng mộ lộ ra những giới hạn rất người, ta có thể thất vọng đến mức không còn muốn bước tiếp. Nhưng ơn gọi thật không bắt đầu ở những điều ấy. Ơn gọi bắt đầu từ một ánh mắt của Thiên Chúa đặt trên một con người. Ơn gọi bắt đầu từ một tiếng gọi đôi khi rất nhẹ, nhẹ đến nỗi người ngoài không nghe được, và nhiều khi chính người được gọi cũng phải mất cả một quãng đời mới nhận ra. Ơn gọi là sáng kiến của Thiên Chúa. Ngài gọi ai, gọi lúc nào, gọi bằng cách nào, đó là tự do của Ngài. Người này được gọi giữa một gia đình đạo đức, người kia lại được gọi từ một quá khứ nhiều chông chênh; người này nghe tiếng gọi khi còn rất trẻ, người kia mãi đến những năm tháng trưởng thành mới bỗng thấy lòng mình không thể bình an nếu cứ tiếp tục sống như cũ. Có người đến với đời tu bằng niềm vui rất trong trẻo, có người bước vào trong nước mắt, có người phải chiến đấu với gia đình, có người phải chiến đấu với chính mình. Nhưng phía sau muôn vàn ngả đường ấy vẫn chỉ có một Đấng khởi sự: Thiên Chúa.
Thế nên, khi nói rằng ơn gọi thánh hiến là sáng kiến đến từ Thiên Chúa, chúng ta không nói một câu thần học cho hay, càng không nói một khẩu hiệu để treo trong nhà tập, chủng viện hay hành lang tu viện. Ta đang chạm đến một sự thật nền tảng của cả đời mình. Chính sự thật ấy quyết định cách ta sống, cách ta chịu đựng, cách ta trung thành, và cả cách ta đi qua những lúc khô khan nhất của đời dâng hiến. Nếu tôi nghĩ ơn gọi này là do tôi chọn, thì một ngày kia tôi cũng có thể nghĩ tôi có quyền bỏ khi nó không còn hợp với tôi. Nếu tôi nghĩ đời tu là công trình của tôi, thì tôi sẽ dễ tự hào khi thành công và cay đắng khi thất bại. Nếu tôi nghĩ tôi bước vào đây vì mình giỏi, mình đạo đức, mình xứng đáng hơn người khác, thì rất sớm thôi tôi sẽ trở thành một người khó sống, khó gần và khó được Chúa dùng. Nhưng nếu tôi biết từ đầu rằng: “Tôi ở đây vì có Một Đấng đã gọi tôi trước khi tôi kịp hiểu hết chính mình”, thì mọi sự sẽ khác. Tôi sẽ nhìn ơn gọi bằng lòng biết ơn hơn là tự mãn. Tôi sẽ nhìn những thử thách bằng sự tín thác hơn là than trách. Tôi sẽ nhìn anh em mình bằng lòng cảm thông hơn là phán xét, bởi tôi biết rằng chẳng ai trong chúng ta tự phong mình thành người được chọn. Tất cả chỉ là những con người đã được gọi, được thương và được giữ lại trong một mầu nhiệm lớn hơn rất nhiều so với những gì mình hiểu.
Nhưng rồi từ đó nảy sinh một câu hỏi rất thật: Nếu ơn gọi đến từ Thiên Chúa, nếu Ngài là Đấng khởi sự, vậy con người còn làm gì? Nếu tất cả đã là sáng kiến của Ngài, phải chăng người được gọi chỉ cần ngồi đó chờ Thiên Chúa làm mọi sự? Không. Chính ở đây ta chạm vào nét đẹp và cũng là nỗi nghiêm trọng của ơn gọi: Thiên Chúa gọi, nhưng Ngài không ép. Thiên Chúa mở đường, nhưng Ngài không đi thay đôi chân ta. Thiên Chúa gieo hạt, nhưng Ngài trao cho ta trách nhiệm vun xới mảnh đất đời mình. Thiên Chúa ban ơn, nhưng Ngài không biến con người thành một cỗ máy mất tự do. Ngài tôn trọng tự do đến mức có thể đứng trước cửa lòng ta mà chờ đợi. Ngài có thể gọi một người cả đời, nhưng người ấy vẫn có khả năng nói “không”. Ngài có thể trao cho một con người những cơ hội rất lớn, nhưng nếu người ấy sống cẩu thả, kiêu ngạo, thiếu cầu nguyện, thiếu kỷ luật, thiếu lòng trung tín, thì ân ban lớn lao ấy vẫn có thể bị phung phí. Ơn gọi là quà tặng, nhưng cách sống ơn gọi là trách nhiệm. Ơn gọi là hạt giống, nhưng để hạt giống sinh hoa trái, người nhận phải chấp nhận chết đi nhiều lần. Ơn gọi là một tiếng gọi, nhưng cả đời người chính là câu trả lời.
Con người có thể làm gì với ơn gọi? Có thể nói một cách rất đơn sơ: hoặc làm cho nó lớn lên, hoặc làm cho nó cằn cỗi; hoặc để nó trở thành con đường nên thánh, hoặc biến nó thành một danh phận trống rỗng. Cùng là một đời tu, có người càng sống càng hiền, càng khiêm nhường, càng dễ thương, càng có Chúa; nhưng cũng có người càng sống lâu càng cứng, càng khó gần, càng nhiều tự ái, càng khép kín. Cùng chịu chức linh mục, có người sau hai mươi năm vẫn còn run lòng trước một người nghèo, vẫn còn xúc động khi nâng Mình Thánh Chúa, vẫn còn biết xin lỗi một người nhỏ bé; nhưng cũng có người sau vài năm đã quen với bàn thờ đến mức không còn biết mình đang đứng trước mầu nhiệm nào, quen với lời khen đến mức tưởng mọi sự mình làm đều đúng, quen với quyền bính đến mức không còn nghe được tiếng khóc của người khác. Chức thánh vẫn đó, ơn gọi vẫn đó, ân sủng Thiên Chúa vẫn không thiếu, nhưng con người đã đối xử với ân ban ấy thế nào? Đó là câu hỏi không ai trả lời thay được.
Có lẽ điều đau đớn nhất không phải là một người không có nhiều khả năng, mà là một người có ơn gọi nhưng không chịu để ơn gọi biến đổi mình. Thiên Chúa không đòi ai cũng phải giảng hay, viết giỏi, tổ chức tài tình, làm được những công trình khiến thiên hạ trầm trồ. Nhưng Ngài mong người được gọi mỗi ngày trở nên giống Đức Kitô hơn một chút. Một chút thôi, nhưng thật. Hôm nay bớt nóng hơn hôm qua. Hôm nay biết lắng nghe hơn hôm qua. Hôm nay bớt tự ái hơn hôm qua. Hôm nay cầu nguyện chân thành hơn hôm qua. Hôm nay biết nhận lỗi nhanh hơn hôm qua. Hôm nay bớt tìm mình trong những việc mình làm. Nếu sau nhiều năm khấn dòng hay chịu chức mà con người không trở nên nhân hậu hơn, thì phải can đảm hỏi lại: tôi đã làm gì với ơn gọi Chúa trao? Nếu tri thức tăng lên mà lòng thương người giảm xuống, phải hỏi. Nếu chức vụ lớn lên mà khả năng cúi xuống nhỏ đi, phải hỏi. Nếu người ngoài ngày càng kính nể mà anh em sống gần ngày càng sợ mình, càng xa mình, càng khó nói thật với mình, thì lại càng phải hỏi.
Thiên Chúa ban ơn gọi, còn ta phải bảo vệ nó bằng một đời sống nội tâm. Đây là điều không thể thay thế. Một người có thể bận rất nhiều việc của Chúa mà dần dần lại xa chính Chúa. Một linh mục có thể nói về cầu nguyện cả ngày nhưng bản thân không còn cầu nguyện thật. Một tu sĩ có thể tham dự đủ giờ kinh mà lòng trí đã khô cằn từ lâu. Một người có thể sống giữa cộng đoàn nhưng bên trong là một hòn đảo cô độc. Vì thế, điều đầu tiên con người phải làm với ơn gọi là trở về với Đấng đã gọi mình. Không phải chỉ trở về lúc khủng hoảng, mà mỗi ngày. Có những ngày chẳng có cảm xúc gì cũng phải trở về. Có những hôm mệt đến mức chỉ ngồi trước Nhà Tạm mà không biết nói gì, cũng cứ ngồi đó. Có những lúc chẳng thấy Chúa đâu, cũng vẫn ở lại. Chính sự ở lại ấy giữ cho ơn gọi không trở thành một nghề nghiệp tôn giáo. Đời thánh hiến sẽ chết rất nhanh nếu người dâng hiến chỉ còn “làm việc cho Chúa” nhưng không còn “ở với Chúa”. Bởi nguồn của ơn gọi không phải công việc, nguồn của ơn gọi là tương quan. Chúa Giêsu gọi các môn đệ trước hết “để các ông ở với Người”, rồi mới sai các ông đi. Trật tự đó không bao giờ được đảo ngược.
Con người cũng phải làm cho ơn gọi trưởng thành bằng cách chấp nhận được đào luyện. Có một tuổi trẻ rất dễ thương nhưng cũng rất nguy hiểm: nghĩ rằng lòng nhiệt thành là đủ. Không đủ. Nhiệt thành mà không trưởng thành có thể làm đau người khác. Thiện chí mà thiếu khôn ngoan có thể gây ra những hậu quả rất lớn. Một người có lòng đạo đức nhưng không biết nhìn lại những vết thương của chính mình có thể vô tình dùng sứ vụ để bù đắp cho những thiếu hụt nội tâm. Có người thích được chú ý nhưng tưởng đó là nhiệt tình tông đồ. Có người thích kiểm soát nhưng gọi đó là trách nhiệm. Có người muốn người khác nghe mình nhưng nghĩ mình đang bảo vệ chân lý. Có người sợ bị bỏ rơi nên cố giữ người khác quanh mình rồi gọi đó là tình huynh đệ. Nếu không được đào luyện, nếu không có khả năng tự xét mình, nếu không để Chúa và anh em soi sáng, ta rất dễ lấy cái tôi bọc trong ngôn ngữ thiêng liêng. Vì thế, đào luyện nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ không phải chuyện phụ thêm vào ơn gọi; đó là cách ta cộng tác với ân sủng để ơn gọi được thanh luyện.
Và rồi con người phải làm một điều rất khó: phải biết chọn lại ơn gọi của mình mỗi ngày. Có những lựa chọn chỉ cần làm một lần, nhưng ơn gọi thì không. Ngày khấn dòng là một ngày, ngày chịu chức cũng chỉ là một ngày; còn sống lời khấn và sống chức thánh là chuyện của từng sáng thức dậy. Có những buổi sáng người tu sĩ phải chọn lại đời mình trong lúc lòng chẳng còn chút hứng khởi. Có những chiều linh mục phải chọn lại tiếng “xin vâng” khi vừa bị hiểu lầm, vừa mệt, vừa cô đơn. Có những tối phải chọn lại sự trung tín khi chung quanh mình có biết bao lối sống dễ dàng hơn. Một lời “xin vâng” lớn lao của ngày đầu sẽ không đủ cho cả đời nếu không được nuôi bằng hàng ngàn lời “xin vâng” rất nhỏ. Xin vâng khi phải bỏ ý riêng. Xin vâng khi được sai đến nơi mình không thích. Xin vâng khi bị sửa. Xin vâng khi phải làm một công việc chẳng ai biết đến. Xin vâng khi người khác được ghi nhận còn mình bị quên. Xin vâng khi sức khỏe yếu đi, tuổi tác tăng lên, khả năng giảm xuống và mình không còn ở vị trí từng có. Chính những tiếng xin vâng âm thầm ấy mới là nơi ơn gọi trở thành của lễ.
Trong ánh sáng đó, một câu nói của Đức Hồng y dành cho một thầy, một chủng sinh hay một người đang trên đường dâng hiến, nếu được đặt trong bối cảnh “ơn gọi là sáng kiến của Thiên Chúa”, thường không đơn thuần là một lời khích lệ xã giao. Nó có thể là một lời nhắc rất sâu rằng: đừng chiếm hữu ơn gọi như thể nó là thành tích của mình. Thầy được gọi không phải vì thầy hơn người. Thầy được chọn không phải để có một danh dự. Thầy được đưa vào một hành trình không phải để xây dựng hình ảnh của mình, nhưng để cho Chúa thực hiện điều Ngài muốn qua đời thầy. Và vì thế, điều quan trọng không phải là một ngày nào đó thầy sẽ giữ chức vụ gì, được sai đi đâu, được người ta biết đến thế nào, mà là thầy có trở nên đúng con người Chúa muốn hay không.
Một vị Hồng y, một Giám mục, một linh mục già khi nhìn một người trẻ bước vào hành trình ơn gọi thường nhìn bằng một ánh mắt khác với người ngoài. Người ngoài thấy tương lai. Người đã đi lâu lại thấy thập giá. Người ngoài thấy chiếc áo. Người đi trước biết phía sau chiếc áo ấy là bao đêm thao thức. Người ngoài thấy bàn tay đặt trên đầu ngày truyền chức. Người đi trước hiểu rằng từ ngày đó đôi tay ấy không còn hoàn toàn thuộc về mình nữa. Người ngoài thấy người ta gọi “thầy”, rồi mai này có thể gọi “cha”. Người đi trước biết rằng đằng sau tiếng gọi ấy là một đòi hỏi rất nặng: người này phải học làm người của mọi người, nhưng không được thuộc riêng về một ai; phải gần gũi nhưng không chiếm hữu; phải yêu thương mà vẫn tự do; phải mạnh mẽ mà không cứng cỏi; phải có lập trường mà không kiêu ngạo; phải biết nói mà cũng phải biết im; phải dẫn đường nhưng không được nghĩ mình là đường. Vì thế, một câu nói ngắn của một người đã đi qua nhiều năm tháng trong Giáo Hội đôi khi chứa cả một đời kinh nghiệm.
Có thể điều vị Hồng y muốn gửi gắm chính là thế này: “Thầy đừng quá lo mình có xứng hay không. Không ai thật sự xứng. Nhưng hãy lo mình có trung thành cộng tác với ơn Chúa hay không.” Bởi sự xứng đáng tuyệt đối không phải điều kiện để được gọi. Nếu Chúa chỉ gọi người hoàn hảo, Giáo Hội đã chẳng có Phêrô, một con người vừa mạnh miệng vừa yếu đuối, từng tuyên xưng rất đẹp rồi lại chối Thầy rất đau. Nếu Chúa chỉ gọi người không tì vết, Ngài đã chẳng gọi Phaolô từ một kẻ từng bách hại Hội Thánh. Điều Chúa cần không phải là một quá khứ không vết xước, nhưng một trái tim chịu để Ngài uốn nắn. Ơn gọi không phải phần thưởng cho người hoàn thiện; nhiều khi chính ơn gọi là con đường Chúa dùng để làm một con người trở nên hoàn thiện dần.
Điều đó cũng giúp người được gọi thoát khỏi hai cám dỗ trái ngược nhau. Một bên là tự phụ: “Tôi được chọn, vậy chắc tôi có gì hơn người.” Một bên là mặc cảm: “Tôi yếu đuối thế này, chắc Chúa gọi nhầm.” Cả hai đều đặt cái tôi ở trung tâm. Người tự phụ nhìn mình quá lớn, người mặc cảm nhìn mình quá nhiều. Còn người có đức tin thì nhìn Chúa. Chúa biết con người mình thế nào trước khi gọi. Chúa biết tính khí, quá khứ, gia đình, những giới hạn, cả những góc tối mình chưa biết về mình. Ngài không gọi một phiên bản tưởng tượng của ta. Ngài gọi chính con người thật này. Nhưng Ngài cũng không gọi để ta cứ đứng nguyên như vậy. Ngài gọi ta như ta đang là, rồi dẫn ta đến chỗ ta phải trở thành. Đó là vẻ đẹp của ân sủng.
Cho nên, nếu hỏi con người có thể làm gì với ơn gọi của Thiên Chúa, tôi nghĩ trước hết hãy đón nhận nó với lòng biết ơn, rồi giữ nó bằng cầu nguyện, thanh luyện nó bằng từ bỏ, làm cho nó trưởng thành bằng đào luyện, bảo vệ nó bằng kỷ luật, làm cho nó sinh hoa trái bằng phục vụ, và cuối cùng trao trả nó lại cho Thiên Chúa bằng một đời trung tín. Chẳng có ơn gọi nào được giữ bằng cảm xúc. Chẳng có đời thánh hiến nào bền chỉ nhờ những ngày vui. Khi gian nan đến, điều giữ người ta lại không còn là cảm giác “tôi thích đời này”, mà là xác tín: “Chúa đã gọi tôi, và tôi muốn ở lại với Người.” Có những lúc chỉ còn một sợi chỉ như thế để bám. Nhưng đôi khi chính sợi chỉ ấy lại đủ kéo một con người qua những vực sâu không ai biết.
Phải nói thêm rằng con người còn có thể làm một việc rất đau lòng với ơn gọi: biến ơn gọi thành sở hữu riêng. Khi ấy người ta bắt đầu dùng ân ban để xây dựng bản thân. Chức vụ trở thành thước đo giá trị. Thành công mục vụ trở thành nguồn nuôi cái tôi. Sự yêu mến của giáo dân trở thành thứ mình cần để thấy mình có nghĩa. Những lời khen trở thành một loại thuốc phải uống mỗi ngày. Khi không được khen thì buồn; khi người khác hơn mình thì khó chịu; khi bị góp ý thì phản ứng; khi bị đổi nhiệm sở thì cảm giác như bị tước mất một phần con người. Đó là lúc cần nhớ lại: đời này chưa bao giờ thuộc về mình. Ơn gọi đã là của Chúa từ đầu. Cộng đoàn là của Chúa. Giáo xứ là của Chúa. Người mình phục vụ là của Chúa. Khả năng mình có là của Chúa. Sức khỏe, thời gian, cơ hội, tất cả đều được trao tạm thời. Ngày nào Chúa muốn chuyển ta đi nơi khác, ta đi. Ngày nào tuổi tác khiến ta không còn làm được như trước, ta lui. Ngày nào một người trẻ làm tốt hơn ta, ta vui. Nói thì dễ, nhưng sống được như vậy là một cuộc thanh luyện kéo dài cả đời.
Có lẽ vì thế mà những người sống ơn gọi đẹp nhất thường không phải những người gây nhiều tiếng vang nhất, mà là những người càng sống càng nhẹ. Họ nhẹ vì không còn phải chứng minh mình. Họ dễ cười trước thành công của người khác. Họ không sợ người trẻ giỏi hơn. Họ không cần ai cũng biết những điều mình đã làm. Họ có thể lùi lại mà không cay đắng. Họ có thể bị quên mà vẫn bình an. Họ có thể phục vụ một việc rất nhỏ bằng cùng một tình yêu như khi làm việc lớn. Những con người ấy đã hiểu một điều: mình chỉ là người quản lý ơn gọi, chứ không phải chủ nhân của ơn gọi. Và người quản lý tốt không hỏi: “Việc này làm tôi nổi bật thế nào?”, mà hỏi: “Chủ muốn gì?”
Nếu một câu nói của Đức Hồng y khiến một thầy phải suy nghĩ về ơn gọi, có lẽ đó là điều rất quý. Bởi trên đường dâng hiến, đôi khi ta cần một người đi trước nói một câu đủ sức đánh thức ta khỏi những ảo tưởng. Người trẻ thường nghĩ nhiều đến ngày mai: ngày nào khấn, ngày nào chịu chức, sẽ đi đâu, làm gì. Người già trong ơn gọi lại thường hỏi một câu khác: “Mình sẽ là người thế nào sau ba mươi năm nữa?” Câu ấy đáng sợ hơn. Bởi chịu chức không khó bằng sống chức thánh cho đẹp. Khấn không khó bằng sống lời khấn đến cuối đời. Bước vào nhà dòng có thể chỉ cần một quyết định; còn để trở thành một người có Chúa lại là công trình của cả đời.
Có những người khởi đầu rất đẹp nhưng về sau mỏi mệt. Có người từng nhiệt thành nhưng dần dần chai cứng. Có người từng nghèo khó nhưng rồi quen tiện nghi. Có người từng rất dễ thương nhưng rồi quyền bính làm họ đổi khác. Điều đó không phải để ta bi quan, mà để ta tỉnh thức. Không ai miễn nhiễm với sự sa sút. Không ai có thể nói: “Tôi đã khấn rồi, đã chịu chức rồi, thế là xong.” Thật ra ngày chịu chức chỉ là khởi đầu. Ngày khấn trọn chỉ là một cánh cửa. Phía sau nó còn cả một con đường dài với bao cuộc chết đi mà chẳng có nghi thức nào, bao hy sinh không có hoa, bao lần phải làm lại từ đầu mà chẳng ai vỗ tay.
Ơn gọi cũng phải được gìn giữ bằng sự thật. Đừng bao giờ sống hai đời. Đừng để một khuôn mặt dành cho cộng đoàn và một khuôn mặt khác trong bóng tối. Đừng để người ta tưởng mình thánh thiện hơn sự thật. Cái nguy hiểm nhất không phải là có yếu đuối; ai cũng yếu. Cái nguy hiểm là che giấu yếu đuối đến mức không còn để ai giúp mình. Một người dám nói thật với Chúa, với linh hướng, với người có trách nhiệm, với chính mình vẫn còn hy vọng rất lớn. Còn người luôn xây một lớp vỏ hoàn hảo thì rất dễ cô độc trong chính lớp vỏ đó. Thiên Chúa gọi con người thật, nên Ngài cũng muốn ta sống thật trước mặt Ngài.
Và nếu một ngày nào đó người được gọi thấy mình mệt mỏi, xin đừng vội kết luận rằng ơn gọi đã mất. Mệt không có nghĩa là hết ơn gọi. Khô khan không có nghĩa là Chúa đã bỏ. Có lúc người ta chỉ cần nghỉ ngơi. Có lúc cần được lắng nghe. Có lúc phải can đảm đi gặp một người khôn ngoan. Có lúc phải khóc. Có lúc cần ngồi yên trước Nhà Tạm và thưa: “Con chẳng còn gì để nói nữa, nhưng con vẫn ở đây.” Chính câu “con vẫn ở đây” đôi khi là lời cầu nguyện đẹp nhất của đời dâng hiến. Trung tín không phải lúc nào cũng là bước những bước lớn. Có những mùa trung tín chỉ đơn giản là không bỏ đi.
Rồi sẽ đến một ngày, khi nhìn lại, ta mới hiểu rằng Chúa đã giữ mình bằng vô vàn cách. Một lời của bề trên. Một cái nhìn của người nghèo. Một lần bệnh nặng. Một thất bại. Một lần bị hiểu lầm. Một người anh em sửa mình. Một đoạn Kinh Thánh đọc đúng lúc. Một câu nói của Đức Hồng y tưởng chỉ thoáng qua nhưng lại nằm lại trong lòng nhiều năm. Thiên Chúa vẫn có cách chăm sóc ơn gọi Ngài đã gieo. Nhưng Ngài thường chăm sóc qua những điều rất người. Vì thế, đừng coi thường những lời nhắc nhở. Đừng khép lòng khi được sửa. Đừng vội chống chế khi một người đi trước nói điều khiến mình đau. Có những câu lúc nghe không thích, nhưng mười năm sau mới thấy đó là một ân huệ.
Ơn gọi là sáng kiến của Thiên Chúa, nhưng sự thánh thiện không xảy ra tự động. Thiên Chúa gọi Phêrô, nhưng Phêrô phải học khóc sau khi chối Thầy. Thiên Chúa gọi Phaolô, nhưng Phaolô phải để đời mình bị bẻ hướng hoàn toàn. Thiên Chúa gọi Abraham, nhưng ông phải ra đi. Thiên Chúa gọi Môsê, nhưng ông phải trở lại nơi từng chạy trốn. Thiên Chúa gọi Đức Maria, nhưng Mẹ phải thưa “xin vâng”, rồi mang lời xin vâng ấy qua Bêlem, Ai Cập, Nazareth, Cana và tận chân thập giá. Mọi ơn gọi đều bắt đầu bằng tiếng gọi của Chúa, nhưng mọi ơn gọi chỉ trở thành lịch sử cứu độ khi con người trả lời.
Vì thế, người được gọi đừng quá bận tâm mình sẽ trở thành một linh mục nổi tiếng hay một tu sĩ được nhiều người nhớ đến. Hãy bận tâm mình có trở thành một người trung tín hay không. Đừng quá lo người ta có công nhận mình không. Hãy lo ngày cuối cùng Chúa có thể nói: “Tốt lắm, hỡi người tôi tớ trung thành.” Đừng hỏi mình sẽ làm được bao nhiêu việc lớn. Hãy hỏi mình có yêu đủ trong những việc nhỏ hay chưa. Bởi cuối cùng, Thiên Chúa không cân đời ta bằng tiếng vỗ tay. Ngài nhìn vào tình yêu.
Và có lẽ ý nghĩa sâu nhất của lời vị Hồng y dành cho thầy nằm ở đây: Thầy không cần tạo ra ơn gọi của mình. Thầy chỉ cần đừng cản trở điều Thiên Chúa đang muốn làm trong đời thầy. Hãy để Ngài dẫn. Hãy để Ngài cắt tỉa. Hãy để Ngài sửa những gì lệch. Hãy để Ngài lấy đi những ảo tưởng. Hãy để Ngài dạy thầy yêu những người mình không dễ yêu, phục vụ những nơi mình không muốn đến, làm những việc mình không thích làm, và chấp nhận những ngày mình chẳng còn gì để khoe. Có khi chính lúc ấy ơn gọi mới đẹp nhất.
Một người được gọi không phải là một người sở hữu Thiên Chúa, mà là người để Thiên Chúa sở hữu mình. Không phải người luôn biết rõ đường, mà là người dám bước theo Đấng biết đường. Không phải người chẳng bao giờ sợ, nhưng là người dù sợ vẫn nói xin vâng. Không phải người không bao giờ vấp ngã, nhưng là người sau mỗi lần ngã lại để Chúa nâng dậy và bước tiếp. Không phải người không có giới hạn, nhưng là người biết dâng cả giới hạn cho Chúa sử dụng.
Đời người ngắn lắm. Đời dâng hiến lại càng không dài như ta tưởng. Một ngày kia những năm đào tạo sẽ trở thành ký ức. Những ngày còn gọi nhau là “thầy” rồi cũng qua. Chức vụ sẽ đến rồi đi. Nhiệm sở sẽ thay đổi. Người từng biết ta có thể không còn. Sức khỏe sẽ giảm. Những điều từng tưởng rất quan trọng sẽ bỗng hóa nhỏ bé. Đến lúc ấy, điều khiến một người bình an không phải là đã có bao nhiêu bằng cấp, đã xây được bao nhiêu công trình, đã giữ bao nhiêu chức vụ, nhưng là có thể thưa với Chúa: “Con đã cố gắng giữ điều Ngài trao. Con đã nhiều lần yếu đuối, nhiều lần sai, nhiều lần làm Ngài buồn, nhưng con đã không muốn bỏ Ngài. Con đã trở về. Con đã xin lại. Con đã đi tiếp.”
Ơn gọi từ Thiên Chúa mà đến, cuối cùng cũng phải trở về với Thiên Chúa. Giữa hai đầu ấy là cả một đời người. Một đời để trả lời. Một đời để học yêu. Một đời để bỏ mình. Một đời để cho ân sủng thắng dần cái tôi. Một đời để từ một người được gọi trở thành một người thuộc trọn về Đấng đã gọi mình.
Và có lẽ, chẳng cần mong gì hơn thế.
Lm. Anmai, CSsR
HÃY DÁM GIEO VÀO LÒNG CON MỘT ƯỚC MƠ DÂNG HIẾN
Có một điều tôi vẫn thường nghĩ đến mỗi khi nhìn những em nhỏ tung tăng trong sân nhà thờ, khi thấy các em chắp đôi tay bé nhỏ trước bàn thờ, khi nghe một em còn ngọng nghịu đọc kinh, khi thấy một chú giúp lễ lăng xăng bên cạnh cha chủ tế, hay một bé gái chăm chú nhìn các sơ trong bộ tu phục đơn sơ mà thanh thoát. Tôi tự hỏi: trong số những em nhỏ ấy, biết đâu có một em đang mang trong lòng một hạt giống mà chính Thiên Chúa đã âm thầm gieo xuống? Biết đâu một ngày nào đó, em bé đang nghịch ngợm chạy quanh sân nhà thờ hôm nay sẽ đứng trước bàn thờ mà thưa với Chúa một lời xin vâng trọn đời? Biết đâu cô bé đang nép bên mẹ trong Thánh lễ hôm nay, vài chục năm nữa sẽ trở thành một nữ tu âm thầm chăm sóc những người đau yếu, dạy dỗ trẻ nghèo, phục vụ người bị bỏ rơi hay quỳ hàng giờ trong nhà nguyện để cầu nguyện cho thế giới? Chúng ta không biết. Cha mẹ càng không biết. Nhưng Thiên Chúa biết. Và vì Thiên Chúa biết nên điều rất quan trọng là người lớn đừng vô tình làm chết một hạt giống mà chính Chúa đã gieo vào lòng trẻ nhỏ chỉ vì những toan tính rất người của mình.
Cha mẹ là những người gần gũi con nhất. Trước khi một linh mục dạy giáo lý cho đứa trẻ, trước khi một sơ nói với em về đời sống thánh hiến, trước khi một giáo lý viên kể cho em nghe câu chuyện về Samuel, về Đức Maria, về các Tông đồ hay về những vị thánh đã hiến dâng cuộc đời cho Chúa, thì chính cha mẹ đã là những người thầy đầu tiên của đức tin. Đứa trẻ học cầu nguyện trước hết không phải trong lớp giáo lý mà bên chiếc giường nhỏ của gia đình. Nó học làm dấu Thánh Giá khi bàn tay mẹ cầm lấy bàn tay bé bỏng của nó. Nó học gọi hai tiếng “Lạy Chúa” khi nghe cha mẹ cầu nguyện. Nó biết nhà thờ là nơi thánh thiêng khi thấy cha mẹ bước vào nhà thờ với thái độ kính cẩn. Nó biết Thánh lễ quan trọng khi thấy ngày Chúa nhật cả nhà dù bận đến đâu vẫn dành thời gian đến với Chúa. Nó biết linh mục đáng kính không phải vì ai giảng cho nó điều đó nhưng vì nó thấy cha mẹ kính trọng các linh mục. Nó biết đời tu đẹp hay không cũng phần lớn từ thái độ của cha mẹ trước những người đã dâng mình cho Chúa. Bởi vậy, có những hạt giống ơn gọi nảy mầm rất sớm, nhưng cũng có những hạt giống chưa kịp nhú lên đã bị chính những lời nói vô tình của người lớn phủ đất lên cho đến ngạt thở.
Ngày nay, điều khiến tôi suy nghĩ nhiều là rất nhiều cha mẹ Công giáo có thể nói với con hàng trăm lần về chuyện học hành, nghề nghiệp, tương lai, tiền bạc, địa vị, nhưng gần như chưa bao giờ nói với con một câu rất đơn giản rằng: “Nếu Chúa gọi con đi tu thì cha mẹ vui lắm.” Một đứa trẻ vừa học khá một chút, cha mẹ đã bảo: “Ráng học sau này làm bác sĩ.” Thấy con giỏi toán thì bảo: “Mai mốt làm kỹ sư.” Thấy con ăn nói lanh lợi thì mơ con trở thành luật sư, doanh nhân, người thành đạt. Không có gì sai trong những ước mơ ấy. Nghề nào lương thiện cũng đáng quý. Một bác sĩ tốt lành là một ân phúc cho xã hội. Một giáo viên tận tâm là một người gieo giống cao quý. Một kỹ sư, một công nhân, một người nông dân, một doanh nhân sống ngay thẳng đều có thể nên thánh trong chính nghề nghiệp của mình. Giáo Hội không bao giờ coi đời sống linh mục hay tu sĩ như con đường duy nhất cao quý, bởi mỗi ơn gọi đều có vẻ đẹp riêng của nó. Nhưng điều đáng nói là tại sao cha mẹ có thể dễ dàng đặt trước mặt con mình mười con đường của cuộc đời mà lại không dám đặt trước mặt con con đường dâng hiến? Tại sao chúng ta có thể vui khi con nói muốn trở thành bác sĩ, nhưng lại tái mặt khi một ngày con nói: “Con muốn đi tu”? Tại sao có những gia đình cầu nguyện tha thiết cho Giáo Hội có nhiều linh mục, nhiều tu sĩ, nhưng trong thâm tâm lại thêm một câu rất nhỏ mà không nói ra: “Xin Chúa gọi con nhà người ta, đừng gọi con nhà con”?
Chúng ta vẫn cầu: “Lạy Chúa, xin ban cho Giáo Hội nhiều ơn gọi.” Nhưng thử hỏi, Chúa sẽ gọi ai nếu không phải là những đứa con được sinh ra từ chính những gia đình Công giáo? Linh mục không từ trời rơi xuống. Tu sĩ không tự nhiên xuất hiện. Mỗi linh mục cũng từng là một đứa trẻ chạy chơi trong sân nhà, từng được mẹ đút cơm, từng được cha chở đi học, từng bệnh sốt khiến cả nhà lo lắng, từng nghịch ngợm, từng khóc, từng bị điểm kém, từng có những ước mơ rất trẻ con. Mỗi nữ tu cũng đã từng là một bé gái ngồi trong lòng mẹ, từng thích một món đồ chơi, từng có bạn bè, từng đi học, từng cười đùa như bao cô bé khác. Ơn gọi của Thiên Chúa không lấy con người ra khỏi một thế giới xa lạ nào đó. Chúa bước vào giữa một gia đình rất bình thường, nhìn một đứa trẻ rất bình thường, rồi âm thầm đặt vào lòng nó một tiếng gọi rất nhiệm mầu. Và Chúa chờ. Chúa chờ đứa trẻ lớn lên. Chúa chờ em nhận ra tiếng gọi. Chúa chờ em đủ tự do để đáp lại. Và đôi khi, Chúa cũng chờ cha mẹ đủ quảng đại để nói một câu: “Nếu đó là con đường Chúa muốn, cha mẹ xin trao con cho Chúa.”
Nói thì nghe nhẹ nhàng, nhưng tôi biết điều ấy không hề dễ. Làm cha mẹ, ai chẳng thương con. Mang nặng đẻ đau, nuôi con từ khi lọt lòng, đêm hôm thức trắng vì một cơn sốt của con, dành dụm từng đồng cho con ăn học, nhìn con lớn từng ngày, rồi một ngày nghe con bảo muốn rời gia đình để bước vào chủng viện hay nhà dòng, làm sao lòng cha mẹ không chùng xuống? Nhất là những gia đình ít con. Có cha mẹ nghĩ: “Tôi chỉ có một đứa con trai, nó đi tu rồi ai nối dõi?” Có người nghĩ: “Con gái tôi đi tu rồi sau này ai chăm tôi?” Có người sợ con khổ. Có người sợ con không chịu nổi đời sống kỷ luật. Có người sợ con vào rồi lại ra. Có người còn nghĩ thực tế hơn: “Nuôi nó ăn học bao nhiêu năm, giờ nó đi tu thì gia đình được gì?” Những suy nghĩ ấy rất người, rất thật, và không nên bị phê phán một cách dễ dàng. Nhưng người có đức tin được mời gọi bước xa hơn một chút. Bởi con cái không phải là tài sản của cha mẹ. Con cái là quà tặng Thiên Chúa ký thác cho cha mẹ một thời gian để yêu thương, giáo dục và giúp chúng nhận ra con đường mà Chúa muốn chúng đi.
Có lẽ một trong những bài học khó nhất của tình yêu cha mẹ là học cách yêu con mà không chiếm hữu con. Khi con còn bé, cha mẹ nắm tay con để con khỏi ngã. Nhưng rồi sẽ đến lúc phải buông tay để con bước đi. Khi con còn nhỏ, cha mẹ quyết định gần như mọi thứ thay con. Nhưng rồi sẽ đến lúc cha mẹ phải lùi lại để con tự lựa chọn cuộc đời mình. Tình yêu trưởng thành không phải là giữ một người mãi bên mình, mà là giúp người ấy trở thành con người mà Thiên Chúa muốn họ trở thành. Nếu Chúa gọi con mình vào đời sống gia đình, cha mẹ vui mừng chúc phúc. Nếu Chúa gọi con mình phục vụ xã hội bằng một nghề nghiệp, cha mẹ nâng đỡ. Vậy nếu Chúa gọi con bước theo Ngài trong đời sống linh mục hay thánh hiến, tại sao cha mẹ lại phải coi đó như một sự mất mát? Một gia đình dâng cho Chúa một người con không phải là mất một người con. Gia đình ấy có một người con theo một cách khác, sâu hơn, rộng hơn. Người con ấy từ nay không chỉ thuộc về gia đình nhỏ của mình mà còn thuộc về một gia đình lớn hơn là Hội Thánh và nhân loại.
Tôi đã gặp những bà mẹ ngày con chịu chức linh mục khóc rất nhiều. Có người vừa khóc vừa cười. Giọt nước mắt ấy thật khó gọi tên. Trong đó có hạnh phúc, có tự hào, có thương nhớ, có lo âu, có cả một chút đau vì biết từ đây người con mình yêu sẽ không còn thuộc riêng về mình nữa. Người ta mừng cha mới nhưng ít ai nghĩ đến người mẹ đứng phía sau. Mấy chục năm trước, chính bà đã bế đứa trẻ ấy đến giếng Rửa Tội. Bà đã dạy nó đọc kinh. Bà đã sửa áo cho nó trước khi đi lễ. Bà từng la nó vì ham chơi không chịu học. Bà từng ngồi chờ nó về khuya. Bà từng đau lòng khi nó vào chủng viện rồi ít có thời gian về nhà. Và rồi một ngày, bà quỳ xuống nhận phép lành đầu tay của chính đứa con mà bà đã sinh ra. Có giây phút nào diễn tả trọn được mầu nhiệm ấy không? Người mẹ đã cho con mình sự sống, nhưng giờ đây người con ấy lại đặt tay chúc lành cho mẹ nhân danh Thiên Chúa. Một vòng tròn của ân sủng đẹp đến nao lòng.
Cũng vậy, đằng sau nhiều nữ tu âm thầm phục vụ là bóng dáng một người cha, người mẹ đã can đảm để con mình ra đi. Có người con đi rất xa. Một năm về nhà được vài ngày. Cha mẹ già yếu, nhớ con nhưng không dám gọi nhiều vì sợ ảnh hưởng sứ vụ của con. Có bà mẹ nhớ con đến khóc nhưng vẫn nói với hàng xóm: “Nó đi phục vụ Chúa thì tôi vui.” Có ông bố ngày con gái khấn dòng không nói được câu nào, chỉ đứng nhìn thật lâu. Người đời có thể cho rằng những hy sinh ấy không hợp lý. Nhưng đức tin có thứ lý lẽ của riêng mình. Hạt lúa nếu cứ nằm trong kho thì vẫn nguyên vẹn, nhưng sẽ chẳng bao giờ sinh thêm hạt nào. Khi một gia đình dám đặt hạt lúa quý nhất của mình vào lòng đất của Thiên Chúa, họ không biết hạt ấy sẽ sinh hoa trái ở đâu, nhưng họ tin Đấng gọi con mình biết rõ Ngài đang làm gì.
Tuy nhiên, khuyến khích ơn gọi không có nghĩa là ép con đi tu. Điều này phải nói thật rõ. Ơn gọi là của Thiên Chúa, không phải dự án của cha mẹ. Có những cha mẹ ngày xưa vì quá đạo đức đã muốn nhất định phải có một đứa con làm linh mục hay nữ tu, rồi vô tình gây áp lực cho con. Điều ấy cũng không đúng. Không ai có thể đi tu thay cho cha mẹ. Không ai có thể sống đời độc thân thánh hiến chỉ vì muốn làm vui lòng gia đình. Một người bước vào đời tu vì ép buộc sẽ mang theo một gánh nặng rất lớn, và sớm muộn gánh nặng ấy cũng bộc lộ. Cha mẹ chỉ có thể vun xới, không thể tạo ra hạt giống. Cha mẹ có thể mở một cánh cửa, không thể đẩy con đi qua cánh cửa ấy. Cha mẹ có thể nói: “Con hãy nghĩ xem Chúa có gọi con không”, nhưng phải đồng thời cho con biết: “Dù Chúa gọi con vào con đường nào, cha mẹ cũng muốn con sống đúng ơn gọi ấy.” Đó mới là sự đồng hành trưởng thành.
Vun xới ơn gọi trước hết cũng không phải bằng những bài diễn văn cao siêu mà bằng bầu khí của một gia đình có Chúa. Một đứa trẻ rất khó nghĩ đến đời sống dâng hiến nếu trong gia đình người ta chỉ nhắc đến Chúa khi gặp chuyện chẳng lành. Một em nhỏ khó yêu mến Thánh lễ nếu mỗi Chúa nhật cha mẹ đi lễ với vẻ miễn cưỡng. Một thiếu niên khó trân trọng linh mục nếu trong bữa cơm cha mẹ thường xuyên đem các linh mục ra phê bình, chế giễu hoặc kể những câu chuyện tiêu cực. Một cô gái khó cảm thấy đời tu đẹp nếu người lớn cứ nói về các nữ tu như những người “không lấy được chồng nên đi tu”. Những câu nói tưởng đùa ấy có thể giết chết một hạt giống. Trẻ nhỏ nghe nhiều hơn người lớn tưởng. Chúng ghi nhớ những thái độ còn sâu hơn những lời giáo huấn. Nếu một gia đình muốn có đất tốt cho ơn gọi, hãy bắt đầu bằng việc làm cho Chúa trở thành một thành viên thật sự trong gia đình.
Hãy cầu nguyện với con. Không cần dài. Một kinh Lạy Cha trước khi ngủ. Một lời tạ ơn trước bữa ăn. Một phút thinh lặng khi gia đình có chuyện khó. Một lần cha mẹ đặt tay trên đầu con và nói: “Xin Chúa chúc lành cho con.” Những điều nhỏ ấy sẽ đi theo đứa trẻ rất lâu. Có khi năm mười tuổi nó chưa hiểu gì. Có khi mười tám tuổi nó nổi loạn, xa nhà thờ, chẳng muốn đọc kinh. Nhưng những ký ức thiêng liêng của tuổi thơ không dễ mất. Một ngày nào đó, khi cuộc đời làm nó đau, nó có thể nhớ lại tiếng mẹ đọc kinh trong đêm, nhớ bàn tay cha làm dấu Thánh Giá trên trán mình, và từ ký ức ấy, Thiên Chúa lại mở một con đường.
Hãy đưa con đến gần đời sống Giáo Hội. Cho con giúp lễ nếu con muốn. Khuyến khích con tham gia thiếu nhi Thánh Thể, ca đoàn, nhóm giới trẻ, sinh hoạt giáo xứ. Cho con gặp những linh mục sống vui, những tu sĩ sống đẹp, để con hiểu đời dâng hiến không phải là một cuộc đời xám xịt, buồn bã, khép kín. Trẻ con cần thấy những khuôn mặt cụ thể. Một bài giảng về ơn gọi có thể làm các em cảm động một ngày, nhưng một linh mục hiền lành, vui vẻ, tận tụy có thể để lại trong tâm hồn một em nhỏ dấu ấn cả đời. Một nữ tu cúi xuống chăm sóc một cụ già, bế một em bé khuyết tật, dạy học trong một vùng nghèo có khi gieo vào lòng một cô bé một câu hỏi rất sâu: “Sau này mình có thể sống như sơ ấy không?”
Và cha mẹ, xin đừng sợ nói với con về ơn gọi. Đừng biến câu chuyện ấy thành một điều cấm kỵ. Một ngày nào đó, khi đi lễ về, cha có thể hỏi con trai: “Con thấy làm linh mục thế nào?” Mẹ có thể hỏi con gái: “Con có bao giờ nghĩ nếu Chúa gọi con đi tu không?” Đừng hỏi với vẻ nghiêm trọng như đang ký một hợp đồng cuộc đời. Hãy hỏi nhẹ nhàng. Hãy để câu hỏi ấy nằm lại trong tâm hồn con. Có thể nó cười. Có thể nó nói “Không đời nào!” Cha mẹ cũng cứ cười. Không sao cả. Nhưng một câu hỏi đã được gieo xuống. Có những hạt giống ngủ rất lâu trong đất rồi mới nảy mầm.
Có em từ nhỏ đã thích đi tu. Có em đến đại học mới nghĩ đến. Có người đã đi làm, đã có một công việc tốt rồi mới nghe tiếng gọi. Có người từng yêu, từng tính chuyện lập gia đình nhưng rồi một biến cố nào đó làm họ nhận ra Chúa đang dẫn mình sang con đường khác. Thiên Chúa có thời gian của Ngài. Điều cha mẹ cần làm không phải là dự đoán tương lai của con mà là giữ cho tâm hồn con đủ tự do để nếu một ngày Chúa gọi, con có thể nghe thấy.
Tôi nghĩ một trong những bi kịch âm thầm của thời đại hôm nay là trẻ nhỏ được chuẩn bị rất kỹ để thành công nhưng rất ít được chuẩn bị để lắng nghe. Cha mẹ hỏi: “Sau này con muốn làm nghề gì?” nhưng ít ai hỏi: “Con nghĩ Chúa muốn con trở thành người thế nào?” Hai câu hỏi khác nhau rất nhiều. Câu thứ nhất đặt bản thân ở trung tâm: tôi muốn gì? Câu thứ hai mở ra một chiều kích lớn hơn: đời tôi được trao cho tôi để làm gì? Một nền giáo dục Kitô giáo không thể chỉ giúp trẻ kiếm một nghề tốt, mà phải giúp chúng nhận ra đời mình là một ơn gọi. Không phải tất cả đều được gọi làm linh mục hay tu sĩ, nhưng tất cả đều được gọi sống cho một ý nghĩa vượt quá chính mình.
Và xin các bậc cha mẹ cũng đừng chỉ nhìn đời tu qua những khó khăn. Đúng, linh mục có những cô đơn riêng. Tu sĩ có những hy sinh riêng. Đời sống cộng đoàn không phải thiên đường. Sứ vụ có lúc mệt mỏi. Có những hiểu lầm, những thất bại, những khủng hoảng, những ngày cầu nguyện khô khan. Nhưng thử hỏi đời sống nào không có thập giá? Hôn nhân không có thập giá sao? Nuôi con không có thập giá sao? Làm bác sĩ, giáo viên, doanh nhân, công nhân không có mệt mỏi sao? Nếu chỉ vì sợ con khổ mà ngăn con bước theo Chúa, thì có khi cha mẹ giữ con khỏi một loại khổ nhưng lại đẩy con vào một nỗi khổ sâu hơn: sống cả đời ngoài con đường mà Chúa đã gọi mình.
Hạnh phúc không nằm ở chỗ một đời sống không có khó khăn. Hạnh phúc nằm ở chỗ mình ở đúng nơi mình được gọi. Một người được gọi lập gia đình mà cố sống đời tu sẽ khổ. Một người được gọi sống đời dâng hiến mà vì sợ hãi hoặc vì áp lực gia đình bước vào hôn nhân cũng có thể mang một khoảng trống không dễ gọi tên suốt đời. Vì thế, yêu con không phải là chọn thay con một con đường ít đau nhất, mà là giúp con có đủ đức tin, tự do và trưởng thành để nhận ra con đường đúng nhất.
Có những bậc cha mẹ lo rằng đi tu rồi con sẽ không có tương lai. Tôi lại nghĩ khác. Nếu Chúa thật sự gọi một người và người ấy đáp lại với tất cả lòng chân thành, tương lai của người ấy nằm trong tay Đấng đã gọi họ. Không ai bảo đảm đời linh mục hay tu sĩ sẽ dễ dàng. Nhưng cũng chẳng ai bảo đảm một công việc lương cao sẽ làm con mình hạnh phúc. Tiền có thể giúp đời sống tiện nghi nhưng không thể mua ý nghĩa. Thành công có thể đem lại tiếng vỗ tay nhưng không nhất thiết đem lại bình an. Một người có thể đứng rất cao trong xã hội mà đêm về vẫn thấy đời mình trống rỗng. Ngược lại, có những người chẳng sở hữu gì nhiều nhưng sống một đời đầy ý nghĩa vì mỗi sáng thức dậy họ biết mình đang sống cho ai.
Tôi vẫn nghĩ đến những miền truyền giáo xa xôi, những bệnh viện, mái ấm, trại phong, vùng núi, những nơi thiên tai, những vùng chiến tranh, những lớp học nghèo. Ở đó biết bao linh mục, tu sĩ đã âm thầm sống và chết mà thế giới chẳng biết tên. Có người dành cả tuổi trẻ cho trẻ mồ côi. Có người sống mấy chục năm với bệnh nhân phong. Có người vào rừng sâu sống cùng đồng bào thiểu số. Có người thức đêm chăm một người hấp hối chẳng phải ruột thịt của mình. Có những nữ tu già lưng đã còng nhưng vẫn lần chuỗi cầu nguyện cho những con người họ chưa từng gặp. Nếu ngày xưa cha mẹ của họ giữ họ lại chỉ vì sợ mất con, biết bao con người đã không nhận được tình thương ấy.
Mỗi ơn gọi được sinh ra không chỉ cho người được gọi. Nó còn là quà tặng cho biết bao người khác. Một người mẹ trao một đứa con cho Chúa có thể không bao giờ biết hết những người sẽ được con mình phục vụ. Bà chỉ thấy ngày con xách vali rời nhà. Nhưng Thiên Chúa thấy trước những người sẽ được con bà giải tội, những bệnh nhân được xức dầu, những đôi vợ chồng được chứng hôn, những em bé được Rửa Tội, những người tuyệt vọng được nâng dậy, những người hấp hối được nắm tay. Một người cha tiễn con gái vào nhà dòng có thể thấy nhà mình vắng đi một tiếng cười, nhưng Chúa thấy những đứa trẻ nghèo sau này sẽ được cô con gái ấy dạy chữ, những cụ già được chăm sóc, những phụ nữ bị tổn thương được ôm lấy, những người cô đơn được lắng nghe. Có những hy sinh chỉ nhìn thấy ý nghĩa khi đặt nó vào cánh đồng rộng lớn của Thiên Chúa.
Nhưng trước khi mong con cái quảng đại, cha mẹ cũng phải học quảng đại. Một đứa trẻ rất khó dâng đời mình nếu nó lớn lên giữa một gia đình chỉ biết giữ. Nếu từ nhỏ nó được dạy rằng điều quan trọng nhất là kiếm thật nhiều tiền, có nhà lớn, xe đẹp, địa vị cao, sống hơn người khác, thì đến ngày Chúa nói với nó “Hãy theo Thầy”, tiếng gọi ấy sẽ phải đi xuyên qua cả một bức tường rất dày. Muốn gieo ơn gọi, gia đình phải gieo tinh thần cho đi. Hãy dạy con biết chia sẻ. Hãy cho con thấy cha mẹ giúp người nghèo. Hãy để con hiểu có những điều đáng sống hơn tiền bạc. Hãy dạy con biết phục vụ từ những việc nhỏ trong nhà. Đừng để con lớn lên như một ông vua nhỏ mà mọi người phải phục vụ. Một đứa trẻ không biết rửa chén, quét nhà, nhường nhịn, chăm sóc người khác sẽ rất khó hiểu được ý nghĩa của một đời dâng hiến vốn được xây trên hai chữ “phục vụ”.
Cũng cần dạy con về sự hy sinh. Thế hệ hôm nay được sống trong nhiều tiện nghi hơn, nhưng đôi khi chính tiện nghi khiến con người yếu đi trước gian khó. Đời tu đòi kỷ luật. Phải thức dậy khi mình còn muốn ngủ. Phải cầu nguyện khi lòng khô khan. Phải sống với những người mình không chọn. Phải vâng phục khi ý riêng muốn đi hướng khác. Phải cho đi khi chẳng ai biết ơn. Nếu từ nhỏ một đứa trẻ được đáp ứng mọi mong muốn ngay lập tức, nó sẽ rất khó học ngôn ngữ của thập giá. Bởi vậy, giáo dục ơn gọi không bắt đầu từ câu hỏi “Con có đi tu không?” mà bắt đầu từ việc giúp con trở thành một con người biết yêu, biết chịu trách nhiệm, biết hy sinh, biết cầu nguyện và biết sống cho người khác.
Và nếu một ngày con thật sự nói với cha mẹ: “Con nghĩ Chúa gọi con đi tu”, xin đừng vội cười. Đừng vội nói: “Mày mà tu gì!” Đừng lấy những khuyết điểm hiện tại của con để đóng cánh cửa tương lai. Một cậu bé nghịch ngợm hôm nay không có nghĩa sau này không thể thành linh mục tốt. Một cô gái cá tính hôm nay không có nghĩa không thể trở thành nữ tu thánh thiện. Các thánh cũng từng là những con người chưa hoàn thiện. Phêrô từng nóng nảy, từng chối Chúa. Augustinô đã có một thời tuổi trẻ rất xa Chúa. Thiên Chúa không gọi những người đã hoàn hảo. Ngài gọi con người rồi từ từ uốn nắn họ.
Cũng đừng vội mừng đến mức thông báo cho cả họ hàng rằng “nhà tôi sắp có cha, có sơ”. Một ơn gọi non trẻ cần được bảo vệ bằng sự kín đáo và cầu nguyện hơn là những lời tung hô. Hãy cho con thời gian phân định. Hãy giúp con gặp một linh mục hay tu sĩ đáng tin để đồng hành. Hãy để con tìm hiểu đời sống cụ thể. Hãy hỏi con không phải “Con có chắc làm linh mục không?” mà “Con có bình an khi nghĩ đến con đường này không? Con có sẵn sàng để Chúa dẫn con không?” Và rồi cha mẹ hãy cầu nguyện. Không phải cầu “Xin Chúa nhất định cho nó đi tu”, cũng không phải “Xin Chúa đừng gọi nó”, mà cầu một lời đẹp hơn nhiều: “Lạy Chúa, con này là của Chúa. Xin cho nó nhận ra và can đảm đi con đường Chúa muốn.”
Tôi rất thích lời cầu ấy, vì nó trả lại con cho Đấng đã ban con. Cha mẹ Công giáo phải nhớ rằng trước khi đứa trẻ là con mình, nó đã là con của Thiên Chúa. Cha mẹ chỉ cộng tác với Chúa để trao cho con sự sống, chăm sóc và dẫn dắt con một đoạn đường. Có ngày cha mẹ phải đứng lại để con đi tiếp. Và một trong những vẻ đẹp lớn lao nhất của đức tin là có thể nhìn người con mình yêu nhất bước khỏi vòng tay mình mà vẫn nói: “Con cứ đi. Nếu Chúa gọi con, cha mẹ không giữ.”
Có thể có người bảo suy nghĩ ấy quá lý tưởng. Nhưng nếu trong Giáo Hội không còn những gia đình dám sống lý tưởng Tin Mừng, Giáo Hội sẽ lấy đâu ra những người dám hiến cả đời? Nếu cha mẹ chỉ dạy con bảo vệ tương lai riêng, ai sẽ dạy chúng hiến thân cho tương lai của người khác? Nếu tất cả người trẻ đều được hướng đến câu hỏi “Làm sao để tôi có nhiều hơn?”, ai sẽ còn nghe câu hỏi “Tôi có thể cho đi điều gì?” Và nếu chẳng ai dám cho Chúa người mình yêu quý nhất, chúng ta sẽ còn có thể cầu xin Chúa ban nhiều ơn gọi bằng tâm tình nào?
Ơn gọi hôm nay quả thật đang đứng trước nhiều thách đố. Gia đình ít con hơn. Xã hội tục hóa hơn. Chủ nghĩa cá nhân mạnh hơn. Người trẻ có vô số lựa chọn. Họ được tiếp xúc với một thế giới mở rộng chưa từng có. Những gương xấu trong Giáo Hội cũng có thể khiến họ thất vọng. Đời sống dâng hiến không còn được xã hội nhìn với ánh mắt mặc nhiên kính trọng như trước. Chính vì thế, việc vun trồng ơn gọi trong gia đình càng quan trọng hơn bao giờ hết. Không phải để tăng những con số cho chủng viện hay nhà dòng, mà để người trẻ biết rằng giữa hàng ngàn tiếng gọi của thế giới vẫn có một tiếng gọi khác rất dịu dàng: “Hãy theo Thầy.”
Cha mẹ hãy giúp con có khoảng thinh lặng để nghe tiếng ấy. Đừng lấp đầy đời con bằng học thêm, điện thoại, trò chơi, thành tích và những lịch trình kín mít đến mức con không còn nghe được lòng mình. Có những hạt giống chỉ nảy mầm trong thinh lặng. Samuel nghe tiếng Chúa gọi giữa đêm. Đức Maria nghe lời sứ thần trong một làng quê bé nhỏ. Các môn đệ nghe Đức Giêsu gọi bên bờ hồ, giữa nhịp sống lao động thường ngày. Thiên Chúa vẫn gọi, nhưng thế giới hôm nay quá ồn. Có khi không phải Chúa ngừng gọi, mà là chúng ta không còn nghe được nữa.
Xin cha mẹ cũng đừng đánh giá ơn gọi chỉ bằng những thành tích bên ngoài. Có những em học rất giỏi nhưng không được gọi. Có những em học bình thường nhưng có một trái tim mục tử rất đẹp. Có những người nói năng không lưu loát nhưng biết lắng nghe người đau khổ. Có những cô gái không nổi bật nhưng có một khả năng phục vụ âm thầm phi thường. Chúa nhìn khác chúng ta. Khi Samuel nhìn các con trai của Giêsê, ông tưởng người cao lớn, mạnh mẽ sẽ được chọn, nhưng Chúa nhắc rằng con người nhìn bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn tận đáy lòng. Ơn gọi cũng thế. Đừng chỉ tìm dấu hiệu nơi năng lực. Hãy nhìn cả sự nhạy cảm thiêng liêng, lòng quảng đại, khả năng hy sinh, tình yêu dành cho Chúa và con người.
Có khi một đứa trẻ nói muốn đi tu chỉ vì thích chiếc áo dòng. Không sao. Có khi nó thích vì cha xứ hiền. Không sao. Có khi nó chỉ thấy giúp lễ vui. Cũng không sao. Những động cơ trẻ con có thể là khởi đầu của một điều sâu hơn. Cha mẹ không cần lập tức phân tích thần học về ơn gọi. Cứ để Chúa làm việc. Hãy tưới nước bằng cầu nguyện, ánh sáng bằng gương sáng, phân bón bằng sự hy sinh và hàng rào bằng sự khôn ngoan. Hạt nào Chúa gieo, Chúa sẽ biết cách làm nó lớn.
Có một điều tôi mong các gia đình Công giáo lấy lại, đó là niềm tự hào thánh thiện khi trong nhà có người dâng mình cho Chúa. Không phải thứ tự hào để khoe khoang: “Nhà tôi có cha”, “Nhà tôi có sơ”, nhưng là lòng biết ơn run rẩy: “Chúa đã thương gọi một người trong gia đình chúng tôi.” Đó không phải huân chương của gia đình. Đó là một trách nhiệm. Gia đình có con đi tu càng phải cầu nguyện nhiều hơn. Đừng nghĩ chịu chức hay khấn dòng là xong. Đó mới chỉ là bắt đầu. Một linh mục cần lời cầu của mẹ suốt đời. Một tu sĩ cần sự nâng đỡ âm thầm của gia đình suốt đời. Có khi người con ra đi để phục vụ người khác nhưng chính cha mẹ ở nhà lại trở thành những “người đồng hành trong sứ vụ” bằng chuỗi Mân Côi mỗi tối.
Tôi từng nghĩ, trong ngày một linh mục được truyền chức, người ta thấy giám mục đặt tay trên đầu vị tiến chức. Nhưng trước bàn tay của giám mục đã có biết bao bàn tay khác âm thầm đặt trên đời người ấy: bàn tay mẹ bồng khi còn thơ bé, bàn tay cha dẫn đến nhà thờ, bàn tay giáo lý viên dạy làm dấu, bàn tay một linh mục đầu tiên trao Mình Thánh Chúa, bàn tay những người nâng đỡ trong những năm tháng dài đào tạo. Một ơn gọi không bao giờ lớn lên một mình. Nó lớn trong cả một mạng lưới của tình thương và ân sủng. Và ở trung tâm mạng lưới ấy, gia đình có một vị trí không ai thay thế được.
Vì vậy, hôm nay tôi muốn mạnh dạn nói với những người làm cha, làm mẹ: xin hãy một lần dám nói với con mình về ước mơ làm linh mục hay tu sĩ. Không phải để ép. Không phải để định hướng một chiều. Không phải vì cha mẹ muốn có một danh dự nào đó. Chỉ đơn giản để mở cho con một chân trời mà có thể xã hội sẽ chẳng bao giờ mở. Hãy nói với con rằng trên đời không chỉ có những nghề để kiếm sống mà còn có những ơn gọi để hiến sống. Hãy nói với con rằng một đời người không chỉ đáng giá bởi những gì mình tích lũy mà còn bởi những gì mình trao đi. Hãy nói với con rằng nếu một ngày Chúa gọi, đừng sợ. Và điều quan trọng hơn cả, hãy để con biết rằng nếu con chọn đáp lại tiếng gọi ấy, cha mẹ sẽ không trở thành bức tường con phải vượt qua, nhưng sẽ là đôi tay đẩy nhẹ con về phía trước.
Biết đâu chỉ một câu nói ấy sẽ ở lại trong lòng con nhiều năm. “Nếu Chúa gọi con, cha mẹ vui.” Khi một thiếu niên đang phân vân giữa bao lựa chọn, câu ấy có thể trở thành một khoảng trời tự do. Khi một cô gái cảm thấy một tiếng gọi âm thầm nhưng sợ làm cha mẹ buồn, ký ức về câu nói ấy có thể cho cô can đảm. Cha mẹ không biết một lời của mình có thể quyết định bao nhiêu điều. Chúng ta thường nghĩ phải làm việc lớn mới tạo ra ơn gọi. Không. Đôi khi chỉ cần đừng cản đường ân sủng.
Và nếu con không đi tu thì sao? Không sao cả. Hạt giống được gieo không bao giờ lãng phí. Một đứa trẻ từng được cha mẹ mời gọi suy nghĩ về đời dâng hiến, dù sau này lập gia đình, cũng có thể trở thành một người chồng, người vợ biết sống quảng đại hơn. Nó đã từng học rằng đời mình thuộc về Chúa trước khi thuộc về chính mình. Một người từng nghiêm túc phân định ơn gọi linh mục nhưng sau đó nhận ra Chúa gọi mình vào hôn nhân có thể trở thành một người cha biết dạy con cầu nguyện. Một cô gái từng tìm hiểu đời tu nhưng sau này xây dựng gia đình có thể trở thành một người mẹ rất nhạy bén với tiếng gọi của Chúa nơi con cái mình. Trong chương trình của Thiên Chúa, chẳng có tìm kiếm chân thành nào là vô ích.
Điều đáng sợ không phải là con tìm hiểu rồi nhận ra mình không có ơn gọi. Điều đáng sợ là có ơn gọi nhưng chưa bao giờ dám tìm hiểu vì từ nhỏ đã bị dạy phải sợ. Điều đáng tiếc không phải là một người bước vào chủng viện rồi sau thời gian phân định trở về. Chủng viện và nhà dòng chính là nơi phân định, không phải nhà máy bắt ai bước vào cũng phải đi đến cuối. Điều đáng tiếc hơn là một người sống đến cuối đời mà vẫn mang trong lòng câu hỏi: “Ngày ấy, nếu mình dám đáp lại thì sao?”
Đời người ngắn lắm. Cha mẹ rồi cũng già. Con cái rồi cũng lớn. Ngôi nhà từng đầy tiếng cười rồi có ngày im hơn. Những đứa trẻ từng bám áo mẹ sẽ có đời sống riêng. Không cha mẹ nào giữ con ở bên mình mãi được. Nếu đã phải trao con cho cuộc đời, tại sao chúng ta không thể bình an nếu Chúa xin con cho một sứ mạng đẹp? Cha mẹ nào rồi cũng phải học buông. Có người buông con vào một gia đình mới trong ngày cưới. Có người tiễn con đi học, đi làm, đi lập nghiệp phương xa. Có người tiễn con vào chủng viện, vào nhà dòng. Mỗi cuộc ra đi có một nỗi buồn riêng, nhưng tình yêu không chết vì khoảng cách. Có khi chính khi biết buông, cha mẹ mới khám phá mình yêu con sâu đến mức nào.
Tôi ước mong trong các gia đình Công giáo, bên cạnh câu hỏi quen thuộc: “Sau này con làm nghề gì?”, sẽ có thêm một câu hỏi: “Con có bao giờ hỏi Chúa muốn con làm gì không?” Tôi ước mong các cha mẹ khi cầu nguyện cho tương lai con mình đừng chỉ xin Chúa cho con học giỏi, có việc tốt, lập gia đình hạnh phúc, mà có thể cầu thêm: “Nếu Chúa muốn con của con thuộc trọn về Chúa, xin cho chúng con đủ quảng đại để thưa vâng.” Lời cầu ấy khó lắm. Tôi biết. Nhưng chính những lời cầu khó mới thường chạm đến phần sâu nhất của đức tin.
Xin đừng sợ Chúa lấy mất con. Thiên Chúa không phải là một kẻ cướp đến giật khỏi tay cha mẹ điều quý giá nhất. Ngài là Đấng đã trao người con ấy cho cha mẹ trước. Nếu Ngài gọi, không phải để làm con nghèo đi nhưng để mở đời con ra cho một tình yêu rộng hơn. Không phải mọi đứa trẻ đều được gọi đi tu. Nhưng mọi đứa trẻ đều cần được lớn lên trong tự do đủ để có thể nói “vâng” nếu Chúa gọi.
Và biết đâu, giữa lúc Giáo Hội vẫn ngày ngày cầu xin cho có thêm những thợ gặt trên cánh đồng, câu trả lời của Chúa đã nằm ngay trong căn nhà của chúng ta. Có thể một thợ gặt tương lai đang ngồi ăn cơm bên cạnh cha mẹ. Có thể một nhà truyền giáo tương lai đang bấm điện thoại trong phòng. Có thể một nữ tu tương lai đang cằn nhằn vì mẹ gọi đi lễ. Có thể một linh mục tương lai hôm nay vẫn còn rất nghịch. Chúng ta đâu biết. Thiên Chúa có những con đường kỳ diệu mà người lớn không nhìn thấy.
Xin cha mẹ đừng làm thay công việc của Chúa, nhưng cũng đừng cản công việc của Ngài. Hãy làm người làm vườn. Người làm vườn không kéo cây lên để nó lớn nhanh hơn. Họ chỉ làm đất, tưới nước, bón phân, nhổ cỏ và kiên nhẫn chờ. Ơn gọi cũng vậy. Hãy tạo một gia đình có cầu nguyện. Hãy sống đức tin thật chứ đừng chỉ giữ đạo theo thói quen. Hãy kính trọng linh mục, tu sĩ. Hãy cho con gặp những chứng nhân đẹp. Hãy dạy con quảng đại. Hãy để con biết rằng một cuộc đời trao đi không phải là một cuộc đời uổng phí. Rồi để Chúa làm phần còn lại.
Một ngày nào đó, có thể cha mẹ sẽ đứng ở cuối nhà thờ nhìn con mình phủ phục trên nền cung thánh trong Kinh Cầu Các Thánh. Khoảnh khắc ấy, biết bao năm tháng sẽ trở về. Đứa trẻ năm xưa giờ nằm đó, giữa đất, trước Thiên Chúa, trao cả đời mình. Có thể mẹ sẽ khóc. Có thể cha sẽ quay mặt đi giấu nước mắt. Có thể trong lòng cha mẹ sẽ nghe lại câu mình từng nói từ rất lâu: “Nếu Chúa gọi con, cha mẹ vui.” Và lúc ấy mới hiểu câu nói ấy không hề dễ. Nó đã đi qua bao nhớ thương, bao lo lắng, bao giằng co, bao lần muốn giữ. Nhưng cũng chính lúc ấy, cha mẹ có thể cảm được một niềm bình an rất lạ: người con mình từng bồng trên tay giờ đang nằm trong vòng tay của một Đấng lớn hơn mình.
Và cũng có thể chẳng bao giờ có ngày ấy. Con sẽ lập gia đình, sinh con, sống một đời giáo dân bình thường và tốt lành. Cha mẹ vẫn vui. Bởi mục tiêu cuối cùng không phải là làm cho con trở thành linh mục hay tu sĩ. Mục tiêu là giúp con trở thành người mà Thiên Chúa muốn. Nếu cha mẹ đã dạy con biết lắng nghe Chúa và đủ can đảm thưa vâng với ơn gọi của mình, dù ơn gọi ấy là gì, cha mẹ đã hoàn thành một trong những trách nhiệm cao quý nhất của mình.
Cho nên, xin các bậc làm cha làm mẹ hãy dám gieo. Gieo một câu hỏi. Gieo một lời cầu nguyện. Gieo một gương sáng. Gieo một thái độ quảng đại. Gieo trong tâm hồn con niềm xác tín rằng đời sống linh mục, tu sĩ không phải là một số phận đáng sợ mà là một con đường tình yêu nếu Thiên Chúa thật sự gọi. Đừng lo hạt giống ấy có mọc hay không. Việc của chúng ta là gieo. Mưa nắng là của Chúa. Mùa gặt cũng là của Chúa.
Và nếu một ngày hạt ấy nảy mầm, xin cha mẹ đừng vội giữ lại vì sợ mất. Hãy nhớ hạt giống chỉ trở thành cây khi nó dám phá vỡ lớp vỏ của mình. Hạt lúa chỉ sinh nhiều bông hạt khi chấp nhận được gieo xuống đất. Tình yêu cha mẹ cũng đạt đến độ đẹp nhất khi biết trao. Có những người con càng giữ thì càng xa, nhưng có những người con khi trao cho Chúa lại trở nên gần cha mẹ hơn trong một chiều sâu khác. Bởi người thực sự thuộc về Chúa sẽ càng hiểu giá trị của đấng sinh thành, càng biết cầu nguyện cho cha mẹ, càng biết rằng đằng sau tiếng “vâng” của mình là biết bao hy sinh âm thầm của gia đình.
Ước gì rồi đây, trong mỗi gia đình Công giáo, cha mẹ không chỉ mong con thành đạt mà trước hết mong con thành người; không chỉ mong con có nhiều mà mong con biết cho đi; không chỉ mong con có tương lai sáng mà mong con sống đúng ý Chúa; không chỉ cầu cho con tránh mọi gian nan mà cầu cho con đủ mạnh để đi qua gian nan vì một điều đáng sống. Và nếu một ngày Chúa bước đến bên gia đình chúng ta, nhìn vào đứa con mà chúng ta quý nhất rồi khẽ nói: “Ta cần người con này”, ước gì sau những giọt nước mắt rất người, sau những bâng khuâng rất thật, chúng ta vẫn có thể mở bàn tay ra và thưa bằng tất cả đức tin của mình: “Lạy Chúa, con của con trước hết là con của Chúa. Chúa đã trao cho con chăm sóc bao năm, nếu giờ Chúa gọi nó phục vụ Chúa và anh chị em, xin cho con đủ quảng đại để không giữ lại. Xin Chúa gìn giữ nó thay phần con. Xin làm nơi nó điều đẹp nhất mà Chúa muốn.”
Bởi có lẽ, một trong những của lễ đẹp nhất cha mẹ có thể dâng lên Thiên Chúa không phải là tiền bạc, nhà cửa hay những gì mình sở hữu, mà chính là sự tự do của người con mình yêu thương nhất. Và cũng có lẽ, một trong những lời yêu thương đẹp nhất cha mẹ có thể nói với con không chỉ là: “Cha mẹ muốn con thành công”, nhưng còn là: “Cha mẹ muốn con thuộc về nơi mà Chúa muốn con thuộc về. Nếu Chúa gọi con làm linh mục, tu sĩ, con đừng sợ cha mẹ buồn. Hãy cứ đi. Cha mẹ sẽ nhớ con, sẽ thương con, có thể sẽ khóc vì con, nhưng cha mẹ sẽ cầu nguyện cho con. Bởi cha mẹ đã sinh con ra không phải để giữ con cho riêng mình, mà để một ngày con có thể trở thành món quà cho cuộc đời.”
Xin hãy dám nói câu ấy với con. Biết đâu chính từ một câu nói rất nhỏ của cha mẹ hôm nay, Giáo Hội ngày mai sẽ có thêm một mục tử. Biết đâu từ một lời cầu nguyện âm thầm của một người mẹ, một nhà truyền giáo sẽ lên đường. Biết đâu từ sự quảng đại của một người cha, biết bao tâm hồn sau này được dẫn về với Chúa. Chúng ta chẳng bao giờ biết hết hoa trái của một hạt giống ơn gọi. Chúng ta chỉ biết rằng Thiên Chúa vẫn đang gieo. Và Ngài cần những người cha, người mẹ đủ đức tin để không giẫm lên hạt giống ấy, đủ kiên nhẫn để vun xới, đủ khôn ngoan để không ép buộc, và đủ quảng đại để một ngày, nếu hạt giống trở thành cây, có thể đứng từ xa mà vui mừng nhìn nó vươn lên trời cao.
Lm. Anmai, CSsR
Ở ĐÂU CÓ TU SĨ, Ở ĐÓ CÓ NIỀM VUI
Có những câu nói nghe qua tưởng như rất nhẹ, nhưng càng sống lâu với đời, càng đi sâu trong hành trình đức tin, người ta càng thấy phía sau đó là cả một lời mời gọi lớn lao. “Ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui” là một câu như thế. Niềm vui ở đây chắc chắn không phải là tiếng cười náo nhiệt, cũng không phải một khuôn mặt lúc nào cũng tươi tỉnh đến mức không còn biết đau, không còn biết mệt, không còn biết khóc. Đời tu chưa bao giờ là một con đường chỉ toàn hoa nở. Người tu sĩ cũng là con người bằng xương bằng thịt, cũng có những ngày khỏe mạnh và những ngày rã rời, những lúc hăng say và những lúc chùng xuống, những khi được nâng đỡ và những khi phải đi qua những khoảng tối rất riêng mà chỉ mình với Chúa mới hiểu. Nhưng nếu giữa tất cả những điều ấy, người tu sĩ vẫn giữ được trong lòng một niềm vui sâu xa, thì chính niềm vui đó trở thành một lời chứng mạnh hơn rất nhiều bài giảng. Người ta có thể quên một bài nói rất hay, nhưng người ta khó quên một con người sống bình an. Người ta có thể không nhớ hết những lời khuyên bảo, nhưng người ta lại nhớ rất lâu một khuôn mặt hiền hòa, một ánh mắt biết cảm thông, một nụ cười không giả tạo, một sự hiện diện khiến người khác cảm thấy mình được đón nhận. Bởi thế, mong rằng ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui, không phải là mong cho đời tu trở thành một sân khấu của sự vui vẻ bên ngoài, nhưng là mong cho mỗi người tận hiến thực sự mang trong mình niềm vui của một người đã gặp Chúa, đã được Chúa yêu, đã được Chúa gọi tên và dám đặt cả cuộc đời mình vào tay Người.
Niềm vui của đời thánh hiến khởi đi từ một điều rất đơn sơ mà cũng rất nhiệm mầu: mình được chọn không phải vì mình hơn ai, nhưng chỉ vì Thiên Chúa yêu. Có lẽ suốt một đời tu, người ta vẫn không thể hiểu hết tại sao giữa bao nhiêu người, Chúa lại gọi mình; tại sao với từng ấy giới hạn, từng ấy vụng về, từng ấy bất toàn, Chúa vẫn muốn dùng mình; tại sao một con người rất bình thường lại được mời bước vào một tương quan rất riêng với Người. Ơn gọi không phải là phần thưởng dành cho người hoàn hảo. Nếu phải hoàn hảo rồi mới được Chúa gọi, có lẽ chẳng ai dám bước vào. Ơn gọi trước hết là lòng thương xót. Chúa nhìn một con người với tất cả những gì người ấy đang có, rồi Người nói: “Hãy theo Thầy.” Chúa không bảo: hãy hoàn thiện mọi sự rồi hãy đến. Chúa chỉ xin một trái tim dám bắt đầu, một đôi chân dám bước, một bàn tay dám buông những gì đang nắm giữ để nắm lấy tay Người. Vì vậy, giây phút một người tiến lên lãnh nhận chức thánh, đó không chỉ là một dấu mốc của học hành, đào tạo hay cố gắng cá nhân; đó phải là giây phút người ấy cảm nghiệm sâu xa hơn bao giờ hết rằng đời mình là một món quà được yêu thương. Chiếc áo lễ có thể đẹp, nghi thức có thể trang trọng, cộng đoàn có thể đông, những tràng pháo tay có thể vang lên, nhưng điều lớn nhất vẫn phải xảy ra trong thẳm sâu của trái tim: “Lạy Chúa, con là ai mà Chúa thương con đến thế?”
Có lẽ trong giây phút được đặt tay, người lãnh nhận chức thánh sẽ thấy cuộc đời mình như chảy ngược về những năm tháng đã qua. Những ngày đầu bỡ ngỡ bước vào nhà dòng hay chủng viện, những buổi sáng thức dậy khi trời còn tối, những giờ kinh dài, những trang sách tưởng như không bao giờ đọc hết, những kỳ thi, những công việc âm thầm, những lần bị sửa dạy, những lúc nhớ nhà, những lần muốn bỏ cuộc, những giai đoạn khô khan tưởng như lời cầu nguyện không còn chạm tới đâu, những câu hỏi từng làm lòng mình day dứt: “Con có đi đúng đường không? Con có đủ sức không? Con có thật sự được gọi không?” Tất cả những điều ấy có thể bất chợt trở về trong khoảnh khắc rất ngắn. Và rồi người ta nhận ra: hóa ra Chúa đã ở đó từ lâu. Chúa có mặt cả trong những ngày mình hăng hái lẫn những ngày mình yếu đuối. Chúa đi cùng qua từng khúc quanh, đôi khi không làm cho con đường dễ hơn nhưng làm cho trái tim mạnh hơn để đi tiếp. Có những lúc tưởng rằng chính mình đã cố gắng để trung thành với Chúa, nhưng đến một ngày nhìn lại mới thấy sự thật sâu xa hơn: chính Chúa đã trung thành với mình trước.
Vì thế, chức thánh không nên được hiểu như một đích đến để người ta cuối cùng có thể thở phào rằng mình đã hoàn thành. Chức thánh là một khởi đầu mới, và có lẽ còn đòi hỏi hơn rất nhiều so với những năm chuẩn bị. Từ nay, người được truyền chức không còn sống chỉ cho riêng mình. Mỗi lời nói, mỗi quyết định, mỗi cách cư xử, thậm chí mỗi sự im lặng cũng có thể trở thành một lời chứng hoặc một phản chứng. Ngày được truyền chức có hoa, có ánh đèn, có những lời chúc mừng; nhưng những ngày sau đó sẽ có bệnh nhân phải thăm, người nghèo phải gặp, những gia đình rạn nứt cần được lắng nghe, những người trẻ hoang mang cần một lời chỉ dẫn, những cụ già cô độc cần một sự hiện diện, những người tội lỗi đang mặc cảm cần một cánh cửa mở, những tâm hồn bị tổn thương cần được đón nhận mà không phán xét. Và cũng sẽ có những ngày người mục tử mệt nhưng vẫn phải mỉm cười, buồn nhưng vẫn phải nâng người khác dậy, đang có chuyện riêng nhưng vẫn phải bước lên bàn thờ, đang bị hiểu lầm nhưng vẫn phải chọn im lặng, đang thiếu sự nâng đỡ nhưng lại phải trở thành chỗ dựa cho biết bao người. Chính ở đó, niềm vui thật của chức thánh mới được thử luyện.
Nếu niềm vui chỉ dựa vào việc được khen, chức vụ được trao, công việc thành công hay cộng đoàn yêu quý, thì niềm vui ấy rất mong manh. Hôm nay người ta có thể tung hô, ngày mai người ta có thể quay lưng. Hôm nay công việc thuận lợi, ngày mai mọi dự tính có thể đổ vỡ. Hôm nay mình cảm thấy được trọng dụng, ngày mai có thể được giao một công việc rất âm thầm chẳng ai biết tới. Nếu căn tính của người tu sĩ hay người linh mục được xây trên sự nhìn nhận của người đời, thì chỉ một lời phê bình cũng đủ làm tâm hồn chao đảo. Nhưng nếu niềm vui bắt nguồn từ việc biết rằng “tôi thuộc về Chúa”, thì ngay giữa những đổi thay, vẫn có một nơi trong lòng không ai lấy mất được. Đó là nơi chỉ có Chúa và mình. Đó là nơi một người trở về mỗi khi mệt mỏi, quỳ xuống trước Thánh Thể, không cần nói gì nhiều, chỉ cần ở đó và thưa: “Lạy Chúa, con vẫn là của Chúa.” Có khi chính lời cầu nguyện đơn sơ ấy đủ để một người bước tiếp qua những ngày rất dài.
Người tu sĩ vui không phải vì đời không có thập giá, nhưng vì giữa thập giá vẫn nhận ra Chúa. Người linh mục vui không phải vì sứ vụ lúc nào cũng thành công, nhưng vì biết mình đang được cùng Chúa gieo hạt. Có hạt mình gieo mà người khác sẽ gặt. Có lời mình nói hôm nay phải rất nhiều năm sau mới nảy mầm. Có việc mình làm không ai nhớ, nhưng Thiên Chúa nhớ. Có những người mình yêu thương chẳng bao giờ nói lời cảm ơn. Có những hy sinh chỉ mình biết, và rồi một ngày chính mình cũng quên, nhưng không một điều gì được làm vì tình yêu lại mất đi trước mặt Chúa. Điều làm cho một đời thánh hiến đẹp không nhất thiết là làm được bao nhiêu điều lớn lao, mà là trong từng điều nhỏ bé, trái tim còn giữ được lòng yêu mến hay không. Một người có thể rất tài giỏi nhưng làm mọi việc với sự cay đắng. Một người khác có thể không nổi bật, nhưng mỗi việc làm đều có một chút dịu dàng, một chút nhẫn nại, một chút quên mình. Có lẽ Nước Trời được xây nhiều hơn bởi những con người như thế.
Bởi vậy, mong rằng giây phút lãnh nhận chức thánh là giây phút quý thầy cảm nghiệm tình yêu vô biên mà Thiên Chúa ban tặng. Không chỉ cảm nghiệm bằng cảm xúc của ngày lễ, nhưng cảm nghiệm như một xác tín để mang theo suốt đời. Ngày hôm ấy rồi sẽ qua rất nhanh. Hoa sẽ héo. Khách sẽ về. Những bức hình sẽ được cất lại. Áo lễ mới rồi cũng cũ. Nhưng điều cần ở lại là ký ức thiêng liêng rằng đã có một ngày mình quỳ xuống, Hội Thánh cầu nguyện trên mình, những bàn tay được đặt xuống, và từ giây phút ấy cuộc đời không còn hoàn toàn thuộc về mình nữa. Khi những ngày gian nan đến, hãy trở về với ký ức ấy. Khi mệt với sứ vụ, hãy nhớ giây phút ấy. Khi bị cám dỗ muốn sống cho mình, hãy nhớ giây phút ấy. Khi trái tim nguội lạnh, hãy nhớ lại những lời mình đã thưa. Không phải để tự trách, nhưng để được đánh thức. Có những lời hứa không phải nói một lần là xong; chúng phải được lặp lại bằng cả cuộc đời.
Chức thánh là ân huệ, nhưng cũng là trách nhiệm. Càng được trao nhiều, càng phải biết cúi xuống nhiều. Càng được cộng đoàn kính trọng, càng phải cẩn thận để đừng biến sự kính trọng thành một thứ đặc quyền. Càng đứng gần bàn thờ, càng phải tự hỏi lòng mình có thực sự gần Chúa hay không. Càng giảng về lòng thương xót, càng phải sống bao dung. Càng nói về sự khiêm nhường, càng phải dám nhận lỗi. Càng dạy người khác cầu nguyện, càng phải tự mình quỳ xuống. Càng mời gọi người khác sống nghèo, càng phải coi chừng những tiện nghi làm trái tim nặng nề. Càng nói về yêu thương, càng phải để ý đến những người sống ngay bên cạnh mình. Có khi người ta đi rất xa để phục vụ nhưng lại thiếu kiên nhẫn với người cùng nhà. Có khi người ta dễ dàng tử tế với người lạ nhưng khó dịu dàng với anh em trong cộng đoàn. Có khi mình muốn cứu cả thế giới nhưng lại chưa học xong bài học lắng nghe một người đang ngồi trước mặt. Sứ vụ lớn lao nhất nhiều lúc bắt đầu từ những việc rất nhỏ.
“Ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui.” Nhưng muốn mang niềm vui, chính người tu sĩ phải biết trở về nguồn của niềm vui. Một chiếc bình không thể rót mãi nếu không được đổ đầy. Một người không thể trao bình an nếu lòng mình luôn ở trong hỗn loạn. Một linh mục không thể nói mãi về Chúa nếu không còn thời gian ở với Chúa. Có một nguy cơ rất thật trong đời sứ vụ: làm việc cho Chúa nhiều đến mức không còn gặp Chúa. Người ta có thể bận rộn với họp hành, tổ chức, xây dựng, mục vụ, truyền thông, chương trình, dự án và hàng trăm công việc tốt đẹp, nhưng tâm hồn dần cạn khô. Khi ấy, ngay cả những điều thánh thiện cũng có thể trở thành gánh nặng. Người ta cáu gắt hơn, nhạy cảm hơn, dễ buồn vì lời người khác, dễ so sánh, dễ thất vọng, và rồi tự hỏi tại sao mình mất niềm vui. Có khi lý do không nằm ở người khác, mà vì mình đã quá lâu không ngồi yên trước Chúa.
Xin quý thầy đừng bao giờ xem cầu nguyện là phần việc phải hoàn thành. Cầu nguyện là hơi thở. Không ai nói mình bận đến mức không cần thở. Có thể có những ngày cầu nguyện rất sốt sắng, cũng có những ngày chỉ toàn khô khan. Nhưng giá trị của cầu nguyện không nằm ở việc mình cảm thấy gì, mà ở sự trung thành hiện diện. Đứa con không cần lúc nào cũng nói với cha mẹ những lời sâu sắc; chỉ cần nó về nhà, ngồi đó, đã là một niềm vui. Có lẽ Chúa cũng nhìn chúng ta bằng ánh mắt như thế. Ngài không đòi mỗi giờ cầu nguyện phải có những cảm nghiệm phi thường. Ngài chỉ mong người con trở về. Và chính trong sự trở về đều đặn ấy, trái tim được chữa lành, những động cơ được thanh luyện, những cay đắng được làm dịu, những vết thương dần có sức sống lại.
Niềm vui của người tận hiến cũng gắn liền với đời sống cộng đoàn. Không ai đi tu để sống một mình. Chúa gọi từng người rất riêng, nhưng Người đặt chúng ta trong một cộng đoàn để học yêu những con người mình không chọn. Đây có lẽ là một trong những trường học khó nhất. Người ta chọn bạn, nhưng không chọn hết anh em. Có người hợp tính, có người rất khác. Có người dễ thương, có người làm mình mệt. Có người hiểu mình, có người suốt đời vẫn không hiểu. Nhưng chính ở đó, đời tu trở nên thật. Yêu người hợp với mình thì chưa khó. Yêu người khác mình mới đụng tới chiều sâu của Tin Mừng. Cộng đoàn không phải nơi tập hợp những người hoàn hảo, nhưng là nơi những người bất toàn học kiên nhẫn với nhau vì cùng được một Thiên Chúa kiên nhẫn yêu thương. Nếu một cộng đoàn đầy kinh nguyện nhưng thiếu lòng bao dung, đời sống ấy sẽ trở nên nặng nề. Nếu một cộng đoàn làm được rất nhiều việc nhưng không biết ngồi lại với nhau, niềm vui sẽ dần cạn. Chúng ta không cần một cộng đoàn không bao giờ có xung đột; chúng ta cần một cộng đoàn biết hòa giải. Không cần một cộng đoàn ai cũng giống ai; chỉ cần mỗi người đủ khiêm tốn để nhường chỗ cho người khác.
Có những tu sĩ bước vào một căn phòng và người ta thấy nhẹ lòng. Không phải vì họ nói chuyện duyên dáng, mà vì trong cách hiện diện của họ có một sự bình an. Họ không làm người khác sợ. Họ không khiến người đối diện phải thủ thế. Họ không dùng chức vụ để tạo khoảng cách. Người nghèo đến với họ không thấy xấu hổ. Người có lỗi đến với họ không cảm thấy bị kết án. Trẻ nhỏ dám lại gần. Người già muốn tâm sự. Người đau khổ cảm thấy có chỗ để khóc. Đó là một thứ niềm vui rất Tin Mừng. Nó không ồn ào nhưng lan tỏa. Có lẽ mỗi người tận hiến nên tự hỏi: người khác gặp tôi rồi thấy nhẹ hơn hay nặng hơn? Họ thấy được nâng lên hay thấy mình bị hạ xuống? Họ cảm nhận Chúa gần hơn hay chỉ thấy quyền lực của một con người? Những câu hỏi ấy đau nhưng cần thiết.
Sứ vụ của người linh mục, người tu sĩ không phải là làm cho người khác ngưỡng mộ mình, nhưng là giúp người ta gặp được Chúa. Một người mục tử tốt giống như người mở cửa rồi lùi sang một bên. Người ta đi qua cánh cửa để vào gặp Chúa, chứ không đứng mãi ngoài cửa ca ngợi người giữ cửa. Có lẽ vì vậy, sự khiêm nhường là vẻ đẹp không thể thiếu của chức thánh. Khiêm nhường không phải là nói mình chẳng có gì hay, cũng không phải giả vờ tự hạ để được người khác khen thêm. Khiêm nhường là biết rõ mình là ai: có ân sủng, có khả năng, nhưng tất cả là để phục vụ; có quyền bính, nhưng quyền bính ấy được trao để rửa chân; có tiếng nói, nhưng tiếng nói ấy phải giúp Lời Chúa được nghe rõ hơn; có vị trí, nhưng vị trí ấy chỉ có ý nghĩa khi đứng từ đó mà nhìn thấy những người bé nhỏ.
Rồi sẽ có lúc sứ vụ làm quý thầy mệt. Không ai tránh được. Có thể mệt vì công việc nhiều, nhưng nhiều lúc còn mệt hơn vì con người. Một lời nói vô tình có thể làm đau nhiều ngày. Một hiểu lầm có thể khiến lòng nặng trĩu. Một sự phản bội từ người mình từng tin có thể làm người ta muốn thu mình lại. Một cộng đoàn từng yêu mến có thể có lúc quay sang chỉ trích. Và ngay trong Hội Thánh, nơi đáng lẽ phải là mái nhà, đôi lúc chúng ta vẫn có thể làm tổn thương nhau. Đó là điều đau nhưng có thật. Khi ấy, xin đừng để vết thương biến thành cay độc. Một mục tử bị thương nhưng không chữa lành có thể vô tình làm những người khác bị thương. Một người mang trong lòng oán giận lâu ngày sẽ khó nói về lòng thương xót cách thuyết phục. Hãy biết tìm người để chia sẻ, biết xin giúp đỡ, biết nghỉ khi cần, biết khóc trước Chúa. Không cần phải tỏ ra mạnh mọi lúc. Đức Kitô ở vườn Cây Dầu cũng đã buồn đến chết được. Người không che giấu nỗi đau. Nhưng Người mang nỗi đau ấy vào trong tương quan với Cha.
Người linh mục cũng cần học cách chấp nhận mình có giới hạn. Không thể cứu hết mọi người. Không thể làm hài lòng tất cả. Không phải bất cứ vấn đề nào cũng do mình giải quyết. Có lúc việc tốt nhất mình có thể làm là hiện diện. Có những gia đình tan vỡ mà mình không thể hàn gắn hoàn toàn. Có những người bỏ đạo dù mình đã hết lòng. Có những bệnh nhân mình cầu nguyện nhưng họ vẫn ra đi. Có những người trẻ mình đồng hành rồi họ vẫn chọn con đường khác. Nếu cứ lấy kết quả làm thước đo giá trị của sứ vụ, người mục tử sẽ sớm kiệt sức. Chúa không hỏi chúng ta đã thành công bao nhiêu, nhưng đã trung tín thế nào. Người gieo hạt không thể bắt hạt phải nảy mầm ngay trước mắt. Phần của mình là gieo, tưới và tin. Còn sự sống thuộc về Thiên Chúa.
Có một niềm vui rất sâu đến khi người tu sĩ thôi so sánh. So sánh là một trong những kẻ đánh cắp bình an âm thầm nhất. Thấy người khác được yêu mến hơn, mình chạnh lòng. Thấy người khác giảng hay hơn, làm việc giỏi hơn, được trao trách nhiệm lớn hơn, lòng bắt đầu bất an. Từ đó, một ơn gọi vốn đẹp lại bị phủ bóng bởi cạnh tranh. Nhưng đời thánh hiến không phải cuộc đua xem ai đứng cao hơn. Trong thân thể Hội Thánh, mỗi người có một chỗ. Có người được trao những sứ vụ nổi bật, có người cả đời âm thầm. Có người tên tuổi được nhiều người biết, có người chết đi chẳng mấy ai nhớ. Nhưng trước mặt Chúa, thước đo lại khác. Có thể một lời cầu nguyện âm thầm của một tu sĩ già trong căn phòng nhỏ còn sinh hoa trái nhiều hơn một công việc vang dội mà thiếu tình yêu. Vì thế, đừng buồn nếu đời mình không được nhắc tên nhiều. Chỉ cần tên mình còn được viết trong trái tim Thiên Chúa.
Xin cho quý thầy khi lãnh nhận chức thánh vẫn giữ được sự đơn sơ thuở ban đầu. Đời tu càng lâu, người ta càng dễ trở nên quen với điều thánh. Quen bàn thờ, quen Thánh lễ, quen Lời Chúa, quen nghi thức, quen những lời người khác kính trọng. Cái đáng sợ không phải chỉ là phạm lỗi lớn, mà là mất dần sự ngỡ ngàng. Ngày đầu cầm Mình Thánh Chúa có thể run, rồi sau nhiều năm đôi tay ấy có thể làm mọi sự quá quen. Ngày đầu nghe một người xưng tội có thể cảm thấy đây là mầu nhiệm lớn, rồi lâu ngày dễ coi đó như công việc. Ngày đầu được gọi là “cha” có thể thấy mình bất xứng, rồi dần dần lại quen được phục vụ. Xin Chúa giữ trái tim đừng chai. Mỗi Thánh lễ vẫn là một phép lạ. Mỗi con người đến xin giúp đỡ vẫn là một người Chúa gửi tới. Mỗi lần được tha thứ và trao ơn tha thứ vẫn là một mầu nhiệm.
Nếu ngày chịu chức là ngày cảm nghiệm tình yêu vô biên của Thiên Chúa, thì cả cuộc đời sau đó phải là câu trả lời cho tình yêu ấy. Không phải bằng những lời long trọng, mà bằng cách sống mỗi ngày. Tình yêu Chúa sẽ được đáp lại trong một giờ kinh dù mệt. Trong một cuộc điện thoại được trả lời tử tế dù đang bận. Trong việc đến thăm một người bệnh dù trời mưa. Trong sự kiên nhẫn ngồi nghe một người kể đi kể lại chuyện cũ. Trong việc chịu khó chuẩn bị một bài giảng vì không muốn cho dân Chúa những lời hời hợt. Trong việc sống minh bạch với tiền bạc. Trong cách giữ khoảng cách đúng đắn trong các tương quan. Trong một lời xin lỗi khi mình sai. Trong việc không nói xấu một anh em dù đang buồn. Trong sự trung thành với lời khấn, với lời hứa, với căn tính đã lãnh nhận. Những điều ấy không tạo tiếng vang, nhưng làm nên sự thánh thiện.
Thế giới hôm nay có thể không cần thêm những con người quá giỏi làm người khác choáng ngợp; thế giới rất cần những chứng nhân khiến người ta tin rằng tình yêu vẫn còn thật. Một linh mục hiền lành là một bài giảng. Một tu sĩ sống thanh thoát là một câu hỏi cho xã hội vật chất. Một người tận hiến biết lắng nghe là dấu chỉ giữa thời đại ai cũng muốn nói. Một cộng đoàn biết vui với nhau là chứng tá giữa thế giới chia rẽ. Một người giữ được lòng trong sạch giữa bao cám dỗ là lời chứng rằng tự do nội tâm vẫn có thể. Một người dám sống nghèo giữa văn hóa tiêu thụ là lời nhắc rằng con người không sống chỉ nhờ những gì mình sở hữu. Chính vì thế, đời tu tự nó đã là một lời rao giảng, nếu được sống thật.
Mong rằng mỗi nơi quý thầy được sai đến sẽ có thêm một chút ánh sáng vì sự hiện diện của quý thầy. Không nhất thiết mọi người phải nhớ những công trình quý thầy đã làm; chỉ cần họ nhớ rằng đã từng có một người linh mục đối xử với họ bằng lòng nhân hậu. Có khi một người trở lại với Chúa không vì nghe một bài thần học sâu, mà vì một ngày nào đó họ gặp một mục tử không khinh họ. Có khi một người giữ được đức tin trong khủng hoảng chỉ vì từng có một tu sĩ ngồi cạnh họ khi họ đau nhất. Có khi một người trẻ chọn ơn gọi chỉ vì nhìn thấy một linh mục sống vui. Chúng ta không biết hết sức lan tỏa của một đời sống chân thành. Một nụ cười có thể đánh thức một ơn gọi. Một sự tử tế có thể giữ một người ở lại với Hội Thánh. Một thái độ lạnh lùng cũng có thể đẩy một người đi rất xa. Vì thế, từng cử chỉ đều đáng được trân trọng.
“Ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui.” Xin niềm vui ấy trước hết có trong chính cộng đoàn của mình, chứ đừng chỉ dành cho những nơi mình đến phục vụ. Có một nghịch lý đau lòng nếu một người rất vui với giáo dân nhưng trở về nhà lại lạnh nhạt với anh em. Sứ vụ bắt đầu từ căn nhà mình đang sống. Hãy biết hỏi thăm nhau. Hãy biết ngồi ăn với nhau không chỉ để ăn mà để gặp nhau. Hãy biết mừng vì thành công của anh em mà không thấy mình bị đe dọa. Hãy biết che chở nhau trước những yếu đuối thay vì đem chuyện của nhau làm đề tài. Hãy nhớ sinh nhật, nhớ ngày khấn, nhớ những ngày người kia đang khó. Một đời tu có thể chịu được rất nhiều thiếu thốn vật chất, nhưng rất khó sống nếu thiếu tình huynh đệ. Người ta có thể từ bỏ gia đình để đi tu, nhưng không ai được gọi để sống không có gia đình; cộng đoàn phải trở thành gia đình mới.
Và rồi, xin quý thầy luôn giữ lòng nhiệt thành. Nhiệt thành không phải là làm thật nhiều đến kiệt sức. Nhiệt thành là còn lửa. Có người rất bận nhưng không còn lửa; mọi việc trở thành thói quen. Có người công việc không nhiều, nhưng mỗi việc làm đều đầy sự hiện diện. Lửa sứ vụ được giữ bằng cầu nguyện, bằng học hỏi, bằng đời sống huynh đệ, bằng việc thường xuyên trở lại với người nghèo, và nhất là bằng việc nhớ lại vì sao mình bắt đầu. Có những ngày phải tự hỏi: ngày xưa điều gì khiến tôi bỏ mọi sự để bước theo Chúa? Tôi đã từng ao ước điều gì? Tôi từng khóc vì điều gì trong ngày khấn, ngày chịu chức? Trở lại với những câu hỏi đó không phải sống trong quá khứ, mà để khơi lại nguồn.
Xin đừng để những thất vọng làm quý thầy trở thành những con người cay nghiệt. Đừng để kinh nghiệm lâu năm biến thành thái độ biết hết. Đừng để chức vụ làm mất khả năng ngạc nhiên. Đừng để những lần bị lợi dụng khiến mình không còn dám tin ai. Đừng để một vài người vô ơn khiến mình ngừng làm điều tốt. Chúa Giêsu biết Giuđa sẽ phản bội, Người vẫn rửa chân cho ông. Người biết Phêrô sẽ chối, vẫn trao chìa khóa sau khi phục sinh. Tình yêu của Đức Kitô không ngây thơ, nhưng cũng không để sự phản bội của người khác quyết định mình sẽ trở thành người thế nào. Đó là điều người mục tử phải học suốt đời.
Ngày chịu chức, quý thầy nhận một quà tặng mà không ai có thể tự mua cho mình. Nhưng món quà ấy được trao trong bình sành mỏng giòn. Vì thế, xin sống trong tâm tình biết ơn hơn là tự mãn. Càng được trao sứ vụ, càng biết mình cần cầu nguyện. Càng được người khác gọi là cha, càng nhớ mình trước hết là người con của Thiên Chúa. Càng được đặt làm người hướng dẫn, càng cần có người hướng dẫn mình. Càng nghe người khác xưng thú yếu đuối, càng phải có nơi để mình thành thật với chính mình. Một người linh mục không phải là người không còn cần được nâng đỡ. Trái lại, càng mang nhiều người trên vai, càng cần biết đặt mình trong tay Chúa và trong sự đồng hành lành mạnh của anh em.
Ước gì sau nhiều năm, khi tóc đã bạc, bước chân đã chậm, quý thầy vẫn còn ánh mắt của ngày đầu. Có thể sức khỏe không còn, công việc được giao ít đi, nhiều người trẻ hơn tiếp nối, nhưng niềm vui vẫn còn đó. Khi ấy, đời linh mục sẽ đẹp theo một cách khác. Không còn cần chứng minh gì. Không còn bận lòng ai hơn ai. Chỉ còn một trái tim đã đi qua đủ thăng trầm mà trở nên hiền hơn. Một linh mục già ngồi ở cuối nhà nguyện, lần tràng hạt chậm rãi, có thể là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Hội Thánh. Cả đời ông đã nói nhiều về Chúa, cuối cùng ông chỉ còn ngồi với Chúa. Cả đời ông đã đi phục vụ người khác, rồi đến lúc phải để người khác phục vụ mình. Và nếu trong giây phút ấy ông vẫn có thể mỉm cười, đó là một bài giảng cuối cùng rất lớn: Chúa đáng để trao cả một đời.
Mong rằng ngày hôm nay hay bất cứ ngày nào một người được lãnh nhận chức thánh, niềm vui không chỉ nằm trong tiếng hát của cộng đoàn, nhưng thấm tận nơi sâu nhất của tâm hồn người được chọn. Xin cho quý thầy cảm nhận rằng Chúa không chỉ trao một sứ vụ, Chúa trao chính Người. Và từ đó, sứ vụ không còn là gánh nặng mình phải gồng lên mang, nhưng là hành trình đi với Đấng đã gọi mình. Sẽ có những ngày rất đẹp. Sẽ có những ngày rất khó. Nhưng ngày nào Chúa còn ở trung tâm, ngày ấy còn có lý do để đi tiếp.
Ước gì quý thầy đừng bao giờ đánh mất niềm vui vì được thuộc về Chúa. Có thể mất nhiều thứ, nhưng xin đừng mất điều ấy. Có thể sứ vụ thay đổi, địa chỉ thay đổi, trách nhiệm thay đổi, sức khỏe thay đổi, những người chung quanh thay đổi, nhưng tương quan với Chúa phải ngày càng sâu hơn. Đến cuối cùng, người linh mục không được hỏi mình đã xây được bao nhiêu, tổ chức được bao nhiêu, có bao nhiêu người biết tên mình. Điều còn lại là: tôi có yêu Chúa không? Tôi có yêu những người Chúa trao cho tôi không? Tôi có để chức thánh làm tôi giống Đức Kitô hơn không?
Mong rằng “ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui”, bởi nơi đó có những con người đã dám tin rằng Thiên Chúa đủ để làm đầy một đời người. Mong rằng “ở đâu có linh mục, ở đó có niềm vui”, bởi nơi đó người ta gặp một mục tử mang mùi của đoàn chiên, có bàn tay biết nâng đỡ, có đôi tai biết lắng nghe, có trái tim biết chạnh thương. Mong rằng giây phút được lãnh nhận chức thánh sẽ luôn là ngọn lửa âm ỉ cháy trong lòng quý thầy, để khi mỏi mệt còn biết trở về, khi chán nản còn biết nhớ lại, khi thành công còn biết cúi xuống, khi thất bại còn biết phó thác. Mong rằng tình yêu vô biên của Thiên Chúa mà quý thầy cảm nghiệm trong ngày thánh hiến ấy sẽ không chỉ là kỷ niệm, nhưng trở thành nguồn sống mỗi ngày, giúp quý thầy mãi hăng say mà không hấp tấp, nhiệt tâm mà không kiêu căng, mạnh mẽ mà vẫn dịu dàng, dấn thân mà vẫn biết cầu nguyện, phục vụ mà không tìm mình.
Và trên hết, xin cho quý thầy luôn nhớ rằng chức thánh không làm cho một người bớt cần Thiên Chúa, nhưng làm cho người ấy càng phải cần Chúa hơn. Bởi từ nay, có biết bao người sẽ tìm đến và nói: “Xin cha cầu nguyện cho con.” Có biết bao người sẽ gửi vào tay quý thầy những câu chuyện rất nặng. Có biết bao giọt nước mắt sẽ rơi trong phòng khách, trong tòa giải tội, bên giường bệnh, trước quan tài, trong những cuộc hôn nhân đổ vỡ. Nếu không mang tất cả những điều đó đặt vào tay Chúa, người mục tử sẽ không chịu nổi. Nhưng nếu mỗi tối biết trả lại cho Chúa những gì mình đã mang trong ngày, có thể ngủ bình an. “Lạy Chúa, đoàn chiên là của Chúa. Con chỉ là người được sai chăm sóc. Những người con không cứu được, xin Chúa cứu. Những vết thương con không chữa được, xin Chúa chạm tới. Những điều con làm chưa tốt, xin Chúa bù đắp. Và chính con, xin Chúa cũng thương.”
Có lẽ đó chính là bí quyết để một tu sĩ vẫn vui sau rất nhiều năm: biết mình không phải Đấng Cứu Thế. Chỉ có một Đấng Cứu Thế thôi, và Người đã cứu thế giới rồi. Chúng ta chỉ được mời cộng tác. Khi hiểu điều ấy, lòng nhẹ hơn. Mình làm hết sức, nhưng không ôm mọi thứ như thể tất cả phụ thuộc vào mình. Mình yêu hết lòng, nhưng không chiếm hữu. Mình phục vụ tận tâm, nhưng không đòi kết quả theo ý mình. Mình gieo hạt và để Thiên Chúa lo mùa gặt. Niềm vui nảy sinh từ sự tự do đó.
Xin Thiên Chúa giữ quý thầy trong tình yêu ban đầu. Xin Người làm cho đôi tay được xức dầu không chỉ biết cử hành những mầu nhiệm thánh, mà còn biết chạm đến những vết thương của con người bằng sự dịu dàng. Xin Người làm cho đôi chân luôn sẵn sàng đi đến những nơi ít ai muốn đến. Xin Người giữ đôi mắt trong sáng để nhìn người nghèo không bằng sự thương hại, nhìn người tội lỗi không bằng sự khinh chê, nhìn người chống đối không bằng thù ghét, nhìn thành công của anh em không bằng ghen tị. Xin Người giữ đôi tai đủ kiên nhẫn để nghe cả những điều mình đã nghe nhiều lần. Xin Người giữ môi miệng để lời giảng không chỉ đúng nhưng còn có tình, lời sửa dạy không chỉ thẳng nhưng còn có lòng thương, lời khuyên không chỉ hay nhưng phát xuất từ một đời sống đã được cầu nguyện.
Và xin cho trái tim quý thầy luôn mềm. Đời sống và sứ vụ sẽ có rất nhiều lý do để trái tim chai đi. Nhưng xin đừng để nó chai. Hãy còn biết khóc trước nỗi đau của người khác. Hãy còn biết vui thật lòng khi một người tìm lại được Chúa. Hãy còn xúc động khi nghe một em bé đọc kinh vụng về. Hãy còn thấy lòng mình rung lên trước Mình Thánh mỗi ngày. Hãy còn biết xin lỗi. Hãy còn biết nói cảm ơn. Hãy còn biết cần người khác. Hãy còn biết mình cũng là một người nghèo đứng trước lòng thương xót của Thiên Chúa.
Nếu được như thế, người ta sẽ nhìn vào quý thầy và hiểu phần nào câu nói: “Ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui.” Không phải vì quý thầy không có thập giá, nhưng vì quý thầy biết ai đang cùng vác thập giá. Không phải vì quý thầy không từng khóc, nhưng vì những giọt nước mắt ấy không dập tắt hy vọng. Không phải vì đời tu dễ, nhưng vì tình yêu mạnh hơn những khó khăn. Và người ta sẽ nhận ra rằng vẫn có những con người dám trao cả cuộc đời mình cho một Đấng không nhìn thấy bằng mắt, bởi họ đã gặp Người bằng cả trái tim.
Ước mong quý thầy bước vào chức thánh với niềm vui, sống chức thánh bằng lòng biết ơn, giữ chức thánh bằng cầu nguyện và hoàn tất hành trình ấy trong sự trung thành. Một ngày nào đó, tất cả những lời chúc mừng hôm nay sẽ chỉ còn là ký ức. Nhưng xin cho đến cuối đời, trong tận sâu tâm hồn, quý thầy vẫn nghe tiếng gọi năm xưa: “Hãy theo Thầy.” Và khi ấy, sau bao nhiêu năm tháng, quý thầy vẫn có thể thưa lại bằng một trái tim bình an: “Lạy Chúa, con đây. Con vẫn thuộc về Chúa. Con đã yếu đuối nhiều, đã vấp ngã nhiều, đã có những ngày không xứng đáng với tình yêu Chúa, nhưng nhờ ơn Chúa, con vẫn muốn đi theo Người cho đến cùng.”
Đó có lẽ là niềm vui đẹp nhất. Niềm vui không còn nằm trên môi mà đã thấm vào xương thịt. Niềm vui của một đời đã được trao đi. Niềm vui của một người biết mình đã không sống uổng. Niềm vui của người đã để Chúa dùng sự bé nhỏ của mình để chạm tới những cuộc đời khác. Và cuối cùng, khi không còn phải đi đâu, không còn phải làm gì, không còn phải giảng một bài nào nữa, chỉ còn một cuộc gặp mặt đối mặt với Đấng đã gọi mình từ thuở ban đầu, mong rằng mỗi người có thể nghe Người nói: “Hãy vào hưởng niềm vui của Chủ ngươi.”
Xin cho ngày chịu chức là ngày bắt đầu của niềm vui ấy. Xin cho từng ngày sứ vụ là một bước tiến sâu hơn vào niềm vui ấy. Và xin cho suốt hành trình, quý thầy luôn trở thành một lời nhắc dịu dàng cho thế giới rằng Thiên Chúa vẫn đáng yêu, Tin Mừng vẫn là Tin Mừng của niềm vui, và một cuộc đời được trao cho Chúa không phải là một cuộc đời bị mất đi, nhưng là một cuộc đời được tìm thấy trong tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR
KHI THIÊN CHỨC KHÔNG CÒN CHỈ LÀ MỘT NGÀY LỄ
Có những ngày trong đời Giáo Hội làm cho lòng người vui lên một cách rất tự nhiên. Ngày một người trẻ tuyên khấn, ngày một thầy được truyền chức Phó tế, ngày một tiến chức phủ phục trên nền cung thánh để rồi sau lời nguyện truyền chức đứng dậy trong một căn tính mới, những ngày ấy bao giờ cũng có hoa, có lời chúc mừng, có những ánh mắt rạng rỡ của cha mẹ, thân nhân, bạn bè, cộng đoàn. Người ta chụp hình, người ta trao vòng hoa, người ta viết những lời cầu chúc thật đẹp. Và quả thật, phải vui chứ. Giáo Hội có thêm một người tận hiến, cộng đoàn có thêm một người phục vụ, cánh đồng truyền giáo có thêm một người được sai đi, đó chẳng phải là một hồng ân hay sao? Thế nhưng giữa niềm vui ấy, đôi khi tôi lại thấy trong lòng mình xuất hiện một câu hỏi không dễ trả lời. Những người muốn bước vào đời tận hiến vẫn còn đó, những lớp ứng sinh, tập sinh, học viện, đại chủng viện vẫn còn những khuôn mặt trẻ, những ngày lễ khấn dòng, truyền chức vẫn được cử hành trang trọng; nhưng đồng thời, những câu chuyện làm người ta băn khoăn về căn tính đời tu, về phẩm chất của đời sống thánh hiến, về cách sống của người mang chức thánh cũng không phải là chuyện hiếm hoi. Và thế là tôi tự hỏi: những tiến chức hôm nay có còn là niềm hy vọng của các Ki-tô hữu không? Khi người tín hữu nhìn lên một linh mục, một tu sĩ, một người sắp lãnh nhận chức thánh, họ còn có thể nói với nhau rằng: “Ơn Chúa vẫn còn ở giữa chúng ta, vì vẫn còn những con người dám hiến cả cuộc đời cho Ngài” không? Hay có khi người ta chỉ nhìn thấy một chức danh mới, một chiếc áo mới, một vị trí mới, một vai trò mới trong cơ cấu Giáo Hội mà không còn cảm được cái run rẩy thánh thiêng của một đời người vừa được đặt vào tay Thiên Chúa? Và đau hơn nữa, tôi tự hỏi liệu chính người sắp lãnh nhận thiên chức có thật sự nhìn thấy phẩm giá của mình trong thiên chức ấy hay không. Tôi không hỏi điều đó để phán xét bất cứ ai. Càng sống lâu, càng đi qua nhiều vui buồn trong đời tu, tôi càng ngại phán xét một con người. Chỉ Chúa mới biết hết những vật lộn trong một tâm hồn, những đêm tối mà một người phải đi qua, những trận chiến âm thầm phía sau nụ cười bình thản của họ. Nhưng có những câu hỏi nếu không dám đặt ra thì có khi chính chúng ta lại đang góp phần làm cho điều thánh trở thành bình thường, làm cho điều cao quý trở thành một thứ quen thuộc đến mức không còn khiến mình kính sợ nữa.
Thiên chức không bắt đầu từ ngày người ta mặc lễ phục mới, cũng không bắt đầu từ tiếng vỗ tay của cộng đoàn. Thiên chức bắt đầu từ một tiếng gọi đã vang lên rất lâu trong cõi sâu của một con người, và chỉ có người ấy với Thiên Chúa mới biết đã bao lần tiếng gọi ấy bị lẫn trong những tiếng ồn của cuộc đời. Có người nghe tiếng gọi giữa một gia đình đạo đức. Có người nghe tiếng gọi từ một biến cố rất nhỏ. Có người nghe sau một lần quỳ lâu trước Thánh Thể. Có người nghe tiếng gọi mà chính họ cũng không hiểu tại sao. Có người đã chạy trốn, đã trì hoãn, đã đặt ra cho Chúa cả trăm lý do để từ chối, rồi cuối cùng vẫn phải thú nhận như ngôn sứ Giê-rê-mi-a rằng có một ngọn lửa bị nhốt trong xương cốt, muốn nén lại cũng không được. Nhưng tiếng gọi ban đầu dù đẹp đến đâu cũng chỉ là khởi điểm. Từ ngày bước qua cánh cửa chủng viện hay nhà dòng cho đến ngày phủ phục trên nền nhà thờ là cả một quãng đời rất dài, trong đó một con người phải học để chết đi từng chút cho chính mình. Học cầu nguyện khi lòng không muốn cầu nguyện. Học vâng phục khi ý riêng muốn rẽ sang một hướng khác. Học sống với anh em không do mình lựa chọn. Học nhận lời góp ý mà không tự ái. Học đứng sau người khác mà không thấy mình bị coi thường. Học làm một công việc bé nhỏ mà không cần ai biết. Học yêu Giáo Hội cả khi nhìn thấy những giới hạn rất con người trong lòng Giáo Hội. Học trung thành khi những cảm xúc ban đầu không còn. Và nhất là học hiểu rằng đời tận hiến không phải là một con đường giúp mình trở thành “một ai đó”, nhưng là con đường để mình càng ngày càng thuộc về Đấng đã gọi mình. Nếu sau mười năm, mười lăm năm đào tạo mà một người chỉ có thêm kiến thức, thêm bằng cấp, thêm kỹ năng, thêm sự tự tin, nhưng không thêm lòng kính sợ Chúa, không thêm khả năng cúi xuống, không thêm sự hiền lành, không thêm lòng thương người, thì tất cả những gì có được ấy vẫn chưa chạm tới cốt lõi của đời tận hiến.
Có lẽ một trong những cám dỗ âm thầm nhất của người chuẩn bị lãnh nhận chức thánh là người ta có thể mong chờ ngày ấy như mong chờ một đích đến. Sau bao nhiêu năm học hành, bao nhiêu kỳ thi, bao nhiêu lần lượng giá, bao nhiêu giai đoạn huấn luyện, cuối cùng “cũng tới ngày”. Cách nói ấy rất bình thường, nhưng nếu không cẩn thận, chính trong suy nghĩ “cũng tới ngày” có thể ẩn một nguy cơ: coi truyền chức như phần thưởng của một quá trình đã hoàn thành. Thực ra, truyền chức không phải là phần thưởng. Chẳng ai xứng đáng với thiên chức đến mức có thể nói rằng mình đã học đủ nên được chức thánh, đã tu đủ nên được chức thánh, đã cố gắng đủ nên Thiên Chúa phải ban cho mình chức thánh. Không. Thiên chức luôn là ân huệ vượt quá công trạng của con người. Ngày đặt tay không phải ngày Giáo Hội trao huy chương cho một ứng viên đã vượt qua mọi thử thách; đó là ngày một người công khai thú nhận rằng từ nay đời mình không còn thuộc về mình nữa. Bởi vậy, nếu tiến gần ngày chịu chức mà lòng chỉ đầy những tính toán xem sẽ được sai đi đâu, giữ nhiệm vụ gì, có được coi trọng hay không, có được trao một giáo xứ lớn hay nhỏ, có cơ hội học tiếp hay không, có được đứng ở nơi mình mong muốn hay không, thì có điều gì đó cần được xét lại thật sâu. Người nhận chức thánh trước hết nhận một thập giá, chứ không phải nhận một vị trí. Người ấy nhận trách nhiệm phải làm cho Đức Ki-tô hiện diện giữa đoàn dân, chứ không phải nhận quyền để người khác xoay quanh mình. Người ấy nhận một sứ mạng phải chết từng ngày cho anh chị em mình, chứ không nhận một đặc quyền để từ nay được người ta gọi bằng một danh xưng kính trọng hơn.
Tôi vẫn nghĩ rằng giây phút phủ phục trong nghi thức truyền chức là một trong những hình ảnh đẹp và dữ dội nhất của đời linh mục. Một con người nằm sát mặt đất. Không đứng. Không ngồi. Không còn tư thế nào để biểu lộ mình. Cả thân mình úp xuống như muốn nói: “Lạy Chúa, con chẳng có gì để khoe trước mặt Ngài.” Trong khi ấy, cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Giáo Hội trên trời và Giáo Hội dưới đất như cùng hiện diện quanh một con người bé nhỏ. Người ấy không thể tự làm mình thành linh mục. Người ấy không thể tự ban cho mình Chúa Thánh Thần. Người ấy chỉ có thể nằm đó, hoàn toàn thụ động trước ân sủng. Tôi ao ước mỗi tiến chức đừng bao giờ quên tư thế ấy. Sau này có thể đứng trên bục giảng, hãy nhớ có một ngày mình đã nằm sát đất. Sau này có thể chủ tọa những cử hành đông người, hãy nhớ có một ngày mình chẳng làm được gì ngoài việc nằm im để Giáo Hội cầu nguyện cho mình. Sau này có thể được người ta kính trọng, được gọi là “cha”, được mời ngồi chỗ danh dự, hãy nhớ đã từng có một ngày mình úp mặt xuống nền nhà thờ để nói với Chúa rằng: tất cả chỉ là ân ban. Nếu nhớ được ngày phủ phục ấy, có lẽ ta sẽ bớt dễ dàng nổi nóng khi người khác không làm theo ý mình, bớt tổn thương khi không được nhìn nhận, bớt nhu cầu phải chứng minh mình quan trọng, bớt xem quyền bính như một thứ để bảo vệ cái tôi. Bởi chức thánh càng cao thì lời mời gọi cúi xuống càng sâu. Đức Giê-su không bao giờ dùng quyền năng để làm cho mình lớn hơn; càng đến gần giờ được tôn vinh, Người càng cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Đó là nghịch lý của Tin Mừng mà mọi chức thánh phải mang trong mình: càng được trao nhiều, càng phải quỳ thấp hơn; càng được gọi bằng những danh xưng cao quý, càng phải sống như người tôi tớ.
Vậy những tiến chức hôm nay có còn là niềm hy vọng của các Ki-tô hữu không? Tôi nghĩ rằng người tín hữu vẫn hy vọng. Họ hy vọng nhiều lắm, có khi nhiều hơn chúng ta tưởng. Một bà mẹ nghèo đi lễ mỗi sáng có thể chẳng hiểu những thuật ngữ thần học cao siêu, nhưng bà biết thế nào là một linh mục thánh thiện. Một cụ già quê mùa chẳng phân biệt được thần học tín lý với thần học mục vụ, nhưng cụ cảm được ngay khi một linh mục đến với cụ bằng trái tim hay chỉ bằng bổn phận. Một em bé chẳng biết “căn tính linh mục” nghĩa là gì, nhưng em biết người cha xứ có nhìn em bằng ánh mắt hiền hay không. Một người đang đau khổ chẳng cần linh mục nói thật nhiều; đôi khi họ chỉ cần cảm thấy vị linh mục ấy thực sự ở bên mình. Giáo dân nhìn người linh mục không phải trước hết để tìm một nhà quản trị tài giỏi, một diễn giả xuất sắc, một người làm truyền thông hấp dẫn, một kiến trúc sư xây nhà thờ giỏi, một người gây quỹ khéo, hay một người tổ chức sự kiện thành công. Những điều đó có thể cần, thậm chí rất cần trong hoàn cảnh mục vụ hôm nay. Nhưng sâu hơn tất cả, họ muốn gặp một người của Chúa. Họ muốn khi nhìn linh mục, dù linh mục ấy nghèo tài, nói năng không hoa mỹ, tổ chức không thật giỏi, vẫn có một điều khiến họ tin rằng vị này đã cầu nguyện cho mình. Họ muốn thấy có một người vẫn còn tin vào Tin Mừng đến mức đem cả cuộc đời đặt cược vào Tin Mừng ấy. Trong một xã hội mà người ta tính toán từng lợi ích, một người sống độc thân vì Nước Trời là một dấu hỏi. Trong một thế giới đề cao tự do cá nhân, một người tự nguyện vâng phục là một dấu hỏi. Trong một nền văn hóa khuyến khích tích lũy, một người chọn sống nghèo khó là một dấu hỏi. Những dấu hỏi ấy nếu được sống thật sẽ trở thành lời chứng mạnh hơn mọi bài giảng. Nhưng nếu những lời khấn chỉ còn trên giấy, nếu độc thân chỉ còn là tình trạng pháp lý, nếu nghèo khó chỉ là không đứng tên tài sản nhưng đời sống lại đầy nhu cầu hưởng thụ, nếu vâng phục chỉ được nhắc đến khi muốn người dưới nghe mình còn bản thân thì không muốn nghe ai, lúc đó đời tu mất đi sức tiên tri của nó. Người ta không thất vọng vì người tu sĩ yếu đuối. Người ta hiểu con người ai cũng yếu. Điều làm người ta đau là khi người tu sĩ không còn thấy điều mình đã chọn là thiêng thánh nữa.
Phẩm giá của người lãnh nhận chức thánh không nằm ở việc người ấy được người khác kính trọng thế nào, mà nằm ở chỗ người ấy được Thiên Chúa trao cho một trách nhiệm kinh khủng đến mức phải run sợ. Linh mục cầm lấy bánh và rượu trong đôi tay rất con người của mình, đọc lại lời của Đức Ki-tô và Giáo Hội tin rằng trên bàn thờ, chính Đức Ki-tô hiện diện. Linh mục ngồi nơi tòa giải tội, nghe những điều sâu kín nhất của một đời người và nhân danh Đức Ki-tô nói lời tha thứ. Linh mục đứng bên giường một người đang hấp hối, xức dầu cho đôi tay lạnh dần và đặt vào tai người sắp chết những lời cuối cùng của niềm hy vọng. Linh mục cúi xuống trước một em bé vừa chào đời, đồng hành với một đôi vợ chồng trong những ngày đẹp nhất, rồi cũng có khi đứng bên huyệt mộ tiễn một con người trở về lòng đất. Có thể một ngày của linh mục nhìn từ bên ngoài rất bình thường: lễ sáng, giấy tờ, điện thoại, cuộc họp, thăm bệnh, dạy giáo lý, làm việc mục vụ. Nhưng trong những điều bình thường ấy lại chứa một mầu nhiệm rất lớn. Người linh mục đứng ở những ngưỡng cửa quan trọng nhất của kiếp người, từ lúc một người được sinh vào đời sống ân sủng cho tới khi họ từ giã cuộc đời này. Nếu chính linh mục không còn cảm thấy run trước điều đó, chức thánh rất dễ biến thành nghề nghiệp. Và khi chức thánh thành nghề nghiệp, người ta bắt đầu đo thành công bằng số người biết tới mình, quy mô công trình, số lượt xem, vị trí trong cơ cấu, mức độ ảnh hưởng, sự thuận tiện của nơi được bổ nhiệm. Còn những tiêu chuẩn Tin Mừng như lòng trung tín, đời cầu nguyện, sự nghèo khó nội tâm, khả năng tha thứ, sự hiện diện với người nghèo, lòng thương xót với tội nhân, sự thanh sạch của ý hướng lại bị đẩy về phía sau. Đó là lúc phải sợ.
Tôi không sợ một linh mục trẻ chưa giảng hay. Giảng rồi sẽ khá. Tôi không sợ một linh mục trẻ còn vụng về trong mục vụ. Đi rồi sẽ quen. Tôi cũng không quá lo khi thấy một linh mục trẻ chưa đủ kinh nghiệm xử lý những chuyện phức tạp. Thời gian sẽ dạy. Điều tôi sợ là một người vừa chịu chức đã nghĩ rằng mình không còn gì phải học. Tôi sợ sự tự mãn hơn sự non yếu. Tôi sợ cái tôi khoác áo đạo đức hơn sự vụng về chân thành. Tôi sợ một trái tim không còn biết đau trước nỗi đau của người khác hơn một trí óc chưa biết giải quyết hết mọi vấn đề. Tôi sợ người linh mục quen đứng ở giữa những nghi thức thánh mà tâm hồn không còn bị đánh động bởi điều thánh. Sợ một ngày cầm Mình Thánh Chúa mà lòng chẳng còn run. Sợ một ngày đọc Tin Mừng chỉ để tìm ý làm bài giảng chứ không còn để Lời ấy đâm vào chính đời mình. Sợ một ngày nghe người khác xưng tội mà trong lòng chỉ thấy mệt, thay vì nhớ rằng đây là một linh hồn đang trở về. Sợ một ngày người nghèo tìm tới mà mình chỉ thấy phiền. Sợ một ngày bổn phận trở thành gánh nặng còn quyền lợi lại trở thành chuyện đương nhiên. Bởi một linh mục không mất căn tính trong một đêm. Thường người ta mất dần từng chút. Một lần bỏ giờ cầu nguyện vì quá bận. Một lần dễ dãi với chính mình. Một lần biện minh cho một thói quen nhỏ. Một lần để lời khen làm mình ngây ngất quá lâu. Một lần để lời chê làm mình cay cú quá nhiều. Một lần thấy việc mục vụ thành của riêng mình. Một lần xem giáo dân như người phải nghe mình thay vì đoàn chiên mình phải phục vụ. Cứ thế, khoảng cách giữa ngày phủ phục và đời sống thường nhật ngày càng xa.
Thế nên tôi mong những người chuẩn bị lãnh nhận chức thánh đừng chỉ chuẩn bị lễ truyền chức thật đẹp. Lễ rồi sẽ qua rất nhanh. Hoa rồi sẽ héo. Hình rồi sẽ được lưu vào một thư mục nào đó. Những lời chúc mừng rồi cũng chìm xuống dưới hàng trăm tin nhắn khác. Chiếc áo mới rồi sẽ cũ. Chén lễ mới rồi sẽ xước. Chỉ còn lại một câu hỏi dai dẳng suốt cuộc đời: tôi có sống xứng với điều đã lãnh nhận không? Và chữ “xứng” ở đây không có nghĩa là trở thành một con người hoàn hảo không khuyết điểm. Nếu phải hoàn hảo mới được làm linh mục thì chẳng ai dám bước tới bàn thờ. “Xứng” nghĩa là biết mình bất xứng để mỗi ngày phải bám vào ân sủng. “Xứng” là biết khóc khi nhận ra mình đã làm tổn thương đoàn chiên. “Xứng” là biết trở về với Chúa sau những sa sút. “Xứng” là không dùng chức thánh để che giấu sự nghèo nàn của chính mình. “Xứng” là dám xin lỗi. “Xứng” là biết học lại từ giáo dân, từ người nghèo, từ trẻ nhỏ, từ những người mình từng nghĩ rằng chẳng có gì để dạy mình. “Xứng” là mỗi tối vẫn có thể quỳ xuống và hỏi Chúa một câu rất đơn sơ: “Lạy Chúa, hôm nay con đã làm cho người ta gần Chúa hơn hay xa Chúa hơn?”
Tôi cũng nghĩ đến trách nhiệm của chúng ta, những người đứng quanh các tiến chức. Đừng chỉ tặng hoa cho họ. Hãy cầu nguyện cho họ. Đừng chỉ khen họ giỏi, đẹp, trẻ, năng động. Hãy cầu xin cho họ thánh thiện. Đừng đẩy họ vào một thứ kỳ vọng khiến họ phải trở thành nhân vật nổi bật. Có khi chính cộng đoàn vô tình làm hỏng một linh mục trẻ bằng quá nhiều lời tâng bốc. Mới chịu chức được vài tháng đã gọi là “cha tài năng”, “cha nổi tiếng”, “cha giảng quá hay”, “cha làm gì cũng được”. Những lời ấy nghe rất vui nhưng có thể là thuốc ngọt. Một người trẻ còn chưa đủ thời gian để hiểu hết chính mình mà mỗi ngày được bao quanh bởi sự tung hô rất dễ quên rằng chức thánh không làm cho bản tính con người tự nhiên biến mất. Cái tôi vẫn còn. Nhu cầu được công nhận vẫn còn. Những vết thương tâm lý vẫn còn. Ham muốn quyền lực vẫn có thể còn. Những vùng chưa trưởng thành vẫn còn nằm đó. Chức thánh không phải phép màu xóa sạch tất cả. Bởi vậy, linh mục trẻ cần những người thương mình đủ thật để dám nói sự thật. Cần một người anh có thể nhắc: “Hình như dạo này em đang đi hơi nhanh.” Cần một người cha thiêng liêng dám hỏi những câu khó. Cần một cộng đoàn không chỉ hoan hô khi họ thành công mà còn ở lại khi họ mệt mỏi. Cần những người không biến họ thành thần tượng nhưng nâng đỡ họ sống đúng căn tính đã lãnh nhận.
Có một thực tế cũng cần được nói bằng lòng yêu mến: người trẻ hôm nay bước vào đời tu trong một thế giới khác rất nhiều thế hệ trước. Họ sống giữa mạng xã hội, giữa văn hóa hình ảnh, giữa sự đo lường bằng lượt xem, lượt thích, lượt theo dõi. Một linh mục hôm nay có thể chỉ trong một thời gian ngắn được hàng chục nghìn người biết tới. Truyền thông mở ra những cơ hội tuyệt vời cho việc loan báo Tin Mừng, nhưng cũng đặt người tận hiến trước một cám dỗ mới: rất dễ nhầm ảnh hưởng với hoa trái. Hai điều ấy không giống nhau. Một bài nói có thể được hàng triệu lượt xem nhưng người nói vẫn có thể rất xa Chúa. Một linh mục có thể không ai biết tên, phục vụ ở một vùng quê nghèo, ngày ngày dâng lễ cho vài chục người, tối đến đi thăm người bệnh, âm thầm giải tội, kiên nhẫn dạy giáo lý cho trẻ nhỏ, chẳng có hình ảnh nào lan truyền trên mạng, nhưng đời linh mục của vị ấy có thể đang sinh một mùa hoa trái rất lớn trên trời. Vì thế, người lãnh nhận chức thánh phải thường xuyên tự hỏi: tôi muốn được biết tới hay muốn Đức Ki-tô được biết tới? Tôi đang xây hình ảnh của mình hay đang xây Nước Chúa? Tôi buồn vì Tin Mừng chưa tới được người ta, hay buồn vì người ta chưa chú ý đến tôi? Những câu hỏi ấy đau, nhưng cần.
Phẩm giá của thiên chức còn được nhìn thấy trong sự tự do của một con người. Một người đã thuộc về Chúa thì phải càng ngày càng tự do khỏi nhu cầu sở hữu, tự do khỏi tiền bạc, tự do khỏi sự lệ thuộc tình cảm, tự do khỏi phe nhóm, tự do khỏi khát vọng quyền lực, tự do khỏi sự lệ thuộc vào tiếng khen tiếng chê. Tôi không nói đó là điều dễ. Trái lại, có lẽ đó là cuộc chiến kéo dài suốt đời. Nhưng không thể có đời tận hiến thật nếu không có cuộc chiến ấy. Bởi một người nói mình thuộc về Chúa nhưng lại bị tiền bạc sai khiến thì trái tim ấy đã có chủ khác. Một người tuyên khấn khiết tịnh nhưng lại không biết giữ khoảng cách trưởng thành trong những mối tương quan thì sớm muộn sẽ đau và làm người khác đau. Một người tuyên hứa vâng phục nhưng chỉ vâng khi quyết định hợp với ý mình thì vâng phục ấy chưa đi vào tận gốc. Một người tuyên khấn nghèo khó nhưng lại phải có những tiện nghi hơn người khác mới thấy ổn thì lời khấn ấy rất dễ chỉ còn là khái niệm. Đời tu không đòi chúng ta diễn một vai hoàn hảo, nhưng đòi chúng ta sống thật. Khi yếu thì nhận mình yếu. Khi có vấn đề thì xin giúp đỡ. Khi bị cám dỗ thì đừng nghĩ mình miễn nhiễm vì đang khoác áo tu. Không ai ngã chỉ vì mình yếu; nhiều người ngã vì không chịu thừa nhận mình yếu.
Và rồi tôi nghĩ đến Chúa Giê-su. Nếu muốn biết phẩm giá của chức thánh là gì, hãy nhìn Người. Người không có ngai vàng, không có dinh thự, không có đoàn quân bảo vệ. Người đi giữa dân, chạm vào người phong cùi, ngồi ăn với người tội lỗi, khóc trước mộ người bạn, cúi xuống trước người phụ nữ bị kết án, kiên nhẫn với những môn đệ chậm hiểu. Người không dùng quyền năng để bảo vệ mình khỏi thập giá. Và vào buổi tối cuối cùng, khi biết mình từ Thiên Chúa mà đến và sắp trở về với Thiên Chúa, Người đã đứng dậy, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng rồi quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Thánh Gio-an cố ý nhắc rằng Đức Giê-su biết mình từ đâu đến và đi về đâu trước khi cúi xuống rửa chân. Nghĩa là chính vì biết căn tính của mình nên Người mới có thể cúi xuống. Đó là một chi tiết rất sâu. Người không có căn tính thường phải cố đứng cao để chứng minh mình. Người biết mình là ai thì không sợ cúi xuống. Linh mục cũng thế. Nếu thực sự biết mình là người được Chúa chọn nhưng hoàn toàn bởi ân sủng, sẽ không cần tranh chỗ. Nếu biết chức thánh của mình đến từ Đức Ki-tô, sẽ không phải tìm giá trị bằng tiếng vỗ tay. Nếu biết mình là người phục vụ, sẽ không khó chịu khi phải làm những việc nhỏ. Có khi dấu chỉ rõ nhất cho thấy một người hiểu thiên chức không phải là cách họ đứng trên cung thánh, mà là cách họ sống khi chẳng ai nhìn thấy.
Tôi vẫn còn hy vọng nơi những tiến chức hôm nay. Tôi hy vọng không vì họ hoàn hảo. Tôi hy vọng vì Chúa vẫn gọi những con người rất bình thường để thực hiện những điều vượt quá họ. Các Tông đồ ngày xưa đâu phải những nhân vật hoàn hảo. Phêrô từng chối Chúa. Tô-ma từng hoài nghi. Gio-an và Gia-cô-bê từng tranh chỗ. Cả nhóm từng bỏ chạy trong giờ thử thách. Vậy mà Chúa vẫn đặt kho tàng vào những bình sành ấy. Hy vọng của Giáo Hội chưa bao giờ đặt trên sự hoàn hảo của người được gọi, nhưng trên lòng trung tín của Đấng gọi họ. Tuy nhiên, niềm hy vọng ấy không phải cái cớ để chúng ta dễ dãi. Chính vì ân huệ quá lớn nên người nhận càng phải tỉnh thức. Cái bình bằng đất không thể tự hào về kho tàng chứa trong mình. Mỗi sáng thức dậy, người linh mục cần biết ơn vì Chúa vẫn còn dùng mình. Mỗi tối, cần xin tha thứ cho những lần mình đã làm méo khuôn mặt của Người. Mỗi ngày, lại học làm linh mục từ đầu. Bởi chẳng ai “tốt nghiệp” khỏi đời sống thiêng liêng.
Tôi mong các tiến chức trước ngày đặt tay hãy dành cho mình một khoảng thinh lặng thật dài. Đừng chỉ nghĩ tới khách mời, lễ phục, thiệp, bàn tiệc, hình ảnh. Hãy một mình bước vào nhà nguyện khi không còn ai. Hãy nhìn thật lâu lên Thánh Giá. Rồi hỏi Đấng chịu đóng đinh: “Lạy Chúa, con có thực sự muốn thuộc về Chúa không? Con có chấp nhận một đời mà có khi làm rất nhiều nhưng chẳng ai biết không? Con có chấp nhận phục vụ những người không thương con không? Con có chấp nhận khi mình già đi, bệnh tật, không còn được chú ý nữa mà vẫn trung thành không? Con có chấp nhận để Chúa phá những kế hoạch đẹp của con nếu điều đó cần cho Nước Chúa không? Con có chấp nhận một ngày người ta quên mình nhưng vẫn nhớ Đức Ki-tô qua đời mình không?” Nếu còn có thể trả lời: “Lạy Chúa, Chúa biết con yếu đuối, nhưng Chúa biết con yêu Chúa”, thì hãy bước tới. Đừng bước tới vì không còn con đường nào khác. Đừng bước tới vì gia đình đã mong chờ quá lâu. Đừng bước tới vì sợ mang tiếng bỏ cuộc. Đừng bước tới vì đã học bao nhiêu năm nên giờ không thể quay lại. Chức thánh không phải một chuyến tàu mà đã mua vé thì phải đi cho hết. Đứng lại trước khi lãnh nhận còn can đảm hơn sống cả đời trong một căn tính mà lòng mình không thực sự muốn thuộc về. Giáo Hội cần linh mục, nhưng Giáo Hội không cần chức thánh bằng mọi giá. Giáo Hội cần những con người tự do thưa “xin vâng”.
Và sau ngày truyền chức, có lẽ lời cầu chúc đẹp nhất không phải “chúc cha thành công”, mà là “chúc cha trung thành”. Thành công rồi có thể mất. Nổi tiếng rồi có thể bị quên. Công trình rồi có thể xuống cấp. Chức vụ rồi cũng trao cho người khác. Nhưng sự trung thành thì được ghi ở nơi không ai lấy đi được. Tôi mong những tân chức đừng sợ những năm tháng âm thầm. Chính trong những năm tháng ấy Chúa làm công việc sâu nhất. Một cha xứ già ngày ngày dâng Thánh lễ khi nhà thờ thưa người có thể đang sống một thiên chức đẹp hơn một người nổi tiếng. Một linh mục kiên nhẫn nghe đi nghe lại những câu chuyện cũ của một người già cô độc có thể đang làm một việc rất lớn trước mặt Chúa. Một linh mục đêm khuya lái xe vài chục cây số đi xức dầu cho người hấp hối, chẳng ai chụp hình, chẳng ai vỗ tay, nhưng ở trời cao có lẽ đó là khoảnh khắc rất đẹp. Chức thánh lớn lên bằng những điều như thế. Không ồn ào. Không hào nhoáng. Không cần chứng minh.
Và nếu hỏi tôi rằng các tiến chức ấy có còn là niềm hy vọng của các Ki-tô hữu không, tôi vẫn muốn trả lời rằng: có, nếu họ còn là người của Chúa. Có, nếu sau tất cả những năm đào tạo, họ vẫn còn biết quỳ. Có, nếu càng được gọi bằng danh xưng cao quý, họ càng sống khiêm nhường. Có, nếu bàn tay được xức dầu không ngại chạm vào những mảnh đời bẩn thỉu và thương tích. Có, nếu đôi chân bước lên cung thánh cũng sẵn sàng bước xuống những con hẻm nghèo. Có, nếu miệng đọc lời truyền phép cũng biết nói lời xin lỗi. Có, nếu đôi mắt nhìn Mình Thánh Chúa mỗi ngày vẫn biết nhận ra Chúa trong người nghèo. Có, nếu giữa một thế giới chạy theo quyền lực, họ vẫn chọn phục vụ; giữa một thế giới chạy theo sở hữu, họ vẫn sống thanh thoát; giữa một thế giới dễ bỏ cuộc, họ vẫn trung thành; giữa một thế giới ồn ào, họ vẫn biết tìm về thinh lặng. Khi ấy, một linh mục không chỉ là người làm công việc của Giáo Hội. Chính đời của họ trở thành một câu trả lời. Câu trả lời rằng Thiên Chúa vẫn đáng để một con người trao cả đời. Câu trả lời rằng Tin Mừng vẫn đủ đẹp để ai đó từ bỏ nhiều điều mà bước theo. Câu trả lời rằng giữa thời đại tưởng như mọi sự đều có thể mua bán, vẫn còn có một đời người được dâng không vì lợi ích nào khác ngoài tình yêu.
Và hơn hết, tôi mong chính những người sắp lãnh nhận chức thánh nhìn thấy phẩm giá của mình, nhưng nhìn bằng đôi mắt đúng đắn. Đừng nhìn phẩm giá ấy để tự hào về mình. Hãy nhìn để biết sợ mà gìn giữ. Đừng nhìn để thấy mình cao hơn giáo dân. Hãy nhìn để hiểu mình mắc nợ họ nhiều hơn. Đừng nhìn để nghĩ từ nay mình có quyền. Hãy nhìn để thấy từ nay mình có trách nhiệm. Đừng nhìn chiếc áo mình mặc mà quên thân phận bằng đất bên trong. Đừng nhìn bàn tay được xức dầu mà quên chính bàn tay ấy vẫn có thể làm tổn thương người khác nếu không được đặt lại mỗi ngày trong tay Chúa. Thiên chức cao quý không vì con người mang thiên chức cao quý; thiên chức cao quý vì Đức Ki-tô đã chọn dùng những con người mỏng giòn để tiếp tục chạm vào thế giới.
Ngày lễ truyền chức rồi sẽ kết thúc. Cung thánh sẽ hết hoa. Khách sẽ ra về. Nhà thờ trở lại yên tĩnh. Và người tân chức sẽ trở về căn phòng của mình, có lẽ lần đầu tiên ngồi một mình với thiên chức vừa lãnh nhận. Tôi mong trong khoảnh khắc ấy, giữa niềm vui và sự mệt mỏi, họ có thể thầm nói một lời thật nhỏ: “Lạy Chúa, con biết con không xứng. Nhưng Chúa đã gọi con. Xin đừng để ngày nào con quên rằng đời con thuộc về Chúa và thuộc về dân của Chúa.” Chỉ cần giữ được lời ấy cho tới cuối đời, có lẽ thế là đủ. Bởi điều Giáo Hội cần không phải những linh mục không bao giờ yếu, mà là những linh mục biết mình yếu và vẫn mỗi ngày quay về với nguồn sức mạnh. Giáo Hội không cần những vị thánh bằng tượng ngay từ ngày chịu chức; Giáo Hội cần những người dám để Chúa thánh hóa mình từng ngày. Và người tín hữu cũng không cần nhìn thấy một con người hoàn hảo nơi linh mục. Họ chỉ cần nhìn thấy một con người thật sự thuộc về Chúa. Khi còn những con người như thế, dù thời đại có nhiều bóng tối đến đâu, tôi vẫn tin Giáo Hội còn hy vọng. Bởi một ngọn đèn nhỏ nếu thực sự cháy vẫn đủ giúp người ta nhận ra đường trong đêm. Một linh mục thực sự thuộc về Chúa cũng thế. Có khi chẳng làm những điều lớn lao, nhưng chỉ cần đời họ còn cháy một ngọn lửa thật, người ta sẽ nhìn thấy và biết rằng: Thiên Chúa vẫn còn đi giữa dân Người.
Lm. Anmai, CSsR
CON NGƯỜI – HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA VÀ PHẨM GIÁ KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP CHÀ ĐẠP
Khởi đi từ những trang đầu tiên của Sách Sáng Thế, trước khi con người kịp làm một điều gì để chứng minh mình, trước khi con người có thành tích để tự hào, trước khi có những chức danh, địa vị, tài sản, bằng cấp, sắc đẹp, sức khỏe hay bất cứ tiêu chuẩn nào mà xã hội vẫn thường dùng để cân đo giá trị của một con người, Thiên Chúa đã đặt vào nơi họ một phẩm giá không gì có thể thay thế. Giữa muôn loài thụ tạo, có một khoảnh khắc rất đặc biệt khi Thiên Chúa phán: “Chúng Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng Ta, giống như Chúng Ta” (St 1,26). Chỉ một câu ấy thôi cũng đủ để mở ra cả một mầu nhiệm lớn lao về con người. Con người không phải là một sinh vật tình cờ xuất hiện giữa vũ trụ mênh mông. Con người không phải là một món đồ được tạo ra để sử dụng rồi vứt bỏ. Con người cũng không phải chỉ là một đơn vị lao động, một con số trong thống kê, một lá phiếu, một khách hàng, một hồ sơ bệnh án, một tài khoản ngân hàng hay một cái tên giữa hàng tỷ cái tên khác. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Và chính từ chân lý căn bản ấy, mọi suy tư về phẩm giá con người phải bắt đầu. Có thể một người nghèo đến mức chẳng còn gì trong tay, nhưng người ấy vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa. Có thể một người bệnh tật, già nua, mất khả năng lao động, phải sống nhờ sự chăm sóc của người khác, nhưng người ấy vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa. Có thể một người từng phạm sai lầm, từng vấp ngã, từng có một quá khứ khiến người đời khinh miệt, nhưng nơi sâu thẳm nhất của hữu thể họ, dấu ấn của Đấng Tạo Hóa vẫn còn đó. Tội lỗi có thể làm hình ảnh ấy hoen mờ, nhưng không thể xóa sạch. Thất bại có thể làm con người mất danh dự trước mắt thiên hạ, nhưng không thể làm họ mất phẩm giá trước mặt Thiên Chúa. Người đời có thể quay lưng, cộng đồng có thể loại trừ, xã hội có thể dán nhãn, nhưng Thiên Chúa vẫn nhìn thấy nơi con người một hữu thể được Ngài muốn có, được Ngài yêu thương và được Ngài mời gọi đi vào sự hiệp thông với chính Ngài.
Điều đáng suy nghĩ là chúng ta rất dễ tuyên xưng rằng con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, nhưng lại sống với nhau như thể điều ấy chưa từng được mặc khải. Ta có thể cúi đầu thật sâu trước Nhà Tạm nhưng lại lạnh lùng trước một người nghèo đứng ngoài cổng. Ta có thể kính cẩn hôn Thánh Giá nhưng lại dễ dàng dùng lời nói đóng đinh người khác. Ta có thể rất sốt sắng trong những giờ kinh nhưng lại coi người giúp việc, người lao động, người yếu thế như những công cụ phải phục vụ mình. Ta có thể nói rất nhiều về Thiên Chúa mà không nhận ra rằng một trong những cách rõ ràng nhất để tôn kính Thiên Chúa chính là biết tôn trọng hình ảnh của Ngài nơi người bên cạnh. Có những xúc phạm đến Thiên Chúa không diễn ra trong nhà thờ mà ngay trong căn bếp gia đình, nơi một người chồng dùng lời cay nghiệt làm tổn thương vợ mình. Có những lần hình ảnh Thiên Chúa bị xúc phạm ngay trong phòng khách, khi cha mẹ đem con cái ra so sánh, chì chiết, phủ nhận và khiến chúng tin rằng chúng chẳng có giá trị gì nếu không đạt được điều cha mẹ mong muốn. Có những lần phẩm giá con người bị chà đạp trong công sở, khi cấp trên coi nhân viên như những chiếc máy sản xuất hiệu suất, khi người ta sẵn sàng làm nhục một người chỉ vì một lỗi lầm, khi những người yếu thế không có tiếng nói phải âm thầm nuốt nước mắt để giữ một công việc. Có những lần hình ảnh Thiên Chúa bị tổn thương trên mạng xã hội, khi một con người bị đem ra làm trò tiêu khiển cho đám đông, bị phán xét, chế giễu và kết án chỉ trong vài phút, trong khi chẳng ai biết hết câu chuyện phía sau cuộc đời họ. Chúng ta thường đau lòng khi thấy một tượng thánh bị xúc phạm, nhưng có khi lại bình thản trước một con người bị sỉ nhục, trong khi chính con người mới là hình ảnh sống động mà Thiên Chúa đã đặt giữa thế gian này.
Được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa cũng có nghĩa rằng con người mang trong mình khả năng vượt lên trên bản năng. Con vật có thể bị dẫn dắt bởi nhu cầu, nhưng con người có khả năng chọn điều tốt dù điều tốt ấy làm mình thiệt thòi. Con người có thể tự nhận biết, biết mình đang nghĩ gì, đang muốn gì, đang đi về đâu. Con người có thể tự làm chủ chính mình, có thể nói “không” với một ham muốn để nói “có” với một giá trị lớn hơn. Con người có tự do, nhưng tự do ấy không phải là khả năng muốn làm gì thì làm. Tự do đích thực là khả năng chọn điều làm cho mình trở thành con người hơn. Có người tưởng rằng tự do là không cần nghe ai, không bị ràng buộc bởi bất cứ chuẩn mực nào, nhưng một người không làm chủ được cơn giận thì chưa tự do; một người không thể cưỡng lại tiền bạc thì chưa tự do; một người bị lệ thuộc vào ánh nhìn của người khác thì chưa tự do; một người phải liên tục tìm kiếm lời khen để biết mình có giá trị thì chưa tự do. Tự do mà Thiên Chúa trao ban là một quà tặng cao quý nhưng cũng rất nguy hiểm nếu con người sử dụng nó để hủy hoại chính mình và người khác. Vì được tự do nên con người có khả năng yêu, bởi tình yêu nếu bị ép buộc thì không còn là tình yêu. Và cũng chính vì được tự do, con người có thể từ chối tình yêu. Thiên Chúa chấp nhận sự mong manh đáng sợ ấy bởi Ngài không muốn tạo ra những cỗ máy biết vâng lời; Ngài muốn những người con có khả năng tự do đáp lại tình yêu của Ngài.
Chính nơi khả năng hiến dâng bản thân, phẩm giá con người đạt đến một vẻ đẹp đặc biệt. Con người càng sống cho riêng mình thì càng trở nên tù túng, nhưng càng biết trao ban thì càng trở nên giống Thiên Chúa. Thiên Chúa mà chúng ta tin không phải là một Thiên Chúa đóng kín trong chính mình. Mầu nhiệm Thiên Chúa là mầu nhiệm của tình yêu tự hiến, của sự trao ban, của hiệp thông. Vì thế, con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa cũng chỉ thực sự tìm thấy chính mình khi biết bước ra khỏi cái tôi để gặp gỡ người khác. Có những người dành cả đời để tìm hạnh phúc cho mình nhưng cuối cùng vẫn trống rỗng, bởi họ quên mất rằng trái tim con người được dựng nên không chỉ để nhận mà còn để cho. Một bà mẹ thức trắng nhiều đêm bên giường đứa con bệnh có thể mệt mỏi, nhưng trong sự mệt mỏi ấy có một vẻ đẹp của tự hiến. Một người cha âm thầm làm việc, chắt chiu từng đồng để con được học hành có thể chẳng bao giờ được xã hội biết đến, nhưng nơi sự hy sinh đó có một điều rất gần với trái tim Thiên Chúa. Một người vợ chăm sóc người chồng đau yếu nhiều năm, một người con kiên nhẫn nâng đỡ cha mẹ già, một linh mục âm thầm phục vụ một cộng đoàn nhỏ bé, một tu sĩ sống đời kín ẩn cầu nguyện cho những người mình không hề quen biết, một người trẻ dám hy sinh cơ hội riêng để chăm sóc một thành viên yếu đau trong gia đình – những điều ấy có thể chẳng xuất hiện trên trang nhất báo chí, nhưng chúng nói rất rõ phẩm giá cao quý của con người: con người có khả năng trao ban chính mình vì tình yêu.
Và vì con người là một ngôi vị chứ không phải một đồ vật, nên không ai có quyền sử dụng người khác như phương tiện cho mục đích riêng. Đây là một nguyên tắc tưởng đơn giản nhưng nếu sống thật thì có thể thay đổi cả xã hội. Người chồng không sở hữu người vợ. Người vợ không sở hữu người chồng. Cha mẹ không sở hữu con cái. Người lãnh đạo không sở hữu thuộc cấp. Linh mục không sở hữu giáo dân. Người giàu không sở hữu người nghèo vì mình trả tiền cho họ. Một người có quyền lực không vì thế mà có quyền làm nhục người không có quyền lực. Một người có tiền không vì thế mà có giá trị hơn người không có tiền. Một người có học vị cao không vì thế mà được phép khinh thường người ít học. Một người khỏe mạnh không vì thế mà có quyền xem người khuyết tật là gánh nặng. Một người trẻ trung không vì thế mà được phép coi người già như những người đã hết giá trị. Một đứa trẻ chưa sinh ra không phải vì chưa thể lên tiếng mà mất quyền được tôn trọng. Một người bệnh nặng không phải vì không còn khả năng đóng góp kinh tế mà trở thành một sinh mạng “vô ích”. Giá trị của một con người không nằm ở mức độ hữu dụng của họ. Nếu chỉ những người có ích mới đáng sống, thì đến một ngày nào đó khi chúng ta già yếu và không còn “có ích”, chính logic tàn nhẫn ấy sẽ quay lại loại bỏ chúng ta.
Có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất của thời đại là con người càng nói nhiều về quyền con người nhưng đôi khi lại càng dễ biến con người thành hàng hóa. Thân xác được đem ra buôn bán. Hình ảnh được đem ra mua vui. Người lao động bị bóc lột để tối đa hóa lợi nhuận. Tình cảm bị biến thành món hàng trao đổi. Sự nổi tiếng khiến một con người trở thành sản phẩm phải liên tục chiều lòng đám đông. Mạng xã hội biến người khác thành những con số: bao nhiêu lượt thích, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu người theo dõi. Dần dần, chính ta cũng bắt đầu nhìn mình bằng những con số ấy. Nếu bài đăng ít người quan tâm, ta thấy mình kém giá trị. Nếu không được công nhận, ta tưởng rằng mình không đáng kể. Nếu người khác thành công hơn, ta cảm thấy mình thất bại. Thật đáng buồn khi một hữu thể được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại phải hỏi chiếc điện thoại rằng mình có đáng được yêu hay không. Phẩm giá của ta không đến từ đám đông. Đám đông hôm nay có thể tung hô, ngày mai có thể quay sang kết án. Người đời hôm nay có thể gọi ta là thành công, ngày mai có thể quên tên ta. Nhưng trước khi bất cứ ai biết đến ta, Thiên Chúa đã biết. Trước khi bất cứ ai yêu ta, Thiên Chúa đã yêu. Trước khi ta có thể làm được một điều gì, sự hiện hữu của ta đã là một điều được Ngài muốn có.
Nhìn lại cuộc đời Đức Giêsu, ta càng hiểu rõ hơn Thiên Chúa nhìn phẩm giá con người như thế nào. Đức Giêsu có một cách nhìn rất khác với đám đông. Khi người ta chỉ thấy một người phong cùi cần tránh xa, Ngài thấy một con người cần được chạm đến. Khi người ta chỉ thấy một người thu thuế đáng khinh, Ngài thấy nơi ông Dakêu một trái tim có thể hoán cải. Khi người ta chỉ thấy một người phụ nữ tội lỗi, Ngài thấy một con người vẫn còn có thể đứng dậy và bắt đầu lại. Khi các môn đệ xua trẻ nhỏ đi vì cho rằng chúng làm phiền, Ngài gọi chúng lại gần. Khi người mù bên vệ đường bị đám đông bắt im, Đức Giêsu dừng lại để nghe tiếng kêu của anh. Khi người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bị ném vào giữa vòng người đang cầm đá, Đức Giêsu không phủ nhận tội lỗi của bà, nhưng Ngài cũng không cho phép người ta nghiền nát phẩm giá của bà. Cách Thiên Chúa cứu con người thật lạ: Ngài nói sự thật về tội lỗi nhưng không hủy diệt người có tội. Ngài lên án điều xấu nhưng vẫn giữ lại cho kẻ sa ngã một con đường trở về. Có lẽ đó cũng là điều chúng ta phải học rất nhiều. Có những người nhân danh sự thật để làm nhục người khác. Có những người tưởng rằng vì mình đúng nên mình có quyền cay nghiệt. Nhưng sự thật của Đức Kitô không bao giờ tách khỏi tình yêu. Sự thật không có tình yêu có thể trở thành một con dao. Tình yêu không có sự thật có thể trở thành sự dễ dãi. Đức Giêsu giữ cả hai: Ngài yêu đủ để không kết án con người, nhưng cũng yêu đủ để nói: hãy đi và đừng phạm tội nữa.
Nếu thực sự tin con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, ta cũng phải học nhìn chính mình bằng một ánh mắt khác. Nhiều người dành cả đời để yêu thương người khác nhưng lại vô cùng tàn nhẫn với bản thân. Chỉ một lỗi lầm là tự kết án mình. Chỉ một thất bại là cho rằng đời mình vô nghĩa. Chỉ vì không đẹp như người khác, không giỏi như người khác, không thành công như người khác mà thấy mình thấp kém. Có người mang theo những câu nói của người khác từ thời thơ ấu đến tận tuổi trưởng thành: “Mày chẳng làm được gì đâu”, “Mày không bằng người ta”, “Mày chỉ là gánh nặng”, “Không ai cần mày”. Những câu nói ấy đôi khi trở thành chiếc gương méo mó khiến ta không còn nhận ra hình ảnh thật của mình. Nhưng có một điều phải nhớ: tiếng nói của người khác về ta không phải là phán quyết cuối cùng. Ngay cả tiếng nói cay nghiệt của chính ta về bản thân cũng không phải là phán quyết cuối cùng. Phán quyết đầu tiên và cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, và Ngài nói rằng ta được dựng nên theo hình ảnh Ngài. Điều đó không làm ta kiêu ngạo; trái lại, nó giúp ta khiêm nhường. Bởi ta nhận ra giá trị mình có không do mình tự tạo nên. Ta không phải người ban phẩm giá cho chính mình; ta chỉ là người nhận lãnh. Và nếu phẩm giá của ta là quà tặng, thì phẩm giá của người khác cũng vậy.
Chính vì vậy, càng hiểu phẩm giá con người, ta càng không thể sống bằng sự khinh miệt. Khinh người nghèo là xúc phạm Đấng đã dựng nên họ. Khinh người thất học là quên rằng trí thông minh không phải thước đo duy nhất của phẩm giá. Khinh người phạm tội là quên rằng mình cũng sống nhờ lòng thương xót. Khinh người thuộc một hoàn cảnh khác mình là biến những khác biệt phụ thuộc thành lý do để phủ nhận điều căn bản nhất: họ cũng là con người. Đôi khi người ta không giết nhau bằng dao súng nhưng bằng ánh mắt. Một ánh mắt khinh thường có thể khiến người khác co mình lại. Một câu nói nhục mạ có thể ở lại trong tâm trí họ hàng chục năm. Một lần công khai bêu xấu có thể phá hủy cả một cuộc đời. Chúng ta cần cẩn trọng với thứ quyền lực nằm trên đầu lưỡi. Lời nói có thể nâng một con người đứng lên, nhưng cũng có thể đẩy họ xuống vực sâu. Một lời khích lệ đúng lúc có thể thay đổi cả tương lai một đứa trẻ. Một câu “cha tin con”, “mẹ tin con”, “anh hiểu em”, “chị vẫn quý em”, “không sao, mình bắt đầu lại” đôi khi chính là bàn tay kéo một con người ra khỏi sự tuyệt vọng. Nếu họ là hình ảnh Thiên Chúa, thì cách ta nói với họ không thể tùy tiện.
Điều đặc biệt hơn nữa là khi Thiên Chúa ban cho con người phẩm giá, Ngài đồng thời trao cho họ trách nhiệm. Được chọn không phải để kiêu hãnh hơn muôn loài, mà để phục vụ công trình tạo dựng. Lệnh “hãy làm chủ” trong Sách Sáng Thế không phải là giấy phép để con người khai thác thiên nhiên đến kiệt quệ. Quyền thống trị của con người phải phản ánh cách Thiên Chúa cai quản: bằng sự chăm sóc, gìn giữ và làm cho sự sống được phát triển. Người quản lý không phải là chủ sở hữu tuyệt đối. Trái đất không phải món tài sản mà thế hệ này có thể tiêu dùng hết rồi để lại một thế giới hoang tàn cho thế hệ sau. Khi con người phá rừng vô độ, đầu độc nguồn nước, khai thác đến mức hệ sinh thái sụp đổ, đó không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là vấn đề luân lý. Bởi những người nghèo thường là những người đầu tiên phải trả giá cho sự tàn phá ấy. Và những thế hệ chưa sinh ra cũng có quyền được nhận lại một thế giới còn có thể sống. Phẩm giá con người không thể tách khỏi trách nhiệm đối với ngôi nhà chung.
Nhưng trách nhiệm lớn nhất vẫn là trách nhiệm với nhau. Một xã hội có thể rất phát triển về kỹ thuật nhưng vẫn nghèo nàn về nhân bản nếu con người không còn biết nhìn nhau như những ngôi vị. Ta có thể xây những tòa nhà rất cao nhưng lại không cúi xuống được trước một người đau khổ. Ta có thể chế tạo những cỗ máy cực kỳ thông minh nhưng lại không biết nói một lời tử tế. Ta có thể gửi thông tin đi khắp thế giới trong một phần giây nhưng lại không chịu nghe người bên cạnh mình nói hết một câu. Ta có thể kết nối với hàng ngàn người nhưng chẳng có ai để gọi lúc lòng tan vỡ. Tiến bộ thực sự không thể chỉ đo bằng tốc độ máy tính, tổng sản phẩm quốc nội hay số lượng công nghệ mới. Một xã hội chỉ thực sự tiến bộ khi người yếu nhất trong xã hội ấy vẫn được bảo vệ, khi một đứa trẻ không bị coi là gánh nặng, khi người già không bị bỏ quên, khi người khuyết tật được tạo điều kiện sống xứng đáng, khi người nghèo không bị xem là những kẻ thất bại, khi người di dân được nhìn như những con người trước khi bị nhìn như vấn đề, khi tù nhân vẫn được đối xử như người có khả năng thay đổi, khi người lầm lỗi được mở cho một con đường trở về.
Phẩm giá con người cũng đặt một câu hỏi rất sâu cho những người đang nắm quyền, dù đó là quyền lực trong xã hội, trong Giáo Hội, trong cộng đoàn hay trong một gia đình nhỏ. Quyền lực rất dễ làm con người quên rằng người trước mặt mình cũng có phẩm giá ngang bằng. Khi có quyền, ta dễ nghĩ rằng ý mình quan trọng hơn. Khi có chức vụ, ta dễ quen với việc người khác phải nghe mình. Khi được kính trọng, ta dễ quên mình cũng là một con người có thể sai. Vì vậy, quyền lực chỉ đẹp khi trở thành phục vụ. Đức Giêsu đã đảo ngược hoàn toàn cách hiểu của thế gian: người lớn nhất phải là người phục vụ. Ngài không chỉ nói điều ấy mà còn quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Một Thiên Chúa quỳ xuống trước con người! Hình ảnh ấy đủ để làm chúng ta xấu hổ mỗi khi dùng chức vụ để bắt người khác phục vụ mình. Nếu Đức Kitô cúi xuống, người môn đệ không thể đứng quá cao. Nếu Đức Kitô rửa chân, người lãnh đạo Kitô giáo không thể chỉ thích người khác cúi đầu. Nếu Đức Kitô dùng quyền năng để chữa lành, chúng ta không thể dùng quyền lực để gây sợ hãi.
Trong đời sống gia đình, tôn trọng phẩm giá nhau có khi bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Là biết để người kia nói hết câu. Là không lấy điểm yếu của họ ra làm vũ khí trong lúc giận. Là không nhắc lại quá khứ đã được tha thứ chỉ để thắng một cuộc tranh luận. Là không đem chồng mình, vợ mình, con mình ra làm trò cười trước mặt người khác. Là tôn trọng những giới hạn, những nỗi sợ, những giấc mơ của nhau. Có những gia đình không thiếu tiền nhưng thiếu sự tôn trọng. Có những căn nhà rất đẹp nhưng trong đó người ta nói với nhau bằng những lời không bao giờ dám nói với người ngoài. Lạ thay, ta thường lịch sự nhất với người xa lạ và dễ tổn thương nhất với người thân. Nhưng nếu người thân cũng là hình ảnh Thiên Chúa, chẳng phải họ càng xứng đáng nhận được từ ta những lời dịu dàng nhất sao? Một gia đình không cần hoàn hảo. Chỉ cần trong đó mọi người còn biết rằng mình được tôn trọng ngay cả khi mình yếu đuối, được lắng nghe ngay cả khi mình bất đồng, được yêu ngay cả khi mình chưa tốt như người khác mong đợi.
Trong đời sống đức tin cũng vậy, đừng bao giờ lấy Thiên Chúa làm lý do để hạ thấp phẩm giá con người. Có khi người ta tưởng rằng muốn bảo vệ đạo phải nói thật mạnh, muốn bênh vực chân lý phải làm cho đối phương câm miệng, muốn giữ sự thánh thiện phải loại trừ người yếu đuối. Nhưng Đức Kitô không bao giờ loan báo Tin Mừng bằng cách nghiền nát một con người. Ngài có thể rất nghiêm khắc với giả hình, bất công và lạm dụng quyền lực, nhưng trước những người mang vết thương, Ngài luôn có một khoảng dịu dàng kỳ lạ. Giáo Hội chỉ có thể trở thành dấu chỉ của Nước Thiên Chúa khi trong Giáo Hội, phẩm giá của mỗi người được gìn giữ. Người giáo dân không phải là người đứng dưới để chỉ biết vâng lời. Tu sĩ không phải là một công cụ của cơ cấu. Chủng sinh không phải là một dự án phải được đúc theo một khuôn duy nhất. Linh mục cũng không phải là một cỗ máy mục vụ không được phép yếu đuối. Mỗi người trước hết là một con người, một người con của Thiên Chúa, có lịch sử, có giới hạn, có những vết thương, có những ân ban và có một hành trình riêng cần được tôn trọng.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là chúng ta chưa từng nghe nói về phẩm giá con người, mà là nghe quá nhiều đến mức không còn thấy nó gây đòi hỏi gì cho đời mình. “Con người là hình ảnh Thiên Chúa” rất dễ trở thành một câu giáo lý đẹp nếu nó không làm thay đổi cách ta đối xử với người giúp việc, với người khác ý kiến, với người làm ta khó chịu, với người từng làm ta tổn thương. Phẩm giá con người chỉ thực sự trở thành niềm tin khi nó khiến ta dừng lại trước khi nói một câu nhục mạ. Khi nó khiến ta không chia sẻ một hình ảnh làm mất danh dự người khác. Khi nó khiến ta trả lương công bằng. Khi nó khiến ta xin lỗi người nhỏ tuổi hơn mình. Khi nó khiến ta bảo vệ một người đang bị đám đông bắt nạt. Khi nó khiến ta biết chăm sóc một người già dù họ chẳng còn có thể làm gì cho ta. Khi nó khiến ta không bỏ rơi một người lúc họ thất bại. Khi nó khiến ta hiểu rằng điều một con người cần nhất đôi khi không phải là một bài giảng nhưng là cảm giác rằng họ vẫn được nhìn nhận như một con người.
Rồi một ngày, mỗi chúng ta sẽ già đi. Những điều hôm nay khiến ta kiêu hãnh có thể sẽ rời khỏi ta từng chút một. Sức khỏe sẽ yếu. Nhan sắc sẽ phai. Trí nhớ có thể không còn sắc bén. Những vị trí từng khiến người khác nể phục sẽ có người khác ngồi vào. Công việc ta từng nghĩ không thể thiếu mình vẫn sẽ tiếp tục khi ta nghỉ. Có lẽ chính lúc ấy ta mới thấm rằng nếu giá trị con người nằm ở năng suất, tuổi già thật đáng sợ. Nếu giá trị nằm ở vẻ đẹp, thời gian thật tàn nhẫn. Nếu giá trị nằm ở quyền lực, lúc nghỉ hưu là một bi kịch. Nếu giá trị nằm ở tiền bạc, bệnh tật có thể lấy đi rất nhiều. Nhưng nếu phẩm giá của ta bắt nguồn từ việc ta là hình ảnh Thiên Chúa, thì không tuổi tác nào lấy được. Một cụ già nằm bất động trên giường vẫn có phẩm giá như ngày người ấy đang sung sức. Một bệnh nhân không còn nhận biết người thân vẫn là một ngôi vị cần được yêu. Một con người ở những giây phút cuối đời không trở nên kém giá trị chỉ vì họ không còn khả năng nói lời cảm ơn.
Cuối cùng, mầu nhiệm Nhập Thể đưa phẩm giá con người lên một chiều kích còn sâu hơn nữa. Thiên Chúa không chỉ tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài; Ngài còn mang lấy chính thân phận con người. Ngôi Lời đã trở thành xác phàm. Từ đó, không còn có thể nói về con người như một thực tại thấp hèn mà Thiên Chúa đứng xa. Thiên Chúa đã có một khuôn mặt người, một đôi bàn tay người, một trái tim người. Ngài đã biết đói, biết khát, biết mệt, biết khóc, biết đau đớn, biết bị hiểu lầm, biết bị phản bội. Và cuối cùng Ngài chấp nhận chịu đóng đinh để cứu chuộc con người. Thập Giá nói cho ta biết giá trị của một linh hồn lớn đến đâu: lớn đến mức Con Thiên Chúa chấp nhận đổ máu vì họ. Vì thế, mỗi lần ta coi thường một người, hãy nhìn lên Thập Giá và tự hỏi: người mà tôi đang khinh ấy có phải là người Đức Kitô đã chết cho không? Người tôi đang muốn làm nhục ấy có phải là người Đức Giêsu đã trao mạng sống để cứu không? Người mà tôi thấy khó thương ấy có phải vẫn là một người được Máu Thánh Đức Kitô đổ ra vì họ không?
Có lẽ nếu nhớ được điều ấy, ta sẽ sống chậm lại một chút trước người khác. Ta sẽ bớt vội kết án. Bớt thích phân loại ai tốt ai xấu theo những gì mình nhìn thấy. Bớt tự cho mình quyền quyết định giá trị của một đời người. Ta sẽ hiểu rằng mỗi người ta gặp là một mầu nhiệm. Đằng sau một khuôn mặt có thể là cả một lịch sử mà ta không biết. Đằng sau một thái độ khó chịu có thể là một vết thương chưa lành. Đằng sau một người khép kín có thể là nhiều lần bị phản bội. Đằng sau một người phạm lỗi có thể là một cuộc chiến nội tâm kéo dài mà chẳng ai nhìn thấy. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận đúng sai, nhưng là đừng bao giờ để việc phán đoán một hành vi biến thành việc phủ nhận cả một con người.
Và cũng xin nhớ cho rằng chính ta cũng là một mầu nhiệm như thế. Đừng sống cả đời chỉ để chứng minh mình xứng đáng tồn tại. Ta không cần phải làm những điều phi thường để được Thiên Chúa yêu. Ngài yêu ta trước cả khi ta có thể đáp lại. Ta có trách nhiệm sống tốt, trưởng thành, sinh hoa trái và làm cho hình ảnh Thiên Chúa nơi mình ngày càng sáng hơn, nhưng tất cả những điều đó là câu trả lời cho một tình yêu đã có trước, chứ không phải cái giá để mua lấy tình yêu ấy. Khi hiểu điều này, ta có thể thôi cạnh tranh để chứng minh mình hơn người khác. Ta có thể vui trước thành công của người khác mà không thấy mình nhỏ lại. Ta có thể thừa nhận lỗi lầm mà không sợ mình mất hết giá trị. Ta có thể xin lỗi mà không thấy bị hạ thấp. Ta có thể bắt đầu lại sau thất bại bởi biết rằng một lần ngã không định nghĩa toàn bộ con người mình.
Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh Ngài. Câu nói ấy vừa là một hồng ân, vừa là một lời gọi. Hồng ân vì ta được trao một phẩm giá không ai có quyền lấy mất. Lời gọi vì ta phải sống sao cho hình ảnh ấy ngày càng rõ hơn qua cách ta yêu, ta tha thứ, ta phục vụ, ta bảo vệ người yếu thế và ta tôn trọng mỗi con người đi ngang qua đời mình. Có thể chúng ta không làm được những việc lớn. Có thể chẳng ai nhớ tên ta sau vài thế hệ. Nhưng nếu suốt cuộc đời, ta đã giúp một số người cảm thấy họ có giá trị, đã nâng một người đang gục xuống, đã trả lại danh dự cho một người bị chà đạp, đã cho một người lầm lỗi cơ hội bắt đầu lại, đã làm cho một đứa trẻ lớn lên mà không phải nghi ngờ mình có đáng được yêu hay không, thì có lẽ ta đã làm được một điều rất gần với trái tim Thiên Chúa.
Đến cuối cùng, khi mọi danh xưng rơi xuống, khi của cải ở lại, khi thành tích trở thành chuyện cũ và khi ta đứng trước mặt Đấng đã dựng nên mình, có lẽ điều quan trọng không còn là người đời từng gọi ta bằng chức danh gì, nhưng là ta đã nhìn hình ảnh Thiên Chúa nơi người khác ra sao. Ta có nhận ra Ngài nơi người đói khát không? Có nhận ra Ngài nơi người bệnh tật không? Có nhận ra Ngài nơi người phiền toái không? Có nhận ra Ngài nơi người mình không thích không? Có nhận ra Ngài nơi người từng làm mình tổn thương không? Bởi Đức Kitô đã nói một điều rất đáng sợ và cũng rất đẹp: điều gì ta làm cho một trong những người bé nhỏ nhất là ta làm cho chính Ngài. Hóa ra Thiên Chúa vẫn ở rất gần. Ngài ở trong Nhà Tạm, nhưng Ngài cũng đang đi qua đời ta dưới những khuôn mặt rất bình thường. Ngài có thể là một người già cần ta ngồi lại thêm mười phút. Là một đứa trẻ cần được lắng nghe thay vì bị quát mắng. Là một người nghèo mà ta thường lướt qua. Là một người đang mang một quá khứ không đẹp và cần một ánh mắt không kết án. Là một người trong chính gia đình mà lâu rồi ta đã quên nói một lời dịu dàng.
Xin cho chúng ta đừng chỉ tin bằng môi miệng rằng con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Xin cho chân lý ấy đi xuống tận đôi mắt, để ta biết nhìn nhau khác đi; đi xuống tận môi miệng, để ta nói với nhau dịu dàng hơn; đi xuống tận đôi tay, để ta biết nâng đỡ thay vì xô ngã; đi xuống tận trái tim, để ta có thể yêu cả những người không dễ thương. Và xin cho mỗi buổi sáng khi nhìn vào gương, ta cũng nhớ rằng người đang đứng trước mặt mình không phải một kẻ phải liên tục chứng minh giá trị, nhưng là một người đã được Thiên Chúa gọi từ hư vô vào hiện hữu, đã được mang dấu ấn hình ảnh Ngài và đã được mời gọi bước về phía Ngài. Nếu hiểu được điều ấy, ta sẽ không còn sống một đời nhỏ bé trong sự khinh thường bản thân hay khinh thường người khác. Ta sẽ tập sống như những người biết mình đến từ đâu, thuộc về ai và cuối cùng sẽ trở về với ai. Bởi phẩm giá của con người không nằm trong bàn tay thế gian. Nó nằm trong ánh mắt của Đấng đã nhìn con người từ thuở ban đầu và phán rằng công trình ấy “rất tốt đẹp”. Và một khi Thiên Chúa đã nhìn một con người như thế, không ai trong chúng ta có quyền nhìn họ như một thứ gì thấp hơn.
Lm. Anmai, CSsR
CON ĐƯỜNG CHẲNG MẤY AI ĐI
Có những con đường đông người qua lại, đến độ người ta chỉ cần bước theo dấu chân của người đi trước mà chẳng phải băn khoăn nhiều. Nhưng cũng có những con đường hẹp, vắng, âm thầm, không có tiếng vỗ tay hai bên, không có những bảo đảm rất tự nhiên của cuộc đời, và người bước vào đó phải mang trong lòng một tiếng gọi đủ mạnh để có thể đi tiếp khi chung quanh chẳng mấy ai hiểu mình. Đời linh mục, đời thánh hiến, theo một nghĩa nào đó, chính là một con đường như thế: một con đường mà chẳng mấy ai đi. Không phải vì đó là con đường dành cho những con người khác thường, càng không phải vì những người bước vào đó cao quý hơn những người sống đời gia đình, nhưng bởi lẽ con đường ấy đi ngược lại một khuynh hướng rất tự nhiên mà chính Thiên Chúa đã đặt vào lòng con người từ thuở tạo dựng. Sách Sáng Thế kể rằng Thiên Chúa dựng nên người nam và người nữ, để họ tìm thấy nơi nhau một sự bổ túc, một mái ấm, một tình yêu, một sự trao hiến và một tương lai được tiếp nối nơi con cái. Người nam lìa cha mẹ mà gắn bó với người vợ của mình, và cả hai trở nên một xương một thịt. Đó là điều đẹp. Đó là thánh ý của Thiên Chúa. Đó là con đường bình thường và cao quý của rất nhiều người. Bởi thế, khi một người trẻ nói rằng mình muốn từ bỏ quyền lập gia đình, không tìm cho mình một người vợ, không xây một mái nhà riêng, không sinh những đứa con mang họ mình, không dành cả cuộc đời để vun đắp cho một gia đình theo nghĩa thông thường, thì chắc chắn điều ấy không thể chỉ bắt đầu bằng một cảm hứng nhất thời. Nếu chỉ vì chán đời, một ngày nào đó họ sẽ chán cả đời tu. Nếu chỉ vì thất tình, rồi vết thương sẽ lành và tiếng gọi sẽ phai. Nếu chỉ vì muốn tìm một đời sống an toàn, có cơm ăn áo mặc, có vị trí trong cộng đoàn, rồi chẳng bao lâu họ sẽ khám phá rằng chẳng có sự an toàn nào trong một đời sống phải cho đi chính mình từng ngày. Nếu chỉ vì thích chiếc áo dòng, thích bàn thờ, thích được kính trọng, thì ngày chiếc áo trở nên nặng, bàn thờ trở thành nơi phải hiến tế chính đời mình, và sự kính trọng nhường chỗ cho hiểu lầm hay lạnh nhạt, người ấy sẽ thấy mình trống rỗng. Người linh mục chỉ có thể đi trọn con đường ấy khi ở tận đáy lòng mình có một xác tín: tôi đã được gọi. Không phải tôi chọn Chúa trước, nhưng Chúa đã chọn tôi. Không phải tôi quá tốt, nhưng Chúa đã thương tôi. Không phải tôi đủ khả năng, nhưng Chúa muốn dùng chính sự mỏng giòn của tôi để làm một điều vượt quá tôi. Và từ ngày đáp lời ấy, đời linh mục bắt đầu trở thành một cuộc tình rất lạ: không có một người vợ để gọi là của riêng mình, nhưng lại phải học yêu một đoàn dân rất rộng; không có những đứa con ruột thịt mang dòng máu của mình, nhưng lại có biết bao tâm hồn được trao vào tay để chăm sóc; không có một mái ấm riêng để trở về mỗi tối, nhưng lại phải cố gắng để nơi mình hiện diện, người khác có thể cảm thấy một chút gì đó của mái ấm Thiên Chúa.
Vì thế, nói linh mục là người “không lập gia đình” mới chỉ nói được một nửa sự thật. Người linh mục không sống độc thân để trở thành một người cô độc. Linh mục từ bỏ một tình yêu riêng để được mời gọi bước vào một tình yêu rộng hơn. Người ấy không khước từ tình yêu, nhưng phải học một cách yêu khác. Không giữ một người cho riêng mình, nhưng phải mở lòng cho nhiều người. Không sống sự phong nhiêu của thân xác trong việc sinh con cái, nhưng được mời gọi sống sự phong nhiêu thiêng liêng bằng việc sinh những con người mới trong đức tin, nâng đỡ những tâm hồn đang mỏi mệt, dẫn người lạc đường trở về, đặt Lời Chúa vào một trái tim đang khô cằn, trao Mình Thánh Chúa cho một người bệnh, ban lời tha thứ của Thiên Chúa cho một hối nhân, cầm tay một người sắp chết và nói với họ rằng họ không đi vào bóng tối một mình. Có những người cha sinh con một lần trong đời, nhưng người linh mục, nếu trung thành với ơn gọi, phải học sinh ra con cái thiêng liêng từng ngày trong đau đớn, cầu nguyện và hy sinh. Có những đứa con tinh thần được sinh ra từ một bài giảng tưởng như rất bình thường; có một con người đã định bỏ Chúa nhưng tình cờ nghe một lời nào đó mà quay về. Có những người được sinh lại trong tòa giải tội sau hàng chục năm mang mặc cảm và tội lỗi. Có những gia đình đứng bên bờ tan vỡ nhưng nhờ một cuộc gặp gỡ, một lời khuyên, một chút kiên nhẫn của người mục tử mà họ chịu ngồi lại với nhau. Có những người trẻ đã từng muốn buông xuôi cuộc đời nhưng nhờ gặp một linh mục chịu dành cho họ một giờ để lắng nghe, họ nhận ra mình vẫn đáng sống. Có những người nghèo chẳng nhớ bài giảng nào của cha xứ nhưng nhớ suốt đời rằng trong lúc họ khốn cùng nhất, vị linh mục ấy đã âm thầm đến thăm. Đó là con cái của đời linh mục. Không mang cùng huyết thống, nhưng mang dấu ấn của một tình yêu đã được cho đi. Vì thế, đời độc thân thánh hiến nếu sống đúng không làm trái tim con người nhỏ lại, nhưng phải làm trái tim rộng ra. Nếu một linh mục càng sống lâu mà càng khép kín, càng chỉ nghĩ đến tiện nghi của mình, càng khó chịu với những người quấy rầy mình, càng phân chia người mình thích và người mình không thích, càng chỉ muốn gần người giàu, người có chức, người biết tâng bốc, thì cần phải tự hỏi lại xem mình đang sống độc thân vì Nước Trời hay chỉ đang sống một cuộc đời không kết hôn. Hai điều ấy khác nhau rất xa. Không lấy vợ chưa chắc đã là sống đời độc thân vì Tin Mừng. Độc thân Tin Mừng là để trái tim được tự do mà thuộc về Chúa và thuộc về dân Chúa. Độc thân Tin Mừng là lúc nửa đêm vẫn có thể bước ra khỏi nhà vì một người bệnh đang hấp hối. Là đang mệt nhưng vẫn ngồi lại thêm một chút với một người đang đau khổ. Là có thể dành thời giờ cho một người chẳng mang lại cho mình bất cứ lợi ích gì. Là vui với người vui và khóc với người khóc. Là không biến đời linh mục thành một “nghề tôn giáo”, nhưng luôn nhớ rằng phía sau mỗi nghi thức, mỗi bí tích, mỗi bài giảng là những con người thật, với những nỗi đau thật, những cuộc chiến thật và những giọt nước mắt mà không ai nhìn thấy.
Người ta vẫn nói linh mục kết hợp với Mẹ Giáo Hội. Lời nói ấy đẹp lắm, nhưng cũng đáng sợ lắm nếu hiểu đến tận cùng. Bởi kết hợp với Giáo Hội không chỉ là yêu một Giáo Hội đẹp trong những ngày đại lễ, khi nhà thờ đầy người, hoa đèn rực rỡ, tiếng hát vang lên và mọi người kính trọng mình. Yêu Giáo Hội là yêu cả những khuôn mặt khó thương trong Giáo Hội. Là ở lại khi cộng đoàn chia rẽ. Là nhẫn nại với người cố chấp. Là yêu cả những người hiểu lầm mình. Là phục vụ những người chẳng bao giờ nói cảm ơn. Là vẫn lên bàn thờ cầu nguyện cho những người hôm qua vừa nói xấu mình. Là vẫn phải mỉm cười khi trong lòng có những vết thương không biết kể cùng ai. Là mang những yếu đuối của đoàn chiên vào giờ chầu và đặt trước Thánh Thể. Là thấy một người bỏ lễ mà lòng đau như cha mẹ thấy con bỏ nhà. Là nghe một gia đình ly tán mà thao thức. Là biết một người trẻ mất đức tin mà tự hỏi: phải chăng chúng ta đã không cho em thấy được khuôn mặt đáng yêu của Thiên Chúa? Là nhìn thấy người nghèo bị bỏ quên và cảm thấy chính mình chưa thể bình an. Người linh mục kết hợp với Giáo Hội không phải theo nghĩa mình sở hữu Giáo Hội, nhưng là để Giáo Hội trở thành gia đình của mình, với tất cả những vẻ đẹp và thương tích, thánh thiện và yếu đuối, biết ơn và bạc bẽo. Người chồng không yêu người vợ chỉ những ngày người vợ xinh đẹp; người mẹ không chỉ yêu đứa con lúc nó ngoan. Cũng vậy, người linh mục không thể chỉ yêu Giáo Hội khi Giáo Hội làm cho mình hãnh diện. Tình yêu ấy phải có sức ở lại cả khi Giáo Hội làm mình đau. Bởi chính Đức Kitô đã yêu Hội Thánh như thế: Ngài yêu đến cùng. Không yêu bằng cảm xúc nhất thời. Không yêu khi thuận tiện. Không yêu vì được đáp trả. Ngài yêu đến mức trao nộp chính mình.
Chính ở đây, ta hiểu sâu hơn điều Karol Wojtyła, sau này là Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, từng suy tư rất sâu sắc về tình yêu và trách nhiệm: tự do không đạt đến sự viên mãn khi con người muốn làm bất cứ điều gì mình thích, nhưng khi con người có khả năng trao ban chính mình cho điều thiện và cho người mình yêu. Ngày nay, người ta thường hiểu tự do như việc không bị ràng buộc. Tôi muốn đi đâu thì đi, thích ai thì thích, thay đổi khi nào thì thay đổi, không ai có quyền đòi hỏi tôi phải hy sinh. Nhưng nếu tự do chỉ là khả năng thoát khỏi mọi ràng buộc, cuối cùng con người có thể rất tự do mà lại chẳng thuộc về ai, chẳng chịu trách nhiệm với ai, chẳng dám trao đời mình cho điều gì, và rồi tự do ấy trở thành một căn phòng rất rộng nhưng trống rỗng. Tình yêu thì khác. Tình yêu nói rằng: tôi tự do, vì thế tôi chọn thuộc về. Tôi có thể rời đi, nhưng tôi chọn ở lại. Tôi có thể chỉ nghĩ cho mình, nhưng tôi chọn nghĩ đến người khác. Tôi có thể giữ lại thời gian, tiền bạc, sức lực và tuổi trẻ của mình, nhưng tôi chọn trao chúng đi. Tự do cao nhất không phải là chẳng thuộc về ai, nhưng là có khả năng nói một lời “xin vâng” đủ lớn để cả cuộc đời mình được định hình bởi lời ấy. Người mẹ thức cả đêm chăm con bệnh không phải vì bà mất tự do; chính tình yêu làm cho bà tự nguyện hy sinh. Người cha làm việc vất vả để nuôi gia đình không phải là nô lệ; ông đã dùng tự do của mình để trở thành trách nhiệm. Người vợ ở bên người chồng trong những năm tháng khốn khó không phải vì bà không còn lựa chọn; nếu tình yêu chân thật, bà đang chọn lại lời hứa của mình mỗi ngày. Người linh mục cũng vậy. Ngày chịu chức, lời “con xin” có thể chỉ mất vài giây để thốt ra, nhưng phải mất cả đời để sống cho trọn. Ngày ấy người ta nằm phủ phục trên nền nhà thờ. Hình ảnh đẹp lắm. Cả cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Nhưng nằm xuống vài phút thì dễ; sống cả đời như một người đã trao mình mới khó. Đứng dậy sau lễ truyền chức rất dễ; nhưng suốt đời tiếp tục nhớ rằng mình đã thuộc về Chúa mới là chuyện chẳng đơn giản.
Tình yêu đích thực không được đo bằng cảm xúc mà bằng trách nhiệm. Điều này lại càng đúng trong đời linh mục. Những năm đầu, có thể người linh mục trẻ còn nhiều nhiệt huyết. Bài giảng được chuẩn bị rất kỹ. Chương trình mục vụ nào cũng muốn tham gia. Gặp giáo dân thì vui vẻ, thân thiện. Đi đâu cũng hăng hái. Nhưng thời gian có một cách rất công bằng để thử xem điều gì là cảm xúc và điều gì là tình yêu. Rồi sẽ có ngày mệt. Có ngày bệnh. Có ngày thất vọng. Có ngày bị hiểu lầm. Có ngày làm hết sức mà chẳng ai ghi nhận. Có người mình từng giúp lại quay ra trách móc. Có việc mình đặt rất nhiều hy vọng rồi thất bại. Có cộng đoàn mình yêu nhưng chẳng hiểu mình. Có lúc chính anh em linh mục làm mình đau. Có lúc người trên không hiểu. Có lúc người dưới không thông cảm. Có lúc về phòng, đóng cửa lại, tự hỏi: mình đang làm tất cả những điều này để làm gì? Và chính lúc ấy, tình yêu được thanh luyện. Nếu chỉ làm vì tiếng khen, sẽ bỏ khi không còn được khen. Nếu chỉ phục vụ vì thấy vui, sẽ buông khi niềm vui biến mất. Nếu chỉ nhiệt tình khi thành công, sẽ thất vọng khi thất bại. Nhưng nếu làm vì yêu Chúa và yêu dân của Chúa, người linh mục sẽ học một thứ trung thành không ồn ào: hôm nay mệt vẫn cầu nguyện; hôm nay buồn vẫn dâng lễ; hôm nay chẳng ai cảm ơn vẫn đi thăm người bệnh; hôm nay bị tổn thương vẫn không dùng tòa giảng để trả đũa; hôm nay lòng khô khan vẫn ngồi trước Nhà Tạm; hôm nay thấy mình chẳng làm được gì lớn lao thì vẫn cố làm một điều nhỏ với thật nhiều tình yêu. Đó là lúc đời linh mục bắt đầu chín. Không còn là niềm vui của một người được chú ý, nhưng là niềm vui của người biết mình đang thuộc về. Không còn là hạnh phúc vì được người ta tìm đến, nhưng là bình an vì mình vẫn trung thành dù chẳng ai tìm.
Đường ít người đi còn khó ở một chỗ khác: nó không xóa bỏ bản tính con người. Người linh mục vẫn là một con người bằng xương bằng thịt. Vẫn biết rung động. Vẫn cần được yêu. Vẫn có nhu cầu được cảm thông. Vẫn có những ngày cô đơn. Vẫn có những khoảnh khắc nhìn một gia đình hạnh phúc mà lòng mình thoáng một câu hỏi rất người: nếu ngày ấy mình đã chọn một con đường khác thì sao? Điều đó chẳng đáng xấu hổ. Đáng sợ không phải là cảm thấy cô đơn; đáng sợ là không biết đưa cô đơn của mình về đâu. Đáng sợ không phải là biết rung động; đáng sợ là để rung động chiếm lấy lời cam kết. Đáng sợ không phải là cần tình bạn; đáng sợ là biến một tương quan thành nơi bù đắp tất cả những thiếu thốn của đời dâng hiến. Không ai trở thành thiên thần sau ngày chịu chức. Ân sủng không hủy diệt bản tính. Và vì vậy, sự trưởng thành nhân bản, đời sống cầu nguyện, tình huynh đệ linh mục, kỷ luật nội tâm, sự thành thật với chính mình và lòng khiêm tốn xin giúp đỡ khi cần là những điều vô cùng quan trọng. Người ta có thể đứng rất gần bàn thờ mà lòng lại rất xa Chúa nếu lâu ngày chỉ làm việc thánh mà không còn để cho Chúa chạm đến mình. Có thể giảng về tình yêu mà bản thân khô cạn. Có thể nói về cầu nguyện nhưng chính mình không còn cầu nguyện thật. Có thể giải tội cho người khác nhưng lâu ngày không để Chúa chữa lành mình. Có thể trở thành chỗ dựa của nhiều người nhưng quên rằng chính mình cũng cần có những nơi để tựa vào. Đời linh mục không bền nhờ ý chí sắt đá. Nó chỉ bền khi người linh mục biết trở về với Đấng đã gọi mình. Một linh mục bỏ cầu nguyện nhưng vẫn làm mục vụ hăng say có thể giống một chiếc xe chạy rất nhanh mà bình nhiên liệu đang cạn. Ban đầu người ta chưa thấy gì. Nhưng rồi sẽ đến lúc động cơ tắt giữa đường.
Có lẽ vì thế mà điều đáng sợ nhất trong đời linh mục không hẳn là một lần vấp ngã lớn, nhưng là sự nguội lạnh chậm chạp. Ngày đầu bỏ một giờ cầu nguyện vì quá bận. Ngày sau bỏ tiếp vì mệt. Một tuần rồi một tháng. Lúc đầu còn thấy áy náy, sau thành quen. Ngày đầu chuẩn bị bài giảng với Lời Chúa; sau này lấy một bài cũ sửa vài câu. Ngày đầu thăm người nghèo vì thương họ; sau này chỉ thích dự những bữa tiệc người ta mời. Ngày đầu vui khi được phục vụ; sau này chỉ vui khi được trọng vọng. Ngày đầu nghèo khó rất nhẹ; sau này vật chất trở thành nơi bám víu. Ngày đầu vâng phục vì tin Chúa dẫn mình qua Hội Thánh; sau này mọi điều trái ý đều làm mình bực bội. Không ai đánh mất ơn gọi trong một buổi sáng. Phần lớn người ta đánh mất nó từng chút một, bằng những nhượng bộ rất nhỏ mà mình cho là chẳng đáng kể. Và cũng không ai trở nên thánh thiện trong một ngày. Sự thánh thiện được góp lại từ hàng ngàn lựa chọn rất nhỏ: dậy để cầu nguyện dù muốn ngủ thêm; im lặng khi một lời đáp trả có thể làm người khác tổn thương; dành thời gian cho người chẳng ai để ý; xin lỗi khi biết mình sai; trở về tòa giải tội; đọc một trang sách tốt thay vì để tâm hồn trôi mãi trên màn hình; nhớ gọi điện cho một người đang đau khổ; giữ lòng sạch trong những điều chẳng ai kiểm soát; trung thành với bổn phận khi chẳng có ai quan sát.
Và nếu nói linh mục là đại diện hữu hình của Đức Giêsu giữa lòng thế giới, thì đó không phải là một vinh dự để tự hào nhưng là một trách nhiệm làm người ta run sợ. Bởi người ta có thể không đọc Tin Mừng, nhưng họ đọc đời linh mục. Có người chưa bao giờ mở Kinh Thánh, nhưng họ nhìn cách một linh mục đối xử với người nghèo rồi hình dung Thiên Chúa là ai. Có người không biết thần học, nhưng họ nhìn cách một linh mục đối xử với một người tội lỗi rồi quyết định rằng Giáo Hội có phải là nhà để trở về hay không. Có một đứa trẻ nhìn cha xứ và từ đó hình thành trong lòng nó khuôn mặt đầu tiên về một người thuộc về Chúa. Có một người đang mất đức tin bước vào nhà xứ, và chỉ một thái độ lạnh lùng cũng có thể làm họ quay lưng thêm một lần nữa. Dĩ nhiên không thể đòi linh mục phải hoàn hảo. Linh mục cũng yếu đuối. Cũng sai. Cũng nóng. Cũng mệt. Cũng có ngày chẳng dễ thương chút nào. Nhưng điều người ta có quyền chờ đợi là nơi người linh mục vẫn có một nỗ lực chân thành để trở nên giống Đức Kitô hơn mỗi ngày. Không phải để người ta nói “cha này giỏi”, nhưng để sau khi gặp mình, họ thấy Chúa gần hơn. Một linh mục có thể không hùng biện, nhưng nếu hiền lành, người ta sẽ nhớ. Có thể không quản trị tài ba, nhưng nếu công bằng, người ta sẽ quý. Có thể không xây được nhà thờ thật lớn, nhưng nếu xây được lòng người, công trình ấy còn lâu hơn đá. Có thể không nổi tiếng trên mạng xã hội, nhưng nếu một đời âm thầm cứu được vài linh hồn khỏi tuyệt vọng, đời ấy đã không vô ích. Có thể chẳng bao giờ giữ chức vụ lớn, nhưng nếu người nghèo biết họ có thể gõ cửa nhà mình bất cứ lúc nào, người linh mục ấy đã trở thành một dấu chỉ rất thật của Tin Mừng.
Người linh mục không được chọn để có một đời sống dễ hơn người khác. Cũng không được chọn để được phục vụ. Người ấy được chọn để phục vụ. Điều này nghe quá quen đến mức ta có thể không còn thấy nó sắc bén. Chúa Giêsu nói rất rõ: Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Nếu linh mục là hiện thân của Đức Kitô Mục Tử, thì tiêu chuẩn của đời linh mục chẳng thể khác tiêu chuẩn ấy. Thế nên chiếc ghế danh dự không làm nên phẩm giá linh mục. Áo lễ đẹp không làm nên phẩm giá linh mục. Người ta gọi “cha” thật cung kính cũng không làm nên phẩm giá linh mục. Phẩm giá nằm ở chỗ đời mình ngày càng giống Đấng đã quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Người càng hiểu chức thánh, đáng lẽ càng khiêm nhường. Người càng được trao quyền, càng phải sợ làm tổn thương người yếu. Người càng được kính trọng, càng phải nhớ rằng sự kính trọng ấy là dành cho điều thánh thiêng mình mang chứ không phải cho cái tôi của mình. Một linh mục dùng quyền bính để làm người khác khiếp sợ đã quên Chúa Giêsu hiền lành. Một linh mục dùng tòa giảng để hạ nhục ai đó đã quên Người Mục Tử đi tìm con chiên lạc. Một linh mục chỉ thích đứng với người giàu có mà không còn thời gian cho người nghèo đã đi xa máng cỏ Bethlehem. Một linh mục không chịu tha thứ nhưng mỗi ngày nâng chén Máu Giao Ước lên bàn thờ phải tự hỏi mình đang cử hành điều gì. Thánh chức không làm cho những mâu thuẫn ấy bớt nghiêm trọng; trái lại, càng làm chúng đau hơn.
Tình yêu linh mục vì thế là tình yêu của trách nhiệm. Không chỉ là thương người khi họ đáng thương. Mà còn là chịu trách nhiệm trước Chúa về những linh hồn được trao. Có người cha mẹ mất ngủ vì con chưa về nhà. Một mục tử thật cũng phải có những đêm mất ngủ vì một con chiên đang đi xa. Có những người mà cả giáo xứ đã chán, nhưng mục tử không được quyền chán. Có những người làm mình thất vọng hết lần này đến lần khác, nhưng mình vẫn phải cầu nguyện cho họ. Có những người chẳng nghe lời khuyên nào, nhưng ngày họ quay lại, cửa vẫn phải mở. Người cha không thể nói: “Đứa này hư quá, tôi bỏ.” Người mục tử cũng không thể dễ dàng loại người ta khỏi trái tim mình. Có thể phải nói sự thật. Có lúc phải sửa dạy. Có lúc phải cứng rắn. Nhưng sự cứng rắn Kitô giáo không bao giờ được sinh từ lòng khinh miệt. Người ta có thể sửa một người vì yêu họ, hoặc sửa họ vì muốn chứng minh mình đúng. Bề ngoài hai điều có vẻ giống nhau, nhưng trước mặt Thiên Chúa khác rất xa. Một lời nói đúng nhưng được nói trong kiêu ngạo vẫn có thể làm tổn thương. Một quyết định cần thiết nhưng thiếu tình yêu có thể để lại vết thương nhiều năm. Vì thế linh mục không chỉ cần học thần học, giáo luật, phụng vụ; còn phải học trái tim con người. Học biết lúc nào nên nói và lúc nào nên im. Lúc nào cần dạy và lúc nào chỉ cần ngồi nghe. Lúc nào người đối diện cần một câu trả lời và lúc nào họ chỉ cần một người ở bên. Có những đau khổ không giải thích được. Có những người không cần nghe “Chúa có chương trình”, vì trong lúc họ vừa mất một đứa con, câu nói ấy có thể quá dễ dàng. Họ cần một linh mục ngồi xuống, khóc với họ và nói rất ít. Đức Kitô đã khóc trước mộ Lazarô dù Ngài biết mình sắp cho Lazarô sống lại. Đôi khi lòng trắc ẩn quan trọng hơn một lời giải thích thật đúng.
Con đường chẳng mấy ai đi cũng là con đường của những từ bỏ không ai thấy. Người đời nhìn vào đời linh mục đôi khi chỉ thấy những điều bên ngoài: được người ta kính trọng, đi đây đi đó, cử hành những lễ lớn, được mời dự tiệc, được gọi bằng một danh xưng đặc biệt. Nhưng có những cái giá chỉ người trong cuộc mới biết. Là ngày cha mẹ già đi mà mình chẳng thể ở gần thường xuyên như những người con khác. Là khi gia đình có việc nhưng bổn phận mục vụ giữ chân mình. Là dịp Tết người ta đoàn tụ còn mình lo lễ, giải tội, thăm bệnh. Là tối Giáng Sinh nhà người ta quây quần còn mình đi từ Thánh lễ này sang Thánh lễ khác. Là lúc đau bệnh vẫn còn người cần mình. Là những nỗi buồn chẳng thể nói hết vì sợ làm người khác lo. Là lúc bị hiểu sai nhưng không tiện giải thích. Là những mối tương quan phải giữ khoảng cách dù lòng rất quý. Là những điều tự nhiên người khác được phép chọn nhưng mình đã tự nguyện đặt xuống từ ngày khấn hứa. Nhưng nếu chỉ nhìn những từ bỏ ấy mà thôi, đời linh mục sẽ trở thành một câu chuyện buồn. Không. Người ta chỉ có thể từ bỏ một điều quý vì đã tìm được một điều còn quý hơn. Người bán tất cả để mua thửa ruộng có kho báu không đi về nhà khóc vì mất tiền; anh vui vì đã tìm được kho báu. Nếu đời linh mục chỉ còn cảm giác mình “hy sinh quá nhiều”, có lẽ cần trở lại và hỏi: kho báu của tôi đâu rồi? Bởi một người có thể cho Chúa tất cả mà vẫn cay đắng, nếu họ quên rằng trước hết chính Chúa đã trao tất cả cho họ.
Và đó có lẽ là bí mật sâu nhất của ơn gọi: không ai dâng được đời mình cho Chúa nếu trước đó không cảm thấy mình đã được yêu. Một lời khấn giữ đức khiết tịnh mà không được nâng đỡ bởi kinh nghiệm được Chúa yêu sẽ trở thành gánh nặng. Một lời hứa vâng phục mà không có lòng tin sẽ thành sự chịu đựng. Một đời sống nghèo khó mà không có Đức Kitô làm kho báu sẽ biến thành thiếu thốn. Điều giữ người linh mục không phải trước tiên là luật, dù luật cần. Không phải là ánh mắt người đời, dù gương sáng cần. Không phải là sợ tai tiếng, dù trách nhiệm cần. Điều giữ người linh mục cuối cùng vẫn là một mối tương quan: “Con có yêu Thầy không?” Chúa đã hỏi Phêrô ba lần như thế trước khi trao đoàn chiên. Ngài không hỏi: Con có tài giỏi không? Con có quản trị tốt không? Con có nói hay không? Con có bao nhiêu bằng cấp? Ngài hỏi: Con có yêu Thầy không? Và chỉ sau câu trả lời ấy mới là: Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thứ tự ấy không bao giờ được đảo. Nếu không yêu Chúa, việc chăm sóc đoàn chiên sớm muộn sẽ trở thành công việc. Khi nó chỉ là công việc, người ta bắt đầu tính giờ. Bắt đầu thấy ai đến ngoài giờ là phiền. Bắt đầu so đo xem nơi nào tốt hơn, chức vụ nào danh giá hơn, cộng đoàn nào dễ sống hơn. Nhưng khi yêu, người ta vẫn biết mệt, vẫn cần nghỉ ngơi, vẫn cần ranh giới lành mạnh, nhưng sâu trong lòng có một lý do để ở lại.
Đời linh mục không phải là một chuỗi ngày huy hoàng. Phần lớn là những ngày rất bình thường. Dâng lễ. Đọc kinh. Chuẩn bị bài. Tiếp người. Đi thăm bệnh. Lo một đám tang. Giải tội. Họp hành. Giải quyết một chuyện chẳng ai muốn giải quyết. Có khi hết ngày chẳng thấy mình làm được điều gì đáng kể. Nhưng Nước Trời thường lớn lên từ những điều như thế. Một hạt cải nhỏ. Một chút men. Một ly nước lạnh. Một lời nói tử tế. Một giờ kiên nhẫn. Một Thánh lễ dâng trong nhà nguyện vắng người mà vẫn được cử hành với tất cả lòng tin. Có lẽ ngày sau cùng, Chúa không hỏi linh mục đã có bao nhiêu người theo dõi, đã xây bao nhiêu công trình, đã được bao nhiêu bằng cấp, đã giữ bao nhiêu chức vụ. Có lẽ Ngài sẽ hỏi giản dị hơn: Những người Ta trao cho con, con đã yêu họ chưa? Người nghèo đến cửa con, con có nhìn thấy Ta không? Người làm con khó chịu, con có cầu nguyện cho họ không? Người tội lỗi đến với con, con có cho họ hy vọng không? Khi chẳng ai thấy, con có còn trung thành không? Khi con mệt, con có nhớ Ta đã từng mệt bên bờ giếng không? Khi con cô đơn, con có nhớ Ta đã từng một mình trong vườn Cây Dầu không? Khi con bị hiểu lầm, con có nhớ Ta đã im lặng trước tòa án không? Khi con muốn buông, con có nhìn lên thập giá không?
Con đường chẳng mấy ai đi vì thế không phải là một con đường chống lại bản tính con người, nhưng là một con đường mà ân sủng nâng bản tính ấy lên một cách khác. Con người được tạo dựng để yêu. Người sống đời hôn nhân yêu bằng cách trao mình cho một người và cùng người ấy xây dựng gia đình. Người linh mục cũng yêu, nhưng được mời gọi để trái tim mình trở thành một ngôi nhà có nhiều cửa. Không phải tình yêu ít hơn, nhưng là một hình thức yêu khác. Và vì hình thức ấy đi ngược lại nhu cầu chiếm hữu rất tự nhiên, nên nó đòi một tự do đã được thanh luyện. Người linh mục phải học yêu mà không sở hữu. Gần gũi mà không chiếm giữ. Quan tâm mà không tạo lệ thuộc. Dấn thân mà vẫn để người kia tự do. Niềm vui lớn nhất của mục tử không phải là thấy người ta bám lấy mình, nhưng là thấy họ đến gần Chúa hơn, dù một ngày nào đó họ chẳng còn cần mình nữa. Gioan Tẩy Giả đã nói một câu rất đẹp: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó cũng phải là linh đạo của mọi người mục tử. Nếu sau nhiều năm làm mục vụ, người ta chỉ yêu cha mà không yêu Chúa hơn, có lẽ vẫn còn điều gì đó chưa ổn. Linh mục không được dựng ngai cho mình trong lòng người khác. Linh mục chỉ là người chỉ đường. Người ta có thể biết ơn người chỉ đường, nhưng đích đến vẫn là Đức Kitô.
Vì vậy, sự trưởng thành trong tình yêu linh mục nằm ở chỗ ngày càng ít cần được người khác đáp trả. Khi trẻ, có thể ta cần nghe người ta nói rằng bài giảng hay. Sau này, bình an hơn khi biết mình đã giảng điều cần giảng với lòng chân thành. Khi trẻ, có thể buồn vì ít người đến với mình. Sau này, chỉ cần người cần mình nhất tìm được một nơi để trở về. Khi trẻ, có thể dễ chạnh lòng vì bị so sánh với linh mục khác. Sau này, chỉ mong anh em mình làm được điều tốt cho dân Chúa. Khi trẻ, có thể muốn để lại dấu ấn tên tuổi. Sau này, chỉ mong để lại dấu chân của Chúa. Đó là hành trình rất dài của việc chết đi cho cái tôi. Và có lẽ chẳng ai chết một lần là xong. Mỗi ngày một chút. Chết cho nhu cầu được công nhận. Chết cho thói quen muốn điều khiển. Chết cho sự hơn thua. Chết cho những so sánh. Chết cho lòng tự ái. Chết cho những tham vọng khoác áo đạo đức. Một đời linh mục chỉ thực sự có sức sinh hoa trái khi dám trở thành hạt lúa gieo xuống đất. Hạt lúa không giữ hình dáng đẹp của mình. Nó nứt ra. Nó mục đi. Nhưng chính từ đó mầm sống mọc lên.
Có những linh mục về già chẳng còn làm được bao nhiêu. Không còn giảng nổi những bài dài. Đi đứng khó khăn. Trí nhớ giảm. Không còn điều hành. Không còn xây dựng. Có khi chỉ ngồi ở một góc nhà dòng, lần chuỗi, nhìn anh em trẻ ra vào. Nếu giá trị đời linh mục nằm ở khả năng làm việc, tuổi già sẽ là một bi kịch. Nhưng nếu linh mục trước hết là một người dâng mình, thì ngay cả khi không còn làm được gì, người ấy vẫn có thể dâng. Một cơn đau dâng cho Chúa. Một đêm mất ngủ cầu cho đoàn chiên. Một lời chúc lành. Một nụ cười. Một sự chấp nhận để người khác chăm sóc mình. Đôi khi cuối đời, Chúa lấy khỏi người linh mục chính những điều từng làm mình cảm thấy hữu ích, để chỉ còn lại điều căn bản nhất: thuộc về Chúa. Và biết đâu khi ấy ơn gọi lại đẹp nhất. Không còn chức vụ để tựa vào. Không còn thành công để kể. Không còn sức khỏe để hoạt động. Chỉ còn một con người già nua trước mặt Đấng mình đã nói “xin vâng” từ mấy chục năm trước. Nếu lúc ấy vẫn có thể thầm nói: “Lạy Chúa, con vẫn thuộc về Chúa”, thì đời linh mục đã đi đến một sự viên mãn rất sâu.
Con đường chẳng mấy ai đi cũng không thể đi một mình. Một trong những nguy hiểm lớn của đời linh mục là tưởng mình phải mạnh luôn. Người ta gọi mình là cha nên nhiều khi mình quên rằng mình cũng là con. Người ta tìm mình để xin lời khuyên nên nhiều khi mình tưởng mình chẳng được phép bối rối. Người ta xưng tội với mình nên có lúc mình quên rằng mình cũng cần được tha thứ. Người ta dựa vào mình nên mình ngại nói rằng mình đang mệt. Nhưng một linh mục không biết mình yếu sẽ nguy hiểm hơn một linh mục biết mình yếu. Vì người biết mình yếu sẽ tìm Chúa, tìm anh em, tìm người đồng hành. Người tưởng mình mạnh có thể âm thầm xây một thế giới riêng rồi đến khi ngã thì chẳng ai biết để đỡ. Tình huynh đệ linh mục không phải là chuyện phụ. Một người anh em gọi hỏi nhau một câu, ngồi uống với nhau một ly cà phê, dám nói thật về những khó khăn, dám sửa nhau bằng tình thương, dám hiện diện khi một người đang khủng hoảng, có khi cứu được cả một ơn gọi. Đừng để anh em mình phải chỉ được nhắc đến khi đã xảy ra chuyện. Đừng đợi một linh mục ngã rồi mới hỏi tại sao không ai biết. Có những tiếng kêu cứu không phát thành lời. Có những nụ cười che một sự kiệt sức. Có những người phục vụ cả ngàn người nhưng chẳng có lấy một người để gọi lúc nửa đêm. Giáo Hội là mẹ, nhưng Giáo Hội cũng phải có khuôn mặt của những người anh em biết chăm sóc nhau.
Và giáo dân cũng có phần trong việc giúp linh mục sống ơn gọi. Đừng thần thánh hóa linh mục, vì rồi khi thấy linh mục có khuyết điểm sẽ dễ thất vọng. Cũng đừng hạ thấp hay chỉ nhìn linh mục bằng những lỗi lầm của một vài người. Hãy nhìn linh mục như những con người đang mang một kho tàng trong bình sành. Họ cần lời cầu nguyện hơn là lời tâng bốc. Cần sự thật hơn là xu nịnh. Cần được yêu thương bằng một tình yêu trưởng thành, biết trân trọng nhưng cũng biết góp ý đúng cách. Có những giáo dân thương cha đến mức cha nói gì cũng đúng, làm gì cũng hay; tình thương ấy chưa chắc đã giúp cha nên thánh. Có những người chỉ trích mọi điều linh mục làm; cách ấy cũng chẳng giúp ích gì. Hãy cầu nguyện cho linh mục. Cầu thật. Bởi có những cám dỗ mà giáo dân không biết. Có những chiến đấu chẳng thể đem lên tòa giảng kể. Có những đêm một linh mục phải đấu với chính lòng mình. Có những gánh nặng nghe từ tòa giải tội mà người khác chẳng bao giờ biết. Có những cuộc đời tan vỡ đặt trước mặt mình mà mình chẳng thể sửa được. Có những bí mật phải mang xuống mồ. Có những lời độc địa phải nghe nhưng không thể đáp. Và trên tất cả, có một tiêu chuẩn rất cao luôn ở trước mặt: “Hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”
Vậy tại sao lại là con đường chẳng mấy ai đi? Vì nó đòi người ta yêu theo cách không giữ gì cho mình. Vì nó đòi từ bỏ một điều rất đẹp để ôm lấy một vẻ đẹp khác. Vì nó đòi tự do không dừng ở chỗ “tôi muốn gì”, nhưng đạt đến chỗ “tôi trao mình cho ai”. Vì nó bắt người ta đi từ cảm xúc đến trách nhiệm, từ nhiệt tình đến trung thành, từ được phục vụ đến phục vụ, từ muốn nổi bật đến biết biến mất, từ sở hữu đến trao ban, từ cái tôi đến Đức Kitô. Không phải ai cũng được gọi đi con đường ấy, và cũng không cần ai cũng đi. Nhưng ai đã được gọi thì xin đừng đi bằng đôi chân miễn cưỡng. Đã chọn thì hãy chọn mỗi ngày. Đã dâng thì hãy dâng cho trọn. Đã thuộc về thì đừng sống như người còn giữ một nửa đời mình ở bên ngoài. Chúa không cần một linh mục hoàn hảo ngay lập tức; Chúa cần một người dám để Ngài uốn nắn. Không cần một người chưa từng yếu; nhưng cần một người khi yếu biết trở về. Không cần một con người chưa từng khóc; nhưng cần một người biết đem nước mắt mình đặt vào lòng Chúa. Không cần một người không bao giờ sợ; nhưng cần một người dù sợ vẫn nói: “Lạy Chúa, con ở đây.”
Rồi một ngày con đường ấy cũng sẽ kết thúc. Chiếc áo lễ được gấp lại. Chén thánh người linh mục từng nâng mỗi ngày sẽ được người khác nâng. Nhà thờ nơi mình từng đứng giảng sẽ có một giọng nói khác. Giáo xứ mình từng phục vụ rồi cũng có một cha xứ khác. Những người từng biết mình lần lượt ra đi. Tên mình rồi cũng sẽ ít được nhắc. Những công trình mang dấu tay mình rồi sẽ sửa chữa, thay đổi, hoặc biến mất. Và điều còn lại sau cùng không phải là chức vụ, danh tiếng hay thành tích. Điều còn lại là tình yêu. Những con người đã được mình nâng dậy. Những giọt nước mắt mình đã lau. Những tội nhân đã nhận được hy vọng. Những người nghèo từng cảm thấy mình không bị bỏ quên. Những gia đình từng được nối lại. Những người hấp hối được cầm tay. Những Thánh lễ âm thầm dâng cho những ý chỉ chẳng ai biết. Những giờ quỳ một mình trước Nhà Tạm. Những lần lựa chọn trung thành khi chẳng ai nhìn. Tất cả những điều ấy sẽ đi theo người linh mục đến trước mặt Chúa.
Và có lẽ khi ấy, người linh mục sẽ hiểu trọn vẹn tại sao ngày xưa mình đã bước vào con đường chẳng mấy ai đi. Không phải để trở thành một người khác người, nhưng để trở thành một người thuộc trọn về Tình Yêu. Không phải để mất tự do, nhưng để tự do tìm được ý nghĩa cao nhất của nó trong việc trao ban. Không phải để không có gia đình, nhưng để trái tim mình trở thành gia đình cho nhiều người. Không phải để không có con, nhưng để có những người con được sinh ra trong nước mắt, lời cầu nguyện và ân sủng. Không phải để đứng thay chỗ Đức Kitô, nhưng để cố gắng làm cho người ta gặp được Đức Kitô qua một khuôn mặt người rất bình thường, rất giới hạn, rất mỏng giòn.
Nếu có người trẻ nào đang đứng trước con đường ấy và sợ, thì cũng đừng quá ngạc nhiên. Đường đẹp thường không phải đường dễ. Ơn gọi cao quý không đồng nghĩa với đời sống không có thập giá. Đừng hỏi trước tiên: “Con có đủ mạnh không?” Không ai đủ mạnh. Hãy hỏi: “Ai đang gọi con?” Nếu là Ngài, Ngài sẽ không bỏ con giữa đường. Nhưng Ngài cũng không hứa con đường sẽ không có đêm tối. Ngài chỉ hứa sẽ đi cùng. Có những lúc con sẽ tưởng mình đã trao quá nhiều. Hãy nhìn thập giá. Có những lúc con thấy cô đơn. Hãy nhớ Nhà Tạm. Có những lúc con thất vọng về mình. Hãy nhớ Phêrô đã từng chối Chúa mà vẫn được trao đoàn chiên. Có những lúc con thất vọng về Giáo Hội. Hãy nhớ Đức Kitô vẫn yêu Hiền Thê của Ngài. Có những lúc con tự hỏi đời mình có ý nghĩa gì. Hãy nhìn những khuôn mặt mà Chúa đã gửi đến. Chỉ cần một người nhờ con mà biết rằng Thiên Chúa vẫn yêu họ, cuộc đời dâng hiến ấy đã có ý nghĩa.
Và với những người đã đi con đường này nhiều năm, có lẽ điều cần nhất không phải là nhớ lại mình đã làm được bao nhiêu, nhưng là trở về với tình yêu ban đầu. Ngày ấy, vì sao mình bước vào? Vì sao mình quỳ xuống? Vì sao mình dám nói lời cam kết? Có thể năm tháng đã phủ bụi lên rất nhiều điều. Có thể vết thương làm trái tim chai đi. Có thể công việc khiến mình thành máy móc. Có thể thành công làm mình quên rằng mình chỉ là đầy tớ. Có thể thất bại làm mình mất lửa. Nhưng Chúa vẫn đứng đó, như bên bờ hồ Galilê năm xưa, và hỏi lại: “Con có yêu Thầy không?” Không phải: “Con đã thành công chưa?” Không phải: “Người ta có yêu con không?” Không phải: “Con đã xây được gì?” Chỉ là: “Con có yêu Thầy không?” Nếu vẫn còn có thể trả lời, dù yếu ớt: “Lạy Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy,” thì vẫn còn có thể bắt đầu lại.
Cuối cùng, linh mục không phải là người đã bỏ tình yêu. Linh mục là người được mời gọi bước vào một cách yêu rất khó: yêu mà không sở hữu, trao mà không tính toán, phục vụ mà không đòi đáp trả, trung thành cả khi cảm xúc không còn nồng nhiệt, ở lại cả khi con đường trở nên tối. Chính vì thế mà đó là con đường chẳng mấy ai đi. Nhưng nếu đi với Đức Kitô, con đường ấy không hề hoang vắng. Có dấu chân của bao thế hệ đã đi trước. Có lời cầu nguyện của Giáo Hội. Có bàn tay của Mẹ Maria. Có Thánh Thể mỗi ngày. Có Lời Chúa soi đường. Và trên hết, có Đấng đã gọi mình đang đi phía trước.
Đời linh mục chỉ đẹp khi người linh mục không sống cho mình. Chỉ vui khi biết đời mình đã trở thành tấm bánh được bẻ ra. Chỉ tự do khi chẳng còn phải giữ lấy chính mình. Và chỉ thực sự sinh hoa trái khi dám để cho tình yêu đi đến chỗ của trách nhiệm, hy sinh và trung thành. Bởi tình yêu nào chỉ tìm cảm giác dễ chịu thì chưa đi hết đường. Tình yêu trưởng thành là tình yêu biết nói: “Dù hôm nay chẳng còn gì làm tôi xúc động, tôi vẫn ở đây.” Dù không ai biết, tôi vẫn trung thành. Dù không được đáp trả, tôi vẫn cầu nguyện. Dù phải trả giá, tôi vẫn chọn điều thiện. Dù con đường vắng, tôi vẫn đi, vì ở cuối con đường ấy không phải là một sự mất mát, nhưng là Đấng đã yêu tôi trước và đã trao chính Ngài cho tôi.
Đến ngày nhắm mắt, có lẽ người linh mục sẽ chẳng mang theo gì ngoài đôi bàn tay trống. Nhưng nếu đôi bàn tay ấy đã từng đặt trên đầu một hối nhân để nói lời tha thứ, từng nâng Mình Thánh Chúa, từng nắm lấy bàn tay một người hấp hối, từng đỡ một người nghèo đứng lên, từng chắp lại trong những đêm cầu nguyện âm thầm, thì đôi bàn tay trống ấy lại là đôi bàn tay đầy nhất. Và nếu trái tim người linh mục không thuộc riêng về một ai nhưng đã từng là nơi cho biết bao người tìm được một chút bình an, thì trái tim ấy chẳng hề sống uổng.
Con đường chẳng mấy ai đi rồi cuối cùng cũng chỉ dẫn về một nơi: về với Đấng đã gọi ta bằng tên, đã nhìn ta từ trước khi ta biết Ngài, đã yêu ta trong cả sự bất toàn, đã kiên nhẫn mỗi lần ta chậm bước, đã nâng ta sau mỗi lần vấp ngã, và đã dùng một đời người rất nhỏ để làm những điều lớn hơn chính người ấy. Khi ấy, có lẽ chỉ cần được nghe một lời thôi cũng đủ cho cả đời dâng hiến: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng niềm vui của chủ ngươi.”
Nếu được như thế, mọi hy sinh đều đáng. Mọi cô đơn đều đáng. Mọi giọt nước mắt đều đáng. Những năm tháng âm thầm đều đáng. Một đời không có mái ấm riêng nhưng đã giúp người khác tìm được mái ấm trong Thiên Chúa, đáng. Một đời không có con cái ruột thịt nhưng đã giúp nhiều người được sinh lại trong ân sủng, đáng. Một đời không giữ gì cho mình nhưng cuối cùng được giữ trong lòng Chúa, đáng.
Và như thế, con đường chẳng mấy ai đi lại trở thành con đường đẹp nhất đối với người được gọi đi trên đó. Không phải vì nó dễ. Nhưng vì có Tình Yêu ở đầu đường, Tình Yêu đồng hành giữa đường, và Tình Yêu đang chờ ở cuối đường.
Lm. Anmai, CSsR
MỘT LỜI XIN VÂNG MANG THEO CẢ MỘT ĐỜI
Có lẽ trong đời người, có những lời nói vừa thốt ra rồi tan vào không khí, nhưng cũng có những lời nói một khi đã thốt lên thì không còn thuộc về một khoảnh khắc nữa, bởi nó trở thành lời cam kết cho cả một đời người. Trong Thánh lễ truyền chức linh mục, giữa một cộng đoàn đông đảo, giữa tiếng hát, ánh nến, phẩm phục, nghi thức trang nghiêm và biết bao ánh mắt đang hướng về người tiến chức, có một câu trả lời rất ngắn, ngắn đến mức nếu chỉ nghe bằng tai người ta có thể tưởng như đó chỉ là một chi tiết trong nghi lễ: “Thưa Đức cha, con xin vâng phục Đức cha và các đấng kế vị Đức cha.” Nhưng đối với người sắp bước vào thiên chức linh mục, câu nói ấy không phải chỉ là một câu trả lời. Đó là một cánh cửa đóng lại phía sau một cuộc đời cũ và đồng thời mở ra trước mặt một cuộc đời mới. Từ giây phút ấy, người linh mục hiểu rằng đời mình sẽ không còn hoàn toàn thuộc về mình nữa. Những dự tính riêng, những sở thích riêng, nơi chốn mình muốn ở, công việc mình muốn làm, những người mình muốn gần, những điều mình muốn chọn, tất cả đều phải đi qua một tiếng “xin vâng”. Một lời hứa chỉ vài chữ, nhưng có khi phải mất cả đời mới học cho hết ý nghĩa của hai chữ vâng phục. Và cũng chính vì thế, khi Đức Giám mục đáp lại: “Thiên Chúa, Đấng đã khởi đầu công trình tốt lành trong con, xin Ngài hoàn thành công trình đó”, lời đáp ấy không chỉ là một lời chúc. Đó gần như là một lời cầu nguyện của Giáo Hội đặt trên cuộc đời người tiến chức, bởi Giáo Hội biết rất rõ rằng sức con người thì không đủ để trung tín đến cùng. Người ta có thể bắt đầu bằng nhiệt huyết, nhưng chỉ Thiên Chúa mới giúp người ta đi đến tận cùng trong trung tín. Người ta có thể bước lên bàn thánh trong ngày truyền chức với trái tim đầy lửa, nhưng để ngọn lửa ấy không tắt sau năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, giữa những mệt mỏi, thất vọng, hiểu lầm, cô đơn, bệnh tật và cả những đêm dài tưởng như không còn sức bước tiếp, thì phải cần đến một ân sủng lớn hơn sức riêng của con người. Bởi vậy, chức linh mục không bao giờ chỉ là thành quả của một quá trình học tập, cũng không phải phần thưởng dành cho một người đã vượt qua đủ những năm đào tạo. Chức linh mục trước hết và sau cùng vẫn là ân huệ, là một công trình mà Thiên Chúa khởi sự và cũng chính Ngài phải hoàn tất.
Con đường đi đến thiên chức linh mục vì thế không thể chỉ được đo bằng số năm ở chủng viện, số môn thần học đã học hay số kỳ thi đã vượt qua. Giáo Hội từ lâu vẫn nhấn mạnh đến bốn chiều kích đào tạo: nhân bản, tri thức, thiêng liêng và mục vụ. Bốn chiều kích ấy không phải bốn môn học để hoàn tất, nhưng là bốn mặt của cùng một con người phải được nhào nặn từng ngày. Có thể một chủng sinh rất thông minh, học thần học xuất sắc, nói năng lưu loát, giảng hấp dẫn, nhưng nếu nhân cách chưa trưởng thành, nếu dễ nóng giận, ích kỷ, hơn thua, thiếu trung thực, không biết lắng nghe, thì những kiến thức ấy có thể trở thành một thứ áo đẹp khoác lên một con người còn nhiều khoảng tối. Có thể một người rất đạo đức, cầu nguyện nhiều, yêu kinh nguyện, yêu phụng vụ, nhưng nếu không biết sống với anh em, không biết tôn trọng người khác, không biết nhận lỗi, không biết xin lỗi, thì đời sống thiêng liêng ấy vẫn còn một khoảng cách rất xa với Tin Mừng. Có thể một người có tài mục vụ, tổ chức giỏi, được nhiều người yêu mến, nhưng nếu đời sống nội tâm nghèo nàn, không có giờ cho Chúa, không còn thao thức với Lời Chúa, thì sớm hay muộn những hoạt động ấy cũng chỉ còn là công việc. Và cũng có thể một người rất tốt, rất hiền, rất thánh thiện, nhưng lại ngại học hỏi, không chịu đào sâu thần học, không cập nhật kiến thức, thì khi đứng trước những câu hỏi phức tạp của con người thời đại, họ sẽ lúng túng và có khi vô tình làm tổn thương người khác bằng những câu trả lời đơn giản cho những vấn đề không hề đơn giản. Bốn chiều kích ấy vì thế phải nâng đỡ nhau. Nhân bản giúp người linh mục sống như một con người trưởng thành; tri thức giúp người linh mục biết mình đang tin điều gì và đang giảng điều gì; đời sống thiêng liêng giữ người linh mục ở lại trong tương quan với Thiên Chúa; và mục vụ đưa tất cả những gì đã học, đã cầu nguyện, đã được nhào nặn trở thành sự phục vụ cụ thể cho đoàn dân Chúa.
Nhưng có lẽ trong bốn chiều kích ấy, người ta dễ nói về học hành, cầu nguyện và công việc mục vụ hơn là nói về vâng phục. Bởi vâng phục chạm đến nơi sâu nhất của cái tôi. Con người tự nhiên ai cũng muốn tự quyết định đời mình. Người ta thích làm điều mình thấy đúng, ở nơi mình thấy hợp, sống với người mình thấy dễ chịu, nhận công việc mình thấy có khả năng. Nhưng đời linh mục lại có những lúc chính ở nơi mình không muốn đến, mình phải đến; công việc mình không thích làm, mình vẫn phải làm; nơi mình đang quen thuộc, mình phải rời đi; những dự tính mình đã chuẩn bị bao năm, có khi chỉ một quyết định của bề trên là phải gác lại. Vâng phục lúc ấy không còn là một từ ngữ đẹp trong sách thiêng liêng. Nó trở thành một cuộc cắt tỉa rất thật. Có người được sai đến một giáo xứ nghèo. Có người phải rời một nơi đang rất thành công để đến một nơi chẳng ai biết mình là ai. Có người đang làm công việc mình yêu thích thì được giao một nhiệm vụ hoàn toàn khác. Có người phải sống với một bề trên rất khác tính mình. Có người phải chấp nhận một quyết định mà chính mình chưa hiểu. Những lúc ấy, lời “con xin vâng phục” của ngày truyền chức mới thật sự bắt đầu có trọng lượng.
Vâng phục Kitô giáo không phải là đánh mất tự do. Càng không phải là từ bỏ suy nghĩ hay biến con người thành một cỗ máy chỉ biết làm theo mệnh lệnh. Vâng phục thật luôn cần đối thoại, phân định, trưởng thành và lương tâm. Nhưng ở tận cùng của vâng phục vẫn là thái độ của Đức Giêsu trước Chúa Cha: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.” Điều khó nhất không phải là nói câu ấy trong giờ cầu nguyện, mà là sống nó khi ý Chúa đi ngang qua một quyết định khiến mình đau. Có những điều người linh mục không hiểu ngay được. Có những biến cố nhiều năm sau nhìn lại mới nhận ra rằng chính điều mình từng chống lại lại mở ra một con đường tốt đẹp hơn. Và có những điều có thể suốt đời người ta cũng không hiểu hết. Nhưng đức tin không đòi phải hiểu hết rồi mới vâng phục. Đức tin là tin rằng đời mình không chỉ nằm trong tay những con người hữu hạn, nhưng sâu xa hơn, vẫn nằm trong bàn tay Thiên Chúa. Vâng phục bề trên không phải bởi vì bề trên luôn đúng trong mọi quyết định, nhưng bởi người linh mục tin rằng Thiên Chúa có thể viết thẳng trên những đường cong của con người. Chính niềm tin ấy giữ người linh mục khỏi biến sự vâng phục thành cay đắng, và cũng giữ người linh mục khỏi biến tự do thành ý riêng.
Từ đó, tôi nghĩ đến câu hỏi mà nhiều người vẫn đặt ra mỗi khi có một lễ truyền chức: những tân linh mục này có còn là niềm hy vọng của Giáo Hội, của các Kitô hữu không? Câu trả lời chắc chắn là có, nhưng đó không phải là một chữ “có” dễ dãi. Người linh mục là niềm hy vọng không phải chỉ bởi vì ngày hôm ấy họ được mặc phẩm phục mới, được đặt tay, được xức dầu, được cộng đoàn chúc mừng và gọi bằng một danh xưng mới. Niềm hy vọng của Giáo Hội không nằm trong một ngày lễ đẹp, mà nằm trong những năm tháng sau ngày lễ ấy. Một linh mục thật sự trở thành niềm hy vọng khi người ta gặp nơi ngài khuôn mặt của một người cha hơn là khuôn mặt của một viên chức; khi người nghèo có thể đến với ngài mà không sợ bị coi thường; khi người tội lỗi có thể bước vào tòa giải tội mà không thấy mình bị kết án; khi người trẻ có thể đặt câu hỏi mà không bị dập tắt; khi người già cô đơn cảm thấy mình vẫn có người nhớ tới; khi người bệnh nằm trong bệnh viện nhìn thấy bóng áo linh mục bước vào và cảm thấy có Chúa đang đến gần. Người linh mục là niềm hy vọng khi lời giảng của ngài không chỉ hay trên bục giảng nhưng còn được nhìn thấy trong cách ngài đối xử với người bé nhỏ. Người linh mục là niềm hy vọng khi ngài không dùng chức thánh để tạo khoảng cách nhưng dùng chức thánh để đến gần. Người linh mục là niềm hy vọng khi quyền bính nơi ngài mang hình dáng của chiếc khăn quấn bên hông Đức Kitô trong bữa Tiệc Ly, nghĩa là quyền bính để cúi xuống rửa chân.
Có một điều rất dễ quên: người linh mục trước khi là linh mục vẫn là một Kitô hữu. Trước khi được đặt tay truyền chức, ngài đã được dìm vào trong Đức Kitô qua Bí tích Rửa Tội. Chính đức tin của cộng đoàn mà ngài đang phục vụ cũng là đức tin mà ngài đã nhận trong Giáo Hội. Linh mục không đứng bên ngoài cộng đoàn như một người có một loại đức tin khác. Ngài đứng trong cộng đoàn, được chọn từ cộng đoàn và được gửi trở lại phục vụ cộng đoàn. Vì thế, nếu giáo dân hy vọng nơi linh mục thì linh mục cũng phải nhớ rằng niềm tin ấy không phải một thứ vinh dự để tự hào, nhưng là trách nhiệm để run sợ. Một người mẹ đưa con đến xin linh mục chúc lành đang đặt một niềm tin nơi bàn tay ấy. Một người hấp hối xin gặp linh mục lần cuối đang đặt hy vọng cuối cùng của mình nơi bí tích mà vị linh mục cử hành. Một đôi vợ chồng đứng bên bờ tan vỡ đến tìm linh mục không chỉ tìm một lời khuyên, họ tìm một nơi mà họ hy vọng còn có thể được lắng nghe. Một người trẻ đầy hoang mang về đức tin bước đến gõ cửa nhà xứ có khi chỉ mong gặp một người không chế nhạo những câu hỏi của mình. Những niềm tin nhỏ bé ấy gom lại thành một trách nhiệm rất lớn. Có những người chỉ vì gặp được một linh mục tốt mà giữ được đức tin. Nhưng đau lòng thay, cũng có người vì bị tổn thương bởi một linh mục mà xa Giáo Hội nhiều năm. Điều đó nhắc người linh mục phải sống với một sự tỉnh thức rất lớn: đôi khi một lời nói bất cẩn của mình có thể trở thành vết thương người khác mang theo rất lâu; một thái độ lạnh lùng có thể làm người ta tưởng rằng Chúa cũng lạnh lùng như thế; một cách dùng quyền thiếu bác ái có thể khiến người ta nhầm lẫn quyền bính của Đức Kitô với quyền lực của con người.
Nhưng nếu nói đến trách nhiệm của linh mục mà không nói đến trách nhiệm của giáo dân thì cũng chưa đủ. Giáo Hội không phải chỉ có linh mục. Giáo Hội là dân Thiên Chúa. Linh mục được đặt giữa cộng đoàn để phục vụ, nhưng chính cộng đoàn cũng có trách nhiệm nâng đỡ linh mục. Có một thực tế là nhiều người giáo dân yêu quý linh mục nhưng đôi khi lại yêu bằng một tình yêu quá lý tưởng hóa. Họ muốn linh mục lúc nào cũng vui, lúc nào cũng mạnh, lúc nào cũng sẵn sàng, lúc nào cũng nói hay, lúc nào cũng cư xử đúng, không được mệt, không được buồn, không được nóng, không được lỡ lời, không được có những ngày yếu đuối. Họ quên rằng dưới chiếc áo dòng hay áo giáo sĩ vẫn là một con người bằng xương bằng thịt. Người linh mục cũng có một cơ thể biết đau. Cũng có những đêm mất ngủ. Cũng có những lúc cảm thấy cô đơn. Cũng có khi thất vọng vì công việc mình làm không đem lại kết quả như mong muốn. Cũng có lúc bị hiểu lầm mà không thể giải thích. Cũng có những nỗi buồn không thể kể với ai. Cũng có những cuộc chiến nội tâm mà người ngoài không nhìn thấy. Chức thánh không làm cho con người mất đi sự mong manh của phận người. Ân sủng không xóa nhân tính. Thiên Chúa dùng những con người bằng đất để mang kho tàng của Ngài.
Bởi vậy, xin giáo dân đừng đặt linh mục lên một bệ quá cao rồi một ngày nào đó thất vọng vì khám phá ngài cũng là người. Đừng thần tượng hóa linh mục, nhưng cũng đừng vội kết án khi thấy linh mục có giới hạn. Có một khoảng cách rất lớn giữa việc bao che cho điều sai trái và việc có lòng thương đối với một con người yếu đuối. Nếu một linh mục làm điều sai, điều sai vẫn phải được gọi đúng tên. Nếu có lỗi nghiêm trọng, cần có trách nhiệm, có sửa chữa và công lý. Lòng thương xót không bao giờ là cái cớ để che giấu sự thật. Nhưng cũng đừng vì một lỗi lầm mà xóa sạch cả một đời người. Đừng vì một lần nóng giận mà quên bao lần ngài đã thức khuya bên giường bệnh. Đừng vì một quyết định không vừa ý mình mà quên bao năm ngài đã âm thầm phục vụ. Đừng lấy một khoảnh khắc yếu đuối làm bản án chung thân cho một con người. Nếu họ sai và thật lòng thống hối, hãy cho họ một con đường trở về. Bởi Tin Mừng mà chúng ta nghe mỗi ngày cũng chính là Tin Mừng dành cho người linh mục. Bí tích Hòa Giải mà linh mục ban cho người khác cũng là bí tích mà chính linh mục cần đến. Người rao giảng lòng thương xót cũng cần được sống nhờ lòng thương xót.
Đau nhất cho một linh mục có khi không phải là vất vả, mà là cảm giác mình chỉ được yêu khi mình đáp ứng đúng điều người ta mong muốn. Khi giảng hay thì được khen. Khi tổ chức tốt thì được yêu. Khi dễ tính thì được quý. Nhưng nếu một ngày vì trách nhiệm mục tử mà phải nói một điều khó nghe, phải từ chối một yêu cầu không phù hợp, phải sửa một điều sai, phải quyết định điều mà một nhóm người không thích, tình cảm có thể thay đổi rất nhanh. Người linh mục lúc ấy mới hiểu rằng nếu mình sống để làm hài lòng mọi người thì không bao giờ có bình an. Và người giáo dân cũng cần hiểu rằng yêu một linh mục không có nghĩa là đòi linh mục phải chiều mình. Đôi khi một người cha tốt phải biết nói không. Đôi khi một mục tử tốt phải dám đi ngược đám đông. Điều quan trọng là những quyết định ấy phải xuất phát từ cầu nguyện, lương tâm ngay thẳng và lòng yêu thương, chứ không từ tự ái hay quyền lực.
Tôi vẫn nghĩ rằng món quà lớn nhất giáo dân có thể dành cho linh mục không phải là những món quà vật chất, mà là lời cầu nguyện. Có những trận chiến chỉ lời cầu nguyện mới giúp người linh mục đứng vững. Một linh mục có thể được cả ngàn người biết đến nhưng vẫn rất cô đơn. Có thể đứng trước cộng đoàn lớn mỗi Chúa nhật nhưng tối về lại ngồi một mình trong căn phòng vắng. Có thể lắng nghe bao nhiêu nỗi buồn của người khác nhưng chính mình không biết kể nỗi buồn cho ai. Có thể khuyên người khác tín thác nhưng chính mình cũng có những lúc đức tin chao đảo. Có thể giảng về hy vọng nhưng có những đêm phải chiến đấu để không mất hy vọng. Xin đừng nghĩ rằng những điều ấy làm giảm giá trị chức linh mục. Trái lại, chính nơi sự yếu đuối, người linh mục càng hiểu hơn những người mà mình phục vụ. Một mục tử chưa từng biết đau có khi khó hiểu được nước mắt của đàn chiên. Một người chưa từng biết mình yếu đuối có khi dễ nghiêm khắc với sự yếu đuối của người khác. Chúa không chọn những thiên thần để làm linh mục. Chúa chọn con người, để những con người ấy, trong chính giới hạn của mình, học cách dẫn những con người khác đến với Ngài.
Có lẽ vì thế, câu nói của Đức Giám mục trong ngày truyền chức càng trở nên thấm thía: “Thiên Chúa, Đấng đã khởi đầu công trình tốt lành trong con, xin Ngài hoàn thành công trình đó.” Công trình ấy chưa hoàn thành trong ngày chịu chức. Ngày chịu chức chỉ là khởi đầu. Người linh mục vẫn còn phải được đào tạo suốt đời. Sự đào tạo không kết thúc khi rời chủng viện. Có những bài học mà sách vở không dạy được, chỉ có đời mục vụ mới dạy. Một đám tang của một đứa trẻ có thể dạy người linh mục về mầu nhiệm đau khổ nhiều hơn một bài thần học. Một người mẹ nghèo âm thầm nuôi con có thể dạy về hy sinh sâu hơn nhiều trang sách. Một bệnh nhân hấp hối vẫn mỉm cười có thể dạy về đức tin hơn một bài giảng. Một người từng bị tổn thương vẫn tha thứ có thể dạy về Tin Mừng sống động hơn bất cứ lý thuyết nào. Và chính những con người mà linh mục nghĩ rằng mình đang phục vụ nhiều khi lại trở thành những người đào tạo linh mục sâu xa nhất.
Cũng có khi Thiên Chúa dùng thất bại để đào tạo. Một chương trình mục vụ không thành công. Một cộng đoàn không đón nhận. Một lời giảng không chạm đến ai. Một sáng kiến bị phản đối. Một người mình từng hết lòng giúp đỡ quay lại làm mình đau. Những lúc ấy, người linh mục được học bài học khó nhất: mình không phải là Đấng Cứu Thế. Chỉ có Chúa cứu con người. Linh mục chỉ là người phục vụ. Biết điều ấy sẽ giúp người linh mục bớt áp lực phải thành công và cũng bớt kiêu ngạo khi thành công. Hạt giống mình gieo có thể người khác gặt. Có những người mình phục vụ hôm nay nhiều năm sau mới thay đổi. Có những lời mình nói tưởng như rơi vào khoảng không, nhưng một ngày nào đó lại sống dậy trong lòng một người. Người linh mục không được gọi để kiểm soát kết quả, nhưng để trung tín với việc gieo.
Và khi nhìn lại tất cả những điều ấy, tôi vẫn tin rằng những người tiến chức hôm nay là niềm hy vọng của Giáo Hội. Nhưng niềm hy vọng ấy không phải là một sự lạc quan ngây thơ. Đó là niềm hy vọng đặt trên ân sủng của Thiên Chúa và sự cộng tác của con người. Chúng ta hy vọng không phải vì các tân linh mục sẽ không bao giờ sai, nhưng vì tin rằng nếu họ ở lại trong Chúa, họ sẽ luôn có khả năng đứng dậy. Chúng ta hy vọng không phải vì họ sẽ luôn mạnh mẽ, nhưng vì chính trong yếu đuối, ân sủng Chúa có thể trở nên sức mạnh. Chúng ta hy vọng không phải vì họ sẽ làm được những điều phi thường, nhưng vì qua những điều rất bình thường được làm với tình yêu, một đời linh mục có thể trở thành phúc lành cho biết bao người.
Ngày truyền chức rồi sẽ qua. Hoa trên cung thánh sẽ héo. Những tấm hình rồi sẽ được cất vào album. Những lời chúc mừng sẽ lắng xuống. Chiếc áo lễ mới rồi cũng cũ đi. Nhưng lời “con xin vâng phục” sẽ còn ở lại. Nó sẽ đi theo người linh mục từ những ngày đầu đầy nhiệt huyết đến những năm tháng tóc bạc. Nó sẽ vang lên khi người linh mục nhận một bài sai mới. Nó sẽ vang lên khi phải rời một nơi mình đã gắn bó. Nó sẽ vang lên khi sức khỏe giảm sút. Nó sẽ vang lên khi có những điều mình không còn làm được như trước. Và có lẽ đến cuối đời, khi người linh mục nằm xuống, tiếng “xin vâng” ấy sẽ trở thành lời phó thác cuối cùng: Lạy Chúa, đời con từ đầu đã thuộc về Ngài, giờ đây con xin trả lại tất cả cho Ngài.
Ước gì những người được trao ban chức linh mục luôn nhớ rằng ngày chịu chức không làm họ trở thành người lớn hơn người khác, mà làm họ mắc nợ người khác nhiều hơn. Mắc nợ một lời cầu nguyện cho dân mình. Mắc nợ một đời sống gương mẫu. Mắc nợ sự hiện diện khi người khác cần. Mắc nợ một trái tim biết thương. Mắc nợ một đôi tai biết nghe. Mắc nợ đôi chân biết đi đến những nơi không ai muốn đến. Mắc nợ đôi tay biết nâng đỡ hơn là chỉ tay. Mắc nợ một đời sống thánh thiện, không phải để được ca tụng nhưng để người khác nhìn qua mình mà thấy thấp thoáng khuôn mặt của Đức Kitô.
Và cũng ước gì cộng đoàn giáo dân biết yêu linh mục bằng một tình yêu trưởng thành. Đừng chỉ yêu lúc họ thành công. Đừng chỉ yêu khi họ làm vừa ý mình. Hãy cầu nguyện khi họ yếu đuối, góp ý khi họ sai, nâng đỡ khi họ mệt, khích lệ khi họ nản, và nếu họ thực lòng hoán cải sau những vấp ngã, xin hãy cho họ cơ hội để đứng dậy. Linh mục cần giáo dân cũng như giáo dân cần linh mục. Không ai sống ơn gọi một mình. Cả linh mục lẫn giáo dân đều đang bước trên cùng một con đường về Nước Trời, chỉ khác nhau ở sứ mạng được trao.
Sau cùng, đứng trước một người trẻ nằm phủ phục trên nền cung thánh trong Kinh Cầu Các Thánh, có lẽ điều chúng ta nên làm không phải chỉ là ngưỡng mộ, càng không nên vội đặt lên vai họ những kỳ vọng quá lớn. Hãy cầu nguyện. Bởi người đang nằm đó không phải một con người đã hoàn hảo. Đó là một con người đang đặt đời mình trước Thiên Chúa và thưa rằng: “Con đây.” Một con người biết mình yếu nhưng vẫn dám bước tới. Một con người biết con đường phía trước có thập giá nhưng vẫn muốn đi. Một con người dám trao tương lai của mình cho Giáo Hội. Và khi họ quỳ trước Đức Giám mục để hứa vâng phục, xin chúng ta hiểu rằng lời hứa ấy thật lớn. Hãy đừng làm cho gánh ấy nặng thêm bằng những đòi hỏi ích kỷ. Hãy giúp họ sống lời hứa ấy bằng lời cầu nguyện và tình thương.
Có thể sau nhiều năm, người linh mục ấy sẽ không còn trẻ. Mái tóc sẽ bạc. Bàn tay xức dầu năm nào sẽ run. Giọng giảng từng vang sẽ yếu dần. Những bước chân từng đi khắp nơi sẽ chậm lại. Có thể người ta cũng không còn nhớ những việc lớn ngài từng làm. Nhưng nếu cuối đời, có một vài người nói được rằng: “Nhờ cha ấy mà tôi biết Chúa thương tôi”; “Nhờ cha ấy mà gia đình tôi không tan vỡ”; “Nhờ cha ấy mà tôi trở lại với Giáo Hội”; “Nhờ cha ấy mà trong lúc tuyệt vọng nhất tôi còn giữ được niềm tin”, thì có lẽ đó đã là một đời linh mục đẹp.
Và lúc ấy, lời Đức Giám mục năm xưa sẽ được hoàn tất theo một cách rất âm thầm: Thiên Chúa đã khởi đầu công trình tốt lành nơi người linh mục ấy, và qua bao nhiêu vui buồn, vấp ngã, đứng lên, hy sinh, nước mắt, tha thứ, vâng phục và yêu thương, chính Ngài đã từ từ hoàn thành công trình của Ngài.
Một lời hứa rất ngắn. Một hành trình rất dài. Một tiếng “xin vâng” được thốt lên trong vài giây, nhưng phải dùng cả cuộc đời để giữ.
Và có lẽ, vẻ đẹp sâu nhất của thiên chức linh mục cũng nằm ở đó.
Lm. Anmai, CSsR.
SỐNG CHỨNG TÁ NIỀM VUI TIN MỪNG
Có một điều rất lạ trong đời sống Kitô hữu: chúng ta tin vào Tin Mừng, mà Tin Mừng nghĩa là Tin Vui, thế nhưng không ít khi khuôn mặt của người có đạo lại thiếu niềm vui; chúng ta nói rất nhiều về Chúa là tình yêu, nhưng đời sống lại có lúc nặng nề, khép kín, lạnh lùng; chúng ta rao giảng một Đấng đã sống lại, nhưng chính mình lại bước đi như thể mọi sự đã khép lại trong một ngôi mộ. Có thể chúng ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc bác ái, vẫn phục vụ, vẫn tham gia hội đoàn, vẫn nói những điều rất đúng về giáo lý, nhưng người khác nhìn vào ta lại không cảm nhận được một Tin Mừng đang sống. Và đó là một câu hỏi rất lớn. Bởi Tin Mừng không chỉ cần được nói cho đúng, Tin Mừng còn cần được sống sao cho người ta có thể nhìn thấy. Đức tin không chỉ nằm trong những lời tuyên xưng trên môi miệng, mà phải trở thành một ánh sáng trên khuôn mặt, một sự bình an trong cách sống, một lòng nhân hậu trong cách đối xử, một niềm hy vọng giữa những ngày gian nan, một khả năng đứng dậy sau đau khổ, một cách yêu thương mà người đời không dễ giải thích nếu không có Thiên Chúa. Người Kitô hữu được gọi không chỉ để kể về Tin Mừng, nhưng để trở thành chứng nhân của Tin Mừng; không chỉ mang Tin Mừng trong sách, nhưng mang Tin Mừng trong chính con người mình; không chỉ nói rằng Chúa đã sống lại, nhưng để cách mình sống nói cho người khác biết rằng thật sự có một Đấng đã thắng sự chết và đang làm cho đời người trở nên mới.
Niềm vui Tin Mừng không phải là thứ vui vẻ bên ngoài, càng không phải là thái độ lúc nào cũng cười để che giấu nước mắt. Có những người tưởng rằng người có Chúa thì không được buồn, không được khóc, không được mệt mỏi, không được yếu lòng. Không phải thế. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Người đã buồn đến chết được trong vườn Cây Dầu. Người đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đời sống Kitô hữu không xóa khỏi cuộc đời đau khổ, nhưng đem vào đau khổ một ý nghĩa mới; không loại bỏ thập giá, nhưng cho ta một Đấng cùng vác thập giá; không hứa rằng ta sẽ không còn nước mắt, nhưng hứa rằng nước mắt không phải là tiếng nói cuối cùng. Niềm vui Tin Mừng chính là niềm vui rất sâu của người biết mình được yêu, được tha thứ, được cứu, được thuộc về Chúa. Đó là niềm vui có thể tồn tại ngay cả khi cuộc đời không thuận lợi. Nó không ồn ào nhưng bền bỉ. Nó không phải hưng phấn nhất thời nhưng là một dòng nước ngầm. Người có niềm vui Tin Mừng vẫn có thể đau, vẫn có thể mất mát, vẫn có thể thất vọng về con người, nhưng trong tận đáy lòng họ vẫn còn một nơi không tuyệt vọng, bởi nơi ấy thuộc về Chúa. Người ta có thể lấy khỏi họ nhiều thứ, nhưng không dễ lấy khỏi họ niềm xác tín rằng cuộc đời mình đang nằm trong tay Đấng yêu thương.
Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ bằng lời loan báo: “Thời kỳ đã mãn, Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Tin Mừng trước hết không phải một hệ thống luân lý, cũng không phải một bộ luật khiến con người càng sống càng sợ. Tin Mừng là tin rằng Thiên Chúa đã đến gần. Thiên Chúa không còn là một Đấng xa xôi đứng trên cao để nhìn con người loay hoay dưới đất. Thiên Chúa đã bước vào kiếp người. Người biết đói, biết khát, biết mỏi mệt, biết bị phản bội, biết bị hiểu lầm, biết đau đớn, biết cô đơn và biết chết. Chỉ điều đó thôi đã là một niềm vui vô cùng lớn. Khi ta đau, ta không đau một mình. Khi ta khóc, Chúa biết nước mắt con người mặn thế nào. Khi ta bị phản bội, Chúa hiểu vết thương ấy. Khi ta phải đối diện với cái chết của người thân hay của chính mình, ta biết rằng Đấng mình tin cũng đã đi qua cửa tử. Tin Mừng là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và người thật sự tin vào Emmanuel thì không thể sống như một người bị bỏ rơi.
Chứng tá niềm vui Tin Mừng bắt đầu từ một kinh nghiệm rất cá vị: tôi đã được Chúa chạm đến. Không có kinh nghiệm ấy, mọi hoạt động tông đồ dễ trở thành nghề nghiệp; mọi bài giảng dễ chỉ là lời nói; mọi việc phục vụ có thể biến thành bổn phận nặng nề. Người ta chỉ có thể nói cách thuyết phục về một Đấng mà mình đã gặp. Các Tông đồ không đi loan báo một học thuyết. Họ đi kể rằng họ đã gặp một Con Người. Gioan viết: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến về Lời sự sống, chúng tôi loan báo cho anh em.” Chính kinh nghiệm gặp Đức Kitô làm phát sinh chứng tá. Phêrô từng chối Chúa nhưng đã được nhìn bằng ánh mắt tha thứ. Maria Mađalêna từng đứng khóc ngoài mộ nhưng đã nghe Chúa gọi tên mình. Hai môn đệ Emmau từng thất vọng bỏ Giêrusalem mà đi, nhưng lòng họ đã bừng cháy khi Người giải thích Kinh Thánh và bẻ bánh. Phaolô từng truy bắt Hội Thánh, nhưng đã bị đánh ngã bởi ánh sáng của Đức Kitô. Mỗi người một câu chuyện, nhưng đều có chung một điều: trước khi họ nói về Chúa, Chúa đã làm một điều gì đó trong đời họ.
Vì thế, muốn sống chứng tá niềm vui Tin Mừng, trước hết phải để mình được Tin Mừng hóa. Một người không thể trao điều mình không có. Một tâm hồn khô cạn khó có thể trao nước mát. Một con người đầy cay đắng khó làm người khác tin rằng Thiên Chúa là tình yêu. Chúng ta có thể che giấu sự trống rỗng trong một thời gian bằng hoạt động, bằng chức vụ, bằng kiến thức, bằng những lời đạo đức, nhưng rồi cách ta phản ứng trước một lời chê, một thất bại, một va chạm, một bất công nhỏ sẽ làm lộ ra ta đang sống từ đâu. Nếu chỉ một lời nói trái ý đã lấy mất bình an của ta; nếu một người không tôn trọng ta đã khiến ta nhớ mãi nhiều năm; nếu một thành công của người khác khiến ta buồn; nếu một việc phục vụ không được nhìn nhận làm ta nản lòng, thì có lẽ ta vẫn còn phải trở về với Tin Mừng nhiều lắm. Tin Mừng không chỉ được đem cho người khác. Tin Mừng trước hết phải đi qua chính mình, phải chạm vào lòng tự ái, chữa những vết thương, phá những bức tường, thanh luyện những ham muốn, làm mềm trái tim và đổi cách ta nhìn con người.
Một chứng nhân của niềm vui Tin Mừng không phải là người không có vấn đề, nhưng là người không để vấn đề biến mình thành cay đắng. Đây là một nét rất đẹp và cũng rất khó. Có những người đã từng chịu nhiều tổn thương nhưng trở nên dịu dàng hơn. Có người đã bị phản bội nhưng không trở thành kẻ đa nghi. Có người nghèo nhưng không sống trong ganh tỵ. Có người bị hiểu lầm nhưng không vì thế mà đi bôi nhọ người khác. Có người trải qua bệnh tật nhưng vẫn biết quan tâm đến nỗi đau của người bên cạnh. Những con người ấy có sức thuyết phục hơn rất nhiều bài giảng. Bởi nơi họ, người ta thấy Tin Mừng đã thật sự làm được điều gì đó. Chúa không chỉ ở trong lời họ nói, Chúa ở trong cách họ chịu đựng, cách họ tha thứ, cách họ không trả đũa, cách họ vẫn tử tế khi có đủ lý do để trở nên khắc nghiệt.
Thế giới hôm nay rất cần những chứng nhân như thế. Con người không thiếu thông tin về tôn giáo. Chỉ cần vài giây là người ta có thể đọc hàng ngàn bài viết về Thiên Chúa. Nhưng điều người ta thiếu là gặp một người khiến họ muốn tin rằng Thiên Chúa có thật. Một người biết lắng nghe có thể nói về Chúa nhiều hơn một bài diễn văn. Một người biết tha thứ có thể giải thích Tin Mừng sâu hơn nhiều trang sách. Một người sống thanh thản giữa gian nan có thể đặt vào lòng người khác một câu hỏi: điều gì làm người này đứng vững được như vậy? Một người không chạy theo tiền bạc, không tranh giành quyền lợi, không sống bằng hơn thua, không hạ người khác để nâng mình lên, tự nó đã là một lời chứng rất mạnh.
Chúng ta thường nghĩ truyền giáo là phải đi xa. Nhưng có khi cánh đồng truyền giáo đầu tiên là căn nhà mình đang sống. Có những người nói về Tin Mừng rất hay với người ngoài, nhưng về nhà lại khó chịu với người thân. Có người rất lịch sự với khách nhưng lạnh lùng với cha mẹ. Có người kiên nhẫn với cộng đoàn nhưng nóng nảy với người gần mình nhất. Có người tham gia rất nhiều việc đạo đức nhưng vợ chồng không còn nói được với nhau một lời tử tế. Nếu Tin Mừng không đi vào bàn ăn, không đi vào cách vợ chồng nói với nhau, không đi vào cách cha mẹ sửa dạy con cái, không đi vào cách con cái chăm sóc cha mẹ già, thì Tin Mừng vẫn còn đứng ngoài cửa nhà. Chứng tá Kitô giáo phải bắt đầu từ nơi không có sân khấu và không có tiếng vỗ tay. Chính nơi đó mới biết lòng mình thực sự thuộc về ai.
Niềm vui Tin Mừng cũng phải đi vào đời sống cộng đoàn. Một cộng đoàn Kitô hữu mà đầy nghi kỵ, nói xấu, phân phe, tranh quyền thì khó thuyết phục ai rằng Đức Kitô đang sống giữa họ. Chúa Giêsu không nói: người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy vì anh em tổ chức hay, vì anh em có nhiều chương trình, vì nhà thờ anh em đẹp, vì phụng vụ anh em long trọng. Người nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” Đó là dấu chỉ căn bản. Một giáo xứ có thể rất đông nhưng chưa chắc đã là cộng đoàn Tin Mừng. Một hội đoàn có thể hoạt động rất mạnh nhưng chưa chắc đã đầy tinh thần Tin Mừng. Điều quyết định không phải ta làm bao nhiêu việc, nhưng ta đối xử với nhau thế nào khi làm những việc ấy.
Có một nguy cơ rất tinh vi: chúng ta có thể làm việc cho Chúa nhưng lại làm mất Chúa trong lúc làm. Ta có thể tranh cãi vì việc nhà Chúa đến mức không còn yêu nhau. Ta có thể bảo vệ một điều đúng bằng một thái độ sai. Ta có thể nhân danh chân lý để làm tổn thương. Ta có thể nghĩ rằng mình đang nhiệt thành, trong khi thật ra chỉ đang bảo vệ cái tôi. Chứng tá niềm vui Tin Mừng đòi ta không chỉ hỏi: điều tôi nói có đúng không? mà còn phải hỏi: cách tôi nói có giống Đức Kitô không? Tôi có thể thắng một cuộc tranh luận mà làm mất một người anh em. Tôi có thể chứng minh rằng mình đúng nhưng khiến người khác không còn muốn đến gần Hội Thánh. Khi đó, cái giá của chiến thắng quá đắt.
Đức Giêsu nói sự thật rất mạnh, nhưng người tội lỗi vẫn dám đến gần Người. Đó là điều đáng suy nghĩ. Người phụ nữ Samari dám nói chuyện với Người. Da-kêu dám tiếp Người vào nhà. Những người thu thuế và tội lỗi ngồi ăn với Người. Người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình đứng trước Người mà không bị nghiền nát. Đức Giêsu không gọi tội là điều tốt, nhưng sự thánh thiện của Người không tạo ra bầu khí khiến người yếu đuối tuyệt vọng. Trái lại, khi đến gần Người, con người muốn thay đổi. Đó mới là sức mạnh của Tin Mừng. Một người Kitô hữu trưởng thành cũng phải có nét ấy: không dễ dãi với điều sai nhưng luôn dịu dàng với con người; không thỏa hiệp với sự dữ nhưng không bao giờ khinh người tội lỗi.
Chứng tá niềm vui Tin Mừng còn được thể hiện qua lòng biết ơn. Người không biết ơn khó có niềm vui bền vững, bởi lúc nào họ cũng nhìn vào điều mình thiếu. Họ có chín điều nhưng chỉ nghĩ về điều thứ mười chưa có. Họ được nhiều người yêu quý nhưng cứ nhớ người không thích mình. Họ có sức khỏe nhưng chỉ nhìn vào giới hạn. Họ có gia đình nhưng cứ so sánh với gia đình khác. Họ có ơn gọi nhưng cứ nghĩ đến điều mình đã từ bỏ. Trái lại, người biết ơn nhìn đời bằng một đôi mắt khác. Họ không phủ nhận khó khăn, nhưng không để khó khăn che hết ân huệ. Mỗi sáng thức dậy còn thở được đã là một ơn. Còn có người để yêu là một ơn. Còn có việc để làm là một ơn. Còn có thể cầu nguyện là một ơn. Còn được Chúa cho thêm một ngày để sống tử tế hơn hôm qua là một ơn.
Niềm vui Tin Mừng không thể tách khỏi thập giá. Kitô giáo không phải đạo của nụ cười dễ dãi. Trung tâm đức tin là một Đấng bị đóng đinh. Nhưng Thập Giá Kitô giáo không kết thúc ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Phía sau Thập Giá là bình minh Phục Sinh. Chính nơi tưởng như thất bại nhất lại là nơi tình yêu chiến thắng. Chính lúc Đức Giêsu dường như không còn gì trong tay, Người lại hoàn tất công trình cứu độ. Điều đó cho người Kitô hữu một cách nhìn rất khác về những thất bại của đời mình. Không phải cái gì mất cũng vô nghĩa. Không phải điều gì đau cũng vô ích. Có những hạt giống phải mục đi mới sinh nhiều bông hạt. Có những cánh cửa đóng lại để ta học đi con đường khác. Có những dự định tan vỡ để ta tìm ra ý Chúa sâu hơn. Có những lần bị hạ xuống để ta bớt kiêu ngạo và trở nên người hơn.
Một người đã hiểu Thập Giá sẽ không dễ tuyệt vọng. Họ biết Thiên Chúa có thể viết tiếp câu chuyện từ nơi con người tưởng là dấu chấm hết. Các Tông đồ tưởng mọi sự chấm dứt khi Thầy bị đóng đinh. Maria Mađalêna tưởng tất cả đã mất khi thấy ngôi mộ. Hai môn đệ Emmau nói: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng…” Họ dùng thì quá khứ cho hy vọng của mình. Nhưng Chúa đã sống lại ngay lúc họ tưởng hy vọng đã chết. Có những ngày đời ta cũng như thế. Ta không thấy gì ngoài đá lấp cửa mộ. Nhưng điều ta không biết là Chúa đang chuẩn bị một bình minh.
Chứng tá niềm vui Tin Mừng vì thế là khả năng giữ hy vọng khi mọi người khác đều nói hết rồi. Không phải hy vọng mù quáng rằng mọi việc sẽ xảy ra đúng như ta muốn, nhưng là hy vọng rằng dù chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể dẫn ta đến ơn cứu độ. Có sự khác biệt rất lớn. Đức tin không bảo đảm ta sẽ có công việc mình thích, sức khỏe mình muốn, người ta yêu sẽ không rời đi, hay mọi dự định sẽ thành công. Đức tin bảo đảm một điều sâu hơn: không gì có thể tách ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Người chứng tá Tin Mừng cũng là người sống tự do trước những gì thế gian coi là quan trọng. Xã hội thường dạy ta đo giá trị bằng tiền, địa vị, thành tích, lượt thích, sự nổi tiếng. Nhưng Tin Mừng nói một ngôn ngữ khác: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì?” Một người có thể rất thành công trong mắt đời nhưng thất bại trong tư cách làm người. Có thể xây được ngôi nhà lớn nhưng không còn mái ấm. Có thể có nhiều người biết đến nhưng chẳng có ai thật sự hiểu mình. Có thể thắng nhiều người nhưng thua chính lòng tham, lòng kiêu ngạo, sự ganh tỵ của bản thân. Tin Mừng giải phóng ta khỏi cuộc chạy đua ấy. Ta không cần hơn người khác để có giá trị. Ta có giá trị vì được Thiên Chúa yêu.
Khi một người thật sự tin điều đó, họ trở nên nhẹ hơn. Họ không còn quá ám ảnh người khác nghĩ gì về mình. Họ không cần liên tục chứng minh. Họ có thể vui trước thành công của người khác. Họ có thể làm điều tốt trong âm thầm. Họ không nổi giận chỉ vì không được nhắc tên. Họ không sụp đổ vì một lời chê. Đó là tự do Tin Mừng.
Một chứng tá khác rất cần thiết hôm nay là cách ta sử dụng lời nói. Có bao nhiêu niềm vui bị giết bởi một câu nói. Có bao nhiêu mối quan hệ vỡ vì những lời buông ra trong nóng giận. Có bao nhiêu người mang vết thương nhiều năm chỉ vì ai đó từng nói với họ rằng họ vô dụng. Người sống Tin Mừng phải làm cho lời mình trở thành nơi người khác được sống. Không phải lúc nào cũng nói ngọt, nhưng nói thật với lòng yêu thương. Không dùng bí mật người khác làm câu chuyện giải trí. Không lấy lỗi lầm của người làm công cụ hạ họ xuống. Không biến mạng xã hội thành nơi xét xử. Không chia sẻ điều mình chưa biết chắc. Không góp phần làm lan sự cay độc.
Ngày nay người ta có thể làm tổn thương nhau mà không cần nhìn vào mắt nhau. Chỉ một bình luận, một cú chia sẻ, một câu mỉa mai cũng đủ làm ai đó đau. Kitô hữu hiện diện trên mạng cũng phải là chứng nhân. Một trang cá nhân của người có đạo mà đầy công kích, châm chọc, phán xét thì dù có đăng bao nhiêu câu Kinh Thánh cũng khó gọi là truyền giáo. Tin Mừng không chỉ ở nội dung ta đăng, nhưng ở cách ta cư xử.
Sống chứng tá niềm vui Tin Mừng còn là biết phục vụ. Đức Giêsu nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ.” Người rửa chân cho các môn đệ. Người cúi xuống. Tin Mừng đi xuống trước khi đi lên. Ai muốn làm chứng cho Chúa phải học cúi xuống trước nhu cầu của người khác. Có khi truyền giáo là dọn một bữa cơm cho người già. Có khi là đưa một người bệnh đi khám. Có khi là ngồi nghe ai đó kể một câu chuyện mà mình đã nghe nhiều lần. Có khi là nhường phần dễ chịu cho người khác. Những việc ấy không lớn, không ai viết báo, nhưng Nước Trời được xây bằng rất nhiều điều nhỏ như thế.
Chúng ta thường chờ những việc lớn để chứng minh tình yêu, trong khi Chúa gửi đến mỗi ngày hàng chục cơ hội rất nhỏ. Một lời cảm ơn. Một lần nhường đường. Một cuộc điện thoại hỏi thăm. Một sự im lặng khi có thể trả đũa. Một lần xin lỗi. Một chút tiền chia sẻ. Một nụ cười với người phục vụ. Một thái độ tôn trọng với người thấp hơn mình trong địa vị xã hội. Thánh thiện thường không ồn ào. Nó được xây bằng những lựa chọn nhỏ lặp đi lặp lại.
Niềm vui Tin Mừng cũng được thử thách rất nhiều trong tuổi già, bệnh tật và giới hạn. Khi còn trẻ, ta vui vì mình làm được nhiều điều. Khi về già, Chúa có thể dạy ta niềm vui khác: vui vì được thuộc về Người dù không còn làm được bao nhiêu. Có những người rất khó chấp nhận lúc mình yếu đi. Họ từng là người giúp người khác, nay phải để người khác giúp. Họ từng quyết định nhiều việc, nay phải phụ thuộc. Nhưng chính ở đó có thể mở ra một sự trưởng thành thiêng liêng sâu sắc: ta hiểu giá trị của mình không nằm ở hiệu suất. Ta không đáng yêu vì ta hữu dụng. Ta đáng yêu vì ta là con Thiên Chúa.
Người đau bệnh vẫn có thể là một nhà truyền giáo. Không phải bằng đi đây đi đó nhưng bằng cách họ chịu bệnh. Một người đau mà không cay nghiệt, biết đón nhận sự chăm sóc với lòng biết ơn, biết cầu nguyện cho người khác, có thể làm cả căn phòng bệnh thay đổi. Đó là một chứng tá rất mạnh.
Cuối cùng, muốn sống niềm vui Tin Mừng, phải trở lại với Chúa mỗi ngày. Không ai có thể giữ lửa nếu không trở về nguồn lửa. Cầu nguyện không phải xa xỉ của người đạo đức, nhưng là hơi thở của chứng nhân. Đức Giêsu hoạt động rất nhiều nhưng vẫn rút lui cầu nguyện. Càng đông người tìm, Người càng cần ở lại với Cha. Ta thường làm ngược: càng bận càng bớt cầu nguyện. Và rồi ta kiệt sức, cáu gắt, khô khan, nhưng vẫn cố làm tiếp. Cành lìa cây không thể sinh trái. Người tông đồ lìa Chúa có thể vẫn hoạt động, nhưng hoa trái sẽ khác.
Ở lại với Chúa không nhất thiết luôn có cảm xúc. Có những giờ cầu nguyện rất khô. Nhưng như một người ngồi cạnh người mình yêu mà không cần nói nhiều, có những lúc chỉ cần ở đó. “Lạy Chúa, con đây.” Chừng đó đã đủ để bắt đầu lại.
Sống chứng tá niềm vui Tin Mừng, cuối cùng, không phải cố gắng tạo ra một hình ảnh đẹp về mình. Nếu cứ nghĩ phải tỏ ra vui, phải tỏ ra thánh thiện, ta lại trở thành diễn viên. Điều cần thiết hơn là để Chúa thật sự sống trong mình. Khi Người sống trong ta, niềm vui sẽ có lúc tự nhiên xuất hiện. Không phải mọi ngày đều rạng rỡ, nhưng toàn bộ cuộc đời sẽ mang một hướng đi.
Người ta có thể quên bài giảng chúng ta nói. Có thể quên câu Kinh Thánh chúng ta trích. Có thể quên những chương trình chúng ta tổ chức. Nhưng rất có thể họ sẽ nhớ lâu cách họ đã cảm thấy khi ở cạnh chúng ta. Họ có cảm thấy được tôn trọng không? Được lắng nghe không? Được hy vọng không? Hay họ cảm thấy mình bị xét đoán và nhỏ bé đi?
Chứng tá lớn nhất có khi rất đơn sơ: để sau khi gặp ta, người khác thấy cuộc đời còn đáng sống hơn một chút; thấy mình vẫn còn có thể làm lại; thấy Thiên Chúa không xa như họ từng nghĩ.
Và nếu một ngày nào đó, có ai hỏi ta: “Tại sao giữa bao nhiêu chuyện như thế mà anh vẫn còn hy vọng? Tại sao chị có thể tha thứ? Tại sao ông có thể bình an?” thì lúc ấy, có lẽ ta không cần nói nhiều. Chỉ cần nhẹ nhàng trả lời: “Vì tôi đã gặp một Đấng không bỏ tôi bao giờ.”
Đó là Tin Mừng.
Và một đời người nếu làm được cho vài người tin rằng Thiên Chúa vẫn yêu họ, đời ấy đã không sống vô ích.
Lm. Anmai, CSsR















