NHỮNG MẢNH VỤN SUY TƯ VỀ ĐỨC GIÊSU KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH LÀ ĐỐI TƯỢNG DUY NHẤT CỦA LÒNG TRÍ CHÚNG CON Lm. Anmai, CSR

17

ĐỨC GIÊSU KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH LÀ ĐỐI TƯỢNG DUY NHẤT CỦA LÒNG TRÍ CHÚNG CON
Lm. Anmai, CSR


LỜI TỰA
ĐỨC GIÊSU KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH LÀ ĐỐI TƯỢNG DUY NHẤT CỦA LÒNG TRÍ CHÚNG CON
Có những cuốn sách được viết ra để người ta biết thêm một điều gì đó. Có những cuốn sách được viết ra để người ta nhớ lại một điều mình đã từng biết nhưng đã vô tình quên mất. Có những cuốn sách được viết ra để giải thích, để trình bày, để tranh luận, để chứng minh, để mở rộng kiến thức. Nhưng cũng có những trang sách không muốn đưa người đọc đến một ý tưởng, mà muốn đưa người đọc đến trước một Con Người; không muốn chất thêm vào trí nhớ của người đọc một số điều, nhưng muốn đặt lại trước mắt người đọc một dung nhan; không muốn làm cho người ta biết nhiều hơn về Thiên Chúa, nhưng muốn mời người ta dừng lại thật lâu trước Đấng đã yêu mình đến cùng. Tập sách mang tên “ĐỨC GIÊSU KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH LÀ ĐỐI TƯỢNG DUY NHẤT CỦA LÒNG TRÍ CHÚNG CON” được hình thành từ một thao thức như thế. Những trang sách này không có tham vọng nói hết về Thập Giá, bởi không một đời người nào có thể nói hết được Thập Giá. Những trang sách này cũng không muốn biến Đức Kitô Chịu Đóng Đinh thành một đề tài để phân tích từ xa, bởi Thập Giá không phải là một đề tài đứng ngoài đời ta. Thập Giá là nơi ta gặp một Thiên Chúa đã bước vào tận cùng thân phận con người, đã mang lấy đau khổ của con người, đã đi vào cô đơn của con người, đã chạm đến tội lỗi của con người, đã cúi xuống trên những thất bại, phản bội, yếu đuối và nước mắt của con người, để từ chính nơi tưởng như tuyệt vọng nhất ấy mở ra con đường cứu độ. Vì thế, đọc về Đức Kitô Chịu Đóng Đinh không thể chỉ là đọc bằng mắt. Phải đọc bằng lòng. Phải đọc bằng những vết thương của chính mình. Phải đọc bằng những lần mình đã thất bại, đã phản bội, đã được tha thứ, đã được đứng lên, đã được cứu khỏi những vực sâu mà chính mình cũng không nghĩ mình có thể thoát ra. Và rồi, sau tất cả, người ta sẽ nhận ra rằng Kitô giáo không bắt đầu từ một hệ thống luân lý, cũng không kết thúc bằng một hệ thống kiến thức. Kitô giáo bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ: cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô, và một khi đã thực sự gặp Người, người môn đệ sẽ dần hiểu rằng trung tâm của đời mình không còn có thể là chính mình nữa.
“Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng con.” Câu nói ấy không có nghĩa là người Kitô hữu khinh chê thế giới, từ bỏ những bổn phận trần thế, không còn quan tâm đến con người, gia đình, cộng đoàn, công việc hay những vui buồn rất thật của cuộc sống. Ngược lại, chính khi Đức Kitô trở thành trung tâm duy nhất, mọi tương quan còn lại mới tìm được vị trí đúng của nó. Khi lòng ta không thuộc trọn về Chúa, ta rất dễ đòi người khác phải lấp đầy những khoảng trống mà chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy. Ta đòi người khác phải hiểu mình tuyệt đối, phải yêu mình tuyệt đối, phải trung thành với mình tuyệt đối, phải công nhận mình, phải biết ơn mình, phải làm cho mình hạnh phúc. Và khi họ không làm được điều ấy, ta thất vọng, trách móc, cay đắng. Ta biến người thân thành thần tượng, biến thành công thành thần tượng, biến chức vụ thành thần tượng, biến danh tiếng thành thần tượng, biến tiền bạc thành thần tượng, thậm chí có khi biến chính công việc đạo đức và sứ vụ của mình thành thần tượng. Thập Giá kéo tất cả chúng ta trở về với trật tự căn bản: chỉ có Thiên Chúa là Thiên Chúa. Chỉ có Đức Kitô mới có quyền chiếm trọn trái tim ta. Và lạ lùng thay, khi Người thực sự chiếm lấy trái tim ta, ta không yêu người khác ít đi, nhưng yêu họ tự do hơn; không phục vụ ít đi, nhưng phục vụ trong bình an hơn; không hy sinh ít đi, nhưng hy sinh mà không đòi được ghi công; không đau khổ ít đi, nhưng đau khổ không còn hoàn toàn vô nghĩa; không mất mát ít đi, nhưng giữa những mất mát vẫn còn một điểm tựa mà không ai có thể lấy khỏi ta.
Có lẽ nguy hiểm lớn nhất của đời sống Kitô hữu không phải lúc nào cũng là công khai rời bỏ Chúa. Nhiều khi nguy hiểm hơn lại là vẫn giữ Chúa ở đó, nhưng chỉ dành cho Chúa một góc. Ta vẫn cầu nguyện, vẫn đi lễ, vẫn làm việc đạo đức, vẫn phục vụ, vẫn nói về Chúa, nhưng trung tâm sâu nhất của lòng mình có thể đã bị một điều khác chiếm mất. Có người bị tiền bạc chiếm. Có người bị quyền lực chiếm. Có người bị sự kính trọng của người khác chiếm. Có người bị một vết thương cũ chiếm. Có người bị một mối hận chiếm. Có người bị nỗi sợ thất bại chiếm. Có người bị sự hơn thua chiếm. Có người bị chính cái tôi đạo đức của mình chiếm. Bên ngoài vẫn là một đời sống tưởng như đạo đức, nhưng bên trong, Đức Kitô không còn là đối tượng duy nhất của lòng trí nữa. Và từ đó bắt đầu biết bao xáo trộn. Ta dễ giận khi không được công nhận. Ta buồn quá mức khi bị hiểu lầm. Ta mất bình an khi người khác hơn mình. Ta cay đắng khi những hy sinh của mình không được biết đến. Ta xét đoán người khác vì họ không sống theo cách của ta. Ta dùng cả những điều thánh thiện để bảo vệ cái tôi. Thập Giá, vì vậy, không chỉ là nơi để ta ngước nhìn Chúa; Thập Giá còn là tấm gương soi để ta thấy lòng mình đang thuộc về ai.
Đứng trước Đức Kitô Chịu Đóng Đinh, rất nhiều điều từng làm ta bận tâm bỗng trở nên nhỏ lại. Những lời khen chê nhỏ lại. Những hơn thua nhỏ lại. Những danh dự nhỏ lại. Những thành công mà ta từng tưởng là tất cả cũng nhỏ lại. Những mất mát từng khiến ta nghĩ đời mình đã chấm hết cũng được nhìn lại bằng một ánh sáng khác. Không phải vì chúng không còn đau, nhưng vì bên cạnh chúng đã xuất hiện một điều lớn hơn. Người ta chỉ có thể từ bỏ điều nhỏ khi đã tìm được điều lớn. Chỉ có thể buông một viên đá khi đã tìm thấy viên ngọc quý. Chỉ có thể thôi bám lấy những thứ chóng qua khi đã biết mình đang được giữ lấy bởi một tình yêu không chóng qua. Người môn đệ không từ bỏ vì ghét cuộc đời; người môn đệ từ bỏ vì đã gặp một Đấng quý hơn mọi sự. Người môn đệ không mang Thập Giá vì yêu đau khổ; người môn đệ mang Thập Giá vì yêu Đức Kitô. Và đây là điều phải được nhắc đi nhắc lại trong đời sống đức tin: Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ một Thiên Chúa đã đi xuyên qua đau khổ bằng tình yêu. Thập Giá tự nó là một dụng cụ hành hình. Điều làm cho Thập Giá trở thành nguồn cứu độ chính là tình yêu của Đấng bị đóng đinh trên đó. Vì thế, người Kitô hữu không đi tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ đến, họ biết mình không bước vào đó một mình. Có một Đấng đã đi trước. Có một Đấng hiểu. Có một Đấng đã từng kêu lên trong bóng tối. Có một Đấng đã nếm sự phản bội của bạn hữu, sự bất công của quyền lực, sự chế nhạo của đám đông, sự cô đơn của người bị bỏ rơi. Và chính Đấng ấy đã biến nơi tận cùng của thất bại thành khởi đầu của một sự sống mới.
Suốt cuộc đời, có lẽ người môn đệ phải học đi học lại một bài học duy nhất: trở về với Đức Kitô. Khi trẻ, ta dễ nghĩ mình sẽ làm được nhiều điều cho Chúa. Khi trưởng thành, ta bắt đầu nhận ra có những điều mình không thể làm. Khi già đi, ta dần hiểu rằng điều quan trọng nhất có khi không còn là mình làm được bao nhiêu cho Chúa, mà là mình có để Chúa làm gì trong mình hay không. Lúc đầu ta muốn phục vụ Chúa bằng sức mạnh. Về sau ta học phục vụ Chúa bằng sự yếu đuối. Lúc đầu ta muốn dâng cho Chúa thành công. Về sau ta học dâng cho Chúa cả thất bại. Lúc đầu ta muốn nói nhiều về Chúa. Về sau ta hiểu có những lúc sự thinh lặng dưới chân Thập Giá lại nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Lúc đầu ta muốn chứng minh lòng trung thành của mình với Chúa. Về sau ta chỉ còn biết thưa: “Lạy Chúa, xin giữ con trung thành.” Đời sống thiêng liêng trưởng thành không phải là ngày càng thấy mình mạnh, nhưng là ngày càng biết mình cần Chúa. Không phải ngày càng tự tin rằng mình sẽ không ngã, nhưng là ngày càng khiêm tốn biết rằng nếu rời khỏi Chúa, mình có thể ngã bất cứ lúc nào. Không phải ngày càng thấy mình hơn người, nhưng là ngày càng thấy mình được thương nhiều hơn mình xứng đáng.
Có một điều rất dễ xảy ra trong đời sống phục vụ: người ta có thể làm việc cho Chúa mà dần dần ít ở với Chúa. Người ta có thể nói về Tin Mừng mà lòng mình thiếu Tin Mừng. Người ta có thể rao giảng về Thập Giá mà chính mình tránh né mọi thập giá. Người ta có thể mời người khác cầu nguyện nhưng đời sống nội tâm của mình ngày một cạn. Người ta có thể quá bận với những công việc của Nước Chúa đến mức không còn thời giờ cho chính Chúa của Nước Trời. Đó là một nghịch lý đau lòng, nhưng rất thật. Cành nho có thể bận rộn đến đâu cũng không thể sinh trái nếu lìa cây nho. Người tông đồ có thể tài giỏi, năng động, sáng tạo, được nhiều người biết đến, nhưng nếu nguồn sống bên trong không còn là Đức Kitô, sớm hay muộn tất cả sẽ trở thành gánh nặng. Khi đó, việc phục vụ biến thành thành tích. Sứ vụ biến thành nơi khẳng định bản thân. Thành công làm ta kiêu. Thất bại làm ta suy sụp. Lời khen làm ta say. Lời chê làm ta cay đắng. Nhưng nếu Đức Kitô Chịu Đóng Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí, người tông đồ sẽ được giải thoát khỏi nhu cầu phải chứng minh mình. Ta làm vì yêu, chứ không phải để được nhìn nhận. Ta gieo vì bổn phận của mình là gieo, còn mùa gặt thuộc về Chúa. Ta có thể bị quên mà vẫn bình an. Ta có thể bị hiểu lầm mà vẫn tiếp tục yêu. Ta có thể thất bại trước mắt người đời mà vẫn không coi cuộc đời mình là vô ích, bởi thành công của người môn đệ không nằm ở chỗ được bao nhiêu người tung hô, nhưng ở chỗ cuối cùng có thể nói với Chúa: con đã cố sống điều Chúa muốn.
Thập Giá còn dạy ta học lại ý nghĩa của tình yêu. Thế gian thường gọi là yêu khi còn có cảm xúc, còn được đáp lại, còn thấy dễ chịu, còn nhận được điều mình mong muốn. Nhưng Đức Kitô trên Thập Giá yêu khi không còn gì để nhận. Người yêu những kẻ đóng đinh mình. Người tha thứ khi đang bị xúc phạm. Người trao Mẹ mình cho môn đệ khi chính mình đang hấp hối. Người nghĩ đến người khác ngay cả trong giờ phút đau đớn nhất. Người không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh quyền năng, bởi quyền năng của Thiên Chúa hôm ấy được biểu lộ không bằng việc tránh đau khổ, mà bằng việc yêu đến cùng trong đau khổ. Vì vậy, càng nhìn Thập Giá, ta càng xấu hổ về thứ tình yêu tính toán của mình. Ta yêu người dễ thương nhưng khó yêu người làm ta tổn thương. Ta tha thứ bằng lời nhưng vẫn giữ món nợ trong lòng. Ta phục vụ nhưng mong được biết ơn. Ta cho đi nhưng muốn người khác nhớ. Ta im lặng nhưng trong lòng vẫn kết án. Ta nói mình phó thác nhưng vẫn muốn mọi chuyện phải theo ý mình. Thập Giá không lên án ta để ta tuyệt vọng; Thập Giá làm ta khiêm tốn để ta bắt đầu lại. Mỗi lần nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh, ta lại được hỏi: con có muốn yêu thêm một chút theo cách của Thầy không? Con có muốn tha thứ thêm một lần nữa không? Con có muốn bớt giữ mình lại không? Con có muốn thôi tính toán không? Con có muốn để tình yêu đi xa hơn cảm xúc không?
Thập Giá cũng dạy ta một sự thật rất khó chấp nhận: không phải mọi điều trong đời đều có câu trả lời ngay. Có những đau khổ ta cầu xin mãi mà không hiểu. Có những người tốt phải chịu điều quá nặng. Có những mất mát không thể bù lại. Có những lời cầu nguyện dường như chỉ gặp thinh lặng. Có những lúc người ta không cần một lời giải thích mà chỉ cần một Đấng ở cùng. Đức Kitô Chịu Đóng Đinh không đưa ra một bài luận để giải thích tại sao con người đau khổ. Người bước vào đau khổ. Người đứng về phía người đau. Người mang vết thương. Người để cho mình bị thương. Và vì thế, Kitô giáo có thể không trả lời được mọi câu hỏi của đau khổ bằng lý luận, nhưng Kitô giáo có thể chỉ vào Thập Giá và nói: Thiên Chúa không đứng ngoài nỗi đau của bạn. Người đã ở trong đó. Người vẫn ở trong đó. Và nếu bạn không còn sức để bước, Người sẽ bước cùng bạn. Nếu bạn không còn lời để cầu nguyện, chỉ cần nhìn lên Người. Có những lời cầu nguyện sâu nhất không thành tiếng. Có những giờ phút đức tin chỉ còn là không bỏ đi khỏi chân Thập Giá.
Tập sách này vì vậy không muốn được đọc vội. Mỗi bài có thể là một chỗ dừng. Có những trang người đọc thấy quen thuộc. Có những câu tưởng như đã nghe nhiều lần. Nhưng Lời Chúa có một điều rất lạ: cùng một câu ấy, ở tuổi hai mươi ta nghe một cách; ở tuổi bốn mươi ta nghe một cách khác; sau một lần mất mát, ta lại nghe khác; sau một lần được tha thứ, ta lại nghe khác; sau một thất bại, một căn bệnh, một chia ly, một lần đứng bên quan tài người thân, ta lại đọc Thập Giá bằng một đôi mắt khác. Thập Giá không có bài học cuối cùng, bởi tình yêu của Thiên Chúa không bao giờ là điều ta có thể hiểu hết. Càng đi lâu trong đời sống đức tin, ta càng nhận ra mình mới chỉ đứng ngoài bờ của mầu nhiệm. Càng biết nhiều về Chúa, ta càng thấy mình chưa biết bao nhiêu. Càng nói về tình yêu, ta càng thấy mình yêu quá ít. Càng giảng về tha thứ, ta càng thấy lòng mình còn những góc chưa chịu buông. Càng nói về phó thác, ta càng nhận ra mình vẫn còn kiểm soát. Và có lẽ đó chính là một dấu chỉ tốt: người thực sự đến gần Thiên Chúa không thấy mình lớn lên, nhưng thấy Thiên Chúa lớn hơn.
Nếu phải gom mọi thao thức của tập sách vào một lời mời duy nhất, có lẽ chỉ là lời này: hãy trở về dưới chân Thập Giá. Khi đời mình rối, hãy trở về đó. Khi thành công, hãy trở về đó để khỏi kiêu căng. Khi thất bại, hãy trở về đó để khỏi tuyệt vọng. Khi bị xúc phạm, hãy trở về đó để học tha thứ. Khi muốn trả đũa, hãy trở về đó để nghe lời: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi cô đơn, hãy trở về đó để biết có một Đấng đã từng cô đơn hơn mình. Khi sợ mất mát, hãy trở về đó để thấy một Đấng đã buông tất cả. Khi không biết phải chọn gì, hãy hỏi điều gì đưa mình gần Đức Kitô hơn. Khi không biết phải yêu thế nào, hãy nhìn cách Người yêu. Khi không biết phải phục vụ ra sao, hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh. Khi không biết phải vâng phục thế nào, hãy nhìn Người cúi đầu trao phó thần khí. Khi không biết đời mình còn có ý nghĩa gì, hãy nhớ rằng trên Thập Giá, nơi người đời tưởng là một thất bại hoàn toàn, Thiên Chúa lại đang hoàn tất công trình cứu độ.
Ước gì từng trang sách không làm người đọc chỉ nói: “Tôi hiểu thêm về Thập Giá,” nhưng khiến mỗi người dám cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh, xin chiếm lấy lòng con.” Bởi sau cùng, điều Chúa muốn không phải là một phần đời ta. Người không xin một giờ ngày Chúa nhật rồi để phần còn lại cho những ông chủ khác. Người không xin một góc nhỏ trong trái tim trong khi những phần sâu nhất vẫn bị tiền bạc, tự ái, ham muốn, quyền lực hay nỗi sợ thống trị. Người xin cả con người ta. Không phải vì Người nghèo đến mức cần chiếm hữu ta, nhưng vì Người yêu ta đến mức muốn giải phóng ta khỏi mọi thứ đang biến ta thành nô lệ. Khi Đức Kitô chiếm trọn lòng trí, ta mới thực sự tự do. Tự do khỏi nhu cầu phải làm hài lòng mọi người. Tự do khỏi nỗi ám ảnh phải hơn người khác. Tự do khỏi việc dùng thành công để chứng minh giá trị của mình. Tự do khỏi việc mang quá khứ như một bản án. Tự do để yêu. Tự do để tha. Tự do để cho đi. Tự do để mất. Tự do để phục vụ. Tự do để sống và cả tự do để bước vào cái chết trong niềm tín thác.
Rồi sẽ đến một ngày mỗi người chúng ta phải buông hết. Những gì ta từng tự hào sẽ ở lại. Những chức danh sẽ ở lại. Những tài sản sẽ ở lại. Những lời khen chê cũng sẽ ở lại. Những tranh luận từng khiến ta mất ngủ rồi cũng chẳng còn quan trọng. Những điều ta từng cố giữ bằng mọi giá cũng không thể mang theo. Khi ấy, điều còn lại không phải là ta đã được bao nhiêu người biết đến, nhưng là ta đã thuộc về ai. Không phải ta đã nói được bao nhiêu lời hay, nhưng là trái tim ta đã yêu ai. Không phải ta đã thắng được bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng là ta đã để Đức Kitô biến đổi mình đến mức nào. Và nếu trong giờ cuối cùng, giữa mọi sự đang rời khỏi tay, ta vẫn có thể nhìn về Thập Giá và nói: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa,” thì có lẽ cuộc đời ấy đã không uổng phí.
Xin cho cuốn sách này được đặt xuống nhiều hơn là được cầm lên, nghĩa là sau khi đọc một vài trang, người đọc biết đặt sách xuống để thinh lặng. Xin cho những lời viết ở đây cuối cùng trở nên không cần thiết, bởi người đọc đã được dẫn đến gặp chính Đấng mà những lời ấy muốn nói tới. Xin cho mọi suy tư đều nhường chỗ cho cầu nguyện, mọi lý luận nhường chỗ cho chiêm ngắm, mọi chữ nghĩa nhường chỗ cho một cuộc gặp gỡ. Bởi cuối cùng, đời Kitô hữu không phải là biết thật nhiều về Đức Kitô, nhưng là để Đức Kitô Chịu Đóng Đinh trở thành Đấng duy nhất chiếm lấy lòng mình, trí mình, đời mình và mọi chọn lựa của mình. Và có lẽ cũng không có lời kết nào đẹp hơn lời của người môn đệ đã từng nghĩ mình mạnh mẽ, đã từng chối Thầy, đã từng khóc, đã từng được tha thứ, và cuối cùng chỉ còn biết thưa lên bằng cả cuộc đời: “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – TÌNH YÊU ĐI ĐẾN TẬN CÙNG
Tin Mừng: Ga 19,28-30
“Thế là đã hoàn tất.” Có lẽ trong toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu, không có lời nào ngắn mà chứa đựng nhiều chiều sâu đến thế. Người nói câu ấy không phải trong một cung điện, không phải giữa tiếng reo hò của đám đông sau một phép lạ, không phải trên núi Tabor khi khuôn mặt Người sáng chói như mặt trời, cũng không phải giữa những môn đệ đang quây quần chung quanh trong bữa tiệc thân tình. Người nói câu ấy khi thân thể đã kiệt quệ, đôi bàn tay và đôi chân bị đóng chặt vào gỗ, máu đã chảy gần cạn, cổ họng khô cháy, đầu đội mão gai, thân mình đầy thương tích, chung quanh là những lời chế nhạo, bên dưới là những con người đã bỏ rơi, phản bội, kết án và giết Người. Chính trong hoàn cảnh mà nhìn bằng mắt người ta chỉ thấy một cuộc đời dường như đã thất bại hoàn toàn, Đức Giêsu lại nói: “Thế là đã hoàn tất.” Không phải “thế là hết”, nhưng “thế là hoàn tất”. Hai cách nói ấy tưởng gần nhau mà thật ra cách xa nhau vô cùng. “Thế là hết” là tiếng nói của tuyệt vọng. “Thế là hoàn tất” là tiếng nói của một tình yêu đã đi đến tận cùng. “Thế là hết” là đóng lại một cánh cửa. “Thế là hoàn tất” là mở ra một con đường. “Thế là hết” là nhìn cái chết như dấu chấm hết. “Thế là hoàn tất” là nhìn cái chết như việc hoàn thành một sứ mạng. Đức Kitô chết không phải vì Người không còn cách nào khác; Người trao ban mạng sống bởi vì tình yêu của Người không giữ lại điều gì cho mình. Thập Giá vì thế không phải là thất bại của tình yêu, mà là nơi tình yêu đạt tới mức độ tuyệt đối nhất: yêu cho đến khi không còn gì để cho ngoài chính bản thân mình; yêu khi người khác không đáng yêu; yêu khi không được hiểu; yêu khi bị phản bội; yêu khi bị xúc phạm; yêu khi bị khước từ; yêu khi không còn nhận lại một chút đáp đền nào; yêu cho đến hơi thở cuối cùng.
Chúng ta thường nói đến tình yêu rất dễ dàng. Ai cũng thích nghe nói về yêu thương. Ai cũng muốn được yêu thương. Ai cũng có thể xúc động trước những câu chuyện đẹp về tình yêu. Nhưng tình yêu thật không được đo bằng những câu nói ngọt ngào lúc mọi sự thuận lợi. Tình yêu thật được đo bằng khả năng ở lại khi bắt đầu đau. Người ta có thể yêu nhau lúc mạnh khỏe, lúc thành công, lúc còn trẻ đẹp, lúc còn cần đến nhau, lúc người kia còn làm mình vui. Nhưng khi bệnh tật đến, nghèo khó đến, hiểu lầm đến, tuổi già đến, thất bại đến, khi người kia trở nên khó chịu, khi đời sống chung không còn những cảm xúc ban đầu, lúc ấy mới biết tình yêu có chiều sâu hay không. Người ta có thể nói mình yêu Chúa khi lời cầu nguyện được nhậm, khi gia đình bình an, công việc thuận lợi, sức khỏe tốt đẹp. Nhưng khi lời cầu nguyện kéo dài mà dường như trời vẫn im lặng, khi bệnh tật không khỏi, khi người thân ra đi, khi cuộc đời xảy đến điều mình không hiểu nổi, lúc ấy tình yêu đối với Chúa mới bắt đầu đi vào vùng sâu. Đức Kitô trên Thập Giá cho chúng ta thấy tình yêu không phải là cảm xúc đi tìm sự dễ chịu; tình yêu là sự trao ban không rút lại lời hứa chỉ vì đau. Người đã yêu và Người yêu cho đến cùng.
Thánh Gioan kể thật ngắn: “Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ‘Tôi khát!’” Câu “Tôi khát” trước hết diễn tả một thân xác đang khát nước đến cùng cực. Sau những giờ bị đánh đòn, vác Thập Giá, mất máu, phơi mình dưới nắng, không lạ gì môi Người khô cháy. Nhưng trong chiều sâu của Tin Mừng Gioan, cái khát ấy còn lớn hơn cái khát của thân xác. Đức Giêsu khát hoàn tất công trình của Cha. Người khát con người. Người khát tình yêu của chúng ta. Người khát đưa những đứa con lưu lạc trở về. Người khát cứu cả những kẻ đang đóng đinh Người. Một Thiên Chúa khát con người: nghĩ đến điều ấy thôi đã đủ làm ta bàng hoàng. Ta thường nghĩ con người cần Thiên Chúa, nhưng mầu nhiệm Thập Giá cho thấy Thiên Chúa cũng tự làm cho mình trở thành Đấng “khát” con người. Không phải vì Thiên Chúa thiếu thốn, nhưng vì tình yêu bao giờ cũng khát được trao ban và khát người mình yêu trở về với sự sống. Đức Kitô khát trái tim của những người đang đứng dưới Thập Giá ngày ấy. Người khát trái tim của Phêrô vừa chối Người. Người khát trái tim của Giuđa đã phản bội. Người khát trái tim của những người lính đóng đinh Người. Người khát trái tim của những kẻ chế nhạo. Và hai ngàn năm sau, Người vẫn khát trái tim của mỗi người chúng ta. Người không chỉ khát những giờ kinh của ta. Người khát đời sống của ta. Người không chỉ khát những lời kinh đạo đức trên môi. Người khát một trái tim biết yêu như Người. Người không chỉ khát việc ta đến nhà thờ. Người khát việc ta mang tình yêu từ nhà thờ về gia đình, công sở, cộng đoàn, xóm làng, đến những nơi có người đang đau khổ và cô độc.
Có một điều rất đáng sợ: ta có thể đứng rất gần Thập Giá mà vẫn chưa hiểu Thập Giá. Những người lính đứng sát bên Đức Giêsu nhưng họ chỉ thấy một tử tội. Những người qua đường nhìn thấy Người nhưng chỉ thấy một kẻ đáng chế nhạo. Các thượng tế nhìn thấy Người nhưng chỉ thấy một người cần phải loại trừ. Còn người có đức tin nhìn vào cùng một thân thể tan nát ấy và nhận ra tình yêu Thiên Chúa. Thập Giá chỉ được hiểu bằng tình yêu. Nếu chỉ nhìn bằng logic thành bại của thế gian, Đức Giêsu là người thua cuộc. Ba năm rao giảng, cuối cùng môn đệ chạy hết. Bao nhiêu phép lạ, cuối cùng chẳng có đoàn người nào đứng lên bảo vệ. Bao nhiêu lời khôn ngoan, cuối cùng bị kết án như phạm nhân. Người từng làm cho kẻ chết sống lại nhưng giờ đây lại không xuống khỏi Thập Giá để tự cứu mình. Nếu dùng tiêu chuẩn của thế gian, đó là một thất bại. Nhưng Tin Mừng lại gọi đây là “giờ” Đức Giêsu được tôn vinh. Tại sao? Vì vinh quang của Thiên Chúa không phải quyền lực bắt người khác phục vụ mình, mà là quyền năng yêu đến mức trao chính mình cho người khác. Vinh quang của Thiên Chúa không phải đứng trên cao để mọi người quỳ xuống sợ hãi, mà là cúi xuống rửa chân cho môn đệ và giang tay trên Thập Giá để ôm cả nhân loại. Thiên Chúa của Kitô giáo không cứu thế giới từ xa. Người bước vào đau khổ của thế giới. Người không đứng ngoài nước mắt của con người để giảng một bài triết lý về đau khổ. Người đi vào đau khổ, mang lấy đau khổ, và biến đau khổ thành nơi tình yêu có thể chiến thắng.
“Thế là đã hoàn tất.” Điều gì đã hoàn tất? Trước hết, công trình mà Chúa Cha trao cho Người đã được hoàn tất. Cả cuộc đời Đức Giêsu là một tiếng “xin vâng”. Từ Bêlem đến Nazareth, từ sông Giođan đến hoang địa, từ Galilê đến Giêrusalem, từ bàn Tiệc Ly đến vườn Cây Dầu, từ dinh Philatô đến đồi Canvê, không có đoạn đường nào Người đi cho chính mình. Tất cả là để làm ý Cha và cứu con người. Ngay từ nhỏ Người đã nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Khi bắt đầu sứ vụ, Người nói lương thực của Người là thi hành ý Đấng đã sai Người. Khi giờ Thập Giá đến, Người thưa trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Và giờ đây, trên Thập Giá, tiếng “Thế là đã hoàn tất” như dấu ấn cuối cùng của một đời vâng phục. Người không làm nửa chừng. Người không yêu nửa chừng. Người không cứu chúng ta nửa chừng. Đó là điều khiến chúng ta phải tự hỏi chính đời mình: bao nhiêu việc tốt chúng ta bắt đầu nhưng không đi đến cùng? Bao nhiêu lời hứa ta nói khi cảm động rồi bỏ dở khi khó khăn? Bao nhiêu ơn gọi ban đầu rất đẹp nhưng dần dần nguội lạnh? Bao nhiêu người bước vào hôn nhân với lời “trọn đời” nhưng rồi khi gặp thử thách chỉ muốn tìm đường rút lui? Bao nhiêu linh mục, tu sĩ bắt đầu với ngọn lửa nhiệt thành, rồi theo năm tháng dễ biến sứ vụ thành công việc, lời khấn thành thói quen, Thánh Lễ thành bổn phận? Bao nhiêu người giáo dân từng hăng say phục vụ nhưng chỉ vì một lần bị hiểu lầm, một lần bị tổn thương, một lần không được nhìn nhận, đã bỏ tất cả? Thập Giá nhắc chúng ta rằng tình yêu không chỉ đẹp ở lúc bắt đầu; tình yêu đẹp nhất ở khả năng trung thành cho đến cùng.
Con người chúng ta thường giữ lại cho mình một lối thoát. Ta yêu, nhưng vẫn giữ lại một phần. Ta cho, nhưng vẫn tính toán. Ta tha thứ, nhưng vẫn muốn giữ lại một chút để có ngày nhắc lại. Ta phục vụ, nhưng vẫn mong được nhìn nhận. Ta hy sinh, nhưng vẫn muốn người khác biết mình đã hy sinh. Ta nói yêu Chúa, nhưng vẫn có những căn phòng trong đời không muốn Chúa bước vào. Ta dâng Chúa thời gian, nhưng chưa dâng ý riêng. Ta dâng tiền bạc, nhưng chưa dâng tự ái. Ta có thể cho người khác nhiều thứ nhưng vẫn giữ lại chính mình. Đức Kitô thì không. Trên Thập Giá, Người không còn gì để giữ. Áo đã bị chia. Danh dự bị tước đoạt. Môn đệ bỏ đi. Thân xác bị đóng đinh. Máu đã đổ. Ngay cả người Mẹ yêu dấu, Người cũng trao cho môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Cuối cùng Người trao cả thần khí. Không còn gì giữ lại. Đó là tình yêu của Thiên Chúa: một tình yêu đi đến tận cùng.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta rất quen với hình Thánh Giá đến mức không còn bị đánh động. Thánh Giá treo trong nhà, đeo trên cổ, đặt trên bàn thờ, đứng trên nóc nhà thờ. Nhưng chúng ta có thể quen với hình Thánh Giá mà lại rất xa tinh thần của Thập Giá. Ta cúi đầu trước Đấng chịu đóng đinh nhưng lại không chịu nhường một câu trong gia đình. Ta hôn chân Chúa ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng lại không tha thứ cho người làm mình tổn thương. Ta hát về tình yêu hy sinh của Đức Kitô nhưng lại sống chỉ để bảo vệ quyền lợi của mình. Ta rước lấy Đấng đã tự hiến nhưng lại không muốn chia sẻ một chút thời gian cho người già cô độc, người bệnh cần thăm hỏi, người nghèo cần nâng đỡ, đứa con cần cha mẹ lắng nghe, người phối ngẫu cần một lời dịu dàng. Có một thứ đạo rất dễ chịu: đạo chỉ gồm những nghi thức làm ta bình an mà không đòi ta thay đổi. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh không cho phép chúng ta sống thứ Kitô giáo dễ chịu ấy. Mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, phải nghe một câu hỏi: Con đã yêu đến đâu? Con có giữ lại điều gì không? Con có yêu chỉ những người dễ thương không? Con có yêu chỉ khi người khác tử tế với con không? Con có làm điều tốt chỉ khi được ghi nhận không? Con có trung thành chỉ khi đời sống thuận lợi không?
Tình yêu đi đến tận cùng không có nghĩa là dung túng mọi điều sai trái. Đức Giêsu yêu nhưng Người vẫn nói sự thật. Người tha thứ nhưng không gọi tội lỗi là điều tốt. Tình yêu Kitô giáo không phải thứ yếu đuối không dám đối diện sự thật. Trái lại, tình yêu thật đủ mạnh để nói sự thật mà không hủy diệt người khác. Điều kỳ diệu nơi Đức Giêsu là Người lên án tội nhưng không bao giờ ngừng yêu tội nhân. Người có thể nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi không kết án chị”, nhưng đồng thời nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Người có thể gọi Phêrô là Satan khi ông cản đường Thập Giá, nhưng vẫn trao cho Phêrô chìa khóa Nước Trời và sau phục sinh vẫn hỏi ông ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Tình yêu của Đức Kitô không phải thứ tình cảm mù quáng; đó là tình yêu muốn con người được cứu, được đổi mới, được tự do khỏi tội lỗi.
Nếu tình yêu của Đức Kitô đã đi đến tận cùng, tại sao chúng ta còn sợ đến gần Người sau khi phạm tội? Có người nghĩ rằng mình đã sống quá tệ, đã phạm quá nhiều lỗi, đã làm Chúa thất vọng quá nhiều nên không còn xứng đáng quay về. Nhưng chính Thập Giá trả lời: Nếu Thiên Chúa chỉ yêu người xứng đáng, Người đã không cần lên Thập Giá. Người lên Thập Giá bởi vì chúng ta không thể tự cứu mình. Máu Người chảy ra không phải vì con người tốt, nhưng để con người được nên tốt. Nếu tội chúng ta lớn, tình yêu Người lớn hơn. Nếu quá khứ chúng ta đen tối, lòng thương xót của Người sâu hơn. Nếu ta đã đi rất xa, đôi tay bị đóng đinh kia vẫn mở rộng. Một trong những cám dỗ tinh vi nhất của ma quỷ là sau khi kéo người ta vào tội, nó lại làm người ta sợ quay về với Chúa. Nó nói: “Mày tệ quá rồi. Chúa không tha đâu. Mày không xứng.” Nhưng Thập Giá nói điều ngược lại: “Ta đã biết tất cả và Ta vẫn yêu con. Ta đã mang lấy tội con. Hãy trở về.” Đức Kitô không chết cho một phiên bản lý tưởng của chúng ta; Người chết cho chính chúng ta, với tất cả những yếu đuối, vết thương và lầm lỗi.
Nhưng đừng biến lòng thương xót thành lý do để tiếp tục sống cũ. Nếu nhìn Thập Giá thật lâu, ta không thể xem tội là chuyện nhỏ. Tội lỗi có giá. Cái giá ấy được nhìn thấy trên thân thể Đức Kitô. Mỗi sự ích kỷ, mỗi gian dối, mỗi bạo lực, mỗi lần xúc phạm phẩm giá người khác, mỗi phản bội, mỗi sự vô cảm đều góp vào cây Thập Giá của thế giới. Không thể nói “Chúa thương xót” rồi tiếp tục làm tổn thương người khác mà không muốn thay đổi. Người đón nhận lòng thương xót thật sự là người để lòng thương xót ấy làm mềm trái tim mình. Khi hiểu mình được tha quá nhiều, ta sẽ bớt khắt khe với anh em. Khi hiểu mình được Chúa kiên nhẫn đến mức nào, ta sẽ bớt nóng giận với người thân. Khi hiểu Chúa đã không bỏ mình dù mình nhiều lần bỏ Chúa, ta sẽ biết ở lại với những người khó thương hơn.
Có những gia đình hôm nay cần nhìn lại Đức Kitô chịu đóng đinh. Không phải để treo thêm một Thánh Giá trên tường, nhưng để học lại cách yêu. Có những người sống chung một mái nhà nhưng mỗi người giữ một cây Thập Giá riêng trong lòng. Vợ đau vì chồng vô tâm. Chồng mệt mỏi vì những lời trách móc không dứt. Cha mẹ buồn vì con cái xa rời đức tin. Con cái đau vì cả đời chưa từng được cha mẹ lắng nghe. Anh chị em có khi chỉ vì tài sản, đất đai, vài câu nói cũ mà không nhìn mặt nhau nhiều năm. Và ai cũng chờ người kia thay đổi trước. Ai cũng muốn người kia xin lỗi trước. Ai cũng có lý do để bảo vệ cái tôi. Nhưng Thập Giá không bắt đầu từ câu hỏi “Ai phải yêu tôi trước?” Thập Giá bắt đầu từ Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Đức Kitô không nói: “Khi nào nhân loại ăn năn hết rồi Ta mới hiến mình.” Người hiến mình khi con người vẫn còn là tội nhân. Điều đó không có nghĩa là ta phải chấp nhận sự lạm dụng hay bất công; nhưng có nghĩa rằng muốn cứu một mối tương quan, phải có người bắt đầu ngừng cuộc chiến của cái tôi. Có lúc tình yêu đi đến tận cùng chỉ là một câu xin lỗi trước. Có lúc là im lặng thay vì đáp trả một lời cay nghiệt. Có lúc là đi đến bên giường người cha già dù giữa hai cha con từng có nhiều khúc mắc. Có lúc là gọi điện cho người anh em đã lâu không nói chuyện. Có lúc là ngồi xuống nghe đứa con nói hết mà không vội giảng. Có lúc là cầu nguyện cho người đã làm mình đau. Những điều ấy tưởng nhỏ nhưng là những chiếc đinh của cái tôi được rút ra khỏi trái tim.
Trong đời sống linh mục và đời thánh hiến cũng vậy. Người tận hiến có thể nói nhiều về Thập Giá nhưng vẫn sợ những thập giá rất nhỏ: một lời phê bình, một sự hiểu lầm, một bài sai không vừa ý, một cộng đoàn khó sống, một công việc không được công nhận, một giai đoạn cầu nguyện khô khan. Ta có thể muốn theo Đức Kitô nhưng lại mong Đức Kitô dẫn mình qua con đường không có Canvê. Điều ấy không có. Ai thuộc về Đức Kitô sẽ phải học ngôn ngữ của tự hiến. Không phải lúc nào cũng là những hy sinh lớn lao. Thường là chết mỗi ngày: chết đi một chút tự ái, một chút tham vọng, một chút nhu cầu được khen, một chút ý muốn kiểm soát mọi sự. Có những cái chết không ai thấy nhưng rất thật. Một linh mục kiên nhẫn ngồi nghe một người già kể đi kể lại câu chuyện cũ. Một tu sĩ làm công việc âm thầm không ai cảm ơn. Một người mẹ thức đêm với đứa con bệnh. Một người cha nhịn điều mình thích để lo học phí cho con. Một người trẻ từ chối gian lận dù chịu thiệt. Một người Kitô hữu chọn im lặng trước lời vu khống để không làm lớn thêm hận thù. Những cái chết nhỏ ấy, nếu được nối với Thập Giá Đức Kitô, trở thành tình yêu cứu độ.
“Thế là đã hoàn tất.” Có một vẻ đẹp rất sâu trong việc hoàn tất điều mình được giao. Cuộc đời không cần phải lớn lao theo tiêu chuẩn thế gian để trở nên đẹp trước mặt Thiên Chúa. Không phải ai cũng được biết đến. Không phải ai cũng làm những công việc phi thường. Nhưng người trung thành đến cùng với bổn phận nhỏ bé của mình đã sống một cuộc đời lớn. Một người mẹ nuôi con suốt mấy chục năm, chăm chồng bệnh, rồi già đi trong âm thầm: đó có thể là một bài ca “đã hoàn tất”. Một người cha lao động cả đời không tên tuổi, giữ sự lương thiện, nuôi gia đình: đó cũng có thể là “đã hoàn tất”. Một linh mục suốt đời ở những giáo xứ nhỏ, chẳng có công trình nổi tiếng nào, nhưng ngày ngày dâng lễ, giải tội, thăm bệnh, chôn người chết, rửa tội trẻ nhỏ, giảng Lời Chúa: cuối đời, có lẽ trước mặt Chúa, đó là một sứ vụ trọn vẹn. Thế gian hỏi: “Bạn đã nổi tiếng chưa? Bạn đã thành công chưa? Bạn để lại bao nhiêu tài sản?” Còn Thiên Chúa có lẽ chỉ hỏi: “Con đã yêu chưa? Con có trung thành với điều Ta trao không?”
Chúng ta sống trong một thời đại thích bắt đầu nhưng ít kiên nhẫn để đi đến cùng. Người ta dễ đổi công việc, đổi mối quan hệ, đổi cộng đoàn, đổi cam kết mỗi khi cảm thấy không còn thích nữa. Không phải sự thay đổi nào cũng sai, nhưng nếu cảm xúc trở thành tiêu chuẩn duy nhất cho mọi quyết định thì con người sẽ không bao giờ hiểu được tình yêu sâu. Có những thứ chỉ đẹp sau khi đã đi qua gian nan. Một hôn nhân bốn mươi năm không thể được tạo nên chỉ bằng cảm xúc ban đầu. Một ơn gọi linh mục năm mươi năm không thể sống chỉ bằng nhiệt huyết ngày chịu chức. Một tình bạn lâu dài không thể tồn tại nếu mỗi lần bị hiểu lầm là bỏ nhau. Tình yêu cần sự trung thành, và trung thành luôn có giá. Đức Kitô chịu đóng đinh là bằng chứng: tình yêu càng thật, càng sẵn sàng trả giá.
Điều làm Thập Giá trở thành Tin Mừng không phải vì đau khổ tự nó là điều tốt. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúa Giêsu từng chữa bệnh, cho người đói ăn, khóc trước mộ Ladarô. Người không bảo chúng ta đi tìm đau khổ. Nhưng khi đau khổ không thể tránh, tình yêu có thể biến nó thành của lễ. Thập Giá dạy chúng ta rằng điều đáng sợ nhất không phải là đau, mà là đau mà không yêu; khổ mà trở nên cay đắng; bị tổn thương rồi đi làm tổn thương người khác; bị phản bội rồi quyết định không bao giờ tin ai nữa; thất bại rồi đóng cửa đời mình. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá cũng cho thấy đau khổ không nhất thiết làm một con người nhỏ lại. Mẹ đau nhưng không oán. Mẹ mất nhưng vẫn còn khả năng đón nhận Gioan làm con. Một trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu lại trở thành trái tim Mẹ của cả Hội Thánh. Khi đau khổ được đặt trong tay Thiên Chúa, nó không còn chỉ là vết thương; nó có thể trở thành nơi sinh ra lòng cảm thông.
Có những người vì đã từng nghèo nên sau này biết thương người nghèo. Có người vì từng mất con nên biết ngồi cạnh một người mẹ vừa mất con mà không nói những câu sáo rỗng. Có người từng thất bại nên không vội khinh người vấp ngã. Có người từng trải qua những đêm tối đức tin nên có khả năng đồng hành với người đang nghi ngờ. Nếu để Chúa đi vào, những vết thương của chúng ta có thể trở thành cánh cửa qua đó lòng thương xót đi đến người khác. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi ta không để cay đắng làm chủ trái tim. Đức Kitô chịu đóng đinh không để đau khổ biến Người thành kẻ nguyền rủa. Ngay trên Thập Giá, Người vẫn tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người vẫn nghĩ đến người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Người vẫn nghĩ đến Mẹ và môn đệ: “Đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh.” Người đang chết mà vẫn lo cho người khác. Đây chính là tình yêu đi đến tận cùng.
Ta hãy thử tưởng tượng mình đang đứng dưới chân Thập Giá ngày ấy. Không phải đứng trong nhà thờ sáng đèn, không có tiếng đàn, không có hoa, không có những cây Thánh Giá được làm đẹp. Đó là một nơi hành hình. Có mùi máu. Có tiếng người chế nhạo. Có tiếng thở khó nhọc của những người bị đóng đinh. Và trên cây gỗ trước mặt là Đức Giêsu. Nếu Người nhìn xuống ta và hỏi: “Con nghĩ vì sao Ta ở đây?” Ta sẽ trả lời thế nào? Có lẽ câu trả lời không phải chỉ là một công thức giáo lý: “Vì tội lỗi nhân loại.” Đúng, nhưng chưa đủ. Người ở đó vì yêu tôi. Đây là điều mỗi người phải dám nói ở ngôi thứ nhất. Không phải chỉ “Chúa yêu nhân loại”, nhưng “Chúa yêu tôi”. Không phải chỉ “Chúa chết cho người ta”, nhưng “Chúa chết cho tôi.” Đức tin thay đổi khi Thập Giá thôi là một học thuyết và trở thành một cuộc gặp gỡ cá vị. Phaolô đã nói: “Con Thiên Chúa đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi.” Khi một người thực sự hiểu câu ấy, đời họ không thể còn như cũ.
Nếu Người đã yêu tôi đến mức ấy, tại sao tôi còn sống như thể mình chẳng đáng giá gì? Có những người cả đời mang trong lòng vết thương bị từ chối. Họ không thấy mình có giá trị. Một lời chê của người khác đủ làm họ suy sụp. Một thất bại đủ khiến họ kết luận rằng mình vô dụng. Nhưng Thập Giá nói một điều khác: giá trị của bạn không được định bởi việc người khác có khen bạn hay không, không được định bởi tiền bạc, bằng cấp, nhan sắc, chức vụ. Giá trị của bạn được nhìn thấy ở cái giá Thiên Chúa đã sẵn sàng trả để cứu bạn: chính Con Một của Người. Đó không phải lý do để kiêu căng mà là lý do để sống trong lòng biết ơn. Ta không cần chứng minh mình có giá trị bằng việc hơn người khác. Ta được yêu rồi. Và người biết mình được yêu thật sẽ bớt sống bằng nhu cầu xin mọi người công nhận mình.
Nhưng nếu Người đã yêu tôi đến mức ấy, tôi cũng không thể tiếp tục sống ích kỷ. Tình yêu của Thập Giá là ân huệ nhưng cũng là lời mời gọi. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu anh em.” Chữ “như” ấy rất nặng. Không phải yêu theo cảm xúc của mình, nhưng yêu theo cách Đức Kitô yêu. Khi bị xúc phạm, hãy nhớ Người đã yêu thế nào. Khi muốn bỏ cuộc với một người, hãy nhớ Người đã yêu thế nào. Khi thấy phục vụ không được ghi nhận, hãy nhớ Người đã yêu thế nào. Khi có quyền trả đũa, hãy nhớ Người đã yêu thế nào. Khi mệt mỏi với một người thân, hãy nhớ Người đã yêu mình khi chính mình cũng không dễ thương chút nào.
Và cuối cùng, Thập Giá đặt trước mặt chúng ta một niềm hy vọng lớn lao: tình yêu có tiếng nói cuối cùng. Trên đồi Canvê, bề ngoài người ta tưởng bạo lực đã thắng. Quyền lực đã thắng. Gian dối đã thắng. Đám đông đã thắng. Nhưng chỉ ba ngày sau, nấm mồ trống cho thấy ai mới thật sự chiến thắng. Điều bị đóng đinh không phải là tình yêu; điều bị đánh bại là sự chết. Đức Kitô không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh quyền năng bằng cách tránh đau khổ. Người đi xuyên qua cái chết và từ bên trong phá vỡ quyền lực của nó. Vì vậy, Kitô hữu không phải là người lạc quan ngây thơ nghĩ rằng đời sẽ không đau. Kitô hữu là người tin rằng không có đau khổ nào, nếu được kết hợp với Đức Kitô, là hoàn toàn vô nghĩa; không có đêm tối nào dài hơn ánh sáng Phục Sinh; không có ngôi mộ nào có thể giữ Đức Kitô mãi mãi.
Có thể hôm nay ai đó đang đứng trước một “Thứ Sáu Tuần Thánh” trong đời mình. Một căn bệnh chưa biết ngày khỏi. Một gia đình có nguy cơ tan vỡ. Một đứa con khiến cha mẹ đêm đêm khóc. Một người thân vừa mất. Một ơn gọi đang bước qua thời kỳ khô khan. Một công việc sụp đổ. Một lời vu oan. Một cảm giác cầu nguyện mà không được Chúa trả lời. Xin đừng vội nói: “Thế là hết.” Hãy nhìn Đức Kitô và học câu khác: “Thế là đã hoàn tất.” Có những điều đang chết để một điều khác được sinh ra mà ta chưa nhìn thấy. Có những cánh cửa đóng lại để Chúa dẫn ta sang một con đường khác. Không phải mọi đau khổ đều được giải thích trong đời này, nhưng không đau khổ nào nằm ngoài tầm tay của Đấng chịu đóng đinh.
Rồi một ngày, mỗi người chúng ta cũng sẽ nói câu cuối cùng của đời mình. Không ai biết lúc nào. Khi ấy, chức vụ, tiền bạc, danh tiếng đều ở lại. Người ta có thể nhớ hoặc quên tên ta rất nhanh. Điều còn lại là ta đã yêu thế nào. Ước gì vào giờ cuối, dù cuộc đời có nhiều thiếu sót, ta có thể bình an thưa với Chúa: “Con đã cố yêu. Con đã cố trung thành. Điều Chúa trao, con đã cố hoàn tất.” Không cần một đời hoàn hảo, vì không ai hoàn hảo. Chỉ cần một đời không ngừng quay về, không ngừng học yêu, không ngừng để Chúa biến đổi.
Hãy nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Hai tay Người mở rộng như không bao giờ khép lại. Người không giữ lại gì. Không giữ máu. Không giữ thân xác. Không giữ danh dự. Không giữ sự sống. Người trao tất cả. Và từ đó, Thập Giá trở thành trường học lớn nhất của tình yêu. Ở đó chúng ta học rằng yêu không phải là chiếm hữu nhưng là trao ban; không phải là luôn được hiểu nhưng vẫn biết cảm thông; không phải là không đau nhưng là không để đau giết chết khả năng yêu; không phải là thắng người khác nhưng thắng ích kỷ trong mình; không phải là giữ cho mình một lối thoát nhưng dám trung thành.
“Thế là đã hoàn tất.” Xin câu ấy đừng chỉ là câu cuối cùng của Đức Giêsu trong bài Thương Khó. Xin nó trở thành chương trình đời chúng ta. Hoàn tất điều Chúa trao. Yêu người Chúa gửi đến. Tha thứ điều cần tha. Nói lời xin lỗi khi cần. Làm điều thiện khi còn có thể. Đừng để đến ngày cuối mới tiếc những điều lẽ ra đã có thể yêu nhiều hơn. Đừng chờ người khác hoàn hảo mới yêu họ. Đừng chờ mình hết tổn thương mới bắt đầu cho đi. Đừng chờ hoàn cảnh dễ dàng mới trung thành. Bởi tình yêu đẹp nhất không phải tình yêu chưa từng bị thử thách, mà là tình yêu đã đi qua thử thách và vẫn còn ở lại.
Đức Kitô chịu đóng đinh là tình yêu đi đến tận cùng. Và có lẽ điều Kitô giáo cần nhất hôm nay không phải là những người nói về Thập Giá thật hay, nhưng là những người sống tinh thần Thập Giá thật. Những người biết hy sinh mà không kể công. Biết tha thứ mà không nhắc lại. Biết cho đi mà không đòi lại. Biết ở lại khi người khác đau. Biết phục vụ khi không ai nhìn. Biết làm điều đúng khi phải chịu thiệt. Biết trung thành khi cảm xúc đã qua. Biết yêu khi không được yêu lại. Khi ấy, giữa một thế giới đầy tính toán, đời sống của họ sẽ trở thành một Thánh Giá sống động, một dấu chỉ rằng tình yêu của Đức Kitô vẫn còn đang chảy qua lịch sử.
Xin cho mỗi lần nhìn lên Đấng chịu đóng đinh, ta không chỉ thương Chúa, nhưng để Chúa hỏi mình: “Con có muốn yêu như Ta đã yêu con không?” Và xin cho ta đủ can đảm thưa: “Lạy Chúa, con yếu đuối lắm, con còn ích kỷ lắm, con còn sợ đau, còn sợ mất, còn sợ thiệt. Nhưng xin dạy con yêu. Xin dạy con đừng giữ lại quá nhiều cho mình. Xin cho con biết sống phần đời còn lại như một của lễ. Xin cho con đừng bỏ cuộc giữa đường. Xin cho con đi đến tận cùng con đường Chúa trao.”
Để rồi đến một ngày, khi đôi tay này không còn làm được gì, đôi mắt này khép lại, hơi thở này yếu dần, ta có thể đặt tất cả đời mình dưới chân Thập Giá và nghe trong lòng tiếng Đức Kitô: “Thế là đã hoàn tất.” Không phải một cuộc đời không có lỗi lầm, nhưng một cuộc đời đã được tình yêu cứu chuộc. Không phải một đời không có nước mắt, nhưng một đời không để nước mắt làm mình hết yêu. Không phải một đời luôn thành công, nhưng một đời trung thành. Và đó có lẽ là thành công lớn nhất của một đời người: được yêu bởi Đức Kitô, học yêu như Đức Kitô, và cuối cùng trở về với Đức Kitô, Đấng đã yêu chúng ta cho đến tận cùng.
Lm. Anmai, CSsR

KHI TRÁI TIM CHỈ CÒN MỘT ĐỐI TƯỢNG LÀ ĐỨC KITÔ
Tin Mừng: Ga 12,20-26
“Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.” Có lẽ một trong những nỗi mệt mỏi sâu xa nhất của con người hôm nay không nằm ở chỗ chúng ta phải làm quá nhiều việc, nhưng nằm ở chỗ trái tim chúng ta phải chạy theo quá nhiều đối tượng. Ta muốn Chúa, nhưng cũng muốn được người đời nhìn nhận. Ta muốn sống ngay lành, nhưng cũng muốn giữ phần lợi riêng. Ta muốn bình an, nhưng lại muốn thắng người khác. Ta muốn thuộc về Đức Kitô, nhưng vẫn âm thầm giữ lại một khoảng nào đó trong lòng để thuộc về tiền bạc, danh dự, quyền lực, tiếng khen, sự an toàn, những toan tính riêng, những giấc mơ riêng và cả cái tôi riêng của mình. Thành ra đời sống bên ngoài có thể rất đạo đức, rất bận rộn, rất nhiều công việc tốt, nhưng bên trong lại bị chia năm xẻ bảy. Trái tim đã không còn một trung tâm. Nó bị kéo về nhiều phía. Nó cầu nguyện mà đầu óc tính toán. Nó phục vụ mà lòng mong được ghi nhận. Nó hy sinh mà vẫn chờ người khác biết ơn. Nó nói yêu Chúa nhưng lại buồn chỉ vì một người nào đó không khen mình. Nó nói phó thác nhưng lại mất ngủ vì một điều nằm ngoài khả năng kiểm soát. Và có lẽ vì thế mà nhiều người càng sống lâu càng mệt, càng làm nhiều càng khô, càng có nhiều càng bất an, càng được biết đến càng sợ bị quên lãng. Bởi vì bình an không đến từ việc ta có bao nhiêu thứ trong tay. Bình an đến khi trái tim biết mình thuộc về ai. Và đời người chỉ thực sự thống nhất khi tất cả những gì ta nghĩ, ta chọn, ta yêu, ta làm, ta chịu đựng và ta hy vọng đều quy về một Đấng duy nhất: Đức Giêsu Kitô.
Tin Mừng Gioan kể rằng có vài người Hy Lạp lên Giêrusalem thờ phượng trong dịp lễ. Họ đến gặp ông Philipphê và nói một câu rất ngắn: “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu.” Câu nói ấy tưởng như đơn sơ, nhưng thực ra chứa đựng cả một khát vọng lớn. Họ không xin gặp một ý tưởng. Họ không xin nghe một lý thuyết. Họ không hỏi xem Đức Giêsu có phép lạ nào mới, có chủ trương nào hấp dẫn, có lời giảng nào khác thường. Họ chỉ nói: “Chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu.” Đó phải chăng cũng là câu hỏi quan trọng nhất của đời sống Kitô hữu? Sau tất cả những sinh hoạt, chương trình, hội đoàn, chức vụ, công việc, những tranh luận, thành công, thất bại, những năm tháng sống đạo, điều còn lại là gì? Ta có thực sự muốn gặp Đức Giêsu không? Hay có khi chúng ta ở rất gần những gì thuộc về Chúa mà lòng lại xa chính Chúa? Có thể tay ta cầm sách kinh nhưng trái tim lại cầm chặt một mối hận. Có thể môi ta đọc lời Chúa nhưng tâm trí lại đầy những lời người ta nói về mình. Có thể ta quỳ rất lâu trước Thánh Thể nhưng cả ngày lại chỉ sống để bảo vệ danh dự của mình. Có thể ta làm rất nhiều việc cho Giáo Hội nhưng trong sâu thẳm vẫn muốn người khác nhớ đến tên mình. Có thể ta giảng về Đức Kitô nhưng thực ra lại đang âm thầm tìm chính mình. Có thể ta phục vụ người nghèo nhưng đau lòng khi người khác không nhận ra công lao của ta. Và đó là một bi kịch rất âm thầm của đời sống thiêng liêng: lấy việc của Chúa thay cho chính Chúa, lấy sứ vụ thay cho Đấng sai mình, lấy thành quả thay cho sự trung thành, lấy ánh mắt người đời thay cho ánh mắt của Đức Kitô.
Đức Giêsu không trả lời những người Hy Lạp bằng một cuộc gặp xã giao. Người nói về hạt lúa mì. Người nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Muốn gặp Đức Kitô thật, cuối cùng phải gặp Người nơi mầu nhiệm tự hiến. Muốn thuộc về Đức Kitô thật, phải chấp nhận con đường của Đức Kitô. Muốn phục vụ Người, phải theo Người. Và theo Người thì không thể chỉ đi tới những nơi có tiếng vỗ tay. Phải đi cả vào những nơi có cô đơn. Không thể chỉ theo Người lên núi Hiển Dung. Phải theo Người xuống núi. Không thể chỉ theo Người trong ngày dân chúng tung hô. Phải theo Người cả chiều Canvê. Không thể chỉ xin ở với Người khi lòng đầy sốt sắng. Phải ở với Người cả khi cầu nguyện khô khan, khi đời sống nặng nề, khi chẳng còn cảm giác gì, khi người khác hiểu lầm, khi những gì mình từng tin tưởng dường như sụp đổ. Vì thế, câu “Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy” là một câu rất đẹp nhưng cũng rất đòi hỏi. Chúa không nói: ai phục vụ Thầy thì hãy nói về Thầy. Chúa cũng không nói: ai phục vụ Thầy thì hãy làm nhiều việc cho Thầy. Người nói: “hãy theo Thầy.” Có nghĩa là khoảng cách giữa người môn đệ và Đức Kitô không được đo bằng số việc đã làm, mà bằng con đường người ấy có thực sự bước theo Người hay không.
Có những lúc phải tự hỏi rất thật: Đức Kitô có còn là đối tượng duy nhất của lòng tôi không? Hay lòng tôi đang có quá nhiều đối tượng cạnh tranh với Người? Một chút danh. Một chút lợi. Một chút tự ái. Một chút thành công. Một chút ghen tị. Một chút tiếng khen. Một chút hơn thua. Một chút tiếc nuối. Một chút sợ mất. Mỗi thứ chỉ một chút thôi, nhưng nhiều cái “một chút” cộng lại có thể chiếm gần hết trái tim. Ta vẫn dành cho Chúa một chỗ, nhưng không còn là chỗ nhất. Chúa vẫn hiện diện, nhưng không còn là trung tâm. Chúa trở thành một trong nhiều mối quan tâm của đời mình chứ không còn là lý do của mọi mối quan tâm. Và khi Đức Kitô không còn ở trung tâm, đời sống bắt đầu mất trật tự. Ta dễ làm điều đúng vì lý do sai. Ta dễ phục vụ vì muốn được yêu. Ta dễ yêu vì sợ bị bỏ. Ta dễ cầu nguyện chỉ để được giải quyết vấn đề. Ta dễ tìm Chúa vì muốn Chúa phục vụ chương trình của mình hơn là để mình phục vụ chương trình của Chúa. Ta dễ buồn khi ý Chúa không giống ý ta, bởi trong sâu xa, có khi ta chưa muốn Chúa làm Chúa; ta chỉ muốn Người giúp ta thực hiện điều ta đã quyết định.
Trái tim thống nhất không có nghĩa là người môn đệ không còn những bổn phận trần thế, không yêu gia đình, không lao động, không nghĩ đến tương lai, không có những tình cảm tự nhiên. Đức Kitô không đến để làm nghèo tình yêu con người, nhưng để đặt mọi tình yêu vào đúng chỗ. Khi Đức Kitô ở trung tâm, ta yêu cha mẹ tốt hơn, yêu vợ chồng đúng hơn, yêu con cái trưởng thành hơn, yêu bạn bè tự do hơn, làm việc ngay thẳng hơn, sử dụng tiền bạc thanh thoát hơn, mang trách nhiệm nhẹ nhàng hơn. Bởi khi ấy ta không biến bất cứ con người nào thành thần tượng. Ta không bắt vợ chồng phải lấp đầy khoảng trống mà chỉ Thiên Chúa mới lấp được. Ta không bắt con cái phải sống cuộc đời thay cho những giấc mơ dang dở của mình. Ta không lấy thành công nghề nghiệp làm thước đo giá trị bản thân. Ta không lấy lời khen làm dưỡng khí. Ta cũng không lấy một thất bại làm bản án cuối cùng cho đời mình. Khi Đức Kitô là đối tượng duy nhất của trái tim, mọi sự khác vẫn được yêu, nhưng không còn bị chiếm hữu; vẫn được trân trọng, nhưng không còn bị tuyệt đối hóa; vẫn được gìn giữ, nhưng nếu Chúa cần, ta có thể buông. Đó là tự do của người chỉ có một kho tàng.
Có người cả đời chạy đi tìm sự bình an nhưng không bao giờ gặp, vì trong lòng có quá nhiều tiếng nói. Tiếng của Chúa nói một điều. Tiếng tự ái nói một điều. Tiếng người đời nói một điều. Tiếng sợ hãi nói một điều. Tiếng tham vọng nói một điều. Tiếng quá khứ nói một điều. Ta đứng giữa ngã năm ngã bảy ấy và kiệt sức. Thực ra có nhiều khi ta không cần thêm một câu trả lời; ta cần một trung tâm. Khi chiếc kim la bàn đã có phương Bắc, dù đi qua rừng sâu nó vẫn biết hướng. Khi đời ta đã có Đức Kitô là phương Bắc, nhiều vấn đề chưa giải quyết nhưng lòng vẫn có hướng. Người khác hiểu lầm ta, nhưng ta biết mình đang sống trước mặt ai. Việc mình làm chưa sinh kết quả, nhưng ta biết mình làm vì ai. Tuổi già đến, sức khỏe suy, chức vụ qua đi, người đời ít nhớ tới, nhưng ta biết mình thuộc về ai. Có những mùa đời ta chẳng còn làm được gì lớn lao, nhưng chỉ cần còn yêu Đức Kitô, đời ấy vẫn không vô nghĩa. Có những ngày chẳng ai cám ơn ta, nhưng chỉ cần Chúa biết, thế là đủ. Có những hy sinh chẳng ai thấy, nhưng Đức Kitô thấy. Có những giọt nước mắt không ai lau, nhưng Đức Kitô biết. Có những oan ức ta không thể giải thích, nhưng Đức Kitô hiểu. Khi người ta thực sự có Chúa là đối tượng duy nhất, lòng họ bắt đầu sống bằng một câu rất bình dị: “Chúa biết là đủ.”
Nhưng để đi tới chỗ đó, hạt lúa phải chết. Cái chết mà Đức Giêsu nói không chỉ là cái chết thể lý. Đó là cái chết của cái tôi muốn làm trung tâm. Cái tôi ấy rất tinh vi. Nó có thể mặc áo đạo đức. Nó có thể núp dưới danh nghĩa phục vụ. Nó có thể xuất hiện ngay trong những việc rất thánh. Ta có thể làm việc tốt nhưng muốn mình được công nhận là người tốt nhất. Ta có thể bảo vệ chân lý nhưng trong lòng lại muốn hạ nhục người khác. Ta có thể nói về khiêm nhường mà rất khó chịu khi mình bị xem nhẹ. Ta có thể giảng về tha thứ nhưng giữ một vết thương suốt mười năm. Ta có thể nói “xin theo ý Chúa” nhưng chỉ bình an khi ý Chúa giống ý mình. Cái tôi không nhất thiết kéo ta ra khỏi nhà thờ; nhiều khi nó đi vào nhà thờ với ta. Nó quỳ bên cạnh ta. Nó hát với ta. Nó làm việc mục vụ với ta. Nó thậm chí có thể đứng trên bục giảng cùng ta. Chỉ khác một điều: thay vì mọi sự quy về Đức Kitô, nó âm thầm làm cho mọi sự quy về chính mình.
Cho nên cuộc hoán cải sâu nhất không luôn là bỏ một tội lớn. Có khi là chuyển tâm điểm của đời mình từ “tôi” sang “Chúa”. Từ “người ta nghĩ gì về tôi?” sang “Chúa muốn gì nơi tôi?” Từ “tôi có được gì?” sang “Chúa được gì qua đời tôi?” Từ “tại sao chuyện này xảy đến với tôi?” sang “trong chuyện này, Chúa muốn tôi yêu thế nào?” Từ “tôi phải thắng” sang “xin cho chân lý và tình yêu thắng”. Từ “tôi phải được nhìn nhận” sang “miễn sao Chúa được nhận biết”. Từ “tôi phải giữ” sang “nếu Chúa muốn, con xin trao”. Đó là cái chết của hạt lúa. Không ồn ào. Không nhất thiết ai biết. Nhưng từng ngày, cái tôi nhỏ lại để Đức Kitô lớn lên. Và lạ thay, khi cái tôi nhỏ lại, con người không biến mất, mà lại được tìm thấy sâu hơn. Vì Đức Giêsu nói một nghịch lý: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” Ta cứ tưởng phải nắm thật chặt mới không mất, nhưng nhiều thứ càng nắm càng mất. Ta nắm một người quá chặt, tình yêu thành ngột ngạt. Ta nắm danh dự quá chặt, lòng thành tự ái. Ta nắm tiền bạc quá chặt, tâm hồn thành nghèo nàn. Ta nắm quyền lực quá chặt, cuối cùng bị quyền lực nắm lại. Ta nắm chính mình quá chặt, rồi sống cả đời trong chiếc nhà tù mang tên “tôi”. Đức Kitô mời ta mở bàn tay ra.
Có những người làm việc cho Chúa nhiều năm nhưng chưa bao giờ thật sự nghỉ ngơi trong Chúa, vì họ luôn cảm thấy mình phải chứng minh điều gì đó. Phải chứng minh mình hữu ích. Phải chứng minh mình đúng. Phải chứng minh mình giỏi. Phải chứng minh mình quan trọng. Phải chứng minh người khác cần mình. Nhưng người thực sự thuộc về Đức Kitô không cần sống trong tâm trạng đó. Giá trị của họ không nằm ở số người biết đến. Không nằm ở chức vụ. Không nằm ở thành tựu. Không nằm ở việc hôm nay có ai cần đến mình hay không. Giá trị của họ nằm ở chỗ họ là người được Đức Kitô yêu. Một linh mục có thể đến lúc không còn làm mục vụ mạnh như trước, nhưng vẫn là người của Chúa. Một người cha một người mẹ già yếu có thể không còn giúp con cháu được nhiều như trước, nhưng vẫn có giá trị vô cùng. Một người đang bệnh có thể chẳng tạo ra thành quả nào, nhưng đời họ vẫn có thể là một lễ dâng. Một người bị lãng quên bởi xã hội có thể vẫn vô cùng quý giá trước mắt Thiên Chúa. Khi Đức Kitô là đối tượng duy nhất, ta không còn phải đòi cuộc đời chứng minh giá trị của ta bằng những thành công bên ngoài. Ta được tự do để chỉ sống trung tín.
Chúa Giêsu nói: “Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.” Đây có lẽ là định nghĩa đẹp nhất về đời môn đệ: ở nơi Đức Kitô ở. Đức Kitô ở đâu? Người ở nơi người nghèo. Người ở nơi người bị bỏ quên. Người ở nơi bàn ăn của người tội lỗi. Người ở nơi giường bệnh. Người ở nơi nước mắt. Người ở nơi những người không có khả năng đền đáp. Người ở trong Nhà Tạm. Người ở trong Lời Chúa. Người ở trong cộng đoàn đôi khi đầy bất toàn. Người ở trong những bổn phận nhỏ bé của ngày thường. Và cuối cùng Người ở trên Thập Giá. Nếu chỉ muốn theo một Đức Kitô vinh quang mà không muốn ở với Đức Kitô chịu đóng đinh, ta chưa theo Đức Kitô thật. Nếu chỉ muốn phục vụ nơi mình được tôn trọng mà không muốn ở nơi bị hiểu lầm, ta còn chọn mình. Nếu chỉ muốn làm những gì mình thích mà gọi đó là sứ vụ, có lẽ ta đang theo một Đức Kitô do mình tưởng tượng. Theo Đức Kitô nghĩa là sẵn sàng hỏi mỗi ngày: “Hôm nay Chúa đang ở đâu và Chúa muốn con ở đâu với Chúa?”
Có khi Chúa ở ngay trong căn nhà mà ta cứ muốn chạy ra ngoài. Chúa ở nơi người thân khó tính mà ta đã hết kiên nhẫn. Chúa ở nơi một người bệnh cần ta ngồi thêm mười phút. Chúa ở nơi một người già kể đi kể lại một câu chuyện cũ. Chúa ở nơi đứa con đang cần được lắng nghe hơn là được dạy bảo. Chúa ở nơi người anh em mà ta đã dán nhãn và không còn muốn nhìn bằng lòng thương xót. Chúa ở trong bổn phận rất bình thường mà ta cứ nghĩ chẳng có gì thiêng liêng. Chúng ta thường muốn tìm Chúa trong những điều lớn lao, nhưng Người đã ở rất lâu trong những điều nhỏ bé. Một bữa cơm được dọn bằng yêu thương. Một lời xin lỗi. Một lần nhịn. Một cuộc điện thoại hỏi thăm. Một việc âm thầm không ai biết. Một lần không nói lời làm tổn thương người khác dù ta có lý. Một giờ ở bên bệnh nhân. Một ngày vẫn trung thành cầu nguyện dù lòng không cảm thấy gì. Những nơi ấy, nếu làm vì Đức Kitô, đều trở thành thánh địa.
Thật ra, đời người đơn giản hơn chúng ta tưởng. Ta làm nó phức tạp vì có quá nhiều điều muốn giữ. Còn các thánh thường rất đơn sơ vì họ chỉ giữ một điều: Đức Kitô. Thánh Phaolô có thể nói: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi.” Khi một người đã gặp Đức Kitô sâu xa, nhiều điều trước đây rất lớn bỗng trở nên nhỏ. Một lời khen không còn làm họ bay lên quá cao. Một lời chê không còn làm họ rơi xuống quá sâu. Được trao chức vụ, họ nhận. Bị lấy chức vụ, họ cũng có thể buông. Có người nhớ đến, họ vui. Bị quên, họ vẫn sống. Thành công, họ tạ ơn. Thất bại, họ học lại cách phó thác. Có sức khỏe, họ phục vụ. Bệnh tật, họ dâng hiến. Vì đời họ không còn tùy thuộc vào những hoàn cảnh ấy. Họ đã neo ở nơi sâu hơn. Chiếc neo ấy là Đức Kitô.
Nhưng có lẽ chúng ta phải thú thật rằng nói “chỉ một mình Đức Kitô” thì dễ, sống được như thế lại là hành trình của cả đời. Mỗi ngày phải gỡ một sợi dây đang buộc tim mình vào một cái gì đó. Có sợi dây buộc vào tiền. Có sợi buộc vào người mình yêu. Có sợi buộc vào tiếng tăm. Có sợi buộc vào quá khứ. Có sợi buộc vào một vết thương. Có sợi buộc vào một dự định mà ta nghĩ nhất định phải thành. Có sợi buộc vào hình ảnh ta muốn người khác có về mình. Những sợi dây ấy nhiều khi không xấu tự bản chất, nhưng khi chúng khiến ta không còn tự do để nói “xin vâng” với Chúa, chúng trở thành xiềng xích. Và Thiên Chúa, vì yêu ta, đôi khi cho phép đời sống chạm vào những chỗ ấy để ta nhận ra mình đang bị trói ở đâu. Có những mất mát không chỉ làm ta đau; chúng còn cho ta thấy điều gì đã chiếm ngai trong lòng. Có những lời chê khiến ta đau quá mức, và nhờ đó ta nhận ra mình đã sống quá nhiều bằng lời khen. Có một người rời bỏ ta và ta tưởng đời mình hết ý nghĩa, để rồi nhận ra ta đã đặt nơi họ gánh nặng mà chỉ Thiên Chúa mới mang nổi. Có một dự án thất bại khiến ta suy sụp, để ta thấy mình đã đồng hóa giá trị bản thân với thành công. Có một giai đoạn Chúa lấy đi cảm giác sốt sắng, để xem ta yêu Người hay chỉ yêu những cảm giác Người ban.
Người yêu Đức Kitô thật rồi sẽ có lúc phải đi qua những thanh luyện như vậy. Chúa không làm nghèo ta. Chúa làm cho trái tim ta tự do. Người lấy khỏi tay ta những thần tượng nhỏ không phải để tay ta trống, mà để tay ta có thể nắm lấy Người. Người làm cho ta bớt lệ thuộc vào ánh mắt người khác để ta biết sống trước ánh mắt của Người. Người đôi khi cho phép những cánh cửa đóng lại để ta nhớ rằng Đức Kitô mới là cánh cửa không ai đóng được. Người đôi khi cho ta nếm sự bất lực để ta thôi thờ sức mạnh của mình. Người đôi khi để ta bước trong đêm tối để ta học rằng đức tin không phải là nhìn thấy đường, nhưng là nắm tay Đấng biết đường.
“Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy.” Có những người muốn phục vụ Chúa nhưng không muốn theo Chúa. Muốn làm việc cho Chúa nhưng vẫn muốn đi con đường của mình. Muốn có danh Kitô hữu nhưng không muốn mang tâm tình của Đức Kitô. Muốn giữ đạo nhưng không muốn để Tin Mừng đụng vào cách tiêu tiền, cách nói chuyện, cách đối xử với người làm mình khó chịu, cách sử dụng quyền lực, cách sống trong gia đình. Nhưng Đức Kitô không cần những người chỉ làm việc cho Người; Người muốn những người thuộc về Người. Có thể chúng ta làm ít hơn nhưng thuộc về Chúa hơn. Có thể nói ít hơn nhưng sống giống Chúa hơn. Có thể không nổi bật nhưng trung thành hơn. Và có lẽ đó mới là điều quan trọng.
Đến cuối đời, những thứ từng làm ta bận tâm biết bao rồi cũng rơi lại. Người ta từng nói gì về ta, rồi sẽ qua. Những tranh cãi từng khiến ta mất ngủ, rồi chẳng mấy ai nhớ. Những chức danh từng in rất lớn trên danh thiếp, cuối cùng cũng không mang qua được cánh cửa sự chết. Những căn nhà, tài khoản, thành tích, ảnh chụp, huy chương, bằng cấp, số người theo dõi, lời khen, tiếng vỗ tay… tất cả đều sẽ ở lại. Ta chỉ mang theo một điều: trái tim mình đã thuộc về ai. Và thật đáng sợ nếu cả đời nói về Chúa mà cuối cùng lòng lại thuộc về chính mình. Nhưng cũng thật bình an nếu cả đời âm thầm, chẳng có gì lớn lao trong mắt thế gian, mà trái tim vẫn giữ được một tình yêu duy nhất.
Có lẽ mỗi tối trước khi ngủ, ta nên hỏi một câu rất giản dị: “Hôm nay điều gì làm con vui nhất? Điều gì làm con buồn nhất?” Câu trả lời có thể cho ta biết trái tim đang đặt kho tàng ở đâu. Nếu một lời khen làm ta vui hơn việc sống đẹp lòng Chúa, phải coi lại. Nếu một lời chê làm ta đau đến mức mất bình an nhiều ngày, phải coi lại. Nếu mất một món lợi khiến ta quên cả Chúa, phải coi lại. Nếu một người nào đó không còn yêu mình mà ta nghĩ đời mình không đáng sống, phải coi lại. Không phải vì những điều ấy không quan trọng, nhưng vì không điều gì được phép trở thành chúa của trái tim. Chỉ Đức Kitô mới có quyền ấy.
Khi trái tim chỉ còn một đối tượng là Đức Kitô, đời sống không phải không còn đau, nhưng nỗi đau có nơi để đặt. Không phải không còn nước mắt, nhưng nước mắt có ý nghĩa. Không phải không còn thất bại, nhưng thất bại không còn quyền định nghĩa con người ta. Không phải không còn chia ly, nhưng chia ly không còn là tận cùng. Không phải không còn những lúc chẳng hiểu gì, nhưng ta vẫn biết ai đang dẫn mình. Chính đó là bình an: không phải mọi chuyện đều ổn, mà là giữa mọi chuyện, Đức Kitô vẫn đủ.
Và lạ thay, khi Đức Kitô trở thành tất cả, con người không trở nên xa đời. Trái lại, họ yêu cuộc đời sâu hơn. Vì họ không còn bắt cuộc đời phải cứu mình. Họ có thể tận hưởng một ngày đẹp trời mà không sợ nó phải kéo dài mãi. Họ có thể yêu một người rất sâu mà không biến người ấy thành sở hữu. Họ có thể làm việc hết sức mà không đồng hóa mình với thành tích. Họ có thể đón nhận một niềm vui mà không nghiện nó. Họ có thể chịu một nỗi buồn mà không chết chìm trong nó. Người chỉ có Đức Kitô là người tự do nhất để đón nhận mọi sự và cũng tự do nhất để buông mọi sự.
Đức Kitô không phải là một phần của đời Kitô hữu. Người là toàn bộ ý nghĩa của đời Kitô hữu. Không phải Chúa ở bên cạnh gia đình, công việc, sức khỏe, danh dự, các kế hoạch của ta như một mục trong danh sách. Chính Người phải là trung tâm để mọi thứ khác tìm được đúng chỗ. Gia đình vì Chúa mà yêu. Công việc vì Chúa mà làm. Tiền bạc theo tinh thần Chúa mà sử dụng. Quyền lực theo gương Chúa mà phục vụ. Đau khổ với Chúa mà mang. Thành công dâng cho Chúa. Thất bại giao cho Chúa. Tuổi trẻ sống cho Chúa. Tuổi già trở về với Chúa. Hơi thở cuối cùng cũng trao cho Chúa. Khi ấy đời người, dù có nhiều chương rất khác nhau, vẫn chỉ kể một câu chuyện.
Câu chuyện ấy có thể gọi là: “Đức Kitô và tôi.”
Và nếu phải rút gọn hơn nữa, có lẽ chỉ còn: “Đức Kitô.”
Một ngày kia, nếu tất cả những gì ta từng có đều bị lấy đi mà trong lòng vẫn còn Đức Kitô, ta chưa mất điều quan trọng nhất. Nhưng nếu có cả thế gian mà đánh mất Người, ta đã mất tất cả. Người môn đệ vì thế không cầu xin trước hết một cuộc đời dễ dàng. Chỉ xin trái tim đừng đổi chủ. Không xin lúc nào cũng thành công. Chỉ xin dù thành hay bại vẫn thuộc về Chúa. Không xin ai cũng hiểu mình. Chỉ xin đừng vì bị hiểu lầm mà bỏ con đường của Đức Kitô. Không xin lúc nào cũng khỏe. Chỉ xin trong bệnh tật vẫn biết yêu. Không xin không bao giờ bị tổn thương. Chỉ xin vết thương đừng biến thành cay đắng. Không xin khỏi mọi thập giá. Chỉ xin trên mọi thập giá còn nhận ra Đức Kitô.
Có khi cả đời thiêng liêng chỉ là cuộc trở về liên tục với một câu: “Lạy Chúa, con lại để lòng mình đi quá xa rồi.” Ta đi theo lời khen, Chúa gọi về. Ta đi theo một mối lo, Chúa gọi về. Ta đi theo tự ái, Chúa gọi về. Ta đi theo tiền bạc, Chúa gọi về. Ta đi theo một người nào đó quá mức, Chúa gọi về. Ta đi theo nỗi sợ tương lai, Chúa gọi về. Và mỗi lần trở về, ta lại thưa: “Lạy Chúa Giêsu, xin lại làm trung tâm của đời con.”
Có lẽ Đức Kitô không đòi chúng ta ngay lập tức trở thành những con người hoàn hảo. Người chỉ muốn ta đừng thôi đi theo Người. Hôm nay còn vấp, mai đứng dậy. Hôm nay còn chia trí, mai lại gom lòng về. Hôm nay còn muốn mình, mai tập muốn Chúa. Hôm nay còn tiếc một điều phải bỏ, mai lại xin sức mạnh để buông. Cuộc nên thánh không phải là một cú nhảy; nhiều khi chỉ là hàng ngàn lần đưa trái tim về lại đúng hướng.
Và rồi từ từ, sau nhiều năm, người ta có thể thấy một điều rất đẹp xảy ra: những gì trước kia làm mình náo động nay không còn sức mạnh như trước. Người ta bớt cần tiếng khen. Bớt thích tranh phần đúng. Bớt lo người khác nghĩ gì. Bớt sợ bị quên. Bớt tham giữ. Bớt muốn hơn. Bớt hỏi “tại sao tôi?” Và thay vào đó, lòng có một sự đơn sơ. Không phải vì đã biết hết, nhưng vì đã biết Người. Không phải vì đã có tất cả câu trả lời, nhưng vì đã gặp Đấng là câu trả lời cuối cùng. Không phải vì đời đã dễ hơn, nhưng vì trái tim đã bớt chia đôi.
Đó chính là bình an của những người thuộc trọn về Đức Kitô. Họ không cần quá nhiều để sống. Không cần quá nhiều người hiểu mình. Không cần quá nhiều bảo đảm. Không cần quá nhiều tiếng vỗ tay. Họ chỉ cần đừng mất Chúa. Nếu còn Chúa, họ còn đường. Nếu còn Chúa, họ còn nhà. Nếu còn Chúa, họ còn hy vọng. Nếu còn Chúa, ngay cả cái chết cũng không còn là cánh cửa đóng lại mà trở thành cuộc gặp gỡ cuối cùng với Đấng họ đã yêu suốt đời.
Và ngày ấy, có lẽ Đức Kitô sẽ không hỏi chúng ta đã nổi tiếng đến đâu, đã thành công bao nhiêu, đã nắm giữ những gì. Có lẽ câu hỏi sâu nhất chỉ là: “Con đã yêu Ta thế nào?”
Ước gì ta có thể trả lời, không phải bằng một câu nói, nhưng bằng cả cuộc đời mình: “Lạy Chúa, con đã vụng về nhiều lắm. Con đã chia lòng nhiều lắm. Con đã có những lúc chạy theo bao điều khác. Con đã từng yêu mình hơn yêu Chúa, sợ người đời hơn sợ mất Chúa, giữ nhiều điều hơn giữ Chúa. Nhưng qua từng năm tháng, Chúa đã kéo con trở về. Và cuối cùng, sau tất cả, con chẳng còn muốn gì hơn ngoài Chúa.”
Thật ra, đó chính là đích đến của mọi đời Kitô hữu. Không phải để ta trở thành người được nhiều người biết đến, nhưng thành người biết Đức Kitô. Không phải để có một đời không thất bại, nhưng để trong mọi thất bại vẫn giữ được Đức Kitô. Không phải để làm nên một tên tuổi, nhưng để tên Đức Kitô được ghi sâu trong lòng mình. Không phải để mọi người nhớ đến mình, nhưng để đời mình khiến người khác nhớ đến Chúa.
“Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy.”
Xin cho chúng ta đừng chỉ phục vụ Chúa bằng đôi tay mà trái tim lại đi chỗ khác. Xin cho đôi chân đi theo Chúa, đôi mắt nhìn về Chúa, đôi tai nghe tiếng Chúa, đôi tay làm việc của Chúa và nhất là trái tim chỉ tìm một mình Chúa. Xin cho những gì phải chết trong ta thì đủ can đảm để nó chết đi, để hạt lúa đời mình không còn trơ trọi. Xin cho những tự ái, tham vọng, hơn thua, sợ hãi, chiếm hữu, lệ thuộc và những thần tượng nhỏ bé âm thầm trong lòng được đặt xuống dưới chân Thập Giá.
Và xin cho đến một ngày, khi tóc đã bạc, sức đã yếu, tay không còn cầm được nhiều thứ, chân không còn đi được nhiều nơi, miệng không còn nói được nhiều lời, ta vẫn có thể ngồi thật yên trước Chúa và nhận ra rằng sau một đời dài, điều quý giá nhất mình đã học được chính là điều rất đơn sơ này: mọi sự rồi sẽ qua, chỉ Đức Kitô còn lại.
Nếu được chọn lại, vẫn chọn Người.
Nếu phải mất, xin chỉ đừng mất Người.
Nếu phải bước đi, xin chỉ được đi sau Người.
Nếu phải sống, xin sống cho Người.
Nếu phải chết, xin chết trong Người.
Vì khi trái tim chỉ còn một đối tượng là Đức Kitô, con người mới thôi bị xé ra bởi trăm ngàn ham muốn, mới thôi chạy hết cánh cửa này đến cánh cửa khác để xin một chút bình an, mới thôi khát tiếng khen của thế gian, mới thôi hoảng sợ trước những mất mát chóng qua. Khi ấy người ta hiểu rằng bình an không phải là có được mọi điều mình muốn, mà là chỉ còn muốn điều đáng muốn nhất. Và điều đáng muốn nhất ấy không phải là một điều, nhưng là một Người: Đức Giêsu Kitô.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ KHÔNG PHẢI ĐIỀU TA NHÌN QUA – NHƯNG LÀ ĐIỀU TA NHÌN VÀO
Tin Mừng: Ga 19,31-37
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.”
Có những điều trong cuộc đời người ta chỉ muốn nhìn qua thật nhanh. Một đám tang đi ngang trước mặt, ta nhìn qua. Một người bệnh nằm co quắp trên chiếc giường bệnh, ta nhìn qua. Một khuôn mặt đầy nước mắt, ta nhìn qua. Một gia đình đang tan vỡ, ta nghe rồi cũng muốn cho qua. Một người thất bại, một người bị bỏ rơi, một người mang tiếng xấu, một người đang tuyệt vọng, nhiều khi ta không muốn nhìn lâu, bởi nhìn lâu thì lòng mình không còn bình yên nữa. Nhìn lâu có nghĩa là phải để nỗi đau của người khác chạm vào mình. Nhìn lâu có nghĩa là mình không còn được phép sống như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Và có lẽ vì vậy mà con người thời nay đã tập được một thói quen rất đáng sợ: nhìn rất nhiều mà chẳng thực sự thấy gì. Mỗi ngày chúng ta nhìn hàng ngàn hình ảnh, lướt qua hàng ngàn khuôn mặt, đọc hàng trăm câu chuyện, nhưng trái tim vẫn có thể khép kín. Chúng ta nhìn qua tất cả, rồi đi tiếp. Thế nhưng hôm nay, Tin Mừng Thánh Gioan không cho phép chúng ta nhìn qua Thập Giá. Tin Mừng giữ mắt ta lại trước một thân xác đã chết, trước một cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thâu, trước máu và nước chảy ra, và nhắc lại một lời Kinh Thánh vừa đau đớn vừa kỳ lạ: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Không phải nhìn qua. Không phải liếc nhìn. Không phải nhìn để thương hại. Nhưng là nhìn lên. Nhìn thật lâu. Nhìn cho đến khi hiểu rằng nơi Đấng bị đâm thâu ấy đang có câu trả lời sâu xa nhất cho cuộc đời mình.
Thập Giá của Đức Giêsu từ lâu đã trở thành một hình ảnh quá quen thuộc với người Công giáo. Quen đến độ đôi khi chính sự quen thuộc làm chúng ta mất khả năng kinh ngạc. Trong nhà có Thánh Giá. Trên bàn thờ có Thánh Giá. Trên cổ có Thánh Giá. Trên tháp nhà thờ có Thánh Giá. Trong nghĩa trang có Thánh Giá. Khi làm dấu, ta nhắc đến Thánh Giá. Khi cầu nguyện, ta hướng về Thánh Giá. Nhưng câu hỏi không phải là ta có nhìn thấy Thánh Giá hay không. Câu hỏi là ta đã thực sự nhìn vào Thập Giá chưa? Có thể một người cả đời sống dưới bóng Thánh Giá mà chưa bao giờ thực sự để Thập Giá chất vấn mình. Có thể một người hôn Thánh Giá mỗi Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng rồi vẫn sống trong căm giận. Có thể một người đeo Thánh Giá trước ngực mà trong lòng vẫn đầy tham vọng, ích kỷ và hơn thua. Có thể một người cầu nguyện trước tượng Chúa chịu nạn rất lâu nhưng lại không chịu nổi một sự xúc phạm nhỏ. Có thể ta thuộc lòng câu “Chúa đã chết vì con”, nhưng đời ta vẫn xoay quanh chính mình. Vì thế, khác biệt rất lớn giữa nhìn thấy Thập Giá và nhìn vào Thập Giá. Nhìn thấy chỉ là việc của đôi mắt. Nhìn vào là việc của cả tâm hồn. Nhìn thấy có thể chỉ mất một giây. Nhìn vào có khi mất cả một đời.
Thánh Gioan kể rằng vì hôm ấy là ngày áp lễ, người Do Thái xin Philatô cho đánh giập ống chân những người bị đóng đinh để họ chết nhanh và đem xác xuống. Những người lính đến, đánh giập ống chân hai người cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu. Nhưng khi đến nơi Người, họ thấy Người đã chết nên không đánh giập ống chân nữa. Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. “Tức thì máu cùng nước chảy ra.” Gioan không kể chi tiết ấy như một người tò mò đứng bên ngoài. Ông nhấn mạnh: “Người đã xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực.” Gioan muốn chúng ta biết rằng đây không phải một biểu tượng do người đời sau nghĩ ra. Đây là một biến cố. Một cạnh sườn thật sự bị đâm thủng. Một trái tim thật sự đã ngừng đập. Một thân xác thật sự đã chết. Máu thật sự đã chảy. Nước thật sự đã trào ra. Kitô giáo không bắt đầu từ một ý tưởng đẹp. Kitô giáo bắt đầu từ một Con Người đã bị đóng đinh. Đức tin của chúng ta không đặt nền trên một lý thuyết về tình yêu, nhưng trên một tình yêu đã mang thương tích.
Và lạ lùng thay, đúng lúc con người tưởng đã kết thúc tất cả về Đức Giêsu thì chính lúc ấy mầu nhiệm lại mở ra. Cái chết tưởng là dấu chấm hết, nhưng cạnh sườn được mở lại trở thành một cánh cửa. Trái tim bị đâm thâu lại trở thành nguồn nước. Người đã chết lại ban sự sống. Người không còn giữ được gì cho mình nữa. Áo đã bị chia. Danh dự đã bị tước. Bạn hữu đã bỏ đi. Thân xác đã bị hành hạ. Hơi thở cuối cùng cũng đã trao. Và bây giờ đến cả cạnh sườn cũng được mở ra. Nơi Đức Kitô chịu đóng đinh, Thiên Chúa dường như nói với nhân loại rằng: “Ta không còn giữ lại gì nữa.” Đó là ý nghĩa tận cùng của tình yêu. Tình yêu thật không phải cho người khác một phần dư thừa của mình. Tình yêu thật là để cho chính mình được mở ra. Trái tim Đức Kitô bị đâm thâu là lời mặc khải cuối cùng rằng Thiên Chúa yêu con người bằng một trái tim không khóa cửa.
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Điều đầu tiên mà người Kitô hữu được mời gọi làm không phải là giải thích Thập Giá, nhưng là nhìn. Có những mầu nhiệm nếu chỉ dùng lý trí để phân tích, ta sẽ càng xa. Phải nhìn. Một người mẹ đứng trước người con đang hấp hối đâu cần một bài triết học về đau khổ. Bà chỉ nhìn con. Một người vợ nhìn người chồng của mình trong những ngày cuối đời. Một người con nhìn cha mẹ già yếu. Có những cái nhìn nói nhiều hơn tất cả ngôn từ. Và cũng thế, trước Thập Giá, có lúc tốt nhất là đừng nói gì cả. Chỉ nhìn. Nhìn đôi tay đã bị đóng đinh. Nhìn đôi chân đã đi khắp các làng mạc để chữa lành và nay bị ghim lại. Nhìn cái đầu từng cúi xuống trước người tội lỗi nay đội vòng gai. Nhìn đôi mắt từng nhìn Phêrô bằng lòng thương xót nay khép lại. Nhìn đôi môi từng nói “Ta không kết án chị đâu” nay tím tái. Nhìn cạnh sườn bị mở. Nhìn và tự hỏi: Tại sao Người chấp nhận tất cả điều này? Và câu trả lời chỉ có một: vì yêu.
Chúng ta thường tìm những bằng chứng Thiên Chúa yêu mình trong những điều thuận lợi: sức khỏe tốt, gia đình bình an, công việc thành công, con cái ngoan ngoãn, lời cầu xin được nhận, bệnh tật được chữa lành. Khi những điều đó còn, ta dễ nói: “Chúa thương tôi.” Nhưng khi chúng mất đi, ta lại hỏi: “Chúa còn thương tôi không?” Thập Giá sửa lại cách chúng ta đo tình yêu của Thiên Chúa. Người Kitô hữu không đo tình yêu Thiên Chúa bằng việc hôm nay mình thuận lợi bao nhiêu. Ta đo tình yêu Thiên Chúa bằng cạnh sườn đã bị đâm thâu. Nếu một ngày nào đó mọi sự trong đời ta cùng lúc trở nên tối tăm, nếu lời cầu xin chưa được đáp, nếu bệnh vẫn còn, nếu người thân vẫn ra đi, nếu công việc vẫn thất bại, nếu chung quanh chẳng có gì chứng minh rằng Chúa đang thương ta, thì vẫn còn một điều không bao giờ thay đổi: Đức Kitô đã chịu đóng đinh vì ta. Thập Giá là bằng chứng tình yêu không thể bị hủy bỏ bởi bất cứ biến cố nào trong đời ta.
Có lẽ vì thế mà người Kitô hữu phải học nhìn cuộc đời từ Đấng Chịu Đóng Đinh. Câu chuyện không chỉ là ta nhìn Thập Giá, mà sau khi đã nhìn Thập Giá đủ lâu, ta bắt đầu nhìn mọi sự khác bằng ánh sáng của Thập Giá. Nhìn thành công từ Thập Giá, ta bớt kiêu căng. Nhìn thất bại từ Thập Giá, ta bớt tuyệt vọng. Nhìn tiền bạc từ Thập Giá, ta nhận ra có nhiều thứ đáng giá hơn tiền. Nhìn quyền lực từ Thập Giá, ta hiểu rằng quyền lực lớn nhất là quyền lực của tình yêu tự hiến. Nhìn người xúc phạm mình từ Thập Giá, ta nhớ Đấng bị đóng đinh đã cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nhìn người nghèo từ Thập Giá, ta thấy khuôn mặt của một Thiên Chúa đã tự làm cho mình nghèo. Nhìn người bệnh từ Thập Giá, ta không còn coi họ là gánh nặng. Nhìn người tội lỗi từ Thập Giá, ta nhớ chính mình cũng là người được cứu nhờ lòng thương xót. Nhìn cái chết từ Thập Giá, ta không còn thấy đó chỉ là vực thẳm nhưng là cửa đi qua để bước vào sự sống. Người Kitô hữu không phải là người sống một cuộc đời không có nước mắt. Người Kitô hữu là người học cách nhìn nước mắt dưới ánh sáng của một Đấng đã khóc, đã đau, đã chết và đã sống lại.
Nhưng còn một điều đau hơn nữa trong lời Kinh Thánh: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Người nhìn và người đâm không phải hai nhóm hoàn toàn khác nhau. Chính những người đã gây nên vết thương được mời nhìn vào vết thương ấy. Điều này làm Tin Mừng trở nên vô cùng gần gũi. Bởi vì mỗi người chúng ta không chỉ là nạn nhân của những vết thương trong đời; nhiều lúc ta cũng là người gây thương tích cho người khác. Có những trái tim đã bị đâm thâu bởi lời nói của ta. Có người đã nhiều đêm mất ngủ chỉ vì một câu ta nói trong lúc nóng giận. Có một người vợ sống nhiều năm với nỗi cô đơn vì sự lạnh lùng của chồng. Có một người chồng mang mặc cảm vì bị vợ thường xuyên hạ thấp. Có những người con lớn lên với những vết thương từ sự so sánh, chì chiết hoặc thờ ơ của cha mẹ. Có những người già sống trong căn nhà đầy đủ mọi tiện nghi nhưng trái tim trống rỗng vì con cháu chẳng có giờ ngồi cạnh. Có những linh mục có thể làm đau giáo dân vì một lời thiếu cảm thông. Có những giáo dân có thể làm đau linh mục bằng những lời đồn đoán và phán xét. Có những cộng đoàn mang những vết thương dai dẳng chỉ vì người ta nhất quyết bảo vệ cái tôi. Chúng ta đều có thể là người cầm cây giáo mà không biết.
Vì thế nhìn vào Đấng bị đâm thâu cũng là nhìn vào sự thật về chính mình. Không ai thật sự nhìn Thập Giá mà vẫn có thể tự cho mình hoàn toàn vô tội. Trước Thập Giá, mọi mặt nạ rơi xuống. Ta thấy tội lỗi không còn là một khái niệm trừu tượng. Tội làm đau một Người. Sự ích kỷ của ta làm đau một Người. Kiêu ngạo làm đau một Người. Lòng tham làm đau một Người. Phản bội làm đau một Người. Sự lạnh lùng của ta làm đau một Người. Và Người ấy là Đức Kitô. Có khi chúng ta xưng tội rất nhanh bởi vì chỉ nhìn tội như một danh sách điều sai. Nhưng nếu trước khi xưng tội, ta biết ngồi trước Thánh Giá và nhìn thật lâu, có lẽ lòng thống hối sẽ khác. Ta sẽ không chỉ nói: “Con đã nói dối”, nhưng sẽ hiểu rằng sự gian dối của mình đã góp một chiếc gai vào mão gai của Chúa. Ta không chỉ nói: “Con đã không tha thứ”, nhưng nhận ra rằng mình đang khước từ dòng lòng thương xót chảy ra từ cạnh sườn Người. Ta không chỉ nói: “Con đã sống ích kỷ”, nhưng thấy mình đã nhận được một tình yêu cho đi tất cả mà lại sống như thể mình không nợ ai điều gì.
Nhưng kỳ lạ thay, Thập Giá không làm ta tuyệt vọng về tội mình. Nếu chỉ nhìn tội, ta có thể tuyệt vọng. Nhưng nhìn tội trong ánh sáng của cạnh sườn bị mở, ta gặp lòng thương xót. Cây giáo đâm vào trái tim Đức Giêsu không làm tình yêu ngừng chảy; trái lại, máu và nước tuôn ra. Con người làm Người bị thương, còn Người biến vết thương ấy thành nguồn ơn cứu độ. Đây là điều chỉ Thiên Chúa mới làm được: biến nơi con người gây chết chóc thành nơi Người ban sự sống. Biến tội thành cơ hội cho lòng thương xót tỏ hiện. Biến vết thương thành nguồn mạch. Biến cây giáo thành chìa khóa mở trái tim. Chính tại đó, chúng ta hiểu tại sao không có tội nhân nào cần tuyệt vọng nếu còn biết nhìn lên Đấng bị đâm thâu.
Có người mang một quá khứ quá nặng. Họ nhớ những điều mình đã làm và không thể tha thứ cho chính mình. Có người đã phá hỏng một gia đình. Có người đã bỏ rơi một người mình đáng lẽ phải chăm sóc. Có người từng vì tiền mà làm tổn thương anh em. Có người từng sống nhiều năm trong một lối sống mà khi nhìn lại chỉ thấy xấu hổ. Có người đã làm những điều họ không thể sửa lại nữa. Và ma quỷ rất thích làm một việc: nó bắt ta nhìn mãi vào vết nhơ của mình mà không nhìn lên Thập Giá. Nó nói: “Mày không còn đáng được tha thứ.” Nhưng Tin Mừng nói: “Hãy nhìn lên Đấng đã bị đâm thâu.” Không phải để coi nhẹ tội lỗi, nhưng để biết rằng lòng thương xót lớn hơn tội. Phêrô đã chối Thầy ba lần, nhưng đời ông không kết thúc trong tiếng gà gáy. Người trộm lành đã có một quá khứ không đẹp, nhưng đời anh không kết thúc bên thập giá của chính mình. Một lời quay sang Đức Giêsu đã mở cho anh thiên đàng. Kitô giáo không bảo rằng quá khứ không quan trọng. Kitô giáo nói rằng quá khứ không phải là tiếng nói cuối cùng nếu ta dám trao nó cho Đấng Chịu Đóng Đinh.
Nhìn vào Thập Giá còn dạy ta một điều khác: đừng chạy trốn các vết thương của đời mình. Con người thường muốn quên những gì làm mình đau. Ta che. Ta giấu. Ta tránh. Ta giả vờ mạnh mẽ. Ta nói “không sao” trong khi bên trong đầy đổ vỡ. Nhưng Đức Kitô Phục Sinh sau này vẫn mang những dấu đinh. Người không xóa sạch mọi dấu vết của cuộc Khổ Nạn. Vết thương không còn chảy máu, nhưng vẫn còn đó như dấu chứng của tình yêu. Điều ấy an ủi chúng ta biết bao. Chữa lành không nhất thiết có nghĩa là quên. Bình an không nhất thiết có nghĩa là quá khứ chưa từng xảy ra. Có những người cả đời vẫn nhớ một cuộc chia ly. Có người vẫn nhớ một đứa con đã mất. Có người vẫn nhớ một lần bị phản bội. Có người vẫn mang một khoảng trống mà không ai thay thế được. Đức tin không bắt họ quên. Đức tin giúp họ mang vết thương mà không để vết thương biến thành độc tố. Có vết thương nếu được đặt trong cạnh sườn Đức Kitô sẽ không còn chỉ là nơi đau, mà có thể trở thành nơi ta biết thương người khác hơn.
Người từng mất con có thể hiểu người mẹ đang mất con. Người từng bị bệnh nặng có thể hiểu bệnh nhân. Người từng thất bại có thể bớt khắt khe với người thất bại. Người từng trải qua đêm tối đức tin có thể ngồi cạnh người đang nghi ngờ mà không vội lên lớp họ. Người từng được tha thứ nhiều có thể học tha thứ. Khi được Chúa chạm vào, vết thương có thể trở thành một cửa sổ. Từ đó ánh sáng đi vào, và cũng từ đó ánh sáng đi ra. Thánh Phaolô từng mang “một cái dằm trong thân xác” và đã cầu xin Chúa cất đi, nhưng Chúa nói: “Ơn của Thầy đã đủ cho con.” Có những điều Chúa không lấy khỏi cuộc đời ta, bởi chính nơi đó Người sẽ dạy ta một cách yêu mà trước đây ta không biết.
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Đây còn là một lời dành cho một thời đại thích nhìn vào những điều hào nhoáng. Con người hôm nay được dạy phải nhìn lên những người thành đạt, những người nổi tiếng, những người nhiều tiền, những người có ảnh hưởng. Trẻ em được hỏi muốn trở thành ai; người ta thường trả lời bằng một hình ảnh thành công. Ít ai muốn nhìn một người bị đóng đinh. Thập Giá đi ngược hoàn toàn với cách thế gian định nghĩa một đời đáng sống. Trên Thập Giá, Đức Giêsu chẳng có gì mà thế gian khao khát. Không tiền. Không quyền. Không danh dự. Không đám đông tung hô. Không khả năng tự bảo vệ. Nhưng chính lúc ấy, Người lại hoàn tất sứ mạng. Điều đó có nghĩa là giá trị của một đời người không nằm ở việc người ấy giữ được bao nhiêu cho mình, mà ở việc người ấy đã trao đi bao nhiêu vì tình yêu.
Có những cuộc đời chẳng bao giờ được ai biết tên nhưng rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Một người mẹ âm thầm nuôi con khuyết tật ba mươi năm. Một người chồng chăm vợ bệnh mà không than trách. Một người con ở lại với cha mẹ già trong khi anh chị em đi xa. Một nữ tu sống âm thầm ở một cộng đoàn nhỏ, chẳng bao giờ xuất hiện trước đám đông. Một linh mục già mỗi ngày vẫn ngồi trong tòa giải tội chờ những người cần lòng thương xót. Một giáo dân nghèo vẫn chia phần cơm ít ỏi cho người nghèo hơn. Thế gian có thể không trao huy chương cho họ. Nhưng nhìn từ Thập Giá, đó là những đời sống rất đẹp. Vì Thập Giá dạy ta rằng vẻ đẹp thật của con người là biết tự hiến.
Nhìn vào Thập Giá cũng làm ta thôi hỏi một câu rất quen: “Tại sao chuyện này lại xảy đến với tôi?” Không phải câu hỏi ấy sai. Đức Giêsu trên Thập Giá cũng đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đức tin không cấm chúng ta hỏi. Nhưng nếu chỉ dừng ở “tại sao”, ta có thể mắc kẹt. Thập Giá dần dần dẫn ta sang một câu khác: “Lạy Chúa, trong chuyện này, con có thể yêu thế nào?” Đó là bước trưởng thành của đức tin. Khi bị hiểu lầm, thay vì chỉ hỏi tại sao người ta đối xử với mình như vậy, ta hỏi: “Lạy Chúa, con phải sống sự thật thế nào mà không cay đắng?” Khi bệnh tật, thay vì chỉ hỏi tại sao Chúa không chữa, ta hỏi: “Con có thể dùng những ngày còn lại thế nào để yêu hơn?” Khi gia đình gặp thử thách, ta hỏi: “Con có thể làm gì để đừng làm đau nhau thêm?” Khi một cánh cửa đóng lại, ta hỏi: “Chúa đang mời con trung tín điều gì trong hoàn cảnh này?” Thập Giá không trả lời hết mọi câu hỏi của đau khổ bằng một công thức. Thập Giá cho ta một Người để đi cùng trong đau khổ.
Đây có lẽ là điều quan trọng nhất: Kitô giáo không nói với người đau khổ rằng “hãy chịu đi”. Kitô giáo chỉ vào Đức Kitô và nói: “Thiên Chúa đã ở đó.” Khi một người bị phản bội, Đức Kitô biết. Người từng bị Giuđa hôn và bán. Khi một người bị bạn bè bỏ rơi, Đức Kitô biết. Các môn đệ đã chạy hết. Khi một người bị vu khống, Đức Kitô biết. Người đã bị xét xử bằng những lời chứng gian. Khi một người bị làm nhục, Đức Kitô biết. Người đã bị lột áo, nhạo báng, đội vòng gai. Khi một người đau thể xác, Đức Kitô biết. Thân thể Người đã bị roi đánh và đóng đinh. Khi một người cảm thấy Thiên Chúa im lặng, Đức Kitô biết. Người đã kêu lên trong bóng tối. Không một vực sâu nào của đau khổ con người mà Đức Kitô không bước xuống. Bởi vậy, người Kitô hữu không có một Thiên Chúa đứng xa đau khổ để giải thích cho ta tại sao ta đau. Ta có một Thiên Chúa bước vào chính nỗi đau ấy.
Và từ Thập Giá, ta học một cách nhìn người khác. Nếu đã thật sự nhìn Đấng bị đâm thâu, ta sẽ khó có thể tiếp tục đâm thâu anh em. Một người thường xuyên ngồi trước Thánh Giá mà vẫn thích làm người khác đau thì người ấy chưa nhìn đủ lâu. Một người thật sự hiểu cạnh sườn bị đâm sẽ thận trọng hơn với lời nói. Vì họ biết một lời cũng có thể thành cây giáo. Một ánh mắt khinh thường cũng có thể thành cái đinh. Một sự im lặng cố ý cũng có thể thành nhát roi. Một lời đồn cũng có thể là mão gai. Có những người chưa bao giờ đánh ai nhưng đã làm người khác chảy máu trong lòng rất nhiều lần.
Gia đình chúng ta sẽ khác biết bao nếu mỗi người trước khi nói một câu cay nghiệt biết nhìn lên Thánh Giá một chút. Vợ chồng sẽ khác nếu trước khi lôi lỗi cũ của nhau ra biết nhìn cạnh sườn Đức Kitô. Cha mẹ sẽ khác nếu trước khi chì chiết con biết nhìn đôi tay bị đóng đinh. Con cái sẽ khác nếu trước khi làm cha mẹ già buồn biết nhìn Đấng đã nói: “Này là Mẹ con.” Các cộng đoàn sẽ khác nếu người ta hiểu rằng bảo vệ sự thật không đồng nghĩa với việc được quyền làm nhục người khác. Giáo Hội sẽ đáng tin hơn nếu những người mang Thánh Giá biết sống tinh thần Thập Giá.
Thập Giá không cho phép ta yêu bằng lời nói suông. Đức Giêsu không nói từ trời xuống rằng Người yêu ta. Người đã xuống thế. Người chạm vào người cùi. Người ăn với người tội lỗi. Người quỳ xuống rửa chân. Người chịu đóng đinh. Vì thế, tình yêu Kitô giáo luôn phải có thân xác. Một bữa cơm. Một cuộc điện thoại. Một lần đến thăm. Một cái nắm tay. Một sự tha thứ. Một khoản tiền âm thầm giúp người thiếu thốn. Một giờ ngồi cạnh người bệnh. Một đêm thức với đứa con sốt. Một lần nhịn đi một câu đúng nhưng không cần nói. Một bước đi trước để hòa giải. Những việc nhỏ ấy chính là cách Thập Giá được tiếp tục trong đời.
Và cũng đừng quên máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Các Giáo phụ đã nhìn thấy nơi đó hình ảnh các bí tích và sự khai sinh của Hội Thánh. Từ cạnh sườn Ađam đang ngủ, Evà được tạo thành; từ cạnh sườn Đức Kitô ngủ trong cái chết, Hội Thánh được sinh ra. Nước nhắc đến Bí tích Thánh Tẩy, máu nhắc đến Thánh Thể. Nghĩa là từ cái chết của Đức Kitô, đời sống bí tích của chúng ta tuôn chảy. Mỗi lần bước vào nhà thờ, làm dấu với nước thánh, mỗi lần đến bàn tiệc Thánh Thể, người Kitô hữu đang sống từ cạnh sườn bị mở ấy. Chúng ta không sống nhờ công trạng mình. Chúng ta sống nhờ một nguồn ân sủng tuôn ra từ trái tim Đức Kitô.
Bởi thế, Thánh Thể và Thập Giá không thể tách rời. Khi linh mục nâng Mình Thánh Chúa lên và nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”, đó cũng là một lời mời: hãy nhìn lên. Nhìn Đấng đã bị đâm thâu nay trao chính mình làm lương thực. Một người có thể rước lễ rất nhiều lần mà vẫn sống cho mình. Nhưng nếu thật sự hiểu mình đang đón nhận ai, ta sẽ dần bị biến đổi. Ta ăn lấy một Tấm Bánh bị bẻ ra, để rồi đời ta cũng phải học được bẻ ra. Ta uống Máu của Đấng đã đổ ra, để rồi đời ta cũng học sống không khép kín. Thánh Thể không chỉ đưa Chúa vào lòng ta; Thánh Thể muốn đưa hình dáng Thập Giá vào đời ta.
Có người hỏi: “Tại sao phải nhìn Thập Giá nhiều như thế? Chẳng phải Kitô giáo là đạo của Phục Sinh sao?” Đúng. Nhưng không có Phục Sinh nào không đi qua Thập Giá. Và Đấng Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Ta không đi tìm đau khổ. Ta không nghĩ đau càng nhiều thì càng thánh. Không. Nhưng khi đau khổ đến, ta không để nó trở thành vô nghĩa. Ta đưa nó vào trong mầu nhiệm Đức Kitô. Chính Thập Giá làm cho đau khổ không còn là một ngõ cụt. Nếu Đức Kitô đã đi qua đó và đã sống lại, thì không có đêm tối nào là tuyệt đối. Không có Thứ Sáu Tuần Thánh nào mà Thiên Chúa không thể dẫn tới sáng Phục Sinh.
Có những người đang sống một Thứ Sáu Tuần Thánh rất dài. Một người đang chạy chữa bệnh ung thư. Một gia đình đang mang món nợ không biết ngày nào trả xong. Một người mẹ đau vì con bỏ nhà thờ. Một người vợ đau vì chồng ngoại tình. Một người già nhìn căn nhà vắng sau khi người bạn đời qua đời. Một người trẻ thất bại và mất phương hướng. Một linh mục kiệt sức giữa những hiểu lầm. Một người sống đời thánh hiến thấy mình khô khan và cô độc. Những người ấy không cần ai nói với họ rằng “rồi mọi chuyện sẽ ổn” một cách dễ dàng. Có những chuyện sẽ không bao giờ trở lại như cũ. Nhưng họ cần biết rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không phải trang cuối. Cạnh sườn bị đâm đã trở thành nguồn sống. Ngôi mộ đã bị mở. Và Đấng mang dấu đinh đã bước ra khỏi mồ.
Bởi vậy, khi không biết nhìn về đâu, hãy nhìn Thập Giá. Khi bị xúc phạm và muốn trả đũa, hãy nhìn Thập Giá. Khi thấy đời mình vô nghĩa, hãy nhìn Thập Giá. Khi tội lỗi khiến ta không dám trở về, hãy nhìn Thập Giá. Khi cầu nguyện mãi mà Chúa dường như im lặng, hãy nhìn Thập Giá. Khi đứng trước cái chết của người mình thương, hãy nhìn Thập Giá. Không phải nhìn như một thứ bùa phép làm nỗi đau biến mất, nhưng nhìn để nhớ mình không đau một mình. Nhìn để biết tình yêu mạnh hơn sự dữ. Nhìn để biết tha thứ không phải là yếu đuối. Nhìn để biết hy sinh không phải là uổng phí. Nhìn để biết một đời cho đi không phải là một đời thất bại.
Có lẽ mỗi gia đình Công giáo nên có một Thánh Giá không chỉ để trang trí, nhưng để nhìn. Có những lúc vợ chồng không nói được với nhau nữa, hãy ngồi trước Thánh Giá. Có những lúc cha mẹ bất lực trước con, hãy nhìn Thánh Giá. Có những lúc người ta muốn bỏ nhau, bỏ nhà, bỏ cộng đoàn, bỏ ơn gọi, hãy nhìn thật lâu. Không phải cứ nhìn là mọi vấn đề lập tức được giải quyết. Nhưng có khi chính ta sẽ được thay đổi. Ta bớt cứng. Bớt tự ái. Bớt muốn thắng. Bớt đòi người kia phải chịu thua. Thập Giá có sức làm cái tôi nhỏ xuống. Vì đứng trước một Thiên Chúa đã tự hạ đến như thế, ta còn kiêu được bao nhiêu?
Và nếu một ngày nào đó ta không còn sức cầu nguyện, cũng hãy nhìn. Có những ngày lời kinh không ra khỏi miệng. Có những lúc ta chỉ có thể ngồi im trước Chúa. Không sao. Đức Maria dưới chân Thập Giá cũng không để lại một lời nào trong Tin Mừng. Mẹ đứng. Mẹ nhìn. Có lẽ một trong những lời cầu sâu nhất của đời người chính là cái nhìn ấy. Khi ta nhìn lên Đấng bị đâm thâu với một trái tim không còn biết nói gì, Chúa vẫn hiểu.
Đời Kitô hữu sau cùng là học nhìn. Tội bắt đầu khi ta nhìn sai: Evà nhìn trái cấm và thấy nó hấp dẫn; Cain nhìn Aben và thấy một đối thủ; Đavít nhìn Bátseva và biến một con người thành đối tượng của ham muốn. Ơn cứu độ cũng bắt đầu bằng một cái nhìn mới. Nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Nhìn người khác như anh em. Nhìn bản thân như kẻ đã được yêu bằng giá máu. Nhìn đời mình như một quà tặng phải được trao đi.
Một ngày kia, mọi thứ ta đang theo đuổi sẽ qua. Tiền sẽ ở lại. Nhà cửa sẽ ở lại. Danh tiếng sẽ mờ đi. Những cuộc hơn thua mà ta từng tưởng rất quan trọng sẽ trở nên nhỏ bé. Và có thể trong giờ cuối, điều còn lại chỉ là một Thánh Giá trên tường, một lời kinh yếu ớt, một bàn tay người thân đang nắm lấy tay ta. Khi ấy ta sẽ hiểu điều lẽ ra phải hiểu sớm hơn: cuộc đời không được cứu bởi những gì ta sở hữu, nhưng bởi một Đấng đã để mình bị đâm thâu vì yêu ta.
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Ước gì chúng ta đừng chỉ nhìn Thập Giá trong những ngày lễ. Đừng chỉ nhìn lúc gặp hoạn nạn. Đừng chỉ nhìn khi cần xin một điều gì. Hãy nhìn mỗi ngày. Nhìn để học yêu. Nhìn để học tha thứ. Nhìn để học khiêm nhường. Nhìn để học cho đi. Nhìn để biết mình đã được cứu bằng giá nào. Và rồi, sau khi nhìn đủ lâu, ta sẽ nhận ra một điều rất đẹp: Thập Giá không còn chỉ ở trước mắt ta nữa. Thập Giá bắt đầu đi vào cách ta sống, cách ta yêu, cách ta chịu đựng, cách ta tha thứ, cách ta chết đi cho cái tôi của mình.
Thập Giá không phải điều ta nhìn qua rồi tiếp tục sống như cũ. Thập Giá là điều ta nhìn vào cho đến khi chính cái nhìn ấy thay đổi trái tim ta. Người Kitô hữu không chạy khỏi Thập Giá, cũng không dừng lại ở Thập Giá như kẻ tuyệt vọng. Ta đứng trước Thập Giá và nhìn xuyên qua đó để thấy tình yêu. Ta nhìn vết thương và thấy lòng thương xót. Ta nhìn cái chết và thấy mầm Phục Sinh. Ta nhìn Đấng bị đâm thâu và nhận ra Thiên Chúa chưa bao giờ yêu nhân loại bằng lời nói suông.
Và có lẽ, sau cùng, khi Chúa hỏi ta đã hiểu gì về cuộc đời, ta sẽ không cần nói nhiều. Chỉ cần chỉ vào Thập Giá và thưa: “Lạy Chúa, bây giờ con hiểu. Con đã từng tưởng rằng sống là giữ lấy. Nhưng Chúa đã dạy con rằng sống là trao đi. Con từng tưởng mạnh là không bị tổn thương. Nhưng Chúa dạy con rằng tình yêu thật dám để trái tim mình được mở ra. Con từng tưởng chiến thắng là không bao giờ thất bại. Nhưng Chúa dạy con rằng có những lúc nhìn như thất bại trước mắt người đời lại chính là chiến thắng của tình yêu. Xin cho con, từ hôm nay cho đến ngày cuối cùng, biết nhìn mọi sự từ Thập Giá của Chúa.”
Bởi vì nơi đó, ta biết mình được yêu. Nơi đó, ta biết mình được tha thứ. Nơi đó, ta học cách tha thứ. Nơi đó, ta biết đau khổ không phải tiếng nói cuối cùng. Nơi đó, ta biết cái chết không phải cánh cửa đóng kín. Nơi đó, ta thấy một trái tim đã bị đâm thâu nhưng vẫn tiếp tục trao ban. Và nơi đó, nếu ta chịu nhìn thật lâu, ta sẽ bắt đầu hiểu Kitô giáo không phải trước hết là một hệ thống những điều phải làm, nhưng là một cuộc gặp gỡ với Đấng đã yêu ta đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH – CÂU TRẢ LỜI CỦA THIÊN CHÚA CHO MỘT THẾ GIỚI KHÁT TÌNH YÊU
Tin Mừng: Ga 3,14-17
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.”
Có lẽ chưa bao giờ con người nói nhiều về tình yêu như hôm nay, và cũng có lẽ chưa bao giờ con người lại khát tình yêu đến thế. Người ta hát về tình yêu, viết về tình yêu, dựng phim về tình yêu, treo chữ yêu trên những tấm thiệp, gửi những biểu tượng trái tim qua màn hình điện thoại, nói với nhau những lời rất đẹp, rất ngọt, rất dễ làm rung động lòng người. Thế nhưng, đằng sau những ánh đèn rực rỡ của một thế giới nói rất nhiều về yêu thương, vẫn có biết bao trái tim đang âm thầm chết khát. Có người sống giữa một gia đình đông đủ mà vẫn cảm thấy không ai thật sự hiểu mình. Có người có hàng ngàn bạn bè trên mạng nhưng khi đêm xuống lại chẳng biết gọi cho ai để nói một câu rằng mình đang buồn. Có những người già ngồi hàng giờ trước cửa nhà chỉ mong một đứa con gọi điện hỏi thăm. Có những người vợ, người chồng ở cùng một mái nhà nhưng hai tâm hồn đã cách nhau rất xa. Có những đứa trẻ có đủ đồ chơi, đủ quần áo, đủ tiền học nhưng thiếu một vòng tay. Có những người thành công, được tung hô, được nhiều người biết đến nhưng sâu trong lòng vẫn mang một nỗi sợ rất lớn: nếu một ngày tôi không còn thành công nữa, liệu còn ai yêu tôi không? Nếu tôi không còn đẹp, không còn giỏi, không còn hữu ích, không còn làm được điều gì khiến người khác ngưỡng mộ, liệu tôi còn đáng được yêu không? Và chính trong một thế giới như thế, Tin Mừng hôm nay vang lên một câu mà nếu ta thật sự nghe bằng cả đời mình, có lẽ ta sẽ phải khóc: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Thiên Chúa không chỉ nói rằng Người yêu. Thiên Chúa đã cho. Và điều Người cho không phải là một món quà bên ngoài Người. Người ban chính Con Một. Người đặt vào tay nhân loại điều quý giá nhất. Đó là câu trả lời của Thiên Chúa cho cơn khát sâu nhất của con người: con người đáng được yêu đến mức Thiên Chúa chấp nhận trao chính Con của Người cho con người.
Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” Chữ “giương cao” ấy vừa nói tới Thập Giá vừa nói tới vinh quang. Đối với mắt người đời, Đức Giêsu bị treo lên là một kẻ thất bại. Hai tay bị đóng đinh, đôi chân bị giữ chặt, thân thể đầy thương tích, đầu đội vòng gai, môi khô khát, chung quanh là tiếng chế nhạo. Người không còn hình dáng của một người chiến thắng. Không ngai vàng, không quân đội, không tiếng tung hô, không một dấu hiệu nào của quyền lực theo cách thế gian vẫn hiểu. Nhưng chính nơi ấy, Thiên Chúa lại nói câu mạnh nhất về tình yêu. Người không nói bằng sấm sét. Người không viết trên trời. Người không dùng quyền lực để bắt con người phải tin. Người chỉ để Con của mình dang hai tay ra trên Thập Giá, như thể muốn nói với tất cả những ai từng nghĩ rằng mình không đáng được yêu: “Con hãy nhìn đây. Đây là giá trị của con trong mắt Ta.” Giá trị của một con người không được đo bằng chiếc xe người ấy đi, căn nhà người ấy ở, chức vụ người ấy giữ, tiền lương người ấy nhận, bằng cấp người ấy có, vẻ đẹp người ấy sở hữu hay số người tán thưởng người ấy. Giá trị của một con người được đo bằng cái giá Thiên Chúa sẵn sàng trả để cứu người ấy. Và cái giá ấy là chính Đức Giêsu Kitô.
Chúng ta thường nghĩ Thập Giá nói về đau khổ. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Thập Giá trước hết nói về tình yêu. Nếu chỉ nhìn những chiếc đinh, ta sẽ thấy đau. Nếu chỉ nhìn mão gai, ta sẽ thấy nhục. Nếu chỉ nhìn máu chảy, ta sẽ thấy tàn nhẫn. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy một trái tim đã quyết yêu cho đến cùng. Thập Giá không phải là câu chuyện một Thiên Chúa thích đau khổ. Thập Giá là câu chuyện một Thiên Chúa không chịu bỏ con người trong đau khổ. Người bước vào nơi con người đau nhất. Người đi xuống nơi con người thấp nhất. Người chạm đến cái chết, là điều con người sợ nhất, để từ đó nói rằng: “Ngay cả ở đây, Ta cũng ở với con.” Có những lúc trong cuộc đời, ta có thể nghĩ rằng Chúa đã bỏ mình. Một lời cầu nguyện kéo dài mà chưa được đáp. Một người thân bệnh mãi không khỏi. Một mái ấm đổ vỡ. Một đứa con đi sai đường. Một sự hiểu lầm không thể giải thích. Một vết thương cũ cứ trở lại. Một thất bại làm ta mất hết tự tin. Một cái chết đến quá sớm. Những lúc ấy, ta hỏi: Chúa yêu con ở đâu? Và Thiên Chúa không luôn trả lời bằng cách làm cho hoàn cảnh thay đổi ngay. Người chỉ cho ta nhìn lên Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh. Đó là câu trả lời không giải thích hết mọi bí ẩn, nhưng đủ để ta biết rằng Thiên Chúa không đứng ngoài nỗi đau của ta. Thiên Chúa đã ở trong đó trước ta.
“Thiên Chúa yêu thế gian.” Tin Mừng không nói Thiên Chúa yêu một thế gian tốt đẹp, ngoan ngoãn, đạo đức và xứng đáng. Người yêu “thế gian”, nghĩa là yêu một nhân loại đầy tội lỗi, phản bội, bất trung, hỗn loạn. Người yêu Phêrô trước khi Phêrô chối Người. Người yêu Giuđa ngay cả khi biết Giuđa sẽ phản bội. Người yêu những kẻ đóng đinh Người. Người yêu người trộm đang hấp hối bên cạnh. Người yêu người phụ nữ bị người đời kết án. Người yêu những người thu thuế bị khinh bỉ. Người yêu những người phong cùi bị loại trừ. Thiên Chúa không đợi con người trở nên tốt đẹp rồi mới yêu. Chính vì được yêu mà con người mới có thể trở nên tốt hơn. Đây là điều chúng ta phải học lại suốt đời, bởi trong sâu thẳm, nhiều người vẫn nghĩ rằng phải làm điều gì đó để xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa. Ta cố sống đạo đức để Chúa thương. Ta cố cầu nguyện thật nhiều để Chúa ban ơn. Ta cố làm việc lành để được Chúa thưởng. Và khi lỡ phạm tội, ta trốn Chúa vì nghĩ Chúa không còn muốn nhìn mình nữa. Nhưng Thập Giá đảo ngược tất cả. Khi ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết cho ta. Khi ta chưa biết yêu Chúa, Chúa đã yêu ta. Khi ta còn đứng xa, Chúa đã bước về phía ta. Ta không được cứu vì ta đáng yêu; ta được cứu bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu.
Có một điều rất lạ trong tình yêu của Thiên Chúa: Người không yêu chúng ta bằng cách giữ Con của Người ở nơi an toàn. Người yêu bằng cách ban Con. Tình yêu đích thật bao giờ cũng có sự trao ban. Một tình yêu chỉ muốn giữ cho mình thì chưa phải tình yêu trưởng thành. Người mẹ yêu con bằng những đêm mất ngủ. Người cha yêu gia đình bằng những tháng năm âm thầm lao động. Người vợ yêu chồng khi vẫn ở lại trong những ngày người chồng yếu đuối. Người chồng yêu vợ khi biết đặt hạnh phúc của vợ trên cái tôi của mình. Người mục tử yêu đoàn chiên không phải bằng những lời nói đẹp, nhưng bằng thời giờ, sức lực, sự nhẫn nại, bằng việc lắng nghe cả những điều đôi khi rất nặng lòng. Một người bạn yêu thật là người dám hiện diện khi ta chẳng còn gì hấp dẫn. Và nơi Thập Giá, Thiên Chúa cho ta thấy tình yêu ở hình thức tinh tuyền nhất: yêu là trao chính mình.
Vì thế, muốn biết mình được Thiên Chúa yêu đến đâu, đừng chỉ nhìn vào những gì đang xảy ra chung quanh. Có những ngày công việc thuận lợi, ta thấy Chúa thương. Có ngày bệnh tật, ta tưởng Chúa quên. Có khi lời cầu xin được nhận, ta nói Chúa tốt lành. Có khi lời cầu xin không được như ý, ta bắt đầu nghi ngờ. Nếu chỉ đo tình yêu của Thiên Chúa bằng những thuận lợi ta đang có, đức tin của ta sẽ luôn bấp bênh. Hãy nhìn lên Thập Giá. Thập Giá là bằng chứng không thay đổi. Khi mọi cảm xúc đổi thay, Thập Giá vẫn còn đó. Khi ta vui, Thập Giá nói: con được yêu. Khi ta buồn, Thập Giá vẫn nói: con được yêu. Khi ta sống tốt, Thập Giá nói: con được yêu. Khi ta sa ngã và đang cố gắng quay về, Thập Giá vẫn nói: con được yêu. Khi người khác khen ta, Thập Giá nói: giá trị của con không nằm trong lời khen ấy. Khi người khác khinh ta, Thập Giá nói: sự khinh thường của họ không thể xóa đi giá trị Ta đã đặt nơi con. Có thể cả thế giới không nhìn thấy điều tốt nơi ta, nhưng Đấng Chịu Đóng Đinh vẫn nhìn ta bằng đôi mắt của lòng thương xót.
Nhiều người sống cả đời chỉ để tìm một lời xác nhận rằng mình đáng được yêu. Người ta cố làm hài lòng tất cả mọi người. Không dám nói “không” vì sợ người khác thất vọng. Không dám sống thật vì sợ bị loại trừ. Không dám thừa nhận yếu đuối vì sợ mất hình ảnh. Có người chịu đựng những mối tương quan làm mình tổn thương chỉ vì sợ cô đơn. Có người chấp nhận để người khác coi thường mình vì nghĩ rằng như thế vẫn còn hơn không có ai. Có người lao vào công việc, danh vọng, tiền bạc không hẳn vì tham, mà vì trong sâu thẳm đang muốn chứng minh rằng mình có giá trị. Nhưng Thập Giá đến để giải thoát ta khỏi cuộc chạy đua ấy. Ta không cần phải xin thế gian cấp giấy chứng nhận cho giá trị của mình. Thiên Chúa đã ký vào đời ta bằng Máu Con của Người.
Thế giới hôm nay rất khát tình yêu, nhưng nhiều khi lại tìm tình yêu ở những nơi không thể làm mình no thỏa. Người ta nghĩ được chú ý là được yêu. Không phải. Được khen là được yêu. Không phải. Được chiều chuộng là được yêu. Không phải. Được người khác đáp ứng mọi nhu cầu là được yêu. Không phải. Có những thứ trông giống tình yêu nhưng thực ra chỉ là sự chiếm hữu, lệ thuộc, thỏa mãn, ích kỷ. Tình yêu của Đức Kitô trên Thập Giá khác hẳn: Người yêu nhưng không chiếm hữu; Người cho nhưng không đòi trả; Người tha thứ nhưng không dung túng sự dữ; Người đón nhận tội nhân nhưng không gọi tội lỗi là điều tốt; Người chết cho con người để con người được sống. Tình yêu thật luôn làm cho người mình yêu được tự do hơn, tốt hơn, gần Thiên Chúa hơn. Tình yêu thật không biến người khác thành tài sản của mình. Tình yêu thật không nói: “Nếu anh yêu tôi, anh phải làm mọi điều tôi muốn.” Tình yêu thật nói: “Vì tôi yêu anh, tôi muốn điều tốt nhất cho anh, ngay cả khi điều đó đòi tôi phải hy sinh.”
Nhìn Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh, ta còn thấy một điều khác rất đau: Thiên Chúa yêu thế gian đến mức chấp nhận bị thế gian từ chối. Đây là đỉnh cao của tình yêu. Chúng ta thường yêu khi được đáp lại. Khi mình làm điều tốt mà không ai biết ơn, ta buồn. Khi mình hy sinh mà người khác coi đó là bổn phận, ta cay. Khi mình trao tình cảm mà bị phản bội, ta muốn khép lòng. Đó là phản ứng rất người. Nhưng Đức Giêsu trên Thập Giá vẫn yêu ngay khi tình yêu của Người bị khước từ. Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người không để sự độc ác của người khác quyết định Người sẽ trở thành người thế nào. Người không vì bị ghét mà ngừng yêu. Đây là sức mạnh của Thập Giá. Sự dữ có thể làm thân thể Đức Giêsu bị thương, nhưng không thể làm trái tim Người trở nên độc ác. Đó cũng là một trong những ơn lớn nhất ta cần xin: xin cho những gì người khác làm với ta đừng biến ta thành người mà chính ta không muốn trở thành. Họ có thể làm ta đau, nhưng xin Chúa đừng để ta thành cay đắng. Họ có thể bất công, nhưng xin đừng để ta trở thành người trả thù. Họ có thể bỏ ta, nhưng xin đừng để ta khép lòng với tất cả mọi người. Họ có thể không biết trân trọng tình yêu ta trao, nhưng xin đừng để ta mất khả năng yêu.
“Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.” Câu này phải được nghe rất kỹ. Đức Giêsu đến không phải để đứng trên cao chỉ tay kết tội. Người đến để cứu. Người bước vào bùn để kéo con người ra. Người không nói với người tội lỗi: “Hãy tự làm sạch rồi đến với Ta.” Người đến gần người tội lỗi để chính sự hiện diện của Người làm họ muốn thay đổi. Kitô giáo không bắt đầu bằng lời kết án “con xấu xa”, mà bắt đầu bằng Tin Mừng “con được yêu và được mời gọi trở về”. Sự thật về tội không bao giờ bị phủ nhận, nhưng sự thật lớn hơn tội là lòng thương xót. Thập Giá vừa cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào – vì nó đóng đinh Con Thiên Chúa – vừa cho thấy tình yêu lớn đến mức nào – vì Thiên Chúa dùng chính nơi tội lỗi tưởng đã chiến thắng để cứu con người.
Có những người mang trong lòng một mặc cảm rất sâu vì quá khứ. Một lần phản bội. Một quyết định sai. Một thời gian sống xa Chúa. Một vết nhơ mà không ai biết. Một lỗi lầm với gia đình không thể sửa lại hoàn toàn. Họ đi lễ, cầu nguyện, xưng tội, nhưng vẫn không tha thứ cho chính mình. Họ tin Chúa tha trên lý thuyết, nhưng trong lòng vẫn nghĩ: “Chắc Chúa thất vọng về tôi lắm.” Nếu ai đang sống như vậy, hãy đứng trước Thập Giá lâu hơn một chút. Đừng nhìn mình bằng đôi mắt của mặc cảm. Hãy học nhìn mình bằng đôi mắt của Đấng Chịu Đóng Đinh. Người biết tất cả. Không điều gì trong quá khứ của ta làm Người ngạc nhiên. Không tội nào của ta xảy ra mà lúc chết trên Thập Giá Người không biết. Vậy mà Người vẫn chết cho ta. Không phải vì tội không nghiêm trọng, nhưng vì tình yêu của Người lớn hơn.
Thập Giá cũng làm lộ ra sự nghèo nàn của cách chúng ta yêu nhau. Ta nói yêu, nhưng đôi khi chỉ yêu khi người kia còn làm mình vui. Ta nói thương, nhưng lại đặt ra hàng loạt điều kiện. Con ngoan thì cha mẹ thương. Con thành đạt thì cha mẹ tự hào. Chồng kiếm được tiền thì vợ quý. Vợ còn trẻ đẹp thì chồng quan tâm. Người dưới quyền nghe lời thì cấp trên đối xử tốt. Giáo dân quý linh mục thì linh mục dễ gần; ai góp ý thì tự nhiên thấy khó chịu. Người khác đứng về phía mình thì gọi là bạn; họ không đồng ý thì coi là đối thủ. Tình yêu của ta rất dễ bị cái tôi chi phối. Thập Giá buộc ta phải hỏi: tôi yêu người này vì họ có lợi cho tôi, hay vì họ là một con người có phẩm giá trước mặt Thiên Chúa? Tôi thương họ, hay tôi chỉ thương cảm giác mà họ mang lại cho tôi? Tôi phục vụ Chúa, hay tôi đang phục vụ nhu cầu được người khác công nhận là mình đạo đức?
Nhìn Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh, mọi thứ giả tạo trong tình yêu đều bị lột bỏ. Người không còn gì để nhận. Người chỉ cho. Không một cử chỉ nào trên Thập Giá nhằm xây dựng hình ảnh. Không một lời nào để tìm tiếng khen. Người bị lột áo. Danh dự bị lấy mất. Thân thể bị phơi bày. Người không còn điều gì để dựa vào ngoài tình yêu đối với Chúa Cha và đối với nhân loại. Có lẽ vì thế mà Thập Giá làm nhiều người ngại nhìn. Nó không cho chúng ta trốn sau những khẩu hiệu đẹp. Nó hỏi rất thẳng: anh yêu được bao nhiêu khi không được gì lại? Anh còn trung thành không khi chẳng ai vỗ tay? Anh còn phục vụ không khi bị hiểu lầm? Anh còn tha thứ không khi người kia chưa xin lỗi? Anh còn cầu nguyện không khi chưa thấy kết quả? Anh còn tin Chúa không khi đường đời không diễn ra như anh mong muốn?
Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh là câu trả lời của Thiên Chúa cho một thế giới khát tình yêu, nhưng Người cũng là câu hỏi Thiên Chúa đặt lại cho chúng ta: sau khi đã được yêu như thế, con sẽ yêu người khác thế nào? Không thể quỳ trước một Đấng bị đóng đinh vì yêu rồi đứng dậy tiếp tục sống hoàn toàn ích kỷ. Không thể rước lấy Mình Máu của Đấng đã trao chính mình rồi trở về nhà mà chỉ nghĩ đến mình. Không thể hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh rồi cả năm dùng lời nói để đóng đinh người khác. Không thể ca hát rằng “Chúa yêu con” rồi nhìn một người nghèo, một người thất bại, một người không hợp ý mình như thể họ không đáng được tôn trọng. Thập Giá không chỉ để chiêm ngắm. Thập Giá phải trở thành lối sống.
Một gia đình chỉ thật sự mang dấu Thập Giá khi trong gia đình ấy người ta biết hy sinh cho nhau. Một cộng đoàn chỉ thật sự có Đức Kitô khi người mạnh biết nâng người yếu, người đúng biết nói sự thật bằng lòng thương xót, người bị tổn thương biết tìm đường hòa giải, người có quyền không dùng quyền để làm người khác sợ. Một linh mục chỉ thật sự mang hình bóng Đấng Chịu Đóng Đinh không phải khi nói rất hay về Thập Giá, nhưng khi dám để đời mình bị tiêu hao cho đoàn chiên. Một Kitô hữu chỉ thật sự hiểu Ga 3,16 khi người ấy không còn hỏi mãi: “Tôi nhận được gì?”, nhưng biết hỏi: “Tôi có thể trao điều gì?”
Đôi khi điều người khác cần nơi ta không lớn. Một cuộc điện thoại. Một buổi ngồi nghe mà không vội giảng. Một lời xin lỗi không kèm biện minh. Một bữa cơm dành cho cha mẹ. Một lần bớt cầm điện thoại để nhìn vào mắt người thân. Một sự kiên nhẫn với một đứa trẻ. Một chút dịu dàng với một người đang mệt. Một lời cầu nguyện cho người đã làm mình đau. Một quyết định không nói xấu dù ta có đủ lý do để nói. Những điều ấy rất nhỏ, nhưng khi được làm bằng tình yêu, chúng là những mảnh nhỏ của Thập Giá hiện diện giữa đời thường. Bởi tình yêu lớn không phải lúc nào cũng thể hiện bằng những hành động phi thường. Phần lớn cuộc đời Đức Kitô trước khi chết trên Thập Giá cũng là những ngày rất bình thường ở Nadarét. Thập Giá là đỉnh cao của một đời đã quen cho đi.
Có những lúc ta nghĩ mình chẳng còn gì để cho. Ta nghèo. Ta bệnh. Ta già. Ta mệt. Ta không có tài năng. Ta không có chức vụ. Nhưng hãy nhớ Đức Giêsu trên Thập Giá. Khi ấy Người không còn đi giảng được, không còn chữa bệnh, không còn hóa bánh, không còn đi từ làng này sang làng khác. Hai tay bị đóng. Hai chân bị đóng. Thế mà chính lúc tưởng như Người không còn làm được gì, Người lại làm điều lớn nhất: Người yêu đến cùng. Vì vậy, không ai nghèo đến mức không thể yêu. Người bệnh có thể yêu bằng sự chịu đựng hiền hòa. Người già có thể yêu bằng lời cầu nguyện. Người không có tiền có thể yêu bằng thời gian. Người không biết nói lời hoa mỹ có thể yêu bằng sự hiện diện. Người đang đau vẫn có thể yêu bằng cách không làm người khác đau thêm. Có thể ta không thay đổi được thế giới, nhưng ta có thể làm cho một người bên cạnh bớt cô độc. Và đôi khi đó chính là Tin Mừng.
Thế giới khát tình yêu không phải vì thiếu những lời nói về tình yêu. Thế giới khát vì thiếu những người dám yêu theo cách của Đức Kitô. Yêu không chỉ người đáng yêu. Yêu cả khi mệt. Yêu mà không làm ồn. Yêu mà không tính sổ. Yêu mà không biến tình yêu thành món nợ. Yêu mà vẫn nói sự thật. Yêu mà không bỏ rơi. Yêu đến khi chính mình phải bớt đi một chút để người kia được sống hơn. Có lẽ đó là điều mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn, mỗi xã hội hôm nay cần hơn rất nhiều những bài diễn văn.
Có một nghịch lý đẹp: con người càng cố giữ mình thì càng cô độc; càng biết trao mình thì càng sống. Hạt lúa phải chết mới sinh nhiều bông hạt. Đức Kitô trao sự sống nên sự sống của Người trở thành nguồn sống cho muôn người. Thiên Chúa không nghèo đi vì trao Con Một; chính trong sự trao ban ấy, vinh quang tình yêu Thiên Chúa được tỏ lộ trọn vẹn. Cuộc đời ta cũng vậy. Những gì ta giữ lại cho riêng mình cuối cùng rồi sẽ mất. Tiền bạc ta giữ rồi người khác dùng. Danh tiếng rồi phai. Thân xác rồi già. Nhưng tình yêu đã cho đi thì ở lại. Một người mẹ có thể qua đời nhưng những đứa con vẫn sống nhờ tình yêu mẹ đã gieo. Một người cha có thể không để lại nhiều tài sản nhưng nhân cách ông truyền cho con còn lại. Một mục tử có thể chẳng được nhớ vì những bài giảng hùng hồn, nhưng người ta nhớ ông đã ngồi bên giường bệnh của họ thế nào. Điều làm cho đời người có trọng lượng trước mặt Thiên Chúa sau cùng không phải ta đã gom được bao nhiêu, mà ta đã yêu được bao nhiêu.
“Để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” Tin vào Đức Kitô không chỉ là chấp nhận một số chân lý trong đầu. Tin là đặt đời mình vào tình yêu ấy. Tin là khi không hiểu hết vẫn dám tựa vào Người. Tin là dám để Thập Giá sửa lại cách ta nhìn Thiên Chúa, nhìn mình và nhìn người khác. Nhìn Thiên Chúa: không còn như một vị quan tòa chỉ chờ ta sai để phạt, nhưng là Người Cha đã trao Con để cứu ta. Nhìn mình: không còn như một kẻ vô giá trị chỉ vì có những vết thương hay thất bại, nhưng là người đã được mua bằng giá Máu Đức Kitô. Nhìn người khác: không còn chỉ qua lỗi lầm, chức vị, ngoại hình, quá khứ, nhưng như một người mà Đức Kitô cũng đã chết cho.
Nếu ta thật sự tin điều đó, cuộc đời sẽ khác. Ta sẽ bớt khinh người. Bớt dễ dàng kết án. Bớt nói những câu làm người khác mất hy vọng. Bởi mỗi người ta gặp, dù khó chịu đến đâu, đều là người mà Thiên Chúa đã yêu đến nỗi ban Con Một. Người nghèo ở đầu đường. Người đồng nghiệp mình không ưa. Người thân đã nhiều lần làm ta thất vọng. Người mang một quá khứ xấu. Người khác quan điểm. Người bị xã hội loại trừ. Không ai là “đồ bỏ” trước mặt Thập Giá. Ta có thể phải phản đối điều sai họ làm, phải đặt giới hạn, phải bảo vệ công lý, nhưng không được phủ nhận phẩm giá con người nơi họ. Đức Kitô chết cho tội nhân, không phải cho những con người hoàn hảo.
Có những đêm, thế giới rất tối. Tin tức chiến tranh. Bạo lực. Lừa dối. Con người chà đạp lên nhau vì lợi ích. Có những lúc nhìn vào nhân loại, ta có thể tự hỏi: con người có còn đáng yêu không? Và câu trả lời của Thiên Chúa đã được đóng bằng những chiếc đinh trên đồi Canvê: có. Không phải vì con người vô tội. Không phải vì con người luôn đáng mến. Nhưng vì tình yêu của Thiên Chúa không dựa trên sự xứng đáng của đối tượng; nó phát xuất từ chính bản chất của Người. Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì thế, niềm hy vọng Kitô giáo không nằm ở chỗ con người rồi sẽ tự mình trở nên hoàn hảo, mà ở chỗ tình yêu của Thiên Chúa vẫn không ngừng đi tìm con người.
Và có lẽ điều đẹp nhất của Thập Giá là hai cánh tay Đức Giêsu không còn khép lại được nữa. Những chiếc đinh giữ chúng trong tư thế mở ra. Đó là hình ảnh mà người Kitô hữu có thể mang theo suốt đời: Thiên Chúa mở tay với nhân loại. Không phải nắm tay để đe dọa. Không khoanh tay để lạnh lùng. Không chỉ tay để kết án. Hai tay mở ra. Như một vòng ôm. Một vòng ôm phải trả giá bằng máu. Mỗi lần cảm thấy chẳng ai cần mình, hãy nhìn hai cánh tay ấy. Mỗi lần xấu hổ vì tội mình, hãy nhìn hai cánh tay ấy. Mỗi lần nghĩ cuộc đời mình vô nghĩa, hãy nhìn hai cánh tay ấy. Mỗi lần bị một người mình thương từ chối, hãy nhìn hai cánh tay ấy. Và hãy nghe không phải bằng tai mà bằng trái tim: “Con vẫn có chỗ ở đây.”
Nhưng nếu ta đã tìm được chỗ trong vòng tay ấy, ta cũng phải trở thành vòng tay cho người khác. Có biết bao người quanh ta đang sống mà không biết mình có đáng được yêu không. Có người che nỗi đau bằng sự nóng nảy. Có người giấu cô đơn sau những câu đùa. Có người tỏ ra mạnh mẽ vì sợ nếu yếu đuối sẽ không ai ở lại. Có người gây khó chịu vì từ lâu chẳng ai đối xử dịu dàng với họ. Ta không biết một lời tử tế của mình có thể cứu một ngày của ai đó. Ta không biết một sự kiên nhẫn có thể giữ một người khỏi tuyệt vọng thế nào. Ta không biết một câu “tôi vẫn ở đây” đôi khi quý hơn cả trăm lời khuyên. Đức Kitô không sai chúng ta ra đời để giảng một tình yêu không có da thịt. Người muốn tình yêu ấy mang khuôn mặt, đôi tay, giọng nói của chúng ta.
Xin cho mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta không chỉ thấy một biểu tượng tôn giáo đã quá quen. Xin cho ta thấy một Thiên Chúa đang nói với mình. Người nói: “Ta yêu con.” Không phải vì hôm nay con tốt. Không phải vì con làm được nhiều việc. Không phải vì mọi người quý con. Ta yêu con bởi vì con là con của Ta. Và Người cũng nói: “Hãy đi và yêu như thế.” Không ai có thể yêu hoàn hảo như Đức Kitô, nhưng ta có thể bắt đầu bằng người gần nhất. Một người trong nhà. Một người đang làm ta khó chịu. Một người lâu nay ta né tránh. Một người cần được tha thứ. Một người cần ta xin lỗi. Một người đang chờ ta trở về.
Rồi một ngày khi mọi thứ trong đời ta qua đi, có lẽ điều duy nhất còn đứng vững trước Thiên Chúa là tình yêu. Khi ấy, ta sẽ hiểu đầy đủ hơn điều Tin Mừng hôm nay nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Toàn bộ đời Kitô hữu thực ra chỉ là học sống bên trong câu ấy. Được yêu. Tin mình được yêu. Để tình yêu ấy chữa lành. Rồi đem tình yêu ấy cho người khác.
Thế giới có thể còn rất lâu mới hết chiến tranh. Gia đình có thể còn những vết thương. Con người có thể còn phản bội nhau. Nước mắt vẫn sẽ rơi. Nhưng chừng nào Thập Giá còn đứng giữa lòng Giáo Hội, chừng ấy nhân loại còn một dấu chỉ rằng tình yêu chưa thua. Những chiếc đinh không thắng được tình yêu. Sự phản bội không thắng được tình yêu. Tội lỗi không thắng được tình yêu. Cái chết cũng không thắng được tình yêu. Đức Giêsu chịu đóng đinh là lời tuyên bố cuối cùng của Thiên Chúa rằng không một bóng tối nào có quyền nói câu cuối cùng về con người.
Vậy nên, khi lòng mình khát yêu, đừng chỉ chạy tìm nơi những vòng tay mong manh của con người. Hãy trở về với Đấng Chịu Đóng Đinh. Khi thất vọng vì người khác không yêu mình như mình mong, hãy trở về với Đấng Chịu Đóng Đinh. Khi chính mình yêu quá kém, hãy trở về với Đấng Chịu Đóng Đinh. Đừng sợ đứng lâu dưới chân Thập Giá. Có những điều chỉ hiểu được khi đứng đủ lâu. Rồi ta sẽ thấy: Thập Giá không phải là nơi tình yêu chết. Thập Giá là nơi ta biết tình yêu thật sự là gì. Và từ trên Thập Giá ấy, Thiên Chúa vẫn đang nói với từng con người, với từng gia đình, với từng người tội lỗi, từng người cô độc, từng người bị bỏ rơi, từng người tưởng mình không còn giá trị: “Con đáng được yêu đến mức Ta đã ban Con Một vì con.”
Xin cho điều ấy không chỉ là một câu Kinh Thánh chúng ta thuộc lòng, nhưng trở thành nền móng của đời mình. Để từ nay ta không còn sống như kẻ phải đi ăn xin tình yêu, nhưng như người đã nhận được một tình yêu quá lớn và có đủ để trao đi. Để khi bước vào một căn nhà, ta đem theo sự dịu dàng. Khi bước vào một cuộc tranh luận, ta đem theo lòng tôn trọng. Khi gặp một người yếu đuối, ta đem theo lòng thương xót. Khi bị xúc phạm, ta đem theo tinh thần của Đấng Chịu Đóng Đinh. Khi phải hy sinh, ta nhớ rằng tình yêu luôn có giá. Khi thấy mình chẳng còn sức, ta nhớ rằng chính trong yếu đuối, tình yêu vẫn có thể trở nên mạnh nhất.
Và xin cho tới ngày cuối cùng của đời mình, ta vẫn còn đủ sức nhìn lên Thánh Giá và nói một lời rất đơn sơ: “Lạy Chúa Giêsu, con tin vào tình yêu của Chúa.” Có lẽ đó là lời tuyên xưng đẹp nhất một con người có thể mang theo khi đi qua ngưỡng cửa sự chết. Bởi bên kia mọi câu hỏi, mọi thành công, mọi thất bại, mọi nước mắt, mọi vết thương, chỉ còn một sự thật vĩnh cửu không bao giờ thay đổi: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.
Lm. Anmai, CSsR

KHÔNG BIẾT GÌ NGOÀI ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH
Tin Mừng: Mt 16,21-25
Có những điều người ta có thể biết rất nhiều mà vẫn chưa thật sự biết. Có thể thuộc cả một cuốn giáo lý mà lòng vẫn xa Chúa. Có thể nói rất hay về Thập Giá mà lại tìm mọi cách tránh những thập giá nhỏ bé trong đời mình. Có thể tranh luận rất sắc bén về thần học, về tín lý, về Giáo Hội, về phụng vụ, về luân lý, nhưng khi bị người khác hiểu lầm một chút thì nổi giận; khi mất một chút quyền lợi thì bất bình; khi phải nhường một bước thì thấy khó chịu; khi phải tha thứ thì tìm đủ lý do để trì hoãn; khi gặp đau khổ thì câu hỏi đầu tiên lại là: “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra cho tôi?” Bởi vậy, có một khoảng cách rất xa giữa việc biết những điều nói về Chúa và việc biết chính Chúa. Khoảng cách ấy không được lấp đầy bằng thêm một mớ kiến thức, nhưng bằng một cuộc đời bước theo Đức Kitô. Và nếu phải nói thật ngắn gọn Đức Kitô là ai, con đường của Người là gì, Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta tới một câu trả lời không dễ nghe nhưng không thể né tránh: Đức Kitô là Đấng đi về Giêrusalem để chịu đau khổ, bị loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Ai muốn biết Người thì phải đi cùng đường với Người. Ai muốn theo Người thì phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo. Không có một Đức Kitô nào khác ngoài Đức Kitô ấy. Không có một Kitô giáo nào khác ngoài con đường ấy. Không có một đức tin trưởng thành nào chỉ dừng lại ở chỗ biết Chúa bằng đầu óc mà không dám để Chúa dẫn đời mình đi qua mầu nhiệm Thập Giá.
Tin Mừng kể rằng “từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.” Hai chữ “phải” trong lời Đức Giêsu thật đáng để chúng ta dừng lại. Người không nói như một người bất lực bị số phận xô đẩy. Người không nói như một nạn nhân không còn lựa chọn. Người nói về Thập Giá như một con đường Người tự do đón nhận trong sự vâng phục Chúa Cha và trong tình yêu đối với nhân loại. Người “phải” đi Giêrusalem, bởi tình yêu đã đưa Người đi đến đó. Người “phải” chịu đau khổ, bởi Người không chọn cứu con người từ xa, nhưng bước vào tận cùng thân phận con người. Người “phải” bị giết chết, bởi tình yêu chân thật không dừng lại ở lời nói đẹp, nhưng dám trả giá. Và Người “phải” sống lại, bởi Thập Giá không phải tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa; tình yêu bị đóng đinh nhưng tình yêu không bị tiêu diệt. Chính ở đây ta bắt đầu hiểu tại sao Thập Giá không phải là một chi tiết bên lề của Kitô giáo. Thập Giá nằm ngay giữa trái tim của mạc khải. Bỏ Thập Giá ra khỏi Đức Kitô, ta chỉ còn một nhà hiền triết. Bỏ Thập Giá ra khỏi Tin Mừng, ta chỉ còn một hệ thống đạo đức. Bỏ Thập Giá ra khỏi đời môn đệ, ta chỉ còn một thứ tôn giáo tìm sự dễ chịu. Nhưng Đức Giêsu không đến để dạy chúng ta một kỹ thuật sống thoải mái hơn; Người đến để cứu chúng ta bằng tình yêu tự hiến, và Người mời chúng ta bước vào chính cách yêu ấy.
Phêrô không chịu nổi điều đó. Cũng dễ hiểu thôi. Trước đó không lâu, ông vừa tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Một lời tuyên xưng rất đúng. Đức Giêsu còn khen ông là người có phúc vì không phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho ông điều ấy, nhưng là Cha trên trời. Phêrô biết đúng danh tính của Đức Giêsu, nhưng ông vẫn chưa hiểu con đường của Đức Giêsu. Ông biết Thầy là Đấng Kitô, nhưng trong đầu ông vẫn hình dung một Đấng Kitô chiến thắng theo cách người đời mong muốn. Ông muốn một Đức Kitô mạnh mẽ nhưng không bị sỉ nhục, vinh quang nhưng không phải qua Thập Giá, cứu độ nhưng không phải qua tự hiến, thành công nhưng không phải qua thất bại bề ngoài. Vì thế, khi nghe Thầy nói về đau khổ và cái chết, Phêrô kéo riêng Người ra và bắt đầu trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Xét theo tình người, câu nói ấy nghe rất dễ thương. Một người môn đệ không muốn Thầy mình đau. Một người bạn không muốn người mình thương chết. Nhưng chính ở đây Đức Giêsu phản ứng quyết liệt đến mức khiến chúng ta giật mình: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”
Tại sao lời của Phêrô dường như đầy tình cảm mà lại bị Đức Giêsu gọi là cám dỗ? Bởi có những lúc chúng ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng thật ra chúng ta chỉ yêu một hình ảnh về Chúa phù hợp với ý mình. Có những lúc chúng ta tưởng mình bảo vệ Chúa, nhưng thật ra chúng ta đang muốn Chúa đi theo kế hoạch của ta. Phêrô muốn cứu Đức Giêsu khỏi Thập Giá; nhưng cứu Đức Giêsu khỏi Thập Giá là phá hủy chính con đường cứu độ. Cám dỗ lớn nhất không phải lúc nào cũng đến dưới hình dạng xấu xa. Có khi nó đến trong những lời rất hợp lý: đừng hy sinh nhiều quá, đừng thiệt thòi quá, đừng nhịn nữa, đừng tha thứ nữa, đừng phục vụ nữa, đừng chịu khó nữa, lo cho mình trước đi, người ta đâu có biết ơn, sống ở đời phải khôn một chút. Những lời ấy nghe rất “đời”, rất thực tế, đôi khi còn được gọi là biết sống. Nhưng nếu tất cả những điều ấy làm ta rời khỏi con đường yêu thương của Đức Kitô, thì phía sau cái vẻ hợp lý ấy có thể là một cám dỗ rất sâu: một Kitô giáo không Thập Giá.
“Xatan, lui lại đằng sau Thầy.” Đức Giêsu không chỉ quở trách Phêrô. Người còn đặt Phêrô trở lại đúng vị trí của một người môn đệ. “Lui lại đằng sau Thầy” nghĩa là đừng đứng trước để chỉ đường cho Thầy, hãy trở lại phía sau để đi theo Thầy. Đó cũng là vấn đề của chúng ta. Ta thường muốn đi trước Chúa. Ta vẽ sẵn đường rồi xin Chúa chúc lành. Ta quyết định sẵn điều gì phải xảy ra rồi cầu xin Chúa làm theo. Ta mong Chúa bảo đảm sức khỏe, công việc, gia đình, danh dự, thành công, sự bình an theo ý ta; và khi mọi chuyện không xảy ra như ta tính, ta bắt đầu nghi ngờ tình thương của Người. Nhiều khi lời cầu nguyện của chúng ta không phải là “Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường Chúa muốn”, mà là “Lạy Chúa, đây là con đường con muốn, xin Chúa giúp con đi cho trót.” Ta muốn Chúa theo mình hơn là mình theo Chúa. Ta muốn Chúa giải thích mọi chuyện hơn là tín thác. Ta muốn Chúa dẹp mọi thập giá hơn là ban sức để vác. Ta muốn Chúa thay đổi người khác hơn là thay đổi trái tim mình. Ta muốn Chúa thực hiện ý mình, trong khi chính Đức Giêsu ở vườn Cây Dầu đã cầu nguyện: “Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.”
Cho nên, muốn biết Đức Kitô, trước hết phải học lại vị trí của mình: ở đằng sau Người. Người đi trước. Ta đi sau. Người chọn đường. Ta bước theo. Người biết điểm đến. Ta tín thác. Và con đường Người đi không phải lúc nào cũng là đường rộng, bằng phẳng, được hoan nghênh. Nhiều khi đó là con đường phải chịu hiểu lầm mà vẫn không cay độc, chịu thiệt mà vẫn không gian dối, chịu phản bội mà vẫn không trả thù, chịu cô đơn mà vẫn không bỏ Chúa, chịu mất mát mà vẫn không mất lòng tin, chịu tổn thương mà vẫn cố giữ trái tim đừng hóa đá. Chính ở đó người ta mới bắt đầu “biết” Đức Kitô không phải bằng sách vở, nhưng bằng kinh nghiệm của một trái tim bước theo Người.
“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Chúng ta đã nghe câu này quá nhiều đến nỗi đôi khi không còn cảm thấy sức nặng của nó. Nhưng nếu nghe thật kỹ, đó là một lời rất quyết liệt. Đức Giêsu không nói: ai muốn theo Thầy thì thỉnh thoảng làm vài việc đạo đức. Người không nói: ai muốn theo Thầy thì cố gắng sống tử tế một chút. Người không nói: ai muốn theo Thầy thì mang Thánh Giá trên cổ, treo Thánh Giá trong nhà, làm dấu Thánh Giá trước bữa ăn. Tất cả những điều ấy có giá trị, nhưng chúng chưa phải là tận căn của đời môn đệ. Người nói: “hãy từ bỏ chính mình.” Từ bỏ chính mình không có nghĩa là khinh ghét bản thân, chối bỏ phẩm giá, hay sống một đời tự hành hạ. Từ bỏ chính mình là không còn đặt cái tôi ở trung tâm. Là thôi xem ý mình là tiêu chuẩn cuối cùng. Là thôi bắt mọi người phải chiều mình. Là dám bỏ tự ái để giữ tình nghĩa, bỏ một phần quyền lợi để giữ công bằng, bỏ nhu cầu thắng để giữ bình an, bỏ một lời cay độc để giữ trái tim người khác, bỏ sự thoải mái để phục vụ, bỏ cái nhìn thành kiến để nhìn người khác bằng lòng thương xót.
Nhiều người nghĩ thập giá là bệnh tật, nghèo khó, thất bại, tai nạn, mất mát. Những điều ấy có thể trở thành thập giá, nhưng không phải mọi đau khổ tự động đều là Thập Giá của Đức Kitô. Có đau khổ do tội lỗi ta gây ra. Có đau khổ do sự cố chấp của chính ta. Có đau khổ do lựa chọn sai lầm. Có đau khổ ta đổ lên người khác rồi tự nhận mình là nạn nhân. Thập giá Đức Giêsu nói tới không đơn giản là bất cứ điều gì làm ta khó chịu. Thập giá của người môn đệ là tất cả những gì ta phải đón nhận khi trung thành với tình yêu, sự thật, công bình và thánh ý Chúa. Người mẹ thức đêm chăm đứa con đau yếu, đó có thể là thập giá của tình yêu. Người chồng nhẫn nại bên người vợ đang gặp khủng hoảng, đó có thể là thập giá của trung thành. Một người bị xúc phạm mà không trả đũa, không phải vì hèn nhát nhưng vì không muốn gieo thêm hận thù, đó là thập giá. Một linh mục tiếp tục tận tụy với đoàn chiên giữa những lúc mệt mỏi, cô đơn, hiểu lầm, đó có thể là thập giá. Một tu sĩ trung thành với lời khấn trong những ngày cầu nguyện khô khan và sứ vụ nặng nề, đó là thập giá. Một người trẻ dám sống trong sạch giữa một môi trường chế giễu các giá trị Tin Mừng, đó là thập giá. Một người kinh doanh từ chối gian dối dù phải mất lợi nhuận, đó là thập giá. Một người nói thật nhưng nói với lòng bác ái và chấp nhận hậu quả, đó là thập giá. Một người cha âm thầm đi làm mỗi ngày, mang về đồng lương chân chính, ít nói nhưng cả đời gánh gia đình trên vai, đó cũng có thể là một thứ thập giá rất đẹp.
Có những thập giá không ai nhìn thấy. Có những nỗi đau không có tên. Có người mỗi sáng vẫn cười nhưng đêm về ôm một nỗi cô độc rất sâu. Có người sống giữa gia đình mà thấy mình không được hiểu. Có người chăm sóc một người bệnh nhiều năm đến cạn sức. Có người mang nỗi lo về một đứa con đang đi sai đường. Có người sống với một cuộc hôn nhân đầy những vết nứt nhưng vẫn cố giữ lòng ngay thẳng. Có người đi qua tuổi già trong căn nhà ngày càng im tiếng. Có người mất một người thân nhưng vì phải lo cho mọi người nên chưa có lúc nào được khóc cho chính mình. Có người bị một lời vu khống làm tổn thương danh dự, nhưng không thể giải thích hết. Có những thập giá không ồn ào, không có máu chảy, nhưng từng ngày bào mòn trái tim. Và chính trong những lúc ấy, lời Đức Giêsu không phải là một câu khẩu hiệu dễ dàng: “vác thập giá mình mà theo.” Người không đứng ngoài bảo ta hãy chịu đi. Người đã vác trước. Người biết vai người ta đau thế nào dưới sức nặng của gỗ. Người biết cảm giác ngã xuống. Người biết cái nhục của việc bị người ta nhìn mình như kẻ thất bại. Người biết cô đơn là gì khi những người thân cận bỏ chạy. Người biết bị hiểu sai, bị kết án oan, bị chế giễu, bị lột trần, bị đóng đinh. Bởi vậy, khi Người bảo chúng ta vác thập giá, đó không phải lời của một Thiên Chúa vô cảm, nhưng là lời của Đấng đang chìa bàn tay có dấu đinh ra và nói: “Đi với Thầy.”
Có lẽ đây là điều làm Kitô giáo khác với một thứ triết lý giúp con người trốn đau khổ. Đức Kitô không hứa rằng theo Người rồi ta sẽ tránh được hết những ngày tối tăm. Người hứa một điều sâu hơn: trong những ngày tối tăm ấy, ta không đi một mình. Người không luôn lấy thập giá khỏi vai ta; nhiều khi Người bước vào dưới cây thập giá ấy với ta. Người không luôn giải thích ngay tại sao chuyện này xảy ra; nhưng Người cho ta một sự hiện diện mạnh hơn mọi lời giải thích. Và có những lúc, điều cứu chúng ta không phải là biết lý do, nhưng là biết ai đang đi bên cạnh mình.
Thánh Phaolô đã có một câu nói lạ lùng: “Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh.” Không phải Phaolô là người ít kiến thức. Ngược lại, ông là người được đào tạo kỹ, thông thạo Kinh Thánh, có khả năng tranh luận, một bộ óc sắc bén. Nhưng sau khi gặp Đức Kitô, tất cả tri thức của ông được quy tụ về một tâm điểm: Đức Kitô chịu đóng đinh. Ông hiểu rằng mầu nhiệm Thập Giá là chìa khóa để đọc Thiên Chúa, đọc con người và đọc chính cuộc đời mình. Muốn biết Thiên Chúa yêu ta tới đâu, hãy nhìn Thập Giá. Muốn biết tội lỗi nghiêm trọng đến đâu, hãy nhìn Thập Giá. Muốn biết con người đáng giá thế nào trước mặt Thiên Chúa, hãy nhìn Thập Giá. Muốn biết tha thứ đi xa tới đâu, hãy nghe Đức Giêsu cầu nguyện cho những người đóng đinh mình. Muốn biết thế nào là cho đi đến cùng, hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Muốn biết khi nào tình yêu hoàn tất, hãy nghe lời cuối: “Thế là đã hoàn tất.”
Không biết gì ngoài Đức Kitô chịu đóng đinh không có nghĩa là trở thành người u buồn chỉ nói về đau khổ. Trái lại, ai thật sự hiểu Thập Giá sẽ hiểu niềm vui sâu hơn. Bởi Thập Giá không tôn vinh sự đau đớn; Thập Giá tôn vinh tình yêu có khả năng đi xuyên qua đau đớn mà không thôi yêu. Kitô giáo không yêu đau khổ vì đau khổ. Chúng ta không tìm đau để chứng minh mình thánh thiện. Nhưng khi đau khổ đến trên con đường trung thành, ta không để nó tách mình khỏi Chúa. Ta biến nó thành một nơi gặp gỡ Người. Thập Giá không nói rằng đau khổ là tốt; Thập Giá nói rằng ngay cả đau khổ cũng không thể ngăn Thiên Chúa yêu ta và không nhất thiết ngăn ta yêu người khác.
Đây là điểm rất quan trọng. Có những người sau một biến cố đau buồn trở nên mềm hơn, nhân hậu hơn, biết cảm thông hơn. Nhưng cũng có những người sau đau khổ trở nên cay đắng, nghi ngờ, cứng cỏi, luôn trách đời. Cùng một vết thương nhưng có thể dẫn đến hai hướng rất khác nhau. Điều quyết định không chỉ là chuyện gì đã xảy ra cho ta, nhưng là ta để chuyện ấy làm gì trong ta. Thập Giá Đức Kitô cho chúng ta một con đường: đừng để nỗi đau biến mình thành người gieo thêm nỗi đau. Đức Giêsu bị xúc phạm nhưng không trở thành kẻ xúc phạm. Người bị phản bội nhưng không phản bội tình yêu. Người bị đóng đinh nhưng không đóng đinh ai vào lòng thù ghét của mình. Người bị tước hết mọi thứ nhưng vẫn còn điều để cho: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Ngay trong giờ nghèo nhất, Người vẫn cho đi. Ngay trong giờ đau nhất, Người vẫn yêu. Đó chính là sức mạnh của Thập Giá.
Vì thế, người môn đệ của Đức Kitô không được đo bằng số kinh đã đọc hay bao nhiêu điều đã biết, dù những điều ấy rất cần. Dấu hiệu cuối cùng vẫn là: người ấy có mang lấy khuôn mặt của Đức Kitô chịu đóng đinh không? Họ có biết yêu khi tình yêu đòi trả giá không? Có biết tha thứ khi tha thứ làm đau cái tôi không? Có biết ở lại khi mọi người đều muốn bỏ đi không? Có biết trung thành khi không còn cảm xúc nâng đỡ không? Có biết phục vụ những người không thể trả ơn không? Có biết im lặng khi một lời đáp trả chỉ làm tình hình xấu hơn không? Có biết cúi xuống trước một người bé nhỏ không? Có biết nhận lỗi khi mình sai không? Có biết chấp nhận mình không phải trung tâm của mọi chuyện không? Nếu không, rất có thể ta biết nhiều điều về Đức Kitô mà chưa biết Đức Kitô.
Có một thứ đức tin chỉ mạnh khi mọi chuyện thuận lợi. Khi sức khỏe tốt, ta cảm tạ Chúa. Khi công việc thành công, ta nói Chúa thương. Khi con cái ngoan, gia đình yên, ta thấy Chúa gần. Nhưng rồi một ngày bệnh tật tới, người thân mất, công việc đổ vỡ, lời cầu xin dường như không được đáp lại, ta hoang mang: Chúa đâu rồi? Một đức tin chưa đi qua Thập Giá dễ biến thành một cuộc trao đổi: con tin Chúa, Chúa phải cho đời con ổn. Nhưng Đức Giêsu không mời gọi ta ký một hợp đồng bảo hiểm chống đau khổ. Người mời ta vào một giao ước tình yêu. Và tình yêu thật được thử không phải trong ngày dễ dàng, nhưng trong ngày ta không hiểu mà vẫn không bỏ nhau. Đức tin trưởng thành là khi ta có thể nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin Ngài. Con đang đau, nhưng con vẫn ở đây. Con không thấy đường, nhưng con vẫn nắm tay Ngài. Con không biết ngày mai ra sao, nhưng con biết Đấng đang đi với con.”
“Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được.” Đây là nghịch lý lớn của Tin Mừng. Người ta dành cả đời để giữ, nhưng rồi vẫn mất. Giữ tuổi trẻ, tuổi trẻ vẫn qua. Giữ tiền, một ngày phải để lại. Giữ danh tiếng, vài thế hệ sau chẳng còn ai nhớ. Giữ quyền lực, đến lúc phải trao. Giữ thân xác, thân xác rồi cũng trở về bụi đất. Nếu đời người chỉ quanh quẩn giữ cho mình, cuối cùng sẽ phát hiện mình đã giữ được nhiều thứ mà đánh mất chính mình. Đức Giêsu đưa ra con đường ngược lại: ai dám trao đi thì lại tìm thấy. Người mẹ tiêu hao tuổi trẻ cho con nhưng lại tìm thấy ý nghĩa của đời mình. Người phục vụ người nghèo tưởng mất thời gian nhưng lại tìm thấy một trái tim rộng hơn. Người tha thứ tưởng mình thua nhưng lại giải phóng chính tâm hồn. Người bỏ một lợi ích bất chính tưởng là thiệt nhưng giữ được lương tâm bình an. Người dâng đời cho Chúa tưởng mất nhiều lựa chọn nhưng có thể tìm thấy một tự do mà thế gian không mua được.
Mầu nhiệm ấy chỉ hiểu được dưới chân Thập Giá. Đức Giêsu mất tất cả mà lại cứu được tất cả. Người mất áo, mất danh dự, mất tự do, mất sức lực, cuối cùng trao cả mạng sống. Nhìn bên ngoài, không ai thất bại hơn Người trong chiều thứ Sáu ấy. Nhưng chính từ sự tự hiến đó sự sống tuôn ra. Đó là quy luật của hạt lúa: nếu không chết đi, nó trơ trọi một mình; nếu chết đi, nó sinh nhiều bông hạt. Có những cái chết ta phải chết mỗi ngày để được sống thật: chết cho tự ái, chết cho thói ích kỷ, chết cho nhu cầu kiểm soát, chết cho tham vọng hơn thua, chết cho thói quen xét đoán, chết cho một sự giận dữ ta nuôi quá lâu. Những cái chết ấy đau thật, nhưng sau chúng là một sự sống khác.
Nói “không biết gì ngoài Đức Kitô chịu đóng đinh” cũng có nghĩa là khi đứng trước người đau khổ, ta đừng vội đem lý thuyết ra giải thích. Thập Giá dạy ta biết hiện diện. Trước một người vừa mất con, đôi khi lời hay nhất không phải một bài thần học về ý Chúa. Trước một người đang mắc bệnh nặng, đừng biến lời “hãy tin Chúa” thành một áp lực. Trước một gia đình đang tan vỡ, đừng đứng ngoài phán xét. Đức Kitô chịu đóng đinh dạy ta rằng Thiên Chúa cứu thế giới trước hết bằng việc bước vào nỗi đau của nó. Người không đứng trên trời giảng giải cho nhân loại tại sao phải đau; Người xuống thế làm người, mang lấy đau khổ, khóc với người khóc, chịu tổn thương, rồi chết giữa những người bị kết án. Nếu chúng ta thật sự biết Đức Kitô chịu đóng đinh, ta sẽ bớt những lời đạo đức dễ dàng và có nhiều lòng trắc ẩn hơn.
Không biết gì ngoài Đức Kitô chịu đóng đinh còn có nghĩa là nhìn người tội lỗi bằng một cách khác. Dưới chân Thập Giá, không ai có quyền kiêu ngạo. Nếu ta được cứu là vì ân sủng. Nếu ta đứng vững đến hôm nay, không phải chỉ vì ta giỏi hơn người khác. Thập Giá phá tan mọi sự tự mãn tôn giáo. Người nào càng gần Đức Kitô chịu đóng đinh càng thấy mình cần lòng thương xót. Và người biết mình đã được tha nhiều sẽ bớt khắt khe với anh em. Một cộng đoàn nhìn lên Thập Giá nhưng đầy chia rẽ, nói xấu, loại trừ, đấu đá, giữ hận thù thì phải tự hỏi mình đang nhìn Thập Giá bằng mắt hay bằng lòng. Bởi Đức Kitô trên Thập Giá dang hai tay ra. Tư thế cuối cùng của Người là một tư thế mở. Không phải nắm chặt mà mở ra. Không phải giữ lấy mà trao ban. Không phải loại trừ mà ôm lấy. Hai cánh tay bị đóng đinh ấy trở thành dấu chỉ rằng không một tội nhân thống hối nào bị đẩy ra khỏi lòng thương xót.
Có khi chúng ta muốn một Giáo Hội thật mạnh theo tiêu chuẩn thế gian: đông người, nhiều ảnh hưởng, được ca ngợi, mọi việc thành công. Nhưng Giáo Hội trung thành nhất khi mang khuôn mặt của Đức Kitô chịu đóng đinh: nghèo mà giàu lòng thương xót, yếu bề ngoài nhưng mạnh trong chứng tá, không tìm thống trị mà phục vụ, không sợ cúi xuống rửa chân, không dùng quyền để bảo vệ cái tôi. Một linh mục biết Đức Kitô chịu đóng đinh không thể chỉ tìm sự dễ chịu cho mình. Một người tu sĩ biết Đức Kitô chịu đóng đinh không thể biến đời dâng hiến thành nơi tìm an toàn. Một giáo dân biết Đức Kitô chịu đóng đinh không thể sống đức tin chỉ trong nhà thờ rồi bước ra ngoài với những lối cư xử hoàn toàn khác. Thập Giá phải đi vào cách ta dùng tiền, cách ta nói chuyện, cách ta đối xử với người thấp cổ bé miệng, cách ta làm việc, cách ta tha thứ, cách ta chịu trách nhiệm.
Đôi khi ta cần đứng thật lâu trước một cây Thánh Giá mà không xin gì cả. Chỉ nhìn. Nhìn đôi tay bị đóng đinh và tự hỏi: đôi tay tôi đang giữ chặt điều gì mà Chúa muốn tôi buông? Nhìn đôi chân bị đóng đinh và tự hỏi: tôi đang chạy đi đâu mà không dám theo Chúa? Nhìn đầu đội mão gai và tự hỏi: tôi đang bảo vệ cái danh, cái tôi, cái tự ái của mình đến mức nào? Nhìn cạnh sườn bị mở ra và tự hỏi: trái tim tôi còn mở hay đã đóng lại sau những lần bị thương? Nhìn gương mặt Đức Giêsu và tự hỏi: tôi có nhận ra Người trong gương mặt những người tôi không ưa không? Thập Giá không chỉ để ngắm. Thập Giá soi ta.
Và rồi sẽ có lúc chúng ta phải hiểu rằng thập giá “của mình” không phải thập giá của người khác. Đức Giêsu nói: “vác thập giá mình.” Chúng ta thường rất giỏi chỉ cho người khác cách vác. Người kia phải nhịn. Người kia phải tha. Người kia phải hy sinh. Người kia phải chịu khó. Nhưng Đức Giêsu không bảo ta đặt thập giá lên vai anh em. Người hỏi về thập giá của chính ta. Có thể thập giá hôm nay của tôi rất đơn giản: xin lỗi một người mà tôi đã làm tổn thương. Gọi điện cho cha mẹ sau nhiều ngày lạnh nhạt. Im đi trước một chuyện tôi đang muốn kể để hạ người khác. Hoàn thành trách nhiệm mà tôi vẫn trì hoãn. Chấp nhận một người trong cộng đoàn có tính cách khác mình. Bỏ một thói quen xấu. Dành thời gian cho gia đình. Trở về tòa giải tội. Ngồi lại với Chúa. Không phải lúc nào Thập Giá cũng là một biến cố lớn. Nhiều Thập Giá được làm bằng những mảnh gỗ rất nhỏ của đời thường.
Có điều lạ là khi nhìn quá lâu vào thập giá của mình, ta dễ tuyệt vọng; nhưng khi nhìn thập giá của mình trong ánh sáng Thập Giá Đức Kitô, ta lại có sức. Vì cây thập giá của ta không còn là một vật vô nghĩa. Nó được đặt cạnh cây Thập Giá của Người. Một giọt nước mắt có thể vô nghĩa nếu chỉ rơi xuống đất, nhưng khi được dâng cùng nước mắt Đức Kitô, nó thành một lời cầu nguyện. Một nỗi đau có thể làm ta khép lại, nhưng nếu được đặt trong tay Chúa, nó có thể thành nơi trái tim được thanh luyện. Một mất mát có thể chỉ còn là khoảng trống, nhưng nếu ta để Chúa bước vào, khoảng trống ấy có thể trở thành nơi ta học được sự mong manh và biết yêu những gì còn lại sâu hơn.
Chúng ta không được lãng mạn hóa đau khổ. Có những đau khổ cần phải được chữa trị. Có những bất công cần phải được chống lại. Có những tình trạng bạo hành cần phải rời khỏi chứ không được dùng câu “vác thập giá” để bắt nạn nhân cam chịu. Đức Giêsu không tôn thờ đau khổ; Người tôn thờ Chúa Cha và yêu con người. Người chữa bệnh, giải thoát người bị áp bức, bênh vực người yếu thế. Vì thế, nói về Thập Giá đúng nghĩa không bao giờ là dùng tôn giáo để hợp thức hóa cái ác. Vác thập giá không phải là để người khác tùy tiện đóng đinh ta. Nhưng khi đã làm hết điều đúng đắn mà vẫn có những đau khổ không thể tránh, khi trung thành với chân lý phải trả giá, khi yêu thương buộc ta phải hy sinh, khi thực tại không thể thay đổi ngay, thì người môn đệ không tuyệt vọng. Họ mang điều đó đi với Đức Kitô.
Càng đi lâu với Chúa, ta càng hiểu một điều: điều làm đời ta thánh không phải là có một cuộc đời không đau, mà là để Chúa có mặt trong mọi điều. Có những người sống rất nhiều đau khổ nhưng không trở nên thánh vì họ khép lại trong hận thù. Có những người chỉ gặp những thập giá rất bình thường nhưng đón nhận chúng với tình yêu và trở nên rất đẹp trước mặt Chúa. Nên thánh không nhất thiết là làm điều phi thường. Nhiều khi chỉ là làm những điều bình thường với một tình yêu được đóng đinh khỏi cái tôi.
Và đó có lẽ là điều chúng ta cần xin hôm nay: không phải xin biết thêm một điều về Đức Kitô, nhưng xin biết chính Đức Kitô. Biết Người trong cầu nguyện, nhưng cũng biết Người trong những lần ta phải nhẫn nhịn. Biết Người nơi bàn thờ, nhưng cũng biết Người trong người làm ta khó chịu. Biết Người trong Thánh Thể, nhưng cũng biết Người khi phải bẻ chính đời mình ra như tấm bánh cho người khác. Biết Người khi hát Alleluia, nhưng cũng biết Người trong ngày không hát nổi một câu nào. Biết Người trên núi Tabor, nhưng cũng biết Người trên đồi Canvê. Biết Người khi lời cầu nguyện được nhận lời, và biết Người cả lúc trời dường như im lặng.
Có lẽ đến cuối đời, Thiên Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận về đạo, nhưng sẽ hỏi ta đã yêu thế nào. Không hỏi ta đã nói bao nhiêu về Thập Giá, nhưng ta đã mang những thập giá đời mình ra sao. Không hỏi ta biết bao nhiêu câu Kinh Thánh, nhưng Lời đã trở thành thịt trong đời ta đến mức nào. Không hỏi ta đã chỉ cho người khác bao nhiêu con đường, nhưng chính ta có đi sau Đức Kitô hay không.
Và khi mọi kiến thức phai đi, mọi danh hiệu ở lại phía sau, mọi điều ta sở hữu đều được trao lại, điều còn lại là một khuôn mặt: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Đấng ta đã tìm kiếm cả đời. Đấng ta từng gặp trong mỗi lần tha thứ, mỗi lần hy sinh, mỗi giọt nước mắt được dâng, mỗi lần đứng dậy sau vấp ngã, mỗi việc nhỏ làm vì yêu. Lúc ấy, ta sẽ hiểu rằng câu “không biết gì ngoài Đức Kitô chịu đóng đinh” không phải là sự nghèo nàn của tri thức, nhưng là sự viên mãn của một đời đã tìm thấy tâm điểm. Biết Người là đủ, vì trong Người ta biết Thiên Chúa là Tình Yêu. Biết Người là đủ, vì trong Người ta hiểu con người đáng giá đến mức Thiên Chúa dám chết cho mình. Biết Người là đủ, vì từ Thập Giá của Người ta học cách sống, cách yêu, cách tha thứ, cách chịu đựng, cách chết và cả cách hy vọng.
Xin cho chúng ta đừng chỉ đeo Thánh Giá mà không mang Thập Giá. Đừng chỉ hôn kính Thánh Giá mà lại tránh mọi hy sinh. Đừng chỉ rước Đấng chịu đóng đinh vào lòng rồi ra ngoài đóng đinh nhau bằng lời nói. Đừng chỉ cúi mình trước Thánh Giá trong nhà thờ rồi lại ngẩng cao cái tôi trước anh em. Xin cho mỗi lần nhìn lên Thập Giá, ta nghe lại lời ấy: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Và xin cho ta đủ khiêm tốn để lui lại đằng sau Người, đủ can đảm để bước theo, đủ tình yêu để không bỏ cuộc, đủ đức tin để tin rằng con đường đi qua Thập Giá không dừng lại ở mồ đá, nhưng dẫn đến bình minh Phục Sinh.
Cuối cùng, điều quan trọng không phải là đời ta có bao nhiêu thập giá. Điều quan trọng là trên những thập giá ấy có Đức Kitô hay không. Nếu không có Người, một vết đau rất nhỏ cũng có thể làm ta gục. Nếu có Người, ngay cả một con đường dài đầy nước mắt vẫn có thể trở thành đường về nhà. Người không hứa ta sẽ không khóc, nhưng Người giữ từng giọt nước mắt. Người không hứa ta sẽ không ngã, nhưng Người dạy ta đứng lên. Người không hứa không có thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng Người bảo đảm rằng thứ Sáu Tuần Thánh không phải ngày cuối cùng. Và bởi vậy, giữa một thế giới muốn biết mọi thứ, muốn giải thích mọi thứ, muốn kiểm soát mọi thứ, người Kitô hữu có thể bình an mà nói: điều tôi cần biết nhất, điều tôi muốn biết đến tận cùng, điều tôi muốn khắc vào trí, giữ trong tim và sống bằng cả đời mình, đó là Đức Giêsu Kitô, và là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh.
Lm. Anmai, CSsR

KHI THẬP GIÁ TRỞ THÀNH TRUNG TÂM CỦA ĐỜI MÌNH
Tin Mừng: Lc 9,23-25
“Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.”
Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng như đã quá quen, quen đến mức người ta có thể đọc mà không còn giật mình, nghe mà không còn thấy lòng mình bị đụng chạm. “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Chúng ta đã nghe câu ấy biết bao lần. Trên tường nhà có Thánh Giá. Trên bàn thờ có Thánh Giá. Trên cổ người tín hữu có Thánh Giá. Trong nhà thờ, trong nghĩa trang, trong các cuộc rước, trong những giờ kinh, đâu đâu cũng thấy hình Thánh Giá. Nhưng điều đáng sợ không phải là chúng ta không có Thánh Giá trước mắt; điều đáng sợ hơn là Thánh Giá có thể hiện diện khắp nơi mà lại không còn ở trung tâm đời mình. Thánh Giá có thể ở trên bàn thờ nhưng không ở trong những quyết định của ta. Thánh Giá có thể treo trước ngực nhưng chưa đi vào cách ta cư xử. Thánh Giá có thể được hôn kính vào Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng khi bước ra khỏi nhà thờ, ta lại sống như thể con đường cứu độ không hề đi qua hy sinh, từ bỏ, nhẫn nại và yêu thương đến cùng. Vì thế, lời Chúa hôm nay không chỉ nhắc chúng ta “vác thập giá”, nhưng còn nhấn mạnh một từ rất nhỏ mà rất nặng: “hằng ngày.” Không phải một lần. Không phải trong những biến cố lớn lao. Không phải chỉ khi gặp bệnh nặng, tang chế, thất bại hay tai họa. Nhưng là hằng ngày. Mỗi ngày. Ngày nào cũng có một thập giá. Ngày nào cũng có một điều phải bỏ mình. Ngày nào cũng có một chỗ để ta lựa chọn giữa ý mình và ý Chúa, giữa cái tôi và tình yêu, giữa dễ dãi và trung thành, giữa bỏ cuộc và bước tiếp. Và chính ở đó, câu hỏi quan trọng nhất của đời Kitô hữu được đặt ra: Thập Giá có thật sự là trung tâm đời tôi hay chỉ là một biểu tượng đạo đức bên ngoài đời tôi?
Người ta thường nghĩ đến thập giá như một điều gì đó bất thường, đau đớn, nặng nề và không mong muốn. Nói đến thập giá là nghĩ đến bệnh tật, nghèo khổ, bị phản bội, mất mát, cô đơn, thất bại. Những điều ấy quả thật có thể là thập giá. Nhưng nếu chỉ hiểu thập giá như những tai họa xảy đến, ta vẫn chưa hiểu hết lời Chúa. Bởi Chúa không nói: “Ai gặp đau khổ thì chịu đựng.” Chúa nói: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Như thế, thập giá trước hết không phải là chuyện gì xảy đến với ta, mà là một chọn lựa của người môn đệ. Đó là chọn theo Chúa ngay cả khi phải trả giá. Đó là chấp nhận để cái tôi của mình nhỏ đi để tình yêu lớn lên. Đó là biết mình có thể nói một lời làm người khác đau nhưng chọn im lặng. Có thể trả đũa nhưng chọn tha thứ. Có thể bỏ mặc nhưng chọn ở lại. Có thể tìm phần lợi cho mình nhưng chọn nhường phần tốt cho người khác. Có thể sống dễ dãi nhưng chọn trung tín. Có thể sống một đời chỉ xoay quanh bản thân nhưng chọn trao đời mình cho Chúa và cho anh em. Thập giá không phải chỉ là những cây đinh đóng vào tay chân; đôi khi thập giá là việc phải đóng đinh lòng kiêu ngạo của mình. Không phải chỉ là vòng gai trên đầu; đôi khi là chấp nhận người khác không hiểu mình mà vẫn không cay độc. Không phải chỉ là ngọn giáo đâm cạnh sườn; đôi khi là chịu một vết thương rất sâu mà vẫn không để vết thương ấy biến mình thành người làm đau người khác.
Thập Giá trở thành trung tâm đời mình khi người ta bắt đầu nhìn mọi sự từ Thập Giá của Đức Kitô. Người đời hỏi: “Tôi được gì?” Thập Giá hỏi: “Tôi có thể cho gì?” Người đời hỏi: “Ai phải phục vụ tôi?” Thập Giá hỏi: “Tôi có thể phục vụ ai?” Người đời hỏi: “Tại sao tôi phải chịu?” Thập Giá hỏi: “Tôi có thể biến điều mình đang chịu thành tình yêu thế nào?” Người đời nói: “Nếu họ làm tôi đau, tôi sẽ làm họ đau hơn.” Đức Kitô trên Thập Giá lại nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người đời nói: “Giữ lấy mạng sống mình bằng mọi giá.” Đức Giêsu nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” Đây là nghịch lý lớn nhất của Tin Mừng. Người ta tưởng giữ thật chặt thì sẽ còn, nhưng nhiều khi càng giữ càng mất. Giữ cái tôi quá chặt thì mất tình thân. Giữ tự ái quá chặt thì mất bình an. Giữ tiền bạc quá chặt thì mất khả năng quảng đại. Giữ quyền lợi quá chặt thì mất anh em. Giữ hình ảnh của mình quá chặt thì mất sự thật. Giữ một nỗi oán hận quá chặt thì cuối cùng chính mình trở thành tù nhân của người đã làm mình đau. Chúa Giêsu chỉ cho ta một con đường khác: dám mất để được, dám chết cho cái tôi để sự sống của tình yêu nảy sinh, dám buông điều không thuộc về Thiên Chúa để giữ được điều không ai lấy mất.
Có lẽ chúng ta không sợ Thánh Giá lớn cho bằng sợ những thập giá nhỏ lặp đi lặp lại mỗi ngày. Một biến cố lớn đôi khi còn khiến người ta can đảm, vì có nhiều người biết, nhiều người nâng đỡ, nhiều lời khích lệ. Nhưng “thập giá hằng ngày” thường rất âm thầm. Không ai vỗ tay khi một người vợ tiếp tục chăm sóc chồng lúc bệnh tật kéo dài. Không ai biết hết sự nhẫn nại của một người chồng đi làm mệt mỏi nhưng về nhà vẫn cố dịu dàng với vợ con. Không ai nhìn thấy bao lần một người mẹ nuốt nước mắt để không làm con thêm nặng lòng. Không ai biết những đêm một người cha trằn trọc vì nợ nần nhưng sáng ra vẫn bình tĩnh với gia đình. Không ai thấy một linh mục nhiều lúc mệt mỏi, chạnh lòng, cô đơn mà vẫn bước lên bàn thờ, vẫn ngồi tòa giải tội, vẫn đi thăm người bệnh, vẫn nghe người khác kể những nỗi đau của họ trong khi chính mình cũng đang mang những nỗi đau không biết kể với ai. Không ai thấy một tu sĩ giữ lời khấn trong những ngày chẳng còn cảm xúc sốt sắng. Không ai biết một người trẻ đã phải chiến đấu bao nhiêu lần để sống trong sạch giữa một thế giới luôn mời gọi dễ dãi. Không ai thấy một người đang nóng giận đã phải cố gắng thế nào để không buông ra một câu xúc phạm. Những điều đó nhỏ thôi. Nhưng chính những điều nhỏ ấy làm nên thập giá hằng ngày. Và chính những thập giá hằng ngày ấy, nếu được vác với Chúa, sẽ âm thầm làm nên một đời thánh thiện.
Vấn đề của chúng ta nhiều khi không phải là không có thập giá, mà là luôn muốn đổi thập giá của mình lấy thập giá của người khác. Người độc thân nghĩ: giá mà có gia đình thì chắc đỡ cô đơn. Người có gia đình lại có lúc nghĩ: giá mà sống một mình chắc đỡ mệt. Người nghèo nghĩ: có tiền là hết khổ. Người giàu lại có những nỗi lo mà tiền không mua được bình an. Người trẻ mong mau trưởng thành để được tự do. Người lớn tuổi lại ước gì quay về thời trẻ. Người đang ở một cộng đoàn thấy cộng đoàn khác có vẻ dễ sống hơn. Người ở giáo xứ này nghĩ nơi khác chắc bình an hơn. Chúng ta cứ tưởng thập giá nằm ở hoàn cảnh, nên chỉ cần đổi hoàn cảnh là xong. Nhưng rất nhiều lần, đi đâu ta cũng mang theo chính mình. Cái tôi không đổi thì đổi chỗ cũng vẫn khổ. Lòng tham không đổi thì có thêm vẫn thiếu. Tính nóng không đổi thì gặp ai cũng dễ va chạm. Sự kiêu ngạo không đổi thì ở đâu cũng thấy người khác làm mình khó chịu. Vì thế Chúa nói rất rõ: “phải từ bỏ mình.” Trước khi nói đến thập giá, Chúa nói đến từ bỏ mình. Đây chính là gốc. Có những thập giá do hoàn cảnh đem đến, nhưng cũng có rất nhiều thập giá do cái tôi của ta tạo ra. Ta khổ vì muốn người khác phải nghĩ như ta. Ta khổ vì muốn ai cũng phải hiểu mình. Ta khổ vì muốn mọi chuyện phải diễn ra đúng kế hoạch. Ta khổ vì không chấp nhận việc mình bị quên, bị xem thường, bị vượt qua. Ta khổ vì luôn so sánh. Ta khổ vì cứ đòi cuộc đời phải đối xử công bằng theo cách của mình. Và nhiều khi, cây thập giá nặng nhất không nằm trên vai ta mà nằm ngay trong lòng ta: đó là cái tôi quá lớn.
“Từ bỏ mình” không phải là ghét bản thân, coi thường phẩm giá mình hay để cho người khác chà đạp. Tin Mừng không bao giờ dạy con người hủy hoại bản thân. Từ bỏ mình là từ bỏ cái tôi ích kỷ, cái tôi muốn đứng ở trung tâm, cái tôi muốn tất cả phục vụ mình, cái tôi luôn đúng, cái tôi khó xin lỗi, cái tôi muốn hơn người. Một người càng bám lấy cái tôi ấy càng khó yêu. Bởi tình yêu luôn đòi có chỗ cho người khác. Muốn có chỗ cho người khác, phải bớt một phần chỗ của mình. Muốn lắng nghe, phải bớt nói. Muốn hiểu, phải bớt phán xét. Muốn tha thứ, phải bớt đòi trả công bằng theo ý mình. Muốn phục vụ, phải bớt tìm tiện nghi. Muốn trung thành với Chúa, phải bớt thỏa hiệp với những điều kéo ta xa Chúa. Đó là từ bỏ mình. Không ồn ào. Không cần ai biết. Nhưng rất thật.
Có một điều dễ khiến người tín hữu nản lòng: ta tưởng rằng một khi đã chọn theo Chúa thì thập giá phải nhẹ đi. Nhưng Chúa chưa bao giờ hứa như vậy. Chúa không nói: “Theo Ta rồi, con sẽ không còn đau.” Chúa nói: “Hãy vác thập giá mà theo.” Điểm khác biệt của người tin không phải là không còn thập giá, nhưng là không còn vác một mình. Đây là điều làm thay đổi tất cả. Một cây thập giá mà không có Đức Kitô rất dễ trở thành tuyệt vọng. Nhưng một cây thập giá có Đức Kitô lại có thể trở thành con đường Phục Sinh. Đau khổ tự nó không cứu độ ai. Bệnh tật tự nó không làm người ta thánh. Nghèo khổ tự nó cũng không làm người ta tốt. Có người đau khổ rồi trở nên cay đắng hơn. Có người bị tổn thương rồi đi làm tổn thương người khác. Có người gặp thử thách rồi xa Chúa. Nhưng khi đau khổ được kết hợp với tình yêu của Đức Kitô, khi người ta nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con xin đi cùng Chúa,” thì chính nơi tưởng như chỉ có mất mát lại có thể nảy sinh hoa trái. Thập giá không thánh vì nó đau. Thập giá thánh vì Đức Kitô đã yêu trên đó. Và thập giá đời ta cũng chỉ có ý nghĩa khi ta học yêu trong những điều mình phải chịu.
Nếu Thập Giá thật sự là trung tâm đời ta, chúng ta sẽ không còn coi thành công là tiêu chuẩn cuối cùng của một đời người. Bởi nhìn lên Đức Giêsu trên Canvê, nếu chỉ nhìn theo mắt thế gian thì đó là một thất bại hoàn toàn: môn đệ bỏ chạy, dân chúng chế giễu, quyền lực tôn giáo và chính trị lên án, thân thể bị đóng đinh, chẳng còn gì trong tay. Nhưng chính giờ ấy lại là giờ cứu độ. Chính nơi con người tưởng Chúa mất tất cả lại là nơi Người trao ban tất cả. Điều này an ủi chúng ta rất nhiều. Có những giai đoạn ta tưởng đời mình chẳng còn giá trị vì không làm được gì lớn lao. Tuổi già đến, sức yếu. Bệnh tật khiến ta lệ thuộc. Một dự án thất bại. Một ước mơ không thành. Một chức vụ khép lại. Một người từng được nhiều người cần đến nay thấy mình ít được nhắc tên. Nếu tiêu chuẩn của đời ta là thành tích, ta sẽ rất buồn. Nhưng nếu Thập Giá là trung tâm, ta sẽ hiểu rằng giá trị sâu nhất của đời người không nằm ở chỗ ta làm được bao nhiêu, nhưng ở chỗ ta yêu được bao nhiêu. Có những người nằm trên giường bệnh chẳng còn làm được gì, nhưng một lời cầu nguyện âm thầm của họ có thể đẹp hơn rất nhiều công việc náo nhiệt. Có những người mẹ già chẳng còn sức giúp con cháu, nhưng chính sự hiện diện và lời kinh của bà giữ một mái nhà khỏi tan vỡ. Có những người chỉ còn biết chịu đau, nhưng nếu họ dâng nỗi đau ấy trong tình yêu, thì cuộc đời họ vẫn đang sinh hoa trái theo cách mắt người không nhìn thấy.
Thập Giá ở trung tâm cũng giúp ta biết cách đối diện với những vết thương do người khác gây ra. Trên Thập Giá, Đức Giêsu không phủ nhận sự ác. Người không nói những kẻ đóng đinh mình làm đúng. Người cũng không gọi phản bội là tình yêu, bất công là công lý. Nhưng Người không để sự ác của họ biến Người thành kẻ ác. Đây là một trong những bài học khó nhất. Ta thường cho phép hành động của người khác quyết định con người mình. Họ lạnh nhạt thì ta lạnh nhạt. Họ nói xấu thì ta nói xấu. Họ làm tổn thương thì ta tìm cách làm đau lại. Họ không chào thì ta cũng quay mặt. Họ không tử tế thì ta thấy mình có quyền thôi tử tế. Như thế, người kia đã điều khiển trái tim ta. Nhưng Đức Giêsu thì không. Người vẫn yêu khi bị ghét. Vẫn tha khi bị đóng đinh. Vẫn trao Mẹ mình cho người môn đệ trong lúc chính Người đang hấp hối. Khi Thập Giá thành trung tâm, ta sẽ hiểu rằng người khác có thể làm ta đau, nhưng họ không có quyền quyết định ta sẽ trở thành loại người nào. Ta có thể bị đối xử bất công mà vẫn chọn công chính. Có thể bị phản bội mà vẫn không trở thành kẻ phản bội. Có thể bị nói xấu mà vẫn không dùng miệng mình để hủy danh dự người khác. Đó không phải yếu đuối. Đó là sức mạnh của người để Thập Giá thống trị trái tim mình.
“Hằng ngày.” Chúa nói rất cụ thể. Vì đời sống thiêng liêng không được quyết định bởi một vài khoảnh khắc cao trào, mà bởi cách ta sống những ngày bình thường. Có những người rất cảm động trong một kỳ tĩnh tâm, nhưng vài hôm sau đâu lại vào đấy. Có người khóc trước Thánh Giá trong Tuần Thánh, nhưng về nhà vẫn không chịu nói một lời xin lỗi. Có người cầu nguyện rất dài nhưng chẳng chịu nhường một câu trong tranh luận. Có người làm nhiều việc đạo đức nhưng lại khắt khe với người sống bên cạnh. Như thế, Thánh Giá vẫn còn ở ngoài cửa. Vác thập giá “hằng ngày” là đưa Tin Mừng vào những việc bình thường nhất: cách nói chuyện với người trong nhà, cách đối xử với người làm công, cách trả một món nợ, cách dùng tiền, cách lái xe ngoài đường, cách phản ứng khi bị góp ý, cách cư xử khi mình không được tôn trọng, cách sống khi không có ai quan sát. Chính trong những chuyện nhỏ ấy, ta biết Thập Giá có thực sự ở trung tâm không.
Có một thập giá rất nặng của thời đại hôm nay: không được sống theo ý mình hoàn toàn. Con người hiện đại quen nghe rằng muốn gì thì làm, thích gì thì chọn, miễn mình thấy dễ chịu. Nhưng đời Kitô hữu không thể đặt cảm xúc làm trung tâm. Trung tâm là Đức Kitô. Có những ngày ta không thích cầu nguyện, nhưng vẫn cầu nguyện vì trung thành. Có những lúc không thích tha thứ, nhưng vẫn chọn không nuôi hận. Có lúc không thích phục vụ, nhưng vẫn phục vụ vì đó là bổn phận của tình yêu. Có lúc không cảm thấy Chúa gần, nhưng vẫn dự lễ, vẫn giữ lời cầu nguyện. Có lúc đời sống hôn nhân không còn những cảm xúc nồng nàn ban đầu, nhưng vẫn trung thành vì tình yêu trưởng thành không chỉ sống bằng cảm xúc. Có lúc đời tu khô khan, nhưng người tu sĩ vẫn ở lại vì biết mình đã trao đời cho Ai. “Hằng ngày” nghĩa là không đợi lòng mình thuận lợi rồi mới theo Chúa. Nếu phải chờ mọi sự thuận lợi mới trung thành, sẽ chẳng có ai trung thành lâu.
Thập Giá ở trung tâm đời sống còn giúp ta phân biệt điều gì đáng giữ và điều gì cần buông. Có những thứ ta giữ quá lâu: một câu nói người khác đã nói mười năm trước, một sự xúc phạm nhỏ, một thất bại, một mối ghen tị, một so sánh, một tiếc nuối. Ta mang chúng như những món đồ cũ trong tâm hồn, càng ngày càng nặng. Trong khi đó, có những thứ đáng giữ thì ta lại dễ buông: lời cầu nguyện, lòng nhân hậu, sự trung tín, tình gia đình, bổn phận. Đức Giêsu nói một câu nghe nghịch lý: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất.” Có những điều càng giữ càng mất thật. Cứ giữ tự ái thì mất người thân. Cứ giữ oán hờn thì mất bình an. Cứ giữ sự hơn thua thì mất tình bạn. Cứ giữ tham vọng vô độ thì mất chính mình. Còn khi dám mất một phần cái tôi, ta lại tìm được con người thật của mình. Dám xin lỗi, ta tưởng mình mất mặt nhưng lại được người. Dám tha thứ, ta tưởng mình thua nhưng lại được tự do. Dám cho đi, ta tưởng mình nghèo đi nhưng lòng lại giàu lên. Tin Mừng luôn có một thứ toán học rất lạ: mất mà được, chết mà sống, cho mà nhận, cúi xuống mà được nâng lên.
Người tín hữu không đi tìm đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta không tự tạo thập giá cho mình hay cho người khác. Có những đau khổ phải được chữa trị, có những bất công phải được chống lại, có những hoàn cảnh độc hại phải được thay đổi. Không phải hễ đau là “thập giá Chúa gửi” rồi cam chịu một cách mù quáng. Nhưng có một điều không thể tránh: dù sống khôn ngoan đến đâu, ta vẫn sẽ gặp giới hạn, mất mát, trái ý, bệnh tật, tuổi già và cuối cùng là cái chết. Và trong vô số những điều ấy, người Kitô hữu có một lựa chọn: hoặc vác chúng trong cô độc và cay đắng, hoặc mang chúng vào trong Thập Giá Đức Kitô để chúng được biến đổi bởi tình yêu.
Điều đẹp nhất của Thập Giá không phải là cây gỗ, mà là Đấng đang ở trên đó. Nếu chỉ nhìn cây gỗ, ta chỉ thấy đau. Nhìn Đức Kitô, ta thấy tình yêu. Nếu chỉ nhìn đinh, ta thấy bạo lực. Nhìn Đức Kitô, ta thấy sự hiến mình. Nếu chỉ nhìn máu, ta thấy cái chết. Nhìn Đức Kitô, ta thấy sự sống đang được trao ban. Vì thế, điều quan trọng không phải chỉ là chấp nhận thập giá, mà là theo Chúa trong khi vác thập giá. Có người vác rất nhiều đau khổ nhưng không theo Chúa, nên càng vác càng mệt, càng đau càng cứng lòng. Người môn đệ thì khác: không chỉ hỏi “Con đang đau thế nào?” nhưng hỏi “Chúa đang đi đâu trong nỗi đau này, và con có còn đi theo Người không?” Chúa không đứng bên ngoài mà chỉ tay bảo ta vác. Người đã vác trước. Người đã té ngã. Người đã bị khinh chê. Người đã cô đơn. Người đã nếm sự phản bội. Người đã cầu nguyện trong hoảng sợ ở Ghếtsêmani. Người hiểu từng giọt nước mắt của ta không phải bằng lý thuyết mà bằng chính thân phận đã chịu đau. Vì thế, khi Chúa nói “theo Ta”, ta có thể tin Người. Con đường ấy khó, nhưng Người đã đi qua.
Một ngày nào đó, mỗi chúng ta sẽ hiểu rằng những điều quan trọng nhất của đời mình không phải là những lúc được ca tụng, mà có thể chính là những lúc âm thầm vác thập giá. Một lời nhịn đi đã cứu một gia đình khỏi cãi vã. Một lần hạ mình xin lỗi đã giữ lại một tình bạn. Một năm dài kiên trì chăm sóc người bệnh đã trở thành bài giảng đẹp nhất về tình yêu. Một người mẹ cầu nguyện nhiều năm cho đứa con đi xa Chúa có thể đã vác một thập giá mà không ai thấy. Một người chồng kiên nhẫn với người vợ đang khủng hoảng. Một người con không bỏ cha mẹ già. Một người bị hiểu lầm nhưng không trả đũa. Một người chịu bệnh tật mà không ngừng tin. Những điều ấy thế gian ít ghi nhận. Nhưng có lẽ trên trời, đó lại là những trang sáng nhất.
Thập Giá trở thành trung tâm đời mình khi ta không còn hỏi Chúa chỉ một câu: “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra?” mà bắt đầu hỏi thêm: “Lạy Chúa, trong chuyện này, Chúa muốn con yêu thế nào?” Câu hỏi thứ nhất là câu hỏi tự nhiên của con người. Chúa không cấm ta hỏi. Đức Giêsu trên Thập Giá cũng từng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Nhưng nếu chỉ dừng ở “tại sao”, ta rất dễ mắc kẹt. Có những điều đời này không có câu trả lời trọn vẹn. Một đứa trẻ mất sớm. Một người lành gặp tai họa. Một gia đình tan vỡ. Một căn bệnh bất ngờ. Có những “tại sao” phải mang đến tận cửa thiên đàng. Nhưng trong khi chưa có câu trả lời, ta vẫn có thể hỏi: “Con phải sống thế nào từ đây?” Đó là lúc Thập Giá không còn chỉ là biến cố xảy đến, mà trở thành con đường.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chúng con đã quá quen nhìn Thánh Giá đến mức có khi quên rằng Thánh Giá là cả một cách sống. Xin đừng để chúng con chỉ mang Thánh Giá trên cổ mà không mang trong lòng. Đừng để chúng con chỉ cúi đầu trước Thánh Giá trong nhà thờ mà lại chạy trốn mọi hy sinh trong đời thường. Đừng để chúng con chỉ yêu Thánh Giá được chạm trổ đẹp đẽ mà lại ghét những thập giá Chúa cho phép hiện diện qua những con người khó thương, những bổn phận nhàm chán, những giới hạn của tuổi già, những ngày bệnh tật, những hiểu lầm, những điều trái ý. Xin cho chúng con hiểu rằng theo Chúa không phải là tìm một con đường không có Thập Giá, nhưng là học đi trên chính con đường Chúa đã đi. Xin cho chúng con nhớ hai chữ “hằng ngày”. Hôm nay thôi. Không cần hứa rằng con sẽ mạnh suốt đời. Chỉ xin cho con đủ sức mang thập giá hôm nay. Ngày mai, xin Chúa lại ban ơn cho ngày mai. Khi mệt, cho con tựa vào Chúa. Khi ngã, cho con đứng lên. Khi không hiểu, cho con vẫn tin. Khi đau, cho con đừng làm người khác đau theo. Khi bị bỏ rơi, cho con đừng bỏ rơi người khác. Khi mất mát, cho con đừng mất Chúa. Và khi phải chọn giữa việc giữ lấy cái tôi và giữ lấy tình yêu, xin cho con biết chọn tình yêu.
Đời người rồi sẽ qua rất nhanh. Những điều hôm nay ta tranh giành, mai kia người khác sẽ cầm. Những vị trí ta cố giữ rồi cũng có người thay. Những lời khen rồi cũng tan. Tiền bạc để lại. Danh tiếng phai đi. Thân xác trở về bụi đất. Chúa hỏi: “Người ta được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?” Đây là câu hỏi rất đáng sợ nhưng cũng rất cần thiết. Ta có thể thành công trong mắt mọi người mà thất bại trong linh hồn. Có thể sở hữu rất nhiều nhưng không sở hữu nổi bình an. Có thể được cả thế gian biết tên nhưng tên mình lại chẳng được ghi bằng tình yêu trong những người gần nhất. Có thể xây nhiều công trình nhưng không xây nổi một mái ấm. Có thể nói nhiều về đạo nhưng không sống được một chút tinh thần Thập Giá. Cuối cùng, điều còn lại không phải ta đã giữ được bao nhiêu, nhưng ta đã trao ban bao nhiêu.
Khi Thập Giá trở thành trung tâm của đời mình, ta không còn xem hy sinh là mất mát vô nghĩa. Ta biết rằng mỗi hy sinh vì yêu đều có sức sinh hoa trái. Ta không còn sợ bị nhỏ đi, vì biết Đức Kitô đã tự hạ đến cùng. Ta không còn tuyệt vọng khi đời không như ý, vì Canvê cho ta biết rằng Thiên Chúa vẫn có thể viết Phục Sinh ngay sau trang tưởng như đen tối nhất. Ta không còn đòi một đời không đau, nhưng xin một trái tim biết yêu trong đau. Ta không còn xin Chúa lấy hết thập giá đi, nhưng xin Chúa đừng để ta vác thập giá ngoài Chúa. Và rồi, từng ngày một, rất chậm, rất âm thầm, ta sẽ hiểu ra rằng Thập Giá không hủy hoại cuộc đời mình. Chính cái tôi ích kỷ mới hủy hoại đời ta. Thập Giá, nếu được mang cùng Đức Kitô, lại cứu đời ta khỏi sự trống rỗng, cứu tình yêu khỏi ích kỷ, cứu đức tin khỏi hời hợt, cứu trái tim khỏi chỉ biết sống cho mình.
Xin cho đến một ngày, khi nhìn lại cả đời, chúng ta có thể không nói rằng mình đã sống một đời dễ dàng, nhưng có thể nói rằng mình đã không bỏ Chúa giữa đường. Không phải mọi thập giá đều đã được cất đi, nhưng nhờ từng thập giá ấy, ta đã gần Chúa hơn. Không phải mọi lời cầu đều được đáp theo ý mình, nhưng trái tim đã được biến đổi. Không phải mọi vết thương đều biến mất, nhưng không vết thương nào còn đủ sức làm ta thôi yêu. Và khi ấy, Thập Giá không còn là vật treo trên tường. Thập Giá đã trở thành nhịp tim của đời mình. Một đời biết chết đi mỗi ngày cho cái tôi để tình yêu được sống. Một đời biết mất đi những điều chóng qua để giữ lấy điều đời đời. Một đời có thể nhiều nước mắt, nhưng không vô nghĩa. Một đời có thể nhiều hy sinh, nhưng không uổng phí. Một đời đi sau Đức Kitô, từng bước, từng ngày, từng thập giá nhỏ, cho đến khi con đường Thập Giá dẫn ta vào ánh sáng Phục Sinh không bao giờ tàn.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – ĐIỀU THẾ GIAN CHO LÀ YẾU ĐUỐI LẠI LÀ SỨC MẠNH CỦA THIÊN CHÚA
Tin Mừng: Mt 27,39-44
Có lẽ chưa bao giờ con người lại thấy Thiên Chúa có vẻ yếu đuối như trên đồi Canvê. Một Đức Giêsu đã từng làm cho sóng gió im lặng, đã từng truyền cho người bất toại đứng lên, đã từng mở mắt người mù, đã từng gọi Lazarô từ trong mồ bước ra, đã từng khiến đám đông kinh ngạc vì quyền năng của Người, giờ đây lại bị đóng chặt vào một cây gỗ. Hai bàn tay từng chạm đến những người phong cùi nay bị đinh xuyên thủng. Đôi chân từng đi khắp các làng mạc để tìm những con người khốn khổ nay không còn có thể bước đi. Đôi môi từng truyền cho biển phải yên nay khô khốc. Một con người đã cứu biết bao kẻ khác giờ đây dường như không thể tự cứu mình. Và chính trong hoàn cảnh ấy, những lời chế nhạo vang lên: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Những kẻ qua đường lắc đầu. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng nhạo báng: “Hắn cứu được người khác mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Israel! Bây giờ cứ xuống khỏi thập giá đi, thì chúng ta tin hắn liền!” Cả những tên cướp cùng chịu đóng đinh cũng sỉ vả Người. Người ta tưởng mình đang đứng trước một Thiên Chúa thất bại. Người ta tưởng Thập Giá là bằng chứng cho thấy Đức Giêsu không có quyền năng như Người đã nói. Người ta tưởng rằng nếu Người thật sự là Con Thiên Chúa thì chỉ cần một phép lạ, chỉ cần một cử động, chỉ cần một lời, những cây đinh sẽ bật tung, Thập Giá sẽ đổ xuống, quân lính sẽ khiếp sợ, những kẻ chế nhạo sẽ quỳ mọp và mọi người sẽ phải nhìn nhận Người. Nhưng điều lạ lùng nhất của Canvê lại chính là thế này: Đức Giêsu có thể xuống khỏi Thập Giá, nhưng Người đã không xuống. Và chính việc Người không xuống mới là dấu chỉ lớn nhất cho thấy Người thật sự là Con Thiên Chúa.
Con người thường nghĩ rằng quyền lực là khả năng làm cho người khác phải phục tùng mình. Ai mạnh thì thắng. Ai mạnh thì không để người khác làm nhục mình. Ai mạnh thì phải chứng minh sức mạnh. Ai mạnh thì phải đáp trả khi bị xúc phạm. Ai mạnh thì không chịu thua. Ai mạnh thì phải bảo vệ danh dự bằng mọi giá. Đó là logic rất quen thuộc của thế gian. Vì thế, đứng dưới chân Thập Giá, người ta thách thức Đức Giêsu bằng đúng thứ logic ấy: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống đi!” Nói cách khác: nếu ông mạnh, hãy chứng minh sức mạnh; nếu ông có quyền, hãy dùng quyền; nếu ông là vua, hãy cho chúng tôi thấy quyền lực của ông; nếu ông là Con Thiên Chúa, đừng để người ta làm nhục ông như thế. Nhưng Đức Giêsu không bước vào trò chơi ấy. Người không cần chứng minh mình bằng cách thắng người khác. Người không cần chứng minh Thiên Chúa bằng một màn biểu diễn quyền lực. Người không xuống khỏi Thập Giá bởi vì Người đến không phải để cứu mình, nhưng để cứu chúng ta. Đây là điều chúng ta phải đứng thật lâu trước Thập Giá mới hiểu được: nếu Chúa xuống khỏi Thập Giá thì Người có thể cứu được chính mình, nhưng chúng ta sẽ không được cứu; vì Người không xuống nên Người đã cứu được cả nhân loại. Điều mà những người đứng dưới chân Thập Giá coi là bất lực lại chính là quyền năng cứu độ. Điều họ coi là thất bại lại chính là chiến thắng. Điều họ coi là yếu đuối lại chính là sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.
Chúa Giêsu không bị giữ lại trên Thập Giá chỉ bởi những cây đinh. Những cây đinh có thể giữ thân xác Người, nhưng không thể giữ được Đấng đã làm cho kẻ chết sống lại. Chúa ở lại trên Thập Giá vì một sức mạnh khác lớn hơn mọi cây đinh: sức mạnh của tình yêu. Không phải quân lính Rôma đủ mạnh để giữ Chúa trên đó. Không phải các thượng tế đủ quyền lực để giữ Chúa trên đó. Không phải những cây đinh đủ cứng để giữ Chúa trên đó. Chính tình yêu dành cho Chúa Cha và dành cho nhân loại đã giữ Người lại. Người ở đó bởi vì Người đã yêu “đến cùng”. Người ở đó bởi vì Người đã chọn trung thành đến cùng với sứ mạng cứu độ. Người ở đó bởi vì Người không muốn bỏ chúng ta giữa đường. Người ở đó bởi vì tình yêu thật không quay lưng khi cái giá phải trả trở nên quá lớn. Chúng ta thường nói yêu khi mọi sự còn thuận lợi. Nhưng Canvê cho chúng ta thấy tình yêu thật là gì. Tình yêu thật không chỉ là những lời dịu dàng. Tình yêu thật không chỉ là những cảm xúc đẹp. Tình yêu thật là khả năng ở lại khi người ta có đủ lý do để bỏ đi. Tình yêu thật là khả năng trung thành khi sự trung thành làm mình đau. Tình yêu thật là khả năng không trả thù ngay cả khi mình bị đối xử bất công. Tình yêu thật là khả năng không ngừng yêu ngay cả khi người mình yêu không còn xứng đáng với tình yêu ấy. Và đó chính là sức mạnh của Đức Kitô chịu đóng đinh.
Nếu chúng ta nhìn Thập Giá bằng đôi mắt của thế gian, chúng ta sẽ chỉ thấy một người bị đánh bại. Nhưng nếu nhìn bằng đôi mắt đức tin, chúng ta sẽ thấy một tình yêu không gì có thể đánh bại được. Người ta có thể lấy áo của Chúa, nhưng không lấy được tình yêu của Người. Người ta có thể đóng đinh tay chân Chúa, nhưng không đóng đinh được lòng thương xót. Người ta có thể làm thân xác Chúa chảy máu, nhưng không làm tình yêu của Người cạn kiệt. Người ta có thể chế nhạo Chúa, nhưng không biến Người thành kẻ thù của họ. Người ta có thể giết Chúa, nhưng không thể khiến Chúa ngừng yêu. Đó mới là quyền năng thật. Quyền năng của thế gian có thể khiến một người sợ hãi; quyền năng của Thiên Chúa có thể biến một kẻ thù thành người được tha thứ. Quyền năng của thế gian có thể nghiền nát thân xác; quyền năng của Thiên Chúa có thể cứu một linh hồn. Quyền năng của thế gian có thể bắt một người quỳ xuống bằng bạo lực; quyền năng của tình yêu khiến con người tự nguyện quỳ xuống vì được chạm đến tận đáy lòng.
Chúng ta thường mong một Thiên Chúa xuống khỏi Thập Giá hơn là một Thiên Chúa ở lại trên đó. Khi đau khổ đến, ta cũng thầm nói với Chúa: “Nếu Ngài là Thiên Chúa, xin làm cho chuyện này biến mất.” Khi bệnh tật đến: “Nếu Chúa yêu con, xin chữa con.” Khi gia đình gặp khủng hoảng: “Nếu Chúa quyền năng, xin giải quyết ngay.” Khi bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi, bị mất mát, ta muốn Chúa chứng minh quyền năng bằng cách thay đổi hoàn cảnh tức khắc. Và không ít lần, khi Chúa không làm điều ta mong, ta bắt đầu nghi ngờ: Chúa ở đâu? Chúa có thương tôi không? Chúa có quyền năng thật không? Câu hỏi dưới chân Thập Giá hai ngàn năm trước vẫn được lặp lại trong lòng chúng ta: “Nếu Ngài là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thập Giá đi.” Nhưng Thiên Chúa không phải lúc nào cũng chứng minh quyền năng bằng cách cất Thập Giá khỏi đời ta. Có những lúc quyền năng của Người được biểu lộ bằng cách cho ta sức mạnh để ở lại dưới Thập Giá mà không tuyệt vọng, mang Thập Giá mà không cay đắng, chịu đau mà không trở thành người độc ác, bị xúc phạm mà không để hận thù chiếm lấy trái tim. Có những phép lạ không phải là làm cho Thập Giá biến mất, mà là làm cho một con người đang mang Thập Giá vẫn còn có thể yêu.
Có người sau một lần bị phản bội đã không còn tin ai nữa. Có người sau một lần bị tổn thương đã trở nên khép kín. Có người vì từng bị xúc phạm mà dành cả đời để tìm cách trả đũa. Có người đau đến mức muốn làm cho người khác cũng phải đau. Có người thất bại một lần rồi cay cú với cuộc đời. Đó là lúc ta mới thấy sức mạnh thật không phải là không bị thương, nhưng là bị thương mà không trở thành người gây thương tích cho người khác. Chúa Giêsu trên Thập Giá là Đấng bị thương nhưng không làm ai bị thương. Người bị sỉ nhục nhưng không sỉ nhục lại. Người bị kết án nhưng không kết án. Người bị đóng đinh nhưng vẫn mở lòng tha thứ. Người có mọi lý do để nguyền rủa nhưng lại cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu hỏi sức mạnh của Thiên Chúa nằm ở đâu, thì đó chính là ở chỗ này: Thiên Chúa có thể chịu đựng sự dữ mà không để sự dữ biến Người thành sự dữ. Người chiến thắng sự dữ không bằng cách tạo ra một sự dữ lớn hơn, mà bằng một tình yêu lớn hơn.
Đây là điều rất khó đối với chúng ta. Bởi bản năng con người thường bảo rằng ai làm đau mình thì mình phải làm đau lại. Ai xúc phạm mình thì mình phải đáp trả. Ai hạ thấp mình thì mình phải chứng minh cho họ thấy mình không phải người dễ bắt nạt. Ai nói xấu mình thì mình phải nói cho thiên hạ biết sự thật về họ. Ai không tôn trọng mình thì mình cũng chẳng cần tôn trọng họ. Và cứ thế, thế gian tạo ra một vòng tròn của tổn thương: người bị thương trở thành người gây thương tích; người từng bị xúc phạm lại xúc phạm người khác; người từng bị bỏ rơi lại bỏ rơi người khác. Thập Giá của Đức Kitô chặn đứng vòng tròn ấy. Ở Đức Giêsu, đau khổ không sinh ra hận thù. Bất công không sinh ra trả thù. Phản bội không sinh ra cay độc. Cái chết không sinh ra tuyệt vọng. Tất cả đều được hấp thụ vào tình yêu và biến thành ơn cứu độ. Đó là lý do Thập Giá là sức mạnh của Thiên Chúa.
Có một nghịch lý của Tin Mừng mà ta phải mất cả đời mới hiểu: đôi khi người mạnh nhất lại là người có thể nhịn. Người mạnh nhất không phải người nói tiếng cuối cùng trong một cuộc cãi vã, mà là người biết dừng lại để giữ lấy một tương quan. Người mạnh nhất không phải là người có thể trả thù, mà là người có khả năng tha thứ. Người mạnh nhất không phải là người chưa bao giờ khóc, nhưng là người sau những giọt nước mắt vẫn còn đủ dịu dàng với người khác. Người mạnh nhất không phải là người chưa bao giờ ngã, mà là người biết đứng dậy mà không trở nên cay nghiệt. Người mạnh nhất không phải là người khiến mọi người sợ mình, mà là người khiến người khác cảm thấy an toàn khi ở bên. Đó là thứ sức mạnh hoàn toàn khác với thứ sức mạnh mà thế gian thường ca ngợi. Và chính sức mạnh ấy chúng ta nhìn thấy nơi Đức Kitô chịu đóng đinh.
Trong đời sống gia đình, biết bao lần chúng ta có thể “xuống khỏi Thập Giá”. Xuống khỏi Thập Giá nghĩa là bỏ cuộc. Một người chồng có thể nói: “Tôi chịu hết nổi rồi.” Một người vợ có thể nói: “Tôi không cần cố nữa.” Một người cha có thể buông tay trước một đứa con hư. Một người mẹ có thể mệt mỏi vì cầu nguyện bao năm mà con vẫn chưa thay đổi. Có những người đang âm thầm mang một Thập Giá gia đình mà chẳng ai biết. Có những người vợ sống bên một người chồng khó tính. Có những người chồng cố gắng bao nhiêu năm để gìn giữ gia đình. Có những bậc cha mẹ thức trắng vì đứa con nghiện ngập, lạc đường, chống đối. Có những người chăm sóc cha mẹ già, người bệnh, người khuyết tật suốt nhiều năm. Họ mỏi mệt. Họ cũng có những giây phút muốn “xuống”. Nhưng đôi khi chính việc họ không xuống, không bỏ, không chạy trốn trách nhiệm, không từ bỏ người mình yêu, lại là một hình ảnh rất âm thầm của Đức Kitô chịu đóng đinh. Không ai vỗ tay. Không có hào quang. Không ai biết họ đã khóc bao nhiêu. Nhưng Thiên Chúa biết. Và tình yêu trung tín của họ có một sức mạnh mà tiền bạc hay quyền lực không thể mua được.
Dĩ nhiên, ở lại với Thập Giá không có nghĩa là phải dung túng cho bạo lực, chấp nhận mọi bất công hay để cho người khác hủy hoại phẩm giá của mình. Đức Kitô không dạy ta tôn thờ đau khổ. Người dạy ta yêu trong đau khổ, sống sự thật trong đau khổ, không để đau khổ biến mình thành một con người khác. Có những hoàn cảnh ta phải rời đi để bảo vệ sự sống, phẩm giá và sự an toàn. Có những bất công cần phải lên tiếng. Có những điều sai trái cần phải được ngăn chặn. Nhưng ngay cả khi đấu tranh cho công lý, người Kitô hữu vẫn được mời gọi không để hận thù trở thành động lực của mình. Chúa Giêsu trên Thập Giá cho thấy: có thể chống lại sự dữ mà không trở nên giống sự dữ; có thể nói sự thật mà không mất tình yêu; có thể bảo vệ công lý mà không đánh mất lòng thương xót.
Trong đời sống linh mục và đời sống thánh hiến cũng vậy. Có những ngày người ta nghĩ rằng mạnh là phải thành công, phải được nhiều người biết đến, phải có những công trình lớn, phải có tiếng nói, phải được trọng vọng. Nhưng dưới chân Đức Kitô chịu đóng đinh, những tiêu chuẩn ấy bị đảo lộn. Sức mạnh của một người mục tử nhiều khi không nằm ở số người vỗ tay, mà ở việc ngài vẫn kiên nhẫn với một linh hồn khó khăn. Không nằm ở những bài giảng được nhiều người khen, mà ở việc ngài âm thầm ngồi hàng giờ trong tòa giải tội. Không nằm ở những chức vụ, mà ở việc ngài vẫn giữ được trái tim mục tử khi bị hiểu lầm. Không nằm ở chỗ mọi người đều yêu quý, mà ở khả năng không trở thành cay nghiệt khi mình không được yêu. Có những linh mục mang Thập Giá của cô đơn. Có những tu sĩ mang Thập Giá của đời sống cộng đoàn. Có những người phục vụ Giáo Hội nhiều năm nhưng chẳng ai nhớ đến. Nếu cứ đo sức mạnh bằng tiếng vỗ tay, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được Canvê. Vì trên Canvê không có tiếng vỗ tay. Chỉ có chế nhạo. Nhưng chính tại đó công trình cứu độ được hoàn tất.
Điều đáng sợ nhất không phải là chúng ta yếu. Điều đáng sợ là chúng ta hiểu sai sức mạnh. Khi người ta đồng hóa sức mạnh với quyền lực, người ta dễ dùng người khác. Khi người ta đồng hóa sức mạnh với thắng thua, người ta biến mọi tương quan thành cuộc cạnh tranh. Khi người ta đồng hóa sức mạnh với việc không bao giờ nhượng bộ, gia đình sẽ trở thành chiến trường. Khi người ta nghĩ xin lỗi là yếu, những vết thương sẽ kéo dài. Khi người ta nghĩ tha thứ là thua, hận thù sẽ được truyền từ đời này sang đời khác. Khi người ta nghĩ im lặng là nhục, mỗi cuộc tranh cãi đều phải có người bị hạ gục. Nhưng Đức Giêsu cho ta một định nghĩa khác: sức mạnh là khả năng yêu đến cùng.
Ở dưới chân Thập Giá, người ta nói: “Hắn cứu được người khác mà chẳng cứu nổi mình.” Họ không biết rằng câu họ nói để chế nhạo lại diễn tả chính mầu nhiệm cứu độ. Đúng, Người đã không cứu mình, bởi vì Người đang cứu người khác. Có những tình yêu thật sự luôn mang hình dáng như thế. Người mẹ thức đêm chăm con, bà không “cứu mình” khỏi mệt mỏi bởi bà đang chăm sóc đứa con. Người cha làm việc vất vả nhiều năm, ông hy sinh một phần cuộc đời mình để con cái có tương lai. Một người chăm sóc bệnh nhân gác lại bao dự định riêng để ở bên người bệnh. Một linh mục hy sinh thời gian riêng để đi xức dầu cho người hấp hối lúc nửa đêm. Một người âm thầm tha thứ để gia đình không tan vỡ. Có những hy sinh thế gian nhìn vào thấy như mất mát, nhưng trong ánh sáng Thập Giá, đó lại là những nơi tình yêu sinh hoa trái.
Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận: không phải mọi hy sinh đều là tình yêu, và không phải mọi đau khổ đều tự động có giá trị. Thập Giá có ý nghĩa bởi vì Đức Giêsu tự do hiến mình trong tình yêu. Nếu đau khổ chỉ làm ta cay độc, nó chưa trở thành Thập Giá. Nếu hy sinh chỉ để kể công, nó chưa mang hình dáng của Đức Kitô. Nếu chịu đựng chỉ để sau này đòi người khác trả lại, đó chưa phải tình yêu. Thập Giá của Chúa là một sự trao hiến tự do. Người không nói: “Các ngươi sẽ phải trả giá vì những gì các ngươi làm cho Ta.” Người nói: “Xin Cha tha cho họ.” Đây chính là chiều sâu khiến Thập Giá trở thành nguồn cứu độ.
Có lẽ trong mỗi người chúng ta đều có một tiếng nói muốn Chúa xuống khỏi Thập Giá. Ta muốn một Kitô giáo không đau. Ta muốn theo Chúa nhưng không muốn mất gì. Ta muốn yêu nhưng không muốn bị tổn thương. Ta muốn phục vụ nhưng vẫn muốn được công nhận. Ta muốn tha thứ nhưng người kia phải xin lỗi trước. Ta muốn khiêm nhường nhưng không muốn ai coi thường mình. Ta muốn vác Thập Giá nhưng chỉ những Thập Giá ta tự chọn. Nhưng Chúa Giêsu không cứu thế giới bằng một con đường dễ dàng. Người cứu thế giới bằng tình yêu trung tín đến cùng. Và ai muốn theo Người cũng phải học thứ sức mạnh ấy.
Có những lúc chiến thắng lớn nhất trong đời không phải là khiến hoàn cảnh thay đổi, mà là không để hoàn cảnh thay đổi phần tốt đẹp nhất của ta. Người khác có thể bất công, nhưng ta không trở thành bất công. Người khác có thể dối trá, nhưng ta không vì thế mà sống gian dối. Người khác có thể lạnh lùng, nhưng ta không đánh mất lòng nhân hậu. Người khác có thể nói xấu ta, nhưng ta không để miệng mình trở thành nơi gieo độc. Người khác có thể quên ơn, nhưng ta không vì thế mà thôi làm điều tốt. Đó là một cuộc chiến âm thầm mà chỉ những ai đứng gần Thập Giá mới hiểu.
Có những ngày chúng ta mệt đến mức chỉ muốn buông tất cả. Có những ngày cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì. Có những ngày người mình thương nhất lại làm mình đau nhất. Có những ngày mọi cố gắng dường như không sinh kết quả. Có những ngày ta phục vụ mà chẳng ai hiểu. Và tiếng cám dỗ lại vang lên: “Xuống đi. Bỏ đi. Đủ rồi. Tại sao phải tiếp tục?” Không phải mọi sự tiếp tục đều là điều đúng, nhưng có những lúc trung thành chính là Thập Giá. Và lúc ấy, điều giữ chúng ta lại không phải là sự cố chấp, mà là tình yêu. Chúng ta ở lại vì Chúa đã ở lại. Chúng ta tha thứ vì Chúa đã tha thứ. Chúng ta tiếp tục yêu vì Chúa đã yêu đến cùng.
Thập Giá cũng dạy ta đừng vội đánh giá một đời người bằng những gì mắt thấy. Có người tưởng thất bại nhưng trước mặt Thiên Chúa họ đang chiến thắng. Có người sống rất âm thầm nhưng đời họ lại mang một sức mạnh thiêng liêng lớn lao. Có bà mẹ chẳng có bằng cấp, chẳng có địa vị, chỉ biết lần chuỗi mỗi tối cầu cho con, nhưng lời cầu của bà có thể đang giữ cả một gia đình khỏi đổ vỡ. Có người bệnh nằm một chỗ chẳng làm được gì, nhưng đau khổ được dâng trong tình yêu của họ có thể trở thành lời cầu vô giá. Có người già bị xã hội xem là “không còn hữu ích”, nhưng sự hiện diện hiền lành của họ lại là phúc lành cho con cháu. Thế gian đo sức mạnh bằng khả năng sản xuất, ảnh hưởng, kiểm soát. Thiên Chúa đo sức mạnh bằng khả năng yêu.
Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, ta cũng hiểu rằng Thiên Chúa không cứu con người từ bên ngoài đau khổ. Người bước vào đau khổ. Người không đứng từ trời cao nói với ta: “Hãy cố lên.” Người đi vào chính nỗi đau của nhân loại. Người biết thế nào là bị phản bội. Người biết thế nào là bị bạn bè bỏ rơi. Người biết thế nào là bị vu oan. Người biết thế nào là bị nhạo báng. Người biết thế nào là thân xác đau đớn. Người biết thế nào là tiếng kêu dường như không được đáp lại. Vì vậy, khi ta đau, ta không cầu nguyện với một Thiên Chúa xa lạ với đau khổ. Ta cầu nguyện với Đấng mang những dấu đinh trên tay. Đó là điều an ủi lớn lao: Chúa không luôn giải thích vì sao chúng ta phải đau, nhưng Người cho thấy rằng đau khổ không phải nơi Thiên Chúa vắng mặt. Canvê là nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất, nhưng lại chính là nơi Thiên Chúa đang cứu độ mạnh mẽ nhất.
Có thể hôm nay ai đó đang đứng trước một “Canvê” riêng. Một chẩn đoán bệnh. Một cuộc hôn nhân đang rạn nứt. Một đứa con làm cha mẹ mất ngủ. Một người thân vừa qua đời. Một sự phản bội chưa thể nguôi. Một ơn gọi đang khủng hoảng. Một công việc thất bại. Một nỗi cô đơn chẳng ai hiểu. Có thể người ấy đang hỏi: “Chúa ở đâu?” Nhìn lên Thập Giá, chúng ta không nhận được một câu trả lời dễ dãi. Chúng ta nhận được một Thiên Chúa ở đó. Đôi khi điều chúng ta cần nhất không phải là một lời giải thích, mà là biết rằng mình không chịu đau một mình. Đức Kitô chịu đóng đinh nói với từng người: “Ta biết. Ta đã ở đó.”
Và từ Thập Giá, Người dạy chúng ta rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Bởi Canvê không phải chương cuối của Tin Mừng. Sau Thập Giá là Phục Sinh. Nhưng điều đáng chú ý là Chúa Phục Sinh vẫn mang những dấu đinh. Thiên Chúa không xóa sạch lịch sử đau khổ như thể nó chưa từng xảy ra. Người biến những vết thương thành dấu chỉ chiến thắng. Những vết thương đã từng là bằng chứng của bạo lực nay trở thành bằng chứng của tình yêu. Điều này cho chúng ta một niềm hy vọng lớn lao: những gì làm ta đau hôm nay, nếu được đặt trong tay Chúa, không nhất thiết phải trở thành phần hư hỏng nhất trong đời ta; nó có thể trở thành nơi phát sinh lòng trắc ẩn, sự trưởng thành, lòng thương xót và khả năng hiểu người khác.
Một người đã từng đau có thể trở thành người biết an ủi. Một người từng thất bại có thể trở thành người bớt phán xét. Một người từng được tha thứ có thể học tha thứ. Một người từng trải qua đêm tối có thể biết cách cầm tay người đang đi trong đêm. Nhưng điều đó chỉ xảy ra khi ta để Chúa bước vào vết thương. Nếu không, vết thương dễ biến thành vũ khí. Canvê cho chúng ta thấy một điều kỳ diệu: trong tay Thiên Chúa, vết thương không nhất thiết sinh ra vết thương; vết thương có thể sinh ra ơn cứu độ.
Thế gian vẫn sẽ tiếp tục nói với chúng ta: hãy xuống khỏi Thập Giá. Hãy chọn đường dễ hơn. Hãy trả đũa đi. Hãy giữ lấy mình. Hãy chứng minh mình. Hãy làm cho người khác sợ. Hãy chiến thắng bằng mọi giá. Nhưng tiếng của Đức Kitô từ Canvê nói một điều khác: hãy yêu. Hãy trung tín. Hãy tha thứ. Hãy phó mình trong tay Chúa Cha. Hãy đừng để sự dữ lấy mất trái tim của con. Đó không phải con đường của người yếu. Đó là con đường đòi sức mạnh lớn nhất.
Chúng ta hãy nhìn thật lâu lên Thập Giá. Đừng chỉ nhìn những cây đinh. Hãy nhìn tình yêu giữ Chúa ở đó. Đừng chỉ nhìn máu. Hãy nhìn lòng thương xót chảy ra từ những vết thương. Đừng chỉ nhìn một người bị giết. Hãy nhìn Đấng đang tự hiến. Đừng chỉ nghe lời chế nhạo: “Hãy xuống khỏi Thập Giá.” Hãy nghe sự thinh lặng của một tình yêu đã quyết định ở lại. Chính sự thinh lặng ấy cứu thế giới.
Có thể điều thế gian gọi là yếu đuối nơi ta – lòng nhân hậu, sự nhẫn nại, khả năng xin lỗi, sự tha thứ, lòng trung thành, sự dịu dàng – lại chính là nơi sức mạnh của Thiên Chúa đang hoạt động. Đừng xấu hổ vì mình còn biết khóc. Đừng xấu hổ vì mình không muốn trả thù. Đừng xấu hổ vì mình còn thương một người đã làm mình đau. Đừng tưởng tha thứ là hèn. Đừng tưởng dịu dàng là yếu. Có một sự yếu đuối đến từ sợ hãi, nhưng cũng có một “yếu đuối” đến từ tình yêu mạnh đến mức không cần dùng bạo lực để chứng minh mình. Đức Kitô chịu đóng đinh là “yếu” theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng chính Đấng ấy đã thay đổi lịch sử nhân loại.
Rồi sẽ đến một ngày chúng ta hiểu rằng những chiến thắng đáng quý nhất trong đời không phải là những lần chúng ta hạ được người khác, mà là những lần chúng ta chiến thắng được chính mình: thắng được cơn giận để không nói một lời làm đau; thắng được tự ái để nói lời xin lỗi; thắng được hận thù để tha thứ; thắng được mệt mỏi để tiếp tục yêu; thắng được nỗi sợ để ở lại bên một người đang cần mình; thắng được cám dỗ bỏ cuộc để trung thành với điều Thiên Chúa đã trao. Đó là những chiến thắng mang hình dáng của Thập Giá.
Xin Đức Kitô chịu đóng đinh dạy chúng ta hiểu sức mạnh theo cách của Người. Xin đừng để chúng ta trở thành những người chỉ tin vào quyền lực, tiếng nói lớn, tiền bạc, chức vị hay khả năng thắng người khác. Xin cho chúng ta khám phá quyền năng của sự hiền lành, quyền năng của lòng thương xót, quyền năng của tha thứ, quyền năng của trung tín. Khi bị người khác làm đau, xin cho chúng ta nhớ đến Đấng đã bị đóng đinh mà vẫn yêu. Khi muốn trả đũa, xin cho chúng ta nhớ đến Đấng đã có thể tiêu diệt kẻ thù nhưng lại cầu xin ơn tha thứ cho họ. Khi muốn bỏ cuộc, xin cho chúng ta nhìn Người vẫn ở lại trên Thập Giá. Khi cảm thấy mình yếu đuối, xin cho chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa thường làm những điều lớn lao nhất qua những gì thế gian coi là nhỏ bé và yếu đuối.
Và nhất là, xin cho chúng ta đừng bao giờ quên: Chúa Giêsu không chứng minh mình là Con Thiên Chúa bằng cách xuống khỏi Thập Giá; Người chứng minh mình là Con Thiên Chúa bằng cách yêu đến cùng trên Thập Giá. Đó là sức mạnh làm cho tội lỗi bị đánh bại, hận thù bị vô hiệu hóa, cái chết mất quyền thống trị và nhân loại được mở đường trở về với Chúa Cha. Thập Giá vì thế không phải biểu tượng của một Thiên Chúa bất lực. Thập Giá là ngai của một Vị Vua có thứ quyền năng thế gian không hiểu: quyền năng không thống trị nhưng phục vụ, không nghiền nát nhưng cứu chữa, không trả thù nhưng tha thứ, không giữ lấy mình nhưng trao ban chính mình.
Ngày nào chúng ta còn sợ Thập Giá, ngày đó chúng ta còn chưa hiểu hết tình yêu. Ngày nào chúng ta còn nghĩ thắng người khác mới là mạnh, ngày đó chúng ta còn chưa hiểu Đức Kitô. Và ngày nào chúng ta biết đứng trước Thập Giá, thinh lặng, cúi đầu và nhận ra rằng Đấng chịu đóng đinh kia có thể xuống mà đã không xuống vì yêu mình, ngày đó trái tim chúng ta sẽ bắt đầu thay đổi. Ta sẽ bớt tranh hơn thua. Bớt cố chứng minh mình. Bớt trả đũa. Bớt đòi người khác phải trả những món nợ tình cảm. Ta sẽ học sống một đời nhẹ hơn, tự do hơn, hiền lành hơn, bởi ta biết sức mạnh của mình không đến từ việc người khác nghĩ gì về ta, nhưng từ việc ta thuộc về Đấng đã yêu ta cho đến cùng.
Ước gì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, chúng ta không chỉ thấy Chúa chết, nhưng thấy một tình yêu đang chiến thắng. Không chỉ thấy những cây đinh, nhưng thấy lòng trung tín. Không chỉ thấy đau khổ, nhưng thấy ơn cứu độ. Không chỉ thấy sự yếu đuối, nhưng thấy sức mạnh của Thiên Chúa. Và rồi, khi đến lượt chúng ta phải mang một Thập Giá nào đó trong đời, xin cho chúng ta có đủ đức tin để không hỏi mãi: “Bao giờ Chúa cho con xuống?”, nhưng có thể cầu nguyện sâu hơn: “Lạy Chúa, nếu Thập Giá này chưa thể cất đi, xin đừng để con mất tình yêu khi đang mang nó. Xin đừng để đau khổ làm con thành người cay nghiệt. Xin đừng để bất công lấy mất lòng nhân hậu của con. Xin cho con được mạnh theo cách của Chúa: mạnh để yêu, mạnh để tha thứ, mạnh để trung tín, mạnh để ở lại trong tình yêu cho đến cùng.”
Bởi cuối cùng, thế giới này không được cứu bởi những con người mạnh vì biết áp đảo người khác, nhưng bởi những con người đủ mạnh để không ngừng yêu. Và trên tất cả những con người ấy là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh – Đấng mà thế gian tưởng đã thua, nhưng chính trong giờ phút bị coi là yếu đuối nhất, Người đã biểu lộ sức mạnh lớn nhất của Thiên Chúa: một tình yêu không gì có thể buộc phải ngừng yêu.
Lm. Anmai, CSsR

CHÚA KHÔNG CỨU MÌNH ĐỂ CỨU CHÚNG TA
Tin Mừng: Mt 27,39-42
Có những câu nói được thốt ra để chế nhạo nhưng cuối cùng lại trở thành một lời tuyên xưng mà chính người nói cũng không hề hay biết. Có những lời tưởng như xúc phạm Thiên Chúa nhưng lại vô tình chạm vào tận đáy mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trên đồi Canvê chiều hôm ấy, giữa tiếng cười nhạo, tiếng thách thức, tiếng nguyền rủa và những cái lắc đầu của đám đông, có một câu được ném vào Đức Giêsu đang hấp hối trên Thập Giá: “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Người ta nói câu ấy để làm nhục Chúa. Người ta nghĩ rằng đó là bằng chứng cuối cùng cho thấy Đức Giêsu đã thất bại. Người ta muốn bảo rằng một người tự nhận mình cứu được người khác mà cuối cùng lại bất lực trước chính cái chết của mình thì còn đáng tin gì nữa. Thế nhưng họ không biết rằng chính câu chế nhạo ấy lại nói đúng hơn họ tưởng. Đúng, Người cứu được thiên hạ mà không cứu mình. Chính vì Người không cứu mình nên Người mới cứu được thiên hạ. Nếu Người cứu mình khỏi Thập Giá, chúng ta đã không được cứu bởi Thập Giá. Nếu Người chọn giữ mạng sống mình, nhân loại vẫn còn nằm trong cái chết. Nếu Người bước xuống khỏi cây gỗ ấy để chứng minh quyền năng, Người có thể làm cả đồi Canvê kinh ngạc trong một khoảnh khắc, nhưng Người sẽ không cứu được một nhân loại đang cần một tình yêu đi đến tận cùng. Mầu nhiệm của Kitô giáo nằm ở một nghịch lý như thế: Đức Giêsu có thể cứu mình, nhưng Người không cứu mình, bởi Người đã chọn cứu chúng ta.
Người ta đứng dưới chân Thập Giá và thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Đó không phải lần đầu tiên Đức Giêsu nghe một lời mời gọi như thế. Trong hoang địa, ma quỷ cũng từng bắt đầu bằng chữ “nếu”: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh.” “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống.” Bây giờ trên Canvê, cơn cám dỗ ấy trở lại lần cuối cùng, dữ dội hơn, cay nghiệt hơn: nếu ông thật sự là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn, hãy xuống đi; nếu ông có quyền năng, hãy tự cứu lấy mình; nếu ông là vua, hãy làm một điều gì đó cho bản thân mình. Nhưng Đức Giêsu không xuống. Không phải vì những chiếc đinh mạnh hơn quyền năng của Người. Không phải vì quân lính Rôma giữ được Người trên Thập Giá. Không phải vì Người không còn khả năng làm phép lạ. Những chiếc đinh không thể giữ nổi Con Thiên Chúa nếu Người muốn bước xuống. Điều giữ Đức Giêsu trên Thập Giá không phải là sắt thép, mà là tình yêu. Người ở lại vì Người yêu. Người không cứu mình bởi Người không muốn bỏ chúng ta. Cây Thập Giá không phải là nơi Đức Giêsu bị nhốt trong bất lực, nhưng là nơi Người tự nguyện ở lại trong tình yêu. Chính vì thế, sức mạnh lớn nhất của Thiên Chúa không nằm ở việc làm cho người ta kinh ngạc, mà nằm ở khả năng yêu đến mức không còn giữ lại gì cho mình.
Con người chúng ta thường nghĩ khác. Bản năng đầu tiên của con người là cứu mình. Khi có nguy hiểm, ta nghĩ đến mình trước. Khi bị hiểu lầm, ta muốn thanh minh cho mình. Khi bị xúc phạm, ta muốn bảo vệ danh dự mình. Khi quyền lợi bị đụng chạm, ta tìm cách giữ phần của mình. Khi phải chọn giữa mình và người khác, rất nhiều khi ta chọn mình. Điều ấy không hoàn toàn xấu, bởi con người có bản năng sinh tồn. Nhưng Tin Mừng đưa chúng ta đi xa hơn bản năng. Đức Giêsu cho chúng ta thấy rằng tình yêu chỉ bắt đầu trở thành tình yêu cứu độ khi con người biết bước ra khỏi sự ám ảnh phải giữ lấy chính mình. Người cứu thế gian không bằng cách giữ mình an toàn, nhưng bằng cách trao chính mình. Người cứu thế gian không bằng cách đứng xa đau khổ của nhân loại, nhưng bằng cách bước vào đó. Người không nói với nhân loại từ một ngai vàng không vương bụi đất. Người đi vào nỗi đau, mang lấy tội lỗi, chịu sự phản bội, gánh lấy cô đơn, nếm trải nhục nhã, và cuối cùng đi vào cái chết. Thiên Chúa không cứu chúng ta từ xa. Người cứu chúng ta bằng cách ở giữa chúng ta, ở với chúng ta và chết cho chúng ta.
“Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Người ta tưởng rằng một Đấng Cứu Thế trước hết phải cứu được chính mình. Theo logic thế gian, điều đó hoàn toàn hợp lý. Người mạnh là người thoát được khỏi nguy hiểm. Người thành công là người không để mình thất bại. Người khôn ngoan là người biết tránh thiệt thân. Người quyền lực là người không để ai làm nhục mình. Thế nhưng Thiên Chúa lại đi một con đường ngược lại. Đức Giêsu không chứng minh mình là Đấng Cứu Thế bằng cách thoát khỏi Thập Giá, nhưng bằng cách đi xuyên qua Thập Giá. Người không chứng minh Người là Con Thiên Chúa bằng cách miễn cho mình khỏi đau khổ, nhưng bằng cách yêu giữa đau khổ. Người không chứng minh quyền năng bằng việc làm cho kẻ thù phải quỳ xuống, nhưng bằng việc cầu xin Chúa Cha tha thứ cho họ. Người không chiến thắng bằng việc tiêu diệt những kẻ đóng đinh mình, nhưng bằng việc không để sự độc ác của họ biến trái tim mình thành độc ác. Đó là một quyền năng rất khác. Đó là quyền năng của tình yêu không bị cái ác đánh bại. Đó là quyền năng có thể chịu thương tích mà không trở thành người gây thương tích. Đó là quyền năng có thể bị ghét mà vẫn yêu. Đó là quyền năng có thể bị phản bội mà vẫn trung thành. Đó là quyền năng có thể mất tất cả mà vẫn không đánh mất căn tính của mình là Con yêu dấu của Chúa Cha.
Có lẽ đây cũng là điều chúng ta phải học rất lâu trong đời sống đức tin: không phải lúc nào Chúa cứu ta cũng bằng cách đưa ta xuống khỏi thập giá. Chúng ta thích một Thiên Chúa làm cho mọi sự dễ dàng. Ta cầu khi bệnh và mong được khỏi ngay. Ta cầu khi gia đình gặp rắc rối và mong mọi chuyện lập tức bình an. Ta cầu khi công việc thất bại và mong Chúa mở một cánh cửa khác. Ta cầu khi bị oan và mong sự thật nhanh chóng được sáng tỏ. Ta cầu khi gặp đau khổ và mong Chúa cất đau khổ đi. Những lời cầu ấy rất con người và không có gì sai. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng từng cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người không dừng lại ở đó. Người thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đức tin trưởng thành không phải là đức tin không còn xin Chúa cất thập giá, nhưng là đức tin biết rằng ngay cả khi Thập Giá không được cất đi, Chúa vẫn có thể làm nên ơn cứu độ ở đó. Đức Giêsu không xuống khỏi Thập Giá, nhưng chính trên Thập Giá Người cứu thế gian. Có những lúc Chúa không cứu ta khỏi một hoàn cảnh, bởi Người đang cứu ta ngay trong hoàn cảnh ấy. Có những lúc Người không đưa ta ra khỏi đau khổ lập tức, bởi Người đang biến đau khổ thành một nơi gặp gỡ sâu hơn với Người. Có những lúc ta tưởng Chúa im lặng, nhưng thật ra Người đang làm một điều lớn hơn điều ta cầu xin.
Một người mẹ có thể cầu nguyện nhiều năm cho đứa con lầm lạc mà chưa thấy nó trở về. Một người vợ có thể cầu cho chồng bỏ rượu, bỏ cờ bạc, bỏ những thói quen làm tan nát gia đình nhưng phải đợi rất lâu. Một người cha có thể đi lễ mỗi ngày, cầu cho con mình biết sống tử tế mà vẫn phải nhìn nó đi hết sai lầm này đến sai lầm khác. Một người bệnh có thể lần chuỗi từng tối mà căn bệnh vẫn còn đó. Một người tận tâm có thể sống ngay lành mà vẫn bị hiểu lầm. Có những linh mục đã hết lòng phục vụ mà vẫn bị phê bình. Có những người đã sống rất tốt nhưng vẫn gặp những điều họ không đáng phải chịu. Trong những hoàn cảnh ấy, cám dỗ lớn nhất là hỏi: nếu Chúa yêu tôi, tại sao Chúa không cứu tôi khỏi chuyện này? Nếu Chúa quyền năng, tại sao Chúa không thay đổi ngay? Nếu Chúa nghe lời cầu, tại sao Thập Giá vẫn còn? Và Tin Mừng hôm nay đưa ta trở lại Canvê để thấy chính Con Một Thiên Chúa cũng đã đứng trong câu hỏi ấy. Người cũng nghe: nếu Thiên Chúa thương ông, hãy để Người cứu ông đi. Nhưng Chúa Cha không đưa Đức Giêsu xuống khỏi Thập Giá. Không phải vì Chúa Cha hết yêu Con. Không phải vì lời cầu của Con không được nghe. Chính nơi dường như Chúa Cha vắng mặt nhất lại là nơi tình yêu cứu độ đang được hoàn tất sâu xa nhất.
Điều đáng sợ nhất trong đời không phải luôn luôn là đau khổ. Điều đáng sợ hơn là đau khổ mà không biết mình đang đau vì điều gì, đau khổ mà trở thành cay đắng, đau khổ mà mất niềm tin, đau khổ mà từ người bị thương ta biến thành người làm thương tích người khác. Đức Giêsu chịu đau, nhưng Người không để đau khổ định nghĩa trái tim mình. Người vẫn tha thứ. Người vẫn nhớ đến người khác. Ngay trên Thập Giá, khi chính mình đang hấp hối, Người vẫn nghĩ đến người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Người vẫn nghĩ đến Mẹ và người môn đệ: “Thưa Bà, đây là con của Bà… đây là mẹ của anh.” Người vẫn nghĩ đến những kẻ giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Thật lạ lùng, Đức Giêsu đang chết mà vẫn dành trái tim cho người khác. Người không cứu mình vì cho đến hơi thở cuối cùng, Người vẫn đang cứu chúng ta.
Có lẽ chúng ta cần đứng thật lâu dưới chân Thập Giá để hiểu tình yêu là gì. Tình yêu không phải chỉ là những lời đẹp lúc mọi chuyện đang thuận lợi. Tình yêu thật chỉ được biết rõ khi nó phải trả giá. Yêu một người dễ thương thì chưa có gì đáng nói. Yêu khi người kia làm ta mệt mỏi mới khó. Trung thành khi mọi thứ êm đềm thì chưa hẳn là trung thành. Trung thành khi phải chịu thiệt mới nói được nhiều hơn. Tha thứ cho người biết lỗi thì dễ hơn tha thứ cho người vẫn còn kiêu ngạo. Phục vụ khi được ghi nhận thì dễ hơn phục vụ trong âm thầm. Bởi thế Thập Giá là nơi Chúa dạy chúng ta rằng tình yêu luôn có giá của nó. Và giá cao nhất của tình yêu là chính mình. Đức Giêsu không cho ta một món quà nào từ bên ngoài Người. Người trao chính Người. Không phải một phần. Không phải một giờ. Không phải một ít máu. Người trao cho đến giọt cuối cùng.
“Chúa không cứu mình để cứu chúng ta” cũng là một lời mời gọi rất mạnh cho đời sống người Kitô hữu. Bởi người môn đệ không thể đi theo một Đức Kitô tự hiến mà lại sống một đời chỉ biết giữ lấy mình. Chúng ta có thể đi lễ, đọc kinh, làm việc đạo đức, nhưng nếu cả đời chỉ xoay quanh việc bảo vệ sự thoải mái của mình, danh dự của mình, ý kiến của mình, quyền lợi của mình, thì có lẽ ta vẫn chưa thật sự bước vào logic của Thập Giá. Có những lúc cứu người khác đòi ta phải mất thời gian. Có những lúc muốn giữ một gia đình, ta phải nuốt bớt một câu nói. Có những lúc muốn giúp một người đứng lên, ta phải hy sinh một phần tiện nghi của mình. Có những lúc muốn phục vụ cộng đoàn, ta phải chấp nhận không được làm theo ý mình. Có những lúc muốn gìn giữ một tình bạn, ta phải bước qua cái tôi. Có những lúc muốn tha thứ, ta phải để một phần tự ái trong mình chết đi. Có những lúc muốn một người khác được sống, ta phải biết “không cứu mình” theo nghĩa là không giữ khư khư phần hơn, phần đúng, phần tiện lợi cho bản thân.
Thế nhưng cần hiểu cho đúng. Tin Mừng không dạy chúng ta coi thường bản thân, không dạy để người khác bạo hành mình, không dạy rằng càng đau càng thánh. Thập Giá không phải là sự tôn thờ đau khổ. Chúa Giêsu không tìm đau khổ vì đau khổ. Người chấp nhận Thập Giá vì tình yêu và vì trung thành với sứ mạng Chúa Cha trao. Có những đau khổ phải tránh. Có những bất công phải lên tiếng. Có những sự dữ phải chống lại. Có những mối quan hệ độc hại cần có ranh giới. Nhưng cũng có những hy sinh mà không ai có thể tránh nếu muốn yêu thật. Một người mẹ không thể yêu con mà không mất ngủ. Một người cha không thể gánh gia đình mà chưa từng mệt. Một người vợ hay người chồng không thể sống hôn nhân mà không có lúc phải bỏ ý riêng. Một linh mục không thể làm mục tử mà chỉ chọn những người dễ thương. Một người sống đời thánh hiến không thể nói lời khấn mà không có những ngày phải chết đi cho cái tôi. Không có tình yêu trưởng thành nào mà không mang hình dáng nào đó của Thập Giá.
Đáng tiếc là thế giới hôm nay dạy ta rất nhiều cách để “cứu mình”. Hãy ưu tiên bản thân. Hãy chọn điều khiến mình thoải mái. Hãy rời khỏi những gì làm mình phiền. Hãy đừng chịu thiệt. Hãy luôn bảo vệ quyền lợi của mình. Một phần trong đó có những điều cần thiết. Con người cần chăm sóc chính mình. Nhưng nếu cái tôi trở thành trung tâm tuyệt đối, con người sẽ dần mất khả năng yêu. Bởi yêu bao giờ cũng có lúc làm ta bất tiện. Một đứa trẻ khóc lúc nửa đêm rất bất tiện. Một người già lẩm cẩm rất bất tiện. Một người bệnh cần chăm sóc lâu dài rất bất tiện. Một người nghèo đến gõ cửa đúng lúc ta bận cũng bất tiện. Một người trong gia đình đang khủng hoảng có thể làm đảo lộn kế hoạch của ta. Nếu tiêu chuẩn cao nhất của đời sống là “điều này có lợi cho tôi không?”, cuối cùng ta sẽ có thể giữ được rất nhiều thứ nhưng lại mất khả năng trao ban chính mình.
Đức Giêsu thì ngược lại. Người không hỏi: chuyện này có lợi cho tôi không? Người hỏi: điều này có cứu được họ không? Người không chọn đường dễ nhất. Người chọn con đường trung thành nhất. Người không tìm cách thoát thân. Người tìm cách hoàn tất ý Chúa Cha. Và chính vì thế, nơi mà thế gian thấy thất bại, Thiên Chúa thấy chiến thắng. Nơi thế gian thấy một con người bất lực bị đóng đinh, đức tin thấy Chiên Thiên Chúa đang mang lấy tội trần gian. Nơi thế gian thấy một bản án, Thiên Chúa mở ra giao ước mới. Nơi thế gian thấy máu chảy, Hội Thánh thấy nguồn mạch sự sống. Nơi thế gian nghe tiếng “thế là hết”, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất.”
Có một nghịch lý đau đớn mà đẹp đến rơi nước mắt: chính lúc Đức Giêsu dường như không cứu được mình, Người lại đang cứu tất cả chúng ta. Chính lúc đôi tay Người bị đóng chặt, Người đang mở cửa trời. Chính lúc đôi chân Người không thể bước nữa, Người đang dẫn nhân loại trở về nhà Cha. Chính lúc Người khát, Người đang trở thành nguồn nước hằng sống. Chính lúc Người không còn áo che thân, Người đang mặc lại cho nhân loại phẩm giá đã mất vì tội lỗi. Chính lúc Người chết, Người đang tiêu diệt sự chết. Thiên Chúa làm những việc lớn lao nhất trong một hình thức mà con người dễ hiểu lầm nhất.
Bởi thế đừng quá vội đánh giá một đời người chỉ từ những điều đang nhìn thấy. Có những người âm thầm hy sinh mà chẳng ai biết, nhưng chính họ đang giữ một mái nhà khỏi tan. Có những bà mẹ mỗi tối lặng lẽ cầu cho con mà không ai ghi nhận, nhưng lời cầu của họ đang giữ đứa con ấy khỏi rơi sâu hơn. Có những người chồng đi làm cực nhọc mà chẳng bao giờ kể công. Có những người vợ bao năm chịu khó chăm sóc gia đình mà chẳng có một tấm hình nào được đăng lên để người ta khen. Có những người trẻ chăm cha mẹ già thay vì chạy theo những cuộc vui. Có những linh mục lặng lẽ ngồi hàng giờ trong tòa giải tội, đi thăm bệnh, an táng người nghèo, nghe những câu chuyện chẳng ai muốn nghe. Có những nữ tu sống ở nơi không ai biết tên, chăm những con người chẳng ai nhớ. Thế gian có thể không gọi đó là thành công. Nhưng dưới ánh sáng Thập Giá, những hy sinh ấy có một giá trị khác. Vì bất cứ nơi nào một người chịu mất đi một phần mình để người khác được sống, ở đó thấp thoáng hình bóng Đức Kitô.
Nhưng cũng phải tự hỏi mình một câu khó: trong đời sống, tôi đang cứu ai ngoài chính mình? Tôi đã sống bao nhiêu năm chỉ để xây cho mình một vùng an toàn? Tôi có sẵn sàng chịu thiệt một chút để người bên cạnh bớt đau không? Tôi có thể bỏ một chút thời gian để nghe một người đang cô đơn không? Tôi có thể bớt một lời cay nghiệt để giữ một người khỏi tổn thương không? Tôi có thể bỏ một phần tự ái để làm hòa không? Tôi có thể bớt một chút tiền cho một người đang thiếu không? Tôi có thể bỏ một buổi nghỉ ngơi để thăm người bệnh không? Tôi có thể làm một điều tốt mà không cần ai biết không? Những câu hỏi ấy nhỏ thôi, nhưng Tin Mừng được sống chính từ những điều nhỏ như thế.
Nhiều người muốn cứu thế giới nhưng lại không chịu thiệt trong gia đình mình. Nhiều người nói rất hay về bác ái nhưng không chịu nhường một câu trong bữa cơm. Nhiều người muốn làm việc lớn cho Giáo Hội nhưng rất khó chịu khi người khác không công nhận mình. Nhiều người nói yêu Chúa nhưng không chịu mất một chút thời gian cho người cần mình. Chúa Giêsu không cứu nhân loại bằng một bài diễn văn. Người cứu bằng thân thể bị trao nộp. Kitô giáo không chỉ là một hệ thống tư tưởng đẹp. Kitô giáo là một Con Người đã bẻ bánh và nói: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Toàn bộ đời Đức Giêsu nằm trong chữ “cho”. Sinh ra cho chúng ta. Sống cho chúng ta. Rao giảng cho chúng ta. Chữa lành cho chúng ta. Bẻ bánh cho chúng ta. Đổ máu cho chúng ta. Chết cho chúng ta. Và sống lại để mở cho chúng ta một con đường sống mới.
“Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Có lẽ đến cuối đời, điều đáng hỏi không phải là ta đã giữ lại được bao nhiêu cho mình, mà là đời ta đã trở thành ơn cứu giúp cho ai. Người ta có thể tích lũy rất nhiều tiền mà chẳng cứu được một trái tim. Người ta có thể có địa vị cao mà chẳng làm cho ai bớt cô đơn. Người ta có thể được hàng ngàn người biết đến nhưng chưa chắc có một người cảm thấy được yêu hơn nhờ sự hiện diện của mình. Ngược lại, có những người sống rất bình thường nhưng khi họ qua đời, người ta mới nhận ra họ đã âm thầm nâng đỡ cả một gia đình, cả một cộng đoàn. Họ không làm chuyện lớn lao. Họ chỉ biết cho. Mỗi ngày một chút. Một chút nhẫn nại. Một chút hy sinh. Một chút lắng nghe. Một chút tha thứ. Một chút âm thầm. Một chút “không cứu mình” để người bên cạnh được cứu khỏi cô đơn, khỏi tuyệt vọng, khỏi tổn thương.
Đức Giêsu không cứu mình để cứu chúng ta, nhưng câu chuyện không dừng ở chiều thứ Sáu Tuần Thánh. Điều rất quan trọng là Đấng không cứu mình khỏi cái chết lại được Chúa Cha cho sống lại. Đây là điểm làm cho hy sinh Kitô giáo khác với sự tự hủy vô nghĩa. Người môn đệ có thể mất vì yêu nhưng không mất trong hư vô. Người có thể cho đi nhưng Thiên Chúa không quên. Người có thể chịu thiệt nhưng phần cuối cùng của lịch sử nằm trong tay Chúa Cha. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là ngày cuối. Ngôi mộ không phải là nơi kết thúc. Đó là niềm hy vọng của những người đang hy sinh mà không thấy kết quả. Có những điều ta cho đi hôm nay có thể chưa thấy hoa trái. Có những lời cầu ta đọc suốt nhiều năm chưa thấy được đáp lại theo cách ta mong. Có những hy sinh chẳng ai biết. Nhưng Thiên Chúa biết. Và Thiên Chúa của Đức Giêsu chịu đóng đinh cũng là Thiên Chúa của buổi sáng Phục Sinh.
Bởi vậy, nếu hôm nay cha đang mệt vì đã cho quá nhiều, xin cha nhìn lên Thập Giá. Nếu một người mẹ cảm thấy mình cả đời sống cho con mà con vẫn chưa hiểu, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một người cha thấy những hy sinh của mình bị coi là chuyện đương nhiên, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một người vợ đang lặng lẽ giữ gia đình bằng những giọt nước mắt chẳng ai thấy, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một người chồng đang gánh những lo toan không biết nói với ai, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một linh mục có lúc thấy mình đã dành cả đời phục vụ mà vẫn bị hiểu sai, hãy nhìn lên Thập Giá. Không phải để tự ru mình trong đau khổ, nhưng để nhớ rằng tình yêu chân thật chưa bao giờ vô ích. Có thể người đời không hiểu. Có thể người được yêu chưa nhận ra. Có thể kết quả chưa xuất hiện. Nhưng một sự trao hiến được đặt trong tay Thiên Chúa không bao giờ mất đi.
Và nếu hôm nay ta đang đứng phía dưới Thập Giá như đám đông năm xưa, cũng xin cẩn thận. Có khi ta cũng nói với người đang đau: nếu anh tốt thì sao đời anh lại thế? Nếu chị có Chúa thì sao gia đình chị lại gặp chuyện này? Nếu cha cầu nguyện nhiều thì sao cha vẫn bệnh? Nếu người ấy sống đạo tốt thì tại sao vẫn bất hạnh? Những câu ấy có thể vô tình trở thành những lời chế nhạo như dưới chân Canvê. Ta không biết Thiên Chúa đang làm gì trong một đời người. Đừng lấy thành công bên ngoài làm thước đo tình yêu của Chúa. Đức Giêsu là Con yêu dấu mà vẫn chịu đóng đinh. Đức Maria đầy ân sủng mà vẫn đứng dưới chân Thập Giá. Các Tông đồ được chọn mà vẫn phải chịu bách hại. Các thánh yêu Chúa mà không được miễn khỏi nước mắt. Đức tin không hứa một đời không đau. Đức tin hứa rằng trong đau khổ, ta không một mình; trong Thập Giá có thể có ơn cứu độ; và sau Thập Giá có Phục Sinh.
Có một câu rất đẹp có thể mang theo trong lòng: Chúa Giêsu không xuống khỏi Thập Giá không phải vì Người không thể, mà vì Người không muốn xuống một mình. Nếu Người xuống, Người có thể cứu chính mình. Nhưng Người ở lại để kéo chúng ta lên. Người chọn bước xuống tận đáy phận người để không còn một đáy sâu nào của đời ta mà Người chưa từng chạm đến. Từ nay, không ai có thể nói: Chúa không biết nỗi đau của tôi. Người biết. Người đã bị bỏ rơi. Người đã bị hiểu lầm. Người đã bị phản bội. Người đã bị kết án oan. Người đã bị nhục mạ. Người đã khóc. Người đã sợ. Người đã khát. Người đã chết. Và chính từ nơi thấp nhất ấy, Người ôm lấy tất cả những ai đang ở nơi thấp nhất.
Có lẽ mầu nhiệm cứu độ không gì khác hơn là thế này: Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách đứng trên cao ra lệnh cho con người phải vươn lên, nhưng bằng cách đi xuống để mang con người lên. Đức Giêsu không bảo chúng ta trèo lên Thập Giá của Người. Người xuống tận Thập Giá của chúng ta. Người bước vào mọi nỗi đau của nhân loại và từ bên trong biến nó thành một con đường đi về sự sống. Đó là lý do tại sao Kitô hữu không thờ một Thập Giá trống rỗng của tuyệt vọng, nhưng tôn kính Đấng Chịu Đóng Đinh. Không phải vì chúng ta yêu đau khổ, mà vì chúng ta đã gặp một Tình Yêu mạnh hơn đau khổ.
“Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Người ta cười. Thiên thần có lẽ lặng thinh. Mẹ Maria đứng đó. Gioan đứng đó. Đức Giêsu không trả lời lời thách thức bằng một phép lạ. Người trả lời bằng cách ở lại. Và chính sự ở lại ấy là câu trả lời lớn nhất. Người ở lại cho đến cùng. Người ở lại khi môn đệ chạy hết. Người ở lại khi dân chúng chế nhạo. Người ở lại khi thân xác không còn sức. Người ở lại khi không cảm thấy sự an ủi của Chúa Cha. Người ở lại cho đến khi có thể nói: “Thế là đã hoàn tất.” Đó là tình yêu cứu độ: không bỏ cuộc giữa đường.
Xin cho chúng ta cũng biết ở lại. Ở lại với Chúa khi cầu nguyện khô khan. Ở lại với gia đình khi có sóng gió. Ở lại với người mình đã hứa yêu khi họ không còn dễ yêu. Ở lại với ơn gọi khi không còn những cảm xúc ban đầu. Ở lại với người đau khổ khi ta không biết phải nói gì. Ở lại với một người bệnh khi ta không thể chữa cho họ. Ở lại với một người đang khóc dù ta không thể giải quyết vấn đề của họ. Vì đôi khi ta không thể cứu người khác khỏi thập giá, nhưng ta có thể làm cho họ không phải chịu thập giá một mình. Và biết đâu, đó chính là cách Chúa muốn ta trở thành khí cụ cứu độ trong đời này.
Cuối cùng, xin được trở lại với chính câu chế nhạo ấy một lần nữa, nhưng lần này không nghe bằng tai của đám đông, mà bằng trái tim của người môn đệ: “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Vâng, lạy Chúa, Chúa đã không cứu mình. Chúa đã không giữ lại đôi tay khỏi những chiếc đinh. Chúa đã không giữ lại đôi chân khỏi cây gỗ. Chúa đã không giữ lại tấm lưng khỏi roi đòn. Chúa đã không giữ lại khuôn mặt khỏi những cái tát và nhổ nước bọt. Chúa đã không giữ lại danh dự khỏi sự nhục mạ. Chúa đã không giữ lại máu. Chúa đã không giữ lại hơi thở. Chúa đã không giữ lại chính mình. Vì Chúa đã chọn chúng con.
Và có lẽ suốt đời này chúng con sẽ không bao giờ hiểu hết được một tình yêu như thế. Chúng con chỉ có thể quỳ xuống. Quỳ xuống trước Đấng đã có thể cứu mình nhưng đã chọn cứu chúng con. Quỳ xuống trước Đấng đã có thể bước xuống khỏi Thập Giá nhưng đã ở lại vì chúng con. Quỳ xuống trước một Thiên Chúa không yêu bằng lời nói, nhưng bằng thân thể bị bẻ ra, bằng máu đổ xuống, bằng một trái tim bị đâm thâu. Rồi từ dưới chân Thập Giá ấy, chúng con xin học lại cách sống. Xin cho chúng con bớt giữ mình để biết trao mình. Bớt lo phần mình để biết nghĩ đến người khác. Bớt sợ thiệt để biết yêu. Bớt hỏi “tôi được gì?” để biết hỏi “người kia cần gì nơi tôi?”. Và xin cho đời chúng con, dù nhỏ bé, cũng có thể trở thành một câu trả lời cho tình yêu của Chúa: bởi Chúa đã không cứu mình để cứu chúng con, xin cho chúng con cũng biết chết đi một chút cho mình mỗi ngày, để một người nào đó bên cạnh chúng con được sống hơn, được hy vọng hơn, được bình an hơn và được nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn còn yêu họ.
Lm. Anmai, CSsR

CHÚA KHÔNG CỨU MÌNH ĐỂ CỨU CHÚNG TA
Tin Mừng: Mt 27,39-42
Có những câu nói được thốt ra để chế nhạo nhưng cuối cùng lại trở thành một lời tuyên xưng mà chính người nói cũng không hề hay biết. Có những lời tưởng như xúc phạm Thiên Chúa nhưng lại vô tình chạm vào tận đáy mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trên đồi Canvê chiều hôm ấy, giữa tiếng cười nhạo, tiếng thách thức, tiếng nguyền rủa và những cái lắc đầu của đám đông, có một câu được ném vào Đức Giêsu đang hấp hối trên Thập Giá: “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Người ta nói câu ấy để làm nhục Chúa. Người ta nghĩ rằng đó là bằng chứng cuối cùng cho thấy Đức Giêsu đã thất bại. Người ta muốn bảo rằng một người tự nhận mình cứu được người khác mà cuối cùng lại bất lực trước chính cái chết của mình thì còn đáng tin gì nữa. Thế nhưng họ không biết rằng chính câu chế nhạo ấy lại nói đúng hơn họ tưởng. Đúng, Người cứu được thiên hạ mà không cứu mình. Chính vì Người không cứu mình nên Người mới cứu được thiên hạ. Nếu Người cứu mình khỏi Thập Giá, chúng ta đã không được cứu bởi Thập Giá. Nếu Người chọn giữ mạng sống mình, nhân loại vẫn còn nằm trong cái chết. Nếu Người bước xuống khỏi cây gỗ ấy để chứng minh quyền năng, Người có thể làm cả đồi Canvê kinh ngạc trong một khoảnh khắc, nhưng Người sẽ không cứu được một nhân loại đang cần một tình yêu đi đến tận cùng. Mầu nhiệm của Kitô giáo nằm ở một nghịch lý như thế: Đức Giêsu có thể cứu mình, nhưng Người không cứu mình, bởi Người đã chọn cứu chúng ta.
Người ta đứng dưới chân Thập Giá và thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Đó không phải lần đầu tiên Đức Giêsu nghe một lời mời gọi như thế. Trong hoang địa, ma quỷ cũng từng bắt đầu bằng chữ “nếu”: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh.” “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống.” Bây giờ trên Canvê, cơn cám dỗ ấy trở lại lần cuối cùng, dữ dội hơn, cay nghiệt hơn: nếu ông thật sự là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn, hãy xuống đi; nếu ông có quyền năng, hãy tự cứu lấy mình; nếu ông là vua, hãy làm một điều gì đó cho bản thân mình. Nhưng Đức Giêsu không xuống. Không phải vì những chiếc đinh mạnh hơn quyền năng của Người. Không phải vì quân lính Rôma giữ được Người trên Thập Giá. Không phải vì Người không còn khả năng làm phép lạ. Những chiếc đinh không thể giữ nổi Con Thiên Chúa nếu Người muốn bước xuống. Điều giữ Đức Giêsu trên Thập Giá không phải là sắt thép, mà là tình yêu. Người ở lại vì Người yêu. Người không cứu mình bởi Người không muốn bỏ chúng ta. Cây Thập Giá không phải là nơi Đức Giêsu bị nhốt trong bất lực, nhưng là nơi Người tự nguyện ở lại trong tình yêu. Chính vì thế, sức mạnh lớn nhất của Thiên Chúa không nằm ở việc làm cho người ta kinh ngạc, mà nằm ở khả năng yêu đến mức không còn giữ lại gì cho mình.
Con người chúng ta thường nghĩ khác. Bản năng đầu tiên của con người là cứu mình. Khi có nguy hiểm, ta nghĩ đến mình trước. Khi bị hiểu lầm, ta muốn thanh minh cho mình. Khi bị xúc phạm, ta muốn bảo vệ danh dự mình. Khi quyền lợi bị đụng chạm, ta tìm cách giữ phần của mình. Khi phải chọn giữa mình và người khác, rất nhiều khi ta chọn mình. Điều ấy không hoàn toàn xấu, bởi con người có bản năng sinh tồn. Nhưng Tin Mừng đưa chúng ta đi xa hơn bản năng. Đức Giêsu cho chúng ta thấy rằng tình yêu chỉ bắt đầu trở thành tình yêu cứu độ khi con người biết bước ra khỏi sự ám ảnh phải giữ lấy chính mình. Người cứu thế gian không bằng cách giữ mình an toàn, nhưng bằng cách trao chính mình. Người cứu thế gian không bằng cách đứng xa đau khổ của nhân loại, nhưng bằng cách bước vào đó. Người không nói với nhân loại từ một ngai vàng không vương bụi đất. Người đi vào nỗi đau, mang lấy tội lỗi, chịu sự phản bội, gánh lấy cô đơn, nếm trải nhục nhã, và cuối cùng đi vào cái chết. Thiên Chúa không cứu chúng ta từ xa. Người cứu chúng ta bằng cách ở giữa chúng ta, ở với chúng ta và chết cho chúng ta.
“Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Người ta tưởng rằng một Đấng Cứu Thế trước hết phải cứu được chính mình. Theo logic thế gian, điều đó hoàn toàn hợp lý. Người mạnh là người thoát được khỏi nguy hiểm. Người thành công là người không để mình thất bại. Người khôn ngoan là người biết tránh thiệt thân. Người quyền lực là người không để ai làm nhục mình. Thế nhưng Thiên Chúa lại đi một con đường ngược lại. Đức Giêsu không chứng minh mình là Đấng Cứu Thế bằng cách thoát khỏi Thập Giá, nhưng bằng cách đi xuyên qua Thập Giá. Người không chứng minh Người là Con Thiên Chúa bằng cách miễn cho mình khỏi đau khổ, nhưng bằng cách yêu giữa đau khổ. Người không chứng minh quyền năng bằng việc làm cho kẻ thù phải quỳ xuống, nhưng bằng việc cầu xin Chúa Cha tha thứ cho họ. Người không chiến thắng bằng việc tiêu diệt những kẻ đóng đinh mình, nhưng bằng việc không để sự độc ác của họ biến trái tim mình thành độc ác. Đó là một quyền năng rất khác. Đó là quyền năng của tình yêu không bị cái ác đánh bại. Đó là quyền năng có thể chịu thương tích mà không trở thành người gây thương tích. Đó là quyền năng có thể bị ghét mà vẫn yêu. Đó là quyền năng có thể bị phản bội mà vẫn trung thành. Đó là quyền năng có thể mất tất cả mà vẫn không đánh mất căn tính của mình là Con yêu dấu của Chúa Cha.
Có lẽ đây cũng là điều chúng ta phải học rất lâu trong đời sống đức tin: không phải lúc nào Chúa cứu ta cũng bằng cách đưa ta xuống khỏi thập giá. Chúng ta thích một Thiên Chúa làm cho mọi sự dễ dàng. Ta cầu khi bệnh và mong được khỏi ngay. Ta cầu khi gia đình gặp rắc rối và mong mọi chuyện lập tức bình an. Ta cầu khi công việc thất bại và mong Chúa mở một cánh cửa khác. Ta cầu khi bị oan và mong sự thật nhanh chóng được sáng tỏ. Ta cầu khi gặp đau khổ và mong Chúa cất đau khổ đi. Những lời cầu ấy rất con người và không có gì sai. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng từng cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người không dừng lại ở đó. Người thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đức tin trưởng thành không phải là đức tin không còn xin Chúa cất thập giá, nhưng là đức tin biết rằng ngay cả khi Thập Giá không được cất đi, Chúa vẫn có thể làm nên ơn cứu độ ở đó. Đức Giêsu không xuống khỏi Thập Giá, nhưng chính trên Thập Giá Người cứu thế gian. Có những lúc Chúa không cứu ta khỏi một hoàn cảnh, bởi Người đang cứu ta ngay trong hoàn cảnh ấy. Có những lúc Người không đưa ta ra khỏi đau khổ lập tức, bởi Người đang biến đau khổ thành một nơi gặp gỡ sâu hơn với Người. Có những lúc ta tưởng Chúa im lặng, nhưng thật ra Người đang làm một điều lớn hơn điều ta cầu xin.
Một người mẹ có thể cầu nguyện nhiều năm cho đứa con lầm lạc mà chưa thấy nó trở về. Một người vợ có thể cầu cho chồng bỏ rượu, bỏ cờ bạc, bỏ những thói quen làm tan nát gia đình nhưng phải đợi rất lâu. Một người cha có thể đi lễ mỗi ngày, cầu cho con mình biết sống tử tế mà vẫn phải nhìn nó đi hết sai lầm này đến sai lầm khác. Một người bệnh có thể lần chuỗi từng tối mà căn bệnh vẫn còn đó. Một người tận tâm có thể sống ngay lành mà vẫn bị hiểu lầm. Có những linh mục đã hết lòng phục vụ mà vẫn bị phê bình. Có những người đã sống rất tốt nhưng vẫn gặp những điều họ không đáng phải chịu. Trong những hoàn cảnh ấy, cám dỗ lớn nhất là hỏi: nếu Chúa yêu tôi, tại sao Chúa không cứu tôi khỏi chuyện này? Nếu Chúa quyền năng, tại sao Chúa không thay đổi ngay? Nếu Chúa nghe lời cầu, tại sao Thập Giá vẫn còn? Và Tin Mừng hôm nay đưa ta trở lại Canvê để thấy chính Con Một Thiên Chúa cũng đã đứng trong câu hỏi ấy. Người cũng nghe: nếu Thiên Chúa thương ông, hãy để Người cứu ông đi. Nhưng Chúa Cha không đưa Đức Giêsu xuống khỏi Thập Giá. Không phải vì Chúa Cha hết yêu Con. Không phải vì lời cầu của Con không được nghe. Chính nơi dường như Chúa Cha vắng mặt nhất lại là nơi tình yêu cứu độ đang được hoàn tất sâu xa nhất.
Điều đáng sợ nhất trong đời không phải luôn luôn là đau khổ. Điều đáng sợ hơn là đau khổ mà không biết mình đang đau vì điều gì, đau khổ mà trở thành cay đắng, đau khổ mà mất niềm tin, đau khổ mà từ người bị thương ta biến thành người làm thương tích người khác. Đức Giêsu chịu đau, nhưng Người không để đau khổ định nghĩa trái tim mình. Người vẫn tha thứ. Người vẫn nhớ đến người khác. Ngay trên Thập Giá, khi chính mình đang hấp hối, Người vẫn nghĩ đến người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Người vẫn nghĩ đến Mẹ và người môn đệ: “Thưa Bà, đây là con của Bà… đây là mẹ của anh.” Người vẫn nghĩ đến những kẻ giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Thật lạ lùng, Đức Giêsu đang chết mà vẫn dành trái tim cho người khác. Người không cứu mình vì cho đến hơi thở cuối cùng, Người vẫn đang cứu chúng ta.
Có lẽ chúng ta cần đứng thật lâu dưới chân Thập Giá để hiểu tình yêu là gì. Tình yêu không phải chỉ là những lời đẹp lúc mọi chuyện đang thuận lợi. Tình yêu thật chỉ được biết rõ khi nó phải trả giá. Yêu một người dễ thương thì chưa có gì đáng nói. Yêu khi người kia làm ta mệt mỏi mới khó. Trung thành khi mọi thứ êm đềm thì chưa hẳn là trung thành. Trung thành khi phải chịu thiệt mới nói được nhiều hơn. Tha thứ cho người biết lỗi thì dễ hơn tha thứ cho người vẫn còn kiêu ngạo. Phục vụ khi được ghi nhận thì dễ hơn phục vụ trong âm thầm. Bởi thế Thập Giá là nơi Chúa dạy chúng ta rằng tình yêu luôn có giá của nó. Và giá cao nhất của tình yêu là chính mình. Đức Giêsu không cho ta một món quà nào từ bên ngoài Người. Người trao chính Người. Không phải một phần. Không phải một giờ. Không phải một ít máu. Người trao cho đến giọt cuối cùng.
“Chúa không cứu mình để cứu chúng ta” cũng là một lời mời gọi rất mạnh cho đời sống người Kitô hữu. Bởi người môn đệ không thể đi theo một Đức Kitô tự hiến mà lại sống một đời chỉ biết giữ lấy mình. Chúng ta có thể đi lễ, đọc kinh, làm việc đạo đức, nhưng nếu cả đời chỉ xoay quanh việc bảo vệ sự thoải mái của mình, danh dự của mình, ý kiến của mình, quyền lợi của mình, thì có lẽ ta vẫn chưa thật sự bước vào logic của Thập Giá. Có những lúc cứu người khác đòi ta phải mất thời gian. Có những lúc muốn giữ một gia đình, ta phải nuốt bớt một câu nói. Có những lúc muốn giúp một người đứng lên, ta phải hy sinh một phần tiện nghi của mình. Có những lúc muốn phục vụ cộng đoàn, ta phải chấp nhận không được làm theo ý mình. Có những lúc muốn gìn giữ một tình bạn, ta phải bước qua cái tôi. Có những lúc muốn tha thứ, ta phải để một phần tự ái trong mình chết đi. Có những lúc muốn một người khác được sống, ta phải biết “không cứu mình” theo nghĩa là không giữ khư khư phần hơn, phần đúng, phần tiện lợi cho bản thân.
Thế nhưng cần hiểu cho đúng. Tin Mừng không dạy chúng ta coi thường bản thân, không dạy để người khác bạo hành mình, không dạy rằng càng đau càng thánh. Thập Giá không phải là sự tôn thờ đau khổ. Chúa Giêsu không tìm đau khổ vì đau khổ. Người chấp nhận Thập Giá vì tình yêu và vì trung thành với sứ mạng Chúa Cha trao. Có những đau khổ phải tránh. Có những bất công phải lên tiếng. Có những sự dữ phải chống lại. Có những mối quan hệ độc hại cần có ranh giới. Nhưng cũng có những hy sinh mà không ai có thể tránh nếu muốn yêu thật. Một người mẹ không thể yêu con mà không mất ngủ. Một người cha không thể gánh gia đình mà chưa từng mệt. Một người vợ hay người chồng không thể sống hôn nhân mà không có lúc phải bỏ ý riêng. Một linh mục không thể làm mục tử mà chỉ chọn những người dễ thương. Một người sống đời thánh hiến không thể nói lời khấn mà không có những ngày phải chết đi cho cái tôi. Không có tình yêu trưởng thành nào mà không mang hình dáng nào đó của Thập Giá.
Đáng tiếc là thế giới hôm nay dạy ta rất nhiều cách để “cứu mình”. Hãy ưu tiên bản thân. Hãy chọn điều khiến mình thoải mái. Hãy rời khỏi những gì làm mình phiền. Hãy đừng chịu thiệt. Hãy luôn bảo vệ quyền lợi của mình. Một phần trong đó có những điều cần thiết. Con người cần chăm sóc chính mình. Nhưng nếu cái tôi trở thành trung tâm tuyệt đối, con người sẽ dần mất khả năng yêu. Bởi yêu bao giờ cũng có lúc làm ta bất tiện. Một đứa trẻ khóc lúc nửa đêm rất bất tiện. Một người già lẩm cẩm rất bất tiện. Một người bệnh cần chăm sóc lâu dài rất bất tiện. Một người nghèo đến gõ cửa đúng lúc ta bận cũng bất tiện. Một người trong gia đình đang khủng hoảng có thể làm đảo lộn kế hoạch của ta. Nếu tiêu chuẩn cao nhất của đời sống là “điều này có lợi cho tôi không?”, cuối cùng ta sẽ có thể giữ được rất nhiều thứ nhưng lại mất khả năng trao ban chính mình.
Đức Giêsu thì ngược lại. Người không hỏi: chuyện này có lợi cho tôi không? Người hỏi: điều này có cứu được họ không? Người không chọn đường dễ nhất. Người chọn con đường trung thành nhất. Người không tìm cách thoát thân. Người tìm cách hoàn tất ý Chúa Cha. Và chính vì thế, nơi mà thế gian thấy thất bại, Thiên Chúa thấy chiến thắng. Nơi thế gian thấy một con người bất lực bị đóng đinh, đức tin thấy Chiên Thiên Chúa đang mang lấy tội trần gian. Nơi thế gian thấy một bản án, Thiên Chúa mở ra giao ước mới. Nơi thế gian thấy máu chảy, Hội Thánh thấy nguồn mạch sự sống. Nơi thế gian nghe tiếng “thế là hết”, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất.”
Có một nghịch lý đau đớn mà đẹp đến rơi nước mắt: chính lúc Đức Giêsu dường như không cứu được mình, Người lại đang cứu tất cả chúng ta. Chính lúc đôi tay Người bị đóng chặt, Người đang mở cửa trời. Chính lúc đôi chân Người không thể bước nữa, Người đang dẫn nhân loại trở về nhà Cha. Chính lúc Người khát, Người đang trở thành nguồn nước hằng sống. Chính lúc Người không còn áo che thân, Người đang mặc lại cho nhân loại phẩm giá đã mất vì tội lỗi. Chính lúc Người chết, Người đang tiêu diệt sự chết. Thiên Chúa làm những việc lớn lao nhất trong một hình thức mà con người dễ hiểu lầm nhất.
Bởi thế đừng quá vội đánh giá một đời người chỉ từ những điều đang nhìn thấy. Có những người âm thầm hy sinh mà chẳng ai biết, nhưng chính họ đang giữ một mái nhà khỏi tan. Có những bà mẹ mỗi tối lặng lẽ cầu cho con mà không ai ghi nhận, nhưng lời cầu của họ đang giữ đứa con ấy khỏi rơi sâu hơn. Có những người chồng đi làm cực nhọc mà chẳng bao giờ kể công. Có những người vợ bao năm chịu khó chăm sóc gia đình mà chẳng có một tấm hình nào được đăng lên để người ta khen. Có những người trẻ chăm cha mẹ già thay vì chạy theo những cuộc vui. Có những linh mục lặng lẽ ngồi hàng giờ trong tòa giải tội, đi thăm bệnh, an táng người nghèo, nghe những câu chuyện chẳng ai muốn nghe. Có những nữ tu sống ở nơi không ai biết tên, chăm những con người chẳng ai nhớ. Thế gian có thể không gọi đó là thành công. Nhưng dưới ánh sáng Thập Giá, những hy sinh ấy có một giá trị khác. Vì bất cứ nơi nào một người chịu mất đi một phần mình để người khác được sống, ở đó thấp thoáng hình bóng Đức Kitô.
Nhưng cũng phải tự hỏi mình một câu khó: trong đời sống, tôi đang cứu ai ngoài chính mình? Tôi đã sống bao nhiêu năm chỉ để xây cho mình một vùng an toàn? Tôi có sẵn sàng chịu thiệt một chút để người bên cạnh bớt đau không? Tôi có thể bỏ một chút thời gian để nghe một người đang cô đơn không? Tôi có thể bớt một lời cay nghiệt để giữ một người khỏi tổn thương không? Tôi có thể bỏ một phần tự ái để làm hòa không? Tôi có thể bớt một chút tiền cho một người đang thiếu không? Tôi có thể bỏ một buổi nghỉ ngơi để thăm người bệnh không? Tôi có thể làm một điều tốt mà không cần ai biết không? Những câu hỏi ấy nhỏ thôi, nhưng Tin Mừng được sống chính từ những điều nhỏ như thế.
Nhiều người muốn cứu thế giới nhưng lại không chịu thiệt trong gia đình mình. Nhiều người nói rất hay về bác ái nhưng không chịu nhường một câu trong bữa cơm. Nhiều người muốn làm việc lớn cho Giáo Hội nhưng rất khó chịu khi người khác không công nhận mình. Nhiều người nói yêu Chúa nhưng không chịu mất một chút thời gian cho người cần mình. Chúa Giêsu không cứu nhân loại bằng một bài diễn văn. Người cứu bằng thân thể bị trao nộp. Kitô giáo không chỉ là một hệ thống tư tưởng đẹp. Kitô giáo là một Con Người đã bẻ bánh và nói: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Toàn bộ đời Đức Giêsu nằm trong chữ “cho”. Sinh ra cho chúng ta. Sống cho chúng ta. Rao giảng cho chúng ta. Chữa lành cho chúng ta. Bẻ bánh cho chúng ta. Đổ máu cho chúng ta. Chết cho chúng ta. Và sống lại để mở cho chúng ta một con đường sống mới.
“Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Có lẽ đến cuối đời, điều đáng hỏi không phải là ta đã giữ lại được bao nhiêu cho mình, mà là đời ta đã trở thành ơn cứu giúp cho ai. Người ta có thể tích lũy rất nhiều tiền mà chẳng cứu được một trái tim. Người ta có thể có địa vị cao mà chẳng làm cho ai bớt cô đơn. Người ta có thể được hàng ngàn người biết đến nhưng chưa chắc có một người cảm thấy được yêu hơn nhờ sự hiện diện của mình. Ngược lại, có những người sống rất bình thường nhưng khi họ qua đời, người ta mới nhận ra họ đã âm thầm nâng đỡ cả một gia đình, cả một cộng đoàn. Họ không làm chuyện lớn lao. Họ chỉ biết cho. Mỗi ngày một chút. Một chút nhẫn nại. Một chút hy sinh. Một chút lắng nghe. Một chút tha thứ. Một chút âm thầm. Một chút “không cứu mình” để người bên cạnh được cứu khỏi cô đơn, khỏi tuyệt vọng, khỏi tổn thương.
Đức Giêsu không cứu mình để cứu chúng ta, nhưng câu chuyện không dừng ở chiều thứ Sáu Tuần Thánh. Điều rất quan trọng là Đấng không cứu mình khỏi cái chết lại được Chúa Cha cho sống lại. Đây là điểm làm cho hy sinh Kitô giáo khác với sự tự hủy vô nghĩa. Người môn đệ có thể mất vì yêu nhưng không mất trong hư vô. Người có thể cho đi nhưng Thiên Chúa không quên. Người có thể chịu thiệt nhưng phần cuối cùng của lịch sử nằm trong tay Chúa Cha. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là ngày cuối. Ngôi mộ không phải là nơi kết thúc. Đó là niềm hy vọng của những người đang hy sinh mà không thấy kết quả. Có những điều ta cho đi hôm nay có thể chưa thấy hoa trái. Có những lời cầu ta đọc suốt nhiều năm chưa thấy được đáp lại theo cách ta mong. Có những hy sinh chẳng ai biết. Nhưng Thiên Chúa biết. Và Thiên Chúa của Đức Giêsu chịu đóng đinh cũng là Thiên Chúa của buổi sáng Phục Sinh.
Bởi vậy, nếu hôm nay cha đang mệt vì đã cho quá nhiều, xin cha nhìn lên Thập Giá. Nếu một người mẹ cảm thấy mình cả đời sống cho con mà con vẫn chưa hiểu, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một người cha thấy những hy sinh của mình bị coi là chuyện đương nhiên, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một người vợ đang lặng lẽ giữ gia đình bằng những giọt nước mắt chẳng ai thấy, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một người chồng đang gánh những lo toan không biết nói với ai, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu một linh mục có lúc thấy mình đã dành cả đời phục vụ mà vẫn bị hiểu sai, hãy nhìn lên Thập Giá. Không phải để tự ru mình trong đau khổ, nhưng để nhớ rằng tình yêu chân thật chưa bao giờ vô ích. Có thể người đời không hiểu. Có thể người được yêu chưa nhận ra. Có thể kết quả chưa xuất hiện. Nhưng một sự trao hiến được đặt trong tay Thiên Chúa không bao giờ mất đi.
Và nếu hôm nay ta đang đứng phía dưới Thập Giá như đám đông năm xưa, cũng xin cẩn thận. Có khi ta cũng nói với người đang đau: nếu anh tốt thì sao đời anh lại thế? Nếu chị có Chúa thì sao gia đình chị lại gặp chuyện này? Nếu cha cầu nguyện nhiều thì sao cha vẫn bệnh? Nếu người ấy sống đạo tốt thì tại sao vẫn bất hạnh? Những câu ấy có thể vô tình trở thành những lời chế nhạo như dưới chân Canvê. Ta không biết Thiên Chúa đang làm gì trong một đời người. Đừng lấy thành công bên ngoài làm thước đo tình yêu của Chúa. Đức Giêsu là Con yêu dấu mà vẫn chịu đóng đinh. Đức Maria đầy ân sủng mà vẫn đứng dưới chân Thập Giá. Các Tông đồ được chọn mà vẫn phải chịu bách hại. Các thánh yêu Chúa mà không được miễn khỏi nước mắt. Đức tin không hứa một đời không đau. Đức tin hứa rằng trong đau khổ, ta không một mình; trong Thập Giá có thể có ơn cứu độ; và sau Thập Giá có Phục Sinh.
Có một câu rất đẹp có thể mang theo trong lòng: Chúa Giêsu không xuống khỏi Thập Giá không phải vì Người không thể, mà vì Người không muốn xuống một mình. Nếu Người xuống, Người có thể cứu chính mình. Nhưng Người ở lại để kéo chúng ta lên. Người chọn bước xuống tận đáy phận người để không còn một đáy sâu nào của đời ta mà Người chưa từng chạm đến. Từ nay, không ai có thể nói: Chúa không biết nỗi đau của tôi. Người biết. Người đã bị bỏ rơi. Người đã bị hiểu lầm. Người đã bị phản bội. Người đã bị kết án oan. Người đã bị nhục mạ. Người đã khóc. Người đã sợ. Người đã khát. Người đã chết. Và chính từ nơi thấp nhất ấy, Người ôm lấy tất cả những ai đang ở nơi thấp nhất.
Có lẽ mầu nhiệm cứu độ không gì khác hơn là thế này: Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách đứng trên cao ra lệnh cho con người phải vươn lên, nhưng bằng cách đi xuống để mang con người lên. Đức Giêsu không bảo chúng ta trèo lên Thập Giá của Người. Người xuống tận Thập Giá của chúng ta. Người bước vào mọi nỗi đau của nhân loại và từ bên trong biến nó thành một con đường đi về sự sống. Đó là lý do tại sao Kitô hữu không thờ một Thập Giá trống rỗng của tuyệt vọng, nhưng tôn kính Đấng Chịu Đóng Đinh. Không phải vì chúng ta yêu đau khổ, mà vì chúng ta đã gặp một Tình Yêu mạnh hơn đau khổ.
“Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Người ta cười. Thiên thần có lẽ lặng thinh. Mẹ Maria đứng đó. Gioan đứng đó. Đức Giêsu không trả lời lời thách thức bằng một phép lạ. Người trả lời bằng cách ở lại. Và chính sự ở lại ấy là câu trả lời lớn nhất. Người ở lại cho đến cùng. Người ở lại khi môn đệ chạy hết. Người ở lại khi dân chúng chế nhạo. Người ở lại khi thân xác không còn sức. Người ở lại khi không cảm thấy sự an ủi của Chúa Cha. Người ở lại cho đến khi có thể nói: “Thế là đã hoàn tất.” Đó là tình yêu cứu độ: không bỏ cuộc giữa đường.
Xin cho chúng ta cũng biết ở lại. Ở lại với Chúa khi cầu nguyện khô khan. Ở lại với gia đình khi có sóng gió. Ở lại với người mình đã hứa yêu khi họ không còn dễ yêu. Ở lại với ơn gọi khi không còn những cảm xúc ban đầu. Ở lại với người đau khổ khi ta không biết phải nói gì. Ở lại với một người bệnh khi ta không thể chữa cho họ. Ở lại với một người đang khóc dù ta không thể giải quyết vấn đề của họ. Vì đôi khi ta không thể cứu người khác khỏi thập giá, nhưng ta có thể làm cho họ không phải chịu thập giá một mình. Và biết đâu, đó chính là cách Chúa muốn ta trở thành khí cụ cứu độ trong đời này.
Cuối cùng, xin được trở lại với chính câu chế nhạo ấy một lần nữa, nhưng lần này không nghe bằng tai của đám đông, mà bằng trái tim của người môn đệ: “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Vâng, lạy Chúa, Chúa đã không cứu mình. Chúa đã không giữ lại đôi tay khỏi những chiếc đinh. Chúa đã không giữ lại đôi chân khỏi cây gỗ. Chúa đã không giữ lại tấm lưng khỏi roi đòn. Chúa đã không giữ lại khuôn mặt khỏi những cái tát và nhổ nước bọt. Chúa đã không giữ lại danh dự khỏi sự nhục mạ. Chúa đã không giữ lại máu. Chúa đã không giữ lại hơi thở. Chúa đã không giữ lại chính mình. Vì Chúa đã chọn chúng con.
Và có lẽ suốt đời này chúng con sẽ không bao giờ hiểu hết được một tình yêu như thế. Chúng con chỉ có thể quỳ xuống. Quỳ xuống trước Đấng đã có thể cứu mình nhưng đã chọn cứu chúng con. Quỳ xuống trước Đấng đã có thể bước xuống khỏi Thập Giá nhưng đã ở lại vì chúng con. Quỳ xuống trước một Thiên Chúa không yêu bằng lời nói, nhưng bằng thân thể bị bẻ ra, bằng máu đổ xuống, bằng một trái tim bị đâm thâu. Rồi từ dưới chân Thập Giá ấy, chúng con xin học lại cách sống. Xin cho chúng con bớt giữ mình để biết trao mình. Bớt lo phần mình để biết nghĩ đến người khác. Bớt sợ thiệt để biết yêu. Bớt hỏi “tôi được gì?” để biết hỏi “người kia cần gì nơi tôi?”. Và xin cho đời chúng con, dù nhỏ bé, cũng có thể trở thành một câu trả lời cho tình yêu của Chúa: bởi Chúa đã không cứu mình để cứu chúng con, xin cho chúng con cũng biết chết đi một chút cho mình mỗi ngày, để một người nào đó bên cạnh chúng con được sống hơn, được hy vọng hơn, được bình an hơn và được nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn còn yêu họ.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI THIÊN CHÚA KHÔNG CÒN GIỮ LẠI GÌ CHO MÌNH
Tin Mừng: Ga 19,28-30
Có những lúc ta đứng trước Thập Giá thật lâu mà vẫn chưa hiểu hết điều đang xảy ra trên đó. Ta thấy một con người bị đóng đinh. Ta thấy những bàn tay đã từng chữa lành nay bị giữ chặt bằng đinh sắt. Ta thấy đôi chân đã từng đi khắp các làng mạc để tìm người đau khổ nay không còn bước được nữa. Ta thấy một khuôn mặt đã từng cúi xuống trên những người tội lỗi, những người bị loại trừ, những người không còn ai muốn nhìn tới, giờ đây phủ đầy máu, mồ hôi và bụi đường. Ta nghe một tiếng nói đã từng làm biển im, làm quỷ dữ phải lùi, làm kẻ chết bước ra khỏi mồ, giờ chỉ còn đủ sức thốt lên: “Ta khát.” Rồi cuối cùng: “Thế là đã hoàn tất.” Và Người gục đầu xuống, trao Thần Khí. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt của thế gian, đó là cảnh một người đã bị lấy đi tất cả. Nhưng nếu nhìn bằng đôi mắt đức tin, ta sẽ nhận ra một điều còn sâu hơn nhiều: trên Thập Giá, không phải chỉ là Đức Giêsu bị lấy mất mọi sự; chính Người đang tự nguyện trao đi mọi sự. Không ai lấy được tình yêu của Người. Người trao nó. Không ai cướp được mạng sống của Người. Người hiến nó. Không ai ép Người phải yêu đến cùng. Người tự do yêu đến cùng. Và bởi thế, Thập Giá trở thành nơi Thiên Chúa không còn giữ lại gì cho mình.
Cả đời Đức Giêsu là một cuộc trao ban. Người sinh ra mà không chọn cho mình một cung điện. Người đến trong một máng cỏ nghèo. Người sống những năm tháng âm thầm ở Nadarét, không tìm hào quang, không giành lấy địa vị. Khi bước vào đời công khai, Người dành thời gian cho đám đông, cho người bệnh, cho người nghèo, cho người bị quỷ ám, cho người tội lỗi. Người cho người khác đôi tay của mình để chữa lành, cho người khác đôi chân của mình để đi tìm họ, cho người khác lời nói của mình để an ủi họ, cho người khác thời giờ của mình, giấc ngủ của mình, sự riêng tư của mình. Có những ngày Người mệt đến mức ngủ trên thuyền giữa giông bão. Có những lúc đám đông chen lấn đến nỗi Người và các môn đệ không có giờ ăn. Có những lúc Người muốn tìm một nơi thanh vắng, nhưng khi nhìn thấy dân chúng bơ vơ như đàn chiên không người chăn, Người lại chạnh lòng thương. Đức Giêsu dường như chẳng giữ cho mình một điều gì. Người sống như thể đời mình là một tấm bánh chỉ có ý nghĩa khi được bẻ ra cho người khác. Và đến đêm cuối cùng, Người cầm lấy bánh mà nói: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Người cầm lấy chén mà nói: “Này là Máu Thầy, đổ ra vì anh em.” Những lời ấy không chỉ là lời thiết lập Bí tích Thánh Thể. Đó là bản tóm tắt của cả đời Người: Mình Thầy cho anh em. Máu Thầy cho anh em. Đời Thầy cho anh em. Không giữ lại.
Nhưng phải đến đồi Canvê, điều ấy mới hiện ra đến tận cùng. Ở đó, Đức Giêsu không còn gì để cho theo cách loài người vẫn cho. Người không có tiền. Không có nhà cửa. Không có quyền lực chính trị. Không có quân đội. Không có một chiếc áo để giữ lại, vì ngay áo của Người cũng bị lính chia nhau. Danh dự của Người bị nghiền nát giữa những lời chế giễu. Thân thể Người bị phơi trần trước đám đông. Những người từng tung hô Người giờ hoặc đã bỏ đi, hoặc đứng xa. Một môn đệ đã bán Người. Một môn đệ đã chối Người. Hầu hết các môn đệ đã chạy trốn. Người bị tước gần như mọi sự mà một con người có thể dựa vào. Nhưng kỳ lạ thay, càng bị tước đi, Người càng trao ban. Khi không còn gì trong tay, Người vẫn còn trái tim. Và Người cho nốt trái tim ấy.
Trên Thập Giá, Đức Giêsu trao lời cuối cùng. Những lời cuối của một con người luôn có sức nặng đặc biệt. Người ta thường giữ lời cuối cho điều quan trọng nhất. Đức Giêsu cũng vậy. Nhưng ngay cả những lời cuối ấy, Người cũng không dùng để bênh vực mình, không dùng để nguyền rủa, không dùng để kể tội những kẻ đóng đinh mình. Người dùng chúng để tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người dùng chúng để mở cửa thiên đàng cho một tên trộm: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng.” Người dùng chúng để trao Mẹ mình cho người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Người dùng chúng để nói lên cơn khát sâu thẳm: “Ta khát.” Người dùng chúng để giao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha.” Và cuối cùng: “Thế là đã hoàn tất.” Không một lời nào Người giữ lại cho mình. Ngay cả hơi thở sau cùng cũng trở thành một lời trao ban.
Thánh Gioan viết một câu rất ngắn: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” Không chỉ là chết. Không chỉ là trút hơi thở. Thánh sử dùng một cách nói gợi lên hành vi trao ban. Đức Giêsu trao Thần Khí. Đến hơi thở cuối cùng, Người vẫn là Đấng cho. Hơi thở đầu tiên của một trẻ thơ thường là dấu hiệu nó bắt đầu sự sống. Hơi thở cuối cùng của một con người thường được xem như dấu chấm hết. Nhưng nơi Đức Giêsu, hơi thở cuối cùng lại trở thành khởi đầu của một thế giới mới. Người trao Thần Khí cho Hội Thánh. Người mở ra nguồn sống mới cho nhân loại. Người chết, nhưng cái chết của Người không đóng cửa. Nó mở cửa. Người hết hơi thở, nhưng chính từ hơi thở ấy, nhân loại được nhận một hơi thở mới.
Rồi một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. “Tức thì, máu cùng nước chảy ra.” Cả khi đã chết, Đức Giêsu vẫn tiếp tục cho. Máu chảy ra. Nước chảy ra. Các Giáo phụ nhìn nơi dòng máu và nước ấy hình ảnh của Bí tích Thánh Thể và Bí tích Thánh Tẩy, hình ảnh của Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Ađam ngủ và từ cạnh sườn ông, Evà được dựng nên. Đức Kitô ngủ giấc chết trên Thập Giá, và từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người, Hội Thánh được sinh ra. Thật lạ lùng: con người đâm vào trái tim Thiên Chúa, và điều chảy ra không phải là sự báo thù, nhưng là máu và nước; không phải là án phạt, nhưng là nguồn ân sủng; không phải là lời nguyền, nhưng là sự sống. Ta làm Người bị thương, Người cho ta sự chữa lành. Ta mở cạnh sườn Người bằng ngọn giáo, Người mở cho ta một con đường trở về. Ta cho Người vết thương, Người cho ta Bí tích. Ta cho Người cái chết, Người cho ta sự sống. Đó là cách Thiên Chúa yêu.
Và còn một điều đau hơn nữa: Đức Giêsu trao cả Mẹ Người. Dưới chân Thập Giá, Đức Maria đứng đó. Người Mẹ đã sinh ra Người, nuôi Người bằng sữa của mình, bồng Người trên tay, dạy Người những bước đầu tiên trong mái nhà Nadarét. Người Mẹ ấy là một trong những gì thân yêu nhất của đời Đức Giêsu. Trong giờ phút cuối cùng, Người có thể chỉ nhìn Mẹ và giữ tình mẫu tử ấy như một điều cuối cùng cho riêng mình. Nhưng không. Người nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Đức Giêsu không giữ Mẹ cho riêng mình. Người trao Mẹ cho môn đệ, trao Mẹ cho Hội Thánh, trao Mẹ cho chúng ta. Có thể nói một cách rất người rằng: đến người Mẹ của mình, Người cũng không giữ lại. Người cho chúng ta cả Mẹ.
Ta thử dừng lại ở đó một chút. Có tình yêu nào như thế không? Ta thường nói ta yêu ai đó, nhưng trong tình yêu của ta vẫn có rất nhiều điều được giữ lại. Ta cho, nhưng vẫn giữ lại một lối thoát. Ta hy sinh, nhưng vẫn muốn người kia ghi nhận. Ta phục vụ, nhưng vẫn chờ một lời cảm ơn. Ta tha thứ, nhưng vẫn giữ lại một phần cay đắng để một ngày nào đó nhắc lại. Ta yêu, nhưng yêu có điều kiện. Ta dâng cho Chúa nhiều thứ, nhưng thường giữ lại đúng điều Chúa đang chạm tới sâu nhất. Ta nói: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa,” nhưng đôi khi phải hiểu thêm một câu nhỏ phía sau: “trừ chuyện này.” Con cho Chúa thời gian, nhưng đừng đụng tới chương trình của con. Con cho Chúa tiền bạc, nhưng đừng đụng tới sự an toàn của con. Con phục vụ Chúa, nhưng đừng để ai làm tổn thương danh dự của con. Con theo Chúa, nhưng xin đừng dẫn con qua con đường con không thích. Con tha thứ, nhưng xin đừng bắt con quên tự ái. Con dâng đời mình, nhưng xin cho con vẫn giữ quyền quyết định cuối cùng. Chúng ta cho Chúa nhiều, nhưng thường vẫn giữ một căn phòng khóa kín mà ta không muốn Người bước vào.
Thập Giá đặt trước mắt ta một Thiên Chúa hoàn toàn khác. Người không yêu nửa vời. Người không cho phần dư. Người không cho những gì không còn cần. Người cho chính mình. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa tình yêu của Thiên Chúa và nhiều thứ chúng ta vẫn gọi là tình yêu. Con người thường cho “cái mình có”, còn Thiên Chúa cho “chính mình”. Con người có thể cho một món quà mà vẫn giữ bản thân lại. Thiên Chúa không. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Thiên Chúa không gửi một thiên thần xuống cứu chúng ta. Người không gửi một thông điệp từ xa. Người không đứng trên trời mà bảo nhân loại: hãy cố gắng hơn, hãy sống tốt hơn, rồi một ngày nào đó các ngươi sẽ đến được với Ta. Người đi xuống. Người nhập thể. Người bước vào bụi đất của kiếp người. Người nếm nước mắt. Người nếm cô đơn. Người nếm phản bội. Người nếm đau đớn. Và cuối cùng Người nếm cả cái chết. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài nỗi đau của con người, nhưng bằng cách bước vào tận đáy của nỗi đau ấy.
Bởi thế, câu “Ta khát” mang một chiều sâu lạ lùng. Đấng từng nói với người phụ nữ Samari rằng ai uống nước Người ban sẽ không bao giờ khát nữa, giờ đây lại nói: “Ta khát.” Người khát nước, tất nhiên, vì thân thể Người đã kiệt quệ. Nhưng Giáo Hội từ lâu vẫn nghe trong lời ấy một cơn khát lớn hơn: Người khát con người. Người khát tình yêu của chúng ta. Người khát những linh hồn trở về. Người khát một thế giới được hòa giải với Chúa Cha. Người khát đến mức chấp nhận khô môi, khô cổ, khô cả máu trong thân thể để đưa chúng ta về. Ta có thể hỏi: Thiên Chúa còn thiếu điều gì mà phải khát? Thiên Chúa không thiếu gì trong chính Người. Nhưng tình yêu làm cho Người “khát” người mình yêu. Người không cần ta để là Thiên Chúa, nhưng Người muốn ta vì Người yêu ta. Và đó chính là điều làm cho cơn khát của Đức Kitô trở thành điều vừa đẹp vừa đau: một Thiên Chúa toàn năng lại đứng trước tự do của con người như một người khát đứng trước một cánh cửa đang đóng.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã quen với hình ảnh Thập Giá đến mức nó không còn làm ta rung động. Ta đeo Thánh Giá trên cổ. Ta đặt Thánh Giá trong nhà. Ta nhìn Thánh Giá trên cung thánh. Ta làm dấu Thánh Giá mỗi ngày. Nhưng đôi khi điều quá quen lại trở thành điều ta nhìn mà không còn thấy. Thập Giá không phải một món đồ trang sức Công giáo. Thập Giá là lời tuyên bố kinh khủng và dịu dàng nhất về tình yêu của Thiên Chúa: “Ta không còn gì để giữ lại trước con.” Trên Thập Giá, Thiên Chúa như mở hai bàn tay ra và nói: Con hãy nhìn đi, Ta không giấu gì. Tay Ta đã mở. Tim Ta đã mở. Cạnh sườn Ta đã mở. Cuộc đời Ta đã mở. Ngay cả cái chết của Ta cũng mở ra vì con. Con còn nghi ngờ điều gì về tình yêu của Ta nữa?
Có những lúc trong đời, người ta hỏi: “Chúa có thật sự yêu tôi không?” Câu hỏi ấy thường xuất hiện khi bệnh tật đến, khi gia đình đổ vỡ, khi một người thân ra đi, khi lời cầu nguyện kéo dài mà dường như trời vẫn im, khi ta sống ngay lành mà vẫn gặp oan ức, khi một cánh cửa đóng lại đúng lúc ta đã đặt hết hy vọng vào đó. Trong những giờ ấy, ta thường muốn Chúa chứng minh tình yêu bằng cách thay đổi hoàn cảnh: nếu Chúa yêu con, xin chữa bệnh này; nếu Chúa yêu con, xin cứu cuộc hôn nhân này; nếu Chúa yêu con, xin cho con khỏi cảnh nghèo này; nếu Chúa yêu con, xin trả lại người thân này. Những lời cầu ấy không sai. Đức Giêsu cũng đã cầu trong Vườn Cây Dầu: “Xin cất chén này xa con.” Nhưng đôi khi câu trả lời lớn nhất của Thiên Chúa cho câu hỏi “Chúa có yêu con không?” không phải là một phép lạ trước mắt, mà là một Thập Giá đã được dựng lên từ hai ngàn năm trước. Chúa không luôn giải thích tại sao Người cho phép điều này xảy ra. Nhưng Người cho ta thấy Người yêu ta đến đâu. Có những câu hỏi không được trả lời bằng một lời giải thích, mà bằng một vết thương. Thập Giá là vết thương ấy.
“Thế là đã hoàn tất.” Không phải: “Ta hết cách rồi.” Không phải: “Mọi chuyện thất bại rồi.” Không phải: “Kẻ thù đã thắng rồi.” Nhưng: “Đã hoàn tất.” Điều gì hoàn tất? Một đời vâng phục đã hoàn tất. Một tình yêu đi đến tận cùng đã hoàn tất. Lời hứa cứu độ đã đi tới điểm viên mãn. Sứ mạng Chúa Cha trao đã được chu toàn. Đức Giêsu không chết như một người bị lịch sử đánh bại. Người hoàn tất công trình của tình yêu. Thế gian nhìn một thân thể treo trên gỗ và nói: “Hết rồi.” Thiên Chúa nhìn và nói: “Hoàn tất rồi.” Đó là hai cách nhìn khác nhau về Thập Giá, và cũng là hai cách nhìn khác nhau về rất nhiều Thập Giá trong đời ta.
Có những điều trong đời ta tưởng là “hết” nhưng trong Chúa lại có thể là “hoàn tất”. Một người mẹ cả đời chăm sóc một đứa con bệnh tật có thể nghĩ đời mình chẳng làm nên chuyện gì lớn. Nhưng biết đâu trước mặt Chúa, từng đêm thức trắng, từng lần lau mồ hôi, từng lời cầu lặng lẽ ấy chính là một công trình tình yêu được hoàn tất. Một người chồng âm thầm chăm sóc người vợ bệnh nhiều năm có thể không có thành tựu nào để kể với đời, nhưng tình yêu trung tín ấy có thể đẹp hơn hàng trăm thành công. Một linh mục già đi trong một xứ đạo nhỏ, giảng những bài giảng chẳng ai đăng báo, giải tội cho những con người vô danh, xức dầu cho người hấp hối, chôn cất người nghèo, có thể nghĩ mình chẳng để lại gì; nhưng nếu đời ngài đã được bẻ ra như tấm bánh cho đoàn chiên, thì có lẽ ngày cuối cùng cũng có thể nói cùng Thầy mình: “Đã hoàn tất.” Một người tu sĩ sống âm thầm, không chức vụ, không tiếng tăm, nhưng trung tín với lời khấn và cộng đoàn đến cuối đời, cũng có thể đang sống logic của Thập Giá: không giữ lại.
Điều làm nên vẻ đẹp của đời Kitô hữu không phải là chúng ta có bao nhiêu, mà là cuối cùng ta đã trao được bao nhiêu. Ta đến thế gian này với đôi tay trắng và rồi cũng ra đi với đôi tay trắng. Mọi điều ta cố giữ rồi sẽ phải rời khỏi tay. Nhà cửa, tiền bạc, danh dự, chức vụ, thành tích, ngay cả thân xác này cũng không giữ được mãi. Chỉ có những gì ta đã trao đi vì yêu là còn lại trong cõi đời đời. Bởi vậy, sống khôn ngoan không phải là tích lũy thật nhiều cho mình, nhưng là học cách biến những gì mình có thành quà tặng. Thời gian có thể trở thành quà tặng. Tiền bạc có thể trở thành quà tặng. Tài năng có thể trở thành quà tặng. Một lời nói có thể trở thành quà tặng. Một sự hiện diện có thể trở thành quà tặng. Một nỗi đau cũng có thể trở thành quà tặng khi được kết hợp với Thập Giá Đức Kitô.
Có người nghĩ trao ban là mất. Tin Mừng nói điều ngược lại: chính khi cho đi, ta mới thật sự có. Hạt lúa nếu cứ giữ mình nguyên vẹn sẽ chỉ là một hạt lúa. Khi chấp nhận mục nát trong lòng đất, nó sinh nhiều bông hạt. Tấm bánh nếu cứ nằm nguyên trên bàn sẽ chẳng nuôi được ai. Khi được bẻ ra, nó trở thành sự sống. Nước nếu giữ lại trong một cái hồ không lối thoát sẽ dần tù đọng. Dòng nước sống vì nó chảy đi. Trái tim con người cũng vậy. Một trái tim chỉ biết giữ sẽ dần cứng lại. Một trái tim biết trao sẽ ngày càng rộng hơn.
Nhưng trao ban không phải chuyện dễ. Bởi con người có bản năng tự bảo vệ. Chúng ta sợ mất. Sợ thiệt. Sợ bị lợi dụng. Sợ cho đi rồi người khác không biết ơn. Sợ tha thứ rồi người khác lại làm đau. Sợ dấn thân rồi thất vọng. Vì thế chúng ta thường tính toán. Yêu đến đâu cho vừa. Hy sinh đến đâu để không quá thiệt. Cho bao nhiêu để vẫn còn đủ cho mình. Chính tại đây, Thập Giá trở thành thước đo làm ta bối rối. Đức Giêsu không hỏi: “Cho đến mức nào thì đủ?” Người yêu “đến cùng”. Tình yêu Kitô giáo, vì thế, không phải thứ tình cảm dễ chịu. Nó mang hình Thập Giá. Nó đòi ta nhiều lần phải chết đi cho cái tôi, cho nhu cầu được công nhận, cho quyền trả đũa, cho sự ích kỷ rất kín đáo vẫn ẩn trong những điều có vẻ đạo đức.
Có những người dâng cho Chúa cả đời nhưng lại không chịu dâng một lời xin lỗi. Có người làm việc bác ái rất nhiều nhưng giữ chặt tự ái. Có người bỏ tiền giúp người nghèo nhưng không chịu cho người trong gia đình một chút thời gian. Có người rất quảng đại với người ngoài nhưng keo kiệt sự dịu dàng với người bên cạnh. Có người nói mình sống cho Chúa nhưng giữ chặt quyền kiểm soát mọi người. Thập Giá nhắc ta rằng sự trao ban thật không chỉ nằm ở những việc lớn. Đôi khi điều Chúa muốn ta trao chính là cái tôi của mình. Một lời nhường. Một lần im lặng đúng lúc. Một cuộc điện thoại hỏi thăm người mình đang giận. Một lời tha thứ. Một bước trở về. Một lần chịu thua để giữ tình nghĩa. Một quyết định không nhắc lại lỗi cũ. Những điều ấy nhiều khi đau hơn cho tiền.
Khi nhìn Đức Giêsu trên Thập Giá, ta cũng thấy một điều rất đáng sợ: tình yêu thật luôn làm người yêu trở nên dễ bị tổn thương. Ai không yêu thì ít bị đau. Ai không gắn bó thì ít bị mất mát. Ai chỉ sống cho mình có thể tránh được rất nhiều giọt nước mắt. Nhưng cái giá của sự an toàn ấy là một trái tim nghèo nàn. Đức Giêsu không chọn an toàn. Người mở lòng ra. Và trái tim mở thì có thể bị đâm thâu. Đôi tay mở thì có thể bị đóng đinh. Yêu nghĩa là trao cho người khác khả năng làm mình đau. Thiên Chúa biết điều đó hơn ai hết. Người yêu nhân loại và nhân loại đóng đinh Người. Nhưng Người không vì thế mà ngừng yêu. Đây chính là điều làm ta phải xét lại cách mình yêu. Ta thường chỉ muốn yêu khi được đáp lại. Chúa yêu ngay cả khi bị từ chối. Ta muốn làm điều tốt nếu người khác xứng đáng. Chúa yêu khi ta còn là tội nhân. Ta tha thứ nếu người kia xin lỗi đúng cách. Chúa Giêsu cầu xin tha thứ cho những người đóng đinh mình ngay khi họ chưa hề xin lỗi.
Thập Giá vì thế không chỉ an ủi ta; nó còn chất vấn ta. Ta có thật sự yêu như Chúa đã yêu không? Ta đang giữ lại điều gì? Ta đang khóa cánh cửa nào? Ta đang ôm điều gì quá chặt đến mức không thể dâng cho Chúa? Có thể là một mối hận nhiều năm. Có thể là một tham vọng. Có thể là một sự nghiện ngập. Có thể là một mối quan hệ sai trái. Có thể là tiền bạc. Có thể là danh dự. Có thể là nhu cầu phải được mọi người nhìn nhận. Có thể là quyền kiểm soát con cái. Có thể là nỗi sợ tương lai. Chúa không nhất thiết lấy tất cả khỏi ta. Nhưng Người muốn tất cả được đặt trong tay Người. Có khác biệt rất lớn giữa việc “có” một điều và việc “bám” vào điều đó. Abraham có Isaac, nhưng Isaac không được phép trở thành thần tượng. Người môn đệ có gia đình, tài sản, tài năng, ước mơ, nhưng không điều nào được đứng cao hơn Chúa.
Đức Giêsu trên Thập Giá đã mở bàn tay. Một bàn tay bị đóng đinh không thể nắm giữ gì. Có lẽ đó cũng là hình ảnh đẹp nhất của sự tự do. Ta tưởng tự do là có khả năng nắm được nhiều. Tin Mừng cho thấy tự do sâu nhất là khi ta không còn bị điều gì trói buộc đến mức không thể buông. Đức Giêsu tự do vì Người có thể trao tất cả. Người không bị sở hữu bởi danh dự, bởi mạng sống, bởi quyền lực, bởi ý kiến của đám đông. Người thuộc trọn về Chúa Cha, nên có thể trao trọn mình cho con người.
Và đó cũng là con đường bình an. Rất nhiều bất an của ta đến từ việc ta cố giữ những điều vốn không thể giữ mãi. Ta giữ tuổi trẻ nhưng tuổi trẻ trôi đi. Ta giữ sức khỏe nhưng sức khỏe đổi thay. Ta giữ người thân nhưng rồi có ngày phải chia tay. Ta giữ chức vụ nhưng một ngày người khác thay. Ta giữ tiếng tốt nhưng chỉ một lời người ta cũng có thể làm nó lung lay. Nếu đời ta đặt nền trên những điều ấy, ta sẽ luôn sợ. Đức Giêsu dạy ta một lối sống khác: đừng xây đời bằng cách giữ, hãy xây đời bằng cách trao. Điều ta trao cho Chúa thì không mất. Điều ta trao vì yêu thì đi vào đời đời.
Có lẽ vào cuối đời, câu hỏi quan trọng nhất sẽ không phải là: tôi đã sở hữu bao nhiêu? Nhưng là: tôi đã yêu bao nhiêu? Tôi đã giữ lại điều gì lẽ ra phải trao? Có ai sống được vì tôi đã sống không? Có ai được an ủi vì tôi từng ở bên họ không? Có ai biết Chúa dịu dàng hơn vì đã gặp tôi không? Có ai bớt cô đơn vì tôi đã cho họ thời gian? Có ai được tha thứ vì tôi đã chấp nhận buông bỏ tự ái? Đó là những câu hỏi của Thập Giá.
Và rồi ta trở lại với Đức Giêsu. Người nói: “Thế là đã hoàn tất.” Sau câu ấy, Người không còn gì để làm thêm, bởi không còn gì để trao thêm. Người đã trao lời. Trao thân thể. Trao máu. Trao hơi thở. Trao Thần Khí. Trao Mẹ. Trao sự tha thứ. Trao thiên đàng. Trao chính mình. Khi cạnh sườn bị mở ra, dường như Thiên Chúa muốn nói với nhân loại rằng: nếu con còn muốn biết Ta có giữ điều gì lại không, hãy nhìn vào trái tim đã bị mở này. Không còn gì giấu bên trong nữa.
Ước gì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta đừng nhìn quá vội. Hãy để mắt mình dừng lại ở đôi tay mở. Hãy nhớ: đôi tay ấy mở vì tôi. Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu: trái tim ấy mở vì tôi. Hãy nghe lời “Ta khát”: Người khát tôi. Hãy nghe lời “Đã hoàn tất”: Người đã đi đến tận cùng vì tôi. Và rồi hãy tự hỏi: trước một Thiên Chúa không giữ gì lại cho mình, tôi còn muốn giữ điều gì khỏi Người?
Có thể ta chưa đủ sức trao tất cả trong một ngày. Chúa biết sự yếu đuối của ta. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng một điều. Một điều hôm nay. Một điều ta đã giữ quá lâu. Một lời xin lỗi. Một người cần tha thứ. Một nỗi sợ cần đặt vào tay Chúa. Một kế hoạch cần thôi kiểm soát. Một món tiền cần chia sẻ. Một giờ cần dành cho gia đình. Một người cô đơn cần được ghé thăm. Một tội quen cần thật lòng dứt bỏ. Một ý riêng cần nhường cho ý Chúa. Từng chút một, cuộc đời ta sẽ học hình dáng của Thập Giá: đôi tay mở, trái tim mở, đời sống mở.
Và đến ngày cuối cùng, ước gì ta cũng có thể ra đi như người môn đệ đã học được bài học từ Thầy: không ôm chặt đời mình trong sợ hãi, nhưng trao nó lại cho Đấng đã trao tất cả vì mình. Khi ấy, cái chết không còn chỉ là lúc người ta lấy khỏi ta những gì ta đang có. Nó trở thành hành vi trao ban cuối cùng: “Lạy Cha, con xin trả lại Cha sự sống Cha đã trao cho con.” Và nếu đời ta đã được sống như một lễ vật, đã được bẻ ra trong yêu thương, đã được tiêu hao trong phục vụ, đã được đổ ra cho anh chị em, thì biết đâu trong giờ cuối cùng ấy, giữa sự mong manh của một hơi thở sắp tắt, ta cũng có thể nói bình an: “Lạy Chúa, phần con, con đã cố yêu. Phần con, con đã cố trao. Phần con, xin Chúa hoàn tất.”
Thập Giá đứng đó như lời cuối cùng của Thiên Chúa về tình yêu. Không phải một tình yêu nói thật nhiều, nhưng một tình yêu mở tay. Không phải một tình yêu đứng xa, nhưng một tình yêu chịu đóng đinh. Không phải một tình yêu cho vài món quà, nhưng một tình yêu tự trở thành quà tặng. Không phải một tình yêu giữ lại phần an toàn cho mình, nhưng một tình yêu đi đến tận cùng. Và từ đồi Canvê, qua mọi thế hệ, Đức Kitô vẫn âm thầm nói với từng người chúng ta: “Con nhìn xem, Ta không còn giữ lại gì cho Ta. Tất cả là cho con.”
Xin cho ta đừng chỉ xúc động trước Thập Giá, nhưng biết sống theo Thập Giá. Xin cho ta bớt giữ và biết trao. Bớt đòi và biết cho. Bớt tính toán và biết quảng đại. Bớt tự vệ và biết mở lòng. Bớt hỏi người khác đã làm gì cho mình và biết hỏi hôm nay mình có thể làm gì cho họ. Và nhất là, xin cho ta đủ lòng tin để trao chính mình cho Thiên Chúa, bởi Đấng đã không tiếc Con Một vì ta chắc chắn sẽ không bao giờ phụ lòng người dám đặt đời mình trong tay Người.
Lm. Anmai, CSsR

MỘT THIÊN CHÚA CÓ THỂ BỊ TỔN THƯƠNG VÌ YÊU
Tin Mừng: Ga 19,34-37
Có lẽ một trong những hình ảnh làm người ta phải dừng lại lâu nhất trong toàn bộ cuộc Thương Khó của Đức Giêsu chính là hình ảnh người lính lấy ngọn giáo đâm vào cạnh sườn Người, và tức thì máu cùng nước chảy ra. Đức Giêsu lúc ấy đã chết. Người không còn nói. Người không còn bước đi. Người không còn giơ tay chữa bệnh. Người không còn bẻ bánh. Người không còn gọi tên ai. Người không còn làm một phép lạ nào nữa. Trên Thập Giá chỉ còn một thân xác đã bị hành hạ đến tận cùng, một thân xác đã trao hết sức lực, đã thở hơi cuối cùng, đã hoàn tất con đường tự hiến. Vậy mà ngay cả khi Người đã chết, con người vẫn còn có thể làm Người bị thương thêm. Ngọn giáo ấy đâm vào cạnh sườn Đức Giêsu, nhưng điều làm chúng ta xúc động không chỉ là một vết thương thể lý cuối cùng. Điều làm chúng ta phải cúi đầu chính là ở nơi vết thương ấy, Thiên Chúa cho chúng ta nhìn thấy một điều mà có khi cả đời sống đạo chúng ta vẫn chưa hiểu hết: Thiên Chúa yêu con người bằng một tình yêu có thể bị tổn thương. Thiên Chúa không yêu chúng ta như một ý niệm. Thiên Chúa không yêu chúng ta bằng một thứ tình cảm đứng xa cuộc đời. Thiên Chúa không đứng trên trời cao, bình thản nhìn con người đau khổ rồi chỉ nói rằng Người thương chúng ta. Nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, Thiên Chúa đã bước vào tận cùng thân phận con người, để cho chính tình yêu của Người mang thương tích. Trái tim Đức Kitô bị đâm thâu nói với chúng ta rằng tình yêu thật không bao giờ là tình yêu đứng ngoài. Yêu thật là chấp nhận đến gần. Mà đến gần thì có thể bị tổn thương. Yêu thật là mở cửa trái tim. Mà mở cửa trái tim thì có thể bị phụ bạc. Yêu thật là trao chính mình. Mà trao chính mình thì có thể bị từ chối. Thiên Chúa đã chọn yêu chúng ta như thế.
Chúng ta thường thích hình dung Thiên Chúa là Đấng quyền năng, bất khả chiến bại, không ai có thể chạm tới. Điều đó đúng, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta chưa hiểu Thiên Chúa của Tin Mừng. Thiên Chúa quyền năng đến mức Người có thể tự nguyện trở nên yếu đuối vì yêu. Thiên Chúa cao cả đến mức Người không sợ cúi xuống. Thiên Chúa giàu có đến mức Người dám trở nên nghèo. Thiên Chúa bất tử lại bước vào cái chết. Và Thiên Chúa không thể bị con người khống chế lại chấp nhận để con người đóng đinh Con Một của Người. Đó là nghịch lý làm nên vẻ đẹp kinh khủng của Kitô giáo: sức mạnh lớn nhất của Thiên Chúa được biểu lộ không phải khi Người tiêu diệt kẻ thù, nhưng khi Người yêu cả những kẻ làm Người bị thương. Nếu một vị vua bị xúc phạm, người ta chờ ông trừng phạt. Nếu một người quyền thế bị chống đối, người ta chờ ông trả đũa. Nhưng Đức Kitô trên Thập Giá lại cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người bị đóng đinh nhưng không đóng đinh ai. Người bị nguyền rủa nhưng không nguyền rủa ai. Người bị tước đoạt tất cả nhưng vẫn còn trao ban. Người bị đâm thâu nhưng từ vết thương ấy lại chảy ra máu và nước, dấu chỉ của sự sống, của ân sủng, của Giáo Hội, của các bí tích, của một tình yêu ngay cả khi bị thương vẫn không ngừng cho đi.
Chúng ta hãy thử dừng lại thật lâu trước cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giêsu. Tại sao Tin Mừng Gioan lại ghi chi tiết này một cách trang trọng đến thế? “Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực.” Thánh Gioan như muốn nói: điều tôi kể không phải là một chi tiết nhỏ. Tôi đã thấy. Tôi đã đứng đó. Tôi đã nhìn thấy cạnh sườn Người mở ra. Tôi đã nhìn thấy máu và nước. Và tôi biết rằng từ giây phút ấy, không ai còn có thể nói Thiên Chúa không biết đau. Không ai còn có thể nói Thiên Chúa yêu chúng ta từ xa. Không ai còn có thể nói Thiên Chúa không hiểu thế nào là bị bỏ rơi, bị phản bội, bị kết án, bị hiểu lầm, bị xúc phạm, bị tổn thương. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã đi vào tận nơi sâu nhất của nỗi đau con người. Ngọn giáo của người lính xuyên qua cạnh sườn Người như xuyên qua tất cả những hình dung lạnh lùng của chúng ta về Thiên Chúa. Và từ cạnh sườn mở ra ấy, Thiên Chúa nói với nhân loại: “Đây là trái tim Ta. Ta đã yêu các con đến mức này.”
Có những người chỉ dám yêu khi chắc rằng mình sẽ được yêu lại. Có những người chỉ tử tế khi người khác tử tế với mình. Có những người chỉ cho đi khi biết mình sẽ nhận lại. Có những người xây những bức tường rất cao quanh trái tim vì họ sợ bị tổn thương. Và điều ấy cũng dễ hiểu. Ai từng bị phản bội sẽ sợ tin. Ai từng bị lừa dối sẽ sợ mở lòng. Ai từng cho đi quá nhiều mà chỉ nhận lại vô ơn sẽ tự nhủ: từ nay đừng tốt với ai nữa. Ai từng đặt trọn tình cảm vào một người rồi bị bỏ rơi sẽ có lúc muốn sống lạnh lùng để khỏi đau. Nhưng nếu nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, chúng ta sẽ nhận ra rằng tình yêu Kitô giáo không phải là một kỹ thuật để tránh bị thương. Tình yêu Kitô giáo là một cách sống biết rằng mình có thể bị thương nhưng vẫn không để vết thương biến mình thành người độc ác. Điều lớn lao ở nơi Đức Kitô không phải là Người không bị tổn thương. Người đã bị tổn thương thật. Điều lớn lao là Người không để tổn thương sinh ra hận thù. Người không để vết thương biến thành vũ khí. Người không để đau khổ làm cho tình yêu của Người cạn đi. Người tiếp tục yêu ngay khi tình yêu ấy phải trả giá bằng máu.
Đây có lẽ là điều chúng ta cần học nhất trong một thế giới mà người ta rất dễ làm đau nhau. Có những vết thương không đến từ những người xa lạ, nhưng từ những người gần nhất. Người xa lạ nói một câu nặng, ta có thể quên. Người mình yêu nói một câu vô tình, có khi ta nhớ cả đời. Người ngoài không hiểu mình, ta có thể chịu được. Người trong gia đình không hiểu mình, ta thấy đau. Một người không liên hệ gì với mình quay lưng, ta có thể bỏ qua. Nhưng một người mà mình từng hy sinh rất nhiều lại quay lưng, vết thương ấy đi rất sâu. Bởi vì chỉ những người được ta cho vào gần trái tim mới có khả năng làm trái tim ta bị thương. Và đó cũng là điều xảy ra với Thiên Chúa. Người bị tổn thương không bởi vì Người yếu, nhưng bởi vì Người đã yêu. Nếu Thiên Chúa không yêu con người, tội lỗi của con người chẳng làm gì được Người. Nếu Thiên Chúa không trao trái tim cho nhân loại, sự phản bội của nhân loại không thể trở thành nỗi đau. Nhưng Thiên Chúa đã yêu. Người đã lập giao ước. Người đã gọi con người là con. Người đã sai các ngôn sứ. Người đã sai Con Một. Người đã đi tìm chiên lạc. Người đã khóc trước mồ Lazarô. Người đã khóc trên Giêrusalem. Người đã gọi Giuđa là bạn ngay trong đêm phản bội. Và cuối cùng, Người để trái tim mình bị mở ra trên Thập Giá. Một Thiên Chúa yêu như thế thì một Thiên Chúa có thể bị tổn thương vì yêu.
Có lẽ chúng ta đã quá quen với tội lỗi đến mức chỉ nghĩ tội là vi phạm một điều luật. Nhưng đứng trước cạnh sườn Đức Giêsu bị đâm thâu, ta hiểu rằng tội còn là làm tổn thương một tình yêu. Khi ta sống ích kỷ, không chỉ là ta phạm một quy định; ta làm đau trái tim Đấng đã dạy ta yêu thương. Khi ta xúc phạm người khác, không chỉ là ta cư xử thiếu đạo đức; ta làm đau trái tim Đấng đang hiện diện nơi người anh em ấy. Khi ta bỏ lễ, bỏ cầu nguyện, sống như không có Chúa, có thể ta nghĩ chỉ là mình thiếu sót một bổn phận. Nhưng sâu xa hơn, đó là sự lạnh nhạt trước một Đấng đang yêu mình. Tội đáng sợ nhất không phải vì Thiên Chúa là một vị quan tòa dễ nổi giận, nhưng vì Thiên Chúa là một người Cha có trái tim. Đứa con hư làm cha đau không phải vì cha ghét nó, nhưng chính vì cha yêu nó. Người mẹ khóc vì con không phải vì bà muốn con bị trừng phạt, nhưng vì bà nhìn thấy con đang tự làm hỏng đời mình. Thiên Chúa cũng vậy. Khi con người tội lỗi, Người không vui vì có thêm lý do để kết án. Người đau vì đứa con mà Người yêu đang đi xa nguồn sống.
Ngày nay, chúng ta có thể sống đạo rất nhiều mà vẫn chưa chạm vào trái tim Thiên Chúa. Ta có thể đọc kinh, dự lễ, giữ luật, làm việc đạo đức, nhưng trong lòng vẫn hình dung Chúa như một Đấng chỉ ghi chép lỗi lầm. Và vì thế, ta sợ Chúa nhiều hơn yêu Chúa. Ta tìm cách làm đủ bổn phận để khỏi bị phạt, nhưng lại không cảm được mình đang sống trong tương quan với một Đấng yêu ta đến độ có thể bị thương vì ta. Nếu một ngày nào đó chúng ta thực sự hiểu rằng mỗi tội lỗi của mình là một vết đinh, một nhát roi, một ngọn giáo đâm vào tình yêu của Chúa, có lẽ ta sẽ thay đổi không phải vì sợ hỏa ngục, nhưng vì không muốn làm đau Đấng đã yêu mình. Có những người không bỏ một thói xấu vì nghe mười bài giảng về hình phạt, nhưng lại thay đổi chỉ vì nhận ra mình đang làm mẹ mình khóc. Tình yêu có sức hoán cải sâu hơn nỗi sợ. Chính vì thế, khi Giáo Hội đặt Thánh Tâm Chúa Giêsu trước mắt chúng ta, Giáo Hội không muốn chúng ta nhìn một biểu tượng tình cảm. Giáo Hội muốn chúng ta nhìn vào một trái tim đang cháy lửa yêu thương và đang bị thương. Một trái tim không đóng lại sau khi bị đâm, nhưng mở ra mãi mãi.
“Máu và nước chảy ra.” Một chi tiết thật lạ. Con người đâm vào cạnh sườn Chúa, nhưng Chúa lại trả lời bằng máu và nước. Con người trao cho Chúa một vết thương; Chúa trao lại cho con người nguồn sống. Con người cho Chúa ngọn giáo; Chúa cho con người bí tích. Con người mở cạnh sườn Chúa bằng bạo lực; Chúa biến cạnh sườn ấy thành cửa lòng thương xót. Không có hình ảnh nào nói rõ hơn cách Thiên Chúa đối diện với tội lỗi chúng ta. Chúng ta làm Người bị thương, nhưng Người lại chữa lành chúng ta từ chính vết thương của Người. Chúng ta làm Người đổ máu, nhưng máu ấy lại trở thành giá cứu chuộc chúng ta. Chúng ta đẩy Người vào cái chết, nhưng từ cái chết ấy Người mở ra sự sống. Thật lạ lùng: tội lỗi tưởng rằng nó đã chiến thắng khi làm Đức Kitô chết, nhưng chính lúc ấy tình yêu lại đi đến tận cùng. Cái ác dùng ngọn giáo để kết thúc mọi chuyện. Thiên Chúa dùng chính vết giáo ấy để mở một khởi đầu mới.
Bởi vậy, người Kitô hữu không phải là người không có vết thương. Có khi người tin Chúa lại mang rất nhiều vết thương. Những vết thương của gia đình. Vết thương của một cuộc hôn nhân không như mơ ước. Vết thương của con cái. Vết thương của cha mẹ. Vết thương của đời tu. Vết thương của tình bạn. Vết thương của những lời nói người khác đã quên nhưng mình vẫn nhớ. Vết thương của sự bất công. Vết thương của bị hiểu lầm. Vết thương của một lần bị loại trừ. Vết thương của một cuộc chia tay. Vết thương của một người đã mất. Vết thương của một lời hứa không được giữ. Vết thương của sự vô ơn. Vết thương của chính những lỗi lầm mình gây ra rồi không thể quay ngược thời gian. Đức tin không hứa rằng đời ta sẽ không bị thương. Nhưng Đức Kitô cho chúng ta thấy rằng vết thương không nhất thiết là nơi sự sống kết thúc. Nếu được đặt trong tình yêu, vết thương có thể trở thành nơi ân sủng chảy ra.
Có những người sau khi đau đã trở nên dịu dàng hơn. Có những người sau khi mất mát lại biết cảm thông hơn với người khác. Có người sau một lần đổ vỡ đã học được cách không phán xét. Có người từng nghèo nên hiểu người nghèo. Có người từng bệnh nên biết ngồi bên giường bệnh nhân mà không nói những lời sáo rỗng. Có người từng bị hiểu lầm nên không vội kết án người khác. Có người từng khóc rất nhiều nên khi thấy người khác khóc, họ biết im lặng ngồi bên. Đó là khi vết thương không còn chỉ là vết thương. Nó trở thành một cánh cửa. Đức Giêsu cũng vậy. Cạnh sườn bị đâm thâu của Người không khép lại trong cái chết, nhưng trở thành nơi Hội Thánh được sinh ra. Các Giáo phụ đã nhìn thấy nơi máu và nước hình ảnh của Thánh Thể và Phép Rửa, hình ảnh của đời sống mới. Như Evà được hình thành từ cạnh sườn Ađam đang ngủ, Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô ngủ trong cái chết. Điều ấy có nghĩa là Thiên Chúa có thể làm cho sự sống phát sinh từ nơi bị thương nhất.
Chúng ta thường cầu xin Chúa chữa lành vết thương bằng cách xóa nó đi. Nhưng có những vết thương Chúa không xóa khỏi ký ức. Người chữa bằng cách biến ý nghĩa của nó. Cây Thập Giá không biến mất khỏi lịch sử Đức Giêsu sau Phục Sinh. Những dấu đinh vẫn còn. Khi hiện ra với các môn đệ, Chúa không có một thân xác hoàn toàn không dấu tích. Người cho Tôma chạm vào vết đinh và cạnh sườn. Điều đó thật đẹp. Chúa Phục Sinh vẫn mang những dấu thương. Nghĩa là phục sinh không phải là giả vờ rằng chúng ta chưa từng đau. Chữa lành không phải là mất trí nhớ. Bình an không nhất thiết có nghĩa là mọi dấu vết quá khứ biến mất. Chữa lành là khi điều từng làm ta gục ngã không còn cai trị ta nữa. Chữa lành là khi ta nhớ nhưng không còn muốn trả thù. Chữa lành là khi vết thương trở thành lòng cảm thông. Chữa lành là khi ta có thể dùng chính điều mình đã trải qua để nâng người khác lên. Chữa lành là khi từ cạnh sườn bị đâm thâu của đời mình, thay vì chảy ra cay độc, lại có thể chảy ra lòng thương xót.
Đức Giêsu không giấu vết thương. Người biến nó thành dấu chỉ của tình yêu. Điều này rất quan trọng cho những ai đang đau. Đừng nghĩ rằng phải trở thành một con người không có vết thương thì mới có ích cho Chúa. Có khi chính vết thương của ta lại là nơi Chúa dùng để chạm vào người khác. Một người mẹ đã từng khóc vì con sẽ hiểu những người mẹ đang khóc vì con. Một người đã từng thất bại sẽ biết nói với người thất bại bằng giọng khác. Một linh mục từng trải qua khô khan sẽ biết nâng đỡ một người không còn cảm thấy Chúa. Một người đã từng bị phản bội mà vẫn chọn tha thứ sẽ nói về tha thứ có sức nặng hơn ngàn lý thuyết. Chúa không cần chúng ta hoàn hảo theo nghĩa chưa từng bị thương. Người cần chúng ta để cho Người chạm vào vết thương và biến nó thành nơi tình yêu đi qua.
Nhưng phải nói thật rằng không phải mọi vết thương tự động làm ta tốt hơn. Có vết thương làm người ta dịu dàng; cũng có vết thương làm người ta cay nghiệt. Có người vì từng bị lừa nên từ đó lừa người khác trước. Có người vì từng bị xúc phạm nên trở thành người chuyên xúc phạm. Có người vì từng bị phản bội nên không còn tin ai và cũng không trung thành với ai. Có người vì từng bị bỏ rơi nên sau này bỏ rơi người khác trước để khỏi là người bị bỏ. Vết thương tự nó không thánh hóa. Chỉ khi vết thương được đặt vào trái tim Đức Kitô, nó mới có thể được cứu chuộc. Ngọn giáo đã đâm cạnh sườn Chúa, nhưng từ cạnh sườn ấy không chảy ra độc tố. Đó là điều chúng ta cần cầu xin. Không phải chỉ xin Chúa cất đi những người làm mình đau, nhưng xin Chúa đừng để nỗi đau làm trái tim mình xấu đi. Không phải chỉ xin Chúa trả lại công bằng, nhưng xin Người giữ ta khỏi biến thành chính điều ta từng ghét. Không phải chỉ xin Chúa đóng vết thương, nhưng xin Người thanh luyện những gì đang chảy ra từ đó.
Có khi điều đau nhất trong đời không phải là bị thương, nhưng là nhận ra mình đã làm người khác bị thương. Có những lời ta nói lúc nóng giận, sau đó xin lỗi nhưng người kia không thể quên ngay. Có những lúc cha mẹ vì áp lực mà làm con tổn thương. Có lúc con cái vì vô tâm làm cha mẹ khóc. Có lúc vợ chồng sống cạnh nhau nhưng dùng những lời sắc như dao. Có lúc người trong cộng đoàn làm nhau đau nhân danh sự thật. Có lúc người có trách nhiệm nhân danh kỷ luật nhưng quên lòng thương xót. Có lúc chúng ta bảo mình “thẳng tính”, nhưng thật ra là thiếu bác ái. Có lúc chúng ta nói “tôi nói đúng”, nhưng quên rằng một điều đúng nói không có tình yêu vẫn có thể đâm thủng một trái tim. Ngọn giáo trên Canvê hôm nay không chỉ ở trong tay người lính Rôma. Có khi nó ở trong lời nói của chúng ta. Có khi nó là một tin nhắn lạnh lùng. Có khi là sự im lặng cố ý để trừng phạt. Có khi là một thái độ khinh thường. Có khi là việc phơi bày lỗi của người khác để hạ nhục họ. Có khi là sự vô ơn đối với người đã hy sinh cho mình. Có khi là sự lạnh nhạt với Chúa sau khi đã nhận biết bao ân huệ.
Nếu hôm nay đứng trước cạnh sườn Chúa bị đâm thâu, điều cần làm không phải chỉ là xúc động. Chúng ta cần hỏi: tôi đang cầm ngọn giáo nào? Tôi đang làm ai bị thương? Có một người nào đó quanh tôi mỗi ngày vẫn đang âm thầm chịu những vết thương do lời nói, thái độ hay sự vô tâm của tôi không? Có khi chúng ta rất đạo đức với Chúa nhưng rất khó chịu với người bên cạnh. Ta quỳ lâu trước Thánh Thể nhưng về nhà nói những lời làm người thân đau. Ta tôn kính Thánh Tâm Chúa nhưng lại không biết giữ trái tim của người khác. Ta hôn kính Thánh Giá nhưng lại đóng đinh nhau bằng lời nói. Ta thương những người rất xa nhưng lạnh lùng với người ngay trong nhà. Nếu thật sự yêu Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta phải học kính trọng trái tim của từng con người, bởi vì mỗi con người đều mang một nơi rất dễ bị tổn thương mà ta không nhìn thấy.
Người mạnh không phải là người làm người khác sợ mình. Người mạnh là người biết mình có khả năng làm người khác đau nhưng không dùng khả năng ấy. Một người chồng biết điểm yếu của vợ mà không đem ra chế nhạo là người mạnh. Một người vợ biết lỗi lầm quá khứ của chồng mà không dùng nó mỗi lần cãi nhau là người mạnh. Một người bạn biết bí mật của bạn mình mà vẫn giữ kín ngay cả khi tình bạn rạn nứt là người có nhân cách. Một linh mục biết lỗi của giáo dân nhưng không biến tòa giảng thành nơi ám chỉ là người biết lòng thương xót. Một người lãnh đạo có quyền nhưng không làm nhục người dưới quyền là người hiểu quyền bính Kitô giáo. Và một người từng bị tổn thương nhưng từ chối làm tổn thương người khác là người đang mang trong mình một chút trái tim của Đức Kitô.
Trái tim Chúa bị đâm thâu cũng dạy chúng ta một điều khác: Thiên Chúa không xấu hổ vì tình yêu của Người. Người để trái tim mình mở ra trước mắt nhân loại. Chúng ta thì thường giấu. Ta sợ người khác biết mình cần họ. Ta sợ nói lời yêu thương vì sợ bị coi là yếu. Ta sợ xin lỗi trước vì sợ mất mặt. Ta sợ tha thứ vì sợ người khác nghĩ mình thua. Ta sợ bày tỏ lòng biết ơn vì nghĩ rằng cứ để trong lòng là đủ. Nhưng Đức Giêsu đã không yêu bằng một tình yêu kín đáo đến mức không ai thấy. Người yêu bằng đôi tay bị đóng đinh. Người yêu bằng đôi chân bị đóng đinh. Người yêu bằng đầu đội mão gai. Người yêu bằng cạnh sườn bị đâm. Người yêu đến nỗi tình yêu ấy có hình dạng, có vết thương, có máu. Tình yêu Kitô giáo cũng phải có thân xác như thế. Không đủ nói “tôi thương”. Phải có thời gian. Phải có sự hiện diện. Phải có hy sinh. Phải có tha thứ. Phải có kiên nhẫn. Phải có những lần nuốt tự ái xuống để giữ một mối tương quan. Phải có những lúc người kia chưa hiểu mình nhưng mình vẫn không bỏ họ.
Dĩ nhiên, yêu không có nghĩa là dung túng cho sự lạm dụng. Tha thứ không có nghĩa là để người khác tiếp tục làm điều sai mà không có giới hạn. Đức Kitô yêu nhưng Người cũng nói sự thật. Người tha thứ nhưng không gọi tội lỗi là điều tốt. Trái tim mở không có nghĩa là không có sự khôn ngoan. Có những hoàn cảnh ta cần đặt ranh giới để bảo vệ sự sống, phẩm giá và sự bình an. Nhưng ngay cả khi phải rời khỏi một hoàn cảnh độc hại, người Kitô hữu vẫn được mời gọi đừng mang hận thù làm căn tính. Ta có thể nói không mà không cần nguyền rủa. Ta có thể bảo vệ mình mà không cần trả đũa. Ta có thể rời đi nhưng không cầu mong người kia bị hủy diệt. Đó là tự do của người đã nhìn lâu vào Trái Tim bị đâm thâu của Chúa.
“Người ta sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Câu Kinh Thánh này như một lời mời: hãy nhìn. Đời Kitô hữu bắt đầu lại rất nhiều lần chỉ bằng việc biết nhìn lên. Khi lòng mình nguội lạnh, hãy nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Khi muốn trả thù, hãy nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Khi thấy mình bị xúc phạm và muốn xúc phạm lại, hãy nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Khi ta nghĩ chẳng ai hiểu nỗi đau của mình, hãy nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Khi ta thấy tội mình quá lớn và nghĩ Chúa không còn muốn tha, hãy nhìn lên cạnh sườn đang mở. Một cánh cửa bị mở bởi ngọn giáo, nhưng Thiên Chúa đã không đóng nó lại. Trái Tim ấy vẫn mở. Điều chúng ta gọi là lòng thương xót chính là một trái tim không đóng lại trước người có lỗi.
Có một điều thật cảm động: người lính đâm Chúa có lẽ không hề biết mình đang làm gì cho lịch sử cứu độ. Ông chỉ thi hành một việc quen thuộc. Nhưng hành động bạo lực cuối cùng của con người lại trở thành nơi Thiên Chúa mặc khải tình yêu đến tận cùng. Điều ấy cho ta hy vọng rằng cả những gì người khác đã làm sai với ta, Chúa vẫn có thể đưa vào chương trình cứu độ. Không phải Chúa muốn người ta làm ta đau. Không phải mọi bất công đều là ý Chúa. Nhưng quyền năng của Chúa lớn đến mức Người có thể lấy cả điều xấu con người gây ra và không để nó có tiếng nói cuối cùng. Ngọn giáo là điều xấu; nhưng máu và nước là câu trả lời của Thiên Chúa. Thập Giá là tội ác; nhưng Phục Sinh là câu trả lời của Thiên Chúa. Giuđa phản bội; nhưng chương trình cứu độ không thất bại. Phêrô chối Thầy; nhưng ơn gọi của ông chưa kết thúc. Các môn đệ bỏ chạy; nhưng Chúa Phục Sinh vẫn tìm họ. Điều ấy nghĩa là những vết thương trong đời ta cũng chưa phải là câu cuối.
Có người đang mang một nỗi đau nhiều năm và nghĩ rằng đời mình đã hỏng ở đó. Không. Nếu còn đặt vết thương ấy trong tay Chúa, câu chuyện chưa kết thúc. Có người bị phản bội và nghĩ mình từ nay không còn khả năng yêu. Không. Trái tim bị thương có thể yêu sâu hơn nếu được Chúa chữa lành. Có người đã phạm một lỗi nặng và nghĩ quá khứ ấy đã định nghĩa cả cuộc đời. Không. Cạnh sườn Chúa mở ra còn rộng hơn tội lỗi của ta. Có người cảm thấy mình không còn xứng đáng bước vào nhà thờ. Chính người ấy càng cần nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Bởi vì máu và nước không chảy ra cho những người hoàn hảo. Nó chảy ra cho một nhân loại có tội. Trái Tim Chúa không mở ra sau khi thế gian đã trở nên tốt đẹp. Trái Tim Chúa mở ra giữa lúc thế gian đang giết Người. Đó là Tin Mừng.
Vì thế, đừng bao giờ nghĩ rằng Chúa chỉ yêu phiên bản tốt đẹp của mình. Người yêu chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân. Người không đợi Phêrô trung thành hoàn toàn rồi mới yêu ông. Người yêu cả trước và sau ba lần chối. Người không đợi Tôma hết nghi ngờ mới hiện ra. Người đưa chính vết thương cho Tôma chạm. Người không đợi người phụ nữ ngoại tình có một quá khứ sạch mới bênh vực. Người không đợi Dakêu sửa đời rồi mới bước vào nhà ông. Chính sự hiện diện của Chúa làm người ta muốn thay đổi. Tình yêu của Thiên Chúa không phải phần thưởng dành cho người đã tốt; tình yêu của Thiên Chúa là sức mạnh làm người tội lỗi có thể trở nên mới.
Có khi chúng ta không tin điều ấy vì ta đã quen với tình yêu có điều kiện. Người ta thương ta khi ta làm đúng ý họ. Người ta khen ta khi ta thành công. Người ta ở bên ta khi ta hữu ích. Người ta nhớ đến ta khi họ cần ta. Và vì trải qua quá nhiều tình yêu có điều kiện, ta đem cùng một logic ấy vào tương quan với Chúa. Ta nghĩ khi mình tốt Chúa mới thương. Khi mình đạo đức Chúa mới gần. Khi mình thất bại Chúa quay đi. Nhưng Thập Giá phủ nhận điều đó. Nếu Thiên Chúa chỉ yêu người tốt, Con của Người đã không cần chịu đóng đinh. Thập Giá tồn tại vì Thiên Chúa yêu ngay cả khi con người không đáng yêu. Cạnh sườn bị đâm thâu là bằng chứng rằng tội lỗi của chúng ta có thể làm Người đau, nhưng không thể làm Người ngừng yêu.
Đó cũng là thách đố lớn nhất cho người Kitô hữu: chúng ta có dám yêu như Chúa không? Không ai trong chúng ta có thể yêu hoàn hảo như Người, nhưng ta có thể bắt đầu bằng những điều rất nhỏ. Đừng đáp lại một lời nặng bằng một lời nặng hơn. Đừng biến lỗi lầm của người khác thành thứ vũ khí dùng mãi. Đừng vui khi thấy người từng làm mình đau gặp chuyện. Đừng truyền đi câu chuyện có thể làm hại danh dự người khác chỉ vì mình có lý. Đừng lấy sự im lặng làm hình phạt. Đừng để ai phải đoán mãi xem mình có còn thương họ hay không. Hãy nói lời xin lỗi khi cần. Hãy nói lời cảm ơn khi còn kịp. Hãy thăm một người bệnh. Hãy gọi cho cha mẹ. Hãy ngồi lại với một người đang buồn mà không vội giảng giải. Hãy bước vào nhà thờ và nói với Chúa rằng: “Con biết con đã làm Trái Tim Chúa đau nhiều lần. Xin dạy con đừng làm đau thêm trái tim của những người Chúa đặt bên con.”
Có những buổi tối, ta có thể xét mình không chỉ bằng câu hỏi: hôm nay tôi đã phạm luật gì, nhưng bằng một câu sâu hơn: hôm nay tôi đã làm trái tim ai bị thương? Và hôm nay tôi đã chữa lành trái tim ai? Có khi cả ngày ta không làm điều gì bị coi là “tội lớn”, nhưng lại để lại sau lưng rất nhiều người buồn vì thái độ của mình. Có khi ta rất chu toàn, rất đúng giờ, rất nguyên tắc, nhưng người sống cạnh ta lúc nào cũng căng thẳng. Có khi ta thắng mọi cuộc tranh luận nhưng mất dần mọi mối tương quan. Có khi ta bảo vệ sự thật nhưng đánh mất tình yêu. Trong khi ấy, Đức Kitô trên Thập Giá không cố thắng một cuộc tranh luận nào. Người thắng bằng cách yêu đến tận cùng.
Trái tim Chúa bị đâm thâu còn là nơi trú ẩn cho những trái tim bị tổn thương. Người không nói với ta: “Có gì đâu mà buồn.” Người không nói: “Con yếu đuối quá.” Người không chế nhạo nước mắt. Người biết thế nào là đau. Khi chúng ta đến với Người, chúng ta đến với một Thiên Chúa mang sẹo. Và có lẽ đây là niềm an ủi lớn nhất: người hiểu ta sâu nhất không phải là người đã đọc nhiều sách về đau khổ, nhưng là Đấng đã đi qua đau khổ. Khi ta bị bỏ rơi, Người hiểu. Khi ta bị phản bội, Người hiểu. Khi ta bị hiểu lầm, Người hiểu. Khi ta cầu nguyện mà tưởng như Cha im lặng, Người đã từng thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài vực thẳm rồi kéo ta lên. Người bước xuống tận vực thẳm ấy, đứng bên ta và đưa ta ra.
Vậy nên, nếu hôm nay ta đang đau, đừng xấu hổ vì mình đau. Một trái tim có thể bị thương không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của yếu đuối. Có khi đó là dấu hiệu rằng ta đã yêu thật. Chúa Giêsu đã bị tổn thương vì Người yêu thật. Đức Maria bị lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn vì Mẹ yêu thật. Những người cha, người mẹ mất ngủ vì con, những người vợ vẫn âm thầm cầu nguyện cho chồng, những người chồng lặng lẽ gánh gia đình, những người chăm sóc bệnh nhân nhiều năm, những người vẫn trung thành trong một mối tương quan khó khăn, tất cả đều hiểu phần nào cái giá của tình yêu. Nhưng đừng chỉ ôm vết thương một mình. Hãy đem nó vào cạnh sườn Chúa. Vết thương gặp Vết Thương. Nước mắt gặp Máu và Nước. Sự yếu đuối của ta gặp lòng thương xót của Người.
Rồi sẽ đến một ngày, ta hiểu rằng điều kỳ diệu nhất không phải là Chúa làm cho ta không bao giờ bị thương, nhưng là Chúa có thể giữ cho trái tim ta vẫn còn biết yêu sau những lần bị thương. Đó mới là phép lạ lớn. Một người chưa từng bị xúc phạm mà hiền lành thì đáng quý; nhưng một người từng bị xúc phạm sâu sắc mà vẫn không trở thành cay độc thì thật đẹp. Một người chưa từng mất gì mà quảng đại thì tốt; nhưng một người đã từng mất rất nhiều mà vẫn biết cho đi thì thật giống Chúa. Một người được yêu đầy đủ mà biết yêu thì dễ hiểu; nhưng một người từng bị bỏ rơi mà vẫn không bỏ rơi người khác, nơi người ấy Thập Giá đang sinh hoa trái.
Trước Trái Tim bị đâm thâu của Đức Giêsu, chúng ta cũng học được rằng Thiên Chúa không cứu thế giới bằng một trái tim bọc thép. Người cứu thế giới bằng một trái tim mở. Người không cứu bằng cách làm cho mình bất khả xâm phạm, nhưng bằng cách cho phép tình yêu đi đến tận cùng. Thế gian bảo: đừng để ai làm mình đau. Chúa nói: hãy yêu, nhưng hãy yêu trong sự thật. Thế gian bảo: ai làm mình đau thì phải cho họ biết tay. Chúa nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Thế gian bảo: bị phản bội thì đừng tin ai nữa. Chúa Phục Sinh quay lại tìm chính những môn đệ đã bỏ Người chạy trốn. Thế gian bảo: bảo vệ trái tim bằng cách đóng lại. Chúa cứu thế gian bằng cách mở cạnh sườn.
Có lẽ vì vậy mà người Kitô hữu không thể sống bằng một trái tim lạnh. Chúng ta có thể khôn ngoan, nhưng không được vô cảm. Chúng ta có thể mạnh mẽ, nhưng không được tàn nhẫn. Chúng ta có thể có nguyên tắc, nhưng không được mất lòng thương xót. Chúng ta có thể nói sự thật, nhưng phải nói trong tình yêu. Chúng ta có thể đau, nhưng không được lấy nỗi đau làm giấy phép để làm đau người khác. Bởi vì Đấng chúng ta thờ là một Thiên Chúa có Trái Tim, và Trái Tim ấy đã bị đâm thâu vì yêu.
Ước gì mỗi lần nhìn lên tượng Thánh Giá, ta không chỉ thấy một người đã chết, nhưng thấy một tình yêu đã để mình bị thương. Mỗi lần nhìn cạnh sườn mở ra, hãy nhớ rằng ta có một nơi để trở về. Khi tội lỗi làm ta xấu hổ, hãy trở về. Khi nỗi đau làm ta kiệt sức, hãy trở về. Khi ta muốn đóng trái tim lại, hãy trở về. Khi ta thấy mình không còn khả năng tha thứ, hãy trở về. Hãy đặt bàn tay như Tôma vào cạnh sườn Chúa và xin Người cho ta một trái tim mới. Không phải một trái tim không bao giờ đau, nhưng một trái tim đau mà không hóa đá. Không phải một trái tim không có vết thương, nhưng một trái tim biết biến vết thương thành lòng thương xót. Không phải một trái tim không biết khóc, nhưng một trái tim sau nước mắt vẫn còn biết yêu.
Và cuối cùng, có lẽ điều chúng ta cần mang theo từ đoạn Tin Mừng hôm nay chỉ là một hình ảnh rất đơn sơ: trái tim Chúa đã mở. Con người có thể đóng cửa với Chúa, nhưng Chúa vẫn mở cửa với con người. Con người có thể đâm Người, nhưng Người vẫn cho máu và nước chảy ra. Con người có thể bỏ Người, nhưng Người vẫn đợi. Con người có thể làm tình yêu của Người bị tổn thương, nhưng không thể làm tình yêu ấy chấm dứt. Đó là hy vọng của chúng ta. Không phải vì ta trung thành đủ, nhưng vì Người trung thành. Không phải vì ta yêu Người đủ, nhưng vì Người đã yêu ta trước. Không phải vì trái tim ta luôn sạch, nhưng vì Trái Tim Người vẫn mở.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen với Thập Giá đến mức nhìn mà không còn xúc động. Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen với cạnh sườn bị đâm thâu đến mức quên rằng chính vì mình mà Trái Tim ấy đã mở. Xin cho chúng ta, mỗi khi sắp làm ai đau, nhớ đến Trái Tim Chúa. Mỗi khi mình bị đau, nhớ đến Trái Tim Chúa. Mỗi khi muốn trả đũa, nhớ đến Trái Tim Chúa. Mỗi khi thấy mình không còn đáng được yêu, cũng nhớ đến Trái Tim Chúa. Bởi nơi đó, một Thiên Chúa có thể bị tổn thương vì yêu vẫn đang nói với từng người chúng ta, không bằng một bài diễn văn, nhưng bằng chính vết thương của Người: “Con có thể làm Ta đau, nhưng con không thể làm Ta ngừng yêu con.”
Lm. Anmai, CSsR

NHÌN LÊN ĐẤNG BỊ ĐÂM THÂU ĐỂ HỌC CÁCH YÊU
Tin Mừng: Ga 19,37 – “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.”
Có lẽ trong cuộc đời, ai trong chúng ta cũng từng nói đến tình yêu, từng mong được yêu, từng đau vì yêu và cũng từng làm người khác đau nhân danh tình yêu. Tình yêu là điều con người nói nhiều nhất, hát nhiều nhất, viết nhiều nhất, mơ ước nhiều nhất, nhưng cũng là điều con người hiểu sai nhiều nhất. Có những thứ chúng ta gọi là yêu nhưng thật ra chỉ là muốn chiếm hữu. Có những thứ chúng ta gọi là yêu nhưng chỉ là mong người khác làm cho mình hạnh phúc. Có những lúc ta nói rằng mình thương một người, nhưng chỉ thương khi người ấy còn làm ta vui, còn nghe lời ta, còn đáp lại điều ta mong đợi. Khi họ thay đổi, khi họ làm ta thất vọng, khi họ không còn đáp ứng những chờ đợi của ta nữa, tình yêu của ta cũng bắt đầu nguội lạnh. Bởi thế, nếu chỉ nhìn vào lòng mình, có lẽ chúng ta khó học được tình yêu đến cùng. Nếu chỉ nhìn vào thế gian, ta cũng dễ học một thứ tình yêu có điều kiện: còn tốt thì yêu, còn hợp thì ở, còn vui thì tiếp tục, còn lợi thì giữ lại; không còn hợp nữa thì bỏ, không còn lợi nữa thì xa, không còn làm mình hạnh phúc nữa thì coi nhau như người dưng. Nhưng Tin Mừng hôm nay chỉ cho chúng ta một ngôi trường khác để học yêu, một cuốn sách khác để học yêu, một khuôn mặt khác để hiểu yêu là gì: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Muốn biết yêu là gì, hãy nhìn lên Thập Giá. Muốn biết Thiên Chúa yêu con người thế nào, hãy nhìn vào cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giêsu. Muốn biết một tình yêu thật có thể đi xa đến đâu, hãy nhìn Trái Tim đã bị mở ra vì con người. Ở đó không còn lý thuyết. Ở đó không còn những lời hoa mỹ. Ở đó tình yêu đã trở thành máu, thành nước mắt, thành vết thương, thành sự trao hiến đến tận cùng.
Đáng suy nghĩ biết bao: Tin Mừng không nói “hãy hiểu Đấng bị đâm thâu”, nhưng là “hãy nhìn lên”. Có những mầu nhiệm chỉ hiểu được sau khi đã nhìn thật lâu. Có những điều về Thiên Chúa không thể học bằng sự thông minh mà phải học bằng một trái tim biết dừng lại. Chúng ta sống trong một thời đại nhìn rất nhiều nhưng lại ít chiêm ngắm. Mỗi ngày mắt ta nhìn không biết bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu tin tức, bao nhiêu màn hình, bao nhiêu khuôn mặt, nhưng có khi cả tháng, cả năm, ta chưa một lần thật sự nhìn lên Thánh Giá với một tâm hồn lặng lại. Thánh Giá treo trong nhà chúng ta, trên cổ chúng ta, trong nhà thờ chúng ta, trên bàn làm việc của chúng ta; nhưng Thánh Giá có khi đã trở thành quá quen đến độ ta không còn để cho Thánh Giá chất vấn mình nữa. Ta nhìn mà không thấy. Ta mang Thánh Giá nhưng chưa chắc đã hiểu đường lối của Đấng chịu đóng đinh. Ta cúi đầu trước Thánh Giá nhưng bước ra khỏi nhà thờ lại có thể sống ngược hẳn với Thập Giá: ích kỷ, nóng nảy, hơn thua, trả đũa, chấp nhất, kiêu căng và không chịu hy sinh cho bất cứ ai. Bởi vậy, lời Kinh Thánh “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” không chỉ là một lời mô tả, nhưng gần như một lời mời: hãy nhìn đi, nhìn thật lâu, nhìn cho đến khi Trái Tim bị đâm thâu ấy làm mềm trái tim đang chai cứng của mình; nhìn cho đến khi cách Chúa yêu trở thành cách mình sống; nhìn cho đến khi mình không thể tiếp tục nói rằng mình yêu Chúa mà lại làm đau anh chị em mình.
Trên Thập Giá, cạnh sườn Đức Giêsu bị một lưỡi đòng đâm thâu. Nhưng thật ra, trước khi mũi đòng của người lính đâm vào cạnh sườn Người, Trái Tim ấy đã bị đâm thâu biết bao lần. Bị đâm bởi sự phản bội của Giuđa. Bị đâm bởi lời chối bỏ của Phêrô. Bị đâm bởi sự bỏ chạy của các môn đệ. Bị đâm bởi những lời vu cáo. Bị đâm bởi tiếng la hét “Đóng đinh nó vào thập giá!” của đám đông. Bị đâm bởi sự vô ơn của những người từng được Người chữa lành nhưng giờ đây không thấy bóng dáng đâu. Bị đâm bởi sự chế nhạo của quân lính. Bị đâm bởi sự lạnh lùng của những người đứng nhìn. Và cuối cùng một ngọn giáo xuyên qua thân xác đã làm lộ ra bên ngoài điều mà Trái Tim Người đã chịu từ lâu: Người đã để cho mình bị tổn thương vì yêu. Đây có lẽ là một điều rất khó đối với con người chúng ta. Ta muốn yêu nhưng không muốn bị đau. Ta muốn trao đi nhưng vẫn muốn bảo đảm rằng mình sẽ được đáp lại. Ta muốn sống tốt nhưng mong người khác cũng phải sống tốt với mình. Ta sẵn sàng tha thứ nếu người kia biết lỗi. Ta sẵn sàng hy sinh nếu người ta ghi nhận. Ta sẵn sàng phục vụ nếu được trân trọng. Nhưng tình yêu của Đức Kitô không đòi một sự bảo đảm như thế. Người yêu ngay cả khi bị từ chối. Người yêu ngay cả khi bị hiểu lầm. Người yêu ngay cả khi những người được Người yêu không biết mình đang làm gì. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Câu nói ấy chỉ có thể phát ra từ một Trái Tim hoàn toàn tự do để yêu.
Chúng ta thường nghĩ rằng yêu là trao cho nhau những điều tốt đẹp. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Trên Thập Giá, Đức Giêsu dạy rằng yêu còn là chấp nhận để mình phải trả giá vì người mình yêu. Một người mẹ thức suốt đêm bên đứa con bệnh không chỉ đang làm một bổn phận; bà đang học ngôn ngữ của Thập Giá. Một người cha âm thầm làm lụng, đôi tay chai sần để các con được học hành, đang viết bằng mồ hôi một bài học về yêu. Một người vợ kiên nhẫn chăm sóc người chồng đau yếu nhiều năm, một người chồng vẫn ở lại bên người vợ trong những tháng ngày khó khăn nhất, một người con không bỏ cha mẹ khi tuổi già làm các ngài khó tính, một linh mục vẫn trung thành với đoàn chiên dù bị hiểu lầm, một tu sĩ vẫn âm thầm giữ lời khấn trong những ngày khô khan, một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả thù: tất cả những điều ấy có một nét rất gần với Trái Tim bị đâm thâu. Tình yêu thật thường không ồn ào. Tình yêu thật không phải lúc nào cũng được vỗ tay. Có những hy sinh không ai biết. Có những nước mắt chỉ mình Chúa thấy. Có những lời tha thứ được thốt ra trong khi lòng còn đau. Có những người vẫn tiếp tục sống tử tế dù đã từng bị đối xử rất tệ. Chính ở đó, tình yêu bắt đầu mang hình dáng của Thập Giá.
Nhưng nhìn lên Đấng bị đâm thâu không có nghĩa là chúng ta phải tìm kiếm đau khổ hay chấp nhận mọi sự bất công một cách mù quáng. Thập Giá của Đức Kitô không phải là lời cổ võ cho bạo lực, cũng không phải là lý do để một người tiếp tục để mình bị chà đạp. Chúa không dạy chúng ta yêu sự dữ. Người dạy chúng ta yêu con người mà không để sự dữ biến mình thành kẻ dữ. Đây là điều rất khác. Đức Giêsu không gọi điều ác là điều tốt. Người lên án giả hình, Người sửa dạy bất công, Người nói sự thật. Nhưng khi sự dữ trút xuống trên chính Người, Người không để lòng mình trở thành một nơi sản sinh thêm hận thù. Người không dùng đau khổ của mình làm lý do để gây đau khổ cho người khác. Người không biến vết thương thành vũ khí. Và có lẽ đây là một bài học lớn cho chúng ta. Có người bị tổn thương rồi từ đó đi làm tổn thương người khác. Có người từng bị phản bội nên không còn tin ai. Có người từng bị xúc phạm nên sau này trở nên rất cay nghiệt. Có người mang một vết thương từ gia đình, rồi vô thức truyền lại vết thương ấy cho con cái. Đó là cách sự dữ lan truyền: người đau làm người khác đau. Nhưng nơi Đức Kitô, chuỗi ấy bị chặn lại. Người nhận lấy sự dữ, nhưng từ Trái Tim Người không chảy ra sự dữ, mà chảy ra máu và nước, chảy ra lòng thương xót, chảy ra ơn cứu độ. Đó mới là phép lạ lớn nhất của Thập Giá.
Ta hãy tự hỏi: khi bị đâm thâu, điều gì chảy ra từ lòng mình? Khi bị ai đó nói nặng, điều gì bật ra khỏi miệng ta? Khi bị hiểu lầm, ta phản ứng thế nào? Khi có người làm mình tổn thương, ta muốn họ phải trả giá ra sao? Khi bị thất bại, ta có trút bực tức lên những người vô tội quanh mình không? Khi bị một người phản bội, ta có bắt cả thế giới phải trả món nợ của người ấy không? Có lẽ thước đo một tâm hồn không nằm ở cách nó hành xử khi mọi sự thuận lợi, nhưng ở điều bật ra khỏi nó khi nó bị thương. Trái cây bị ép mới lộ nước bên trong. Trái tim con người khi bị ép bởi đau khổ cũng lộ ra điều nó đang chứa. Nếu lòng đầy cay đắng, cay đắng sẽ trào ra. Nếu lòng đầy tự ái, tự ái sẽ trào ra. Nếu lòng được Thập Giá thanh luyện mỗi ngày, có thể từ chính vết thương của ta, sự dịu dàng sẽ bắt đầu chảy ra.
Điều cảm động nơi cạnh sườn Đức Giêsu là Trái Tim Người không chỉ bị thương, mà còn được mở ra. Có một nghịch lý đẹp vô cùng: chính vết thương lại trở thành một cánh cửa. Con người dùng ngọn giáo để làm tổn thương Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa lại dùng chính vết thương ấy để mở cho con người một con đường bước vào lòng thương xót. Thật khó tưởng tượng được một tình yêu nào như vậy. Nếu là ta, khi bị làm đau, ta thường đóng cửa. Người nào phản bội ta, ta loại ra khỏi đời mình. Ai xúc phạm ta, ta dựng tường. Ai làm ta thất vọng, ta không muốn nhìn mặt nữa. Càng bị thương, ta càng khép kín. Nhưng nơi Đức Giêsu thì ngược lại: càng bị thương, Trái Tim Người càng mở rộng. Ngọn giáo không đóng Trái Tim Người lại, mà làm nó mở ra. Đó là tình yêu của Thiên Chúa. Người không phải là một Thiên Chúa đứng xa con người vì tội lỗi của họ. Người để chính tội lỗi của con người đâm thâu mình, rồi vẫn mở lòng đón họ về.
Bởi thế, người Kitô hữu không chỉ được mời gọi chiêm ngắm Trái Tim Chúa, mà còn được mời gọi mang một trái tim giống Trái Tim ấy. Một trái tim không dễ dàng khép lại. Một trái tim còn biết thương người ngay cả sau khi đã từng thất vọng. Một trái tim có thể nói: tôi không đồng ý với điều anh làm, nhưng tôi không muốn ghét anh. Tôi không thể coi chuyện đã xảy ra như chưa từng có, nhưng tôi không muốn cả đời mình bị chuyện ấy cai trị. Tôi cần bảo vệ mình khỏi sự dữ, nhưng tôi không muốn trở thành một người dữ. Tôi có thể phải giữ khoảng cách, nhưng tôi không muốn nuôi hận thù. Đó là một con đường rất dài. Tha thứ không phải là một cảm xúc xảy đến trong một buổi chiều. Có những tha thứ phải mất nhiều năm. Có những người mỗi ngày phải tha thứ lại một lần cho cùng một vết thương. Có những ký ức không thể xóa, nhưng có thể được Chúa làm cho bớt độc. Trái Tim Đức Giêsu bị đâm thâu không dạy ta quên rằng mình đã bị đau, nhưng dạy ta đừng để vết đau trở thành căn tính của đời mình.
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Có một điều rất thấm thía trong câu ấy: những người nhìn lên lại chính là những người đã đâm thâu. Đó là Tin Mừng cho tất cả chúng ta. Bởi không ai trong chúng ta vô tội trước Thập Giá. Có thể ta chưa từng cầm búa đóng đinh Chúa, nhưng mỗi lần ta cố ý làm tổn thương người khác, mỗi lần ta nói một lời biết chắc sẽ khiến ai đó đau, mỗi lần ta kết án một người không cho họ cơ hội trở về, mỗi lần ta sống ích kỷ và lạnh lùng trước đau khổ của anh em, ta đang đứng trong đám đông dưới chân Thập Giá. Thế nhưng Chúa vẫn cho ta nhìn lên. Chúa không bảo những kẻ có lỗi hãy trốn đi. Người để cho họ nhìn vào Trái Tim đã bị chính họ làm tổn thương, để họ nhận ra hai điều cùng một lúc: tội lỗi của con người nghiêm trọng biết bao và lòng thương xót của Thiên Chúa còn lớn hơn biết bao. Nếu chỉ thấy tội mà không thấy lòng thương xót, ta sẽ tuyệt vọng. Nếu chỉ nói lòng thương xót mà quên tội, ta sẽ coi nhẹ Thập Giá. Đứng trước Trái Tim bị đâm thâu, ta thấy cả hai: tội lỗi có sức làm Con Thiên Chúa phải chết, nhưng tình yêu Thiên Chúa có sức biến chính cái chết ấy thành nguồn sống.
Có lẽ điều người ta cần nhất hôm nay không phải là thêm những lời nói về tình yêu, nhưng là những con người biết yêu theo hình dáng Thập Giá. Thế giới không thiếu những khẩu hiệu nhân ái; thế giới thiếu những người chịu ở lại với nhau khi khó khăn. Gia đình không thiếu lời “con yêu cha mẹ”, “anh yêu em”, nhưng nhiều gia đình thiếu kiên nhẫn. Cộng đoàn không thiếu những lời nói về hiệp nhất, nhưng đôi khi chỉ một chuyện nhỏ cũng đủ để người ta không nhìn mặt nhau nhiều năm. Trong Giáo Hội, ta nói nhiều đến bác ái, nhưng vẫn có thể làm đau nhau bằng lời nói, bằng thành kiến, bằng những phán xét rất nhanh và rất lạnh. Chúng ta có thể quỳ trước Thánh Thể rất lâu nhưng lại không chịu nhường một lời cho người bên cạnh. Có thể hôn kính Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng trong lòng vẫn giữ một “danh sách đen” những người mình không tha. Khi đó, điều ta cần không phải là học thêm một định nghĩa về tình yêu, nhưng trở lại nhìn Đấng bị đâm thâu.
Nhìn Chúa, ta thấy Người không yêu bằng cách lựa chọn những người dễ thương. Chúa yêu Phêrô khi Phêrô mạnh mẽ và cũng yêu ông khi ông hèn nhát chối Thầy. Chúa yêu các môn đệ khi họ đi theo Người và vẫn yêu khi họ chạy trốn. Chúa yêu những người tung hô Người ngày vào Giêrusalem và cả những người vài ngày sau hô “Đóng đinh nó đi.” Điều ấy không có nghĩa là Chúa đồng tình với sự phản bội của họ. Không. Nhưng lỗi lầm của con người không đủ sức làm Chúa ngừng yêu. Đây là một nét của tình yêu thần linh mà chúng ta cần học cả đời: biết phân biệt giữa con người và lỗi lầm của họ. Ta có thể ghét điều xấu mà họ làm nhưng không ghét họ. Ta có thể nói một hành vi là sai mà không kết luận rằng một đời người hoàn toàn vô giá trị. Ta có thể sửa dạy mà không sỉ nhục. Ta có thể giữ sự thật mà vẫn giữ lòng thương xót. Đó không phải là yếu đuối. Đó là sức mạnh của một trái tim được đào tạo dưới chân Thập Giá.
Nhìn Đấng bị đâm thâu, ta còn học rằng yêu là cho người khác được đi vào trái tim mình. Nhiều khi chúng ta sợ yêu vì sợ bị tổn thương. Và sự sợ hãi ấy không vô lý. Người đã từng bị phản bội sẽ dè dặt hơn. Người từng bị lừa dối sẽ khó tin hơn. Người từng cho quá nhiều mà nhận lại quá ít sẽ muốn co mình lại. Nhưng nếu vì sợ đau mà đóng chặt trái tim, ta có thể tránh được một vài vết thương, đồng thời cũng đánh mất khả năng trao ban và đón nhận tình yêu. Một đời sống không bao giờ bị ai làm tổn thương có khi là một đời sống chẳng bao giờ thật sự thuộc về ai. Trái Tim Đức Giêsu bị đâm thâu cho ta thấy tình yêu luôn mang một sự mong manh nào đó. Yêu là trao cho một người khả năng làm mình vui, và cũng vì thế, khả năng làm mình buồn. Yêu con thì sẽ đau vì con. Yêu đoàn chiên thì sẽ có lúc đau vì đoàn chiên. Yêu Giáo Hội thì sẽ có lúc đau vì những yếu đuối trong Giáo Hội. Yêu một cộng đoàn thì sẽ có lúc thất vọng về cộng đoàn. Chỉ người không yêu gì mới không bao giờ đau vì điều gì. Nhưng Tin Mừng không mời ta sống một đời an toàn trong sự vô cảm. Tin Mừng mời ta yêu với sự khôn ngoan, nhưng vẫn yêu.
Đặc biệt, nhìn lên Đấng bị đâm thâu, chúng ta học cách yêu những người đang đau khổ. Có một kiểu yêu rất dễ là yêu người đang vui vẻ, thành công, khỏe mạnh, mạnh mẽ. Nhưng khi một người rơi vào bệnh tật, trầm buồn, thất bại, tuổi già hay khủng hoảng, lúc ấy tình yêu mới được thử. Chúng ta thường muốn sửa chữa nỗi đau của người khác thật nhanh. Gặp người buồn, ta nói “đừng buồn nữa”. Gặp người mất mát, ta bảo “Chúa có chương trình của Chúa”. Gặp người đau khổ, ta đưa ra bao lời khuyên, nhiều khi chỉ làm họ thấy mình cô độc hơn. Nhưng Đức Giêsu chịu đóng đinh dạy một tình yêu khác: tình yêu biết mang thương tích cùng với người khác. Chúa cứu chúng ta không bằng cách đứng ngoài đau khổ rồi nói vài lời an ủi. Người đi vào đau khổ. Người trở thành một người bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị nhục nhã, bị đau thể xác và bị nghiền nát trong tâm hồn. Bởi thế, khi ta đau, ta không cầu nguyện với một Thiên Chúa không biết đau là gì. Ta nhìn lên Thập Giá và biết rằng Người đã ở đó.
Và có lẽ đó cũng là lời nhắn nhủ cho những ai hôm nay đang mang một trái tim bị đâm thâu. Có thể người đọc những dòng này đang đau vì một người con. Có người đau vì hôn nhân. Có người đau vì bị phản bội. Có người đau vì căn bệnh không biết khi nào kết thúc. Có người đau vì một lời nói mình không thể quên. Có người đau vì đã cố gắng quá nhiều nhưng mọi việc vẫn đổ vỡ. Có người đau trong đời sống đức tin: cầu nguyện mãi mà dường như Chúa im lặng. Xin đừng nghĩ rằng vì trái tim mình đau nên đời mình vô ích. Trái Tim Đức Giêsu đã bị đâm thâu nhưng chính từ Trái Tim bị thương ấy, nguồn sống lại tuôn ra. Thiên Chúa có thể dùng một trái tim đã từng tan vỡ để trở thành nơi trú ẩn cho những người tan vỡ khác. Người từng khóc thường hiểu nước mắt của người khác hơn. Người từng trải qua cô độc thường nhạy hơn trước sự cô độc của người bên cạnh. Người đã từng được tha thứ sâu xa thường biết tha thứ hơn. Nếu để Chúa chữa lành, vết thương của ta có thể trở thành cửa sổ để ánh sáng đi qua.
Nhưng để được như thế, ta phải đem vết thương của mình đến gần vết thương của Chúa. Đừng chỉ ôm nỗi đau một mình. Đừng nuôi nó trong đêm tối của tự ái. Đừng để trí nhớ ngày đêm nhai lại những điều đã xảy ra. Hãy đặt lòng mình bên cạnh Trái Tim Chúa. Có thể không phải ngay lập tức ta sẽ thấy nhẹ. Có thể vấn đề vẫn còn đó. Có thể người làm ta đau chưa thay đổi. Nhưng một điều âm thầm có thể bắt đầu: nỗi đau không còn làm chủ ta nữa. Ta bắt đầu nhìn câu chuyện của mình từ Thập Giá. Ta bắt đầu thấy rằng mình vẫn được yêu dù bị một người từ chối. Ta vẫn có giá trị dù bị ai đó coi thường. Ta không cần trả thù để chứng minh mình đúng. Ta không cần người kia phải đau như ta thì ta mới được bình an. Khi ấy, Trái Tim bị đâm thâu của Chúa đang dạy trái tim ta yêu.
Học yêu từ Thập Giá cũng là học chết đi cho cái tôi. Rất nhiều đổ vỡ trong đời không phải vì người ta hết yêu nhau, nhưng vì cái tôi của mỗi người quá lớn. Ai cũng muốn mình đúng. Ai cũng muốn người kia xin lỗi trước. Ai cũng muốn được hiểu nhưng ít ai chịu hiểu. Ai cũng muốn được tôn trọng nhưng lại dễ làm tổn thương người khác. Có những vợ chồng mất nhau không vì một biến cố quá lớn, mà vì hàng ngàn lần không ai chịu nhường. Có những anh em ruột xa nhau vì một chuyện tài sản, rồi mười năm, hai mươi năm không nhìn mặt. Có những cộng đoàn chia rẽ vì một câu nói. Có những tình bạn mất đi vì không ai chịu bước xuống trước. Nhìn lên Thập Giá, ta thấy Đức Giêsu không giữ quyền của mình. Người không chứng minh mình bằng cách xuống khỏi Thập Giá. Người không giành phần thắng theo kiểu của thế gian. Người chọn yêu đến cùng. Và đôi khi trong đời, cứu được một tương quan quan trọng hơn thắng được một cuộc tranh luận. Giữ được một người quan trọng hơn giữ được tự ái. Nói “tôi xin lỗi” không làm mình nhỏ đi. Tha thứ không làm mình thua. Chỉ có cái tôi mới sợ mất mặt; tình yêu thì chỉ sợ mất nhau.
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Khi nhìn lên, chúng ta còn thấy một Thiên Chúa không hề giấu vết thương. Chúa sống lại nhưng các dấu đinh vẫn còn. Điều này đẹp biết bao. Phục Sinh không xóa Thập Giá như thể nó chưa từng xảy ra. Vết thương vẫn đó nhưng vết thương đã được biến đổi. Sau Phục Sinh, dấu đinh không còn là dấu của thất bại; nó trở thành dấu của tình yêu chiến thắng. Điều này đem lại hy vọng lớn lao cho đời chúng ta. Chúng ta thường cầu xin Chúa xóa hết những gì đau đớn đã xảy ra. Nhưng có lẽ Chúa không luôn xóa lịch sử. Người cứu lịch sử. Người không làm như thể ta chưa bao giờ bị thương; Người làm cho vết thương ấy không còn quyền giết chết tương lai của ta. Một ngày nào đó, ta có thể nhìn lại điều từng làm mình khóc mà không còn cay đắng. Không phải vì chuyện ấy đúng, nhưng vì Chúa đã lớn hơn chuyện ấy.
Và rồi, bài học cuối cùng của Trái Tim bị đâm thâu là thế này: yêu là mở ra, không phải giữ lại. Từ cạnh sườn Chúa chảy ra máu và nước. Một đời trao ban đến phút cuối. Người không còn gì để giữ cho mình. Đã trao lời giảng dạy, trao sức lực, trao thời gian, trao tình bạn, trao Mẹ mình cho người môn đệ, rồi trao cả hơi thở. Đời Kitô hữu cũng chỉ thật sự sinh hoa trái khi biết chảy ra khỏi chính mình. Một ao nước chỉ nhận mà không cho đi sẽ trở nên tù đọng. Một đời người chỉ lo giữ cho mình sẽ dần trở nên nghèo nàn. Có người có rất nhiều nhưng không ai muốn ở gần vì trái tim họ đóng kín. Có người chẳng có bao nhiêu nhưng đi tới đâu cũng làm người khác ấm lòng. Giá trị của đời ta không nằm ở chỗ ta tích lũy được bao nhiêu, nhưng ở chỗ từ đời ta đã có bao nhiêu điều tốt lành chảy đến cho người khác.
Cho nên mỗi ngày, trước Thánh Giá, có lẽ ta chỉ cần cầu xin một điều rất đơn sơ: “Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết yêu như Chúa.” Xin cho con biết yêu không chỉ khi dễ dàng. Xin cho con biết yêu những người không hoàn hảo, vì chính con cũng không hoàn hảo. Xin cho con biết nói sự thật mà không làm người khác nhục nhã. Xin cho con biết sửa dạy mà không kết án. Xin cho con biết tha thứ dù ký ức vẫn còn đau. Xin cho con biết ở lại bên những người đang khổ mà không vội vàng giảng giải về nỗi khổ của họ. Xin cho con biết hy sinh mà không kể công. Xin cho con biết cho đi mà không tính toán. Xin cho con biết giữ trái tim mềm mại giữa một thế giới có quá nhiều điều làm con muốn trở nên lạnh lùng. Xin cho những vết thương của con, thay vì làm con cay đắng, lại làm con nhân hậu hơn.
Có thể ta sẽ không bao giờ yêu hoàn hảo trong đời này. Nhưng điều quan trọng là mỗi ngày ta biết trở lại ngôi trường Thập Giá. Mỗi ngày nhìn Đấng bị đâm thâu một chút. Mỗi ngày bớt đi một chút ích kỷ. Bớt một lời làm đau. Bớt một lần hơn thua. Bớt một chút tự ái. Thêm một lần lắng nghe. Thêm một lời dịu dàng. Thêm một lần tha thứ. Thêm một việc hy sinh mà không ai biết. Đừng khinh những điều nhỏ ấy. Tình yêu lớn được làm nên từ những cái chết nhỏ của cái tôi mỗi ngày.
Đến cuối cùng, khi đời ta khép lại, có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta đã nói bao nhiêu điều hay về tình yêu. Người sẽ nhìn xem trái tim ta đã trở nên giống Trái Tim Người đến mức nào. Có mở ra không? Có biết đau với nỗi đau của người khác không? Có còn khả năng tha thứ không? Có biết cho đi không? Có để lòng thương xót chiến thắng sự cay đắng không? Có ai đã được chữa lành phần nào chỉ vì từng gặp ta không?
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Xin cho chúng ta biết nhìn. Nhìn cho đến khi nhận ra tình yêu thật không nằm trong những gì dễ dàng, nhưng trong khả năng vẫn yêu khi phải trả giá. Nhìn cho đến khi hiểu rằng Trái Tim Chúa bị mở ra không phải để chúng ta chỉ xúc động, nhưng để trái tim mình cũng được mở. Nhìn cho đến khi một ngày nào đó, người khác có thể nhìn vào cách chúng ta sống và nhận ra thấp thoáng một chút khuôn mặt của Đấng Chịu Đóng Đinh: một tình yêu không trả đũa, một lòng thương xót không đóng cửa, một trái tim từng bị thương nhưng vẫn còn biết yêu.
Và nếu hôm nay ta chưa yêu được như thế, xin đừng nản. Hãy cứ nhìn lên Người. Cứ ở lại dưới chân Thập Giá. Cứ để Trái Tim bị đâm thâu ấy dạy lại trái tim mình từng chút một. Bởi người ta không học yêu trong một ngày. Nhưng nếu mỗi ngày biết nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, rồi sẽ có một ngày ta hiểu rằng điều đẹp nhất có thể xảy ra cho một con người không phải là sống một đời không bao giờ bị tổn thương, nhưng là sau tất cả những tổn thương, trái tim vẫn không đánh mất khả năng yêu.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NGƯỜI THẦY DẠY TA YÊU KẺ THÙ
Tin Mừng: Lc 23,33-34
“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”
Có những lời trong Tin Mừng ta nghe mãi thành quen, quen đến độ không còn thấy chúng đáng kinh ngạc nữa. Có những câu ta đã đọc từ thuở nhỏ, đã nghe trong Tuần Thánh, đã nghe trong những giờ suy niệm Đàng Thánh Giá, đã nghe từ trên tòa giảng, đã nghe trong những bài hát đạo đức, rồi cứ tưởng rằng mình đã hiểu. Nhưng thật ra có những lời của Đức Giêsu càng nghe lâu càng thấy mình chưa hiểu, càng sống lâu càng thấy mình còn đứng rất xa. “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Chỉ một câu thôi, nhưng cả đời người Kitô hữu có lẽ vẫn chưa học xong. Bởi vì nói về tha thứ thì dễ, ca ngợi lòng tha thứ cũng dễ, khuyên người khác tha thứ càng dễ hơn nữa; nhưng khi chính mình bị xúc phạm, bị phản bội, bị vu oan, bị chà đạp, bị lấy mất danh dự, bị người mình tin tưởng quay lưng, bị người mình yêu thương làm cho tan nát, lúc ấy mới biết câu “xin tha cho họ” khó đến mức nào. Và cũng chính lúc ấy ta mới hiểu vì sao phải nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Người không chỉ nói cho ta biết phải yêu kẻ thù thế nào. Người đã yêu kẻ thù ngay trong lúc kẻ thù đang giết Người. Người không giảng một bài về tha thứ trong một buổi chiều bình an ở Galilê. Người giảng bài học lớn nhất về tha thứ bằng chính thân thể đầy thương tích của mình trên đồi Sọ. Người không nói “hãy tha thứ” khi mọi chuyện đã qua, khi vết thương đã lên da non, khi ký ức đã mờ, khi cảm xúc đã nguôi. Người nói lời tha thứ trong lúc đinh còn xuyên qua tay chân, máu còn chảy, tiếng chế nhạo còn vang bên tai, hơi thở đang bị rút ngắn từng phút. Chính vì vậy mà Thập Giá trở thành trường học của tình yêu, và Đức Kitô chịu đóng đinh trở thành Người Thầy duy nhất có quyền nói với ta: “Hãy yêu kẻ thù.”
Ta thường nghĩ kẻ thù là một khái niệm rất xa, là những người cầm gươm cầm súng, là những kẻ bách hại đạo, là những nhân vật trong lịch sử. Nhưng kẻ thù nhiều khi gần lắm. Kẻ thù có thể là người đã nói một câu khiến ta đau suốt nhiều năm. Là người thân đã chia của bất công. Là người anh em trong cộng đoàn đã làm nhục ta trước mặt người khác. Là người đồng nghiệp giành mất cơ hội của ta. Là người ta từng nâng đỡ nhưng sau đó quay lại nói xấu ta. Là người đã nhận bao điều tốt từ ta rồi phủi sạch tất cả. Là người trong chính gia đình mà mỗi lần nhắc đến, lòng ta nổi lên một cơn nóng. Là người ta vẫn gặp mỗi ngày nhưng đã lâu không còn muốn nhìn mặt. Là một cái tên mà chỉ cần ai vô tình nhắc tới là cả một vùng ký ức đau đớn sống lại. Có những người không hề đánh ta một roi nào, nhưng lời họ nói đủ làm ta chảy máu trong lòng. Có những người không đóng đinh ta vào gỗ, nhưng đã đóng ta vào những phán đoán, những lời vu khống, những cái nhìn khinh miệt. Có những vết thương ngoài da vài tuần thì lành, nhưng có một câu nói đã mười năm vẫn còn nhức. Và chính tại những nơi đó, Tin Mừng hôm nay bước vào. Không phải như một lý thuyết đẹp, nhưng như một đòi hỏi làm ta đau: “Hãy yêu kẻ thù.” Nếu Kitô giáo chỉ dạy yêu người yêu mình thì Kitô giáo chẳng có gì đặc biệt. Người không tin Chúa cũng biết thương cha mẹ, thương con cái, thương bạn hữu, thương người tử tế với mình. Điều làm Tin Mừng vượt khỏi phản ứng tự nhiên của con người là Đức Giêsu dẫn ta đến một nơi khác: yêu người không đáng yêu trong mắt ta, cầu nguyện cho người làm ta đau, không để điều ác của người khác biến trái tim ta thành một trái tim ác.
Có lẽ điều đáng sợ nhất của một vết thương không phải chỉ là nó làm ta đau. Điều đáng sợ hơn là nó có thể biến ta thành người khác. Một người từng hiền lành có thể trở nên cay nghiệt. Một người từng quảng đại có thể trở nên khép kín. Một người từng dễ tin có thể trở nên nghi ngờ tất cả. Một người từng thích giúp người khác có thể sau một lần bị lợi dụng mà thề rằng từ nay không giúp ai nữa. Một người từng nói nhẹ nhàng có thể vì bị xúc phạm nhiều mà học cách nói độc địa. Như thế, kẻ làm ta đau đã đi khỏi nhưng cái đau họ để lại vẫn tiếp tục điều khiển ta. Họ không còn trước mặt ta, nhưng họ sống trong ký ức, trong phản ứng, trong cách ta đối xử với những người chẳng liên quan gì đến câu chuyện cũ. Có khi người làm ta đau chỉ làm ta đau một lần, còn ta tự làm mình đau hàng nghìn lần bằng cách nhớ lại, kể lại, tưởng tượng lại, nuôi lại sự tức giận. Có những người đã chết từ lâu mà ta vẫn còn giận. Có những câu chuyện đã xảy ra hai mươi năm nhưng mỗi lần kể lại, giọng vẫn run như vừa mới hôm qua. Ta tưởng mình đang giữ món nợ của người khác, nhưng thật ra chính món nợ ấy đang giữ ta. Bởi vậy, khi Đức Giêsu dạy tha thứ, Người không đứng về phía bất công. Người đang cứu trái tim ta khỏi bị bất công chiếm hữu.
Tha thứ không có nghĩa là nói rằng điều xấu không xấu. Nếu một người làm điều sai, thì vẫn là sai. Nếu một người phản bội, ta không cần gọi phản bội là trung thành. Nếu một người bạo hành, ta không cần giả vờ rằng mọi chuyện bình thường. Nếu một người vu khống, ta không cần nói rằng sự thật không quan trọng. Đức Giêsu tha thứ cho những kẻ đóng đinh Người nhưng Người không nói việc họ làm là đúng. Tha thứ không đồng nghĩa với xóa bỏ công lý, không có nghĩa phải tiếp tục để người khác làm tổn thương mình, không có nghĩa phải quay lại một tương quan độc hại như chưa từng có gì xảy ra. Có những trường hợp ta phải giữ khoảng cách. Có những hoàn cảnh cần sự thật được làm sáng tỏ. Có những hành vi phải chịu trách nhiệm. Có những người phải được bảo vệ khỏi kẻ gây hại. Kitô giáo không biến người bị tổn thương thành kẻ phải cam chịu mọi sự. Nhưng Tin Mừng cũng không cho phép chúng ta dùng công lý làm bình phong cho hận thù. Ta có thể đòi công bằng mà không mong người kia bị hủy diệt. Ta có thể nói sự thật mà không cần nghiền nát người khác. Ta có thể bảo vệ mình mà không nuôi ước muốn trả thù. Đây là ranh giới rất mỏng mà chỉ khi nhìn lâu lên Thập Giá ta mới học được.
“Lạy Cha, xin tha cho họ.” Điều đầu tiên ta nhận thấy là Đức Giêsu không nói trực tiếp với những kẻ đang đóng đinh Người. Người nói với Cha. Có những người ta chưa thể nói chuyện. Có những vết thương ta chưa đủ bình an để gặp lại người đã gây ra. Có những lời xin lỗi chưa bao giờ đến. Có những người thậm chí không nhận rằng họ đã làm ta đau. Có những người còn cho rằng họ đúng. Trong những hoàn cảnh ấy, ta làm gì? Đức Giêsu cho ta một con đường: hãy đem họ vào lời cầu nguyện. Khi chưa thể nói với họ, hãy nói với Chúa về họ. Khi chưa thể chúc lành cho họ bằng miệng, hãy xin Chúa ban cho mình một trái tim không nguyền rủa. Khi chưa thể yêu họ bằng cảm xúc, hãy bắt đầu bằng ý chí không muốn điều dữ xảy đến cho họ. Khi chưa thể quên, hãy xin Chúa giúp mình nhớ mà không còn căm. Khi chưa thể ôm người đã làm mình đau, ít ra đừng dùng tâm trí mỗi ngày để đóng đinh họ trở lại. Có những tha thứ không xảy ra trong một phút. Có khi đó là con đường nhiều năm. Mỗi lần ký ức trở lại, ta lại phải tha thứ một lần nữa. Không phải vì lần trước giả tạo, nhưng vì vết thương có nhiều lớp. Có lớp đã lành, có lớp chưa. Ta tha thứ hôm nay ở mức hôm nay có thể. Ngày mai Chúa lại dẫn ta sâu hơn.
Ta cũng cần thành thật rằng có những lúc chúng ta dùng câu “tôi tha rồi” rất nhanh để che một cơn giận chưa hề được chữa lành. Miệng nói tha nhưng cứ gặp người đó là lạnh lùng. Miệng nói bỏ qua nhưng cứ có dịp lại kể lỗi họ cho người khác. Miệng nói không chấp nhưng trong lòng mong họ gặp chuyện để “biết tay”. Miệng nói cầu nguyện cho họ nhưng thực ra là cầu cho Chúa sửa họ đúng theo ý mình. Tha thứ đích thực không phải là một câu nói đạo đức. Nó là một cuộc hoán cải lâu dài của ký ức. Có những chuyện ta không thể quên, và Chúa cũng không bắt ta mất trí nhớ. Nhưng ký ức được chữa lành khác với ký ức cay độc. Ta vẫn nhớ chuyện đã xảy ra nhưng không còn muốn dùng nó như vũ khí. Ta vẫn biết người kia đã làm gì nhưng không còn để việc ấy định nghĩa toàn bộ con người họ. Đây là điều Đức Giêsu làm trên Thập Giá. Người nhìn những kẻ hành hình không chỉ như “những tên giết Ta”. Người nhìn sâu hơn hành vi của họ. “Họ không biết việc họ làm.” Một cái nhìn lạ lùng. Không biện minh cho cái ác, nhưng nhìn thấy sự mù lòa nằm phía sau cái ác.
Rất nhiều người làm ta đau cũng đang hành động từ những vết thương của chính họ. Người luôn làm nhục người khác có thể từng bị làm nhục. Người lúc nào cũng muốn kiểm soát có thể đang sống trong bất an. Người hay ghen tị có thể mang một mặc cảm sâu xa. Người tham lam có thể lớn lên trong nỗi sợ thiếu thốn. Người lạnh lùng có thể đã học từ rất sớm rằng bộc lộ tình cảm là nguy hiểm. Điều đó không làm cho hành vi sai trở thành đúng, nhưng giúp ta đừng nhìn con người chỉ bằng một hành vi của họ. Khi Đức Giêsu nói “họ không biết việc họ làm”, Người nhìn thấy phía sau những bàn tay đóng đinh là những tâm hồn đang bị bóng tối chi phối. Và Người thương họ ngay trong sự mù lòa ấy. Đó là cái nhìn mà ta phải xin Chúa ban. Bởi vì khi ghét ai, ta có xu hướng thu nhỏ người ấy vào lỗi lầm lớn nhất của họ. Một người nói xấu ta một lần, ta gọi luôn là “kẻ xấu”. Một người phản bội ta, ta coi toàn bộ cuộc đời họ chỉ là phản bội. Một người thất bại, ta xem họ là kẻ thất bại. Nhưng Chúa không nhìn con người như vậy. Nếu Chúa nhìn ta bằng lỗi lầm tệ nhất ta từng phạm, không ai trong chúng ta còn dám ngẩng đầu.
Điều làm ta khiêm tốn hơn trong câu chuyện tha thứ là nhớ rằng chính ta cũng từng làm người khác đau. Có những vết thương ta nhớ rất rõ vì người khác gây cho mình, nhưng có những vết thương ta đã gây cho người khác mà có khi ta quên mất. Ta nhớ từng câu họ nói, nhưng có thể không nhớ những câu mình đã nói trong cơn nóng giận. Ta đòi người khác phải xin lỗi thật chân thành, nhưng những lần mình xin lỗi đôi khi chỉ là “thôi, cho qua đi”. Ta trách người khác vô tâm, nhưng cũng từng có lúc mình vô tình đi ngang nước mắt của ai đó. Ta đau vì bị hiểu lầm, nhưng chẳng phải ta cũng từng vội kết luận về người khác sao? Nếu đứng dưới Thập Giá đủ lâu, ta không chỉ thấy kẻ đã đóng đinh Chúa. Ta thấy bóng mình trong đám đông ấy. Có khi ta là Phêrô vì sợ mà chối. Có khi ta là Philatô vì muốn giữ an toàn cho mình nên rửa tay trước bất công. Có khi ta là đám đông hôm trước tung hô hôm sau lại gào “đóng đinh nó”. Có khi ta là người lính làm điều ác chỉ vì “ai cũng làm vậy”. Và thế nhưng trên tất cả chúng ta, lời ấy vẫn vang xuống: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Ta chỉ có thể học yêu kẻ thù khi trước hết nhận ra mình là kẻ đã được tha. Người tự cho mình công chính rất khó tha cho kẻ khác, vì họ nghĩ mình có quyền phán xét. Nhưng người biết mình sống nhờ lòng thương xót sẽ nhìn người khác khác đi. Tại sao ta có thể tha? Không phải vì người kia đáng được tha, nhưng vì ta cũng đã được tha dù nhiều lần ta không đáng. Trong Kinh Lạy Cha, ta đọc mỗi ngày: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Có thể chúng ta đã đọc câu ấy hàng chục nghìn lần trong đời mà vẫn chưa hết run. Ta xin Chúa đối xử với ta theo cách ta đối xử với người mắc nợ ta. Nếu Chúa giữ mãi mọi lỗi của ta như ta giữ lỗi người khác, liệu ta có đứng nổi không? Nếu Chúa cứ nhắc lại chuyện cũ mỗi khi ta cầu nguyện, giống như ta cứ lôi chuyện cũ của người khác ra, liệu ta có chịu nổi không? Nếu Chúa nói: “Ta tha, nhưng Ta không quên đâu” theo kiểu cay nghiệt của con người, ta còn hy vọng gì? Thế mà lòng thương xót Chúa lớn hơn. Người tha để mở một tương lai.
Nhiều gia đình tan vỡ không phải vì lỗi lầm quá lớn, mà vì không ai chịu đặt xuống quyển sổ ghi nợ. Vợ nhớ lỗi chồng từ mười năm trước. Chồng nhớ câu vợ đã nói trong một bữa cãi nhau. Anh em ruột thịt giận nhau chỉ vì một mảnh đất. Con cái già rồi vẫn nhắc chuyện cha mẹ thiên vị thời nhỏ. Cha mẹ tóc bạc vẫn đau vì con từng nói một câu vô ơn. Có những bữa cơm ngồi gần nhưng lòng cách nhau hàng cây số. Có những đám giỗ người ta cùng thắp nhang cho cha mẹ nhưng anh chị em không nhìn nhau. Có những gia đình đọc kinh mỗi tối nhưng trong nhà có hai người đã nhiều tháng không nói chuyện. Ta có thể quỳ trước Thánh Giá mà vẫn đóng đinh nhau bằng im lặng. Ta có thể hôn tượng Chúa chịu nạn mà không chịu bắt tay người anh em. Thập Giá khi ấy chỉ còn là đồ trang trí đạo đức. Bởi vì không thể thật sự nhìn Chúa chịu đóng đinh mà không nghe Người hỏi: “Con còn đóng đinh ai trong lòng con?”
Có một hình thức trả thù rất tinh vi là kể câu chuyện sao cho mình luôn là nạn nhân hoàn toàn và người kia là quỷ dữ hoàn toàn. Ta kể đi kể lại, mỗi lần thêm một ít, bớt một ít, cho đến khi người nghe cũng ghét người đó thay ta. Ta không đánh họ, nhưng ta phá danh dự họ. Ta không chửi họ trực tiếp, nhưng ta gieo một hình ảnh xấu về họ trong lòng người khác. Có người đã xin lỗi rồi, đã thay đổi rồi, nhưng ta vẫn không cho họ thoát khỏi quá khứ. Ta giữ họ trong nhà tù của một phiên bản cũ. Có khi Thiên Chúa đã tha, người ấy đã ăn năn, nhưng ta tự nhận quyền cao hơn Thiên Chúa: “Tôi không tha.” Hãy cẩn thận. Vì một trái tim không chịu tha thứ dần dần sẽ mất khả năng đón nhận bình an. Ta tưởng mình đang trừng phạt người khác, nhưng chính mình mới là người phải mang cục than nóng trong tay.
Yêu kẻ thù không có nghĩa là thích kẻ thù. Đức Giêsu không đòi ta phải có cảm giác dễ chịu với người làm ta đau. Cảm xúc không bật tắt theo mệnh lệnh. Nhưng tình yêu Kitô giáo sâu hơn cảm xúc. Yêu là không muốn điều dữ cho người kia. Yêu là không vui mừng trước bất hạnh của họ. Yêu là khi nghe họ gặp chuyện, ta không thốt trong lòng: “Đáng đời.” Yêu là nếu có thể cứu họ khỏi nguy hiểm, ta không khoanh tay vì mối hận cũ. Yêu là cầu cho họ được trở về với điều thiện. Yêu là không để sự độc ác của họ lây sang mình. Đây là chiến thắng lớn nhất. Chúa chiến thắng kẻ thù không bằng cách tiêu diệt họ, nhưng bằng cách không để lòng mình trở thành giống họ. Người bị nguyền rủa nhưng không nguyền rủa lại. Người bị đánh nhưng không đáp trả bằng bạo lực. Người bị vu oan nhưng không dùng lời dối trá để tự cứu. Kẻ thù có thể đóng đinh thân xác Người, nhưng họ không thể đóng đinh lòng thương xót của Người. Họ lấy áo Người, lấy tự do Người, lấy danh dự Người, lấy mạng sống Người, nhưng có một điều họ không lấy được: khả năng yêu của Người.
Đây có lẽ là điều ta phải xin nhiều nhất: xin đừng để người khác có quyền lấy mất khả năng yêu của mình. Người ta có thể phụ bạc ta, nhưng đừng để họ biến ta thành kẻ không còn dám yêu. Người ta có thể lừa ta, nhưng đừng để họ làm ta nghi ngờ tất cả mọi người. Người ta có thể làm ta thất vọng về một người, nhưng đừng để ta thất vọng về toàn thể nhân loại. Người ta có thể lấy đi một phần bình yên, nhưng đừng trao cho họ luôn cả linh hồn mình. Có những người sau một vết thương đã nói: “Từ nay tôi không tin ai nữa.” Đó là lúc vết thương bắt đầu thắng. Có người nói: “Tôi sẽ sống sao cho không ai làm tôi đau được nữa.” Rồi họ xây tường quanh mình cao đến mức không chỉ kẻ xấu không vào được mà cả người tốt cũng không vào được. Cuối cùng họ an toàn, nhưng cô độc. Đức Giêsu cho thấy một con đường khác. Người vẫn mở Trái Tim dù biết Trái Tim ấy sẽ bị đâm thâu. Người vẫn yêu dù tình yêu bị phản bội. Người không để sự vô ơn của con người biến Thiên Chúa thành Đấng vô cảm.
Hãy nhìn kỹ lên cây Thập Giá. Trên đó không có một Đức Giêsu bất động như một pho tượng đá. Đó là một Con Người đang trải qua tận cùng đau đớn. Người biết phản bội là gì: Giuđa đã hôn Người. Người biết bị bạn bè bỏ rơi là gì: các môn đệ đã chạy trốn. Người biết bị người có quyền lực xử bất công là gì: Philatô biết Người vô tội nhưng vẫn trao Người đi. Người biết bị dư luận quay lưng là gì: đám đông từng tung hô nay đòi đóng đinh. Người biết bị sỉ nhục công khai là gì: quân lính chế giễu, đội vòng gai, nhổ vào mặt. Người biết nỗi đau của thân xác là gì: roi, đinh, khát, ngạt thở. Người biết cả cảm giác bị bỏ rơi trong tận cùng cô độc: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Không một ai có thể nói với Đức Giêsu rằng: “Chúa không hiểu nỗi đau của con.” Người hiểu. Và vì hiểu, lời Người dạy tha thứ không hề nhẹ. Đó là lời đã đi qua máu.
Có người sẽ hỏi: “Tại sao tôi phải tha khi người kia không xin lỗi?” Vì nếu chờ họ xin lỗi mới tha, ta đặt tự do nội tâm của mình vào tay họ. Họ không xin thì ta bị giam mãi sao? Có người sẽ hỏi: “Nếu tôi tha, họ có nghĩ tôi yếu không?” Có thể. Nhưng tha thứ đòi sức mạnh lớn hơn trả thù. Trả đũa là phản xạ tự nhiên. Tha thứ là tự do. Có người hỏi: “Nếu tha, công lý ở đâu?” Công lý vẫn cần, nhưng công lý không phải trả thù. Công lý tìm cách sửa lại điều sai; trả thù muốn người khác đau như mình đã đau. Hai điều ấy khác nhau. Có người hỏi: “Tôi đã cố tha mà mỗi lần nhớ vẫn đau.” Đau không có nghĩa là chưa tha. Một vết thương được tha vẫn có thể đau. Đức Giêsu phục sinh vẫn mang dấu đinh. Phục sinh không xóa dấu thương tích, nhưng biến thương tích thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng.
Thật đẹp khi Tin Mừng không kể rằng sau lời “Lạy Cha, xin tha cho họ”, những người lính lập tức ăn năn. Có lẽ họ vẫn tiếp tục chia áo Người. Tha thứ của Đức Giêsu không lệ thuộc vào phản ứng của đối phương. Đây là điều rất quan trọng. Có khi ta tha mà người kia chẳng thay đổi. Ta tử tế lại mà họ vẫn lạnh lùng. Ta thôi nói xấu nhưng họ vẫn nói xấu ta. Ta muốn hòa giải nhưng họ không muốn. Khi ấy đừng nghĩ tha thứ vô ích. Tha thứ trước hết giải phóng trái tim người tha. Ta không thể bắt người kia hoán cải, nhưng ta có thể không cho sự cứng lòng của họ làm ta cứng lòng theo. Ta không thể điều khiển hành vi họ, nhưng có thể chọn cách mình đáp lại. Đó là tự do mà Chúa Kitô ban.
Có lẽ trong đời mỗi người đều có một “Canvê” riêng và một vài cái tên phải đặt dưới chân Thập Giá. Những cái tên ta không muốn nhớ, những câu chuyện ta muốn quên, những gương mặt ta không muốn gặp. Hôm nay đừng vội bắt mình cảm thấy yêu họ. Hãy bắt đầu đơn sơ hơn. Hãy nói với Chúa: “Lạy Chúa, con chưa tha nổi. Nhưng con muốn muốn tha.” Có khi ngay cả ước muốn tha cũng chưa có. Thì hãy nói thật: “Lạy Chúa, con chưa muốn tha. Xin làm cho con muốn.” Chúa không cần những lời cầu giả. Người cần một trái tim thành thật. Ta có thể mang nguyên cơn giận đến trước Thánh Giá. Mang cả nước mắt. Mang cả câu hỏi: “Tại sao họ làm thế với con?” Mang cả cảm giác bất công. Nhưng đừng bỏ đi trước khi để Chúa nhìn vào. Có những điều con người không chữa được bằng lý lẽ, chỉ có thể chữa khi ở lâu trong ánh mắt của Đấng chịu đóng đinh.
Trong mục vụ, trong đời sống cộng đoàn, trong gia đình, chúng ta đôi khi dễ khuyên người khác tha quá nhanh. Một người vừa bị tổn thương, ta bảo: “Thôi, đạo Chúa phải tha.” Một người đang khóc, ta nói: “Chúa cũng tha mà.” Những câu ấy đúng nhưng nói không đúng lúc có thể trở thành một gánh nặng. Đức Giêsu không coi thường vết thương. Người không bảo những ai đau phải giả vờ không đau. Trước mồ Lazarô, Người khóc. Trong vườn Cây Dầu, Người buồn đến chết được. Trên Thập Giá, Người kêu lên. Kitô giáo không dạy ta tê liệt cảm xúc. Trước khi một người có thể tha, họ cần được lắng nghe, được nhìn nhận nỗi đau, được bảo vệ nếu còn nguy hiểm, được có thời gian. Tha thứ là ân sủng, không phải cây gậy đạo đức để đánh người đang đau. Nhưng đồng thời, khi đến lúc, ta cũng phải có can đảm không làm tổ trong vết thương. Có người biến nỗi đau thành căn tính: cả đời chỉ còn là “người bị phản bội”, “người bị bỏ rơi”, “người bị đối xử bất công”. Chúa không muốn quá khứ có lời cuối cùng trên đời ta. Thập Giá không phải điểm cuối; sau Thập Giá là Phục Sinh.
Một trong những dấu hiệu ta đang được chữa lành là ta bắt đầu có thể nhìn người đã làm mình đau mà không còn muốn họ bị hủy diệt. Có thể chưa thân lại. Có thể vẫn phải giữ khoảng cách. Có thể còn rất nhiều điều chưa giải quyết. Nhưng lòng ta không còn bị đầu độc. Ta có thể nói tên họ trong lời cầu nguyện mà không thấy như nuốt một viên đá. Ta có thể nghe tin tốt về họ mà không buồn. Ta có thể nhớ câu chuyện cũ mà không cần kể cho người khác để tìm đồng minh. Ta có thể giao công lý cho Chúa. Đó là tự do.
Thế giới hôm nay rất giỏi chia phe. Chỉ cần khác một quan điểm là có thể coi nhau như kẻ thù. Chỉ cần một phát biểu sai là người ta muốn xóa sạch cả con người. Mạng xã hội cho phép chúng ta kết án nhau rất nhanh. Một câu viết, một bức ảnh, một đoạn video, rồi hàng nghìn người cùng ném đá. Ta có thể không bao giờ gặp người ấy ngoài đời nhưng vẫn có thể tham gia vào việc đóng đinh họ bằng ngôn từ. Là Kitô hữu, chúng ta cần khác. Không phải bằng cách nhắm mắt trước sự thật, nhưng bằng cách bảo vệ sự thật mà không đánh mất bác ái. Một sự thật không còn tình yêu dễ trở thành vũ khí. Một lòng bác ái không còn sự thật lại thành dễ dãi. Đức Kitô trên Thập Giá giữ cả hai: Người gọi tội là tội, nhưng vẫn yêu tội nhân.
Có một nghịch lý: người càng gần Chúa lại càng ít kẻ thù, không phải vì chẳng ai chống họ, nhưng vì họ không muốn biến người chống mình thành “kẻ thù” trong lòng. Đức Giêsu bị bao quanh bởi kẻ thù mà trong tim Người không có kẻ thù. Chỉ có những người cần được cứu. Đây là đỉnh cao mà ta không thể đạt bằng sức riêng. Nếu chỉ dựa vào tính khí, ta sẽ yêu người dễ thương và tránh người khó chịu. Nếu chỉ dựa vào công bằng tự nhiên, ta sẽ đối xử với người khác đúng như họ đối xử với mình. Nhưng ân sủng đưa ta xa hơn: ta đối xử với người khác như Chúa đã đối xử với ta.
Đừng nghĩ yêu kẻ thù là một chuyện dành cho các vị thánh lớn. Chính từ những việc rất nhỏ ta bắt đầu. Không nói thêm một câu khi đang nóng. Không chuyển tiếp một tin nhắn làm nhục người khác. Không kể lỗi của người vắng mặt. Không vui khi đối thủ thất bại. Không lôi chuyện cũ vào một cuộc cãi mới. Dám nói “tôi xin lỗi” trước dù mình không hoàn toàn sai. Dám cầu một Kinh Lạy Cha cho người mình không ưa. Dám im lặng trước một cơ hội trả đũa. Dám làm điều tốt mà không chờ họ xứng đáng. Những điều ấy nhỏ nhưng chính là những chiếc đinh được rút khỏi thế giới.
Ta thường hỏi tại sao thế giới đầy chiến tranh, hận thù. Nhưng chiến tranh lớn bắt đầu từ những cuộc chiến nhỏ trong lòng người. Một dân tộc không tha một dân tộc. Một gia đình không tha một gia đình. Một người cha không tha người con. Một người con không tha người cha. Một linh mục không tha một người anh em. Một cộng đoàn giữ mãi những câu chuyện cũ. Cứ thế, hận thù được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một gia sản. Có những đứa trẻ lớn lên mang một mối giận mà chúng chưa từng trực tiếp trải qua, chỉ vì nghe người lớn kể. “Nhà mình không chơi với nhà ấy.” “Người đó ngày xưa làm ông như thế.” Vậy là những đứa trẻ được trao lại món nợ của cha ông. Đức Kitô đến để chấm dứt chuỗi truyền thừa ấy. Có khi một gia đình được cứu chỉ vì một người quyết định: “Mối hận này dừng ở tôi.”
Đó là sức mạnh của Thập Giá. Không phải sức mạnh làm kẻ thù quỳ xuống, nhưng sức mạnh khiến người bị tổn thương không trở thành kẻ gây tổn thương tiếp theo. Không phải sức mạnh của cú đấm mạnh hơn, nhưng là sức mạnh của bàn tay bị đóng đinh vẫn mở ra. Thập Giá nói rằng cái ác không nhất thiết phải sinh thêm cái ác. Đau không nhất thiết phải đẻ ra đau. Một vết thương có thể trở thành nguồn thương xót nếu được đặt trong tay Chúa. Người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người không bỏ rơi ai. Người từng bị xúc phạm có thể học cách nói lời nâng đỡ. Người từng thiếu tình thương có thể trở thành người trao tình thương. Đó là Phục Sinh bắt đầu ngay trong vết thương.
Có thể hôm nay ai đó đọc những dòng này đang mang một mối đau rất sâu. Không cần ép mình phải giải quyết tất cả ngay. Chỉ xin hãy nhìn lên Chúa. Nhìn bàn tay ấy. Nhìn Trái Tim ấy. Nghe câu ấy: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Không phải để cảm thấy mình tội lỗi vì chưa tha nổi, nhưng để biết rằng Chúa đang tha cùng với ta, đang nâng trái tim ta lên từng chút. Người không đứng xa bảo ta làm một điều Người chưa từng làm. Người đi trước. Người biết con đường ấy đau. Người biết có lúc tha thứ giống như chết đi một phần của chính mình: chết cho tự ái, chết cho nhu cầu phải thắng, chết cho ước muốn được thấy người kia trả giá. Nhưng sau cái chết ấy có một sự sống mới: bình an.
Ngày cuối đời, có lẽ điều làm người ta tiếc nhất không phải những cuộc tranh luận đã không thắng, nhưng những người đã không kịp làm hòa. Bao nhiêu người đứng bên quan tài mới khóc vì một lời xin lỗi không kịp nói. Bao nhiêu anh em đến khi cha mẹ chết mới ngồi gần nhau sau nhiều năm lạnh nhạt. Bao nhiêu vợ chồng chỉ khi bệnh nặng mới nhận ra những cuộc cãi vã ngày trước nhỏ bé biết bao. Cuộc đời ngắn lắm. Đừng dùng những năm còn lại để chứng minh mình đúng với một người có thể ngày mai không còn. Có những chuyện cần sự thật, nhưng cũng có những chuyện cần được buông. Có những cuộc chiến thắng rồi chỉ còn hai người thua.
Đức Kitô chịu đóng đinh không dạy ta làm người yếu đuối. Người dạy ta một sức mạnh mà thế gian ít hiểu: sức mạnh không trả thù dù có thể, sức mạnh không nguyền rủa dù đang đau, sức mạnh giữ được lòng nhân hậu ngay khi bị đối xử bất nhân. Đây là thứ sức mạnh cứu thế giới. Một gia đình có một người như thế sẽ khác. Một cộng đoàn có một người như thế sẽ khác. Một xã hội có nhiều người như thế sẽ khác. Vì hận thù chỉ tồn tại khi có người tiếp tục chuyền nó đi. Tha thứ là lúc ta từ chối nhận cây gậy ấy để đánh người kế tiếp.
Và cuối cùng, có lẽ chúng ta cần quay lại câu nói đầu tiên: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đức Giêsu không nói: “Con tha cho họ vì họ xứng đáng.” Người cầu xin Cha vì Người yêu. Tình yêu Kitô giáo không hỏi trước: “Người kia có đáng không?” Nếu Chúa cũng hỏi câu ấy về ta, ta biết câu trả lời rồi. Không ai trong chúng ta sống được nếu mọi thứ đều phải xứng đáng mới nhận. Ta thở nhờ một ân huệ mình không tạo ra. Ta sống nhờ lòng thương xót. Ta được tha nhiều hơn ta nhớ. Vì thế, người Kitô hữu tha không phải từ vị trí người đạo đức đứng trên kẻ tội lỗi, nhưng từ vị trí một người đã được tha đưa tay cho một người cũng cần được tha.
Xin cho chúng ta mỗi lần nhìn lên Thập Giá đừng chỉ xúc động trước những chiếc đinh đóng vào tay chân Chúa, mà còn để ý đến câu nói phát ra từ miệng Người. Có thể ta đeo Thánh Giá trên cổ nhiều năm mà chưa học được câu ấy. Có thể nhà ta có tượng Chúa chịu nạn rất lớn nhưng vẫn có những người ta không muốn tha. Có thể ta đã dự hàng nghìn Thánh Lễ nhưng vẫn giữ trong lòng một bản án không cho ai kháng cáo. Hôm nay Chúa không bắt ta làm điều gì lớn lao. Người chỉ mời ta đưa một cái tên đến dưới chân Thập Giá. Một cái tên thôi. Người mà ta khó tha nhất. Và nếu chưa thể nói: “Con tha cho họ”, hãy đứng bên Chúa và tập nói cùng Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Cứ nói chậm thôi. Có thể câu đầu tiên đầy nước mắt. Có thể lòng vẫn chống lại. Nhưng hãy nói. Rồi ngày mai nói lại. Một ngày nào đó ta sẽ nhận ra: người đầu tiên được giải thoát khỏi lời cầu ấy chính là mình.
Bởi đỉnh cao của Kitô giáo không phải là yêu những người tốt với ta. Đó chỉ là khởi đầu. Đỉnh cao là giữa một thế giới biết trả đũa, ta vẫn biết tha; giữa một thời đại thích loại trừ, ta vẫn giữ lòng thương xót; giữa lúc bị tổn thương, ta vẫn không thôi làm người tử tế; giữa lúc kẻ khác muốn biến ta thành giống họ, ta vẫn chọn giống Đức Kitô. Và khi làm được như thế, dù chỉ một chút thôi, Thập Giá không còn là cây gỗ treo trên tường. Thập Giá bắt đầu sống trong chính cuộc đời ta. Khi ấy, người ta có thể không cần nghe chúng ta giảng nhiều về Đức Kitô. Chỉ cần thấy một người bị tổn thương mà không trả thù, bị xúc phạm mà không nguyền rủa, bị phản bội mà vẫn không đánh mất khả năng yêu, họ sẽ nhận ra bóng dáng của Đấng chịu đóng đinh.
Xin Đức Kitô chịu đóng đinh, Người Thầy của lòng thương xót, dạy chúng ta bài học khó nhất của Tin Mừng. Xin Người chữa những ký ức còn chảy máu trong ta. Xin Người tháo khỏi tay ta những viên đá ta vẫn cầm để chờ một ngày ném lại. Xin Người cất khỏi môi ta những lời cay nghiệt ta đã chuẩn bị sẵn. Xin Người cho ta đủ mạnh để không cần trả thù, đủ khiêm nhường để nhớ rằng mình cũng là người được tha, đủ tự do để không trao tương lai cho những người đã làm đau quá khứ của mình. Và khi đứng trước một con người khiến ta khó yêu nhất, xin cho ta nhìn họ qua Trái Tim bị đâm thâu của Chúa, để có thể thưa, dù trong nước mắt: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Lm. Anmai, CSsR


TRÊN THẬP GIÁ, CHÚA KHÔNG NGUYỀN RỦA AI
Tin Mừng: Lc 23,33-38
Có những câu trong Tin Mừng càng đọc chậm càng thấy nhói lòng. Có những cảnh trong cuộc đời Đức Giêsu càng nhìn lâu càng thấy con người mình nhỏ bé, chật hẹp và nghèo nàn biết bao. Và có lẽ một trong những cảnh ấy chính là đồi Canvê. Người ta đóng đinh Chúa. Người ta lột áo Chúa. Người ta chia nhau áo của Chúa. Người ta đứng nhìn Chúa hấp hối. Các thủ lãnh thì cười nhạo. Lính tráng thì chế giễu. Người ta đưa giấm chua cho Người uống. Người ta treo trên đầu Người một tấm bảng với những lời vừa mỉa mai vừa kết án: “Đây là vua người Do Thái.” Chung quanh Thập Giá không phải là những gương mặt biết ơn, nhưng phần lớn là những gương mặt lạnh lùng, khinh miệt, tò mò và cay độc. Đó là giờ mà một con người bình thường có đủ lý do để căm giận. Đó là giờ mà nếu Đức Giêsu nguyền rủa những kẻ làm khổ mình, có lẽ chúng ta cũng dễ hiểu. Nếu Người kêu xin Thiên Chúa trừng phạt họ, có khi chúng ta cũng cho rằng đó là công bằng. Nếu Người gọi lửa từ trời xuống thiêu hủy những kẻ nhạo báng mình, chắc cũng chẳng ai có thể nói Người không có quyền. Nhưng lạ lùng thay, giữa những chiếc đinh, giữa máu chảy, giữa tiếng cười nhạo, giữa nỗi nhục nhã tột cùng, từ miệng Đức Giêsu không bật ra một lời nguyền rủa nào. Người không gọi ai là kẻ thù. Người không kết án ai. Người không xin Cha báo oán cho mình. Người chỉ nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đó là một câu nói làm đảo lộn mọi logic của thế gian. Thế gian nói: ai làm tôi đau, tôi phải làm cho họ đau lại. Đức Giêsu nói: ai làm tôi đau, tôi cầu xin cho họ. Thế gian nói: ai xúc phạm đến danh dự tôi, tôi phải bảo vệ danh dự bằng mọi giá. Đức Giêsu để mình bị lăng nhục mà không lăng nhục lại. Thế gian nói: có vay có trả. Đức Giêsu nói: hãy tha thứ. Thế gian nói: phải cho họ biết tay. Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Và có lẽ vì vậy mà Thập Giá không chỉ là nơi Đức Giêsu chết cho tội lỗi chúng ta; Thập Giá còn là trường học lớn nhất về cách chấm dứt hận thù.
Con người chúng ta rất dễ mang trong lòng những cuốn sổ nợ. Có những cuốn sổ không viết bằng giấy mực nhưng viết trong trí nhớ. Người này đã nói với tôi câu ấy. Người kia đã làm tôi mất mặt. Người nọ đã phản bội tôi. Người khác đã lấy đi điều đáng lẽ thuộc về tôi. Có khi chuyện đã qua năm năm, mười năm, hai mươi năm, nhưng chỉ cần ai nhắc tới tên người ấy là trong lòng ta mọi chuyện sống lại như mới xảy ra hôm qua. Ta nhớ từng câu nói. Ta nhớ từng ánh mắt. Ta nhớ từng chi tiết. Ta có thể quên một ơn người khác làm cho mình chỉ sau vài tháng, nhưng một vết thương người ta gây cho mình thì nhớ rất lâu. Có những người mang một câu nói cay nghiệt của người khác suốt nửa đời. Có người mất ngủ vì một sự phản bội. Có người không nhìn mặt anh em ruột nhiều năm chỉ vì một chuyện chia gia tài. Có gia đình mỗi dịp giỗ chạp, lễ tết đều nặng nề vì những mối bất hòa cũ chưa bao giờ được chữa lành. Có những người vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn rước lễ, nhưng trong lòng giữ nguyên một danh sách những người “không bao giờ có thể tha”. Và điều đau lòng là nhiều khi ta nghĩ mình đang trừng phạt người kia bằng cách không tha thứ, nhưng người bị nhốt trong nhà tù hận thù lại chính là mình. Người kia có thể vẫn ăn ngon ngủ yên, còn ta mỗi lần nhớ lại thì tim lại đau, máu lại nóng, tâm hồn lại mất bình an. Ta mang người mình ghét theo vào bữa ăn, mang họ vào giấc ngủ, mang họ vào giờ cầu nguyện, mang họ đến tận nhà thờ. Họ không có mặt bên cạnh mà vẫn có quyền khuấy động lòng ta. Hận thù là một sợi dây vô hình buộc ta vào chính người đã làm ta đau. Và chỉ có tha thứ mới cắt được sợi dây ấy.
Nhưng nói tha thứ thì dễ, sống tha thứ rất khó. Nhất là khi vết thương quá sâu. Có những người nghe lời mời gọi tha thứ rồi cảm thấy bị xúc phạm lần nữa, vì họ nghĩ rằng người khác đang coi nhẹ nỗi đau của mình. Một người vợ bị phản bội không thể chỉ nghe một câu: “Thôi, tha đi.” Một người mẹ mất con vì sự tàn nhẫn của người khác không thể chỉ nghe vài lời đạo đức rồi coi như chưa có gì xảy ra. Một người bị lừa gạt, bị bạo hành, bị làm nhục, bị vu khống, bị phá hủy danh dự, có những vết thương không thể chữa bằng vài câu khuyên nhủ. Kitô giáo không bao giờ dạy chúng ta giả vờ rằng cái ác không phải là cái ác. Đức Giêsu tha thứ trên Thập Giá không có nghĩa là Người nói những chiếc đinh kia không đau, những lời nhạo báng kia không độc ác, sự kết án kia không bất công. Tha thứ không phải là gọi bóng tối là ánh sáng. Tha thứ không phải là nói điều sai thành điều đúng. Tha thứ không phải là cho phép người khác tiếp tục làm hại mình. Tha thứ không phải lúc nào cũng có nghĩa là có thể trở lại sống gần gũi như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Có những trường hợp cần phải giữ khoảng cách. Có những bất công cần phải được nói ra. Có những hành vi sai trái cần được ngăn chặn. Có những người gây hại cần chịu trách nhiệm về việc họ làm. Nhưng giữa tất cả những điều ấy, Đức Giêsu mời chúng ta đừng để cái ác của người khác biến trái tim mình thành một trái tim khác cũng đầy cái ác.
Đây mới là điều khó. Người ta làm mình đau, rồi mình từ từ trở thành giống chính điều mình ghét ở họ. Người ta nói xấu mình, mình nói xấu lại. Người ta làm nhục mình, mình tìm cách hạ nhục lại. Người ta cắt đứt tình nghĩa, mình thề suốt đời không nhìn mặt. Người ta gieo cay đắng vào lòng mình, rồi mình mang cay đắng ấy gieo vào những người khác. Một người cha từng bị cha mình đối xử khắc nghiệt, lớn lên lại đối xử khắc nghiệt với con mình. Một người từng bị tổn thương trong tình yêu, về sau không còn dám tin ai, rồi vô tình làm đau những người đến sau. Một người bị xúc phạm ngoài xã hội, về nhà trút bực tức lên vợ con. Cái ác lan truyền như thế. Nó đi từ người này sang người khác. Một vết thương không được chữa lành có thể sinh ra thêm nhiều vết thương. Một lời độc địa có thể sinh thêm mười lời độc địa khác. Một cuộc trả thù kéo theo một cuộc trả thù mới. Một gia đình có thể mang hận thù qua nhiều thế hệ chỉ vì chẳng ai chịu là người đầu tiên dừng lại. Và trên đồi Canvê, Đức Giêsu đã trở thành Người đầu tiên dừng lại. Người nhận lấy tất cả bạo lực mà không truyền bạo lực đi tiếp. Người nhận lấy sự khinh miệt mà không trao lại sự khinh miệt. Người nhận lấy hận thù nhưng đáp lại bằng tình yêu. Người nhận lấy lời nguyền nhưng đáp lại bằng lời cầu nguyện. Có thể nói, trên Thập Giá, dòng chảy của hận thù đi đến Đức Giêsu và dừng lại ở đó. Nó không đi xa hơn nữa. Đây chính là sức mạnh cứu độ của tình yêu.
Chúng ta thường nghĩ sức mạnh là khả năng làm cho người khác phải sợ mình. Chúa lại cho thấy sức mạnh lớn nhất là không để người khác biến mình thành người xấu. Chúng ta tưởng trả đũa mới là mạnh. Nhưng nhiều khi trả đũa chỉ là phản ứng của một trái tim không đủ tự do để chọn một con đường khác. Người mạnh thật sự là người đang rất đau nhưng vẫn không cho phép nỗi đau điều khiển mình. Người mạnh thật sự là người bị xúc phạm mà vẫn giữ được phẩm giá. Người mạnh thật sự là người có thể làm người kia đau lại nhưng quyết định không làm. Đức Giêsu trên Thập Giá hoàn toàn không bất lực theo nghĩa thiêng liêng. Người không nguyền rủa không phải vì Người không thể nguyền rủa. Người không trả thù không phải vì Người không có quyền. Người tha thứ vì Người tự do. Tình yêu của Người không phụ thuộc vào cách người khác đối xử với Người. Người ta có thể thay đổi thái độ với Người, nhưng họ không thay đổi được căn tính của Người. Người vẫn là Con yêu dấu của Cha. Người vẫn là Đấng yêu thương. Người vẫn là Đấng Cứu Độ. Người ta lấy áo của Người nhưng không lấy được lòng thương xót của Người. Người ta đóng đinh tay Người nhưng không khóa được trái tim Người. Người ta làm thân thể Người chảy máu nhưng không làm tình yêu Người cạn kiệt. Đó là tự do sâu nhất mà người Kitô hữu được mời gọi bước vào.
Có lẽ điều làm chúng ta đau nhất không hẳn chỉ là việc người khác đã làm, nhưng là cảm giác mình không được công nhận nỗi đau. Ta muốn họ biết rằng họ sai. Ta muốn họ xin lỗi. Ta muốn họ nhìn thấy ta đã đau thế nào. Ta muốn một ngày nào đó họ phải trả giá. Những khát vọng ấy rất con người. Nhưng nếu đời ta chỉ có thể bình an khi người làm mình đau chịu xin lỗi, thì vô tình ta đã trao chìa khóa bình an của mình vào tay họ. Nếu họ không bao giờ xin lỗi thì sao? Nếu họ không bao giờ nhận lỗi thì sao? Nếu họ qua đời trước khi nói một lời xin lỗi thì sao? Ta sẽ mang vết thương ấy xuống mồ sao? Đức Giêsu trên Thập Giá không chờ những kẻ đóng đinh Người nhận ra lỗi rồi mới tha. Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Có lẽ đây là một trong những điều khó nhất của Tin Mừng: tha thứ không phải lúc nào cũng bắt đầu khi người kia xứng đáng; tha thứ bắt đầu khi ta không muốn để tội của người kia tiếp tục làm chủ cuộc đời mình.
“Vì họ không biết việc họ làm.” Câu này không phải là Đức Giêsu phủ nhận trách nhiệm của con người. Nhưng Người nhìn sâu hơn hành vi. Người thấy sự mù lòa phía sau độc ác. Người thấy nỗi sợ phía sau bạo lực. Người thấy sự ngu muội phía sau những lời chế giễu. Người thấy tội lỗi đang làm con người mất đi chính mình. Khi ta bị tổn thương, ta thường chỉ nhìn thấy điều người khác làm đối với mình. Đức Giêsu còn nhìn thấy con người phía sau điều họ làm. Điều này không biến cái xấu thành cái tốt, nhưng giúp trái tim không bị khóa chặt trong căm giận. Có khi người làm mình đau cũng là một người đang đau. Có khi một người nói những lời rất độc bởi vì họ đã lớn lên trong một môi trường chỉ biết dùng lời độc địa. Có khi người cha không biết dịu dàng với con bởi vì cả đời ông chưa từng được ai dịu dàng. Có khi người mẹ kiểm soát con quá mức bởi vì bà luôn sống trong sợ hãi. Có khi một người trở nên lạnh lùng vì họ đã từng tin tưởng quá nhiều và bị phản bội quá sâu. Hiểu không có nghĩa là biện minh. Nhưng hiểu có thể mở một cánh cửa cho lòng thương xót. Và lòng thương xót là nơi sự chữa lành bắt đầu.
Tha thứ trước hết là một hành trình với Chúa. Có những vết thương ta không thể tự mình vượt qua. Ta muốn tha nhưng mỗi lần nhớ lại vẫn khóc. Ta muốn buông nhưng trong lòng vẫn nghẹn. Ta đã cầu nguyện nhiều năm mà một cái tên nào đó vẫn làm ta đau. Khi ấy đừng giả vờ. Hãy đem đúng nỗi đau ấy đến dưới chân Thập Giá. Đừng chỉ nói với Chúa những lời đẹp. Hãy nói thật: “Lạy Chúa, con giận người ấy. Con đau vì chuyện ấy. Con chưa thể tha. Con không muốn nhớ mà cứ nhớ. Con không muốn ghét mà trong lòng con vẫn ghét. Xin Chúa tha thứ trong con điều mà con chưa thể tự mình tha được.” Có khi lời cầu nguyện chân thật nhất không phải là “Con đã tha rồi”, nhưng là “Lạy Chúa, xin giúp con muốn tha.” Và đôi khi hôm nay ta chỉ có thể cầu được như thế. Ngày mai có thể tiến thêm một chút: “Xin Chúa đừng để con nguyền rủa người ấy.” Rồi một ngày khác: “Xin Chúa cũng thương họ.” Chữa lành có khi rất chậm. Nhưng mỗi lần ta chọn không nuôi thêm hận thù, một mắt xích trong vòng xoáy ấy được tháo ra.
Nhìn lên Đức Giêsu trên Thập Giá, ta còn thấy một điều khác: Người đau mà không làm người khác đau thêm. Đây là điều chúng ta rất cần học. Khi vui, chúng ta thường tử tế. Khi thuận lợi, chúng ta dễ nhẫn nại. Nhưng khi bị tổn thương, bản chất thật của lòng ta mới lộ ra. Người đau rất dễ làm đau người khác. Một người đang mệt có thể nói một câu khiến người thân mất ngủ cả đêm. Một người vừa bị sếp mắng có thể về nhà mắng con. Một người đang chịu áp lực có thể trút tất cả lên người yêu thương mình nhất. Ta tự bào chữa: “Tại tôi đang buồn.” Nhưng nỗi buồn của ta không phải giấy phép làm người khác buồn. “Tôi đang đau” không phải là lý do chính đáng để ta làm người khác đau. Đức Giêsu đau hơn chúng ta rất nhiều, nhưng trên Thập Giá, Người vẫn nghĩ đến người khác. Người cầu cho kẻ đóng đinh mình. Người trao Mẹ cho môn đệ. Người hứa thiên đàng cho người trộm biết sám hối. Trong giờ của mình, Người vẫn mở lòng cho người khác. Thập Giá vì thế trở thành câu hỏi rất sâu cho đời sống chúng ta: đau khổ đã làm trái tim ta mềm hơn hay cứng hơn? Những tổn thương đã làm ta cảm thông hơn với người khác hay khiến ta trở nên cay nghiệt? Những gì ta từng chịu có giúp ta bớt làm người khác phải chịu giống mình không?
Có những người sau khi trải qua đau khổ trở nên rất dịu dàng. Vì từng nghèo, họ hiểu người nghèo. Vì từng cô đơn, họ biết ngồi cạnh người cô đơn. Vì từng bị hiểu lầm, họ không vội phán xét. Vì từng mất mát, họ biết im lặng trước nước mắt người khác. Vì từng được tha thứ, họ biết mở lòng tha thứ. Nhưng cũng có người để đau khổ làm mình khép kín, hoài nghi, cay đắng và sẵn sàng làm tổn thương. Cùng một vết thương nhưng có thể sinh ra hai kiểu người. Một người bị thương rồi trở thành người chữa lành. Một người bị thương rồi trở thành người gây thêm thương tích. Điều tạo nên khác biệt là ta mang vết thương ấy đến đâu. Nếu mang nó vào hận thù, nó sẽ sinh hận thù. Nếu mang nó đến với Đức Kitô chịu đóng đinh, nó có thể trở thành nơi ân sủng đi qua.
Chúng ta cần hiểu rằng tha thứ không phải là một cảm xúc. Nếu chờ đến khi không còn cảm thấy đau mới tha, có thể ta sẽ chờ rất lâu. Tha thứ trước hết là một quyết định của ý chí: tôi không muốn trả lại cái ác bằng cái ác; tôi không muốn cầu điều dữ cho người đã làm tôi đau; tôi không muốn để câu chuyện ấy trở thành trung tâm đời mình nữa. Cảm xúc có thể đi sau rất lâu. Có ngày ta tưởng mình đã tha, rồi một biến cố làm vết thương sống lại. Đừng tuyệt vọng. Tha thứ nhiều khi phải được chọn lại nhiều lần. Mỗi lần ký ức quay về, ta lại nói: “Lạy Chúa, con trao người ấy cho Chúa. Con không muốn xét xử họ nữa. Phần công lý thuộc về Chúa. Phần của con là giữ trái tim khỏi hận thù.” Cứ thế. Một ngày, rồi một ngày khác. Có những tha thứ mất nhiều năm. Nhưng điều quan trọng là hướng đi của trái tim.
Trong đời sống gia đình, nếu không có tinh thần của Thập Giá, những chuyện nhỏ cũng có thể lớn lên thành chiến tranh. Một câu nói bị nhớ mãi. Một lỗi lầm bị nhắc đi nhắc lại. Vợ chồng sống với nhau nhưng mỗi khi cãi nhau lại lôi chuyện mười năm trước ra kể. Cha mẹ nói đã tha cho con nhưng mỗi lần con sai lại nhắc chuyện cũ để làm con xấu hổ. Anh chị em bất hòa vì một chuyện tiền bạc rồi con cháu cũng bị kéo vào sự chia rẽ ấy. Nhiều gia đình không tan vì một lỗi lớn, mà mòn dần vì không ai biết tha những lỗi nhỏ. Nếu mỗi người đều nhất định mình phải là người thắng, gia đình sẽ thua. Nếu ai cũng giữ phần đúng của mình mà không giữ tình nghĩa, cuối cùng chỉ còn những con người đúng nhưng cô đơn. Thập Giá dạy chúng ta có lúc phải chọn tình yêu lớn hơn cái tôi. Không phải vì mình sai, nhưng vì không muốn một sự việc sai tiếp tục sinh thêm mười điều sai khác.
Cả trong đời sống cộng đoàn, giáo xứ, đời tu và Giáo Hội cũng vậy. Những người cùng đọc một Kinh Lạy Cha vẫn có thể không nhìn mặt nhau. Những người cùng rước một Tấm Bánh vẫn có thể giữ hận trong lòng. Những người cùng làm việc cho Chúa vẫn có thể tranh hơn thua, nói xấu, chia phe, đố kỵ. Khi ấy Thập Giá treo trên tường rất đẹp nhưng Thập Giá chưa đi vào trái tim. Chúng ta có thể giảng về lòng thương xót mà không thương xót người sống ngay bên cạnh. Có thể nói rất hay về tha thứ nhưng không tha cho người làm mình tổn thương. Có thể quỳ thật lâu trước Thánh Thể nhưng đứng dậy vẫn mang nguyên một trái tim đầy kết án. Và khi ấy, lời “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” trở thành lời kinh đáng sợ, bởi chính miệng mình xin Thiên Chúa đối xử với mình theo cách mình đang đối xử với người khác.
Có người hỏi: “Nếu cứ tha thì người xấu sẽ lấn tới?” Tha thứ không phải là ngây thơ. Đức Giêsu tha thứ nhưng vẫn gọi sự giả hình là giả hình, sự bất công là bất công. Lòng thương xót không hủy bỏ sự thật. Có những lúc vì yêu thương, ta phải nói “không”. Có những lúc ta phải đặt một giới hạn rõ ràng. Có những lúc cần rời khỏi một môi trường độc hại. Có những trường hợp phải tìm đến luật pháp để bảo vệ người yếu thế. Nhưng tất cả những điều ấy có thể được làm mà không cần nuôi thù hận. Ta có thể tìm công lý mà không sống vì trả thù. Ta có thể nói sự thật mà không hạ nhục. Ta có thể thiết lập khoảng cách mà vẫn cầu xin điều lành cho người kia. Chính đây là điều làm con đường Kitô giáo khác với sự báo oán.
Trên Thập Giá, Đức Giêsu không nguyền rủa ai bởi vì Người không muốn cứu thế giới bằng cách tạo thêm kẻ thù. Người đến để hòa giải. Máu Người đổ ra không phải để đòi thêm máu, nhưng để chấm dứt vòng luẩn quẩn của máu và nước mắt. Từ Cain giết Aben cho đến những cuộc chiến của hôm nay, lịch sử nhân loại đầy những câu chuyện: người này làm đau người kia, người kia trả lại gấp đôi, rồi con cháu tiếp tục trả nợ cho nhau. Ai cũng cho mình là nạn nhân và người kia là thủ phạm. Ai cũng có lý do để trả thù. Nếu không có một người dám dừng lại, hận thù sẽ không bao giờ chấm dứt. Đức Giêsu là Đấng dừng lại. Người gánh lấy tất cả và nói: đủ rồi. Đừng để thêm một người phải chết vì hận thù. Đừng để thêm một gia đình chia lìa vì tự ái. Đừng để thêm một thế hệ phải trả món nợ mà họ không tạo ra. Thập Giá là tiếng nói của Thiên Chúa rằng cái ác không thể được chữa bằng một cái ác khác.
Có lẽ hôm nay mỗi người chúng ta đều có một cái tên cần đặt dưới chân Thập Giá. Một người mà chỉ nghĩ đến thôi là lòng đã không yên. Một người ta vẫn tránh gặp. Một người ta không muốn cầu nguyện cho. Một người đã làm cuộc đời mình thay đổi. Có thể người ấy rất gần: chồng, vợ, cha, mẹ, anh, chị, em, con cái. Có thể là bạn bè cũ, người cùng cộng đoàn, người cùng làm việc. Có khi người ấy đã chết rồi nhưng vết thương vẫn còn sống trong lòng ta. Hãy thử một lần ngồi trước Thánh Giá và thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con không muốn mang người ấy như một vết thương suốt phần đời còn lại. Con trao họ cho Chúa. Con trao câu chuyện đó cho Chúa. Con trao cả những câu hỏi chưa có lời giải cho Chúa. Xin đừng để điều họ làm biến con thành người con không muốn trở thành. Xin đừng để con sống phần đời còn lại như một tù nhân của quá khứ. Xin cho con được tự do.”
Có thể ta chưa thể nói: “Con tha hoàn toàn.” Nhưng ít ra hôm nay có thể nói: “Con không nguyền rủa nữa.” Đó đã là một khởi đầu. Có thể chưa thể cầu xin phúc lành cho họ. Nhưng ít ra đừng cầu điều dữ. Có thể chưa thể quên. Nhưng đừng cố ý đào lại vết thương mỗi ngày. Có thể chưa thể gặp lại. Nhưng hãy thôi kể câu chuyện ấy cho tất cả mọi người với mục đích làm người kia xấu đi. Tha thứ đôi khi bắt đầu từ những điều rất nhỏ như thế. Và rồi ân sủng sẽ tiếp tục phần còn lại.
Cuối cùng, ta phải nhớ một điều rất quan trọng: chính chúng ta cũng đang sống nhờ sự tha thứ của Chúa. Ta dễ nhìn thấy những chiếc đinh người khác đóng vào đời mình, nhưng ít khi nhớ những chiếc đinh tội lỗi mình đã đóng vào Thập Giá Chúa. Ta đau vì người ta phản bội mình, nhưng bao nhiêu lần ta phản bội tình yêu Thiên Chúa? Ta tức giận vì người ta không giữ lời với mình, nhưng bao nhiêu lời hứa với Chúa ta đã quên? Ta khó tha một câu người khác xúc phạm mình, nhưng bao nhiêu lần ta xúc phạm đến Chúa và anh chị em bằng lời nói, thái độ, sự ích kỷ, vô tâm? Nếu Chúa đối xử với ta theo đúng kiểu “có vay có trả”, liệu ai trong chúng ta đứng vững? Nhưng mỗi lần ta trở về, Người lại tha. Mỗi lần quỳ xuống nơi tòa giải tội với lòng thành, ta lại nghe một lời giải thoát. Chính những người được tha nhiều phải trở thành những người biết tha.
Thế nên, mỗi lần thấy mình không thể tha, hãy nhìn lâu hơn vào Đấng chịu đóng đinh. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh nhưng vẫn mở ra. Hãy nhìn trái tim bị đâm thâu nhưng vẫn tuôn nước và máu. Hãy nghe môi Người giữa cơn hấp hối vẫn nói lời tha thứ. Và hãy xin Người dạy ta điều mà sức riêng ta không làm nổi. Kitô giáo không phải là tôn giáo của những người chưa từng bị thương. Kitô giáo là con đường của những người mang thương tích của mình đến với Đấng Chịu Thương Tích và học nơi Người cách không biến vết thương thành vũ khí.
Thế giới này sẽ bớt đau biết bao nếu mỗi người chịu dừng lại một vòng trả đũa. Gia đình sẽ bình an biết bao nếu có một người thôi nhắc lại chuyện cũ. Cộng đoàn sẽ khác biết bao nếu có một người dám bước tới trước và nói: “Thôi, cho qua đi.” Một cuộc chiến có thể không chấm dứt ngay, nhưng ít nhất nó sẽ không đi qua ta để lan thêm. Đó có lẽ là một trong những cách cụ thể nhất để sống mầu nhiệm Thập Giá: để những hận thù đi đến mình và dừng lại ở mình, như chúng đã đi đến Đức Giêsu và dừng lại nơi Người.
Trên Thập Giá, Chúa không nguyền rủa ai. Người chỉ yêu. Người chỉ tha. Người chỉ cầu xin cho những kẻ làm mình đau. Và đó chính là chiến thắng lớn nhất của Người. Không phải chiến thắng bằng cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng biến kẻ thù thành người có thể được cứu. Không phải chiến thắng bằng việc gieo thêm sợ hãi, nhưng bằng việc mở ra một con đường trở về. Không phải chiến thắng bằng tiếng gầm của quyền lực, nhưng bằng lời rất nhỏ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Xin cho lời ấy đi vào những góc tối nhất trong lòng chúng ta. Xin cho những cái tên ta chưa thể tha được đặt dưới chân Thập Giá. Xin cho những vết thương cũ thôi chảy máu trên những người vô tội chung quanh ta. Xin cho chúng ta đủ can đảm để kết thúc nơi mình những vòng xoáy hận thù đã kéo dài quá lâu. Và xin cho khi nhìn lên Chúa chịu đóng đinh, chúng ta hiểu rằng tha thứ không làm chúng ta nhỏ đi; tha thứ giải thoát chúng ta khỏi việc phải sống cả đời dưới quyền lực của người đã làm mình đau.
Có thể chúng ta không thay đổi được quá khứ. Nhưng nhờ ơn Chúa, chúng ta có thể quyết định rằng quá khứ ấy sẽ không quyết định tương lai của mình. Có thể ta không lấy những chiếc đinh đã từng đóng vào lòng mình ra khỏi lịch sử. Nhưng ta có thể không dùng chúng để đóng đinh thêm một người khác. Có thể vết sẹo còn đó. Nhưng vết sẹo không nhất thiết phải trở thành hận thù. Trong tay Chúa, nó có thể trở thành chứng tích rằng ta đã đau mà vẫn còn yêu, đã bị tổn thương mà vẫn không đánh mất lòng thương xót, đã từng bị người đời làm cho chảy máu nhưng không để trái tim mình hóa đá.
Và nếu một ngày nào đó người ta hỏi đâu là dấu chỉ rõ nhất cho thấy một người thật sự thuộc về Đức Kitô chịu đóng đinh, có lẽ không phải là họ nói về Chúa hay đến mức nào, cũng không phải họ thuộc bao nhiêu kinh, làm bao nhiêu việc đạo đức, nhưng là khi họ có quyền nguyền rủa mà vẫn chọn cầu nguyện, có lý do để trả thù mà vẫn chọn tha thứ, có thể làm người khác đau lại mà vẫn quyết định dừng bàn tay mình. Bởi lúc ấy, giữa cuộc đời này, người ta lại nhìn thấy một chút đồi Canvê, một chút gương mặt của Đức Giêsu, và nghe vọng lại lời đã từng cứu cả nhân loại: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Lm. Anmai, CSsR

NGƯỜI TA ĐÓNG ĐINH CHÚA – CHÚA VẪN CẦU NGUYỆN CHO HỌ
Tin Mừng: Lc 23,34
“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”
Có lẽ trong tất cả những lời Đức Giêsu đã nói từ trên Thập Giá, đây là một trong những lời làm chúng ta khó hiểu nhất, khó sống nhất, và cũng làm lộ rõ nhất khoảng cách giữa trái tim của Chúa với trái tim của con người. Người ta đang đóng đinh Chúa. Không phải người ta đã đóng đinh Chúa từ hôm qua để hôm nay Chúa có thời gian bình tâm lại. Không phải vết thương đã lên da non. Không phải những kẻ làm Chúa đau đã đến xin lỗi. Không phải bản án đã được nhìn nhận là oan. Không phải sự thật đã được trả lại. Ngay lúc những chiếc đinh còn đang xuyên qua tay chân, ngay lúc máu còn đang chảy, ngay lúc những tiếng chế nhạo còn vang bên tai, ngay lúc phẩm giá của một con người đang bị chà đạp trước đám đông, Đức Giêsu lại thưa với Chúa Cha: “Xin tha cho họ.” Chúng ta đọc câu này quá quen nên đôi khi không còn thấy rùng mình nữa. Nhưng nếu đặt mình vào hoàn cảnh ấy, ta mới hiểu đây không phải là một câu đạo đức dễ thương. Đây là một cuộc cách mạng của tình yêu. Đây là nơi Đức Giêsu không chỉ giảng về tha thứ nữa, nhưng dùng chính thân mình để làm chứng rằng tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn tất cả những gì con người có thể làm để xúc phạm tình yêu ấy.
Con người thường cầu nguyện cho người mình thương. Cầu nguyện cho cha mẹ, cho con cái, cho người thân, cho ân nhân, cho người đang đau bệnh, cho người đang gặp gian nan. Điều đó quý. Nhưng trên Canvê, Đức Giêsu mở ra một con đường cao hơn nhiều: Người cầu nguyện cho chính những kẻ đang làm Người đau. Người không đợi họ thay đổi mới cầu nguyện. Người không đợi họ hối hận mới cầu nguyện. Người không đợi họ hiểu Người vô tội mới cầu nguyện. Người cầu nguyện khi họ còn đang là kẻ đóng đinh Người. Chính ở đây người môn đệ Đức Kitô được nhận diện. Người Kitô hữu không được nhận ra trước hết vì đeo cây Thánh Giá trước ngực, vì đọc nhiều kinh, vì thuộc nhiều giáo lý, vì nói nhiều về Chúa, nhưng cuối cùng phải được nhận ra ở chỗ trái tim mình đã học được chút gì nơi trái tim của Đấng Chịu Đóng Đinh hay chưa. Và một trong những dấu chỉ rõ nhất của điều ấy chính là cách ta đối diện với người đã làm mình tổn thương.
Không ai sống trên đời mà không bị tổn thương. Có những vết thương nhỏ rồi qua. Có những vết thương rất sâu, nhiều năm vẫn còn nhói. Có những câu nói người khác nói chỉ vài giây nhưng ta mang suốt một đời. Có những phản bội làm người ta mất luôn khả năng tin tưởng. Có những bất công khiến một người từ hiền lành trở nên cay nghiệt. Có những đứa con làm cha mẹ đau đến bạc tóc. Có những người chồng, người vợ từng thề hứa trước bàn thờ rồi lại trở thành nguyên nhân khiến người kia khóc trong âm thầm. Có những anh chị em ruột thịt vì đất đai, tiền bạc, quyền lợi mà nhìn nhau như người dưng. Có những người trong cùng một cộng đoàn, cùng một giáo xứ, cùng đọc một kinh, cùng rước một Chúa, nhưng lại không nhìn mặt nhau. Có những người đã phục vụ rất nhiều nhưng chỉ vì một lời hiểu lầm, một sự vô ơn, một sự đối xử bất công mà mang theo một cục nghẹn trong lòng. Và có những vết thương người khác không biết, chỉ mình ta biết. Ta vẫn cười. Ta vẫn đi lễ. Ta vẫn làm việc. Ta vẫn gặp gỡ người khác. Nhưng sâu bên trong, tên của một người nào đó vẫn làm ta đau.
Đau không phải là tội. Bị tổn thương không phải là tội. Khóc không phải là yếu đuối. Chúa Giêsu trên Thập Giá không giả vờ như những chiếc đinh không đau. Người không nói: “Không sao cả.” Người không gọi sự dữ là điều tốt. Người không gọi bất công là công bằng. Người không bảo rằng phản bội chẳng có gì đáng kể. Đức Giêsu tha thứ nhưng Người không phủ nhận sự thật. Người tha thứ chính khi sự ác đang lộ hết bộ mặt ghê gớm của nó. Đây là điều rất quan trọng. Tha thứ Kitô giáo không có nghĩa là giả bộ chưa từng có chuyện gì xảy ra. Tha thứ không có nghĩa là bảo người bị bạo hành phải tiếp tục ở trong tình trạng nguy hiểm. Tha thứ không có nghĩa là xóa bỏ công lý. Tha thứ không có nghĩa là không cần ranh giới. Tha thứ cũng không phải là trao lại ngay niềm tin cho người đã nhiều lần phản bội mà không có dấu hiệu hoán cải. Tha thứ là một chuyện, hòa giải là một chuyện khác; hòa giải cần hai phía, còn tha thứ có thể bắt đầu từ một phía. Ta có thể chưa thể làm bạn lại với một người, chưa thể gần gũi như trước, chưa thể tin như trước, nhưng ta có thể xin Chúa giải thoát lòng mình khỏi ước muốn trả thù. Và đôi khi đó đã là bước đầu của một phép lạ.
Khi bị tổn thương, phản ứng tự nhiên của con người là muốn người kia phải đau như mình đã đau. Ta muốn họ biết cảm giác bị bỏ rơi là thế nào. Ta muốn họ nếm sự nhục nhã mà ta đã chịu. Ta muốn họ mất những gì họ đã khiến ta mất. Ta có thể không cầm dao, không đánh nhau, nhưng trong đầu ta lập đi lập lại những phiên tòa. Ta tranh luận với họ trong tưởng tượng. Ta dựng lại câu chuyện cũ. Ta tìm những câu sắc hơn để nếu một ngày gặp lại, ta sẽ nói cho hả. Có người ngoài miệng nói đã tha nhưng bên trong vẫn âm thầm mong người kia thất bại. Có người nghe tin người mình ghét gặp chuyện chẳng lành thì không nói gì nhưng lòng có một chút thỏa mãn. Chính những điều rất nhỏ ấy cho thấy hận thù tinh vi đến mức nào. Nó không nhất thiết la hét. Đôi khi nó ngồi yên trong một góc lòng, lâu ngày trở thành đắng cay.
Thế nhưng nhìn lên Thập Giá, ta thấy một Đức Giêsu hoàn toàn khác. Người ta dùng bạo lực với Người, Người không đáp lại bằng bạo lực. Người ta nguyền rủa Người, Người không nguyền rủa lại. Người ta chế nhạo, Người không dùng quyền năng để làm họ câm miệng. Người ta đóng đinh, Người cầu nguyện. Cái ác đổ xuống Người nhưng không thể đi xuyên qua Người để tiếp tục chảy sang người khác. Vòng xoáy hận thù dừng lại nơi Đức Giêsu. Đó là điều phi thường của Canvê. Thế gian thường vận hành theo nguyên tắc: ai làm tôi đau, tôi sẽ làm họ đau hơn; ai xúc phạm tôi, tôi sẽ xúc phạm lại; ai nói xấu tôi, tôi sẽ nói xấu họ; ai bỏ tôi, tôi sẽ cho họ biết thế nào là bị bỏ. Và cứ thế, cái đau sinh ra cái đau, lời ác sinh lời ác, hận thù sinh hận thù. Người này trở thành nạn nhân của người kia, rồi nạn nhân lại đi làm tổn thương một người khác. Bao gia đình đã sống trong vòng xoáy đó qua nhiều thế hệ. Người cha từng bị cha mình đối xử lạnh lùng, rồi lại lạnh lùng với con. Người mẹ từng bị coi thường, rồi vì vết thương chưa lành lại dùng những lời làm tổn thương con cái. Một đứa trẻ lớn lên trong bạo lực có nguy cơ dùng bạo lực khi trưởng thành. Một người bị phản bội nếu không được chữa lành có thể trở nên nghi ngờ tất cả mọi người. Sự dữ luôn muốn nhân bản chính nó. Nhưng trên Thập Giá, Đức Giêsu nói: đủ rồi. Sự dữ đến đây thì dừng. Các ngươi có thể làm Ta đau, nhưng các ngươi không thể biến Ta thành một người giống các ngươi. Các ngươi có thể lấy áo Ta, lấy danh dự Ta, lấy mạng sống Ta, nhưng các ngươi không thể lấy khỏi Ta tình yêu.
Đây có lẽ là chiến thắng lớn nhất của một con người: không để người làm mình đau quyết định mình sẽ trở thành người thế nào. Có người sau một lần bị phản bội thì nói: “Từ nay tôi không tin ai nữa.” Như thế, người phản bội đã không chỉ làm ta đau một lần; họ còn tiếp tục điều khiển cách ta sống những năm sau đó. Có người bị một người xúc phạm rồi mang thái độ cay nghiệt với tất cả những người khác. Như vậy, một người đã làm ta tổn thương nhưng nhiều người vô tội phải gánh hậu quả. Có người từng bị lừa nên từ đó sống trong nghi kỵ. Có người từng bị bỏ nên sau này cứ bỏ người khác trước để khỏi bị bỏ. Và cứ thế, một vết thương không được đem đến trước Chúa sẽ dần dần trở thành căn tính. Ta không còn chỉ là “người đã bị đau”, mà trở thành “người sống từ nỗi đau”. Chúa không muốn điều đó. Chúa không muốn kẻ đã làm ta đau tiếp tục sở hữu những năm tháng còn lại của đời ta.
Nhìn Đức Giêsu, ta thấy Người không để những kẻ đóng đinh Người định nghĩa Người. Họ gọi Người là kẻ phạm thượng, Người vẫn biết mình là Con yêu dấu của Chúa Cha. Họ đối xử với Người như một tội phạm, Người vẫn sống như Đấng Cứu Độ. Họ làm Người nhục nhã, Người vẫn giữ phẩm giá. Họ hận Người, Người vẫn yêu. Họ muốn kéo Người xuống mức của hận thù, nhưng Người không xuống. Và người Kitô hữu cũng được mời gọi như thế. Đừng để sự thô lỗ của người khác lấy mất sự tử tế của mình. Đừng để sự phản bội của ai đó giết chết khả năng yêu thương trong mình. Đừng để một người từng nói lời cay nghiệt biến ta thành người nói lời cay nghiệt. Đừng để một người vô ơn khiến ta không còn muốn làm điều tốt. Nếu ta trở thành giống hệt người đã làm mình đau, thì sự dữ đã thắng hai lần: lần đầu khi nó làm ta tổn thương, lần thứ hai khi nó biến ta thành kẻ tiếp tục gây tổn thương.
“Lạy Cha, xin tha cho họ.” Chú ý Đức Giêsu không nói thẳng với những kẻ đóng đinh: “Ta tha cho các ngươi.” Người thưa với Chúa Cha. Có lẽ đây cũng là một con đường rất thật cho những người đang thấy tha thứ quá khó. Có những vết thương ta chưa thể nhìn người kia và nói: “Tôi tha cho anh.” Có khi chỉ nghĩ đến mặt họ, ta đã run. Có khi nghe tên họ, bao ký ức đau đớn trở lại. Nếu ai đó nói với ta: “Thôi, tha đi!” ta còn thấy đau hơn, vì họ đâu hiểu ta đã trải qua điều gì. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng cách nói với Chúa: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Con muốn tha nhưng lòng con chưa làm nổi. Xin Chúa tha cho họ trước. Xin Chúa chữa con. Xin đừng để lòng con trở nên giống điều đã làm con đau.” Đó đã là cầu nguyện. Có những sự tha thứ không diễn ra trong một đêm. Có khi phải cầu nguyện cả năm. Có khi phải đi qua nhiều lần khóc. Có khi hôm nay ta tưởng mình đã tha, ngày mai ký ức cũ lại làm lòng đau. Đừng thất vọng. Tha thứ đôi khi không phải một quyết định xảy ra một lần, nhưng là một quyết định phải được lặp lại nhiều lần cho đến khi trái tim thật sự được tự do.
Đức Giêsu còn nói: “Vì họ không biết việc họ làm.” Câu này không có nghĩa là mọi người đều hoàn toàn vô trách nhiệm. Nhưng Chúa nhìn sâu hơn hành vi để thấy sự mù lòa của con người. Người thấy đằng sau sự độc ác là một trái tim bị tội lỗi che khuất. Đằng sau những tiếng la hét là nỗi sợ. Đằng sau sự chế nhạo là sự ngu muội. Đằng sau bạo lực là một nhân loại không biết mình đang làm gì với chính Đấng đã đến cứu mình. Khi ta bắt đầu nhìn người làm mình đau không chỉ qua hành vi của họ nhưng cả qua sự nghèo nàn bên trong họ, lòng ta có thể dần dịu lại. Không phải để biện minh cho điều xấu, nhưng để hiểu rằng nhiều người làm người khác đau vì chính họ cũng chưa bao giờ được chữa lành. Có người nói lời độc vì cả đời họ chỉ nghe lời độc. Có người không biết yêu vì chưa từng được yêu đúng cách. Có người phản bội vì bên trong họ rỗng. Có người kiểm soát người khác vì chính họ sống trong bất an. Có người thích hạ người khác vì họ không chịu nổi cảm giác mình thấp kém. Hiểu không đồng nghĩa với chấp nhận cái sai. Nhưng hiểu có thể giúp lòng ta bớt muốn trả thù.
Một điều rất khó khác là nhiều khi người làm ta đau không bao giờ xin lỗi. Nếu họ xin lỗi chân thành, có lẽ ta còn dễ tha. Nhưng có những người làm ta đau rồi sống bình thường như chưa hề có chuyện gì. Có người còn kể câu chuyện theo cách biến ta thành kẻ có lỗi. Có người đi xa, chết đi, không còn cơ hội nói một lời xin lỗi. Có người vì tự ái, vì vô thức, vì chai lì mà cả đời không bao giờ nhìn nhận điều mình đã gây ra. Nếu sự bình an của ta phụ thuộc vào lời xin lỗi của họ, có khi ta sẽ chờ suốt đời. Đức Giêsu trên Thập Giá không đợi lời xin lỗi. Người chọn tự do trước khi kẻ thù thay đổi. Đây là một chân lý rất lớn: tha thứ không phải trước hết là món quà ta tặng cho kẻ làm mình đau; tha thứ là con đường Chúa dùng để giải phóng chính ta khỏi việc bị trói vào người đó. Khi ta hận một người, dù họ đang ở rất xa, họ vẫn sống trong đầu ta mỗi ngày. Họ không trả tiền thuê nhưng chiếm một căn phòng lớn trong trái tim ta. Ta ăn cũng nhớ, ngủ cũng nhớ, cầu nguyện cũng nhớ. Một lời của họ từ mười năm trước vẫn điều khiển cảm xúc ta hôm nay. Tha thứ là lúc ta trao chìa khóa căn phòng ấy lại cho Chúa và nói: “Con không muốn người này tiếp tục sống trong lòng con bằng cách này nữa.”
Tha thứ không làm quá khứ thay đổi, nhưng thay đổi quyền lực của quá khứ trên hiện tại. Vết sẹo còn đó nhưng không còn chảy máu. Ta vẫn nhớ nhưng không còn muốn trả thù. Ta có thể kể lại câu chuyện mà không còn run lên vì giận dữ. Ta có thể nghe tên họ mà lòng không lập tức chìm vào tối tăm. Đó là chữa lành. Và đôi khi người ta cứ tưởng chữa lành là quên. Không. Có những điều ta không quên được, và cũng không cần quên. Chúa Phục Sinh vẫn mang những dấu đinh. Những vết thương không biến mất, nhưng trở thành dấu của một tình yêu đã chiến thắng. Người môn đệ cũng vậy. Ta không cần xóa lịch sử. Ta chỉ cần để Chúa biến vết thương thành vết sẹo, biến điều từng làm ta gục thành nơi ta biết cảm thông với người khác, biến nỗi đau thành lòng thương xót.
Có những người vì từng bị khinh thường nên sau này rất nhạy cảm với những người bị bỏ quên. Có người từng nghèo nên lớn lên biết chia sẻ. Có người từng mất người thân nên biết ngồi bên người đang tang chế mà không nói những lời sáo rỗng. Có người từng trải qua một cuộc hôn nhân đổ vỡ nên khi gặp người khác trong hoàn cảnh tương tự, họ không phán xét. Có người từng bị cô độc nên sau này biết để ý đến người ngồi một mình. Khi một vết thương được Chúa chạm đến, nó không còn chỉ là nơi đau nữa; nó có thể trở thành cửa ngõ của lòng thương xót. Điều này không làm sự dữ trở thành điều tốt. Sự dữ vẫn là sự dữ. Nhưng Thiên Chúa có khả năng không để bất kỳ giọt nước mắt nào của ta trở nên vô ích.
Người môn đệ Đức Kitô được nhận ra không phải ở chỗ chưa từng bị tổn thương, nhưng ở cách họ đối diện với người làm họ tổn thương. Đây là câu phải mang về nhà. Không ai hỏi ta đã bị đau bao nhiêu để xác định ta có phải Kitô hữu hay không. Điều quan trọng là nỗi đau đó đã làm ta giống Đức Kitô hơn hay làm ta xa Người hơn. Có người bị đau rồi trở nên sâu sắc hơn. Có người bị đau rồi trở nên cay độc. Có người sau mất mát trở nên dịu dàng. Có người sau mất mát trở nên khép kín. Cùng là một cây Thập Giá, nhưng có người để cây Thập Giá dẫn mình đến Chúa, người khác lại để nó dựng lên một bức tường giữa mình với cuộc đời. Chính vì thế, mỗi lần nhớ đến một người làm ta đau, ta cần tự hỏi: “Người này đang làm gì trong tâm hồn tôi? Họ đã làm tôi đau một lần, nhưng tôi có đang để họ tiếp tục làm tôi đau mỗi ngày không? Tôi có đang để vết thương ấy định nghĩa cách tôi đối xử với người khác không?”
Đôi khi chúng ta rất đạo đức với Chúa nhưng lại rất khắc nghiệt với con người. Ta quỳ trước Thánh Giá nhưng không muốn tha cho một người. Ta hôn chân Chúa chịu đóng đinh ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng trong lòng lại giữ một danh sách những người không bao giờ muốn nhìn mặt. Ta đọc “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” mỗi ngày mà ít khi để ý mình đang xin Chúa dùng chính thước đo tha thứ của mình để đo lại cho mình. Kinh Lạy Cha đáng sợ ở chỗ ấy. Ta không chỉ xin được tha, ta còn tự đặt ra một tương quan giữa lòng thương xót mình đón nhận và lòng thương xót mình trao đi. Dĩ nhiên, chúng ta không tự cứu mình bằng việc tha thứ. Tất cả đều là ân sủng. Nhưng người đã thật sự nếm lòng thương xót của Thiên Chúa thì dần dần không thể cứ mãi sống bằng hận thù.
Ta cần nhớ rằng chính mình cũng sống nhờ lời cầu nguyện của Đức Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Ta rất dễ nhìn câu ấy và nghĩ đến những kẻ đóng đinh Chúa như một nhóm người nào đó ngoài mình. Nhưng nếu thành thật, ta cũng đứng trong đám đông ấy. Tội của ta cũng đóng đinh Chúa. Những lần ích kỷ, những lời làm người khác đau, những lần phản bội lòng yêu thương của Chúa, những lần biết điều tốt mà không làm, biết điều xấu mà vẫn làm, tất cả đều có phần trong Thập Giá. Vậy mà Chúa cũng cầu cho ta. Trước khi ta học tha thứ cho người khác, ta cần biết mình là người được tha thứ. Người không biết mình đã được thương xót sẽ rất khó thương xót. Người tưởng mình công chính hơn người khác sẽ dễ kết án. Nhưng người đã từng quỳ trước tòa giải tội, biết rõ đời mình có những góc tối không muốn ai biết, biết rằng nếu Chúa xử mình đúng như những gì mình đáng chịu thì chẳng ai đứng vững, người ấy sẽ bớt cầm đá ném người khác.
Có người nói: “Nhưng người ấy làm tôi đau quá, tôi không thể tha.” Đúng, có những việc vượt quá sức người. Chính vì thế tha thứ Kitô giáo không phải là thành tựu tâm lý của một người mạnh mẽ. Tha thứ là ân sủng. Ta không tha chỉ bằng việc nghiến răng quyết tâm. Ta cần mượn trái tim Đức Giêsu. Ta cần đứng dưới Thập Giá thật lâu. Ta cần nói với Chúa: “Con không có thứ tình yêu này. Xin cho con mượn tình yêu của Chúa.” Và có lẽ đó là một trong những lời cầu nguyện chân thật nhất đời người. Thánh thiện không phải là tự nhiên thấy ai cũng dễ thương. Thánh thiện là có những người rất khó thương nhưng ta vẫn không muốn họ bị hủy diệt. Thánh thiện không phải là chẳng bao giờ giận. Thánh thiện là giữa cơn giận, ta vẫn đặt nó dưới chân Chúa. Thánh thiện không phải là không nhớ điều xấu người khác đã làm. Thánh thiện là nhớ mà không nuôi dưỡng ý muốn báo thù.
Có một cách rất cụ thể để bắt đầu: hãy cầu nguyện cho người đã làm mình đau. Không cần cầu những lời hoa mỹ. Thậm chí ban đầu ta có thể chỉ nói được: “Lạy Chúa, xin lo cho người ấy.” Nếu câu “xin chúc lành cho họ” còn quá khó, hãy nói: “Xin Chúa làm điều Chúa thấy tốt cho họ và cho con.” Rồi một ngày nào đó ta có thể cầu thêm: “Xin cho họ biết Chúa.” Rồi một ngày khác: “Xin chữa những gì trong họ đã khiến họ làm người khác đau.” Và dần dần, ta sẽ ngạc nhiên nhận ra trái tim mình thay đổi trước khi người kia thay đổi. Cầu nguyện không phải phép thuật biến người xấu thành người tốt ngay lập tức. Nhưng cầu nguyện làm cho độc tố trong lòng ta bắt đầu được thanh lọc.
Đức Giêsu cầu cho kẻ đóng đinh Người, nhưng Người cũng trao phó mạng sống cho Chúa Cha. Điều đó dạy ta rằng tha thứ không phải tự mình ôm hết mọi chuyện. Ta có thể trao công lý cho Thiên Chúa. Nhiều người không tha được vì sợ rằng nếu mình tha thì người kia “thoát”. Nhưng tha thứ không có nghĩa là tuyên bố họ vô tội. Tha thứ là nói: “Tôi không làm quan tòa tối hậu nữa. Tôi trao việc xét xử cho Chúa.” Có những chuyện cần luật pháp. Có những hành vi cần được ngăn chặn. Có những người cần chịu trách nhiệm về việc mình làm. Kitô giáo không mời gọi ta che giấu tội ác nhân danh tha thứ. Nhưng ngay khi theo đuổi công lý, ta vẫn có thể từ chối hận thù. Công lý muốn sự thật được lập lại; trả thù muốn người kia đau. Hai điều đó khác nhau.
Có lẽ trong các gia đình, lời Tin Mừng hôm nay đặc biệt cần thiết. Biết bao gia đình không tan vì một biến cố lớn, mà rạn từ những vết xước nhỏ không ai chịu chữa. Một câu của mẹ chồng. Một lời của con dâu. Một lần anh em chia gia tài không công bằng. Một câu của người chồng nói lúc nóng giận nhưng vợ nhớ mười năm. Một lần người con vô ơn khiến cha mẹ không nói chuyện. Người ta sống chung nhà nhưng giữ trong lòng một cuốn sổ nợ. Mỗi lần cãi nhau, những chuyện từ năm này qua năm khác được lôi ra. Không ai thực sự muốn chữa lành; ai cũng muốn chứng minh mình đúng. Và một ngày, căn nhà vẫn còn đó nhưng gia đình không còn. Nếu trong những lúc ấy có một người đủ can đảm dừng lại vòng xoáy, đủ can đảm không nói thêm câu sát thương, đủ can đảm xin lỗi dù không phải hoàn toàn lỗi của mình, đủ can đảm cầu nguyện cho người kia, thì người ấy đang làm điều Đức Giêsu đã làm trên Thập Giá: không để sự dữ tiếp tục sinh sản.
Trong cộng đoàn Kitô hữu cũng vậy. Chúng ta dễ nói về hiệp nhất nhưng khó tha những va chạm rất nhỏ. Một người không chào mình. Một người không ghi nhận công lao. Một người được giao việc mình nghĩ đáng lẽ phải là mình. Một lời nhận xét trong cuộc họp. Một quyết định của bề trên. Một sự hiểu lầm. Và rồi người ta mang trong lòng, kể cho người thứ ba, thứ tư, cuối cùng cả cộng đoàn biết trừ người cần biết. Nhiều chia rẽ bắt đầu không phải từ giáo lý lớn lao mà từ tự ái. Thập Giá đặt giữa nhà thờ nhắc chúng ta rằng Hội Thánh không được xây bằng những con người chưa bao giờ làm nhau đau, nhưng bằng những con người biết để Máu Đức Kitô chữa những vết thương họ gây cho nhau.
Và đối với những ai đã bị tổn thương rất nặng, đừng tự ép mình phải có ngay một cảm xúc đẹp. Chúa không đòi ta diễn. Chúa muốn sự thật. Nếu lòng còn giận, hãy nói với Chúa là con giận. Nếu còn đau, nói con đau. Nếu còn muốn trả thù, nói với Chúa cả điều đó. Các Thánh Vịnh đầy những tiếng kêu rất thật của con người đau khổ. Chúa không sợ sự thật trong lòng ta. Điều nguy hiểm không phải là ta có cảm xúc giận dữ; điều nguy hiểm là ta biến nó thành nơi cư trú lâu dài. Đem nó ra ánh sáng. Đem nó vào cầu nguyện. Đem nó đến tòa giải tội. Nếu cần, tìm một người khôn ngoan để đồng hành. Có những vết thương sâu cần thời gian, cần trị liệu, cần những ranh giới rõ ràng. Ân sủng không loại bỏ những phương tiện rất con người mà Thiên Chúa dùng để chữa lành.
Hôm nay, có lẽ mỗi người chúng ta nên đặt một cái tên dưới chân Thập Giá. Một cái tên làm mình khó chịu nhất. Một khuôn mặt mình không muốn nhớ. Một người mình vẫn còn mắc nợ một sự tha thứ. Đừng vội nói gì với họ nếu chưa sẵn sàng. Trước hết hãy nói với Chúa. Hãy đứng cạnh Đức Giêsu và nghe Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Rồi hãy hỏi Chúa: “Lạy Chúa, con có thể thêm tên người ấy vào lời cầu nguyện của Chúa không?” Có lẽ ta chưa nói được trọn câu. Có khi vừa nói vừa khóc. Có khi nói được một nửa rồi nghẹn. Không sao. Chúa biết. Tha thứ bắt đầu không phải khi nước mắt ngừng rơi, nhưng khi giữa nước mắt ta không còn muốn người kia bị hủy diệt.
Và cũng cần nhớ rằng có thể chính mình là người cần đi xin tha thứ. Bài Tin Mừng này không chỉ dành cho nạn nhân. Có khi ta rất dễ nhận mình là người bị đóng đinh nhưng quên rằng mình đã từng cầm búa. Có những người ta đã làm đau bằng lời nói mà không nhớ. Có người từng chờ một lời xin lỗi của ta nhiều năm. Có người ta đã đối xử lạnh lùng, đã coi thường, đã lợi dụng lòng tốt, đã hứa rồi thất hứa. Ta có thể đang cầu xin Chúa giúp mình tha cho người khác, trong khi Chúa đang nhắc: “Con cũng hãy đi làm hòa với người anh em.” Khi ấy, đừng chỉ nói “nếu tôi có làm gì khiến anh buồn thì xin lỗi.” Đó thường không phải lời xin lỗi thật. Hãy đủ khiêm nhường để gọi tên điều mình đã làm: “Tôi đã nói câu ấy. Tôi đã đối xử như thế. Tôi biết điều đó làm anh đau. Tôi xin lỗi.” Có những phép lạ trong gia đình chỉ thiếu một câu như vậy.
Cuối cùng, Thập Giá cho ta hiểu rằng chiến thắng của người Kitô hữu không phải là khiến kẻ thù quỳ xuống xin thua. Chiến thắng là giữ được trái tim mình thuộc về Chúa giữa một thế giới muốn dạy ta hận. Đức Giêsu không thắng vì những kẻ đóng đinh Người lập tức trở nên tốt. Người thắng vì trên Thập Giá, tình yêu vẫn là lời cuối. Con người nói lời kết án; Chúa nói lời tha thứ. Con người đóng đinh; Chúa cầu nguyện. Con người lấy mạng sống; Chúa trao ban mạng sống. Sự dữ làm tất cả những gì nó có thể làm, nhưng không thể làm Đức Giêsu ngừng yêu. Đó là chiến thắng.
Ước gì khi nhìn lên Thánh Giá, chúng ta đừng chỉ thấy một Chúa chịu đau, nhưng thấy một trái tim mà sự ác không thể đầu độc. Và xin Chúa cho trái tim ta dần trở nên như thế. Không phải trái tim không có vết thương, nhưng trái tim có vết thương mà vẫn biết yêu. Không phải trái tim chưa từng bị phản bội, nhưng trái tim đã bị phản bội mà không biến thành phản bội. Không phải trái tim không biết giận, nhưng trái tim biết đem cơn giận đến trước Chúa. Không phải trái tim dễ dãi với sự dữ, nhưng trái tim kiên quyết không để sự dữ sinh thêm một sự dữ khác qua mình.
Có thể hôm nay ta chưa tha được hoàn toàn. Nhưng hãy bắt đầu bằng một lời rất nhỏ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu chưa nói nổi “cho họ”, hãy nói: “Lạy Cha, xin giúp con muốn tha.” Nếu ngay cả muốn tha cũng chưa có, hãy nói: “Lạy Cha, xin cho con muốn muốn tha.” Thiên Chúa có thể bắt đầu từ một hạt giống nhỏ như thế. Chúa không khinh thường một trái tim còn đầy giằng co nhưng đã quay về phía ánh sáng. Người sẽ dẫn ta từng bước.
Đời người ngắn lắm. Không đáng để mang một người mình ghét trong tim đến tận mộ. Không đáng để dùng những năm còn lại trả giá cho lỗi lầm của người khác. Không đáng để một chuyện đã qua tiếp tục cướp mất những ngày đang có. Ta không thể thay đổi điều họ đã làm, nhưng nhờ Đức Kitô, ta có thể quyết định điều ta sẽ làm với vết thương ấy. Ta có thể mang nó như một vũ khí, hoặc mang nó như một vết sẹo. Ta có thể dùng nó để làm đau người khác, hoặc để hiểu người khác sâu hơn. Ta có thể để nó đóng cửa trái tim, hoặc để Chúa mở trong chính vết thương ấy một cửa ngõ của lòng thương xót.
Người ta đóng đinh Chúa – Chúa vẫn cầu nguyện cho họ. Người ta làm Chúa đau – Chúa không để cái đau biến thành hận. Người ta lấy đi mạng sống của Chúa – Chúa lại dùng chính mạng sống ấy để cứu họ. Đó là Đức Kitô chịu đóng đinh. Đó là Tin Mừng. Đó cũng là con đường của người môn đệ.
Và nếu một ngày nào đó, giữa một vết thương rất thật, ta có thể thì thầm được dù chỉ một câu: “Lạy Cha, xin tha cho họ,” thì có lẽ lúc ấy, người ta sẽ nhận ra nơi ta một chút khuôn mặt của Đấng Chịu Đóng Đinh.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI LÒNG THƯƠNG XÓT LỚN HƠN TỘI LỖI
Tin Mừng: Lc 23,39-43
Có lẽ một trong những cảnh cảm động nhất của toàn bộ Tin Mừng không diễn ra trong một ngôi nhà ấm áp, không ở bên bờ hồ Galilê thanh bình, cũng không xảy ra giữa một đám đông đang say mê nghe Đức Giêsu giảng dạy, nhưng lại xảy ra trên một ngọn đồi đầy máu, giữa tiếng chế nhạo, tiếng nguyền rủa, tiếng khóc và hơi thở đứt quãng của những người sắp chết. Chính ở đó, trên đồi Canvê, khi mọi sự dường như đã kết thúc, khi Đức Giêsu không còn làm phép lạ nào nữa, khi đôi tay từng chữa lành người bệnh đã bị đóng chặt vào gỗ, khi đôi chân từng đi khắp các làng mạc rao giảng Tin Mừng đã không còn có thể bước đi, khi những người từng tung hô Người đã biến mất và chỉ còn lại một vài người đứng xa xa, thì một trong những lời đẹp nhất về lòng thương xót lại được cất lên: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Một người trộm, một người đã đi gần hết cuộc đời mình trong những con đường sai lạc, một người chẳng còn cơ hội làm lại quá khứ, chẳng còn ngày mai để sửa sai, chẳng còn thời gian để đền bù những gì mình đã gây ra, chẳng còn gì trong tay để dâng cho Chúa ngoài một lời xin rất nhỏ: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Thế mà chỉ một lời xin ấy đã mở ra cả thiên đàng. Đó là điều làm ta phải dừng lại thật lâu trước Thập Giá. Bởi vì nếu chỉ nhìn bằng con mắt của công bằng loài người, người trộm ấy không còn gì để nói. Anh ta tự nhận: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.” Anh không biện hộ. Anh không đổ lỗi. Anh không viện hoàn cảnh. Anh không nói rằng vì nghèo nên mới phạm tội, vì bị xã hội bỏ rơi nên mới trở thành kẻ xấu, vì người khác đối xử bất công nên mới sống bất chính. Anh chỉ đơn giản nhìn nhận sự thật về mình. Và điều kỳ diệu bắt đầu chính ở đó: lòng thương xót của Thiên Chúa không gặp một con người đang tô son cho tội lỗi mình, nhưng gặp một con người đã thôi chạy trốn sự thật. Từ khoảnh khắc ấy, Canvê không còn chỉ là nơi xử tử ba người. Canvê trở thành nơi một linh hồn được cứu. Thập Giá không còn chỉ là dấu của án phạt. Thập Giá trở thành cánh cửa của lòng thương xót.
Điều khiến câu chuyện người trộm lành chạm đến tận sâu lòng người chính là vì anh chẳng còn gì để dâng. Nếu anh còn sống thêm hai mươi năm nữa, người ta có thể nói rằng anh phải làm việc thiện, phải bồi thường, phải đổi đời, phải sống một đời công chính để chứng minh sự hoán cải. Nhưng anh không còn hai mươi năm. Có lẽ anh chỉ còn vài giờ. Hai tay anh bị đóng hoặc buộc vào thập giá, nên anh không thể xuống để trả lại những gì đã lấy. Hai chân anh bất động, nên anh không thể đi xin lỗi những người mình từng làm tổn thương. Anh không thể bố thí. Không thể hành hương. Không thể làm một công trình bác ái. Không thể bắt đầu lại một cuộc đời mới theo cách chúng ta thường hình dung. Anh chỉ còn trái tim. Và trong trái tim ấy, vào phút cuối đời, một tia sáng đã bừng lên. Anh nhận ra con người bị đóng đinh bên cạnh mình không giống mình. Anh nghe những lời chế nhạo. Anh nhìn thấy một Đức Giêsu đang đau đớn nhưng không chửi rủa. Anh có thể đã nghe lời Người cầu xin cho những kẻ đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Có lẽ chính lời ấy đã làm một điều gì đó vỡ ra trong lòng người tội phạm. Anh bắt đầu hiểu rằng người bị đóng đinh bên cạnh không phải là một kẻ thất bại như thiên hạ đang nghĩ. Anh quay sang người đồng phạm đang nhạo báng Đức Giêsu và nói: “Mày đang chịu chung một hình phạt mà cả Thiên Chúa, mày cũng chẳng sợ! Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm; chứ ông này đâu có làm điều gì trái.” Rồi anh quay sang Chúa. Không một bài kinh dài. Không một lời biện hộ. Không một lời hứa hẹn rằng “nếu Chúa cho con xuống khỏi đây, con sẽ thay đổi.” Anh biết mình sẽ chết. Anh chẳng xin phép lạ. Anh chỉ xin một điều: “Xin nhớ đến tôi.” Thật lạ lùng! Anh chỉ xin Chúa nhớ. Nhưng Đức Giêsu không chỉ nhớ. Người cho anh cả Nước Trời. Anh chỉ xin một chỗ trong ký ức của Chúa. Chúa cho anh một chỗ bên cạnh mình trong thiên đàng. Anh xin một ánh mắt. Chúa ban cả sự sống đời đời. Anh đưa ra một bàn tay trắng. Chúa đặt vào đó cả kho tàng cứu độ. Đó chính là lòng thương xót: Thiên Chúa luôn cho nhiều hơn điều con người dám xin.
Chúng ta thường sống đạo với một nỗi sợ âm thầm rằng tội lỗi của mình lớn hơn tình yêu của Thiên Chúa. Có những người đi qua bao nhiêu năm tháng với một mặc cảm rất sâu: “Chúa có thể tha cho người khác, nhưng chắc không tha cho tôi.” Họ nhớ mãi một lỗi lầm ba mươi năm trước. Họ mang trong lòng một quá khứ mà mỗi khi nghĩ đến lại thấy xấu hổ. Có người đã từng phá vỡ một gia đình. Có người đã từng phản bội một người yêu thương mình. Có người đã từng sống trong nghiện ngập, gian dối, ích kỷ, bạo lực. Có người đã làm cha mẹ đau khổ. Có người đã bỏ Chúa rất lâu. Có người khi còn trẻ sống bất cần, đến lúc già mới bắt đầu cảm thấy sợ. Có người đi xưng tội nhưng trong lòng vẫn không tin rằng mình thực sự được tha. Miệng đọc lời thống hối nhưng lòng vẫn tự kết án. Họ tưởng rằng khi họ không tha nổi cho mình thì Thiên Chúa cũng không tha nổi cho họ. Nhưng Thập Giá nói một điều khác. Thập Giá nói rằng lòng thương xót của Chúa luôn lớn hơn tội lỗi của con người. Không phải vì tội lỗi là chuyện nhỏ. Tội lỗi chưa bao giờ là chuyện nhỏ. Nếu tội lỗi là chuyện nhỏ, Con Thiên Chúa đã không cần phải đi đến Thập Giá. Chính vì tội lỗi nghiêm trọng đến thế nên giá của ơn cứu độ mới là chính Máu của Đức Kitô. Nhưng nếu tội lỗi nghiêm trọng, thì tình yêu của Thiên Chúa còn lớn hơn. Nếu vực sâu của con người sâu thẳm, thì lòng thương xót của Chúa còn sâu hơn vực thẳm ấy. Nếu bóng tối của đời ta dày đặc, ánh sáng của Thập Giá vẫn có thể xuyên vào. Điều duy nhất có thể làm lòng thương xót trở nên bất lực không phải là vì tội ta quá lớn, nhưng là vì ta không chịu mở cửa. Người trộm thứ nhất ở ngay bên cạnh Chúa nhưng khước từ Chúa. Người trộm thứ hai cũng ở ngay bên cạnh Chúa nhưng mở lòng ra. Cùng một khoảng cách với Đức Giêsu. Cùng một hoàn cảnh. Cùng một giờ chết. Cùng nhìn thấy một Đức Kitô chịu đóng đinh. Nhưng một người chế nhạo, một người cầu xin. Một người muốn Chúa cứu mình khỏi thập giá; người kia xin Chúa cứu mình ngay trong thập giá. Một người chỉ thấy một con người bất lực; người kia nhận ra một vị Vua đang bước vào Nước của Người. Và thiên đàng bắt đầu từ cái nhìn ấy.
Có một điều rất đẹp: người trộm lành là một trong những người đầu tiên tuyên xưng vương quyền của Đức Giêsu ngay khi vương quyền ấy bị che giấu hoàn toàn. Trên đầu Chúa có tấm bảng: “Đây là vua dân Do Thái.” Nhưng đó là lời chế giễu. Các thủ lãnh cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Lính tráng cũng chế nhạo: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” Một người trộm cũng hùa theo: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình và cứu cả chúng tôi nữa!” Tất cả đều nhìn thấy một “vua” không ngai, không quân đội, không quyền lực, không người bảo vệ, thân thể đầy thương tích. Chỉ có người trộm lành nhìn xuyên qua tất cả sự thất bại bề ngoài ấy để nói: “Khi ông vào Nước của ông…” Anh tin Chúa có một Nước, ngay khi Chúa đang chết như một tử tội. Anh tin Chúa sẽ bước vào vương quốc của Người, ngay khi Người không thể bước xuống khỏi cây gỗ. Đức tin của anh thật kỳ lạ. Các môn đệ từng thấy Chúa làm phép lạ mà giờ đã bỏ chạy; người trộm này chưa từng theo Chúa một ngày nào, có lẽ chưa từng nghe một bài giảng nào trọn vẹn, nhưng giữa phút tối tăm nhất, anh lại nhận ra Vua của mình. Thiên Chúa quả thật có những con đường mà chúng ta không hiểu. Đôi khi một con người đi lạc cả đời nhưng gặp Chúa ở giờ cuối. Đôi khi một người tưởng mình rất gần Chúa lại có thể đi xa. Vì thế, đừng bao giờ tuyệt vọng về một ai. Đừng nói: “Người ấy hết thuốc chữa rồi.” Đừng nói: “Nó sống như vậy thì chẳng còn hy vọng gì.” Đừng nói về một người con hư hỏng như thể câu chuyện của nó đã kết thúc. Đừng nói về một người chồng nghiện ngập như thể lòng thương xót Chúa không còn con đường đi vào lòng ông. Đừng nói về một người đã bỏ nhà thờ mấy chục năm rằng chắc chắn họ sẽ không trở lại. Người trộm lành chính là lời cảnh tỉnh cho mọi sự kết án quá sớm. Khi chúng ta đã đóng hồ sơ của một người, Thiên Chúa vẫn có thể đang mở một chương cuối cùng. Khi chúng ta nghĩ một cuộc đời chẳng còn gì đẹp, Chúa vẫn có thể làm cho giây phút cuối trở thành giây phút đẹp nhất.
Nhưng lòng thương xót không phải là sự dễ dãi. Người trộm lành được cứu không phải vì tội lỗi chẳng đáng kể, nhưng vì anh đã đối diện với tội lỗi bằng lòng thống hối. Anh nói rất rõ: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng.” Đây là điều con người thời nào cũng khó làm: nhận mình sai. Chúng ta dễ nhận lỗi chung chung, nhưng rất khó nhận một lỗi cụ thể. Dễ nói “ai mà chẳng có tội”, nhưng khó nói “tôi đã làm điều đó và tôi đã sai.” Dễ đổ cho hoàn cảnh, cho tính khí, cho tuổi thơ, cho người khác, cho xã hội, cho áp lực công việc. Dễ nói “tại nó làm tôi nổi nóng”, “tại vợ tôi thế nên tôi mới vậy”, “tại chồng tôi lạnh nhạt nên tôi mới đi tìm người khác”, “tại cha mẹ không hiểu tôi nên tôi mới sống như thế”, “tại ai cũng làm vậy.” Chúng ta có thể tìm được hàng trăm lý do để giải thích cho một lỗi lầm, nhưng giải thích không đồng nghĩa với hoán cải. Người trộm lành không còn thời gian để biện hộ. Anh chỉ còn đủ thời gian để nói sự thật. Và chính sự thật ấy đưa anh đến lòng thương xót. Bí tích Hòa Giải cũng bắt đầu từ đó. Không phải từ một bản tự bào chữa đẹp đẽ, mà từ một con người dám đứng trước Chúa và nói: “Lạy Chúa, con đã sai.” Chúa không cần chúng ta kể cho Người những điều Người chưa biết. Chúa biết tất cả. Điều Người chờ là chúng ta thôi trốn. Ađam phạm tội rồi trốn sau bụi cây. Cain giết em rồi hỏi: “Con là người giữ em con sao?” David cần ngôn sứ Nathan chỉ thẳng vào mình. Phêrô phải nghe tiếng gà gáy mới nhận ra lời mình vừa chối. Người trộm lành trên thập giá chẳng còn chỗ nào để trốn nữa. Có lẽ chính vì không còn chỗ trốn nên anh đã gặp được Chúa.
Đôi khi điều làm chúng ta xa Chúa nhất không phải là tội lỗi, mà là lòng kiêu ngạo sau tội lỗi. Một người phạm tội nhưng biết khóc có thể gần Chúa hơn một người sống bề ngoài rất tử tế nhưng luôn cho rằng mình chẳng cần được tha. Tin Mừng đầy những câu chuyện như thế. Người thu thuế đứng cuối Đền Thờ đấm ngực: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, và anh ra về được nên công chính. Người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân Chúa, lấy tóc lau chân Người, và được nghe lời tha thứ. Phêrô chối Thầy ba lần nhưng đã khóc cay đắng, rồi được trao lại sứ mạng. Người con hoang đàng trở về chỉ với một câu: “Con đã lỗi phạm đến trời và đến cha”, và người cha chạy ra ôm lấy nó. Người trộm lành cũng chỉ có một lời xin, và Chúa cho anh thiên đàng. Có một mẫu số chung trong tất cả những con người ấy: họ không tự cứu mình. Họ cho phép mình được cứu. Đây có lẽ là điều khó nhất đối với con người. Chúng ta thích tự chứng minh mình xứng đáng. Chúng ta muốn trả giá để khỏi mang ơn. Chúng ta muốn nói: “Con tốt nên Chúa phải thương con.” Nhưng Tin Mừng đảo ngược tất cả: Chúa thương ta trước khi ta xứng đáng. Chính tình yêu ấy mới làm ta trở nên xứng đáng. Người trộm lành chẳng thể đưa ra một bản thành tích nào. Nếu thiên đàng có một cánh cửa và thánh Phêrô hỏi anh: “Anh có công gì?”, có lẽ anh chỉ có thể trả lời: “Không có gì cả. Tôi chỉ xin Ngài nhớ đến tôi, và Ngài đã hứa.” Đó là Kitô giáo. Ơn cứu độ trước hết không phải phần thưởng cho người hoàn hảo; là quà tặng cho người biết mình cần được cứu.
“Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Câu trả lời của Đức Giêsu còn đẹp hơn lời xin của người trộm ở nhiều điểm. Anh nói: “Khi ông vào Nước của ông…” Một thời điểm không xác định, có thể xa xôi. Chúa nói: “Hôm nay.” Anh nói: “Xin nhớ đến tôi.” Chúa nói: “Anh sẽ ở với tôi.” Anh xin được Chúa nhớ đến; Chúa cho anh sự hiệp thông. Thiên đàng, trước khi là một nơi chốn, là “ở với Chúa.” “Anh sẽ ở với tôi.” Đây là định nghĩa đẹp nhất của thiên đàng. Không phải vàng bạc, không phải những hình ảnh dễ thương mà trí tưởng tượng con người dựng nên, nhưng là được ở với Đức Kitô. Người trộm lành có lẽ đã sống cả đời đi tìm hạnh phúc ở những nơi không có Chúa, và giờ đây vào phút cuối, anh nhận ra điều duy nhất mình cần là được ở với Người. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta vẫn thường tìm thiên đàng ở những nơi khác. Có người nghĩ thiên đàng là khi kiếm đủ tiền. Có người nghĩ thiên đàng là khi con cái thành đạt. Có người nghĩ thiên đàng là khi sức khỏe tốt, không bệnh tật. Có người nghĩ thiên đàng là khi được người khác công nhận. Có người nghĩ thiên đàng là khi có chức vụ, danh tiếng, nhà cửa, tài sản. Và không ít lần chúng ta đạt được một điều mình tưởng sẽ làm mình hạnh phúc, rồi lại thấy lòng vẫn trống. Bởi vì con tim con người được tạo nên cho Thiên Chúa. Không có Người, mọi thứ khác đều có thể trở thành quá nhỏ. Người trộm lành chẳng còn gì: không nhà, không tài sản, không danh dự, không tương lai trần thế, nhưng trong giờ phút cuối cùng anh lại có tất cả, vì anh có lời hứa: “Anh sẽ ở với tôi.”
Có một sự dịu dàng lạ lùng trong câu “Hôm nay.” Chúa không nói: “Để xem anh chịu đựng ra sao rồi tính.” Chúa không bảo: “Anh phải qua một cuộc thi cuối cùng.” Chúa không nhắc lại danh sách tội của anh. Chúa cũng không nói: “Muộn rồi.” Con người thường nói “muộn rồi”, nhưng Chúa rất ít khi nói câu ấy với một người đang thực lòng trở về. Người con hoang đàng trở về muộn nhưng cha vẫn mở cửa. Người thợ đến giờ thứ mười một vẫn được chủ vườn nho gọi vào làm việc. Người trộm lành trở lại khi chỉ còn hơi thở cuối, và vẫn được cứu. Điều đó không có nghĩa là ta có quyền trì hoãn hoán cải. Không ai biết mình có được một “giờ thứ mười một” hay không. Người trộm lành được cứu vào phút cuối, nhưng không ai được bảo đảm rằng mình sẽ có sự tỉnh táo và ân sủng để kêu xin vào phút cuối. Câu chuyện ấy không được viết để chúng ta sống buông thả rồi nói “sau này sẽ ăn năn”, nhưng để người đã lỡ sống buông thả biết rằng hôm nay vẫn còn đường trở về. Có khác biệt rất lớn giữa trì hoãn vì coi thường lòng thương xót và chạy đến lòng thương xót vì nhận ra mình đã lãng phí quá nhiều thời gian. Người trộm lành không lợi dụng lòng thương xót. Anh bám lấy lòng thương xót như người sắp chết bám lấy bàn tay cuối cùng có thể cứu mình.
Biết bao người trong đời sống mục vụ mang một nỗi lo rất lớn về người thân đã qua đời. Có người mẹ khóc vì đứa con mất đột ngột mà trước đó lâu năm không đi lễ. Có người vợ day dứt vì người chồng chết bất ngờ, chẳng kịp xưng tội. Có người con ám ảnh vì cha mẹ mình cả đời dường như xa Chúa. Chúng ta không có quyền tuyên bố số phận đời đời của một linh hồn. Phán xét cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Nhưng người trộm lành cho chúng ta một niềm hy vọng rất lớn: giữa Thiên Chúa và một linh hồn có thể xảy ra những điều mà không một người đứng bên ngoài nào nhìn thấy. Một ánh mắt. Một tiếng thở dài. Một sự hối hận thoáng qua nhưng chân thành. Một lời “Lạy Chúa” không thành tiếng. Một sự quay về diễn ra trong vùng sâu nhất của lương tâm mà chỉ Thiên Chúa biết. Chúng ta không được biến hy vọng ấy thành sự dễ dãi, nhưng cũng đừng biến công lý của Chúa thành tuyệt vọng. Thiên Chúa khát khao cứu độ con người hơn chúng ta khát khao được cứu. Đức Kitô đã không chịu đóng đinh để tìm lý do kết án; Người lên Thập Giá để mở đường cứu độ. Cho nên trước cái chết của một người, đặc biệt một người mà chúng ta lo lắng về đời sống đức tin của họ, điều đúng đắn nhất là phó thác họ cho lòng thương xót Chúa và tiếp tục cầu nguyện.
Thập Giá còn dạy chúng ta một điều rất quan trọng về cách nhìn người tội lỗi. Đám đông nhìn hai tên trộm và chỉ thấy hai tên trộm. Chúa nhìn một trong hai và thấy một người con có thể trở về. Con người thường đóng khung người khác bằng quá khứ của họ: “Nó là thằng nghiện.” “Bà ấy là người đã bỏ chồng.” “Ông ấy từng ở tù.” “Con bé đó hư hỏng.” “Người kia từng làm chuyện xấu.” Chúng ta lấy một lỗi lầm và biến nó thành căn tính của cả một con người. Nhưng Thiên Chúa không làm vậy. Chúa không gọi người trộm lành bằng cái tội danh mà xã hội dành cho anh. Tin Mừng cũng không ghi tên anh, nhưng lời cuối Chúa dành cho anh là lời của tương lai: “Anh sẽ ở với tôi.” Trong mắt Chúa, con người luôn lớn hơn tội lỗi của họ. Tội lỗi là điều họ đã làm, nhưng không phải toàn bộ điều họ là. Nếu chúng ta thật sự sống dưới chân Thập Giá, chúng ta phải học cách nhìn người khác bằng đôi mắt ấy. Không dung túng cái xấu. Không gọi đen thành trắng. Nhưng cũng không tước khỏi bất kỳ ai quyền được thay đổi. Có những gia đình giết chết hy vọng của một người bằng cách suốt đời nhắc lại lỗi lầm cũ. Người ta đã xin lỗi mười lần nhưng mỗi lần cãi nhau vẫn bị lôi chuyện mười năm trước ra. Người ta đã thay đổi nhưng chẳng ai chịu nhìn thấy. Người ta đã cố gắng nhưng luôn bị gọi bằng cái tên của quá khứ. Lòng thương xót không làm mất trí nhớ, nhưng lòng thương xót không dùng ký ức làm vũ khí. Đức Giêsu biết quá khứ người trộm lành, nhưng Người nói với anh về tương lai.
Đó cũng là một lời nhắc cho Hội Thánh. Hội Thánh không phải cộng đoàn của những người chưa từng phạm tội, mà là cộng đoàn của những người được cứu bởi lòng thương xót. Nếu một giáo xứ chỉ có chỗ cho những người “đàng hoàng”, nếu cộng đoàn làm cho một người có quá khứ xấu cảm thấy mình mãi mãi là người ngoài, nếu người mới trở về luôn bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ, thì có điều gì đó rất xa với Tin Mừng. Người đầu tiên được Đức Giêsu phong thánh ngay trên Thập Giá, theo một cách nói rất đẹp của truyền thống Kitô giáo, không phải là một người có lý lịch đạo đức sáng ngời, mà là một tên trộm biết thống hối. Điều đó phải làm chúng ta khiêm tốn. Thiên đàng sẽ có những người khiến ta ngạc nhiên. Có thể có những người chúng ta từng khinh. Có thể có những người ta nghĩ “làm sao người ấy được cứu.” Và cũng có thể sẽ không có những người mà ta từng nghĩ chắc chắn mình tốt hơn họ. Vì cứu độ là mầu nhiệm của ân sủng, và chỉ Thiên Chúa biết chiều sâu của mỗi tâm hồn.
Có người sẽ hỏi: nếu chỉ một lời xin mà được thiên đàng, vậy công bằng ở đâu? Câu hỏi này xuất hiện vì chúng ta thường hiểu thiên đàng như tiền lương. Nhưng thiên đàng không phải là tiền lương Thiên Chúa mắc nợ chúng ta. Thiên đàng là quà tặng của tình yêu. Nếu một người cả đời sống trung tín với Chúa, người ấy không thiệt vì người khác được cứu phút cuối. Người sống với Chúa từ trẻ đã được hưởng niềm vui của việc sống trong ánh sáng ấy suốt đời. Người trộm lành chỉ gặp Chúa ở giờ cuối sau cả một đời khốn khổ. Câu chuyện không làm giảm giá trị của đời sống thánh thiện; nó làm nổi bật sự quảng đại của Thiên Chúa. Giống như dụ ngôn người thợ giờ thứ mười một. Những người làm từ sáng khó chịu vì người đến trễ cũng được một đồng. Vấn đề không phải ông chủ bất công, nhưng vì họ đã nhìn lòng quảng đại bằng con mắt ganh tị. Chúng ta cũng có thể có thái độ ấy với lòng thương xót. Chúng ta vui khi Chúa tha cho mình, nhưng khó chịu khi Chúa tha cho người ta không thích. Ta muốn lòng thương xót rộng cho mình nhưng hẹp với người khác. Thập Giá phá vỡ kiểu đạo đức ấy. Người trộm lành không xứng đáng hơn người khác. Anh được cứu vì anh mở lòng. Và nếu Chúa cứu được anh, chúng ta phải vui, chứ không phải hỏi sao Chúa “dễ” quá.
Thật ra Chúa không “dễ” với tội lỗi. Hãy nhìn những chiếc đinh. Hãy nhìn mão gai. Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm. Tha thứ không rẻ. Mỗi lời tha thứ được nói ra trên Thập Giá mang giá của Máu. Chính vì thế, Thập Giá là nơi công lý và lòng thương xót gặp nhau. Thiên Chúa không giả vờ rằng tội lỗi không quan trọng. Người mang lấy hậu quả của tội lỗi trên chính thân thể mình. Nhưng thay vì để tội nhân bị hủy diệt, Người để chính mình bị thương tích vì tội nhân. Đây là điều không một lý luận thuần túy nào có thể nghĩ ra. Con người thường có hai cách: hoặc trừng phạt, hoặc bỏ qua. Thiên Chúa đi một con đường sâu hơn: Người cứu. Thập Giá không phải Thiên Chúa nhắm mắt trước sự dữ. Là Thiên Chúa bước vào tận trung tâm sự dữ để lấy tình yêu mà thắng nó. Vì thế, khi nói “lòng thương xót lớn hơn tội lỗi”, ta không nói tội lỗi nhỏ. Ta nói tình yêu của Đức Kitô lớn.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta cần nghe câu này hôm nay: quá khứ của bạn không có quyền nói lời cuối cùng về cuộc đời bạn. Người trộm lành đã có một quá khứ rất xấu. Nhưng lời cuối cùng về cuộc đời anh không phải là bản án của quan tòa, không phải tiếng chửi của đám đông, không phải tấm bảng tội danh. Lời cuối cùng thuộc về Đức Giêsu: “Anh sẽ được ở với tôi.” Bạn có thể đã làm những điều mà đến hôm nay nhớ lại vẫn thấy đau. Bạn có thể đã mất những năm tháng đẹp nhất cho một cuộc sống sai lạc. Bạn có thể đã làm tổn thương những người mình yêu. Có những điều bạn không thể sửa lại hoàn toàn. Có những người bạn muốn xin lỗi nhưng họ đã qua đời. Có những hậu quả vẫn còn đó. Kitô giáo không nói rằng chỉ cần quên đi. Hoán cải có khi phải đi qua bồi thường, sửa sai, chữa lành, chịu trách nhiệm. Nhưng Tin Mừng nói rằng bạn không phải là tù nhân vĩnh viễn của quá khứ. Nếu bạn thật sự quay về, có một tương lai trong Chúa. Có những cánh cửa con người đóng, nhưng Thiên Chúa vẫn có thể mở. Có những dấu vết không xóa khỏi lịch sử, nhưng Chúa có thể biến nó thành nơi ân sủng đi qua.
Và cũng có lẽ ta cần nghe một điều khác: đừng đợi đến lúc mình “tốt đủ” mới đến với Chúa. Người trộm lành không thể làm mình tốt đủ. Anh chỉ đến như anh là, trong sự thật. Nhiều người nói: “Khi nào con bỏ được tật ấy, con mới đi xưng tội.” “Khi nào con sống khá hơn, con mới trở lại nhà thờ.” “Con xấu hổ quá, con không dám đến với Chúa.” Nhưng nếu một người phải sạch rồi mới đi tắm thì chẳng ai cần tắm nữa. Ta đi đến với Chúa chính vì ta cần được chữa lành. Bệnh nhân không cần chờ khỏe rồi mới đến bác sĩ. Người tội lỗi không cần tự cứu mình rồi mới đến Đấng Cứu Độ. Chúng ta thường đảo ngược Tin Mừng: “Con sẽ thay đổi để Chúa thương con.” Tin Mừng nói: “Hãy để Chúa thương con, và tình thương ấy sẽ làm con thay đổi.” Người trộm lành chẳng còn khả năng sửa chữa đời mình bằng việc làm, nhưng chỉ một cuộc gặp thật với Đức Kitô đã thay đổi ý nghĩa toàn bộ đời anh. Anh vẫn chết trên thập giá, nhưng không còn chết như một người tuyệt vọng. Anh chết trong lời hứa.
Đời người rồi cũng sẽ đi đến một giờ như thế. Không ai tránh được. Một ngày kia đôi tay chúng ta sẽ không còn làm được gì. Tiền bạc ở lại. Nhà cửa ở lại. Những danh hiệu ở lại. Những tranh cãi từng làm ta mất ngủ cũng chẳng còn ý nghĩa. Những người từng khen ta hoặc chê ta cũng không đi cùng ta qua cánh cửa cuối cùng. Đến lúc ấy, có lẽ lời cầu của người trộm lành sẽ trở thành lời cầu đẹp nhất cho mỗi người: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.” Cuối cùng, đức tin có thể giản dị đến vậy. Không cần nhiều chữ. Chỉ cần tin rằng mình đang nói với một Đấng yêu mình. “Xin nhớ đến con.” Xin nhớ đến con trong những năm tháng con sống tốt và cả những năm tháng con đã phí hoài. Xin nhớ đến những lần con cầu nguyện và cả những lần con bỏ Chúa. Xin nhớ đến những điều con đã cố gắng sửa chữa và cả những điều con không còn kịp sửa. Xin nhớ đến những nước mắt chưa ai thấy. Xin nhớ đến những vết thương khiến con trở nên cứng cỏi. Xin nhớ đến những người con đã làm tổn thương. Xin nhớ đến con không phải vì con xứng đáng, nhưng vì Chúa là Đấng giàu lòng thương xót.
Và câu trả lời của Chúa vẫn là: “Ở với tôi.” Đẹp biết bao khi lời cuối của đời người không phải là “tôi đã làm được gì”, nhưng là “tôi thuộc về ai.” Người trộm lành không có gì để mang qua cái chết ngoài một tương quan vừa mới bắt đầu: anh thuộc về Đức Giêsu. Từ Canvê, ta hiểu rằng ơn cứu độ chính là được Chúa đón nhận vào sự hiệp thông với Người. Người ta có thể lấy đi tự do của anh, đóng đinh anh, tước hết danh dự, nhưng không ai có thể ngăn anh quay trái tim mình về phía Chúa. Điều đó cũng đúng với chúng ta. Có những hoàn cảnh ta không thay đổi được. Có căn bệnh không chữa được. Có tuổi già không đảo ngược. Có mất mát không lấy lại được. Có mối quan hệ đã vỡ đến mức ta không thể tự mình hàn gắn. Nhưng ngay trong một hoàn cảnh không thể thay đổi, hướng của trái tim vẫn có thể đổi. Người trộm không xuống khỏi thập giá, nhưng anh đi vào thiên đàng. Hoàn cảnh không thay đổi, nhưng số phận đời đời thay đổi. Đó là một trong những mầu nhiệm lớn của đức tin: đôi khi Chúa không cất thập giá, nhưng Người biến thập giá thành con đường.
Cho nên đừng sợ nhìn lên Thập Giá. Có người sợ Thập Giá vì Thập Giá nhắc họ về tội lỗi. Nhưng chính ở đó ta phải nhìn lâu nhất, vì Thập Giá không chỉ nói ta đã phạm tội thế nào; Thập Giá nói Chúa yêu ta đến đâu. Nếu muốn biết tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào, hãy nhìn Thập Giá. Nếu muốn biết lòng thương xót lớn đến mức nào, cũng hãy nhìn Thập Giá. Hai sự thật ở cùng một nơi. Chúng ta đã làm tổn thương tình yêu, nhưng tình yêu không bỏ chúng ta. Chúng ta đã quay lưng, nhưng Người vẫn mở đôi tay. Chúng ta đã dùng tự do để đi xa, nhưng Người dùng tự do của Người để đi tìm. Chúng ta đã dựng thập giá, Người biến chính thập giá thành cây cầu.
Người trộm lành là hy vọng của những người đến muộn. Hy vọng của những người đã lỡ. Hy vọng của những người mang một quá khứ nặng nề. Hy vọng của những ai nghĩ mình không còn xứng đáng bước vào nhà thờ. Hy vọng của những cha mẹ vẫn đang cầu nguyện cho một đứa con đi xa. Hy vọng của người vợ vẫn âm thầm xin Chúa cho chồng mình trở lại. Hy vọng của người linh mục sau bao năm mục vụ vẫn đau đáu về những con chiên đã bỏ đàn. Hy vọng của những người đang ở trong bệnh viện, những người gần giờ chết, những người không còn đủ sức làm gì ngoài việc thì thầm danh Chúa Giêsu. Nhưng người trộm lành cũng là lời cảnh tỉnh. Vì anh được cứu không phải chỉ vì ở gần Chúa, nhưng vì đã mở lòng. Người trộm kia cũng ở gần Chúa như vậy mà vẫn khép lòng. Ở gần nhà thờ chưa chắc đã ở gần Chúa. Thuộc nhiều kinh chưa chắc đã biết thống hối. Mang danh Kitô hữu chưa đủ. Cần một trái tim biết nói: “Lạy Chúa, con cần Chúa.”
Trong mỗi Thánh Lễ, chúng ta cũng đến như người trộm lành. Chúng ta không đến vì mình xứng đáng. Trước khi rước lễ, Hội Thánh đặt trên môi chúng ta một lời thật khiêm tốn: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con…” Đó là tinh thần của người trộm lành. Tôi không xứng, nhưng tôi tin vào lời của Chúa. Tôi không có gì để khoe, nhưng tôi có một Đấng Cứu Độ. Tôi không đến bàn tiệc Thánh Thể như người đòi phần thưởng, nhưng như người ăn xin ân sủng. Và lạ thay, kẻ ăn xin ấy được trao chính Mình và Máu Đức Kitô. Người trộm lành xin được nhớ đến, Chúa trao thiên đàng. Chúng ta xin một chút sức mạnh để sống, Chúa trao chính Người. Thiên Chúa luôn như thế: lòng quảng đại của Người đi xa hơn lời cầu của chúng ta.
Ước gì mỗi khi nhìn Thập Giá, ta thôi tuyệt vọng về mình và thôi tuyệt vọng về người khác. Ước gì những ai đang mang mặc cảm tội lỗi hiểu rằng mặc cảm không phải là thống hối. Thống hối kéo ta về với Chúa; mặc cảm chỉ nhốt ta trong chính mình. Giuđa cũng nhận ra mình có tội, nhưng ông nhìn vào tội nhiều hơn nhìn vào lòng thương xót. Phêrô cũng nhận ra mình có tội, nhưng nước mắt của ông vẫn nằm trong một tương quan với Thầy. Khác biệt không phải ai phạm tội nặng hơn, mà ai còn tin rằng tình yêu của Chúa lớn hơn sự phản bội của mình. Nếu chỉ nhìn vào mình, ta sẽ tuyệt vọng. Nếu nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh, ta sẽ thấy có một nơi cho mình trở về.
Có thể lời cầu nguyện cuối cùng hôm nay chỉ cần thế này: Lạy Chúa Giêsu, con không biết mình còn bao nhiêu thời gian. Con không biết ngày nào là ngày cuối. Nhưng con không muốn đợi đến giờ cuối mới quay về. Xin cho con biết sống hôm nay như người trộm lành đã sống giây phút cuối: biết nhìn nhận sự thật về mình, biết bênh vực điều thiện thay vì hùa theo đám đông, biết nhìn thấy Vua của con ngay cả khi Người mang khuôn mặt của một Đấng bị đóng đinh, và biết tin rằng lòng thương xót của Người lớn hơn tất cả những gì con đã làm sai. Xin nhớ đến con, lạy Chúa. Xin nhớ đến gia đình con. Xin nhớ đến những người con đang lo lắng. Xin nhớ đến những người đã xa Chúa. Xin nhớ đến người mà con thấy khó tha thứ nhất. Xin nhớ đến người đã qua đời mà con vẫn day dứt. Xin nhớ đến tất cả chúng con khi chúng con bước đến giờ cuối cùng. Và khi không còn lời nào để nói, xin cho chúng con còn đủ sức gọi tên Giêsu.
Thập Giá vẫn đứng đó giữa đời người như một lời tuyên bố không bao giờ cũ: tội lỗi có thể lớn, nhưng lòng thương xót lớn hơn; quá khứ có thể đen tối, nhưng ân sủng vẫn có thể viết câu cuối; con người có thể mất tất cả, nhưng nếu còn biết quay về với Đức Kitô, họ chưa mất điều quan trọng nhất. Một người trộm chỉ còn vài giờ sống đã xin một lời nhớ đến và nhận được cả thiên đàng. Vậy thì chúng ta còn chần chừ gì mà không trở về? Đừng chờ mình sạch mới đến với Chúa. Đừng chờ hết yếu đuối mới cầu nguyện. Đừng chờ đời hoàn hảo mới mở lòng. Hãy đến với Người bằng chính sự thật của mình. Hãy mang theo cả những gì xấu hổ nhất. Hãy đặt dưới chân Thập Giá những thất bại, những phản bội, những năm tháng phí hoài, những tội lỗi đã xưng mà vẫn còn ám ảnh, những vết thương đã gây cho người khác và cho chính mình. Và rồi hãy nghe câu nói đã cứu một người trộm vào buổi chiều Canvê: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi.” Bởi cuối cùng, hy vọng của chúng ta không nằm ở chỗ chúng ta đã sống hoàn hảo đến đâu, nhưng ở chỗ Đấng chúng ta gặp trên Thập Giá yêu chúng ta đến tận cùng. Lòng thương xót ấy không làm cho tội lỗi trở thành vô nghĩa; lòng thương xót làm cho tội lỗi không còn quyền nói tiếng cuối cùng. Tiếng cuối cùng thuộc về Đức Kitô. Và tiếng cuối cùng của Đức Kitô dành cho người biết quay về không phải là lời kết án, nhưng là lời mở cửa: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”
Lm. Anmai, CSsR

CHỈ MỘT LỜI QUAY VỀ CŨNG ĐỦ ĐỂ MỞ CỬA THIÊN ĐÀNG
Tin Mừng: Lc 23,39-43
Có lẽ không nơi nào trong Tin Mừng cho ta thấy lòng thương xót của Thiên Chúa gần gũi, bất ngờ và làm người ta rưng rưng đến như trên đồi Canvê, trong cuộc đối thoại rất ngắn giữa Đức Giêsu chịu đóng đinh và một người tử tội đang hấp hối bên cạnh Người. Không có một bài giảng dài. Không có một nghi thức long trọng. Không có một đời sống đạo đức được kể lại. Không có thời gian để người ấy sửa chữa quá khứ. Không còn những năm tháng phía trước để anh chuộc lại lỗi lầm. Không còn cơ hội xuống khỏi thập giá mà làm lại cuộc đời. Anh chỉ còn vài hơi thở, một thân xác rách nát, một quá khứ không thể thay đổi và một lời rất nhỏ thốt lên giữa những tiếng chế nhạo, giữa mùi máu, mồ hôi, bụi đất và cái chết đang đến gần: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Chỉ thế thôi. Một lời quay về. Một lời xin được nhớ đến. Một lời có lẽ yếu ớt đến nỗi chẳng ai dưới chân thập giá để ý, nhưng lại đủ để làm mở tung cánh cửa mà cả một đời tội lỗi tưởng như đã đóng lại. Và câu trả lời của Đức Giêsu còn gây sửng sốt hơn: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Không phải ngày mai. Không phải sau một thời gian dài chờ đợi. Không phải “để xem anh có xứng đáng không”. Nhưng là “hôm nay”. Không phải một chỗ ở xa Người. Nhưng là “ở với tôi”. Đó là lòng thương xót. Đó là Tin Mừng. Đó là lý do người tội lỗi vẫn còn có thể hy vọng ngay cả khi mọi sự nơi mình dường như đã quá muộn.
Chúng ta thường nghĩ đường về với Chúa phải bắt đầu bằng một điều gì lớn lao. Phải khóc thật nhiều. Phải cảm thấy lòng mình sốt sắng. Phải làm được nhiều việc đền tội. Phải trở thành người tốt rồi mới dám đến gần Chúa. Chính lối nghĩ ấy nhiều khi làm cho người tội lỗi càng xa Chúa hơn. Có những người đã xa bí tích Hòa Giải nhiều năm chỉ vì một ý nghĩ rất đơn giản mà rất nguy hiểm: “Mình tệ quá rồi.” Có người muốn trở về nhưng cứ đợi đến lúc mình khá hơn. Có người nói: “Khi nào bỏ được tội này con mới đi xưng tội.” Có người tự nhủ: “Chúa chắc cũng chán con rồi.” Có người mang một lỗi lầm cũ mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm và nghĩ rằng cái quá khứ ấy đã trở thành tên của mình. Tội lỗi không còn chỉ là điều họ đã làm, nhưng trở thành điều họ nghĩ mình là. Họ tự kết án mình trước khi để Chúa xét xử. Họ đóng cửa trước khi gõ cửa lòng thương xót. Họ tưởng rằng muốn đến với Chúa thì phải sạch rồi mới đến, trong khi chính vì chưa sạch nên mới cần đến Người. Người trộm lành không đợi mình trở nên tốt rồi mới thưa với Chúa. Anh cũng chẳng còn thời gian để chứng minh rằng mình sẽ thay đổi. Anh chỉ làm được một việc: quay mặt về phía Đức Giêsu. Và có lẽ đó là điều căn bản nhất của sám hối: quay về. Không phải quay về với cảm giác đạo đức của mình. Không phải quay về với quá khứ để tự hành hạ. Nhưng quay về với một Con Người đang ở rất gần ta, một Con Người cũng đang mang vết thương, một Con Người đã chịu đóng đinh chính vì ta, một Con Người không hỏi trước hết: “Anh đã làm gì?” nhưng mở cho ta một tương lai bằng lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi.”
Điều lạ lùng là người trộm ấy nhìn thấy điều mà rất nhiều người dưới chân thập giá không nhìn thấy. Các thủ lãnh chế nhạo Chúa. Lính tráng chế nhạo Chúa. Người ta nhìn một kẻ thất bại. Người ta nhìn một người bị treo giữa trời và đất, không còn quyền lực, không còn danh dự, không còn một chút vẻ vang theo mắt thế gian. Vậy mà người tử tội kia lại gọi Người bằng tên: “Ông Giêsu ơi.” Và anh còn tin Người có một Nước. Trong khi mọi dấu chỉ bề ngoài đều nói rằng Đức Giêsu đã thua, anh lại tin rằng Người đang đi vào vương quốc của Người. Đức tin của anh sinh ra giữa lúc chẳng còn gì để dựa vào ngoài chính Chúa. Có khi chúng ta có đầy đủ nhà thờ, kinh sách, giáo lý, bí tích, những năm tháng sống đạo, vậy mà vẫn chưa thật sự đặt vận mạng đời mình vào tay Chúa. Còn anh, một người nằm bên bờ cái chết, chỉ thấy một Đấng chịu đóng đinh bên cạnh mà đã dám trao cả đời sau của mình cho Đấng ấy. Anh không xin được xuống khỏi thập giá. Anh không xin kéo dài mạng sống. Anh không xin làm lại cuộc đời này. Anh chỉ xin: “Xin nhớ đến tôi.” Một lời nhỏ bé vô cùng. Nhưng lòng thương xót của Chúa thì không bao giờ nhỏ bé. Con người chỉ xin được nhớ đến, Thiên Chúa lại trao cả Thiên Đàng.
“Xin nhớ đến tôi.” Có lẽ đó là một trong những lời cầu đẹp nhất cho người tội lỗi. Khi ta không còn biết cầu gì, hãy nói như thế. Khi ta thấy đời mình đầy những trang đáng xấu hổ, hãy nói như thế. Khi ta không còn sức để biện minh cho mình, hãy nói như thế. Khi người đời đã quên ta, khi chính ta muốn quên mình, khi ta nghĩ mình chẳng còn xứng đáng được ai nhớ đến, hãy nhìn lên Chúa và thưa: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Chúa nhớ không giống con người nhớ. Con người nhớ lỗi của nhau rất lâu. Có người quên mười điều tốt nhưng nhớ một điều xấu suốt đời. Có người tha ngoài miệng nhưng trong lòng vẫn cất giữ hồ sơ cũ. Có người mỗi lần giận lại mở kho quá khứ, đem những lỗi lầm đã hai mươi năm ra kết tội nhau. Còn Thiên Chúa, khi tha, Người không dùng quá khứ để hạ nhục ta. Người không cứu ta rồi bắt ta sống cả đời trong mặc cảm của kẻ được ân xá. Người phục hồi phẩm giá. Người gọi ta trở về. Người mở tương lai. Người trộm lành chết như một người bị xã hội kết án, nhưng lại bước vào Thiên Đàng như một người được Đức Kitô đích thân đón nhận.
Mùa sám hối, vì thế, không phải là mùa của sự u tối và tự lên án. Sám hối không phải ngồi đó đếm tội của mình rồi tuyệt vọng. Sám hối Kitô giáo bao giờ cũng có một khuôn mặt để nhìn: khuôn mặt Đức Kitô. Nếu chỉ nhìn mình, ta dễ thất vọng. Nếu chỉ nhìn tội mình, ta dễ sợ hãi. Nếu chỉ nhìn quá khứ, ta dễ nghĩ mọi sự đã hết. Nhưng nếu nhìn Chúa chịu đóng đinh, ta sẽ hiểu có một Tình Yêu lớn hơn tội lỗi của ta. Thập giá không nói rằng tội nhẹ đâu. Trái lại, nhìn thập giá ta mới hiểu tội nghiêm trọng đến mức nào, bởi Con Thiên Chúa đã phải mang nó trên thân mình. Nhưng chính thập giá cũng nói điều còn lớn hơn: tình yêu của Thiên Chúa nghiêm túc với ta đến mức Người sẵn sàng đi vào tận cùng bóng tối để tìm ta về. Một Kitô hữu không được phép coi thường tội lỗi, nhưng cũng không được phép coi tội lỗi lớn hơn lòng thương xót. Cả hai thái độ đều sai. Một bên biến lòng thương xót thành sự dễ dãi; một bên biến công lý thành tuyệt vọng. Thập giá giữ ta ở giữa: tội thật sự là tội, nhưng lòng thương xót thật sự lớn hơn tội.
Có một chi tiết rất đáng suy nghĩ: người trộm lành không phủ nhận tội mình. Anh không nói mình bị oan. Anh không đổ lỗi cho hoàn cảnh, xã hội, gia đình hay người khác. Anh nói với người cùng bị đóng đinh bên kia: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.” Đó là bước đầu tiên của một cuộc trở về thật: thôi biện minh. Con người rất tài biện minh cho mình. Ta phạm lỗi nhưng luôn có một chữ “tại”: tại người kia trước; tại hoàn cảnh; tại con nóng tính; tại con bị tổn thương; tại người ta không hiểu con; tại ai cũng làm thế. Ta xin lỗi nhưng lại nói: “Con xin lỗi, nhưng mà…” Và khi chữ “nhưng” xuất hiện, lời xin lỗi đôi khi đã mất một nửa sự thật. Người trộm lành không nói “nhưng”. Anh nhận mình đã sai. Anh nhìn tội mình trong sự thật. Nhưng điều quý nhất là anh không dừng lại ở sự thật về mình. Anh nhìn sang sự thật về Đức Giêsu: “Ông này đâu có làm điều gì trái.” Nếu chỉ nhận tội mà không nhìn Chúa, người ta có thể tuyệt vọng. Nếu chỉ nói lòng thương xót mà không nhận tội, người ta có thể trở thành hời hợt. Sám hối thật là vừa nói được: “Lỗi tại tôi”, vừa dám nói: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.”
Bí tích Hòa Giải cũng mang chiều sâu ấy. Ta vào tòa giải tội không phải để báo cáo cho linh mục một danh sách thất bại. Ta vào đó để gặp Đấng đã nói với người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi.” Linh mục ngồi đó không phải để thay Thiên Chúa làm quan tòa lạnh lùng, nhưng để trở thành dấu chỉ rằng lòng thương xót có tiếng nói, có bàn tay, có lời tha thứ cụ thể. Đáng buồn là nhiều người sợ tòa giải tội hơn sợ tội. Họ sợ phải nói. Sợ xấu hổ. Sợ bị đánh giá. Trong khi họ lại không sợ sống nhiều năm với một tâm hồn nặng nề. Có khi ta giữ kín một vết thương đến mức nó trở thành một phần của đời mình, và ta tưởng không ai có thể hiểu. Nhưng chính trong bí tích Hòa Giải, Chúa không hỏi ta để làm ta xấu hổ; Người mời ta gọi đúng tên điều đang trói ta để rồi tháo nó ra. Người trộm lành chẳng có gì đẹp để trình với Chúa. Và có lẽ chính đó là hy vọng của chúng ta: ta không cần đem đến cho Chúa một hồ sơ đẹp. Ta chỉ cần đem một trái tim thật.
Một lời quay về có thể ngắn, nhưng để nói được lời ấy đôi khi là cả một cuộc chiến. Có những người mất nhiều năm mới có thể nói “con sai rồi”. Có người dễ quỳ trước Chúa nhưng rất khó xin lỗi người thân. Có người đọc được hàng trăm kinh nhưng không nói được một câu hòa giải. Có người làm việc đạo đức nhiều nhưng vẫn giữ một mối hận rất sâu. Có người xưng tội đều mà vẫn không chịu buông một lỗi lầm của người khác. Bởi thế, sám hối không chỉ là đến tòa giải tội; nó còn phải đi vào cách ta sống với nhau. Nếu Chúa đã không đóng cửa trước ta, ta lấy quyền gì đóng cửa mãi trước anh em? Nếu một lời “xin nhớ đến tôi” của một tội nhân đủ để được Chúa đón nhận, thì tại sao một lời “tôi xin lỗi”, “tha cho tôi”, “mình làm hòa nhé” lại không thể mở lại một cánh cửa trong gia đình? Nhiều mái nhà lạnh đi không phải vì hết yêu, nhưng vì không ai chịu nói trước. Hai người đều chờ nhau. Cha chờ con. Con chờ cha. Vợ chờ chồng. Chồng chờ vợ. Anh em chờ nhau. Ai cũng có lý của mình. Và trong khi chờ người kia xuống nước, tình thân cứ khô dần. Có khi Thiên Đàng của một gia đình chỉ thiếu một lời quay về.
Người trộm lành còn dạy chúng ta một điều quan trọng: đừng bao giờ tuyên án một con người khi họ còn đang sống. Ta không biết ân sủng sẽ gặp họ ở giờ nào. Người mà ta nghĩ hết thuốc chữa có thể quay về ở phút cuối. Người đã sống một đời xa Chúa có thể có một lời cuối làm rung động lòng Chúa. Điều đó không phải để ta trì hoãn sám hối, nhưng để ta không tuyệt vọng về bất cứ ai. Có những bà mẹ cầu nguyện cho con mấy chục năm. Có những người vợ cầu cho chồng cả một đời. Có những cha mẹ nhìn con rời xa đức tin mà đau đến quặn lòng. Có linh mục nhìn một người đã bao năm không xưng tội, không dự lễ, sống bất cần và nghĩ không biết bao giờ họ trở lại. Tin Mừng hôm nay bảo ta: đừng ngừng cầu nguyện. Khi con người còn thở, lòng thương xót của Chúa còn gõ cửa. Và ngay cả lúc họ không còn có thể nói thành lời, ta cũng không biết những gì đang diễn ra trong đáy sâu tâm hồn họ giữa họ và Thiên Chúa. Người trộm lành đã ở rất sát giờ chết mới quay về. Hội Thánh không kể câu chuyện ấy để khuyến khích ta chờ đến phút cuối, nhưng để nói rằng ngay cả phút cuối vẫn chưa nằm ngoài tầm tay của lòng thương xót.
Tuy nhiên, đừng lợi dụng lòng thương xót. Có người nghe chuyện người trộm lành rồi nghĩ: “Sau này già con sẽ ăn năn.” Nhưng ai bảo ta sẽ có một giờ phút tỉnh táo như anh? Ai bảo ta còn đủ thời gian để nói một lời? Và quan trọng hơn, tại sao phải sống xa một Tình Yêu mà ta có thể sống trong đó ngay hôm nay? Thiên Đàng không chỉ bắt đầu sau cái chết. Thiên Đàng bắt đầu khi ta “ở với Chúa”. Đức Giêsu nói: “Anh sẽ được ở với tôi.” Cốt lõi của Thiên Đàng không phải trước hết là vàng bạc, mây trắng hay những hình ảnh dễ thương ta thường tưởng tượng. Thiên Đàng là ở với Người. Bởi vậy, mỗi lần ta quay về với Chúa, một chút Thiên Đàng đã bắt đầu trong lòng. Mỗi lần ta xưng tội thật lòng, một cánh cửa mở ra. Mỗi lần ta tha thứ, một phần hỏa ngục của hận thù tắt đi. Mỗi lần ta bước ra khỏi kiêu ngạo để làm hòa, Thiên Đàng chạm xuống căn nhà ta đang sống.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đang cần nghe câu này: Chưa quá muộn. Chưa quá muộn để làm lại. Chưa quá muộn để trở về. Chưa quá muộn để xưng một tội đã giấu nhiều năm. Chưa quá muộn để xin lỗi cha mẹ. Chưa quá muộn để gọi điện cho một người thân đã lâu không nói chuyện. Chưa quá muộn để bỏ một mối quan hệ sai. Chưa quá muộn để cắt đi một thói quen tội lỗi. Chưa quá muộn để cầu nguyện lại. Chưa quá muộn để bước vào nhà thờ sau nhiều năm xa cách. Chưa quá muộn để nói với Chúa: “Con mệt rồi. Con đi đủ xa rồi. Xin cho con về.” Có thể người đời đã đóng hồ sơ của ta. Có thể chính ta cũng đã đóng hồ sơ của mình. Nhưng Chúa chưa đóng. Người trộm lành là bằng chứng sống động rằng Thiên Chúa có thể viết một cái kết hoàn toàn khác cho một đời tưởng đã hỏng hết.
Thật ra, toàn bộ Kitô giáo nằm trong một chuyển động rất đơn giản: quay mặt về phía Đức Kitô. Phêrô chìm dưới nước thì kêu: “Lạy Thầy, xin cứu con.” Người thu thuế đứng xa xa đấm ngực: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Đứa con hoang đàng nói: “Con sẽ trỗi dậy và trở về cùng cha.” Bartimêô kêu lên: “Lạy Con vua Đavít, xin thương xót tôi.” Người trộm lành nói: “Xin nhớ đến tôi.” Những lời ấy không dài. Nhưng điều cứu người ta không phải số lượng chữ, mà là hướng của trái tim. Có người đọc rất nhiều kinh nhưng lòng chưa quay về. Có người chỉ nói được một câu mà cả đời đã xoay hướng. Thiên Chúa không đo tiếng khóc bằng lít nước mắt. Người không đo sám hối bằng độ dài lời nói. Người nhìn nơi sâu nhất mà chẳng ai nhìn được: trái tim có thật sự quay về không?
Vì thế, điều đáng sợ nhất không phải là ta đã phạm bao nhiêu tội. Điều đáng sợ hơn là ta không chịu quay về. Giuđa và Phêrô đều đã ngã. Một người bán Thầy, một người chối Thầy. Nhưng Phêrô khóc và để cho Chúa tìm lại. Giuđa khép mình trong tuyệt vọng. Tội có thể làm ta ngã, nhưng tuyệt vọng khiến ta không muốn nắm bàn tay đang chìa ra. Ma quỷ có hai mưu rất cũ: trước khi phạm tội, nó bảo “không sao đâu”; sau khi phạm tội, nó bảo “hết đường rồi”. Cả hai đều là dối trá. Trước tội, ta phải nghiêm túc. Sau tội, ta phải hy vọng. Người môn đệ trưởng thành là người biết sợ tội nhưng không sợ trở về.
Nhìn lên Canvê, ta thấy ba cây thập giá. Một người chết trong tội và khước từ. Một Người chết cho tội nhân. Một người chết nhưng được cứu khỏi tội. Cùng một Đức Giêsu ở giữa. Cùng một khoảng cách. Cùng nghe những lời tương tự. Nhưng thái độ của trái tim khác nhau. Điều đó cho thấy ân sủng không cưỡng ép. Chúa ở rất gần, nhưng ta vẫn có thể đóng lòng. Chúa không quay mặt khỏi người trộm dữ, nhưng người ấy chỉ dùng giây phút cuối cùng để chế nhạo. Còn người trộm lành biến chính thập giá của mình thành nơi gặp gỡ Đấng Cứu Độ. Có những khổ đau khiến người ta cay độc, nhưng cũng chính khổ đau ấy có thể làm người khác mềm lại. Không phải đau khổ tự nó cứu ta. Điều quyết định là ta mang nỗi đau ấy đi đâu. Một người mang nó vào oán hận; một người mang nó đến với Chúa.
Có khi đời ta cũng bị treo trên những cây thập giá không chọn: bệnh tật, mất mát, thất bại, cô đơn, tuổi già, bị hiểu lầm, bị phản bội, gia đình rạn nứt, con cái lạc hướng, công việc đổ vỡ. Trong những giờ ấy, ta có thể nói như người trộm dữ: “Nếu Chúa thật sự thương tôi thì cứu tôi khỏi chuyện này đi.” Hoặc ta có thể nói như người trộm lành: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Một bên muốn Chúa chứng minh tình yêu bằng cách thay đổi hoàn cảnh ngay lập tức. Một bên tin tình yêu Chúa ngay cả khi hoàn cảnh chưa đổi. Đó là đức tin trưởng thành. Người trộm lành không được xuống khỏi thập giá. Anh vẫn phải chết. Nhưng anh không còn chết một mình. Điều kỳ diệu không phải cây thập giá biến mất; điều kỳ diệu là trên cây thập giá ấy, anh tìm được Chúa và một tương lai mà cái chết không cướp được.
Có những người đi xưng tội nhưng vẫn không tha thứ cho chính mình. Chúa đã tha, linh mục đã đọc lời xá giải, nhưng họ cứ quay lại tự hành hạ bằng quá khứ. Ta cần hiểu rằng ăn năn khác với mặc cảm. Ăn năn dẫn ta đến Chúa. Mặc cảm nhốt ta trong chính mình. Ăn năn nói: “Con đã sai và con cần Chúa.” Mặc cảm nói: “Con hỏng rồi, chẳng còn gì tốt.” Một bên mở cửa; một bên đóng cửa. Chúa muốn ta nhớ tội đủ để khiêm nhường, nhưng không muốn ta sống suốt đời dưới cái bóng của điều Người đã tha. Nếu người trộm lành đã được Chúa nói “hôm nay anh sẽ ở với tôi”, anh không cần tranh luận với Chúa rằng: “Nhưng con xấu lắm, con không xứng.” Dĩ nhiên anh không xứng. Chính vì không xứng mà điều ấy gọi là lòng thương xót.
Lòng thương xót không phải phần thưởng cho người xứng đáng. Nếu xứng đáng thì gọi là tiền công. Lòng thương xót là quà cho người biết mình cần được cứu. Đây chính là scandal đẹp đẽ của Tin Mừng: một người cả đời có thể chẳng làm được gì đáng kể, nhưng ở phút cuối mở lòng ra và được cứu. Còn một người sống đạo lâu năm lại có thể đứng ngoài niềm vui nếu lòng họ cứng lại trong tự mãn. Điều ấy không làm cho công việc tốt trở thành vô nghĩa. Nhưng nó nhắc ta rằng không ai mua được Thiên Đàng bằng công trạng. Ta được cứu nhờ ân sủng, rồi chính ân sủng ấy làm ta sinh hoa trái tốt lành.
Bởi thế, mỗi lần bước vào tòa giải tội, hãy đi như người trộm lành: không biện minh, không đóng kịch, không giấu giếm, không tuyệt vọng. Chỉ cần nói sự thật. “Con đã làm điều này.” “Con đã xa Chúa.” “Con đã làm người khác đau.” “Con đã sống hai mặt.” “Con đã giữ hận.” “Con đã không trung thành.” “Con yếu đuối.” Và rồi thêm một câu rất đơn sơ: “Xin Chúa nhớ đến con.” Có thể ta ra khỏi tòa giải tội mà hoàn cảnh chưa thay đổi. Các món nợ vẫn còn. Những hậu quả vẫn cần sửa. Những vết thương ta gây ra vẫn cần thời gian để lành. Nhưng một điều đã thay đổi tận gốc: ta không còn đứng ngoài cửa nữa. Ta đã trở về.
Chúng ta cũng cần học lòng thương xót của Đức Giêsu trong cách nhìn người khác. Có những người bị ta dán nhãn: đứa hư, kẻ nghiện, người ngoại tình, người vô đạo, người phản bội, người thất bại. Một khi dán nhãn, ta không còn nhìn họ như một con người có thể đổi nữa. Nhưng Chúa nhìn tên tử tội bên cạnh và thấy một người con có thể được cứu. Có lẽ mục vụ của Hội Thánh sẽ đẹp biết bao nếu mỗi người đến với Hội Thánh, dù quá khứ thế nào, vẫn cảm nhận được rằng họ có thể trở về. Nhà thờ không phải viện bảo tàng của người hoàn hảo. Nhà thờ là ngôi nhà của những người biết mình cần ơn cứu độ. Tòa giải tội không phải phòng tra khảo. Đó là nơi một tội nhân có thể nghe bằng tai điều người trộm lành đã nghe bằng tim: “Hôm nay, con lại được ở với Ta.”
Và cuối cùng, khi giờ chết của mỗi người đến, chúng ta sẽ không mang theo được gì ngoài sự thật về mối tương quan của mình với Chúa. Danh vọng để lại. Tài sản để lại. Chức vụ để lại. Người khen kẻ chê rồi cũng ở lại phía sau. Trong giờ cuối, có lẽ lời cầu cần nhất vẫn là lời của người trộm lành: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.” Hạnh phúc biết bao nếu ta đã tập nói lời ấy cả đời để lúc cuối đời nó trở thành hơi thở tự nhiên của linh hồn. Và còn hạnh phúc hơn nữa nếu ngay hôm nay ta nghe Chúa nói với mình: “Con đừng sợ. Hãy trở về. Cửa vẫn mở.”
Chỉ một lời quay về cũng đủ để mở cửa Thiên Đàng, không phải vì lời ấy có sức mạnh ma thuật, nhưng vì phía bên kia cánh cửa là một Thiên Chúa đã chờ sẵn. Người đã mở tay trên thập giá từ trước khi ta kêu xin. Người đã đổ máu trước khi ta biết mình cần được rửa sạch. Người đã yêu ta trước khi ta biết yêu Người. Điều còn thiếu chỉ là ta quay về. Đừng đợi ngày mai. Đừng đợi lòng mình tốt hơn. Đừng đợi hết xấu hổ. Đừng đợi một dấu lạ. Đừng đợi đến khi không còn gì để mất. Hôm nay, nếu nghe tiếng Người, đừng cứng lòng. Hãy nói câu rất nhỏ ấy: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.” Và hãy tin rằng lòng thương xót của Người bao giờ cũng lớn hơn điều ta đã làm, lớn hơn điều người khác nghĩ về ta, lớn hơn cả bản án mà chính ta đã âm thầm tuyên trên đời mình.
Bởi vì trên Canvê năm ấy, một người chỉ xin được nhớ đến, nhưng lại được cả Thiên Đàng. Và Tin Mừng ấy vẫn còn nguyên cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NIỀM HY VỌNG CỦA NHỮNG CUỘC ĐỜI MUỘN MÀNG
Tin Mừng: Lc 23,40-43
Có những người nhìn lại đời mình và chợt thấy một nỗi buồn rất khó gọi tên. Không hẳn vì họ đã không có gì, cũng không hẳn vì cuộc đời chỉ toàn bất hạnh, nhưng bởi khi thời gian đã đi qua quá nửa, có khi gần hết một đời, họ mới nhận ra mình đã sống quá nhiều năm mà lòng vẫn xa Chúa, đã đi quá nhiều con đường mà chẳng biết con đường nào đưa mình về, đã tiêu hao quá nhiều tình nghĩa, đánh mất quá nhiều cơ hội, làm đau quá nhiều người, bỏ lỡ quá nhiều điều tốt đẹp. Có người đến một tuổi nào đó mới hiểu thế nào là gia đình, nhưng khi hiểu thì cha mẹ đã già, có người đã mất. Có người đến khi tóc bạc mới biết quý một người bạn đời, nhưng vết thương trong gia đình đã chồng chất qua mấy chục năm. Có người cả tuổi trẻ chạy theo tiền bạc, danh vọng, quyền lực, đến lúc sức khỏe xuống dốc mới hỏi mình đã kiếm được nhiều thứ nhưng có giữ được linh hồn không. Có người sống xa Bí tích Hòa Giải hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, đến một ngày nào đó bỗng thấy lòng mình trống trải và muốn trở về, nhưng lại sợ: “Bây giờ còn kịp không?” Có người mang trong lòng một quá khứ quá nặng, đến nỗi chính họ cũng không tin rằng Thiên Chúa còn muốn nhìn đến mình. Và cũng có những người không phạm những điều mà người đời gọi là quá ghê gớm, nhưng đã sống một đời nguội lạnh, một đời chỉ lo cho mình, một đời chưa bao giờ yêu Chúa cho ra yêu, chưa bao giờ sống tử tế cho trọn vẹn, rồi một ngày nhìn lại thấy tuổi đời đã muộn màng. Tin Mừng hôm nay được viết cho những con người như thế. Không phải cho những người tưởng mình hoàn hảo. Không phải cho những người nghĩ mình chẳng cần được cứu. Nhưng cho những người đang đứng bên bờ của một đời người và tự hỏi: “Liệu tôi còn có thể bắt đầu lại không?” Câu trả lời từ Thập Giá là: còn. Bao lâu trái tim còn có thể quay về với Chúa, bấy lâu chưa bao giờ là quá muộn.
Trên đồi Canvê hôm ấy có ba cây thập giá. Ở giữa là Đức Giêsu. Hai bên là hai người tử tội. Họ không còn ngày mai để sửa sai. Họ không còn cơ hội xuống khỏi thập giá để sống một cuộc đời mới, làm lại những gì đã hỏng, bù đắp những gì đã mất. Họ không còn thời gian để đi hành hương, ăn chay nhiều ngày, làm những công việc lớn lao hay xây dựng lại tiếng tốt cho đời mình. Đời họ xét theo mắt người đời đã kết thúc. Bản án đã được thi hành. Quá khứ không thể sửa lại. Những lỗi lầm đã xảy ra rồi. Những hậu quả có lẽ đã để lại trong đời nhiều người. Cả hai đều ở một tình thế xem ra chẳng còn gì để hy vọng. Nhưng chính ở nơi tưởng như mọi cánh cửa đều đóng lại ấy, một cánh cửa lớn nhất lại mở ra: cánh cửa lòng thương xót của Thiên Chúa. Một người trộm vẫn tiếp tục chế nhạo Chúa. Người kia bỗng nhìn Đức Giêsu bằng một cái nhìn khác. Anh không thấy một kẻ thất bại. Không thấy một người đáng khinh. Không nhìn theo đám đông đang nhục mạ. Trong một khoảnh khắc ân sủng rất lạ lùng, anh nhận ra bên cạnh mình là một Người vô tội. Anh nói với người đồng phạm: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm; còn ông này đâu có làm điều gì trái.” Rồi anh quay sang Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Một lời thôi. Một lời rất ngắn. Không có bài diễn văn dài. Không có lời biện hộ. Không có cách đổ lỗi. Anh không nói rằng hoàn cảnh xô đẩy tôi, người khác làm tôi nên thế, xã hội bất công với tôi, tôi cũng có những lý do của mình. Anh chỉ nhận sự thật về đời mình, rồi trao chính sự thật ấy vào lòng thương xót của Chúa. Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Chúng ta đọc câu ấy nhiều lần đến mức có thể quen tai, nhưng nếu dừng lại thật lâu, ta sẽ thấy đây là một trong những câu gây choáng ngợp nhất của Tin Mừng. Một người đã đi gần hết đời trong sai lạc, đến giờ cuối mới quay lại, vậy mà Chúa không bảo: “Trễ rồi.” Chúa không nhắc lại quá khứ của anh. Chúa không hỏi: “Sao bây giờ mới nhớ đến Ta?” Chúa cũng không nói: “Anh phải chứng minh thêm.” Không. Chúa nói: “Hôm nay.” Không phải mai. Không phải sau một thời gian dài chờ đợi. Hôm nay. Giờ cuối cùng của một đời người trở thành giờ đầu tiên của thiên đàng.
Chúng ta thường nghĩ về Thiên Chúa theo cách của con người. Con người dễ nói: “Muộn rồi.” Thiên Chúa lại nói: “Hôm nay.” Con người nói: “Hết cơ hội rồi.” Thiên Chúa nói: “Nếu con trở về, cửa vẫn mở.” Con người nhìn quá khứ. Thiên Chúa nhìn trái tim đang quay về. Con người nhớ những thất bại. Thiên Chúa nhìn thấy một cuộc hoán cải vừa bắt đầu. Con người có thể đóng khung một người bằng lỗi lầm của họ: “Nó là loại người như thế rồi, không thay đổi được đâu.” Nhưng Thiên Chúa không đóng khung ai trong quá khứ. Đó là niềm hy vọng lớn lao của Tin Mừng. Bởi nếu Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta bằng cách chúng ta đối xử với nhau, có lẽ không ai còn hy vọng. Chúng ta nhớ rất dai lỗi của người khác. Có khi họ đã thay đổi rồi mà chúng ta vẫn nhắc chuyện cũ. Họ đã xin lỗi rồi mà chúng ta vẫn chưa chịu nhìn họ bằng một ánh mắt mới. Họ đã cố làm lại rồi mà chúng ta vẫn nói: “Tôi biết nó mà.” Nhưng Chúa thì khác. Chúa biết quá khứ sâu hơn chúng ta biết, nhưng Ngài không để quá khứ có tiếng nói cuối cùng. Người trộm lành có một quá khứ tội lỗi, nhưng quá khứ ấy không có quyền quyết định vĩnh cửu của anh sau khi anh đặt lòng mình vào Đức Kitô. Đây là điều đẹp đến nghẹn lòng: một giây phút thật sự gặp Chúa có thể đổi hướng cả một đời người. Không phải vì một giây phút ấy làm cho những sai lầm trước kia trở thành đúng, cũng không phải vì ân sủng rẻ tiền, nhưng bởi lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn mọi tội lỗi khi con người thật lòng mở cửa cho Người.
Có lẽ trong chúng ta có người đang đau vì chữ “muộn”. Muộn trong đời sống đức tin. Muộn trong tình nghĩa. Muộn trong bổn phận. Muộn trong ơn gọi. Muộn trong việc làm một người tử tế. Có người tự trách: “Giá mà tôi hiểu Chúa sớm hơn.” Giá mà lúc còn trẻ tôi biết cầu nguyện. Giá mà tôi biết quý cha mẹ khi các ngài còn khỏe. Giá mà tôi bớt nóng nảy với vợ con. Giá mà tôi biết thương chồng mình hơn. Giá mà tôi đừng chạy theo cuộc vui ấy. Giá mà tôi đừng vì một phút tham lam mà đánh mất cả danh dự. Giá mà tôi đừng nghe lời người ta mà phá hỏng gia đình. Giá mà tôi biết tha thứ sớm hơn. Giá mà tôi đừng bỏ lễ, bỏ Chúa, bỏ Bí tích lâu đến thế. Giá mà tôi đã sống khác. Hai chữ “giá mà” có khi trở thành cái gai nằm trong lòng người ta suốt nhiều năm. Nhưng Tin Mừng không cho chúng ta quay lại hôm qua. Tin Mừng cũng không bảo chúng ta sống mãi trong hối tiếc. Tin Mừng trao cho chúng ta một chữ khác: “hôm nay.” Người trộm lành không thể thay đổi ngày hôm qua của mình. Nhưng anh đã dùng thật tốt ngày hôm nay cuối cùng. Và chỉ thế thôi đã đủ để thay đổi vĩnh cửu. Chúa không hỏi ta: “Tại sao con không trở về sớm hơn?” Điều Chúa mong là: “Bây giờ con có muốn trở về không?” Có thể ta không còn hai mươi tuổi. Có thể sức khỏe đã yếu. Có thể nhiều cơ hội đã qua. Có thể một số hậu quả của quá khứ không thể xóa. Nhưng nếu hôm nay còn có thể nói một lời với Chúa, thì hôm nay vẫn là ngày cứu độ.
Có một cám dỗ rất tinh vi khiến nhiều người không trở về: họ nghĩ mình phải trở nên tốt rồi mới đến với Chúa. Họ nói: “Tôi tội lỗi quá, khi nào sửa được thì tôi mới đi xưng tội.” “Tôi sống bê bối quá, tôi ngại vào nhà thờ.” “Tôi bỏ Chúa mấy chục năm rồi, bây giờ quay lại thấy kỳ quá.” Nhưng nếu người bệnh phải khỏe rồi mới đi tìm thầy thuốc thì thầy thuốc để làm gì? Nếu người tội lỗi phải trở nên thánh thiện rồi mới được đến với Chúa thì Thập Giá để làm gì? Người trộm lành không trở thành một người hoàn hảo rồi mới nói với Chúa. Anh đến với Chúa trong đúng hoàn cảnh tồi tệ nhất của đời mình: bị đóng đinh, bị kết án, không còn gì để khoe, chẳng còn gì để chứng minh. Chính lúc ấy anh mới thốt lên: “Xin nhớ đến tôi.” Và như thế là đủ. Chúa không đòi ta mang một lý lịch đẹp đến dưới chân Thập Giá. Chúa chỉ cần ta mang một trái tim thật. Một trái tim biết mình đã sai. Một trái tim không còn chạy trốn. Một trái tim dám thưa: “Lạy Chúa, con đây.” Có người cứ chờ đến khi cảm thấy xứng đáng mới cầu nguyện. Nhưng chẳng ai xứng đáng với lòng thương xót. Lòng thương xót là quà tặng, không phải phần thưởng. Nếu là phần thưởng thì người trộm lành không thể có thiên đàng. Nếu là phần thưởng thì chúng ta cũng chẳng ai có thể hy vọng. Chính vì là ân sủng nên những cuộc đời muộn màng vẫn có cửa.
Thập Giá của Đức Kitô vì thế là nơi những kẻ thất bại có thể ngẩng đầu lên. Thế gian thường yêu người thành công. Người ta thích những câu chuyện đi lên, thích những nhân vật thắng cuộc, thích người trẻ tài năng, thích những cuộc đời không vết nhơ. Nhưng trên Canvê, Đức Giêsu lại quay sang một tử tội và trao thiên đàng cho anh. Điều đó cho thấy tiêu chuẩn của Thiên Chúa khác chúng ta biết bao. Chúa không chỉ là Thiên Chúa của những người bắt đầu tốt. Người còn là Thiên Chúa của những người kết thúc tốt. Có người đã sống rất đẹp từ thuở nhỏ, đó là một ân phúc. Nhưng có người phải đi một vòng rất xa mới tìm được đường về, và khi họ thật sự trở về, Thiên Chúa vẫn vui mừng đón nhận. Chúng ta nhớ dụ ngôn những người thợ làm vườn nho: có người được gọi từ sáng sớm, có người mãi đến giờ thứ mười một mới được gọi. Người vào vườn từ giờ cuối vẫn được ông chủ đón nhận. Không phải để khuyến khích ta trì hoãn việc trở về, nhưng để nói rằng Thiên Chúa không bỏ ai chỉ vì họ đến muộn. Đáng sợ không phải là đến muộn. Đáng sợ là không chịu đến. Người trộm lành được cứu ở phút cuối, nhưng ta đừng vì thế mà nói: “Vậy cứ sống thế nào cũng được, cuối đời ăn năn là xong.” Không ai biết phút cuối của mình có còn tỉnh táo để nói lời ấy không. Không ai biết trái tim mình sau nhiều năm chai cứng còn muốn quay về không. Không ai được quyền thử lòng thương xót của Chúa. Câu chuyện người trộm lành không phải giấy phép để trì hoãn, nhưng là tiếng chuông hy vọng cho những ai đã lỡ trì hoãn quá lâu.
Có một điều rất đẹp trong lời cầu của người trộm lành: “Xin nhớ đến tôi.” Anh không xin xuống khỏi thập giá. Không xin thêm vài năm sống. Không xin phục hồi danh dự. Không xin cho người đời biết anh đã thay đổi. Anh chỉ xin được Chúa nhớ. Lạ thật, đến cuối cùng con người ta mới hiểu điều gì quan trọng. Có những thứ ta chạy cả đời để có, nhưng đến giờ chết lại chẳng mang theo được. Tiền bạc nằm lại. Nhà cửa nằm lại. Danh tiếng rồi cũng phai. Người ta có thể nhắc tên mình một thời gian rồi quên. Những cuộc tranh hơn thua rồi cũng chẳng còn nghĩa gì. Nhưng nếu được Chúa nhớ đến, thế là đủ. “Xin nhớ đến con.” Có lẽ đây cũng phải là lời cầu của chúng ta mỗi ngày. Lạy Chúa, khi mọi người quên con, xin Chúa nhớ đến con. Khi con không còn gì đáng tự hào, xin Chúa nhớ đến con. Khi con già yếu, người đời thấy con vô dụng, xin Chúa nhớ đến con. Khi con phạm tội và xấu hổ với chính mình, xin đừng để con chạy xa Chúa; xin Chúa nhớ đến con. Khi giờ chết đến, con không cần ai tung hô, chỉ xin Chúa nhớ đến con. Và thật kỳ diệu, Chúa không chỉ nói: “Ta sẽ nhớ đến anh.” Chúa nói hơn thế: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi.” Thiên đàng không chỉ là một nơi. Thiên đàng trước hết là ở với Chúa. Người trộm đã mất mọi thứ, nhưng được ở với Chúa. Và người có Chúa thì không còn là người mất tất cả.
Đức Kitô chịu đóng đinh chính là niềm hy vọng của những cuộc đời muộn màng bởi Người cũng đang ở trong giờ cuối của đời trần thế khi cứu người trộm. Tay Người bị đóng đinh, nhưng lòng thương xót không bị đóng đinh. Chân Người không thể bước xuống, nhưng ân sủng vẫn đi đến được với một linh hồn. Người ta đã lấy áo của Chúa, lấy tự do của Chúa, lấy danh dự của Chúa, sắp lấy cả mạng sống của Chúa, nhưng không ai lấy được nơi Người quyền tha thứ và quyền yêu thương. Thập Giá nhìn bên ngoài là dấu hiệu bất lực, nhưng ở chính nơi ấy, Đức Giêsu mở cửa thiên đàng cho một con người. Đó là quyền năng kỳ diệu nhất: quyền năng cứu một linh hồn ở nơi không ai còn nghĩ có gì để cứu. Chúng ta nhiều lúc nói về một người: “Hết cách rồi.” Chúa thì không. Có đứa con nghiện ngập nhiều năm, cha mẹ tưởng không còn hy vọng. Có một người chồng, một người vợ sống sai lạc quá lâu, gia đình tưởng chẳng thể đổi. Có một người cả đời chống đối đức tin, đến tuổi già mới bắt đầu hỏi về Chúa. Có người bao nhiêu lần ngã đi ngã lại trong một tội quen, đến mức chính họ tuyệt vọng về bản thân. Xin đừng vội đóng cửa. Bao lâu họ còn sống, hãy còn cầu nguyện. Bao lâu họ còn một hơi thở, lòng thương xót vẫn còn có thể chạm đến. Chúng ta không biết giữa Chúa và một linh hồn có thể xảy ra điều gì trong giây phút cuối. Canvê dạy chúng ta đừng bao giờ tuyên án cuối cùng thay Thiên Chúa.
Có những bà mẹ đã cầu cho con mấy chục năm. Con vẫn xa Chúa. Con vẫn lầm đường. Mẹ đã già, nước mắt gần cạn. Có người tự hỏi: “Không biết lời cầu của mình có ích gì không?” Hãy nhìn người trộm lành. Thiên Chúa có thể làm trong một phút điều chúng ta chờ cả một đời. Ân sủng không hoạt động theo đồng hồ của chúng ta. Có những hạt giống được gieo từ khi còn nhỏ nhưng nằm im dưới đất rất lâu. Một lời dạy của mẹ, một lần nhìn thấy cha quỳ cầu nguyện, một bài giáo lý năm nào, một tiếng chuông nhà thờ, một câu Tin Mừng nghe từ thuở bé, tất cả tưởng đã mất, nhưng một ngày nào đó có thể sống lại trong lòng một con người. Có những cuộc trở về xảy ra rất muộn, nhưng không vì muộn mà kém thật. Có khi chính sau những năm tháng lạc đường, người ta mới hiểu sâu thế nào là được tha thứ. Có những người sau khi trở về đã khóc rất nhiều, không phải vì sợ Chúa phạt, mà vì bỗng hiểu ra rằng bao nhiêu năm mình bỏ Chúa mà Chúa chưa bao giờ bỏ mình. Điều đau nhất của người trở về không phải là nhìn thấy tội mình lớn bao nhiêu, nhưng là nhận ra tình yêu của Chúa lớn hơn tội mình đến chừng nào.
Và cũng có lúc chúng ta cần học cách hy vọng cho chính mình. Có người dễ tin Chúa tha cho người khác nhưng không tin Chúa tha cho mình. Họ mang một thứ kiêu ngạo rất buồn: tội của tôi lớn đến mức ngay cả Thiên Chúa cũng khó tha. Nhưng nghĩ như thế vô tình làm tội mình lớn hơn lòng thương xót của Chúa. Không. Thập Giá mạnh hơn tội lỗi. Máu Đức Kitô mạnh hơn quá khứ của ta. Người trộm lành là chứng nhân rằng không một quá khứ nào lớn hơn một phút giây chân thành đặt trọn đời mình vào tay Chúa. Điều này không làm nhẹ tội lỗi. Trái lại, người trộm lành nhận rất rõ: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng.” Anh không biện minh. Hoán cải thật luôn bắt đầu bằng việc gọi đúng tên sự thật. Nhưng sau khi nhận lỗi, anh không ở lại trong tuyệt vọng. Anh quay sang Chúa. Đó là khác biệt giữa sự hối hận của Giuđa và lòng sám hối cứu độ. Giuđa thấy lỗi nhưng đóng cửa đời mình trong tuyệt vọng. Người trộm lành thấy lỗi và mở cửa đời mình về phía Đức Giêsu. Tội lỗi muốn nói: “Mày hết rồi.” Đức Kitô nói: “Hôm nay.” Tội lỗi muốn ta nhìn mãi vào bản thân. Đức tin bảo ta nhìn lên Đấng đang chịu đóng đinh bên cạnh.
Có người đã lãng phí tuổi trẻ. Xin đừng lãng phí luôn tuổi già vì tiếc tuổi trẻ. Có người đã lãng phí ba mươi năm. Xin đừng lãng phí ngày hôm nay chỉ để khóc về ba mươi năm ấy. Có người đã làm hỏng nhiều thứ. Có những điều thật sự không sửa lại được, nhưng ta vẫn có thể sống phần đời còn lại trong chân thành và yêu thương. Nếu không còn nhiều năm, hãy sống tốt những năm còn lại. Nếu không còn nhiều tháng, hãy sống đẹp những tháng còn lại. Nếu chỉ còn một ngày, hãy dâng ngày ấy cho Chúa. Và nếu chỉ còn một giờ, hãy dùng giờ ấy để nói: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Chất lượng của một cuộc đời không chỉ được đo bằng thời gian dài hay ngắn, mà còn bằng hướng mà trái tim cuối cùng chọn. Một chiếc thuyền đi sai hướng cả đêm nhưng khi nhìn thấy ngọn hải đăng vẫn có thể quay mũi về bến. Điều quan trọng là còn quay được thì hãy quay. Đừng ngồi trên thuyền than rằng mình đã đi lạc bao nhiêu cây số. Hãy nhìn ánh sáng và trở về.
Đức Kitô chịu đóng đinh cũng dạy chúng ta cách nhìn người khác. Đừng gọi ai là đồ bỏ đi. Đừng nói một người không còn hy vọng. Đừng nhìn một người nghiện ngập, một người tù tội, một người tai tiếng, một người bỏ đạo lâu năm, một người đã làm gia đình mình tan nát rồi nghĩ rằng đời họ đã xong. Chúng ta không biết họ sẽ gặp Chúa lúc nào. Có thể người mà hôm nay ta khinh lại là người ngày mai khóc dưới chân Thập Giá. Có thể người đang sống rất xa Chúa sẽ là người một ngày nào đó yêu Chúa sâu hơn cả ta. Và cũng có thể người tưởng mình đang đứng rất gần Chúa lại chưa bao giờ thật sự cần đến lòng thương xót. Trên Canvê, người được Chúa công khai hứa thiên đàng đầu tiên không phải một kinh sư, không phải một tư tế, không phải một người có hồ sơ đạo đức sáng chói, nhưng là một người tử tội biết sám hối. Điều ấy phải làm chúng ta khiêm nhường rất nhiều. Thiên đàng không phải câu lạc bộ của những người tự thấy mình tốt; thiên đàng là nhà của những người biết mình cần được cứu.
Và nếu hôm nay ai đó đọc những dòng này trong một tâm trạng mỏi mệt, xin hãy nhớ: Chúa chưa chán bạn. Có thể bạn đã chán chính mình. Có thể bạn đã hứa bao nhiêu lần rồi lại ngã. Có thể bạn đã xưng một tội quá nhiều lần đến mức cảm thấy xấu hổ khi trở lại tòa giải tội. Có thể bạn nghĩ cha giải tội cũng sẽ ngán mình. Có thể bạn nói: “Con chẳng thay đổi được.” Nhưng Chúa không gọi bạn trở lại vì bạn đã thay đổi xong. Chúa gọi bạn trở lại để Người bắt đầu thay đổi bạn. Hãy cứ trở về. Ngã nữa thì đứng nữa. Một đứa trẻ tập đi ngã rất nhiều lần, người mẹ không nói: “Mày ngã hoài thì thôi đừng đi nữa.” Người mẹ đưa tay nâng con. Thiên Chúa còn hơn thế. Điều làm Chúa đau không phải là chúng ta yếu, nhưng là chúng ta ngã rồi chạy khỏi vòng tay Người. Đừng để mặc cảm đạo đức giả dạng khiêm nhường. Khiêm nhường thật không nói: “Con quá tệ nên Chúa không cứu nổi.” Khiêm nhường thật nói: “Con không cứu nổi mình, nên con cần Chúa.”
Người trộm lành không có gì để dâng Chúa ngoài một trái tim tan vỡ. Và chính trái tim ấy trở thành lễ vật. Có lẽ cuối đời, nhiều người trong chúng ta cũng sẽ chẳng còn gì. Sức khỏe mất dần. Trí nhớ yếu đi. Tiền bạc không còn ý nghĩa. Danh tiếng chẳng mang theo được. Những người thân rồi cũng phải đứng ngoài cánh cửa sự chết. Chỉ còn một mình ta với Chúa. Ước gì lúc ấy ta không cần nói nhiều. Chỉ một lời thôi cũng được: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.” Và nếu cả miệng lưỡi cũng không còn nói được, thì một ánh mắt hướng về Thập Giá cũng đủ để thành lời cầu. Chúa hiểu những lời không thành tiếng. Chúa hiểu giọt nước mắt cuối cùng. Chúa hiểu một tiếng thở dài. Chúa hiểu sự hối tiếc mà môi không thể nói. Lòng thương xót của Người không cần câu chữ hoàn hảo. Người nhìn tận đáy lòng.
Nhưng đừng chờ đến giờ cuối. Nếu đã nghe được tiếng gọi hôm nay, thì hôm nay chính là giờ đẹp nhất để trở về. Người trộm lành chỉ có phút cuối nên anh dùng phút cuối. Chúng ta còn ngày hôm nay thì hãy dùng ngày hôm nay. Đi xưng tội nếu đã lâu không xưng tội. Gọi cho người cần xin lỗi nếu còn có thể gọi. Tha thứ cho người mình đã giữ trong lòng quá lâu. Về thăm cha mẹ nếu các ngài vẫn còn. Nói một lời yêu thương với người bạn đời thay vì cứ nghĩ rồi mai nói. Bắt đầu cầu nguyện lại. Mở một trang Tin Mừng. Dự lễ với một trái tim mới. Đừng nghĩ phải làm điều gì phi thường. Một bước nhỏ quay về đúng hướng quý hơn ngàn bước đi tiếp trên con đường sai. Có khi việc trở về chỉ bắt đầu bằng năm phút ngồi yên trước Thánh Giá và nói: “Lạy Chúa, con đã đi xa quá lâu. Con mệt rồi. Con muốn về.”
Một ngày nào đó, mỗi người đều sẽ trở thành một “cuộc đời muộn màng”. Không ai mãi trẻ. Không ai có vô tận thời gian. Có một buổi chiều cuối cùng, một bữa cơm cuối cùng, một Thánh lễ cuối cùng, một lời kinh cuối cùng, một lần nhìn người thân cuối cùng. Chúng ta không biết lúc nào. Nhưng điều Tin Mừng hôm nay muốn gieo vào lòng ta không phải sự sợ hãi, mà là hy vọng. Bởi ở cuối con đường không phải là một vực tối vô danh nếu ta bám lấy Đức Kitô. Ở cuối con đường có một Đấng chịu đóng đinh đang đợi ta. Đấng ấy đã từng nói với một tử tội: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi.” Câu ấy đủ để người già hy vọng. Đủ để người tội lỗi hy vọng. Đủ để người đang hấp hối hy vọng. Đủ để người mẹ có con hư hy vọng. Đủ để người linh mục mỏi mệt trong sứ vụ tiếp tục cầu cho đoàn chiên. Đủ để những ai đã đánh mất rất nhiều biết rằng vẫn còn một điều không thể đánh mất nếu họ muốn: tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.
Thật ra, chẳng có cuộc đời nào là hoàn toàn “muộn” trước mặt Thiên Chúa. Chỉ có những cuộc đời chưa chịu mở cửa. Ánh sáng có thể vào phòng chỉ trong một khoảnh khắc khi cửa được mở, dù căn phòng đã tối nhiều năm. Một đời người có thể chìm trong bóng tối rất lâu, nhưng không cần thêm nhiều năm để ánh sáng bắt đầu. Chỉ cần mở cửa. Người trộm lành đã mở cửa lòng mình trong những phút cuối. Và ánh sáng vĩnh cửu tràn vào. Đó là vẻ đẹp khó diễn tả của Kitô giáo: chúng ta không tin vào một Thiên Chúa đứng xa ghi sổ lỗi lầm, nhưng tin vào một Thiên Chúa đã để mình bị đóng đinh giữa những kẻ tội lỗi để không ai có thể nói: “Chúa ở quá xa tôi.” Chúa ở ngay cạnh người trộm. Chúa ở ngay cạnh kẻ bị kết án. Chúa ở ngay cạnh người thất bại. Chúa đặt Thập Giá mình vào nơi thấp nhất của thân phận con người, để dù ai rơi xuống thấp đến đâu vẫn có thể gặp Người.
Vì thế, nếu đời bạn đã có những năm tháng đẹp, hãy tạ ơn. Nếu đời bạn đã có những năm tháng lầm lỡ, hãy sám hối nhưng đừng tuyệt vọng. Nếu bạn đã đi xa, hãy quay về. Nếu bạn đã quay về, đừng ngoái mãi sau lưng. Nếu người thân của bạn chưa về, hãy cầu nguyện và đừng đóng cửa hy vọng. Nếu bạn đang ở những năm cuối đời, đừng nghĩ mình không còn ích gì cho Chúa. Có những năm cuối đời lại là những năm đẹp nhất bởi con người không còn chạy nữa mà biết ở lại. Có những người chỉ thật sự trưởng thành trong đức tin khi tóc đã bạc. Có những lời cầu của tuổi già sâu hơn rất nhiều lời cầu của tuổi trẻ, bởi chúng đã đi qua mất mát, bệnh tật, phản bội, thành công, thất bại và cuối cùng biết rằng chỉ có Chúa là đủ. Có những người về cuối đời mới biết đọc kinh chậm. Mới biết khóc trước Thánh Giá. Mới biết xin lỗi. Mới biết tha thứ. Mới biết quý một Thánh lễ. Mới hiểu rằng đời người rất ngắn. Và Chúa đón lấy tất cả những điều ấy như người cha đón đứa con trở về.
Xin Đức Kitô chịu đóng đinh dạy chúng ta đừng bao giờ thất vọng về một linh hồn, nhất là linh hồn của chính mình. Xin cho những người đã xa Chúa lâu năm có can đảm bước vào nhà thờ một lần nữa. Xin cho những người mang mặc cảm tội lỗi hiểu rằng Thập Giá không được dựng lên để kết án họ, nhưng để cứu họ. Xin cho những người cha người mẹ đang đau khổ vì con cái đừng ngừng cầu nguyện. Xin cho những người tuổi đã cao biết rằng họ vẫn còn có thể bắt đầu một đời sống nội tâm thật đẹp. Xin cho những người đang ở bên giường bệnh, đang biết thời gian của mình không còn nhiều, được nghe trong đáy lòng lời Chúa nói với người trộm lành: “Hôm nay, con sẽ ở với Ta.” Và xin cho mỗi chúng ta đừng đợi đến cuối đời mới học cách yêu Chúa, nhưng cũng đừng bao giờ nghĩ rằng nếu đã đến cuối đời thì Chúa không còn muốn ta nữa.
Cuối cùng, điều đáng sợ nhất không phải là một cuộc đời muộn màng. Điều đáng sợ nhất là một trái tim cố chấp đến phút cuối. Người trộm lành không có nhiều thời gian, nhưng anh có một trái tim biết mở ra. Người trộm kia ở sát Chúa như anh, cũng thấy cùng một Thập Giá, cùng nghe cùng những lời, nhưng vẫn khép lòng. Khoảng cách từ một cây thập giá đến Đức Giêsu chỉ vài bước chân, nhưng khoảng cách của một trái tim khép kín có thể là cả một vực sâu. Bởi vậy điều chúng ta cần xin không phải chỉ là sống lâu, mà là có một trái tim biết trở về. Sống lâu mà xa Chúa thì thời gian cũng chỉ làm sự xa cách dài thêm. Sống một ngày mà thật sự ở với Chúa thì ngày ấy có thể mở vào vĩnh cửu.
Lạy Đức Giêsu chịu đóng đinh, có những đoạn đời chúng con ước gì có thể làm lại, nhưng không thể. Có những lời chúng con ước gì chưa từng nói. Có những người chúng con ước gì đã biết yêu sớm hơn. Có những năm tháng chúng con đã sống quá xa Chúa. Có những cơ hội chúng con đã bỏ qua. Có những tội lỗi vẫn khiến chúng con xấu hổ khi nhớ đến. Nhưng hôm nay, đứng trước Thập Giá, chúng con không muốn chạy nữa. Chúng con không xin Chúa cho chúng con trở lại ngày hôm qua. Chúng con chỉ xin Chúa nhận lấy ngày hôm nay. Xin nhận lấy phần đời còn lại của chúng con, dù dài hay ngắn. Xin làm cho những gì còn lại trở thành một lời đáp trả. Và khi đến giờ cuối cùng, khi chúng con chẳng còn gì để bám víu, xin cho chúng con đủ đơn sơ để thưa như người trộm lành: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.” Chúng con tin rằng Đấng đã không khước từ một người tử tội trong giờ cuối cũng sẽ không khước từ một trái tim thật lòng quay về. Bởi Thập Giá mãi mãi là lời Thiên Chúa nói với nhân loại rằng: không ai quá xa để Người không thể tìm; không ai quá tội lỗi để Người không thể tha; và không cuộc đời nào quá muộn để bắt đầu trở về.
Lm. Anmai, CSsR

KHI KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ BÁM VÍU NGOÀI THẬP GIÁ
Tin Mừng: Lc 23,44-46
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Có những ngày trong đời, người ta còn nhiều thứ để bám víu. Còn sức khỏe thì bám vào sức khỏe. Còn tiền thì bám vào tiền. Còn địa vị thì bám vào địa vị. Còn người thân thì bám vào người thân. Còn khả năng thì bám vào khả năng. Còn một cánh cửa thì hy vọng cánh cửa ấy sẽ mở. Còn một người để gọi thì nghĩ rằng chỉ cần người ấy nghe máy, mọi chuyện rồi sẽ ổn. Còn một chút danh dự thì cố giữ. Còn một chút sức lực thì cố gượng. Còn một chút tính toán thì còn muốn xoay xở. Con người là thế. Chúng ta luôn cần một cái gì đó để nắm, để dựa, để cảm thấy mình chưa rơi. Nhưng rồi có những thời khắc rất lạ, đời sống lần lượt gỡ từng ngón tay ta ra khỏi những chỗ ta từng nắm chặt. Sức khỏe không còn nghe lời mình. Tiền bạc không mua được điều mình cần. Người mình tin không còn ở đó. Danh dự chẳng cứu được mình. Kinh nghiệm không giải quyết nổi. Những lời khuyên nghe đều đúng mà không lời nào chạm đến được vực sâu trong lòng. Cầu nguyện mãi mà trời vẫn im. Gõ mãi mà cửa vẫn đóng. Chờ mãi mà người vẫn không trở về. Có những lúc ta tưởng rằng chỉ cần thêm một chút cố gắng là mọi sự sẽ khác, nhưng rồi đến cuối cùng mới nhận ra có những chuyện không còn nằm trong tay mình nữa. Chính lúc ấy, câu nói cuối cùng của Đức Giêsu trên Thập Giá trở thành lời cho đời ta: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Phó thác là một từ chúng ta nói rất dễ khi mọi chuyện còn đang yên. Khi cơm vẫn đủ ăn, nhà vẫn còn ấm, người thân vẫn khỏe, công việc vẫn chạy, người ta dễ nói: “Con phó thác cho Chúa.” Nhưng lời phó thác chỉ thực sự có trọng lượng khi ta không còn biết ngày mai sẽ thế nào. Phó thác không phải là câu nói đẹp dùng để trang trí đời sống đạo. Phó thác là một hành vi đức tin rất đắt. Nó đắt bởi vì muốn phó thác thật, ta phải buông. Mà con người thì rất sợ buông. Ta muốn Chúa giúp, nhưng vẫn muốn giữ quyền quyết định. Ta muốn Chúa dẫn, nhưng vẫn muốn giữ bản đồ. Ta muốn Chúa lo, nhưng vẫn muốn biết trước kết quả. Ta nói “xin theo ý Chúa”, nhưng trong lòng lại âm thầm thêm một câu không nói ra: “miễn là ý Chúa gần giống ý con.” Ta nói “con trao cho Chúa”, nhưng đêm đến vẫn lôi chuyện ấy về, ôm chặt lấy nó, nghĩ tới nghĩ lui, tưởng tượng đủ thứ kịch bản, sợ đủ thứ điều chưa xảy ra. Phó thác thật khó bởi vì nó chạm vào căn bệnh rất sâu của con người: muốn làm chủ đời mình.
Hãy nhìn Đức Giêsu trong những giây phút cuối cùng trên đồi Canvê. Tin Mừng kể rằng bóng tối bao phủ cả mặt đất. Mặt trời mất ánh sáng. Bức màn trong Đền Thờ xé ra làm đôi. Rồi Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Nói xong, Người tắt thở. Thật lạ lùng. Người đã bị lột mất áo. Mất tự do. Mất danh dự trước mắt người đời. Mất các môn đệ đã chạy trốn. Mất sức lực sau những trận đòn. Mất cả khả năng tự tháo mình khỏi cây gỗ. Hai bàn tay từng chạm vào mắt người mù, từng nâng người bệnh dậy, từng bẻ bánh cho đám đông, giờ bị đóng chặt. Hai bàn chân từng đi khắp làng mạc rao giảng Tin Mừng, giờ không thể bước thêm một bước. Miệng khô khát. Thân thể rách nát. Những người đứng dưới chân Thập Giá phần đông không hiểu Người. Có kẻ chế nhạo. Có người thách thức. Có người lạnh lùng chia áo Người. Mọi sự nơi bên ngoài dường như đang nói một điều: hết rồi. Thế nhưng đúng vào lúc không còn gì để nắm, Đức Giêsu lại làm một hành vi cao cả nhất: Người đặt chính mình vào tay Cha.
Điều đó dạy ta một sự thật rất thấm thía: có khi đức tin trưởng thành nhất không phải là lúc ta làm được những điều lớn lao cho Chúa, nhưng là lúc ta chẳng còn làm được gì ngoài việc để Chúa giữ lấy mình. Có lúc ta nghĩ đời sống thiêng liêng phải là cầu nguyện sốt sắng, phục vụ hăng say, làm việc bác ái, sống những quyết tâm đẹp. Tất cả những điều đó đều quý. Nhưng rồi đời người sẽ có lúc Chúa đưa ta vào một lớp học sâu hơn, nơi ta không còn sức để làm, chỉ còn có thể để mình được mang. Có người sau bao năm mạnh mẽ rồi một ngày nằm trên giường bệnh, không tự đi nổi, không tự ăn nổi, không còn phục vụ được ai như trước, và họ đau không chỉ vì bệnh mà còn vì cảm giác mình trở thành gánh nặng. Có người cả đời lo cho con, đến một ngày phải nhìn con đi con đường mình không thể ngăn. Có người đã dốc hết lòng cho một gia đình rồi cuối cùng vẫn phải đứng trước một đổ vỡ không thể vá bằng riêng đôi tay mình. Có người cầu xin Chúa chữa lành một người thân, nhưng thay vì được chữa, người ấy lại ra đi. Có người làm mọi điều đúng mà vẫn bị hiểu lầm. Có người sống tử tế mà vẫn bị phản bội. Có người đã chạy hết mọi nơi, gặp hết mọi người, tìm hết mọi giải pháp, rồi trở về phòng mình và hiểu rằng không còn gì để làm nữa. Chính nơi ấy, lời của Chúa trên Thập Giá có thể trở thành lời cầu nguyện đẹp nhất: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Phó thác không phải là đầu hàng tuyệt vọng. Đức Giêsu không nói: “Thôi, hết rồi.” Người nói: “Lạy Cha.” Chỉ hai tiếng ấy đã làm thay đổi tất cả. Nếu không có “Lạy Cha”, cái chết chỉ là cái chết. Nếu không có “Lạy Cha”, buông tay chỉ là rơi xuống vực. Nhưng vì có Cha, nên buông không phải là rơi, mà là rơi vào một bàn tay. Đây là điều người tin khác với người tuyệt vọng. Người tuyệt vọng buông vì cho rằng chẳng còn ai đỡ. Người có đức tin buông bởi vì biết có một Đấng đang đỡ. Bên ngoài, cả hai có thể đều không còn phương thế. Nhưng bên trong khác nhau hoàn toàn. Một người nói: “Không còn gì nữa.” Người kia nói: “Con còn Cha.” Một người khép lại trong hư vô. Người kia mở mình ra cho một bàn tay vô hình. Một người bị hoàn cảnh lấy hết. Người kia tự nguyện đặt điều cuối cùng mình còn có vào tay Thiên Chúa: chính mình.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta tin Chúa, nhưng sâu trong lòng lại tin vào những bảo đảm của cuộc đời nhiều hơn. Chúng ta thấy bình an khi tài khoản còn tiền. Bình an khi xét nghiệm tốt. Bình an khi con cái ngoan. Bình an khi người bạn đời còn thương mình. Bình an khi công việc ổn định. Bình an khi người khác nghĩ tốt về mình. Và ta tưởng đó là bình an do đức tin. Chỉ đến khi một trong những điều ấy lung lay, ta mới phát hiện nền nhà của mình thật ra đang đặt ở đâu. Nếu tiền vơi một chút mà lòng ta sụp, có lẽ ta đang bám vào tiền nhiều hơn ta tưởng. Nếu ai đó quay lưng mà ta thấy mình hoàn toàn vô giá trị, có lẽ ta đang bám vào sự công nhận của người khác. Nếu sức khỏe xuống mà ta nghĩ đời mình chẳng còn ý nghĩa, có lẽ ta đã đồng hóa sự sống với khả năng của thân xác. Nếu một dự định không thành mà ta giận Chúa, có lẽ ta vẫn coi chương trình của mình là chuẩn để đo lòng tốt của Thiên Chúa.
Thập Giá làm một việc rất đau nhưng rất cần: nó bóc từng lớp ảo tưởng ra khỏi đời ta. Trên Canvê, Chúa Giêsu không còn vẻ huy hoàng mà người đời có thể dựa vào. Không ngai. Không đội quân. Không tiếng tung hô. Không phép lạ ngoạn mục để cứu mình. Không có một dấu hiệu nào bên ngoài cho thấy mọi sự đang thắng. Và chính trong sự trần trụi ấy, tương quan duy nhất còn lại hiện ra: Con và Cha. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Cuối cùng, điều cứu Người không phải là việc hoàn cảnh thay đổi, nhưng là tình yêu không thay đổi giữa Người với Cha. Đây cũng là điều sẽ giữ chúng ta qua những đêm tối nhất. Không phải lúc nào Chúa cũng đổi hoàn cảnh. Nhưng nếu trong hoàn cảnh ấy ta vẫn có thể gọi “Lạy Cha”, thì ta chưa mất tất cả.
Có những người đau khổ nhất không hẳn vì mất một điều gì, nhưng vì cảm giác mình không còn nơi nào để gửi nỗi đau. Họ sợ làm phiền con cái. Sợ kể với bạn bè rồi bị thương hại. Sợ nói ra trong cộng đoàn rồi trở thành chuyện bàn tán. Sợ đến với linh mục vì không biết bắt đầu từ đâu. Sợ nói với Chúa vì nghĩ mình đã cầu nguyện quá nhiều mà chẳng được gì. Và thế là họ ôm hết vào lòng. Nhưng Tin Mừng hôm nay nói rằng vẫn còn một nơi để gửi chính mình: bàn tay của Cha. Không phải gửi một phần. Không phải chỉ gửi vấn đề. Đức Giêsu nói: “Con xin phó thác hồn con.” Con trao cả con. Đây là mức sâu nhất của cầu nguyện. Ta thường đến với Chúa để trao một nhu cầu: xin Chúa cho con điều này, giải quyết điều kia, chữa người nọ, mở cánh cửa kia. Nhưng có lúc mọi lời cầu xin rút lại chỉ còn một lời: “Con trao con cho Chúa.” Không phải: “Con trao căn bệnh này.” Nhưng: “Con trao con, dù bệnh còn đó.” Không phải: “Con trao đứa con này.” Nhưng: “Con trao cả trái tim người mẹ đang đau vì con.” Không phải: “Con trao công việc này.” Nhưng: “Con trao cả sự bất an, danh dự, tương lai, lòng tự trọng của con.” Đó là phó thác.
Điều khó nhất là chúng ta thường muốn trao gánh nặng nhưng không trao chính mình. Ta muốn Chúa cầm lấy vấn đề, còn ta vẫn giữ quyền kiểm soát kết quả. Ta trao bệnh cho Chúa nhưng bắt Chúa phải chữa theo giờ của ta. Ta trao người con cho Chúa nhưng vẫn muốn Chúa đưa nó về theo con đường ta đã định. Ta trao một mối tương quan cho Chúa nhưng vẫn âm thầm đặt điều kiện rằng người kia phải thay đổi trước. Ta trao tương lai cho Chúa mà đòi Chúa cho xem trước năm năm tới. Phó thác như thế vẫn còn rất nhiều thương lượng. Phó thác của Đức Giêsu thì không. Người không nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con, nếu Cha làm cho họ nhận ra con vô tội.” Người cũng không nói: “Nếu Cha cho con xuống khỏi Thập Giá.” Người không đặt điều kiện. Người trao mình trong chính khoảnh khắc mọi câu trả lời còn bị che khuất.
Đó là đức tin trưởng thành. Đức tin trẻ con thường nói: “Con tin vì Chúa cho con điều con xin.” Đức tin trưởng thành nói: “Con vẫn tin dù Chúa không cho con hiểu.” Đức tin trẻ con vui khi đường mở. Đức tin trưởng thành vẫn nắm tay Chúa khi đường đóng. Đức tin trẻ con dễ cảm thấy Chúa ở gần khi lòng sốt sắng. Đức tin trưởng thành biết Chúa vẫn ở đó ngay cả khi lòng khô khan. Đức tin trẻ con đo tình yêu của Chúa bằng kết quả. Đức tin trưởng thành học nhìn tình yêu của Chúa nơi Thập Giá. Đức tin trẻ con hỏi: “Tại sao Chúa để điều này xảy ra với con?” Đức tin trưởng thành rồi cũng có thể hỏi như thế, cũng có thể khóc, cũng có thể đau, nhưng cuối cùng thêm một câu: “Dù con chưa hiểu, con vẫn xin ở trong tay Cha.”
Phó thác không có nghĩa là con người trở nên vô cảm. Đức Giêsu trên Thập Giá không vô cảm. Người khát. Người đau. Người từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người không giả vờ rằng đau khổ không đau. Đức tin Kitô giáo không dạy ta phải mỉm cười giả tạo trước mọi mất mát. Không ai cần phải nói “con ổn” khi lòng mình đang vỡ. Không ai cần biến nước mắt thành tội lỗi. Không ai phải xấu hổ vì mình sợ. Phó thác không phải là không sợ. Phó thác là đem nỗi sợ đặt vào tay Cha. Không phải là không khóc. Phó thác là khóc trong tay Cha. Không phải là không đau. Phó thác là để nỗi đau không đẩy mình ra khỏi tay Cha. Không phải là hiểu hết. Phó thác là không bỏ Cha chỉ vì chưa hiểu.
Có những đêm, lời cầu nguyện của ta có thể chỉ là: “Lạy Chúa, con mệt.” Có những ngày chỉ thốt được: “Xin Chúa giữ con.” Có những giây phút chẳng còn đọc nổi một kinh dài, chẳng còn tập trung được, chỉ đặt tay lên Thánh Giá và nói: “Con ở đây.” Đừng coi thường những lời cầu nguyện ấy. Có khi đó lại là những lời cầu thật nhất của đời ta. Một người đang ở đỉnh thành công có thể đọc rất nhiều kinh mà lòng vẫn tự dựa vào mình. Một người trên giường bệnh chỉ còn đủ sức thì thầm “Giêsu ơi” có khi đang làm một hành vi đức tin sâu hơn rất nhiều. Thiên Chúa không cân lời cầu nguyện bằng số chữ. Người nhìn vào mức độ trái tim đặt mình trong tay Người.
Thánh Giá quý chính vì thế. Thập Giá không chỉ là vật treo trong nhà hay trên cổ. Thập Giá là nơi ta học buông đời mình. Ta thường hôn Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng có lẽ những Thứ Sáu Tuần Thánh thật của đời người là những ngày ta bị buộc phải hôn lấy một điều mình không chọn: một chẩn đoán xấu, một thất bại, một người ra đi, một sự phản bội, một tuổi già đang tới, một khả năng đang mất, một cánh cửa đóng lại. Không phải mọi thập giá đều do Chúa trực tiếp gửi đến. Có đau khổ do sự dữ, do tội lỗi con người, do giới hạn của thân phận. Nhưng bất cứ thập giá nào khi được đặt bên Thập Giá Đức Kitô đều có thể trở thành nơi ta gặp Chúa. Không phải vì đau khổ tự nó tốt, nhưng vì tình yêu của Chúa đủ lớn để đi vào nơi đau nhất và biến nó thành nơi hiệp thông với Người.
Khi không còn gì để bám víu ngoài Thập Giá, ta mới hiểu Thập Giá không phải là thứ cuối cùng còn sót lại sau khi mọi thứ đã mất. Thật ra, Thập Giá là điều vẫn luôn ở đó, chỉ là khi các chỗ dựa khác còn mạnh, ta ít nhận ra. Giống như ngôi sao vẫn ở trên trời ban ngày nhưng ta không thấy vì mặt trời quá sáng. Đến khi đêm xuống, ngôi sao hiện ra. Chúa không chỉ xuất hiện khi mọi thứ biến mất. Người đã ở đó từ đầu. Nhưng đôi khi phải qua một đêm rất tối, ta mới nhận ra tay Người vẫn chưa từng rời tay mình.
Có một nghịch lý của đời sống thiêng liêng: càng trưởng thành, ta càng ít dựa vào cảm giác mình kiểm soát được, và càng nhiều dựa vào lòng trung tín của Chúa. Lúc trẻ, ta nghĩ mạnh là cầm chắc. Về sau mới hiểu mạnh nhiều khi là biết buông đúng chỗ. Ta nghĩ can đảm là luôn có câu trả lời. Về sau mới biết can đảm đôi lúc là thú nhận: “Con không biết,” nhưng vẫn bước. Ta nghĩ bình an là mọi việc ổn thỏa. Về sau mới hiểu bình an Kitô giáo có thể tồn tại ngay giữa một hoàn cảnh chưa ổn, bởi bình an không đến từ việc ta biết ngày mai, mà từ việc ta biết ngày mai nằm trong tay ai.
“Trong tay Cha.” Hình ảnh bàn tay này đẹp biết bao. Kinh Thánh nhiều lần nói về bàn tay Thiên Chúa. Bàn tay tạo dựng. Bàn tay dẫn dắt. Bàn tay che chở. Bàn tay nâng người yếu. Bàn tay không quên tên ta. Và giờ đây, Con Một của Cha cũng đặt hồn mình vào chính bàn tay ấy. Chúng ta thường sợ buông vì tưởng phía dưới là khoảng không. Nhưng đức tin nói phía dưới là tay Cha. Một đứa trẻ ngủ được trên tay mẹ không phải vì nó hiểu đường về nhà, mà vì nó biết mình đang được bế. Có khi đó chính là hình ảnh của phó thác. Ta không cần hiểu hết bản đồ đời mình để bình an. Chỉ cần biết mình đang ở trong tay ai.
Có người sẽ hỏi: nhưng nếu Chúa yêu, tại sao Người không cất thập giá đi? Câu hỏi ấy không dễ trả lời, và đừng trả lời quá nhanh. Trước một người đang đau, nhiều khi điều tử tế nhất không phải là giảng giải nguyên nhân đau khổ, mà là ngồi cạnh họ. Chính Thiên Chúa cũng không trả lời vấn đề đau khổ bằng một lý thuyết. Người trả lời bằng việc bước vào đau khổ. Đức Giêsu không đứng ngoài Thập Giá để giải thích Thập Giá. Người ở trên đó. Người không nói với người đang hấp hối rằng “đau khổ có ý nghĩa thế này thế kia” rồi bỏ đi. Người đã chết. Người đã nếm sự sợ hãi, cô đơn, nhục nhã, đau đớn. Vì thế khi ta nói “Lạy Chúa, con đau”, ta đang nói với một Đấng biết đau là gì.
Và điều lạ lùng nhất: Thập Giá không kết thúc ở Thập Giá. Đức Giêsu phó mình trong tay Cha, và Cha không để Con mình trong mồ. Phó thác không bảo đảm rằng mọi chuyện sẽ kết thúc theo cách ta muốn, nhưng bảo đảm rằng đời ta không rơi khỏi tình yêu Thiên Chúa. Phục Sinh là lời xác nhận rằng bàn tay Cha mạnh hơn sự chết. Có những điều đời này ta không lấy lại. Có những người ta phải đợi đến đời sau mới gặp. Có những câu hỏi có lẽ bên này cái chết ta chưa hiểu. Nhưng người Kitô hữu không phó thác vào một bàn tay bất lực. Ta phó thác vào bàn tay đã kéo Đức Kitô ra khỏi mồ.
Điều này đặc biệt quan trọng khi ta đi tới tuổi già. Lúc trẻ, con người học cách nắm lấy cuộc đời. Lúc già, dần dần phải học cách trao lại. Trao lại công việc. Trao lại vai trò. Trao lại sức khỏe. Trao lại quyền quyết định. Trao lại những người mình yêu. Và cuối cùng trao lại hơi thở. Người ta thường nói chết là mất tất cả. Với người tin, chết là hành vi phó thác cuối cùng. Một đời người đẹp không phải chỉ ở chỗ đã làm được bao nhiêu, mà còn ở chỗ cuối cùng có thể nói như Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Khi ấy cái chết không còn hoàn toàn là bị lấy đi, mà cũng trở thành một sự trao lại. Sự sống vốn là quà, giờ ta đặt lại món quà vào tay Đấng đã ban nó.
Nhưng đừng đợi đến giờ chết mới học phó thác. Mỗi ngày đều là một bài tập nhỏ. Khi một dự định không theo ý mình, tập nói: “Lạy Cha, con phó thác.” Khi một người làm ta thất vọng, thay vì cố kiểm soát họ, tập nói: “Con trao người này cho Cha.” Khi con cái bước sang tuổi mình không còn quản được từng bước, tập trao. Khi bị hiểu sai mà không thể giải thích hết, tập trao. Khi một nỗi lo cứ quay lại, mỗi lần nó quay lại lại trao nó một lần nữa. Phó thác không phải một lần là xong. Có những chuyện ta phải trao cho Chúa một trăm lần trong một ngày, bởi vì một trăm lần ta lại âm thầm lấy nó về.
Ta có thể tự hỏi: hôm nay tôi đang bám vào cái gì hơn bám vào Chúa? Một con người? Một chức vụ? Một hình ảnh đẹp của mình? Một kế hoạch? Một khả năng? Một tài khoản? Một lời khen? Một sự an toàn? Điều gì mà nếu mất đi, tôi nghĩ đời mình không thể sống nữa? Câu trả lời có thể chỉ cho ta thấy thần tượng kín đáo trong lòng. Không phải mọi chỗ dựa đều xấu. Chúng ta cần gia đình, bạn bè, công việc, sức khỏe. Thiên Chúa không bảo ta khinh thường những quà tặng ấy. Nhưng quà tặng không được trở thành Thiên Chúa. Bởi nếu ta đòi một thụ tạo phải cho ta sự an toàn tuyệt đối, sớm muộn ta sẽ làm nó gãy hoặc chính ta sẽ gãy.
Đức Giêsu yêu Mẹ, yêu các môn đệ, yêu sự sống. Người không coi thường những điều ấy. Nhưng ở đáy sâu nhất, Người thuộc về Cha. Vì thế khi mọi thứ bên ngoài bị lấy đi, căn tính sâu nhất của Người vẫn còn: Người là Con. Đây cũng là điều mỗi Kitô hữu cần nhớ. Ta có thể mất nghề nhưng không mất việc mình là con Chúa. Có thể mất sức nhưng không mất phẩm giá. Có thể bị người đời quên nhưng không bị Cha quên. Có thể một người không còn yêu ta nữa, nhưng điều ấy không xóa được tình yêu của Thiên Chúa. Có thể một thất bại làm ta xấu hổ, nhưng thất bại ấy không có quyền định nghĩa toàn bộ con người ta. Cây Thập Giá nói rằng ngay ở nơi người đời coi là thất bại tuyệt đối, Thiên Chúa vẫn đang thực hiện tình yêu.
Nhiều khi ta sợ Thập Giá vì nghĩ Thập Giá sẽ nghiền nát ta. Nhưng nếu nhìn Chúa, ta sẽ thấy Thập Giá trước hết nghiền nát ảo tưởng rằng ta tự cứu mình. Và đó có thể là một ân sủng. Khi ta còn nghĩ mình cứu được mình, ta chưa cần Đấng Cứu Độ. Khi ta còn nghĩ chỉ cần khéo hơn, mạnh hơn, giàu hơn, được yêu hơn thì sẽ bình an, ta chưa thực sự hiểu Tin Mừng. Tin Mừng bắt đầu trở nên rất thật ở khoảnh khắc ta nói: “Lạy Chúa, con không tự cứu nổi con.” Lời ấy nghe như thất bại, nhưng lại có thể là cánh cửa của ơn cứu độ. Người sắp chìm nếu còn cố giữ sĩ diện sẽ không kêu cứu. Chỉ khi biết mình cần được cứu, ta mới chìa tay.
Thập Giá chính là nơi Thiên Chúa chìa tay trước. Hai cánh tay Đức Kitô bị dang ra trên gỗ không chỉ là tư thế của một người bị xử tử; trong đức tin, đó còn như vòng tay rộng mở của Đấng Cứu Độ. Ta đến với Thập Giá không phải để ca tụng đau đớn, nhưng để gặp một tình yêu đã đi xuống tận nơi thấp nhất. Không vực nào sâu hơn nơi Chúa đã xuống. Không bóng tối nào Người hoàn toàn xa lạ. Không sự cô đơn nào Người không biết. Vì thế, nếu hôm nay ai đó cảm thấy mình chẳng còn gì để bám, hãy nhớ: vẫn còn một cây Thập Giá. Và trên cây Thập Giá ấy có một Đấng nói cho ta biết cách đi qua đêm tối: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Có lẽ ta chưa nói được câu ấy trọn vẹn. Không sao. Có thể hôm nay ta chỉ nói được: “Lạy Cha, con muốn phó thác nhưng con còn sợ.” Đó đã là cầu nguyện. “Lạy Cha, con muốn trao nhưng con chưa buông nổi.” Đó cũng là cầu nguyện. “Lạy Cha, con giận, con không hiểu, nhưng xin đừng để con rời tay Cha.” Lời ấy rất quý. Thiên Chúa không đòi ta phải diễn vai một vị thánh không biết đau. Người chỉ muốn ta thật. Một trái tim thật dù run rẩy vẫn có thể được ôm lấy.
Và đôi khi chính những năm tháng đau khổ nhất lại dạy người ta lời phó thác mà những năm bình an không dạy nổi. Có người sau một biến cố lớn trở nên mềm hơn, bớt xét đoán hơn, biết cảm thông hơn. Không phải đau khổ tự động làm ta tốt. Đau khổ cũng có thể làm người ta cay đắng. Nhưng khi đem đau khổ vào trong tay Chúa, nó có thể mở rộng trái tim. Người đã từng bất lực sẽ bớt khinh người yếu. Người đã từng mất ngủ vì con sẽ hiểu một người mẹ khác. Người từng khóc trong bệnh viện sẽ biết ngồi im cạnh một người đang bệnh. Người từng thấy những dự định đẹp tan vỡ sẽ bớt nói những câu đạo đức dễ dàng với người gặp thất bại. Có những điều ta chỉ học dưới chân Thập Giá.
Ở đó ta cũng học rằng phó thác không loại trừ trách nhiệm. Đức Giêsu đã làm tất cả điều Người phải làm trước khi nói lời cuối cùng. Người rao giảng, chữa lành, đi đến Giêrusalem, chịu thương khó, trao Mẹ cho môn đệ. Phó thác không phải lười biếng rồi nói “Chúa lo”. Người nông dân vẫn phải gieo. Người bệnh vẫn nên chữa. Cha mẹ vẫn phải dạy con. Người có lỗi vẫn phải xin lỗi. Người gặp bất công vẫn có thể tìm cách bảo vệ sự thật. Nhưng sau khi đã làm điều cần làm, có một ranh giới ta phải biết dừng. Ta không phải Thiên Chúa. Ta không điều khiển được lòng người. Không giữ được mọi người khỏi chết. Không loại trừ mọi rủi ro. Không buộc mọi kết quả phải theo ý mình. Đến ranh giới ấy, phó thác trở thành sự khôn ngoan.
Biết bao khổ đau trong lòng đến từ việc ta cố làm việc của Thiên Chúa. Ta muốn biết tương lai. Muốn điều khiển người khác. Muốn bảo đảm không ai mình yêu gặp chuyện. Muốn mọi lời cầu được trả lời đúng giờ. Muốn mọi điều thiện mình làm phải được công nhận. Đó là một gánh nặng quá sức con người. Phó thác là trả lại cho Chúa những gì vốn thuộc về Chúa. Tương lai thuộc về Chúa. Lòng người thuộc về Chúa. Sự sống và cái chết nằm trong tay Chúa. Ta có bổn phận yêu, làm điều đúng, trung tín hôm nay. Phần còn lại, hãy để Cha làm Cha.
Một trong những câu đẹp nhất ta có thể cầu mỗi tối là: “Lạy Cha, ngày hôm nay con đã làm được điều con có thể. Những gì còn dang dở, con trao cho Cha. Những người con lo, con trao cho Cha. Những lời con chưa giải thích được, con trao cho Cha. Những sai lầm con hối tiếc, con xin Cha thương xót. Đêm nay khi con ngủ và không thể kiểm soát điều gì, xin Cha vẫn làm việc. Con nằm xuống trong tay Cha.” Thật ra mỗi giấc ngủ cũng là một bài học phó thác. Khi ngủ, ta ngừng kiểm soát thế giới. Tim vẫn đập mà ta không điều khiển. Trái đất vẫn quay mà ta không chỉ huy. Mặt trời vẫn mọc dù ta chẳng thức để nhắc nó. Mỗi sáng tỉnh dậy là một lời nhắc nhỏ: thế giới không cần ta gồng lên mới tồn tại.
Nếu học được điều đó, đời sẽ nhẹ hơn rất nhiều. Không phải vì ít vấn đề hơn, nhưng vì không còn coi mình là người phải giữ tất cả. Có những người sống kiệt sức bởi họ ôm mọi chuyện vào lòng: chuyện con, chuyện cháu, chuyện nhà, chuyện xứ, chuyện cộng đoàn, chuyện người khác nghĩ gì, chuyện tương lai. Họ cầu nguyện nhưng vẫn ôm. Họ đi lễ nhưng vẫn ôm. Họ lần hạt nhưng tay trong lòng vẫn không chịu mở. Chúa không thể lấy điều ta nhất định không trao. Phó thác đòi một cử chỉ nội tâm: mở tay.
Có lẽ vì thế mà trên Thập Giá, bàn tay Chúa bị mở ra. Người không nắm gì nữa. Một bàn tay mở là hình ảnh của nghèo khó tuyệt đối, nhưng cũng là hình ảnh của tự do tuyệt đối. Khi nắm chặt, ta chỉ giữ được một ít. Khi mở tay, ta có thể nhận tất cả từ Cha. Người nghèo trong tinh thần không phải người không có gì, nhưng người không coi gì là sở hữu tuyệt đối đến mức không thể trao. Chúa Giêsu đã trao tất cả và cuối cùng trao chính thần khí mình. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Nếu một ngày ta phải đứng trước điều mình sợ nhất, xin cho lời ấy tìm được đường từ môi Chúa sang môi ta. Nếu một ngày bác sĩ nói điều ta không muốn nghe, xin cho ta nói được: “Lạy Cha…” Nếu một ngày tiễn người mình thương đi, xin cho giữa nước mắt ta vẫn nói: “con xin phó thác…” Nếu một ngày bị bỏ lại một mình, xin cho ta nhớ “trong tay Cha.” Nếu một ngày tuổi già lấy dần những điều ta từng tự hào, xin cho ta không cay đắng mà biết trao. Và khi giờ cuối cùng đến, nếu miệng không còn sức nói, xin trái tim ta vẫn thầm thĩ câu của Chúa.
Nhưng ngay hôm nay, trước những điều nhỏ hơn, ta hãy tập. Bởi không ai tự nhiên đến giờ chết lại biết phó thác nếu cả đời chỉ quen kiểm soát. Phó thác là một thói quen thánh thiện. Hôm nay buông một lời người khác nói. Ngày mai buông một kế hoạch không thành. Ngày kia buông nhu cầu phải thắng trong một cuộc tranh luận. Buông việc ai cũng phải hiểu mình. Buông một nỗi hận đã giữ quá lâu. Buông nỗi sợ mình không đủ tốt. Buông cả quá khứ không thể sửa. Mỗi lần buông vào tay Chúa, ta chết đi một chút cho cái tôi và sống thêm một chút trong tự do của người con.
Sau cùng, mọi đời người rồi sẽ đi tới điểm này: những gì ta từng nắm sẽ lần lượt tuột khỏi tay. Ta đến đời này với hai bàn tay trắng và ra đi cũng thế. Tiền không theo. Danh không theo. Chức không theo. Nhà cửa không theo. Những điều người ta từng tranh giành đến mất ngủ cuối cùng cũng phải để lại. Câu hỏi không phải ta giữ được bao nhiêu, nhưng ta đã học trao mình cho ai. Nếu cuối đời ta có thể đặt mình vào tay Cha, thế là đủ.
Thập Giá vì thế không phải là biểu tượng của một con người bị bỏ rơi trong hư vô. Thập Giá là nơi Người Con trở về trong tay Cha. Và ai gắn đời mình với Đức Kitô cũng có thể tin rằng phía sau mọi mất mát, phía dưới mọi vực sâu, ở bên kia cả cái chết, vẫn là bàn tay ấy. Có thể ta không thấy. Có thể ta không cảm. Nhưng đức tin không phải là nắm được bàn tay Chúa thật chặt bằng cảm giác của mình; đôi khi đức tin chỉ là tin rằng ngay khi tay mình đã yếu đến mức không còn nắm nổi, thì tay Chúa vẫn đang nắm ta.
Vậy nếu hôm nay không còn gì để bám víu, xin đừng vội nghĩ mình đã mất hết. Có thể đó lại là khoảnh khắc ta bắt đầu khám phá điểm tựa sâu nhất mà trước đây những chỗ dựa khác đã che khuất. Hãy nhìn lên Thập Giá. Hãy để Đức Giêsu dạy ta lời cầu cuối cùng nhưng cũng là lời cầu lớn nhất. Không xin phép lạ. Không xin chứng minh. Không xin giải thích. Chỉ còn một tương quan, một tiếng gọi và một sự trao thân: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Và nếu ta có thể nói câu ấy từ đáy lòng, dù nước mắt vẫn rơi, dù vấn đề vẫn chưa giải quyết, dù đêm còn tối, thì có lẽ ta đã bước đến một nơi rất sâu của đức tin: nơi không còn bám vào việc Chúa sẽ làm gì, nhưng bám vào chính Chúa; không còn đặt bình an trên câu trả lời, nhưng trên Đấng trả lời; không còn đặt hy vọng trên việc mình có giữ nổi mọi sự hay không, nhưng trên sự thật rằng chính mình đang được giữ.
Khi không còn gì để bám víu ngoài Thập Giá, ta mới hiểu rằng Thập Giá không phải là chỗ bám cuối cùng của kẻ tuyệt vọng. Thập Giá là cánh cửa mở vào bàn tay của Cha. Và bàn tay ấy, từ đời này sang đời kia, chưa từng đánh mất một người con nào biết trao mình cho Người.
Lm. Anmai, CSsR

LẠY CHA, CON XIN PHÓ THÁC
Tin Mừng: Lc 23,46
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Rồi Đức Giêsu kêu lớn tiếng và tắt thở.
Có lẽ trong cả cuộc đời Kitô hữu, có những lời ta đọc rất nhiều lần nhưng phải đi qua một đoạn đường thật dài, phải nếm đủ một chút đắng cay của phận người, phải có lần đứng bên một chiếc giường bệnh, phải có lần nhìn một người thân nhắm mắt, phải có lần thấy những dự tính của mình tan vỡ, phải có lần nghe bác sĩ nói một điều mình không muốn nghe, phải có lần thức trắng trong căn phòng chỉ còn tiếng đồng hồ chạy, phải có lần bước vào tuổi già và nhận ra sức lực không còn như trước, phải có lần mất một người mà cứ ngỡ người ấy sẽ còn ở bên mình rất lâu, lúc ấy ta mới hiểu được phần nào lời cuối cùng của Đức Giêsu trên Thập Giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đó không phải là một câu nói đẹp được thốt ra trong một giờ phút thanh thản. Đó là lời được nói giữa đau đớn, giữa bóng tối, giữa thân xác đã kiệt quệ, giữa sự phản bội của môn đệ, sự chế nhạo của đám đông, sự lạnh lùng của những người đứng nhìn, giữa cái chết đang đến gần từng hơi thở. Chính ở nơi mà con người tưởng như chẳng còn gì để nắm giữ nữa, Đức Giêsu lại làm một việc cuối cùng: Người buông mình vào tay Chúa Cha. Người không buông xuôi. Người phó thác. Hai điều ấy nhìn bên ngoài có vẻ giống nhau nhưng thật ra cách xa nhau vô cùng. Buông xuôi là không còn hy vọng. Phó thác là vẫn tin ngay cả khi không còn nhìn thấy con đường. Buông xuôi là để cho bóng tối nuốt lấy mình. Phó thác là bước vào bóng tối nhưng vẫn nắm lấy bàn tay của Thiên Chúa. Buông xuôi là nói: “Mọi sự hết rồi.” Phó thác là thưa: “Con không biết điều gì sẽ xảy ra, nhưng con biết con đang ở trong tay Cha.”
Có lẽ điều khó nhất của đời người không phải là làm được thật nhiều, cũng không phải là thành công thật lớn, nhưng là học cách trao lại cho Thiên Chúa những gì mình không thể giữ mãi. Khi còn trẻ, người ta thích làm chủ. Ta muốn làm chủ sức khỏe, tương lai, công việc, tiền bạc, gia đình, con cái, danh dự, kế hoạch và cả ngày mai. Ta tính toán. Ta dành dụm. Ta lo lắng. Ta chuẩn bị. Ta tìm mọi cách giữ cho những điều mình yêu được ở lại. Và chẳng có gì sai khi một người sống có trách nhiệm với cuộc đời mình. Nhưng rồi năm tháng dạy cho ta một bài học mà không trường lớp nào dạy nổi: có những điều dù ta muốn đến đâu cũng không thể giữ được. Cha mẹ rồi sẽ già. Con cái rồi sẽ lớn và đi con đường của chúng. Sức khỏe rồi có ngày suy giảm. Nhan sắc rồi nhạt. Trí nhớ rồi có lúc quên. Những chức vụ từng làm người khác kính nể rồi cũng được trao cho người khác. Ngôi nhà ta đã mất bao năm xây dựng một ngày kia sẽ thuộc về người khác. Những vật ta nâng niu rồi có lúc trở thành đồ cũ. Và chính thân xác mà ta chăm sóc suốt một đời, cuối cùng ta cũng phải trao lại cho đất. Người khôn ngoan không phải là người giữ được tất cả. Không ai giữ được tất cả. Người khôn ngoan là người biết mình phải giữ điều gì, phải buông điều gì và phải phó thác điều gì cho Thiên Chúa.
Chúa Giêsu trên Thập Giá không còn gì nữa. Áo đã bị quân lính chia nhau. Danh dự bị chà đạp. Thân thể bị đóng đinh. Bạn bè phần đông đã chạy trốn. Đám đông từng tung hô nay không còn. Người không còn một mái nhà để trở về, không còn một chiếc giường để nằm, không còn một giọt nước để làm dịu cơn khát. Ngay cả Mẹ của Người, Người cũng trao cho người môn đệ yêu dấu: “Đây là mẹ của anh.” Dường như Đức Giêsu cứ trao, trao mãi, cho đến khi chẳng còn gì để trao. Và cuối cùng, điều còn lại sau hết là chính sự sống của Người, Người cũng trao: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Vì thế cái chết của Chúa Giêsu không phải là lúc người ta giật khỏi tay Người sự sống. Người tự nguyện trao nó. Không ai có thể cướp được điều mà Người đã tự do trao vào tay Cha. Đây là vẻ đẹp sâu thẳm của sự phó thác Kitô giáo: có những điều đời lấy khỏi ta thì trở thành mất mát; nhưng nếu ta biết trao chúng cho Thiên Chúa, mất mát ấy có thể trở thành lễ dâng.
Bệnh tật là một trong những trường học lớn nhất dạy con người phó thác. Khi khỏe mạnh, ta rất dễ nói về đức tin. Ta có thể khuyên người khác: “Cứ tin Chúa đi.” Ta có thể nói: “Mọi sự Chúa đều có chương trình.” Những câu ấy đúng. Nhưng đến lúc chính mình phải nằm trên giường bệnh, đến lúc một cơn đau kéo dài cả đêm, đến lúc không còn tự bước đi được, đến lúc phải nhờ người khác đỡ mình ngồi dậy, đến lúc cơ thể vốn từng nghe lời mình nay trở thành một gánh nặng, lúc ấy câu “Lạy Cha, con xin phó thác” mới không còn là một câu đạo đức dễ nói. Nó trở thành một cuộc chiến. Có người bệnh không sợ đau bằng sợ trở thành gánh nặng cho người thân. Có người không sợ chết bằng sợ những ngày dài bất lực trước khi chết. Có người đau vì bệnh, nhưng đau hơn vì cảm giác mình không còn hữu ích. Một người từng bươn chải nuôi cả gia đình, bây giờ phải nhờ con cháu đút cho từng thìa cháo. Một người từng đi khắp nơi, bây giờ chỉ quanh quẩn vài mét từ giường ra cửa. Một người từng quyết định bao việc lớn, bây giờ việc uống viên thuốc lúc nào cũng phải có người nhắc. Những lúc ấy, lòng tự trọng dễ bị tổn thương. Người ta dễ cáu gắt. Dễ buồn. Dễ tự hỏi: “Sao Chúa để con ra nông nỗi này?”
Nhưng có khi chính trên chiếc giường bệnh, Thiên Chúa dạy cho ta một thứ tự do mà những năm khỏe mạnh ta chưa từng học được. Tự do ấy là không còn lấy giá trị của mình từ khả năng làm việc, tiền bạc kiếm được hay vai trò mình giữ, nhưng từ việc biết mình vẫn là người con được Thiên Chúa yêu. Một người nằm bất động vẫn có thể yêu. Một người không còn làm được việc lớn vẫn có thể cầu nguyện. Một người không còn kiếm ra tiền vẫn có thể trao cho gia đình một nụ cười, một lời cảm ơn, một lời chúc lành. Có những người già trước lúc chết chẳng để lại cho con cái tài sản gì lớn, nhưng để lại một hình ảnh mà con cháu nhớ suốt đời: sáng nào bà cũng lần chuỗi; tối nào ông cũng làm dấu trước khi ngủ; những ngày đau nhất vẫn không nghe một lời than trách Thiên Chúa. Có thể người ấy không viết sách, không giảng một bài giảng nào, nhưng cách họ chịu bệnh lại trở thành một bài giảng sống động về lòng tin.
“Lạy Cha, con xin phó thác” không có nghĩa là người bệnh không được khóc. Đức tin không biến con người thành đá. Người tin Chúa vẫn sợ. Vẫn đau. Vẫn có những đêm yếu lòng. Vẫn có thể hỏi Chúa: “Tại sao?” Chúa Giêsu trên Thập Giá cũng đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đức tin không đòi ta giả vờ mình không đau. Đức tin chỉ xin ta đừng để nỗi đau trở thành tiếng nói cuối cùng. Sau tiếng kêu của đau đớn còn có thể có lời phó thác. Sau nước mắt vẫn còn một bàn tay của Thiên Chúa. Sau câu hỏi “tại sao” vẫn còn câu “con tín thác.” Có những điều ta không hiểu nhưng ta vẫn có thể trao. Có những câu hỏi không có câu trả lời ở đời này nhưng ta vẫn có thể đặt nó trong tay Cha.
Tuổi già cũng là một cuộc tập buông. Khi người ta già đi, thế giới dường như chạy nhanh hơn mình. Những điều quen thuộc thay đổi. Công nghệ thay đổi. Con cháu sống khác. Người bạn năm xưa lần lượt ra đi. Có khi mở danh bạ điện thoại thấy rất nhiều cái tên nhưng chẳng còn bao nhiêu người để gọi. Có những cụ già không đau vì thiếu tiền, nhưng đau vì thiếu người ngồi nghe mình kể chuyện. Người già nói chậm hơn, đi chậm hơn, nhớ chậm hơn, nhưng thế giới lại ngày càng vội. Và vì thế họ dễ cảm thấy mình bị bỏ lại. Nhưng tuổi già, dưới ánh sáng đức tin, không phải là phần thừa của cuộc đời. Đó có thể là mùa chín của một đời người. Cây không chỉ đẹp lúc ra hoa. Cây còn đẹp khi trái chín. Cuộc đời không chỉ quý khi ta đang chạy thật nhanh. Có những vẻ đẹp chỉ xuất hiện khi con người đã đi đủ lâu để biết điều gì đáng giữ và điều gì không đáng tranh.
Tuổi già có thể dạy ta rằng đời người cuối cùng không phải là chuyện ta đã sở hữu bao nhiêu mà là ta đã yêu bao nhiêu. Đến cuối đời, người ta hiếm khi tiếc rằng mình đã không mua thêm một món đồ. Người ta tiếc những lời xin lỗi chưa nói, những cuộc gặp đã trì hoãn, những người mình từng làm tổn thương, những lần quá bận để ngồi bên cha mẹ, những tháng năm mải kiếm sống mà quên sống, những ngày cứ tưởng mình còn rất nhiều thời gian. Vì thế, nếu đang bước vào tuổi già, xin đừng chỉ đếm những gì mình mất. Hãy đếm cả những gì mình đang được trao: cơ hội để tha thứ, cơ hội để xin lỗi, cơ hội để cầu nguyện, cơ hội để chúc lành cho con cháu, cơ hội để chuẩn bị tâm hồn cho cuộc gặp gỡ lớn nhất đời mình. Có người chuẩn bị rất kỹ cho một chuyến đi xa vài ngày nhưng lại không bao giờ chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh cửu. Ta mua vé, làm hộ chiếu, xếp hành lý, xem thời tiết cho một chuyến đi ngắn; còn chuyến đi chắc chắn nhất đời người thì lại sống như thể nó sẽ chẳng bao giờ đến. Người Kitô hữu không ám ảnh về cái chết, nhưng cũng không trốn tránh cái chết. Ta nhìn cái chết như một cánh cửa mà Đức Kitô đã đi qua trước.
Thất bại cũng là nơi lời “con xin phó thác” trở nên rất thật. Có những thất bại không ai biết ngoài mình. Một công việc đổ vỡ. Một dự án mình dồn bao năm tâm huyết nhưng cuối cùng chẳng đi đến đâu. Một cuộc hôn nhân đầy hy vọng rồi trở nên lạnh lẽo. Một đứa con mình thương yêu và hy sinh hết sức nhưng lại chọn một con đường khiến mình đau lòng. Một ơn gọi từng khởi đi thật đẹp rồi trải qua bao thử thách. Một danh dự bỗng dưng bị hiểu lầm. Một giấc mơ mà mình đã cầu nguyện rất lâu nhưng Chúa vẫn không cho thành sự. Những lúc ấy người ta dễ đồng hóa thất bại với bản thân: “Tôi thất bại, vậy đời tôi vô nghĩa.” Nhưng không. Có một khoảng cách lớn giữa “một việc tôi làm đã thất bại” và “tôi là một con người thất bại.” Trước mắt Chúa, giá trị của ta không lên xuống cùng với thành tích. Chúa yêu ta trước cả khi ta làm được điều gì, và Người vẫn yêu khi hai bàn tay ta trở về trắng không.
Thập Giá, dưới mắt thế gian, là một thất bại khủng khiếp. Ba năm rao giảng, cuối cùng môn đệ bỏ chạy. Bao phép lạ, cuối cùng không một phép lạ nào đưa Người xuống khỏi Thập Giá. Bao người từng đi theo, cuối cùng chỉ còn một nhóm nhỏ đứng xa xa. Nếu đánh giá cuộc đời Đức Giêsu lúc ba giờ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh bằng tiêu chuẩn thành công của thế gian, người ta có thể nói: thất bại. Nhưng Thiên Chúa nhìn khác. Chính nơi tưởng như thất bại ấy, công trình cứu độ được hoàn tất. Điều đó nhắc ta rằng ta không có đủ ánh sáng để phán xét ý nghĩa cuối cùng của một biến cố ngay khi nó đang xảy ra. Có những Thứ Sáu Tuần Thánh phải đợi đến sáng Phục Sinh mới hiểu được. Có những giọt nước mắt hôm nay chỉ về sau ta mới thấy đã tưới một mảnh đất nào đó trong tâm hồn mình. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta đau khổ, nhưng nhiều năm sau nhìn lại, ta mới hiểu nếu cánh cửa ấy mở, có lẽ đời mình đã đi vào một ngõ khác.
Phó thác không phải là xin Chúa làm mọi chuyện theo ý ta. Phó thác là dám nói: “Lạy Chúa, con đã cầu xin điều con muốn. Con cũng đã cố gắng điều con có thể. Phần còn lại, xin được đặt trong tay Chúa.” Nhiều người cầu nguyện nhưng thực ra vẫn muốn kiểm soát Thiên Chúa. Ta nói “xin vâng” nhưng trong lòng đã viết sẵn kịch bản và chỉ mong Chúa ký tên vào. Ta xin Chúa dẫn đường nhưng lại đưa cho Chúa tấm bản đồ do ta vẽ. Ta nói “ý Cha thể hiện” nhưng âm thầm thêm vào: “miễn là ý Cha giống ý con.” Bởi thế, học phó thác là một hành trình rất dài. Đôi khi Chúa không lấy khỏi ta gánh nặng; Người lấy khỏi ta ảo tưởng rằng ta có thể gánh mọi thứ một mình.
Mất mát là một thập giá khác. Có những người ra đi để lại trong căn nhà một khoảng trống mà không vật gì lấp được. Chiếc ghế vẫn đó nhưng người ngồi không còn. Bộ quần áo còn treo nhưng người mặc đã đi. Một số điện thoại còn nằm trong máy nhưng chẳng bao giờ gọi lại được nữa. Một bức ảnh đôi lúc khiến lòng ta vui, đôi lúc khiến nước mắt rơi. Người ngoài nói: “Thời gian rồi sẽ chữa lành.” Nhưng người đã mất người thân biết có những vết thương không hoàn toàn biến mất. Ta chỉ học cách mang nó khác đi. Đức tin không bắt ta quên người đã chết. Đức tin giúp ta nhớ họ trong một niềm hy vọng mới. Chúng ta không nói lời vĩnh biệt như những người không có hy vọng. Chúng ta nói lời phó thác: “Lạy Cha, con xin trao người con yêu vào tay Cha.”
Khó lắm. Ai từng đứng trước quan tài của cha, của mẹ, của vợ, của chồng, của con mình mới hiểu một lời phó thác có thể đẫm bao nhiêu nước mắt. Có lúc bàn tay mình không muốn buông. Có người đứng cạnh một thân xác lạnh đi mà trong lòng chỉ muốn nói: “Xin ở lại thêm một chút nữa.” Tình yêu luôn muốn giữ. Nhưng đức tin dạy ta một điều kỳ diệu: người ta không thuộc về ta trước hết; họ thuộc về Thiên Chúa. Ta đã được Chúa cho gặp nhau một đoạn đường. Có người đồng hành vài mươi năm. Có người chỉ vài năm. Có người rất ngắn. Nhưng dù dài hay ngắn, sự hiện diện của họ đã trở thành quà tặng. Khi phải trả lại món quà ấy, ta đau. Thiên Chúa không trách ta vì nước mắt. Đức Giêsu cũng đã khóc trước mộ Lazarô. Chúa hiểu trái tim con người. Và trong nước mắt ấy, ta có thể thì thầm: “Con không giữ người này được nữa. Xin Cha giữ lấy người con yêu.”
Có lẽ một trong những điều đẹp nhất của đức tin Công giáo là người tín hữu được tập phó thác mỗi ngày, rất lâu trước giờ chết. Mỗi tối khi khép lại một ngày, ta có thể nói: “Lạy Chúa, ngày hôm nay đã qua. Có điều con làm được, có điều không. Có lời con nói đúng, có lời đáng lẽ con phải im. Có việc tốt con đã làm, có lỗi con cần xin tha. Bây giờ con trao tất cả cho Chúa.” Giấc ngủ mỗi đêm cũng giống một cuộc buông nhỏ. Ta nhắm mắt, không biết chắc sáng mai mình có mở mắt nữa không, nhưng vẫn ngủ vì tin rằng thế giới không sụp đổ chỉ vì mình ngừng thức. Đó cũng là một hình thức phó thác. Có lẽ vì vậy mà Hội Thánh đặt trong lời kinh cuối ngày tinh thần của chính lời Đức Giêsu: trao linh hồn mình vào tay Thiên Chúa. Người tín hữu tập chết mỗi tối để biết sống mỗi sáng.
Chúng ta sợ chết, và điều đó rất con người. Không cần phải tỏ ra anh hùng. Bản năng sống được Thiên Chúa đặt trong ta. Nhưng đức tin làm thay đổi câu hỏi. Người không tin có thể hỏi: “Sau cái chết là gì?” Người tin hỏi: “Sau cái chết, Ai đang đợi tôi?” Kitô giáo không đưa cho ta trước hết một bản đồ chi tiết về thế giới bên kia. Kitô giáo giới thiệu cho ta một Đấng đã chết và đã sống lại. Hy vọng của ta không nằm ở chỗ ta hiểu mọi bí mật của cái chết, nhưng ở chỗ Đức Kitô đã đi qua nó. Người đã bước xuống tận nơi làm chúng ta sợ nhất và từ đó Người trở về. Vì vậy đối với người Kitô hữu, cái chết vẫn đau, vẫn là chia ly, vẫn làm tim ta run, nhưng nó không còn là vực thẳm không đáy. Phía bên kia có Đấng Phục Sinh.
Đẹp biết bao nếu một người Kitô hữu có thể sống sao để lời cuối đời của mình không phải là một lời oán hận, không phải nhắc đến tiền bạc, không phải tranh giành tài sản, không phải dặn con cháu trả thù ai, nhưng là một lời cầu nguyện. Chúng ta không biết mình sẽ chết thế nào. Có người có thời gian chuẩn bị. Có người ra đi bất ngờ. Có người tỉnh táo đến giây phút cuối. Có người mất ý thức trước đó nhiều ngày. Vì thế đừng đợi đến giờ chết mới học phó thác. Hãy tập ngay hôm nay. Khi một chuyện nhỏ không theo ý mình: phó thác. Khi bị hiểu lầm: phó thác. Khi một lời cầu xin chưa được nhận lời: phó thác. Khi con cái làm mình lo lắng: phó thác. Khi tuổi tác khiến sức khỏe giảm: phó thác. Khi tương lai bất định: phó thác. Mỗi lần như thế là một lần tâm hồn tập buông khỏi tay mình để rơi vào tay Cha.
Nhưng xin nhớ, phó thác không phải là thụ động. Người phó thác thật sự vẫn đi bác sĩ khi bệnh, vẫn làm việc khi khó khăn, vẫn sửa sai khi thất bại, vẫn tìm cách hòa giải khi gia đình rạn nứt, vẫn cố gắng khi còn có thể. Đức Giêsu đã phó thác vào Cha nhưng trước đó Người đã đi trọn con đường của mình. Người rao giảng, chữa bệnh, yêu thương, tranh đấu cho sự thật, vác Thập Giá và chịu đóng đinh. Phó thác không thay thế trách nhiệm. Phó thác bắt đầu ở nơi trách nhiệm con người đã đi đến giới hạn. Ta làm hết điều có thể và trao điều không thể cho Thiên Chúa. Có những người gọi sự lười biếng là phó thác: “Chúa lo.” Không. Chúa trao trí khôn để ta suy nghĩ, đôi tay để ta làm việc, bạn bè để ta tìm trợ giúp, y học để chữa bệnh, cộng đoàn để nâng đỡ nhau. Làm phần mình rồi bình an để Chúa làm phần của Chúa, đó mới là tín thác.
Có một nỗi mệt rất sâu trong đời sống hôm nay: con người muốn kiểm soát quá nhiều thứ mình vốn không thể kiểm soát. Ta muốn kiểm soát người khác nghĩ gì về mình, ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì, con cái sẽ trở thành người thế nào, bệnh có khỏi không, công việc có bền không, tuổi già có cô đơn không, mình sẽ chết lúc nào. Vì không kiểm soát nổi nên ta lo. Lo rồi mất ngủ. Mất ngủ rồi kiệt sức. Kiệt sức lại càng lo. Nhưng có một lúc ta phải thành thật: mình là thụ tạo. Ta không phải Thiên Chúa. Và lạ thay, nhận ra điều đó không làm ta nhỏ bé hơn; nó giải phóng ta. Ta không có trách nhiệm giữ cho cả vũ trụ vận hành. Ta chỉ có trách nhiệm sống trung thành trong phần đời được trao. Chuyện còn lại nằm trong tay Cha.
“Tay Cha.” Hai chữ ấy quan trọng biết bao. Đức Giêsu không nói: “Con phó thác vào định mệnh.” Người không trao sự sống vào một khoảng không vô danh. Người nói: “Trong tay Cha.” Tín thác Kitô giáo là tín thác vào một tương quan. Ta không rơi vào hư vô. Ta rơi vào tay Cha. Một đứa trẻ có thể nhảy từ một bậc cao xuống khi phía dưới là đôi tay của cha nó. Nó không hiểu vật lý, không tính khoảng cách, không biết xác suất. Nó chỉ biết: cha đang ở đó. Đức tin cuối cùng cũng có nét đơn sơ như vậy. Ta không hiểu hết tại sao đời mình có những khúc quanh này. Ta không hiểu tại sao người tốt vẫn đau khổ. Ta không hiểu tại sao có lời cầu xin dường như không được đáp. Ta không hiểu tại sao có người ra đi quá sớm. Nhưng giữa tất cả những điều không hiểu ấy, ta có thể vẫn biết một điều: Cha đang ở đó.
Có khi điều Chúa muốn chữa nơi ta trước hết không phải căn bệnh thể xác, mà là nỗi sợ sâu hơn: nỗi sợ mình bị bỏ rơi. Chúa không hứa người tin sẽ không bệnh. Chúa không hứa người đạo đức sẽ không thất bại. Chúa không hứa gia đình cầu nguyện sẽ không có tang chế. Chính Mẹ Maria đã đứng dưới chân Thập Giá. Chính các Tông đồ đã chịu bách hại. Chính Đức Giêsu đã chết. Điều Tin Mừng hứa không phải là một cuộc đời không có Thập Giá, nhưng là không có Thập Giá nào phải mang một mình. Không phải lúc nào Chúa cũng cất cơn bão, nhưng Người ở trên thuyền. Không phải lúc nào Người cũng mở ngay cánh cửa, nhưng Người đứng trong căn phòng khóa kín. Không phải lúc nào Người giải thích đau khổ, nhưng Người bước vào đau khổ cùng ta.
Có những lúc trong đời, lời cầu nguyện chỉ còn được gói trong bốn chữ: “Con xin phó thác.” Không còn sức đọc kinh dài. Không còn trí để suy niệm. Người bệnh nặng nhiều khi chẳng thể đọc hết một kinh Lạy Cha. Nhưng chỉ cần còn đủ tỉnh táo để thầm thì: “Giêsu, con tín thác nơi Ngài,” cũng đã là một lời cầu nguyện lớn lao. Thiên Chúa không đo lời cầu theo độ dài. Người nhìn vào trái tim. Một tiếng “Cha ơi” phát ra từ nơi sâu nhất của đau khổ có thể chứa nhiều đức tin hơn một bài diễn văn dài.
Và nếu có người đang đọc những dòng này trong một giai đoạn rất khó khăn, đang sống với một căn bệnh mà chưa biết ngày mai thế nào, đang chăm sóc một người thân ngày càng yếu, đang bước vào những năm tháng cuối của đời, đang mất một người mình yêu, đang mang một thất bại khiến lòng mình xấu hổ, xin hãy nhớ: bạn không cần phải trở thành một con người không biết sợ mới được gọi là có đức tin. Chỉ cần giữa nỗi sợ, vẫn còn một chút sức để quay về phía Chúa. Phêrô chìm xuống nước không đọc được một lời kinh dài. Ông chỉ kêu: “Lạy Chúa, xin cứu con.” Người trộm lành cũng chẳng còn thời gian sửa lại quá khứ. Anh chỉ nói: “Khi vào Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trong hơi thở cuối cùng cũng chỉ trao mình: “Lạy Cha, con xin phó thác.”
Đôi khi chúng ta nghĩ sống tốt là phải mạnh mẽ đến cuối cùng. Không hẳn. Có khi sống đẹp là biết chấp nhận mình yếu. Có một sự khiêm nhường rất lớn trong việc để người khác chăm sóc mình. Người già để con cháu đỡ bước. Người bệnh để y tá tắm rửa. Người hấp hối để linh mục xức dầu. Một đời từng tự mình làm hết, đến cuối cùng phải mở tay ra để nhận. Điều ấy không làm phẩm giá con người giảm xuống. Trái lại, nó nhắc ta rằng từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, ta đều sống nhờ tình thương. Ngày mới sinh, ta cũng không tự ăn, không tự mặc, không tự bước. Ta lớn lên nhờ những bàn tay bồng bế. Rồi cuối đời, có thể ta lại cần những bàn tay khác nâng đỡ. Phận người bắt đầu trong vòng tay và cũng thường kết thúc trong vòng tay. Và phía sau tất cả những vòng tay con người ấy là vòng tay của Cha.
Cho nên, đừng sợ nếu một ngày ta không còn làm được những điều trước đây mình từng làm. Đừng để người già trong gia đình cảm thấy họ vô dụng. Đừng nói trước mặt người bệnh những câu khiến họ nghĩ mình là gánh nặng. Đừng đo phẩm giá con người bằng năng suất. Một em bé chưa làm được gì vẫn quý. Một người bệnh không làm được gì vẫn quý. Một cụ già nằm một chỗ vẫn quý. Bởi giá trị con người không đến từ những gì họ sản xuất, nhưng từ việc họ là hình ảnh của Thiên Chúa và được Đức Kitô cứu chuộc bằng chính máu Người. Có những xã hội bắt đầu trở nên lạnh lùng khi chỉ quý người mạnh, người trẻ, người nhanh, người hữu ích. Tin Mừng mời ta nhìn con người bằng ánh mắt khác: càng yếu, càng cần được yêu; càng bất lực, càng cần được gìn giữ.
Và rồi sẽ đến một ngày, sớm hay muộn, mỗi chúng ta phải nói lời phó thác cuối cùng. Ta không biết ngày đó ở đâu. Có thể trên một chiếc giường quen thuộc. Có thể trong bệnh viện. Có thể giữa con cháu. Có thể rất bất ngờ. Nhưng điều quan trọng không phải biết mình chết ở đâu; điều quan trọng là biết mình sẽ đi về đâu và đi với Ai. Nếu cả đời ta đã tập gọi Thiên Chúa là Cha, thì hy vọng rằng trong giờ phút cuối, dù môi miệng không còn nói nổi, trái tim vẫn nhận ra con đường về nhà.
Đức Giêsu chết với chữ “Cha” trên môi. Sau tất cả đau khổ, Người vẫn gọi Thiên Chúa là Cha. Đây có lẽ là điều cảm động nhất. Đau khổ không làm Người đánh mất căn tính của mình. Bị người đời ruồng bỏ, Người vẫn biết mình là Con. Bóng tối phủ kín, Người vẫn biết mình thuộc về Cha. Cả đời sống đức tin cuối cùng cũng là giữ lấy điều ấy: dù chuyện gì xảy ra, tôi vẫn là con của Thiên Chúa. Khi thành công: con của Cha. Khi thất bại: vẫn là con của Cha. Khi khỏe mạnh: con của Cha. Khi bệnh tật: vẫn là con của Cha. Khi được mọi người quý mến: con của Cha. Khi bị hiểu lầm: vẫn là con của Cha. Khi trẻ trung: con của Cha. Khi tóc bạc, mắt mờ, chân yếu: vẫn là con của Cha. Khi còn thở: con của Cha. Và khi hơi thở cuối cùng rời khỏi thân xác: vẫn là con của Cha.
Nếu tin được điều ấy, cái chết không còn quyền nói lời cuối. Lời cuối thuộc về tình yêu. Thập Giá không kết thúc ở mồ. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải trang cuối. Bên kia tiếng “con xin phó thác” là buổi sáng Phục Sinh. Đức Giêsu trao sự sống vào tay Cha và Cha trao lại cho Người một sự sống không còn chết nữa. Đó là nền tảng hy vọng của chúng ta. Những gì ta trao vào tay Thiên Chúa không bao giờ mất theo nghĩa cuối cùng. Hạt lúa rơi xuống đất tưởng như biến mất nhưng lại sinh nhiều bông hạt. Một cuộc đời được trao cho Chúa có thể bước qua cái chết để đi vào sự sống.
Vậy hôm nay, trước khi phải nói lời phó thác lớn nhất, ta hãy tập bằng những lời phó thác nhỏ. Lạy Cha, con phó thác cho Cha người con đang lo lắng. Lạy Cha, con phó thác căn bệnh này. Lạy Cha, con phó thác tuổi già của con. Lạy Cha, con phó thác những dự định không thành. Lạy Cha, con phó thác người thân đã qua đời. Lạy Cha, con phó thác điều con chưa hiểu. Lạy Cha, con phó thác những người đã làm con tổn thương. Lạy Cha, con phó thác những lỗi lầm quá khứ mà con không thể quay lại sửa hết. Lạy Cha, con phó thác ngày mai con chưa biết. Lạy Cha, con phó thác cả giờ chết của con.
Có những ngày ta sẽ nói lời ấy rất mạnh mẽ. Có những ngày chỉ nói được trong nước mắt. Có ngày lòng tin sáng rõ. Có ngày lòng tin chỉ như một tim đèn leo lét. Không sao. Điều làm ta được cứu không phải là ta nắm lấy Chúa mạnh đến đâu, nhưng là tay Chúa giữ ta chắc đến đâu. Một đứa trẻ ngủ trong tay mẹ đâu cần cố gắng bám chặt. Nó ngủ bởi vì nó được ôm. Có lẽ bình an sâu nhất của đức tin cũng ở đó: không phải tôi đủ mạnh để giữ lấy Thiên Chúa, mà Thiên Chúa đủ trung tín để không buông tôi.
Và vì thế, khi đêm xuống trên cuộc đời, khi đôi mắt bắt đầu mờ, khi những người thân đứng quanh mà chẳng ai giữ ta ở lại được nữa, khi bác sĩ cũng đã làm hết điều có thể, khi nhịp thở ngày càng thưa, xin cho ta đừng nhìn cái chết như rơi khỏi mọi bàn tay. Ta chỉ đang rời khỏi những bàn tay hữu hạn để đi vào một bàn tay vĩnh cửu. Những bàn tay con người đã từng ôm ta rồi phải buông. Nhưng tay Cha không buông.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đi trước chúng con trên con đường mà một ngày tất cả chúng con đều phải đi. Chúa biết nỗi sợ của thân xác. Chúa biết thế nào là đau. Chúa biết thế nào là bị bỏ rơi. Chúa biết hơi thở cuối cùng nặng nề thế nào. Xin ở bên chúng con khi bệnh tật. Xin ở bên chúng con lúc tuổi già. Xin ở bên chúng con trong những thất bại. Xin ở bên chúng con khi phải tiễn đưa người mình yêu. Xin ở bên chúng con trong giờ chết. Khi chúng con không còn đủ sức đọc một lời kinh, xin chính Thánh Thần cầu nguyện trong chúng con. Khi trí nhớ không còn nhớ được những kinh đã đọc cả đời, xin cho trái tim vẫn nhớ một điều: Thiên Chúa là Cha. Và khi bàn tay chúng con không còn nắm giữ được gì nữa, xin dạy chúng con mở ra, để tất cả được đặt vào tay Cha.
Lạy Cha, con đã từ tay Cha mà đến. Suốt một đời, có những ngày con gần Cha và cũng có những ngày con đi xa. Có những lúc con tin mạnh mẽ và cũng có những lúc con nghi ngờ. Có những việc con làm tốt và cũng có biết bao lỗi lầm. Có người con đã yêu và có người con chưa yêu đủ. Có lời con đã nói đúng và có lời vẫn còn làm con hối tiếc. Con không mang đến trước mặt Cha một cuộc đời hoàn hảo. Con chỉ mang đến một cuộc đời là của con, với tất cả ánh sáng và bóng tối, thành công và thất bại, niềm vui và nước mắt. Và con tin lòng thương xót Cha lớn hơn tất cả những gì con thiếu sót.
Ngày hôm nay, khi vẫn còn sức khỏe, xin cho con tập sống như một người biết mình sẽ phải trở về. Xin đừng để con tiêu phí đời mình cho những chuyện quá nhỏ. Xin đừng để con giữ mãi những giận hờn mà ngày chết đến sẽ thấy thật vô nghĩa. Xin đừng để con quá bận kiếm tiền mà quên những người mình yêu. Xin đừng để con trì hoãn một lời xin lỗi. Xin đừng để con nghĩ mình còn quá nhiều ngày mai. Xin dạy con sống sao để nếu đêm nay là đêm cuối, con không phải quá ân hận vì đã bỏ lỡ điều quan trọng nhất.
Và khi giờ cuối cùng đến, xin cho lời của Đức Giêsu trở thành lời của con. Không cần lời nào lớn lao. Không cần một cái chết được nhiều người chứng kiến. Chỉ cần giữa hơi thở cuối, sâu trong tâm hồn con vẫn còn một tiếng gọi: “Cha ơi.” Và nếu môi con còn nói được, xin cho con thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Đời người cuối cùng là một cuộc trở về. Ta đến với hai bàn tay trắng và cũng ra đi với hai bàn tay trắng. Nhưng người có đức tin không ra đi trong trống rỗng. Hai bàn tay trắng ấy được đặt trong bàn tay của Cha. Và như thế là đủ. Rất đủ.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – VỊ VUA KHÔNG CÓ NGAI NGOÀI THẬP GIÁ
Tin Mừng: Lc 23,35-43
Có những vị vua bước lên ngai bằng chiến thắng. Có những vị vua giữ ngai bằng binh lính. Có những vị vua bảo vệ quyền lực bằng luật lệ, tiền bạc, vũ khí và nỗi sợ. Nhưng có một Vị Vua bước lên ngai trong thất bại trước mắt người đời, đội trên đầu không phải triều thiên bằng vàng mà là vòng gai, khoác trên mình không phải long bào mà là thân thể đầy thương tích, hai tay không cầm vương trượng nhưng bị đóng đinh, không có quân lính bảo vệ nhưng chung quanh là những kẻ chế nhạo, không nghe tiếng tung hô mà chỉ nghe lời thách thức: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” Đó là Đức Giêsu Kitô. Vị Vua của chúng ta. Và ngai của Người là Thập Giá. Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại lại có một ngai vua lạ lùng đến thế. Người ta lên ngai để được phục vụ, còn Đức Kitô lên Thập Giá để phục vụ. Người ta giữ quyền lực để bảo vệ mạng sống mình, còn Đức Kitô dùng quyền năng để trao mạng sống cho người khác. Người ta muốn kẻ thù quỳ xuống trước chân mình, còn Đức Kitô để mình bị treo lên trước mặt kẻ thù. Người ta thích chiến thắng bằng cách khiến đối phương phải thua, còn Người chiến thắng bằng cách chấp nhận mình bị coi là thua. Người ta xây vương quốc bằng biên giới, quân đội, luật lệ và sức mạnh, còn Đức Kitô dựng Nước Trời bằng một trái tim bị đâm thâu. Bởi thế, nếu muốn hiểu Đức Kitô là Vua, ta không thể nhìn Người bằng những tiêu chuẩn quen thuộc của trần gian. Càng nhìn Đức Kitô bằng lăng kính quyền lực của thế gian, ta càng thấy Thập Giá vô lý. Nhưng càng nhìn bằng con mắt đức tin, ta càng nhận ra nơi chính sự bất lực bề ngoài ấy lại ẩn giấu sức mạnh lớn nhất của Thiên Chúa: sức mạnh của một tình yêu không ai có thể cưỡng lại bằng bạo lực, bởi tình yêu ấy không cần tiêu diệt ai để chiến thắng.
Tin Mừng hôm nay đặt chúng ta trước một cảnh tượng đầy nghịch lý. Dân chúng đứng nhìn. Các thủ lãnh thì cười nhạo. Lính tráng cũng chế giễu. Một tên gian phi bị đóng đinh bên cạnh còn sỉ nhục Người. Chỉ một người, một người đang hấp hối, một kẻ cả đời có lẽ đã đi sai đường, lại nhìn thấy nơi Đức Giêsu điều mà những người tưởng mình sáng suốt không thấy. Anh ta thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Lạ lùng thay! Đức Giêsu đang bị đóng đinh mà anh lại nói đến “Nước của ông”. Đức Giêsu đang sắp chết mà anh lại tin Người có thể nhớ đến mình sau cái chết. Đức Giêsu chẳng còn biểu hiện nào của quyền lực mà anh vẫn gọi Người như một vị vua có vương quốc. Có lẽ chính nơi người trộm lành này, ta gặp được một trong những tuyên xưng đức tin đẹp nhất của Tin Mừng. Khi mọi dấu hiệu bên ngoài đều nói rằng Đức Giêsu đã thất bại, anh lại nhận ra Người đang tiến vào vương quốc. Khi người khác chỉ thấy một tử tội, anh thấy một Vị Vua. Khi người khác đòi Người xuống khỏi Thập Giá để chứng minh quyền năng, anh lại hiểu rằng chính khi ở lại trên Thập Giá, Người đang biểu lộ một thứ quyền năng cao hơn mọi quyền năng của thế gian.
“Ông có phải là Đấng Kitô không? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa!” Đó là tiếng nói rất gần với não trạng con người chúng ta. Nếu Chúa quyền năng, sao Chúa không cứu mình? Nếu Chúa yêu con, sao Chúa không cất đau khổ khỏi đời con? Nếu Chúa ở cùng con, sao gia đình con vẫn tan vỡ? Nếu Chúa nghe lời cầu nguyện, sao bệnh tật vẫn kéo dài? Nếu Chúa thật sự làm chủ lịch sử, sao người lành vẫn đau khổ, người gian ác nhiều khi vẫn ung dung? Chúng ta cũng thường đặt Chúa trước một cuộc sát hạch: nếu Chúa là Chúa, xin làm điều này; nếu Chúa thương con, xin thay đổi chuyện kia; nếu Chúa có quyền, xin chứng minh bằng cách giải quyết hoàn cảnh theo điều con mong muốn. Và nếu điều ấy không xảy ra, ta bắt đầu nghi ngờ quyền năng của Người. Nhưng Thập Giá nói với ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng được biểu lộ bằng việc tránh khỏi đau khổ. Có lúc quyền năng của Người biểu lộ bằng việc đi xuyên qua đau khổ mà không để đau khổ biến mình thành hận thù. Có lúc chiến thắng của Thiên Chúa không phải là thoát khỏi kẻ thù, mà là yêu được chính kẻ thù. Có lúc phép lạ lớn nhất không phải là xuống khỏi Thập Giá, nhưng là ở lại trên Thập Giá mà vẫn thưa lời tha thứ. Chúa có thể xuống khỏi Thập Giá không? Dĩ nhiên Người có thể. Nhưng nếu Người xuống để cứu mình, chúng ta sẽ không được cứu. Nếu Người dùng quyền lực để nghiền nát những kẻ đóng đinh mình, thế gian chỉ có thêm một vị vua giống bao vị vua khác. Điều làm Đức Kitô hoàn toàn khác là Người có quyền nhưng không dùng quyền ấy để bảo vệ chính mình; Người dùng quyền ấy để hiến mình.
Người đời thường nghĩ quyền lực lớn là khả năng buộc người khác phải làm điều mình muốn. Đức Kitô lại cho thấy quyền lực lớn nhất là khả năng hiến chính mình cho người khác mà không bị cái ác biến đổi thành kẻ ác. Người đời nghĩ chiến thắng là đứng trên xác kẻ thù. Đức Kitô chiến thắng khi bị treo giữa hai người tội lỗi. Người đời nghĩ ngai vàng phải ở nơi cao sang nhất. Đức Kitô chọn đồi Sọ. Người đời nghĩ vua phải được bao quanh bởi những người quyền quý. Đức Kitô lại chọn hai kẻ tử tội làm những người cuối cùng đứng bên ngai của Người. Người đời nghĩ vương miện là dấu của vinh dự. Người đội vòng gai. Người đời nghĩ vua phải có bảng ghi tước hiệu đầy kiêu hãnh. Trên đầu Người lại chỉ có tấm bảng viết: “Đây là vua người Do Thái”, một dòng chữ được viết ra để chế nhạo nhưng lại vô tình công bố sự thật sâu xa nhất. Đúng, Người là Vua. Nhưng vương quyền của Người không cần ai bảo vệ. Vương quyền ấy được xác nhận bằng tình yêu đến tận cùng.
Thật ra, câu “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi” chứa một sự thật mà những người nói ra không hiểu. Chính vì Người đã cứu người khác, nên Người không cứu mình. Chính vì Người yêu chúng ta, Người không rời khỏi Thập Giá. Người không thể vừa yêu đến tận cùng vừa quay lưng với chén đắng ngay lúc tình yêu phải trả giá. Người đã từng chữa bệnh cho người khác, cho người mù thấy, người què đi, người chết sống lại; nhưng giờ đây phép lạ lớn nhất không phải là làm cho những chiếc đinh rơi khỏi tay chân, mà là để những chiếc đinh ấy không đóng kín trái tim Người. Thân thể bị giữ lại trên gỗ, nhưng tình yêu vẫn tự do. Tay Người bị đóng, nhưng Người vẫn ban ơn. Chân Người bị đóng, nhưng Người vẫn mở đường về Thiên Đàng. Miệng Người khô khát, nhưng vẫn còn đủ sức nói lời cứu độ. Người bị người đời tước mọi thứ, nhưng không ai có thể tước khỏi Người khả năng yêu. Đó chính là vương quyền của Đức Kitô.
Người trộm lành hiểu điều ấy theo một cách thật kỳ diệu. Anh không xin Chúa tháo đinh cho mình. Anh không xin Chúa kéo mình xuống khỏi thập giá. Anh chỉ xin: “Xin nhớ đến tôi.” Một lời cầu quá nhỏ so với cả một đời lầm lỗi. Có lẽ anh cũng chẳng dám xin gì hơn. Người ta có thể tưởng rằng một con người đến cuối đời như thế thì còn gì để nói với Thiên Chúa? Nhưng lạ thay, chỉ một lời quay về đủ mở cửa Thiên Đàng. Đức Giêsu không hỏi anh đã phạm bao nhiêu tội. Không bắt anh kể công. Không đặt cho anh một thời gian thử thách. Không bảo anh phải chứng minh lòng hoán cải bằng nhiều năm sống tốt. Bởi anh không còn năm tháng nào nữa. Điều anh còn là một trái tim biết nhìn sang bên cạnh, nhìn một con người cũng đang hấp hối nhưng lại nhận ra đó là Vua. Và Vị Vua ấy lập tức trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Đó là một sắc chỉ của Vua. Không giấy tờ. Không ấn tín. Không binh lính công bố. Chỉ một lời từ môi người sắp chết, nhưng lời ấy mở một cánh cửa mà không quyền lực trần gian nào mở được. Hêrôđê có thể cai trị một vùng đất. César có thể ban quyền và cất quyền. Philatô có thể kết án một người sống hay chết. Nhưng không ai trong họ có thể nói với một tử tội: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Chỉ Đức Kitô có thể. Ngay trên Thập Giá, giữa phút bị xem là bất lực nhất, Người lại thực thi vương quyền cao cả nhất: tha thứ tội lỗi và mở cửa Nước Trời.
Ta nên dừng lại thật lâu trước hai chữ “với tôi”. Chúa không chỉ hứa cho người trộm một nơi tốt đẹp. Người hứa cho anh được ở với Người. Thiên Đàng trước hết không phải là cảnh đẹp, không phải những con đường lát vàng theo trí tưởng tượng, không phải một phần thưởng vật chất bù lại đau khổ. Thiên Đàng là được ở với Đức Kitô. Và thật ra, chính đó cũng là bản chất của Nước Người: ở đâu có Người, ở đó có Nước Trời bắt đầu. Người trộm lành đã ở bên cạnh Đức Kitô trên đồi Sọ trước khi ở với Người trong Thiên Đàng. Anh đau với Người trước khi được vinh quang với Người. Anh chẳng còn gì ngoài vài hơi thở cuối, nhưng trong những hơi thở ấy anh tìm được điều cả đời mình không tìm thấy: một Vị Vua không khinh người thất bại, không loại trừ kẻ tội lỗi, không ghê tởm một cuộc đời đã vỡ vụn. Vị Vua ấy sẵn lòng mang một con người vào Nước của mình ngay từ giữa những đổ nát cuối cùng.
Đó là một niềm hy vọng rất lớn cho tất cả chúng ta. Có những người nghĩ cuộc đời mình đã quá muộn để quay về. Có người mang một quá khứ mà mỗi khi nhớ lại đều thấy xấu hổ. Có người đã làm tổn thương gia đình, đã bỏ cầu nguyện quá lâu, đã sống xa Chúa nhiều năm, đã để lòng mình chai cứng trong giận dữ, dục vọng, tiền bạc, ích kỷ hay những chọn lựa sai lầm. Có người muốn trở về nhưng lại nghĩ: Chúa còn nhận tôi không? Người trộm lành là câu trả lời. Chừng nào còn một hơi thở biết hướng về Đức Kitô, chừng đó chưa phải là quá muộn. Nhưng câu chuyện ấy cũng không phải cái cớ để ta trì hoãn sám hối. Đừng nói: người trộm lành đến phút cuối còn được cứu, vậy tôi cứ sống sao cũng được rồi cuối đời xin Chúa tha. Ta biết có một người trộm được cứu vào giờ cuối để không ai tuyệt vọng; nhưng ta chỉ biết có một người như thế để đừng ai liều lĩnh trì hoãn. Điều quan trọng là ngay khi nhận ra Vị Vua bên cạnh mình, anh lập tức quay về. Anh không thương lượng với Chúa. Anh không bào chữa mình vô tội. Anh còn quở trách người kia: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng vì xứng với việc đã làm.” Sám hối bắt đầu khi một người không còn đổ lỗi nữa. Và lòng thương xót bắt đầu được đón nhận khi ta dám thừa nhận mình cần được cứu.
Nếu Đức Kitô là Vua, câu hỏi không chỉ là Người cai trị thế nào, mà còn là tôi có để Người cai trị đời tôi không. Chúng ta có thể gọi Chúa là Vua trong lời kinh, hát những bài thánh ca về Chúa Kitô Vua, đặt tượng Chúa ở nơi trang trọng, nhưng đời sống thật của ta lại có thể đang thuộc về những ông vua khác. Có người để tiền bạc làm vua. Có người để danh dự làm vua. Có người để cái tôi làm vua. Có người để lòng tự ái làm vua. Có người để dư luận làm vua, đến mức mọi lựa chọn đều bị điều người khác nghĩ điều khiển. Có người để quá khứ làm vua, nên cả đời bị những vết thương cũ cai trị. Có người để tham vọng làm vua, nên sẵn sàng hy sinh gia đình, tình nghĩa, lương tâm để có một chút thành công. Có người để nỗi sợ làm vua. Có người để dục vọng làm vua. Có người nói Chúa là Vua nhưng khi Chúa đụng vào một điều mình không muốn bỏ thì ta lập tức khép cửa. Vậy ai thật sự là vua của đời ta? Người làm vua chính là người có tiếng nói cuối cùng trong những quyết định của ta. Nếu lời Chúa chỉ được nghe khi trùng với ý ta, còn khi trái ý ta thì ta gạt sang một bên, thì Chúa chưa thật sự là Vua.
Điều đáng sợ là ta có thể tôn thờ một Đức Kitô đội triều thiên mà không muốn đi theo Đức Kitô đội vòng gai. Ta thích một Chúa chiến thắng, nhưng ngại một Chúa tự hiến. Ta thích một Chúa ban ơn, nhưng không thích một Chúa đòi ta tha thứ. Ta muốn Chúa bảo vệ mình, nhưng không muốn học cách Chúa chịu thiệt. Ta xin Chúa nâng mình lên, nhưng lại khó chấp nhận hạ mình xuống trước anh em. Ta thích vương quốc của Chúa, nhưng lại muốn xây nó bằng phương pháp của thế gian: tranh hơn, giành phần, áp đặt, hơn thua, loại trừ. Đây là cám dỗ rất sâu trong đời sống đạo. Ta có thể bảo vệ sự thật bằng cách làm người khác tổn thương. Ta có thể nhân danh Chúa để thắng một cuộc tranh luận nhưng lại làm mất một người anh em. Ta có thể cho rằng mình đang bênh vực Giáo Hội nhưng tâm hồn đầy cay độc. Ta có thể nói về thập giá mà sống như thể ngai vàng mới là mục tiêu. Nhưng Đức Kitô Vua trên đồi Sọ hỏi ta: Con muốn thắng như Ta hay thắng như thế gian? Con muốn có quyền trên người khác, hay có quyền trên chính cái tôi của con? Con muốn người ta sợ con hay cảm nhận được tình yêu của con? Con muốn bảo vệ danh dự mình bằng mọi giá hay bảo vệ sự hiệp nhất bằng khiêm nhường?
Ngai của Chúa là Thập Giá bởi vì trong Nước của Người, ai lớn nhất phải trở nên người phục vụ. Đây là một đảo lộn tận căn. Trong thế gian, càng cao người ta càng có nhiều người phục vụ mình. Trong Nước Trời, càng lớn càng phải cúi xuống. Đức Giêsu không chỉ giảng điều này; Người sống nó đến tận cùng. Người quỳ rửa chân cho môn đệ trước khi bị treo lên Thập Giá. Chiếc khăn thắt ngang lưng trong phòng Tiệc Ly và những chiếc đinh trên đồi Sọ thuộc về cùng một vương quyền: vương quyền của phục vụ. Bởi vậy, một người cha thật sự làm vua trong gia đình không phải khi mọi người sợ ông, mà khi ông biết hy sinh cho vợ con. Một người mẹ làm “nữ vương” không phải vì cả nhà phải nghe lời mình, mà vì biết âm thầm yêu thương và giữ gia đình khỏi tan vỡ. Một linh mục sống vương quyền của Đức Kitô không phải khi muốn người khác phục tùng mình, mà khi dám mang lấy mùi của đoàn chiên, cúi xuống bên những người yếu đuối, chịu đựng những hiểu lầm và vẫn chọn phục vụ. Một người có trách nhiệm trong cộng đoàn không nên hỏi: tôi có bao nhiêu quyền? nhưng phải hỏi: có bao nhiêu người đang được tôi phục vụ?
Thập Giá cũng cho ta thấy một điều khác: Đức Kitô không cai trị bằng nỗi sợ. Người không ép người trộm lành phải tin. Người cũng không trừng phạt ngay người trộm kia vì anh xúc phạm. Người không gọi lửa từ trời xuống đốt những kẻ chế nhạo. Người tôn trọng tự do đến cùng. Hai người cùng ở gần Chúa như nhau, cùng nghe lời Chúa như nhau, cùng nhìn thấy Người như nhau, cùng đối diện với cái chết như nhau, nhưng một người mở lòng, một người đóng lòng. Tình yêu không cưỡng ép. Vị Vua này đứng trước cửa và gõ. Người không phá cửa. Có lẽ đó là một trong những đau đớn sâu xa nhất của Thiên Chúa: Người có thể làm mọi sự nhưng lại “bất lực” trước một trái tim nhất quyết không muốn yêu. Không phải vì Người thiếu quyền, nhưng vì tình yêu đích thực không biến người được yêu thành nô lệ.
Ta cũng nên nhìn lại cách mình sống các mối tương quan. Có những lúc trong gia đình, chúng ta muốn “làm vua” theo nghĩa buộc người khác phải theo ý mình. Vợ muốn thắng chồng. Chồng muốn áp đặt vợ. Cha mẹ muốn con cái vâng lời tuyệt đối nhưng không chịu lắng nghe. Anh chị em giận nhau vì ai cũng muốn phần đúng về mình. Trong cộng đoàn cũng vậy, chỉ một chút chức vụ có khi làm người ta đổi khác. Một chút quyền có thể bộc lộ những gì đang ẩn trong lòng. Đức Kitô cho ta một tiêu chuẩn rất rõ: quyền nào càng làm ta giống Đấng chịu đóng đinh, quyền ấy càng mang tính Kitô giáo; quyền nào làm ta xa tinh thần tự hiến, dù mang danh đạo đức đến đâu, vẫn cần được xét lại. Quyền lực trong tay một người chưa được hoán cải dễ trở thành phương tiện nuôi cái tôi. Còn quyền trong tay người có trái tim của Đức Kitô trở thành cơ hội phục vụ.
Có một chi tiết đau lòng trong bài Tin Mừng: “Dân chúng đứng nhìn.” Đôi khi cái ác không chỉ đến từ người trực tiếp đóng đinh, nhưng còn từ sự dửng dưng của những người đứng nhìn. Vị Vua trên Thập Giá cũng phơi bày cho chúng ta thấy tội của sự đứng ngoài. Bao đau khổ trong đời này kéo dài bởi vì nhiều người chỉ đứng nhìn. Thấy người bị xúc phạm mà im lặng. Thấy kẻ yếu bị chèn ép mà quay đi. Thấy một gia đình khủng hoảng nhưng chỉ bàn tán. Thấy một người sa ngã nhưng chỉ phán xét. Thấy một linh hồn cần được nâng đỡ nhưng cho rằng không liên quan đến mình. Thập Giá không cho phép Kitô hữu sống mãi ở vị trí khán giả. Một người thật sự nhận Đức Kitô là Vua phải chọn đứng về phía tình yêu tự hiến, đứng bên người đau khổ, đứng bên người bị bỏ rơi, đứng bên người không còn tiếng nói.
Và đôi khi, cách ta đứng bên họ không phải bằng những điều lớn lao. Hãy nhìn Đức Giêsu trên Thập Giá. Người không còn xuống được để làm phép lạ cho người trộm lành. Người không tháo xiềng xích. Người không thay đổi bản án. Nhưng Người cho anh một lời hứa. Có khi ta cũng không thể giải quyết nỗi đau của ai đó. Ta không chữa được bệnh của họ. Không lấy lại người thân đã mất. Không xóa được quá khứ. Không cứu được cuộc hôn nhân nếu chỉ một phía muốn cứu. Không thay đổi được tất cả hoàn cảnh. Nhưng ta vẫn có thể hiện diện. Có thể nói một lời hy vọng. Có thể nắm một bàn tay. Có thể lắng nghe mà không phán xét. Có thể cầu nguyện với họ. Có thể nói: “Tôi ở đây.” Nhiều lúc, đó là một cách rất thật để làm cho vương quyền của Đức Kitô hiện diện giữa đời.
Điều đặc biệt của Vị Vua trên Thập Giá là Người không có lãnh thổ theo nghĩa trần gian, nhưng lại muốn chiếm lấy trái tim. Người không xâm lược quốc gia, nhưng chinh phục lương tâm. Người không thu thuế, nhưng xin lòng quảng đại. Người không bắt thần dân chết cho mình, nhưng chết cho thần dân. Người không dựng tượng mình bằng đá, nhưng khắc hình mình vào đời những ai biết yêu như Người. Vương quốc ấy âm thầm đến nỗi người ta có thể không nhận ra. Nó xuất hiện khi một người chọn tha thứ thay vì trả đũa. Khi một người nói sự thật nhưng không làm nhục ai. Khi một người biết nhường phần hơn cho người khác. Khi một gia đình quỳ xuống cầu nguyện sau một ngày nhiều căng thẳng. Khi một người giàu biết chia sẻ. Khi một người bị xúc phạm không để cay đắng ăn mòn trái tim. Khi một người trẻ dám sống trong sạch giữa một nền văn hóa dễ dãi. Khi một linh mục không tìm vinh quang riêng nhưng trung thành với những công việc nhỏ bé chẳng ai thấy. Khi một người đau khổ vẫn không đánh mất lòng tin. Ở đâu có tình yêu tự hiến, ở đó ngai của Đức Kitô được dựng lên.
Người Kitô hữu chúng ta vẫn thường làm dấu Thánh Giá. Nhưng điều cần hỏi là: Thánh Giá có thật sự làm dấu trên cách ta sống không? Hay nó chỉ ở trên trán, trên ngực, trên vai mà chưa đi vào trái tim? Nếu Đức Kitô là Vua, Thập Giá phải trở thành tiêu chuẩn cho những chọn lựa của ta. Trước một cuộc tranh chấp, hãy hỏi: chọn điều nào làm tôi giống Chúa chịu đóng đinh hơn? Trước một lời muốn nói, hãy hỏi: lời này phát xuất từ tình yêu hay tự ái? Trước một người làm ta tổn thương, hãy hỏi: tôi đang muốn chữa lành hay muốn họ đau như mình đã đau? Trước quyền lợi của bản thân, hãy hỏi: điều gì là công bằng, điều gì là bác ái? Thập Giá không cho ta một công thức đơn giản cho mọi vấn đề, nhưng ban một hướng nhìn: hướng của tình yêu biết hy sinh mà không dung túng cho sự dữ, biết tha thứ mà vẫn tôn trọng sự thật, biết khiêm nhường mà không hèn nhát, biết chịu thiệt mà không cổ võ bất công.
Có người sẽ hỏi: nếu cứ yêu kiểu Thập Giá thì chẳng phải mình sẽ bị người ta lợi dụng sao? Đúng là Kitô giáo không dạy ta để mặc cho cái ác hoành hành. Đức Giêsu không gọi cái xấu là tốt. Người nói thẳng sự thật. Người quở trách giả hình. Người đuổi những kẻ biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Nhưng điều làm Người khác với chúng ta là Người chống cái ác mà không trở thành ác. Người lên án tội nhưng vẫn tìm cứu người tội lỗi. Người không đồng lõa với bất công nhưng cũng không để hận thù chiếm trái tim. Đây là điều khó nhất. Ta thường rơi vào một trong hai phía: hoặc im lặng trước cái sai vì sợ xung đột, hoặc chống cái sai bằng một tinh thần đầy giận dữ. Đức Kitô cho ta con đường thứ ba: sự thật được nói trong tình yêu, công lý được tìm kiếm mà không mất lòng thương xót.
Hãy nhìn hai người trộm. Một người nhìn Thập Giá và chỉ thấy thất bại: “Ông hãy cứu mình và cứu chúng tôi.” Anh muốn một vị thần giải quyết hoàn cảnh. Người kia nhìn Thập Giá và thấy một mầu nhiệm lớn hơn hoàn cảnh: “Xin nhớ đến tôi.” Người thứ nhất chỉ cần được cứu khỏi đau khổ. Người thứ hai muốn được ở trong Nước của Chúa. Đó cũng là hai cách chúng ta đến với Thiên Chúa. Có người chỉ tìm Chúa để vấn đề được giải quyết. Khi cầu được thì tin, khi không được thì thất vọng. Có người dần dần trưởng thành để hiểu rằng điều quý nhất không phải Chúa cho tôi điều gì, mà là tôi có Chúa hay không. Người trộm lành vẫn chết trên thập giá. Bản án trần gian không thay đổi. Nhưng cuộc đời anh đã hoàn toàn thay đổi bởi vì anh chết với một lời hứa. Có những hoàn cảnh Chúa không cất khỏi chúng ta, nhưng Người bước vào hoàn cảnh đó và biến nó thành con đường dẫn ta về nhà.
“Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Chúa không nói ngày mai. Không nói sau này. “Hôm nay.” Lòng thương xót của Thiên Chúa luôn có một chữ “hôm nay”. Hôm nay con có thể quay về. Hôm nay con có thể bắt đầu lại. Hôm nay con có thể tha thứ. Hôm nay con có thể xin lỗi. Hôm nay con có thể xưng tội. Hôm nay con có thể bỏ một mối quan hệ sai trái. Hôm nay con có thể gọi cho người mà nhiều năm con không nói chuyện. Hôm nay con có thể thôi nuôi hận. Đừng để lời mời của Chúa trở thành chuyện “một ngày nào đó”. Nhiều người chết trong sự trì hoãn. Không phải chỉ cái chết thể lý, mà cả cái chết của các mối tương quan, cái chết của lòng nhiệt thành, cái chết của đức tin. “Mai tôi sẽ sửa.” “Mai tôi sẽ cầu nguyện.” “Mai tôi sẽ về với Chúa.” Nhưng Thiên Chúa luôn gặp ta trong hôm nay.
Vương quyền của Chúa cũng soi sáng cách chúng ta nhìn thất bại. Nếu chỉ nhìn đồi Sọ vào chiều thứ Sáu, ta sẽ kết luận rằng Đức Giêsu thua. Các môn đệ tan tác. Giấc mơ về Nước Thiên Chúa dường như sụp đổ. Người lãnh đạo bị hành hình. Đối thủ chiến thắng. Nhưng Thiên Chúa viết lịch sử theo cách khác. Có những thất bại bên ngoài lại là chiến thắng bên trong. Có những mất mát lại mở đường cho một ân sủng sâu hơn. Có những điều ta tưởng Chúa đã bỏ rơi, về sau nhìn lại mới hiểu đó là nơi Người âm thầm dẫn ta. Chúng ta thường vội đánh giá đời mình khi câu chuyện chưa kết thúc. Một lần thi rớt, một cuộc tình đổ vỡ, một công việc mất đi, một dự định không thành, một căn bệnh kéo dài… ta nghĩ thế là hết. Nhưng Kitô hữu là người nhìn Thứ Sáu Tuần Thánh trong ánh sáng Phục Sinh. Không phải vì ta lạc quan dễ dãi, nhưng vì ta tin rằng Thiên Chúa có thể làm nảy sinh sự sống ngay từ nơi tưởng như chỉ còn sự chết.
Đức Kitô không có ngai ngoài Thập Giá bởi vì tình yêu của Người không có con đường nào khác ngoài tự hiến. Chúng ta muốn yêu mà không đau, cho đi mà không mất, trung thành mà không phải hy sinh, tha thứ mà không phải nuốt nước mắt, phục vụ mà vẫn được công nhận. Nhưng tình yêu thật luôn có giá. Người mẹ thức đêm bên con bệnh đang ngồi trên một ngai rất giống Thập Giá. Người cha đi làm vất vả để con được học hành đang mang một vương miện không ai thấy. Người vợ kiên nhẫn cùng chồng vượt qua khủng hoảng, người chồng trung thành bên vợ trong bệnh tật, người con chăm cha mẹ già, người tu sĩ sống âm thầm trong bổn phận, người linh mục ngồi nhiều giờ trong tòa giải tội… tất cả đang chia sẻ chút gì đó vương quyền của Đức Kitô. Không phải vì đau khổ tự nó là điều tốt, nhưng vì tình yêu có thể biến đau khổ thành lễ dâng.
Có lẽ điều đẹp nhất của Đức Kitô Vua là Người không cai trị ta từ xa. Người đã đi vào tận cùng thân phận con người. Một vị vua trần thế có thể nghe báo cáo về dân nghèo mà chưa từng biết đói. Có thể ký lệnh về chiến tranh mà chưa từng nghe tiếng đạn bên tai. Đức Kitô thì khác. Người biết đói. Biết khát. Biết mỏi mệt. Biết bị phản bội. Biết bị hiểu lầm. Biết bị bỏ rơi. Biết đau thân xác. Biết cô đơn. Biết cái chết. Vì thế, khi ta cầu nguyện trong đau khổ, ta không nói với một Thiên Chúa xa lạ. Ta nói với Đấng đã từng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người hiểu những giờ phút ta không hiểu nổi Thiên Chúa. Người hiểu cả lời cầu chỉ còn nước mắt. Người không đứng ngoài nỗi đau để bảo ta cố gắng chịu đựng; Người bước vào nỗi đau và ở đó với ta.
Và rồi, từ ngai Thập Giá, Người vẫn còn nhìn thấy từng người. Giữa cơn đau của chính mình, Người thấy người trộm lành. Thấy Mẹ. Thấy môn đệ. Thấy những kẻ đóng đinh mình. Đây cũng là một dấu chỉ của tình yêu trưởng thành: đau mà vẫn thấy được nỗi đau người khác. Chúng ta khi đau thường dễ co lại trong mình. “Tôi đang khổ, ai cũng phải hiểu cho tôi.” “Tôi đang mệt, tôi có quyền nói nặng.” “Tôi bị tổn thương, nên tôi làm tổn thương lại cũng được.” Nhưng Đức Kitô trên Thập Giá dạy một điều phi thường: đau khổ không nhất thiết phải làm trái tim ta nhỏ lại. Nếu để ân sủng đi vào, nó có thể làm trái tim rộng hơn. Có những người sau khi từng đi qua mất mát lại biết cảm thông hơn. Có những người từng nghèo nên hiểu người nghèo. Có những người từng vấp ngã nên bớt phán xét. Có những người từng bị bỏ rơi nên cố gắng không bỏ rơi ai. Khi ấy, vết thương không còn chỉ là vết thương; nó trở thành nơi ta học lòng thương xót.
Chúng ta có thể tự hỏi: nếu hôm nay Đức Kitô thật sự là Vua của lòng tôi, điều gì phải thay đổi? Có thể không phải một điều rất lớn. Có khi là cách ta nói với người trong nhà. Có khi là thôi một câu cay nghiệt. Có khi là trả lại món nợ. Có khi là chấm dứt một cuộc nói xấu. Có khi là đi xưng tội sau nhiều năm. Có khi là bỏ một thói quen bí mật đang làm linh hồn chết dần. Có khi là nhận trách nhiệm thay vì tiếp tục đổ lỗi. Có khi là cho ai đó một cơ hội thứ hai. Có khi là học quỳ xuống. Vương quyền của Chúa bắt đầu không phải bằng những khẩu hiệu, nhưng bằng những vùng rất cụ thể trong đời sống mà ta trao chìa khóa cho Người.
Xin đừng biến lễ Đức Kitô Vua thành một ngày chỉ để hát những lời hùng tráng. Vị Vua của chúng ta bị đóng đinh. Ngài vẫn hỏi mỗi người: con có chấp nhận một vị vua như thế không? Hay con chỉ muốn một vị vua làm cho con thành công, giàu có, khỏe mạnh, được người ta tôn trọng? Con có nhận Ta là Vua khi Ta dạy con tha thứ cho người làm con đau không? Khi Ta bảo con hãy đi bước trước để hòa giải? Khi Ta mời con sống khiêm nhường? Khi Ta đòi con từ bỏ một điều con rất quyến luyến nhưng biết là không đúng? Khi Ta dẫn con qua một đoạn đường không có câu trả lời dễ dàng? Nhận Đức Kitô làm Vua không chỉ là đọc một lời tuyên xưng; đó là để Thập Giá định hình cả cách ta sống.
Một ngày nào đó, mọi ngai trần gian sẽ trống. Những người quyền lực nhất rồi cũng sẽ nằm xuống. Những danh hiệu từng làm người ta tự hào sẽ bị quên. Những tài sản đã gom góp sẽ sang tay người khác. Những cuộc tranh giành mà hôm nay ta cho là sống còn rồi cũng trở thành chuyện cũ. Chỉ có vương quyền của Đấng chịu đóng đinh tồn tại. Bởi quyền lực dựa trên sợ hãi sẽ mất khi người ta không còn sợ. Quyền lực dựa trên tiền bạc sẽ mất khi tiền không còn. Quyền lực dựa trên thân xác sẽ mất khi thân xác suy tàn. Nhưng quyền lực của tình yêu tự hiến thì không chết. Hai ngàn năm rồi, một người thợ mộc bị đóng đinh ngoài thành Giêrusalem vẫn đang làm rung động hàng triệu trái tim. Không quân đội nào làm được điều ấy. Không đế quốc nào tồn tại như thế. César đã qua đi. Philatô chỉ còn được nhớ vì đã đứng trước Đức Giêsu. Còn Người bị kết án lại được hàng triệu người quỳ gối gọi là Chúa.
Và có lẽ đó là câu trả lời cuối cùng cho câu hỏi: ai thật sự là Vua? Không phải người có thể bắt người khác chết cho mình, nhưng là người có thể chết cho kẻ khác và làm cho sự hy sinh ấy sinh ra sự sống. Đức Kitô là Vua vì Người yêu đến tận cùng. Ngai Người là Thập Giá vì đó là nơi tình yêu đạt đến đỉnh cao. Triều thiên Người là vòng gai vì Người đã mang lấy mọi đau khổ của nhân loại. Vương trượng Người là những chiếc đinh vì Người cai trị bằng đôi tay mở ra. Hiến pháp của Nước Người là Tám Mối Phúc Thật. Luật căn bản của Người là yêu Thiên Chúa và yêu người thân cận. Biên giới của Nước Người là bất cứ trái tim nào chịu mở ra cho ân sủng. Và cánh cửa vào Nước ấy đôi khi chỉ cần một lời rất nhỏ: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.”
Xin cho ta đủ khiêm nhường để đứng bên người trộm lành. Đừng đứng với đám đông chỉ biết nhìn. Đừng đứng với những thủ lãnh cười nhạo. Đừng đứng với người trộm kia cứ đòi Chúa chứng minh quyền năng theo ý mình. Hãy đứng với người biết nhận ra sự thật về chính mình và sự thật về Đức Kitô. “Phần chúng ta, như thế này là đích đáng… còn ông này đâu có làm điều gì trái.” Rồi hãy thưa: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Không cần nhiều lời. Chỉ cần thật lòng. Có lẽ vào cuối đời, sau tất cả những bài giảng, những kinh nguyện, những việc đạo đức, lời cầu ta cần nhất vẫn chỉ là lời ấy: Lạy Chúa, xin nhớ đến con. Xin nhớ đến con khi con yếu đuối. Xin nhớ đến con khi đức tin con mỏng manh. Xin nhớ đến con khi con thất bại. Xin nhớ đến con khi con chẳng còn gì để khoe. Xin nhớ đến con khi mọi người đã quên con. Xin nhớ đến con khi con bước qua cửa sự chết. Và ta có thể hy vọng nghe chính lời Vị Vua trên Thập Giá: “Hôm nay, con sẽ ở với Ta.”
Lạy Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, Vua của chúng con, xin đừng chỉ làm Vua trên bàn thờ, trên tượng ảnh, trong những bài thánh ca hay trong lời tuyên xưng của môi miệng. Xin làm Vua trong cách chúng con nghĩ, cách chúng con nói, cách chúng con sử dụng quyền lực, cách chúng con đối xử với người yếu thế, cách chúng con tha thứ cho người xúc phạm, cách chúng con đón nhận những ngày Thập Giá đi vào đời. Xin phá đổ trong chúng con những ngai vàng của tự ái, tham vọng, tiền bạc, danh dự và ích kỷ. Xin dựng ngai Thập Giá của Chúa trong trái tim chúng con, để chúng con hiểu rằng sống không phải là giữ lấy tất cả cho mình, nhưng là biết trao ban; mạnh không phải là làm người khác sợ, nhưng là có thể yêu khi mình bị tổn thương; thắng không phải là khiến người khác thua, nhưng là không để sự dữ biến mình thành người dữ.
Và khi chúng con sợ Thập Giá, xin cho chúng con nhớ rằng ngai của Vua chúng con cũng chính là Thập Giá. Khi chúng con nghĩ đời mình đang thất bại, xin cho chúng con nhớ chiều Thứ Sáu năm ấy, khi cả thế gian tưởng Đức Giêsu đã thua. Khi chúng con cảm thấy bị bỏ quên, xin cho chúng con nghe lại lời Người nói với một tên trộm: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Khi chúng con muốn trả đũa, xin cho chúng con nhìn đôi tay bị đóng đinh mà vẫn mở ra. Khi chúng con muốn bỏ cuộc trong tình yêu, xin cho chúng con nhìn Vị Vua đã không xuống khỏi Thập Giá. Và khi giờ cuối của đời chúng con đến, xin cho môi chúng con vẫn còn đủ sức thưa một câu cuối cùng: Lạy Đức Giêsu, khi Ngài vào Nước của Ngài, xin nhớ đến con.
Lm. Anmai, CSsR


VƯƠNG MIỆN CỦA NGƯỜI LÀ GAI
Tin Mừng: Ga 19,1-5
Có những hình ảnh trong Tin Mừng chỉ cần nhìn thật lâu, không cần giải thích nhiều, lòng người cũng đủ chùng xuống. Đức Giêsu đứng trước mặt đám đông trong bộ dạng không còn gì là oai phong theo cách người đời vẫn nghĩ về một vị vua: thân mình đầy thương tích sau trận đòn, trên vai khoác một tấm áo choàng tím được mặc vào như một trò chế nhạo, trên đầu không phải vương miện bằng vàng nhưng là một vòng gai được quân lính bện lại rồi ấn xuống. Máu từ những mũi gai chảy trên trán, trên thái dương, hòa với mồ hôi và bụi đất. Philatô đưa Người ra và nói một câu ngắn ngủi: “Đây là người.” Một con người bị đánh đến tan nát. Một vị vua không ngai vàng. Một vị vua không quân đội. Một vị vua không có những người tung hô. Một vị vua mà chiếc vương miện duy nhất trên đầu lại là gai. Nhưng chính ở giây phút tưởng như nhục nhã nhất ấy, chúng ta lại nhìn thấy một khuôn mặt của quyền bính mà thế gian rất khó hiểu: quyền bính của người dám chịu đau vì người khác, quyền bính của người không dùng sức mạnh để bảo vệ mình nhưng dùng tình yêu để bảo vệ những người được trao cho mình, quyền bính của người càng đứng cao càng biết cúi thấp, càng được trao nhiều trách nhiệm càng sẵn sàng trả giá nhiều hơn.
Con người từ xưa đến nay vẫn thích vương miện. Không nhất thiết là một chiếc vương miện bằng vàng đội trên đầu. Có những vương miện mang tên chức vụ, danh tiếng, địa vị, quyền hành, học vị, tiền bạc, ảnh hưởng, tiếng nói, sự kính nể của người khác. Người ta không cần làm vua mới có thể mê quyền lực. Chỉ cần trong một gia đình có quyền quyết định nhiều hơn một chút, trong một cộng đoàn có tiếng nói nặng hơn một chút, trong một cơ quan có chức cao hơn một chút, trong Giáo Hội được giao một trách nhiệm lớn hơn một chút, người ta đã có thể bắt đầu cảm thấy mình quan trọng. Và điều nguy hiểm nhất của quyền bính không phải lúc nào cũng là những lạm dụng lớn lao dễ nhận ra. Nhiều khi nó bắt đầu rất nhỏ: bắt người khác phải nghe mình, khó chịu khi bị góp ý, muốn người khác kính trọng mình nhưng mình lại không kính trọng họ, muốn người ta hy sinh cho công việc chung nhưng bản thân lại luôn tìm phần nhẹ, muốn được phục vụ nhưng không muốn phục vụ, muốn người khác hiểu hoàn cảnh của mình nhưng ít khi chịu hiểu hoàn cảnh của họ. Cứ như thế, chiếc vương miện tưởng vô hình dần dần đội lên đầu chúng ta. Và rồi ta tưởng rằng có quyền nghĩa là có quyền làm người khác đau.
Nhìn Đức Giêsu hôm nay, ta thấy hoàn toàn ngược lại. Người có quyền hơn tất cả, nhưng lại để người khác xúc phạm. Người là Chúa, nhưng lại đứng im trước những kẻ chế nhạo. Người là Vua, nhưng không đội vàng; Người đội gai. Đó không phải là vì Người yếu đuối. Cũng không phải vì Người bất lực. Nhưng vì quyền bính của Thiên Chúa không được chứng minh bằng khả năng làm người khác cúi đầu, mà bằng khả năng cúi xuống để nâng người khác lên. Đức Giêsu từng nói với các môn đệ rằng vua chúa trần gian thì lấy quyền mà thống trị dân, còn giữa anh em thì không được như vậy; ai muốn làm lớn phải làm người phục vụ. Những lời ấy không phải một bài học lý thuyết. Trên sân dinh Philatô, Chúa đã sống đến tận cùng điều Người đã dạy. Người làm Vua bằng cách đội lấy gai của nhân loại.
Và có lẽ đây là điều mỗi người chúng ta cần suy nghĩ thật lâu: mỗi trách nhiệm đều có những chiếc gai đi kèm. Nếu chỉ muốn vương miện mà không muốn gai, ta chưa hiểu trách nhiệm. Nếu chỉ muốn danh dự mà không muốn hy sinh, ta chưa hiểu quyền bính. Nếu chỉ muốn được người khác gọi bằng chức danh nhưng không muốn mang lấy những nỗi nhọc nhằn của người mình phục vụ, ta chưa hiểu Đức Kitô.
Một người cha trong gia đình có một thứ quyền bính. Nhưng quyền bính ấy không nằm ở chỗ ông nói lớn tiếng nhất trong nhà. Nó nằm ở chỗ ông có thể âm thầm thức khuya hơn để lo cho con, có thể bớt những nhu cầu riêng để gia đình đủ sống, có thể chịu những áp lực ngoài xã hội mà về nhà vẫn cố giữ một lời nói tử tế với vợ con. Có những người cha không bao giờ đội vương miện, nhưng trên đầu họ có rất nhiều gai. Gai của cơm áo. Gai của trách nhiệm. Gai của những đêm mất ngủ. Gai của những lần phải nuốt nước mắt vào trong vì không muốn người thân lo lắng. Và chính những chiếc gai âm thầm ấy làm nên phẩm giá của một người cha.
Một người mẹ cũng thế. Người mẹ có thể không giữ chức vụ gì ngoài xã hội, nhưng trong gia đình, sự hiện diện của mẹ đôi khi là cột trụ. Mẹ không cai trị bằng mệnh lệnh. Mẹ cai trị bằng tình yêu. Và tình yêu ấy luôn có gai. Gai của sinh nở. Gai của thức đêm khi con bệnh. Gai của chờ đợi khi con đi xa. Gai của những lời con vô tình nói làm mẹ tổn thương. Gai của tuổi già khi con cái mỗi đứa một nơi. Có những người mẹ chẳng bao giờ đòi con biết ơn, nhưng cả đời mang trên đầu một vương miện bằng gai mà không ai nhìn thấy. Đó là thứ vương miện rất giống vương miện của Đức Kitô.
Người làm lãnh đạo trong xã hội cũng vậy. Càng có trách nhiệm, càng phải mang nhiều gai hơn. Nếu một chức vụ chỉ đem lại đặc quyền mà không đem lại hy sinh, chức vụ ấy đã bị hiểu sai. Nếu người lãnh đạo luôn để người dưới chịu hậu quả còn mình nhận thành tích, đó không phải quyền bính theo tinh thần Tin Mừng. Nếu có lỗi thì đẩy xuống dưới, có công thì nhận về mình; khi khó khăn thì né tránh, lúc thành công thì đứng trước; khi cần người làm thì đòi hy sinh, đến lượt mình lại viện đủ lý do, thì người ấy có thể đang đội một chiếc vương miện rất đẹp theo cách thế gian nhưng rất xa chiếc vương miện của Đức Giêsu.
Trong Giáo Hội điều này càng phải được nhớ. Người có trách nhiệm trong Giáo Hội không được hiểu mình là người có nhiều đặc quyền hơn, mà phải là người có nhiều bổn phận phục vụ hơn. Chức vụ càng cao thì chỗ đứng trước Chúa càng phải thấp. Người được gọi là “cha” phải nhớ rằng người cha trước hết phải biết hiến đời cho con. Người được trao trách nhiệm mục tử phải nhớ rằng người mục tử tốt lành không sống nhờ đàn chiên, nhưng dám thí mạng vì đàn chiên. Một chiếc áo đẹp không làm nên mục tử. Một danh xưng kính trọng không làm nên mục tử. Một vị trí cao không làm nên mục tử. Điều làm nên mục tử chính là khả năng mang lấy mùi của chiên, những vết thương của chiên, những rắc rối của chiên, những câu chuyện không đầu không cuối của chiên, những yếu đuối đôi khi rất mệt mỏi của chiên. Người mục tử không thể chỉ thích những con chiên ngoan, dễ thương, biết nghe lời. Người mục tử theo Đức Kitô phải biết cúi xuống cả với những người làm mình phiền lòng. Vì chính Đức Kitô đã đội một vương miện bằng gai do con người đặt trên đầu Người.
Thật ra, điều đáng sợ nhất không phải là gai trên đầu Chúa. Điều đáng sợ là ai đã đặt gai ấy lên đầu Người. Tin Mừng kể đó là những người lính. Nhưng nếu đọc sâu hơn, ta hiểu vòng gai ấy được bện bằng tất cả sự kiêu căng, bạo lực, ích kỷ và tội lỗi của nhân loại. Mỗi mũi gai là một lần con người làm đau nhau vì muốn chứng minh mình mạnh hơn. Mỗi mũi gai là một lời nói nhục mạ. Một thái độ khinh người. Một quyết định bất công. Một cách sử dụng quyền lực để nghiền nát người yếu. Một sự lạnh lùng trước nước mắt của người khác. Một lần biết người ta đang đau mà vẫn cố tình chạm thêm vào vết thương. Chúng ta có thể rất xúc động khi nhìn quân lính đội vòng gai cho Chúa, nhưng đôi khi trong đời thường, ta lại đang tự tay bện những vòng gai cho người thân mà không nhận ra.
Có những người chồng bện gai cho vợ bằng những lời xúc phạm. Có những người vợ bện gai cho chồng bằng việc nhắc đi nhắc lại những thất bại cũ. Có những cha mẹ bện gai cho con cái bằng những so sánh: “Sao con không bằng con nhà người ta?” Có những người con bện gai cho cha mẹ già bằng sự lạnh nhạt. Có những anh chị em ruột bện gai cho nhau chỉ vì đất đai, tiền bạc, thừa kế. Có những người trong cộng đoàn bện gai cho nhau bằng lời đồn. Có những người đạo đức bện gai cho người khác bằng sự xét đoán. Có những người có quyền bện gai cho cấp dưới bằng những yêu cầu vô lý rồi gọi đó là kỷ luật. Và có những lúc chúng ta còn bện gai cho nhau nhân danh Thiên Chúa.
Đáng sợ lắm.
Vì vòng gai không phải lúc nào cũng làm bằng gai. Có những vòng gai làm bằng lời nói. Có những vòng gai làm bằng ánh mắt. Có những vòng gai làm bằng thái độ. Có những vòng gai làm bằng sự im lặng cố tình. Có những vòng gai làm bằng việc không tha thứ. Có những vòng gai làm bằng một câu chuyện bị kể đi kể lại cho nhiều người. Người bị đội vòng gai ấy có thể vẫn đi làm, vẫn cười, vẫn chào hỏi bình thường, nhưng mỗi tối về lại thấy đầu mình nhức nhối vì những điều người khác đã làm.
Đức Giêsu không tháo vòng gai xuống.
Chi tiết ấy rất lạ.
Người có thể tháo. Người có thể chống cự. Người có thể làm cho những kẻ ấy ngã xuống. Nhưng Người để gai ở đó. Không phải vì Người yêu đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ tình yêu có khả năng đi xuyên qua đau khổ mà không trở thành hận thù. Đức Giêsu mang gai không để nói rằng đau khổ tự nó là điều tốt, nhưng để cho thấy có một thứ tình yêu mạnh đến mức người ta có thể bị làm đau mà không biến thành người làm đau kẻ khác.
Đó mới là quyền năng.
Người đời nghĩ quyền lực là có khả năng trả đũa. Đức Kitô cho thấy quyền năng lớn hơn là có khả năng không trả đũa khi mình có thể trả đũa. Người đời nghĩ chiến thắng là làm cho đối thủ phải sợ. Đức Kitô cho thấy chiến thắng là không để sự ác của người khác biến mình thành một người ác giống họ. Người đời nghĩ mạnh là không ai làm mình bị thương. Đức Kitô cho thấy mạnh là bị thương mà vẫn còn khả năng yêu.
Nhìn vòng gai của Chúa, có lẽ những người đang giữ trách nhiệm cần hỏi mình: tôi đang dùng quyền được trao để che chở người dưới hay để bảo vệ cái tôi của mình? Tôi đang tạo bình an hay tạo sợ hãi? Khi người khác gặp tôi, họ cảm thấy được nâng lên hay bị đè xuống? Tôi có dám nhận trách nhiệm khi việc chung thất bại không? Tôi có biết xin lỗi người dưới khi mình sai không? Có những người lãnh đạo nghĩ rằng xin lỗi sẽ làm mất uy. Không. Một lời xin lỗi chân thành không làm người lãnh đạo thấp xuống; nó làm quyền bính trở nên có nhân tính. Đức Giêsu quỳ xuống rửa chân cho môn đệ mà không mất đi thiên tính. Vậy tại sao chúng ta lại sợ cúi xuống sẽ mất đi phẩm giá?
Có người càng lên chức càng xa người khác. Đức Giêsu càng tiến gần đến “giờ được tôn vinh” thì càng bị lột sạch. Có người càng có quyền càng muốn nhiều người phục vụ. Đức Giêsu càng biểu lộ vương quyền thì càng phục vụ đến mất mạng. Có người dùng quyền để tạo khoảng cách. Đức Giêsu dùng quyền để kéo người ta lại gần. Có người muốn quyền để được bảo vệ khỏi đau khổ. Đức Giêsu nhận vương quyền bằng cách đi vào đau khổ của nhân loại.
Vương miện của Người là gai.
Câu ấy cần được viết thật sâu vào lòng những ai đang có trách nhiệm.
Làm cha mẹ là đội gai.
Làm người đứng đầu là đội gai.
Làm linh mục là đội gai.
Làm bề trên là đội gai.
Làm người chịu trách nhiệm cho người khác là đội gai.
Nếu ngày nào đó chỉ còn thấy vinh dự mà không còn thấy gai, ta nên sợ. Vì có thể ta đang để người khác đội gai thay mình.
Có một cám dỗ rất tinh tế trong đời sống: thích được gọi là người phục vụ nhưng thực chất muốn được phục vụ. Miệng nói “phục vụ” nhưng trong lòng lại chờ lời cảm ơn. Làm một chút việc rồi muốn được ghi nhận. Hy sinh một chút rồi muốn người khác nhớ mãi. Khi không được nhìn nhận thì buồn, khi bị phê bình thì giận, khi người khác không biết ơn thì bỏ cuộc. Nhưng Chúa Giêsu đội gai trong tiếng cười chế nhạo. Người không có một lời cảm ơn nào từ những người đang được Người cứu. Thậm chí, những người được Người cứu còn đứng đó kêu đóng đinh Người.
Vậy mà Người vẫn yêu.
Đó là chỗ rất khó của tình yêu Kitô giáo: làm điều tốt mà không kiểm soát cách người khác đáp lại. Cha mẹ yêu con không phải vì chắc chắn con sẽ biết ơn. Linh mục phục vụ giáo dân không phải vì tất cả giáo dân đều hiểu mình. Người thiện nguyện giúp người nghèo không phải để được khen. Người lãnh đạo bảo vệ cấp dưới không phải để họ trung thành tuyệt đối với mình. Tình yêu thật không đặt hóa đơn trước mặt người được yêu.
Đức Giêsu không nói: “Ta đã chịu từng này vì các ngươi, các ngươi phải trả lại cho Ta.”
Người chỉ đội gai.
Có lẽ nhiều đau khổ trong gia đình và cộng đoàn bắt nguồn từ những chiếc hóa đơn vô hình ấy. “Tôi đã làm cho anh biết bao nhiêu.” “Tôi hy sinh cho con cả đời.” “Tôi đã giúp người ấy.” “Tôi từng nâng đỡ nó.” Những câu ấy đôi khi là sự thật. Nhưng nếu cứ giữ lại để đòi nợ tình nghĩa, tình yêu trở thành một thứ vay mượn. Đức Kitô trao ban mà không giữ sổ nợ. Người không dùng Thập Giá để khiến chúng ta xấu hổ. Người dùng Thập Giá để cho chúng ta biết mình được yêu.
Và đây cũng là điều kỳ diệu của quyền bính Kitô giáo: người có trách nhiệm phải làm cho người dưới cảm nhận rằng họ được yêu chứ không phải mắc nợ mình.
Một người cha tốt không làm con cái sống cả đời trong cảm giác: “Ba nuôi mày nên mày nợ ba.” Một người mẹ tốt không dùng những hy sinh của mình để trói buộc cuộc đời con. Một mục tử tốt không biến công ơn phục vụ thành quyền sở hữu trên giáo dân. Một người lãnh đạo tốt không biến sự giúp đỡ thành công cụ để kiểm soát nhân viên. Quyền bính kiểu Đức Kitô luôn giải phóng.
Vì bàn tay mang quyền năng của Người là bàn tay bị đóng đinh, nghĩa là bàn tay không nắm chặt lấy ai.
Có khi chúng ta nên đứng trước tượng Chúa đội mão gai lâu hơn một chút. Đừng xin gì vội. Chỉ nhìn.
Nhìn để thấy Thiên Chúa của chúng ta khác thế nào với cách chúng ta thường mơ về sức mạnh.
Nhìn để biết tại sao bao năm đi đạo nhưng cái tôi của mình vẫn còn lớn.
Nhìn để hỏi: trong nhà tôi, ai đang đội gai vì tôi?
Có thể là người vợ.
Có thể là người chồng.
Có thể là đứa con.
Có thể là cha mẹ già.
Có thể là một người cộng sự.
Có thể là một người dưới quyền.
Có thể là một linh mục khác.
Có thể là một người mà tôi vẫn nghĩ là “đáng bị như thế”.
Đức Giêsu hôm nay không hỏi ai đáng hay không đáng. Người chỉ đứng đó.
“Đây là người.”
Một câu của Philatô vô tình trở thành lời mặc khải sâu xa. Đây là con người đích thực. Đây là hình ảnh con người mà Thiên Chúa muốn phục hồi nơi chúng ta: một con người có thể mang quyền mà không kiêu, có thể chịu đau mà không ác, có thể bị xúc phạm mà không đánh mất phẩm giá, có thể có quyền trả thù nhưng chọn tha thứ, có thể đứng trên cao nhưng chọn cúi xuống.
Con người hôm nay có rất nhiều kỹ năng lãnh đạo. Sách nói về chiến lược, truyền cảm hứng, xây dựng đội ngũ, quản trị khủng hoảng, kỹ năng giao tiếp. Tất cả đều cần. Nhưng người Kitô hữu còn phải học một bài nữa không trường quản trị nào dạy hết được: học đội gai.
Đội gai nghĩa là nhận phần khó về mình.
Đội gai nghĩa là khi có chuyện, không vội tìm một người để đổ lỗi.
Đội gai nghĩa là dám bảo vệ người yếu ngay cả khi việc ấy làm mình thiệt.
Đội gai nghĩa là khi phải sửa dạy ai, vẫn giữ phẩm giá cho người ấy.
Đội gai nghĩa là không dùng quyền để làm nhục.
Đội gai nghĩa là chịu nghe những điều khó nghe.
Đội gai nghĩa là không bắt người khác phải luôn hiểu mình.
Đội gai nghĩa là biết có những việc mình làm chẳng ai biết ngoài Chúa.
Và lạ thay, chính những chiếc gai ấy mới làm nên vương miện.
Thế gian dùng vàng để chứng minh ai là vua. Thiên Chúa dùng gai.
Bởi vàng cho biết người ta sở hữu bao nhiêu, còn gai cho biết người ta đã yêu đến mức nào.
Vàng có thể mua được. Gai phải được mang.
Danh dự có thể được trao. Hy sinh phải được sống.
Chức vụ có thể được bổ nhiệm. Uy tín phải được tạo nên bằng đời sống.
Một người có thể được người khác gọi là “lãnh đạo”, nhưng chỉ khi dám chịu trách nhiệm cho người mình dẫn dắt, người ấy mới thật sự lãnh đạo.
Một người có thể được gọi là “cha”, nhưng chỉ khi dám tiêu hao đời mình cho con cái, chữ “cha” mới trở thành linh thiêng.
Một người có thể được gọi là “mục tử”, nhưng chỉ khi sẵn sàng đi tìm con chiên bị thương, chữ “mục tử” mới giống Đức Kitô.
Có những ngày phục vụ rất vui. Có người hiểu. Có người cảm ơn. Có thành quả. Nhưng cũng có những ngày toàn gai: làm điều tốt lại bị hiểu lầm, cố gắng lại bị chê, giúp người rồi bị quay lưng, nói vì trách nhiệm lại bị ghét, im lặng thì bị cho là yếu, lên tiếng thì bị cho là khó. Những lúc ấy rất dễ chán. Rất dễ tự hỏi: “Tại sao mình phải chịu?”
Nhìn Đức Giêsu.
Người không nói chúng ta phải đi tìm gai. Đời sẽ tự mang gai đến đủ rồi. Người chỉ dạy chúng ta đừng tháo gai bằng cách đặt nó sang đầu người khác.
Đừng vì mình đau mà làm người khác đau.
Đừng vì mình bị hiểu lầm mà đi nói xấu.
Đừng vì mình bị tổn thương mà trừng phạt người vô tội.
Đừng mang bực bội từ công sở về đổ lên gia đình.
Đừng mang thất vọng trong gia đình vào cộng đoàn.
Đừng mang vết thương cũ để trả vào một người mới.
Chúa nhận gai và dừng vòng gai lại nơi Người.
Đó là cứu độ.
Người không truyền gai tiếp.
Đó cũng là ơn gọi của chúng ta.
Trong mỗi gia đình, cần một người đủ trưởng thành để dừng vòng xoáy tổn thương. Trong mỗi cộng đoàn, cần một người đủ khiêm tốn để thôi tranh đúng sai và bắt đầu tìm bình an. Trong mỗi xung đột, cần có ai đó nói: “Thôi, chuyện này dừng ở tôi.” Người ấy có thể chịu thiệt. Có thể không được ai khen. Nhưng người ấy đang giống Đức Kitô đội mão gai.
Thế giới này không thiếu người muốn làm vua. Thế giới thiếu những người dám đội gai.
Gia đình không thiếu người muốn người khác nghe mình. Gia đình thiếu những người chịu lắng nghe.
Cộng đoàn không thiếu người có ý kiến. Cộng đoàn thiếu những người chịu hy sinh.
Giáo Hội không thiếu chức danh. Giáo Hội luôn cần những người có trái tim của Đấng đội mão gai.
Và mỗi chúng ta cũng vậy.
Có lẽ cuối cùng Chúa không hỏi ta đã giữ chức vụ gì, nhưng hỏi: “Trong thời gian con giữ trách nhiệm ấy, con đã làm nhẹ bớt bao nhiêu chiếc gai trên đầu người khác?”
Không hỏi ta có bao nhiêu người kính trọng, nhưng hỏi bao nhiêu người vì gặp ta mà bớt sợ.
Không hỏi ta ra bao nhiêu mệnh lệnh, nhưng hỏi ta đã cúi xuống bao nhiêu lần.
Không hỏi người dưới đã phục vụ ta thế nào, nhưng hỏi ta đã phục vụ họ ra sao.
Vương miện của Đức Kitô là gai.
Xin đừng để chúng ta yêu Thập Giá chỉ bằng lời.
Xin cho những người làm cha mẹ biết đội gai vì con mà không than phiền quá nhiều. Xin cho người làm lãnh đạo biết nhận phần khó trước khi đòi người dưới hy sinh. Xin cho người có trách nhiệm trong Giáo Hội biết rằng quyền bính không làm chúng ta xa anh chị em hơn nhưng buộc chúng ta phải gần họ hơn. Xin cho mỗi linh mục nhớ rằng bàn tay mình được xức dầu không phải để được người khác hôn kính mà trước hết để bẻ bánh, chữa lành, nâng người ngã xuống và lau những giọt nước mắt mà có khi chẳng ai nhìn thấy.
Và xin cho mỗi người chúng ta, dù chẳng có chức vụ gì lớn lao, cũng biết rằng mình luôn có một thứ quyền lực trên người bên cạnh: quyền làm họ vui hoặc buồn, quyền nâng họ lên hoặc làm họ tổn thương, quyền tha thứ hoặc giữ hận, quyền nói một lời chữa lành hoặc một lời như gai đâm. Xin cho chúng ta sử dụng quyền ấy theo cách của Đức Kitô.
Bởi có thể một ngày kia, tất cả những thứ vương miện đời này đều rơi xuống. Chức vụ hết. Danh tiếng qua. Tiền bạc ở lại. Những người từng tung hô mình cũng đi mất. Khi ấy chỉ còn một câu hỏi: ta đã yêu thế nào?
Và có lẽ những người đứng gần Chúa nhất trong Nước Trời sẽ không phải là những người từng đội nhiều vương miện nhất trên trần gian, mà là những người đã âm thầm mang nhiều gai nhất vì tình yêu.
Lạy Đức Giêsu đội mão gai, xin dạy chúng con hiểu quyền bính của Người. Xin đừng để chúng con tìm một Kitô giáo không có hy sinh, một trách nhiệm không có giá phải trả, một vương miện không có gai. Khi chúng con được trao một người để chăm sóc, xin cho chúng con biết cúi xuống. Khi được trao quyền quyết định, xin cho chúng con biết run sợ trước lương tâm. Khi người khác làm chúng con đau, xin đừng để chúng con đem gai ấy đặt lên một người vô tội khác. Khi bị hiểu lầm, xin cho chúng con đủ bình an để không vội trả đũa. Khi phải hy sinh trong âm thầm, xin cho chúng con nhớ đến Người đã đứng im trước đám đông, đầu đội mão gai và không hề hối tiếc vì đã yêu nhân loại.
Vương miện của Người là gai.
Xin cho đó cũng trở thành bài học của đời chúng con: càng được trao nhiều, càng phải cho đi nhiều; càng đứng cao, càng phải cúi sâu; càng có trách nhiệm, càng phải biết chịu phần đau về mình; và càng thuộc về Đức Kitô, càng phải học yêu theo cách của Đấng đã để những mũi gai đâm vào đầu mình, để không một tội nhân nào phải tuyệt vọng vì nghĩ rằng Thiên Chúa không còn yêu họ.
Lm. Anmai, CSsR

ĐÂY LÀ NGƯỜI
Tin Mừng: Ga 19,4-5
Có những câu Tin Mừng rất ngắn nhưng càng đọc càng thấy như một vực sâu không dò được đáy. Có những lời tưởng chỉ là lời nói trong một biến cố đã qua, nhưng thật ra vẫn đang vang lên giữa nhân loại hôm nay, giữa những gia đình hôm nay, giữa những thành phố đông đúc hôm nay, giữa những bệnh viện, nhà tù, trại tị nạn, viện dưỡng lão, những căn nhà nghèo, những con đường đầy người mà vẫn có biết bao con người cô độc. Một trong những lời như thế là lời Philatô nói khi dẫn Đức Giêsu ra trước đám đông: “Đây là Người!” Chỉ ba tiếng thôi. Nhưng ba tiếng ấy chứa đựng cả một mầu nhiệm về Đức Kitô, đồng thời chứa đựng cả một mặc khải khôn dò về con người. “Đây là Người!” Philatô nói mà có lẽ không hiểu hết điều mình đang nói. Trước mặt ông lúc ấy không phải là một con người đang ở đỉnh cao danh vọng, không phải một vị vua mặc cẩm bào, không phải một anh hùng chiến thắng trở về trong tiếng reo hò. Trước mặt ông là một thân thể đã bị đánh đập. Đầu đội một vòng gai. Vai khoác một chiếc áo choàng tím dùng để chế giễu. Mặt có lẽ sưng lên vì những cái tát. Da thịt mang những dấu vết của roi đòn. Máu và mồ hôi hòa vào nhau. Một Con Người bị hạ nhục đến mức người ta muốn làm cho Người mất hết dáng vẻ đáng kính. Và chính lúc ấy, Philatô chỉ vào Người mà nói: “Đây là Người!” Kỳ lạ thay, Tin Mừng Gioan đặt trước mắt chúng ta hình ảnh con người đúng vào lúc con người bị xúc phạm nhất. Chính khi Đức Giêsu bị tước hết những gì thế gian dùng để định nghĩa giá trị một con người, phẩm giá đích thực của con người lại được mặc khải sáng ngời nhất.
Thế gian thường có những tiêu chuẩn riêng để nói: “Đây mới là người đáng kể.” Người có tiền thì được trọng. Người có địa vị thì được nghe. Người có tiếng nói thì được chú ý. Người khỏe mạnh, trẻ trung, đẹp đẽ thì dễ được ngưỡng mộ. Người thành công thì có nhiều người tìm đến. Người thất bại thì người ta lảng tránh. Người có thể mang lại lợi ích thì được săn đón. Người không còn khả năng đem lại điều gì thì có nguy cơ bị xem như gánh nặng. Chúng ta nói rất nhiều về phẩm giá con người, nhưng nhiều khi cách sống của chúng ta lại âm thầm phân loại con người. Có những người bước vào một nơi nào đó được mọi người đứng lên chào. Có những người đi ngang qua chẳng ai thèm nhìn. Có người vừa lên tiếng là cả phòng im lặng. Có người nói đến khản giọng cũng chẳng ai nghe. Có người đau một chút đã có bao người hỏi han. Có người mang nỗi đau suốt mấy chục năm mà chẳng ai biết. Có người chết đi cả thành phố đưa tiễn. Có người chết trong căn phòng nhỏ vài ngày mới được phát hiện. Phải chăng phẩm giá con người thay đổi theo số người biết tên mình? Phải chăng giá trị một đời người lớn nhỏ tùy số tiền họ có, chức vụ họ giữ, bằng cấp họ mang, sức khỏe họ còn hay vẻ đẹp họ sở hữu? Nếu như thế thì Tin Mừng hôm nay trở thành một lời phản kháng dữ dội đối với mọi thước đo của thế gian. Bởi Philatô nói “Đây là Người” khi Đức Giêsu chẳng còn gì để thế gian ngưỡng mộ. Người không tiền. Không quyền. Không áo đẹp. Không người bảo vệ. Không đám đông tung hô. Những môn đệ thân tín gần như đã tan tác. Những người từng nghe Người giảng, từng ăn bánh Người hóa nhiều, từng chứng kiến những phép lạ của Người, giờ không thấy đâu. Trước mắt người đời, Người gần như đã mất hết. Nhưng Người vẫn là Người. Không một ngọn roi nào làm Người bớt là người. Không một cái tát nào lấy đi phẩm giá của Người. Không một lời chế giễu nào làm giá trị của Người nhỏ đi. Không vòng gai nào có thể hạ thấp sự cao quý của Người. Không việc bị kết án như một tên tội phạm nào có thể biến Người thành kẻ vô giá trị. Chính nơi Đức Kitô bị sỉ nhục, Thiên Chúa đang nói với nhân loại rằng: phẩm giá của một con người không nằm trong những gì người ấy sở hữu; phẩm giá ấy nằm trong chính việc người ấy là một con người được Thiên Chúa yêu.
Đó là điều chúng ta cần nghe đi nghe lại, bởi có những lúc chính chúng ta cũng quên mình là người. Có khi ta nghĩ mình chỉ đáng giá nếu còn làm việc được. Đến một ngày tuổi già đến, tay run, chân yếu, trí nhớ giảm, phải nhờ con cháu giúp đỡ từng việc nhỏ, ta thấy mình vô dụng. Có người già từng mạnh mẽ cả đời, từng nuôi cả một gia đình, từng gánh vác bao việc, đến cuối đời chỉ còn nằm trên giường và nói: “Tôi chẳng làm được gì nữa, chỉ làm phiền con cháu.” Nghe câu ấy đau lắm. Một đời người mà cuối cùng lại tự đánh giá mình chỉ bằng khả năng làm được bao nhiêu việc! Không. Tin Mừng hôm nay nói với người già: “Đây là người.” Dù ông không còn đi được, ông vẫn là người. Dù bà phải có người đút từng muỗng cháo, bà vẫn là người. Dù trí nhớ của một người đã phai mờ đến mức chẳng còn nhận ra con mình, họ vẫn là người. Phẩm giá không mất theo trí nhớ. Phẩm giá không giảm theo tuổi tác. Phẩm giá không biến mất khi sức lao động không còn. Một em bé chưa làm được gì có phẩm giá trọn vẹn. Một người già không còn làm được gì cũng có phẩm giá trọn vẹn. Bởi giá trị của một con người không phải là số lượng sản phẩm họ tạo ra, nhưng là tình yêu mà Thiên Chúa đã đặt vào chính sự hiện hữu của họ.
Có khi ta nghĩ mình chỉ đáng giá khi thành công. Một người trẻ thi trượt, thất nghiệp, làm ăn thất bại, hôn nhân đổ vỡ, dự định tan tành, nhìn bạn bè ai cũng tiến lên còn mình như đứng lại, rất dễ nghĩ rằng đời mình thất bại. Xã hội hôm nay tạo ra một áp lực kinh khủng: phải thành công, phải đẹp, phải hơn người, phải được công nhận, phải có thành tích để chứng minh mình đáng sống. Mạng xã hội càng làm người ta dễ rơi vào chiếc bẫy so sánh. Người ta nhìn vài bức hình đẹp của người khác rồi đem so với toàn bộ cuộc đời lộn xộn của mình. Người ta thấy người khác mua nhà, lập gia đình, đi du lịch, thăng chức, con cái học giỏi, rồi quay lại thấy đời mình thua kém. Từ đó một câu hỏi âm thầm mọc lên: “Tôi có giá trị gì không?” Hãy nhìn lên Đức Giêsu trong sân Philatô. Ngay lúc tất cả dường như chứng minh Người thất bại, Thiên Chúa vẫn nhìn Người và nói: Con yêu dấu của Ta. Giá trị của Đức Giêsu không do đám đông xác nhận. Và giá trị của chúng ta cũng vậy. Người khác có thể không công nhận ta, nhưng Thiên Chúa không vì thế mà bớt yêu ta. Ta có thể thất bại trong một công việc nhưng không vì thế mà trở thành một con người thất bại. Ta có thể mắc một sai lầm nhưng không vì thế toàn bộ con người ta trở thành sai lầm. Ta có thể có một quá khứ đáng xấu hổ nhưng ta không đồng nhất với quá khứ ấy. Tội lỗi có thể làm con người bị thương, nhưng tội lỗi không có quyền xóa bỏ hình ảnh Thiên Chúa nơi con người. Vì thế, Giáo Hội không bao giờ được phép nhìn một tội nhân rồi nói: “Con người này hết rồi.” Không ai hết cả khi Thiên Chúa còn có thể cứu. Không ai là rác rưởi trong mắt Thiên Chúa.
“Đây là Người!” Câu ấy còn buộc chúng ta phải hỏi một câu rất khó: Tôi nhìn người khác như thế nào? Chúng ta thường nói yêu Chúa dễ hơn yêu người. Bởi Chúa không chen hàng trước mặt ta, không nói những lời làm ta tự ái, không vay tiền ta rồi không trả, không làm ồn nhà bên cạnh, không khiến ta mất quyền lợi, không có tính khí khiến ta khó chịu. Ta có thể quỳ trước Thánh Thể rất lâu với một tâm tình sốt sắng, nhưng vừa bước ra khỏi nhà thờ đã có thể khinh một người nghèo. Ta có thể hôn kính Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng về nhà lại dùng lời nói đóng đinh người thân. Ta có thể rước lấy Mình Thánh Chúa thật trang nghiêm, nhưng sau Thánh lễ lại ngồi nói xấu một người đến không còn gì tốt đẹp trong họ. Ta có thể khóc khi nghe đọc cuộc Thương Khó, nhưng lại lạnh lùng trước một người đang đau khổ ngay cạnh mình. Nếu thế thì rất có thể chúng ta đã nhận ra Đức Kitô trong nhà thờ nhưng chưa nhận ra Người ngoài cuộc đời. Philatô chỉ vào Đức Giêsu và nói: “Đây là Người.” Tin Mừng hôm nay như muốn đặt trước mắt ta từng người ta gặp và nhắc: Đây cũng là người. Người lao công cúi nhặt rác trước cổng nhà ta: đây là người. Người phụ nữ bán vé số dưới trời nắng: đây là người. Người bệnh nằm lâu ngày khiến cả nhà mệt mỏi: đây là người. Đứa trẻ học chậm hơn các bạn: đây là người. Người phạm tội đang ở trong tù: đây là người. Người nghiện đang vật lộn với những lần tái phạm: đây là người. Người mắc bệnh tâm thần mà hành vi nhiều lúc khiến ta khó chịu: đây là người. Người khuyết tật không nói năng, đi đứng giống ta: đây là người. Người khác tôn giáo, khác quan điểm, khác tầng lớp, khác lối sống với ta: đây là người. Kẻ đã từng làm ta tổn thương: trước khi là “kẻ thù của tôi”, người ấy vẫn là người. Và đã là người thì có một phẩm giá mà chính Thiên Chúa bảo đảm.
Một trong những tội nặng nề nhất của nhân loại là tội biến một con người thành một thứ. Khi người ta gọi một người chỉ bằng một nhãn hiệu, đó là bước đầu để thôi nhìn họ như người. Một bệnh nhân trở thành “ca bệnh số…”; một tù nhân trở thành “số tù…”; một người nghèo trở thành “đối tượng trợ cấp”; một người già trở thành “gánh nặng”; một đứa trẻ khuyết tật trở thành “trường hợp đặc biệt”; một người di dân trở thành “lao động”; một nhân viên trở thành “nguồn lực”; một người thất nghiệp trở thành “kẻ ăn bám”; một người phạm tội trở thành chính cái tội họ đã phạm. Và nguy hiểm hơn nữa là khi ta không gọi người khác bằng tên mà gọi bằng vết thương của họ: “thằng nghiện ấy”, “con nhỏ ly dị ấy”, “ông già khó tính ấy”, “đứa con hư ấy”, “thằng tù ấy”. Một đời người với bao nhiêu kỷ niệm, bao giấc mơ, bao giọt nước mắt, bao lần cố gắng, bao lần yêu thương, cuối cùng bị thu gọn vào một lỗi lầm hay một khuyết điểm. Đức Giêsu trong dinh Philatô cũng đã bị như thế. Người bị biến thành một trò cười. Những người lính không còn nhìn thấy trước mặt mình một con người. Họ thấy một thứ để hành hạ, một thân thể để đánh, một tù nhân để chế giễu. Chính lúc con người thôi nhìn người khác là người, bạo lực bắt đầu.
Không ai thức dậy vào buổi sáng rồi đột nhiên trở thành một kẻ tàn ác kinh khủng. Sự tàn ác thường bắt đầu từ một cái nhìn. Trước hết là coi người kia ít giá trị hơn mình. Rồi coi nỗi đau của họ không quan trọng bằng nỗi đau của mình. Rồi coi quyền lợi của họ không đáng kể bằng quyền lợi của mình. Rồi cuối cùng người ta có thể làm những điều khủng khiếp mà vẫn thấy lương tâm yên ổn. Bởi họ đã không còn nhìn thấy một con người trước mặt. Các cuộc chiến tranh cũng vậy. Muốn giết người dễ dàng, trước hết phải gọi bên kia là “kẻ thù”, là một đám vô danh, là những con số. Nhưng mỗi người chết trong chiến tranh đều có một cái tên. Có một người mẹ từng sinh ra họ. Có thể có một đứa con đang đợi họ về. Có một căn nhà từng vang tiếng cười của họ. Có những ước mơ chưa thành. Khi bom rơi, người ta nói mười người chết, một trăm người chết, một ngàn người chết. Những con số khiến ta dễ quên rằng mỗi đơn vị trong con số ấy là một thế giới đã tắt. Tin Mừng không cho phép Kitô hữu quen với những con số đến mức mất cảm giác trước con người. “Đây là Người.” Hãy đặt câu ấy trước mọi khuôn mặt bị thương trong lịch sử.
Và cũng hãy đặt câu ấy trước những người ta gặp ngay trong gia đình. Nhiều khi ta đối xử tử tế với người ngoài hơn người nhà. Với khách ta nói nhẹ nhàng, với vợ chồng lại cộc cằn. Với đồng nghiệp ta biết giữ ý, với cha mẹ già lại dễ cáu. Với người lạ ta kiên nhẫn, với con cái lại buông những câu có thể làm chúng nhớ suốt đời. Ta nghĩ người thân “quen rồi”, nên có thể nói gì cũng được. Nhưng người thân cũng là người. Vợ mình không phải chiếc máy phục vụ gia đình. Chồng mình không phải chiếc máy kiếm tiền. Con mình không phải dự án để mình khoe thành tích. Cha mẹ già không phải gánh nặng cần xử lý. Người giúp việc không phải đôi tay không có trái tim. Mỗi người đều có những mỏi mệt mà ta không thấy. Có những bà mẹ cả ngày chăm con, nấu ăn, dọn dẹp, đêm xuống không ai hỏi: “Hôm nay em có mệt không?” Có những người cha đi làm về im lặng, cả nhà chỉ biết hỏi tiền, chẳng ai hỏi lòng ông đang nặng điều gì. Có những đứa trẻ được cha mẹ cho đủ mọi thứ nhưng thiếu một điều rất nhỏ: được lắng nghe như một con người. Có những người già ngồi suốt ngày trước cửa nhà, con cháu cho ăn uống đầy đủ nhưng không ai ngồi cạnh mười phút. Nuôi một con người không chỉ là cho họ ăn. Yêu một con người không chỉ là bảo đảm nhu cầu vật chất. Yêu là nhìn người ấy và nói bằng cách sống của mình: “Tôi biết bạn hiện hữu. Tôi biết bạn có một trái tim. Tôi biết nỗi đau của bạn có thật. Tôi biết bạn không phải là một đồ vật trong đời tôi.”
“Đây là Người.” Có lẽ câu Tin Mừng này cũng phải được nói trước những người đang bị xã hội khinh rẻ vì nghèo. Nghèo không phải một tội. Nhưng đau đớn thay, nhiều người nghèo không chỉ thiếu tiền mà còn bị lấy mất cả sự tôn trọng. Một người ăn mặc nghèo bước vào cửa hàng đôi khi nhân viên nhìn khác. Một người đi chiếc xe cũ đến nơi sang trọng đôi khi có cảm giác mình không thuộc về nơi ấy. Có những đứa trẻ con nhà nghèo học trong lớp từ rất sớm đã hiểu thế nào là khoảng cách xã hội, chỉ vì đôi giày cũ, chiếc điện thoại cũ, hay vì cha mẹ làm nghề bình thường. Những vết thương ấy không chảy máu nhưng sâu lắm. Đức Kitô đã chọn đứng giữa những người bị hạ thấp như thế. Người sinh ra không trong cung điện mà ở Bêlem nghèo khó. Người sống phần lớn cuộc đời trong một làng quê chẳng đáng kể. Người làm nghề thợ mộc. Người không có nơi gối đầu. Và cuối cùng Người chết trần trụi trên thập giá. Một Thiên Chúa đã tự đặt mình ở nơi thấp nhất để không một người ở tầng thấp nhất của xã hội có thể nói: “Thiên Chúa không hiểu tôi.”
Thật ra, mầu nhiệm Nhập Thể đã là câu trả lời tuyệt đẹp cho câu hỏi con người đáng giá bao nhiêu. Thiên Chúa không cứu con người từ xa. Người đã làm người. Con Thiên Chúa mang lấy da thịt con người, trái tim con người, nước mắt con người, nỗi đói của con người, sự mệt mỏi của con người, nỗi cô đơn của con người, và cuối cùng cả cái chết của con người. Kể từ khi Ngôi Lời làm người, thân xác con người không còn là thứ tầm thường. Bàn tay con người được thánh hóa bởi bàn tay Đức Giêsu từng làm việc. Đôi chân con người được thánh hóa bởi đôi chân Người từng đi trên những nẻo đường Galilê. Nước mắt con người được thánh hóa bởi Người đã khóc trước mộ Ladarô. Nỗi sợ của con người được Người mang lấy trong vườn Cây Dầu. Đau đớn của thân xác được Người mang vào cuộc Thương Khó. Và cái chết được Người bước vào. Thiên Chúa đã đi sâu đến tận cùng thân phận con người. Vì thế, xúc phạm một con người không bao giờ là chuyện nhỏ.
Thánh Gioan sau này sẽ viết rất rõ rằng ai nói mình yêu Thiên Chúa mà ghét anh em mình là kẻ nói dối. Một lời quá mạnh. Nhưng cần thiết. Bởi Kitô giáo không cho phép ta xây một con đường lên trời bằng cách bước qua người khác. Không thể yêu một Thiên Chúa vô hình mà khinh một con người hữu hình. Không thể kính ảnh tượng Đức Giêsu mà coi thường thân thể những người đau khổ. Có khi một nhà thờ rất đẹp, tượng ảnh rất trang nghiêm, phụng vụ rất sốt sắng, nhưng ngoài cổng nhà thờ lại có một người nghèo bị xua đi như một sự phiền toái. Khi ấy ta cần nghe lại: “Đây là Người.” Có khi trong một cộng đoàn người ta bảo vệ danh dự của cơ cấu nhưng quên nỗi đau của một con người bé nhỏ. Khi ấy phải nghe lại: “Đây là Người.” Có khi trong một gia đình người lớn nhân danh “dạy dỗ” mà làm tổn thương phẩm giá trẻ nhỏ. Hãy nghe: “Đây là Người.” Có khi trên mạng xã hội ta bình luận về một người bằng những lời mà nếu họ ngồi trước mặt, ta sẽ không dám nói. Hãy nhớ: người đang ở phía bên kia màn hình cũng là người.
Văn hóa của thời đại kỹ thuật số có một nguy cơ rất lớn: làm chúng ta quên rằng sau một tài khoản là một con người. Một người bị hàng ngàn người chế giễu trên mạng không chỉ là một cái tên đang “viral”; họ là người. Một nghệ sĩ bị scandal không chỉ là đề tài để thiên hạ giải trí; họ là người. Một người có ý kiến sai có thể cần được sửa, nhưng họ vẫn là người. Chúng ta có thể phản đối một quan điểm mà không hủy diệt phẩm giá người nói ra quan điểm ấy. Có thể lên án điều sai mà không nuôi hận thù với người sai. Đức Giêsu rất mạnh mẽ trước tội lỗi nhưng chưa bao giờ biến tội nhân thành đồ bỏ. Người nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Người không gọi điều sai là đúng. Nhưng Người cũng không đồng nhất người phạm tội với tội của họ. Đó là một nghệ thuật mà chúng ta rất cần học: phân biệt tội lỗi với tội nhân, việc xấu với con người, sai lầm với người mắc sai lầm. Nếu không, nhân danh bảo vệ chân lý ta có thể trở thành những người rất thiếu tình yêu.
“Đây là Người” còn là câu nói phải vang lên trong mọi suy tư về sự sống. Một thai nhi chưa thể nói: đây là người. Một người khuyết tật nặng không thể tự chăm sóc mình: đây là người. Một người bệnh ở giai đoạn cuối không còn hy vọng chữa khỏi: đây là người. Một người mất trí nhớ: đây là người. Một người nằm hôn mê: đây là người. Phẩm giá con người không tùy thuộc vào mức độ tự chủ, trí thông minh hay hiệu quả kinh tế. Nếu chỉ người mạnh mới có giá trị thì những người yếu nhất sẽ luôn là những người gặp nguy hiểm nhất. Tin Mừng đảo ngược cái nhìn ấy. Chính người yếu lại cần được bảo vệ hơn. Chính người không thể tự lên tiếng lại cần chúng ta lên tiếng cho họ. Chính người không thể trả ơn lại thử thách sự tinh tuyền của tình yêu chúng ta. Yêu người có thể trả ơn cho ta còn dễ. Yêu một người hoàn toàn lệ thuộc vào ta mới cho thấy ta thực sự nhìn thấy phẩm giá của họ hay chỉ nhìn lợi ích của mình.
Nhìn Đức Giêsu bị đánh đập, ta còn thấy một điều rất đau: thân xác con người có thể bị con người xúc phạm kinh khủng. Những cái roi trong sân dinh Philatô vẫn chưa ngừng trong lịch sử. Hôm nay roi có những hình thức khác. Bạo lực gia đình là roi. Lạm dụng là roi. Buôn người là roi. Bóc lột lao động là roi. Làm nhục người yếu thế là roi. Bắt nạt trẻ em là roi. Những lời xúc phạm lặp đi lặp lại cũng có thể trở thành roi. Một người chồng không cần đánh vợ mới gọi là bạo lực; những lời hạ nhục liên tục có thể giết chết lòng tự trọng của một người. Một cha mẹ không cần đánh con mới làm con bị thương; câu “mày chẳng làm được trò trống gì” nói nhiều năm có thể đi theo một đứa trẻ đến tuổi trưởng thành. Có những vết roi trên da vài tuần thì lành. Có những câu nói nằm trong ký ức bốn mươi năm vẫn đau. Ta cần cẩn thận với lời nói của mình. Bởi trước mặt ta là một con người.
Và có lẽ điều đau nhất là nhiều người mang trong mình những vết thương đến mức không còn tin chính mình có phẩm giá. Người bị bỏ rơi nghĩ mình không đáng yêu. Người từng bị lạm dụng nghĩ mình ô uế. Người đã phạm một tội nặng nghĩ mình không xứng đáng được tha thứ. Người thất bại nhiều lần nghĩ mình vô dụng. Người bị chồng hay vợ phản bội tự hỏi mình có gì thiếu sót. Một đứa trẻ lớn lên trong những lời chê bai có thể đến tuổi năm mươi vẫn âm thầm cố chứng minh mình đáng được yêu. Nếu có ai đang mang cảm giác ấy, hãy đứng trước Đức Giêsu hôm nay. Người bị cả thế gian sỉ nhục nhưng phẩm giá Người không suy suyển. Người ta có thể đối xử với bạn như thể bạn không đáng giá; điều đó không có nghĩa là bạn không đáng giá. Người khác có thể không biết trân trọng bạn; điều đó không quyết định giá trị của bạn. Có người có thể bỏ bạn; Thiên Chúa không vì thế bỏ bạn. Có người có thể làm bạn bị thương; họ không có quyền viết định nghĩa cuối cùng về bạn. Cái nhìn cuối cùng về một đời người thuộc về Thiên Chúa. Và Thiên Chúa nhìn bạn bằng ánh mắt của Đấng đã trao Con Một cho bạn.
Nhưng Tin Mừng không chỉ mời ta bảo vệ phẩm giá của người khác. Tin Mừng cũng dạy ta giữ gìn phẩm giá của chính mình. Có những người vì muốn được yêu mà chấp nhận để người khác chà đạp mình. Có người vì sợ mất một mối quan hệ mà chịu mọi hình thức xúc phạm. Có người nhầm lẫn tha thứ với việc cho phép người khác tiếp tục làm điều xấu. Đức Giêsu khiêm nhường nhưng không hèn yếu. Người chịu đau khổ vì tình yêu, không phải vì Người nghĩ mình không có giá trị. Khi bị tên thuộc hạ của thượng tế tát, Người hỏi: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Đó là phẩm giá. Kitô hữu được mời gọi tha thứ, nhưng tha thứ không có nghĩa là đồng lõa với bạo lực. Yêu thương không có nghĩa là để cho cái xấu tự do tiếp tục. Có những lúc muốn tôn trọng phẩm giá của mình và của cả người đang làm điều sai, ta phải đặt giới hạn, phải nói sự thật, phải tìm sự trợ giúp, phải không cho cái ác tiếp tục.
Điều đáng kinh ngạc nhất nơi “Đây là Người” có lẽ nằm ở chỗ này: Con Người đẹp nhất lịch sử lại xuất hiện trong hình hài bị biến dạng nhất. Isaia đã tiên báo về Người Tôi Trung: không còn hình tượng, chẳng còn vẻ đẹp để chúng ta ngắm nhìn. Vậy mà chính con người bị thương ấy lại cho chúng ta biết thế nào là một con người trọn vẹn. Ta thường nghĩ con người hoàn thiện là người không yếu đuối, không đau, không thất bại. Nhưng Đức Giêsu cho ta một định nghĩa khác. Con người trọn vẹn là người biết yêu cho đến cùng. Phẩm giá không tỏa sáng nhất khi con người ngồi trên ngai, mà khi con người vẫn biết yêu lúc đang bị tổn thương. Đức Giêsu không để đau khổ biến Người thành kẻ cay độc. Người không để bạo lực của người khác sinh thêm bạo lực trong mình. Người không để sự sỉ nhục làm Người mất khả năng yêu. Đây mới là điều phi thường. Người ta có thể lấy áo Người nhưng không lấy được lòng nhân hậu của Người. Có thể trói tay Người nhưng không trói được tình yêu của Người. Có thể đóng đinh thân thể Người nhưng không đóng đinh được lòng thương xót. Có thể giết Người nhưng không làm Người trở thành kẻ căm thù. Đây là Người. Đây là con người mà Thiên Chúa muốn chúng ta trở nên: không phải con người không bao giờ bị thương, nhưng là con người không để vết thương biến mình thành kẻ gây thương tích cho người khác.
Điều ấy thật khó. Người bị tổn thương rất dễ làm người khác tổn thương. Một đứa trẻ lớn lên trong bạo lực nếu không được chữa lành có thể mang bạo lực vào gia đình sau này. Một người bị phản bội có thể trở thành người không còn tin ai. Một người bị sỉ nhục có thể đi tìm người yếu hơn để sỉ nhục lại. Một người từng bị chèn ép khi chưa có quyền, đến lúc có quyền lại chèn ép người khác. Cứ thế vết thương truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thập Giá Đức Kitô đứng giữa lịch sử để cắt đứt vòng tròn ấy. Người nhận lấy bạo lực nhưng không trả lại bạo lực. Người nhận lời nguyền rủa nhưng đáp lại bằng lời cầu xin tha thứ. Người chịu con người tước bỏ phẩm giá, nhưng lại trả phẩm giá cho con người. Chính từ một thân thể bị đánh tan nát, một nhân loại mới bắt đầu.
Có lẽ vì thế mà chúng ta không bao giờ hiểu hết Kitô giáo nếu chỉ coi Thập Giá là một món đồ trang trí. Thập Giá không chỉ để treo lên tường. Thập Giá là một tiêu chuẩn để ta nhìn người. Mỗi lần nhìn Thánh Giá, ta phải hỏi: Tôi đang đóng đinh ai bằng sự lạnh lùng của mình? Tôi đang đội mão gai cho ai bằng những lời châm chọc? Tôi đang lột áo ai bằng việc phơi bày lỗi lầm của họ cho thiên hạ? Tôi đang tát vào khuôn mặt ai bằng sự khinh miệt? Tôi đang đứng trong đám đông nào mà hét theo chỉ vì mọi người đều hét? Tôi có bao giờ chia sẻ một câu chuyện làm nhục người khác chỉ vì thấy vui? Tôi có bao giờ biến nỗi đau của một người thành đề tài giải trí? Tôi có bao giờ đem bí mật của ai ra kể để mình trở thành người thú vị trong một cuộc trò chuyện? Tất cả những điều ấy đều chạm đến phẩm giá con người.
Chúng ta cũng cần nhìn lại cách mình đối xử với người phục vụ mình. Người giữ xe, nhân viên nhà hàng, người giao hàng, người làm vệ sinh, người bán hàng, tài xế, bảo vệ… Những người ấy thường cho thấy rất rõ nhân cách của ta. Ta có thể rất lịch sự với người có chức quyền nhưng cộc cằn với người phục vụ; khi ấy sự lịch sự của ta có lẽ không phải nhân đức mà là tính toán. Một người thật sự có lòng tôn trọng con người sẽ nói với người yếu thế bằng cùng một sự tử tế mà họ nói với người quyền thế. Bởi phẩm giá không có hạng thương gia và hạng phổ thông. Con người không có hạng nhất, hạng hai trước mặt Thiên Chúa. Không ai được tạo dựng với linh hồn cao cấp hơn người khác.
Trong cộng đoàn Giáo Hội cũng vậy. Chúng ta rất cần học nghệ thuật nhìn thấy người trước khi nhìn thấy chức vụ. Linh mục cũng là người. Tu sĩ cũng là người. Giáo dân cũng là người. Người đứng đầu cộng đoàn là người. Người làm bếp âm thầm phía sau cũng là người. Có những khi chúng ta đòi hỏi nơi một linh mục như thể ngài không được phép mệt, không được buồn, không được yếu. Có những khi một linh mục lại nhìn giáo dân chỉ như người để làm việc, để đóng góp, để phục vụ chương trình. Cả hai đều sai. Chức vụ không xóa bỏ nhân tính. Ơn gọi không làm con người thành máy. Đức Giêsu, vị Mục Tử tối cao, cũng đã mệt và ngồi xuống bên bờ giếng, đã ngủ trên thuyền, đã buồn đến chết được trong vườn Cây Dầu. Có lẽ một trong những cách làm cho Giáo Hội trở nên có khuôn mặt của Đức Kitô hơn là mỗi người biết nhìn người kia trước hết như một người con của Thiên Chúa chứ không như một chức năng.
“Đây là Người.” Đức Giêsu đứng đó, im lặng. Có một sự cao quý lạ thường trong sự im lặng ấy. Người không cần chứng minh phẩm giá bằng cách trả thù. Người không cần la hét để cho thấy mình mạnh. Người biết Người là ai. Có lẽ nhiều bất an trong đời ta đến từ việc không biết mình là ai nên luôn phải chứng minh. Ta muốn hơn người vì sợ bị coi thường. Ta muốn thắng mọi cuộc tranh luận vì sợ mình nhỏ bé. Ta muốn người khác khen để cảm thấy mình tồn tại. Ta khó chịu khi bị góp ý vì cái tôi mong manh. Nhưng một người biết mình được Thiên Chúa yêu sẽ dần được giải thoát khỏi nhu cầu phải thắng mọi người. Đức Giêsu biết Người là Con yêu dấu của Chúa Cha. Vì thế đám đông có thể chế nhạo mà không thay đổi căn tính của Người. Đây là một tự do lớn lao mà người Kitô hữu cần xin: tự do khỏi cái nhìn của thiên hạ. Không phải bất cần người khác, nhưng không để lời khen làm mình bay lên và lời chê làm mình sụp xuống. Nếu hôm nay người ta tung hô ta, ta vẫn là ta. Nếu ngày mai họ quay lưng, ta vẫn là người được Thiên Chúa yêu.
Cuối cùng, có lẽ “Đây là Người” là câu chúng ta cần mang theo mỗi ngày như một lời cầu nguyện. Khi gặp một người khó thương: đây là người. Khi chăm sóc một người bệnh đã làm ta kiệt sức: đây là người. Khi đứng trước một người đã phạm lỗi: đây là người. Khi tranh luận với ai trên mạng: đây là người. Khi thấy một người nghèo bên vệ đường: đây là người. Khi giận vợ, giận chồng, giận con: trước khi nói câu gì, hãy nhớ đây là người. Một người có thể bị thương bởi lời ta nói. Khi nhìn chính mình trong gương vào một ngày thất bại: đây cũng là người. Một con người bất toàn nhưng được Thiên Chúa yêu đến mức Đức Kitô đã chịu đội mão gai vì họ.
Và khi nhìn Đức Giêsu bị đánh đập, có lẽ ta cũng nghe Chúa Cha nói với nhân loại: Hãy nhìn đây, đây là Con Người. Đây là điều tình yêu có thể làm. Đây là vẻ đẹp mà thế gian không nhận ra. Đây là sức mạnh không cần nghiền nát ai. Đây là một Vị Vua không cần hạ người khác xuống để mình cao lên. Đây là một Con Người bị lột hết mọi thứ mà vẫn không mất chính mình. Đây là một Con Người bị ghét mà vẫn yêu. Bị nguyền rủa mà vẫn chúc lành. Bị đánh mà không biến thành kẻ đánh người. Bị khước từ mà vẫn mở lòng. Bị giết mà vẫn trao ban sự sống. Đây là Người.
Có một ngày tất cả những thứ chúng ta đang dùng để làm nên căn cước của mình sẽ rơi xuống. Chức vụ sẽ hết. Tiền bạc để lại. Nhan sắc phai. Sức khỏe suy. Thành tích thành chuyện cũ. Danh tiếng vài chục năm rồi người ta quên. Cuối cùng chỉ còn một câu hỏi: ta đã trở nên người như thế nào? Ta có sống nhân hậu hơn không? Ta có biết cúi xuống không? Ta có biết tôn trọng những người bé nhỏ không? Ta có làm cho người sống cạnh mình cảm thấy họ được yêu không? Ta đã đi qua đời người khác như một phúc lành hay một vết thương? Những câu hỏi ấy quan trọng hơn nhiều thứ ta vẫn bận tâm mỗi ngày.
Xin cho mỗi lần nhìn lên Đức Kitô đội mão gai, chúng ta đừng chỉ thương hại Người. Xin cho ta nhận ra phẩm giá của chính mình, phẩm giá của mọi người, đặc biệt những người bị đời khước từ. Xin cho ta đừng bao giờ góp phần làm một con người cảm thấy mình vô giá trị. Xin cho lời nói của ta nâng người khác lên thay vì đẩy họ xuống. Xin cho gia đình chúng ta là nơi mỗi người được tôn trọng. Xin cho cộng đoàn chúng ta là nơi người nghèo không thấy xấu hổ khi bước vào. Xin cho Giáo Hội luôn là nơi những người bị thương tìm được một ánh mắt không kết án. Xin cho chúng ta biết bảo vệ sự sống, bảo vệ người yếu, bảo vệ người không có tiếng nói, bởi mỗi người đều mang dấu ấn của Đấng Tạo Hóa.
Và xin cho ta đừng bao giờ quên rằng khi ngày sau hết đến, Đức Kitô không hỏi chúng ta đã xây dựng hình ảnh của mình đẹp đến đâu, nhưng Người sẽ nhắc tới những con người rất cụ thể: người đói, người khát, người khách lạ, người trần truồng, người đau yếu, người tù đày. Chúa đã đồng hóa mình với họ đến mức: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Hóa ra mỗi ngày Philatô vẫn đang vô tình chỉ cho chúng ta thấy Đức Kitô. Không chỉ trong nhà tạm. Không chỉ trên bàn thờ. Nhưng trong những khuôn mặt bị đời làm cho méo mó. Trong người già run rẩy. Trong bệnh nhân đau đớn. Trong đứa trẻ bị bỏ rơi. Trong người nghèo cúi mặt. Trong người tội lỗi đang muốn quay về. Trong người bị hiểu lầm. Trong người đang khóc mà chẳng ai biết. Và từ nơi sâu thẳm của Tin Mừng vẫn vọng lên một lời: Đây là Người.
Xin cho chúng ta đủ đức tin để nhận ra. Đủ khiêm nhường để cúi xuống. Đủ nhân hậu để không xét đoán vội vàng. Đủ can đảm để bảo vệ một người đang bị làm nhục, ngay cả khi đám đông đứng phía bên kia. Bởi ngày ấy trong sân Philatô, cả đám đông có thể sai, còn Con Người bị họ khước từ lại chính là Chân Lý. Có những lúc đứng về phía phẩm giá con người nghĩa là phải đứng một mình. Có những lúc bảo vệ một người bị vu khống khiến ta mất lòng nhiều người. Nhưng người môn đệ của Đấng đội mão gai không thể chọn sự an toàn của đám đông thay cho sự thật.
Xin Đức Giêsu, Con Người bị thương tích vì chúng ta, chữa lành đôi mắt chúng ta để ta biết nhìn mỗi người bằng cái nhìn của Chúa. Xin chữa lành đôi môi để ta không còn dùng lời nói hạ nhục bất cứ ai. Xin chữa lành trái tim để ta không còn chia con người thành người đáng yêu và người không đáng yêu. Và nhất là xin cho ta khi đứng trước bất cứ ai, dù nghèo hay giàu, đẹp hay xấu, khỏe mạnh hay bệnh tật, thánh thiện hay tội lỗi, quen hay lạ, bạn hay thù, đều có thể nghe trong lòng một tiếng rất khẽ mà rất thiêng liêng: Đây là người. Đừng làm tổn thương họ. Đây là người. Hãy tôn trọng họ. Đây là người. Đức Kitô cũng đã chết cho họ.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – KHUÔN MẶT CỦA THIÊN CHÚA GIỮA NHỮNG NGƯỜI BỊ TỔN THƯƠNG
Tin Mừng: Ga 19,1-5
Có những đoạn Tin Mừng đọc lên, ta thấy lòng mình nghẹn lại. Không phải vì có nhiều lời, nhưng bởi vì những gì xảy ra quá đau. Thánh Gioan kể rất ngắn: Philatô truyền đem Đức Giêsu đi đánh đòn. Quân lính kết một vòng gai làm vương miện đặt trên đầu Người, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi tiến lại gần mà nói: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và họ vả mặt Người. Sau đó Philatô dẫn Đức Giêsu ra ngoài và nói với đám đông: “Đây là người.” Chỉ mấy câu thôi, nhưng cả một vực thẳm đau khổ của Con Thiên Chúa hiện ra trước mắt chúng ta. Người bị đánh. Người bị nhạo. Người bị khạc vào phẩm giá. Người bị biến thành trò cười. Người bị đem ra cho người ta nhìn như nhìn một thân phận đã bị nghiền nát. Và chính ở đó, giữa một con người đầy thương tích, Tin Mừng lại mặc khải cho chúng ta khuôn mặt của Thiên Chúa.
Chúng ta vẫn thường nghĩ về Thiên Chúa như Đấng ở trên cao, quyền năng, vinh hiển, bất khả xâm phạm. Điều đó không sai. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta vẫn chưa hiểu hết Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa của Tin Mừng không chỉ là Thiên Chúa ở trên trời nhìn xuống nỗi khổ của con người. Người không chỉ thương xót từ xa. Người không chỉ đứng bên ngoài những giọt nước mắt của nhân loại rồi ban xuống vài lời an ủi. Trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa bước vào tận bên trong nỗi đau. Người mang một thân xác biết mệt, biết đói, biết khát, biết chảy máu. Người có một trái tim biết bị phản bội, biết cô đơn, biết đau vì người mình yêu quay lưng. Người có một khuôn mặt để người ta tát. Có một tấm lưng để người ta đánh đòn. Có một cái đầu để vòng gai đâm vào. Có đôi bàn tay để rồi sẽ bị đóng đinh. Có một trái tim để lưỡi đòng đâm thâu. Thiên Chúa đã không cứu con người bằng cách đứng ngoài thân phận con người. Người cứu chúng ta bằng cách đi vào tận đáy thân phận ấy.
Bởi vậy, đứng trước Đức Kitô bị đánh đòn, ta không được phép nói rằng Thiên Chúa không biết đau là gì. Đứng trước khuôn mặt đầy máu và nước bọt của Người, ta không thể bảo rằng Thiên Chúa không hiểu thế nào là bị xúc phạm. Đứng trước Đấng bị bạn hữu bỏ rơi, bị môn đệ phản bội, bị đám đông từng tung hô nay gào lên đòi đóng đinh, ta không thể nói rằng Thiên Chúa không hiểu thế nào là bị phụ bạc. Đứng trước Đức Giêsu bị xử oan, ta không thể nói rằng Thiên Chúa không hiểu nỗi đau của những người bị vu khống. Đứng trước Đức Giêsu bị lột áo và làm nhục, ta không thể nói rằng Thiên Chúa xa lạ với những ai bị chà đạp phẩm giá. Đứng trước Đức Giêsu không còn hình dạng huy hoàng bên ngoài, ta không thể nói rằng Thiên Chúa chỉ ở với những người thành công, khỏe mạnh, đẹp đẽ và được trọng vọng. Không. Tin Mừng hôm nay đẩy chúng ta đến một chân lý rất sâu: nơi nào con người bị thương tích, Đức Kitô đã từng ở đó. Nơi nào con người bị xô xuống tận đáy, Con Thiên Chúa đã bước xuống trước rồi.
Có lẽ vì thế mà hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh có một sức an ủi rất lạ. Người đau khổ không phải lúc nào cũng cần một lời giải thích. Có những nỗi đau càng giải thích càng đau thêm. Có những tang tóc không thể lấy vài câu đạo đức mà làm nhẹ đi. Có những mất mát không thể nói “Chúa có chương trình” rồi tưởng như mọi sự đã được giải quyết. Có những người mang thương tích suốt cả đời. Có một người mẹ mất con, dù bao nhiêu năm vẫn thấy lòng mình trống. Có một người vợ bị phản bội, tha thứ được nhưng vết thương vẫn còn dấu. Có một người chồng thất bại, bước ra đường vẫn cười nhưng đêm về không dám nhìn chính mình. Có một người con lớn lên trong một gia đình chưa bao giờ được nghe một lời yêu thương. Có một linh mục từng bị hiểu lầm, bị kết án bởi những điều mình không làm. Có một tu sĩ âm thầm đi qua những năm tháng khô khan, tưởng như Chúa xa mình. Có những người già cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Có những bệnh nhân nằm trên giường lâu ngày, đau không chỉ vì bệnh mà đau vì thấy mình bất lực. Có những người trẻ mang trong lòng một quá khứ mà chẳng dám kể với ai. Với tất cả những con người ấy, Đức Kitô chịu đóng đinh không đến như một nhà lý luận. Người đến với những vết thương của chính Người. Người không nói từ trên cao: “Ta hiểu con.” Người cho thấy đôi tay thủng đinh và nói bằng cả thân thể Người rằng: “Ta đã đi qua con đường ấy.”
“Đây là người.” Philatô nói mà có lẽ không hiểu hết điều mình nói. Ông chỉ muốn đưa một người đã bị đánh tơi tả ra để đám đông động lòng mà thôi. Nhưng trong cái nhìn của đức tin, câu nói ấy vang lên như một lời mặc khải. Đây là con người. Đây là con người bị bạo lực làm cho biến dạng. Đây là con người bị quyền lực biến thành công cụ. Đây là con người bị đám đông tước mất tiếng nói. Đây là con người khi phẩm giá bị người khác đem ra chế giễu. Và cũng chính đây là Thiên Chúa làm người. Thiên Chúa không khước từ khuôn mặt ấy. Người mang lấy khuôn mặt ấy. Người tự đồng hóa mình với tất cả những ai bị nghiền nát bên đường lịch sử.
Khi nhìn Đức Kitô đội mão gai, ta phải nghĩ đến những cái đầu hôm nay cũng đang mang những vòng gai vô hình. Vòng gai của lo âu. Vòng gai của trầm uất. Vòng gai của nợ nần. Vòng gai của một gia đình bất hòa. Vòng gai của lời đàm tiếu. Vòng gai của một căn bệnh chưa biết ngày mai ra sao. Vòng gai của một đứa con làm cha mẹ mất ngủ. Vòng gai của tuổi già và cô quạnh. Vòng gai của mặc cảm vì một sai lầm năm xưa. Có những vòng gai không ai nhìn thấy nhưng ngày đêm cứ đâm vào tâm trí một người. Có người vẫn đi lễ, vẫn cười, vẫn chào hỏi, vẫn làm việc bình thường, nhưng bên trong đầu họ có cả một vòng gai đang siết chặt. Chúa biết. Chúa không nhìn họ từ xa. Vì đầu Chúa cũng từng mang gai.
Khi nhìn khuôn mặt Đức Giêsu bị tát, ta phải nhớ đến những khuôn mặt hôm nay cũng bị người đời làm nhục. Có người bị mắng trước mặt đám đông. Có người bị bêu xấu trên mạng. Có người bị chính người thân dùng những lời tàn nhẫn đâm vào lòng. Có những người vợ bị chồng coi thường. Có những người chồng bị gia đình xem như kẻ thất bại. Có những người con mang suốt đời những câu nói của cha mẹ: “Mày chẳng làm nên trò trống gì đâu.” Có những học sinh bị bạn bè chế giễu. Có những người vì nghèo mà bị khinh. Vì quê mùa mà bị coi thường. Vì yếu thế mà bị bắt nạt. Vì đã lầm lỗi mà chẳng bao giờ được người ta cho cơ hội làm lại. Đức Kitô đứng ở giữa họ. Khuôn mặt bị tát của Người trả lại phẩm giá cho mọi khuôn mặt từng bị xúc phạm.
Và đây là điều làm ta phải xét lại cách sống đạo của mình. Nếu Thiên Chúa đã chọn đứng về phía những người bị tổn thương, thì người môn đệ của Người không thể sống như thể nỗi đau của người khác không liên can gì đến mình. Ta có thể đọc kinh rất nhiều mà vẫn làm người khác đau bằng miệng lưỡi. Ta có thể đi lễ hằng ngày mà trong gia đình lại dùng những lời cay nghiệt. Ta có thể quỳ trước Thánh Thể nhưng đứng dậy lại coi thường một người nghèo. Ta có thể hôn Thánh Giá trong phụng vụ mà vẫn đóng đinh người khác bằng định kiến. Ta có thể xúc động trước Cuộc Thương Khó của Chúa, nhưng lại lạnh lùng trước một người đang cần được lắng nghe. Nếu thế, ta chỉ đang thương một Đức Kitô bằng gỗ mà chưa nhận ra Đức Kitô đang mang thương tích trong con người bằng xương bằng thịt bên cạnh ta.
Điều đáng sợ không phải chỉ là việc người ta đánh Chúa năm xưa. Điều đáng sợ là chúng ta có thể tiếp tục đánh Chúa hôm nay mà không biết. Mỗi lần ta cố ý làm nhục một người, có một cái tát lại rơi trên khuôn mặt Đức Kitô. Mỗi lần ta đem lỗi lầm của ai đó ra làm trò cười, một vòng gai khác lại được kết. Mỗi lần ta hùa theo số đông để kết án một người khi chưa biết sự thật, ta lại đứng trong sân dinh Philatô. Mỗi lần ta tung tin chưa được kiểm chứng làm hại danh dự người khác, ta lại góp thêm một tiếng gào vào đám đông. Mỗi lần ta nhìn một người đã sa ngã rồi quyết định rằng họ không xứng đáng được làm lại, ta lại lấy áo đỏ khoác lên họ để chế giễu. Thập Giá không phải câu chuyện để khóc rồi thôi. Thập Giá là tấm gương cho ta nhìn lại cách mình đang đối xử với con người.
Có một cám dỗ rất tinh tế trong đời sống đạo: ta muốn tìm Thiên Chúa trong những điều huy hoàng mà lại khó nhận ra Người trong những thân phận tan nát. Ta thích Thiên Chúa của phép lạ hơn Thiên Chúa đội mão gai. Ta thích Chúa trong ngày biến hình trên núi hơn Chúa trong sân dinh Philatô. Ta muốn gặp Chúa trong những giờ cầu nguyện sốt sắng, nhưng đôi khi Người lại chờ ta trong một người bệnh khó tính, một ông già lẩm cẩm, một đứa trẻ nghịch ngợm, một người thân đang bị tổn thương, một kẻ đã làm ta thất vọng. Chính ở đó, câu “Đây là người” lại được nói với ta. Đây là người. Hãy nhìn kỹ đi. Đừng chỉ nhìn cái họ đã làm. Đừng chỉ nhìn lỗi lầm. Đừng chỉ nhìn dáng vẻ. Đừng chỉ nhìn địa vị. Hãy nhìn một con người mà Đức Kitô đã chết cho họ.
Thập Giá mặc khải một Thiên Chúa rất khác những vị thần mà con người thường tưởng tượng. Con người thường nghĩ quyền lực là làm cho người khác sợ mình. Thiên Chúa lại cho thấy quyền năng của Người bằng cách để mình bị tổn thương vì yêu. Con người cho rằng mạnh là không ai chạm được vào mình. Thiên Chúa lại để con người chạm vào mình bằng roi, gai, đinh và lưỡi đòng. Con người thường muốn đứng trên người khác. Thiên Chúa lại đi xuống thấp hơn tất cả. Con người sợ mất mặt. Thiên Chúa chấp nhận bị làm nhục. Con người giữ lấy sự sống. Thiên Chúa trao sự sống. Chính vì thế mà Thập Giá là cuộc đảo ngược tận căn mọi thước đo của thế gian.
Ta thường hỏi: Tại sao Thiên Chúa để đau khổ xảy ra? Đó là một câu hỏi lớn và không một bài suy niệm nào có thể giải quyết hết. Nhưng Kitô giáo trước hết không đưa ra một công thức. Kitô giáo đặt trước mắt chúng ta một Con Người chịu đóng đinh. Thiên Chúa không trả lời mọi câu hỏi của đau khổ bằng lý luận; Người trả lời bằng sự hiện diện. Người không nói với người đau khổ rằng: “Con hãy hiểu.” Người nói: “Ta ở đây.” Có khi điều cứu một người không phải là biết vì sao mình đau, mà là biết rằng trong nỗi đau ấy mình không bị bỏ rơi. Đây là điều Đức Kitô làm. Người bước xuống tận nơi chúng ta tưởng không còn ai xuống được.
Một người đang khóc trong đêm có thể chưa tìm được câu trả lời, nhưng họ có thể nhìn lên Thập Giá và biết: Chúa không xa mình. Một người bị phản bội có thể chưa hiểu tại sao điều đó xảy ra, nhưng họ biết Chúa từng bị Giuđa bán bằng một nụ hôn. Một người bị bạn bè bỏ rơi có thể biết Chúa cũng từng nghe Phêrô nói “Tôi không biết người ấy.” Một người bị kết án oan có thể biết Chúa từng đứng trước tòa án bất công. Một người đang đối diện cái chết có thể biết Chúa đã đi qua cái chết. Chính vì Chúa đã đi vào mọi ngõ tối của phận người, nên không còn bóng tối nào hoàn toàn vắng bóng Người.
Nhưng Tin Mừng hôm nay còn đòi hỏi chúng ta điều sâu hơn: không chỉ tìm thấy Chúa trong vết thương của mình, mà còn học nhận ra Chúa trong vết thương của người khác. Đôi khi ta rất nhạy với nỗi đau của mình nhưng vô cảm với nỗi đau của người bên cạnh. Ta nhớ từng câu người khác làm tổn thương ta, nhưng lại quên những câu mình từng nói làm người khác đau. Ta muốn mọi người hiểu hoàn cảnh của mình, nhưng ta vội phán xét hoàn cảnh của người khác. Ta muốn được tha thứ vì lúc đó mình yếu đuối, nhưng ta không cho người khác quyền được yếu đuối. Ta mong Chúa kiên nhẫn với mình, nhưng lại thiếu kiên nhẫn với anh em. Nhìn vào Đức Kitô chịu đánh đòn là để học một cái nhìn khác: cái nhìn biết dừng lại trước một thương tích.
Nhiều khi một người trở nên khó chịu không phải vì họ xấu, mà vì họ đang đau. Một người nóng nảy có thể đang mang một nỗi sợ. Một người lạnh lùng có thể đã từng bị tổn thương quá nhiều. Một người khép kín có thể đã từng mở lòng và bị phản bội. Một đứa trẻ nổi loạn có thể đang kêu cứu bằng cách duy nhất nó biết. Một cụ già hay cáu có thể đang sợ mình bị bỏ quên. Một người anh em trong cộng đoàn khó gần có thể đang chiến đấu với một gánh nặng mà ta không hề biết. Nếu chỉ nhìn hành vi, ta dễ kết án. Nếu nhìn sâu hơn, ta có thể thấy một vòng gai.
Đức Kitô không dạy ta dung túng sự dữ. Yêu thương không phải là để người khác tiếp tục làm hại mình. Tha thứ không đồng nghĩa với việc bỏ qua công lý. Nhưng người môn đệ Chúa phải luôn bảo vệ phẩm giá con người, kể cả phẩm giá của người sai lỗi. Ta có thể nói sự thật mà không cần làm nhục. Ta có thể sửa sai mà không cần nghiền nát. Ta có thể đặt ranh giới mà không cần thù ghét. Ta có thể đấu tranh cho công lý mà không biến trái tim mình thành nơi chứa độc tố. Chúa Giêsu bị hành hạ nhưng Người không trở thành kẻ hành hạ. Người bị xúc phạm nhưng không dùng xúc phạm để đáp lại. Người bị đóng đinh nhưng không đóng đinh ai. Đó là sức mạnh của Người.
Có lẽ một trong những phép lạ lớn nhất trên Thập Giá chính là điều này: người ta có thể làm tổn thương thân xác Đức Giêsu, nhưng không thể biến trái tim Người thành một trái tim hận thù. Roi có thể xé da Người. Gai có thể làm máu chảy. Đinh có thể xuyên qua tay chân. Nhưng không gì xuyên thủng được tình yêu để biến nó thành oán hận. Đó là chiến thắng của Thập Giá. Chúa không thắng bằng cách làm kẻ thù đau hơn mình. Người thắng bằng cách không để sự dữ quyết định Người sẽ trở thành ai.
Đây cũng là con đường chữa lành cho chúng ta. Có người mang tổn thương rồi dần dần trở thành chính điều đã làm mình đau. Bị ai đó cay nghiệt, rồi mình cũng cay nghiệt. Bị phản bội, rồi từ đó không tin ai. Bị khinh thường, rồi khi có quyền lại khinh người khác. Bị áp đặt, rồi sau này áp đặt lên con cái. Bị tổn thương trong cộng đoàn, rồi mang lòng cay đắng với Giáo Hội. Nếu thế, sự dữ đã thắng thêm một lần nữa. Đức Kitô mời ta đi con đường khác. Vết thương vẫn có thể còn, nhưng đừng để vết thương trở thành vũ khí. Nỗi đau có thể ở lại, nhưng đừng để nỗi đau sinh ra độc ác. Ta có thể mang sẹo mà vẫn yêu. Chính Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Phục sinh không xóa sạch dấu vết của Thập Giá; phục sinh biến những vết thương ấy thành dấu chỉ của tình yêu đã chiến thắng.
Điều này rất quan trọng. Người Kitô hữu không cần giả vờ rằng mình không đau. Đức tin không đòi chúng ta phải cười trong mọi hoàn cảnh. Có lúc phải khóc. Có lúc phải thừa nhận rằng mình bị tổn thương. Có lúc phải tìm người giúp đỡ. Có lúc phải nghỉ ngơi. Có lúc phải rời khỏi một tương quan đang gây hại. Có lúc phải nói rõ một sự bất công. Có lúc phải xin người khác cầu nguyện cho mình. Chính Đức Giêsu ở Vườn Cây Dầu cũng nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Đời sống thiêng liêng chân thật không phải là phủ nhận đau khổ, nhưng là đem đau khổ vào trong tương quan với Chúa.
Có những người nghĩ rằng càng thánh thiện thì càng không được buồn. Không phải. Đức Maria đứng dưới Thập Giá không phải một pho tượng không cảm xúc. Trái tim Mẹ bị lưỡi gươm đâm thâu. Đức Giêsu khóc trước mộ Lazarô. Người run sợ trước cuộc thương khó. Người kêu lên trên Thập Giá. Kitô giáo không dạy ta thành đá. Kitô giáo dạy ta đau mà không tuyệt vọng, khóc mà vẫn tin, bị thương mà không biến thành người gây thương tích.
Nhiều lúc, chúng ta cũng cần học một điều rất đơn giản: đừng làm người đang đau phải đau thêm bằng những lời đạo đức rẻ tiền. Người vừa mất người thân không cần nghe ngay một bài giảng về ý Chúa. Người đang tuyệt vọng không cần bị trách là thiếu đức tin. Người đang bệnh không cần nghe rằng chắc Chúa thử thách. Người bị tổn thương không cần bị bảo “thôi bỏ qua đi” khi vết thương còn đang chảy máu. Đức Kitô trong Tin Mừng hôm nay trước hết đứng đó, mang thương tích. Sự hiện diện của Người nói nhiều hơn mọi lý thuyết. Đôi khi điều bác ái nhất ta có thể làm cũng chỉ là ở lại với người đau. Ngồi cạnh họ. Nghe họ. Không vội sửa. Không vội giảng. Không vội đưa ra câu trả lời. Có những lúc tình yêu chỉ cần ở đó.
Thế giới hôm nay có quá nhiều người bị thương. Có những vết thương do chiến tranh. Có những vết thương do nghèo đói. Có những vết thương do gia đình tan vỡ. Có những vết thương do áp lực thành công. Có những vết thương do mạng xã hội, nơi người ta có thể giết danh dự một người chỉ trong vài giờ. Có những vết thương do sự cô đơn giữa một thế giới kết nối. Có những người có hàng nghìn bạn trên mạng nhưng chẳng có ai để gọi khi họ khóc. Có những người sống giữa gia đình mà cảm thấy không ai hiểu mình. Có những người già nằm trong căn phòng nhỏ, ngày dài chỉ chờ một tiếng điện thoại. Có những đứa trẻ được cha mẹ cho rất nhiều thứ nhưng thiếu chính sự hiện diện của cha mẹ. Có những người trẻ mệt mỏi vì phải chứng minh giá trị của mình mỗi ngày.
Giữa thế giới ấy, Giáo Hội phải mang khuôn mặt nào? Không thể là khuôn mặt lạnh lùng. Không thể là khuôn mặt chỉ biết phán xét. Không thể là khuôn mặt đứng xa những người bị thương. Giáo Hội của Đức Kitô phải là nơi người ta có thể mang vết thương đến mà không sợ bị khinh. Giáo xứ phải là nơi người yếu đuối được đỡ nâng. Cộng đoàn phải là nơi người lầm lỗi có con đường trở về. Gia đình Kitô hữu phải là nơi một người có thể nói: “Con mệt”, “Con đau”, “Con thất bại” mà không sợ bị chê cười. Nếu nhà thờ đẹp mà người tổn thương không dám bước vào, ta còn thiếu điều gì đó. Nếu lời giảng rất đúng nhưng người yếu đuối chỉ nghe thấy sự kết án, ta phải xét lại. Đức Kitô đến không để bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói.
Nhìn Đức Kitô bị đánh đòn cũng là nhìn lại cách chúng ta dùng quyền lực. Ai trong chúng ta cũng có một chút quyền lực nào đó: cha mẹ với con cái, người lớn với trẻ nhỏ, người có tiền với người làm công, linh mục với giáo dân, bề trên với bề dưới, người khỏe mạnh với người yếu, người có tiếng nói với người không có tiếng nói. Quyền lực có thể trở thành roi. Một lời nói từ người có vị trí có thể làm đau hơn rất nhiều lời nói bình thường. Một thái độ khinh thường của người có quyền có thể in dấu vào một người suốt đời. Thập Giá cảnh báo chúng ta: đừng bao giờ sử dụng quyền mình có để làm nhỏ người khác đi.
Quyền bính của Đức Kitô là quyền bính của đôi tay bị đóng đinh. Người không dùng quyền để giữ mình, nhưng để trao mình. Vì thế, càng có trách nhiệm, ta càng phải biết cúi xuống. Càng có tiếng nói, càng phải bảo vệ người không có tiếng nói. Càng được người khác kính trọng, càng phải cẩn thận để đừng làm ai bị tổn thương vì sự kiêu căng của mình. Có lẽ ngày phán xét, Chúa sẽ không hỏi ta đã có bao nhiêu người kính nể, mà hỏi có bao nhiêu người yếu đuối đã cảm thấy an toàn khi ở gần ta.
“Đây là người.” Mỗi ngày Chúa vẫn đưa những con người bị thương đến trước mắt ta. Có thể đó là người cùng bàn ăn. Có thể là người ta gặp ngoài cổng nhà thờ. Có thể là một tin nhắn lúc khuya. Có thể là một khuôn mặt không vui trong cộng đoàn. Có thể là một đứa con ít nói hơn bình thường. Có thể là một người bạn lâu ngày bỗng nhiên biến mất khỏi những cuộc gặp. Ta có nhìn thấy không? Hay ta quá bận? Có những người không cần tiền của ta trước tiên. Họ cần được nhìn thấy. Họ cần biết rằng sự hiện diện của họ có ý nghĩa. Họ cần một người hỏi thật lòng: “Anh có ổn không?” rồi đủ kiên nhẫn nghe câu trả lời.
Và đôi khi chính chúng ta là người bị thương. Khi ấy, xin đừng xấu hổ vì những vết thương của mình. Đừng nghĩ rằng Chúa yêu ta ít hơn vì ta đang yếu. Đức Giêsu không xa những phần vỡ vụn trong ta. Người không đợi ta lành rồi mới đến. Người bước vào chính nơi đang chảy máu. Có thể ta đã cầu nhiều năm mà hoàn cảnh chưa đổi. Có thể một người ta yêu vẫn chưa trở về. Có thể căn bệnh vẫn còn đó. Có thể một ký ức vẫn làm tim đau. Xin hãy nhìn lên Chúa chịu đóng đinh. Người không hứa rằng những ai theo Người sẽ không đau. Người hứa rằng không có nỗi đau nào chúng ta phải đi qua một mình.
Có một điều rất nhiệm mầu: chính nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất lại là nơi Người hiện diện sâu nhất. Canvê nhìn bên ngoài là sự thất bại. Con Thiên Chúa bị treo giữa trời và đất. Không thiên thần nào đến tháo đinh. Không sấm sét nào đánh quân lính. Không phép lạ nào làm đám đông kinh hoàng. Nhưng chính trong sự im lặng ấy, tình yêu cứu độ đang diễn ra. Có những giai đoạn trong đời ta cũng vậy. Chúa dường như im lặng. Không có phép lạ. Không có câu trả lời. Không có lối thoát rõ ràng. Nhưng im lặng không đồng nghĩa với vắng mặt. Thứ Sáu Tuần Thánh rất im lặng, nhưng Thiên Chúa chưa bao giờ làm việc lớn lao hơn thế.
Có thể hôm nay có người đang sống một ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình. Mọi cánh cửa như khép lại. Những điều từng chắc chắn bỗng sụp đổ. Xin đừng kết luận quá sớm. Mồ vẫn chưa phải là câu cuối. Thương tích chưa phải là định nghĩa cuối cùng về con người. Đức Kitô bị đánh đòn sẽ phục sinh. Khuôn mặt hôm nay đầy máu sẽ sáng lên trong vinh quang. Đôi tay bị đinh xuyên sẽ trở thành đôi tay chúc bình an. Những vết thương vẫn còn, nhưng đã đổi ý nghĩa. Chúng không còn là bằng chứng rằng bạo lực thắng, mà là bằng chứng rằng tình yêu mạnh hơn bạo lực.
Người Kitô hữu hy vọng không phải vì tin rằng đời sẽ không còn đau, nhưng vì tin rằng đau khổ không có quyền nói lời cuối. Ta hy vọng vì Đức Kitô đã đi qua đau khổ đến sự sống. Ta hy vọng vì Thiên Chúa có thể làm nảy sinh điều mới ngay từ những gì bị nghiền nát. Có những người sau khi đi qua một nỗi đau lại trở thành người biết cảm thông hơn. Có những cha mẹ sau khi mất mát lại biết ôm lấy những gia đình đang đau. Có những người từng nghiện ngập sau khi đứng dậy lại trở thành người giúp kẻ khác đứng dậy. Có những người từng bị tổn thương sâu lại chọn sống cả đời để chữa lành người khác. Khi một vết thương được đặt trong tay Chúa, nó có thể trở thành một cánh cửa cho lòng thương xót.
Xin Chúa đừng để những gì đã làm chúng ta đau biến chúng ta thành người cay nghiệt. Xin đừng để những lần bị phản bội làm ta không còn khả năng tin. Xin đừng để những lần bị xúc phạm biến ta thành người thích xúc phạm người khác. Xin đừng để những bất công ta đã chịu làm ta nuôi ý trả thù. Xin cho ta nhìn Đức Kitô. Người đã bị thương nhưng vẫn yêu. Người bị nhạo nhưng vẫn im lặng. Người bị đóng đinh nhưng vẫn tha thứ. Người bị bỏ rơi nhưng vẫn trao Mẹ mình cho môn đệ. Người chết trong khi vẫn trao ban.
Có lẽ đây là chiều sâu nhất của Tin Mừng hôm nay: Thiên Chúa không chỉ đứng giữa những người bị tổn thương để an ủi họ. Người còn biến chính thân phận bị tổn thương thành nơi tình yêu được mặc khải. Ta thường nghĩ rằng mình chỉ có thể yêu khi mạnh, cho khi dư, phục vụ khi khỏe, tha thứ khi hết đau. Đức Kitô cho thấy một điều khác. Ngay khi bị đóng đinh, Người vẫn yêu. Ngay khi không còn gì, Người vẫn trao. Điều đó không có nghĩa là ta phải tự hủy mình. Nhưng nó cho thấy rằng sự yếu đuối không làm ta trở thành vô dụng trước mặt Chúa. Một người nằm liệt giường vẫn có thể yêu. Một người già không còn làm được nhiều vẫn có thể cầu nguyện. Một người nghèo vẫn có thể cho một nụ cười. Một người đang đau vẫn có thể không làm người khác đau.
Có khi việc thánh thiện nhất ta làm hôm nay chỉ là không truyền tiếp vết thương. Dừng một câu nói cay độc lại. Không kể lại một chuyện làm nhục người khác. Không trả đũa một tin nhắn. Không đánh con trong cơn giận. Không dùng quá khứ của người bạn đời làm vũ khí trong cuộc cãi nhau. Không đem một lỗi đã được tha ra nhắc lại. Không tham gia vào đám đông đang xé xác một người trên mạng. Những điều ấy nhỏ thôi, nhưng chính ở đó vòng xoáy của sự dữ bị chặn lại.
Đức Kitô chịu đóng đinh đứng giữa thế giới này như lời mời gọi cuối cùng của Thiên Chúa: hãy đối xử với con người như một điều thánh. Đừng làm nhục họ. Đừng nghiền nát họ. Đừng nhìn họ chỉ bằng lỗi lầm. Mỗi người đều mang một câu chuyện mà ta chưa biết. Mỗi người đều có những giọt nước mắt ta chưa thấy. Mỗi người đều được Chúa yêu bằng một tình yêu đã trả giá bằng máu.
Và nếu hôm nay chính ta là người đang bị thương, xin hãy nhớ câu này: Thiên Chúa không đứng ngoài nỗi đau của ta. Người đã bước vào trong đó. Người ở gần hơn ta tưởng. Chúa ở trong giọt nước mắt không ai thấy. Chúa ở trong đêm dài ta không ngủ được. Chúa ở trong lời cầu chỉ còn là tiếng thở dài. Chúa ở trong khoảnh khắc ta chẳng còn sức nói gì ngoài: “Lạy Chúa, con mệt quá.” Chúa biết. Chúa hiểu. Chúa đã từng ở đó.
Hãy nhìn Đức Giêsu được Philatô đưa ra trước đám đông. Mão gai trên đầu. Áo đỏ trên vai. Khuôn mặt bầm dập. Và nghe câu: “Đây là người.” Đây là người. Nhưng cũng chính đây là Thiên Chúa ở gần nhất với con người. Không phải Thiên Chúa của khoảng cách. Không phải Thiên Chúa vô cảm. Không phải Thiên Chúa đứng trên cao nhìn con người vật lộn dưới thấp. Đây là Thiên Chúa mang thương tích. Thiên Chúa chảy máu. Thiên Chúa đã để tình yêu khiến mình trở nên dễ bị tổn thương.
Và từ đó, ta hiểu rằng chẳng có một vết thương nào của con người quá xấu để Chúa không dám chạm vào. Chẳng có một đổ vỡ nào quá lớn để Người không bước vào. Chẳng có một con người nào quá thất bại để bị loại khỏi tình yêu của Người. Khi mọi người quay mặt đi, Chúa vẫn ở lại. Khi người khác chỉ nhìn thấy vết nhơ, Chúa vẫn nhìn thấy một người con. Khi chính ta không còn yêu nổi mình, Chúa vẫn yêu.
Lạy Đức Kitô chịu đóng đinh, xin cho chúng con biết dừng lại trước khuôn mặt đầy thương tích của Chúa. Xin cho chúng con nhận ra nơi đó tất cả những khuôn mặt đang bị tổn thương quanh mình. Xin chữa lành trong chúng con những vết thương còn âm ỉ. Xin đừng để những vết thương ấy biến thành cay đắng. Xin dạy chúng con biết ở lại bên người đau khổ, biết nói lời nâng đỡ, biết im lặng khi lời nói không cần thiết, biết bảo vệ phẩm giá người yếu thế, biết tha thứ mà không dung túng sự dữ, biết sống công lý mà không nuôi hận thù.
Xin cho mỗi gia đình chúng con trở thành nơi người bị thương được chữa lành chứ không phải nơi có thêm thương tích. Xin cho mỗi cộng đoàn trở thành mái nhà của những người yếu đuối. Xin cho Hội Thánh luôn mang khuôn mặt của Đấng bị đóng đinh: một khuôn mặt không làm ai sợ hãi, nhưng khiến người đau dám đến gần. Và khi đến lượt chúng con phải đi qua những ngày tối tăm, xin cho chúng con nhớ rằng Chúa đã đi trước, rằng mỗi bước chân trong đau khổ đều có dấu chân của Chúa ở đó.
“Đây là người.” Đây là Đức Kitô. Đây là Thiên Chúa của chúng ta. Một Thiên Chúa không đứng ngoài nỗi đau con người, nhưng đi vào tận trong đó; một Thiên Chúa không xấu hổ vì những vết thương của chúng ta; một Thiên Chúa mang thương tích để nói với mọi trái tim tan vỡ rằng: con không cô độc.
Và có lẽ chỉ cần biết điều ấy thôi, nhiều khi cũng đã đủ để ta có sức đi thêm một ngày nữa.
Lm. Anmai, CSsR

HẠT LÚA PHẢI CHẾT – NGƯỜI MÔN ĐỆ CŨNG VẬY
Tin Mừng: Ga 12,24-25
“Thật, Thầy bảo thật anh em: nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.”
Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng rất đơn giản, nhưng càng sống lâu, càng đi sâu vào đời sống đức tin, càng trải qua nhiều được mất, vui buồn, thành công thất bại, người ta càng nhận ra đó là những lời khó vô cùng. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi…” Chúng ta đã nghe câu ấy không biết bao nhiêu lần. Nghe trong thánh lễ. Nghe trong những lễ khấn. Nghe trong lễ truyền chức. Nghe trong những dịp tang lễ. Nghe khi nói đến hy sinh, phục vụ, dâng hiến. Nghe quen đến mức đôi khi tưởng mình đã hiểu. Nhưng có lẽ phải đến lúc chính mình trở thành hạt lúa bị vùi xuống một mảnh đất nào đó của cuộc đời, phải đến lúc một phần con người mình bị đòi phải chết đi, ta mới hiểu lời Chúa hôm nay không phải là một hình ảnh đẹp để suy niệm cho xúc động, nhưng là một quy luật khắc nghiệt mà kỳ diệu của đời sống Kitô hữu. Hạt lúa không sinh hoa trái chỉ vì nó được gọi là hạt lúa. Hạt lúa không sinh hoa trái chỉ vì nó được giữ thật kỹ trong kho. Hạt lúa không sinh hoa trái chỉ vì nó đẹp, chắc, mẩy, được người ta nâng niu. Bao lâu nó còn nguyên vẹn cho chính nó, bao lâu nó còn được bảo toàn, bao lâu nó còn nằm yên trong sự an toàn của mình, nó vẫn chỉ là một hạt lúa. Muốn trở thành mùa vàng, nó phải chấp nhận một điều xem ra rất nghịch lý: phải mất hình hài của mình, phải bị vùi vào đất, phải nứt ra, phải mục đi, phải thôi là chính nó theo kiểu cũ. Và đó cũng là con đường của người môn đệ Đức Kitô. Không có hoa trái thiêng liêng thật sự nếu trong ta không có một phần cái tôi phải chết đi. Không có một đời sống theo Chúa trưởng thành nếu ta chỉ muốn giữ nguyên con người cũ của mình rồi khoác thêm bên ngoài vài việc đạo đức. Không có sự thánh thiện nào được hình thành mà không đi qua những lần cái tôi bị bẻ gãy, ý riêng bị từ bỏ, lòng kiêu hãnh bị hạ xuống, sự ích kỷ bị cắt tỉa, những đòi hỏi của bản thân bị đặt sau nhu cầu của người khác. Người ta có thể đi lễ rất nhiều mà cái tôi vẫn sống khỏe. Có thể đọc kinh rất đều mà tự ái vẫn lớn. Có thể phục vụ rất hăng mà vẫn chỉ muốn người khác nhìn nhận mình. Có thể mang áo tu, áo dòng, áo linh mục mà bên trong vẫn giữ một “cái tôi” không chịu chết. Có thể nói rất hay về Thập Giá nhưng chỉ cần bị chạm tự ái một chút là nổi giận. Có thể giảng về khiêm nhường nhưng không chịu được khi mình bị góp ý. Có thể nói về vâng phục nhưng chỉ vâng khi điều người khác muốn trùng với ý mình. Có thể nói về nghèo khó nhưng lòng lại khát khao những tiện nghi, danh tiếng, ảnh hưởng, vị trí. Có thể nói về yêu thương nhưng lại lạnh lùng với người làm mình không vừa ý. Chính vì thế, lời Chúa hôm nay đụng tới tận cốt lõi của đời môn đệ: muốn theo Đức Kitô, không thể chỉ thêm Chúa vào cuộc đời mình; phải để Chúa làm chết đi trong mình những gì không thuộc về Chúa.
Cái chết của hạt lúa trước hết là cái chết của ý riêng. Đây có lẽ là một trong những cái chết đau nhất. Con người ai cũng có ý mình. Mình muốn chuyện này xảy ra thế này. Mình muốn người kia cư xử thế kia. Mình muốn công việc diễn ra theo kế hoạch mình đã tính. Mình muốn người khác hiểu mình, quý mình, công nhận mình. Mình muốn gia đình theo ý mình. Mình muốn cộng đoàn theo ý mình. Mình muốn giáo xứ theo ý mình. Mình muốn Chúa cũng hành động theo ý mình. Và khi mọi chuyện không diễn ra như thế, lòng bắt đầu bất an. Nhiều đau khổ trong đời không phải vì điều xảy ra quá tệ, mà vì điều xảy ra không giống với điều ta muốn. Ta đau vì ý mình không được thực hiện. Ta buồn vì người khác không làm theo điều ta mong. Ta giận vì người khác không nhìn nhận điều ta cho là đúng. Ta trách Chúa vì Chúa không trả lời như ta đã cầu xin. Cái tôi lớn nhất nhiều khi không nằm ở tiền bạc hay vật chất, nhưng nằm trong hai chữ “ý tôi”. “Tôi nghĩ.” “Tôi muốn.” “Theo tôi.” “Phải như tôi mới đúng.” Và chính ở đó, hạt lúa phải chết. Chết không có nghĩa là trở thành người không có suy nghĩ, không có lập trường, không có trách nhiệm. Chết là biết rằng ý mình không phải lúc nào cũng là ý Chúa; điều mình thích chưa chắc là điều tốt nhất; điều mình thấy hợp lý chưa chắc là con đường Chúa muốn. Đức Giêsu trong Vườn Cây Dầu đã không giả vờ rằng Người không sợ đau khổ. Người đã cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người không dừng ở đó: “Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là lúc hạt lúa bắt đầu chết. Đó là lúc tình yêu vượt lên trên ý riêng. Đó là lúc đời người từ chỗ thuộc về mình bắt đầu thật sự thuộc về Thiên Chúa. Người môn đệ trưởng thành không phải là người lúc nào cũng hiểu ý Chúa, nhưng là người có thể nói trong những lúc không hiểu: “Con vẫn xin chọn ý Ngài hơn ý con.” Có những lần trong đời, lời cầu đẹp nhất không phải là “Lạy Chúa, xin cho con được điều này”, mà là “Lạy Chúa, nếu điều con xin không tốt cho phần rỗi của con, xin đừng cho con.” Nói được câu ấy không dễ. Bởi vì nó đòi một cái chết. Nhưng chính cái chết ấy làm phát sinh tự do.
Cái chết của hạt lúa còn là cái chết của lòng tự ái. Đây là một cái chết âm thầm nhưng dai dẳng. Có những người chịu cực được, chịu nghèo được, chịu làm việc nhiều được, nhưng không chịu được một câu nói chạm tới mình. Có những người có thể cho đi tiền bạc, nhưng không thể cho đi cái quyền được đúng. Có những người có thể nhịn ăn, nhưng không thể nhịn một lời đáp trả. Có những người có thể quỳ hàng giờ trước Thánh Thể, nhưng khi bị hiểu lầm thì lòng chất đầy cay đắng. Tự ái là một thứ rất lạ. Nó có thể đội lốt danh dự. Nó có thể đội lốt sự thật. Nó có thể đội lốt công bằng. Nó khiến ta nghĩ rằng ta đang bảo vệ điều đúng, nhưng thật ra ta đang bảo vệ chính mình. Nó khiến ta mất ăn mất ngủ vì một câu người khác nói. Nó làm ta nhớ một tổn thương mười năm, hai mươi năm, trong khi quên biết bao ân nghĩa người khác đã dành cho mình. Nó khiến một lời xin lỗi trở nên khó hơn một bài giảng dài. Nó khiến một bước đi làm hòa trở thành điều dường như hạ nhục. Và Tin Mừng nói: hạt lúa phải chết. Có những lúc Chúa không lấy tiền của ta, nhưng lấy cái quyền phải được người khác công nhận. Có những lúc Chúa không lấy sức khỏe, nhưng cho ta gặp một người cứ làm ta khó chịu để ta học khiêm nhường. Có những lúc Chúa không gửi một thập giá lớn, nhưng để mỗi ngày có những va chạm nhỏ làm mòn cái tôi. Ta thường mong nên thánh bằng những việc lớn, nhưng Thiên Chúa lại thánh hóa ta bằng những cái chết rất nhỏ: im đi một câu đáng lẽ mình có thể nói; nhường đi một chỗ đáng lẽ mình có quyền giữ; xin lỗi trước dù mình nghĩ mình chỉ sai một phần; không kể lại chuyện người khác đã làm đau mình; không tìm cách chứng minh mình hơn; không đòi người khác phải hiểu hết lòng mình. Những cái chết ấy không ai vỗ tay. Không ai trao bằng khen. Có khi chẳng ai biết. Nhưng Thiên Chúa biết. Và chính từ những cái chết nhỏ bé ấy, trong lòng ta bắt đầu mọc lên một con người mới.
Hạt lúa phải chết cũng có nghĩa là phải chết đi nhu cầu được thấy, được khen, được nhớ đến. Con người rất dễ làm việc tốt, nhưng khó làm việc tốt mà không cần ai biết. Ta muốn phục vụ, nhưng sâu xa vẫn muốn được công nhận. Ta muốn hy sinh, nhưng nếu không ai cảm ơn thì bắt đầu buồn. Ta muốn đóng góp, nhưng nếu tên mình không được nhắc tới thì thấy hụt hẫng. Ta muốn làm điều tốt, nhưng cũng muốn người ta biết rằng điều tốt ấy do mình làm. Có khi miệng nói “tất cả vì Chúa”, nhưng lòng vẫn chờ một lời khen của người đời. Đó là điều rất người, nhưng cũng là chỗ phải chết. Hạt lúa khi nằm dưới đất không có khán giả. Không ai đứng bên luống đất để vỗ tay khi nó nứt ra. Không ai chụp hình cái chết của nó. Không ai đăng tên nó. Nó chết trong âm thầm. Nhưng chính trong âm thầm ấy sự sống bắt đầu. Có những đời người rất đẹp trước mặt Chúa mà chẳng nổi tiếng trước mặt người đời. Có những người mẹ cả đời chỉ quanh quẩn với căn bếp, mâm cơm, đứa con đau bệnh, người chồng già yếu; chẳng ai trao huy chương, nhưng từng ngày bà đang chết đi cho gia đình được sống. Có những người cha đi sớm về khuya, đôi vai ngày một còng xuống, ít nói về hy sinh của mình, chỉ lặng lẽ làm việc để con cái được học hành. Có những tu sĩ ở một cộng đoàn nhỏ, không ai biết tên, không có công trình lớn, nhưng mỗi ngày trung thành cầu nguyện, phục vụ, chịu đựng những khác biệt của anh chị em. Có những linh mục ở vùng xa, chẳng có ai quay phim, chẳng có bài viết ca ngợi, chỉ có những con đường bụi đỏ, những giáo dân nghèo, những thánh lễ ít người, những chuyến đi âm thầm đem Mình Thánh Chúa cho người bệnh. Nếu đo bằng tiếng vỗ tay, có lẽ đời họ chẳng có gì. Nhưng nếu đo bằng Tin Mừng, đó có thể là cả một cánh đồng lúa đang trổ bông. Thiên Chúa không cần ta nổi tiếng. Thiên Chúa cần ta sinh hoa trái. Và hai chuyện ấy hoàn toàn khác nhau.
Cái tôi còn phải chết trong những tương quan hằng ngày. Nhiều người nghĩ “chết cho Chúa” là một điều gì thật lớn lao, nhưng thật ra phần lớn những lần chết của đời người môn đệ diễn ra ngay trong gia đình, trong cộng đoàn, nơi làm việc. Chết là khi mệt vẫn cố nói một câu tử tế. Chết là khi bị hiểu lầm nhưng không vội kết án. Chết là khi người kia có một thói quen mình rất khó chịu mà mình học cách kiên nhẫn. Chết là khi phải làm lại một công việc vì người khác làm chưa tốt mà không càm ràm. Chết là khi trong nhà có người già cứ hỏi đi hỏi lại một câu, ta vẫn trả lời dịu dàng. Chết là khi đứa con phạm lỗi, thay vì trút cơn giận, cha mẹ chọn cách dạy nó bằng bình tĩnh. Chết là khi vợ chồng tranh luận và một người đủ khiêm nhường để nói: “Thôi, mình đừng làm tổn thương nhau nữa.” Chết là khi trong cộng đoàn có người mình không hợp mà vẫn giữ lòng bác ái. Chết là khi người khác được chọn thay mình mà mình vẫn vui cho họ. Chết là khi thấy người khác thành công hơn mà không ghen. Chết là khi thấy người từng làm mình buồn gặp khó khăn mà không hả hê. Tất cả những điều đó là những hạt lúa đang vỡ ra. Và thật lạ, mỗi lần cái tôi chết đi một chút, bình an lại sinh ra một chút. Mỗi lần tự ái chết đi một chút, tình nghĩa lại sống lên. Mỗi lần ích kỷ chết đi một chút, gia đình lại ấm hơn. Mỗi lần lòng hơn thua chết đi một chút, cộng đoàn lại nhẹ hơn. Mỗi lần nhu cầu được công nhận chết đi một chút, ta lại tự do hơn.
Nhưng phải nói cho rõ: Chúa không mời ta chết để ta bị hủy diệt. Chúa mời ta chết để được sống. Hạt lúa không mục nát vô nghĩa. Nó chết để biến đổi. Tin Mừng không tôn thờ đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo không phải là tôn giáo đi tìm khổ đau. Đức Giêsu không nói: hãy đau cho nhiều thì sẽ thánh. Người nói: hãy yêu cho đến mức sẵn sàng mất mình. Có những đau khổ không làm ta thánh, nếu ta chỉ ôm nó trong cay đắng. Có những hy sinh không sinh hoa trái, nếu nó chỉ nuôi thêm niềm tự hào. Có những mất mát không đưa ta gần Chúa, nếu ta biến nó thành lý do để oán trách mọi người. Điều làm cho hạt lúa sinh hoa trái không chỉ là nó chết, nhưng là nó chết trong lòng đất để mở ra một sự sống mới. Người môn đệ cũng vậy. Cái tôi chết để Đức Kitô sống. Ý riêng chết để ý Chúa được thực hiện. Lòng thù hận chết để lòng thương xót sinh ra. Kiêu ngạo chết để khiêm nhường sinh ra. Ích kỷ chết để bác ái sinh ra. Ham muốn sở hữu chết để tự do sinh ra. Sự kiểm soát chết để phó thác sinh ra. Chính vì thế, cái chết Kitô giáo bao giờ cũng hướng tới sự sống. Thập Giá không phải dấu chấm hết. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh là buổi sáng Phục Sinh. Nhưng cũng không có Phục Sinh nếu không có Thứ Sáu Tuần Thánh. Ta rất thích hoa trái, nhưng thường không thích quá trình hạt lúa mục đi. Ta muốn bình an, nhưng không muốn chết đi cái tính nóng nảy. Ta muốn gia đình hạnh phúc, nhưng không muốn chết đi lòng ích kỷ. Ta muốn cộng đoàn hiệp nhất, nhưng không ai muốn chết đi ý riêng. Ta muốn đời sống thiêng liêng sâu sắc, nhưng không muốn chết đi những thói quen nuông chiều bản thân. Ta muốn nên thánh, nhưng lại muốn giữ nguyên con người cũ. Điều ấy không thể.
Có khi cái chết khó nhất chính là cái chết của hình ảnh ta đã tạo về chính mình. Mỗi người đều có một hình ảnh về mình. Ta nghĩ ta là người tốt. Ta nghĩ ta sống có trách nhiệm. Ta nghĩ ta hiểu đạo. Ta nghĩ ta khiêm nhường. Ta nghĩ ta quảng đại. Nhưng rồi một ngày, một biến cố nào đó xảy ra, và ta bất ngờ khám phá ra bên trong mình có những góc tối mà trước đây ta không thấy. Một lời xúc phạm làm ta bùng nổ. Một thất bại làm ta ghen tị. Một người được khen làm ta khó chịu. Một sự mất mát khiến ta nghi ngờ Thiên Chúa. Khi đó ta thất vọng về chính mình. Nhưng đôi khi chính sự thất vọng ấy lại là một ơn. Bởi vì cái hình ảnh đẹp mà ta dựng về mình cần phải chết để ta gặp được con người thật của mình trước mặt Chúa. Có lẽ một trong những bước tiến lớn của đời sống thiêng liêng là khi ta thôi ngạc nhiên vì mình yếu đuối. Ta không biện minh cho tội lỗi, nhưng cũng không còn ảo tưởng về mình. Ta biết nếu không có ơn Chúa, mình có thể ngã bất cứ lúc nào. Và từ đó, ta bớt xét đoán người khác. Người từng nhìn thấy bóng tối trong lòng mình sẽ khó ném đá người khác. Người biết mình đã được tha nhiều sẽ dễ tha hơn. Người nhận ra mình sống được đến hôm nay hoàn toàn nhờ ơn Chúa sẽ bớt khoe công. Như thế, ngay cả việc một ảo tưởng về mình chết đi cũng có thể sinh hoa trái của khiêm nhường.
Đối với đời linh mục và đời thánh hiến, lời “hạt lúa phải chết” lại càng có một ý nghĩa rất sâu. Ngày khấn dòng, ngày chịu chức, người ta có thể rất xúc động khi nghe nói đến hiến dâng. Nhưng hiến dâng không chỉ là khoảnh khắc quỳ trước bàn thờ. Hiến dâng thật sự diễn ra sau đó, trong từng ngày sống. Là khi chương trình của mình bị thay đổi. Là khi được sai đến nơi mình không chọn. Là khi sống với những anh em mình không hợp. Là khi làm một công việc âm thầm không đúng sở trường. Là khi sức khỏe yếu dần mà vẫn phải học chấp nhận. Là khi tuổi trẻ qua đi, người khác trẻ hơn, giỏi hơn, được trọng dụng hơn. Là khi mình không còn ở trung tâm. Là khi những việc trước đây mình làm tốt giờ phải trao cho người khác. Có những cái chết của tuổi trẻ, có những cái chết của tuổi trung niên, có những cái chết của tuổi già. Nếu không học chết đi từng giai đoạn, người ta rất dễ trở nên cay đắng. Một linh mục có thể chấp nhận sống độc thân nhưng lại không chấp nhận mất quyền. Một tu sĩ có thể bỏ gia đình nhưng lại không bỏ ý riêng. Một người tận hiến có thể bỏ tài sản nhưng lại bám rất chặt vào danh tiếng. Vì thế, lời khấn không tự động làm hạt lúa chết. Chỉ có tình yêu mỗi ngày mới làm được điều đó. Và cái chết ấy phải được lặp đi lặp lại. Không ai chỉ chết một lần cho cái tôi. Nó có khả năng sống lại rất nhanh. Hôm nay ta khiêm nhường, ngày mai lại tự mãn. Hôm nay ta quảng đại, ngày mai lại tính toán. Hôm nay ta phó thác, ngày mai lại muốn kiểm soát. Vì thế, đời môn đệ là một cuộc “chết mỗi ngày”, như thánh Phaolô đã từng nói. Nhưng đây không phải là một cuộc sống u ám. Trái lại, người chết được cho cái tôi thường là người vui nhất. Bởi vì họ không còn phải vất vả bảo vệ hình ảnh của mình. Không cần ai cũng thích mình. Không cần lúc nào mình cũng thắng. Không cần chuyện gì cũng theo ý mình. Họ trở nên nhẹ. Và chỉ người nhẹ mới đi xa được với Chúa.
Chúng ta cũng cần phân biệt chết đi cái tôi với việc để người khác chà đạp phẩm giá mình. Tin Mừng không dạy ta dung túng bạo lực, bất công hay lạm dụng. Đức Giêsu khi bị người lính vả mặt đã hỏi: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Người hiền lành không phải là người không có tiếng nói. Khiêm nhường không phải là tự coi mình vô giá trị. Chết đi cái tôi không có nghĩa là chấp nhận mọi sự sai trái. Điều phải chết là lòng kiêu căng, lòng báo thù, sự ích kỷ, nhu cầu kiểm soát, chứ không phải phẩm giá Thiên Chúa ban. Có lúc tình yêu đòi ta im lặng; có lúc tình yêu đòi ta lên tiếng. Có lúc khiêm nhường là nhường; có lúc khiêm nhường là nói sự thật mà không oán ghét. Điều quan trọng là hỏi: tôi đang làm điều này vì tình yêu hay vì cái tôi? Tôi lên tiếng để bảo vệ điều đúng hay để bảo vệ sĩ diện? Tôi im lặng vì bác ái hay vì sợ hãi? Chỉ khi thành thật trước mặt Chúa, ta mới phân định được.
Hạt lúa còn dạy ta một điều khác: hoa trái thường đến sau một thời gian ta không nhìn thấy gì. Khi hạt lúa được vùi xuống đất, trên mặt đất dường như chẳng có gì xảy ra. Người nông dân không thể mỗi ngày đào lên xem nó đã mọc chưa. Nếu cứ đào lên, nó sẽ chết thật. Phải biết chờ. Cũng vậy, có những hy sinh của ta hôm nay chưa thấy kết quả. Cha mẹ cầu nguyện cho một đứa con xa Chúa nhiều năm mà chưa thấy nó trở về. Một linh mục tận tụy phục vụ một giáo xứ nhưng không thấy thay đổi bao nhiêu. Một người vợ kiên trì yêu thương trong gia đình khó khăn nhưng chưa thấy chồng thay đổi. Một người đang chiến đấu với một tật xấu, ngã lên ngã xuống, tưởng chẳng tiến được bước nào. Đừng vội nghĩ hạt lúa đã chết vô ích. Thiên Chúa làm việc trong thinh lặng. Có những mùa gặt ta được thấy. Có những mùa gặt chỉ người khác được thấy. Có những hạt lúa chết hôm nay nhưng vài chục năm sau mới thành cây. Ta đừng làm điều tốt chỉ vì kết quả trước mắt. Người môn đệ không sống bằng thành công; người môn đệ sống bằng sự trung tín. Đức Giêsu chết trên thập giá vào chiều Thứ Sáu trong cái nhìn của con người là một thất bại khủng khiếp. Môn đệ bỏ chạy. Đám đông chế nhạo. Kẻ thù tưởng đã chiến thắng. Nhưng chính lúc tưởng như không còn gì, hạt lúa đã rơi xuống đất. Và từ hạt lúa ấy, Hội Thánh được sinh ra. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, máu và nước chảy ra. Từ một cái chết, sự sống lan đến muôn dân. Vì thế, đừng quá vội đánh giá một đời người chỉ bằng những gì thấy được ngay lúc này.
Có một câu hỏi mà mỗi người chúng ta có lẽ phải đặt ra hôm nay: trong tôi, điều gì đang không chịu chết? Có thể là một mối hận. Có thể là một tham vọng. Có thể là nhu cầu được người ta ca ngợi. Có thể là một thói quen xấu mà tôi vẫn nuông chiều. Có thể là một sự ghen tị. Có thể là một mối tương quan không lành mạnh mà tôi không muốn buông. Có thể là lòng ham tiền. Có thể là sự kiểm soát con cái quá mức. Có thể là một định kiến đối với ai đó. Có thể là cái kiểu lúc nào cũng phải là người nói lời cuối. Có thể là sự so sánh mình với người khác. Có thể là một quá khứ mà tôi cứ ôm mãi. Có những thứ đã đến lúc phải chết, nhưng ta cứ hồi sức cho nó mỗi ngày. Người khác xúc phạm mình một lần, ta nhớ lại một trăm lần. Chuyện đã qua mười năm, ta kể lại như vừa xảy ra hôm qua. Một thất bại đã hết, ta vẫn để nó định nghĩa cuộc đời mình. Một lỗi lầm đã được Chúa tha, ta vẫn không tha cho chính mình. Hạt lúa phải chết đôi khi có nghĩa là hãy để quá khứ được chôn xuống. Có những điều cần được an táng để sự sống mới có thể bắt đầu. Ta không thể vừa giữ nguyên nấm mồ vừa mong có Phục Sinh.
Có những người sợ chết đi cái tôi vì nghĩ rằng nếu mình nhường thì mình sẽ thua. Nhưng Tin Mừng đảo ngược cách tính ấy. “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất.” Người cứ cố giữ mình cuối cùng lại mất chính mình. Người cứ bảo vệ cái tôi sẽ dần trở thành tù nhân của cái tôi. Họ rất dễ bị tổn thương vì một lời nói. Rất dễ bất an vì người khác hơn mình. Rất dễ buồn vì không được chú ý. Rất dễ giận vì không được làm theo ý. Càng giữ mình, càng mệt. Ngược lại, người biết mất mình vì yêu thì lại tìm thấy mình. Không phải mất bản sắc, nhưng tìm được bản sắc sâu nhất: mình là con của Thiên Chúa, mình được yêu, mình không cần chứng minh giá trị bằng việc hơn người khác. Chính vì thế các thánh thường có một sự tự do kỳ lạ. Họ có thể bị hiểu lầm mà không sụp đổ. Có thể bị quên mà không cay đắng. Có thể mất nhiều thứ mà vẫn bình an. Không phải vì họ vô cảm, nhưng vì điểm tựa của họ không còn nằm nơi cái tôi.
Cuối cùng, nhìn hạt lúa chết, ta không thể không nhìn lên Đức Kitô. Người không chỉ dạy về hạt lúa. Người chính là hạt lúa. Người đã để mình rơi xuống lòng đất của nhân loại. Người đã chết đi tất cả những gì con người vẫn cố giữ: danh dự, an toàn, quyền tự quyết, sự sống. Người bị lột áo. Bị sỉ nhục. Bị đóng đinh. Bị coi như kẻ thất bại. Nhưng Người không xuống khỏi Thập Giá để cứu mình. Người ở lại để cứu chúng ta. Và từ cái chết ấy, một mùa gặt vô tận đã xuất hiện. Nếu hôm nay Chúa mời ta chết đi một điều gì đó, Người không đứng ngoài mà ra lệnh. Người đã đi trước. Khi ta phải chết cho tự ái, hãy nhìn Người im lặng trước những lời nhục mạ. Khi ta phải chết cho ý riêng, hãy nhìn Người trong Vườn Dầu. Khi ta phải chết cho lòng thù hận, hãy nghe Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi ta phải chết cho nhu cầu được yêu đáp lại, hãy nhìn Người vẫn yêu cả những kẻ đóng đinh mình. Khi ta thấy mình bị vùi xuống một hoàn cảnh tối tăm, hãy nhớ hạt lúa không bị chôn để mất đi, mà được gieo để sinh hoa trái.
Có thể đời ta không làm được những điều lớn. Nhưng nếu mỗi ngày có một chút cái tôi chết đi, đời ta đã bắt đầu sinh hoa trái. Mỗi lần ta bớt một lời cay nghiệt, một hạt lúa chết. Mỗi lần ta nhường một phần lợi ích cho người khác, một hạt lúa chết. Mỗi lần ta tha thứ, một hạt lúa chết. Mỗi lần ta làm việc tốt mà không cần được biết đến, một hạt lúa chết. Mỗi lần ta chấp nhận ý Chúa trong một chuyện trái ý, một hạt lúa chết. Mỗi lần ta quỳ xuống và nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin”, một hạt lúa chết. Và từ những cái chết bé nhỏ ấy, Thiên Chúa làm nên mùa gặt mà có khi chính ta cũng không bao giờ biết hết.
Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ thích làm bông lúa vàng trước mắt mọi người mà sợ làm hạt lúa mục đi trong đất. Xin cho ta đừng chỉ muốn có hoa trái mà từ chối cái giá của hoa trái. Xin cho ta can đảm hỏi mỗi ngày: hôm nay, cái gì trong tôi cần phải chết để Đức Kitô sống hơn? Xin cho cái tôi trong ta nhỏ lại để tình yêu lớn lên; ý riêng nhỏ lại để ý Chúa lớn lên; lòng hơn thua nhỏ lại để lòng bao dung lớn lên; sự ích kỷ nhỏ lại để khả năng hiến trao lớn lên. Và nếu một ngày nào đó ta cảm thấy đời mình như đang bị chôn xuống, bị quên lãng, bị mất đi, xin cho ta nhớ rằng dưới lòng đất tối, hạt lúa đang làm điều kỳ diệu nhất của đời nó: nó đang thôi sống cho mình để bắt đầu sinh ra sự sống cho người khác. Có lẽ đó cũng là định nghĩa đẹp nhất của người môn đệ: một người dần dần thôi sống cho mình, để Đức Kitô có thể sống trong họ và qua họ mà trở thành sự sống cho anh em.
Lm. Anmai, CSsR

KHI THIÊN CHÚA CHỌN CON ĐƯỜNG YẾU ĐUỐI
Tin Mừng: Mt 27,27-31
Có những trang Tin Mừng đọc lên làm ta thấy lòng mình nghẹn lại. Không phải vì ta không biết câu chuyện sẽ kết thúc thế nào, nhưng bởi càng đọc, càng thấy một Thiên Chúa khác hẳn với những gì con người thường tưởng tượng về Thiên Chúa. Chúng ta thường nghĩ Thiên Chúa phải mạnh. Đã là Thiên Chúa thì phải quyền năng. Đã là Đấng Tối Cao thì không ai được phép xúc phạm. Đã là Con Thiên Chúa thì chỉ cần một lời là quân lính phải ngã xuống, những kẻ chế nhạo phải câm miệng, những bàn tay đang giơ lên đánh Người phải cứng lại giữa không trung. Vậy mà Tin Mừng hôm nay lại đặt trước mắt chúng ta một Đức Giêsu bị lột áo, bị khoác cho chiếc áo choàng đỏ để làm trò cười, bị đội vòng gai lên đầu, bị đặt cây sậy vào tay, bị quỳ xuống trước mặt mà nhạo rằng: “Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!” Rồi người ta nhổ vào mặt Người, lấy cây sậy đập vào đầu Người, chế giễu Người cho thỏa thích, sau cùng lại lột áo choàng ra, mặc áo cũ cho Người và dẫn Người đi đóng đinh. Một cảnh tượng nhục nhã đến đau lòng. Đáng sợ hơn nữa là Đức Giêsu gần như không làm gì để tự bảo vệ mình. Người không chống trả. Người không nguyền rủa. Người không thị uy. Người không gọi lửa từ trời xuống. Người không dùng quyền năng để thoát khỏi đôi bàn tay con người. Người đứng đó, yếu đuối đến mức người ta có thể làm gì Người thì làm. Và chính ở chỗ ấy, một mầu nhiệm lớn lao của Thiên Chúa được hé mở: Thiên Chúa cứu thế gian không bằng cách phô diễn sức mạnh, nhưng bằng cách để tình yêu của Người trở nên yếu đuối. Người mạnh đến mức dám không dùng sức mạnh cho mình. Người quyền năng đến mức có thể để cho mình bị tổn thương mà vẫn không thôi yêu. Người chiến thắng không phải bằng cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng bằng cách không để lòng mình biến thành kẻ thù của bất cứ ai.
Con đường ấy thật khó hiểu đối với chúng ta. Thế gian dạy ta rằng mạnh là phải thắng. Mạnh là không để ai coi thường. Mạnh là phải có tiếng nói, có quyền lực, có khả năng làm người khác sợ. Mạnh là bị xúc phạm thì phải đáp trả, bị đụng đến thì phải cho người kia biết tay, bị làm nhục thì phải tìm cách lấy lại danh dự. Người ta nói: “Không thể để họ lấn tới.” Người ta bảo: “Hiền quá người ta coi thường.” Người ta khuyên nhau phải biết trả đũa, phải biết giữ thể diện, phải chứng minh mình không phải người dễ bị bắt nạt. Có khi chúng ta mang cả cách suy nghĩ đó vào đời sống đức tin. Chúng ta muốn một Thiên Chúa ra tay ngay lập tức. Chúng ta cầu xin Chúa làm cho người làm khổ mình phải thất bại. Chúng ta muốn Chúa minh oan cho mình bằng cách làm cho đối phương phải nhận ra họ sai. Chúng ta muốn Chúa chứng tỏ rằng Người đứng về phía mình. Chúng ta dễ tin vào một Thiên Chúa chiến thắng bằng phép lạ hơn là một Thiên Chúa đứng im trước những cái tát. Dễ tin một Thiên Chúa dẹp tan quân thù hơn là một Thiên Chúa để quân thù đội vòng gai lên đầu. Dễ tin vào Chúa của những ngày huy hoàng hơn là Chúa của sân dinh tổng trấn, nơi Người trở thành trò tiêu khiển cho đám lính thô bạo. Nhưng Tin Mừng không cho ta chọn một Thiên Chúa theo sở thích của mình. Tin Mừng bắt ta đối diện với Đức Kitô thật: một Đức Kitô quyền năng nhưng tự nguyện bất lực, có thể cứu mình nhưng không cứu mình, có thể khiến người khác đau nhưng chấp nhận đau, có thể kết án nhưng chọn tha thứ. Người không yếu vì không có sức mạnh. Người yếu vì tình yêu đã khiến Người từ chối sử dụng sức mạnh để bảo vệ chính mình. Đó là điều hoàn toàn khác.
Có lẽ đây là một trong những điều sâu thẳm nhất của mầu nhiệm Thập Giá: Thiên Chúa không cứu con người từ trên cao bằng một mệnh lệnh lạnh lùng. Người đi xuống tận nơi con người bị chà đạp, bị nhục mạ, bị bạo lực, bị bỏ rơi. Người không đứng ngoài đau khổ để giảng cho chúng ta về đau khổ. Người bước vào đau khổ. Người không đứng xa những ai bị người đời chế nhạo. Người để chính mình bị chế nhạo. Người không nói với người bị đánh rằng: “Hãy cố lên.” Người để chính lưng mình bị đánh. Người không chỉ thương cảm những ai mất phẩm giá. Người để người ta lột áo Người, nhổ vào Người, đội mão gai lên Người, biến Người thành một thân phận chẳng còn gì để giữ. Người xuống thấp đến mức không còn ai trên trần gian có thể nói với Người rằng: “Chúa không hiểu nỗi nhục của con.” Người bị làm nhục để ở gần những người từng bị làm nhục. Người bị coi thường để ở bên những ai suốt đời bị người khác coi thường. Người bị đùa cợt để ở bên người già bị con cháu xem như gánh nặng, người nghèo bị khinh thường, người bệnh bị bỏ quên, người thất bại bị cười chê, người bị phản bội không biết nói cùng ai, người bị vu khống mà không có cơ hội thanh minh, người bị những lời nói độc địa làm cho tan nát lòng mình. Thiên Chúa đã chọn con đường yếu đuối không phải vì Người bất lực trước sự dữ, mà vì Người muốn đi đến tận cùng nơi sự dữ đã làm con người đau nhất để ôm lấy con người từ chính nơi ấy.
Chiếc áo choàng đỏ khoác lên Đức Giêsu là một trò nhạo. Vòng gai đội trên đầu Người là một kiểu “vương miện” tàn nhẫn. Cây sậy trong tay Người là một cây “vương trượng” giả. Những cái quỳ gối trước mặt Người chỉ là cử chỉ chế giễu. Mọi dấu chỉ của một vị vua đều có mặt, nhưng tất cả đều bị đảo ngược. Vua mà không có ngai, chỉ có thập giá. Vương miện mà không có vàng, chỉ có gai. Vương trượng mà không có quyền lực, chỉ có cây sậy. Triều thần mà không có lời tung hô, chỉ có tiếng cười nhạo. Áo hoàng bào không có lụa quý, chỉ là tấm áo dùng để châm biếm. Thế nhưng điều trớ trêu là chính trong trò nhạo ấy, sự thật lại được mặc khải. Người thật sự là Vua. Không phải vị vua mà những người lính tưởng tượng, không phải vị vua của binh đội và thanh gươm, mà là Vua của một vương quốc không xây bằng sợ hãi. Người cai trị không bằng cưỡng ép nhưng bằng tình yêu. Người chinh phục không phải bằng việc làm người khác quỳ xuống, mà bằng việc chính mình quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Người không giữ ngai cho mình, Người chọn cây Thập Giá. Người không bảo vệ mạng sống bằng cái chết của người khác, Người bảo vệ mạng sống người khác bằng cái chết của chính mình. Chưa bao giờ thế giới thấy một vị vua như thế. Và có lẽ chính vì thế mà thế giới vẫn luôn khó hiểu Người.
Chúng ta thường nghĩ chiến thắng là khi người làm hại mình phải thua. Đức Giêsu cho thấy có một chiến thắng khác cao hơn: chiến thắng khi người khác làm cho mình đau mà mình không để cái đau ấy biến mình thành người độc ác. Đó mới là chiến thắng khó nhất. Người ta có thể thắng một cuộc tranh luận nhưng thua chính mình. Người ta có thể làm đối phương câm miệng nhưng mất bình an trong lòng. Người ta có thể trả được một món nợ ân oán nhưng lại mắc vào một món nợ khác là hận thù. Có những người bị xúc phạm một lần nhưng mang sự xúc phạm đó suốt ba mươi năm. Có những gia đình chỉ vì một câu nói mà anh em không nhìn mặt nhau cho đến chết. Có những người tưởng rằng mình đang giữ công lý, nhưng thật ra chỉ đang nuôi một vết thương. Có những người ngày nào cũng cầu nguyện nhưng trong lòng vẫn muốn người từng làm mình đau phải trả giá. Cũng có những người ngoài miệng nói “tôi tha rồi” nhưng cứ gặp ai lại kể lại chuyện cũ, như thể không muốn vết thương được lành. Chúng ta rất dễ dùng quyền của mình để làm người khác đau khi mình đã từng đau. Cha mẹ từng bị cha mẹ mình nghiêm khắc rồi lại nghiêm khắc với con. Người bị tổn thương trong một cộng đoàn rồi khi có trách nhiệm lại làm tổn thương người khác. Người từng bị coi thường, đến khi có chút địa vị lại thích làm người dưới mình sợ. Vòng xoáy ấy cứ tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chỉ có Thập Giá mới cắt đứt được nó. Chỉ có Đức Giêsu đội vòng gai mà không nguyền rủa mới dạy chúng ta rằng nỗi đau mình nhận không nhất thiết phải trở thành nỗi đau mình trao lại.
Đức Giêsu yếu đuối, nhưng không nhu nhược. Hai điều ấy không giống nhau. Nhu nhược là không dám bảo vệ điều đúng. Yếu đuối vì yêu là có khả năng đáp trả nhưng chọn một con đường cao hơn. Chúa Giêsu trong Tin Mừng không phải người luôn im lặng. Khi cần, Người nói rất thẳng với những kẻ giả hình. Người lật bàn những người biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Người không sợ vua chúa, không sợ người có quyền, không sợ bị cô lập. Nhưng khi sự việc chạm đến chính Người, Người lại có một tự do lạ lùng. Người không cần phải bảo vệ cái tôi của mình. Người không cần phải chứng minh Người đúng bằng cách làm người khác nhục. Người không cần phải thắng trong mắt thiên hạ. Đây là sự tự do mà chúng ta rất thiếu. Nhiều lần ta phản ứng dữ dội không phải vì chân lý bị xúc phạm, mà vì cái tôi bị xúc phạm. Ta nói mình bảo vệ lẽ phải, nhưng thật ra đang bảo vệ tự ái. Ta nói mình góp ý vì trách nhiệm, nhưng sâu xa là muốn người kia biết rằng ta hơn họ. Ta nói mình không thể nhịn nữa, nhưng đôi khi cái ta không thể nhịn chính là việc mình không được coi trọng như mình muốn. Đức Giêsu tự do đến mức người ta có thể nhổ vào mặt Người mà phẩm giá Người không hề giảm. Bởi phẩm giá của Người không nằm trong ánh mắt của đám đông. Danh dự của Người không lệ thuộc vào tiếng tung hô. Người biết Người là ai trong mắt Cha. Và có lẽ đây là bí quyết để chúng ta có thể sống hiền lành giữa một thế giới nhiều va chạm: khi biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa, ta không còn phải giành giật từng chút danh dự trước mặt con người.
Có những lúc trong đời, Chúa cũng dẫn chúng ta vào con đường yếu đuối. Không phải yếu đuối vì hèn nhát, nhưng yếu đuối vì không còn gì để dựa vào ngoài Chúa. Một cơn bệnh làm ta từ người năng động thành người cần người khác giúp đỡ. Tuổi già làm một người từng quyết định mọi chuyện nay phải chờ con cháu. Một thất bại làm ta mất hết những gì từng khiến mình tự tin. Một biến cố bất ngờ khiến những kế hoạch ta chuẩn bị bao năm bỗng trở thành vô nghĩa. Một người ta yêu thương ra đi, để lại một khoảng trống mà tiền bạc hay lời an ủi không thể lấp đầy. Một lời vu khống khiến ta hiểu cảm giác bất lực khi sự thật không được người khác tin. Một lần bị phản bội khiến ta cảm thấy mình thật nhỏ bé. Và khi ấy ta hỏi: “Tại sao Chúa không ra tay?” “Tại sao Chúa để con yếu thế như vậy?” “Tại sao Chúa không trả lại cho con điều con đã mất?” Có thể ta không tìm được câu trả lời ngay. Nhưng Đức Giêsu bị lính chế giễu nói với ta bằng chính sự hiện diện của Người rằng: yếu đuối không có nghĩa là Thiên Chúa đã bỏ con. Có những lúc chính trong yếu đuối, một điều rất sâu nơi con người mới được sinh ra. Khi ta không còn khả năng điều khiển mọi chuyện, ta học phó thác. Khi ta không còn được người khác tán thưởng, ta học tìm giá trị của mình trong Chúa. Khi ta không còn sức để làm những việc lớn, ta học yêu bằng những điều nhỏ. Khi ta không còn khả năng trả đũa, ta có cơ hội học tha thứ. Khi ta không còn gì để bám víu, ta mới nhận ra bàn tay Thiên Chúa đủ cho mình.
Thánh Phaolô từng nghe Chúa nói: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Câu ấy nghe rất đẹp khi đọc trong nhà thờ, nhưng sống câu ấy thì đau. Chúng ta không thích yếu đuối. Chúng ta cầu xin được mạnh lên. Chúng ta xin Chúa cất khỏi mình những điều khiến mình bất lực. Nhưng đôi lúc Chúa không cất đi. Không phải vì Người không nghe, mà vì Người đang làm một công việc khác trong ta. Có những ân sủng chỉ xuất hiện khi ta không còn tự cứu được mình. Có những cánh cửa chỉ mở ra khi ta thôi đập vào mọi cánh cửa khác. Có những lời cầu nguyện chỉ thật khi chúng ta không còn lời đẹp để nói, chỉ còn một tiếng thở dài: “Lạy Chúa, con không làm nổi nữa.” Chính lúc ấy, ta có thể chạm được một Thiên Chúa rất gần. Không phải Thiên Chúa của lý thuyết, nhưng là Thiên Chúa đội vòng gai.
Điều đáng sợ không phải là chúng ta yếu. Điều đáng sợ là chúng ta sợ yếu đến mức phải làm người khác yếu hơn mình để cảm thấy mình mạnh. Có người cần hạ người khác xuống để thấy mình cao. Có người cần người khác sai để mình được đúng. Có người phải nói lớn tiếng để che đi sự bất an trong lòng. Có người phải khoe thành công vì sợ người khác biết những thất bại của mình. Có người phải kiểm soát mọi thứ vì trong lòng rất sợ mất quyền. Có người không thể xin lỗi vì nghĩ rằng xin lỗi là thua. Có người không thể nói “tôi không biết” vì sợ mất uy tín. Nhưng Đức Kitô cho chúng ta một kiểu sức mạnh hoàn toàn khác. Người có thể yếu trước mặt con người vì Người vững trước mặt Cha. Người có thể để người ta lấy áo, lấy danh dự, lấy mạng sống, bởi có một điều không ai lấy được: tình yêu Người dành cho Cha và cho nhân loại. Đó là sức mạnh của người môn đệ. Không phải không bị thương, nhưng bị thương mà không đánh mất khả năng yêu. Không phải không khóc, nhưng khóc mà không tuyệt vọng. Không phải không bị bất công, nhưng không để bất công biến mình thành kẻ bất công. Không phải không biết giận, nhưng không để cơn giận làm chủ mình. Không phải luôn luôn thắng, nhưng trong mọi hoàn cảnh vẫn giữ được một trái tim giống Trái Tim Chúa.
Nhìn Đức Giêsu bị đội vòng gai, ta cũng phải xét lại cách mình sử dụng quyền lực. Bất cứ ai cũng có một thứ quyền lực nào đó. Cha mẹ có quyền trên con cái. Người làm chủ có quyền trên nhân viên. Người đứng đầu một cộng đoàn có quyền trên người thuộc trách nhiệm của mình. Người có kiến thức có một thứ quyền trên người ít hiểu biết. Người có tiền có sức ảnh hưởng trên người đang cần giúp đỡ. Người được yêu mến có quyền trên trái tim người khác. Ngay cả người biết một bí mật của người khác cũng đang nắm trong tay một thứ quyền lực. Câu hỏi không phải là ta có quyền hay không, nhưng ta dùng quyền ấy thế nào. Đức Giêsu có mọi quyền, nhưng Người dùng quyền để rửa chân. Người dùng quyền để chữa lành. Người dùng quyền để tha tội. Người dùng quyền để nâng người bị loại trừ đứng dậy. Và cuối cùng, Người dùng quyền để không xuống khỏi Thập Giá. Còn chúng ta thì sao? Có khi chỉ có chút quyền đã bắt người khác phải sợ. Có khi chỉ hơn ai một chút đã muốn họ phải biết vị trí của mình. Có khi chỉ vì mình là cha mẹ mà tưởng rằng có thể nói bất cứ lời nào với con. Chỉ vì mình là người lớn mà nghĩ người trẻ không được phép lên tiếng. Chỉ vì mình là người giúp đỡ mà vô tình biến người nhận thành kẻ mang ơn suốt đời. Nếu quyền lực của ta khiến người khác nhỏ đi, có lẽ đó không còn là quyền lực mang khuôn mặt Đức Kitô. Quyền lực Kitô giáo luôn mang dấu vết của chiếc khăn rửa chân và vòng gai.
Cũng trong ánh sáng Tin Mừng này, chúng ta hiểu rằng tình yêu thật luôn có một mức độ yếu đuối. Ai yêu mà không bao giờ để mình bị tổn thương thì chưa chắc đã yêu. Yêu là trao cho người khác khả năng làm mình vui, nhưng đồng thời cũng là trao cho họ khả năng làm mình đau. Người mẹ sinh con là chấp nhận từ ngày ấy trái tim mình không còn hoàn toàn thuộc về mình. Con khỏe thì mẹ vui, con đau thì mẹ đau. Cha mẹ yêu con nên dù con lớn vẫn lo. Vợ chồng yêu nhau nên một lời vô tâm của người kia có thể khiến mình buồn hơn lời của người ngoài. Linh mục yêu cộng đoàn nên một sự lạnh nhạt cũng có thể chạm sâu vào lòng. Người ta chỉ bị đau nhiều ở nơi mình đã yêu nhiều. Đức Giêsu bị đau tận cùng vì Người yêu tận cùng. Nếu Người không yêu con người, đinh sẽ chỉ làm đau thân xác. Nhưng vì yêu, sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ của Phêrô, sự bỏ chạy của các môn đệ, tiếng gào “đóng đinh nó đi”, lời chế nhạo của quân lính — tất cả đều chạm vào một Trái Tim yêu. Thập Giá không chỉ là nỗi đau thể xác. Đó là cái giá của một tình yêu không rút lui dù bị từ chối.
Ngày nay, nhiều người xây những bức tường quanh trái tim vì sợ bị tổn thương. Sau một lần bị phụ bạc, họ nói không tin ai nữa. Sau một lần bị lợi dụng, họ quyết không giúp ai nữa. Sau một lần làm việc tốt mà bị hiểu lầm, họ nói từ nay chỉ sống cho mình. Ta hiểu được nỗi đau ấy. Nhưng nếu vì sợ bị tổn thương mà đóng cửa trái tim, ta có thể tránh được một vài nỗi đau nhưng cũng đánh mất khả năng yêu. Đức Giêsu không chọn như thế. Người biết yêu sẽ làm Người đau, nhưng Người vẫn yêu. Người biết các môn đệ sẽ bỏ chạy, nhưng vẫn rửa chân cho họ. Người biết Phêrô sẽ chối mình, nhưng vẫn nhìn ông bằng ánh mắt không kết án. Người biết Giuđa sẽ phản bội, nhưng trong bữa ăn vẫn gọi ông là bạn. Người biết nhân loại sẽ đóng đinh mình, nhưng vẫn bước lên Giêrusalem. Đó không phải sự ngây thơ. Đó là tình yêu mạnh đến mức chấp nhận trở nên dễ bị tổn thương.
Có lẽ một trong những lời cầu cần thiết nhất của người Kitô hữu là: “Lạy Chúa, xin đừng để nỗi đau làm con trở nên độc ác.” Ta không thể bảo đảm mình sẽ không bị tổn thương. Sống với con người là chấp nhận có ngày bị hiểu lầm. Yêu là chấp nhận có ngày bị phụ lòng. Làm việc tốt có khi nhận lại vô ơn. Nói thật có khi bị ghét. Im lặng có khi bị hiểu sai. Nhưng ta có thể xin Chúa một điều: khi mọi chuyện ấy xảy ra, xin giữ trái tim con đừng biến dạng. Xin cho con vẫn biết nhìn người làm con đau như một con người cần được cứu. Xin cho con không biến vết thương của mình thành vũ khí. Xin cho con không dùng những điều người khác đã làm với con làm lý do để đối xử tệ với người tiếp theo. Đây là điều ta học được nơi Đức Giêsu trong dinh tổng trấn. Người bị đối xử như không còn nhân phẩm, nhưng Người không hạ thấp phẩm giá của những kẻ hành hạ mình. Người không trở thành giống họ.
Trong đời sống gia đình, điều này cụ thể lắm. Có những người vợ sống với một người chồng khó tính mà ngày ngày phải học sự nhẫn nại. Có người chồng cố gắng giữ gia đình dù nhiều lần không được thấu hiểu. Có cha mẹ đau lòng vì con cái đi sai đường. Có người con chăm cha mẹ già trong những năm tháng rất mệt mỏi. Không phải lúc nào tình yêu cũng mang dáng vẻ đẹp đẽ. Có lúc tình yêu là một đêm thức trắng bên giường bệnh. Có lúc là nghe đi nghe lại một câu chuyện của người già đã quên mình từng kể. Có lúc là im một câu mình hoàn toàn có quyền nói vì biết nói ra chỉ làm nhau đau thêm. Có lúc là chủ động làm hòa dù mình không phải người gây chuyện trước. Có lúc là tiếp tục cầu nguyện cho một đứa con đang làm cha mẹ tan nát lòng. Những lúc ấy, tình yêu trông rất yếu. Nhưng đôi khi chính thứ tình yêu yếu đuối ấy lại giữ một mái nhà khỏi đổ vỡ.
Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Ta thường mơ một cộng đoàn toàn người dễ thương. Nhưng không có cộng đoàn nào như thế. Cộng đoàn là nơi những con người mang theo lịch sử, tính cách, vết thương, giới hạn và cả những phần chưa trưởng thành của mình sống bên nhau. Không thể không có va chạm. Có những người ta rất khó hiểu. Có những cách làm ta không đồng ý. Có những lời làm ta khó chịu. Nếu ai cũng dùng sức mạnh để bảo vệ mình, cộng đoàn sẽ thành chiến trường. Người phải mạnh nhất chính là người dám yếu đi một chút vì tình huynh đệ. Dám nhường. Dám nghe. Dám nhận mình cũng có thể sai. Dám cho người khác một cơ hội. Dám không nói hết mọi điều mình biết. Dám giữ kín chuyện người khác đã tin tưởng kể cho mình. Dám chịu phần thiệt để cộng đoàn được bình an. Những điều ấy thế gian xem là thiệt thòi. Tin Mừng gọi đó là giống Đức Kitô.
Và trong sứ vụ của Hội Thánh, điều này càng quan trọng. Giáo Hội không chiến thắng thế gian bằng quyền lực. Lịch sử nhiều lần cho thấy mỗi khi người Kitô hữu quên con đường yếu đuối của Đức Kitô và muốn dùng những phương tiện của thế gian để bảo vệ Tin Mừng, Tin Mừng bị che khuất. Chúa không cần chúng ta thắng người khác trong mọi cuộc tranh luận. Chúa cần chúng ta làm chứng cho một tình yêu khác. Một người có thể không đồng ý với giáo lý của chúng ta, nhưng họ phải có cơ hội nhìn thấy nơi chúng ta sự hiền lành của Đức Kitô. Một người có thể chống đối Giáo Hội, nhưng đừng vì vậy mà ta ghét họ. Một người có thể chế nhạo đức tin, nhưng người môn đệ không được phép dùng sự chế nhạo để đáp lại. Sự thật không cần sự độc ác để bảo vệ. Đức Kitô là Sự Thật nhưng lại đứng im trước những kẻ nhạo Người. Không phải vì sự thật yếu, nhưng vì sự thật không sợ bị chế nhạo. Điều làm Tin Mừng đáng tin không chỉ là những lý luận đúng, nhưng là một đời sống có hình dáng Thập Giá.
Có khi chúng ta hỏi: nếu cứ hiền lành như thế, sự dữ có thắng không? Nhìn vào Thứ Sáu Tuần Thánh, câu trả lời dường như là có. Đức Giêsu chết. Những kẻ chống Người tưởng đã thắng. Phiến đá lấp cửa mồ. Các môn đệ thất vọng. Nhưng câu chuyện chưa kết thúc. Thiên Chúa không chiến thắng sự dữ bằng cách trở nên dữ hơn sự dữ. Người để sự dữ làm tất cả điều nó có thể làm, rồi từ bên trong cái chết, Người mở ra sự sống. Phục Sinh là câu trả lời của Thiên Chúa cho câu hỏi ấy. Tình yêu có thể bị đóng đinh nhưng không thể bị tiêu diệt. Sự hiền lành có thể bị coi là thua nhưng không phải thất bại cuối cùng. Người tha thứ có thể bị xem là yếu, nhưng họ là người duy nhất không bị kẻ thù quyết định mình sẽ trở thành ai.
Đây có lẽ là điều ta cần nhớ mỗi khi muốn trả đũa. Nếu ta để người làm ta đau quyết định cách ta sống, họ đã thắng hai lần: một lần khi làm ta đau, một lần nữa khi khiến ta trở thành giống họ. Nhưng nếu ta vẫn giữ được lòng tử tế, họ có thể làm ta bị thương nhưng không chiếm được linh hồn ta. Đức Giêsu mất áo, mất tự do, mất danh dự trước mặt người đời, mất cả mạng sống, nhưng Người không mất tình yêu. Vì thế Người không thất bại. Thất bại thật sự là khi tình yêu trong ta chết. Thất bại thật sự không phải khi người khác làm mình nhục, mà khi vì bị nhục ta bắt đầu thích làm nhục người khác. Không phải khi mình bị ghét, mà khi mình bắt đầu ghét. Không phải khi mình bị phản bội, mà khi mình đánh mất khả năng tin và yêu. Thập Giá bảo vệ chúng ta khỏi thất bại sâu nhất ấy.
Có người sẽ nói: “Nhưng tôi đau lắm, tôi không tha được.” Không sao. Tha thứ không phải một cảm xúc bật lên tức thì. Có vết thương cần nhiều năm mới có thể gọi đúng tên mà không run. Có điều nhớ lại vẫn khóc. Chúa không đòi ta giả vờ rằng chuyện ấy không đau. Ngay Đức Giêsu cũng đau. Người không diễn trên Thập Giá. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng một lời cầu rất nhỏ: “Lạy Chúa, hôm nay con chưa yêu được họ. Xin Chúa yêu họ thay con. Con chưa tha được, nhưng con không muốn sống mãi trong hận thù. Xin dẫn con từng bước.” Có khi đó đã là khởi đầu của phép lạ. Yếu đuối không phải là thất bại. Dám thú nhận mình chưa làm được đôi khi lại là bước đầu để ân sủng làm điều mình không thể.
Chúng ta cũng cần học để cho mình được yếu đuối trước Chúa. Có người cầu nguyện cũng phải tỏ ra mạnh. Đau nhưng không dám khóc. Mệt nhưng vẫn nói “con ổn”. Hoang mang nhưng sợ thú nhận vì nghĩ người có đức tin thì không được nghi ngờ. Nhưng Chúa không cần một phiên bản tô son của chúng ta. Người đã đứng trần trụi, đầy thương tích trước mặt thế gian. Ta có thể đứng trần trụi trong tâm hồn trước mặt Người. Ta có thể nói: “Con sợ.” “Con buồn.” “Con thất vọng.” “Con ghen.” “Con giận.” “Con mệt.” “Con không hiểu Chúa.” Chính khi dám yếu trước Chúa, ta mới thật sự để Người cứu. Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc. Người nghĩ mình tự đủ không cần Đấng Cứu Độ. Nhiều khi chính những vết nứt trong đời là nơi ánh sáng Chúa đi vào.
Trở lại với Đức Giêsu bị chế nhạo, ta hãy nhìn thật lâu vòng gai trên đầu Người. Mỗi chiếc gai như nói với ta rằng Thiên Chúa đã đi vào những nơi nhức nhối nhất của đời mình. Nhìn chiếc áo đỏ giả vờ ấy mà hiểu rằng Chúa biết cảm giác bị người khác biến thành trò cười. Nhìn cây sậy trong tay Người mà hiểu rằng Chúa biết cảm giác bị người khác coi thường. Nhìn những cái tát, những giọt nước bọt, những tiếng cười nhạo mà hiểu rằng bất cứ điều gì ta từng chịu vì con người, ta đều có thể đem đến đặt dưới chân Người. Không phải để nuôi giận, nhưng để được chữa lành. Người không hứa rằng ta sẽ không bị đau. Người hứa rằng ta sẽ không phải đau một mình.
Và rồi hãy tự hỏi: trong cuộc đời này, tôi đang chọn kiểu sức mạnh nào? Sức mạnh của thế gian hay sức mạnh của Đức Kitô? Tôi có cần phải thắng mọi cuộc tranh luận không? Tôi có cần phải nói câu cuối cùng không? Tôi có thích làm người khác sợ mình không? Khi bị tổn thương, tôi có làm người vô tội khác chịu hậu quả không? Tôi có dùng quyền lực của mình để nâng người khác lên hay để giữ họ ở dưới? Tôi có biết xin lỗi không? Tôi có dám nhận sai không? Tôi có thể im lặng một câu đáng lẽ nói ra sẽ rất hả dạ nhưng chẳng ích gì không? Tôi có thể cầu nguyện cho người làm mình đau không? Đó là những câu hỏi rất nhỏ, nhưng câu trả lời sẽ cho biết chúng ta đang theo Đức Kitô nào.
Đức Kitô hôm nay không đứng trước ta với hào quang rực rỡ. Người đứng với vòng gai. Người mời ta bước vào một con đường thế gian không hiểu. Con đường ở đó ta không còn lấy chiến thắng làm tiêu chuẩn duy nhất. Có khi ta “thua” một lời qua tiếng lại để giữ tình thân. Có khi ta “thua” một phần lợi ích để giữ lương tâm. Có khi ta “thua” trong mắt người đời vì không trả đũa. Có khi ta bị xem là khờ vì vẫn tử tế với người không tử tế. Có khi ta bị bảo là yếu vì vẫn tha thứ. Nhưng nếu trong những điều đó trái tim ta ngày càng giống Đức Kitô, thì ta đang thắng một chiến thắng lớn hơn rất nhiều.
Ngày cuối đời, có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta đã làm bao nhiêu người sợ mình. Người sẽ hỏi ta đã làm bao nhiêu người cảm nhận được tình thương. Người không hỏi ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng có thể hỏi sau mỗi cuộc tranh luận, ta còn giữ được người anh em không. Người không hỏi ta có quyền bao nhiêu, nhưng ta đã dùng quyền ấy để phục vụ thế nào. Người không hỏi người khác đối xử với ta ra sao, nhưng trong những điều ta phải chịu, ta đã để trái tim mình biến thành gì. Và lúc ấy, có lẽ ta mới hiểu rằng những lần mình chọn hiền lành không vô ích. Những lần mình nhịn vì yêu không mất đi. Những giọt nước mắt không ai thấy Chúa đã thấy. Những hy sinh không ai biết Chúa biết. Những lần ta muốn trả đũa nhưng đã quỳ xuống xin Chúa giúp mình tha thứ chính là những khoảnh khắc rất gần với vòng gai của Người.
Lạy Đức Giêsu chịu sỉ nhục, chúng con quen tìm sức mạnh nơi những gì làm mình lớn hơn người khác. Xin dạy chúng con sức mạnh của Người, sức mạnh biết cúi xuống, sức mạnh biết im khi cần im, sức mạnh biết nói sự thật mà không làm tổn thương, sức mạnh biết chịu thiệt mà không cay đắng, sức mạnh có thể bị thương mà vẫn tiếp tục yêu. Xin đừng để chúng con dùng vết thương của mình để làm người khác bị thương. Xin đừng để những lần bị phản bội làm chúng con đánh mất lòng tin, những lần bị hiểu lầm làm chúng con trở nên khép kín, những lần bị coi thường làm chúng con thèm khát quyền lực, những lần bị xúc phạm làm chúng con trở thành kẻ xúc phạm người khác. Xin cho chúng con nhìn lên vòng gai của Chúa và hiểu rằng yếu đuối trong tình yêu không phải là thất bại. Xin cho chúng con đủ mạnh để có thể hiền, đủ tự do để có thể nhường, đủ vững để không cần chứng minh mình trước mặt mọi người, đủ tin để đặt công lý đời mình trong tay Cha.
Và khi một ngày nào đó chúng con bị đưa vào những hoàn cảnh mà mọi sức riêng đều trở nên bất lực, xin cho chúng con nhớ Chúa đã từng đứng đó. Khi tuổi già làm chúng con yếu đi, xin cho chúng con đừng cay đắng. Khi bệnh tật lấy khỏi chúng con sự tự chủ, xin cho chúng con biết phó thác. Khi những người mình yêu không hiểu mình, xin cho chúng con vẫn giữ được lòng hiền. Khi danh dự bị tổn thương, xin cho chúng con nhớ phẩm giá thật của mình nằm trong ánh mắt Thiên Chúa. Khi cuộc đời như thể đặt lên đầu chúng con một vòng gai, xin cho chúng con đừng quên rằng chính vòng gai ấy đã từng chạm vào đầu Con Thiên Chúa.
Thế giới này có quá nhiều người mạnh theo kiểu thế gian rồi. Quá nhiều tiếng quát, quá nhiều nắm tay siết chặt, quá nhiều người muốn thắng, quá nhiều người phải hơn, quá nhiều cái tôi không chịu cúi xuống. Điều thế giới đang thiếu không phải là thêm những con người biết áp đảo, nhưng là những con người đủ mạnh để yêu trong yếu đuối, đủ bản lĩnh để không trả thù, đủ tự do để tha thứ, đủ lòng tin để bước theo Đấng đội vòng gai. Bởi cuối cùng, chỉ có tình yêu ấy mới cứu được con người. Và Đức Giêsu đã cứu chúng ta chính bằng con đường ấy: Người đã để tình yêu trở nên yếu đuối, để chúng ta biết rằng sự yếu đuối được trao vào tay Thiên Chúa có thể trở thành sức mạnh cứu độ; Người đã để mình bị chế nhạo, để những kẻ bị chế nhạo trên đời này có một nơi nương náu; Người đã để mình bị tổn thương, để mọi vết thương của nhân loại có thể tìm được chỗ trong Trái Tim Người; Người đã không chiến thắng theo kiểu thế gian, để mở cho chúng ta một con đường dẫn tới một chiến thắng mà không ai có thể cướp mất: chiến thắng của tình yêu không chịu chết.
Lm. Anmai, CSsR

MỘT ĐỜI KHÔNG THUỘC VỀ MÌNH NỮA
Tin Mừng: Ga 12,24-26
“Thật, Thầy bảo thật anh em: nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.”
Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng như chỉ dành cho những giờ phút rất đặc biệt của đời người, nhưng càng sống lâu, càng đi sâu vào ơn gọi, càng trải qua những được mất, thành công thất bại, sum họp chia lìa, người ta mới nhận ra có những lời không phải chỉ để nghe một lần rồi thôi, mà phải sống bằng cả một đời. Lời về hạt lúa hôm nay là một lời như thế. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Một câu rất ngắn nhưng có thể trở thành chìa khóa để hiểu cả cuộc đời Đức Giêsu, hiểu đời linh mục, đời tu sĩ, đời người tận hiến, và cũng hiểu sâu hơn ơn gọi của bất cứ người Kitô hữu nào muốn thật sự thuộc về Chúa. Hạt lúa chỉ sinh hoa trái khi chấp nhận không còn giữ nguyên hình dáng ban đầu của mình. Nó phải đi xuống. Nó phải nằm lại. Nó phải vùi mình trong đất. Nó phải mục đi. Nó phải thôi thuộc về chính nó để bắt đầu thuộc về mùa gặt. Có lẽ đó cũng là điều khó nhất của một đời tận hiến: không phải mặc áo dòng, không phải bước lên bàn thờ, không phải đọc một lời khấn, không phải nhận một chức vụ, nhưng là chấp nhận từ một ngày nào đó, đời mình không còn thuộc về mình nữa.
Ngày một người bước vào đời tu, ngày một người cúi đầu tuyên khấn, ngày một phó tế phủ phục trên nền nhà thờ trước khi được đặt tay truyền chức, người ấy biết mình đang dâng đời cho Chúa. Nhưng biết bằng trí óc là một chuyện, còn từng ngày sống sự thật ấy lại là một chuyện khác. Có những điều chỉ sau nhiều năm người ta mới hiểu. Khi còn trẻ, người ta có thể nghĩ dâng mình là làm được nhiều việc cho Chúa, đi được nhiều nơi, nói được nhiều lời, xây dựng được nhiều công trình, giúp được nhiều người. Những điều ấy tốt, nhưng chưa phải tận cùng của đời tận hiến. Có lúc Chúa không hỏi ta làm được bao nhiêu, mà hỏi ta còn giữ lại bao nhiêu phần đời cho riêng mình. Có lúc Chúa không cần thêm một công việc của ta, nhưng cần chính ta. Không phải đôi tay ta, nhưng cả con tim. Không phải vài giờ trong ngày, nhưng cả ngày. Không phải những năm khỏe mạnh, nhưng cả những năm tuổi già. Không phải chỉ những lúc được tôn trọng, nhưng cả khi bị hiểu lầm. Không phải chỉ khi được sai đến nơi mình thích, nhưng cả khi phải ở nơi mình không chọn. Không phải chỉ những khả năng làm ta tự hào, nhưng cả những yếu đuối làm ta thấy mình chẳng còn gì đáng kể. Khi ấy ta mới hiểu: tận hiến không phải là đem một phần đời trao cho Chúa. Tận hiến là chấp nhận đời mình không còn quyền sở hữu tuyệt đối nơi chính mình nữa.
Một linh mục không còn hoàn toàn thuộc về mình. Một tu sĩ không còn hoàn toàn thuộc về mình. Người tận hiến không còn có thể sống như thể mọi chọn lựa đều chỉ cần hỏi: “Tôi thích không? Tôi vui không? Tôi có lợi gì không? Tôi có được ghi nhận không?” Từ khi đã nói lời xin vâng, một câu hỏi khác phải lớn dần lên trong lòng: “Chúa muốn gì? Hội Thánh cần gì? Anh chị em cần gì? Điều gì giúp ích cho phần rỗi các linh hồn?” Và đây không phải là chuyện dễ. Bởi sâu trong mỗi người vẫn có một cái tôi muốn được chăm sóc, được nhìn nhận, được tự quyết, được an toàn, được giữ lấy phần riêng. Ta có thể dâng nhiều thứ nhưng vẫn giữ lại cái tôi. Ta có thể bỏ nhà cửa mà vẫn giữ lòng tự ái. Ta có thể không có tài sản riêng mà lại rất giàu những đòi hỏi riêng. Ta có thể sống đời cộng đoàn nhưng trong lòng vẫn xây những bức tường kín đáo. Ta có thể phục vụ người nghèo nhưng lại rất nhạy cảm khi mình không được cảm ơn. Ta có thể giảng về thập giá nhưng lại tìm mọi cách tránh một chút thiệt thòi. Ta có thể nói về vâng phục nhưng chỉ bình an khi bề trên quyết định đúng ý mình. Ta có thể nói mình thuộc về Chúa nhưng lại đau đớn quá mức khi một công việc mình gầy dựng được trao cho người khác. Những lúc ấy, hạt lúa trong ta vẫn còn sợ đất, vẫn còn muốn nguyên vẹn, vẫn còn muốn thuộc về mình.
Chúa Giêsu không nói: hạt lúa phải chết vì cái chết tự nó là điều tốt. Không. Cái chết không phải lý tưởng. Đau khổ không phải lý tưởng. Hy sinh cũng không phải một thứ để người Kitô hữu tìm kiếm vì yêu đau khổ. Hạt lúa chết vì nó mang trong mình một sự sống lớn hơn chính nó. Nó chấp nhận mất hình dạng cũ để một sự sống mới trào ra. Đức Giêsu đi vào cuộc Thương Khó không phải vì Người yêu đau đớn, nhưng vì Người yêu chúng ta. Thập giá không lớn lao bởi những cây đinh, nhưng bởi tình yêu của Đấng chấp nhận những cây đinh ấy vì người khác. Đời linh mục, đời tu cũng thế. Không phải hy sinh càng nhiều thì tự động càng thánh. Có những hy sinh làm con người cay đắng. Có những từ bỏ làm người ta khép lòng. Có người mất nhiều nhưng chẳng sinh hoa trái, bởi họ mất mà không yêu. Cái làm cho hạt lúa sinh bông hạt không chỉ là bị vùi xuống đất, mà là sức sống nó mang trong mình. Cái làm cho đời tận hiến sinh hoa trái không chỉ là những gì đã từ bỏ, mà là tình yêu được đặt vào trong những từ bỏ ấy.
Có những linh mục sống rất âm thầm. Không ai biết nhiều. Không có công trình lớn. Không có tên tuổi. Không có những điều khiến người đời nhắc đến. Chỉ là mỗi sáng mở cửa nhà thờ, dâng lễ cho một nhóm người nhỏ bé, ngồi tòa giải tội, đi xức dầu cho người bệnh, ghé một gia đình đang tang chế, nghe một bà cụ kể đi kể lại câu chuyện cũ, dạy vài đứa trẻ giáo lý, sửa một mái nhà xứ bị dột, thức khuya vì một cú điện thoại của người đang tuyệt vọng. Ngày nối ngày, năm nối năm. Nhìn bên ngoài chẳng có gì lớn. Nhưng biết đâu chính những cuộc đời như thế lại giống hạt lúa nhất. Hạt lúa đâu gây tiếng động khi chết. Nó không có khán giả. Không ai vỗ tay cho một hạt lúa đang mục đi trong lòng đất. Chỉ đến mùa gặt người ta mới biết đã có một sự chết âm thầm làm nên sự sống. Có những đời linh mục cũng vậy. Khi cha còn sống chẳng mấy ai nói gì. Đến ngày cha nằm xuống, người ta mới nhớ: nhờ cha mà gia đình tôi giữ được đạo; nhờ một lần cha đến thăm mà tôi không bỏ cuộc; nhờ một lời cha nói trong tòa giải tội mà tôi trở về; nhờ cha nâng đỡ mà con tôi đi tu; nhờ cha kiên nhẫn mà cuộc hôn nhân của chúng tôi không tan vỡ. Những bông hạt ấy không mang tên người gieo. Nhưng Thiên Chúa biết.
Đời tu sĩ cũng có những cái chết rất thầm. Có người được sai đi một nơi hoàn toàn khác với điều mình mong. Có người học hành nhiều nhưng cuối cùng làm một công việc chẳng ai xem là quan trọng. Có người mang khả năng lớn nhưng phải dành phần đời đẹp nhất để chăm sóc một cộng đoàn già yếu. Có người ao ước truyền giáo phương xa nhưng lại được giữ ở nhà làm những công việc đơn điệu. Có người từng được tín nhiệm rồi một ngày không còn chức vụ nào. Có người sống nhiều năm trong một sứ vụ mà hoa trái chẳng thấy đâu. Có người mang bệnh từ rất sớm. Có người về già phải để người khác đút từng muỗng cơm, tắm rửa, dìu đi. Nếu chỉ nhìn đời tận hiến bằng hiệu quả, những năm ấy có vẻ như vô ích. Nhưng trong logic Tin Mừng, chính nơi người ta không còn “làm” được nhiều, đôi khi họ bắt đầu “là” hạt lúa hơn bao giờ hết. Có một sự hiến dâng chỉ thật sự trưởng thành khi ta không còn có thể chứng minh giá trị của mình bằng công việc nữa. Khi ấy câu hỏi đau đớn hiện ra: Nếu tôi không còn hữu dụng, tôi còn đáng giá không? Nếu tôi không còn giảng hay, không còn điều hành, không còn khỏe, không còn được nhắc tới, đời tận hiến của tôi còn ý nghĩa không? Tin Mừng trả lời: có. Bởi giá trị của người tận hiến trước hết không nằm ở điều họ làm cho Chúa, mà ở việc họ thuộc về Chúa.
Một đời không thuộc về mình nữa cũng có nghĩa là thời gian không hoàn toàn thuộc về mình nữa. Có những buổi tối đang định nghỉ thì người ta tìm đến. Có những ngày lễ riêng phải nhường cho nỗi đau của một gia đình. Có những kế hoạch bị thay đổi vì một người hấp hối. Có khi bữa cơm nguội vì một cuộc giải tội kéo dài. Có khi vừa đặt lưng xuống lại phải dậy. Những điều ấy rất đẹp khi kể lại, nhưng trong thực tế có lúc rất mệt. Đừng lãng mạn hóa sự tận hiến. Người tận hiến cũng là con người. Cũng mỏi, cũng buồn, cũng cần khoảng lặng, cũng có giới hạn. Chúa không đòi một người tự hủy mình cách vô trách nhiệm. Nhưng trong những giới hạn lành mạnh ấy vẫn có một sự thật: tình yêu luôn làm ta bị gián đoạn. Người mẹ có con nhỏ hiểu điều đó. Người cha gánh gia đình hiểu điều đó. Linh mục và tu sĩ cũng phải hiểu điều đó. Nếu cuộc đời ta chỉ bình an khi không ai làm phiền, có lẽ ta chưa đi sâu lắm vào logic của hạt lúa.
Một đời không thuộc về mình nữa còn là một đời chấp nhận rằng thành quả cũng không thuộc về mình. Đây có lẽ là một trong những sự chết khó nhất. Ta làm một việc nhiều năm, rồi một ngày người khác đến tiếp nhận. Ta xây dựng một cộng đoàn, rồi phải ra đi. Ta thương một giáo xứ, rồi có bài sai. Ta chăm một nhóm người, rồi họ quý người kế nhiệm hơn. Ta viết, ta giảng, ta tổ chức, ta vun trồng, nhưng cuối cùng người khác gặt. Lòng người rất dễ buồn. Cái tôi rất dễ thì thầm: “Đó là công trình của tôi.” Nhưng người tận hiến phải học lại lời của Thánh Phaolô: người này trồng, người kia tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Nếu mọi thứ thật sự là của Chúa, ta phải có khả năng trao lại cho Chúa. Một linh mục thánh thiện không phải là người làm cho giáo dân lệ thuộc vào mình, nhưng là người dẫn họ đến chỗ thuộc về Đức Kitô. Một tu sĩ trưởng thành không biến sứ vụ thành lãnh địa. Một người tận hiến không cần để tên mình trên mọi điều mình đã làm. Hạt lúa khi đã sinh bông đâu còn đòi người ta phải nhớ nó.
Đôi khi chúng ta nói: “Con dâng đời con cho Chúa”, nhưng thực ra lại âm thầm mong Chúa sử dụng đời ấy theo cách ta đã dự tính. Ta dâng, nhưng kèm bản kế hoạch. Ta xin vâng, nhưng có điều kiện. Ta nói thuộc về Chúa, nhưng vẫn muốn Chúa hỏi ý ta trước mỗi lần thay đổi. Bởi thế, có những lúc Chúa phải dẫn người tận hiến qua những con đường họ không hiểu để lời khấn của họ đi từ môi miệng xuống tận xương thịt. Lúc trẻ nói “con thuộc về Chúa” dễ lắm. Đến khi Chúa lấy đi một điều mình yêu, lời ấy mới có trọng lượng. Khi một người không được bổ nhiệm như mong đợi, khi một dự án bị dừng, khi bị hiểu lầm, khi sức khỏe suy giảm, khi thấy người trẻ vượt qua mình, khi bước vào tuổi già và cảm nhận mình đang dần ra khỏi trung tâm, lúc đó Chúa hỏi lại: “Con có thật sự thuộc về Ta không, hay con chỉ thuộc về Ta khi Ta để con sống theo ý con?”
Có một cái chết rất đau trong đời tận hiến: chết đối với nhu cầu được công nhận. Con người cần sự ghi nhận, đó là nhu cầu tự nhiên. Nhưng nếu sống bằng lời khen, người tận hiến sẽ khổ. Bởi hôm nay được khen, ngày mai có thể bị chê. Hôm nay người ta tìm đến, ngày mai họ tìm người khác. Hôm nay được trọng dụng, ngày mai về một góc nhỏ. Nếu lòng mình đặt căn tính nơi ánh mắt người đời, đời tận hiến sẽ thành một cuộc vật lộn không ngừng để chứng minh mình còn giá trị. Khi ấy có thể ta làm việc cho Chúa nhưng lại tìm chính mình trong công việc của Chúa. Đây là cám dỗ rất tinh tế. Có khi ta buồn không phải vì Tin Mừng không được đón nhận, mà vì người ta không đón nhận ta. Có khi ta bực không phải vì sứ vụ bị tổn thương, mà vì uy tín của ta bị tổn thương. Có khi ta gọi đó là “nhiệt thành”, nhưng bên dưới lại có một cái tôi đang đói được nhìn nhận. Hạt lúa phải chết cả ở chỗ này. Phải có ngày người tận hiến đủ tự do để vui khi một người khác làm tốt hơn mình, đủ bình an khi tên mình không được nhắc, đủ nhẹ nhàng khi công trình mình tạo ra mang diện mạo của người đến sau.
Một đời không thuộc về mình nữa còn có nghĩa thân xác cũng được trao. Điều này nghe rất mạnh, nhưng đời tận hiến quả thật đi qua thân xác. Đôi chân đi nhiều năm vì sứ vụ rồi mỏi. Đôi mắt đọc sách, đọc kinh, soạn bài, thăm bệnh rồi mờ. Giọng nói từng vang trong nhà thờ rồi yếu dần. Đôi tay từng cử hành bí tích rồi run. Trí nhớ từng sắc bén rồi quên. Cuối cùng, một người đã dâng cả đời cho Chúa có thể nằm trên giường bệnh, chẳng còn tự chăm sóc nổi bản thân. Nếu nhìn theo thế gian, đó là sự mất mát. Nhưng nếu cả thân xác này đã thuộc về Chúa, thì cả sự yếu đi của nó cũng có thể trở thành lễ dâng. Có những thánh lễ cuối đời không cử hành trên bàn thờ bằng bánh và rượu, nhưng cử hành trên chính thân xác già nua của người linh mục, nơi từng hơi thở trở thành lời: “Này là mình con.” Có những lời khấn cuối cùng không đọc thành tiếng, nhưng được lặp lại qua từng ngày đau yếu của một tu sĩ: “Con vẫn thuộc về Ngài.”
Nhưng để sống được như thế, người tận hiến phải gắn đời mình vào Đức Kitô, chứ không thể chỉ dựa vào nghị lực. Chúa nói: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy.” Người không nói: hãy làm thật nhiều việc. Người nói: hãy theo. Theo là ở cùng một con đường. Theo là chấp nhận nơi Người đi qua. Theo là để đời mình mang hình dáng của đời Người. Và Người đi đâu? Người đi từ Bêlem đến Nadarét, từ Nadarét đến những nẻo đường Galilê, từ những đám đông tung hô đến đồi Canvê. Người đi xuống. Cả cuộc đời Đức Giêsu là một cuộc đi xuống của tình yêu. Từ địa vị Thiên Chúa, Người tự hủy. Từ Đấng được thiên thần phụng thờ, Người quỳ xuống rửa chân môn đệ. Từ Đấng ban sự sống, Người để người ta lấy mạng sống mình. Người không giữ lại. Đời tận hiến chỉ bền khi nhìn vào Người. Nếu nhìn vào người khác, ta sẽ so sánh. Nếu nhìn vào chính mình, ta sẽ sợ mất. Nếu nhìn vào hiệu quả, ta sẽ nản khi thất bại. Nhưng nhìn vào Đức Kitô, ta hiểu rằng có những mất mát chính là con đường của sinh hoa trái.
Điều kỳ lạ là khi con người thôi thuộc về mình, họ không mất chính mình; họ tìm lại mình ở một mức sâu hơn. Hạt lúa chết nhưng không biến mất vô nghĩa. Nó trở thành cả một mùa lúa. Đức Giêsu nói: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” Tin Mừng có những nghịch lý như thế. Giữ thì mất. Cho thì còn. Ôm lấy thì trơ trọi. Buông ra thì sinh nhiều. Người tận hiến càng giữ mình càng dễ cô độc. Càng sợ bị tổn thương càng khó yêu. Càng bảo vệ địa vị càng bất an. Càng muốn kiểm soát mọi chuyện càng mệt mỏi. Nhưng khi biết trao, lòng lại rộng. Khi biết mất, ta lại nhẹ. Khi biết mình chỉ là người quản lý, ta không cần giữ mọi thứ bằng hai tay siết chặt nữa.
Có những linh mục rất hạnh phúc không phải vì đời họ dễ, mà vì họ thôi đòi cuộc đời phải trả lại cho họ điều họ đã cho. Đây là một sự tự do lớn. Người phục vụ mà luôn chờ được đáp trả sẽ mau kiệt sức. Người yêu mà luôn đo xem mình nhận lại bao nhiêu sẽ mau thất vọng. Người tận hiến mà âm thầm lập sổ công trạng với Chúa sẽ có ngày thấy mình bị thiệt. Nhưng tình yêu thật không sống bằng sổ sách. Đức Giêsu không từ thập giá nhìn xuống rồi hỏi: “Bao nhiêu người biết ơn Ta?” Người cứ yêu. Người cứ trao. Người hoàn tất lễ dâng của mình ngay cả khi dưới chân thập giá chẳng có bao nhiêu người hiểu. Có khi người tận hiến cũng phải học yêu như thế: làm điều tốt vì nó là điều tốt, ở lại vì tình yêu bảo ở lại, trung tín vì mình đã thuộc về Chúa, chứ không vì người khác cư xử xứng đáng.
Đời tận hiến còn là chết đi mỗi ngày với ý muốn sở hữu con người. Mục tử dễ vô tình gọi đàn chiên là “của mình”. Nhà đào tạo dễ nghĩ học viên là “người của mình”. Người phụ trách cộng đoàn dễ nhìn anh chị em như những người phải phù hợp với cách mình muốn. Nhưng chẳng ai thuộc về ta. Giáo dân không thuộc về linh mục. Tu sĩ trẻ không thuộc về bề trên. Người được ta giúp không mắc nợ ta. Mọi người đều thuộc về Thiên Chúa. Ta chỉ được trao cho nhau một quãng đường. Có người Chúa gửi đến để ta nâng đỡ rồi họ đi. Có người ta yêu quý nhưng phải để họ lớn lên trong tự do. Có người từng gần gũi rồi một ngày xa cách. Nếu tình yêu của ta mang tính chiếm hữu, ta sẽ đau đớn và cay đắng. Nếu tình yêu của ta là tình yêu của hạt lúa, ta sẽ biết trao người mình yêu lại cho Thiên Chúa.
Có một câu rất đáng sợ nhưng cũng rất đẹp trong Tin Mừng hôm nay: “Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.” Ta thường mong được ở với Chúa trong ánh sáng, trong bình an, trong những giờ cầu nguyện ngọt ngào. Nhưng Chúa ở đâu? Chúa ở cả trên Canvê. Chúa ở nơi người nghèo. Chúa ở nơi người bệnh. Chúa ở nơi người bị bỏ quên. Chúa ở trong căn phòng của người già không ai thăm. Chúa ở trong tiếng khóc của một gia đình đang tan vỡ. Chúa ở trong người tội lỗi mà ai cũng ngại tiếp xúc. Chúa ở trong một cộng đoàn khó sống. Chúa ở trong bổn phận đơn điệu ta muốn tránh. “Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.” Có khi đời tận hiến không phải hỏi: nơi nào làm tôi hạnh phúc nhất, nhưng là nơi nào lúc này Chúa đang chờ tôi.
Ơn gọi linh mục có một vẻ đẹp lạ lùng ở chỗ đời một con người được đặt vào giữa niềm vui và nỗi đau của rất nhiều người. Người ta gọi cha khi con họ chào đời để rửa tội. Gọi cha khi con lớn để xưng tội, rước lễ. Gọi cha khi cưới. Gọi cha khi bệnh. Gọi cha khi trong nhà có người hấp hối. Gọi cha khi muốn trở lại với Chúa. Gọi cha khi chẳng biết tâm sự với ai. Một đời linh mục cứ thế được chia nhỏ ra cho bao nhiêu phận người. Nếu sống ơn gọi như một đặc quyền, linh mục sẽ mệt và trống. Nhưng nếu hiểu đó là đời hạt lúa, từng lần bị “bẻ ra” lại có thể trở thành một lần được giống Thầy hơn. Linh mục cầm tấm bánh trong tay và đọc: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em.” Nhưng có lẽ mỗi ngày chính lời ấy cũng phải đi qua đời linh mục. Không thể đọc mãi lời “bị nộp vì anh em” mà đời mình lại chỉ tìm cách giữ mình cho mình.
Đời tu cũng vậy. Một người khấn khiết tịnh không phải chỉ từ bỏ hôn nhân; sâu xa hơn là để trái tim mình trở nên rộng cho nhiều người mà không chiếm hữu ai. Người khấn khó nghèo không phải chỉ ít tài sản; là chấp nhận mình không lấy vật chất làm nơi an toàn cuối cùng. Người khấn vâng phục không phải chỉ thi hành mệnh lệnh; là tập buông cái quyền muốn đời mình phải diễn ra hoàn toàn theo ý mình. Ba lời khấn, xét đến cùng, đều là những cách khác nhau để nói: “Đời con không còn thuộc về con nữa.” Nhưng nếu lời ấy không được sống trong tình yêu, lời khấn có thể trở thành gánh. Nếu được sống trong Đức Kitô, nó trở thành tự do.
Tuy nhiên, cũng phải nói cho rõ: “không thuộc về mình” không có nghĩa để người khác muốn sử dụng ta thế nào cũng được, không có nghĩa phủ nhận phẩm giá, không có nghĩa chịu đựng lạm dụng, không có nghĩa bỏ qua những giới hạn cần thiết. Đức Giêsu hiến mình trong tự do. Người không phải nạn nhân bất lực của một lý tưởng mù quáng. Người nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Sự hiến dâng Kitô giáo luôn là hành vi của tự do và tình yêu. Một cộng đoàn lành mạnh không nghiền nát con người nhân danh hy sinh. Một bề trên tốt không dùng lời khấn vâng phục để xóa lương tâm. Một linh mục tốt cũng phải biết nghỉ ngơi, cầu nguyện, chăm sóc đời sống nội tâm để còn có thể trao chính mình cách lành mạnh. Hạt lúa phải chết để sinh sự sống, chứ không phải bị nghiền nát vô nghĩa. Thập giá của Chúa sinh ơn cứu độ vì đó là tình yêu tự hiến.
Và có lẽ sự chết sâu nhất người tận hiến phải học là chết đối với hình ảnh lý tưởng về chính mình. Lúc trẻ ta tưởng mình sẽ là một linh mục thế này, một tu sĩ thế kia. Ta có những giấc mơ đẹp. Rồi đời sống thực tế dạy ta rằng ta yếu hơn mình tưởng, có nhiều giới hạn hơn mình nghĩ, đôi khi thất bại, đôi khi sai, đôi khi làm người khác tổn thương. Có những năm tháng ta phải nhìn thẳng vào sự nghèo nàn của mình. Điều này đau. Nhưng cũng có thể rất cứu độ. Bởi đến một lúc, Chúa không còn cần phiên bản hoàn hảo mà ta muốn trở thành; Chúa chỉ cần con người thật đang đứng trước mặt Người. Hạt lúa không tranh luận với đất rằng nó muốn trở thành gì. Nó để sự sống của Thiên Chúa làm phần còn lại. Người tận hiến trưởng thành là người bớt bận tâm xây tượng đài cho bản thân và để Chúa làm điều Chúa muốn từ những mảnh đời rất giới hạn của mình.
Có những giờ trong đời linh mục và tu sĩ người ta cảm thấy cô đơn. Đã cho nhiều nhưng không biết còn ai hiểu. Đã sống nhiều năm mà nhìn lại thấy chẳng có gì thật nổi bật. Có khi tự hỏi mình đã làm được gì. Trong những giờ ấy, Tin Mừng về hạt lúa thật quý. Hạt lúa dưới đất không nhìn thấy mùa gặt. Nó chỉ biết nằm yên trong bóng tối và tiếp tục quá trình của mình. Có những hoa trái đời ta sẽ không bao giờ nhìn thấy. Một bài giảng hôm nay có thể mười năm sau mới chạm tới lòng ai đó. Một việc tha thứ hôm nay có thể cứu một gia đình ở thế hệ kế tiếp. Một giờ chầu âm thầm có thể sinh ơn mà ta chẳng bao giờ biết. Một đời trung tín của một nữ tu già có thể làm nên ơn gọi cho một người chưa từng gặp bà. Thiên Chúa không cho ta xem toàn bộ mùa gặt. Người chỉ xin ta trung tín làm hạt lúa.
Đừng sợ một đời âm thầm nếu đó là nơi Chúa đặt ta. Đừng sợ bị quên nếu tên ta được ghi trong lòng Chúa. Đừng sợ mất phần nếu Đức Kitô là phần gia nghiệp. Đừng sợ tuổi già nếu mỗi ngày yếu đi lại là một bước tiến gần hơn tới Đấng mình đã dâng đời. Đừng sợ phải trao lại công việc. Đừng sợ thế hệ sau giỏi hơn. Đừng sợ một ngày không còn ai cần đến khả năng của mình. Người tận hiến không sống để trở thành không thể thay thế. Chỉ có Đức Kitô là không thể thay thế. Còn chúng ta đến rồi đi. Hôm nay gieo, ngày mai người khác gặt. Hôm nay đứng trên bục giảng, ngày mai nằm im trong một nấm mồ. Nhưng nếu đời mình đã trở thành hạt lúa, cái chết không kết thúc câu chuyện; nó chỉ làm hiện ra mùa gặt mà ta từng không thấy.
Một đời không thuộc về mình nữa, nghe có vẻ như mất tất cả. Nhưng trong Đức Kitô, đó lại là con đường tìm thấy tất cả. Người linh mục trao đời mình cho Chúa nhưng nhận lại một gia đình rộng hơn gia đình huyết thống. Người tu sĩ bỏ nhiều điều nhưng có thể được một trái tim rộng hơn những gì mình từng nghĩ. Người tận hiến không có con theo huyết nhục nhưng có khi sinh ra biết bao người trong đức tin. Người đi theo Chúa từ bỏ quyền sở hữu tuyệt đối trên đời mình, nhưng khám phá mình được thuộc về Một Đấng không bao giờ bỏ mình. Có gì an toàn hơn việc thuộc về Chúa? Có gì đẹp hơn khi cuối đời có thể nói: đời con đã không hoàn hảo, nhưng đời con là của Ngài.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là chết như hạt lúa, mà là sống cả đời vẫn “trơ trọi một mình”. Trơ trọi vì chỉ nghĩ đến mình. Trơ trọi vì bảo vệ cái tôi quá kỹ. Trơ trọi vì sợ yêu. Trơ trọi vì không dám cho đi. Trơ trọi vì mọi sự phải xoay quanh danh dự, tiện nghi, ý riêng của mình. Có những người giữ được gần như mọi thứ nhưng cuối cùng chẳng sinh được gì. Và có những người mất rất nhiều, nhưng cuộc đời họ sau khi đi qua vẫn để lại bóng mát, niềm tin, lòng tử tế, những con người được nâng dậy. Khi ấy ta mới hiểu lời Chúa không phải lời đòi hỏi khắc nghiệt mà là bí mật của một đời có ý nghĩa: “Nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”
Đối với linh mục, mỗi ngày bước lên bàn thờ là mỗi ngày lời Tin Mừng ấy được đặt trước mặt. Tấm bánh phải được bẻ ra mới trở thành lương thực. Chén rượu phải được trao mới trở thành của uống. Một đời linh mục cũng vậy. Không phải bẻ ra trong cay đắng, nhưng bẻ ra trong tình yêu. Không phải kiệt quệ để chứng tỏ mình thánh thiện, nhưng cho đi từ nguồn mạch cầu nguyện. Nếu không ở lại với Chúa, sự trao ban sẽ nhanh chóng thành cạn kiệt. Hạt lúa chỉ có thể chết vì bên trong nó có mầm sống. Linh mục và tu sĩ chỉ có thể hiến mình nếu bên trong có Đức Kitô. Nếu đời cầu nguyện khô cạn, hy sinh dễ biến thành bực bội. Nếu tương quan với Chúa nguội lạnh, phục vụ dễ biến thành nghề nghiệp. Nếu không để Chúa yêu mình, ta sẽ tìm tình yêu bằng cách đòi người khác biết ơn mình. Vì vậy, điều đầu tiên của đời tận hiến không phải là làm nhiều hơn, mà là thuộc về Chúa sâu hơn.
Thuộc về Chúa trong buổi sáng khi thức dậy. Thuộc về Chúa trong những quyết định nhỏ. Thuộc về Chúa trong cách dùng tiền. Thuộc về Chúa trong cách nói về người khác. Thuộc về Chúa trong sự trong sạch của lòng mình. Thuộc về Chúa trong điện thoại, trong căn phòng riêng, trong những nơi không ai nhìn thấy. Thuộc về Chúa khi đứng trước đám đông và cả khi không ai biết mình đang làm gì. Thuộc về Chúa khi được yêu mến và khi bị hiểu lầm. Thuộc về Chúa lúc khỏe và lúc bệnh. Thuộc về Chúa lúc còn trẻ đầy dự định và khi tóc bạc chẳng còn kế hoạch nào ngoài chờ ngày trở về. Không có khu vực nào trong đời tận hiến được treo bảng: “Chỗ này của riêng tôi, xin Chúa đừng đụng tới.” Nếu đã thuộc về Người, thì cả những căn phòng kín nhất của tâm hồn cũng phải dần mở ra.
Và khi một đời đã sống như thế, giờ chết sẽ không còn hoàn toàn xa lạ. Bởi người ấy đã tập chết từng ngày. Chết một chút cho tự ái. Chết một chút cho ý riêng. Chết một chút cho nhu cầu được hơn người. Chết một chút cho những tham vọng không thuộc về Tin Mừng. Chết một chút khi tha thứ. Chết một chút khi xin lỗi. Chết một chút khi chấp nhận lùi lại. Chết một chút khi trao việc cho người khác. Chết một chút khi vâng phục. Chết một chút khi tiếp tục yêu dù không được đáp lại. Những cái chết nhỏ ấy chuẩn bị cho cái chết cuối cùng. Để đến một ngày, khi phải trao cả hơi thở, người tận hiến không làm điều hoàn toàn mới; chỉ hoàn tất điều mình đã tập suốt đời: trao mình cho Chúa.
Có thể cuối cùng người ta sẽ tháo chiếc áo lễ khỏi người linh mục. Có thể bộ tu phục được đặt ngay ngắn bên quan tài. Có thể những chức vụ, bằng cấp, công trình, danh xưng đều ở lại phía này của nấm mồ. Người ta chỉ mang theo điều mình đã trở thành trước mặt Thiên Chúa. Lúc ấy câu hỏi không còn là đã nổi tiếng không, đã giữ chức gì, đã xây bao nhiêu nơi, đã được bao nhiêu người biết. Có lẽ chỉ còn một điều: đời này đã được trao đi đến đâu? Hạt lúa đã chịu chết đến đâu? Có bao nhiêu người được sống hơn vì ta đã sống? Có ai gần Chúa hơn vì từng gặp ta? Có ai bớt cô đơn vì ta đã hiện diện? Có ai được tha thứ vì ta đã biết tha? Có ai tin vào lòng thương xót vì ta đã cư xử với họ bằng lòng thương xót?
Xin cho những người đã bước vào đời linh mục, đời tu, đời tận hiến đừng bao giờ quên ngày đầu mình đã nói lời xin vâng. Nhưng cũng xin cho lời xin vâng ấy mỗi năm một sâu hơn. Lời xin vâng của tuổi hai mươi có thể đầy nhiệt huyết; lời xin vâng của tuổi năm mươi có thêm những vết thương; lời xin vâng của tuổi bảy mươi có thể chỉ còn là một bàn tay run run lần chuỗi. Nhưng nếu vẫn là xin vâng, nó quý biết bao. Chúa không cần ta trẻ mãi. Chúa chỉ cần ta thuộc về Người cho đến cùng.
Và xin cho mỗi chúng ta, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, hiểu rằng mọi ơn gọi Kitô hữu cuối cùng đều mang hình hạt lúa. Người cha không còn sống chỉ cho mình khi có gia đình. Người mẹ hao mòn từng ngày vì con. Người vợ, người chồng học chết đi cho ích kỷ để giữ lời thề chung thủy. Người trẻ từ bỏ một phần tự do để chăm sóc cha mẹ già. Người giáo dân bớt một chút tiện nghi để giúp người túng thiếu. Mọi tình yêu thật đều có một chút cái chết. Nhưng cũng chính vì vậy mà mọi tình yêu thật đều mang trong mình lời hứa phục sinh.
Xin Chúa Giêsu, Hạt Lúa đã rơi xuống lòng đất của nhân loại, dạy chúng ta đừng sợ bị vùi xuống trong những bổn phận âm thầm. Xin Người cho các linh mục biết vui khi đời mình được bẻ ra cho đoàn chiên. Xin Người cho các tu sĩ biết trung tín ngay cả khi đời sống không còn những cảm xúc ban đầu. Xin Người cho những người tận hiến biết buông cả những gì mình từng làm nên, để mọi sự thật sự thuộc về Chúa. Xin Người chữa nơi chúng ta nỗi sợ bị quên, nỗi sợ mất vị trí, nỗi sợ không còn quan trọng. Và xin Người cho chúng ta hiểu rằng trước mặt Thiên Chúa, một đời người không được đo bằng việc giữ lại bao nhiêu, nhưng bằng việc đã yêu và trao đi bao nhiêu.
Đến cuối cùng, có lẽ hạnh phúc lớn nhất của một đời tận hiến không phải là có thể nói: “Con đã làm được nhiều việc cho Chúa”, nhưng là có thể thưa rất khẽ: “Lạy Chúa, đời con đã là của Chúa.” Có thể con đã sống chưa trọn. Có lúc con đã giữ lại. Có lúc con sợ mất. Có lúc con yêu mình hơn yêu Chúa. Có lúc con mệt và muốn lấy lại những gì mình đã trao. Nhưng xin Chúa thương nhận lấy cả những yếu đuối ấy. Xin cho phần đời còn lại của con ngày càng ít thuộc về con và ngày càng thuộc về Chúa hơn. Xin cho đến ngày cuối, khi chẳng còn gì để dâng ngoài hơi thở, con vẫn có thể đặt hơi thở ấy vào tay Chúa như hạt lúa đặt mình vào lòng đất, tin rằng nơi điều thế gian gọi là mất đi, Chúa đang âm thầm chuẩn bị một mùa gặt.
Bởi một đời thật sự thuộc về Đức Kitô không bao giờ là một đời bị mất. Một đời ấy có thể bị bẻ ra, bị tiêu hao, bị quên lãng, bị vùi xuống, nhưng nếu đã được trao trong tình yêu, nó sẽ sinh hoa trái. Và khi mùa gặt của Thiên Chúa đến, có lẽ chúng ta sẽ kinh ngạc nhận ra rằng những gì đẹp nhất trong đời mình không phải là những điều ta đã giữ được, mà chính là những điều ta đã dám trao đi.
Lm. Anmai, CSsR

THEO CHÚA KHÔNG PHẢI ĐI TÌM MỘT CUỘC ĐỜI DỄ DÀNG
Tin Mừng: Lc 9,57-62
Có lẽ một trong những ngộ nhận âm thầm nhưng rất dai dẳng trong đời sống đức tin là chúng ta theo Chúa mà trong lòng vẫn mong Chúa sẽ dành cho mình một con đường dễ hơn người khác. Ta không nói ra điều ấy, vì nói ra nghe có vẻ không đẹp. Ta vẫn cầu nguyện, vẫn đi lễ, vẫn dấn thân, vẫn có thể thưa với Chúa những lời rất quảng đại, nhưng tận sâu trong lòng, nhiều khi ta vẫn mong rằng: vì con đã chọn Chúa, xin Chúa đừng để đời con quá long đong; vì con đã phục vụ Chúa, xin Chúa giữ cho gia đình con khỏi những biến cố quá đau; vì con đã dâng mình cho Chúa, xin Chúa để con được bình an, được hiểu, được nâng đỡ, được thuận lợi; vì con đã bỏ nhiều thứ để đi theo Chúa, xin Chúa đừng để con phải trả thêm một cái giá nào nữa. Thế rồi có những ngày, khi con đường theo Chúa không diễn ra như ta nghĩ, khi bệnh tật đến, khi hiểu lầm đến, khi thất bại đến, khi những người mình từng hết lòng lại quay lưng, khi đời tu có những đêm dài, khi đời linh mục có những cô độc chẳng biết kể cùng ai, khi gia đình phải gánh những thập giá mình chưa bao giờ chuẩn bị, ta bắt đầu hỏi: “Lạy Chúa, sao lại là con?” Và đôi khi câu hỏi thật sự ẩn phía sau lại là: “Con đã theo Chúa rồi, tại sao đời con vẫn khó?” Tin Mừng hôm nay trả lời một cách rất thẳng thắn: bởi vì theo Chúa chưa bao giờ là đi tìm một cuộc đời dễ dàng. Theo Chúa là chọn Chúa. Chỉ vậy thôi. Và khi đã chọn Chúa, người môn đệ phải học chấp nhận cả con đường mà Chúa đi.
Trên đường Đức Giêsu lên Giêrusalem, có một người đến rất hào hứng thưa với Người: “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo.” Một lời đẹp quá. Một lời mà bất cứ người làm mục vụ ơn gọi nào nghe cũng mừng. Một người chủ động xin theo, không cần mời gọi, không cần thuyết phục. Nhưng Đức Giêsu không vội vàng đón nhận bằng những lời ngọt ngào. Người không nói: “Tốt lắm, hãy theo Thầy, rồi mọi sự sẽ ổn.” Người cũng không đưa ra viễn tượng về thành công, danh dự hay phần thưởng trước mắt. Người nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” Một câu trả lời dường như lạnh lùng, nhưng thật ra rất yêu thương, vì Chúa không muốn người ta theo Người bằng một ảo tưởng. Người muốn ai bước theo thì phải biết mình đang chọn điều gì. Theo Chúa không phải ký một hợp đồng để đổi lấy sự an toàn. Theo Chúa không phải mua một thứ bảo hiểm thiêng liêng để tránh những bất trắc của cuộc sống. Theo Chúa là đặt đời mình trong tay một Đấng mà chính Người đã từng sống không có chỗ tựa đầu, từng bị khước từ, từng bị hiểu lầm, từng bị chống đối, từng đi đến tận Thập Giá. Người môn đệ không thể đòi một con đường êm hơn con đường của Thầy.
“Con Người không có chỗ tựa đầu.” Câu ấy nghe buồn làm sao. Chúa của trời đất mà không có một nơi để tựa đầu. Người đã dựng nên muôn tinh tú mà có lúc không tìm được một mái nhà. Người đã cho chim trời có tổ, cho chồn có hang, nhưng chính Người lại sống như một người lữ khách. Có những nơi không tiếp đón Người. Có những người nghe Người giảng rồi bỏ đi. Có những người từng tung hô Người, ít ngày sau lại gào lên đòi đóng đinh Người. Có môn đệ từng thề sống chết với Người nhưng rồi chối Người trước một người tớ gái. Có một Giuđa từng ăn cùng mâm, từng nghe cùng những lời yêu thương, cuối cùng lại bán Người bằng một nụ hôn. Theo một Đức Giêsu như thế mà ta lại nghĩ mình sẽ không bao giờ bị phụ bạc sao? Theo một Đức Giêsu như thế mà ta lại ngạc nhiên khi mình có lúc cô đơn sao? Theo một Đức Giêsu như thế mà ta lại tưởng rằng làm điều tốt thì nhất định phải được người ta biết ơn sao? Không. Tin Mừng không hứa với ta một cuộc đời không có nước mắt. Tin Mừng chỉ hứa rằng giữa những giọt nước mắt ấy, Chúa sẽ không bỏ ta một mình.
Đây là điều rất quan trọng cho mọi ơn gọi. Một người trẻ bước vào đời tu nếu chỉ nghĩ rằng nhà dòng sẽ cho mình một nơi ổn định, một cộng đoàn ấm áp, một đời sống thanh thản, một vị trí được kính trọng, thì người ấy sẽ sớm thất vọng. Một người bước vào chủng viện nếu chỉ nhìn thấy ngày chịu chức, lễ phục, bàn thờ, lời chúc mừng, những bó hoa và những tiếng gọi “cha”, mà chưa nhìn thấy những đêm phải thức cùng nỗi đau của người khác, những lần phải nuốt nước mắt để giữ bình an cho cộng đoàn, những lúc giảng cho người khác về hy vọng trong khi lòng mình cũng đang trải qua một sa mạc, thì người ấy chưa nhìn trọn vẹn ơn gọi. Đời linh mục không phải con đường được miễn trừ khỏi phận người. Đời tu không phải một vùng an toàn tránh hết những va đập của cuộc đời. Có khi chính vì đã hiến mình cho Chúa, người ta còn phải sống một cách trần trụi hơn với sự thật của bản thân, đối diện nhiều hơn với giới hạn, với cô đơn, với vâng phục, với những điều không được lựa chọn. Nếu theo Chúa để tìm bảo đảm, ta sẽ thất vọng. Nếu theo Chúa vì chính Chúa, ta có thể đi qua những bất an mà lòng vẫn không mất hướng.
Rồi Đức Giêsu nói với một người khác: “Anh hãy theo tôi.” Nhưng người ấy xin: “Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã.” Chúng ta dễ thấy lời xin ấy rất hợp lý. Chôn cất cha mẹ là bổn phận thánh thiêng. Thế nhưng Đức Giêsu lại nói một lời rất mạnh: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa.” Không thể hiểu câu này như thể Chúa coi thường tình thân hay bổn phận hiếu kính. Đức Giêsu không bao giờ dạy con cái vô ơn với cha mẹ. Chính Người đã sống ba mươi năm tại Nazareth trong sự vâng phục. Ý của Người ở đây là nói về tính tuyệt đối của tiếng gọi. Có những lúc Chúa gọi và ta không thể cứ nói: “Đợi con thêm một chút.” Bởi cái “một chút” ấy đôi khi kéo dài suốt đời. Ta nói: khi nào công việc ổn con sẽ sống đạo hơn. Khi nào con cái lớn con sẽ cầu nguyện hơn. Khi nào nghỉ hưu con sẽ làm việc bác ái. Khi nào hết bận con sẽ trở về với Chúa. Khi nào lòng con bớt tổn thương con sẽ tha thứ. Khi nào người kia xin lỗi trước con sẽ làm hòa. Khi nào mọi sự rõ ràng con mới dấn thân. Nhưng đời người đâu có bao giờ thật sự hết bận. Cuộc sống đâu có lúc nào hoàn toàn ổn. Nếu ta chờ mọi điều kiện thích hợp mới theo Chúa, có khi đến cuối đời vẫn còn đứng tại chỗ.
Ơn gọi thường bắt đầu bằng một tiếng “bây giờ”. Abraham được gọi và phải lên đường. Các môn đệ đang thả lưới, Chúa gọi, họ bỏ lưới mà đi. Mátthêu đang ngồi bàn thu thuế, Chúa nói “hãy theo tôi”, ông đứng dậy đi theo. Ơn gọi có một sự khẩn thiết rất riêng. Không phải vì Thiên Chúa thiếu kiên nhẫn, nhưng bởi đời người ngắn lắm. Ta cứ nghĩ mình còn nhiều thời gian. Ta hay mặc cả với Chúa bằng tương lai: mai con sẽ sửa, mai con sẽ cầu nguyện, mai con sẽ yêu thương hơn, mai con sẽ sống tử tế. Nhưng có biết bao cái “mai” không bao giờ tới. Theo Chúa là học trao cho Người cái hôm nay. Không phải đợi mình hoàn hảo mới dâng mình cho Chúa, bởi nếu đợi như thế chẳng ai có thể bắt đầu. Không phải đợi hết mọi vướng bận rồi mới yêu Chúa, bởi trái tim con người lúc nào cũng có thể tìm được một lý do để trì hoãn. Điều Chúa cần không phải một con người đã giải quyết xong mọi sự, nhưng là một con người dám đặt Người lên trên mọi sự.
Một người khác thưa: “Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã.” Lại một lời xin rất bình thường. Nhưng Chúa nói: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” Hình ảnh người cầm cày rất đẹp. Người nông dân khi cày phải nhìn về phía trước. Nếu cứ ngoái đầu lại, đường cày sẽ lệch. Đời môn đệ cũng vậy. Không phải người theo Chúa không có quá khứ. Ai cũng có. Có người có một tuổi trẻ đầy ước mơ, có những mối tình, những kế hoạch, những cơ hội đã bỏ lại. Có người bước vào hôn nhân và phải từ bỏ nhiều tự do của đời độc thân. Có người đi tu đã phải rời mái nhà, cha mẹ, anh chị em, những thân quen. Có người đáp lại một sứ vụ và phải từ bỏ một công việc đang thuận lợi. Nhưng khó nhất không hẳn là bỏ những thứ ở bên ngoài. Khó nhất là thôi ngoái lại trong lòng. Có thể chân đã đi theo Chúa mà lòng vẫn đứng ở nơi cũ. Có thể đã vào nhà dòng nhưng vẫn tiếc cuộc đời ngoài kia. Có thể đã sống trong hôn nhân nhưng vẫn tiếc những lựa chọn khác. Có thể đã nhận trách nhiệm nhưng ngày nào cũng nghĩ: “Giá mà mình đừng nhận.” Có thể đã tha thứ bằng lời nhưng trong lòng cứ quay lại với vết thương cũ. Ta cầm cày mà cứ ngoái lại, nên đường đi trở thành nặng nề.
Không ngoái lại không có nghĩa là xóa ký ức. Cũng không có nghĩa là phủ nhận những gì mình từng yêu quý. Không ngoái lại là không để quá khứ trở thành một sợi dây kéo mình ra khỏi lời cam kết hôm nay. Đời người có những lựa chọn mà một khi đã chọn thì phải học chết đi với những khả thể khác. Người kết hôn phải chết đi với giấc mơ rằng mình vẫn có thể sống như một người độc thân. Người làm cha mẹ phải chết đi với nhiều tiện nghi riêng để chăm sóc con cái. Linh mục phải chết đi với một kiểu sở hữu riêng tư về đời mình. Tu sĩ phải học chết đi với ý muốn riêng để bước vào vâng phục. Không có ơn gọi nào trưởng thành mà không mang một phần của cái chết. Nhưng chính cái chết ấy lại làm phát sinh sự sống. Một hạt lúa cứ giữ nguyên hình dáng của nó sẽ không bao giờ thành mùa lúa. Chỉ khi nó chịu vỡ ra trong lòng đất, sự sống mới bắt đầu.
Bởi thế, theo Chúa không phải đi tìm một cuộc đời dễ dàng, nhưng đi tìm một cuộc đời có ý nghĩa. Hai điều ấy khác nhau rất xa. Một cuộc đời dễ chưa chắc là một cuộc đời hạnh phúc. Có những người có đủ mọi tiện nghi mà lòng vẫn trống rỗng. Có người không thiếu tiền nhưng thiếu lý do để thức dậy mỗi sáng. Có người được bảo đảm mọi sự nhưng sống mãi trong buồn chán. Ngược lại, có những con người sống rất vất vả nhưng ánh mắt họ lại có bình an, bởi họ biết mình đang sống cho ai và vì điều gì. Một người mẹ thức đêm chăm đứa con bệnh không thấy đêm ấy dễ, nhưng tình yêu cho đêm ấy ý nghĩa. Một người cha đi làm cực nhọc để nuôi gia đình không gọi đó là dễ, nhưng ông biết giọt mồ hôi mình rơi xuống vì ai. Một nữ tu sống nhiều năm âm thầm chăm sóc bệnh nhân có thể không được ai nhắc tên, nhưng đời chị không vô nghĩa. Một linh mục ở một giáo xứ nghèo, ít người biết đến, ngày ngày cử hành Thánh Lễ, giải tội, thăm người bệnh, chôn cất những người nghèo, có thể không có một cuộc đời rực rỡ theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng nếu ngài sống vì Chúa và vì đoàn chiên, đó là một cuộc đời đẹp.
Chúa không hứa làm đời ta dễ. Nhiều khi Chúa còn cho phép con đường trở nên khó hơn để tình yêu trong ta được thanh luyện. Khi mọi sự thuận lợi, ta khó biết mình đang theo Chúa hay đang theo những ơn Chúa ban. Khi được người khác quý trọng, ta khó biết mình phục vụ vì Chúa hay vì được nhìn nhận. Khi cầu xin điều gì cũng được, ta khó biết đức tin của mình đặt vào Chúa hay đặt vào những điều Chúa có thể làm cho mình. Chỉ khi lời cầu nguyện tưởng như không được đáp, khi người ta hiểu lầm ta, khi việc ta làm chẳng ai biết, khi ta phải bước trong bóng tối mà vẫn giữ lòng trung tín, lúc ấy mới lộ ra điều thật sự ta đang chọn. Ta chọn Chúa, hay chọn cảm giác dễ chịu khi ở bên Chúa? Ta yêu Chúa, hay chỉ yêu những món quà Người ban?
Có một câu hỏi rất đáng sợ mà mỗi người môn đệ nên tự hỏi mình: nếu một ngày Chúa không cho tôi điều gì ngoài chính Người, tôi có còn muốn theo Người không? Nếu không còn thành công, không còn tiếng khen, không còn vị trí, không còn cảm xúc sốt sắng, không còn những dấu hiệu rõ ràng rằng mình đang được Chúa ưu ái, tôi có còn muốn thuộc về Chúa không? Nếu câu trả lời là có, lúc ấy đức tin mới bắt đầu trưởng thành. Bởi vì rốt cùng, Kitô giáo không phải là chọn những gì Chúa ban. Kitô giáo là chọn chính Chúa.
Một trong những cám dỗ lớn nhất trong ơn gọi là biến Chúa thành phương tiện để đạt tới một cuộc đời mà mình muốn. Ta cầu nguyện để Chúa bảo vệ kế hoạch của ta. Ta xin Chúa chúc lành cho hướng đi ta đã chọn. Ta mong Chúa dọn sạch những chướng ngại trên đường. Nhưng có lúc Chúa không dọn chướng ngại. Người đổi con đường. Có lúc Chúa không chữa một vết thương ngay. Người dùng chính vết thương ấy để mở lòng ta ra với người khác. Có lúc Chúa không cứu ta khỏi một thất bại. Người cứu ta khỏi kiêu ngạo bằng thất bại ấy. Có khi Chúa không cất cô đơn. Người gặp ta ngay trong cô đơn. Có khi Chúa không làm người khác thay đổi như ta cầu xin. Người bắt đầu thay đổi chính ta. Thế nên người môn đệ không hỏi mãi: “Lạy Chúa, sao đường này khó thế?” nhưng học hỏi một câu khác: “Lạy Chúa, trong con đường này Chúa muốn con trở thành người thế nào?”
Nhiều người bỏ cuộc không phải vì thập giá quá nặng, nhưng vì họ đã từng nghĩ theo Chúa thì không được có thập giá. Khi kỳ vọng sai, mọi đau khổ đều trở thành một sự phản bội. Người ta nghĩ: tôi sống tốt mà, sao gia đình tôi lại có chuyện? Tôi phục vụ Chúa mà, sao tôi lại bệnh? Tôi đã hy sinh mà, sao người khác không biết ơn? Tôi đã cầu nguyện nhiều mà, sao chuyện này vẫn xảy ra? Nhưng Chúa Giêsu chưa từng nói: “Ai theo Thầy sẽ không đau khổ.” Người nói điều ngược lại: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Người không giấu giá phải trả. Chính vì thế mà lời mời gọi của Chúa đáng tin. Chúa không lừa chúng ta bằng những hứa hẹn dễ dãi. Người cho ta biết trước rằng con đường có Thập Giá, nhưng cũng cho biết Thập Giá không phải điểm cuối. Sau Canvê có Phục Sinh. Sau hạt lúa chết đi có mùa gặt. Sau những hy sinh âm thầm có một sự sống mà mắt thường chưa nhìn thấy.
Theo Chúa cũng không có nghĩa là cố tình tìm đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta không đi tìm bệnh tật, thất bại, bị xúc phạm hay mất mát. Đau khổ tự nó không phải là điều tốt. Chúa Giêsu chữa người bệnh, cho người đói ăn, khóc trước mộ Lazarô. Người không bảo ta phải yêu đau khổ. Nhưng khi đau khổ không thể tránh khỏi vì trung thành với tình yêu, thì người môn đệ không bỏ tình yêu để chạy trốn đau khổ. Đó mới là điểm cốt lõi. Chúa không muốn ta đau. Chúa muốn ta yêu. Nhưng đôi khi yêu cho đến cùng thì sẽ đau. Người mẹ yêu con nên có lúc đau. Người cha trung thành với gia đình nên có lúc phải hy sinh. Người linh mục yêu đoàn chiên nên có những nỗi đau. Người sống ngay thẳng có thể phải trả giá trong một môi trường giả dối. Người từ chối tham nhũng có thể mất lợi ích. Người dám nói sự thật có thể mất lòng. Người giữ lời khấn có thể phải chiến đấu rất nhiều với chính mình. Không phải đau khổ làm họ nên thánh. Chính tình yêu trung thành trong đau khổ mới làm họ nên thánh.
Trong đời sống hôm nay, người ta rất sợ những gì khó. Mọi thứ đều được thiết kế để nhanh hơn, tiện hơn, ít phải chờ hơn. Chỉ cần một cú chạm, một ứng dụng, một dịch vụ, ta có thể tránh rất nhiều bất tiện. Điều đó không xấu. Nhưng thói quen tìm sự tiện lợi có thể len vào đời sống thiêng liêng. Ta muốn cầu nguyện mà phải cảm thấy dễ chịu. Ta muốn phục vụ nhưng không muốn ai làm phiền. Ta muốn sống cộng đoàn nhưng mọi người phải hợp ý mình. Ta muốn đi tu nhưng vẫn muốn giữ thật nhiều khoảng riêng không ai đụng đến. Ta muốn sống hôn nhân nhưng không muốn phải chịu đựng những khác biệt. Ta muốn tha thứ nhưng không muốn trải qua tiến trình đau đớn của việc chữa lành. Ta muốn theo Chúa nhưng cũng muốn bảo toàn cái tôi. Và chính ở đó, con đường trở nên bế tắc. Bởi Tin Mừng không thể lớn lên trong một trái tim chỉ biết bảo vệ sự dễ chịu của mình.
Ơn gọi nào cũng có “con chồn có hang, chim trời có tổ” của nó. Đó là những chỗ trú ta muốn giữ lại cho mình. Một sự bảo đảm về tiền bạc. Một nhu cầu được công nhận. Một thói quen không muốn thay đổi. Một tương quan ta không muốn đặt dưới ánh sáng Tin Mừng. Một tham vọng kín đáo. Một ý riêng. Một hình ảnh về bản thân. Chúa không nhất thiết bắt mọi người bỏ nhà cửa như các môn đệ đầu tiên, nhưng Người sẽ chạm đến cái hang mà ta đang trốn trong đó. Người sẽ hỏi: “Nếu phải rời khỏi đây để theo Thầy, con có đi không?” Chính ở đó ơn gọi được thử.
Có những linh mục có thể bỏ gia đình, quê hương, công việc, nhưng lại khó bỏ tự ái. Có những tu sĩ sống nghèo về tài sản nhưng lại rất giàu ý riêng. Có những giáo dân hy sinh tiền bạc rất nhiều nhưng không thể hy sinh một câu hơn thua. Có người làm bao việc bác ái nhưng không chịu nổi khi tên mình không được nhắc. Có người nói mình thuộc về Chúa nhưng bình an của mình lại phụ thuộc hoàn toàn vào cách người khác đối xử. Những điều ấy cho thấy từ bỏ bên ngoài chưa chắc đã là từ bỏ thật. Theo Chúa rốt cuộc là hành trình để chính cái tôi thôi ngồi ở trung tâm.
“Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau…” Nhiều lúc ta ngoái lại không phải vì muốn bỏ Chúa, nhưng vì ta nhớ một cuộc đời mà ta tưởng mình đã có thể sống. Người linh mục đôi khi nhìn bạn bè cùng tuổi có gia đình, có con cái, có những buổi tối quây quần và chợt thấy lòng mình se lại. Người sống hôn nhân có lúc nhìn người độc thân tự do và tự hỏi liệu mình đã chọn sai. Người cha mẹ có khi nhìn những người không vướng bận con cái mà thèm một ngày chỉ sống cho mình. Người đang chăm bệnh nhân lâu năm có khi nhìn đời người khác và thấy bất công. Đó là những cảm xúc rất người. Không cần phải giả vờ rằng chúng không tồn tại. Nhưng Tin Mừng mời gọi ta đừng biến những phút ngoái lại ấy thành một lối sống. Không con đường nào chỉ có hoa. Ta thường nhìn cái giá của lựa chọn mình mà không nhìn cái giá của lựa chọn khác. Ta thấy thập giá mình rõ nhất vì ta đang vác nó. Nhưng mọi cuộc đời đều có một thập giá riêng.
Có khi bình an không đến từ việc tìm được một con đường không khó, mà từ việc thôi mơ về một con đường không tồn tại. Cuộc đời nào cũng có mất mát. Chọn điều này là từ bỏ điều kia. Yêu một người là chấp nhận trở nên dễ bị tổn thương bởi người ấy. Cam kết một ơn gọi là đóng lại một số cánh cửa khác. Trưởng thành là hiểu rằng ta không thể có tất cả. Người môn đệ trưởng thành không hỏi: “Con đường nào giúp tôi không mất gì?” bởi không có con đường ấy. Người ấy hỏi: “Điều gì đáng để tôi hiến cả đời?”
Với người Kitô hữu, câu trả lời là Đức Kitô. Chính Người đáng để ta trao đời. Không phải bởi cuộc đời theo Người lúc nào cũng dễ, mà bởi ngoài Người ta không tìm thấy ý nghĩa cuối cùng cho đời mình. Thánh Phêrô một lần đã thưa: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Phêrô không nói: “Ở với Thầy dễ quá.” Thực tế ở với Chúa rất khó. Ông đã từng sợ hãi, vấp ngã, bị sửa dạy, phải bỏ nhiều thứ, cuối cùng còn chết vì Thầy. Nhưng ông nhận ra một điều: khó không có nghĩa là sai. Có những điều rất khó nhưng lại là con đường dẫn đến sự sống. Sinh một đứa con khó. Tha thứ khó. Trung thành khó. Sống thật khó. Giữ lời hứa khó. Cầu nguyện trong khô khan khó. Chăm sóc một người bệnh nhiều năm khó. Nhưng có những cái khó làm con người lớn lên, còn những dễ dãi lại làm con người nhỏ lại.
Ngày hôm nay có lẽ cần nói lại điều này với người trẻ đang tìm hiểu ơn gọi. Đừng hỏi trước hết: “Vào dòng này con có hạnh phúc không?” nếu hạnh phúc được hiểu là mọi sự hợp ý. Hãy hỏi: “Ở đây con có thể thuộc trọn về Chúa hơn không?” Đừng hỏi: “Làm linh mục có được người ta quý không?” Hãy hỏi: “Con có sẵn lòng để đời mình trở thành tấm bánh bẻ ra cho người khác không?” Đừng bước vào ơn gọi vì muốn tìm một nơi trú ẩn khỏi những khó khăn của đời. Đời tu không phải nơi trốn chạy cuộc đời. Ơn gọi phải là nơi người ta bước sâu hơn vào cuộc đời với trái tim của Đức Kitô. Nếu một người muốn đi tu chỉ vì thất tình, thất nghiệp, chán đời, sợ cạnh tranh, muốn an toàn, thì cần rất nhiều phân định. Chúa không gọi chúng ta ra khỏi đời để khỏi phải đau. Người gọi chúng ta đi với Người để biết yêu giữa một thế giới đầy đau khổ.
Cũng cần nói điều ấy với các gia đình. Theo Chúa trong đời hôn nhân cũng không có nghĩa là gia đình sẽ luôn êm ấm. Có những đôi vợ chồng cầu nguyện, đi lễ, nuôi dạy con cái tử tế mà vẫn gặp bệnh tật, thất nghiệp, khủng hoảng, hiểu lầm. Đức tin không phải là chiếc khiên khiến mọi biến cố dừng lại trước cửa nhà mình. Đức tin là ngọn đèn giúp gia đình ấy đi qua biến cố mà không đánh mất nhau và không đánh mất Chúa. Có khi phép lạ lớn nhất không phải là sóng gió biến mất, mà là những người trong gia đình vẫn nắm tay nhau giữa sóng gió. Có khi lời cầu nguyện không làm căn bệnh biến mất nhưng làm căn bệnh không thể biến gia đình thành cay đắng. Có khi Chúa không cất đi thử thách nhưng ban sức để người ta mang thử thách ấy bằng một tình yêu mà trước đó họ không biết mình có thể có.
Chúa Giêsu đi Giêrusalem. Người biết điều gì đang chờ mình. Đây là bối cảnh rất quan trọng của Tin Mừng hôm nay. Những lời “hãy theo tôi” không được nói trên một con đường dẫn tới ngai vàng thế gian, nhưng trên con đường hướng về Thập Giá. Theo Chúa là đi sau một Người đang đi đến Giêrusalem. Người không lừa môn đệ. Người không nói đích đến là một nơi nghỉ dưỡng. Đích đến trước Phục Sinh là Canvê. Vì thế ai nói “Thầy đi đâu tôi cũng xin đi theo” phải hiểu rằng lời ấy cuối cùng sẽ dẫn tới chân Thập Giá.
Nhưng chính ở đây ta khám phá nghịch lý tuyệt đẹp: khi không còn đi tìm một cuộc đời dễ dàng nữa, ta lại bắt đầu tìm được bình an. Bởi rất nhiều bất an trong lòng đến từ cuộc chiến không ngừng giữa thực tại và kỳ vọng. Ta nghĩ đời phải khác. Ta nghĩ người kia phải khác. Ta nghĩ cộng đoàn phải khác. Ta nghĩ hoàn cảnh phải khác. Ta tiêu tốn bao nhiêu năng lượng để chống lại những điều không thể thay đổi. Khi học đặt câu hỏi không phải “Tại sao đời con không dễ?” mà là “Lạy Chúa, con sẽ yêu Chúa thế nào trong chính đời này?”, lòng ta bắt đầu có tự do.
Tự do của người môn đệ không phải là được làm mọi điều mình muốn. Tự do là không còn cần mọi điều phải diễn ra theo ý mình mới có thể yêu. Chúa Giêsu tự do nhất khi bị đóng đinh. Tay Người bị đóng, chân Người bị đóng, Người không còn đi đâu được nữa, nhưng tình yêu của Người không ai đóng đinh được. Người vẫn có thể tha thứ. Người vẫn có thể trao Mẹ cho môn đệ. Người vẫn có thể nói với người trộm lành: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng.” Người vẫn có thể phó mình trong tay Cha. Đó là tự do thật: hoàn cảnh có thể lấy khỏi ta nhiều thứ, nhưng nếu ta vẫn chọn yêu, ta chưa bị đánh bại.
Người môn đệ cũng được mời gọi đến tự do ấy. Có thể ta không chọn được bệnh tật, nhưng ta có thể chọn cách mình sống trong bệnh tật. Ta không chọn được người khác nghĩ gì về mình, nhưng ta chọn có để lòng mình trở nên cay độc hay không. Ta không chọn được mọi biến cố, nhưng ta chọn mình có tiếp tục tin vào Thiên Chúa hay không. Ta không kiểm soát được hết tương lai, nhưng ta có thể trao tương lai ấy vào tay Chúa. Đó chính là điều “theo Chúa là chọn Người, không chọn những bảo đảm” muốn nói.
Có người chỉ yên tâm khi tiền bạc đủ. Có người chỉ yên tâm khi sức khỏe ổn. Có người chỉ yên tâm khi người khác đồng ý với mình. Có người chỉ yên tâm khi đã tính được từng bước tương lai. Nhưng tất cả các bảo đảm của thế gian đều mong manh. Một biến cố có thể làm tài sản đổi khác. Một kết quả xét nghiệm có thể đổi toàn bộ kế hoạch. Một cuộc điện thoại có thể làm một ngày bình thường trở thành ngày không bao giờ quên. Nếu đời ta chỉ đứng được nhờ những bảo đảm ấy, sớm muộn ta cũng sẽ hoảng sợ. Đức tin không bảo ta sống thiếu trách nhiệm. Ta vẫn phải làm việc, tiết kiệm, chăm sóc sức khỏe, lên kế hoạch. Nhưng cuối cùng nền móng của đời ta không thể là những thứ có thể mất. Nền móng phải là Đấng không mất.
Theo Chúa vì thế là một cuộc chuyển nền móng. Từ “tôi cần chắc chắn mọi thứ” sang “tôi cần biết Chúa ở với tôi”. Từ “tôi phải hiểu hết” sang “tôi có thể tin dù chưa hiểu hết”. Từ “tôi phải kiểm soát” sang “tôi có thể phó thác”. Từ “tôi phải được bảo đảm” sang “tôi chỉ cần trung thành hôm nay”. Đó là một hành trình rất dài. Không ai làm được trong một ngày. Các môn đệ cũng phải học suốt đời. Phêrô từng muốn ngăn Chúa lên Giêrusalem, vì ông muốn một Đấng Mêsia không có Thập Giá. Chúa phải nói với ông: “Satan, lui lại đằng sau Thầy.” Câu ấy nghiêm khắc bởi Phêrô đang muốn theo Chúa nhưng lại muốn chọn con đường cho Chúa. Đây cũng là cám dỗ của ta: “Lạy Chúa, con theo Chúa, miễn là Chúa đi theo con đường con đã vẽ.”
Nhưng người môn đệ thật sự đứng phía sau Chúa. Chúa đi đâu, ta đi đó. Có lúc Người dẫn qua đồng cỏ xanh. Có lúc qua thung lũng tối. Có lúc cho ta Tabor với ánh sáng. Có lúc đưa xuống Canvê. Có lúc lời cầu nguyện tràn đầy an ủi. Có lúc chỉ còn im lặng. Nếu chỉ theo Người lúc Tabor, ta chưa thật sự theo Người. Đức tin trưởng thành khi ta có thể nói: “Lạy Chúa, con không hiểu đường này, nhưng nếu Chúa ở đó, con vẫn đi.”
Có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất của ơn gọi không phải: “Lạy Chúa, xin cho con một đời bình an”, nhưng là: “Lạy Chúa, xin cho con một đời trung thành.” Không phải: “Xin đừng để con gặp đau khổ”, mà là: “Nếu đau khổ đến, xin đừng để con đánh mất tình yêu.” Không phải: “Xin đừng để ai hiểu lầm con”, nhưng là: “Khi bị hiểu lầm, xin giữ lòng con khỏi oán hận.” Không phải: “Xin cho mọi dự định của con thành công”, mà là: “Xin cho ý Chúa thành sự trong đời con.” Những lời cầu ấy không dễ. Nhưng đó là những lời cầu làm con người lớn lên.
Đời người rồi cũng đi qua. Có những điều hôm nay ta tưởng rất quan trọng, vài chục năm sau chẳng còn ai nhớ. Danh tiếng đi qua. Chức vụ đi qua. Sức khỏe đi qua. Nhan sắc đi qua. Tiền bạc rồi cũng để lại. Một ngày kia, điều còn lại không phải ta đã sống dễ dàng đến mức nào, nhưng ta đã yêu đến đâu. Ta có trung thành với điều Chúa trao không? Ta có dùng đời mình cho điều gì lớn hơn mình không? Ta có làm nhẹ đi nỗi đau của ai không? Ta có giữ lòng tử tế khi bản thân bị tổn thương không? Ta có ở lại khi tình yêu đòi phải ở lại không? Ta có dám bước đi khi Chúa gọi không?
Có những người sống một cuộc đời rất “thành công” nhưng cuối cùng lại thấy mình chưa từng thật sự trao đời cho ai. Có những người chẳng có gì nổi bật nhưng khi họ ra đi, nhiều người khóc bởi đã từng được yêu nhờ họ. Đó là sự khác nhau giữa một cuộc đời dễ chịu và một cuộc đời được hiến dâng. Chúa không gọi ta để ta giữ đời mình thật kỹ. Người gọi ta để đời mình trở thành quà tặng.
Vì thế, người đang phân định ơn gọi đừng sợ khi thấy con đường khó. Hãy sợ hơn nếu một con đường chỉ làm ta khép kín vào mình. Người đã sống đời tu nhiều năm đừng vội nghĩ mình chọn sai chỉ vì hôm nay thấy mệt. Có những mệt mỏi là dấu của việc đã yêu nhiều. Hãy nghỉ, hãy cầu nguyện, hãy tìm sự trợ giúp cần thiết, nhưng đừng đồng nhất khó khăn với sự vắng mặt của Chúa. Người sống hôn nhân đừng nghĩ tình yêu hết rồi chỉ vì tình yêu bây giờ không còn dễ như những năm đầu. Có những mùa tình yêu không còn là hoa, nhưng là rễ. Hoa đẹp, nhưng rễ giữ cây sống qua mùa khô. Người phục vụ cộng đoàn cũng đừng bỏ cuộc chỉ vì bị hiểu lầm. Hãy xem lại mình nếu cần, sửa mình nếu sai, nhưng đừng để lòng tốt phụ thuộc hoàn toàn vào tiếng vỗ tay.
Chúa Giêsu không có chỗ tựa đầu, nhưng Người có một nơi tựa sâu hơn mọi căn nhà: lòng Chúa Cha. Đó là bí mật giúp Người đi đến cùng. Người có thể không được thế gian bảo đảm, nhưng Người biết mình thuộc về Cha. Người có thể bị người ta bỏ, nhưng Người sống trong tương quan với Cha. Chính vì thế, theo Chúa không chọn những bảo đảm không có nghĩa là sống vô định. Ta có một bảo đảm sâu hơn: không phải rằng mọi chuyện sẽ tốt theo cách ta muốn, nhưng rằng không gì có thể tách ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
Bảo đảm của Kitô hữu không phải là “tôi sẽ không ngã bệnh”, nhưng là “dù bệnh, Chúa vẫn ở đây”. Không phải “gia đình tôi sẽ không gặp biến cố”, nhưng là “không biến cố nào lớn hơn ân sủng của Chúa”. Không phải “tôi sẽ luôn được hiểu”, nhưng là “dù bị hiểu lầm, Chúa biết lòng tôi”. Không phải “ơn gọi tôi sẽ không có khủng hoảng”, nhưng là “trong khủng hoảng, Chúa vẫn có thể dẫn tôi sâu hơn vào tình yêu”. Không phải “tôi sẽ không chết”, nhưng là “ngay cả cái chết cũng không tách tôi khỏi Đức Kitô”. Khi nền móng ấy đã sâu, con người có thể sống giữa bất định mà không bị bất định nuốt chửng.
“Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo.” Xin cho chúng ta đừng nói câu ấy quá nhanh, nhưng một khi đã nói thì hãy xin ơn để sống đến cùng. Đi theo Người khi trời đẹp và khi mưa giông. Theo Người lúc được hiểu và khi cô độc. Theo Người khi lòng tràn đầy sốt sắng và lúc cầu nguyện khô khan. Theo Người khi mọi cánh cửa mở ra và cả khi một cánh cửa quan trọng đóng lại. Theo Người không phải vì Người luôn dẫn ta đến nơi dễ chịu, nhưng vì nơi nào có Người, nơi ấy cuối cùng có sự sống.
Và có lẽ đến một ngày, sau rất nhiều năm, ta mới hiểu những con đường khó đã làm gì cho đời mình. Có những vết thương dạy ta biết thương người hơn. Có những thất bại cứu ta khỏi tự mãn. Có những lần không được chọn giúp ta bớt cần được công nhận. Có những mùa cô đơn đưa ta vào một tương quan sâu hơn với Chúa. Có những điều ta từng khóc vì không có được, nhiều năm sau lại thầm cảm ơn Chúa vì Người đã không cho. Chúa không tạo đau khổ để dạy ta bài học, nhưng Người có khả năng không để bất kỳ đau khổ nào trở nên vô ích nếu ta trao nó cho Người.
Cuối cùng, theo Chúa là một chuyện tình. Mà tình yêu thật thì không hỏi trước hết: “Tôi sẽ được gì?” Tình yêu hỏi: “Tôi có thể trao gì?” Một người chỉ bước vào tình yêu để tìm lợi ích sẽ bỏ đi khi lợi ích không còn. Nhưng một người yêu thật sẽ ở lại bởi chính người mình yêu đáng để ở lại. Đức Kitô đáng để ta đi theo không phải chỉ vì Người có thể cho ta thiên đàng, không phải chỉ vì Người có thể chữa bệnh, giải quyết khó khăn, ban bình an, nhưng vì chính Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người đáng để ta trao cả một đời.
Xin cho người trẻ khi nghe tiếng gọi của Chúa đừng hỏi xem con đường ấy có dễ không, nhưng hỏi xem Chúa có ở đó không. Xin cho người đã dâng hiến đừng tìm cách thu hồi lại đời mình từng chút một, nhưng mỗi ngày biết nói lại lời “xin vâng”. Xin cho những gia đình đang gánh thập giá đừng nghĩ mình bị Chúa bỏ quên. Xin cho những ai mệt mỏi trên hành trình đức tin hiểu rằng mệt không có nghĩa là vô ích. Và xin cho tất cả chúng ta, khi đứng trước những bất định của đời người, biết đặt tay mình vào tay Đức Kitô và nói: “Lạy Chúa, con không xin một con đường dễ. Con chỉ xin đừng để con đi một con đường không có Chúa. Con không xin được bảo đảm mọi sự. Con chỉ xin được thuộc về Chúa. Con không xin biết hết ngày mai. Con chỉ xin đủ lòng tin để bước với Chúa hôm nay.”
Bởi cuối cùng, người môn đệ không phải là người có một cuộc đời ít thập giá hơn người khác. Người môn đệ là người đã tìm thấy Đấng để mình có thể vác thập giá mà không tuyệt vọng. Không phải người chưa từng khóc, nhưng là người biết mình khóc trong vòng tay ai. Không phải người chưa từng mất mát, nhưng là người biết có một kho tàng không ai lấy được. Không phải người nắm chắc tương lai, nhưng là người nắm lấy bàn tay của Chúa.
Theo Chúa không phải đi tìm một cuộc đời dễ dàng. Theo Chúa là chọn Người. Và khi đã có Người, có những con đường dù khó vẫn đáng đi, có những hy sinh dù đau vẫn đáng trao, có những lần mất mát vẫn không làm đời mình thành thất bại. Bởi một cuộc đời được trao cho Đức Kitô chưa bao giờ là một cuộc đời bị phí đi.
Lm. Anmai, CSsR

AI ĐÃ TRA TAY CẦM CÀY THÌ ĐỪNG NGOÁI LẠI
Tin Mừng: Lc 9,61-62
Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng như quá cứng. Cứng đến độ nếu chỉ đọc bằng cảm xúc, người ta có thể thấy Chúa đòi hỏi quá nhiều. Một người đến thưa với Người: “Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã.” Một lời xin rất bình thường. Một lời xin chẳng có gì quá đáng. Người ấy đâu nói rằng mình không theo Chúa. Anh chỉ xin về chào từ biệt người nhà rồi sẽ đi. Vậy mà Chúa Giêsu lại trả lời bằng một câu rất mạnh: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” Câu nói ấy không nhằm làm chúng ta sợ. Chúa cũng không muốn biến người môn đệ thành những con người lạnh lùng, cắt đứt tình thân, coi nhẹ gia đình hay phủ nhận quá khứ. Điều Chúa chạm đến nằm sâu hơn rất nhiều. Người chạm đến cái lõi của mọi ơn gọi, của mọi lời cam kết, của mọi cuộc đời đã một lần thưa “xin vâng”: đó là lòng trung thành. Trung thành không phải chỉ khi lòng còn nóng. Trung thành không phải chỉ khi con đường còn đẹp. Trung thành không phải chỉ trong những ngày đầu tiên ta thấy mọi sự đều đáng yêu, mọi hy sinh đều nhẹ nhàng, mọi lý tưởng đều sáng rực. Trung thành thật sự chỉ bắt đầu được thử khi những cảm xúc ban đầu đã lắng xuống, khi hào quang của ngày khởi đầu đã qua, khi ta không còn được nâng đỡ bởi những lời khen, những cảm giác sốt sắng, những hình ảnh đẹp đẽ về tương lai, mà trước mắt chỉ còn bổn phận, mệt mỏi, lặp đi lặp lại, những va chạm rất người, những ngày cầu nguyện khô khan, những việc nhỏ chẳng ai thấy, những hiểu lầm chẳng ai giải thích, những hy sinh chẳng ai biết ơn. Chính ở đó, lời Chúa vang lên: đã tra tay cầm cày thì đừng ngoái lại.
Người cầm cày muốn đường cày thẳng thì mắt phải nhìn về phía trước. Chỉ cần ngoái lại mãi, luống cày sẽ cong. Chỉ cần chân vẫn đi mà lòng cứ quay về phía sau, người ta sẽ mất phương hướng. Hình ảnh rất đơn sơ ấy lại nói đúng một sự thật của đời sống thiêng liêng: có những người thân xác vẫn còn ở trong ơn gọi nhưng tâm hồn đã rời khỏi ơn gọi từ lâu. Vẫn mặc chiếc áo ấy, vẫn ở căn nhà ấy, vẫn làm công việc ấy, vẫn giữ một danh xưng ấy, nhưng trong lòng cứ miên man nhớ về một cuộc đời khác, tiếc một con đường khác, tưởng tượng rằng nếu ngày xưa mình chọn khác thì chắc bây giờ hạnh phúc hơn. Có người sống đời hôn nhân nhưng trong lòng cứ ngoái về thời chưa lập gia đình. Có người đã khấn dòng nhưng cứ so sánh đời tu với những gì mình đã từ bỏ. Có người đã chịu chức linh mục nhưng cứ nhớ thời còn tự do như thể chức linh mục đã lấy mất đời mình. Có người đã nhận một trách nhiệm trong cộng đoàn nhưng lúc khó khăn lại mong mình chưa từng nhận. Có người đã chọn sống tử tế, nhưng vì thấy người gian dối lại thành công hơn nên bắt đầu tiếc sự ngay thẳng của mình. Có người đã quyết tâm tha thứ, nhưng mỗi lần vết thương nhói lên lại muốn quay về với hận thù. Có người đã trở về với Chúa, nhưng khi đời sống đức tin trở nên khô khan thì lại thèm những ngày sống theo ý mình. Ngoái lại không nhất thiết là bỏ đi. Đôi khi ngoái lại chỉ là ở lại mà lòng không còn thuộc về nơi mình đang ở. Và có lẽ đó mới là thứ mệt mỏi ghê gớm nhất.
Những ngày đầu của một ơn gọi thường đẹp. Người ta dễ nhớ ngày vào chủng viện, ngày vào nhà dòng, ngày khấn, ngày chịu chức, ngày cưới, ngày nhận sứ mạng, ngày lần đầu tiên đứng trước một cộng đoàn, ngày cảm thấy lòng mình chan chứa một niềm vui rất tinh tuyền. Khi ấy người ta nghĩ mình có thể đi đến tận cùng. Người ta nghe lời Chúa mà thấy như nói riêng với mình. Người ta cầu nguyện và thấy lòng ấm. Người ta nhìn tương lai bằng đôi mắt sáng. Người ta hứa nhiều điều với Chúa. “Con sẽ trung thành.” “Con sẽ sống quảng đại.” “Con sẽ phục vụ.” “Con sẽ không giữ lại gì cho mình.” “Con sẽ thuộc trọn về Chúa.” Những lời ấy có thể rất thật. Chúa không coi thường những rung động ban đầu ấy. Chính Người đã gieo chúng vào lòng chúng ta. Nhưng Chúa biết con người hơn chúng ta biết mình. Người biết một ngày kia, sau những tháng năm dài, sẽ có buổi sáng ta thức dậy mà không còn cảm thấy gì đặc biệt. Thánh lễ vẫn vậy. Kinh nguyện vẫn vậy. Công việc vẫn vậy. Con người chung quanh vẫn mang những yếu đuối cũ. Những vấn đề tưởng sẽ qua thì vẫn còn. Những ước mơ lớn có khi bị bào mòn bởi hàng ngàn việc vụn vặt. Ta muốn cứu thế giới nhưng rồi phần lớn cuộc đời lại là trả lời điện thoại, đi họp, sửa một lỗi nhỏ, nghe một người than phiền, lo một hóa đơn, giải quyết một hiểu lầm, lặp lại một lời khuyên đã nói nhiều lần, dọn dẹp một việc người khác làm dở, chịu một người khó tính, làm những việc không ai nhớ tên. Và chính lúc ấy ta bắt đầu hiểu: ơn gọi không được xây bằng những khoảnh khắc phi thường. Ơn gọi được xây bằng sự trung thành trong những ngày hết sức bình thường.
Đừng tưởng cái gì khô khan cũng là dấu mình đi sai đường. Có khi khô khan chỉ là lúc tình yêu được mời gọi trưởng thành. Một đứa trẻ yêu vì được cho quà. Một người trưởng thành yêu vì người kia đáng được yêu, kể cả khi không nhận lại gì. Đời sống với Chúa cũng thế. Có thời ta cầu nguyện vì thấy bình an. Có thời ta phục vụ vì thấy vui. Có thời ta dấn thân vì được khích lệ. Nhưng rồi Chúa sẽ đưa ta đến một chỗ sâu hơn: con có còn cầu nguyện khi chẳng thấy gì không? Con có còn phục vụ khi chẳng ai cảm ơn không? Con có còn tử tế khi người khác hiểu lầm không? Con có còn trung thành khi Chúa dường như im lặng không? Con có còn giữ lời đã hứa khi chính con cũng không còn cảm thấy hứng thú với lời hứa ấy không? Nếu chỉ trung thành khi lòng hứng khởi thì ta đang trung thành với cảm xúc của mình hơn là với Chúa. Trung thành Kitô giáo không có nghĩa là lúc nào cũng thấy dễ. Trung thành là có những ngày rất khó mà vẫn không rời chỗ của mình. Là có những đêm rất tối mà vẫn tin trời sẽ sáng. Là có những giai đoạn chẳng hiểu Chúa đang làm gì mà vẫn không đóng cửa với Người. Là vẫn đứng trước bàn thờ, vẫn đọc lời kinh, vẫn làm bổn phận, vẫn chọn yêu thương, trong khi chẳng có một cảm giác ngọt ngào nào nâng đỡ.
Có những lúc người ta ngoái lại vì quá mệt. Mệt làm người ta lý tưởng hóa quá khứ. Khi hiện tại nặng nề, quá khứ bỗng đẹp lạ thường. Ta quên những khó khăn ngày trước và chỉ nhớ những điều dễ chịu. Người Israel trong sa mạc đã từng như thế. Khi đói, họ nhớ Ai Cập. Họ nói đến nồi thịt, dưa hành, thức ăn, mà quên rằng mình từng là nô lệ. Con người có một khả năng rất kỳ lạ: khi hiện tại đau, ta dễ quên cái giá của điều mình đã rời bỏ. Người đã chọn Chúa có lúc cũng nhớ một cuộc đời không ràng buộc và tưởng đó là tự do. Người đã chọn hôn nhân có lúc nhìn người độc thân mà tưởng họ không có gánh nặng. Người sống độc thân nhìn gia đình người khác lại tưởng ở đó chỉ có ấm êm. Người ở trong cộng đoàn nhìn người sống một mình mà thấy tự do; người sống một mình nhìn cộng đoàn mà chỉ thấy tình thân. Chúng ta thường nhìn phần đẹp của đời người khác rồi đem so với phần nặng nhất của đời mình. So sánh như thế thì chẳng ai có thể bình an. Vì mỗi con đường đều có thập giá của nó. Mỗi tiếng “xin vâng” đều đóng một vài cánh cửa để mở một cánh cửa lớn hơn. Và không có một cuộc chọn lựa nghiêm túc nào mà không phải trả giá.
Khi Chúa nói “đừng ngoái lại”, Người không bảo ta xóa ký ức. Ký ức là một phần ân sủng. Ta cần nhớ ngày Chúa gọi, nhớ những dấu chỉ ban đầu, nhớ những người đã nâng đỡ, nhớ những lần được cứu khỏi nguy nan, nhớ bao ơn lành đã nhận. Có những lúc mệt mỏi, chính ký ức về lòng thương xót Chúa sẽ cứu ta. Nhưng khác nhau rất xa giữa “nhớ lại” và “ngoái lại”. Nhớ lại là trở về quá khứ để nhận ra bàn tay Chúa rồi bước tiếp. Ngoái lại là trở về quá khứ để tiếc nuối và muốn rút lại tiếng xin vâng. Nhớ lại làm ta biết ơn. Ngoái lại làm ta cay đắng. Nhớ lại cho ta sức mạnh. Ngoái lại rút cạn sức mạnh. Nhớ lại nói: “Chúa đã dẫn mình đến đây, Người sẽ còn dẫn mình đi tiếp.” Ngoái lại nói: “Giá như ngày ấy mình đừng chọn.” Một bên là ký ức cứu độ; một bên là ký ức của tiếc nuối. Một bên giúp ta trung thành hơn; một bên làm ta đứng giữa hai con đường mà chẳng còn sống trọn vẹn con đường nào.
Trong đời linh mục hay đời thánh hiến, lời này càng đau và càng thật. Có một thời người ta bước vào nhà dòng với lòng đầy lý tưởng. Muốn nên thánh. Muốn cứu các linh hồn. Muốn dâng tất cả. Nhưng thời gian đi qua, đời tu không chỉ có giờ chầu sốt sắng, những bài hát đẹp, những nghi thức cảm động hay những ngày lễ long trọng. Đời tu có những cuộc họp. Có khác biệt tính tình. Có sự giới hạn của anh em. Có những công việc mình chẳng thích. Có khi được sai đến nơi mình không muốn. Có khi người giỏi hơn mình được tín nhiệm. Có khi mình làm rất nhiều nhưng chẳng được nhắc tên. Có khi một quyết định của bề trên làm mình buồn. Có khi sống chung với một người suốt nhiều năm mà vẫn thấy khó. Có khi chính cộng đoàn mình từng yêu lại là nơi làm mình đau nhất. Và lúc ấy, cám dỗ lớn không phải lúc nào cũng là bỏ dòng. Cám dỗ có khi tinh vi hơn: làm đủ mà không còn lòng; tuân giữ mà không còn tình yêu; phục vụ như một công chức; cầu nguyện như hoàn thành giờ công; sống cạnh anh em nhưng đóng cửa nội tâm. Thân xác còn ở lại, nhưng người môn đệ đã ngoái về phía sau. Khi đó lời Chúa không lên án, nhưng đánh thức: con đã tra tay cầm cày rồi, hãy nhìn về phía trước. Đừng để những giới hạn của con người làm con quên Đấng đã gọi con.
Đời linh mục cũng thế. Ngày chịu chức có thể là một ngày đẹp nhất đời. Bàn tay giám mục đặt trên đầu. Anh em linh mục đặt tay. Dầu thánh trên đôi tay. Lần đầu cất lời truyền phép. Những lời chúc mừng. Cha mẹ rơi nước mắt. Cộng đoàn hân hoan. Mọi sự như một lễ hội của ân sủng. Nhưng chức linh mục không phải chỉ là ngày chịu chức. Chức linh mục là hàng chục năm sau ngày ấy. Là những sáng mệt vẫn phải dâng lễ. Những tối kiệt sức vẫn có người gõ cửa. Những cuộc điện thoại đến không đúng lúc. Những bệnh nhân cần xức dầu giữa đêm. Những tang lễ của những người chẳng quen. Những lớp giáo lý vắng người. Những bài giảng đã chuẩn bị kỹ mà chẳng ai nhớ. Những lần bị phê bình vì một điều mình không cố ý. Những khi bị hiểu lầm mà không tiện giải thích. Những lúc cô đơn giữa rất nhiều người. Những khi nhìn bạn bè ngoài đời thành đạt, gia đình yên ấm, con cháu quây quần, còn mình trở về căn phòng yên lặng. Chính những lúc như thế, tiếng “ngoái lại” có thể len vào rất nhẹ: nếu ngày xưa mình chọn khác thì sao? Nếu mình không làm linh mục thì sao? Nếu mình có một gia đình thì sao? Nếu mình theo nghề này nghề kia thì sao? Không ai có thể cấm một ý nghĩ thoáng qua. Nhưng nguy hiểm là nuôi ý nghĩ ấy thành một thế giới song song rồi sống trong đó. Bởi không ai có thể trung thành với hiện tại nếu ngày nào cũng sống trong một cuộc đời giả định.
Chúa không đòi người môn đệ chưa bao giờ chao đảo. Phêrô đã từng chao đảo. Các Tông đồ đã từng sợ. Ngôn sứ Êlia đã từng ngồi dưới cây kim tước mà xin được chết. Các thánh cũng có những đêm tối. Trung thành không có nghĩa là chưa bao giờ muốn bỏ cuộc. Trung thành nhiều khi chính là đã muốn bỏ cuộc mà vẫn ở lại. Đã khóc mà vẫn bước tiếp. Đã đau mà không phản bội. Đã mệt mà không biến mệt mỏi thành lý do làm tổn thương người khác. Đã có những ngày không hiểu chính mình mà vẫn giữ một điều rất căn bản: “Lạy Chúa, con không biết đi đâu, nhưng con không muốn rời Chúa.” Có khi đó là lời cầu nguyện đẹp nhất của đời người. Không cần nhiều cảm xúc. Không cần văn chương. Chỉ là một quyết định rất nghèo: con ở lại.
Ta thường nghĩ trung thành là một nhân đức của những con người mạnh. Không hẳn. Trung thành trước hết là ân sủng dành cho những người biết mình yếu và bám vào Chúa. Người tự tin rằng mình sẽ không bao giờ ngã có khi lại ngã rất nhanh. Phêrô từng nói dù mọi người bỏ Thầy, con cũng không. Vài giờ sau ông chối Thầy ba lần. Trung thành không được bảo đảm bởi ý chí. Ý chí cần thiết, nhưng không đủ. Trung thành được nuôi bằng cầu nguyện, bằng sự khiêm nhường, bằng khả năng xin giúp đỡ, bằng việc biết mình cần anh em, bằng việc trở lại với Chúa mỗi ngày. Có người bỏ ơn gọi không phải vì một biến cố lớn, nhưng vì đã bỏ những điều nhỏ từ rất lâu. Bỏ cầu nguyện một chút. Bỏ xét mình một chút. Bỏ sự chân thành một chút. Bỏ đời sống cộng đoàn một chút. Bỏ việc chia sẻ với một người khôn ngoan một chút. Mỗi ngày lệch đi rất ít, nhưng đi lâu rồi sẽ xa. Luống cày không cong vì một cú ngoái đầu duy nhất; nó cong vì mắt đã không còn nhìn vào điểm phải đến.
Thế nên muốn không ngoái lại, phải biết mình đang nhìn vào ai. Người môn đệ không thể sống chỉ bằng một ý tưởng về ơn gọi. Phải sống với chính Đấng đã gọi mình. Nếu chỉ nhìn vào tổ chức, có ngày ta thất vọng. Nếu chỉ nhìn vào con người, có ngày ta tổn thương. Nếu chỉ nhìn vào thành quả, có ngày ta nản chí. Nếu chỉ nhìn vào bản thân, có ngày ta thấy mình thất bại. Chỉ khi nhìn vào Đức Giêsu, người ta mới hiểu tại sao mình còn bước. Chính Người cũng đã tra tay vào “lưỡi cày” của sứ mạng và không ngoái lại. Từ Bêlem đến Nazareth, từ Nazareth đến những nẻo đường Galilê, từ Galilê đến Giêrusalem, từ phòng Tiệc Ly đến Ghếtsêmani, từ Ghếtsêmani đến dinh Philatô, từ dinh Philatô lên Canvê. Người biết phía trước có Thập Giá. Người đã từng run sợ đến đổ mồ hôi máu. Người đã cầu xin: “Nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người không ngoái lại. Người đi đến cùng. Không phải vì Người không cảm thấy đau, mà vì tình yêu của Người lớn hơn nỗi sợ. Không phải vì Thập Giá trở nên nhẹ, mà vì Người đã đặt ý Cha trên cả mạng sống mình. Cả cuộc đời Đức Giêsu là một lời giải thích cho câu: ai đã tra tay cầm cày thì đừng ngoái lại.
Có một điều rất cảm động: Chúa không trung thành với chúng ta vì chúng ta luôn trung thành với Người. Nếu vậy thì từ lâu Người đã bỏ chúng ta. Chúa trung thành vì Người là Đấng trung thành. Chính sự trung thành của Chúa là nền tảng cho sự trung thành của ta. Ta có thể quay lưng với Chúa, nhưng Người vẫn đứng đó. Ta có thể quên Người, Người không quên ta. Ta có thể thất hứa, Người vẫn giữ lời. Ta có thể bao lần bước ra khỏi nhà Cha, nhưng đèn nhà Cha vẫn sáng. Nếu hôm nay có ai đọc lời này mà thấy mình đã ngoái lại quá nhiều, đừng tuyệt vọng. Câu Tin Mừng không chỉ dành cho người chưa ngã; còn dành cho người đang muốn quay đầu trở lại. Chúa không nói: “Con đã ngoái lại rồi thì hết.” Chúa đang nói: “Từ bây giờ, hãy nhìn về phía trước.” Phêrô đã ngoái lại bằng ba lần chối Chúa, nhưng rồi vẫn trở thành đá tảng. Các môn đệ đã chạy trốn trong cuộc Thương Khó, nhưng rồi vẫn được sai đi. Trung thành Kitô giáo không phải là một đường thẳng không có vết ngã. Trung thành là mỗi lần ngã lại quay mặt về đúng hướng.
Có những người đang ở vào giai đoạn rất đặc biệt của ơn gọi: lý tưởng thuở đầu đã qua, còn thực tế hiện tại thì khô khan. Đây có khi là giai đoạn nguy hiểm, nhưng cũng có thể là giai đoạn đẹp nhất. Vì đây là lúc ta không còn yêu một giấc mơ về ơn gọi nữa, mà học yêu chính ơn gọi thật của mình. Ngày mới vào đời tu, ta yêu hình ảnh người tu sĩ. Sau nhiều năm, ta phải học yêu đời tu thật với những điều bất toàn. Ngày chịu chức, ta yêu lý tưởng linh mục. Sau nhiều năm, ta phải yêu chức linh mục thật với cô đơn, trách nhiệm, sự giới hạn, tuổi tác, bệnh tật. Ngày cưới, người ta yêu một hình ảnh rất đẹp về hôn nhân. Hai mươi năm sau, người ta phải học yêu người bạn đời thật, với nếp nhăn, bệnh tật, tính khí, những giới hạn chẳng bao giờ sửa hết. Tình yêu thuở đầu thường yêu một phần qua tưởng tượng. Tình yêu trưởng thành yêu cái thật. Và chỉ tình yêu đi qua thực tế mới trở thành tình yêu bền vững.
Có những thời điểm Chúa lấy đi khỏi ta cảm giác “được thưởng” trong ơn gọi. Ta làm điều tốt mà chẳng thấy vui. Ta cầu nguyện mà chẳng được an ủi. Ta sống tử tế mà vẫn gặp thiệt thòi. Ta trung thành mà chẳng thấy cuộc đời sáng hơn. Tại sao Chúa để thế? Có lẽ vì Chúa muốn thanh luyện câu hỏi: con theo Chúa vì điều gì? Vì được bình an hay vì Chúa là Chúa? Vì được kính trọng hay vì con yêu Chúa? Vì đời sống này làm con hạnh phúc hay vì con đã trao đời mình cho Người? Tình yêu tinh ròng chỉ lộ ra khi những phần thưởng phụ bị lấy bớt. Một người mẹ chăm đứa con bệnh nhiều năm không phải ngày nào cũng có cảm giác hạnh phúc, nhưng tình yêu của bà rất thật. Một người chồng chăm vợ sa sút trí nhớ có thể không nhận lại được một lời cảm ơn, nhưng sự ở lại của ông chính là tình yêu. Một linh mục già yếu vẫn cố gắng dâng lễ mỗi ngày dù chẳng còn ai vỗ tay, đó là trung thành. Một nữ tu âm thầm phục vụ trong bếp bốn mươi năm, chẳng xuất hiện trên sân khấu, chẳng có ai viết tiểu sử, nhưng mỗi ngày vẫn làm với lòng yêu mến, đó là một luống cày rất thẳng trước mặt Thiên Chúa.
Ngày nay người ta dễ thay đổi. Không thích công việc thì đổi. Không hợp môi trường thì đổi. Không vừa ý món đồ thì thay. Điện thoại cũ thì mua mới. Một ứng dụng không thuận tiện thì xóa. Tâm thức ấy đôi khi len vào cả những mối tương quan và ơn gọi. Thấy khó một chút là nghĩ chắc mình chọn sai. Thấy không vui là nghĩ phải đổi. Thấy người kia không như mong muốn là nghĩ phải tìm người khác. Nhưng đời người không phải một sản phẩm để dùng thử. Có những điều chỉ đẹp sau khi ta ở lại đủ lâu. Cây cổ thụ đẹp vì nó đứng ở một chỗ qua bao mùa mưa nắng. Một tình bạn đẹp vì đã đi qua hiểu lầm mà không bỏ nhau. Một cuộc hôn nhân đẹp vì hai người đã thấy những phần xấu xí nhất của nhau mà vẫn chọn ở lại. Một đời tu đẹp không phải vì chưa từng khủng hoảng, nhưng vì đã đi qua khủng hoảng mà lòng thuộc về Chúa sâu hơn. Một đời linh mục đẹp không phải vì chưa bao giờ cô đơn, nhưng vì giữa cô đơn vẫn không bỏ đoàn chiên.
“Đừng ngoái lại” cũng không có nghĩa là cố chịu mọi điều một cách mù quáng. Có những hoàn cảnh cần thay đổi. Có những lạm dụng phải lên tiếng. Có những bệnh lý cần chữa trị. Có những quyết định phải phân định lại. Trung thành không phải đồng nghĩa với cố chấp. Đức tin không đòi con người chịu đựng cái xấu để chứng minh mình đạo đức. Nhưng có một khác biệt giữa sự phân định trưởng thành và việc chạy trốn khó khăn. Phân định hỏi: Chúa muốn gì? Chạy trốn hỏi: làm sao để tôi đỡ khó chịu nhất? Phân định có thể dẫn đến thay đổi, nhưng thay đổi trong sự thật. Chạy trốn chỉ tìm một nơi dễ hơn, và rồi thường mang chính những vấn đề của mình sang nơi mới. Có người đổi cộng đoàn nhưng không đổi được cái tôi. Đổi công việc nhưng không đổi cách sống. Đổi người bên cạnh nhưng không đổi tính ích kỷ. Đổi chỗ ở nhưng không đổi nội tâm. Và rồi đi đâu cũng thấy vấn đề giống nhau. Đôi khi điều cần thay không phải con đường, mà là trái tim của người đang đi.
Những lúc muốn ngoái lại, hãy trở về với câu hỏi đầu tiên: Ai đã gọi tôi? Nếu chính Chúa gọi, thì Chúa không chỉ có mặt ở ngày bắt đầu. Người ở cả trong ngày hôm nay. Chúng ta thường nghĩ Chúa hiện diện rất rõ khi Người gọi, còn sau đó Người để ta tự đi. Không. Chúa gọi từng ngày. Mỗi sáng thức dậy là một tiếng gọi mới. “Hôm nay con có theo Thầy nữa không?” Không phải lời khấn ba mươi năm trước tự động làm ta trung thành hôm nay. Không phải lời hứa ngày cưới tự động giữ cuộc hôn nhân. Không phải ngày chịu chức bảo đảm một linh mục sống trọn đời. Mỗi ngày đều cần một tiếng “xin vâng” nhỏ. Có ngày tiếng xin vâng ấy hân hoan. Có ngày rất khô. Có ngày chỉ là đứng dậy khỏi giường và tiếp tục. Có ngày là không gửi đi một tin nhắn nóng giận. Có ngày là chịu khó nghe một người thêm năm phút. Có ngày là trở lại với giờ cầu nguyện đã bỏ bê. Có ngày là xin lỗi. Có ngày là tha thứ. Có ngày là không quyết định chuyện lớn khi mình đang kiệt sức. Trung thành lớn được làm bởi hàng ngàn sự trung thành nhỏ mà không ai nhìn thấy.
Có một quy luật rất đẹp trong đời thiêng liêng: đừng đưa ra những quyết định vĩnh viễn trong những ngày cảm xúc tạm thời quá tệ. Một ngày buồn không có nghĩa đời mình sai. Một tháng khô khan không có nghĩa ơn gọi đã chết. Một giai đoạn xung đột không có nghĩa mối tương quan phải kết thúc. Một lần thất bại không có nghĩa sứ mạng vô nghĩa. Khi mệt, hãy nghỉ. Khi đau, hãy tìm người đồng hành. Khi tối, hãy cầu nguyện bằng những lời rất đơn giản. Khi rối, đừng quyết vội. Có những đêm ta phải đi qua bằng lòng trung thành chứ không bằng sự hiểu biết. Và sáng hôm sau, nhiều điều nhìn lại sẽ khác.
Đời người rồi cũng ngắn. Cái ngày tưởng còn xa sẽ đến: ngày ta không còn đủ sức cầm cày nữa. Khi ấy điều làm ta bình an không phải là mình đã làm được bao nhiêu việc lớn, nhưng là mình đã không bỏ Đấng đã gọi mình. Có thể luống cày của ta không hoàn hảo. Có đoạn thẳng, có đoạn cong. Có chỗ đất mềm, có nơi toàn sỏi đá. Có những ngày ta cày rất đẹp, có những ngày chỉ lê được vài bước. Nhưng điều đáng quý là cuối cùng ta vẫn còn ở trên cánh đồng Chúa đã trao, tay vẫn trên cán cày, mắt vẫn hướng về Người. Khi ấy có lẽ Chúa chẳng hỏi ta đã được bao nhiêu người biết đến. Người chỉ hỏi: con có còn ở đây không? Và ta có thể thưa bằng tất cả sự nghèo khó: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây.”
Thật ra, trung thành đến cùng không phải là câu chuyện của người không tiếc gì. Đôi khi ta vẫn tiếc. Vẫn buồn. Vẫn tự hỏi. Vẫn có những “giá như”. Nhưng người trung thành không để những “giá như” cướp mất “xin vâng” của hôm nay. Quá khứ đã thuộc về lòng thương xót Chúa. Tương lai thuộc về sự quan phòng của Người. Điều duy nhất ta có thể dâng là hôm nay. Hôm nay con có nhìn về phía trước không? Hôm nay con có làm việc phải làm không? Hôm nay con có yêu người Chúa đặt bên cạnh không? Hôm nay con có giữ lời đã hứa không? Hôm nay con có tiếp tục bước sau Chúa không?
Ai đã tra tay cầm cày thì đừng ngoái lại. Không phải vì phía sau không có gì đáng nhớ, nhưng vì phía trước có Chúa. Không phải vì quá khứ toàn xấu, nhưng vì lời gọi của Thiên Chúa luôn ở phía trước. Không phải vì người môn đệ không được mệt, nhưng vì mệt có thể nghỉ mà đừng bỏ đường. Không phải vì ta không được khóc, nhưng khóc xong lại cầm lấy cán cày. Không phải vì ta không được chao đảo, nhưng giữa chao đảo vẫn biết mình thuộc về ai. Và có lẽ điều đẹp nhất của một đời người không phải là đã khởi đầu rực rỡ thế nào, mà là sau rất nhiều năm, sau bao nắng mưa, thất vọng, tổn thương, cám dỗ, cô đơn và những ngày tưởng chẳng còn gì nâng đỡ, người ấy vẫn có thể nói với Chúa bằng một tiếng rất nhỏ nhưng rất thật: “Lạy Chúa, con chưa đi đâu. Con vẫn ở đây. Đời con đã trao cho Chúa rồi. Có những ngày con bước không nổi, nhưng con không muốn quay lưng. Xin Chúa giữ mắt con nhìn về phía trước, giữ tay con trên cán cày, giữ trái tim con trong trái tim Chúa. Cho đến ngày luống cày cuối cùng khép lại, xin cho con được nghe Chúa nói: con đã mệt nhiều rồi, bây giờ hãy vào hưởng niềm vui của Chủ con.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – TẤT CẢ NHỮNG GÌ NGƯỜI TÔNG ĐỒ CẦN RAO GIẢNG
Tin Mừng: Mc 8,34-38
Có một cám dỗ rất âm thầm nhưng cũng rất dai dẳng trong đời sống của người rao giảng Tin Mừng, đó là muốn nói về một Đức Kitô dễ nghe, dễ chấp nhận, dễ làm người ta hài lòng, một Đức Kitô chữa lành nhưng không đòi hoán cải, một Đức Kitô ban bình an nhưng không nói đến từ bỏ, một Đức Kitô làm phép lạ nhưng không có đồi Canvê, một Đức Kitô đem lại niềm vui nhưng không có những lời làm người nghe phải nhức nhối, một Đức Kitô được trang hoàng bằng hoa nến nhưng không còn những chiếc đinh, những vết thương, những giọt máu và tiếng kêu khát trên thập giá. Người ta thích nghe về Chúa yêu thương, nhưng ít người muốn nghe tình yêu ấy đòi mình phải chết đi cho cái tôi. Người ta thích nghe về Chúa tha thứ, nhưng ít người muốn nghe rằng mình cũng phải tha thứ cho kẻ làm mình đau. Người ta thích nghe Chúa ban bình an, nhưng không muốn nghe rằng bình an của Chúa nhiều khi chỉ đến sau những cuộc chiến dữ dội với tham vọng, ích kỷ, tự ái và những quyến luyến đang thống trị lòng mình. Người ta thích nghe về thiên đàng, nhưng không muốn nghe tới con đường hẹp. Thích nghe về phục sinh, nhưng ngại nói đến thập giá. Thích nghe về vinh quang, nhưng muốn bỏ qua Canvê. Và vì thế, người rao giảng rất dễ bị cuốn vào một thứ Tin Mừng đã được làm cho êm tai, trong đó người ta vẫn nhắc tên Đức Giêsu nhưng dần dần không còn nhận ra dung mạo thật của Đức Giêsu nữa. Chính vào chỗ ấy, lời Chúa hôm nay vang lên dữ dội: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Chúa không vòng vo. Chúa không dùng lời đường mật để tuyển môn đệ. Chúa không hứa với người theo Chúa rằng từ nay đời họ sẽ bớt đau khổ, bớt nước mắt, bớt hiểu lầm, bớt cô đơn. Trái lại, ngay từ đầu Người nói đến từ bỏ, đến thập giá, đến mất mạng sống. Nghe như thể Người đang làm một việc trái ngược mọi quy luật quảng bá của trần gian. Người ta muốn thu hút đám đông thì phải nói điều dễ chịu. Đức Giêsu lại nói điều khó. Người ta muốn có nhiều người theo thì phải hứa những lợi ích. Đức Giêsu lại nói đến mất mát. Người ta muốn giữ người khác ở lại thì phải làm cho con đường thật dễ dàng. Đức Giêsu lại đặt cây thập giá ngay giữa lối đi. Nhưng chính ở đó, ta hiểu rằng Kitô giáo không phải là một sản phẩm để quảng bá, không phải là một ý thức hệ phải tìm mọi cách làm cho hấp dẫn, mà là một cuộc gặp gỡ với Đấng đã yêu con người đến cùng, và ai thực sự gặp Người sẽ phải quyết định: hoặc theo Người bằng cả cuộc đời, hoặc chỉ đứng từ xa mà ngưỡng mộ.
Người tông đồ không được phép che thập giá đi chỉ vì sợ người ta bỏ về. Nếu che thập giá, chúng ta có thể giữ được đám đông nhưng đánh mất Tin Mừng. Nếu chỉ nói những điều người ta thích nghe, có thể chúng ta được vỗ tay nhiều hơn nhưng chưa chắc đã đưa được một tâm hồn nào đến gần Đức Kitô hơn. Có những bài giảng làm người nghe vui nhưng không làm người nghe thay đổi. Có những lời nói khiến người ta xúc động vài phút nhưng chẳng đụng tới những góc tối sâu nhất của lương tâm. Có những cuộc loan báo Tin Mừng nói rất nhiều về ơn lành nhưng rất ít về hoán cải; nói rất nhiều về bình an nhưng rất ít về sự thật; nói rất nhiều về thành công nhưng hiếm khi nhắc đến trung thành; nói rất nhiều về Chúa có thể làm gì cho con người nhưng lại ít hỏi con người có dám trao gì cho Chúa. Và rồi ta dễ tạo nên những Kitô hữu chỉ tìm Chúa khi cần một điều gì đó, chỉ cầu nguyện khi gặp khó, chỉ sốt sắng khi mọi chuyện thuận lợi, nhưng hễ bước vào một mùa khô khan, một thất bại, một đau bệnh, một cuộc hiểu lầm, một lời cầu xin không được đáp theo ý mình thì đức tin lung lay. Bởi người ấy đã được giới thiệu với một Đức Kitô của phép lạ nhưng chưa được dẫn đến Đức Kitô chịu đóng đinh. Họ đã được nói nhiều về bàn tay Chúa ban ơn nhưng chưa học nhìn đôi tay Chúa bị đóng đinh. Họ biết Chúa có quyền làm bánh hóa nhiều, nhưng chưa hiểu vì sao Chúa có quyền xuống khỏi thập giá mà Người lại không xuống. Họ biết Chúa có thể chữa lành người bệnh, nhưng chưa hiểu rằng có lúc Người không cất đau khổ khỏi cuộc đời ta, mà ở lại với ta ngay giữa đau khổ ấy. Và chính vì vậy, điều người tông đồ cần rao giảng không phải là một phiên bản Đức Kitô được cắt gọt cho vừa với thị hiếu từng thời đại, mà là chính Đức Kitô, và là Đức Kitô chịu đóng đinh.
Thánh Phaolô đã từng nói một câu làm người rao giảng mọi thời phải giật mình: ngài không muốn biết gì ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Điều đó không có nghĩa là người Kitô hữu chỉ nhìn vào đau khổ, càng không phải là tôn thờ sự đau khổ. Kitô giáo không yêu thập giá vì thập giá đau, nhưng yêu Đấng ở trên thập giá. Kitô giáo không tìm đau khổ để chứng minh lòng đạo đức, nhưng khi đau khổ không thể tránh, người môn đệ học cách sống nó trong tình yêu. Thập giá không phải là một triết lý bi quan. Thập giá là nơi tình yêu được chứng minh bằng cái giá mà nó sẵn sàng trả. Nói “tôi yêu” thì dễ. Chịu thiệt vì người mình yêu mới khó. Nói “tôi trung thành” thì dễ. Trung thành khi bị hiểu lầm mới khó. Nói “tôi tha thứ” thì dễ. Cầu nguyện cho người đã làm mình rách nát mới khó. Nói “con thuộc về Chúa” thì dễ. Vẫn ở lại với Chúa khi Chúa im lặng mới khó. Và tất cả những điều ấy đều hội tụ nơi Đức Kitô chịu đóng đinh. Trên thập giá, Người không giảng một bài dài, nhưng chính thân xác Người trở thành bài giảng. Hai bàn tay bị đóng đinh giảng về một tình yêu không giữ lại. Trái tim bị đâm thâu giảng về một tình yêu mở ra đến tận cùng. Đầu đội vòng gai giảng về một quyền bính không thống trị. Những lời tha thứ cho kẻ đóng đinh mình giảng về lòng thương xót lớn hơn mọi thù hận. Sự im lặng trước những lời nhục mạ giảng về sức mạnh không cần trả đũa. Tiếng “Ta khát” giảng về một Thiên Chúa khát chính tình yêu của con người. Và lời “Thế là đã hoàn tất” giảng rằng tình yêu chỉ thật sự hoàn tất khi nó không giữ lại gì cho mình nữa.
Người tông đồ vì thế phải dẫn người ta đến trước thập giá. Không phải để làm họ sợ, nhưng để họ nhìn thấy sự thật. Trước thập giá, con người không còn có thể nói rằng Thiên Chúa không hiểu mình. Người bị phản bội đã có thể nhìn lên Đấng bị Giuđa bán bằng một nụ hôn. Người bị người thân bỏ rơi có thể nhìn lên Đấng mà các môn đệ thân tín chạy trốn. Người bị vu oan có thể nhìn lên Đấng bị kết án dù Philatô không tìm thấy tội. Người bị chế nhạo có thể nhìn lên Đấng bị mặc áo đỏ, đội vòng gai và bị người ta quỳ xuống nhạo làm vua. Người đang đau bệnh có thể nhìn một thân xác rách nát bởi roi đòn. Người đang cô đơn có thể nghe tiếng Đức Giêsu kêu lên trong bóng tối: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người đang hấp hối có thể phó mình với Chúa bằng chính lời cuối của Người: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Không có một góc tối nào của thân phận con người mà Đức Kitô chưa bước vào. Đó là điều người tông đồ phải rao giảng. Không phải một Thiên Chúa đứng trên trời nhìn xuống những giọt nước mắt của con người, nhưng một Thiên Chúa đã có nước mắt. Không phải một Thiên Chúa xa lạ với thân phận con người, nhưng một Thiên Chúa đã biết đói, biết khát, biết mệt, biết cô đơn, biết đau, biết bị ruồng bỏ và biết chết. Và bởi Người đã đi xuống tận đáy, nên không có đáy vực nào của đời người mà Người không thể gặp chúng ta ở đó.
Nhưng rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh còn nguy hiểm ở một chỗ khác: nếu rao giảng thật, người giảng cũng bị đặt dưới lời mình giảng. Không ai có thể đứng dưới chân thập giá lâu mà vẫn sống y như cũ. Không ai có thể nói về một Đức Kitô nghèo mà cứ say mê tiền bạc. Không ai có thể nói về Đức Kitô khiêm hạ mà lại khao khát được tôn vinh. Không ai có thể nói về Đức Kitô tha thứ mà cứ nuôi trong lòng một danh sách dài những người mình không thể bỏ qua. Không ai có thể nói về Đức Kitô vâng phục đến chết mà sống đời mình chỉ theo ý riêng. Không ai có thể nói về Đức Kitô phục vụ mà biến sứ vụ thành nơi tìm quyền lực. Người tông đồ không chỉ rao giảng thập giá bằng môi miệng; nếu muốn lời mình có sức nặng, người ấy phải để một phần thập giá đi vào đời mình. Có những bài giảng hay vì câu chữ. Có những bài giảng khác không hoa mỹ lắm nhưng người nghe vẫn bị đánh động, vì họ biết người nói đã trả giá cho điều mình nói. Một linh mục giảng về tha thứ sau khi chính mình vừa phải đi qua một cuộc hiểu lầm đau đớn sẽ nói khác. Một người mẹ nói với con về hy sinh sau bao năm thức khuya dậy sớm sẽ nói khác. Một tu sĩ nói về trung thành sau những năm tháng khô khan sẽ nói khác. Một người đang mang bệnh mà vẫn nói về lòng tín thác sẽ nói khác. Có những lời chỉ trở thành lời thật sau khi chúng đã đi qua nước mắt.
“Phải từ bỏ chính mình.” Chúa không nói trước hết phải từ bỏ người khác, từ bỏ thế gian, từ bỏ công việc này công việc kia. Người nói phải từ bỏ “chính mình”. Đây có lẽ là thập giá khó nhất. Bởi nhiều người có thể bỏ tiền, bỏ thời giờ, bỏ tiện nghi, nhưng rất khó bỏ cái tôi. Ta có thể làm việc bác ái mà vẫn nuôi cái tôi. Có thể phục vụ mà vẫn muốn được ghi nhận. Có thể sống trong nhà dòng mà vẫn bám chặt ý riêng. Có thể làm linh mục mà vẫn tìm uy tín cho mình. Có thể giảng về Chúa nhưng âm thầm muốn người ta nhớ đến người giảng hơn là nhớ đến Chúa. Có thể cầu nguyện mà vẫn muốn Thiên Chúa làm theo ý mình. Cái tôi tinh vi lắm. Nó có thể mặc áo đạo đức. Nó có thể núp dưới danh nghĩa nhiệt thành. Nó có thể dùng cả việc Chúa để xây ngai cho chính mình. Thế nên, con đường thập giá trước hết là con đường từ bỏ một cái tôi muốn làm trung tâm. Đức Kitô chịu đóng đinh trở thành trung tâm thì cái tôi phải lui xuống. Khi người tông đồ thật sự rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh, họ cũng đang tự nói với mình rằng: tôi không phải trung tâm, cộng đoàn không thuộc về tôi, đoàn chiên không thuộc về tôi, thành quả không phải của tôi, tiếng khen không phải điều tôi sống vì nó, và cả thất bại cũng không có quyền lấy đi bình an của tôi nếu tôi đã trung thành với điều Chúa trao.
“Vác thập giá mình mà theo.” Chúa nói “thập giá mình”, không phải thập giá người khác. Ta thường rất giỏi nhìn thập giá của người bên cạnh và thấy thập giá của họ nhẹ hơn. Ta nhìn một người rồi nghĩ: nếu tôi có hoàn cảnh như người ấy chắc tôi sẽ sống tốt hơn. Nếu tôi có sức khỏe như họ. Nếu tôi có gia đình như họ. Nếu tôi có cộng đoàn như họ. Nếu tôi có khả năng như họ. Nếu tôi không phải chịu những người khó tính này. Nếu tôi được đặt vào môi trường khác. Và đời ta có thể trôi qua trong vô số chữ “nếu”. Nhưng Đức Giêsu không nói: “Hãy chọn một thập giá vừa ý rồi theo Thầy.” Người nói: “vác thập giá mình.” Chính cuộc đời mình, chính giới hạn mình, chính những người Chúa đặt bên cạnh mình, chính trách nhiệm hôm nay, chính những điều không thể đổi, chính một vết thương còn đang nhức, có thể trở thành nơi ta theo Chúa. Thập giá không phải bao giờ cũng là những biến cố lớn lao. Nhiều thập giá rất nhỏ và rất đều đặn: một người phải chăm cha mẹ già mỗi ngày; một người vợ chịu đựng những khô khan trong đời sống gia đình mà vẫn giữ lòng trung tín; một người chồng âm thầm gánh nặng kinh tế nhưng không bỏ bê vợ con; một linh mục vẫn kiên nhẫn với những con người khó thương; một tu sĩ làm công việc nhỏ chẳng ai biết đến; một người bệnh phải chấp nhận ngày nào cũng sống cùng cơn đau. Những điều ấy không lên báo. Không ai vỗ tay. Không có tiếng nhạc cảm động đi kèm. Nhưng có thể đó lại là những nơi thập giá đang được vác thật nhất.
Người tông đồ cần nói điều ấy cho con người hôm nay, bởi thế giới đang dạy một điều gần như ngược lại: hãy tránh mọi khó chịu, hãy chọn điều có lợi nhất cho mình, hãy bỏ ngay điều gì làm mình không vui, hãy bảo vệ cái tôi bằng mọi giá, hãy cắt đứt những quan hệ khiến mình mệt, hãy tìm một cuộc sống ít trách nhiệm nhưng nhiều hưởng thụ. Dĩ nhiên có những hoàn cảnh độc hại cần phải rời bỏ, có những bất công phải chống lại, có những tổn thương phải được chữa lành. Kitô giáo không dạy con người chịu đựng cái ác một cách mù quáng. Nhưng bên cạnh đó cũng có một sự thật khác: không có tình yêu nào trưởng thành mà không phải chịu thiệt. Không có gia đình nào bền nếu mọi người chỉ ở lại khi còn cảm thấy dễ chịu. Không có đời tu nào đi tới cùng nếu chỉ sống bằng cảm xúc ban đầu. Không có linh mục nào trung thành nếu chỉ phục vụ khi được hiểu và được quý. Không có người môn đệ nào lớn lên nếu luôn tìm đường dễ. Có những điều không phải “độc hại”; nó chỉ đơn giản là khó. Có những con người không phải “không phù hợp”; họ chỉ làm ta phải học kiên nhẫn. Có những bổn phận không phải gánh nặng cần loại bỏ; chúng chỉ đòi ta trưởng thành. Và phân biệt được đâu là thập giá phải vác, đâu là cái ác phải tránh, đó cũng là một phần của khôn ngoan Kitô giáo.
“Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” Đây là nghịch lý chỉ hiểu được khi nhìn lên thập giá. Đức Giêsu mất tất cả mà lại cứu được tất cả. Người mất danh dự: bị coi như kẻ phạm thượng. Người mất tự do: bị trói và dẫn đi. Người mất y phục: bị lột trần. Người mất bạn hữu: hầu hết đã chạy trốn. Người mất máu, mất sức, rồi mất cả hơi thở. Không còn gì. Vậy mà từ sự trống không ấy, một nguồn sống mới tuôn ra cho nhân loại. Ta cứ nghĩ giữ cho mình thì sẽ còn. Tin Mừng lại bảo: có những thứ chỉ còn khi ta dám cho đi. Một cuộc đời chỉ lo giữ mình cuối cùng trở nên nghèo nàn. Một trái tim chỉ sợ bị tổn thương cuối cùng không còn biết yêu. Một người chỉ sống để bảo vệ lợi ích riêng có thể có nhiều thứ nhưng không chắc có niềm vui. Trái lại, có những con người đã tiêu hao đời mình cho người khác mà cuối cùng lại trở nên rất giàu. Giàu những gương mặt đã được yêu thương. Giàu những lời cầu nguyện của người nghèo. Giàu những điều tốt đẹp họ âm thầm gieo vào cuộc đời. Giàu một bình an không mua được bằng tiền. Và nhất là giàu chính Đức Kitô.
Rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh cũng có nghĩa là phải nói cho thế giới biết rằng thành công không phải tiêu chuẩn cuối cùng của đời người. Thế gian hỏi: anh đạt được gì? Tin Mừng hỏi: anh đã yêu thế nào? Thế gian hỏi: có bao nhiêu người biết đến anh? Tin Mừng hỏi: có bao nhiêu người đã được nâng dậy vì anh? Thế gian hỏi: anh thắng bao nhiêu cuộc? Tin Mừng hỏi: anh đã giữ lòng mình khỏi hận thù được bao nhiêu lần? Thế gian hỏi: anh có quyền lực gì? Tin Mừng hỏi: anh đã dùng quyền ấy để phục vụ ai? Thế gian nhìn thập giá và thấy một người thất bại. Thiên Chúa nhìn thập giá và thấy tình yêu đã hoàn tất. Có những người nhìn đời Đức Giêsu chiều Thứ Sáu Tuần Thánh và có thể kết luận: ba năm rao giảng, kết thúc bằng mười hai môn đệ mà một người phản bội, một người chối Thầy, số còn lại bỏ chạy; đám đông từng tung hô nay la “đóng đinh nó đi”; chẳng nhà cửa, chẳng tiền bạc, chẳng quân đội, chẳng chức vị. Nếu lấy tiêu chuẩn thế gian, đó là một thất bại thê thảm. Nhưng ba ngày sau, ngôi mộ mở ra. Thiên Chúa cho thấy có những thất bại chỉ là tên gọi tạm thời của một sự trung thành chưa được hiểu.
Người tông đồ cũng cần nhớ điều ấy cho chính mình. Có lúc rao giảng mà chẳng thấy ai thay đổi. Có lúc gieo hạt rất lâu mà đất vẫn im lìm. Có lúc nói sự thật rồi bị hiểu lầm. Có lúc trung thành mà bị thiệt thòi. Có lúc làm việc tốt mà người khác hưởng công. Có lúc cố gắng cả đời mà kết quả nhỏ bé. Nếu không nhìn Đức Kitô chịu đóng đinh, ta dễ nản. Ta dễ bắt đầu tính toán: phải chăng mình đã phí đời? Nhưng nếu nhìn Người, ta hiểu rằng điều Chúa đòi trước hết không phải thành công, mà là trung thành. Một người tông đồ không được cứu bởi bảng thống kê thành quả. Người ấy được hỏi mình đã sống điều được trao thế nào. Chúa có thể dùng một lời giảng ba mươi năm sau mới sinh hoa trái. Chúa có thể dùng một hy sinh chẳng ai biết để cứu một tâm hồn mà ta không bao giờ gặp. Chúa có thể dùng chính những thất bại làm lớp đất sâu nhất cho một mùa gặt ta không thấy. Đức Kitô chết mà không nhìn thấy bằng mắt trần những đoàn người từ muôn dân đang quỳ trước thập giá Người. Nhưng hạt lúa đã rơi xuống đất. Hạt lúa đã chết. Và đến hôm nay, mùa gặt vẫn chưa chấm dứt.
Có một điều đáng sợ hơn việc người ta không muốn nghe thập giá: đó là chính người rao giảng cũng không muốn sống thập giá. Ta có thể treo thánh giá lớn giữa nhà thờ mà âm thầm xây đời mình quanh sự tiện nghi. Có thể hôn thánh giá trong phụng vụ mà không chịu tha thứ cho một người. Có thể giảng say sưa về Chúa nghèo nhưng không chịu mất một quyền lợi nhỏ. Có thể nói về hy sinh nhưng luôn chọn phần dễ nhất. Có thể nói về phục vụ nhưng khó chịu khi không được cảm ơn. Thập giá khi ấy chỉ còn là đồ trang trí. Mà Đức Kitô không chết trên một món đồ trang trí. Người chết trên một dụng cụ hành hình. Thập giá của Chúa có máu thật, đau thật, nhục thật, cô đơn thật. Cho nên người tông đồ muốn rao giảng một thập giá có sức cứu độ thì phải để thập giá ấy chạm vào những chọn lựa rất thật của đời mình.
Có lẽ mỗi tối, người tông đồ nên đứng trước thập giá và hỏi: hôm nay tôi đã giữ lại điều gì cho mình mà Chúa muốn tôi trao? Hôm nay tôi đã tìm mình ở đâu? Tôi có dùng Tin Mừng để phục vụ Chúa hay dùng Chúa để phục vụ tham vọng của mình? Tôi có nói điều cần nói hay chỉ nói điều người ta thích nghe? Tôi có dám bảo vệ sự thật khi biết nó sẽ làm mình mất lòng ai đó? Tôi có giảng lòng thương xót mà trong lòng lại đang khép cửa với một người? Tôi có mời người khác vác thập giá trong khi chính mình luôn tránh né phần khó? Những câu hỏi ấy không dễ chịu, nhưng thập giá chưa bao giờ là một tấm gương để ta soi người khác. Trước hết nó là tấm gương soi chính ta.
Đức Kitô chịu đóng đinh là tất cả những gì người tông đồ cần rao giảng, bởi trong Người có đủ mọi điều nhân loại cần. Người tội lỗi nhìn lên đó và thấy lòng thương xót. Người kiêu ngạo nhìn lên đó và gặp sự khiêm nhường. Người tham quyền nhìn lên đó và thấy một vị Vua không ngai vàng ngoài cây gỗ. Người trả thù nhìn lên đó và nghe: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người tham lam nhìn lên đó và thấy một Con Người chết trần trụi, không giữ một thứ gì cho mình. Người tuyệt vọng nhìn lên đó và nghe lời hứa cho tên trộm cuối đời: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng.” Người cô đơn nhìn lên đó và thấy chính Chúa đã từng bị bỏ rơi. Người sợ chết nhìn lên đó và biết cái chết đã có người bước qua trước mình. Người không biết yêu là gì hãy nhìn lên đó: tình yêu là thế. Không phải cảm xúc. Không phải lời đẹp. Không phải hoa hồng. Tình yêu là đôi tay mở ra và không khép lại nữa. Tình yêu là ở lại khi có đủ lý do để bỏ đi. Tình yêu là tha thứ khi có đủ lý do để oán hận. Tình yêu là trao cho đến khi không còn gì để trao.
Và rồi người tông đồ không thể dừng bài giảng ở chiều Thứ Sáu. Đức Kitô chịu đóng đinh cũng chính là Đức Kitô phục sinh. Thập giá không phải dấu chấm hết. Nếu không có phục sinh, thập giá chỉ là bi kịch. Nhưng vì có phục sinh, thập giá trở thành cửa ngõ. Kitô giáo không nói rằng cứ đau khổ là tốt. Kitô giáo nói rằng không đau khổ nào được kết hợp với Đức Kitô lại vô nghĩa. Không giọt nước mắt nào trao cho Người bị phí mất. Không hy sinh nào vì tình yêu bị quên lãng. Không lần tha thứ nào là yếu đuối. Không sự trung thành nào là ngu dại. Không cái chết nào trong Chúa lại là tận cùng. Tất cả có thể đi qua thập giá để bước vào sự sống.
Thế nên, người rao giảng Tin Mừng đừng sợ thập giá làm người ta bỏ đi. Đức Giêsu ngày xưa cũng đã để những người không chấp nhận lời Người bỏ đi. Người không chạy theo để hạ thấp đòi hỏi. Người không đổi Tin Mừng để giữ số lượng. Tình yêu thật luôn tôn trọng tự do, nhưng cũng không nói dối. Chúng ta có thể diễn đạt Tin Mừng bằng ngôn ngữ mới, nhưng không được thay nội dung. Có thể tìm những cách mục vụ dịu dàng hơn, nhưng không được biến sự dịu dàng thành né tránh sự thật. Có thể đồng hành rất lâu với một người yếu đuối, nhưng đồng hành không có nghĩa là nói rằng con đường sai của họ là đúng. Đức Giêsu đầy lòng thương xót với người tội lỗi, nhưng Người vẫn nói: “Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Lòng thương xót không xóa thập giá. Lòng thương xót đưa người ta tới thập giá, nơi tội lỗi được tha không phải vì tội lỗi chẳng đáng kể, nhưng vì đã có Đấng trả một giá quá lớn cho nó.
Một thế giới thích dễ dàng lại càng cần nghe về thập giá. Một thế giới chạy theo cái tôi lại càng cần nhìn Đấng tự hủy. Một thế giới đầy bạo lực cần nghe lời tha thứ từ Canvê. Một thế giới nghiện thành công cần nhìn một Đấng bị xem như thất bại. Một thế giới muốn sở hữu cần nhìn đôi bàn tay trống không bị đóng vào gỗ. Một thế giới sợ đau cần biết rằng đau khổ không phải tiếng nói cuối cùng. Một thế giới đầy những con người đang tự hỏi mình có đáng được yêu không cần nghe câu trả lời từ một thân xác bị xé nát: “Con đáng để Ta yêu đến mức này.” Chúng ta còn phải rao giảng gì hơn?
Có thể một ngày nào đó người tông đồ không còn sức để nói nhiều. Tuổi già đến. Bệnh tật đến. Giọng nói yếu đi. Những hoạt động từng làm được nay không còn. Nhưng vẫn còn một bài giảng cuối cùng: chính cách người ấy mang thập giá đời mình. Một linh mục già chấp nhận yếu đuối trong bình an có thể giảng mạnh hơn cả những bài hùng biện thời trẻ. Một người bệnh đón nhận đau đớn mà không cay đắng có thể nói về Chúa cho cả gia đình. Một người bị xúc phạm mà không trả thù đang dựng cây thập giá giữa đời. Một người âm thầm chịu thiệt để giữ bình an đang làm cho Đức Kitô hiện diện. Rồi đến cuối cùng, khi đôi tay không còn làm được gì, đôi chân không còn đi được đâu, miệng không còn đủ sức nói, người môn đệ vẫn còn có thể trao một điều sau hết: trao chính mình. Và có lẽ đó là bài giảng đẹp nhất.
Xin cho những người được trao sứ mạng rao giảng đừng bao giờ xấu hổ về Đức Kitô chịu đóng đinh. Đừng làm thập giá nhẹ hơn để Tin Mừng dễ bán hơn. Đừng biến Chúa thành một người chuyên giải quyết những nhu cầu tức thời của con người. Đừng chỉ nói rằng Chúa sẽ cho chúng ta điều này điều kia. Hãy nói cho con người rằng điều lớn nhất Chúa ban chính là Chúa. Hãy dẫn họ đến với Người. Hãy giúp họ nhìn đôi tay bị đóng đinh ấy. Hãy để họ hiểu rằng theo Chúa không bảo đảm một đời không đau, nhưng bảo đảm rằng không nỗi đau nào phải đi qua một mình. Theo Chúa không bảo đảm ta sẽ thắng mọi cuộc theo nghĩa thế gian, nhưng bảo đảm rằng sự trung thành cuối cùng sẽ không bị chôn vùi. Theo Chúa không có nghĩa là giữ được mạng sống theo ý mình, nhưng là tìm được một sự sống mà thế gian không thể lấy đi.
Và trước khi nói điều ấy cho người khác, người tông đồ hãy nói cho chính mình. Mỗi sáng nhìn thập giá: hôm nay con theo ai? Mỗi khi bị hiểu lầm: con sẽ phản ứng như ai? Mỗi khi phải chọn giữa lợi ích và trung thành: con thuộc về ai? Mỗi khi tự ái bị thương: con có nhớ Đấng đã im lặng trước những lời nhục mạ? Mỗi khi thấy mình thiệt thòi: con có nhớ Đấng đã cho đi tất cả? Mỗi khi muốn bỏ cuộc: con có nhớ Người đã không xuống khỏi thập giá? “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Không có con đường tắt. Không có Tin Mừng nào khác. Không có Đức Kitô nào khác.
Cuối cùng, khi mọi lời đã nói hết, mọi sách đã khép lại, mọi bài giảng đã kết thúc, có lẽ chỉ còn một hình ảnh đủ để tóm cả Kitô giáo: một Người dang tay trên thập giá. Người dang tay như thể không còn muốn giữ gì nữa. Dang tay để ôm lấy kẻ đóng đinh mình. Dang tay giữa trời và đất để nối lại điều tội lỗi đã chia lìa. Dang tay cho người tốt lẫn kẻ xấu. Dang tay cho người tin lẫn người còn nghi ngờ. Dang tay cho người đã sống cả đời trong nhà Chúa và tên trộm chỉ kịp quay về trong những phút cuối. Đôi tay ấy đã mở ra và không khép lại nữa. Đó là Tin Mừng. Đó là điều Hội Thánh phải rao giảng. Đó là điều người tông đồ phải sống. Đó là điều một thế giới mệt mỏi vì tranh giành, ích kỷ, bạo lực và sợ hãi đang cần hơn bất cứ điều gì.
Nếu một ngày người tông đồ không còn biết phải giảng gì, hãy nhìn lên thập giá. Nếu không biết phải nói gì với người đau khổ, hãy dẫn họ đến thập giá. Nếu không biết làm sao để tha thứ, hãy quỳ dưới thập giá. Nếu không biết tình yêu là gì, hãy nhìn thập giá. Nếu hoang mang không biết quyền lực Kitô giáo phải mang khuôn mặt nào, hãy nhìn thập giá. Nếu thấy đời mình thất bại, hãy nhìn thập giá. Nếu thấy những hy sinh của mình chẳng ai biết, hãy nhìn thập giá. Nếu sợ phải mất mát khi theo Chúa, hãy nhìn thập giá. Và nếu một ngày phải chết, vẫn hãy nhìn thập giá. Bởi ở đó không chỉ có một Người đã chết. Ở đó có Đấng đã yêu ta đến tận cùng. Và một khi đã hiểu được điều ấy, người tông đồ sẽ nhận ra: mình chẳng cần sáng chế thêm một Tin Mừng nào. Chỉ cần rao giảng cho thật, sống cho thật và yêu cho thật Đức Kitô chịu đóng đinh. Thế là đủ. Đủ cho một bài giảng. Đủ cho một đời linh mục. Đủ cho một đời môn đệ. Đủ để cứu một thế giới.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG GIẢNG MỘT ĐỨC KITÔ KHÔNG CÓ THẬP GIÁ
Tin Mừng: Mt 16,21-23
Có lẽ một trong những câu chuyện đáng suy nghĩ nhất trong Tin Mừng là chuyện xảy ra ngay sau khi Phêrô vừa tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Chỉ ít phút trước, Phêrô được Chúa khen là người có phúc, bởi điều ông vừa tuyên xưng không phải do xác thịt hay máu huyết mặc khải, nhưng do Cha trên trời. Thế mà ngay sau đó, khi Đức Giêsu bắt đầu nói rõ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, phải bị các kỳ mục, thượng tế và kinh sư loại bỏ, phải bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại, thì chính Phêrô lại kéo Người ra một bên và trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Và Đức Giêsu quay lại nói với Phêrô một lời có lẽ nặng nhất mà một người môn đệ từng nghe từ Thầy mình: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Câu chuyện ấy không chỉ là chuyện của Phêrô cách đây hai ngàn năm. Đó là câu chuyện của Giáo Hội mọi thời. Đó là câu chuyện của từng người chúng ta. Bởi vì rất nhiều khi chúng ta muốn Đức Kitô, nhưng lại không muốn Thập Giá. Chúng ta muốn Chúa ban bình an, nhưng không muốn bước qua đau khổ. Chúng ta muốn Chúa cứu độ, nhưng không muốn nghe nói đến từ bỏ. Chúng ta muốn Tin Mừng của Phục Sinh, nhưng lại muốn bỏ qua chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Chúng ta muốn một Kitô giáo làm cho đời mình dễ chịu hơn, nhưng lại sợ một Kitô giáo đòi mình phải chết đi cho cái tôi. Chúng ta thích nghe rằng Chúa yêu ta, nhưng không thích nghe rằng chính vì yêu ta mà Người mời ta “từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”. Và nếu không cẩn thận, có lúc chính người rao giảng Tin Mừng cũng có thể rơi vào cám dỗ của Phêrô: rao giảng một Đức Kitô mà mình đã âm thầm tháo cây Thập Giá ra khỏi vai Người.
Phêrô không phải người xấu. Điều đáng nói là ông ngăn Chúa đi vào Thập Giá chính vì ông thương Chúa. Ông không muốn Thầy mình đau. Ông không muốn Đấng mà ông tin là Mêsia lại bị nhục nhã, bị loại trừ và bị giết chết. Theo cách nghĩ của Phêrô, Đấng Mêsia phải chiến thắng, phải được tôn vinh, phải làm những chuyện lớn lao, phải được dân chúng tung hô. Một Đấng Mêsia bị treo trên cây gỗ giữa hai tên tử tội là một hình ảnh không thể chấp nhận nổi. Điều ấy đi ngược tất cả những gì ông mong đợi. Và chính ở chỗ này, ta thấy một sự thật rất đáng sợ: người ta có thể yêu Chúa bằng một tình yêu chưa được thanh luyện; người ta có thể nhiệt thành với Chúa nhưng vẫn muốn Chúa đi theo đường của mình; người ta có thể đứng rất gần Chúa mà tư tưởng vẫn rất xa tư tưởng của Thiên Chúa. Phêrô muốn giữ Đức Giêsu khỏi Thập Giá, nhưng nếu Đức Giêsu không đi tới Thập Giá thì lấy gì cứu nhân loại? Nếu Chúa Giêsu nghe lời Phêrô, nếu Người tránh Giêrusalem, nếu Người không bước vào cuộc thương khó, nếu Người xuống khỏi cây Thập Giá theo lời thách thức của đám đông, thì có thể Người đã chứng minh được quyền năng theo kiểu thế gian, nhưng nhân loại vẫn còn ở lại trong tội lỗi của mình. Thế nên Chúa mới phản ứng mạnh đến như vậy. Bởi lời của Phêrô chạm đến chính cám dỗ mà Đức Giêsu từng đối diện trong hoang địa: hãy làm một Đấng Mêsia không cần đau khổ, hãy dùng quyền năng để cứu chính mình, hãy chọn con đường dễ hơn, hãy tránh cây Thập Giá. Nhưng Đức Giêsu biết rất rõ rằng tình yêu thật không tìm đường thoát thân. Tình yêu thật đi đến tận cùng. Tình yêu thật không hỏi: “Làm sao để tôi ít đau nhất?” mà hỏi: “Làm sao để người tôi yêu được sống?” Và vì thế Người đi tới Giêrusalem.
Cám dỗ muốn một Đức Kitô không có Thập Giá vẫn tồn tại trong Giáo Hội hôm nay dưới nhiều hình thức rất tinh tế. Có khi chúng ta rao giảng một Thiên Chúa chỉ biết ban ơn mà không bao giờ đòi con người hoán cải. Người ta tìm Chúa để được mạnh khỏe, để gia đình bình an, để công việc thuận lợi, để con cái thành đạt, để làm ăn phát đạt, để tránh tai họa. Những lời cầu xin ấy tự nó không sai. Chúa dạy chúng ta xin Cha trên trời ban bánh hằng ngày. Đức Giêsu cũng đã chữa lành người bệnh, cho kẻ đói ăn, làm cho người chết sống lại. Nhưng Kitô giáo sẽ trở thành méo mó nếu người ta bắt đầu nghĩ rằng tin Chúa có nghĩa là từ nay mọi chuyện sẽ thuận buồm xuôi gió. Không. Đức tin không phải một thứ bùa hộ mệnh bảo đảm rằng người tin sẽ không mắc bệnh, không thất bại, không bị phản bội, không mất người thân, không gặp những đêm tối. Những người thánh thiện nhất cũng đã khóc. Các Tông đồ hầu hết đều đi đến cái chết vì Tin Mừng. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá của chính Con mình. Thánh Phaolô từng bị đánh đòn, ném đá, tù đày, đói khát, lênh đênh trên biển. Các vị tử đạo không được Thiên Chúa cứu khỏi lưỡi gươm; nhưng Thiên Chúa cứu họ ngay giữa lưỡi gươm bằng cách làm cho họ không đánh mất đức tin. Kitô giáo không hứa với chúng ta một cuộc đời không có Thập Giá. Kitô giáo cho chúng ta một Đấng ở cùng ta trên Thập Giá.
Có lúc người giảng Tin Mừng cũng bị cám dỗ chỉ nói những điều người ta muốn nghe. Nói về Chúa yêu thương thì dễ. Nói về lòng thương xót thì dễ. Nói về hy vọng thì dễ. Nhưng nói về từ bỏ mình, về tha thứ cho kẻ làm mình đau, về sống trung tín giữa một nền văn hóa dễ dãi, về khiết tịnh, về công bằng, về sự thật, về trách nhiệm, về hy sinh, về việc phải từ bỏ tội lỗi, thì khó hơn nhiều. Bởi những điều ấy đụng vào đời sống cụ thể. Người ta có thể vỗ tay khi nghe rằng “Thiên Chúa yêu bạn như bạn đang là”, nhưng sẽ không dễ chịu khi nghe thêm rằng chính vì yêu bạn, Thiên Chúa không muốn bạn ở mãi như bạn đang là. Người ta rất thích nghe rằng Thiên Chúa tha thứ, nhưng có thể khó chịu khi nghe rằng lòng thương xót không bao giờ là giấy phép để tiếp tục sống trong tội. Người ta thích nghe rằng Chúa đón nhận tất cả mọi người, nhưng lại không thích nghe rằng ai gặp Đức Kitô thật thì cuộc đời người ấy phải thay đổi. Dakêu gặp Chúa thì trả lại những gì mình đã chiếm đoạt. Người phụ nữ ngoại tình được Chúa tha, nhưng Người nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Phêrô được phục hồi sau khi chối Thầy, nhưng ông phải học yêu đến mức cuối đời cũng đi vào Thập Giá. Phaolô được lòng thương xót chạm tới trên đường Đamát, nhưng từ ngày ấy ông không còn sống cho mình nữa. Nếu Tin Mừng ta giảng chỉ an ủi mà không bao giờ lay động, chỉ xoa dịu mà không bao giờ mời gọi hoán cải, chỉ hứa hẹn mà không bao giờ đòi hỏi, có lẽ ta đang giảng một Tin Mừng đã được cắt mất cây Thập Giá.
Không ít người ngày nay muốn Chúa như một Đấng phục vụ những kế hoạch của mình. Ta có dự định rồi mới xin Chúa chúc lành. Ta đã quyết định rồi mới cầu nguyện xin Chúa đồng ý. Ta chọn con đường rồi mới xin Chúa đi theo. Nếu mọi chuyện thành công, ta nói Chúa thương. Nếu mọi chuyện thất bại, ta hỏi Chúa ở đâu. Nhưng người môn đệ thật không phải là người kéo Chúa đi theo ý mình. Người môn đệ là người bước “đằng sau” Chúa. Chính vì thế lời Chúa nói với Phêrô rất đáng chú ý: “Lui lại đằng sau Thầy.” Đức Giêsu không đuổi Phêrô đi. Người đưa Phêrô trở lại đúng vị trí của người môn đệ. Phêrô vừa bước lên phía trước để chỉ đường cho Thầy: “Thầy không được đi con đường đó.” Chúa bảo ông trở lại phía sau: “Anh là môn đệ. Hãy theo Ta. Đừng bắt Ta theo anh.” Đó cũng là lời Chúa dành cho mỗi chúng ta. Bao nhiêu đau khổ trong đời sống đức tin nảy sinh bởi chúng ta cứ muốn Chúa phải làm theo điều mình đã hình dung. Ta có một bức tranh về cuộc đời mình: phải khỏe mạnh thế này, phải thành công thế kia, gia đình phải thế nọ, con cái phải thế kia, đời tu phải thế này, cộng đoàn phải thế nọ. Và khi Chúa dẫn mình sang một con đường khác, ta phản ứng giống Phêrô: “Không thể như vậy được, lạy Chúa!” Có những người mất đức tin không phải vì Chúa bỏ họ, mà bởi vị Thiên Chúa thật không giống vị Thiên Chúa họ đã tưởng tượng. Họ tin một Thiên Chúa sẽ cất khỏi họ mọi đau khổ. Nhưng Thiên Chúa của Tin Mừng lại là Đấng bước vào đau khổ với họ. Họ tin một Thiên Chúa sẽ luôn làm mọi chuyện theo ý họ. Nhưng Thiên Chúa lại mời họ học câu của Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha.”
Thập Giá trước hết là Thập Giá của chính Đức Kitô. Chúng ta phải nói điều này thật rõ, bởi có khi người ta dùng chữ “thập giá” quá dễ dàng để hợp thức hóa mọi đau khổ. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến. Bạo lực gia đình không phải “thập giá Chúa gửi” để một người phải cam chịu vô hạn. Bất công không phải điều ta phải im lặng chấp nhận nhân danh đạo đức. Sự lạm dụng không phải ý Chúa. Tội lỗi của con người gây nên vô số đau khổ mà Chúa không muốn. Nhưng mầu nhiệm Thập Giá nói rằng ngay ở nơi sự dữ tưởng đã thắng, Thiên Chúa vẫn có thể làm phát sinh ơn cứu độ. Thập Giá không dạy ta yêu đau khổ. Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng run sợ trước chén đắng. Người không tìm đau khổ vì đau khổ. Người chấp nhận đau khổ vì trung thành với tình yêu. Đây là một phân biệt rất quan trọng. Kitô hữu không phải là người đi tìm đau khổ, nhưng là người không phản bội tình yêu chỉ để tránh đau khổ. Người mẹ thức trắng chăm đứa con bệnh không yêu sự mất ngủ; bà yêu con. Người cha làm lụng kiệt sức không yêu mồ hôi; ông yêu gia đình. Người linh mục ở lại với đoàn chiên trong những lúc khó khăn không yêu sự cô đơn; ngài yêu sứ mạng. Người vợ chăm chồng bệnh lâu năm không yêu bệnh tật; bà yêu người mình đã hứa sống trọn đời. Người tín hữu từ chối một món lợi bất chính không yêu sự thiệt thòi; họ yêu sự thật. Chính ở đó Thập Giá xuất hiện: không phải như sự tôn thờ đau khổ, nhưng như cái giá đôi khi phải trả để trung thành với điều mình yêu.
Một Đức Kitô không có Thập Giá rất dễ trở thành một Đức Kitô do con người chế tạo. Người ấy có thể đẹp, dễ nghe, dễ tiếp nhận, nhưng không phải Đức Giêsu của Tin Mừng. Đức Giêsu thật sinh ra trong máng cỏ, sống nghèo khó, chạm tới những người bị loại trừ, nói những lời không phải lúc nào cũng dễ nghe, bị chống đối vì sự thật, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị kết án bất công và chết trần truồng trên cây gỗ. Đức Giêsu thật không giấu các môn đệ điều ấy. Người không tuyển môn đệ bằng những lời hứa ngọt ngào. Người không nói: “Theo Thầy đi, cuộc đời anh sẽ dễ dàng.” Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Có một sự lương thiện rất đẹp trong lời mời gọi của Chúa. Chúa không lừa ai. Chúa không giấu giá phải trả. Nhưng Người cũng không chỉ cho thấy Thập Giá. Người nói đến ngày thứ ba sống lại. Tin Mừng hôm nay không dừng ở câu Đức Giêsu phải chịu nhiều đau khổ và bị giết chết. Người còn nói Người sẽ sống lại. Vấn đề là Phêrô dường như chỉ nghe thấy phần đau khổ mà không nghe phần Phục Sinh. Và có lẽ chúng ta cũng thường như vậy. Khi Thập Giá xuất hiện, ta hoảng sợ đến nỗi không còn nhớ rằng phía sau nó có một bình minh. Kitô giáo không dừng lại ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng cũng không nhảy từ Chúa Nhật Lễ Lá sang thẳng sáng Phục Sinh. Con đường đi tới ngôi mộ trống phải đi ngang qua Canvê.
Ngày hôm nay Giáo Hội cũng phải tự hỏi mình một câu rất đau nhưng rất cần thiết: chúng ta đang trình bày Đức Kitô nào cho thế giới? Một Đức Kitô của Tin Mừng hay một Đức Kitô đã được làm cho dễ chịu? Chúng ta có dám nói về Thập Giá giữa một xã hội chỉ nói về hưởng thụ không? Có dám nói về hy sinh trong một nền văn hóa đặt cái tôi ở trung tâm không? Có dám nói về chung thủy khi người ta ngày càng dễ bỏ cuộc không? Có dám nói về tha thứ trong một thời đại chỉ một lời xúc phạm trên mạng cũng đủ làm người ta thù nhau nhiều năm không? Có dám nói về nghèo khó Tin Mừng khi mọi giá trị dường như được đo bằng tiền không? Có dám nói về khiêm nhường khi ai cũng muốn được nhìn thấy, được công nhận, được nổi tiếng? Có dám nói về sự âm thầm khi cả thế giới muốn phô bày? Có dám nói về phục vụ khi ai cũng muốn được phục vụ? Có dám nói về sự thật khi sự thật có thể làm mình mất lợi ích? Nếu chúng ta không dám, có thể chúng ta vẫn còn nói về Đức Kitô, nhưng cây Thập Giá trong lời rao giảng đã trở thành một món trang trí hơn là trung tâm.
Ngay cả đời sống Giáo Hội cũng có thể mắc cám dỗ muốn thành công mà không qua Thập Giá. Chúng ta dễ bị ám ảnh bởi con số: bao nhiêu người tham dự, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu công trình, bao nhiêu chương trình. Những điều ấy có thể tốt và cần thiết. Nhưng Nước Thiên Chúa không được đo trước hết bằng tiếng vỗ tay. Đức Giêsu có lúc được hàng ngàn người theo, nhưng cuối cùng dưới chân Thập Giá chỉ còn một nhóm rất nhỏ. Nếu đánh giá theo tiêu chuẩn truyền thông, Thứ Sáu Tuần Thánh là một thất bại hoàn toàn. Vị lãnh đạo bị xử tử. Nhóm môn đệ tan rã. Một người phản bội, một người chối Thầy, nhiều người chạy trốn. Nhưng chính nơi thất bại ấy, ơn cứu độ được hoàn tất. Điều đó không có nghĩa Giáo Hội không cần làm việc tốt, không cần tổ chức tốt, không cần sử dụng phương tiện hiện đại. Nhưng Giáo Hội phải luôn nhớ rằng sức mạnh thật của mình không nằm ở hình ảnh bên ngoài mà ở mức độ giống Đức Kitô chịu đóng đinh. Một Giáo Hội có thể rất nổi tiếng mà không còn sức Tin Mừng. Một cộng đoàn có thể rất đông mà không có tình yêu. Một linh mục có thể được nhiều người biết mà trong lòng đã cạn cầu nguyện. Một người có thể nói rất hay về Chúa mà chưa từng để lời Chúa đóng đinh cái tôi của mình. Và ngược lại, một bà cụ âm thầm đọc kinh bên giường người chồng bệnh, một người mẹ không ai biết tên đang hy sinh từng ngày vì con, một tu sĩ âm thầm phục vụ người nghèo, một linh mục sống nơi xa xôi không ai nhắc đến, có thể đang rao giảng Đức Kitô mạnh hơn rất nhiều bài diễn văn.
Đừng giảng một Đức Kitô không có Thập Giá cũng có nghĩa là đừng biến đời linh mục, đời tu hay đời Kitô hữu thành một thứ nghề nghiệp tôn giáo. Khi mới bước vào ơn gọi, người ta có thể mang nhiều lý tưởng đẹp. Nhưng rồi thời gian sẽ bóc dần những lớp hào quang tưởng tượng. Đời tu có cộng đoàn khó sống. Đời linh mục có cô đơn. Việc mục vụ có hiểu lầm. Người mình phục vụ có khi không biết ơn. Những gì mình xây dựng có thể bị người khác phủ nhận. Sức khỏe yếu đi. Tuổi trẻ qua đi. Tiếng vỗ tay ít lại. Có lúc chính những người mình thương lại làm mình đau nhất. Và rồi câu hỏi xuất hiện: tôi theo Chúa vì điều gì? Nếu tôi chỉ theo Chúa vì cảm giác đẹp ban đầu, tôi sẽ thất vọng. Nếu tôi theo Chúa vì muốn được nhìn nhận, có ngày tôi sẽ cay đắng. Nếu tôi theo Chúa vì muốn thấy kết quả, có lúc tôi sẽ bỏ cuộc. Nhưng nếu đối tượng cuối cùng của lòng trí tôi là Đức Kitô chịu đóng đinh, tôi có thể tiếp tục ngay cả khi không còn gì để chứng minh. Bởi lúc ấy tôi hiểu rằng đời mình không phải để thành công cho mình, mà để thuộc về Người.
Thập Giá còn đi vào đời sống gia đình một cách rất thật. Người ta có thể đứng trước bàn thờ hứa yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời, nhưng chẳng ai biết trước “suốt đời” sẽ đòi giá nào. Khi còn trẻ, yêu nhau dường như dễ. Nhưng rồi có bệnh tật, khác biệt, áp lực kinh tế, con cái, những vết thương chưa được chữa lành, những lần thất vọng về nhau. Và lúc ấy tình yêu mới đi từ cảm xúc sang giao ước. Thập Giá xuất hiện không phải khi hai người hết yêu, nhưng đôi khi chính là lúc họ phải học yêu sâu hơn. Yêu khi người kia không còn dễ thương. Yêu khi phải xin lỗi dù mình vẫn còn tự ái. Yêu khi phải nhịn một lời để giữ bình an. Yêu khi phải chăm sóc một người không còn khả năng đáp lại. Yêu khi phải tha thứ nhưng vẫn phải cùng nhau sửa chữa những gì đã đổ vỡ. Không có thứ tình yêu trưởng thành nào mà không trải qua một dạng Thập Giá nào đó, bởi tình yêu thật luôn đòi con người bước ra khỏi cái tôi.
Thập Giá cũng có mặt trong việc tha thứ. Người ta nói về tha thứ rất dễ cho đến khi chính mình bị phản bội. Có những vết thương không thể chữa bằng vài lời đạo đức. Có người mang trong lòng một câu nói suốt hai mươi năm. Có người nhớ rõ từng chi tiết của một ngày họ bị xúc phạm. Có người mất niềm tin vì người mình tin nhất đã lừa dối mình. Và rồi Tin Mừng nói: hãy tha thứ. Không phải vì người làm ta đau đúng. Không phải vì chuyện xảy ra không nghiêm trọng. Tha thứ không phải phủ nhận công lý. Tha thứ không phải cho phép người khác tiếp tục làm hại mình. Nhưng tha thứ là từ chối để cái ác của người kia tiếp tục sống trong trái tim mình dưới hình thức hận thù. Đó là một Thập Giá. Và không ai có thể vác nổi nếu chỉ dựa vào sức mình. Phải nhìn lên Đức Kitô. Người bị đóng đinh vẫn nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi nhìn vào Người, ta hiểu rằng tha thứ không phải chuyện yếu đuối. Đó là một sức mạnh vượt quá sức con người.
Nhưng có một Thập Giá còn gần hơn tất cả: từ bỏ chính mình. Chúng ta thường tưởng Thập Giá là những biến cố lớn lao: bệnh nặng, mất mát, bách hại. Nhưng nhiều khi Thập Giá hằng ngày chỉ là chịu chết đi cho cái tôi của mình. Khi bị góp ý mà không vội tự vệ. Khi biết mình sai và dám nói xin lỗi. Khi có quyền nói nhưng chọn im lặng vì nói ra chỉ làm người khác đau. Khi có thể trả đũa nhưng quyết định không trả đũa. Khi làm một việc tốt mà không cần ai biết. Khi nhường chỗ cho người khác được tỏa sáng. Khi tiếp tục phục vụ dù không được ghi nhận. Khi trung thành cầu nguyện giữa lúc khô khan. Khi làm bổn phận ngay cả lúc không còn cảm hứng. Những cái chết nhỏ ấy tạo nên người môn đệ. Và nhiều khi chúng đau hơn những hy sinh lớn, bởi chúng chạm thẳng vào nơi ta quý nhất: cái tôi.
Ta cũng phải coi chừng một kiểu Kitô giáo chỉ tìm cảm giác dễ chịu. Có người chỉ cầu nguyện khi cảm thấy sốt sắng. Chỉ đi lễ khi bài giảng hợp ý. Chỉ phục vụ khi cộng đoàn vui. Chỉ ở lại khi người khác đối xử tốt. Chỉ tin khi lời cầu xin được đáp theo ý mình. Nhưng tình yêu nào sống được nếu chỉ dựa trên cảm giác? Đức tin nào trưởng thành nếu chỉ tồn tại lúc trời sáng? Thập Giá dạy ta một thứ trung tín sâu hơn cảm xúc. Đức Giêsu trên Thập Giá không cảm thấy an ủi. Người còn thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Nhưng chính trong bóng tối ấy Người vẫn ở lại. Có những lúc đức tin lớn nhất không phải cảm thấy Thiên Chúa gần, nhưng vẫn chọn Thiên Chúa khi ta không cảm thấy gì. Có những lời cầu nguyện đẹp nhất không phải là những phút xuất thần, nhưng chỉ là một câu rất nhỏ trong nước mắt: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn ở đây.”
Đừng giảng một Đức Kitô không có Thập Giá, bởi một Đức Kitô như thế không cứu được ai. Chỉ một tình yêu bị đâm thâu mới chạm tới những trái tim bị thương. Chỉ một Thiên Chúa từng khóc mới có thể bước vào nước mắt con người. Chỉ một Đấng từng bị phản bội mới có thể ngồi cạnh người bị phản bội. Chỉ một Đấng từng kêu lên trong cô đơn mới có thể hiểu những người đang trải qua đêm tối. Đức Kitô không đứng trên trời mà nói với người đau khổ: “Hãy cố gắng.” Người xuống tận nơi. Người mặc lấy thân phận con người. Người chịu đói, chịu khát, chịu mệt, chịu hiểu lầm, chịu phản bội, chịu nhục nhã, chịu chết. Vì thế khi một người mẹ đứng bên quan tài đứa con, ta không đưa cho bà một lý thuyết. Ta đưa bà đến với Đức Maria dưới chân Thập Giá. Khi một người hỏi vì sao Chúa im lặng trong đau khổ, ta không cần vội giải thích mọi sự. Ta chỉ có thể chỉ cho họ thấy một Đức Giêsu cũng từng bước vào sự im lặng ấy. Kitô giáo không có lời giải dễ dàng cho tất cả những đau khổ của thế giới. Kitô giáo có một cây Thập Giá. Và trên cây Thập Giá ấy, Thiên Chúa nói với nhân loại: “Ta không bỏ con một mình.”
Phêrô ngày hôm ấy không hiểu. Nhưng sau này ông sẽ hiểu. Người từng cản Thầy đi vào Thập Giá cuối cùng cũng sẽ đi theo Thầy đến Thập Giá. Đó là điều làm ta hy vọng. Chúa không loại bỏ Phêrô vì ông chưa hiểu. Chúa sửa ông, thanh luyện ông, dẫn ông từng bước. Phêrô còn ngã nhiều lần. Ông còn chối Chúa. Ông còn khóc. Nhưng cuối cùng con người sợ Thập Giá ấy lại có thể đón nhận chính Thập Giá cho mình. Ơn Chúa có thể làm điều đó trong chúng ta. Hôm nay ta có thể còn sợ hy sinh. Hôm nay ta có thể còn tính toán. Hôm nay ta có thể vẫn muốn theo Chúa theo điều kiện của mình. Nhưng nếu cứ ở lại với Người, cứ để Tin Mừng sửa mình, cứ nhìn lâu vào Đấng Chịu Đóng Đinh, trái tim ta sẽ dần thay đổi. Ta sẽ hiểu rằng Thập Giá không phải điều phá hủy tình yêu. Thập Giá là nơi tình yêu chứng minh rằng nó là thật.
Có lẽ điều Giáo Hội cần nhất hôm nay không phải là những người nói về Đức Kitô thật nhiều, nhưng là những người đã để Đức Kitô chịu đóng đinh ghi dấu trên đời mình. Thế giới đã nghe quá nhiều lời. Người ta muốn thấy một Tin Mừng có thịt có da. Người ta muốn thấy một linh mục biết cúi xuống. Một tu sĩ không tìm đặc quyền. Một người Công giáo làm ăn trung thực dù thiệt thòi. Một gia đình biết tha thứ. Một người có quyền nhưng không áp chế. Một người bị xúc phạm nhưng không trả thù. Một người đang đau khổ mà vẫn không đánh mất lòng nhân hậu. Khi ấy người ta sẽ hỏi: sức mạnh nào làm người này sống như vậy? Và chúng ta có thể chỉ lên cây Thập Giá.
Đừng bao giờ tháo Thập Giá khỏi Đức Kitô để làm cho Người dễ được chấp nhận hơn. Một Đức Kitô không Thập Giá có thể được nhiều người hoan nghênh, nhưng Người không còn là Đức Kitô của Tin Mừng. Đừng tháo Thập Giá khỏi đời Kitô hữu để hứa với người ta một con đường dễ dàng. Chúa chưa bao giờ hứa điều đó. Người chỉ hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Và như vậy đã đủ. Bởi điều làm Thập Giá có thể mang được không phải là nó nhẹ, nhưng là chúng ta không mang nó một mình.
Xin cho mỗi người chúng ta, nhất là những ai có trách nhiệm rao giảng, đừng bao giờ vì muốn được lòng người mà làm nhẹ đi đòi hỏi của Tin Mừng. Xin cho chúng ta biết nói về lòng thương xót nhưng cũng nói về hoán cải; nói về Phục Sinh nhưng không giấu Thứ Sáu Tuần Thánh; nói về ân sủng nhưng cũng nói về trách nhiệm; nói về tình yêu nhưng cũng nói về cái giá của tình yêu. Và trên hết, xin cho lời ta giảng được chứng thực bởi đời ta sống. Bởi bài giảng hay nhất về Thập Giá cuối cùng không nằm trên môi người giảng, mà nằm trong cách họ chịu đựng, tha thứ, phục vụ và trung thành.
Ngày nào ta còn muốn một Đức Kitô mà không có Thập Giá, ngày ấy ta vẫn giống Phêrô đứng chắn đường Thầy. Ngày nào ta dám lui lại phía sau Người, để Người dẫn đi, ngày ấy ta bắt đầu thật sự trở thành môn đệ. Và có thể con đường trước mặt sẽ không dễ. Có thể có Giêrusalem. Có thể có vườn Cây Dầu. Có thể có Canvê. Nhưng cũng sẽ có buổi sáng ngày thứ ba.
Vì thế, đừng sợ giảng Đức Kitô chịu đóng đinh. Đừng sợ sống Đức Kitô chịu đóng đinh. Đừng sợ mang trên mình những dấu tích của một tình yêu biết hy sinh. Bởi sau cùng, thế giới không được cứu bởi những người biết tránh mọi Thập Giá. Thế giới được cứu bởi Một Người đã dang tay trên Thập Giá và không rút tay lại.
Và người môn đệ của Người cũng vậy.
Lm. Anmai, CSsR

CÓ THỂ TIN CHÚA MÀ VẪN SỢ THẬP GIÁ
Tin Mừng: Mt 16,21-25
Có một điều rất lạ trong đời sống đức tin mà nhiều khi chúng ta không muốn nhìn nhận: người ta có thể tin Chúa thật, yêu Chúa thật, đi theo Chúa nhiều năm, cầu nguyện mỗi ngày, tham dự Thánh lễ đều đặn, làm bao nhiêu việc đạo đức, thậm chí dành cả cuộc đời để phục vụ Chúa, mà trong một góc rất sâu của lòng mình vẫn sợ Thập Giá. Sợ không phải vì không tin Chúa, nhưng bởi vì ta muốn tin một Thiên Chúa đi theo con đường mà ta đã vạch sẵn cho Người. Ta tin Chúa quyền năng, nhưng lại mong quyền năng ấy phải giúp ta tránh đau khổ. Ta tin Chúa yêu thương, nhưng lại nghĩ tình yêu ấy phải giữ cho đời ta khỏi mất mát. Ta tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Độ, nhưng lại mong Người cứu ta bằng cách cất khỏi đời ta mọi điều làm ta đau. Và vì thế, câu chuyện của Phêrô trong Tin Mừng hôm nay không phải là chuyện của một con người yếu đức tin. Trái lại, nó xảy ra ngay sau một trong những giây phút đẹp nhất của đời ông, khi ông vừa tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Phêrô nói đúng. Ông nhận ra căn tính của Đức Giêsu. Ông đã đi xa hơn đám đông. Người ta bảo Đức Giêsu là Gioan Tẩy Giả, là Êlia, là Giêrêmia hay một ngôn sứ nào đó, còn Phêrô thì đi thẳng tới điều cốt lõi: Thầy là Đấng Kitô. Một lời tuyên xưng tuyệt đẹp. Một lời tuyên xưng đã làm Đức Giêsu nói rằng điều ấy không phải do phàm nhân mặc khải cho ông, nhưng do Cha trên trời. Thế nhưng chỉ ít phút sau, chính con người vừa được Chúa khen lại bị Chúa nói một câu vô cùng nặng: “Satan, lui lại đằng sau Thầy!” Tại sao? Không phải vì Phêrô không tin Đức Giêsu. Phêrô tin. Nhưng Phêrô tin Đức Kitô mà chưa chấp nhận con đường của Đức Kitô. Phêrô muốn Đấng Mêsia nhưng không muốn Thập Giá. Ông muốn vinh quang nhưng không muốn con đường đi qua khổ nạn. Ông muốn Nước Thiên Chúa nhưng chưa hiểu rằng ngai của Vua Giêsu sẽ là cây gỗ, vương miện của Người sẽ là vòng gai, áo hoàng bào của Người sẽ là thân thể đầy thương tích, và giờ đăng quang của Người sẽ là giờ Người bị treo giữa trời và đất như một tử tội. Phêrô không bỏ Chúa. Ông chỉ muốn sửa đường cho Chúa. Và có lẽ đó mới là cám dỗ tinh tế nhất trong đời sống đức tin của chúng ta: không phải bỏ Chúa, nhưng giữ Chúa lại và nói với Chúa rằng: “Xin Chúa đừng đi con đường ấy. Xin Chúa chọn một con đường khác. Xin Chúa cứ là Chúa, nhưng xin Chúa làm theo cách con nghĩ.”
Đức Giêsu bắt đầu nói rõ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Tin Mừng dùng một chữ đáng suy nghĩ: Người phải đi Giêrusalem. Không phải cái “phải” của một định mệnh nghiệt ngã. Không phải Thiên Chúa Cha thích nhìn Con mình đau khổ. Không phải đau khổ tự nó có giá trị đến độ Thiên Chúa muốn con người đau khổ. Cái “phải” này là cái phải của tình yêu trung thành đến cùng. Khi đã yêu con người đến tận cùng, Đức Giêsu không thể dừng lại nửa đường. Khi tội lỗi con người dựng lên bức tường của bạo lực, hận thù, ích kỷ, phản bội và sự chết, tình yêu của Thiên Chúa không quay đầu. Người đi xuyên qua tất cả. Người không cứu thế giới bằng một màn trình diễn quyền lực khiến mọi người phải quỳ xuống vì sợ hãi. Người cứu thế giới bằng tình yêu tự hiến. Và tình yêu tự hiến, khi đi vào một thế giới ích kỷ, tất nhiên sẽ bị thương. Ánh sáng đi vào bóng tối sẽ bị bóng tối chống lại. Sự thật đi vào một thế giới quen với gian dối sẽ bị loại trừ. Lòng thương xót đi vào một xã hội thích kết án sẽ bị xem là yếu đuối. Một Thiên Chúa quỳ xuống rửa chân sẽ làm thất vọng những ai đang mơ một vị vua cưỡi chiến mã. Một Thiên Chúa để người ta đóng đinh sẽ làm hụt hẫng những ai nghĩ quyền năng là không bao giờ được phép yếu thế. Phêrô không chịu nổi viễn tượng ấy. Ông kéo Đức Giêsu ra riêng và trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nghe thật thương. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, lời Phêrô là một lời đầy tình cảm. Ai yêu một người mà lại muốn người ấy đau khổ? Ai nghe người mình yêu báo trước rằng mình sắp bị giết mà không tìm cách ngăn cản? Phêrô yêu Thầy. Chính vì yêu Thầy nên ông không muốn Thầy chết. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ tình yêu của Phêrô lúc ấy vẫn còn pha lẫn một thứ tình yêu muốn giữ người mình yêu cho mình, muốn bảo vệ người mình yêu khỏi con đường mà Thiên Chúa muốn họ đi. Ông yêu Đức Giêsu, nhưng chưa yêu ý muốn của Chúa Cha nơi Đức Giêsu. Ông yêu Thầy, nhưng chưa hiểu sứ mạng của Thầy. Ông muốn giữ Thầy sống cho mình và cho nhóm mình, trong khi Đức Giêsu phải trao mạng sống cho muôn người. Có những lúc chúng ta cũng yêu Chúa như Phêrô: “Lạy Chúa, con yêu Chúa, nhưng xin đừng đụng vào chỗ này của đời con. Con sẽ theo Chúa, nhưng xin đừng yêu cầu con tha thứ người ấy. Con sẽ phục vụ Chúa, nhưng xin đừng để con bị hiểu lầm. Con sẵn lòng dâng cho Chúa nhiều điều, nhưng xin đừng lấy khỏi con người này, vị trí này, danh dự này, sức khỏe này, kế hoạch này. Con tin Chúa, nhưng xin Chúa đừng dẫn con qua thung lũng ấy.” Ta không từ chối Đức Kitô. Ta chỉ từ chối Thập Giá của Đức Kitô. Nhưng Đức Kitô không thể bị tách khỏi Thập Giá. Tách Đức Kitô khỏi Thập Giá, cuối cùng ta sẽ chỉ còn một Đức Kitô do mình tưởng tượng ra, một Đức Kitô phục vụ nhu cầu của mình, chứ không còn là Đức Giêsu của Tin Mừng.
Điều đáng sợ trong câu chuyện này là Đức Giêsu gọi tư tưởng của Phêrô là cám dỗ của Satan. Vì sao nặng như thế? Bởi đó chính là cơn cám dỗ Đức Giêsu đã gặp trong hoang địa: hãy là Con Thiên Chúa nhưng đừng đi con đường tự hạ; hãy dùng quyền năng cho bản thân; hãy chứng minh mình; hãy có vinh quang mà không cần Thập Giá. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy biến đá thành bánh.” “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống.” “Tôi sẽ cho ông tất cả các nước thế gian nếu ông sấp mình thờ lạy tôi.” Đó luôn là một lời đề nghị nghe rất hợp lý: có thể làm điều lớn lao mà không cần hy sinh, có thể có vinh quang mà không cần từ bỏ, có thể cứu thế giới mà không cần đi qua Thập Giá. Đến chân Thập Giá, cám dỗ ấy lại vang lên: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Và điều kỳ lạ là Đức Giêsu có thể xuống. Người có quyền xuống. Nhưng Người không xuống. Không phải vì đinh giữ được Người trên cây gỗ. Chính tình yêu giữ Người lại. Nếu Người xuống để cứu mình, Người sẽ không cứu chúng ta theo cách Người đã chọn. Người có thể biểu lộ quyền năng bằng cách bước xuống, nhưng Người biểu lộ một quyền năng lớn hơn bằng cách ở lại: quyền năng trung tín của tình yêu. Vì thế, khi Phêrô nói “Xin đừng để chuyện ấy xảy ra”, ông vô tình lặp lại tiếng nói của cơn cám dỗ: hãy là Đức Kitô nhưng đừng chịu đóng đinh. Và Đức Giêsu phải trả lời dứt khoát: “Lui lại đằng sau Thầy!” Câu ấy còn có một ý nghĩa rất đẹp. Phêrô đã đi sai vị trí. Người môn đệ phải ở đằng sau Thầy. Nhưng lúc này Phêrô chạy lên trước và muốn chỉ đường cho Thầy. Chúa không đuổi Phêrô đi. Chúa đưa ông trở lại đúng chỗ: “Lui lại đằng sau Thầy.” Nghĩa là: Phêrô, con là môn đệ, hãy bước theo. Đừng bắt Thầy đi theo suy nghĩ của con. Đừng lấy tiêu chuẩn của con mà đo đường lối Thiên Chúa. Đừng đặt dự tính của con trước chương trình cứu độ. Hãy về lại phía sau. Hãy nhìn bước chân của Thầy. Thầy đi đâu, con đi đó. Và có lẽ đây cũng là lời Chúa cần nói với mỗi chúng ta rất nhiều lần trong đời: “Con hãy về lại phía sau Thầy.” Vì có những lúc ta cầu nguyện mà thật ra ta đang cố kéo Chúa theo ý mình. Ta nói “xin ý Cha thể hiện”, nhưng trong lòng đã chuẩn bị sẵn một bản kế hoạch rồi mong Chúa ký tên. Ta xin Chúa soi sáng, nhưng chỉ muốn nghe câu trả lời mình thích. Ta xin Chúa hướng dẫn, nhưng nếu Người dẫn qua một lối không hợp ý, ta lập tức hỏi: “Sao Chúa lại để thế?” Đức tin trưởng thành không phải là kéo Thiên Chúa vào chương trình của mình; đức tin trưởng thành là để mình bước vào chương trình của Thiên Chúa.
Rồi Đức Giêsu nói một câu không chỉ dành cho Phêrô mà cho tất cả những ai muốn theo Người: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Chúa không ép ai. Người nói: “Ai muốn.” Theo Chúa là một lựa chọn tự do. Nhưng một khi đã muốn theo, thì con đường đã rõ. Không có hai con đường song song, một con đường của Đức Giêsu và một con đường dễ hơn dành cho các môn đệ. Thầy đi con đường nào, trò cũng phải đi con đường ấy. “Từ bỏ chính mình” không có nghĩa ghét bản thân, khinh thường giá trị mình hay sống một đời buồn bã. Từ bỏ mình là từ bỏ cái tôi muốn biến mình thành trung tâm. Là thôi coi ý mình như chân lý cuối cùng. Là thôi nghĩ mọi người phải sống theo điều mình muốn. Là biết mất một phần quyền lợi để giữ tình yêu. Là có thể im tiếng khi một câu nói của mình chỉ làm người khác đau thêm. Là dám nhận sai. Là không nhất thiết phải thắng mọi cuộc tranh luận. Là tiếp tục làm điều thiện dù không ai biết ơn. Là trung thành với bổn phận ngay cả khi không còn cảm xúc. Là phục vụ khi không được nhìn nhận. Là tha thứ khi lòng còn đau. Là cầu nguyện khi chẳng thấy gì. Là ở lại khi bản năng muốn bỏ chạy. Từ bỏ mình không diễn ra một lần trong đời. Nó xảy ra trong hàng ngàn điều rất nhỏ. Người ta thường nghĩ Thập Giá là một tai họa lớn: bệnh nặng, thất bại, mất người thân, bách hại, tai nạn. Đúng, những điều ấy có thể trở thành Thập Giá. Nhưng Thập Giá thường bước vào đời ta trong những hình thức bình thường hơn nhiều: một người trong nhà khó hiểu mà ta phải yêu; một người cộng tác làm ta mệt nhưng vẫn phải đối xử tử tế; một căn bệnh kéo dài không ai nhìn thấy; một trách nhiệm cứ lặp lại mỗi ngày; một lời vu khống mình không thể giải thích; một công việc âm thầm chẳng ai cảm ơn; một tuổi già mất dần những khả năng từng làm mình tự hào; một lời xin lỗi mắc trong cổ họng mà mình phải nuốt tự ái xuống mới nói được; một ơn gọi đã qua thời lãng mạn và bước vào những ngày rất bình thường. Thập Giá nhiều khi không có dáng vẻ bi hùng. Nó chỉ là một ngày nữa phải trung thành.
Và chính ở đây chúng ta mới thấy một sự thật đau nhưng cần thiết: có thể chúng ta tin Chúa mà vẫn sợ Thập Giá. Ta tin Phục Sinh, nhưng lại muốn bỏ qua Thứ Sáu Tuần Thánh. Ta yêu ánh sáng sáng Chúa Nhật Phục Sinh, nhưng không muốn đi qua bóng tối của Vườn Cây Dầu. Ta thích Chúa hóa bánh ra nhiều nhưng khó chấp nhận Chúa bị bỏ rơi. Ta thích Chúa chữa người bệnh nhưng bối rối trước Chúa chịu đau. Ta thích Chúa làm cho Lazarô sống lại nhưng không hiểu tại sao Người lại để chính mình bị giết. Ta thích những trang Tin Mừng Chúa chiến thắng, nhưng thấy khó với những trang Tin Mừng Chúa im lặng trước Philatô, chịu tát mà không trả đũa, chịu đóng đinh mà vẫn tha thứ. Nhưng chính ở đó Thiên Chúa mặc khải khuôn mặt sâu nhất của Người. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ một Thiên Chúa yêu đến mức chấp nhận đi qua đau khổ để cứu người mình yêu. Có một khác biệt rất lớn. Đau khổ tự nó không làm con người nên thánh. Có những đau khổ làm người ta cay nghiệt. Có những đau khổ khiến người ta khép lòng. Có những đau khổ trở thành lý do để hận Chúa và hận đời. Điều làm Thập Giá trở thành con đường cứu độ không phải là nỗi đau, mà là tình yêu mang nỗi đau ấy. Hai người có thể chịu cùng một nghịch cảnh, nhưng một người chỉ mang gánh nặng, còn người kia mang Thập Giá. Gánh nặng là đau khổ mà ta chỉ nguyền rủa; Thập Giá là đau khổ được đặt vào bàn tay Chúa và được sống trong tình yêu. Chúa không bảo chúng ta đi tìm đau khổ. Đời đã có đủ đau khổ rồi. Chúa chỉ bảo rằng khi đau khổ đến trên con đường trung thành với điều thiện, đừng vì sợ đau mà bỏ tình yêu, bỏ sự thật, bỏ bổn phận, bỏ Chúa.
Biết bao nhiêu lần ta đã xuống khỏi “thập giá” của mình trước khi nó sinh hoa trái. Một cuộc hôn nhân gặp khó khăn, ta chỉ nghĩ đến chuyện người kia phải thay đổi trước. Một tình bạn bị tổn thương, ta quyết không mở lời vì “tại sao lúc nào cũng là tôi?” Một gia đình có cha mẹ già, anh chị em tính toán xem ai chăm nhiều, ai chăm ít. Một cộng đoàn có khác biệt, người ta tìm phe hợp với mình hơn là học cách yêu người không hợp mình. Một người làm việc thiện nhưng không được ghi nhận, liền chán nản. Một người phục vụ Giáo Hội bị phê bình một câu, liền muốn buông mọi thứ. Có khi ta gọi đó là “bảo vệ bình an”, nhưng thật ra là bảo vệ cái tôi. Có khi ta gọi đó là “khôn ngoan”, nhưng sâu xa là sợ mất mình. Có khi ta nói “tôi không muốn chịu đựng nữa”, và có những trường hợp điều ấy hoàn toàn chính đáng nếu đang phải chịu bạo hành hay bất công cần được ngăn chặn; Kitô giáo không bao giờ bắt một nạn nhân ở lại để cho người khác tiếp tục làm hại mình. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp chẳng có bạo hành nào cả, chỉ có cái tôi bị chạm tới, và ta đã gọi sự khó chịu của mình là “thập giá quá sức”. Ta phải phân định cho đúng. Không phải mọi đau khổ đều là ý Chúa. Không phải mọi sự áp bức đều phải cam chịu. Đức Giêsu không dạy chúng ta dung túng sự dữ. Nhưng Người dạy rằng có một phần đau trong đời không thể loại bỏ nếu ta muốn yêu thật. Yêu một người thật sự sẽ có lúc phải chịu thiệt. Làm cha mẹ thật sự sẽ có những đêm mất ngủ. Làm mục tử thật sự sẽ có những nỗi đau người khác không biết. Trung thành với lương tâm đôi lúc sẽ mất lợi ích. Nói sự thật có thể mất lòng. Tha thứ có thể đau hơn trả đũa. Không đáp lại một lời xúc phạm đôi khi khó hơn nói mười câu đáp trả. Chính những chỗ ấy là nơi Thập Giá mọc lên giữa đời thường.
Phêrô phải trải qua một hành trình rất dài mới hiểu được điều hôm nay Chúa nói. Ông sẽ còn tự tin tuyên bố: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” Nhưng khi Thập Giá đến gần thật, ông sợ. Chỉ một câu hỏi của cô đầy tớ cũng đủ làm ông chối Thầy. Chúng ta đừng vội cười Phêrô. Khi Thập Giá còn ở trong bài giảng, ai cũng can đảm. Khi Thập Giá còn là biểu tượng đẹp treo trên tường, ai cũng có thể hôn kính. Khi Thập Giá còn nằm trên dây chuyền đeo cổ, nó rất nhẹ. Nhưng khi cây Thập Giá trở thành một con người cụ thể làm mình tổn thương, một biến cố đảo lộn kế hoạch mình, một bệnh tật khiến tương lai mù mịt, một thất bại khiến mình mất mặt, một lời vu khống khiến mình đau, một trách nhiệm kéo dài không biết bao giờ mới hết, lúc đó ta mới biết mình tin đến đâu. Phêrô từng nói ông sẵn sàng chết. Vài giờ sau ông nói: “Tôi không biết người ấy.” Đó là khoảng cách giữa đức tin trên môi và đức tin đã đi qua lửa. Nhưng điều đẹp là câu chuyện Phêrô không dừng tại sân dinh thượng tế. Sau Phục Sinh, Chúa tìm lại ông. Chúa không nhắc ba lần chối. Chúa hỏi ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Và cuối cùng Chúa nói với ông chính lời đầu tiên: “Hãy theo Thầy.” Phêrô sau này sẽ hiểu Thập Giá không phải bằng sách vở, mà bằng cả đời mình. Ông sẽ từ một người kéo Chúa ra khỏi đường Thập Giá trở thành một người sẵn sàng đi vào con đường ấy vì Chúa. Đây là niềm hy vọng cho chúng ta: sợ Thập Giá không có nghĩa là ta hết hy vọng. Chúa có thể dạy ta từng bước. Chúa không đòi người mới đi theo Người phải lập tức có can đảm của các vị tử đạo. Người đào tạo lòng ta qua từng ngày, từng lần ngã, từng lần đứng dậy. Điều quan trọng là đừng biến nỗi sợ thành lý luận chống lại con đường của Chúa. Có thể ta run, nhưng vẫn bước. Có thể ta khóc, nhưng vẫn ở lại. Có thể ta chưa hiểu, nhưng vẫn tin. Có thể ta hỏi “Tại sao?”, nhưng bàn tay vẫn không buông tay Chúa. Đó đã là một đức tin rất thật.
Có khi chúng ta nghĩ người có đức tin mạnh sẽ không sợ. Không phải vậy. Đức Giêsu trong Vườn Cây Dầu đã “buồn đến chết được”. Người cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Điều ấy cho chúng ta thấy sợ đau không phải là tội. Rùng mình trước Thập Giá không phải là thiếu đức tin. Sự thánh thiện không nằm ở chỗ không cảm thấy đau, mà ở chỗ giữa nỗi đau vẫn có thể nói: “Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Có lẽ nhiều người đang tự trách mình vì đã khóc trong bệnh tật, vì đã hoảng sợ trước một kết quả xét nghiệm, vì đã thấy lòng mình chao đảo khi mất một người thân, vì đôi lúc quá mệt trong ơn gọi. Đừng tưởng nước mắt làm đức tin nhỏ đi. Đức Giêsu đã khóc. Đức Giêsu đã đổ mồ hôi máu. Trên Thập Giá, Người đã thốt lên lời đau đớn tận cùng. Đức tin Kitô giáo không biến con người thành đá. Nó không lấy khỏi chúng ta cảm xúc. Nó làm một điều lớn hơn: nó cho ta một Đấng để bám lấy giữa lúc mọi thứ khác rơi khỏi tay. Người mạnh trong đức tin không phải người không bao giờ sợ, nhưng là người trong cơn sợ vẫn biết mình phải chạy về đâu. Phêrô đi trên mặt nước, thấy gió mạnh thì sợ và chìm. Nhưng ông còn biết kêu: “Lạy Chúa, xin cứu con!” Và bàn tay Chúa nắm lấy ông. Đôi lúc đó là tất cả những gì đức tin của chúng ta còn làm được: “Lạy Chúa, cứu con.” Một lời ngắn, nhưng đủ giữ một con người khỏi chìm.
“Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được.” Đây là nghịch lý lớn của Tin Mừng. Càng giữ mình, cuối cùng càng mất mình. Càng chỉ lo bảo vệ danh dự, người ta càng trở thành tù nhân của dư luận. Càng cố giữ tiền của bằng mọi giá, người ta càng bị tiền của giữ lại. Càng đòi người khác phải yêu mình, người ta càng cô độc. Càng sợ mất quyền lực, người ta càng trở nên khắc nghiệt. Càng bảo vệ cái tôi, cái tôi càng nhỏ. Nhưng khi người ta dám trao chính mình vì tình yêu, họ lại tìm thấy mình. Một người mẹ mất bao năm cho con nhưng không vì thế mà đời bà nghèo đi; bà trở nên lớn trong tình yêu. Một người cha âm thầm hy sinh cả đời cho gia đình có thể chẳng có tên tuổi gì nhưng đời ông mang một trọng lượng không tiền bạc nào mua được. Một linh mục dành những năm đẹp nhất của đời mình cho những con người rồi sẽ quên mình không hề là một cuộc đời thất bại, nếu tất cả được trao trong tình yêu. Một người biết tha thứ tưởng như mình thua, nhưng thực ra đã thoát khỏi nhà tù của hận thù. Một người biết xin lỗi tưởng như mất mặt, nhưng thật ra đã tìm lại được phẩm giá. Một người chấp nhận lùi lại để người khác được lớn lên tưởng mình mất chỗ, nhưng lại có một chỗ sâu hơn trong trái tim của Thiên Chúa. Tin Mừng đảo ngược các tiêu chuẩn thế gian. Thế gian nói: giữ lấy. Đức Giêsu nói: trao đi. Thế gian nói: phải hơn người khác. Đức Giêsu nói: hãy trở nên người phục vụ. Thế gian nói: tránh mọi yếu đuối. Đức Giêsu nói: quyền năng của Thiên Chúa được biểu lộ trong tình yêu tự hiến. Thế gian nói: cứu mình trước. Đức Giêsu trên Thập Giá không cứu mình để cứu chúng ta.
Trong đời sống Kitô hữu, một nguy hiểm rất thật là chúng ta có thể dựng nên một Kitô giáo không có Thập Giá. Một Kitô giáo chỉ nói về thành công, chữa lành, bình an, phúc lành, thuận lợi, chiến thắng; những điều ấy đều có chỗ của chúng, vì Thiên Chúa là Đấng chữa lành, ban bình an và chúc phúc. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta đã không còn rao giảng toàn bộ Tin Mừng. Đức Giêsu không hứa rằng ai theo Người sẽ không còn bệnh. Người không hứa gia đình của môn đệ sẽ chẳng bao giờ có nước mắt. Người không hứa người công chính sẽ luôn thành công. Người không hứa người phục vụ sẽ luôn được hiểu. Người nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo.” Thế nhưng điều làm Tin Mừng trở thành Tin Mừng không phải vì có Thập Giá, mà vì Thập Giá không phải là chữ cuối. Chúa nói Người sẽ chịu đau khổ, bị giết và ngày thứ ba sống lại. Phêrô chỉ nghe tới phần chết nên hoảng sợ. Có lẽ ta cũng vậy. Ta nhìn vào một biến cố đau buồn và tưởng đó là toàn bộ câu chuyện. Ta nhìn một cánh cửa đóng và tưởng Chúa đã hết đường. Ta nhìn nấm mồ và tưởng mọi sự kết thúc. Nhưng Thiên Chúa luôn viết thêm “ngày thứ ba”. Có những “ngày thứ ba” đến nhanh. Có những “ngày thứ ba” phải chờ rất lâu. Có những điều chỉ đến đời sau ta mới hiểu. Nhưng đức tin Phục Sinh không phải lời hứa rằng mọi vấn đề ở đời này sẽ kết thúc theo cách ta muốn; đó là xác tín rằng tình yêu trung tín với Thiên Chúa không bao giờ là vô ích. Không giọt nước mắt nào dâng cho Người bị mất. Không hy sinh âm thầm nào bị quên. Không lần tha thứ nào là vô nghĩa. Không lời cầu nguyện nào rơi xuống khoảng không. Không cuộc đời trung thành nào kết thúc trong hư vô. Nếu cùng chết với Đức Kitô, ta sẽ cùng sống với Người.
Có một điều đáng suy nghĩ nữa: Phêrô đã tuyên xưng đúng tín điều nhưng chưa sống được mầu nhiệm mình vừa tuyên xưng. Điều đó cảnh tỉnh tất cả những người sống đạo lâu năm. Ta có thể nói rất đúng về Chúa mà chưa để Chúa thay đổi cái nhìn của mình. Ta thuộc kinh, hiểu giáo lý, đọc Kinh Thánh, có thể giảng rất hay về Thập Giá, nhưng đến khi Thập Giá chạm vào mình, ta vẫn phản ứng như một người chưa từng biết Chúa. Điều ấy không phải để chúng ta thất vọng, mà để khiêm tốn. Kiến thức về Thiên Chúa không đồng nghĩa với việc đã thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn. Có những điều đầu hiểu rất sớm nhưng trái tim phải mất cả đời mới học được. Ta biết phải tha thứ nhưng khi bị phản bội mới biết tha thứ khó đến mức nào. Ta biết phải phó thác nhưng khi bác sĩ nói một câu làm cả tương lai tối lại mới biết phó thác nặng đến đâu. Ta biết mọi sự rồi sẽ qua nhưng lúc đứng trước quan tài người mình thương, câu ấy không còn dễ nữa. Ta biết Chúa quan phòng nhưng khi công việc đổ vỡ, tiền bạc thiếu, gia đình bất an, lời “Chúa lo liệu” bỗng nặng như đá. Và chính ở những giờ như thế, đức tin từ lý thuyết bắt đầu trở thành thịt máu. Ta không còn nói về Thiên Chúa; ta phải sống với Thiên Chúa. Không còn nói về phó thác; ta phải phó thác. Không còn giảng về Thập Giá; ta phải đứng dưới Thập Giá. Đó là những giờ rất nghèo, nhưng cũng có thể là những giờ đời ta thật nhất.
Với những ai đã bước vào đời linh mục hay đời thánh hiến, lời Tin Mừng này lại càng sắc. Ngày đầu đáp tiếng Chúa thường rất đẹp. Có nhiệt huyết, lý tưởng, ước mơ, lời khấn, ngày chịu chức, những lời chúc, những bó hoa, những thánh lễ long trọng. Nhưng đời tận hiến không được đo ở ngày bắt đầu. Nó được đo ở những năm rất bình thường sau đó. Khi không còn ai vỗ tay. Khi bổn phận lặp đi lặp lại. Khi sức khỏe giảm. Khi một bài giảng chuẩn bị kỹ mà người ta chẳng nhớ. Khi phục vụ một cộng đoàn khó. Khi bị hiểu lầm mà không thể giải thích mọi chuyện. Khi thấy một người mình từng giúp lại quay lại nói xấu mình. Khi tuổi trẻ qua đi và nhận ra đời mình chẳng có những thành tựu lớn như từng mơ. Chính lúc ấy câu “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” trở nên thật. Ơn gọi không chỉ là ngày ta nói “xin vâng”; ơn gọi là việc nói lại tiếng “xin vâng” ấy trong ngàn ngày chẳng có gì lãng mạn. Có những người bỏ Chúa không phải vì hết tin mà vì đã mệt với Thập Giá. Không nhất thiết bỏ chức, bỏ dòng, bỏ đạo bên ngoài; người ta có thể vẫn ở đó nhưng trái tim đã rút lui. Vẫn làm việc nhưng không còn tình yêu. Vẫn cử hành nhưng lòng đã nguội. Vẫn phục vụ nhưng chỉ như hoàn thành nghĩa vụ. Đó cũng là một dạng chạy trốn Thập Giá. Chúa không chỉ cần bàn tay ta ở lại. Người cần trái tim ta ở lại. Và để trái tim ở lại, nhiều khi chúng ta phải trở về thật gần Đấng Chịu Đóng Đinh, bởi chỉ nhìn Người đủ lâu ta mới hiểu mình đã được yêu đến mức nào và tại sao đời mình đáng để trao đi.
Cũng có lúc Thập Giá của đời linh mục không phải việc nhiều, mà là sự cô đơn. Không phải khó nghèo vật chất, mà là cảm giác chẳng ai hiểu hết. Không phải chống đối bên ngoài, mà là những đêm tự hỏi mình đang làm gì với cuộc đời này. Những lúc ấy, nếu chỉ dựa vào lý tưởng ban đầu thì không đủ. Phải có một tương quan thật với Đức Kitô. Phải có khả năng ngồi trước Nhà Tạm mà không cần nói gì. Phải có lúc nhìn Thập Giá và nhận ra: Người hiểu. Người hiểu cảm giác bị bỏ rơi. Người hiểu việc trao đi mà không được đáp lại. Người hiểu lời cầu nguyện tưởng như không được nghe. Người hiểu thân phận của người vẫn phải yêu khi đang bị thương. Chúng ta không theo một Thiên Chúa đứng trên cao nói xuống: “Cố lên!” Chúng ta theo một Thiên Chúa đã đi trước trên chính con đường Người mời ta bước. Khi Chúa nói “vác thập giá mà theo”, chữ quan trọng không chỉ là “thập giá”, mà còn là chữ “theo”. Ta không vác một mình. Phía trước là dấu chân của Người. Đó là khác biệt giữa tuyệt vọng và đức tin. Cùng một nỗi đau, nhưng người có Đức Kitô biết mình không cô độc trong đó.
Với giáo dân cũng thế. Bao nhiêu Thập Giá đang được vác trong những ngôi nhà mà chẳng ai biết. Có người mẹ sống với một người chồng khô khan và vẫn giữ gia đình khỏi tan bằng bao nhiêu giọt nước mắt âm thầm. Có người chồng đi làm cả ngày, chịu bao nhiêu áp lực nhưng về nhà vẫn cố mỉm cười với con. Có người chăm cha mẹ già nhiều năm, ngày nào cũng những công việc chẳng ai thấy. Có gia đình có một đứa con làm họ đau lòng mà họ vẫn không bỏ cầu nguyện. Có người đã mất bạn đời, đêm nào căn nhà cũng im lặng đến nhức nhối nhưng sáng vẫn dậy đi lễ. Có người mang bệnh nhiều năm, không hỏi Chúa “bao giờ con khỏi” nữa mà chỉ xin: “Xin cho con hôm nay đừng làm khổ người khác vì bệnh của con.” Những người như thế có khi chẳng bao giờ đứng trên bục giảng, chẳng viết một cuốn sách thần học nào, nhưng họ hiểu Thập Giá hơn rất nhiều người nói hay về Thập Giá. Có một thứ thần học chỉ học được bằng nước mắt. Có một thứ hiểu biết về Thiên Chúa chỉ đến sau những đêm ta chẳng còn gì ngoài Người. Và chính trong những đời sống bình thường ấy, mầu nhiệm Vượt Qua đang tiếp tục diễn ra giữa thế giới.
Nhưng ta cũng phải cẩn thận đừng biến Thập Giá thành một thứ lý do để thần thánh hóa mọi đau khổ. Có những thập giá do ích kỷ người khác chất lên vai người yếu thế và chúng ta có bổn phận giúp họ tháo xuống. Đức Giêsu vác Thập Giá, nhưng Người cũng chữa bệnh, bênh vực người bị loại trừ, giải phóng người bị áp bức, lên án thói giả hình và bất công. Người môn đệ không được nói với một người đang bị bạo hành: “Cứ chịu đi, đó là thập giá.” Không. Có những hoàn cảnh cần phải ra khỏi, cần được bảo vệ, cần công lý can thiệp. Chúa không muốn sự dữ được kéo dài dưới danh nghĩa hy sinh. Thập Giá Kitô giáo là cái giá của tình yêu và sự trung thành với điều thiện, không phải sự đồng lõa với sự dữ. Đức Giêsu chịu chết vì Người trung thành với tình yêu, chứ không phải vì Người cho rằng bạo lực của những kẻ giết Người là đúng. Phân biệt điều ấy rất quan trọng. Ta không tìm đau khổ; ta tìm ý Chúa. Nếu làm điều đúng mà phải chịu đau, ta chấp nhận cái giá ấy. Nếu có thể giảm đau khổ cho người khác, ta phải làm. Simon thành Kyrênê giúp Chúa vác Thập Giá. Veronica lau mặt Chúa theo truyền thống đạo đức. Đức Maria đứng bên Chúa. Kitô giáo không chỉ dạy vác Thập Giá mình mà còn dạy cúi xuống làm nhẹ Thập Giá của anh em.
Có lẽ câu hỏi đáng sợ nhất không phải: “Tôi có tin Chúa không?” mà là: “Tôi đang tin một Đức Kitô nào?” Một Đức Kitô luôn làm theo điều tôi muốn? Một Đức Kitô chỉ có nhiệm vụ giải quyết những rắc rối của tôi? Một Đức Kitô tôi tìm đến khi cần và để sang bên khi mọi việc thuận lợi? Hay Đức Kitô thật, Đấng có quyền dẫn tôi vào những con đường tôi không chọn, nhưng cuối con đường ấy lại có sự sống tôi chưa từng hình dung? Phêrô đã phải để hình ảnh Đấng Mêsia trong đầu mình chết đi mới nhận được Đức Kitô thật. Chúng ta cũng vậy. Có những lúc trong đời Chúa để một hình ảnh sai của ta về Người sụp đổ. Ta từng nghĩ nếu mình sống tốt, sẽ chẳng gặp chuyện xấu. Rồi chuyện xấu xảy ra. Ta từng nghĩ nếu mình cầu nguyện, người thân chắc chắn sẽ khỏi bệnh. Nhưng họ không khỏi. Ta từng nghĩ nếu mình phục vụ Chúa, chắc sẽ được người ta thương. Nhưng có khi chính nơi phục vụ ta lại bị tổn thương nhiều nhất. Những lúc ấy có hai con đường: bỏ Chúa vì Người không giống hình ảnh ta đã dựng nên, hoặc để hình ảnh sai ấy chết đi và bắt đầu gặp Chúa như Người thật sự là. Đức tin trưởng thành thường được sinh ra từ đống đổ nát của những ảo tưởng đạo đức. Chúa không phải là một bảo hiểm chống đau khổ. Chúa là Đấng bước vào đau khổ với ta, biến nó từ nơi tuyệt vọng thành nơi có thể gặp Người, và cuối cùng dẫn ta qua cái chết đến sự sống.
Một ngày nào đó, hầu hết những thứ ta đang cố giữ sẽ phải buông. Tuổi trẻ sẽ qua. Sức khỏe sẽ giảm. Thành công sẽ trở thành chuyện cũ. Người ta rồi sẽ quên rất nhiều điều ta đã làm. Những thứ từng khiến ta mất ngủ sẽ trở nên nhỏ bé. Và cuối cùng, mỗi người phải đứng trước Thập Giá cuối cùng là cái chết. Khi đó lời Đức Giêsu “ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được” sẽ không còn là một câu suy niệm. Nó là sự thật tuyệt đối. Đời này vốn không thể giữ. Vấn đề không phải liệu ta có mất nó hay không; vấn đề là trước khi nó đi khỏi tay, ta đã trao nó cho ai và trao nó cho điều gì. Có người dùng cả đời giữ mình rồi cuối cùng vẫn phải buông. Có người dâng đời mình cho tình yêu, và khi phải buông lần cuối, họ nhận ra đời ấy đã được đặt vào tay Đấng không để điều gì mất đi. Cái chết của Kitô hữu vẫn là đau, vẫn có chia lìa, vẫn có nước mắt. Nhưng không phải rơi vào hư vô. Đó là đi qua một cánh cửa mà phía bên kia là Đấng Chịu Đóng Đinh đã Phục Sinh đang đợi.
Có thể hôm nay ai đó đang ở đúng chỗ của Phêrô: tin Chúa nhưng sợ điều Chúa đang cho phép xảy đến. Không cần giả vờ mạnh. Hãy nói thật với Người. “Lạy Chúa, con tin, nhưng con sợ. Con không muốn con đường này. Con không hiểu tại sao lại là con. Con không biết mình có đủ sức không.” Chúa không bị xúc phạm bởi lời cầu nguyện thật. Người biết lòng ta trước khi ta nói. Nhưng sau tất cả những câu ấy, xin thêm một câu: “Chỉ xin đừng để con bỏ Chúa.” Có khi ta chưa đủ sức nói “con vui lòng đón nhận”; chỉ cần nói “xin giữ con đừng chạy khỏi Chúa” đã là một lời cầu nguyện rất lớn. Có khi không cần cầu xin Thập Giá biến mất ngay, mà xin Chúa đứng bên cạnh. Có khi không cần biết cả con đường, chỉ xin ánh sáng cho bước hôm nay. Ơn Chúa thường không được ban trước một năm để ta cất dành; Người ban đủ cho hôm nay. Ngày mai có ơn của ngày mai. Nếu hôm nay chỉ đủ sức bước một bước, hãy bước một bước. Nếu chỉ đủ sức cầu một Kinh Lạy Cha, hãy cầu một Kinh Lạy Cha. Nếu chỉ đủ sức ngồi trước Chúa và khóc, hãy khóc trước Chúa. Đừng khinh những đức tin bé nhỏ như thế. Một sợi chỉ gắn ta với Chúa vẫn tốt hơn một sức mạnh lớn kéo ta ra khỏi Người.
Và rồi có thể một ngày nhìn lại, ta sẽ ngạc nhiên vì những Thập Giá từng khiến ta sợ nhất lại trở thành nơi ta biết Chúa sâu nhất. Không phải vì đau khổ tự nhiên trở thành đẹp. Vết thương vẫn là vết thương. Người đã mất vẫn là người ta nhớ. Điều bị lấy đi không vì năm tháng mà chưa từng có. Nhưng trong những nơi ấy, có một điều khác đã xảy ra: lòng ta rộng hơn, bớt kiêu ngạo hơn, bớt xét đoán hơn, biết thương người hơn. Người chưa từng đau thường dễ nói. Người đã đi qua lửa thường nói nhẹ hơn. Người từng được tha sẽ ít kết án. Người từng yếu sẽ dịu dàng với người yếu. Người từng đứng ở mép vực sẽ không chế giễu một người đang run. Thập Giá nếu được sống với Đức Kitô có thể làm điều kỳ lạ ấy: không chỉ thay đổi hoàn cảnh, mà thay đổi con người đang ở trong hoàn cảnh. Có những lời cầu xin Chúa không đáp bằng cách lấy chén đắng đi, nhưng bằng cách làm cho trái tim đủ lớn để uống chén ấy mà không mất tình yêu. Đó là một phép lạ âm thầm, và đôi khi còn lớn hơn việc hoàn cảnh được thay đổi.
Phêrô đã từng muốn ngăn Đức Giêsu lên Giêrusalem. Nhưng nếu hôm ấy Đức Giêsu nghe ông, sẽ không có Canvê, và nếu không có Canvê, sẽ không có ngôi mộ trống. Nếu không có Thứ Sáu Tuần Thánh, sẽ không có buổi sáng Phục Sinh. Có những lúc ta xin Chúa đóng một con đường vì tưởng phía trước chỉ có đau; nhưng Chúa nhìn thấy xa hơn chỗ ta nhìn. Điều ấy không có nghĩa mọi tai họa đều được Chúa chủ ý gửi đến. Nhưng nó có nghĩa không một tai họa nào lớn hơn khả năng cứu độ của Người. Người có thể lấy chính nơi sự dữ tưởng đã thắng để làm thành khởi điểm của một điều mới. Thập Giá là bằng chứng lớn nhất: con người giết Con Thiên Chúa, và Thiên Chúa biến chính nơi giết chóc ấy thành nguồn cứu độ. Nếu Người làm được điều ấy ở Canvê, thì không có vùng tối nào trong đời chúng ta hoàn toàn ngoài tầm tay Người.
Vì thế, đừng xấu hổ khi nhận ra mình sợ Thập Giá. Phêrô cũng đã sợ. Các Tông đồ đã chạy. Nhưng đừng dừng ở nỗi sợ. Hãy để Đức Giêsu đưa ta về lại đúng chỗ: “Lui lại đằng sau Thầy.” Đừng đi trước Chúa nữa. Đừng bắt Chúa giải thích mọi chuyện rồi mới chịu tin. Đừng đòi nhìn thấy Phục Sinh trước khi bước qua Thứ Sáu Tuần Thánh. Hãy ở phía sau Người. Một bước thôi. Rồi một bước nữa. Thầy đã đi qua đây. Thầy biết đường. Khi tối quá, nhìn chân Thầy. Khi mệt quá, tựa vào Thầy. Khi ngã, để Thầy nâng dậy. Và khi không còn đủ sức cầm lấy Thầy, hãy tin rằng chính Thầy đang cầm lấy ta.
Cuối cùng, điều Chúa mong nơi người môn đệ không phải là một con người say mê đau khổ, mà là một con người yêu đến mức không để nỗi sợ đau khổ quyết định mọi lựa chọn của mình. Ta có thể sợ Thập Giá và vẫn theo Chúa, miễn là khi sợ, ta không quay lưng. Ta có thể run và vẫn trung thành. Ta có thể khóc và vẫn xin vâng. Ta có thể không hiểu và vẫn bước. Ta có thể đau và vẫn yêu. Có lẽ đó là một trong những hình thức đẹp nhất của đức tin: không phải đức tin của người đứng trước con đường bằng phẳng mà nói “con tin”, nhưng là đức tin của người đang ở giữa đêm tối, bàn tay run rẩy vẫn bám lấy Chúa và nói: “Con không biết con đường này dẫn tới đâu, nhưng con biết Ai đang đi trước con.”
Xin Đức Kitô Chịu Đóng Đinh chữa chúng ta khỏi ảo tưởng rằng tin Chúa là được miễn khỏi Thập Giá. Xin Người cũng chữa chúng ta khỏi một ảo tưởng khác nguy hiểm không kém: rằng Thập Giá là dấu Thiên Chúa bỏ ta. Không. Chính trên Thập Giá, Con Thiên Chúa gần con người nhất. Chính nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt, Người đang làm công trình lớn nhất. Chính khi tình yêu trông có vẻ thất bại, tình yêu đang chiến thắng. Chính khi hạt lúa nằm im dưới đất, sự sống mới đang âm thầm nảy mầm. Và xin cho mỗi người chúng ta, khi giờ Thập Giá đến, đừng xin một Đức Kitô không có Thập Giá, cũng đừng tìm một con đường khác ngoài con đường của Người. Chỉ xin đủ khiêm nhường để trở về phía sau Thầy và nghe Người nói: “Hãy theo Thầy.”
Có thể ta tin Chúa mà vẫn sợ Thập Giá. Điều ấy rất người. Nhưng người môn đệ trưởng thành là người dần học được rằng điều đáng sợ nhất không phải Thập Giá, mà là một đời sống không còn có Đức Kitô. Nếu phải chọn giữa một con đường êm ái không có Người và một con đường có Thập Giá nhưng Người đi trước, xin cho ta đủ đức tin để chọn Người. Vì cuối cùng, Thập Giá có Đức Kitô sẽ dẫn tới Phục Sinh; còn một cuộc đời tưởng như không có thập giá nhưng không có Người, cuối cùng vẫn chẳng cứu được chúng ta. Và khi đã hiểu điều đó, ta sẽ không còn xin Chúa rằng: “Lạy Chúa, đừng để con gặp Thập Giá”, nhưng sẽ học cầu nguyện cách trưởng thành hơn: “Lạy Chúa, bất cứ con đường nào đời con phải đi, xin đừng để con đi một mình. Xin cho con ở lại phía sau Chúa. Xin cho con biết vác phần đời của con trong tình yêu. Xin cho con đừng vì sợ đau mà phản bội điều thiện, đừng vì sợ mất mà giữ lại trái tim, đừng vì sợ chết mà chưa từng thật sự sống. Và đến cuối con đường, khi con đã trao tất cả, xin cho con được nghe tiếng Chúa gọi tên con, như buổi sáng Phục Sinh Người đã gọi Maria, để con biết rằng phía bên kia mọi Thập Giá vẫn là một Đấng đang sống, đang yêu và đang chờ.”
Lm. Anmai, CSsR

KHI TA MUỐN ĐI TRƯỚC CHÚA ĐỂ CHỈ ĐƯỜNG CHO CHÚA
Tin Mừng: Mt 16,22-23
Có một điều rất lạ trong đời sống đức tin: ta vẫn có thể yêu Chúa mà lại muốn Chúa làm theo ý ta; vẫn có thể đi theo Chúa mà lại âm thầm muốn Chúa đi theo con đường ta đã vạch sẵn; vẫn có thể cầu nguyện rất nhiều mà sâu trong lòng chỉ mong lời cầu nguyện ấy làm cho Thiên Chúa đổi ý chứ không phải làm cho lòng mình đổi lại. Phêrô trong Tin Mừng hôm nay chính là hình ảnh rất thật của mỗi người chúng ta. Ông vừa mới tuyên xưng một lời tuyệt đẹp: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Đức Giêsu vừa khen ông là người có phúc. Vậy mà chỉ ít phút sau, cũng chính Phêrô ấy lại kéo Thầy ra riêng và trách Thầy: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Đức Giêsu liền quay lại nói một lời hết sức nặng: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Một người vừa được gọi là “có phúc” có thể ngay sau đó trở thành người “cản lối”. Một người vừa được Thiên Chúa soi sáng để tuyên xưng căn tính của Đức Kitô, chỉ một lúc sau lại có thể suy nghĩ hoàn toàn theo kiểu thế gian. Điều đó làm ta phải giật mình. Hóa ra biết Chúa là ai chưa có nghĩa là đã hiểu đường Chúa đi. Hóa ra có đức tin chưa chắc đã hết ý riêng. Hóa ra có thể rất nhiệt thành với Chúa mà vẫn vô tình trở thành chướng ngại cho chương trình của Chúa, chỉ bởi vì ta muốn Chúa cứu độ thế giới theo cách mà ta thấy hợp lý hơn.
Phêrô đâu có ý xấu. Nếu ông ghét Thầy, câu chuyện đã dễ hiểu. Chính vì ông thương Thầy nên ông mới không muốn Thầy chịu đau khổ. Chính vì gắn bó với Thầy nên khi nghe Đức Giêsu nói Người phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế và kinh sư loại bỏ, bị giết chết rồi ngày thứ ba sống lại, Phêrô không chịu nổi. Ông nghĩ một Đấng Mêsia thì phải chiến thắng, phải được tung hô, phải phục hồi Israel, phải làm những chuyện lớn lao. Một Đấng Mêsia sao lại có thể bị bắt, bị nhục mạ, bị giết chết? Một Con Thiên Chúa sao lại có thể đi vào con đường thất bại như vậy? Với lý trí con người, Phêrô rất có lý. Với tình cảm của một người môn đệ, Phêrô cũng rất dễ thông cảm. Nhưng chính ở đây là nơi đức tin bị thử thách: điều có vẻ hợp lý với ta chưa chắc là điều Thiên Chúa muốn; điều ta gọi là tốt chưa chắc đã là điều tốt nhất trong chương trình của Người; điều ta tìm cách tránh đôi khi lại chính là cánh cửa Thiên Chúa dùng để dẫn ta đến ơn cứu độ. Phêrô yêu Thầy nhưng chưa yêu con đường của Thầy. Ông muốn có Đức Kitô mà không có Thập Giá. Ông muốn vinh quang mà không phải đi qua hiến tế. Ông muốn Phục Sinh nhưng muốn bỏ qua chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Và đây không chỉ là cám dỗ của Phêrô. Đây là một cám dỗ dai dẳng của Kitô hữu mọi thời: muốn một Thiên Chúa ban bình an nhưng đừng đòi ta thay đổi; muốn một Thiên Chúa chữa lành nhưng đừng động đến những vết thương ta đang ôm giữ; muốn một Thiên Chúa chúc phúc nhưng đừng đụng đến những dự tính riêng; muốn Chúa mở cửa nhưng phải là cánh cửa ta đã chọn; muốn Chúa dẫn đường nhưng con đường ấy phải trùng với con đường ta đã vẽ trong đầu.
Nhiều khi ta gọi đó là cầu nguyện, nhưng thật ra là thương lượng với Thiên Chúa. “Lạy Chúa, xin cho con điều này.” “Lạy Chúa, xin đừng để chuyện kia xảy ra.” “Lạy Chúa, xin cho người ấy thay đổi.” “Lạy Chúa, xin giải quyết việc này theo hướng này.” Và khi Thiên Chúa không làm như ta xin, lòng ta bắt đầu bất an. Ta hỏi Chúa ở đâu. Ta hỏi tại sao Chúa im lặng. Ta thậm chí cảm thấy Chúa không thương mình nữa. Nhưng đôi khi vấn đề không phải là Chúa không nghe; vấn đề là ta chỉ chấp nhận một kiểu trả lời. Ta đã dựng sẵn câu trả lời trước khi cầu xin, rồi yêu cầu Thiên Chúa ký tên vào đó. Ta đã vạch sẵn con đường rồi xin Chúa đồng hành, nhưng nếu Chúa rẽ sang hướng khác, ta lại tưởng mình bị bỏ rơi. Ta xin “ý Cha thể hiện”, nhưng trong tận đáy lòng lại thêm một câu không nói thành lời: “miễn là ý Cha gần giống ý con.” Chính cái “miễn là” ấy làm cho đức tin mãi không trưởng thành.
Có những người đã cầu nguyện nhiều năm cho một cuộc hôn nhân được như ý mà cuối cùng lại đổ vỡ. Có những cha mẹ cầu nguyện rất nhiều để con mình đi theo một con đường nhưng rồi đứa con lại chọn một hướng khác. Có người xin Chúa cho khỏi bệnh mà bệnh vẫn còn. Có người cầu nguyện cho công việc được thuận lợi mà cuối cùng vẫn thất bại. Có người trung thành với Chúa nhưng lại bị hiểu lầm. Có người làm điều thiện mà chẳng những không được biết ơn, còn bị nói xấu. Có người sống ngay lành nhưng cuộc đời dường như cứ liên tiếp gặp bất công. Và từ đó phát sinh một câu hỏi đau đớn: “Nếu Chúa thương tôi, sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Câu hỏi ấy rất thật, rất con người. Thiên Chúa không trách ta vì câu hỏi ấy. Nhưng ta phải đi thêm một bước nữa. Có lẽ câu hỏi sâu hơn phải là: “Lạy Chúa, giữa điều con không hiểu này, Chúa muốn dẫn con đi đâu?” Bởi vì đức tin không phải là được bảo đảm rằng mọi chuyện sẽ xảy ra theo mong ước của ta. Đức tin là tin rằng ngay cả khi mọi chuyện không xảy ra theo mong ước của ta, Thiên Chúa vẫn đang ở đó và Người vẫn có thể làm nảy sinh sự sống từ nơi tưởng như chỉ có mất mát.
Đức Giêsu nói với Phêrô: “Lui lại đằng sau Thầy.” Lời này đáng để ta suy đi nghĩ lại. Chúa không bảo Phêrô: “Biến đi.” Chúa bảo: “Lui lại đằng sau Thầy.” Vị trí đúng của người môn đệ là ở đằng sau. Người môn đệ không đi trước để chỉ đường cho Thầy. Người môn đệ không kéo Thầy sang hướng mình muốn. Người môn đệ bước theo dấu chân Thầy, kể cả khi dấu chân ấy dẫn lên Giêrusalem, dẫn tới vườn Cây Dầu, dẫn đến pháp đình, dẫn tới đồi Canvê. “Lui lại đằng sau Thầy” có nghĩa là: Phêrô, hãy trở về đúng chỗ của anh. Anh là môn đệ, không phải là Chúa. Anh đi theo, không phải anh dẫn đường. Anh học đường lối Thiên Chúa, không phải Thiên Chúa học đường lối của anh. Và có lẽ đây cũng là lời Chúa phải nói với ta rất nhiều lần trong đời: “Con ơi, lui lại đằng sau Thầy.” Khi ta nóng lòng muốn giải quyết tất cả: “Lui lại đằng sau Thầy.” Khi ta tưởng mình biết điều gì tốt nhất cho người thân: “Lui lại đằng sau Thầy.” Khi ta muốn ép một người thay đổi theo nhịp độ của mình: “Lui lại đằng sau Thầy.” Khi ta muốn Thiên Chúa phải giải thích ngay mọi chuyện: “Lui lại đằng sau Thầy.” Khi ta muốn Thập Giá biến mất trước khi nó hoàn tất công việc thanh luyện ta: “Lui lại đằng sau Thầy.”
Khổ một điều là ta rất thích làm Chúa của đời mình. Ta không nói ra, nhưng cách ta sống nhiều lúc chứng minh điều đó. Ta muốn kiểm soát tương lai. Ta muốn biết ngày mai sẽ thế nào. Ta muốn mọi người hành xử đúng như ta mong. Ta muốn công sức phải đem lại kết quả tương xứng. Ta muốn người tốt phải được thưởng ngay, người xấu phải bị phạt ngay. Ta muốn mỗi câu hỏi phải có câu trả lời, mỗi đau khổ phải có lời giải thích, mỗi lời cầu phải có dấu hiệu, mỗi hy sinh phải được công nhận. Nhưng cuộc đời không vận hành như một phép toán đơn giản. Thiên Chúa cũng không phải là chiếc máy trả lời lời cầu xin. Người là Cha. Và một người cha yêu con không phải lúc nào cũng cho con điều con xin; nhiều khi vì yêu mà phải từ chối, vì biết có những điều đứa trẻ đang khóc đòi lại không tốt cho nó. Điều đáng sợ là một đứa trẻ có thể không hiểu tình yêu của cha chỉ vì cha không chiều nó. Và Kitô hữu cũng có nguy cơ đánh giá tình yêu Thiên Chúa theo mức độ Người chiều ý mình.
Ta cứ tưởng điều đối nghịch với đức tin là vô thần. Không hẳn. Có một điều rất tinh tế còn có thể len lỏi vào đời sống đạo: tin Thiên Chúa nhưng chỉ tin một Thiên Chúa đã được làm theo khuôn của mình. Ta giữ Chúa, nhưng tước quyền làm Chúa của Người. Ta cầu nguyện với Chúa nhưng giữ tay lái. Ta nói “con phó thác”, nhưng vẫn nắm thật chặt mọi thứ. Ta nói “xin Chúa định liệu”, nhưng nếu Chúa định liệu khác ý thì ta giận. Ta muốn một Thiên Chúa có quyền năng để làm phép lạ cho ta nhưng lại không muốn Người có quyền quyết định đường đời ta. Đó là một kiểu thờ Chúa mà trung tâm vẫn là cái tôi. Chúa trở thành phương tiện để tôi đạt điều tôi muốn. Người không còn là Đấng tôi yêu vì chính Người nữa, mà là Đấng tôi tìm đến bởi vì Người có thể giúp tôi thành công, khỏe mạnh, yên ổn và tránh đau khổ. Khi mọi sự thuận lợi, ta nói Chúa thương. Khi nghịch cảnh đến, ta nghi ngờ. Nhưng nếu tình yêu Thiên Chúa được đo bằng sự thuận lợi, thì phải giải thích thế nào về Đức Giêsu trên Thập Giá? Nếu được Chúa yêu có nghĩa là không bao giờ phải đau, thì Con Một yêu dấu của Chúa Cha phải là người không bao giờ đau khổ mới đúng. Thế mà Người lại là Đấng chịu đóng đinh.
Thập Giá phá vỡ rất nhiều quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa. Trên Thập Giá, Chúa không chứng minh quyền năng bằng việc tránh khỏi đau khổ, nhưng bằng tình yêu trung tín giữa đau khổ. Người không thắng bằng cách hạ gục những kẻ giết mình, nhưng bằng cách tha thứ cho họ. Người không cứu mình khỏi cái chết mà dùng chính cái chết để cứu nhân loại. Phêrô không hiểu điều đó. Ông tưởng phải cứu Đức Giêsu khỏi Thập Giá. Nhưng nếu Đức Giêsu nghe Phêrô, sẽ chẳng có Canvê; không có Canvê thì chẳng có hiến tế; không có hiến tế thì chẳng có ơn cứu độ theo cách Thiên Chúa đã muốn. Điều Phêrô xem là tai họa lại nằm trong nhiệm cục cứu độ. Điều ông muốn ngăn cản lại chính là con đường của tình yêu đi đến tận cùng. Bởi thế, có những lúc ta xin Chúa lấy khỏi đời mình một điều mà chưa biết rằng chính qua điều ấy Chúa đang làm một công việc sâu xa trong lòng ta. Ta chỉ thấy gai; Chúa thấy hoa trái. Ta chỉ thấy mất mát; Chúa thấy cuộc thanh luyện. Ta chỉ thấy cánh cửa đóng; Chúa thấy con đường khác đang mở. Ta chỉ thấy một giấc mơ tan; Chúa thấy một con người đang được giải thoát khỏi ảo tưởng. Ta chỉ thấy mình bị lấy đi; Chúa có khi đang dạy ta rằng ngoài Người ra, không gì là nền tảng vĩnh viễn.
Dĩ nhiên, nói như thế không có nghĩa là mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến. Thiên Chúa không phải tác giả của sự dữ. Bệnh tật, chiến tranh, bạo lực, phản bội, bất công vẫn là những thực tại phải chống lại và chữa lành. Kitô giáo không thần thánh hóa đau khổ. Chúa Giêsu đã chữa người bệnh, nuôi người đói, khóc trước mồ Ladarô và chạnh lòng trước nỗi khốn cùng. Nhưng mầu nhiệm nằm ở chỗ này: sự dữ có thể làm ta đau, nhưng không thể ngăn Thiên Chúa hành động; tội lỗi con người có thể đóng đinh Đức Giêsu, nhưng không thể ngăn Chúa Cha làm phát sinh sự sống từ ngôi mộ. Thiên Chúa không cần sự dữ để cứu ta, nhưng một khi sự dữ xảy ra, Người vẫn đủ quyền năng để không để giọt nước mắt nào trở nên vô ích nếu ta trao nó cho Người. Đó là hy vọng Kitô giáo. Không phải mọi chuyện đều tốt, nhưng Thiên Chúa có thể làm cho điều tốt phát sinh ngay giữa những chuyện rất xấu.
Một trong những dấu hiệu rõ nhất cho thấy ta đang đi trước Chúa là sự nóng ruột. Ta muốn mọi chuyện phải thay đổi ngay. Ta muốn người thân quay về ngay. Ta muốn vết thương lành ngay. Ta muốn lời cầu được đáp ngay. Ta muốn Giáo Hội đổi mới ngay. Ta muốn cộng đoàn tốt lên ngay. Ta muốn chính mình nên thánh ngay. Và khi mọi việc diễn ra chậm, ta bắt đầu dùng sức riêng, ép buộc, trách móc, can thiệp quá mức. Nhưng Thiên Chúa làm việc rất khác. Một hạt giống không trở thành cây chỉ sau một đêm. Một con người không đổi đời chỉ sau một lời khuyên. Một vết thương nhiều năm không phải lúc nào cũng lành sau một lời cầu. Ân sủng có nhịp điệu của ân sủng. Có những điều Chúa làm rất nhanh, nhưng có những điều Người làm âm thầm qua năm tháng. Ta cần học tôn trọng thời gian của Thiên Chúa. Abraham đã phải đợi. Giuse đã phải đợi trong tù. Israel đã phải đi bốn mươi năm trong sa mạc. Đức Maria đã phải giữ nhiều chuyện và suy đi nghĩ lại trong lòng. Các Tông đồ phải trải qua cú sốc Thập Giá mới hiểu Phục Sinh. Không phải vì Thiên Chúa chậm chạp, nhưng vì có những công trình Người không chỉ muốn thay đổi hoàn cảnh mà còn muốn biến đổi con người.
Đi trước Chúa còn là khi ta nghĩ rằng mình biết chính xác Chúa phải dùng ai. Ta nhìn một người và phán: người này hết hy vọng. Ta nhìn một người khác và nói: người này chẳng thể nên thánh. Ta nhìn một gia đình đổ vỡ và cho rằng chẳng còn gì cứu được. Ta nhìn một người tội lỗi và đóng khung họ trong quá khứ. Nhưng Thiên Chúa không bị giới hạn bởi bản án của ta. Người có thể gọi Matthêu từ bàn thu thuế. Người có thể biến Saolô từ kẻ bách hại thành vị Tông đồ. Người có thể mở cửa thiên đàng cho một tên trộm vào giờ cuối. Người có thể lấy một Phêrô từng chối Thầy để trao đoàn chiên. Đừng đi trước Chúa để tuyên án một đời người khi Chúa vẫn còn đang viết câu chuyện ấy. Ta thường kết luận quá sớm. Thiên Chúa lại kiên nhẫn đến lạ lùng.
Đi trước Chúa cũng xảy ra trong đời phục vụ. Người làm mục vụ rất dễ mắc cám dỗ này. Ta muốn chương trình của mình thành công vì nghĩ đó là chương trình của Chúa. Ta muốn cộng đoàn phải theo cách mình nghĩ vì cho rằng cách ấy là tốt nhất. Ta thất vọng khi người khác không hưởng ứng, rồi có khi đồng hóa sự chống đối mình với sự chống đối Thiên Chúa. Nhưng người phục vụ Chúa phải luôn tự hỏi: việc tôi đang bảo vệ là ý Chúa hay là công trình của tôi? Tôi đang đau vì Tin Mừng bị cản trở hay vì ý kiến của mình không được nghe? Tôi đang muốn người khác thuộc về Đức Kitô hay muốn họ đứng về phía tôi? Một công việc mang danh Chúa vẫn có thể trở thành nơi cái tôi tìm cách khẳng định. Phêrô nói vì thương Chúa, nhưng cái nhìn của ông vẫn “không phải tư tưởng của Thiên Chúa.” Ý hướng tốt không tự động làm cho mọi lựa chọn trở thành ý Chúa. Càng làm việc đạo đức, càng cần tỉnh thức, bởi cái tôi có khả năng mặc áo đạo đức rất đẹp.
Có lúc ta còn đi trước Chúa trong việc sửa người khác. Ta thấy lỗi người này, khuyết điểm người kia, và nóng lòng muốn sửa. Ta nói mình vì thương họ. Có thể đúng. Nhưng hãy coi chừng: Chúa biết lỗi của họ trước ta rất lâu mà Người vẫn kiên nhẫn. Chúa không dung túng tội lỗi, nhưng Người biết thời điểm. Một sự thật đúng nói sai lúc có thể trở thành con dao. Một lời góp ý đúng nhưng phát xuất từ tự ái có thể phá nhiều hơn xây. Có khi Chúa đang từ từ chữa một người, còn ta xông vào kéo lớp vảy trên vết thương ra rồi gọi đó là nhiệt thành. Hãy để Chúa đi trước. Xin Người dạy ta lúc nào nói, lúc nào im, lúc nào chờ, lúc nào hành động. Người cứu thế giới không phải là ta. Câu này nghe đơn giản nhưng rất cần cho những ai phục vụ: ta không phải Đấng Cứu Thế. Ta chỉ là dụng cụ. Khi quên điều đó, ta kiệt sức vì gánh cả thế giới lên vai; ta thất vọng vì mọi người không thay đổi theo mong đợi; ta cáu gắt vì kết quả không tương xứng với công sức. Nhưng người gieo không làm hạt nảy mầm. Người gieo chỉ trung thành gieo. Sự sống thuộc về Thiên Chúa.
Có lẽ một trong những lời cầu khó nhất đời Kitô hữu là lời của Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý Con, một xin theo ý Cha.” Chúa Giêsu không giả vờ thích đau khổ. Người thực sự xin: “Nếu có thể được, xin cho chén này rời khỏi Con.” Như vậy, ta hoàn toàn được phép xin Chúa cho đau khổ qua đi. Ta được phép xin khỏi bệnh. Ta được phép xin công việc. Ta được phép xin một mối tương quan được cứu vãn. Ta được phép xin điều mình khát mong. Đức tin không bắt ta trở thành những con người vô cảm. Nhưng lời cầu Kitô giáo không dừng lại ở “xin cho con”. Nó phải lớn lên đến câu: “Nhưng xin đừng theo ý con.” Chính câu sau mới cho thấy ai là Chúa. Bao lâu ta chỉ nói vế đầu, đức tin vẫn dễ là cuộc tìm kiếm phép lạ. Khi có thể nói thêm vế sau, ta mới thực sự đặt đời mình vào tay Cha.
“Xin đừng theo ý con” không phải là buông xuôi. Đó là sự tín thác chủ động. Người phó thác vẫn làm điều phải làm, vẫn đi bác sĩ, vẫn tìm việc, vẫn sửa chữa sai lầm, vẫn đấu tranh cho công lý, vẫn bảo vệ người yếu thế, vẫn cầu nguyện không ngừng. Nhưng sau tất cả những gì trong khả năng, họ không biến kết quả thành thần tượng. Họ biết mình có trách nhiệm với nỗ lực nhưng không sở hữu tương lai. Họ làm hết sức rồi để Thiên Chúa là Thiên Chúa. Có một bình an rất sâu chỉ bắt đầu khi ta thôi muốn làm chủ tất cả. Bao năm ta mệt không phải chỉ vì gánh nặng cuộc đời mà còn vì gánh nặng của việc muốn kiểm soát cuộc đời. Ta lo ngày mai, lo người khác nghĩ gì, lo chuyện mình không thể thay đổi, lo những biến cố chưa xảy ra. Ta cứ đi trước Chúa hàng chục cây số trong trí tưởng tượng rồi tự làm mình kiệt sức. Trong khi Chúa chỉ cho đủ ánh sáng để bước hôm nay.
Có người hỏi: “Làm sao biết đâu là ý Chúa?” Không phải lúc nào cũng dễ. Nhưng trước hết hãy biết rằng ý Chúa không phải thứ ta sở hữu như một bản đồ hoàn chỉnh. Ý Chúa thường được khám phá trong một hành trình: qua Tin Mừng, qua cầu nguyện, qua giáo huấn Hội Thánh, qua lương tâm ngay thẳng, qua sự phân định, qua những người khôn ngoan, qua bổn phận hiện tại, qua những cánh cửa mở đóng, và cả qua hoa trái của Thánh Thần. Điều quan trọng là giữ một trái tim có thể được sửa. Người nguy hiểm nhất không phải người chưa biết ý Chúa, mà là người quá chắc rằng ý mình chính là ý Chúa. Phêrô chính là một cảnh báo. Ông quá chắc mình đúng đến mức dám “trách” Đức Giêsu. Ta cũng có thể làm vậy bằng những cách tinh tế hơn. Ta giận Chúa vì Người không làm như mình nghĩ Người nên làm. Ta thất vọng về Thiên Chúa vì ta có một hình ảnh về cách Thiên Chúa phải hành động. Nhưng đức tin trưởng thành bắt đầu khi ta cho phép Thiên Chúa làm ta ngạc nhiên, thậm chí cho phép Người phá vỡ những hình dung nhỏ hẹp mà ta đã tạo về Người.
Đời người nhìn lại mới thấy có những điều ngày xưa ta xin mà may là Chúa không cho. Có những cánh cửa ta từng khóc vì nó đóng lại, sau này mới hiểu nếu bước qua có khi cuộc đời đã rẽ vào một con đường rất khác. Có những người ta từng tưởng không thể sống thiếu, rồi thời gian cho thấy Thiên Chúa đã cứu mình qua một cuộc chia lìa. Có những thành công ta từng khao khát, nếu đạt quá sớm có lẽ đã khiến ta kiêu ngạo. Có những thất bại lúc đó tưởng là tận cùng, lại trở thành bài học làm ta trưởng thành. Có những giai đoạn cô đơn buộc ta trở về với chính mình. Có những lần mất chỗ dựa con người để ta học tựa vào Chúa. Không phải mọi đau đớn đều lập tức trở nên dễ hiểu, nhưng đủ những kinh nghiệm ấy để ta khiêm tốn mà thưa: có lẽ Chúa nhìn xa hơn con.
Và rồi đến một lúc nào đó trong đời, ta phải chấp nhận một sự thật rất đơn sơ: Thiên Chúa không cần ta cố vấn cho Người. Người cần ta tín thác. Người không cần ta vẽ đường. Người mời ta bước theo. Điều này không hề hạ thấp con người. Trái lại, nó giải phóng ta khỏi gánh nặng phải biết hết, hiểu hết, làm chủ hết. Một đứa trẻ ngủ bình an trong tay mẹ không phải vì nó biết con đường về nhà, nhưng vì người bế nó biết. Có những thời điểm đức tin của ta cũng chỉ còn như thế. Ta không biết ngày mai ra sao. Không biết căn bệnh sẽ thế nào. Không biết người thân có trở lại không. Không biết công việc sẽ đi về đâu. Không biết một ước mơ có thành hay không. Nhưng ta có thể biết một điều: bàn tay đang giữ mình vẫn là bàn tay của Cha.
Phêrô sau này đã học được bài học này bằng cả cuộc đời. Người môn đệ từng muốn kéo Đức Giêsu khỏi Thập Giá cuối cùng đã hiểu rằng chính mình cũng phải đi con đường Thập Giá. Ông không hiểu trong một ngày. Ông đã vấp, đã chối Thầy, đã khóc, đã được tha thứ, đã được trao phó đoàn chiên. Ơn gọi môn đệ là một tiến trình từ chỗ muốn Chúa theo mình đến chỗ mình thật sự theo Chúa. Có lẽ cả đời ta cũng chỉ học một bài ấy. Hồi trẻ ta hay xin Chúa thực hiện ước mơ của mình. Trưởng thành hơn, ta bắt đầu hỏi ước mơ của Chúa về mình là gì. Lúc đầu ta xin Chúa chúc phúc cho kế hoạch ta đã quyết. Sau này ta học hỏi Chúa muốn ta chọn điều gì trước khi lên kế hoạch. Lúc đầu ta muốn Chúa mở những cánh cửa mình gõ. Sau này ta có thể xin: “Lạy Chúa, nếu cánh cửa này không phải dành cho con, xin cho con đủ khiêm tốn để đừng cố phá nó.”
Đặc biệt trong những giờ tối tăm, ta càng dễ trở lại cám dỗ của Phêrô: “Chuyện ấy không được xảy ra.” Ta không chấp nhận một căn bệnh. Không chấp nhận tuổi già. Không chấp nhận mình yếu đi. Không chấp nhận một mất mát. Không chấp nhận một đứa con đã lớn và không còn sống theo mọi mong muốn của cha mẹ. Không chấp nhận một giai đoạn đời sống thiêng liêng khô khan. Nhưng có những thực tại không thể thương lượng. Tuổi trẻ sẽ qua. Sức khỏe sẽ thay đổi. Người ta yêu sẽ có ngày rời khỏi ta hoặc ta rời khỏi họ. Thành công không vĩnh viễn. Danh tiếng cũng qua. Cuối cùng, ngay cả mạng sống này cũng phải trả lại. Người có đức tin không phải người né được những quy luật ấy, nhưng là người học cách bước qua chúng trong bàn tay Thiên Chúa. Đến giờ cuối, có lẽ ta sẽ không còn đủ sức để chỉ đường cho Chúa nữa. Ta chỉ có thể thưa như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Nếu cả đời ta đã tập phó thác từng chuyện nhỏ, lời ấy sẽ không quá xa lạ.
Có một sự tự do tuyệt đẹp khi ta không còn bắt Chúa phải làm theo ý mình. Ta vẫn có ước muốn nhưng không bị ước muốn thống trị. Ta vẫn hy vọng nhưng không tuyệt vọng nếu điều mong đợi không thành. Ta vẫn lên kế hoạch nhưng biết sẵn sàng để Chúa sửa kế hoạch. Ta vẫn yêu người thân nhưng không chiếm hữu đời họ. Ta vẫn phục vụ nhưng không cần nắm kết quả. Ta vẫn chiến đấu nhưng không nghĩ mình cứu được thế giới. Ta có thể nghỉ ngơi vì biết Chúa vẫn làm việc ngay khi mình ngủ. Đó là sự tự do của người môn đệ đứng đúng chỗ: phía sau Thầy.
Có lẽ hôm nay mỗi người nên nhìn lại một điều mình đang cố bắt Thiên Chúa làm theo ý mình. Một người ta muốn Chúa phải thay đổi. Một kết quả ta nhất định phải có. Một cánh cửa ta quyết phải mở. Một biến cố ta nhất định không thể chấp nhận. Một câu trả lời ta buộc phải nhận. Hãy đặt điều ấy trước Thập Giá. Đừng vội xin Chúa đổi hoàn cảnh. Trước hết hãy xin Chúa đổi cái nhìn của mình. Đừng chỉ hỏi: “Bao giờ Chúa làm điều con muốn?” Hãy hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn làm gì trong con qua chuyện này?” Đừng chỉ cầu: “Xin Chúa đưa con đến nơi con muốn.” Hãy cầu: “Xin cho con đủ can đảm đi đến nơi Chúa muốn.”
Và nếu trong lòng vẫn còn sợ, hãy nói thật với Chúa. Người không đòi ta phải giả vờ bình thản. Hãy nói: “Lạy Chúa, con không thích con đường này. Con không hiểu. Con sợ. Con muốn chuyện khác. Nhưng nếu đây là nơi Chúa đang dẫn con, xin đừng để con chạy trước Chúa. Xin giữ con ở phía sau Người.” Một lời cầu như thế có khi quý hơn rất nhiều những lời hoa mỹ. Bởi đó là lời của một trái tim đang từ bỏ quyền kiểm soát.
Ta đã mệt đủ rồi vì nhiều năm muốn cầm tay lái thay Chúa. Ta đã lo đủ rồi cho những chuyện ngày mai chưa đến. Ta đã thất vọng đủ rồi vì người khác không sống theo kịch bản mình viết. Ta đã đau đủ rồi vì nghĩ rằng Chúa chỉ thương khi Chúa chiều. Có lẽ đã đến lúc nghe lại câu Người nói với Phêrô, nhưng nghe không như một lời loại trừ mà như lời mời trở về: “Lui lại đằng sau Thầy.” Trở về vị trí của người môn đệ. Trở về phía sau Đức Kitô. Trở về nơi ta không cần biết hết con đường, chỉ cần biết mình đang theo đúng Người.
Lạy Chúa Giêsu, nhiều lần con nói con theo Chúa nhưng thật ra con muốn Chúa theo con. Con xin Chúa dẫn đường nhưng tay con vẫn giữ bản đồ. Con xin Chúa định liệu nhưng trong lòng con đã định liệu sẵn. Con nói con tín thác nhưng lại sợ hãi khi Chúa không làm theo cách con chờ đợi. Xin tha cho con những lần con giống Phêrô, vì thương Chúa theo cách của mình mà cản lối Chúa; vì sợ Thập Giá mà muốn một Tin Mừng không có Canvê; vì yêu sự an toàn hơn yêu thánh ý Chúa. Xin dạy con biết lui lại đằng sau Chúa. Xin dạy con bước từng bước theo Chúa, kể cả khi con đường trước mặt không sáng rõ. Xin cho con đủ khiêm tốn để tin rằng tư tưởng của Chúa cao hơn tư tưởng của con, đường lối của Chúa rộng hơn những tính toán của con, và tình yêu của Chúa sâu hơn những điều con có thể hiểu.
Lạy Chúa, nếu điều con xin thực sự tốt cho phần rỗi của con, xin thương ban. Nếu điều con tìm đang đưa con xa Chúa, xin can đảm đóng cánh cửa ấy lại, dù lúc đầu con có khóc. Nếu một mất mát đang trở thành con đường thanh luyện, xin ở lại với con trong mất mát ấy. Nếu một thử thách chưa thể cất đi, xin đừng để nó làm con cay đắng. Nếu một câu hỏi chưa thể có lời giải, xin cho con vẫn ở lại bên Chúa. Nếu con đang đi quá nhanh trước Chúa, xin gọi con trở về. Nếu con đang cưỡng ép tương lai, xin mở bàn tay con ra. Và nếu một ngày mọi dự định của con đều tan vỡ, xin cho con vẫn còn đủ đức tin để nói: “Chúa biết đường. Con sẽ theo.”
Bởi cuối cùng, điều cứu ta không phải là ta đã hiểu hết chương trình của Thiên Chúa, mà là giữa những lúc chẳng hiểu gì, ta vẫn không bỏ Người. Điều làm ta nên thánh không phải lúc nào cũng là được đi đúng con đường mình thích, nhưng là học yêu con đường Chúa chọn vì biết Đấng đang đi trước mình là Đấng đã yêu mình đến chết. Người đã đi trước ta qua đau khổ. Người đã đi trước ta qua sự bị bỏ rơi. Người đã đi trước ta qua cái chết. Và Người cũng đã đi trước ta vào sự sống.
Vậy thì còn sợ gì nếu Người đi trước?
Chỉ sợ một điều: ta lại muốn vượt lên trước Người để chỉ đường cho Người.
Xin cho ta đủ khiêm tốn để cả đời chỉ ở lại một nơi thôi: đằng sau Đức Kitô.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ KHÔNG ĐƯỢC CHỌN – NHƯNG CÁCH VÁC THẬP GIÁ CÓ THỂ ĐƯỢC CHỌN
Tin Mừng: Lc 23,26
Có những điều trong đời chúng ta được quyền chọn. Ta chọn một nghề nghiệp, chọn một nơi để sống, chọn một người để kết bạn, chọn một con đường để đi, chọn một món ăn mình thích, chọn một công việc phù hợp với khả năng của mình. Nhưng cũng có những điều hoàn toàn không hỏi ý kiến ta trước khi bước vào cuộc đời ta. Một căn bệnh đến mà chẳng hề báo trước. Một tai nạn xảy ra trong vài giây. Một người thân ra đi khi ta chưa kịp nói lời từ biệt. Một đứa con khiến cha mẹ đau lòng. Một cuộc hôn nhân tưởng sẽ đầy tiếng cười lại đi qua những tháng năm mỏi mệt. Một người tận hiến đã bước vào đời tu với bao mơ ước rồi có ngày nhận ra đời sống cộng đoàn không hề đẹp như những trang sách linh đạo. Một linh mục đã từng hăng say bước lên bàn thờ trong ngày chịu chức rồi có lúc phải đối diện với cô đơn, hiểu lầm, sức khỏe suy giảm, thất bại trong mục vụ, những lời phê bình, những ngày chẳng còn cảm thấy mình làm được gì đáng kể cho Chúa nữa. Có những thập giá không ai tự chọn. Không ai sáng thức dậy rồi nói: hôm nay tôi xin chọn bệnh tật. Không người mẹ nào chọn cho con mình lạc lối. Không người cha nào chọn cho gia đình mình tan vỡ. Không linh mục nào chọn bị hiểu lầm. Không người tu sĩ nào chọn một cộng đoàn đầy va chạm. Không ai chọn những giọt nước mắt. Không ai chọn những đêm mất ngủ. Không ai chọn tuổi già. Không ai chọn cái chết. Thập giá, trong rất nhiều trường hợp, đơn giản là điều xảy đến. Và Tin Mừng hôm nay đặt trước mắt chúng ta một con người như thế. Ông Simon quê Kyrênê. Tin Mừng Luca chỉ kể một câu ngắn ngủi: “Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simon, gốc Kyrênê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu.” Chỉ một câu thôi, nhưng phía sau câu ấy là cả một đời người bị đổi hướng. Simon hôm đó đâu có định vác thập giá. Ông chẳng chuẩn bị tinh thần để bước vào một cuộc thương khó. Ông không phải một trong Nhóm Mười Hai. Ông không xin Đức Giêsu cho được theo Người. Ông chỉ từ miền quê đi lên. Có lẽ ông đang có một công việc riêng, một dự định riêng, một lộ trình riêng. Có thể ông chỉ muốn đi qua con đường ấy thật nhanh rồi trở về nhà. Nhưng giữa dòng người hỗn độn trên đường lên đồi Sọ, lính Rôma nhìn thấy ông. Một bàn tay chỉ vào. Một mệnh lệnh vang lên. Và từ giây phút đó, chương trình của Simon bị cắt ngang. Người ta đặt trên vai ông một cây gỗ ông không muốn mang, bắt ông đi một con đường ông không dự tính, bên cạnh một con người có thể trước đó ông chưa từng quen biết. Cuộc đời đôi khi cũng giống như vậy. Ta đang đi con đường của mình, bỗng một biến cố chỉ vào ta và nói: “Anh mang lấy cái này.” Ta không hiểu. Ta không đồng ý. Ta phản đối. Ta hỏi tại sao là tôi. Ta nhìn sang người khác và tự hỏi tại sao họ được bình yên còn mình lại phải chịu như thế. Ta đã có kế hoạch khác. Ta đã mơ một đời khác. Ta đã nghĩ tuổi già của mình phải khác. Ta đã tưởng gia đình mình sẽ khác. Ta đã mong đời linh mục của mình phải khác. Ta đã mong đời tu của mình phải khác. Nhưng thập giá không hỏi ta đã chuẩn bị chưa. Nó cứ được đặt lên vai. Và có lẽ một trong những bài học khó nhất của đời sống đức tin là hiểu rằng: ta không luôn luôn được chọn thập giá mình phải mang, nhưng ta có thể chọn cách mình mang thập giá ấy.
Simon ban đầu bị ép. Tin Mừng dùng một chữ rất thẳng: “họ bắt ông”. Không phải ông tự nguyện bước ra khỏi đám đông. Không phải ông cảm động rồi xin được giúp Chúa. Ông bị bắt. Chính điểm ấy làm cho Simon trở nên gần với chúng ta hơn rất nhiều. Bởi vì có bao nhiêu thập giá trong đời chúng ta cũng bắt đầu bằng sự miễn cưỡng. Ta đâu vui vẻ khi bác sĩ báo một căn bệnh. Ta đâu hân hoan khi công việc thất bại. Ta đâu bình thản khi một người thân phản bội. Ta đâu mỉm cười khi bị người khác hiểu sai. Ta đâu dễ dàng nói lời tạ ơn khi một dự tính đổ vỡ. Phản ứng đầu tiên của con người thường là chống lại. Tại sao? Tại sao là tôi? Tôi đã làm gì? Chúa ở đâu? Chúa có thấy không? Chúa có thương tôi không? Có những người vì đau quá mà giận Chúa. Có người bỏ cầu nguyện. Có người không muốn bước vào nhà thờ nữa. Có người vẫn đi lễ nhưng lòng lạnh. Có người vẫn đọc kinh nhưng trong lòng mang một cuộc tranh luận âm thầm với Thiên Chúa. Và ta không nên vội kết án họ. Bởi vì Simon lúc đầu cũng đâu tự nguyện. Điều đáng chú ý không phải là ông đã vui vẻ ngay từ phút đầu, nhưng là cuối cùng ông vẫn bước đi. Có khi đức tin không bắt đầu bằng một tiếng “xin vâng” thật đẹp. Có khi đức tin bắt đầu bằng một bước chân miễn cưỡng nhưng vẫn tiếp tục. Có khi ta không hiểu, nhưng vẫn đi. Không thích, nhưng vẫn đi. Không muốn, nhưng vẫn đi. Đau, nhưng vẫn đi. Chưa yêu nổi thập giá ấy, nhưng chưa bỏ Chúa. Và nhiều khi, chỉ cần như thế thôi, ân sủng đã có một con đường để hoạt động trong ta.
Hãy thử hình dung Simon đang đi ngay phía sau Đức Giêsu. Đây là chi tiết rất đẹp trong Tin Mừng Luca: ông vác thập giá “theo sau Đức Giêsu”. Đó chính là ngôn ngữ của người môn đệ. Trước đó Đức Giêsu từng nói: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Giờ đây Simon đang thực hiện đúng điều ấy, dù ông chưa từng đăng ký làm môn đệ. Thật kỳ lạ. Một người bị bắt vác thập giá lại trở thành hình ảnh sống động nhất của người môn đệ. Người ta ép ông, nhưng chính cái bị ép ấy lại đưa ông vào gần Đức Giêsu hơn bất cứ đám đông nào hôm đó. Có hàng trăm người đứng hai bên đường. Có người tò mò. Có người chế nhạo. Có người thương hại. Có người khóc. Có người chỉ đứng nhìn. Nhưng chỉ có Simon được đi sát phía sau Chúa, được cảm nhận trọng lượng của cây gỗ vừa đè trên vai Người, được nghe hơi thở đứt quãng của Người, được thấy từng bước chân Người lảo đảo trên đường đá, được nhìn thật gần khuôn mặt đầy máu và bụi của Đấng Cứu Thế. Cái thập giá Simon không muốn nhận lại đưa ông đến một nơi mà nếu không có nó, có lẽ ông chẳng bao giờ đến. Đây là nghịch lý mà chỉ những người từng đi qua đau khổ mới hiểu: có những điều ta từng nguyền rủa vì chúng làm cuộc đời mình đảo lộn, nhưng nhiều năm sau nhìn lại, ta mới nhận ra chính qua những điều ấy mà ta đã gặp Chúa sâu hơn. Có một người chỉ bắt đầu cầu nguyện thật sự sau khi gia đình gặp biến cố. Có một người chỉ biết thương người bệnh sau khi chính mình nằm trên giường bệnh. Có một người chỉ học được sự khiêm nhường sau một thất bại nặng nề. Có một linh mục chỉ bắt đầu hiểu nỗi đau của giáo dân khi chính mình bước qua những tháng ngày cô đơn. Có một người mẹ chỉ học được thế nào là phó thác sau khi đã làm tất cả mà vẫn không thể thay đổi đứa con. Có một người từng rất cứng cỏi chỉ trở nên dịu dàng sau khi đời làm cho họ vỡ ra. Không phải đau khổ tự nó là tốt. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đức Giêsu cũng không đi tìm đau khổ vì đau khổ. Nhưng khi đau khổ không thể tránh, Chúa có thể đi vào trong đó và biến nó thành một con đường gặp gỡ. Thập giá không trở thành thánh vì nó nặng. Thập giá trở thành thánh vì trên đó có Đức Kitô.
Vấn đề không phải chỉ là ta mang gì, nhưng là ta mang với ai. Hai người có thể mang cùng một hoàn cảnh nhưng trở nên hai con người hoàn toàn khác nhau. Một người sau đau khổ trở nên chua cay. Một người sau đau khổ trở nên bao dung. Một người sau phản bội không còn tin bất cứ ai. Một người sau phản bội biết thương những người đang bị tổn thương. Một người sau bệnh tật chỉ nhìn thấy những gì mình mất. Một người sau bệnh tật lại biết quý từng buổi sáng còn được thức dậy. Một người khi về già trở nên khó chịu với mọi người vì cảm thấy mình bị bỏ quên. Một người khi về già lại trở thành sự hiện diện hiền lành, biết cầu nguyện cho con cháu. Cùng một thập giá, nhưng cách vác khác nhau. Có người vác thập giá bằng oán hận. Có người vác bằng nhẫn nại. Có người vác bằng than trách. Có người vác bằng tín thác. Có người vừa vác vừa làm tổn thương tất cả những ai quanh mình. Có người càng đau lại càng trở nên dịu dàng. Vì vậy đừng chỉ hỏi: “Tại sao Chúa gửi cho tôi thập giá này?” Có khi câu hỏi ấy không bao giờ có một câu trả lời đầy đủ trong đời này. Hãy thử hỏi thêm một câu khác: “Lạy Chúa, Chúa muốn con trở thành người thế nào khi mang thập giá này?” Câu hỏi thứ hai có thể thay đổi tất cả. Ta không đổi được biến cố, nhưng ta có thể để biến cố đổi mình theo hướng nào. Ta không chọn được việc người khác đối xử với ta ra sao, nhưng có thể chọn mình đáp lại thế nào. Ta không chọn được việc mình sẽ già, nhưng chọn cách mình sống tuổi già. Ta không chọn được một số mất mát, nhưng chọn liệu mất mát ấy sẽ biến trái tim mình thành đá hay thành lòng thương xót. Ta không chọn được mọi cơn đau, nhưng có thể chọn không biến cơn đau của mình thành vũ khí làm đau người khác.
Đó có lẽ là một trong những tự do sâu nhất Thiên Chúa đặt trong lòng con người. Ta tưởng tự do nghĩa là làm được mọi điều mình muốn. Không. Có một tự do lớn hơn: khi không còn làm được điều mình muốn, ta vẫn còn có thể chọn thái độ của mình. Người ta có thể lấy khỏi ta tiền bạc, sức khỏe, danh dự, địa vị, một số mối tương quan, thậm chí nhiều khả năng của thân xác, nhưng vẫn còn một khoảng sâu thẳm nơi linh hồn mà chỉ ta với Chúa mới chạm tới được. Ở đó ta quyết định: tôi sẽ trở thành người nào sau biến cố này? Tôi sẽ để nỗi đau làm tôi cay độc hay làm tôi sâu hơn? Tôi sẽ dùng vết thương để biện minh cho việc làm đau người khác hay biến nó thành cánh cửa để hiểu những người cũng đang đau? Tôi sẽ coi mình là nạn nhân suốt đời hay vẫn bước đi? Tôi sẽ đóng cửa hay tiếp tục yêu? Tôi sẽ nguyền rủa hay cầu nguyện? Tôi sẽ chống Chúa đến cùng hay một ngày nào đó nói: “Con chưa hiểu, nhưng con vẫn đi với Ngài”? Đó là tự do của Simon. Ông không chọn cây thập giá, nhưng mỗi bước chân tiếp theo ông vẫn phải đặt xuống đất bằng đôi chân của chính mình.
Có những lúc ta phải thú nhận rằng điều làm thập giá nặng hơn không chỉ là bản thân biến cố, mà là cách ta chống lại nó. Có một phần đau khổ đến từ điều đang xảy ra, nhưng một phần khác đến từ việc trong đầu ta liên tục nói: chuyện này không được phép xảy ra. Cuộc đời tôi không đáng phải thế này. Người ấy không được phép đối xử với tôi như vậy. Tôi phải khỏe. Tôi phải được công nhận. Con tôi phải thành công. Gia đình tôi phải hoàn hảo. Cộng đoàn tôi phải hiểu tôi. Người khác phải cư xử theo điều tôi mong. Và khi thực tế không chịu vâng theo chữ “phải” ấy, ta đau gấp đôi. Chấp nhận không có nghĩa là nói điều xấu là tốt. Không phải như vậy. Chấp nhận cũng không có nghĩa là không tìm cách chữa bệnh, không sửa sai, không đấu tranh cho điều công chính, không rời khỏi một hoàn cảnh nguy hiểm. Nhưng có những điều sau khi đã làm hết sức ta vẫn không thể thay đổi. Lúc ấy, tiếp tục chống lại thực tế chỉ làm tâm hồn kiệt quệ. Chấp nhận trong đức tin là nói: “Lạy Chúa, con không muốn điều này. Nếu có thể, con vẫn mong nó được cất đi. Nhưng trong lúc nó chưa được cất đi, xin đừng để con đánh mất Chúa và đánh mất chính mình.”
Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu nguyện như thế. Người không giả vờ rằng chén đắng là dễ uống. Người không gọi đau khổ là niềm vui. Người nói rất thật: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Đó là tiếng nói rất người. Nhưng Người không dừng ở đó: “Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Chính chỗ ấy là nơi thập giá được vác bằng tình yêu. Có những ngày trong đời ta cũng chỉ cần cầu được một lời như thế đã là một chiến thắng lớn: “Lạy Chúa, con không thích điều này. Con sợ. Con mệt. Con thấy bất công. Con muốn nó đi khỏi đời con. Nhưng nếu hôm nay con vẫn phải mang, xin cho con mang nó với Chúa.” Đừng nghĩ một lời cầu nguyện như thế là yếu đức tin. Trái lại, đó có thể là một trong những lời cầu nguyện chân thật nhất.
Simon được đặt thập giá lên vai để “vác theo sau Đức Giêsu”. Đừng bỏ qua hai chữ “theo sau”. Kitô giáo không nói với ta: cứ tự mình vác đi. Chúa không đứng trên đỉnh đồi rồi gọi ta leo lên một mình. Người đi trước. Người đã mang trước ta. Người hiểu cái nặng của gỗ, cái rát của vết thương, cái nhục của lời chế nhạo, cái cô đơn của bị bỏ rơi. Bởi vậy khi ta đau, ta không cầu nguyện với một Thiên Chúa đứng ngoài đau khổ và nói những câu an ủi dễ dàng. Ta cầu nguyện với một Đấng có những vết đinh. Khi một người mẹ khóc vì con mình, Chúa không bảo bà rằng đừng khóc. Người đứng bên cạnh như từng đứng trước mộ Lazarô và Người cũng khóc. Khi một người bệnh sợ chết, Chúa không trách họ kém tin. Người đã từng nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Khi một người bị phản bội thấy lòng mình tan nát, Chúa hiểu vì Người đã từng bị một môn đệ bán bằng ba mươi đồng bạc và một người thân tín khác chối ba lần. Khi một người thấy mình bị bỏ rơi, Chúa hiểu tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Vì thế vác thập giá theo Chúa không có nghĩa là đau ít hơn về mặt cảm xúc, nhưng là không còn đau một mình.
Có khi ta cứ xin Chúa cất cây thập giá, trong khi Chúa lại đang ở ngay phía trước cây thập giá đó. Ta nhìn cái gỗ nên không thấy Người. Ta nhìn bệnh nên không thấy Người. Ta nhìn thất bại nên không thấy Người. Ta nhìn người đã làm ta đau nên không thấy Người. Ta nhìn những gì đã mất nên không thấy Người vẫn còn. Simon mà chỉ nhìn cây gỗ chắc sẽ thấy một sự bất công. Nhưng nếu ông ngước lên nhìn Người đang đi trước mình, cây gỗ ấy mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Không phải vì cây gỗ thay đổi, mà vì người đi cùng ông là ai. Đời sống đức tin trưởng thành không nhất thiết là khi ta không còn thập giá, nhưng khi giữa thập giá ta nhận ra: Chúa đang ở đây.
Có một cám dỗ khác rất thường gặp: so sánh thập giá của mình với người khác. “Tại sao họ khỏe mà tôi bệnh?” “Tại sao gia đình họ yên ổn mà nhà tôi quá nhiều chuyện?” “Tại sao người ấy sống không tốt mà lại thành công?” “Tại sao người kia làm ít hơn nhưng được khen nhiều hơn?” “Tại sao họ được hiểu còn tôi bị hiểu lầm?” So sánh là một cách khiến cây thập giá vốn đã nặng lại nặng thêm. Ta vừa mang gánh của mình vừa cố nhìn gánh của người khác. Nhưng ta không biết hết câu chuyện của họ. Có những người nhìn bên ngoài rất bình an nhưng đêm về cũng khóc. Có người rất thành công nhưng mang một cô đơn chẳng ai thấy. Có nhà đầy đủ nhưng không còn nói chuyện với nhau. Có người khỏe mạnh nhưng trong lòng hoàn toàn mất phương hướng. Mỗi người có một con đường. Simon không được hỏi: tại sao tôi mà không phải người đứng bên cạnh? Ông chỉ có thể bước tiếp con đường đang ở trước mặt. Đức Giêsu sau khi sống lại từng nói với Phêrô một lời rất đáng nhớ khi ông tò mò hỏi về số phận của Gioan: “Phần anh, hãy theo Thầy.” Có những câu hỏi về cuộc đời người khác chẳng giúp ta nên thánh hơn. “Phần con, hãy theo Thầy.” Thế là đủ.
Thập giá cũng có một khả năng rất lạ: nó bóc trần những gì thật sự ở trong lòng ta. Khi mọi chuyện thuận lợi, ta dễ nghĩ mình khiêm nhường, nhẫn nại, yêu thương, tín thác. Nhưng khi bị chạm tới quyền lợi, ta mới biết mình khiêm nhường đến đâu. Khi bị hiểu lầm, ta mới biết mình cần lời khen đến mức nào. Khi kế hoạch hỏng, ta mới biết mình tín thác hay chỉ tin Chúa khi Chúa làm theo ý mình. Khi người khác làm mình đau, ta mới biết lòng thương xót của mình sâu đến đâu. Khi bệnh tật đến, ta mới biết điều gì thật sự là chỗ dựa của đời mình. Thập giá giống như một sức ép làm những gì ẩn sâu bên trong trồi lên. Và chính vì thế, nó cũng có thể trở thành trường học. Ta không tìm nó, nhưng khi nó đến, ta có thể học từ nó. Học rằng mình yếu. Học rằng mình cần người khác. Học rằng có những thứ tiền không mua được. Học rằng danh tiếng rất mong manh. Học rằng đời ngắn. Học rằng một bữa cơm gia đình bình thường là một ân huệ. Học rằng được đi lại, được ngủ ngon, được hít thở mà không đau đều là hồng ân. Học rằng có những người ta từng coi là đương nhiên nhưng đến lúc họ không còn nữa mới thấy quý biết bao. Thập giá làm vỡ nhiều ảo tưởng, nhưng nếu để Chúa đi vào, nó cũng có thể trả lại cho ta một cái nhìn trong hơn về những gì thật sự đáng giá.
Tuy nhiên, phải nói rất rõ: không phải mọi đau khổ đều phải cam chịu thụ động dưới danh nghĩa “vác thập giá”. Có những người đã bị dạy sai rằng bị bạo hành thì cứ chịu, bị chà đạp thì cứ im, bị bất công thì không được lên tiếng vì đó là thập giá Chúa gửi. Không. Thiên Chúa không phải tác giả của sự dữ. Người không đòi một người phải ở mãi trong nơi nguy hiểm chỉ để chứng minh đức tin. Đức Giêsu tha thứ nhưng Người cũng vạch mặt sự giả hình. Người hiền lành nhưng không đồng lõa với bất công. Vác thập giá không có nghĩa là để người khác đóng thêm đinh vào mình khi mình có thể và cần phải bước ra. Có thập giá phải đón nhận. Có thập giá phải tìm cách thay đổi. Có thập giá do bệnh tật. Có thập giá do giới hạn. Nhưng cũng có “thập giá” thực chất là hậu quả của một tình trạng độc hại cần được chấm dứt. Phân định là điều rất quan trọng. Đức tin không biến ta thành người thụ động. Đức tin giúp ta biết điều gì phải chiến đấu và điều gì phải phó thác.
Và ngay cả khi thập giá không đổi, cách vác vẫn có thể đổi từng ngày. Có những ngày ta vác rất đẹp. Có ngày ta cầu nguyện được, lòng bình an, thấy Chúa gần. Nhưng có ngày ta lại mệt, lại than, lại cáu, lại khóc. Đừng vì thế mà nghĩ mình thất bại. Simon chắc cũng đâu bước đều từng bước từ đầu đến cuối. Cây gỗ nặng. Đường dốc. Thân xác mỏi. Có thể ông trượt chân. Có thể ông bực tức. Có thể trong lòng ông vẫn hỏi chuyện gì đang xảy ra. Vác thập giá không đòi ta trở thành một khối đá không cảm xúc. Người môn đệ có thể mệt. Có thể khóc. Có thể cần nghỉ. Có thể cần người đỡ. Có thể có những ngày chỉ đủ sức nói: “Lạy Chúa, hôm nay con không mang nổi.” Và chính lúc ấy, hãy nhớ: trên đường Canvê, Đức Giêsu cũng đã để Simon vác giúp. Một Thiên Chúa chấp nhận để người khác giúp mình đã thánh hóa sự yếu đuối của con người. Ta không phải mang mọi thứ một mình để chứng minh mình mạnh. Có những thập giá cần được chia sẻ. Hãy cho người khác biết ta đang mệt. Hãy xin một lời cầu nguyện. Hãy tìm người có thể lắng nghe. Hãy đi khám khi cần. Hãy nghỉ khi thân xác báo động. Hãy nói chuyện với một người khôn ngoan khi lòng rối bời. Đón nhận giúp đỡ không làm ta kém đức tin.
Có khi chúng ta thích làm Simon cho người khác hơn là để người khác làm Simon cho mình. Ta vui khi giúp, nhưng ngại khi phải nhận. Ta muốn mình là người mạnh. Ta muốn người khác thấy ta ổn. Nhưng thập giá cũng dạy một bài học về sự khiêm nhường: có lúc chính ta phải cho phép người khác ghé vai. Một cuộc đời trưởng thành không phải cuộc đời không cần ai. Đức Giêsu trên đường Thương Khó đã để Simon giúp Người. Vậy tại sao ta lại xấu hổ khi cần người khác giúp?
Nhưng cũng từ Simon, ta phải tự hỏi một câu ngược lại: quanh tôi lúc này có ai đang bị đặt một cây thập giá lên vai không? Tôi có thể ghé vai vào không? Có người không cần ta giảng một bài dài. Họ chỉ cần ta ngồi bên. Có người không cần những câu “cố lên”, họ cần một người chịu nghe. Có người bệnh cần một cuộc điện thoại. Có người già cần ta dành một giờ. Có người đang tang chế cần ta nhớ tới họ sau khi đám tang đã qua, khi mọi người trở lại cuộc sống bình thường mà căn nhà họ vẫn trống. Có người linh mục đang kiệt sức cần anh em hỏi thăm thật lòng. Có người trong cộng đoàn đang lặng lẽ chịu đựng mà chẳng ai biết. Có gia đình đang khốn khó cần một bàn tay. Có đứa trẻ đang tổn thương cần một người lớn an toàn để lắng nghe. Có khi ta không thể lấy thập giá khỏi vai họ, nhưng ta có thể làm cho nó nhẹ đi một chút. Simon không cứu Đức Giêsu khỏi Thập Giá. Ông chỉ mang với Người một đoạn đường. Nhưng đoạn đường ấy đủ để tên ông được ghi mãi trong Tin Mừng. Đừng coi thường một sự giúp đỡ nhỏ. Một cốc nước. Một lời hỏi thăm. Một bữa cơm. Một khoản giúp đỡ kín đáo. Một lần đưa người bệnh đi khám. Một buổi ngồi với một người cô đơn. Một lời bênh vực người bị oan. Có khi những điều đó chính là “vác đỡ thập giá” cho Chúa đang ẩn trong người anh em.
Điều rất đẹp là Simon không biết rằng ngày hôm ấy ông đang bước vào lịch sử cứu độ. Ông chỉ thấy một buổi chiều phiền toái. Có lẽ ban đầu ông nghĩ mình quá xui. Giữa bao người sao lính lại chọn đúng mình? Nhưng điều ông xem là một sự cắt ngang lại trở thành khoảnh khắc khiến tên ông được nhắc suốt hơn hai ngàn năm. Ta không biết những điều hôm nay làm mình bực bội đang được Thiên Chúa dùng thế nào. Một công việc ta không thích có thể đang dạy ta kiên nhẫn. Một người khó sống bên cạnh có thể đang vạch cho ta thấy những phần chưa được chữa lành trong chính mình. Một thất bại có thể cứu ta khỏi một kiêu ngạo lớn hơn. Một cánh cửa đóng có thể ngăn ta bước vào nơi không dành cho mình. Một thời gian phải dừng lại có thể kéo ta trở về với những điều đã lâu bị bỏ quên. Ta không nên vội vàng gọi mọi điều đau là “hồng ân”, bởi điều đó có thể trở thành một lời nói rẻ tiền đối với người đang chịu khổ. Nhưng sau nhiều năm, có những người thật sự đã có thể nói: “Tôi không muốn sống lại điều đó. Nhưng nếu không có điều đó, có lẽ tôi đã không trở thành con người hôm nay.” Đó là một lời rất sâu.
Có lẽ Simon cũng vậy. Tin Mừng Máccô khi kể về Simon đã gọi ông là “cha của Alexandros và Rufus”, một chi tiết khiến nhiều người nghĩ rằng gia đình ông sau này được cộng đoàn Kitô hữu biết đến. Ta không cần xây dựng quá nhiều điều từ một chi tiết nhỏ ấy, nhưng chỉ riêng việc tên Simon được các Tin Mừng gìn giữ cũng đã nói lên rằng cuộc gặp trên đường Thập Giá ấy không phải một chuyện vô nghĩa. Một người vô danh giữa đám đông đã trở thành người mà cả Hội Thánh nhớ tên. Không phải vì ông giảng một bài nổi tiếng. Không phải vì ông làm phép lạ. Không phải vì ông lãnh đạo ai. Chỉ vì ông đã mang một cây gỗ sau lưng Chúa một đoạn đường. Điều ấy an ủi biết bao những người đang sống một cuộc đời rất âm thầm. Có những người tưởng đời mình chẳng làm gì lớn. Một người mẹ chăm một đứa con khuyết tật suốt ba mươi năm. Một người chồng chăm vợ bệnh. Một người vợ kiên nhẫn bên người chồng tuổi già. Một người con chăm cha mẹ sa sút trí nhớ. Một tu sĩ làm một công việc chẳng ai biết tên. Một linh mục ở một giáo xứ nhỏ, không có điều gì nổi bật, ngày này qua ngày khác dâng lễ, giải tội, thăm bệnh, chôn người chết, rửa tội cho trẻ thơ. Không ai viết báo. Không ai vỗ tay. Nhưng trên trời, có thể đó lại là những con đường Canvê rất đẹp.
Thập giá có một cách riêng để thanh luyện động cơ. Khi mọi việc thành công, ta dễ phục vụ vì niềm vui của thành công. Khi được khen, ta dễ hăng say. Khi người ta biết ơn, ta dễ cho đi. Nhưng khi làm mà không ai biết, khi hy sinh mà còn bị hiểu lầm, khi yêu một người không đáp lại, khi phục vụ mà không thấy kết quả, lúc ấy ta bắt đầu biết mình làm vì ai. Có những người chỉ vác được thập giá nếu có người nhìn thấy. Họ kể khổ liên tục để mọi người biết mình hy sinh. Có người biến đau khổ thành một thứ vốn đạo đức để yêu cầu người khác mang ơn mình. Nhưng Đức Kitô mời ta đi sâu hơn: vác vì yêu. Không phải im lặng đến mức không tìm sự giúp đỡ, nhưng không dùng thập giá để điều khiển người khác. Không dùng bệnh tật để bắt cả nhà phải xoay quanh mình. Không dùng những hy sinh đã qua để nhắc đi nhắc lại rằng “ta đã làm cho các con biết bao nhiêu”. Không dùng đời tận hiến để đòi được kính trọng. Thập giá khi đi với Đức Kitô phải làm ta tự do hơn, không phải làm ta kiểm soát người khác nhiều hơn.
Có người hỏi: làm sao để vác một thập giá quá nặng? Câu trả lời thường không phải là nghĩ về cả đời. Simon chỉ cần bước một bước rồi thêm một bước. Nhiều người ngã quỵ vì họ cố mang thập giá của ngày mai trong ngày hôm nay. Người bệnh vừa nghe chẩn đoán đã hình dung mười năm tới. Người cha vừa gặp khó khăn đã nghĩ hết mọi tai họa có thể xảy ra. Người mẹ có con lạc lối cứ nghĩ rằng đời nó chắc chắn sẽ hỏng. Nhưng Chúa dạy: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” Ân sủng cũng thường được ban theo ngày. Hôm nay Chúa cho đủ sức cho hôm nay. Ngày mai sẽ có ân sủng của ngày mai. Ta không cần vác cả con đường Canvê trong một bước. Chỉ bước bước đang ở trước mặt. Hôm nay uống thuốc. Hôm nay đi làm. Hôm nay cầu nguyện mười phút. Hôm nay không nói lời cay đắng. Hôm nay tha một chút. Hôm nay đứng dậy khỏi giường. Hôm nay gọi cho người mình cần gọi. Hôm nay ăn một bữa. Hôm nay ngủ. Ngày mai sẽ tính tiếp. Có những chiến thắng thiêng liêng rất nhỏ như thế.
Và xin đừng nghĩ phải cảm thấy bình an mới gọi là tín thác. Tín thác không phải cảm xúc. Có người vừa khóc vừa tín thác. Có người vừa sợ vừa đi. Có người lòng vẫn rối nhưng không bỏ lễ. Có người chẳng cảm thấy Chúa nhưng vẫn đọc một kinh Kính Mừng. Có người không hiểu gì nhưng vẫn không buông tay Người. Đó là đức tin. Simon đâu cần hiểu thần học Thập Giá mới mang được cây gỗ. Ông chỉ bước. Nhiều khi bước đi trước, hiểu đến sau. Có những điều của Thiên Chúa chỉ có thể hiểu sau khi đã đi qua.
Điều quan trọng nhất không phải là thập giá lớn hay nhỏ. Điều quan trọng là nó có đưa ta đến gần Đức Kitô hơn không. Có người chịu rất nhiều nhưng càng xa Chúa. Có người chỉ một thử thách nhỏ đã học được sự phó thác lớn. Đau khổ tự nó không làm ai nên thánh. Chính tình yêu mới làm nên thánh. Có người vác thập giá mà trong lòng đầy hận thù. Có người vác thập giá mà tim mở rộng hơn. Vì vậy đừng lãng mạn hóa đau khổ. Hãy xin Chúa làm cho đau khổ sinh hoa trái. “Lạy Chúa, nếu con phải đi qua điều này, xin đừng để nó vô ích. Xin đừng để con chỉ đau mà không trưởng thành. Xin đừng để con chỉ mất mà không học được yêu. Xin đừng để nước mắt con rơi xuống đất mà chẳng tưới được một hạt giống nào.”
Có những thập giá chỉ kéo dài một mùa. Có những thập giá theo ta rất lâu. Một giới hạn thân xác. Một ký ức không thể xóa. Một người thân đã mất. Một đứa con cần chăm sóc cả đời. Một vết thương dù đã chữa lành vẫn còn sẹo. Đối với những thập giá dài như thế, điều Chúa làm nhiều khi không phải là lấy chúng đi mà là làm đôi vai ta rộng hơn. Điều từng khiến ta tưởng sẽ không sống nổi, vài năm sau ta ngạc nhiên vì mình vẫn còn đứng đây. Không phải vì ta giỏi. Có lẽ vì mỗi ngày Chúa đã cho một chút sức mà ta không để ý. Ân sủng thường không ồn ào. Nó không luôn làm cây thập giá nhẹ đi; nhiều khi nó làm người vác mạnh lên.
Tuổi già là một thập giá mà chẳng ai tránh được nếu sống đủ lâu. Mắt kém, tai kém, chân chậm, trí nhớ giảm, người thân lần lượt ra đi, cảm giác mình không còn cần thiết như trước. Có người chống tuổi già bằng cay đắng. Có người đón nó như một mùa khác của đời. Không còn làm được nhiều thì cầu nguyện nhiều. Không đi xa được thì yêu những người đang ở gần. Không nói được nhiều thì nói những lời hiền lành. Không còn vị trí thì tập vui khi người trẻ làm được việc. Vác thập giá tuổi già đẹp nhất có lẽ là không bắt cả nhà phải đau theo cái đau của mình, nhưng biến những ngày cuối đời thành một lời chúc lành. Có những ông bà không để lại nhiều tiền, nhưng để lại trong con cháu một ký ức không thể mua được: “Ông bà mình lúc già rất hiền.” Đó là một sự thánh thiện lớn.
Với đời linh mục và đời tu cũng thế. Ngày khấn, ngày chịu chức, người ta thường thấy hoa, nến, áo đẹp, lời chúc. Nhưng ơn gọi thật sự được thử không phải trong ngày lễ mà trong những ngày rất bình thường sau đó. Khi không còn ai vỗ tay. Khi bài giảng chuẩn bị kỹ mà ít người nghe. Khi mình làm điều tốt mà bị hiểu sai. Khi sống với một người không hợp tính. Khi vâng phục một điều mình không thích. Khi bệnh. Khi chuyển nhiệm sở. Khi thấy người trẻ hơn mình làm tốt hơn mình. Khi phải rời công việc mình gắn bó. Khi chẳng còn được giao vai trò quan trọng. Đó là những cây thập giá của ơn gọi. Không ai chọn hết được. Nhưng cách vác có thể làm một linh mục trở nên hiền hơn hoặc cay đắng hơn, một tu sĩ trở nên tự do hơn hoặc cằn cỗi hơn. Có những người càng già trong ơn gọi càng đẹp vì họ đã để bao va chạm mài bớt cái tôi. Cũng có những người càng lâu năm càng khó gần vì mỗi tổn thương họ giữ lại thành một lớp vỏ. Cùng là năm tháng. Cùng là thập giá. Khác nhau ở cách vác.
Một trong những cách vác thập giá sai là cứ mãi kể lại câu chuyện cũ để nuôi vết thương. Có những chuyện đã xảy ra hai mươi năm nhưng trong lòng ta nó vẫn xảy ra mỗi sáng vì ta kể lại nó mãi. Người ấy đã làm tôi thế này. Họ đã đối xử với tôi thế kia. Tôi không quên được. Có thể ký ức không xóa được, nhưng ta có thể chọn không tưới nước cho nó mỗi ngày. Tha thứ không phải nói việc xấu không còn xấu. Tha thứ là không cho người đã làm ta đau tiếp tục sống miễn phí trong đầu mình suốt đời. Có những cây thập giá chỉ thực sự nhẹ đi khi ta buông nhu cầu phải thắng lại quá khứ. Không phải quên, nhưng thôi để nó định nghĩa mình.
Hãy nhìn Đức Giêsu. Trên đường Thập Giá, Người không biến đau khổ thành lý do để hận. Bị đánh, Người không nguyền rủa. Bị đóng đinh, Người cầu xin tha thứ. Người cho thấy cách vác thập giá cao nhất: biến nơi người khác trao cho mình cái chết thành nơi mình trao lại tình yêu. Ta chưa đạt đến mức ấy ngay. Nhưng đó là hướng đi. Mỗi khi đau mà không làm đau lại, ta đang đi theo Người. Mỗi khi bị xúc phạm mà không xúc phạm lại, ta đang đi theo Người. Mỗi khi có lý do để cay độc nhưng chọn im lặng và cầu nguyện, ta đang đi theo Người. Mỗi khi thập giá làm tim ta mềm hơn thay vì cứng hơn, ta đang đi theo Người.
Cuộc đời không hỏi ta có muốn mang thập giá hay không. Sớm hay muộn, cây gỗ nào đó sẽ được đặt lên vai mỗi người. Người giàu có cây gỗ của người giàu. Người nghèo có cây gỗ của người nghèo. Người lập gia đình có thập giá của gia đình. Người độc thân có thập giá của cô đơn. Người có con có lo của con. Người không có con có nỗi đau khác. Linh mục có thập giá của linh mục. Tu sĩ có thập giá của tu sĩ. Người khỏe rồi cũng sẽ yếu. Người trẻ rồi cũng già. Người đang được yêu cũng có ngày phải chia tay. Không ai đi hết đời mà không bước qua một đoạn Canvê. Khôn ngoan không phải là tìm một cuộc đời không có thập giá, vì cuộc đời ấy không tồn tại. Khôn ngoan là học cách vác.
Vác với Chúa. Vác từng ngày. Vác mà vẫn biết yêu. Vác mà không làm người khác trở thành nạn nhân của nỗi đau mình. Vác mà biết xin giúp đỡ. Vác mà biết ghé vai cho người khác. Vác mà không ngừng hy vọng. Vác mà nhớ rằng đường Canvê không kết thúc ở mồ đá. Đây là điều cuối cùng làm nên khác biệt của Kitô hữu. Ta không tin Thập Giá là tiếng nói cuối cùng. Simon đi sau một người sắp chết, nhưng ông không biết rằng Người ấy sẽ sống lại. Có những ngày ta cũng chỉ thấy chiều Thứ Sáu. Trời tối. Mọi sự giống như kết thúc. Nhưng đức tin nói rằng phía sau Thứ Sáu có Chúa Nhật. Không phải mọi thập giá đều được giải quyết theo cách ta muốn ở đời này, nhưng không cây thập giá nào được mang với Đức Kitô mà vô nghĩa trước mặt Thiên Chúa.
Có lẽ một ngày nào đó khi gặp Simon trên Nước Trời, ta sẽ hỏi ông: “Lúc họ bắt ông vác thập giá, ông có biết chuyện đó sẽ thay đổi đời ông không?” Có lẽ ông sẽ cười và nói: “Không. Lúc ấy tôi chỉ thấy nó quá nặng.” Câu trả lời ấy cũng có thể là câu chuyện của nhiều người chúng ta. Hôm nay ta chỉ thấy nặng. Chưa thấy ý nghĩa. Chưa hiểu Chúa đang làm gì. Chưa thấy kết quả. Chưa thấy bình minh. Nhưng cứ đi. Đi sau Người. Một bước nữa. Rồi một bước nữa. Có những ý nghĩa chỉ được hiểu khi đã đến cuối đường.
Lạy Chúa Giêsu, có những cây thập giá con không chọn. Có những hoàn cảnh con vẫn ước gì chưa từng xảy ra. Có những con người con vẫn chưa hiểu vì sao Chúa để họ bước vào đời con. Có những mất mát con vẫn chưa thể gọi tên mà không đau. Có những ngày con đã hỏi Chúa rất nhiều lần: tại sao? Hôm nay nhìn Simon Kyrênê, con hiểu rằng con không cần phải giả vờ yêu thích cây thập giá của mình. Con chỉ xin một điều: đừng để con vác nó mà xa Chúa. Nếu con không chọn được điều xảy đến, xin cho con chọn cách đáp lại. Nếu con không đổi được hoàn cảnh, xin đổi trái tim con. Nếu cây thập giá chưa thể nhẹ, xin làm đôi vai con mạnh hơn. Nếu đường còn dài, xin cho con đủ sức cho bước hôm nay. Nếu con ngã, xin cho con biết đứng dậy. Nếu con mệt, xin gửi một Simon đến bên con. Và khi con gặp một người đang kiệt sức dưới cây thập giá của họ, xin đừng để con chỉ đứng nhìn.
Lạy Chúa, xin dạy con hiểu rằng có những lần bị cắt ngang lại là lúc Chúa bước vào đời con. Có những con đường con không muốn đi lại dẫn con đến gần Chúa nhất. Có những cây gỗ con từng nguyền rủa lại có thể trở thành nơi con học yêu. Con không xin Chúa cho đời con không có thập giá, vì chính Chúa cũng đã không đi con đường ấy. Con chỉ xin rằng, khi thập giá đến, con đừng vác nó một mình, đừng vác nó trong cay độc, đừng biến nó thành lý do để làm đau người khác. Xin cho con biết vác theo sau Chúa.
Và đến một ngày, khi hành trình đời con gần hết, nếu nhìn lại những đoạn đường khó nhất, xin cho con có thể nhận ra một sự thật rất hiền: chính ở những nơi con tưởng Chúa bỏ con, Người lại ở gần con nhất. Chính những lần con tưởng đời mình bị cắt ngang, Chúa lại âm thầm dẫn con vào một câu chuyện lớn hơn. Như Simon Kyrênê, con có thể đã không chọn cây thập giá. Nhưng nếu cây thập giá ấy giúp con đi sát phía sau Đức Kitô, thì cuối cùng, con sẽ hiểu rằng có những điều cuộc đời đặt lên vai ta tưởng chỉ là gánh nặng, nhưng trong bàn tay Thiên Chúa, lại có thể trở thành con đường đưa ta về nhà.
Lm. Anmai, CSsR

SIMON KYRÊNÊ – NGƯỜI VÁC MỘT THẬP GIÁ KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH
Tin Mừng: Mc 15,21
Có những thập giá trong đời không mang tên mình, nhưng cuối cùng lại nằm trên vai mình. Có những đau khổ mình không gây ra, nhưng lại phải gánh. Có những giọt nước mắt không chảy từ mắt mình trước tiên, nhưng rồi mình lại là người thức đêm để lau. Có những căn bệnh không ở trong thân thể mình, nhưng từng cơn đau của người bệnh lại đi xuyên qua trái tim mình. Có những món nợ mình không vay, những sai lầm mình không phạm, những đổ vỡ mình không tạo nên, những lựa chọn mình không quyết định, nhưng vì yêu một người, vì thuộc về một gia đình, vì mang một trách nhiệm, vì đã nói một lời thề, vì đã nhận một sứ mạng, ta bỗng thấy mình đứng giữa con đường đời với một cây thập giá đặt lên vai. Simon Kyrênê là một người như thế. Tin Mừng theo thánh Máccô chỉ kể rất ngắn: “Lúc ấy, có một người từ miền quê lên, đi ngang qua đó, tên là Simon, gốc Kyrênê. Ông là thân phụ của Alexanđê và Ruphô. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Đức Giêsu.” Chỉ một câu. Một con người đang đi đường. Một biến cố ông không dự tính. Một cây thập giá không thuộc về ông. Một người tử tội ông có lẽ không quen. Một mệnh lệnh ông không xin. Một đoạn đường ông không hề chọn. Vậy mà chính đoạn đường bị ép buộc ấy đã trở thành đoạn đường làm tên ông được ghi mãi trong Tin Mừng.
Có lẽ sáng hôm đó Simon chỉ nghĩ đến những công việc rất bình thường. Ông từ miền quê lên. Có thể ông vừa làm ruộng xong. Có thể ông đang nghĩ đến gia đình. Có thể ông đang vội. Có thể ông đã có chương trình riêng. Không ai ra khỏi nhà buổi sáng mà nghĩ: hôm nay tôi sẽ gặp một người bị kết án tử hình và bị bắt mang giúp cây gỗ hành hình của người ấy. Simon không chuẩn bị cho chuyện đó. Ông không xin chuyện đó. Ông không chủ động đến gặp Đức Giêsu để nói: “Thưa Ngài, xin cho tôi được vác thập giá với Ngài.” Không. Tin Mừng nói rất rõ: người ta bắt ông. Chữ ấy quan trọng. Bởi có những hy sinh trong đời chúng ta rất đẹp khi mình tự nguyện chọn, nhưng có những hy sinh lại đến bằng một cách khó chịu hơn nhiều: nó áp vào đời mình mà chẳng hỏi ý mình. Và có lẽ chính những hy sinh ấy mới cho ta thấy lòng mình thật sự ra sao.
Ta vẫn dễ yêu một thập giá khi thập giá ấy còn ở trong bài giảng. Ta dễ xúc động trước cây Thánh Giá trong nhà thờ. Ta dễ cúi đầu trước Thập Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Ta có thể hôn kính Thánh Giá rất sốt sắng. Nhưng thập giá ngoài đời lại khác. Nó có tiếng ho của người bệnh giữa đêm. Nó có mùi thuốc men. Nó có những lần tái khám. Nó có hóa đơn bệnh viện. Nó có một người già hỏi đi hỏi lại một câu hàng chục lần. Nó có một người chồng sau tai biến không còn như trước. Nó có một người vợ đau bệnh kéo dài. Nó có một đứa con khuyết tật cần cha mẹ chăm sóc cả đời. Nó có một người con lầm đường để cha mẹ âm thầm gánh hậu quả. Nó có một gia đình nghèo mà một người phải làm việc cho năm bảy miệng ăn. Nó có một cộng đoàn mà người có trách nhiệm phải gánh những điều chẳng ai thấy. Nó có một linh mục ngồi trong tòa giải tội hàng giờ để nghe những nỗi đau không phải của mình, rồi mang những khuôn mặt ấy vào lời cầu nguyện. Nó có một người chăm sóc bệnh nhân mà từ nhiều năm nay gần như không còn đời riêng. Những cây thập giá ấy không bóng bẩy. Không có ánh nến. Không có hoa. Không có nhạc thánh. Chỉ có mệt. Chỉ có đêm dài. Chỉ có sự lặp đi lặp lại. Và có khi chỉ có một câu rất thật bật lên trong lòng: “Tại sao lại là tôi?”
Có lẽ Simon cũng đã hỏi như thế. Giữa bao nhiêu người trên đường, tại sao lại bắt tôi? Tôi đâu có liên can đến vụ án này. Tôi đâu biết ông Giêsu kia là ai. Tôi đâu phải môn đệ của ông ấy. Tôi còn việc của tôi. Tôi còn gia đình. Tôi còn cuộc đời riêng. Tại sao tôi phải vác cây gỗ của một người khác? Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều người đang âm thầm sống một đời giống Simon. Một người vợ có thể hỏi: tại sao chồng tôi bệnh mà tôi phải bỏ hết để chăm? Một người chồng có thể hỏi: tại sao gia đình người khác êm ấm còn gia đình tôi hết biến cố này đến biến cố kia? Một người mẹ có thể hỏi: tại sao con người ta lớn lên khỏe mạnh, lập gia đình, có nghề nghiệp, còn con tôi cả đời vẫn cần tôi chăm từng miếng ăn? Một người con có thể hỏi: tại sao anh chị em đông như vậy mà cuối cùng việc chăm cha mẹ già lại dồn vào tôi? Một linh mục có thể hỏi: tại sao mình phải chịu những hiểu lầm do người khác gây ra? Một người sống trong cộng đoàn có thể hỏi: tại sao tôi phải bù đắp cho những thiếu sót không phải do tôi? Chúng ta thường nghĩ công bằng nghĩa là ai gây ra thì người ấy gánh. Nhưng tình yêu lại có một thứ công bằng khác: vì yêu nên có người tự nguyện bước vào hậu quả của người khác, đứng cạnh người khác, đỡ lấy một phần sức nặng của người khác. Và chính ở đó, người Kitô hữu đi rất gần Đức Kitô.
Điều đẹp nhất trong hình ảnh Simon Kyrênê không phải chỉ là ông đã mang một cây gỗ. Điều đẹp nhất là cây gỗ ấy vốn đang nằm trên vai Đức Giêsu. Simon không vác một thập giá riêng biệt bên cạnh Chúa. Ông chạm vào chính cây thập giá của Chúa. Ông đi trên cùng con đường. Ông nghe cùng tiếng la ó. Ông hít cùng bụi đường. Ông cảm nhận cùng sức nặng. Có lẽ ông đã nhìn thấy lưng Chúa đầy thương tích. Có lẽ ông đã thấy máu chảy. Có lẽ ông đã nghe hơi thở nặng nhọc. Có lẽ lúc đầu ông bực bội vì bị ép buộc, nhưng từng bước một, ông bắt đầu hiểu rằng mình không chỉ đang mang một khúc gỗ; mình đang ở rất gần một người đang đau. Và đôi khi điều làm thập giá của chúng ta thay đổi không phải là thập giá nhẹ đi, mà là ta nhận ra bên cạnh cây thập giá ấy có một khuôn mặt.
Người chăm bệnh rất dễ kiệt sức nếu chỉ nhìn thấy công việc phải làm. Thay tã. Cho thuốc. Đút ăn. Đưa đi bệnh viện. Trở mình cho người bệnh. Lau người. Đỡ dậy. Đưa vào nhà vệ sinh. Nghe than đau. Trả lời một câu hỏi được lặp đi lặp lại. Những công việc ấy nếu chỉ được nhìn như nhiệm vụ sẽ trở thành sức nặng khủng khiếp. Nhưng nếu một ngày người chăm bệnh nhìn vào khuôn mặt người mình đang chăm và nhận ra: đây không phải là một “gánh nặng”, đây là cha tôi; đây là mẹ tôi; đây là người đã từng bế tôi; đây là người đã từng thức đêm vì tôi; đây là người bạn đời đã đi cùng tôi bao nhiêu năm; đây là một con người đang yếu đuối và cần tôi, thì cây thập giá vẫn nặng nhưng ý nghĩa đã khác. Không phải lúc nào tình yêu cũng làm ta hết mệt. Tình yêu không phải thuốc giảm đau. Tình yêu nhiều khi vẫn mệt, vẫn khóc, vẫn kiệt sức, vẫn có lúc muốn bỏ cuộc. Nhưng tình yêu giúp ta biết vì ai mà mình mệt.
Có một thứ đau khổ rất đặc biệt: đau khổ vì người mình thương. Nếu chính ta bệnh, ta chịu đau trong thân thể. Nhưng khi người mình thương bệnh, ta chịu một nỗi đau khác: bất lực. Có những người mẹ chỉ ước có thể lấy căn bệnh của con mà mang vào thân mình. Có những người chồng đứng ngoài phòng cấp cứu chỉ mong bác sĩ nói: “Anh có thể chịu đau thay cho vợ.” Có những người con nhìn cha mẹ già yếu mà thầm ước có thể trả lại cho cha mẹ đôi chân khỏe, trí nhớ minh mẫn, đôi mắt sáng của ngày xưa. Nhưng ta không làm được. Ta không thể đau thay hoàn toàn. Ta chỉ có thể đứng cạnh. Và đôi khi “đứng cạnh” chính là cây thập giá lớn nhất.
Đức Maria dưới chân Thập Giá cũng không thể chết thay cho Con. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Nhưng đừng tưởng đứng đó là ít. Có những lúc yêu thương không còn khả năng giải quyết gì cả. Không chữa được bệnh. Không đảo ngược được kết quả. Không đổi được một chẩn đoán. Không ngăn được tuổi già. Không gọi lại được người đã chết. Không lấy được nỗi buồn ra khỏi người mình thương. Khi ấy, điều còn lại là hiện diện. Và một sự hiện diện trung thành có thể là một hình thức vác thập giá sâu sắc nhất. Simon mang cây gỗ. Đức Maria mang nỗi đau. Gioan mang sự bất lực. Những phụ nữ Giêrusalem mang nước mắt. Mỗi người trên đường Thập Giá có một cách mang phần đau khổ của Đức Giêsu.
Cha mẹ hiểu điều này hơn ai hết. Ngày một đứa trẻ ra đời, cha mẹ thường nghĩ mình đang đón một niềm vui. Và đúng vậy. Nhưng cùng lúc đó, cha mẹ cũng đang nhận lấy một cây thập giá mà chưa nhìn thấy hết. Một đứa con không chỉ là tiếng cười. Nó là những đêm mất ngủ. Là lúc sốt cao. Là học phí. Là những lần lo lắng khi con về trễ. Là những năm tháng dạy dỗ. Là những khi con không nghe. Là những thất vọng. Là những lúc con chọn sai. Là những ngày cha mẹ muốn giữ con mà phải học buông. Có cha mẹ đã già mà vẫn phải gánh hậu quả cho con trưởng thành. Con thất bại, cha mẹ đau. Con đổ vỡ hôn nhân, cha mẹ đau. Con nghiện ngập, cha mẹ đau. Con bỏ Chúa, cha mẹ đau. Con quay lưng với gia đình, cha mẹ đau. Có những cây thập giá của cha mẹ không phải do cha mẹ tạo ra. Nhưng vì đó là con mình, họ không thể nói: “Chuyện của nó, mặc nó.” Tình yêu khiến người ta không thể hoàn toàn đứng ngoài đau khổ của người mình yêu.
Dĩ nhiên, yêu không có nghĩa là dung túng. Vác thập giá cho người khác không có nghĩa là tiếp tay cho sự sai trái của họ. Có khi cách vác thập giá đúng nhất là dám nói “không”, dám đặt giới hạn, dám để người kia chịu trách nhiệm về hành vi của họ. Đức ái không đồng nghĩa với mù quáng. Nhưng ngay cả khi phải cứng rắn, người yêu vẫn đau. Người mẹ từ chối đưa tiền cho đứa con nghiện không phải vì hết thương, mà nhiều khi vì thương quá. Người vợ đặt một ranh giới với người chồng bạo lực không phải vì phản bội lời thề hôn nhân, mà vì phẩm giá con người phải được bảo vệ. Người mục tử sửa dạy một người sai không phải vì ghét, mà vì không thể gọi bóng tối là ánh sáng. Simon giúp Đức Giêsu vác thập giá, chứ không giúp quân lính đóng đinh Người. Đây là một phân biệt cần nhớ: mang đau khổ với người khác không bao giờ có nghĩa là cộng tác với điều ác đang làm họ đau.
Vợ chồng cũng rất dễ hiểu Simon Kyrênê nếu họ đã sống với nhau đủ lâu. Ngày cưới, người ta thường nói đến “chia ngọt sẻ bùi”, nhưng phải sống vài chục năm mới hiểu chữ “sẻ” nặng đến mức nào. Khi một người khỏe mạnh và người kia đau yếu, cả hai cùng đổi cuộc đời. Khi một người thất nghiệp, cả nhà chịu ảnh hưởng. Khi một người khủng hoảng, người kia cũng mất ngủ. Khi một người có cha mẹ già cần chăm sóc, người bạn đời cũng phải chia sẻ trách nhiệm. Hôn nhân không phải hai người đứng cạnh nhau mà mỗi người mang một chiếc vali riêng. Hôn nhân Kitô giáo có những lúc là một người cúi xuống nhấc lấy phần cây gỗ đang đè lên vai người kia. Có khi người vợ gánh sự thất bại của chồng mà không làm nhục chồng. Có khi người chồng gánh những năm tháng bệnh tật của vợ mà không coi vợ là gánh nặng. Có khi cả hai cùng gánh nỗi đau của một đứa con. Và có những đôi vợ chồng đã trở nên thánh không phải bằng những điều phi thường, nhưng bằng việc họ không bỏ người kia đúng lúc người kia trở thành “khó mang” nhất.
Lời thề hôn phối đẹp nhất không phải lúc hai người khỏe mạnh, trẻ trung, mặc áo cưới và đứng trước bàn thờ. Vẻ đẹp thật của lời thề ấy có khi chỉ xuất hiện ba mươi năm sau trong một phòng bệnh. Khi tóc đã bạc. Khi một người không còn tự ăn được. Khi người kia cúi xuống đút từng muỗng cháo. Khi không ai chụp hình. Không hoa. Không tiếng đàn. Không khách mời. Chỉ có hai con người và một lời hứa cũ đang được sống lại bằng đôi tay run run. “Khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe…” Những câu ấy ngày cưới nghe rất đẹp. Nhưng đến khi bệnh hoạn thực sự đến, người ta mới biết lời thề có trọng lượng. Và lúc đó, người bạn đời trở thành một Simon Kyrênê.
Trong đời linh mục cũng có những cây thập giá không phải của mình. Một linh mục được truyền chức không chỉ để cử hành những Thánh Lễ long trọng hay giảng những bài giảng hay. Linh mục còn được gọi để bước vào những nơi con người đang đau. Có những cuộc điện thoại giữa đêm. Có những gia đình đang hấp hối cần cha đến xức dầu. Có những người tìm đến chỉ để khóc. Có những hôn nhân đổ vỡ. Có những người trẻ mất phương hướng. Có những người mang một bí mật suốt nhiều chục năm rồi vào tòa giải tội mới dám nói. Có những tang lễ mà linh mục không biết phải nói gì ngoài việc đứng bên gia đình. Có những nỗi đau mình nghe xong rồi về phòng vẫn nhớ. Có những câu chuyện không được phép kể với ai. Có những gánh nặng phải đặt vào Nhà Tạm vì không thể mang một mình. Làm mục tử có nghĩa là nhiều lần để người khác đặt một phần thập giá của họ vào vai mình.
Có linh mục chịu đau vì giáo dân. Có giáo dân chịu đau vì linh mục. Có bề trên chịu đau vì anh em. Có anh em chịu đau vì cộng đoàn. Có người làm việc nhiều hơn phần của mình vì người khác yếu. Có người phải đứng ra giải quyết hậu quả của những quyết định mình không làm. Có người bị hiểu lầm vì bảo vệ một điều đúng. Có người phải im lặng để cộng đoàn khỏi thêm chia rẽ. Có những thứ không ai thấy. Không ghi vào tiểu sử. Không có bằng khen. Nhưng Thiên Chúa biết. Và nhiều khi chính những đoạn đời không ai thấy ấy lại là đoạn đời giống Simon Kyrênê nhất.
Ta cần nhớ một điều: Simon chỉ giúp Đức Giêsu một đoạn đường. Ông không cứu thế giới. Ông không thay Chúa hoàn tất cuộc khổ nạn. Ông chỉ làm phần mình trong một đoạn rất ngắn. Đây là một bài học lớn cho người chăm sóc người khác. Ta không phải Đấng Cứu Thế. Ta không thể gánh hết. Ta không thể sửa hết. Ta không thể chữa hết. Ta không thể có mặt mọi lúc. Ta không thể đáp ứng mọi nhu cầu. Có những người chăm bệnh kiệt sức không chỉ vì công việc quá nhiều, mà vì họ vô tình nghĩ rằng mình phải làm tất cả. Không. Simon chỉ vác một đoạn. Đức Giêsu vẫn là Đấng mang Thập Giá đến tận cùng. Người chăm sóc cũng cần nghỉ. Cha mẹ cũng cần được nâng đỡ. Người phối ngẫu chăm bạn đời bệnh lâu năm cũng cần có người thay thế đôi lúc. Linh mục cũng cần cầu nguyện, nghỉ ngơi, có anh em, có nơi trút nỗi lòng. Vác thập giá với người khác không có nghĩa là tự hủy mình. Chính Đức Giêsu cũng để Simon đỡ lấy cây gỗ. Có lúc khiêm nhường nhất không phải là tiếp tục nói “tôi làm được”, mà là chấp nhận để một Simon khác đến giúp mình.
Thật lạ, Đấng Cứu Thế lại chấp nhận được giúp. Người đã từng cho người mù thấy, người què đi, người chết sống lại, giờ đây lại yếu đến mức cần một người đi đường vác đỡ cây gỗ. Thiên Chúa không xấu hổ vì sự yếu đuối. Chúng ta thì có. Ta thích mình là người giúp hơn là người cần giúp. Ta thích làm Simon hơn là trở thành Đức Giêsu kiệt sức trên đường. Ta ngại phiền người khác. Ta giấu bệnh. Ta giấu nỗi buồn. Ta chịu một mình. Ta nghĩ xin giúp đỡ là yếu. Nhưng nếu chính Con Thiên Chúa đã để người khác đỡ cây Thập Giá của Người, tại sao ta lại cho rằng mình phải luôn mạnh?
Có những người đang vác thập giá không phải của mình, nhưng cũng có những người đang từ chối để người khác vác cùng. Một người bệnh cáu gắt với người chăm sóc vì không chấp nhận mình yếu. Một người già không muốn làm phiền con cái nên âm thầm chịu đựng. Một linh mục ôm quá nhiều việc vì nghĩ giao cho người khác là thiếu trách nhiệm. Một người mẹ kiểm soát mọi thứ vì nghĩ chỉ mình mới làm đúng. Có khi bài học của Thập Giá không phải chỉ là học vác, mà còn là học để người khác vác với mình. Tình yêu cần cả hai phía: người cho và người nhận. Khi ta cho người khác cơ hội giúp mình, có khi ta cũng đang cho họ cơ hội trở thành Simon Kyrênê.
Tin Mừng Máccô còn ghi một chi tiết tưởng như thừa: Simon là cha của Alexanđê và Ruphô. Tại sao phải ghi tên hai người con? Có lẽ vì cộng đoàn Kitô hữu thời đó biết họ. Có lẽ cuộc gặp gỡ rất bất ngờ trên đường Thập Giá đã để lại dấu vết trong cả gia đình Simon. Chúng ta không biết rõ. Nhưng ít nhất, chi tiết ấy gợi một điều rất đẹp: một cây thập giá cha mang có thể trở thành một bài học đức tin cho con. Cha mẹ đừng nghĩ con cái chỉ học bằng những lời cha mẹ dạy. Chúng nhìn cách cha mẹ vác thập giá. Một đứa trẻ nhìn mẹ chăm bà ngoại già yếu sẽ học về chữ hiếu. Một đứa trẻ nhìn cha không bỏ mẹ khi mẹ bệnh sẽ học về sự chung thủy. Một đứa trẻ nhìn cha mẹ đón nhận một người con khuyết tật với yêu thương sẽ học phẩm giá con người. Một đứa trẻ nhìn gia đình không bỏ rơi người thân lúc họ thất bại sẽ học thế nào là tình nghĩa. Những bài học ấy không cần sách giáo khoa. Chúng được viết bằng mồ hôi, bằng những bữa cơm nguội, bằng những đêm thức trắng, bằng đôi vai của một Simon trong gia đình.
Có nhiều người hôm nay đang làm những việc rất âm thầm mà xã hội gần như không thấy. Một người con gái không lập gia đình vì nhiều năm chăm mẹ bệnh. Một người anh hy sinh cơ hội riêng để nuôi các em. Một người chị gánh lấy trách nhiệm cha mẹ để lại. Một người vợ đã mười năm chăm chồng nằm một chỗ. Một người chồng mỗi ngày chải tóc cho vợ mắc chứng mất trí nhớ dù có lúc bà không còn nhận ra ông. Một bà mẹ tuổi đã cao vẫn nuôi một người con khuyết tật trung niên. Một người cha làm hai việc chỉ để có tiền chữa bệnh cho con. Một nữ tu cả đời chăm những người chẳng bao giờ biết tên mình. Một y tá hết ca vẫn nán lại vài phút vì bệnh nhân không có người nhà. Một linh mục già vẫn ngồi tòa vì biết có người cần được tha thứ. Một người hàng xóm ngày ngày nấu thêm một phần cơm cho ông cụ sống một mình. Họ không làm những việc khiến thiên hạ vỗ tay. Nhưng rất có thể mỗi ngày Thiên Chúa đang nhìn họ và thấy một Simon Kyrênê.
Chúng ta thường hỏi: “Tôi có thể làm gì lớn lao cho Chúa?” Nhưng có khi Chúa trả lời: “Hãy vác giúp người đang đi cạnh con một đoạn.” Ta muốn đi truyền giáo xa, trong khi có một người già trong nhà cần được đưa đi khám. Ta muốn làm những việc lớn cho Giáo Hội, trong khi một người anh em trong cộng đoàn đang kiệt sức cần ai đó chia sẻ công việc. Ta muốn thay đổi thế giới, trong khi người bạn đời của ta đang cô đơn ngay trong chính căn nhà của mình. Ta muốn nói những lời thật đẹp về lòng thương xót, trong khi có một người thân bệnh lâu ngày khiến ta mất kiên nhẫn. Simon không làm một chương trình lớn. Ông chỉ vác một cây gỗ vài trăm mét. Nhưng vài trăm mét ấy đã thành Tin Mừng.
Có lẽ một trong những câu đáng sợ nhất trong đời không phải “tôi đau”, mà là “tôi phải đau vì người khác.” Khi ta chăm một người lâu ngày, ta có thể dần sinh ra mệt mỏi, cáu gắt, thậm chí oán trách. Điều đó rất con người. Không nên lý tưởng hóa người chăm sóc như thể họ luôn vui vẻ, nhẫn nại và thánh thiện. Simon ban đầu có thể chẳng vui gì. Người chăm bệnh cũng có thể có ngày mệt quá mà khóc. Cha mẹ có thể có lúc bất lực trước con. Vợ chồng có thể có lúc thấy thập giá quá nặng. Linh mục có thể có ngày chỉ muốn đóng cửa phòng và không nghe thêm câu chuyện nào nữa. Điều quan trọng không phải là không bao giờ mệt. Điều quan trọng là trong sự mệt mỏi ấy, ta không để lòng mình trở nên độc ác.
Có một sự mệt mỏi của thân xác và có một sự chai cứng của trái tim. Thân xác mệt thì cần nghỉ. Trái tim chai cứng thì cần được chữa. Người chăm sóc có quyền mệt. Có quyền cần nghỉ. Có quyền nhờ người khác giúp. Có quyền khóc. Có quyền thừa nhận: “Hôm nay tôi không chịu nổi nữa.” Nhưng đừng để câu “tôi mệt” biến thành “tôi ghét người này.” Đừng để người bệnh cảm thấy mình là đồ bỏ đi. Đừng để người già thấy mình là gánh nặng. Đừng để một người khuyết tật phải xin lỗi chỉ vì họ cần được giúp. Không ai chọn bệnh. Không ai chọn già. Không ai muốn mất trí nhớ. Không ai muốn trở thành người khiến người khác phải thức đêm. Có khi người được chăm sóc còn đau vì mặc cảm hơn cả người chăm sóc đau vì mệt. Một ánh mắt khó chịu, một tiếng thở dài, một câu “khổ quá, biết bao giờ mới hết” có thể đâm vào trái tim họ sâu hơn ta tưởng.
Vác thập giá của người khác không chỉ là làm cho họ những việc cần thiết. Nó còn là giữ phẩm giá cho họ. Đức Giêsu trên đường lên Golgotha đã bị tước gần hết mọi thứ. Simon không thể cứu Người khỏi bản án, nhưng sự hiện diện của Simon ít nhất nói lên rằng Người không hoàn toàn đơn độc. Trong bệnh tật và tuổi già, con người rất dễ bị thu nhỏ thành một “ca bệnh”. Người ta hỏi huyết áp bao nhiêu, đường huyết thế nào, thuốc gì, bệnh gì, ăn được không, đi tiêu chưa. Những điều ấy cần, nhưng người bệnh vẫn là một con người. Họ cần được gọi tên. Cần được hỏi ý. Cần được nghe. Cần được tôn trọng. Có khi người chăm sóc làm mọi việc rất tốt nhưng quên nói một câu dịu dàng. Và đôi khi một câu dịu dàng lại nhẹ hơn thuốc mà mạnh hơn thuốc.
Người Kitô hữu khi chăm người đau bệnh còn có một cái nhìn sâu hơn: “Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom.” Chúa Giêsu không nói: người ấy đau yếu. Người nói: Ta đau yếu. Nghĩa là trong một cách mầu nhiệm, cây thập giá ta đang vác cho người khác có liên hệ trực tiếp với chính Đức Kitô. Simon tưởng mình bị bắt vác cây thập giá của một tử tội. Nhưng ông đang chạm vào Thập Giá của Con Thiên Chúa. Ta tưởng mình đang thay tã cho một cụ già. Ta tưởng mình đang đút cháo cho một người liệt. Ta tưởng mình đang ngồi hàng giờ bên một người mắc chứng mất trí. Ta tưởng mình đang làm một công việc rất tầm thường. Nhưng Đức Kitô nói: “Điều gì các con làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các con đã làm cho chính Ta.”
Nếu thực sự tin điều ấy, rất nhiều việc nhỏ sẽ đổi màu. Cái giường bệnh trở thành một bàn thờ. Chiếc khăn lau mặt trở thành khăn phục vụ. Một ly nước trở thành lễ vật. Một đêm thức trở thành giờ canh thức. Một chuyến xe đến bệnh viện trở thành một đoạn đường Thập Giá. Một bàn tay đỡ người già bước xuống bậc thềm trở thành đôi vai Simon. Không phải vì đau khổ tự nó là tốt. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đức Giêsu đã chữa bệnh, đã làm cho người què đi, người mù thấy. Ta phải làm hết sức để giảm đau khổ. Nhưng khi đau khổ không thể tránh, tình yêu có thể bước vào đó và không để nó trở thành vô nghĩa.
Có những người cả đời nghĩ mình chẳng làm gì cho Chúa. Họ không đi giảng. Không có chức vụ. Không làm việc lớn. Nhưng họ đã chăm một người thân suốt mười lăm năm. Họ đã hy sinh tuổi trẻ cho cha mẹ già. Họ đã sống bên một người phối ngẫu đau bệnh mà không bỏ. Họ đã nuôi một người con yếu đuối đến tuổi già. Họ nghĩ đời mình bị “kẹt”. Họ nhìn người khác đi đây đi đó, thành công, hoạt động, phục vụ, còn mình cứ quanh quẩn với một căn phòng, một chiếc giường bệnh, một tủ thuốc. Xin những người ấy nhớ Simon Kyrênê. Có khi đoạn đường tưởng như làm đời mình bị chậm lại lại chính là đoạn đường gần Chúa nhất.
Không ai biết Simon đã dự định làm gì ngày hôm ấy. Nhưng chắc chắn kế hoạch của ông đã bị phá. Đây là điều khó chịu của tình yêu: tình yêu thường làm hỏng lịch riêng. Trẻ con bệnh đúng ngày cha mẹ bận. Người già cần đi khám đúng lúc ta có việc. Một cú điện thoại đến khi mình đang nghỉ. Một người cần nói chuyện lúc mình đã kiệt sức. Đức ái hiếm khi đến đúng giờ thuận tiện. Người bị đánh nằm bên đường trong dụ ngôn người Samari không hẹn trước. Người Samari nhân hậu phải dừng lại. Dừng lại nghĩa là chậm lịch. Dừng lại nghĩa là phát sinh chi phí. Dừng lại nghĩa là kế hoạch phải thay đổi. Simon cũng bị dừng. Nhưng đôi khi những lần Thiên Chúa “làm gián đoạn” kế hoạch của ta lại là lúc Người đưa ta vào một kế hoạch lớn hơn.
Ta thường xin: “Lạy Chúa, xin dùng con.” Nhưng trong đầu ta lại tưởng Chúa sẽ dùng mình theo cách mình thích. Ta muốn được dùng trong những việc phù hợp tài năng, đúng giờ, có kết quả, được nhìn nhận. Còn Chúa có khi dùng ta bằng một căn bệnh của người thân. Dùng ta qua một người khó tính. Dùng ta bằng việc chăm sóc cha mẹ. Dùng ta qua một cộng đoàn nhiều thử thách. Dùng ta bằng một nhiệm sở không như ý. Dùng ta bằng một công việc không ai biết. Khi ấy ta dễ nói: “Không, con xin phục vụ Chúa, chứ con đâu xin cái này.” Nhưng rất có thể Chúa đáp: “Chính cái này là việc Ta đang trao cho con.”
Simon bị bắt vác, nhưng Tin Mừng không kể ông ném cây thập giá xuống. Ta không biết lúc nào sự cưỡng ép ban đầu biến thành sự chấp nhận. Có lẽ từng bước. Có những thập giá ta cũng không thể yêu ngay. Đừng ép mình phải nói những câu đạo đức quá sớm. Một người vừa nghe tin con mắc bệnh hiểm nghèo không cần được bảo ngay: “Đây là Thánh Giá Chúa gửi.” Một người vừa mất bạn đời không cần nghe: “Chúa thương nên Chúa gọi về.” Một người kiệt sức vì chăm bệnh không cần bị trách: “Phải vui lên chứ.” Đức tin không phải phủ một lớp lời đạo đức lên nỗi đau. Đức tin là dần dần, qua nước mắt, nhận ra rằng trong đoạn đường mình không chọn này, Chúa vẫn đang đi cùng.
Thập giá có thể không được chọn, nhưng cách vác có thể được biến đổi. Lúc đầu Simon vác vì bị bắt. Có thể sau đó ông vác vì thương. Hai người cùng làm một việc, nhưng nội tâm khác nhau hoàn toàn. Một người chăm mẹ vì “không ai khác chịu làm” sẽ ngày càng cay đắng. Cũng người ấy, nếu dần dần học nói: “Mẹ đã già, và đây là thời gian tôi được trả lại một phần tình mẹ đã cho tôi,” công việc vẫn vậy nhưng trái tim khác. Một người chồng chăm vợ vì “bổn phận” có thể thấy mỗi ngày là gánh nặng. Nhưng nếu ông nhìn người phụ nữ bệnh tật ấy và nhớ người con gái đã nắm tay mình trước bàn thờ năm xưa, ông có thể khám phá rằng đây là lúc lời thề trở nên thật nhất. Một linh mục có thể làm mục vụ vì nghĩa vụ và thấy người ta là phiền toái; cũng linh mục ấy, nếu mỗi ngày trở lại với Đức Kitô Mục Tử, sẽ thấy từng khuôn mặt là một phần đàn chiên Chúa trao.
Có những cây thập giá không thể bỏ mà không làm người khác ngã. Điều đó làm ta sợ. Nhưng cũng có một điều an ủi: Simon không vác một mình. Đức Giêsu vẫn ở đó. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất. Người chăm bệnh không phải là người cứu người bệnh. Chúa ở đó. Cha mẹ không phải là đấng cứu độ của con. Chúa ở đó. Người vợ không phải cứu tinh của chồng. Chúa ở đó. Linh mục không phải cứu thế của giáo xứ. Chúa ở đó. Ta chỉ là Simon. Ta giúp một đoạn. Ta yêu một đoạn. Ta chịu một phần. Phần còn lại thuộc về Chúa.
Có lúc ta nhìn người khác đau và tự trách mình vì không làm được nhiều hơn. Hãy nhớ giới hạn của Simon. Ông có thể vác cây gỗ nhưng không thể tháo bản án. Ông có thể đỡ Chúa đi nhưng không thể ngăn Golgotha. Có những tình huống trong đời ta cũng vậy. Ta có thể ngồi bên người bệnh nhưng không chữa được bệnh. Ta có thể yêu một người trầm lặng đau khổ nhưng không thể đi vào tận nơi họ đang đau. Ta có thể khuyên một người con nhưng không chọn thay nó. Ta có thể cầu nguyện cho một người nhưng không ép họ thay đổi. Tình yêu trưởng thành là làm điều mình có thể làm mà không tự cho mình quyền năng chỉ thuộc về Thiên Chúa.
Và có khi điều duy nhất ta làm được là ở lại. Ở lại bên một người bệnh. Ở lại với một gia đình đang đau. Ở lại trong một cuộc hôn nhân đang phải chữa lành, miễn là không có nguy cơ bạo hành hay xâm phạm phẩm giá. Ở lại với trách nhiệm. Ở lại với lời cầu nguyện. Ở lại với Chúa khi chẳng hiểu gì. Thế giới hôm nay dạy ta thay rất nhanh. Điện thoại hỏng thì thay. Đồ cũ thì bỏ. Mối quan hệ khó thì cắt. Công việc chán thì chuyển. Có những thay đổi là cần thiết. Nhưng nếu tinh thần ấy đi vào mọi tương quan, con người sẽ bắt đầu bỏ nhau đúng lúc nhau yếu nhất. Tin Mừng lại cho ta một hình ảnh khác: một người xa lạ bị kéo vào nỗi đau của người khác và đi với người ấy một đoạn.
Người Kitô hữu không được phép lãng mạn hóa việc chịu đựng bất công. Có những thập giá phải được tháo xuống, không phải vác mãi. Bạo lực gia đình phải được ngăn chặn. Lạm dụng phải được tố giác. Bất công phải được sửa. Người bệnh phải được chữa. Người chăm sóc phải được bảo vệ khỏi kiệt sức. Nhưng ngay cả trong quá trình chống lại đau khổ, ta vẫn cần những Simon: bác sĩ, y tá, cha mẹ, bạn bè, mục tử, cộng đoàn, những người đứng cạnh nạn nhân để họ không phải chiến đấu một mình. Kitô giáo không nói: “Cứ đau đi.” Kitô giáo nói: “Đừng để người đau đi một mình.”
Giáo Hội đẹp nhất có lẽ không phải khi có những công trình lớn, mà khi không ai phải vác thập giá một mình. Một giáo xứ thật sự là gia đình khi người bệnh được thăm. Người già được nhớ. Gia đình tang chế được nâng đỡ. Người nghèo không bị bỏ. Người mới thất nghiệp có người hỏi thăm. Một bà mẹ đơn thân không bị phán xét. Một người khuyết tật được dành chỗ. Một người đang khủng hoảng có thể tìm thấy người nghe. Một linh mục đau bệnh có anh em và giáo dân chăm sóc. Một nữ tu già không bị quên trong căn phòng cuối hành lang. Nếu mỗi người chịu đỡ một phần nhỏ, sẽ không ai bị đè chết bởi toàn bộ cây thập giá.
Ta vẫn tưởng thánh thiện là làm những chuyện phi thường. Nhưng có khi thánh thiện là thay một tấm ga dơ mà không cau có. Là thức dậy lần thứ ba trong đêm mà vẫn cố nói nhẹ nhàng. Là chở cha già đi khám dù phải nghỉ một buổi làm. Là gọi điện hỏi một người đang chăm bệnh: “Hôm nay anh có cần tôi thay một buổi không?” Là nấu một nồi cháo cho nhà bên cạnh có người bệnh. Là ngồi cạnh ai đó trong bệnh viện để người nhà họ có thể về tắm và ngủ vài giờ. Là thăm một linh mục già. Là đưa Mình Thánh Chúa đến cho một bệnh nhân. Là nghe một người than mà không vội dạy đời. Là không nói “tôi đã bảo rồi” khi người khác đang trả giá cho sai lầm. Những việc ấy có thể không bao giờ được kể. Nhưng Thiên Chúa thấy.
Cuối cùng, Simon Kyrênê dạy ta một điều rất sâu: đôi khi ta đi ngang qua Thập Giá và nghĩ đó là chuyện của người khác. Nhưng Tin Mừng có cách kéo ta vào. Đau khổ của người khác không phải lúc nào cũng là chuyện của họ. Cain hỏi: “Con là người giữ em con hay sao?” Tin Mừng trả lời bằng Simon: phải, trong một mức độ nào đó, ta là người giữ anh em mình. Không phải để kiểm soát họ. Không phải để sống thay họ. Nhưng để đừng bỏ mặc họ dưới sức nặng mà ta có thể đỡ một phần.
Một ngày nào đó, có thể chính ta sẽ nằm trên giường bệnh và cần người khác vác giúp. Có thể đôi chân ta sẽ yếu. Trí nhớ ta sẽ kém. Ta sẽ phải nhờ người khác thay áo, đưa thuốc, nâng dậy. Lúc đó ta sẽ hiểu sâu hơn những người mình từng chăm. Và có lẽ điều đẹp nhất ta có thể cầu xin ngay từ hôm nay không phải là: “Lạy Chúa, xin đừng để con bao giờ thành gánh nặng,” bởi già yếu và bệnh tật đâu hoàn toàn nằm trong tay ta. Có lẽ lời cầu nên là: “Lạy Chúa, nếu một ngày con phải được người khác nâng đỡ, xin cho con đủ khiêm nhường để đón nhận tình yêu của họ. Và hôm nay, khi con còn sức, xin cho con biết nâng một người khác.”
Trên đường lên Golgotha, giữa một đám đông rất lớn, lịch sử cứu độ đã nhớ tên một người không giảng một bài nào, không làm phép lạ nào, không nói một câu nào được Tin Mừng ghi lại. Ông chỉ vác. Có những cuộc đời cũng vậy. Họ không để lại sách. Không có tượng. Không ai kể. Nhưng họ đã vác. Một người mẹ vác. Một người cha vác. Một người vợ vác. Một người chồng vác. Một người con vác. Một linh mục vác. Một nữ tu vác. Một người hàng xóm vác. Và có thể đến cuối đời, Thiên Chúa không hỏi ta đã nói bao nhiêu điều hay về Thập Giá. Người chỉ hỏi: “Khi Ta ngã xuống bên đường trong hình hài một người bên cạnh con, con có cúi xuống đỡ Ta không?”
Xin cho ta đừng chỉ yêu Đức Kitô trên Thánh Giá bằng những lời đạo đức, nhưng biết nhận ra Người trong những cây thập giá rất đời thường đang nằm trên vai người khác. Xin cho ta đừng hỏi mãi: “Tại sao tôi phải gánh chuyện không phải của tôi?” nhưng đôi khi biết hỏi một câu khác: “Tôi có thể đỡ người này được một đoạn nào không?” Bởi có thể chính đoạn đường mà ta không chọn, chính con người làm đảo lộn kế hoạch của ta, chính trách nhiệm ta từng nghĩ là quá nặng, lại trở thành nơi ta gặp Đức Kitô gần nhất.
Và nếu hôm nay có ai đang mệt vì đã vác quá lâu một cây thập giá không phải của mình, xin người ấy nhớ rằng Chúa biết từng bước chân. Chúa biết những đêm không ngủ. Chúa biết những tiếng thở dài được nuốt vào để người bệnh khỏi buồn. Chúa biết những giọt nước mắt khóc trong phòng kín. Chúa biết những lần muốn bỏ nhưng rồi vẫn quay lại. Chúa biết những hy sinh chẳng ai cảm ơn. Chúa biết cả những lúc ta vác không đẹp, không vui, có khi vừa vác vừa khóc. Người không đòi Simon phải mỉm cười suốt đường lên Núi Sọ. Người chỉ cần ông đừng bỏ cây gỗ giữa đường.
Rồi sẽ đến lúc cây thập giá được đặt xuống. Không có cuộc Thương Khó nào kéo dài mãi. Sau chiều Thứ Sáu có buổi sáng Phục Sinh. Có những người chăm bệnh nhiều năm rồi đến một ngày bàn tay mình không còn phải chuẩn bị thuốc nữa. Căn phòng im. Chiếc giường trống. Khi ấy nỗi đau lại mang một hình dạng khác. Người chăm sóc bỗng thấy thiếu chính công việc từng làm mình kiệt sức. Họ nhớ tiếng gọi giữa đêm. Nhớ bữa cháo. Nhớ chuyến xe. Nhớ một khuôn mặt. Và có thể lúc ấy họ mới hiểu: mình đã không chỉ chăm một người. Mình đã đi một đoạn đường Thập Giá với Đức Kitô.
Simon Kyrênê chỉ xuất hiện một khoảnh khắc, nhưng khoảnh khắc ấy đủ để tên ông không biến mất. Còn chúng ta, có lẽ sự thánh thiện của đời mình cũng nằm trong những khoảnh khắc rất nhỏ như vậy: lúc ta dừng lại, cúi xuống và nhấc một phần sức nặng khỏi vai người khác. Không phải cây thập giá nào đặt lên vai ta cũng là của ta. Nhưng mọi cây thập giá được mang bằng tình yêu đều có thể trở thành con đường dẫn ta đến gần Đấng Chịu Đóng Đinh.
Lm. Anmai, CSsR

CÓ NHỮNG THẬP GIÁ TA KHÔNG CHỌN NHƯNG LẠI CỨU ĐỜI TA
Tin Mừng: Mc 15,21
Có những điều trong đời, nếu được quyền chọn, chắc chắn ta đã không bao giờ chọn. Không ai tỉnh táo lại chọn bệnh tật. Không ai vui vẻ chọn thất bại. Không ai mong gia đình mình có biến cố. Không ai muốn phải chăm sóc một người thân đau yếu năm này qua năm khác. Không ai muốn bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi, bị mất việc, bị mất tiền, bị mất danh dự, bị mất người mình yêu thương. Không ai bước vào đời mà cầu xin Chúa cho mình một cuộc hôn nhân nhiều nước mắt, một đứa con làm mình khổ tâm, một tuổi già cô quạnh, một căn bệnh kéo dài, một công việc đầy áp lực, một cộng đoàn khó sống, một người anh em khó chịu, một người bạn đời không như mình mơ ước, một trách nhiệm nặng đến mức nhiều lúc chỉ muốn buông. Thế nhưng có một điều rất lạ: chính những điều ta không chọn ấy, nếu được đón nhận trong đức tin, đôi khi lại trở thành con đường đưa ta đến gần Chúa nhất, làm ta trưởng thành nhất, làm ta bớt kiêu ngạo nhất, làm ta biết thương người nhất, và cuối cùng lại cứu đời ta khỏi một cuộc sống nông cạn, ích kỷ và chỉ biết có mình. Tin Mừng theo thánh Máccô kể một chi tiết rất ngắn: “Lúc ấy, có một người từ miền quê lên, đi ngang qua đó, tên là Simon, gốc Kyrênê. Ông là thân phụ của Alêxanđê và Ruphô. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Đức Giêsu.” Chỉ một câu thôi. Chỉ một người đi ngang qua. Chỉ một buổi chiều tưởng như bình thường. Chỉ một việc bị ép buộc. Nhưng từ cái khoảnh khắc bất đắc dĩ ấy, tên tuổi Simon Kyrênê đã đi vào Tin Mừng, và cuộc đời ông đã chạm vào cuộc đời của Đấng Cứu Thế. Có lẽ sáng hôm đó ông chẳng hề nghĩ rằng mình sẽ gặp Đức Giêsu. Có lẽ ông chỉ đang lo công việc của mình. Ông từ đồng ruộng về. Ông có lịch trình riêng. Ông có những việc riêng phải làm. Ông có thể đang mệt. Ông có thể đang vội. Ông có thể hoàn toàn không quan tâm đến vụ xử tử đang diễn ra. Thế rồi người ta túm lấy ông. Người ta bắt ông vác một cây thập giá không phải của ông. Ông không phạm tội. Ông không bị kết án. Ông không tự nguyện. Ông chẳng hề chuẩn bị. Vậy mà chỉ trong một khoảnh khắc, kế hoạch của ông bị đảo lộn. Có những biến cố trong đời cũng đến như vậy. Chúng không gõ cửa. Chúng không hỏi ý kiến. Chúng không cho ta thời gian chuẩn bị. Một cú điện thoại. Một kết quả xét nghiệm. Một tai nạn. Một lời thú nhận. Một quyết định của người khác. Một cái chết. Một sự đổ vỡ. Một khoản nợ. Một biến cố trong gia đình. Một ngày nọ, ta đang sống đời bình thường thì bất chợt một cây thập giá được đặt lên vai. Ta chưa kịp hỏi tại sao. Ta chưa kịp đồng ý. Ta thậm chí còn không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Và phản ứng đầu tiên của con người thường là chống lại. “Tại sao lại là tôi?” “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra?” “Tại sao người khác bình an mà đời tôi lại như thế?” “Tại sao tôi phải gánh chuyện do người khác gây ra?” Những câu hỏi ấy không xấu. Chúng rất người. Có lẽ Simon Kyrênê cũng từng hỏi như vậy trong lòng khi bị lính Rôma lôi ra khỏi đám đông. Nhưng điều kỳ diệu là: cây thập giá mà Simon không chọn lại trở thành nơi ông gặp Đức Giêsu ở khoảng cách gần nhất. Đám đông có thể đứng nhìn. Quân lính có thể đứng quanh. Những người khác có thể chỉ tò mò. Riêng Simon lại được đặt vai mình dưới chính cây gỗ mà Chúa Giêsu đang mang. Ông nghe hơi thở nặng nhọc của Người. Ông thấy những giọt máu. Ông bước trên cùng một con đường. Ông chia sẻ một phần sức nặng với Người. Ông không chọn cuộc gặp gỡ ấy, nhưng chính cuộc gặp gỡ ấy có thể đã thay đổi cả cuộc đời ông.
Ta thường nghĩ rằng gặp Chúa là gặp trong những giờ cầu nguyện sốt sắng, những Thánh lễ bình an, những ngày tĩnh tâm thanh thản, những lúc mọi chuyện trong đời xuôi thuận. Đúng, Chúa vẫn gặp ta trong những giờ phút ấy. Nhưng rất nhiều lần, những cuộc gặp quan trọng nhất với Chúa lại xảy ra nơi ta không muốn đến. Người gặp ta trong phòng bệnh. Người gặp ta bên giường một người hấp hối. Người gặp ta giữa những đêm mất ngủ vì con cái. Người gặp ta trong một cuộc hôn nhân đang chao đảo. Người gặp ta nơi một công việc ta thấy quá sức. Người gặp ta trong cảnh thiếu thốn. Người gặp ta khi danh dự bị tổn thương. Người gặp ta khi tuổi già lấy đi từng chút sức lực. Người gặp ta trong lúc ta phải chăm sóc một người mà đôi khi ta thấy mệt mỏi đến mức không còn muốn yêu nữa. Người gặp ta khi mọi kế hoạch bị phá vỡ. Và cũng như Simon Kyrênê, nhiều khi lúc đầu ta chỉ thấy thập giá, chưa thấy Đức Giêsu đang ở ngay bên cạnh thập giá ấy. Ta chỉ thấy gánh nặng, chưa thấy cuộc gặp gỡ. Ta chỉ thấy điều bị lấy mất, chưa thấy điều đang được ban. Ta chỉ thấy đường đời bị chặn lại, chưa thấy một con đường mới đang được mở ra. Có người từng sống rất tự tin, cho rằng mình mạnh, mình giỏi, mình làm chủ mọi thứ. Một căn bệnh đến, họ mới biết mình mong manh. Có người từng quá bận rộn kiếm tiền, chẳng có giờ cho gia đình; một biến cố khiến họ dừng lại, và lần đầu tiên họ hiểu có những thứ tiền không mua được. Có người từng dễ dàng phán xét người đau khổ; đến khi chính mình đi qua đau khổ, họ trở nên hiền hơn, biết thông cảm hơn. Có người từng coi việc cầu nguyện là chuyện phụ; đến lúc không còn gì để bám víu, họ mới biết thế nào là quỳ xuống thật sự. Có người từng nghĩ mình cần nhiều thứ để hạnh phúc; khi mất gần hết, họ mới nhận ra chỉ cần còn Chúa, còn người thương, còn một trái tim biết yêu thì đời vẫn còn rất nhiều. Có những thập giá đến không phải vì Chúa muốn hành hạ ta, nhưng trong những gì xảy đến, Chúa có thể biến chính cái đau thành nơi thanh luyện và đổi mới con người. Cần nói cho rõ: không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến. Không thể cứ nhìn bệnh tật, chiến tranh, bạo lực, phản bội, bất công rồi dễ dàng nói rằng đó là “ý Chúa”. Có những đau khổ là hậu quả của sự dữ, của tội lỗi con người, của giới hạn thân phận, của những chọn lựa sai lầm. Thiên Chúa không vui khi con cái Người đau. Đức Giêsu đứng trước mồ Lazarô cũng khóc. Người nhìn đám đông đau khổ thì chạnh lòng thương. Nhưng mầu nhiệm của Kitô giáo nằm ở chỗ này: Thiên Chúa có thể bước vào chính điều xấu đã xảy ra và làm cho từ đó nảy sinh điều tốt; Người có thể lấy một vết thương và biến thành cửa ngõ của lòng thương xót; Người có thể dùng một con đường ta không muốn đi để dẫn ta đến nơi mà nếu chỉ theo ý mình, có khi cả đời ta không bao giờ đến được.
Chúng ta thích một Thiên Chúa dẹp hết thập giá hơn là một Thiên Chúa cùng ta vác thập giá. Ta muốn Chúa chữa ngay căn bệnh, giải ngay khó khăn, đổi ngay người khác, cất ngay vấn đề. Ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin lấy chuyện này khỏi đời con.” Ta không sai khi cầu như thế. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng cầu: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người không dừng lại ở đó: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Có một bước trưởng thành rất lớn trong đời đức tin: từ lời cầu xin “Lạy Chúa, xin cất thập giá này đi” đến lời cầu “Lạy Chúa, nếu thập giá này chưa thể cất đi, xin đừng để con vác nó vô ích.” Đó là lời cầu rất sâu. Bởi điều đáng sợ không phải chỉ là đau khổ. Điều đáng sợ hơn là đau khổ mà không sinh hoa trái, đau khổ mà làm mình cay độc, đau khổ mà biến mình thành một con người khó chịu, nghi ngờ, oán hận, khép kín. Một thập giá tự nó không làm ai nên thánh. Có người đau khổ rồi trở nên tốt hơn; có người đau khổ rồi trở nên cứng cỏi hơn. Có người nghèo thì biết thương người nghèo; có người nghèo lại sinh lòng đố kỵ. Có người bệnh thì hiểu nỗi đau của người khác; có người bệnh lại trút sự bực bội lên mọi người. Có người bị phản bội rồi biết quý sự trung tín; có người bị phản bội rồi cả đời không còn tin ai. Vấn đề không chỉ là thập giá ta mang, nhưng là ta mang thập giá ấy với ai và mang như thế nào. Simon vác thập giá không phải một mình. Ông vác bên cạnh Đức Giêsu. Chính điều đó làm cho thập giá của ông khác. Khi ta đau một mình, đau khổ dễ trở thành tuyệt vọng. Khi ta đau với Chúa, đau khổ có thể trở thành hiến lễ. Khi ta khóc một mình, nước mắt chỉ làm mắt ta mờ đi. Khi ta khóc trước mặt Chúa, nước mắt có thể rửa sạch trái tim. Khi ta chịu đựng chỉ vì không còn lựa chọn, ta dễ sống như một nạn nhân. Khi ta dần dần thưa với Chúa: “Con không chọn chuyện này, nhưng vì con không thể đổi được nó lúc này, con xin cùng Chúa bước qua nó”, thì ngay lúc ấy điều bị ép buộc bắt đầu được biến thành một hành vi tự do của tình yêu.
Có những người đang vác những thập giá mà chẳng ai biết. Bên ngoài họ vẫn cười, vẫn làm việc, vẫn đi lễ, vẫn chào hỏi bình thường, nhưng trong lòng là cả một con đường Canvê. Một người mẹ có đứa con nghiện ngập, đêm nào cũng lo không biết con đang ở đâu. Một người cha lặng lẽ trả những món nợ mà không dám nói với gia đình. Một người vợ sống nhiều năm bên một người chồng lạnh nhạt mà vẫn cố giữ mái ấm cho con. Một người chồng chăm vợ bệnh lâu năm, ngày nào cũng làm những việc nhỏ nhặt chẳng ai ca ngợi. Một người con chăm cha mẹ mất trí nhớ, nghe cha mẹ hỏi cùng một câu hàng chục lần trong ngày mà vẫn cố kiên nhẫn. Một linh mục sống trong một nhiệm sở không hợp sở thích, phải phục vụ những con người khó tính, có khi bị hiểu lầm mà chẳng thể thanh minh hết. Một tu sĩ đi qua những năm tháng khô khan trong ơn gọi, vẫn trung thành với lời khấn dù cảm xúc ban đầu đã mất. Một người trẻ phải bỏ nhiều dự định để chăm người thân. Một người mất bạn đời khi còn quá sớm. Một người cả đời mang một khiếm khuyết khiến họ luôn mặc cảm. Một người bị vu oan mà không có cơ hội giải thích. Một gia đình mất con. Một người mẹ sống phần đời còn lại với chiếc ghế trống trong nhà. Những thập giá ấy không phải chuyện để ta nói những câu dễ dãi. Đừng vội nói với người đau khổ: “Chúa thử thách đó mà.” Có những nỗi đau cần im lặng ngồi bên hơn là giải thích. Có những thập giá quá nặng để một câu đạo đức có thể làm nhẹ đi. Nhưng ta có thể tin một điều: Đức Kitô đã đi vào tận cùng của đau khổ con người. Không nỗi đau nào ta trải qua mà Người hoàn toàn xa lạ. Người đã bị phản bội. Người đã bị bỏ rơi. Người đã bị hiểu lầm. Người đã chịu bất công. Người đã đau thể xác. Người đã nếm cô đơn. Người đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Vì thế, khi ta không hiểu điều đang xảy ra, ít nhất ta có thể nhìn lên Người mà nói: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng Chúa hiểu. Con không biết đường này đưa con về đâu, nhưng Chúa đã từng đi con đường tối hơn con đường của con. Xin đi cùng con.”
Điều cảm động nơi Simon Kyrênê là thập giá ban đầu là của Đức Giêsu nhưng sau đó lại đặt trên vai Simon. Và rồi, bằng một cách nhiệm mầu, cây thập giá ấy cũng trở thành thập giá của Simon. Đời Kitô hữu cũng thế. Ban đầu ta nhìn lên Thập Giá như nhìn một chuyện đã xảy ra với Chúa hai ngàn năm trước. Nhưng rồi sẽ đến lúc ta hiểu Thập Giá không chỉ để ngắm, để hôn kính, để treo trên tường, để đeo nơi cổ. Sẽ có ngày ta phải đặt vai mình bên dưới một cây thập giá nào đó. Khi ấy đức tin không còn chỉ là những điều ta thuộc trong giáo lý; nó trở thành một lựa chọn sống. Tin Chúa khi khỏe mạnh thì dễ hơn tin Chúa giữa bệnh tật. Nói về phó thác khi mọi sự đang thuận lợi thì dễ hơn phó thác lúc tương lai mịt mờ. Nói về tha thứ khi chưa bị tổn thương sâu thì dễ hơn tha thứ người đã làm đời ta tan nát. Nói về yêu thương thì dễ, nhưng chăm sóc một người bệnh cáu gắt mỗi ngày mới biết tình yêu nặng bao nhiêu. Nói về trung thành thì dễ, nhưng ở lại trong một bổn phận khi không còn cảm xúc mới biết trung thành có giá nào. Có lẽ nhiều lần Chúa không hỏi ta có thích cây thập giá ấy hay không. Người chỉ hỏi: “Con có để Ta cùng con vác nó không?”
Có những biến cố lúc xảy ra ta tưởng đời mình chấm hết, nhưng nhiều năm sau nhìn lại ta mới nhận ra chính nó cứu mình khỏi một con đường khác. Một thất bại buộc ta khiêm tốn. Một cánh cửa đóng lại khiến ta bước vào một con đường tốt hơn. Một người rời bỏ ta khiến ta học cách đứng vững. Một căn bệnh làm ta sắp xếp lại các ưu tiên. Một lần mất tiền khiến ta tỉnh khỏi lòng tham. Một lần bị hiểu lầm làm ta bớt lệ thuộc vào lời khen người đời. Một mùa cô đơn đưa ta trở về cầu nguyện. Một giai đoạn thiếu thốn làm gia đình biết nương tựa nhau. Một vết thương làm ta biết thương những người mang vết thương giống mình. Ta không cần gọi cái xấu là tốt. Cái đau vẫn là đau. Mất mát vẫn là mất mát. Nhưng đức tin cho phép ta nói một câu khác: “Điều này không tốt, nhưng Thiên Chúa vẫn có thể làm điều tốt từ nó.” Đó chính là niềm hy vọng Kitô giáo. Thập Giá của Đức Giêsu tự nó là một sự bất công khủng khiếp: Người vô tội bị xử tử. Nhưng Thiên Chúa biến chính nơi con người gây nên sự dữ lớn nhất thành nơi tình yêu lớn nhất được tỏ bày. Con người đóng đinh Con Thiên Chúa, còn Thiên Chúa lại dùng chính cây thập giá ấy để cứu con người. Nếu Thiên Chúa đã có thể biến Canvê thành khởi điểm của Phục Sinh, Người cũng có thể làm cho những Canvê nhỏ bé trong đời ta không phải là tiếng nói cuối cùng.
Có người hỏi: “Tại sao Chúa không cho tôi biết trước?” Có lẽ nếu biết trước, ta đã bỏ chạy. Simon Kyrênê nếu sáng hôm ấy được báo rằng chiều nay ông sẽ bị bắt vác thập giá cho một tử tội, có khi ông đã chọn con đường khác. Nhưng Thiên Chúa thường không cho ta xem toàn bộ bản đồ. Người chỉ cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Nếu một người mẹ ngày sinh con được thấy trước tất cả những đêm mất ngủ, những lần con bệnh, những lo âu tuổi dậy thì, những nước mắt sau này, chắc bà sẽ sợ. Nhưng tình yêu cho bà sức mạnh từng ngày. Nếu một người đi tu ngày khấn được thấy trước tất cả những khô khan, hiểu lầm, hy sinh, có thể họ sẽ run. Nhưng ơn Chúa đến từng ngày. Nếu đôi vợ chồng ngày cưới thấy trước mọi sóng gió của mấy chục năm, họ có thể hoảng hốt. Nhưng tình yêu được nuôi từng bữa cơm, từng lời tha thứ, từng lần nhịn nhau, từng ngày ở lại. Chúa không cho Simon sức để vác mọi thập giá của cả đời trong một lúc. Người chỉ cho ông sức để vác đoạn đường từ nơi bị bắt đến Golgotha. Ta cũng vậy. Đừng vác thập giá của ngày mai trong hôm nay. Hôm nay đủ cho hôm nay. Có những người kiệt sức không phải chỉ vì thập giá hiện tại, nhưng vì họ còn tưởng tượng thêm mười cây thập giá của tương lai. “Nếu bệnh nặng hơn thì sao?” “Nếu con tôi không thay đổi thì sao?” “Nếu tôi mất việc thì sao?” “Nếu người ấy bỏ tôi thì sao?” “Nếu tuổi già thế này thì sao?” Ta đang vác những cái “nếu” chưa xảy ra. Chúa nói: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” Ân sủng cũng đến theo ngày. Ta không được ban sức mạnh cho những thập giá chưa đến; ta được ban sức mạnh cho cây thập giá đang ở trên vai mình hôm nay.
Thập giá ta không chọn cũng có thể cứu ta khỏi ảo tưởng rằng đời này thuộc về ta hoàn toàn. Ta thích kiểm soát. Ta lên kế hoạch. Ta dự tính. Ta muốn mọi người hành động theo mong muốn của mình. Ta muốn tương lai đi theo đường ta vẽ. Và khi mọi chuyện lệch khỏi bản đồ, ta hoảng. Nhưng có một sự thật chẳng ai tránh được: ta không làm chủ tất cả. Ta không chọn ngày sinh, phần lớn cũng không chọn ngày chết. Ta không chọn hết những người mình gặp. Ta không kiểm soát được hết bệnh tật, biến cố, lòng người. Ta không thể bảo đảm con cái sẽ sống đúng như mình mong. Ta không thể giữ người mình yêu ở bên mình mãi. Ta không thể bảo tuổi trẻ đừng qua. Ta không thể bảo thân xác đừng già. Một cây thập giá bất ngờ có thể làm sụp đổ ảo tưởng rằng mình là chủ cuộc đời, nhưng chính khi ảo tưởng ấy sụp, ta mới bắt đầu học phó thác thật. Phó thác không phải là buông xuôi. Phó thác không phải là không chữa bệnh, không làm việc, không đấu tranh với bất công. Phó thác là làm tất cả điều mình có thể làm rồi chấp nhận có những điều vượt khỏi tay mình. Là thưa: “Lạy Chúa, phần của con, con sẽ làm; phần còn lại, con trao cho Chúa.” Người không biết phó thác sẽ muốn mang cả thế giới trên vai. Người biết phó thác hiểu vai mình chỉ đủ cho cây thập giá hôm nay, còn cả thế giới nằm trong tay Thiên Chúa.
Có khi thập giá cứu đời ta bằng cách đập vỡ cái tôi. Ta tưởng mình kiên nhẫn cho đến khi phải sống với một người khó tính mỗi ngày. Ta tưởng mình khiêm nhường cho đến khi bị người khác coi thường. Ta tưởng mình quảng đại cho đến khi phải cho đi thứ mình thật sự quý. Ta tưởng mình có lòng tha thứ cho đến khi bị phản bội. Ta tưởng mình tin Chúa cho đến khi lời cầu nguyện không được đáp như mong muốn. Những thập giá làm lộ ra con người thật của ta. Và điều ấy đau. Nhưng đó cũng là một ơn. Nếu căn nhà có mối mọt, việc phát hiện ra không phải là tai họa; tai họa là cứ tưởng nhà vững cho tới ngày sập. Thập giá nhiều khi làm lộ những mối mọt trong tâm hồn: tự ái, kiểm soát, ích kỷ, kiêu ngạo, ham được công nhận, lệ thuộc vào người khác, lệ thuộc vào thành công. Ta đau vì những thứ ấy bị đụng đến, nhưng nhờ vậy Chúa mới có thể chữa. Một người từng quá cần người khác khen, sau nhiều lần bị hiểu lầm, dần học làm điều tốt chỉ vì Chúa. Một người luôn muốn mọi người phải nghe mình, sau một biến cố bất lực, học cách tôn trọng tự do của người khác. Một người luôn nghĩ tiền là an toàn, sau khi mất mát mới biết an toàn thật không nằm trong tài khoản. Một người nghĩ mình không thể sống nếu thiếu một người, rồi người ấy rời đi; qua đau đớn, họ học rằng nền tảng cuối cùng của đời mình phải là Thiên Chúa. Những bài học ấy không dễ, nhưng có khi nếu không có thập giá, ta chẳng bao giờ học được.
Và rồi thập giá còn cứu ta khỏi sự vô cảm. Người chưa từng đau rất dễ nói. Người từng đau thường biết im lặng. Người chưa từng mất mát dễ bảo người khác “đừng buồn nữa”. Người từng mất người mình yêu hiểu rằng có những nỗi đau không hết, chỉ dần được mang theo cách khác. Người chưa từng thất bại dễ phán xét kẻ thất bại. Người từng ngã mới biết một bàn tay chìa ra quý đến thế nào. Có những mục tử chỉ thật sự biết thương đoàn chiên sau khi chính mình đi qua một vết thương. Có những người mẹ trở nên dịu dàng với người khác vì từng khóc vì con mình. Có những người sau khi chữa bệnh ung thư trở thành nguồn an ủi cho những người vừa nhận chẩn đoán. Có những người từng mất con lại có khả năng ngồi bên một người mẹ mất con mà không cần nói gì. Thập giá không tự động làm ta tốt, nhưng nếu để Chúa dùng, nó có thể làm trái tim ta rộng ra. Vết thương của ta có thể trở thành nơi ta hiểu vết thương của người khác. Nước mắt của ta có thể dạy ta cách lau nước mắt cho anh em. Đó là lúc điều từng gần như phá hủy đời ta lại trở thành khí cụ cứu đời người khác.
Simon Kyrênê vác thập giá “đỡ Đức Giêsu”. Câu ấy cũng đẹp biết bao. Đấng Cứu Thế chấp nhận để một con người đỡ thập giá cho mình. Thiên Chúa không khinh sự giúp đỡ của con người. Và điều đó cũng dạy ta: có thập giá ta không thể vác một mình. Đừng hiểu việc “vác thập giá” như một lời mời gọi cắn răng chịu đựng tất cả mà không tìm sự giúp đỡ. Có người bệnh cần bác sĩ. Có người trầm uất cần được nâng đỡ chuyên môn. Có người bị bạo hành cần được bảo vệ, không phải được khuyên quay lại chịu đựng. Có gia đình khủng hoảng cần người đồng hành. Có gánh nặng cần được chia sẻ. Chính Đức Giêsu đã để Simon đỡ Người. Vậy tại sao ta lại nghĩ mình phải luôn mạnh? Có lúc khiêm nhường nhất là nói: “Tôi cần giúp.” Có lúc người Simon của đời ta là bác sĩ, là một người bạn, một linh mục, một người thân, một người tư vấn, một cộng đoàn. Và cũng có khi Chúa mời ta làm Simon cho người khác. Một cú điện thoại hỏi thăm. Một bữa cơm mang tới cho gia đình có người bệnh. Một giờ ngồi cạnh người cô đơn. Một ít tiền giúp người đang túng thiếu. Một lần trông trẻ để người mẹ kiệt sức được nghỉ. Một lời bênh vực người bị oan. Một sự hiện diện không ồn ào. Ta không cất được thập giá của họ, nhưng ta có thể đỡ một đoạn.
Điều lạ là Simon bị ép lúc đầu, nhưng Tin Mừng nhắc cả tên hai người con ông: Alêxanđê và Ruphô. Chi tiết đó khiến nhiều người suy nghĩ rằng gia đình ông có thể đã trở thành những người được cộng đoàn Kitô hữu biết đến. Ta không dám khẳng định quá những gì Tin Mừng không nói, nhưng ít nhất việc Máccô nhắc tên họ cho thấy Simon không phải một nhân vật hoàn toàn vô danh đối với các Kitô hữu đầu tiên. Có thể một khoảnh khắc vác thập giá đã để lại dấu ấn không chỉ trên ông mà cả gia đình ông. Ta cũng chẳng biết một thập giá hôm nay sẽ sinh hoa trái ở đâu. Sự trung thành của một người mẹ đau khổ có thể cứu đức tin của con cái. Sự kiên nhẫn của một người cha có thể trở thành ký ức nâng đỡ con sau này. Một linh mục trung thành giữa gian khó có thể gieo hạt giống ơn gọi mà chính ngài không biết. Một người bệnh đón nhận đau khổ với bình an có thể làm cả gia đình quay về với Chúa. Có những hoa trái ta sẽ không nhìn thấy ngay. Một hạt giống nằm dưới đất tưởng như mất đi, nhưng nhiều năm sau mới mọc.
Vì thế, khi một thập giá không chọn đặt lên vai, đừng vội kết luận đời mình bị hủy. Có thể một phần đời cũ đang phải chết để một con người mới được sinh ra. Ta vẫn có quyền khóc. Ta vẫn có quyền cầu xin được cất gánh nặng. Ta vẫn có quyền tìm mọi cách chính đáng để thay đổi hoàn cảnh. Đức tin không đòi ta yêu đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ; Kitô giáo tôn thờ Đấng đã yêu ngay trong đau khổ và chiến thắng sự chết. Điều ta được mời gọi không phải là đi tìm thập giá. Đời đã đủ thập giá rồi. Điều ta được mời gọi là khi thập giá đến mà ta không thể tránh, đừng để nó tách ta khỏi Chúa. Đừng để nó làm ta đánh mất tình yêu. Đừng để nó biến ta thành người chỉ còn biết oán trách. Hãy đặt nó bên cạnh Thập Giá Đức Kitô. Hãy thưa: “Lạy Chúa, đây là điều con không chọn. Con không thích. Con không hiểu. Có ngày con còn thấy rất bất công. Nhưng nếu hôm nay con phải đi con đường này, xin cho con được đi bên Chúa.”
Có lẽ đó chính là điều làm Simon Kyrênê trở thành một hình ảnh quá gần với tất cả chúng ta. Ông không phải vị Tông đồ nổi tiếng. Ông không chuẩn bị một bài tuyên xưng đức tin. Ông chỉ là một người bình thường bất ngờ bị kéo vào con đường Thập Giá. Và đó chẳng phải là câu chuyện của biết bao người sao? Ta đang sống đời thường, rồi một ngày Chúa được gặp nơi một trách nhiệm không mong muốn. Một đứa con đặc biệt. Một cha mẹ già yếu. Một người phối ngẫu bệnh tật. Một cộng đoàn khó khăn. Một cuộc đời không giống giấc mơ thuở trẻ. Ta tưởng đó là điều cản mình đến với Chúa, nhưng có khi chính đó lại là con đường Chúa dùng để đến với ta. Ta cứ nghĩ nếu không có chuyện này mình sẽ cầu nguyện tốt hơn, sống tốt hơn, phục vụ tốt hơn. Nhưng biết đâu Chúa nói: “Không, chính trong chuyện này Ta đang dạy con yêu.” Ta cứ đợi một hoàn cảnh khác để nên thánh. Chúa lại đặt sự thánh thiện ngay trong căn bếp, trong phòng bệnh, trong văn phòng, trong chiếc giường mất ngủ, trong những bữa cơm im lặng, trong việc chăm sóc người già, trong bổn phận mỗi ngày. Ta cứ mơ một cây thập giá “đẹp”, trong khi cây thập giá thật thường rất thô, rất bình thường, rất chẳng lãng mạn.
Cuối cùng, có lẽ câu hỏi lớn không còn là: “Tại sao thập giá này lại đến?” Có những câu “tại sao” cả đời ta cũng không có câu trả lời. Câu hỏi hữu ích hơn có thể là: “Lạy Chúa, Chúa muốn làm gì trong con qua điều này?” Không phải “Chúa muốn điều xấu này”, nhưng “giữa điều đã xảy ra, Chúa muốn làm gì trong con?” Chúa muốn tôi mềm hơn chăng? Muốn tôi thôi kiểm soát? Muốn tôi biết tha thứ? Muốn tôi biết cần người khác? Muốn tôi trở về cầu nguyện? Muốn tôi sắp lại thứ tự những điều quan trọng? Muốn tôi ngừng sống vì ánh mắt người đời? Muốn tôi học yêu mà không đòi đáp trả? Có khi thập giá không đổi, nhưng người vác thập giá đổi. Và khi người vác thay đổi, cả ý nghĩa của cây thập giá cũng thay đổi. Hôm qua nó chỉ là gánh nặng; hôm nay nó trở thành hiến lễ. Hôm qua ta chỉ hỏi “sao lại là tôi”; hôm nay ta bắt đầu nói “xin dùng cả điều này cho điều tốt”. Hôm qua ta đi trong cay đắng; hôm nay ta đi trong nước mắt nhưng có bình an. Đó không phải là phép màu làm thập giá biến mất. Đó là phép màu sâu hơn: trái tim được biến đổi.
Rồi sẽ có ngày tất cả chúng ta đặt xuống cây thập giá cuối cùng. Không ai vác mãi. Simon chỉ vác một đoạn đường. Đức Giêsu cũng đi qua Golgotha để đến Phục Sinh. Thập giá không có lời cuối. Đêm tối không có lời cuối. Nấm mồ không có lời cuối. Thiên Chúa mới có lời cuối. Vì thế, nếu hôm nay vai ta đang nặng, hãy nhớ: ta không được yêu cầu vác mãi mãi. Chỉ một đoạn nữa thôi. Có thể ta chưa thấy Golgotha ở đâu, càng chưa thấy buổi sáng Phục Sinh. Nhưng Chúa ở ngay bên cạnh. Có những thập giá ta không chọn, nhưng nếu vác với Đức Kitô, chúng có thể cứu ta khỏi một đời chỉ biết đến mình, cứu ta khỏi kiêu ngạo, cứu ta khỏi ảo tưởng kiểm soát, cứu ta khỏi vô cảm, cứu ta khỏi một thứ đức tin chỉ có trong lời nói. Và biết đâu một ngày, khi nhìn lại quãng đường đã qua, ta sẽ ngạc nhiên thưa với Chúa: “Lạy Chúa, ngày ấy con đã xin Chúa lấy nó đi. Con đã giận Chúa vì nó. Con đã tưởng nó phá hỏng đời con. Bây giờ con mới hiểu: Chúa không muốn con đau, nhưng Chúa đã không để nỗi đau của con trở thành vô ích. Chính nơi đó Chúa dạy con sống. Chính nơi đó Chúa dạy con thương. Chính nơi đó Chúa kéo con về gần Chúa hơn.”
Nếu hôm nay ta đang là một Simon Kyrênê bất đắc dĩ, đang phải mang một điều ta chưa từng chọn, xin đừng tuyệt vọng. Ta có thể chưa yêu được cây thập giá ấy. Không sao. Chỉ cần đừng rời Đức Giêsu. Hãy đi bên Người từng bước. Khi mệt, nói với Người là mình mệt. Khi giận, nói mình giận. Khi không hiểu, nói mình không hiểu. Khi muốn bỏ cuộc, nói mình muốn bỏ cuộc. Đừng diễn với Chúa. Người không cần một Simon giả vờ mạnh mẽ. Người chỉ cần một Simon chịu bước tiếp. Và rồi có thể, thật chậm, thật âm thầm, cây thập giá ta từng nguyền rủa sẽ trở thành nơi ta học được điều mà không trường lớp nào dạy được: học yêu khi tình yêu có giá, học tin khi không nhìn thấy, học hy vọng khi chưa có câu trả lời, học phó thác khi tay mình không còn nắm được gì.
Có những thập giá ta không chọn. Nhưng nếu trên con đường ấy ta gặp Đức Kitô, thì có khi chính điều ta từng muốn chạy trốn lại trở thành nơi cứu đời ta.
Lm. Anmai, CSsR

ĐI SAU ĐỨC KITÔ LÀ ĐI SAU MỘT NGƯỜI MANG THẬP GIÁ
Tin Mừng: Lc 14,25-27
Có lẽ một trong những điều dễ bị hiểu lầm nhất trong đời sống Kitô hữu là hai chữ “theo Chúa”. Người ta có thể nghĩ theo Chúa là bước vào một con đường bình an hơn, được che chở hơn, được bảo đảm hơn; theo Chúa là từ nay đời mình sẽ ít sóng gió, gia đình sẽ thuận hòa, công việc hanh thông, sức khỏe được gìn giữ, những điều mình cầu xin rồi cũng sẽ được nhận lời. Và vì thế, khi thập giá bất ngờ xuất hiện, khi đau bệnh kéo đến, khi gia đình rạn nứt, khi người thân ra đi, khi công việc thất bại, khi bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi, người ta bắt đầu bối rối: “Tôi theo Chúa mà sao Chúa để tôi khổ thế này?” Câu hỏi ấy rất thật, rất người, và đôi khi cũng rất đau. Nhưng nếu đọc kỹ Tin Mừng, ta sẽ thấy Đức Giêsu chưa bao giờ mời ai theo Người bằng một lời hứa rằng từ nay người ấy sẽ không còn thập giá. Ngược lại, Người nói thẳng, nói rõ, nói đến mức nghe qua có thể khiến người ta chùn bước: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi.” Chúa không quảng cáo một con đường dễ dàng. Chúa không dùng những lời ngọt ngào để lôi kéo đám đông. Chúa không che giấu cái giá của việc làm môn đệ. Bởi vì Người biết con đường Người đang đi là con đường nào. Người biết phía trước là Giêrusalem. Người biết có chống đối, có cô đơn, có vườn Cây Dầu, có roi đòn, có mão gai, có những tiếng la ó, có những cái đinh, có Thập Giá và có cái chết. Người vẫn bước đi. Và ai muốn theo Người thì phải hiểu rằng mình đang đi sau một Người mang Thập Giá.
Điều đáng suy nghĩ là Đức Giêsu không nói: “Ai muốn theo tôi, hãy đứng nhìn thập giá của tôi.” Người cũng không nói: “Ai muốn theo tôi, hãy kính thờ thập giá của tôi” mà thôi. Người nói: “Hãy vác thập giá mình mà đi theo tôi.” Nghĩa là Thập Giá của Đức Kitô không phải một vật để ta ngắm từ xa, không phải chỉ là một biểu tượng treo trên tường nhà, trên cung thánh, trước ngực hay trên đỉnh tháp nhà thờ. Thập Giá ấy còn là một con đường. Một con đường có dấu chân của Đức Kitô đi trước và dấu chân người môn đệ bước theo sau. Chúng ta có thể hôn kính Thánh Giá rất sốt sắng nhưng lại nổi loạn trước thập giá đời mình. Chúng ta có thể quỳ thật lâu trước tượng Chúa chịu nạn nhưng lại không chịu nổi một lời xúc phạm. Chúng ta có thể hát rất cảm động về cuộc thương khó của Chúa nhưng lại cay cú nhiều năm vì một người nào đó đã làm mình tổn thương. Chúng ta có thể nói mình yêu Chúa Giêsu chịu đóng đinh, nhưng chỉ cần Chúa cho mình một chút thiếu thốn, một chút đau bệnh, một chút thất bại, một chút trái ý là lòng đã đầy trách móc. Đó là nghịch lý của đời sống đạo: chúng ta dễ kính Thập Giá của Chúa hơn là ôm lấy thập giá của mình.
Mà thập giá của mỗi người không giống nhau. Có người mang thập giá của bệnh tật. Có người mang thập giá của một người con hư hỏng. Có người mang thập giá của cuộc hôn nhân không còn như ngày đầu. Có người mang thập giá của tuổi già cô độc. Có người mang thập giá của một nỗi oan mà không thể thanh minh. Có người mang thập giá của sự thất nghiệp, nợ nần, cơm áo. Có người mang thập giá của một khuyết điểm nơi chính mình mà đã cầu xin mãi vẫn chưa thoát được. Có người mang thập giá của một gia đình mà người ngoài nhìn vào tưởng hạnh phúc nhưng bên trong đầy nước mắt. Có những người mẹ đêm nào cũng khóc vì con. Có những người cha tóc bạc đi vì gánh nặng gia đình mà chẳng dám than. Có những linh mục vẫn đứng trên bục giảng, vẫn cử hành Thánh lễ, vẫn an ủi người khác nhưng trong lòng lại có những khoảng tối không biết kể với ai. Có những tu sĩ vẫn mỉm cười phục vụ nhưng âm thầm đi qua những năm tháng khô khan trong đời tận hiến. Có những người trẻ nhìn bạn bè tiến lên, còn mình cứ mắc kẹt mãi trong những thất bại. Có những người cả đời sống tử tế mà lại gặp quá nhiều điều bất công. Thập giá không có một khuôn mặt duy nhất. Có những thập giá nhìn thấy được, nhưng cũng có những thập giá không ai thấy. Có những nỗi đau có thể kể, nhưng có những nỗi đau càng kể càng khó diễn tả. Có những giọt nước mắt rơi trước mặt người khác, nhưng cũng có những giọt nước mắt chỉ rơi trong lòng.
Chúa nói “vác thập giá mình”. Chữ “mình” ấy thật đáng sợ mà cũng thật sâu. Chúa không bảo ta đi tìm thập giá của người khác. Chúa cũng không bảo ta tự chế thêm đau khổ cho mình. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đau khổ tự nó không phải điều tốt. Bệnh tật không phải điều tốt. Chiến tranh không phải điều tốt. Bất công không phải điều tốt. Bạo lực không phải điều tốt. Nghèo đói không phải điều tốt. Đức Giêsu đã chữa bệnh, cho người đói ăn, bênh vực người bị loại trừ và khóc trước mồ Lazarô. Người không yêu đau khổ vì đau khổ. Điều Người dạy chúng ta là khi một thập giá không thể tránh khỏi đã đặt trên vai mình, đừng để nó trở thành nơi làm ta xa Chúa, nhưng hãy để chính nơi ấy trở thành con đường đi với Chúa. Sự khác biệt giữa một đau khổ vô nghĩa và một thập giá Kitô giáo không nằm ở mức độ đau, mà nằm ở Đấng ta đi cùng. Hai người có thể chịu cùng một thử thách, một người trở nên cay đắng, một người trở nên sâu sắc; một người đóng cửa lòng mình, một người biết cảm thông hơn; một người nguyền rủa đời, một người biết phó thác. Không phải vì người thứ hai ít đau hơn, nhưng vì họ đã để Đức Kitô bước vào nỗi đau ấy.
Đi sau Đức Kitô là không đi một mình. Đây là điều phải nhắc đi nhắc lại, bởi nếu chỉ nghe đến “vác thập giá”, người ta có thể thấy Kitô giáo thật nặng nề. Nhưng Chúa không đứng ở cuối đường rồi bảo ta tự vác lấy. Người đi trước. Người đã mang trước. Người đã ngã xuống trước. Người đã biết thế nào là bị phản bội, bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị xúc phạm, bị đau đớn, bị cô độc. Người biết tất cả. Vì thế khi ta khóc, ta không khóc trước một Thiên Chúa xa lạ với nước mắt. Khi ta bị bỏ rơi, ta không cầu nguyện với một Thiên Chúa chưa từng nếm sự cô độc. Khi ta bị phản bội, ta không hướng về một Đấng chưa từng bị bạn hữu bán đứng. Khi ta sợ chết, ta nhìn lên một Đấng cũng đã thốt lên trong vườn Cây Dầu giữa cơn xao xuyến. Kitô giáo không trả lời mọi câu hỏi về đau khổ bằng một lý thuyết. Kitô giáo trả lời bằng một Người bị đóng đinh. Chúng ta có thể không hiểu tại sao thập giá này đến, nhưng chúng ta biết ai đang ở bên mình khi nó đến.
Có những giai đoạn trong đời, điều làm ta mệt không phải vì thập giá quá nặng, nhưng vì ta cứ hỏi mãi: “Tại sao lại là tôi?” Câu hỏi ấy dễ hiểu, nhưng nếu cứ giữ mãi, nó sẽ rút cạn sức lực. Thật ra rất nhiều thập giá trong đời không có câu trả lời ngay. Một người mẹ mất con hỏi “tại sao?”; ai trả lời cho đủ? Một người cả đời ngay lành bị bệnh hiểm nghèo hỏi “tại sao?”; ai dám đưa ra một lời giải thích đơn giản? Một gia đình đang yên lành bất ngờ gặp tai họa hỏi “tại sao?”; ai đủ tư cách bảo rằng mình hiểu hết ý Chúa? Có những lúc đức tin trưởng thành không nằm ở chỗ tìm được câu trả lời cho chữ “tại sao”, nhưng ở chỗ chuyển sang một câu hỏi khác: “Lạy Chúa, con phải đi với Chúa thế nào trong chuyện này?” Câu hỏi thứ nhất nhìn vào nguyên nhân. Câu hỏi thứ hai nhìn vào sự hiện diện. Câu hỏi thứ nhất có thể làm ta mắc kẹt nhiều năm. Câu hỏi thứ hai mở cho ta một con đường.
“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi.” Đức Giêsu dùng chữ rất mạnh: “không thể”. Không phải “khó làm môn đệ”, mà “không thể làm môn đệ”. Vì sao? Bởi vì nếu con đường của Thầy đi qua Thập Giá mà trò nhất định chỉ chọn con đường không có Thập Giá, thì Thầy và trò rồi sẽ đi hai hướng khác nhau. Ta muốn Chúa đi hướng bình an, thành công, thuận lợi, danh dự; còn Chúa lại đi về phía hy sinh, tự hiến, khiêm nhường, phục vụ. Nếu ta không điều chỉnh bước chân, đến một lúc ta sẽ không còn theo sau Chúa nữa, dù môi vẫn đọc kinh và cổ vẫn đeo Thánh Giá. Có người đi nhà thờ nhiều năm nhưng sâu xa chỉ muốn Chúa đi theo mình. Họ đã lập sẵn kế hoạch rồi mời Chúa chúc lành. Họ đã có sẵn con đường rồi xin Chúa bảo vệ. Họ đã quyết định mình phải được hạnh phúc theo kiểu nào rồi cầu xin Chúa thực hiện. Khi Chúa dẫn sang hướng khác, họ thất vọng. Người môn đệ đích thực không kéo Chúa đi theo ý mình; người môn đệ bước sau Chúa.
Đi sau có nghĩa là có lúc ta không nhìn thấy hết con đường. Người đi sau chỉ thấy lưng của người đi trước và vài bước chân gần nhất. Đức tin cũng vậy. Chúa hiếm khi cho ta thấy trọn cuộc đời mình trong một lần. Nếu nhìn thấy tất cả những gì sẽ xảy ra trong ba mươi năm tới, có lẽ chẳng ai đủ can đảm bước. Chúa chỉ cho đủ ánh sáng của ngày hôm nay. Vì vậy mà Người nói vác thập giá “mà đi theo”. Hành trình ấy diễn ra từng ngày. Hôm nay chịu đựng một chút. Hôm nay tha thứ một chút. Hôm nay trung tín một chút. Hôm nay cầu nguyện dù không cảm thấy gì. Hôm nay chăm sóc người bệnh thêm một ngày. Hôm nay vẫn tử tế dù không được hiểu. Hôm nay tiếp tục làm bổn phận dù chẳng ai biết. Hôm nay đừng bỏ cuộc. Ngày mai rồi Chúa sẽ cho ơn của ngày mai. Rất nhiều khi chúng ta kiệt sức vì hôm nay đã lo luôn thập giá của mười năm tới. Chúa chỉ cho ta bánh hằng ngày. Ân sủng cũng thường được ban theo từng ngày.
Có những người cứ mong một ngày nào đó hết thập giá rồi mới sống vui. Họ nói: khi con cái ổn định tôi sẽ bình an; khi trả hết nợ tôi sẽ bình an; khi bệnh khỏi tôi sẽ bình an; khi người kia thay đổi tôi sẽ bình an; khi công việc tốt lên tôi sẽ bình an. Nhưng rồi hết chuyện này lại đến chuyện khác. Nếu chỉ cho phép mình bình an khi đời hoàn toàn không có thập giá thì có lẽ ta chẳng bao giờ bình an. Đức Giêsu không dạy ta đợi hết bão mới có bình an. Người ngủ trên thuyền giữa bão. Người dạy một sự bình an có thể tồn tại ngay trong thử thách. Không phải sự bình an vì mọi chuyện đã ổn, nhưng vì biết mình không bị bỏ rơi. Đây là thứ bình an người đời rất khó hiểu.
Thập giá thật còn giúp ta biết mình đang yêu ai. Khi mọi chuyện thuận lợi, rất khó phân biệt ta yêu Chúa hay yêu những ơn của Chúa. Khi cầu gì được nấy, ta dễ sốt sắng. Khi công việc thành công, gia đình yên ổn, sức khỏe tốt, ta dễ nói “Chúa thương tôi”. Nhưng nếu một ngày những thứ ấy bị lấy đi mà ta vẫn bám lấy Chúa, lúc đó tình yêu mới được thanh luyện. Câu hỏi sâu nhất của đức tin là: nếu Chúa không cho tôi điều tôi xin, Chúa có còn là Chúa của tôi không? Nếu Chúa không chữa bệnh, tôi còn cầu nguyện không? Nếu Chúa không giải quyết rắc rối này theo cách tôi muốn, tôi còn tin không? Nếu tôi phục vụ mà chẳng ai biết ơn, tôi còn phục vụ không? Nếu tôi sống tốt mà vẫn bị hiểu lầm, tôi còn chọn điều tốt không? Nếu đi theo Chúa mà chẳng được gì trước mắt, tôi còn đi theo không? Những câu hỏi ấy đau, nhưng chính chúng đưa ta từ một đức tin vụ lợi đến một đức tin trưởng thành.
Phêrô từng muốn một Đức Kitô không có Thập Giá. Ông yêu Thầy thật. Khi nghe Đức Giêsu nói mình sẽ phải chịu nhiều đau khổ và bị giết, Phêrô kéo Người ra và can. Tấm lòng ấy rất người: thương ai thì không muốn người đó khổ. Nhưng Chúa đã sửa ông rất mạnh. Bởi vì có một cám dỗ tinh tế là muốn Đức Kitô nhưng không muốn con đường của Đức Kitô, muốn phục sinh nhưng bỏ Thứ Sáu Tuần Thánh, muốn vinh quang nhưng không muốn tự hiến. Cám dỗ ấy không chỉ ở Phêrô. Nó ở trong mỗi chúng ta. Ta muốn Giáo Hội đông người nhưng sợ nói những điều khó nghe. Ta muốn đời linh mục có hoa trái nhưng sợ hy sinh. Ta muốn gia đình hạnh phúc nhưng không muốn chết đi cho cái tôi. Ta muốn được yêu nhưng không muốn chịu đựng ai. Ta muốn tha thứ nhưng người kia phải xin lỗi trước. Ta muốn theo Chúa nhưng Chúa đừng đụng tới điều ta thích nhất. Tất cả những điều đó cuối cùng cũng quay về một vấn đề: ta muốn Đức Kitô nhưng không muốn Thập Giá.
Nhưng một Đức Kitô không có Thập Giá không còn là Đức Kitô của Tin Mừng. Ngay từ máng cỏ, bóng Thập Giá đã thấp thoáng. Người sinh trong nghèo khó, sống không nơi tựa đầu, đi giữa những người nghèo, chạm tới người phong cùi, cúi xuống rửa chân, trao mình trong bữa Tiệc Ly và rồi giang tay trên đồi Canvê. Cả đời Đức Giêsu là một đường thẳng của tình yêu tự hiến. Thập Giá không phải tai nạn bất ngờ cuối đời Người; nó là sự hoàn tất logic của một đời sống đã trao đi từ đầu. Khi yêu đến cùng, người ta sẽ gặp Thập Giá, bởi yêu thật luôn có giá. Một người mẹ yêu con sẽ có những đêm mất ngủ. Một người cha yêu gia đình sẽ có những hy sinh chẳng ai biết. Vợ chồng yêu nhau thật sẽ có những lúc phải nuốt tự ái. Người linh mục yêu đoàn chiên sẽ có những mệt mỏi không thể tính bằng giờ hành chính. Người tu sĩ trung thành với ơn gọi sẽ có những đoạn đường khô khan mà chỉ Chúa biết. Ai yêu mà không bao giờ mất gì, không bao giờ đau gì, không bao giờ hy sinh gì thì phải coi lại tình yêu ấy.
Thập Giá, vì thế, không phải dấu Chúa ghét ta. Nhiều người vô tình nghĩ như vậy. Họ nhìn người khác khỏe mạnh, khá giả, thuận lợi rồi nghĩ Chúa thương người kia hơn mình. Nhưng cứ nhìn Đức Giêsu. Nếu đau khổ là bằng chứng bị Thiên Chúa bỏ rơi, thì Đức Giêsu trên Thập Giá phải là người bị bỏ rơi nhất. Thế nhưng chính nơi ấy lại là nơi tình yêu Chúa Cha và tình yêu của Người Con được biểu lộ đến tận cùng. Vì vậy đừng đo tình yêu Thiên Chúa bằng việc đời ta dễ hay khó. Có những người được Chúa thương sâu xa lại phải đi qua những đoạn đường chẳng dễ hiểu chút nào. Đức Maria là người “đầy ân sủng”, nhưng đứng dưới Thập Giá. Các Tông đồ được Chúa chọn, nhưng hầu hết phải trả giá rất đắt cho Tin Mừng. Các thánh không phải là những người ít đau khổ hơn chúng ta; nhiều khi họ đau nhiều hơn. Sự khác biệt là họ biến đau khổ thành nơi gặp Chúa.
Và cũng phải nói thật rằng có những thứ ta gọi là “thập giá” nhưng thật ra là hậu quả của sự thiếu khôn ngoan hay ích kỷ của ta. Nợ nần vì tiêu xài vô độ rồi gọi là thập giá; gia đình rạn nứt vì mình nóng nảy, phản bội rồi nói “Chúa gửi thập giá”; sức khỏe suy sụp vì sống vô kỷ luật rồi nói mình đang vác thập giá Chúa gửi. Không. Người Kitô hữu phải trưởng thành đủ để phân biệt. Có những đau khổ cần đón nhận, nhưng cũng có những đau khổ cần sửa chữa. Có những thập giá phải vác, nhưng cũng có những thập giá phải đặt xuống vì nó do tội lỗi tạo ra. Chúa không bảo ta cam chịu bạo lực, dung túng điều ác hay lấy hai chữ “thập giá” để hợp thức hóa bất công. Vác thập giá không có nghĩa là thụ động trước sự dữ. Chính Đức Giêsu khi bị xét xử vẫn chất vấn kẻ đánh Người: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh; còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại đánh tôi?” Khiêm nhường không đồng nghĩa với bạc nhược. Tha thứ không đồng nghĩa với cho phép người khác tiếp tục làm điều xấu. Vác thập giá là mang những gì vì tình yêu và sự trung tín mà ta không thể hoặc không nên tránh, chứ không phải hợp tác với sự dữ.
Một trong những thập giá khó nhất lại không ở bên ngoài, mà ở bên trong chính mình. Nhiều người cứ nghĩ thập giá của họ là ông chồng, bà vợ, đứa con, người hàng xóm, cha xứ, bề trên, đồng nghiệp. Nhưng có khi thập giá lớn nhất là cái tôi của chính ta. Cái tôi muốn được công nhận. Cái tôi muốn thắng. Cái tôi không chịu bị sửa. Cái tôi luôn nghĩ mình đúng. Cái tôi muốn người khác phải hiểu mình nhưng mình không chịu hiểu ai. Cái tôi nhớ mãi một lời xúc phạm nhưng quên hàng trăm điều tốt người khác đã làm. Cái tôi thích được phục vụ nhưng khó phục vụ. Chết cho cái tôi ấy đôi khi đau hơn mọi bệnh tật. Có người chịu đau thể xác rất giỏi nhưng không chịu nổi một lời góp ý. Có người có thể làm việc cực nhọc từ sáng đến tối nhưng không thể nói một câu “tôi xin lỗi”. Có người cho người nghèo rất nhiều tiền nhưng không thể nhường một phần đúng cho người thân. Thập giá sâu nhất của đời môn đệ thường là để Chúa đóng đinh sự kiêu ngạo trong mình.
Đi sau Đức Kitô mang Thập Giá còn có nghĩa là học cách chịu đau mà không làm đau người khác. Đây là một điều rất khó. Người bị tổn thương thường có khuynh hướng làm tổn thương. Một người lớn lên trong cay nghiệt dễ trở nên cay nghiệt. Một người bị phản bội dễ mất niềm tin. Một người bị xúc phạm dễ muốn trả đũa. Nhưng nhìn lên Thập Giá: Đức Giêsu đau khổ khủng khiếp nhưng không biến đau khổ của mình thành nọc độc cho người khác. Người không nguyền rủa. Người không gọi lửa trời xuống. Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó mới là sức mạnh. Không phải không đau, mà đau mà không trở nên độc ác. Không phải không có vết thương, mà không dùng vết thương của mình để làm người khác chảy máu. Nếu ta có thể làm được điều ấy, dù chỉ từng chút, thì Thập Giá Chúa đang thật sự biến đổi ta.
Có khi thập giá chính là ở lại. Ở lại với gia đình trong lúc khó khăn. Ở lại với một người bệnh lâu ngày. Ở lại trong ơn gọi khi cảm xúc ban đầu đã qua. Ở lại với bổn phận chẳng ai vỗ tay. Ở lại với lời cam kết mình đã nói trước bàn thờ. Thế giới hôm nay rất dễ bỏ đi. Không thích thì đổi. Khó quá thì nghỉ. Người kia không còn làm mình vui thì tìm người khác. Nhưng Đức Giêsu đã ở lại trên Thập Giá. Người có thể xuống. Những kẻ đứng dưới còn thách: “Nếu là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Người không xuống. Không phải vì không có quyền xuống, mà vì yêu nên ở lại. Có những lúc sự trung tín của ta cũng giống như vậy: không có gì ngoạn mục, chỉ là không bỏ đi. Một người mẹ chăm con khuyết tật ba mươi năm. Một người chồng ở bên vợ bệnh lâu ngày. Một linh mục vẫn chăm một cộng đoàn đầy phức tạp. Một người vẫn cầu nguyện cho đứa con đã bỏ Chúa mười năm. Những điều ấy ít ai viết báo, nhưng trước mặt Thiên Chúa, đó là những con đường Canvê rất đẹp.
Có khi thập giá lại là phải buông. Buông một người đã ra đi. Buông một ước mơ không còn thực hiện được. Buông một vai trò mình từng rất quan trọng. Buông sức khỏe tuổi trẻ. Buông một hình ảnh đẹp về bản thân. Buông nhu cầu phải được mọi người hiểu. Buông cả một quá khứ mà mình cứ cố níu giữ. Vác thập giá không phải lúc nào cũng nắm chặt; đôi khi vác thập giá là dám mở tay. Chúa Giêsu trên Thập Giá cuối cùng cũng mở bàn tay mình hoàn toàn. Và lời cuối của Người là lời phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Có những điều chỉ được chữa lành khi ta thôi kiểm soát chúng.
Người môn đệ không xin Chúa cất hết thập giá, nhưng có thể xin Chúa cho đủ sức vác. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu xin chén đắng qua đi, nhưng Người thêm: “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Vì vậy, ta không cần phải giả vờ mình mạnh. Khi đau, cứ nói đau. Khi sợ, cứ nói sợ. Khi mệt, cứ nói mệt. Khi muốn bỏ cuộc, cứ nói với Chúa rằng con muốn bỏ cuộc. Đức tin không đòi ta diễn vai anh hùng trước mặt Thiên Chúa. Người biết ta yếu. Điều Người cần là ta đừng chạy khỏi Người. Một lời cầu nguyện thật lòng giữa đau khổ có khi quý hơn một trăm kinh đọc máy móc lúc bình yên: “Lạy Chúa, con không hiểu gì cả, nhưng con vẫn ở đây.” Chỉ vậy thôi cũng đã là đức tin.
Và kỳ lạ thay, những người đã đi qua thập giá thường trở thành người có khả năng an ủi nhất. Không phải mọi người đau khổ đều tự động trở nên tốt, nhưng nếu họ để Chúa chạm vào nỗi đau, họ sẽ có một sự dịu dàng mà sách vở không dạy được. Người từng mất mát biết ngồi yên bên người đang khóc. Người từng thất bại ít xét đoán kẻ thất bại. Người từng bị tổn thương biết trân trọng sự tử tế. Người từng đi qua đêm tối biết một tia sáng nhỏ quý thế nào. Có những linh mục giảng rất thấm không phải vì dùng những chữ cao siêu, mà vì chính các ngài đã từng đau. Có những bà mẹ không học thần học nhưng một câu nói của họ có sức nâng người khác dậy, bởi câu ấy đi ra từ cuộc đời. Thập giá nếu được mang với Chúa sẽ làm trái tim ta rộng hơn.
Chúng ta thường hỏi: “Tại sao Chúa không cất thập giá này đi?” Nhưng đôi khi nếu Chúa cất nó đi quá sớm, ta sẽ không trở thành con người hôm nay. Nhìn lại, có những biến cố từng làm ta nghĩ đời mình sụp đổ nhưng chính chúng đã thay đổi hướng đi của ta. Một thất bại làm ta khiêm tốn hơn. Một bệnh tật làm ta biết quý từng ngày. Một lần bị phản bội giúp ta bớt ngây thơ và sâu sắc hơn. Một sự mất mát kéo ta về với gia đình. Một thời kỳ khô khan khiến đức tin thôi dựa vào cảm xúc. Ta không nói đau khổ là tốt. Ta chỉ nói Thiên Chúa có khả năng làm điều tốt nảy sinh ngay cả từ những điều rất xấu. Thập Giá của ngày Thứ Sáu là một cái chết; nhưng trong tay Thiên Chúa, từ chính nơi ấy mở ra sáng Phục Sinh.
Vì vậy, đi sau Đức Kitô không phải đi sau một Người thất bại. Người mang Thập Giá nhưng cuối con đường là Phục Sinh. Nếu chỉ có Thập Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo sẽ là một tôn giáo của bi kịch. Nhưng nếu chỉ nói Phục Sinh mà không qua Thập Giá, Kitô giáo lại biến thành một thứ lạc quan rẻ tiền. Hai mầu nhiệm thuộc về nhau. Chúng ta vác thập giá không phải vì thích đau khổ, nhưng vì tin thập giá không có tiếng nói cuối cùng. Đêm tối không có tiếng nói cuối cùng. Bệnh tật không có tiếng nói cuối cùng. Thất bại không có tiếng nói cuối cùng. Cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa của sự sống.
Có những người hôm nay đang mang thập giá rất nặng. Có lẽ không ai quanh họ hiểu hết. Họ vẫn đi làm, vẫn nói chuyện, vẫn cười, nhưng bên trong là một cuộc chiến. Nếu bạn đang ở trong hoàn cảnh ấy, hãy nhớ: Chúa không đứng xa. Người ở rất gần những ai đang vác thập giá. Có thể Người chưa cất nó khỏi vai bạn, nhưng Người đang đi phía trước. Có thể bạn không thấy Người, nhưng con đường bạn đang đi đã có dấu chân Người. Khi mệt quá, hãy nhìn một bước thôi. Đừng nghĩ phải sống cả đời trong nỗi đau này. Hôm nay thôi. Đi với Chúa hôm nay. Ngày mai hãy để ngày mai cho Chúa.
Và nếu hôm nay bạn không mang thập giá nặng, hãy nhìn quanh. Có thể Simon Kyrênê đang đứng cạnh bạn. Có một người đang cần bạn ghé vai vào. Người môn đệ Đức Kitô không chỉ vác thập giá của mình; đôi khi còn được mời mang giúp thập giá người khác. Một cuộc điện thoại. Một giờ ngồi nghe. Một bữa cơm. Một món quà nhỏ. Một lời bênh vực. Một sự hiện diện. Simon chẳng làm phép lạ, chẳng giảng bài nào, chỉ vác giúp Chúa một đoạn đường, mà tên ông được ghi trong Tin Mừng. Có những việc rất nhỏ nhưng mang giá trị vĩnh cửu khi nó làm nhẹ vai một người.
Đi sau Đức Kitô là như thế. Không phải đi sau một Người hứa cho ta một đời không nước mắt, mà đi sau Đấng đã biến nước mắt thành hạt giống. Không phải đi sau một Người giúp ta tránh mọi đau đớn, mà đi sau Đấng bước vào đau đớn và cứu nó khỏi vô nghĩa. Không phải đi sau một Người đứng ngoài thập giá, mà đi sau một Người mang Thập Giá trên vai, máu chảy trên mặt, chân bước chậm trên con đường lên đồi, rồi quay lại nói với ta: “Hãy theo tôi.”
Vậy nên, nếu muốn biết mình đang theo ai, hãy nhìn con đường mình chọn. Nếu ta chỉ theo Chúa khi thuận lợi, có lẽ ta đang theo những ơn Chúa hơn là theo Chúa. Nếu ta chỉ cầu nguyện khi được an ủi, có lẽ ta đang tìm cảm giác hơn là tìm Người. Nhưng nếu giữa những ngày đen tối ta vẫn nói: “Lạy Chúa, con vẫn theo”, thì đó là lời tuyên xưng rất đẹp. Có thể không ai nghe, nhưng Thiên Chúa nghe. Có thể chẳng ai biết mỗi bước của ta khó thế nào, nhưng Người biết.
Cuối cùng, đời Kitô hữu có lẽ được gom lại trong một hình ảnh rất đơn sơ: Đức Giêsu đi phía trước, Thập Giá trên vai; ta đi phía sau, thập giá của mình trên vai. Có lúc khoảng cách rất gần, có lúc ta tụt lại. Có lúc ta ngã. Có lúc ta nằm lì dưới đất và tưởng mình không thể đứng dậy. Nhưng Chúa không nói: “Đừng bao giờ ngã.” Người nói: “Hãy theo tôi.” Ngã thì đứng lên mà theo. Khóc thì vừa khóc vừa theo. Mệt thì đi chậm lại nhưng đừng đổi hướng. Có khi chỉ cần đừng quay lưng là đã đủ cho một ngày.
Rồi một ngày, khi đi hết con đường, ta sẽ hiểu những điều hôm nay chưa hiểu. Ta sẽ nhìn lại những thập giá từng làm mình khóc và nhận ra chúng đã không thể tách mình khỏi tình yêu Đức Kitô. Lúc đó có lẽ ta mới hiểu vì sao Chúa không cất hết thập giá nhưng lại luôn ở cùng. Ta sẽ hiểu rằng điều cứu đời ta không phải vì ta đã đủ mạnh để vác, nhưng vì suốt con đường ấy có một Đấng đã mang ta nhiều hơn là ta mang thập giá.
Lạy Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng con thường muốn theo Chúa nhưng lại sợ con đường Chúa đi. Chúng con muốn Phục Sinh nhưng ngại Canvê, muốn bình an nhưng sợ phải từ bỏ mình, muốn được yêu nhưng lại ngại trả giá của tình yêu. Xin đừng để chúng con tìm một Đức Kitô không có Thập Giá. Xin cho chúng con đủ khiêm nhường để nhận lấy thập giá của ngày hôm nay, đủ can đảm để không bỏ chạy, đủ tin tưởng để biết rằng Chúa đang đi trước, và đủ yêu để biến những đau khổ của mình thành một lễ dâng. Khi quá mệt, xin cho chúng con biết tựa vào Chúa. Khi ngã, xin cho chúng con biết đứng lên. Khi không hiểu gì, xin cho chúng con vẫn tin. Và khi không còn sức để nói một lời cầu nguyện dài, xin cho chúng con chỉ còn đủ sức thưa một câu thôi: “Lạy Chúa, con vẫn đi theo Ngài.”
Bởi sau cùng, làm môn đệ không phải là không có thập giá. Làm môn đệ là biết mình đang vác thập giá sau lưng ai. Và nếu người đi trước là Đức Kitô, thì dù con đường có qua Canvê, con đường ấy nhất định không kết thúc ở mồ đá.
Lm. Anmai, CSsR

KHÔNG CÓ MÔN ĐỆ KHÔNG THẬP GIÁ
Tin Mừng: Lc 14,27
“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi.”
Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng như quá cứng, quá nặng, quá đòi hỏi. Người không nói vòng vo, không tìm cách làm cho con đường theo Người trở nên dễ nghe hơn, cũng không dùng những lời ngọt ngào để giữ chân đám đông. Người nói thẳng: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi.” Chỉ một câu thôi mà đủ để phân định cả một đời người. Chỉ một câu thôi mà đủ để ta hiểu rằng làm Kitô hữu không phải là mang một cái tên, giữ một vài tập tục đạo đức, đi lễ vào những ngày buộc, đọc một vài kinh quen thuộc rồi nghĩ rằng mình đã theo Chúa. Theo Chúa là bước vào một con đường. Và trên con đường ấy có Thập Giá. Không phải thỉnh thoảng mới có. Không phải khi nào ta thích mới có. Không phải chỉ dành cho một vài người đặc biệt. Thập Giá nằm ngay trong căn tính của người môn đệ. Vì thế, có thể nói một cách rất ngắn nhưng không thể nói khác được: không có môn đệ không Thập Giá.
Điều đáng suy nghĩ là Chúa Giêsu không nói: “Ai không chịu đau khổ thì không thể làm môn đệ tôi.” Người nói: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi…” Đau khổ và Thập Giá không hoàn toàn là một. Trên đời này ai cũng đau khổ. Người tin Chúa đau khổ, người không tin Chúa cũng đau khổ. Người tốt gặp đau khổ, người xấu cũng gặp đau khổ. Người giàu có nỗi khổ của người giàu, người nghèo có nỗi khổ của người nghèo. Có những đau khổ đến từ bệnh tật, có những đau khổ đến từ tuổi già, có những đau khổ vì mất người thân, vì thất nghiệp, vì thất bại, vì cô đơn, vì bị hiểu lầm, vì con cái, vì gia đình, vì cộng đoàn, vì chính những giới hạn và yếu đuối của bản thân. Nhưng đau khổ chỉ trở thành Thập Giá theo nghĩa Kitô giáo khi ta đón nhận nó trong tình yêu, trong đức tin, trong sự kết hợp với Đức Kitô và nhất là khi ta vẫn tiếp tục bước theo Người giữa đau khổ ấy. Có người chịu rất nhiều đau khổ nhưng đau khổ chỉ làm họ cay đắng hơn. Có người chịu một Thập Giá không quá lớn nhưng lại để Thập Giá ấy biến họ thành một người hiền lành hơn, sâu sắc hơn, cảm thông hơn, biết cầu nguyện hơn và gần Chúa hơn. Vấn đề không chỉ là ta đang đau bao nhiêu. Vấn đề là ta đang vác điều ấy với ai, vì ai và đi về đâu.
“Ai không vác thập giá mình…” Chúa nói “thập giá mình”, không phải thập giá của người khác. Chúng ta thường có một cái nhìn rất lạ. Nhìn Thập Giá của mình thì thấy nặng, nhìn Thập Giá của người khác thì thấy nhẹ. Ta dễ nói với người khác: “Có gì đâu mà buồn”, “Có chuyện nhỏ vậy cũng chịu không nổi”, “Phải biết chấp nhận chứ”, “Có đức tin thì phải vui lên chứ”. Nhưng đến khi chính ta bị chạm vào vết thương của mình, ta mới biết mỗi người có một cây Thập Giá mà người ngoài không thể cân đo. Có những bà mẹ cả đời không than thở nhưng trong lòng mang một vết đau về đứa con. Có những người chồng đi làm về vẫn cười nhưng trong lòng chất đầy lo toan. Có những người vợ âm thầm chịu đựng một cuộc hôn nhân mà không ai hiểu hết. Có những linh mục vẫn đứng trên bàn thờ, vẫn giảng, vẫn cười với giáo dân nhưng có những đêm chỉ còn biết ngồi trước Nhà Tạm trong thinh lặng. Có những tu sĩ sống giữa cộng đoàn đông người mà trong lòng lại có những khoảng cô đơn không biết chia sẻ với ai. Có những người già nằm một chỗ, ngày qua ngày phải nhờ người khác từng việc nhỏ, và Thập Giá của họ không chỉ là đau đớn thể xác mà còn là cảm giác mình trở thành gánh nặng. Có những người trẻ nhìn bên ngoài chẳng thiếu gì nhưng bên trong đang chiến đấu từng ngày với những thất vọng mà không ai hay biết. Mỗi người có một cây Thập Giá mang tên rất riêng. Và Chúa không bảo ta đổi Thập Giá cho nhau. Người nói: “Hãy vác thập giá mình.”
Có lẽ điều khó nhất của đời môn đệ không phải là vác Thập Giá một ngày, mà là vác lâu dài. Người ta có thể can đảm trong một khoảnh khắc nhưng rất khó trung thành trong nhiều năm. Một cơn đau bất ngờ đôi khi làm ta mạnh mẽ lạ thường, nhưng một căn bệnh kéo dài hết năm này sang năm khác lại bào mòn sức chịu đựng. Một hy sinh lớn đôi khi làm ta xúc động, nhưng những hy sinh nhỏ lặp lại mỗi ngày mới thực sự thử lòng người. Một người có thể dễ dàng nói lời “xin vâng” trong ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày thành hôn, nhưng thử thách thật sự không nằm trong tiếng “xin vâng” được nói trước bàn thờ giữa hoa nến và lời ca. Thử thách nằm ở hàng ngàn tiếng “xin vâng” rất nhỏ sau đó: xin vâng khi mệt, xin vâng khi không được hiểu, xin vâng khi công việc nhàm chán, xin vâng khi người bên cạnh thay đổi, xin vâng khi lý tưởng ban đầu không còn rực rỡ như xưa, xin vâng khi cầu nguyện khô khan, xin vâng khi phục vụ mà không ai ghi nhận, xin vâng khi tuổi trẻ đã qua, sức khỏe giảm sút và ta bắt đầu thấy những điều mình từng mơ ước có lẽ sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực.
Thập Giá lớn nhất nhiều khi không phải là một biến cố dữ dội. Thập Giá lớn nhất có khi chỉ là phải trung thành. Trung thành với một người khi người ấy không còn như ngày đầu. Trung thành với một lời hứa khi cảm xúc đã thay đổi. Trung thành với ơn gọi khi những háo hức đầu tiên đã qua. Trung thành với việc cầu nguyện khi chẳng cảm thấy Chúa đâu. Trung thành với bổn phận khi không ai nhìn thấy. Trung thành với lòng tử tế khi bị đối xử không tử tế. Trung thành với sự thật khi nói dối có lợi hơn. Trung thành với lòng tha thứ khi vết thương lâu lành. Trung thành với Chúa khi cuộc đời dường như không diễn ra theo cách mình đã cầu xin. Những điều đó không ồn ào. Không ai vỗ tay. Không ai biết. Nhưng chính ở đó người môn đệ được hình thành.
Có một điều rất nguy hiểm trong đời sống đức tin: ta có thể yêu Đức Kitô nhưng lại không muốn con đường của Đức Kitô. Ta muốn Chúa nhưng không muốn Thập Giá. Ta muốn bình an Chúa ban nhưng không muốn từ bỏ mình. Ta muốn ơn cứu độ nhưng không muốn hoán cải. Ta muốn Phục Sinh nhưng tìm cách đi vòng qua đồi Canvê. Ta muốn được Chúa an ủi nhưng không muốn ở lại với Chúa trong giờ Người cô đơn. Ta muốn theo một Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, chữa người mù, cho người què đi được, làm cho Lazarô sống lại; nhưng khi Đức Giêsu ấy nói rằng Con Người phải chịu nhiều đau khổ, phải bị loại bỏ, phải bị giết chết, ta bắt đầu chùn bước. Chính Phêrô cũng đã từng như thế. Ông yêu Chúa thật. Ông bỏ mọi sự theo Chúa thật. Ông tuyên xưng Chúa là Đấng Kitô thật. Nhưng khi Chúa nói đến Thập Giá, Phêrô không chịu nổi. Ông muốn có Đấng Kitô nhưng không muốn có Thập Giá. Và đó vẫn là cám dỗ của mỗi Kitô hữu qua mọi thời.
Một thứ Kitô giáo không có Thập Giá sẽ rất dễ chịu, nhưng không còn là Kitô giáo của Đức Giêsu. Một bài giảng chỉ hứa thành công, sung túc, khỏe mạnh và thuận lợi mà không nói đến từ bỏ, hy sinh, trung tín và tự hiến sẽ dễ nghe, nhưng không đầy đủ Tin Mừng. Một đời sống đạo chỉ tìm cảm giác bình an mà tránh né bổn phận, chỉ tìm phép lạ mà không muốn hoán cải, chỉ xin Chúa cất khó khăn mà không hỏi Chúa muốn mình sống thế nào giữa khó khăn ấy, thì sớm muộn cũng thất vọng. Bởi Đức Giêsu chưa bao giờ hứa với các môn đệ rằng theo Người thì cuộc đời sẽ không còn bão tố. Người chỉ hứa rằng trong bão tố, Người sẽ ở đó. Người không hứa rằng môn đệ sẽ không khóc. Người chỉ hứa rằng nước mắt không phải là lời cuối cùng. Người không hứa rằng ai theo Người sẽ không chết. Người chỉ hứa rằng ai tin vào Người, dù có chết, cũng sẽ được sống.
Vì vậy, Thập Giá không có nghĩa Thiên Chúa thích thấy con người đau khổ. Đừng hiểu sai điều đó. Thiên Chúa không phải một vị thần vui thích trước nước mắt của con người. Đức Giêsu đã chữa bệnh, cho người đói ăn, khóc trước mộ Lazarô, chạnh lòng thương đám đông, bênh vực người bị loại trừ. Tin Mừng cho thấy một Thiên Chúa chống lại những gì làm con người bị hủy hoại. Nhưng có những đau khổ không thể tránh khỏi trong thân phận làm người; và có những đau khổ phát sinh chính vì ta chọn yêu, chọn trung thành, chọn sống công chính. Chúa không tạo ra mọi Thập Giá, nhưng Người có thể bước vào mọi Thập Giá. Người không giải thích hết mọi đau khổ, nhưng Người đã mang đau khổ trên chính thân thể mình. Người không đứng ngoài đồi Canvê để giảng một bài triết học về đau khổ. Người bị đóng đinh trên đó. Từ ngày ấy, không còn cây Thập Giá nào của con người mà Người không thể hiểu.
Có những lúc người Kitô hữu sẽ hỏi: “Tại sao Chúa để con phải chịu chuyện này?” Câu hỏi ấy rất thật, rất người. Không cần phải xấu hổ khi hỏi. Chính Đức Giêsu trên Thập Giá cũng đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức tin không có nghĩa là ta không bao giờ hỏi “tại sao”. Đức tin có nghĩa là sau tất cả những câu hỏi chưa tìm được câu trả lời, ta vẫn không bỏ Chúa. Có những câu hỏi đời này sẽ không có câu trả lời trọn vẹn. Ta có thể hiểu được một phần, đoán được một phần, nhưng nhiều điều chỉ có thể mang theo trong thinh lặng. Và chính nơi đó, lòng trung thành trở thành hình thức tinh tuyền nhất của đức tin: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn đi theo Chúa.”
Đó là câu mà đời môn đệ phải nói nhiều lần. Lạy Chúa, con không hiểu tại sao gia đình con lại như thế, nhưng con vẫn đi theo Chúa. Con không hiểu tại sao lời cầu xin của con bao năm chưa được nhận lời, nhưng con vẫn đi theo Chúa. Con không hiểu tại sao người con yêu thương lại ra đi sớm như vậy, nhưng con vẫn đi theo Chúa. Con không hiểu tại sao con cố sống tốt mà vẫn gặp bao chuyện trái ngang, nhưng con vẫn đi theo Chúa. Con không hiểu tại sao con phục vụ mà lại bị hiểu lầm, nhưng con vẫn đi theo Chúa. Con không hiểu tại sao tuổi già đến nhanh, sức khỏe suy giảm, những khả năng từng làm nên giá trị của con dần mất đi, nhưng con vẫn đi theo Chúa. Có những lúc đức tin không còn là cảm xúc mạnh mẽ hay những lời hoa mỹ. Đức tin chỉ còn bốn chữ: “Con vẫn theo Ngài.” Và đôi khi bốn chữ ấy đẹp hơn cả ngàn lời cầu nguyện.
Thập Giá cũng dạy ta rằng đời môn đệ không được đo bằng thành công trước mắt. Đức Giêsu chết trên Thập Giá nhìn theo tiêu chuẩn thế gian là một thất bại. Đám đông từng tung hô Người đã tản đi. Các môn đệ chạy trốn. Giuđa phản bội. Phêrô chối Thầy. Các nhà lãnh đạo chế nhạo. Người bị treo giữa hai tên tử tội. Không ngai vàng, không binh lính, không một dấu hiệu chiến thắng bên ngoài. Nếu câu chuyện dừng lại chiều Thứ Sáu ấy, người đời có thể kết luận rằng Giêsu Nadarét đã thất bại. Nhưng Thiên Chúa nhìn khác. Có những điều mắt người gọi là thất bại mà Thiên Chúa gọi là trung thành. Có những điều mắt người xem là vô ích mà Thiên Chúa đang dùng để cứu một linh hồn. Có những đời người không lập được công trình lớn, không nổi tiếng, không được nhớ đến, nhưng chỉ vì họ đã âm thầm sống trọn vẹn bổn phận trong tình yêu, cuộc đời họ đã trở thành một bài Tin Mừng.
Bao nhiêu người mẹ là những người môn đệ như thế. Không diễn thuyết. Không làm những việc phi thường. Chỉ thức khuya khi con bệnh, dậy sớm lo bữa ăn, chịu những nỗi lo không kể hết, nhiều khi già đi mà con cái chẳng nhận ra. Bao nhiêu người cha là những môn đệ như thế. Gánh trách nhiệm trên vai, đôi khi chẳng biết than cùng ai, sáng đi làm tối trở về, cứ thế suốt mấy chục năm để gia đình được bình an. Bao nhiêu người chăm sóc người bệnh lâu năm, hết ngày này qua ngày khác lau rửa, đút ăn, đưa đi bệnh viện, nghe đi nghe lại những lời than, mệt nhưng vẫn không bỏ. Bao nhiêu linh mục ở những nơi chẳng ai biết tên, ngày ngày dâng lễ, giải tội, thăm bệnh, chôn cất, dạy giáo lý, nghe những nỗi lòng, rồi lặng lẽ già đi trong một xứ đạo nhỏ. Bao nhiêu tu sĩ làm những công việc chẳng bao giờ xuất hiện trên hình ảnh nào, nhưng vẫn trung thành với lời khấn từ tuổi trẻ đến tóc bạc. Đó là Thập Giá. Nhưng đó cũng là vẻ đẹp của môn đệ.
Chúng ta thường thích những khởi đầu đẹp. Khởi đầu bao giờ cũng có sức hấp dẫn. Ngày cưới đẹp. Ngày khấn đẹp. Ngày chịu chức đẹp. Ngày nhận sứ vụ đẹp. Ngày bắt đầu một công việc mới đầy hy vọng. Nhưng Thiên Chúa không chỉ nhìn ngày bắt đầu. Người nhìn ngày cuối cùng. Không phải ai khởi đầu cũng đi đến cùng. Hạt giống nảy mầm rất nhanh, nhưng điều quan trọng là nó có chịu nổi nắng gắt, đất khô và thời gian hay không. Một lời thưa “xin vâng” rất dễ nói khi lòng đầy nhiệt huyết. Một đời “xin vâng” mới khó. Và vì thế, sự thánh thiện không nằm chủ yếu ở những khoảnh khắc bùng cháy, mà nằm trong sự trung thành kéo dài.
Có người từng sốt sắng lắm nhưng rồi nguội lạnh. Có người từng hăng hái phục vụ nhưng chỉ cần một lần không được công nhận là bỏ cuộc. Có người từng hứa yêu thương suốt đời nhưng khi người kia trở nên khó chịu, bệnh tật hoặc không còn hấp dẫn như trước thì bắt đầu tiếc nuối lựa chọn của mình. Có người bước vào đời tu với bao lý tưởng nhưng rồi va chạm với thực tế cộng đoàn, với giới hạn của bề trên, của anh em, của chính mình, và bắt đầu mơ về một con đường khác. Có linh mục từng cháy hết mình cho sứ vụ nhưng qua năm tháng, những thất vọng, lời phê bình, cô đơn và những chống đối có thể làm trái tim mệt mỏi. Đó chính là lúc câu Tin Mừng hôm nay trở nên thật: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi.” Không phải Thập Giá của ngày đầu, mà Thập Giá của ngày thứ một ngàn, ngày thứ mười ngàn; không phải tiếng “xin vâng” trong tiếng đàn và hoa nến, mà tiếng “xin vâng” của một buổi sáng bình thường khi ta chẳng còn thấy hứng thú gì nhưng vẫn đứng dậy làm điều phải làm.
Trung thành không có nghĩa là không bao giờ mệt. Người trung thành cũng mệt. Không có nghĩa là không bao giờ nghi ngờ. Người trung thành có lúc nghi ngờ. Không có nghĩa là không bao giờ muốn bỏ cuộc. Có khi người trung thành đã hàng trăm lần muốn bỏ cuộc. Điều khác biệt là họ không để một khoảnh khắc mệt mỏi quyết định cả một đời. Họ biết nghỉ nhưng không bỏ. Họ biết khóc nhưng không quay lưng. Họ có thể bước chậm lại nhưng vẫn bước về phía Chúa. Có khi lòng trung thành chỉ là sáng nay vẫn cầu nguyện dù tối qua đã muốn buông xuôi. Có khi chỉ là vẫn trở về nhà sau một ngày đầy căng thẳng. Có khi chỉ là chưa nói lời làm tổn thương người kia dù trong lòng đang rất giận. Có khi chỉ là tiếp tục chăm sóc một người không còn khả năng đáp lại tình thương của mình. Có khi chỉ là vẫn đứng trên bàn thờ dâng lễ với tất cả lòng thành sau một đêm đầy nước mắt. Thiên Chúa nhìn thấy những điều rất nhỏ ấy.
Thập Giá còn có một khuôn mặt khác rất khó nhận ra: Thập Giá của chính mình. Có những người chấp nhận được mọi thứ, trừ chính bản thân mình. Ta có thể chịu đựng bệnh tật nhưng không chịu nổi sự yếu đuối của mình. Ta đau khi nhận ra mình không tài giỏi như từng nghĩ. Ta buồn khi tuổi tác lấy đi vẻ đẹp, trí nhớ, sức lực. Ta khó chấp nhận những giới hạn tâm lý, tính tình, quá khứ, những quyết định sai lầm không thể sửa lại. Có lúc Thập Giá của đời ta chính là phải sống với một bản thân không hoàn hảo. Ta muốn mình thánh thiện hơn, kiên nhẫn hơn, quảng đại hơn; nhưng rồi vẫn thấy mình dễ nóng, dễ buồn, dễ tự ái. Nếu điều ấy dẫn ta đến khiêm nhường, nó có thể trở thành một con đường ân sủng. Người môn đệ trưởng thành không phải người tưởng rằng mình không còn yếu đuối, mà là người biết rằng giữa những yếu đuối ấy, mình vẫn cần được Đức Kitô cứu từng ngày.
Có một kiểu Thập Giá khác nữa: Thập Giá của sự âm thầm. Làm điều tốt mà chẳng ai biết. Bị hiểu lầm mà không thể giải thích. Hy sinh mà người nhận không hiểu. Cầu nguyện cho một người đang chống lại mình. Phục vụ nhưng người ta nghĩ đó là bổn phận nên chẳng bao giờ nói lời cảm ơn. Bao nhiêu lần ta chịu được gian khổ nhưng không chịu nổi việc không được ghi nhận. Ta có thể làm mười việc khó nếu được khen, nhưng một việc nhỏ chẳng ai biết lại thấy nặng. Chính vì thế, Thập Giá thanh luyện động cơ của ta. Tôi làm điều này vì Chúa hay vì muốn được nhìn nhận? Tôi phục vụ vì yêu hay vì cần người khác biết mình tốt? Tôi trung thành với ơn gọi vì Chúa hay vì hình ảnh của mình trước người khác? Đến một lúc nào đó, Chúa có thể lấy đi những lời vỗ tay để xem liệu ta còn đi theo Người hay không.
Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, ta hiểu rằng Người không cứu thế giới bằng tiếng vỗ tay. Người chết giữa những lời chế nhạo. Người không chết trong vòng tay của đám đông biết ơn nhưng gần như trong cô độc. Vậy mà chính trong sự cô độc ấy tình yêu đạt đến mức trọn vẹn nhất. Một tình yêu chỉ tồn tại khi được đáp lại thì chưa phải tình yêu sâu nhất. Một sự trung thành chỉ kéo dài khi thuận lợi thì chưa được thử luyện. Tình yêu của Đức Kitô vẫn yêu khi bị phản bội, vẫn tha thứ khi bị đóng đinh, vẫn phó thác khi bị bỏ rơi. Người môn đệ đi theo Đức Kitô cuối cùng cũng phải học thứ tình yêu ấy.
Và phải nói thêm rằng không phải mọi đau khổ đều phải cam chịu. Có những bất công phải lên tiếng. Có những bạo hành phải thoát ra. Có những bệnh tật phải chữa trị. Có những sai trái phải sửa đổi. Có những tình trạng độc hại không thể nhân danh Thập Giá mà bắt người khác chịu đựng. Chúa không dạy ta biến sự hèn nhát thành nhân đức hay biến bất công thành thánh ý Thiên Chúa. Vác Thập Giá không có nghĩa là dung túng cái ác. Đức Giêsu im lặng trước Hêrôđê nhưng Người cũng nói thẳng với người lính đã đánh Người: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Thập Giá Kitô giáo luôn đi với sự thật và tình yêu. Có khi vác Thập Giá là nhẫn nhịn. Có khi vác Thập Giá lại chính là can đảm đứng lên bảo vệ sự thật dù phải trả giá.
Điều Chúa muốn nhấn mạnh là: theo Người luôn có một cái giá. Không có tình yêu nào sâu mà không trả giá. Cha mẹ yêu con phải trả giá bằng thời gian, sức lực, lo âu. Vợ chồng yêu nhau phải trả giá bằng việc bớt đi cái tôi. Linh mục yêu đoàn chiên phải trả giá bằng sự hiện diện, nhẫn nại, nhiều khi cả những hy sinh chẳng ai hay. Người tu sĩ yêu ơn gọi phải trả giá bằng từ bỏ những chọn lựa riêng. Người sống công chính phải trả giá khi từ chối một món lợi bất chính. Người tha thứ phải trả giá bằng tự ái. Người giữ lòng trong sạch phải trả giá bằng từ bỏ những gì hấp dẫn nhưng không phù hợp với Tin Mừng. Người trung thực đôi khi phải trả giá bằng cơ hội. Người môn đệ không tìm đau khổ, nhưng khi tình yêu đòi giá, họ không bỏ tình yêu để giữ lấy sự dễ chịu.
Đến đây có lẽ mỗi người nên tự hỏi: Cây Thập Giá hiện nay của tôi là gì? Đừng nghĩ xa. Có thể nó đang ở ngay bên cạnh. Một người tôi thấy khó sống chung. Một căn bệnh. Một nỗi lo. Một người con làm tôi đau lòng. Một trách nhiệm tôi đã quá mệt mỏi. Một lời hứa tôi đang muốn rút lại. Một bổn phận âm thầm. Một vết thương chưa lành. Một cuộc chiến nội tâm mà không ai biết. Một tuổi già đang đến. Một sự cô đơn. Một thất bại. Một giới hạn. Có khi ta cầu xin Chúa đổi cây Thập Giá ấy, và ta có quyền cầu xin. Đức Giêsu trong Vườn Dầu cũng đã cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người đã thêm: “Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là điểm chuyển từ đau khổ thành Thập Giá: khi ta đặt nó trong ý muốn yêu thương của Thiên Chúa.
Có những cây Thập Giá rồi sẽ được cất đi. Có những bệnh sẽ khỏi. Có những khó khăn sẽ qua. Có những mối quan hệ sẽ được chữa lành. Nhưng cũng có những Thập Giá phải mang đến cuối đời. Thánh Phaolô từng xin Chúa ba lần cất khỏi ông “cái dằm trong thân xác”, nhưng Chúa không cất. Người chỉ nói: “Ơn của Thầy đã đủ cho con.” Có những lúc phép lạ ta cần không phải là Thập Giá biến mất, mà là vai ta được mạnh hơn; không phải hoàn cảnh đổi, mà trái tim đổi; không phải con đường ngắn lại, mà ta nhận ra Chúa đang đi bên cạnh.
Đây có lẽ là điều đẹp nhất của đời Kitô hữu: ta không vác Thập Giá một mình. Câu Chúa nói không dừng ở “vác thập giá mình”, nhưng tiếp tục: “mà đi theo tôi.” Đức Giêsu đi trước. Người không đứng ở cuối đường hét lên bảo ta cố gắng. Người đã bước con đường ấy trước chúng ta. Khi ta bị hiểu lầm, Người đã từng bị hiểu lầm. Khi ta bị phản bội, Người từng bị Giuđa bán bằng một nụ hôn. Khi ta cô đơn, Người đã từng thấy các môn đệ ngủ trong lúc mình đổ mồ hôi máu. Khi ta bị xét đoán oan, Người đã đứng trước những phiên tòa bất công. Khi ta đau đớn thân xác, toàn thân Người từng bị xé nát bởi roi đòn, gai nhọn và đinh sắt. Khi ta cảm thấy Thiên Chúa im lặng, Người từng kêu lên từ Thập Giá trong bóng tối. Không có vực sâu nào của đau khổ con người mà Đức Giêsu chưa bước xuống.
Vì thế, khi vác Thập Giá, người Kitô hữu có quyền nói: “Chúa hiểu.” Có thể người đời không hiểu. Gia đình không hiểu. Cộng đoàn không hiểu. Người thân nhất cũng không hiểu. Nhưng Chúa hiểu. Và đôi khi chỉ cần biết có một Người hiểu mình đến tận cùng cũng đủ để ta tiếp tục. Đức tin không luôn làm Thập Giá nhẹ đi theo cảm giác, nhưng làm cho Thập Giá không còn vô nghĩa. Một đau khổ vô nghĩa dễ đè bẹp con người. Một đau khổ được trao vào tay Thiên Chúa có thể trở thành của lễ.
Thánh giá trên tường nhà ta, trên bàn thờ, trên cổ áo, trong nhà thờ rất quen thuộc đến nỗi nhiều khi ta không còn bị đánh động. Nhưng hãy nhìn kỹ. Kitô giáo đặt ngay ở trung tâm không phải hình ảnh một con người thành công theo nghĩa thế gian, mà là một Người bị đóng đinh. Điều đó thật kỳ lạ. Và chính vì thế, chẳng Kitô hữu nào có thể nói rằng thất bại, đau khổ, yếu đuối hay cái chết nằm ngoài câu chuyện cứu độ. Thiên Chúa đã đặt vinh quang của Người vào chính nơi thế gian tưởng chỉ có nhục nhã. Người đã đặt chiến thắng vào nơi tưởng như thất bại tuyệt đối. Người đã đặt sự sống vào một ngôi mộ.
Cho nên đừng vội kết luận cuộc đời mình khi đang ở ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Đừng nhìn một đoạn đau khổ rồi nghĩ đó là toàn bộ câu chuyện. Đừng vì hôm nay tối mà nghĩ rằng ngày mai không còn ánh sáng. Đừng vì một thất bại mà cho rằng cả đời vô ích. Đừng vì một lời cầu chưa được nhận mà nghĩ Chúa bỏ mình. Giữa Thứ Sáu và Chúa Nhật có một ngày Thứ Bảy rất dài, một ngày dường như Thiên Chúa hoàn toàn im lặng. Nhưng trong sự im lặng ấy, công trình cứu độ vẫn đang diễn ra. Có những lúc đời ta cũng là một ngày Thứ Bảy như thế. Chưa thấy Phục Sinh. Chỉ còn biết đợi. Và sự trung thành trong lúc chờ đợi chính là một hình thức vác Thập Giá.
Có lẽ cuối cùng, khi đứng trước Chúa, điều làm ta hạnh phúc nhất không phải là đã làm bao nhiêu chuyện lớn, nhưng là được nghe Người nói: “Con đã ở lại.” Con đã không bỏ Ta. Có lúc con đi rất chậm nhưng con không quay lưng. Có lúc con ngã nhưng con lại đứng lên. Có lúc con than khóc nhưng con vẫn cầu nguyện. Có lúc con không hiểu nhưng con vẫn tin. Có lúc con không cảm thấy gì nhưng con vẫn trung thành. Có lúc cả thế giới trong con muốn buông, nhưng con vẫn nắm lấy tay Ta. Đó là môn đệ.
Không có môn đệ không Thập Giá. Nhưng cũng không có Thập Giá nào là điểm cuối của người môn đệ. Sau Thập Giá là Phục Sinh. Sau hạt lúa chết đi là mùa lúa mới. Sau những giọt nước mắt gieo trong đêm là ngày trở về mang theo bó lúa trên tay. Điều quan trọng là đừng bỏ đường giữa chừng.
Có thể hôm nay ai đó đang rất mệt. Đã vác quá lâu. Đã chịu đựng quá nhiều. Đã cầu nguyện quá lâu. Đã tha thứ quá nhiều lần. Đã chờ đợi quá lâu. Và trong lòng chỉ còn một câu: “Con không biết mình còn chịu được bao lâu nữa.” Đừng nghĩ Chúa đòi ta phải mạnh mẽ một cách phi thường. Simon Kyrênê đã từng phải giúp Chúa vác Thập Giá. Chính Đức Giêsu cũng đã ngã dưới sức nặng cây gỗ. Điều Chúa muốn không phải là ta không bao giờ yếu, nhưng là trong sự yếu đuối, ta đừng bỏ Người. Nếu hôm nay chỉ đi nổi một bước, hãy đi một bước. Nếu chỉ cầu nổi một câu, hãy cầu một câu: “Lạy Chúa Giêsu, xin ở với con.” Có khi cả đời đức tin được giữ lại chỉ bằng một lời cầu như thế.
Và xin nhớ: cây Thập Giá ta đang vác không phải lúc nào cũng là dấu Chúa bỏ ta. Có khi chính nơi ấy Người đang gần ta nhất. Người không luôn cất Thập Giá khỏi vai, nhưng Người ghé vai mình vào dưới cây Thập Giá của ta. Người không luôn giải thích, nhưng Người hiện diện. Người không hứa con đường không có đêm tối, nhưng Người hứa rằng bóng tối không thắng được ánh sáng.
“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi.” Lời ấy vẫn khó. Tin Mừng không làm nó dễ hơn. Nhưng có một điều làm ta có thể sống lời ấy: Đấng nói câu đó cũng chính là Đấng đã vác Thập Giá trước chúng ta. Người không đòi nơi ta điều Người chưa sống. Người không chỉ bảo ta đi; Người nói: “Hãy theo Ta.”
Vậy thì, lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, khi Thập Giá đời con nhẹ, xin cho con đừng kiêu căng. Khi Thập Giá đời con nặng, xin cho con đừng tuyệt vọng. Khi nhìn Thập Giá người khác, xin cho con đừng xét đoán. Khi thấy một người sắp ngã, xin cho con biết ghé vai như Simon Kyrênê. Khi con muốn bỏ cuộc, xin cho con nhìn lên Chúa. Khi con không còn hiểu gì, xin cho con vẫn tin. Khi con không còn cảm thấy gì, xin cho con vẫn trung thành. Khi con không còn đủ sức đi nhanh, xin cho con ít nhất đừng quay lưng lại. Và nếu một ngày con chỉ còn có thể lê từng bước cuối cùng của đời mình, xin cho mỗi bước ấy vẫn hướng về phía Chúa.
Bởi sau tất cả, đời môn đệ không phải là một đời không đau, nhưng là một đời không bỏ Chúa giữa đau khổ. Không phải là một đời không ngã, nhưng là một đời cứ ngã rồi lại đứng lên để tiếp tục đi sau Người. Không phải là một đời luôn hiểu, nhưng là một đời vẫn phó thác khi không hiểu. Không phải là một đời không Thập Giá, nhưng là một đời biết ôm lấy Thập Giá trong tình yêu, bởi biết chắc rằng phía trước mình là Đức Kitô.
Không có môn đệ không Thập Giá.
Nhưng cũng không có Thập Giá nào được vác với Đức Kitô mà cuối cùng không dẫn đến sự sống.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – TẤM GƯƠNG CỦA NGƯỜI MỤC TỬ HIẾN MẠNG
Tin Mừng: Ga 10,11-15
“Ta là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Có lẽ không có một câu nào diễn tả căn tính của người mục tử rõ hơn lời ấy của Chúa Giêsu. Người mục tử không được nhận diện trước hết bởi chiếc áo mình mặc, chiếc ghế mình ngồi, chức vụ mình mang hay số người đi theo mình. Người mục tử được nhận diện bởi điều mình dám mất vì đoàn chiên. Khi Đức Giêsu nói về Mục Tử nhân lành, Người không đưa ra một lý thuyết quản trị, một mô hình lãnh đạo hay một kỹ thuật điều hành cộng đoàn. Người đưa ra chính mạng sống mình. Định nghĩa của Chúa về người mục tử cuối cùng không nằm trong chữ nghĩa nhưng nằm trên Thập Giá. Muốn hiểu thế nào là mục tử, hãy nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Muốn biết một linh mục, một giám mục, một người có trách nhiệm trong Giáo Hội phải sống ra sao, hãy đứng thật lâu dưới chân Thập Giá. Ở đó không có những lời hoa mỹ. Ở đó chỉ có một thân mình bị trao nộp, đôi tay bị đóng đinh, đôi chân không còn tự do bước đi, một cạnh sườn bị đâm thủng, một trái tim mở ra đến tận cùng. Và từ chính thân thể tan nát ấy vang lên câu giải thích đẹp nhất cho mọi sứ vụ mục tử: Người yêu đoàn chiên đến cùng.
Có một khác biệt rất lớn giữa người sống nhờ đoàn chiên và người sống cho đoàn chiên. Hai hình ảnh ấy đôi khi nhìn bên ngoài rất giống nhau. Cả hai đều có thể đứng trước cộng đoàn, đều có thể giảng, tổ chức, điều hành, xây dựng, quy tụ và làm nhiều công việc. Nhưng chỉ có thời gian, thử thách và Thập Giá mới làm lộ ra người ấy đang sống nhờ đoàn chiên hay sống cho đoàn chiên. Người sống nhờ đoàn chiên cần đoàn chiên để mình được nâng lên, được công nhận, được phục vụ, được tôn trọng, được bảo đảm đời sống và được thấy mình quan trọng. Người sống cho đoàn chiên thì ngược lại: họ chấp nhận mình nhỏ lại để đoàn chiên lớn lên, mình mệt để đoàn chiên được nghỉ, mình chịu thiệt để người khác được bình an, mình nuốt nước mắt để người khác có chỗ khóc, mình bước vào vùng tối để tìm một con chiên đang lạc, mình chấp nhận mang tiếng vì muốn bảo vệ một người yếu thế. Người sống nhờ đoàn chiên sẽ buồn khi không còn được người ta quan tâm; người sống cho đoàn chiên chỉ buồn khi thấy người ta xa Chúa. Người sống nhờ đoàn chiên sợ mất chỗ đứng; người sống cho đoàn chiên sợ mất một linh hồn. Người sống nhờ đoàn chiên dễ tính toán công trạng; người sống cho đoàn chiên thường quên mất mình đã hy sinh bao nhiêu. Và Đức Giêsu không chỉ nói rằng Người là Mục Tử. Người nói: “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Nghĩa là dấu chỉ quyết định của mục tử không phải là khả năng giữ mình an toàn, mà là khả năng trao mình vì người khác.
Nhìn vào Đức Kitô chịu đóng đinh, ta thấy điều ấy đến tận cùng. Chúa không chết cho một đoàn chiên hoàn hảo. Người chết cho những con người yếu đuối, phản bội, bỏ chạy, chối Thầy, cứng lòng, ích kỷ và tội lỗi. Đây mới là điều làm cho Thập Giá trở nên đau đớn và cũng trở nên đẹp đẽ. Nếu người mục tử chỉ yêu những ai dễ thương, dễ bảo, biết ơn và kính trọng mình, thì chưa cần đến Thập Giá. Người đời cũng làm được điều đó. Nhưng Đức Kitô yêu cả Phêrô sau ba lần chối Thầy. Người vẫn nhìn Phêrô bằng ánh mắt không kết án. Người yêu những môn đệ đã bỏ chạy trong giờ nguy nan. Người vẫn gọi họ trở về. Người yêu cả những kẻ đang đóng đinh Người và còn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Một người mục tử chỉ thực sự mang dáng dấp Đức Kitô khi tình yêu của mình vượt qua được ranh giới của sự đáp trả. Có những người sẽ không hiểu mình. Có người sẽ nghe lời mình giảng rồi lại phê phán mình. Có người từng được mình giúp mà đến lúc nào đó quay lại làm mình đau. Có người mình chăm sóc nhiều năm nhưng chưa chắc nói một lời cảm ơn. Có người chỉ tìm đến lúc họ cần, rồi khi cuộc đời thuận lợi lại quên. Nếu người mục tử sống bằng nhu cầu được biết ơn, họ sẽ chóng kiệt sức. Nếu người mục tử sống bằng nhu cầu được công nhận, họ sẽ dễ cay đắng. Chỉ khi sống từ tình yêu của Đức Kitô chịu đóng đinh, người ta mới có sức tiếp tục yêu cả khi tình yêu không được đáp lại.
Đời mục tử không thiếu những khoảnh khắc đẹp. Có những ngày thánh lễ đông người, bài giảng được lắng nghe, cộng đoàn vui vẻ, công việc thuận lợi, người ta quý mến, trẻ nhỏ chạy đến chào, người già nắm tay cám ơn, gia đình mời dùng bữa. Nhưng đời mục tử không chỉ được làm nên bởi những ngày đẹp như thế. Có những đêm điện thoại reo vì một người hấp hối. Có những sáng vừa mở mắt đã nghe chuyện buồn của một gia đình. Có những lúc trong lòng mình đang rất mệt vẫn phải cử hành thánh lễ cho cộng đoàn. Có những ngày chính mình cần được an ủi nhưng lại phải đi an ủi người khác. Có những điều không thể kể với ai. Có những nỗi cô đơn không thể đặt lên vai người khác. Có những hiểu lầm phải lặng lẽ chịu. Có những quyết định dù làm đúng vẫn bị trách. Có khi cố gắng hết sức mà công việc vẫn thất bại. Có lúc gieo rất nhiều nhưng chẳng thấy mùa gặt. Có lúc nhìn một người mình đã đồng hành bao năm rời xa Chúa mà lòng đau không biết nói với ai. Chính những giờ đó, người mục tử mới hiểu rõ hơn lời Chúa: “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Hy sinh mạng sống không chỉ là một cái chết anh hùng trong một khoảnh khắc. Đa số người mục tử sẽ không chết như các vị tử đạo giữa quảng trường. Nhưng họ có thể “chết” mỗi ngày trong hàng ngàn điều nhỏ bé: chết cho ý riêng, chết cho tự ái, chết cho sự tiện nghi, chết cho nhu cầu được hiểu, chết cho mong muốn được khen, chết cho quyền lợi riêng, chết cho những kế hoạch cá nhân để ưu tiên một con người đang cần mình.
Có lẽ một trong những cám dỗ âm thầm nhất của người mục tử là quên rằng đoàn chiên không phải của mình. Chúa Giêsu nói: “Chiên của tôi.” Đó là chiên của Người. Giáo xứ không phải của cha xứ. Hội đoàn không phải của cha linh hướng. Cộng đoàn không phải của bề trên. Những con người được trao cho ta không phải là tài sản của ta. Ta chỉ là người được gửi đến để chăm sóc một thời gian. Một ngày nào đó ta đến, một ngày nào đó ta đi. Người khác sẽ đến thay. Chỉ có Đức Kitô là Mục Tử không bao giờ rời đoàn chiên. Hiểu điều ấy, người mục tử sẽ nhẹ hơn và tự do hơn. Ta không cần làm cho mọi người lệ thuộc vào mình. Trái lại, ta phải giúp họ gắn bó với Đức Kitô. Một mục tử tốt không làm người ta nói: “Không có cha ấy là tôi không sống đạo được.” Một mục tử tốt phải giúp người ta đến chỗ nói: “Nhờ cha ấy, tôi biết yêu Chúa hơn.” Người mục tử không phải đích đến. Họ chỉ là ngón tay chỉ về Đức Kitô. Bi kịch bắt đầu khi ngón tay muốn người ta ngắm chính mình thay vì nhìn Đấng mình đang chỉ tới.
Đức Giêsu còn nói một câu rất quan trọng: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi.” Chữ “biết” trong Tin Mừng không phải là biết trên giấy tờ, biết tên trong danh sách hay biết số gia đình. Đó là cái biết của trái tim. Người mục tử có thể quản lý hàng ngàn người nhưng vẫn không biết chiên. Và cũng có thể một cộng đoàn rất lớn nhưng người mục tử vẫn mang trong lòng những gương mặt cụ thể: một bà cụ cô đơn, một gia đình đang rạn nứt, một người trẻ mất đức tin, một người chồng nghiện rượu, một bà mẹ đang khóc vì con, một người bệnh lâu năm, một người lầm lỡ đang xấu hổ không dám trở về. Chúa Giêsu không nhìn đoàn chiên như một con số. Người nhìn từng người. Trong đám đông tại Giêricô, Người gọi đúng tên Dakêu. Giữa bao người chen lấn, Người nhận ra người phụ nữ đã chạm vào áo mình. Bên bờ hồ sau phục sinh, Người không nói chung chung với nhóm môn đệ mà hỏi thẳng Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không?” Người mục tử theo trái tim Chúa cũng phải học cái nhìn đó: nhìn đám đông mà không biến con người thành đám đông.
Có một hình ảnh rất đẹp: người mục tử đi trước đoàn chiên. Người đi trước không phải để chứng tỏ mình cao hơn, nhưng để chịu những gì phía trước trước khi đoàn chiên chịu. Đường có đá, chân người mục tử chạm đá trước. Có nguy hiểm, người mục tử đối diện trước. Có đêm tối, người mục tử bước vào trước. Đó là lý do quyền bính Kitô giáo bao giờ cũng đi liền với hy sinh. Ai càng được trao trách nhiệm lớn thì càng phải sẵn lòng chịu phần khó hơn. Đáng sợ nhất là khi ta dùng đoàn chiên như tấm lá chắn để bảo vệ mình. Đức Kitô làm ngược lại: Người dùng chính thân mình làm tấm lá chắn cho đoàn chiên. Người nói: “Nếu các anh tìm bắt tôi thì hãy để cho những người này đi.” Trong giờ bị bắt, Người vẫn nghĩ đến môn đệ. Trên Thập Giá, trong khi chính mình đang đau đớn, Người vẫn nghĩ đến Mẹ và người môn đệ: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh.” Đến hơi thở cuối cùng Người vẫn chăm sóc người khác. Đó là Mục Tử nhân lành.
Người mục tử của Chúa cũng phải cẩn thận với một nguy hiểm khác: làm quá nhiều việc cho Chúa mà dần dần không còn ở với Chúa. Người ta có thể rất bận việc mục vụ, lịch kín từ sáng đến tối, họp hành, xây dựng, giảng dạy, giải quyết đủ thứ, nhưng tâm hồn lại xa dần nguồn mạch. Một nhánh cây dù hoạt động đến đâu mà rời thân cây cũng sẽ khô. Đức Kitô không yêu đoàn chiên bằng năng lượng tâm lý. Người yêu từ sự kết hợp với Chúa Cha. Người nói: “Như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha.” Trước khi nói đến việc hiến mạng, Người nói đến sự hiệp thông với Cha. Đây là bí mật của đời mục tử. Người mục tử không thể trao mãi nếu không trở về nguồn. Không thể nói mãi về Chúa nếu không còn ngồi trước Chúa. Không thể mang đau khổ của người khác nếu không có nơi đặt chính đau khổ của mình. Nhà tạm vì thế không phải một phần phụ của đời linh mục. Đó là nơi người mục tử học lại cách làm mục tử. Có những chuyện không giải quyết được bằng họp. Có những mệt mỏi không chữa được bằng nghỉ ngơi. Có những buồn phiền chỉ dịu lại khi ngồi im trước Thánh Thể và thưa một câu rất đơn sơ: “Lạy Chúa, đoàn chiên này là của Chúa. Con chỉ là người phục vụ.”
Thập Giá cũng dạy người mục tử rằng cứu độ không đến bằng việc luôn thắng. Chúa Giêsu đã không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh quyền năng. Người ở lại. Đây là điều rất khó với chúng ta. Ta thường nghĩ nếu mình đúng thì mình phải chứng minh. Nếu bị hiểu lầm thì phải giải thích. Nếu bị phê bình thì phải phản ứng. Nếu người ta không công nhận thì phải tìm cách làm cho người ta thấy. Nhưng nhiều khi tình yêu mục tử đòi ta ở lại trên Thập Giá của sự im lặng. Không phải im lặng vì hèn nhát, càng không phải bao che sai trái, nhưng im lặng vì biết có những cuộc tranh luận dù thắng cũng làm mất người anh em. Có những lời thanh minh có thể cứu danh dự ta nhưng làm người khác tổn thương sâu hơn. Có những lúc người mục tử phải chọn mất một chút danh dự để giữ bình an cho cộng đoàn. Đức Kitô trên Thập Giá bị kết án oan nhưng không dùng quyền năng để nghiền nát kẻ kết án mình. Người cho thấy sức mạnh lớn nhất không phải làm người khác câm miệng, mà là giữ trái tim mình không trở nên giống người đã làm mình đau.
Người mục tử hiến mạng cũng không phải người không biết mệt. Đức Giêsu cũng mệt. Người ngồi bên giếng Giacóp vì mệt đường. Người ngủ trên thuyền. Người nói với các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Một linh đạo mục tử lành mạnh không phải là tự hủy mình một cách vô trật tự. Hiến mạng không đồng nghĩa với việc không có giới hạn. Nhưng có một khác biệt giữa nghỉ để tiếp tục yêu và trốn để khỏi phải yêu. Chúa Giêsu có lúc lui vào nơi thanh vắng, nhưng khi thấy đám đông bơ vơ như chiên không người chăn, Người chạnh lòng thương. Người mục tử cũng vậy: cần nghỉ, cần cầu nguyện, cần chăm sóc sức khỏe, cần những khoảng lặng. Nhưng trái tim không được đóng cửa. Ta có thể đóng cửa phòng để nghỉ, nhưng đừng đóng cửa lòng với tiếng kêu của một người đang đau.
Ngày chịu chức, người linh mục phủ phục trên nền nhà thờ. Hình ảnh ấy thật đẹp và đáng sợ. Người nằm xuống đất như một người chết. Có lẽ phải trở lại hình ảnh đó nhiều lần trong đời. Ngày đó chúng ta đã nói bằng cả thân mình rằng từ nay đời mình không còn hoàn toàn thuộc về mình nữa. Nhưng sau nhiều năm, người ta có thể đứng dậy khỏi nền nhà thờ và từ từ lấy lại những gì từng trao: giờ của tôi, quyền của tôi, sự thoải mái của tôi, danh dự của tôi, ý riêng của tôi. Thế nên đời mục tử cần liên tục trở về với Thập Giá để học trao lại chính mình. Chiếc áo lễ đẹp nhất không làm nên linh mục. Bài giảng hay nhất cũng không làm nên linh mục. Công trình lớn nhất cũng không làm nên linh mục. Điều làm nên một mục tử giống Đức Kitô là một trái tim dần dần biết nói: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Mỗi thánh lễ người linh mục đọc lời ấy trên bánh, nhưng sâu xa hơn, lời ấy phải được đọc trên chính cuộc đời mình.
“Đây là mình Thầy.” Đây là thời gian của tôi, trao cho anh em. Đây là sức lực của tôi, trao cho anh em. Đây là tuổi trẻ của tôi, trao cho anh em. Đây là những đêm mất ngủ, những chuyến đi xa, những lần ngồi chờ ở bệnh viện, những giờ trong tòa giải tội, những cuộc điện thoại bất ngờ, những bữa cơm nguội, những kế hoạch bị gián đoạn. Đây là mình tôi, hiến vì anh em. Nếu đời linh mục không dần trở thành một thứ bánh được bẻ ra, chức linh mục sẽ chỉ còn là một vai trò. Nhưng khi một linh mục thực sự để đời mình được bẻ ra trong âm thầm, có thể không ai biết hết, nhưng Thiên Chúa biết và đoàn chiên sẽ được nuôi.
Có những linh mục cả đời không làm được một công trình lớn, không xây nhà thờ nguy nga, không nổi tiếng, không có những bài giảng lan truyền, nhưng họ hiện diện bên người nghèo, thăm bệnh đều đặn, ngồi tòa giải tội trung thành, dâng lễ mỗi sáng, chôn cất những người không ai biết, dạy giáo lý cho vài đứa trẻ, lắng nghe một người đang tuyệt vọng và sống âm thầm giữa đoàn chiên. Trong mắt thế gian đó có thể là một cuộc đời nhỏ. Nhưng trong mắt Mục Tử nhân lành, đó có thể là một cuộc đời rất lớn. Bởi Thiên Chúa không hỏi người mục tử đã làm mình nổi tiếng đến đâu. Người hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Và ngay sau câu hỏi ấy là mệnh lệnh: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Không phải chiên của con, mà chiên của Thầy.
Càng sống lâu trong đời mục tử, có lẽ người ta càng hiểu mình không cứu được ai. Ban đầu, một linh mục trẻ có thể mang nhiều nhiệt tình và tưởng rằng nếu mình giảng hay, tổ chức tốt, làm việc hết sức thì mọi người sẽ thay đổi. Rồi năm tháng dạy cho ta sự khiêm nhường. Có người nghe trăm bài giảng vẫn chưa đổi. Có người mình thương rất nhiều vẫn chọn một con đường khác. Có một gia đình mình đã cố hòa giải nhưng cuối cùng vẫn tan vỡ. Có một người trẻ mình đồng hành nhưng rồi vẫn rời Giáo Hội. Những lúc ấy người mục tử dễ thấy mình thất bại. Nhưng Thập Giá nhắc rằng hoa trái không phải lúc nào cũng thấy ngay. Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, nhìn từ bên ngoài, sứ vụ của Đức Giêsu dường như thất bại hoàn toàn. Môn đệ tan tác, dân chúng quay lưng, Người bị treo giữa hai tên trộm. Thế mà chính ở đó ơn cứu độ được hoàn tất. Người mục tử phải học gieo trong nước mắt mà tin rằng Thiên Chúa có mùa gặt của Người.
Và đoàn chiên cũng cần cầu nguyện cho mục tử. Đừng chỉ đòi hỏi nơi linh mục một con người không bao giờ mệt, không bao giờ sai, luôn vui, luôn có mặt, luôn nói đúng điều mình muốn nghe. Linh mục cũng là một con người được lấy từ giữa loài người. Họ mang kho tàng trong bình sành. Họ có giới hạn, có yếu đuối, có những ngày tinh thần xuống thấp. Yêu mục tử không có nghĩa là thần tượng hóa họ hay im lặng trước điều sai. Yêu là biết nâng đỡ để họ trở thành mục tử tốt hơn. Có những lời phê bình cần nói, nhưng hãy nói với lòng bác ái. Có những điều chưa hài lòng, nhưng đừng biến chúng thành vũ khí hạ nhục. Một cộng đoàn chỉ biết đòi hỏi mà không biết cầu nguyện cho mục tử cũng có thể làm những người đang phục vụ mình kiệt sức. Ngược lại, một mục tử chỉ đòi đoàn chiên phục tùng mà không chịu hiến mình cũng phản bội hình ảnh Đức Kitô.
Cuối cùng, người mục tử phải nhớ rằng có một ngày mình sẽ rời mọi đoàn chiên. Những chức vụ sẽ kết thúc. Chìa khóa nhà xứ sẽ trao lại. Căn phòng từng sống sẽ có người khác ở. Những chương trình ta từng gây dựng sẽ được đổi mới hoặc thậm chí bị người sau bỏ đi. Tên ta rồi cũng mờ dần trong ký ức. Và điều còn lại không phải là ta đã giữ được bao nhiêu cho mình, nhưng đã trao được bao nhiêu cho người khác. Khi đứng trước Mục Tử tối cao, có lẽ câu hỏi không phải: “Con đã xây được gì?” nhưng là: “Con đã yêu đoàn chiên của Ta thế nào?” Không phải: “Bao nhiêu người kính trọng con?” nhưng là: “Bao nhiêu người nhờ con mà gần Ta hơn?” Không phải: “Con đã bảo vệ danh tiếng mình ra sao?” nhưng là: “Con đã bảo vệ những người bé nhỏ thế nào?”
Đức Kitô chịu đóng đinh vẫn đứng đó, từ thế hệ này sang thế hệ khác, như tấm gương không thể thay thế của mọi người mục tử. Hai cánh tay Người không còn giữ lại gì. Trái tim Người đã mở. Máu Người đã đổ. Mạng sống Người đã trao. Không còn gì để lấy từ đoàn chiên; chỉ còn tất cả để trao cho đoàn chiên. Đó là Mục Tử nhân lành. Và có lẽ mỗi ngày người mục tử chỉ cần xin một ơn rất nhỏ mà cũng rất lớn: “Lạy Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành, xin đừng để con sống nhờ đoàn chiên của Chúa. Xin dạy con biết sống cho đoàn chiên. Xin đừng để con tìm mình trong sứ vụ. Xin cho con tìm Chúa và tìm những người Chúa đã trao. Khi con mệt, xin cho con tựa vào Chúa. Khi con bị hiểu lầm, xin cho con nhìn Thập Giá. Khi con muốn bỏ cuộc, xin cho con nhớ rằng Chúa đã không xuống khỏi Thập Giá. Khi con được yêu mến, xin giữ con khiêm nhường. Khi con bị chống đối, xin giữ con khỏi cay đắng. Và đến ngày đời mục tử của con khép lại, xin cho con có thể đặt tất cả vào tay Chúa và thưa: Lạy Chúa, con đã không yêu được như Chúa, nhưng con đã cố gắng để đời mình thuộc về đoàn chiên của Chúa.”
Bởi sau cùng, người mục tử tốt không phải là người khiến đoàn chiên nhớ mãi về mình. Người mục tử tốt là người khi mình đi rồi, đoàn chiên vẫn biết đường tìm đến Đức Kitô. Người mục tử tốt không dựng ngai cho mình trong lòng người khác, nhưng dựng Thập Giá của Chúa ở đó. Người mục tử tốt không giữ đoàn chiên quanh mình, nhưng dẫn đoàn chiên đến đồng cỏ của Chúa. Và người mục tử đẹp nhất vẫn mãi là Đức Kitô chịu đóng đinh – Đấng không sống nhờ đoàn chiên, nhưng đã sống, đã chết và đã sống lại hoàn toàn cho đoàn chiên.
Lm. Anmai, CSsR

MỤC TỬ TỐT LÀ NGƯỜI CHỊU MẤT MÌNH VÌ ĐOÀN CHIÊN
Tin Mừng: Ga 10,11 – “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”
Có những câu Tin Mừng đọc lên nghe rất quen, quen đến mức người ta có thể đọc mà không còn giật mình nữa. Thế nhưng nếu chịu dừng lại thật lâu trước lời của Đức Giêsu: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”, ta sẽ thấy đây không phải là một câu nói đẹp để trang trí cho ngày lễ cầu cho ơn thiên triệu, cũng không phải là một khẩu hiệu để viết trên thiệp mừng chịu chức, trên bức ảnh kỷ niệm khấn dòng hay trên tấm bảng treo trong phòng mục vụ. Đây là một lời rất nặng. Nặng đến mức ai mang danh mục tử mà đọc thật lòng cũng phải thấy mình được an ủi nhưng đồng thời cũng bị chất vấn. Vì Đức Giêsu không nói: mục tử tốt là người nói hay. Người cũng không nói: mục tử tốt là người tổ chức giỏi, có nhiều chương trình, xây được nhiều công trình, quy tụ được đông người, được nhiều người biết đến, được ca ngợi hay được người khác luôn vâng lời. Người chỉ đưa ra một dấu chỉ tưởng như đơn sơ nhưng lại là dấu chỉ khó nhất: mục tử tốt là người dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Nói cách khác, mục tử tốt là người chịu mất mình vì người khác.
“Mất mình” là một điều rất khó. Con người tự nhiên ai cũng muốn giữ mình. Giữ danh dự mình, giữ thời gian mình, giữ sức khỏe mình, giữ ý kiến mình, giữ chỗ đứng mình, giữ những gì mình yêu thích, giữ quyền quyết định, giữ sự thoải mái, giữ một khoảng đời mà không ai được đụng tới. Đó là phản ứng rất tự nhiên. Nhưng Tin Mừng không dừng ở cái tự nhiên. Tin Mừng luôn dẫn con người vượt qua chính mình để bước vào cung cách sống của Đức Kitô. Và nơi Đức Kitô, chúng ta gặp một Thiên Chúa không giữ mình. Người không giữ trời cao cho riêng mình nên đã xuống thế làm người. Người không giữ địa vị nên đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ”. Người không giữ khoảng cách an toàn với những người đau khổ nên đã đi vào giữa người cùi, người tội lỗi, người bị loại trừ. Người không giữ thanh danh nên để người ta gọi mình là bạn của quân thu thuế và phường tội lỗi. Người không giữ thân xác khỏi thương tích nên đã để cho bàn tay mình bị đóng đinh. Người không giữ giọt máu cuối cùng nên để cạnh sườn bị đâm thâu. Người không giữ hơi thở cuối cùng nên trao nó cho Chúa Cha. Cả cuộc đời Đức Giêsu là một cuộc đời không giữ lại. Người cho đi từng bước, từng ngày, từng lời, từng giọt mồ hôi, từng giọt máu, cho đến khi trên Thập Giá chẳng còn gì để cho nữa ngoài chính mạng sống mình. Chính vì thế, khi Người nói “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”, Người không dạy một điều mà Người đứng ngoài. Người đang nói về chính đời mình.
Đây cũng là thước đo cho mọi người đang được trao trách nhiệm chăm sóc người khác trong Hội Thánh. Trước hết là linh mục. Người linh mục không trở thành mục tử chỉ vì được đặt tay truyền chức, mặc áo lễ, đứng trên cung thánh hay được gọi bằng hai tiếng “cha xứ”. Bí tích Truyền Chức trao cho người linh mục một ân sủng và một trách nhiệm vô cùng lớn, nhưng đời sống mục tử chỉ thật sự mang khuôn mặt Đức Kitô khi người linh mục mỗi ngày chịu để đời mình được bẻ ra cho đoàn chiên. Có những lần “mất mình” rất nhỏ mà chẳng ai biết. Một bữa cơm ăn vội vì có người bệnh cần xức dầu. Một giấc ngủ bị đánh thức giữa đêm vì một gia đình có người hấp hối. Một buổi chiều dự tính nghỉ ngơi nhưng lại ngồi hàng giờ nghe một người đang rối bời kể những điều chẳng đầu chẳng cuối. Một cuộc gọi đến đúng lúc mình mệt nhất. Một người nghèo đến xin giúp đỡ ngay khi công việc đang ngổn ngang. Một gia đình đang bất hòa cần người đứng giữa. Một bạn trẻ đang mất phương hướng cần có người nghe. Một người đã bỏ đạo lâu năm lại bất ngờ muốn trở về. Một tang lễ không ai muốn lo. Một giáo dân khó tính, hay phàn nàn, có khi còn hiểu lầm và nói những điều khiến lòng người mục tử đau. Những thứ ấy không xuất hiện trên báo. Không ai vỗ tay. Không ai trao bằng khen. Nhưng nhiều khi chính ở những điều nhỏ bé và âm thầm ấy, người linh mục đang mất mình cho đoàn chiên.
Có một cám dỗ rất tinh vi trong đời mục tử là muốn phục vụ mà vẫn giữ nguyên đời mình. Muốn giúp người khác nhưng không để họ làm phiền. Muốn yêu thương nhưng chỉ yêu những người dễ thương. Muốn gần đoàn chiên nhưng chỉ gần những người biết điều. Muốn đồng hành nhưng theo giờ mình định sẵn. Muốn làm mục vụ nhưng không muốn mang những mùi khó chịu của đời sống con người. Muốn được gọi là mục tử nhưng lại sống như người làm thuê. Người làm thuê chỉ ở lại khi công việc thuận lợi. Người làm thuê đo phần mình trước khi đo nỗi đau của đàn chiên. Người làm thuê hỏi: “Tôi được gì?” Mục tử hỏi: “Đoàn chiên cần gì?” Người làm thuê gặp khó thì tìm cách tránh. Mục tử gặp sói thì đứng lại. Người làm thuê giữ mình trước. Mục tử giữ chiên trước. Chính khác biệt ấy làm nên chiều sâu của lời Đức Giêsu hôm nay.
Đoàn chiên của Chúa lại không phải lúc nào cũng ngoan. Đây là điều cần nói thật. Người mục tử không được trao cho một cộng đoàn lý tưởng. Linh mục không được sai đến với một giáo xứ chỉ gồm những người đạo đức, dễ dạy, biết ơn và luôn hợp tác. Tu sĩ không phải lúc nào cũng sống giữa một cộng đoàn toàn những người dễ chịu. Giáo lý viên cũng không chỉ gặp những em ngoan ngoãn chăm học. Người lãnh đạo cộng đoàn không chỉ làm việc với những người cùng suy nghĩ với mình. Đoàn chiên của Chúa có người mạnh, người yếu; người hiểu chuyện, người cứng đầu; người biết ơn, người vô tâm; người đạo đức, người nguội lạnh; người thật thà, người phức tạp; người đến để cộng tác, cũng có người đến chỉ để phê bình. Có những người mục tử thương rất dễ. Có những người phải cầu nguyện rất nhiều mới thương nổi. Nhưng một điều rất lạ nơi Đức Giêsu là Người không nói: “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho những con chiên tốt.” Người nói: “cho đoàn chiên.” Nghĩa là cả những con dễ thương lẫn những con làm mình mỏi mệt. Cả những người đứng gần mình lẫn những người đang đi xa. Cả những người biết ơn lẫn người chẳng bao giờ biết ơn.
Có lẽ người mục tử đau nhất không phải khi làm nhiều, mà khi đã làm nhiều lại bị hiểu lầm. Mệt nhất không phải là thức khuya dậy sớm, mà là có khi dốc lòng cho người ta rồi vẫn bị người ta trách. Đau không phải vì không được khen, mà có lúc còn bị nói sai, bị quy chụp, bị xét đoán. Khi ấy mới thấy mình còn thuộc về mình nhiều lắm. Nếu phục vụ chỉ để được người khác ghi nhận, ta sẽ nhanh chóng cay đắng. Nếu hy sinh mà ngầm chờ lòng biết ơn, ta sẽ dễ thất vọng. Nếu trao đi nhưng luôn tính toán người ta phải đáp lại thế nào, thì việc trao đi vẫn chưa tự do. Đức Giêsu đã cho ta một mẫu gương khác hẳn. Người chữa mười người phong cùi, chỉ một người quay lại cảm ơn. Người hóa bánh cho đám đông, nhưng cũng chính đám đông ấy có thể bỏ Người khi lời của Người trở nên khó nghe. Người rửa chân cho các môn đệ, trong đó có đôi chân của Giuđa. Người yêu Phêrô dù biết Phêrô sẽ chối mình. Người chết cho cả những kẻ đang đứng dưới chân Thập Giá mà chế nhạo Người. Tình yêu của Người không đợi người ta xứng đáng rồi mới yêu. Người yêu để họ có thể trở nên xứng đáng.
Mục tử tốt vì thế không phải là người chưa từng tổn thương, nhưng là người biết để những tổn thương của mình được thanh luyện trong trái tim Đức Kitô, để mình không trở thành người chăn chiên cay đắng. Một mục tử cay đắng có thể vẫn làm việc, nhưng công việc thiếu hơi ấm. Vẫn giảng nhưng lời giảng sắc lạnh. Vẫn điều hành nhưng dùng quyền để tự vệ. Vẫn gặp gỡ người ta nhưng không còn để trái tim chạm tới trái tim. Điều đáng sợ nhất không phải là người mục tử mệt, vì mệt có thể nghỉ rồi khỏe lại. Điều đáng sợ là mục tử thôi yêu. Khi hết yêu, mọi việc mục vụ sẽ biến thành nghề. Thánh lễ trở thành bổn phận. Tòa giải tội trở thành giờ làm việc. Một cuộc thăm bệnh trở thành lịch trình. Một con người biến thành một hồ sơ. Một gia đình đau khổ biến thành một vụ việc. Khi đó có thể mọi thứ vẫn vận hành, nhưng khuôn mặt của Mục Tử Nhân Lành đã mờ đi.
“Hy sinh mạng sống” không phải lúc nào cũng có nghĩa là chết một lần. Phần lớn chúng ta không được gọi để tử đạo bằng máu. Nhưng có một kiểu tử đạo kéo dài qua nhiều năm: mỗi ngày chết đi một chút cho cái tôi. Chết đi cho tính nóng nảy để kiên nhẫn hơn với một người chậm chạp. Chết đi cho sự tự ái để chủ động làm hòa. Chết đi cho ý riêng để lắng nghe cộng đoàn. Chết đi cho nhu cầu được công nhận để vui lòng làm việc âm thầm. Chết đi cho thành kiến để nhìn một người bằng đôi mắt mới. Chết đi cho sự tiện nghi để đến với người nghèo. Chết đi cho sự vội vã để ngồi lại với một người đang đau. Chết đi cho thói quen thích phán xét để học cảm thông. Chết đi cho nhu cầu phải luôn đúng để giữ một con người khỏi bị tổn thương. Những cái chết ấy nhỏ, rất nhỏ, nhưng cộng lại thành một đời hiến dâng.
Với tu sĩ cũng vậy. Đời tu không chỉ là những lời khấn được đọc trong ngày tuyên khấn. Lời khấn trở nên thật khi từng ngày người tu sĩ để đời mình bớt thuộc về mình. Khó nghèo không chỉ là không đứng tên tài sản, mà còn là dám nghèo trong quyền sở hữu chính mình. Khiết tịnh không chỉ là không lập gia đình, mà là làm cho trái tim rộng đến mức có thể đón nhiều người mà không chiếm hữu ai. Vâng phục không chỉ là làm điều bề trên nói, mà là để ý riêng được uốn lại theo việc tìm ý Chúa. Đời tu sẽ khô cứng nếu lời khấn chỉ còn trong văn bản. Nó chỉ sống khi người tu sĩ trở thành một đời được bẻ ra. Có những nữ tu chăm người bệnh suốt nhiều năm chẳng ai biết tên. Có những tu sĩ dạy trẻ nghèo ở nơi xa xôi. Có người âm thầm đứng bếp, làm vườn, giữ nhà, chăm anh em già yếu. Họ không xuất hiện trên sân khấu. Nhưng có thể trong Nước Trời, chính những đời âm thầm ấy lại là những bài giảng hay nhất về lời “hy sinh mạng sống cho đoàn chiên”.
Với giáo lý viên cũng thế. Đừng nghĩ người giáo lý viên chỉ là người truyền đạt một số bài học đức tin. Giáo lý viên là người phải cho các em thấy đạo bằng chính đời sống. Có những lớp giáo lý mà bài khó nhất không nằm trong sách. Một đứa trẻ hiếu động, một em thường xuyên nghỉ học, một gia đình không quan tâm đến đời sống đạo, một em mang mặc cảm vì cha mẹ ly dị, một bạn trẻ đang ở tuổi chống đối… Những lúc ấy, sách giáo lý không đủ. Phải có trái tim. Có khi giáo lý viên phải kiên nhẫn với một em suốt nhiều tháng chỉ để em cảm thấy mình không bị bỏ rơi. Có khi phải nhớ ngày sinh của một em chẳng ai để ý. Có khi phải đi tìm một em đang bỏ lớp. Có khi phải dành buổi tối để nghe một bạn trẻ kể chuyện gia đình. Những điều ấy mới làm cho giáo lý từ trang sách bước vào đời.
Với người lãnh đạo cộng đoàn cũng vậy. Trong Hội Thánh, quyền bính không được hiểu như đặc quyền đứng trên người khác. Quyền bính Kitô giáo luôn có hình thập giá. Ai được trao nhiều trách nhiệm thì càng được mời gọi mất mình nhiều hơn. Đức Giêsu đã cho ta một hình ảnh rất rõ khi Người quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Đấng là Thầy và là Chúa lại cúi xuống. Người đứng đầu lại chọn chỗ thấp. Người có quyền lại dùng quyền để phục vụ. Đó là điều khác hoàn toàn với kiểu quyền lực của thế gian. Thế gian nói: càng cao càng được phục vụ. Tin Mừng nói: càng cao càng phải phục vụ nhiều. Thế gian nói: quyền là để bảo vệ vị trí mình. Đức Giêsu nói: quyền là để bảo vệ người yếu. Thế gian nói: người lãnh đạo cần làm cho người khác sợ. Đức Giêsu làm cho những người tội lỗi dám đến gần. Đây là một cuộc hoán cải không dễ, đặc biệt cho những ai được trao quyền.
Có một điều rất đáng suy nghĩ: mục tử tốt không phải chỉ biết cho đi, mà còn phải biết mình đang cho điều gì. Có người cho rất nhiều hoạt động nhưng không trao được sự hiện diện. Cho tiền mà không cho thời gian. Cho lời khuyên nhưng không cho sự lắng nghe. Cho công việc nhưng không cho trái tim. Trong khi nhiều khi đoàn chiên cần nhất không phải một người giải quyết mọi chuyện, mà cần một người ở đó. Đức Giêsu nhiều lần không làm gì ngoạn mục. Người chỉ ở lại. Ở với hai môn đệ trên đường Emmau. Ở với chị em Mácta và Maria trong nỗi đau mất Ladarô. Ở trong thuyền với môn đệ giữa cơn bão. Ở lại với những kẻ yếu lòng. Người hiện diện. Và có khi chính sự hiện diện ấy cứu người ta hơn mọi lời giải thích.
Một linh mục có thể không giải quyết được bệnh tật của giáo dân, nhưng có thể ngồi bên giường họ. Không giải quyết được cảnh nghèo của cả gia đình, nhưng có thể để họ biết rằng họ không đơn độc. Không sửa được một cuộc hôn nhân đã vỡ ngay lập tức, nhưng có thể kiên nhẫn đồng hành. Không làm người đã chết sống lại, nhưng có thể khóc với người đang mất người thân. Đó cũng là mục tử. Đừng coi thường sức mạnh của việc ở lại. Bởi trên Thập Giá, có lúc Đức Giêsu dường như không “làm” gì nữa. Tay bị đóng, chân bị đóng, thân xác bất động. Nhưng chính lúc Người không còn làm được gì theo cách của thế gian, Người đang cứu thế giới bằng việc ở lại trong tình yêu đến cùng.
Mục tử tốt còn là người biết từng con chiên. “Tôi biết chiên của tôi.” Biết ở đây không phải chỉ biết tên, tuổi, địa chỉ. Biết bằng trái tim. Biết người nào đang cười mà trong lòng đầy nước mắt. Biết gia đình nào đi lễ đều nhưng đang có rạn nứt. Biết người trẻ nào nhìn có vẻ bất cần nhưng thật ra đang rất cần được thương. Biết cụ già nào không còn sức đến nhà thờ. Biết người nghèo nào xấu hổ nên không dám xin. Biết người nào lâu nay hay chống đối nhưng phía sau sự chống đối ấy là một vết thương chưa lành. Mục vụ mà không biết người ta thì dễ trở thành quản trị. Ta quản lý số liệu, danh sách, công việc, cơ sở vật chất, nhưng Tin Mừng không nói mục tử tốt “quản lý tốt đàn chiên”; Người nói mục tử “biết chiên”.
Muốn biết chiên phải sống gần. Không thể biết mùi đàn chiên nếu chỉ ngồi trong phòng. Không thể biết một gia đình đang sống thế nào nếu chỉ nhìn họ trong nhà thờ một giờ mỗi Chúa nhật. Không thể hiểu người trẻ nếu chỉ gặp họ khi cần nhắc nội quy. Không thể hiểu người nghèo nếu chỉ phát quà rồi chụp hình. Không thể hiểu người đau khổ nếu chưa bao giờ đủ chậm để nghe hết câu chuyện của họ. Người mục tử phải đi. Đức Giêsu đã đi khắp các làng mạc. Người không đợi người bệnh đến hết với mình. Người đi đến. Người vào nhà ông Dakêu. Người ngồi bên giếng với người phụ nữ Samaria. Người đến nhà ông Giairô. Người vào nhà Phêrô. Người dừng lại giữa đường với người đàn bà băng huyết. Mục tử tốt luôn có những bước chân hướng về người khác.
Nhưng cũng phải nói thêm rằng “chịu mất mình” không có nghĩa là hủy hoại mình một cách thiếu khôn ngoan. Đức Giêsu hiến mạng sống, nhưng Người cũng lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Người phục vụ đám đông, nhưng không để đám đông định nghĩa căn tính của mình. Người yêu hết mọi người nhưng vẫn sống từ tương quan sâu xa với Chúa Cha. Người mục tử muốn cho đi lâu dài phải có nơi để mình được nhận lại sức sống, và nơi ấy trước hết là Chúa. Nếu không cầu nguyện, người ta sẽ dần cho bằng sức riêng. Sức riêng rồi sẽ cạn. Khi sức cạn, người phục vụ dễ trở nên cáu gắt, dễ than phiền, dễ thấy người khác là gánh nặng. Chính vì vậy cầu nguyện không phải là thời gian lấy mất khỏi mục vụ. Cầu nguyện là nơi mục vụ được thanh luyện. Thánh Thể không phải một việc trong nhiều việc của linh mục. Thánh Thể là nơi người linh mục học lại mỗi ngày thế nào là một đời bị bẻ ra và trao đi.
Mỗi lần nâng bánh lên và nói “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”, người linh mục đang đọc lời Đức Kitô nhưng đồng thời cũng nghe một lời dành cho mình. Nếu bàn tay linh mục nâng Mình Thánh Chúa mà đời mình không muốn bị bẻ ra, có điều gì đó sẽ trở nên mâu thuẫn. Nếu mỗi ngày nói “này là Mình Thầy bị nộp vì các con” nhưng lại sống một đời chỉ tìm cách giữ mình, giữ tiện nghi, giữ danh dự, giữ thời giờ, giữ sở thích, thì Thánh lễ sẽ chất vấn ta. Bàn thờ là nơi rất đẹp nhưng cũng rất đáng sợ vì trên đó người linh mục không chỉ cử hành Hy Tế của Đức Kitô; linh mục được gọi để trở nên điều mình cử hành. Cầm tấm bánh trong tay, hãy nhớ đời mình cũng phải trở thành tấm bánh. Tấm bánh không được làm ra để nằm trong hộp kính. Nó được bẻ ra. Rượu không được giữ nguyên trong bình. Nó được rót ra. Đời mục tử cũng vậy.
Nhìn lại cuộc đời, có lẽ điều người mục tử nên sợ nhất không phải là đã cho đi quá nhiều nhưng là đến cuối đời mới nhận ra mình đã giữ lại quá nhiều. Giữ lại những lời yêu thương đáng lẽ phải nói. Giữ lại những lần xin lỗi đáng lẽ phải thực hiện. Giữ lại những cuộc thăm viếng vì ngại đi. Giữ lại lòng quảng đại vì tính toán. Giữ lại sự cảm thông vì thành kiến. Giữ lại trái tim vì sợ bị tổn thương. Đến cuối cùng, những gì ta giữ cho mình rồi cũng mất. Sức khỏe mất. Chức vụ mất. Tiếng tăm mất. Căn phòng mình ở người khác sẽ ở. Công việc mình làm người khác sẽ tiếp tục. Những gì còn lại trước mặt Chúa là điều ta đã cho đi trong yêu thương.
Đức Giêsu nói một nghịch lý rất sâu: ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống vì Người sẽ tìm được. Cả đời mục tử nằm trong nghịch lý ấy. Người càng cố giữ mình, đời càng nhỏ. Người càng trao mình, đời càng rộng. Có những con người sống rất lâu nhưng cuộc đời rất hẹp vì cả đời chỉ quanh quẩn bảo vệ mình. Có những người sống không dài nhưng cuộc đời trải rộng trong hàng trăm, hàng ngàn trái tim. Một cha xứ khi chết đi có thể không để lại nhiều tài sản, nhưng người ta nhớ ngài đã ngồi cạnh giường bệnh của mẹ mình. Một nữ tu qua đời có thể chẳng có công trình nào mang tên mình, nhưng hàng trăm đứa trẻ nhớ bàn tay chị đã dạy chúng viết chữ đầu tiên. Một giáo lý viên có thể không nhận bằng khen, nhưng sau ba mươi năm, một người trưởng thành vẫn nhớ có lần mình muốn bỏ đạo mà thầy đã tìm đến nhà. Đó là những cuộc đời đã mất mình nhưng không mất. Chúng được giữ lại trong lòng người và trong trái tim Thiên Chúa.
Chúng ta cũng cần cẩn thận với một dạng mục vụ rất nguy hiểm: lấy đoàn chiên để xây hình ảnh cho mình. Có thể người ta làm nhiều việc tốt nhưng sâu xa vẫn muốn tên mình được nhắc. Có thể chăm sóc người nghèo nhưng phải có hình ảnh. Có thể xây dựng cộng đoàn nhưng mọi thứ phải gắn với dấu ấn cá nhân. Có thể nói rất nhiều về Đức Kitô nhưng cuối cùng người ta chỉ nhớ người giảng. Gioan Tẩy Giả đã để lại một câu mà mọi mục tử phải giữ trong tim: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Mục tử tốt không kéo người ta về mình. Mục tử dẫn người ta đến Đức Kitô. Niềm vui của mục tử không phải là người ta lệ thuộc vào mình, mà là người ta trưởng thành trong Chúa. Một người cha tốt vui khi con mình lớn. Một người thầy tốt vui khi học trò vượt mình. Một mục tử tốt cũng phải vui khi đoàn chiên trưởng thành đến mức họ không còn cần bám vào cá nhân mình, nhưng biết bám vào Chúa.
Có những khi muốn làm mục tử tốt, ta phải chấp nhận một điều rất đau: làm điều đúng mà người ta không thích. Hy sinh mạng sống cho đoàn chiên không có nghĩa là chiều đoàn chiên mọi sự. Đức Giêsu yêu người thanh niên giàu có nhưng vẫn nói một lời khiến anh buồn và bỏ đi. Người yêu Phêrô nhưng gọi thẳng: “Satan, lui lại đằng sau Thầy.” Người thương người phụ nữ ngoại tình nhưng nói: “Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Tình yêu mục tử không phải mềm yếu. Nó vừa dịu dàng vừa có sự thật. Có lúc người mục tử phải nói điều không dễ nghe. Có lúc phải bảo vệ giáo huấn của Tin Mừng dù biết mình sẽ bị phản ứng. Có lúc phải nói “không” với điều sai dù nói “có” sẽ dễ được lòng hơn. Nhưng ngay cả khi sửa dạy, mục tử vẫn sửa bằng trái tim của người muốn cứu, không phải trái tim của người muốn thắng.
Thật ra, dấu hiệu của mục tử tốt không nằm ở chỗ cộng đoàn không bao giờ có vấn đề. Đức Giêsu là Mục Tử Nhân Lành nhưng nhóm Mười Hai vẫn có Giuđa. Phêrô vẫn chối Thầy. Các môn đệ vẫn tranh nhau ai lớn nhất. Điều ấy rất an ủi cho những người đang mỏi mệt vì cộng đoàn. Ta có thể hết lòng mà không phải mọi người đều thay đổi. Ta có thể gieo mà không thấy hết hoa trái. Ta có thể yêu mà người khác chưa nhận ra. Ta có thể nói sự thật mà người ta chưa đón nhận. Mục tử không phải là Đấng Cứu Độ. Chỉ Đức Kitô mới cứu. Phần chúng ta là trung thành gieo hạt, chăm sóc, cầu nguyện và trao phần còn lại cho Chúa.
Có khi người mục tử phải học một bài học rất khó: không phải lúc nào hy sinh cũng mang lại kết quả thấy ngay. Đức Giêsu trên Thập Giá trông như thất bại hoàn toàn. Các môn đệ chạy trốn. Dân chúng chế nhạo. Kẻ thù tưởng mình chiến thắng. Nhưng chính trong giây phút dường như mất tất cả, ơn cứu độ đang được hoàn tất. Người mục tử cũng có những mùa như thế. Làm việc rất nhiều mà không thấy chuyển biến. Giảng mãi người ta vẫn vậy. Dạy mãi một em vẫn ngỗ nghịch. Nâng đỡ một gia đình rồi họ vẫn chia tay. Khuyên một người rồi họ vẫn chọn con đường sai. Nếu chỉ đo mục vụ bằng kết quả, ta dễ tuyệt vọng. Nhưng nếu tin rằng tình yêu chân thành không bao giờ mất trước mặt Chúa, ta sẽ biết kiên nhẫn.
Có những hạt giống mất rất lâu mới nảy mầm. Một câu nói hôm nay có thể hai mươi năm sau người ta mới hiểu. Một cử chỉ tha thứ có thể nhiều năm sau mới làm một trái tim mềm lại. Một lời cầu nguyện âm thầm có thể cứu một người mà mình không bao giờ biết. Công việc của mục tử vì thế phải có chất của đức tin. Không phải chỉ làm những gì thấy hiệu quả, mà trung thành làm điều đúng. Không phải chỉ đi đến nơi đông người, mà đi tìm một con chiên lạc. Đức Giêsu có chín mươi chín con chiên trong đàn mà vẫn đi tìm một con bị mất. Theo kiểu tính toán hiệu suất, điều đó không hợp lý. Nhưng tình yêu không tính như một bảng thống kê. Với Thiên Chúa, một người cũng đáng để Người đi tìm.
Đây là điều chúng ta phải học lại trong thời đại thích con số. Bao nhiêu người dự? Bao nhiêu lượt xem? Bao nhiêu người theo dõi? Bao nhiêu chương trình? Bao nhiêu công trình? Những con số có giá trị của chúng, nhưng không bao giờ được trở thành thước đo duy nhất của mục vụ. Một người trở về sau ba mươi năm xa Chúa quý hơn nhiều con số đẹp trên báo cáo. Một gia đình tránh được đổ vỡ đáng giá hơn một chương trình hoành tráng. Một người trẻ tìm lại được ý nghĩa đời mình là một phép lạ. Một người già được chết trong bình an vì có người mục tử bên cạnh là một việc lớn trong Nước Trời. Mục tử tốt không chạy theo đám đông mà bỏ quên con người.
Và cuối cùng, mục tử tốt là người biết mình cũng chỉ là một con chiên được Mục Tử Nhân Lành cõng trên vai. Đây là điều cứu người mục tử khỏi kiêu ngạo. Trước khi là cha của người khác, linh mục vẫn là con của Chúa. Trước khi chăm sóc người khác, tu sĩ vẫn cần được Chúa chăm sóc. Trước khi dạy giáo lý, giáo lý viên vẫn là người phải học Tin Mừng mỗi ngày. Trước khi lãnh đạo cộng đoàn, người lãnh đạo vẫn phải quỳ xuống xin Chúa dẫn mình. Nếu quên điều ấy, ta rất dễ sống như thể đoàn chiên là của mình. Nhưng họ không phải của ta. Họ thuộc về Chúa. Ta chỉ được trao để chăm sóc trong một khoảng thời gian. Rồi sẽ đến ngày phải trao lại. Một người mục tử khôn ngoan luôn nhớ mình là người quản lý, không phải chủ nhân. Vì thế không chiếm hữu, không thao túng, không xây vương quốc riêng. Chỉ cố gắng để đến ngày Chúa hỏi: “Những người Ta đã trao cho con đâu?”, ta có thể cúi đầu thưa rằng: “Lạy Chúa, con đã yếu đuối rất nhiều, đã có lúc vụng về, có lúc mệt mỏi, có khi chưa yêu đủ, nhưng con đã cố không bỏ họ.”
Đời mục tử, suy cho cùng, không được đo bằng những ngày dễ dàng. Nó được đo ở những lần muốn bỏ mà vẫn ở lại. Những lần bị tổn thương mà không đóng cửa trái tim. Những lần mệt mà vẫn bước thêm một bước. Những lần không ai hiểu nhưng vẫn trung thành. Những lần chẳng còn cảm xúc đẹp nhưng vẫn làm điều mình đã hứa trước mặt Chúa. Ơn gọi nào lúc đầu cũng có những ngày đầy lý tưởng. Nhưng chiều sâu của ơn gọi chỉ xuất hiện khi lý tưởng được thử trong thực tế. Khi tóc đã bạc. Khi sức đã yếu. Khi những thành công không còn làm mình vui như trước. Khi người ta không còn nhắc tên mình. Khi ta nhận ra mình đã cho đời này nhiều năm nhất. Chính khi ấy, câu hỏi quan trọng nhất chỉ còn là: tôi có còn yêu đoàn chiên không?
Lạy Đức Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, xin đừng để chúng con làm mục tử bằng danh xưng mà thiếu trái tim mục tử. Xin đừng để chúng con muốn đoàn chiên phục vụ mình hơn là mình phục vụ đoàn chiên. Xin cứu chúng con khỏi một đời sống chỉ biết giữ mình. Xin cho chúng con biết mất thời gian cho người khác, mất tiện nghi vì người nghèo, mất tự ái để gìn giữ hiệp nhất, mất ý riêng để tìm ý Chúa, mất những gì nhỏ bé mỗi ngày để cuối cùng đời chúng con trở thành một lễ dâng. Xin cho người linh mục biết bẻ đời mình như tấm bánh trên bàn thờ. Xin cho người tu sĩ biết trao đời mình trong thinh lặng và trung thành. Xin cho giáo lý viên biết yêu từng em Chúa gửi đến. Xin cho người lãnh đạo cộng đoàn biết cúi xuống như Thầy đã cúi xuống rửa chân. Xin cho tất cả chúng con hiểu rằng điều đẹp nhất của một đời người không phải là đã giữ được bao nhiêu cho mình, mà là đã trao được bao nhiêu cho người khác.
Và nếu một ngày chúng con mỏi mệt vì đã cho quá nhiều mà chẳng được đáp lại, xin cho chúng con nhìn lên Thập Giá. Ở đó có một Mục Tử đã cho hết. Cho đến giọt máu cuối. Cho đến hơi thở cuối. Cho những người biết ơn và cả những người vô ơn. Cho người yêu Người và cả kẻ đóng đinh Người. Người mất tất cả mà lại cứu được tất cả. Xin cho chúng con tin vào nghịch lý ấy. Tin rằng một đời chịu mất vì yêu không bao giờ là một đời bị mất. Tin rằng hạt lúa chết đi sẽ sinh nhiều bông hạt. Tin rằng giọt mồ hôi âm thầm, giọt nước mắt không ai thấy, sự hy sinh không ai biết, những đêm thức trắng, những bước chân mỏi mệt, những lời cầu nguyện cho đoàn chiên, tất cả đều được Chúa giữ lại.
Để rồi khi ngày cuối cùng đến, lúc chức vụ không còn, công việc phải trao lại, bàn tay không còn đủ sức làm gì nữa, chúng con có thể bình an vì biết rằng điều quý nhất đã được trao đi. Và trong tiếng gọi cuối cùng của Mục Tử Nhân Lành, chúng con được nghe điều mà cả đời mình mong đợi: không phải rằng con đã nổi tiếng, không phải rằng con đã thành công, không phải rằng con đã làm được những công trình lớn, nhưng đơn giản: con đã yêu. Con đã ở lại. Con đã không bỏ đoàn chiên. Con đã biết mất mình vì những người Ta trao cho con.
Bởi vì, sau cùng, mục tử tốt không phải là người có thật nhiều người đi theo mình. Mục tử tốt là người đã đi theo Đức Kitô đủ gần để học được một điều: yêu là chịu mất mình, và chính khi chịu mất mình vì người khác, ta mới tìm lại được đời mình trong Thiên Chúa.
Lm. Anmai, CSsR

YÊU ĐẾN CÙNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CẢM XÚC
Tin Mừng: Ga 13,1
“Người vẫn yêu thương họ đến cùng.”
Có những câu Tin Mừng đọc lên nghe rất nhẹ, nhưng nếu chịu dừng lại một chút, ta sẽ thấy phía sau đó là cả một vực sâu của tình yêu. Thánh Gioan không kể dài dòng. Ngài chỉ nói một câu: “Người vẫn yêu thương họ đến cùng.” Chỉ mấy chữ ấy thôi mà đủ nói hết cuộc đời Đức Giêsu, đủ nói hết Nhà Tiệc Ly, đủ nói hết vườn Cây Dầu, đủ nói hết con đường lên Canvê, đủ nói hết những cái đinh xuyên qua tay chân, đủ nói hết cạnh sườn bị đâm thủng và đủ nói hết một Trái Tim đã không giữ lại gì cho mình. Điều làm ta xúc động không chỉ là Chúa yêu, nhưng là Chúa yêu đến cùng. Yêu khi người ta tốt với mình thì chưa khó. Yêu khi người ta hiểu mình thì cũng chưa khó lắm. Yêu khi người ta biết ơn, biết đáp lại, biết trân trọng thì tình yêu vẫn còn có chỗ dựa. Nhưng yêu khi bị hiểu lầm, yêu khi bị phản bội, yêu khi người mình thương quay lưng, yêu khi bao nhiêu điều mình trao đi dường như không được đón nhận, yêu khi lòng đã mỏi, yêu khi không còn một chút dễ chịu nào trong tương quan, yêu khi biết trước mình sẽ bị bỏ rơi mà vẫn không đóng cửa lòng mình lại, đó mới là con đường của Đức Kitô. Và chính ở đây ta hiểu rằng yêu đến cùng không thể chỉ là một cảm xúc. Cảm xúc có lúc đầy, lúc vơi; có ngày nóng, ngày lạnh; có lúc ta thấy gần một người, có lúc lại chỉ muốn tránh xa. Nếu tình yêu chỉ đứng trên cảm xúc thì tình yêu ấy sẽ chết ngay khi cảm xúc đổi chiều. Còn tình yêu của Chúa đứng trên một điều sâu hơn cảm xúc: đó là sự tự hiến, là chọn ở lại, là quyết định không rút lại điều mình đã trao, là trung thành ngay cả khi lòng mình phải đi qua bóng tối.
Con người chúng ta thường dễ nhầm cảm xúc với tình yêu. Thấy nhớ ai thì bảo là yêu. Thấy thích ai thì bảo là yêu. Thấy người kia làm mình vui thì nghĩ đó là tình yêu. Nhưng rồi một ngày người ấy không còn làm mình vui nữa, ta lập tức đặt câu hỏi: “Tôi còn yêu không?” Một ngày người ấy không còn nói những lời dịu dàng, không còn hiểu ý, không còn dễ thương như lúc đầu, ta tưởng tình yêu đã chết. Không, có khi chính lúc cảm xúc đẹp đẽ ban đầu đi xuống thì tình yêu thật mới bắt đầu được thử lửa. Hôn nhân nào cũng có tuần trăng mật, nhưng không có đời sống gia đình nào chỉ sống mãi bằng tuần trăng mật. Ơn gọi nào cũng có ngày đầu đầy sốt sắng, nhưng không linh mục nào, tu sĩ nào, người tận hiến nào sống hết đời chỉ bằng cảm giác của ngày khấn dòng hay ngày chịu chức. Tình bạn nào cũng có lúc gần gũi, nhưng cũng có những ngày im lặng, hiểu lầm và khoảng cách. Tình yêu với Chúa cũng vậy. Có những ngày cầu nguyện rất ngọt ngào, nhưng cũng có những mùa khô khan đến mức ta quỳ trước Nhà Tạm mà chẳng cảm thấy gì. Nếu yêu chỉ là cảm giác, thì những ngày ấy ta đã bỏ Chúa từ lâu. Nhưng nếu yêu là giao ước, là trung thành, là một lời đã nói và vẫn muốn giữ, thì chính những ngày không còn cảm giác lại là lúc ta yêu cách trưởng thành hơn.
“Người vẫn yêu thương họ đến cùng.” Chữ “vẫn” nghe sao mà đau. Vì Chúa biết rõ những con người đang ngồi quanh bàn với Người là ai. Người biết Giuđa sẽ bán Người. Người biết Phêrô sẽ chối Người. Người biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Người không yêu họ vì Người ngây thơ đến mức không nhìn thấy những yếu đuối ấy. Người yêu trong khi biết hết. Đây là điều làm tình yêu của Thiên Chúa khác tình yêu rất thường của chúng ta. Chúng ta nhiều lúc yêu một hình ảnh mình tưởng về người khác. Đến ngày phát hiện ra họ không giống hình ảnh ấy thì thất vọng. Chúng ta thương một người khi họ đáp ứng những mong đợi của mình. Khi họ thay đổi, mình đổi theo. Chúng ta thường nói: “Tôi thất vọng vì anh ấy không như tôi nghĩ.” Thực ra nhiều khi ta không yêu người ấy; ta yêu cái hình ta dựng lên về người ấy. Đức Giêsu thì khác. Người không yêu một Phêrô lý tưởng; Người yêu một Phêrô sẽ có lúc hèn nhát. Người không yêu các môn đệ vì các ông mạnh mẽ; Người yêu ngay khi biết các ông sẽ bỏ Người một mình. Chúa không chờ con người hoàn hảo rồi mới yêu. Nếu Chúa chờ như vậy, chắc chẳng ai trong chúng ta được yêu cả.
Chính vì thế, yêu đến cùng trước hết là ở lại khi ta đã nhìn thấy sự thật về nhau. Yêu một người lúc chưa biết hết về họ thường rất dễ. Yêu sau khi đã thấy cả những giới hạn của họ mới khó. Vợ chồng sống với nhau vài chục năm rồi sẽ biết rất rõ những điểm yếu của nhau. Cộng đoàn sống với nhau lâu ngày sẽ thấy những điều chẳng đẹp đẽ gì nơi nhau. Linh mục làm mục vụ đủ lâu sẽ có lúc hụt hẫng vì những người mình từng hết lòng giúp đỡ. Cha mẹ nuôi con sẽ có ngày nghe chính đứa con mình hy sinh cho nói những lời làm mình đau. Con cái chăm sóc cha mẹ tuổi già cũng sẽ có lúc mệt mỏi vì sự lặp đi lặp lại, khó tính, bệnh tật, quên trước quên sau. Bạn bè thân nhau rồi cũng có ngày hiểu lầm nhau. Và khi ấy, câu hỏi không còn là: “Tôi còn cảm thấy dễ chịu với người này không?” mà là: “Tôi có còn chọn yêu người này không?” Tình yêu trưởng thành không hỏi quá nhiều xem mình nhận được gì. Tình yêu trưởng thành hỏi mình còn có thể trao điều gì mà không đánh mất phẩm giá của mình và không đánh mất phẩm giá của người kia.
Nhưng cũng cần nói cho rõ: yêu đến cùng không có nghĩa là dung túng cho mọi điều sai trái. Chúa yêu Giuđa nhưng không gọi phản bội là điều tốt. Chúa yêu Phêrô nhưng vẫn để ánh mắt của Người làm Phêrô khóc. Tình yêu Kitô giáo không phải thứ tình yêu mù quáng đến mức biến điều xấu thành điều được phép. Có những lúc yêu một người là phải nói sự thật. Có những lúc yêu là thiết lập giới hạn. Có những lúc yêu là không tiếp tay cho một sự lệch lạc. Có những lúc yêu là rời khỏi một tình huống nguy hiểm để sự dữ không tiếp tục. Nhưng ngay cả khi phải nói không, người Kitô hữu vẫn được mời gọi đừng biến trái tim mình thành nơi nuôi hận thù. Ta có thể không đồng ý mà vẫn không khinh người. Ta có thể tự bảo vệ mình mà không nguyền rủa. Ta có thể dừng một tương quan không lành mạnh mà không cần mong người kia phải đau khổ. Yêu đến cùng không phải là chịu đựng tất cả cách vô nghĩa; yêu đến cùng là không để sự ác của người khác biến mình thành một người ác khác.
Ở Nhà Tiệc Ly, Đức Giêsu không nói về tình yêu như một bài diễn văn. Người cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng và cúi xuống rửa chân. Thật lạ, vào lúc sắp chịu chết, điều Chúa làm không phải là kể công. Người không nhắc lại: “Ba năm nay Thầy đã làm cho các con bao nhiêu việc.” Người không than rằng: “Các con vô ơn quá.” Người không trách các ông rằng mình đã chữa bệnh, giảng dạy, bảo vệ, nuôi ăn mà giờ đây chẳng ai hiểu. Người cúi xuống. Có lẽ đó là một trong những hình ảnh đẹp nhất để hiểu yêu đến cùng. Khi tình yêu còn non, người ta thường thích những điều lớn lao, những lời rất đẹp, những cảm xúc rất mạnh. Khi tình yêu trưởng thành, người ta bắt đầu hiểu giá trị của những việc nhỏ lặp đi lặp lại: nấu một bữa cơm, dọn một căn phòng, đưa người bệnh đi khám, nghe một câu chuyện đã nghe hàng chục lần, thức đêm bên giường người đau yếu, giữ im lặng thay vì nói một câu làm tổn thương, nhường nhau một chút, xin lỗi trước dù trong lòng vẫn còn nhiều điều muốn phân bua. Tình yêu lớn phần nhiều không sống bằng những khoảnh khắc lộng lẫy. Tình yêu lớn sống bằng vô số điều nhỏ không ai vỗ tay.
Có người nói rất hay về yêu thương, nhưng về nhà lại lạnh lùng với người thân. Có người sẵn sàng làm việc bác ái cho người xa, nhưng không chịu nổi một người sống chung với mình. Có người có thể cầu nguyện rất lâu trước tượng Chúa chịu nạn, nhưng lại giữ một mối hận hàng năm với người bên cạnh. Ta nên nhớ: đôi chân Chúa rửa trong Nhà Tiệc Ly không phải là đôi chân của những con người hoàn hảo. Có cả đôi chân của Giuđa. Nghĩ đến đó mới thấy Tin Mừng nghiêm khắc biết bao. Ta thường chỉ muốn phục vụ người dễ thương. Chúa lại quỳ trước cả người sắp phản bội mình. Điều ấy không có nghĩa là ta phải bắt chước mọi chi tiết theo kiểu máy móc, nhưng nó phơi bày một sự thật: tình yêu Kitô giáo không chỉ dành cho những người xứng đáng theo tiêu chuẩn của ta.
Có những lúc điều khó nhất trong đời không phải là yêu một người xa lạ mà là tiếp tục yêu người đã làm mình đau. Người xa không có lịch sử với ta. Người làm mình đau thì có. Một câu họ nói có thể chạm đúng vết thương cũ. Một hành động của họ có thể làm ta nhớ lại bao lần mình từng chịu thiệt. Vì thế, yêu lại sau một tổn thương không đơn giản. Có những vết thương cần thời gian. Có những điều không thể chỉ nói một câu “tha thứ đi” là xong. Nhưng Tin Mừng hôm nay không đòi ta phải giả vờ rằng mình không đau. Chúa trong vườn Cây Dầu cũng đã đau. Chúa trên Thập Giá cũng đã kêu lên. Tình yêu không phủ nhận nước mắt. Tình yêu chỉ không cho nước mắt trở thành độc dược. Ta có quyền đau, nhưng đừng để nỗi đau quyết định ta sẽ trở thành người thế nào. Ta có quyền buồn, nhưng đừng lấy cái buồn ấy làm lý do để làm người khác đau lại. Ta có quyền nhớ, nhưng đừng để ký ức trở thành một căn phòng kín nhốt mình suốt đời.
“Yêu đến cùng” còn có nghĩa là đừng bỏ nhau quá dễ dàng. Thời đại hôm nay rất nhanh. Một món đồ hỏng thì bỏ. Một ứng dụng không thích thì xóa. Một mối quan hệ gây khó chịu thì chặn. Một cộng đoàn không hợp ý thì rời. Một nơi phục vụ không được ghi nhận thì thôi. Một người không đáp ứng kỳ vọng thì ta tìm người khác. Tâm thức dùng rồi bỏ dễ len cả vào những tương quan thiêng liêng. Nhưng con người không phải món đồ. Tình nghĩa không phải một ứng dụng để khi không thích thì nhấn “xóa”. Có những tương quan phải chấm dứt vì lý do chính đáng, điều đó là có thật. Nhưng cũng có vô số tương quan chết chỉ vì cả hai không ai chịu đi thêm một đoạn khi mọi sự bắt đầu khó khăn. Người ta tưởng tìm một người khác sẽ dễ hơn học cách yêu người hiện tại. Nhưng nếu cái tôi không được thay đổi, rồi người mới cũng sẽ đến ngày trở thành “khó chịu” như người cũ.
Trong đời sống gia đình, có lẽ “yêu đến cùng” được thử thách rõ nhất khi người mình yêu không còn như xưa. Thuở trẻ khỏe mạnh thì dễ đồng hành. Đến lúc bệnh tật, già yếu, trí nhớ suy giảm, người kia trở nên chậm chạp, hay lặp lại, đôi khi khó tính, thì tình yêu mới bước vào vùng sâu nhất. Có những người vợ chăm chồng liệt giường năm này qua năm khác. Có những người chồng từng vụng về trong mọi việc nhưng khi vợ bệnh lại học từng việc nhỏ để chăm. Có những người con ngày ngày lau người, thay tã, đút từng muỗng cháo cho mẹ già. Những việc ấy chẳng ai đưa lên sân khấu. Không ai trao huy chương. Nhưng có thể trước mặt Thiên Chúa, đó chính là những bài giảng hùng hồn nhất về câu: “Người vẫn yêu thương họ đến cùng.”
Trong đời linh mục và đời thánh hiến cũng thế. Lúc mới bước vào ơn gọi, người ta thường có nhiều lý tưởng. Muốn cứu các linh hồn, muốn phục vụ người nghèo, muốn sống hết mình cho Tin Mừng. Những lý tưởng ấy rất quý. Nhưng rồi năm tháng sẽ mang đến những điều không có trong hình dung ban đầu: hiểu lầm, cô đơn, thất bại mục vụ, sức khỏe giảm sút, những lời phê bình, những người mình giúp rồi quay lại làm mình đau, những công việc lặp đi lặp lại chẳng ai để ý. Khi ấy câu hỏi của ơn gọi không còn là “con có còn cảm thấy sốt sắng không?” mà là “con có còn muốn thuộc về Chúa không?” Ơn gọi không được giữ bằng cảm xúc. Ơn gọi được giữ bằng một tình yêu ngày càng thanh luyện. Có những ngày người linh mục đứng trước bàn thờ không còn cảm thấy gì đặc biệt, nhưng vẫn dâng lễ bằng tất cả lòng trung tín. Có những ngày người tu sĩ đọc kinh trong khô khan, nhưng vẫn ở đó. Đó không phải là đời sống thiêng liêng thất bại. Có khi chính đó là tình yêu đã đi qua tuổi của cảm xúc để bước vào tuổi của giao ước.
Người ta có thể rời bỏ Chúa không phải vì ghét Chúa, nhưng vì không còn cảm thấy Chúa nữa. Đây là một cám dỗ tinh tế. Ta quen đánh giá đời sống đức tin theo cảm giác: hôm nay cầu nguyện sốt sắng thì thấy mình gần Chúa; ngày mai khô khan thì tưởng Chúa xa. Nhưng Chúa không gần ta hơn chỉ vì ta xúc động, cũng không xa ta hơn chỉ vì ta chẳng thấy gì. Một người mẹ ngồi bên con trong đêm bệnh có khi không hề có cảm giác ngọt ngào nào; bà chỉ mệt. Nhưng chính lúc ấy tình mẫu tử của bà không kém đi, có khi còn sâu hơn. Cũng vậy, có những giờ cầu nguyện chỉ là ngồi trước Chúa với một trái tim mệt mỏi và nói: “Lạy Chúa, con chẳng có gì để nói, nhưng con vẫn ở đây.” Có khi câu ấy quý hơn rất nhiều lời đẹp.
“Đến cùng” còn là cho đến tận giới hạn cuối cùng của lòng thương xót. Chúa biết Giuđa phản bội nhưng vẫn để hắn ngồi vào bàn. Chúa biết Phêrô chối mình nhưng vẫn cầu nguyện cho ông. Chúa biết các môn đệ bỏ chạy nhưng sau Phục Sinh Người vẫn trở lại tìm họ. Một tình yêu như thế khiến ta xấu hổ khi nhìn lại cách mình yêu nhau. Ta thường giới hạn tình yêu bằng điều kiện: “Tôi sẽ tốt với anh nếu anh tốt với tôi.” “Tôi sẽ gọi cho chị nếu chị gọi cho tôi.” “Tôi sẽ xin lỗi nếu người kia xin lỗi trước.” “Tôi sẽ tha nếu họ xứng đáng.” Cuối cùng hai người cùng đứng yên, chờ nhau, và một tương quan chết vì chẳng ai muốn bước trước. Đức Giêsu luôn là Người bước trước. Ngay cả khi Phêrô đang chìm vì chính sự yếu tin của ông, Chúa vẫn đưa tay ra trước. Kitô giáo được sinh ra từ một Thiên Chúa luôn bước trước.
Nhưng bước trước không có nghĩa là tự hạ nhục mình. Có người vì sợ mất một tương quan mà chấp nhận bị xúc phạm liên tục. Có người gọi sự lệ thuộc là tình yêu. Có người nghĩ rằng yêu đến cùng là để người khác muốn làm gì mình cũng được. Không phải thế. Đức Giêsu hiến mạng vì yêu, nhưng Người không mất căn tính. Người im lặng trước nhiều lời vu khống, nhưng cũng có lúc Người chất vấn: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh tôi sai; nếu tôi nói phải, sao lại đánh tôi?” Tình yêu thật luôn đi chung với sự thật. Yêu mà không có sự thật dễ thành nuông chiều. Sự thật mà không có tình yêu dễ thành tàn nhẫn. Đức Kitô giữ cả hai.
Nhiều người sau bao năm sống với nhau nói: “Không còn cảm giác như ngày xưa nữa.” Có lẽ điều ấy là bình thường. Cảm giác ngày xưa thuộc về ngày xưa. Một tình yêu ba mươi năm không thể giống một tình yêu ba tháng. Nếu cứ đòi nó phải có cùng độ rung động như thuở đầu, ta sẽ thất vọng. Cây lúa khi chín không còn xanh như mạ non, nhưng nó nặng hạt hơn. Tình yêu trưởng thành có thể bớt những lời hoa mỹ nhưng lại có nhiều sự hiện diện hơn. Người chồng chẳng còn nhắn những lời dài như thuở mới quen, nhưng mỗi sáng vẫn nhớ chuẩn bị thuốc cho vợ. Người vợ chẳng còn nói bao câu lãng mạn, nhưng biết chồng mình thích món nào và âm thầm nấu. Đó cũng là yêu. Có những thứ tình yêu càng già càng ít ồn ào mà càng đáng kính.
Và có lẽ chính Thiên Chúa cũng yêu ta theo cách như thế mỗi ngày: âm thầm đến mức ta dễ quên. Mặt trời vẫn lên. Ta vẫn còn hơi thở. Một ngày mới vẫn được trao. Thánh lễ vẫn có đó. Tòa giải tội vẫn mở. Lời Chúa vẫn chờ. Bao lần ta thờ ơ mà Chúa không bỏ. Bao lần ta hứa rồi quên mà Chúa vẫn kiên nhẫn. Nếu Chúa yêu ta theo cách ta yêu nhau, có lẽ Người đã bỏ ta từ lâu. Ta thay đổi rất nhanh; Thiên Chúa thì trung tín. Chính vì thế, trước khi hỏi mình phải yêu người khác đến cùng thế nào, hãy nhìn xem mình đã được Chúa yêu đến cùng ra sao.
Có những người mang mặc cảm rằng mình đã quá tệ để còn được Chúa yêu. Họ nhìn lại quá khứ và chỉ thấy đổ vỡ. Nhưng Ga 13,1 không nói: Người yêu họ đến khi họ phạm tội. Tin Mừng nói: Người yêu họ đến cùng. Cái “đến cùng” ấy bao trùm cả những lần con người vấp ngã. Không có nghĩa tội lỗi không quan trọng, nhưng có nghĩa tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng nếu con người còn muốn quay về. Phêrô chối Chúa ba lần không phải là hết. Giuđa phản bội cũng chưa hẳn phải là hết nếu ông biết trở về với lòng thương xót thay vì đóng kín mình trong tuyệt vọng. Người trộm lành cả đời có thể chẳng còn gì để khoe, nhưng một lời quay về đã đủ để nghe Chúa hứa thiên đàng. Đừng bao giờ nghĩ thất bại của mình lớn hơn lòng trung tín của Thiên Chúa.
Ta cũng đừng quên rằng yêu đến cùng có lúc phải chịu cảm giác không được đáp lại. Cha mẹ có thể hy sinh cho con mà con chưa hiểu. Người mục tử có thể hết lòng cho cộng đoàn mà vẫn bị phê bình. Người vợ hoặc người chồng có thể cố gắng rất nhiều mà người kia không ghi nhận. Một người bạn có thể âm thầm bên cạnh ta mà ta vô tình không thấy. Cảm giác bị coi thường rất đau. Nhưng tình yêu Kitô giáo có một bí mật: nó không lấy sự biết ơn của người khác làm nguồn sống cuối cùng. Nếu ta chỉ làm điều tốt khi được biết ơn, ta sẽ sớm kiệt sức. Ta cần để mình được Thiên Chúa nhìn thấy. Có những hy sinh không ai cảm ơn, nhưng Chúa biết. Có những giọt nước mắt không ai hiểu, Chúa hiểu. Có những lần ta chọn im lặng để giữ bình an mà người kia chẳng hay, Chúa hay. Người môn đệ không sống bằng tiếng vỗ tay của thế gian.
Tuy nhiên, yêu đến cùng không đồng nghĩa với ôm tất cả một mình. Ngay Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng mong các môn đệ thức với Người. Người đã nói nỗi buồn của Người. Vì thế, người đang kiệt sức vì chăm sóc người khác cũng cần được nâng đỡ. Người đang gánh một gia đình cũng cần được lắng nghe. Linh mục mệt mỏi cũng cần một người anh em. Cha mẹ cũng có giới hạn. Người chăm bệnh cũng cần được nghỉ. Tình yêu không đòi ta tự hủy. Yêu đến cùng là hiến mình trong Chúa, chứ không phải biến mình thành một cái máy không được phép yếu đuối.
Có lẽ một trong những cám dỗ lớn nhất của đời sống hôm nay là muốn tình yêu luôn dễ dàng. Khi khó thì nghĩ sai người. Khi buồn thì nghĩ sai chỗ. Khi thất vọng thì nghĩ mình đã chọn lầm. Nhưng Đức Giêsu chưa bao giờ hứa rằng yêu sẽ dễ. Người chỉ cho ta thấy rằng yêu có thể đi qua đau khổ mà không biến thành cay đắng. Đây mới là phép lạ lớn. Không phải một đời không bị thương, nhưng là bị thương mà vẫn còn khả năng yêu. Không phải chưa từng thất vọng, nhưng sau thất vọng vẫn không đóng trái tim. Không phải chưa từng bị phản bội, nhưng không để phản bội biến mình thành kẻ phản bội tình yêu.
Thập Giá là nơi chứng minh câu “yêu đến cùng” không phải khẩu hiệu. Nếu Chúa chỉ nói yêu mà xuống khỏi Thập Giá khi đau quá, ta sẽ không biết yêu đến cùng là gì. Người ở lại. Không phải vì những cái đinh mạnh hơn Người. Không phải. Chính tình yêu giữ Người ở lại. Người hoàn toàn có thể không đi đến đó, nhưng Người đã đi. Vì thế, mỗi lần ta muốn bỏ cuộc trong một điều tốt chỉ vì đang khó, hãy nhìn Thập Giá. Không phải để ép mình chịu những điều cần phải tránh, nhưng để hỏi: “Có phải tôi đang rời đi vì điều này thực sự sai, hay chỉ vì tôi không còn cảm thấy dễ chịu?” Hai điều ấy khác nhau rất nhiều.
Có những cuộc hôn nhân cần được chữa lành chứ không phải vội kết luận là hết yêu. Có những tình bạn cần một cuộc nói chuyện thật lòng chứ không phải một nút chặn. Có những cộng đoàn cần kiên nhẫn với nhau hơn chứ không phải ai cũng đòi nơi khác phải hoàn hảo. Có những ơn gọi đang khô khan nhưng chưa chắc đã chết. Có những lúc ta tưởng Chúa đã đi xa, thật ra chính cảm xúc của ta đang đổi mùa. Người vẫn ở đó.
Ngày hôm nay, đứng trước câu “Người vẫn yêu thương họ đến cùng”, có lẽ ta nên thôi hỏi tình yêu có làm mình vui không, và bắt đầu hỏi tình yêu đang làm mình trở thành người nào. Một tình yêu thật làm ta bớt ích kỷ, bớt tính toán, bớt muốn thắng, bớt nhạy cảm với cái tôi, biết nhịn hơn, biết nói thật dịu dàng hơn, biết cầu nguyện cho người khó chịu với mình hơn. Nếu một thứ gọi là tình yêu mà làm ta ngày càng chiếm hữu, ghen tuông, cay nghiệt, kiểm soát, thì phải coi lại. Tình yêu của Đức Kitô luôn mở con người ra khỏi cái tôi.
Sau cùng, có lẽ điều đẹp nhất của yêu đến cùng không phải là làm những điều phi thường mà là mỗi sáng lại bắt đầu yêu lại. Hôm qua đã thất bại thì hôm nay thử lại. Hôm qua đã nổi nóng thì hôm nay xin lỗi. Hôm qua đã lạnh lùng thì hôm nay chủ động hỏi một câu. Hôm qua cầu nguyện khô khan thì hôm nay vẫn quỳ xuống. Hôm qua thấy ơn gọi nặng nề thì hôm nay vẫn dâng ngày mới. Tình yêu đến cùng được tạo nên từ rất nhiều lần “lại một lần nữa”. Ta không cần phải đợi đến khi mình trở thành thánh mới yêu. Chính mỗi lần chọn yêu khi không dễ dàng, ta được Chúa làm cho nên thánh hơn một chút.
Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ yêu khi lòng còn hứng thú. Xin cho các đôi vợ chồng biết thương nhau cả những ngày không còn lời ngọt ngào. Xin cho cha mẹ biết kiên nhẫn với con cái, và con cái biết ở lại bên cha mẹ trong tuổi già. Xin cho những người sống đời thánh hiến biết trung thành khi ơn gọi đi vào mùa khô. Xin cho các mục tử đừng chỉ yêu đoàn chiên khi được yêu lại. Xin cho mỗi người chúng ta, khi bị tổn thương, biết chạy đến với Trái Tim bị đâm thâu của Chúa để học cách không biến vết thương thành hận thù. Và xin cho ta hiểu rằng điều đẹp nhất mình có thể dâng Chúa cuối đời không phải là một cuộc đời chưa từng mỏi mệt, nhưng là một trái tim đã mỏi mà vẫn còn biết yêu; không phải một trái tim chưa từng bị thương, nhưng là một trái tim bị thương mà không khép lại; không phải một cuộc đời lúc nào cũng đầy cảm xúc, nhưng là một cuộc đời có thể nói với Chúa trong những ngày sáng cũng như những đêm tối rằng: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây.”
Bởi vì yêu đến cùng không phải là lúc nào cũng cảm thấy yêu. Yêu đến cùng là khi chẳng còn gì dễ dàng nữa mà ta vẫn không thôi chọn điều thiện. Yêu đến cùng là khi lời ngọt ngào đã ít mà sự trung tín nhiều hơn. Yêu đến cùng là khi người khác không còn giống điều ta mong, nhưng ta vẫn nhìn họ như một con người có phẩm giá. Yêu đến cùng là có thể tha mà không phủ nhận vết thương, có thể cho đi mà không cần kể công, có thể ở lại mà không biến người khác thành sở hữu của mình. Và trên hết, yêu đến cùng là để tình yêu của Đức Kitô đi vào trong mình sâu đến mức một ngày kia, giữa tất cả những giới hạn của kiếp người, ta cũng có thể sống được một chút điều Tin Mừng đã nói về Người: Người đã yêu, và Người đã yêu đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – TRƯỜNG HỌC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO KITÔ GIÁO
Tin Mừng: Mc 10,42-45
Có một điều rất lạ trong Tin Mừng: Đức Giêsu không bao giờ phủ nhận chuyện phải có người đứng đầu, phải có người lãnh đạo, phải có người mang trách nhiệm. Người không xóa bỏ quyền bính. Người cũng không biến cộng đoàn thành một nơi ai muốn làm gì thì làm, chẳng ai phải nghe ai, chẳng ai chịu trách nhiệm về ai. Nhưng điều Đức Giêsu làm là Người đảo ngược tận gốc cách người ta hiểu về quyền bính. Người gọi các môn đệ lại và nói một câu mà cho đến hôm nay vẫn còn làm chúng ta phải giật mình: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy. Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” Chỉ mấy câu ấy thôi đã đủ vạch ra hai con đường hoàn toàn khác nhau: một con đường của thế gian, nơi quyền lực thường được đo bằng số người phải nghe mình, số người phải phục vụ mình, số cánh cửa mở ra khi mình xuất hiện, số đặc quyền mình được hưởng; và một con đường của Đức Kitô, nơi quyền bính lại được đo bằng số người mình có thể cúi xuống phục vụ, số gánh nặng mình có thể đỡ cho người khác, số vết thương mình sẵn sàng mang lấy, số phần của mình mình có thể hy sinh để người khác được sống. Bởi vậy, nếu muốn hiểu người lãnh đạo Kitô giáo là ai, không thể chỉ nhìn vào chiếc ghế họ đang ngồi, chức danh họ đang mang, quyền hạn họ đang có, nhưng phải nhìn xem đời họ có mang hình thập giá hay không. Vì cuối cùng, trường đào tạo sâu nhất của người lãnh đạo Kitô giáo không phải là trường quản trị, không phải là những khóa học về chiến lược, không phải là nghệ thuật diễn thuyết, cũng không phải là khả năng khiến người khác nghe lời mình. Trường sâu nhất vẫn là Thập Giá. Và người Thầy duy nhất đủ tư cách dạy về quyền bính Kitô giáo chính là Đấng đã quỳ xuống rửa chân, đã im lặng trước những lời vu khống, đã đội vòng gai thay vì đội triều thiên, đã dang hai tay trên thập giá thay vì giơ nắm tay để áp đảo người khác, và đã trao cả mạng sống mình cho những người mình được sai đến phục vụ.
Người ta thường thích làm lớn nhưng không thích trả giá cho cái lớn ấy. Người ta thích có tiếng nói nhưng không thích mang lấy trách nhiệm của lời mình nói. Người ta thích người khác vâng lời mình nhưng lại không thích vâng phục Thiên Chúa. Người ta thích được tôn trọng nhưng không muốn tôn trọng những người yếu hơn mình. Người ta thích được gọi bằng những danh xưng đẹp nhưng lại ngại cúi xuống làm những việc nhỏ. Chính vì thế mà Tin Mừng về quyền bính luôn là một Tin Mừng khó. Nó khó không phải vì chúng ta không hiểu. Trái lại, chúng ta hiểu quá rõ. Cái khó nằm ở chỗ sống. Ai trong chúng ta cũng có thể giảng về phục vụ, nhưng khi bị xem thường thì lòng ta vẫn đau. Ai cũng có thể nói về khiêm nhường, nhưng khi ý kiến mình không được chọn thì ta vẫn khó chịu. Ai cũng có thể nói về hy sinh, nhưng khi phải nhường phần tốt cho người khác thì ta bắt đầu tính toán. Ai cũng có thể nói rằng chức vụ là để phục vụ, nhưng một khi đã quen với việc được kính trọng, được ưu tiên, được hỏi ý kiến, được người khác chờ đợi, con người rất dễ quên rằng tất cả những điều ấy không phải để dựng một cái ngai cho mình mà chỉ để mình có thể phục vụ hiệu quả hơn. Cám dỗ của quyền bính không phải chỉ có nơi các vua chúa hay những người nắm quyền lớn. Nó len vào trong những điều rất nhỏ: trong một gia đình, người cha có thể biến trách nhiệm thành độc đoán; người mẹ có thể biến sự hy sinh của mình thành lý do để kiểm soát mọi người; người anh người chị có thể dùng tuổi tác để áp đặt; trong giáo xứ, người có trách nhiệm có thể nghĩ rằng mình phục vụ lâu năm nên mình có quyền hơn người khác; trong cộng đoàn, người giữ một nhiệm vụ có thể tưởng rằng ai không đồng ý với mình là chống lại cộng đoàn; trong Giáo Hội, một người có chức thánh cũng có thể vô tình đồng hóa sự kính trọng dành cho thừa tác vụ với sự tôn sùng dành cho cá nhân mình. Và khi ấy, quyền bính vốn được ban để xây dựng lại trở thành nơi làm tổn thương. Một chiếc ghế vốn được đặt để phục vụ có thể biến thành cái ngai. Một trách nhiệm vốn được trao để chăm sóc có thể biến thành công cụ để kiểm soát. Một lời nói vốn phải nâng người khác lên có thể biến thành lời làm họ co rúm lại. Đó là lý do người lãnh đạo Kitô giáo phải đi học lại mỗi ngày dưới chân Thập Giá.
Thập Giá dạy người lãnh đạo bài học đầu tiên: quyền bính không phải là quyền giữ lấy mình, nhưng là khả năng trao ban mình. Đức Giêsu không nói: “Con Người đến để chứng minh mình đúng.” Người cũng không nói: “Con Người đến để khiến mọi người phải phục tùng.” Người nói: “Con Người đến để phục vụ và hiến mạng sống.” Đó là định nghĩa của Người về sứ mạng. Nếu Đức Giêsu chỉ muốn người ta công nhận uy quyền của Người, thì Người đã có vô vàn cách để làm. Một phép lạ đủ lớn có thể khiến đám đông phủ phục. Một dấu lạ từ trời có thể khiến mọi đối thủ im tiếng. Một đạo binh thiên thần có thể giải quyết mọi sự ở vườn Cây Dầu. Nhưng Người không chọn cách ấy. Vì quyền năng của Thiên Chúa không phải là quyền năng nghiền nát, mà là quyền năng cứu độ. Thiên Chúa mạnh đến mức có thể làm mình yếu đi vì tình yêu. Thiên Chúa cao đến mức có thể cúi xuống rất thấp. Thiên Chúa giàu đến mức có thể trở nên nghèo. Thiên Chúa là Chủ mà có thể rửa chân cho tôi tớ. Thiên Chúa là Đấng ban sự sống mà lại để mình chết cho những người Người yêu. Đó chính là nghịch lý lớn lao của Kitô giáo. Và nếu người lãnh đạo không đi qua nghịch lý ấy, họ có thể thành công theo tiêu chuẩn thế gian nhưng chưa chắc đã mang khuôn mặt Đức Kitô.
Thập Giá còn dạy rằng người lãnh đạo phải biết chịu phần đau của người khác. Một mục tử không phải là người đứng thật xa rồi chỉ đường cho đoàn chiên. Một người cha không phải là người chỉ ban lệnh từ đầu bàn. Một người mẹ không chỉ là người nhắc nhở con phải thế này thế kia. Một linh mục không thể chỉ nói cho giáo dân biết phải cầu nguyện, phải hy sinh, phải nhẫn nại, trong khi chính mình tìm mọi cách tránh né những bất tiện. Một người đứng đầu cộng đoàn không thể chỉ yêu cầu người khác chịu đựng mà mình không chịu nổi một lời góp ý. Người lãnh đạo Kitô giáo phải có một thứ “da thịt mục tử”, nghĩa là để nỗi đau của người khác chạm được vào mình. Nếu đoàn chiên khổ mà mục tử vẫn ngủ ngon trong sự vô cảm, có điều gì đó đã sai. Nếu người dưới quyền bị tổn thương mà người lãnh đạo chỉ quan tâm đến việc bảo vệ hình ảnh của mình, có điều gì đó đã lệch. Nếu cộng đoàn rạn nứt mà điều ta lo trước tiên là “người ta nghĩ gì về tôi”, thì có khi ta đang bảo vệ cái tôi nhiều hơn bảo vệ Thân Thể Đức Kitô. Thập Giá không cho người lãnh đạo quyền đứng ngoài đau khổ. Đức Giêsu đã bước vào tận đáy sự mong manh của con người. Người bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi, bị vu oan, bị nhạo cười. Bởi thế, bất cứ người lãnh đạo nào thật sự muốn mang khuôn mặt Người cũng phải chấp nhận rằng có những lúc làm đúng mà vẫn bị trách, yêu thương mà vẫn bị hiểu lầm, phục vụ mà vẫn bị quên ơn, hy sinh mà vẫn không được nhìn nhận. Nếu mỗi lần bị hiểu lầm ta đều nổi giận, mỗi lần bị phản đối ta đều dùng quyền để dẹp đi, mỗi lần bị phê bình ta đều tìm cách chứng minh người khác sai, thì có lẽ ta chưa học được nhiều dưới chân Thập Giá.
Có một sự thật rất đau nhưng cần phải nói: nhiều người làm tổn thương người khác không phải vì họ xấu, nhưng vì họ không nhận ra cái tôi của mình đã lớn lên trong lúc thi hành trách nhiệm. Ban đầu, người ta nhận một công việc với thiện chí. Ban đầu là muốn phục vụ. Ban đầu là sốt sắng. Ban đầu là “con xin làm vì Chúa”. Nhưng rồi năm tháng qua đi, kinh nghiệm nhiều hơn, người ta được tín nhiệm hơn, người khác bắt đầu nể mình hơn, tiếng nói mình có trọng lượng hơn, và từ lúc nào không hay, “việc của Chúa” trở thành “việc của tôi”, “cộng đoàn của Chúa” trở thành “cộng đoàn của tôi”, “sứ vụ của Hội Thánh” trở thành “thành quả của tôi”. Khi ấy, ai góp ý vào công việc ta lại tưởng là họ xúc phạm mình. Ai đề nghị thay đổi lại tưởng là họ coi thường công sức ta. Ai làm khác ý ta lại thấy như đang chống lại ta. Và chính ở đó, Thập Giá cần xuất hiện như một lưỡi cày xé mảnh đất cứng của cái tôi. Thập Giá nói với ta rằng: việc này không phải của con; dân này không phải của con; Hội Thánh này không phải của con; cộng đoàn này không phải của con; con chỉ là người được trao một phần trách nhiệm trong một thời gian. Rồi một ngày con sẽ phải trao lại. Và con càng nhớ mình chỉ là người quản lý, con càng tự do. Người lãnh đạo biết mình sẽ có ngày rời chiếc ghế ấy thì sẽ bớt bám vào nó. Người lãnh đạo biết cộng đoàn vẫn là của Chúa trước khi mình đến và vẫn là của Chúa sau khi mình đi thì sẽ bớt muốn người khác phải nhớ ơn mình. Người lãnh đạo biết hoa trái cuối cùng thuộc về ân sủng thì sẽ bớt kể công.
Thập Giá cũng là trường dạy người lãnh đạo biết lắng nghe. Ta thường nghĩ người lãnh đạo là người phải nói. Đúng, có lúc phải nói. Nhưng người lãnh đạo Kitô giáo trước hết là người biết nghe tiếng Chúa, rồi nghe tiếng người khác, rồi mới nói. Không biết nghe, quyền bính rất dễ trở nên thô bạo. Có những quyết định hoàn toàn đúng về nguyên tắc nhưng lại gây tổn thương khủng khiếp vì người đưa ra quyết định ấy không chịu lắng nghe hoàn cảnh của con người. Có những lời sửa dạy nội dung không sai, nhưng cách nói khiến người khác mất luôn lòng can đảm để đứng dậy. Có những quy định cần thiết, nhưng nếu chỉ áp dụng bằng một trái tim lạnh thì luật trở thành gánh nặng. Đức Giêsu không phải là Đấng thỏa hiệp với sự dữ, nhưng Người chưa bao giờ đối xử với người tội lỗi như một hồ sơ. Người nhìn thấy con người. Người thấy Giakêu trên cây. Người thấy người phụ nữ cúi đầu giữa đám đông đang cầm đá. Người thấy Bartimê đang kêu bên vệ đường. Người thấy bà góa bỏ hai đồng tiền nhỏ. Người thấy Phêrô sau ba lần chối Thầy. Người thấy tên trộm trên thập giá trong những phút cuối đời. Đó là cái nhìn của một Đấng lãnh đạo cứu độ: không chỉ thấy lỗi, nhưng thấy người; không chỉ thấy thất bại, nhưng thấy khả năng hồi sinh; không chỉ thấy quá khứ, nhưng thấy điều ân sủng còn có thể làm.
Một người lãnh đạo có thể rất nguyên tắc nhưng thiếu lòng thương xót. Điều ấy nguy hiểm. Một người lãnh đạo cũng có thể rất tình cảm nhưng thiếu sự thật. Điều ấy cũng nguy hiểm. Thập Giá giữ cả sự thật lẫn lòng thương xót. Trên Thập Giá, tội lỗi không bị xem nhẹ. Nếu tội lỗi chẳng đáng kể, Con Thiên Chúa đâu cần phải chết. Nhưng trên Thập Giá, tội nhân cũng không bị vứt bỏ. Nếu tội nhân không đáng cứu, Con Thiên Chúa cũng chẳng cần phải chết. Người lãnh đạo Kitô giáo vì thế không phải là người dễ dãi với cái sai, nhưng cũng không được tàn nhẫn với người sai. Phải biết gọi cái sai là sai nhưng vẫn giữ lại con đường trở về. Phải biết sửa mà không nghiền nát. Phải biết nghiêm mà không cay nghiệt. Phải biết giữ kỷ luật mà không làm nhục người khác. Có những người sau một lần bị sửa dạy đã tốt hơn rất nhiều. Nhưng cũng có những người mang vết thương hàng chục năm chỉ vì một lần bị người có quyền bính làm nhục trước đám đông. Có những người bỏ cộng đoàn không phải vì họ ghét Chúa, mà vì họ đã từng gặp một khuôn mặt quá lạnh lùng nơi người đại diện cho Chúa. Điều ấy phải làm những người có trách nhiệm run sợ. Không phải run vì sợ mất uy, mà run vì hiểu rằng mỗi lời mình nói có thể nâng một linh hồn lên hoặc đẩy họ sâu thêm vào mặc cảm. Thập Giá không cho phép ta dùng quyền bính như một con dao để bảo vệ tự ái.
Thập Giá cũng dạy người lãnh đạo chịu trách nhiệm thay vì đổ lỗi. Khi mọi việc tốt đẹp, rất dễ nhận thành quả. Nhưng khi có chuyện sai, người lãnh đạo thật sẽ đứng ra trước. Trong thế gian, nhiều người lãnh đạo được huấn luyện cách tránh trách nhiệm pháp lý, cách bảo vệ hình ảnh, cách tìm người chịu lỗi. Đức Kitô thì khác. Người vô tội lại đứng vào chỗ của kẻ có tội. Người không làm điều ác nhưng gánh lấy hậu quả của điều ác. Dĩ nhiên, không ai trong chúng ta được cổ võ sự bất công hay nhận hết mọi lỗi không thuộc về mình một cách mù quáng. Nhưng tinh thần của Thập Giá là: khi cộng đoàn có vấn đề, người lãnh đạo không vội đứng ngoài để kết án. Họ tự hỏi: phần trách nhiệm của tôi ở đâu? Tôi đã thiếu điều gì? Tôi đã không thấy điều gì? Tôi đã để vấn đề này kéo dài vì sợ phiền phức chăng? Tôi đã quá bận với những việc lớn mà quên những con người nhỏ chăng? Tôi có dùng im lặng để né tránh điều đáng lẽ mình phải lên tiếng chăng? Tôi có dùng quyền để bảo vệ mình thay vì bảo vệ người yếu thế chăng? Những câu hỏi như thế đau lắm. Nhưng không có những câu hỏi đau ấy, quyền bính không lớn lên được.
Có một cám dỗ khác rất tinh tế: người lãnh đạo muốn được yêu. Điều ấy tự nhiên thôi. Ai chẳng muốn được quý mến. Nhưng khi nhu cầu được yêu trở nên quá lớn, người lãnh đạo sẽ bắt đầu tránh những quyết định cần thiết chỉ vì sợ mất lòng. Có người không dám sửa vì sợ người khác ghét. Có người chỉ nói những gì người ta thích nghe. Có người luôn tìm cách làm hài lòng mọi phía, cuối cùng chẳng còn biết điều gì là đúng. Đức Giêsu không lãnh đạo như thế. Người yêu mọi người nhưng không sống để tìm sự đồng thuận của mọi người. Có lúc Người làm đám đông bỏ đi. Có lúc Người nói những lời khiến môn đệ không hiểu. Có lúc Người đối diện trực tiếp với sự giả hình. Có lúc Người im lặng dù người khác muốn Người giải thích. Người tự do vì căn tính của Người nằm trong tình yêu của Chúa Cha, không nằm trong tiếng vỗ tay. Đây là một bài học cực kỳ quan trọng cho mọi người lãnh đạo Kitô giáo: nếu ta cần người khác khen mình để biết mình có giá trị, ta sẽ rất dễ bán sự thật để đổi lấy sự yêu mến. Nếu ta sợ bị bỏ rơi quá mức, ta sẽ không dám dẫn người khác đi qua những con đường khó. Nếu ta sống nhờ dư luận, ta sẽ trở thành tù nhân của dư luận. Người đứng dưới Thập Giá học được rằng có những khi trung thành đồng nghĩa với cô đơn. Nhưng cô đơn vì trung thành vẫn tốt hơn đông người mà phản bội lương tâm.
Người lãnh đạo Kitô giáo còn phải học nơi Thập Giá cách sử dụng quyền lực mà không biến người khác thành lệ thuộc. Đức Giêsu không xây một nhóm môn đệ để họ suốt đời chỉ biết dựa vào Người theo nghĩa trẻ con. Người huấn luyện họ rồi sai họ đi. Người trao trách nhiệm. Người để họ có lúc thất bại. Người sửa họ. Người tiếp tục tin tưởng họ. Sau Phục Sinh, Người trao sứ mạng cho chính những con người từng bỏ chạy. Một người lãnh đạo tốt không khiến mọi việc phải qua tay mình mới an tâm. Nếu một cộng đoàn chỉ hoạt động được khi một người có mặt, đó chưa chắc là dấu hiệu họ lãnh đạo giỏi; đôi khi đó là dấu hiệu họ chưa biết trao quyền. Nếu một người ra đi mà mọi việc sụp đổ, có thể bao năm họ đã xây quanh cá nhân mình hơn là xây một cộng đoàn trưởng thành. Người lãnh đạo theo Thập Giá biết mình không phải trung tâm. Họ vui khi thấy người khác lớn lên, ngay cả khi người ấy giỏi hơn mình. Họ không sợ người trẻ có ý tưởng mới. Họ không coi tài năng người khác là mối đe dọa. Họ không giữ người giỏi quanh mình chỉ để làm đẹp cho tên tuổi mình. Họ giúp người khác khám phá ơn gọi và có thể một ngày bước xa hơn họ. Đó là cái nghèo khó đẹp nhất của người lãnh đạo: dám gieo những hạt giống mà có thể mình không được nhìn thấy mùa gặt.
Thập Giá còn dạy rằng lãnh đạo không thể tách khỏi hy sinh. Không có lãnh đạo thật mà không mất một cái gì đó. Cha mẹ lãnh đạo gia đình bằng những đêm mất ngủ. Người thầy dẫn dắt học trò bằng những giờ chuẩn bị không ai thấy. Người mục tử giữ đoàn chiên bằng những lần âm thầm chịu thiệt. Người đứng đầu một cộng đoàn nhiều khi phải gánh những căng thẳng mà người khác không biết. Nhưng điều quan trọng là ta hy sinh vì ai. Có thứ hy sinh để người khác biết ơn. Có thứ hy sinh rồi âm thầm lập sổ nợ trong lòng. Có thứ hy sinh để sau này có quyền nói: “Tôi đã làm cho anh bao nhiêu.” Đó chưa phải là Thập Giá của Đức Kitô. Đức Giêsu hiến mạng sống mà không đưa hóa đơn. Người yêu mà không buộc chúng ta phải trả lại tương xứng. Ân sủng là như thế. Người lãnh đạo Kitô giáo chỉ thực sự tự do khi họ có thể làm một điều tốt mà không cần ai biết, chịu một phần thiệt mà không kể lại, nhường một phần danh dự mà không uất ức. Không dễ. Cái tôi chết rất chậm. Nó có thể nằm im khi ta chưa có quyền, rồi bừng dậy khi quyền đến. Bởi thế, người càng có trách nhiệm càng cần cầu nguyện. Không phải cầu nguyện để Chúa giúp mọi người nghe lời mình, mà cầu nguyện để lòng mình đừng biến dạng vì quyền lực.
Một dấu chỉ đáng sợ của quyền bính hư hỏng là người lãnh đạo bắt đầu không còn ai dám nói thật với họ. Chung quanh họ chỉ còn những người luôn gật đầu. Không ai dám phản biện. Không ai dám góp ý. Không ai dám nói: “Điều này có lẽ chưa đúng.” Khi một người đứng đầu chỉ cảm thấy an toàn giữa những người luôn đồng ý, họ đang tự xây một căn phòng không cửa sổ. Không khí trong đó sẽ dần cạn. Người khôn ngoan là người giữ bên cạnh mình ít nhất một vài người có thể nói thật mà không sợ bị trừng phạt. Đức Giêsu để môn đệ đặt câu hỏi, thậm chí hỏi những câu vụng về. Thánh Kinh cũng không che giấu những yếu đuối của những người đứng đầu. Phêrô bị ghi lại chuyện chối Thầy. Đavít bị ghi lại tội của mình. Các Tông đồ bị ghi lại những tranh cãi về ngôi thứ. Giáo Hội không được xây trên huyền thoại rằng người lãnh đạo không bao giờ sai, mà trên niềm tin rằng ân sủng có thể làm việc nơi những con người biết sám hối. Một người lãnh đạo có thể sai mà vẫn đáng kính nếu họ đủ khiêm nhường để nhận sai. Trái lại, một người có thể rất tài năng nhưng sẽ trở nên nguy hiểm nếu không bao giờ có thể nói “tôi xin lỗi”.
Hai tiếng “xin lỗi” nơi môi người có quyền đôi khi mạnh hơn cả một bài diễn văn. Có người nghĩ xin lỗi làm mất uy. Không. Xin lỗi đúng lúc trả lại uy tín. Cố chấp mới làm mất uy tín. Một người cha xin lỗi con không làm ông bớt là cha. Một người mẹ nhận mình đã nói quá lời không làm bà mất vị trí. Một linh mục xin lỗi giáo dân nếu mình cư xử thiếu bác ái không làm chức linh mục nhỏ đi. Ngược lại, chính khi ấy khuôn mặt Tin Mừng rõ hơn. Người ta không cần người lãnh đạo hoàn hảo. Người ta cần một người thật, biết mình cũng là tội nhân đang được cứu. Người lãnh đạo quên rằng mình cũng cần lòng thương xót sẽ rất dễ thiếu lòng thương xót với người khác. Còn người mỗi ngày quỳ trước Chúa và biết mình sống được chỉ nhờ ơn tha thứ sẽ khó mà quá tàn nhẫn với anh em.
Thập Giá còn dạy người lãnh đạo phân biệt giữa uy quyền và sự kiểm soát. Uy quyền đích thực làm người khác trưởng thành. Kiểm soát khiến người khác nhỏ lại. Uy quyền giúp người khác đứng được trên đôi chân của họ. Kiểm soát khiến họ phải luôn nhìn nét mặt ta để biết mình có được phép sống hay không. Uy quyền xây tự do trong trách nhiệm. Kiểm soát xây sợ hãi. Có những môi trường trông rất trật tự nhưng thực ra chỉ vì ai cũng sợ. Im lặng không phải lúc nào cũng là bình an. Không phản đối chưa chắc là đồng thuận. Vâng lời bên ngoài chưa chắc là trưởng thành bên trong. Người lãnh đạo Kitô giáo không được tự mãn chỉ vì không ai cãi mình. Câu hỏi sâu hơn là: những người sống và làm việc với tôi có cảm thấy họ được tôn trọng không? Họ có dám nói sự thật không? Họ có lớn lên không? Họ có cảm thấy mình có phẩm giá không? Họ có yêu Chúa hơn qua cách tôi đối xử với họ không? Nếu quyền bính của ta làm người khác sợ ta hơn là yêu điều thiện, có gì đó phải xét lại.
Điều đẹp nhất của Đức Giêsu trong tư cách người lãnh đạo là Người không chiếm lấy đời người khác. Người mời gọi: “Hãy theo Thầy”, nhưng Người cũng để người thanh niên giàu có quay đi. Người buồn, nhưng không chạy theo để hạ tiêu chuẩn. Tình yêu đích thực tôn trọng tự do. Người lãnh đạo Kitô giáo cũng vậy. Không dùng ân tình để trói người. Không dùng ơn nghĩa để buộc người khác trung thành với cá nhân. Không tạo một thứ văn hóa mà ai rời khỏi nhóm mình thì bị xem như phản bội. Chúng ta phục vụ con người để họ thuộc về Chúa nhiều hơn, chứ không thuộc về mình nhiều hơn. Một linh mục thành công không phải là người khiến giáo dân luôn nhắc tên mình, mà là người giúp họ gắn bó với Đức Kitô. Một người thầy tốt không phải là người khiến học trò suốt đời lệ thuộc vào mình, mà là người trao cho họ khả năng tự bước đi. Một người lãnh đạo trưởng thành không cần phải là nhân vật chính trong mọi câu chuyện.
Nhìn lên Thập Giá, ta còn học được một bài học rất sâu: người lãnh đạo phải biết khi nào lên tiếng và khi nào im lặng. Đức Giêsu có lúc nói mạnh mẽ, nhưng trước Hêrôđê Người im lặng. Người không phí lời để bảo vệ tự ái. Đây là điều rất khó đối với người có trách nhiệm, vì càng có vị trí, ta càng cảm thấy cần giải thích mọi chuyện. Có lời đồn, phải đáp. Có hiểu lầm, phải sửa ngay. Có ai nói không đúng về mình, phải thanh minh. Nhưng không phải cuộc chiến nào cũng đáng đánh. Không phải lời đồn nào cũng xứng đáng được trả lời. Không phải mọi người hiểu sai ta đều phải được thuyết phục. Đôi khi, việc ta lao vào bảo vệ hình ảnh cá nhân chỉ làm sứ mạng trở nên nhỏ bé. Thập Giá dạy ta một thứ tự do: để Thiên Chúa là Đấng xét xử cuối cùng. Người lãnh đạo càng biết im lặng trước những điều không cần thiết thì càng có sức lên tiếng khi công lý thực sự bị xúc phạm.
Dĩ nhiên, nói về Thập Giá không có nghĩa là cổ võ một kiểu lãnh đạo cam chịu mọi lạm dụng, dung túng cái sai hoặc không bảo vệ người yếu. Đức Giêsu hiền lành nhưng Người không hèn nhát. Người rửa chân nhưng cũng lật bàn của những kẻ biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Người tha thứ nhưng cũng nói: “Đừng phạm tội nữa.” Người không tự vệ cho danh dự cá nhân nhưng luôn bênh vực sự thật và phẩm giá của con người. Người lãnh đạo Kitô giáo vì thế phải có cả trái tim mềm và cột sống thẳng. Mềm với con người nhưng cứng trước điều ác. Biết cảm thông nhưng không thỏa hiệp. Biết tha thứ nhưng không che đậy bất công. Có những lúc yêu thương nghĩa là phải nói “không”. Có những lúc phục vụ nghĩa là phải đặt giới hạn. Có những lúc khiêm nhường nghĩa là phải đủ can đảm đứng lên bảo vệ người không thể tự bảo vệ mình. Thập Giá không biến ta thành người yếu đuối; Thập Giá thanh luyện sức mạnh của ta để sức mạnh ấy không còn phục vụ cái tôi.
Có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất của đời sống cộng đoàn là khi người ta dùng ngôn ngữ đạo đức để che một cách hành xử không đạo đức. “Vâng lời” có thể bị dùng để dập tắt lương tâm. “Hy sinh” có thể bị dùng để bắt người yếu chịu thêm. “Vì lợi ích chung” có thể trở thành lý do để không tôn trọng một người cụ thể. “Giữ hiệp nhất” có thể biến thành cái cớ để che giấu vấn đề. Người lãnh đạo theo Đức Kitô phải rất tỉnh thức với những điều ấy. Bởi Thập Giá là nơi mọi sự giả hình bị bóc trần. Đức Giêsu chịu chết chính một phần vì Người không chấp nhận một thứ tôn giáo có vẻ đạo đức bên ngoài nhưng bên trong lại thiếu công lý và lòng thương xót. Người lãnh đạo Kitô giáo không thể chỉ quan tâm đến việc mọi thứ “trông có vẻ tốt”. Phải hỏi liệu nó có thật sự tốt hay không. Không thể chỉ hỏi cộng đoàn có yên không. Phải hỏi sự yên ấy là bình an hay là im lặng vì sợ. Không thể chỉ hỏi công việc có chạy không. Phải hỏi những người đang làm công việc ấy có bị kiệt sức, bị xem thường hay bị dùng như công cụ không. Không thể chỉ hỏi mục tiêu đã đạt chưa. Phải hỏi ta đã đi đến mục tiêu ấy bằng cách nào.
Thế gian thường đánh giá người lãnh đạo bằng hiệu quả. Tin Mừng không phủ nhận hiệu quả, nhưng đặt thêm một câu hỏi: hiệu quả ấy có mang mùi của Tin Mừng không? Có những thành tựu rất lớn được xây bằng những trái tim tan vỡ. Có những tổ chức rất thành công nhưng bên trong đầy sợ hãi. Có những công trình lộng lẫy nhưng những con người xây nên nó không được nhìn nhận. Người lãnh đạo Kitô giáo không được phép lấy kết quả tốt để biện minh cho cách làm xấu. Chúa không cần ta làm việc của Chúa bằng phương pháp trái với Chúa. Không thể nhân danh sứ mạng mà làm nhục con người. Không thể nhân danh kỷ luật mà hủy phẩm giá. Không thể nhân danh chân lý mà nuôi kiêu ngạo. Không thể nhân danh phụng sự Thiên Chúa mà quên rằng mỗi người trước mặt mình đều là hình ảnh của chính Thiên Chúa.
Và rồi, Thập Giá dạy một bài học mà ai làm lãnh đạo lâu năm cũng cần: phải biết rời đi. Có một thời được trao trách nhiệm và có một thời phải trao lại. Có một thời tiếng nói mình quan trọng và có một thời mình phải lui xuống để người khác bước lên. Không dễ đâu. Sau bao nhiêu năm đầu tư, hy sinh, xây dựng, ta rất dễ nghĩ rằng không có mình thì không được. Nhưng nếu công trình thật sự của Chúa, nó không được phép lệ thuộc vào đời một người. Gioan Tẩy Giả đã nói một câu tuyệt đẹp: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó là linh đạo của mọi người lãnh đạo. Thành công cuối cùng của ta không phải là làm cho mình không thể thay thế. Thành công là chuẩn bị để người khác có thể tiếp tục khi ta không còn ở đó. Một ngày nào đó, người khác sẽ ngồi chiếc ghế ta đang ngồi, đứng nơi ta đang đứng, làm công việc ta từng làm. Nếu ta có thể nhìn điều ấy trong bình an, nghĩa là ta đã hiểu quyền bính chỉ là một sứ vụ được mượn trong một thời gian.
Có những người sau khi thôi chức vẫn buồn vì chẳng còn ai hỏi. Có người mất vị trí rồi thấy mình như mất chính căn tính. Điều ấy cho thấy trong những năm tháng trước, ta có thể đã gắn bản thân với vai trò quá chặt. Thập Giá giúp ta trở về điều căn bản: trước khi là linh mục, bề trên, trưởng ban, người cha, người mẹ, giám đốc, người đứng đầu, ta là một người con được Thiên Chúa yêu. Giá trị của ta không bắt đầu từ chức vụ và cũng không chấm dứt khi chức vụ hết. Người lãnh đạo tự do nhất là người có thể mất chiếc ghế mà không mất bình an, vì họ biết căn tính mình nằm sâu hơn mọi danh xưng.
Thập Giá cũng dạy người lãnh đạo không lấy đau khổ làm lý do để trở nên cay nghiệt. Đây là một nguy cơ lớn. Có người đã hy sinh quá nhiều nên dần dần cảm thấy mọi người mắc nợ mình. Có người đã chịu nhiều bất công nên về sau đối xử cứng cỏi với thế hệ tiếp theo vì nghĩ: “Ngày xưa tôi cũng phải chịu như vậy.” Đó là cách vết thương truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng Đức Giêsu thì khác. Người bị thương mà không biến thành người gây thương tích. Người bị đóng đinh mà không đóng đinh lại ai. Người bị phản bội mà sau Phục Sinh vẫn tìm Phêrô để hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Đây là một chuẩn mực quá cao, nhưng đó chính là Tin Mừng. Người lãnh đạo trưởng thành là người biến vết thương thành lòng trắc ẩn, không biến vết thương thành quyền trừng phạt. Vì mình đã từng cô đơn nên biết nhìn người cô đơn. Vì mình đã từng bị hiểu lầm nên biết chậm phán xét. Vì mình đã từng thất bại nên biết cho người khác cơ hội làm lại. Nếu đau khổ chỉ làm ta cứng hơn, có lẽ ta đã chịu đau nhưng chưa để Thập Giá cứu mình.
Đối với người mục tử trong Giáo Hội, câu “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ” phải được đọc mãi. Đọc khi được truyền chức. Đọc khi được bổ nhiệm. Đọc khi được người ta kính trọng. Đọc khi bắt đầu có nhiều người nghe mình. Đọc khi có người gọi mình bằng những danh xưng trang trọng. Đọc khi thấy lời mình có sức ảnh hưởng. Vì càng lúc ấy, cám dỗ càng tinh tế. Một linh mục có thể không tìm tiền bạc nhưng lại tìm ảnh hưởng. Có thể không cần tiện nghi nhưng lại cần được công nhận. Có thể sống đơn sơ bên ngoài nhưng trong lòng rất khó chịu khi người khác không làm theo ý. Thập Giá chạm đến những vùng rất sâu ấy. Nó hỏi: con muốn người ta đến với con hay đến với Chúa? Con vui vì họ kính trọng chức thánh hay vì họ yêu cá nhân con? Con đang dùng lời giảng để đưa người ta đến Tin Mừng hay để họ thấy con nói hay? Con có sẵn lòng để người khác làm được điều tốt mà không cần mang tên con không? Những câu hỏi đó không dành để kết án, nhưng để gìn giữ trái tim người mục tử.
Với người cha, người mẹ trong gia đình cũng vậy. Cha mẹ có một quyền bính rất thật, nhưng đó là quyền bính để làm cho con nên người, chứ không làm cho con suốt đời sống theo ước mơ của mình. Có cha mẹ hy sinh cho con thật nhiều, nhưng rồi vô tình biến hy sinh thành sợi dây trói: “Cha mẹ đã làm tất cả cho con, nên con phải sống thế này.” Tình yêu Kitô giáo không như vậy. Thiên Chúa trao ban và tôn trọng tự do. Cha mẹ được mời gọi định hướng, giáo dục, sửa dạy, nhưng cuối cùng phải giúp con nhận ra tiếng gọi của Chúa trên đời nó chứ không chỉ thực hiện dự án của cha mẹ. Có lúc, Thập Giá của cha mẹ là chấp nhận con không giống điều mình từng mơ. Có lúc, phục vụ con là biết buông tay đúng lúc.
Với người làm giáo dục, người quản lý, người đứng đầu một tổ chức, Tin Mừng hôm nay cũng không kém phần sắc bén. Nhân viên không phải máy móc. Cộng sự không chỉ là phương tiện đạt KPI. Người làm việc dưới quyền mình vẫn có gia đình, mệt mỏi, giới hạn và phẩm giá. Một tổ chức có thể đòi hỏi kỷ luật cao mà vẫn nhân bản. Có thể đặt mục tiêu lớn mà vẫn biết con người không phải vật liệu tiêu hao. Có thể quyết đoán mà không làm nhục. Có thể yêu cầu trách nhiệm mà không gieo sợ hãi. Khi người lãnh đạo nhìn một nhân viên chỉ như một con số trong báo cáo, họ đã đánh mất một phần cái nhìn của Đức Kitô. Chúa gọi từng người bằng tên.
Cuối cùng, người lãnh đạo Kitô giáo phải nhớ rằng mình cũng cần được lãnh đạo. Không ai trưởng thành đến mức không cần ai nhắc. Không ai thánh thiện đến mức không cần kiểm điểm. Không ai kinh nghiệm đến mức không thể sai. Người càng có quyền càng phải có kỷ luật thiêng liêng giúp họ trở về với sự thật: cầu nguyện, xét mình, linh hướng, lắng nghe Lời Chúa, để người khác góp ý, và nhất là đứng trước Thập Giá. Trước Thập Giá, mọi huy chương đều nhỏ lại. Mọi chức danh đều nhỏ lại. Mọi tự ái đều bị chất vấn. Ta nhìn một Thiên Chúa trần trụi, không còn gì để bảo vệ, và hiểu rằng quyền bính cuối cùng của Kitô giáo chính là quyền yêu đến cùng.
Có lẽ mỗi người lãnh đạo nên có những lúc ngồi một mình trước Thập Giá và hỏi rất chậm: Lạy Chúa, những người Chúa trao cho con đang sống thế nào dưới cách con lãnh đạo? Họ có được nâng lên hay bị đè xuống? Họ có lớn lên trong tự do hay nhỏ đi trong sợ hãi? Con có làm họ đến gần Chúa hơn không? Con có biết tên của những người bé nhỏ không? Con có nghe trước khi nói không? Con có xin lỗi khi sai không? Con có sẵn lòng chịu thiệt để giữ bình an cho người khác không? Con có dùng quyền để bảo vệ người yếu hay để bảo vệ hình ảnh mình? Con có vui khi người khác giỏi hơn con không? Con có thể trao lại công việc này trong bình an không? Và nhất là: người ta có nhận ra nơi con chút gì khuôn mặt của Đấng đã nói “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống” không?
Nếu câu trả lời làm ta đau, cũng không sao. Đau ấy có thể là một ân sủng. Vì Thập Giá không phải chỉ là nơi kết án cái tôi; Thập Giá còn là nơi cái tôi được chữa lành. Chúa không gọi những người hoàn hảo để lãnh đạo. Người gọi Phêrô, một con người bốc đồng, yếu đuối và từng chối Thầy. Người gọi Giacôbê và Gioan, chính hai người từng mơ ngồi bên hữu bên tả. Người đã phải dạy họ rằng cái lớn của Nước Trời không giống cái lớn của thế gian. Và rồi chính những con người ấy đã thay đổi. Nghĩa là ta cũng có thể thay đổi. Một người từng thích kiểm soát có thể học cách tin tưởng. Một người từng nóng nảy có thể học hiền lành. Một người từng thích được công nhận có thể học niềm vui của việc âm thầm. Một người từng sợ mất quyền có thể học cách trao quyền. Một người từng làm người khác đau có thể trở thành người chữa lành nếu họ chịu để Thập Giá đào tạo lại trái tim mình.
Thế giới hôm nay không thiếu những người biết ra lệnh. Thế giới thiếu người biết cúi xuống. Không thiếu người muốn đứng trước. Thiếu người dám đứng sau nâng người khác lên. Không thiếu những bàn tay chỉ trỏ. Thiếu những bàn tay rửa chân. Không thiếu những tiếng nói lớn. Thiếu những đôi tai biết lắng nghe. Không thiếu những người muốn được người khác nhớ tên. Thiếu những người âm thầm làm điều tốt rồi để tên mình biến mất. Và Giáo Hội cũng không cần những người lãnh đạo biết xây ngai cho mình. Giáo Hội cần những người chấp nhận học dưới chân một Đấng đội mão gai.
Thập Giá, vì thế, không phải là thất bại của quyền bính. Thập Giá là mặc khải trọn vẹn nhất về quyền bính của Thiên Chúa. Trên Thập Giá, Đức Giêsu chẳng còn gì theo tiêu chuẩn thế gian: không quân đội, không ngai, không áo bào, không một đám đông tung hô. Nhưng chính lúc ấy Người đang làm điều lớn nhất: trao ban sự sống. Và đó là câu hỏi cuối cùng cho mọi người lãnh đạo Kitô giáo: khi hết chức, hết quyền, hết tiếng vỗ tay, điều gì còn lại? Nếu còn lại những con người đã được ta giúp đứng dậy, những vết thương đã được chữa lành, những người yếu đã được bảo vệ, những ơn gọi đã được nâng đỡ, những tâm hồn đã đến gần Chúa hơn, những người đã học được cách phục vụ vì nhìn cách ta phục vụ, thì đời lãnh đạo ấy không uổng. Còn nếu chỉ còn công trình, bảng tên, thành tích và những câu chuyện về chính mình, có lẽ ta đã làm nhiều nhưng chưa chắc đã đi qua trường học của Thập Giá.
Xin Chúa cho những ai đang mang trách nhiệm trong Giáo Hội, trong gia đình, trong cộng đoàn và xã hội đừng bao giờ quên rằng quyền bính là một thánh giá trước khi là một vinh dự. Xin cho chúng ta đừng hỏi: “Tôi có bao nhiêu người dưới quyền?” nhưng hỏi: “Có bao nhiêu người tôi đang có trách nhiệm phục vụ?” Đừng hỏi: “Người ta có kính tôi không?” nhưng hỏi: “Qua tôi, người ta có cảm được mình được Thiên Chúa quý trọng không?” Đừng hỏi: “Tên tôi có được nhớ không?” nhưng hỏi: “Tên Đức Kitô có được lớn lên không?” Đừng hỏi: “Tôi được gì từ vai trò này?” nhưng hỏi: “Tôi còn có thể trao gì?” Và đến ngày phải rời mọi chức vụ, mọi trách nhiệm, mọi danh xưng, xin cho ta có thể đứng trước Chúa với đôi tay có thể đã mệt mỏi, có thể đầy những dấu tích của hy sinh, nhưng lòng thì bình an, để nghe Người nói rằng: con đã hiểu cái lớn của Nước Trời không nằm ở chỗ được phục vụ, mà ở chỗ con đã biết phục vụ; không nằm ở chỗ người ta cúi đầu trước con, mà ở chỗ con đã biết cúi xuống trước những người bé nhỏ; không nằm ở chiếc ghế con đã từng ngồi, mà ở cây thập giá con đã biết vác vì anh em.
Và khi ấy, ta mới hiểu rằng người lãnh đạo Kitô giáo lớn nhất không phải là người đứng cao nhất, nhưng là người cúi thấp nhất mà vẫn giữ được người khác khỏi ngã; không phải là người có nhiều người phục vụ nhất, nhưng là người sẵn sàng phục vụ nhiều người nhất; không phải là người giữ mạng sống mình thật chặt, nhưng là người biết trao đời mình từng ngày cho những người Thiên Chúa đã gửi đến. Đó là con đường của Đức Giêsu. Đó là con đường của Thập Giá. Và ngoài con đường ấy, người lãnh đạo có thể có quyền lực, nhưng chưa chắc có quyền bính của Tin Mừng.
Lm. Anmai, CSsR

AI MUỐN LÀM LỚN HÃY HỌC CÁCH QUỲ XUỐNG
Tin Mừng: Ga 13,1-15
Có những bài học người ta có thể học trên ghế nhà trường, có những bài học phải học giữa cuộc đời, nhưng cũng có những bài học chỉ có thể học được khi người ta biết quỳ xuống. Và có lẽ, bài học khó nhất đối với con người không phải là học cách đứng lên để mạnh mẽ, không phải học cách bước lên để thành công, cũng không phải học cách ngẩng đầu để được người khác nhìn nhận, nhưng là học cách cúi xuống mà vẫn không thấy mình thấp đi, học cách quỳ xuống mà vẫn không thấy mình mất giá trị, học cách phục vụ mà không cảm thấy mình bị hạ nhục. Đó chính là bài học Đức Giêsu dạy các môn đệ trong Nhà Tiệc Ly. Người không viết bài học ấy trên bảng. Người không giảng bằng những lời cao siêu. Người cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, rồi quỳ xuống trước chân các môn đệ. Và từ giây phút ấy, chiếc chậu nước nhỏ trong căn phòng Tiệc Ly đã trở thành một trong những bục giảng lớn nhất của lịch sử nhân loại. Đôi tay từng làm cho kẻ chết sống lại, từng mở mắt người mù, từng hóa bánh ra nhiều, từng làm biển im sóng lặng, giờ đây lại cầm lấy những bàn chân bụi bặm của các môn đệ mà rửa. Đấng mà Gioan gọi là Ngôi Lời, Đấng bởi Người mà muôn vật được tạo thành, Đấng từ Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa, lại quỳ xuống trước những con người yếu đuối, chậm hiểu, tham vọng, sợ hãi và chẳng bao lâu nữa sẽ bỏ Người mà chạy trốn. Nhìn cảnh ấy, ta mới hiểu tại sao Tin Mừng Gioan mở đầu trình thuật này bằng một câu thật sâu: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” Yêu đến cùng không phải chỉ là yêu nhiều hơn một chút. Yêu đến cùng là yêu không giữ lại. Yêu đến cùng là đi đến tận đáy của sự tự hạ. Yêu đến cùng là quỳ xuống. Và chỉ ít giờ sau, cái quỳ xuống trong Nhà Tiệc Ly sẽ trở thành cái treo mình trên Canvê. Chiếc khăn thắt lưng của người tôi tớ sẽ được thay bằng tấm thân trần trụi trên Thập Giá. Chậu nước rửa chân sẽ được tiếp nối bằng máu và nước chảy ra từ cạnh sườn. Nhà Tiệc Ly và Canvê không phải hai câu chuyện khác nhau. Chỉ là một bài học được viết bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của phục vụ và ngôn ngữ của hiến mạng. Cả hai đều nói cùng một điều: ai thực sự lớn thì biết cúi xuống; ai thực sự yêu thì dám mất mình; ai thực sự thuộc về Đức Kitô thì không sống để được phục vụ nhưng để phục vụ.
Con người từ thuở ban đầu đã bị cám dỗ bởi một giấc mơ: làm lớn. Trong vườn Êđen, con rắn đã thì thầm: “Các ngươi sẽ nên như những vị thần.” Và từ đó, lịch sử nhân loại đầy những cuộc chen lấn để lên cao. Người ta muốn cao hơn người khác về địa vị, giàu hơn về tiền bạc, mạnh hơn về quyền lực, nổi tiếng hơn về danh tiếng, được kính nể hơn trong cộng đồng. Ngay cả trong những môi trường rất thánh thiện, cái khát vọng làm lớn ấy vẫn có thể len vào thật kín đáo. Các môn đệ theo Đức Giêsu ba năm mà vẫn từng tranh luận xem ai là người lớn nhất. Giacôbê và Gioan từng xin được ngồi bên hữu bên tả khi Thầy được vinh quang. Nghĩa là người ta có thể bỏ mọi sự mà theo Chúa nhưng vẫn mang theo trong lòng một ngai vàng nhỏ cho cái tôi của mình. Người ta có thể khoác áo tu trì mà vẫn muốn hơn người. Có thể mang chức vụ phục vụ mà lại thích được phục vụ. Có thể mang danh mục tử mà lại muốn đoàn chiên phải làm cho mình cảm thấy quan trọng. Có thể đứng trên bục giảng nói về khiêm nhường nhưng lại khó chịu khi không được kính trọng. Có thể rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh mà bản thân lại không chấp nhận một lời góp ý, một sự thiệt thòi, một chỗ đứng phía sau. Cái tôi tinh vi lắm. Nó có thể mặc áo đạo đức. Nó có thể dùng cả những điều thánh thiện để nuôi mình. Người ta không còn muốn ngai vàng bằng vàng bạc, nhưng lại muốn ngai vàng bằng tiếng khen. Không đòi người ta quỳ trước mặt mình, nhưng lại muốn người ta luôn phải nhớ đến mình, cảm ơn mình, kính trọng mình, hỏi ý kiến mình. Không mang vương miện trên đầu, nhưng trong lòng vẫn cần được xem là quan trọng. Chính vì thế, Đức Giêsu không chỉ nói với các môn đệ về khiêm nhường. Người làm một điều gây sốc: Người quỳ xuống.
Quỳ xuống trước người khác là điều rất khó. Đứng trên bục thì dễ hơn quỳ dưới chân. Nói thì dễ hơn rửa. Ra lệnh thì dễ hơn làm. Phê bình người khác phục vụ chưa tốt dễ hơn âm thầm làm phần việc không ai muốn làm. Bởi vậy, khi Đức Giêsu quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, Người đang đập vỡ một quan niệm rất cũ của thế gian: người lớn thì phải ở trên, người nhỏ thì phải ở dưới; chủ thì ra lệnh, tôi tớ thì phục vụ; người có chức phải được kính trọng, người không chức mới làm việc thấp hèn. Đức Giêsu đảo ngược tất cả. Người là Thầy mà quỳ xuống trước trò. Người là Chúa mà làm việc của tôi tớ. Người có quyền trên sự sống và sự chết mà lại cúi xuống trước đôi chân dính bụi của những con người đầy bất toàn. Người không mất phẩm giá vì quỳ xuống. Trái lại, chính lúc quỳ xuống, Người cho thấy phẩm giá đích thực của quyền bính. Người không bớt là Chúa khi phục vụ. Trái lại, chính cách Người phục vụ cho biết Thiên Chúa là ai. Thiên Chúa của chúng ta không phải một Thiên Chúa ngồi thật cao để bắt con người bò lên. Người là Thiên Chúa đi xuống. Từ trời xuống thế gian. Từ địa vị Thiên Chúa xuống thân phận con người. Từ người tự do xuống thân phận người tôi tớ. Từ bàn tiệc xuống chân các môn đệ. Từ sự sống xuống tận cái chết. Và từ cái chết xuống tận mồ sâu. Tất cả cuộc đời Đức Giêsu là một chuyển động đi xuống. Nhưng kỳ lạ thay, chính vì Người đi xuống tận cùng nên Chúa Cha đã siêu tôn Người. Con đường của thế gian là trèo lên để trở nên lớn. Con đường của Đức Kitô là đi xuống để trở nên lớn. Thế gian bảo: hãy làm cho người khác phục vụ mình, người ta sẽ biết mình quan trọng. Đức Giêsu bảo: hãy phục vụ người khác, lúc đó anh mới hiểu thế nào là lớn thật.
Phêrô không chịu nổi cảnh ấy: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” Phản ứng của Phêrô rất con người. Ông kính Thầy nên không muốn Thầy hạ mình. Nhưng sâu hơn nữa, Phêrô chưa hiểu cách Thiên Chúa làm lớn. Ông vẫn nghĩ Thiên Chúa phải ở trên. Đức Messia phải quyền lực. Thầy phải được phục vụ. Cũng như trước đây, khi Đức Giêsu báo sẽ lên Giêrusalem chịu đau khổ và chịu chết, Phêrô đã kéo Người ra mà trách. Ông muốn một Đức Kitô không Thập Giá. Bây giờ ông cũng muốn một người Thầy không quỳ xuống. Nhưng Đức Giêsu kiên quyết: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” Câu ấy đáng để chúng ta suy nghĩ rất lâu. Có nghĩa là trước khi học cách rửa chân người khác, ta phải chấp nhận để Chúa rửa chân cho mình. Trước khi học khiêm nhường, phải nhận mình cần được thanh tẩy. Trước khi phục vụ, phải chấp nhận mình là kẻ đã được phục vụ bởi lòng thương xót. Người kiêu ngạo khó phục vụ thật bởi vì trong sâu thẳm họ không chịu nhận mình nghèo. Họ muốn mình là người cho mà không muốn là người nhận. Muốn mình mạnh mà không muốn nhìn nhận yếu đuối. Muốn mình đạo đức mà không muốn đối diện với những góc tối của chính mình. Nhưng người đã thực sự để Đức Kitô cúi xuống rửa những vết bẩn đời mình sẽ bớt khó chịu trước vết bẩn của người khác. Người biết mình đã được tha nhiều sẽ dễ tha. Người biết mình được Chúa kiên nhẫn sẽ dễ kiên nhẫn. Người biết Chúa đã không ghê tởm đôi chân bụi bặm của mình sẽ không dễ khinh bỉ đôi chân bụi bặm của anh em.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là trong số những bàn chân Đức Giêsu rửa tối hôm ấy có cả chân của Giuđa. Người biết rõ Giuđa sẽ phản bội. Người biết bàn chân ấy chút nữa sẽ bước ra khỏi căn phòng, đi vào bóng tối, dẫn quân lính đến bắt Người. Vậy mà Người vẫn rửa. Ta thường dễ cúi xuống trước người ta yêu. Còn cúi xuống trước người làm tổn thương mình thì khó biết bao. Ta có thể phục vụ người biết ơn mình, nhưng phục vụ người vô ơn thì trong lòng bắt đầu tính toán. Ta có thể tốt với người kính trọng mình, nhưng khó dịu dàng với kẻ coi thường mình. Ta có thể giúp người sẽ nhớ ơn, nhưng nếu biết người ấy rồi sẽ quay lại nói xấu, liệu ta còn muốn giúp không? Đức Giêsu biết tất cả mà vẫn rửa. Chính tại đây, tình yêu Kitô giáo đi xa hơn đạo đức tự nhiên. Tình yêu của Đức Kitô không hỏi: “Người này có xứng đáng không?” mà hỏi: “Tôi có muốn yêu như Thầy không?” Tình yêu ấy không tùy vào thái độ của người nhận nhưng tùy vào căn tính của người cho. Đức Giêsu yêu bởi vì Người là tình yêu. Người phục vụ bởi vì Người là Đấng đến để phục vụ. Người tha thứ bởi vì trái tim Người không để sự ác của người khác quyết định cách Người cư xử. Đây là tự do lớn nhất. Người khác có thể đóng đinh Người nhưng không thể bắt Người thù hận. Có thể xúc phạm Người nhưng không thể làm Người ngừng yêu. Có thể phản bội Người nhưng không thể làm Người biến thành kẻ phản bội chính tình yêu của mình.
Và đó chính là điều khó nhất đối với người môn đệ. Chúng ta nhiều khi không làm điều xấu lớn, nhưng lại để thái độ của người khác điều khiển thái độ của mình. Người ta vui với tôi, tôi vui. Người ta lạnh nhạt, tôi lạnh nhạt. Người ta chào, tôi chào. Người ta không chào, lần sau tôi cũng không chào. Người ta nhớ ngày lễ của tôi, tôi nhớ ngày lễ của họ. Người ta quên tôi, tôi cũng để họ ra khỏi cuộc đời. Người ta giúp tôi, tôi giúp lại. Người ta làm tôi đau, tôi giữ trong lòng. Như thế, ta tưởng mình tự do nhưng thật ra đang để người khác cầm remote của trái tim mình. Họ bấm nút nào, ta phản ứng nút ấy. Đức Giêsu thì không như vậy. Giuđa phản bội, Người vẫn rửa chân. Phêrô chối, Người vẫn cầu nguyện cho ông. Các môn đệ bỏ chạy, sau Phục Sinh Người vẫn đến với họ và nói: “Bình an cho anh em.” Những kẻ đóng đinh Người, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó là sức mạnh của Đấng tự hạ. Người quỳ xuống không phải vì yếu. Người cúi xuống bởi vì Người đủ mạnh để không cần bảo vệ cái tôi.
Nhiều người nghĩ khiêm nhường là tự coi mình chẳng ra gì. Không phải. Đức Giêsu biết rất rõ mình là ai. Tin Mừng Gioan nói rõ: “Đức Giêsu biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa.” Chính sau câu ấy, Người đứng dậy, cởi áo ngoài và rửa chân. Nghĩa là Đức Giêsu quỳ xuống không phải vì Người không biết giá trị của mình, mà chính vì Người biết mình là ai nên Người không cần chứng minh gì nữa. Đây là chìa khóa của khiêm nhường. Người thiếu căn tính thường phải tự nâng mình lên. Người không chắc mình có giá trị phải tìm tiếng khen. Người bất an phải đòi người khác kính trọng. Người sợ bị xem thường phải nhắc chức vụ, địa vị, thành tích. Còn người thật sự biết mình được Thiên Chúa yêu thì không cần trèo lên vai ai để thấy mình cao. Người biết mình là con Thiên Chúa có thể quỳ xuống lau chân cho anh em mà lòng vẫn bình an. Khiêm nhường không phải nghĩ mình thấp kém; khiêm nhường là không còn quá bận tâm phải chứng minh mình cao trọng. Bởi vậy, người càng trưởng thành càng bớt nhu cầu khoe. Càng sâu càng ít ồn. Càng có nội lực càng ít phải dùng quyền để bắt người khác phục. Một dòng sông sâu thường chảy êm. Một cành cây càng nhiều trái càng cúi xuống. Một con người càng gần Đức Kitô càng biết cúi đầu.
Bài học này đặc biệt cần cho những ai mang trách nhiệm trong Giáo Hội, trong cộng đoàn, trong gia đình và xã hội. Quyền bính Kitô giáo không bao giờ được hiểu là quyền đứng trên người khác nhưng là trách nhiệm cúi xuống cho người khác được đứng lên. Chúa không trao cho ta một chức vụ để ta có thêm người phục vụ, nhưng để ta có thêm nhiều người phải phục vụ. Càng có trách nhiệm, chiếc khăn phục vụ càng phải dài hơn. Càng ở vị trí cao, càng phải cúi thấp. Người linh mục không được truyền chức để giáo dân chăm sóc mình như một ông quan, nhưng để đời mình được bẻ ra cho đoàn chiên. Người bề trên không được đặt lên để người khác sợ, nhưng để gánh lấy trách nhiệm nặng hơn. Người cha trong gia đình không phải là người ai cũng phải nghe vì ông kiếm tiền, nhưng phải là người dám hy sinh phần tốt nhất cho vợ con. Người mẹ không lớn bởi những lời hy sinh mình kể lại, nhưng bởi những đêm thức mà không ai biết. Người làm lãnh đạo không lớn vì có bao nhiêu người dưới quyền, mà vì có bao nhiêu người nhờ sự lãnh đạo của mình mà được trưởng thành, được tôn trọng và được sống tốt hơn.
Có những người bước vào chức vụ rất đẹp nhưng sau một thời gian chức vụ bước vào họ. Ban đầu họ phục vụ sứ vụ; dần dần họ bắt sứ vụ phục vụ cái tôi. Ban đầu họ muốn làm điều tốt; dần dần họ muốn người khác biết mình làm điều tốt. Ban đầu họ nhận trách nhiệm vì cộng đoàn; dần dần cộng đoàn trở thành nơi để củng cố vị thế. Thế rồi một lời góp ý trở thành xúc phạm, một ý kiến khác trở thành chống đối, một người có khả năng trở thành mối đe dọa. Khi quyền bính tách khỏi chiếc chậu rửa chân, nó rất nhanh biến thành thống trị. Khi chiếc áo chức vụ không đi kèm chiếc khăn thắt lưng, nó trở thành khoảng cách. Đức Giêsu đã đặt chiếc khăn phục vụ bên cạnh mọi chức vụ của Kitô hữu. Ai muốn mặc áo quyền bính của Người mà không muốn cầm khăn của Người thì chưa hiểu Người. Ai muốn ngồi ghế của Người mà không quỳ nơi Người quỳ thì đang tìm một Đức Kitô khác với Đức Kitô của Tin Mừng.
Đôi lúc ta cũng nên tự hỏi: trong đời mình, ta thích cái ghế hay thích chiếc khăn? Ta thích được gọi bằng danh xưng nào, hay thích người khác được nhẹ gánh nhờ ta? Ta vui hơn khi người khác khen mình, hay khi thấy người khác được tốt hơn dù họ chẳng biết công của ta? Ta muốn mình xuất hiện ở đầu bàn hay sẵn sàng ở dưới bếp? Ta muốn người ta hiểu mình hay ta có cố hiểu người khác không? Ta muốn được lắng nghe hay ta chịu khó lắng nghe? Nhiều khi ta nói mình muốn phục vụ Chúa, nhưng cái phục vụ ta tưởng tượng lại rất sang: đứng nói, hướng dẫn, tổ chức, điều hành. Còn những việc nhỏ, lặp đi lặp lại, không ai thấy, không ai vỗ tay thì ta lại ngại. Nhưng chiếc chậu của Đức Giêsu rất bình thường. Rửa chân là công việc thấp hèn nhất. Chính trong những việc nhỏ như vậy, sự thật của tình yêu được thử nghiệm.
Có người thích những Thập Giá lớn nhưng lại không chịu nổi những cái đinh nhỏ. Sẵn sàng nói “con xin dâng đời con cho Chúa” nhưng một người bên cạnh làm ồn một chút là bực. Sẵn sàng đi truyền giáo nơi xa nhưng khó kiên nhẫn với người sống chung nhà. Sẵn sàng làm những chương trình lớn cho người nghèo nhưng lại cộc cằn với người giúp việc. Sẵn sàng giảng về yêu thương nhưng không nói chuyện với một người anh em đã bất hòa mấy năm. Sẵn sàng quỳ trước Thánh Thể một giờ nhưng lại không cúi xuống xin lỗi. Có khi chúng ta quỳ trước Chúa rất dễ nhưng quỳ xuống trước sự thật về chính mình lại khó. Ta quỳ trong nhà thờ nhưng cái tôi vẫn đứng rất thẳng ngoài cuộc đời. Đức Giêsu nối hai điều ấy lại: ai thật sự quỳ trước Thiên Chúa sẽ học cách cúi trước anh em. Không phải cúi để nịnh. Không phải cúi trước cái sai. Không phải hèn nhát. Nhưng cúi để phục vụ, cúi để lắng nghe, cúi để chữa lành, cúi để nâng người khác dậy.
Ngày nay người ta nói nhiều về kỹ năng lãnh đạo. Có vô số sách dạy cách quản trị, tạo ảnh hưởng, truyền cảm hứng, xây dựng đội ngũ. Những điều ấy đều có giá trị. Nhưng Tin Mừng đặt trước mặt ta một câu hỏi căn bản hơn: anh có biết quỳ xuống không? Nếu không biết quỳ xuống, mọi kỹ năng lãnh đạo rất dễ trở thành kỹ thuật khiến người khác phục vụ tham vọng của mình. Một người có thể rất thông minh mà làm cộng đoàn tan nát vì kiêu ngạo. Có thể rất tài tổ chức nhưng khiến người bên cạnh nghẹt thở. Có thể nói rất hay về tình yêu nhưng không biết xin lỗi. Có thể xây được nhà thờ lớn mà không xây nổi sự hiệp nhất. Có thể điều hành hàng nghìn người mà không hiểu nỗi đau của một người đang ngồi trước mặt. Chúa Giêsu không để lại một trường quản trị. Người để lại chiếc chậu, chiếc khăn và Thập Giá.
Nhà Tiệc Ly dẫn thẳng đến Canvê. Nếu chỉ dừng ở rửa chân, ta có thể biến Tin Mừng thành bài học về lịch sự và phục vụ xã hội. Nhưng rửa chân là dấu chỉ của một tình yêu sẽ đi xa hơn nhiều. Khi cúi xuống rửa chân, Đức Giêsu đã diễn trước bằng cử chỉ điều Người sắp làm bằng cả mạng sống. Người sẽ hạ mình xuống tận cùng. Trên Canvê, Người không còn chỉ cởi áo ngoài; người ta lột cả áo Người. Người không còn chỉ cúi xuống; Người bị treo lên. Người không còn chỉ đổ nước vào chậu; máu và nước sẽ chảy từ thân thể Người. Người không chỉ lau bụi khỏi chân con người; Người rửa tội lỗi bằng chính máu mình. Và trên Thập Giá, Người cũng không giữ lại điều gì cho mình. Nhà Tiệc Ly nói: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Canvê trả lời: “Thế là đã hoàn tất.” Hai nơi ấy cùng một tình yêu. Một tình yêu tự hạ đến tận cùng.
Thế nên, bất cứ ai muốn bước theo Đức Kitô đều phải đi ngang Nhà Tiệc Ly và Canvê. Không có môn đệ nào chỉ muốn dự tiệc nhưng không muốn rửa chân. Không có người Kitô hữu trưởng thành nào chỉ muốn nhận Mình Máu Chúa mà không muốn trở thành tấm bánh bị bẻ ra cho anh em. Thánh Thể không kết thúc khi Thánh lễ kết thúc. Khi linh mục nói: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an”, thực ra là lúc chiếc khăn được trao vào tay mỗi người. Anh đã rước một Đấng quỳ xuống, vậy anh hãy đi mà quỳ xuống trước nỗi đau của người khác. Anh đã ăn Tấm Bánh bị bẻ ra, hãy để đời mình được bẻ ra. Anh đã uống Máu của Đấng hiến mạng, đừng sống ích kỷ. Nếu rước lễ nhiều năm mà ta càng ngày càng khó phục vụ, càng tự ái, càng đòi hỏi, càng lạnh lùng, thì phải tự hỏi điều gì đã xảy ra giữa Thánh Thể và trái tim mình.
Nhưng quỳ xuống không dễ. Có những lúc phục vụ không được cảm ơn. Có những hy sinh chẳng ai hiểu. Có những công việc mình làm, người khác nhận công. Có những người ta yêu lại làm ta đau. Có những người ta phục vụ quay lưng. Khi ấy chiếc khăn trở nên nặng. Và đó là lúc Nhà Tiệc Ly phải dẫn ta đến Canvê. Đức Giêsu không chỉ rửa chân cho những môn đệ trung thành. Người rửa chân cho những con người sẽ bỏ Người. Tình yêu của Người không dựa trên thành quả. Người không nói: “Ta sẽ yêu nếu các anh xứng đáng.” Người yêu bởi đó là lựa chọn của Người trước mặt Chúa Cha. Đây là điều rất cần cho những ai phục vụ lâu năm. Ban đầu chúng ta dễ nhiệt tình. Có sức khỏe, có lý tưởng, có người động viên. Nhưng rồi năm tháng qua đi, lời khen bớt đi, hiểu lầm nhiều lên, sức lực giảm xuống, những người mình từng giúp có khi quên mình. Lúc ấy mới biết ta phục vụ ai. Nếu phục vụ để được ghi nhận, ta sẽ cay đắng. Nếu phục vụ để thấy mình cần thiết, ta sẽ buồn khi người khác không cần mình. Nếu phục vụ để xây tên tuổi, ta sẽ ganh khi người khác được khen. Nhưng nếu phục vụ vì Đức Kitô đã quỳ xuống trước mình, ta có thể tiếp tục ngay cả khi chẳng còn ai vỗ tay.
Có một kiểu phục vụ làm người khác mắc nợ mình. Đó chưa phải cách Đức Giêsu phục vụ. Có người làm một việc tốt rồi kể suốt đời. Giúp ai một lần rồi mỗi khi giận lại nhắc: “Ngày xưa không có tôi thì anh…” Hy sinh cho con cái rồi dùng sự hy sinh ấy để kiểm soát cuộc đời con. Làm cho cộng đoàn nhiều rồi nghĩ cộng đoàn phải nghe mình. Dâng cúng nhiều rồi muốn tiếng nói mình nặng hơn. Đó là phục vụ nhưng chiếc khăn đã biến thành sợi dây trói người khác. Đức Giêsu rửa chân rồi mặc áo lại. Người không bắt các môn đệ phải cúi xuống cảm ơn. Người chỉ nói: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” Tình yêu thật trao đi rồi để người kia tự do.
Câu “anh em cũng làm như Thầy đã làm” không có nghĩa Kitô hữu chỉ cần làm nghi thức rửa chân mỗi năm một lần. Nếu thế thì quá dễ. Có thể rửa mười hai đôi chân trong phụng vụ tối Thứ Năm Tuần Thánh mà cả năm chẳng muốn phục vụ ai. Chiếc chậu thật mà Đức Giêsu đặt trước mặt ta mỗi ngày chính là những tình huống rất bình thường. Đó có thể là một người già cần được lắng nghe dù câu chuyện họ đã kể mười lần. Một người bệnh cần ta chăm sóc khi cơ thể họ không còn sạch sẽ. Một đứa trẻ cần ta ngồi xuống ngang tầm mắt thay vì chỉ quát từ trên cao. Một người anh em đang phạm lỗi cần được sửa trong tình thương chứ không bị bêu xấu. Một người cộng sự kém hơn ta cần được kiên nhẫn hướng dẫn. Một người từng làm ta tổn thương đang cần một cơ hội làm lại. Một công việc chẳng ai muốn làm. Một lời xin lỗi ta biết mình phải nói. Một cuộc điện thoại ta trì hoãn vì tự ái. Một chén cơm đem đến cho người nghèo. Một đêm thức với người đau bệnh. Một lần nhường phần hơn cho người khác. Những điều ấy là chậu nước của thời đại hôm nay.
Lạ thay, người quỳ xuống phục vụ thường lại là người đứng rất cao trong lòng người khác. Có những người cả đời chẳng giữ chức vụ lớn nhưng khi mất đi ai cũng khóc. Bởi họ đã sống cho người khác. Có những bà mẹ chẳng có bằng cấp nào treo trên tường nhưng cả gia đình đứng vững nhờ những năm tháng bà âm thầm hy sinh. Có những linh mục chẳng nổi tiếng, bài giảng không bao giờ lên mạng, nhưng mấy chục năm ngồi tòa giải tội, thăm bệnh, chôn người chết, nâng những gia đình tan vỡ, và khi các ngài qua đời, dân Chúa nhớ bằng nước mắt. Có những tu sĩ chẳng ai biết tên nhưng cả cuộc đời ở bên người bệnh, trẻ khuyết tật, người hấp hối. Họ không “làm lớn” theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng trước mặt Thiên Chúa, có lẽ họ rất lớn. Bởi Nước Trời có một thước đo rất lạ: chiều cao của một người được đo bằng mức độ người ấy biết cúi xuống.
Cũng đừng quên rằng cúi xuống không có nghĩa dung túng cái xấu. Đức Giêsu rửa chân cho Giuđa nhưng vẫn nói sự thật về phản bội. Người yêu Phêrô nhưng cũng sửa Phêrô rất mạnh. Khiêm nhường không phải không có chính kiến. Phục vụ không phải để người khác thao túng. Yêu thương không phải đồng ý với mọi sự. Đức Giêsu cúi xuống nhưng không đánh mất sự thật. Ngài dịu dàng nhưng không yếu đuối. Ngài tự hạ nhưng không tự hủy. Đây cũng là điều người Kitô hữu phải học. Có lúc phục vụ là cho. Có lúc phục vụ là nói “không”. Có lúc yêu là ôm lấy. Có lúc yêu là sửa dạy. Có lúc khiêm nhường là im lặng. Có lúc khiêm nhường là can đảm nói điều cần nói mà không tìm lợi cho mình. Quan trọng không phải dáng vẻ bên ngoài, nhưng trái tim có thật sự tìm điều tốt cho người kia hay chỉ bảo vệ cái tôi của mình.
Có lẽ mỗi người nên có một “Nhà Tiệc Ly” trong tâm hồn, nơi ta để Chúa cởi bỏ những lớp áo danh dự mà ta quá bám víu, tháo chiếc đai tự ái, trao vào tay ta chiếc khăn của người tôi tớ. Có những lớp áo ta mặc lâu đến mức tưởng đó là con người thật: áo thành công, áo chức vụ, áo uy tín, áo học vấn, áo đạo đức, áo “tôi đã phục vụ lâu năm”, áo “không có tôi thì công việc này không chạy”. Chúa phải cởi từng lớp ấy để ta trở lại thành một người môn đệ. Sau cùng, trong Nước Trời, Chúa không hỏi ta đã ngồi ghế nào, mà hỏi ta đã rửa chân cho ai. Không hỏi có bao nhiêu người biết tên ta, mà hỏi bao nhiêu người đã cảm nhận lòng thương xót của Người nhờ đời ta. Không hỏi ta đã nói bao nhiêu bài hay, mà hỏi lời nói ấy có trở thành phục vụ không. Không hỏi ta được kính trọng ra sao, mà hỏi ta đã kính trọng những người bé mọn thế nào.
Một ngày kia, tất cả những danh xưng của ta sẽ rơi xuống. Chức vụ sẽ trao cho người khác. Căn phòng ta ở sẽ có người khác ở. Chiếc ghế ta thường ngồi sẽ có người khác ngồi. Những công việc ta nghĩ không thể thiếu mình rồi cũng tiếp tục mà không có ta. Những người từng gọi ta mỗi ngày rồi cũng sẽ quen với sự vắng mặt của ta. Đời người ngắn lắm. Vì thế thật đáng tiếc nếu ta mất quá nhiều thời gian để tranh hơn thua, giữ sĩ diện, giành chỗ, tích lũy ảnh hưởng, rồi cuối cùng đi vào lòng đất với hai bàn tay trắng. Điều còn lại không phải ta đã đứng cao đến đâu, nhưng đã cúi xuống sâu đến mức nào vì yêu.
Có lẽ điều đẹp nhất của một đời người là đến lúc cuối đời có thể nói: tôi đã cố làm cho vài người bớt khổ vì sự hiện diện của tôi. Tôi đã lau được vài giọt nước mắt. Tôi đã tha thứ vài món nợ. Tôi đã đỡ vài người đứng dậy. Tôi đã không để quyền lực làm mình cứng. Tôi đã không để vết thương biến mình thành người cay nghiệt. Tôi đã đi qua cuộc đời với một chiếc khăn trong tay hơn là một chiếc vương miện trên đầu. Nếu được như thế, đời ấy không uổng.
Nhà Tiệc Ly rồi sẽ im tiếng. Các môn đệ sẽ đi vào đêm tối. Giuđa sẽ bước ra. Phêrô sẽ chối Thầy. Đức Giêsu sẽ bị bắt. Và sáng hôm sau, Người sẽ bị treo trên Canvê. Nhưng bài học của chậu nước vẫn còn đó. Trên Thập Giá, Đức Giêsu tiếp tục quỳ xuống theo một cách khác: Người để tình yêu xuống tận đáy đau khổ của con người. Thập Giá chính là tư thế quỳ sâu nhất của Thiên Chúa trước nhân loại. Thiên Chúa không cúi xuống để thần phục con người, nhưng cúi xuống để nâng con người lên. Đấng vô tội xuống tận nơi của tội nhân. Đấng sống xuống tận cõi chết. Đấng giàu sang trở nên nghèo khó. Đấng được các thiên thần thờ lạy để con người nhổ vào mặt. Và tất cả chỉ vì một điều: Người yêu.
Nhìn lên Đức Kitô ấy, người Kitô hữu không thể tiếp tục mơ một đời sống chỉ toàn được kính trọng. Người linh mục nhìn lên Người không thể chỉ muốn đoàn chiên chăm sóc mình mà quên rằng đời linh mục là đời được đặt dưới chân dân Chúa để rửa những bụi đường của họ bằng lời tha thứ, bằng các Bí tích, bằng sự hiện diện, bằng hy sinh. Người tu sĩ nhìn lên Người không thể biến lời khấn thành một địa vị thiêng liêng. Người giáo dân nhìn lên Người không thể mang tinh thần tranh hơn thua vào gia đình, giáo xứ, hội đoàn. Tất cả chúng ta đều cần trở về với chiếc chậu của Nhà Tiệc Ly.
Giáo Hội đẹp nhất không phải khi có nhiều quyền lực, nhưng khi quỳ xuống bên những vết thương của nhân loại. Giáo Hội đáng tin nhất không phải khi nói lớn nhất, mà khi phục vụ âm thầm nhất. Một giáo xứ đẹp không chỉ vì nhà thờ lớn, nhưng vì người nghèo không bị bỏ quên. Một cộng đoàn mạnh không chỉ vì tổ chức giỏi, nhưng vì người yếu được tôn trọng. Một gia đình thánh không phải gia đình không có xung đột, nhưng là nơi người ta biết ai sẽ là người cúi xuống trước để làm hòa. Một linh mục đáng kính không phải vì ai cũng sợ, nhưng vì người đau khổ dám tìm đến. Một Kitô hữu trưởng thành không phải vì thuộc nhiều kinh, mà vì biết quỳ xuống trước nỗi đau người khác.
Và đôi khi, điều cứu một gia đình không phải một lý luận đúng mà là một người chịu cúi xuống trước. Điều cứu một cuộc hôn nhân không phải ai thắng cuộc tranh cãi mà là ai dám nói: “Anh xin lỗi”, “Em xin lỗi”. Điều cứu một cộng đoàn không phải tìm ra ai sai nhiều hơn, mà là có người đủ lớn để thôi nuôi tự ái. Điều chữa một tình bạn không phải lật lại hồ sơ cũ mà là một người đặt chiếc chậu xuống và nói: “Chúng ta làm lại.” Người đời có thể bảo người ấy thua. Tin Mừng nói người ấy đang lớn.
“Ai muốn làm lớn hãy học cách quỳ xuống.” Không phải quỳ trước tiền. Không phải quỳ trước quyền lực. Không phải quỳ vì sợ con người. Nhưng quỳ như Đức Giêsu: quỳ bởi yêu. Quỳ để lau một đôi chân mỏi. Quỳ để nâng một người ngã. Quỳ để xin lỗi. Quỳ để cầu nguyện. Quỳ để phục vụ. Quỳ trước Thánh Thể để rồi có sức cúi xuống trước con người. Và đến cuối cùng, ta sẽ khám phá nghịch lý đẹp nhất của Tin Mừng: người quỳ thấp nhất vì yêu lại là người đứng gần Chúa nhất.
Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ ngưỡng mộ cảnh Người rửa chân, nhưng để cảnh ấy làm mình khó chịu một chút, bởi Tin Mừng thật luôn làm cái tôi khó chịu. Xin Người chỉ cho ta thấy đôi chân nào đang ở trước mặt ta mà lâu nay ta tránh né. Có thể là đôi chân của cha mẹ già. Của người phối ngẫu đang mỏi mệt. Của đứa con đang cần được hiểu. Của người anh em ta không thích. Của một người nghèo. Của một bệnh nhân. Của một người từng làm ta tổn thương. Của chính cộng đoàn mà đôi khi ta muốn được phục vụ hơn là phục vụ. Xin Chúa trao lại cho mỗi người chiếc khăn của Người.
Và mai đây, khi đời ta khép lại, ước gì Chúa không cần tìm trên đầu ta một vương miện, nhưng thấy trong tay ta một chiếc khăn đã cũ vì dùng nhiều. Không cần thấy đôi chân ta đã leo lên bao nhiêu bậc cao, nhưng thấy đầu gối ta đã chai đi vì cầu nguyện và phục vụ. Không cần thấy bao nhiêu người từng đứng dưới ta, nhưng thấy bao nhiêu người đã được ta nâng dậy. Bởi cuối cùng, trước mặt Đấng đã quỳ xuống rửa chân cho nhân loại và đã dang tay chết trên Thập Giá, chỉ có một kiểu lớn lao đáng kể: lớn trong tình yêu.
Nhà Tiệc Ly và Canvê chỉ là một bài học. Ở Nhà Tiệc Ly, Chúa quỳ xuống. Trên Canvê, Chúa bị nâng lên. Nhưng cả hai nơi, Người đều ở vị trí của kẻ tự hiến. Và nếu ta hỏi đâu là ngai của Vua Giêsu, câu trả lời là Thập Giá. Nếu hỏi đâu là vương miện của Người, đó là vòng gai. Nếu hỏi đâu là quyền trượng, đó là cây sậy người ta nhét vào tay Người. Nếu hỏi đâu là cung điện, đó là nơi những kẻ bị bỏ rơi tìm được chỗ trong trái tim Người. Và nếu hỏi đâu là con đường để người môn đệ trở nên lớn, Chúa lại chỉ về chiếc chậu nước trong Nhà Tiệc Ly mà nói: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.”
Xin cho ta nhớ điều đó mỗi khi lòng muốn được hơn. Xin nhớ chiếc chậu khi muốn tranh ghế. Nhớ chiếc khăn khi muốn giữ sĩ diện. Nhớ đôi chân các môn đệ khi muốn khinh người. Nhớ Giuđa khi không muốn yêu kẻ làm ta đau. Nhớ Phêrô khi thấy người khác yếu đuối. Nhớ Canvê khi thấy phục vụ quá nặng. Và nhớ Đức Kitô: Đấng lớn nhất đã chọn chỗ thấp nhất.
Bởi trong Nước của Người, con đường đi lên luôn bắt đầu bằng một động tác đi xuống.
Ai muốn làm lớn, hãy học cách quỳ xuống.
Lm. Anmai, CSsR

TỪ CHẬU NƯỚC ĐẾN THẬP GIÁ
Tin Mừng: Ga 13,1-15
Có những điều lớn lao trong cuộc đời không bắt đầu bằng những tiếng động lớn. Có những hy sinh làm thay đổi cả một đời người lại được chuẩn bị từ những việc nhỏ bé đến mức chẳng ai để ý. Có những tình yêu cuối cùng có thể chết cho người mình yêu, bởi vì trước đó tình yêu ấy đã biết cúi xuống, biết nhường phần hơn, biết chịu thiệt, biết rửa một đôi chân bụi bặm, biết làm một công việc chẳng ai muốn làm. Tin Mừng Gioan đưa chúng ta vào Nhà Tiệc Ly trong một giờ phút vô cùng đặc biệt. Chỉ còn một khoảng rất ngắn nữa thôi Đức Giêsu sẽ bước vào cuộc thương khó. Giuđa đã mang trong lòng ý định phản bội. Phêrô rồi sẽ chối Thầy. Các môn đệ rồi sẽ bỏ chạy. Bóng tối đang kéo xuống. Thập Giá đã ở rất gần. Nhưng giữa giờ phút ấy, Đức Giêsu không đọc một bài diễn văn hùng hồn về lòng trung thành, Người cũng không kể công mình đã làm cho các môn đệ, không trách móc vì họ chẳng hiểu gì, không nhắc họ rằng Người sắp chết vì họ. Người lặng lẽ đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu rồi cúi xuống rửa chân cho từng người. Một Thiên Chúa quỳ xuống trước con người. Một người Thầy quỳ trước môn đệ. Một vị Chúa làm công việc của người đầy tớ. Một đôi tay đã chữa lành bao người bệnh, đã làm cho người mù được thấy, người què được đi, người chết sống lại, giờ đây cầm lấy những bàn chân đầy bụi đường của những con người yếu đuối. Thật lạ lùng. Trước khi để đôi tay mình bị đóng đinh vào Thập Giá, Đức Giêsu dùng chính đôi tay ấy để rửa chân. Trước khi máu và nước chảy ra từ cạnh sườn, Người đổ nước vào một chiếc chậu nhỏ. Trước khi thân mình bị lột trần trên đồi Canvê, Người cởi áo ngoài trong Nhà Tiệc Ly. Trước khi bị hạ xuống đến tận cùng trong cái chết, Người đã tự hạ mình trong một cử chỉ phục vụ rất đỗi bình thường. Nhà Tiệc Ly đã âm thầm báo trước Canvê. Chậu nước đã âm thầm báo trước Thập Giá. Cái quỳ xuống đã báo trước cái chết. Và khăn thắt lưng của người tôi tớ đã báo trước tấm thân của Con Thiên Chúa được trao hiến cho nhân loại.
Có lẽ chúng ta vẫn thường nghĩ yêu lớn là phải làm những việc lớn. Chúng ta thích nghĩ đến những hy sinh phi thường, những chọn lựa anh hùng, những việc khiến người khác phải cảm phục. Nhưng Đức Giêsu cho chúng ta thấy một con đường khác. Tình yêu lớn được hình thành trong những phục vụ rất nhỏ. Không ai có thể một ngày bỗng dưng chết cho người khác nếu suốt một đời họ chỉ biết sống cho mình. Không ai có thể bước lên Thập Giá nếu trong những ngày thường họ chưa từng học cúi xuống. Không ai có thể hiến mạng sống nếu chưa từng biết hiến một chút thời gian. Không ai có thể trao cả đời mình nếu chưa từng chịu mất một chút tiện nghi. Không ai có thể nói “này là mình Thầy, hiến tế vì anh em” nếu trước đó chưa từng biết cầm chiếc chậu nước và chiếc khăn phục vụ những người bên cạnh. Thập Giá không mọc lên trong một ngày. Thập Giá được chuẩn bị từ từng lần ta hy sinh nhỏ bé. Từ một lần nhịn một câu nóng giận. Từ một lần chịu khó ngồi nghe người khác nói dù mình đang mệt. Từ một lần bỏ điện thoại xuống để nhìn vào khuôn mặt của người thân. Từ một lần đi thăm một người đau yếu. Từ một lần rửa chén thay cho người khác mà không kể công. Từ một lần thức đêm bên một người bệnh. Từ một lần xin lỗi trước dù mình vẫn còn thấy mình có lý. Từ một lần tha thứ khi lòng còn đau. Từ một lần im lặng để giữ bình an cho gia đình. Từ một lần nhận phần thiệt để người khác bớt khổ. Những điều ấy nhỏ thôi, nhưng chính những điều nhỏ ấy đang tập cho trái tim biết yêu. Một ngày nào đó, nếu Chúa đòi một hy sinh lớn, người đã quen phục vụ từ những điều nhỏ sẽ có sức để bước tiếp. Còn người cả đời chỉ giữ lấy mình, chỉ lo phần mình, chỉ tìm sự dễ chịu cho mình, rất khó có thể một ngày bỗng nhiên trở thành người dám hiến mình.
Cử chỉ rửa chân của Đức Giêsu còn chạm vào một căn bệnh rất sâu của con người: chúng ta thích được phục vụ hơn là phục vụ. Ngay trong bữa ăn cuối cùng, các môn đệ vẫn có thể mang trong lòng câu hỏi ai là người lớn nhất. Con người muôn đời vẫn thế. Ta thích đứng trên hơn đứng dưới. Thích được người khác nhắc tên hơn âm thầm làm việc. Thích ngồi ghế danh dự hơn đứng phía sau. Thích người ta biết mình đã hy sinh hơn là hy sinh mà chẳng ai hay. Thích người khác cúi xuống trước mình hơn là mình cúi xuống trước người khác. Nhưng Đức Giêsu đảo ngược tất cả. Trong Nước Thiên Chúa, người lớn nhất lại là người biết phục vụ. Người đứng đầu phải là người biết cúi xuống. Người có quyền không phải để bắt người khác hầu hạ mình mà để mình có nhiều khả năng hơn mà phục vụ người khác. Điều này khó lắm. Nó khó không phải vì ta không hiểu, mà vì cái tôi trong ta không muốn. Cái tôi thích được trọng vọng. Cái tôi thích được công nhận. Cái tôi thích có tiếng nói cuối cùng. Cái tôi thích người khác theo ý mình. Cái tôi rất sợ phải cúi xuống. Chính vì thế, rửa chân không khó ở chậu nước, mà khó ở lòng mình. Cúi lưng không khó bằng cúi cái tôi. Cầm khăn không khó bằng buông tự ái. Quỳ xuống bằng đầu gối không khó bằng quỳ xuống trong lòng. Có người có thể làm rất nhiều việc phục vụ nhưng lòng vẫn đứng thẳng kiêu hãnh. Họ phục vụ nhưng muốn người ta biết. Họ hy sinh nhưng muốn người khác mang ơn. Họ cho đi nhưng muốn được nhắc tên. Họ làm điều tốt nhưng khó chịu khi không được cảm ơn. Đó chưa phải là tinh thần của Đức Giêsu. Người rửa chân mà không chờ ai khen. Người cúi xuống trước cả những người lát nữa sẽ bỏ Người mà chạy. Người rửa chân cho Phêrô, người sẽ chối Người ba lần. Và theo cách kể của Gioan, Giuđa vẫn còn hiện diện trong bữa ăn ấy. Điều đó có nghĩa là Đức Giêsu đã có thể cúi xuống trước cả bàn chân của kẻ đang chuẩn bị phản bội mình. Nếu đúng như thế, thì đây là một trong những điều làm ta nghẹn lòng nhất trong Tin Mừng. Người biết người ấy sẽ làm gì, nhưng vẫn phục vụ. Người biết mình sẽ bị tổn thương, nhưng vẫn yêu. Người biết tình yêu của mình sẽ bị phản bội, nhưng vẫn không rút lại tình yêu.
Chúng ta thường nói rằng mình chỉ có thể tốt với người tốt với mình. Ta dễ phục vụ người ta thương. Ta dễ hy sinh cho người biết ơn. Ta dễ làm việc cho người trân trọng mình. Nhưng tình yêu của Đức Kitô đi xa hơn thế. Người cúi xuống trước những bàn chân không xứng đáng. Và có lẽ chính lúc ấy Người đang dạy các môn đệ rằng tình yêu Kitô giáo không phải là trao đổi công bằng: anh tốt với tôi thì tôi tốt với anh. Tình yêu Kitô giáo là yêu vì ta đã được Chúa yêu. Phục vụ vì Chúa đã phục vụ ta. Tha thứ vì Chúa đã tha thứ cho ta. Cúi xuống vì Chúa đã cúi xuống trước ta. Nếu chỉ yêu những người dễ thương, ta chưa cần đến Tin Mừng. Người đời cũng làm được như thế. Tin Mừng bắt đầu trở nên thật trong ta khi ta vẫn có thể làm một điều tốt cho người đã làm ta buồn, vẫn có thể cầu nguyện cho người khiến ta tổn thương, vẫn có thể giữ lòng không độc ác với người đã đối xử bất công. Điều ấy không có nghĩa là dung túng cái xấu hay để người khác chà đạp mình. Nhưng nó có nghĩa là ta không cho phép cái xấu của người khác biến lòng mình thành xấu. Đức Giêsu không để sự phản bội của Giuđa làm Người thôi yêu. Người không để sự yếu đuối của Phêrô làm Người thôi phục vụ. Người không để sự chậm hiểu của các môn đệ làm Người thôi kiên nhẫn. Đó mới là tự do của tình yêu.
Phêrô không chịu nổi cảnh ấy. Ông thốt lên: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” Chúng ta có thể hiểu Phêrô. Ông cảm thấy mọi trật tự bị đảo lộn. Thầy phải ngồi trên, trò phải đứng dưới. Chúa phải được phục vụ, con người phải phục vụ Chúa. Nhưng Đức Giêsu trả lời rằng nếu Người không rửa cho Phêrô thì Phêrô không được chung phần với Người. Nghĩa là trước khi học phục vụ, ta phải học để cho Chúa phục vụ ta. Trước khi ta nghĩ mình có thể yêu người khác, ta phải khiêm nhường nhận ra mình là kẻ đã được yêu trước. Nhiều người sống đạo nhưng sâu trong lòng vẫn muốn tự cứu mình. Họ muốn làm điều tốt để chứng minh mình tốt. Họ muốn giữ đạo để thấy mình hơn người. Họ muốn phục vụ để cảm thấy mình có giá trị. Nhưng Tin Mừng bắt đầu ở chỗ ta để Đức Giêsu quỳ xuống trước đời mình, chạm vào những phần bụi bặm nhất của mình, rửa sạch những gì ta xấu hổ nhất. Có khi điều khó nhất không phải là phục vụ người khác mà là thú nhận rằng chính mình cần được Chúa rửa. Ta muốn giữ hình ảnh đẹp về mình. Ta muốn nghĩ mình mạnh mẽ, đạo đức, ngay thẳng. Nhưng Chúa biết đôi chân ta đầy bụi. Chúa biết những ích kỷ ta che giấu. Chúa biết những tự ái nhỏ nhen. Chúa biết những ghen tị, cay cú, bất mãn, những lần ta nói lời làm người khác đau. Và Người không đứng xa để kết án. Người cầm chậu nước đến gần. Người nói như với Phêrô: cứ để Thầy rửa cho con. Có lẽ đời sống thiêng liêng trưởng thành bắt đầu từ giây phút ta không còn giả vờ sạch trước mặt Chúa nữa.
Sau khi rửa chân xong, Đức Giêsu trở lại bàn và hỏi: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” Có lẽ các môn đệ hiểu rất ít. Mãi đến sau Phục Sinh họ mới bắt đầu hiểu. Và chúng ta hôm nay cũng có thể nghe Tin Mừng này biết bao lần nhưng vẫn chưa thực sự hiểu. Bởi vì hiểu ở đây không phải bằng trí óc mà bằng đời sống. Ta chỉ hiểu rửa chân khi ta bắt đầu rửa chân cho nhau. Ta chỉ hiểu Thập Giá khi ta bắt đầu chịu mất mình vì người khác. Ta chỉ hiểu tình yêu của Chúa khi ta để tình yêu ấy biến thành cách ta sống. “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” Chúa không nói: anh em hãy cảm động trước việc Thầy làm. Chúa không nói: anh em hãy viết sách về việc rửa chân. Chúa không nói: anh em hãy tổ chức những nghi thức thật đẹp để tưởng nhớ. Người nói: “Anh em cũng làm như Thầy.” Đó là điểm chúng ta phải tự hỏi mình. Trong gia đình tôi, tôi đã rửa chân cho ai? Trong cộng đoàn tôi, ai là người tôi đang né tránh phục vụ? Trong giáo xứ, trong hội đoàn, trong đời sống tu trì, có phải tôi chỉ thích những công việc được nhìn thấy còn những việc âm thầm thì tôi đẩy cho người khác? Có phải tôi thích giảng về phục vụ hơn là thực sự phục vụ? Có phải tôi có thể nói rất hay về khiêm nhường nhưng lại dễ tổn thương khi người khác không tôn trọng mình? Có phải tôi mang danh người môn đệ của Đấng quỳ xuống nhưng lòng tôi lại luôn muốn đứng cao hơn anh em?
Đối với đời linh mục và đời thánh hiến, chậu nước trong Nhà Tiệc Ly là một hình ảnh không thể bỏ qua. Người linh mục có thể cử hành Thánh lễ mỗi ngày, có thể nâng chén thánh lên trước cộng đoàn, nhưng nếu không biết cầm chậu nước thì dần dần sẽ xa căn tính của Thầy mình. Chiếc áo lễ đẹp không thể thay thế chiếc khăn phục vụ. Bàn thờ không tách khỏi chậu nước. Thánh Thể không tách khỏi việc cúi xuống. Chức thánh không làm ta cao hơn người khác, nhưng làm ta mắc nợ họ nhiều hơn. Được trao nhiều hơn nghĩa là phải phục vụ nhiều hơn. Người mục tử không được sinh ra để đoàn chiên chăm sóc mình, nhưng để mình chăm sóc đoàn chiên. Có những lúc phục vụ rất âm thầm: nghe một người già kể đi kể lại một câu chuyện cũ; ngồi bên một người đau bệnh chẳng còn nói được; kiên nhẫn với một người khó tính; trả lời một cuộc điện thoại vào lúc mình muốn nghỉ; thăm một gia đình nghèo chẳng có gì để đáp lại; nâng đỡ một người vừa vấp ngã mà dư luận đang lên án; giải tội cho một hối nhân lặp lại những yếu đuối quen thuộc; cử hành một thánh lễ nhỏ chẳng có ai chụp hình; làm những điều không bao giờ được đăng lên đâu cả. Đó chính là chậu nước. Và ai trung thành với chậu nước thì sẽ hiểu Thập Giá hơn. Trái lại, nếu người môn đệ chỉ tìm những gì làm mình nổi bật, chỉ thích nơi đông người, chỉ thích việc có tiếng vang, chỉ muốn được kính trọng, thì rất dễ có một khoảng cách đáng sợ giữa bàn thờ mình đứng và Đức Kitô mình rao giảng.
Trong đời sống gia đình cũng vậy. Tình yêu vợ chồng không được giữ bền bởi những lời hứa lớn trong ngày cưới mà chủ yếu bởi hàng ngàn “chậu nước” nhỏ mỗi ngày. Một người chồng biết đỡ vợ một công việc nhỏ khi vợ mệt. Một người vợ biết kiên nhẫn với chồng trong một ngày anh căng thẳng. Một người biết nói “thôi, để anh làm”, “để em lo”, “em nghỉ đi”, “anh xin lỗi”, “em đừng buồn nữa”. Những câu rất nhỏ mà có thể cứu một mái nhà. Có những cuộc hôn nhân không tan vỡ vì thiếu những điều lớn, mà vì người ta đã lâu không còn làm những điều nhỏ cho nhau. Lâu không hỏi nhau có mệt không. Lâu không pha cho nhau một ly nước. Lâu không chờ nhau ăn cơm. Lâu không nhìn nhau bằng ánh mắt dịu dàng. Lâu không chịu nhường nhau một lời. Rồi một ngày cả hai đều nói: tình yêu đâu mất rồi? Thật ra tình yêu không mất trong một ngày. Nó khô dần vì chiếc chậu nước đã bị bỏ quên. Người ta muốn hoa nhưng không tưới cây. Muốn hạnh phúc nhưng không phục vụ. Muốn được yêu nhưng quên yêu. Muốn người kia thay đổi nhưng không chịu thay đổi mình. Từ Nhà Tiệc Ly, Đức Giêsu nói với mọi gia đình rằng: muốn đi cùng nhau đến cuối đời, hãy học cúi xuống mỗi ngày.
Cha mẹ cũng rửa chân cho con cái qua vô vàn việc không ai kể hết được. Bao đêm mất ngủ. Bao bữa ăn nhường phần ngon cho con. Bao năm làm việc vất vả. Bao lần lo lắng khi con đau bệnh. Bao giọt nước mắt khi con hư hỏng. Có những người mẹ cả đời chẳng nói được câu nào lớn lao về tình yêu, nhưng đôi bàn tay chai sần đã là một bài giảng dài. Có những người cha ít lời, nhưng suốt mấy chục năm sáng đi tối về, chịu cực để con được học hành. Đó là chậu nước. Và có những người con chỉ khi cha mẹ già yếu mới bắt đầu hiểu rằng ngày xưa mình đã được rửa chân biết bao lần mà không hay. Khi còn bé, ta nghĩ mọi điều cha mẹ làm cho mình là đương nhiên. Khi lớn lên mới hiểu chẳng có tình yêu nào là đương nhiên cả. Mọi yêu thương đều có giá của nó. Đằng sau một bữa cơm nóng có mồ hôi. Đằng sau một mái nhà có hy sinh. Đằng sau một đời con lớn lên bình an có một đời cha mẹ lặng lẽ nhỏ đi.
Nhưng rồi sẽ đến lúc vai trò đổi lại. Cha mẹ từng rửa chân cho con, một ngày con phải rửa chân cho cha mẹ. Khi cha mẹ già, đi chậm, nói chậm, nhớ trước quên sau, chính là lúc người con được trao chiếc khăn của Nhà Tiệc Ly. Có người rất thành công ngoài xã hội nhưng lại thiếu kiên nhẫn với cha mẹ già. Có người nói chuyện với khách hàng rất nhẹ nhàng nhưng về nhà lại gắt gỏng với mẹ. Có người chi tiêu rất rộng cho bản thân nhưng cân nhắc từng đồng khi cha mẹ cần thuốc. Chúng ta có thể làm nhiều việc đạo đức, nhưng Đức Giêsu sẽ hỏi rất cụ thể: con đã rửa chân cho những người gần con nhất chưa? Đôi khi cái chậu nước Chúa đặt trước mặt ta không ở đâu xa. Nó nằm ngay trong căn bếp nhà mình, bên giường một người bệnh, trong căn phòng của cha mẹ già, trong tiếng khóc của một đứa trẻ, trong sự mệt mỏi của người bạn đời.
“Từ chậu nước đến Thập Giá” cũng là con đường của mọi tình yêu thật. Người ta không thể yêu mà không bị phiền. Không thể yêu mà không mất thời gian. Không thể yêu mà lúc nào cũng giữ nguyên chương trình của mình. Không thể yêu mà không bao giờ chịu thiệt. Tình yêu nào cũng có giá. Nếu ta chỉ yêu khi thuận tiện thì đó chưa phải tình yêu trưởng thành. Nhiều người ngày nay muốn một tình yêu không làm mình mệt, một gia đình không có hy sinh, một cộng đoàn không có người khó chịu, một ơn gọi không có thập giá. Nhưng những thứ ấy không có thật. Yêu là cho người khác quyền làm xáo trộn cuộc đời mình. Một đứa con ra đời là chương trình của cha mẹ thay đổi. Một người bệnh xuất hiện là giờ giấc của cả nhà thay đổi. Một người anh em gặp khủng hoảng là mình phải dừng công việc để lắng nghe. Một người cần mình là kế hoạch của mình có thể phải nhường chỗ. Đức Giêsu đã để cuộc đời mình hoàn toàn bị “xáo trộn” bởi con người. Người đang yên thì đám đông kéo tới. Người muốn nghỉ thì người bệnh tìm đến. Người lên núi cầu nguyện thì các môn đệ cần Người. Cuối cùng, nhân loại tội lỗi đưa Người lên Thập Giá. Và Người vẫn yêu đến cùng.
Gioan mở đầu trình thuật này bằng một câu rất đẹp: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” “Đến cùng” nghĩa là đến tận giới hạn cuối cùng của tình yêu. Không phải yêu khi còn vui. Không phải yêu khi còn được đáp lại. Không phải yêu cho đến khi bị phản bội rồi thôi. Không phải phục vụ cho đến khi bị hiểu lầm rồi nghỉ. Người yêu đến cùng. Chậu nước là tình yêu đến cùng trong việc nhỏ. Thập Giá là tình yêu đến cùng trong việc lớn. Nhưng bản chất chỉ là một: tự hiến. Điều Đức Giêsu làm trong Nhà Tiệc Ly và điều Người làm trên Canvê không phải hai câu chuyện khác nhau. Là cùng một Trái Tim. Trong Nhà Tiệc Ly, Người cúi xuống thấp. Trên Canvê, Người bị nâng lên cao. Nhưng cả hai đều là sự tự hạ của tình yêu. Trong Nhà Tiệc Ly, Người rửa chân bằng nước. Trên Canvê, Người rửa sạch nhân loại bằng máu. Trong Nhà Tiệc Ly, Người cởi áo ngoài. Trên Canvê, Người bị lột cả áo. Trong Nhà Tiệc Ly, Người thắt khăn của người tôi tớ. Trên Canvê, Người mang lấy hình hài của kẻ bị loại trừ. Trong Nhà Tiệc Ly, Người phục vụ từng môn đệ. Trên Canvê, Người hiến mạng cho mọi người.
Và vì thế, nếu chúng ta muốn biết mình có thực sự đi theo Đức Kitô chịu đóng đinh hay không, hãy nhìn vào cách mình sống những việc nhỏ. Đừng chỉ nhìn vào những giờ cầu nguyện sốt sắng. Đừng chỉ nhìn vào chức vụ, danh xưng, công việc tông đồ hay những lời đẹp ta nói. Hãy nhìn xem ta đối xử thế nào với người làm việc chung khi họ phạm lỗi. Hãy nhìn cách ta nói với người phục vụ mình. Hãy nhìn cách ta cư xử với người nghèo. Hãy nhìn cách ta phản ứng khi không được cảm ơn. Hãy nhìn xem ta có sẵn sàng làm một việc không ai nhìn thấy không. Chính ở đó mới lộ ra trái tim ta đang thuộc về ai. Có những người có thể đứng trước hàng ngàn người mà nói rất hay về bác ái, nhưng lại khó chịu với một người phục vụ mang đồ ăn chậm. Có người có thể làm những công trình lớn cho xã hội nhưng không có thời gian cho người thân đang đau. Có người có thể dâng cúng nhiều nhưng lại không chịu tha thứ cho anh em. Chúa không coi thường những việc lớn, nhưng Người nhắc ta rằng việc lớn chỉ có giá trị khi nó mọc lên từ một trái tim đã học phục vụ trong điều nhỏ.
Có một điều nữa rất đáng suy nghĩ: Đức Giêsu biết “giờ của Người đã đến”. Người biết thời gian không còn nhiều. Nếu chúng ta biết mình chỉ còn một ngày để sống, có lẽ ta sẽ muốn làm những điều thật lớn. Ta sẽ muốn nói những lời quan trọng. Ta sẽ muốn gặp những người quan trọng. Nhưng Đức Giêsu dành một phần những giờ cuối để rửa chân. Điều ấy cho thấy trong mắt Thiên Chúa, việc phục vụ nhỏ không hề nhỏ. Một cử chỉ yêu thương không bao giờ là nhỏ. Một lời dịu dàng đúng lúc có thể cứu một người khỏi tuyệt vọng. Một cuộc thăm viếng có thể làm một người bệnh cảm thấy mình không bị bỏ rơi. Một cái nắm tay có thể nâng một người đang đau khổ. Một lời “tôi ở đây với bạn” đôi khi quý hơn cả một bài giảng. Chúng ta hay đi tìm cơ hội làm điều lớn mà quên rằng mỗi ngày Chúa đặt trước mặt ta rất nhiều cơ hội yêu nhỏ bé. Và có khi cuối đời, điều Chúa hỏi không phải “con đã làm được bao nhiêu việc vang dội?” mà là “con đã yêu thế nào?”
Từ chậu nước đến Thập Giá là một con đường dài, nhưng mỗi ngày ta chỉ cần bước một đoạn. Hôm nay cúi xuống một chút. Ngày mai chịu thiệt một chút. Hôm khác tha thứ một chút. Mỗi ngày chết cho cái tôi một chút. Không ai vác được cả Thập Giá trong một lần bằng sức riêng. Chúa tập cho ta qua những thập giá nhỏ. Người khó tính ta đang sống cùng có thể là bài tập của lòng kiên nhẫn. Một công việc nhàm chán có thể là bài tập của trung thành. Một người cần ta lắng nghe có thể là bài tập của lòng bác ái. Một sự hiểu lầm có thể là bài tập của khiêm nhường. Một lần không được ghi nhận có thể là bài tập của sự tự do nội tâm. Nếu ta đón nhận những điều ấy trong tình yêu, thì từng ngày chậu nước sẽ dẫn ta gần hơn đến Thập Giá, không phải Thập Giá của tuyệt vọng nhưng Thập Giá sinh ơn cứu độ.
Đừng sợ những việc nhỏ. Đừng nghĩ phục vụ âm thầm là vô ích. Đừng buồn khi chẳng ai thấy điều tốt ta làm. Người ta có thể không thấy, nhưng Chúa thấy. Có những giọt nước trong chiếc chậu Nhà Tiệc Ly chẳng ai còn nhớ, nhưng từ đó cả Giáo Hội đã học được thế nào là phục vụ. Có những người cả đời không để lại tên tuổi, nhưng họ đã làm thế giới này bớt lạnh lẽo bằng những việc rất bình thường. Một bà mẹ thức bên con bệnh. Một người chồng chăm vợ ung thư. Một người con tắm rửa cho cha già. Một nữ tu thay băng cho một bệnh nhân. Một linh mục ngồi hàng giờ trong tòa giải tội. Một giáo lý viên kiên nhẫn với đứa trẻ chậm hiểu. Một người hàng xóm mang bát cháo sang nhà bên. Một người âm thầm trả tiền viện phí cho người nghèo mà không để lại tên. Đó là những chậu nước của thời đại chúng ta. Và ở đâu có người cúi xuống vì yêu, ở đó Đức Kitô vẫn đang rửa chân cho nhân loại.
Có lẽ hôm nay, trước khi nghĩ đến một Thập Giá lớn nào đó, Chúa chỉ hỏi ta một câu rất đơn giản: chiếc chậu nước của con ở đâu? Ai đang cần con cúi xuống? Ai đang chờ một lời hỏi thăm? Ai đang cần con tha thứ? Ai đang cần con bớt một chút tự ái? Ai đang cần con dành cho họ một giờ? Ai đang cần một bàn tay thay vì một bài giảng? Ai đang cần một sự hiện diện thay vì những lời khuyên? Đừng tìm quá xa. Người đó có thể đang sống ngay bên cạnh ta. Và cũng có thể ta đã đi ngang qua họ rất nhiều lần mà không nhìn thấy.
Lạy Chúa Giêsu, con vẫn thích nhìn lên Thập Giá của Chúa nhưng lại ngại cúi xuống trước anh em. Con vẫn cảm động khi nghe nói Chúa hiến mạng sống, nhưng con lại tiếc một chút thời giờ, một chút sức lực, một chút quyền lợi của mình. Con vẫn kính thờ đôi tay bị đóng đinh của Chúa, nhưng đôi tay con nhiều khi không muốn làm những việc nhỏ bé cho người khác. Xin dạy con hiểu rằng đường đến Canvê đi qua Nhà Tiệc Ly, và đường đến Thập Giá đi qua một chiếc chậu nước. Xin cho con biết yêu từ những điều bình thường, biết phục vụ khi không ai nhìn, biết cho đi khi không ai cảm ơn, biết cúi xuống mà không thấy mình thấp đi, biết âm thầm làm điều tốt mà không cần người khác nhớ tên mình. Xin cho con nhớ rằng con không cần đợi đến một ngày nào đó mới hiến đời mình cho Chúa. Con có thể hiến đời mình ngay hôm nay, từng chút một, qua những việc rất nhỏ. Một chút nhẫn nại. Một chút nhường nhịn. Một chút lắng nghe. Một chút tha thứ. Một chút phục vụ. Một chút quên mình. Và cứ như thế, từng giọt nước nhỏ bé trong chiếc chậu của đời con sẽ dần trở thành một dòng tình yêu đưa con đến gần Thập Giá của Chúa hơn.
Sau cùng, có lẽ điều đẹp nhất của Tin Mừng hôm nay chính là điều này: Đức Giêsu không chỉ dạy chúng ta phải phục vụ, Người đã phục vụ trước. Người không chỉ bảo chúng ta phải cúi xuống, Người đã cúi xuống trước. Người không chỉ nói chúng ta phải hy sinh, Người đã hiến mạng trước. Mọi điều Người đòi ta làm, Người đã làm trước cho ta. Vì thế, người Kitô hữu không phục vụ để trở thành người tốt hơn người khác. Chúng ta phục vụ vì đã được một Thiên Chúa phục vụ. Chúng ta cúi xuống vì đã có một Thiên Chúa cúi xuống trước mình. Chúng ta yêu đến cùng vì chính chúng ta đã được yêu đến cùng. Mỗi lần ta cầm chiếc khăn phục vụ một người anh em, xin hãy nhớ đôi tay Đức Giêsu. Mỗi lần ta cúi xuống trước một người yếu đuối, xin hãy nhớ Người đã cúi xuống trước Phêrô. Mỗi lần ta mệt mỏi vì phải hy sinh, xin hãy nhớ từ chiếc chậu nước trong Nhà Tiệc Ly, Người đã bước thẳng tới Canvê. Và nếu một ngày nào đó Thập Giá của đời ta trở nên nặng, có lẽ ta sẽ hiểu rằng những lần phục vụ nhỏ bé trước đó không hề vô ích. Chính chúng đã dạy đôi vai ta biết mang, dạy đôi tay ta biết mở ra, dạy trái tim ta biết chết cho mình để sống cho người khác.
Từ chậu nước đến Thập Giá, khoảng cách không xa như chúng ta tưởng. Khoảng cách ấy nằm trong một chữ thôi: yêu. Yêu trong việc nhỏ, để rồi có thể trung thành trong việc lớn. Yêu khi chẳng ai thấy, để rồi có thể yêu cả khi phải trả giá. Yêu lúc thuận tiện, nhưng cũng yêu khi mệt mỏi. Yêu người biết ơn, nhưng cũng tập yêu người làm mình đau. Yêu bằng lời, nhưng nhất là yêu bằng đôi tay biết phục vụ. Và khi cuộc đời khép lại, có lẽ điều còn lại không phải là chúng ta đã đứng cao đến đâu, nhưng là đã cúi xuống bao nhiêu lần; không phải đã được bao nhiêu người phục vụ, nhưng là đã phục vụ được bao nhiêu người; không phải người ta đã nhớ tên mình thế nào, nhưng là qua đời mình, có ai đã cảm nhận được rằng Thiên Chúa vẫn còn yêu họ hay không.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI CHÚA GIÊSU THỰC HIỆN ĐIỀU NGƯỜI ĐÃ DẠY
Tin Mừng: Mt 5,43-48
“Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.”
Có những lời người ta nói rất hay khi cuộc đời còn bình yên, nhưng đến lúc bị đụng chạm thì chính những lời ấy trở nên khó sống. Có những điều chúng ta dễ dàng khuyên người khác, nhưng đến khi chính mình bị xúc phạm, bị phản bội, bị hiểu lầm, bị đối xử bất công, chúng ta mới biết khoảng cách từ lời nói đến cuộc sống xa đến chừng nào. Ai cũng có thể nói về tha thứ khi chưa bị ai làm tổn thương. Ai cũng có thể khuyên người khác nhẫn nhịn khi chưa bị chạm đến danh dự của mình. Ai cũng có thể nói “hãy yêu thương nhau” khi người trước mặt vẫn còn dễ thương. Nhưng yêu một người không yêu mình, cầu nguyện cho người đang làm mình đau, không trả đũa người đã đối xử tệ bạc với mình, đó không còn là một bài học đẹp trên môi nữa; đó là Thập Giá. Và chính ở điểm ấy, chúng ta hiểu vì sao Chúa Giêsu không chỉ là một người thầy đã nói những lời cao đẹp. Người là Đấng đã lấy chính mạng sống mình để chứng minh rằng những điều Người dạy không phải là những lý tưởng dành cho một thế giới tưởng tượng, nhưng là con đường Người đã thực sự đi qua. Trên núi, Người đã nói: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” Trên đồi Canvê, Người đã sống chính lời ấy. Người không rút lại một chữ nào. Người không nói rằng hoàn cảnh này là ngoại lệ. Người không bảo rằng yêu kẻ thù thì được, nhưng đối với những kẻ đóng đinh mình thì không cần. Người không nói rằng tha thứ cũng phải có giới hạn. Trái lại, giữa lúc thân xác bị treo trên gỗ, giữa khi máu đang chảy, giữa tiếng cười nhạo, chế giễu và thách thức, Chúa Giêsu đã biến bài giảng trên núi thành một bài giảng bằng máu: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đó là một trong những giờ phút đẹp nhất của Tin Mừng, nếu chúng ta dám gọi một cảnh tượng đau đớn như thế là đẹp. Đẹp không phải vì đau khổ. Đẹp không phải vì những chiếc đinh. Đẹp không phải vì máu. Đẹp vì giữa cái ác của con người, tình yêu vẫn không chịu trở thành cái ác. Đẹp vì khi hận thù dồn Người vào đường cùng, Người vẫn không bước sang phía hận thù. Đẹp vì khi người ta làm Người đau, Người không đáp lại bằng cách làm họ đau hơn. Đẹp vì lời cuối của tình yêu vẫn mạnh hơn tiếng gào của bạo lực. Có lẽ đó chính là điều Kitô giáo khác với phản ứng tự nhiên của con người: Kitô giáo không dạy chúng ta phải giả vờ rằng vết thương không đau, cũng không đòi chúng ta gọi điều ác là điều tốt; Kitô giáo chỉ đặt chúng ta trước một câu hỏi khủng khiếp hơn nhiều: sau khi bị làm đau, chúng ta sẽ trở thành người như thế nào?
Chúa Giêsu đã biết con người có một bản năng rất tự nhiên: ai thương tôi, tôi thương lại; ai ghét tôi, tôi xa lánh; ai làm tốt cho tôi, tôi trả ơn; ai làm đau tôi, tôi muốn họ phải trả giá. Vì thế, trong Tin Mừng hôm nay, Người đi thẳng vào chỗ sâu nhất của bản năng ấy: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” Hai chữ “Còn Thầy” làm nên một cuộc cách mạng. Chúa không bằng lòng với sự công bằng kiểu đổi chác: tốt với người tốt với mình, lạnh lùng với người lạnh lùng với mình. Nếu chỉ như thế, Người nói, thì người thu thuế cũng làm được, người ngoại cũng làm như vậy. Tình yêu Kitô giáo bắt đầu ở nơi tình yêu tự nhiên muốn dừng lại. Nó bắt đầu ở chỗ ta không còn lý do để yêu mà vẫn cố gắng yêu. Nó bắt đầu khi người kia không còn đáng yêu trong mắt ta mà ta vẫn không muốn họ bị hủy diệt. Nó bắt đầu khi ta không còn muốn chiến thắng bằng cách nghiền nát đối phương. Và điều ấy không dễ. Có những người nghe câu “hãy yêu kẻ thù” rồi tưởng rằng Chúa đang đòi chúng ta phải có cảm giác thân thiện với người làm ta đau. Không phải thế. Cảm xúc không phải lúc nào cũng nghe lời ý chí. Có những vết thương cần rất lâu mới dịu. Có những ký ức chỉ cần chạm nhẹ là lại nhức. Có những phản bội khiến một người không thể ngay lập tức mỉm cười, ôm lấy người phản bội và nói rằng mọi chuyện không có gì. Chúa không đòi sự giả tạo ấy. Yêu kẻ thù không nhất thiết là thích họ. Tha thứ không nhất thiết có nghĩa là lập tức tin tưởng lại như chưa từng có chuyện gì. Hòa giải cũng không có nghĩa là để người khác tiếp tục gây hại. Nhưng yêu kẻ thù có nghĩa là tôi từ chối để hận thù quyết định tôi sẽ trở thành người thế nào. Tôi không mong điều dữ xảy đến cho họ. Tôi không nuôi khoái cảm khi thấy họ thất bại. Tôi không biến câu chuyện họ làm đau mình thành lý do để mình được phép độc ác. Và hơn hết, tôi có thể bắt đầu bằng điều Chúa Giêsu yêu cầu: cầu nguyện cho họ. Có những người chúng ta chưa thể nói chuyện được, nhưng có thể đặt họ vào lời cầu nguyện. Có những người chúng ta chưa thể gặp lại mà lòng không xao động, nhưng ta có thể xin Chúa đừng để lòng mình hóa đá. Có những người ta không đủ sức nói “con yêu họ”, nhưng ta có thể nói: “Lạy Chúa, con chưa yêu nổi. Xin Chúa đừng để con ghét họ.” Đó đã là một khởi đầu rất thật.
Chúng ta phải nhìn lên Thập Giá để hiểu rằng Chúa Giêsu đã không giảng một thứ đạo đức tiện nghi. Người không ngồi trong một căn phòng an toàn rồi nói với những người bị áp bức rằng hãy tha thứ. Người không đứng ngoài nỗi đau rồi bảo nạn nhân phải cao thượng. Trước khi yêu cầu chúng ta đi con đường ấy, Người đã đi trước. Người từng bị phản bội bởi một người đã ăn cùng bàn. Người từng bị chối bỏ bởi người môn đệ đã thề sẽ chết với Người. Người từng bị bạn bè bỏ chạy. Người từng bị vu khống. Người từng bị xét xử trong một phiên tòa bất công. Người từng bị đánh đập, khạc nhổ, chế giễu, tước áo, đóng đinh. Và chính khi chịu tất cả điều ấy, Người vẫn không nguyền rủa. Đây là điều làm ta phải im lặng lâu trước Thập Giá. Nếu Chúa chỉ dạy yêu kẻ thù mà không trải qua thù hận, lời Người có thể vẫn cao đẹp nhưng xa lạ. Nếu Người chỉ dạy tha thứ mà chưa từng bị phản bội, ta có thể nói rằng Người không hiểu. Nhưng Thập Giá cất khỏi môi ta mọi lời biện hộ như thế. Người hiểu. Người hiểu sâu hơn chúng ta. Người biết nỗi đau của người vô tội. Người biết cảm giác bị người mình yêu quay lưng. Người biết cái cay đắng của bất công. Người biết sự nhục nhã của việc bị người khác hạ thấp phẩm giá. Và giữa tất cả, Người vẫn yêu. Cho nên khi Chúa nói với ta: “Hãy yêu kẻ thù”, đó không phải là lời của một người đứng trên bờ bảo người đang chìm dưới nước phải bình tĩnh. Đó là lời của Đấng đã bước xuống tận đáy vực của sự dữ và cho thấy rằng con người vẫn có thể không để sự dữ thắng trái tim mình.
Có một điều đau buồn là nhiều khi chúng ta yêu Thập Giá như một biểu tượng nhưng lại rất khó sống tinh thần của Thập Giá. Chúng ta đeo Thánh Giá trên cổ, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, treo Thánh Giá trong nhà, hôn kính Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng lại có thể giữ một mối hận suốt nhiều năm. Chúng ta quỳ trước tượng Chúa chịu đóng đinh và đọc: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con”, rồi đứng dậy và quyết không thương xót một người nào đó. Chúng ta có thể thuộc lòng lời Chúa: “Lạy Cha, xin tha cho họ”, nhưng trong lòng lại nói: “Chuyện này tôi không bao giờ quên.” Có khi điều chống lại Thập Giá không phải là việc ta tháo Thánh Giá khỏi nhà, mà là việc ta giữ Thánh Giá trước mắt nhưng không để Thập Giá đi vào cách ta đối xử với người khác. Một Kitô giáo chỉ dừng ở nghi thức mà không chạm đến cách chúng ta xử lý những tổn thương thì vẫn chưa đi đến Canvê. Chúng ta có thể sốt sắng nhiều việc đạo đức nhưng lại khắc nghiệt với người trong gia đình. Có thể cầu nguyện dài nhưng rất khó nói lời xin lỗi. Có thể hăng hái bảo vệ chân lý nhưng dùng chính chân lý ấy để làm nhục người khác. Có thể kể tội của người khác với đủ lý do chính đáng, trong khi sâu xa chỉ muốn họ bị mất mặt. Có thể nói rằng mình không trả thù, nhưng lại âm thầm vui khi người kia gặp chuyện không may. Trái tim con người tinh vi lắm. Nó có thể mặc cho hận thù một chiếc áo của công lý. Nó có thể gọi sự cay độc là “nói thẳng”. Nó có thể gọi việc bêu xấu người khác là “để mọi người biết sự thật”. Nó có thể nuôi giận dữ và nói rằng đó là “bảo vệ nguyên tắc”. Bởi vậy, phải nhìn thật lâu lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Người không phủ nhận sự thật. Người không nói tội lỗi không đáng kể. Người không gọi bất công là điều tốt. Nhưng Người không sử dụng sự thật để tiêu diệt con người. Người chống lại tội lỗi mà vẫn muốn cứu người có tội. Đó là điều khó nhất.
Một trong những cám dỗ lớn của người bị tổn thương là nghĩ rằng nếu mình tha thứ thì người kia thắng. Ta sợ rằng nếu buông cơn giận, ta sẽ trở thành kẻ yếu. Ta nghĩ rằng giữ hận là giữ công lý. Nhưng hận thù có một nghịch lý rất lạ: ta giữ nó để trừng phạt người khác, nhưng người đầu tiên bị nó thiêu đốt lại chính là ta. Người làm ta đau có thể đã quên câu chuyện từ lâu, còn ta vẫn sống mỗi ngày với phiên tòa trong đầu. Ta dựng lại từng lời họ nói, từng việc họ làm, rồi tưởng tượng những câu mình đáng lẽ phải đáp, những cách mình đáng lẽ phải trả đũa. Vết thương xảy ra một lần nhưng ta cho phép nó xảy ra thêm hàng trăm lần trong ký ức. Kẻ thù bên ngoài có thể đã rời đi, nhưng ta mời họ vào ở trong lòng mình bằng sự oán giận. Thật cay đắng: ta không muốn họ điều khiển cuộc đời ta, nhưng rồi chính họ lại điều khiển cảm xúc ta mỗi khi tên họ được nhắc đến. Tha thứ, vì thế, trước khi là món quà cho người kia, là cuộc giải phóng chính mình. Tha thứ không bảo rằng việc họ làm là đúng. Tha thứ chỉ nói: “Tôi không để điều anh đã làm quyết định phần đời còn lại của tôi.” Tha thứ nói rằng quá khứ có quyền làm tôi đau, nhưng không có quyền sở hữu tôi. Và chính ở đây, lời Chúa Giêsu trên Thập Giá trở thành cánh cửa tự do: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người trao việc phán xét vào tay Chúa Cha để chính mình được tự do tiếp tục yêu.
Cầu nguyện cho kẻ thù là một trường học lạ lùng. Ban đầu ta có thể cầu nguyện rất gượng ép. Có khi lời cầu nguyện đầu tiên chỉ là: “Lạy Chúa, con không muốn cầu cho người này.” Nhưng nếu thành thật, Chúa vẫn làm việc. Rồi có thể ta đi thêm một bước: “Lạy Chúa, xin đừng để điều dữ xảy đến với họ.” Sau nữa: “Xin Chúa cho họ hiểu điều họ đã làm.” Rồi một ngày nào đó, có lẽ ta có thể nói: “Xin Chúa chúc lành cho họ.” Lúc ấy ta nhận ra một phép lạ đã xảy ra, không nhất thiết nơi người kia, mà trong chính lòng ta. Có những phép lạ không phải là người làm ta đau đến xin lỗi. Có những phép lạ không phải là tình trạng được sửa lại theo ý ta. Có những phép lạ là sau nhiều năm, ta nghe tên một người từng làm mình đau mà trái tim không còn nổi bão nữa. Không phải vì ta quên. Không phải vì ký ức biến mất. Nhưng vì vết thương đã thành sẹo. Sẹo vẫn nói rằng chuyện đó đã xảy ra, nhưng nó không còn chảy máu nữa. Đó là chữa lành. Và người Kitô hữu phải hiểu rằng chữa lành không phải là xóa quá khứ, mà là để ân sủng viết tiếp câu chuyện sau quá khứ.
Chúa Giêsu còn nói một câu rất mạnh: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” Sự hoàn thiện ở đây không phải là không bao giờ lầm lỗi, không bao giờ yếu đuối, không bao giờ giận. Văn mạch cho thấy sự hoàn thiện Chúa nói đến chính là sự hoàn thiện trong tình yêu: một tình yêu không chỉ chiếu sáng trên người tốt. Chúa nói rằng Cha trên trời “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.” Mặt trời không dừng lại trên mái nhà của người đạo đức rồi tắt khi đi qua nhà người tội lỗi. Mưa không chọn ruộng của người công chính rồi tránh ruộng người bất chính. Hình ảnh ấy vừa dịu dàng vừa đáng sợ, vì nó đặt trước chúng ta một mẫu mực của tình yêu vô điều kiện. Chúa không yêu người tốt vì họ làm Người hài lòng rồi ghét bỏ người xấu vì họ làm Người thất vọng. Nếu Thiên Chúa chỉ yêu người xứng đáng, không ai trong chúng ta có cơ hội. Chúng ta sống được hôm nay vì đã từng được Chúa yêu trong những lúc mình rất khó yêu. Chúng ta được tha thứ không phải vì chưa bao giờ làm Chúa đau. Chúng ta được giữ lại không phải vì chưa bao giờ phản bội. Nếu Chúa đối xử với chúng ta đúng như cách chúng ta từng đối xử với người khác, có lẽ chúng ta đã không còn gì để nói. Chính vì thế, người biết mình đã được thương xót sẽ dần học được cách thương xót. Người nhớ rằng chính mình từng được tha thứ sẽ bớt hung hăng khi phải tha thứ cho người khác. Sự cứng cỏi của chúng ta nhiều khi đến từ một chứng mất trí nhớ thiêng liêng: quên rằng mình cũng là người đã được Chúa chịu đựng rất nhiều.
Thập Giá còn cho ta thấy một điều sâu hơn: Chúa Giêsu không chờ kẻ đóng đinh Người thay đổi rồi mới yêu họ. Người không nói: “Khi các anh hối hận, tôi sẽ tha.” Người cầu xin tha thứ cho họ ngay khi họ còn đang làm điều dữ. Đó là tình yêu đi trước. Tất nhiên, tha thứ của Thiên Chúa không loại bỏ sự cần thiết của hoán cải nơi con người; người ta vẫn phải mở lòng để đón nhận ơn tha thứ. Nhưng về phía Chúa, cánh cửa đã mở trước. Điều này làm chúng ta xấu hổ, vì chúng ta thường đặt quá nhiều điều kiện cho tình yêu. Ta nói: “Nếu họ xin lỗi trước, tôi sẽ nói chuyện.” “Nếu họ nhận sai, tôi sẽ tha.” “Nếu họ thay đổi, tôi sẽ thương.” Nhiều khi cả hai phía đều đứng chờ nhau, và một mối quan hệ chết dần vì không ai muốn bước bước đầu tiên. Chúa Giêsu bước trước. Không phải vì Người yếu, nhưng vì Người tự do. Người không để cách người khác đối xử quyết định cách Người yêu. Đây chính là tự do cao nhất: tôi làm điều thiện không phải vì người kia xứng đáng, nhưng vì tôi không muốn đánh mất chính mình. Tôi tha thứ không phải vì người kia đã trở thành người tốt, nhưng vì tôi muốn vẫn là người thuộc về Chúa.
Trong đời sống gia đình, bài Tin Mừng này đặc biệt đau. Kẻ thù đôi khi không ở đâu xa. Có những “kẻ thù” ngủ cùng một mái nhà. Vợ chồng đã từng thương nhau nhưng vì quá nhiều vết xước mà trở nên lạnh lùng. Anh chị em ruột vì một mảnh đất mà nhìn nhau như người dưng. Cha mẹ và con cái mang những lời trách móc không nói ra suốt nhiều năm. Có gia đình vẫn gặp nhau ngày giỗ, ngày Tết, vẫn ngồi chung bàn nhưng lòng đã dựng tường. Một câu nói từ mười năm trước vẫn được nhắc lại mỗi khi cãi nhau. Một lỗi lầm đã được xin lỗi nhưng chưa bao giờ thực sự được tha. Người ta sống bên cạnh nhau mà âm thầm lập một cuốn sổ nợ. Mỗi lần người kia phạm thêm một lỗi, ta cộng vào. Rồi tới một ngày, tình thân không còn sức gánh nổi số nợ ấy. Tin Mừng không bắt chúng ta xóa sạch ký ức trong một đêm, nhưng mời ta bắt đầu đóng cuốn sổ lại. Tình yêu không thể sống mãi trong chế độ kiểm toán. Nếu mỗi người đều đòi người kia phải trả đủ mọi khoản nợ tình cảm, chẳng gia đình nào tồn tại. Có lúc ta phải tự hỏi: tôi muốn thắng cuộc tranh cãi này hay muốn giữ người thân này? Tôi muốn chứng minh mình đúng hay muốn nhà mình còn bình an? Có những lần ta hoàn toàn đúng, nhưng cách ta đúng lại giết chết người khác. Chúa Giêsu trên Thập Giá là Đấng đúng hoàn toàn, vô tội hoàn toàn, nhưng Người không dùng cái đúng của mình để nghiền nát kẻ sai. Đây là bài học rất lớn cho những gia đình đang mệt mỏi vì ai cũng muốn thắng.
Trong đời sống cộng đoàn cũng thế. Không thiếu những vết thương đến từ chính những người cùng niềm tin. Có khi người làm ta thất vọng nhất lại là người ta từng tin tưởng nhất. Có khi lời làm ta đau nhất lại được nói từ môi một người rất đạo đức. Có khi những va chạm trong cộng đoàn còn làm ta đau hơn va chạm ngoài xã hội, bởi ta đã kỳ vọng nơi nhau nhiều hơn. Và rồi người ta có thể phục vụ Chúa nhưng không nhìn mặt nhau; đọc cùng một kinh nhưng trong lòng loại trừ nhau; cùng đứng một bàn thờ nhưng phía dưới lại có những cuộc chiến âm thầm. Thập Giá khi ấy trở thành một lời xét hỏi. Không phải xét hỏi xem ai đúng ai sai trước, mà hỏi rằng: giữa cuộc xung đột này, ai đang giống Đức Kitô hơn? Có khi người đúng chưa chắc đã giống Chúa hơn người sai nếu cái đúng ấy được mang bằng kiêu ngạo. Có khi người bị tổn thương chưa chắc đã luôn vô tội nếu vì vết thương ấy mà trở nên cay độc với tất cả. Mỗi người phải nhìn vào lòng mình. Chúng ta thường rất nhanh chỉ vào cái đinh người khác đóng vào tay ta, nhưng lại ít nhận ra những cái đinh mình đóng vào người khác bằng lời nói, ánh mắt, sự khinh miệt, phán đoán, loại trừ. Ta đau vì người khác không hiểu mình, nhưng đã bao lần ta chịu khó hiểu họ? Ta nhớ rất kỹ một câu xúc phạm, nhưng quên những lần mình làm người khác buồn. Trước Thập Giá, không ai có thể chỉ đứng ở vị trí nạn nhân. Chúng ta vừa là người cần được chữa lành, vừa là người cần sám hối.
Điều khó nhất của yêu kẻ thù là yêu mà không để mình biến thành ngây thơ. Có những hoàn cảnh cần ranh giới. Có những mối quan hệ độc hại cần khoảng cách. Có những bất công phải được nói ra. Có những hành vi gây hại cần được ngăn chặn. Yêu không có nghĩa là để mặc cái ác tiếp tục. Chính Chúa Giêsu cũng từng lên tiếng trước sự giả hình, từng chất vấn người lính đánh Người: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Tha thứ và công lý không loại trừ nhau. Nhưng khác biệt nằm ở chỗ ta tìm công lý để chữa lành hay tìm công lý như một hình thức báo thù được hợp thức hóa. Ta muốn sự thật được sáng tỏ hay muốn người kia bị nghiền nát? Ta bảo vệ người yếu hay đang lấy danh nghĩa bảo vệ để thỏa cơn giận của mình? Lòng người chỉ Chúa biết. Vì thế, yêu kẻ thù đòi một sự tỉnh thức rất sâu: vừa không dung túng điều ác, vừa không để mình trở thành hình ảnh của chính điều ác mình chống lại. Đây là chỗ Thập Giá trở nên chuẩn mực. Chúa chiến thắng cái ác mà không dùng phương tiện của cái ác. Người không cứu thế giới bằng cách trở nên giống những kẻ đóng đinh Người.
Có lẽ nhiều người sẽ nói: “Tôi không làm nổi.” Và đó có thể là câu nói thật nhất trước bài Tin Mừng hôm nay. Quả thực, nếu chỉ bằng sức mình, chúng ta rất khó làm nổi. Yêu kẻ thù không phải là một phẩm chất tự nhiên. Nó là ân sủng. Vì thế, người Kitô hữu không được đọc Tin Mừng như một danh sách mệnh lệnh rồi tự ép mình bằng ý chí. Ta phải đọc lời Chúa trong tương quan với chính Đức Kitô. Ta không chỉ được bảo phải yêu kẻ thù; ta được mời ở lại trong tình yêu của Đấng đã yêu kẻ thù. Ta không chỉ được bảo phải tha thứ; ta được nuôi bằng Thánh Thể của Đấng đã tha thứ. Mỗi lần rước lễ, chúng ta đón lấy một Đấng đã trao mình cho cả những kẻ phản bội. Bánh ta nhận lấy là Thân Thể từng bị bẻ ra. Máu ta uống là Máu đã đổ cho “muôn người”, không chỉ cho những người dễ thương. Nếu chúng ta thực sự để Thánh Thể đi vào đời mình, nó phải dần làm mềm những vùng cứng nhất trong trái tim. Nếu rước Chúa nhiều năm mà lòng càng lúc càng hẹp, ta phải tự hỏi mình đã để Chúa đi vào đâu.
Có một thử thách rất thật: đôi khi chúng ta sẵn sàng tha cho người xa lạ hơn người gần. Một câu xúc phạm từ người không quen có thể qua nhanh; nhưng một câu từ người mình thương lại ở lại rất lâu. Bởi tình yêu càng sâu, khả năng bị tổn thương càng lớn. Chúa Giêsu cũng bị phản bội bởi Giuđa, bị Phêrô chối, bị các môn đệ bỏ chạy. Thập Giá không chỉ là đau đớn thể xác, mà còn là sự cô độc của một trái tim đã yêu rất nhiều. Và chính ở đây, Chúa chữa những người bị phản bội. Người không nói rằng đau như thế là nhỏ. Người chỉ nói bằng chính sự hiện diện của Người: “Ta đã ở đó.” Có những nỗi đau người khác không hiểu được, nhưng Chúa hiểu. Có những đêm ta không thể nói với ai, nhưng có thể ngồi trước Thập Giá. Chúng ta không cần giải thích nhiều. Chỉ cần nhìn. Thập Giá nói rằng Thiên Chúa không đứng ngoài những gì ta đang chịu. Và cũng chính Thập Giá nhắc rằng câu chuyện của ta không được kết thúc ở việc mình bị thương. Nếu Chúa Phục Sinh đã bước ra từ những vết đinh, chúng ta cũng có thể, bằng ân sủng, bước ra khỏi căn phòng của oán hận.
Nhiều khi người ta hỏi: tại sao Chúa không xuống khỏi Thập Giá? Kẻ đứng dưới đã thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nhưng nếu Chúa xuống để chứng minh quyền lực, Người có thể làm cho họ khiếp sợ, nhưng chưa chắc cứu được lòng họ. Chúa ở lại trên Thập Giá để cho thấy tình yêu không bỏ cuộc khi bị từ chối. Người ở lại để thực hiện đến cùng lời Người đã dạy. Nếu Người nói yêu kẻ thù rồi xuống khỏi Thập Giá để tiêu diệt kẻ thù, Tin Mừng sẽ sụp đổ. Nếu Người dạy đưa má bên kia nhưng lại dùng quyền năng để trừng phạt những người đánh mình, lời giảng trên núi sẽ trở thành lý thuyết. Nhưng Người ở lại. Không phải vì những chiếc đinh mạnh hơn Người. Không phải vì lính Rôma đủ sức giữ Con Thiên Chúa. Người ở lại vì tình yêu đã giữ Người ở đó. Những chiếc đinh có thể xuyên qua tay chân, nhưng thứ giữ Người trên Thập Giá là lòng trung thành với tình yêu Người đã rao giảng. Chính vì thế, Thập Giá không phải thất bại của bài giảng trên núi; Thập Giá là nơi bài giảng trên núi đạt đến trọn vẹn.
Và có lẽ đây là điều mỗi người chúng ta phải mang về sau khi nghe Tin Mừng: đời sống Kitô hữu sẽ đến một ngày buộc ta phải thực hiện điều mình vẫn nói. Chúng ta đã nói về yêu thương nhiều lần. Rồi sẽ có ngày một người rất khó yêu xuất hiện. Chúng ta đã nói về tha thứ nhiều lần. Rồi sẽ có ngày một vết thương thật sự đến. Chúng ta đã nói về khiêm nhường. Rồi sẽ có ngày ta bị hiểu lầm. Chúng ta đã nói về tín thác. Rồi sẽ có ngày mọi chỗ dựa bị lấy đi. Chúng ta đã nói về Thập Giá. Rồi sẽ có ngày Thập Giá không còn là tượng trên tường mà trở thành một biến cố trong đời. Chính lúc ấy, đức tin từ môi mới đi xuống trái tim. Và có khi Chúa không hỏi chúng ta đã giảng gì, đọc gì, viết gì, mà chỉ hỏi: khi bị tổn thương, con đã trở thành ai? Khi bị xúc phạm, con đã nói thế nào? Khi người khác sai với con, con đã đối xử ra sao? Khi con có cơ hội trả đũa, con đã chọn gì? Những câu hỏi ấy mới cho thấy Thập Giá đã đi vào đời ta đến đâu.
Không ai bước một lần là tới ngay tình yêu kẻ thù. Đó là con đường cả đời. Có ngày ta tiến, có ngày lại lùi. Có lúc tưởng đã tha rồi, một kỷ niệm bất ngờ lại làm lòng nhói. Đừng tuyệt vọng. Tha thứ nhiều khi phải được chọn lại nhiều lần. Mỗi lần ký ức trở về, ta lại nói với Chúa: “Con trao người này cho Chúa.” Mỗi lần cơn giận nổi lên, lại đặt nó dưới chân Thập Giá. Mỗi lần muốn nói một câu làm đau, xin Chúa giữ miệng. Mỗi lần muốn kể xấu ai để hả lòng, hãy nhớ Đấng trên Thập Giá đã im lặng trước bao lời vu cáo. Cứ như thế, từng chút một, trái tim được uốn theo trái tim Chúa. Không phải một phép thuật tức thời, nhưng là một cuộc biến đổi âm thầm.
Có một điều rất đẹp: sau Phục Sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và không mang đến một danh sách trách móc. Người có đủ lý do để hỏi Phêrô: “Lúc Thầy cần con, con ở đâu?” Có đủ lý do để hỏi các môn đệ: “Các anh chạy hết rồi còn gì.” Nhưng lời đầu tiên Người trao lại là: “Bình an cho anh em.” Đấng bị bỏ rơi trở lại và ban bình an cho những kẻ đã bỏ rơi Người. Đó là hoa trái của Thập Giá. Khi một người thực sự đi qua đau khổ với Chúa, họ không nhất thiết trở nên cay đắng; họ có thể trở thành người ban bình an. Vết thương không nhất thiết làm ta xấu đi. Nếu trao cho Chúa, nó có thể làm ta nhân hậu hơn. Người từng bị hiểu lầm có thể trở thành người biết cảm thông. Người từng bị phản bội có thể trở thành người trung thành. Người từng khóc có thể trở thành người biết ngồi cạnh người đang khóc. Vết thương được cứu chuộc không còn chỉ là vết thương; nó trở thành nơi lòng thương xót đi qua.
Vậy hôm nay, trước Thập Giá, có lẽ mỗi người cần đặt vào đó một cái tên. Một người ta còn giận. Một người ta vẫn né tránh. Một người mà chỉ cần nghĩ đến là lòng đã nặng. Đừng vội ép mình phải cảm thấy điều gì. Chỉ cần đặt tên người ấy trước mặt Chúa và nói thật: “Lạy Chúa, Chúa biết chuyện này. Chúa biết con đã đau thế nào. Chúa biết con chưa tha nổi. Nhưng con không muốn sống cả đời trong hận thù. Xin dạy con yêu như Chúa.” Đó là lời cầu nguyện đẹp. Chúa không đòi chúng ta giả vờ mạnh. Người chỉ cần một khe nhỏ để ân sủng đi vào. Có thể hôm nay chưa tha được hoàn toàn. Nhưng nếu ta thôi mong điều dữ cho người ấy, đó đã là một bước. Nếu ta có thể cầu một Kinh Lạy Cha cho người ấy, đó đã là một bước. Nếu ta có thể ngưng kể lại câu chuyện để hạ nhục họ, đó đã là một bước. Nếu ta có thể nhìn lại phần sai của mình, đó đã là một bước. Ân sủng thường đi bằng những bước rất nhỏ.
“Anh em hãy yêu kẻ thù.” Một câu ngắn, nhưng nếu sống được, cả thế giới sẽ khác. Bao cuộc chiến sẽ dừng nếu người ta không trả hận bằng hận. Bao gia đình sẽ được cứu nếu có một người chịu bước trước. Bao cộng đoàn sẽ bình an nếu người đúng bớt kiêu hãnh và người sai biết khiêm tốn nhận lỗi. Bao trái tim sẽ nhẹ nếu người ta thôi mang theo những bản án suốt đời. Chúa Giêsu không ngây thơ khi dạy điều ấy. Người biết rất rõ con người có thể độc ác đến đâu, vì chính Người đã trải qua. Nhưng Người cũng biết tình yêu mạnh đến đâu, bởi chính Người là tình yêu.
Cuối cùng, Thập Giá vẫn đứng đó như một câu trả lời không thể né tránh. Ta có thể tranh luận nhiều về tình yêu, nhưng Thập Giá không tranh luận. Thập Giá chỉ cho thấy. Đấng đã nói “yêu kẻ thù” đã dang tay trước kẻ thù. Đấng đã nói “cầu nguyện cho người ngược đãi” đã cầu nguyện giữa lúc bị ngược đãi. Đấng đã nói về lòng thương xót đã mở cạnh sườn để trao đến giọt cuối cùng. Đấng đã dạy “hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời” đã cho thấy sự hoàn thiện ấy mang hình dáng nào: hai cánh tay dang ra, không khép lại ngay cả khi bị đóng đinh. Đó là Kitô giáo. Không phải chỉ là những lời đẹp để nghe trong nhà thờ. Không phải một nền đạo đức giúp ta cảm thấy mình tốt hơn. Kitô giáo là để một tình yêu như thế bước vào trong ta, cho đến ngày ta có thể làm điều tự sức mình không làm nổi: vẫn là người của tình yêu ngay cả khi đứng trước hận thù.
Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ kính Thập Giá mà còn học Thập Giá. Đừng chỉ mang Thánh Giá trên người mà để Thánh Giá đi vào cách mình nói, cách mình nhớ, cách mình phản ứng, cách mình tha thứ. Xin cho ta biết rằng chiến thắng lớn nhất không phải là khiến người làm mình đau phải đau hơn mình, nhưng là đi qua đau khổ mà trái tim vẫn còn khả năng yêu. Xin cho ta hiểu rằng người mạnh không phải là người trả đũa giỏi, nhưng là người đủ tự do để không bị cái ác biến mình thành một con người khác. Và khi một ngày nào đó cuộc đời đặt trước ta một người rất khó yêu, xin cho ta nhớ đến Chúa Giêsu trên Thập Giá. Người đã không dạy một điều rồi sống một điều khác. Người đã làm tất cả những gì Người từng dạy. Người yêu đến cùng. Người tha thứ đến cùng. Người cầu nguyện đến cùng. Người trung thành đến cùng. Người chết với trái tim không có chỗ cho hận thù. Và chính vì thế, Thập Giá – tưởng là nơi con người giết chết tình yêu – lại trở thành nơi tình yêu chứng minh rằng nó không thể bị giết chết.
Lm. Anmai, CSsR

CHÚA GIÊSU KHÔNG CHỈ NÓI VỀ TÌNH YÊU – NGƯỜI ĐỂ TÌNH YÊU ĐÓNG ĐINH MÌNH
Tin Mừng: Ga 15,12-13
“Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.”
Có những lời nói nghe rất đẹp, nhưng rồi chỉ đẹp trong lúc người ta nói. Có những bài giảng về tình yêu nghe thật cảm động, nhưng ra khỏi nhà thờ, trở về với những va chạm thường ngày, người ta lại sống như chưa từng nghe gì. Có những lời hứa yêu thương được nói trong những ngày lòng còn đầy cảm xúc, nhưng khi phải trả giá, khi phải nhịn một lời, bỏ một ý riêng, chịu một thiệt thòi, tha một món nợ, ôm lấy một người đã làm mình đau, thì tình yêu ấy bỗng trở nên mong manh. Con người chúng ta thường thích nói về tình yêu, thích nghe về tình yêu, thích được người khác yêu mình, nhưng lại rất ngại đi đến nơi cuối cùng của tình yêu, bởi vì nơi cuối cùng ấy không còn hoa, không còn những lời ngọt ngào, không còn những rung động dễ chịu, mà có khi chỉ còn lại một cây thập giá. Và chính ở đó, Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu thế nào là yêu. Người không chỉ nói: “Anh em hãy yêu thương nhau.” Người còn thêm một điều rất quan trọng: “như Thầy đã yêu thương anh em.” Kitô giáo nằm trong hai chữ “như Thầy” ấy. Nếu bỏ hai chữ “như Thầy”, tình yêu có thể chỉ còn là một thứ tình cảm tự nhiên, thích thì gần, không thích thì xa; hợp thì thương, không hợp thì bỏ; được đáp lại thì tiếp tục, bị phụ bạc thì rút lui. Nhưng Chúa Giêsu nói: “như Thầy.” Nghĩa là muốn hiểu tình yêu Kitô giáo, phải nhìn Chúa Giêsu. Muốn biết yêu đến đâu, hãy nhìn Người. Muốn biết yêu thế nào khi bị phản bội, hãy nhìn Người. Muốn biết yêu thế nào khi bị hiểu lầm, hãy nhìn Người. Muốn biết yêu thế nào khi người mình yêu không xứng đáng, hãy nhìn Người. Muốn biết yêu thế nào khi chẳng còn nhận lại gì, hãy nhìn Người trên Thập Giá.
Điều làm cho Tin Mừng khác với mọi bài diễn thuyết đẹp đẽ về tình yêu chính là Đức Giêsu đã để cho điều Người giảng trở thành chính thân phận của Người. Người nói yêu kẻ thù, rồi Người đứng trước những kẻ thù của mình mà không trả thù. Người nói hãy cầu nguyện cho kẻ ngược đãi, rồi khi đinh đang xuyên qua tay chân, Người cầu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người nói ai muốn làm lớn thì phải phục vụ, rồi Người quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người nói mục tử tốt lành thí mạng vì đoàn chiên, rồi Người thật sự thí mạng. Người nói hạt lúa phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt, rồi chính Người trở thành hạt lúa bị chôn xuống lòng đất. Người nói không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống, rồi chính Người dang tay ra để cho tình yêu ấy bị đóng đinh. Có lẽ vì thế mà đứng trước Thập Giá, mọi lời giải thích trở nên thừa. Thập Giá là bài giảng không cần nhiều chữ. Một thân mình rách nát. Một khuôn mặt đầy máu. Hai bàn tay bị đinh xuyên thủng. Một trái tim bị lưỡi đòng mở ra. Tất cả nói lên một câu duy nhất: Thiên Chúa yêu con người đến mức này.
Chúng ta quen nhìn Thập Giá đến độ có thể không còn bị đánh động nữa. Thập Giá treo trong nhà. Thập Giá trên bàn thờ. Thập Giá đeo trước ngực. Thập Giá trên tháp chuông. Thập Giá trong phòng ngủ. Thập Giá ở nghĩa trang. Ta thấy quá nhiều nên đôi khi quên mất đó là một sự dữ dội đến thế nào. Thập giá của người Rôma không phải là món trang sức. Nó là dụng cụ hành hình. Nó là nơi một con người bị lột trần phẩm giá, bị treo giữa trời và đất, chết chậm trong đau đớn và nhục nhã. Vậy mà Thiên Chúa đã chọn chính nơi ấy để nói lời yêu cuối cùng với nhân loại. Người không yêu chúng ta từ một ngai vàng an toàn. Người không đứng xa đau khổ để nói rằng Người thương chúng ta. Người đi vào đau khổ. Người mang lấy xác phàm. Người biết mệt. Người biết đói. Người biết bị bỏ rơi. Người biết mất bạn. Người biết bị phản bội. Người biết nước mắt. Người biết sợ hãi trong vườn Cây Dầu. Người biết đau đớn của roi da. Người biết nhục nhã của một thân thể bị phơi bày trước đám đông. Người biết cảm giác của một người kêu lên mà tưởng như trời cao im lặng: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Thiên Chúa đã đi xuống tận đáy của thân phận con người để từ nay không ai có thể nói rằng: “Chúa không hiểu con.”
Nhưng điều sâu xa nhất của Thập Giá không phải chỉ là Chúa Giêsu đã chịu đau. Rất nhiều người trong lịch sử cũng đã chịu đau. Điều sâu xa nhất là Người đã biến đau khổ thành tình yêu tự hiến. Không phải mọi đau khổ đều tự động cứu độ. Đau khổ có thể làm con người cay đắng. Đau khổ có thể làm người ta căm hận. Đau khổ có thể làm một trái tim khép lại. Nhưng nơi Chúa Giêsu, đau khổ trở thành lễ dâng. Người không chết như một nạn nhân bất lực đơn thuần; Người tự hiến: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Đó là khác biệt rất lớn. Người ta lấy áo Người, nhưng không lấy được tình yêu của Người. Người ta trói tay Người, nhưng không trói được lòng thương xót. Người ta đóng đinh đôi chân Người, nhưng không ngăn được Người đi đến tận cùng của ơn cứu độ. Người ta đội mão gai lên đầu Người, nhưng không biến Người thành kẻ hận thù. Người ta mở cạnh sườn Người bằng một lưỡi đòng, và từ vết thương ấy, điều chảy ra không phải là lời nguyền rủa, mà là máu và nước, là sự sống được ban cho.
“Như Thầy đã yêu thương anh em.” Chúng ta đừng đọc câu này quá nhanh. “Như Thầy” nghĩa là yêu cả khi bị hiểu lầm. Trong đời sống, có những nỗi đau không đến từ người xa lạ nhưng từ người thân. Người xa lạ nói xấu ta, ta có thể buồn vài ngày. Người ta tin tưởng phản bội mình, có khi ta đau nhiều năm. Chúa Giêsu hiểu điều đó. Người không bị phản bội bởi một người lạ. Giuđa đã từng ngồi ăn với Người, từng nghe Người giảng, từng được sai đi loan báo Tin Mừng, từng được Người tin tưởng. Phêrô đã từng nói: “Dù mọi người bỏ Thầy, con không bỏ.” Nhưng chỉ ít giờ sau, ông thề rằng không biết Người là ai. Các môn đệ khác bỏ chạy. Trong giờ tăm tối nhất, những người từng nói yêu Người lại biến mất. Thế nhưng Chúa không rút lại tình yêu. Đó là điều đáng sợ và cũng đáng kính phục nơi tình yêu Thiên Chúa: sự bất trung của con người không làm cho Thiên Chúa trở nên bất trung.
Ta thì khác. Nhiều khi ta yêu người khác dựa trên cách họ đối xử với ta. Họ tử tế, ta tử tế. Họ nhớ đến ta, ta nhớ đến họ. Họ mời ta, ta mời họ. Họ khen ta, ta dễ thương với họ. Họ làm ta phật lòng, ta đổi thái độ. Họ không chào ta, lần sau ta cũng không chào. Họ quên ngày của ta, ta ghi nhớ để lần sau quên lại ngày của họ. Có những cuộc chiến âm thầm kéo dài chỉ vì hai bên đều chờ bên kia bước trước. Có những gia đình sống chung một mái nhà mà lạnh như người xa lạ vì không ai chịu hạ mình. Có vợ chồng ngủ cạnh nhau nhưng tâm hồn cách nhau hàng ngàn cây số chỉ vì mỗi người giữ một nỗi tự ái. Có anh chị em ruột thịt không nhìn mặt nhau vì một chuyện tiền bạc, một mảnh đất, một câu nói trong lúc nóng giận. Có những người đi lễ mỗi ngày nhưng mang một cái tên trong lòng mà nhiều năm rồi vẫn không tha. Chúng ta có thể quỳ rất lâu trước Thập Giá, nhưng nếu lòng mình vẫn nuôi một cây đinh dành cho người khác, ta chưa thực sự để Thập Giá đi vào đời mình.
Chúa Giêsu không dạy một tình yêu dễ. Người cũng không bảo rằng yêu là không đau. Chính vì yêu mà Người đau. Càng yêu sâu, đôi khi càng dễ bị tổn thương sâu. Nhưng khác biệt nằm ở chỗ: ta làm gì với vết thương ấy? Ta biến nó thành cái cớ để gây thêm thương tích, hay biến nó thành nơi lòng thương xót được sinh ra? Người ta làm ta đau, ta có quyền đau. Tha thứ không có nghĩa là giả vờ rằng chuyện chưa từng xảy ra. Tha thứ cũng không có nghĩa là dung túng sự dữ hay quay lại một mối tương quan nguy hiểm mà không có ranh giới. Nhưng tha thứ là không để sự dữ của người khác quyết định ta sẽ trở thành loại người nào. Người khác có thể làm điều xấu với ta, nhưng họ không có quyền biến ta thành người xấu. Họ có thể làm tim ta bị thương, nhưng nếu ta ở lại với Chúa, họ không thể buộc tim ta trở thành một kho chứa hận thù. Đó là tự do của người môn đệ.
Có người hỏi: “Tại sao tôi phải tha thứ khi người kia không xin lỗi?” Hãy nhìn Thập Giá. Khi Chúa nói “Lạy Cha, xin tha cho họ”, những người đóng đinh Người chưa xin lỗi. Họ còn đang chế nhạo. Người tha thứ không phải vì họ xứng đáng, mà vì Người là tình yêu. Đây là một đỉnh cao rất khó. Ta thường chờ người kia thay đổi rồi ta mới thay đổi. Chờ họ biết lỗi, ta mới tha. Chờ họ đến trước, ta mới giang tay. Chờ họ dịu lại, ta mới nói chuyện. Nhưng Chúa Giêsu bước trước. Trong toàn bộ lịch sử cứu độ, Thiên Chúa luôn là Đấng bước trước. Con người chạy trốn, Người đi tìm. Con người phạm tội, Người mở đường trở về. Con người đóng đinh Con của Người, Người vẫn mở cửa cứu độ. Đó là tình yêu nhưng không, và chỉ khi đụng được vào tình yêu nhưng không ấy, ta mới bắt đầu hiểu Tin Mừng.
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu.” Hy sinh mạng sống không phải lúc nào cũng có nghĩa là chết một lần trong một biến cố lớn. Với phần đông chúng ta, hy sinh mạng sống diễn ra rất chậm, rất âm thầm, mỗi ngày một chút. Một người mẹ thức đêm bên đứa con đau bệnh đang hy sinh một phần đời mình. Một người cha đi làm từ sáng sớm đến tối khuya, chịu mệt để gia đình được sống, đang trao đời mình từng ngày. Một người vợ kiên nhẫn chăm người chồng bệnh lâu năm đang đặt đời mình xuống. Một người chồng trung thành ở lại bên người vợ khi tuổi trẻ và nhan sắc đã qua đang sống một thứ tình yêu không còn dựa trên cảm xúc. Một người con chăm cha mẹ già, lặp đi lặp lại những việc nhỏ mà chẳng ai vỗ tay, đang hiểu phần nào câu “hy sinh mạng sống.” Một linh mục thức dậy lúc nửa đêm để đi xức dầu cho bệnh nhân, lắng nghe một người đau khổ kể cùng một câu chuyện nhiều lần, ngồi hàng giờ trong tòa giải tội, kiên trì với một cộng đoàn khó khăn, vẫn cầu nguyện cho người chống đối mình, cũng đang học để sự sống mình được bẻ ra. Một tu sĩ âm thầm sống trong cộng đoàn, làm những việc không ai biết, chịu đựng những khác biệt tính tình, giữ lòng trung thành khi chẳng còn cảm xúc sốt sắng thuở ban đầu, cũng đang đặt đời mình trên bàn thờ. Tình yêu thật hiếm khi ồn ào. Tình yêu lớn thường mang bộ quần áo rất bình thường.
Chúng ta dễ mơ về những hy sinh lớn nhưng lại khó chịu với những hy sinh nhỏ. Ta nghĩ nếu cần chết vì Chúa, ta sẽ chết, nhưng lại không chịu nhịn một câu trong bữa cơm. Ta nghĩ mình sẵn sàng hiến mạng, nhưng không sẵn sàng tắt điện thoại để nghe người bên cạnh nói. Ta nói yêu gia đình nhưng cả ngày dành phần tốt nhất của thời gian cho công việc, bạn bè, màn hình, còn người nhà nhận phần mệt mỏi còn dư. Ta nói thương cha mẹ nhưng nhiều tuần không gọi một cuộc. Ta nói yêu cộng đoàn nhưng ai đụng đến ý mình là nổi giận. Ta nói phục vụ Chúa nhưng chỉ vui khi việc phục vụ được ghi nhận. Ta nói sống cho người nghèo nhưng nếu người nghèo làm phiền lịch trình của ta, ta khó chịu. Chúa Giêsu không để tình yêu ở trên môi. Người để tình yêu đi xuống bàn tay, xuống đôi chân, xuống trái tim, xuống cả thân thể. Bởi vậy, Kitô giáo không thể chỉ là một hệ thống tư tưởng đúng. Kitô giáo phải trở thành một đời sống được trao ban.
Có một câu hỏi đáng sợ mà mỗi người có thể tự hỏi trước Thập Giá: Tình yêu của tôi đã từng làm tôi mất gì chưa? Nếu chưa từng mất gì, có lẽ ta chưa yêu sâu. Yêu thật sẽ mất thời gian. Yêu thật sẽ mất sự tiện nghi. Yêu thật sẽ có lúc mất tiền. Yêu thật có lúc mất quyền được hơn thua. Yêu thật sẽ mất một phần cái tôi. Có khi ta phải mất cơ hội trả đũa. Có khi phải nuốt lại một lời mình hoàn toàn có thể nói cho hả giận. Có khi phải xin lỗi trước dù trong chuyện đó mình không sai hoàn toàn. Có khi phải tiếp tục làm điều tốt trong khi không ai cảm ơn. Có khi phải yêu một đứa con đang làm mình thất vọng. Có khi phải ở bên một người già cứ kể đi kể lại cùng một câu chuyện. Có khi phải chăm một bệnh nhân lâu đến mức chính mình kiệt sức. Có khi phải trung thành với lời khấn trong những năm tháng khô khan. Có khi phải sống tử tế với một người mà trong lòng ta không có chút cảm tình nào. Đó là lúc tình yêu đi từ lời nói sang Thập Giá.
Tình yêu của Đức Kitô cũng đặt lại câu hỏi về cách chúng ta hiểu hạnh phúc. Thế gian nói hạnh phúc là giữ được càng nhiều càng tốt: giữ tiền, giữ quyền, giữ thời gian, giữ sự an toàn, giữ danh dự, giữ cái tôi. Đức Giêsu nói một nghịch lý: ai giữ mạng sống mình thì mất, ai mất mạng sống vì Người thì tìm lại được. Thế gian bảo: hãy bảo vệ mình. Chúa nói: hãy trao mình. Thế gian bảo: đừng để ai lợi dụng. Chúa nói: hãy học phục vụ. Thế gian bảo: phải thắng. Chúa bước lên Thập Giá và dường như thua tất cả, nhưng chính ở nơi thất bại ấy Người chiến thắng. Vì tình yêu có một thứ sức mạnh rất khác quyền lực. Quyền lực có thể ép người ta quỳ xuống, nhưng chỉ tình yêu mới làm người ta tự nguyện mở lòng. Quyền lực có thể làm người ta sợ, nhưng tình yêu mới làm người ta đổi đời. Quyền lực có thể giết một thân xác, nhưng tình yêu hiến mạng có thể làm nảy sinh sự sống từ chính cái chết.
Người môn đệ Chúa Giêsu vì thế không được hỏi trước hết: “Tôi được gì?” mà phải học hỏi: “Tôi có thể trao gì?” Trong đời sống hôn nhân, nếu hai người đều hỏi “người kia làm gì cho tôi?”, ngôi nhà sớm muộn thành một nơi tính sổ. Nhưng nếu mỗi người hỏi “hôm nay tôi có thể làm gì để người kia bớt nặng?”, tình yêu sẽ lớn. Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Nếu ai cũng đòi được hiểu, không ai chịu hiểu; ai cũng đòi được phục vụ, chẳng ai phục vụ; ai cũng chờ người khác đổi, chẳng có gì thay đổi. Chỉ cần có một người bắt đầu sống Tin Mừng, bầu khí đã khác. Một người bớt nói một câu cay nghiệt. Một người chủ động chào trước. Một người xin lỗi. Một người chịu khó nghe. Một người không kể lại câu chuyện làm xấu người khác. Một người cầu nguyện cho người mình không ưa. Những việc rất nhỏ ấy có thể là những chiếc đinh đóng cái tôi của mình vào Thập Giá để tình yêu được sống.
Tuy nhiên, đừng lầm tưởng rằng sống tình yêu Thập Giá là để người khác chà đạp vô giới hạn. Chúa Giêsu yêu nhưng Người cũng nói sự thật. Người tha thứ nhưng Người không gọi điều xấu là điều tốt. Người hiến mình nhưng không sống theo sự thao túng của người khác. Có lúc Người im lặng, có lúc Người đối diện, có lúc Người rút lui, có lúc Người quở trách. Tình yêu Kitô giáo không phải yếu đuối; tình yêu ấy mạnh đến mức không cần trả thù để chứng minh sức mạnh. Tha thứ không xóa công lý. Lòng thương xót không biến sai thành đúng. Có những hoàn cảnh, vì tình yêu, ta phải đặt ranh giới; vì yêu con cái, cha mẹ phải biết nói không; vì yêu một người đang nghiện ngập hay bạo hành, ta không thể tiếp tục che giấu và tạo điều kiện cho họ làm điều xấu. Tình yêu thật luôn tìm điều tốt cho người kia, không chỉ tìm sự dễ chịu tức thời.
Nhìn lại đời mình, có lẽ điều chúng ta thiếu không phải là những kiến thức về tình yêu. Ta biết rất nhiều. Ta biết phải tha thứ. Ta biết phải nhẫn nhịn. Ta biết phải quan tâm người nghèo. Ta biết phải kính trọng cha mẹ. Ta biết phải sống tử tế. Vấn đề là khoảng cách từ cái biết đến cái sống. Khoảng cách ấy có tên là Thập Giá. Từ “tôi biết phải tha” đến “tôi tha” có một cây thập giá. Từ “tôi biết phải xin lỗi” đến “tôi đi xin lỗi” có một cây thập giá. Từ “tôi biết người ấy đang cô đơn” đến “tôi dành thời gian đến thăm” có một cây thập giá. Từ “tôi biết mình sai” đến “tôi nhận mình sai” có một cây thập giá. Từ “tôi biết phải trung thành” đến “tôi trung thành khi chẳng còn cảm xúc” có một cây thập giá. Chúa Giêsu không xóa cây Thập Giá ấy khỏi đường môn đệ. Người đi trước và nói: hãy theo Thầy.
Có khi ta tự hỏi tại sao Chúa không chọn một cách khác để cứu độ nhân loại, một cách ít đau hơn, đẹp hơn, huy hoàng hơn. Nhưng có lẽ chính Thập Giá mới cho ta thấy tình yêu của Chúa là tình yêu thật, vì nó đã đi qua thử thách cuối cùng. Một tình yêu chưa bị thử thách vẫn chưa biết sâu đến đâu. Phêrô nói yêu Chúa khi đang ngồi bên Người, nhưng chỉ trong sân thượng tế mới biết tình yêu ấy còn yếu. Vợ chồng nói yêu nhau trong ngày cưới rất dễ; những ngày bệnh tật, nghèo túng, hiểu lầm, tuổi già mới cho biết chữ “yêu” nặng bao nhiêu. Linh mục nói lời hứa ngày chịu chức trong bầu khí trang nghiêm; những năm tháng cô đơn, bị hiểu lầm, công việc không kết quả, sức khỏe suy giảm mới là nơi lời hứa ấy được thử bằng lửa. Tu sĩ khấn dòng trong tiếng hát, hoa và ánh nến; đời sống cộng đoàn thường ngày mới là nơi lời khấn được đóng vào thân xác. Đức tin cũng vậy. Tin Chúa khi mọi việc thuận lợi không quá khó. Tin khi cầu nguyện mà chưa thấy gì thay đổi, khi bệnh tật kéo dài, khi mất người thân, khi bị thất bại, khi trời như im lặng – lúc đó đức tin đi qua Thập Giá và trở nên thật.
Nhưng Tin Mừng không kết thúc vào chiều Thứ Sáu. Nếu chỉ có Thập Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo sẽ chỉ là một lời ca ngợi đau khổ. Không. Chúng ta không thờ đau khổ. Chúng ta thờ Đấng đã biến đau khổ thành con đường của tình yêu và sự sống. Thập Giá không phải lời cuối. Tình yêu mới là lời cuối. Ngôi mộ không giữ được Người đã yêu đến cùng. Chính vì thế, mọi hy sinh được thực hiện trong tình yêu đều không vô ích, dù mắt ta chưa thấy kết quả. Một người mẹ cầu nguyện suốt bao năm cho đứa con xa Chúa, đừng nghĩ nước mắt ấy mất đi. Một người cha âm thầm hy sinh mà con cái chưa hiểu, đừng nghĩ đời mình vô nghĩa. Một linh mục làm việc trong âm thầm không ai nhớ tên, đừng nghĩ sứ vụ thất bại. Một tu sĩ sống trung thành trong một cộng đoàn nhỏ bé, đừng nghĩ đời mình không sinh hoa trái. Một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả thù, đừng nghĩ mình thua. Mọi điều được đặt trong tình yêu của Đức Kitô đều có thể trở thành hạt lúa. Và hạt lúa thì phải nằm rất lâu trong lòng đất trước khi mùa gặt xuất hiện.
Đôi khi điều khó nhất không phải là chết vì người mình yêu, nhưng là sống mỗi ngày cho họ. Chết một lần có thể là một phút can đảm; sống cho nhau cần hàng chục năm kiên nhẫn. Chúa Giêsu nói “hy sinh mạng sống”, và chúng ta thường nghĩ tới tử đạo. Đúng, tử đạo là đỉnh cao. Nhưng trước khi có cuộc tử đạo bằng máu, có một cuộc tử đạo nhỏ bé mỗi ngày: tử đạo của cái tôi. Chết đi nhu cầu lúc nào cũng phải đúng. Chết đi sự ích kỷ. Chết đi thói quen chỉ nghĩ đến mình. Chết đi sự nóng nảy. Chết đi nhu cầu kiểm soát người khác. Chết đi cái tính nhớ rất lâu lỗi người khác nhưng quên rất nhanh lỗi của mình. Những cái chết nhỏ ấy đau không kém, vì cái tôi trong ta rất sợ bị đóng đinh. Ta có thể đeo Thập Giá trước ngực nhưng lại không muốn cái tôi mình bị đóng đinh chút nào.
Điều đáng buồn là đôi khi ngay cả việc phục vụ Chúa cũng có thể trở thành nơi cái tôi tìm cách sống. Ta làm việc đạo đức nhưng muốn được khen. Ta phục vụ nhưng muốn có vị trí. Ta cho đi nhưng muốn được nhớ ơn. Ta rao giảng nhưng thích người ta nói mình giảng hay. Ta làm việc bác ái nhưng muốn hình ảnh của mình xuất hiện. Ta nói rằng tất cả vì Chúa, nhưng nếu người ta không công nhận, ta giận. Khi ấy, ta chưa thực sự hiến mình; ta đang đầu tư để nhận lại một thứ khác tinh vi hơn tiền bạc: danh dự, ảnh hưởng, sự ngưỡng mộ. Chúa Giêsu trên Thập Giá không còn gì để chứng minh. Người bị hiểu lầm hoàn toàn. Người bị coi như thất bại. Người bị chế nhạo ngay trong lúc đang cứu những kẻ chế nhạo mình. Đó là tình yêu tinh ròng: yêu mà không giữ lại quyền được người khác hiểu đúng về mình.
Một trong những thử thách lớn nhất của đời người là làm điều tốt mà không được nhìn nhận. Ta có thể chịu cực nhưng khó chịu bị hiểu sai. Ta có thể hy sinh nhưng muốn người kia biết mình đã hy sinh. Chúa Giêsu có những năm tháng sống ở Nadarét mà Tin Mừng gần như im lặng. Ba mươi năm của Con Thiên Chúa trôi qua trong một làng nhỏ, không phép lạ nào được kể, không bài giảng nào được ghi. Đến khi công khai sứ vụ, cuối cùng Người lại bị xử như một kẻ phạm thượng. Nếu Chúa sống dựa trên sự nhìn nhận của người đời, sứ vụ ấy là một thất bại. Nhưng Người sống trước mặt Chúa Cha. Đây là một bài học lớn cho ta: tình yêu trưởng thành không cần lúc nào cũng có khán giả.
Có những người sống cả đời bên cạnh ta và hy sinh rất nhiều mà ta chỉ nhận ra khi họ mất. Khi còn mẹ, ta thấy những bữa cơm là chuyện bình thường. Khi mẹ không còn, mới hiểu có người đã dành hàng chục năm nghĩ xem hôm nay con ăn gì. Khi còn cha, ta thấy những lần cha lo lắng có khi thật phiền. Khi cha không còn, ta mới hiểu có một người đã cả đời đứng phía sau để mình được an toàn. Khi người bạn đời còn đó, ta quen với những việc nhỏ họ làm; đến một ngày chiếc ghế trống, mới biết bao nhiêu yêu thương từng đi ngang đời mình mà ta không kịp cảm ơn. Vì thế, đừng chờ mất nhau mới nhận ra giá trị của tình yêu. Đừng để lời “cảm ơn” trở thành câu nói trước một nấm mồ. Đừng đợi người thân không còn nghe được nữa mới nói: “Con thương cha mẹ”, “Anh thương em”, “Em thương anh”, “Tôi biết ơn anh”, “Tôi xin lỗi.”
Chúa Giêsu để tình yêu đóng đinh mình cũng mời ta xem lại cách ta sử dụng lời nói. Có những người không cầm búa đóng đinh ai, nhưng lời nói của họ là những chiếc đinh. Một câu nhục mạ có thể nằm trong tim một đứa trẻ hàng chục năm. Một câu chê bai của cha mẹ có thể làm con mất tự tin cả đời. Một câu nói trong lúc giận có thể giết chết một tình bạn. Một lời vu khống có thể hủy danh dự người khác. Chúng ta có thể rước Chúa bằng miệng, rồi cũng chính miệng ấy đóng đinh người khác bằng lời. Nếu Thập Giá không đi vào cách ta nói, đức tin vẫn còn đứng ngoài đời sống. Người môn đệ của Đấng bị đóng đinh phải học nói những lời làm người khác được sống: lời nâng đỡ, lời xin lỗi, lời cảm ơn, lời bênh vực người vắng mặt, lời cầu nguyện cho người làm mình đau.
Và còn một điều rất sâu: Chúa Giêsu không chỉ yêu những người tốt. Nếu Người chỉ chết cho người công chính thì có lẽ ta không có phần. Thánh Phaolô nói rằng ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Nghĩa là Thập Giá không phải phần thưởng cho người xứng đáng. Thập Giá là lòng thương xót dành cho kẻ bất xứng. Điều này thay đổi hoàn toàn cách ta nhìn người khác. Ta thường chia người thành hai nhóm: đáng yêu và không đáng yêu, người tốt với ta và người xấu với ta. Nhưng Chúa nhìn khác. Trong mỗi người, dù méo mó đến đâu, Người vẫn thấy một con người đáng được cứu. Điều ấy không có nghĩa tội lỗi không nghiêm trọng. Chính vì tội nghiêm trọng nên giá cứu chuộc mới là Thập Giá. Nhưng Chúa phân biệt con người với tội lỗi của họ. Người chống lại tội nhưng không ngừng yêu tội nhân. Đây là điều ta phải học nếu muốn thực sự mang trái tim của Đức Kitô.
Có những người trong cuộc đời mình ta rất khó yêu. Không cần giả vờ rằng ai cũng dễ thương. Có người tính tình làm ta mệt. Có người nói chuyện khiến ta khó chịu. Có người đã thực sự gây tổn thương. Tin Mừng không bảo ta phải có cảm giác dễ chịu với tất cả mọi người. Yêu trong nghĩa Kitô giáo trước hết là muốn điều thiện cho người khác, không tìm cách hủy họ, không nuôi ý trả thù, và sẵn sàng hành động theo điều thiện khi cần. Ta có thể không thích một người, nhưng vẫn cầu nguyện cho họ. Ta có thể không còn thân thiết, nhưng không cần nói xấu. Ta có thể phải giữ khoảng cách, nhưng không cần mong họ gặp họa. Đôi khi, đó đã là một hành trình rất lớn của ân sủng.
Một ngày kia, tất cả những gì ta đang giữ rồi cũng phải buông. Tiền bạc để lại. Nhà cửa để lại. Chức vụ để lại. Danh tiếng rồi nhạt. Những tranh hơn thua hôm nay đến lúc chết nhìn lại thật nhỏ. Có người dành nửa đời giận nhau vì một chuyện mà sau này chẳng ai còn nhớ rõ bắt đầu từ đâu. Có người mất cả anh em vì vài mét đất. Có người đánh mất bình an chỉ để chứng minh mình đúng. Nhưng khi nằm xuống, điều còn lại không phải là ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, mà là đã yêu được bao nhiêu. Thiên Chúa không hỏi ta đã làm cho bao nhiêu người sợ mình. Người hỏi ta có nhận ra Người nơi người bé nhỏ không. Cuối cùng, thước đo đời người là tình yêu.
Có lẽ vì vậy mà Chúa Giêsu không nói: “Không có tài năng nào cao cả hơn…” Không. Người cũng không nói: “Không có sự thành công nào cao cả hơn…” Người nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn…” Một người có thể rất tài giỏi mà không biết yêu. Có thể nói rất hay về Chúa mà lại làm người bên cạnh đau. Có thể hiểu rất nhiều thần học nhưng không biết xin lỗi. Có thể giữ mọi luật lệ mà trái tim cứng. Có thể thành công rực rỡ nhưng gia đình lạnh lẽo. Trước mặt Chúa, điều quan trọng nhất không phải là ta gây ấn tượng thế nào, mà là ta đã trở thành tình yêu đến đâu.
Thập Giá vì thế không chỉ là điều chúng ta nhìn lên để xin ơn. Thập Giá còn là tấm gương để soi. Nhìn lên Chúa chịu đóng đinh, ta phải hỏi: bàn tay này của tôi đã dùng để làm gì? Bàn tay Chúa bị đóng đinh vì đã chữa lành, nâng người ngã, chạm người phong cùi, bẻ bánh cho người đói. Bàn tay tôi có làm ai được lành không? Đôi chân Chúa bị đóng đinh vì đã đi tìm người tội lỗi, đi đến nhà người bị khinh, đi qua các làng mạc đem Tin Mừng. Đôi chân tôi đi đến đâu? Trái tim Chúa bị mở ra vì đã yêu đến cùng. Trái tim tôi mở hay đóng? Miệng Chúa trên Thập Giá vẫn nói lời tha thứ. Miệng tôi nói gì khi bị tổn thương?
Đời Kitô hữu không phải là làm cho mình đau càng nhiều càng tốt. Đời Kitô hữu là yêu đến mức sẵn sàng trả giá khi tình yêu đòi hỏi. Có những hy sinh không cần thiết vì chúng ta tự chuốc lấy, và Chúa không muốn ta tìm đau khổ. Nhưng khi vì trung thành, vì sự thật, vì tình yêu, vì bổn phận mà một thập giá đến, ta đừng bỏ chạy quá nhanh. Có thể chính nơi ấy ta sẽ gặp Chúa sâu hơn. Nhiều người chỉ thật sự biết cầu nguyện sau một biến cố làm họ tan vỡ. Nhiều gia đình chỉ nhận ra nhau quý giá sau một cơn bệnh. Nhiều linh mục chỉ thật sự hiểu lòng thương xót sau khi chính mình trải qua yếu đuối. Nhiều người chỉ biết cảm thông sau khi từng đi qua bóng tối. Thiên Chúa không tạo ra sự dữ, nhưng Người có thể lấy chính những mảnh vỡ của đời ta mà làm nên một cửa sổ cho ánh sáng đi qua.
Trước Thập Giá, ta cũng hiểu rằng Chúa không yêu ta vì ta hoàn hảo. Nếu đợi ta hoàn hảo rồi mới yêu, Chúa sẽ phải chờ mãi. Người yêu ta ngay trong sự lộn xộn, yếu đuối và tội lỗi của ta, nhưng tình yêu ấy không để ta ở nguyên đó. Người yêu ta để kéo ta ra. Đây là điều rất an ủi cho những ai đang thất vọng về mình. Có những người mang một quá khứ mà họ không thể tha cho chính mình. Có những lỗi lầm nhiều năm rồi vẫn trở lại như một tiếng kết án. Họ nghĩ mình không đáng với Chúa. Nhưng hãy nhìn Thập Giá. Giá ấy được trả chính vì ta không tự cứu mình được. Đừng biến sự khiêm nhường thành tuyệt vọng. Khiêm nhường thật là dám tin rằng lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội mình. Nếu Người đã mở hai tay trên Thập Giá, ta đừng đứng xa chỉ vì nghĩ mình không xứng. Chẳng ai xứng. Chúng ta được cứu vì Người yêu.
Và ai đã được yêu như thế thì không thể tiếp tục sống như thể mình chưa từng được yêu. Người được tha phải học tha. Người được thương xót phải biết thương xót. Người được Chúa kiên nhẫn phải tập kiên nhẫn với người khác. Có một nghịch lý đau lòng: ta muốn Chúa rất rộng với lỗi của mình nhưng lại muốn Người thật nghiêm với lỗi của kẻ khác. Ta xin Chúa đừng nhớ tội ta, nhưng ta nhớ rất kỹ lỗi người. Ta muốn Chúa cho mình thêm cơ hội, nhưng có khi chẳng cho người khác cơ hội thứ hai. Đứng trước Thập Giá, thái độ ấy không thể tồn tại mãi. Cùng một dòng máu đã chảy cho tôi cũng chảy cho người tôi đang ghét.
Có lẽ một trong những lời cầu nguyện cần thiết nhất là: “Lạy Chúa, xin dạy con yêu như Chúa, chứ không chỉ yêu như con muốn.” Vì cách yêu tự nhiên của ta rất có điều kiện. Chúa phải dạy ta. Và Người dạy không phải bằng lý thuyết, nhưng bằng đời Người. Khi ta muốn bỏ cuộc với một người, hãy nhớ Chúa đã không bỏ cuộc với ta. Khi ta muốn trả lại một câu đau, hãy nhớ Chúa đã im lặng trước những lời nhục mạ. Khi ta thấy mình đã cho quá nhiều, hãy nhìn cạnh sườn bị mở ra. Khi ta sợ hy sinh, hãy nhìn hai bàn tay thủng lỗ. Khi ta cảm thấy yêu mà chẳng được đáp lại, hãy nhớ có một Thiên Chúa đã yêu cả nhân loại trong khi rất nhiều người quay lưng.
Rồi sẽ đến lúc ta hiểu rằng Thập Giá không phải nơi tình yêu bị đánh bại. Thập Giá chính là nơi tình yêu chứng minh mình mạnh hơn mọi thứ muốn giết nó. Hận thù đóng đinh Chúa, nhưng không làm Chúa hận. Bạo lực làm Chúa chảy máu, nhưng không biến Người thành bạo lực. Phản bội làm Người đau, nhưng không làm Người ngừng yêu. Sự dữ sử dụng tất cả vũ khí của nó, và cuối cùng bất lực trước một người nhất quyết không ngừng yêu. Đó là chiến thắng của Thập Giá. Không phải chiến thắng bằng cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng bằng cách không để kẻ thù biến mình thành giống họ.
Trong thế giới hôm nay, có lẽ chứng tá cần thiết nhất của Kitô hữu không phải là nói nhiều hơn về tình yêu, nhưng yêu khác đi. Giữa một xã hội dễ loại bỏ người không còn hữu dụng, người môn đệ ở lại. Giữa một văn hóa trả đũa rất nhanh, người môn đệ biết dừng vòng xoáy. Giữa thời đại ai cũng muốn được thấy, người môn đệ biết làm điều tốt trong âm thầm. Giữa lúc con người dễ cắt đứt một mối tương quan chỉ vì vài bất đồng, người môn đệ cố gắng đối thoại và hòa giải. Giữa một thế giới lấy quyền lực làm tiêu chuẩn, người môn đệ chọn phục vụ. Chừng nào người ta nhìn vào đời chúng ta và không thấy điều gì khác ngoài cách sống của thế gian, chừng đó bài giảng về Thập Giá vẫn còn thiếu bằng chứng.
Sau cùng, mỗi lần nhìn Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin đừng chỉ nói: “Chúa đã đau quá.” Hãy nói thêm: “Chúa đã yêu con quá.” Bởi Thập Giá trước hết không phải là câu chuyện của những chiếc đinh, mà là câu chuyện của một tình yêu không chịu quay lui. Đinh giữ tay Chúa trên gỗ, nhưng nếu Chúa không yêu, không chiếc đinh nào đủ sức giữ Con Thiên Chúa ở đó. Chính tình yêu giữ Người lại. Người có thể xuống, nhưng Người ở lại. Người có thể gọi đạo binh thiên thần, nhưng Người không gọi. Người có thể kết thúc tất cả, nhưng Người chọn đi đến cùng. Không phải vì Người yếu, mà vì tình yêu mạnh đến mức dám trở nên yếu trước người mình yêu.
Và đây chính là điều làm ta nghẹn lòng: Chúa biết hết về ta mà vẫn yêu ta. Người biết những lần ta phản bội. Người biết những tội ta giấu người khác. Người biết cả những góc tối ta không muốn nhìn. Người biết sự ích kỷ, tự ái, nhỏ nhen, bất trung của ta. Người biết rồi vẫn đi lên Canvê. Không phải Người chết cho một phiên bản tốt đẹp mà ta hy vọng một ngày sẽ trở thành. Người chết cho chính ta, trong thực tế hiện tại của ta. Nếu điều ấy thật sự đi vào tim, người ta khó có thể sống như cũ.
Xin cho mỗi người chúng ta, khi quỳ trước Thập Giá, đừng chỉ xin Chúa cất thập giá của mình, nhưng xin Chúa dạy mình yêu trong thập giá ấy. Xin cho ta đừng chỉ xin Chúa thay đổi người khác, nhưng xin Người thay đổi trái tim ta. Xin cho ta biết rằng mỗi ngày đều có một Canvê rất nhỏ nơi ta được mời gọi đặt cái tôi xuống để tình yêu đứng lên. Một lời nhịn. Một lần tha. Một cuộc gọi về cho cha mẹ. Một bữa cơm ngồi lại với gia đình. Một người nghèo được nhìn bằng ánh mắt tôn trọng. Một người già được nghe. Một đứa trẻ được ôm. Một người làm ta đau được đặt vào lời cầu nguyện. Một bổn phận được làm đến nơi đến chốn mà chẳng cần ai biết. Đừng chê những Thập Giá nhỏ ấy. Chính từ đó, đời ta được biến thành của lễ.
Chúa Giêsu không chỉ nói về tình yêu. Người để tình yêu đóng đinh mình. Và từ ngày ấy, người Kitô hữu không còn có thể định nghĩa tình yêu bằng cảm xúc. Tình yêu có hình cây Thập Giá. Tình yêu có đôi tay mở rộng. Tình yêu có những vết thương. Tình yêu biết mất mình. Tình yêu biết ở lại. Tình yêu biết tha thứ. Tình yêu không hỏi mãi rằng “tôi được gì”, nhưng dần học hỏi “tôi còn có thể trao gì”. Tình yêu ấy có thể bị thương nhưng không trở thành hận thù; có thể bị phản bội nhưng không đánh mất phẩm chất của mình; có thể đi qua cái chết mà vẫn sinh sự sống.
Ước gì đến cuối đời, khi mọi chức danh đều bỏ lại, mọi thành công đều trở thành chuyện cũ, mọi tiếng vỗ tay đã im, ta còn có thể đặt đời mình trước Chúa và nói rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con đã không yêu được như Chúa, nhưng con đã cố học yêu từ Thập Giá của Chúa. Có nhiều lần con thất bại, nhiều lần con ích kỷ, nhiều lần con làm người khác đau. Nhưng nhờ lòng thương xót Chúa, con đã tập cho đi, tập tha, tập ở lại, tập chết đi một chút mỗi ngày để người khác được sống.” Có lẽ lúc ấy ta sẽ hiểu trọn vẹn lời Người: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu.”
Và có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta đã nói về tình yêu hay đến đâu. Người sẽ nhìn đôi tay ta, những đôi tay đã từng phục vụ hay chỉ nắm giữ; nhìn trái tim ta, trái tim đã mở ra hay đóng kín; nhìn những vết thương ta mang, xem ta đã biến chúng thành lòng thương xót hay thành cay đắng. Và nếu trong đời mình, ta đã để tình yêu đóng đinh một phần ích kỷ, một phần kiêu ngạo, một phần tự ái, để người khác được sống hơn, thì những vết thương ấy sẽ không còn là dấu thất bại. Chúng sẽ giống những vết thương của Đấng Phục Sinh: vẫn còn đó, nhưng đã trở thành dấu chỉ rằng tình yêu đã đi qua cái chết và thắng được cái chết.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin đừng để chúng con chỉ biết ngước nhìn Thập Giá mà không chịu sống Thập Giá. Xin đừng để chúng con cảm động trước những vết thương của Chúa rồi lại vô tâm gây thương tích cho nhau. Xin đừng để chúng con hát về tình yêu mà trong nhà mình có người đang khát một lời tử tế. Xin đừng để chúng con nói về tha thứ mà vẫn nuôi hận. Xin đừng để chúng con rước lấy Mình Máu Chúa, Đấng đã tự hiến, mà đời chúng con lại chỉ biết giữ cho mình. Xin cho tình yêu của Chúa đi từ bàn thờ vào căn nhà của chúng con, từ Thánh Lễ vào cách chúng con nói chuyện, từ Thập Giá vào cách chúng con chịu đựng nhau, từ trái tim bị đâm thâu của Chúa vào trái tim nhiều tự ái của chúng con. Và khi yêu trở nên khó, khi yêu bắt đầu đau, khi yêu đòi phải chết đi một chút, xin cho chúng con đừng vội nghĩ rằng tình yêu đã hết. Có khi chính lúc ấy, tình yêu mới bắt đầu giống Chúa nhất.
Lm. Anmai, CSsR

KHÔNG CÓ TÌNH YÊU NÀO LỚN HƠN
Tin Mừng: Ga 15,9-17
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Có những lời của Chúa Giêsu ta nghe quá quen đến nỗi đôi khi không còn thấy sức nặng của lời ấy nữa. Ta nghe trong Thánh lễ, nghe trong lễ cưới, nghe trong ngày khấn dòng, nghe trong lễ truyền chức, nghe khi tiễn biệt một người đã sống một đời tận tụy, và rồi câu Tin Mừng ấy có thể đi ngang qua lòng ta như một câu nói đẹp. Nhưng nếu dừng lại thật lâu trước lời của Chúa: “Không có tình thương nào cao cả hơn…”, ta sẽ nhận ra rằng Chúa không nói về một thứ tình yêu nhẹ nhàng để trang trí cuộc đời. Chúa đang nói về một tình yêu phải trả giá. Một tình yêu đi đến chỗ trao mình. Một tình yêu không hỏi mình sẽ nhận lại được gì, nhưng hỏi mình còn có thể cho đi điều gì. Một tình yêu không đứng ngoài nỗi đau của người khác mà bước vào đó. Một tình yêu không chỉ ở lại khi người kia dễ thương, dễ chịu, biết ơn, nhưng còn ở lại khi người kia yếu đuối, thất bại, làm mình thất vọng, thậm chí làm mình đau. Và điều quan trọng nhất là: trước khi nói những lời ấy, Đức Giêsu đã chuẩn bị để chính Người sống trọn lời ấy trên Thập Giá. Người không dạy một điều Người không làm. Người không yêu bằng những bài diễn văn. Người yêu bằng chính thân mình. Người yêu bằng những bước chân đi vào cuộc khổ nạn. Người yêu bằng đôi tay sẽ bị đóng đinh. Người yêu bằng trái tim sẽ bị đâm thâu. Người yêu cho đến giọt máu cuối cùng. Bởi vậy, mỗi lần nghe “không có tình yêu nào lớn hơn”, người Kitô hữu không chỉ nghĩ đến một tình cảm cao đẹp; ta phải nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Nơi đó, tình yêu có khuôn mặt. Nơi đó, tình yêu có vết thương. Nơi đó, tình yêu có giá. Nơi đó, ta hiểu rằng yêu thật không phải là giữ người khác cho mình, nhưng có khi là để đời mình hao mòn đi vì người khác được sống.
Tin Mừng hôm nay mở đầu bằng một lời rất dịu dàng: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Chúa Giêsu không chỉ nói rằng Người yêu các môn đệ. Người còn cho biết nguồn của tình yêu ấy: như Chúa Cha yêu Người, Người yêu chúng ta. Nghĩa là tình yêu chúng ta nhận được không phải là một chút dư thừa trong trái tim Thiên Chúa, không phải là một thứ thương hại dành cho những con người tội lỗi, mà là tình yêu bắt nguồn từ chính sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta được mời bước vào dòng chảy tình yêu giữa Cha và Con. Và Chúa nói: “Hãy ở lại.” Hai chữ ấy thật đẹp. Chúa không bảo: hãy ghé qua tình yêu của Thầy khi anh em buồn. Chúa không bảo: hãy nhớ đến tình yêu của Thầy khi mọi thứ sụp đổ. Chúa nói: “Hãy ở lại.” Ở lại nghĩa là cư ngụ. Ở lại nghĩa là để tình yêu Chúa trở thành nơi mình sống. Ở lại nghĩa là khi vui cũng ở đó, khi buồn cũng ở đó; thành công ở đó, thất bại ở đó; khỏe mạnh ở đó, bệnh tật ở đó; lúc được người ta tung hô ở đó, lúc bị hiểu lầm cũng ở đó. Người môn đệ không phải là người chỉ chạy đến với Chúa khi hết đường. Người môn đệ là người ở lại trong tình yêu Chúa đến mức mọi chọn lựa, mọi tương quan, mọi lời nói, mọi hy sinh của mình đều bắt đầu từ một câu hỏi: nếu Chúa yêu tôi như thế, hôm nay tôi phải yêu người bên cạnh mình thế nào?
Chúa Giêsu nói tiếp: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy.” Nghe đến “điều răn”, nhiều người nghĩ ngay đến luật lệ, đến những điều phải làm, những điều bị cấm. Nhưng điều răn mà Chúa Giêsu đặt ở trung tâm lại rất đơn giản và cũng vô cùng khó: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Không phải yêu nhau theo khả năng của ta. Không phải yêu nhau khi thấy hợp. Không phải yêu nhau chừng nào người kia còn đáp ứng mong đợi của ta. Chuẩn mực là: như Thầy đã yêu thương anh em. Đó là một chuẩn mực khiến ai thành thật cũng phải thấy mình còn thiếu rất nhiều. Chúa yêu Phêrô khi biết ông sẽ chối mình. Chúa yêu các môn đệ khi biết họ sẽ chạy trốn. Chúa cúi xuống rửa chân Giuđa khi biết bàn chân ấy lát nữa sẽ bước ra khỏi phòng tiệc để dẫn người ta đến bắt Người. Chúa yêu không phải vì những người trước mặt xứng đáng, nhưng vì bản chất của Người là yêu. Còn chúng ta thường yêu vì người kia đáng yêu; khi họ không còn đáng yêu theo tiêu chuẩn của ta nữa, ta rút tình yêu về. Chúng ta dễ dàng nói: “Tôi đã hết lòng rồi.” “Tôi chịu đủ rồi.” “Tôi không nợ họ gì nữa.” Có khi những câu ấy hoàn toàn có lý theo tính toán con người. Nhưng Thập Giá lại đặt trước ta một lối tính khác. Đức Giêsu không hỏi nhân loại có xứng đáng để Người chết hay không. Nếu hỏi như thế, có lẽ Canvê đã không bao giờ xảy ra. Người chỉ biết rằng nhân loại cần được cứu và Người yêu nhân loại. Tình yêu lớn nhất bắt đầu từ đó.
Bởi vậy, lời Chúa hôm nay đặc biệt sâu xa đối với đời sống hôn nhân. Ngày cưới, đôi bạn nhìn nhau trong bộ áo đẹp nhất, giữa hoa, nến, lời chúc, tiếng nhạc, những nụ cười. Họ nói với nhau những lời lớn lao: yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời. Nhưng hôn nhân thật sự không được làm nên bởi ngày cưới. Hôn nhân được làm nên bởi hàng nghìn ngày sau ngày cưới, nhất là những ngày không có hoa, không có nhạc, không còn cảm giác mới mẻ, chỉ có những bổn phận lặp đi lặp lại, những bữa cơm, những hóa đơn, những đứa trẻ khóc, cha mẹ già yếu, bệnh tật, áp lực công việc, những khác biệt tính tình mỗi ngày hiện rõ hơn. Khi ấy người ta mới hiểu tình yêu không phải là cảm giác ngọt ngào mà là một quyết định được làm mới mỗi ngày: hôm nay tôi vẫn chọn người này. Hôm nay tôi vẫn ở lại. Hôm nay tôi vẫn nhẫn nại. Hôm nay tôi vẫn tập nghe. Hôm nay tôi vẫn bớt đi một chút cái tôi để mái nhà còn bình an. Hôm nay tôi vẫn không dùng một lỗi lầm cũ làm vũ khí cho cuộc cãi vã mới. Hôm nay tôi vẫn gìn giữ phẩm giá của người tôi đã chọn, ngay cả khi đang giận họ. Hôm nay tôi vẫn không đem những thiếu sót riêng tư của vợ, của chồng ra làm chuyện mua vui cho người khác. Hôm nay tôi vẫn biết nói lời cảm ơn. Hôm nay tôi vẫn biết xin lỗi. Hôm nay tôi vẫn nhớ rằng người đang đứng trước mặt mình không phải là đối thủ cần thắng, mà là người mình đã từng cầm tay trước bàn thờ và hứa sẽ cùng đi đến cuối đời.
Có những cuộc hôn nhân không chết vì một biến cố lớn, nhưng chết dần bởi hàng nghìn điều nhỏ. Một câu nói coi thường. Một lần lạnh lùng. Một thái độ xem sự hy sinh của người kia là đương nhiên. Một bữa cơm ai cũng cầm điện thoại. Một lời cảm ơn không còn được nói. Một ánh mắt không còn nhìn nhau. Một người cứ âm thầm cho đi và một người cứ mặc nhiên nhận lấy. Tình yêu không phải chỉ bị giết bởi phản bội. Tình yêu còn bị bào mòn bởi sự vô tâm. Có những người chồng mang tiền về nhà nhưng quên mang trái tim về. Có những người vợ chăm sóc mọi thứ trong gia đình nhưng vì quá mệt mỏi mà không còn một lời dịu dàng. Có những người ở chung một mái nhà nhiều năm nhưng tâm hồn lại cách nhau rất xa. Và rồi người ta hỏi: “Tại sao tình yêu ngày xưa biến mất?” Có thể tình yêu không biến mất trong một đêm. Nó chỉ không được chăm sóc. Chúa Giêsu nói: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Hôn nhân cũng cần hai người ở lại trong tình yêu, không phải chỉ ở lại trong cùng một căn nhà. Ở lại nghĩa là tiếp tục tìm đường đến với nhau. Ở lại nghĩa là dù có vết thương vẫn không nuôi ý muốn làm người kia đau lại. Ở lại nghĩa là khi không tự mình sửa được nữa thì biết tìm sự trợ giúp. Ở lại không có nghĩa là dung túng cho bạo hành, xúc phạm hay sự dữ; tình yêu chân thật luôn đi cùng sự thật và phẩm giá. Nhưng ở lại trong tình yêu nghĩa là ngay cả khi phải đặt ranh giới, ta vẫn không để hận thù trở thành ông chủ của trái tim.
“Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu.” Trong gia đình, ít khi người ta phải chết một lần vì nhau, nhưng người ta phải “chết” rất nhiều lần cho nhau. Một người mẹ thức giữa đêm khi con bệnh là chết đi một chút cho giấc ngủ của mình. Một người cha lặng lẽ làm việc trong những ngày mệt mỏi để gia đình được đủ đầy là chết đi một phần sự thoải mái của mình. Một người vợ chăm người chồng bệnh lâu năm là chết đi nhiều dự định riêng. Một người chồng kiên nhẫn đồng hành với vợ trong giai đoạn yếu đuối là chết đi sự nóng nảy và ích kỷ của mình. Một đứa con chăm cha mẹ già, lặp đi lặp lại một câu nói vì cha mẹ không còn nhớ, là chết đi một phần thời gian và tiện nghi của mình. Những cái chết ấy không có tiếng vỗ tay. Không ai dựng tượng. Không ai viết báo. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, đó có thể là những Thập Giá rất đẹp. Ta thường tưởng rằng một đời lớn lao phải làm những điều phi thường. Không. Nhiều cuộc đời thánh thiện được làm nên bằng những hy sinh chẳng ai biết. Một chén nước. Một bữa cơm. Một lần nhịn lời. Một chuyến xe đưa người thân đi bệnh viện. Một đêm ngồi bên giường bệnh. Một tháng lương âm thầm gửi về cho cha mẹ. Một quyết định tha thứ. Một cuộc điện thoại làm hòa. Một cái nắm tay không buông trong những ngày đen tối nhất. Tình yêu lớn thường mặc áo rất bình thường.
Lời Chúa hôm nay cũng chạm rất sâu vào đời linh mục. Người linh mục được gọi là mục tử, nhưng mục tử của Tin Mừng không sống nhờ đoàn chiên mà sống cho đoàn chiên. Ngày chịu chức, linh mục nằm phủ phục trên nền nhà thờ. Hình ảnh ấy thật đẹp nhưng cũng thật đáng sợ. Nằm xuống để nói rằng từ nay cuộc đời này không còn hoàn toàn thuộc về mình nữa. Bàn tay được xức dầu để chúc lành, để cử hành Thánh Thể, để tha thứ, để nâng đỡ, nhưng chính đôi tay ấy cũng được mời gọi chịu hao mòn vì dân Chúa. Linh mục không được gọi trước hết để có một địa vị trong Giáo Hội, nhưng để trở thành một đời sống được bẻ ra. Mỗi lần linh mục cầm lấy bánh và nói: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”, nếu câu ấy chỉ nói về Đức Kitô mà không dần trở thành câu chuyện đời mình, chức linh mục sẽ có nguy cơ chỉ còn là một vai trò. Bởi vì đời linh mục chỉ đẹp khi trên bàn thờ và ngoài cuộc đời là một. Trên bàn thờ bẻ bánh; ngoài đời cũng phải biết để mình bị bẻ ra vì người khác. Trên bàn thờ nâng chén; ngoài đời cũng phải biết uống những chén đắng của bổn phận. Trên bàn thờ nói về tha thứ; ngoài đời phải học tha thứ. Trên bàn thờ nói “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”; ngoài đời phải trở thành người xây bình an. Trên bàn thờ nói về Đức Kitô tự hiến; ngoài đời không thể chỉ tìm tiện nghi cho mình.
Có những hy sinh của linh mục chẳng ai thấy: ngồi tòa giải tội khi thân xác mệt mỏi; đi thăm một người bệnh trong giờ mình muốn nghỉ; nghe đi nghe lại một câu chuyện mà người nói chỉ cần có ai đó lắng nghe; chịu những lời hiểu lầm mà không thể giải thích tất cả; sống cô đơn giữa rất nhiều người; cố gắng giữ một trái tim hiền lành dù có lúc bị chính người mình phục vụ làm tổn thương; cầu nguyện cho những người đã trách móc mình; cử hành Thánh lễ khi trong lòng đang có những nỗi buồn không thể nói. Đó là những nơi lời “không có tình yêu nào lớn hơn” trở thành thịt máu. Và cũng phải thành thật rằng linh mục có thể bị cám dỗ đi tìm một Kitô giáo không có Thập Giá: muốn được yêu nhưng sợ bị tổn thương, muốn được kính trọng nhưng ngại phục vụ, muốn người khác hy sinh cho mình hơn là mình hy sinh cho họ. Khi ấy phải trở lại với Đức Kitô chịu đóng đinh. Chức linh mục không được cứu bằng tài năng, không được cứu bằng tiếng vỗ tay, không được cứu bằng số người biết đến mình. Chức linh mục được giữ đẹp bằng tình yêu trung tín, âm thầm và tự hiến. Đến cuối đời, điều đáng hỏi không phải: tôi đã làm được bao nhiêu công trình? Bao nhiêu người biết tên tôi? Bao nhiêu nơi mời tôi? Nhưng là: có ai đã gặp được lòng thương xót của Chúa nhờ cuộc đời tôi không? Có người nào đã bớt tuyệt vọng vì tôi đã ở bên họ không? Có người tội lỗi nào dám trở về vì tôi không khép cửa không? Có người đau khổ nào thấy Thiên Chúa gần hơn vì tôi biết ngồi xuống bên họ không?
Đời tu cũng vậy. Người tu sĩ không khấn để trở thành một người khác thường, càng không khấn để tìm một đời sống an toàn trong cơ cấu. Khấn dòng là đặt đời mình trong tay Chúa, để từ đó đời mình trở thành quà tặng. Khi người tu sĩ tuyên khấn khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, đằng sau ba lời khấn ấy là một lời duy nhất: con thuộc về Chúa và vì thuộc về Chúa, con sẵn sàng để đời mình được dùng cho anh chị em. Nhưng những lý tưởng của ngày khấn chỉ trở thành sự thật qua những năm tháng rất bình thường. Yêu Chúa trong nhà nguyện có thể rất sốt sắng; yêu người anh em khó tính sống cạnh mình mới là nơi tình yêu được thử. Vâng phục khi điều được trao hợp ý mình thì dễ; vâng phục trong những điều làm cái tôi phải đau mới cho thấy mình đã trao đời thật chưa. Khó nghèo không chỉ là không sở hữu nhiều đồ đạc; khó nghèo còn là không giữ chặt ý riêng, danh dự riêng, kế hoạch riêng. Khiết tịnh không chỉ là không lập gia đình; khiết tịnh là có một trái tim rộng đủ để không chiếm hữu ai và không biến ai thành nơi bù đắp những khoảng trống của mình. Đời tu có thể rất đẹp trong ngày lễ khấn với hoa và tiếng hát, nhưng vẻ đẹp thật lại nằm trong những buổi sáng thức dậy khi lý tưởng không còn cảm xúc, trong những năm tháng trung thành khi người ta không còn thấy mình đặc biệt, trong những bổn phận lặp lại, trong việc sống với những con người không do mình chọn. Chính lúc ấy, tình yêu trở thành hy lễ.
Có người bước vào đời tu với nhiều ước mơ lớn, rồi một ngày nhận ra thập giá lớn nhất không nằm ở sứ vụ xa xôi mà nằm ngay trong cộng đoàn mình. Người ta có thể sẵn lòng đi đến vùng truyền giáo nhưng khó chịu nổi một người anh em nói dai. Có thể muốn phục vụ người nghèo nhưng lại không chịu được một lời góp ý. Có thể quỳ hàng giờ trước Thánh Thể nhưng không chịu nhường một chuyện rất nhỏ. Chính vì thế, lời Chúa “hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” luôn là thước đo nghiêm khắc nhất của đời thánh hiến. Không phải ta cầu nguyện bao lâu, nói hay thế nào, làm bao nhiêu công việc, nhưng ta đã học yêu những người Chúa đặt ngay bên cạnh ta chưa? Một cộng đoàn không thiếu kinh nguyện mà thiếu lòng thương nhau vẫn có thể trở nên lạnh. Một cộng đoàn có nhiều hoạt động mà các thành viên không còn khả năng ngồi lại, xin lỗi, tha thứ và chịu đựng nhau thì vẫn chưa diễn tả được khuôn mặt Đức Kitô. Chúa không bảo: “Người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy nếu anh em làm được những việc thật lớn.” Chúa đặt dấu chỉ nơi tình yêu.
Và Tin Mừng hôm nay cũng là một tuyệt tác về tình bạn. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa… nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu.” Có lẽ ta nghe quá quen nên không còn ngạc nhiên. Thiên Chúa gọi con người là bạn. Đức Giêsu gọi những con người yếu đuối ấy là bạn. Người biết rõ họ. Người biết Phêrô nóng nảy. Người biết Tôma chậm tin. Người biết Giacôbê và Gioan từng muốn tìm chỗ cao. Người biết họ sẽ bỏ chạy. Vậy mà Người vẫn gọi: bạn hữu. Tình bạn của Chúa không được xây trên ảo tưởng về con người. Người biết mọi góc tối của họ mà vẫn yêu. Đây là điều làm ta bình an: Thiên Chúa không yêu một phiên bản lý tưởng của ta. Người yêu chính ta, con người thật này, với cả lòng quảng đại lẫn những yếu đuối, với cả niềm tin lẫn những ngày hoang mang. Và vì được Chúa gọi là bạn, ta cũng được dạy cách làm bạn với người khác.
Bạn thật không phải là người luôn nói điều ta muốn nghe. Bạn thật là người đủ yêu để nói sự thật nhưng nói trong tình thương. Bạn thật là người không bỏ đi khi thấy mặt xấu của ta. Bạn thật là người vui khi ta thành công mà không âm thầm ghen tị. Bạn thật là người dám ở bên ta khi ta không còn gì hấp dẫn. Bạn thật là người giữ kín nỗi yếu đuối ta đã trao, không đem câu chuyện của ta ra làm vốn cho những cuộc trò chuyện khác. Có những người có hàng nghìn người theo dõi nhưng không có một người bạn có thể gọi lúc hai giờ sáng. Có những người điện thoại đầy tên nhưng lòng lại trống. Thời đại này kết nối rất nhiều nhưng chưa chắc đã gần nhau hơn. Người ta dễ “thả tim” cho nhau nhưng khó ngồi bên nhau một giờ. Dễ nhắn “cố lên” nhưng khó bước vào nỗi đau của nhau. Dễ chúc mừng thành công nhưng khó ở cạnh lúc thất bại. Tình bạn Tin Mừng là một tình bạn có sự hiện diện. Đức Giêsu đã ở với các môn đệ. Người đi với họ, ăn với họ, chịu đựng họ, sửa dạy họ, tha thứ cho họ và cuối cùng chết cho họ. Đó là tình bạn có giá.
Tuy nhiên, nói về hy sinh rất dễ bị hiểu sai. Tình yêu Kitô giáo không có nghĩa là phải để người khác chà đạp phẩm giá mình. Hy sinh không đồng nghĩa với dung túng sự dữ. Tha thứ không có nghĩa là gọi điều sai thành đúng. Một người vợ bị bạo hành không bị Tin Mừng buộc phải im lặng để chứng minh tình yêu. Một người bị lạm dụng không có bổn phận tiếp tục đặt mình trong nguy hiểm. Chúa Giêsu hiến mạng vì yêu, nhưng Người cũng nói sự thật. Người tha thứ, nhưng không đồng lõa. Tình yêu chân thật đôi khi phải nói “không”; đôi khi phải đặt giới hạn; đôi khi phải rời khỏi một hoàn cảnh nguy hiểm; đôi khi phải tìm sự trợ giúp. Nhưng khác biệt nằm ở chỗ: người Kitô hữu không để lòng mình bị đầu độc bởi ý muốn trả thù. Tình yêu của Đức Kitô không biến ta thành người yếu đuối; tình yêu ấy làm ta đủ mạnh để không dùng cái ác chống lại cái ác.
Có lẽ điều khó nhất của câu “không có tình yêu nào lớn hơn” là chữ hy sinh. Con người tự nhiên muốn bảo toàn mình. Ta muốn được hiểu, được tôn trọng, được đáp lại. Ta thường cân đong: tôi cho bao nhiêu, người kia cho bao nhiêu? Tôi đã gọi ba lần, họ mới gọi một lần. Tôi đã giúp họ, sao lúc tôi khó khăn họ không giúp? Tôi đã hy sinh cho gia đình bao nhiêu, sao chẳng ai biết ơn? Những cảm giác ấy rất thật. Ai cũng cần được trân trọng. Nhưng nếu tình yêu chỉ tồn tại khi cán cân luôn cân bằng, thì đó vẫn là một tình yêu rất mong manh. Đức Giêsu không yêu chúng ta theo sổ sách. Người không đứng trên Thập Giá tính xem nhân loại đã trả lại Người bao nhiêu. Tình yêu lớn bắt đầu khi người ta có thể cho mà không biến món quà thành hóa đơn đòi người khác thanh toán. Bao nhiêu gia đình đau vì câu: “Tôi đã làm cho anh thế này…” Bao nhiêu cha mẹ sau nhiều năm hy sinh vô tình biến công lao thành món nợ đè lên con cái. Bao nhiêu người làm việc tốt rồi thất vọng vì không được nhắc tên. Ta có thể hy sinh rất nhiều nhưng nếu ngày nào cũng nhắc người khác rằng họ đang mắc nợ ta, sự hy sinh ấy dần mất vẻ đẹp. Đức Kitô cho đi mà không làm nhục người nhận. Đó mới là tình yêu.
Một trong những biểu hiện đẹp nhất của tình yêu là khả năng chịu thiệt mà không biến thành cay đắng. Không phải chịu thiệt vì hèn, nhưng vì có những điều quan trọng hơn việc chứng minh mình đúng. Trong gia đình, có những cuộc cãi vã mà người thắng lại là người thua nhiều nhất, vì thắng lý nhưng mất tình. Có những câu nói hoàn toàn đúng nhưng nói ra vào lúc ấy chỉ để làm người khác đau. Có những lỗi nhỏ nếu ta giữ mãi, cuối cùng nó lớn hơn cả mối quan hệ. Tình yêu biết chọn điều đáng giữ. Người trưởng thành không phải là người luôn đòi công bằng cho từng chút của mình, nhưng biết có những lúc vì yêu, mình có thể chịu phần ít hơn, chậm hơn, thiệt hơn. Cha mẹ làm điều ấy với con cái mỗi ngày. Người phối ngẫu làm điều ấy khi chăm nhau lúc bệnh. Linh mục làm điều ấy khi phục vụ mà không được hiểu. Tu sĩ làm điều ấy trong cộng đoàn. Bạn hữu làm điều ấy khi người kia đang trong một giai đoạn không thể đáp lại. Đó không phải yếu đuối. Có những nhường nhịn đòi sức mạnh lớn hơn rất nhiều so với tranh thắng.
Nhưng tình yêu lớn không phải là một cơn anh hùng bộc phát. Nó được chuẩn bị bằng những điều rất nhỏ. Một người không tập hy sinh trong những chuyện nhỏ sẽ khó hy sinh khi chuyện lớn đến. Ta không tự nhiên trở thành người biết trao mạng sống. Mỗi ngày ta tập chết đi một chút: chết cho tính nóng nảy, chết cho nhu cầu luôn được công nhận, chết cho thói quen muốn người khác làm theo ý mình, chết cho sự ích kỷ, chết cho việc phải có lời cuối cùng. Đó là những “thập giá hằng ngày” không ai thấy. Có khi việc lớn nhất một người chồng làm cho gia đình hôm nay chỉ là về đến nhà và không trút cơn bực bội ở công ty lên vợ con. Việc lớn nhất một người vợ làm là không dùng một lỗi cũ để đâm lại chồng trong lúc giận. Việc lớn nhất một linh mục làm là lắng nghe thêm mười phút dù đã mệt. Việc lớn nhất một tu sĩ làm là mỉm cười với người anh em mình đang khó chịu. Việc lớn nhất một người bạn làm là giữ im lặng về bí mật bạn mình đã kể. Việc lớn nhất một đứa con làm là bỏ điện thoại xuống để nghe cha mẹ già kể câu chuyện đã kể nhiều lần. Những điều ấy nhỏ nhưng đó chính là nơi tình yêu được luyện thành.
Chúa Giêsu còn nói: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em.” Một câu rất quan trọng cho mọi ơn gọi. Trong hôn nhân, có thể ta nói tôi chọn người này làm vợ, làm chồng; nhưng sâu hơn, người có đức tin còn nhận ra người ấy được trao cho đời mình như một con đường nên thánh. Trong linh mục, đời tu, ta càng rõ: không phải vì ta giỏi hơn ai mà được gọi. Chúa chọn những con người rất bình thường, thậm chí mong manh, để qua họ tình yêu của Người tiếp tục hiện diện. Và Chúa chọn để “anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại.” Hoa trái tồn tại không nhất thiết là những công trình mang tên ta. Có khi hoa trái lớn nhất là một con người đã biết yêu hơn vì từng được ta yêu. Một đứa con lớn lên mang theo ký ức rằng cha mẹ đã không bỏ nhau giữa những ngày khó. Một giáo dân nhớ mãi vị linh mục đã ngồi bên giường bệnh của mẹ họ. Một người trẻ tiếp tục ơn gọi vì ngày nào đó có một tu sĩ đã tin họ khi chính họ không tin mình. Một người tuyệt vọng đã không tự bỏ cuộc vì một người bạn chịu ngồi lại. Những hoa trái ấy chẳng có bảng tên nhưng tồn tại lâu hơn nhiều công trình bằng đá.
Rồi sẽ đến một ngày những thứ ta đã vất vả gom góp đều phải để lại. Tiền bạc, nhà cửa, chức vụ, danh tiếng, những tấm bằng, những thành tựu, những lời khen. Cuối cùng điều còn lại trong lòng người khác về ta thường rất đơn giản: người ấy đã đối xử với tôi thế nào? Tôi có được yêu không? Tôi có được tôn trọng không? Khi tôi ngã, người ấy có đạp thêm hay đưa tay? Khi tôi sai, người ấy có chỉ biết kết án hay cho tôi một con đường trở về? Khi tôi chẳng còn ích lợi gì, người ấy còn ở lại không? Đời người tưởng dài mà ngắn lắm. Có những người dành nửa đời để hơn thua rồi đến cuối đời mới nhận ra thứ đáng giữ nhất là những người mình đã làm tổn thương. Có người kiếm được rất nhiều tiền nhưng không mua lại được bữa cơm gia đình đã mất. Có người giữ được cái tôi nhưng mất một người bạn. Có người thắng một cuộc tranh luận nhưng đánh mất một trái tim. Đến cuối cùng, ta mới hiểu: tình yêu mới là tài sản duy nhất mang được qua bên kia sự chết.
Và cũng chính vì thế, Đức Giêsu đã chọn con đường Thập Giá. Nếu chỉ muốn chứng minh quyền năng, Người có vô số cách khác. Nhưng Người muốn cho ta biết Thiên Chúa là ai. Thiên Chúa là Đấng yêu đến cùng. Canvê không phải là thất bại của tình yêu nhưng là nơi tình yêu được mặc khải trọn vẹn nhất. Người ta lấy áo Chúa; Người vẫn yêu. Người ta đội vòng gai; Người vẫn yêu. Người ta đóng đinh tay chân; Người vẫn yêu. Người ta chế nhạo; Người vẫn yêu. Người ta bỏ Người cô độc; Người vẫn yêu. Người ta đâm cạnh sườn; trái tim mở ra vẫn chỉ có máu và nước. Không có một giọt hận thù nào chảy từ cạnh sườn Đức Kitô. Đó là lý do Thập Giá cứu thế giới. Không phải vì đau khổ tự nó cứu được, nhưng vì nơi đó có một tình yêu đi xuyên qua đau khổ mà không biến thành hận thù. Đó là chiến thắng lớn nhất mà nhân loại từng thấy.
Vậy hôm nay, khi nghe “không có tình yêu nào lớn hơn”, đừng vội nghĩ đến những chuyện thật xa. Hãy nhìn xem ai đang sống bên cạnh mình. Có thể Chúa không đòi ta chết một lần cho họ. Chúa chỉ mời ta bớt sống cho mình một chút. Có một người trong gia đình đang cần ta lắng nghe không? Có một người bạn ta đã để quá lâu không hỏi thăm? Có một người mà chỉ vì tự ái ta chưa chịu làm hòa? Có một người đang bệnh cần một cuộc viếng thăm? Có cha mẹ già đang chờ một cuộc điện thoại? Có vợ hay chồng đang mệt nhưng ta chỉ nhìn thấy thiếu sót của họ? Có một người trong cộng đoàn mà ta đã âm thầm đóng khung bằng một thành kiến? Có ai đó từng làm ta đau mà cái tên của họ mỗi lần nhớ đến vẫn làm lòng ta tối lại? Có lẽ lời Chúa hôm nay không cần ta làm điều gì quá lớn. Chỉ cần bắt đầu lại bằng một cử chỉ nhỏ. Tình yêu lớn thường bắt đầu bằng bước chân rất nhỏ.
Và nếu có lúc ta thấy mình không đủ sức yêu như thế, điều ấy cũng không lạ. Không ai tự mình yêu được như Đức Kitô. Vì thế Chúa không chỉ nói: “Hãy yêu”, Người nói trước: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Ta phải để Chúa yêu mình trước. Người không được yêu thì rất khó yêu. Người không biết mình được tha thứ thì khó tha thứ. Người luôn phải chứng minh giá trị của mình sẽ dễ biến các mối tương quan thành nơi tìm kiếm sự công nhận. Nhưng khi một người thật sự biết mình được Thiên Chúa yêu vô điều kiện, họ bắt đầu tự do. Không cần phải thắng mọi cuộc tranh luận. Không cần người khác luôn khen mình. Không cần nắm giữ ai. Không cần trả đũa để chứng minh sức mạnh. Bởi họ biết giá trị mình nằm trong ánh mắt của Thiên Chúa. Và từ sự bình an ấy, họ có thể yêu.
Có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất hôm nay là: Lạy Chúa, xin đừng chỉ cho con cảm động trước tình yêu của Chúa; xin làm cho con biết yêu như Chúa. Xin cho con biết ở lại khi muốn bỏ đi chỉ vì tự ái. Xin cho con biết im lặng khi lời sắp nói chỉ làm người khác đau. Xin cho con can đảm nói sự thật khi im lặng trở thành đồng lõa. Xin cho con biết phục vụ mà không kể công. Xin cho con biết cho đi mà không đòi người khác mắc nợ. Xin cho con biết yêu gia đình mình không chỉ trong những ngày vui mà cả những ngày mỏi mệt. Xin cho người chồng biết yêu vợ như một quà tặng chứ không như người phải phục vụ mình. Xin cho người vợ biết nhìn chồng bằng ánh mắt cảm thông chứ không chỉ bằng những thất vọng tích lũy. Xin cho cha mẹ biết yêu con mà không chiếm hữu đời con. Xin cho con cái biết yêu cha mẹ khi cha mẹ già yếu, lẩm cẩm, không còn giúp được gì cho mình. Xin cho linh mục biết mỗi ngày trở thành tấm bánh được bẻ ra. Xin cho người tu sĩ không chỉ yêu một lý tưởng đẹp mà biết yêu những con người cụ thể Chúa đặt bên mình. Xin cho tình bạn của chúng con có sự trung thành, có sự thật và có khả năng ở lại.
Một ngày kia, khi đứng trước Chúa, có lẽ Người không hỏi ta đã nói bao nhiêu điều hay về tình yêu. Người sẽ nhìn những vết chai trên tay ta, những nếp nhăn vì bao đêm thức, những lần ta cắn môi không nói lời làm đau người khác, những giọt nước mắt đã lau, những người ta đã tha thứ, những người ta đã nâng dậy. Và biết đâu lúc ấy ta mới hiểu rằng những hy sinh tưởng chẳng ai thấy đã được Thiên Chúa thấy hết. Mỗi lần một người mẹ thức vì con, Chúa biết. Mỗi lần một người chồng âm thầm chịu thiệt để giữ bình an, Chúa biết. Mỗi lần một người vợ kiên nhẫn chăm sóc gia đình mà không ai cảm ơn, Chúa biết. Mỗi lần một linh mục bước vào tòa giải tội dù mệt mỏi, Chúa biết. Mỗi lần một tu sĩ bỏ ý riêng vì cộng đoàn, Chúa biết. Mỗi lần một người bạn ở lại bên người bạn đang vỡ vụn, Chúa biết. Mỗi lần ta chọn tha thứ thay vì trả đũa, Chúa biết. Không một tình yêu nào bị mất trước mặt Thiên Chúa.
“Thầy nói với anh em những điều ấy để niềm vui của Thầy ở trong anh em và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.” Thật lạ: Chúa nói về hy sinh rồi lại nói về niềm vui. Thế gian thường nghĩ muốn vui thì phải giữ nhiều cho mình. Đức Giêsu lại nói niềm vui trọn vẹn đến khi ta biết yêu. Quả thật, những người chỉ sống cho mình cuối cùng thường rất cô độc. Người cho đi tưởng như mất nhưng lại nhận được một điều rất sâu: đời mình có ý nghĩa. Một người mẹ nhìn con trưởng thành sau bao năm hy sinh hiểu điều ấy. Một linh mục nhìn một người trở lại với Chúa sau nhiều năm hiểu điều ấy. Một người bạn thấy người mình từng nâng đỡ đứng lên được hiểu điều ấy. Có một niềm vui không đến từ việc được phục vụ nhưng từ việc cuộc đời mình đã trở thành ích lợi cho ai đó. Đó là niềm vui của Đức Kitô. Niềm vui của hạt lúa đã chịu mục đi nhưng nhìn thấy cánh đồng. Niềm vui của ngọn nến chấp nhận hao mòn để căn phòng có ánh sáng.
Cuối cùng, câu “không có tình yêu nào lớn hơn” không phải là một lời để ta ngưỡng mộ từ xa. Nó là con đường. Hôn nhân muốn bền phải đi con đường ấy. Linh mục muốn sống đúng căn tính phải đi con đường ấy. Đời tu muốn sinh hoa trái phải đi con đường ấy. Tình bạn muốn sâu phải đi con đường ấy. Và mọi người môn đệ Đức Kitô, dù ở bậc sống nào, cũng phải đi con đường ấy. Không ai được miễn khỏi bài học yêu. Có thể ta không làm được những điều phi thường, nhưng mỗi ngày ta có thể chọn yêu hơn một chút. Bớt một chút ích kỷ. Bớt một chút tự ái. Bớt một chút đòi hỏi. Bớt một chút cay nghiệt. Thêm một chút nhẫn nại. Thêm một lời cảm ơn. Thêm một lần xin lỗi. Thêm một lần bước đến. Thêm một lần tha thứ. Thêm một chút thời gian cho người cần mình. Và rồi từng chút một, cuộc đời ta sẽ mang dáng hình của Đức Kitô.
Đến cuối cùng, Kitô giáo không phải là chuyện biết bao nhiêu về Chúa nhưng là đã để Chúa biến trái tim mình thành một trái tim biết yêu hay chưa. Ta có thể thuộc nhiều kinh, đọc nhiều sách, làm nhiều việc đạo đức, nhưng nếu càng sống đạo càng khó thương người, có lẽ ta cần trở lại dưới chân Thập Giá. Bởi nơi ấy, không còn lý thuyết. Chỉ còn một Người đã dang tay ra và không rút lại. Một Người bị thương mà không làm ai bị thương. Một Người bị bỏ rơi mà vẫn mở cửa thiên đàng cho kẻ khác. Một Người không giữ lại gì, kể cả mạng sống. Đó là tình yêu lớn nhất.
Và khi đã nhìn thấy tình yêu ấy, ta không còn có thể hỏi: “Tôi phải yêu đến bao giờ?” Chúa Giêsu đã trả lời bằng cả cuộc đời Người: đến cùng.
Không phải đến khi mệt.
Không phải đến khi thất vọng.
Không phải đến khi không được đáp lại.
Không phải đến khi bị tổn thương.
Nhưng đến cùng.
Bởi vì không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám trao chính mình cho người mình yêu.
Lm. Anmai, CSsR.

YÊU LÀ CHO NGƯỜI KHÁC MỘT PHẦN ĐỜI MÌNH
Tin Mừng: Ga 15,13
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.”
Có lẽ trong đời, ai cũng đã từng nói tiếng yêu. Người trẻ nói yêu khi con tim rung động. Vợ chồng nói yêu trong ngày cưới. Cha mẹ nói yêu khi ôm đứa con vừa chào đời. Con cái nói yêu cha mẹ trong những dịp đặc biệt. Bạn bè nói thương nhau sau những năm tháng cùng chia sẻ vui buồn. Nhưng rồi thời gian đi qua, người ta mới hiểu rằng nói yêu thì dễ, còn sống cho đúng với chữ yêu lại là chuyện của cả một đời. Bởi tình yêu thật không nằm ở chỗ người ta đã nói bao nhiêu lời ngọt ngào, đã tặng nhau bao nhiêu món quà, đã có với nhau bao nhiêu kỷ niệm đẹp, nhưng nằm ở một điều rất âm thầm: ta đã cho người kia bao nhiêu phần đời của mình. Một phần đời ấy có thể là một buổi tối ta muốn nghỉ nhưng vẫn ngồi bên người đang buồn; một giờ ngủ ta mất vì thức chăm con bệnh; một cuộc vui ta bỏ để về sớm với cha mẹ già; một khoản tiền ta dành dụm nhưng sẵn sàng lấy ra khi gia đình gặp khó khăn; một cái tôi ta nuốt xuống để căn nhà khỏi thêm một trận cãi vã; một dự định riêng ta tạm gác lại vì người mình thương đang cần mình. Những điều ấy không ồn ào, không ai trao huy chương, không ai vỗ tay, nhiều khi chính người nhận cũng chẳng biết hết. Nhưng đó lại là máu thịt của tình yêu. Vì khi ta cho ai thời gian của mình, thực ra ta đang cho họ một phần đời mình. Tiền mất còn kiếm lại được, đồ vật hư có thể mua cái khác, nhưng một giờ đời ta đi qua là đi qua mãi mãi. Ta không bao giờ lấy lại được tuổi ba mươi, tuổi bốn mươi, tuổi năm mươi, tuổi bảy mươi. Thế nên khi một người chịu dành những năm tháng đẹp nhất của đời mình để nuôi con, để chăm cha mẹ, để đồng hành với người bạn đời, để phục vụ một cộng đoàn, để ở bên một người bệnh, thì người ấy đang làm một việc lớn hơn rất nhiều so với những gì mắt thường nhìn thấy: họ đang bẻ cuộc đời mình ra từng phần mà trao cho người khác.
Chúa Giêsu nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Ta thường nghe câu ấy và lập tức nghĩ đến một cái chết anh hùng, một người chết thay cho người khác, một cuộc hy sinh lớn lao chỉ xảy ra một lần trong đời. Điều ấy đúng, nhưng chưa đủ. Vì trước khi một người có thể chết cho ai đó, họ thường đã phải học cách sống cho người ấy từng ngày. Tình yêu không chỉ được đo bằng khoảnh khắc ta có dám chết hay không, mà còn bằng những ngày rất bình thường ta có chịu mất mình đi một chút hay không. Có những người nói: “Nếu cần, tôi sẵn sàng chết vì vợ tôi.” Nhưng điều người vợ cần có khi không phải một cái chết, mà là người chồng chịu tắt chiếc điện thoại xuống mười lăm phút để nghe vợ nói cho hết câu. Có người mẹ bảo rằng bà sẵn sàng chết cho con, nhưng đứa con chưa cần mẹ chết; nó chỉ cần mẹ bớt một giờ công việc, bớt một cuộc điện thoại, bớt một chút nóng giận để ngồi cạnh nó. Có người con nói rất thương cha mẹ, nhưng cha mẹ già đâu đòi con chết thay; các ngài chỉ cần một cuộc gọi, một bữa cơm, một lần đưa đi khám bệnh, một buổi chiều có con ngồi cạnh mà không nhìn đồng hồ. Có người linh mục nói sẵn sàng hiến mạng cho đoàn chiên, nhưng đoàn chiên nhiều lúc đâu đòi ngài chết; họ chỉ cần ngài chịu khó nghe thêm một câu chuyện, kiên nhẫn thêm với một người khó chịu, bớt một chút tự ái, bớt một chút tiện nghi để đến với người đang đau khổ. Thành ra cái chết vì tình yêu, nếu có, thường được chuẩn bị bởi hàng ngàn cái chết nhỏ bé trước đó: chết đi một chút cái tôi, chết đi một chút quyền lợi, chết đi một chút thời gian riêng, chết đi một chút sở thích riêng, chết đi một chút sự thoải mái, để người khác được sống.
Đời sống gia đình là nơi người ta hiểu điều này rõ nhất. Ngày cưới, hai người đứng trước bàn thờ, tay trong tay, nói với nhau những lời rất đẹp: yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời. Lúc ấy mọi thứ còn sáng sủa. Áo cưới đẹp. Hoa đẹp. Nhà thờ đẹp. Hình ảnh đẹp. Lời chúc đẹp. Nhưng tình yêu thật sự không nằm trọn trong ngày hôm ấy. Nó bắt đầu được kiểm chứng từ sáng hôm sau, rồi những năm sau, khi tiền bạc thiếu thốn, khi công việc căng thẳng, khi con nhỏ quấy khóc, khi cha mẹ hai bên đau bệnh, khi ngoại hình không còn như xưa, khi tính tình thật của nhau hiện ra, khi những điều từng thấy dễ thương bỗng trở thành khó chịu. Người ta không bỏ nhau vì một ngày không còn cảm xúc; người ta thường xa nhau từ từ vì không còn cho nhau phần đời của mình nữa. Sống cùng một mái nhà mà mỗi người có một thế giới riêng. Cùng ngồi một bàn ăn nhưng mỗi người nhìn một màn hình. Cùng ngủ một căn phòng nhưng trong lòng có những khoảng cách không ai muốn bước qua. Nhiều gia đình không thiếu tiền, không thiếu nhà, không thiếu xe, không thiếu tiện nghi; chỉ thiếu một thứ rất nhỏ mà rất lớn: thiếu sự hiện diện. Mà sự hiện diện chính là một trong những quà tặng quý nhất của tình yêu.
Có những người chồng nghĩ rằng mình đã làm tròn bổn phận vì mỗi tháng mang tiền về đầy đủ. Điều ấy đáng quý, nhưng chưa phải tất cả. Một người vợ không chỉ cần tiền của chồng; cô còn cần chính chồng mình. Cần ánh mắt của anh. Cần một buổi tối anh chịu ngồi nghe chuyện trong nhà. Cần cảm giác rằng giữa trăm ngàn việc, cô vẫn còn là một người quan trọng trong đời anh. Ngược lại, người chồng cũng không chỉ cần bữa cơm, áo quần sạch hay một căn nhà gọn gàng; anh cần một nơi được trở về, được hiểu, được nhìn nhận, được an ủi khi thất bại. Có những người vợ chăm sóc mọi thứ trong nhà rất chu đáo nhưng lại quên chăm sóc tâm hồn người sống bên cạnh mình. Có những người chồng lao đầu làm việc để “lo cho gia đình” nhưng cuối cùng gia đình chỉ còn tiền của anh mà không còn anh nữa. Đáng buồn nhất là có khi ta kiếm tiền để cho người thân một cuộc sống tốt hơn, nhưng trong lúc ấy lại để họ sống thiếu chính sự hiện diện của ta. Đến một ngày con lớn, cha mẹ già, người bạn đời đã quen với sự vắng mặt của ta, lúc ấy muốn mua lại những năm tháng đã mất cũng không còn cửa hàng nào bán.
Cha mẹ hiểu sâu sắc thế nào là cho con một phần đời mình. Đứa trẻ ra đời không chỉ lấy của cha mẹ tiền bạc; nó lấy những đêm ngủ, những buổi sáng, những ngày nghỉ, lấy sức khỏe, tuổi trẻ, những dự định, rất nhiều tự do. Có người mẹ từng ngủ một mạch đến sáng, từ ngày có con thì một đêm thức năm bảy lần. Có người cha từng tiêu tiền cho sở thích của mình, từ ngày có con thì đứng trước một món đồ cũng phải nghĩ: “Thôi, để dành cho con.” Có người phụ nữ từng đẹp đẽ, khỏe mạnh, sau những lần sinh nở thân thể đổi khác. Có người đàn ông từng sống rất phóng khoáng, sau khi thành cha thì mỗi quyết định đều phải nghĩ đến gia đình. Những chuyện ấy cứ lặng lẽ diễn ra, đến mức ta coi là bình thường. Nhưng thật ra đó là tình yêu đang mang hình dáng cụ thể. Tình yêu có khi mang đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ. Có khi mang bàn tay chai vì lao động. Có khi mang một chiếc áo đã mặc nhiều năm vì người mẹ dành tiền mua áo mới cho con. Có khi mang hình ảnh người cha ăn vội bữa cơm rồi lại đi làm ca đêm. Có khi mang tiếng thở dài của người mẹ đã mệt nhưng vẫn ngồi chờ con về khuya. Nếu con cái nhìn sâu một chút, sẽ thấy mình lớn lên không chỉ bằng cơm gạo, mà bằng từng mảnh đời cha mẹ đã cắt ra mà cho.
Rồi một ngày trật tự ấy đảo chiều. Cha mẹ từng bế ta, nay bước chậm. Cha mẹ từng nhớ mọi chuyện của ta, nay bắt đầu quên. Cha mẹ từng đưa ta đi bác sĩ, nay cần ta đưa đi bệnh viện. Cha mẹ từng ngồi chờ ta tan học, nay lại ngồi chờ một cuộc điện thoại của ta. Lúc ấy tình yêu của người con cũng phải trở thành thời gian và sự hiện diện. Đừng để đến khi cha mẹ mất rồi mới có thời gian. Đừng để lúc còn sống, cha mẹ phải xin từng cuộc thăm viếng, nhưng lúc qua đời ta lại xin nghỉ cả tuần để lo tang lễ thật lớn. Người đã chết không còn cần ta ngồi bên quan tài mười tiếng; có lẽ họ từng chỉ cần ta ngồi cạnh họ mười phút khi còn sống. Những bó hoa rất đẹp đặt trước di ảnh không thể thay cho một bữa cơm ta từng có thể ăn với mẹ. Những bài điếu văn rất cảm động không bù được những cuộc điện thoại ta từng tắt vội vì “đang bận”. Có những chữ “giá như” trong đời đau đến tận cùng chỉ vì lúc còn có thể yêu thì ta cứ tưởng còn nhiều thời gian.
Ta thường nghĩ tình yêu phải là điều gì rất lớn. Nhưng đời sống cho thấy tình yêu lớn lại được làm nên từ những việc rất nhỏ lặp đi lặp lại. Một người vợ thức dậy sớm hơn cả nhà. Một người chồng trở về muộn vẫn ghé mua thuốc cho vợ. Một đứa con đi làm xa gọi về mỗi tối. Một người chị chăm em bệnh nhiều tháng. Một người anh gánh nợ cho gia đình. Một người bạn ngồi suốt đêm bên bạn mình trong bệnh viện. Một người hàng xóm âm thầm đem hộp cơm qua cho nhà có tang. Một người linh mục ngồi tòa giải tội đến mệt nhưng vẫn kiên nhẫn với người cuối cùng. Một nữ tu lặng lẽ thay quần áo cho một cụ già không còn tự chủ. Một giáo lý viên dành cả chiều Chúa nhật cho những đứa trẻ nghịch ngợm trong khi bạn bè đang đi chơi. Đó là những người đang cho đi một phần đời mình. Họ có thể không bao giờ xuất hiện trên báo. Không ai biết tên. Không ai trao giải. Nhưng Thiên Chúa biết. Bởi trong Nước Trời, những gì lớn lao không nhất thiết là những gì nhiều người nhìn thấy.
Chúa Giêsu đã yêu ta theo cách ấy. Thập Giá là đỉnh cao, nhưng trước Thập Giá là ba mươi ba năm Người cho con người từng phần đời mình. Người cho dân chúng thời giờ. Người đi bộ dưới nắng nóng để đến những làng nghèo. Người để đám đông chen lấn. Người nghe tiếng người mù kêu giữa đường. Người dừng lại bên người phong cùi. Người ngồi ăn với người tội lỗi. Người thức khuya cầu nguyện. Người mệt đến ngủ trên thuyền nhưng khi dân chúng tìm đến, Người vẫn chạnh lòng thương. Người không sống giữ lấy mình. Người để đời mình bị người khác làm gián đoạn. Và điều ấy rất đáng suy nghĩ, vì có khi ta yêu người khác miễn là họ đừng làm phiền chương trình của ta. Ta sẵn sàng giúp nếu tiện. Ta sẵn sàng nghe nếu rảnh. Ta sẵn sàng thăm nếu còn giờ. Ta sẵn sàng phục vụ nếu không ảnh hưởng đến kế hoạch riêng. Nhưng tình yêu của Đức Kitô lại thường bắt đầu chính ở chỗ bị làm phiền. Người mù Bartimê làm gián đoạn con đường. Người phụ nữ băng huyết chạm áo làm gián đoạn hành trình. Dân chúng đói làm gián đoạn giờ nghỉ. Nicôđêmô đến ban đêm làm gián đoạn sự yên tĩnh. Các môn đệ yếu đuối liên tục làm gián đoạn kế hoạch của Người. Nhưng Đức Giêsu không coi con người là sự phiền toái. Người coi họ là lý do Người đến.
Tình yêu trưởng thành có một dấu hiệu rất rõ: ta dần bớt hỏi “tôi được gì?” và bắt đầu hỏi “người kia cần gì ở tôi?” Khi mới yêu, ta thường thích cảm giác người kia đem lại cho mình. Người ấy khiến ta vui, khiến ta thấy mình được cần, được quý, được ngưỡng mộ. Nhưng rồi đời sống đưa tình yêu sang một giai đoạn khác. Có những lúc người kia không còn làm ta vui nữa mà lại làm ta mệt. Người bệnh không còn cho ta gì ngoài những đêm thức trắng. Cha mẹ già không còn giúp được gì mà chỉ cần ta giúp. Đứa con khuyết tật không thể đáp lại kỳ vọng của cha mẹ. Người bạn đời trầm lặng, yếu đau, thất nghiệp, mất sức, có khi không còn là con người trẻ trung ta từng yêu. Lúc ấy tình yêu mới lộ ra bản chất thật: ta yêu con người ấy hay yêu cảm giác người ấy từng đem lại cho ta? Nếu chỉ yêu vì người kia làm ta hạnh phúc, khi họ không còn làm ta hạnh phúc nữa, tình yêu sẽ cạn. Nhưng nếu yêu là trao một phần đời mình để người kia được sống, được nâng đỡ, được giữ gìn phẩm giá, thì tình yêu ấy mới mang chút dáng dấp của Đức Kitô.
Có những cuộc hôn nhân không đổ vỡ vì phản bội lớn, mà chết dần bởi những ích kỷ nhỏ. Mỗi người giữ cho mình một chút. Một chút thời gian. Một chút tự do. Một chút tiền riêng. Một chút bí mật. Một chút tự ái. Một chút hơn thua. Từng chút một, hai người tưởng không đáng kể, nhưng nhiều năm sau thành một bức tường. Ngược lại, tình yêu được cứu cũng bằng những hy sinh rất nhỏ. Một người chủ động xin lỗi. Một người bớt nói câu làm đau. Một người chịu ngồi xuống trước. Một người gác điện thoại. Một người chịu hỏi: “Hôm nay em có mệt không?” Một người nói: “Để anh làm cho.” Một người biết im khi cơn nóng đang lên. Một người biết ôm lấy người kia khi chẳng còn lời nào để nói. Những việc nhỏ ấy, nếu được làm với tình yêu, có sức giữ cả một mái nhà.
Đừng coi thường sự hiện diện. Có những nỗi đau không cần lời giải thích, chỉ cần có người ở lại. Khi một người mất người thân, ta không cần giảng cho họ cả một bài về đau khổ. Có khi chỉ cần ngồi cạnh. Khi một người thất bại, đừng vội đưa ra mười lời khuyên. Có khi chỉ cần nói: “Tôi ở đây.” Khi vợ hoặc chồng đang buồn, đừng luôn cố chứng minh ai đúng ai sai. Có khi điều họ cần không phải một quan tòa mà là một người bạn đời. Người ta có thể quên những lời ta nói, nhưng rất lâu không quên ai đã ở cạnh mình trong những ngày tăm tối. Sự hiện diện là một cách nói: “Nỗi đau của anh đủ quan trọng để tôi dành một phần đời tôi ngồi đây với anh.” Đó là tình yêu.
Và cũng đừng nhầm tình yêu với việc cho vật chất. Tiền có thể là biểu hiện của tình yêu, nhưng không thay thế được tình yêu. Có người cha gửi rất nhiều tiền về cho con nhưng nhiều năm không biết con đang sợ điều gì. Có người con biếu cha mẹ rất nhiều tiền nhưng chẳng biết mẹ đang cô đơn. Có người chồng mua cho vợ đủ thứ nhưng không nhớ lần cuối hai người nói chuyện thật lòng là khi nào. Có người vợ lo mọi việc nhà nhưng không biết chồng mình đang kiệt sức trong lòng. Ta có thể cho người khác rất nhiều thứ mà vẫn chưa cho họ chính mình. Trong khi điều con người cần nhất lại thường là chính ta: thời gian của ta, tai nghe của ta, vai của ta, bàn tay của ta, sự kiên nhẫn của ta, lòng trung thành của ta.
Yêu là để đời mình bị người khác chiếm chỗ. Một người không yêu ai thì lịch sống có thể rất gọn. Muốn ngủ lúc nào thì ngủ. Muốn ăn gì thì ăn. Muốn đi đâu thì đi. Không phải chờ ai. Không phải lo cho ai. Không phải hy sinh gì. Nhưng khi đã yêu, lịch sống bắt đầu có tên người khác. Người mẹ có giờ đón con. Người cha có giờ về với gia đình. Người chồng nhớ lịch khám của vợ. Người vợ nhớ ngày chồng có cuộc họp quan trọng. Người con nhớ giờ uống thuốc của cha. Người mục tử nhớ người bệnh nào đang chờ được xức dầu. Tình yêu biến thời khóa biểu thành nơi người khác có chỗ. Và đôi khi nhìn vào lịch sống của một người, ta biết họ thật sự yêu điều gì. Không phải họ nói gì, mà họ dành thời gian cho ai.
Ta thường nói: “Tôi không có thời gian.” Thực ra, nhiều khi không phải không có, mà là đã dành nó cho điều khác. Một ngày ai cũng hai mươi bốn giờ. Ta có thể ngồi một giờ trên mạng mà thấy rất nhanh, nhưng mười phút nghe cha mẹ kể chuyện lại thấy dài. Ta có thể dành cả tối xem những điều chẳng liên quan đến đời mình, nhưng nói chuyện với vợ chồng mười lăm phút lại bảo mệt. Ta có thể đi hàng trăm cây số vì một cuộc vui nhưng ngại đi vài cây số thăm một người thân. Bởi thế, câu hỏi không chỉ là ta có thời gian hay không, mà là người ấy có đủ quan trọng để ta dành thời gian hay không. Tình yêu không nói bằng đồng hồ, nhưng đồng hồ thường nói rất thật về tình yêu.
Có một điều đau lòng là đôi khi ta dành phần tốt nhất của mình cho người ngoài và chỉ đem phần mệt mỏi còn lại về nhà. Ra đường ta lịch sự. Về nhà ta cộc cằn. Với khách ta kiên nhẫn. Với người thân ta nóng nảy. Với đồng nghiệp ta biết cảm ơn. Với vợ chồng ta coi mọi phục vụ là đương nhiên. Với người lạ ta giữ lời. Với cha mẹ ta hứa rồi quên. Ta dùng nụ cười cho thiên hạ, rồi mang cái cau có về cho người nhà. Nhưng nếu tình yêu là cho người khác một phần đời mình, thì những người gần nhất phải được nhận không chỉ phần thừa, mà cả phần đẹp của ta. Đừng để người thân phải sống bằng những mảnh vụn của một con người mà bên ngoài ai cũng tưởng rất tử tế.
Tình yêu còn là biết chịu đau vì người mình yêu mà không biến nỗi đau ấy thành món nợ. Có những hy sinh rất đẹp lúc làm, nhưng mất đẹp khi cứ nhắc mãi. “Tôi đã vì anh thế này.” “Tôi đã vì con thế kia.” “Cả đời tôi hy sinh cho gia đình.” Nếu mỗi hy sinh đều được ghi vào một cuốn sổ để chờ ngày tính toán, tình yêu trở thành giao dịch. Tình yêu thật cho đi không phải vì muốn người kia mắc nợ, nhưng vì niềm vui của người kia đã trở thành một phần niềm vui của mình. Dĩ nhiên con người yếu đuối vẫn cần được biết ơn. Không ai muốn tình yêu của mình bị coi thường. Nhưng có một khoảng cách rất lớn giữa mong được trân trọng và dùng sự hy sinh để khống chế người khác. Đức Kitô trên Thập Giá không nói: “Ta đã chết cho các ngươi, từ nay các ngươi mắc nợ Ta.” Người chỉ mở tay. Tình yêu của Người không ép buộc, không mặc cả, không tính lãi.
Đời sống Kitô hữu vì thế không thể chỉ là giữ luật. Ta có thể đi lễ đầy đủ mà chưa biết cho ai một phần đời mình. Ta có thể đọc rất nhiều kinh mà vẫn khó chịu khi người khác làm phiền. Ta có thể thuộc nhiều câu Kinh Thánh nhưng không chịu mất một giờ thăm người bệnh. Ta có thể nói rất hay về bác ái mà trong nhà chẳng ai dám tâm sự với ta. Sau cùng, Đức Giêsu không hỏi Phêrô: “Con thuộc bao nhiêu giáo lý?” Người hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Và ngay sau câu hỏi ấy là một trách nhiệm: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Yêu Chúa luôn dẫn đến việc hiến đời cho con người. Tình yêu không ở lại trong cảm xúc đạo đức; nó phải thành giờ giấc, mồ hôi, bước chân, sự kiên nhẫn, tiền bạc, sự tha thứ, sự phục vụ.
Có những người nghĩ rằng sống cho người khác là mất đời mình. Tin Mừng lại nói ngược. Ai chỉ giữ đời mình cuối cùng sẽ mất; ai biết cho đi lại tìm thấy. Bởi một đời sống chỉ xoay quanh chính mình có thể rất thoải mái nhưng thường rất nghèo. Người ta có thể tích lũy nhiều tiền, đi nhiều nơi, hưởng nhiều thứ, nhưng đến cuối đời nếu không có ai để nhớ, không có ai đã được nâng đỡ nhờ mình, không có một khuôn mặt nào nói: “Nhờ có ông, có bà, có anh, có chị mà đời tôi bớt khổ,” thì cuộc đời ấy có lẽ vẫn thiếu một điều căn bản. Ngược lại, có những người ra đi chẳng để lại nhiều tài sản, nhưng để lại trong lòng người khác cả một gia tài. Một người mẹ để lại cho con ký ức những bữa cơm. Một người cha để lại hình ảnh chiếc xe cũ đưa con đến trường dưới mưa. Một người thầy để lại lời khích lệ đã cứu một học trò khỏi bỏ cuộc. Một linh mục để lại ký ức về những lần ngài âm thầm đến với người nghèo. Một người bạn để lại cảm giác rằng trong ngày tăm tối nhất, có một người đã không bỏ mình. Đó là những tài sản không ngân hàng nào cất giữ được.
Rốt cuộc, đời người dài hay ngắn không chỉ tính bằng số năm ta sống, mà còn bởi bao nhiêu đời người khác đã được chạm đến bởi đời ta. Một ngọn nến cháy thì hao đi, nhưng chính nhờ hao mà có ánh sáng. Một hạt lúa mục đi, nhưng chính nhờ mục mà thành mùa. Một tấm bánh bị bẻ ra, nhưng chính nhờ bị bẻ mà nhiều người được no. Một đời người cũng vậy. Nếu cứ nguyên vẹn cho riêng mình, có thể ta ít đau hơn, nhưng cũng ít sinh hoa trái hơn. Đức Kitô không cứu thế gian bằng cách giữ nguyên mạng sống. Người cứu bằng cách trao nó đi. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Đó không chỉ là lời trên bàn tiệc ly. Đó là cả đời Người.
Có lẽ mỗi chúng ta nên tự hỏi: người tôi nói rằng tôi yêu đang nhận được phần nào trong đời tôi? Cha mẹ tôi nhận được bao nhiêu thời gian? Vợ chồng tôi nhận được bao nhiêu sự lắng nghe? Con cái tôi nhận được bao nhiêu sự hiện diện thật, chứ không chỉ những món đồ? Anh chị em tôi nhận được bao nhiêu sự bao dung? Người nghèo nhận được gì từ tôi ngoài vài đồng tiền? Cộng đoàn nhận được gì ngoài những lời phê bình? Chúa nhận được gì ngoài một ít thời gian còn dư? Những câu hỏi ấy không dễ chịu, nhưng cần thiết. Bởi có khi ta đã yêu bằng miệng quá nhiều mà yêu bằng đời quá ít.
Và cũng cần nhớ rằng yêu không có nghĩa là xóa mình đến mức dung túng điều xấu, chịu bạo hành hay để người khác lợi dụng. Đức Kitô hiến mình vì yêu, nhưng tình yêu của Người luôn đi cùng sự thật. Cho người khác một phần đời mình không có nghĩa là giao cho họ quyền phá hủy đời mình. Tình yêu trưởng thành biết hy sinh nhưng cũng biết đặt giới hạn; biết tha thứ nhưng không gọi điều sai là đúng; biết ở lại nhưng không tiếp tay cho tội lỗi. Chính vì yêu mà đôi khi phải nói “không”, phải sửa dạy, phải tạm xa để chữa lành, phải nhờ người khác giúp. Hy sinh Kitô giáo không phải là nuôi dưỡng sự bất công, mà là chọn điều tốt thật cho người mình yêu, dù điều ấy có khi rất đau.
Nhưng trong phần lớn đời sống thường ngày, điều tình yêu đòi nơi ta không phải những quyết định phi thường. Chỉ là bớt mình đi một chút. Bớt đúng một chút để giữ người. Bớt tự ái một chút để xin lỗi. Bớt tiện nghi một chút để chia sẻ. Bớt bận một chút để hiện diện. Bớt lời một chút để nghe. Bớt phán xét một chút để hiểu. Bớt đòi hỏi một chút để biết ơn. Bớt giữ lại một chút để trao đi. Từng cái “bớt” nhỏ ấy làm cho người khác có thêm chỗ trong đời ta. Và tình yêu lớn lên từ đó.
Mai này, khi đứng trước Chúa, có lẽ Người không hỏi ta đã sống bao nhiêu năm, nhưng Người có thể cho ta thấy những năm tháng ấy đã trở thành gì trong đời người khác. Những giờ ta đã dành cho người bệnh. Những đêm ta đã thức vì con. Những lần ta nhịn vì bình an gia đình. Những bữa cơm ta nấu. Những chuyến xe ta đưa cha mẹ đi khám. Những đồng tiền ta chia sẻ. Những lời tha thứ ta đã nói dù lòng còn đau. Những lúc ta ở lại khi mọi người khác đã bỏ đi. Khi ấy ta mới hiểu rằng chẳng có gì đã cho đi vì yêu mà mất cả. Tất cả đã được giữ lại trong lòng Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Hy sinh tính mạng không phải lúc nào cũng là chết một lần. Có người hy sinh tính mạng bằng cách sống mỗi ngày cho người khác. Một người mẹ mất dần tuổi trẻ cho đàn con. Một người cha mất dần sức lực cho mái nhà. Một người vợ mất dần những năm tháng son trẻ bên người chồng bệnh. Một người chồng dành cả đời chăm người vợ yếu đau. Một người con mất nhiều năm chăm cha mẹ già. Một linh mục hao mòn đời mình giữa những con người được trao phó. Một tu sĩ lặng lẽ sống giữa những người không ai muốn đến gần. Không tiếng súng. Không máu đổ. Không ai gọi họ là anh hùng. Nhưng từng ngày, họ đang “hy sinh tính mạng” theo nghĩa thật nhất: trao dần sự sống mình cho người khác.
Vậy nên, yêu một người, đừng chỉ cho họ những gì ta có. Hãy cho họ một phần của chính ta. Đừng chỉ cho tiền, hãy cho thời gian. Đừng chỉ cho lời khuyên, hãy cho sự lắng nghe. Đừng chỉ cho quà, hãy cho sự hiện diện. Đừng chỉ nói “tôi thương”, hãy để người ấy cảm nhận rằng trong cuộc đời ta có một khoảng thật sự dành cho họ. Bởi cuối cùng, tình yêu không được cân bằng những món quà lớn, mà được đo bằng phần đời ta đã chịu trao đi.
Và có lẽ đến cuối đời, điều làm ta bình an nhất không phải là đã giữ được bao nhiêu cho mình, nhưng là đã có thể nói: tôi đã không sống uổng. Tôi đã cho cha mẹ những năm tháng họ cần tôi. Tôi đã cho người bạn đời sự trung thành. Tôi đã cho con cái sự hiện diện. Tôi đã cho người nghèo lòng thương. Tôi đã cho người làm tôi đau sự tha thứ. Tôi đã cho Chúa những gì đẹp nhất trong đời mình. Tôi đã không giữ tất cả cho tôi.
Bởi yêu, sau cùng, chính là như thế.
Yêu là cho người khác một phần đời mình.
Và người yêu nhiều nhất không phải là người nói những lời đẹp nhất, nhưng là người đã âm thầm để đời mình vơi đi, để đời người khác được đầy hơn.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI CHÚA BIẾN ĐAU KHỔ THÀNH ƠN CỨU ĐỘ
Tin Mừng: Ga 12,27-32
Có lẽ một trong những câu hỏi làm con người đau đầu nhất, và cũng làm đức tin của chúng ta nhiều lần chao đảo nhất, đó là câu hỏi về đau khổ. Tại sao một người sống tốt vẫn phải đau? Tại sao một gia đình đang bình yên lại gặp tai họa? Tại sao một người mẹ hết lòng vì con lại phải khóc vì chính đứa con mình sinh ra? Tại sao một người cha cả đời lam lũ, đến lúc đáng lẽ được nghỉ ngơi thì lại nằm trên giường bệnh? Tại sao có người cầu nguyện rất nhiều mà bệnh vẫn không khỏi? Tại sao có người sống ngay lành mà vẫn bị hiểu lầm, bị phản bội, bị vu oan? Tại sao có những em bé vừa chào đời đã mang bệnh tật? Tại sao có người bước vào đời tu với một trái tim quảng đại, vậy mà rồi cũng có những năm tháng khô khan, cô độc, mỏi mệt đến mức chỉ còn biết hỏi Chúa: “Lạy Chúa, tại sao?” Những câu hỏi ấy không phải là những câu hỏi vô đạo. Nhiều khi chính người có đức tin sâu mới đau đáu hỏi như thế, bởi vì họ tin Thiên Chúa là tình yêu, mà nếu Thiên Chúa là tình yêu thì tại sao cuộc đời lại có quá nhiều nước mắt? Chúng ta thường mong có một câu trả lời thật gọn, thật đẹp, thật hợp lý, nhưng mầu nhiệm đau khổ không dễ được giải quyết bằng vài câu thần học. Đứng trước một người vừa mất người thân, đôi khi càng giải thích càng làm họ đau thêm. Đứng trước một bà mẹ đang nhìn đứa con hấp hối, không thể chỉ nói một câu: “Đó là Thánh Ý Chúa”, rồi nghĩ rằng đã giải thích xong. Có những lúc im lặng, ngồi bên nhau, cùng khóc, cùng cầu nguyện lại nói về Thiên Chúa nhiều hơn cả một bài giảng dài. Và chính vì thế, khi nói về đau khổ, người Kitô hữu không bắt đầu từ một lý thuyết. Chúng ta bắt đầu từ một con người: Đức Giêsu Kitô. Một Thiên Chúa đã không đứng ngoài đau khổ để giải thích đau khổ cho chúng ta, nhưng đã bước vào trong đau khổ, mang lấy đau khổ, và biến đau khổ thành nơi tình yêu đi đến tận cùng. Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến một khoảnh khắc rất đặc biệt trong cuộc đời Đức Giêsu. Người biết giờ của Người đã đến. Người biết trước mặt mình không phải là một con đường trải hoa nhưng là phản bội, bắt bớ, nhục mạ, roi đòn, mão gai, thập giá và cái chết. Và Người đã nói một câu vô cùng thật: “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến.” Chỉ một câu ấy thôi đã đủ cho chúng ta hiểu rằng Đức Giêsu không phải là một người không biết đau. Người không phải là một vị thần đóng kịch làm người. Người không đi lên thập giá với một trái tim lạnh lùng, không cảm xúc. Người xao xuyến. Người sợ. Người đau. Người biết cái chết đang đến gần. Người biết những chiếc đinh sẽ xuyên qua tay chân mình. Người biết sự cô độc của một người bị cả đám đông quay lưng. Người biết Giuđa sẽ phản bội. Người biết Phêrô sẽ chối. Người biết các môn đệ sẽ chạy trốn. Người biết những người từng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít” rồi cũng có thể đứng giữa đám đông hét lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Và chính trong giờ phút ấy, Đức Giêsu không nói rằng đau khổ là điều tốt. Người không nói rằng thập giá tự nó là điều đáng yêu. Người cũng không tìm đau khổ như thể đau khổ có giá trị tự thân. Người nói: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này chăng? Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến.” Nghĩa là Đức Giêsu không yêu đau khổ; Người yêu Chúa Cha và yêu con người đến mức chấp nhận đi qua đau khổ để tình yêu được thực hiện đến cùng.
Điều này rất quan trọng. Kitô giáo không phải là tôn giáo tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui khi con người đau. Chúa không phải là Đấng ngồi trên trời rồi phân phát bệnh tật, tai nạn và nước mắt để thử xem ai chịu đựng giỏi hơn. Đôi khi trong đời sống đạo, chúng ta vô tình nói về đau khổ theo cách làm người khác hiểu sai khuôn mặt của Thiên Chúa. Có người nghĩ rằng càng đau thì càng thánh, càng khổ thì Chúa càng vui. Không phải thế. Chúa Giêsu đã chữa người bệnh, cho người mù thấy, cho người què đi, cho kẻ chết sống lại. Người đã khóc trước mộ Ladarô. Người chạnh lòng thương đám đông đói khát. Người không bao giờ nhìn đau khổ của con người bằng thái độ dửng dưng. Thiên Chúa không yêu đau khổ. Nhưng điều kỳ diệu của đức tin Kitô giáo là: những gì sự dữ dùng để nghiền nát con người, Thiên Chúa có thể biến thành nơi phát sinh sự sống; những gì tưởng chỉ còn là mất mát, Thiên Chúa có thể làm cho sinh hoa trái; những gì con người tưởng là kết thúc, Thiên Chúa có thể biến thành khởi đầu. Thập giá chính là bằng chứng lớn nhất. Thập giá vốn là dụng cụ xử tử của đế quốc Rôma. Nó là dấu hiệu của nhục nhã, thất bại và nguyền rủa. Người bị đóng đinh là người bị xã hội loại bỏ, bị lột trần phẩm giá, bị treo lên cho mọi người nhìn và khinh bỉ. Nhưng khi Đức Giêsu bước lên thập giá vì tình yêu, cây gỗ nhục hình ấy trở thành cây sự sống. Nơi tưởng là Thiên Chúa thất bại lại trở thành nơi tình yêu Thiên Chúa chiến thắng. Nơi tưởng sự chết thắng lại trở thành nơi sự sống được mở ra. Nơi con người giết Thiên Chúa lại trở thành nơi Thiên Chúa tha thứ cho con người. Nơi hận thù dường như đạt đến đỉnh cao lại trở thành nơi tình yêu nói lời cuối cùng. Đó là điều làm nên mầu nhiệm Thập Giá: Thiên Chúa không xóa đau khổ bằng cách đứng ngoài nó, nhưng Người đi vào tận đáy đau khổ và từ bên trong biến đổi ý nghĩa của nó.
Có những đau khổ trong cuộc đời chúng ta không thể giải thích. Một căn bệnh bất ngờ, một người thân ra đi quá sớm, một cuộc hôn nhân đổ vỡ, một đứa con lạc đường, một lời phản bội, một sự nghiệp tan vỡ, một ước mơ không thành, một tai nạn làm thay đổi cả phần đời còn lại. Chúng ta không cần vội vàng gọi tất cả những điều đó là “ơn Chúa”. Bệnh tật vẫn là bệnh tật. Mất mát vẫn là mất mát. Phản bội vẫn là phản bội. Sự dữ vẫn là sự dữ. Nhưng đức tin cho chúng ta một hy vọng lớn hơn: sự dữ không có quyền quyết định ý nghĩa cuối cùng của đời ta. Người khác có thể làm ta đau, nhưng họ không nhất thiết có quyền quyết định ta sẽ trở thành một con người cay độc. Biến cố có thể đánh gục ta, nhưng nó không nhất thiết có quyền quyết định rằng cuộc đời ta từ nay chỉ còn vô nghĩa. Bệnh tật có thể lấy đi sức khỏe, nhưng không nhất thiết lấy được khả năng yêu thương. Tuổi già có thể lấy đi bước chân nhanh nhẹn, nhưng không nhất thiết lấy được lời cầu nguyện. Một thất bại có thể lấy đi một cơ hội, nhưng không nhất thiết lấy được phẩm giá và niềm hy vọng. Một người có thể bỏ ta, nhưng không có nghĩa là Thiên Chúa bỏ ta. Đây chính là nơi Thập Giá chiếu ánh sáng vào cuộc đời. Thập giá không bảo rằng “đừng đau nữa”. Thập giá nói rằng: “Nỗi đau của con không phải là tiếng nói cuối cùng.” Thập giá không bảo người đang khóc rằng “hãy thôi khóc”. Chúa Giêsu cũng đã khóc. Nhưng Thập Giá nói rằng nước mắt được trao cho Thiên Chúa có thể trở thành hạt giống của lòng thương xót, của sự trưởng thành, của một tình yêu sâu hơn, của một đời sống biết cảm thông hơn với người khác.
Có những người sau khi đi qua đau khổ đã trở thành con người dịu dàng hơn. Trước kia họ dễ xét đoán, nhưng sau khi chính mình bị hiểu lầm, họ học được cách chậm lại trước khi kết án ai. Trước kia họ nghĩ bệnh nhân chỉ cần cố lên, nhưng sau khi chính mình nằm viện, họ hiểu rằng có những ngày chỉ việc ngồi dậy thôi đã là một cuộc chiến. Trước kia họ nghĩ người nghèo là vì không chịu làm, nhưng sau một lần mất việc, họ hiểu thế nào là sự bất lực khi không còn tiền lo cho gia đình. Trước kia họ nghĩ người khác yếu đức tin khi khóc, nhưng sau khi chính mình đứng bên một quan tài, họ mới hiểu rằng đức tin không làm nước mắt biến mất; đức tin chỉ giúp ta khóc mà vẫn còn biết mình đang khóc trong vòng tay Thiên Chúa. Đau khổ tự nó không làm người ta nên tốt. Có người đau rồi trở nên cay đắng. Có người đau rồi khép lại. Có người đau rồi dùng chính vết thương của mình để làm đau người khác. Nhưng nếu nỗi đau được đặt vào tay Chúa, nếu ta cho phép Đức Kitô chịu đóng đinh bước vào vết thương ấy, thì chính nơi tưởng chỉ có bóng tối lại có thể trở thành nơi một con người mới được sinh ra. Đó là sự khác biệt giữa đau khổ đơn thuần và đau khổ được cứu chuộc. Một nỗi đau không được yêu thương có thể hủy hoại con người; một nỗi đau được đưa vào trong tình yêu của Đức Kitô có thể trở thành lễ dâng.
Chúa Giêsu nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” Người không nói: khi tôi làm phép lạ lớn nhất, tôi sẽ kéo mọi người đến. Người không nói: khi tôi được tung hô, tôi sẽ kéo mọi người đến. Người nói: khi tôi được giương cao, nghĩa là khi tôi bị đóng đinh, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi. Một nghịch lý khủng khiếp. Con người muốn thu hút người khác bằng thành công, quyền lực, vẻ đẹp, danh tiếng. Đức Giêsu thu hút bằng những bàn tay bị đóng đinh. Con người muốn chứng minh sức mạnh bằng việc không ai làm mình đau được. Đức Giêsu cho thấy sức mạnh của Thiên Chúa bằng việc để tình yêu vẫn tồn tại ngay cả khi bị làm đau. Và có lẽ đây là điều đẹp nhất của Thập Giá: Chúa không chiến thắng bằng cách làm cho kẻ thù đau hơn mình; Người chiến thắng bằng cách không để sự dữ biến Người thành kẻ dữ. Người bị nguyền rủa mà không nguyền rủa. Người bị giết mà vẫn tha thứ. Người bị tước hết mà vẫn trao ban. Người bị bỏ rơi mà vẫn yêu. Người chịu đau mà không biến đau khổ của mình thành lý do để gây đau cho người khác. Đó là ơn cứu độ. Ơn cứu độ không chỉ là sau khi chết được lên thiên đàng. Ơn cứu độ bắt đầu ngay khi một trái tim bị thương nhưng không chịu trở thành trái tim đầy hận thù; khi một người bị phản bội nhưng không để phản bội biến mình thành kẻ phản bội; khi một người chịu bất công nhưng vẫn không đánh mất sự thiện; khi một người nằm trên giường bệnh nhưng vẫn còn có thể nói lời cảm ơn; khi một người cha mất mát vẫn còn biết ôm con; khi một người mẹ khóc nhưng vẫn cầu nguyện; khi một linh mục đi qua khô khan, hiểu lầm, mệt mỏi nhưng vẫn trung thành với đoàn chiên được trao phó. Khi ấy, Thập Giá của Đức Kitô đang âm thầm tiếp tục sinh hoa trái.
Chúng ta thường xin Chúa cất thập giá. Lời cầu xin ấy hoàn toàn chính đáng. Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu xin: “Nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Không ai phải xấu hổ vì mình sợ đau. Không ai phải thấy mình kém đức tin vì có lúc mệt, có lúc muốn chạy trốn, có lúc chỉ mong thử thách kết thúc. Có người nghĩ người đạo đức là người gặp biến cố gì cũng phải lập tức mỉm cười và nói “tạ ơn Chúa”. Không. Có những tiếng “tạ ơn” phải đi qua rất nhiều nước mắt mới thành thật. Có những lời “xin vâng” không thể nói trong một ngày. Đức Maria đã thưa xin vâng trong ngày Truyền Tin, nhưng lời xin vâng ấy còn phải được sống lại dưới chân Thập Giá. Có những lời xin vâng lúc trẻ rất đẹp, nhưng phải đến tuổi già mới biết cái giá của nó. Ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày cưới nhau, người ta có thể nói “con xin hứa” trong một nhà thờ đầy hoa và tiếng hát. Nhưng ý nghĩa sâu nhất của lời hứa không nằm ở ngày dễ dàng. Nó được chứng minh vào những ngày chẳng còn hoa, chẳng còn cảm xúc, chẳng còn ai vỗ tay; những ngày chỉ còn bổn phận, mệt mỏi, hiểu lầm và một câu hỏi âm thầm: “Mình có còn tiếp tục không?” Chính ở đó, Thập Giá trở thành trường học của tình yêu trung tín. Tình yêu không được đo bằng số lần nói “con yêu”, mà nhiều khi được đo bằng số lần đã muốn bỏ đi nhưng vì yêu mà vẫn ở lại. Tình yêu không chỉ là những ngày hạnh phúc; tình yêu thật được tôi luyện trong những ngày ta phải chịu mất một phần mình để người khác được sống.
Có một điều chúng ta cần phân biệt thật rõ: đón nhận thập giá không có nghĩa là cam chịu mọi bất công. Một người vợ bị bạo hành không được bảo rằng cứ chịu đi vì đó là thập giá. Một đứa trẻ bị tổn thương không thể bị dạy phải im lặng vì tha thứ. Một người bị áp bức không phải cứ cúi đầu mới là Kitô hữu. Đức Giêsu đón nhận Thập Giá vì tình yêu và tự do, chứ Người không thánh hóa sự dữ của những kẻ đóng đinh Người. Chúng ta có trách nhiệm chống lại bệnh tật, bất công, bạo lực và những gì làm tổn thương phẩm giá con người. Chúng ta phải chữa bệnh khi có thể chữa, phải bảo vệ người yếu, phải lên tiếng cho người bị áp bức, phải tìm công lý. Nhưng ngay cả khi đã làm hết sức mà vẫn còn những nỗi đau không thể tránh, thì người Kitô hữu biết rằng nỗi đau ấy có thể được hiệp với Thập Giá Đức Kitô để trở thành một lời cầu nguyện. Đây không phải là việc đi tìm đau khổ. Đây là việc không để đau khổ đã đến trở nên vô ích.
Biết bao nhiêu người đang âm thầm sống điều này mà không ai biết. Một người mẹ thức đêm chăm đứa con bệnh. Một người chồng chăm người vợ đã mất trí nhớ và mỗi ngày nghe chính người mình yêu hỏi: “Ông là ai?” Một người vợ ở bên chồng những năm cuối đời, lau từng giọt mồ hôi, đút từng thìa cháo. Một người con ngày nào cũng ghé thăm cha mẹ già dù công việc bận rộn. Một linh mục vẫn ngồi tòa giải tội khi sức khỏe đã yếu, vẫn lắng nghe những câu chuyện cũ của những người già cô độc. Một tu sĩ âm thầm chăm những bệnh nhân không ai muốn gần. Một người trẻ bỏ bớt những cuộc vui để làm việc nuôi gia đình. Những thập giá ấy không có đèn sân khấu. Không ai vỗ tay. Nhiều khi chẳng ai nói cảm ơn. Nhưng trong cái nhìn của Thiên Chúa, đó có thể chính là những nơi ơn cứu độ đang chảy qua thế giới. Vì cứu độ không phải lúc nào cũng xảy ra trong những việc lớn lao. Rất nhiều khi nó xảy ra trong một căn phòng nhỏ, nơi một người kiên nhẫn chăm một người khác; trong căn bếp, nơi một người mẹ mệt vẫn nấu bữa cơm; trong bệnh viện, nơi một bàn tay nắm lấy một bàn tay; trong một cộng đoàn, nơi một người chấp nhận nhường phần đúng của mình để giữ tình huynh đệ; trong tòa giải tội, nơi một tội nhân quay về; trên giường bệnh, nơi một người âm thầm nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con xin phó thác.”
Có những đau khổ chúng ta phải mất rất nhiều năm mới hiểu được điều nó đã làm trong đời mình. Khi đang ở giữa cơn bão, ta chỉ thấy mưa. Chỉ sau này nhìn lại mới nhận ra chính cơn bão ấy đã làm bật gốc vài thứ không đáng giữ, đã buộc ta lớn lên, đã đưa ta trở về với Chúa, đã làm ta nhận ra ai thật sự thương mình, đã khiến ta bớt kiêu ngạo, bớt ảo tưởng về sức mạnh của mình. Có những người nói rằng chính khi mất tất cả họ mới tìm lại được điều quan trọng nhất. Không phải vì mất mát là tốt, nhưng vì Thiên Chúa đủ quyền năng để không cho mất mát trở thành vô ích. Trong bàn tay một nghệ sĩ, mảnh gỗ xấu xí có thể thành một tác phẩm. Trong bàn tay Thiên Chúa, ngay cả những mảnh vỡ của đời ta cũng có thể được đưa vào một bức tranh lớn hơn mà hiện tại ta chưa nhìn thấy hết. Chúng ta thường muốn Chúa giải thích. Nhưng có những lúc Chúa không giải thích; Người chỉ ở lại. Như trên đường Emmau, Người bước bên cạnh hai môn đệ buồn bã trước khi họ nhận ra Người. Như bên mộ Ladarô, Người không giảng một bài về cái chết trước; Người khóc. Và trên Thập Giá, Thiên Chúa trả lời câu hỏi về đau khổ không bằng một công thức nhưng bằng chính những vết thương của Con mình. Từ đó, không ai còn có thể nói với người đang đau rằng: “Chúa không biết anh đang chịu gì.” Người biết. Người đã ở đó.
Thập Giá cũng dạy chúng ta một điều khác: đừng lãng phí đau khổ bằng cách chỉ để nó làm ta cay đắng. Nếu phải đau, xin cho nỗi đau ấy làm ta biết thương người đau. Nếu phải khóc, xin cho nước mắt ấy làm mắt ta biết nhìn những giọt nước mắt của người bên cạnh. Nếu phải trải qua thất bại, xin cho thất bại ấy làm ta bớt kiêu căng với người chưa thành công. Nếu đã từng bị bỏ rơi, xin đừng bỏ rơi người khác. Nếu đã từng bị nói một câu làm đau cả đời, xin đừng dùng lời nói của mình làm dao cắt người khác. Nếu đã từng đi qua một đêm tối, xin hãy trở thành ngọn đèn nhỏ cho người đang ở trong đêm. Khi ấy, đau khổ đã bắt đầu sinh hoa trái. Đó là cách Đức Kitô biến những vết thương thành nơi cứu độ. Người không xóa dấu đinh ngay cả sau khi sống lại. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang vết thương. Điều ấy thật đẹp. Phục Sinh không có nghĩa là quá khứ chưa từng xảy ra. Vết thương vẫn còn, nhưng nó không còn chảy máu; nó trở thành dấu chỉ của chiến thắng. Có lẽ đời chúng ta cũng vậy. Có những vết thương không bao giờ biến mất hoàn toàn. Một người mẹ mất con sẽ không bao giờ quên. Một người từng bị phản bội không thể coi như chưa từng có chuyện gì. Một người mang bệnh mãn tính có thể phải sống với nó suốt đời. Nhưng nhờ ơn Chúa, vết thương ấy có thể không còn là nơi chỉ gây đau; nó trở thành nơi ta hiểu người khác, nơi ta khiêm nhường hơn, nơi ta cầu nguyện thật hơn, nơi ta biết cuộc đời mong manh, và vì thế biết yêu những gì đang có.
“Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha.” Đây là lời Đức Giêsu nói giữa lúc tâm hồn xao xuyến. Người không xin đau để được đau. Người xin rằng ngay trong giờ đau ấy, tình yêu của Chúa Cha được tỏ lộ. Có lẽ đó cũng có thể là lời cầu nguyện của chúng ta khi không còn biết cầu gì: “Lạy Chúa, con không xin hiểu hết. Con chỉ xin đừng để nỗi đau này làm con xa Chúa. Xin đừng để nó làm con mất lòng tin. Xin đừng để nó làm con trở nên cay độc. Xin dùng cả những gì con không muốn để làm nên điều tốt mà hôm nay con chưa thấy. Xin cho người khác được sống hơn nhờ cách con vác thập giá của mình. Xin cho nỗi đau của con không trở thành một cái hố chỉ hút con xuống, nhưng trở thành một nơi con gặp Chúa sâu hơn.” Một lời cầu như thế không dễ. Nhưng đó là lời cầu rất gần với Thập Giá.
Nhiều khi chúng ta hỏi: tại sao Chúa không cất thập giá? Có khi Chúa cất. Có khi bệnh được chữa, khó khăn được giải quyết, cánh cửa mở ra. Nhưng cũng có những lúc Chúa không cất. Người làm điều khác: Người đứng vào dưới thập giá cùng ta. Có những thập giá không nhẹ đi, nhưng vai ta mạnh hơn vì có Chúa. Có những hoàn cảnh không đổi, nhưng trái tim ta đổi. Có những cánh cửa vẫn đóng, nhưng ta không còn tuyệt vọng như trước. Có những người vẫn chống ta, nhưng ta không còn bị họ điều khiển tâm hồn. Có những mất mát vẫn không lấy lại được, nhưng ta dần có thể sống mà không bị mất mát ấy nuốt chửng. Đó cũng là phép lạ. Chúng ta thường chỉ gọi là phép lạ khi hoàn cảnh thay đổi. Nhưng đôi khi phép lạ lớn hơn là hoàn cảnh không thay đổi mà con người đã được thay đổi. Biển không lặng nhưng Phêrô học được cách nắm lấy tay Chúa. Chén không được cất đi nhưng Đức Giêsu vẫn có thể nói: “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha.” Đó là sức mạnh của đức tin.
Đứng trước Thập Giá, chúng ta cũng được mời gọi nhìn lại những người đang chịu đau chung quanh mình. Có thể ta không cất được thập giá của họ, nhưng ta có thể giúp họ vác. Simon Kyrênê không cứu Đức Giêsu khỏi thập giá; ông chỉ vác giúp một đoạn đường. Có khi tất cả những gì một người cần không phải là ta giải quyết cả cuộc đời họ, nhưng chỉ là ở bên họ một đoạn. Một cuộc điện thoại. Một lần ghé thăm. Một bữa cơm. Một chút tiền. Một lời không xét đoán. Một giờ ngồi nghe. Một sự hiện diện. Nhiều thập giá nặng không phải chỉ vì bản thân nó nặng, mà vì người ta phải vác một mình. Và đôi khi Chúa không từ trời xuống cất thập giá của ai đó; Chúa gửi chúng ta đến làm Simon Kyrênê. Nếu ta đi ngang qua một người đau khổ mà chỉ nói: “Cầu nguyện đi”, trong khi ta có thể giúp họ điều gì đó mà không giúp, thì có thể lời cầu nguyện của ta chưa đủ giống Đức Kitô. Vì Đức Kitô không chỉ nói rằng Người thương con người; Người mang lấy thương tích của họ.
Cuối cùng, điều làm Thập Giá trở thành nguồn ơn cứu độ không phải là lượng đau khổ Đức Giêsu chịu, nhưng là lượng tình yêu Người đặt vào trong đau khổ ấy. Hai người có thể chịu cùng một biến cố nhưng đi ra rất khác nhau. Một người để đau khổ biến mình thành cay độc. Một người để đau khổ mở rộng trái tim. Sự khác nhau nằm ở điều ta làm với nỗi đau. Chúa Giêsu làm gì với nỗi đau của mình? Người biến nó thành yêu thương. Tay bị đóng đinh nhưng vẫn mở. Miệng khô khát nhưng vẫn tha thứ. Thân xác bị nghiền nát nhưng vẫn trở thành của lễ. Sự sống bị lấy đi nhưng Người nói: “Không ai lấy mạng sống tôi được, chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Đó là tự do của tình yêu. Người ta có thể lấy áo Người, danh dự Người, sự sống thể lý của Người, nhưng không ai lấy được khả năng Người yêu. Và chính vì không ai lấy được tình yêu ấy nên Thập Giá không còn là thất bại.
Có lẽ trong đời mỗi người đều có một thứ chúng ta từng ước rằng chưa bao giờ xảy ra. Một cuộc chia ly. Một biến cố. Một căn bệnh. Một thất bại. Một vết thương. Nếu có thể quay lại, ta sẽ chọn con đường khác. Đức tin không buộc ta phải giả vờ rằng điều đó là tốt. Nhưng đức tin mời ta tin điều lớn hơn: Thiên Chúa có thể viết tiếp câu chuyện từ chính trang đời mà ta tưởng đã bị xé hỏng. Người có thể làm cho chỗ vỡ trở thành nơi ánh sáng đi vào. Người có thể làm cho điều từng khiến ta khóc trở thành nơi ta biết lau nước mắt cho người khác. Người có thể dùng cả sự yếu đuối để dạy ta cậy dựa vào Người. Người có thể dùng một thất bại để cứu ta khỏi một đời sống sai hướng. Người có thể biến những chiếc đinh ta không chọn thành dấu tích của một tình yêu đã trưởng thành.
Vì thế, khi ngước nhìn Thập Giá, đừng chỉ thấy đau khổ. Hãy nhìn kỹ hơn. Có đau khổ, nhưng bên trong đau khổ là tình yêu. Có cái chết, nhưng bên trong cái chết là sự sống đang được trao ban. Có bóng tối, nhưng ánh sáng Phục Sinh đã bắt đầu từ chính nơi ấy. Có tiếng người chế nhạo, nhưng bên trên tất cả là lời tha thứ. Có một thân xác bị treo lên, nhưng từ đó cả nhân loại được kéo về với Thiên Chúa. Thập Giá nói với chúng ta rằng không một đau khổ nào khi được kết hợp với tình yêu Đức Kitô phải trở nên vô nghĩa. Không giọt nước mắt nào Chúa không thấy. Không vết thương nào Người không chạm tới. Không một đêm nào tối đến mức bình minh Phục Sinh không thể đi vào.
Và nếu hôm nay ai đó đang đi qua một đoạn đời rất khó, xin đừng vội hỏi mình phải mạnh đến mức nào. Chỉ cần đừng buông tay Chúa. Có thể hôm nay chưa hiểu. Có thể hôm nay chỉ biết khóc. Có thể hôm nay lời cầu nguyện chỉ còn một câu rất ngắn: “Lạy Chúa, xin ở lại với con.” Như thế cũng đủ. Bởi cứu độ không bắt đầu khi ta hiểu mọi điều; cứu độ bắt đầu khi ta để Đức Kitô bước vào điều ta không hiểu. Không phải mọi thập giá đều được cất khỏi vai. Nhưng mọi thập giá đều có thể trở thành con đường dẫn đến Phục Sinh nếu được vác với Người. Không phải mọi vết thương đều biến mất, nhưng mọi vết thương đều có thể được Người chạm đến. Không phải mọi câu hỏi đều có câu trả lời trong đời này, nhưng mọi tiếng khóc đều có một Đấng nghe.
Thập Giá không nói rằng Thiên Chúa thích chúng ta đau. Thập Giá nói rằng ngay cả nơi con người đau nhất, Thiên Chúa vẫn có thể ở đó. Thập Giá không nói rằng sự dữ là tốt. Thập Giá nói rằng sự dữ không đủ mạnh để đánh bại tình yêu. Thập Giá không nói rằng cái chết không đáng sợ. Thập Giá nói rằng cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng. Thập Giá không nói rằng chúng ta phải tự mình chịu đựng. Thập Giá nói rằng có một Đấng đã chịu trước chúng ta, đang chịu với chúng ta và sẽ dẫn chúng ta đi xuyên qua nó.
Vậy nên, xin đừng yêu đau khổ. Nhưng khi đau khổ đến và không thể tránh, xin hãy đem nó đến với Đức Kitô chịu đóng đinh. Đừng để nó nằm một mình trong lòng như một vết thương mưng mủ. Hãy đặt nó dưới chân Thập Giá. Hãy nói với Chúa tất cả: cơn giận, nỗi sợ, sự thất vọng, cả những câu hỏi không dám nói với ai. Chúa không sợ những câu hỏi ấy. Chúa Giêsu cũng từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Và rồi từ chính bóng tối ấy, Người đi đến lời phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đó có thể cũng là hành trình của ta: từ “Tại sao?” đến “Con xin phó thác”. Không phải vì ta đã hiểu hết, nhưng vì ta đã gặp được Đấng đáng để phó thác.
Ước gì mỗi khi nhìn lên Thập Giá, chúng ta nhớ rằng cuộc đời mình không được cứu nhờ việc không bao giờ đau, nhưng nhờ việc ngay trong đau khổ vẫn còn có thể yêu. Đó là con đường của Đức Kitô. Đó là điều làm đau khổ sinh hoa trái cứu độ. Và đó cũng là niềm hy vọng âm thầm nhưng vô cùng lớn lao của những người đang phải vác thập giá hôm nay: Chúa không hứa rằng con đường sẽ không có Golgotha, nhưng Người hứa rằng Golgotha không phải là điểm cuối. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh vẫn có buổi sáng Phục Sinh. Sau hạt lúa mục đi trong lòng đất vẫn có mùa gặt. Sau giọt nước mắt vẫn có ngày Thiên Chúa “lau sạch nước mắt trên khuôn mặt mọi người”. Và sau cùng, khi nhìn lại toàn bộ đời mình trong ánh sáng của Thiên Chúa, có lẽ chúng ta sẽ nhận ra rằng ngay cả những đoạn đường từng khiến mình hỏi “Chúa ở đâu?”, chính tại đó Chúa đã ở gần mình hơn bao giờ hết.
Lm. Anmai, CSsR

KHI ĐƯỢC GIƯƠNG CAO, THẦY SẼ KÉO MỌI NGƯỜI LÊN VỚI THẦY
Tin Mừng: Ga 12,31-32
Có những câu nói của Chúa Giêsu càng đọc lâu, càng sống lâu, càng đi qua nhiều vui buồn của kiếp người, ta càng thấy trong đó có một chiều sâu không thể dò cho hết. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” Chúa nói về cái chết của Người. Chúa nói về Thập Giá. Nhưng lạ lùng thay, Người không nói về Thập Giá như nói về một thất bại. Người không nói đến cái chết như nói đến lúc mọi sự chấm dứt. Người cũng không nói đến Canvê như một nơi Người bị đẩy xuống tận cùng của nhục nhã. Người gọi đó là lúc Người “được giương cao”. Ngôn ngữ của Tin Mừng thật nghịch lý. Điều thế gian nhìn thấy là một con người bị treo lên giữa trời đất như một kẻ bị nguyền rủa, thì Thiên Chúa lại nhìn đó như giờ Con của Người được tôn vinh. Điều con người coi là ô nhục, Thiên Chúa biến thành vinh quang. Điều người đời tưởng là dấu chấm hết, Thiên Chúa biến thành khởi đầu của một dòng cứu độ. Điều người ta dựng lên để làm cho Đức Giêsu biến mất khỏi lịch sử, lại trở thành chiếc ngai mà từ đó Người bắt đầu lôi kéo cả lịch sử về với mình. Không ai trong những người đóng đinh Chúa hôm ấy có thể tưởng tượng rằng cây gỗ họ dựng lên để kết thúc một con người sẽ trở thành cây gỗ mà hàng triệu, hàng tỷ con người qua bao thế hệ cúi đầu thờ lạy. Không ai có thể ngờ rằng những chiếc đinh họ đóng vào tay chân Người, với ý định giữ Người bất động, lại không thể giữ được tình yêu của Người. Không ai có thể ngờ rằng khi họ nâng Người lên để mọi người nhìn thấy sự thất bại của Người, thì chính lúc ấy Người bắt đầu trở thành điểm quy tụ của những tâm hồn tan vỡ, của những người tội lỗi, của những người tuyệt vọng, của những người không còn nơi nào để đi, của những kẻ đã từng nghĩ đời mình chẳng còn đáng được yêu thương. Thập Giá từ đó không còn chỉ là một dụng cụ hành hình. Thập Giá trở thành dấu chỉ cho một tình yêu không chịu đầu hàng trước sự dữ. Thập Giá trở thành nơi Thiên Chúa nói lời cuối cùng về con người. Và lời cuối cùng ấy không phải là kết án, nhưng là yêu thương.
Có lẽ chúng ta đã quen nhìn Thập Giá đến mức không còn thấy hết sự kinh hoàng của nó. Thập Giá treo trên bàn thờ, Thập Giá đeo trên ngực, Thập Giá đặt trong nhà, Thập Giá ở đầu giường, Thập Giá trên tháp chuông. Quen quá nên đôi khi quên rằng ngày xưa đó là dấu của nhục nhã. Người Roma không dùng Thập Giá cho những công dân được kính trọng. Nó dành cho những kẻ bị coi là thấp hèn, những tên nô lệ, những người nổi loạn, những tội phạm bị muốn bêu riếu trước công chúng. Người bị đóng đinh không chỉ phải chết, mà còn phải chết trong sự sỉ nhục. Chết mà không còn một chút danh dự nào. Chết mà thân thể bị phơi ra trước mắt thiên hạ. Chết giữa những lời chế giễu. Chết trong cô độc. Chết trong cảm giác như chính Thiên Chúa cũng im lặng. Vậy mà Đức Giêsu đã bước vào chính nơi ấy. Người không chọn một ngai vàng bằng gỗ quý. Người chọn cây gỗ Thập Giá. Người không đội triều thiên bằng vàng. Người đội vòng gai. Người không khoác long bào. Người bị lột áo. Người không có quân lính tung hô. Người có những người lính chế giễu. Người không ngồi cao để người khác quỳ dưới chân. Người bị nâng cao vì người ta muốn thiên hạ nhìn Người như một kẻ thất bại. Nhưng chính trên cái ngai kỳ lạ đó, vương quyền thật của Người được tỏ lộ. Bởi quyền lực lớn nhất của Thiên Chúa không phải là khả năng tiêu diệt kẻ thù, mà là khả năng yêu thương ngay cả kẻ đóng đinh mình. Quyền lực lớn nhất của Thiên Chúa không nằm trong việc buộc người ta phải phục tùng, nhưng trong việc làm cho một trái tim tự do muốn quay về. Thiên Chúa không chinh phục nhân loại bằng bạo lực. Người chinh phục bằng những cánh tay bị đóng đinh và dang rộng. Hai cánh tay ấy không còn có thể ôm theo cách của người bình thường nữa, nhưng chính vì bị đóng vào Thập Giá, chúng lại trở thành vòng tay mở rộng cho cả nhân loại.
“Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy.” Chữ “kéo” ấy đẹp biết bao. Chúa không nói: Thầy sẽ xua đuổi. Chúa không nói: Thầy sẽ loại trừ. Chúa không nói: Thầy sẽ chỉ chọn những người xứng đáng. Người nói: “mọi người”. Nghĩa là trong trái tim của Đức Kitô chịu đóng đinh có một chỗ dành cho mọi phận người. Có chỗ cho người thánh thiện, nhưng cũng có chỗ cho người đang vật lộn với tội lỗi. Có chỗ cho người đang tin rất mạnh, và cũng có chỗ cho người chỉ còn một chút niềm tin mong manh như đốm lửa sắp tắt. Có chỗ cho người đã sống ngay lành cả đời, và có chỗ cho người trộm lành chỉ kịp quay đầu trong giờ phút cuối. Có chỗ cho Phêrô đã chối Thầy. Có chỗ cho Tôma đã nghi ngờ. Có chỗ cho những môn đệ đã bỏ chạy. Có chỗ cho đám đông từng tung hô rồi quay sang đòi đóng đinh. Có chỗ cho những người lính đã chia áo Người. Có chỗ cho những kẻ đã chế giễu. Có chỗ cho những người chẳng biết mình đang làm gì. Thập Giá rộng hơn tội lỗi con người. Lòng thương xót của Chúa sâu hơn vực sâu mà con người có thể rơi xuống. Không một ai phải đứng quá xa đến độ bàn tay bị đóng đinh của Chúa không thể với tới. Có những người mang trong lòng những chuyện họ không dám kể với ai. Có những vết thương càng chạm vào càng đau. Có những quá khứ khiến người ta không dám ngẩng mặt. Có những sai lầm đã làm tan vỡ một gia đình, một tương lai, một ơn gọi, một tình bạn. Có những người sống nhiều năm mà trong lòng vẫn nghĩ: chắc Chúa cũng chán tôi rồi. Nhưng Thập Giá nói điều ngược lại. Nếu Thiên Chúa đã giương Con của Người lên giữa trời đất, thì không phải để nói rằng con người hết hy vọng, nhưng để mở một con đường cho người không còn hy vọng. Nếu Chúa Giêsu đã dang tay trên Thập Giá, thì không phải để giữ khoảng cách, nhưng để nói rằng: con vẫn có thể trở về. Con không cần phải làm cho quá khứ biến mất rồi mới đến với Ta. Hãy đến với Ta cùng với quá khứ của con. Con không cần đợi mình sạch sẽ rồi mới đến. Hãy để Ta rửa con. Con không cần chứng minh mình xứng đáng. Tình yêu của Ta không bắt đầu từ sự xứng đáng của con; nó bắt đầu từ trái tim của Ta.
Nhưng Chúa kéo chúng ta lên với Người không phải bằng thứ hấp lực của hào nhoáng. Thập Giá không hấp dẫn theo kiểu thế gian. Thế gian thường kéo người ta bằng thành công, tiền bạc, danh tiếng, sắc đẹp, quyền lực, ảnh hưởng. Chúng ta dễ bị thu hút bởi những gì sáng chói. Ta thích đi theo người chiến thắng. Ta thích đứng gần người có quyền. Ta thích được nhận diện với những gì làm mình cảm thấy quan trọng. Còn Đức Kitô lại đứng trước chúng ta với thân thể đầy thương tích. Không có gì nơi Người trên Canvê giống một người thành đạt. Nếu chỉ nhìn bằng mắt trần, Người chẳng còn gì để lôi kéo. Vậy tại sao Thập Giá vẫn có sức hút lạ lùng suốt hai ngàn năm? Bởi con người có thể bị quyến rũ một lúc bởi hào quang, nhưng trong đáy sâu, trái tim chỉ thật sự bị chinh phục bởi tình yêu. Một người có thể gây ấn tượng bằng tài năng, nhưng chỉ tình yêu mới làm ta nhớ suốt đời. Một người có thể buộc kẻ khác nghe lời bằng quyền lực, nhưng chỉ tình yêu mới làm người khác tự nguyện trao lòng. Thập Giá có sức lôi kéo vì trên đó con người nhìn thấy một Thiên Chúa đã yêu mình đến mức không giữ lại gì cho mình. Người cho đi thời gian. Người cho đi sức lực. Người cho đi danh dự. Người cho đi máu. Người cho đi hơi thở cuối cùng. Người cho đi cả sự sống. Khi không còn gì khác để cho, Người cho chính mình. Vì thế, đứng trước Thập Giá, con người không chỉ thấy một giáo lý. Ta gặp một Người đã yêu ta bằng cái giá của chính mạng sống Người.
Có lẽ đời sống đức tin của chúng ta nhiều khi yếu đi vì ta nói về Chúa quá nhiều nhưng nhìn Thập Giá quá ít. Ta biết nhiều câu giáo lý, nhưng chưa chắc đã để cho mình bị tình yêu trên Thập Giá đánh động. Ta có thể đi lễ nhiều năm mà vẫn giữ một trái tim cứng. Ta có thể đọc kinh đều đặn mà vẫn không tha thứ. Ta có thể mang Thập Giá trên cổ nhưng sống như thể chẳng có ai từng chết cho mình. Ta có thể giảng rất hay về tình yêu mà lại làm đau những người gần mình nhất. Chúa không dựng Thập Giá lên để nó trở thành một vật trang trí. Người muốn Thập Giá trở thành tiêu chuẩn của đời ta. Mỗi lần nhìn Thập Giá, ta phải tự hỏi: tôi đang sống thế nào trước một tình yêu như thế? Nếu Người đã tha thứ cho tôi như vậy, tại sao tôi cứ giữ món nợ của người khác trong lòng? Nếu Người đã chịu nhục vì tôi, tại sao tôi không chịu nổi một lời người ta nói trái ý? Nếu Người đã bỏ mình vì tôi, tại sao tôi cứ muốn mọi người phải chiều theo ý tôi? Nếu Người đã dang tay đón tôi khi tôi chẳng có gì đáng yêu, tại sao tôi chỉ muốn yêu những người dễ thương? Nếu Người đã không bước xuống khỏi Thập Giá để cứu lấy mình, tại sao mỗi khi gặp khó khăn tôi lại chỉ nghĩ đến việc bảo vệ mình? Thập Giá không cho phép Kitô hữu sống một thứ đạo chỉ tìm tiện nghi. Thập Giá đặt chúng ta trước một câu hỏi khó: tình yêu của tôi đã phải trả giá gì chưa?
Tình yêu không trả giá thường chỉ là cảm xúc. Người ta nói yêu rất dễ khi chưa phải hy sinh. Người ta nói trung thành rất dễ khi chưa gặp thử thách. Người ta nói tha thứ rất dễ khi chưa bị xúc phạm nặng. Người ta nói phục vụ rất dễ khi còn được biết ơn. Người ta nói theo Chúa rất dễ khi đời sống đang yên ổn. Nhưng đến một lúc nào đó, mỗi người đều phải đi tới Canvê của đời mình, nơi những lời nói đẹp không còn đủ, nơi tình yêu phải biến thành lựa chọn. Một người mẹ thức trắng đêm bên đứa con bệnh, đó là một thứ Thập Giá. Một người cha âm thầm lao động, chịu bao áp lực mà không than thở để gia đình được bình an, đó là một thứ Thập Giá. Một người vợ nhẫn nại gìn giữ mái nhà trong những lúc hôn nhân khô khan, đó là một thứ Thập Giá. Một người chồng biết hạ tự ái để nói lời xin lỗi, đó cũng là Thập Giá. Một người con chăm cha mẹ già, lặp đi lặp lại những công việc nhỏ chẳng ai nhìn thấy, đó cũng là Thập Giá. Một linh mục ở lại với cộng đoàn khi mệt mỏi, tiếp tục lắng nghe khi mình cũng đang cần người lắng nghe, tiếp tục giảng Lời Chúa khi lòng mình khô hạn, tiếp tục phục vụ khi bị hiểu lầm, đó cũng là những mảnh nhỏ của Thập Giá. Một tu sĩ trung thành với lời khấn trong những năm tháng không còn cảm xúc ban đầu, đó là Thập Giá. Một người đau bệnh mà không để đau khổ biến mình thành cay độc, đó là Thập Giá. Một người bị phản bội nhưng nhất quyết không để hận thù biến mình thành người xấu, đó là Thập Giá. Một người có thể trả đũa mà chọn im lặng, có thể làm nhục mà chọn giữ phẩm giá cho người khác, có thể bỏ đi mà chọn ở lại vì trách nhiệm, đó là lúc Thập Giá bắt đầu đi vào đời sống.
Và lạ lùng thay, chính những con người sống như thế lại có sức “kéo” người khác đến với Chúa hơn bao nhiêu lời giảng. Có những người chưa từng đọc một quyển thần học nào, nhưng đã hiểu Thiên Chúa qua một người mẹ hy sinh. Có những người xa Giáo Hội nhiều năm nhưng quay về chỉ vì gặp một linh mục hiền lành không kết án họ. Có những đứa con giữ được đức tin vì đã thấy cha mẹ quỳ cầu nguyện trong những ngày khốn khó. Có những người không tin vào Thiên Chúa nhưng bắt đầu đặt câu hỏi khi nhìn thấy một Kitô hữu tha thứ điều tưởng như không thể tha thứ. Khi một người sống theo hình dáng của Thập Giá, người đó trở thành một dấu chỉ có sức lôi kéo. Không phải lôi kéo người khác về với mình, nhưng qua mình, họ bị kéo về với Đức Kitô. Đó mới là ý nghĩa sâu xa của một đời tông đồ. Người tông đồ không cần làm cho thiên hạ ngưỡng mộ mình. Người tông đồ chỉ cần để Đức Kitô hiện ra đủ rõ trong cách mình sống, để người khác nhìn mình rồi muốn đi tìm Chúa.
Ngày nay chúng ta sống trong một thời đại rất thích được nhìn thấy. Người ta dễ bị cuốn vào việc xây dựng hình ảnh. Ai cũng muốn được ghi nhận. Làm một điều tốt, đôi khi ta muốn có người biết. Nói một lời hay, ta muốn được khen. Làm việc cho Chúa, đôi khi cũng có thể âm thầm mong tên mình được nhắc tới. Nhưng Thập Giá dạy một con đường khác. Đức Giêsu được “giương cao”, nhưng không phải để phô trương bản thân. Người được giương cao để trao ban chính mình. Có một khác biệt rất lớn giữa việc muốn mình được nâng lên và chấp nhận được nâng lên trên Thập Giá vì tình yêu. Một bên là tìm vinh quang cho mình; một bên là để mình hao mòn cho người khác. Một bên muốn người ta nhìn mình; một bên muốn qua mình, người ta nhìn thấy Thiên Chúa. Một bên muốn giữ lấy đám đông; một bên sẵn sàng mất tất cả miễn là họ được cứu. Người làm việc tông đồ càng phải cẩn thận điều này. Bởi rất dễ dùng danh Chúa để xây dựng tên tuổi mình. Rất dễ nói về phục vụ nhưng trong lòng lại muốn người ta phục vụ mình. Rất dễ rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh nhưng bản thân lại sợ mọi hy sinh. Rất dễ kêu gọi người khác từ bỏ nhưng mình không muốn mất một chút quyền lợi. Nhìn lên Thập Giá, người môn đệ phải học lại từ đầu: Chúa không kéo người ta bằng kỹ thuật. Chúa kéo bằng tình yêu. Chúa không chinh phục bằng quảng cáo. Chúa chinh phục bằng tự hiến. Chúa không giữ người ta bằng quyền lực. Chúa giữ họ bằng những dấu đinh.
Có một điều rất đẹp: Đức Giêsu nói Người sẽ “kéo mọi người lên”. Người không kéo họ xuống. Tội lỗi luôn kéo con người xuống. Ích kỷ kéo xuống. Ghen ghét kéo xuống. Dục vọng kéo xuống. Tham lam kéo xuống. Tự ái kéo xuống. Hận thù kéo xuống. Càng sống cho mình, con người càng thấy lòng mình thấp đi, chật đi, nặng đi. Có những người có rất nhiều tiền nhưng tâm hồn lại nghèo nàn. Có những người đứng rất cao trong xã hội nhưng đời sống bên trong lại xuống rất thấp. Có những người thắng được người khác nhưng thua chính mình. Có những người giữ được thể diện nhưng đánh mất bình an. Có những người trả đũa thành công nhưng sau đó lòng mình đầy bóng tối. Đức Kitô trên Thập Giá lại kéo con người lên một hướng khác. Người kéo ta ra khỏi sự thấp hèn của hận thù để bước vào cao cả của tha thứ. Người kéo ta ra khỏi nô lệ cho cái tôi để bước vào tự do của hiến thân. Người kéo ta ra khỏi sợ hãi để bước vào tín thác. Người kéo ta ra khỏi tuyệt vọng để bước vào hy vọng. Người kéo ta khỏi ý nghĩ rằng mình vô giá trị để nhớ rằng mình đã được mua bằng một giá rất đắt. Người kéo ta khỏi cách sống chỉ biết nhận để học biết cho. Người kéo ta từ một cuộc đời khép kín về mình tới một cuộc đời biết mở ra cho tha nhân.
Nhưng để được Chúa kéo lên, ta phải chấp nhận buông những gì đang kéo mình xuống. Chúa không ép buộc. Người không kéo một người đang nhất quyết bám chặt vào hận thù mà không muốn buông. Người không thể đưa ta vào tự do nếu ta cứ ôm lấy xiềng xích. Người không thể chữa lành nếu ta cứ bảo vệ vết thương như một phần căn tính của mình. Có khi điều khó nhất trong đời thiêng liêng không phải là làm thêm một việc đạo đức, nhưng là buông một điều. Buông một mối hận đã giữ quá lâu. Buông một thành kiến về ai đó. Buông nhu cầu phải luôn luôn đúng. Buông nỗi ám ảnh về một thất bại cũ. Buông sự tự kết án mình. Buông một tội lỗi ta cứ tìm cách biện minh. Buông việc muốn kiểm soát mọi sự. Buông cái tôi bị tổn thương đang đòi người khác phải trả giá. Chúa từ trên Thập Giá dang tay, nhưng Người không thể ôm một người đang nắm chặt hai tay vào những thứ làm mình chết dần. Có lúc để được nâng lên, ta chỉ cần can đảm mở bàn tay ra.
Chúng ta cũng phải hiểu rằng được Chúa kéo lên với Người không có nghĩa là được đưa ngay ra khỏi mọi đau khổ. Nhiều người nghĩ theo Chúa thì Chúa phải làm cho mình tránh khỏi Thập Giá. Nhưng Tin Mừng không hứa điều đó. Đức Kitô không đứng ngoài Thập Giá để kéo ta ra khỏi nó; Người ở trên Thập Giá và kéo ta vào trong cách Người sống Thập Giá. Có những bệnh tật không được chữa như ta mong. Có những mất mát không thể lấy lại. Có những người đã ra đi và không trở về. Có những vết thương để lại sẹo suốt đời. Có những lời cầu nguyện tưởng như không được trả lời. Có những giai đoạn ta chỉ có thể đi từng ngày. Chúa không luôn cất cây Thập Giá khỏi vai ta, nhưng Người có thể làm cho nó không còn vô nghĩa. Đó là một phép lạ rất lớn. Đau khổ tự nó không cứu được ai. Thiên Chúa không vui khi con cái Người đau khổ. Nhưng khi một nỗi đau được đặt vào trong tình yêu của Đức Kitô, nó có thể trở thành nơi ta trưởng thành, nơi ta học cảm thông, nơi ta bớt xét đoán, nơi ta biết cầu nguyện thật hơn, nơi cái tôi bị bào mòn, nơi ta khám phá ra mình không thể cứu mình và bắt đầu để Chúa cứu. Có những điều ngày ấy ta từng hỏi: “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Nhiều năm sau nhìn lại, ta có thể chưa có câu trả lời hoàn toàn, nhưng nhận ra rằng chính qua giai đoạn ấy, Chúa đã kéo ta lên khỏi một con người cũ.
Đức Kitô trên Thập Giá cũng kéo chúng ta lại gần nhau. Tội lỗi phân tán. Cái tôi phân tán. Ai cũng muốn về phía mình. Gia đình tan vỡ khi mỗi người chỉ bảo vệ quyền của mình. Cộng đoàn chia rẽ khi ai cũng muốn ý mình thắng. Giáo Hội bị tổn thương khi người ta nhân danh sự thật mà quên tình yêu. Xã hội chia phe khi người ta không còn nhìn nhau như con người mà chỉ nhìn nhau như đối thủ. Thập Giá lại đứng giữa những phân mảnh đó và mời gọi tất cả nhìn lên cùng một Đấng. Dưới chân Thập Giá, không ai có quyền khoe mình hơn người khác. Người đạo đức cũng được cứu bởi máu ấy. Người tội lỗi cũng được cứu bởi máu ấy. Linh mục cũng cần lòng thương xót ấy. Giáo dân cũng cần lòng thương xót ấy. Người giàu không thể mua thêm một giọt máu nào. Người nghèo cũng không bị thiếu phần. Tất cả đều đứng dưới Thập Giá với đôi bàn tay trắng. Nếu thật sự nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, chúng ta sẽ bớt kiêu ngạo. Bởi ta nhận ra mình sống được không phải vì mình giỏi, nhưng vì mình được yêu. Và khi biết mình được yêu nhưng không, ta sẽ bớt khắt khe với người khác.
Điều đau lòng là có khi chúng ta dựng Thập Giá trong nhà thờ nhưng lại dựng những bức tường trong lòng. Ta thờ một Đấng kéo “mọi người” về với Người, nhưng ta lại chỉ muốn gần những người giống mình. Ta dễ phân loại: người này đáng thương, người kia đáng trách; người này đạo đức, người kia hư hỏng; người này thuộc phe mình, người kia không. Nhưng Thập Giá không có hàng rào. Máu Chúa không chỉ đổ cho người ta thích. Nếu một cộng đoàn mang danh Kitô hữu mà làm người yếu đuối sợ bước vào, có lẽ cộng đoàn ấy chưa đủ giống Thập Giá. Nếu một lời giảng khiến người tội lỗi chỉ cảm thấy bị nghiền nát mà không thấy cửa trở về, có lẽ lời ấy chưa mang trọn giọng của Đức Kitô. Chúa có nói đến tội. Chúa không gọi bóng tối là ánh sáng. Nhưng Người lên Thập Giá không phải để chứng minh con người đáng chết, mà để con người được sống. Chân lý Kitô giáo không bao giờ tách khỏi lòng thương xót. Sự thật mà không có tình yêu dễ biến thành cây búa. Còn tình yêu không có sự thật thì trở thành nuông chiều. Trên Thập Giá, sự thật và tình yêu gặp nhau: tội lỗi nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa phải chết, nhưng con người quý giá đến mức Con Thiên Chúa chấp nhận chết để cứu.
“Khi được giương cao, Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy.” Có lẽ đây cũng là một lời dành cho những ai cảm thấy mình đang ở rất thấp. Thấp vì thất bại. Thấp vì bị bỏ rơi. Thấp vì tuổi già. Thấp vì bệnh tật. Thấp vì một đứa con làm mình đau lòng. Thấp vì một cuộc hôn nhân có quá nhiều vết nứt. Thấp vì một ơn gọi đang mệt mỏi. Thấp vì người khác không còn coi trọng mình. Thấp vì chính mình cũng thất vọng về mình. Chúa nói: hãy nhìn lên. Không phải nhìn lên một Đức Kitô xa xôi không biết đau. Hãy nhìn lên một Đấng còn xuống thấp hơn con. Người đã xuống tận đáy của sự cô độc. Người đã nếm sự phản bội. Người đã biết bị người thân bỏ chạy. Người đã biết bị hiểu lầm. Người đã biết bị chế giễu. Người đã biết thân xác đau đớn. Người đã biết khát. Người đã biết tiếng kêu không được trả lời ngay. Không có vực sâu nào của con người mà Người chưa bước tới. Vì thế, bàn tay Người có thể kéo ta lên không phải bằng một sự cảm thông từ xa, nhưng bằng kinh nghiệm của một Đấng đã đi qua đáy sâu.
Có người hỏi: tại sao Thiên Chúa không cứu thế giới bằng một cách dễ dàng hơn? Tại sao phải là Thập Giá? Ta không thể trả lời hết mầu nhiệm ấy. Nhưng ít nhất Thập Giá cho ta biết một điều: Thiên Chúa không cứu chúng ta từ xa. Người bước vào chính nơi chúng ta bị thương. Người không đứng trên bờ gọi người chết đuối hãy cố bơi vào. Người nhảy xuống dòng nước. Người xuống nơi thấp nhất để không ai có thể nói: Chúa không hiểu tôi. Và rồi từ chỗ thấp nhất đó, Người kéo tất cả đi lên. Đây là cách Thiên Chúa cứu: từ bên trong đau khổ, Người mở ra con đường phục sinh; từ bên trong cái chết, Người làm bật lên sự sống; từ bên trong sự thất bại, Người làm nảy sinh chiến thắng. Vì thế người Kitô hữu không nhìn Thập Giá như người tuyệt vọng. Ta có thể khóc trước Thập Giá, nhưng không tuyệt vọng. Ta có thể đau, nhưng không vô vọng. Bởi sau Thứ Sáu Tuần Thánh có sáng Phục Sinh. Cây Thập Giá là thật, nhưng ngôi mộ trống cũng thật. Những dấu đinh vẫn còn trên thân thể Phục Sinh của Chúa, như muốn nói rằng Thiên Chúa không xóa quá khứ; Người biến đổi nó. Chính những vết thương từng là dấu của đau đớn trở thành dấu của tình yêu chiến thắng.
Và có lẽ đó là điều Chúa muốn làm với đời mỗi người chúng ta. Người không hứa xóa hết mọi vết sẹo. Có những chuyện sẽ không bao giờ như chưa từng xảy ra. Nhưng ân sủng có thể làm cho vết sẹo không còn chỉ kể câu chuyện về sự đau đớn, mà kể câu chuyện về việc Chúa đã giữ ta lại thế nào. Có người nhìn lại một biến cố đau buồn và nói: tôi không muốn nó xảy ra, tôi không bao giờ gọi điều xấu là điều tốt, nhưng chính ở đó tôi đã gặp Chúa sâu hơn. Đó là lúc Thập Giá sinh hoa trái. Có người từng bị làm tổn thương, rồi sau này trở thành người biết nâng đỡ người khác. Có người từng thất bại, nhờ vậy học được sự khiêm nhường. Có người từng lạc đường, nên khi trở về họ biết đón người lạc đường bằng lòng cảm thông. Có người từng trải qua đêm tối, nên biết ngồi bên người đang khóc mà không nói những lời sáo rỗng. Thiên Chúa có thể lấy những mảnh vỡ mà ta muốn vứt đi để làm thành một cửa sổ cho ánh sáng đi qua.
Thưa anh chị em, điều lớn lao nhất đời Kitô hữu không phải là tránh được mọi Thập Giá, nhưng là đừng vác Thập Giá một mình. Nếu Chúa ở đó, Thập Giá sẽ không còn là dấu chấm hết. Nếu ta để Người kéo mình lên, ngay trong những điều đang làm mình đau, ta có thể bắt đầu sống khác. Có thể hoàn cảnh chưa đổi nhưng trái tim đổi. Có thể người làm ta tổn thương chưa xin lỗi nhưng ta không còn để họ điều khiển bình an của mình. Có thể bệnh vẫn còn nhưng nỗi sợ không còn làm chủ. Có thể tương lai chưa rõ nhưng ta biết mình không rơi khỏi tay Chúa. Có thể ta vẫn khóc nhưng nước mắt không còn hoàn toàn tuyệt vọng. Đức tin không phải lúc nào cũng là cảm giác mạnh mẽ. Có khi đức tin chỉ là một bàn tay yếu ớt đưa lên và nói: Lạy Chúa, con không đủ sức, xin kéo con. Và Chúa sẽ kéo.
Rồi đến lượt chúng ta, những người đã được Chúa kéo lên, phải trở thành bàn tay kéo người khác lên. Đừng là người đẩy ai xuống sâu hơn. Thế giới đã có quá nhiều lời làm người khác tổn thương. Đừng thêm một lời. Thế giới đã có quá nhiều sự xét đoán. Đừng thêm một bản án. Trong gia đình, có khi điều thánh thiện nhất hôm nay chỉ là đừng nhắc lại lỗi cũ của nhau. Trong cộng đoàn, có khi điều cần nhất không phải là thắng một cuộc tranh luận, nhưng là giữ được một người anh em. Trong đời linh mục, có khi một câu nói hiền lành với người đang mang mặc cảm tội lỗi có thể cứu một đời người. Có người bước vào tòa giải tội không cần nghe ta chứng minh họ sai; họ đã biết mình sai. Họ cần biết còn đường trở về. Có người tìm đến Giáo Hội sau nhiều năm xa cách không cần bị hỏi trước hết: “Tại sao bây giờ mới đến?” Họ cần nghe: “Mừng vì anh chị đã trở về.” Nếu Đức Kitô từ trên Thập Giá kéo mọi người lên, thì người mang danh Người không thể có niềm vui khi đẩy ai xuống.
Mỗi ngày chúng ta đều đứng trước một lựa chọn: kéo người khác lên hay kéo họ xuống. Một lời khen chân thành có thể kéo một người lên. Một lời tha thứ có thể kéo lên. Một sự hiện diện trong lúc người khác cô đơn có thể kéo lên. Một cú điện thoại hỏi thăm có thể kéo lên. Một lần im lặng không nói xấu có thể kéo lên. Một sự giúp đỡ không phô trương có thể kéo lên. Một cái nhìn không khinh miệt có thể kéo lên. Một lời nhắc nhở bằng tình yêu có thể kéo lên. Một linh mục đừng làm cho giáo dân sợ mình. Một người cha đừng làm cho con cái chỉ nhớ về mình bằng nỗi sợ. Một người mẹ đừng dùng hy sinh như món nợ để buộc con phải trả. Một người có trách nhiệm đừng dùng quyền để làm người khác nhỏ đi. Nếu ta thật sự thuộc về Đức Kitô chịu đóng đinh, ở đâu ta hiện diện, con người phải cảm thấy mình được nâng lên: nâng phẩm giá, nâng hy vọng, nâng lòng tin, nâng khả năng bắt đầu lại.
Có một thứ “giương cao” mà thế gian tìm kiếm: giương cao tên tuổi, vị trí, quyền lực. Nhưng Đức Kitô cho ta thấy một thứ giương cao khác: được nâng lên để trở thành của lễ. Người Kitô hữu trưởng thành sẽ không còn hỏi: làm sao để tôi được nhiều người biết đến? Nhưng hỏi: làm sao để đời tôi có thể trở thành một nơi người khác gặp Chúa? Không hỏi: tôi được gì? Nhưng hỏi: ai sẽ được nâng lên nhờ tôi? Không hỏi: người khác nhìn tôi thế nào? Nhưng hỏi: qua tôi, họ có nhìn thấy Đức Kitô không? Một đời sống như thế có thể rất âm thầm. Có thể không ai viết về nó. Có thể chẳng có một tràng pháo tay. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, đó là một đời có sức hút của Thập Giá.
Chúng ta hãy nhìn lại những người đã kéo mình lên trong đời. Có khi đó là cha mẹ. Có khi là một linh mục. Có khi là một thầy cô. Có khi là một người bạn. Có khi chỉ là một người đã nói với ta một câu đúng vào lúc ta gần bỏ cuộc. Những người ấy có thể chẳng biết họ đã làm gì lớn lao. Họ chỉ sống tử tế. Nhưng lòng tốt của họ trở thành sợi dây Chúa dùng để kéo ta. Nghĩ như thế, ta hiểu rằng mình cũng có thể trở thành sợi dây ấy cho ai đó. Có thể hôm nay bên cạnh ta có một người đang gần buông xuôi. Ta không biết. Có thể một câu nói của ta làm họ chìm xuống hoặc giúp họ đứng lên. Có thể một cách cư xử của ta làm một người xa Chúa hơn hoặc gần Chúa hơn. Đời sống Kitô hữu vì thế không có chuyện nhỏ. Khi ta mang trong mình tình yêu của Đấng chịu đóng đinh, ngay cả những việc nhỏ cũng có thể mang sức hút của cứu độ.
Thập Giá cuối cùng vẫn là một mầu nhiệm ta không chỉ hiểu bằng đầu nhưng phải quỳ xuống để chiêm ngắm. Càng nhìn lâu, ta càng thấy mình nhỏ. Ta thấy tội mình không nhỏ, bởi để cứu ta, Chúa đã trả một giá quá lớn. Nhưng ta cũng thấy giá trị mình không nhỏ, bởi nếu ta chẳng có giá trị gì, Con Thiên Chúa đã không yêu ta đến thế. Hai điều ấy giữ người Kitô hữu khỏi hai vực sâu: kiêu ngạo và tuyệt vọng. Ta không thể kiêu ngạo vì biết mình là người đã được cứu. Nhưng ta cũng không được tuyệt vọng vì biết mình đã được yêu. Dưới chân Thập Giá, ta có thể khóc về tội mình mà không cần ghét chính mình. Ta có thể thú nhận mình yếu đuối mà không mất hy vọng. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, con đã sai,” và đồng thời nghe trong lòng: “Hãy trở về.”
Một ngày nào đó, tất cả những điều ta bám víu hôm nay sẽ rơi khỏi tay. Danh tiếng sẽ qua. Tiền bạc sẽ ở lại. Chức vụ sẽ được trao cho người khác. Sức khỏe sẽ yếu dần. Những điều từng làm ta tự hào có thể chẳng còn ý nghĩa. Cuối cùng, điều còn lại là câu hỏi rất đơn giản: ta đã để cho tình yêu của Đấng chịu đóng đinh kéo đời ta đi về đâu? Ta có trở nên giống Người hơn không? Ta có hiền hơn không? Có biết tha thứ hơn không? Có bớt sống cho mình hơn không? Có làm cho người khác được nâng lên không? Nếu sau nhiều năm đi lễ mà ta vẫn cay nghiệt hơn, Thập Giá chưa thật sự kéo ta. Nếu sau nhiều năm cầu nguyện mà cái tôi ngày càng lớn, ta vẫn đứng xa Canvê. Nếu sau nhiều năm phục vụ mà ta chỉ muốn được ghi nhận, ta cần trở lại nhìn Đấng bị đóng đinh không còn gì để giữ cho mình.
Xin cho mỗi lần ngước nhìn Thập Giá, chúng ta đừng chỉ thấy một vật thánh quen thuộc, nhưng thấy một Người đang gọi mình. Người đang nói: hãy để Ta kéo con lên khỏi những gì làm con thấp đi. Hãy để Ta kéo con ra khỏi hận thù. Hãy để Ta kéo con khỏi mặc cảm. Hãy để Ta kéo con khỏi tính toán. Hãy để Ta kéo con khỏi nỗi sợ mất mình. Hãy lên với Ta, nghĩa là hãy học yêu như Ta. Hãy lên với Ta, nghĩa là đừng lấy sự dữ đáp lại sự dữ. Hãy lên với Ta, nghĩa là khi bị tổn thương, đừng biến mình thành người gây tổn thương. Hãy lên với Ta, nghĩa là sống một đời biết trao ban. Hãy lên với Ta, nghĩa là để những đau khổ của con được đặt trong tay Cha và biến thành của lễ. Hãy lên với Ta, nghĩa là tin rằng phía sau Thập Giá vẫn có Phục Sinh.
Và xin cho chúng ta, sau khi đã được Người kéo lên, cũng biết cúi xuống kéo một ai đó lên với mình. Bởi đó chính là cách Thập Giá tiếp tục hiện diện giữa thế giới. Không phải chỉ bằng những cây Thập Giá bằng gỗ hay bằng kim loại, nhưng bằng những con người biết chịu thiệt để người khác được sống, biết nhịn một lời để gia đình được bình an, biết cho đi mà không kể công, biết tha thứ khi có quyền trả đũa, biết ở lại khi bỏ đi dễ hơn, biết yêu khi chẳng còn gì dễ thương. Những con người ấy chính là chứng nhân rằng Đức Kitô chịu đóng đinh vẫn đang sống và vẫn đang kéo nhân loại về với Người.
“Khi được giương cao, Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy.” Cây Thập Giá tưởng là nơi con người loại bỏ Thiên Chúa, cuối cùng lại trở thành nơi Thiên Chúa ôm lấy con người. Nơi tưởng là thất bại, hóa thành chiến thắng. Nơi tưởng là tận cùng của cô độc, trở thành điểm hẹn của cả nhân loại. Nơi tưởng chỉ có cái chết, lại tuôn ra sự sống. Và từ hôm đó cho đến tận cùng thời gian, trên mọi nẻo đường của nhân loại, bất cứ ai đang mỏi mệt, tội lỗi, tan vỡ, bị bỏ rơi hay tuyệt vọng, chỉ cần còn đủ sức ngước nhìn lên Đấng chịu đóng đinh, người ấy vẫn còn một lý do để hy vọng. Vì trên cao kia không phải là một vị Thiên Chúa đang chỉ tay kết án, nhưng là một Đấng dang tay. Không phải một Đấng đẩy ta ra xa, nhưng là Đấng đang kéo ta về. Không phải một Thiên Chúa đòi ta phải tự leo lên đến Người, nhưng là Thiên Chúa đã xuống tận nơi ta nằm và từ chính nơi thấp nhất ấy, nâng ta lên cùng Người.
Xin cho đời ta, dù còn nhiều yếu đuối, cũng được đặt vào sức hút của Thập Giá ấy. Xin Chúa kéo ta lên từng ngày, từng chút một, khỏi con người cũ của mình. Và rồi, khi ngày đời khép lại, khi chẳng còn gì để nắm giữ, xin cho ta cũng có thể phó mình vào đôi tay đã từng bị đóng đinh ấy, đôi tay suốt đời vẫn âm thầm kéo ta về. Khi ấy ta sẽ hiểu trọn vẹn rằng mọi con đường thật sự dẫn lên cao đều đã đi qua Canvê, và mọi tình yêu thật sự cứu được con người đều mang ít nhiều hình dáng của một cây Thập Giá.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ KHÔNG PHẢI LÀ DẤU CHẤM HẾT
Tin Mừng: Ga 20,19-20
Có những lúc trong đời, người ta tưởng rằng mọi sự đã hết. Một cánh cửa đóng lại. Một người thân ra đi. Một cuộc hôn nhân rạn vỡ. Một người con làm cha mẹ đau lòng. Một căn bệnh bất ngờ xuất hiện. Một ước mơ đã theo đuổi bao nhiêu năm bỗng tan thành mây khói. Một lời phản bội đến từ chính người mình tin tưởng nhất. Một thất bại khiến người ta không còn đủ can đảm để bắt đầu lại. Có những buổi chiều trong đời buồn đến mức ta tưởng rằng từ đây sẽ không còn bình minh. Có những giọt nước mắt rơi xuống mà lòng mình tự hỏi: “Rồi đời tôi sẽ đi về đâu?” Có những biến cố giống như một dấu chấm hết rất đậm được đặt vào giữa cuộc đời. Người ta tưởng không còn gì để viết tiếp. Các môn đệ của Đức Giêsu cũng đã từng trải qua một buổi chiều như thế. Chiều thứ Sáu trên đồi Canvê, khi Thầy bị đóng đinh giữa hai tên gian phi, khi tiếng búa đóng xuống những chiếc đinh, khi thân thể Thầy treo giữa trời, khi máu từ những vết thương chảy xuống, khi Thầy cúi đầu và trao Thần Khí, những người đã đi theo Thầy tưởng rằng tất cả đã chấm dứt. Ba năm theo Thầy, ba năm nghe Thầy giảng, ba năm chứng kiến bao phép lạ, ba năm nuôi trong lòng biết bao hy vọng về Nước Thiên Chúa, giờ đây tất cả như bị chôn trong một ngôi mộ đá. Cánh cửa mộ được lăn lại. Một tảng đá lớn nằm trước cửa. Người ta có thể tưởng rằng đó là dấu chấm hết cho câu chuyện của Đức Giêsu Nadarét. Nhưng Thiên Chúa lại viết tiếp câu chuyện từ chính nơi con người tưởng rằng không còn gì để viết. Sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Và chiều hôm ấy, khi các môn đệ đang đóng kín cửa vì sợ hãi, Đức Giêsu Phục Sinh hiện đến đứng giữa họ. Tin Mừng kể một chi tiết rất nhỏ mà lại chứa cả một mầu nhiệm vô cùng lớn: “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn.” Đấng Phục Sinh không xuất hiện với một thân thể hoàn toàn không còn dấu tích của cuộc thương khó. Người vẫn mang những vết đinh. Cạnh sườn Người vẫn mang dấu của lưỡi đòng. Những vết thương của ngày thứ Sáu vẫn còn trên thân thể của Đấng sống lại ngày Chúa nhật. Điều đó thật lạ. Nếu Thiên Chúa có quyền làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, tại sao Người không xóa luôn những vết thương ấy? Tại sao không làm cho đôi tay hoàn toàn lành lặn? Tại sao không làm cho cạnh sườn không còn một dấu tích nào? Có lẽ vì Thiên Chúa muốn nói với chúng ta một điều rất sâu xa: phục sinh không có nghĩa là xóa sạch quá khứ; phục sinh là để cho Thiên Chúa biến đổi quá khứ. Phục sinh không có nghĩa là chưa từng bị thương; phục sinh là những vết thương ấy không còn quyền giết chết ta nữa. Phục sinh không có nghĩa là chưa từng khóc; phục sinh là nước mắt không còn là tiếng nói cuối cùng. Phục sinh không có nghĩa là thập giá chưa từng xảy ra; phục sinh là thập giá không còn là dấu chấm hết.
Đôi tay Đức Giêsu sau Phục Sinh vẫn là đôi tay đã từng bị đóng đinh. Cạnh sườn Người sau Phục Sinh vẫn là cạnh sườn đã từng bị đâm thâu. Nhưng điều khác biệt là những vết thương ấy giờ đây không còn là dấu hiệu của thất bại nữa, mà trở thành chứng tích của một tình yêu đã chiến thắng. Trước kia, chiếc đinh nói rằng con người đã đóng đinh Thiên Chúa; giờ đây vết đinh nói rằng Thiên Chúa đã yêu con người đến cùng. Trước kia, lưỡi đòng là dấu hiệu của bạo lực; giờ đây cạnh sườn mở ra trở thành nguồn mạch của lòng thương xót. Trước kia, Thập Giá là dụng cụ xử tử; giờ đây Thập Giá trở thành cây sự sống. Trước kia, người ta nhìn lên cây gỗ ấy và thấy một tử tội; giờ đây người tín hữu nhìn lên và nhận ra Đấng Cứu Độ. Thiên Chúa thật lạ lùng. Người không luôn luôn lấy khỏi đời ta những gì đã làm ta đau, nhưng Người có thể biến chính những điều ấy thành nơi phát sinh ân sủng. Người không trả lại cho ta một quá khứ chưa từng xảy ra. Người cũng không giả vờ rằng những gì ta đã chịu chẳng đáng kể. Người không nói với ta: “Con quên đi là được.” Không. Có những điều không thể quên. Có những vết thương sẽ còn theo ta rất lâu. Có những người cả đời vẫn nhớ một câu nói của cha mẹ khi còn nhỏ. Có người đã bảy mươi tuổi mà vẫn nhớ như in ngày mình bị bỏ rơi. Có người đã tha thứ rồi nhưng mỗi khi nhớ lại, lòng vẫn se thắt. Có người đã bước qua một biến cố đau buồn nhiều năm nhưng một ngày nào đó, một mùi hương, một bài hát, một con đường quen, một ngày giỗ, một tấm hình cũ lại làm mọi ký ức trở về. Đức tin Kitô giáo không bắt con người phải giả vờ như mình chưa từng đau. Đức tin không dạy ta phủ nhận vết thương. Đức tin dẫn ta đến với Đức Kitô Phục Sinh, Đấng mang vết thương trong một thân thể đã được vinh hiển, để ta hiểu rằng: vết thương có thể còn đó, nhưng nó không nhất thiết phải tiếp tục rỉ máu; ký ức có thể còn đó, nhưng nó không nhất thiết phải tiếp tục đầu độc hiện tại; quá khứ có thể không thay đổi, nhưng ý nghĩa của quá khứ có thể được Thiên Chúa biến đổi.
Có lẽ một trong những điều khó nhất của đời người là chấp nhận rằng không phải tất cả những gì đã vỡ đều có thể trở lại y nguyên như trước. Có cái ly vỡ có thể dán lại nhưng đường nứt vẫn còn. Có mối quan hệ sau một lần phản bội có thể được hàn gắn nhưng lòng tin phải mất rất lâu mới hồi phục. Có sức khỏe một khi suy giảm không bao giờ trở về như tuổi đôi mươi. Có người thân một khi đã về với Chúa thì bàn ăn gia đình mãi mãi thiếu một chiếc ghế. Có những điều Thiên Chúa không trả lại cho ta dưới hình thức cũ. Và nếu ta chỉ hiểu phép lạ là mọi sự phải trở về giống hệt ngày trước, ta sẽ thất vọng rất nhiều với Chúa. Phục sinh không phải là quay ngược thời gian. Đức Giêsu sống lại không trở về đời sống cũ tại Nadarét để tiếp tục làm nghề thợ mộc như chưa có chuyện gì xảy ra. Người bước vào một sự sống mới. Chính vì thế, khi ta xin Chúa chữa lành, đôi khi Chúa không đưa ta trở về con người trước biến cố đau thương. Người dẫn ta thành một con người mới. Có thể ta sẽ không còn vô tư như trước, nhưng ta sâu sắc hơn. Có thể ta không còn dễ tin người như trước, nhưng ta biết phân định hơn. Có thể ta không còn mạnh khỏe như trước, nhưng ta biết quý từng ngày mình còn sống. Có thể ta đã mất một người rất thương, nhưng từ mất mát ấy ta biết yêu những người còn lại bằng một tình yêu dịu dàng hơn. Có thể ta đã từng nghèo, từng đói, từng bị coi thường, và chính những năm tháng ấy làm ta hiểu người nghèo hơn. Có thể ta đã từng thất bại, và chính thất bại ấy làm ta bớt kiêu ngạo khi đứng trước người đang thất bại. Có thể ta từng đi qua một thời gian rất tối, và nhờ thế khi gặp một người đang tuyệt vọng, ta không vội nói những câu đạo đức dễ dàng, nhưng biết ngồi xuống bên cạnh họ. Khi được trao cho Chúa, những vết thương đời ta có thể trở thành một thứ ngôn ngữ mà nhờ đó ta hiểu nỗi đau của người khác.
Đó cũng chính là điều ta thấy nơi Đức Giêsu Phục Sinh. Người bước vào giữa căn phòng đóng kín. Người không trách các môn đệ vì đã bỏ chạy. Người không nhắc lại: “Phêrô, con đã chối Thầy ba lần.” Người không hỏi: “Tại sao lúc Thầy bị bắt các con lại trốn hết?” Điều đầu tiên Người nói là: “Bình an cho anh em.” Rồi Người cho họ xem tay và cạnh sườn. Thật đẹp biết bao. Người đem những vết thương vào giữa cộng đoàn và nói lời bình an. Đó là hình ảnh của Hội Thánh. Hội Thánh không phải là cộng đoàn của những người chưa từng bị thương, nhưng là cộng đoàn của những người được Đức Kitô wounded—Đấng chịu thương tích—đến đứng ở giữa và ban bình an. Gia đình Kitô hữu cũng thế. Không có gia đình nào hoàn toàn không có vết thương. Có vết thương giữa vợ với chồng. Có vết thương giữa cha mẹ và con cái. Có vết thương giữa anh chị em. Có những chuyện đã qua hai mươi năm mà mỗi lần nhắc lại vẫn còn khó chịu. Có những lời chưa bao giờ xin lỗi. Có những hiểu lầm chưa bao giờ được nói ra. Có những người sống chung một mái nhà nhưng mang trong lòng những khoảng cách rất lớn. Điều đáng sợ không phải là gia đình có vết thương. Điều đáng sợ là để vết thương trở thành căn cước của gia đình, để mọi người chỉ còn nhìn nhau qua những lỗi lầm đã xảy ra. “Ngày trước ông đã làm thế.” “Bà lúc nào cũng như vậy.” “Nó từ nhỏ đã chẳng ra gì.” “Anh có bao giờ thay đổi đâu.” Những câu như thế đóng đinh người khác vào quá khứ. Trong khi Đức Kitô Phục Sinh cho chúng ta thấy rằng con người không bị định nghĩa vĩnh viễn bởi ngày tồi tệ nhất của đời mình. Phêrô không mãi mãi chỉ là người chối Thầy. Tôma không mãi mãi chỉ là người cứng lòng. Các môn đệ không mãi mãi chỉ là nhóm người bỏ trốn. Sau Phục Sinh, họ được trao cho một khởi đầu mới. Vết thương còn đó, ký ức còn đó, nhưng tương lai không bị khóa lại bởi quá khứ.
Nhiều người trong chúng ta đang sống như thể một biến cố nào đó đã trở thành dấu chấm hết cho đời mình. Có người sau khi hôn nhân đổ vỡ thì nghĩ: đời tôi coi như xong. Có người sau khi con cái sa ngã thì nghĩ: cả đời làm cha làm mẹ của tôi thất bại. Có người sau một sai lầm lớn thì tự kết án mình mãi mãi. Có người vì một tội cũ đã xưng từ nhiều năm mà vẫn không tha thứ được cho chính mình. Có người bị mất việc ở tuổi trung niên và nghĩ không còn tương lai. Có người phát hiện bệnh nặng và cảm thấy mọi dự định sụp đổ. Có người bước vào tuổi già, thấy sức khỏe suy yếu, bạn bè lần lượt ra đi, con cháu bận rộn, rồi tự hỏi: “Tôi còn ích gì nữa?” Có những người trẻ chỉ vì trượt một kỳ thi, thất bại một công việc, chia tay một mối tình đã thấy như cả bầu trời sụp xuống. Nhưng Tin Mừng Phục Sinh hôm nay nói với chúng ta rằng: đừng vội đặt dấu chấm hết ở nơi Thiên Chúa vẫn còn muốn viết tiếp. Ta chỉ nhìn thấy một trang giấy đang bị xé, còn Chúa nhìn thấy cả cuốn sách. Ta chỉ nhìn thấy Thứ Sáu Tuần Thánh, còn Chúa đã chuẩn bị sáng Phục Sinh. Ta chỉ nhìn thấy tảng đá trước cửa mộ, còn Chúa biết rằng tảng đá ấy sẽ bị lăn ra. Ta chỉ nhìn thấy những vết đinh, còn Chúa biết rằng chính những vết đinh ấy sẽ trở thành bằng chứng cho một tình yêu không gì tiêu diệt được.
Có một điều rất thấm thía trong đời sống đức tin: Thiên Chúa không bao giờ lãng phí đau khổ của những ai trao nó vào tay Người. Điều đó không có nghĩa đau khổ tự nó là tốt. Chúa không vui khi ta đau. Chúa không tạo ra phản bội để dạy ta bài học. Chúa không tạo ra bất công để ta trưởng thành. Chúa không cần người ta làm ác để thực hiện chương trình của Người. Nhưng một khi sự dữ đã xảy ra, Thiên Chúa có một quyền năng lạ lùng: Người có thể kéo sự sống ra từ nơi tưởng chỉ có chết chóc. Chính Thập Giá là bằng chứng lớn nhất. Không gì bất công hơn việc đóng đinh Đấng vô tội. Không gì tàn nhẫn hơn việc con người giết Con Thiên Chúa. Nhưng chính từ biến cố đen tối ấy, Thiên Chúa làm phát sinh ơn cứu độ cho cả nhân loại. Nếu Thiên Chúa có thể làm cho cây Thập Giá, biểu tượng của ô nhục, trở thành dấu chỉ cứu độ, thì Người cũng có thể làm cho những thập giá đời ta mang một ý nghĩa mà hôm nay ta chưa nhìn thấy. Có những chuyện khi đang xảy ra, ta chỉ thấy đau. Mười năm sau nhìn lại, ta mới hiểu mình đã được biến đổi thế nào. Có người nhờ một lần thất bại mà tìm lại được gia đình. Có người nhờ bệnh tật mà làm hòa với một người thân đã xa cách nhiều năm. Có người nhờ mất một công việc mà khám phá một con đường phù hợp hơn. Có người nhờ một mùa cô đơn mà học được đời sống cầu nguyện. Có người nhờ những năm tháng chăm sóc cha mẹ già mà hiểu thế nào là hiếu thảo và tình yêu vô điều kiện. Có người nhờ chính những giọt nước mắt của mình mà trở thành chỗ dựa cho người khác. Đau khổ không tự động làm con người tốt hơn. Có người đau khổ rồi trở nên cay độc. Có người bị phản bội rồi cả đời không tin ai. Có người bị tổn thương rồi quay sang làm tổn thương người khác. Vì thế điều quyết định không chỉ là ta đã trải qua điều gì, mà còn là ta đem điều ấy đi đâu. Nếu mang vết thương đi nuôi oán hận, nó sẽ thành độc dược. Nếu mang vết thương đến với Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, nó có thể dần trở thành một cánh cửa của lòng thương xót.
Có những người mang vết thương như một thứ vũ khí. Họ dùng quá khứ để làm đau người khác. “Ngày đó anh đã làm tôi khổ, bây giờ đừng trách tôi.” “Hồi nhỏ cha mẹ không thương tôi, bây giờ tôi sống thế nào mặc tôi.” “Người ta đã đối xử tệ với tôi, nên tôi có quyền lạnh lùng.” Đó là khi vết thương chưa được phục sinh. Vết thương chưa được chữa lành thường tìm một thân thể khác để tiếp tục chảy máu. Một người cha từng bị cha mình đánh đập có thể lớn lên rồi đánh con. Một người từng bị phản bội có thể vì sợ bị phản bội lần nữa mà kiểm soát người mình yêu đến nghẹt thở. Một người từng bị coi thường có thể khi có địa vị lại coi thường người khác. Sự dữ có khuynh hướng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nếu không có ai dám dừng nó lại. Thập Giá Đức Kitô chính là nơi vòng tròn ấy bị chặn đứng. Người bị đánh nhưng không đánh lại. Người bị nguyền rủa nhưng không nguyền rủa. Người bị đóng đinh nhưng vẫn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người nhận vào mình tất cả bạo lực của thế gian nhưng không trả lại thế gian bằng bạo lực. Và trong Phục Sinh, những vết thương ấy không biến thành lòng căm thù; chúng trở thành cửa ngõ của bình an. Khi Người hiện đến, câu đầu tiên không phải là “Ta sẽ tính sổ với những kẻ đã giết Ta”, mà là “Bình an cho anh em.” Đó chính là chiến thắng sâu nhất của Phục Sinh: không chỉ chiến thắng cái chết thể lý, mà chiến thắng cả sức mạnh của hận thù.
Vì thế, khi nhìn vào những vết thương của Đức Giêsu, ta cũng phải hỏi mình: những vết thương của tôi đang làm tôi trở thành người như thế nào? Sau tất cả những gì đã trải qua, tôi có dịu dàng hơn hay cay nghiệt hơn? Tôi có biết cảm thông hơn hay dễ phán xét hơn? Tôi có biết quý người khác hơn hay chỉ xây những bức tường quanh mình? Tôi có để quá khứ dạy tôi yêu, hay để quá khứ cho tôi lý do không yêu nữa? Một vết thương được Chúa chạm đến sẽ làm trái tim mềm lại. Một vết thương không được chữa lành thường làm trái tim cứng đi. Người đã từng nghèo mà được chữa lành sẽ hiểu người nghèo. Người đã từng cô đơn mà được chữa lành sẽ nhạy cảm với người bị bỏ quên. Người đã từng sai lầm mà được Chúa tha thứ sẽ bớt ném đá người khác. Người đã từng được nâng dậy trong lúc yếu đuối sẽ biết đỡ người đang ngã. Những vết thương ấy vẫn là một phần lịch sử đời ta, nhưng không còn là nhà tù. Chúng trở thành một thứ chứng từ thầm lặng rằng: tôi đã từng đi qua nơi rất tối, nhưng Chúa không bỏ tôi ở đó.
Có lẽ cũng vì thế mà Đức Giêsu cho các môn đệ xem vết thương. Người không chỉ muốn chứng minh rằng chính Người là Đấng đã bị đóng đinh. Người còn muốn các ông hiểu rằng Thầy của các ông là một Thiên Chúa có vết thương. Kitô giáo không thờ một Thiên Chúa xa lạ với đau khổ con người. Khi một người mẹ mất con đứng trước Thập Giá, bà không đứng trước một Thiên Chúa chỉ biết lý thuyết về nước mắt. Khi một người bị phản bội cầu nguyện với Đức Giêsu, họ đang cầu nguyện với Đấng đã từng bị Giuđa bán bằng một nụ hôn. Khi một người bị bạn bè bỏ rơi, họ cầu nguyện với Đấng đã từng bị các môn đệ chạy trốn. Khi một người bị vu oan, họ cầu nguyện với Đấng đã từng bị kết án dù vô tội. Khi một người chịu đau đớn thể xác, họ nhìn lên Đấng có tay chân bị đóng đinh, đầu đội mão gai, cạnh sườn bị đâm thâu. Thiên Chúa của chúng ta không đứng trên trời nhìn xuống và nói: “Ta hiểu.” Người bước xuống, mang lấy xác phàm, đi vào tận cùng thân phận con người rồi nói: “Ta đã ở đó.” Chính vì thế, khi mọi lời an ủi của con người trở nên quá nhỏ bé trước một nỗi đau quá lớn, Thập Giá vẫn còn đủ sức nói với lòng ta: con không đau một mình.
Đời người rồi ai cũng mang những vết thương. Không ai sống đủ lâu mà không một lần mất mát. Không ai yêu thật mà chưa từng đau. Không ai bước qua cuộc đời mà không có lúc bị hiểu lầm, thất vọng, mỏi mệt. Vấn đề không phải làm sao để sống một đời hoàn toàn không có thương tích. Điều ấy không thể. Vấn đề là làm sao để những thương tích ấy được đưa vào trong mầu nhiệm của Đức Kitô. Một người đã sống lâu với Chúa không nhất thiết là người có một đời êm đềm, nhưng thường là người đã để Chúa đi cùng mình qua nhiều mùa giông bão. Nhìn những cụ già đạo đức, đôi khi ta chỉ thấy đôi bàn tay lần chuỗi bình an, nhưng đâu biết đôi bàn tay ấy đã từng lau bao nước mắt. Ta thấy một người mẹ ngồi cuối nhà thờ, lặng lẽ cầu nguyện, nhưng đâu biết bà đã từng thức bao đêm vì một người con. Ta thấy một linh mục già dâng lễ chậm rãi, nhưng đâu biết trong đời mục vụ ngài đã trải qua bao hiểu lầm, cô đơn, thất bại và những lần muốn buông xuôi. Ta thấy một đôi vợ chồng già ngồi cạnh nhau, nhưng đâu biết họ đã phải tha thứ cho nhau bao lần mới đi được đến ngày hôm nay. Bình an đích thực không phải là chưa bao giờ gặp bão. Bình an đích thực là sau những cơn bão, người ta vẫn còn có thể tin, còn có thể yêu, còn có thể nói lời cảm ơn Chúa.
“Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.” Câu Tin Mừng rất ngắn nhưng đẹp vô cùng. Họ vui không phải vì quá khứ đã bị xóa. Thập Giá vẫn là một sự kiện đã xảy ra. Những ngày sợ hãi vẫn là thật. Sự hèn nhát của họ vẫn là thật. Nhưng bây giờ Chúa đang đứng giữa họ. Đó là điều thay đổi mọi sự. Có Chúa hiện diện, căn phòng đóng kín trở thành nơi gặp gỡ. Có Chúa hiện diện, nỗi sợ không còn thống trị. Có Chúa hiện diện, vết thương không còn chỉ nói về bạo lực, mà nói về tình yêu. Có Chúa hiện diện, quá khứ không còn là nơi giam giữ, mà trở thành nền của một sứ vụ mới. Đời ta cũng vậy. Không phải mọi hoàn cảnh đều thay đổi ngay, nhưng nếu Chúa đứng ở giữa, ý nghĩa của hoàn cảnh sẽ đổi khác. Một căn bệnh vẫn còn nhưng người bệnh không còn tuyệt vọng. Một mất mát vẫn đau nhưng người ta biết người thân mình đang ở trong tay Chúa. Một cuộc đời từng sai lầm vẫn có hậu quả phải mang, nhưng người ta biết mình không bị Chúa loại bỏ. Một gia đình chưa giải quyết hết mọi xung đột, nhưng bắt đầu biết cầu nguyện và tập xin lỗi nhau. Chúa Phục Sinh không luôn mở ngay mọi cánh cửa bên ngoài, nhưng Người bước qua cánh cửa đóng kín để mở một cánh cửa trong lòng.
Đó là hy vọng Kitô giáo. Hy vọng không phải là lạc quan rẻ tiền. Không phải cứ tự nhủ: “Rồi mọi chuyện sẽ ổn.” Có những chuyện trong đời không bao giờ “ổn” theo nghĩa trở lại như trước. Một người đã chết không trở lại ngồi với ta trong bữa cơm này. Một năm tháng đã mất không lấy lại được. Một lời nói đã thốt ra không thể thu về. Nhưng Kitô hữu hy vọng vì biết rằng Thiên Chúa có thể đem tương lai ra khỏi cả những đổ vỡ không thể sửa chữa bằng sức con người. Hy vọng Phục Sinh không nói: “Chẳng có gì nghiêm trọng đâu.” Hy vọng Phục Sinh nói: “Điều nghiêm trọng ấy không lớn hơn Thiên Chúa.” Tội lỗi nghiêm trọng, nhưng lòng thương xót lớn hơn. Cái chết đáng sợ, nhưng sự sống của Thiên Chúa mạnh hơn. Thập Giá thật sự đau, nhưng Thập Giá không phải chương cuối. Ngôi mộ thật sự đóng, nhưng tảng đá không thể giữ Đấng là Sự Sống.
Biết bao lần trong cuộc đời, ta đã vội kết luận khi Thiên Chúa còn đang làm việc. Ta nhìn một đứa con đang hư và nghĩ nó hết cứu. Ta nhìn một người nghiện ngập và nghĩ người ấy chẳng bao giờ thay đổi. Ta nhìn một cuộc hôn nhân đầy khủng hoảng và nghĩ chỉ còn đường tan vỡ. Ta nhìn Giáo Hội qua những yếu đuối của con người rồi nghĩ chẳng còn hy vọng. Ta nhìn chính mình sau những lần sa ngã và nghĩ Chúa chắc cũng đã chán. Nhưng Phục Sinh dạy ta cẩn thận với những dấu chấm hết mà ta tự đặt. Người trộm lành chỉ còn vài giờ để sống, vậy mà thiên đàng vẫn mở. Phêrô đã chối Thầy, vậy mà vẫn trở thành đá tảng. Phaolô từng bách hại Hội Thánh, vậy mà trở thành Tông đồ dân ngoại. Maria Mađalêna từng có một quá khứ đầy bóng tối, vậy mà trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Thiên Chúa có một thói quen rất lạ: Người thích mở những cánh cửa nơi con người đã ghi chữ “hết đường”.
Và ta cũng phải học nhìn những người quanh mình bằng cái nhìn ấy. Đừng đóng đinh một người vào lỗi lầm của họ. Đừng gọi một đứa trẻ bằng cái tên của thất bại: “đứa học dốt”, “đứa lì lợm”, “đứa vô dụng”. Đừng biến một sai lầm của vợ chồng thành bản án suốt đời. Đừng nhắc lại một tội đã được tha mỗi khi tranh cãi. Đừng nghĩ một người từng sống không tốt thì không thể nên thánh. Nếu Chúa chỉ nhìn Phêrô ở sân dinh thượng tế, sẽ không có vị thủ lãnh của các Tông đồ. Nếu Chúa chỉ nhìn Phaolô trên đường đi Đamát với lòng đầy sát khí, sẽ không có những lá thư làm nên một phần lớn Tân Ước. Nếu Chúa chỉ nhìn ta ở ngày tệ nhất của đời ta, chắc ta cũng chẳng còn gì để hy vọng. Nhưng Chúa nhìn xa hơn. Người thấy trong một hạt giống nhỏ cả một cây lớn. Người thấy trong Simon chài lưới một Phêrô. Người thấy trong kẻ bách hại một Tông đồ. Người thấy trong một tội nhân một vị thánh đang được hình thành. Cái nhìn của Chúa luôn để lại cho con người một tương lai.
Thập Giá không phải là dấu chấm hết còn có nghĩa là những hy sinh âm thầm hôm nay không vô ích. Có những người mẹ đã cầu nguyện cho con suốt hai mươi năm mà chưa thấy gì thay đổi. Có những người cha âm thầm làm việc, chẳng ai biết những nỗi lo trong lòng. Có những linh mục tận tụy với một cộng đoàn nhỏ, không có thành tích gì lớn để kể. Có những nữ tu chăm sóc người bệnh từng ngày, làm những việc lặp đi lặp lại chẳng ai biết tên. Có những người vợ kiên nhẫn đồng hành với chồng trong những năm tháng khó khăn. Có những người con chăm cha mẹ già, mỗi ngày bón từng muỗng cơm, thay từng chiếc áo, thức từng đêm. Có những người trẻ cố gắng sống tử tế giữa một môi trường mà sự tử tế chẳng đem lại lợi lộc gì ngay trước mắt. Có những lúc họ tự hỏi: “Những điều mình làm có ích gì không?” Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, ta biết rằng không một tình yêu nào được trao đi trong Chúa lại mất. Hạt lúa khi nằm trong đất cũng tưởng như biến mất. Thập Giá chiều thứ Sáu cũng tưởng như thất bại. Nhưng Thiên Chúa làm việc trong những nơi âm thầm nhất. Những gì được gieo bằng tình yêu có một mùa Phục Sinh mà ta có thể chưa kịp nhìn thấy.
Có khi ta không thấy Phục Sinh của những điều mình đã hy sinh ngay trong đời này. Một người mẹ có thể qua đời khi người con bà cầu nguyện cho vẫn còn xa Chúa. Một linh mục có thể không bao giờ biết rằng một câu giảng của mình ba mươi năm trước đã giúp một người giữ lại đức tin. Một giáo lý viên có thể quên mất tên một em nhỏ từng học lớp mình, nhưng hạt giống ngày ấy sau này trở thành một ơn gọi. Một người đã tha thứ có thể không thấy ngay người kia thay đổi. Nhưng trong mầu nhiệm của Thiên Chúa, tình yêu không bao giờ mất. Thập Giá nói rằng có những điều phải đi qua bóng tối trước khi sinh hoa trái. Phục Sinh nói rằng bóng tối không có tiếng nói cuối cùng.
Vậy nên, nếu hôm nay ai đó đang sống một ngày thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình, xin đừng tuyệt vọng. Nếu căn phòng lòng ta đang đóng kín vì sợ hãi, hãy nhớ rằng Chúa Phục Sinh có thể bước vào mà không cần ta mở được mọi cánh cửa. Nếu ta đang mang một vết thương chưa lành, hãy nhìn đôi tay Người. Người không xấu hổ vì những vết thương của mình. Ta cũng không cần xấu hổ vì những vết thương đời ta. Đừng để chúng trở thành nơi ta căm ghét chính mình. Đừng để một thất bại nói rằng ta là người thất bại. Đừng để một lần bị bỏ rơi nói rằng ta không đáng được yêu. Đừng để một tội lỗi nói rằng ta chỉ là tội nhân. Đừng để một mất mát nói rằng đời ta từ đây chỉ còn trống rỗng. Hãy để Chúa Phục Sinh đặt những vết thương của ta bên cạnh những vết thương của Người. Có những điều ta không thể tự chữa. Có những ký ức ta không thể tự xóa. Có những đêm ta không thể tự làm trời sáng. Nhưng ta có thể để Đấng đã đi qua cái chết bước vào đó với ta.
Rồi một ngày nào đó, chính những chỗ ta từng đau nhất lại có thể trở thành nơi ta nói với người khác về lòng trung thành của Thiên Chúa. Ta sẽ không kể câu chuyện của mình như một người chưa từng khóc, nhưng như một người đã khóc mà vẫn được Chúa giữ lại. Ta sẽ không nói về đức tin như một lý thuyết, nhưng như người đã từng đi trong đêm và biết có một bàn tay không buông mình. Ta sẽ không an ủi người đau khổ bằng những câu sáo rỗng, nhưng bằng sự hiện diện của một người biết thế nào là bị thương. Khi ấy, vết thương của ta giống những vết thương của Đấng Phục Sinh: không biến mất, nhưng được đổi nghĩa. Nó không còn nói: “Tôi đã bị đánh bại.” Nó nói: “Tôi đã được gìn giữ.” Nó không còn nói: “Ở đây tôi đã chết.” Nó nói: “Ở đây Chúa đã làm cho tôi sống lại.” Nó không còn là bằng chứng của tuyệt vọng, mà là chứng tích của ân sủng.
Cuộc đời mỗi người là một câu chuyện còn đang được Thiên Chúa viết. Có những trang đẹp. Có những trang ta muốn xé đi. Có những dòng được viết bằng nước mắt. Có những chương ta chưa hiểu vì sao Chúa cho phép mình đi qua. Nhưng xin đừng đặt dấu chấm hết quá sớm. Sau Canvê còn có ngôi mộ trống. Sau ngôi mộ trống còn có căn phòng chiều Phục Sinh. Sau căn phòng đóng kín còn có sứ mạng đi đến tận cùng thế giới. Những con người từng sợ hãi rồi sẽ ra đường rao giảng. Những đôi chân từng bỏ chạy sẽ đi đến những miền đất xa. Những con người từng thất bại sẽ trở thành chứng nhân. Đó là cách Thiên Chúa làm việc.
Và có lẽ một ngày kia, khi nhìn lại cả cuộc đời trong ánh sáng vĩnh cửu, ta sẽ hiểu rằng có những điều mình từng tưởng là dấu chấm hết thật ra chỉ là một dấu phẩy trong câu chuyện dài hơn của ân sủng. Có những cánh cửa đóng lại để dẫn ta đến một lối đi khác. Có những điều mất đi để lòng ta học được điều gì thực sự không thể mất. Có những vết thương làm ta đau nhưng cũng làm trái tim ta rộng ra. Có những thập giá tưởng làm ta gục xuống lại trở thành nơi ta gặp Chúa sâu nhất. Ta sẽ hiểu rằng Chúa đã không bỏ ta trong một ngày nào, kể cả những ngày ta không cảm thấy Người. Bàn tay mang dấu đinh ấy đã âm thầm nắm lấy tay ta. Cạnh sườn bị đâm thâu ấy vẫn mở ra như một nơi trú ẩn cho những trái tim mỏi mệt.
“Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.” Xin cho mỗi chúng ta cũng có ngày nhìn vào những vết thương của đời mình mà không còn chỉ thấy đau đớn, nhưng nhận ra dấu chân của Chúa đã đi qua. Xin cho ta đừng xin Chúa một cuộc đời không có Thập Giá, nhưng xin một đức tin đủ lớn để biết rằng Thập Giá không bao giờ là lời cuối. Xin cho những ai hôm nay đang tuyệt vọng được nghe trong lòng mình lời Chúa Phục Sinh: “Bình an cho con.” Xin cho những ai đang đứng trước một ngôi mộ của đời mình biết chờ thêm một chút, tin thêm một chút, cầu nguyện thêm một chút. Tảng đá rất lớn, nhưng Thiên Chúa lớn hơn tảng đá. Đêm rất dài, nhưng bình minh sẽ đến. Vết thương rất sâu, nhưng lòng thương xót sâu hơn. Tội lỗi rất nặng, nhưng ơn tha thứ còn lớn hơn. Cái chết là thật, nhưng Phục Sinh còn thật hơn.
Thập Giá không phải là dấu chấm hết. Thập Giá là nơi tình yêu đi đến cùng để từ đó mở ra một khởi đầu mà không quyền lực nào của sự dữ có thể đóng lại. Và người Kitô hữu là người, ngay giữa nước mắt, vẫn dám tin rằng Thiên Chúa còn một câu để viết tiếp.
Lm. Anmai, CSsR

ĐẤNG PHỤC SINH VẪN MANG VẾT ĐINH
Tin Mừng: Ga 20,24-29
Có một điều rất lạ trong Tin Mừng Phục Sinh mà càng suy nghĩ, ta càng thấy thấm thía: Chúa Giêsu đã sống lại, thân xác Người đã bước vào vinh quang, sự chết không còn quyền gì trên Người nữa, vậy mà những vết đinh vẫn còn. Người có thể bước qua cửa đóng kín. Người có thể hiện diện giữa các môn đệ một cách hoàn toàn mới mẻ. Người không còn bị giới hạn bởi thân xác như trước. Người đã chiến thắng đau khổ, chiến thắng mồ mả, chiến thắng sự chết. Thế nhưng khi hiện ra với Tôma, Chúa không giấu đôi tay đã từng bị đóng đinh, không che cạnh sườn đã từng bị lưỡi đòng đâm thấu. Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Đấng Phục Sinh vẫn mang vết đinh. Có lẽ đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất, thật nhất và cũng an ủi nhất của Kitô giáo. Bởi vì Chúa cho ta hiểu rằng phục sinh không có nghĩa là quá khứ chưa từng xảy ra; chữa lành không có nghĩa là mọi dấu tích đau thương đều phải biến mất; bình an không có nghĩa là ta chưa từng khóc; tha thứ không có nghĩa là ta mất trí nhớ; trưởng thành không có nghĩa là ta chưa từng bị tổn thương. Có những vết thương rồi sẽ khép lại, nhưng dấu vết vẫn còn đó. Và điều quan trọng không phải là đời ta có còn vết sẹo hay không, mà là vết sẹo ấy còn cai trị đời ta hay không. Chúa Giêsu vẫn mang vết đinh, nhưng những chiếc đinh không còn giữ Người trên thập giá. Những vết thương vẫn còn, nhưng đau thương không còn thống trị Người. Dấu đinh vẫn hiện diện, nhưng dấu đinh bây giờ không còn nói rằng Người là kẻ bại trận; trái lại, chúng trở thành chứng tích của một tình yêu đã đi qua cái chết mà không bị cái chết tiêu diệt. Chính nơi những dấu đinh ấy, thất bại đã biến thành chiến thắng, nhục nhã đã biến thành vinh quang, đau khổ đã biến thành cửa ngõ cứu độ. Và có lẽ đời chúng ta cũng vậy: có những điều Thiên Chúa không xóa khỏi ký ức ta, nhưng Người có thể làm cho chúng không còn sức giết chết ta nữa.
Tôma đã vắng mặt trong lần Chúa hiện ra đầu tiên. Các môn đệ nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Nhưng Tôma không thể tin chỉ vì người khác kể. Ông nói một câu rất mạnh: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Người ta thường gọi Tôma là người cứng lòng tin, người hoài nghi, người đòi chứng cứ. Nhưng thử đặt mình vào chỗ của Tôma, có lẽ ta sẽ bớt trách ông. Ông đã từng đặt cả đời mình vào Đức Giêsu. Ông đã bỏ mọi sự để theo Thầy. Ông đã nghe Thầy nói về Nước Trời, đã chứng kiến phép lạ, đã sống những tháng ngày đẹp nhất bên Thầy. Rồi chỉ trong vài giờ, mọi sự sụp đổ. Thầy bị bắt. Thầy bị đánh. Thầy bị kết án. Thầy bị đóng đinh. Thầy chết. Thầy được đặt vào mồ. Hy vọng của Tôma không chỉ bị lung lay; hy vọng ấy như bị đóng đinh cùng với Thầy. Có những người sau một lần bị tổn thương thì trở nên dè dặt. Có những người sau một lần bị phản bội thì không dám tin ai nữa. Có những người từng cầu xin rất nhiều mà điều họ cầu xin không xảy ra, từ đó mỗi khi nghe ai nói “hãy tin Chúa”, trong lòng họ lại có một nỗi đau khó gọi tên. Có những người đã từng sống rất sốt sắng, nhưng sau một biến cố, một cái chết, một thất bại, một bất công, họ cảm thấy trong lòng mình có một cánh cửa đóng kín. Tôma cũng vậy. Có lẽ ông không phải chỉ muốn kiểm chứng Chúa; ông đang tự bảo vệ trái tim mình khỏi một lần thất vọng nữa. Ông như muốn nói: tôi đã đau đủ rồi, đừng bắt tôi hy vọng nếu chuyện ấy không thật. Tôi đã chôn Thầy một lần rồi, tôi không muốn để mình tin rằng Thầy sống lại rồi sau đó lại thất vọng thêm một lần nữa. Vì thế Tôma đòi dấu đinh. Và điều kỳ diệu là Chúa không trách ông. Chúa không nói: “Tại sao con cứng lòng thế?” Người không loại Tôma ra khỏi nhóm Mười Hai. Người không bảo các môn đệ: “Người này không xứng đáng nữa.” Tám ngày sau, Chúa lại đến. Cửa vẫn đóng. Các môn đệ vẫn ở đó. Và Chúa đứng giữa họ. Người đi thẳng vào vết thương của Tôma. Người nói chính những lời mà Tôma đã từng nói khi Chúa không hiện diện hữu hình trước mặt ông: “Đặt ngón tay con vào đây.” Chúa cho Tôma thấy rằng Người biết cả những điều Tôma đã nói trong lúc thất vọng. Người biết nỗi hoài nghi, biết sự cay đắng, biết cái lạnh trong lòng người môn đệ ấy. Nhưng Người không đến để xét xử. Người đến để chữa lành.
Đó cũng là cách Chúa vẫn đến với mỗi người chúng ta. Có khi ta tưởng phải che giấu những vùng tối của mình trước Chúa. Ta tưởng Chúa chỉ thích con người đạo đức, mạnh mẽ, vui vẻ, tin tưởng, luôn nói những lời đẹp đẽ. Ta sợ những lúc mình nghi ngờ. Ta xấu hổ vì có lúc cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì. Ta áy náy vì có những ngày bước vào nhà thờ mà lòng mình trống rỗng. Ta không dám nói với Chúa rằng mình mệt, rằng mình giận, rằng mình chẳng hiểu tại sao Chúa lại cho chuyện này xảy đến. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa không sợ những câu hỏi ấy. Người bước xuyên qua cánh cửa đóng kín. Có nghĩa là ngay cả khi lòng ta đóng lại, Người vẫn tìm được đường bước vào. Người không đứng ngoài đập cửa vì giận dữ. Người không bỏ đi vì ta chưa mở lòng đủ nhanh. Người bước vào và đứng giữa cuộc đời ta. Lời đầu tiên của Người không phải là lời trách móc nhưng là: “Bình an cho anh em.” Đấng Phục Sinh luôn bắt đầu bằng bình an. Người biết các môn đệ đang sợ. Người biết Tôma đang nghi. Người biết Phêrô đang mang nặng mặc cảm vì đã chối Thầy. Người biết cả nhóm đã bỏ chạy khi Người bị bắt. Vậy mà Người vẫn nói: “Bình an cho anh em.” Bình an của Chúa không phải phần thưởng dành cho những người không phạm sai lầm. Bình an là quà tặng dành cho những người đang cần được chữa lành. Có khi chính lúc ta cảm thấy mình không xứng đáng nhất lại là lúc Chúa muốn đứng giữa đời ta và nói: bình an cho con.
Và Chúa cho Tôma xem vết thương. Điều này thật đáng suy nghĩ. Chúa có thể hiện ra với một thân xác không còn dấu vết nào của cuộc thương khó. Người có thể làm cho đôi tay hoàn toàn nguyên vẹn. Người có thể xóa dấu lưỡi đòng trên cạnh sườn. Người là Thiên Chúa, Người làm được. Nhưng Người giữ lại. Vì sao? Có lẽ vì những vết thương ấy đã trở thành một phần của câu chuyện cứu độ. Nếu xóa chúng đi, người ta có thể nghĩ rằng Phục Sinh là phủ nhận Thập Giá. Nhưng không. Phục Sinh không phủ nhận Thập Giá; Phục Sinh biến đổi ý nghĩa của Thập Giá. Những vết đinh từng là dấu hiệu của bạo lực, giờ trở thành chứng tích của tình yêu. Cạnh sườn từng bị đâm thủng bởi lòng thù hận, giờ trở thành cánh cửa của lòng thương xót. Những dấu vết từng làm Người đau đớn, giờ lại giúp một người môn đệ tìm lại đức tin. Chính những vết thương ấy trở thành nơi Tôma có thể nhận ra Chúa. Thật lạ lùng: Tôma không nhận ra Chúa bằng ánh hào quang, không bằng tiếng thiên thần, không bằng một phép lạ ngoạn mục, mà bằng vết thương. Và ông thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Một trong những lời tuyên xưng đức tin cao nhất trong toàn bộ Tin Mừng Gioan lại phát sinh trước những dấu đinh.
Có lẽ vì vậy mà những ai đã đi qua đau khổ thường nhận ra Chúa theo một cách khác. Một người chưa từng khóc có thể nói về Thiên Chúa bằng những ý tưởng rất đẹp. Nhưng một người đã từng khóc trong đêm, từng mất một người mình yêu, từng thấy đời mình đổ vỡ, từng đứng trước một cánh cửa bệnh viện mà không biết ngày mai ra sao, từng bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị phản bội, từng mất hết những gì mình tưởng sẽ giữ được suốt đời, nếu người ấy vẫn còn có thể nói “Lạy Chúa của con”, thì lời tuyên xưng ấy mang một sức nặng khác. Đức tin sau đau khổ không còn ngây thơ như trước, nhưng có thể sâu hơn rất nhiều. Trước kia ta tin Chúa vì đời thuận lợi. Sau này ta tin Chúa ngay cả khi chẳng hiểu Chúa. Trước kia ta cầu nguyện vì mong mọi chuyện theo ý mình. Sau này ta cầu nguyện chỉ để đủ sức đi tiếp một ngày. Trước kia ta nghĩ bình an là không gặp chuyện buồn. Sau này ta hiểu bình an là giữa chuyện buồn vẫn biết mình không cô độc. Trước kia ta nghĩ chữa lành là ngày nào đó mình sẽ quên hết. Sau này ta mới hiểu: chữa lành không phải là quên; chữa lành là có thể nhớ mà không còn bị ký ức ấy bóp nghẹt. Nhìn lại mà không còn muốn trả thù. Nhắc tới mà không còn gục xuống. Đi ngang nơi ấy mà tim vẫn đau một chút nhưng ta vẫn bước tiếp được. Thấy người từng làm mình tổn thương mà không còn để họ điều khiển những năm tháng còn lại của đời mình. Đó đã là một cuộc phục sinh.
Đời người ai mà không mang vài dấu đinh. Có những dấu đinh ở trên thân xác: một vết mổ, một căn bệnh, một tuổi già đi qua những tháng ngày đau nhức, một cơ thể không còn khỏe mạnh như thuở trước. Có những dấu đinh trong tâm hồn: một cuộc hôn nhân không trọn vẹn, một người con đi xa khỏi điều cha mẹ từng ước mong, một tình bạn tan vỡ, một người thân qua đời quá sớm, một công việc đổ vỡ, một lần bị người ta làm nhục, một câu nói đã nhiều năm mà vẫn nhớ, một tuổi thơ thiếu thốn tình thương, một biến cố ta chẳng bao giờ muốn nhắc lại. Có những dấu đinh trong đời sống thiêng liêng: một lần mình đã phản bội điều thánh thiêng nhất, một tội lỗi dù đã xưng thú nhưng mỗi lần nhớ lại vẫn thấy buồn, một thời gian dài sống xa Chúa, một giai đoạn khô khan, một lần làm tổn thương người khác mà mình không thể sửa lại hoàn toàn. Ta thường cầu xin Chúa: “Lạy Chúa, xin làm cho mọi dấu vết biến mất.” Nhưng có khi Chúa không xóa dấu vết. Người làm điều sâu hơn: Người biến đổi tương quan của ta với dấu vết ấy. Trước kia ta nhìn vào nó và thấy mình là nạn nhân. Sau này ta nhìn vào nó và biết mình đã sống sót. Trước kia ta nhìn vào nó và thấy toàn thất bại. Sau này ta nhìn vào đó và nhận ra một bài học. Trước kia ta nhìn vào vết sẹo và chỉ thấy người đã làm mình đau. Sau này ta nhìn nó và thấy Chúa đã ở bên mình trong những ngày khó khăn nhất. Trước kia dấu vết làm ta xấu hổ. Sau này chính nó giúp ta hiểu và cảm thông với nỗi đau của người khác. Đó là lúc vết thương bắt đầu được cứu chuộc.
Có những người cả đời bị cai trị bởi một chuyện đã qua. Biến cố chỉ xảy ra một lần nhưng họ sống lại nó hàng ngàn lần. Người gây đau có thể đã quên, nhưng người bị đau vẫn tiếp tục tự đóng đinh mình vào quá khứ. Mỗi ngày nhớ lại, mỗi ngày tức giận, mỗi ngày tưởng tượng những lời mình đáng lẽ phải nói, mỗi ngày tiếc nuối những điều lẽ ra đã khác. Chuyện ấy xảy ra mười năm trước nhưng vẫn quyết định tâm trạng hôm nay. Người kia đã rời khỏi đời mình lâu rồi nhưng tiếng nói của họ vẫn ở trong đầu mình. Một câu khinh thường từ tuổi thơ có thể khiến một người cả đời cố chứng minh giá trị. Một lần bị phản bội có thể làm một người không còn dám trao lòng cho ai. Một lần thất bại có thể khiến ta không còn dám thử. Như vậy vết thương đã qua nhưng chiếc đinh vẫn còn đóng ta vào thập giá. Phục Sinh là lúc Chúa tháo chiếc đinh ấy ra. Dấu đinh có thể còn, nhưng ta không còn bị đóng ở đó nữa. Ta có thể bước xuống khỏi cây thập giá của quá khứ. Ta vẫn biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng ta không còn trao cho nó quyền quyết định phần đời còn lại.
Đôi khi ta nói: “Con đã tha thứ rồi, sao con vẫn còn đau?” Vì ta tưởng rằng nếu tha thứ thật thì phải hết đau ngay. Không phải vậy. Tha thứ là một quyết định của tự do, còn cảm xúc có nhịp chữa lành riêng của nó. Có người tha thứ hôm nay nhưng nhiều tháng sau, ký ức vẫn nhói lên. Điều ấy không có nghĩa là họ chưa tha thứ. Chúa Phục Sinh vẫn mang vết đinh. Tha thứ không làm chuyện xấu trở thành chuyện tốt. Tha thứ không bảo rằng bất công chưa từng xảy ra. Tha thứ càng không có nghĩa là cho phép người khác tiếp tục làm tổn thương mình. Tha thứ là không để điều người khác đã làm quyết định mình sẽ trở thành người như thế nào. Họ có thể đã làm ta đau, nhưng ta không để nỗi đau biến mình thành cay độc. Họ có thể đã đối xử bất công, nhưng ta không để bất công biến mình thành người luôn nghi ngờ tất cả. Họ có thể đã lấy đi một phần bình an của ta, nhưng ta không giao cho họ quyền lấy luôn phần đời còn lại. Tha thứ là trả lại quyền phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa, để mình được tự do sống tiếp. Có những người nói rằng không thể tha thứ vì nếu tha thứ thì như thể kẻ kia thắng. Nhưng thật ra giữ hận mới là để kẻ kia tiếp tục thắng. Họ làm ta đau một lần, rồi từ đó ta để ký ức về họ làm ta đau mỗi ngày. Tha thứ là tháo tay mình khỏi chiếc đinh ấy. Dấu sẹo có thể vẫn còn, nhưng tay ta đã tự do.
Tôma muốn chạm vào vết thương Chúa. Nhưng Tin Mừng không nói rõ ông có thật sự đưa tay vào hay không. Có lẽ chỉ cần nhìn thấy Chúa đứng trước mình, chỉ cần nghe Chúa gọi đúng nỗi đau của mình, ông đã đủ để quỳ xuống: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Tôma đi từ điều kiện “nếu tôi không thấy thì tôi không tin” đến một lời tuyên xưng không giữ lại gì nữa: “Chúa của con.” Không phải Chúa chung chung, mà “Chúa của con”. Không phải Thiên Chúa của ai đó, mà “Thiên Chúa của con”. Một người từng nghi ngờ rất sâu lại có thể tin rất sâu. Một người từng đóng cửa lòng rất chặt lại có thể mở ra trọn vẹn. Điều này cho ta hy vọng. Đừng bao giờ tuyệt vọng về một người đang xa Chúa. Đừng vội kết luận về một người đang chất vấn. Có khi người đặt nhiều câu hỏi nhất lại là người một ngày kia sẽ tin sâu nhất. Có khi người đang chống lại Thiên Chúa thật ra đang mang một vết thương mà ta không biết. Có khi một người nói “tôi không tin nữa” không phải vì họ đã suy nghĩ hết về Thiên Chúa, mà vì họ đã đau quá nhiều. Đừng lấy lý luận mà đập vào vết thương của họ. Hãy để họ gặp một Đấng Phục Sinh mang dấu đinh. Một Kitô hữu biết đau cùng người đau đôi khi thuyết phục hơn hàng trăm bài lý luận. Một cộng đoàn biết lắng nghe người bị tổn thương đôi khi rao giảng Phục Sinh mạnh hơn rất nhiều lời hùng biện.
Giáo Hội cũng phải là một cộng đoàn mang dấu đinh. Nếu Giáo Hội chỉ muốn cho người ta thấy vẻ đẹp, sức mạnh, thành công, những con số, những công trình, mà không dám nhận những vết thương của mình, người ta sẽ khó gặp được Đấng Phục Sinh. Một cộng đoàn trưởng thành không phải là cộng đoàn chưa từng sai, mà là cộng đoàn biết khiêm tốn nhận sai, biết xin lỗi, biết sửa chữa, biết để những vết thương trở thành bài học cho tương lai. Một linh mục trưởng thành không phải là người chưa bao giờ yếu đuối, nhưng là người đã để Chúa dùng chính sự yếu đuối của mình mà làm cho mình biết cảm thông hơn. Một người cha tốt không nhất thiết là người chưa từng có lỗi với con, nhưng là người dám nhìn con và nói: “Cha đã sai.” Một người mẹ không cần hoàn hảo; chỉ cần yêu đủ thật để biết xin lỗi khi cần. Vợ chồng không phải là hai người không bao giờ làm nhau đau. Hôn nhân thật là hai người, sau những vết thương, còn có thể học cách nhìn nhau bằng lòng thương xót và quyết định không dùng vết thương cũ làm vũ khí cho cuộc chiến mới. Có những gia đình mỗi lần cãi nhau là đào cả nghĩa trang của quá khứ lên. Chuyện mười năm trước cũng được gọi về làm nhân chứng. Mỗi sai lầm cũ trở thành một chiếc đinh mới. Nếu cứ như thế, ngôi nhà không còn là nơi chữa lành mà thành nơi đóng đinh nhau. Phục Sinh bước vào gia đình khi người ta biết rằng vết thương cần được nhớ theo cách đã được cứu chuộc, chứ không phải được giữ lại để trả thù.
Điều đặc biệt là Chúa không giấu vết thương của Người trước cộng đoàn. Người đưa nó ra. Trong thế giới hôm nay, người ta thường cố che mọi khuyết điểm. Hình ảnh phải đẹp. Câu chuyện phải thành công. Người ta đăng những bữa ăn ngon, những chuyến đi đẹp, những khoảnh khắc hạnh phúc, nhưng ít ai chụp những đêm mất ngủ, những lúc hôn nhân căng thẳng, những lần thất bại, những ngày thấy mình chẳng là gì cả. Dần dần ta sống trong ảo tưởng rằng ai cũng ổn trừ mình. Nhưng Đấng Phục Sinh không xây dựng hình ảnh theo kiểu ấy. Người không nói: “Đừng nhìn tay Thầy, chuyện cũ rồi.” Người nói: “Hãy nhìn xem.” Thật kỳ lạ, vinh quang của Đức Kitô không làm Người xấu hổ vì vết thương. Có lẽ khi ta đủ bình an với chính mình, ta cũng không còn phải giấu mọi phần chưa hoàn hảo. Không cần kể mọi chuyện riêng tư cho mọi người, nhưng ta không cần giả vờ là mình chưa từng vỡ. Một người có thể nói rất bình thản: “Tôi đã từng trải qua một thời gian rất khó, nhưng Chúa đã đưa tôi qua.” Đó là một chứng tá. Một người từng nghiện một thói quen xấu rồi được giải thoát có thể giúp người đang vướng vào đó. Một người từng trải qua tang chế có thể ngồi bên người mới mất người thân mà chẳng cần nói nhiều. Một người từng thất bại có thể nâng một người đang tuyệt vọng bằng một câu rất thật: “Tôi hiểu.” Có những thứ chỉ người mang sẹo mới hiểu được người đang chảy máu.
Vì thế đừng ghét hết những vết sẹo của đời mình. Không ai xin đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ và Thiên Chúa cũng không vui vì con người đau. Đức Giêsu trong Vườn Dầu đã xin: “Nếu có thể được, xin cho chén này rời khỏi con.” Đau vẫn là đau. Mất mát vẫn là mất mát. Bất công vẫn phải được gọi là bất công. Nhưng điều làm nên Tin Mừng là không có vết thương nào nằm ngoài khả năng cứu chuộc của Thiên Chúa. Người không nhất thiết giải thích cho ta mọi lý do. Có những chuyện đến cuối đời ta cũng không hiểu tại sao đã xảy ra. Nhưng Người có thể làm cho ngay cả nơi ấy trở thành một nơi phát sinh tình yêu. Cây Thập Giá vốn là dụng cụ hành hình đã trở thành dấu chỉ cứu độ. Mồ đá vốn là nơi kết thúc đã trở thành nơi bắt đầu. Những vết đinh vốn là dấu tích của lòng người tàn ác lại trở thành nơi một môn đệ nhận ra Thiên Chúa. Nếu Chúa làm được điều ấy với Thập Giá, Người cũng có thể làm điều ấy với những gì đang làm ta đau.
Có những người cầu nguyện rất lâu xin Chúa làm cho quá khứ biến mất. Nhưng có lẽ lời cầu sâu hơn nên là: “Lạy Chúa, xin đừng để quá khứ ấy quyết định con nữa.” Có những ký ức không thể xóa, nhưng có thể được đặt vào bàn tay Chúa. Có những người không bao giờ quay lại để xin lỗi, nhưng ta vẫn có thể được chữa lành. Có những câu hỏi không bao giờ được trả lời, nhưng ta vẫn có thể có bình an. Có những cánh cửa đã đóng vĩnh viễn, nhưng Chúa có thể mở một con đường khác. Có những giấc mơ không thành, nhưng đời ta chưa kết thúc. Có những người bỏ ta, nhưng Chúa không bỏ. Có những điều không thể trở lại như cũ, nhưng có thể trở nên mới theo một cách khác. Đó là logic của Phục Sinh. Phục Sinh không làm cho chiều Thứ Sáu Tuần Thánh chưa từng xảy ra. Chúa sống lại vào sáng Chúa Nhật, nhưng Thứ Sáu vẫn là một phần của câu chuyện. Chỉ khác một điều: Thứ Sáu không còn là chương cuối. Và điều này cũng đúng với đời ta. Có thể ta từng có một ngày Thứ Sáu rất dài. Có thể ta đã nằm trong mồ của thất vọng. Nhưng đừng cho rằng đó là dấu chấm hết. Thiên Chúa chuyên viết tiếp những câu chuyện mà con người tưởng đã hết.
“Phúc thay những người không thấy mà tin.” Câu nói của Chúa dành cho Tôma cũng là dành cho chúng ta. Ta không thấy đôi tay Chúa bằng mắt như Tôma. Ta không đặt tay vào cạnh sườn Người. Nhưng ta gặp dấu đinh của Người mỗi ngày nơi những con người đang đau. Ta gặp cạnh sườn Chúa nơi người bệnh cần được chăm sóc, nơi người già cô đơn, nơi đứa trẻ thiếu tình thương, nơi một người đang chịu oan, nơi một gia đình khốn khó, nơi người thất bại không còn ai tin mình, nơi người mang trong lòng một vết thương chẳng biết kể cùng ai. Chúa đã đồng hóa mình với những người bé nhỏ. Vì thế có khi ta đi tìm bằng chứng Chúa hiện diện ở đâu xa, trong khi dấu đinh đang ở ngay bên cạnh. Một bàn tay run rẩy cần được nắm. Một người đang khóc cần có ai ngồi bên. Một người mang tội lỗi cần nghe rằng con đường trở về vẫn còn. Một người bị tổn thương cần được đối xử nhẹ nhàng. Những vết thương của nhân loại chính là nơi người môn đệ có thể gặp Chúa.
Nhưng muốn chạm vào vết thương người khác, ta phải học cách chạm như Tôma được mời chạm vào vết thương Chúa: với lòng kính trọng. Có những người tò mò về nỗi đau của người khác nhưng không thật sự thương. Họ hỏi để biết chuyện, để kể lại, để phán xét. Đó không phải là chạm vào vết thương, đó là khoét vết thương. Có những lúc người ta đang yếu mà ta lại giảng đạo quá nhanh. Họ vừa mất người thân, ta nói ngay: “Chúa có ý.” Họ vừa thất bại, ta nói: “Tại anh chưa tin đủ.” Họ đang khủng hoảng, ta bảo: “Đừng buồn nữa.” Những lời ấy có thể đúng một phần nhưng sai thời điểm. Chúa không đối xử với Tôma như thế. Người đến gần. Người cho ông thời gian tám ngày. Người để ông ở lại trong cộng đoàn ngay cả khi ông chưa tin như những người khác. Rồi Người gặp ông tại đúng nơi ông đang đau. Chữa lành luôn cần sự kiên nhẫn. Có những vết thương không thể ép lành. Có những người cần nhiều năm để học lại cách tin. Có những mảnh đời phải đi rất chậm. Nếu Chúa đã kiên nhẫn với Tôma, tại sao ta lại nóng vội với nhau?
Và cũng hãy để ý: Tôma được chữa lành trong cộng đoàn. Ông đã nghi ngờ, nhưng ông không bỏ nhóm. Tám ngày sau ông vẫn ở với anh em. Điều ấy rất quan trọng. Khi bị tổn thương, ta thường muốn cô lập mình. Ta nghĩ chẳng ai hiểu. Ta tránh nhà thờ. Ta bỏ cầu nguyện. Ta cắt đứt những tương quan nâng đỡ. Nhưng càng cô lập, tiếng nói của vết thương càng lớn. Tôma có thể đã không tin lời các môn đệ, nhưng ông vẫn ở với họ, và chính lúc ở giữa cộng đoàn, ông gặp Chúa. Đôi khi ta không còn đủ sức tin, hãy để người khác tin bên cạnh mình. Khi không cầu nguyện nổi, cứ ngồi trong nhà thờ. Khi không hát nổi, cứ để cộng đoàn hát quanh mình. Khi không thể nói “con tin”, ít nhất hãy nói: “Lạy Chúa, xin giúp lòng tin yếu kém của con.” Đức tin không phải lúc nào cũng là ngọn lửa lớn. Có lúc nó chỉ như một hòn than nhỏ dưới lớp tro. Nhưng chỉ cần còn một chút, Chúa có thể thổi lên.
Đấng Phục Sinh vẫn mang vết đinh. Điều ấy nói với ta rằng Thiên Chúa không cứu ta bằng cách làm cho đời mình trở thành một cuốn sách trắng không có quá khứ. Người cứu ta bằng cách viết một ý nghĩa mới trên những trang đã từng lem nước mắt. Người không xóa mọi vết sẹo, nhưng Người làm cho vết sẹo trở thành cửa sổ để ánh sáng đi qua. Những điều từng làm ta yếu có thể trở thành nơi ta biết thương người. Những lúc từng khiến ta xấu hổ có thể dạy ta khiêm nhường. Những thất bại từng tưởng chôn vùi ta có thể làm cho ta bớt kiêu căng và bớt phán xét. Những giọt nước mắt từng tưởng vô ích có thể làm cho ánh mắt ta dịu hơn trước nước mắt người khác. Đó không phải là ca tụng đau khổ. Đó là ca tụng quyền năng của Thiên Chúa, Đấng có thể làm cho ngay cả đau khổ không được quyền có lời cuối cùng.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa một vết thương đang chảy máu và một vết sẹo đã lành. Cả hai đều nói rằng đã từng có tổn thương, nhưng một bên vẫn đang lấy đi sự sống, còn một bên kể rằng sự sống đã thắng. Có lẽ Chúa muốn biến nhiều vết thương trong ta thành vết sẹo. Vết sẹo không đẹp theo tiêu chuẩn thông thường, nhưng nó là dấu rằng cơ thể đã chiến đấu để lành. Tâm hồn cũng có sẹo. Có khi ta vẫn rơi nước mắt khi nhớ tới một người đã mất, nhưng nước mắt ấy không còn tuyệt vọng. Có khi ta vẫn đau khi nhớ một phản bội, nhưng không còn muốn trả thù. Có khi ta vẫn buồn vì một ước mơ dang dở, nhưng vẫn biết cảm ơn những gì mình còn có. Có khi ta vẫn thấy tiếc tuổi trẻ đã qua, nhưng biết trao phần đời còn lại cho Chúa. Khi ấy, vết thương đã thôi cai trị. Và chính nơi ấy, Phục Sinh đã bắt đầu.
Điều đáng sợ không phải là mang vết thương. Điều đáng sợ là để vết thương biến ta thành người gây thương tích. Có người bị khinh thường khi còn bé, lớn lên lại khinh thường người khác để cảm thấy mình mạnh. Có người từng bị kiểm soát, sau này lại kiểm soát con cái. Có người từng bị phản bội, rồi xem mọi người đều đáng nghi. Có người từng bị người có quyền làm đau, khi có quyền lại làm y như thế với người yếu hơn. Đó là khi vết thương chưa được cứu chuộc và nó truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đức Kitô cho ta một con đường khác. Người bị đóng đinh nhưng không đóng đinh ai. Người bị nguyền rủa nhưng không nguyền rủa lại. Người bị phản bội nhưng vẫn yêu. Người bị tước hết nhưng vẫn có thể trao một lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó mới là chiến thắng lớn nhất. Không phải chiến thắng bằng cách làm cho kẻ thù đau hơn mình đã đau, mà bằng cách không để cái ác sinh thêm cái ác qua đời mình.
Có lẽ hôm nay mỗi người cần nhìn lại một “dấu đinh” đang có trong đời. Một tên người mà mỗi lần nhắc tới là tim mình co lại. Một chuyện cũ mình vẫn chưa buông. Một thất bại khiến mình không dám bước tiếp. Một tội lỗi đã được Chúa tha mà mình vẫn chưa tha cho chính mình. Một mất mát khiến mình tưởng phần đời đẹp nhất đã kết thúc. Một vết thương trong gia đình cứ lặp lại. Hãy đem điều ấy đến trước Đấng Phục Sinh. Không cần nói nhiều. Chỉ cần nói thật: “Lạy Chúa, đây là vết thương của con.” Rồi nhìn tay Chúa. Chúa không đứng trước ta với đôi tay chưa từng đau. Người hiểu. Người không nhìn ta từ xa. Người mang trên thân thể chính dấu tích của đau khổ. Có những lúc ta không cần một Thiên Chúa giải thích hết mọi chuyện. Ta cần một Thiên Chúa đã từng bị thương. Một Thiên Chúa biết thế nào là bị phản bội bởi người mình yêu. Biết thế nào là bị hiểu lầm. Biết thế nào là cô đơn. Biết thế nào là cầu nguyện mà trời dường như im lặng. Biết thế nào là đau đến chảy máu. Biết thế nào là chết. Và vì Người đã đi qua tất cả, Người có quyền nói với ta: “Đừng sợ. Ta đã thắng.”
Đừng vội xấu hổ vì những dấu sẹo đời mình. Chúng không nhất thiết là bằng chứng rằng ta yếu. Có khi chúng là bằng chứng ta đã đi qua những điều rất khó mà vẫn còn ở đây. Đừng để người khác dùng quá khứ định nghĩa ta. Một lần thất bại không có nghĩa ta là người thất bại. Một lần phạm tội không có nghĩa tội lỗi là căn tính của ta. Một cuộc hôn nhân đổ vỡ không có nghĩa toàn bộ đời ta vô nghĩa. Một người bỏ đi không có nghĩa ta không đáng được yêu. Một lần bị từ chối không có nghĩa ta không có giá trị. Một căn bệnh không làm ta kém phẩm giá. Tuổi già không làm một người trở thành gánh nặng. Những điều đã xảy ra với ta không phải là toàn bộ con người ta. Căn tính sâu nhất của người Kitô hữu không nằm trong vết thương nhưng trong tình yêu của Đấng đã mang vết thương vì mình.
Đấng Phục Sinh vẫn mang vết đinh, nhưng Người đang sống. Đó là Tin Mừng. Những vết đinh không biến mất, nhưng sự chết đã biến mất quyền lực. Cạnh sườn vẫn mở, nhưng trái tim ấy vẫn yêu. Đôi tay còn dấu đinh, nhưng đôi tay ấy giờ giơ lên chúc lành. Một hình ảnh đẹp biết bao: chính đôi tay từng bị đóng chặt nay trở thành đôi tay ban bình an. Đây có lẽ cũng là ơn gọi của mỗi người chúng ta. Hãy để chính nơi từng đau trở thành nơi mình biết trao bình an. Người từng cô đơn hãy biết tìm đến người cô đơn. Người từng bị bỏ rơi hãy học cách ở lại với người khác. Người từng nghèo hãy hiểu người thiếu thốn. Người từng lầm lỗi hãy biết dịu dàng với người đang trở về. Người từng được tha thứ hãy rộng lòng tha thứ. Người từng được nâng dậy hãy học nâng người khác dậy. Khi đó vết thương của ta không còn là điều đáng nguyền rủa; nó trở thành một phần của sứ mạng.
Và rồi sẽ có ngày ta hiểu rằng Thiên Chúa đã không phí bất cứ giọt nước mắt nào. Không phải vì Người muốn những giọt nước mắt ấy, nhưng vì khi ta trao chúng cho Người, Người có thể làm chúng sinh hoa trái. Có những đau khổ chẳng bao giờ nên xảy ra, nhưng đã xảy ra. Ta không thể đổi quá khứ. Ta chỉ có thể quyết định quá khứ sẽ trở thành gì trong tay Chúa. Một nhà tù hay một trường học. Một cái mồ hay một mảnh đất từ đó điều mới mọc lên. Một lý do để cay đắng hay một cửa ngõ dẫn tới lòng cảm thông. Chiếc đinh đóng Đức Giêsu vào gỗ, nhưng không giữ được Người trong mồ. Điều đã làm ta đau cũng không nhất thiết phải giam ta suốt đời.
Tôma đã tìm bằng chứng nơi vết thương và cuối cùng tìm thấy Thiên Chúa. Có lẽ một ngày nào đó, nhìn lại chính những vùng đau nhất của đời mình, ta cũng sẽ không còn chỉ hỏi: “Tại sao Chúa để điều này xảy ra?” mà có thể thầm nói: “Lạy Chúa, con không hiểu hết, nhưng bây giờ con thấy Người đã không bỏ con.” Có khi nơi ta tưởng Chúa vắng mặt nhất lại là nơi sau này ta nhận ra dấu chân Người rõ nhất. Có những đêm ta tưởng mình đi một mình, nhưng chính Chúa đã cõng ta qua. Có những ngày ta nghĩ mình sống được là nhờ sức mình, sau này mới biết nếu không có một bàn tay vô hình giữ lại, ta đã gục từ lâu. Những điều ấy không xóa nỗi đau, nhưng cho nỗi đau một ý nghĩa khác.
Thế nên, nếu hôm nay lòng ta còn một vết thương, đừng tuyệt vọng vì nó chưa biến mất. Chữa lành không phải lúc nào cũng diễn ra bằng một phép lạ tức thì. Có những chữa lành giống như bình minh, sáng dần mà ta không biết chính xác lúc nào đêm đã hết. Có ngày ta chợt nhận ra tên người ấy không còn làm mình run. Có ngày ta đi ngang nơi ấy mà không còn muốn khóc. Có ngày ta kể câu chuyện cũ mà giọng mình bình an. Có ngày ta có thể cầu xin điều tốt cho người từng làm mình đau. Có ngày ta nhìn vào gương và không còn ghét con người mình đã từng là. Đó là lúc ta biết Chúa đã làm việc âm thầm rất lâu trong lòng mình.
Và nếu dấu vết còn đó, cũng không sao. Đấng Phục Sinh vẫn mang vết đinh. Ta không cần phải trở thành một người không có lịch sử để được Chúa yêu. Ta không cần phải hoàn hảo mới có thể bắt đầu lại. Ta không cần phải xóa sạch mọi dấu vết rồi mới phục vụ Chúa. Chính Đức Kitô đã bước vào sứ mạng Phục Sinh với những vết thương trên tay. Những vết thương đã được cứu chuộc không cản trở sứ mạng; nhiều khi chúng làm cho sứ mạng trở nên thật hơn. Người ta dễ mở lòng trước một người không nói từ trên cao xuống, nhưng nói từ một trái tim đã từng biết đau. Có những bài giảng hay nhất không được viết bằng mực mà bằng nước mắt đã được Chúa lau. Có những lời an ủi mạnh nhất không đến từ sách vở mà từ một người đã từng ngồi trong bóng tối và biết ánh sáng quý thế nào.
“Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Xin cho đó cũng là lời của chúng ta trước những vết thương chưa hiểu. Không phải: “Lạy Chúa, con chỉ tin khi mọi chuyện đã ổn.” Nhưng: “Lạy Chúa, ngay giữa điều chưa ổn, Chúa vẫn là Chúa của con.” Không phải: “Con sẽ tin khi dấu sẹo biến mất.” Nhưng: “Dù dấu sẹo còn đây, con tin Chúa có thể làm cho nó không còn cai trị đời con.” Không phải: “Con chỉ có bình an khi quá khứ thay đổi.” Quá khứ không đổi được. Nhưng nhờ Chúa, con có thể đổi cách mình sống với quá khứ. Đó là tự do của người Phục Sinh.
Xin Đấng Phục Sinh mang vết đinh bước vào những căn phòng đóng kín trong lòng chúng ta. Xin Người đi qua những cánh cửa mà ta đã khóa vì sợ bị đau thêm một lần nữa. Xin Người đứng giữa những ký ức ta không muốn nhớ, giữa những nước mắt chưa khô, giữa những thất bại ta chưa tha cho mình, giữa những tương quan đã đổ vỡ, và nói: “Bình an cho con.” Xin Người cho ta can đảm nhìn vào những dấu đinh mà không tuyệt vọng, bởi dấu đinh không phải là dấu chấm hết. Xin cho ta hiểu rằng có thể mình vẫn còn sẹo mà vẫn sống một đời rất đẹp; vẫn còn nhớ mà vẫn bình an; vẫn từng bị tổn thương mà vẫn có thể yêu; vẫn từng thất bại mà vẫn có thể bắt đầu; vẫn từng ngã mà vẫn có thể đứng lên; vẫn từng nghi ngờ như Tôma mà vẫn có thể quỳ xuống và tuyên xưng bằng tất cả trái tim: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”
Đấng Phục Sinh vẫn mang vết đinh. Và đó chính là hy vọng cho tất cả những ai đang mang vết thương: chữa lành không nhất thiết là không còn dấu vết; chữa lành là khi dấu vết ấy không còn quyền quyết định ta là ai, không còn giữ ta nằm lại trong ngôi mồ của quá khứ, không còn đóng đinh ta vào những ngày đã mất. Vết thương có thể còn dấu, nhưng ta đã có thể bước đi. Vết sẹo có thể còn, nhưng ta đã có thể yêu. Ký ức có thể còn, nhưng ta đã có thể bình an. Thập Giá đã từng có thật, nhưng Phục Sinh còn thật hơn.
Lm. Anmai, CSsR

TÔMA ĐÃ NHẬN RA CHÚA QUA NHỮNG VẾT THƯƠNG
Tin Mừng: Ga 20,24-29
Có những trang Tin Mừng đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn thấy như mới, bởi vì càng sống lâu, càng trải qua nhiều chuyện, càng nếm đủ vui buồn của phận người, ta càng nhận ra Lời Chúa không chỉ được viết cho những con người của hai ngàn năm trước, nhưng được viết cho chính cuộc đời mình hôm nay. Câu chuyện Tôma là một trang Tin Mừng như thế. Người ta thường nhớ đến Tôma bằng một cái tên có phần không công bằng: “Tôma cứng lòng”, “Tôma kém tin”, “Tôma phải thấy mới tin”. Nhưng nếu bình tâm đọc lại, ta sẽ thấy nơi Tôma không chỉ có sự hoài nghi, mà còn có một trái tim đã bị thương quá sâu. Người môn đệ ấy đã từng đi với Thầy, đã từng nghe tiếng Thầy, đã từng nhìn thấy Thầy chữa lành bao người, đã từng đặt tất cả hy vọng của mình nơi Thầy. Tôma đã chứng kiến hoặc ít nhất đã nghe rất rõ về cái chết khủng khiếp của Thầy trên thập giá. Người mà ông yêu, người mà ông tin là Đấng Thiên Sai, người mà ông đã bỏ nhiều thứ để bước theo, nay đã bị đóng đinh, bị đâm thủng cạnh sườn, bị đặt vào mồ. Vì thế, khi các môn đệ khác vui mừng nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, Tôma không thể dễ dàng bước qua tất cả những gì vừa xảy ra để tin ngay. Ông nói: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Đó không hẳn là tiếng nói của một người vô tín; có khi đó lại là tiếng nói của một người đã tin quá nhiều nên bây giờ sợ bị thất vọng thêm một lần nữa. Có những con người nói “tôi không tin nữa” không phải vì họ chưa từng tin, mà vì họ đã từng tin rất tha thiết rồi bị cuộc đời làm cho đau. Có những người khép lòng không phải vì họ không cần tình yêu, mà vì họ đã từng yêu hết lòng rồi bị phản bội. Có những người không dám hy vọng không phải vì họ thích sống trong bóng tối, mà vì họ đã nhiều lần hy vọng rồi cuối cùng chỉ nhận lại hụt hẫng. Tôma, nhìn ở chiều sâu ấy, rất gần với chúng ta.
Điều đẹp nhất trong câu chuyện không phải là việc Tôma đòi kiểm chứng, nhưng là cách Chúa Giêsu đối xử với Tôma. Chúa không trách: “Tại sao con không tin lời anh em con?” Chúa cũng không loại ông ra khỏi nhóm Mười Hai vì ông chậm tin. Chúa không khinh thường sự hoài nghi của ông, không làm cho ông xấu hổ trước mặt các anh em. Tám ngày sau, Chúa lại đến. Và kỳ lạ thay, Chúa nhớ rất rõ những gì Tôma đã nói dù khi ấy Chúa không hiện diện hữu hình giữa họ. Người nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Chỉ riêng câu ấy thôi cũng đủ làm ta cảm động. Chúa Phục Sinh không che những vết thương của Người. Người không trở lại với một thân xác không dấu tích, như thể cuộc khổ nạn chưa từng xảy ra. Người có thể làm cho các dấu đinh biến mất. Người có thể hiện ra với đôi tay hoàn toàn lành lặn, với cạnh sườn không còn vết giáo. Nhưng Người đã không làm thế. Những vết thương vẫn còn đó trên thân thể phục sinh. Điều ấy nói với chúng ta một điều rất sâu: Phục Sinh không phải là xóa sạch quá khứ như thể đau khổ chưa từng có; Phục Sinh là để Thiên Chúa biến chính những gì đã làm ta đau thành nơi ánh sáng đi qua. Vết đinh từng là dấu của bạo lực, nay trở thành dấu để Tôma nhận ra Chúa. Cạnh sườn từng bị ngọn giáo của con người đâm thủng, nay trở thành nơi một người môn đệ tìm lại đức tin. Điều từng là dấu thất bại nay trở thành dấu chiến thắng. Điều từng làm người ta nghĩ rằng mọi sự đã chấm hết nay lại trở thành bằng chứng rằng tình yêu mạnh hơn sự chết. Thiên Chúa có một cách làm việc lạ lùng như vậy: Người không luôn lấy vết thương ra khỏi cuộc đời ta, nhưng Người có thể bước vào chính vết thương ấy và làm cho nó mang một ý nghĩa mới.
Có lẽ đây là điều rất nhiều người cần nghe trong cuộc đời. Ta thường nghĩ muốn bình an thì phải quên hết những gì đã làm mình đau. Ta muốn xóa sạch ký ức, muốn không còn nhớ những lời xúc phạm, những lần bị bỏ rơi, những thất bại, những người đã quay lưng, những biến cố khiến lòng mình tan vỡ. Nhưng có những điều không thể quên. Càng cố quên lại càng nhớ. Có những vết thương dù đã nhiều năm vẫn nhói lên khi một câu nói, một nơi chốn, một kỷ niệm nào đó vô tình chạm vào. Một người mẹ mất con không thể đơn giản “quên đi”. Một người vợ từng bị phản bội không thể nói hôm nay tha thứ thì ngày mai ký ức hoàn toàn biến mất. Một người con từng bị cha mẹ bỏ rơi khó có thể sống như thể điều ấy chưa bao giờ xảy ra. Một linh mục từng bị hiểu lầm, một tu sĩ từng bị tổn thương trong cộng đoàn, một người sống đời dâng hiến từng đi qua thời gian khủng hoảng, có khi những ký ức ấy vẫn ở đó. Đức tin Kitô giáo không bảo ta giả vờ rằng mình không đau. Đức tin cũng không bắt ta nói những câu đạo đức để phủ lên nỗi đau thật của mình. Đức Kitô Phục Sinh đã không xóa dấu đinh khỏi tay. Người mang cả vết thương vào trong vinh quang Phục Sinh. Nghĩa là cũng có thể có những phần đời ta không bao giờ trở lại như cũ, nhưng lại có thể được Chúa biến đổi đến mức chính nơi từng làm ta đau nhất lại trở thành nơi ta hiểu Chúa sâu nhất.
Tôma nhận ra Chúa không phải qua một bài giảng hùng hồn, cũng không phải qua một phép lạ ngoạn mục, nhưng qua những vết thương. Ông nhìn vào đôi tay bị đâm thủng và thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đây là một trong những lời tuyên xưng đức tin mạnh nhất trong toàn bộ Tin Mừng Gioan. Người đã từng nói “tôi chẳng có tin” lại trở thành người tuyên xưng rất sâu: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Và con đường từ nghi ngờ đến đức tin của Tôma đi qua các vết thương của Đức Kitô. Điều này cũng đúng trong đời nhiều người. Có lúc ta gặp Chúa khi mọi sự bình yên, khi gia đình êm ấm, khi công việc thuận lợi, khi cầu xin điều gì cũng dường như được nhận lời. Nhưng nhiều người lại chỉ thật sự biết Chúa là ai sau khi đã đi qua một đêm rất tối. Trước đó ta biết Chúa bằng giáo lý; sau đó ta biết Chúa bằng nước mắt. Trước đó ta nói “Chúa là Đấng quan phòng” vì đã được học như thế; sau đó ta mới hiểu thế nào là phó thác khi đứng trước một cánh cửa đóng kín. Trước đó ta nói “Chúa là Đấng an ủi”; sau đó ta mới hiểu lời ấy khi ngồi bên một chiếc giường bệnh, khi mất đi một người mình thương, khi không còn biết bấu víu vào đâu ngoài lời cầu nguyện. Trước đó ta nói “Chúa là Đấng trung thành”; sau đó ta mới thấm điều ấy khi mọi người có thể rời bỏ nhưng Chúa vẫn ở lại. Có những chân lý về Thiên Chúa chỉ có thể học bằng đầu óc, nhưng cũng có những chân lý phải đi qua một đoạn đời mới hiểu.
Dĩ nhiên, nói như thế không có nghĩa là đau khổ tự nó là điều tốt. Đừng bao giờ thần thánh hóa đau khổ. Đau khổ vẫn là đau khổ. Bệnh tật vẫn làm người ta mệt mỏi. Phản bội vẫn làm tim tan nát. Mất mát vẫn để lại khoảng trống. Bất công vẫn phải được gọi đúng tên là bất công. Đức Kitô không xuống thế để nói với con người rằng “cứ đau đi, đau càng nhiều càng tốt”. Người chữa bệnh, nâng người ngã, cho kẻ đói ăn, trả lại phẩm giá cho người bị loại trừ. Nhưng khi đau khổ không thể tránh, khi thập giá đã thật sự nằm trên vai ta, Tin Mừng cho ta một hy vọng: đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Những vết thương không nhất thiết phải là dấu chấm hết. Trong bàn tay Chúa, điều đã làm ta vỡ vụn vẫn có thể trở thành nơi ân sủng bắt đầu. Không phải vì điều xấu bỗng trở thành tốt, nhưng vì Thiên Chúa có khả năng rút sự sống ra từ điều mà con người tưởng chỉ còn là chết chóc. Thập giá vốn là công cụ hành hình, nhưng Đức Kitô đã biến nó thành cây sự sống. Ngôi mộ vốn là nơi chôn người chết, nhưng Đức Kitô đã biến nó thành nơi khởi đầu của một buổi sáng mới. Những dấu đinh vốn là dấu của hận thù, nhưng Đức Kitô đã biến chúng thành dấu chứng của tình yêu. Đó chính là quyền năng cứu độ của Thiên Chúa.
Nhìn lại cuộc đời, ai trong chúng ta mà không có những vết thương? Có người mang vết thương của tuổi thơ. Có người mang vết thương của hôn nhân. Có người mang vết thương trong mối quan hệ với cha mẹ, anh chị em. Có người từng bị coi thường vì nghèo, vì học không giỏi, vì không thành đạt như người khác. Có người mang một câu nói của người thân suốt mấy chục năm mà chưa thể quên. Có người bị bạn bè phản bội, bị người mình tin tưởng lợi dụng. Có người làm ăn thất bại rồi mất luôn niềm tin vào chính mình. Có người dốc lòng phục vụ cộng đoàn nhưng đổi lại là lời chê bai, đồn thổi, hiểu lầm. Có người đã từng rất nhiệt thành với Chúa nhưng sau một biến cố đau đớn, họ không còn muốn cầu nguyện. Có người bước vào đời tu với lòng hăng say rồi có ngày thấy tất cả trở nên khô khan. Có người làm linh mục nhiều năm, vẫn đứng trên bục giảng, vẫn cử hành Thánh Lễ, vẫn làm mục vụ, nhưng trong lòng có những vết thương ít ai biết. Có những nỗi đau người ta kể được, nhưng cũng có những nỗi đau không biết phải kể với ai. Bên ngoài vẫn cười, vẫn làm việc, vẫn gặp gỡ, vẫn nói chuyện, nhưng có một căn phòng trong tâm hồn luôn đóng cửa.
Chúa Phục Sinh hôm nay không ép ta phải mở tung căn phòng ấy ngay lập tức. Người làm với ta như Người đã làm với Tôma: Người đến. Người đứng giữa một cộng đoàn đang đóng cửa vì sợ hãi. Người nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Người cho thấy những vết thương của mình. Như thể Chúa muốn nói: “Ta không xa lạ với điều con đang mang. Ta cũng đã bị phản bội. Ta cũng đã bị người thân cận bỏ chạy. Ta cũng đã bị kết án bất công. Ta cũng đã bị nhạo cười, bị đánh đập, bị lột trần, bị đóng đinh. Ta hiểu những gì con không thể nói thành lời.” Đây là nét rất đặc biệt của Kitô giáo. Ta không tin vào một Thiên Chúa đứng thật xa trên trời nhìn xuống những con người đang đau khổ. Ta tin vào một Thiên Chúa mang vết thương. Ta cầu nguyện trước một Đấng đã khóc. Ta hướng về một Đấng đã từng run sợ trong vườn Cây Dầu. Ta phó thác cho một Đấng đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Thiên Chúa ấy không trả lời mọi câu hỏi của ta bằng lý thuyết, nhưng Người bước vào nỗi đau và ở đó với ta.
Có khi ta hỏi: “Tại sao Chúa để chuyện ấy xảy ra?” Có những câu hỏi cả đời này ta cũng không tìm được câu trả lời trọn vẹn. Không phải đau khổ nào cũng có thể được giải thích bằng một công thức. Có những cái chết quá sớm, những tai nạn quá bất ngờ, những căn bệnh quá tàn nhẫn, những bất công quá vô lý. Nếu cứ cố tìm một lời giải thích cho mọi thứ, đôi khi ta chỉ làm người đang đau khổ đau thêm. Tin Mừng không cho ta một bản giải đáp chi tiết về mọi bi kịch, nhưng cho ta một Đấng bị đóng đinh và đã phục sinh. Câu trả lời của Thiên Chúa trước đau khổ trước hết không phải là một lý thuyết, mà là một Con Người: Đức Giêsu Kitô. Nhìn vào Người, ta không phải lúc nào cũng biết tại sao mình phải đau, nhưng ta biết mình không đau một mình. Ta không phải lúc nào cũng biết con đường phía trước sẽ thế nào, nhưng ta biết Đấng đang đi với ta đã đi xuyên qua sự chết. Ta không biết vết thương của mình bao giờ mới lành hẳn, nhưng ta biết những vết thương không ngăn được Chúa sống lại.
Điều đáng suy nghĩ nữa là Tôma chỉ gặp Chúa khi ông trở lại với cộng đoàn. Lần Chúa hiện ra trước đó, Tôma không có mặt. Không ai biết vì sao ông vắng. Có thể ông quá buồn nên muốn ở một mình. Có thể ông thất vọng nên không còn muốn gặp những người khác. Có thể ông cần khoảng cách. Nhưng chính khi ông trở lại với anh em, Chúa đến với ông. Đây cũng là một lời nhắc rất quan trọng. Khi bị thương, phản ứng tự nhiên của con người là thu mình lại. Ta không muốn nói chuyện, không muốn gặp ai, không muốn đến nhà thờ, không muốn cầu nguyện chung. Ta nghĩ chẳng ai hiểu mình. Và thật ra có lúc người khác cũng không hiểu thật. Nhưng nếu nỗi đau khiến ta cắt đứt hoàn toàn với mọi người, vết thương rất dễ trở thành nhà tù. Chúa có thể chữa lành ta trong thinh lặng riêng tư, nhưng Người cũng thường dùng một cộng đoàn, một người bạn, một người linh hướng, một người anh em, một người chị em, một gia đình, một giáo xứ để đưa ta trở lại với ánh sáng. Không phải cộng đoàn nào cũng hoàn hảo. Các môn đệ lúc ấy cũng chẳng hoàn hảo gì: có người từng bỏ chạy, có người từng chối Chúa, tất cả đều đang sợ. Vậy mà chính giữa cộng đoàn không hoàn hảo ấy, Chúa Phục Sinh đứng vào giữa.
Đôi khi ta chờ một cộng đoàn toàn người thánh thiện rồi mới ở lại. Ta muốn một gia đình không ai làm mình tổn thương, một giáo xứ không ai nói sai, một cộng đoàn tu trì không có tính người, một Giáo Hội không có khuyết điểm. Nhưng điều ấy không có trong trần gian. Giáo Hội ngay từ đầu đã là nơi những con người yếu đuối học cách tin và yêu. Tôma không gặp Chúa giữa một nhóm người hoàn hảo; ông gặp Chúa giữa những người cũng đầy sợ hãi và thương tích như mình. Đó là điều làm ta hy vọng. Ta không cần chờ mình hoàn hảo mới trở về với Chúa. Ta cũng không cần đợi những người xung quanh hoàn hảo mới sống đức tin. Có khi chính trong những rạn nứt của cộng đoàn, ta học được tha thứ. Chính trong giới hạn của người khác, ta học kiên nhẫn. Chính khi mình bị tổn thương, ta học đừng làm người khác tổn thương. Một vết thương được chữa lành đúng cách có thể làm trái tim con người trở nên dịu dàng hơn rất nhiều.
Đáng sợ nhất không phải là bị thương. Đáng sợ nhất là sau khi bị thương, ta trở thành người làm người khác bị thương. Có người từng bị khinh thường nên khi có địa vị lại thích khinh thường người khác. Có người từng bị kiểm soát nên khi làm cha mẹ lại kiểm soát con cái. Có người từng bị cấp trên đối xử cứng nhắc, đến khi mình có quyền lại đối xử với người dưới còn nặng nề hơn. Có người từng bị lời nói làm đau, nhưng rồi chính họ lại dùng lời nói như dao. Nếu vết thương không được đưa đến cho Chúa, nó rất dễ biến thành cay đắng. Và một trái tim cay đắng có thể làm đau rất nhiều trái tim khác. Nhưng khi vết thương được Chúa chạm đến, nó có thể trở thành lòng thương xót. Người từng cô đơn sẽ biết nhận ra người cô đơn. Người từng thất bại sẽ biết nói nhẹ với người đang thất bại. Người từng bị hiểu lầm sẽ bớt vội kết án người khác. Người từng khóc nhiều sẽ biết ngồi bên người đang khóc mà không nói những lời sáo rỗng. Người từng đi qua đêm tối sẽ biết rằng đôi khi điều một người đau khổ cần không phải là bài giảng, mà chỉ là một sự hiện diện.
Có lẽ những con người đẹp nhất không phải là những người chưa từng bị cuộc đời làm đau, nhưng là những người đã đau mà vẫn giữ được lòng hiền hậu. Họ đã bị phản bội nhưng không trở thành kẻ phản bội. Họ đã bị xúc phạm nhưng không lấy xúc phạm làm cách đối xử với người khác. Họ đã mất mát nhưng không vì thế mà ghen ghét hạnh phúc của người bên cạnh. Họ đã từng bị bỏ rơi nhưng không bỏ rơi người cần mình. Họ đã nếm đủ đắng cay nhưng lời nói vẫn tử tế. Đó là những người đã để Chúa Phục Sinh bước vào vết thương của họ. Vết thương vẫn có đó, nhưng không còn chảy độc. Nó trở thành một cánh cửa mở ra lòng trắc ẩn.
Tôma nói: “Nếu tôi không thấy… tôi chẳng có tin.” Và Chúa cho ông thấy. Nhưng sau đó Chúa nói: “Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.” Lời ấy không phải để hạ thấp Tôma; đó là lời mở rộng Tin Mừng đến tất cả chúng ta. Chúng ta không được đặt ngón tay vào dấu đinh như Tôma. Chúng ta không được đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa bằng thể lý. Nhưng qua đức tin, chúng ta vẫn có thể gặp Đấng mang vết thương. Ta gặp Người trong Thánh Thể. Ta gặp Người nơi Lời Chúa. Ta gặp Người trong những người đau khổ. Ta gặp Người nơi người nghèo. Ta gặp Người trong những con người đang mang những vết thương của cuộc đời. Và rất nhiều khi, ta gặp Chúa sâu nhất ngay trong chính phần đời ta muốn giấu nhất.
Có một nghịch lý trong đời sống thiêng liêng: nơi ta yếu nhất có khi lại là nơi ta dễ gặp Chúa nhất, nếu ta dám mở nó cho Người. Ta thường đưa đến với Chúa những gì đẹp: thành công, việc lành, lời cầu nguyện sốt sắng, hy sinh của mình. Nhưng ta lại giấu Chúa những điều xấu hổ: nỗi sợ, thất bại, mặc cảm, nghi ngờ, giận dữ, những lần ta thấy đức tin mình yếu ớt. Thế nhưng Chúa không chỉ muốn phần đẹp của ta. Người muốn cả vết thương. Tôma không cần giả bộ rằng mình tin. Ông nói thẳng điều ông đang vướng. Và chính sự thật ấy mở đường cho cuộc gặp gỡ. Cầu nguyện chân thành nhiều khi bắt đầu từ một câu rất nghèo: “Lạy Chúa, con không hiểu.” “Lạy Chúa, con giận.” “Lạy Chúa, con thất vọng.” “Lạy Chúa, con không còn cảm thấy Ngài.” “Lạy Chúa, con muốn tin mà con không biết làm sao để tin.” Chúa không sợ những lời như thế. Người sợ hơn một thứ đạo đức giả trong đó môi miệng nói rất hay nhưng trái tim lại đóng kín.
Có người đi lễ đều, đọc kinh đều, làm việc đạo đức đều, nhưng sâu trong lòng vẫn có một vết thương chưa từng cho Chúa chạm vào. Và vì thế, họ vẫn rất dễ nổi giận, dễ tự ái, dễ kết án, dễ tổn thương người khác. Chữa lành thiêng liêng không chỉ là cầu xin Chúa làm cho ta quên đi chuyện cũ; nhiều khi là xin Chúa giúp ta nhìn chuyện cũ bằng một ánh sáng mới. Ta không thể thay đổi quá khứ, nhưng ân sủng có thể thay đổi cách quá khứ đang sống trong ta. Điều từng làm ta chỉ biết khóc, một ngày nào đó có thể làm ta biết cảm thông. Điều từng khiến ta thấy đời mình vô nghĩa, một ngày nào đó có thể trở thành kinh nghiệm giúp ta nâng đỡ người khác. Điều từng làm ta hỏi “Chúa ở đâu?”, có thể một ngày trở thành nơi ta nói với một người đang đau: “Tôi không biết giải thích cho anh, nhưng tôi đã từng ở chỗ ấy và Chúa đã không bỏ tôi.”
Đó là cách những vết thương trở thành chứng từ. Chúa Giêsu đã không giấu vết thương sau Phục Sinh. Người cho các môn đệ thấy tay và cạnh sườn. Có những người cũng vậy: đời họ có những vết sẹo, nhưng những vết sẹo ấy nói rằng họ đã đi qua một điều tưởng không thể đi qua. Người từng nghiện ngập mà trở về có thể giúp người đang mắc nghiện. Người từng đổ vỡ hôn nhân nhưng đã học được tha thứ có thể nói với những gia đình đang khủng hoảng bằng một giọng khác. Người từng mất phương hướng trong đời sống đức tin có thể hiểu người trẻ đang nghi ngờ. Người từng trải qua bệnh nặng biết giá trị của một ngày bình thường. Người từng ở bên bờ vực tuyệt vọng mà được kéo lại sẽ không nói về hy vọng như một khẩu hiệu. Vết sẹo, nếu đã được chữa lành, có một thứ uy tín mà lý thuyết không có.
Nhưng cũng cần nhớ: không phải ai đang bị thương cũng phải lập tức biến đau khổ thành “bài học”. Có những vết thương cần thời gian. Tám ngày sau Chúa mới trở lại với Tôma. Tin Mừng ghi rõ chi tiết ấy. Chúa không ép ông phải tin ngay trong vài phút. Người cho ông một khoảng thời gian. Chữa lành cũng thế. Có những điều không thể vội. Có những giọt nước mắt phải khóc đủ. Có những cuộc chia ly cần thời gian để trái tim chấp nhận. Có những người mất nhiều năm mới có thể nói về một biến cố mà không vỡ vụn. Đừng lấy đức tin để thúc ép một người đau khổ phải “vui lên”, “quên đi”, “tha ngay đi”. Chúa kiên nhẫn với Tôma. Chúng ta cũng phải kiên nhẫn với nhau. Một người đang ở ngày thứ nhất của vết thương không thể bị đòi hỏi phải sống như người đã đi qua tám năm chữa lành. Tình yêu biết chờ. Ân sủng cũng có nhịp của ân sủng.
Và có lẽ chính chúng ta cũng cần kiên nhẫn với bản thân. Nhiều người tha thứ cho người khác dễ hơn tha thứ cho chính mình. Họ mang một lỗi lầm quá khứ, một quyết định sai, một cơ hội đã bỏ lỡ, một người từng làm tổn thương. Năm tháng trôi qua nhưng họ vẫn tự kết án. Chúa đã tha mà họ chưa tha mình. Vết thương không chỉ do người khác gây ra; có những vết thương do chính ta gây cho chính mình. Tôma cần chạm vào vết thương của Chúa để tin rằng Chúa thật sự sống; đôi khi ta cũng cần nhìn vào vết thương của Chúa để tin rằng lòng thương xót thật sự lớn hơn tội lỗi mình. Đôi tay bị đóng đinh ấy không giơ lên để kết án. Cạnh sườn bị đâm ấy đã mở ra. Đức Kitô phục sinh không trở về tìm Phêrô để hỏi tội vì ông đã chối mình. Người không trở lại để trả thù những kẻ đóng đinh. Người trở lại với lời đầu tiên: “Bình an cho anh em.” Một Thiên Chúa như thế đáng để ta trao cả những phần đời ta xấu hổ nhất.
“Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Có lẽ cuối cùng đức tin trưởng thành không phải là biết nhiều về Chúa, mà là có thể nói “của con” giữa một cuộc đời không dễ hiểu. Khi mọi sự thuận lợi mà nói “Lạy Chúa của con” thì chưa khó. Nhưng khi mất mát vẫn nói được “Lạy Chúa của con”, khi lời cầu xin chưa được đáp mà vẫn nói “Lạy Thiên Chúa của con”, khi không hiểu đường Chúa dẫn nhưng vẫn bám lấy Người, khi vết thương vẫn còn đau nhưng không bỏ Chúa, đó là đức tin đã đi qua lửa. Tôma không chỉ trở về với niềm tin cũ. Ông đi sâu hơn. Trước cuộc thương khó, ông biết Đức Giêsu là Thầy. Sau khi gặp những vết thương phục sinh, ông thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Chính khủng hoảng, nếu được đi qua với Chúa, đôi khi không phá hủy đức tin mà làm đức tin trưởng thành.
Nhìn về Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, ta hiểu rằng Thiên Chúa không hứa cho ta một đời không có vết thương. Người hứa một điều lớn hơn: không một vết thương nào, nếu được trao cho Người, nhất thiết phải trở thành vô nghĩa. Có những chuyện trong đời mãi mãi ta ước gì chưa từng xảy ra. Có những người ta ước gì chưa từng làm mình đau. Có những năm tháng ta không muốn nhớ. Nhưng nếu hôm nay ta còn sống, còn có thể yêu, còn có thể cầu nguyện, còn có thể làm một điều tốt, nghĩa là câu chuyện chưa kết thúc. Chúa vẫn có thể viết tiếp. Thập giá tưởng là chương cuối, nhưng đối với Thiên Chúa nó chỉ là con đường dẫn tới Phục Sinh. Ngôi mộ tưởng là dấu chấm, Thiên Chúa biến nó thành dấu hai chấm. Và vết thương tưởng chỉ nói về những gì đã mất, một ngày có thể nói về những gì ân sủng đã cứu lại.
Có thể hôm nay ai đó đang mang một vết thương chưa lành. Xin đừng quá sợ nó. Cũng đừng để nó trở thành tên gọi của cả cuộc đời mình. Bạn không chỉ là “người đã bị phản bội”. Bạn không chỉ là “người thất bại”. Bạn không chỉ là “người bị bỏ rơi”. Bạn không chỉ là lỗi lầm mà mình từng phạm. Bạn là người được Chúa yêu. Và Chúa Phục Sinh vẫn có thể đứng giữa căn phòng đang khóa kín của lòng bạn mà nói: “Bình an cho con.” Người có thể không làm quá khứ biến mất, nhưng Người có thể làm cho quá khứ không còn thống trị tương lai. Người có thể không xóa hết dấu sẹo, nhưng Người có thể làm cho dấu sẹo ấy không còn là dấu của tuyệt vọng. Người có thể biến nó thành dấu chứng rằng: “Tôi đã từng ở rất sâu trong bóng tối, nhưng Chúa đã tìm thấy tôi ở đó.”
Từ câu chuyện Tôma, ta cũng được mời gọi nhìn người khác bằng một ánh mắt dịu hơn. Khi một người nghi ngờ, đừng vội gọi họ là vô tín. Có thể đằng sau câu hỏi của họ là một vết thương. Khi một người trở nên lạnh lùng, đừng vội bảo họ vô cảm. Có thể họ đã từng đau đến mức không dám cảm nữa. Khi một người không dễ tin người, có thể họ đã từng bị phản bội. Khi một người khó mở lòng với Chúa, có thể họ đã cầu nguyện rất nhiều mà tưởng như không được đáp. Thay vì phán xét, hãy thử hỏi: “Điều gì đã xảy ra với họ?” Chúa không mắng Tôma. Chúa cho Tôma thấy những vết thương của chính mình. Có khi điều giúp một người tin trở lại không phải là ta thắng họ trong tranh luận, nhưng là ta cho họ thấy một tình yêu có vết thương mà vẫn yêu.
Và người môn đệ của Đức Kitô cũng phải có những “vết thương” của tình yêu. Không phải tự làm khổ mình, nhưng là chấp nhận cái giá của việc yêu thật. Cha mẹ nuôi con có những vết thương của hy sinh. Người vợ, người chồng trung thành với nhau qua năm tháng có những vết thương của nhẫn nại. Linh mục ở lại với đoàn chiên có những lúc bị hiểu lầm, mệt mỏi, cô đơn. Tu sĩ sống chung với cộng đoàn phải chết đi nhiều phần của cái tôi. Người làm việc bác ái có khi bị phụ bạc. Người tha thứ có khi vẫn còn đau. Yêu mà không bao giờ phải mất gì thường chưa phải là yêu sâu. Đức Kitô cho ta thấy tình yêu thật luôn mang dấu đinh. Nhưng chính dấu đinh ấy lại làm Tôma nhận ra Người. Có lẽ cuối đời, điều làm người khác nhận ra Chúa nơi ta cũng không phải là lời ta nói hay đến đâu, nhưng là những gì ta đã chịu mất vì yêu mà vẫn không thôi yêu.
Ngày nào đó, khi đứng trước Chúa, có thể ta sẽ hiểu những điều hôm nay mình chưa hiểu. Có thể ta sẽ nhìn lại những đoạn đường từng làm mình khóc và thấy Chúa đã ở đó, dù lúc ấy ta tưởng Người vắng mặt. Có thể ta sẽ nhận ra chính một thất bại đã cứu mình khỏi kiêu ngạo, chính một lần bị bỏ rơi đã làm mình biết quý sự hiện diện, chính một cơn bệnh đã dạy mình biết thời gian quý thế nào, chính một biến cố đau lòng đã đưa mình trở lại với Chúa. Điều đó không làm đau khổ trở thành tốt, nhưng cho thấy ân sủng lớn đến mức không gì có thể nằm ngoài khả năng cứu chuộc của Thiên Chúa.
Tôma đã nhận ra Chúa qua những vết thương. Và có lẽ chúng ta cũng vậy. Có những mùa đời ta nhận ra Chúa trong tiếng hát, trong ánh nến, trong một Thánh Lễ sốt sắng, trong một lời cầu nguyện được nhận. Nhưng cũng có những mùa đời ta nhận ra Chúa bằng một cách khác: trong đêm bệnh viện, bên một ngôi mộ, sau một cuộc chia tay, giữa một thất bại, trong sự cô đơn, qua một giọt nước mắt. Khi ấy, đừng nghĩ rằng Chúa đã đi xa. Có thể Người đang đứng rất gần, chỉ là Người mang một khuôn mặt mà ta chưa quen: khuôn mặt của Đấng Phục Sinh vẫn còn dấu đinh.
Xin Chúa cho ta can đảm đưa những vết thương của mình đến với Người, thay vì giấu chúng dưới vẻ đạo đức bên ngoài. Xin cho ta biết rằng hoài nghi không phải là điểm cuối nếu ta vẫn còn đủ chân thành để tìm kiếm. Xin cho những người đang đau đừng tuyệt vọng vì thấy vết thương mình quá sâu. Xin cho ta hiểu rằng vết thương được đặt vào tay Chúa có thể trở thành cánh cửa của ân sủng. Và xin cho mỗi người, một ngày nào đó, ngay tại nơi mình từng khóc nhiều nhất, có thể cúi đầu thưa như Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”
Bởi cuối cùng, điều kỳ diệu nhất của Phục Sinh không phải là Đức Giêsu không còn vết thương. Điều kỳ diệu là vết thương không còn quyền giết chết Người. Và đó cũng là niềm hy vọng cho mỗi chúng ta: những gì đã làm ta đau có thể vẫn còn dấu tích, nhưng nhờ Đức Kitô, chúng không còn cần phải quyết định ta sẽ trở thành ai. Ta có thể mang những vết sẹo mà vẫn sống. Ta có thể nhớ mà vẫn bình an. Ta có thể từng bị tổn thương mà vẫn yêu. Ta có thể từng nghi ngờ mà rồi tin sâu hơn. Ta có thể từng ngã xuống mà rồi đứng dậy. Vì Đức Kitô đã sống lại. Và trên đôi tay Phục Sinh của Người, những dấu đinh vẫn còn đó như một lời bảo đảm muôn đời rằng: tình yêu có thể bị thương, nhưng tình yêu của Thiên Chúa không bao giờ bị đánh bại.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI THẤT BẠI BÊN NGOÀI CHE GIẤU CHIẾN THẮNG BÊN TRONG
Tin Mừng: Ga 19,28-30
Có những lúc trong cuộc đời, nhìn từ bên ngoài, người ta chỉ thấy một dấu chấm hết. Một cánh cửa khép lại. Một con người bị loại bỏ. Một công việc tan vỡ. Một ước mơ không thành. Một cuộc đời tưởng như đã đi đến tận cùng của thất bại. Và nếu có mặt dưới chân Thập Giá chiều hôm ấy, có lẽ chúng ta cũng sẽ nghĩ như thế. Đức Giêsu đã từng làm cho người mù được thấy, người què được đi, người phong được sạch, người chết được sống lại. Người đã từng khiến đám đông chen chúc để nghe lời Người. Người đã từng được dân chúng tung hô khi vào Giêrusalem. Người đã từng làm cho những người quyền thế phải bối rối trước những câu trả lời đầy khôn ngoan. Vậy mà giờ đây, Người bị treo giữa trời và đất, thân thể đầy thương tích, môi khô khốc, máu gần như đã chảy cạn, các môn đệ tản mác, những kẻ chống đối đứng nhìn với vẻ đắc thắng. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt của con người, đó là một thất bại quá rõ ràng. Không ngai vàng. Không quân đội. Không phép lạ giải thoát. Không một cuộc phản công. Không một lời nguyền rủa kẻ thù. Chỉ còn một Con Người hấp hối trên cây gỗ. Và chính trong giờ phút mà thế gian tưởng rằng tất cả đã kết thúc, Đức Giêsu lại thốt lên một lời kỳ lạ: “Đã hoàn tất.” Người không nói: “Thế là hết.” Người không nói: “Ta đã thua.” Người không nói: “Mọi sự đã thất bại.” Người nói: “Đã hoàn tất.” Hai cách nói tưởng như gần nhau nhưng lại cách xa nhau vô cùng. “Thế là hết” là tiếng nói của tuyệt vọng. “Đã hoàn tất” là tiếng nói của một người biết rằng mình đã đi đến cùng con đường phải đi, đã yêu đến cùng tình yêu phải yêu, đã trao đến cùng điều phải trao, đã vâng phục đến cùng điều Chúa Cha muốn, và giờ đây sứ mạng đã được hoàn thành.
Thập Giá vì thế là một nghịch lý lớn của đức tin Kitô giáo. Bên ngoài là thất bại, bên trong là chiến thắng. Bên ngoài là một thân thể bị nghiền nát, bên trong là một tình yêu không gì nghiền nát nổi. Bên ngoài là sự bất lực, bên trong là quyền năng của một tình yêu không chịu đầu hàng trước hận thù. Bên ngoài là cái chết, bên trong là sự sống đang bắt đầu nảy mầm. Bên ngoài là một người bị đóng đinh, bên trong là tội lỗi của cả nhân loại đang bị đóng đinh cùng với Người. Bên ngoài là những tiếng chế nhạo, bên trong là lời tha thứ. Bên ngoài là bóng tối phủ xuống mặt đất, bên trong là ánh sáng cứu độ đang bừng lên cho nhân loại. Bên ngoài là một ngôi mộ đang chờ đợi, bên trong là buổi sáng Phục Sinh đã bắt đầu. Người đời thường chỉ nhìn sự việc bằng cái đang hiện ra trước mắt. Thiên Chúa nhìn sâu hơn. Người đời nhìn hạt lúa bị chôn xuống đất và gọi đó là mất đi. Thiên Chúa nhìn hạt lúa bị chôn và thấy cả một mùa gặt đang được chuẩn bị. Người đời nhìn người mẹ thức đêm chăm con và thấy một người đàn bà mệt mỏi. Thiên Chúa nhìn đó và thấy một tình yêu đang xây nên một đời người. Người đời nhìn một linh mục già âm thầm ngồi trong tòa giải tội và thấy một người chẳng làm được chuyện gì lớn lao. Thiên Chúa thấy bao tâm hồn đang được chữa lành. Người đời nhìn một người bệnh nằm bất động trên giường và tưởng cuộc đời ấy không còn ích lợi. Thiên Chúa có thể thấy nơi đó một lời cầu nguyện âm thầm đang nâng đỡ cả một gia đình. Người đời nhìn một người bị hiểu lầm mà không thanh minh, một người chịu thiệt mà không trả đũa, một người vẫn trung thành khi chẳng ai ghi nhận, rồi bảo họ là yếu đuối. Thiên Chúa có thể gọi đó là chiến thắng.
Điều đáng suy nghĩ là Đức Giêsu không chiến thắng bằng cách bước xuống khỏi Thập Giá. Người chiến thắng bằng cách ở lại trên Thập Giá cho đến cùng. Người ta đã thách thức Người: nếu là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi. Đó là một cám dỗ rất sâu. Bởi vì trong suy nghĩ của con người, nếu có quyền năng thì phải dùng quyền năng để thoát khỏi đau khổ. Nếu có sức mạnh thì phải chứng minh sức mạnh. Nếu mình đúng thì phải làm cho người khác biết mình đúng. Nếu bị xúc phạm thì phải đáp trả. Nếu bị phản bội thì phải cho người kia biết hậu quả. Nếu bị coi thường thì phải tìm cách lấy lại danh dự. Nhưng Đức Giêsu không xuống khỏi Thập Giá, không phải vì Người không thể xuống, nhưng vì nếu Người xuống, Người sẽ cứu mình mà không cứu được chúng ta. Người ở lại, vì tình yêu của Người lớn hơn bản năng tự bảo vệ mình. Thắng lợi lớn nhất của Đức Giêsu không phải là làm cho những kẻ đóng đinh Người phải khiếp sợ, nhưng là không để lòng mình trở thành giống họ. Họ dùng bạo lực, Người không dùng bạo lực. Họ dùng hận thù, Người trả bằng yêu thương. Họ kết án, Người tha thứ. Họ tước đoạt sự sống, Người trao ban sự sống. Họ muốn biến Người thành một kẻ thất bại, nhưng họ không thể lấy đi khỏi Người điều quan trọng nhất: tự do để yêu đến cùng.
Có lẽ chúng ta cần học lại thế nào là thành công và thế nào là thất bại. Nhiều khi chúng ta đã dùng thước đo của thế gian để đo đời sống đức tin. Ta tưởng thành công là được nhiều người biết đến, được trọng vọng, được khen ngợi, được làm những việc lớn, có ảnh hưởng, có danh tiếng. Ta tưởng thất bại là bị quên lãng, bị mất chức, mất tiền, mất cơ hội, bệnh tật, tuổi già, phải rút lui, phải im lặng, không còn được người ta chú ý. Nhưng Thập Giá đảo lộn những thước đo ấy. Đức Giêsu trên Thập Giá không còn gì mà người đời gọi là thành công. Người không có tiền. Không có địa vị. Không có tự do. Không còn đám đông tung hô. Không còn hình ảnh đẹp đẽ. Thậm chí áo cũng bị lột đi. Nhưng chính lúc không còn gì để giữ cho mình, Người lại trao được tất cả cho nhân loại. Có những lúc cuộc đời ta cũng phải đi qua những giai đoạn như thế. Có những thứ ta từng nghĩ không thể mất, rồi cũng mất. Có những người ta từng nghĩ sẽ đi với mình suốt đời, rồi cũng rời đi. Có những điều ta từng xây dựng bằng bao công sức, rồi một ngày tan vỡ. Có những lúc tuổi tác lấy đi sức khỏe, bệnh tật lấy đi khả năng làm việc, thất bại lấy đi sự tự tin, hiểu lầm lấy đi danh dự, cái chết của người thân lấy đi một phần trái tim. Và khi những điều ấy xảy đến, ta dễ nghĩ đời mình chẳng còn gì. Nhưng Thập Giá nói với ta rằng không phải cái gì mất bên ngoài cũng là thất bại bên trong. Đôi khi bên ngoài đang mất đi nhưng bên trong đang được sinh ra một điều lớn hơn: một lòng khiêm nhường sâu hơn, một đức tin thật hơn, một trái tim biết cảm thông hơn, một sự tự do khỏi cái tôi, một sự phó thác mà trước đây ta chưa bao giờ có.
“Đã hoàn tất.” Lời ấy đặc biệt đẹp vì Đức Giêsu nói khi Người không còn có thể làm thêm một phép lạ nào trước mắt dân chúng. Người không thể đi thêm một bước. Không thể giảng thêm một bài. Không thể chữa thêm một người bệnh. Không thể đi đến thêm một làng nào. Hai bàn tay từng chạm vào những người phong giờ bị đóng chặt. Đôi chân từng đi khắp miền Galilê giờ không thể nhúc nhích. Miệng từng giảng những lời làm lay động lòng người giờ chỉ còn đủ sức nói vài câu ngắn ngủi. Vậy mà Người nói: “Đã hoàn tất.” Điều này an ủi biết bao cho những ai đang ở tuổi già, bệnh tật, hoặc trong một giai đoạn mà khả năng hoạt động bị thu hẹp. Giá trị của một đời người không chỉ nằm ở chỗ mình làm được bao nhiêu việc. Có lúc Thiên Chúa được tôn vinh không phải qua những gì ta làm, mà qua cách ta đón nhận điều mình không còn làm được nữa. Có lúc sứ mạng cuối cùng của một con người không phải là chạy, mà là nằm yên. Không phải là nói nhiều, mà là âm thầm chịu đựng. Không phải là giải quyết mọi chuyện, mà là phó thác những chuyện mình không còn khả năng giải quyết. Người ta thường hỏi người già: “Cụ còn làm được gì?” Câu hỏi ấy nghe tưởng bình thường nhưng đôi khi rất tàn nhẫn. Vì con người không phải là cái máy chỉ có giá trị khi còn sản xuất. Một người già không còn làm được nhiều việc vẫn có thể yêu, cầu nguyện, chúc lành, tha thứ, trao lại kinh nghiệm, đón nhận sự chăm sóc với lòng biết ơn, và chuẩn bị ra đi trong bình an. Một người bệnh nặng không còn đóng góp theo cách trước kia vẫn có thể trở thành trường học của tình yêu cho cả gia đình. Một người nằm trên giường bệnh có thể dạy con cháu thế nào là kiên nhẫn, thế nào là phó thác, thế nào là buông bỏ. Và có khi đó chính là phần “hoàn tất” đẹp nhất của cuộc đời.
Chúng ta thường rất sợ những gì chưa hoàn tất. Ta muốn mọi chuyện phải trọn vẹn theo ý mình. Muốn con cái phải nên người đúng theo kế hoạch. Muốn công việc phải có kết quả. Muốn người khác phải hiểu mình. Muốn những hy sinh của mình phải được ghi nhận. Muốn những điều dang dở phải có một cái kết đẹp. Nhưng đời người hiếm khi khép lại mọi chuyện theo cách ta mong. Có những lời xin lỗi chưa kịp nói. Có những người chưa kịp gặp lại. Có những dự định còn dang dở. Có những việc ta xây mà người khác hưởng. Có những hạt giống ta gieo nhưng không bao giờ được thấy mùa gặt. Khi ấy, ta cần nhớ rằng “đã hoàn tất” không có nghĩa là mọi việc đã diễn ra đúng kế hoạch của ta. Đức Giêsu nói “đã hoàn tất” trong khi Giêrusalem vẫn còn đầy bất công, đế quốc Rôma vẫn còn cai trị, các môn đệ vẫn còn sợ hãi, Phêrô vẫn chưa kịp sửa chữa việc chối Thầy, Giuđa đã chết trong tuyệt vọng, và thế gian dường như vẫn chẳng thay đổi. Nhưng công trình Cha trao cho Người đã được hoàn tất vì Người đã yêu đến cùng. Có lẽ cuối đời, điều Thiên Chúa hỏi ta cũng không phải: “Con đã làm xong tất cả chưa?” mà là: “Con đã yêu đến cùng chưa?” Không ai làm xong tất cả mọi chuyện. Nhưng mỗi người có thể cố gắng yêu đến cùng trong phần đời được trao cho mình.
Thập Giá còn cho ta hiểu rằng có những chiến thắng rất âm thầm. Thế gian thích những chiến thắng có tiếng vỗ tay. Một đội bóng chiến thắng thì có cúp. Một người thành đạt có danh tiếng. Một doanh nghiệp thành công có con số. Một người nổi tiếng có hàng triệu người theo dõi. Nhưng những chiến thắng quan trọng nhất của đời người thường chẳng ai biết. Một người chồng đang nóng giận nhưng quyết định im lặng để không nói câu làm vợ đau: đó là một chiến thắng. Một người vợ bị tổn thương nhưng chọn nói chuyện thay vì trả đũa: đó là một chiến thắng. Một người con đang bận nhưng tắt điện thoại để ngồi nghe cha mẹ già kể lại một câu chuyện đã kể nhiều lần: đó là một chiến thắng. Một người bị xúc phạm nhưng không đem chuyện ấy đi bêu xấu người kia: đó là một chiến thắng. Một người biết mình sai và nói được câu “tôi xin lỗi” dù lòng tự ái đang chống lại: đó là một chiến thắng. Một linh mục mệt mỏi nhưng vẫn dịu dàng với người tìm đến: đó là một chiến thắng. Một tu sĩ không ai nhìn thấy vẫn trung thành với giờ cầu nguyện, với bổn phận nhỏ bé hằng ngày: đó là một chiến thắng. Một người bệnh chịu đau nhưng không biến đau khổ của mình thành lý do để làm khổ cả nhà: đó là một chiến thắng. Không có huy chương. Không ai tung hô. Nhưng trên trời, có thể đó là những chiến thắng lớn.
Chúng ta cũng cần cẩn thận trước một cám dỗ rất tinh vi: chỉ tin Chúa khi mọi chuyện bên ngoài đang thuận lợi. Khi làm ăn được, ta bảo Chúa thương. Khi bệnh được chữa, ta nói Chúa nhận lời. Khi gia đình êm ấm, ta thấy Chúa ở gần. Nhưng khi cầu xin mà không được như ý, khi bệnh không khỏi, khi công việc thất bại, khi người mình yêu vẫn rời đi, ta bắt đầu tự hỏi Chúa ở đâu. Thập Giá trả lời rằng Thiên Chúa có thể đang thực hiện công trình sâu nhất chính trong lúc bên ngoài mọi sự dường như đang sụp đổ. Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh không ai thấy Phục Sinh. Không ai đứng dưới chân Thập Giá mà nhìn được vào sáng Chúa Nhật. Đức Maria cũng không được trao cho một lời giải thích chi tiết. Mẹ chỉ đứng đó. Có lẽ đức tin trưởng thành nhất cũng là như vậy: vẫn đứng lại khi chưa hiểu, vẫn ở với Chúa khi chưa thấy kết quả, vẫn tin rằng công trình của Người không kết thúc tại nơi mắt ta chỉ thấy thất bại.
Đôi khi ta mong Chúa cứu mình bằng cách thay đổi hoàn cảnh, nhưng Chúa lại cứu ta bằng cách thay đổi con người bên trong ta. Ta xin Chúa cất một thập giá, Người lại ban sức để vác. Ta xin cho một người thay đổi, Người lại dạy ta kiên nhẫn hơn. Ta xin thoát khỏi một đau khổ, Người lại dùng chính đau khổ ấy để làm ta bớt kiêu ngạo. Ta xin được công nhận, Người để ta đi qua những năm tháng âm thầm để ta biết mình sống vì ai. Ta xin một cánh cửa mở ra, Người để cánh cửa ấy đóng lại để dẫn ta sang một con đường khác. Lúc đang ở giữa biến cố, ta thường không hiểu. Chỉ nhiều năm sau nhìn lại, ta mới nhận ra có những điều tưởng là mất lại là cứu. Có những lần tưởng như bị bỏ rơi lại là lúc Chúa kéo mình ra khỏi một điều không tốt. Có những thất bại làm mình đau nhưng cứu mình khỏi kiêu ngạo. Có những lần mất mát khiến mình khóc nhưng làm mình biết quý những điều thật sự quan trọng. Có những người rời khỏi đời mình để mình học đứng trước mặt Chúa một mình. Có những giai đoạn không ai biết đến để mình học làm việc mà không cần tiếng vỗ tay. Và có những ngày ta tưởng đời mình đang bị tháo rời từng mảnh, nhưng sau này mới hiểu Chúa đang xây lại theo một cách khác.
“Đã hoàn tất” cũng là lời mời gọi chúng ta đừng sống nửa vời. Đức Giêsu không yêu một nửa. Người không vâng phục một nửa. Người không đi đến Canvê rồi dừng lại giữa đường. Người yêu đến cùng. Điều làm một đời người đẹp không phải là bắt đầu hăng hái đến đâu, mà là có trung thành cho đến cuối không. Bao người khởi đầu rất đẹp nhưng không đi đến cùng. Hôn nhân ngày cưới rất đẹp, nhưng điều quyết định là những năm tháng sau đó, khi tuổi trẻ qua đi, sức khỏe thay đổi, những khác biệt lộ ra, lúc người kia không còn hấp dẫn như thuở ban đầu. Ơn gọi ngày khấn, ngày chịu chức rất đẹp, nhưng điều quyết định không phải là tấm hình ngày lễ mà là những năm tháng âm thầm sau đó, khi không còn cảm xúc ban đầu, khi sứ vụ nặng nề, khi người ta hiểu lầm, khi mình phải làm những việc không thích. Đức tin ngày lãnh bí tích thật đẹp, nhưng điều quyết định là khi cầu nguyện không còn cảm giác, khi Chúa im lặng, khi cuộc đời xảy ra những điều ta không hiểu. “Đã hoàn tất” chỉ có thể được nói bởi một người đã không bỏ cuộc giữa đường.
Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, ta cũng được mời gọi xét xem ta đang sợ thất bại nào. Có khi ta sợ bị người khác nghĩ xấu hơn là sợ mình sống sai trước mặt Chúa. Ta sợ mất danh dự hơn là mất bình an. Ta sợ thua người khác hơn là thua chính cái tôi của mình. Ta muốn thắng trong tranh luận nhưng lại thua trong tình nghĩa. Ta muốn chứng minh mình đúng nhưng làm tan vỡ một gia đình. Ta muốn giữ thể diện nhưng đánh mất một người thân. Ta muốn bảo vệ quyền lợi của mình đến cùng nhưng làm chết lòng thương xót. Có những cuộc thắng rất lớn bên ngoài nhưng là thất bại đau đớn bên trong. Và có những cuộc thua bên ngoài lại là chiến thắng của một tâm hồn. Người xin lỗi trước có thể bị xem là người thua, nhưng họ đã thắng được tự ái. Người tha thứ có thể bị xem là yếu, nhưng họ đã thắng được hận thù. Người chọn trung thực có thể mất một cơ hội, nhưng họ giữ được lương tâm. Người từ chối một khoản lợi bất chính có thể nghèo hơn, nhưng họ giàu hơn trong lòng. Người sống ngay lành có thể bị chậm hơn trên đường đời, nhưng họ không phải cúi mặt khi đứng trước Chúa.
Cuối cùng, Thập Giá dạy chúng ta rằng cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Đức Giêsu cúi đầu và trao Thần Khí. Nhìn từ dưới đất, mọi sự im lặng. Nhưng trong sự im lặng ấy, một thế giới mới đang được mở ra. Vì thế người Kitô hữu không phải là người không đau trước thất bại, không khóc trước mất mát, không sợ trước cái chết. Đức tin không biến ta thành đá. Đức Maria dưới chân Thập Giá chắc chắn đau. Các môn đệ chắc chắn hoang mang. Nhưng người có đức tin biết rằng những gì mắt thấy chưa bao giờ là toàn bộ câu chuyện. Mộ đá chưa phải trang cuối. Thứ Sáu chưa phải ngày cuối. Bóng tối chưa phải thực tại cuối cùng. Có những ngày đời ta cũng như chiều Canvê: không thấy lối ra, không thấy tương lai, không còn lời nào để nói. Khi ấy, chỉ cần nhớ một điều: Chúa đã từng biến nơi tưởng là thất bại tuyệt đối thành nơi cứu độ lớn lao nhất. Nếu Người đã làm được điều ấy với Thập Giá, Người cũng có thể làm điều ấy với những mảnh vỡ của đời ta.
Có lẽ một ngày nào đó, mỗi chúng ta cũng sẽ đi đến khoảnh khắc cuối cùng. Những thành công từng làm ta tự hào sẽ ở lại. Tiền bạc ở lại. Chức vụ ở lại. Danh tiếng ở lại. Những tranh chấp từng làm ta mất ngủ cũng trở thành vô nghĩa. Khi ấy, điều đẹp nhất không phải là có thể nói: “Tôi đã có tất cả”, nhưng là có thể thưa với Chúa: “Con đã cố gắng sống phần đời Chúa trao. Con đã yêu những người Chúa gửi đến. Con đã ngã nhưng đã đứng lên. Con đã sai nhưng biết xin tha thứ. Con đã đau nhưng không để đau khổ biến mình thành cay đắng. Con đã mất nhiều thứ nhưng không muốn đánh mất Chúa. Và giờ đây, con trao lại đời con trong tay Ngài.” Đó sẽ là một “đã hoàn tất” rất đẹp.
Xin cho chúng ta đừng quá vội gọi một biến cố là thất bại chỉ vì nó làm ta đau. Đừng quá vội nghĩ Chúa bỏ mình chỉ vì lời cầu nguyện chưa được đáp theo cách mình muốn. Đừng quá vội kết luận cuộc đời mình vô ích chỉ vì không còn làm được những điều trước đây từng làm. Hãy nhìn Đức Giêsu trên Thập Giá. Bên ngoài, Người chẳng còn gì. Bên trong, Người có tất cả: tình yêu, sự tự do, sự trung thành, sự vâng phục, lòng tha thứ và niềm tín thác. Chính vì thế, Người có thể nói: “Đã hoàn tất.” Xin cho ta cũng biết sống sao để mỗi ngày hoàn tất một chút điều Chúa trao: hoàn tất một bổn phận nhỏ, một lời xin lỗi còn thiếu, một cuộc hòa giải còn dang dở, một việc lành đã trì hoãn, một lời cầu nguyện đã quên, một sự tha thứ còn giữ lại, một trách nhiệm còn trốn tránh. Và nếu có những ngày bên ngoài mọi sự dường như thất bại, xin cho ta vẫn tin rằng ở nơi sâu nhất, Chúa có thể đang thực hiện một chiến thắng mà mắt ta chưa nhìn thấy. Bởi vì từ chiều Canvê cho đến tận hôm nay, Thập Giá vẫn nói với nhân loại một điều không bao giờ cũ: có những thất bại chỉ là chiếc màn che trước một chiến thắng lớn hơn; có những cái chết chỉ là cánh cửa của sự sống; có những điều tưởng như kết thúc lại chính là lúc Thiên Chúa bắt đầu; và có những lúc, khi cả thế gian tưởng mọi sự đã hết, người có đức tin lại nghe Đức Kitô thì thầm: “Đã hoàn tất.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐÃ HOÀN TẤT – KHÔNG PHẢI ĐÃ THẤT BẠI
Tin Mừng: Ga 19,30
“Đức Giêsu nếm giấm xong thì nói: ‘Thế là đã hoàn tất!’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.”
Có lẽ trong tất cả những lời Đức Giêsu đã nói từ trên Thập Giá, câu “Đã hoàn tất” là một trong những câu ngắn nhất, nhưng cũng là một trong những câu chứa đựng nhiều mầu nhiệm nhất. Chỉ ba tiếng thôi, nhưng ba tiếng ấy như gom lại cả một đời của Đức Giêsu, từ máng cỏ Bêlem đến căn nhà nhỏ Nadarét, từ những con đường bụi bặm miền Galilê đến những đêm dài cầu nguyện, từ những bước chân không biết mệt mỏi đi tìm người nghèo, người bệnh, người tội lỗi, cho đến con đường cuối cùng dẫn lên đồi Canvê. “Đã hoàn tất.” Nghe bên ngoài, người ta có thể tưởng đó là lời của một người đã hết sức. Một thân xác đã bị đánh đến kiệt quệ, một đôi chân đã không còn đứng nổi, một đôi tay đã bị đóng chặt vào gỗ, một trái tim đã gần ngừng đập. Chung quanh Người không có một khung cảnh nào giống chiến thắng. Không tiếng vỗ tay. Không vòng nguyệt quế. Không đoàn quân khải hoàn. Không một đám đông tung hô. Những tiếng “Hosanna” của vài ngày trước đã biến mất. Những người từng chen nhau nghe Người giảng giờ chẳng thấy đâu. Các môn đệ phần lớn đã chạy trốn. Phêrô, người từng thề rằng dù mọi người bỏ Thầy thì ông cũng không, đã chối Thầy. Giuđa đã bán Thầy. Dân chúng chế giễu. Lính tráng chia nhau áo Người. Các thủ lãnh tôn giáo nhìn lên Thập Giá và nghĩ rằng cuối cùng họ đã loại được một người gây phiền toái. Nếu chỉ nhìn bằng mắt người đời, Canvê là thất bại hoàn toàn. Một người ba mươi mấy tuổi chết nhục nhã giữa hai tên gian phi. Một cuộc đời dường như bị cắt ngang. Một sứ mạng dường như bị dập tắt. Một nhóm môn đệ tan tác. Một giấc mơ về Nước Thiên Chúa tưởng như chấm hết. Thế mà chính lúc ấy Đức Giêsu không nói: “Thất bại rồi.” Người không nói: “Mọi sự kết thúc rồi.” Người không nói: “Cha ơi, con đã cố hết sức nhưng không thành.” Người nói một câu hoàn toàn khác: “Đã hoàn tất.” Đó không phải tiếng thở dài của thất bại. Đó là lời tuyên bố của một tình yêu đã đi đến cùng.
Chúng ta cần đứng lâu dưới chân Thập Giá mới hiểu được sự khác nhau rất lớn giữa hai chữ “kết thúc” và “hoàn tất”. Có những điều kết thúc vì người ta bỏ cuộc. Có những điều kết thúc vì không còn sức. Có những điều kết thúc vì thất bại. Nhưng cũng có những điều kết thúc vì đã hoàn thành. Một người thợ đặt xuống dụng cụ sau khi hoàn thành tác phẩm của mình. Một người mẹ ngồi xuống bên chiếc giường của đứa con sau một đêm dài chăm sóc, mệt lả nhưng bình an vì đã làm tất cả những gì tình yêu đòi hỏi. Một người cha cả đời vất vả nuôi con, đến tuổi già nhìn con cái trưởng thành, chẳng có gì lớn lao để khoe nhưng trong lòng có thể nói: “Phần của tôi, tôi đã làm.” Một linh mục đi hết một đời mục vụ, tóc bạc, sức yếu, chẳng để lại công trình đồ sộ nào, nhưng nếu đã trung thành với bàn thờ, với tòa giải tội, với người nghèo, với đoàn chiên được trao phó, thì ngày cuối đời cũng có thể bình an thưa: “Lạy Chúa, con đã cố sống phần đời Chúa trao.” Hoàn tất không có nghĩa là thành công theo tiêu chuẩn thế gian. Hoàn tất có nghĩa là trung thành với điều mình được trao. Đức Giêsu không hoàn tất bằng cách làm cho mọi người yêu mến Người. Người hoàn tất bằng cách yêu mọi người cho đến cùng. Người không hoàn tất bằng cách tránh được đau khổ. Người hoàn tất bằng cách không để đau khổ làm Người ngừng yêu. Người không hoàn tất vì kẻ thù bị tiêu diệt. Người hoàn tất vì ngay giữa lòng hận thù, Người vẫn tha thứ. Người không hoàn tất vì cứu được chính mình khỏi Thập Giá. Người hoàn tất vì trên Thập Giá Người đã trao ban chính mình.
Chúng ta sống trong một thế giới rất thích đo giá trị của đời người bằng kết quả nhìn thấy được. Làm việc gì cũng muốn thấy thành quả. Hy sinh gì cũng muốn được ghi nhận. Cho ai điều gì cũng mong người ấy hiểu. Nuôi con mong con nên người như ý mình. Yêu thương mong được yêu thương lại. Làm việc mục vụ mong cộng đoàn phát triển. Giúp đỡ ai mong họ biết ơn. Gieo một điều tốt mong được thấy nó sinh hoa trái ngay trước mắt mình. Bởi thế, chúng ta rất dễ nản lòng khi những điều mình làm dường như chẳng đi đến đâu. Có những người mẹ đã dành cả đời cho con, đến lúc tuổi già lại thấy con cái xa cách. Có những người cha làm lụng cả đời, chẳng mua được nhà lớn, chẳng để lại gia tài đáng kể, chỉ để lại một tấm lưng còng và đôi bàn tay chai. Có những người vợ đã âm thầm chịu đựng rất nhiều để gìn giữ gia đình, nhưng chẳng ai biết bao đêm chị đã khóc một mình. Có những người chồng cố sống trách nhiệm, sáng đi tối về, gánh bao lo toan mà hiếm khi nghe một lời cảm ơn. Có những linh mục miệt mài với một giáo xứ nghèo, bao năm trời chẳng có công trình nào khiến người ta nhắc tên, chỉ có những Thánh Lễ mỗi sáng, những giờ giải tội âm thầm, những lần xức dầu lúc nửa đêm, những buổi ngồi nghe một người đau khổ kể đi kể lại một câu chuyện. Có những tu sĩ dành tuổi xuân cho người bệnh, trẻ em, người già, người khuyết tật, sống một đời mà báo chí không bao giờ viết tới. Có những giáo lý viên đứng lớp hết năm này qua năm khác, dạy những đứa trẻ đôi khi chẳng nhớ hết những gì mình nói. Có những người phục vụ cộng đoàn làm bao việc không tên, đến khi mọi việc tốt đẹp thì chẳng ai nhớ người đã âm thầm dọn đường. Và đôi lúc, ngay chính những người ấy cũng tự hỏi: “Mình làm như vậy để làm gì? Có ích gì không? Có ai biết không? Có thay đổi được gì không?” Canvê trả lời: đừng vội gọi là vô nghĩa điều mà tình yêu đã làm.
Có một điều rất đẹp nơi Đức Giêsu: Người không đợi hoa trái xuất hiện trước mắt rồi mới tin rằng đời mình có ý nghĩa. Khi Người nói “Đã hoàn tất”, Hội Thánh chưa xuất hiện rực rỡ. Các Tông đồ chưa lên đường truyền giáo. Phaolô vẫn chưa trở lại. Tin Mừng chưa được rao giảng khắp các dân tộc. Hàng triệu người sẽ tin vào Đức Kitô còn chưa sinh ra. Biết bao vị tử đạo, bao vị thánh, bao người được cứu nhờ mầu nhiệm Thập Giá vẫn còn thuộc về tương lai. Ngay lúc Đức Giêsu nói “Đã hoàn tất”, tất cả những hoa trái ấy vẫn đang nằm trong bóng tối của ngày mai. Người chết mà chưa nhìn thấy bằng mắt phàm những gì cái chết của Người sẽ sinh ra. Điều này thật quan trọng cho đời sống chúng ta. Không phải mọi hạt giống ta gieo đều nảy mầm khi ta còn đứng đó để nhìn. Có những lời dạy của cha mẹ phải hai mươi năm sau người con mới hiểu. Có những giọt nước mắt của một người mẹ chỉ khi mẹ mất rồi người con mới nhớ. Có những câu nói của thầy cô mà lúc nhỏ học trò chẳng để tâm, đến giữa một khúc quanh nào đó của đời mình mới bỗng nghe vang lại. Có những bài giảng hôm nay tưởng như không chạm đến ai, nhưng có thể nhiều năm sau một câu nhỏ bất chợt trở thành ánh sáng cho một người trong giờ tối tăm. Có những việc lành ta làm mà chính ta không bao giờ biết nó đã cứu một người khỏi tuyệt vọng thế nào. Có những lần ta nhịn một câu để giữ hòa khí, chẳng ai biết đó là một chiến thắng. Có những lần ta tha thứ mà người kia vẫn chẳng thay đổi, nhưng chính sự tha thứ ấy đã cứu trái tim ta khỏi trở nên cay độc. Có những hy sinh chẳng bao giờ lên sân khấu. Có những thánh thiện chẳng bao giờ được gọi tên. Có những cuộc đời nhìn bề ngoài chẳng làm nên “chuyện lớn”, nhưng trước mặt Thiên Chúa đã hoàn tất một câu chuyện rất đẹp.
Chúng ta thường nghĩ điều có giá trị phải là điều người khác nhìn thấy. Nhưng phần lớn những điều làm nên một đời người lại diễn ra trong âm thầm. Một gia đình không được giữ lại nhờ vài ngày lễ lớn, nhưng nhờ hàng ngàn điều rất nhỏ được lặp lại trong nhiều năm: một bữa cơm được nấu dù mệt, một ly nước được đặt cạnh người bệnh, một người thức đợi người kia về, một lời xin lỗi được nói ra dù cái tôi rất đau, một lần nhường nhịn khi hoàn toàn có thể thắng, một buổi tối cha mẹ ngồi nghe con kể một câu chuyện chẳng có gì quan trọng, một cuộc điện thoại cho người già, một cánh cửa được mở, một chén cơm được sẻ chia, một lời cầu nguyện cho một người chẳng bao giờ biết mình đang được cầu nguyện cho. Nước Thiên Chúa được xây rất nhiều bằng những viên gạch nhỏ như vậy. Người đời có thể chẳng ghi chép. Nhưng Thiên Chúa không quên.
Đau nhất trong những hy sinh âm thầm không phải chỉ là mệt. Đau nhất là cảm giác không ai hiểu. Ta có thể chịu cực rất nhiều nếu biết có ai đó hiểu mình. Nhưng khi đã hy sinh mà còn bị hiểu lầm, đã cho đi mà còn bị trách móc, đã cố giữ gìn mà lại bị xem như nguyên nhân gây rắc rối, lúc ấy lòng người dễ đổ vỡ. Đức Giêsu hiểu nỗi đau ấy hơn bất cứ ai. Người chữa bệnh nhưng bị cho là dựa thế quỷ. Người đến cứu nhưng bị kết án là phá hoại. Người nói sự thật nhưng bị xem là phạm thượng. Người yêu những người thuộc về mình nhưng bị chính người mình chọn phản bội. Người vô tội nhưng bị xử như tội nhân. Người là Con Thiên Chúa nhưng bị chế nhạo: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá đi!” Đến cuối cùng, ngay cả tình yêu của Người cũng bị hiểu sai. Nhưng Đức Giêsu không để sự hiểu lầm của con người quyết định giá trị việc Người làm. Đây có lẽ là bài học chúng ta phải học rất lâu: giá trị của một hy sinh không tùy thuộc vào việc người khác có nhận ra nó hay không. Nếu một điều được làm vì yêu và trong sự thật, Thiên Chúa nhìn thấy. Nếu một việc tốt không được cảm ơn, nó không vì thế mà mất giá trị. Nếu một giọt nước mắt rơi trong đêm không ai thấy, nó không vì thế mà vô nghĩa. Nếu một đời trung thành chẳng được ca tụng, nó không vì thế mà nhỏ bé trước mặt Chúa.
Nhiều người trong chúng ta có những Thập Giá không ai biết. Có người ngoài mặt vẫn cười nhưng trong lòng đã kiệt sức. Có người mỗi ngày vẫn đi làm bình thường nhưng đang gánh một gia đình đầy những lo âu. Có người chăm một người thân bệnh nhiều năm, ngày nào cũng một công việc ấy, thay quần áo, bón từng muỗng cháo, nâng người bệnh dậy rồi đặt xuống, đêm thức nhiều hơn ngủ. Có người sống với một người thân có tính khí khó khăn và âm thầm chọn nhẫn nại mỗi ngày. Có người mang một vết thương trong hôn nhân nhưng không muốn biến mình thành người cay nghiệt. Có người làm cha làm mẹ và mỗi ngày đau vì một đứa con đi sai đường, chẳng biết làm gì hơn ngoài cầu nguyện. Có người mang một nỗi cô đơn rất lớn giữa một căn nhà đầy người. Có người đang chiến đấu từng ngày với một quá khứ không muốn nhớ. Có người bị hiểu lầm nhưng không thể giải thích. Có người bị tổn thương nhưng chọn không trả thù. Những con người ấy có thể nghĩ rằng đời mình chẳng làm được gì lớn lao. Nhưng biết đâu chính trong những điều nhỏ bé ấy, câu “Đã hoàn tất” đang từng ngày được viết vào đời họ.
Thập Giá dạy ta rằng không phải điều gì thất bại bên ngoài cũng là thất bại bên trong. Có những chiến thắng được mua bằng việc chịu thua. Có những gia đình được cứu vì một người chấp nhận không tranh phần đúng đến cùng. Có những tình bạn được giữ vì một người hạ cái tôi xuống trước. Có những cộng đoàn bình an vì vài người chọn im lặng thay vì gieo thêm một lời làm tổn thương. Có những đứa trẻ lớn lên lành mạnh vì cha mẹ đã từ bỏ rất nhiều ước muốn riêng. Có những người được sống vì một người khác đã chịu thiệt. Có những ơn gọi đứng vững vì những đêm chẳng ai biết có một người đã quỳ rất lâu trước Nhà Tạm. Nhìn bên ngoài, người hy sinh thường là người “mất”: mất thời gian, mất tiền bạc, mất cơ hội, mất phần hơn, mất tiếng nói, mất cả sức khỏe. Nhưng dưới ánh sáng Tin Mừng, không phải cái mất nào cũng là mất. Hạt lúa mất hình dạng của mình để trở thành mùa gặt. Ngọn nến mất đi từng chút để cho căn phòng có ánh sáng. Cha mẹ mất tuổi trẻ để con cái trưởng thành. Người mục tử mất thời gian riêng để đoàn chiên được chăm sóc. Đức Kitô mất mạng sống để nhân loại được sống. Nếu chỉ nhìn cái mất, ta sẽ thấy Thập Giá. Nếu nhìn bằng đức tin, ta sẽ thấy sự sống đang được sinh ra từ Thập Giá ấy.
“Đã hoàn tất” cũng nhắc chúng ta rằng điều quan trọng nhất trong đời không phải là làm được tất cả, nhưng làm trọn phần Thiên Chúa trao cho mình. Không ai trong chúng ta có thể giải quyết mọi đau khổ của thế giới. Một người cha không thể bảo đảm con mình suốt đời không vấp ngã. Một người mẹ không thể đi thay cuộc đời của con. Một linh mục không thể làm cho mọi người trong giáo xứ trở thành thánh. Một người thầy không thể làm cho tất cả học trò thành công. Một người tốt không thể khiến mọi người chung quanh trở nên tốt. Có những việc vượt ngoài khả năng chúng ta. Có những người chúng ta yêu nhưng không cứu họ theo cách chúng ta muốn. Có những cánh cửa ta gõ mãi vẫn không mở. Có những lời cầu nguyện phải chờ rất lâu. Có những câu chuyện ta sẽ rời khỏi đời này mà vẫn chưa biết đoạn kết. Vì thế, bình an không đến khi ta kiểm soát được mọi kết quả. Bình an đến khi ta có thể thưa với Chúa: “Con đã làm phần của con. Phần còn lại, con trao cho Chúa.”
Có lẽ nhiều người đang mệt bởi vì cứ gánh cả phần của Thiên Chúa. Ta muốn làm điều tốt, nhưng còn muốn điều tốt ấy phải sinh kết quả đúng thời gian ta muốn. Ta yêu một người, nhưng còn muốn người ấy phải thay đổi theo điều ta thấy là tốt. Ta gieo một hạt, nhưng ngày nào cũng đào lên xem nó đã mọc chưa. Ta cầu nguyện và định luôn cho Chúa thời hạn trả lời. Rồi khi không thấy kết quả, ta cho rằng tất cả là vô ích. Đức Giêsu trên Thập Giá dạy một thái độ khác. Người làm trọn phần của Người rồi trao phần còn lại vào tay Chúa Cha. “Đã hoàn tất.” Tôi đã yêu đến cùng. Tôi đã nói điều phải nói. Tôi đã phục vụ. Tôi đã tha thứ. Tôi đã cho đi chính mình. Tôi đã uống chén Cha trao. Tôi đã đi con đường Cha muốn. Còn hoa trái của Thập Giá, Cha sẽ làm cho nó trổ sinh.
Thật ra, trong đời sống thiêng liêng, nhiều khi điều Thiên Chúa hỏi không phải: “Con đã thành công chưa?” mà là: “Con có trung thành không?” Hai câu hỏi ấy khác nhau rất xa. Thành công phụ thuộc rất nhiều điều ngoài tầm tay chúng ta; trung thành nằm trong tự do của chúng ta. Một linh mục có thể không có một giáo xứ nổi tiếng nhưng vẫn là linh mục trung thành. Một người cha có thể nghèo nhưng vẫn là người cha tuyệt vời. Một người mẹ có thể không ngăn được con mình lầm đường nhưng vẫn là người mẹ đã yêu đến cùng. Một cuộc hôn nhân có thể đi qua nhiều năm khô khan mà đôi vợ chồng vẫn trung thành với nhau, và sự trung thành ấy quý hơn rất nhiều cảm xúc ban đầu. Một người có thể cầu nguyện suốt nhiều năm mà chẳng cảm thấy gì, nhưng vẫn quỳ xuống mỗi ngày, và chính việc quỳ xuống khi chẳng còn cảm xúc mới cho thấy đức tin đã đi sâu đến đâu. Thiên Chúa không chỉ nhìn những kết quả cuối cùng. Người nhìn từng bước chân ta đi trong trung tín.
Bởi thế, đừng coi thường những ngày bình thường. Đời người phần lớn không được làm nên bởi những ngày phi thường mà bởi những ngày rất giống nhau. Thức dậy. Đi làm. Chăm con. Nấu cơm. Dọn nhà. Gọi điện hỏi thăm cha mẹ. Chuẩn bị bài giảng. Dâng Thánh Lễ. Ngồi tòa. Đi thăm bệnh. Làm công việc văn phòng. Nhịn một câu. Cười với một người mình không thích lắm. Cố giữ lòng khỏi phán xét. Đọc một kinh khi đã buồn ngủ. Xin lỗi khi biết mình sai. Bắt đầu lại sau một lần vấp ngã. Những điều ấy không gây tiếng vang. Nhưng một đời thánh thiện được kết bằng những sợi chỉ bé nhỏ như thế. Chẳng ai thành thánh trong một buổi chiều. Người ta thành thánh bằng ngàn lần nhỏ bé chọn điều tốt thay vì điều dễ, chọn yêu thương thay vì ích kỷ, chọn nhẫn nại thay vì nóng giận, chọn tha thứ thay vì trả đũa, chọn ở lại thay vì bỏ đi.
Có khi chúng ta chỉ nhìn thấy một cuộc đời rách nát, còn Thiên Chúa nhìn thấy một tấm thảm đang được dệt. Ta chỉ nhìn mặt trái với những sợi chỉ chằng chịt không ra hình dáng, còn Người nhìn từ phía bên kia. Ta thấy những thất bại rời rạc. Người thấy một hành trình. Ta thấy những giọt nước mắt vô nghĩa. Người biết chúng đang tưới xuống mảnh đất nào. Ta thấy những lời cầu nguyện như bay vào im lặng. Người biết chúng đang mở những cánh cửa nào mà mắt ta chưa nhìn thấy. Ta thấy một Thập Giá chiều thứ Sáu. Người đã nhìn thấy bình minh Phục Sinh.
Và đây là điều cần nhớ: Phục Sinh không làm cho Thập Giá trở thành giả. Đức Giêsu thực sự đau. Người thực sự cô đơn. Người thực sự chết. Đức tin Kitô giáo không bảo chúng ta giả vờ rằng đau khổ không đau. Khi một người mẹ mất con, ta không nói với bà rằng đừng buồn vì Chúa có chương trình. Khi một gia đình tan vỡ, không thể dùng vài câu đạo đức để che lấp vết thương. Khi một người đã hy sinh nhiều năm nhưng bị phản bội, không thể nói nhẹ nhàng rằng “hãy vui lên”. Thập Giá là thật. Nước mắt là thật. Những thất vọng là thật. Nhưng Tin Mừng cho ta quyền tin rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Thứ Sáu Tuần Thánh là thật, nhưng không phải ngày cuối cùng của câu chuyện. Ngôi mộ là thật, nhưng không phải địa chỉ cuối cùng của Đức Kitô. “Đã hoàn tất” không phải “mọi sự đã tiêu tan”. Nó có nghĩa là: phần của tình yêu đã được thực hiện trọn vẹn; từ đây, quyền năng Thiên Chúa sẽ làm phần còn lại.
Có những lúc trong đời ta sẽ không còn sức để làm điều gì lớn. Tuổi già đến. Sức khỏe suy giảm. Những khả năng ngày trước không còn. Người từng chạy ngược chạy xuôi giờ chỉ ngồi một chỗ. Người từng giúp người khác giờ phải để người khác giúp mình. Người từng giảng nói hùng hồn có thể đến lúc chỉ còn đọc được vài kinh nhỏ. Và rất dễ cảm thấy mình vô dụng. Nhưng một đời người không mất giá trị khi không còn “làm được” nhiều. Đức Giêsu trong những giờ cuối trên Thập Giá cũng gần như không còn làm điều gì theo nghĩa thông thường: hai tay không thể chữa bệnh, đôi chân không thể đi rao giảng, thân thể không thể cúi xuống rửa chân. Nhưng chính lúc không còn “làm” được gì, Người đang thực hiện điều lớn nhất: hiến mình. Đây là một Tin Mừng đặc biệt cho người già, người bệnh, người đau yếu, người phải nằm một chỗ. Giá trị đời người không chỉ nằm ở năng suất. Có khi sự hiện diện, sự chịu đựng trong đức tin, lời cầu nguyện âm thầm và việc phó thác chính mình đã là một của lễ vô cùng quý giá.
Chúng ta cũng phải cẩn thận đừng lãng mạn hóa hy sinh. Tin Mừng không dạy chúng ta tìm đau khổ chỉ vì đau khổ. Thiên Chúa không vui vì con người bị hành hạ. Đức Giêsu chữa người bệnh, bênh vực người yếu, giải thoát người bị áp bức. Có những hoàn cảnh bất công cần phải thay đổi. Có những tương quan độc hại cần những ranh giới lành mạnh. Có những sự im lặng không phải nhân đức mà là dung túng cho điều ác. Thập Giá không phải cái cớ để bắt người khác chịu đựng bất công. Điều làm Thập Giá của Đức Giêsu có sức cứu độ không phải vì đau càng nhiều càng tốt, nhưng vì giữa đau khổ Người vẫn yêu, vẫn tự do trao hiến, vẫn trung tín với Chúa Cha, vẫn không để hận thù sinh thêm hận thù. Điều thánh hóa hy sinh là tình yêu.
Vậy nếu hôm nay có ai đang cảm thấy những gì mình làm chẳng ai biết, hãy nhìn lên Đức Kitô. Nếu có ai đã mệt vì hy sinh cho một gia đình nhưng không được công nhận, hãy nhìn lên Người. Nếu có người đã làm điều đúng mà vẫn chịu thiệt, hãy nhìn lên Người. Nếu có linh mục nào đang thấy sứ vụ của mình chẳng sinh hoa trái như mong đợi, hãy nhìn lên Người. Nếu có cha mẹ nào đang đau vì đứa con mình từng chăm chút lại đi một con đường khác, hãy nhìn lên Người. Nếu có người đã cầu nguyện cho một người thân rất lâu mà chưa thấy họ thay đổi, hãy nhìn lên Người. Không phải để tự ru ngủ mình, nhưng để nhớ một chân lý: không điều gì được làm trong tình yêu mà mất đi trước mặt Thiên Chúa.
Đến một ngày, tất cả chúng ta cũng sẽ phải nói câu cuối cùng của cuộc đời. Ngày ấy, những gì người đời dùng để đánh giá chúng ta sẽ trở nên rất nhỏ. Bao nhiêu tiền đã kiếm sẽ ở lại. Bao nhiêu chức danh sẽ ở lại. Bao nhiêu lời khen sẽ ở lại. Những cuộc tranh cãi xem ai đúng ai sai rồi cũng ở lại. Những chiếc ghế ta từng ngồi sẽ có người khác ngồi. Căn phòng từng mang tên ta sẽ có người khác sử dụng. Điện thoại ta từng giữ không rời tay sẽ nằm đâu đó. Những điều từng khiến ta mất ngủ có khi chẳng còn quan trọng. Lúc ấy có lẽ chỉ còn một câu hỏi: tôi đã yêu thế nào? Tôi đã dùng phần đời được trao ra sao? Tôi đã làm cho những người đi qua đời mình bớt đau hay đau hơn? Tôi đã tha thứ được bao nhiêu? Tôi đã sống cho mình hay đã biết cho đi? Tôi đã trung thành với ơn gọi của mình không?
Ước gì đến cuối đời, chúng ta không cần nói: “Tôi đã thành công.” Chỉ cần có thể thưa: “Lạy Chúa, con đã cố trung thành.” Không cần nói: “Mọi người đều hiểu con.” Chỉ cần: “Chúa biết lòng con.” Không cần nói: “Con đã làm được những điều lớn.” Chỉ cần: “Những điều Chúa trao, con đã cố làm bằng tình yêu.” Và trong giờ phút cuối, nếu còn đủ sức, ta có thể mượn lời Đức Giêsu mà thưa: “Đã hoàn tất.”
Đã hoàn tất một đời người, dù đời ấy có nhiều dang dở theo mắt thế gian. Đã hoàn tất một hành trình, dù vẫn còn những ước mơ chưa thành. Đã hoàn tất phần việc của mình, dù người khác có thể tiếp tục phần còn lại. Đã hoàn tất những năm tháng làm cha, làm mẹ. Đã hoàn tất những năm tháng linh mục, tu sĩ. Đã hoàn tất những tháng ngày mang bệnh. Đã hoàn tất những lần thứ tha. Đã hoàn tất những hy sinh chẳng mấy ai biết. Đã hoàn tất những lời cầu nguyện trong đêm. Đã hoàn tất những bữa cơm âm thầm. Đã hoàn tất những lần đứng dậy sau vấp ngã. Đã hoàn tất những ngày giữ lòng mình khỏi oán hận. Không phải vì mọi chuyện đã diễn ra như ta muốn, nhưng vì giữa tất cả những gì không như ý, ta đã cố sống phần đời mình trong tình yêu.
Có lẽ điều đẹp nhất dưới chân Thập Giá chính là thế này: Thiên Chúa có thể viết chữ “hoàn tất” lên nơi con người chỉ nhìn thấy chữ “thất bại”. Người đời nhìn Đức Giêsu và nói: hết rồi. Chúa Cha nhìn Người và thấy Người Con đã vâng phục đến cùng. Người đời nhìn Thập Giá và thấy nhục nhã. Thiên Chúa biến nó thành cây sự sống. Người đời nhìn ngôi mộ và thấy dấu chấm hết. Thiên Chúa đặt nơi đó dấu mở đầu của một tạo thành mới. Nếu Thiên Chúa đã làm được điều ấy trên Canvê, Người cũng có thể làm điều ấy trong những Canvê nhỏ bé của cuộc đời chúng ta.
Vì thế, xin đừng tuyệt vọng vì một việc tốt chưa sinh hoa trái. Đừng tiếc một tình yêu chân thành chỉ vì người nhận nó không biết trân trọng. Đừng hối hận vì mình đã sống tử tế trong một thế giới đôi khi tưởng rằng tử tế là yếu đuối. Đừng coi một đời âm thầm là một đời vô ích. Đừng nghĩ những đêm chăm người bệnh chẳng có ý nghĩa. Đừng nghĩ những năm tháng nuôi con là chuyện nhỏ. Đừng nghĩ lời cầu nguyện chẳng ai nghe. Đừng nghĩ những lần nhịn nhục, những lần tha thứ, những lần làm lại từ đầu là phí phạm. Nếu điều ấy được làm vì yêu, hãy trao nó vào tay Thiên Chúa. Có những hạt giống cần nhiều năm mới mọc. Có những hạt giống chỉ mọc sau khi người gieo đã đi xa. Và có những hoa trái chỉ trên Nước Trời chúng ta mới biết mình từng góp phần làm cho chúng nở.
Chiều Canvê hôm ấy, khi Đức Giêsu gục đầu xuống, mọi người tưởng rằng một câu chuyện đã thất bại. Nhưng trời cao biết rằng một công trình cứu độ vừa được hoàn tất. Từ đó trở đi, mỗi lần chúng ta đứng trước một hy sinh âm thầm, một tình yêu không được đáp lại, một việc tốt chưa thấy kết quả, một đời sống bình thường không ai ca tụng, xin hãy nhớ ba tiếng của Đức Giêsu: “Đã hoàn tất.” Ba tiếng ấy nói với chúng ta rằng có những chiến thắng không mang hình dáng chiến thắng. Có những vinh quang khoác áo thất bại. Có những mùa gặt đang ngủ trong một hạt lúa vừa chết đi. Có những bình minh đã bắt đầu ngay giữa lúc đêm còn rất tối.
Và nếu hôm nay ta đang mang một Thập Giá, xin đừng chỉ hỏi: “Bao giờ nó mới hết?” Có lẽ nên hỏi thêm: “Lạy Chúa, trong hoàn cảnh này, Chúa muốn con hoàn tất điều gì?” Có thể Chúa không đòi ta làm nên một điều phi thường. Có thể Người chỉ muốn hôm nay ta yêu thêm một chút, nhẫn nại thêm một chút, tha thứ thêm một chút, cầu nguyện thêm một chút, trung thành thêm một ngày. Ngày mai rồi sẽ có ân sủng cho ngày mai. Hôm nay chỉ cần hoàn tất tình yêu của hôm nay.
Rồi từng ngày một, những điều rất nhỏ ấy sẽ làm thành một cuộc đời. Và đến một buổi chiều nào đó, khi chuyến đi của ta đã đến chặng cuối, khi những tiếng động của cuộc đời xa dần, khi tay ta chẳng còn nắm được gì nữa, mong rằng trong sâu thẳm tâm hồn ta có thể bình an nhìn về Đức Kitô chịu đóng đinh và thưa: “Lạy Chúa, con không làm được mọi điều. Con cũng đã sai nhiều. Có những điều con muốn mà không làm nổi. Có những người con muốn cứu mà không cứu được. Có những giấc mơ còn bỏ dở. Nhưng con đã cố yêu. Con đã cố trung thành. Con đã cố đứng dậy mỗi lần ngã xuống. Con đã cố mang phần Thập Giá Chúa trao. Phần còn lại, con xin gửi vào lòng thương xót của Chúa.”
Và có lẽ từ phía bên kia của sự chết, Đấng đã từng nói trên Canvê “Đã hoàn tất” sẽ đón lấy cuộc đời nhỏ bé ấy và cho ta hiểu rằng: không một giọt nước mắt nào đã mất, không một lời cầu nguyện nào vô ích, không một hy sinh vì yêu nào bị quên lãng, không một ngày trung thành nào là tầm thường. Tất cả đã được Người gìn giữ. Tất cả đã được đặt vào mầu nhiệm Thập Giá. Tất cả có thể được biến đổi trong ánh sáng Phục Sinh.
Đã hoàn tất – không phải đã thất bại.
Bởi tình yêu đi đến cùng chẳng bao giờ là một thất bại.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NƠI CON NGƯỜI HỌC LẠI GIÁ TRỊ CỦA MÌNH
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3,16-17)
Có lẽ một trong những nỗi đau sâu nhất của con người không phải là nghèo, không phải là bệnh, cũng chưa chắc là thất bại, mà là một ngày nào đó người ta cảm thấy mình không còn giá trị. Có những người vẫn sống, vẫn đi làm, vẫn cười nói, vẫn xuất hiện giữa đám đông, nhưng trong tận đáy lòng lại mang một câu hỏi rất buồn: “Tôi còn có ý nghĩa gì không?” Có những người vì một lần vấp ngã mà tưởng cả đời mình đã hỏng. Có những người vì bị chồng bỏ, vợ chê, con cái lạnh nhạt, bạn bè phản bội, cộng đoàn không nhìn nhận, xã hội coi thường mà dần dần tin rằng mình thật sự chẳng đáng là bao. Có người vì tuổi già, bệnh tật, thân thể tàn tạ, trí nhớ suy giảm, không còn làm ra tiền, không còn giúp ích được như trước, rồi tự thấy mình trở thành gánh nặng. Có người vì quá khứ nhiều sai lầm mà mỗi lần nhìn vào mình chỉ thấy xấu hổ. Có người mang mặc cảm về gia đình, về học vấn, về nghề nghiệp, về ngoại hình, về những điều mình không có, rồi cả đời sống trong sự so sánh. Và đau hơn cả là có những người đã nghe quá nhiều lời khinh miệt đến nỗi sau cùng họ tin luôn những lời ấy: “Mày chẳng làm nên trò trống gì đâu. Mày chỉ là đồ bỏ đi. Không có mày người ta còn khỏe hơn.” Những lời như thế có khi được nói ra trong một phút giận dữ, nhưng lại nằm trong lòng người nghe suốt mấy chục năm. Con người lạ lắm: một trăm lời khen có thể quên, nhưng một câu làm nhục thì nhớ mãi. Một cái ôm yêu thương có thể qua đi, nhưng một ánh mắt coi thường có thể bám vào ký ức rất lâu. Và thế là có những người bước đi trong cuộc đời với một bản án vô hình treo trên đầu: “Tôi không đáng được yêu.”
Nhưng Tin Mừng hôm nay mở ra trước mắt chúng ta một sự thật hoàn toàn khác. Không phải sự thật do cảm xúc quyết định. Không phải sự thật do dư luận quyết định. Không phải sự thật do thành tích, tiền bạc, sắc đẹp hay địa vị quyết định. Sự thật ấy đến từ chính Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Chỉ một câu ấy thôi, nếu chúng ta thật sự tin, đủ làm thay đổi cách ta nhìn chính mình và nhìn mọi người. Vì giá trị của một con người không nằm ở chỗ người ấy được bao nhiêu người tung hô, mà nằm ở chỗ Thiên Chúa đã yêu người ấy đến mức nào. Và câu trả lời của Kitô giáo thật kinh ngạc: Thiên Chúa đã yêu con người đến mức trao chính Con Một của Người. Không phải trao một món quà. Không phải trao một thiên thần. Không phải trao một phần dư thừa của trời cao. Người trao Con Một. Người trao điều quý giá nhất. Người trao chính trái tim của mình. Người trao Đức Giêsu Kitô. Và Đức Giêsu ấy không đến để đứng từ xa nói với nhân loại vài lời an ủi. Người đi vào thân phận chúng ta, mang lấy xác phàm chúng ta, nếm sự mệt mỏi, nghèo khó, hiểu lầm, phản bội, cô đơn, đau đớn, rồi cuối cùng để mình bị đóng đinh trên Thập Giá. Vì thế, nếu muốn biết một linh hồn đáng giá bao nhiêu, đừng hỏi thị trường lao động. Đừng hỏi mạng xã hội. Đừng hỏi người ta có bao nhiêu bằng cấp. Đừng hỏi người ấy đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, thành công hay thất bại. Hãy nhìn lên Thập Giá. Giá của một con người chính là máu của Con Thiên Chúa.
Chúng ta thường định giá nhau rất rẻ. Một người không hợp ý ta, ta coi thường. Một người từng phạm lỗi, ta đóng khung họ trong quá khứ. Một người nghèo, ta nhìn bằng ánh mắt thương hại hơn là tôn trọng. Một người ít học, ta nghĩ lời họ không đáng nghe. Một người bệnh tâm thần, một người nghiện ngập, một người ở tù, một người lang thang, một người mang tai tiếng, một người bị xã hội gạt ra bên lề, ta rất dễ quên rằng trước mặt Thiên Chúa họ vẫn là một con người mà Đức Kitô đã chịu chết cho. Chúng ta thường nói: “Người này không đáng.” Nhưng Thập Giá trả lời: “Đáng để Ta đổ máu.” Chúng ta nói: “Con người ấy hết thuốc chữa.” Thập Giá trả lời: “Ta đến để cứu, không phải để lên án.” Chúng ta nói: “Họ chẳng có gì đáng yêu.” Thập Giá trả lời: “Ta yêu họ trước khi họ trở nên đáng yêu.” Đó chính là điều làm cho Kitô giáo khác với mọi cách định giá của thế gian. Thế gian thường yêu vì người kia đáng yêu. Thiên Chúa yêu để làm cho con người trở nên đáng yêu. Thế gian yêu người có ích. Thiên Chúa yêu cả người bất lực. Thế gian dễ gần người thành công. Thiên Chúa lại thường đi tìm người thất bại. Thế gian trao huy chương cho người đứng đầu. Đức Giêsu lại dừng chân trước người phong cùi, người mù, người thu thuế, người phụ nữ bị kết án, kẻ trộm hấp hối trên thập giá. Thiên Chúa có một kiểu nhìn khác hẳn chúng ta.
Chính vì thế mà Thập Giá không chỉ nói về đau khổ của Chúa. Thập Giá còn nói về phẩm giá của con người. Chúng ta thường nhìn Thập Giá và hỏi: “Chúa đã đau đớn thế nào?” Nhưng có lẽ phải hỏi thêm một câu nữa: “Tại sao Chúa chấp nhận đau đớn đến thế?” Và câu trả lời là: vì con người. Vì tôi. Vì anh. Vì chị. Vì từng người mà nhiều khi chính họ cũng không còn tin rằng mình đáng được yêu. Đức Giêsu không chết cho một nhân loại trừu tượng. Người chết cho từng khuôn mặt, từng phận đời, từng linh hồn. Người chết cho Phêrô dù biết Phêrô sẽ chối Người. Người chết cho các môn đệ dù biết họ sẽ bỏ chạy. Người chết cả cho những người đang đóng đinh Người, và giữa những nhát búa, những lời chế nhạo, Người vẫn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu Thập Giá chỉ là một tai nạn lịch sử thì nó làm ta thương cảm. Nhưng nếu Thập Giá là hành động tự hiến của Con Thiên Chúa vì con người, thì nó buộc ta phải nhìn con người bằng một ánh mắt khác. Không ai là đồ bỏ đi nếu Đức Kitô đã chết cho người ấy. Không ai hoàn toàn vô vọng nếu Đức Kitô vẫn mở cánh tay trên Thập Giá. Không ai có quyền nói về một con người như thể họ chỉ là một con số, một món hàng, một công cụ, một gánh nặng hay một lỗi lầm.
Có khi điều đáng buồn là chính chúng ta cũng đối xử tàn nhẫn với bản thân. Ta có thể tha cho người khác mà không tha cho mình. Ta tin Chúa tha tội, nhưng lại không chịu tin rằng Chúa còn yêu mình. Ta xưng tội rồi mà vẫn tự kết án. Ta đã đứng dậy rồi mà trong lòng vẫn cứ nằm mãi ở chỗ mình từng ngã. Có người mang một lỗi lầm của hai mươi năm trước mà mỗi ngày vẫn nhắc lại như thể nó vừa xảy ra hôm qua. Có người nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ yêu phiên bản tốt đẹp của mình, còn khi mình yếu đuối, vụng về, sa ngã thì Chúa thất vọng đến mức không muốn nhìn nữa. Nhưng Tin Mừng nói rất rõ: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” Đức Giêsu không đến với một cây bút đỏ để gạch tên những người không đạt chuẩn. Người đến như vị lương y bước vào nhà bệnh nhân. Người đến để cứu. Người không bảo tội là không có gì. Người không biến sai thành đúng. Nhưng Người phân biệt rất rõ tội lỗi với con người. Người ghét tội vì tội làm con người chết, nhưng Người yêu người có tội đến mức chấp nhận chết thay cho họ. Đây là điều chúng ta thường không làm được. Ta thấy ai phạm lỗi thì dễ đồng hóa luôn con người ấy với lỗi lầm của họ. “Nó là đồ gian dối. Nó là đứa ngoại tình. Nó là thằng nghiện. Nó là kẻ phản bội.” Chỉ cần một biến cố, ta biến thành căn cước của cả một đời. Nhưng Chúa thì không. Người nhìn sâu hơn tội lỗi. Người thấy một người con cần trở về.
Hãy nhớ lại người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Đám đông chỉ thấy một tội nhân đáng ném đá. Đức Giêsu thấy một con người vẫn còn tương lai. Người không nói tội của chị là đúng, nhưng Người cũng không để tội ấy trở thành nấm mồ chôn chị. “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Đó là cách Thiên Chúa cứu phẩm giá con người: không tâng bốc, không dung túng, nhưng cũng không nghiền nát. Người nói sự thật nhưng nói để chữa lành. Người chỉ ra con đường mới thay vì khóa người ta mãi trong quá khứ. Thập Giá cũng vậy. Thập Giá vừa cho thấy tội nghiêm trọng đến mức nào, vì tội đã đưa Con Thiên Chúa đến cái chết; nhưng đồng thời cũng cho thấy con người quý giá đến mức nào, vì để cứu con người khỏi tội, Thiên Chúa chấp nhận trả một giá khôn lường. Ở chân Thập Giá, ta không thể coi nhẹ tội lỗi, nhưng cũng không thể tuyệt vọng về con người.
Có người hỏi: “Nếu Thiên Chúa yêu tôi, tại sao đời tôi đau khổ quá?” Câu hỏi ấy không dễ trả lời bằng vài lời đạo đức. Người đang đau cần được lắng nghe hơn là được giảng giải. Nhưng Kitô giáo không hứa rằng người được Chúa yêu sẽ không gặp đau khổ. Đức Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha mà vẫn đi qua Gethsemane và Canvê. Điều Thập Giá nói với chúng ta không phải: “Nếu đau khổ, nghĩa là Chúa không yêu.” Ngược lại, Thập Giá nói: “Có những lúc đang đau khổ nhất, ta vẫn nằm trong tình yêu của Thiên Chúa.” Đức Giêsu bị lột áo, bị chế nhạo, bị coi chẳng ra gì. Người bị định giá ba mươi đồng bạc. Người bị đối xử như tội phạm. Người bị đám đông chọn Baraba thay vì chọn Người. Người bị đóng đinh bên ngoài thành như một kẻ bị loại bỏ. Nhưng việc con người coi Đức Giêsu không ra gì không làm Người mất giá trị. Người vẫn là Con yêu dấu. Điều ấy cũng rất quan trọng cho chúng ta. Người khác có thể không nhận ra giá trị của ta, nhưng điều ấy không có nghĩa ta không có giá trị. Một người chồng phản bội vợ không làm người vợ mất phẩm giá. Một người cha bỏ con không làm đứa trẻ trở thành vô giá trị. Một cộng đoàn không biết trân trọng ai đó không có quyền quyết định giá trị cuối cùng của người ấy. Một thất bại trong nghề nghiệp không xóa đi phẩm giá của một con người. Một kỳ thi trượt không làm một đứa trẻ thành kẻ thất bại. Một cuộc hôn nhân đổ vỡ không biến cả đời người thành đổ vỡ. Một lần phạm tội không có quyền viết câu cuối cùng cho cuộc đời ta.
Điều nguy hiểm là chúng ta đang sống trong một thế giới rất dễ biến con người thành sản phẩm. Người ta định giá nhau bằng năng suất. Ai làm được nhiều thì quan trọng. Ai không còn làm được thì bị đẩy ra ngoài. Người trẻ được ưu ái vì còn sức, người già đôi khi bị xem như gánh nặng. Người khỏe mạnh được chú ý, người bệnh tật bị bỏ quên. Người thành đạt có tiếng nói, người nghèo nói chẳng ai nghe. Ngay cả trong gia đình, có khi người kiếm nhiều tiền được trọng hơn người âm thầm hy sinh. Một người mẹ ở nhà chăm con có thể bị coi như “không làm gì”. Một người cha già cả ngày ngồi một chỗ có thể bị con cái xem như người thừa. Một đứa trẻ học không giỏi dễ bị so sánh với anh chị em. Một người khuyết tật dễ bị nhìn trước hết qua khiếm khuyết thay vì qua nhân vị. Nhưng Thập Giá đập vỡ cách nhìn ấy. Đức Giêsu chết không phải cho những người hữu dụng nhất. Người chết cho con người vì họ là con người. Phẩm giá không đến từ khả năng sản xuất. Phẩm giá không đến từ tài khoản ngân hàng. Phẩm giá không đến từ nhan sắc, trí thông minh, danh vọng. Phẩm giá đến từ việc con người được Thiên Chúa dựng nên, được Thiên Chúa yêu, được Đức Kitô cứu chuộc, được mời gọi bước vào sự sống đời đời.
Nếu thật sự tin điều đó, chúng ta phải thay đổi rất nhiều cách sống. Trước hết là cách nói với nhau. Có những lời nói làm người khác sống lại, nhưng cũng có những lời nói làm người khác chết dần. Cha mẹ đừng gọi con bằng những danh từ nhục mạ chỉ vì chúng học kém hay làm sai. Vợ chồng đừng dùng những điểm yếu sâu kín của nhau làm vũ khí khi cãi nhau. Người lãnh đạo đừng làm nhục người dưới quyền trước đám đông. Người phục vụ trong Giáo Hội đừng đối xử với người nghèo như kẻ đến xin bố thí. Đừng bao giờ nghĩ rằng vì mình cho tiền nên mình có quyền làm người khác mất mặt. Bác ái mà làm người nhận thấy nhục thì đã mất đi một phần rất lớn tinh thần của Tin Mừng. Khi giúp ai, hãy giúp họ đứng thẳng lên. Khi sửa ai, hãy sửa mà vẫn giữ phẩm giá của họ. Khi nói sự thật, hãy nhớ người trước mặt mình là người Đức Kitô đã chết cho. Có những người viện cớ “tôi nói thẳng” để làm đau người khác. Nhưng sự thật của Đức Kitô luôn đi với tình yêu. Người có thể nói rất mạnh với Phêrô, nhưng rồi vẫn trao cho Phêrô đoàn chiên. Người nhìn người thanh niên giàu có và “đem lòng yêu mến”. Người gọi Giakêu xuống khỏi cây không phải để bêu xấu mà để vào nhà ông. Người nhìn người trộm lành trong giờ cuối đời và mở cho anh cánh cửa thiên đàng.
Thứ đến, nếu tin vào Thập Giá, chúng ta cũng phải học cách nhìn những người đã bị xã hội đóng nhãn. Người tù có thể đã phạm tội nặng, nhưng vẫn là con người. Người nghiện có thể làm gia đình đau khổ, nhưng vẫn cần được cứu hơn là bị nguyền rủa. Người sống ngoài đường có thể bẩn thỉu, nhưng không vì thế mà phẩm giá họ bẩn. Người già lẫn trí có thể không nhớ tên con cháu, nhưng vẫn là cha, là mẹ, là một nhân vị đáng kính. Đứa trẻ trong lòng mẹ chưa làm được gì cho xã hội, nhưng không vì thế mà mạng sống nó kém giá trị. Người sắp chết không còn “năng suất”, nhưng không vì thế mà giờ cuối đời của họ không thiêng liêng. Một xã hội thật sự nhân bản không được đo bằng cách nó đối xử với người mạnh, mà bằng cách nó đối xử với những người yếu nhất. Và một cộng đoàn Kitô giáo cũng vậy. Nếu nhà thờ đẹp, phụng vụ long trọng, hội đoàn đông, nhưng người nghèo bước vào vẫn thấy mình lạc lõng, người tội lỗi bước vào chỉ nhận ánh mắt xét đoán, người thất bại bước vào không tìm được một chỗ ngồi bình an, thì chúng ta phải tự hỏi Thập Giá đang ở đâu trong cộng đoàn ấy.
Đức Kitô chịu đóng đinh cũng dạy ta một điều rất thấm thía: con người có thể bị lấy đi gần như mọi thứ mà vẫn không mất phẩm giá. Trên Canvê, Đức Giêsu không còn tài sản, áo cũng bị lột. Không còn tiếng vỗ tay, chỉ còn lời chế nhạo. Không còn đoàn người chen nhau nghe giảng, chỉ còn vài người đứng dưới chân Thập Giá. Không còn hình ảnh của một người làm phép lạ đầy quyền năng, chỉ còn một thân thể kiệt quệ. Nhưng chính lúc bị tước bỏ gần như tất cả, Người lại tỏ lộ phẩm giá rực rỡ nhất của tình yêu. Người không nguyền rủa. Không trả thù. Không xuống khỏi thập giá để chứng minh mình mạnh. Người vẫn yêu. Và như thế, Đức Giêsu cho thấy phẩm giá sâu nhất của con người không nằm ở điều ta sở hữu, mà ở khả năng yêu thương, tự do, trao hiến và sống trong tương quan với Thiên Chúa. Có những người rất giàu mà sống hèn hạ. Có người rất nghèo mà phẩm giá sáng ngời. Có người bị bệnh nằm một chỗ nhưng lời cầu nguyện của họ nâng đỡ cả gia đình. Có người không còn làm được gì, chỉ còn mỉm cười khi con cháu đến thăm, mà nụ cười ấy đã trở thành phúc lành. Đừng bao giờ nghĩ một đời người chỉ có giá khi còn làm được việc. Có những giai đoạn ta được Chúa mời gọi sống giá trị của mình không bằng làm mà bằng hiện diện; không bằng thành tích mà bằng kiên nhẫn; không bằng sức mạnh mà bằng phó thác.
Những người già rất cần nghe điều này. Tuổi già đôi khi là hành trình bị mất dần: mất sức khỏe, mất bạn bè, mất khả năng tự chủ, mất trí nhớ, mất vai trò, thậm chí mất cảm giác rằng mình còn quan trọng với ai. Có người già ngồi trong nhà mà con cháu bận rộn đi qua đi lại như thể ông bà là một món đồ cũ trong phòng. Có người chỉ mong một câu hỏi: “Hôm nay ba khỏe không? Mẹ có cần gì không?” Có người không cần tiền, chỉ cần được nghe. Có người kể đi kể lại một câu chuyện cũ vì đó là phần ký ức ít ỏi còn lại, nhưng con cháu nghe vài lần rồi bực. Hãy nhớ: khi một con người yếu đi, đó là lúc phẩm giá của họ cần được bảo vệ nhiều hơn, chứ không phải ít hơn. Đức Kitô trên Thập Giá hoàn toàn bất lực trong mắt người đời, nhưng chính khi ấy Người vẫn là Con Thiên Chúa. Vì thế, người nằm liệt giường cũng không mất phẩm giá. Người phải nhờ người khác tắm rửa, thay áo, đút cơm cũng không trở thành “phiền phức”. Nếu Thiên Chúa đã trao Con Một cho người ấy, chúng ta lấy quyền gì mà coi họ là gánh nặng?
Người trẻ cũng cần học điều này, vì tuổi trẻ hôm nay đang bị đặt vào một cuộc thi không bao giờ dứt. Đẹp hơn, giỏi hơn, nổi tiếng hơn, nhiều lượt thích hơn, thu nhập cao hơn, đi nhiều nơi hơn, thành công sớm hơn. Nhìn lên mạng thấy ai cũng hạnh phúc, chỉ mình mình lạc lõng. Thấy bạn bè đã có sự nghiệp, mình còn loay hoay. Thấy người khác đẹp, mình thấy tự ti. Thấy người khác được chú ý, mình nghĩ mình vô hình. Càng so sánh càng mệt. Càng tìm giá trị nơi ánh mắt người khác càng bất an, vì hôm nay họ khen, mai họ quên. Hôm nay mình được tung hô, ngày mai có người khác thay chỗ. Nếu xây phẩm giá trên sự công nhận của đám đông, đời ta sẽ như căn nhà xây trên cát. Nhưng nếu xây trên tình yêu của Thiên Chúa, ta có một nền đá. Tôi có thể chưa thành công, nhưng tôi không vô giá trị. Tôi có thể không đẹp theo chuẩn của người đời, nhưng tôi vẫn được Thiên Chúa yêu. Tôi có thể thất bại, nhưng tôi chưa kết thúc. Tôi có thể phạm sai lầm, nhưng tôi vẫn có thể trở về. Tôi có thể bị ai đó từ chối, nhưng tôi không bị Thiên Chúa loại bỏ. Giá trị của tôi đã được đóng ấn trên Thập Giá.
Nhưng nói rằng mình có giá trị không phải để nuôi cái tôi. Kitô giáo không dạy chúng ta tự tôn mình lên trên người khác. Trái lại, vì biết mình được yêu nhưng không, ta càng phải khiêm nhường. Nếu tôi quý giá vì Đức Kitô chết cho tôi, thì người đứng bên cạnh tôi cũng quý giá vì Đức Kitô chết cho họ. Không thể dùng Thập Giá để nâng giá mình mà hạ người khác. Mỗi khi coi thường ai, ta đang quên giá máu của Đức Kitô. Mỗi khi phân biệt người giàu với người nghèo, người sang với người hèn, người có chức với người không chức, ta đang sống ngược Tin Mừng. Trong nhà thờ, dưới chân Thập Giá, tất cả đều là những người cần được cứu. Linh mục cần ơn cứu độ. Tu sĩ cần ơn cứu độ. Người đứng đầu cộng đoàn cần ơn cứu độ. Người ngồi cuối nhà thờ cũng cần ơn cứu độ. Người đạo đức lâu năm không đứng gần Chúa hơn chỉ vì đã lâu năm, nếu lòng họ đầy khinh miệt. Người tội lỗi biết cúi đầu có khi lại gần Nước Trời hơn người luôn kể công.
Có lẽ một trong những cuộc hoán cải khó nhất là hoán cải ánh mắt. Chúng ta quen nhìn cái bên ngoài. Chúa nhìn sâu vào con tim. Ta nhìn người khác qua lỗi của họ. Chúa nhìn qua khả năng họ có thể trở thành. Ta nhìn người nghèo và thấy thiếu thốn. Chúa nhìn và thấy người anh em. Ta nhìn người tội lỗi và thấy nguy hiểm. Chúa nhìn và thấy con chiên lạc. Ta nhìn người già và thấy bất tiện. Chúa nhìn và thấy một đời người đã đi qua bao nhiêu hy sinh. Ta nhìn đứa trẻ và thấy kết quả học tập. Chúa nhìn và thấy một mầu nhiệm đang lớn lên. Ta nhìn chính mình và thấy hàng trăm khiếm khuyết. Chúa nhìn ta và thấy một người con mà Người không tiếc Con Một để cứu. Xin Chúa cho chúng ta đôi mắt của Đức Kitô chịu đóng đinh.
Có những gia đình sẽ đổi khác rất nhiều nếu mỗi người nhớ rằng người sống với mình là người Đức Kitô đã chết cho. Nếu người chồng trước khi buông một câu làm nhục vợ nhớ rằng Chúa đã đổ máu cho người phụ nữ này, có lẽ anh sẽ nói khác. Nếu người vợ khi giận chồng nhớ rằng người đàn ông đang làm mình thất vọng này vẫn là một linh hồn Chúa yêu, có lẽ chị sẽ bớt tàn nhẫn. Nếu cha mẹ nhớ rằng đứa con đang bướng bỉnh là một con người Chúa trao cho mình chứ không phải một dự án để mình khoe với thiên hạ, cách giáo dục sẽ khác. Nếu con cái nhớ rằng cha mẹ già chậm chạp kia là những người đã từng thức đêm bế mình, có lẽ chúng sẽ kiên nhẫn hơn. Nếu anh chị em ruột nhớ rằng tiền bạc rồi sẽ qua mà tình ruột thịt mất rồi rất khó tìm lại, có lẽ sẽ bớt những vụ tranh giành đến đau lòng. Thập Giá không phải vật treo trên tường để trang trí. Thập Giá phải đi xuống bàn ăn, phòng khách, phòng bệnh, nơi làm việc, những cuộc tranh luận, những tin nhắn, những lời ta nói với nhau mỗi ngày.
Và có lẽ cũng phải nói thật rằng nhiều khi chính người Công giáo làm nhau đau vì không sống điều mình tin. Ta cúi đầu trước Thánh Giá rồi bước ra ngoài lại ngẩng mặt kiêu căng với người khác. Ta hôn chân Chúa chịu đóng đinh rồi lại đạp lên phẩm giá anh chị em. Ta hát về tình yêu Thiên Chúa nhưng lại nói xấu nhau không thương tiếc. Ta rước Mình Thánh Chúa rồi về nhà khinh người giúp việc, mắng con cái, lạnh lùng với cha mẹ, chèn ép người yếu. Ta bảo vệ giáo lý rất hăng nhưng không bảo vệ danh dự của một người đang bị vu khống. Ta lo xây nhà thờ rất đẹp nhưng có khi không đủ nhẫn nại ngồi nghe một người đang tuyệt vọng. Nếu thế, Thập Giá vẫn ở trên cao mà chưa đi vào lòng.
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Không phải vì thế gian tốt. Không phải vì nhân loại xứng đáng. Không phải vì chúng ta đã hoàn hảo. Người yêu trước. Đây chính là nền tảng hy vọng cho những ai đang chán mình. Có thể hôm nay con chưa yêu được chính mình. Có thể con thấy đời mình lộn xộn. Có thể con đang mang nhiều tội lỗi. Có thể con đã làm những điều mà mỗi lần nhớ lại đều đau. Nhưng xin con đừng tự tuyên án chung thân cho mình khi Đức Kitô đã chết để mở cửa cứu độ. Đừng gọi mình là đồ bỏ đi khi Chúa đã gọi con bằng giá máu. Đừng nói đời mình vô nghĩa khi Thiên Chúa vẫn còn cho con một ngày để sống, một người để yêu, một điều để sửa, một lời xin lỗi để nói, một bước để trở về. Có khi con không thể thay đổi quá khứ, nhưng nhờ ơn Chúa con có thể thay đổi cách mình sống hôm nay. Người trộm lành không còn thời gian để làm lại cả đời, nhưng chỉ một lời quay về đã mở cho anh thiên đàng. Đừng tuyệt vọng về bất cứ người nào, kể cả chính mình.
Đức Kitô chịu đóng đinh là nơi con người học lại giá trị của mình, bởi vì ở đó mọi chiếc mặt nạ đều rơi xuống. Không còn bảng điểm. Không còn chức danh. Không còn thành tích. Không còn tài khoản. Không còn đám đông tung hô. Chỉ còn một Thiên Chúa yêu và một con người cần được cứu. Đứng trước Thập Giá, ta hiểu rằng ta vừa rất bé nhỏ vừa vô cùng quý giá. Bé nhỏ vì ta không tự cứu nổi mình. Quý giá vì Thiên Chúa đã không bỏ mặc ta. Bé nhỏ vì ta là tro bụi. Quý giá vì chính Con Thiên Chúa mang lấy tro bụi ấy. Bé nhỏ vì đời ta mong manh. Quý giá vì đời mong manh ấy được mời gọi vào sự sống đời đời.
Có người dành cả đời để chứng minh mình có giá trị. Họ làm việc đến kiệt sức, tích lũy bằng cấp, tài sản, danh tiếng, mối quan hệ, chỉ để mong một ngày nào đó đủ sức nói: “Tôi đáng được tôn trọng.” Nhưng rồi tuổi già đến, tất cả lần lượt rời tay. Kitô giáo mời ta đi một con đường bình an hơn: con không cần tạo ra phẩm giá của mình, con cần đón nhận nó. Con không cần bắt thế gian xác nhận con mới được sống. Thiên Chúa đã xác nhận tình yêu của Người bằng Thập Giá. Điều con cần làm là sống xứng với tình yêu ấy. Và sống xứng không có nghĩa là không bao giờ ngã, nhưng là biết đứng dậy. Không có nghĩa là hoàn hảo, nhưng là biết trở về. Không có nghĩa là hơn người khác, nhưng là biết trân trọng họ.
Nếu một ngày nào đó ai hỏi: “Một con người đáng giá bao nhiêu?” Người Kitô hữu có thể không cần đưa ra một con số. Chỉ cần chỉ lên Thập Giá. Đó là câu trả lời. Một con người đáng giá đến mức Con Thiên Chúa bằng lòng mang lấy đinh sắt. Đáng giá đến mức Người chịu đội mão gai. Đáng giá đến mức Người chịu bị bỏ rơi. Đáng giá đến mức trái tim Người bị đâm thâu. Không phải vì con người luôn tốt, nhưng vì tình yêu Thiên Chúa quá lớn. Và nếu Thiên Chúa đã định giá một con người như thế, từ nay xin đừng ai bán rẻ con người nữa. Đừng bán rẻ mình cho tiền bạc. Đừng bán rẻ phẩm giá vì một chút danh lợi. Đừng bán rẻ người khác bằng những lời vu khống. Đừng chà đạp ai chỉ vì họ yếu hơn. Đừng coi thường một linh hồn chỉ vì người ấy đã vấp ngã.
Hãy để Thập Giá trở thành trường học dạy ta làm người. Học cách nhìn mình mà không tự cao cũng không tự ghét. Học cách nhìn người khác mà không thần tượng cũng không khinh miệt. Học cách kính trọng sự sống từ lúc còn mong manh trong lòng mẹ cho đến hơi thở cuối cùng. Học cách đón nhận người yếu, người già, người bệnh, người thất bại. Học cách nói với mỗi người bằng một thái độ như thể ta đang đứng trước người mà Đức Kitô đã đổ máu cho. Vì thật sự là như thế.
Và chiều nay, hoặc một đêm nào đó, nếu lòng ta mệt mỏi, nếu cảm giác mình vô dụng quay trở lại, xin hãy đứng yên trước Thập Giá. Đừng nói nhiều. Hãy nhìn. Nhìn đôi tay bị đóng đinh và tự hỏi: “Đôi tay ấy vì ai?” Nhìn cạnh sườn bị đâm và hỏi: “Trái tim ấy mở ra vì ai?” Nhìn khuôn mặt đầy máu và hỏi: “Người đã yêu ai đến như thế?” Và rồi trong thinh lặng, có lẽ ta sẽ nghe một câu không bằng âm thanh nhưng bằng cả mầu nhiệm Canvê: “Vì con.” Khi ấy, dù cả thế gian có quay lưng, ta vẫn có một lý do để đứng dậy. Dù người khác không biết trân trọng, ta vẫn biết mình thuộc về ai. Dù quá khứ có bao nhiêu vết thương, ta vẫn có thể tin rằng đời mình chưa hết ý nghĩa.
Xin cho mỗi chúng ta, khi nhìn Đức Kitô chịu đóng đinh, học lại giá trị của chính mình và học lại giá trị của mọi người. Xin cho ta không còn dùng tiền bạc, địa vị, sắc đẹp, thành tích hay lỗi lầm để định giá con người. Xin cho ta nhớ rằng sau mỗi khuôn mặt là một linh hồn mà Chúa đã yêu. Sau mỗi đời sống lộn xộn vẫn có một con người Chúa muốn cứu. Sau mỗi thất bại vẫn có thể là một khởi đầu. Sau mỗi tội lỗi vẫn có thể là một con đường trở về. Và trên tất cả mọi sự, vẫn có Thập Giá đứng đó như lời cuối cùng của Thiên Chúa về con người: con không phải đồ bỏ đi; con không phải một tai nạn; con không phải một con số vô danh giữa thế gian này. Con là người được yêu. Được yêu đến cùng. Được yêu bằng giá máu. Được yêu đến mức Thiên Chúa “đã ban Con Một”.
Nếu Thiên Chúa đã dám trao Con Một vì một con người, thì từ nay không ai có quyền coi con người ấy là vô giá trị. Và chính ta cũng không có quyền coi mình là vô giá trị. Hãy sống như người đã được mua bằng một giá rất đắt. Hãy yêu người khác như những người cũng được mua bằng cùng một giá ấy. Và khi không biết mình đáng giá bao nhiêu, đừng nhìn vào gương, đừng nhìn vào tài khoản, đừng nhìn vào những lời người đời nói. Hãy nhìn Thập Giá.
Ở đó, câu trả lời đã được viết bằng máu.
Lm. Anmai, CSsR

BẠN ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU? HÃY NHÌN LÊN THẬP GIÁ
Tin Mừng: Ga 3,16
Có những câu hỏi tưởng như rất đơn giản nhưng càng sống lâu, càng trải qua nhiều thăng trầm, người ta càng thấy khó trả lời. Một trong những câu hỏi ấy là: Tôi đáng giá bao nhiêu? Nếu đem câu hỏi này hỏi giữa một xã hội quen đo mọi sự bằng tiền bạc, thành tích, địa vị, sắc đẹp, bằng cấp, khả năng, ảnh hưởng và những con số, có lẽ người ta sẽ có đủ thứ câu trả lời. Người có tiền sẽ được đánh giá cao hơn người nghèo. Người thành công được chú ý hơn người thất bại. Người trẻ đẹp thường dễ được yêu mến hơn người già nua, bệnh tật. Người nói hay, làm giỏi, có địa vị, có đông người theo dõi thường được xem là có giá trị hơn người sống âm thầm chẳng ai biết tới. Rồi chính chúng ta, dù là người có đạo, đôi khi cũng lặng lẽ đem những cái thước của thế gian ấy mà đo đời mình. Ta vui khi được khen. Ta buồn khi bị quên. Ta thấy mình có giá trị khi công việc thành công. Ta chán nản khi người khác vượt qua mình. Ta tưởng mình đáng được yêu khi khỏe mạnh, hữu ích, đẹp đẽ, trẻ trung; rồi đến lúc bệnh tật, tuổi già, thất bại, bị loại khỏi một vị trí, bị ai đó bỏ rơi, ta lại bắt đầu tự hỏi: “Có lẽ mình chẳng còn ích gì nữa. Có lẽ đời mình chẳng đáng bao nhiêu.” Nhưng Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta ra khỏi tất cả những chiếc cân sai lạc ấy và dẫn chúng ta đến trước một nơi duy nhất có thể nói cho ta biết giá trị thật của một con người: Thập Giá Đức Giêsu Kitô. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Nếu muốn biết mình đáng giá bao nhiêu, đừng nhìn vào số tiền trong tài khoản. Đừng nhìn vào chức vụ đang giữ. Đừng nhìn vào số người đang khen mình. Đừng nhìn vào những lời người ta nói sau lưng mình. Đừng nhìn vào tuổi tác, sức khỏe, ngoại hình, học vấn hay những gì mình đã làm được. Hãy nhìn lên Thập Giá. Bởi nơi đó, Thiên Chúa đã nói một lời mà không một lời khen nào của con người có thể nói mạnh hơn: Con đáng giá đến mức Ta đã trao Con Một của Ta vì con.
Thập Giá trước hết nói cho ta biết rằng con người vô cùng quý giá đối với Thiên Chúa. Ta thường định giá một đồ vật bằng giá người ta sẵn sàng trả để có nó. Một món đồ có thể chẳng đáng gì với người này, nhưng nếu có người sẵn sàng bán tất cả để mua nó, món đồ ấy bỗng có một giá rất lớn đối với người đó. Nếu đem hình ảnh rất giới hạn ấy áp vào mầu nhiệm cứu độ, ta có thể nói: muốn biết Thiên Chúa quý con người đến đâu, hãy xem Thiên Chúa đã “trả giá” thế nào để cứu con người. Người không cứu ta bằng vàng bạc. Người không sai một thiên thần đến làm thay. Người không ban cho ta một phần thừa của thiên đàng. Người ban chính Con Một của Người. Không phải một món quà ngoài Người, nhưng là Con của Người. Không phải một chút thương hại từ xa, nhưng là một tình yêu bước xuống tận cùng thân phận con người. Con Thiên Chúa đã mang lấy thân xác dễ bị tổn thương như chúng ta, đã biết đói, biết khát, biết mệt, biết buồn, biết cô đơn, biết bị hiểu lầm, bị phản bội, bị khước từ, rồi cuối cùng bị treo trên Thập Giá. Những chiếc đinh xuyên qua tay chân Đức Giêsu nói với ta rằng: con người đáng để Thiên Chúa chịu đau vì họ. Mão gai trên đầu Người nói rằng: con người đáng để Thiên Chúa chịu nhục vì họ. Cạnh sườn bị đâm thâu nói rằng: con người đáng để Thiên Chúa trao đến giọt máu cuối cùng vì họ. Và hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu trên Canvê nói rằng: Thiên Chúa không tiếc gì để cứu một con người.
Thế nhưng điều làm ta kinh ngạc hơn nữa là Thiên Chúa không chỉ yêu những người tốt. Nếu Chúa chỉ chết cho những người thánh thiện, ta còn có thể nghĩ rằng họ xứng đáng. Nếu Chúa chỉ chịu đóng đinh vì những người trung thành, ta còn có thể nói đó là phần thưởng. Nhưng Thập Giá xảy ra trong một thế giới đầy tội lỗi. Đức Giêsu chết giữa những kẻ chế nhạo Người. Người chết khi những môn đệ thân tín đã bỏ chạy. Người chết khi Giuđa đã phản bội, Phêrô đã chối, đám đông từng tung hô đã quay sang đòi đóng đinh. Người chết cho một nhân loại không xứng đáng, nghĩa là tình yêu Thiên Chúa không bắt đầu từ việc chúng ta đáng yêu, mà từ chính trái tim Người là Tình Yêu. Đây là điều rất quan trọng. Nhiều người sống cả đời trong nỗi sợ rằng mình phải thật tốt mới xứng đáng được yêu. Ta mang não trạng ấy vào cả tương quan với Chúa. Ta nghĩ khi cầu nguyện đều, sống đạo tốt, làm nhiều việc lành thì Chúa sẽ thương ta hơn. Khi phạm tội, yếu đuối, vấp ngã, ta tưởng Chúa bớt thương. Không. Tội lỗi làm tổn thương tương quan của ta với Chúa, nhưng không thể biến Chúa thành một Đấng hết yêu. Chính vì ta yếu đuối nên Người cứu. Chính vì ta lạc đường nên Người đi tìm. Chính vì ta bị thương nên Người đến chữa. Chính vì ta chết trong tội nên Con Một của Người bước vào cái chết để kéo ta ra. Thập Giá không phải phần thưởng trao cho một nhân loại xứng đáng; Thập Giá là tình yêu cứu một nhân loại không thể tự cứu mình.
Cho nên, nếu hôm nay có ai đang thấy mình vô dụng, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu có ai bị người khác coi thường, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu có ai vừa thất bại, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu có ai bị mất việc, mất danh dự, mất một vị trí từng làm mình tự hào, hãy nhìn lên Thập Giá. Nếu có người đã già, đôi chân không còn nhanh, đôi mắt không còn sáng, trí nhớ không còn tốt, không thể làm được những điều ngày xưa từng làm, xin đừng vội nói: “Tôi hết giá trị rồi.” Giá trị của một con người không giảm đi theo số năm tuổi đời. Nếu vậy thì một em bé sơ sinh chưa làm được gì phải là người ít giá trị nhất. Nhưng chẳng cha mẹ nào nghĩ thế. Đứa bé được yêu trước khi nó có thể làm bất cứ điều gì để “xứng đáng” với tình yêu ấy. Thiên Chúa cũng yêu ta như thế, và còn hơn thế. Trước khi ta làm được gì cho Người, Người đã yêu ta. Trước khi ta biết gọi tên Người, Người đã gọi tên ta. Trước khi ta nghĩ đến Thập Giá, Đức Kitô đã chết cho ta. Một người nằm liệt giường không kiếm được tiền, không giữ chức vụ, không thể phục vụ ai, vẫn có phẩm giá trọn vẹn trước mặt Thiên Chúa. Một người già phải nhờ người khác chăm sóc không trở thành gánh nặng vô giá trị. Một người khuyết tật không có phẩm giá thấp hơn người khỏe mạnh. Một thai nhi chưa chào đời không kém giá trị vì chưa làm được gì. Một người nghèo không kém phẩm giá vì túi họ trống. Một người tù vẫn mang phẩm giá con người dù phải chịu trách nhiệm về lỗi lầm. Một người sa ngã vẫn là người Đức Kitô đã đổ máu ra để cứu. Thập Giá cấm chúng ta định giá con người bằng công dụng của họ.
Có một bi kịch âm thầm của thời đại hôm nay là con người bị biến thành “giá trị sử dụng”. Người ta quý nhau khi còn có lợi cho nhau. Trong công việc, người làm được việc thì được săn đón, khi không còn hiệu suất thì bị thay thế. Trong các mối quan hệ, lúc còn vui thì ở bên nhau, lúc người kia trở thành gánh nặng thì muốn rời đi. Có những người con yêu cha mẹ khi cha mẹ còn cho được tiền, đến lúc cha mẹ bệnh yếu thì than phiền. Có những tình bạn tồn tại khi còn lợi ích. Có những cuộc hôn nhân bị thử thách khi một người bệnh lâu ngày, khi vẻ đẹp phai đi, khi thu nhập giảm xuống. Có khi trong chính đời sống Giáo Hội, người ta cũng vô tình đánh giá nhau theo khả năng, đóng góp, chức vụ, ảnh hưởng. Người hát hay thì được nhớ. Người nói giỏi thì được mời. Người làm được nhiều việc thì được trọng. Còn những con người âm thầm, yếu đuối, vụng về, ít khả năng dễ bị đứng bên lề. Nhưng Chúa Giêsu chịu đóng đinh nói với chúng ta: không ai là phế phẩm của Thiên Chúa. Không có đời người nào chỉ được đo bằng hiệu suất. Nếu Thiên Chúa nhìn con người như một công cụ, Người đã chẳng chết cho những người không thể làm được gì cho Người. Người trộm lành bên cạnh Chúa vào giờ cuối cùng chẳng còn cơ hội lập công, chẳng còn thời gian sửa đổi cuộc đời bằng những việc lớn. Hai tay ông cũng bị đóng đinh, nghĩa là ông chẳng thể làm một việc tốt nào nữa. Hai chân ông cũng bị đóng đinh, ông chẳng thể đi hành hương hay đi phục vụ ai. Ông chỉ còn một lời: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa mở thiên đàng cho ông. Câu chuyện ấy đủ để đập tan ảo tưởng rằng giá trị của ta chỉ nằm ở những gì ta làm được.
Nhưng nói như thế không có nghĩa thành công, lao động, tài năng hay những việc tốt không quan trọng. Chúng quan trọng, nhưng chúng không phải nền tảng của phẩm giá. Một người có tài phải dùng tài năng để sinh ích; người có khả năng phải sống trách nhiệm; người khỏe mạnh phải làm việc; người được trao chức vụ phải phục vụ. Nhưng chúng ta phải phân biệt rất rõ: ta làm điều tốt vì ta đã được yêu, chứ không phải làm điều tốt để mua lấy tình yêu của Chúa. Ta phục vụ vì đời ta quý giá, chứ không phải phục vụ để chứng minh rằng đời ta đáng giá. Đây là sự tự do lớn của người Kitô hữu. Khi không còn phải chạy cả đời để chứng minh mình quan trọng, ta mới có thể sống bình an. Khi biết mình đã được yêu trong Đức Kitô, ta không còn quá lệ thuộc vào lời khen. Khi biết phẩm giá mình được đóng ấn bằng Máu Chúa, ta không còn tuyệt vọng khi bị người khác đánh giá thấp. Khi biết mình là người được cứu bằng một cái giá quá lớn, ta sẽ không bán rẻ đời mình cho tội lỗi, tiền bạc, dục vọng hay danh vọng chóng qua.
Nhiều người khổ không phải vì họ thiếu khả năng mà vì họ luôn sống dưới ánh mắt người khác. Họ cần người khác khen mới thấy mình ổn. Một tấm ảnh đăng lên mạng ít người quan tâm cũng buồn. Một công việc mình làm không được nhắc đến cũng tủi. Người khác được khen thì mình thấy bị đe dọa. Người khác thành công thì mình bất an. Đằng sau nhiều ghen tị là một trái tim chưa biết chắc giá trị của mình. Ta tưởng nếu người khác sáng lên thì mình tối đi. Nhưng trong Thiên Chúa, giá trị của người khác không lấy mất giá trị của ta. Một người mẹ có nhiều đứa con đâu vì yêu đứa này mà phải bớt yêu đứa kia. Trái tim Thiên Chúa còn lớn hơn trái tim một người mẹ vô cùng. Tôi không cần dìm ai xuống để mình được cao lên. Tôi không cần nói xấu ai để thấy mình hơn họ. Tôi không cần tranh giành lời khen, tranh công, tranh chỗ đứng. Tôi có thể vui khi người khác được nâng lên, bởi phẩm giá của tôi không lệ thuộc vào việc tôi đứng cao hơn ai. Người biết mình được Chúa yêu sẽ dần thoát khỏi cuộc thi mệt mỏi mang tên “phải hơn người khác”.
Thập Giá cũng chữa lành một vết thương khác: vết thương của những người từng bị xúc phạm phẩm giá. Có người từ nhỏ đã nghe những lời nặng nề: “Mày chẳng làm nên trò trống gì.” Có đứa trẻ lớn lên trong sự so sánh: “Con nhìn anh con xem, nhìn chị con xem.” Có người bị chồng hay vợ coi thường suốt nhiều năm. Có người đi làm bị sỉ nhục. Có người vì nghèo mà bị đối xử như kẻ kém cỏi. Có người từng bị bỏ rơi nên mang mặc cảm rằng mình không đáng yêu. Có người trải qua một mối tình đổ vỡ rồi tự kết luận rằng chắc mình không đủ tốt. Có người mang trong mình những tổn thương rất sâu vì bị bạo hành, lạm dụng, chế nhạo, miệt thị. Những lời ấy có thể đã qua rất lâu nhưng vẫn còn sống trong tâm trí, cứ mỗi lần thất bại chúng lại trở về thì thầm: “Mày vô dụng. Mày chẳng đáng gì.” Nếu bạn đang mang những tiếng nói ấy trong lòng, hãy đem chúng đến trước Thập Giá. Đứng đó và hỏi: nếu tôi thật sự chẳng đáng gì, tại sao Con Thiên Chúa lại chết cho tôi? Nếu tôi là thứ bỏ đi, tại sao Thiên Chúa lại tìm tôi? Nếu đời tôi không có ý nghĩa, tại sao Người lại muốn tôi sống đời đời với Người? Có thể những người từng xúc phạm bạn không nhận ra giá trị của bạn. Có thể bạn đã bị đối xử như đồ vật. Nhưng sự mù lòa của người khác không thay đổi điều Thiên Chúa thấy nơi bạn. Một viên ngọc bị rơi xuống bùn vẫn là viên ngọc. Bùn có thể che ánh sáng của nó, nhưng không biến nó thành đá sỏi. Tội lỗi, thất bại, thương tích có thể làm đời ta méo mó, nhưng không xóa được dấu ấn rằng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được Đức Kitô cứu chuộc.
Dĩ nhiên, có người sẽ nói: “Nhưng tôi đã làm quá nhiều điều sai. Tôi không chỉ thất bại; tôi có tội. Tôi đã làm đau người khác. Tôi đã phản bội. Tôi đã phá hỏng những điều rất tốt. Làm sao tôi còn có thể nói mình quý giá?” Chính ở đây phải nhìn kỹ hơn lên Thập Giá. Chúa không nói tội lỗi là chuyện nhỏ. Nếu tội lỗi chẳng nghiêm trọng, Thập Giá đã không cần thiết. Đức Kitô chịu chết cho thấy tội lỗi rất đáng sợ. Nhưng đồng thời, Thập Giá còn nói điều lớn hơn: lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi. Người không yêu tội của ta, nhưng Người yêu con người đang bị tội làm thương tổn. Một bác sĩ không yêu căn bệnh nhưng yêu bệnh nhân nên mới chữa. Thiên Chúa không dung túng sự dữ, nhưng Người không vứt bỏ tội nhân. Chúa Giêsu nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy, không để kết án ông đến chết trong mặc cảm nhưng để nước mắt ông trở thành khởi đầu của một cuộc trở về. Chúa đón người phụ nữ tội lỗi. Chúa ăn uống với người thu thuế. Chúa cầu xin tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình. Và trên Thập Giá, Người mở cửa Nước Trời cho một tên trộm. Vậy ai trong chúng ta có quyền nói một con người là hết đường? Ai có quyền đóng hồ sơ đời ai đó và viết: “Không thể cứu”? Ai có quyền nói: “Loại người này chẳng đáng được thương”? Đức Kitô đã chết chính để không ai bị giản lược vào tội lỗi của họ.
Ta cần phân biệt con người với điều họ đã làm. Một hành động có thể rất xấu; người thực hiện phải chịu trách nhiệm, phải sám hối, phải sửa lại những gì có thể; công lý vẫn cần được tôn trọng. Nhưng phẩm giá căn bản của họ không bị xóa. Đây là nền tảng Kitô giáo rất mạnh. Ta chống tội nhưng không được hủy diệt tội nhân. Ta lên án điều ác nhưng không được đánh mất lòng thương người làm điều ác. Ta sửa dạy nhưng không được sỉ nhục. Ta bảo vệ nạn nhân nhưng không được nuôi lòng trả thù. Bởi ngay cả người có tội cũng là người Chúa muốn cứu. Nếu quên điều này, ta có thể mang Thánh Giá trên cổ mà sống ngược với Thập Giá trong cách đối xử với người khác.
Và vì mỗi người đáng giá bằng chính cái giá Đức Kitô đã trả, nên cách ta đối xử với người khác nói rất nhiều về cách ta hiểu Thập Giá. Không thể quỳ trước Thánh Giá rồi đứng lên khinh người nghèo. Không thể hôn chân Chúa chịu đóng đinh ngày Thứ Sáu Tuần Thánh rồi về nhà dùng lời nói đóng đinh vợ, chồng, con cái. Không thể xúc động khi nghe kể cuộc thương khó nhưng lại lạnh lùng trước nỗi đau của một người đang sống cạnh mình. Không thể tuyên xưng rằng Chúa đã chết cho mọi người mà vẫn phân biệt người có địa vị với người thấp cổ bé miệng, người có tiền với người nghèo, người thân với người lạ. Nếu Máu Đức Kitô đổ ra cho người ấy, tôi phải học kính trọng họ. Có thể tôi không đồng ý với họ. Có thể họ khó tính. Có thể họ từng làm tôi đau. Có thể tôi buộc phải đặt giới hạn. Nhưng tôi không được quên họ là một con người.
Thập Giá đặc biệt đặt trước mắt ta giá trị của những người dễ bị bỏ quên. Một xã hội thật sự văn minh không phải chỉ vì có nhiều nhà cao tầng, công nghệ hiện đại hay thu nhập cao, mà còn vì biết đối xử thế nào với người yếu nhất. Một gia đình có tình yêu không chỉ được đo bằng những bữa tiệc khi mọi người khỏe mạnh mà bằng cách họ chăm một người bệnh lâu ngày. Một cộng đoàn Kitô hữu không chỉ đẹp vì phụng vụ đông người, ca đoàn hát hay, cơ sở khang trang, nhưng còn vì người nghèo, người đau yếu, người ít học, người vụng về có được đón nhận không. Chúa Giêsu đã đồng hóa mình với những người bé nhỏ: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Cho nên, người nằm ở góc phòng bệnh không phải người dư thừa. Người già lặp đi lặp lại một câu chuyện không phải người đáng bực mình. Đứa trẻ chậm hơn bạn bè không phải đứa trẻ kém giá trị. Người lao công, người giữ xe, người bán vé số, người phục vụ bàn không thấp hơn người ngồi ghế sang trọng. Mỗi người đều có một lịch sử Thiên Chúa biết, một trái tim biết đau, một linh hồn Đức Kitô đã đổ máu để cứu.
Tuy nhiên, hiểu mình có giá trị không phải để rơi vào tự tôn. Kitô giáo không dạy: “Bạn tuyệt vời vì bạn hoàn hảo.” Kitô giáo nói: Bạn quý giá vì bạn được Thiên Chúa yêu, dù bạn vẫn là một thụ tạo cần được cứu. Đây là sự quân bình rất đẹp. Ta không tự tôn vì biết tất cả là ân sủng; nhưng cũng không tự khinh vì biết mình được Thiên Chúa yêu. Có người tưởng khiêm nhường là luôn nghĩ mình tệ hại. Không phải. Khiêm nhường là nhìn mình trong sự thật. Sự thật gồm cả hai mặt: tôi yếu đuối, tội lỗi, giới hạn; nhưng tôi cũng là con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được Con Thiên Chúa yêu và cứu bằng chính mạng sống Người. Nếu chỉ thấy ưu điểm, ta kiêu ngạo. Nếu chỉ thấy khuyết điểm, ta tuyệt vọng. Khiêm nhường đứng giữa hai vực sâu ấy và nói: “Tự mình con chẳng là gì, nhưng trong mắt Chúa, con được yêu đến mức Người đã chết cho con.”
Một đời sống lành mạnh bắt đầu khi ta thôi hỏi thiên hạ: “Tôi có đáng giá không?” và bắt đầu nghe câu trả lời của Thiên Chúa. Người ta có thể thay đổi thái độ với ta rất nhanh. Hôm nay tung hô, mai chỉ trích. Hôm nay cần ta, mai quên ta. Hôm nay nói “không thể thiếu anh”, mai có người khác thay thế. Đám đông ở Giêrusalem đã từng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít”, chẳng bao lâu sau lại có tiếng “Đóng đinh nó đi!” Nếu Đức Giêsu xây căn tính của Người trên tiếng đám đông, Người đã sụp đổ. Nhưng Người biết mình là Con yêu dấu của Chúa Cha. Người biết từ đâu Người đến và Người đi đâu. Ta cũng cần tìm nền tảng ấy. Người trưởng thành trong đức tin không phải người không đau khi bị hiểu lầm, nhưng là người không để sự hiểu lầm của người khác quyết định mình là ai. Họ có thể nghe góp ý, sửa mình khi sai, nhưng không để lời ác ý phá hủy phẩm giá. Họ không sống dựa hoàn toàn vào tiếng vỗ tay.
Điều này đặc biệt cần cho những người đang trải qua thất bại. Thất bại có thể rất đau. Thi rớt, làm ăn thua lỗ, một dự án tan vỡ, một ước mơ không thành, một cuộc hôn nhân đầy khó khăn, một người con không như mong đợi, một công việc mục vụ dường như chẳng sinh kết quả. Ta dễ đồng hóa: “Tôi thất bại” với “Tôi là một người thất bại.” Hai câu ấy rất khác. Một biến cố thất bại không định nghĩa toàn bộ con người. Thánh Phêrô từng chìm xuống nước. Ông từng hiểu sai con đường Thập Giá. Ông từng ngủ khi Chúa cần ông thức. Ông từng chém tai người ta trong nóng giận. Ông từng bỏ chạy. Ông từng chối Chúa. Nếu chỉ lấy những thất bại ấy làm bản án cuối cùng, chẳng ai nghĩ ông sẽ trở thành đá tảng của Hội Thánh. Nhưng Chúa thấy xa hơn thất bại hiện tại của Phêrô. Chúa thấy điều ân sủng có thể làm nơi một con người biết trở về. Chúng ta cũng phải học nhìn đời mình như thế. Thiên Chúa không đóng khung ta trong ngày tệ nhất của đời ta.
Cũng có người đang rất thành công và cần nhìn lên Thập Giá không kém người thất bại. Bởi thành công cũng có cám dỗ riêng. Khi mọi việc thuận lợi, ta rất dễ tưởng giá trị của mình nằm trong thành công ấy. Rồi ta sinh kiêu căng, coi thường người kém hơn, sợ mất vị trí. Càng có nhiều càng bất an vì sợ mất nhiều. Thập Giá nhắc ta rằng trước mặt Chúa, chiếc ghế cao nhất rồi cũng phải bỏ lại. Tiền bạc không theo ta qua nấm mồ. Danh tiếng cũng sẽ phai. Nhiều người từng quyền lực nay chỉ còn tên trong vài trang sách. Những gì thế gian gọi là lớn có khi rất nhỏ trong Nước Trời. Một bà mẹ âm thầm chăm đứa con khuyết tật ba mươi năm có thể lớn hơn rất nhiều người được báo chí nhắc tên. Một người chồng trung thành chăm vợ bệnh suốt nhiều năm có thể đã sống một bài Tin Mừng đẹp hơn bao bài diễn văn. Một nữ tu già chẳng còn làm việc gì nổi, chỉ ngồi lần chuỗi và dâng đau đớn cho Chúa, không hề vô dụng trong mầu nhiệm Hội Thánh. Thập Giá đảo ngược bảng xếp hạng của thế gian.
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Chữ “ban” ấy rất đẹp. Tình yêu thật luôn biết cho đi. Và giá trị con người được mặc khải trong chính quà tặng ấy. Thiên Chúa không chỉ nói: “Ta yêu con.” Người trao Con Một. Đức Giêsu không chỉ giảng về tình yêu. Người trao thân. Vì thế, mỗi lần ta nghi ngờ mình được yêu, hãy trở về với một thực tại cụ thể: Chúa đã chết cho ta. Cảm xúc có thể thay đổi. Có ngày cầu nguyện thấy Chúa rất gần, có ngày khô khan tưởng Người xa. Nhưng Thập Giá vẫn đứng đó. Thập Giá là bằng chứng tình yêu không tùy cảm xúc của ta. Ta có thể không cảm thấy mình đáng yêu, nhưng sự kiện Chúa đã yêu ta vẫn không thay đổi.
Có lẽ nhiều người Công giáo đã quá quen nhìn Thập Giá đến mức không còn kinh ngạc nữa. Trong nhà có Thánh Giá. Trên bàn thờ có Thánh Giá. Trên cổ đeo Thánh Giá. Đi lễ nhìn Thánh Giá. Nhưng thử một lần đứng thật lâu trước Chúa chịu đóng đinh và tự hỏi: “Lạy Chúa, con là gì mà Chúa làm như thế vì con?” Có khi ta sẽ khóc. Không phải vì tự thương hại, mà vì lần đầu hiểu một chút mình được yêu thế nào. Bàn tay ấy bị đóng đinh vì những bàn tay ta từng làm điều sai. Đôi chân ấy bị đóng đinh vì những con đường ta từng lạc. Đầu Người đội mão gai vì những ý nghĩ kiêu ngạo, độc ác của ta. Trái tim Người bị đâm thâu vì trái tim chai cứng của ta. Và Người vẫn nói: “Ta yêu con.” Không có tình yêu rẻ tiền ở Canvê. Tình yêu ấy có giá máu.
Nếu biết mình được mua bằng một giá như thế, ta cũng phải sống xứng với phẩm giá ấy. Không phải sống vì sợ hãi, nhưng vì biết đời mình quá quý để đem ném vào những điều thấp hèn. Người biết mình quý sẽ không dễ bán mình. Nếu một vật rất quý, ta giữ cẩn thận. Cũng vậy, người biết mình là người Đức Kitô đã chết cho sẽ phải tự hỏi trước mỗi lựa chọn: “Điều này có xứng với phẩm giá của tôi không?” Một lời nói độc ác có xứng không? Một cuộc ngoại tình có xứng không? Một sự gian dối vì chút lợi nhuận có xứng không? Một đời sống buông thả có xứng không? Nghiện ngập, hận thù, trả thù, làm nhục người khác có xứng với người đã được mua bằng Máu Con Thiên Chúa không? Thánh Phaolô nói rất mạnh: “Anh em đã được mua bằng giá máu.” Vì thế, đời Kitô hữu không chỉ là tránh tội vì tội “bị cấm”, mà còn là từ chối những gì làm hạ thấp phẩm giá một người thuộc về Đức Kitô.
Có những lúc người ta bán rẻ phẩm giá mình chỉ để đổi lấy sự chấp nhận. Một bạn trẻ sẵn sàng làm điều mình biết là sai chỉ vì sợ bạn bè loại trừ. Một người chấp nhận một mối quan hệ độc hại chỉ vì sợ cô đơn. Một người nhân viên gian dối để giữ việc. Một người có chức vụ thỏa hiệp với lương tâm để giữ chiếc ghế. Một người làm đủ mọi cách để được nổi tiếng. Đằng sau rất nhiều thỏa hiệp là một nỗi sợ: nếu mất thứ này, tôi sẽ chẳng còn gì. Nhưng người đứng dưới Thập Giá có thể nói: “Dù mất mọi thứ, tôi vẫn là người được Thiên Chúa yêu.” Khi căn tính bám vào Chúa, ta mới đủ tự do để nói “không” với những thứ muốn mua linh hồn mình.
Thập Giá cũng giúp ta học yêu chính mình đúng cách. Có những người tưởng yêu bản thân là ích kỷ. Thật ra, ích kỷ là đặt mình làm trung tâm; còn biết quý bản thân là đón nhận điều Thiên Chúa quý. Nếu Thiên Chúa coi đời tôi đáng được cứu, tôi không có quyền hủy hoại chính mình. Tôi phải chăm sóc thân xác, tâm hồn, lương tâm, các mối quan hệ. Tôi phải biết nghỉ ngơi khi cần. Phải biết đặt giới hạn trước những sự xúc phạm. Phải biết xin giúp đỡ khi không thể tự gánh. Phải biết tha thứ cho chính mình sau khi đã thật lòng sám hối. Có người dễ tha cho người khác nhưng không bao giờ tha cho bản thân. Họ cứ mang một lỗi lầm cũ ra đánh mình mỗi ngày. Nhưng nếu Chúa đã tha, tại sao ta cứ tiếp tục dựng tòa án để kết án mình? Ăn năn là cần; sửa sai là cần; nhớ bài học là cần; nhưng sống cả đời trong tự ghét không phải là lòng khiêm nhường. Đó có thể là một dạng không tin rằng lòng thương xót Chúa đủ lớn.
Và từ chỗ biết mình được yêu, ta học cách yêu người khác mà không chiếm hữu. Người thiếu cảm giác giá trị thường dễ đòi người khác lấp đầy khoảng trống trong mình. Họ yêu nhưng kèm theo nỗi sợ mất. Họ kiểm soát. Họ ghen tuông. Họ muốn người kia phải luôn xác nhận: “Anh quan trọng với em”, “Em phải cần anh”. Nhưng không một người nào có thể mang trách nhiệm chứng minh giá trị của ta suốt đời. Chỉ Thiên Chúa mới là nền đá ấy. Khi đã biết mình được Chúa yêu, ta có thể yêu người khác cách tự do hơn: không phải để hút lấy sự xác nhận, nhưng để trao ban.
Trong gia đình, câu hỏi về giá trị con người càng cần được sống cụ thể. Cha mẹ có thể vô tình làm con nghĩ rằng nó chỉ đáng giá khi học giỏi. Mỗi lần điểm cao thì vui vẻ, điểm thấp thì lạnh lùng; con sẽ hiểu ngầm: “Muốn được yêu, con phải thành công.” Rồi đứa trẻ lớn lên thành một người luôn sợ thất bại. Cha mẹ cần dạy con cố gắng, kỷ luật, trách nhiệm, nhưng đồng thời phải cho con biết: “Dù con thành công hay thất bại, con vẫn là con của ba mẹ. Ba mẹ không đồng ý với mọi việc con làm, nhưng tình thương dành cho con không biến mất.” Đó cũng chính là cách Thiên Chúa đối xử với ta. Người sửa dạy ta vì yêu, chứ không rút lại căn tính làm con mỗi lần ta vấp ngã.
Vợ chồng cũng cần nhớ phẩm giá của nhau. Sống chung lâu năm dễ sinh sự coi thường. Người ta lịch sự với người ngoài nhưng nói với người nhà những lời không bao giờ dám nói với khách. Có người gọi vợ chồng bằng những danh từ xúc phạm, đào lại lỗi cũ, so sánh, chế nhạo trước mặt con cái. Mỗi lời ấy giống như đóng một cái đinh nhỏ vào tâm hồn người kia. Nếu người ấy là người Đức Kitô đã chết cho, tôi có quyền làm nhục họ không? Có thể phải góp ý rất thẳng; có thể phải nói về điều sai; có thể phải có những giới hạn rõ ràng; nhưng không được lấy nhân phẩm của người kia làm mục tiêu để tấn công.
Trong đời linh mục, tu sĩ hay những người phục vụ Giáo Hội, bài học này cũng vô cùng quan trọng. Người mục tử có thể vô tình lấy thành công mục vụ làm thước đo phẩm giá mình. Giáo xứ đông thì vui, vắng thì buồn. Bài giảng được khen thì hăng hái, bị chê thì hụt hẫng. Công việc đang phát triển thì thấy mình hữu ích, lúc bệnh hay tuổi già không làm được nữa thì thấy trống rỗng. Nhưng ơn gọi trước hết không phải là giá trị sử dụng; ơn gọi là tương quan. Trước khi Đức Giêsu sai các môn đệ đi làm việc, Người gọi họ “đến ở với Người”. Một linh mục già không còn giảng khỏe vẫn là linh mục. Một tu sĩ bệnh tật không thể làm việc vẫn là người tận hiến. Đời họ không mất ý nghĩa khi hiệu suất giảm. Có khi chính những năm tháng yếu đuối ấy lại là lúc họ nên giống Đức Kitô chịu đóng đinh nhất: không còn làm được nhiều, chỉ còn trao chính mình.
Thập Giá còn đặt ra một câu hỏi rất nghiêm trọng cho xã hội: chúng ta đánh giá con người thế nào? Khi một xã hội bắt đầu xem một số người là “không đáng sống”, xã hội ấy bước vào một vùng rất nguy hiểm. Nếu giá trị con người phụ thuộc khả năng nhận thức, sức khỏe, tuổi tác, mức độ hữu dụng, ai sẽ có quyền đặt mức chuẩn? Người già sa sút trí nhớ thì sao? Thai nhi chưa phát triển hoàn toàn thì sao? Người bệnh nặng thì sao? Người khuyết tật trí tuệ thì sao? Tin Mừng đưa ra một nền tảng không thay đổi: phẩm giá không phải thứ xã hội trao nên xã hội cũng không có quyền tước bỏ. Giá trị của một người đi trước mọi thành tựu của họ. Họ quý bởi họ là người, bởi họ mang hình ảnh Thiên Chúa, bởi Đức Kitô đã hiến mình cho họ.
Có lẽ chúng ta cũng cần hỏi lại về những người mà chính mình đang âm thầm coi là “ít giá trị”. Có một người nào ta khinh không? Có một nhóm người nào ta thường nói bằng giọng miệt thị? Có người nào chỉ vì quá khứ, nghề nghiệp, học vấn, xuất thân mà ta không muốn ngồi gần? Nếu có, hãy nhìn lên Thập Giá và nhớ: Máu đang chảy trên đó cũng chảy vì họ. Chúa yêu họ không kém ta. Thiên đàng không phải câu lạc bộ của những người ta thích. Có thể đến ngày cuối cùng, ta sẽ kinh ngạc vì thấy những người mình từng coi thường được đứng rất gần Chúa.
Nhưng đẹp nhất vẫn là điều này: trên Thập Giá, Đức Giêsu không chỉ nói giá trị của từng cá nhân mà còn khôi phục khả năng yêu của con người. Khi biết mình được yêu vô điều kiện, ta có thể bắt đầu chữa những vòng tròn bạo lực. Người bị coi thường thường dễ coi thường người khác. Người từng bị sỉ nhục dễ đi sỉ nhục người yếu hơn. Người không cảm thấy mình có giá trị dễ đi tìm giá trị bằng quyền lực. Nhưng Thập Giá chặn vòng tròn ấy lại. Đức Giêsu bị sỉ nhục mà không sỉ nhục lại. Bị đánh mà không trả đũa. Bị tước hết mọi phẩm giá theo con mắt thế gian mà vẫn giữ trọn phẩm giá của tình yêu. Người cho thấy phẩm giá không phải là thắng người khác mà là không để sự dữ biến mình thành kẻ ác.
Nếu hôm nay ai hỏi: “Bạn đáng giá bao nhiêu?” có lẽ câu trả lời đẹp nhất không phải một con số. Hãy chỉ vào Thập Giá. “Tôi đáng giá bằng một tình yêu đã đi đến tận cùng. Tôi đáng giá bằng Máu của Con Thiên Chúa. Tôi không đáng vì tôi hoàn hảo, nhưng tôi quý vì tôi được yêu.” Và rồi hãy nói tiếp: “Người đứng trước mặt tôi cũng đáng giá như thế.” Bởi Tin Mừng không cho phép ta dùng Thập Giá để an ủi mình rồi quên phẩm giá người khác.
Một ngày nào đó, mọi thứ ta dùng để định giá mình sẽ rơi xuống. Sắc đẹp sẽ phai. Sức khỏe yếu đi. Chức vụ sẽ trao cho người khác. Nhà cửa sẽ để lại. Tiền bạc sang tay. Những tiếng vỗ tay im dần. Thậm chí tên tuổi ta rồi cũng mờ trong ký ức người đời. Nhưng có một điều không qua đi: tình yêu Thiên Chúa dành cho ta trong Đức Giêsu Kitô. Thập Giá từng đứng trên đồi Canvê hai ngàn năm trước vẫn nói với nhân loại mọi thời: “Con quý giá.” Khi không còn ai cần ta, Người vẫn cần trái tim ta. Khi không còn ai nhớ ta, Người vẫn nhớ tên ta. Khi không còn ai thấy những hy sinh âm thầm, Người thấy. Khi ta không còn làm được gì, ta vẫn có thể để mình được yêu.
Bởi vậy, nếu một ngày bạn thất bại, đừng kết án đời mình. Nếu một ngày bạn bị người khác bỏ rơi, đừng nghĩ mình không đáng yêu. Nếu một ngày tuổi già làm bạn yếu đi, đừng gọi mình là vô dụng. Nếu tội lỗi khiến bạn xấu hổ, hãy sám hối nhưng đừng tuyệt vọng. Nếu người đời quên bạn, hãy nhớ Đấng trên Thập Giá đã không quên. Và nếu mọi tiếng nói trong đầu đang nói rằng bạn không đủ tốt, hãy ngước lên và để Thập Giá nói tiếng cuối cùng.
Thập Giá không nói rằng bạn hoàn hảo. Thập Giá nói bạn cần được cứu.
Thập Giá không nói tội bạn nhỏ. Thập Giá nói lòng thương xót lớn hơn.
Thập Giá không nói đời bạn sẽ không đau. Thập Giá nói nỗi đau không có quyền định nghĩa bạn.
Thập Giá không nói mọi người sẽ yêu bạn. Thập Giá nói Thiên Chúa đã yêu bạn đến cùng.
Thập Giá không nói bạn phải hơn người khác mới đáng giá. Thập Giá nói bạn quý giá vì bạn là của Thiên Chúa.
Và có lẽ câu hỏi quan trọng nhất không còn là: “Tôi đáng giá bao nhiêu?”, mà là: “Một đời đã được mua bằng cái giá như thế, tôi sẽ sống thế nào?” Tôi có tiếp tục đem đời mình bán rẻ cho những chuyện nhỏ nhen không? Tôi có tiếp tục để lời người khác quyết định giá trị mình không? Tôi có tiếp tục khinh thường những người Chúa đã chết cho không? Tôi có tiếp tục sống như thể đời này vô nghĩa không?
Xin cho mỗi lần nhìn lên Thập Giá, chúng ta nghe được một lời rất riêng của Chúa: “Con đừng sợ. Con không phải đồ bỏ đi. Con không phải một con số. Con không phải những thất bại của con. Con không chỉ là quá khứ của con. Con là người Ta yêu. Và vì yêu con, Ta đã trao chính mình.”
Có thể thế gian sẽ hỏi bạn có bao nhiêu tiền.
Chúa hỏi bạn có để Người yêu không.
Thế gian hỏi bạn đã đạt được gì.
Chúa hỏi bạn có tin rằng mình là con của Người không.
Thế gian hỏi người ta nghĩ gì về bạn.
Thập Giá nói: Thiên Chúa đã nghĩ bạn đáng để Con Một của Người chết vì bạn.
Chỉ thế thôi cũng đủ để một con người đứng dậy sau bao lần bị cuộc đời làm cho cúi đầu.
Chỉ thế thôi cũng đủ để người thất bại còn hy vọng.
Chỉ thế thôi cũng đủ để người tội lỗi dám trở về.
Chỉ thế thôi cũng đủ để người già yếu biết đời mình vẫn quý.
Chỉ thế thôi cũng đủ để ta biết kính trọng từng người ta gặp.
Và chỉ thế thôi cũng đủ để ta sống phần đời còn lại không phải bằng nỗi sợ mình chẳng là gì, nhưng bằng niềm biết ơn sâu thẳm: tôi là người đã được yêu bằng một tình yêu mang hình Thập Giá.
BẠN ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU? HÃY NHÌN LÊN THẬP GIÁ.
Ở đó, bạn sẽ không tìm thấy một con số.
Bạn sẽ gặp một Đấng đang dang hai tay.
Và đôi tay ấy là câu trả lời.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – LỜI PHẢN ĐỐI CỦA THIÊN CHÚA TRƯỚC MỌI SỰ COI THƯỜNG CON NGƯỜI
Tin Mừng: Mt 25,31-46
Có những lúc con người nhìn nhau mà chỉ nhìn thấy cái áo đang mặc, chiếc xe đang đi, căn nhà đang ở, chức vụ đang nắm, số tiền đang có, bằng cấp đang treo trên tường, những mối quan hệ đang có trong tay. Người ta nhìn nhau rồi âm thầm định giá nhau. Người này đáng kính vì giàu. Người kia đáng trọng vì có quyền. Người nọ đáng nghe vì nổi tiếng. Còn người nghèo thì đứng nép bên lề. Người bệnh trở thành một gánh nặng. Người già chậm chạp bị xem là phiền toái. Người khuyết tật dễ bị nhìn bằng ánh mắt thương hại hơn là tôn trọng. Người tù tội bị đóng đinh mãi vào quá khứ của họ. Người thất bại bị coi như không có khả năng. Người ít học không được quyền lên tiếng. Người nhập cư, người lang thang, người cô độc, người mắc một lỗi lầm lớn trong đời nhiều khi bị người đời thu nhỏ toàn bộ cuộc đời họ vào một nhãn hiệu rồi từ đó phán xét, xa lánh, coi thường. Thế nhưng giữa một thế giới luôn có nguy cơ định giá con người bằng lợi ích và địa vị, Tin Mừng lại đặt trước mắt chúng ta một sự thật làm đảo lộn mọi thước đo: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Đức Giêsu không nói rằng người nghèo làm Người nhớ đến Chúa. Người không nói rằng hãy thương họ vì họ là hình ảnh xa xa của Thiên Chúa. Người nói một điều mạnh hơn nhiều: chính Người hiện diện nơi họ. Người đói mang khuôn mặt Người. Người khát mang khuôn mặt Người. Người khách lạ mang khuôn mặt Người. Người trần truồng mang khuôn mặt Người. Người đau yếu mang khuôn mặt Người. Người tù tội mang khuôn mặt Người. Và bởi thế, khinh thường một con người không bao giờ chỉ là chuyện giữa ta với người đó. Nó đụng đến chính Thiên Chúa. Xúc phạm phẩm giá một con người là xúc phạm Đấng đã dựng nên họ và đã để Con Một của Người chết cho họ.
Mầu nhiệm này chỉ được hiểu trọn vẹn khi ta nhìn lên Thập Giá. Bởi trên Thập Giá, chính Thiên Chúa đã tự đặt mình vào hàng những người bị coi thường nhất. Đức Giêsu không chết trên một chiếc giường sạch sẽ giữa những người kính trọng Người. Người chết trần trụi, bị kết án, bị chế nhạo, bị đánh đòn, bị khạc nhổ, bị đám đông nhìn như một kẻ thất bại. Người chết cái chết của một người bị xã hội loại ra ngoài. Người đã từng chữa người bệnh thì nay thân thể Người đầy thương tích. Người đã từng cho kẻ đói ăn thì nay Người khát. Người đã từng an ủi những kẻ bị bỏ rơi thì nay Người kêu lên giữa cô độc. Người đã từng đi tìm những con chiên lạc thì nay chính Người bị đẩy ra ngoài thành. Người vô tội lại đứng giữa những kẻ bị kết án. Thiên Chúa đã không cứu thế giới từ một vị trí an toàn. Người bước xuống tận nơi con người bị làm nhục nhất, bị chà đạp nhất, bị xem là vô dụng nhất, và từ nơi đó Người nói với toàn thể lịch sử nhân loại rằng: không một con người nào được phép bị coi là rác rưởi. Không một mạng sống nào là dư thừa. Không một người nào chỉ đáng được đánh giá bằng lỗi lầm, bệnh tật, nghèo túng, tuổi tác hay khả năng làm ra tiền của họ. Thập Giá là lời phản đối không lời nhưng mạnh hơn mọi bài diễn văn của Thiên Chúa trước tất cả những cơ chế, những lối sống, những định kiến, những thái độ biến một con người thành một món đồ có giá khi còn hữu dụng và thành một gánh nặng khi không còn đem lại lợi ích.
Chúng ta quen treo Thánh Giá trong nhà thờ, trong phòng khách, trên bàn làm việc, trước ngực. Điều ấy rất đẹp. Nhưng sẽ là một nghịch lý đau đớn nếu ta cúi đầu trước Thánh Giá bằng gỗ mà lại lạnh lùng trước những thập giá bằng xương bằng thịt đang sống ngay bên cạnh. Ta hôn chân Chúa chịu đóng đinh trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng có thể về nhà nói một câu làm cha mẹ già đau lòng. Ta quỳ trước Nhà Tạm thật lâu, nhưng lại khinh một người làm công vì họ ít học. Ta đọc kinh cầu nguyện rất sốt sắng, nhưng lại xem thường người nghèo đến xin giúp đỡ. Ta đi hành hương xa hàng trăm cây số, nhưng có khi không bước vài bước sang phòng bên cạnh để hỏi thăm một người bệnh. Ta có thể dâng tiền làm việc đạo đức mà lại tiếc một chút kiên nhẫn dành cho người trong gia đình. Ta có thể rất nhạy cảm với một bức tượng bị xúc phạm mà lại không nhạy cảm với một con người bị sỉ nhục. Điều đáng sợ là Đức Giêsu trong Mt 25 không hỏi người ta đã thuộc bao nhiêu kinh, đã tham dự bao nhiêu buổi đạo đức, đã được bao nhiêu người biết đến. Người hỏi một điều rất cụ thể: khi Ta đói, ngươi có cho ăn không? Khi Ta khát, ngươi có cho uống không? Khi Ta là khách lạ, ngươi có đón tiếp không? Khi Ta trần truồng, ngươi có cho mặc không? Khi Ta đau yếu, ngươi có thăm viếng không? Khi Ta ở tù, ngươi có đến với Ta không? Những câu hỏi cuối cùng của cuộc đời hóa ra lại đơn giản đến đáng sợ. Và điều đáng sợ hơn nữa là cả người công chính lẫn kẻ bị kết án đều ngạc nhiên: “Có bao giờ chúng con thấy Chúa?” Họ không biết. Họ đã gặp Chúa rất nhiều lần mà không nhận ra. Chúa đã đứng trước cửa dưới khuôn mặt một người nghèo. Chúa đã nằm trong bệnh viện dưới khuôn mặt một người đau đớn. Chúa đã gọi điện trong tiếng nói của một người cô độc. Chúa đã ngồi trong nhà tù dưới khuôn mặt một con người từng phạm lỗi. Chúa đã sống ngay trong gia đình dưới khuôn mặt một người chậm chạp, khó tính, già nua, bệnh tật. Nhưng người ta đã đi tìm Chúa ở nơi khác.
Có khi ta phải thú nhận rằng mình thích một Thiên Chúa trên trời hơn một Thiên Chúa đang đứng trước mặt dưới hình dáng của một người làm mình khó chịu. Một Thiên Chúa trên bàn thờ không làm phiền giờ giấc của ta. Một Thiên Chúa trong tượng ảnh không hỏi mượn tiền. Một Thiên Chúa trong sách thánh không gọi ta lúc nửa đêm. Nhưng Thiên Chúa của Tin Mừng lại thường đến với ta bằng một khuôn mặt có thể khiến ta mất thời gian, mất tiền, mất sự thoải mái, thậm chí mất cả lòng tự ái. Chính vì thế, yêu con người thật khó hơn nói về tình yêu. Đức tin thật khó hơn giữ một số hình thức đạo đức. Bởi nếu Đức Kitô thực sự ở trong những người bé nhỏ, thì đời sống Kitô hữu không thể chỉ là một tương quan riêng tư giữa “tôi với Chúa”. Không thể vừa yêu Chúa vừa lạnh lùng với người. Không thể vừa ca tụng lòng thương xót vừa sống bằng sự khinh miệt. Không thể vừa tuyên xưng Đức Kitô chịu đóng đinh vừa đóng đinh người khác bằng lời nói, định kiến và cách cư xử của mình.
Sự coi thường con người nhiều khi không ồn ào. Nó nằm trong một ánh mắt. Một giọng nói. Một cách xưng hô. Một cái nhếch mép. Một câu nói tưởng đùa. Một lần cố tình không chào. Một thái độ khiến người khác hiểu rằng họ thấp hơn mình. Có những người chưa bao giờ đánh ai, nhưng mỗi ngày làm người khác bị thương bằng cách khiến họ cảm thấy mình vô giá trị. Có những gia đình không có bạo lực bằng tay chân nhưng có một thứ bạo lực bằng lời nói kéo dài nhiều năm. Một người chồng luôn làm vợ cảm thấy mình ngu dốt. Một người vợ luôn đem thất bại của chồng ra chế giễu. Cha mẹ so sánh con cái đến mức một đứa trẻ lớn lên với cảm giác rằng mình không bao giờ đủ tốt. Con cái coi cha mẹ già như một thứ phiền phức. Anh chị em vì tiền bạc mà nói với nhau những lời không bao giờ có thể quên. Trong cộng đoàn cũng vậy, có khi người có tiếng nói mạnh hơn lấn át người yếu thế; người có học xem nhẹ người ít học; người có điều kiện coi thường người nghèo; người làm lâu năm xem những người mới đến như chẳng biết gì. Những vết thương ấy không chảy máu ra ngoài, nhưng có thể chảy máu âm thầm cả một đời.
Thập Giá đứng giữa chúng ta để phản đối tất cả những điều ấy. Thập Giá nói rằng Thiên Chúa không đo giá trị con người bằng tiêu chuẩn của chúng ta. Người trộm lành, trong những giờ cuối đời, có lẽ chẳng còn gì để tự hào. Một đời đầy lỗi lầm. Không thành tích. Không thời gian sửa chữa. Không thể đền bù những gì đã gây ra. Thế mà ngay bên cạnh Người Chịu Đóng Đinh, ông nghe một lời kỳ diệu: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thiên Chúa nhìn thấy nơi một đời tưởng như đã hỏng vẫn còn một cánh cửa có thể mở ra. Điều đó không làm tội lỗi trở thành nhẹ. Nhưng nó cho thấy con người lớn hơn tội lỗi của mình. Một người đã phạm tội không phải chỉ là “một tên tội phạm”. Một người nghiện ngập không chỉ là “một người nghiện”. Một người thất bại không chỉ là “kẻ thất bại”. Một người ly hôn không chỉ là “người có gia đình đổ vỡ”. Một người bệnh không chỉ là “một ca bệnh”. Một người nghèo không chỉ là “đối tượng cứu trợ”. Mỗi người đều mang trong họ một lịch sử, một linh hồn, những giằng co, những nỗi đau mà ta không biết, và trên hết, họ mang một phẩm giá mà Thiên Chúa không bao giờ thu hồi.
Đức Giêsu trong Tin Mừng không chỉ giúp người nghèo. Người trả lại cho họ khuôn mặt. Người phong cùi không còn là “một người ô uế”; Đức Giêsu chạm vào anh. Người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội không còn là một cái cớ để đám đông thử Người; Đức Giêsu nhìn bà như một con người còn tương lai. Giakêu không chỉ là “tên thu thuế”; ông là một người mà Đức Giêsu muốn đến nhà. Người mù bên vệ đường không phải là tiếng ồn cần dẹp đi để đám đông tiếp tục hành trình; Đức Giêsu dừng lại hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Người đàn bà xứ Samari không chỉ là một người có quá khứ phức tạp; Đức Giêsu trò chuyện với bà về nước hằng sống. Trẻ em không phải là những người chưa đủ quan trọng; Người ôm chúng vào lòng. Và cuối cùng, trên Thập Giá, Người tự đồng hóa mình với mọi con người bị bỏ rơi, đến mức từ đó trở đi, không ai có thể nói mình yêu Đức Kitô chịu đóng đinh mà lại khinh thường những người đang bị đóng đinh trong cuộc đời.
Có một câu hỏi mà mỗi người nên đặt ra trước Thập Giá: Tôi thường coi thường ai? Có thể ta sẽ lập tức trả lời rằng mình không coi thường ai cả. Nhưng hãy đi sâu hơn. Ai là người ta không muốn ngồi cùng bàn? Ai là người ta thấy họ nói gì cũng không đáng nghe? Ai là người chỉ cần xuất hiện là ta đã khó chịu? Ai là người ta thường đem ra làm trò cười? Ai là người ta nghĩ “hạng người đó thì…”? Ai là người ta đã đóng khung bằng một lỗi lầm từ mười năm trước? Ai là người ta chỉ nhìn bằng quá khứ mà không cho họ quyền có tương lai? Ai là người trong gia đình đã lâu ta không còn nhìn bằng lòng thương mà chỉ nhìn bằng những điều họ làm ta thất vọng? Có khi chính người đó là nơi Chúa đang chờ ta. Có khi việc đạo đức Chúa muốn ta làm hôm nay không phải là đọc thêm một kinh nhưng là thôi khinh một người. Không phải là nói thêm một lời hay về bác ái nhưng là ngừng một lời làm tổn thương. Không phải đi tìm một người nghèo thật xa mà là nhìn lại người đang sống cạnh mình mà lâu nay ta không còn tôn trọng.
Mt 25 còn làm ta bối rối ở một điểm khác: Chúa đứng về phía những người bé nhỏ. Điều này không có nghĩa mọi người nghèo đều tốt hay mọi người yếu thế đều không có lỗi. Tin Mừng không lãng mạn hóa nghèo khổ. Một người nghèo cũng có thể ích kỷ; một người đau khổ cũng có thể làm người khác đau; một người tù cũng có trách nhiệm với hành vi của họ. Nhưng ngay cả khi một con người có lỗi, phẩm giá của họ không biến mất. Công lý có thể đòi một người chịu trách nhiệm, nhưng công lý Kitô giáo không bao giờ đồng nghĩa với việc tước mất nhân phẩm. Một nhà tù không được biến người phạm tội thành súc vật. Một bệnh viện không được biến bệnh nhân thành con số. Một cơ sở bác ái không được biến người nghèo thành phương tiện cho thành tích của người cho. Một gia đình không được biến người già thành món đồ phải xử lý. Một xã hội không được định nghĩa một người chỉ dựa trên hiệu quả kinh tế mà họ đem lại. Chúng ta có thể phản đối hành vi của một người mà vẫn tôn trọng con người ấy. Ta có thể nói một việc là sai mà không cần làm nhục người đã làm sai. Đức Giêsu rất rõ ràng về tội lỗi nhưng chưa bao giờ dùng sự thật để nghiền nát một con người. Người nói sự thật để cứu, không phải để thỏa mãn cảm giác mình đứng về phía đúng.
Có lẽ một trong những căn bệnh của thời đại là con người ngày càng dễ trở thành “nội dung”. Nỗi đau của một người có thể trở thành một đoạn phim. Một vụ tai nạn thành thứ để người ta quay lại trước khi nghĩ đến cứu giúp. Một người bị bắt gặp trong khoảnh khắc xấu nhất có thể bị hàng triệu người chế giễu. Một câu nói vụng về có thể bị cắt ra khỏi bối cảnh rồi biến thành bản án về toàn bộ một con người. Ta nhấn chia sẻ rất nhanh nhưng quên rằng phía bên kia màn hình là một trái tim có thể bị tổn thương. Ta bình luận về cuộc đời người khác như thể họ không có mẹ, có cha, có con cái, có những đêm mất ngủ. Thập Giá nhắc chúng ta rằng mỗi con người đều đáng để ta chậm lại trước khi phán xét. Bởi Đấng bị đám đông nhạo cười trên Canvê biết rất rõ cảm giác bị biến thành trò tiêu khiển cho người khác là thế nào.
Thế giới ngày nay nói nhiều đến nhân quyền, và đó là một thành quả đáng quý. Nhưng với người Kitô hữu, căn nền sâu nhất của phẩm giá con người không chỉ đến từ luật pháp hay sự đồng thuận xã hội. Nó đến từ một điều không ai có thể lấy đi: con người được Thiên Chúa yêu. Và tình yêu ấy đã được trả bằng giá của Thập Giá. Khi muốn biết một người đáng giá bao nhiêu, đừng chỉ nhìn tài khoản ngân hàng của họ; hãy nhìn Thập Giá. Khi muốn biết một đứa trẻ khuyết tật đáng giá bao nhiêu, hãy nhìn Thập Giá. Khi muốn biết một cụ già lú lẫn đáng giá bao nhiêu, hãy nhìn Thập Giá. Khi muốn biết một người tù đáng giá bao nhiêu, hãy nhìn Thập Giá. Khi muốn biết một người từng phá hỏng cuộc đời mình có còn đáng để được cứu hay không, hãy nhìn Thập Giá. Trên ấy, Con Thiên Chúa không chết cho một nhân loại lý tưởng, hoàn hảo, dễ thương. Người chết cho những con người thật, đầy yếu đuối, phản bội, tham lam, sợ hãi và tội lỗi. Nếu Chúa đã không khinh chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân, chúng ta lấy quyền gì để khinh một người khác?
Có người nói: “Nhưng họ không đáng.” Thật ra đó chính là chỗ Tin Mừng bắt đầu. Tình yêu Kitô giáo không phải chỉ yêu người đáng yêu. Nếu chỉ tử tế với người tử tế với mình, ta chưa cần đến Thập Giá. Nếu chỉ tôn trọng người có địa vị, ta chưa cần Tin Mừng. Nếu chỉ giúp người có thể trả ơn, ta đang đầu tư chứ chưa chắc đang yêu. Đức Giêsu đưa chúng ta xa hơn: người nhỏ bé nhất, người không có gì để trả lại, người chẳng giúp ích gì cho sự nghiệp của ta, người thậm chí không biết tên ta, chính nơi người ấy, Chúa đợi ta. Điều chúng ta làm cho họ được Thiên Chúa nhớ. Có những việc không ai chụp hình, không ai đăng báo, không ai cảm ơn, nhưng lại được ghi trong trái tim Thiên Chúa: một lần ngồi bên giường bệnh; một bữa cơm cho người đói; một chiếc áo cho người lạnh; một cuộc điện thoại cho người cô đơn; một lần không nhắc lại lỗi lầm của người đã hối cải; một lần đứng bên một người đang bị cả đám đông chế giễu; một chút kiên nhẫn với cha mẹ già; một ánh mắt tôn trọng dành cho người quét đường; một câu “cảm ơn” với người phục vụ; một cách xưng hô tử tế với người nghèo. Đó có thể là những giây phút mà chính ta cũng chẳng nhớ. Nhưng Chúa nhớ.
Và cũng có những việc nhỏ tưởng chẳng đáng kể nhưng Tin Mừng cho thấy chúng có thể rất nghiêm trọng: một lần bỏ mặc; một ánh mắt khinh; một cánh cửa đóng lại; một câu nói “mặc kệ”; một lần thấy người khác đau mà quay đi vì không muốn phiền. Những người đứng bên trái trong Mt 25 không bị kết án vì họ đã giết ai hay cướp của ai. Điều gây kinh ngạc là họ bị xét xử vì những điều họ đã không làm. Tội bỏ sót. Có những điều xấu trong đời không đến từ việc ta chủ ý gây đau khổ, mà từ việc ta quen sống mà không thấy đau khổ của người khác. Trái tim có thể hóa đá không phải vì một ngày nào đó ta quyết định trở thành người xấu, mà vì mỗi ngày ta tập quay mặt đi một chút. Hôm nay không quan tâm. Mai không quan tâm. Lâu dần, người khác trở thành phong cảnh. Người ăn xin ở góc đường thành một phần của con phố. Người giúp việc thành một cái bóng trong nhà. Người già thành tiếng ho từ căn phòng bên. Người cô độc thành một cái tên trong danh bạ ta không bao giờ gọi. Đó là điều Tin Mừng đánh thức chúng ta.
Nhưng cũng phải nói cho rõ: tôn trọng phẩm giá con người không có nghĩa là ta có thể đáp ứng mọi nhu cầu, giải quyết mọi vấn đề hay cho mọi người mọi thứ họ xin. Đức ái cần đi cùng khôn ngoan. Có lúc giúp tiền không phải là cách giúp tốt nhất. Có lúc phải nói không. Có lúc phải đặt giới hạn. Có lúc thương một người là giúp họ chịu trách nhiệm. Có lúc thương một người nghiện là không tiếp tục cung cấp điều làm họ chìm sâu hơn. Có lúc thương một người trong gia đình là nói một sự thật khó nghe. Nhưng ngay cả khi phải nói không, ta vẫn có thể nói bằng sự tôn trọng. Ngay cả khi phải sửa lỗi, ta vẫn có thể giữ phẩm giá cho người bị sửa. Ngay cả khi phải thi hành kỷ luật, ta không được sỉ nhục. Đức Giêsu có thể nói rất mạnh nhưng chưa bao giờ biến người đối diện thành đồ vật. Người không chấp nhận tội lỗi, nhưng Người luôn tìm con người ở phía sau tội lỗi.
Nhìn Thập Giá, ta thấy một Thiên Chúa không chỉ bảo vệ phẩm giá con người bằng lời, nhưng lấy chính thân mình để làm điều đó. Đức Giêsu giang tay trên Thập Giá như muốn ôm cả nhân loại đã phân chia nhau thành bao tầng lớp. Trên Canvê không còn chỗ cho thói tự cao. Người giàu và người nghèo đều cần ơn cứu độ. Người học rộng và người ít học đều đứng dưới chân Thập Giá với đôi tay trắng. Giám mục, linh mục, tu sĩ hay giáo dân; người quyền thế hay kẻ vô danh; người thành công hay kẻ thất bại; cuối cùng chẳng ai có thể mang danh hiệu của mình qua cửa sự chết. Ta chỉ mang theo tình yêu đã sống. Mt 25 cho thấy bản án cuối cùng không hỏi ta đã được gọi bằng chức gì, nhưng hỏi ta đã đối xử với những người yếu thế ra sao. Có lẽ ngày ấy nhiều điều làm ta tự hào hôm nay sẽ chẳng còn nghĩa gì. Và có thể những việc bé nhỏ mà ta từng nghĩ chẳng đáng kể lại sáng lên như vàng.
Đối với những người đang thi hành trách nhiệm trong Giáo Hội, bài Tin Mừng này càng phải được nghe bằng một sự run sợ thánh thiện. Bởi càng mang danh phục vụ Chúa, càng phải coi chừng việc dùng chính tôn giáo để tạo khoảng cách với người khác. Một người mục tử không thể giảng về Đức Kitô chịu đóng đinh mà lại làm người bé nhỏ sợ mình. Không thể nói về lòng thương xót mà những người yếu đuối không dám đến gần. Không thể mặc phẩm phục của người phục vụ mà trong lòng lại cần người khác cúi đầu trước mình. Quyền bính Kitô giáo chỉ có ý nghĩa khi nó mang hình dáng của chiếc khăn Đức Giêsu thắt lưng trong Nhà Tiệc Ly và hình dáng của hai cánh tay bị đóng đinh trên Canvê. Chức vụ không làm một người cao hơn phẩm giá của người khác. Trách nhiệm càng lớn thì bổn phận bảo vệ những người không có tiếng nói càng lớn. Một cộng đoàn Kitô hữu chỉ thực sự mang khuôn mặt của Chúa khi người bé nhỏ nhất bước vào đó mà không cảm thấy mình thấp kém.
Trong gia đình cũng vậy. Nơi đầu tiên để sống Mt 25 không phải luôn là một nơi xa xôi. Có thể là bàn ăn nhà mình. Một đứa trẻ cần được lắng nghe. Một người chồng đang mệt. Một người vợ đã lâu không được hỏi xem có ổn không. Một cụ già lặp đi lặp lại một câu chuyện. Một người thân mang bệnh nhiều năm khiến mọi người mỏi mệt. Những người ấy rất dễ trở thành “nghĩa vụ”. Và khi người thân trở thành nghĩa vụ, lòng tôn trọng có thể mòn dần. Ta vẫn nấu ăn, vẫn đưa thuốc, vẫn lo tiền, nhưng không còn nhìn họ bằng ánh mắt dịu dàng. Chính ở đó Đức Giêsu nói: “Là Ta.” Chăm sóc một người không chỉ là làm những việc cần làm, mà còn là giữ cho họ cảm giác rằng họ vẫn là một người đáng được yêu. Một cụ già có thể không cần thêm nhiều thuốc bằng cần một người ngồi xuống nghe. Một đứa trẻ có thể không cần thêm một món đồ bằng cần được cha mẹ nhìn vào mắt. Một người bệnh không chỉ đau vì bệnh; họ còn đau vì cảm giác mình đang làm phiền người khác. Đừng để cách chăm sóc của ta khiến họ mang thêm một thập giá: thập giá của cảm giác mình vô dụng.
Có những người sống nhiều năm trong mặc cảm vì đã bị coi thường quá lâu. Một đứa trẻ lớn lên trong câu nói “mày chẳng làm được gì đâu” có thể mang câu nói đó đến tận tuổi trung niên. Một người vợ bị chồng chê bai suốt nhiều năm có thể dần quên mất giá trị của mình. Một người nghèo bị đối xử như xin xỏ quá lâu có thể cúi đầu ngay cả khi họ không làm gì sai. Một người từng ở tù có thể mãi không tìm được một cánh cửa nào mở ra, bởi xã hội chỉ nhớ tội của họ mà không tin vào sự thay đổi. Thập Giá nói với những người ấy một điều khác: giá trị của bạn không do những người từng khinh bạn quyết định. Giá trị của bạn không nằm trong câu nói tàn nhẫn người khác từng gắn vào bạn. Bạn được dựng nên bởi Thiên Chúa và được cứu bằng máu Đức Kitô. Không ai có quyền hạ bạn xuống thấp hơn giá mà Thiên Chúa đã đặt trên bạn.
Nhưng chính vì thế, người Kitô hữu cũng phải tập trở thành người trả lại phẩm giá. Có những việc bác ái tốt đẹp nhưng nếu làm không khéo lại làm người nhận cảm thấy thấp hơn. Ta trao quà rồi chụp hình họ trong hoàn cảnh tội nghiệp nhất. Ta kể câu chuyện đời họ cho nhiều người nghe mà họ chẳng được hỏi ý kiến. Ta biến một người nghèo thành minh họa cho lòng tốt của mình. Bác ái Kitô giáo không chỉ hỏi: “Tôi đã cho gì?” mà còn hỏi: “Sau khi nhận từ tôi, người đó cảm thấy mình được tôn trọng hơn hay thấy mình nhỏ bé đi?” Đức Giêsu cho người đói ăn nhưng không làm họ mất danh dự. Người chữa người bệnh và trả họ về với cộng đồng. Người tha thứ cho người tội lỗi và mở ra tương lai. Bác ái đích thực luôn nâng một con người đứng dậy.
Cũng cần nhớ rằng “những người bé nhỏ nhất” không chỉ là người nghèo về vật chất. Có những người giàu mà rất cô độc. Có người thành công nhưng trong lòng kiệt quệ. Có người luôn cười nhưng đêm về không biết tâm sự với ai. Có người có chức vụ nhưng đang mang một nỗi đau không thể nói. Có người giữa một gia đình đông đủ mà cảm thấy mình không được hiểu. Có những linh mục, tu sĩ, người phục vụ cộng đoàn luôn phải mạnh mẽ cho người khác, nhưng chính họ cũng có lúc cần một người hỏi: “Cha có khỏe không? Anh có mệt không? Chị có cần ai lắng nghe không?” Mt 25 dạy ta một đôi mắt mới: đừng chỉ nhìn cái nghèo thấy được. Có những cơn đói của tình thương. Những cơn khát được cảm thông. Những trần trụi của người bị mất danh dự. Những nhà tù không có song sắt của trầm lặng, cô đơn, mặc cảm và thất vọng. Người Kitô hữu phải biết nhìn sâu.
Nếu Thập Giá là lời phản đối của Thiên Chúa trước mọi sự coi thường con người, thì mỗi lần chúng ta đứng về phía phẩm giá của một người bị chà đạp, ta đang đứng dưới Thập Giá. Mỗi lần ta bênh vực một người bị chế giễu, ta đang đứng gần Đức Kitô. Mỗi lần ta từ chối tham gia vào một cuộc nói xấu, ta đang tháo một chiếc đinh. Mỗi lần ta xin lỗi vì đã xúc phạm ai, ta đang làm dịu một vết thương. Mỗi lần ta gọi một người bằng tên thay vì bằng nhãn hiệu, ta đang nhìn họ như Chúa nhìn. Mỗi lần ta cho người đã sai một cơ hội làm lại, ta đang sống điều mình vẫn cầu xin mỗi ngày: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.”
Có lẽ ta không thay đổi được toàn bộ thế giới. Nhưng ta có thể làm cho khoảng không gian quanh mình bớt đi một chút khinh miệt. Trong nhà mình. Trong giáo xứ mình. Trong nơi làm việc. Trên mạng xã hội. Trong lời nói. Trong ánh mắt. Chúng ta có thể tập một điều rất nhỏ: trước mỗi người, hãy thầm nghĩ “người này có một phẩm giá Thiên Chúa không cho phép tôi xúc phạm.” Nếu ta làm được điều ấy, nhiều lời ta đang định nói sẽ không nói nữa. Nhiều câu chuyện ta đang định kể sẽ dừng lại. Nhiều thành kiến ta đang giữ sẽ phải xét lại. Và nhiều con người tưởng như vô hình sẽ bắt đầu được nhìn thấy.
Ngày phán xét trong Mt 25 không chỉ là một câu chuyện về cuối thời gian. Nó là ánh sáng chiếu ngược vào hôm nay. Ngay bây giờ, Đức Kitô đang đi ngang đời ta trong những hình dạng ta không ngờ tới. Có thể Người đang ngồi trên chiếc xe lăn. Có thể Người là một đứa trẻ học chậm. Có thể Người là người nhân viên mà ta thường quát. Có thể Người là một người hàng xóm khó tính. Có thể Người là một người từng làm ta thất vọng. Có thể Người là người đang cần ta cho họ một cơ hội thứ hai. Có thể Người là một thành viên trong gia đình mà ta đã quá quen đến mức quên mất họ là một mầu nhiệm. Một ngày kia, Người sẽ nói: “Là Ta.” Và ta sẽ kinh ngạc.
Thập Giá không cho phép chúng ta khinh bất cứ ai, vì trên Thập Giá, Thiên Chúa đã chọn đứng chung hàng với những người bị khinh. Thập Giá không cho phép ta đo giá trị một người bằng năng suất, vì trên Thập Giá, Đức Giêsu không còn “làm” được gì theo tiêu chuẩn thế gian: tay bị đóng, chân bị đóng, thân thể bất động; vậy mà chính lúc tưởng như hoàn toàn bất lực ấy, Người hoàn tất công trình cứu độ. Điều đó có ý nghĩa biết bao đối với những người già, người bệnh, người khuyết tật, những người không còn khả năng làm việc. Giá trị của một người không chấm dứt khi họ không còn sản xuất được gì. Một người vẫn đáng được yêu chỉ vì họ là người. Chúa Giêsu trên Thập Giá là lời phủ định mạnh mẽ nhất đối với một nền văn hóa chỉ biết hỏi: “Người này còn có ích gì?”
Và có lẽ chúng ta cũng cần áp dụng điều ấy cho chính mình. Có những lúc ta tự coi thường mình. Vì già đi. Vì thất bại. Vì bệnh. Vì một lỗi lầm trong quá khứ. Vì thấy người khác giỏi hơn. Vì không còn làm được những điều trước đây. Ta nghĩ mình không còn giá trị. Khi ấy hãy nhìn lên Thập Giá. Đức Kitô không yêu ta vì ta thành công. Người yêu ta trước khi ta làm được gì để đáp lại. Giá trị sâu nhất của đời ta nằm ở việc ta thuộc về Thiên Chúa. Điều đó không khiến ta tự mãn; ngược lại, nó chữa ta khỏi nhu cầu phải chứng minh mình bằng cách hạ người khác xuống. Người biết mình được yêu thì không cần coi thường ai để thấy mình cao hơn.
Xin cho mỗi lần nhìn Thập Giá, chúng ta đừng chỉ thấy nỗi đau của Đức Giêsu nhưng nghe được lời phản đối của Thiên Chúa trước mọi hình thức làm nhục con người. Xin cho ta hiểu rằng không thể tôn kính Đấng chịu đóng đinh mà không tôn trọng những người đang mang thương tích. Không thể cúi đầu trước Đức Kitô mà bắt người khác cúi đầu vì sợ hãi. Không thể hát ca tụng tình yêu Thiên Chúa rồi dùng lời nói làm người khác thấy mình vô giá trị. Và xin cho đến cuối đời, ta có thể nghe được lời mà ai cũng mong được nghe: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi.” Không phải vì ta đã làm những điều vĩ đại trước mắt thiên hạ, nhưng vì giữa những ngày rất bình thường, ta đã nhận ra Đức Kitô trong một người đói, một người khát, một người khách lạ, một người bệnh, một người tù, một người bé nhỏ; vì ta đã không đi qua họ với đôi mắt lạnh lùng; vì ta đã giữ cho một con người được làm người.
Đời người rồi sẽ qua. Những danh hiệu rồi sẽ được trao cho người khác. Những căn nhà rồi sẽ có chủ mới. Tiền bạc rồi sẽ nằm trong tay người khác. Những lời tung hô rồi cũng lặng. Nhưng một cốc nước trao bằng tình thương, một lần giữ phẩm giá cho một người đang bị làm nhục, một lần ngồi bên người cô độc, một lời bênh vực người yếu thế, một lần tha thứ, một lần nhìn một người bị đời coi thường mà nói trong lòng “anh là anh em của tôi” – những điều ấy không mất. Chúng đi vào cõi đời đời, bởi chính Đức Kitô đã nhận lấy chúng. “Các ngươi đã làm cho chính Ta.”
Vậy thì, trước khi phán xét một người, hãy nhìn lên Thập Giá. Trước khi chế giễu một người, hãy nhìn lên Thập Giá. Trước khi nghĩ rằng ai đó vô dụng, hãy nhìn lên Thập Giá. Trước khi quay lưng với một người khổ đau, hãy nhìn lên Thập Giá. Và nếu một ngày chính ta bị coi thường, bị bỏ rơi, bị người khác xem như chẳng còn giá trị, cũng hãy nhìn lên Thập Giá. Ở đó có một Đấng đã từng bị coi là đồ bỏ đi của thế gian nhưng lại là Con yêu dấu của Chúa Cha. Ở đó ta sẽ hiểu rằng phẩm giá của một con người không do đám đông bỏ phiếu. Nó được Thiên Chúa khắc vào họ từ lúc tạo thành và được xác nhận bằng máu của Con Một Người. Vì thế, không ai được phép khinh một con người. Và cũng không ai được phép tự khinh chính mình.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH ĐANG ẨN MÌNH TRONG NHỮNG NGƯỜI ĐAU KHỔ
Tin Mừng: Mt 25,35-40
Có một điều rất lạ trong đời sống đức tin của chúng ta: người ta có thể quỳ rất lâu trước một cây Thánh Giá bằng gỗ, có thể xúc động khi nhìn tượng Chúa Giêsu mình đầy thương tích, có thể rơi nước mắt trong những giờ ngắm Đàng Thánh Giá, có thể hôn chân Chúa chịu đóng đinh với tất cả lòng thành kính, nhưng rồi khi bước ra khỏi nhà thờ, gặp một con người bằng xương bằng thịt đang đau khổ, đang nghèo đói, đang bệnh tật, đang cô độc, đang bị bỏ rơi, chúng ta lại có thể đi ngang qua như thể người ấy chẳng liên quan gì đến Chúa. Chúng ta yêu Thánh Giá treo trên tường, nhưng nhiều khi lại không nhận ra Thánh Giá đang bước đi bên cạnh mình. Chúng ta thương Chúa trong tượng ảnh, nhưng đôi khi lại khó chịu với Chúa đang ẩn mình trong một con người làm phiền mình. Chúng ta muốn gặp Đức Kitô ở những nơi sạch sẽ, trang nghiêm, thơm hương trầm, nhưng Đức Kitô của Tin Mừng hôm nay lại đứng ở một nơi khác, rất gần mà cũng rất khó nhận ra: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Điều làm chúng ta giật mình không phải chỉ vì Chúa đòi ta làm những việc bác ái ấy, nhưng vì Người nói một điều còn sâu hơn: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Nghĩa là người nghèo không chỉ là người Chúa yêu; trong một ý nghĩa mầu nhiệm và đáng sợ, Chúa tự đồng hóa mình với họ. Người bệnh không chỉ là người cần lòng thương của chúng ta; Đức Kitô đang đứng trong căn phòng bệnh ấy. Người già bị con cháu lãng quên không chỉ là một phận người đáng thương; Đức Kitô đang ngồi bên cửa sổ chờ một tiếng hỏi thăm. Một người nghèo đến gõ cửa không chỉ đưa bàn tay xin một chút giúp đỡ; có khi đó là một bàn tay mang vết đinh đang chìa ra trước chúng ta mà chúng ta không nhận ra. Một đứa trẻ thiếu thốn tình thương, một người mẹ đơn thân vất vả, một người khuyết tật bị coi thường, một người thất nghiệp đang tuyệt vọng, một người tù bị cả xã hội khép cửa, một bệnh nhân nằm lâu ngày trong căn phòng hẹp, một người già lặng lẽ ăn bữa cơm nguội một mình, một người bị người thân bỏ rơi trong lúc yếu đau, một người đang đau khổ mà không biết nói cùng ai: tất cả những con người ấy có thể trở thành nơi Đức Kitô chịu đóng đinh tiếp tục ẩn mình giữa trần gian.
Chúng ta thường hỏi: nếu ngày hôm nay Chúa Giêsu xuất hiện trước mặt tôi, tôi sẽ làm gì? Có lẽ nhiều người sẽ trả lời rằng tôi sẽ quỳ xuống, tôi sẽ ôm lấy chân Chúa, tôi sẽ thưa với Chúa rằng con yêu Chúa, con muốn dâng cho Chúa tất cả. Nhưng Tin Mừng Mt 25 nói với ta rằng câu hỏi ấy không hoàn toàn giả định. Chúa vẫn đang xuất hiện. Vấn đề không phải là Người có đến hay không, nhưng là chúng ta có nhận ra Người hay không. Người đến mà không có hào quang. Người đến mà không mặc áo trắng sáng chói. Người đến mà đôi khi mang một thân thể không đẹp đẽ, một khuôn mặt mệt mỏi, một giọng nói khó nghe, một tính tình làm chúng ta phiền lòng. Người đến có khi trong một người nghèo ăn mặc lôi thôi, trong một bệnh nhân khó tính vì đau đớn lâu ngày, trong một ông già nói đi nói lại một câu, trong một bà cụ cô đơn chỉ cần có người ngồi nghe, trong một người thất bại không còn gì để người đời kính trọng. Chính ở đó, đức tin của chúng ta bị thử thách. Yêu một Đức Kitô đẹp đẽ trên bức tranh không khó bằng yêu một Đức Kitô ẩn dưới khuôn mặt của người đang làm mình mệt. Hôn chân Chúa trên Thánh Giá có khi dễ hơn cúi xuống rửa một vết thương hôi hám của một bệnh nhân. Thắp một cây nến trước tượng Chúa có khi dễ hơn dành một buổi chiều để ngồi bên một người cô độc. Dâng một bó hoa trước bàn thờ có khi dễ hơn chia sẻ một phần thu nhập cho một gia đình đang thiếu ăn. Và đọc một kinh thật dài có khi dễ hơn gọi một cuộc điện thoại cho một người thân đã lâu ngày ta lạnh nhạt. Nhưng Đức Giêsu lại nói rất rõ rằng chính ở những điều nhỏ bé như thế, tình yêu dành cho Người được cân đo.
Thập Giá của Đức Kitô là nơi Thiên Chúa đã chọn đứng về phía những người đau khổ. Người không cứu nhân loại từ một ngai vàng xa cách. Người bước vào thân phận con người, mang lấy sự yếu đuối, chịu đói, chịu khát, chịu mệt, chịu cô đơn, chịu hiểu lầm, chịu phản bội, chịu đánh đập, chịu lột áo, chịu đóng đinh và chịu chết. Từ ngày Đức Kitô chịu đóng đinh, không còn một giọt nước mắt chân thành nào của con người mà Người không biết. Không còn một tiếng thở dài nào của người bệnh mà Người không hiểu. Không còn một nỗi cô đơn nào mà Người chưa từng đi qua. Trong vườn Cây Dầu, Người đã biết thế nào là sợ hãi đến toát mồ hôi máu. Trong dinh thượng tế, Người đã biết thế nào là bị vu khống. Trước Philatô, Người đã biết thế nào là đứng trước một quyền lực có thể quyết định số phận mình. Trong sân lính, Người đã biết thế nào là bị chế nhạo và làm nhục. Trên đường lên Canvê, Người đã biết thế nào là ngã xuống dưới một sức nặng quá lớn. Trên Thập Giá, Người đã biết thế nào là khát mà không có một chén nước tử tế để uống, biết thế nào là bị lột trần trước đám đông, biết thế nào là đau đớn mà không ai cứu, biết thế nào là nhìn người mình yêu thương đứng dưới chân Thập Giá mà không thể bước xuống ôm lấy họ. Vì thế, mỗi khi đến với một người đau khổ, chúng ta không chỉ đang làm một việc nhân đạo. Chúng ta đang bước vào nơi mà Đức Kitô đã đi qua. Mỗi khi chạm vào một vết thương của con người với lòng kính trọng và yêu thương, chúng ta đang chạm vào một vết thương của Đấng Chịu Đóng Đinh.
Có lẽ một trong những bi kịch lớn của con người hôm nay là chúng ta nhìn thấy quá nhiều đau khổ đến nỗi dần dần trở nên quen mắt. Ngày nào cũng có tin bệnh tật, tai nạn, chiến tranh, nghèo đói, thiên tai, những đứa trẻ bất hạnh, những gia đình tan vỡ. Hình ảnh đau thương đi qua màn hình liên tục khiến trái tim chúng ta có nguy cơ trở nên chai cứng. Ta xem một đoạn video một người khóc, rồi lướt sang một đoạn vui. Ta đọc tin một gia đình mất tất cả, rồi vài giây sau chuyển sang một món hàng đang giảm giá. Đau khổ của người khác trở thành một thứ thông tin. Và khi đau khổ chỉ còn là thông tin, lòng trắc ẩn rất dễ chết. Đức Kitô chịu đóng đinh kéo chúng ta ra khỏi sự vô cảm ấy. Người buộc ta nhìn mỗi con người đau khổ không như một con số, không như một trường hợp, không như một “đối tượng từ thiện”, nhưng như một người anh em, một người chị em có tên tuổi, có lịch sử, có phẩm giá và có một trái tim cũng biết đau như trái tim ta. Điều Chúa hỏi ở ngày phán xét không phải là: con đã biết bao nhiêu giáo lý, con đã tranh luận đúng bao nhiêu vấn đề, con đã có bao nhiêu thành tựu. Người hỏi những điều rất đơn sơ: khi Ta đói, con có cho Ta ăn không? Khi Ta khát, con có cho Ta uống không? Khi Ta cô độc, con có đến không? Khi Ta đau yếu, con có ghé thăm không? Những câu hỏi đơn sơ ấy lại có sức lật đổ mọi ảo tưởng đạo đức của chúng ta.
Điều đáng suy nghĩ nhất là trong dụ ngôn Mt 25, cả người lành lẫn người bị kết án đều ngạc nhiên. Những người lành hỏi: “Có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn?” Nghĩa là họ đã làm điều tốt mà không nghĩ rằng mình đang làm cho Chúa. Họ chỉ thấy một người đói và cho ăn, thấy một người bệnh và đến thăm, thấy một người trần truồng và cho mặc. Tình yêu của họ tự nhiên đến mức không cần sân khấu, không cần ghi nhận, không cần ai chụp hình, không cần đăng lên cho người khác biết. Và Chúa bảo: chính khi các con quên mình và chỉ nhìn thấy nỗi khổ của người khác, các con đã gặp Ta. Trái lại, những người bị kết án cũng hỏi: “Có bao giờ chúng con thấy Chúa như thế mà không giúp?” Họ muốn nói rằng nếu biết đó là Chúa thì họ đã giúp rồi. Nhưng chính đó là vấn đề. Họ chỉ muốn yêu Chúa nếu Chúa xuất hiện trong hình thức đáng để họ tôn kính. Họ không nhận ra Chúa khi Người khoác trên mình chiếc áo rách của người nghèo. Họ có thể đã sẵn sàng quỳ trước một vị vua, nhưng lại không cúi xuống trước một người ăn xin. Họ có thể đã sẵn sàng dọn một bữa tiệc cho một vị khách quý, nhưng không muốn mở cửa cho một người khách lạ. Tình yêu như thế vẫn còn chọn đối tượng. Còn tình yêu của Tin Mừng là tình yêu nhận ra phẩm giá nơi người không có gì để trả lại cho ta.
Có những lúc chúng ta nói: tôi cũng thương người nghèo nhưng tôi không có tiền. Thật ra, lòng thương người không bắt đầu bằng tiền. Có những người nghèo tiền bạc, nhưng cũng có những người nghèo sự hiện diện. Có người cần một chén cơm, có người cần một cuộc điện thoại. Có người cần tiền mua thuốc, có người cần một bàn tay nắm lấy. Có người cần một mái nhà, có người đang sống trong một ngôi nhà rất lớn mà không có ai thật sự lắng nghe. Có người đau vì bệnh tật, có người đau vì chẳng ai nhớ đến mình. Có những cha mẹ già không thiếu tiền nhưng thiếu con. Có những đứa trẻ không thiếu quần áo nhưng thiếu một người lớn ngồi xuống nghe chúng nói. Có những người trong cộng đoàn không thiếu lời khuyên nhưng thiếu một người hiểu. Có những bệnh nhân không cần thêm một bài giảng về đau khổ; họ cần một người ngồi cạnh trong im lặng. Có những người đang tang chế không cần ai giải thích cho họ vì sao Thiên Chúa cho phép chuyện này xảy ra; họ cần một bờ vai để khóc. Đôi khi chúng ta quá vội vàng nói về Chúa đến mức quên hiện diện như Chúa. Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thập Giá không nói nhiều. Người ở đó. Người chịu đau với con người. Có khi sự hiện diện âm thầm của chúng ta bên một người đau khổ là một bài giảng về Thiên Chúa hùng hồn hơn rất nhiều lời.
Muốn yêu Đấng Chịu Đóng Đinh, ta phải xin Người cho ta đôi mắt biết nhận ra Người. Vì tự nhiên chúng ta thích tìm đến những người dễ thương hơn những người khó chịu, thích giúp người biết ơn hơn người có thể chẳng bao giờ cảm ơn, thích phục vụ nơi người ta nhìn thấy hơn nơi không ai biết. Nhưng Đức Giêsu lại ẩn mình rất sâu. Có khi Người ẩn trong một người mà ta không ưa. Có khi Người ẩn trong một người từng làm ta tổn thương nhưng giờ đang rơi vào hoạn nạn. Có khi Người ẩn trong một người già chậm chạp khiến ta mất kiên nhẫn. Có khi Người ẩn trong một bệnh nhân lặp đi lặp lại cùng một nỗi sợ. Có khi Người ẩn trong một người nghèo mà lối sống của họ khiến ta khó chịu. Lòng bác ái Kitô giáo không có nghĩa là chúng ta phải đồng ý với mọi hành vi hay nhắm mắt trước mọi sai lầm. Nhưng lòng bác ái bắt buộc chúng ta không bao giờ được đánh mất khả năng nhìn thấy một con người phía sau những giới hạn của họ. Người ấy có thể sai, nhưng vẫn là một con người. Người ấy có thể thất bại, nhưng không mất phẩm giá. Người ấy có thể nghèo, yếu, lệ thuộc, thậm chí đáng trách trong một số điều, nhưng vẫn là người mà Đức Kitô đã đổ máu để cứu chuộc. Trên Thập Giá, Chúa không nói rằng Người chỉ chết cho những ai xứng đáng. Nếu Chúa chỉ chết cho người xứng đáng thì chẳng ai trong chúng ta được cứu.
Có một câu hỏi mỗi người có thể tự đặt cho mình mỗi tối: hôm nay tôi đã gặp Chúa ở đâu? Có thể ta sẽ trả lời rằng tôi gặp Chúa trong Thánh Lễ, trong giờ kinh, trong một đoạn Lời Chúa. Tất cả đều đúng. Nhưng Mt 25 mời ta hỏi thêm: tôi có gặp Chúa trong người làm việc chung với tôi đang mệt không? Tôi có nhận ra Chúa trong người giúp việc, trong bảo vệ, trong người bán hàng, trong người lái xe, trong người già yếu ở nhà mình không? Tôi có gặp Chúa trong người thân đang buồn nhưng tôi đã quá bận để hỏi không? Tôi có gặp Chúa trong một ai đó đang âm thầm kêu cứu bằng một sự cáu gắt, một sự im lặng, một ánh mắt khác thường không? Rất nhiều khi Chúa đi ngang đời ta mà ta không biết. Ngày xưa hai môn đệ trên đường Emmau đi với Chúa một quãng đường dài mà không nhận ra Người. Hôm nay cũng thế. Chúng ta có thể sống cạnh một người đang mang khuôn mặt của Đấng Chịu Đóng Đinh rất lâu nhưng không nhận ra.
Nói đến người nghèo và đau khổ cũng phải nói đến cách giúp đỡ. Có những kiểu giúp đỡ làm người nhận bị tổn thương hơn. Bác ái không phải là ném xuống cho người khác một chút dư thừa với thái độ kẻ cả. Đức Kitô không cứu chúng ta từ trên cao bằng lòng thương hại; Người hạ mình xuống, trở nên một người như chúng ta, đi vào hoàn cảnh của chúng ta. Vì thế, bác ái Kitô giáo trước hết đòi tôn trọng. Khi cho một người nghèo một phần quà, điều quan trọng không chỉ là món quà mà còn là cách ta trao. Một ánh mắt khinh thường có thể làm mất giá trị của cả một túi gạo. Một câu nói làm người nhận xấu hổ có thể biến lòng tốt thành một vết thương. Người nghèo không phải là phương tiện để chúng ta cảm thấy mình đạo đức. Người đau khổ không phải là bối cảnh để chúng ta chụp một tấm hình đẹp. Đừng dùng nước mắt của người khác để làm trang sức cho lòng tốt của mình. Nếu thật sự tin Đức Kitô ẩn mình trong người nghèo, ta phải đối xử với họ bằng sự kính trọng mà ta dành cho Chúa. Không ai ném một món quà vào mặt Chúa rồi gọi đó là yêu Chúa. Không ai bắt Chúa đứng xếp hàng hàng giờ chỉ để nhận một phần giúp đỡ rồi nói mình đang phục vụ Chúa. Không ai hỏi Chúa những câu làm Người nhục nhã trước đám đông để chứng minh rằng Người thật sự nghèo. Đụng vào người đau khổ là đụng vào một mầu nhiệm.
Đối với người bệnh cũng vậy. Một trong những thập giá nặng nhất của bệnh tật không phải chỉ là đau thể xác mà là cảm giác mình trở thành gánh nặng. Khi còn khỏe, người ta có thể tự làm mọi việc. Khi bệnh, có lúc phải nhờ người khác từ ly nước, bữa ăn, việc vệ sinh, đi lại. Sự lệ thuộc ấy làm người bệnh dễ tổn thương. Có những câu nói vô tình của người chăm sóc khiến họ đau hơn cả căn bệnh: “Lại gọi nữa sao?”, “Có chút vậy mà cũng than”, “Biết bao nhiêu việc mà cứ làm phiền.” Có lẽ ta không ác, chỉ vì mệt. Nhưng người nằm trên giường bệnh nghe những câu ấy có thể cảm thấy mình thừa thãi. Nếu ta nhớ rằng Đấng Chịu Đóng Đinh đang ẩn mình trong người bệnh, ta sẽ học cách dịu dàng hơn. Không phải lúc nào ta cũng có sức khỏe, thời gian hay sự kiên nhẫn lý tưởng. Người chăm sóc bệnh nhân cũng có thập giá của họ. Nhưng chính trong sự mệt mỏi ấy, một hành động nhỏ được làm bằng tình yêu trở thành một phụng vụ. Đút một muỗng cháo, lau một giọt mồ hôi, thay một tấm khăn, thức một đêm, đưa đi tái khám, nghe một câu chuyện đã kể mười lần: những điều không ai vỗ tay ấy có thể là những việc rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Canvê không có tiếng vỗ tay. Tình yêu chân thật thường được sống ở nơi rất ít người nhìn thấy.
Còn sự cô độc là một thứ nghèo mà xã hội hiện đại ngày càng nhiều. Chúng ta có hàng ngàn kết nối nhưng không chắc có một người để gọi khi lòng mình tan vỡ. Có người già sống trong một căn phòng sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi nhưng cả ngày không có ai trò chuyện. Có người trẻ ở giữa thành phố đông đúc nhưng không biết mình thuộc về đâu. Có người đến nhà thờ đều đặn nhưng chẳng ai biết tên. Có người cười rất nhiều nhưng đêm về lại thấy mình không có một ai thực sự hiểu. Nếu Chúa nói: “Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước,” thì có lẽ một trong những việc bác ái rất cần hôm nay là tiếp rước người khác vào trong thời gian và sự chú ý của mình. Cho một người mười phút được lắng nghe cũng là một thứ bố thí. Gọi cho một người đã lâu không gặp cũng là một việc bác ái. Mời một người đang lẻ loi ngồi cùng bàn cũng là một việc Tin Mừng. Đừng nghĩ chỉ những việc lớn mới có giá trị. Nước Thiên Chúa thường bắt đầu bằng những điều rất nhỏ nhưng được làm với một trái tim lớn.
Đức Kitô chịu đóng đinh cũng đang ẩn mình trong những người bị bỏ rơi bởi chính lỗi lầm của họ. Đây là điều khó hơn. Chúng ta dễ thương một người vô tội gặp nạn. Nhưng còn một người đã lựa chọn sai? Một người nghiện ngập? Một người tù? Một người từng sống bê bối? Một người mà xã hội nói rằng họ đáng phải trả giá? Tin Mừng không phủ nhận trách nhiệm cá nhân. Sai vẫn là sai. Công lý vẫn cần thiết. Nhưng Đức Giêsu nói rất rõ: “Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Người không nói: Ta bị tù oan. Chỉ nói: Ta ngồi tù. Điều ấy không có nghĩa là tội ác không quan trọng, nhưng có nghĩa là ngay cả người có tội vẫn không mất nhân phẩm. Người ấy có thể phải chịu hậu quả của hành vi mình, nhưng không vì thế mà bị loại khỏi khả năng được yêu, được hoán cải, được cứu. Trên Thập Giá bên Đức Giêsu có một người trộm. Chính trong những phút cuối đời, người ấy đã nghe lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Nếu chúng ta chỉ muốn gặp Đức Kitô nơi những người sạch sẽ, tử tế, thành công, thì có lẽ ta chưa hiểu Đấng Chịu Đóng Đinh.
Tuy nhiên, trước khi nghĩ đến những người nghèo ở đâu xa, cần nhìn vào chính nhà mình. Có một nguy cơ rất thật là chúng ta có thể rộng tay với người ngoài nhưng lạnh lùng với người thân. Có thể đi làm từ thiện nhưng về nhà lại chẳng còn kiên nhẫn với cha mẹ già. Có thể nói rất hay về lòng thương xót nhưng trong gia đình giữ một mối hận nhiều năm. Có thể giúp người lạ nhưng lại coi những việc mình làm cho vợ, chồng, con cái như một gánh nặng và luôn nhắc công. Người bé nhỏ mà Chúa ẩn mình đôi khi là người ở ngay bên cạnh ta. Có thể đó là người mẹ ngày một chậm chạp. Có thể đó là người cha đã già và bắt đầu lẫn. Có thể là người bạn đời đang mỏi mệt mà ta tưởng họ “lúc nào cũng vậy”. Có thể là đứa con không đạt như kỳ vọng khiến ta thất vọng. Có thể là một người anh em trong cộng đoàn mà ta đã đóng khung bằng một thành kiến. Bác ái không bắt đầu ở cuối thế giới. Bác ái bắt đầu từ cánh cửa phòng bên cạnh.
Thánh Giá dạy ta rằng tình yêu đích thực luôn có một cái giá. Nếu yêu mà chẳng bao giờ phải mất gì, có lẽ tình yêu ấy chưa đi sâu. Để cho người đói ăn, ta phải chia phần mình có. Để thăm người bệnh, ta phải mất thời gian. Để ở bên người cô độc, ta phải bớt một việc riêng. Để tha thứ cho người làm đau mình, ta phải để cái tôi chịu đóng đinh một phần. Để chăm sóc một người già, ta phải chấp nhận lịch sống bị đảo lộn. Để đồng hành với một người khủng hoảng, ta phải kiên nhẫn nghe những điều mà ta không thể giải quyết ngay. Tình yêu nào cũng có Thập Giá, bởi vì yêu là cho người khác một phần đời mình. Đức Giêsu không cứu ta bằng một câu nói. Người trao thân. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Vì vậy, mỗi lần chúng ta để thời gian, sức lực, tiền bạc, sự thoải mái, niềm tự ái của mình bị bẻ ra để người khác được sống hơn, chúng ta đang bước vào logic của Thánh Thể và Thập Giá.
Điều đáng sợ là rồi sẽ có một ngày mỗi chúng ta đứng trước mặt Chúa, và những điều tưởng là nhỏ hôm nay sẽ trở nên rất lớn. Một ly nước. Một bữa cơm. Một chiếc áo. Một lần thăm viếng. Một lần mở cửa. Toàn những chuyện không lên báo, không thành thành tích. Nhưng đó lại là những điều Chúa nhớ. Có khi chúng ta quên một việc tốt đã làm từ ba mươi năm trước, nhưng Chúa không quên. Có khi ta chỉ ngồi bên giường một người bệnh một tiếng và sau đó chẳng bao giờ nghĩ đến nữa, nhưng Chúa nhớ. Có khi ta cho ai đó một bữa ăn trong một ngày mưa rồi đi luôn, nhưng Chúa nhớ. Có khi ta đã dịu dàng với một người vào đúng lúc họ gần tuyệt vọng nhất mà ta không biết, nhưng Chúa nhớ. Thiên Chúa có một trí nhớ đặc biệt đối với những hành động yêu thương âm thầm. Và Người nói: “Con đã làm cho chính Ta.” Đó là một lời quá đẹp. Hóa ra không có việc bác ái nào thật sự nhỏ. Vì đối tượng cuối cùng của nó là chính Đức Kitô.
Nhưng cũng có một câu hỏi đau đớn: bao nhiêu lần Đức Kitô đã đến mà ta để Người đi qua? Có thể Người đã đến trong dáng một người ăn xin trước cửa mà ta khó chịu. Có thể Người đã gọi điện bằng giọng của một người cô đơn nhưng ta nói đang bận. Có thể Người nằm trong phòng bệnh của một người bà con nhưng ta cứ hẹn hôm khác. Có thể Người ngồi ngay trong bữa cơm gia đình với khuôn mặt buồn mà ta chỉ nhìn vào điện thoại. Có thể Người đã đứng trước ta trong hình hài một người đang xin được tha thứ mà ta nhất định đóng cửa lòng. Không phải để chúng ta sống trong mặc cảm, nhưng để thức tỉnh. Chừng nào còn sống, ta vẫn còn có thể học lại cách nhìn. Ta vẫn có thể xin Chúa một trái tim bằng thịt thay cho trái tim chai đá. Ta vẫn có thể bắt đầu từ một người, một hành động, một cuộc viếng thăm, một cuộc điện thoại.
Nếu hôm nay đứng trước Thánh Giá, chúng ta hãy đừng chỉ nhìn lên những vết đinh của Chúa. Hãy hỏi Người: “Lạy Chúa, hôm nay những vết đinh của Chúa đang ở đâu quanh con?” Có thể câu trả lời rất gần. Nó ở trong đôi tay run rẩy của một người già. Ở trong đôi mắt đỏ hoe của một người vừa mất người thân. Ở trong thân thể hao gầy của một bệnh nhân. Ở trong một người đang cúi mặt vì nghèo. Ở trong một đứa trẻ thiếu sự quan tâm. Ở trong một người lầm lỗi đang mong có cơ hội bắt đầu lại. Ở trong người thân của ta đang mang một nỗi đau mà ta chưa bao giờ chịu ngồi xuống để nghe. Đức Kitô chịu đóng đinh không chỉ ở trên Canvê của hai ngàn năm trước. Người đang tiếp tục ẩn mình trong vô số Canvê của con người hôm nay.
Và rồi Chúa cũng dạy chúng ta một điều khác rất an ủi: khi chính ta đau khổ, ta cũng không một mình. Khi ta bệnh, Đức Kitô ở đó. Khi ta bị bỏ rơi, Người hiểu. Khi ta thấy mình trở thành gánh nặng, Người biết cảm giác bị người đời loại bỏ. Khi ta khóc trong đêm không ai hay, Người đã từng ở trong bóng tối của vườn Cây Dầu. Khi ta bị hiểu lầm, Người đã từng bị vu khống. Khi ta không còn đủ sức mang thập giá, Người đã từng ngã xuống. Đấng chúng ta thờ không phải một Thiên Chúa chưa từng biết đau. Vì thế, người đau khổ không chỉ là nơi ta tìm thấy Chúa; chính trong đau khổ của mình, ta cũng có thể khám phá rằng Chúa đã tìm thấy ta từ trước.
Ước gì từ nay mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta nhớ rằng lòng tôn kính Đấng Chịu Đóng Đinh không thể dừng ở một cái cúi đầu. Nếu thật sự yêu Chúa trên Thánh Giá, ta phải học yêu những thân thể đang chịu đóng đinh quanh ta. Nếu thật sự muốn lau khuôn mặt Chúa, hãy lau một giọt nước mắt. Nếu muốn cho Chúa uống, hãy cho người khát một ly nước. Nếu muốn tháo đinh khỏi tay chân Chúa, hãy làm nhẹ một gánh nặng đang đè trên vai ai đó. Nếu muốn đứng dưới chân Thánh Giá cùng Đức Maria, hãy dám đứng bên một người đang đau mà mọi người khác đã bỏ đi. Nếu muốn ôm lấy thân thể Đức Kitô, hãy tập ôm lấy những mảnh đời mà thế gian không muốn chạm tới. Đến cuối cùng, chúng ta sẽ hiểu rằng con đường ngắn nhất từ bàn thờ đến Thánh Giá đi ngang qua con người. Đức Kitô mà ta rước trong Thánh Thể cũng chính là Đức Kitô ta gặp nơi người bé nhỏ. Không thể nói “Amen” trước Mình Thánh Chúa rồi quay lưng với thân thể đang đau khổ của anh em mình. Một đức tin không biết cúi xuống sẽ rất khó hiểu được một Thiên Chúa đã cúi xuống đến tận cùng.
Xin Chúa cho chúng ta đôi mắt không chỉ nhìn mà còn thấy; một trái tim không chỉ xúc động mà còn biết hành động; đôi tay không chỉ chắp lại cầu nguyện mà còn biết mở ra chia sẻ; đôi chân không chỉ bước đến nhà thờ mà còn biết bước đến nhà người đau khổ. Và xin Đấng Chịu Đóng Đinh giúp ta đừng bao giờ quên rằng có những ngày Người sẽ đến mà không mang tên Giêsu, không mặc áo choàng của một vị vua, không có ánh sáng bao quanh. Người có thể chỉ là một người đói, một bệnh nhân, một người già, một người nghèo, một người cô độc, một kẻ bị bỏ rơi. Phúc cho ta nếu ngày ấy, giữa bao nhiêu khuôn mặt của thế gian, ta vẫn nhận ra Người. Bởi cuối cùng, có lẽ câu đẹp nhất mà một đời Kitô hữu có thể được nghe không phải là lời khen về những thành công lớn lao, mà chỉ là lời của Chúa: “Ngày ấy, chính Ta đã đến với con. Và con đã không để Ta đi qua một mình.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NƠI TA HỌC CÁCH Ở LẠI
Tin Mừng: Ga 19,25-27
Có những lúc trong đời, điều khó nhất không phải là làm một việc lớn cho người mình thương, nhưng chỉ đơn giản là ở lại. Ở lại khi chẳng còn lời nào để nói. Ở lại khi mọi lời an ủi đều trở nên vụng về. Ở lại khi ta không thể thay đổi tình hình. Ở lại khi bệnh tật cứ nặng thêm, khi một người thân đang hấp hối, khi một gia đình đang rạn vỡ, khi một người bạn đang chìm trong khủng hoảng, khi một đứa con đang đi qua những tháng ngày mà cha mẹ không biết phải kéo nó ra bằng cách nào. Có những nỗi đau ta có thể chữa. Có những vấn đề ta có thể giải quyết. Có những thiếu thốn ta có thể bù đắp bằng tiền bạc, sức lực hay một quyết định đúng lúc. Nhưng cũng có những đau khổ đứng trước mặt ta như một bức tường quá lớn, khiến ta nhận ra sự bất lực của chính mình. Và chính ở đó, người ta thường muốn bỏ đi. Không hẳn vì hết thương, nhưng vì không chịu nổi cảm giác mình chẳng làm được gì. Ta thích làm hơn là đứng nhìn. Ta thích sửa chữa hơn là chia sẻ sự bất lực. Ta thích được thấy một kết quả hơn là phải ở lại trong một hoàn cảnh không có câu trả lời. Thế nhưng Tin Mừng trên đồi Canvê hôm nay lại mở ra cho chúng ta một trường học khác, một thứ trường học không có bảng đen, không có bài giảng dài, không có lời giải thích, chỉ có một cây Thập Giá và vài con người đứng dưới chân Thập Giá ấy. Thánh Gioan viết rất ít: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala.” Chữ khiến lòng ta dừng lại chính là chữ đứng. Họ đứng đó. Họ không cứu được Chúa Giêsu xuống khỏi Thập Giá. Họ không ngăn được những chiếc đinh. Họ không thể làm cho những vết thương ngừng chảy máu. Họ không thể đảo ngược bản án. Họ không thể đẩy lui đám lính. Họ không thể làm cho đám đông đổi lòng. Họ không thể làm cho trời thôi tối. Họ không thể làm điều gì mà người đời gọi là hữu hiệu. Nhưng họ đã làm một điều mà tình yêu chân thật luôn có thể làm, ngay cả khi không còn cách nào khác: họ ở lại. Và có lẽ trong tất cả những điều đẹp nhất con người có thể trao cho nhau, sự hiện diện trung thành vào lúc đau khổ nhất là một trong những điều quý giá nhất.
Chúng ta thường nghĩ yêu thương là phải làm được điều gì đó cho nhau. Điều ấy đúng, nhưng chưa đủ. Yêu thương còn là biết ở lại khi chẳng làm được gì nữa. Có những bà mẹ ngồi bên giường bệnh của con hàng tháng trời. Bà chẳng chữa được bệnh cho con, chẳng đổi được kết quả xét nghiệm, chẳng khiến thuốc có hiệu quả hơn, nhưng cứ ngồi đó, lau mặt, đắp chăn, đưa ly nước, nắm bàn tay, nghe một tiếng thở dài. Có những người vợ ở bên người chồng bệnh nặng nhiều năm, đến mức không còn nhớ lần cuối mình được ngủ trọn một đêm là lúc nào. Có những người chồng ngày ngày chăm một người vợ đã mất trí nhớ, dù người vợ ấy đôi lúc chẳng còn nhận ra ông. Có những người con bỏ bớt công việc để về chăm cha mẹ già. Có những người bạn không biết nói gì với một người vừa mất người thân, nên chỉ ngồi bên cạnh. Có những linh mục đi hàng chục cây số đến một bệnh viện chỉ để xức dầu, ban bí tích, đặt bàn tay trên trán một người đang thoi thóp và đọc vài lời cầu nguyện. Có những nữ tu ngồi hàng giờ cạnh người hấp hối mà chẳng ai biết tên tuổi. Có những người âm thầm sống cạnh một người đang trầm uất, chẳng có lời khuyên nào đủ sức kéo họ dậy, nhưng vẫn kiên nhẫn hiện diện ngày này qua ngày khác. Những điều ấy đôi khi chẳng được ghi vào đâu. Không báo chí nào viết. Không ai trao bằng khen. Không có tiếng vỗ tay. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, đó có thể là những hình thức tinh tuyền nhất của tình yêu. Bởi vì ở lại với một người đau khổ nghĩa là nói với họ bằng chính sự hiện diện của mình rằng: “Dù tôi không thể lấy đau khổ này khỏi bạn, tôi sẽ không để bạn đi qua nó một mình.”
Thập Giá của Đức Giêsu cho ta thấy một sự thật rất sâu: có những đau khổ không cần thêm lời giải thích, mà cần một người đứng gần. Chúng ta nhiều khi quá vội vàng giải thích nỗi đau của người khác. Ai gặp thất bại, ta bảo phải cố lên. Ai mất người thân, ta nói thời gian sẽ chữa lành. Ai đau bệnh, ta nói hãy tín thác. Ai bị phản bội, ta nói hãy tha thứ. Ai đang tuyệt vọng, ta vội đưa ra cả một bài giáo lý. Những điều đó có thể đúng. Nhưng một điều đúng nói sai lúc vẫn có thể làm đau. Một lời đạo đức nói quá sớm đôi khi trở thành gánh nặng. Người đang khóc đâu phải lúc nào cũng cần một bài học. Người đang đau đâu phải lúc nào cũng cần một lời khuyên. Người vừa mất tất cả có khi không cần nghe “Chúa có kế hoạch của Chúa”; họ chỉ cần một người ngồi cạnh mà không bỏ đi. Đức Maria dưới chân Thập Giá không giảng cho Chúa Giêsu về ý nghĩa của đau khổ. Mẹ không nói: “Con ráng chịu đi, rồi mọi chuyện sẽ qua.” Mẹ không nói: “Con phải mạnh mẽ lên.” Mẹ cũng chẳng thể nói được gì. Có lẽ nếu nói, tiếng nói của Mẹ cũng nghẹn trong nước mắt. Nhưng Mẹ đứng đó. Sự hiện diện ấy đã nói tất cả. Tình mẫu tử lúc ấy không còn là cho Con cơm ăn áo mặc như thuở Nazareth, không còn là bế Con trong vòng tay như đêm Bêlem, cũng không còn là tìm Con giữa đám đông như năm Con mười hai tuổi. Tình mẫu tử lúc này chỉ còn là không bỏ Con một mình trong giờ chết. Và đôi khi đó là điều cuối cùng, nhưng cũng là điều lớn nhất, một người có thể làm cho người mình yêu.
Thật đáng suy nghĩ: trong cuộc đời Đức Giêsu, đã có những lúc đám đông vây quanh Người rất đông. Khi Người hóa bánh ra nhiều, người ta chen nhau. Khi Người chữa bệnh, người ta kéo đến. Khi Người vào thành Giêrusalem, người ta trải áo, cầm lá, tung hô. Nhưng khi Người bị treo trên Thập Giá, số người còn lại chẳng bao nhiêu. Thành công có rất nhiều bạn. Đau khổ thường làm người ta cô độc. Khi ta mạnh khỏe, vui vẻ, thành đạt, có địa vị, nhiều người tìm đến. Nhưng khi ta mất sức, mất tiền, mất tiếng, mất khả năng đem lại lợi ích cho người khác, lúc ấy mới biết ai thật sự ở lại. Trong đời sống con người, có những cuộc chia tay không diễn ra bằng một lời từ biệt. Người ta chỉ từ từ biến mất khi ta không còn hữu dụng đối với họ. Khi ta vui, họ ở đó. Khi ta thành công, họ ở đó. Khi ta có thể giúp họ, họ ở đó. Nhưng khi ta đau, khi ta thất thế, khi ta trở thành một gánh nặng, người ta bắt đầu bận. Điện thoại thưa dần. Những lần ghé thăm ít lại. Những lời hỏi han ngắn hơn. Và có khi điều làm một người đau nhất không phải là căn bệnh họ mang, mà là cảm giác mình bị bỏ quên. Không phải hoàn cảnh khó khăn nhất, mà là nhận ra những người từng hứa sẽ ở bên đã không còn ở bên nữa.
Bởi vậy, đứng dưới chân Thập Giá là đứng về phía của những người không bỏ cuộc trước nỗi đau của người khác. Đức Maria ở đó. Người môn đệ Chúa yêu ở đó. Những người phụ nữ ở đó. Họ không thay đổi được biến cố Canvê, nhưng họ làm cho Canvê không hoàn toàn là nơi cô độc. Điều ấy đẹp biết bao. Chúa Giêsu, Đấng đang cứu cả nhân loại, vẫn cần một ánh mắt của Mẹ, vẫn cần một người môn đệ đứng gần. Thiên Chúa làm người đã chấp nhận đi vào tận cùng sự mong manh của con người đến mức Người không coi thường sự hiện diện nhỏ bé của những người yêu thương Người. Ta tưởng mình phải làm điều lớn lao cho Chúa. Có khi điều Chúa muốn chỉ là ta đứng gần một người đang chịu đau khổ. Ta tưởng phục vụ Chúa phải là xây dựng, tổ chức, giảng dạy, làm những việc ai cũng nhìn thấy. Nhưng có khi nơi phục vụ Chúa sâu sắc nhất lại là căn phòng bệnh, chiếc ghế bên giường một người già, một bữa cơm với người đang cô đơn, một buổi chiều nghe một người đang tuyệt vọng kể hết câu chuyện của họ mà không vội phán xét. Chúa vẫn đang chịu đóng đinh trong những thân phận ấy. Và câu hỏi không phải lúc nào cũng là: “Ta sẽ làm gì để giải quyết?” nhưng là: “Ta có chịu ở lại không?”
Ở lại khó hơn ta tưởng. Vì ở lại đòi ta từ bỏ chính mình. Ở lại với một người đau khổ nghĩa là chấp nhận nhịp sống của mình bị gián đoạn. Ở lại với một người già nghĩa là nghe lại một câu chuyện đến mười lần. Ở lại với một người bệnh nghĩa là nhiều kế hoạch của mình phải đổi. Ở lại trong hôn nhân lúc khó khăn nghĩa là không bỏ cuộc chỉ vì cảm xúc đã nguội. Ở lại với con cái tuổi nổi loạn nghĩa là chịu đựng những lúc mình bị hiểu lầm. Ở lại trong một cộng đoàn nghĩa là không rời đi ngay khi gặp va chạm. Ở lại trong ơn gọi nghĩa là vẫn trung thành trong những mùa khô khan mà chẳng còn cảm thấy hứng khởi như ngày đầu. Ở lại với Chúa nghĩa là vẫn cầu nguyện khi cầu nguyện chẳng thấy ngọt ngào, vẫn dâng lễ khi lòng mình nặng, vẫn đọc kinh khi tâm hồn khô, vẫn tin khi không hiểu. Có những người tưởng trung thành là lúc nào cũng cảm thấy mạnh mẽ. Không. Trung thành thường đẹp nhất khi ta không còn cảm thấy gì đặc biệt mà vẫn không bỏ đi.
Hãy nhìn Đức Maria. Mẹ đã từng nghe thiên thần nói về người Con sẽ nên cao cả, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Mẹ đã nghe cụ Simêon nói về ánh sáng muôn dân. Mẹ đã chứng kiến những phép lạ. Mẹ đã thấy bao người chạy đến với Con mình. Nhưng giờ đây trước mắt Mẹ chỉ là một thân thể bị tra tấn, một người Con bị chế nhạo, một Đấng Mêsia dường như hoàn toàn thất bại. Mọi lời hứa như bị che phủ bởi máu và bóng tối. Mẹ có hiểu hết không? Có lẽ không. Tin không có nghĩa là hiểu hết. Tin là vẫn đứng đó khi chưa hiểu. Đó là một trong những hình thức cao nhất của đức tin. Ta thường nói mình tin Chúa khi mọi việc suôn sẻ. Ta tạ ơn khi nhận được điều mình xin. Ta dễ thấy Chúa khi cửa mở, khi bệnh khỏi, khi công việc thành, khi gia đình bình an. Nhưng có một thứ đức tin trưởng thành hơn: đức tin đứng dưới chân Thập Giá. Đức tin không có câu trả lời mà không quay lưng. Đức tin không hiểu nhưng không bỏ Chúa. Đức tin nước mắt đầy mặt mà đôi chân vẫn đứng đó.
Có những ngày trong đời, ta cũng sẽ được mời vào trường học ấy. Có thể là ngày bác sĩ nói một câu khiến cả thế giới trong ta sụp xuống. Có thể là ngày một người thân ra đi. Có thể là ngày hôn nhân đi vào khủng hoảng. Có thể là ngày đứa con ta hết lòng yêu thương lại khiến ta đau đớn. Có thể là ngày một người bạn phản bội. Có thể là ngày ta bị hiểu lầm trong chính cộng đoàn mình phục vụ. Có thể là ngày ta cầu nguyện lâu mà Chúa dường như im lặng. Lúc ấy, rất dễ bỏ đi. Bỏ một tương quan. Bỏ một trách nhiệm. Bỏ một ơn gọi. Bỏ cầu nguyện. Bỏ hy vọng. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh nói với ta rằng có những chiến thắng bắt đầu chỉ bằng việc không bỏ chỗ mình đang đứng. Đôi khi ta chẳng cần biết ngày mai sẽ ra sao. Chỉ cần hôm nay đừng bỏ đi. Hôm nay cứ ở lại. Hôm nay cứ làm phần của mình. Hôm nay cứ trung thành. Hôm nay cứ nắm bàn tay ấy. Hôm nay cứ đọc lời kinh ấy. Hôm nay cứ bước thêm một bước nữa.
“Đứng gần Thập Giá.” Chữ “gần” cũng đáng cho ta suy nghĩ. Người yêu thật sự không đứng xa. Có những khoảng cách không đo bằng mét. Ta có thể sống trong cùng một nhà mà rất xa nhau. Ngồi chung một bàn cơm mà mỗi người ở trong một thế giới riêng. Ngủ chung một mái nhà mà chẳng còn biết lòng nhau đang nghĩ gì. Có những cha mẹ lo cho con đủ tiền học, đủ quần áo, đủ tiện nghi, nhưng không biết con mình đang buồn. Có những người con gửi tiền đều đặn về cho cha mẹ mà hàng tháng không có một cuộc gọi tử tế. Có những đôi vợ chồng chưa ly dị về mặt pháp lý nhưng đã rời nhau từ lâu trong tâm hồn. Có những cộng đoàn cùng đọc kinh, cùng dự lễ, cùng làm việc mà lòng người vẫn xa nhau. Tin Mừng hôm nay không chỉ nói Mẹ Maria đứng dưới Thập Giá. Tin Mừng nói Mẹ đứng gần Thập Giá. Tình yêu luôn muốn rút ngắn khoảng cách. Không phải lúc nào cũng bằng lời nói, nhưng bằng sự quan tâm thật, bằng ánh mắt biết nhìn, bằng đôi tai biết nghe, bằng thời gian chịu dành cho nhau.
Con người hôm nay có rất nhiều phương tiện để liên lạc nhưng lại có nguy cơ mất khả năng hiện diện. Ta trả lời tin nhắn mà không thật sự lắng nghe. Ta bấm một biểu tượng cảm xúc để thay cho một cuộc gặp. Ta nói “cố lên nhé” rồi tiếp tục công việc mình. Ta biết rất nhiều chuyện của người khác qua mạng xã hội nhưng có khi chẳng biết người đang sống cạnh mình đang mang một nỗi buồn rất lớn. Thế giới càng nhanh, người ta càng cần những người biết ở lại. Một người không nhìn đồng hồ khi người khác đang khóc. Một người không cầm điện thoại liên tục khi người khác đang chia sẻ. Một người không vội đưa lời khuyên khi chưa nghe hết. Một người đủ kiên nhẫn để đồng hành với một nỗi đau không thể giải quyết trong một ngày. Đó là những người mang trong mình một chút dáng đứng của Đức Maria dưới chân Thập Giá.
Rồi giữa giờ phút đau đớn ấy, Đức Giêsu nhìn Mẹ và nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Trong đau khổ của chính mình, Đức Giêsu vẫn nghĩ đến người khác. Trên Thập Giá, Người không khép lại trong đau đớn của bản thân. Người nối kết Mẹ với người môn đệ. Người tạo thành một gia đình mới ngay giữa nơi tưởng chỉ có tan vỡ. Điều ấy thật lạ lùng. Canvê là nơi con người tưởng mọi tương quan đã bị phá hủy, nhưng chính ở đó Đức Giêsu lại xây một tương quan mới. Mẹ mất Con nhưng nhận người môn đệ. Người môn đệ sắp mất Thầy nhưng nhận một người Mẹ. Từ Thập Giá, một gia đình được sinh ra. Giáo Hội cũng được sinh ra trong chính tương quan ấy: những con người học cách nhận nhau như người nhà dưới chân Đấng Chịu Đóng Đinh.
Có lẽ đây cũng là một lời rất mạnh cho đời sống Kitô hữu hôm nay. Nếu chúng ta thật sự đứng dưới Thập Giá, ta không thể sống như những người xa lạ với nỗi đau của nhau. Người Kitô hữu không chỉ hỏi: “Tôi có đạo không?” mà còn phải hỏi: “Có ai đang chịu đau một mình gần tôi không?” Một bà cụ trong xóm lâu rồi không ai ghé. Một người bệnh trong giáo họ ít người nhớ đến. Một người góa bụa sau đám tang vài tháng, khi mọi người đã trở lại đời sống bình thường, vẫn đang ăn cơm một mình mỗi tối. Một linh mục già không còn trách nhiệm gì nên dần ít người thăm. Một tu sĩ đau bệnh không còn làm việc được nên cảm thấy mình vô dụng. Một gia đình đang có con nghiện ngập và sống trong xấu hổ. Một người ly thân không dám bước vào nhà thờ vì sợ ánh nhìn người khác. Một em trẻ mang nhiều hoang mang nhưng không biết nói với ai. Tất cả những người ấy không nhất thiết cần ta giải quyết đời họ. Họ cần biết có ai đó không bỏ họ một mình.
Đau khổ có một sức mạnh rất kỳ lạ: nó thường làm người ta cô lập. Người đau có thể tự rút lui vì sợ trở thành gánh nặng. Người khác cũng rút lui vì không biết phải nói gì. Thế là giữa hai bên hình thành một khoảng trống. Người đau nghĩ: “Không ai hiểu mình.” Người bên ngoài nghĩ: “Chắc họ muốn yên.” Rồi ngày qua ngày, sự cô độc lớn dần. Một cuộc gọi có thể không chữa lành được bệnh, nhưng phá vỡ cô độc. Một lần ghé thăm không giải quyết được tang chế, nhưng nhắc người kia rằng họ chưa bị quên. Một bữa ăn mang sang không thay đổi hoàn cảnh kinh tế, nhưng nói rằng có người đang nghĩ tới họ. Một cái nắm tay không làm hết đau, nhưng khiến nỗi đau không còn hoàn toàn lạnh lẽo.
Ta nên nhớ rằng Đức Giêsu không nói: “Khi Ta đau yếu, các ngươi đã chữa lành Ta.” Người nói: “Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom.” Không phải ai cũng có khả năng chữa lành. Nhưng ai cũng có thể thăm. Không phải ai cũng có tiền giải quyết mọi thiếu thốn. Nhưng nhiều người có thể chia sẻ một chút. Không phải ai cũng có lời hay để an ủi. Nhưng ai cũng có thể ngồi xuống. Kitô giáo không đòi ta trở thành Đấng Cứu Thế cho mọi người, vì chỉ có một Đấng Cứu Thế. Nhiều khi ta mệt mỏi vì nghĩ mình phải cứu người khác. Không. Ta chỉ được mời gọi đừng bỏ họ một mình. Có khi Chúa không trao cho ta khả năng tháo Thập Giá khỏi vai một người; Chúa chỉ bảo ta đứng cạnh họ trong lúc họ đang vác.
Điều ấy cũng đúng trong đời sống gia đình. Có những lúc một người vợ không cần chồng mình giải thích tại sao cô ấy không nên buồn. Cô ấy chỉ cần được nghe. Có những lúc một người chồng thất bại trong công việc không cần nghe thêm rằng anh đã sai ở đâu. Anh cần một người không làm anh cảm thấy mình mất giá trị. Có những lúc một đứa trẻ học hành sa sút không cần thêm một bài trách mắng; nó cần biết rằng dù thất bại, cha mẹ vẫn đứng bên nó. Có những lúc cha mẹ già khó tính không phải vì họ muốn làm khổ con cái, mà vì họ đang sợ mất dần sức khỏe, vị trí và sự tự chủ của mình. Họ cần con cái ở gần. Tình yêu gia đình không chỉ được đo bằng những năm tháng hạnh phúc, mà rất nhiều khi được đo bằng khả năng ở lại khi người kia trở thành khó chịu, yếu đuối, bệnh tật hay bất lực.
Đời sống hôn nhân cũng là một trường học lớn của chữ “ở lại”. Ngày cưới, người ta hứa ở bên nhau lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan, lúc bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe. Khi nói lời ấy trước bàn thờ, có lẽ ít người hiểu hết nó sẽ đòi gì. Người ta dễ ở lại khi hai người còn trẻ, còn đẹp, còn khỏe, còn nhiều dự định. Nhưng thời gian sẽ hỏi lại lời hứa ấy. Khi người kia đổi tính vì bệnh tật thì sao? Khi kinh tế khó khăn thì sao? Khi cảm xúc không còn nồng như trước thì sao? Khi những khuyết điểm ngày xưa thấy dễ thương bây giờ trở thành nặng nề thì sao? Khi hai người trải qua một mất mát lớn thì sao? Khi con cái làm cả hai kiệt sức thì sao? Tình yêu trưởng thành không phải là thứ tình yêu chưa bao giờ muốn bỏ đi. Tình yêu trưởng thành là có những lúc đã rất mệt mà vẫn chọn ở lại và cùng nhau tìm đường.
Ơn gọi linh mục và đời thánh hiến cũng thế. Có những ngày đầu đầy nhiệt huyết, người ta nghĩ sẽ cho Chúa tất cả. Nhưng rồi đời sống thật bắt đầu. Công việc lặp lại. Những hiểu lầm xảy đến. Cộng đoàn không hoàn hảo. Giáo dân không phải lúc nào cũng biết ơn. Bề trên có thể không hiểu mình. Anh em có tính khí khác nhau. Sức khỏe suy giảm. Những gì mình từng mơ ước có thể không thành. Có lúc người linh mục hay tu sĩ tự hỏi: “Mình đang làm gì ở đây?” Chính lúc ấy chữ “ở lại” mang ý nghĩa của Thập Giá. Không phải ở lại vì sợ thay đổi, cũng không phải cam chịu mọi điều sai trái; nhưng là trung thành với điều mình đã nhận ra là tiếng Chúa gọi, sau khi đã phân định trong sự thật. Có những ơn gọi không được cứu bằng một cảm xúc mới, mà bằng một quyết định âm thầm mỗi sáng: hôm nay tôi vẫn thuộc về Chúa.
Và cũng có một kiểu “ở lại” còn sâu hơn nữa: ở lại với chính Chúa khi Chúa dường như không làm gì. Đây có lẽ là điều khó nhất. Ta dễ theo Chúa khi Chúa ban ơn. Ta dễ nói “Chúa tốt lành” khi lời cầu được nhận. Nhưng nếu ta cầu mãi mà bệnh không khỏi? Nếu một người mình yêu vẫn ra đi? Nếu một bất công kéo dài? Nếu một nỗi đau không biến mất? Nếu ta cầu nguyện mà chỉ gặp sự im lặng? Chính khi ấy ta hiểu một chút tâm tình của những người đứng dưới chân Thập Giá. Họ không thấy phép lạ. Chẳng có thiên thần xuống tháo đinh. Chẳng có tiếng từ trời bênh vực Đức Giêsu. Chỉ có bóng tối. Nhưng họ không bỏ đi. Đó là đức tin đã qua tuổi thơ. Đức tin không còn đặt điều kiện: “Nếu Chúa làm điều con muốn, con sẽ tin.” Đức tin trưởng thành nói: “Dù con chưa hiểu, con vẫn ở đây.”
Có một cám dỗ rất phổ biến trong đời sống thiêng liêng là chỉ tìm một Thiên Chúa giải quyết vấn đề. Ta đến với Chúa như đến với người có quyền năng để chỉnh lại mọi sự theo ý ta. Và khi Chúa không làm, ta thất vọng. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh cho thấy Thiên Chúa không chỉ là Đấng cất mọi Thập Giá khỏi đời ta. Người còn là Đấng bước vào Thập Giá với ta. Đôi khi Chúa cứu ta bằng cách thay đổi hoàn cảnh. Nhưng có lúc Người cứu ta bằng cách không để ta đơn độc trong hoàn cảnh ấy. Người không làm biển biến mất nhưng bước trên biển đến với các môn đệ. Người không ngăn Lazarô chết ngay từ đầu, nhưng Người khóc bên mộ bạn. Người không tránh Canvê, nhưng biến Canvê thành cửa ngõ Phục Sinh. Thiên Chúa của Kitô giáo không phải là Thiên Chúa đứng xa đau khổ. Người đã chịu đau. Bởi thế chẳng ai trong chúng ta có thể nói: “Chúa không biết con đang trải qua điều gì.” Người biết. Không phải bằng lý thuyết. Người biết bằng những vết đinh.
Khi ta học ở lại bên người đau khổ, ta đang học chính cách của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã ở lại với nhân loại. Từ khi con người sa ngã, Người không bỏ đi. Qua bao phản bội, Người vẫn ở lại. Israel bất trung, Người vẫn tìm. Các môn đệ bỏ chạy, Người vẫn trở lại với họ sau Phục Sinh. Phêrô chối Thầy, Người vẫn tìm Phêrô bên bờ hồ. Tôma cứng lòng, Người vẫn cho Tôma chạm vào vết thương. Thiên Chúa có một sự kiên nhẫn kỳ lạ với con người. Ta ngã, Người đợi. Ta đi xa, Người tìm. Ta quay lưng, Người gọi. Ta phạm tội, Người mở đường trở về. Nếu Thiên Chúa dễ bỏ cuộc như chúng ta, chẳng ai được cứu.
Bởi thế, một người sống theo Đức Kitô chịu đóng đinh phải là một người ngày càng biết ở lại. Ở lại trong lời đã hứa. Ở lại trong trách nhiệm. Ở lại với người yếu thế. Ở lại khi người khác không còn gì để đáp lại mình. Ở lại trong cầu nguyện. Ở lại trong sự thật. Ở lại trong tình yêu ngay cả khi yêu trở thành hy sinh. Nhưng ở lại không có nghĩa là dung túng bạo lực, lạm dụng hay điều ác. Tình yêu Kitô giáo không đòi một người phải để mình bị hủy hoại bởi hành vi sai trái của người khác. Có những trường hợp cần rời khỏi một tình huống nguy hiểm, cần tìm sự trợ giúp, cần đặt giới hạn rõ ràng. “Ở lại” mà Tin Mừng nói trước hết là sự trung tín của trái tim: không biến nỗi đau của người khác thành lý do để coi thường họ, không bỏ rơi một con người chỉ vì họ đang yếu, và không vội chấm dứt yêu thương chỉ vì ta không thể kiểm soát kết quả.
Có người ở bên một bệnh nhân nhiều tháng rồi bệnh nhân vẫn mất. Ta có thể nghĩ những tháng ngày ấy vô ích. Không. Yêu thương không bao giờ vô ích chỉ vì nó không thay đổi được kết quả y khoa. Có người chăm cha mẹ già nhiều năm rồi cuối cùng cha mẹ vẫn qua đời. Những năm ấy không vô nghĩa. Có người kiên trì đồng hành với một đứa con khó khăn mà vẫn chưa thấy nó thay đổi. Sự kiên trì ấy không vô nghĩa. Có người cầu nguyện cho một gia đình suốt nhiều năm mà chưa thấy bình an. Lời cầu ấy không mất đi. Chúng ta quen đánh giá mọi việc bằng kết quả. Thập Giá dạy ta đánh giá bằng tình yêu. Trước mắt thế gian, những người đứng dưới chân Thập Giá không làm được gì. Nhưng trước mắt Đức Giêsu, họ đã cho Người điều quý nhất: họ không bỏ Người một mình.
Đôi khi chúng ta quá quan tâm đến việc mình nói gì với người đau khổ mà quên rằng chính sự hiện diện của mình đã là một lời nói. Một bàn tay đặt nhẹ trên vai có thể là một bài giảng. Một giờ ngồi im có thể là một lời cầu nguyện. Một chuyến xe xa đến thăm ai đó có thể là một hành vi của Tin Mừng. Một bữa cơm nấu cho gia đình đang có tang có thể là thần học nhập thể. Một tin nhắn hỏi “Hôm nay anh thế nào?” và thật sự muốn nghe câu trả lời có thể mở một cánh cửa. Một linh mục chịu khó ngồi nghe một người kể đi kể lại nỗi đau của họ có thể giúp họ tin rằng Giáo Hội chưa bỏ họ. Những điều nhỏ ấy chính là cách Thập Giá đi vào đời thường.
Ta cũng cần học ở lại với người khác mà không chiếm lấy nỗi đau của họ. Có lúc ta muốn người đau phải hồi phục theo tốc độ của ta. Ta nói: “Chuyện qua lâu rồi mà còn buồn gì nữa?” Nhưng ai quy định được thời gian của nước mắt? Có nỗi đau cần nhiều năm. Có vết thương lành rất chậm. Người đồng hành thật không kéo người khác đi theo nhịp của mình. Họ đi bên cạnh. Như Đức Maria đứng bên Thập Giá, Mẹ không kiểm soát tiến trình đau khổ của Con; Mẹ chỉ ở đó. Tình yêu biết tôn trọng hành trình của người kia.
Và rồi Tin Mừng kể rằng từ giờ ấy, người môn đệ rước Mẹ về nhà mình. Đứng dưới Thập Giá không thể chỉ là một phút xúc động. Nó phải trở thành một cách sống. Gioan không chỉ đứng đó một lát rồi thôi. Ông đem Mẹ vào đời mình. Tình yêu thật luôn có hậu quả. Ta có thể xúc động khi nghe một câu chuyện đau thương, nhưng câu hỏi là sau đó ta làm gì? Ta có thể khóc trong một Thánh lễ, nhưng ra khỏi nhà thờ ta có nhìn thấy người cô đơn không? Ta có thể hôn kính Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng có chịu đứng gần những thập giá bằng xương bằng thịt trong gia đình và cộng đoàn mình không? Nếu ta quỳ trước Thập Giá mà lại bỏ mặc người đau khổ ngay cạnh mình, việc đạo đức ấy vẫn còn thiếu điều cốt yếu.
Có lẽ mỗi người nên tự hỏi: trong đời tôi, ai đang cần tôi ở lại? Không phải ai đang cần tôi giải quyết vấn đề, mà ai đang cần tôi hiện diện? Có phải cha mẹ đang già? Có phải người phối ngẫu đang trải qua một giai đoạn khó khăn? Có phải đứa con đang ít nói hơn trước? Có phải một người bạn đang chịu tang? Có phải một người anh em trong cộng đoàn đang trở nên khép kín? Có phải chính một người mà tôi đang tránh vì nỗi đau của họ khiến tôi khó chịu? Ta đừng nghĩ phải làm điều quá lớn. Hãy bắt đầu bằng một cuộc gọi, một lần ghé thăm, một giờ lắng nghe, một bữa cơm, một lời cầu nguyện có tên người ấy.
Và rồi cũng cần hỏi một câu khác: tôi có dám để người khác ở lại với tôi khi tôi đau không? Có người rất giỏi giúp người khác nhưng không bao giờ cho ai thấy sự yếu đuối của mình. Họ sợ trở thành gánh nặng. Họ luôn nói “tôi ổn”. Nhưng Đức Giêsu trên Thập Giá đã không từ chối sự hiện diện của Mẹ và môn đệ. Khi Người nói “Ta khát”, Người cho phép người khác thấy nhu cầu của mình. Khi ta yếu, việc đón nhận tình thương cũng là một sự khiêm nhường. Có khi Chúa muốn an ủi ta qua một người khác, nhưng ta lại đóng cửa vì tự ái. Hãy cho phép mình được nâng đỡ. Không ai được tạo dựng để vác mọi Thập Giá một mình.
Thập Giá dạy một thứ tình yêu rất khác với văn hóa chóng chán của thời đại. Thời nay người ta quen đổi cái gì không còn phù hợp: điện thoại cũ thì thay, đồ vật hỏng thì bỏ. Rất dễ để lối nghĩ ấy đi vào các tương quan: ai làm ta mệt thì tránh, ai không đáp ứng kỳ vọng thì thay, nơi nào không còn đem lại cảm giác tốt thì rời. Nhưng con người không phải đồ vật để thay thế. Tình yêu không phải món hàng chỉ giữ khi còn đem lại lợi ích. Đức Kitô chịu đóng đinh là lời phản đối mạnh mẽ đối với một nền văn hóa chỉ ở lại với người mạnh, người đẹp, người thành công. Chúa ở lại với những kẻ tội lỗi. Mẹ Maria ở lại với Người Con bị kết án. Người môn đệ ở lại bên Thầy lúc Thầy không còn gì để cho ông theo cách người đời hiểu.
Có một vẻ đẹp chỉ xuất hiện nơi những người đã ở lại với nhau qua đau khổ. Một đôi vợ chồng già nắm tay nhau sau năm mươi năm không đẹp vì chưa từng cãi vã, nhưng vì họ đã đi qua bao lần muốn buông tay mà vẫn còn ở đó. Một người con lau miệng cho mẹ già không đẹp vì công việc ấy dễ chịu, mà vì tình yêu đã lớn hơn sự mệt mỏi. Một linh mục già vẫn ngồi tòa giải tội dù sức yếu không đẹp vì còn nhiều khả năng, mà vì ông đã học sống như cây nến cháy đến phần cuối. Một nữ tu chăm bệnh nhân tâm thần suốt hàng chục năm đẹp không phải vì công việc ấy đem lại tiếng vang, mà vì chị đã cho người khác một phần đời mình. Những sự trung thành ấy mang dáng Thập Giá.
Đức Kitô chịu đóng đinh không chỉ dạy ta cách chịu đau. Người dạy ta cách đứng bên người đang đau. Và có lẽ Giáo Hội sẽ thuyết phục thế giới không phải trước hết bằng những lời thật hay, mà bằng việc có mặt ở nơi con người đang đau nhất. Một Giáo Hội đứng gần người nghèo. Một cộng đoàn đứng gần gia đình đổ vỡ. Một linh mục đứng gần người bị bỏ rơi. Một giáo dân đứng gần người bệnh. Một người trẻ đứng gần bạn mình đang tuyệt vọng. Một gia đình mở cửa cho một người cô độc. Khi ấy, Thập Giá không còn chỉ treo trên tường nhà thờ. Thập Giá trở thành một cách hiện diện.
Sau cùng, chính Đức Kitô là Đấng đã ở lại với chúng ta trước. Khi ta suy niệm về Mẹ Maria và người môn đệ đứng dưới Thập Giá, đừng quên rằng trước khi họ ở lại với Chúa, Chúa đã ở lại với nhân loại. Người có thể xuống khỏi Thập Giá, nhưng Người ở lại. Người có thể chấm dứt cuộc thương khó, nhưng Người ở lại. Người ở lại cho đến khi có thể nói: “Mọi sự đã hoàn tất.” Tình yêu của Người không bỏ cuộc giữa đường. Không phải đinh giữ Người trên Thập Giá; tình yêu giữ Người lại. Những chiếc đinh chỉ xuyên qua tay chân. Tình yêu mới là điều khiến Người không xuống. Và vì Người đã ở lại đến cùng, hôm nay ta mới có hy vọng rằng trong bất cứ đêm tối nào, Người cũng không bỏ ta.
Có thể có ngày mọi người rời ta. Có thể có lúc chính ta cảm thấy mình không còn sức. Có thể có lúc lời cầu nguyện chỉ còn là một tiếng thở dài. Nhưng hãy nhìn Thập Giá. Có một Đấng đã chọn ở lại. Người ở lại trong đau khổ của ta. Người ở lại trong thất bại của ta. Người ở lại trong tội lỗi để gọi ta trở về. Người ở lại trong Thánh Thể. Người ở lại trong Giáo Hội đầy những con người bất toàn. Người ở lại trong từng ngày đời ta. Và Người nói bằng cả thân mình bị đóng đinh: “Con có thể bỏ Thầy, nhưng Thầy không bỏ con.”
Ước gì chúng ta học được bài học ấy. Không phải lúc nào cũng phải nói điều gì hay. Không phải lúc nào cũng phải sửa được mọi chuyện. Không phải lúc nào cũng phải tìm ra câu trả lời. Có những lúc điều thánh thiện nhất ta có thể làm chỉ là kéo ghế lại gần hơn, ngồi xuống, nắm một bàn tay và ở đó. Đừng coi thường sự hiện diện. Đừng nghĩ rằng vì mình không giải quyết được vấn đề nên mình vô ích. Có những người cả đời sẽ nhớ không phải lời ta nói, mà nhớ rằng trong lúc tất cả đều đi, ta đã không đi.
Và nếu một ngày chính ta là người nằm trên chiếc giường bệnh, là người đi qua thất bại, là người đứng giữa một mùa đời tối tăm, có lẽ lúc ấy ta cũng sẽ hiểu hơn giá trị của một người chịu đứng gần. Ta sẽ hiểu tại sao Tin Mừng chỉ cần một câu ngắn để kể về Mẹ Maria: Mẹ đứng gần Thập Giá. Vì đôi khi một đời yêu thương được tóm lại bằng một dáng đứng. Không chạy trốn. Không quay lưng. Không giải thích. Chỉ đứng đó, trong nước mắt, trong bất lực, trong yêu thương.
Đức Kitô chịu đóng đinh là nơi ta học cách ở lại. Ở lại với Chúa khi không hiểu Chúa. Ở lại với người mình thương khi không cứu được họ khỏi mọi đau khổ. Ở lại với bổn phận khi niềm vui đã vơi. Ở lại với lời hứa khi cảm xúc thay đổi. Ở lại với người yếu khi họ không còn gì để trả lại. Và trên hết, ở lại trong tình yêu cho đến cùng.
Bởi vì sau cùng, tình yêu không luôn luôn nói được: “Tôi sẽ làm cho bạn hết đau.” Nhưng tình yêu thật luôn cố gắng nói được một câu khác, một câu rất giống dáng đứng của Đức Maria dưới chân Thập Giá:
“Tôi không thể mang nỗi đau này ra khỏi đời bạn. Nhưng tôi sẽ không để bạn chịu nó một mình.”
Lm. Anmai, CSsR

Ở LẠI DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ
Tin Mừng: Ga 19,25
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” Một câu Tin Mừng rất ngắn, ngắn đến độ nếu đọc vội người ta có thể đi qua mà không dừng lại. Thánh Gioan không kể Đức Maria đã nói gì. Không ghi lại một lời than trách. Không cho biết Mẹ đã khóc thế nào. Không mô tả Mẹ đã ngã quỵ ra sao. Chỉ có một chữ thôi mà dường như chứa cả một đời: đứng. Mẹ đứng gần Thập Giá. Mẹ ở đó. Trong khi đám đông đã thay đổi thái độ, trong khi tiếng “Hoan hô” của ngày Đức Giêsu vào thành Giêrusalem đã biến thành tiếng “Đóng đinh nó vào thập giá”, trong khi các môn đệ phần lớn đã bỏ chạy, trong khi mọi hy vọng theo cách nhìn của con người dường như đã tan thành mây khói, thì Mẹ vẫn đứng đó. Mẹ không làm được gì để tháo những chiếc đinh. Mẹ không thể ngăn lưỡi đòng của người lính. Mẹ không thể làm cho những kẻ đang nhục mạ Con mình im tiếng. Mẹ không thể thay đổi bản án. Mẹ không thể cứu Con khỏi cái chết. Nhưng Mẹ có thể làm một điều, và Mẹ đã làm điều ấy đến cùng: Mẹ ở lại. Có lẽ đó là một trong những hình ảnh đẹp nhất của tình yêu trong toàn bộ Tin Mừng. Bởi vì có những lúc yêu thương không còn là làm được một điều gì lớn lao cho người mình yêu; yêu thương chỉ còn là không bỏ người ấy một mình. Có những lúc ta không chữa được bệnh cho người thân, không lấy được nỗi đau khỏi lòng họ, không giải quyết được những bế tắc họ đang mang, không trả lại được những gì đã mất, không đổi được hoàn cảnh, không nói được một câu nào đủ sức an ủi; lúc ấy tình yêu không hỏi: “Tôi còn làm được gì?” mà chỉ hỏi: “Tôi có còn ở lại không?” Có những người đã từng nói với nhau rất nhiều lời yêu thương, nhưng đến ngày Thập Giá xuất hiện thì người ta rời đi. Có những người đã từng hứa sẽ đồng hành suốt đời, nhưng khi người bên cạnh không còn dễ thương, không còn thành công, không còn khỏe mạnh, không còn đáp ứng những mong đợi của mình, người ta bắt đầu bước ra khỏi đời nhau. Có những người rất giỏi có mặt trong ngày vui nhưng lại biến mất trong ngày buồn; rất dễ đến với nhau khi mọi chuyện thuận lợi nhưng lại viện đủ lý do khi thử thách kéo dài; rất nhiệt tình với một tương quan lúc nó còn đem lại niềm vui, nhưng khi tương quan ấy trở thành trách nhiệm, hy sinh, nhẫn nại, chờ đợi và chịu đựng thì người ta mệt mỏi. Chính vì thế, đứng dưới chân Thập Giá hôm nay, có lẽ điều Đức Giêsu muốn dạy chúng ta trước hết không phải một thứ đạo đức xa vời, nhưng là một câu hỏi hết sức gần gũi: Trong cuộc đời này, ta đã ở lại với ai? Và khi người khác đau khổ, ta có đủ yêu để ở lại không?
Thật ra ở lại là một trong những điều khó nhất của tình yêu. Bắt đầu một tình yêu đôi khi không khó. Một ánh mắt cũng đủ để người ta thấy lòng mình rung động. Một lời mời gọi cũng đủ để một người trẻ quảng đại bước vào đời tu. Một ngày chịu chức cũng có thể ngập tràn nước mắt và niềm vui. Một lễ cưới có thể đầy hoa, đầy nhạc, đầy những lời chúc tốt đẹp. Một tình bạn có thể khởi đầu bằng những tháng ngày vô cùng đẹp đẽ. Nhưng rồi cuộc đời không chỉ có ngày bắt đầu. Sau ngày cưới là hàng chục năm cùng nhau sống với những khác biệt mà trước đó ta chưa từng nhìn thấy. Sau ngày khấn dòng là những ngày rất bình thường trong cộng đoàn, với những con người rất thật, những giới hạn rất thật, những công việc rất lặp đi lặp lại. Sau ngày chịu chức là những năm dài của sứ vụ với những lúc được yêu thương nhưng cũng có lúc bị hiểu lầm, bị phê bình, bị chống đối, bị quên lãng. Sau những ngày đầu của tình bạn là lúc người bạn kia làm ta thất vọng, không hiểu ta, thậm chí có khi làm ta tổn thương. Và chính từ lúc ấy tình yêu mới bắt đầu được thử bằng một thứ lửa mà những lời hứa đẹp đẽ ban đầu chưa từng trải qua: lửa của sự trung thành. Trung thành không có nghĩa là không bao giờ mệt. Trung thành không có nghĩa là không bao giờ buồn. Trung thành không có nghĩa là không bao giờ có lúc muốn bỏ cuộc. Đức Maria dưới chân Thập Giá chắc chắn không đứng đó với một trái tim vô cảm. Mẹ đứng đó với một trái tim bị đâm thâu. Lời ông Simêon năm xưa “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” giờ đây trở thành một sự thật khủng khiếp. Mỗi nhát búa đóng vào tay Con như đóng vào lòng Mẹ. Mỗi lời nhục mạ Con như xé thêm một vết thương nơi Mẹ. Nhưng điều kỳ diệu là đau khổ không làm Mẹ bỏ đi. Đau khổ khiến Mẹ đứng gần hơn. Có những người càng đau càng xa nhau; có những gia đình khi gặp thử thách lại bắt đầu đổ lỗi cho nhau; có những vợ chồng khi nghèo khó thì trách nhau, khi con cái hư thì trách nhau, khi bệnh tật đến thì cáu gắt với nhau; có những cộng đoàn khi gặp khó khăn thì người này tìm lỗi người kia; có những tình bạn chỉ cần một hiểu lầm là nhiều năm tình nghĩa bỗng biến mất. Thập Giá đặt trước mặt ta một cách yêu khác: đau mà không bỏ, thất vọng mà không quay lưng, không hiểu hết mà vẫn ở lại, không còn gì để nói mà vẫn hiện diện. Đó là thứ tình yêu không ồn ào nhưng rất giống tình yêu của Thiên Chúa.
Hôn nhân có lẽ là một trong những nơi cần học bài học “ở lại dưới chân Thập Giá” nhất. Người ta thường nói ngày cưới rằng sẽ yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu. Những lời ấy nghe rất đẹp giữa tiếng nhạc, giữa hoa, giữa ánh sáng và lời chúc tụng. Nhưng ý nghĩa thật của lời hứa ấy chỉ được hiểu khi một ngày nào đó trong căn nhà không còn hoa nữa mà chỉ còn tiền điện, tiền học, tiền thuốc, những đứa trẻ khó dạy, cha mẹ già yếu, công việc căng thẳng, những va chạm tính tình và vô số chuyện nhỏ nhặt không ai nhìn thấy. Khi ấy, “yêu” không còn chủ yếu là cảm xúc. Yêu trở thành một quyết định được lặp lại từng ngày: tôi vẫn chọn người này; tôi vẫn chọn gia đình này; tôi vẫn chọn trách nhiệm này; tôi không bỏ đi chỉ vì hôm nay tôi không còn cảm thấy như ngày đầu. Dĩ nhiên, ở lại không bao giờ đồng nghĩa với dung túng bạo lực, chấp nhận sự xúc phạm nhân phẩm hay để cho cái ác tiếp tục gây tổn thương; có những hoàn cảnh cần khoảng cách, cần sự bảo vệ, cần can thiệp và chữa lành. Nhưng trong một tình yêu lành mạnh, có biết bao Thập Giá không đến từ sự ác mà đến từ chính thân phận con người: tuổi già, bệnh tật, nghèo túng, khác biệt, yếu đuối, thất bại, những mùa khô khan của tình cảm. Và trong những Thập Giá ấy, điều người ta cần nhất đôi khi không phải là một người giải quyết mọi sự nhưng là một người không bỏ mình. Một người chồng ngồi bên giường vợ trong những tháng ngày bệnh tật có thể chẳng nói được một câu gì lớn lao. Một người vợ chăm sóc người chồng đã không còn khỏe mạnh như xưa có thể chẳng làm nên điều gì được báo chí nhắc đến. Một đôi vợ chồng già nắm tay nhau đi chậm chạp sau mấy chục năm sống chung chẳng có gì huy hoàng theo tiêu chuẩn thế gian. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, biết đâu đó lại là những bài giảng đẹp nhất về lòng trung thành. Bởi vì họ đang nói bằng cả cuộc đời rằng: “Anh không còn như ngày em cưới anh, em cũng chẳng còn như ngày anh cưới em; cuộc đời đã lấy đi tuổi trẻ, sức khỏe và nhiều mơ ước của chúng ta, nhưng em vẫn ở đây.” Có những câu “em yêu anh” rất đẹp, nhưng có một câu còn đẹp hơn: “Em vẫn ở đây.” Có những câu “anh thương em” rất cảm động, nhưng có một chứng từ còn cảm động hơn: sáng hôm sau vẫn thức dậy, vẫn lo cho nhau, vẫn nhường nhau, vẫn tha thứ, vẫn cùng nhau đi qua một ngày bình thường. Tình yêu thật không phải lúc nào cũng rực rỡ như bình minh; nhiều khi tình yêu giống một ngọn đèn nhỏ cháy suốt đêm bên giường người bệnh. Không ai vỗ tay. Không ai chụp hình. Không ai biết. Nhưng chính ngọn đèn ấy nói rằng: tôi chưa bỏ bạn một mình.
Đời tu cũng có một Thập Giá riêng của việc ở lại. Ngày đầu bước vào nhà dòng, người ta dễ thấy mọi sự đều đẹp. Tiếng chuông nguyện, chiếc áo dòng, cộng đoàn, sứ vụ, lý tưởng, gương các thánh, những ước mơ hiến dâng… tất cả có thể khiến trái tim người trẻ bừng cháy. Nhưng đời tu không phải chỉ là những ngày cảm thấy mình đang làm một điều cao cả cho Thiên Chúa. Có những năm tháng đời tu rất bình thường, bình thường đến khô khan. Một công việc làm đi làm lại. Một cộng đoàn với những anh em mà mình không chọn. Một bề trên có những quyết định mình không hiểu. Một sứ vụ không giống điều mình từng mơ. Một giai đoạn cầu nguyện không còn cảm xúc. Một ngày nhận ra chính mình cũng đầy yếu đuối, ích kỷ, tự ái, ghen tị và nhiều điều chẳng đẹp như lý tưởng thuở ban đầu. Khi ấy, người tu sĩ có thể bắt đầu đặt câu hỏi: “Tôi còn ở đây làm gì?” Và chính lúc đó, chân Thập Giá trở thành trường học. Đức Maria không ở dưới chân Thập Giá vì Canvê là một nơi dễ chịu. Mẹ ở đó vì Đức Giêsu ở đó. Người tu sĩ cũng vậy: ta không ở lại trong ơn gọi chỉ vì cộng đoàn hợp ý ta, vì sứ vụ làm ta thành công, vì người ta kính trọng ta, vì ta thấy mình hữu ích. Ta ở lại vì Đấng đã gọi ta vẫn ở đó. Có lúc đời tu chẳng còn gì để ta dựa vào ngoài một lời đã thưa với Chúa từ nhiều năm trước: “Này con đây.” Có lúc lời khấn không được giữ bởi cảm xúc mà được giữ bằng đôi chân mỏi mệt vẫn bước vào nhà nguyện, bằng một người tu sĩ già vẫn lần chuỗi, bằng một người anh em vẫn phục vụ dù không ai biết, bằng một người từng bị tổn thương trong cộng đoàn nhưng vẫn chọn không biến vết thương thành cay đắng. Có những người nghĩ sự thánh thiện là làm những điều phi thường. Nhưng nhiều khi sự thánh thiện chỉ là không bỏ vị trí Chúa đã giao cho mình khi mọi điều trở nên rất bình thường. Thánh giá của đời tu có thể không phải là những cuộc bách hại lớn lao; có khi chỉ là sống chung với một người khó tính nhiều năm mà vẫn giữ lòng bác ái. Có khi chỉ là làm một công việc chẳng ai để ý. Có khi chỉ là chấp nhận tuổi già và việc mình không còn quan trọng như trước. Có khi chỉ là nhìn những người trẻ hơn làm những điều mình từng làm, rồi âm thầm bước lui mà không cay cú. Có khi chỉ là vẫn cầu nguyện cho Hội Dòng khi chính mình cảm thấy bị quên lãng. Ở lại dưới chân Thập Giá chính là như thế: không phải vì mọi sự còn đẹp, mà bởi vì tình yêu chưa hết.
Chức linh mục cũng được sinh ra và lớn lên dưới bóng Thập Giá. Ngày chịu chức, người linh mục nằm phủ phục trước bàn thờ, cộng đoàn hát kinh cầu các thánh, rồi vị giám mục đặt tay và lời nguyện truyền chức được đọc lên. Đó là một ngày đẹp. Nhưng linh mục không được định nghĩa bởi ngày chịu chức; linh mục được định nghĩa bởi những ngày sau đó, bởi cách người linh mục ở lại với Chúa và với đoàn chiên khi những xúc cảm của ngày đầu không còn nữa. Có những linh mục bắt đầu sứ vụ với rất nhiều nhiệt huyết, nhưng rồi thời gian bào mòn. Có những người phải mang những hiểu lầm mà không biết giải thích với ai. Có những người phục vụ trong những nơi âm thầm, chẳng có gì nổi bật. Có những người già đi, bệnh tật, không còn sức làm việc như trước. Có những người từng đứng trước đám đông nhưng rồi một ngày chỉ còn một căn phòng nhỏ và một tràng hạt. Lúc ấy chức linh mục có còn ý nghĩa không? Có. Bởi vì linh mục không quý trước mặt Chúa vì làm được bao nhiêu việc, mà trước hết vì đã trao đời mình cho Chúa. Một linh mục già không còn giảng hay như trước nhưng vẫn ngồi tòa giải tội nếu còn sức, vẫn cầu nguyện cho dân Chúa, vẫn dâng những đau yếu của mình cho Hội Thánh, vẫn có thể là một bài giảng sống động hơn hàng nghìn lời nói. Đặc biệt, người mục tử được mời gọi học nơi Đức Maria một điều vô cùng quan trọng: ở lại bên những người đang bị đóng đinh. Không chỉ ở lại với những giáo dân thành công, quảng đại, dễ thương; không chỉ gần những người có thể giúp công việc giáo xứ; nhưng ở lại bên người bệnh, người già, người nghèo, người thất bại, người mang tai tiếng, người vừa mất người thân, người đang khủng hoảng, người không còn sức đóng góp gì. Mục tử của Đức Kitô không chỉ hiện diện ở bàn tiệc; mục tử phải biết đứng ở Canvê. Có những cuộc thăm viếng chẳng giải quyết được vấn đề gì, nhưng một linh mục ngồi bên một bệnh nhân vài phút có thể khiến người ấy hiểu rằng Hội Thánh chưa quên mình. Có những tang gia chẳng cần nghe một bài thần học dài; họ chỉ cần một mục tử biết đứng cạnh họ, đọc một kinh, nắm một bàn tay, nghe họ khóc. Có những con chiên lạc không cần bị kết án thêm; họ cần biết rằng vẫn có một cánh cửa để trở về. Người linh mục càng ở gần Thập Giá Đức Kitô càng hiểu rằng sứ vụ không phải là tìm nơi dễ phục vụ nhất, nhưng là hỏi: “Ở đâu đang có một người bị bỏ lại một mình?” Và rồi đến đó.
Tình bạn cũng vậy. Chúng ta có rất nhiều người quen nhưng không chắc có nhiều người bạn. Người quen thường biết ta khi ta vui; người bạn thật nhận ra ta cả khi ta im lặng. Người quen có thể đến khi ta có điều gì đó để trao đổi; người bạn thật có thể ngồi bên ta ngay cả khi chẳng có gì để nói. Có những tình bạn rất vui lúc cả hai còn trẻ, còn khỏe, còn thành công, còn có những chuyến đi và những cuộc chuyện trò dài; nhưng thử thách của tình bạn đến khi một người thất bại, khi một người mắc sai lầm, khi một người rơi vào khủng hoảng, khi một người chẳng còn thú vị như trước. Lúc đó ta mới biết ai là người ở lại. Chúa Giêsu từng có rất nhiều người đi theo khi Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. Nhưng trên Canvê, người ở lại chẳng còn bao nhiêu. Đám đông luôn đông ở nơi có bánh; chân Thập Giá thường rất ít người. Trong đời ta cũng vậy. Có những lúc quanh ta rất đông, nhưng không chắc tất cả đều có thể đi với ta đến Canvê. Đừng trách họ. Con người yếu đuối. Phêrô từng nói sẽ chết với Thầy mà rồi cũng chạy. Các môn đệ từng tranh nhau chỗ nhất bên Thầy mà rồi khi Thầy bị bắt, họ tản mác. Tin Mừng không che giấu sự yếu đuối ấy vì Tin Mừng cũng muốn ta nhìn lại chính mình: ta có khi cũng đã chạy khỏi Thập Giá của người khác. Khi một người thân đau khổ quá lâu, ta mất kiên nhẫn. Khi một người bạn cứ lặp lại một vấn đề, ta mệt. Khi một người thất bại và trở thành gánh nặng, ta né tránh. Khi một người bị thiên hạ nói xấu, ta sợ liên lụy nên tạo khoảng cách. Đôi lúc ta bỏ người ta không phải bằng đôi chân nhưng bằng sự lạnh lùng. Vẫn sống chung một nhà mà đã bỏ nhau. Vẫn gặp mỗi ngày mà đã bỏ nhau. Vẫn gọi là bạn nhưng đã bỏ nhau. Vẫn gọi là cộng đoàn nhưng người bên cạnh đang đau mà ta không biết. Có những sự bỏ rơi không cần một chuyến đi xa; chỉ cần trái tim đóng lại là đủ. Chính vì thế, lời Tin Mừng “đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” trở thành một lời xét mình thật sâu: tôi đang đứng gần hay đứng xa nỗi đau của những người Thiên Chúa đặt bên đời tôi?
Có một điều rất lạ: người ở lại dưới chân Thập Giá thường không thể làm cho Thập Giá biến mất. Chúng ta thích giải quyết vấn đề. Ta thích nói một câu để mọi chuyện khá hơn. Ta thích đưa ra lời khuyên. Ta thích thấy kết quả. Vì thế khi gặp một nỗi đau không thể sửa chữa, ta trở nên lúng túng. Ta không biết phải nói gì với một người vừa mất con. Ta không biết nói gì với một người mắc căn bệnh nặng. Ta không biết nói gì với một người có cuộc hôn nhân đang rạn nứt. Ta không biết nói gì với một người đã cầu nguyện rất lâu mà hoàn cảnh không đổi. Và vì không biết nói gì, đôi khi ta tránh họ. Nhưng dưới chân Thập Giá, Đức Maria dạy ta rằng không phải lúc nào yêu cũng cần nói. Có những nỗi đau mà mọi lời nói đều nhỏ. Có những lúc câu “rồi mọi chuyện sẽ ổn” nghe quá dễ dàng, thậm chí làm người đau thêm cô độc. Có những lúc người đau khổ không cần ta giải thích tại sao Chúa để điều này xảy ra. Họ cần một người có đủ lòng thương để không bỏ họ một mình trong câu hỏi ấy. Mẹ Maria không đứng dưới Thập Giá để giảng cho Đức Giêsu về ý nghĩa của đau khổ. Mẹ đơn giản đứng đó. Sự hiện diện của Mẹ nói thay mọi lời: “Con ơi, Mẹ không cứu Con khỏi Thập Giá được, nhưng Mẹ sẽ không để Con chịu Thập Giá mà không thấy gương mặt của Mẹ.” Có lẽ nhiều bệnh nhân cuối đời cũng chỉ cần như vậy. Nhiều người già cũng chỉ cần như vậy. Nhiều người đang khủng hoảng cũng chỉ cần như vậy. Họ không cần ta làm phép lạ. Họ cần ta đừng biến mất.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà người ta rất nhanh trong việc bắt đầu và cũng rất nhanh trong việc từ bỏ. Một chiếc điện thoại chậm, ta thay. Một món đồ cũ, ta bỏ. Một công việc không còn thích, ta tìm việc khác. Một ứng dụng không vừa ý, ta xóa. Điều nguy hiểm là não trạng tiêu dùng ấy có thể len vào các tương quan: người này không đáp ứng mong đợi của tôi, đổi; cộng đoàn này không hợp tôi, bỏ; ơn gọi này không còn làm tôi hạnh phúc, thôi; tình bạn này làm tôi mệt, cắt. Dĩ nhiên có những quyết định rời đi là cần thiết và đúng đắn, nhất là khi có bạo lực, lạm dụng, thao túng hay nguy hiểm. Nhưng cũng phải thành thật rằng rất nhiều lần chúng ta ra đi không phải vì điều ấy, mà chỉ vì ta không còn muốn trả giá cho tình yêu. Tình yêu mà không có giá thì thường chỉ là cảm xúc. Tình yêu thật bao giờ cũng lấy đi khỏi ta một cái gì đó: thời gian, sự tự do, cái tôi, sự tiện nghi, quyền luôn luôn đúng, quyền sống chỉ theo ý mình. Thập Giá chính là giá của một tình yêu đi đến cùng. Nếu Đức Giêsu yêu nhân loại miễn là nhân loại ngoan ngoãn với Người, chắc Người đã xuống khỏi Thập Giá. Nếu Người yêu các môn đệ miễn là họ trung thành với Người, có lẽ tình yêu ấy đã kết thúc trong đêm họ bỏ chạy. Nhưng Người yêu đến cùng. Người không ở lại trên Thập Giá vì Người thích đau khổ. Người ở lại vì Người không muốn bỏ con người. Những chiếc đinh giữ thân thể Đức Giêsu trên gỗ, nhưng sâu hơn những chiếc đinh là một tình yêu tự nguyện không rút lại lời đã trao. Chính vì thế, mọi sự trung thành Kitô giáo đều phải học từ Người.
Ở lại không có nghĩa là đứng yên. Ở lại còn là tiếp tục yêu. Có người ở cạnh nhau nhưng lòng đã bỏ nhau từ lâu. Có vợ chồng vẫn chung một mái nhà nhưng chỉ nói với nhau những câu cần thiết. Có người trong cộng đoàn sống cạnh nhau nhưng không còn cầu nguyện cho nhau. Có cha mẹ chu cấp đầy đủ cho con nhưng không còn biết con đang nghĩ gì. Có con cái gửi tiền cho cha mẹ nhưng không còn thời gian ngồi với cha mẹ một bữa cơm. Có linh mục lo hàng trăm công việc nhưng dần không còn biết giáo dân đang đau ở đâu. Có người phục vụ rất nhiều nhưng bên trong đã kiệt sức và trở nên cay đắng. Vì thế ở lại dưới chân Thập Giá không chỉ là ở cùng một địa điểm. Đó là giữ trái tim còn mở. Đức Maria không chỉ có mặt về thể lý; Mẹ hiện diện bằng toàn bộ con người. Mẹ nhìn Con. Mẹ đau nỗi đau của Con. Mẹ đón nhận lời Con. Và ngay trong giờ đau nhất, Mẹ lại nhận thêm một người con: “Đây là con của Mẹ.” Thật lạ lùng! Ở dưới chân Thập Giá, Mẹ không đóng lòng lại vì đau khổ của mình; Mẹ còn mở lòng cho một tương quan mới. Đó là dấu chỉ của một trái tim đã trưởng thành trong tình yêu. Người chưa trưởng thành thường khi đau chỉ nhìn thấy nỗi đau của mình. Người trưởng thành có thể đang đau mà vẫn nhận ra người khác cũng cần được yêu.
Có lẽ một trong những thảm kịch lớn nhất của đời người là có rất nhiều người chết vì cô đơn trước khi họ chết về thể xác. Họ sống trong một căn nhà có người nhưng không ai thật sự ở với họ. Họ ngồi giữa cộng đoàn nhưng không ai biết lòng họ đang vỡ. Họ đi lễ mỗi ngày nhưng không có ai để nói một câu thật lòng. Họ lên mạng có hàng ngàn bạn bè nhưng khi khóc lại chẳng biết gọi ai. Người trẻ cô đơn. Người già cô đơn. Linh mục cũng có thể cô đơn. Người tu sĩ cũng có thể cô đơn. Người làm cha làm mẹ cũng có thể cô đơn. Một người chồng có thể cô đơn ngay bên vợ. Một người vợ có thể cô đơn ngay bên chồng. Cô đơn không chỉ là không có người chung quanh. Cô đơn là không có ai dám bước vào vùng đau của mình và ở lại đó. Bởi vậy một Kitô hữu biết ở lại với người đau có thể trở thành một dấu chỉ rất thật của Thiên Chúa. Đôi khi ta không cần làm gì ngoạn mục để cứu một người khỏi tuyệt vọng. Một cuộc điện thoại đúng lúc. Một lần đến thăm. Một bữa cơm. Một tin nhắn: “Tôi đang nghĩ đến bạn.” Một buổi chiều ngồi im nghe họ kể. Một lời: “Tôi không biết phải nói gì, nhưng tôi ở đây.” Những điều ấy nhỏ thôi, nhưng dưới ánh sáng Canvê, đó là những cử chỉ mang hình dáng của Đức Maria.
Và còn một chiều sâu khác nữa: ở lại dưới chân Thập Giá của chính mình. Nhiều khi ta muốn chạy khỏi cuộc đời mình. Ta không chấp nhận tuổi tác, quá khứ, giới hạn, thất bại, thân phận, những điều không thể thay đổi. Ta luôn ước mình là một người khác, ở một nơi khác, sống một cuộc đời khác. Có những người cả đời đứng bên ngoài cuộc đời mình vì cứ nghĩ hạnh phúc ở chỗ khác. Nhưng Thập Giá dạy rằng ơn cứu độ thường bắt đầu không phải khi ta chạy khỏi sự thật mà khi ta can đảm đứng trước nó. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá nghĩa là Mẹ chấp nhận đi vào khoảnh khắc đau nhất mà không trốn. Mẹ không phủ nhận sự thật. Con Mẹ đang chết. Những ước mơ của một người mẹ bị nghiền nát trước mắt. Và Mẹ vẫn đứng. Đứng ở đó không phải tuyệt vọng nhưng là một sự tín thác sâu đến mức không còn gì để bám ngoài Thiên Chúa. Có những lúc đời ta cũng bị đưa đến một nơi như thế: những kế hoạch không thành, sức khỏe không còn, một người mình yêu đã đi khỏi đời, một cánh cửa không bao giờ mở lại, một tuổi trẻ không quay về, một lỗi lầm không thể xóa khỏi lịch sử, một vết thương không thể làm như chưa từng có. Ta có thể chạy trốn bằng đủ cách: bận rộn, giải trí, oán trách, nghiện ngập, cay đắng, đổ lỗi. Nhưng rồi cuối cùng, để được chữa lành, ta phải học đứng trước sự thật của mình với Chúa. “Lạy Chúa, đây là Thập Giá của con. Con không muốn nó. Con không hiểu nó. Nhưng con không chạy nữa. Con ở đây với Chúa.” Có lẽ đó là lúc đức tin từ một ý tưởng trở thành một đời sống.
Chúng ta đừng quên rằng dưới chân Thập Giá không chỉ có Đức Maria. Còn có người môn đệ Chúa yêu. Người môn đệ ấy đã trở lại sau những giờ hoảng loạn và đứng đó. Điều này cũng rất đẹp: không phải chỉ những người chưa từng bỏ chạy mới được phép đứng dưới chân Thập Giá. Người đã từng yếu đuối vẫn có thể quay lại. Người từng thất bại vẫn có thể trở về. Người từng bỏ Chúa vẫn có thể đến gần. Kitô giáo không phải tôn giáo của những người chưa bao giờ chạy; đó là Tin Mừng cho những người biết đường trở lại. Có thể hôm qua ta đã bỏ ai đó một mình trong đau khổ. Có thể ta từng vô tâm với cha mẹ. Có thể ta từng để người bạn đi qua những ngày đen tối mà không hỏi han. Có thể ta đã mệt mỏi với cộng đoàn, với gia đình, với sứ vụ và trái tim đã bắt đầu xa. Hôm nay Tin Mừng không lên án ta. Tin Mừng chỉ mời: hãy trở lại chân Thập Giá. Hãy đứng lại. Hãy gần hơn một chút. Có những mối quan hệ không cần một bài diễn văn; chỉ cần ta trở lại. Một cuộc gọi sau nhiều năm. Một lời xin lỗi. Một bước qua phòng người bên cạnh. Một lần ngồi xuống với cha mẹ. Một cuộc viếng thăm người bệnh. Một lời hỏi: “Dạo này anh có ổn không?” Biết đâu một hành động rất nhỏ lại là bước đầu để tình yêu sống lại.
Nhưng để ở lại với người khác dưới chân Thập Giá, trước tiên ta phải học ở lại với Chúa. Nếu không, sức con người sẽ hết. Có những nỗi đau kéo dài nhiều năm. Có những người ta chăm sóc ngày này qua ngày khác. Có những trách nhiệm không có ngày nghỉ. Có những ơn gọi không phải một cuộc chạy nước rút mà là một hành trình vài chục năm. Nếu chỉ dựa vào cảm xúc, ta sẽ cạn. Nếu chỉ dựa vào ý chí, ta cũng có lúc gãy. Đức Maria có thể đứng dưới chân Thập Giá vì cả đời Mẹ đã sống trong tiếng “xin vâng”. Từ Nazareth đến Bêlem, từ cuộc trốn sang Ai Cập đến những năm âm thầm, từ Cana đến Canvê, đời Mẹ là một trường học dài của sự ở lại với Thiên Chúa. Không ai tự nhiên trung thành trong giờ thử thách lớn. Sự trung thành lớn được chuẩn bị bằng hàng ngàn trung thành nhỏ. Một người vợ không tự nhiên có thể chăm chồng bệnh mười năm nếu trước đó không từng học hy sinh trong những việc nhỏ. Một linh mục không tự nhiên có thể trung thành năm mươi năm nếu mỗi ngày không học trở lại với Chúa. Một tu sĩ không thể đứng vững trong cơn khủng hoảng nếu trước đó đời cầu nguyện chỉ là hình thức. Một tình bạn không thể chịu nổi một biến cố lớn nếu trước đó người ta chưa từng học tha thứ những điều nhỏ. Bởi thế, nếu muốn một ngày có thể đứng dưới chân Thập Giá, hãy tập đứng bên nhau hôm nay trong những chuyện rất nhỏ.
Có những cuộc đời đẹp không phải vì họ làm được những chuyện khiến người ta sửng sốt, mà vì họ không bỏ cuộc. Một người mẹ nuôi đứa con khuyết tật ba mươi năm. Một người chồng chăm vợ mất trí nhớ. Một người vợ đi cùng chồng qua giai đoạn thất nghiệp dài. Một linh mục âm thầm coi một giáo xứ nhỏ chẳng ai biết. Một tu sĩ già ngày ngày cầu nguyện cho sứ vụ của anh em. Một người con mỗi ngày tắm rửa, đút cơm cho cha mẹ già. Một người bạn không rời bỏ bạn mình trong lúc cả thiên hạ quay lưng. Đời họ có thể chẳng bao giờ được viết thành sách. Nhưng trên trời, có lẽ những trang ấy đã được viết bằng một loại mực rất quý: mực của sự trung thành. Thế gian thường hỏi: “Bạn đã thành công bao nhiêu?” Thập Giá hỏi: “Bạn đã yêu đến đâu?” Thế gian hỏi: “Bạn đã đi được bao xa?” Thập Giá hỏi: “Bạn đã ở lại với ai?” Thế gian hỏi: “Bạn có bao nhiêu người đứng cạnh khi bạn nổi tiếng?” Chúa hỏi: “Khi người khác bị bỏ rơi, bạn có đứng cạnh họ không?”
Rồi cũng sẽ đến một ngày chính ta nằm xuống và không còn làm được gì nữa. Những thành tích từng làm ta tự hào rồi cũng nằm lại. Những chức vụ từng khiến người khác gọi tên ta rồi cũng thuộc về người khác. Nhà cửa, tài khoản, bằng cấp, danh tiếng, những cuộc tranh hơn thua… tất cả dần trở nên rất nhỏ. Cuối cùng có lẽ điều còn lại không phải ta đã có bao nhiêu nhưng là ta đã yêu ai, đã tha thứ cho ai, đã ở lại với ai. Và cũng có lẽ vào giờ cuối đời, món quà lớn nhất Thiên Chúa ban cho ta chẳng phải là thêm một thành công, mà là một người nắm tay ta và không bỏ đi. Lúc ấy ta mới hiểu vì sao hình ảnh Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá đẹp đến thế. Giữa một thế giới đã quay lưng với Đức Giêsu, vẫn còn một gương mặt Người có thể nhìn xuống và biết: Mẹ vẫn ở đây.
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Xin cho câu Tin Mừng rất ngắn ấy trở thành một chương trình sống cho mỗi chúng ta. Trong hôn nhân, xin cho người chồng và người vợ biết ở lại khi cuộc sống không còn giống những ngày đầu. Trong đời tu, xin cho người tận hiến biết ở lại với Đấng đã gọi mình qua những mùa khô khan và thử thách. Trong chức linh mục, xin cho người mục tử biết ở lại với Chúa và ở lại với đoàn chiên, nhất là những con chiên đang mang thương tích. Trong tình bạn, xin cho ta trở thành người không chỉ chia vui nhưng còn biết đứng bên nhau trong ngày tăm tối. Trong gia đình, xin cho con cái đừng bỏ cha mẹ khi cha mẹ già yếu, và cha mẹ đừng bỏ con khi con thất bại. Trong cộng đoàn, xin cho ta biết nhìn thấy người đang âm thầm đau bên cạnh. Và trên hết, xin cho mỗi chúng ta biết ở lại với Chúa khi chính đời mình trở thành một Canvê.
Có khi ta sẽ chẳng tháo được chiếc đinh nào khỏi Thập Giá của người mình yêu. Có khi ta chẳng làm cho căn bệnh khỏi. Có khi ta chẳng cứu được một cuộc đời khỏi mọi mất mát. Có khi ta chẳng trả lời nổi câu hỏi “tại sao”. Nhưng xin đừng vì không làm được phép lạ mà nghĩ mình chẳng làm được gì. Ta có thể ở lại. Và đôi khi, ở lại chính là phép lạ lớn nhất của tình yêu. Bởi trong một thế giới nơi người ta rất dễ rời bỏ nhau, một người quyết định không bỏ người đau khổ một mình đã là một dấu chỉ của Thiên Chúa. Trong một thời đại mà lời hứa dễ được nói nhưng khó được giữ, một cuộc đời trung thành đã là một bài Tin Mừng. Trong một xã hội nơi người ta thường yêu điều dễ thương, một người vẫn yêu khi phải trả giá đã là hình ảnh của Đức Kitô.
Xin cho đến một ngày, khi nhìn lại đời mình, ta có thể không nói được rằng mình đã làm những điều vĩ đại, nhưng ít nhất có thể thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con đã cố gắng không bỏ những người Chúa trao cho con. Có lúc con mệt. Có lúc con yếu. Có lúc con muốn chạy. Có lúc con đã chạy thật. Nhưng rồi con trở lại. Con đã cố đứng bên họ. Con đã cố ở lại.” Và biết đâu Chúa sẽ mỉm cười, bởi chính Người hiểu hơn ai hết cái giá của hai chữ ở lại. Người đã ở lại trên Thập Giá cho đến hơi thở cuối cùng chỉ vì yêu chúng ta. Người đã không xuống khỏi Thập Giá để cứu mình, vì Người muốn ở lại để cứu ta. Và từ Thập Giá ấy, Người vẫn đang nói với từng người: “Dù con đã đi xa đến đâu, dù con đã làm gì, dù người đời có bỏ con, Thầy vẫn ở đây.”
Vậy nên, hôm nay, ta hãy nhìn lên Thập Giá rồi nhìn lại những người đang ở bên đời mình. Có ai đang cần ta ở lại không? Có người bạn nào lâu rồi ta chưa hỏi thăm? Có cha mẹ nào đang già đi trong sự cô đơn? Có người phối ngẫu nào đang sống cạnh ta mà lòng lại cảm thấy bị bỏ rơi? Có người anh em trong cộng đoàn nào đang đau nhưng giấu kín? Có một bệnh nhân nào đang mong một lần thăm? Có ai từng làm ta thất vọng nhưng đang cần một cánh cửa để trở về? Và có chính Chúa đang chờ ta trở lại bên Thập Giá sau những tháng ngày ta bận rộn với quá nhiều điều khác?
Đừng vội tìm những việc lớn. Hãy học đứng lại. Hãy học ở gần. Hãy học lắng nghe. Hãy học im lặng khi lời nói trở nên thừa. Hãy học nắm một bàn tay. Hãy học cùng khóc. Hãy học cầu nguyện bên người đau. Hãy học trung thành khi chẳng còn ai vỗ tay. Hãy học yêu khi tình yêu không còn ngọt ngào. Hãy học ở lại khi ở lại bắt đầu có giá. Vì chính ở đó, ngay dưới chân những Thập Giá rất đời thường ấy, ta sẽ gặp Đức Giêsu. Và rồi một ngày ta sẽ hiểu rằng điều làm nên vẻ đẹp sâu nhất của một đời người không phải là chưa từng gặp Thập Giá, nhưng là giữa Thập Giá, vẫn còn biết yêu; không phải là chưa từng bị tổn thương, nhưng là sau tổn thương, vẫn không đóng cửa trái tim; không phải là đi qua đời mà chưa từng muốn bỏ cuộc, nhưng là dù có lúc mệt mỏi, cuối cùng vẫn chọn ở lại với Chúa và với những người Chúa trao.
Ở lại dưới chân Thập Giá – nghe sao đơn sơ, nhưng có lẽ đó là cả một đời Kitô hữu. Ở lại với Chúa. Ở lại với lời mình đã hứa. Ở lại với người mình đã nhận yêu thương. Ở lại với trách nhiệm đã được trao. Ở lại với người bệnh. Ở lại với người già. Ở lại với người yếu đuối. Ở lại với người chưa hoàn hảo. Ở lại cả khi bản thân mình chưa hiểu hết mọi sự. Và khi không còn sức để ở lại bằng đôi chân, hãy ở lại bằng lời cầu nguyện. Khi không thể nói, hãy ở lại bằng sự hiện diện. Khi chẳng còn làm được gì, hãy ở lại bằng tình yêu.
Bởi cuối cùng, ở dưới chân Thập Giá, Đức Maria đã không cứu Đức Giêsu khỏi cái chết. Nhưng Mẹ đã cho Người một điều vô giá trong giờ hấp hối: Người không chết một mình. Và có lẽ đó cũng là một trong những ơn cao quý nhất mà một con người có thể trao cho một con người: “Tôi không thể vác hết Thập Giá thay bạn. Tôi không thể giải quyết mọi nỗi đau của bạn. Tôi không hứa rằng ngày mai mọi sự sẽ dễ hơn. Nhưng hôm nay, tôi ở đây. Và nếu Chúa cho phép, ngày mai, tôi vẫn ở đây.”
Xin Đức Maria, Người Mẹ đã đứng dưới chân Thập Giá, dạy chúng ta nghệ thuật thánh thiện của sự hiện diện. Dạy những người chồng biết ở lại với vợ. Dạy những người vợ biết ở lại với chồng. Dạy cha mẹ biết ở lại với con trong những ngày chúng lạc lối. Dạy con cái biết ở lại với cha mẹ khi tuổi già làm cha mẹ trở nên chậm chạp và yếu đuối. Dạy linh mục ở lại với đoàn chiên. Dạy người tu sĩ ở lại với lời khấn. Dạy những người bạn ở lại với nhau qua những mùa giông bão. Dạy mỗi người chúng ta ở lại bên những người đang chịu đóng đinh bởi bệnh tật, nghèo khó, cô đơn, thất bại và tuyệt vọng. Và nhất là xin Mẹ dạy chúng ta ở lại với Đức Giêsu, bởi ai đã học ở lại với Người dưới chân Thập Giá sẽ dần biết cách ở lại với anh chị em mình.
Rồi mai đây, khi cuộc đời khép lại, có lẽ Chúa chẳng hỏi ta đã được bao nhiêu người biết đến, nhưng Người sẽ hỏi ta đã có mặt bên bao nhiêu người khi họ cần. Chúa chẳng hỏi ta đã nói bao nhiêu câu hay về tình yêu, nhưng Người sẽ chỉ cho ta những khuôn mặt mà ta đã không bỏ rơi. Và lúc ấy, ta sẽ hiểu: mỗi lần ta ngồi bên một bệnh nhân, mỗi lần ta kiên nhẫn với người bạn đời, mỗi lần ta trở về với cộng đoàn thay vì buông xuôi, mỗi lần ta tiếp tục phục vụ dù chẳng ai nhớ ơn, mỗi lần ta gọi điện cho một người đang cô đơn, mỗi lần ta tha thứ để giữ lại một tình nghĩa đáng giữ, mỗi lần ta cầu nguyện cho một người đã làm ta đau… là mỗi lần ta đã đứng dưới chân Thập Giá với Đức Maria.
Đời người rồi sẽ qua. Chỉ tình yêu ở lại. Và trong tất cả những hình thức của tình yêu, có lẽ tình yêu đẹp nhất không phải lúc nào cũng là tình yêu làm được điều gì lớn lao, nhưng là thứ tình yêu có thể âm thầm nói một câu rất nhỏ mà cả Canvê hiểu được: “Tôi vẫn ở đây.”
Lm. Anmai, CSsR

KHI MỌI NGƯỜI BỎ ĐI, NGƯỜI YÊU THÌ Ở LẠI
Tin Mừng: Ga 19,25-27
Có những lúc trong đời, muốn biết ai thực sự thương mình, không cần hỏi, cũng chẳng cần thử. Cứ chờ đến một ngày mình không còn gì để người ta tìm đến nữa. Chờ đến lúc mình thất bại. Chờ đến lúc mình đau yếu. Chờ đến khi danh tiếng không còn. Chờ đến khi túi tiền vơi đi. Chờ đến khi mình không còn khả năng giúp đỡ ai. Chờ đến lúc những điều đẹp đẽ từng làm người khác ngưỡng mộ nơi mình bỗng biến mất. Khi ấy, từng người sẽ tự tìm cho mình một lý do để bước đi. Và rồi giữa khoảng trống mênh mông còn lại, ta mới nhận ra một sự thật vừa đau vừa đẹp: người yêu thật sự không nhất thiết là người nói nhiều nhất khi ta thành công, nhưng thường là người vẫn còn ở đó khi tất cả những người khác đã bỏ đi. Tin Mừng theo thánh Gioan đưa chúng ta đến một khung cảnh như thế. Không còn những đám đông chen nhau bên bờ hồ. Không còn hàng ngàn người ngồi trên cỏ để nghe Đức Giêsu giảng. Không còn những tiếng reo vui khi Người chữa lành bệnh tật. Không còn cảnh dân chúng muốn tôn Người lên làm vua sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Không còn những lời tung hô “Hosanna” vang lên trên đường vào Giêrusalem. Bây giờ chỉ còn một ngọn đồi trơ trụi, ba cây thập giá, tiếng người chế nhạo, tiếng binh lính, tiếng khóc bị nén lại, và một Con Người đang hấp hối giữa trời. Chính ở đó, thánh Gioan viết một câu ngắn đến mức người ta có thể đọc qua rất nhanh: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala.” Chỉ một chữ thôi đã đủ nói lên tất cả: đứng. Họ không chạy. Họ không trốn. Họ không bỏ đi. Họ đứng đó. Trong khi những kẻ tò mò đã thỏa mãn sự tò mò và lần lượt ra về, những người yêu vẫn ở lại. Trong khi đám đông từng reo hò đã im tiếng, những người yêu vẫn ở lại. Trong khi phần lớn các môn đệ đã chạy tán loạn vì sợ hãi, những người yêu vẫn ở lại. Và từ đó, Thập Giá trở thành một đường ranh rất rõ giữa người tò mò và người thực sự yêu.
Đám đông từng rất đông quanh Đức Giêsu. Đông đến mức có lúc Người và các môn đệ không có giờ ăn uống. Đông đến mức Giakêu phải trèo lên cây mới nhìn thấy Người. Đông đến mức người ta phải dỡ mái nhà để đưa một người bại liệt xuống trước mặt Người. Đông đến mức các môn đệ phải dùng thuyền để đưa Người ra xa bờ một chút mà giảng. Nhưng đám đông không phải lúc nào cũng là cộng đoàn của tình yêu. Có người đến vì muốn nghe điều mới lạ. Có người đến vì cần được chữa bệnh. Có người đến vì được ăn bánh no nê. Có người đến vì hy vọng Người sẽ làm cách mạng. Có người đến để tìm lý do bắt bẻ. Có người đến vì thấy người khác đến. Đám đông có thể đi theo một người khi người ấy nổi tiếng, nhưng đám đông cũng có thể quay lưng rất nhanh khi người ấy không còn đáp ứng được mong đợi của họ. Hôm trước người ta còn tung áo xuống đường cho Đức Giêsu đi qua. Vài ngày sau, cũng trong thành phố ấy, tiếng “Hosanna” đã bị thay bằng tiếng “Đóng đinh nó đi!”. Con người là thế. Khi yêu một người vì điều mình nhận được từ người ấy, tình yêu ấy sẽ chết khi người ấy không còn gì để cho. Khi quý một người vì họ có ích cho mình, mối quan hệ ấy sẽ kết thúc khi lợi ích chấm dứt. Khi đi theo Chúa chỉ vì mong Chúa giải quyết mọi chuyện theo ý mình, đức tin sẽ lung lay khi cầu nguyện mãi mà bệnh vẫn còn, khó khăn vẫn còn, thất bại vẫn còn, người thân vẫn mất, nước mắt vẫn rơi. Chính Thập Giá vạch trần một thứ tình yêu chỉ tồn tại khi được lợi.
Có lẽ trong cuộc đời mỗi người, ai rồi cũng sẽ trải qua một vài “ngọn đồi Canvê” như thế. Không nhất thiết có gỗ và đinh, nhưng vẫn có những lúc ta bị đóng đinh bởi bệnh tật, tuổi già, hiểu lầm, phản bội, cô đơn, thất bại, thất nghiệp, mất mát, hoặc bởi chính những giới hạn của thân phận con người. Và lạ lùng thay, chính những lúc ấy ta mới nhìn thấy rõ hơn khuôn mặt của những người quanh mình. Khi khỏe mạnh, ta có nhiều bạn. Khi có chức có quyền, điện thoại reo suốt. Khi làm ăn phát đạt, bàn tiệc không thiếu người. Khi đang ở vị trí có thể giúp người khác, lời chào hỏi rất ngọt ngào. Nhưng thử một ngày không còn gì để cho. Thử rời khỏi chiếc ghế. Thử bệnh một thời gian dài. Thử gặp tai tiếng. Thử thất bại. Thử không còn khả năng đáp lại những mong đợi của người khác. Khi ấy, danh bạ điện thoại vẫn dài nhưng số người gọi đến sẽ ngắn lại. Danh sách bạn bè vẫn còn nhưng những bước chân tìm đến sẽ thưa dần. Và rồi đôi khi chỉ còn vài người. Có khi chỉ còn một người. Nhưng một người ấy quý hơn cả một đám đông ngày trước. Bởi vì người ấy không đến để lấy gì từ ta. Người ấy đến chỉ vì ta là ta. Người ấy chẳng giải quyết nổi vấn đề của ta. Người ấy không có phép lạ. Người ấy không thể tháo những chiếc đinh khỏi đời ta. Nhưng người ấy ngồi xuống cạnh ta, cầm lấy tay ta, và bằng sự hiện diện âm thầm của mình, nói một câu không thành lời: “Tôi còn ở đây.” Có những lúc như thế, câu “tôi còn ở đây” quý hơn mọi lời khuyên.
Mẹ Maria dưới chân Thập Giá là hiện thân đẹp nhất của thứ tình yêu ấy. Mẹ chẳng làm được gì để cứu Con theo nghĩa người đời. Mẹ không thể tháo đinh. Không thể đuổi quân lính. Không thể thay đổi bản án của Philatô. Không thể bịt miệng những kẻ nhạo báng. Không thể đưa cho Con một chén nước. Có lẽ đó là một trong những đau đớn lớn nhất của người yêu: nhìn người mình yêu đau mà bất lực. Ai từng chăm sóc một người thân bệnh nặng sẽ hiểu. Có lúc ta sẵn sàng đổi tất cả để người ấy đỡ đau, nhưng chẳng đổi được. Có lúc chỉ biết chỉnh lại chiếc gối, lau một giọt mồ hôi, đút một muỗng cháo, ngồi cạnh giường bệnh, nhìn nhịp thở ngày một yếu đi. Ta muốn làm thật nhiều mà chẳng còn gì để làm. Khi ấy ta dễ nghĩ mình vô dụng. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho thấy rằng có một điều lúc nào ta cũng có thể làm: ở lại. Mẹ Maria không cứu Chúa Giêsu khỏi Thập Giá, nhưng Mẹ không để Con mình chết một mình. Tình yêu nhiều khi không giải quyết được đau khổ; tình yêu chỉ không để người đau khổ phải chịu đau một mình. Và có lẽ đó đã là một trong những phép lạ lớn nhất của tình yêu.
Thật ra, ở lại không dễ. Bởi ở lại có nghĩa là phải nhìn thấy đau khổ mà mình không sửa được. Ở lại có nghĩa là phải chịu đựng cảm giác bất lực. Ở lại có nghĩa là không chạy trốn khỏi những điều làm mình đau. Người ta thường nghĩ bỏ đi là vì không thương nữa. Chưa chắc. Có khi người ta bỏ đi vì không đủ sức nhìn thấy đau khổ. Có người không dám đến bệnh viện thăm người sắp chết vì sợ. Có người tránh một gia đình đang gặp tang vì không biết phải nói gì. Có người thấy bạn mình suy sụp thì tránh mặt vì sợ bị kéo vào nỗi buồn. Có người thấy hôn nhân khó khăn thì chọn chạy tìm một nơi dễ chịu hơn. Có người thấy đời tu khô khan thì bắt đầu mơ về một cuộc đời khác. Có linh mục gặp khủng hoảng trong sứ vụ thì muốn tìm một chỗ ít phiền phức hơn. Nhưng tình yêu Kitô giáo không được đo bằng khả năng tìm một con đường dễ, mà bằng khả năng ở lại trên con đường mình đã chọn trong tình yêu. Mẹ Maria đứng dưới chân Thập Giá. Người môn đệ Chúa yêu đứng dưới chân Thập Giá. Maria Mácđala đứng dưới chân Thập Giá. Không ai trong họ biết vài ngày nữa sẽ có buổi sáng Phục Sinh. Khi đứng đó, họ không có bằng chứng nào rằng mọi chuyện sẽ kết thúc tốt đẹp. Họ chỉ biết người mình yêu đang chết. Và họ ở lại. Đó mới là trung thành: ở lại không phải vì đã thấy trước kết quả, mà vì tình yêu không cho phép mình bỏ người mình yêu một mình.
Có một điều rất đáng suy nghĩ: trên đồi Canvê có rất nhiều người, nhưng không phải ai có mặt cũng là người ở lại vì yêu. Quân lính có mặt nhưng để thi hành nhiệm vụ. Các thủ lãnh có mặt nhưng để chế nhạo. Người qua đường có mặt nhưng để nhìn. Một số người có mặt vì tò mò. Chỉ một vài người ở đó vì yêu. Như vậy, ở gần một người chưa chắc là yêu người ấy. Sống chung một nhà chưa chắc đã ở lại với nhau. Ngồi cùng một bàn ăn chưa chắc đã thật sự hiện diện cho nhau. Một người chồng có thể sống cả đời trong một mái nhà mà từ lâu tâm hồn đã bỏ vợ mình. Một người vợ có thể vẫn nấu cơm, giặt áo cho chồng nhưng tình cảm đã đóng cửa. Cha mẹ và con cái có thể ở cùng nhà mà mỗi người sống trong một màn hình riêng. Anh chị em có thể gặp nhau thường xuyên nhưng trái tim cách nhau rất xa. Tu sĩ có thể sống cùng cộng đoàn mà trong lòng đã tách khỏi cộng đoàn. Linh mục có thể sống giữa giáo dân mà tâm hồn không còn thuộc về đoàn chiên. Chúng ta có thể đến nhà thờ mỗi ngày mà lòng mình đã bỏ Chúa từ lâu. Khoảng cách thật sự không tính bằng mét. Có những người đứng cách ta cả ngàn cây số nhưng trái tim luôn ở gần. Có người ngồi ngay bên cạnh mà đã xa ta cả một đời.
Bởi vậy, Tin Mừng hôm nay không chỉ kể lại một cảnh tượng cảm động. Tin Mừng đặt trước mỗi người một câu hỏi rất khó: khi người tôi yêu bước vào Canvê của họ, tôi có ở lại không? Khi chồng tôi già yếu, không còn khỏe mạnh, vui vẻ, kiếm được nhiều tiền như trước, tôi có ở lại không? Khi vợ tôi bệnh tật, đổi thay, không còn xinh đẹp, dịu dàng như thuở mới yêu, tôi có ở lại không? Khi con cái làm tôi thất vọng, học hành không như mong muốn, chọn con đường khác với điều tôi dự tính, tôi có ở lại để yêu con hay chỉ yêu hình ảnh mà tôi muốn con phải trở thành? Khi cha mẹ già lú lẫn, nói đi nói lại một câu, đi đứng chậm chạp, cần chăm sóc như một đứa trẻ, tôi có còn kiên nhẫn không? Khi một người bạn rơi vào thất bại và không còn vui vẻ để làm cuộc đời tôi thú vị, tôi có còn gọi điện? Khi một anh em trong cộng đoàn sa sút, khủng hoảng, khó tính, tôi có ở lại với họ hay bắt đầu tránh né? Khi một linh mục yếu đuối và đang cần một bàn tay nâng đỡ, người ta có cầu nguyện cho ngài hay chỉ đứng xa phán xét? Khi Giáo Hội mang những vết thương của con người, tôi có ở lại để yêu Giáo Hội, cầu nguyện cho Giáo Hội, góp phần làm Giáo Hội tốt hơn, hay tôi chỉ biết ném thêm đá? Tình yêu chỉ được biết là thật khi nó đi qua thử thách.
Hôn nhân đặc biệt cần học bài học dưới chân Thập Giá. Ngày cưới bao giờ cũng đẹp. Áo cưới trắng. Hoa tươi. Thánh đường sáng. Họ hàng vui. Hai người nắm tay nhau trước bàn thờ và hứa sẽ yêu thương, tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe. Nhưng lời hứa ấy chưa được kiểm chứng trong ngày cưới. Nó chỉ bắt đầu được kiểm chứng từ những ngày sau đó. Khi tiền bạc thiếu. Khi đứa con đầu tiên ra đời và cả hai mất ngủ. Khi cha mẹ hai bên đau yếu. Khi công việc khó khăn. Khi một người thất bại. Khi tính xấu của nhau lộ ra. Khi những rung động ban đầu dịu xuống. Khi nói chuyện không còn dễ dàng. Khi xuất hiện một người khác hấp dẫn hơn. Khi tuổi già đến. Khi bệnh tật bước vào nhà. Khi ấy lời “con hứa sẽ giữ lòng chung thủy” mới đi vào lửa. Có những người tưởng rằng tình yêu chết khi cảm xúc giảm. Không. Có khi chính lúc cảm xúc giảm, tình yêu trưởng thành mới bắt đầu. Bởi yêu không chỉ là thấy vui khi ở bên một người; yêu là quyết định rằng dù hôm nay không vui, tôi vẫn không làm điều khiến người ấy đau. Yêu không chỉ là muốn được người kia làm mình hạnh phúc; yêu là hỏi mình có thể làm gì để người kia bớt khổ. Yêu không chỉ là ôm nhau khi mọi chuyện thuận lợi; yêu còn là ngồi cạnh nhau trong một căn phòng bệnh viện mà chẳng biết nói gì. Yêu đôi khi chỉ là một người già đút từng muỗng cháo cho người bạn đời đã không còn nhớ tên mình. Có những tình yêu không còn hoa, không còn quà, không còn những lời lãng mạn, nhưng lại đẹp hơn mọi bài thơ bởi nó có một điều Thập Giá hiểu rất rõ: ở lại.
Đời tu cũng thế. Một người bước vào nhà dòng thường mang trong mình rất nhiều lý tưởng. Những năm đầu của ơn gọi có thể đầy nhiệt huyết. Thánh lễ sốt sắng. Giờ kinh ngọt ngào. Sứ vụ hấp dẫn. Cộng đoàn mới mẻ. Người trẻ nghĩ mình có thể dâng cả đời cho Chúa mà không hối tiếc. Nhưng rồi năm tháng đi qua. Cộng đoàn không còn toàn người dễ thương. Sứ vụ không phải lúc nào cũng thành công. Có những ngày cầu nguyện khô như đất. Có những hiểu lầm. Có những tổn thương. Có những bất công thật hoặc tưởng là bất công. Có những giấc mơ không thành. Có những lần nhìn bạn bè ngoài đời có gia đình, con cái, sự nghiệp, và lòng chợt hỏi: “Mình đã chọn đúng chưa?” Chính những lúc ấy, ơn gọi đi qua Canvê. Và lúc đó, lời khấn không còn là những câu đọc trong ngày lễ tuyên khấn. Lời khấn trở thành sự ở lại. Ở lại với Chúa khi không cảm thấy Chúa. Ở lại với cộng đoàn khi cộng đoàn không như mình mong. Ở lại với sứ vụ khi sứ vụ chẳng cho mình một chút hào quang nào. Ở lại với người nghèo khi họ không biết ơn. Ở lại với anh em khi tính khí va chạm. Ở lại vì ngày xưa mình đã không chọn một công việc, mình chọn một Người. Và Người ấy hôm nay đang đứng ở đâu? Người ấy vẫn ở trên Thập Giá.
Đời linh mục càng không thể tránh bài học này. Có những năm đầu linh mục thật đẹp. Bài giảng được khen. Giáo dân quý mến. Trẻ em chạy đến. Người ta mời dự tiệc. Những dự án mới đầy hứng khởi. Nhưng rồi tuổi trẻ qua. Sức khỏe giảm. Có những bài giảng chẳng ai nhớ. Có những việc mình bỏ rất nhiều công sức mà chẳng mấy ai cảm ơn. Có khi còn bị hiểu lầm, chỉ trích, chống đối. Có những người từng thân thiết rồi bỏ đi. Có những nơi mình hết lòng phục vụ nhưng khi chuyển đi, đời sống giáo xứ tiếp tục như thể mình chưa từng có mặt. Lúc ấy, linh mục có thể chạm tới một sự thật thanh luyện: cuối cùng, mình làm tất cả những điều này vì ai? Nếu vì tiếng vỗ tay, sẽ có ngày thất vọng. Nếu vì sự công nhận, sẽ có ngày cay đắng. Nếu vì muốn được nhớ đến, sẽ có ngày buồn. Nhưng nếu vì Đức Kitô chịu đóng đinh, ngay cả một hy sinh chẳng ai biết cũng không vô nghĩa. Người linh mục không được gọi để trở thành người nổi tiếng trong đời giáo dân. Người linh mục được gọi để ở lại với đoàn chiên, nhất là khi đoàn chiên đau. Có khi chẳng cần bài giảng thật hay. Một linh mục ngồi hàng giờ bên giường người hấp hối, lắng nghe một người già kể đi kể lại câu chuyện cũ, có mặt trong đám tang của một người nghèo chẳng ai biết, kiên nhẫn với một gia đình rối ren, âm thầm nâng đỡ một người đang khủng hoảng — những lúc ấy, ngài đang đứng dưới chân Thập Giá nhiều hơn ngài tưởng.
Tình bạn cũng chỉ thật sự được nhận ra ở Canvê. Có thứ bạn bè chỉ tồn tại trong những cuộc vui. Còn vui thì còn gặp. Còn lợi ích thì còn thân. Còn địa vị thì còn kính nể. Nhưng có những người bạn rất ít nói mà cả đời không bỏ nhau. Khi ta thành công, họ vui nhưng không nịnh. Khi ta sai, họ dám nói thật. Khi ta thất bại, họ không hỏi “sao ngu thế?” mà hỏi “giờ cần tôi làm gì?”. Khi người khác nói xấu ta, họ không vội tin. Khi ta nghèo, họ không tránh. Khi ta bệnh, họ ghé thăm. Khi ta khóc, họ không bắt ta phải hết buồn ngay. Có khi họ chẳng nói được câu nào sâu sắc, chỉ ngồi đó. Nhưng sự hiện diện ấy chữa lành. Một người như thế đáng quý hơn hàng ngàn lượt thích trên mạng xã hội. Thời đại này làm chúng ta có rất nhiều kết nối nhưng không chắc có nhiều người ở lại. Điện thoại chứa hàng ngàn số. Mạng xã hội chứa hàng ngàn “bạn”. Nhưng một đêm nào đó, khi lòng mình vỡ vụn và muốn gọi cho một người mà không sợ bị phán xét, ta sẽ hiểu bạn thật không cần nhiều. Chỉ vài người thôi đã là ơn Chúa rất lớn.
Chúa Giêsu cũng đã trải qua cảm giác bị bỏ lại. Giuđa bán Người. Phêrô chối Người. Các môn đệ chạy trốn. Đám đông đổi tiếng tung hô thành lời kết án. Những người từng được Người chữa lành không thấy đâu. Những người từng ăn bánh Người làm cho hóa nhiều cũng không thấy đâu. Chúa đã từng làm biết bao điều cho người khác, nhưng đến lúc Người cần một bàn tay, gần như chẳng còn ai. Đây là một điều rất an ủi cho những ai từng bị bỏ rơi. Nếu có ngày ta cảm thấy mình bị người thân quên, bạn bè xa lánh, người mình tin phản bội, đừng nghĩ Chúa không hiểu. Người hiểu rất sâu. Người đã từng nhìn xuống từ Thập Giá và thấy những khuôn mặt vắng mặt. Người đã từng nghe sự im lặng của những kẻ từng nói sẽ theo Người đến cùng. Người đã từng nếm sự cô đơn đến mức thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Bởi thế, khi ta cô đơn, có một nơi ta luôn có thể đến: dưới chân Thập Giá. Ở đó có một Đấng không giảng cho ta về cô đơn từ một nơi an toàn. Người đã đi xuyên qua cô đơn.
Nhưng điều kỳ diệu là dù bị bỏ rơi, Chúa Giêsu không biến đau khổ thành cay độc. Người không nhìn xuống và nguyền rủa những kẻ bỏ mình. Người không nói: “Tất cả các ngươi đều bạc bẽo.” Ngay trên Thập Giá, Người vẫn quan tâm đến người khác. Khi thấy Mẹ và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Người nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Trong lúc chính mình đang chết, Người vẫn nghĩ đến Mẹ. Trong lúc đang đau, Người vẫn chăm sóc tương lai của người khác. Tình yêu của Đức Giêsu không co lại vì đau khổ. Nó còn mở rộng hơn. Người trao Mẹ cho môn đệ. Trao môn đệ cho Mẹ. Và từ dưới chân Thập Giá, một gia đình mới được sinh ra. Thật lạ lùng: chính nơi con người tưởng mọi thứ tan vỡ, Thiên Chúa lại tạo nên những mối dây mới. Chính nơi tưởng chỉ có mất mát, Chúa lại trao tặng. Chính nơi một người Con sắp chết, một người mẹ lại nhận thêm vô số người con. Từ đó, Hội Thánh đọc những lời này không chỉ như việc Chúa lo cho Mẹ Maria, mà còn như một sự trao ban Mẹ cho cộng đoàn môn đệ. Dưới chân Thập Giá, chúng ta nhận được Mẹ. Và Mẹ nhận chúng ta.
Có lẽ vì thế mà người Kitô hữu không được phép chạy khỏi Thập Giá quá nhanh. Chúng ta thường thích Phục Sinh. Thích Alleluia. Thích ánh sáng. Thích những câu chuyện kết thúc có hậu. Nhưng muốn gặp tình yêu ở độ sâu nhất, phải có lúc đứng dưới chân Thập Giá. Ở đó chúng ta học rằng không phải mọi đau khổ đều có lời giải thích. Có người mất con. Nói gì bây giờ? Có người sống với bệnh ung thư. Giải thích gì bây giờ? Có người bị người bạn đời phản bội sau mấy chục năm. Giảng đạo lý nào cho đủ? Có người cha người mẹ thấy con mình rời xa đức tin. Có người linh mục trải qua khủng hoảng. Có tu sĩ sống nhiều năm trong cô đơn nội tâm. Có người bị trầm uất trong một căn phòng mà chẳng ai hiểu. Có những hoàn cảnh mà lời nói trở nên quá nhỏ. Khi đó, đừng vội giảng. Hãy học Mẹ Maria: đứng đó. Có khi người đau không cần ta nói “hãy cố lên”. Họ đã cố quá lâu rồi. Không cần nói “mọi chuyện rồi sẽ ổn”. Ta đâu biết có ổn theo cách họ mong hay không. Không cần nói “Chúa có kế hoạch”. Câu ấy có thể đúng nhưng nếu nói không đúng lúc sẽ làm vết thương đau hơn. Đôi khi chỉ cần ngồi xuống. Lắng nghe. Im lặng. Khóc cùng. Một cái nắm tay nhiều lúc nhân bản hơn mười lời giải thích thần học.
Thế giới này dư lời nói nhưng thiếu người ở lại. Chúng ta có thể gửi một biểu tượng cầu nguyện rất nhanh, nhưng dành một giờ ngồi bên người đau lại khó. Có thể viết “xin chia buồn cùng gia đình” trong vài giây, nhưng đến viếng một người vừa mất người thân lại thấy phiền. Có thể nói “cần gì cứ gọi tôi”, nhưng khi người ta thật sự gọi thì ta bận. Chúng ta sống trong một nền văn hóa rất thích sự tiện lợi, và đôi khi vô tình đem tinh thần tiện lợi ấy vào cả các mối quan hệ. Ai làm ta vui thì ta gần. Ai làm ta mệt thì ta tránh. Ai đồng ý với ta thì ta thân. Ai khác ta thì ta bỏ. Ai thành công thì ta theo. Ai thất bại thì ta xa. Nhưng tình yêu của Thập Giá không tiện lợi. Nó phải trả giá. Maria Mácđala đứng dưới chân Thập Giá không phải vì ở đó dễ chịu. Mẹ Maria không ở lại vì nơi đó đem cho Mẹ niềm vui. Gioan không đứng đó để được khen là trung thành. Họ đứng đó vì tình yêu giữ chân họ lại.
Có một điều còn sâu hơn nữa: người yêu ở lại không có nghĩa là người yêu không sợ. Gioan chắc chắn sợ. Đứng gần một tử tội bị kết án chống đế quốc không phải chuyện vô hại. Việc công khai mình thuộc về Đức Giêsu có thể khiến Gioan gặp nguy hiểm. Mẹ Maria chắc chắn đau. Maria Mácđala chắc chắn tan nát. Nhưng tình yêu không xóa nỗi sợ; tình yêu làm cho người ta có thể ở lại dù đang sợ. Trung thành không có nghĩa là không bao giờ muốn bỏ cuộc. Trung thành nhiều khi là đã muốn bỏ cuộc cả trăm lần nhưng lần thứ một trăm lẻ một vẫn chọn ở lại. Một người mẹ chăm đứa con bệnh lâu năm có những hôm kiệt sức. Một người vợ sống với chồng bệnh tật có lúc mệt đến muốn khóc. Một người chồng chăm sóc vợ mất trí nhớ có những ngày cảm thấy mình không chịu nổi nữa. Một linh mục phục vụ một cộng đoàn khó khăn có khi muốn xin chuyển. Một tu sĩ sống trong một tương quan cộng đoàn phức tạp có lúc chỉ muốn thu mình. Đừng vội nghĩ những cảm xúc ấy là thiếu yêu. Yêu không có nghĩa là không mệt. Mẹ Maria dưới chân Thập Giá chắc chắn đã kiệt quệ. Vấn đề không phải ta có mệt hay không. Vấn đề là khi mệt rồi, ta đem sự mệt ấy đi đâu. Nếu đem đến với Chúa, chính Chúa sẽ dạy ta cách ở lại mà không hủy hoại chính mình.
Ở lại cũng không đồng nghĩa với chấp nhận mọi sự sai trái. Có những trường hợp bạo lực, lạm dụng, nguy hiểm, người ta phải rời khỏi hoàn cảnh gây hại để bảo vệ sự sống và phẩm giá. Tin Mừng không dạy chúng ta biến trung thành thành sự dung túng cho tội lỗi. Mẹ Maria ở dưới chân Thập Giá vì yêu, chứ không phải vì đồng ý với những kẻ đóng đinh Con mình. Gioan ở lại với Chúa nhưng không tán thành bất công. Tình yêu thật luôn đi cùng sự thật. Có lúc ở lại nghĩa là hiện diện. Có lúc yêu lại buộc ta phải đặt một giới hạn. Có lúc yêu người nghiện là không tiếp tục đưa tiền cho họ để họ hủy đời. Có lúc yêu người con sai đường là dám nói “không”. Có lúc yêu một người là khuyên họ đi chữa trị. Có lúc yêu chính mình là rời một nơi đang đe dọa sự sống. Nhưng ngay cả khi phải tạo khoảng cách, người Kitô hữu vẫn có thể giữ một trái tim không thù hận, vẫn cầu nguyện, vẫn mong điều tốt cho người kia. Thập Giá không dạy chúng ta chịu đựng mù quáng. Thập Giá dạy chúng ta yêu mà không biến mình thành kẻ trả thù.
Nhìn quanh đời mình, có lẽ ta cũng nên tự hỏi: ai là người đã từng ở lại với tôi? Có thể ta đã quen với sự hiện diện của họ đến mức không còn biết ơn. Một người mẹ thức bao nhiêu đêm khi ta bệnh, nhưng ta chỉ nhớ những lần mẹ la. Một người cha dành cả tuổi trẻ để làm việc nuôi con, nhưng ta chỉ nhớ những lần cha khó tính. Một người vợ đi cùng chồng từ những ngày chẳng có gì, nhưng khi thành công, người chồng lại nhìn thấy những người trẻ đẹp ngoài kia mà quên người đã cùng mình bước qua những năm tháng nghèo khó. Một người chồng âm thầm hy sinh nhưng chẳng biết nói lời lãng mạn, thế là bị xem như vô tâm. Một người bạn đã nhiều lần đứng bên ta lúc khó khăn nhưng chỉ một lần không làm theo ý ta, ta xóa sạch cả một lịch sử ân tình. Một linh mục đã phục vụ cộng đoàn hai mươi năm, đến một ngày phạm một lỗi nhỏ, người ta quên tất cả điều tốt trước đó. Con người có một trí nhớ kỳ lạ: rất dễ nhớ một lần người khác không có mặt và quên hàng trăm lần họ đã ở lại. Hôm nay, dưới chân Thập Giá, có lẽ ta nên tập lại lòng biết ơn. Nhớ lại ai đã từng ở bên ta trong những ngày đen tối nhất. Nếu họ còn sống, hãy cảm ơn khi còn kịp. Đừng đợi đến đám tang mới kể họ tốt thế nào.
Và ta cũng cần hỏi một câu khó hơn: tôi đã bỏ ai trong lúc họ cần tôi? Có một người cha già đang mong cuộc gọi của mình không? Có một người mẹ ngồi một mình trong căn nhà cũ không? Có một người bạn từng thân mà từ ngày họ thất bại tôi dần xa không? Có một anh chị em trong cộng đoàn mà vì họ khó tính tôi xem như không tồn tại không? Có một người đang đau nhưng mỗi lần họ kể chuyện tôi đều vội đổi đề tài không? Có một đứa con đang gặp khủng hoảng mà tôi chỉ biết trách điểm số của nó không? Có một người vợ đã lâu không còn được chồng hỏi “hôm nay em có mệt không?” Có một người chồng cả đời gồng gánh mà chẳng ai bao giờ hỏi ông có buồn không? Có một linh mục già sau nhiều năm phục vụ đang sống lặng lẽ mà rất ít người đến thăm không? Có những Canvê diễn ra mỗi ngày, ngay trong căn nhà chúng ta. Và đôi khi người bị đóng đinh không cần ai cứu; họ chỉ cần biết mình chưa bị bỏ.
“Khi mọi người bỏ đi, người yêu thì ở lại.” Câu ấy đẹp, nhưng đừng chỉ dùng để phán xét người đã bỏ mình. Trước hết hãy dùng để xét chính mình. Tôi có phải người ở lại không? Hay tôi cũng chỉ là một người của đám đông: đến khi vui, rời khi buồn; khen khi người ta thành công, quên khi họ thất bại; nói những lời lớn lao lúc thuận lợi, biến mất lúc khó khăn? Mỗi chúng ta đều muốn có một người ở lại với mình, nhưng ta có sẵn lòng trở thành người ấy cho người khác không? Muốn được yêu trung thành nhưng mình có trung thành không? Muốn người khác lắng nghe mình nhưng mình có lắng nghe họ không? Muốn khi mình bệnh người ta đến thăm, nhưng khi người khác bệnh mình có đến không? Tin Mừng luôn làm ta khó chịu ở điểm này: nó không cho ta đứng ngoài để bình luận. Nó kéo ta vào câu chuyện.
Thập Giá còn cho thấy một điều rất sâu sắc về Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng ở lại. Toàn bộ lịch sử cứu độ là lịch sử một Thiên Chúa không bỏ con người dù con người liên tục bỏ Ngài. Ađam và Eva phạm tội, Thiên Chúa vẫn đi tìm: “Ngươi ở đâu?” Dân Israel hết lần này đến lần khác phản bội giao ước, Thiên Chúa vẫn sai các ngôn sứ. Con người giết các ngôn sứ, Thiên Chúa sai chính Con Một. Con Một đến, con người lại đóng đinh Người. Nhưng Người vẫn nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó là tình yêu đi đến tận cùng. Chúng ta bỏ Chúa dễ dàng hơn Chúa bỏ chúng ta. Ta quên cầu nguyện, Người vẫn chờ. Ta phạm tội, Người vẫn mở đường trở về. Ta nghi ngờ Người, Người vẫn nhẫn nại. Ta có thể sống nhiều năm như thể không có Người, nhưng chỉ cần một ngày quay lại, Người không hỏi: “Sao giờ mới về?” Người ôm lấy. Dụ ngôn người cha nhân hậu chính là khuôn mặt của một Thiên Chúa ở lại. Người con thứ bỏ nhà. Người cha không bỏ vai trò làm cha. Người con cả ở nhà nhưng lòng xa cha. Người cha vẫn đi ra năn nỉ. Chúng ta thay đổi. Thiên Chúa trung tín.
Có người đọc Tin Mừng và hỏi: tại sao Thiên Chúa không xuống khỏi Thập Giá? Có lẽ bởi nếu Đức Giêsu xuống khỏi Thập Giá để chứng minh quyền năng, Người có thể làm những người đứng xem kinh ngạc, nhưng chưa chắc đã cho nhân loại thấy tình yêu đi xa đến đâu. Người ở lại trên Thập Giá không phải vì không thể xuống, mà vì không muốn bỏ cuộc cứu độ giữa chừng. Đinh không phải là điều duy nhất giữ Chúa trên Thập Giá. Tình yêu mới là điều giữ Người ở lại. Người ta đóng đinh tay chân Người, nhưng nếu không yêu, Người đã chẳng bước lên Canvê. Chính vì yêu mà Người không quay đầu. Chính vì yêu mà trước cám dỗ “hãy xuống khỏi thập giá đi”, Người im lặng. Thập Giá là lời tuyên bố của Thiên Chúa với nhân loại: “Dù các con làm gì với Ta, Ta vẫn không ngừng yêu các con.” Đây là điều làm Kitô giáo khác với một triết lý. Chúng ta không chỉ tin một Thiên Chúa nói về tình yêu. Chúng ta tin một Thiên Chúa đã để tình yêu đóng đinh mình.
Bởi vậy, nếu có ngày nào đó ta thấy tất cả bỏ đi, xin đừng quên rằng dưới đáy sâu nhất của cô đơn vẫn còn một Người. Người không luôn cất khỏi ta cơn bệnh. Không luôn trả lại người đã mất. Không luôn sửa ngay những bất công. Không luôn làm cho cuộc đời trở lại như trước. Nhưng Người ở đó. Có khi Chúa chỉ hiện diện bằng một sức mạnh rất nhẹ giúp ta sống thêm một ngày. Có khi qua người y tá tử tế. Qua một người bạn gọi điện đúng lúc. Qua vị linh mục ngồi nghe mà không vội nói. Qua một người chồng lặng lẽ nắm tay vợ. Qua một người con về nhà chăm cha già. Qua một người xa lạ bất ngờ giúp đỡ. Chúa có nhiều cách ở lại.
Và có lẽ đời người, sau cùng, không được đo bằng ta đã có bao nhiêu người vây quanh lúc thành công, mà bằng ta đã ở lại với bao nhiêu người khi họ chẳng còn gì hấp dẫn. Không được đo bằng bao nhiêu lần ta nói “con yêu Chúa”, mà bằng bao nhiêu lần ta nhận ra Chúa trong người đau khổ và không bỏ đi. Không được đo bằng số thánh lễ ta dự nếu sau thánh lễ ta vẫn bỏ mặc người trong nhà đang đau. Không được đo bằng những lời cầu nguyện dài nếu ta không dành nổi mười phút lắng nghe một người đang cần nói. Không được đo bằng kiến thức thần học nếu trước nước mắt của người khác, ta chỉ biết lạnh lùng phán xét. Thánh Gioan không kể rằng dưới chân Thập Giá các phụ nữ đã nói những câu gì. Có lẽ họ chẳng nói được gì. Tin Mừng chỉ kể họ đứng đó. Và nhiều khi, đó là bài giảng hay nhất.
Xin cho chúng ta đừng chỉ là những người theo Chúa lúc Chúa làm phép lạ. Xin cho chúng ta biết đứng dưới chân Thập Giá. Đừng chỉ yêu người khác khi họ còn trẻ, đẹp, khỏe, thành đạt và dễ thương. Xin cho ta yêu họ khi họ già, yếu, thất bại, khó tính, bệnh tật và cần ta nhất. Đừng chỉ ở bên con cái khi chúng đem về những thành tích làm ta hãnh diện. Xin cho ta còn ôm con khi con trở về với đôi bàn tay trắng. Đừng chỉ gần cha mẹ khi họ còn giúp được mình. Xin cho ta ở lại khi họ bắt đầu cần mình giúp từng việc nhỏ. Đừng chỉ thân với bạn khi cuộc đời họ đang vui. Xin cho ta đủ can đảm bước vào căn phòng tối của họ. Đừng chỉ yêu Giáo Hội trong những lúc Giáo Hội đẹp. Xin cho ta biết cầu nguyện và góp phần chữa lành khi Giáo Hội mang những vết thương. Đừng chỉ theo Đức Kitô của phép lạ, bánh hóa nhiều và những tiếng tung hô. Xin cho ta nhận ra Đức Kitô bị đóng đinh, bởi chính ở đó tình yêu được nói bằng thứ ngôn ngữ chân thật nhất.
Rồi một ngày, chính ta cũng sẽ đi đến một Canvê cuối cùng. Những điều từng rất quan trọng sẽ lần lượt rơi xuống. Chức vụ phải trao lại. Tiền bạc để lại. Nhà cửa để lại. Những dự án đang làm phải giao cho người khác. Chiếc điện thoại từng reo liên tục sẽ nằm im. Người ta sẽ tiếp tục cuộc sống của họ. Và bên giường mình có thể chỉ còn vài người. Khi ấy ta sẽ hiểu rõ hơn bao giờ hết rằng điều quý nhất đời không phải là bao nhiêu người biết tên ta, mà là bao nhiêu người thật lòng thương ta; không phải ta đã nổi tiếng đến đâu, mà ta đã yêu sâu thế nào; không phải ta sở hữu bao nhiêu, mà ta đã trao ban bao nhiêu; không phải ta đã tránh được bao nhiêu thập giá, mà trên những thập giá đời mình ta đã học yêu ra sao.
Và nếu trong giờ cuối ấy, mọi người đều phải rời khỏi ta vì chẳng ai có thể bước qua cái chết thay ta, vẫn còn một Đấng đã đi con đường ấy trước. Đức Kitô chịu đóng đinh sẽ ở đó. Người hiểu từng nhịp thở yếu dần. Người hiểu nỗi sợ của sự chia lìa. Người hiểu bóng tối của mồ. Và Người sẽ không đứng bên này mà bảo ta tự đi. Người nói: “Hãy theo Thầy.” Bởi chính Người đã đi qua cái chết và mở cửa Phục Sinh. Cuối cùng, đức tin Kitô giáo là tin rằng ngay cả khi cả thế giới không thể đi cùng ta thêm một bước, Đức Kitô vẫn đi cùng. “Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.” Đó là hy vọng sau cùng của người tín hữu.
Cho nên hôm nay, nếu phải mang một câu của Tin Mừng về nhà, có lẽ chỉ cần mang hình ảnh này: dưới một cây Thập Giá, giữa rất nhiều kẻ đã bỏ đi, vẫn có vài người đứng đó. Không làm được gì lớn. Không thay đổi được hoàn cảnh. Không nói được lời nào khiến đau khổ biến mất. Chỉ đứng đó. Nhưng với Thiên Chúa, thế là đủ để tên của họ được ghi mãi trong Tin Mừng. Có những việc chẳng ai nhớ nhưng Chúa nhớ. Có những lần ở lại chẳng ai vỗ tay nhưng Chúa thấy. Có những hy sinh chẳng ai cảm ơn nhưng Chúa biết. Có những đêm một người mẹ thức bên con bệnh, một người chồng chăm vợ, một người con đỡ cha già vào nhà vệ sinh, một tu sĩ âm thầm chịu đựng, một linh mục lặng lẽ cầu nguyện cho đoàn chiên, một người bạn ngồi bên người bạn đang vỡ vụn — tất cả những điều ấy có thể rất nhỏ trước mắt thế gian, nhưng đều mang dáng dấp của những con người đứng dưới chân Thập Giá.
Khi mọi người bỏ đi, người yêu thì ở lại. Khi lời nói hết, người yêu vẫn ở lại. Khi không còn giải pháp, người yêu vẫn ở lại. Khi chẳng được đáp lại, người yêu vẫn ở lại. Khi bị hiểu lầm, người yêu vẫn cố ở lại trong sự thật và lòng bác ái. Khi tuổi trẻ qua đi, người yêu ở lại. Khi vẻ đẹp phai đi, người yêu ở lại. Khi bệnh tật đến, người yêu ở lại. Khi danh tiếng mất, người yêu ở lại. Khi chỉ còn một cây Thập Giá và một con người chẳng còn gì để trao, người yêu vẫn ở lại. Và ở chính nơi ấy, giữa cái nhìn của thế gian cho là thất bại, tình yêu đạt đến sự tinh ròng nhất của nó.
Xin Mẹ Maria, người đã đứng dưới chân Thập Giá, dạy chúng ta nghệ thuật ở lại. Xin Mẹ dạy những người vợ người chồng ở lại với nhau khi con đường hôn nhân đi qua mùa khô. Xin Mẹ dạy cha mẹ ở lại với những đứa con đang lạc đường. Xin Mẹ dạy con cái ở lại với cha mẹ khi tuổi già làm các ngài trở nên yếu đuối. Xin Mẹ dạy linh mục ở lại với đoàn chiên, nhất là những con chiên khó thương. Xin Mẹ dạy người tu sĩ ở lại với Chúa khi chẳng còn cảm thấy gì. Xin Mẹ dạy bạn bè không bỏ nhau trong hoạn nạn. Xin Mẹ dạy chúng ta đừng sợ những giọt nước mắt của người khác. Và nhất là, xin Mẹ dẫn chúng ta đến gần Đức Giêsu chịu đóng đinh để học điều lớn lao nhất mà một đời người phải học: yêu không chỉ là đi cùng nhau trong những ngày có nắng; yêu là không bỏ nhau trong những giờ tối nhất.
Rồi nếu một ngày chúng ta không làm được gì cho người mình yêu, xin cho ta nhớ rằng vẫn còn một việc có thể làm: ở lại. Nếu không thể chữa lành, hãy ở lại. Nếu không thể giải quyết, hãy ở lại. Nếu không biết nói gì, hãy ở lại. Nếu người ấy đang khóc, hãy ở lại. Nếu họ đang đi qua một đêm dài, hãy ở lại. Bởi đôi khi, điều cứu một con người không phải là một câu trả lời, mà là sự hiện diện của một người không bỏ họ. Và đó cũng là điều Thiên Chúa đã làm cho chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô: khi nhân loại chạy khỏi Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn ở lại với nhân loại; khi con người đóng đinh Tình Yêu, Tình Yêu vẫn không bỏ con người.
KHI MỌI NGƯỜI BỎ ĐI, NGƯỜI YÊU THÌ Ở LẠI. Đó là câu chuyện của Mẹ Maria dưới chân Thập Giá. Đó là câu chuyện của người môn đệ Chúa yêu. Đó là câu chuyện của những tình yêu thật giữa cuộc đời. Và trên hết, đó là câu chuyện của chính Thiên Chúa với mỗi người chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – ĐỐI TƯỢNG DUY NHẤT CỦA NGƯỜI TẬN HIẾN
Tin Mừng: Mt 19,27-29
“Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” Câu hỏi của Phêrô nghe qua tưởng như rất thật thà, nhưng càng đọc kỹ càng thấy trong đó có một điều gì rất giống với tâm hồn của tất cả những người đã từng một lần quảng đại bước theo Chúa: chúng con đã bỏ, chúng con đã hy sinh, chúng con đã từ giã, chúng con đã dấn thân, vậy chúng con sẽ nhận được gì? Thật ra, câu hỏi ấy không chỉ là câu hỏi của Phêrô năm xưa. Nó có thể trở thành câu hỏi âm thầm của một linh mục sau nhiều năm mục vụ, của một tu sĩ sau nhiều năm sống lời khấn, của một người tận hiến sau những năm tháng lý tưởng ban đầu đã lùi xa, khi tóc bắt đầu bạc, sức khỏe bắt đầu giảm, những hăng say thuở ban đầu không còn nguyên vẹn, khi những gì mình từng tưởng rằng sẽ rất đẹp lại hiện ra với đủ giới hạn, va chạm, hiểu lầm, thất vọng và cô đơn. Có những ngày người tận hiến cũng ngồi lại với đời mình mà hỏi: tôi đã bỏ gia đình, bỏ những dự tính riêng, bỏ một mái ấm riêng, bỏ khả năng xây dựng một cuộc sống theo ý mình, bỏ quyền định đoạt tương lai theo sở thích của mình, bỏ bao nhiêu cơ hội mà người khác có thể có; vậy cuối cùng tôi được gì? Có khi câu hỏi ấy không được nói ra thành lời, nhưng nó hiện diện trong một chút chạnh lòng khi nhìn người khác thành đạt, trong một thoáng buồn khi thấy mình bị quên lãng, trong một phút tủi thân khi công lao không được ghi nhận, trong một lần mệt mỏi khi mình cho đi rất nhiều mà nhận lại chẳng bao nhiêu. Và chính ở nơi đó, lời Tin Mừng hôm nay đưa người tận hiến trở về một câu hỏi quan trọng hơn tất cả: điều quyết định không phải là ta đã bỏ được bao nhiêu, nhưng là ta đã chọn Ai. Người tận hiến không được định nghĩa trước hết bởi những gì họ từ bỏ. Người tận hiến được định nghĩa bởi Đấng họ đã chọn. Nếu chỉ nhìn vào những gì đã bỏ, đời tận hiến sẽ trở thành một cuốn sổ dài ghi toàn những mất mát. Nhưng nếu nhìn vào Đấng mình đã chọn, mọi từ bỏ mới tìm được ý nghĩa. Ta không bỏ mọi sự để trở thành một người không có gì; ta bỏ mọi sự để Đức Kitô trở thành tất cả. Ta không từ bỏ một tình yêu để sống không tình yêu; ta từ bỏ một hình thức yêu thương để trái tim được thuộc trọn về một Tình Yêu lớn hơn. Ta không từ bỏ tự do để trở thành nô lệ; ta trao tự do của mình cho Đấng đã yêu mình và hiến mình vì mình. Ta không chọn nghèo khó vì khinh chê của cải; ta chọn nghèo khó để bàn tay mình đủ trống mà nắm lấy Chúa. Ta không chọn khiết tịnh vì sợ hãi tình yêu con người; ta chọn khiết tịnh vì muốn trái tim mình rộng đến mức có thể ôm lấy nhiều người mà không chiếm hữu một ai. Ta không chọn vâng phục vì không có ý chí; ta chọn vâng phục vì tin rằng đời mình không phải là một công trình do mình tự thiết kế, nhưng là một câu chuyện đang được Thiên Chúa viết bằng những nét đôi khi ta chưa hiểu. Bởi thế, căn tính sâu nhất của người tận hiến không nằm ở chiếc áo họ mặc, không nằm ở chức vụ họ giữ, không nằm ở cộng đoàn họ thuộc về, không nằm ở những công việc họ đang đảm trách, cũng không nằm ở những thành tích họ đã thực hiện. Căn tính của người tận hiến nằm ở một mối tương quan: tôi thuộc về Đức Kitô. Và không phải một Đức Kitô trừu tượng, không phải một Đức Kitô chỉ hiện diện trong những phút cầu nguyện ngọt ngào, không phải một Đức Kitô chỉ đẹp trên những bức ảnh thánh, nhưng là Đức Kitô chịu đóng đinh, Đấng đã yêu tôi đến mức để cho tình yêu ấy bị đóng đinh vào gỗ thập giá.
Đời tận hiến chỉ có thể đứng vững khi Đức Kitô chịu đóng đinh thực sự trở thành đối tượng duy nhất của lòng trí. Bởi vì đời tận hiến không phải là một nghề nghiệp. Nghề nghiệp có thể đổi khi ta không còn phù hợp. Đời tận hiến không phải là một dự án cá nhân. Dự án có thể điều chỉnh khi không đạt kết quả. Đời tận hiến cũng không phải là một kiểu sống đặc biệt để tìm sự an toàn tinh thần. Nếu chỉ vì muốn yên ổn mà đi tu, sẽ có ngày ta khám phá đời tu chẳng yên chút nào. Nếu chỉ vì thích hoạt động tông đồ mà đi tu, sẽ có ngày ta bị đổi khỏi công việc mình thích. Nếu chỉ vì thích một cộng đoàn mà đi tu, sẽ có ngày chính cộng đoàn ấy làm ta đau. Nếu chỉ vì quý một người hướng dẫn mà bước vào đời tận hiến, sẽ có ngày người ấy không còn ở bên. Nếu chỉ vì thích được phục vụ, sẽ có ngày sức khỏe không cho phép ta làm được điều gì đáng kể nữa. Nếu chỉ vì muốn được người ta cần đến, sẽ có ngày người khác không cần đến mình. Nếu chỉ vì muốn trở thành một người có ích, sẽ có ngày tuổi già khiến ta cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Khi ấy, nếu đối tượng của đời tận hiến là công việc, ta sẽ mất phương hướng khi công việc bị lấy đi. Nếu đối tượng là uy tín, ta sẽ cay đắng khi bị hiểu lầm. Nếu đối tượng là sự thành công, ta sẽ chán nản khi thất bại. Nếu đối tượng là tình cảm của người khác, ta sẽ suy sụp khi họ quay lưng. Nếu đối tượng là chính mình, đời tận hiến cuối cùng chỉ còn là một cách tinh vi để nuôi cái tôi bằng những hình thức đạo đức. Chỉ khi đối tượng duy nhất là Đức Kitô chịu đóng đinh, người tận hiến mới có thể đi qua tất cả những đổi thay ấy mà vẫn biết mình đang sống cho ai.
Đức Kitô chịu đóng đinh là một đối tượng rất khó yêu đối với con người tự nhiên. Chúng ta thích một Đức Kitô làm phép lạ hơn một Đức Kitô bất lực trên thập giá. Chúng ta thích Đức Kitô được dân chúng tung hô hơn Đức Kitô bị đám đông la ó. Chúng ta thích Đức Kitô chữa lành người bệnh hơn Đức Kitô mà chính thân thể Người đầy thương tích. Chúng ta thích Đức Kitô hóa bánh ra nhiều hơn Đức Kitô phải thốt lên: “Ta khát.” Chúng ta thích Đức Kitô hiển dung trên núi hơn Đức Kitô bị lột áo trên đồi Canvê. Thế nhưng người tận hiến, nếu thực sự muốn thuộc về Người, phải học yêu cả khuôn mặt ấy: khuôn mặt bị khạc nhổ, bị chế giễu, bị từ chối, bị phản bội, bị cô độc và bị đóng đinh. Vì chính ở đó, tình yêu của Thiên Chúa được bày tỏ đến tận cùng. Người tận hiến không theo một vị anh hùng thành công theo tiêu chuẩn thế gian. Người tận hiến đi theo một Đấng đã thắng bằng cách chấp nhận thua, đã cứu bằng cách để mình bị giết, đã làm chủ bằng cách trở nên tôi tớ, đã trở nên giàu có cho nhân loại bằng cách tự trở nên nghèo, đã ban sự sống bằng cách hiến mạng sống. Nếu không hiểu nghịch lý ấy, người tận hiến sẽ luôn tìm cách kéo đời tu trở lại tiêu chuẩn của thế gian: phải nổi bật, phải được công nhận, phải có ảnh hưởng, phải được người ta nể trọng, phải làm được những việc lớn, phải có chỗ đứng, phải chứng minh giá trị của mình. Trong khi Đức Kitô chịu đóng đinh chẳng còn gì để chứng minh. Người bị treo giữa trời và đất, chẳng còn áo quần, chẳng còn quyền lực, chẳng còn đám đông, chẳng còn vẻ vang bên ngoài. Người chỉ còn tình yêu. Và tình yêu ấy đủ để cứu cả thế giới.
Có lẽ điều khó nhất của đời tận hiến không phải là bỏ nhà cửa hay tài sản. Những điều ấy, một khi đã quyết định, đôi khi lại tương đối dễ. Điều khó hơn nhiều là từ bỏ chính mình mỗi ngày. Bỏ một căn nhà có thể chỉ một lần, nhưng bỏ ý riêng là chuyện cả đời. Bỏ tiền bạc có thể thực hiện bằng một lời khấn, nhưng bỏ nhu cầu được người ta công nhận là một cuộc chiến kéo dài. Bỏ đời sống gia đình riêng có thể xảy ra khi bước vào nhà dòng hay chủng viện, nhưng bỏ sự chiếm hữu tình cảm lại là việc phải học từng ngày. Bỏ một nghề nghiệp có thể diễn ra trong một quyết định, nhưng bỏ tham vọng được thành công trong chính đời tận hiến lại rất khó. Có người đã bỏ rất nhiều bên ngoài mà vẫn giữ gần như nguyên vẹn cái tôi bên trong. Có thể không sở hữu tài sản riêng nhưng lại sở hữu công việc của mình: không ai được đụng vào. Có thể không có gia đình riêng nhưng lại muốn sở hữu một số người bằng tình cảm. Có thể khấn vâng phục nhưng chỉ vui khi bề trên quyết định đúng ý mình. Có thể sống nghèo mà lại rất giàu tự ái. Có thể sống giữa cộng đoàn nhưng luôn muốn mọi người phải xoay quanh mình. Có thể phục vụ người nghèo nhưng lại khó chịu khi không được nhắc tên. Có thể giảng rất hay về thập giá nhưng lại không chịu nổi một lời góp ý. Chính vì vậy, nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh là một sự thanh luyện liên lỉ. Trên thập giá, Chúa không còn gì để giữ cho mình. Hai bàn tay bị đóng lại, nghĩa là không thể nắm giữ. Hai bàn chân bị đóng lại, nghĩa là không thể đi theo ý riêng. Thân thể trần trụi, nghĩa là chẳng còn gì để che chắn. Cạnh sườn bị mở ra, nghĩa là ngay cả trái tim cũng trở thành quà tặng. Đó là hình ảnh trọn vẹn của sự tận hiến: không giữ lại gì cho mình. Tận hiến không phải chỉ là nói: “Lạy Chúa, con cho Chúa đời con.” Tận hiến là để Chúa từng ngày chỉ cho ta thấy rằng trong đời mình vẫn còn những căn phòng ta khóa cửa, những khu vực ta chưa muốn Người bước vào, những sở thích ta không muốn buông, những dự tính ta không muốn thay đổi, những tự ái ta không muốn chết, những vết thương ta muốn giữ để có lý do trách móc, những thành công ta muốn giữ làm căn cước. Và Chúa kiên nhẫn đứng trước những cánh cửa ấy. Người không cưỡng ép. Người chỉ hỏi: “Con có thực sự thuộc về Thầy không?”
“Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.” Câu này đẹp, nhưng nếu chỉ dừng ở chữ “bỏ” thì chưa đủ. Kitô giáo không phải là đạo của sự mất mát. Theo Chúa không phải là một cuộc thi xem ai hy sinh nhiều hơn. Có khi người tận hiến dễ rơi vào một niềm tự hào rất kín đáo về những gì mình đã từ bỏ. Ta có thể nghĩ: tôi đã bỏ gia đình, bỏ tiền bạc, bỏ tương lai riêng, tôi đã hy sinh hơn người khác. Và từ đó, thay vì trở nên khiêm nhường, đời tận hiến lại tạo ra một cảm thức mình có công với Chúa. Nhưng chẳng ai có công với Chúa cả. Nếu có điều gì ta đã bỏ được, trước hết là vì chính Chúa đã hấp dẫn ta. Nếu ta có thể bước theo Người, đó đã là một ân huệ. Nếu ta có thể sống một đời dâng hiến, đó không phải là bằng chứng rằng ta quảng đại hơn người khác, nhưng là bằng chứng rằng Chúa đã thương gọi ta theo một cách đặc biệt. Không phải ta làm ơn cho Chúa khi đi tu. Chính Chúa làm ơn cho ta khi cho đời mình được thuộc về Người. Không phải Chúa mắc nợ ta vì những hy sinh của ta. Trái lại, càng sống lâu trong ơn gọi, người tận hiến càng phải nhận ra rằng mình là con nợ của ân sủng. Chúa đã nhẫn nại với bao yếu đuối của mình. Chúa đã tha thứ bao lần mình bất trung. Chúa đã giữ mình lại trong những lúc muốn bỏ cuộc. Chúa đã dùng biết bao người để nâng đỡ mình mà mình không hề biết. Chúa đã cứu mình khỏi những quyết định nông nổi. Chúa đã âm thầm đưa mình đi qua bao khúc quanh mà lúc ấy mình tưởng là tai họa. Nhìn lại, điều đáng ngạc nhiên không phải là tôi đã trung thành với Chúa bao nhiêu, nhưng là Chúa đã trung thành với tôi đến mức nào.
Và sự trung thành ấy được đóng dấu trên thập giá. Khi người tận hiến mệt mỏi, đừng nhìn quá lâu vào mình. Nhìn mình mãi chỉ thấy giới hạn. Đừng nhìn quá lâu vào người khác. Nhìn người khác mãi sẽ sinh so sánh. Đừng nhìn quá lâu vào những gì đã mất. Nhìn mất mát mãi sẽ sinh tiếc nuối. Hãy nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh. Có những câu hỏi không cần một câu trả lời bằng lý luận; chỉ cần một cái nhìn lên thập giá đã đủ. Khi lòng ta hỏi: “Tại sao con phải hy sinh điều này?”, hãy nhìn bàn tay bị đinh xuyên của Người. Khi ta hỏi: “Tại sao con phải tha thứ lần nữa?”, hãy nghe Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi ta hỏi: “Tại sao con phải ở lại trong một sứ vụ khó khăn?”, hãy nhìn Người ở lại trên thập giá cho đến hơi thở cuối cùng. Khi ta hỏi: “Tại sao con phải chịu bị hiểu lầm?”, hãy nhớ Người đã im lặng trước những lời kết án sai trái. Khi ta hỏi: “Tại sao con phải phục vụ những người không biết ơn?”, hãy nhớ chính Người đã rửa chân cho Giuđa. Khi ta hỏi: “Tại sao con phải tiếp tục khi chẳng ai nhìn thấy?”, hãy nhớ phần lớn cuộc đời Người đã trôi qua âm thầm tại Nadarét. Khi ta hỏi: “Tại sao đời tận hiến của con không giống điều con từng mơ?”, hãy nhớ rằng con đường cứu độ của Đức Kitô cũng không đi qua ngai vàng Giêrusalem nhưng đi qua đồi Sọ. Người tận hiến không cần một cuộc đời đúng như mình mơ; chỉ cần một cuộc đời đúng như Chúa muốn. Và hai điều ấy không phải lúc nào cũng giống nhau.
Có một cám dỗ rất kín đáo trong đời tận hiến: ban đầu ta đi theo Đức Kitô, nhưng dần dần ta có thể đi theo công việc của Đức Kitô mà quên chính Đức Kitô. Ta bận rộn cho Chúa đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Ta nói về Người suốt ngày nhưng lại rất ít nói với Người. Ta tổ chức mục vụ, điều hành cộng đoàn, dạy giáo lý, giảng lễ, xây dựng cơ sở, lo người nghèo, tham dự hội họp, làm đủ thứ việc tốt lành, nhưng trong sâu thẳm mối tương quan với Đức Kitô lại dần khô cạn. Điều nguy hiểm là bên ngoài mọi thứ vẫn hoạt động rất tốt, nên chẳng ai nhận ra. Chính ta cũng có thể không nhận ra. Người tận hiến có thể trở thành một chuyên viên về công việc tôn giáo nhưng lại xa lạ với Đấng mà mình đã hiến đời. Khi ấy, công việc vẫn còn nhưng niềm vui biến mất. Hoạt động vẫn nhiều nhưng lòng bình an ít dần. Ta dễ cáu gắt, dễ tổn thương, dễ cạnh tranh, dễ buồn khi không được nhìn nhận, vì nguồn sống không còn là Đức Kitô mà là kết quả của công việc. Cây có thể vẫn còn nhiều lá trong một thời gian dù rễ đã bắt đầu khô. Nhưng rồi sẽ đến lúc mọi thứ biểu lộ. Bởi thế, điều quan trọng nhất của đời tận hiến không phải là “tôi đang làm gì cho Chúa?” mà là “Chúa đang là ai đối với tôi?” Nếu Người không còn là tình yêu đầu tiên, sớm muộn đời tận hiến sẽ trở thành bổn phận nặng nề.
“Đối tượng duy nhất” không có nghĩa là người tận hiến không yêu ai khác. Trái lại, chính vì chọn Đức Kitô là tình yêu duy nhất mang tính tuyệt đối nên người tận hiến mới có thể yêu mọi người cách tự do hơn. Khi không bắt người khác phải lấp đầy những khoảng trống mà chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy, ta sẽ bớt đòi hỏi họ. Khi không biến một người nào thành nguồn sống của mình, ta có thể yêu họ mà không chiếm hữu. Khi không sống nhờ lời khen, ta có thể phục vụ mà không tính toán. Khi không lệ thuộc vào sự công nhận, ta có thể làm điều đúng ngay cả khi chẳng ai hoan nghênh. Khi Đức Kitô thực sự là tất cả, ta không cần biến cộng đoàn thành thiên đường; ta biết cộng đoàn gồm những con người đang được cứu như chính mình. Ta không cần bề trên phải hoàn hảo để có thể vâng phục. Ta không cần anh em phải dễ thương mới có thể yêu thương. Ta không cần sứ vụ phải thành công mới có thể trung thành. Bởi vì điểm tựa của đời mình không nằm trong những điều ấy. Điểm tựa nằm nơi Đấng đã yêu ta đến cùng.
Một ngày nào đó, người tận hiến sẽ phải trải qua một cuộc từ bỏ cuối cùng mà không lời khấn nào tránh được: từ bỏ chính khả năng phục vụ. Có những linh mục từng giảng cho hàng ngàn người rồi một ngày không còn đủ sức bước lên bục giảng. Có những tu sĩ từng điều hành bao nhiêu công việc rồi một ngày phải nằm yên để người khác chăm sóc. Có người từng được nhiều người tìm đến, rồi tuổi già đến, điện thoại ít reo hơn, khách thăm thưa dần. Khi ấy, một câu hỏi rất căn bản sẽ xuất hiện: nếu tôi không còn làm được gì cho Chúa, tôi còn giá trị không? Nếu căn cước của ta là công việc, ta sẽ khủng hoảng. Nhưng nếu căn cước của ta là thuộc về Đức Kitô, thì ngay cả trên giường bệnh, đời tận hiến vẫn còn nguyên ý nghĩa. Có lẽ những năm cuối đời mới là lúc lời khấn được sống cách tinh tuyền nhất. Khi còn khỏe, ta dâng Chúa sức lực. Khi yếu, ta dâng Chúa sự bất lực. Khi còn minh mẫn, ta dâng Chúa công việc. Khi trí nhớ suy giảm, ta dâng Chúa chính sự nghèo nàn của mình. Khi còn có thể nói, ta rao giảng bằng lời. Khi không còn nói được, ta rao giảng bằng một đời đã thuộc về Chúa. Đức Kitô cứu thế giới không phải chỉ khi Người đi khắp nơi giảng dạy và làm phép lạ. Chính khi tay chân Người bị đóng chặt, tưởng như chẳng còn làm được gì, Người thực hiện công trình lớn nhất: cứu độ nhân loại. Điều ấy là một Tin Mừng rất lớn cho người tận hiến già yếu: sự hữu ích của ta có thể giảm, nhưng khả năng hiến dâng thì không bao giờ hết.
Thật ra, thập giá là nơi kiểm nghiệm mọi lời khấn. Nghèo khó được kiểm nghiệm khi ta không có điều mình nghĩ mình xứng đáng được có. Khiết tịnh được kiểm nghiệm trong cô đơn, khi trái tim không nhận được sự đáp lại mà nó mong muốn. Vâng phục được kiểm nghiệm khi điều được yêu cầu không trùng với ý riêng. Đời cộng đoàn được kiểm nghiệm khi phải sống với người mình không chọn. Đức ái được kiểm nghiệm khi phải yêu người làm mình tổn thương. Lòng trung thành được kiểm nghiệm không phải trong ngày tuyên khấn, nhưng trong những ngày chẳng còn cảm xúc đẹp nào nâng đỡ. Ai cũng có thể nói “con thuộc về Chúa” trong một thánh lễ long trọng. Nhưng câu ấy trở thành thật khi ta vẫn nói được trong một ngày bị hiểu lầm, trong một sứ vụ thất bại, trong một căn phòng bệnh viện, trong một tối cô đơn, trong một quyết định khiến mình đau, trong một tuổi già không còn ai chú ý. Và chính khi ấy, Đức Kitô chịu đóng đinh không còn là một đề tài thần học, mà trở thành Người bạn đường duy nhất hiểu được điều ta đang trải qua.
Có lẽ người tận hiến cần thường xuyên tự hỏi: nếu một ngày Chúa lấy khỏi tôi tất cả những gì hiện nay khiến tôi cảm thấy đời mình có ý nghĩa, tôi còn muốn theo Người không? Nếu không còn chức vụ, tôi còn muốn theo Người không? Nếu không còn được ai biết đến, tôi còn muốn theo Người không? Nếu sứ vụ không thành công, tôi còn muốn theo Người không? Nếu cộng đoàn không hiểu tôi, tôi còn muốn theo Người không? Nếu sức khỏe suy sụp, tôi còn muốn theo Người không? Nếu những người tôi từng giúp đỡ quay lưng, tôi còn muốn theo Người không? Nếu đời tận hiến của tôi kết thúc trong một căn phòng nhỏ, chẳng mấy ai nhớ tới, tôi còn thấy đời mình đáng sống không? Những câu hỏi ấy không nhằm làm ta sợ, nhưng giúp thanh luyện tình yêu. Bởi vì có một điều rất dễ xảy ra: ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng thật ra ta yêu những điều Chúa ban; ta tưởng mình đi theo Chúa, nhưng thật ra ta đi theo cảm giác hữu ích; ta tưởng mình tận hiến cho Chúa, nhưng trong sâu thẳm vẫn muốn đời mình phải diễn ra theo một kịch bản do mình viết. Đức Kitô chịu đóng đinh phá vỡ mọi ảo tưởng ấy. Người không hứa với các môn đệ một con đường không nước mắt. Người chỉ hứa một điều lớn hơn: “Thầy ở cùng anh em.”
Người tận hiến cần Đức Kitô hơn cần sự thành công. Cần Người hơn cần được hiểu. Cần Người hơn cần một vị trí. Cần Người hơn cần một tương lai rõ ràng. Cần Người hơn cần những an ủi thiêng liêng. Có những giai đoạn Chúa dường như lấy đi gần hết những điểm tựa để người tận hiến học lại điều này. Ta có thể gọi đó là khủng hoảng, nhưng đôi khi đó lại là ân sủng thanh luyện. Ngày đầu ta theo Chúa vì thấy Người đẹp. Sau nhiều năm, ta phải học theo Người ngay cả khi không còn cảm thấy gì. Ngày đầu ta quảng đại vì đầy nhiệt huyết. Sau nhiều năm, ta trung thành vì đã hiểu rằng tình yêu không chỉ là nhiệt huyết. Ngày đầu ta nói: “Con sẽ làm mọi sự cho Chúa.” Sau nhiều năm, có lẽ Chúa chỉ hỏi: “Con có để Thầy làm mọi sự nơi con không?” Đời tận hiến trưởng thành khi chuyển từ việc muốn làm những việc lớn cho Thiên Chúa sang việc để Thiên Chúa làm điều Người muốn qua đời mình, dù điều ấy lớn hay nhỏ, được thấy hay bị quên, thành công hay thất bại.
Và rồi cuối cùng, câu hỏi của Phêrô: “Chúng con sẽ được gì?” Chúa không trách Phêrô. Người hứa phần thưởng, hứa gấp bội và sự sống đời đời. Nhưng phần thưởng lớn nhất của người tận hiến không phải là những gì nhận lại sau khi đã bỏ. Phần thưởng lớn nhất chính là Đức Kitô. Nếu sau một đời tận hiến mà ta nhận được tất cả nhưng không có Người, đời ấy vẫn trống. Nếu ta mất rất nhiều nhưng có Người, ta không mất điều cốt yếu. Thánh Phaolô đã từng đi đến chỗ xem mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô. Đó phải là điểm đến của mọi đời tận hiến. Không phải để một ngày nói: “Lạy Chúa, con đã làm được bao nhiêu việc cho Chúa,” nhưng là có thể nói: “Lạy Chúa, sau tất cả, con vẫn còn Chúa.” Không phải: “Con đã giữ luật hoàn hảo,” nhưng: “Con đã để Chúa giữ con.” Không phải: “Con chưa bao giờ yếu đuối,” nhưng: “Trong mọi yếu đuối, con đã không bỏ Người.” Không phải: “Đời con không có thất bại,” nhưng: “Không thất bại nào tách con khỏi tình yêu của Đức Kitô.”
Người tận hiến cần nhiều lần trở về dưới chân thập giá. Không phải chỉ trong Tuần Thánh. Không phải chỉ khi gặp biến cố. Nhưng mỗi ngày. Hãy đứng đó như người môn đệ Chúa yêu. Hãy nhìn lên Đấng đã gọi mình. Nhìn đủ lâu để những tham vọng nhỏ bé rơi xuống. Nhìn đủ lâu để những giận hờn trở nên nhẹ. Nhìn đủ lâu để những so sánh mất sức hấp dẫn. Nhìn đủ lâu để nhớ rằng đời mình không phải là một cuộc tranh giành xem ai quan trọng hơn. Nhìn đủ lâu để hiểu rằng một đời bị tiêu hao vì yêu không bao giờ là một đời phí phạm. Một cây nến chỉ hoàn tất ý nghĩa khi nó cháy và nhỏ dần. Một hạt lúa chỉ sinh hoa trái khi nó chấp nhận mất hình dạng ban đầu. Một đời tận hiến chỉ đẹp khi dần dần không còn sống cho chính mình. Có thể người đời sẽ không hiểu. Có thể đôi khi chính ta cũng không hiểu. Nhưng Đấng Chịu Đóng Đinh hiểu. Bởi chính Người đã đi con đường ấy trước ta.
Và nếu một ngày nào đó người tận hiến thấy mình không còn sức để nói những lời lớn lao, chỉ cần giữ lại một lời đơn sơ: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con thuộc về Chúa.” Nói lời ấy lúc vui. Nói lúc buồn. Nói khi được quý mến. Nói khi bị lãng quên. Nói lúc khỏe mạnh. Nói khi đau bệnh. Nói trong ngày kỷ niệm khấn dòng hay chịu chức. Nói cả trong ngày nghi ngờ chính ơn gọi của mình. “Con thuộc về Chúa.” Có lẽ đời tận hiến cuối cùng chỉ là học nói câu ấy ngày càng thật hơn. Lúc đầu ta nói bằng môi. Sau đó nói bằng lựa chọn. Rồi nói bằng nước mắt. Có khi nói bằng những hy sinh chẳng ai biết. Và đến cuối đời, mong sao chính toàn bộ con người ta trở thành câu nói ấy.
“Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.” Lạy Chúa, xin đừng để chúng con dừng lại ở điều mình đã bỏ. Vì nhìn mãi những gì đã bỏ, chúng con dễ sinh tiếc nuối hoặc tự hào. Xin cho chúng con nhìn vào Đấng mình đã chọn. Xin cho chúng con nhớ rằng điều quý nhất của đời tận hiến không phải là sự hy sinh của chúng con, nhưng là tình yêu của Chúa đã gọi chúng con. Xin đừng để công việc thay thế Chúa. Đừng để cộng đoàn thay thế Chúa. Đừng để thành công thay thế Chúa. Đừng để một người nào thay thế Chúa. Đừng để ngay cả những điều tốt đẹp nhất trong đời tu trở thành ngẫu tượng chiếm chỗ của Chúa. Xin giữ cho trái tim người tận hiến một khoảng sâu nhất chỉ thuộc về một mình Chúa. Và khi mọi thứ khác đổi thay, xin cho nơi sâu nhất ấy vẫn còn nguyên.
Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của người tận hiến, bởi chỉ Người mới đáng để ta đặt cả đời mình vào tay. Người không hứa rằng ta sẽ không đau, nhưng Người đã chịu đau trước ta. Người không hứa rằng ta sẽ luôn được hiểu, nhưng Người đã từng bị hiểu lầm. Người không hứa rằng ta sẽ luôn được yêu mến, nhưng Người đã từng bị chính những kẻ Người yêu bỏ đi. Người không hứa rằng ta sẽ luôn thấy đường, nhưng Người đã bước vào bóng tối của cái chết mà vẫn phó mình cho Chúa Cha. Và bởi thế, đi theo Người không có nghĩa là đời ta sẽ không có thập giá; đi theo Người có nghĩa là chẳng có thập giá nào còn phải vác một mình.
Sau cùng, người tận hiến có thể mất rất nhiều. Mất tuổi trẻ, mất sức khỏe, mất những người thân yêu, mất vị trí, mất công việc, mất cả khả năng tự chăm sóc mình. Nhưng có một điều đừng bao giờ để mất: ánh mắt hướng về Đức Kitô chịu đóng đinh. Vì ngày nào mắt còn hướng về Người, ngày ấy ơn gọi vẫn còn sức sống. Khi mắt rời khỏi Người, ngay cả những điều thánh thiện cũng có thể trở thành gánh nặng. Khi mắt nhìn lại Người, ngay cả thập giá cũng có thể trở thành nơi gặp gỡ.
Vậy nên, điều quyết định của đời tận hiến không phải là: “Tôi đã bỏ được bao nhiêu?” nhưng là: “Sau tất cả những năm tháng ấy, Đức Kitô có thực sự trở thành tất cả của tôi chưa?” Không phải: “Tôi đã làm được gì?” nhưng là: “Tôi đã thuộc về Ai?” Và nếu cuối đời, giữa tất cả những gì đã đến rồi đi, người tận hiến vẫn có thể thì thầm với Đức Kitô chịu đóng đinh: “Lạy Chúa, con chẳng còn gì ngoài Chúa, và Chúa là đủ cho con,” thì đó chính là lúc lời tận hiến đạt tới sự viên mãn đẹp nhất của nó. Bởi người tận hiến không phải là người không có gì. Người tận hiến là người đã tìm thấy Một Đấng đáng giá hơn mọi sự, nên có thể để mọi sự khác trở về đúng chỗ của nó. Và Đấng ấy chính là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, Đấng đã yêu chúng ta và hiến mình vì chúng ta, Đấng duy nhất xứng đáng để một con người trao trọn một đời mà không bao giờ phải hối tiếc.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỜI TU KHÔNG PHẢI YÊU ÍT ĐI – NHƯNG YÊU MỘT NGƯỜI ĐẾN MỨC MỌI TÌNH YÊU KHÁC ĐƯỢC ĐẶT LẠI ĐÚNG CHỖ
Tin Mừng: Mt 10,37-39
Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng như quá cứng, quá đòi hỏi, thậm chí nếu chỉ đọc bằng cảm xúc tự nhiên của con người, ta có thể thấy Người gần như muốn chiếm hữu trái tim của người môn đệ đến mức không để chỗ cho bất cứ ai khác: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.” Đó không phải là một lời dịu dàng theo nghĩa dễ nghe. Đó là một lời đặt người môn đệ trước một chọn lựa tận căn. Chúa không xin một góc nhỏ trong cuộc đời. Chúa không bằng lòng đứng chung hàng với rất nhiều điều ta yêu quý rồi chờ đến lượt mình. Chúa không muốn trở thành một trong những mối bận tâm của đời ta. Chúa muốn là Đấng đứng ở trung tâm, là điểm quy chiếu, là tình yêu thứ nhất, là Đấng từ đó mọi tình yêu khác được nhận lại tên gọi, vị trí, giới hạn và vẻ đẹp của nó. Và có lẽ đây là một trong những điều khó hiểu nhất nhưng cũng đẹp nhất của đời tận hiến: đời tu không phải là một cuộc đời bớt yêu đi, không phải một đời sống bị cắt khỏi tình cảm con người, không phải một trái tim bị buộc phải lạnh đi để thuộc về Thiên Chúa, càng không phải là một con người đã từ bỏ gia đình, tình bạn, quê hương, những rung động và những gắn bó để trở thành một con người vô cảm. Trái lại, nếu đời tu đúng nghĩa, đó phải là một cuộc đời yêu nhiều hơn, sâu hơn, rộng hơn, nhưng yêu trong một trật tự mới: yêu một Người đến mức mọi tình yêu khác được đặt lại đúng chỗ. Người ấy là Đức Giêsu Kitô. Chỉ khi Chúa ở đúng chỗ thứ nhất, cha mẹ mới được yêu cho đúng, anh chị em mới được yêu cho đúng, cộng đoàn mới được yêu cho đúng, người mình phục vụ mới được yêu cho đúng, công việc tông đồ mới được yêu cho đúng, và ngay cả bản thân mình cũng mới được yêu cho đúng. Bi kịch của con người không phải vì yêu quá nhiều, mà nhiều khi vì yêu sai trật tự. Ta đau không hẳn vì đã yêu, nhưng vì ta đã bắt một con người hữu hạn phải mang trên vai một kỳ vọng mà chỉ Thiên Chúa mới gánh nổi. Ta thất vọng không phải vì tình yêu là điều sai, mà vì ta đã biến một tình yêu tương đối thành tuyệt đối. Ta khổ không phải vì đã gắn bó, nhưng vì có những gắn bó âm thầm chiếm mất ngai mà chỉ Đức Kitô mới được ngồi. Và vì thế, khi Chúa nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy”, Chúa không xúc phạm tình phụ tử, mẫu tử; chính Người đã sống ba mươi năm trong gia đình Nadarét, đã vâng phục Đức Maria và thánh Giuse, đã yêu Mẹ đến giây phút cuối cùng trên Thập Giá, còn trao Mẹ cho người môn đệ mình yêu. Chúa không chống lại tình yêu gia đình. Chúa bảo vệ tình yêu gia đình khỏi nguy cơ trở thành thần tượng. Chúa không lấy đi tình yêu con người. Chúa thanh luyện tình yêu ấy để nó đừng biến thành chiếm hữu, đừng trở thành sợi dây trói buộc, đừng biến người ta thành chỗ dựa tuyệt đối, đừng khiến ta yêu người khác chỉ vì người ấy làm ta dễ chịu, hiểu ta, bênh ta, thuộc về ta hay làm cho đời ta bớt cô đơn. Chúa muốn đưa tình yêu từ chỗ “tôi cần anh để tôi được hạnh phúc” sang chỗ “tôi yêu anh vì anh là người Chúa yêu”. Và đó là một con đường rất dài.
Đời tu bắt đầu bằng một tiếng gọi, nhưng sống đời tu không chỉ là giữ cho được những gì mình đã bỏ. Có người tưởng rằng đi tu nghĩa là bỏ nhà, bỏ cha mẹ, bỏ khả năng lập gia đình, bỏ nghề nghiệp riêng, bỏ tài sản riêng, bỏ một số tự do cá nhân; rồi khi đã bỏ được những thứ ấy thì coi như đời dâng hiến đã thành công. Không. Có những người bỏ rất nhiều mà lòng vẫn chưa thuộc về Chúa. Có những người không còn tài sản riêng nhưng lòng lại sở hữu những thứ khác dữ dội hơn: sở hữu một chức vụ, một ảnh hưởng, một uy tín, một người thân, một nhóm người, một công việc, một thành quả, một tiếng khen, một vị trí trong cộng đoàn. Có người đã bỏ một gia đình nhỏ nhưng rồi lại dựng quanh mình một “gia đình riêng” khác trong đời tu: chỉ hợp với vài người, chỉ thân với vài người, chỉ phục vụ những người biết quý mình, chỉ vui khi ở chỗ quen thuộc, chỉ bình an khi được giao công việc mình thích. Có người đã tuyên khấn khiết tịnh nhưng lòng lại cần được một người nào đó hiểu mình hơn tất cả, phải nghĩ đến mình, phải quan tâm mình, phải nhắn cho mình, phải đứng về phía mình; thiếu người ấy là lòng bất an, xa người ấy là buồn bực, người ấy thân với người khác thì trong lòng khó chịu. Có người đã tuyên khấn khó nghèo nhưng lại giàu nhu cầu được công nhận. Có người đã tuyên khấn vâng phục nhưng chỉ bình an khi bề trên quyết định theo ý mình. Có người sống giữa cộng đoàn mà trái tim lại âm thầm xây những căn phòng khóa kín, trong đó có những người mình không cho phép Chúa đụng tới. Bởi vậy, đời tu không đơn giản là từ bỏ một số mối tình của đời thường. Đời tu là để cho Đức Kitô đi vào tận cùng mọi khả năng yêu của trái tim và hỏi từng điều một: “Con yêu người ấy vì Thầy hay thay Thầy? Con phục vụ việc ấy vì Thầy hay con đang dùng việc của Thầy để khẳng định mình? Con thương người ấy vì muốn họ được tự do trong Chúa, hay vì con sợ họ rời khỏi con? Con đau vì họ đau, hay con đau vì họ không còn coi con là quan trọng? Con muốn người ấy nên thánh, hay con chỉ muốn họ mãi thuộc về vùng ảnh hưởng của con?” Những câu hỏi ấy không dễ trả lời. Nhiều khi chính ta cũng không biết. Ta gọi đó là tình bạn thiêng liêng, nhưng bên dưới có thể còn nhu cầu được ưu tiên. Ta gọi đó là trách nhiệm mục vụ, nhưng đôi khi có chút tự ái vì muốn công việc mang dấu ấn của mình. Ta gọi đó là tình yêu cộng đoàn, nhưng nếu bị chuyển đi thì ta đau như thể mất tất cả. Ta gọi đó là nhiệt thành tông đồ, nhưng khi người khác được giao thay mình thì lòng ta không vui nổi. Đức Kitô không lên án những tình cảm ấy. Người soi sáng chúng. Người không bảo ta nhổ bỏ trái tim. Người chỉ không cho phép trái tim đặt bất cứ ai hay bất cứ điều gì vào chỗ của Người.
Có một điều rất đẹp trong đời tận hiến mà đôi khi chính người sống đời tận hiến cũng quên: lời khấn khiết tịnh không phải là lời khấn “không yêu ai”, nhưng là lời khấn “không biến bất cứ ai thành của riêng mình để có thể yêu mọi người trong Đức Kitô”. Khiết tịnh không làm trái tim nhỏ lại. Nếu sống đúng, nó làm trái tim rộng ra. Người tận hiến không lập gia đình không có nghĩa là người ấy không còn cần yêu và được yêu. Người ấy vẫn là một con người bằng xương bằng thịt, vẫn có ký ức, cảm xúc, cô đơn, nhu cầu được sẻ chia, được hiểu, được quý trọng. Khấn khiết tịnh không phải là ngày những nhu cầu ấy biến mất. Chính vì chúng không biến mất mà đời tu mới là một hành trình trưởng thành rất thật. Chúa không cắt bỏ khả năng yêu; Người mời ta trao khả năng ấy cho Người để Người dạy ta yêu. Bởi vì tình yêu tự nhiên của ta luôn có một phần muốn giữ. Ta yêu ai thì muốn người ấy gần mình. Ta quý ai thì muốn người ấy quý mình. Ta hy sinh thì mong người ta nhớ. Ta cho đi thì đôi lúc chờ một chút đáp trả. Ta đồng hành với ai thì dễ muốn mình trở thành người đặc biệt đối với họ. Những điều đó rất con người, không cần phải giả vờ rằng mình không có. Nhưng chính ở đó, Đức Kitô mời người tận hiến tiến thêm một bước: yêu mà không trói; gần mà không chiếm; quan tâm mà không kiểm soát; cho mà không đòi; hiện diện mà không bắt người kia phải lệ thuộc; đồng hành để một ngày người ấy có thể bước đi mà không cần mình. Đó là một kiểu yêu rất giống Đức Kitô. Chúa đã yêu các môn đệ đến cùng nhưng không giữ họ bên Người bằng sức ép. Người để Giuđa ra đi. Người để Phêrô chối Người. Người để đám đông bỏ Người. Người để các môn đệ ngủ khi Người hấp hối ở Ghếtsêmani. Người yêu nhưng không thao túng tình yêu. Người đau nhưng không biến nỗi đau thành cái cớ để giữ người khác. Người chết cho họ rồi trao họ lại cho Chúa Cha. Tình yêu của người tận hiến cũng phải từ từ học lấy hình dáng ấy. Không phải yêu ít hơn, nhưng yêu đến mức không cần sở hữu.
Chúa đòi vị trí thứ nhất không phải vì Người ích kỷ. Thiên Chúa không phải là một người tình ghen tuông theo kiểu con người, sợ mất phần, sợ người ta yêu ai khác. Người đòi vị trí thứ nhất vì Người biết trái tim ta sẽ tan vỡ nếu đặt một thụ tạo vào vị trí chỉ dành cho Đấng Tạo Hóa. Một con người có thể rất tốt, rất thương ta, rất hiểu ta, nhưng họ vẫn hữu hạn. Họ có thể đổi thay. Họ có thể mệt. Họ có thể không hiểu ta. Họ có thể đi xa. Họ có thể chết trước ta. Nếu đời ta được dựng trên một người, ngày người ấy đổi thay, cả đời ta sụp. Nếu căn tính ta được dựng trên một sứ vụ, ngày sứ vụ ấy bị lấy đi, ta không còn biết mình là ai. Nếu bình an của ta dựa vào một cộng đoàn, ngày cộng đoàn ấy làm ta thất vọng, ơn gọi của ta chao đảo. Nếu niềm vui của ta dựa vào lời khen, ngày bị phê bình, ta mất hết động lực. Nếu ta sống nhờ cảm giác mình cần thiết, ngày người khác không còn cần ta, ta thấy đời mình vô nghĩa. Chính vì yêu ta, Đức Kitô không muốn ta xây căn nhà đời mình trên bất cứ nền cát nào. Người nói: “Thầy trước hết.” Không phải để lấy hết của ta, nhưng để giữ ta khỏi bị những điều hữu hạn nuốt chửng. Khi Chúa là thứ nhất, ta vẫn có thể yêu cha mẹ hết lòng mà không để tình cảm gia đình ngăn mình làm điều Chúa muốn. Khi Chúa là thứ nhất, ta vẫn có thể thương một người sâu sắc mà không cần người ấy phải thuộc về mình. Khi Chúa là thứ nhất, ta có thể gắn bó với một cộng đoàn mà vẫn ra đi bình an khi được sai đến nơi khác. Khi Chúa là thứ nhất, ta có thể làm một công việc bằng tất cả tâm huyết mà vẫn trao lại cho người khác khi nhiệm kỳ kết thúc. Khi Chúa là thứ nhất, ta có thể được yêu mà biết ơn, bị quên mà không tan vỡ; được khen mà không bay lên, bị chê mà không gục xuống. Khi Chúa là thứ nhất, mọi điều khác không mất đi, nhưng được đặt đúng trọng lượng của nó.
Và có lẽ một trong những cuộc thanh luyện đau nhất trong đời tu là lúc Chúa đụng vào điều ta tưởng đã hoàn toàn thuộc về Người nhưng thực ra ta còn giữ lại. Ngày vào nhà dòng, ta tưởng mình đã bỏ mọi sự. Nhưng nhiều năm sau, ta mới phát hiện có những thứ mình chưa hề bỏ. Ta bỏ căn nhà của cha mẹ, nhưng chưa bỏ nhu cầu được an toàn. Ta bỏ quyền sở hữu tiền bạc, nhưng chưa bỏ nhu cầu kiểm soát. Ta bỏ chuyện lập gia đình, nhưng chưa bỏ nhu cầu có một người thuộc riêng về mình. Ta bỏ nghề nghiệp, nhưng chưa bỏ tham vọng thành công. Ta bỏ ý riêng trên giấy tờ, nhưng chưa bỏ ý riêng trong lòng. Ta đọc lời khấn trước bàn thờ trong vài phút, nhưng phải mất cả đời để hiểu lời mình đã đọc. Vì vậy đời tu càng đi lâu càng có những lần Chúa dường như lấy đi. Người chuyển ta khỏi một nơi mình gắn bó. Người để một người thân thiết xa mình. Người để ta bị hiểu lầm. Người để một công việc từng là niềm vui của ta được giao cho người khác. Người để sức khỏe suy yếu, tài năng giảm đi, ảnh hưởng thu hẹp lại. Người để có những năm tháng chẳng ai biết đến mình. Nếu chỉ nhìn bên ngoài, ta tưởng đó là mất mát. Nhưng nhiều khi chính những lúc ấy Chúa đang đưa đời tận hiến đến sự thật. Người hỏi: “Nếu không còn việc này, con còn chọn Thầy không? Nếu không còn người ấy, con còn chọn Thầy không? Nếu không còn được ai cần, con còn biết con là của Thầy không? Nếu không được công nhận, con còn vui vì tên con được ghi trên trời không? Nếu đời tu của con không còn đẹp theo hình dung ban đầu, con còn ở lại với Thầy không?” Có những câu hỏi chỉ có thể trả lời bằng nước mắt. Nhưng cũng chính những câu hỏi ấy làm cho lời khấn từ một công thức trở thành thịt máu.
“Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy.” Thập giá của đời tận hiến không phải lúc nào cũng là những chuyện lớn. Có khi thập giá là sống với một người tính tình không hợp mình suốt nhiều năm. Có khi là một bề trên không hiểu mình. Có khi là tuổi già đi đến trong lúc người trẻ hơn được tín nhiệm. Có khi là nhìn một công trình mình gây dựng được người khác làm theo cách khác. Có khi là sự cô đơn giữa một cộng đoàn đông người. Có khi là một ngày lễ khấn mà chẳng còn ai trong gia đình có thể đến dự. Có khi là những tối trở về phòng, cánh cửa khép lại và bất chợt thấy lòng mình trống. Có khi là nghe tin những người bạn thời trẻ có gia đình, con cái trưởng thành, quây quần, còn mình trở về với căn phòng nhỏ, một cuốn sách nguyện và ngọn đèn. Những khoảnh khắc như thế không phải dấu hiệu đời tu thất bại. Chúng là những khoảnh khắc lời khấn được hỏi lại. Ta có thể đã nói với Chúa khi còn trẻ: “Con chọn Chúa.” Nhưng đến một ngày, câu nói ấy phải được nói lại khi không còn những rung động ban đầu, không còn khí thế lý tưởng, không còn cảm giác mình làm được nhiều cho Chúa. Khi ấy mới thấy mình chọn Chúa hay chọn một hình ảnh đẹp về đời tu. Chúa Giêsu không giấu điều đó. Người nói trước: “Vác thập giá mà theo Thầy.” Theo Chúa không phải là tìm một cuộc đời không đau. Là tìm một Người đáng để ta đi qua cả đau đớn mà không bỏ cuộc.
Có những người trong đời tu dần dần trở nên cay đắng chỉ vì họ không hiểu rằng trái tim mình cần được thanh luyện liên tục. Khi không được yêu như mong đợi, họ khép lại. Khi bị tổn thương, họ bắt đầu nói: “Đừng tin ai.” Khi một tình bạn làm mình đau, họ chọn cách không thân với ai nữa. Khi bị cộng đoàn làm thất vọng, họ thu mình, chỉ còn làm đúng bổn phận. Bên ngoài vẫn giữ giờ kinh, thánh lễ, công việc, nhưng trái tim không còn sống. Đó không phải là khiết tịnh. Đó là phòng thủ. Đức Kitô không gọi người tận hiến trở thành người không cần ai. Người gọi ta thành người biết cần người khác nhưng không bắt người khác phải cứu mình. Có khác biệt rất lớn. Ta vẫn có bạn. Ta vẫn cần cộng đoàn. Ta vẫn cần những người biết lắng nghe. Ta vẫn có thể nhớ nhà, thương cha mẹ, quý một anh chị em trong cộng đoàn, cảm động trước lòng tốt của giáo dân. Tất cả những điều đó làm ta người hơn chứ không làm ta bớt thánh. Điều cần hỏi là: những tình yêu ấy có đưa ta về gần Đức Kitô hơn không? Ta có tự do trong chúng không? Ta có để người kia tự do không? Ta có thể cảm ơn mà không đòi sở hữu không? Ta có thể buồn khi xa một người mà vẫn tiếp tục bình an với Chúa không? Ta có thể yêu người ấy kể cả khi người ấy không còn ưu tiên mình không? Ta có cầu nguyện cho họ được hạnh phúc ngay cả khi hạnh phúc ấy không có mình ở trung tâm không? Nếu có, tình yêu đang được thanh luyện.
Đời tu đẹp không phải vì trong đó không có những rung động rất người. Đời tu đẹp vì những rung động ấy được đặt vào tay Đức Kitô. Có những người tận hiến đã sống đến tuổi già mà vẫn có một trái tim rất ấm. Họ nhớ tên người khác. Họ vui khi gặp trẻ nhỏ. Họ khóc khi nghe một gia đình đau khổ. Họ thương cộng đoàn. Họ biết nhớ những anh em đã chết. Họ quý tình bạn. Họ trân trọng một lá thư, một món quà nhỏ, một lời hỏi thăm. Nhưng những điều ấy không làm họ bị cột lại. Họ cảm động mà không chiếm hữu. Họ gần mà vẫn tự do. Họ biết ra đi. Họ biết trao lại. Họ biết chấp nhận bị quên. Có lẽ đó là những người đã hiểu khá sâu lời Chúa hôm nay: yêu Chúa hơn không làm ta yêu người khác ít đi; trái lại, càng đi sâu vào Chúa, trái tim càng có khả năng yêu mà không làm đau người khác bởi những đòi hỏi của chính mình.
Đức Kitô là tình yêu thứ nhất nhưng không cạnh tranh với các tình yêu còn lại. Người giống như mặt trời: khi mặt trời mọc, không phải mọi vật biến mất; trái lại, mọi vật hiện rõ đúng màu của nó. Khi Chúa đứng ở trung tâm, tình cha mẹ trở thành lòng biết ơn chứ không phải sự lệ thuộc. Tình bạn trở thành đồng hành chứ không phải sở hữu. Tình cộng đoàn trở thành hiệp thông chứ không phải phe nhóm. Tình yêu người nghèo trở thành phục vụ chứ không phải phương tiện để xây hình ảnh. Tình yêu Giáo Hội trở thành trung thành chứ không phải tìm địa vị. Tình yêu sứ vụ trở thành dâng hiến chứ không phải tham vọng. Tình yêu bản thân trở thành biết chăm sóc một khí cụ của Chúa chứ không phải quy mọi sự về cái tôi. Đức Kitô không phá hủy các tình yêu; Người cứu chúng khỏi sự méo mó. Vì nếu không có Chúa ở giữa, ngay cả điều đẹp nhất cũng có thể trở thành xiềng xích. Một tình bạn đẹp có thể biến thành lệ thuộc. Một cộng đoàn tốt có thể trở thành nơi trú ẩn để ta không còn dám đi đến vùng ngoại biên. Một sứ vụ hiệu quả có thể trở thành cái tôi tập thể. Một người rất thương ta có thể vô tình trở thành lý do khiến ta không còn tự do trước tiếng gọi mới của Chúa. Bởi thế, có những lần Chúa cho ta trải qua sự xa cách không phải vì Người muốn lấy niềm vui khỏi ta, nhưng vì Người muốn trả lại cho tình yêu sự tự do.
“Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.” Đây là nghịch lý tận cùng của Tin Mừng. Con người càng giữ mình thì càng mất mình. Càng lo bảo vệ trái tim khỏi đau, trái tim càng nhỏ lại. Càng cố bảo đảm rằng mình luôn được yêu, càng dễ sống trong sợ hãi. Càng cố giữ một người, càng có nguy cơ làm người ấy ngột ngạt. Càng cố giữ một chức vụ, càng đánh mất bình an. Càng cố giữ hình ảnh tốt, càng sợ sự thật. Nhưng người biết trao đời mình cho Đức Kitô lại dần tìm thấy một tự do kỳ lạ. Không phải họ không còn đau, nhưng nỗi đau không còn là chủ. Không phải họ không còn cần tình thương, nhưng tình thương con người không còn là nguồn sống cuối cùng. Không phải họ không còn sợ mất, nhưng họ biết rằng có một điều không ai có thể lấy khỏi họ: họ thuộc về Đức Kitô. Và có lẽ đây là bình an sâu nhất của đời tận hiến. Không phải bình an vì mọi tương quan đều tốt. Không phải bình an vì cộng đoàn lúc nào cũng hiểu nhau. Không phải bình an vì sứ vụ thành công. Không phải bình an vì bề trên luôn công bằng theo cách mình mong. Nhưng bình an vì ở dưới tất cả những đổi thay ấy có một nền đá không đổi: “Con là của Chúa.”
Đời tu có thể trải qua rất nhiều mùa. Có mùa xuân đầy nhiệt huyết khi người trẻ vừa bước vào nhà dòng, thấy mọi thứ đều đẹp. Có mùa hè của công việc, sứ vụ, thành công, đi nhiều, làm nhiều, được nhiều người biết. Có mùa thu khi bắt đầu phải trao công việc cho người trẻ hơn, khi tóc bạc, sức giảm, những người bạn cùng thế hệ lần lượt ra đi. Và có mùa đông khi một người tận hiến gần như chẳng còn làm được gì ngoài cầu nguyện, hiện diện và chờ Chúa. Nếu tình yêu của ta đặt vào công việc, mùa thu sẽ là bi kịch. Nếu tình yêu đặt vào sức khỏe, mùa đông sẽ rất đáng sợ. Nếu tình yêu đặt vào những người luôn ở cạnh, cái chết của họ sẽ làm đời ta sụp xuống. Nhưng nếu ngay từ đầu và qua từng năm tháng, Đức Kitô thực sự được đặt ở chỗ thứ nhất, mỗi mùa đều có vẻ đẹp riêng. Khi trẻ, ta phục vụ Chúa bằng sức. Khi già, ta phục vụ Chúa bằng sự yếu đuối được chấp nhận. Khi khỏe, ta đi đến với người khác. Khi bệnh, ta để người khác đến với mình. Khi còn giữ chức vụ, ta yêu Chúa bằng trách nhiệm. Khi không còn chức vụ, ta yêu Chúa bằng việc chấp nhận mình không còn cần thiết. Có khi sự từ bỏ lớn nhất của người tận hiến không phải ngày họ bước vào nhà dòng, mà là ngày cuối đời họ phải từ bỏ chính hình ảnh về một người tận hiến hữu ích.
Và thật ra, điều Chúa đòi nơi người tận hiến cũng là điều Người đã sống trước. Chúa Giêsu không đứng ngoài mà bảo ta từ bỏ. Người đã bỏ trời cao để xuống thế. Người không giữ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa nhưng tự hủy mình. Người yêu Mẹ, yêu các môn đệ, yêu Bêtania, yêu Lazarô, Marta, Maria, yêu Gioan đến mức Tin Mừng gọi là “người môn đệ Chúa yêu”, nhưng Người không thuộc độc quyền về ai. Ngay cả khi Mẹ và anh em Người đến tìm, Người mở rộng gia đình: “Ai thi hành ý muốn của Cha Ta, người ấy là anh chị em và là mẹ Ta.” Trên Thập Giá, Người trao Mẹ cho Gioan và Gioan cho Mẹ. Người yêu sâu sắc nhưng không giữ. Và cuối cùng, Người buông cả mạng sống: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đức Kitô chính là mẫu mực của tình yêu tự do. Vì vậy, khi Người nói với người tận hiến “Hãy yêu Thầy hơn”, Người không mời họ bước vào một thứ tình yêu khép kín giữa “Chúa và tôi”. Người kéo họ vào chính trái tim Người, để từ trái tim ấy họ yêu cả thế giới.
Một tu sĩ thật sự thuộc về Đức Kitô sẽ không trở thành người xa cách con người. Ngược lại, họ có thể trở thành người gần con người nhất. Bởi họ không cần khai thác ai để lấp khoảng trống của mình. Họ có thể nghe người khác mà không tìm cách kéo người ấy về phía mình. Họ có thể chăm sóc một người đau mà không cần người ấy biết ơn. Họ có thể phục vụ một cộng đoàn rồi âm thầm ra đi. Họ có thể gieo mà người khác gặt. Họ có thể yêu một người trẻ và vui khi người trẻ ấy lớn lên, tự lập, không còn cần mình như trước. Họ có thể đồng hành thiêng liêng với một người mà không biến mình thành trung tâm đời sống đức tin của họ. Một linh mục tốt không muốn giáo dân lệ thuộc vào mình; ngài muốn họ gặp Chúa. Một người đồng hành tốt không muốn người khác luôn hỏi ý mình; họ muốn người ấy trưởng thành trong lương tâm. Một tu sĩ tốt không xây một nhóm người trung thành với mình; họ xây cộng đoàn thuộc về Đức Kitô. Đó là dấu hiệu rất tinh tế để biết tình yêu đã được thanh luyện hay chưa: sau khi người khác gặp ta, họ lệ thuộc vào ta hơn hay họ tự do hơn để đi với Chúa?
Nhưng con đường ấy đòi một đời cầu nguyện. Không ai tự mình thanh luyện được tình yêu chỉ bằng quyết tâm. Ta không thể ra lệnh cho trái tim: “Từ nay đừng dính bén nữa.” Trái tim không vận hành theo mệnh lệnh như vậy. Có những gắn bó phải được đặt trước Chúa rất nhiều lần. Có những nỗi nhớ phải khóc trước Nhà Tạm. Có những tình cảm phải mang vào giờ chầu mà không tự kết án. Có những người ta phải nói thật với Chúa: “Lạy Chúa, con quý người này quá. Con sợ mất họ. Con cần họ nhiều hơn con muốn thừa nhận. Xin Chúa đừng lấy tình yêu khỏi con, nhưng xin thanh luyện nó.” Chúa không sợ sự thật của trái tim. Điều nguy hiểm không phải là có tình cảm. Điều nguy hiểm là ta không dám nhìn nhận nó, rồi để nó âm thầm dẫn đời mình. Đời sống thiêng liêng trưởng thành không phải là giả vờ mình không có những nhu cầu rất người, mà là mang những nhu cầu ấy vào tương quan với Chúa để Người sắp xếp lại.
Có những tình yêu Chúa không lấy đi. Người chỉ lấy khỏi chúng tính tuyệt đối. Có những tình bạn Chúa cho ở lại cả đời và trở thành một ơn lớn. Có những người trong cộng đoàn ta quý nhau hàng chục năm, đỡ nhau qua những khủng hoảng, cầu nguyện cho nhau đến tuổi già. Có những gia đình mà người tu sĩ vẫn rất gần gũi, vẫn nhớ ngày giỗ, vẫn quan tâm cha mẹ, anh chị em, cháu chắt. Chẳng có gì sai. Trái lại, một người tận hiến quên tình nghĩa nhân loại thì chưa chắc đã gần Chúa hơn. Nhưng tất cả những tình yêu ấy phải biết cúi đầu trước tiếng gọi của Đức Kitô. Nếu một ngày Chúa gọi ta đi xa, ta đi. Nếu bổn phận đòi ta phải nói một sự thật khó với người mình thương, ta nói trong yêu thương. Nếu điều tốt cho người kia là họ không còn dựa vào ta, ta chịu lùi lại. Nếu cần hy sinh một tình cảm dễ chịu để giữ sự trong sáng của ơn gọi, ta dám đau. Đó chính là vác thập giá của tình yêu.
Người tận hiến cũng phải rất cẩn thận trước một cám dỗ khác: lấy Chúa làm lý do để yêu người khác ít đi. Có người nói: “Tôi đã dâng mình cho Chúa” rồi trở nên lạnh lùng với gia đình. Có người lấy kỷ luật làm cớ để thiếu lòng thương. Có người nhân danh “không dính bén” để không cần quan tâm đến nỗi đau của anh em. Có người nhân danh đời sống nội tâm để không tham gia những gánh nặng của cộng đoàn. Đó không phải là đặt Chúa thứ nhất. Bởi Đức Kitô mà ta đặt thứ nhất chính là Đức Kitô đã rửa chân, đã chạnh lòng thương đám đông, đã khóc trước mộ Lazarô, đã dừng lại với Bartimê, đã để người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Càng yêu Đức Kitô, người tận hiến càng phải có trái tim người. Nếu cầu nguyện nhiều mà ít thương người hơn, có điều gì đó sai. Nếu giữ luật rất đúng mà trở nên khó gần hơn, có điều gì đó sai. Nếu nói mình thuộc về Chúa nhưng không chịu nổi những phiền toái của anh em, có điều gì đó sai. Đức Kitô thứ nhất không làm các tình yêu khác bị teo lại; Người làm chúng trong hơn, rộng hơn và cụ thể hơn.
Cuối cùng, có lẽ câu hỏi lớn nhất của đời tu không phải là: “Tôi đã bỏ những gì?” nhưng là: “Ai đang ở vị trí thứ nhất trong lòng tôi hôm nay?” Không phải ngày khấn lần đầu. Không phải ngày khấn trọn. Hôm nay. Bởi trái tim có thể âm thầm thay ngai đổi chủ mà ta không để ý. Có thời Chúa đứng nhất. Rồi công việc lên nhất. Có thời Chúa đứng nhất. Rồi một tương quan lên nhất. Có thời Chúa đứng nhất. Rồi danh dự, sự an toàn, sức khỏe, tiếng nói của mình, nhu cầu được hiểu lên nhất. Đời sống cầu nguyện chính là mỗi ngày đưa trái tim trở về trật tự: “Chúa trước hết.” Không phải vì mọi thứ khác xấu, nhưng vì chỉ khi Chúa trước hết thì mọi thứ khác mới đẹp đúng cách.
Và đến cuối đời, có lẽ điều đẹp nhất của một người tận hiến không phải là bảng thành tích dài, không phải bao nhiêu công trình đã xây, bao nhiêu chức vụ đã giữ, bao nhiêu người biết tên mình. Điều đẹp nhất là sau tất cả những lần mất và được, gặp và chia tay, thành công và thất bại, được yêu và bị quên, người ấy vẫn có thể nói bằng một trái tim đã trải qua rất nhiều thanh luyện: “Lạy Chúa, cuối cùng con vẫn chọn Chúa.” Có thể lúc ấy tay đã run, mắt đã mờ, chẳng còn làm được gì. Những người từng cần mình đã có cuộc đời riêng. Những công việc mình từng phụ trách đã thuộc về thế hệ khác. Cha mẹ đã về với Chúa. Bạn bè lần lượt ra đi. Những căn phòng từng ở đã đổi người. Những nơi từng phục vụ có thể chẳng còn ai nhớ đến mình. Nhưng nếu Đức Kitô vẫn còn đó, người tận hiến không mất tất cả. Trái lại, lúc ấy họ mới hiểu trọn câu Tin Mừng: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.” Một đời tưởng như đã cho đi, cuối cùng lại được nhận lại trọn vẹn trong Chúa.
Đời tu vì thế không phải là một cuộc đời nghèo tình yêu. Đời tu phải là một cuộc đời giàu tình yêu đến mức không còn một tình yêu nào bị biến thành ngẫu tượng. Không yêu cha mẹ ít đi, nhưng yêu cha mẹ trong Chúa. Không yêu bạn bè ít đi, nhưng yêu họ bằng một trái tim không chiếm hữu. Không yêu cộng đoàn ít đi, nhưng yêu đến mức dám chịu những khác biệt và những giới hạn của nhau. Không yêu người mình phục vụ ít đi, nhưng yêu họ đến mức không cần họ biết tên mình. Không yêu cuộc đời ít đi, nhưng yêu cuộc đời như một quà tặng phải được trao lại. Và trên tất cả, yêu Đức Kitô bằng một tình yêu làm cho mọi thứ khác tìm được đúng vị trí của mình.
Xin cho người tận hiến đừng bao giờ hiểu lời “Chúa là tất cả” theo nghĩa những người khác chẳng là gì. Trái lại, chính vì Chúa là tất cả nên mọi người mới trở thành anh chị em. Chính vì trái tim thuộc về Đức Kitô nên trái tim ấy mới không bị khóa lại cho riêng một người. Chính vì không có một gia đình riêng nên đời tu được mời gọi mang rất nhiều gia đình trong lòng. Chính vì không có những người con theo huyết thống nên người tận hiến được trao cho biết bao người con thiêng liêng. Nhưng tất cả chỉ đẹp khi họ biết rằng không người con nào là “của mình”, không cộng đoàn nào là “của mình”, không công trình nào là “của mình”. Tất cả là của Chúa. Ta chỉ được trao để yêu, để chăm sóc, để phục vụ, rồi một ngày phải biết trả lại.
Có lẽ đó là tự do đẹp nhất của đời tận hiến: bàn tay mở. Không nắm ai quá chặt. Không giữ gì quá chặt. Không vì vô tình, nhưng vì tin rằng tất cả những gì ta yêu đều an toàn hơn trong tay Thiên Chúa hơn trong tay ta. Người tận hiến càng lớn tuổi càng phải học mở bàn tay. Mở để trao công việc. Mở để trao người mình thương. Mở để trao sức khỏe. Mở để trao dự định. Mở để trao chính cuộc đời. Và sau cùng, bàn tay ấy trở nên giống bàn tay Đức Kitô trên Thập Giá: mở ra, không giữ gì, nhưng chính vì thế mà ôm được cả thế giới.
Đời tu không phải yêu ít đi. Đời tu là yêu một Người đến mức nhờ Người, ta học lại cách yêu mọi người. Và nếu một ngày người đời nhìn một tu sĩ mà cảm được rằng ở bên người ấy họ được tôn trọng hơn, tự do hơn, được yêu mà không bị chiếm hữu, được đón nhận mà không bị lợi dụng, được dẫn về với Chúa chứ không bị kéo về với cá nhân người tu sĩ, có lẽ đời tận hiến ấy đang sống đúng căn tính sâu xa của mình. Người ta sẽ hiểu rằng lời khấn không làm trái tim nghèo đi. Đức Kitô không lấy trái tim của người tận hiến rồi đóng cửa nó. Người nhận trái tim ấy, thanh luyện nó, bẻ nó ra như tấm bánh và trao nó cho nhiều người.
Xin Đức Kitô luôn giữ vị trí thứ nhất trong trái tim người tận hiến. Không phải để trái tim ấy không còn chỗ cho ai, nhưng để trong trái tim ấy có chỗ cho tất cả. Không phải để họ tránh mọi tình cảm, nhưng để mọi tình cảm trở thành trong sạch. Không phải để họ không cần con người, nhưng để họ không bắt một con người nào phải làm Thiên Chúa cho mình. Không phải để họ sống cô độc, nhưng để ngay trong cô tịch họ biết mình được yêu. Không phải để họ khép kín, nhưng để cuộc đời trở thành một cánh cửa mở.
Và nếu phải tóm lại cả hành trình ấy trong một lời cầu nguyện, có lẽ chỉ cần thưa: Lạy Đức Giêsu Kitô, xin đừng để con yêu ai hơn Chúa, nhưng cũng đừng để vì yêu Chúa mà con yêu bất cứ ai ít đi. Xin chỉ cho con biết yêu mọi người từ trái tim Chúa, yêu mà không chiếm hữu, gần mà không trói buộc, cho đi mà không tính toán, phục vụ mà không cần được nhớ, ra đi mà không cay đắng, mất mà không tuyệt vọng. Xin giữ Chúa ở vị trí thứ nhất trong con, để cha mẹ con, anh em con, cộng đoàn con, những người con phục vụ và cả những người làm con đau đều được đặt vào đúng chỗ trong tình yêu của con. Và đến ngày chẳng còn gì để giữ, xin cho con vẫn đủ bình an để trao nốt chính mình vào tay Chúa và nói: “Lạy Chúa, cả đời con đã đi tìm Chúa; giờ đây xin Chúa nhận lấy con.” Khi ấy, đời tu sẽ không còn là câu chuyện về những gì một người đã từ bỏ, nhưng là câu chuyện về một Người mà vì đã gặp được Người, người môn đệ thấy mọi sự khác đều có thể yêu sâu hơn, đẹp hơn và tự do hơn.
Lm. Anmai, CSsR

BỎ MỌI SỰ MÀ CHƯA CÓ CHÚA THÌ VẪN CHƯA CÓ GÌ
Tin Mừng: Mt 19,27-29
“Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng thưa Người: ‘Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?’” Có lẽ đây là một trong những câu hỏi thật nhất của Phêrô, và cũng là một trong những câu hỏi thật nhất của bất cứ người nào đã một lần bước vào đời tận hiến. Phêrô không nói chuyện của ai. Ông nói chuyện của mình. Ông nhìn lại chiếc thuyền đã bỏ, những tấm lưới đã bỏ, nghề nghiệp đã bỏ, những con đường cũ đã bỏ, những an toàn quen thuộc đã bỏ, rồi ông nhìn Đức Giêsu và hỏi: “Vậy chúng con sẽ được gì?” Câu hỏi ấy nghe qua tưởng như có một chút tính toán, nhưng nếu đi sâu hơn, ta sẽ thấy trong đó có cả một nỗi thao thức rất con người: con đã bỏ rồi, nhưng điều con tìm kiếm có thật sự đáng để con bỏ không? Con đã trao đi những năm tháng đẹp nhất, nhưng liệu lòng con có gặp được Đấng mà vì Người con đã trao đi không? Con đã rời mái nhà, rời cha mẹ, rời những dự tính riêng, rời khả năng xây dựng một gia đình theo nghĩa tự nhiên, rời nhiều quyền chọn lựa mà bao người vẫn có, nhưng nếu cuối cùng con chỉ còn lại một đời sống đầy luật lệ, trách nhiệm, chức vụ, công việc và những bổn phận nối tiếp nhau mà không có Chúa, thì tất cả những cái “đã bỏ” ấy sẽ trở thành điều gì? Đó là câu hỏi rất lớn của đời tu. Bởi vì đời tu không được cứu bởi số lượng những gì ta đã bỏ, nhưng bởi Đấng mà vì Người ta đã bỏ. Sự nghèo khó không tự nó làm ta nên thánh. Độc thân không tự nó làm ta thuộc trọn về Chúa. Vâng phục không tự nó bảo đảm rằng lòng ta đang tự do. Một người có thể thật sự chẳng sở hữu gì mà lòng vẫn đầy tham muốn. Một người có thể không lập gia đình mà tâm hồn vẫn tìm đủ thứ bù đắp để khỏa lấp khoảng trống. Một người có thể vâng lời bên ngoài nhưng bên trong đầy chống đối, cay đắng, ganh tị và khao khát quyền lực. Một người có thể ở trong nhà dòng rất lâu, mặc áo dòng rất lâu, đọc kinh rất đều, làm mục vụ rất nhiều, mang những chức vụ rất đáng kính, mà tâm hồn lại ngày một xa Đức Kitô. Và đó có lẽ là một trong những bi kịch âm thầm nhất của đời tận hiến: đã bỏ nhiều thứ mà vẫn chưa thật sự tìm được Chúa; đã đi rất xa khỏi đời sống cũ nhưng lại chưa đi đủ sâu vào lòng Đức Kitô; đã hy sinh rất nhiều mà không còn biết mình hy sinh cho Ai; đã làm rất nhiều việc của Chúa mà dần dần không còn ở với Chúa. Khi ấy, người tu có thể trở thành một người rất bận nhưng không bình an, rất hoạt động nhưng không có lửa, rất đúng giờ kinh nhưng thiếu lòng cầu nguyện, rất quen thuộc với nhà thờ nhưng xa lạ với Đấng đang hiện diện trong nhà thờ. Có những ngày ta dễ lầm tưởng rằng đã vào nhà dòng thì đương nhiên là đã có Chúa, đã chịu chức thì đương nhiên là đã thuộc về Chúa, đã khấn trọn thì đương nhiên là lòng không còn thuộc về thế gian nữa. Không hẳn như thế. Có thể thân xác đã bước vào đời tu nhưng trái tim vẫn đứng ngoài. Có thể bàn chân đã đi theo Đức Giêsu nhiều năm nhưng lòng vẫn mãi đi tìm những điều khác. Có thể miệng nói “Chúa là phần gia nghiệp của con” nhưng thật sâu trong lòng, ta lại cần lời khen để sống, cần địa vị để thấy mình có giá trị, cần người khác công nhận để thấy mình quan trọng, cần tiện nghi để thấy mình được bù đắp, cần những quan hệ riêng tư để chống lại nỗi cô đơn, cần quyền quyết định để thấy mình không bị coi thường. Và đến một lúc nào đó, ta chợt nhận ra mình đã bỏ mái nhà ngoài đời nhưng lại xây một mái nhà khác trong lòng; đã bỏ tiền bạc cá nhân nhưng lại tích lũy những thứ khác tinh vi hơn; đã bỏ ý riêng một cách chính thức nhưng lại tìm mọi cách để ý mình phải được chấp nhận; đã tuyên khấn nghèo khó nhưng lại sợ mất những gì mình đang có; đã tuyên khấn khiết tịnh nhưng trái tim vẫn tìm một người, một nơi, một cảm giác nào đó để làm trung tâm; đã tuyên khấn vâng phục nhưng lòng vẫn chỉ bình an khi người trên làm đúng ý mình. Khi ấy, ta đã bỏ mà chưa trống. Ta đã từ mà chưa tự do. Ta đã trao mà vẫn giữ. Ta đã đi mà chưa đến. Và cái làm cho mọi sự ấy trở nên đau đớn hơn là bên ngoài người ta vẫn có thể nhìn ta như một người đã hiến dâng tất cả, trong khi bên trong chỉ mình ta và Chúa biết có bao nhiêu vùng đất vẫn chưa chịu trao.
Đức Giêsu không quở trách Phêrô vì câu hỏi “chúng con sẽ được gì?”. Người trả lời ông. Người hứa “gấp bội” và sự sống đời đời. Nhưng trước khi nghĩ đến “gấp bội”, cần hiểu một điều: phần thưởng lớn nhất của người bỏ mọi sự theo Chúa không phải là được lại nhiều thứ hơn những gì mình đã bỏ. Phần thưởng lớn nhất chính là Chúa. Nếu sau khi bỏ mọi sự mà ta lại lấy “trăm lần hơn” theo nghĩa sở hữu, danh dự, tiện nghi, ảnh hưởng hay sự bảo đảm, thì ta vẫn chưa hiểu Tin Mừng. Đức Kitô không kêu gọi ta buông cái nhỏ để đổi lấy cái lớn hơn theo kiểu mua bán. Người không bảo ta bỏ một mái nhà để có một trăm mái nhà, bỏ một mảnh đất để có một trăm mảnh đất, bỏ vài mối tương quan để trở thành người được hàng ngàn người vây quanh. Không. Người muốn ta đi tới một tự do sâu hơn: khi Đức Kitô trở thành đủ cho ta, ta có thể nhận mọi sự mà không bị sở hữu bởi bất cứ sự gì; có thể yêu mọi người mà không chiếm hữu ai; có thể dùng của cải mà không để của cải dùng mình; có thể mang trách nhiệm mà không biến trách nhiệm thành ngai; có thể được kính trọng mà không cần sống nhờ vào sự kính trọng ấy; có thể bị hiểu lầm mà vẫn không sụp đổ; có thể bị điều chuyển, bị lấy đi một công việc mình yêu thích, bị thay đổi một môi trường quen thuộc, bị quên tên sau nhiều năm phục vụ, mà vẫn giữ được bình an, bởi căn tính của mình không nằm trong những điều ấy. Người tận hiến thật sự nghèo không phải là người không có chìa khóa tủ riêng, nhưng là người có thể để Chúa lấy đi điều mình quý mà vẫn không bỏ Chúa. Người thật sự khiết tịnh không phải chỉ là người giữ luật bên ngoài, nhưng là người không dùng ai để lấp chỗ mà chỉ mình Đức Kitô mới có quyền chiếm giữ. Người thật sự vâng phục không chỉ là người làm theo quyết định của bề trên, nhưng là người trong những quyết định làm mình đau vẫn cố gắng tìm ý Chúa chứ không chỉ tìm lý lẽ để bảo vệ cái tôi. Đời tu vì thế không phải trước hết là một cuộc đời của những cái “không”: không vợ chồng, không tài sản riêng, không tự ý định đoạt. Đời tu chỉ đẹp khi tất cả những cái “không” ấy được nâng đỡ bởi một tiếng “có” rất lớn: có Đức Kitô. Nếu không có tiếng “có” ấy, những cái “không” sẽ trở thành gánh nặng. Nếu không có Đức Kitô, khiết tịnh rất dễ biến thành cô độc; nghèo khó rất dễ biến thành thiếu thốn; vâng phục rất dễ biến thành đè nén; cộng đoàn rất dễ biến thành nơi chịu đựng nhau; sứ vụ rất dễ biến thành công việc; cầu nguyện rất dễ biến thành bổn phận; và đời tận hiến rất dễ biến thành một cuộc đời sống cho hết ngày chứ không còn là một đời được cháy lên vì Tình Yêu. Bởi vậy điều đáng sợ nhất đối với một tu sĩ không phải là thiếu phương tiện, không phải là ít người biết đến, không phải là thất bại trong một công việc mục vụ, cũng không phải là tuổi già đến khi sức khỏe hao mòn và không còn làm được nhiều nữa. Điều đáng sợ nhất là một ngày kia ta không còn cần Chúa như trước. Ta vẫn đọc kinh nhưng không còn khát Chúa. Ta vẫn dâng lễ nhưng bàn thờ không còn làm tim ta rung động. Ta vẫn giảng về Tin Mừng nhưng Lời không còn đâm vào lòng ta. Ta vẫn nói cho người khác rằng Chúa là tất cả nhưng trong thực tế ta lại sống như thể danh tiếng, sự dễ chịu, một người nào đó, một công việc nào đó, một chỗ đứng nào đó mới là điều không thể thiếu. Khi một điều gì không phải Chúa trở thành “không thể thiếu”, điều ấy đang âm thầm trở thành thần tượng. Thần tượng của người đời có thể rất rõ; thần tượng của người tu nhiều khi khoác áo đạo đức. Có thể là một sứ vụ ta cho rằng chỉ mình làm được. Có thể là một cộng đoàn ta không muốn rời. Có thể là một căn phòng, một thói quen, một phương tiện, một mối quan hệ, một người hay nâng đỡ mình. Có thể là hình ảnh tốt đẹp mà người khác nghĩ về ta. Có thể là uy tín sau nhiều năm phục vụ. Có thể là quyền được người khác nghe mình. Và Thiên Chúa đôi khi phải cho những thứ ấy lung lay không phải vì Người tàn nhẫn, nhưng vì Người yêu ta quá để ta sống cả đời trong ảo tưởng rằng mình đã bỏ mọi sự trong khi thực ra đang nắm rất chặt một vài điều.
Ta thường nghĩ thử thách lớn của đời tu nằm ở những năm đầu, khi phải rời gia đình, tập làm quen đời sống chung, học vâng lời, tập cầu nguyện, thích nghi với kỷ luật. Thực ra có một thử thách sâu hơn đến rất muộn: thử thách của người đã quen với việc mình là tu sĩ. Ban đầu, mọi thứ còn mới. Ngày nhận áo dòng có xúc động. Ngày khấn có nước mắt. Ngày chịu chức có run rẩy. Ngày đầu ra sứ vụ có lòng nhiệt thành. Nhưng rồi năm tháng đi qua. Chiếc áo trở thành quen. Thánh lễ trở thành quen. Phòng thánh trở thành quen. Những lời kinh trở thành quen. Tiếng chuông trở thành quen. Danh xưng “cha”, “thầy”, “sơ” trở thành quen. Và điều nguy hiểm của cái quen là ta có thể ở rất gần mầu nhiệm mà không còn kinh ngạc. Ta có thể cầm Mình Thánh Chúa mỗi ngày nhưng tâm hồn không còn quỳ. Ta có thể nói lời truyền phép mà lòng chạy theo những chuyện khác. Ta có thể nghe Lời Chúa mỗi sáng nhưng dường như Lời trượt qua đời mình. Ta có thể sống cạnh Nhà Tạm mà trái tim lại tìm sự ủi an ở những nơi khác. Đến khi ấy, điều cần thiết không phải là thêm một hoạt động, thêm một chức vụ, thêm một dự án hay một bằng cấp, nhưng là trở về với câu hỏi đầu tiên: ngày ấy mình vào đây vì Ai? Ngày ấy điều gì đã làm mình dám bỏ mọi sự? Ngày ấy tại sao mình xúc động trước Thập Giá? Ngày ấy tại sao chỉ một câu Tin Mừng cũng đủ làm mình thao thức cả đêm? Ngày ấy mình đã muốn gì ngoài Chúa? Có những khủng hoảng đời tu không phải vì người ta không còn sức, nhưng vì người ta đã quên mối tình đầu. Có những người tưởng mình chán đời tu, thực ra điều họ đang chán là một đời tu không còn tình yêu. Một hôn nhân mất tình yêu thì sống chung trở thành nặng; một đời tận hiến mất tình yêu cũng vậy. Luật không thay thế được tình yêu. Cơ cấu không thay thế được tình yêu. Danh dự của đời tu không thay thế được tình yêu. Cộng đoàn tốt đến đâu cũng không thể thay thế Đức Kitô. Công việc mục vụ thành công đến đâu cũng không thể thay thế Đức Kitô. Người ta quý mến ta đến đâu cũng không thể thay thế Đức Kitô. Và vì thế, càng sống lâu trong ơn gọi, người tu càng phải học trở lại một điều rất sơ đẳng: Chúa không phải là một phần trong đời tận hiến; Chúa là tất cả. Không phải chúng ta có đời tu rồi thêm Chúa vào cho đời tu có ý nghĩa; nhưng chính vì có Chúa nên mới có đời tu. Lấy Chúa ra khỏi đời tận hiến thì tất cả còn lại chỉ là một hình thức sống đặc biệt. Có thể rất đẹp, rất kỷ luật, rất hữu ích cho xã hội, nhưng chưa phải điều Đức Giêsu muốn. Người không nói với Phêrô: “Hãy bỏ mọi sự.” Người nói: “Hãy theo Thầy.” “Bỏ” chỉ là điều kiện để “theo”. “Bỏ” không phải đích đến. Đức Kitô mới là đích đến. Ta có thể quá chú tâm vào việc đã từ bỏ bao nhiêu mà quên hỏi mình đang theo Chúa gần tới đâu. Có người cả đời tự hào vì mình sống khắc khổ, nhưng khắc khổ không làm họ hiền hơn. Có người rất giữ luật nhưng ngày càng khó gần. Có người rất trung thành giờ kinh nhưng không biết cảm thông. Có người sở hữu rất ít nhưng lại sở hữu người khác bằng tình cảm. Có người luôn nói về vâng phục nhưng lại làm người dưới quyền sợ hãi. Nếu càng bỏ mà ta càng không giống Đức Kitô, sự từ bỏ ấy đang cần được thanh luyện. Bởi vì mục đích của mọi lời khấn không phải là biến ta thành người kỳ lạ khác với thế gian, mà là làm cho Đức Kitô được thành hình trong ta. Người ta nhìn vào một tu sĩ không cần thấy trước tiên một người “không có cái này, không được cái kia”; người ta cần gặp một người có Chúa. Một người có thể nghèo mà vui, vì có Chúa. Một người có thể sống một mình mà không cô độc, vì có Chúa. Một người có thể vâng phục mà không mất nhân phẩm, vì có Chúa. Một người có thể chịu hiểu lầm mà không cay độc, vì có Chúa. Một người có thể phục vụ trong nơi âm thầm không ai biết đến mà vẫn tận tụy, vì phần thưởng của họ không nằm trong tiếng vỗ tay. Một người có thể đi qua tuổi già, bệnh tật, sự giảm sút khả năng, và thậm chí một giai đoạn không còn làm được gì, mà vẫn thấy đời mình đầy ý nghĩa, bởi giá trị đời họ không nằm ở những gì họ làm được cho Chúa mà ở việc họ thuộc về Chúa.
Có một câu rất đáng để người tận hiến mang vào giờ cầu nguyện: Nếu ngày mai Chúa lấy khỏi tôi tất cả những gì hiện nay làm tôi cảm thấy mình có giá trị, tôi còn thấy Chúa là đủ không? Nếu không còn chức vụ ấy, tôi còn bình an không? Nếu không còn được người ta mời giảng, mời làm việc này việc kia, tôi có thấy đời mình còn ý nghĩa không? Nếu phải về một cộng đoàn nhỏ, xa trung tâm, không ai biết tên, tôi có còn phục vụ với cùng một lòng yêu mến không? Nếu sức khỏe không cho phép tôi làm điều mình từng làm, tôi có tin rằng chỉ sự hiện diện âm thầm của mình trước Chúa cũng đã quý chưa? Nếu một người tôi rất gắn bó bỗng phải rời xa, tôi có để khoảng trống ấy dẫn tôi sâu hơn vào Chúa, hay tôi sẽ lập tức tìm một người khác để lấp vào? Nếu một ngày người ta hiểu lầm tôi, không còn khen tôi, thậm chí quên những gì tôi đã làm, tôi có còn xác tín rằng chỉ cần tên mình được ghi trong lòng Chúa là đủ không? Những câu ấy không dễ trả lời. Nhưng đời tu phải để Chúa hỏi. Có lúc Người lấy đi không phải vì Người muốn làm ta nghèo hơn, nhưng vì Người muốn cho ta thấy bao lâu nay lòng ta đã dựa vào đâu. Có những mất mát là một thứ mặc khải. Khi bị lấy mất một điều mà ta tưởng chỉ “dùng” thôi, ta mới phát hiện thật ra mình đã lệ thuộc vào nó. Khi một người rời đi mà ta như mất phương hướng, ta mới nhận ra người ấy đã chiếm trong lòng một chỗ quá lớn. Khi một chức vụ bị thay mà ta giận dữ, ta mới nhận ra chức vụ ấy đã trở thành một phần căn tính. Khi không còn được chú ý mà ta thấy mình vô nghĩa, ta mới nhận ra lâu nay ta đã sống bằng ánh mắt người khác nhiều hơn bằng ánh mắt của Chúa. Những giờ phút ấy đau, nhưng nếu đón nhận trong đức tin, chúng có thể là ơn lớn. Chúa đang dọn lại căn nhà nội tâm. Người bước vào từng căn phòng, chỉ cho ta thấy có những món đồ ta giữ lâu quá, có những góc tối ta không muốn Người đụng đến, có những thứ ta tưởng vô hại nhưng đã trở thành xiềng xích. Người không lấy để làm ta trống rỗng; Người lấy để chính Người có chỗ mà ở. Vấn đề là ta có dám để Người lấp đầy không. Bởi vì có một kiểu trống rỗng rất nguy hiểm: từ bỏ mà không được lấp đầy. Đức Giêsu từng cảnh báo về căn nhà được quét dọn, trống trải, rồi thần ô uế trở lại cùng những thần khác dữ hơn. Trái tim con người không thể sống mãi trong chân không. Nếu không được Chúa lấp đầy, nó sẽ tìm thứ khác. Người tu cũng thế. Không có gia đình riêng, họ có thể tạo cho mình một vòng tình cảm riêng. Không sở hữu tiền bạc, họ có thể sở hữu ảnh hưởng. Không chạy theo hưởng thụ thô thiển, họ có thể chạy theo sự tiện nghi tinh vi. Không tìm quyền lực ngoài đời, họ có thể tìm quyền lực trong Giáo Hội. Không xây một mái ấm riêng, họ có thể xây một “vương quốc” mục vụ riêng. Không sinh con theo huyết thống, họ có thể muốn có những “đứa con tinh thần” tuyệt đối trung thành với mình. Lòng người rất khéo. Nó có thể đem cả sự từ bỏ ra để nuôi cái tôi. Vì vậy không ai được tự mãn vì những lời khấn. Những lời khấn là con đường hằng ngày đi vào tự do, chứ không phải một tấm bằng chứng nhận rằng ta đã tự do. Ta khấn một ngày, nhưng phải học nghèo mỗi ngày; học khiết tịnh mỗi ngày; học vâng phục mỗi ngày; và sâu xa hơn, học chọn Chúa mỗi ngày. Có khi lựa chọn lớn nhất của đời tu không phải ngày khấn trọn, nhưng là những sáng bình thường ta thức dậy trong khô khan mà vẫn đi cầu nguyện; những tối mệt mỏi ta vẫn ở lại với Chúa một chút; những ngày bị tổn thương ta chọn không nói lời làm đau người khác; những lúc có thể tìm tiện nghi cho mình ta lại chọn phần đơn sơ; những khi bị hiểu lầm ta không trả đũa; những lúc lòng muốn được chú ý ta chấp nhận âm thầm. Chính những “cái bỏ” rất nhỏ ấy làm cho lời khấn ngày xưa trở thành hiện thực hôm nay.
Có người hỏi: “Sống như thế có thiệt quá không?” Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, có. Người tận hiến bỏ rất nhiều khả thể của một đời người. Nhưng câu hỏi quyết định không phải “ta đã bỏ bao nhiêu?” mà là “ta đã tìm được gì?”. Một người tìm được Đức Kitô không nghĩ đời mình bị mất. Thánh Phaolô đã nói rất mạnh: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi.” Đó mới là linh hồn của đời tận hiến. Không phải khinh đời, không phải ghét tạo vật, không phải coi tình yêu nhân loại là thấp kém, nhưng vì đã gặp một Tình Yêu quá lớn nên người ta dám sắp xếp mọi thứ lại quanh Tình Yêu ấy. Người đang yêu thật sự không chỉ nói mình đã hy sinh bao nhiêu; họ thấy việc được ở bên người mình yêu đã là phần thưởng. Nếu người tu suốt ngày chỉ đếm những gì mình đã bỏ, có lẽ cần hỏi lại xem mình đã gặp Chúa đủ sâu chưa. Bởi người đã gặp Chúa không sống bằng bảng kê hy sinh. Họ không nói với Chúa mỗi tối: “Hôm nay con đã bỏ điều này, chịu điều kia, làm việc nọ cho Chúa, Chúa nhớ trả công cho con.” Tình yêu không tính như vậy. Mẹ chăm con bao nhiêu đêm không ngủ đâu có ghi sổ. Người chồng chăm người vợ đau bệnh đâu mỗi ngày đều hỏi “tôi sẽ được gì?”. Tình yêu thật làm người ta có khả năng cho mà vẫn thấy mình nhận. Đời tu cũng chỉ hiểu được trong ngôn ngữ ấy. Nếu không yêu, mọi sự sẽ trở thành quá đắt. Nếu yêu, có những điều rất đắt vẫn đáng. Vì thế khủng hoảng sâu nhất của đời tu không phải là khủng hoảng về luật, mà là khủng hoảng về tình yêu. Khi tình yêu với Đức Kitô nguội, mọi luật bắt đầu nặng. Khi tình yêu nguội, giờ kinh dài hơn. Khi tình yêu nguội, đời sống chung trở nên khó chịu. Khi tình yêu nguội, vâng phục trở thành mất tự do. Khi tình yêu nguội, nghèo khó thành phiền toái. Khi tình yêu nguội, khiết tịnh thành trống vắng. Còn khi tình yêu được khơi lại, cùng một căn phòng ấy, cùng một cộng đoàn ấy, cùng những con người ấy, cùng những bổn phận ấy bỗng mang ý nghĩa khác. Không phải hoàn cảnh thay đổi; trái tim đổi. Có lẽ điều đời tu cần nhất không phải là những cải tổ bên ngoài trước tiên, dù cải tổ có lúc rất cần; điều cần nhất là những con người yêu Chúa lại. Một cộng đoàn có thể nghèo về phương tiện nhưng nếu nhiều người thật sự yêu Chúa, nơi ấy có sức sống. Một cộng đoàn có đầy đủ tiện nghi nhưng nếu ai cũng sống cho mình, nơi ấy có thể rất lạnh. Một tu sĩ không cần nói nhiều về đời tận hiến; chỉ cần nhìn cách họ cầu nguyện, cách họ đối xử với người bé nhỏ, cách họ đón nhận một việc trái ý, cách họ sống khi không ai thấy, người ta sẽ biết Đức Kitô có thật sự là kho tàng của họ không.
Rồi sẽ đến một ngày rất đẹp mà cũng rất thật: mọi thứ người tu từng cầm trong tay sẽ lần lượt được đặt xuống. Tuổi già tự nó là một cuộc khấn nghèo khó mới. Ta sẽ bỏ sức khỏe. Bỏ sự nhanh nhẹn. Bỏ những công việc mình từng làm rất giỏi. Bỏ những vai trò từng khiến người khác tìm đến mình. Có thể phải bỏ cả trí nhớ, khả năng tự chăm sóc, quyền tự quyết về những điều rất nhỏ. Khi ấy những gì ta học trong cả đời tận hiến sẽ được kiểm chứng. Nếu cả đời ta chỉ sống nhờ việc mình làm, tuổi già sẽ rất đau. Nếu cả đời ta sống nhờ người khác cần mình, lúc không còn ai cần ta theo cách ấy, ta sẽ thấy mình vô dụng. Nhưng nếu cả đời ta tập để Chúa là phần gia nghiệp, tuổi già có thể trở thành giai đoạn tinh tuyền nhất của lời khấn: khi không còn gì để làm cho Chúa, ta chỉ còn chính mình để trao cho Người. Và đó mới là tận hiến đến cùng. Khi đôi tay không còn làm việc, ta vẫn có thể yêu. Khi đôi chân không còn đi sứ vụ, ta vẫn có thể cầu nguyện. Khi giọng nói yếu, ta vẫn có thể dâng những đau đớn âm thầm. Khi người ta không còn nhớ những công trình mình đã xây, Chúa vẫn nhớ tên mình. Khi chẳng còn ai gọi mình bằng những danh xưng kính trọng, ta vẫn là người con được Chúa gọi tên. Cái chết sau cùng sẽ là lời khấn trọn vẹn nhất: bỏ tất cả, kể cả thân xác này, để đi vào Đấng mà vì Người ta đã bỏ tất cả từ đầu. Lúc ấy, nếu cả đời ta đã học để có Chúa, cái chết không lấy khỏi ta kho tàng duy nhất; nó chỉ tháo cánh cửa cuối cùng để ta gặp Người mặt đối mặt. Nhưng nếu cả đời ta đã lấp lòng bằng mọi thứ khác, giờ chết sẽ là lúc tất cả những chỗ dựa ấy rơi khỏi tay. Vì vậy đời tận hiến không thể chờ tuổi già mới học buông. Mỗi ngày phải tập. Mỗi ngày một chút. Một lời khen đến, nhận mà không giữ. Một lời chê đến, đau nhưng không để nó định nghĩa mình. Một công việc được trao, làm hết lòng nhưng không coi là của mình. Một người thương mến, yêu thật nhưng để họ tự do thuộc về Chúa. Một căn phòng, một vật dụng, một điều kiện sống, dùng với lòng biết ơn nhưng sẵn sàng rời. Một tài năng, đem phục vụ nhưng không biến nó thành căn tính. Tất cả là của Chúa. Ta cũng là của Chúa. Và khi mọi thứ trở về đúng vị trí ấy, lòng mới nhẹ.
“Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.” Chúa Giêsu không phủ nhận sự hy sinh của các môn đệ. Người biết từng chiếc lưới họ đã bỏ. Người biết từng giọt nước mắt của người tận hiến. Người biết những ngày nhớ nhà mà không nói. Người biết những lựa chọn người khác không hiểu. Người biết những đêm cô đơn. Người biết những vâng phục rất khó. Người biết những năm tháng phục vụ chẳng ai nhớ. Người biết những điều ta đã muốn mà không chọn vì lời khấn. Người biết những lúc lòng mình tan ra mà vẫn phải đứng lên lo cho người khác. Không có hy sinh nào vì Chúa mà bị lãng quên. Nhưng dường như Người vẫn muốn nói với ta: con ơi, đừng dừng lại ở những gì con đã bỏ. Hãy nhìn xem con đã có Thầy chưa. Đừng lấy những hy sinh làm lý do để thấy mình hơn người khác. Đừng biến quá khứ tận hiến thành một món nợ bắt Chúa và Hội Thánh phải trả. Đừng nói: “Con đã cho nhiều rồi, bây giờ con có quyền sống cho mình.” Không. Tình yêu không nghỉ hưu. Tận hiến không có một thời điểm nào ta có thể tuyên bố: “Đủ rồi.” Cho đến hơi thở cuối cùng, lời “xin vâng” vẫn có thể sâu hơn. Và có lẽ cuối cùng, đời tu chỉ còn một câu hỏi rất đơn giản: Chúa có thật sự là đủ cho tôi không? Nếu Chúa là đủ, ta có thể mất nhiều mà vẫn giàu. Nếu Chúa không đủ, ta có mọi thứ mà vẫn thiếu. Nếu Chúa là đủ, căn phòng nhỏ vẫn rộng. Nếu Chúa không đủ, cả một cơ ngơi cũng chật. Nếu Chúa là đủ, sự âm thầm vẫn ngọt. Nếu Chúa không đủ, tiếng vỗ tay bao nhiêu cũng chưa vừa. Nếu Chúa là đủ, một mình vẫn không cô độc. Nếu Chúa không đủ, giữa đám đông vẫn trống trải. Nếu Chúa là đủ, ta không phải tranh giành. Nếu Chúa không đủ, ta sẽ luôn sợ người khác hơn mình. Nếu Chúa là đủ, ta có thể vui trước thành công của anh em. Nếu Chúa không đủ, thành công của họ sẽ làm ta đau. Nếu Chúa là đủ, vâng phục không làm mất ta; nó giúp ta tìm lại mình trong Chúa. Nếu Chúa là đủ, nghèo khó không làm ta bé đi; nó làm lòng ta rộng ra. Nếu Chúa là đủ, khiết tịnh không làm trái tim khô cằn; nó làm trái tim có khả năng yêu nhiều người mà không sở hữu một ai. Và nếu Chúa là đủ, cả cuộc đời tận hiến, với những ngày đẹp và những ngày tối, những thành công và thất bại, những tiếng cười và nước mắt, cuối cùng sẽ gom lại thành một lời rất nhỏ mà rất thật: “Lạy Chúa, con đã chẳng có gì để dâng ngoài chính mình, và chính mình con cũng là do Chúa ban. Con chỉ xin một điều: sau tất cả những gì con đã bỏ, xin đừng để con đánh mất Chúa.”
Bỏ mọi sự mà chưa có Chúa thì vẫn chưa có gì. Nhưng có Chúa rồi, ngay cả khi chẳng còn gì trong tay, ta vẫn có tất cả. Đó không phải là một câu an ủi dành cho những người không có gì; đó là sự thật sâu nhất của đời môn đệ. Những gì ta bỏ rồi sẽ qua. Những gì ta xây rồi cũng qua. Những nơi ta phục vụ rồi người khác sẽ tiếp tục. Những người từng biết ta rồi cũng sẽ dần quên. Danh xưng, chức vụ, ảnh hưởng, khả năng, sức khỏe, tất cả đều có ngày ở lại phía sau. Chỉ có Đức Kitô không qua đi. Bởi thế, người khôn ngoan nhất trong đời tận hiến không phải là người giữ được nhiều nhất, cũng không phải là người làm được nhiều nhất, nhưng là người qua năm tháng càng lúc càng có ít thứ để mất vì họ chỉ còn một Kho Tàng không ai lấy được. Khi đời mình đi đến chiều muộn, có lẽ hạnh phúc nhất không phải là nhìn lại và nói: “Tôi đã làm được bao nhiêu”, nhưng là có thể nói trong bình an: “Sau tất cả, tôi vẫn còn Chúa. Và Chúa vẫn còn tôi.” Khi ấy ta mới hiểu điều Phêrô hỏi năm xưa. “Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” Ta được chính Đấng mà mình đã theo. Và chỉ cần thế thôi, cũng đã là gấp trăm, gấp ngàn, gấp vô cùng mọi điều ta từng bỏ lại phía sau.
Lm. Anmai, CSsR

AI YÊU CHA MẸ HƠN THẦY THÌ KHÔNG XỨNG VỚI THẦY
Tin Mừng: Mt 10,37-39
Có những lời của Chúa Giêsu đọc lên nghe thật dịu dàng, như một dòng nước mát chảy qua tâm hồn: “Anh em hãy đến cùng tôi, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Có những lời nghe như bàn tay của Chúa đặt trên vai người mệt mỏi: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” Có những lời làm cho người tội lỗi dám đứng dậy sau những tháng ngày tưởng đời mình đã hết đường: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu.” Nhưng cũng có những lời của Chúa mà nếu đọc thật chậm, đọc với tất cả sự nghiêm túc, ta thấy lòng mình như bị một lưỡi gươm đi qua. Không phải vì Chúa tàn nhẫn. Không phải vì Chúa muốn làm khó con người. Nhưng vì có những lúc tình yêu phải nói sự thật. Có những lúc Chúa không thể vuốt ve mãi những ảo tưởng của ta. Có những lúc Người phải đặt ta trước một câu hỏi không thể né tránh: Ta có thực sự chọn Người hay không? Và một trong những lời như thế chính là lời hôm nay: “Ai yêu cha hay mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy; ai yêu con trai hay con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.” Những lời ấy nghe thật quyết liệt. Thậm chí, nếu chỉ đọc bằng cảm tính, người ta có thể thấy khó chấp nhận. Chẳng phải chính Thiên Chúa đã truyền: “Ngươi hãy thảo kính cha mẹ” đó sao? Chẳng phải Đức Giêsu đã lên án những người lấy lý do tôn giáo để khỏi phụng dưỡng cha mẹ đó sao? Chẳng phải Người đã yêu Mẹ Maria bằng một tình yêu sâu thẳm, đến giờ cuối cùng trên Thập Giá vẫn trao Mẹ cho người môn đệ yêu dấu và trao người môn đệ cho Mẹ đó sao? Vậy tại sao hôm nay Người lại bảo: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy”? Câu trả lời nằm trong hai chữ rất quan trọng: “hơn Thầy.” Chúa không bảo chúng ta đừng yêu cha mẹ. Chúa không bảo chúng ta cắt bỏ tình thân. Chúa không biến người môn đệ thành một con người vô cảm, lạnh lùng, coi nhẹ gia đình. Trái lại, chính khi yêu Chúa trên hết, ta mới học được cách yêu cha mẹ cho đúng; yêu vợ chồng cho đúng; yêu con cái cho đúng; yêu cộng đoàn cho đúng; yêu bạn bè cho đúng; yêu chính mình cho đúng. Điều Chúa đòi không phải là ta yêu người khác ít đi. Điều Chúa đòi là không một ai, không một tình cảm nào, không một sự gắn bó nào được chiếm chỗ chỉ dành cho Thiên Chúa. Đó là tính triệt để của ơn gọi. Và nếu không hiểu điều này, rất dễ có một đời theo Chúa nhưng lòng lại thuộc về một nơi khác.
Ơn gọi Kitô hữu, và cách đặc biệt ơn gọi linh mục, tu sĩ, không bắt đầu từ chuyện ta bỏ cái gì. Nó bắt đầu từ việc ta chọn Ai. Người ta có thể bỏ nhà, bỏ quê, bỏ nghề nghiệp, bỏ một tương lai rất đẹp, bỏ khả năng lập gia đình, bỏ tiền bạc, bỏ nhiều tiện nghi, mà vẫn chưa chắc đã thực sự chọn Chúa. Bởi có những người đã bỏ rất nhiều ở bên ngoài nhưng trong lòng vẫn giữ nguyên một thế giới riêng không cho Chúa bước vào. Có thể đôi chân đã bước qua cánh cửa tu viện, nhưng trái tim vẫn đứng ngoài. Có thể đã khoác trên mình chiếc áo dòng, nhưng sâu trong lòng vẫn còn một chiếc áo khác mà ta không chịu cởi: áo của cái tôi, áo của tham vọng, áo của tình cảm riêng, áo của nhu cầu được người khác nhìn nhận, áo của sự chiếm hữu, áo của những ràng buộc mà ta gọi bằng những cái tên rất đẹp để khỏi phải thú nhận rằng chúng đang quan trọng hơn Chúa. Đức Giêsu hôm nay không hỏi người môn đệ: “Con đã bỏ bao nhiêu?” Người hỏi: “Trong trái tim con, Ai đứng nhất?” Đó mới là câu hỏi làm người ta mất ngủ. Vì có thể ta vẫn cầu nguyện, vẫn dâng lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm mục vụ, vẫn phục vụ, vẫn mang dáng vẻ của một người rất nhiệt thành, nhưng khi Chúa và một điều ta yêu phải đứng ở hai phía đối nghịch, ta mới biết thật ra ai đang đứng ở vị trí thứ nhất.
Có một điều rất đáng sợ trong đời sống đức tin: ta có thể yêu Chúa, nhưng yêu Chúa như một trong nhiều tình yêu. Ta cho Chúa một phần của đời mình, nhưng không cho Người toàn bộ. Chúa được một khoảng thời gian trong ngày. Chúa được một góc trong tâm hồn. Chúa được một số quyết định, còn những quyết định khác ta giữ quyền tuyệt đối. Ta có thể nói: “Con yêu Chúa”, nhưng phía sau lại có một chữ “nhưng”: Con yêu Chúa, nhưng xin Chúa đừng đụng đến người này; con yêu Chúa, nhưng xin Chúa đừng lấy khỏi con điều kia; con yêu Chúa, nhưng xin Chúa để con quyết định chuyện này; con yêu Chúa, nhưng nếu phải lựa chọn giữa ý Chúa và điều con muốn thì xin Chúa thông cảm cho con. Và chính chữ “nhưng” ấy nhiều khi cho thấy ai mới thực sự là Chúa trong đời ta. Chúa Giêsu không chấp nhận vị trí thứ hai. Không phải vì Người ích kỷ. Không phải vì Người ghen tương theo kiểu con người. Nhưng vì chỉ Thiên Chúa mới đủ lớn để ở vị trí thứ nhất mà không làm hỏng cuộc đời ta. Một con người mà ta đặt ở vị trí tuyệt đối rồi sẽ trở thành gánh nặng cho chính người ấy và thành một thứ ngẫu tượng cho ta. Một đứa con được cha mẹ đặt trên cả Thiên Chúa rồi có ngày chính nó sẽ bị tình yêu của cha mẹ bóp nghẹt. Một người bạn được ta biến thành lẽ sống duy nhất rồi tình bạn ấy sẽ không còn tự do. Một cộng đoàn được ta đồng hóa với Thiên Chúa rồi ta sẽ thất vọng cay đắng khi thấy cộng đoàn có những yếu đuối rất người. Một linh mục coi thành công mục vụ là điều tuyệt đối rồi sẽ gãy khi bị đổi đi một nơi khác. Một tu sĩ xem một người nào đó là tất cả rồi sẽ thấy đời mình sụp đổ nếu tương quan ấy thay đổi. Chỉ khi Đức Kitô đứng ở trung tâm, mọi tương quan khác mới được đặt đúng chỗ. Chỉ khi ta yêu Chúa trên hết, ta mới có khả năng yêu người khác mà không chiếm hữu họ.
“Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy.” Đối với những người được gọi bước vào đời tận hiến, câu này không chỉ là một câu Tin Mừng để suy niệm. Nó là một cuộc thanh luyện kéo dài suốt đời. Ngày đầu bước theo Chúa, nhiều người tưởng rằng rời gia đình là cuộc từ bỏ lớn nhất. Rồi năm tháng dạy ta rằng rời khỏi căn nhà của cha mẹ có khi dễ hơn rất nhiều so với việc để Chúa giải thoát ta khỏi những lệ thuộc tình cảm sâu kín. Có người đã đi tu mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, nhưng mọi quyết định vẫn phải hỏi gia đình trước khi hỏi Chúa. Có người ở trong nhà dòng mà lòng luôn bị kéo về những chuyện nhà đến mức đời sống cộng đoàn chỉ còn là nơi ở tạm. Có người thương cha mẹ đến nỗi không chịu nổi việc Chúa dẫn đời mình theo con đường khiến cha mẹ buồn. Có người vì áp lực của gia đình mà đánh mất sự tự do nội tâm của ơn gọi. Và ngược lại, cũng có những người nhân danh lời Chúa hôm nay để sống vô tâm với cha mẹ, nghĩ rằng đi tu rồi thì gia đình không còn là trách nhiệm của mình. Đó cũng là một sai lầm. Chúa không dạy vô ơn. Sự tận hiến không làm ta bớt làm con. Một người yêu Chúa thật phải là người biết biết ơn cha mẹ sâu hơn, kính trọng hơn, quan tâm hơn, cầu nguyện nhiều hơn, yêu thương tinh tế hơn. Nhưng tình yêu ấy không còn là một sợi dây buộc chân. Nó trở thành một tình yêu tự do. Ta yêu cha mẹ trong Chúa, chứ không yêu cha mẹ thay Chúa. Ta biết ơn gia đình vì đã sinh thành, nuôi dưỡng mình, nhưng cũng biết rằng đời mình cuối cùng thuộc về Đấng đã dựng nên mình và gọi tên mình từ trước khi mình thành hình trong lòng mẹ.
Có những lúc sự triệt để của Tin Mừng trở thành một vết cắt rất đau. Abraham được gọi rời quê hương, họ hàng và nhà cha mình để đi đến nơi Thiên Chúa chỉ cho. Các môn đệ được gọi bỏ lưới, bỏ thuyền, bỏ cha mà đi theo Đức Giêsu. Không phải Thiên Chúa coi thường tình thân, nhưng mọi ơn gọi lớn đều có một khoảnh khắc con người phải rời khỏi một bến quen để đi theo một tiếng gọi chưa biết sẽ đưa mình đến đâu. Nếu cứ phải chờ đến khi mọi người đồng ý, mọi người hiểu, mọi người ủng hộ, mọi người vui vẻ, rồi ta mới theo Chúa, có lẽ nhiều ơn gọi chẳng bao giờ bắt đầu. Đã có biết bao người trẻ nghe tiếng Chúa trong lòng nhưng dừng lại vì nước mắt của mẹ. Biết bao người muốn bước vào một con đường phục vụ nhưng sợ cha buồn. Biết bao người biết rất rõ điều mình phải làm nhưng cứ chần chừ vì không chịu nổi việc người thân không hiểu mình. Những giọt nước mắt ấy là thật. Nỗi đau ấy không nhỏ. Chúa không bảo ta khinh thường chúng. Nhưng có một lúc người được gọi phải quỳ xuống, khóc với Chúa, khóc với cha mẹ, rồi vẫn phải bước đi. Vì nếu tiếng gọi thực sự đến từ Chúa, vâng lời Chúa không phải là phản bội gia đình; đó là trao cả gia đình vào một kế hoạch lớn hơn tình cảm của ta.
Và có lẽ chính cha mẹ cũng phải sống sự triệt để ấy. Có những người cha người mẹ nói rằng mình dâng con cho Chúa, nhưng thực ra chỉ dâng với điều kiện. Dâng con, miễn là con ở gần. Dâng con, miễn là con được nơi tốt. Dâng con, miễn là con khỏe mạnh. Dâng con, miễn là con thành công. Dâng con, miễn là sau này cha mẹ được nhờ. Nhưng chữ “dâng” trong Kinh Thánh chưa bao giờ đi với chữ “miễn là”. Dâng nghĩa là trao. Trao nghĩa là không còn nắm chặt. Mẹ Maria đã dâng Con trong Đền Thờ, và lời Simeon nói với Mẹ không phải là một lời hứa về một đời bình yên: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Mẹ đã dâng và Mẹ phải học để Con thuộc trọn về Cha. Đến khi người ta báo: “Mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài muốn gặp Thầy”, Đức Giêsu không chạy ra ngay như thể mọi sự phải dừng lại vì gia đình. Người chỉ những người đang nghe Lời Chúa và nói: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” Một lời rất đau nếu hiểu bằng tình cảm tự nhiên, nhưng rất đẹp nếu nhìn bằng đức tin: Chúa Giêsu đang mở gia đình ruột thịt của mình vào một gia đình lớn hơn, gia đình của những người làm theo ý Cha. Và Mẹ Maria chính là người thuộc gia đình ấy cách trọn vẹn nhất vì cả đời Mẹ chỉ có một câu: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
“Ai yêu con trai hay con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy.” Đây cũng là lời phải được nghe trong mỗi gia đình Kitô hữu. Có những cha mẹ yêu con đến mức con trở thành thần tượng. Con muốn gì cũng chiều. Vì con mà bỏ lễ. Vì con mà sẵn sàng gian dối. Vì tương lai của con mà bất chấp đạo lý. Vì bảo vệ con mà gọi sai là đúng, gọi tội là chuyện bình thường. Vì muốn con hơn người mà ép con sống một cuộc đời không còn biết đến Thiên Chúa. Có người sẵn sàng dành cho con tất cả trường lớp tốt nhất, những khóa học đắt nhất, những món ăn ngon nhất, những chiếc điện thoại mới nhất, nhưng lại tiếc cho con một giờ học giáo lý. Lo cho con biết ngoại ngữ mà không lo nó biết cầu nguyện. Lo con có bằng cấp mà chẳng lo nó có lương tâm. Lo con đứng nhất lớp mà chẳng lo trong lòng nó Thiên Chúa đứng thứ mấy. Đó có thực sự là yêu không? Yêu một người mà đưa họ xa khỏi nguồn sự sống có thể gọi là yêu không? Tin Mừng hôm nay không làm giảm tình phụ mẫu. Tin Mừng cứu tình phụ mẫu khỏi mù quáng. Người cha người mẹ yêu Chúa trên hết sẽ yêu con bằng một tình yêu biết buông, biết sửa, biết nói không, biết để con chịu trách nhiệm, biết chấp nhận con không thực hiện giấc mơ của mình, biết trao con cho ý Chúa thay vì biến con thành dự án của đời mình.
Ơn gọi nào cũng có giá của nó. Bởi vậy, ngay sau lời nói về cha mẹ và con cái, Chúa Giêsu nói đến Thập Giá: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy.” Người không che giấu điều kiện. Chúa Giêsu không tuyển môn đệ bằng những lời quảng cáo dễ nghe. Người chưa bao giờ bảo: “Hãy theo Thầy, rồi mọi sự sẽ thuận lợi.” Người nói ngược lại: “Hãy theo Thầy, nhưng hãy chuẩn bị vác thập giá.” Bởi theo Đức Kitô nghĩa là đi cùng con đường của Đức Kitô, mà con đường ấy đi qua Canvê. Có một thứ Kitô giáo người ta rất thích: có Chúa nhưng không có Thập Giá, có Phục Sinh nhưng không có Thứ Sáu Tuần Thánh, có an ủi nhưng không có từ bỏ, có ơn lành nhưng không có trách nhiệm, có lời hứa nhưng không có đòi hỏi. Nhưng đó không phải Tin Mừng của Đức Giêsu. Chúa không gọi chúng ta theo một lý tưởng mơ hồ. Người gọi ta theo một Đấng Chịu Đóng Đinh. Và nếu Thầy mang Thập Giá, người môn đệ không thể đòi đi bằng con đường trải hoa.
Có những thập giá đến từ chính sự trung thành với ơn gọi. Một người trẻ bước vào nhà dòng phải chấp nhận có những ngày nhớ nhà đến quặn lòng mà không thể chạy về mỗi khi muốn. Một linh mục phải có lúc cử hành lễ tang cho người khác khi chính cha mẹ mình ở xa đang đau yếu. Một nhà truyền giáo phải xa quê, xa ngôn ngữ, xa những gì thân thuộc. Một người sống đời cộng đoàn phải chấp nhận ở với những người mình không chọn. Một người sống lời khấn khiết tịnh phải chấp nhận khoảng trống rất thật của việc không có một mái gia đình theo nghĩa tự nhiên. Một người sống vâng phục có khi phải nhận một bài sai mình không thích. Một người sống nghèo khó phải từ bỏ quyền sở hữu và quyền tự quyết trên nhiều điều mà người đời xem là bình thường. Những điều ấy không đẹp theo kiểu lãng mạn. Nó đau. Có khi rất đau. Có những đêm một người tận hiến chỉ biết ngồi trước Nhà Tạm và khóc. Có những nỗi cô đơn không kể được. Có những hy sinh không ai biết. Có những lúc nhìn người khác có gia đình đầm ấm, con cháu quây quần, trong lòng cũng thoáng qua một câu: “Nếu ngày ấy mình chọn con đường khác thì sao?” Đừng vội nghĩ những cảm xúc ấy là phản bội. Ta vẫn là con người. Nhưng chính trong những giờ phút ấy câu Tin Mừng hôm nay trở thành câu hỏi quyết định: Con có còn chọn Thầy không?
Tính triệt để của ơn gọi không phải là không bao giờ thấy tiếc. Không phải là không bao giờ mệt. Không phải là không bao giờ rung động. Không phải là trở thành gỗ đá. Tính triệt để là giữa tất cả những rung động ấy, cuối cùng ta vẫn trở về với lựa chọn đầu tiên: “Lạy Chúa, con chọn Chúa.” Có thể vừa nói vừa khóc. Có thể nói trong một trái tim rất mệt. Có thể chẳng còn cảm xúc sốt sắng nào. Nhưng vẫn chọn. Như đôi vợ chồng sau ba mươi năm không còn yêu nhau bằng thứ cảm xúc của ngày mới cưới nhưng mỗi sáng vẫn chọn ở lại. Như người mẹ thức đêm chăm đứa con bệnh không vì lúc ấy thấy vui nhưng vì tình yêu đã trở thành trung thành. Đời tận hiến cũng vậy. Có một ngày hoa trên bàn khấn sẽ tàn. Những lời chúc sẽ lắng xuống. Áo mới rồi cũng cũ. Những rung động ban đầu rồi sẽ qua. Và lúc ấy chỉ còn câu hỏi: Chúa có còn là lý do đủ lớn để tôi ở lại hay không?
“Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất.” Một nghịch lý đáng sợ. Bản năng tự nhiên luôn bảo ta phải giữ lấy. Giữ sức khỏe. Giữ danh dự. Giữ quyền lợi. Giữ vị trí. Giữ những người mình yêu. Giữ hình ảnh. Giữ tương lai. Giữ một khoảng riêng không ai được đụng vào. Ta nghĩ càng giữ thì càng an toàn. Nhưng Chúa Giêsu nói có một kiểu giữ làm ta mất tất cả. Bởi một đời chỉ lo bảo toàn mình cuối cùng sẽ trở nên nhỏ bé đến đáng thương. Người linh mục lúc nào cũng tính làm sao để mình ít thiệt nhất rồi sẽ mất niềm vui mục tử. Người tu sĩ luôn tránh mọi việc khó rồi sẽ mất lửa của đời dâng hiến. Người Kitô hữu luôn hỏi: “Tôi được gì?” rồi sẽ chẳng bao giờ hiểu Tin Mừng. Đức Giêsu cứu thế gian không bằng cách giữ lấy mạng sống. Người cứu thế gian bằng cách trao nó đi. Trên Thập Giá, Người không còn gì để giữ: áo đã bị chia, danh dự bị chà đạp, thân xác bị đóng đinh, bạn hữu bỏ trốn, hơi thở cuối cùng cũng trao cho Cha. Và chính lúc Người tưởng như mất tất cả, Người lại hoàn tất tất cả.
Có lẽ điều làm ta sợ nhất trong ơn gọi không phải là từ bỏ lúc ban đầu, mà là từ bỏ hết lần này đến lần khác. Ta tưởng một lần khấn là xong. Không. Lời khấn chỉ là ngày công khai một lựa chọn mà sau đó phải được làm mới từng ngày. Mỗi ngày lại phải bỏ. Hôm nay bỏ tự ái. Ngày mai bỏ một ý riêng. Ngày kia bỏ một mối bận tâm không lành mạnh. Một lúc nào đó bỏ một nơi mình rất thích để đi nơi mình không muốn. Có khi bỏ thành công để chấp nhận một sứ vụ âm thầm. Có khi bỏ nhu cầu được hiểu. Có khi bỏ cả quyền được thanh minh. Có khi bỏ một tương quan tưởng vô hại nhưng đang làm trái tim mình chia đôi. Có khi bỏ hình ảnh mình đã dày công xây dựng. Có khi đến tuổi già phải bỏ khả năng làm việc, bỏ quyền được quyết định, bỏ cảm giác mình còn hữu ích. Đời dâng hiến, nhìn thật sâu, là một cuộc “ra đi” liên tục. Mỗi ngày Chúa lại hỏi: “Con có thể đi xa thêm một chút với Thầy không?”
Nhưng đừng hiểu sự triệt để như một thứ anh hùng chủ nghĩa. Người tận hiến không phải là người nghiến răng chịu đựng để chứng minh mình mạnh. Trọng tâm không phải thập giá của ta. Trọng tâm là Đấng ta đang theo. Nếu chỉ nhìn thập giá, ta sẽ sợ. Nếu chỉ đếm những gì phải bỏ, ta sẽ mệt. Nếu ngày nào cũng tính xem đời tu lấy khỏi mình bao nhiêu, sớm muộn ta sẽ trở thành người cay đắng. Phêrô có một lần đã nói với Chúa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.” Phía sau câu ấy hình như có một chút tính toán: chúng con đã bỏ, vậy chúng con được gì? Chúa không trách. Người hứa gấp trăm. Nhưng cái “gấp trăm” của Chúa không phải là bảng thanh toán công bằng theo kiểu ta bỏ một thì Chúa trả một trăm. Gấp trăm chính là khi ta khám phá rằng có Chúa là đã có đủ. Một người tận hiến mà chưa khám phá điều này sẽ luôn thấy đời mình thiếu. Thiếu một mái ấm. Thiếu một người riêng. Thiếu tài sản riêng. Thiếu tự do riêng. Thiếu tương lai như người khác. Nhưng một người gặp Đức Kitô thật rồi có thể nhìn tất cả những điều ấy và nói như Phaolô: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi.”
Đó mới là bí mật của sự triệt để. Không ai có thể bỏ mọi sự chỉ bằng ý chí. Không ai có thể trung thành cả đời chỉ bằng kỷ luật. Không ai có thể sống khiết tịnh, nghèo khó, vâng phục chỉ vì sợ lỗi lời khấn. Nếu phía sau những từ bỏ ấy không có một Tình Yêu lớn hơn, đời tận hiến sẽ biến thành nhà tù. Chỉ có tình yêu mới làm cho từ bỏ có ý nghĩa. Người ta có thể thức trắng đêm vì người mình yêu mà không than. Có thể đi hàng nghìn cây số để gặp một người. Có thể hy sinh sự nghiệp vì một đứa con. Tình yêu tự nó có khả năng làm cho điều khó trở nên có thể. Cũng vậy, người tận hiến chỉ có thể sống triệt để khi Đức Kitô không còn là một khái niệm, không chỉ là Đấng mình giảng, không chỉ là tên mình nhắc mỗi ngày, nhưng là Người mình yêu. Khi ấy ta không nói: “Tôi không được lấy vợ.” Ta nói: “Tôi đã chọn một Tình Yêu.” Ta không nói: “Tôi không có tài sản.” Ta nói: “Kho tàng của tôi ở nơi khác.” Ta không nói: “Tôi không được làm theo ý mình.” Ta nói: “Tôi muốn đời mình thuộc về ý của Đấng tôi tin.”
Bi kịch lớn nhất của đời tu không phải là bỏ quá nhiều. Bi kịch là bỏ nhiều mà yêu Chúa quá ít. Khi đó mọi hy sinh đều nặng. Một giờ cầu nguyện trở nên dài. Một giờ phục vụ trở thành cực hình. Một người anh em khó tính trở thành kẻ thù. Một bài sai bất tiện trở thành bất công. Một lời góp ý trở thành xúc phạm. Một chút thiếu thốn trở thành lý do than phiền. Vì trái tim không được một tình yêu lớn nâng đỡ. Khi người ta thực sự yêu, cùng một công việc ấy lại mang một khuôn mặt khác. Không phải nó hết khó, nhưng cái khó có ý nghĩa. Mẹ chăm con bệnh vẫn mệt, nhưng không hỏi từng giờ xem mình được trả bao nhiêu. Một người yêu thật có thể chịu những điều mà người đứng ngoài không hiểu nổi. Đời tận hiến cũng chỉ có thể được hiểu từ bên trong một tình yêu như thế.
Và vì thế, mỗi người được gọi phải thường xuyên tự hỏi mình một câu rất đơn giản nhưng không dễ trả lời: Tôi còn yêu Đức Kitô không? Không hỏi tôi còn làm bao nhiêu việc cho Chúa. Không hỏi tôi có còn giữ lịch kinh không. Không hỏi tôi được bao nhiêu người kính trọng. Không hỏi bài giảng của tôi được bao nhiêu người khen. Không hỏi cộng đoàn đánh giá tôi thế nào. Chỉ hỏi: tôi còn yêu Chúa không? Tôi còn nhớ cảm giác ngày đầu tiên mình nghe tiếng gọi không? Tôi còn có thể ngồi yên trước Chúa mà không cần làm gì không? Tôi còn thấy Chúa đáng để trao cả đời mình không? Hay Chúa đã từ từ trở thành công việc? Có những linh mục nói về Chúa cả ngày nhưng rất ít nói với Chúa. Có những người sống trong nhà của Chúa nhưng lòng ngày càng xa Chủ Nhà. Có những người đã dâng đời cho Chúa rồi lại âm thầm lấy từng mảnh đời ấy về cho mình. Ban đầu là một chút tiện nghi. Rồi một chút tự do. Rồi một chút tình cảm riêng. Rồi một chút danh vọng. Mỗi thứ chỉ “một chút”, nhưng cuối cùng Chúa đứng trước một cánh cửa đã khép lại và người ở trong đó vẫn nghĩ mình thuộc về Người.
“Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy.” Chúa nói “thập giá mình”, không phải thập giá của người khác. Ta thường có tài nhìn thấy thập giá người khác và cho rằng họ phải vác. Người kia phải sửa tính. Người kia phải khiêm nhường. Người kia phải chịu khó. Người kia phải hy sinh. Còn thập giá của mình thì ta tìm đủ cách đặt xuống. Có những người đi tu để tìm thập giá lớn mà lại không chịu nổi những cây thập giá rất nhỏ: tiếng cửa đóng hơi mạnh, món ăn không hợp, người anh em nói một câu khó nghe, chương trình bị thay đổi, người bề trên không hỏi ý mình, một công việc chẳng ai biết đến. Ta mơ được tử đạo nhưng nổi giận vì bị hiểu lầm. Ta muốn hiến mạng nhưng không muốn hiến một buổi chiều. Ta nói sẵn sàng chết cho Chúa nhưng không chịu mất một chút quyền lợi. Những cây thập giá thật sự của ơn gọi thường không hoành tráng. Nó nhỏ, lặp đi lặp lại, và chẳng ai vỗ tay. Chính vì vậy nó mới làm ta nên thánh.
Thập giá của một người đôi khi chính là gia đình mình. Không phải vì gia đình xấu, nhưng vì những khác biệt, những tổn thương, những trách nhiệm, những ràng buộc. Có người mang suốt đời nỗi đau vì cha mẹ không hiểu ơn gọi. Có người có anh chị em khiến mình lo lắng không nguôi. Có người mang mặc cảm vì không thể ở gần chăm sóc cha mẹ tuổi già. Có người cứ phải đứng giữa bổn phận với cộng đoàn và nhu cầu của gia đình. Những hoàn cảnh ấy không có công thức chung. Sự triệt để không có nghĩa là vô cảm. Có lúc tình yêu đòi ta trở về chăm cha mẹ. Có lúc vâng phục lại đòi ta ở lại sứ vụ và trao cha mẹ cho anh chị em chăm nom. Điều quan trọng là đừng lấy tình cảm làm tiêu chuẩn tối hậu. Hãy cầu nguyện, phân định, bàn hỏi, rồi làm điều Chúa muốn, chứ không chỉ làm điều khiến lòng mình bớt áy náy.
Cũng cần phải nói một điều khác: không chỉ cha mẹ, con cái hay người thân mới có thể đứng “hơn Thầy”. Có khi thứ ta yêu hơn Chúa lại chính là công việc của Chúa. Người mục tử có thể yêu giáo xứ hơn Chúa. Người tu sĩ có thể yêu hội đoàn mình phụ trách hơn Chúa. Người truyền giáo có thể yêu thành công truyền giáo hơn Chúa. Khi bị chuyển đi, lòng tan nát không phải vì thương đoàn chiên mà vì không chịu được việc nơi ấy không còn là “của tôi”. Có người xây dựng một công trình rồi nghĩ công trình ấy là mình. Có người thành công trong một sứ vụ rồi không chấp nhận người khác thay thế. Có người làm điều rất tốt nhưng dần dần chính việc tốt ấy trở thành ngẫu tượng. Dấu hiệu rất đơn giản: nếu Chúa lấy công việc ấy khỏi tay tôi, tôi còn bình an không? Nếu một ngày không ai nhớ đến những gì tôi làm, tôi còn vui vì đã thuộc về Chúa không? Nếu người khác tiếp tục công việc và làm tốt hơn tôi, tôi có thật lòng tạ ơn không? Những câu ấy đau nhưng rất cần.
Ta cũng có thể yêu chính mình hơn Chúa. Đây có lẽ là thứ tình yêu khó nhận ra nhất. Ta bảo vệ hình ảnh mình. Ta sợ bị chê. Ta không chịu nhận sai. Ta muốn được tôn trọng. Ta mong lời mình có trọng lượng. Ta muốn người ta cần mình. Ta muốn tên mình được nhớ. Và rồi một ngày Chúa bảo: “Con hãy lui xuống.” Ta không chịu. Chúa bảo: “Con hãy để người khác làm.” Ta khó chịu. Chúa bảo: “Con hãy im lặng.” Ta thấy như bị xúc phạm. Chúa bảo: “Con hãy nhận lỗi.” Ta tìm cách biện minh. Hóa ra người ta có thể bỏ cha mẹ, bỏ gia đình, bỏ tài sản mà vẫn chưa bỏ được mình. Chính vì vậy Chúa kết thúc bằng câu: “Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.” Cuộc từ bỏ cuối cùng luôn là từ bỏ chính mình.
Nhưng Tin Mừng không kết thúc bằng chữ “mất”. Chúa nói: “sẽ tìm thấy được.” Đây là Tin Mừng. Kitô giáo không phải là đạo của mất mát. Chúng ta từ bỏ để nhận lại chính đời mình trong một hình thức mới. Hạt lúa rơi xuống đất không chết để biến mất nhưng để sinh nhiều hạt khác. Đức Giêsu đi qua Thập Giá không để ở lại trong mồ nhưng để Phục Sinh. Người môn đệ mất đời mình vì Chúa không đi vào hư vô. Họ tìm lại đời mình ở một chiều sâu mà trước đó không biết. Có những người đã sống sáu mươi năm đời tu và khi hỏi có tiếc không, họ chỉ mỉm cười: “Nếu được sống lại, tôi vẫn chọn con đường này.” Không phải vì sáu mươi năm ấy không có nước mắt. Có lẽ nhiều hơn ta tưởng. Không phải vì họ không từng bị tổn thương. Không phải vì cộng đoàn lúc nào cũng lý tưởng. Không phải vì đời tận hiến chỉ có hạnh phúc. Nhưng qua mọi điều, họ đã gặp một Đấng đáng để trao đời. Và đến cuối đường, cái họ nhận lại lớn hơn rất nhiều cái họ đã bỏ.
Có một sự tự do rất đẹp nơi những người đã đặt Chúa thực sự ở vị trí thứ nhất. Họ yêu gia đình sâu sắc mà không bị gia đình chi phối. Họ yêu cộng đoàn nhưng không cần sở hữu cộng đoàn. Họ làm việc hết mình nhưng không đồng hóa giá trị bản thân với thành công. Họ quý bạn bè nhưng không biến ai thành nơi trú ẩn thay Chúa. Họ trân trọng sức khỏe nhưng khi bệnh đến vẫn bình an. Họ yêu sự sống nhưng không sợ chết như người mất tất cả. Vì kho tàng của họ đã được đặt ở nơi không ai lấy được. Có lẽ đó là ý nghĩa sâu nhất của câu: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.” Khi ta trao đời cho Chúa, đời không biến mất. Nó được trả lại cho ta, nhưng đã được giải thoát khỏi nỗi sợ mất.
Thế giới hôm nay rất khó hiểu tính triệt để này. Người ta hỏi: “Tại sao phải hy sinh đến thế?” “Sao không sống cho mình?” “Sao phải khấn suốt đời?” “Sao một người đang có bao nhiêu khả năng lại chấp nhận đi đến một nơi nghèo khó?” “Sao không lập gia đình mà lại chọn độc thân vì Nước Trời?” Và thật ra, nếu loại Đức Kitô khỏi câu chuyện, những câu hỏi ấy hoàn toàn hợp lý. Đời tu không thể giải thích chỉ bằng tâm lý học, xã hội học hay nhu cầu phục vụ. Nếu chỉ để làm việc thiện, người ta đâu cần khấn khiết tịnh, nghèo khó, vâng phục. Nếu chỉ để giúp người nghèo, có rất nhiều cách khác. Nếu chỉ để giảng dạy hay chăm bệnh nhân, người ta có thể làm với tư cách một nghề nghiệp. Lý do cuối cùng của đời tận hiến chỉ có thể là Đức Kitô. “Vì Thầy.” Chúa nói rõ: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy.” Hai chữ ấy chứa tất cả. Không phải vì danh tiếng. Không phải vì chạy trốn đời. Không phải vì thất tình. Không phải vì muốn được kính trọng. Không phải vì một hình ảnh đẹp của đời tu. Vì Thầy.
Hai chữ “vì Thầy” cũng là thứ cần được thanh luyện suốt cả cuộc đời. Bởi lúc đầu ta có thể đi theo Chúa với nhiều động cơ trộn lẫn. Một chút yêu Chúa, một chút thích đời sống tu trì, một chút ngưỡng mộ một linh mục, một chút thích được phục vụ, một chút muốn làm điều lớn lao. Chúa nhận ta với tất cả sự pha trộn ấy. Nhưng rồi năm tháng sẽ thanh luyện. Người từ từ lấy khỏi ta những điểm tựa phụ để ta biết mình ở lại vì ai. Người có thể để ta thất vọng về một thần tượng. Người để cộng đoàn bộc lộ những giới hạn. Người để công việc có lúc thất bại. Người để người ta hiểu lầm. Người để sức khỏe giảm sút. Người để những điều từng làm ta say mê trở nên bình thường. Không phải Người tàn nhẫn. Người đang hỏi: “Nếu những điều ấy không còn, con có còn muốn Thầy không?”
Đó là lúc ơn gọi trở nên tinh tuyền. Đẹp nhất không hẳn là người mới khấn quỳ giữa nhà thờ đầy hoa, mà có khi là một linh mục già bước chậm vào nhà nguyện lúc sáng sớm, chẳng còn ai để ý, sức khỏe suy giảm, việc lớn chẳng làm được nữa, nhưng vẫn ngồi trước Nhà Tạm và thưa: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây.” Đẹp nhất không hẳn là ngày mặc áo dòng, mà là ngày sau năm mươi năm người ta vẫn còn mặc chiếc áo ấy với lòng biết ơn. Đẹp nhất không phải lời “con xin khấn” được nói một lần trước cộng đoàn đông đảo, mà là hàng ngàn lần rất âm thầm người ấy nói lại trong lòng giữa đau khổ: “Con vẫn chọn Chúa.”
“Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy.” Có lẽ Chúa nói câu này vì Người biết trái tim con người dễ chia đôi. Người không muốn một phần. Người muốn cả trái tim. Và lạ lùng thay, khi ta trao cả trái tim cho Người, Người không giữ riêng cho mình. Người lại sai ta đem trái tim ấy về yêu cha mẹ tốt hơn, yêu anh chị em quảng đại hơn, yêu người nghèo sâu sắc hơn, yêu kẻ khó thương kiên nhẫn hơn, yêu cả kẻ thù nữa. Một trái tim thuộc trọn về Đức Kitô không hẹp lại. Nó rộng ra. Hãy nhìn các thánh. Phanxicô Assisi bỏ gia sản nhưng trở thành anh em của cả tạo thành. Têrêsa Calcutta từ bỏ một gia đình riêng để trở thành mẹ của vô số người hấp hối. Những nhà truyền giáo rời cha mẹ và quê hương lại có thể gọi những con người xa lạ ở một vùng đất khác là anh chị em mình. Đó là nghịch lý của Tin Mừng: bỏ một tình yêu theo kiểu chiếm hữu để nhận một trái tim có khả năng yêu rộng hơn.
Nếu hôm nay Chúa hỏi mỗi chúng ta: “Con yêu ai hơn Thầy?” có lẽ ta không nên trả lời quá nhanh. Hãy để câu hỏi ấy ở lại. Có thể câu trả lời không nằm trên môi nhưng nằm trong cách ta sử dụng thời gian, tiền bạc, tình cảm và tự do. Điều gì ta không thể mất? Người nào ta không thể để Chúa chạm tới? Ước mơ nào nếu Chúa bảo bỏ thì ta sẽ quay lưng? Vết thương nào ta giữ chặt đến mức không chịu tha thứ dù biết Chúa muốn? Quan hệ nào ta biết không đúng nhưng không thể buông? Danh dự nào ta bảo vệ đến mức sẵn sàng làm tổn thương người khác? Chính nơi ấy có thể đang có một “vị thần nhỏ” đứng trước Đức Kitô.
Và với người sống đời tận hiến, câu hỏi còn cụ thể hơn: Nếu Chúa là tất cả, tại sao tôi còn sợ mất nhiều thứ đến vậy? Nếu Chúa là kho tàng, tại sao lòng tôi lệ thuộc vào lời khen? Nếu Chúa là gia nghiệp, tại sao tôi cứ so sánh phần của mình với người khác? Nếu Chúa là Đấng tôi yêu, tại sao cầu nguyện lại thường là thứ đầu tiên bị cắt khi bận? Nếu Chúa là người tôi chọn, tại sao tôi dễ dành hàng giờ cho điện thoại mà vài mươi phút trước Nhà Tạm lại thấy dài? Không phải để kết án mình. Nhưng để trở về. Đời sống thiêng liêng luôn cần những lần trở về như vậy. Tình yêu nào cũng phải được chăm sóc. Ơn gọi cũng thế. Không ai chỉ dựa vào tình yêu của ba mươi năm trước để sống hôm nay.
Hãy trở về với Đức Kitô. Không phải với một ý tưởng về Người, nhưng với chính Người. Hãy ngồi trước Thập Giá. Nhìn Đấng đã không yêu bất cứ điều gì hơn ý Cha và hơn phần rỗi của chúng ta. Người cũng có một người Mẹ. Người yêu Mẹ hơn ta có thể hiểu. Nhưng khi mười hai tuổi, Người đã nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Không phải Người bớt yêu Mẹ. Người chỉ biết mình thuộc về Cha trước hết. Và chính Mẹ Maria cũng hiểu điều ấy. Mẹ không giữ Con cho mình. Mẹ đi theo Con đến tận Canvê. Đứng dưới chân Thập Giá, Mẹ đã thực hiện sự từ bỏ tận cùng của một người mẹ: không thể cứu Con khỏi đau khổ, không thể đem Con về nhà, chỉ có thể trao Con trở lại cho Cha.
Đức Giêsu cũng đã sống điều Người đòi chúng ta sống. Người không bảo ta bước vào con đường Người chưa từng đi. Người đã mất mạng sống và tìm lại nó. Người đã vác Thập Giá. Người đã chọn ý Cha trên mọi sự. Trong Vườn Dầu, Người không giấu sợ hãi: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng câu sau mới định nghĩa cả đời Người: “Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là sự triệt để. Không phải không có ý riêng. Không phải không đau. Không phải không sợ. Nhưng cuối cùng ý Cha vẫn lớn hơn.
Và đó cũng là lời cầu nguyện của mọi ơn gọi chân thật: Lạy Chúa, con có những người con yêu. Con có những điều con quý. Con có những ước mơ. Con có những sợ hãi. Con không muốn giả vờ mình không có. Nhưng xin đừng để bất cứ điều nào lớn hơn Chúa trong con. Xin dạy con yêu cha mẹ trong Chúa, yêu anh chị em trong Chúa, yêu cộng đoàn trong Chúa, yêu những người Chúa gửi đến trong Chúa. Xin đừng để con biến một người nào thành thần tượng, biến một tương quan nào thành xiềng xích, biến một sứ vụ nào thành sở hữu, biến một thành công nào thành căn tính của đời mình. Xin cho Chúa luôn ở vị trí thứ nhất. Và nếu một ngày con phải chọn giữa Chúa với điều con yêu nhất, xin cho con đủ đau để biết mình là người, nhưng cũng đủ yêu để vẫn chọn Chúa.
Cuối cùng, điều Chúa đòi hôm nay không phải là một đời sống vô tình, nhưng là một tình yêu có trật tự. Chúa không lấy cha mẹ khỏi chúng ta. Người trao cha mẹ lại cho chúng ta trong một tình yêu thanh sạch hơn. Người không lấy anh chị em khỏi ta. Người mở cho ta một gia đình lớn hơn. Người không lấy cuộc đời ta để làm nó nghèo đi. Người nhận lấy cuộc đời ấy để làm nó sinh hoa trái. Chỉ có một điều Người nhất định không chấp nhận: Người không chấp nhận làm vị khách trong chính trái tim của người đã nói rằng mình thuộc về Người.
Ơn gọi triệt để không có nghĩa là một lần làm một điều phi thường. Nó là mỗi ngày để Chúa đứng thứ nhất. Khi thức dậy, Chúa thứ nhất. Trong quyết định, Chúa thứ nhất. Trong tình cảm, Chúa thứ nhất. Trong công việc, Chúa thứ nhất. Khi thành công, Chúa thứ nhất. Khi thất bại, Chúa thứ nhất. Khi được yêu mến, Chúa thứ nhất. Khi bị bỏ quên, Chúa thứ nhất. Khi trẻ trung đầy sức lực, Chúa thứ nhất. Khi già yếu và chẳng còn làm được gì, Chúa vẫn thứ nhất. Đó là một đời tận hiến. Đó là môn đệ. Đó là ý nghĩa của lời: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy.”
Và có lẽ đến cuối đời, khi mọi thứ đã phải bỏ lại: chức vụ, công việc, căn phòng, những người quen, sức khỏe, và cuối cùng cả hơi thở, người môn đệ sẽ nhận ra rằng lời Chúa hôm nay không phải là một lời quá khắt khe. Nó là lời chuẩn bị cho cuộc từ bỏ cuối cùng. Bởi chết chính là lúc ta chẳng còn giữ được gì nữa. Người đã tập đặt Chúa trên hết suốt đời sẽ có thể bước vào cái chết như bước qua cánh cửa để gặp Đấng mình đã chọn. Khi ấy, những gì đã bỏ không còn đáng kể. Những gì đã chịu không còn đáng kể. Chỉ còn một niềm vui lớn: Đấng mà tôi đã chọn suốt đời đang đứng ở phía bên kia để đón tôi.
Nếu đã có Người, thì những mất mát của đời tận hiến không còn là những khoảng trống vô nghĩa. Chúng là khoảng trống dành cho Người. Nếu đã có Người, sự cô đơn không nhất thiết là hoang vắng. Nó có thể là căn phòng nơi Chúa nói rất khẽ. Nếu đã có Người, những lần phải rời bỏ không chỉ là mất. Chúng là những bước đi sâu hơn vào tự do. Nếu đã có Người, Thập Giá không còn là bằng chứng rằng Chúa bỏ ta. Nó là dấu cho biết ta đang đi trên con đường của Thầy.
Vậy nên, trước lời Tin Mừng hôm nay, đừng vội hỏi: “Chúa đòi nhiều quá không?” Hãy hỏi câu khác: “Chúa có đáng để tôi trao nhiều đến thế không?” Và nhìn lên Thập Giá, ta sẽ có câu trả lời. Người đã không giữ lại gì cho ta. Một Thiên Chúa đã trao Con Một. Một Đức Kitô đã trao thân mình. Một trái tim đã bị đâm thủng. Một đôi tay đã mở ra và không khép lại nữa. Trước một Tình Yêu như thế, sự triệt để của người môn đệ không còn là một đòi hỏi vô lý. Nó chỉ là câu trả lời của một tình yêu trước một Tình Yêu lớn hơn.
Xin cho mỗi người chúng ta, đặc biệt những ai đã được gọi bước vào đời thánh hiến, đừng bao giờ chỉ có một đời sống “đúng luật” mà thiếu một trái tim yêu Chúa. Xin cho ta không chỉ trung thành vì sợ bỏ cuộc, nhưng trung thành vì vẫn còn yêu. Xin cho mỗi lần phải từ bỏ, ta nhớ mình không từ bỏ cho khoảng trống, nhưng để chọn một Người. Xin cho đến ngày cuối cùng, giữa tất cả những gì phải buông khỏi tay, ta vẫn giữ được điều duy nhất cần giữ: bàn tay của Đức Kitô. Hay đúng hơn, hãy để Người giữ tay ta.
Và khi Người hỏi: “Con có yêu Thầy hơn những điều ấy không?”, mong rằng sau tất cả những yếu đuối, những lần lạc lòng, những lúc chia trí, những năm tháng có khi sống chưa xứng đáng, ta vẫn có thể cúi đầu mà thưa như Phêrô bên bờ hồ năm xưa: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.”
Chỉ cần câu ấy là thật, ta có thể bắt đầu lại.
Và nếu câu ấy được sống đến cùng, đó là cả một đời ơn gọi.
Lm. Anmai, CSsR

CHỈ CÓ MỘT CHUYỆN CẦN THIẾT
Tin Mừng: Lc 10,38-42
Có những câu Tin Mừng đọc đi đọc lại cả đời vẫn không cũ, bởi vì mỗi lần đọc lại, ta thấy mình đang đứng ở một chỗ khác trong cuộc đời và câu nói của Chúa lại chạm vào một vết thương khác, một nỗi bận tâm khác, một góc khuất khác của lòng mình. Câu chuyện Mácta và Maria là một câu chuyện như thế. Ngắn lắm. Chỉ vài câu thôi. Một căn nhà nhỏ. Một người khách rất thân. Hai chị em. Một người tất bật phục vụ. Một người ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Người. Rồi một lời than phiền rất thật của Mácta: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay.” Và câu trả lời của Chúa Giêsu đã đi xuyên qua hai ngàn năm lịch sử, vẫn còn nguyên sức nặng cho từng người chúng ta hôm nay: “Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.” Có lẽ điều đáng sợ nhất trong đời sống Kitô hữu không phải là chúng ta không làm gì cho Chúa. Điều đáng sợ hơn nhiều là chúng ta có thể làm rất nhiều chuyện cho Chúa mà cuối cùng lại không còn Chúa trong lòng mình. Có thể chúng ta chạy ngược chạy xuôi cho giáo xứ, cho cộng đoàn, cho hội đoàn, cho gia đình, cho người nghèo, cho những chương trình đạo đức, cho những công việc mang danh Chúa; có thể lịch làm việc của chúng ta kín mít, điện thoại không ngừng reo, người này gọi, người kia tìm, việc này chưa xong đã tới việc khác; có thể người ngoài nhìn vào thấy ta tận tụy, tháo vát, hy sinh, nhiệt thành, và chính ta cũng tin rằng mình đang sống rất đẹp cho Chúa. Nhưng rồi một buổi tối nào đó, khi mọi người đã về, khi cửa nhà đã đóng, khi điện thoại đã im, khi ta chỉ còn một mình trước Nhà Tạm hay trước cây Thánh Giá, ta chợt thấy một câu hỏi làm mình lạnh người: lâu rồi mình có thật sự ngồi với Chúa không? Lâu rồi mình có để Chúa nói với mình không? Lâu rồi mình có nhìn Chúa chỉ vì Chúa là Chúa, chứ không phải để xin một điều gì, chuẩn bị một bài gì, giải quyết một chuyện gì hay hoàn thành một bổn phận gì không? Và đau hơn nữa: lâu rồi mình có còn yêu Chúa không, hay mình chỉ còn làm việc cho Chúa? Đó chính là bi kịch âm thầm của rất nhiều tâm hồn tốt. Không phải họ bỏ Chúa. Không phải họ phản bội Chúa. Không phải họ sống trong những tội lỗi ồn ào. Họ chỉ từ từ để rất nhiều điều quan trọng chen vào giữa họ và Chúa, cho đến một ngày những điều dành cho Chúa trở thành quan trọng hơn chính Chúa. Và bởi vậy, câu “chỉ có một chuyện cần thiết” không phải là lời Chúa chê trách công việc, cũng không phải Chúa đặt đời sống chiêm niệm chống lại đời sống phục vụ. Chúa yêu Mácta. Chúa quý bữa ăn Mácta chuẩn bị. Chúa đón nhận đôi tay vất vả ấy. Vấn đề không nằm ở việc Mácta làm. Vấn đề nằm ở chỗ những việc Mácta làm đã chiếm hết tâm hồn Mácta, đến mức chị đứng ngay trước mặt Chúa mà lòng chị lại không ở với Chúa. Chị phục vụ Chúa, nhưng chị không bình an. Chị đón Chúa vào nhà, nhưng chưa thật sự để Chúa bước vào lòng. Chị đang làm cho Chúa, nhưng bắt đầu khó chịu với người không làm giống chị. Và đây là dấu hiệu rất đáng sợ: khi việc phục vụ Chúa không còn phát xuất từ việc ở với Chúa, ta rất dễ trở nên cáu gắt, xét đoán, so bì, kể công và tủi thân. Ta bắt đầu nhìn người khác rồi hỏi: “Tại sao chỉ có tôi?” Ta bắt đầu nhìn Chúa rồi trách: “Chúa không thấy sao?” Ta bắt đầu muốn Chúa đứng về phía mình để sửa người khác. Từ một người phục vụ, ta vô tình trở thành người muốn điều khiển cả người khác lẫn Thiên Chúa. Câu nói “Thầy bảo nó giúp con một tay” nghe thì rất bình thường, nhưng nghĩ kỹ thật sâu, ta thấy Mácta đang muốn dạy Chúa phải giải quyết tình huống thế nào. Và biết bao lần chúng ta cũng thế. Ta cầu nguyện nhưng thực chất là trình cho Chúa một bản kế hoạch đã hoàn chỉnh rồi xin Chúa ký tên. Ta không hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn gì nơi con?” mà lại nói: “Lạy Chúa, xin làm điều con muốn.” Ta không ngồi dưới chân Chúa để nghe, bởi ta đã quyết định sẵn Chúa nên nói gì. Ta không tìm thánh ý Chúa, ta tìm sự xác nhận của Chúa cho ý riêng mình. Thế nên Chúa gọi: “Mácta! Mácta ơi!” Chúa gọi hai lần. Không phải tiếng gọi của một vị quan tòa. Đó là tiếng gọi của một Người đang thương. Giống như “Simon, Simon”, giống như “Saulê, Saulê”, giống như một người mẹ nhìn thấy đứa con mình quá mệt mà vẫn cố chạy, cố gồng, cố chứng minh, rồi dịu dàng gọi nó trở về. “Mácta, Mácta ơi, chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá.” Chúa không nói: “Chị làm nhiều chuyện quá.” Chúa nói: “Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá.” Cái làm Mácta xa Chúa không phải đôi tay bận rộn, nhưng là một trái tim bị xé thành quá nhiều mảnh. Và có lẽ đây cũng chính là căn bệnh của thời đại chúng ta: không phải chỉ là bận, mà là phân tán; không phải chỉ là nhiều việc, mà là lòng trí không còn một trung tâm. Ta thức dậy đã nhìn điện thoại. Ta ăn mà đầu nghĩ đến việc. Ta cầu nguyện mà lòng chạy về những cuộc hẹn. Ta dự lễ mà đầu óc vẫn còn những tin nhắn chưa trả lời. Ta nói chuyện với người trước mặt mà mắt cứ nhìn màn hình. Ta sống một giờ mà tâm trí nằm ở mười nơi. Cuối cùng, con người chúng ta trở thành một căn nhà có quá nhiều cửa mở, ai cũng có thể bước vào, tiếng nào cũng có thể vang lên, việc gì cũng có thể chiếm chỗ, chỉ riêng tiếng của Chúa ngày càng nhỏ dần. Và đến khi tâm hồn mệt mỏi, ta lại tưởng mình cần nghỉ thêm, cần giải trí thêm, cần một chuyến đi, cần mua một món đồ, cần đổi môi trường, cần người khác hiểu mình hơn; trong khi rất nhiều khi điều ta thiếu không phải là một kỳ nghỉ, mà là một cuộc trở về. Trở về ngồi dưới chân Chúa. Trở về nhìn Người. Trở về để tâm hồn thôi chạy. Trở về nhớ lại rằng giữa hàng ngàn chuyện phải làm, chỉ có một chuyện thực sự quyết định tất cả: mình có Chúa hay không.
“Chỉ có một chuyện cần thiết.” Câu ấy tưởng đơn giản mà lại là một cuộc cách mạng. Bởi cả thế giới đang dạy chúng ta rằng có hàng trăm chuyện cần thiết. Cần thành công. Cần được nhìn nhận. Cần có tiền. Cần có vị trí. Cần có tiếng nói. Cần giữ hình ảnh. Cần được người khác yêu thích. Cần con cái thành đạt. Cần công việc trôi chảy. Cần cộng đoàn phát triển. Cần nhà thờ đông người. Cần chương trình thành công. Cần dự án hoàn tất. Cần danh dự được bảo toàn. Cần người khác hiểu mình. Cần người kia thay đổi. Cần mọi sự đi đúng theo dự tính. Và vì tưởng quá nhiều thứ là “cần thiết”, đời ta không lúc nào yên. Chỉ cần một trong những thứ ấy lung lay là ta mất ngủ. Chỉ cần một người chê là ta buồn cả ngày. Chỉ cần một kế hoạch thất bại là ta tưởng đời mình thất bại. Chỉ cần người mình yêu không cư xử như ý là ta thấy tất cả sụp đổ. Nhưng Chúa Giêsu đến và nói: không, con ơi, không có nhiều chuyện cần thiết đến thế. Chỉ có một chuyện thôi. Nếu con còn Thầy, con vẫn còn điều căn bản. Nếu con mất Thầy, dù con giữ được cả thế giới, con vẫn mất điều quan trọng nhất. Đây chính là điểm nối rất sâu với lời thao thức: Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng con. “Đối tượng duy nhất” không có nghĩa là người tận hiến không còn yêu ai khác, không còn quan tâm công việc, không còn trách nhiệm, không còn cảm xúc, không còn tình người. Trái lại, chính khi Đức Kitô là đối tượng duy nhất của lòng trí, mọi tình yêu khác mới được đặt vào đúng chỗ. Khi Chúa ở trung tâm, ta yêu cha mẹ đúng hơn, yêu anh em đúng hơn, yêu cộng đoàn đúng hơn, yêu người nghèo đúng hơn, yêu đoàn chiên đúng hơn, yêu chính mình đúng hơn. Nhưng khi một thụ tạo bước vào chỗ của Chúa, dù thụ tạo ấy tốt đẹp đến đâu, tình yêu cũng bắt đầu méo mó. Ta yêu một người đến mức không còn tự do. Ta yêu công việc đến mức đánh mất linh hồn. Ta yêu sứ vụ đến mức không còn giờ cầu nguyện. Ta yêu uy tín đến mức không chịu nổi một lời phê bình. Ta yêu cộng đoàn đến mức muốn kiểm soát mọi người. Ta yêu những thành quả mình tạo ra đến mức khi thành quả không còn thì chính mình cũng không biết mình là ai. Đó là lý do một đời tận hiến có thể từ bỏ gia đình, của cải, hôn nhân, nghề nghiệp, nhưng vẫn chưa chắc đã thực sự thuộc về Chúa. Người ta có thể bỏ rất nhiều thứ mà trái tim vẫn đầy những thứ khác. Có thể sống trong tu viện mà tâm hồn lại ở ngoài thế gian. Có thể khoác áo dòng mà lòng khát tiếng khen. Có thể đứng trên cung thánh mà trái tim tìm chính mình. Có thể giảng về Chúa rất hay mà đời sống bên trong lại không còn đối thoại với Chúa. Có thể cầm Mình Thánh Chúa mỗi ngày nhưng trái tim đã quen đến độ không còn run lên trước mầu nhiệm. Có thể quỳ rất nhiều mà chưa thật sự ở lại. Chính vì thế, đời sống thiêng liêng không phải là câu chuyện “tôi đã bỏ được bao nhiêu”, nhưng là câu chuyện “ai đang chiếm lòng tôi”. Đức Kitô có thật sự là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta không? Hay Người chỉ là một đối tượng rất quan trọng đứng giữa nhiều đối tượng khác? Đức Kitô có phải là người chúng ta yêu nhất không? Hay Người chỉ là Đấng chúng ta phục vụ nhiều nhất? Hai chuyện ấy không giống nhau. Người ta có thể làm rất nhiều cho một người mà không còn yêu người ấy. Một người vợ có thể nấu cơm, giặt đồ, chăm sóc gia đình nhưng lòng đã xa chồng từ lâu. Một người chồng có thể mang tiền về đầy đủ nhưng trái tim không còn ở nhà. Một linh mục có thể dâng lễ, giảng, giải tội, họp hành, xây dựng, tổ chức, nhưng mối tình đầu với Chúa đã nguội lạnh. Một tu sĩ có thể giữ giờ giấc rất đúng, làm bổn phận rất tốt, nhưng bên trong chỉ còn một guồng máy chạy theo thói quen. Một giáo dân có thể tham gia mọi hội đoàn, mọi giờ kinh, mọi chuyến hành hương mà vẫn chưa dành nổi mười phút để thinh lặng thật sự trước Chúa. Vấn đề của đức tin không nằm ở số lượng những điều ta làm quanh Chúa, nhưng ở khoảng cách giữa trái tim ta và trái tim Người. Maria “ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người.” Chỉ một câu nhưng đó là cả một linh đạo. Ngồi nghĩa là dừng lại. Bên chân Chúa nghĩa là chấp nhận vị trí của người môn đệ. Nghe nghĩa là để một Đấng khác nói, để ý mình không phải tiếng nói cuối cùng. Maria không làm gì ngoạn mục. Chị chẳng phát biểu, chẳng chứng minh, chẳng trình bày thành tích. Chị chỉ ở đó. Nhưng Chúa nói chị đã chọn phần tốt nhất. Điều ấy an ủi chúng ta biết bao, bởi trong một thế giới đo giá trị con người bằng năng suất, Chúa lại nhìn giá trị con người bằng khả năng ở lại trong tình yêu. Đối với Chúa, ta không quý vì ta hữu dụng. Ta quý vì ta là con. Chúa không yêu ta hơn khi ta làm được nhiều, cũng không yêu ta ít đi khi ta già yếu, bệnh tật, thất bại hay chẳng còn khả năng làm gì. Nếu một linh mục một ngày nào đó không còn đứng giảng được, chức linh mục của ngài không mất ý nghĩa. Nếu một nữ tu già nằm liệt giường không còn phục vụ ai, đời tận hiến của chị không trở nên vô ích. Nếu một người cha mất việc, giá trị của ông không giảm xuống cùng tiền lương. Nếu một người mẹ già không còn nấu được một bữa cơm, bà vẫn quý như ngày bà còn gánh cả gia đình. Bởi giá trị cuối cùng của một con người không nằm ở việc họ làm được bao nhiêu, mà ở chỗ họ thuộc về ai. Và điều này phải được nói đi nói lại trong đời sống thiêng liêng, bởi chúng ta rất dễ biến chính đạo thành một cuộc thi năng suất. Ta kể xem mình đã làm bao nhiêu. Ta so sánh người này với người kia. Ta nhìn người ít làm rồi khó chịu như Mácta nhìn Maria. Ta nghĩ người bận rộn mới là người quan trọng. Nhưng có những người không làm được gì nhiều trước mắt thiên hạ mà lại đang giữ cho cả cộng đoàn bằng lời cầu nguyện âm thầm. Có những bà mẹ chẳng ai biết tên mà nhờ những đêm thức trắng của họ, một gia đình không tan vỡ. Có những người bệnh chẳng ai thấy đóng góp gì, nhưng sự kết hiệp âm thầm của họ với Thập Giá Đức Kitô lại là một nguồn ơn cho bao người. Trên cán cân của Nước Trời, không phải lúc nào điều ồn ào cũng nặng hơn điều âm thầm.
Maria chọn “phần tốt nhất”, và Chúa thêm một câu rất đáng suy nghĩ: “sẽ không bị lấy đi.” Có biết bao điều ta đang giữ thật chặt rồi một ngày sẽ bị lấy đi. Sức khỏe sẽ bị lấy đi. Tuổi trẻ sẽ bị lấy đi. Nhan sắc sẽ qua. Chức vụ sẽ có ngày trao lại. Tiền bạc có thể mất. Danh tiếng hôm nay được tung hô, ngày mai có thể bị quên. Ngôi nhà ta xây rồi sẽ thuộc về người khác. Chiếc ghế ta đang ngồi một ngày sẽ có người khác ngồi. Công việc ta từng nghĩ không ai thay mình được, một ngày nào đó người khác vẫn làm tiếp. Những đứa con ta ôm trong tay rồi sẽ lớn và đi con đường riêng. Những người ta yêu rồi cũng có ngày phải chia xa. Thậm chí trí nhớ, đôi chân, đôi mắt, đôi tay mà ta tưởng là của mình cũng có thể dần dần rời khỏi sự điều khiển của mình. Mọi sự trong đời đều mang chữ “tạm”. Chỉ có một điều không bị lấy đi: phần mà Maria đã chọn, nghĩa là mối tương quan với Chúa. Tất cả những gì ta đã sống trong Chúa, yêu trong Chúa, chịu đựng trong Chúa, tha thứ trong Chúa, hy sinh trong Chúa, không gì mất. Một chén nước cho người bé nhỏ không mất. Một lời cầu nguyện trong đêm không mất. Một lần nhịn lời để giữ bình an không mất. Một giọt nước mắt dâng lên Chúa không mất. Một nỗi đau được kết hợp với Thập Giá không mất. Một lần tha thứ khi lòng mình còn rướm máu không mất. Một lần âm thầm trung thành khi không ai nhìn thấy không mất. Bởi những gì được đặt trong Đức Kitô thì bước qua sự chết. Điều làm nên bi kịch của nhiều người là họ dành cả đời để xây những điều chắc chắn sẽ mất, nhưng lại không chăm lo điều duy nhất sẽ còn. Có người dành ba mươi năm xây một căn nhà nhưng không dành ba mươi phút để xây một mái ấm. Có người dành cả đời gây dựng sự nghiệp nhưng không gây dựng được một mối quan hệ thật sự với con cái. Có người dành bao nhiêu năm làm mục vụ nhưng đời cầu nguyện ngày càng teo lại. Có người cẩn thận đến từng chi tiết bên ngoài của đời tu nhưng để mối tình với Đức Kitô chết khô từ lúc nào không biết. Đến cuối đời, câu hỏi không phải là “con đã hoàn thành bao nhiêu công trình?” mà là “con có yêu Thầy không?” Cũng như bên bờ hồ Tibêria, Chúa Phục Sinh không hỏi Phêrô: “Anh đã tổ chức được bao nhiêu?” “Anh đã xây được bao nhiêu?” “Anh có bao nhiêu người theo?” Người hỏi đúng một chuyện: “Anh có yêu mến Thầy không?” Bởi nếu có tình yêu ấy, mọi sứ vụ sẽ tìm được đúng vị trí. Nếu mất tình yêu ấy, ngay cả sứ vụ thánh thiện cũng có thể trở thành nơi nuôi dưỡng cái tôi.
“Chỉ có một chuyện cần thiết” cũng phải được đặt dưới chân Thập Giá mới hiểu đến tận cùng. Đức Kitô Chịu Đóng Đinh chính là con người hoàn toàn quy hướng về một điều duy nhất: thánh ý Chúa Cha và ơn cứu độ của con người. Người không để sự tung hô của đám đông làm đổi hướng. Người không để sự chống đối của người đời làm đổi hướng. Người không để cám dỗ quyền lực làm đổi hướng. Người không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa, dù người ta thách thức. Cả cuộc đời Người như một mũi tên hướng về Chúa Cha: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đức Kitô không có một trái tim bị chia năm xẻ bảy. Trái tim bị lưỡi đòng đâm thâu ấy lại là trái tim nguyên vẹn nhất, bởi Người yêu Chúa Cha và yêu nhân loại đến cùng. Vì thế, khi nói Đức Kitô Chịu Đóng Đinh là “đối tượng duy nhất của lòng trí chúng con”, đó không phải một khẩu hiệu đẹp để treo trên tường hay in trong sách. Đó phải là một cuộc thanh luyện rất đau. Nếu Người thật sự là đối tượng duy nhất của lòng trí tôi, thì mỗi khi một điều gì khác bắt đầu chiếm chỗ của Người, tôi phải đủ can đảm nhận ra. Có thể đó là tiền. Có thể là một người. Có thể là danh dự. Có thể là quyền hành. Có thể là công việc mục vụ. Có thể là ý riêng. Có thể là một vết thương mà tôi cứ ôm mãi đến mức nghĩ về nó nhiều hơn nghĩ về Chúa. Có thể là một khao khát được công nhận. Có thể là sự thành công của cộng đoàn. Có thể là mạng xã hội, lời khen, con số, lượt xem, những bình luận. Có thể chính là việc đạo đức của tôi. Bất cứ điều gì tôi không thể mất mà vẫn còn bình an trong Chúa, điều ấy đang có nguy cơ trở thành một thứ thần tượng. Và những thần tượng nguy hiểm nhất không phải lúc nào cũng là những điều xấu. Nhiều khi chúng là những điều rất tốt. Mácta đâu làm điều xấu. Chị chuẩn bị bữa ăn cho Chúa. Chính vì là việc tốt nên càng khó nhận ra khi nó chiếm chỗ của Chúa. Một linh mục có thể biến giáo xứ thành thần tượng. Một nhà truyền giáo có thể biến sứ vụ thành thần tượng. Một người mẹ có thể biến con cái thành thần tượng. Một người cha có thể biến trách nhiệm kinh tế thành thần tượng. Một người phục vụ có thể biến chính việc phục vụ thành nơi tìm căn tính. Khi những điều ấy lung lay, họ sụp theo. Trong khi nếu Đức Kitô là trung tâm, ta có thể mất rất nhiều mà không mất mình, bởi căn tính sâu nhất của ta không nằm trong những gì ta sở hữu hay làm được, mà nằm trong Người.
Có một điều khác rất thấm thía trong câu chuyện này: Maria không tranh luận với Mácta. Khi chị mình trách, Tin Mừng không ghi Maria nói một lời nào. Chúa nói thay chị. Người nào thực sự ngồi dưới chân Chúa dần dần sẽ bớt nhu cầu tự biện hộ. Chúng ta mất rất nhiều năng lượng để giải thích mình, bảo vệ mình, chứng minh mình đúng, chỉnh lại những điều người khác hiểu sai về mình. Có khi một câu nói không đúng về ta đủ làm ta mất bình an cả tuần. Một lời phê bình khiến ta lập tức viết một bản biện hộ dài. Một hiểu lầm khiến ta muốn chạy khắp nơi để kể lại phiên bản của mình. Nhưng càng gắn bó với Đức Kitô, ta càng hiểu rằng có một ánh mắt quan trọng hơn tất cả: ánh mắt của Người. Nếu Chúa biết, đôi khi thế là đủ. Nếu Chúa hiểu, đôi khi ta không cần cả thế giới phải hiểu. Nếu Chúa gọi ta là con, lời kết án của người khác không quyết định căn tính của ta. Nếu Chúa thấy giọt nước mắt âm thầm của ta, ta không cần phải đưa nó ra để mua lấy sự thương hại. Maria ngồi dưới chân Chúa và để Chúa lên tiếng. Đây là sự tự do tuyệt vời của người có “một chuyện cần thiết”. Khi chỉ có Chúa là Đấng tuyệt đối, mọi phán đoán của con người trở thành tương đối. Không phải ta coi thường người khác. Không phải ta bất chấp góp ý. Nhưng ta không còn sống nhờ tiếng vỗ tay và cũng không chết vì tiếng chê bai. Một linh mục mà hạnh phúc tùy thuộc vào số người khen bài giảng sẽ khổ. Một người phục vụ mà nhiệt tình tùy thuộc vào việc có ai ghi nhận sẽ khổ. Một người cha người mẹ mà giá trị bản thân tùy thuộc hoàn toàn vào thành công của con cái sẽ khổ. Một tu sĩ mà bình an tùy thuộc vào chức vụ sẽ khổ. Bởi tất cả những thứ ấy đều có thể thay đổi. Chỉ có tình yêu Đức Kitô là nền đá không chuyển lay. Khi Người là đối tượng duy nhất của lòng trí, ta có thể phục vụ hết mình mà không chiếm hữu thành quả. Ta có thể yêu tha thiết mà không biến người mình yêu thành thần tượng. Ta có thể thành công mà không kiêu. Ta có thể thất bại mà không tuyệt vọng. Ta có thể được dùng đến mà không tự tôn, bị bỏ quên mà không cay đắng. Ta có thể đứng ở hàng đầu hay hàng cuối mà lòng vẫn yên, bởi vị trí của ta trước mặt Chúa không thay đổi.
Có lẽ phải thú nhận rằng chúng ta rất giống Mácta. Ta bận tâm nhiều chuyện quá. Nỗi bận tâm về ngày mai. Nỗi bận tâm về tiền bạc. Nỗi bận tâm về sức khỏe. Nỗi bận tâm về những người không sống như ta muốn. Nỗi bận tâm về những điều người ta nói về mình. Nỗi bận tâm về tuổi già. Nỗi bận tâm về tương lai của con cái. Nỗi bận tâm về Giáo Hội, cộng đoàn, xã hội. Có những bận tâm chính đáng. Chúa không bảo ta vô trách nhiệm. Nhưng có một lằn ranh rất mỏng giữa trách nhiệm và lo âu. Trách nhiệm làm điều mình có thể làm rồi giao phần còn lại cho Chúa. Lo âu muốn kiểm soát cả phần không thuộc về mình. Trách nhiệm thức dậy, làm việc, cầu nguyện, cố gắng. Lo âu nằm xuống rồi vẫn tiếp tục làm việc trong đầu. Trách nhiệm nói: “Lạy Chúa, con sẽ làm phần của con.” Lo âu nói: “Nếu con không nắm hết, mọi sự sẽ sụp.” Và sâu bên dưới lo âu thường là một cám dỗ rất tinh tế: ta nghĩ mọi sự tùy thuộc vào mình. Bởi vậy đôi khi Chúa phải để ta mệt, để ta thất bại, để một kế hoạch đổ vỡ, không phải vì Người bỏ ta, nhưng để ta nhớ rằng mình không phải Đấng Cứu Thế. Giáo Hội đã có một Đấng Cứu Thế rồi. Gia đình ta cũng có một Thiên Chúa rồi. Cộng đoàn ta cũng có một Thiên Chúa rồi. Thế giới này không nằm trên vai ta. Có những người sống như thể nếu họ dừng một ngày, trái đất sẽ ngừng quay. Và Chúa dịu dàng nói: “Con ơi, ngồi xuống.” Không phải vì việc không quan trọng, nhưng vì con quan trọng hơn việc. Không phải vì Chúa không cần đôi tay con, nhưng vì trước khi cần đôi tay, Chúa muốn trái tim. Người gọi các môn đệ trước hết “để các ông ở với Người”, rồi mới sai các ông đi rao giảng. Thứ tự ấy không được đảo. Ở với Người trước. Được Người sai đi sau. Nếu chỉ sai đi mà không ở lại, người môn đệ sớm muộn sẽ cạn. Và khi cạn, họ bắt đầu dùng chính những người mình phục vụ để lấp khoảng trống của mình. Họ cần được cảm ơn. Họ cần được khen. Họ cần được nghe lời. Họ cần thấy kết quả. Nếu không, họ tổn thương. Nhưng người phục vụ bắt nguồn từ việc ở với Chúa có một nguồn nước khác. Họ vẫn mệt, nhưng không khô. Họ vẫn đau khi bị hiểu lầm, nhưng không tan vỡ. Họ vẫn buồn khi công việc thất bại, nhưng không mất ý nghĩa. Bởi họ biết mình không phải là điều mình làm. Họ là người được Chúa yêu.
Đời linh mục và đời tận hiến đặc biệt cần nghe câu này với một sự run sợ thánh thiện. Bởi nguy cơ lớn nhất của người dâng mình cho Chúa là có một ngày sống rất gần những sự thánh mà lòng lại xa Đấng Thánh. Cái gì lặp lại mỗi ngày cũng có thể trở thành quen. Ta có thể quen với bàn thờ, quen với áo lễ, quen với Nhà Tạm, quen với Lời Chúa, quen với kinh nguyện, quen với những lời khấn. Điều đáng sợ không phải là một ngày ta bỏ tất cả, nhưng là mỗi ngày ta vẫn làm tất cả mà bên trong không còn rung động. Không ai thấy điều ấy. Lịch vẫn đầy. Bổn phận vẫn xong. Nụ cười vẫn có. Bài giảng vẫn trôi chảy. Nhưng chỉ mình Chúa biết khoảng cách ngày càng dài. Vì thế câu “đối tượng duy nhất của lòng trí chúng con” phải được đọc như một lời xét mình mỗi ngày: Chúa Giêsu ơi, hôm nay lòng con thực sự ở đâu? Điều gì làm con vui nhất? Điều gì làm con sợ mất nhất? Điều gì con nghĩ tới đầu tiên khi thức dậy và sau cùng trước khi ngủ? Khi có một khoảng trống, con tìm đến Chúa hay tìm đến màn hình? Khi đau, con chạy đến với Chúa hay chạy đi tìm sự bù đắp? Khi thành công, con trở về tạ ơn Người hay say mê với chính mình? Khi thất bại, con có còn tin rằng được Người yêu đã là đủ không? Những câu hỏi ấy đau nhưng cần. Bởi trái tim con người không bao giờ trống. Nếu Chúa không ở trung tâm, một điều gì khác sẽ ngồi vào đó. Và người tận hiến không mất ơn gọi trước hết vào ngày họ rời bỏ nhà dòng hay chức vụ. Ơn gọi có thể bắt đầu mất từ rất lâu trước đó, khi Đức Kitô không còn là mối tình lớn nhất. Ngoại tình của trái tim thường xảy ra trước mọi đổ vỡ bên ngoài. Ta cho công việc phần tốt nhất của mình, cho người khác phần tốt nhất, cho điện thoại phần tốt nhất, cho những bận tâm phần tốt nhất, và chỉ cho Chúa phần còn thừa. Ta cầu nguyện khi còn thời gian. Ta thinh lặng khi không có việc. Ta ở với Chúa sau khi đã trả lời hết mọi người. Nhưng một mối tình không thể sống bằng đồ thừa. Chúa không đòi nhiều giờ vì Người ích kỷ. Chúa muốn trái tim vì chính trái tim ấy chỉ tìm được bình an khi trở về đúng nơi của nó.
Và điều này không chỉ dành cho linh mục hay tu sĩ. Mỗi gia đình cũng cần một “chuyện cần thiết”. Có những mái nhà đầy đủ mọi thứ nhưng thiếu sự hiện diện. Cha mẹ làm việc đến kiệt sức để con cái “không thiếu gì”, rồi một ngày nhận ra điều đứa trẻ thiếu nhất chính là cha mẹ. Vợ chồng cố xây nhà lớn hơn nhưng tình yêu nhỏ lại. Người ta ngồi cùng bàn mà mỗi người ở trong một màn hình. Có những đứa con được mua cho rất nhiều thứ nhưng chẳng có ai thật sự nghe chúng. Có những người già không thiếu thuốc nhưng thiếu một người ngồi cạnh. Và phải chăng “một chuyện cần thiết” trong gia đình nhiều khi đơn giản là có mặt cho nhau trong Chúa? Một bữa cơm không điện thoại. Một tối cha mẹ ngồi nghe con kể chuyện. Một đôi vợ chồng cầu nguyện chung dù chỉ vài phút. Một người con ngồi cạnh mẹ già mà không vội. Một lời xin lỗi nói trước khi quá muộn. Một cái ôm thay vì một lời trách. Những điều ấy không làm ta giàu hơn ngoài xã hội, nhưng làm ta giàu hơn trước mặt Chúa. Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa rất giỏi làm nhiều việc cùng lúc nhưng ngày càng kém khả năng hiện diện. Ta có thể nói chuyện với mười người qua mạng nhưng không nhìn vào mắt người đang ngồi trước mặt. Ta biết tin tức khắp thế giới nhưng không biết người cùng nhà đang đau chuyện gì. Ta biết người nổi tiếng hôm nay ăn gì, đi đâu, nhưng không biết cha mẹ mình đêm qua có ngủ được không. Maria dạy chúng ta nghệ thuật hiện diện. Chị không cho Chúa một món ăn. Chị cho Chúa chính sự chú ý của mình. Và sự chú ý là một hình thức rất sâu của tình yêu. Khi yêu ai thật, ta muốn nghe họ. Khi không còn yêu, ta chỉ muốn họ nghe mình. Có lẽ ta cũng nên tự hỏi: khi cầu nguyện, ta đến để nói hay đến để nghe? Chúng ta nói với Chúa rất nhiều. Xin cái này, xin cái kia, kể việc này, than chuyện nọ. Nhưng bao nhiêu lần ta ngồi yên và nói: “Lạy Chúa, hôm nay con không xin gì cả. Con chỉ muốn ở đây với Chúa”? Một giờ như thế có thể thay đổi cả đời người. Bởi Chúa không chỉ ban ơn qua lời ta nói. Nhiều ơn lớn nhất đến khi ta im lặng đủ lâu để Người chạm vào nơi sâu nhất.
“Maria đã chọn phần tốt nhất.” Chú ý chữ “chọn”. Đời sống thiêng liêng là một chuỗi những lựa chọn. Không ai tự nhiên có đời cầu nguyện sâu. Không ai tình cờ trở nên người của Chúa. Ta phải chọn. Chọn tắt điện thoại để cầu nguyện. Chọn bớt một cuộc chuyện trò không cần thiết để có giờ thinh lặng. Chọn dậy sớm hơn một chút. Chọn ở lại trước Nhà Tạm khi lòng chẳng cảm thấy gì. Chọn đọc Tin Mừng thay vì lướt thêm vài chục phút. Chọn không bỏ giờ cầu nguyện chỉ vì bận. Chọn trở về với Chúa ngay cả khi ta đã khô khan lâu ngày. Tình yêu nào cũng cần được chọn lại. Lời khấn ngày xưa không đủ cho hôm nay. Lời “con yêu Chúa” của hai mươi năm trước không thể thay cho một tương quan sống động hôm nay. Một đôi vợ chồng đã nói “con đồng ý” trước bàn thờ không có nghĩa là từ đó tình yêu tự chạy. Họ phải chọn nhau mỗi ngày. Người tận hiến cũng thế. Mỗi sáng phải chọn lại Đức Kitô. Khi khỏe chọn Người. Khi bệnh chọn Người. Khi được trọng dụng chọn Người. Khi bị quên lãng chọn Người. Khi lời cầu nguyện ngọt ngào chọn Người. Khi cầu nguyện như nói vào khoảng không vẫn chọn Người. Khi sứ vụ thành công chọn Người hơn thành công. Khi sứ vụ thất bại chọn Người hơn tuyệt vọng. Khi trẻ chọn Người bằng nhiệt huyết. Khi già chọn Người bằng sự buông mình. Và cuối cùng khi không còn gì để làm, chọn Người bằng cách để Người đưa mình về nhà. Đó là vẻ đẹp của một cuộc đời có một trung tâm duy nhất. Những năm tháng có thể lấy đi nhiều thứ, nhưng càng về cuối đời, một người thật sự thuộc về Chúa càng trở nên đơn giản. Những tham vọng rơi xuống. Những tranh hơn thua rơi xuống. Những chức danh rơi xuống. Những nhu cầu chứng minh mình rơi xuống. Chỉ còn một điều: Chúa. Có những người già ngồi bên Nhà Tạm không còn đọc được nhiều kinh, chỉ lặp lại: “Lạy Chúa Giêsu, con yêu Chúa.” Có lẽ đó chính là lúc họ đạt đến sự khôn ngoan mà cả đời ta chạy tìm: chỉ có một chuyện cần thiết.
Nhưng muốn chọn phần tốt nhất, phải chấp nhận bỏ một số phần khác. Không thể ôm tất cả. Đây là điều con người hiện đại không thích nghe. Chúng ta muốn có Chúa nhưng cũng muốn mọi thứ khác. Muốn cầu nguyện sâu nhưng không muốn bớt thời gian màn hình. Muốn gia đình gần nhau nhưng không muốn bỏ những bận rộn không cần thiết. Muốn sống thanh thản nhưng vẫn muốn kiểm soát mọi chuyện. Muốn thuộc trọn về Chúa mà vẫn giữ vài ngăn trái tim không cho Người bước vào. Nhưng chữ “duy nhất” luôn có giá. Để Đức Kitô là đối tượng duy nhất của lòng trí, có những điều phải được đặt xuống. Không phải vì chúng xấu mà vì chúng không phải Chúa. Abraham phải đặt Isaac lên bàn thờ không phải vì Isaac xấu, nhưng vì ngay món quà quý nhất cũng không được trở thành lớn hơn Đấng ban quà. Phêrô phải bỏ lưới không phải vì nghề đánh cá là xấu, nhưng vì có một tiếng gọi lớn hơn. Phaolô xem mọi sự là thiệt thòi trước mối lợi tuyệt vời là biết Đức Kitô không phải vì mọi sự trước kia đều xấu, nhưng vì ông đã gặp một Đấng khiến mọi thứ khác được nhìn trong ánh sáng mới. Người nào gặp được “phần tốt nhất” sẽ không còn thấy từ bỏ chỉ là mất. Họ bỏ vì đã tìm thấy điều lớn hơn. Một người đang cầm viên đá quý sẽ dễ buông viên sỏi. Khó khăn của chúng ta là nhiều khi ta nói về Chúa như kho tàng nhưng chưa thực sự nếm được Người là kho tàng, nên từng hy sinh nhỏ đều thấy đau. Một người yêu thật không đếm từng phút dành cho người mình yêu. Một người mẹ không ngồi tính từng đêm đã thức cho con. Khi tình yêu đủ lớn, hy sinh vẫn đau nhưng không còn vô nghĩa. Vì thế, vấn đề căn bản không phải ép mình từ bỏ nhiều hơn, mà là xin Chúa cho ta yêu Người nhiều hơn. Khi Đức Kitô trở thành “mối lợi tuyệt vời”, những gì từng trói ta tự nhiên lỏng dần.
Thập Giá là nơi ta thấy rõ nhất chuyện duy nhất ấy. Trên Thập Giá, Chúa Giêsu bị lấy hết. Áo bị lột. Danh dự bị nghiền nát. Bạn bè bỏ đi. Đám đông chế nhạo. Thân xác bị đóng đinh. Ngay cả cảm giác được Chúa Cha gần gũi cũng như bị che khuất trong tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng chính khi bị lấy hết, Người cho thấy điều không ai lấy được: tình yêu và sự phó thác. Người vẫn nói “Lạy Cha”. Người vẫn tha thứ. Người vẫn trao Mẹ cho môn đệ. Người vẫn nghĩ đến tên trộm bên cạnh. Người vẫn hoàn tất ý Cha. Như thế, Thập Giá chính là minh họa tận cùng cho lời “phần tốt nhất sẽ không bị lấy đi.” Người ta có thể lấy mọi thứ của Đức Kitô, nhưng không thể lấy khỏi Người tình yêu dành cho Chúa Cha và nhân loại. Và người môn đệ cũng vậy. Nếu căn tính của ta nằm trong chức vụ, người khác có thể lấy chức vụ là ta mất mình. Nếu căn tính nằm trong danh tiếng, một lời vu khống có thể giết chết ta. Nếu căn tính nằm trong tiền, mất tiền ta sụp. Nếu căn tính nằm trong sức khỏe, bệnh tật làm ta tuyệt vọng. Nhưng nếu đời ta ẩn trong Đức Kitô, người ta có thể lấy nhiều thứ mà không lấy được điều cốt lõi. Các thánh tử đạo là chứng từ đẹp nhất. Người ta lấy nhà, lấy tự do, lấy danh dự, lấy thân xác, cuối cùng lấy cả mạng sống, nhưng không lấy được Đức Kitô khỏi trái tim họ. Và vì không lấy được Chúa, thực ra người ta chẳng lấy được phần tốt nhất của họ. Đây là sự tự do mà thế gian không hiểu. Một con người có thể bị nhốt nhưng vẫn tự do. Có thể nghèo nhưng vẫn giàu. Có thể bị quên nhưng vẫn đầy ý nghĩa. Có thể hấp hối mà vẫn bình an. Vì họ có một kho tàng không nằm trong tay thế gian.
Ngày hôm nay, có lẽ ta cần nghe tiếng Chúa gọi tên mình như Người đã gọi Mácta. Không phải để trách, nhưng để kéo ta trở lại. “Con ơi, con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá.” Nghe câu ấy chậm thôi. Hãy để nó đi vào lòng. Ta đang lo chuyện gì? Điều gì đang chiếm đầu óc ta từ sáng đến tối? Có chuyện nào ta đã phóng lớn đến mức che mất Chúa không? Có một người nào, một vấn đề nào, một vết thương nào, một thất bại nào, một nỗi sợ nào mà ta nghĩ đến nhiều hơn nghĩ đến Chúa? Ta có đang cố giải quyết một chuyện mà thật ra phải trao lại cho Chúa không? Ta có đang làm việc cho Chúa nhiều đến mức không còn giờ ở với Chúa không? Ta có đang phục vụ mọi người nhưng ngày càng khó chịu với mọi người không? Ta có đang giống Mácta: đôi tay làm điều đúng nhưng trái tim ở sai chỗ? Nếu có, Chúa không đuổi ta khỏi căn nhà. Người chỉ nói: lại đây. Ngồi xuống. Con không cần chứng minh gì với Thầy. Con không cần mang cho Thầy thêm một món ăn. Con không cần hoàn thành thêm một công việc để Thầy yêu con hơn. Con chỉ cần ở đây. Có khi phép lạ lớn nhất Chúa muốn làm cho ta không phải là giải quyết hoàn cảnh, mà là đưa trái tim ta từ chỗ tán loạn trở về một mối. Một trái tim đơn nhất. Một lòng trí có một trung tâm. Một cuộc đời nhìn về một hướng.
Và khi đã ngồi với Chúa đủ lâu, ta sẽ đứng dậy phục vụ tốt hơn Mácta ngày trước. Đây là điều phải nói cho rõ: Chúa không muốn chúng ta ngồi mãi để người khác làm hết. Maria dưới chân Chúa và Mácta trong bếp không phải hai ơn gọi loại trừ nhau. Người môn đệ trưởng thành phải có cả Maria lẫn Mácta trong mình: ngồi dưới chân Chúa rồi đứng dậy rửa chân cho anh em. Chiêm niệm để phục vụ. Phục vụ phát xuất từ chiêm niệm. Nếu chỉ ngồi mà không bao giờ đứng lên, cầu nguyện có nguy cơ thành ích kỷ thiêng liêng. Nếu chỉ chạy mà không bao giờ ngồi, phục vụ sẽ thành kiệt sức. Chúa Giêsu chính là sự kết hợp hoàn hảo. Người thức đêm cầu nguyện rồi sáng ra đi chữa lành. Người rút vào nơi thanh vắng rồi trở lại với đám đông. Người ở trong lòng Cha và vì thế có thể cúi xuống tận cùng trước con người. Nhà Tiệc Ly cho ta một hình ảnh tuyệt đẹp: Người từ bàn ăn đứng dậy, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng và rửa chân. Người có thể quỳ trước chân người khác bởi cả cuộc đời Người đang ở trong lòng Chúa Cha. Người không phục vụ để được yêu. Người phục vụ vì biết mình được yêu. Và khác biệt nằm ở đó. Khi ta phục vụ để được công nhận, một lời vô ơn làm ta bỏ cuộc. Khi ta phục vụ vì biết mình được Chúa yêu, sự vô ơn vẫn làm đau nhưng không lấy mất lý do ta phục vụ. Khi ta yêu người khác để họ đáp lại, ta dễ thất vọng. Khi ta yêu từ nguồn tình yêu của Chúa, ta có thể tiếp tục ngay cả khi chẳng được gì. Người chỉ có thể cho lâu dài khi họ biết nhận từ Chúa. Một chiếc giếng không có mạch ngầm rồi sẽ cạn dù lúc đầu đầy đến đâu. Đời sống hoạt động mà không có đời sống nội tâm chính là chiếc giếng bị múc liên tục nhưng không có nguồn.
Bởi thế, điều Giáo Hội cần không chỉ là những con người làm việc giỏi. Giáo Hội cần những người thuộc về Chúa. Một linh mục thuộc về Chúa khi bước vào phòng bệnh có thể chẳng nói câu nào đặc biệt mà người bệnh vẫn cảm thấy bình an. Một nữ tu thuộc về Chúa có thể làm việc rất bình thường nhưng sự hiện diện của chị mang một thứ ánh sáng. Một người giáo dân thuộc về Chúa có thể không biết nói thần học, nhưng cách họ tha thứ, cách họ đối xử với người yếu, cách họ sống trung thực giữa thiệt thòi đã trở thành một bài giảng. Người ở với Chúa lâu sẽ mang mùi của Chúa. Giống như một người ngồi bên bếp lửa lâu, áo họ ám mùi khói; người ở trước Thánh Thể lâu, ở với Lời Chúa lâu, ở dưới chân Thập Giá lâu, đời họ sẽ mang một thứ dịu dàng, một sự bình tĩnh, một lòng thương xót mà sách vở không dạy được. Họ không vội kết án. Họ ít cần thắng. Họ không quá nhạy với chuyện mình bị xem thường. Họ biết nghe. Họ biết chờ. Họ có thể khóc với người khóc. Bởi họ đã được Chúa nghe rất nhiều. Người không cầu nguyện thường nói về Chúa bằng kiến thức. Người cầu nguyện sâu bắt đầu nói về Chúa như nói về một Người mình biết. Và người ta nhận ra sự khác nhau ấy, dù không diễn tả được.
Có một lúc nào đó, mỗi chúng ta phải quyết định đâu là chuyện duy nhất của đời mình. Bởi đời quá ngắn để phân tán mãi. Ta đi qua tuổi trẻ rất nhanh. Một ngày nhìn lại, cha mẹ đã già. Một ngày nhìn lại, mình cũng đã bạc tóc. Những chuyện từng làm ta mất ngủ năm năm trước, giờ nghĩ lại chẳng còn đáng gì. Những người từng làm ta bực bội cả tháng, có khi nay đã không còn gặp nữa. Những thành công từng khiến ta tưởng mình vĩ đại, chỉ vài năm sau không ai nhắc. Những thất bại từng khiến ta tưởng đời chấm hết, hóa ra chỉ là một đoạn đường. Thời gian có cách bóc trần sự nhỏ bé của những thứ ta từng xem là tuyệt đối. Và cuối cùng, người khôn ngoan là người học được trước khi quá muộn rằng chỉ có một chuyện cần thiết. Khi nằm trên giường bệnh, ta không cần thêm một chức danh. Khi đứng trước cái chết, ta không cần thêm một căn nhà. Khi hơi thở ngắn dần, ta không cần thêm một lời khen. Ta cần một bàn tay. Ta cần một lời tha thứ. Ta cần biết mình đã yêu. Và trên hết, ta cần biết Đấng mình sắp gặp không phải một người xa lạ. Thật đẹp biết bao nếu cả đời ta đã ngồi dưới chân Người để đến giờ chết, chỉ là đổi chỗ ngồi: từ dưới chân Người trong đức tin sang trước mặt Người trong ánh sáng. Thật buồn biết bao nếu cả đời ta làm rất nhiều chuyện mang danh Người mà đến cuối lại thấy Người xa lạ.
“Chỉ có một chuyện cần thiết.” Xin đừng nghe câu này như một lời mời bỏ bê bổn phận. Hãy nghe nó như lời mời sắp xếp lại mọi bổn phận quanh một trung tâm. Hãy làm việc, nhưng làm trong Chúa. Hãy chăm sóc gia đình, nhưng đừng biến gia đình thành chúa. Hãy phục vụ cộng đoàn, nhưng đừng để cộng đoàn lấy mất giờ của Chúa. Hãy kiếm tiền, nhưng đừng để tiền quyết định giá trị mình. Hãy xây dựng, tổ chức, hoạch định, sáng tạo, nhưng nhớ rằng một ngày tất cả sẽ ở lại phía sau. Hãy yêu con người thật nhiều, nhưng yêu họ trong Đấng đã yêu ta trước. Hãy có nhiều công việc, nếu Chúa gọi, nhưng chỉ có một tình yêu tối hậu. Hãy có nhiều mối tương quan, nhưng chỉ có một ngai ở trung tâm trái tim. Hãy có nhiều thao thức, nhưng chỉ có một điều tuyệt đối. Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh – Đấng đã yêu ta và hiến mình vì ta – phải là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta. Không phải một ý tưởng về Người. Không phải một sứ vụ mang tên Người. Không phải những thành tựu ta làm cho Người. Nhưng chính Người. Một con người có thể mất phương hướng ngay trong công việc của Chúa nếu mắt họ không còn nhìn Chúa. Người môn đệ phải trở về mãi với câu hỏi rất đơn sơ: “Chúa Giêsu có còn là Người con yêu nhất không?” Nếu câu trả lời là có, hãy giữ lửa ấy bằng mọi giá. Nếu câu trả lời đã trở nên ngập ngừng, đừng sợ. Chúa vẫn đang ở trong căn nhà. Người chưa đi đâu. Người chỉ gọi: “Mácta! Mácta ơi!” Hãy bỏ cái khay xuống một chút. Bước ra khỏi nhà bếp của những lo toan. Ngồi xuống. Nhìn Người. Có thể con sẽ khóc. Có thể con sẽ nhận ra mình đã xa Người lâu quá. Có thể chẳng nói được gì. Không sao. Người biết. Mối tình đầu không nhất thiết phải được tìm lại bằng những việc phi thường. Đôi khi chỉ bắt đầu bằng việc ở lại.
Ước gì sau bao năm theo Chúa, chúng ta trở nên đơn sơ hơn chứ không phức tạp hơn; bình an hơn chứ không lo âu hơn; hiền lành hơn chứ không cứng cỏi hơn; tự do hơn chứ không lệ thuộc hơn. Ước gì những việc chúng ta làm ngày càng nhiều nếu Chúa muốn, nhưng trái tim lại ngày càng chỉ còn một hướng. Ước gì ta có thể nói như người yêu nói với người mình yêu: Chúa ơi, con có thể mất nhiều thứ, nhưng xin đừng để con mất Chúa. Con có thể không được người ta nhớ, nhưng xin Chúa nhớ con. Con có thể không thành công như con từng mong, nhưng xin đời con đẹp lòng Chúa. Con có thể không làm được những điều lớn lao, nhưng xin cho con trung thành với điều Chúa trao. Con có thể có những ngày chẳng làm được gì, nhưng xin cho con biết ở bên Chúa. Con có thể phải đi qua tuổi già, bệnh tật, cô độc, hiểu lầm, thậm chí những đêm tối mà con không cảm thấy Chúa, nhưng xin giữ lòng con thuộc về Chúa. Bởi cuối cùng, nếu con có cả thế giới mà không có Chúa, con chẳng có gì. Nếu con chẳng còn gì mà còn Chúa, con vẫn còn tất cả.
Và có lẽ khi cuộc đời khép lại, chúng ta mới hiểu hết tại sao Chúa nói “chỉ có một chuyện cần thiết.” Mọi thứ khác rồi sẽ được đặt xuống. Đôi tay từng nắm bao nhiêu thứ cuối cùng sẽ mở ra. Đôi mắt từng nhìn bao nhiêu cảnh đời cuối cùng sẽ khép lại. Đôi chân từng chạy bao nhiêu nơi cuối cùng sẽ nằm yên. Những lịch hẹn, kế hoạch, dự tính sẽ ở lại. Người khác sẽ tiếp tục những công việc ta chưa xong. Thế giới vẫn quay. Chuông nhà thờ vẫn đổ. Người khác sẽ đứng vào chỗ ta. Và linh hồn ta đi vào cuộc gặp gỡ mà cả đời đã chuẩn bị. Lúc ấy sẽ không còn Mácta với bao công việc, không còn Maria với tư thế ngồi dưới chân. Chỉ còn người môn đệ và Thầy mình, mặt đối mặt. Nếu cả đời ta đã chọn phần tốt nhất, thì cái chết chẳng qua là lúc phần tốt nhất ấy được tỏ lộ trọn vẹn. Những gì trong đời bị lấy đi không còn quan trọng nữa, bởi điều không ai lấy được nay đã trở thành gia nghiệp đời đời.
Xin cho chúng ta, giữa bao nhiêu tiếng gọi của cuộc đời, nghe được tiếng gọi duy nhất của Đức Kitô. Giữa bao nhiêu khuôn mặt, đừng đánh mất khuôn mặt Người. Giữa bao nhiêu công việc tốt, đừng đánh mất chính Đấng là nguồn mọi điều thiện. Giữa những thành công, xin đừng để lòng ta rời Thập Giá. Giữa thất bại, xin đừng để mắt ta rời Thập Giá. Khi được yêu mến, nhìn Thập Giá để khiêm nhường. Khi bị chối bỏ, nhìn Thập Giá để không cay đắng. Khi khỏe mạnh, nhìn Thập Giá để biết hiến mình. Khi đau bệnh, nhìn Thập Giá để biết kết hiệp. Khi đầy sức hoạt động, hãy là Mácta với trái tim của Maria. Khi chẳng còn sức làm gì, hãy là Maria và tin rằng ngồi bên chân Chúa không bao giờ là một cuộc đời vô ích. Xin cho Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh không chỉ là đề tài chúng ta giảng, biểu tượng chúng ta đeo, hình ảnh chúng ta treo, nhưng thật sự là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta. Để rồi bất cứ việc gì ta làm đều từ Người mà ra, qua Người mà thực hiện và trở về với Người. Khi đó, ta có thể bận nhưng không tán loạn, có thể chịu đau nhưng không tuyệt vọng, có thể mất mà không trắng tay, có thể chết mà không mất sự sống. Bởi chúng ta đã chọn phần tốt nhất. Và phần ấy, như lời Chúa hứa, sẽ không bao giờ bị lấy đi.
Lm. Anmai, CSsR

TRƯỚC KHI ĐƯỢC SAI ĐI, PHẢI HỌC Ở VỚI CHÚA
Tin Mừng: Mc 3,13-15
Có một chi tiết trong Tin Mừng Máccô mà nếu đọc nhanh, ta rất dễ đi ngang qua, nhưng nếu dừng lại một chút, ta sẽ thấy trong đó gần như cả một linh đạo của đời môn đệ, đời linh mục, đời tu sĩ và đời truyền giáo: “Đức Giêsu lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ.” Trật tự ấy thật đẹp: Chúa gọi – các ông đến – các ông ở với Người – rồi Người mới sai các ông đi. Chúa không gọi các môn đệ để lập tức đẩy họ ra đường. Chúa không tuyển người rồi trao việc ngay. Chúa không bắt đầu bằng chương trình, kế hoạch, cơ cấu, chiến dịch hay những thành quả phải đạt. Điều đầu tiên Chúa muốn nơi người môn đệ lại rất đơn sơ: ở với Người. Trước khi đôi chân đi đến với người khác, trái tim phải biết ở lại với Chúa. Trước khi miệng nói về Chúa, đời mình phải có những ngày tháng sống bên Chúa. Trước khi trao Chúa cho người khác, chính mình phải để Chúa trở thành phần sâu nhất của đời mình. Và có lẽ đây là một trong những điều người môn đệ hôm nay cần trở về nhất, bởi vì chúng ta rất dễ thích “được sai đi” mà quên “ở với Người”; rất dễ mê công việc của Chúa mà dần dần xa chính Chúa; rất dễ trở thành người nói về Chúa rất nhiều nhưng lại ít chuyện trò với Chúa, làm cho Chúa rất nhiều nhưng lại không còn đủ thinh lặng để nghe Chúa, chạy hết nơi này đến nơi khác vì Chúa nhưng lòng mình lâu ngày lại trở thành một nơi Chúa khó tìm được một khoảng trống để ở lại.
Đức Giêsu “gọi đến với Người những kẻ Người muốn”. Câu Tin Mừng ấy trước hết nhắc ta rằng đời môn đệ bắt đầu không phải từ sáng kiến của con người mà từ sáng kiến của Thiên Chúa. Không phải vì ta giỏi nên Chúa gọi. Không phải vì ta đạo đức hơn người khác nên Chúa chọn. Không phải vì Chúa thiếu người, cần thêm nhân sự nên Người tuyển ta vào một công việc. Ơn gọi trước hết là một mầu nhiệm của tình yêu: Người muốn. Người muốn gọi những con người rất khác nhau đến gần Người. Người muốn họ ở với Người. Người muốn chia sẻ đời Người cho họ. Người muốn qua những con người yếu đuối ấy tiếp tục chạm vào thế giới. Nhóm Mười Hai mà Chúa gọi đâu phải một nhóm hoàn hảo. Có người nóng nảy. Có người tham vọng. Có người chậm tin. Có người tính toán. Có người yếu đuối đến mức chối Thầy. Có người cuối cùng phản bội Thầy. Thế mà Chúa vẫn gọi. Chúa không đợi họ hoàn thiện rồi mới gọi; Người gọi để họ được ở bên Người và nhờ ở bên Người mà dần dần được biến đổi. Điều này rất quan trọng. Bởi nhiều khi ta nghĩ mình phải nên thánh rồi mới xứng đáng đến với Chúa, trong khi Tin Mừng lại cho thấy chính việc đến với Chúa, ở với Chúa, để Chúa nhìn, Chúa sửa, Chúa uốn, Chúa chữa lành mỗi ngày mới là con đường làm ta nên thánh.
“Và các ông đến với Người.” Chúa gọi, nhưng người môn đệ phải đáp lại. Ơn gọi bao giờ cũng có hai phía: một tiếng gọi và một bước chân. Chúa không kéo lê ai vào đời môn đệ. Chúa gọi và chờ một con người tự do bước tới. Có những bước chân đầu tiên rất đẹp, rất hăng say. Ngày đầu bước vào chủng viện, ngày đầu vào nhà dòng, ngày chịu chức, ngày tuyên khấn, ngày nhận bài sai đầu tiên, ngày bắt đầu một sứ vụ mới, ai mà chẳng mang trong lòng nhiều lửa. Nhưng câu hỏi của đời môn đệ không chỉ là: “Ngày xưa tôi đã đến với Chúa thế nào?” mà còn là: Hôm nay tôi có còn đến với Người không? Có thể một người đã bước vào đời tu ba mươi năm nhưng lòng đã thôi bước về phía Chúa từ lâu. Có thể một linh mục mỗi ngày vẫn đứng trước bàn thờ nhưng bên trong đã sống rất xa Đấng mà mình cử hành. Có thể một người hoạt động tông đồ không ngơi nghỉ nhưng chính đời sống nội tâm đã cạn kiệt từ bao giờ. Cái đáng sợ không phải chỉ là bỏ Chúa một lần bằng một quyết định lớn; đáng sợ hơn là xa Chúa từng chút một mà không nhận ra. Bớt một lần cầu nguyện cũng không thấy gì. Bỏ một giờ thinh lặng cũng chẳng sao. Đọc Lời Chúa vội hơn một chút, Thánh lễ quen hơn một chút, chầu Thánh Thể ít hơn một chút, xét mình sơ sài hơn một chút, rồi dần dần người ta vẫn làm tất cả những việc của một người môn đệ nhưng không còn sống cái hồn của người môn đệ nữa.
Chúa lập Nhóm Mười Hai “để các ông ở với Người”. Chỉ mấy chữ thôi nhưng thật sâu. Chúa không nói trước hết: để họ giảng hay, để họ tổ chức giỏi, để họ xây được nhiều công trình, để họ nổi tiếng, để họ có đông người theo. Chúa muốn họ ở với Người. Ở với Chúa không phải là một giai đoạn huấn luyện rồi sau đó tốt nghiệp để đi làm việc. “Ở với Người” là căn tính vĩnh viễn của người môn đệ. Dù đã được sai đi, người môn đệ vẫn phải là người ở với Chúa. Càng làm nhiều càng phải ở với Chúa nhiều. Càng mang trách nhiệm lớn càng phải quỳ lâu hơn. Càng nói nhiều về Chúa càng cần có những khoảng thinh lặng dài trước mặt Chúa. Càng phải gặp nhiều người càng phải trở về gặp Chúa. Càng phải giải quyết nhiều vấn đề càng phải để Chúa giải quyết chính lòng mình. Nếu không, sứ vụ rất dễ biến thành nghề nghiệp, chức thánh dễ trở thành chức vụ, đời tận hiến dễ thành nếp sống, việc tông đồ dễ thành hoạt động xã hội có màu sắc tôn giáo, và người môn đệ dần dần sống bằng kinh nghiệm, kỹ năng, danh tiếng, uy tín cá nhân hơn là sống bằng ân sủng.
Ở với Chúa là gì? Không chỉ là ở trong nhà thờ. Không chỉ là đọc đủ một số kinh. Không chỉ là có một thời khóa biểu thiêng liêng. Những điều ấy cần, nhưng “ở với Chúa” sâu hơn nhiều. Ở với Chúa là để Người có quyền bước vào những góc kín nhất của đời mình. Là không chỉ nói cho Chúa nghe những chuyện đẹp đẽ, nhưng dám đưa trước mặt Người cả những ghen tị, tổn thương, tự ái, tham vọng, buồn phiền, ham muốn, thất vọng và mệt mỏi của mình. Là dám ngồi trước Chúa ngay cả khi không có cảm xúc gì. Là cầu nguyện khi lòng sốt sắng và vẫn cầu nguyện khi lòng khô khan. Là không chỉ tìm Chúa khi cần Người giải quyết một chuyện, nhưng tìm Chúa vì chính Chúa. Là có những lúc chẳng xin gì, chẳng trình bày gì, chẳng mong một lời giải đáp nào, chỉ ngồi trước Người và thưa: “Lạy Chúa, con đây.” Một người yêu thật sự đâu phải lần gặp nào cũng có chuyện quan trọng để nói. Có những tình yêu đủ sâu để hai người chỉ cần hiện diện bên nhau. Đời cầu nguyện cuối cùng cũng phải đi đến một sự đơn sơ như thế: con ở đây vì Chúa ở đây; con muốn ở với Chúa bởi vì Chúa là Chúa của con.
Có lẽ nhiều khủng hoảng trong đời sống người môn đệ không bắt đầu từ một tội lớn nhưng bắt đầu từ việc không còn ở với Chúa đủ lâu. Một chiếc bình nếu cứ rót ra mà không được đổ vào thì đến lúc sẽ cạn. Một ngọn đèn nếu cứ cháy mà không thêm dầu thì rồi cũng tắt. Một người mục tử cứ liên tục cho người khác lời khuyên, sự hiện diện, thời gian, sức lực, mà không trở về nguồn thì sẽ có ngày chỉ còn cho người ta cái mệt mỏi của mình. Khi tâm hồn trống, người ta bắt đầu tìm những thứ khác để lấp. Có người tìm lời khen. Có người tìm quyền lực. Có người tìm tiền bạc. Có người tìm sự chú ý. Có người nghiện công việc vì sợ khoảng trống. Có người luôn phải bận rộn vì khi dừng lại sẽ phải đối diện với sự nghèo nàn bên trong. Nhưng càng chạy, lòng càng khô. Càng làm, càng mệt. Càng được biết đến, càng cô đơn. Bởi điều mà không một thành công nào có thể thay thế được chính là sự thân mật với Đức Kitô.
Người môn đệ trước hết không phải người biết nhiều về Chúa mà là người biết Chúa. Hai chuyện ấy khác nhau rất xa. Có thể học thần học rất nhiều nhưng không có đời cầu nguyện sâu. Có thể giải thích Kinh Thánh rất giỏi nhưng chính Lời Chúa ít khi xuyên vào tim. Có thể nói những bài giảng làm người khác cảm động mà bản thân mình đã lâu không còn xúc động trước Chúa. Có thể dẫn người khác đến cầu nguyện mà chính mình cầu nguyện như một bổn phận. Kiến thức về Chúa quý, rất quý; thần học cần, rất cần; học hỏi không bao giờ được coi nhẹ. Nhưng tất cả phải dẫn đến một cuộc gặp gỡ. Bởi Kitô giáo cuối cùng không phải là tin vào một hệ thống tư tưởng mà là gắn đời mình với một Con Người: Đức Giêsu Kitô. Các Tông đồ có thể chưa hiểu hết mọi điều khi bước theo Chúa, nhưng họ đã ăn với Người, đi với Người, ngủ trên cùng những nẻo đường với Người, nhìn Người cầu nguyện, nghe Người nói, chứng kiến Người khóc, thấy Người thương đám đông, thấy Người chạm vào người phong hủi, thấy Người cúi xuống trước kẻ tội lỗi, thấy Người mệt bên bờ giếng, thấy Người nổi giận trước sự chai lì của lòng người, thấy Người tha thứ, và cuối cùng thấy Người treo trên thập giá. Họ không học một lý thuyết về Đức Kitô. Họ sống cạnh Đức Kitô. Chính những năm tháng “ở với Người” ấy đã làm nên chứng tá về sau.
Cho nên trước khi hỏi một nhà truyền giáo “anh đã làm được gì?”, có lẽ phải hỏi: “anh đang ở với Ai?” Trước khi hỏi một linh mục có bao nhiêu công việc, nên hỏi đời cầu nguyện của ngài thế nào. Trước khi hỏi một tu sĩ có những khả năng gì, nên hỏi Đức Kitô đang chiếm vị trí nào trong lòng người ấy. Trước khi hỏi một cộng đoàn có bao nhiêu chương trình, nên hỏi cộng đoàn ấy có thật sự là một nơi cùng nhau tìm Chúa không. Bởi Giáo Hội chưa bao giờ thiếu người bận rộn. Điều Giáo Hội luôn cần là những con người đã gặp Chúa. Thế giới cũng không thiếu diễn giả, nhà tổ chức, chuyên viên, người truyền thông. Điều thế giới khát là những con người mà khi gặp họ, người khác cảm thấy một điều gì đó của Thiên Chúa. Không phải vì họ nói đạo đức từng câu, nhưng vì trong cách họ nhìn, cách họ nghe, cách họ xử sự, cách họ chịu thiệt, cách họ tha thứ, cách họ đứng bên người khổ đau, người ta nhận ra rằng con người này đã sống lâu với Đức Giêsu.
Ở với Chúa rồi Chúa mới sai đi. Vì sao? Vì người ta chỉ có thể trao điều mình đã nhận. Muốn nói về lòng thương xót, phải từng để mình được thương xót. Muốn nói về tha thứ, phải từng quỳ dưới chân Chúa và biết mình đã được tha thứ thế nào. Muốn nâng người thất vọng, phải từng có những đêm tối mà chỉ bàn tay Chúa giữ mình lại. Muốn nói với người nghèo rằng Thiên Chúa không bỏ họ, phải có một xác tín sinh ra từ chính cuộc đời rằng Chúa thật sự không bỏ mình. Nếu không, lời giảng rất dễ đúng nhưng lạnh. Đúng giáo lý nhưng không có máu. Đúng câu chữ nhưng không mang sức nặng của một đời đã trải qua. Người nghe có thể quên nhiều điều chúng ta nói, nhưng họ khó quên một con người đã nói với họ bằng chính một đời sống có Chúa.
Có một cám dỗ rất tinh vi trong đời tông đồ: vì công việc là việc của Chúa nên ta tưởng làm việc ấy tự động có nghĩa là đang gần Chúa. Không hẳn. Người ta có thể làm việc cho Chúa mà lòng xa Chúa. Có thể chuẩn bị bài giảng về cầu nguyện nhưng không cầu nguyện. Có thể lo Thánh lễ mà trong lòng mất bình an vì hơn thua. Có thể tổ chức bác ái mà tự ái khi không ai ghi nhận. Có thể xây nhà thờ nhưng phá tình huynh đệ. Có thể bảo vệ chân lý nhưng làm tổn thương con người. Có thể nhân danh sứ vụ để hợp thức hóa tham vọng của mình. Và lúc ấy điều của Chúa vẫn đang được thực hiện bên ngoài, nhưng khuôn mặt của Chúa lại ngày một mờ đi bên trong người thực hiện. Không phải cứ đứng trong vườn nho là lòng thuộc về Chủ vườn. Không phải cứ ở trong nhà Cha là người ta đã sống như người con. Người anh trong dụ ngôn đứa con hoang đàng chưa từng bỏ nhà, nhưng lòng anh lại xa cha biết bao.
Bởi vậy, người môn đệ phải học trở về. Mỗi ngày trở về. Sau một ngày làm việc, trở về với Chúa. Sau một thành công, trở về với Chúa để khỏi tưởng thành công ấy là của mình. Sau một thất bại, trở về với Chúa để khỏi nghĩ mình vô dụng. Sau lời khen, trở về để khỏi say. Sau lời chê, trở về để khỏi cay. Sau những cuộc gặp gỡ, trở về để đặt tất cả những khuôn mặt đã gặp vào tay Chúa. Sau những bực bội, trở về để Chúa thanh luyện. Sau những quyết định, trở về để hỏi lại xem mình làm vì Chúa hay vì cái tôi. Người môn đệ nếu biết trở về sẽ luôn được làm mới. Người không biết trở về sớm muộn sẽ bị chính sứ vụ làm hao mòn.
Đời sống của Đức Giêsu cho ta thấy điều này rõ ràng. Người là Con Thiên Chúa, Người mang một sứ mạng không ai có thể so sánh, đám đông luôn chờ đợi, bệnh nhân luôn tìm đến, các môn đệ luôn cần được dạy, vậy mà Tin Mừng nhiều lần kể rằng Người rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Đáng lẽ theo cách nghĩ của chúng ta, khi nhu cầu quá lớn thì phải tranh thủ từng phút để làm việc. Nhưng Chúa Giêsu không để nhu cầu của đám đông cướp mất tương quan của Người với Chúa Cha. Người không làm sứ vụ từ sự thúc ép của đám đông nhưng từ sự hiệp thông với Cha. Người cầu nguyện trước những quyết định lớn. Người cầu nguyện lúc sáng sớm. Người cầu nguyện trong đêm. Người cầu nguyện trước cuộc thương khó. Người cầu nguyện cả trên thập giá. Nếu chính Đức Giêsu sống sứ vụ như vậy, người môn đệ nào lại nghĩ mình có thể làm khác?
Càng bận càng phải cầu nguyện. Nghe có vẻ nghịch lý nhưng lại là sự thật. Khi ít việc, có thể ta còn xoay xở bằng sức mình. Khi trách nhiệm nhiều, nếu không bám lấy Chúa, ta rất dễ gãy. Cầu nguyện không lấy mất thời gian của sứ vụ; cầu nguyện cứu sứ vụ khỏi trở thành công việc của cái tôi. Thinh lặng không làm giảm hiệu quả; thinh lặng giúp ta biết đâu là điều thật sự cần làm. Ở với Chúa không khiến ta xa con người; ngược lại, ở với Chúa đủ lâu sẽ dạy ta nhìn con người như Chúa nhìn. Một người càng cầu nguyện thật, thường càng bớt cay nghiệt. Càng gần Chúa thật, càng thấy mình chẳng có gì để kiêu. Càng biết Chúa tha cho mình bao nhiêu, càng khó kết án anh em. Càng để Chúa nhìn thấu lòng mình, càng bớt thích soi mói lòng người khác.
Ở với Chúa không phải để trốn cuộc đời. Chúa gọi các môn đệ ở với Người rồi sai họ đi. Một đời cầu nguyện thật luôn sinh ra sứ vụ. Nếu một người cứ nói mình yêu Chúa mà không còn đau trước nỗi đau của con người, phải coi lại sự cầu nguyện ấy. Người càng gần trái tim Chúa càng phải nghe rõ tiếng khóc của nhân loại. Chúa mà ta gặp trong nhà tạm cũng chính là Chúa đang chờ nơi người nghèo, người già cô đơn, người bệnh, người bị bỏ rơi, người thất vọng, người tội lỗi, người mà chẳng ai muốn nghe. Ở với Chúa không đóng cửa người môn đệ lại; ở với Chúa mở trái tim họ ra. Nhưng thứ tự vẫn quan trọng: không ở với Chúa, ta ra với con người bằng cái tôi của mình; ở với Chúa rồi, ta đến với con người mang theo trái tim của Người.
Và Tin Mừng nói Người sai các ông “đi rao giảng”. Rao giảng điều gì? Trước hết không phải rao giảng mình. Đây là một nguy cơ rất hiện đại. Thời đại truyền thông khiến người làm tông đồ dễ rơi vào cám dỗ xây dựng hình ảnh cá nhân. Người ta bắt đầu với mong muốn nói về Chúa, nhưng nếu không tỉnh thức, một lúc nào đó Chúa trở thành chất liệu để người ta nói về mình. Ta bắt đầu nhìn lượt xem, lượt thích, lời khen, sự nổi tiếng, và rồi rất khó phân biệt mình vui vì Tin Mừng được biết đến hay vì mình được biết đến. Không phải truyền thông là xấu; trái lại, đó là một cánh đồng truyền giáo lớn. Nhưng càng đứng trước nhiều người, càng phải quỳ sâu hơn trước một mình Chúa. Nếu không, người tông đồ rất dễ lấy ánh sáng vốn phải chiếu về Đức Kitô để soi vào chính mình.
Gioan Tẩy Giả cho ta một câu rất đẹp: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó phải là thước đo của mọi sứ vụ. Sau một bài giảng, nếu người ta chỉ nhớ người giảng mà quên Chúa, có cái gì đó cần xét lại. Sau một công việc tông đồ, nếu tên tuổi chúng ta lớn lên nhưng tình yêu đối với Đức Kitô nơi người khác không lớn lên, phải hỏi lại. Nhà truyền giáo không được sai đi để gom môn đệ về cho mình. Linh mục không sở hữu cộng đoàn. Tu sĩ không sở hữu sứ vụ. Giáo lý viên không sở hữu những người mình hướng dẫn. Tất cả thuộc về Chúa. Người môn đệ chỉ là người dẫn đường, rồi phải biết lùi sang bên để người khác gặp chính Đức Kitô.
“Với quyền trừ quỷ.” Quyền ấy trước hết là quyền của Chúa được trao. Người môn đệ không chiến đấu bằng sức riêng. Và trước khi nghĩ đến những biểu hiện dữ dội của sự dữ, ta nên nhận ra những thứ “quỷ” rất âm thầm đang muốn chiếm lấy lòng người môn đệ: quỷ kiêu ngạo, quỷ ganh tị, quỷ háo danh, quỷ chia rẽ, quỷ tiền bạc, quỷ quyền lực, quỷ tự ái, quỷ cay đắng, quỷ tuyệt vọng. Có khi ta muốn trừ sự dữ ngoài thế giới mà không chịu để Chúa đụng đến sự dữ đang ẩn trong lòng mình. Có khi ta hăng hái sửa người khác nhưng rất khó để ai sửa mình. Có khi ta nhân danh chân lý nhưng phía sau là một cái tôi bị tổn thương. Chính vì vậy phải ở với Chúa. Ở lâu đủ để ánh sáng Người soi vào những căn phòng ta thường khóa lại. Ở lâu đủ để Người làm ta đau khi bóc khỏi lòng những lớp giả hình. Ở lâu đủ để nhận ra mình cũng là người cần được cứu trước khi trở thành người đi loan báo ơn cứu độ.
Có những lúc ở với Chúa chẳng dễ chút nào. Vì ở lâu với Chúa, ta không thể mãi mang mặt nạ. Trước người khác ta có thể đóng vai. Trước Chúa thì không. Có khi ta ngại thinh lặng bởi trong thinh lặng mọi thứ nổi lên: những tổn thương chưa lành, những thất vọng chưa dám gọi tên, những khát vọng không trong sáng, những giận dữ bị nén xuống, những câu hỏi về ơn gọi, những mệt mỏi mà ta luôn giả vờ mình ổn. Nhưng chính nơi đó Chúa chờ. Người không chờ một phiên bản đẹp đẽ của ta. Người muốn gặp con người thật. Và chỉ khi con người thật gặp được Chúa thật thì chữa lành mới bắt đầu.
Đôi khi ta tưởng cầu nguyện hay là phải có những cảm xúc đẹp. Không. Có những giờ cầu nguyện rất nghèo. Ngồi trước Nhà Tạm mà đầu óc cứ chạy lung tung. Đọc Lời Chúa mà chẳng thấy câu nào chạm. Lần chuỗi mà khô khan. Cử hành Thánh lễ mà lòng mệt. Nhưng tình yêu trưởng thành không chỉ ở lại khi ngọt ngào. Chính sự trung tín trong những ngày không cảm thấy gì mới làm tương quan đi sâu. Các môn đệ ở với Chúa đâu phải ngày nào cũng là ngày phép lạ. Có những ngày chỉ là đi bộ bụi bặm, ăn uống, mệt mỏi, bị chống đối, nghe những lời chưa hiểu. Nhưng chính sự ở lại ấy từng ngày làm họ thành môn đệ. Đời thiêng liêng cũng vậy. Một đời thánh thiện được xây bởi rất nhiều ngày bình thường mà người ta vẫn trung thành trở lại ngồi trước Chúa.
Có những linh mục sau nhiều năm sứ vụ bắt đầu mệt. Có những tu sĩ sau nhiều năm khấn dòng thấy lòng không còn háo hức như thuở đầu. Có những người giáo dân phục vụ lâu năm cảm thấy mình chỉ còn làm vì trách nhiệm. Điều ấy không nhất thiết có nghĩa là ơn gọi đã sai. Đôi khi chỉ là nguồn nước đã bị đất đá lấp đi. Phải đào lại. Phải trở lại với câu hỏi ban đầu: Tại sao tôi bắt đầu? Ai đã gọi tôi? Tôi đã yêu Ai? Không phải trở lại để sống bằng hoài niệm, nhưng để gặp lại Đấng vẫn đang đứng đó. Đức Kitô không già đi cùng với sự mệt mỏi của chúng ta. Tình yêu của Người không hao mòn. Chỉ có lòng ta phủ bụi. Và đôi khi một kỳ tĩnh tâm thật, một giờ chầu không điện thoại, một lần đọc Tin Mừng chậm rãi, một cuộc xưng tội thật lòng, một khoảng thời gian dám ngưng bớt công việc để trở về với Chúa có thể mở lại một mạch nước mà ta tưởng đã khô.
Cần phải can đảm bảo vệ thời gian dành cho Chúa. Ta bảo vệ lịch họp, bảo vệ cuộc hẹn, bảo vệ thời gian cho công việc, nhưng đôi khi giờ cầu nguyện là thứ đầu tiên bị hy sinh khi bận. Nếu một người thân quan trọng hẹn ta, ta sẽ cố giữ giờ ấy. Vậy mà Chúa nhiều lúc lại được nhận phần thời gian còn sót. Khi còn sức thì cầu nguyện, mệt thì thôi. Khi rảnh thì đọc Lời Chúa. Nếu quá bận thì Chúa hiểu. Đúng, Chúa hiểu. Nhưng câu hỏi không chỉ là Chúa có hiểu không; câu hỏi là trái tim ta sẽ thành thế nào nếu cứ sống như thế? Chúa không cần giờ cầu nguyện của ta vì Người thiếu điều gì. Chính ta cần. Cành nho không ở lại trong cây nho thì khô không phải vì cây nho phạt nó, nhưng vì nó tự tách khỏi nguồn sống.
Một người môn đệ có thể mất rất nhiều thứ mà vẫn còn tiếp tục được, nhưng mất tương quan với Đức Kitô thì mất chính trung tâm đời mình. Có thể mất một chức vụ, vẫn còn Chúa. Có thể mất một nơi mình yêu, vẫn còn Chúa. Có thể bị hiểu lầm, vẫn còn Chúa. Có thể sức khỏe suy yếu, vẫn còn Chúa. Có thể công việc mình xây dựng nhiều năm chẳng còn, vẫn còn Chúa. Nhưng nếu có tất cả mà mất Chúa thì đời tận hiến còn gì? Chính vì thế, điều phải giữ trước hết không phải là vị trí, uy tín, công trình, khả năng hay ảnh hưởng, mà là một trái tim còn biết yêu Chúa.
Và thật lạ, người càng ở với Chúa sâu thì khi được sai đi lại càng tự do. Họ không quá lệ thuộc vào kết quả. Họ làm hết lòng nhưng không nghĩ mình là đấng cứu thế. Thành công thì tạ ơn. Thất bại thì vẫn bình an vì biết công việc cuối cùng là của Chúa. Người không ở với Chúa dễ đồng hóa giá trị bản thân với kết quả sứ vụ: đông người thì vui, ít người thì buồn; được khen thì hăng, bị phê bình thì chán; công việc thuận lợi thì nghĩ Chúa chúc lành, gặp khó khăn lại tưởng Chúa bỏ mình. Nhưng người ở với Chúa lâu sẽ hiểu rằng thước đo của Thiên Chúa nhiều khi khác thước đo của thế gian. Thập giá nhìn bên ngoài là thất bại, nhưng chính ở đó công trình cứu độ được hoàn tất. Có những sứ vụ chẳng ai biết, có những hy sinh không ai vỗ tay, có những năm tháng xem ra không sinh hoa trái, nhưng nếu được sống trong tình yêu và vâng phục thì không một điều gì mất đi trước mặt Chúa.
Trước khi được sai đi, phải học ở với Chúa. Và sau khi được sai đi, vẫn phải học ở với Chúa. Cho đến cuối đời vẫn học. Không ai tốt nghiệp trường này. Phêrô đã sống ba năm bên Chúa mà vẫn phải học lại tình yêu bên bờ hồ Tibêria: “Anh có yêu mến Thầy không?” Phaolô đi khắp nơi loan báo Tin Mừng nhưng vẫn có thể nói điều ông mong muốn là “biết Đức Kitô”. Các thánh càng đi xa trong sứ vụ càng đi sâu vào cầu nguyện. Bởi họ hiểu rằng sứ vụ không phải một việc mình làm cho Chúa từ bên ngoài; sứ vụ là dòng chảy của chính đời sống Đức Kitô qua một con người đã để mình thuộc về Người.
Có lẽ mỗi người chúng ta cần tự hỏi một câu rất đơn sơ: Nếu hôm nay tất cả công việc của tôi dừng lại, tương quan giữa tôi với Chúa còn lại điều gì? Nếu không còn bài giảng để chuẩn bị, không còn lớp để dạy, không còn cộng đoàn để điều hành, không còn chức vụ để mang, không còn ai cần tôi giải quyết chuyện gì, tôi và Chúa có còn chuyện để nói với nhau không? Tôi có thể ngồi yên trước mặt Người và thấy mình được yêu không? Hay tôi chỉ biết mình là ai khi đang làm một việc gì? Đây là câu hỏi đau nhưng rất cần. Bởi căn tính sâu nhất của người môn đệ không phải “tôi làm gì cho Chúa” mà là “tôi thuộc về Chúa”.
Người ta thường nhớ Mácta vì bận rộn và Maria vì ngồi dưới chân Chúa. Nhưng đời môn đệ không được chọn một trong hai. Ta phải phục vụ như Mácta nhưng với trái tim của Maria. Phải đi, nhưng đi từ nơi đã ngồi dưới chân Chúa. Phải nói, nhưng lời phát sinh từ thinh lặng. Phải cho, nhưng cho từ điều đã nhận. Phải yêu người, nhưng yêu bằng tình yêu đã được Chúa đổ vào lòng. Nếu đảo ngược trật tự này, ta sẽ kiệt sức. Nếu giữ đúng trật tự này, ngay cả khi thân xác mệt, bên trong vẫn có một nguồn nước.
Thế giới hôm nay rất ồn. Người môn đệ cũng bị cuốn vào tốc độ ấy. Điện thoại luôn sáng. Tin nhắn luôn đến. Việc luôn có. Người luôn chờ. Nhu cầu chẳng bao giờ hết. Nếu đợi đến khi xong việc mới cầu nguyện thì sẽ chẳng bao giờ cầu nguyện, vì việc tông đồ không bao giờ xong. Người nghèo vẫn còn. Người đau vẫn còn. Người cần nghe Tin Mừng vẫn còn. Vì vậy phải có lúc ta chủ động dừng. Đức Giêsu đã từng rời đám đông dù họ còn đang tìm Người. Không phải vì Người vô tâm, mà bởi Người biết mình phải ở trong tương quan với Cha để sứ vụ vẫn là sứ vụ của Cha. Biết dừng lại vì Chúa cũng là một hành vi đức tin: tin rằng thế giới này không sụp chỉ vì ta nghỉ một giờ để cầu nguyện; tin rằng Giáo Hội có Đấng Cứu Thế và Đấng ấy không phải là ta.
Một nhà truyền giáo thật sự không đem Chúa đến một nơi Chúa chưa có mặt, nhưng giúp con người nhận ra Chúa đã chờ họ ở đó. Để làm được điều ấy, người truyền giáo phải có con mắt đã được luyện trong cầu nguyện. Nếu không ở với Chúa, ta dễ nhìn người khác theo nhãn dán: người này đạo đức, người kia tội lỗi; người này có ích, người kia phiền phức; người này ủng hộ mình, người kia chống mình. Nhưng Chúa nhìn khác. Người nhìn Giakêu và thấy một người con của Abraham. Người nhìn người phụ nữ ngoại tình và thấy một con người có thể bắt đầu lại. Người nhìn Phêrô sau ba lần chối và vẫn thấy một mục tử. Người nhìn kẻ trộm trên thập giá và mở thiên đàng cho anh. Chỉ khi ở với Chúa lâu, mắt ta mới dần học được ánh nhìn ấy.
Ở với Chúa còn dạy người môn đệ biết lắng nghe. Một nhà truyền giáo không chỉ là người nói hay. Có khi sứ vụ quan trọng nhất là ngồi nghe một người đau khổ kể câu chuyện của họ mà không vội giảng giải. Có khi một người chẳng cần thêm một bài giáo lý nhưng cần một khuôn mặt không kết án. Có khi người ta đã nghe quá nhiều lời khuyên mà chưa từng có ai thực sự nghe họ. Đức Giêsu biết nói, nhưng Người cũng biết hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” “Các anh bảo Thầy là ai?” “Chị có tin thế không?” Người không đối xử với con người như những đối tượng phải được xử lý, nhưng như những người có một câu chuyện cần được lắng nghe. Và chỉ người thường xuyên lắng nghe Chúa mới dần học được cách lắng nghe người khác mà không lập tức chen cái tôi của mình vào.
Ở với Chúa cũng giúp ta không biến người mình phục vụ thành nguồn nuôi cái tôi. Đây là một cám dỗ đau đớn. Người mục tử có thể bắt đầu cần đoàn chiên yêu mình hơn là mình yêu đoàn chiên. Người phục vụ có thể cần được biết ơn. Người giảng dạy có thể cần được ngưỡng mộ. Người làm bác ái có thể cần hình ảnh đẹp về chính mình. Khi đó, ta vẫn cho nhưng bắt đầu đòi lại bằng một hình thức khác. Chỉ Chúa mới có thể giải phóng ta khỏi nhu cầu ấy. Khi một người biết mình được Chúa yêu đủ, họ không phải đi xin tình yêu từ những người mình phục vụ. Họ có thể yêu mà không được đáp lại. Có thể làm điều tốt mà không ai biết. Có thể bị hiểu sai mà vẫn không trả đũa. Có thể gieo mà người khác gặt. Đó là sự tự do rất đẹp của người đã có Chúa làm phần thưởng.
Có những ngày người môn đệ sẽ thấy mình chẳng còn gì để cho. Chính những ngày ấy, hãy ở với Chúa. Đừng cố sản xuất thêm những lời đẹp khi bên trong đã cạn. Hãy thưa thật: “Lạy Chúa, con mệt.” Có lẽ một lời cầu nguyện thật như vậy quý hơn rất nhiều câu kinh đọc mà lòng ở nơi khác. Chúa không sợ sự mệt mỏi của ta. Người từng nói với các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Chúa biết bụi đường bám chân người được sai đi. Người biết sứ vụ có lúc làm ta tổn thương. Người biết có những người ta hết lòng yêu lại khiến ta đau. Người biết có những lời nói làm người mục tử thức trắng. Người biết những thất bại chẳng tiện kể cùng ai. Vì thế Người gọi ta trở về, không phải để trách vì ta yếu, nhưng để rửa chân ta một lần nữa.
Thật ra toàn bộ đời Kitô hữu là một nhịp điệu giữa “đến với Người” và “được sai đi”. Đến rồi đi. Đi rồi trở lại. Hít vào rồi thở ra. Nếu chỉ hít mà không thở thì chết; nếu chỉ thở mà không hít cũng chết. Chỉ cầu nguyện mà không phục vụ, đời sống đức tin dễ khép kín. Chỉ phục vụ mà không cầu nguyện, đời sống đức tin mau cạn. Chúa muốn cả hai, nhưng Người đặt “ở với Người” trước “sai đi” để ta không quên nguồn.
Vì thế, mỗi sáng trước khi bước ra làm việc, hãy để mình được Chúa nhìn. Trước khi cầm điện thoại, hãy thử cầm lấy Lời Chúa. Trước khi nghe hàng trăm tiếng nói, hãy nghe một tiếng nói cần thiết nhất. Trước khi trao bình an cho ai, hãy để Chúa đặt bình an vào lòng mình. Và buổi tối, trước khi khép một ngày, hãy trở về: “Lạy Chúa, hôm nay con đã sống thế nào? Con đã gặp Chúa nơi ai? Con đã làm ai đau? Điều gì trong con cần được chữa? Điều gì con phải tạ ơn?” Một đời sống được xây bởi những cuộc trở về nhỏ bé như thế sẽ dần trở thành một đời ở với Chúa.
Rồi có một ngày sứ vụ của mỗi người sẽ kết thúc. Sẽ có ngày không còn bài giảng nữa. Không còn chương trình. Không còn những cuộc họp. Không còn điện thoại reo vì người ta cần mình. Không còn chức vụ nào phải giữ. Có thể tuổi già khiến ta chẳng làm được bao nhiêu. Và lúc ấy điều còn lại chính là điều lẽ ra phải là trung tâm ngay từ đầu: ở với Chúa. Hóa ra bao năm sứ vụ chỉ là trường học chuẩn bị cho cuộc ở lại vĩnh viễn ấy. Người đã tập ở với Chúa mỗi ngày sẽ không thấy cái chết là bước vào nhà một Người xa lạ. Họ chỉ đi vào sâu hơn trong một mối tương quan đã sống suốt đời.
“Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi.” Xin đừng đảo thứ tự của Chúa. Đừng vội đi đến mức quên ở. Đừng nói nhiều về Chúa đến mức không còn nghe Chúa. Đừng vì chăm sóc vườn nho mà quên Chủ vườn. Đừng vì trao bánh cho người khác mà chính mình chết đói. Đừng vì thắp đèn cho mọi người mà để ngọn đèn trong tim mình tắt mất. Và cũng đừng sợ dừng lại để ở với Người. Vì không có giờ phút nào ở bên Chúa là lãng phí. Chính trong những giờ tưởng như chẳng làm gì ấy, Chúa đang làm điều quan trọng nhất: Người làm lại trái tim người môn đệ.
Xin cho những người được sai đi luôn nhớ mình đã được gọi trước hết để đến với Chúa. Xin cho những người đang rất bận vì Chúa vẫn giữ được một khoảng lòng chỉ dành cho Chúa. Xin cho linh mục không bao giờ để chức vụ thay thế tình bạn với Đức Kitô. Xin cho tu sĩ không để lời khấn trở thành một khuôn thức mà đánh mất Đấng mình đã khấn để thuộc về. Xin cho người giáo dân đang dấn thân giữa gia đình, giáo xứ, xã hội luôn biết trở về nguồn. Xin cho mọi nhà truyền giáo hiểu rằng điều thế giới cần nhất nơi chúng ta không phải là sự tài giỏi của chúng ta, mà là một Đức Kitô đã sống sâu trong chúng ta đến mức khi chúng ta bước đến, người khác có thể cảm được chút gì lòng thương xót của Người.
Và nếu hôm nay Chúa lại lên núi, lại gọi những kẻ Người muốn đến gần, có lẽ lời đầu tiên Người vẫn không phải là: “Con hãy làm thật nhiều cho Thầy.” Có lẽ Người chỉ nói: “Hãy đến. Ở với Thầy.” Bởi từ sự ở lại ấy, mọi điều khác mới đúng chỗ. Ở với Thầy rồi hãy đi. Ở với Thầy rồi hãy nói. Ở với Thầy rồi hãy phục vụ. Ở với Thầy rồi hãy yêu. Ở với Thầy rồi hãy chịu đựng. Ở với Thầy rồi hãy mang thập giá. Ở với Thầy để khi đời con phải đi qua những đoạn đường tối nhất, con vẫn biết mình đang đi với Ai. Và đến cuối cùng, sau tất cả những nơi đã đến, những việc đã làm, những người đã gặp, những lời đã nói, điều đẹp nhất đời người môn đệ có lẽ chẳng phải là: “Con đã làm được bao nhiêu cho Chúa”, mà chỉ đơn sơ là: “Con đã ở với Người, và Người đã ở với con.”
Lm. Anmai, CSsR

KHÔNG PHẢI CHÚNG TA ĐÃ CHỌN CHÚA – CHÍNH CHÚA ĐÃ CHỌN CHÚNG TA
Tin Mừng: Ga 15,16
“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại.” Có lẽ trong những ngày thật đặc biệt của đời linh mục, đời thánh hiến, ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày kỷ niệm mười năm, hai mươi lăm năm, năm mươi năm linh mục, chúng ta thường quay lại nhìn con đường mình đã đi qua. Nhìn lại để nhớ ngày đầu tiên mình bước chân vào chủng viện, vào nhà dòng; nhớ buổi sáng xa nhà, nhớ khuôn mặt cha mẹ đứng lặng, nhớ chiếc vali đơn sơ, nhớ những người đã nâng đỡ, nhớ những năm tháng học hành, thử thách, tập viện, thần học, mục vụ, nhớ ngày nằm phủ phục trên nền cung thánh trong lời kinh cầu các thánh, nhớ bàn tay Giám mục đặt trên đầu, nhớ chén thánh đầu tiên mình nâng, nhớ lời khấn đầu tiên mình đọc bằng một giọng vừa run vừa xúc động. Nhìn lại, ta dễ có cảm tưởng rằng đó là câu chuyện của một con người đã can đảm chọn Chúa, đã bỏ nhiều thứ để theo Chúa, đã quyết định hiến đời mình cho Chúa. Nhưng càng sống lâu trong ơn gọi, càng đi sâu vào đời linh mục và đời tận hiến, người ta càng hiểu rằng cách nói ấy chỉ đúng một nửa. Đúng là ta đã có những quyết định. Đúng là ta đã ký vào giấy xin vào nhà dòng. Đúng là ta đã thưa “con xin”. Đúng là ta đã bước lên. Đúng là ta đã tuyên khấn. Đúng là ta đã cúi đầu nhận chức. Nhưng trước tất cả những cái “xin” của ta, đã có một tiếng gọi của Chúa. Trước tất cả những bước chân của ta, đã có bước chân của Chúa đi tìm. Trước ngày ta biết yêu Chúa, Chúa đã yêu ta. Trước ngày ta biết chọn Chúa, Chúa đã chọn ta. Và có lẽ một đời linh mục càng về chiều càng chỉ còn biết cúi đầu mà thưa: Lạy Chúa, con tưởng con đã chọn Chúa, nhưng hóa ra cả đời con chỉ là câu chuyện Chúa đã chọn một người quá đỗi bình thường, quá nhiều giới hạn, quá nhiều yếu đuối, rồi kiên nhẫn giữ người ấy lại trong tình yêu của Chúa.
“Không phải anh em đã chọn Thầy.” Câu ấy nghe qua tưởng như làm con người nhỏ lại, nhưng thực ra làm cho ơn gọi trở nên lớn lao hơn vô cùng. Nếu ơn gọi chỉ là lựa chọn của ta, ta có thể tự hào vì quyết định của mình. Nếu chức linh mục chỉ là thành quả của ý chí, ta có thể kể công vì những năm tháng đào tạo. Nếu đời tu chỉ là kết quả của sự quảng đại cá nhân, ta có thể nghĩ rằng mình đã dâng cho Chúa quá nhiều. Nhưng khi Chúa nói: “Chính Thầy đã chọn anh em,” thì mọi sự đổi khác. Ơn gọi không còn là thành tích. Ơn gọi trở thành ân huệ. Chức linh mục không còn là phần thưởng dành cho người xứng đáng. Chức linh mục trở thành lòng thương xót được đặt trên đôi vai một con người bất xứng. Lời khấn không còn là tờ giấy chứng nhận ta đã đạt đến một mức hoàn thiện nào đó. Lời khấn là lời đáp của một người đã được yêu trước. Và ngày kỷ niệm chức linh mục không phải ngày người linh mục đứng lên để kể mình đã làm được bao nhiêu việc, xây được bao nhiêu nhà thờ, lập được bao nhiêu hội đoàn, giảng bao nhiêu bài, rửa tội bao nhiêu người, cử hành bao nhiêu Thánh lễ. Ngày kỷ niệm linh mục, sâu xa nhất, là ngày một người đứng trước bàn thờ, nhìn lại cả đời mình và kinh ngạc vì thấy: sau từng ấy năm, Chúa vẫn chưa rút lại lời Chúa đã chọn tôi.
Có những câu Tin Mừng càng sống lâu càng thấy đáng sợ và cảm động. “Không phải anh em đã chọn Thầy” là một câu như thế. Bởi vì nếu Chúa chọn những người hoàn hảo thì chúng ta còn dễ hiểu. Nếu Chúa chọn những người không có khuyết điểm, những người lúc nào cũng sốt sắng, lúc nào cũng trung thành, lúc nào cũng thánh thiện, thì chuyện ấy hợp lý. Nhưng Chúa lại chọn Phêrô, người sẽ chối Chúa ba lần. Chúa chọn Giacôbê và Gioan, những người từng mơ địa vị. Chúa chọn Tôma, người sẽ có lúc không tin. Chúa chọn Matthêu từ bàn thu thuế. Chúa chọn Phaolô từ một kẻ bắt bớ Hội Thánh. Và qua bao thế hệ, Chúa tiếp tục chọn những con người bằng xương bằng thịt, có quá khứ, có tính khí, có tự ái, có sợ hãi, có những vùng tối, có những ngày mạnh mẽ và có những ngày mệt mỏi. Điều làm nên huyền nhiệm ơn gọi không phải là ta có gì đáng để Chúa chọn, mà là tại sao Chúa vẫn chọn ta dù Chúa biết rõ ta là ai.
Có người đi tu từ nhỏ. Có người nghe tiếng gọi giữa tuổi thanh xuân. Có người phải đấu tranh nhiều năm mới dám bước vào. Có người từng muốn bỏ về. Có người từng nghĩ mình không thể đi tới cùng. Có người đã qua những năm tháng rất khô khan. Có linh mục từng có những ngày nhìn chén thánh mà lòng không còn cảm xúc. Có tu sĩ từng đọc lời khấn mà thấy những chữ mình đọc ngày nào nay trở thành một thập giá. Có những người tưởng đời tận hiến là một con đường trải đầy ánh sáng, nhưng rồi phải đi qua bóng tối của hiểu lầm, cô đơn, thất bại, bệnh tật, tuổi già, những thay đổi trong cộng đoàn, những lúc việc mục vụ không sinh kết quả, những lần bị phê bình, những ngày bị quên lãng. Chính ở những lúc ấy câu “Thầy đã chọn anh em” không còn là một câu đẹp để in trên thiệp mừng khấn hay thiệp truyền chức nữa. Nó trở thành chiếc neo giữ đời người khỏi trôi. Ta có thể không hiểu mình. Người khác có thể không hiểu ta. Có lúc chính ta cũng nghi ngờ con đường mình đang đi. Nhưng Chúa đã chọn. Và nếu Chúa đã chọn, ta chỉ còn việc bám lấy Đấng đã chọn mình.
Ơn gọi không bắt đầu từ sự xứng đáng. Ơn gọi bắt đầu từ ánh mắt. Đức Giêsu đi ngang qua bờ hồ Galilê, thấy những người đang quăng lưới, Người gọi. Người đi ngang bàn thu thuế, thấy Matthêu, Người gọi. Người nhìn người thanh niên giàu có và đem lòng yêu mến anh. Trong mỗi ơn gọi cũng có một ánh mắt như vậy, dù ta không luôn nhận ra lúc nó xảy đến. Có khi ánh mắt ấy đến qua một linh mục. Có khi qua một người mẹ. Có khi qua một Thánh lễ. Có khi qua một biến cố đau buồn. Có khi qua một câu Tin Mừng nghe đã hàng trăm lần nhưng hôm ấy bỗng đâm thẳng vào tim. Có khi Chúa gọi qua một ước muốn rất nhỏ: “Hay là mình thử đi tu?” Và từ cái “hay là” rất mong manh ấy, Chúa dẫn một con người đi qua cả một đời. Sau này nhìn lại mới hiểu: ngày ấy mình tưởng chỉ là một suy nghĩ thoáng qua, nhưng Chúa đã đứng ở đó. Mình tưởng mình tìm Chúa, nhưng Chúa đã tìm mình từ lâu.
Bởi vậy, lễ khấn không phải ngày một người dâng cho Chúa một món quà hoàn hảo. Chẳng ai hoàn hảo để dâng mình cho Chúa. Lễ khấn là ngày một người dâng lại cho Chúa chính điều Chúa đã trao. “Lạy Chúa, đời con là của Chúa vì chính Chúa đã gọi con ra khỏi bao nhiêu con đường khác. Hôm nay con trả lại Chúa tự do của con, thời giờ của con, thân xác con, những khả năng của con, cả những yếu đuối của con. Con không dám nói rằng con sẽ luôn mạnh mẽ. Con chỉ xin Chúa giữ con trong lời Chúa đã gọi.” Có lẽ lời khấn đẹp nhất không phải là lời của một người tin chắc vào sức mình, mà là lời của một người biết mình yếu nhưng tin vào sự trung thành của Thiên Chúa. Con người có thể đổi thay. Cảm xúc có thể đổi thay. Sức khỏe có thể đổi thay. Hoàn cảnh có thể đổi thay. Cộng đoàn có thể đổi thay. Sứ vụ có thể đổi thay. Nhưng Đấng đã gọi thì trung tín.
Ngày truyền chức cũng vậy. Không ai nằm xuống nền nhà thờ để tuyên bố mình xứng đáng. Trái lại, người chịu chức nằm sấp xuống đất bởi vì trước huyền nhiệm quá lớn ấy, con người chỉ còn có thể nằm xuống. Hội Thánh hát kinh cầu các thánh không phải để ca ngợi người sắp được truyền chức, nhưng để cầu cho người ấy. Cả Hội Thánh như đứng chung quanh một người và thưa: Lạy Chúa, xin thương xót. Vì ai có thể tự mình trở thành linh mục của Đức Kitô? Ai có thể tự cho mình quyền đứng bên bàn thờ? Ai có thể tự cho mình quyền nói: “Này là Mình Thầy”? Ai có thể tự cho mình quyền giơ tay tha tội? Ai có thể tự nhận trách nhiệm chăm sóc những linh hồn mà Máu Chúa Kitô đã đổ ra để cứu chuộc? Không ai. Chỉ có thể là người được gọi. Chỉ có thể là người được chọn. Và vì thế, chức linh mục suốt đời phải được sống trong tâm tình biết ơn hơn là tự hào.
Điều đáng sợ nhất trong đời linh mục không hẳn là thất bại. Đáng sợ hơn là một ngày nào đó ta quên mình là người được chọn. Khi quên điều ấy, linh mục dễ biến ơn gọi thành nghề nghiệp. Việc mục vụ trở thành công việc. Bàn thờ trở thành chỗ quen thuộc. Thánh lễ trở thành một phần của lịch sinh hoạt. Bài giảng trở thành một sản phẩm phải làm. Giáo dân trở thành những người cần quản lý. Quyền thánh trở thành quyền lực. Chức vụ trở thành vị trí. Và đời linh mục bắt đầu khô đi từ bên trong. Nhưng khi mỗi sáng người linh mục còn nhớ rằng: “Chính Chúa đã chọn tôi,” mọi sự lại mang một vẻ khác. Tôi không cử hành Thánh lễ vì đó là nhiệm vụ, nhưng vì một ngày nào đó Chúa đã gọi tên tôi và đặt chén thánh vào tay tôi. Tôi không ngồi tòa giải tội vì giáo luật yêu cầu, nhưng vì Chúa đã cho tôi được đứng ở nơi lòng thương xót của Người chạm đến những vết thương của con người. Tôi không đi thăm bệnh vì đó là chương trình mục vụ, nhưng vì Đấng đã chọn tôi đang chờ tôi nơi giường bệnh của một cụ già, nơi nước mắt của một gia đình, nơi căn phòng có một người đang sợ chết.
“Chính Thầy đã chọn anh em và cắt cử anh em để anh em ra đi.” Chúa chọn không phải để giữ chúng ta bên mình như một thứ đồ trang trí thánh thiện. Chúa chọn để sai đi. Mọi ơn gọi đích thực đều mang chiều kích sứ mạng. Người linh mục không được truyền chức cho mình. Tu sĩ không khấn để xây dựng một đời sống riêng an toàn trong nhà dòng. Người được chọn là người được sai. Và sai đi nghĩa là có lúc phải rời chỗ mình thích, đến chỗ mình không chọn; làm công việc mình không sở trường; sống với người mình không hợp; chấp nhận những nhiệm sở không đúng mơ ước; phục vụ những con người đôi khi không biết ơn; gieo mà chưa chắc được gặt; làm mà có khi chẳng ai nhớ. Nhưng chính ở đó ta mới hiểu sâu hơn chữ “được chọn”. Chúa không hỏi ta: “Con thích đi đâu?” trước khi Chúa sai. Chúa hỏi: “Con có yêu Thầy không?” rồi Người nói: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.”
Có người kỷ niệm hai mươi lăm năm linh mục, năm mươi năm linh mục, và mọi người gọi đó là “hồng ân”. Hai chữ ấy thật đẹp. Nhưng hồng ân không chỉ là những ngày vui, những thành công, những lần nhà thờ đông người. Hồng ân còn là những ngày ta muốn bỏ mà không bỏ. Hồng ân còn là những lần ta bị tổn thương nhưng vẫn trở về bàn thờ. Hồng ân còn là những đêm mất ngủ vì giáo dân, những năm tháng bệnh tật, những lần chuyển xứ trong nước mắt, những cuộc chia tay, những hiểu lầm, những lúc thấy mình bị bỏ quên. Hồng ân đôi khi mang hình thập giá. Vì nếu Chúa chỉ ban ơn qua những điều dễ chịu thì Canvê đã không phải là nơi cứu độ. Có những điều lúc xảy ra ta tưởng là tai họa, nhiều năm sau nhìn lại mới thấy đó là cách Chúa thanh luyện mình khỏi tự ái, khỏi tham vọng, khỏi nhu cầu phải được nhìn nhận. Ngày đầu ta theo Chúa, ta muốn làm nhiều việc cho Chúa. Sau nhiều năm, Chúa dạy ta rằng điều Chúa cần trước hết không phải việc ta làm, nhưng chính con người ta được biến đổi.
Người trẻ chịu chức thường mang nhiều ước mơ. Điều ấy tốt. Họ muốn giảng hay, muốn giáo xứ phát triển, muốn người trẻ trở về, muốn người nghèo được giúp, muốn cộng đoàn thay đổi. Nhưng thời gian dần dần dạy người linh mục một sự thật: mình không phải Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu Thế là Đức Giêsu. Chúa gọi ta cộng tác, không gọi ta thay Chúa. Có những linh hồn ta hết lòng mà vẫn không thay đổi. Có những gia đình ta cố hòa giải mà cuối cùng vẫn đổ vỡ. Có những người ta giúp rất nhiều rồi vẫn quay lưng. Có những kế hoạch mục vụ ta đầu tư cả đời nhưng chẳng đi đến đâu. Những lúc ấy, nếu linh mục nghĩ ơn gọi dựa trên thành công, họ sẽ chán nản. Nhưng nếu nhớ rằng mình được chọn để trung tín, chứ không được chọn để lúc nào cũng thành công, lòng sẽ bình an hơn. Chúa nói “sinh hoa trái”, nhưng hoa trái ấy là của Chúa, không phải thành tích của ta. Ta gieo. Chúa cho mọc. Có khi ta không được nhìn thấy mùa gặt.
Đời tận hiến cũng thế. Ngày khấn, lời “trọn đời” được nói trong một buổi lễ đẹp. Nhưng “trọn đời” không được làm nên trong một ngày. Nó được làm nên bằng hàng ngàn ngày bình thường sau đó. “Trọn đời” là sáng nay vẫn thức dậy cầu nguyện khi lòng khô khan. Là chiều nay vẫn mỉm cười với người chị em mà hôm qua mình vừa bất hòa. Là tiếp tục phục vụ khi không được khen. Là giữ lời khấn nghèo khó khi có thể sống tiện nghi hơn. Là giữ khiết tịnh không chỉ nơi thân xác mà cả trong những vùng rất kín của trái tim. Là vâng phục khi ý bề trên không giống ý mình. Là già đi trong cộng đoàn mà không cay đắng. Là chấp nhận rằng một ngày nào đó mình không còn làm được nhiều, không còn được giao những việc quan trọng, nhưng vẫn tin rằng giá trị đời mình không giảm đi vì Chúa chọn con người mình, chứ không chỉ chọn khả năng của mình.
Có lẽ thử thách lớn nhất của người được chọn là học cách để Chúa tiếp tục chọn mình mỗi ngày. Vì ta có thể đã được gọi từ ba mươi năm trước nhưng hôm nay vẫn phải trả lời. Ta có thể đã khấn trọn từ lâu nhưng sáng nay vẫn phải chọn trung thành. Ta có thể đã chịu chức năm mươi năm nhưng Thánh lễ hôm nay vẫn cần một trái tim mới. Không ai sống bằng tiếng “xin vâng” của ngày hôm qua mãi được. Ơn gọi là một lời gọi không ngừng vang lên. Mỗi biến cố mới đều như Chúa lại hỏi: “Con có còn theo Thầy không?” Khi sức khỏe giảm: con có còn theo Thầy không? Khi không còn được trọng dụng: con có còn theo Thầy không? Khi cộng đoàn hiểu lầm: con có còn theo Thầy không? Khi người mình từng giúp quay lưng: con có còn theo Thầy không? Khi chính mình thấy đời sống thiêng liêng nghèo nàn: con có còn theo Thầy không? Và có lẽ câu trả lời đẹp nhất chẳng cần hùng hồn: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây.”
Có những linh mục về già không còn giảng nổi những bài dài. Không còn đi xa. Không còn điều hành. Không còn xây dựng. Không còn được mời nhiều. Có khi các ngài chỉ còn ngồi trong một góc nhà hưu, lần chuỗi, dâng lễ chậm chạp, hỏi đi hỏi lại một câu vì trí nhớ đã kém. Nếu nhìn bằng tiêu chuẩn hiệu quả, người ta có thể nghĩ đời các ngài đã qua thời hữu dụng. Nhưng trước mặt Chúa, linh mục không hết giá trị khi không còn làm được việc. Bởi vì trước khi linh mục được chọn để làm, linh mục đã được chọn để thuộc về. Đó là điều rất quan trọng. Nếu chúng ta chỉ hiểu ơn gọi bằng công việc, khi mất khả năng làm việc ta sẽ khủng hoảng. Nhưng nếu hiểu ơn gọi là thuộc về Chúa, thì cả tuổi già, bệnh tật, bất lực cũng trở thành một hình thức dâng hiến. Người linh mục già nằm trên giường bệnh vẫn là người đã được Chúa chọn. Có thể đó là lúc chức linh mục trở nên tinh tuyền nhất: không còn gì để chứng minh, không còn gì để xây dựng tên tuổi, chỉ còn một đời được đặt trong tay Chúa.
“Không phải anh em đã chọn Thầy.” Câu ấy cũng cứu ta khỏi xét đoán nhau. Nếu ơn gọi là ơn Chúa chọn, ta không có quyền tự cho mình cao hơn người khác. Linh mục không hơn giáo dân. Tu sĩ không hơn người lập gia đình. Ơn gọi nào cũng là cách Chúa dẫn một người đi vào tình yêu. Người linh mục phải càng được chọn càng khiêm nhường. Vì sao Chúa chọn tôi mà không chọn người kia? Ta không biết. Vì sao trong một gia đình có năm anh em chỉ một người đi tu? Không ai giải thích được. Vì sao có người tài năng hơn, đạo đức hơn, quảng đại hơn nhưng không được gọi vào con đường này? Không ai biết. Ơn gọi là huyền nhiệm. Và đứng trước huyền nhiệm, thái độ đúng nhất là biết ơn.
Có người hỏi: “Cha có bao giờ hối tiếc vì đi tu không?” Một câu hỏi rất thật. Có lẽ nếu trả lời quá nhanh: “Không bao giờ!” đôi khi lại thiếu thật lòng. Trong một đời dài, có thể có những phút con người mệt mỏi đến mức tự hỏi: nếu ngày ấy mình chọn con đường khác thì sao? Nếu mình lập gia đình thì sao? Nếu mình có một nghề bình thường thì sao? Nếu mình không bước vào cánh cửa ấy thì đời mình sẽ thế nào? Những câu hỏi ấy không nhất thiết là phản bội ơn gọi. Đôi khi chúng là một phần của hành trình trưởng thành. Nhưng sau những câu hỏi ấy, người ở lại lâu năm thường nhận ra một điều sâu hơn: mình không thể tưởng tượng đời mình nếu không có Chúa gọi. Không phải vì đời tu luôn dễ. Không phải vì chức linh mục không có cô đơn. Nhưng vì giữa mọi thăng trầm, ta đã gặp một tình yêu quá lớn để có thể nói rằng đời mình là một sai lầm.
Chúa chọn không có nghĩa là Chúa bảo đảm đời ta không đau. Ngược lại, những người Chúa chọn trong Kinh Thánh hầu hết đều đi qua thập giá. Abraham được gọi rồi phải lên đường. Môsê được gọi rồi phải đối diện Pharaô và cả sự cứng lòng của dân. Giêrêmia được gọi rồi khóc. Maria được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế rồi đứng dưới chân thập giá. Phêrô được chọn rồi phải học yêu Chúa qua sự tan vỡ của chính mình. Phaolô được chọn rồi chịu tù đày, đòn vọt, hiểm nguy. Đức Giêsu là Người Con được tuyển chọn của Chúa Cha, và con đường của Người đi đến Canvê. Bởi thế, đừng dùng gian nan để kết luận rằng mình đã chọn sai. Có những gian nan chính là dấu ta đang được dẫn đi sâu hơn vào mầu nhiệm của Đấng đã gọi mình.
Điều đẹp nhất trong ngày kỷ niệm không phải là những bó hoa, những bài chúc mừng, những tấm hình cũ được chiếu lại. Những điều ấy đáng quý. Nhưng đẹp nhất là giây phút người linh mục trở về trước Nhà Tạm khi mọi người đã ra về và thưa thật nhỏ: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa vì đã không bỏ con.” Bởi vì nếu nhìn kỹ, một đời linh mục không chỉ là câu chuyện mình trung thành với Chúa, nhưng còn là câu chuyện Chúa trung thành với mình. Có bao lần mình cầu nguyện hời hợt, Chúa vẫn ở đó. Có bao lần mình nóng nảy, Chúa vẫn chịu đựng. Có bao lần mình tìm chính mình trong công việc của Chúa, Chúa vẫn kiên nhẫn sửa dạy. Có bao lần mình yếu đuối, Chúa vẫn cho cơ hội đứng lên. Có bao lần mình muốn chạy trốn, Chúa vẫn giữ. Cuối cùng, người linh mục được cứu không phải bởi thành tích linh mục của mình, nhưng bởi lòng thương xót của Đức Kitô.
Và cũng đừng quên phần sau của câu Tin Mừng: “để anh em ra đi và sinh hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại.” Hoa trái tồn tại không nhất thiết là những công trình còn tên mình. Một ngôi nhà có thể bị đập đi. Một giáo xứ có thể đổi khác. Một chức vụ có thể có người khác thay. Một cuốn sách có thể không còn ai đọc. Một bài giảng có thể bị quên ngay sau Thánh lễ. Nhưng một lời tha thứ ta trao đúng lúc có thể đi theo một người suốt đời. Một lần ta ngồi nghe một người trẻ trong lúc họ tuyệt vọng có thể cứu cả tương lai của họ. Một lần ta không lên án một tội nhân có thể giúp họ trở về. Một Thánh lễ ta dâng âm thầm có thể trở thành nguồn ơn mà ta chẳng bao giờ biết. Một lời cầu nguyện cho một người đã mất có thể là hoa trái chỉ Thiên Chúa nhìn thấy. Đời linh mục có rất nhiều hoa trái vô hình. Và có lẽ chính những hoa trái vô hình ấy mới là thứ tồn tại lâu nhất.
Người được Chúa chọn cũng phải học đừng sở hữu những người được giao cho mình. Đoàn chiên là của Chúa. Giáo xứ là của Chúa. Cộng đoàn là của Chúa. Những người yêu mến ta cũng là của Chúa. Một cám dỗ rất tinh tế của người phục vụ là dần dần nghĩ rằng người khác thuộc về mình. Ta muốn họ nghe mình, theo mình, bênh mình, nhớ mình. Nhưng Gioan Tẩy Giả đã nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Người mục tử đúng nghĩa vui khi chiên đến gần Đức Kitô, dù họ không còn cần đến mình. Người linh mục đúng nghĩa không xây một nhóm người trung thành với cá nhân mình, nhưng dẫn họ vào Hội Thánh. Người tu sĩ đúng nghĩa không tìm cách để người khác nhớ mình, nhưng làm sao để qua đời mình người khác nhớ đến Chúa.
Một ngày kia, mọi người được chọn sẽ phải trao lại tất cả. Áo lễ sẽ có người khác mặc. Phòng làm việc sẽ có người khác ngồi. Bàn thờ ta từng dâng lễ sẽ có người khác đứng. Những cuốn sổ, những sách vở, những vật dụng ta từng quý rồi sẽ được dọn đi. Tên mình rồi cũng ít người nhắc. Đó không phải bi kịch. Đó là sự thật lành mạnh giúp người linh mục nhớ rằng ơn gọi không nhằm làm tên mình tồn tại. “Hoa trái tồn tại” không có nghĩa tên người gieo phải tồn tại. Hạt lúa phải mục đi. Người mục tử đến rồi đi. Chỉ Đức Kitô còn lại.
Và vì thế, lễ khấn đẹp nhất khi người khấn không chỉ vui vì hôm nay được mọi người chúc mừng, nhưng run trước một lời gọi sẽ kéo dài cả đời. Lễ truyền chức đẹp nhất khi tân linh mục không chỉ nhìn vào áo lễ mới hay chén thánh mới, nhưng nhìn lên Thập Giá và hiểu rằng bàn tay hôm nay được xức dầu rồi sẽ phải giơ lên chúc lành cả những người làm mình đau. Đôi chân hôm nay bước lên cung thánh rồi sẽ phải đi đến những nơi mình không muốn. Trái tim hôm nay đầy xúc động rồi sẽ có lúc khô khan. Nhưng Chúa chọn ta không chỉ cho một ngày đẹp. Chúa chọn cho cả những ngày rất bình thường, thậm chí rất tối.
Có lẽ lời cầu nguyện cần nhất của người được chọn không phải: “Lạy Chúa, xin cho con thành công,” mà là: “Lạy Chúa, xin đừng để con rời khỏi Chúa.” Không phải: “Xin cho nhiều người biết đến con,” mà là: “Xin cho con làm người ta biết đến Chúa.” Không phải: “Xin cho con luôn được yêu mến,” mà là: “Xin cho con biết yêu ngay cả khi không được yêu.” Không phải: “Xin cho con khỏi thập giá,” mà là: “Xin cho con đừng đánh mất Chúa trên thập giá.” Bởi vì một linh mục có thể mất nhiều thứ mà vẫn còn là linh mục bình an nếu còn Chúa. Nhưng nếu có mọi thứ mà đánh mất tương quan với Chúa, đời linh mục sẽ trở thành một căn nhà đẹp không có người ở.
Ngày kỷ niệm linh mục, có lẽ điều đáng làm nhất là trở về chỗ bắt đầu. Không phải về địa lý, nhưng về trái tim. Trở về với tiếng gọi đầu tiên. Trở về với ánh mắt đầu tiên. Trở về với câu hỏi ngày nào: “Con có yêu Thầy không?” Bao nhiêu năm qua ta đã làm nhiều việc, đã gặp nhiều người, đã mang nhiều trách nhiệm. Nhưng cuối cùng Chúa vẫn hỏi câu rất cũ: “Con có yêu Thầy không?” Không hỏi con xây bao nhiêu. Không hỏi con được bao nhiêu người biết. Không hỏi con giữ chức gì. Chúa hỏi về tình yêu. Vì chính tình yêu là lý do Chúa chọn ta, và chỉ tình yêu mới giúp ta ở lại.
“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em.” Nếu hôm nay là ngày khấn, xin người khấn nhớ rằng mình bước tới bàn thờ không phải như người hùng, nhưng như người được thương. Nếu hôm nay là ngày truyền chức, xin tân linh mục nhớ rằng từ hôm nay đời mình không còn thuộc về mình theo một cách rất sâu. Nếu hôm nay là ngày kỷ niệm linh mục, xin người linh mục đừng chỉ đếm số năm, nhưng đếm những lần Chúa đã tha thứ, nâng dậy, gìn giữ và gọi mình lại từ đầu. Và nếu hôm nay là một ngày rất bình thường của đời dâng hiến, một ngày chẳng có hoa, chẳng có tiếng vỗ tay, chẳng có ai nhớ, thì câu Tin Mừng ấy lại càng quý: Chúa nhớ. Chúa biết. Chúa đã chọn.
Cuối cùng, có lẽ khi đến cuối đời, tất cả chúng ta đều mong được nói một câu thật đơn sơ. Không phải: “Lạy Chúa, con đã làm nhiều lắm.” Không phải: “Lạy Chúa, con đã hy sinh nhiều lắm.” Nhưng: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa đã chọn con. Con đã không luôn xứng đáng với lời gọi ấy. Con đã có những ngày yếu đuối, những lần sai, những lúc làm Chúa buồn, nhưng Chúa đã không thôi là Chúa của con. Nếu có điều gì tốt đẹp trong đời con, tất cả là ân sủng. Nếu có hoa trái nào còn lại, tất cả là công trình của Chúa. Và nếu hôm nay con có thể trở về với Chúa, thì đó cũng bởi vì chính Chúa đã chọn con trước khi con biết chọn Chúa.”
Đời linh mục, đời tận hiến, vì thế không phải là câu chuyện của một con người đã làm được chuyện lớn cho Thiên Chúa. Đó là câu chuyện của một Thiên Chúa đã làm chuyện lớn nơi một con người bé nhỏ. Và càng sống lâu, người ta càng thấy ơn gọi không phải chiếc huy chương để đeo, nhưng là món nợ tình yêu không bao giờ trả hết. Mỗi Thánh lễ là một lần trả lời. Mỗi lời khấn được sống trung thành là một lần trả lời. Mỗi sự hy sinh âm thầm là một lần trả lời. Mỗi lần tha thứ là một lần trả lời. Mỗi ngày ở lại là một lần trả lời. Cho đến ngày cuối cùng, ta đặt cả đời mình vào tay Chúa và nghe lại lời đã mở đầu tất cả: “Không phải con đã chọn Thầy. Chính Thầy đã chọn con.”
Và khi ấy, có lẽ ta mới hiểu trọn vẹn rằng điều đẹp nhất trong một đời dâng hiến không phải là mình đã giữ được Chúa, nhưng là Chúa đã giữ mình. Không phải mình đã trung thành hoàn hảo, nhưng Chúa đã trung thành đến cùng. Không phải mình đã chọn Chúa thật giỏi, nhưng giữa hàng triệu con đường, giữa biết bao giới hạn và mong manh, Chúa đã nhìn đến mình, gọi tên mình, dẫn mình đi, chịu đựng mình, thanh luyện mình, dùng mình, và cuối cùng đưa mình trở về. Chỉ nghĩ đến đó thôi cũng đủ để một người linh mục già quỳ thật lâu trước Nhà Tạm, không còn xin gì, không còn nói gì nhiều, chỉ còn hai tiếng từ tận đáy lòng: Tạ ơn.
Lm. Anmai, CSsR

KHI CÔNG VIỆC CHO CHÚA TRỞ THÀNH QUAN TRỌNG HƠN CHÍNH CHÚA
Tin Mừng: Lc 10,38-42
Có một nghịch lý rất âm thầm trong đời sống đức tin mà người ta thường chỉ nhận ra sau nhiều năm: có khi chúng ta làm rất nhiều việc cho Chúa mà lại ngày càng xa Chúa; có khi chúng ta nói về Chúa suốt ngày mà lòng mình chẳng còn thời giờ để nghe Chúa nói; có khi lịch làm việc kín đặc những chuyện của giáo xứ, cộng đoàn, hội đoàn, mục vụ, bác ái, phụng vụ, giảng dạy, tổ chức, xây dựng, họp hành, thăm viếng, giải quyết đủ thứ chuyện, nhưng trong một góc rất sâu của tâm hồn, tương quan với Chúa lại đang khô đi từng ngày. Điều đáng sợ nhất không phải là chúng ta bỏ việc Chúa để chạy theo việc đời. Điều đáng sợ hơn nhiều là chúng ta có thể đánh mất Chúa ngay trong chính công việc của Chúa. Ta vẫn ở nhà thờ, vẫn cầm sách thánh, vẫn mặc áo lễ, vẫn đọc kinh, vẫn giảng, vẫn dạy giáo lý, vẫn phục vụ người nghèo, vẫn tất bật cho cộng đoàn, vẫn được mọi người nhìn như một người rất nhiệt thành, nhưng có khi lòng ta đã lâu không còn thật sự ngồi xuống dưới chân Chúa. Tin Mừng về Mácta và Maria vì thế không phải chỉ là một câu chuyện dễ thương về hai chị em có hai cách tiếp khách khác nhau. Đây là một lời cảnh tỉnh rất sâu dành cho bất cứ ai đang phục vụ Chúa, nhất là những người càng dấn thân nhiều càng dễ tưởng rằng mình đang ở rất gần Chúa.
Đức Giêsu vào một làng kia. Một người phụ nữ tên là Mácta đón Người vào nhà. Chỉ một chi tiết ấy thôi đã cho ta thấy Mácta là một người tốt. Chị yêu Chúa. Chị quý Chúa. Chị mở cửa nhà mình cho Chúa. Chị không phải người lạnh nhạt. Chị không phải người ích kỷ. Chị cũng không phải người chỉ biết sống cho mình. Chị muốn tiếp đãi Chúa thật chu đáo. Chúa đến nhà, chị muốn làm một bữa ăn ngon. Chúa là khách quý, chị muốn mọi thứ phải thật tươm tất. Nếu nhìn theo cách thông thường, chẳng có gì đáng trách nơi Mácta. Trái lại, ta còn phải quý mến chị. Không có những con người như Mácta thì nhiều việc chẳng bao giờ thành. Không có người lo bếp núc, bàn ghế, thức ăn, nước uống, âm thanh, ánh sáng, chỗ ngồi, lịch trình, tiền bạc, phương tiện, hậu cần, ai sẽ làm? Không thể có một cộng đoàn sống chỉ bằng những người ngồi suy niệm. Hội Thánh cần những đôi tay biết làm việc. Gia đình cần những người biết chăm lo. Giáo xứ cần những người chịu khó. Nhà dòng cần những người dấn thân. Thế nhưng vấn đề của Mácta không nằm ở chỗ chị làm việc. Vấn đề bắt đầu khi công việc chiếm hết lòng chị. Tin Mừng nói một câu rất chính xác: “Mácta tất bật lo việc phục vụ.” Không phải chỉ là làm việc, nhưng là bị công việc kéo đi, bị công việc phân tâm, bị công việc xé lòng thành nhiều mảnh.
Trong khi ấy, Maria “ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy”. Một người chạy tới chạy lui. Một người ngồi lại. Một người lo đủ thứ. Một người chỉ làm một việc. Một người muốn chuẩn bị nhiều thứ cho Chúa. Một người muốn đón nhận chính Chúa. Và rồi điều đáng suy nghĩ nhất xảy ra: người tất bật bắt đầu khó chịu với người đang bình an. Mácta đến thưa với Chúa: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!” Lời ấy nghe rất quen. Người phục vụ lâu ngày rất dễ bước vào tâm trạng này. Ban đầu ta phục vụ vì yêu. Sau đó ta phục vụ vì bổn phận. Rồi dần dần ta phục vụ trong bực bội. Ban đầu ta tự nguyện. Sau đó ta bắt đầu nhìn xem ai làm ít hơn mình. Ban đầu ta vui vì được góp một tay. Sau đó ta thấy mình bị lợi dụng. Ban đầu ta chỉ muốn việc chung tốt đẹp. Sau đó ta bắt đầu trách những người không làm giống ta. Và cuối cùng, ta đem cả sự bực bội ấy đến trước mặt Chúa: “Lạy Chúa, Chúa không thấy sao?” Có một nỗi cay đắng rất tinh vi của người làm nhiều: họ có thể bắt đầu nghĩ rằng mình đang gánh cả thế giới còn mọi người thì vô tâm. Khi ấy công việc không còn là hoa trái của tình yêu nữa. Nó trở thành gánh nặng. Và tệ hơn, nó làm trái tim người phục vụ trở nên cứng.
Chúa Giêsu không trách Mácta vì chị nấu ăn. Người cũng không bảo từ nay đừng phục vụ nữa. Người chỉ gọi tên căn bệnh trong lòng chị: “Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!” Chúa gọi tên chị hai lần. Đó không phải là tiếng quở trách lạnh lùng. Đó là giọng của một người thương. Như thể Chúa muốn nói: “Mácta, con đang làm nhiều việc cho Thầy, nhưng chính con lại không còn bình an khi Thầy ở đây. Con đang chuẩn bị bàn ăn cho Thầy, nhưng con không còn vui vì có Thầy trong nhà. Con đang lo phục vụ Thầy, nhưng lòng con đã bị công việc nuốt mất. Con đang đứng rất gần Thầy, nhưng tâm hồn lại chạy đi đâu hết rồi.” Câu ấy làm ta phải giật mình. Có thể Chúa đang hiện diện rất gần nhưng ta vẫn không gặp Người. Có thể ta đang làm việc ngay trong nhà Chúa mà lòng chẳng còn ở với Chúa. Có thể môi ta gọi “Lạy Chúa” rất nhiều, nhưng trong một ngày dài, ta chẳng dành cho Người được mười phút không vội vã.
Người phục vụ Chúa có một cám dỗ rất đặc biệt: lấy công việc cho Chúa để thay thế cho chính Chúa. Cám dỗ này nguy hiểm vì nó mặc áo đạo đức. Nếu một người bỏ cầu nguyện để đi chơi, họ dễ nhận ra mình sai. Nhưng nếu một người bỏ cầu nguyện vì phải làm việc mục vụ, họ có thể cảm thấy mình đang hy sinh cho Chúa. Nếu một linh mục không còn giờ thinh lặng vì quá nhiều lễ, quá nhiều cuộc họp, quá nhiều chương trình, quá nhiều điện thoại, quá nhiều người cần gặp, ngài có thể nghĩ rằng đó là giá phải trả của nhiệt thành. Nếu một tu sĩ không còn giờ ở lại với Chúa vì bận phục vụ cộng đoàn, chăm người nghèo, tổ chức sinh hoạt, đi công tác, họ có thể nghĩ rằng mình đang sống trọn ơn gọi. Nếu một giáo dân không còn đời sống cầu nguyện vì quá bận công tác hội đoàn, họ có thể nghĩ: “Tôi đang làm việc cho Chúa mà.” Nhưng đến một lúc nào đó, chúng ta phải hỏi: mình làm những việc này từ đâu? Từ một trái tim đang đầy Chúa hay từ một cái tôi đang cần được khẳng định? Mình phục vụ vì yêu hay vì không biết dừng? Mình làm vì Chúa muốn hay vì mình sợ người ta nói? Mình dấn thân vì được sai hay vì mình nghiện cảm giác được cần đến?
Có những người rất khó ngồi yên trước Chúa bởi vì khi ngồi yên, họ phải đối diện với chính mình. Làm việc đôi khi là một cách chạy trốn. Chạy trốn sự trống rỗng. Chạy trốn những câu hỏi sâu trong lòng. Chạy trốn một nỗi buồn không muốn gọi tên. Chạy trốn một khủng hoảng đức tin. Chạy trốn cảm giác mình không còn yêu Chúa như trước. Vì thế ta cứ làm. Làm thêm. Nhận thêm. Tổ chức thêm. Nói thêm. Đi thêm. Cứ bận rộn để không phải nghe tiếng thinh lặng. Nhưng Chúa không chỉ muốn đôi tay của ta. Chúa muốn trái tim ta. Người không cần ta đến mức nếu ta dừng lại một giờ thì chương trình cứu độ sẽ sụp đổ. Hội Thánh đã tồn tại trước ta và sẽ tiếp tục sau ta. Điều Chúa muốn không phải trước hết là ta hoàn thành bao nhiêu việc, nhưng là giữa những việc ấy, ta có còn thuộc về Người không.
“Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi.” Câu này nghe tưởng đơn giản nhưng nếu sống thật thì có thể đảo lộn cả một đời người. Một chuyện cần thiết không có nghĩa là bỏ hết mọi trách nhiệm để chỉ cầu nguyện. Chúa Giêsu cũng đã đi rao giảng, chữa bệnh, nuôi dân, đi bộ rất nhiều, gặp rất nhiều người. Người không cổ võ một thứ đạo đức lười biếng. Nhưng Người luôn biết điều gì đứng trước điều gì. Trước khi đi vào hoạt động, Người cầu nguyện. Sau một ngày đầy đám đông, Người lui vào nơi thanh vắng. Khi người ta kéo Người đi theo những nhu cầu không dứt, Người vẫn biết mình được Cha sai đi đâu. Công việc không điều khiển Chúa. Sứ mạng không nuốt mất tương quan của Người với Cha. Người làm mọi việc từ sự hiệp thông với Cha. Chính ở đó, chúng ta hiểu “một chuyện cần thiết”: trước mọi việc ta làm cho Chúa, phải có việc ở với Chúa.
Maria “đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”. Maria không mang đến cho Chúa món ăn nào. Chị chỉ mang cho Người sự hiện diện của mình. Chị ngồi dưới chân Người. Trong văn hóa Do Thái, ngồi dưới chân một rabbi là tư thế của người môn đệ. Maria không chỉ nghỉ ngơi. Chị đang lắng nghe. Chị đặt Chúa ở trung tâm. Chị để lời Chúa đi vào mình trước khi mình đi làm điều gì cho Chúa. Đó là trật tự rất căn bản của đời Kitô hữu: trước khi trao ban, hãy nhận lãnh; trước khi nói về Chúa, hãy nghe Chúa; trước khi phục vụ, hãy để Chúa phục vụ tâm hồn mình; trước khi đưa Chúa đến cho người khác, hãy để Chúa bước vào những nơi sâu nhất trong lòng ta.
Không ai có thể cho điều mình không có. Một người không còn bình an thì rất khó đem bình an cho người khác. Một người lâu ngày không ở với Chúa thì có thể vẫn giảng về Chúa rất hay, nhưng dần dần lời của họ sẽ mất hơi ấm. Một người phục vụ mà không kín múc từ cầu nguyện sẽ sớm biến việc phục vụ thành sự cáu gắt. Một người làm mục vụ mà thiếu đời sống nội tâm rất dễ dùng kỹ thuật thay cho tình yêu, dùng cơ cấu thay cho sự sống, dùng thành tích thay cho hoa trái của Thánh Thần. Khi ấy ta có thể tổ chức một chương trình rất thành công nhưng chẳng ai gặp Chúa. Ta có thể xây một ngôi nhà rất đẹp nhưng quên xây cộng đoàn. Ta có thể làm một buổi lễ thật hoành tráng mà lòng mình khô khốc. Ta có thể nói chuyện đạo đức rất nhiều mà trong nhà lại thiếu lòng dịu dàng. Ta có thể bảo vệ danh dự của Chúa nhưng làm tổn thương con người mà Chúa yêu. Khi công việc trở thành trung tâm, ngay cả công việc tốt cũng có thể làm ta xa Chúa.
Có một dấu hiệu rất rõ để biết công việc đã bắt đầu quan trọng hơn Chúa: ta mất bình an khi công việc không diễn ra theo ý mình. Nếu ta thật sự làm cho Chúa, ta sẽ cố gắng hết sức nhưng cũng biết buông khi cần. Nếu ta làm cho cái tôi, ta sẽ nổi giận khi người khác không công nhận, thất vọng khi không được khen, khó chịu khi kế hoạch bị thay đổi, cay cú khi người khác làm khác mình. Khi ta không còn phân biệt đâu là việc Chúa và đâu là ý riêng, ta sẽ gọi mọi sự chống lại ý mình là chống lại Chúa. Đây là một cám dỗ đáng sợ nơi những người nhiệt thành. Ta có thể bắt đầu nghĩ rằng vì ta đang làm việc tốt nên mọi cách làm của ta đều đúng. Nhưng Chúa không chỉ quan tâm đến điều ta làm; Người còn quan tâm ta trở thành người thế nào trong khi làm điều ấy.
Mácta có lẽ đã làm một bữa ăn ngon. Nhưng trong lúc ấy, lòng chị đầy bực bội. Maria chẳng làm món gì, nhưng lòng chị đầy Chúa. Nếu phải chọn giữa một bữa ăn thật cầu kỳ nhưng người nấu đầy giận dữ, với một bữa ăn đơn sơ nhưng đầy tình yêu, Chúa sẽ chọn điều nào? Trong đời sống cũng thế. Chúa không bị quyến rũ bởi quy mô. Người không đo công trạng theo số giờ hoạt động. Có những việc nhỏ được làm với tình yêu lớn làm đẹp lòng Chúa hơn những công trình lớn được làm để khẳng định mình. Có một bà mẹ âm thầm chăm người chồng bệnh tật nhiều năm chẳng ai biết. Có một người cha đi làm về mệt vẫn ngồi nghe con nói. Có một tu sĩ âm thầm cầu nguyện cho cộng đoàn mà chẳng ai ghi tên trong bản báo cáo. Có một linh mục ngồi hàng giờ trong tòa giải tội không máy ảnh, không sân khấu, không tiếng vỗ tay. Có người chỉ lặng lẽ ở cạnh một bệnh nhân hấp hối. Những việc ấy nhỏ trong mắt đời nhưng có thể rất lớn trước mặt Chúa vì ở đó có tình yêu.
Một nguy cơ khác của người quá bận việc Chúa là bắt đầu nhìn người khác bằng thước đo hiệu suất. Mácta nhìn Maria và thấy một người “không giúp mình”. Chị không còn thấy em mình là một người đang gặp Chúa. Chị chỉ thấy một nhân lực chưa được sử dụng. Điều này rất dễ xảy ra trong các cộng đoàn. Ta nhìn người khác và trước hết hỏi: người này làm được gì? Có đóng góp không? Có hữu ích không? Có tham gia không? Có gánh việc không? Rồi vô tình ta đánh giá giá trị của con người theo khả năng làm việc. Nhưng trước mặt Chúa, một người không có giá trị vì họ hữu dụng. Họ có giá trị vì họ là người được Chúa yêu. Một người già không làm được gì nữa vẫn quý giá. Một người bệnh nằm một chỗ vẫn quý giá. Một tu sĩ lớn tuổi không còn đảm trách chức vụ nào vẫn quý giá. Một linh mục nghỉ hưu không còn “hiệu quả mục vụ” như trước vẫn quý giá. Bởi vì trong Nước Chúa, phẩm giá đi trước hiệu suất.
Nếu không cẩn thận, đời sống đạo cũng bị nhiễm căn bệnh của xã hội hiện đại: phải năng suất, phải nhanh, phải nhiều, phải thấy kết quả. Nhưng đời sống với Chúa có những điều không thể đo bằng con số. Một giờ chầu không tạo ra báo cáo. Một buổi thinh lặng không có thống kê. Một giọt nước mắt sám hối không xuất hiện trong bảng thành tích. Một lần tha thứ trong âm thầm chẳng ai vỗ tay. Một quyết định không nói lời làm tổn thương người khác không ai biết. Thế nhưng có thể chính những điều ấy làm thay đổi linh hồn ta nhiều hơn hàng chục chương trình lớn. Chúng ta cần làm việc, nhưng ta phải nhớ rằng Chúa không phải là một ông chủ đang đòi năng suất. Người là Cha. Người muốn con cái ở với Người.
Có khi ta phải can đảm hỏi mình: nếu hôm nay Chúa lấy khỏi tôi mọi chức vụ, mọi hoạt động, mọi vai trò, mọi nơi để tôi đứng trước đám đông, mọi chương trình tôi đang điều hành, tôi còn biết mình là ai trước mặt Chúa không? Nếu không còn ai gọi điện nhờ mình, không còn ai cần mình giải quyết việc gì, không còn ai khen mình nhiệt thành, tôi có còn cảm thấy đời mình có ý nghĩa không? Câu hỏi ấy rất đau nhưng cần thiết. Bởi nếu căn tính của ta đặt trên công việc, một ngày công việc kết thúc ta sẽ sụp đổ. Nếu căn tính của linh mục nằm ở việc điều hành giáo xứ, khi về hưu ngài dễ thấy mình vô dụng. Nếu căn tính của tu sĩ nằm ở chức vụ, khi được thay người khác sẽ đau. Nếu căn tính của một người nằm ở chỗ mình “cần thiết”, họ sẽ khó trao việc cho người khác. Nhưng nếu căn tính của ta là người được Chúa yêu, thì dù làm hay không làm, dù đứng trước hay đứng sau, dù khỏe mạnh hay yếu đau, ta vẫn biết mình thuộc về Người.
Điều đáng buồn là đôi khi chúng ta có thể dùng chính Chúa như một lý do để không gặp Chúa. Ta nói: “Con bận việc Chúa.” Nhưng có khi Chúa chỉ muốn nói: “Con ngồi xuống đây với Thầy một chút được không?” Ta bảo: “Còn bao nhiêu người đang chờ con.” Chúa nói: “Nhưng trái tim con cũng đang chờ con trở về.” Ta nói: “Con còn bài giảng phải viết.” Chúa nói: “Trước khi viết về Thầy, con có thể nghe Thầy không?” Ta nói: “Con phải lo cho cộng đoàn.” Chúa nói: “Nhưng ai đang lo cho linh hồn con?” Ta nói: “Con phải cứu bao nhiêu việc.” Chúa nói: “Thầy mới là Đấng Cứu Độ, không phải con.”
Có một sự kiêu ngạo rất kín đáo trong hoạt động quá mức: tưởng rằng nếu thiếu mình thì mọi sự sẽ không chạy. Thực ra, nhiều khi ta không dám nghỉ vì nghĩ mình quá quan trọng. Không dám giao việc vì nghĩ người khác không làm được như mình. Không dám im lặng vì nghĩ tiếng nói của mình luôn cần thiết. Không dám lui vào cầu nguyện vì sợ công việc đình trệ. Nhưng Tin Mừng nhắc ta nhớ: ta là người phục vụ, không phải Đấng Cứu Thế. Khi ta ngủ, Chúa vẫn làm việc. Khi ta nghỉ, Chúa vẫn chăm sóc Hội Thánh. Khi ta không hiện diện, Chúa vẫn có thể dùng người khác. Khi ta chấp nhận mình không phải trung tâm, ta mới thật sự tự do để phục vụ.
Đức Giêsu không nói: “Mácta, con xấu; Maria, con tốt.” Người chỉ đặt lại thứ tự. Có lúc phải là Mácta. Có lúc phải là Maria. Nhưng Mácta chỉ không lạc đường khi bên trong Mácta vẫn có một Maria ngồi dưới chân Chúa. Ta có thể chạy tới chạy lui bên ngoài nhưng bên trong vẫn ở với Chúa. Ta có thể làm rất nhiều mà lòng không tán loạn. Ta có thể phục vụ cả ngày mà vẫn giữ một khoảng nội tâm dành riêng cho Người. Vấn đề không phải số lượng công việc. Vấn đề là trung tâm của lòng ta ở đâu.
Người cầu nguyện thật không phải là người trốn việc. Trái lại, cầu nguyện làm ta phục vụ tốt hơn. Khi ngồi dưới chân Chúa, ta học được cách nhìn người khác bằng mắt Chúa. Ta bớt nóng nảy. Ta bớt thích kiểm soát. Ta bớt đòi người khác phải giống mình. Ta bớt làm việc vì tự ái. Ta biết đâu là điều cần, đâu là điều có thể bỏ. Có những người rất bận nhưng không sinh hoa trái vì họ làm quá nhiều chuyện không cần thiết. Có những việc ta làm chỉ vì “xưa nay vẫn thế”. Có những cuộc họp chẳng cần họp. Có những chương trình làm vì sợ năm nay ít hơn năm trước. Có những hoạt động chỉ để chứng minh giáo xứ mình đông, hội đoàn mình mạnh, cộng đoàn mình nổi bật. Nếu ngồi đủ lâu dưới chân Chúa, có thể Người sẽ bảo ta bỏ bớt. Và đôi khi vâng lời Chúa bằng cách bỏ một việc còn khó hơn nhận thêm một việc.
“Chỉ có một chuyện cần thiết.” Chúng ta phải để câu này đi vào tận cách tổ chức đời mình. Một ngày của ta có thể đầy ắp nhưng vẫn rỗng nếu thiếu Chúa. Một ngày có thể rất ít việc nhưng rất đầy nếu ta sống trong sự hiện diện của Người. Có những ngày ta chẳng làm được gì lớn vì bệnh, vì mệt, vì tuổi già, vì hoàn cảnh. Nhưng nếu ngày ấy ta ở với Chúa, ngày ấy không vô ích. Thế giới dạy rằng giá trị của một ngày nằm ở những gì ta hoàn thành. Tin Mừng dạy rằng giá trị sâu nhất của một ngày nằm ở Đấng mà ta đã ở cùng.
Cũng cần nói thật rằng đối với những người phục vụ lâu năm, cầu nguyện đôi khi trở thành điều khó nhất. Không phải vì họ không tin, nhưng vì họ đã quá quen với những thứ thuộc về Chúa. Một linh mục có thể đọc Tin Mừng mỗi ngày nhưng chủ yếu để tìm ý giảng cho người khác. Một tu sĩ có thể đọc sách thiêng liêng để chuẩn bị chia sẻ. Một giáo lý viên có thể học Kinh Thánh để dạy. Một người làm truyền thông Công giáo có thể đọc lời Chúa để tìm câu đăng. Tất cả đều tốt, nhưng có nguy cơ lời Chúa luôn đi qua ta để đến người khác mà chẳng bao giờ dừng lại trong ta. Có lúc cần mở Tin Mừng không phải để viết bài, không phải để giảng, không phải để tìm nội dung, chỉ để nghe Chúa nói với chính mình. Có lúc cần bước vào nhà nguyện không mang theo chương trình nào. Chỉ ngồi. Chỉ ở đó. Chỉ nhìn Chúa và để Chúa nhìn mình. Đó là điều Maria làm.
Người ta kể được rất nhiều về những công trình của các thánh, nhưng điều làm các ngài nên thánh không phải số công trình. Đó là nguồn mạch từ đó những công trình ấy phát sinh. Mẹ Têrêsa phục vụ người nghèo nhưng trước khi bước ra đường, các nữ tu của Mẹ dành thời gian trước Thánh Thể. Thánh Anphongsô là nhà truyền giáo, nhà thần học, người sáng lập, người viết vô số tác phẩm, nhưng tất cả phát xuất từ một trái tim say mê Đức Kitô. Thánh Gioan Maria Vianney có những ngày ngồi tòa giải tội hàng chục giờ, nhưng đời ngài được nâng đỡ bởi cầu nguyện. Những con người ấy không chọn giữa cầu nguyện và hoạt động. Họ để cầu nguyện trở thành linh hồn của hoạt động.
Một công việc không còn được nuôi bằng cầu nguyện sẽ dần dần tìm thức ăn ở nơi khác: lời khen, thành công, con số, quyền lực, ảnh hưởng, sự công nhận. Khi ấy ta cần người khác thấy mình. Ta cần chương trình đông. Ta cần được nhắc tên. Ta cần vai trò. Ta cần tiếng vỗ tay. Và nếu những điều ấy không có, ta thất vọng. Nhưng người làm việc từ Chúa thì tự do hơn. Họ vui khi việc tốt dù không mang tên họ. Họ không buồn khi người khác giỏi hơn. Họ có thể lui lại. Họ không sợ mình bị quên. Bởi điều họ cần nhất không phải ánh mắt của đám đông mà là ánh mắt của Chúa.
Mácta nói: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao?” Đằng sau câu ấy là cảm giác mình không được nhìn thấy. Rất nhiều người phục vụ cũng mang nỗi buồn này. Họ làm rất nhiều nhưng chẳng ai cám ơn. Họ âm thầm nhiều năm nhưng ít ai nhớ. Họ cho đi mà dường như bị xem là điều đương nhiên. Đau chứ. Nhưng nếu ta phục vụ chỉ nhờ lời cảm ơn của con người, ta sẽ sớm cạn. Ta cần một nơi sâu hơn để kín múc. Chúa nhìn thấy. Có những điều chẳng ai biết, nhưng Chúa biết. Có những hy sinh chẳng ai ghi nhận, nhưng Chúa ghi nhận. Nếu ta trở về được với cái nhìn ấy, lòng sẽ nhẹ hơn.
Đừng để việc Chúa lấy mất Chúa. Đừng để nhà thờ lấy mất Đấng ở trong nhà thờ. Đừng để bài giảng lấy mất Đấng mà bài giảng nói tới. Đừng để phụng vụ lấy mất tương quan với Đấng ta cử hành. Đừng để thần học lấy mất lòng kính mến. Đừng để giáo luật lấy mất lòng thương xót. Đừng để cơ cấu lấy mất con người. Đừng để chương trình mục vụ lấy mất linh hồn mục vụ. Đừng để thành công của công việc Chúa làm ta thất bại trong đời sống với Chúa.
Có thể một ngày nào đó, sau rất nhiều năm phục vụ, Chúa sẽ hỏi ta không phải: “Con đã xây được gì? Con tổ chức được bao nhiêu chương trình? Con có bao nhiêu người theo? Con xuất bản bao nhiêu bài? Con nổi tiếng đến đâu?” Người có thể chỉ hỏi: “Con có ở với Thầy không?” Câu hỏi ấy làm mọi thứ trở nên đơn giản và cũng đáng sợ. Bởi cuối cùng, đời Kitô hữu không phải là một hồ sơ thành tích. Đó là một mối tương quan.
Mỗi chúng ta cần một góc Maria trong đời mình. Một khoảng thời gian không ai được lấy. Một nơi để ngồi xuống. Một lúc tắt điện thoại. Một phút không giải quyết việc của ai. Một giờ không tổ chức. Một khoảng lặng để nhắc mình: trước khi là linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, trưởng hội đoàn, người phục vụ, cha mẹ, người có trách nhiệm, tôi là một người được Chúa yêu. Tôi không cần làm gì để Chúa yêu tôi hơn. Tôi chỉ cần ở đó và để mình được yêu.
Rồi từ đó ta đứng lên làm việc như Mácta, nhưng là một Mácta khác. Vẫn nấu ăn, vẫn phục vụ, vẫn lo mọi chuyện, nhưng không còn cằn nhằn. Vẫn làm nhiều nhưng không so sánh. Vẫn chịu trách nhiệm nhưng không kiểm soát. Vẫn nhiệt thành nhưng biết dừng. Vẫn cho đi nhưng không để lòng cạn vì đã biết trở về nguồn. Một người đã ngồi dưới chân Chúa sẽ phục vụ khác hẳn một người chỉ chạy bằng sức riêng.
Thế giới này không thiếu những người bận rộn. Hội Thánh cũng không thiếu hoạt động. Điều Hội Thánh cần là những con người làm mọi sự từ một trái tim ở trong Chúa. Chúng ta không cần ít phục vụ hơn, nhưng cần phục vụ sâu hơn. Không cần ít chương trình hơn nếu chương trình thực sự cần, nhưng cần nhiều cầu nguyện hơn. Không cần bỏ Mácta để chỉ còn Maria. Chúng ta cần một Maria bên trong để Mácta bên ngoài không lạc đường.
Và có lẽ hôm nay Chúa đang đi vào căn nhà lòng ta như ngày xưa Người vào nhà hai chị em. Ta có thể lập tức chạy đi chuẩn bị đủ thứ cho Người. Nhưng trước khi chạy, hãy nghe Người gọi: “Con ngồi xuống đây một chút.” Đừng sợ rằng ngồi với Chúa là mất thời gian. Có những giờ ta tưởng là mất mà thật ra cứu cả những tháng ngày còn lại. Có những phút thinh lặng giúp ta khỏi nói những lời làm đau người khác. Có một giờ cầu nguyện giúp ta nhận ra một hướng đi sai mà ta đã chạy nhiều năm. Có một lần ngồi dưới chân Chúa giúp ta nhớ lại vì sao ngày xưa mình bắt đầu dấn thân.
Ngày đầu ta phục vụ có thể rất đơn sơ. Vì yêu Chúa. Rồi năm tháng đi qua, đủ thứ chen vào: trách nhiệm, danh dự, thói quen, thành tích, uy tín, áp lực, kỳ vọng. Ta vẫn làm việc ấy nhưng động cơ không còn nguyên vẹn. Bởi vậy thỉnh thoảng phải trở về dưới chân Chúa để Người thanh tẩy lại tình yêu ban đầu. Để ta nhớ rằng ta không phục vụ một tổ chức. Ta phục vụ một Người. Ta không hiến đời mình cho một guồng máy. Ta trao đời cho Đức Kitô. Và nếu một ngày những công việc kia không còn nữa, Người vẫn còn.
“Khi công việc cho Chúa trở thành quan trọng hơn chính Chúa”, đó là lúc phải dừng lại. Không phải dừng yêu, nhưng dừng để yêu đúng. Không phải bỏ sứ vụ, nhưng trở về nguồn của sứ vụ. Không phải buông trách nhiệm, nhưng đặt trách nhiệm dưới chân Chúa. Không phải sống ít nhiệt thành hơn, nhưng để nhiệt thành được thanh luyện khỏi cái tôi. Không phải làm ít cho Chúa, nhưng trước hết hãy để Chúa làm việc trong mình.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết nghe lời Người nói với Mácta như đang nói với chính mình: “Con lo lắng băn khoăn nhiều chuyện quá.” Xin Chúa cho ta đủ khiêm tốn để nhận ra có những lúc ta đang chạy rất nhanh nhưng sai hướng. Xin Người cho ta đủ can đảm tắt bớt tiếng ồn, bỏ bớt những điều không cần, ngồi xuống dưới chân Người và nghe. Bởi sau tất cả, điều cứu ta không phải những gì ta đã làm cho Chúa, mà là việc ta đã để Chúa yêu ta, biến đổi ta và sống trong ta. Và đến cuối đời, khi bàn tay không còn sức để làm, đôi chân không còn khỏe để đi, trí nhớ không còn đủ để tổ chức, chức vụ đã trao cho người khác, tên tuổi dần chìm vào quên lãng, điều còn lại sẽ không phải danh sách những việc ta hoàn thành. Điều còn lại là một Người. Một Người đã ở đó từ đầu. Một Người mà ta đã từng bận rộn đến mức suýt quên. Một Người vẫn kiên nhẫn gọi tên ta hai lần như ngày xưa: “Mácta, Mácta ơi…” Và hạnh phúc cho ta nếu khi ấy có thể thưa: “Lạy Chúa, cuối cùng con đã hiểu. Phần tốt nhất không phải là những gì con làm cho Ngài. Phần tốt nhất chính là Ngài.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG ĐỂ SỨ VỤ LẤY MẤT ĐẤNG ĐÃ SAI MÌNH
Tin Mừng: Mc 3,13-15
Có một câu rất ngắn trong Tin Mừng Máccô mà càng sống lâu trong đời Kitô hữu, càng dấn thân nhiều trong công việc của Giáo Hội, càng làm mục vụ lâu năm, người ta càng thấy câu ấy đáng sợ và cũng đáng suy nghĩ biết bao: “Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng.” Chúa Giêsu gọi các môn đệ, nhưng điều đầu tiên Người muốn nơi họ không phải là họ phải làm được chuyện gì cho Người. Người không gọi họ lên núi rồi lập tức trao chương trình mục vụ, chia địa bàn truyền giáo, giao chỉ tiêu, đặt kế hoạch, phân công trách nhiệm. Người gọi họ trước hết “để các ông ở với Người”. Chỉ sau đó mới là “để Người sai các ông đi”. Trật tự ấy không phải là một chi tiết nhỏ. Đó là trật tự của Tin Mừng. Đó cũng là trật tự của mọi ơn gọi. Và có lẽ, một trong những bi kịch âm thầm nhất của đời sống đạo hôm nay là chúng ta rất dễ đảo ngược trật tự ấy: đi trước khi ở, làm trước khi yêu, nói về Chúa trước khi ở với Chúa, phục vụ công việc của Chúa đến mức dần dần chẳng còn thời giờ cho chính Chúa. Rồi một ngày, người ta có thể làm rất nhiều chuyện nhân danh Chúa mà trong lòng lại xa Chúa. Người ta có thể nói về cầu nguyện nhưng chính mình không còn cầu nguyện. Người ta có thể giảng về Thánh Thể mà tâm hồn đã lâu không biết lặng yên trước Nhà Tạm. Người ta có thể khuyên người khác tin tưởng mà chính mình sống bằng tính toán. Người ta có thể mời gọi người khác trở về với Chúa trong khi lòng mình đã âm thầm rời xa Người từ lúc nào không biết. Điều nguy hiểm nhất không phải là bỏ sứ vụ. Điều nguy hiểm nhất là vẫn tiếp tục sứ vụ trong khi đã đánh mất Đấng sai mình.
Chúa Giêsu không gọi các môn đệ trước hết để họ trở thành những nhà hoạt động tôn giáo. Người gọi họ để họ thuộc về Người. Trước khi có một sứ mạng, phải có một tương quan. Trước khi có một công việc, phải có một tình yêu. Trước khi trở thành tông đồ, phải trở thành người bạn. Trước khi mang Chúa đến cho người khác, phải để Chúa đi vào trong đời mình. “Ở với Người” là nền móng của tất cả. Không có cái “ở với” ấy, mọi việc phía sau rất dễ trở thành một thứ hoạt động dựa vào sức riêng. Mà điều lạ là càng hoạt động bằng sức riêng, người ta càng dễ tưởng mình quan trọng. Càng được người khác cần, càng dễ tưởng mình không thể thiếu. Càng có nhiều trách nhiệm, càng dễ nghĩ rằng mình phải luôn hiện diện, luôn quyết định, luôn giải quyết, luôn nói, luôn làm. Và rồi có một sự tráo đổi rất tinh tế xảy ra: ban đầu ta làm việc vì Chúa, sau đó ta làm việc cho Chúa, rồi cuối cùng có khi ta làm việc thay Chúa. Ta nghĩ rằng nếu ta dừng lại thì mọi chuyện sẽ sụp đổ. Ta nghĩ rằng nếu ta không có mặt thì chẳng ai làm được. Ta quên rằng Giáo Hội là của Chúa, đoàn chiên là của Chúa, sứ mạng là của Chúa, con người ta phục vụ cũng là của Chúa. Ta chỉ là người được sai đi. Người được sai không bao giờ lớn hơn Đấng sai mình. Người được sai càng không thể sống như thể mọi sự tùy thuộc vào mình.
Có một cám dỗ rất kín đáo trong đời sống phục vụ: cám dỗ dùng chính công việc của Chúa để chạy trốn Chúa. Điều ấy nghe có vẻ nghịch lý, nhưng lại có thật. Có người rất bận rộn với những cuộc họp, chương trình, xây dựng, tổ chức, giảng dạy, hội đoàn, truyền thông, bác ái, lễ nghi, dự án, nhưng lại sợ thinh lặng. Vì khi thinh lặng, người ấy phải đối diện với lòng mình. Phải nhìn lại xem mình còn yêu Chúa không. Phải nghe những tiếng động mà công việc đã che lấp: sự mệt mỏi, khô khan, tự ái, tham vọng, tổn thương, ganh tị, nhu cầu được công nhận, nỗi sợ bị quên lãng. Làm việc nhiều có khi giúp ta khỏi phải đối diện với những điều đó. Thế nên ta cứ chạy. Chạy từ việc này sang việc khác. Chạy từ cuộc hẹn này sang cuộc hẹn khác. Chạy từ thánh lễ này sang chương trình khác. Chạy cho đến khi ta tưởng sự bận rộn là bằng chứng của lòng nhiệt thành. Nhưng không phải lúc nào bận cũng là nhiệt thành. Có những bận rộn phát xuất từ tình yêu, nhưng cũng có những bận rộn phát xuất từ việc không dám dừng lại. Có những công việc làm ta gần Chúa hơn, nhưng cũng có những công việc ta nhân danh Chúa mà lại dùng để tránh gặp Chúa.
Mácta ngày xưa đã từng như thế. Bà phục vụ Chúa. Bà bận vì Chúa. Bà lo cho Chúa. Những việc bà làm đâu có gì xấu. Nhưng rồi chính những việc tốt ấy làm bà bực bội, so sánh và trách móc: “Thưa Thầy, Thầy không để ý sao?” Khi công việc cho Chúa trở thành quan trọng hơn chính Chúa, lòng người rất dễ mất bình an. Một dấu chỉ rất rõ cho thấy ta đã để sứ vụ lấn mất Đấng sai mình là ta bắt đầu phục vụ trong cay đắng. Ta vẫn làm, nhưng hay than. Vẫn dấn thân, nhưng dễ cáu. Vẫn giúp người, nhưng đòi được biết ơn. Vẫn hy sinh, nhưng luôn nhớ những gì mình đã hy sinh. Vẫn phục vụ, nhưng khó chịu khi người khác không làm giống mình. Vẫn nói rằng tất cả vì Chúa, nhưng nếu không được nhìn nhận thì buồn, nếu không được hỏi ý thì giận, nếu người khác được khen thì chạnh lòng. Lúc đó phải cẩn thận. Có thể công việc vẫn là việc của Chúa, nhưng động lực trong lòng ta đã không còn hoàn toàn là Chúa nữa.
Người tông đồ đích thực không chỉ hỏi: “Hôm nay tôi đã làm được gì cho Chúa?” mà còn phải hỏi: “Hôm nay tôi đã ở với Chúa chưa?” Hai câu hỏi ấy rất khác nhau. Có những ngày ta làm được rất nhiều mà thật ra chẳng ở với Chúa bao nhiêu. Ta chuẩn bị bài giảng, trả lời điện thoại, gặp gỡ giáo dân, giải quyết công việc, dâng lễ, tham dự hội họp, nhưng tâm hồn cứ chạy mãi ngoài sân mà không bước vào nhà. Ta làm mọi sự chung quanh Chúa mà không ngồi lại với Chúa. Giống như một người sống trong cùng một căn nhà với người mình yêu nhưng quá bận đến mức nhiều ngày chẳng có một cuộc trò chuyện thật lòng. Tương quan không chết vì một biến cố lớn. Nhiều khi nó chết vì hàng ngàn lần bỏ qua rất nhỏ. Không có thời giờ nhìn nhau. Không có thời giờ lắng nghe. Không có thời giờ nói những điều thật. Đời sống với Chúa cũng vậy. Không ai sáng thức dậy rồi quyết định: “Hôm nay tôi sẽ rời bỏ Chúa.” Thường người ta rời xa Người bằng những bước rất nhỏ: hôm nay bỏ giờ cầu nguyện vì bận, ngày mai cầu nguyện cho xong, ngày kia không còn thấy cần thiết, rồi dần dần quen sống mà không cần sự hiện diện của Người. Công việc vẫn chạy. Người khác vẫn thấy mình nhiệt thành. Chỉ có Chúa và mình biết rằng bên trong đã có một khoảng cách.
“Ở với Người” không có nghĩa là trốn khỏi thế giới. Trái lại, càng ở với Chúa thật, người ta càng được sai đi mạnh mẽ hơn. Đức Giêsu không gọi các môn đệ lên núi để giữ họ trên núi. Người gọi họ lên để họ ở với Người, rồi từ Người mà đi xuống. Vấn đề không phải chọn giữa cầu nguyện và hoạt động. Vấn đề là để hoạt động sinh ra từ cầu nguyện. Không phải chọn giữa chiêm niệm và sứ vụ. Vấn đề là để sứ vụ trở thành hoa trái của sự ở lại. Một cành cây có thể rất bận ra lá, ra hoa, ra trái, nhưng tất cả chỉ có thể có nếu nó còn gắn với thân cây. Chúa Giêsu đã nói rất rõ: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” Người không nói: “Không có Thầy, anh em làm ít đi.” Người nói: “chẳng làm gì được.” Có thể chúng ta vẫn tổ chức được chương trình, vẫn xây được nhà, vẫn viết được bài, vẫn nói được những lời hay, vẫn tạo được những thành công bên ngoài. Nhưng hoa trái thiêng liêng lại là chuyện khác. Hoa trái của Nước Trời không được sinh ra chỉ bởi khả năng. Nó được sinh ra bởi sự kết hợp với Đức Kitô.
Có những người làm rất nhiều nhưng đi đến đâu cũng gây căng thẳng. Có những người nói rất đúng nhưng người nghe lại không cảm nhận được lòng thương xót. Có những người nhiệt thành bảo vệ chân lý nhưng cách họ bảo vệ khiến người khác bị tổn thương. Có những người sống giữa công việc của Giáo Hội mà ngày càng cứng cỏi, khó gần, thiếu kiên nhẫn. Có khi vấn đề không nằm ở sứ vụ. Vấn đề nằm ở nguồn nước. Nếu một dòng sông bị tách khỏi nguồn, nó có thể còn chảy một đoạn nhờ lượng nước cũ, nhưng rồi sẽ cạn. Một người tông đồ tách khỏi Chúa cũng vậy. Họ vẫn có thể làm việc một thời gian nhờ kinh nghiệm, kiến thức, uy tín, thói quen, tài năng. Người ngoài nhìn vào vẫn thấy mọi chuyện bình thường. Nhưng bên trong dần khô. Và khi lòng khô, người ta bắt đầu lấy những thứ khác để bù: quyền lực, lời khen, thành tích, ảnh hưởng, cảm giác mình cần thiết, sự trung thành của người khác. Càng thiếu Chúa bên trong, người ta càng có nguy cơ đòi thế giới bên ngoài lấp đầy mình. Đó là lúc sứ vụ bắt đầu biến dạng.
Có lẽ vì vậy mà trước khi sai các ông đi, Chúa để các ông ở với Người. Các ông phải nhìn cách Người đối xử với người tội lỗi. Phải thấy Người chạm vào người phong cùi. Phải thấy Người cúi xuống trước người đau khổ. Phải nghe Người nói với người phụ nữ bị khinh chê. Phải nhìn Người khóc trước mộ Ladarô. Phải chứng kiến Người rửa chân. Phải ở bên Người khi Người cầu nguyện. Phải thấy Người mệt nhưng vẫn thương dân. Phải thấy Người bị hiểu lầm mà không cay độc. Phải thấy Người bị phản bội mà vẫn gọi Giuđa là bạn. Phải đứng dưới chân Thập Giá để hiểu tình yêu mà mình được sai đi rao giảng là tình yêu nào. Không ai có thể rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh nếu chưa từng để Thập Giá ấy đóng đinh cái tôi của mình. Không ai có thể nói về lòng thương xót nếu chưa từng được lòng thương xót của Chúa làm tan vỡ sự cứng cỏi trong mình. Không ai có thể dẫn người khác về với Chúa nếu chính mình không biết đường về.
Đặc biệt đối với đời linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, người làm việc tông đồ, lời Tin Mừng hôm nay giống như một hồi chuông rất cần thiết. Điều nguy hiểm của người sống trong môi trường đạo đức là có thể quen với những điều thánh đến mức không còn để những điều thánh ấy chạm vào mình. Một linh mục có thể cầm Mình Thánh Chúa mỗi ngày nhưng lòng lại xa Chúa Thánh Thể. Có thể đọc Lời Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày nhưng không còn để Lời ấy xét xử chính mình. Có thể giải tội cho hàng trăm người nhưng không còn biết đau vì tội của bản thân. Có thể khuyên người khác cầu nguyện mà giờ kinh của mình ngày càng vội. Có thể giảng rất cảm động về lòng thương xót mà sống với anh em lại thiếu lòng thương xót. Đó là bi kịch rất lớn: điều thánh đi qua tay mình nhưng không đi vào tim mình.
Một người giáo dân cũng có thể gặp cùng một cám dỗ. Người cha người mẹ có thể nói mình hy sinh tất cả vì gia đình nhưng rồi vì quá bận kiếm tiền mà con cái lớn lên bên cạnh một người cha luôn vắng mặt, một người mẹ luôn kiệt sức. Một người phục vụ giáo xứ có thể chạy hết hội đoàn này đến công việc khác nhưng gia đình ở nhà lại thiếu một bữa cơm bình an. Một người làm bác ái có thể rất tận tụy với người xa lạ nhưng lại khó chịu với người thân. Một người hoạt động rất nhiều cho cộng đoàn nhưng đời sống cầu nguyện cá nhân gần như không còn. Sứ vụ không chỉ lấy mất Chúa khi ta làm việc trong nhà thờ. Bất cứ trách nhiệm nào, kể cả trách nhiệm tốt đẹp nhất, cũng có thể trở thành ngẫu tượng nếu nó chiếm chỗ chỉ dành cho Thiên Chúa.
Có một điều cần nói rất thật: Chúa không cần ta đến mức ta tưởng. Giáo Hội đã có trước ta và sẽ còn sau ta. Thế giới vẫn quay khi ta ngủ. Mặt trời vẫn mọc dù hôm đó ta không giải quyết hết công việc. Có những việc ta nghĩ phải làm ngay, thật ra có thể chờ. Có những cuộc họp ta nghĩ không thể thiếu mình, thật ra người khác vẫn làm được. Có những trách nhiệm ta ôm vì tưởng mình tận tụy, nhưng sâu hơn có khi vì ta không tin người khác, hoặc vì ta cần cảm giác mình quan trọng. Khi một người không dám trao việc, không dám nghỉ, không dám để người khác làm khác mình, có thể đó không còn là nhiệt thành nữa mà là một sự lệ thuộc vào vai trò. Chúa không gọi ta để trở thành người cứu thế. Chỉ có một Đấng Cứu Thế và Người đã chịu đóng đinh rồi. Ta chỉ là môn đệ.
Biết mình không phải Đấng Cứu Thế là một ơn giải thoát rất lớn. Ta được phép mệt. Ta được phép nghỉ. Ta được phép không biết hết mọi chuyện. Ta được phép nói “tôi không làm được việc này”. Ta được phép trao công việc cho người khác. Ta được phép đóng cửa lại một lúc để cầu nguyện. Ta được phép im lặng trước Chúa mà không cảm thấy có lỗi vì chưa giải quyết xong hết mọi chuyện. Đức Giêsu cũng từng rời đám đông để lên núi cầu nguyện. Có những người đang tìm Người, nhưng Người vẫn đi vào nơi thanh vắng. Người không để nhu cầu của đám đông quyết định hoàn toàn nhịp sống của mình. Người sống từ Chúa Cha. Chính vì thế Người mới có thể trao ban mình cho người khác mà không bị người khác nuốt mất.
Người phục vụ mà không trở về với nguồn sớm muộn cũng kiệt sức. Nhưng kiệt sức thể lý chưa đáng sợ bằng kiệt sức tâm hồn. Có những người vẫn cười, vẫn làm, vẫn nói, vẫn tổ chức, nhưng bên trong không còn niềm vui. Họ bắt đầu thấy người khác như gánh nặng. Mỗi tiếng điện thoại là một phiền toái. Mỗi yêu cầu là một áp lực. Mỗi thiếu sót của người khác là một lý do để bực mình. Họ không còn thấy con người, chỉ thấy công việc. Không còn thấy khuôn mặt, chỉ thấy vấn đề. Không còn thấy một người đang đau, chỉ thấy một việc cần xử lý. Đó là lúc ta phải trở về. Không phải bỏ sứ vụ, nhưng phải trở lại với Đấng đã trao sứ vụ. Hãy nhớ lại buổi đầu. Tại sao mình bắt đầu? Tại sao mình đi tu? Tại sao mình chịu chức? Tại sao mình nhận việc này? Tại sao mình phục vụ? Ban đầu có lẽ chỉ đơn giản vì yêu Chúa. Nhưng qua năm tháng, biết bao lớp bụi phủ lên tình yêu đầu ấy: bổn phận, danh tiếng, trách nhiệm, thói quen, chức vụ, kỳ vọng của người khác. Ta cần trở lại câu hỏi đầu tiên: “Con có yêu Thầy không?”
Trước khi trao đàn chiên cho Phêrô, Chúa không hỏi: “Anh có kinh nghiệm quản trị không?” Người không hỏi: “Anh có biết lập kế hoạch không?” Người không hỏi: “Anh có nói hay không?” Người hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” Ba lần. Như thể Chúa muốn nói: nếu không có tình yêu ấy, đừng đụng vào đoàn chiên của Thầy. Vì rồi anh sẽ dùng đoàn chiên cho chính mình. Anh sẽ cần họ để chứng minh giá trị của anh. Anh sẽ buồn khi họ không nghe anh. Anh sẽ giận khi họ không biết ơn. Anh sẽ cạnh tranh với người khác. Anh sẽ biến sứ vụ thành sân khấu cho cái tôi. Chỉ người thật sự yêu Đức Kitô mới có thể dần dần học yêu đoàn chiên vì chính đoàn chiên, chứ không vì những gì đoàn chiên mang lại cho mình.
“Ở với Người” còn có nghĩa là để Chúa nhìn mình. Có những giờ cầu nguyện ta nói rất nhiều. Nhưng đôi khi điều ta cần nhất chỉ là ngồi đó, không nói gì, để Chúa nhìn. Như Gioan tựa đầu vào ngực Chúa. Như Maria ngồi dưới chân Người. Như người môn đệ đứng dưới chân Thập Giá. Không phải lúc nào tình yêu cũng cần nhiều lời. Có những tương quan càng sâu càng có thể im lặng. Ta cần những khoảng lặng như thế, vì nếu không, đời sống nội tâm sẽ bị nghiền nát bởi tiếng ồn. Sứ vụ có rất nhiều tiếng ồn: điện thoại, tin nhắn, ý kiến, phê bình, khen chê, yêu cầu, tranh luận, kế hoạch. Nếu không có một nơi trong lòng mà chỉ có ta với Chúa, rất nhanh ta sẽ không còn biết đâu là tiếng Người, đâu là tiếng đám đông, đâu là tiếng tự ái của chính mình.
Một người ở với Chúa đủ lâu sẽ dần học được nhịp tim của Chúa. Và khi đi ra, người ấy mang theo nhịp tim đó. Khi gặp người tội lỗi, không vội kết án. Khi gặp người yếu đuối, biết kiên nhẫn. Khi bị xúc phạm, bớt phản ứng. Khi thành công, không quá say. Khi thất bại, không tuyệt vọng. Khi được khen, biết mỉm cười rồi đi tiếp. Khi bị quên, không thấy mình mất giá trị. Bởi giá trị của họ không còn nằm ở việc sứ vụ thành công hay thất bại, mà nằm ở chỗ họ thuộc về Đức Kitô. Đây là tự do rất lớn của người tông đồ: tôi làm hết sức, nhưng tôi không sống nhờ kết quả. Tôi gieo, nhưng tôi biết Đấng làm cho mọc lên là Chúa. Tôi nói, nhưng tôi biết chỉ Thánh Thần mới chạm được vào lòng người. Tôi phục vụ, nhưng tôi không cần người khác phải biết ơn để chứng minh rằng việc tôi làm có ý nghĩa.
Đôi khi Chúa cho phép sứ vụ của ta thất bại chính để cứu ta khỏi việc đồng hóa mình với sứ vụ. Có những chương trình không thành. Có những người mình giúp rồi vẫn bỏ đi. Có những cộng đoàn mình chăm sóc nhưng vẫn có người hiểu lầm. Có những điều mình dốc lòng xây dựng rồi người khác đến thay đổi. Những lúc ấy đau. Nhưng cũng chính lúc ấy ta mới biết mình yêu Chúa hay yêu công việc của Chúa. Nếu một ngày Chúa lấy khỏi tay ta điều ta đang làm, ta còn Chúa không? Nếu không còn chức vụ, không còn người nghe mình, không còn sân khấu, không còn trách nhiệm mà ta từng tự hào, ta còn thấy đời mình có ý nghĩa không? Nếu câu trả lời là không, có lẽ sứ vụ đã chiếm một chỗ quá lớn trong lòng.
Đức Kitô phải lớn hơn sứ vụ. Đấng sai phải lớn hơn việc được sai. Tình yêu phải lớn hơn công việc. Một linh mục trước hết không phải là người làm mục vụ, nhưng là người thuộc về Đức Kitô. Một tu sĩ trước hết không phải là người điều hành cơ sở hay làm công tác xã hội, nhưng là người đã trao đời mình cho Chúa. Một người cha, người mẹ trước hết không phải là cỗ máy kiếm tiền cho gia đình, nhưng là người biết yêu. Một giáo lý viên trước hết không phải là người truyền đạt kiến thức giáo lý, nhưng là một môn đệ. Khi căn tính sai, mọi thứ sau đó đều dễ sai. Ta làm không phải để trở thành người của Chúa. Ta làm vì ta đã là người của Chúa.
Có lẽ mỗi người phục vụ cần thường xuyên đặt mình trước câu Tin Mừng này: “Người gọi những kẻ Người muốn.” Ơn gọi bắt đầu từ ý muốn của Chúa, không phải tham vọng của ta. “Để các ông ở với Người.” Ơn gọi lớn lên trong tương quan, không phải trong thành tích. “Và để Người sai các ông đi.” Sứ vụ là hệ quả của việc thuộc về Người. Ba bước ấy không được đảo. Được gọi – ở với – được sai. Nếu bỏ bước ở giữa, đời tông đồ sẽ trở nên rất nguy hiểm. Ta có thể chạy rất nhanh, nhưng chạy sai hướng. Có thể nói rất nhiều, nhưng nói từ mình. Có thể làm rất lớn, nhưng linh hồn lại nhỏ dần.
Thế nên, đôi khi việc cần làm nhất cho sứ vụ không phải là làm thêm mà là dừng lại. Dừng một giờ trước Nhà Tạm. Dừng để đọc chậm một đoạn Tin Mừng. Dừng để xét lại lòng mình. Dừng để hỏi: điều gì đang điều khiển tôi? Tình yêu hay nỗi sợ? Lòng thương người hay nhu cầu được công nhận? Vâng phục hay tham vọng? Tôi đang phục vụ Chúa hay đang dùng công việc của Chúa để xây dựng hình ảnh của mình? Tôi đang dẫn người ta đến với Đức Kitô hay vô tình làm người ta lệ thuộc vào mình? Những câu hỏi đó không dễ chịu, nhưng rất cần.
Đừng sợ mất thời gian cho Chúa. Thời gian ở với Chúa không bao giờ là thời gian mất. Một giờ cầu nguyện có thể cứu ta khỏi hàng trăm quyết định sai. Một khoảng thinh lặng có thể cứu ta khỏi một lời nói làm người khác tổn thương. Một buổi tĩnh tâm có thể cứu ta khỏi nhiều năm phục vụ trong khô cạn. Một lần quỳ xuống thật lòng trước Chúa có thể đặt lại cả đời người đúng hướng. Chúng ta thường sợ không đủ thời gian cho công việc. Có lẽ điều nên sợ hơn là không đủ Chúa trong công việc.
Có một nghịch lý rất đẹp: càng dành thời gian cho Chúa, ta không làm ít đi nhưng làm đúng hơn. Ta biết việc nào cần làm, việc nào có thể bỏ. Biết lúc nào nói, lúc nào im. Biết khi nào tiến, khi nào chờ. Biết cái gì là của mình, cái gì phải trao lại cho Chúa. Người cầu nguyện không nhất thiết làm ít, nhưng họ bớt làm những việc không cần. Họ không để mọi yêu cầu của người khác trở thành mệnh lệnh. Họ biết chọn điều quan trọng. Vì họ đã học lắng nghe Đấng sai mình.
Cuối cùng, câu hỏi không phải là ta đã làm bao nhiêu việc cho Chúa. Một ngày đứng trước mặt Người, có lẽ Người không mở một bảng thống kê để xem ta đã tổ chức bao nhiêu chương trình, xây bao nhiêu công trình, giảng bao nhiêu bài, có bao nhiêu người theo mình. Điều quyết định vẫn là tương quan: “Ta có biết con không? Con có ở với Ta không?” Có thể cả đời ta bận rộn nói về Người mà lại không thật sự biết Người. Điều ấy đáng sợ. Vì thế, phải giữ lấy điều đầu tiên. Trước khi là người được sai, hãy là người ở với Chúa. Trước khi cầm micro, hãy biết quỳ. Trước khi bước ra trước đám đông, hãy bước vào căn phòng kín. Trước khi nói cho người khác về Chúa, hãy để Chúa nói với mình. Trước khi lo cứu người khác, hãy để Người cứu chính mình mỗi ngày.
Đừng để sứ vụ lấy mất Đấng đã sai mình. Đừng để việc của Chúa lấy mất Chúa. Đừng để những điều tốt đẹp nhất trở thành vật cản giữa ta với Người. Đừng để một ngày ta có tất cả những gì liên quan đến Đức Kitô mà lại thiếu chính Đức Kitô. Hãy trở lại với Người. Ngồi xuống. Im lặng. Nhìn Người. Để Người nhìn mình. Và nói thật đơn sơ: “Lạy Chúa, nếu con có làm được điều gì, xin cho điều ấy sinh ra từ việc con ở với Chúa. Nếu con phải đi đâu, xin cho con đi từ Chúa mà đi. Nếu con phải nói, xin cho lời con đã được ngâm trong thinh lặng trước mặt Chúa. Nếu con phải phục vụ, xin đừng để con phục vụ đến mức quên Người mà con đang phục vụ. Và nếu một ngày Chúa lấy khỏi tay con tất cả mọi công việc, xin cho con vẫn còn đủ hạnh phúc vì con vẫn còn Chúa.”
Bởi cuối cùng, sứ vụ sẽ qua. Chức vụ sẽ qua. Công việc sẽ qua. Những lời tung hô cũng qua. Những điều ta xây rồi sẽ có người khác tiếp tục hoặc thay đổi. Nhưng Đức Kitô còn đó. Người là khởi đầu. Người là cùng đích. Người là lý do ta đã lên đường. Và nếu sau một đời phục vụ, ta giữ được Người, thì dù sứ vụ của ta có nhỏ bé đến đâu, đời ta vẫn không thất bại. Còn nếu có cả thế giới nhưng đánh mất Người, thì những thành công ấy để làm gì?
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – MỐI TÌNH ĐẦU CỦA ĐỜI TẬN HIẾN
Tin Mừng: Ga 21,15-19
Có một điều rất lạ trong cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu Phục Sinh và Phêrô bên bờ hồ Tibêria: Chúa không hỏi Phêrô về quá khứ thất bại của ông, không hỏi tại sao ông đã chối Thầy ba lần, không bắt ông phải giải trình từng lời ông đã nói trong sân dinh thượng tế, cũng không hỏi ông có còn đủ uy tín để lãnh đạo anh em hay không. Chúa càng không hỏi Phêrô rằng ông có giỏi tổ chức không, có tài ăn nói không, có khả năng điều hành cộng đoàn không, có đủ kiến thức không, có bản lĩnh không. Chúa chỉ hỏi một điều, nhưng hỏi đến ba lần: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” Câu hỏi ấy ngắn thôi, nhưng dường như chứa cả tương lai của Phêrô, chứa cả ơn gọi của Phêrô, chứa cả sứ vụ của Phêrô, và cũng chứa cả bí mật của mọi đời tận hiến. Bởi vì trước khi trao đoàn chiên cho Phêrô, Đức Giêsu muốn biết trong trái tim ông có còn Thầy không. Trước khi trao trách nhiệm, Người hỏi về tình yêu. Trước khi trao quyền mục tử, Người hỏi về mối tương quan. Trước khi bảo Phêrô phải chăm sóc đoàn chiên, Người muốn ông xác nhận rằng người ông yêu trước hết vẫn là Đức Kitô. Và có lẽ đó cũng là câu hỏi sâu nhất mà Chúa vẫn đặt ra cho mỗi người đã bước vào đời tu, đời linh mục, đời thừa sai, đời tận hiến: “Con có yêu mến Thầy không?” Không phải: con đã làm được bao nhiêu việc? Không phải: con đã xây được bao nhiêu nhà thờ? Không phải: con đã có bao nhiêu người biết đến? Không phải: con giảng hay đến đâu? Không phải: con giữ chức vụ gì? Không phải: con được kính trọng thế nào? Nhưng chỉ là: “Con có yêu mến Thầy không?”
Đời tận hiến bắt đầu từ một tiếng gọi. Nhưng sâu hơn tiếng gọi là một cuộc gặp gỡ. Và sâu hơn cuộc gặp gỡ là một tình yêu. Chẳng ai có thể sống trọn cả một đời vì một lý tưởng nếu lý tưởng ấy không trở thành một khuôn mặt để yêu. Người ta có thể học thần học vì thích kiến thức, có thể tham gia hoạt động mục vụ vì thích phục vụ, có thể sống trong một cộng đoàn vì tìm thấy nơi đó một môi trường an toàn, có thể làm linh mục vì cảm thấy đời linh mục có ý nghĩa, có thể đi tu vì cảm phục đời sống của một vị thánh nào đó. Nhưng tất cả những điều ấy chưa đủ để giữ một người ở lại cho đến cuối đời. Bởi rồi kiến thức cũng có lúc trở nên khô khan, công việc có lúc trở nên nặng nề, cộng đoàn có lúc làm ta tổn thương, sứ vụ có lúc khiến ta mệt mỏi, con người có lúc khiến ta thất vọng, và ngay cả niềm vui ban đầu của ơn gọi cũng có lúc nhạt đi. Chỉ còn một điều đủ sức giữ người tận hiến ở lại: một Người. Không phải một công việc, không phải một địa vị, không phải một lý tưởng trừu tượng, nhưng là Đức Giêsu Kitô. Và không chỉ là Đức Giêsu của những ngày làm phép lạ, của đám đông tung hô, của những bài giảng khiến người ta kinh ngạc, nhưng là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Chính Đấng ấy phải là mối tình đầu, mối tình chính, và cuối cùng cũng phải là mối tình còn lại của đời tận hiến.
Có lẽ ngày bước vào nhà dòng, ngày chịu chức, ngày tuyên khấn, lòng người đầy những ước mơ đẹp. Ai cũng muốn sống một đời quảng đại. Ai cũng muốn thuộc trọn về Chúa. Ai cũng nghĩ mình sẽ không bao giờ phản bội lời đã hứa. Những lời khấn được đọc lên với đôi mắt sáng, với con tim nóng, với một tương lai còn rất dài phía trước. Ngày chịu chức, bàn tay được đặt vào tay Giám mục hay Bề trên, lời hứa vâng phục được nói ra bằng tất cả chân thành. Ngày khấn dòng, người tu sĩ có thể đã nghĩ: từ nay đời mình chỉ còn Chúa. Những năm đầu tiên thường có nhiều nhiệt huyết. Người ta sẵn sàng thức khuya, dậy sớm, nhận những công việc khó khăn, đi đến nơi xa lạ, phục vụ những người nghèo, sống giữa những thiếu thốn. Nhưng rồi thời gian đi qua. Một năm, năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm. Đời tận hiến bắt đầu đi vào vùng không còn mới mẻ. Những điều từng khiến ta cảm động trở thành quen thuộc. Bàn thờ vẫn đó. Nhà tạm vẫn đó. Thánh lễ mỗi ngày vẫn đó. Kinh thần vụ vẫn đó. Những lời khấn vẫn đó. Nhưng đôi khi trái tim đã khác. Và đó là lúc câu hỏi của Chúa bên bờ hồ Tibêria trở nên đau đáu hơn bao giờ hết: “Con có còn yêu mến Thầy không?”
Chúa không hỏi: “Ngày xưa con có yêu Thầy không?” Chúa hỏi ở thì hiện tại: “Con có yêu mến Thầy không?” Có thể ngày xưa ta đã yêu Chúa rất nhiều. Nhưng tình yêu không thể chỉ sống bằng kỷ niệm. Một cuộc hôn nhân không thể bền vì hai người từng yêu nhau vào ngày cưới. Một đời tận hiến cũng không thể trung thành chỉ vì đã từng xúc động trong ngày khấn hay ngày chịu chức. Điều quan trọng là hôm nay. Hôm nay, khi đã mệt, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi công việc không như ý, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi chẳng ai hiểu con, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi người ta quên những điều con đã hy sinh, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi người khác được tín nhiệm hơn con, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi sức khỏe giảm sút, khả năng không còn như trước, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi đời tu không còn lãng mạn như thuở ban đầu, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi Chúa không cho con những gì con xin, con còn yêu Thầy không? Hôm nay, khi chính Giáo Hội, cộng đoàn, anh em hay những người con phục vụ trở thành thập giá của con, con còn yêu Thầy không?
Phêrô nghe câu hỏi ấy sau khi ông đã thất bại. Đó là điều tuyệt đẹp của Tin Mừng. Chúa không hỏi tình yêu của một Phêrô chưa bao giờ vấp ngã. Chúa hỏi tình yêu của một con người đã từng mạnh miệng: “Dù tất cả có bỏ Thầy, con cũng không”, rồi ít giờ sau lại ba lần nói: “Tôi không biết người ấy.” Phêrô đã từng tưởng mình yêu Chúa hơn mọi người. Ông đã từng tin vào sức riêng của mình. Nhưng sau đêm ấy, ông biết mình yếu. Và có lẽ chính khi biết mình yếu, ông mới bắt đầu yêu Chúa bằng một tình yêu thật hơn. Lần này, ông không còn nói những lời lớn lao. Ông không còn so sánh mình với các môn đệ khác. Ông chỉ thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Một câu rất khiêm tốn. Gần như muốn nói: con không dám tin vào con nữa; con chỉ dám phó thác lòng con cho sự hiểu biết của Thầy. Con đã từng nói con sẽ chết với Thầy, rồi con bỏ chạy. Con đã từng nói con không bao giờ chối Thầy, rồi con đã chối. Bây giờ con không còn dám thề thốt. Thầy biết con. Thầy biết cả những điều đẹp nhất và xấu nhất trong con. Thầy biết tình yêu của con mong manh đến đâu. Nhưng Thầy cũng biết rằng dưới những yếu đuối ấy, con vẫn yêu Thầy.
Có lẽ một trong những ân sủng lớn nhất của đời tận hiến không phải là không bao giờ vấp ngã, nhưng là sau mỗi lần vấp ngã vẫn biết quay về và nói: “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu Chúa.” Người tận hiến không phải là người không có yếu đuối. Linh mục không phải là người không bao giờ mỏi mệt. Tu sĩ không phải là người không bao giờ có lúc khủng hoảng. Người đã khấn không phải là người đã vượt khỏi mọi cám dỗ. Trái lại, càng đi xa trong đời dâng hiến, người ta càng nhìn thấy sự nghèo nàn của mình. Những lớp hào quang rơi xuống. Những ảo tưởng về bản thân dần vỡ ra. Người ta bắt đầu nhận ra mình nhỏ bé, ích kỷ, dễ tổn thương, ham được nhìn nhận, sợ bị bỏ quên, dễ ghen tị, dễ mỏi mệt, dễ tìm những bù trừ. Nhưng chính lúc ấy, nếu người tận hiến không bỏ Chúa, một tình yêu khác có thể bắt đầu: không còn là tình yêu của người tưởng mình mạnh, nhưng là tình yêu của một người nghèo biết mình được yêu. Và tình yêu ấy bền hơn nhiều.
Đức Kitô chịu đóng đinh phải là mối tình đầu của đời tận hiến, bởi vì trên Thập Giá, người tận hiến tìm được câu trả lời cho câu hỏi căn bản: tại sao tôi dâng đời mình? Không phải vì đời tu đẹp. Không phải vì chức linh mục cao quý. Không phải vì người ta kính trọng. Không phải vì được làm những công việc có ảnh hưởng. Không phải vì được đứng trước cộng đoàn. Không phải vì một chiếc áo dòng, một cổ côn, một danh xưng. Tất cả những điều đó rồi đều có thể trở nên chiếc áo bên ngoài, trong khi trái tim đã đi rất xa. Người tận hiến chỉ có một lý do đủ lớn để dâng cả đời mình: bởi vì đã có một Người dâng cả đời Người trước. “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi.” Nếu không có Thập Giá, lời khấn khó nghèo có thể trở thành một kiểu sống khắc khổ, lời khấn khiết tịnh có thể trở thành một sự thiếu hụt tình cảm, lời khấn vâng phục có thể trở thành một cơ chế kỷ luật, chức linh mục có thể trở thành một nghề tôn giáo, hoạt động mục vụ có thể trở thành một công việc xã hội. Nhưng khi người tận hiến nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh và nhận ra: Người đã yêu tôi đến mức này, thì tất cả những gì mình trao lại bỗng có ý nghĩa.
Thập Giá cho ta thấy tình yêu không phải là cảm xúc dễ chịu. Tình yêu của Chúa trên Thập Giá không có hoa hồng, không có tiếng vỗ tay, không có cảm giác thành công. Chỉ có máu, mồ hôi, sự cô độc, phản bội, hiểu lầm, đau đớn và một lời cuối cùng: “Đã hoàn tất.” Đời tận hiến cũng vậy. Nếu ta chỉ yêu Chúa khi cầu nguyện sốt sắng, khi sứ vụ thành công, khi anh em dễ thương, khi Bề trên hiểu mình, khi cộng đoàn quý mến, khi người ta cảm ơn, thì tình yêu ấy còn mong manh. Đến một ngày, Chúa sẽ đưa ta đến một nơi sâu hơn, nơi không còn cảm giác nâng đỡ, nơi chỉ còn lòng trung thành. Và đó là lúc tình yêu được thanh luyện. Có những năm tháng của đời tận hiến, người ta sống không bằng cảm xúc nhưng bằng một quyết định âm thầm: “Con vẫn ở đây.” Có những sáng thức dậy, không có chút hứng thú nào, nhưng vẫn bước vào nhà nguyện. Có những Thánh lễ cử hành giữa một tâm hồn khô khan, nhưng vẫn nâng Mình Máu Chúa lên với tất cả lòng tin. Có những giờ kinh đọc trong mệt mỏi. Có những bổn phận lặp đi lặp lại không ai nhìn thấy. Có những người mình phải phục vụ dù họ chẳng dễ thương chút nào. Có những hiểu lầm không thể giải thích. Có những hy sinh không bao giờ được ghi nhận. Chính ở đó, Đức Kitô chịu đóng đinh đang dạy người tận hiến thế nào là yêu.
“Mối tình đầu” không có nghĩa là một thứ tình cảm lãng mạn dành cho Chúa. Mối tình đầu của đời tận hiến là vị trí thứ nhất thuộc về Đức Kitô. Nghĩa là trước mọi công việc, là Chúa. Trước sứ vụ, là Chúa. Trước danh tiếng, là Chúa. Trước thành công, là Chúa. Trước cộng đoàn, là Chúa. Trước cả những gì người tận hiến làm “cho Chúa”, vẫn phải là chính Chúa. Đây là một nguy cơ rất tinh tế: có khi ta làm rất nhiều việc của Chúa nhưng dần dần không còn sống với Chúa. Ta có thể giảng về Chúa rất nhiều mà ít nói chuyện với Chúa. Có thể cử hành Thánh lễ mỗi ngày mà trái tim không còn rung động trước mầu nhiệm mình cử hành. Có thể chăm lo cho người nghèo, điều hành giáo xứ, xây dựng công trình, tổ chức hội đoàn, dạy giáo lý, họp hành, lên chương trình, viết bài, đi đây đi đó vì công việc mục vụ, nhưng cuối ngày lại không còn đủ một khoảng lặng để ngồi trước Thánh Thể và nói: “Lạy Chúa, hôm nay con thế nào trước mặt Chúa?” Đó là một bi kịch rất âm thầm: người ta có thể phục vụ công việc của Chúa đến mức quên chính Chúa.
Phêrô được trao đoàn chiên chỉ sau khi xác nhận tình yêu. “Anh có yêu mến Thầy không?” – “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Thứ tự ấy không được đảo. Nếu không yêu Chúa, việc chăm sóc đoàn chiên rất dễ trở thành sở hữu đoàn chiên. Khi người mục tử không còn kín múc căn tính từ tình yêu với Đức Kitô, họ sẽ bắt đầu tìm căn tính từ thành công mục vụ, từ số người theo mình, từ sự kính trọng của giáo dân, từ chức vụ, quyền lực, danh tiếng. Lúc ấy, đoàn chiên không còn là “chiên của Thầy” nhưng dần trở thành “người của tôi”. Cộng đoàn trở thành lãnh địa. Sứ vụ trở thành nơi chứng minh giá trị bản thân. Người mục tử bắt đầu nhạy cảm quá mức với lời khen chê. Ai khen thì gần, ai góp ý thì xa. Ai ủng hộ thì dễ thương, ai không đồng ý thì bị xem là chống đối. Tất cả những điều ấy thường bắt đầu từ một sự thật đơn giản: Đức Kitô không còn ở vị trí thứ nhất.
Chúa nói với Phêrô: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Không phải chiên của anh. Ba chữ “của Thầy” rất quan trọng. Người tận hiến phải luôn nhớ những người mình phục vụ không thuộc về mình. Giáo xứ không phải của cha xứ. Cộng đoàn không phải của Bề trên. Hội đoàn không phải của người phụ trách. Người trẻ không phải của người linh hướng. Những người ta giúp đỡ không mắc nợ ta. Mọi người đều thuộc về Chúa. Ta chỉ là người được trao trách nhiệm chăm sóc một thời gian. Một ngày nào đó ta phải rời đi. Có nơi mình đã đổ cả tuổi trẻ, rồi một quyết định chuyển đổi khiến mình phải ra đi trong vài ngày. Có công việc mình xây dựng nhiều năm rồi trao lại cho người khác. Có cộng đoàn từng gọi mình là cha, là thầy, là sơ, rồi thời gian qua họ cũng quen với người mới. Nếu trái tim ta bám vào công việc hơn vào Chúa, những lần ra đi ấy sẽ rất đau. Nhưng nếu Đức Kitô là mối tình đầu, ta có thể đau mà vẫn tự do, bởi cuối cùng ta chưa bao giờ thuộc về công việc; ta thuộc về Chúa.
Điều này giải thích câu cuối rất lạ trong cuộc đối thoại với Phêrô. Sau khi hỏi về tình yêu và trao sứ vụ, Chúa nói: “Khi còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” Rồi Chúa nói: “Hãy theo Thầy.” Đây mới là đỉnh cao của đời tận hiến. Lúc trẻ, ta thường nghĩ theo Chúa là làm những điều lớn lao cho Chúa. Nhưng càng đi lâu, ta mới hiểu theo Chúa sâu nhất là để Chúa dẫn mình “đến nơi mình chẳng muốn”. Có những nơi ta không muốn đến. Có những công việc ta không muốn nhận. Có những căn bệnh ta không muốn mang. Có những giới hạn tuổi già ta không muốn chấp nhận. Có những lần bị hiểu lầm ta không muốn trải qua. Có những sự chuyển đổi, mất mát, chia ly, thất bại hoàn toàn nằm ngoài dự tính. Và chính ở những nơi “chẳng muốn” ấy, ơn gọi đi vào tầng sâu nhất.
Ngày trẻ, người tận hiến có thể dâng sức khỏe cho Chúa. Về già, họ dâng sự yếu đuối. Ngày trẻ, họ dâng khả năng. Về già, họ dâng sự bất lực. Ngày trẻ, họ phục vụ bằng việc làm. Về già, có khi chỉ còn phục vụ bằng lời cầu nguyện. Ngày trẻ, họ được người ta tìm đến. Về già, điện thoại có thể ít reo hơn. Ngày trẻ, ai cũng gọi tên mình. Về già, một thế hệ mới xuất hiện và nhiều người không còn biết mình là ai. Có thể đây là một Thập Giá rất thật của đời tận hiến: học cách để mình nhỏ lại. Nhưng nếu Đức Kitô là mối tình đầu, tuổi già không phải là thời gian bị bỏ sang bên. Trái lại, có khi chính lúc không còn làm được gì nhiều, đời tận hiến mới trở nên tinh tuyền nhất. Bởi lúc ấy không còn gì để chứng minh. Chỉ còn ở lại với Chúa.
Có những linh mục cả đời rất hoạt động, đến khi bệnh phải nằm một chỗ thì đau khổ không chỉ vì thân xác mà còn vì cảm giác mình vô dụng. Có những tu sĩ từng gánh trách nhiệm lớn, đến khi không còn chức vụ thì thấy trống trải. Điều ấy cho ta thấy đôi khi căn tính của ta đã vô tình gắn quá chặt với việc mình làm. Nhưng Chúa không yêu ta vì ta hữu dụng. Chúa không gọi ta vì cần một nhân viên. Chúa gọi ta trước hết để ở với Người. Tin Mừng Marcô nói rất đẹp: Người gọi Nhóm Mười Hai “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng.” “Ở với Người” trước “được sai đi”. Đời tận hiến trước khi là một sứ vụ phải là một tương quan. Nếu một ngày ta không còn làm gì được nữa mà vẫn có thể nói: “Lạy Chúa, con vẫn là của Chúa”, thì đời tận hiến ấy không hề mất ý nghĩa.
Đức Kitô chịu đóng đinh cũng là mối tình đầu bởi chỉ Người mới có thể giữ cho đời khiết tịnh khỏi trở thành cô độc. Khiết tịnh không phải là sống không cần tình yêu. Người sống đời tận hiến không có trái tim bằng đá. Họ cũng cần được hiểu, được thương, được lắng nghe, được đón nhận. Họ cũng biết nhớ, biết buồn, biết rung động, biết cô đơn. Lời khấn khiết tịnh không giết chết khả năng yêu; ngược lại, nếu sống đúng, nó làm trái tim rộng ra. Nhưng một trái tim rộng mà không có trung tâm sẽ rất nguy hiểm. Chỉ Đức Kitô mới đủ lớn để trở thành trung tâm ấy. Nếu Người không lấp đầy trái tim, trái tim sẽ đi tìm những bù trừ. Và những bù trừ thường bắt đầu rất nhẹ nhàng: một người hiểu mình hơn người khác, một sự thân thiết mình cảm thấy cần thiết, một vài tin nhắn riêng tư, một chỗ dựa tình cảm, một cảm giác “chỉ người này mới hiểu tôi”. Không phải mọi tình bạn đều nguy hiểm; đời tận hiến cần những tình bạn trưởng thành và lành mạnh. Nhưng khi một người nào đó bắt đầu chiếm nơi vốn thuộc về Chúa, trái tim sẽ từ từ bị chia đôi. Bởi vậy, người tận hiến phải thường xuyên trở về dưới chân Thập Giá để hỏi: ai đang là người thứ nhất trong lòng tôi?
Thập Giá là nơi Đức Kitô yêu mà không chiếm hữu. Người mở hai tay ra chứ không khép lại để giữ ai cho riêng mình. Đó cũng là bài học lớn cho tình yêu của người tận hiến. Yêu nhưng không giữ. Gần nhưng không sở hữu. Chăm sóc nhưng không khiến người khác lệ thuộc vào mình. Có khả năng trao người mình yêu cho Chúa. Có khả năng vui khi họ trưởng thành đến mức không còn cần mình nữa. Đây là một tình yêu rất khó, bởi bản năng con người muốn được cần đến. Ta thích cảm giác người khác không thể thiếu ta. Nhưng tình yêu của Đức Kitô trên Thập Giá là tình yêu trao ban và giải phóng. Người tận hiến càng thuộc về Đức Kitô thì càng biết yêu người khác trong tự do.
Đức Kitô chịu đóng đinh còn là mối tình đầu của đức khó nghèo. Người nghèo không phải vì Người không có gì, nhưng vì Người đã cho hết. Trên Thập Giá, đến áo cũng bị lấy đi. Cuối cùng, Người trao cả Mẹ mình, trao người môn đệ, trao hơi thở, trao mạng sống. Người tận hiến cũng vậy. Khó nghèo thật không chỉ là không sở hữu tài sản riêng. Có thể một người chẳng có tài khoản lớn mà vẫn rất giàu trong lòng: giàu nhu cầu, giàu đòi hỏi, giàu cái tôi, giàu mong muốn tiện nghi, giàu sự dính bén vào danh tiếng. Có những thứ ta giữ chặt hơn tiền: ý kiến của mình, chức vụ của mình, hình ảnh của mình, ảnh hưởng của mình. Khó nghèo theo Đức Kitô là học cách buông cả những thứ đó. Và chỉ người thật sự yêu Chúa mới dám buông, bởi biết rằng mất những điều ấy vẫn chưa mất điều quan trọng nhất.
Đức Kitô chịu đóng đinh cũng là mối tình đầu của sự vâng phục. Trên Thập Giá là sự vâng phục đi đến tận cùng: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.” Vâng phục khó nhất không phải khi điều được yêu cầu trùng với ý ta. Vâng phục chỉ thật sự lộ ra khi hai ý khác nhau. Có những lúc ta hiểu hơn người ra quyết định, ít nhất ta nghĩ vậy. Có những lúc quyết định của Bề trên khiến ta không đồng ý. Có những lúc ta bị chuyển khỏi nơi mình đang làm tốt. Có những lúc một dự định ta dồn rất nhiều tâm sức bị ngưng lại. Khi ấy, vâng phục có thể đau. Nhưng vâng phục Kitô giáo không phải sự triệt tiêu lương tâm hay trách nhiệm. Người tận hiến vẫn phải nói sự thật, trình bày, phân định. Tuy nhiên, sau khi đã làm phần mình, có lúc phải buông. Và lúc đó, chỉ tình yêu Đức Kitô mới làm cho sự buông ấy không trở thành cay đắng.
Đời tận hiến rất dễ bắt đầu bằng Đức Kitô nhưng rồi dần bị thay thế bằng “những việc vì Đức Kitô”. Khoảng cách giữa hai điều ấy rất nhỏ nhưng hậu quả rất lớn. Một người có thể lao vào sứ vụ đến mức bỏ cầu nguyện, rồi tự an ủi rằng phục vụ tha nhân cũng là cầu nguyện. Đúng, phục vụ có thể là cầu nguyện nếu nó được sinh ra từ sự kết hợp với Chúa. Nhưng nếu ta không còn khả năng ngồi yên trước Chúa, rất có thể hoạt động đã trở thành một cách trốn tránh sự trống rỗng bên trong. Một người tận hiến không có đời sống nội tâm có thể vẫn rất bận, rất được việc, rất nổi tiếng, nhưng bên trong ngày càng cạn. Và khi nguồn cạn, sứ vụ sẽ từ từ biến dạng: người ta dễ nóng, dễ tổn thương, dễ kiểm soát, dễ tìm lời khen, dễ kiệt sức.
Không phải ngẫu nhiên mà Đức Giêsu hỏi Phêrô ba lần. Ba câu hỏi chữa ba lần chối. Chúa không xóa quá khứ của Phêrô; Người đi thẳng vào đó và biến vết thương thành nơi gọi lại tình yêu. Đời tận hiến cũng có những vết thương. Có những quyết định sai. Có những giai đoạn sống không tốt. Có những năm tháng nguội lạnh. Có những người đã từng làm tổn thương ta và có thể ta cũng đã làm tổn thương người khác. Có những điều, nhìn lại, ta ước mình làm khác. Nhưng Chúa không đứng bên bờ hồ cuộc đời để kết án. Người hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Nếu còn yêu, hãy bắt đầu lại. Nếu đã đi xa, hãy quay lại. Nếu trái tim đã nguội, hãy cho Người nhóm lửa. Nếu đã lỗi lầm, hãy để lòng thương xót làm lại cuộc đời. Đừng nghĩ đời tận hiến chỉ đẹp nếu không có vết thương. Phêrô trở thành mục tử sau khi biết thế nào là thất bại. Có lẽ chính vì đã từng yếu đuối, ông mới có thể cảm thông với những con chiên yếu đuối.
Người mục tử chưa từng khóc vì tội mình rất dễ nghiêm khắc với tội người khác. Người chưa từng được tha thứ dễ biến đạo thành luật. Nhưng ai từng ngã mà được Chúa dựng lên sẽ hiểu lòng thương xót. Ai từng nghe tiếng gà gáy trong đời mình sẽ bớt ném đá người khác. Ai từng biết thế nào là xấu hổ trước chính mình sẽ biết cúi xuống với người yếu đuối. Phêrô không còn là người có thể khoe: “Con mạnh hơn họ.” Ông chỉ còn có thể nói: “Thầy biết con.” Và có lẽ đó là phẩm chất quan trọng nhất của một mục tử: biết mình cũng là một con chiên được cứu.
Câu hỏi “Con có yêu mến Thầy không?” còn buộc người tận hiến phải phân biệt giữa yêu Chúa và yêu hình ảnh mình là người của Chúa. Hai điều rất khác. Có thể ta yêu chiếc áo dòng vì nó cho ta một căn tính đẹp. Có thể ta yêu việc người ta gọi mình là cha, là thầy, là sơ. Có thể ta yêu vị trí người phục vụ Chúa vì vị trí ấy mang đến sự kính trọng. Nhưng nếu một ngày tất cả những dấu hiệu ấy bị lấy đi, ta còn yêu Chúa không? Nếu không còn ai gọi bằng danh xưng đặc biệt, không còn đứng trên bục giảng, không còn vai trò nổi bật, ta còn thấy đời mình có ý nghĩa không? Đây là một câu hỏi đau, nhưng rất cần. Bởi Đức Kitô không gọi ta yêu một hình ảnh về bản thân; Người gọi ta yêu chính Người.
Cũng có lúc người tận hiến phải tự hỏi: tôi đang tìm ai trong sứ vụ? Tìm Chúa hay tìm mình? Khi bài giảng được khen, tôi vui vì Tin Mừng chạm đến người ta hay vui vì người ta thấy tôi giỏi? Khi công việc thành công, tôi tạ ơn Chúa hay âm thầm nghĩ “nhờ tôi”? Khi người khác làm tốt hơn, tôi có vui không? Khi một người trẻ mình từng đào tạo sau này vượt mình, mình tự hào hay khó chịu? Những câu hỏi ấy rất nhỏ nhưng bóc trần trái tim. Chỉ Đức Kitô chịu đóng đinh mới chữa được căn bệnh thích tìm mình. Bởi trên Thập Giá, Người hoàn toàn không tìm mình. Người không cứu danh dự mình, không chứng minh mình đúng, không xuống khỏi Thập Giá để khiến kẻ chế nhạo phải câm miệng. Người mất tất cả để người khác được sống.
Có lẽ nhiều người nghĩ khủng hoảng lớn nhất của đời tận hiến là những lần sa ngã công khai. Nhưng có một khủng hoảng khác âm thầm hơn: vẫn ở lại nhưng trái tim đã rời đi. Vẫn mặc áo dòng, vẫn cử hành Thánh lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc, vẫn sinh hoạt cộng đoàn, nhưng tất cả chỉ còn là thói quen. Người ta không bỏ ơn gọi nhưng ơn gọi không còn làm trái tim rung động. Một kiểu chung thủy bên ngoài nhưng xa cách bên trong. Chính lúc ấy, Chúa lại đứng bên bờ hồ và hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Chúa không hỏi để làm ta xấu hổ. Người hỏi để đánh thức. Có những mối tình cần được làm mới. Ơn gọi cũng vậy. Không phải một lần đã chọn là đủ. Mỗi ngày phải chọn lại.
Mỗi sáng thức dậy, người tận hiến cần chọn lại Đức Kitô. Có thể chỉ bằng một lời rất đơn giản: “Lạy Chúa, hôm nay con lại thuộc về Chúa.” Mỗi lần đứng trước bàn thờ, chọn lại Người. Mỗi lần gặp một người khó thương, chọn lại Người. Mỗi lần bị xúc phạm mà muốn trả đũa, chọn lại Người. Mỗi lần mệt muốn buông, chọn lại Người. Mỗi lần lòng mình bị cuốn về một điều không thuộc về ơn gọi, chọn lại Người. Trung thành cả đời thực ra được làm nên từ hàng ngàn lần chọn lại trong những điều rất nhỏ.
Đời tận hiến không phải là một lần cho Chúa tất cả rồi thôi. Nó là quá trình để Chúa lấy lại từng phần của ta mà ta đã âm thầm lấy về. Ngày khấn ta nói: “Con dâng trọn.” Nhưng rồi theo thời gian, ta bắt đầu lấy lại một chút: một quyền tự quyết không muốn ai chạm tới, một khoản riêng tư, một mối quan hệ riêng, một tham vọng riêng, một vùng không muốn Chúa can thiệp. Cả đời tận hiến là để mỗi ngày lại đặt những phần ấy dưới chân Thập Giá và nói: “Lạy Chúa, cái này cũng là của Chúa.”
Và có lẽ đến cuối đời, điều đẹp nhất không phải là một người đã làm được thật nhiều, mà là một người vẫn giữ được mối tình đầu. Một linh mục già, tay run, không còn giảng được như trước, nhưng mắt vẫn sáng khi cầm Mình Thánh Chúa. Một nữ tu cao tuổi, bước chậm trong hành lang, không còn đảm nhiệm công việc gì lớn, nhưng mỗi ngày vẫn đến nhà nguyện sớm và ngồi yên trước Nhà Tạm. Một tu sĩ đã trải qua bao đổi thay, bao hiểu lầm, bao thăng trầm, nhưng khi nhắc đến Chúa vẫn thấy giọng mình dịu lại. Những hình ảnh ấy rất đẹp. Bởi cuối cùng, sau mọi hoạt động, sau mọi thành công, sau mọi chức vụ, thứ còn lại là tình yêu.
Có thể một ngày người ta quên những bài ta đã giảng. Những công trình ta xây rồi sẽ có người sửa, người thay đổi. Những chương trình ta lập rồi sẽ hết thời. Những chức vụ ta từng giữ sẽ có người khác ngồi vào. Những người từng biết ta rồi cũng qua đời. Danh tiếng rất chóng qua. Nhưng một đời đã yêu Chúa thì không mất. Những giờ cầu nguyện không ai thấy, những đêm âm thầm khóc trước Thánh Thể, những lần tha thứ dù đau, những hy sinh chẳng ai biết, những lần tiếp tục bước đi khi chỉ muốn dừng lại, tất cả đều được ghi trong trái tim Thiên Chúa.
“Phêrô, con có yêu Thầy không?” Có lẽ khi chết, Chúa cũng chẳng hỏi ta điều gì khác hơn. Không phải: con đã có bao nhiêu bằng cấp? Con đã giữ những chức vụ gì? Con đã nổi tiếng đến đâu? Nhưng có lẽ vẫn là câu hỏi ấy: “Con có yêu Thầy không?” Và phúc cho người nào, sau một đời nhiều yếu đuối, có thể thì thầm như Phêrô: “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự. Chúa biết con yêu Chúa.”
Chúng ta không cần nói mình yêu Chúa hoàn hảo. Không ai yêu Chúa hoàn hảo cả. Chỉ cần thật. Có thể tình yêu ấy đã nhiều lần nguội. Có thể có những đoạn đường ta đã đi lạc. Có thể ta đã làm Chúa buồn. Có thể ta đã từng đặt công việc, con người, bản thân lên trước Chúa. Nhưng hôm nay vẫn có thể bắt đầu lại. Bên bờ hồ, Chúa đã nhóm một bếp than. Thật cảm động: chính bên một bếp than Phêrô đã chối Chúa, và cũng bên một bếp than Chúa phục hồi ông. Chúa có cách đưa ta trở lại chính nơi ta đã gãy để chữa lành. Người không né vết thương. Người biến nó thành nơi gặp gỡ.
Người tận hiến cần thường xuyên trở lại bếp than ấy. Trở lại với câu hỏi ban đầu. Trở lại ngày Chúa gọi. Trở lại những giờ cầu nguyện đầu tiên. Không phải để sống bằng hoài niệm, nhưng để tìm lại Người đã khiến ta dám bỏ mọi sự. Ta có thể đã thay đổi rất nhiều, nhưng Đức Kitô vẫn là Người ấy. Đôi bàn tay từng kéo ta ra khỏi cuộc đời cũ vẫn là đôi bàn tay mang vết đinh. Ánh mắt từng nhìn ta và nói “Hãy theo Thầy” vẫn là ánh mắt ấy. Người đã không bỏ ta qua tất cả những năm tháng ta trung thành lẫn bất trung, nhiệt thành lẫn nguội lạnh, mạnh mẽ lẫn yếu đuối.
Vì thế, xin đừng để Đức Kitô trở thành một phần trong đời tận hiến. Người phải là trung tâm. Đừng để Chúa chỉ là lý do ta bắt đầu nhưng không còn là lý do ta tiếp tục. Đừng để Người chỉ ở trên bàn thờ mà vắng khỏi trái tim. Đừng để ta nói về Người cho cả ngàn người nhưng lại không còn biết thinh lặng bên Người. Đừng để bàn tay ta trao Mình Thánh Chúa cho người khác mà lòng ta đã lâu không còn đói khát Chúa. Đừng để môi ta đọc lời khấn mà trái tim đã bí mật chọn những điều khác.
Đời tận hiến đẹp không phải vì không có Thập Giá. Chính bởi có Thập Giá mà tình yêu được chứng minh. Phêrô rồi sẽ dang tay. Truyền thống Giáo Hội nhìn thấy trong lời Chúa báo trước cái chết của ông một hình bóng của Thập Giá. Người từng sợ đến mức chối Chúa sau cùng sẽ chết vì Chúa. Điều gì đã biến một Phêrô run sợ thành một Phêrô dám hiến mạng? Chỉ có tình yêu. Không phải ý chí. Không phải khí phách. Tình yêu. Bởi khi yêu đủ, người ta có thể đi tới nơi trước kia mình rất sợ.
Đời tận hiến cũng chỉ có thể đi đến cùng bằng tình yêu. Kỷ luật cần. Luật dòng cần. Cộng đoàn cần. Việc linh hướng cần. Đời sống bí tích cần. Nhưng tất cả những điều ấy cuối cùng phải dẫn đến tình yêu. Không ai có thể sống năm mươi, sáu mươi năm chỉ bằng kỷ luật. Phải có một Người khiến ta muốn ở lại. Một khuôn mặt mà mỗi lần nhìn lên, ta lại nhớ vì sao mình đã bắt đầu. Một Đấng chịu đóng đinh để mỗi khi mệt mỏi, ta biết mình chưa yêu đến cùng như Người. Một Đấng vẫn mở hai tay để mỗi khi ta thất bại, ta biết còn chỗ quay về.
Có những ngày đời tận hiến thật đẹp. Nhưng cũng sẽ có những ngày rất tối. Khi ấy, đừng cố giải quyết mọi sự ngay. Hãy trở về với câu hỏi đơn giản nhất: “Tôi còn yêu Chúa không?” Nếu còn, mọi sự vẫn còn hy vọng. Nếu còn yêu, có thể làm lại. Nếu còn yêu, có thể tha thứ. Nếu còn yêu, có thể bước tiếp. Nếu còn yêu, có thể chịu đựng thêm. Nếu còn yêu, có thể chấp nhận mất. Nếu còn yêu, có thể lại quỳ xuống và nói: “Lạy Chúa, xin giữ con.”
Và cũng nên nhớ: trước khi hỏi ta có yêu Người không, chính Người đã yêu ta trước. Phêrô có thể nói “Con yêu Thầy” chỉ vì trước đó Chúa đã yêu Phêrô đến cùng. Chúa đã biết ông sẽ chối mà vẫn chọn ông. Chúa biết ông yếu mà vẫn cầu nguyện cho ông. Chúa biết tất cả mà vẫn trở lại tìm ông. Ơn gọi của chúng ta cũng vậy. Ta không thuộc về Chúa vì ta xứng đáng. Ta thuộc về Chúa bởi Người đã thương. Mỗi lần thấy mình nghèo nàn, đừng nhìn quá lâu vào mình. Hãy nhìn lên Thập Giá. Tình yêu của ta có thể nhỏ, nhưng tình yêu của Người không nhỏ.
Có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất của người tận hiến không phải: “Lạy Chúa, xin cho con thành công”, nhưng là: “Lạy Chúa, xin đừng để con mất Chúa.” Xin cho dù con có mất sức khỏe, còn Chúa. Mất chức vụ, còn Chúa. Mất tiếng khen, còn Chúa. Mất những nơi mình từng gắn bó, còn Chúa. Mất khả năng làm việc, còn Chúa. Mất những người thân yêu, còn Chúa. Và nếu một ngày phải mất cả mạng sống này, xin cho con vẫn được Chúa.
Bởi cuối cùng, đời tận hiến chỉ thật sự nghèo khi không còn Chúa. Có thể tay trắng mà rất giàu nếu có Chúa. Có thể cô độc mà không cô đơn nếu có Chúa. Có thể bị hiểu lầm mà vẫn bình an nếu có Chúa. Có thể không còn làm được gì nhưng vẫn sống trọn ơn gọi nếu có Chúa. Và ngược lại, có thể có tất cả – chức vụ, công việc, uy tín, ảnh hưởng – mà bên trong lại rỗng nếu đã đánh mất mối tình đầu.
“Anh có yêu mến Thầy không?” Câu hỏi ấy không bao giờ cũ. Hãy để nó theo ta vào nhà nguyện mỗi sáng. Theo ta lên bàn thờ. Theo ta vào phòng họp. Theo ta trên những chuyến đi mục vụ. Theo ta trong những giờ mỏi mệt. Theo ta khi vui, khi buồn, khi thành công, khi thất bại. Và nhất là theo ta đến cuối đời. Để rồi sau tất cả, ta có thể thưa không phải bằng sự tự tin của Phêrô ngày trước, nhưng bằng sự khiêm tốn của Phêrô sau khi đã khóc: “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự; Chúa biết con yêu Chúa.”
Nếu còn được xin một điều cho đời tận hiến, có lẽ không cần xin một đời không sóng gió. Chỉ xin giữa mọi sóng gió đừng đánh mất Đức Kitô. Không cần xin không bao giờ bị thương. Chỉ xin vết thương làm ta gần Đấng mang năm dấu thánh hơn. Không cần xin luôn được người khác hiểu. Chỉ xin đủ bình an vì biết Chúa hiểu. Không cần xin mọi việc đều thành công. Chỉ xin khi thất bại vẫn còn có thể quỳ dưới chân Thập Giá và ở lại. Không cần xin người ta nhớ đến mình. Chỉ xin tên mình còn ở trong trái tim Chúa.
Và nếu một ngày rất xa, sau tất cả những năm tháng tận hiến, Chúa lại hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?”, xin cho ta có thể nhìn lại một đời không hoàn hảo nhưng đã cố gắng trung thành, một đời có nước mắt, có yếu đuối, có những lần ngã rồi đứng dậy, có những đoạn đường chẳng hiểu gì nhưng vẫn đi, rồi thưa với Người bằng tất cả sự nghèo nàn của mình: “Lạy Chúa, con chẳng có gì để khoe. Con đã nhiều lần làm Chúa buồn. Con đã yêu Chúa quá ít so với tình yêu Chúa dành cho con. Nhưng Chúa biết mọi sự. Chúa biết từ tận đáy lòng, con vẫn muốn thuộc về Chúa. Nếu đời con còn một điều đáng giữ lại, xin cho đó là tình yêu dành cho Chúa.”
Bởi người tận hiến có thể đánh mất nhiều thứ mà vẫn còn là người tận hiến. Nhưng nếu đánh mất Đức Kitô, thì dù còn giữ mọi hình thức bên ngoài, đời ấy đã mất linh hồn. Đức Kitô chịu đóng đinh phải là mối tình đầu, vì Người là Đấng đã yêu ta trước; phải là mối tình lớn nhất, vì không ai yêu ta đến mức hiến mạng như Người; và phải là mối tình cuối cùng, để khi mọi sự của cuộc đời dần khép lại, ta vẫn còn một khuôn mặt để nhìn, một tên để gọi, một bàn tay để nắm, một trái tim để thuộc về.
Xin cho mỗi linh mục, mỗi tu sĩ, mỗi người tận hiến đừng bao giờ quên câu hỏi bên bờ hồ năm ấy. Giữa bao nhiêu câu hỏi của cuộc đời, đó vẫn là câu hỏi quyết định: “Con có yêu mến Thầy không?” Và xin cho câu trả lời không chỉ nằm trên môi, nhưng được viết bằng từng ngày trung thành, từng hy sinh âm thầm, từng lần tha thứ, từng lần từ bỏ mình, từng giờ cầu nguyện, từng bước chân phục vụ, từng Thánh lễ, từng giọt nước mắt và cuối cùng, nếu Chúa muốn, bằng chính cả cuộc đời mình.
Đức Kitô chịu đóng đinh không cần người tận hiến phải là người tài giỏi nhất. Người cần một trái tim yêu Người. Người không đòi Phêrô chứng minh rằng ông sẽ không bao giờ ngã nữa. Người chỉ hỏi ông có yêu không. Và khi Phêrô nói có, Người trao đoàn chiên và nói: “Hãy theo Thầy.” Đó là tất cả đời tận hiến: yêu Người, chăm sóc những gì Người trao, rồi theo Người cho đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

RƯỚC KHI TRAO ĐOÀN CHIÊN, CHÚA HỎI MỘT ĐIỀU: CON CÓ YÊU THẦY KHÔNG?
Tin Mừng: Ga 21,15-17
Có một điều rất lạ trong đoạn Tin Mừng bên bờ hồ Tibêria. Chúa Giêsu Phục Sinh sắp trao cho Phêrô một trách nhiệm vô cùng lớn lao: chăm sóc đoàn chiên của Người. Đó không phải là một công việc nhỏ. Đó không phải là giao cho Phêrô một nhóm người để quản lý, một tổ chức để điều hành, một cơ sở để bảo tồn hay một chức vụ để ông có địa vị giữa anh em. Chúa trao cho Phêrô những con người mà Chúa đã yêu bằng chính Máu mình. Chúa trao cho ông Hội Thánh mà Người đã mua bằng cuộc tử nạn. Chúa trao cho ông những tâm hồn mong manh, những người mạnh mẽ lẫn yếu đuối, những kẻ trung thành lẫn những người có thể phản bội, những người dễ thương lẫn những người khó thương. Nói cách khác, Chúa đặt vào tay Phêrô điều quý giá nhất của Người. Vậy mà trước một sứ mạng lớn lao như thế, Chúa không hỏi Phêrô đã học được bao nhiêu, có khả năng lãnh đạo thế nào, nói năng có lưu loát không, tổ chức có giỏi không, có biết xử lý khủng hoảng không, có được nhiều người yêu mến không. Chúa cũng không hỏi ông có đủ bản lĩnh để đối đầu với những khó khăn sắp tới hay không. Chúa chỉ hỏi một điều tưởng như rất riêng tư, rất đơn sơ nhưng lại quyết định tất cả: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” Và câu hỏi ấy được lặp lại đến ba lần.
Có lẽ phải dừng thật lâu ở câu hỏi này mới thấy hết chiều sâu của ơn gọi Kitô hữu, và đặc biệt của ơn gọi mục tử. Trước khi hỏi: “Con sẽ làm gì cho Thầy?”, Chúa hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Trước khi trao việc, Chúa tìm trái tim. Trước khi trao đoàn chiên, Chúa muốn biết người mục tử có thuộc về Người hay không. Bởi vì có thể một người làm rất nhiều việc cho Chúa mà lòng lại dần xa Chúa. Có thể một người nói về Chúa suốt ngày mà chính mình không còn nói chuyện với Chúa. Có thể một người đứng trên bục giảng, giảng rất hay về cầu nguyện, nhưng đời sống cầu nguyện của mình đã khô cạn từ lâu. Có thể một người chăm sóc hàng trăm con người mà quên chăm sóc tương quan sâu kín giữa mình với Đức Kitô. Có thể người ta xây nhà thờ, xây trường học, mở cơ sở bác ái, điều hành cộng đoàn, tổ chức sự kiện, lập kế hoạch mục vụ, chạy hết chương trình này sang chương trình khác, thành công đến mức ai cũng ngưỡng mộ, vậy mà bên trong trái tim, câu hỏi căn bản nhất vẫn chưa được trả lời: “Con có yêu Thầy không?”
Đáng sợ nhất trong đời sống thiêng liêng không phải là lúc chúng ta không làm gì. Đáng sợ hơn là lúc chúng ta làm quá nhiều đến độ tưởng rằng những điều mình làm có thể thay thế cho tình yêu dành cho Chúa. Sứ vụ có thể trở thành một nơi ẩn náu rất tinh vi. Người ta có thể trốn Chúa ngay trong những công việc mang danh Chúa. Người ta có thể bận rộn với việc của Chúa mà không còn thời gian cho chính Chúa. Người ta có thể chăm lo cho đoàn chiên mà quên mình chỉ là người được sai đến, còn đoàn chiên vốn thuộc về Đức Kitô. Và khi tương quan với Đức Kitô yếu đi, sứ vụ rất dễ biến chất. Ta bắt đầu phục vụ để được công nhận. Ta muốn người khác biết ơn mình. Ta khó chịu khi không được nhắc tên. Ta tổn thương khi người khác không nghe mình. Ta xem những người không đồng ý như kẻ chống đối. Ta dễ biến cộng đoàn thành lãnh địa riêng, biến trách nhiệm thành quyền lực, biến phục vụ thành sở hữu. Một khi người mục tử không còn đặt Đức Kitô ở trung tâm, đoàn chiên rất dễ trở thành nơi nuôi cái tôi của chính mình.
Bởi vậy, Chúa không nói với Phêrô ngay: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Người hỏi trước: “Con có yêu Thầy không?” Chỉ sau câu trả lời của tình yêu, mệnh lệnh mục tử mới được trao: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Trật tự ấy không được phép đảo ngược. Yêu Chúa trước, rồi mới chăm sóc đoàn chiên. Thuộc về Chúa trước, rồi mới được sai đi. Ở với Chúa trước, rồi mới làm việc cho Chúa. Nếu đảo thứ tự đó, sứ vụ có thể vẫn chạy, tổ chức có thể vẫn hoạt động, chương trình có thể vẫn đầy kín, nhưng linh hồn của sứ vụ đã mất. Đoàn chiên không cần một người chỉ biết làm việc. Đoàn chiên cần một người đã được Đức Kitô chiếm hữu. Đoàn chiên không cần một nhà quản trị tôn giáo, nhưng cần một mục tử có trái tim đã được uốn theo trái tim Chúa Giêsu.
Chúng ta cũng phải nhớ người đang được hỏi là ai. Đó là Phêrô, người từng mạnh miệng tuyên bố: “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, con cũng không.” Phêrô từng hứa rằng sẽ đi với Thầy dù phải chết. Nhưng rồi trong sân thượng tế, trước một cô tớ gái, ông đã chối Thầy. Không phải một lần mà ba lần. Chính con người ấy giờ đây đứng trước Đức Giêsu Phục Sinh. Chắc hẳn Phêrô không thể quên đêm hôm đó. Có những thất bại người ta mang theo cả đời. Có những câu nói mình ước gì chưa bao giờ thốt ra. Có những giờ phút hèn nhát mà sau đó mỗi lần nhớ lại, lòng vẫn nhói. Phêrô hẳn đã từng tự hỏi: sau tất cả những gì mình đã làm, liệu Thầy còn có thể tin mình không? Liệu Thầy còn muốn mình đi theo không? Liệu ơn gọi có chấm dứt tại sân nhà thượng tế hôm ấy không?
Nhưng Đức Giêsu không lôi quá khứ của Phêrô ra để nghiền nát ông. Người cũng không giả vờ như chưa có chuyện gì xảy ra. Ba lần Phêrô chối Thầy được chữa lành bằng ba lần Chúa hỏi về tình yêu. Thật đẹp biết bao! Chúa không hỏi: “Tại sao đêm ấy con bỏ Thầy?” Chúa không hỏi: “Con có biết con làm Thầy đau thế nào không?” Chúa không hỏi: “Con hứa dữ lắm mà sao con lại yếu đuối như vậy?” Chúa chỉ hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Bởi vì Chúa biết con người có thể sa ngã, nhưng nếu trong tro tàn vẫn còn một chút tình yêu thật, Chúa có thể khơi nó thành ngọn lửa. Chúa không xây sứ vụ của Phêrô trên sự hoàn hảo của Phêrô. Chúa xây nó trên tình yêu đã được thanh luyện qua thất bại, qua nước mắt, qua kinh nghiệm biết mình yếu đuối và biết mình cần lòng thương xót.
Phêrô ngày trước rất tự tin. Ông từng so sánh mình với người khác: “Dầu mọi người có bỏ Thầy, con cũng không.” Nhưng Phêrô bên bờ hồ này đã khác. Ông không còn dám nói: “Con yêu Thầy hơn tất cả những người này.” Ông chỉ thưa: “Thưa Thầy, có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Rồi lần cuối, khi Chúa hỏi đến lần thứ ba, Phêrô buồn. Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đây không còn là tiếng nói của một người dựa vào sức riêng. Đây là lời của người đã biết mình. Phêrô không còn nói: “Con biết con.” Ông nói: “Thầy biết con.” Có lẽ đó chính là bước trưởng thành cần thiết nhất của người môn đệ. Ngày còn non trẻ, ta tin vào lời hứa của mình. Sau nhiều năm đi với Chúa, ta chỉ còn dám phó mình cho lòng thương xót của Người. Ngày xưa ta nói: “Con sẽ không bao giờ bỏ Chúa.” Về sau ta chỉ thưa: “Lạy Chúa, Chúa biết con yếu đuối, nhưng Chúa cũng biết con yêu Chúa.”
Đời linh mục, đời tu, đời phục vụ Hội Thánh cũng vậy. Có những ngày đầu chúng ta đi theo Chúa với rất nhiều nhiệt huyết. Ta muốn làm thật nhiều điều. Ta thấy phía trước rộng mở. Ta tưởng lòng mình sẽ luôn nóng như ngày đầu. Nhưng thời gian đi qua, ta mới hiểu tình yêu không chỉ được chứng minh trong ngày chịu chức, ngày khấn dòng, ngày nhận nhiệm sở hay những ngày đông người vỗ tay. Tình yêu được thử trong những buổi sáng ta mệt vẫn phải đứng dậy cầu nguyện. Trong những giờ giải tội kéo dài. Trong những cuộc gặp mà người đối diện không biết ơn. Trong những lần bị hiểu lầm mà không thể giải thích hết. Trong những ngày cộng đoàn vắng lặng. Trong những lúc công việc thất bại. Trong bệnh tật. Trong tuổi già. Trong lúc nhìn lại mình và thấy bao điều đã không được như mơ ước. Khi ấy câu hỏi của Chúa lại vang lên, có khi rất âm thầm: “Con có yêu Thầy không?”
Có lẽ Chúa không hỏi: “Con còn thành công không?” Vì có những giai đoạn đời mục tử không còn gì gọi là thành công theo nghĩa thế gian. Tuổi trẻ qua đi, sức khỏe giảm, những khả năng từng khiến người khác ngưỡng mộ cũng nhạt dần. Người trẻ hơn xuất hiện, làm được những điều mình không làm được. Có lúc người ta không còn tìm đến mình đông như trước. Có lúc những chương trình mình dày công xây dựng rồi cũng đổi thay. Những căn phòng từng đầy người một ngày nào đó có thể vắng. Danh tiếng rồi cũng qua. Nhưng có một điều không bao giờ cũ: “Con có yêu Thầy không?” Nếu câu trả lời vẫn còn, đời linh mục vẫn đẹp. Một linh mục già không còn làm được bao nhiêu việc nhưng ngồi hàng giờ trước Nhà Tạm vẫn có thể là một linh mục đẹp. Một tu sĩ bệnh tật không còn đi truyền giáo xa nhưng âm thầm cầu nguyện cho Hội Thánh vẫn đang sống trọn sứ vụ. Bởi giá trị của người tận hiến không được đo trước hết bằng sản lượng công việc, nhưng bằng mức độ trái tim thuộc về Đức Kitô.
Điều này không có nghĩa là xem nhẹ công việc mục vụ. Đức Giêsu hỏi về tình yêu rồi lập tức nói: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Tình yêu thật không làm người môn đệ rút vào một thế giới đạo đức riêng tư. Yêu Đức Kitô phải dẫn đến yêu đoàn chiên của Người. Không thể nói “con yêu Chúa” mà thờ ơ với người Chúa trao cho mình. Nhưng phải nhớ rất rõ: đoàn chiên là của Chúa, không phải của ta. Chúa nói: “Chiên của Thầy.” Đây là lời nhắc rất lớn cho bất cứ ai mang trách nhiệm trong Hội Thánh. Những người chúng ta phục vụ không phải tài sản của chúng ta. Họ không nợ chúng ta sự trung thành cá nhân. Họ không phải những người có nhiệm vụ làm cho chúng ta cảm thấy mình quan trọng. Ta chỉ được giao chăm sóc họ một thời gian. Rồi một ngày, ta phải trả họ về cho Chúa.
Một mục tử càng yêu Đức Kitô thật, càng ít có nhu cầu sở hữu đoàn chiên. Người ấy vui khi thấy người khác trưởng thành, kể cả khi họ không còn cần đến mình như trước. Người ấy không buồn vì người khác được yêu mến hơn. Người ấy không tranh ảnh hưởng. Không cần tạo phe nhóm. Không biến lòng biết ơn của giáo dân thành sự lệ thuộc. Bởi mục tiêu của người mục tử không phải là làm cho đoàn chiên gắn với mình, nhưng làm cho họ gắn với Đức Kitô. Gioan Tẩy Giả từng nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó cũng phải là niềm vui của mọi người phục vụ Hội Thánh. Một ngày nào đó, nếu người ta quên tên ta nhưng nhớ được Chúa, thì sứ vụ không hề thất bại. Nếu người ta không còn nhắc những công trình của ta nhưng sống đức tin trưởng thành hơn, đó đã là một mùa gặt đẹp.
Nhưng cũng phải thú nhận rằng yêu đoàn chiên không dễ. Khi Đức Giêsu nói “hãy chăm sóc chiên của Thầy”, Người không nói chỉ chăm sóc những con chiên ngoan. Trong đoàn chiên có những người làm ta vui, nhưng cũng có những người làm ta buồn. Có người biết ơn, có người vô ơn. Có người cộng tác, có người chống đối. Có người nghe một lời là hiểu, có người nói mãi vẫn không thay đổi. Có người đến với ta trong đau khổ rồi khi bình an lại quên. Có người yêu mến người mục tử hôm nay nhưng ngày mai chỉ vì một quyết định không vừa ý có thể quay lưng. Nếu người mục tử chỉ yêu đoàn chiên bằng tình cảm tự nhiên, chắc chắn sẽ có ngày kiệt sức. Chỉ khi yêu họ vì Đức Kitô, người mục tử mới có thể tiếp tục.
Vì thế, tình yêu đối với Đức Kitô không phải một thứ trang sức đạo đức thêm vào sứ vụ. Nó là nguồn sống của sứ vụ. Không có nguồn ấy, người ta dễ cháy kiệt. Ta cứ cho mãi, cho mãi, cho mãi, nhưng không trở về với Chúa để được yêu, rồi một ngày thấy mình trống rỗng. Người mục tử tưởng mình là nguồn nước, nhưng thật ra chỉ là chiếc máng. Máng không nối với nguồn thì sớm muộn cũng khô. Có lẽ một trong những bi kịch âm thầm của đời phục vụ là ta quen với việc trao Chúa cho người khác đến mức quên để Chúa trao chính Người cho mình. Ta chuẩn bị bài giảng cho người khác, nhưng Lời Chúa không còn chạm đến mình. Ta cử hành Thánh Thể cho cộng đoàn, nhưng lòng ta không còn run trước Mình Máu Thánh. Ta giải tội cho người khác nhưng bản thân ít khi để mình được chữa lành trong Bí tích Hòa Giải. Ta nói với người khác rằng Chúa yêu họ, nhưng chính ta lại sống như một người mồ côi.
Bởi vậy, câu hỏi “Con có yêu Thầy không?” cũng là một lời gọi trở về. Trở về với Nhà Tạm. Trở về với những phút cầu nguyện không vì phải soạn bài hay chuẩn bị chương trình gì cả, chỉ đơn giản là ngồi trước mặt Chúa. Trở về với Thánh Kinh không phải chỉ để tìm ý giảng, nhưng để nghe Chúa nói với chính mình. Trở về với Thánh lễ như cuộc gặp của một người đang yêu, chứ không chỉ như bổn phận phải hoàn tất. Trở về với sự thinh lặng. Trở về với lời nguyện đơn sơ: “Lạy Chúa, con ở đây.” Có những lúc đời linh mục không cần thêm một chương trình, nhưng cần thêm một giờ bên Chúa. Không cần thêm một kế hoạch, nhưng cần một trái tim được sưởi ấm lại. Không cần thêm kỹ năng, nhưng cần nghe lại tiếng Chúa gọi tên mình như ngày đầu.
Bên bờ hồ hôm ấy, Chúa gọi: “Simon, con ông Gioan.” Người gọi lại tên cũ của Phêrô. Như thể đưa ông trở về tận căn tính nguyên thủy trước mọi chức vụ. Trước khi là “đá”, trước khi là thủ lãnh các Tông đồ, trước khi là người chăn chiên, ông vẫn chỉ là Simon, một con người được Chúa gọi, được Chúa yêu. Đây cũng là một điều rất quan trọng. Chức vụ không phải căn tính sâu nhất của người linh mục. Một ngày nào đó, nhiệm sở sẽ đổi. Trách nhiệm sẽ kết thúc. Công việc sẽ được trao lại. Nhưng trước tất cả và sau tất cả, linh mục vẫn là một người được Đức Kitô yêu và gọi. Nếu ta quên điều đó, ta rất dễ tìm căn tính trong chức vụ. Rồi khi chức vụ thay đổi, lòng mình chao đảo. Nếu quen được người khác kính trọng, đến lúc không còn ở vị trí ấy ta có thể thấy trống trải. Nhưng nếu căn tính của ta nằm ở tình yêu của Chúa, ta sẽ bình an hơn trước những đổi thay.
Có lẽ câu hỏi này cũng cần được mỗi người Kitô hữu nghe cho chính mình. Không chỉ linh mục mới có đoàn chiên. Cha mẹ có những đứa con Chúa giao. Người chồng có người vợ, người vợ có người chồng. Thầy cô có học trò. Người lãnh đạo có cộng sự. Người giáo lý viên có các em nhỏ. Mỗi người đều có một vài con người Chúa đặt trên đường đời để mình chăm sóc. Và trước khi hỏi ta đã làm được gì cho họ, Chúa cũng hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Bởi nếu cha mẹ không để tình yêu Chúa thanh luyện, tình thương con có thể trở thành chiếm hữu. Nếu vợ chồng không để Đức Kitô ở giữa, tình yêu rất dễ biến thành đòi hỏi. Nếu người lãnh đạo không có chiều sâu nội tâm, trách nhiệm dễ trở thành quyền lực. Chỉ khi yêu Chúa, ta mới học được cách yêu người mà không biến người ấy thành vật sở hữu.
Ba lần Chúa hỏi. Ba lần Phêrô trả lời. Và ba lần Chúa trao đoàn chiên. Điều ấy như muốn nói rằng mỗi lần ta tuyên xưng tình yêu với Đức Kitô, Chúa lại đưa ta trở về với con người. Không có tình yêu Chúa nào tách khỏi trách nhiệm với anh em. Nhưng cũng không có việc phục vụ anh em nào bền vững nếu không bén rễ trong tình yêu Chúa. Hai điều ấy phải luôn đi cùng nhau. Cầu nguyện mà không phục vụ có thể trở thành khép kín. Phục vụ mà không cầu nguyện dễ trở thành hoạt động xã hội đơn thuần. Người môn đệ được mời gọi sống cả hai: ở lại với Chúa và đi đến với người.
Và có lẽ càng sống lâu trong ơn gọi, câu hỏi này càng trở nên quan trọng hơn, bởi tình yêu có thể nguội đi rất âm thầm. Không ai thức dậy một sáng rồi đột nhiên hết yêu Chúa. Thường tình yêu nguội dần qua những việc rất nhỏ: bỏ một giờ cầu nguyện vì bận; rồi nhiều giờ; rồi cầu nguyện chỉ còn chiếu lệ. Thánh lễ vẫn cử hành nhưng lòng không còn chuẩn bị. Kinh nguyện vẫn đọc nhưng tâm trí luôn ở công việc. Ta quen với những sự thánh đến mức không còn ngạc nhiên. Rồi dần dần ta sống bằng quán tính. Người khác nhìn vào vẫn thấy một đời sống tôn giáo đầy đủ, nhưng bên trong lửa đã thấp. Vì thế đôi khi Chúa cho phép những giai đoạn khó khăn không phải để nghiền nát ta, nhưng để đưa ta trở lại câu hỏi đầu tiên: “Con có yêu Thầy không?”
Những khủng hoảng của đời ơn gọi có thể trở thành ân sủng nếu chúng giúp ta trả lời lại câu hỏi ấy. Có khi Chúa để một công việc thất bại để ta nhận ra mình đã yêu thành công hơn yêu Chúa. Có khi Chúa để một người quay lưng để ta nhận ra mình đã sống nhờ sự công nhận của người ấy. Có khi Chúa để ta yếu đi để ta thôi tin vào sức mình. Có khi Chúa để ta bước vào một khoảng thinh lặng dài để ta nhận ra lâu nay mình chỉ biết làm việc cho Chúa mà chưa biết ở với Chúa. Những khoảnh khắc ấy đau, nhưng có thể rất cứu độ.
Rồi một ngày, sau tất cả những năm tháng, điều còn lại không phải chúng ta đã xây được bao nhiêu, viết bao nhiêu, giảng bao nhiêu, được bao nhiêu người biết đến. Tất cả đều sẽ qua. Người ta sẽ làm lại những công trình của ta. Những bài giảng bị quên. Những kế hoạch được thay thế. Tên tuổi dần chìm vào thời gian. Nhưng có một câu hỏi sẽ không bao giờ cũ: “Con có yêu Thầy không?” Và có lẽ ở cuối đời, ta không cần nói một bài dài. Chỉ cần thưa như Phêrô: “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự; Chúa biết con yêu Chúa.” Một câu đó đủ bao trùm cả một đời.
Thật ra, Chúa không hỏi câu ấy vì Người thiếu thông tin. Người biết Phêrô yêu Người. Chúa biết lòng ta hơn ta biết chính mình. Người hỏi để Phêrô tự nghe câu trả lời của mình. Người hỏi để Phêrô biết điều gì sẽ giữ ông đứng vững trong những năm tháng sắp tới. Bởi rồi Phêrô sẽ phải bước vào một con đường khó. Chính Đức Giêsu nói tiếp rằng một ngày nào đó người khác sẽ thắt lưng cho ông và đưa ông đến nơi ông không muốn. Tình yêu được hỏi bên bờ hồ cuối cùng sẽ được chứng minh bằng thập giá. “Con có yêu Thầy không?” không phải một câu hỏi lãng mạn. Đó là câu hỏi đòi cả cuộc đời.
Và đời linh mục cũng vậy. Yêu Chúa không phải chỉ là cảm xúc sốt sắng trước Nhà Tạm. Yêu Chúa là trung thành trong những ngày không còn cảm xúc. Là vẫn cầu nguyện khi thấy khô khan. Là vẫn phục vụ khi không ai hiểu. Là không cay đắng khi bị quên. Là biết xin lỗi khi mình sai. Là không dùng chức thánh để bảo vệ cái tôi. Là dám để người khác góp ý. Là yêu đoàn chiên không theo sự dễ thương của họ. Là không bỏ đi khi sứ vụ trở nên nặng nề. Là mỗi ngày lại dâng mình trên bàn thờ cùng với Đức Kitô.
Có một điều thật cảm động: Chúa không đợi Phêrô hoàn hảo rồi mới giao chiên. Chúa giao chiên cho một người từng thất bại, nhưng đã biết khóc, biết yêu và biết dựa vào Chúa. Điều ấy cho chúng ta hy vọng. Chúa không cần những mục tử không bao giờ yếu. Chúa cần những mục tử biết mình yếu và vì thế bám chặt vào Người. Chúa không cần một trái tim chưa từng vỡ. Chúa có thể dùng chính trái tim đã vỡ để biết thương những người khác đang vỡ. Người từng được tha thứ thường biết tha thứ hơn. Người từng được nâng dậy sẽ dịu dàng hơn với kẻ sa ngã. Có khi chính những vết thương được Chúa chữa lành lại trở thành nơi lòng thương xót đi qua để đến với đoàn chiên.
Điều nguy hiểm không phải là đã từng ngã. Nguy hiểm là ngã rồi không trở về. Không phải là đã từng nguội lạnh. Nguy hiểm là bằng lòng với sự nguội lạnh. Không phải là có lúc thấy mình không yêu Chúa đủ. Nguy hiểm là không còn bận tâm đến chuyện đó nữa. Nếu hôm nay ta còn đau vì thấy mình yêu Chúa quá ít, chính nỗi đau ấy đã là một dấu hiệu ân sủng. Vì người hoàn toàn không yêu sẽ chẳng buồn vì mình không yêu.
Vậy hôm nay, trước khi nghĩ đến mọi chương trình, trước khi lo những trách nhiệm phía trước, ta hãy để Chúa hỏi lại thật chậm: “Con có yêu Thầy không?” Có thể ta không dám trả lời mạnh mẽ như ngày trẻ. Có thể sau nhiều vấp ngã, ta chỉ dám cúi đầu. Nhưng hãy nói thật với Chúa. “Lạy Chúa, con yêu Chúa, nhưng tình yêu của con nhỏ bé. Con yêu Chúa, nhưng con còn yêu chính mình nhiều. Con yêu Chúa, nhưng đôi khi con đã để công việc đứng trước Chúa. Con yêu Chúa, nhưng lòng con có lúc mệt mỏi. Con yêu Chúa, nhưng con cần Chúa dạy con yêu lại từ đầu.” Chúa không khinh một lời thú nhận như thế.
Có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất của người mục tử không phải là: “Lạy Chúa, xin cho con thành công.” Cũng không phải: “Xin cho đoàn chiên yêu mến con.” Nhưng là: “Lạy Chúa, xin cho con yêu Chúa đủ để biết yêu những người Chúa giao.” Vì nếu yêu Chúa thật, ta sẽ biết khi nào phải nói, khi nào phải im; khi nào phải mạnh, khi nào phải dịu; khi nào phải dẫn đầu, khi nào phải lùi lại; khi nào phải giữ, khi nào phải để người khác ra đi. Tình yêu Chúa sẽ thanh luyện mọi động cơ và giữ cho sứ vụ không trở thành chuyện của cái tôi.
Trước khi trao đoàn chiên, Chúa hỏi một điều. Không phải: “Con có tài không?” Không phải: “Con có được nhiều người yêu không?” Không phải: “Con có thể làm những chuyện lớn không?” Chỉ là: “Con có yêu Thầy không?” Sau bao nhiêu năm đi theo Chúa, có lẽ cuối cùng chúng ta cũng hiểu: đây không chỉ là câu hỏi trước khi bắt đầu sứ vụ. Đây là câu hỏi phải trả lời mỗi ngày. Sáng nay: “Con có yêu Thầy không?” Khi mệt mỏi: “Con có yêu Thầy không?” Khi bị hiểu lầm: “Con có yêu Thầy không?” Khi thành công: “Con có yêu Thầy hơn thành công đó không?” Khi thất bại: “Con có còn yêu Thầy không?” Khi về già: “Con có yêu Thầy không?” Và đến hơi thở cuối cùng, nếu còn đủ sức, có lẽ chỉ cần thưa một câu như Phêrô: “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự; Chúa biết con yêu Chúa.”
Đời người mục tử có thể có rất nhiều câu hỏi phải trả lời, rất nhiều vấn đề phải giải quyết, rất nhiều trách nhiệm phải mang. Nhưng ở dưới tất cả những điều ấy chỉ có một câu hỏi nền tảng. Nếu câu ấy được trả lời đúng, nhiều điều khác sẽ tìm được vị trí. Nếu câu ấy bị bỏ quên, dù mọi chuyện bên ngoài có vẻ thành công, bên trong vẫn có nguy cơ trống rỗng. Sứ vụ không thay thế được tình yêu. Công việc không thay thế được tương quan. Thành tích không thay thế được sự thuộc về. Và đoàn chiên cũng không thể thay thế Đức Kitô. Bởi trước khi chúng ta là mục tử, chúng ta là những người được Người yêu. Trước khi chúng ta trao Chúa cho người khác, chính chúng ta phải để mình được Chúa yêu. Và trước khi nghe lời Người nói: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”, hãy nghe thật sâu câu hỏi đi trước tất cả: “Con có yêu Thầy không?”
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ PHẢI LỚN LÊN, CÒN TÔI PHẢI NHỎ LẠI
Tin Mừng: Ga 3,27-30
Có lẽ trong tất cả những câu nói của Gioan Tẩy Giả, không có câu nào ngắn mà lại chứa đựng cả một đời người như câu này: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Chỉ mấy chữ thôi, nhưng đủ để trở thành một linh đạo. Chỉ một câu thôi, nhưng nếu đem ra sống cho đến cùng thì có lẽ phải mất cả đời. Và nếu đặt câu nói ấy vào đời tận hiến, đời linh mục, đời của một người đã bỏ nhiều thứ để bước theo Chúa, chúng ta sẽ thấy đây không chỉ là một lời đạo đức đẹp để suy niệm, mà là một cuộc thanh luyện đau đớn, âm thầm và kéo dài cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì bước vào đời tận hiến, người ta có thể bỏ nhà cửa, bỏ gia đình, bỏ tiền bạc, bỏ một nghề nghiệp, bỏ một tương lai riêng, bỏ cả quyền xây dựng một mái ấm cho mình; nhưng có một điều khó bỏ hơn tất cả những điều ấy, đó là bỏ chính mình. Có thể một người đã chẳng còn sở hữu gì mà vẫn còn sở hữu rất chặt cái tôi của mình. Có thể đã sống nghèo nhưng lại rất giàu tự ái. Có thể đã khấn vâng phục nhưng lại luôn muốn người khác làm theo ý mình. Có thể đã sống khiết tịnh nhưng trái tim vẫn âm thầm khát khao được chiếm hữu tình cảm, sự chú ý, lòng biết ơn của người khác. Có thể đã dành cả đời làm việc cho Chúa mà sâu trong lòng vẫn mong công việc ấy mang tên mình, được ghi nhận công lao của mình, được người ta nhớ đến mình. Cho nên, câu nói “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” chính là con đường đưa người môn đệ từ việc làm việc cho Đức Kitô đến chỗ thật sự thuộc về Đức Kitô.
Gioan Tẩy Giả nói câu ấy vào một thời điểm rất đặc biệt. Ông không nói khi mình đang thất bại hoàn toàn. Ông cũng không nói khi không còn ai biết đến mình. Trái lại, Gioan đang là một con người có ảnh hưởng rất lớn. Người ta từ Giêrusalem, miền Giuđê và vùng ven sông Giođan kéo đến với ông. Người ta nghe ông giảng. Người ta chịu phép rửa của ông. Ông có môn đệ. Ông có tiếng nói. Ông được kính trọng. Thậm chí nhiều người còn tự hỏi ông có phải là Đấng Kitô hay không. Nếu là một người bình thường, đây chính là lúc dễ say men thành công nhất. Đây là lúc người ta dễ tưởng rằng mình không thể thiếu. Đây là lúc một người làm việc tông đồ dễ lẫn lộn giữa vinh quang của Chúa và ảnh hưởng của bản thân mình. Nhưng rồi Đức Giêsu xuất hiện. Người bắt đầu giảng dạy. Người có môn đệ. Người ta bắt đầu kéo đến với Người. Và các môn đệ của Gioan nhìn thấy điều ấy. Họ có vẻ lo cho thầy mình. Họ nói với Gioan: người mà thầy đã làm chứng cho, giờ đây cũng đang làm phép rửa và mọi người đều đến với ông ấy. Câu nói nghe qua tưởng bình thường, nhưng bên dưới là cả một nỗi lo rất con người: “Thầy ơi, người ta đang bỏ chúng ta mà đi.” “Thầy ơi, ảnh hưởng của thầy đang giảm.” “Thầy ơi, người kia đang nổi lên.” “Thầy ơi, rồi đây còn ai nhớ đến thầy nữa?” Đó chính là thứ cám dỗ mà không một người hoạt động tông đồ nào hoàn toàn xa lạ. Chúng ta vui khi người ta đến với Chúa, nhưng đôi khi chỉ vui nếu họ đến với Chúa qua mình. Chúng ta nói rằng muốn người khác yêu mến Chúa, nhưng đôi khi lại buồn khi họ yêu mến Chúa mà không còn cần đến mình. Chúng ta nói rằng chỉ tìm vinh danh Thiên Chúa, nhưng đôi khi một lời khen dành cho người khác cũng đủ làm lòng mình chùng xuống; một người khác được trọng dụng cũng đủ khiến mình không yên; một người trẻ hơn làm tốt hơn mình cũng có thể trở thành cái gai trong lòng. Ranh giới giữa lòng nhiệt thành tông đồ và nhu cầu khẳng định bản thân thật mong manh.
Gioan thì khác. Ông trả lời một câu tuyệt đẹp: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.” Nghĩa là ông biết mình là ai. Ông biết mọi sự mình có đều là quà tặng. Ơn gọi là quà tặng. Sứ vụ là quà tặng. Khả năng là quà tặng. Người ta tìm đến mình cũng là quà tặng. Một bài giảng làm người khác xúc động là quà tặng. Một cộng đoàn phát triển là quà tặng. Một công việc thành công là quà tặng. Một chức vụ được giao là quà tặng. Một chút uy tín có được trong Giáo Hội cũng chỉ là quà tặng. Nếu là quà tặng thì không có gì để khoe. Nếu là quà tặng thì cũng không có gì để giữ chặt. Nếu Thiên Chúa trao hôm nay, Người cũng có quyền lấy lại ngày mai. Nếu Người dùng tôi ở giai đoạn này, Người cũng có thể dùng một người khác ở giai đoạn tiếp theo. Và nếu chương trình của Chúa cần tôi bước sang bên để một người khác bước tới, thì điều đó không phải là thất bại của đời tôi. Thất bại chỉ xảy ra khi tôi không còn muốn chương trình của Chúa được thực hiện nếu chương trình ấy không còn cần đến tôi.
Đây là điểm rất sâu trong đời tận hiến. Có những lúc chúng ta sẵn sàng hy sinh để làm một công việc, nhưng lại không sẵn sàng để người khác tiếp tục công việc ấy. Có những lúc ta chịu cực khổ để xây dựng một cộng đoàn, một giáo xứ, một nhóm, một chương trình, một sứ vụ, đến khi phải bàn giao thì lòng đau như bị lấy mất một phần đời. Điều ấy rất người và cũng rất dễ hiểu, bởi vì ta đã đổ vào đó biết bao mồ hôi, nước mắt, trí lực, tình cảm. Nhưng chính lúc ấy câu nói của Gioan trở thành một nhát cắt cần thiết: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Nếu công việc ấy thật sự là của Chúa, tại sao tôi lại buồn khi nó tiếp tục tốt đẹp mà không còn có tôi? Nếu đoàn chiên là của Chúa, tại sao tôi lại muốn họ phải nhớ đến tôi mãi? Nếu những con người ấy thuộc về Đức Kitô, tại sao tôi lại khó chịu khi một mục tử khác được họ yêu quý? Nếu một người tôi đã hướng dẫn nay trưởng thành và không còn cần đến tôi nữa, chẳng phải đó là điều tôi phải vui sao? Người cha thật sự vui khi đứa con trưởng thành. Người thầy thật sự vui khi học trò vượt mình. Người mục tử thật sự vui khi người tín hữu bám lấy Chúa hơn bám lấy mình. Chỉ có cái tôi mới muốn người khác mãi lệ thuộc vào mình.
Gioan còn dùng một hình ảnh thật dịu dàng: chàng rể và người bạn của chàng rể. Chàng rể là Đức Kitô. Cô dâu thuộc về chàng rể. Gioan chỉ là bạn của chàng rể. Người bạn đứng đó, nghe tiếng chàng rể và vui mừng. Ông không giành cô dâu cho mình. Ông không đứng giữa cô dâu và chàng rể. Ông không biến mình thành trung tâm của ngày cưới. Nhiệm vụ của ông là đưa hai người đến với nhau rồi lùi lại. Hình ảnh ấy đáng cho mọi người làm mục vụ suy nghĩ rất lâu. Bởi vì người linh mục, người tu sĩ, người giáo lý viên, người hướng dẫn thiêng liêng, người truyền giáo, tất cả chúng ta cũng chỉ là bạn của Chàng Rể. Giáo Hội không phải cô dâu của chúng ta. Các linh hồn không phải tài sản của chúng ta. Người tín hữu không phải người hâm mộ của chúng ta. Người ta đến nhà thờ không phải để tìm chúng ta. Họ đến để gặp Đức Kitô. Chúng ta chỉ có một nhiệm vụ: làm sao để sau khi gặp chúng ta, người ta yêu Đức Kitô hơn; sau khi nghe chúng ta giảng, người ta muốn nghe Lời Chúa hơn; sau khi được chúng ta nâng đỡ, người ta có thể đứng vững trên đôi chân đức tin của mình mà không lệ thuộc vào chúng ta. Người mục tử đẹp nhất không phải là người khiến đoàn chiên không thể sống nếu thiếu mình, nhưng là người giúp đoàn chiên biết sống nhờ Chúa, để rồi một ngày mình đi khỏi, họ vẫn tiếp tục tin, tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục yêu thương và tiếp tục bước đi.
“Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Nhỏ lại không có nghĩa là tự khinh mình. Kitô giáo không dạy con người coi mình là vô dụng. Khiêm nhường không phải là đi quanh nói rằng tôi chẳng làm được gì, tôi chẳng có giá trị gì, tôi chẳng đáng gì. Đó có thể lại là một hình thức khác của việc quá bận tâm đến bản thân. Khiêm nhường đích thực là đặt mình đúng chỗ trước mặt Thiên Chúa. Tôi có giá trị, nhưng giá trị ấy đến từ Chúa. Tôi có khả năng, nhưng khả năng ấy để phục vụ. Tôi có tiếng nói, nhưng tiếng nói ấy để loan báo một Đấng khác. Tôi có ánh sáng, nhưng chỉ là ánh sáng phản chiếu. Tôi có thể được người ta yêu mến, nhưng nhiệm vụ của tôi là dẫn tình yêu ấy về với Chúa. Nhỏ lại không phải biến mình thành con số không; nhỏ lại là thôi muốn mình thành trung tâm.
Có một nỗi khổ rất âm thầm trong đời người: nỗi khổ vì mình không còn được cần đến như trước. Khi còn trẻ, người ta tìm mình. Khi còn khỏe, người ta nhờ mình. Khi còn giữ chức vụ, điện thoại reo nhiều. Khi còn có quyền quyết định, nhiều người ghé thăm. Khi còn có thể giúp người khác, người ta nhớ đến. Rồi thời gian trôi. Sức khỏe giảm. Chức vụ được trao cho người khác. Một thế hệ trẻ hơn xuất hiện. Những điều ngày xưa người ta hỏi mình, nay người ta hỏi một người khác. Những việc ngày xưa phải có mình mới làm được, nay người khác làm rất tốt, có khi còn tốt hơn. Và lúc ấy đời tận hiến bước vào một giai đoạn rất quan trọng: giai đoạn học biến mất. Không phải biến mất trong cay đắng, nhưng biến mất trong bình an. Không phải ngồi kể lại những năm tháng huy hoàng để bắt người khác phải nhớ, nhưng vui mừng vì công trình của Chúa vẫn tiếp tục. Có khi sự thánh thiện lớn nhất của tuổi già không còn nằm ở những việc mình làm được, mà nằm ở khả năng ngồi yên nhìn người khác làm, cầu nguyện cho họ và không can thiệp vào tất cả mọi chuyện. Đối với một người từng năng động cả đời, điều đó có khi còn khó hơn hàng chục năm lao động.
Đức Kitô phải lớn lên trong đời ta. Nhưng Người lớn lên bằng cách nào? Trước hết, Người phải lớn lên trong suy nghĩ của ta. Nghĩa là trước một quyết định, câu hỏi đầu tiên không còn là: “Tôi thích gì?” nhưng là: “Chúa muốn gì?” Khi Đức Kitô lớn lên, ý Chúa ngày càng có trọng lượng hơn ý mình. Lời Chúa ngày càng có quyền sửa mình. Ta không còn đọc Tin Mừng để tìm những câu xác nhận điều mình đã nghĩ, nhưng để cho Tin Mừng cắt vào những vùng ta không muốn thay đổi. Chừng nào tôi chỉ nghe những lời khiến mình dễ chịu, Đức Kitô vẫn chưa lớn lên đủ. Người lớn lên khi một câu Lời Chúa có thể làm tôi đổi một quyết định, bỏ một thành kiến, xin một lời xin lỗi, chấp nhận một người tôi không thích, buông một điều tôi đang cố giữ.
Đức Kitô phải lớn lên trong tình cảm của ta. Điều này rất quan trọng đối với đời tận hiến. Trái tim con người không thể sống mà không yêu. Khi đã không xây dựng gia đình riêng, trái tim người tận hiến không vì thế mà chết đi; trái lại, nó càng cần được lấp đầy bằng một tình yêu lớn. Nếu Đức Kitô không đủ lớn trong trái tim, những tình cảm khác sẽ nhanh chóng chiếm chỗ. Ta sẽ đòi hỏi người khác bù đắp những khoảng trống của mình. Ta sẽ dễ tổn thương vì thái độ của họ. Ta sẽ sống bằng những lời khen, những tin nhắn, những sự quan tâm, những mối quan hệ khiến mình cảm thấy mình quan trọng. Không phải tất cả những tình cảm ấy là xấu. Nhưng một trái tim tận hiến chỉ thật sự tự do khi Đức Kitô là tình yêu lớn nhất, để nhờ đó ta có thể yêu mọi người mà không chiếm hữu ai. Khi Chúa lớn lên, ta yêu người khác vì họ là họ, không vì họ làm cho ta cảm thấy dễ chịu. Ta có thể để một người rời khỏi mình mà không biến thành oán trách. Ta có thể phục vụ mà không đòi được biết ơn. Ta có thể cho đi mà không lập sổ ghi công.
Đức Kitô phải lớn lên trong sứ vụ của ta. Có một nguy cơ rất tinh vi là ban đầu ta làm việc vì Chúa, nhưng dần dần công việc trở thành căn tính của ta. Ta bắt đầu nghĩ rằng nếu không còn việc ấy thì đời mình chẳng còn ý nghĩa. Nếu không được giảng, không được đứng trước cộng đoàn, không được điều hành, không còn được gọi bằng chức danh ấy, ta thấy như mình biến mất. Khi ấy sứ vụ đã âm thầm chiếm chỗ của Đấng sai mình. Cần nhớ rằng Chúa gọi các môn đệ trước hết không phải để họ làm thật nhiều, nhưng để ở với Người. Công việc có thể thay đổi, nhiệm sở có thể thay đổi, chức vụ có thể đến rồi đi, sức khỏe có thể làm chúng ta chẳng còn làm được điều mình từng làm; nhưng nếu Đức Kitô vẫn còn đó, đời tận hiến vẫn còn nguyên lý do để tồn tại. Có những người về già không còn làm được việc gì lớn nhưng lại trở thành một sự hiện diện rất quý, vì họ đã học để Đức Kitô lớn lên đến mức chỉ cần ngồi đó thôi, sự bình an của họ cũng nói về Chúa.
Đức Kitô phải lớn lên trong cách ta chịu tổn thương. Cái tôi hiện rõ nhất không phải khi mọi việc thuận lợi, mà khi ta bị coi thường, bị hiểu lầm, bị bỏ quên, bị phê bình. Người ta có thể nói rất nhiều về khiêm nhường cho đến ngày một người khác không chào mình như mình mong. Có thể giảng rất hay về từ bỏ cho đến ngày quyền lợi của mình bị đụng đến. Có thể dạy người khác tha thứ cho đến khi chính mình bị nói xấu. Lúc ấy mới biết Đức Kitô lớn đến đâu trong lòng. Nếu một lời chê đủ phá hỏng cả ngày của ta, có lẽ cái tôi vẫn còn rất lớn. Nếu người khác không nhắc đến công lao của ta mà ta mất bình an, có lẽ ta vẫn đang sống bằng sự nhìn nhận của họ nhiều hơn bằng ánh mắt của Chúa. Nếu thấy một người được khen mà ta buồn, không phải vì họ xấu mà chỉ vì họ được khen, thì đó là một dấu chỉ đáng để ta cầu nguyện thật lâu.
“Còn tôi phải nhỏ lại.” Nhỏ lại có nghĩa là bớt nói về mình. Có những cuộc trò chuyện mà bất cứ đề tài nào cuối cùng cũng quay về chuyện của ta: tôi đã làm gì, tôi biết ai, ngày xưa tôi thế nào, tôi từng thành công ra sao. Khi cái tôi lớn, nó có khả năng chiếm cả không gian của người khác. Ta nghe người khác kể chuyện nhưng thật ra chỉ chờ đến lượt mình kể câu chuyện hay hơn. Ta nghe nỗi đau của họ rồi lập tức nói nỗi đau của mình còn lớn hơn. Ta nghe thành công của họ rồi tìm cách nhắc đến thành công của mình. Nhỏ lại là học nghe mà không cần chen mình vào.
Nhỏ lại là bớt nhu cầu phải đúng trong mọi chuyện. Có những mối quan hệ tan vỡ không vì vấn đề lớn, nhưng vì hai người đều muốn thắng. Trong cộng đoàn cũng vậy. Có những tranh luận kéo dài không còn vì sự thật nữa mà vì không ai muốn là người xuống nước trước. Khi Đức Kitô lớn lên, ta dần hiểu rằng có những trận thắng khiến tình huynh đệ bị thua. Có những lúc giữ được ý mình nhưng mất một người anh em thì chẳng có gì đáng tự hào. Nhỏ lại không có nghĩa là thỏa hiệp với sai trái. Có những lúc phải nói sự thật. Nhưng người đã nhỏ lại có thể nói sự thật mà không cần nghiền nát người khác để chứng minh mình đúng.
Nhỏ lại là không chiếm công của Thiên Chúa. Khi một bài giảng chạm đến lòng người, ta hãy vui, nhưng đừng vội nghĩ mình tài. Có khi Chúa dùng một câu rất vụng về để cứu một con người. Khi một người thay đổi sau khi gặp ta, hãy tạ ơn, nhưng nhớ rằng Thánh Thần đã làm việc trong họ từ lâu trước khi họ gặp ta. Người gieo, kẻ tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Có một sự bình an rất đẹp khi người làm tông đồ hiểu rằng mình không phải là Đấng Cứu Thế. Ta không cứu được ai. Ta chỉ dẫn họ đến Đấng cứu được họ. Nhận ra điều ấy không làm ta bớt nhiệt thành; trái lại, nó giải thoát ta khỏi gánh nặng tưởng rằng tất cả tùy thuộc vào mình.
Nhỏ lại còn là biết rời đi đúng lúc. Gioan Tẩy Giả là bậc thầy của nghệ thuật này. Ông xuất hiện mạnh mẽ, hoàn thành nhiệm vụ của mình, chỉ cho người ta thấy Chiên Thiên Chúa, rồi bước sang bên. Người của Chúa phải biết xuất hiện khi Chúa cần và biết biến mất khi Chúa muốn. Không bám ghế. Không bám quyền. Không bám một cộng đoàn. Không bám một vai trò. Không bám vào câu “từ trước đến giờ tôi vẫn làm như thế”. Có những lúc trung thành với Chúa lại có nghĩa là rời khỏi điều mình rất yêu quý để người khác tiếp tục. Và rời đi mà không gieo vào lòng người khác cảm giác rằng từ nay mọi thứ sẽ xuống dốc vì thiếu mình, đó là một sự khiêm nhường rất lớn.
Thế giới hôm nay dạy con người phải làm sao cho mình lớn lên: lớn tên tuổi, lớn ảnh hưởng, lớn số người theo dõi, lớn vị trí, lớn hình ảnh. Ngay cả đời sống tôn giáo cũng có thể bị nhiễm tinh thần ấy. Người ta đo tầm ảnh hưởng bằng lượt xem, lượt nghe, số người tham dự, số công trình, số bài viết, số nơi mời giảng. Những điều ấy tự chúng không xấu. Tin Mừng cần được loan báo bằng mọi phương tiện có thể. Nhưng rất dễ từ chỗ dùng phương tiện để loan báo Đức Kitô, chúng ta âm thầm dùng Đức Kitô để làm lớn hình ảnh của mình. Đây là cám dỗ cực kỳ tinh vi. Chỉ mình người ấy và Thiên Chúa mới biết thật sự điều gì đang diễn ra trong lòng. Có khi miệng nói về Chúa nhưng lòng đang chờ người ta khen mình. Có khi đăng một điều đạo đức mà cả ngày chỉ nhìn xem có bao nhiêu người phản hồi. Có khi rất nhiệt thành bảo vệ Giáo Hội nhưng lại nổi giận dữ dội chỉ vì ai đó không tôn trọng mình. Cái tôi có khả năng mặc áo đạo đức. Nó có thể cầm chuỗi Mân Côi. Nó có thể đứng trên bục giảng. Nó có thể mang áo dòng. Nó có thể nói những câu rất thánh thiện. Và bởi thế, cuộc chiến với cái tôi là cuộc chiến kéo dài đến cuối đời.
Nhưng cũng cần nói cho rõ: ta không thể tự mình làm cho cái tôi nhỏ lại bằng cách ghét chính mình. Càng tập trung vào việc tiêu diệt cái tôi, có khi ta càng tập trung vào mình. Bí quyết của Gioan nằm ở vế đầu tiên: “Người phải lớn lên.” Khi mặt trời lên, bóng tối tự rút lui. Khi Đức Kitô lớn trong lòng, cái tôi tự nhiên mất bớt chỗ. Khi yêu Chúa đủ, ta không cần ép mình phải quên mình; ta quên mình vì đang bận nhìn Người. Một người mẹ thức cả đêm chăm con không ngồi đó suy nghĩ: “Tôi đang hy sinh đây.” Vì yêu, bà quên mình. Người yêu thật sự không liên tục đếm xem mình đã hy sinh bao nhiêu. Vì thế, điều căn bản của đời tận hiến không phải mỗi ngày đứng trước gương tinh thần để cố làm cho mình nhỏ đi, nhưng là đứng trước Đức Kitô thật lâu để Người trở nên lớn lao đến mức mọi thứ khác tự nhiên tìm lại đúng kích thước của nó.
Có lẽ vì vậy người tận hiến cần cầu nguyện hơn bất cứ điều gì. Không cầu nguyện, ta sẽ dần lấy công việc làm nguồn sống. Không cầu nguyện, lời khen trở thành thức ăn. Không cầu nguyện, chức vụ trở thành chỗ dựa. Không cầu nguyện, người khác trở thành nguồn bù đắp tình cảm. Không cầu nguyện, ta sẽ nói về Đức Kitô mà trong lòng ngày càng xa Đức Kitô. Cầu nguyện chính là mỗi ngày đặt đời mình dưới ánh mắt Người để hỏi: “Lạy Chúa, hôm nay Chúa có lớn thêm trong con không, hay cái tôi của con lại lớn hơn?” Có khi ta làm rất nhiều nhưng Chúa không lớn thêm chút nào. Có khi bên ngoài rất thành công nhưng bên trong người môn đệ đang teo lại. Và cũng có những ngày ta chẳng làm được gì đáng kể, chỉ âm thầm chịu đựng một bệnh tật, một hiểu lầm, một sự cô đơn, một bổn phận nhỏ bé, nhưng Đức Kitô lại lớn lên rất nhiều trong ta.
Nhìn lên Thập Giá, ta thấy chính Đức Giêsu cũng đã sống con đường “nhỏ lại” một cách tận cùng. Người vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã tự hủy mình, mang thân phận tôi đòi. Người không giành lấy địa vị. Người sinh ra trong máng cỏ, sống ba mươi năm âm thầm, quỳ xuống rửa chân môn đệ, để người ta bắt, đánh, nhổ vào mặt, đội mão gai, lột áo và đóng đinh. Trên Canvê, Người bị làm cho nhỏ đến mức không còn gì để giữ: danh dự bị lấy, quần áo bị lấy, sức lực bị lấy, các môn đệ bỏ đi, thân thể bị treo giữa trời và đất. Nhưng nghịch lý của Tin Mừng chính là: càng tự hạ, Đức Kitô càng được tôn vinh. Chính trên Thập Giá, tình yêu Thiên Chúa trở nên lớn nhất. Chính khi bị coi là kẻ thất bại, Người hoàn tất công trình cứu độ. Chính khi chẳng còn gì, Người trao ban tất cả.
Bởi vậy, nếu đời tận hiến muốn mang hình Đức Kitô, nó cũng phải chấp nhận đi qua những lần nhỏ lại. Nhỏ lại khi ý mình không được chọn. Nhỏ lại khi người khác được ưu tiên. Nhỏ lại khi một công việc mình từng phụ trách được trao cho người khác. Nhỏ lại khi già yếu. Nhỏ lại khi không còn ai vỗ tay. Nhỏ lại khi phải xin lỗi. Nhỏ lại khi bị hiểu lầm mà không thể giải thích hết. Nhỏ lại khi làm điều tốt nhưng chẳng ai biết. Nhỏ lại khi phải để người khác nhận phần sáng còn mình ở phía sau. Những điều ấy đau. Đừng lãng mạn hóa nó. Cái tôi bị cắt bao giờ cũng đau. Nhưng đó chính là nơi Đức Kitô có chỗ để lớn lên.
Có một câu hỏi rất đáng sợ cho người tận hiến: Nếu một ngày không còn ai biết tôi là ai, tôi có còn hạnh phúc vì mình thuộc về Đức Kitô không? Nếu không còn chức vụ? Nếu không còn người nghe mình giảng? Nếu không còn ai tìm mình để xin lời khuyên? Nếu không còn sức khỏe để phục vụ? Nếu không còn khả năng tạo ra những thành quả nhìn thấy được? Nếu mọi thứ từng làm nên hình ảnh của tôi đều bị lấy đi, còn lại một căn phòng nhỏ, một chiếc giường bệnh, một chuỗi Mân Côi và Đức Kitô, liệu như vậy đã đủ chưa? Câu trả lời cho câu hỏi ấy cho thấy Đức Kitô thật sự lớn đến đâu trong đời chúng ta.
Một ơn gọi đẹp không nhất thiết kết thúc bằng những công trình lớn. Một đời linh mục đẹp không nhất thiết phải được nhiều người biết đến. Một đời tu thánh thiện không nhất thiết phải để lại tên tuổi. Có những người đã sống vài chục năm trong một cộng đoàn nhỏ, làm những công việc chẳng ai kể lại, rồi qua đời âm thầm, nhưng trong ánh mắt Thiên Chúa, đời họ có thể vô cùng lớn lao. Vì điều Chúa đo không phải là ta đã làm cho tên mình lớn đến đâu, mà là Đức Kitô đã lớn đến đâu trong ta.
Rồi một ngày, tất cả chúng ta đều phải nhỏ lại một lần cuối cùng. Tên tuổi sẽ phai. Những căn phòng từng ở sẽ có người khác ở. Công việc mình từng làm sẽ có người khác tiếp tục. Những người trẻ sẽ có những câu chuyện mới. Ảnh của ta có thể còn trên một bức tường một thời gian rồi cũng được cất đi. Mộ phần rồi sẽ phủ rêu. Cuộc đời này vốn là một hành trình biến mất. Người đời sợ điều đó nên cố khắc tên mình thật sâu vào lịch sử. Người môn đệ thì có thể bình an hơn, bởi ta biết mình không cần tồn tại trong ký ức của tất cả mọi người. Chỉ cần tên mình được ghi trong trái tim Thiên Chúa.
Có lẽ câu cuối đời đẹp nhất của một người tận hiến không phải là: “Tôi đã làm được nhiều việc”, nhưng là: “Lạy Chúa, cuối cùng Chúa đã lớn lên trong con.” Không cần ai biết. Không cần ai nhớ. Không cần tượng đài. Không cần những lời ca tụng. Chỉ cần khi đứng trước mặt Chúa, ta nhận ra sau một đời dài, cái tôi từng ồn ào đã dịu xuống; những tham vọng từng thiêu đốt đã tắt; những tự ái từng làm mình khổ đã không còn quan trọng; những chức vụ đã rơi khỏi tay; những điều mình từng muốn giữ đã được trao lại hết. Và ở giữa sự trống rỗng thánh thiện ấy chỉ còn một mình Đức Kitô.
“Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Xin cho câu ấy không chỉ nằm trên môi, không chỉ được viết trên một tấm thiệp khấn dòng, không chỉ được dùng trong một bài giảng, nhưng từng ngày trở thành thịt máu trong đời chúng ta. Xin cho Đức Kitô lớn lên trong ánh mắt ta để ta nhìn người khác như Người nhìn. Lớn lên trong trái tim ta để ta yêu như Người yêu. Lớn lên trong miệng lưỡi ta để lời ta bớt làm đau. Lớn lên trong đôi tay để ta biết phục vụ. Lớn lên trong ký ức để ta nhớ ơn nhiều hơn nhớ lỗi. Lớn lên trong những chọn lựa để ý Người quan trọng hơn ý ta. Lớn lên trong sứ vụ để người ta gặp Người chứ không dừng lại nơi chúng ta. Lớn lên trong đau khổ để ta biết kết hợp những vết thương của mình với Thập Giá. Lớn lên trong tuổi già để khi sức lực nhỏ đi, đức tin lại lớn hơn. Lớn lên cả trong giờ chết, để khi thân xác này hoàn toàn bất lực, ta vẫn có thể thưa một lời cuối cùng: “Lạy Chúa Giêsu, con thuộc về Chúa.”
Và xin cho ta nhỏ lại. Nhỏ lại đủ để không cần lúc nào cũng được thấy. Nhỏ lại đủ để nhường chỗ. Nhỏ lại đủ để xin lỗi. Nhỏ lại đủ để người khác được lớn. Nhỏ lại đủ để làm việc tốt mà không cần ai biết. Nhỏ lại đủ để chấp nhận mình không phải là người không thể thay thế. Nhỏ lại đủ để một ngày có thể rời khỏi mọi chức vụ với nụ cười. Nhỏ lại đủ để khi người khác tiếp tục công trình của mình tốt hơn mình, ta có thể thật lòng vui. Nhỏ lại đủ để không còn hỏi: “Người ta nghĩ gì về tôi?”, mà chỉ hỏi: “Chúa nghĩ gì về tôi?” Nhỏ lại đến mức cuối cùng đời ta giống như một ô cửa kính trong suốt: người ta nhìn qua ta và thấy Đức Kitô.
Đó là linh đạo của Gioan Tẩy Giả. Đó cũng là linh đạo rất sâu của đời tận hiến. Và có lẽ đó là một trong những dấu chỉ rõ nhất của sự trưởng thành thiêng liêng: càng gần Chúa, con người càng ít bận tâm phải làm mình lớn. Người thánh thiện thật sự không cần chứng minh mình thánh thiện. Người yêu Chúa thật sự không cần mọi người biết mình yêu Chúa. Người đã tìm thấy căn tính trong Đức Kitô không cần liên tục bảo vệ hình ảnh bản thân. Họ trở nên tự do. Tự do để phục vụ. Tự do để bị quên. Tự do để trao chỗ cho người khác. Tự do để vui khi người khác thành công. Tự do để sống và cũng tự do để chết.
Cuối cùng, cả hành trình đời Kitô hữu có lẽ chỉ là chuyện đổi vị trí của hai chữ: lúc đầu “tôi” rất lớn và “Chúa” còn nhỏ; rồi qua năm tháng cầu nguyện, thất bại, thành công, thập giá, thanh luyện, yêu thương, tha thứ và từ bỏ, “tôi” dần nhỏ xuống, còn Đức Kitô dần lớn lên. Cho đến một ngày, như lời thánh Phaolô, ta có thể nói không phải bằng môi miệng mà bằng cả đời mình: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Và lúc ấy, điều Gioan Tẩy Giả mong muốn đã hoàn tất: Người đã lớn lên, còn tôi đã nhỏ lại. Nhưng kỳ lạ thay, chính lúc tôi nhỏ lại trong Đức Kitô, tôi không mất mình. Tôi lại tìm thấy mình. Bởi vì chỉ khi thôi cố trở thành trung tâm, con người mới tìm thấy vị trí thật của mình trong tình yêu Thiên Chúa; chỉ khi dám mất mình vì Đức Kitô, ta mới nhận lại chính mình trong một hình hài đẹp hơn, tự do hơn, bình an hơn và giống Người hơn.
Lm. Anmai, CSsR

KHI CÁI TÔI CÒN QUÁ LỚN, THẬP GIÁ VẪN CÒN QUÁ NẶNG
Tin Mừng: Mc 8,34-35
“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”
Có những câu Tin Mừng nghe qua đã thấy khó. Có những lời của Chúa Giêsu càng suy nghĩ càng thấy không thể làm nhẹ đi được. Người ta có thể tìm rất nhiều cách để giải thích, có thể chọn những từ dễ nghe hơn, có thể cố đặt câu nói ấy vào một bối cảnh nào đó để bớt đi sức nặng, nhưng cuối cùng lời Chúa vẫn đứng đó, thẳng thắn, quyết liệt và không chịu thỏa hiệp với cái tôi của con người: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Chúa không nói: ai muốn theo Thầy thì hãy bỏ một vài thói quen xấu. Chúa cũng không chỉ nói: hãy chịu khó một chút, nhẫn nại một chút, hy sinh một chút. Chúa đi thẳng vào tận căn nguyên của vấn đề: từ bỏ chính mình. Và có lẽ đây là điều khó nhất trong đời Kitô hữu. Bởi vì bỏ một món đồ đôi khi còn dễ; bỏ một số tiền đôi khi còn dễ; bỏ một chỗ ở, bỏ một công việc, bỏ một sở thích, thậm chí bỏ cả quê hương vì một lý tưởng nào đó vẫn có người làm được. Nhưng bỏ chính mình thì khó vô cùng. Bởi vì cái mình phải bỏ lại đang ở ngay trong mình. Đi đâu nó cũng đi theo. Vào nhà thờ nó cũng vào. Quỳ trước Thánh Thể nó cũng quỳ. Khoác áo tu nó cũng khoác áo tu. Lên bàn thờ nó cũng có thể đi lên bàn thờ. Làm việc bác ái nó cũng có thể đứng đằng sau việc bác ái. Rao giảng Tin Mừng nó cũng có thể len vào trong lời rao giảng. Cầu nguyện nó cũng có thể biến lời cầu nguyện thành nơi tìm kiếm chính mình. Thậm chí có khi ta tưởng mình đang làm mọi sự vì Chúa, nhưng nhìn kỹ lại, ta vẫn đang âm thầm bắt Chúa phục vụ cái tôi của ta. Ta muốn Chúa làm cho ta được thành công. Ta muốn Chúa làm cho người khác công nhận ta. Ta muốn Chúa bảo vệ danh dự của ta. Ta muốn Chúa đứng về phía ta trong những cuộc tranh luận. Ta muốn Chúa chứng minh rằng ta đúng. Ta muốn Chúa sửa người kia theo ý ta, nhưng lại ít khi xin Chúa sửa chính lòng mình. Và vì thế, có những người theo Chúa rất lâu mà vẫn thấy thập giá quá nặng, không hẳn vì thập giá đã lớn hơn, nhưng bởi cái tôi trong lòng họ chưa chịu nhỏ lại. Khi cái tôi còn quá lớn, thập giá nào cũng thành quá nặng. Khi cái tôi biết nhỏ xuống, có những thập giá tưởng không thể mang nổi lại dần trở thành con đường đưa ta đến bình an.
Cái tôi ấy tinh tế lắm. Nó không phải lúc nào cũng xuất hiện bằng sự kiêu căng lộ liễu. Có khi nó mặc chiếc áo rất đạo đức. Có khi nó nói bằng những lời rất hợp lý. Có khi nó núp sau hai chữ “nguyên tắc”. Có khi nó lấy danh nghĩa “sự thật”. Có khi nó nhân danh “trách nhiệm”. Có khi nó bảo rằng mình chỉ muốn bảo vệ uy tín, bảo vệ cộng đoàn, bảo vệ truyền thống, bảo vệ điều đúng. Tất cả những điều ấy tự nó có thể rất tốt. Nhưng điều đáng sợ là cái tôi có khả năng dùng cả những điều tốt đẹp nhất để bảo vệ chính nó. Ta đau không phải vì chân lý bị xúc phạm, mà vì ta bị xúc phạm. Ta buồn không phải vì công việc chung thất bại, mà vì ý của ta không được nghe. Ta giận không hẳn vì điều sai đã xảy ra, mà vì người ta không làm theo cách ta muốn. Ta khó chịu không phải vì người kia thiếu bác ái, mà vì họ không dành cho ta sự kính trọng mà ta nghĩ mình đáng được hưởng. Ta có thể nói hàng giờ về phục vụ nhưng rất khó chịu khi người khác không biết ơn. Ta có thể nói về khiêm nhường nhưng âm thầm chờ người ta nhìn nhận sự khiêm nhường của mình. Ta có thể nói về từ bỏ nhưng lại rất khó bỏ một lời cuối cùng trong cuộc tranh luận. Ta có thể bỏ tiền giúp một người nghèo, nhưng không chịu bỏ một thành kiến về người bên cạnh. Ta có thể thức khuya vì công việc chung nhưng không chịu mất năm phút để nghe một người đang cần được lắng nghe. Ta có thể đi rất xa để làm việc bác ái nhưng không chịu bước vài bước đến làm hòa với người đang sống cùng một mái nhà. Ta có thể vác một cây thánh giá bằng gỗ trong cuộc rước rất trang nghiêm, nhưng lại không chịu nổi một câu nói làm mình tổn thương. Ta kính Thập Giá Chúa, hôn Thập Giá Chúa, treo Thập Giá Chúa trên tường, mang Thập Giá Chúa trên ngực, nhưng khi một mảnh nhỏ của Thập Giá thực sự chạm vào đời mình qua hiểu lầm, thất bại, bệnh tật, tuổi già, sự xem thường, một lời chê, một quyết định trái ý, một người khó chịu, một công việc âm thầm không ai biết đến, ta lập tức hỏi: “Tại sao lại là tôi?” Có lẽ vì cây thập giá trên tường không đụng đến cái tôi, còn cây thập giá của đời sống thì đụng đúng vào nơi ta không muốn ai chạm tới.
Chúng ta thường nghĩ thập giá lớn nhất là bệnh tật, nghèo khó, mất mát, tai họa. Những điều ấy chắc chắn rất đau. Nhưng trong đời sống thường ngày, có những cây thập giá không có hình dáng của một tai họa, mà lại rất nặng vì chúng đụng đến danh dự và ý riêng. Một người có thể chịu thiếu thốn nhưng không chịu nổi bị coi thường. Một người có thể làm việc cực nhọc nhưng không chịu nổi khi người khác được khen còn mình bị quên. Một người có thể hy sinh rất nhiều nhưng không chịu nổi việc không được hỏi ý kiến. Một người có thể tận tụy với cộng đoàn nhưng chỉ cần người khác không làm theo dự tính của mình là lòng bắt đầu nổi sóng. Có khi cái làm ta mất ngủ không phải một biến cố lớn, mà chỉ là một câu nói của ai đó. Ta nằm trên giường, câu ấy cứ trở đi trở lại. Ta dựng lại cuộc đối thoại. Ta nghĩ ra những lời lẽ mà lẽ ra ta phải đáp. Ta tưởng tượng ngày mai mình sẽ nói gì. Ta muốn chứng minh rằng mình đúng. Ta muốn người kia phải hiểu rằng họ đã xúc phạm mình. Một câu nói chỉ kéo dài vài giây, nhưng cái tôi có thể giữ nó trong lòng nhiều năm. Kỳ lạ thay, ta thuộc rất nhiều câu Lời Chúa nhưng lại nhớ lời người khác xúc phạm mình rõ hơn cả Lời Chúa. Ta quên những lần người ta thương mình nhưng nhớ rất kỹ một lần họ làm mình tổn thương. Ta quên chín lời khen nhưng giữ mãi một lời chê. Tại sao? Vì cái tôi rất nhạy với bất cứ điều gì chạm vào ngai vàng của nó.
Có một thứ thập giá đặc biệt nặng đối với con người: thập giá của việc không được như ý. Ta có chương trình của ta. Ta có dự tính của ta. Ta hình dung đời mình phải như thế này. Gia đình mình phải như thế kia. Con cái phải thế nọ. Người bạn đời phải hiểu mình theo cách này. Cộng đoàn phải vận hành theo cách ấy. Người dưới phải nghe mình. Người trên phải hiểu mình. Giáo xứ phải phát triển theo kế hoạch của mình. Công việc phải đem lại kết quả mình mong. Rồi cuộc đời không đi đúng bản vẽ. Và ta khổ. Nhiều khi ta tưởng mình khổ vì hoàn cảnh; thật ra ta khổ vì khoảng cách giữa hoàn cảnh đang có và điều cái tôi đòi phải có. Ta nói: “Nếu người ấy thay đổi, tôi sẽ bình an.” “Nếu chuyện này được giải quyết, tôi sẽ bình an.” “Nếu họ hiểu tôi, tôi sẽ bình an.” “Nếu tôi được trả lại danh dự, tôi sẽ bình an.” Nhưng sau cái “nếu” ấy thường là một cái tôi đang đưa điều kiện cho bình an. Bình an Kitô giáo không phải là mọi người cuối cùng phải làm theo ý tôi. Bình an là khi giữa những điều không theo ý mình, tôi vẫn còn có thể nói như Đức Giêsu trong Vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Câu ấy không phải một câu nói dễ dàng. Chính Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi như máu trước khi thưa lời ấy. Vì bỏ ý riêng luôn là một cuộc hấp hối. Có những điều trong ta phải chết thì con người mới thật sự được tự do.
“Từ bỏ chính mình” không có nghĩa là ghét bản thân, coi mình vô giá trị, để người khác chà đạp phẩm giá mình hay từ chối những khả năng Chúa ban. Kitô giáo không dạy con người khinh ghét chính mình. Trái lại, chỉ khi biết mình được Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện, ta mới đủ tự do để không cần biến cái tôi thành thần tượng. Từ bỏ chính mình là thôi đặt mình ở trung tâm. Là thôi bắt mọi người phải quay chung quanh tâm trạng, ý kiến, nhu cầu, vết thương và danh dự của mình. Là biết bước xuống khỏi chiếc ngai ta âm thầm dựng trong lòng để trả lại vị trí trung tâm cho Thiên Chúa. Từ bỏ mình là khi tôi không còn hỏi trước hết: “Việc này có lợi cho tôi không?”, mà hỏi: “Điều gì đẹp lòng Chúa?” Không hỏi: “Tôi có được ghi nhận không?”, mà hỏi: “Anh em có được ích lợi không?” Không hỏi: “Người ta nghĩ gì về tôi?”, mà hỏi: “Chúa nghĩ gì về tôi?” Không hỏi: “Tại sao tôi phải chịu?”, mà hỏi: “Trong điều này, Chúa muốn tôi yêu thế nào?” Người tự do nhất không phải là người muốn gì làm nấy. Người tự do nhất là người không còn bị cái tôi sai khiến. Người ta có thể không bị ai trói tay chân mà vẫn là nô lệ của tự ái. Có người ngoài mặt rất mạnh nhưng chỉ một lời phê bình là sụp đổ. Có người có địa vị rất cao nhưng bị lời khen cai trị: hôm nào được khen thì vui, hôm nào bị quên thì buồn. Có người có tất cả nhưng không tự do vì phải sống bằng ánh mắt của người khác. Trong khi đó, một người đã đặt giá trị đời mình nơi Chúa thì có thể làm điều tốt mà không cần ai biết, chịu hiểu lầm mà không cần tức tốc minh oan, nhường một phần danh dự mà không thấy mình mất tất cả, nhận lỗi mà không sợ mình nhỏ đi, nói “tôi sai” mà không thấy phẩm giá bị sụp đổ. Đó là tự do. Và con đường đến thứ tự do ấy đi qua Thập Giá.
Thập giá nặng hay nhẹ nhiều khi không chỉ nằm ở trọng lượng của thập giá mà còn ở cách ta ôm lấy nó. Một đứa trẻ ôm chặt món đồ chơi vào ngực, nếu ai bảo nó mang thêm thứ gì, nó sẽ thấy khó vì hai tay đã đầy. Cũng vậy, đời ta thấy thập giá nặng bởi hai tay đã ôm quá nhiều thứ: danh dự của tôi, quyền lợi của tôi, dự tính của tôi, thành tích của tôi, tiếng tốt của tôi, chỗ đứng của tôi, quan điểm của tôi, quá khứ của tôi, vết thương của tôi, điều tôi cho rằng người khác đang nợ tôi. Hai tay đầy quá thì lấy đâu chỗ để ôm Thập Giá? Chúa không chỉ bảo ta vác thập giá. Trước đó Người nói: “hãy từ bỏ chính mình”. Trật tự ấy rất quan trọng. Phải buông trước rồi mới vác được. Có những thập giá không cần Chúa lấy đi; chỉ cần ta buông cái tôi xuống, tự nhiên nó nhẹ hơn rất nhiều. Một lời chê sẽ nhẹ hơn khi ta không còn quá cần được khen. Một sự hiểu lầm sẽ nhẹ hơn khi ta không còn bắt mọi người phải hiểu mình. Một công việc âm thầm sẽ nhẹ hơn khi ta không còn cần tên mình được nhắc đến. Một lần thua thiệt sẽ nhẹ hơn khi ta tin Thiên Chúa thấy điều người khác không thấy. Một biến cố trái ý sẽ nhẹ hơn khi ta tin chương trình của Chúa lớn hơn chương trình của mình. Một tuổi già ít được chú ý sẽ nhẹ hơn khi ta hiểu rằng giá trị đời mình không được tính bằng số người còn tìm đến mình. Một căn bệnh sẽ vẫn đau, nhưng nỗi đau ấy sẽ bớt phần cay đắng khi ta không còn hỏi Thiên Chúa tại sao Người không đối xử với mình như mình nghĩ mình xứng đáng.
Cái tôi làm thập giá nặng nhất khi nó đòi danh dự. Danh dự tự nó không xấu. Con người phải giữ phẩm giá, phải sống tử tế, phải có trách nhiệm với thanh danh của mình. Nhưng có một khoảng cách rất mong manh giữa giữ phẩm giá và thờ phượng danh dự. Đức Giêsu trên Thập Giá đã bị tước gần như mọi thứ mà con người dùng để bảo vệ danh dự. Người bị kết án giữa đám đông. Bị chế nhạo. Bị khạc nhổ. Bị đóng đinh giữa hai tên tội phạm. Bảng án treo trên đầu. Những kẻ đi ngang lắc đầu. Các thượng tế chế giễu. Lính tráng chia nhau áo Người. Ngay cả phẩm giá bên ngoài của một con người cũng bị lột trần. Nếu Đức Giêsu đặt danh dự theo tiêu chuẩn thế gian cao hơn thánh ý Chúa Cha, Canvê đã không bao giờ xảy ra. Nhưng chính tại nơi tưởng như danh dự bị nghiền nát ấy, vinh quang của tình yêu lại rực sáng nhất. Thế gian nghĩ Đức Giêsu mất tất cả; Chúa Cha biết Con mình đang hoàn tất tất cả. Thế gian tưởng Người thất bại; trời đất biết Người đang chiến thắng. Điều ấy đặt trước mặt chúng ta một câu hỏi rất khó: ta cần người đời hiểu mình đến mức nào? Có những cuộc tranh cãi kéo dài chỉ vì không ai chịu mất mặt. Có những gia đình lạnh lẽo nhiều năm chỉ vì không ai muốn xin lỗi trước. Có những tình bạn tan vỡ chỉ vì một người nghĩ: “Tại sao tôi phải xuống nước?” Có những cộng đoàn mất bình an vì mỗi người đều có một chiếc ngai cần được bảo vệ. Có những anh em không nhìn mặt nhau không phải vì vấn đề quá lớn mà vì cái tôi của hai bên lớn hơn tình nghĩa. Chỉ cần một người chịu nhỏ xuống, cánh cửa hòa giải có thể mở ra. Nhưng ai sẽ là người ấy? Ta thường cầu: “Lạy Chúa, xin làm cho người kia khiêm nhường.” Ít khi ta cầu: “Lạy Chúa, xin bắt đầu nơi con.”
Có những lần ta đúng. Đúng thật. Người kia sai thật. Và chính lúc ấy Thập Giá lại càng khó. Nếu ta sai, xin lỗi còn tương đối dễ vì ta có lý do phải xin lỗi. Nhưng khi ta đúng mà vẫn chọn một cách nói hiền hòa; khi ta đúng mà không hạ nhục người sai; khi ta có thể thắng mà chọn không đẩy người kia vào đường cùng; khi ta bị hiểu lầm mà không dùng mọi cách để làm nhục người đã hiểu lầm mình; khi ta biết sự thật nhưng chờ đúng lúc để nói; khi ta giữ sự thật mà vẫn giữ được tình thương, đó là lúc Thập Giá đang đi vào trong cách ta sử dụng cái đúng của mình. Chúa Giêsu trên Thập Giá đúng hơn tất cả mọi người đứng dưới chân Người. Người hoàn toàn vô tội. Người có thể gọi đạo binh thiên thần. Người có thể khiến tất cả những kẻ chế nhạo phải im tiếng. Nhưng Người không biến quyền năng thành công cụ cứu danh dự của mình. Người để tình yêu nói lời cuối cùng: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đứng trước Thập Giá, ta phải thú nhận rằng nhiều khi chúng ta bảo vệ cái đúng nhưng đánh mất tình yêu. Ta thắng cuộc tranh luận nhưng mất một người anh em. Ta nói được câu cuối nhưng đóng lại một cánh cửa. Ta chứng minh mình vô tội nhưng làm người khác tan nát. Thập Giá không dạy ta bỏ sự thật. Thập Giá dạy ta đừng dùng sự thật để nuôi cái tôi.
Cũng có một thứ cái tôi núp trong đời sống phục vụ: cái tôi của người nghĩ mình không thể thiếu. Ta làm được việc. Ta có kinh nghiệm. Ta đã cống hiến nhiều năm. Ta quen cách này. Ta biết người này người kia. Ta hiểu cộng đoàn hơn người mới. Rồi dần dần ta vô thức nghĩ: không có ta thì mọi sự sẽ hỏng. Và khi một thế hệ khác xuất hiện, một người khác được trao trách nhiệm, một cách làm mới được lựa chọn, ta thấy khó chịu. Ta gọi đó là lo cho công việc, nhưng sâu hơn có khi là nỗi đau vì mình không còn ở trung tâm. Gioan Tẩy Giả cho ta một câu đáng sợ đối với cái tôi: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Không phải “Người lớn lên và tôi cũng lớn theo.” Không. “Tôi phải nhỏ lại.” Có một thời điểm trong đời mỗi người khi trung thành với Chúa không còn là làm được thêm thật nhiều, mà là biết lùi xuống đúng lúc. Biết trao lại. Biết để người khác làm khác mình. Biết vui vì điều tốt vẫn tiếp tục dù tên mình không còn gắn với nó. Biết chấp nhận mình không còn được tìm đến nhiều như trước. Biết mình đang già đi. Biết sức khỏe không còn. Biết tiếng nói của mình không còn có sức nặng như một thời. Đó cũng là thập giá. Và rất nhiều người có thể chịu đau thân xác mà không chịu nổi thập giá của việc bị lãng quên. Nhưng nếu Đức Kitô thực sự là trung tâm, ta sẽ vui vì Nước Chúa lớn lên cho dù vai trò của mình nhỏ lại. Nếu mình chỉ là người đầy tớ, tại sao phải buồn khi Chủ dùng một người đầy tớ khác?
Ý riêng cũng là một nơi Thập Giá phải đi qua. Có người rất quảng đại miễn là được làm điều mình thích. Rất nhiệt tình miễn là chương trình đúng ý mình. Rất vâng phục miễn là quyết định của người có trách nhiệm trùng với suy nghĩ mình. Nhưng thử thách thật sự bắt đầu khi điều được yêu cầu không hợp sở thích, không đúng dự tính, không giống cách ta vẫn làm. Chính lúc ấy người môn đệ mới biết mình đang theo Chúa hay đang theo chính mình dưới danh nghĩa theo Chúa. Phêrô từng yêu Chúa rất thật, nhưng khi Chúa nói về con đường đau khổ, ông kéo Chúa ra và trách Người. Phêrô muốn một Đức Kitô theo kế hoạch của Phêrô. Và Chúa phải nói một lời cực mạnh: “Satan! Lui lại đằng sau Thầy!” Cái nguy hiểm của ý riêng là nó có thể yêu Chúa mà vẫn muốn chỉ đường cho Chúa. Ta cầu nguyện nhưng đã có sẵn đáp án. Ta xin Chúa soi sáng nhưng thực ra chỉ muốn Chúa xác nhận điều mình đã quyết định. Ta nói “xin cho ý Chúa được thể hiện”, nhưng trong lòng thêm một điều kiện: miễn là ý Chúa đừng quá khác ý con. Thế nhưng đời môn đệ bắt đầu thực sự khi ta bước sau Chúa, không bắt Chúa bước sau mình.
Có một dấu hiệu rất thật để biết cái tôi trong ta còn lớn hay đã nhỏ đi: hãy nhìn cách ta phản ứng khi bị sửa dạy. Một lời góp ý có thể trở thành ân sủng hoặc trở thành chiến trường. Người khiêm nhường không có nghĩa là ai nói gì cũng tin, nhưng họ đủ bình an để nghe mà không lập tức dựng hàng rào. Cái tôi thì khác. Chưa nghe hết câu đã chuẩn bị phản biện. Ai nói một điều về ta, lập tức ta nghĩ ra mười điều về họ. “Họ mà cũng nói tôi sao?” “Họ có hơn gì tôi đâu?” “Sao không nhìn lại họ?” Và thế là thay vì xem lời góp ý có phần nào đúng để sửa mình, ta chuyển phiên tòa sang xét người góp ý. Cái tôi rất giỏi cách thoát khỏi ánh sáng. Nó không hỏi: “Điều người ấy nói có đúng không?” Nó hỏi: “Người ấy có tư cách gì mà nói?” Nhưng đôi khi Chúa gửi sự thật đến qua một người không hoàn hảo. Nếu ta chỉ nhận lời sửa từ người hoàn hảo, có lẽ suốt đời chẳng ai đủ điều kiện để sửa ta. Có khi lời nói vụng về nhưng điều được nói lại đúng. Có khi cách người ta nói làm ta đau, nhưng bên trong nỗi đau ấy có một hạt sự thật Chúa muốn ta nhìn thấy. Vác thập giá lúc ấy là nuốt xuống phản ứng đầu tiên của tự ái để hỏi một câu rất đơn sơ: “Lạy Chúa, trong chuyện này, có điều gì Chúa muốn con sửa không?”
Ta cũng nhận ra cái tôi trong cách mình đối diện với thất bại. Khi thành công, ta dễ nói: “Tất cả là nhờ ơn Chúa.” Nhưng khi thất bại, ta đau đến mức nào? Nếu một công việc thất bại mà ta thấy như cả con người mình vô nghĩa, có thể ta đã đồng hóa giá trị của mình với thành tích. Nếu một bài nói không được khen mà ta mất vui, có thể ta không chỉ muốn phục vụ. Nếu một công trình của ta không được tiếp tục mà ta cay đắng, có thể ta đã coi nó là “của tôi” nhiều hơn “của Chúa”. Người làm việc cho Chúa mà thực sự thuộc về Chúa sẽ học được một tự do rất lớn: làm hết sức rồi trao kết quả cho Người. Có thành công, tạ ơn. Không thành công, vẫn tạ ơn. Được nhớ đến, tạ ơn. Bị quên, vẫn tạ ơn. Người khác tiếp tục, tạ ơn. Công việc kết thúc, cũng tạ ơn. Bởi vì điều quan trọng không phải tên ta sống bao lâu trong ký ức người đời, mà là ta đã trung thành thế nào trong phần đời Chúa giao.
“Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất.” Đây là nghịch lý của Tin Mừng. Càng cố giữ mình, cuối cùng càng mất mình. Càng chăm chăm bảo vệ cái tôi, tâm hồn càng trở nên mong manh. Người lúc nào cũng cần được kính trọng lại là người dễ tổn thương nhất. Người lúc nào cũng muốn thắng lại sống trong tình trạng chiến tranh liên tục. Người lúc nào cũng cần người khác công nhận lại chẳng bao giờ đủ. Được khen hôm nay thì ngày mai vẫn phải được khen nữa. Có một địa vị thì lại sợ mất địa vị. Có ảnh hưởng thì sợ người khác vượt mình. Cái tôi giống như chiếc bình thủng: đổ bao nhiêu lời khen vào cũng không đầy. Trái lại, người chịu “mất mình vì Chúa và vì Tin Mừng” lại tìm được mình. Khi không còn phải diễn để được yêu, họ bình an. Khi không còn phải thắng mọi cuộc tranh luận, họ nhẹ nhàng. Khi không cần hơn người, họ có thể thật lòng vui trước thành công của người khác. Khi không sợ bị nhỏ đi, họ dám xin lỗi. Khi không cần được thấy, họ làm được những việc âm thầm. Khi không cần giữ mọi thứ, họ có thể cho đi. Khi không còn là trung tâm, họ bắt đầu có chỗ cho Thiên Chúa và tha nhân.
Đừng tưởng từ bỏ mình chỉ dành cho tu sĩ hay linh mục. Gia đình là một trường học rất thực của việc từ bỏ cái tôi. Hai người có thể yêu nhau rất nhiều, nhưng nếu ai cũng giữ cái tôi quá lớn, ngôi nhà sẽ trở thành nơi hai thế giới va vào nhau. Chồng muốn vợ hiểu mình. Vợ muốn chồng hiểu mình. Cha mẹ muốn con cái theo ý mình. Con cái muốn cha mẹ đừng can thiệp. Ai cũng có lý của mình. Nhưng gia đình không thể tồn tại chỉ bằng lý. Gia đình sống được nhờ có người chịu nhường, có người chịu nghe, có người dám xin lỗi trước, có người chịu bỏ điện thoại xuống, có người chịu gác lại mệt mỏi riêng để hỏi một câu: “Hôm nay em có ổn không?”, “Hôm nay anh có chuyện gì buồn không?”, “Con muốn nói gì với ba mẹ không?” Có những thập giá trong gia đình chẳng có gì lớn lao: bữa cơm phải nấu mỗi ngày, một người già hỏi đi hỏi lại, một đứa trẻ làm đổ đồ, một người bạn đời có thói quen mình không thích, một lần phải thức đêm chăm người bệnh, một kế hoạch cá nhân phải gác lại vì người thân cần mình. Nhưng chính những điều nhỏ ấy mài cái tôi từng chút một. Và nếu đón nhận bằng tình yêu, chúng làm ta nên thánh mà không cần ai biết.
Đời linh mục và đời tận hiến cũng không khác. Có thể bỏ gia đình, bỏ tài sản, bỏ tương lai riêng, nhưng vẫn chưa bỏ cái tôi. Một người có thể sống lời khấn nghèo khó mà vẫn rất giàu ý riêng. Có thể không có tài sản cá nhân nhưng sở hữu rất chặt một chức vụ. Có thể giữ khiết tịnh nhưng lại khao khát được ngưỡng mộ. Có thể vâng phục bên ngoài nhưng trong lòng đầy phản kháng. Có thể giảng về Thập Giá rất hay nhưng tránh mọi cây thập giá đụng đến danh dự mình. Có thể rao giảng về Đức Kitô chịu đóng đinh nhưng lại không chịu để Đức Kitô đóng đinh sự kiêu căng, tự ái, háo thắng và tham vọng trong mình. Đời tận hiến không chỉ là bỏ những gì ở ngoài; điều khó nhất là từng ngày để Chúa lấy khỏi ta nhu cầu trở thành người quan trọng. Khi còn trẻ, ta có thể dâng Chúa sức khỏe, tài năng, khả năng. Khi về già, có khi lễ vật lớn hơn lại là để Chúa lấy dần những điều ấy khỏi mình mà vẫn bình an. Không còn làm được như trước. Không còn đi được nhiều. Không còn nói được mạnh. Không còn được giao những trách nhiệm như xưa. Nếu ngày ấy ta vẫn mỉm cười, vẫn cầu nguyện cho người tiếp nối, vẫn vui vì Chúa được phục vụ dù không phải qua mình, thì đó có thể là một trong những lễ dâng đẹp nhất của đời tận hiến.
Và điều này càng đúng với người mục tử. Nguy hiểm nhất không phải lúc mục tử không làm việc, mà đôi khi chính là lúc làm được quá nhiều việc. Thành công có thể âm thầm dựng một ngai trong lòng. Người ta tìm đến mình, nghe mình, quý mình, khen mình. Dần dần rất khó phân biệt đâu là niềm vui vì Tin Mừng sinh hoa trái và đâu là niềm vui vì mình được yêu thích. Rồi chỉ cần một ngày người ta tìm đến một linh mục khác, nghe một người khác, quý một người khác, trong lòng bắt đầu có sự so sánh. Đó là giờ của Thập Giá. Ta có thật sự muốn Đức Kitô lớn lên, hay ta chỉ muốn Đức Kitô lớn lên qua tên của mình? Ta có thật sự muốn đoàn chiên gặp Chúa, hay sâu xa ta cần đoàn chiên cần mình? Mục tử tốt phải dẫn chiên đến với Đức Kitô chứ không giữ chiên quanh bản thân. Và đến một lúc, niềm vui lớn nhất phải là thấy người ta đứng vững với Chúa ngay cả khi không còn có mình ở bên cạnh.
Cái tôi còn bộc lộ rất rõ khi người khác thành công hơn ta. Ta có vui thật không? Đây là phép thử khó. Thương người đau khổ đôi khi dễ hơn vui với người thành công. Khi người khác thất bại, ta dễ tỏ lòng thương. Nhưng khi họ được khen, được chọn, được thăng tiến, được chú ý hơn mình, một cảm giác rất nhỏ có thể xuất hiện: “Tại sao không phải là tôi?” Đó là cái tôi bị đụng. Và nếu không cẩn thận, nó sinh thành ghen tị, rồi ghen tị tìm lý do đạo đức để che mình: “Tôi chỉ lo họ kiêu ngạo.” “Tôi chỉ thấy cách làm ấy không ổn.” Có khi điều ta gọi là “phân định” chỉ là nỗi khó chịu vì người khác đang có điều ta mong. Từ bỏ mình lúc ấy là có thể chúc phúc cho người khác bằng cả tấm lòng. Là vui vì Nước Chúa được phục vụ dù người được Chúa dùng không phải mình. Là không cần dập tắt ngọn đèn của người khác để đèn mình sáng hơn. Bầu trời đủ rộng cho mọi ngôi sao. Trong Nước Chúa không ai cần phải tối đi để ta sáng.
Thập Giá còn là nơi Đức Giêsu dạy chúng ta từ bỏ quyền đòi người khác phải trả lại điều họ nợ mình. Có những món nợ không phải tiền bạc. Người này nợ ta một lời xin lỗi. Người kia nợ ta một sự công nhận. Người nọ nợ ta sự biết ơn. Ta đã làm cho họ quá nhiều; họ phải nhớ. Ta đã hy sinh; họ phải hiểu. Ta đã tha thứ; họ phải thay đổi. Nhưng khi người khác không trả, ta mang sổ nợ ấy trong lòng. Năm này sang năm khác, ta cộng lãi. Mỗi lần có chuyện, ta mở sổ cũ ra. “Ngày xưa anh đã…” “Mười năm trước chị từng…” “Tôi không quên đâu…” Một gia đình không thể bình an nếu mọi người đều là kế toán của lỗi lầm. Thập Giá là nơi Đức Giêsu xé cuốn sổ ấy. Những kẻ đóng đinh Người chưa xin lỗi. Người vẫn xin Cha tha cho họ. Điều đó không có nghĩa là cái ác không cần công lý; nhưng nó có nghĩa trái tim ta không được biến thành nhà tù nơi ta giữ người khác mãi trong phiên bản tệ nhất của họ.
Có người bảo: “Tôi không thể quên.” Đúng. Tha thứ không nhất thiết là mất trí nhớ. Nhưng tha thứ là khi ký ức không còn được phép điều khiển cách ta sống. Vết thương còn đó nhưng không còn nắm cổ ta. Ta có thể nhớ mà không còn muốn trả đũa. Có thể nhớ mà vẫn cầu điều lành cho người kia. Có thể nhớ mà không kể lại câu chuyện ấy cho bất cứ ai chịu nghe chỉ để bảo vệ vai nạn nhân của mình. Thậm chí đôi khi cái tôi thích giữ vết thương vì vết thương cho ta một thứ quyền lực đạo đức: “Tôi là người bị hại, nên tôi luôn có lý.” Và ta bắt đầu xây căn tính quanh nỗi đau. Nhưng Đức Kitô không chết để ta sống mãi dưới chân cây thập giá của quá khứ. Người chết và sống lại để cả vết thương cũng được đưa vào sự Phục Sinh.
Muốn biết mình đã học được chút nào từ Thập Giá chưa, có lẽ không cần tìm những biến cố quá lớn. Hãy nhìn những chuyện rất nhỏ trong một ngày. Khi ai chen ngang lời mình, ta phản ứng thế nào? Khi người khác không trả lời tin nhắn, ta nghĩ gì? Khi người ta quên cảm ơn, lòng mình ra sao? Khi một ý kiến của ta bị bác bỏ trong cuộc họp, ta có còn vui vẻ cộng tác không? Khi ai đó được khen ngay trước mặt mình, ta có thể khen thêm họ không? Khi bị hiểu sai, ta có lập tức kể chuyện cho năm người khác để tìm đồng minh không? Khi một người xin lỗi, ta có tha hay tranh thủ kể thêm tất cả lỗi cũ? Khi ta sai, ta có nói được ba chữ “tôi xin lỗi” mà không thêm chữ “nhưng” phía sau không? “Tôi xin lỗi, nhưng tại anh…” không phải lời xin lỗi trọn vẹn. Cái tôi rất khôn. Nó cúi đầu nhưng vẫn để dành một lối thoát.
Có lẽ một trong những lời cầu nguy hiểm nhất mà người môn đệ có thể thưa với Chúa là: “Lạy Chúa, xin làm cho con nên khiêm nhường.” Bởi Chúa có thể trả lời không phải bằng một cảm giác đạo đức, mà bằng một người không coi trọng ta như ta mong; một công việc không thành công; một lời góp ý; một lần bị quên; một giới hạn của tuổi tác; một quyết định không theo ý; một người tài giỏi hơn xuất hiện bên cạnh. Và lúc ấy ta lại cầu: “Lạy Chúa, xin cất chuyện này đi.” Có khi Chúa trả lời: “Con vừa xin Ta làm cho con khiêm nhường mà.” Chúng ta muốn học khiêm nhường nhưng không muốn trải qua bất cứ điều gì làm mình nhỏ lại. Muốn học kiên nhẫn nhưng không muốn gặp người làm mình phải chờ. Muốn học tha thứ nhưng không muốn ai làm mình đau. Muốn học phó thác nhưng không muốn tương lai bất định. Muốn học yêu vô điều kiện nhưng lại chỉ muốn sống với những người dễ thương. Muốn theo Đức Kitô chịu đóng đinh nhưng hy vọng đời mình không có đinh nào.
Không. Tin Mừng không hứa một con đường như thế. Chúa Giêsu nói rất rõ: “vác thập giá mình mà theo.” Không phải thập giá của người khác. Ta thường thấy thập giá của người khác đẹp hơn của mình. Người độc thân nghĩ có gia đình sẽ hạnh phúc. Người có gia đình đôi lúc nhớ sự tự do của người độc thân. Người ngoài đời nhìn đời tu và nghĩ bình an. Người trong đời tu đôi lúc nhìn đời thường và tưởng tự do. Người khỏe nghĩ tiền là điều quan trọng. Người bệnh chỉ mong khỏe lại. Ta cứ nhìn cây thập giá người khác rồi nghĩ cây của mình quá nặng. Nhưng ơn Chúa được ban cho cây thập giá của ta, trong hoàn cảnh của ta, hôm nay của ta. Thiên Chúa không hỏi ta có mang nổi thập giá của người khác không. Người hỏi: con có đi cùng Thầy trên con đường của con không?
Điều làm Thập Giá Kitô giáo khác với mọi đau khổ khác là hai chữ “theo Thầy”. Chúa không bảo: “hãy vác thập giá và tự đi.” Người nói: “vác thập giá mình mà theo.” Có một Đấng đi phía trước. Trước khi thập giá chạm vai ta, nó đã từng nằm trên vai Người. Trước khi ta biết cảm giác bị hiểu lầm, Người đã bị hiểu lầm. Trước khi ta bị phản bội, Người đã nhận nụ hôn của Giuđa. Trước khi ta thấy cô đơn, Người đã bước vào đêm Vườn Cây Dầu khi những người thân nhất ngủ quên. Trước khi ta thấy lời cầu nguyện mình như không được nghe, Người đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Trước khi ta phải tha thứ điều khó tha, Người đã tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. Trước khi ta phải bỏ ý riêng, Người đã thưa: “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha.” Vì thế Kitô hữu không yêu đau khổ. Kitô hữu yêu Đức Kitô; và vì yêu Đức Kitô, họ không bỏ chạy khi con đường của Người đi qua đau khổ.
Có những lúc đời ta không thể thay đổi hoàn cảnh ngay. Người bệnh vẫn bệnh. Một cuộc chia ly đã xảy ra. Một người thân đã mất. Một quyết định đã được đưa ra. Một tuổi trẻ đã qua. Một cơ hội không trở lại. Một người có thể không bao giờ hiểu ta. Một lời xin lỗi có thể không bao giờ đến. Ta không thể thay đổi những gì đã xảy ra. Nhưng vẫn còn một tự do không ai lấy được: ta sẽ mang điều ấy như thế nào. Mang với cay đắng hay dâng nó với Đức Kitô. Mang như bằng chứng rằng đời bất công với mình, hay biến nó thành nơi học yêu sâu hơn. Cùng một cây thập giá nhưng một người để nó nghiền nát lòng mình, người khác để nó mở lòng mình ra. Không phải vì người thứ hai ít đau hơn, nhưng vì họ không đi một mình.
Có những cây thập giá chỉ trở nên không chịu nổi vì ta mang thêm trên đó vô số câu hỏi của cái tôi: “Người ta nghĩ gì về tôi?”, “Tại sao họ không công nhận?”, “Tại sao tôi thua người kia?”, “Tại sao Chúa không cho tôi điều tôi muốn?”, “Tại sao sau bao nhiêu năm phục vụ tôi lại nhận kết quả này?” Những câu hỏi ấy có thể rất thật. Nhưng nếu chỉ quanh quẩn nơi chúng, thập giá càng ngày càng nặng. Một lúc nào đó, người môn đệ phải học chuyển câu hỏi: “Lạy Chúa, trong chuyện này Chúa ở đâu? Chúa đang muốn dạy con điều gì? Con có thể yêu ai hơn từ chính đau khổ này? Điều gì trong cái tôi của con cần chết để Đức Kitô lớn lên?” Khi câu hỏi thay đổi, thập giá chưa chắc biến mất, nhưng người vác thập giá bắt đầu thay đổi.
Có lẽ sự trưởng thành thiêng liêng không nằm ở chỗ ta ngày càng có ít thập giá, mà ở chỗ ta ngày càng bớt biến mọi sự thành vấn đề của cái tôi. Lúc trẻ, một lời chê có thể làm ta mất ngủ. Sau nhiều năm đi với Chúa, hy vọng ta có thể mỉm cười và hỏi xem lời ấy có gì đáng học. Lúc trẻ, không được chọn có thể là một cú sốc. Sau nhiều năm theo Chúa, hy vọng ta có thể nói: “Có lẽ Chúa có người khác thích hợp hơn.” Lúc trẻ, bị quên có thể khiến ta buồn. Về già, hy vọng ta hiểu bị đời quên không có nghĩa bị Chúa quên. Cuối cùng, cái ta cần nhất không phải để lại một cái tên thật lớn, mà là để Đức Kitô chiếm đầy trái tim mình.
Ngày nào cái tôi còn ngồi trên ngai, ngày ấy Thập Giá vẫn là kẻ thù. Bởi Thập Giá luôn nói ngược với cái tôi. Cái tôi nói: giữ lấy. Thập Giá nói: cho đi. Cái tôi nói: phải thắng. Thập Giá nói: có lúc hãy chịu thua để giữ tình yêu. Cái tôi nói: bảo vệ danh dự bằng mọi giá. Thập Giá nói: sự thật của con nằm trong ánh mắt Chúa Cha. Cái tôi nói: bắt người khác trả nợ. Thập Giá nói: tha thứ. Cái tôi nói: ý tôi. Thập Giá nói: ý Cha. Cái tôi nói: tôi phải lớn lên. Thập Giá nói: Đức Kitô phải lớn lên. Và toàn bộ đời Kitô hữu là cuộc chuyển ngai ấy: mỗi ngày kéo cái tôi xuống một chút và để Đức Kitô ngự lên một chút.
Không ai làm việc ấy một lần là xong. Cái tôi hôm nay vừa chịu chết, ngày mai có thể sống lại rất khỏe. Ta vừa khiêm nhường ở chuyện này lại tự ái ở chuyện khác. Vừa bỏ ý riêng trong một quyết định lại tìm cách lấy nó lại trong một việc khác. Bởi vậy từ bỏ mình không phải một khoảnh khắc anh hùng mà là công việc rất âm thầm của từng ngày. Mỗi sáng lại bắt đầu. Mỗi lần bị đụng chạm là một cơ hội. Mỗi người khó chịu ta gặp là một chiếc gương. Mỗi lần kế hoạch đổ vỡ là một lời mời phó thác. Mỗi lần bị quên là một cơ hội sống dưới ánh mắt Chúa. Mỗi lần có thể tranh công mà chọn im lặng là một nhát đinh nhỏ đóng vào cái tôi. Mỗi lần muốn nói lời cay nghiệt nhưng chọn im, mỗi lần muốn trả đũa nhưng chọn cầu nguyện, mỗi lần có lý nhưng vẫn giữ sự hiền hòa, mỗi lần muốn được phục vụ nhưng chọn phục vụ, mỗi lần muốn giữ mà chọn cho, mỗi lần muốn bỏ cuộc nhưng vì yêu mà ở lại — đó là những lần Thập Giá đi vào đời sống rất thật.
Đừng sợ những lần cái tôi bị đau. Có những cơn đau báo hiệu một điều đang được chữa lành. Khi bác sĩ chạm đúng chỗ đau, bệnh nhân phản ứng. Khi Lời Chúa chạm đúng cái tôi, lòng ta cũng phản ứng. Ta thấy khó chịu với một bài giảng, có khi không phải vì bài ấy sai mà vì nó chạm đúng nơi mình đang giấu. Ta khó chịu với một người, có khi không phải hoàn toàn vì họ xấu mà vì họ vô tình đụng đến điều ta chưa chịu buông. Những phản ứng ấy có thể trở thành cửa ngõ cho ơn Chúa nếu ta đủ thật với mình.
Sau cùng, đứng trước Đức Kitô chịu đóng đinh, mọi chiếc ngai của cái tôi đều trở nên nhỏ bé. Ta nhìn Người không còn gì để giữ. Hai tay bị đóng đinh, không thể nắm. Hai chân bị đóng đinh, không thể chạy. Áo bị lấy. Danh dự theo thế gian bị tước. Bạn bè phần lớn bỏ đi. Thân xác kiệt quệ. Và chính trong sự trống rỗng ấy, tình yêu được tỏ lộ trọn vẹn. Đó là bí mật mà thế gian không hiểu: con người lớn nhất khi không còn cần làm mình lớn. Đức Kitô được “nâng cao” chính khi Người tự hạ đến tận cùng. Vinh quang xuất hiện nơi thế gian chỉ thấy nhục nhã. Sự sống bùng lên từ nơi tưởng là cái chết.
Vì vậy, nếu hôm nay thập giá của ta đang quá nặng, trước khi chỉ xin Chúa lấy nó khỏi vai, có lẽ ta cũng nên hỏi: “Lạy Chúa, có điều gì trong con đang làm cho nó nặng thêm không? Có phải lòng tự ái của con? Có phải nhu cầu được công nhận? Có phải một ý riêng con đang giữ quá chặt? Có phải một danh dự con không chịu mất? Có phải một người con nhất quyết bắt phải xin lỗi? Có phải một thành công con không thể buông? Có phải một quá khứ con cứ ôm mãi? Có phải con đang cố cứu cái tôi của mình nên càng ngày càng đánh mất bình an?”
Và rồi hãy nhìn lên Thập Giá. Không phải nhìn để yêu đau khổ, nhưng để nhớ rằng ở đó có một Người đã yêu ta đến mức không giữ lại chính mình. Người đang nói: “Con không cần chiến thắng mọi người. Con chỉ cần đừng để cái tôi chiến thắng con. Con không cần chứng minh giá trị của con cho cả thế giới. Giá trị của con đã được viết bằng Máu của Thầy. Con không cần nắm chặt mọi thứ. Hãy buông tay ra. Theo Thầy.”
Có lẽ đến cuối đời, điều đẹp nhất không phải là người khác nói rằng ta đã làm được bao nhiêu, nhưng là Đức Kitô nhìn ta và nhận ra trong ta một con người đã dần dần để Người lớn lên. Cái tôi nhỏ dần. Lòng quảng đại lớn dần. Nhu cầu được khen nhỏ dần. Khả năng âm thầm lớn dần. Ý riêng nhỏ dần. Sự phó thác lớn dần. Tự ái nhỏ dần. Lòng thương xót lớn dần. Nỗi sợ bị quên nhỏ dần. Khát vọng làm đẹp lòng Chúa lớn dần.
Và lúc ấy ta sẽ hiểu một điều mà khi còn giữ mình quá chặt ta không thể hiểu: Thập Giá chưa chắc nhẹ đi, nhưng trái tim đã rộng hơn. Thập Giá chưa chắc ngắn lại, nhưng cái tôi đã nhỏ xuống. Và điều hôm qua tưởng không thể vác, hôm nay ta có thể mang bởi có Đức Kitô đi trước, có ân sủng đỡ nâng, và bởi trong ta không còn quá nhiều thứ phải bảo vệ nữa.
“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin đừng chỉ lấy đi những thập giá làm con đau; xin lấy đi trước hết cái tôi làm những thập giá ấy nặng hơn. Xin đóng đinh nơi Thập Giá Chúa lòng kiêu căng của con, tự ái của con, nhu cầu được công nhận của con, những ý riêng con ôm chặt, những cuộc tranh hơn thua con không chịu buông, những món nợ con bắt người khác phải trả, những vết thương con dùng để biện minh cho sự cay đắng của mình. Xin cho con đủ nhỏ để Chúa lớn lên, đủ nghèo để Chúa trở thành gia nghiệp, đủ tự do để mất mà không sợ, đủ khiêm nhường để xin lỗi, đủ quảng đại để tha thứ, đủ bình an để bị quên, đủ yêu để ở lại, đủ tin để bước theo Chúa ngay cả khi con đường dẫn lên Canvê.
Và nếu một ngày nào đó con không còn gì để giữ, xin cho con khám phá rằng con vẫn còn Chúa. Nếu không còn ai hiểu con, xin cho con biết Chúa hiểu. Nếu không còn ai nhớ con, xin cho con tin Chúa không quên. Nếu danh dự của con bị tổn thương, xin cho con nhớ phẩm giá của con nằm trong tình yêu Chúa. Nếu ý riêng của con phải chết, xin cho ý Cha được sống trong con. Nếu cái tôi con phải nhỏ lại, xin cho Đức Kitô lớn lên.
Bởi cuối cùng, đời người không được cứu nhờ ta giữ được bao nhiêu cho mình, nhưng nhờ ta đã trao mình cho Ai.
Và khi con đã thật sự thuộc về Chúa, Thập Giá sẽ không còn chỉ là gánh nặng trên vai.
Thập Giá sẽ trở thành con đường.
Con đường đưa cái tôi xuống khỏi ngai.
Con đường đưa Đức Kitô vào trung tâm.
Con đường đưa người môn đệ từ chỗ chỉ muốn giữ mạng sống mình đến chỗ dám trao ban.
Con đường đi qua mất mát mà dẫn đến sự sống.
Con đường đi qua Canvê mà mở vào buổi sáng Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR


ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NƠI Ý RIÊNG HỌC CÁCH CHẾT
Tin Mừng: Mt 26,36-46
Có những cái chết không cần một nấm mồ. Có những cuộc hấp hối diễn ra khi con người vẫn đang thở, vẫn đi lại, vẫn làm việc, vẫn nói cười như thường. Có một thứ phải chết trong ta từng ngày nếu ta thật sự muốn thuộc về Chúa: đó là ý riêng. Và có lẽ trong tất cả những cái chết của đời sống thiêng liêng, cái chết của ý riêng là cái chết dai dẳng nhất, đau nhất, khó nhất, bởi vì nó không chết một lần rồi thôi. Nó chết hôm nay, ngày mai có thể sống lại. Nó bị đóng đinh trong một biến cố, rồi lại ngóc đầu lên trong một biến cố khác. Nó có thể im lặng trong giờ cầu nguyện nhưng lại lên tiếng rất mạnh khi ta bị trái ý; nó có thể cúi đầu trước Nhà Tạm nhưng lại nổi loạn trước một quyết định không hợp ý mình; nó có thể nói với Chúa rất ngọt ngào rằng: “Con xin vâng”, nhưng chỉ một lát sau lại âm thầm thêm vào: “miễn là Chúa làm theo cách con nghĩ”. Bởi thế, nếu Canvê là nơi thân xác Đức Giêsu được đóng đinh, thì Ghếtsêmani chính là nơi ý riêng của Người được đặt hoàn toàn trong tay Chúa Cha. Thập Giá không bắt đầu khi người ta đóng những chiếc đinh vào tay chân Chúa. Thập Giá đã bắt đầu trong khu vườn đêm ấy, khi Đức Giêsu quỳ xuống, mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất, và thốt lên một lời mà người môn đệ phải học suốt đời nhưng có khi cả đời vẫn chưa học xong: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Đó không phải là lời của một người không biết đau. Đó cũng không phải là lời của một người đã hết cảm xúc, không còn sợ hãi, không còn khát vọng sống. Trái lại, chính vì Đức Giêsu cảm nhận trọn vẹn sự kinh hoàng của chén đắng đang đến mà lời “xin vâng” ấy càng trở nên vô cùng quý giá. Người không giả vờ mạnh. Người không che giấu nỗi sợ. Người không biến mình thành một pho tượng vô cảm trước đau khổ. Người nói thật với Cha: “Xin cho Con khỏi uống chén này.” Người có một ước muốn rất người: nếu có thể, xin đừng để điều kinh khủng ấy xảy ra. Nhưng ở tận cùng lời cầu xin đó, Người mở bàn tay ra và trao lại tất cả: “Xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Chính nơi đó, trước khi đôi tay bị đóng đinh, ý riêng đã được đóng đinh. Trước khi thân xác bị trao nộp cho quân dữ, ý muốn đã được trao nộp cho Chúa Cha. Trước khi máu chảy trên Canvê, một cuộc đổ máu đã xảy ra trong nội tâm: cuộc từ bỏ ý mình để chọn ý Cha. Và từ đó ta hiểu rằng điều làm nên sự thánh thiện không phải là ta không còn có ý muốn, không còn có sở thích, không còn có dự tính, nhưng là trong mọi ý muốn, mọi sở thích và mọi dự tính ấy, ta vẫn dành cho Thiên Chúa quyền nói tiếng cuối cùng.
Con người chúng ta khổ không chỉ vì điều xảy đến, nhưng nhiều khi khổ vì điều xảy đến không giống điều mình muốn. Cũng một hoàn cảnh ấy, nếu nó hợp ý ta, ta dễ dàng đón nhận; nhưng nếu nó trái ý, lập tức trong lòng nổi lên biết bao chống đối. Ta muốn người khác hiểu mình theo cách mình muốn. Ta muốn những người chung quanh cư xử theo cách ta mong. Ta muốn công việc đi theo kế hoạch mình đã tính. Ta muốn lời mình được lắng nghe. Ta muốn công lao mình được nhìn nhận. Ta muốn khi mình hy sinh thì người khác phải biết điều. Ta muốn khi mình yêu thương thì người kia phải đáp lại. Ta muốn khi mình cầu nguyện thì Chúa phải trả lời theo thời gian biểu của mình. Ta muốn khi mình làm điều tốt thì kết quả phải tốt. Ta muốn khi mình trung thành thì đời phải bớt thử thách. Ta muốn khi mình phục vụ Chúa thì ít ra Chúa cũng phải “giữ thể diện” cho mình một chút, để mình khỏi bị hiểu lầm, khỏi thất bại, khỏi thua thiệt. Và rồi, khi đời không đi theo những đường thẳng ta đã vẽ sẵn, ta bực bội, buồn phiền, thất vọng, trách người, trách đời, đôi lúc trách cả Chúa. Chính lúc đó Ghếtsêmani bước vào đời ta. Ghếtsêmani không chỉ là một khu vườn ở Giêrusalem của hai ngàn năm trước. Ghếtsêmani là bất cứ nơi nào ý Chúa và ý ta không còn trùng nhau. Ghếtsêmani là khi điều mình xin mãi mà Chúa không cho. Ghếtsêmani là khi người mình tin tưởng làm mình thất vọng. Ghếtsêmani là khi một cánh cửa ta rất muốn bước qua lại đóng sập trước mặt. Ghếtsêmani là khi sức khỏe suy yếu, tuổi già đến gần, dự tính dang dở, người thân ra đi, công việc đổi thay, danh dự bị tổn thương, sứ vụ bị chuyển hướng, lời giải thích không còn tác dụng. Ghếtsêmani là khi ta bắt đầu nhận ra rằng đời này không hoàn toàn thuộc quyền điều khiển của mình. Và chính trong những giờ phút ấy, câu hỏi thật sự không còn là: “Tại sao chuyện này xảy ra với tôi?” nhưng là: “Trong chuyện này, Chúa đang mời tôi buông điều gì?” Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến, cũng không phải mọi biến cố cay nghiệt đều là điều Chúa trực tiếp muốn. Nhưng không có đau khổ nào mà Chúa không thể dùng để thanh luyện trái tim ta, nếu ta dám đặt nó vào tay Người. Thiên Chúa không vui vì ta đau. Người không phải là một Thiên Chúa thích nhìn con người bị nghiền nát. Nhưng Người có thể biến chính nơi ta bị trái ý thành nơi ta học yêu. Vì yêu thật bao giờ cũng đòi một cuộc ra khỏi mình. Bao lâu ta chỉ yêu những gì hợp ý ta, chiều ý ta, nâng ta lên, xác nhận ta, ta chưa chắc đã yêu người kia; có khi ta chỉ đang yêu chính mình nơi người kia mà thôi.
Điều khó nhất trong đời người môn đệ không phải là làm một việc lớn cho Chúa. Nhiều khi làm việc lớn còn dễ, vì việc lớn thường có ánh sáng, có tiếng vỗ tay, có cảm giác mình đang hy sinh. Điều khó hơn là bỏ ý riêng trong những chuyện rất nhỏ, những chuyện không ai biết, những chuyện không ai khen. Một lời người khác nói không vừa tai. Một cách sắp xếp không đúng ý ta. Một bữa ăn không hợp khẩu vị. Một giờ giấc bị thay đổi. Một quyết định của cộng đoàn ta không đồng tình. Một người dưới quyền không làm đúng cách ta nghĩ. Một người trên quyền không hiểu điều ta muốn. Một lời góp ý chạm vào lòng tự ái. Một người mình không thích lại được trao trách nhiệm. Một việc mình làm rất nhiều nhưng người khác được ghi nhận. Một kế hoạch mình ấp ủ lại bị thay thế bằng một hướng đi khác. Những lúc như thế, cái tôi không cần hét lớn mới gọi là cái tôi. Có khi nó chỉ im lặng, nhưng là thứ im lặng lạnh lùng. Có khi nó vẫn mỉm cười nhưng trong lòng đóng cửa. Có khi miệng nói “vâng” nhưng tâm hồn lẩm bẩm hàng trăm lần “tại sao”. Có khi ngoài mặt vẫn làm, nhưng làm để chứng minh người khác sai. Có khi vẫn phục vụ, nhưng âm thầm chờ ngày mình được minh oan. Ý riêng tinh vi lắm. Nó có thể đội lốt trách nhiệm. Nó có thể núp dưới chữ “nguyên tắc”. Nó có thể mượn danh “vì ích chung”. Nó có thể biến sự cứng đầu thành “lập trường”. Nó có thể biến tự ái thành “lòng tự trọng”. Nó có thể biến tham vọng thành “nhiệt thành”. Nó có thể biến nhu cầu kiểm soát thành “tinh thần trách nhiệm”. Ta dễ nhìn thấy ý riêng của người khác, nhưng lại rất khó nhận ra ý riêng của mình, bởi vì cái tôi vốn là một luật sư rất giỏi: nó luôn có đủ lý lẽ để chứng minh rằng mình đúng.
Bởi thế, nhìn vào Đức Kitô trong Ghếtsêmani, ta phải hiểu rằng việc từ bỏ ý riêng không phải là trở thành một con người không còn suy nghĩ. Vâng phục Kitô giáo không phải là ngu ngơ, thụ động, mất nhân cách, cũng không phải là nhắm mắt trước điều sai. Đức Giêsu không bước vào cuộc Thương Khó vì Người không biết điều gì đang xảy ra. Người biết rất rõ. Người thấy rõ sự hèn nhát của Philatô, sự đố kỵ của giới lãnh đạo, sự phản bội của Giuđa, sự yếu đuối của các môn đệ. Người không gọi bất công là công bằng. Người không gọi sự dữ là ý Chúa. Nhưng giữa một thế giới đầy ý riêng con người đụng nhau, Người quyết định không thêm vào đó một ý riêng nữa. Người không chiến đấu để bảo toàn mình bằng mọi giá. Người không dùng quyền năng để ép mọi sự đi theo ý mình. Người đặt mình trong tình yêu của Cha. Đây là điều ta phải phân biệt thật rõ: làm theo ý Chúa không đồng nghĩa với việc tin rằng mọi điều xảy ra đều là ý Chúa. Có những điều rõ ràng không phải ý Chúa: chiến tranh không phải ý Chúa, bạo lực không phải ý Chúa, phản bội không phải ý Chúa, tham nhũng không phải ý Chúa, áp bức không phải ý Chúa, bất công không phải ý Chúa. Nhưng giữa những điều Chúa không muốn ấy, một người vẫn có thể lựa chọn sống theo ý Chúa: không trả thù, không đánh mất phẩm giá, không trở nên độc ác, không để hận thù quyết định mình là ai, không lấy sự dữ đáp lại sự dữ. Đức Giêsu không gọi Thập Giá là tốt; Người biến Thập Giá thành nơi tình yêu chiến thắng. Người không yêu đau khổ; Người yêu Chúa Cha và yêu nhân loại đến mức không để đau khổ làm Người thôi yêu. Đó mới là mầu nhiệm.
Có người tưởng rằng bỏ ý riêng là một chuyện dành cho tu sĩ, linh mục, những người có lời khấn vâng phục. Không. Ai làm người Kitô hữu cũng phải đi qua Ghếtsêmani. Người chồng phải học chết đi ý riêng khi không còn chỉ sống cho mình. Người vợ phải học chết đi ý riêng để gia đình không biến thành chiến trường của hai cái tôi. Cha mẹ phải học chết đi ý riêng khi con cái lớn lên không giống khuôn mẫu mình đã vẽ. Con cái phải học chết đi ý riêng để biết tôn trọng, biết hiếu thảo, biết nhận ra mình không phải trung tâm của gia đình. Người làm cha mẹ có khi yêu con rất nhiều nhưng lại muốn con sống hộ giấc mơ của mình. Học trường nào, làm nghề gì, cưới ai, ở đâu, thành đạt thế nào, tất cả phải đúng theo bản vẽ của cha mẹ. Nếu con lệch khỏi bản vẽ ấy, cha mẹ cho rằng con sai. Đó có thật là yêu không? Hay đôi khi tình yêu bị pha quá nhiều ý riêng? Tình yêu đích thực phải học buông. Chúa Cha yêu Đức Giêsu, nhưng không giữ Người trong an toàn. Đức Giêsu yêu các môn đệ, nhưng không biến họ thành bản sao của mình bằng bạo lực. Người hướng dẫn, sửa dạy, mời gọi, nhưng vẫn tôn trọng tự do. Có những cha mẹ phải học một Ghếtsêmani rất đau: chấp nhận rằng con mình có hành trình riêng trước mặt Chúa. Có những người con cũng phải học một Ghếtsêmani khác: chấp nhận rằng cha mẹ già đi, khó tính hơn, chậm hơn, yếu hơn; thay vì đòi cha mẹ phải hiểu mình mãi, mình bắt đầu học hiểu cha mẹ.
Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Bao nhiêu bất hòa không bắt đầu từ những chuyện lớn, nhưng từ những ý riêng không ai chịu đặt xuống. Ai cũng có lý. Ai cũng có kinh nghiệm. Ai cũng có thiện chí. Nhưng nếu không ai chịu chết đi một chút, cộng đoàn sẽ chết rất nhiều. Có những cộng đoàn đầy người tài nhưng thiếu bình an chỉ vì mỗi người muốn điều tốt phải được thực hiện theo cách của mình. Ta có thể cùng muốn phục vụ Chúa nhưng lại không chịu để người khác phục vụ Chúa khác cách ta. Ta có thể cùng muốn điều tốt nhưng rồi tranh nhau xem cái tốt của ai mới đúng hơn. Ta có thể nhân danh sứ vụ để gây tổn thương. Ta có thể nhân danh chân lý để làm mất tình huynh đệ. Ta có thể thắng một cuộc họp nhưng thua một người anh em. Ta có thể bảo vệ được quan điểm nhưng đánh mất trái tim. Lúc đó, đứng trước Đức Kitô chịu đóng đinh, ta phải tự hỏi: điều mình đang bảo vệ có thật sự là Tin Mừng, hay chỉ là cái tôi được mặc áo Tin Mừng? Có những lúc phải nói. Có những lúc phải bảo vệ sự thật. Có những lúc phải chống lại điều sai. Nhưng người sống tinh thần Thập Giá sẽ làm những điều ấy mà không cần hạ nhục người khác, không cần chiến thắng để chứng minh giá trị của mình, không vui khi người khác thua. Đó là dấu rất quan trọng. Nếu sau một cuộc tranh luận, điều làm ta vui nhất là “cuối cùng họ cũng biết tôi đúng”, coi chừng điều ta vừa bảo vệ không chỉ là chân lý, mà còn là bản ngã.
Đời linh mục và đời tận hiến lại càng dễ gặp thử thách ở chỗ này. Khi mới bước vào ơn gọi, người ta có thể nghĩ mình đã bỏ nhiều rồi: bỏ gia đình, bỏ nghề nghiệp, bỏ cơ hội xây dựng mái ấm riêng, bỏ những quyền tự nhiên mà người khác có. Nhưng càng đi lâu càng thấy những cái bỏ bên ngoài có khi chưa phải điều khó nhất. Ta có thể bỏ nhà mà chưa bỏ được ý mình. Ta có thể khấn khó nghèo mà lại rất giàu tự ái. Ta có thể khấn khiết tịnh mà lòng vẫn muốn chiếm hữu người khác. Ta có thể khấn vâng phục nhưng cả đời vẫn chỉ muốn bề trên hiểu ý mình. Ta có thể mặc áo dòng nhiều năm mà bên trong cái tôi vẫn nguyên vẹn. Có khi cái tôi còn tinh tế hơn trước vì nó đã học nói ngôn ngữ đạo đức. Nó không còn nói “tôi muốn”, nhưng nói “vì sứ vụ”. Nó không nói “tôi thích”, nhưng nói “vì ích lợi linh hồn”. Nó không nói “tôi cần được nhìn nhận”, nhưng nói “cần tôn trọng chức vụ”. Và nếu không có những giờ thật lòng quỳ trước Chúa, ta có thể phục vụ Đức Kitô mà lại không để Đức Kitô đóng đinh cái tôi của mình. Ta có thể giảng rất hay về Thập Giá nhưng không chịu nổi một lời trái ý. Ta có thể mời người khác hy sinh nhưng bản thân lại khó chấp nhận bị đặt vào hàng thứ hai. Ta có thể dạy giáo dân tha thứ nhưng chính mình nhớ rất kỹ từng lời xúc phạm. Ta có thể nói về sự nghèo khó nhưng lại khổ vì không được ưu tiên. Ta có thể nói về khiêm nhường nhưng trong lòng luôn muốn được nhắc tên. Đó là điều đáng sợ nhất: làm việc của Chúa rất nhiều nhưng lại tránh né cuộc biến đổi mà Chúa muốn làm trong chính mình.
Ghếtsêmani còn dạy ta một điều rất đẹp: Đức Giêsu không phủ nhận ý riêng của Người. Người nói rõ: “Xin cho Con khỏi uống chén này.” Điều đó có nghĩa là trước mặt Thiên Chúa, ta được phép nói thật. Ta không cần giả bộ đạo đức. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, con không muốn chuyện này.” Ta có thể nói: “Con đau lắm.” Ta có thể nói: “Con sợ.” Ta có thể nói: “Con không hiểu.” Ta có thể nói: “Con không muốn mất người này.” Ta có thể nói: “Con không muốn rời nơi này.” Ta có thể nói: “Con không muốn nhận công việc ấy.” Ta có thể nói: “Con rất khó chịu với người này.” Ta có thể nói tất cả. Thiên Chúa không sợ sự thật trong lòng ta. Điều Người chờ không phải là ta giấu mọi cảm xúc, mà là sau khi nói hết, ta có dám thêm câu này không: “Nhưng lạy Chúa, điều con muốn nhất là đừng để con rời khỏi ý Chúa.” Đó chính là trưởng thành thiêng liêng. Người non nớt trong đức tin thường nghĩ rằng nếu mình cầu nguyện đủ thì Chúa sẽ làm điều mình muốn. Người trưởng thành dần hiểu rằng cầu nguyện không chỉ để thay đổi hoàn cảnh; cầu nguyện còn để ý muốn của mình được thanh luyện cho phù hợp với ý Chúa. Lúc đầu ta cầu: “Lạy Chúa, xin thay đổi chuyện này.” Sau nhiều năm ta học cầu: “Lạy Chúa, nếu chuyện này chưa đổi, xin đổi con.” Lúc đầu ta cầu: “Xin cất người này khỏi đời con.” Sau đó ta học cầu: “Nếu con còn phải sống với họ, xin đừng để lòng con trở nên độc.” Lúc đầu ta cầu: “Xin cho con thành công.” Rồi có ngày ta biết cầu: “Xin cho con trung thành, dù thành công hay thất bại.” Lúc đầu ta cầu: “Xin cho mọi người hiểu con.” Sau này ta biết cầu: “Xin cho con đủ bình an ngay cả khi bị hiểu lầm.” Đó là khi Ghếtsêmani bắt đầu sinh hoa trái trong ta.
Nhiều người sợ chết, nhưng có lẽ ta còn sợ chết ý riêng hơn chết thân xác. Vì chết ý riêng nghĩa là chấp nhận mình không còn là trung tâm. Mà từ ngày Ađam, con người đã bị cám dỗ muốn làm trung tâm. Tội nguyên tổ, xét cho cùng, là câu nói: “Tôi muốn tự quyết điều thiện điều ác.” Tội lỗi luôn có một thứ tiếng rất quen: “Tôi muốn.” Ơn cứu độ bắt đầu bằng một thứ tiếng khác: “Xin vâng.” Eva cũ đưa tay hái lấy điều mình muốn. Maria mở tay đón nhận điều Chúa muốn: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Ađam cũ trong vườn Êđen trốn tránh Thiên Chúa. Đức Kitô, Ađam mới, trong vườn Ghếtsêmani lại đi về phía Chúa Cha. Một khu vườn là nơi con người nói: “Ý tôi.” Một khu vườn là nơi Con Thiên Chúa nói: “Ý Cha.” Và lịch sử cứu độ nằm giữa hai lời ấy. Cũng thế, lịch sử đời ta nhiều khi nằm giữa hai câu: “Tôi nhất định phải…” và “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn…”. Câu thứ nhất thường làm lòng ta căng cứng. Câu thứ hai mở ra một khoảng trời. Bao nhiêu khổ đau của ta là do ta đã gắn hạnh phúc vào một điều kiện: tôi chỉ bình an nếu người đó thay đổi; tôi chỉ vui nếu công việc thành công; tôi chỉ thấy mình có giá trị nếu được tôn trọng; tôi chỉ hạnh phúc nếu kế hoạch này thành; tôi chỉ tin Chúa thương tôi nếu Người cho điều tôi xin. Thế là ta trao chìa khóa bình an của mình cho hoàn cảnh. Ghếtsêmani dạy ta lấy lại chìa khóa ấy bằng cách đặt nó vào tay Chúa: “Con vẫn có điều con muốn, nhưng con không biến điều con muốn thành thần tượng.”
Có những lời cầu xin Chúa không nhận lời theo cách ta mong, không phải vì Người không thương ta. Chính lời cầu của Đức Giêsu trong Ghếtsêmani cho ta bằng chứng. Người Con chí ái cầu xin chén đắng qua đi, nhưng chén đắng không qua. Vậy nếu có ngày ta cầu rất lâu mà điều đau vẫn còn, đừng vội kết luận Chúa không nghe. Có những lời cầu được nhận không phải bằng việc Chúa cất chén đi, mà bằng việc Chúa ban sức để uống chén. Có những phép lạ không phải là bệnh biến mất, mà là người bệnh có bình an. Có những phép lạ không phải là người làm ta đau thay đổi, mà là lòng ta không còn bị họ điều khiển. Có những phép lạ không phải là cánh cửa đóng bỗng mở, mà là ta khám phá một con đường khác. Có những phép lạ không phải là được giữ lại nơi mình muốn, mà là được sức ra đi. Có những phép lạ không phải là thoát khỏi Thập Giá, mà là trên Thập Giá vẫn không mất tình yêu. Thiên thần đã đến nâng đỡ Đức Giêsu. Chén vẫn còn đó, nhưng Người có sức đứng dậy. Thế là đủ. Ơn Chúa đôi khi không thay đổi bản đồ, nhưng ban cho ta đôi chân. Không làm biển lặng ngay, nhưng dạy ta chèo. Không lấy bóng đêm đi, nhưng đặt vào tay ta một ngọn đèn.
Và rồi có một chi tiết đau lòng trong Ghếtsêmani: các môn đệ ngủ. Đức Giêsu đau đến chết được mà những người thân nhất lại ngủ. Người xin họ: “Anh em không thể thức với Thầy một giờ sao?” Nhưng họ vẫn ngủ. Có những Ghếtsêmani ta phải đi qua trong cô độc. Ta tưởng người này sẽ hiểu, nhưng họ không hiểu. Ta tưởng người kia sẽ ở lại, nhưng họ lại bận. Ta tưởng lúc đau nhất sẽ có ai đó biết, nhưng cuối cùng chỉ mình ta với Chúa. Đây cũng là chỗ ý riêng phải chết: chết cả mong muốn rằng người khác phải hiểu mình. Không có nghĩa là ta không cần tình người. Đức Giêsu rất cần. Người đã xin các môn đệ ở lại. Nhưng khi họ không làm được, Người không từ bỏ sứ mạng vì thất vọng. Người quay lại với Cha. Đây là một bài học vô cùng sâu cho những ai đang phục vụ. Đừng xây đời mình trên việc mọi người phải hiểu mình. Đừng đặt lòng trung thành của mình vào mức độ người khác biết ơn. Nếu Chúa gọi ta làm điều đúng, hãy làm vì Chúa. Nếu người khác hiểu, đó là ơn an ủi. Nếu họ không hiểu, Chúa vẫn là đủ. Có những người đã bỏ cuộc không phải vì việc quá khó, mà vì không được ghi nhận. Có những người từ một tâm hồn rất quảng đại trở nên cay đắng chỉ vì thấy “tôi làm bao nhiêu mà chẳng ai biết”. Nhưng nếu Thập Giá chỉ được mang khi có người vỗ tay, thì đó chưa chắc là Thập Giá. Chúa Giêsu cứu thế giới trong lúc hầu như không ai hiểu Người đang làm gì. Người ta tưởng Người thất bại. Các môn đệ bỏ chạy. Kẻ thù chế nhạo. Trời dường như im lặng. Nhưng tình yêu vẫn tiếp tục.
Ý riêng chết không phải để con người trở nên nhỏ bé, nhưng để tình yêu lớn lên. Hạt lúa mì không chết để trở thành hư vô; nó chết để sinh nhiều bông hạt. Cái tôi được đóng đinh không làm ta mất nhân cách; trái lại, nó giải phóng ta khỏi nhà tù phải luôn luôn bảo vệ mình. Người không còn phải thắng trong mọi cuộc tranh luận sẽ nhẹ hơn. Người không cần được ca ngợi sẽ tự do hơn. Người không đòi mọi sự đúng ý sẽ bình an hơn. Người không xem mình là trung tâm sẽ có chỗ cho người khác bước vào. Nhiều người rất mệt không phải vì gánh nặng cuộc đời quá lớn, nhưng vì họ phải mang thêm một gánh nặng nữa: bắt cuộc đời phải giống ý mình. Buông gánh ấy xuống, ta sẽ ngạc nhiên vì thấy lòng nhẹ đi. Không phải là bất cần. Không phải là sống sao cũng được. Nhưng là làm hết sức rồi biết trao kết quả cho Chúa. Gieo thật tốt nhưng không kéo mầm cây lên cho nhanh. Yêu thật lòng nhưng không ép người kia đáp lại theo cách mình muốn. Giáo dục con cái hết trách nhiệm nhưng không bắt chúng trở thành tượng đài cho danh dự cha mẹ. Làm sứ vụ hết lòng nhưng không lấy thành bại để đo giá trị đời mình. Đó là tự do của người đã học một chút gì nơi Đấng Chịu Đóng Đinh.
Ta cũng phải cảnh giác: có khi người ta dùng câu “ý Chúa” để áp đặt ý mình lên người khác. Đây là một lạm dụng rất nguy hiểm. Không ai nên vội vàng nói với người khác: “Đó là ý Chúa, anh phải chịu.” Nhất là trước đau khổ của người khác, hãy rất thận trọng. Đứng trước một người mẹ mất con, đừng vội giảng “ý Chúa”. Đứng trước người bị bất công, đừng dùng “vâng phục” để bắt họ im lặng. Đứng trước nạn nhân bị tổn thương, đừng lấy Thập Giá làm cái cớ bắt họ tiếp tục chịu đựng điều sai. Đức Kitô chịu đóng đinh không hợp thức hóa bạo lực. Người mang Thập Giá để chấm dứt quyền lực của tội lỗi, chứ không để người mạnh có quyền chất thập giá lên vai người yếu. Ý Chúa luôn đi với sự thật, công bình và tình yêu. Khi một “ý Chúa” nào đó làm người khác mất nhân phẩm, phải đặt câu hỏi lại. Người học chết ý riêng không phải là người để ai muốn làm gì mình cũng được. Người ấy có thể nói không với sự dữ rất mạnh mẽ, nhưng không để lòng mình bị lòng thù hận điều khiển. Đức Giêsu im lặng trước nhiều lời vu cáo, nhưng Người cũng nói với kẻ đánh mình: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai; còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại đánh tôi?” Khiêm nhường không phải là hèn. Vâng phục không phải là không có lương tâm. Từ bỏ ý riêng không phải là trao quyền cho người khác lạm dụng mình. Điều phải chết là cái tôi ích kỷ, chứ không phải phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban.
Mỗi ngày ta có rất nhiều cơ hội nhỏ để tập chết ý riêng, không cần tìm những Thập Giá quá lớn. Khi bị cắt ngang câu nói, thay vì cố nói cho bằng được, ta có thể lắng nghe. Khi người khác làm việc khác cách mình nhưng vẫn tốt, ta không cần sửa chỉ để họ làm giống mình. Khi có một món ngon, ta nhường. Khi bị hiểu sai, nếu không cần thiết phải thanh minh, ta có thể im lặng. Khi một người già kể lại câu chuyện cũ lần thứ mười, ta nghe thêm một lần. Khi trẻ con làm chậm kế hoạch của mình, ta nhớ rằng yêu một đứa trẻ quan trọng hơn chạy đúng lịch. Khi người bạn đời quên một điều, thay vì lập tức kết án “lúc nào anh cũng thế”, “lúc nào em cũng vậy”, ta chậm lại một chút. Khi ai đó thành công hơn, ta tập vui. Khi mình bị bỏ quên, ta không tự ái ngay. Khi một ý kiến của mình không được chọn, ta vẫn cộng tác hết lòng với ý kiến chung. Đó là những chiếc đinh rất nhỏ. Nhưng một đời thánh thiện được đóng nên từ những chiếc đinh nhỏ như thế. Không ai đột nhiên có thể nói “xin vâng” trước một biến cố khủng khiếp nếu cả đời chưa bao giờ tập nói “xin vâng” trong những chuyện rất thường. Ghếtsêmani lớn được chuẩn bị bởi hàng ngàn Ghếtsêmani nhỏ.
Cũng đừng nghĩ rằng chết ý riêng là một quá trình càng ngày càng dễ. Có những tuổi đời mà ý riêng mạnh theo một cách khác. Khi còn trẻ, ta muốn làm theo ý mình vì tự tin mình đúng. Khi trung niên, ta muốn làm theo ý mình vì nghĩ mình có kinh nghiệm. Khi lớn tuổi, ta lại muốn làm theo ý mình vì nghĩ mình đã hy sinh quá nhiều nên có quyền được chiều. Vì thế, hoán cải không có tuổi nghỉ hưu. Có người càng già càng hiền, vì cả đời đã tập buông. Nhưng cũng có người càng già càng khó, vì cả đời ý riêng chưa được đụng tới. Tuổi tác tự nó không làm người ta thánh. Đau khổ tự nó cũng không làm người ta thánh. Có người đau khổ rồi nên bao dung hơn; có người đau khổ rồi cay đắng hơn. Điều quyết định là ta đã làm gì với những gì đời trao cho mình. Đức Giêsu trong Ghếtsêmani cho ta thấy đau khổ được biến đổi khi nó được đặt trong tương quan với Cha. Không có Cha, chén đắng chỉ là chén đắng. Trong tay Cha, chén đắng trở thành chén cứu độ.
Có lẽ lời cầu đẹp nhất ta có thể học không phải là: “Lạy Chúa, cho mọi sự theo ý con”, mà là: “Lạy Chúa, đừng để con bỏ Chúa chỉ vì mọi sự không theo ý con.” Đời sống đức tin thật sự bắt đầu từ đó. Khi còn nhỏ trong đức tin, ta theo Chúa vì Chúa cho. Khi lớn hơn, ta theo Chúa vì Chúa là Chúa. Khi còn non, ta nói: “Con tin vì Chúa làm phép lạ.” Khi trưởng thành, ta nói: “Dù chưa thấy phép lạ, con vẫn ở lại.” Khi còn non, ta yêu Chúa vì cảm thấy Chúa gần. Khi trưởng thành, ta vẫn trung thành trong những ngày không cảm thấy gì. Đó là lúc đức tin đi qua cảm xúc để trở thành chọn lựa. Đức Giêsu trong Ghếtsêmani không có cảm giác dễ chịu nào. Không có an ủi của đám đông. Không có ánh sáng Taborê. Chỉ có bóng tối, mồ hôi máu, bạn bè ngủ quên và một chén đắng trước mặt. Nhưng Người vẫn nói: “Xin vâng.” Thế là tình yêu đạt đến độ tinh ròng.
Chúng ta thường muốn Phục Sinh mà không muốn Ghếtsêmani. Muốn bình an nhưng không muốn buông. Muốn tự do nhưng không muốn chết cái tôi. Muốn sống hiệp nhất nhưng ai cũng giữ ý mình. Muốn gia đình hạnh phúc nhưng không ai chịu nhường. Muốn cộng đoàn bình an nhưng mỗi người đều muốn được hiểu trước khi chịu hiểu người khác. Muốn nên thánh nhưng vẫn giữ nguyên quyền kiểm soát đời mình. Không được. Con đường của Đức Kitô đi từ Ghếtsêmani đến Canvê rồi mới đến mồ trống. Trật tự ấy không thể đảo. Một điều gì đó phải chết để một điều lớn hơn được sinh ra. Có những hạnh phúc chỉ xuất hiện sau khi một cái tôi chịu lùi. Có những gia đình được cứu chỉ vì có một người ngừng đòi phần thắng. Có những tình bạn được giữ lại vì có người dám xin lỗi trước. Có những cộng đoàn khỏi tan vì một người biết đặt ích chung trên ý riêng. Có những đời linh mục được đổi mới khi người mục tử thôi tìm mình trong sứ vụ. Có những tâm hồn tìm lại bình an sau nhiều năm chỉ vì một ngày họ nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con không chống nữa.”
Và xin nhớ: câu “xin đừng theo ý con” không phải là câu nói của kẻ thất bại. Đó là lời của một người tự do đến mức không còn bị ý mình làm chủ. Người nô lệ thật sự là người luôn phải được như ý. Chỉ cần ai làm trái ý là mất bình an. Chỉ cần kế hoạch hỏng là sụp đổ. Chỉ cần không được nhìn nhận là cay đắng. Còn người tự do có thể thích một điều nhưng không lệ thuộc vào nó; có thể mong một điều nhưng vẫn sống được nếu không có; có thể lên kế hoạch nhưng không thờ kế hoạch; có thể bảo vệ quan điểm nhưng không biến quan điểm thành căn tính. Đức Kitô tự do tuyệt đối vì Người trao mình tuyệt đối. Người không bị ai lấy mạng sống; Người tự hiến. “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Người ta tưởng họ đóng đinh Người, nhưng sâu xa hơn, Người đã hiến mình trước khi họ chạm đến Người. Đó là sức mạnh của một trái tim đã thuộc trọn về Cha.
Mỗi tối, có lẽ ta nên hỏi mình một câu rất đơn sơ: hôm nay ý riêng của tôi đã chết ở đâu? Nếu câu trả lời là “chưa ở đâu cả”, có lẽ hôm nay ta đã sống quá nhiều cho mình. Hôm nay tôi đã nhường ai? Tôi đã im lặng ở chỗ nào để khỏi làm đau? Tôi đã chấp nhận điều gì không đúng sở thích mà không càm ràm? Tôi đã để ai khác tỏa sáng mà không khó chịu? Tôi đã xin lỗi ở đâu? Tôi đã ngừng kiểm soát ai? Tôi đã đặt ý Chúa lên trên lợi ích mình ở chỗ nào? Không cần những điều lớn. Chỉ cần mỗi ngày một chút. Cái tôi không chết bởi một cú đánh, nó chết bởi hàng ngàn lần ta chọn yêu thay vì thắng, chọn hiểu thay vì đòi được hiểu, chọn phục vụ thay vì được phục vụ, chọn sự thật thay vì thể diện, chọn Chúa thay vì mình.
Và có lẽ cũng phải thú nhận rằng nhiều lần ta cầu “xin theo ý Cha” nhưng trong lòng vẫn mong ý Cha trùng với ý ta. Chúng ta khéo lắm. Ta nói “xin theo ý Chúa”, nhưng rồi đi tìm đủ người để xác nhận rằng điều ta muốn chính là ý Chúa. Ta cầu nguyện, nhưng đôi khi không phải để nghe Chúa mà để xin Chúa ký tên dưới quyết định mình đã làm. Ta hỏi ý người khôn ngoan nhưng chỉ nghe những ai nói điều mình thích. Ta xin phân định nhưng kết quả đã có sẵn trong lòng. Vì vậy, tìm ý Chúa đòi sự trong sạch nội tâm rất lớn. Phải dám hỏi: nếu Chúa muốn ngược với điều con đang tha thiết, con có còn muốn biết ý Chúa không? Nếu câu trả lời là không, có lẽ ta chưa tìm ý Chúa; ta chỉ tìm sự bảo chứng của Chúa cho ý mình.
Ghếtsêmani cũng mời ta trở lại với sự thinh lặng. Ý riêng thường lớn tiếng. Nó lý luận, so sánh, tính toán, phán đoán, lập đi lập lại câu chuyện của mình. Còn ý Chúa nhiều khi đến rất nhẹ. Muốn nghe được, phải yên. Phải có những giờ ta không làm gì ngoài ở trước mặt Chúa. Không trình bày dự án. Không kể công. Không xin quá nhiều. Chỉ hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn gì nơi con?” Và rồi ở lại đủ lâu để câu hỏi ấy đi từ miệng xuống tim. Có những câu trả lời Chúa không nói bằng chữ. Người để một sự bình an sâu dần hiện ra. Người dùng một biến cố. Một lời Kinh Thánh. Một người khôn ngoan. Một bổn phận rất bình thường. Ý Chúa không luôn nằm trong những điều phi thường. Nhiều khi ý Chúa cho hôm nay rất đơn giản: làm tốt việc trước mặt, tử tế với người bên cạnh, giữ lời đã hứa, đừng nói xấu, đừng trả đũa, cầu nguyện khi lòng khô khan, tiếp tục yêu khi không được đáp lại. Ta cứ muốn biết ý Chúa cho mười năm tới, trong khi ý Chúa cho mười phút tới ta lại không chịu làm.
Cuối cùng, đứng trước Đức Kitô chịu đóng đinh, ta nhận ra rằng Người không xin ta chết ý riêng vì muốn lấy mất niềm vui của ta. Người muốn cứu ta khỏi một vị thần giả mang tên “cái tôi”. Cái tôi hứa rằng nếu mọi người làm theo ta, ta sẽ hạnh phúc. Nhưng không bao giờ đủ. Hôm nay cần người này nghe ta. Ngày mai cần thêm người khác. Hôm nay muốn được công nhận. Ngày mai muốn được công nhận hơn. Ý riêng càng được chiều càng lớn, càng lớn càng đói. Chỉ khi nó được đưa lên Thập Giá, ta mới bắt đầu sống. Nghịch lý của Tin Mừng là thế: ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Đức Kitô thì sẽ tìm lại được. Điều đúng với mạng sống cũng đúng với ý riêng. Càng nắm chặt, ta càng mệt. Càng trao, ta càng tự do.
Có thể hôm nay trong đời ta cũng đang có một chén đắng. Một điều ta rất muốn tránh. Một quyết định ta chưa chấp nhận. Một người ta chưa thể tha thứ. Một biến cố ta cứ hỏi “tại sao”. Một cánh cửa đóng lại. Một giấc mơ dang dở. Một nỗi đau không ai hiểu. Xin đừng vội chạy khỏi Ghếtsêmani. Có thể chính nơi đó Đức Kitô đang ở rất gần. Hãy nói thật với Người: “Lạy Chúa, con không muốn. Con sợ. Con đau. Con không hiểu.” Rồi nếu có thể, xin thêm một câu, dù nói bằng nước mắt: “Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Chúa.” Có khi ta phải nói câu ấy cả trăm lần trước khi lòng thật sự yên. Không sao. Đức Giêsu cũng cầu nguyện đến ba lần. Vâng phục không phải lúc nào cũng là một giây phút anh hùng. Nhiều khi nó là cuộc vật lộn dài. Nhưng mỗi lần ta lại trở về với câu “xin vâng”, một chiếc đinh của cái tôi được đóng sâu hơn, và một khoảng tự do mới mở ra.
Đức Kitô chịu đóng đinh không chỉ để ta ngước nhìn mà cảm động. Người mời ta bước vào cùng một con đường. Người không bảo ta tìm đau khổ. Người chỉ bảo ta đừng để ý riêng ngăn ta yêu. Vì rốt cuộc, tất cả đời sống Kitô hữu có thể thu về một câu hỏi: giữa ý tôi và tình yêu, tôi chọn điều nào? Nếu muốn giữ ý mình mà phải làm người khác đau, tôi chọn gì? Nếu muốn giữ danh dự mà phải hy sinh sự thật, tôi chọn gì? Nếu muốn bảo vệ cái tôi mà phải đánh mất một người, tôi chọn gì? Nếu muốn mọi việc theo kế hoạch mình mà phải đánh mất bình an, tôi chọn gì? Nếu ý Chúa mời tôi đi qua một con đường không do tôi chọn, tôi có còn tin Người không?
Ghếtsêmani là nơi Đức Giêsu trả lời. Người chọn Cha. Người chọn chúng ta. Người chọn yêu đến cùng. Và vì thế, Thập Giá không còn là biểu tượng của một con người bị nghiền nát, mà là dấu chỉ của một tình yêu không còn gì giữ lại cho mình.
Xin cho mỗi chúng ta, khi nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh, không chỉ hỏi: “Chúa đã đau thế nào?” nhưng còn dám hỏi: “Trong con, điều gì cần chết để tình yêu được sống?” Có thể phải chết một tự ái. Một thành kiến. Một tham vọng. Một nhu cầu kiểm soát. Một sự cố chấp. Một mối hận. Một ý muốn phải được người khác nhìn nhận. Một thói quen luôn cho mình đúng. Một khát vọng phải có tiếng nói cuối cùng. Hãy để chúng chết dưới chân Thập Giá. Vì những gì chết với Đức Kitô sẽ không chết vô ích. Cái tôi chết để tình yêu sống. Ý riêng chết để ý Chúa có chỗ. Kiêu ngạo chết để bình an sống. Oán hận chết để lòng thương xót sống. Và khi một ngày nào đó ta có thể thật lòng nói với Chúa: “Con không còn cần cuộc đời phải theo ý con để con vẫn tin rằng Chúa yêu con”, thì có lẽ ngày ấy Ghếtsêmani trong ta đã bắt đầu nở hoa Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

KHÔNG THEO Ý CON – NHƯNG THEO Ý CHA
Tin Mừng: Lc 22,39-46
Có lẽ trong cả cuộc đời của Chúa Giêsu, không có lời cầu nguyện nào vừa ngắn vừa nặng như lời cầu nguyện trong vườn Cây Dầu: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa Con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Đọc câu ấy thật chậm, ta mới thấy đằng sau mấy chữ đơn sơ là cả một cuộc chiến dữ dội trong tâm hồn Đức Giêsu. Đây không phải là lời của một con người không biết đau, cũng không phải lời của một vị thần đứng bên ngoài đau khổ mà diễn một vai đã được viết sẵn. Đây là lời của Đức Giêsu đang thực sự đứng trước cái chết, thực sự thấy sợ, thực sự thấy cô đơn, thực sự cảm nhận sức nặng của phản bội, bạo lực, nhục nhã và Thập Giá đang tới gần. Người không giả vờ bình thản. Người không nói rằng đau khổ chẳng là gì. Người cũng không coi nhẹ chiếc chén trước mặt. Chính vì chiếc chén quá đắng nên lời “xin theo ý Cha” mới trở thành một lời vâng phục lớn lao. Nếu không có ý riêng, sẽ không có hy sinh. Nếu không có điều mình muốn giữ lại, sẽ không có từ bỏ. Nếu không có một cuộc giằng co thật sự giữa điều mình muốn và điều Thiên Chúa muốn, thì chưa thể nói đến sự vâng phục theo nghĩa sâu nhất của Tin Mừng. Ghếtsêmani vì thế là trường học lớn của người môn đệ. Trước khi Thập Giá được dựng lên trên đồi Canvê, Thập Giá đã được dựng lên trong lòng Đức Giêsu. Trước khi đôi tay Người bị đóng đinh vào gỗ, ý riêng của Người đã được trao vào tay Chúa Cha. Trước khi thân xác Người chết trên Thập Giá, một điều khác đã chết trong vườn Cây Dầu: quyền giữ lấy đời mình theo ý mình. Và có lẽ đời Kitô hữu của chúng ta cũng bắt đầu trưởng thành từ chính chỗ ấy, từ lúc ta có thể thưa với Chúa không phải bằng môi miệng nhưng bằng cả đời mình: “Lạy Cha, con có điều con muốn, con có điều con sợ, con có điều con tha thiết xin Cha cất khỏi đời con, nhưng cuối cùng, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.”
Chúng ta thường nói đến vâng phục rất dễ dàng khi ý Chúa tình cờ trùng với ý mình. Khi ta xin một điều rồi điều ấy xảy ra, ta vui vẻ nói: “Tạ ơn Chúa, Chúa thương con.” Khi con đường trước mặt dễ đi, khi công việc thuận lợi, khi người khác cư xử như ta mong, khi sức khỏe còn tốt, khi gia đình yên ổn, khi dự định thành công, ta dễ nghĩ mình đang sống trong thánh ý Chúa. Nhưng rồi sẽ có những ngày ý Chúa dường như đi ngang qua ý ta. Ta muốn giữ mà Chúa để mất. Ta muốn thành công mà Chúa để thất bại. Ta muốn được hiểu mà Chúa để ta bị hiểu lầm. Ta muốn được khỏe mà bệnh tật cứ kéo dài. Ta muốn một người ở lại mà người ấy ra đi. Ta muốn một cánh cửa mở nhưng cánh cửa ấy đóng lại. Ta đã cầu nguyện rất nhiều mà điều ta cầu vẫn không xảy ra. Chính khi đó, chữ “vâng” mới bắt đầu có giá. Vâng phục không được đo bằng những ngày mọi chuyện thuận ý, mà bằng những ngày lòng ta đau vì phải buông điều mình muốn để bước theo điều Chúa muốn. Người ta có thể sống đạo nhiều năm, đọc kinh rất nhiều, làm nhiều việc lành, thậm chí phục vụ trong Giáo Hội, nhưng vẫn chưa đụng đến điểm sâu nhất của đời sống thiêng liêng nếu chưa một lần thật sự để Thiên Chúa chạm vào ý riêng của mình. Bởi vì con người có thể cho Chúa tiền bạc mà vẫn giữ ý riêng; có thể cho Chúa thời giờ mà vẫn giữ ý riêng; có thể làm việc cho Chúa mà vẫn bắt Chúa làm theo mình; có thể mang áo dòng, chịu chức, giữ nhiều luật lệ mà tận sâu bên trong vẫn muốn cuộc đời phải diễn ra theo chương trình mình đã vạch. Và rồi điều khó nhất Chúa xin không phải là một công việc, một số tiền hay một hy sinh bên ngoài, mà là chính câu này: “Con có để Cha là Chúa của đời con không?”
“Xin đừng theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha.” Câu nói ấy không có nghĩa là Đức Giêsu không có ý muốn riêng. Người có. Người xin rất rõ: “Xin cất chén này xa Con.” Điều này vô cùng quan trọng cho việc phân định. Có người tưởng sống theo ý Chúa nghĩa là không được có ước muốn, không được có dự tính, không được nói với Chúa điều mình mong muốn. Không phải thế. Đức Giêsu đã nói điều Người muốn. Người không giấu nỗi sợ. Người không đạo đức hóa cảm xúc của mình. Người không nói những câu nghe có vẻ thiêng liêng để che đi một trái tim đang run sợ. Người nói thật với Cha. Đây là bước đầu của mọi phân định: thành thật. Muốn biết ý Chúa, trước hết phải dám biết ý mình. Tôi muốn gì? Tôi sợ gì? Tôi đang bám víu điều gì? Tôi đang mong chuyện này xảy ra vì vinh danh Chúa hay vì danh dự của tôi? Tôi muốn giữ vị trí này vì ích lợi cộng đoàn hay vì tôi sợ mất quyền? Tôi muốn đi nơi kia vì sứ vụ hay vì nơi đó dễ chịu hơn? Tôi muốn nói câu này vì sự thật hay vì muốn thắng người khác? Tôi muốn từ chối việc nọ vì thực sự không thích hợp hay chỉ vì nó đụng vào sự thoải mái của tôi? Có những lúc chúng ta gọi ý riêng của mình là “ý Chúa” chỉ vì ta đã khoác lên nó một chiếc áo đạo đức. Ta quyết định trước, rồi mới cầu nguyện xin Chúa xác nhận. Ta muốn một điều trước, rồi tìm những dấu chỉ phù hợp để chứng minh rằng Chúa cũng muốn như vậy. Ta nghe người khuyên điều mình thích thì nói họ có ơn soi sáng; người nói điều ngược lại thì ta cho là không hiểu mình. Đó không phải phân định. Đó là dùng Thiên Chúa để hợp thức hóa điều ta đã chọn.
Phân định thật không phải hỏi: “Làm sao để biết Chúa đồng ý với điều tôi muốn?” mà là hỏi: “Lạy Chúa, điều Chúa muốn là gì, kể cả khi điều ấy khác với điều con muốn?” Chỉ một sự thay đổi rất nhỏ trong câu hỏi nhưng đòi cả một cuộc hoán cải. Bởi vì phần lớn chúng ta bước vào cầu nguyện với một bản kế hoạch đã hoàn chỉnh. Ta nói: “Lạy Chúa, xin chúc lành cho điều con sắp làm.” Ít khi ta nói: “Lạy Chúa, nếu điều này không phải ý Ngài, xin đủ mạnh để đóng cánh cửa lại.” Ta xin Chúa mở đường, nhưng rất ít khi xin Chúa ngăn đường. Ta xin Chúa cho thành công, nhưng ít khi xin Chúa cho thất bại nếu thành công ấy làm ta xa Người. Ta xin được người khác công nhận, nhưng ít khi xin Chúa cho mình bị quên đi nếu sự quên lãng ấy làm ta khiêm nhường. Ta xin Chúa giữ người này bên mình, nhưng ít khi dám nói: “Nếu việc họ ở lại không đem lại điều tốt lành cho họ và cho con, xin cho con biết buông.” Bởi thế, phân định không chỉ cần ánh sáng của trí óc; phân định cần sự tự do của trái tim. Một trái tim đã quyết không buông một điều nào đó thì dù Chúa có nói cũng khó nghe. Không phải vì Chúa im lặng, nhưng vì tiếng ý riêng của ta quá lớn.
Ghếtsêmani cho ta thấy một điều khác rất đau: vâng phục không làm cho đau khổ biến mất ngay lập tức. Sau lời “xin theo ý Cha”, chén đắng vẫn còn đó. Giuđa vẫn đến. Đám lính vẫn bắt Chúa. Phêrô vẫn chối Thầy. Phiên tòa vẫn diễn ra. Những roi đòn vẫn quất xuống. Đinh vẫn xuyên qua tay chân. Có những người nghĩ rằng nếu mình cầu nguyện đúng, sống tốt, vâng phục Chúa thì Chúa phải giải quyết hoàn cảnh. Không. Có lúc Chúa giải thoát ta khỏi cơn bão. Có lúc Chúa để cơn bão còn nguyên nhưng cho ta sức đi xuyên qua nó. Có lúc Chúa cất chén. Có lúc Chúa không cất chén nhưng sai thiên thần đến tăng sức. Tin Mừng nói: “Bấy giờ có thiên sứ từ trời hiện đến tăng sức cho Người.” Thiên thần không lấy chiếc chén đi. Thiên thần cũng không đóng cửa vườn để quân lính không vào được. Thiên thần chỉ tăng sức. Đó là một mầu nhiệm rất thật trong đời sống đức tin. Ta cầu xin Chúa chữa bệnh, Chúa có thể chữa; nhưng có khi Người cho sức chịu bệnh. Ta xin Chúa cất một gánh nặng, có khi Người cất; nhưng có lúc Người làm vai ta mạnh hơn. Ta xin Chúa thay đổi một con người, nhiều khi Người bắt đầu bằng việc thay đổi chính ta. Ta xin Chúa làm cho con đường dễ hơn, Người lại làm cho đôi chân ta vững hơn. Ân sủng của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng mang hình dáng một phép lạ làm biến mất khó khăn. Nhiều lần ân sủng mang hình dáng một sức mạnh âm thầm giúp ta không bỏ cuộc trong chính điều không thay đổi.
Vì vậy, cần hết sức cẩn thận khi nói với người đau khổ rằng: “Đó là ý Chúa.” Có những tai họa không phải vì Thiên Chúa muốn; có những bất công không phải ý Chúa; có những bạo lực, phản bội, tội ác phát xuất từ tự do con người chống lại điều Thiên Chúa muốn. Chúa không muốn Giuđa phản bội. Chúa không muốn Philatô hèn nhát. Chúa không muốn đám đông bất công. Thiên Chúa không vui vì Con mình đau đớn. Ý Chúa Cha không phải là niềm vui độc ác trước đau khổ của Đức Giêsu. Ý Chúa là tình yêu cứu độ được Đức Giêsu trung thành thực hiện đến cùng, ngay cả khi con đường ấy đi xuyên qua sự dữ của con người. Đây là điều rất quan trọng. Vâng theo ý Chúa không có nghĩa là gọi mọi chuyện xảy đến là tốt. Không. Có những chuyện rất xấu. Có những vết thương phải được chữa. Có những bất công phải được chống lại. Có những hoàn cảnh ta phải thay đổi chứ không được nhân danh “ý Chúa” để cam chịu. Một người bị bạo hành không thể được bảo rằng hãy ở yên vì “vâng thánh ý Chúa”. Một cộng đoàn chứng kiến sai trái không thể im lặng rồi gọi đó là vâng phục. Vâng phục Kitô giáo không phải là tắt trí khôn, bỏ lương tâm hay biến con người thành một dụng cụ không được suy nghĩ. Đức Giêsu ở Ghếtsêmani không vâng phục sự dữ; Người vâng phục Chúa Cha giữa sự dữ. Hai điều hoàn toàn khác nhau.
Cũng bởi vậy, vâng phục và phân định luôn phải đi cùng nhau. Nếu chỉ nói vâng phục mà không phân định, người ta rất dễ biến vâng phục thành sự lệ thuộc mù quáng. Nhưng nếu chỉ nói phân định mà không có vâng phục, người ta lại dễ biến phân định thành cách kéo dài việc suy nghĩ cho đến khi tìm được điều hợp ý mình. Người trưởng thành thiêng liêng vừa biết hỏi, vừa biết nghe, vừa biết suy xét, vừa biết buông mình. Không phải cứ cấp trên nói gì cũng mặc nhiên là ý Chúa theo nghĩa đơn giản; nhưng cũng không phải cứ điều gì khó chịu với ta đều bị gán là thiếu khôn ngoan. Có lúc Chúa nói qua Lời Người, qua lương tâm được đào luyện, qua Giáo Hội, qua luật chính đáng, qua cộng đoàn, qua người có trách nhiệm, qua những giới hạn cụ thể của cuộc đời và qua những biến cố ta không lựa chọn. Phân định là đem tất cả những điều ấy vào cầu nguyện, nhìn chúng dưới ánh sáng Tin Mừng, xem hoa trái nào đang được sinh ra: bình an hay hỗn loạn, khiêm nhường hay tự tôn, bác ái hay ích kỷ, tự do hay lệ thuộc, trung tín hay chạy trốn. Và cuối cùng, phải có lúc quyết định. Không thể phân định cả đời mà không bước đi. Đức Giêsu cầu nguyện rồi đứng dậy. Người không ở mãi trong vườn Cây Dầu. Tin Mừng kể: “Cầu nguyện xong, Người đứng dậy, đến chỗ các môn đệ.” Một chi tiết rất nhỏ nhưng đẹp vô cùng: cầu nguyện chân thật cuối cùng phải làm ta đứng dậy. Nếu cầu nguyện chỉ làm ta quanh quẩn trong cảm xúc, chỉ làm ta nói nhiều mà không dám bước vào điều phải làm, thì có lẽ ta chưa cầu nguyện như Đức Giêsu.
Đời người có nhiều Ghếtsêmani. Có Ghếtsêmani của người cha người mẹ khi nhìn con mình đi một con đường mình không thể kiểm soát. Cha mẹ thương con nên thường có rất nhiều ý muốn tốt đẹp cho con. Muốn con học hành, thành đạt, có gia đình tốt, có tương lai ổn định. Nhưng đến một lúc, tình yêu trưởng thành phải biết đặt đứa con lại trong tay Thiên Chúa. Có những người cha người mẹ đau không phải vì con xấu mà vì con không sống đúng với kịch bản mình đã viết. Ta nói yêu con nhưng đôi khi ta yêu cả kế hoạch của ta dành cho con hơn chính con. “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha” đối với cha mẹ có lúc là học cách đồng hành thay vì sở hữu, hướng dẫn thay vì điều khiển, cầu nguyện thay vì thao túng, để con được lớn thành con người Thiên Chúa muốn chứ không chỉ thành người cha mẹ mong.
Có Ghếtsêmani của hôn nhân. Người chồng có ý riêng. Người vợ có ý riêng. Hai người đến với nhau không phải để một người thắng, một người thua, mà để cả hai cùng học tìm điều tốt hơn cho gia đình. Nhiều cuộc hôn nhân kiệt sức không hẳn vì thiếu tình yêu ban đầu, mà vì không ai chịu chết cho ý riêng. Người ta tranh nhau quyền được đúng. Người ta cố chứng minh rằng cách của mình mới là hợp lý. Có những cuộc cãi nhau kéo dài cả ngày không phải vì vấn đề lớn, mà vì không ai muốn nói câu: “Thôi, chuyện này không đáng để tình nghĩa chúng ta bị tổn thương.” Cái tôi nhiều lúc đòi một chiến thắng rất nhỏ nhưng bắt gia đình trả một cái giá rất lớn. Vâng phục thánh ý Chúa trong gia đình đôi khi không phải chuyện gì phi thường. Có thể chỉ là biết im đi đúng lúc, xin lỗi trước dù thấy mình không sai hoàn toàn, chịu nghe thêm một chút, bớt một câu châm chọc, bỏ điện thoại xuống để nhìn vào mắt nhau, dành thời gian cho con, chăm sóc cha mẹ già, nhường nhau một điều nhỏ. Thánh ý Chúa nhiều khi không ở đâu xa. Nó nằm ngay trong người bên cạnh đang cần ta chết bớt cho cái tôi của mình.
Có Ghếtsêmani của đời tận hiến và chức linh mục. Khi mới bước vào ơn gọi, người ta thường nghĩ mình đã bỏ mọi sự. Nhưng đi lâu rồi mới khám phá ra rằng bỏ nhà cửa, nghề nghiệp, những dự định riêng đôi khi còn dễ hơn bỏ ý riêng. Ta có thể bỏ gia đình mà vẫn giữ cái tôi. Có thể khấn khó nghèo mà lại giàu tự ái. Có thể khấn khiết tịnh mà trái tim vẫn muốn được mọi người chú ý. Có thể khấn vâng phục mà bên trong chỉ vâng khi quyết định phù hợp với điều mình thích. Có thể làm rất nhiều việc tông đồ nhưng âm thầm xây một “vương quốc” của chính mình. Ta muốn một nơi phục vụ nào đó. Ta thích một cộng đoàn nào đó. Ta quen một trách nhiệm nào đó. Ta được người ta quý mến ở nơi ấy. Ta cảm thấy mình có ảnh hưởng. Rồi một ngày lời vâng phục chạm vào đúng chỗ ấy. Ta được mời đi nơi khác. Ta mất một chức vụ. Một người khác thay mình. Một công việc mình đã gây dựng được trao cho người khác. Chính lúc đó mới biết điều ta yêu là Đức Kitô hay điều ta đang làm cho Đức Kitô. Có những linh mục đau khổ khi bị đổi xứ không chỉ vì thương giáo dân, mà còn vì sâu xa mình đã bám vào một vị trí. Có những tu sĩ buồn khi không được trao trách nhiệm không chỉ vì nhiệt thành, mà vì danh dự bị chạm. Điều ấy rất con người. Không cần giả vờ rằng mình không đau. Đức Giêsu cũng đã nói: “Xin cất chén này xa Con.” Nhưng sau tất cả phải đi tới câu thứ hai: “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha.” Đời tận hiến không lớn lên nhờ số năm khấn mà nhờ số lần ý riêng được đặt dưới chân Thập Giá.
Có Ghếtsêmani của tuổi già. Tuổi trẻ muốn làm, tuổi già phải học buông. Một đời người quen chủ động, đến lúc thân thể yếu đi, bước chân chậm lại, trí nhớ kém đi, phải nhờ người khác những việc trước đây mình tự làm được. Đây có thể là một cuộc khổ chế rất lớn. Người ta không chỉ đau vì bệnh mà đau vì mất quyền tự quyết. Một linh mục cả đời chăm sóc người khác, đến cuối đời phải để người khác chăm mình. Một người mẹ cả đời lo cho con, nay phải chờ con đưa đi bệnh viện. Một người cha từng là chỗ dựa cho gia đình nay phải nắm tay người khác mới bước được. Có khi chiếc chén cuối đời chính là học chấp nhận mình không còn là trung tâm của các quyết định. “Xin theo ý Cha” lúc ấy không phải một câu đạo đức, mà là dám để Chúa dẫn mình qua sự mong manh đến cánh cửa cuối cùng.
Có Ghếtsêmani của bệnh tật. Không ai cần phải giả vờ thích bệnh. Người bệnh hoàn toàn có quyền xin Chúa chữa. Đức Giêsu đã xin chiếc chén đi qua. Xin được chữa không phải là thiếu vâng phục. Chạy chữa hợp lý không phải chống lại thánh ý Chúa. Nhưng sẽ có lúc, sau tất cả thuốc men, bác sĩ, cầu nguyện và hy vọng, ta phải đối diện một giới hạn không thể thay đổi. Lúc ấy, đức tin không đòi ta nói: “Con không đau.” Đức tin cho phép ta khóc. Đức tin cho phép ta sợ. Đức tin cho phép ta hỏi. Nhưng giữa tất cả những điều đó, có thể một ngày ta nói rất nhỏ: “Lạy Chúa, con vẫn xin được sống, nhưng nếu con đường của con phải đi qua nơi này, xin đừng để con đi một mình.” Đó đã là một lời vâng rất lớn.
Có Ghếtsêmani của người vừa mất một người thân. Những lúc ấy, nói về “ý Chúa” phải thật dè dặt. Trước một ngôi mộ còn mới, đôi khi im lặng và ở bên nhau thánh thiện hơn rất nhiều lời giải thích. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá không được trao cho một bài thần học giải thích tại sao Con mình phải chết. Mẹ chỉ đứng đó. Có những mầu nhiệm chỉ có thể ôm lấy chứ không thể giải nghĩa. Người mất người thân có quyền hỏi tại sao. Có quyền khóc. Có quyền thấy trống rỗng. Vâng phục không có nghĩa là không đau. Nếu vâng phục làm con người hết đau thì Đức Maria đã không cần một lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn. Vâng phục là trong nỗi đau vẫn không buông tay Thiên Chúa. Có khi đó là tất cả những gì ta làm được. Và chừng ấy đã là rất nhiều.
Điều đặc biệt trong đoạn Tin Mừng là các môn đệ ngủ. Đức Giêsu chiến đấu một mình trong khi những người thân cận nhất lại ngủ “vì buồn phiền”. Có nỗi đau làm người ta khóc, nhưng cũng có nỗi đau khiến người ta chỉ muốn ngủ để không phải đối diện. Chúa nói: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ.” Chúng ta cũng có nhiều cách “ngủ” trước thánh ý Chúa. Có người ngủ bằng công việc: làm liên tục để không phải nghe lòng mình. Có người ngủ bằng giải trí. Có người ngủ trong mạng xã hội. Có người ngủ bằng những cuộc vui. Có người ngủ bằng chính hoạt động tôn giáo: làm quá nhiều việc đạo đức để khỏi ngồi yên trước mặt Chúa và nghe Người hỏi một điều mình không muốn trả lời. Ta tưởng cám dỗ lớn nhất là làm điều xấu. Không hẳn. Có một cám dỗ tinh vi hơn: né tránh điều Chúa đang muốn ta nhìn thẳng. Ta biết phải tha thứ nhưng cứ trì hoãn. Biết phải xin lỗi nhưng tìm lý do. Biết một mối quan hệ đang sai nhưng không dám cắt. Biết mình phải thay đổi nhưng cứ bận rộn. Biết một sự thật cần được nói nhưng sợ mất lòng. Biết đã đến lúc phải buông một tham vọng nhưng vẫn cố giữ. Đó là những giấc ngủ của linh hồn.
“Dậy mà cầu nguyện.” Chúa không nói: dậy mà tính toán. Không nói: dậy mà tranh luận. Không nói: dậy mà tìm thêm người ủng hộ ý mình. Người nói: cầu nguyện. Vì ở tầng sâu nhất, chỉ cầu nguyện mới đưa ta ra khỏi nhà tù của ý riêng. Trong cầu nguyện, ta không nhất thiết nhận được một câu trả lời ngay. Nhiều khi điều thay đổi trước tiên không phải hoàn cảnh mà là cách ta nhìn hoàn cảnh. Ta đến với Chúa để xin Người đổi một quyết định; rồi sau một thời gian cầu nguyện, ta thấy chính mình được đổi. Ta vào nhà nguyện với một nắm tay siết chặt và đi ra với bàn tay mở. Sự việc vẫn thế nhưng ta khác. Đó là một trong những phép lạ lớn nhất của cầu nguyện.
Cũng cần nói rằng tìm ý Chúa không phải sống trong tâm trạng lo âu suốt ngày, sợ rằng chỉ cần chọn sai một điều nhỏ là Chúa sẽ nổi giận. Thiên Chúa là Cha chứ không phải người gài bẫy. Ngài không giấu ý mình rồi chờ ta đoán sai để phạt. Phân định Kitô giáo phải được thực hiện trong lòng tín thác. Ta dùng trí khôn, cầu nguyện, hỏi ý kiến, cân nhắc trách nhiệm, nhìn vào Tin Mừng, rồi quyết định trong sự tự do. Nếu đã làm tất cả cách ngay lành mà vẫn không thấy một dấu chỉ đặc biệt nào, ta có thể chọn điều hợp lý và bước đi với Chúa. Có người bị ám ảnh bởi chuyện “ý Chúa” đến mức không dám quyết định: ăn gì cũng hỏi dấu chỉ, đi đâu cũng chờ một cảm giác, việc gì cũng mong một tiếng nói từ trời. Đó không phải trưởng thành. Thiên Chúa đã ban trí khôn, tự do, kinh nghiệm và cộng đoàn để ta sử dụng. Điều cốt lõi không phải lúc nào cũng là tìm được một bản đồ chi tiết từ trời, mà là sống trong tư thế sẵn sàng để Chúa sửa đường khi cần. Một người có thể chưa biết chính xác ngày mai Chúa dẫn đi đâu, nhưng nếu trái tim thật sự có thể nói “xin theo ý Cha”, người ấy đã đứng đúng hướng.
Và có lẽ đây là câu hỏi sâu nhất: tại sao ta sợ ý Chúa? Nhiều khi vì trong thâm tâm ta vẫn nghĩ rằng ý Chúa chắc chắn sẽ làm ta khổ. Ta tưởng Chúa giống một người chỉ chờ thấy ta thích điều gì để lấy điều ấy đi. Nếu ta yêu ai, Chúa sẽ bắt chia tay. Nếu ta thích một nơi, Chúa sẽ sai đi nơi khác. Nếu ta muốn khỏe, Chúa sẽ gửi bệnh. Hình ảnh Thiên Chúa như thế làm ta không thể vâng phục bằng tình yêu; ta chỉ có thể đầu hàng vì sợ. Nhưng Chúa Giêsu trong Ghếtsêmani nói “Cha”. Đó là chìa khóa. Người không nói: “Lạy quyền lực tối cao.” Người nói: “Lạy Cha.” Chỉ khi biết Đấng mình trao ý riêng là Cha, ta mới có thể trao thật. Nếu không tin vào tình yêu của Cha, câu “xin theo ý Cha” sẽ là một sự đầu hàng cay đắng. Nhưng nếu tin Cha yêu mình hơn mình yêu chính mình, câu ấy trở thành lời phó thác. Một đứa trẻ có thể ngủ yên trên xe dù không biết cha đang lái đi đâu, vì nó biết ai đang cầm tay lái. Đức tin cuối cùng không phải biết hết con đường. Đức tin là biết mình đang ở trong tay Ai.
Dĩ nhiên, có những lúc tay Chúa dẫn qua nơi ta không hiểu. Ghếtsêmani không có lời giải thích. Chúa Cha không nói với Đức Giêsu: “Con đừng sợ, vì ba ngày nữa Con sẽ sống lại.” Ít nhất Tin Mừng không ghi một lời như vậy. Có một sự im lặng. Và Đức Giêsu vẫn đi. Đây là cấp độ sâu nhất của vâng phục: làm điều đúng ngay cả khi chưa hiểu hết tại sao. Abraham lên núi. Đức Maria thưa “xin vâng” mà chưa biết cả con đường phía trước. Thánh Giuse thức dậy và làm như sứ thần dạy. Đức Giêsu bước khỏi Ghếtsêmani về phía những kẻ đang đến bắt mình. Có những điều trong đời, mãi nhiều năm sau ta mới hiểu phần nào. Cũng có điều đến chết chưa chắc ta hiểu. Nếu ta chỉ vâng khi đã hiểu hết, đó chưa phải vâng; đó là đồng ý sau khi đã được thuyết phục. Vâng phục có một vùng tối mà ở đó ta không còn dựa trên việc mình hiểu, nhưng dựa trên việc mình tin.
Nhưng vâng phục không tiêu diệt con người. Trái lại, vâng phục làm con người trở nên tự do. Nghe có vẻ nghịch lý: tại sao từ bỏ ý mình lại là tự do? Vì người bị ý riêng thống trị thật ra không tự do. Nếu mọi chuyện phải theo ý tôi thì tôi trở thành nô lệ cho hoàn cảnh. Người khác chỉ cần làm trái ý là tôi mất bình an. Một kế hoạch đổ vỡ là tôi sụp đổ. Một lời phê bình là tôi mất ngủ. Một quyết định không theo ý là tôi giận dữ. Một người không cư xử như mong muốn là tôi cay đắng. Ta tưởng mình mạnh vì luôn giữ ý mình, nhưng thật ra rất mong manh, vì bình an của ta nằm trong tay hàng trăm điều bên ngoài. Người tự do là người có thể nói: “Tôi mong điều này, nhưng nếu không có, tôi vẫn sống. Tôi thích nơi này, nhưng nếu phải đi, tôi đi. Tôi muốn được hiểu, nhưng nếu bị hiểu lầm, tôi vẫn không đánh mất căn tính. Tôi muốn thành công, nhưng nếu thất bại, tôi vẫn thuộc về Chúa.” Người như thế rất khó bị cuộc đời đánh bại, bởi điều quan trọng nhất của họ không nằm trong tay hoàn cảnh.
Cái chết của ý riêng không phải xảy ra một lần. Nó xảy ra từng ngày. Hôm nay trong một lời góp ý. Ngày mai trong một việc không được công nhận. Ngày kia trong việc phải chờ. Rồi trong chuyện phải để người khác làm theo cách khác mình. Trong việc không được nói lời cuối cùng. Trong một hiểu lầm mình không thể giải thích ngay. Trong một kế hoạch phải thay đổi. Trong việc phải công nhận mình sai. Những Thập Giá nhỏ ấy là Ghếtsêmani hằng ngày. Nếu ta không tập chết trong những chuyện nhỏ, đến khi chiếc chén lớn tới, ta sẽ rất khó nói lời xin vâng.
Một dấu chỉ cho thấy ý riêng đang quá lớn là ta mất bình an bất cứ khi nào người khác không làm theo mình. Ta có thể gọi đó là “nguyên tắc”, “trách nhiệm”, “nhiệt thành”, nhưng nếu cứ trái ý là nổi nóng, có lẽ không phải tất cả đều là nguyên tắc. Có khi cái tôi đang núp dưới áo của trách nhiệm. Một dấu chỉ khác là ta luôn cần thắng trong tranh luận. Một dấu chỉ nữa là ta rất khó nghe góp ý, đặc biệt từ người mình không đánh giá cao. Ta dễ nhận lời sửa từ người nổi tiếng, nhưng rất khó nhận từ một người bình thường. Ta dễ vâng điều mình đã đồng ý sẵn, nhưng khó vâng điều đụng đến sở thích. Ta thích hỏi ý kiến nhiều người cho đến khi gặp người nói điều mình muốn nghe. Những điều ấy nhỏ nhưng phơi bày nội tâm rất rõ.
Đức Giêsu ở Ghếtsêmani cho ta một con đường: nói thật điều mình muốn, đặt nó trước Chúa, ở lại trong cầu nguyện đủ lâu, rồi để tình yêu lớn hơn ý riêng. Người không hủy bỏ cảm xúc. Người vượt qua cảm xúc. Người không phủ nhận nỗi sợ. Người không để nỗi sợ quyết định. Đây là trưởng thành thiêng liêng. Ta không phải chờ đến khi không còn sợ mới vâng. Không phải chờ đến khi thấy thích mới đi. Không phải chờ đến khi hoàn toàn thanh thản mới làm điều đúng. Có khi lòng vẫn run mà chân vẫn bước. Có khi nước mắt vẫn chảy mà miệng vẫn nói xin vâng. Có khi trong lòng vẫn còn một ngàn câu hỏi mà tay vẫn mở ra. Chính ở đó, đức tin trở thành thật.
Nếu nhìn lại cuộc đời, có lẽ nhiều người sẽ nhận ra rằng những điều tốt đẹp nhất không phải lúc nào cũng đến từ những điều mình đã chọn. Có người từng thất vọng vì không được học nơi mình muốn, sau lại gặp một con đường khác tốt hơn. Có người từng khóc vì một cánh cửa đóng, sau mới thấy nếu cửa ấy mở mình có thể đã đi sai. Có người từng chống lại một sự thay đổi, nhiều năm sau lại biết ơn. Không phải cứ điều gì không theo ý ta cũng tự động là ý Chúa, nhưng kinh nghiệm ấy dạy ta khiêm nhường: cái nhìn của mình rất ngắn. Ta nhìn một đoạn. Chúa nhìn cả đường. Ta nhìn hiện tại. Chúa nhìn cả đời. Ta chỉ biết điều mình muốn; Chúa biết điều mình cần để trở thành người Ngài mời gọi.
Nhưng cũng có những điều ta chưa bao giờ hiểu và có lẽ sẽ không hiểu. Một đứa trẻ mất sớm. Một căn bệnh bất ngờ. Một người tốt chịu oan. Một lời cầu nguyện dường như không được đáp. Ở đó, người có đức tin không nên vội vàng tìm lời giải thích rẻ tiền. “Xin theo ý Cha” không phải là chiếc chìa khóa giải hết mọi bí ẩn. Nó là lời đặt mình vào tay Chúa ngay trong bí ẩn. Đức tin không luôn trả lời câu hỏi “tại sao”, nhưng cho ta một Người để nắm lấy khi không còn câu trả lời. Đức Giêsu không ra khỏi Ghếtsêmani với một bài giải thích. Người ra khỏi đó với một quyết định yêu đến cùng.
Đó chính là điều quan trọng nhất. Ý Cha cuối cùng là tình yêu. Không phải một thứ định mệnh lạnh lùng. Không phải một kịch bản máy móc. Ý Cha là để Đức Giêsu yêu cho đến cùng, cứu cho đến cùng, hiến mình cho đến cùng. Bởi vậy, cách an toàn nhất để tìm ý Chúa là hỏi: lựa chọn nào làm tôi yêu thật hơn? Không phải yêu theo cảm xúc, nhưng yêu trong sự thật. Điều gì làm tôi trung thành hơn? Điều gì giúp tôi trở nên khiêm nhường hơn, công bằng hơn, trong sạch hơn, có trách nhiệm hơn? Điều gì giúp tôi phục vụ thay vì sử dụng người khác? Điều gì giúp tôi gần Đức Kitô hơn, kể cả nếu điều đó làm cái tôi tôi nhỏ lại? Ý Chúa không thể dẫn ta đến ích kỷ, gian dối, bất công, trả thù, kiêu căng. Có thể con đường của Chúa khó, nhưng hoa trái của nó cuối cùng là sự sống.
Và rồi mỗi người sẽ có một chiếc chén mang tên riêng mình. Không ai uống thay ai được. Có chiếc chén của người phải tha thứ cho một tổn thương rất sâu. Chiếc chén của người phải xin lỗi sau nhiều năm tự ái. Chiếc chén của người phải từ bỏ một mối quan hệ biết là không đúng. Chiếc chén của người phải chăm sóc một người thân đau yếu quá lâu. Chiếc chén của người phải sống âm thầm khi từng quen được chú ý. Chiếc chén của người phải chấp nhận mình không thể cứu được tất cả mọi người. Chiếc chén của người mục tử phải tiếp tục yêu đoàn chiên trong những ngày mệt mỏi. Chiếc chén của người tu sĩ phải sống trung tín khi không còn cảm xúc ban đầu. Chiếc chén của người già là học buông. Chiếc chén của người trẻ là học chờ. Chiếc chén của người thành công là học khiêm nhường. Chiếc chén của người thất bại là không để thất bại định nghĩa mình. Chén nào cũng đắng theo cách của nó. Và Thiên Chúa không bắt ta giả vờ rằng nó ngọt. Người chỉ mời ta uống cùng với Đức Kitô.
Có thể một ngày trong nhà nguyện, ta không còn đủ lời để cầu. Không sao. Hãy mượn lời Đức Giêsu. “Lạy Cha, nếu có thể, xin cất điều này khỏi con.” Hãy nói thật. Nói tên nỗi đau. Nói điều mình sợ. Nói điều mình không muốn mất. Nói điều mình đang giận. Nói rằng mình chưa sẵn sàng. Thiên Chúa không sợ sự thật của ta. Rồi nếu có thể, thêm một câu thật chậm: “Nhưng xin đừng theo ý con.” Có khi nói đến đó đã khóc. Không sao. Rồi sau cùng: “Xin theo ý Cha.” Có thể hôm nay ta chưa nói được trọn vẹn. Hãy nói trong mức ta có thể. “Lạy Chúa, con muốn muốn điều Chúa muốn, nhưng hiện giờ con còn yếu. Xin làm cho con muốn điều ấy.” Đó cũng là cầu nguyện. Thiên Chúa biết con đường từ chống đối đến phó thác đôi khi rất dài.
Và đừng quên: ngay cả Đức Giêsu cũng không đi qua Ghếtsêmani mà không cần được tăng sức. Vậy ta đừng xấu hổ vì mình yếu. Vâng phục không phải là tỏ ra mạnh. Vâng phục là biết mình yếu mà vẫn đặt mình trong tay Cha. Có những ngày ta cần một thiên thần. Thiên thần ấy có thể là một người bạn gọi đúng lúc, một anh em trong cộng đoàn ngồi bên không nói gì, một câu Lời Chúa bỗng chạm đến lòng, một giờ chầu yên lặng, một người linh hướng, một lời khuyên ngay thẳng, một cử chỉ nhỏ của ai đó. Đừng từ chối những thiên thần Chúa gửi chỉ vì tự ái muốn chứng minh mình tự đi được.
Sau cùng, Ghếtsêmani không phải nơi Đức Giêsu thua. Đó là nơi Người chiến thắng trước khi trận chiến bên ngoài bắt đầu. Khi Giuđa đến, về căn bản quyết định đã được thực hiện. Khi quân lính bắt, Đức Giêsu không còn chạy trốn nữa. Khi đứng trước Thượng Hội Đồng, trước Philatô, khi mang Thập Giá, Người đã đi qua cuộc chiến quyết định nhất: “ý Con” và “ý Cha”. Canvê là điều mắt người ta nhìn thấy; Ghếtsêmani là nơi chiến thắng đã xảy ra trong âm thầm. Cuộc chiến lớn nhất đời ta cũng thường không diễn ra trước đám đông. Không ai vỗ tay khi ta bỏ một ý riêng. Không ai biết một đêm ta đã khóc bao lâu trước khi quyết định tha thứ. Không ai thấy cuộc chiến trong lòng khi ta chấp nhận một điều mình từng chống. Không ai trao huy chương cho người đã im lặng đúng lúc, nhường một bước, từ bỏ một tham vọng, chấp nhận sống âm thầm. Nhưng Thiên Chúa thấy. Và chính những chiến thắng kín đáo ấy làm nên một con người thuộc về Chúa.
Có lẽ cuối cùng, nên thánh không phải là làm được thật nhiều điều lạ lùng. Nên thánh là để Chúa được tự do làm điều Người muốn nơi đời mình. Cái khó không phải Chúa không có kế hoạch cho ta. Cái khó là ta đã có quá nhiều kế hoạch và không muốn Người sửa. Cái khó không phải Chúa không nói. Cái khó là ta chỉ muốn nghe khi Người nói điều ta thích. Cái khó không phải thánh ý Chúa quá xa. Nhiều lúc thánh ý ấy đang đứng rất gần trong một bổn phận trước mắt, một người cần được yêu, một lời cần phải xin lỗi, một trách nhiệm cần chu toàn, một điều cần buông, một sự thật cần chấp nhận.
“Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha.” Có lẽ đây là một trong những lời cầu nguyện nguy hiểm nhất, bởi nếu nói thật, đời ta có thể thay đổi. Nhưng cũng là một trong những lời cầu nguyện đẹp nhất, bởi từ giây phút ấy ta thôi bắt Thiên Chúa làm người phục vụ cho những dự án của mình và bắt đầu để Người thật sự là Chúa. Ta thôi hỏi Người chỉ một câu: “Chúa có thể giúp con đạt điều con muốn không?” và bắt đầu hỏi: “Chúa muốn làm gì nơi con?” Khi ấy đức tin bước sang một chiều sâu khác. Không còn chỉ là tin Chúa có thể cho ta điều này điều kia, nhưng tin rằng ngay cả khi Người không cho điều ta xin, Người vẫn là Cha. Không còn chỉ là theo Chúa vì Chúa dẫn đến nơi ta thích, nhưng theo Người vì chính Người là đường.
Lạy Chúa Giêsu trong vườn Ghếtsêmani, xin dạy chúng con cầu nguyện khi lòng mình rối bời. Xin dạy chúng con nói thật với Chúa Cha về điều mình muốn mà không biến điều mình muốn thành thần tượng. Xin cho chúng con đủ khiêm nhường để nhận ra đâu là thánh ý Chúa và đâu chỉ là ý riêng được khoác áo đạo đức. Xin cho chúng con đủ tự do để buông điều cần buông, đủ can đảm để giữ điều phải giữ, đủ sáng suốt để không gọi sự hèn nhát là vâng phục, cũng không gọi sự cứng đầu là trung thành. Xin cho chúng con biết phân định bằng Lời Chúa, bằng lương tâm ngay thẳng, bằng sự hướng dẫn của Giáo Hội, bằng lời khuyên của những người khôn ngoan, nhưng trên hết bằng một trái tim thật sự muốn thuộc về Chúa.
Lạy Chúa, có những chiếc chén chúng con đang xin Chúa cất đi. Chúa biết tên từng chiếc chén. Chúa biết những điều chúng con không nói được với ai. Chúa biết những đêm chúng con mất ngủ. Chúa biết điều chúng con đang sợ mất. Chúa biết người chúng con không thể buông. Chúa biết dự định chúng con tha thiết. Chúa biết vết thương chúng con chưa chấp nhận được. Nếu đẹp lòng Chúa, xin cất chén ấy. Chúng con vẫn xin như Đức Giêsu đã xin. Nhưng nếu con đường của chúng con phải đi qua đó, xin đừng để chúng con đi một mình. Xin gửi thiên thần đến tăng sức. Xin cho chúng con đủ sức cho ngày hôm nay, chứ không cần sức của cả đời trong một lần. Xin cho chúng con biết rằng nước mắt không phải dấu hiệu của thiếu đức tin, và run sợ không có nghĩa là không thể vâng phục.
Và khi mọi lời cầu xin đã nói hết, khi mọi lý luận đã cạn, khi chúng con không còn gì để nắm ngoài bàn tay Chúa, xin đặt vào môi chúng con lời của Con Chúa trong đêm Ghếtsêmani: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.” Xin cho chúng con nói lời ấy không phải như một kẻ tuyệt vọng đầu hàng số phận, nhưng như một người con đặt đời mình vào tay Cha. Vì chúng con tin rằng bàn tay ấy có thể dẫn qua đêm tối nhưng không bao giờ bỏ rơi; có thể dẫn qua Thập Giá nhưng cuối cùng dẫn tới Phục Sinh; có thể lấy khỏi tay chúng con một điều quý nhưng không bao giờ lấy khỏi chúng con chính tình yêu của Người. Và nếu một ngày chúng con không còn hiểu gì nữa, xin cho chỉ còn một điều chúng con vẫn hiểu: Cha yêu chúng con. Chừng ấy đủ để chúng con bước tiếp.
Bởi vì cuối cùng, đời Kitô hữu không phải là câu chuyện Thiên Chúa học cách làm theo ý ta, nhưng là cuộc hành trình rất dài trong đó trái tim ta học cách muốn điều Thiên Chúa muốn. Ban đầu ta cầu: “Lạy Chúa, xin đổi hoàn cảnh.” Rồi dần dần ta cầu: “Lạy Chúa, xin đổi người khác.” Sau nữa: “Lạy Chúa, xin đổi con.” Và đến một ngày, nếu ân sủng đủ lớn, ta chỉ còn có thể nói: “Lạy Cha, con không biết ngày mai sẽ thế nào. Con không biết con đường còn những gì. Con không biết chiếc chén nào đang chờ. Nhưng con biết Con Cha đã đi trước con qua Ghếtsêmani. Vì thế con xin trao điều con muốn, điều con sợ, điều con yêu, điều con chưa hiểu, cả đời con vào tay Cha. Không theo ý con. Nhưng theo ý Cha.”
Lm. Anmai, CSsR

GHẾTSÊMANI – NƠI ĐỨC KITÔ CHIẾN THẮNG TRƯỚC KHI LÊN CANVÊ
Tin Mừng: Mt 26,36-46
Có những chiến thắng người ta chỉ nhìn thấy khi mọi sự đã kết thúc. Người ta thấy một vận động viên bước lên bục nhận huy chương nhưng không thấy những buổi sáng anh thức dậy khi trời còn tối, không thấy những lần cơ thể đau nhức vẫn phải tiếp tục tập luyện, không thấy những lúc muốn bỏ cuộc mà vẫn cắn răng bước tiếp. Người ta thấy một con người đứng vững giữa giông bão nhưng không biết rằng trước đó, trong một căn phòng vắng, người ấy đã phải chiến đấu dữ dội với chính mình để không buông xuôi. Người ta thấy một người mẹ bình thản chăm sóc gia đình qua những tháng ngày gian nan nhưng không biết bao đêm bà đã khóc một mình. Người ta thấy một linh mục vẫn lên bàn thờ, vẫn giảng, vẫn cười với giáo dân, nhưng không biết có những lúc trong lòng ngài là cả một Ghếtsêmani. Có những chiến thắng không có tiếng vỗ tay. Có những chiến thắng không ai biết. Có những chiến thắng diễn ra trong thinh lặng, trong bóng tối, trong nước mắt, trong một lời cầu nguyện mà chỉ Thiên Chúa nghe thấy. Và nếu Canvê là nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh trước mắt thiên hạ, thì Ghếtsêmani chính là nơi Người đã chiến thắng trong nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn. Trước khi đôi tay bị đóng vào gỗ, Người đã trao ý riêng của mình cho Chúa Cha. Trước khi thân xác bị quân lính bắt giữ, Người đã tự nguyện đặt cuộc đời mình trong tay Cha. Trước khi nói trên Thập Giá: “Mọi sự đã hoàn tất”, Người đã nói trong vườn cây dầu: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha.” Chính ở đó, trong đêm tối, chiến thắng đã bắt đầu.
Tin Mừng Matthêu kể rằng sau bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đưa các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghếtsêmani. Người nói với họ: “Anh em ngồi lại đây, còn Thầy đến đằng kia cầu nguyện.” Người đem Phêrô và hai người con ông Dêbêđê đi theo. Và rồi Tin Mừng ghi một câu rất đau: Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến. Người nói với họ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” Chúng ta đã quen nhìn Đức Giêsu như Đấng làm phép lạ, Đấng khiến bão tố yên lặng, Đấng chữa lành người bệnh, Đấng gọi người chết sống lại, Đấng mạnh mẽ đối diện với những kẻ chống đối. Nhưng đêm nay, Tin Mừng cho chúng ta nhìn thấy một Đức Giêsu khác: Người buồn. Người xao xuyến. Người sợ hãi. Người cần sự hiện diện của bạn hữu. Người thốt lên rằng tâm hồn mình buồn đến chết được. Đó không phải là một màn kịch. Đó không phải là sự yếu đuối giả tạo để dạy chúng ta một bài học. Đó là nỗi đau thật của một con người thật. Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, nhưng Người cũng là người thật. Người không bước vào cuộc thương khó với một thân thể vô cảm và một trái tim bằng đá. Người biết cái chết đang đến. Người biết những roi đòn. Người biết sự nhục nhã. Người biết những cái tát. Người biết vòng gai. Người biết những tiếng chửi rủa. Người biết những chiếc đinh. Người biết sự cô độc. Người biết cả cảm giác bị bỏ rơi. Và hơn tất cả những đau đớn thể xác, Người còn mang trên mình sức nặng của tội lỗi nhân loại. Người vô tội nhưng bước vào nơi tối tăm nhất của thân phận tội nhân. Vì thế, chén mà Người sắp uống không phải là một chén nhỏ.
Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Đây có lẽ là một trong những lời cầu nguyện thật nhất của Đức Giêsu. Người không che giấu nỗi sợ. Người không giả vờ mạnh mẽ. Người không nói rằng đau khổ chẳng là gì. Người cũng không coi nhẹ cái chết. Người nói thật với Cha: nếu có thể, xin cho Con khỏi uống chén này. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng vâng phục là không được có cảm xúc, không được sợ, không được buồn, không được muốn điều khác. Không phải. Vâng phục Kitô giáo không biến con người thành một cỗ máy không có ý muốn. Chính Đức Giêsu cũng có một ý muốn nhân loại thực sự. Người không muốn đau khổ vì đau khổ tự nó không phải là điều đáng yêu. Người không yêu cây thập giá vì cây gỗ. Người không yêu đinh sắt vì đinh sắt. Người không yêu roi đòn vì roi đòn. Người yêu Chúa Cha. Người yêu nhân loại. Và vì tình yêu ấy, Người chấp nhận con đường mà Cha muốn Người đi. Đây là điều rất quan trọng: Đức Giêsu không chiến thắng bằng cách không còn muốn gì nữa; Người chiến thắng bằng cách trao điều mình muốn cho Cha. Người không tiêu diệt ý riêng; Người dâng ý riêng. Người không giả bộ rằng mình không đau; Người đem chính nỗi đau đó vào trong lời cầu nguyện. Người không trốn khỏi cuộc chiến nội tâm; Người đi xuyên qua nó bằng một lời: “Xin theo ý Cha.”
Có lẽ trong đời sống đức tin, chúng ta thường nghĩ những trận chiến lớn nhất nằm bên ngoài: tiền bạc, bệnh tật, thử thách, chống đối, thất bại, hiểu lầm, những người làm chúng ta đau. Nhưng nhiều khi trận chiến quyết liệt nhất lại nằm ngay bên trong lòng mình, giữa điều tôi muốn và điều Thiên Chúa muốn; giữa kế hoạch của tôi và con đường của Chúa; giữa cái tôi muốn giữ lại và điều Chúa đang mời gọi tôi buông ra; giữa tự ái của tôi và đòi hỏi của Tin Mừng; giữa sự an toàn của tôi và sứ mạng Chúa trao. Canvê bên ngoài thường bắt đầu từ Ghếtsêmani bên trong. Không ai vác được thập giá bằng bình an nếu trước đó chưa có lúc quỳ xuống trong vườn cây dầu của đời mình. Không ai có thể nói “xin vâng” trước những biến cố lớn nếu mỗi ngày chưa tập chết đi một chút cho ý riêng của mình. Đức Giêsu đã thắng ở Ghếtsêmani nên Người mới có thể bước ra gặp Giuđa và những người đến bắt Người mà không chạy trốn. Người đã thắng trong cầu nguyện nên Người mới có thể bình thản trước Philatô. Người đã thắng ý riêng nên trên Canvê không còn lời nguyền rủa, chỉ còn lời tha thứ. Người đã đặt mình trong tay Cha nên khi mọi sự bị lấy khỏi tay mình, Người vẫn còn Cha. Người đã dâng ý muốn của mình nên khi bị tước áo, tước danh dự, tước tự do, tước cả mạng sống, Người vẫn không bị ai cướp mất được điều quan trọng nhất: sự kết hiệp với Cha.
Chúng ta nên để ý một điều rất đẹp mà cũng rất đau trong Ghếtsêmani: Đức Giêsu cầu nguyện không phải một lần. Người cầu nguyện, trở lại với các môn đệ, thấy họ ngủ. Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu Con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.” Rồi Người trở lại và lại thấy họ ngủ. Sau đó Người lại đi cầu nguyện lần thứ ba, vẫn nói những lời ấy. Ba lần. Điều này an ủi chúng ta rất nhiều. Có những quyết định dâng mình cho Chúa không phải chỉ nói một lần là xong. Có những điều sáng nay chúng ta đã dâng cho Chúa, chiều lại muốn lấy về. Có những nỗi đau hôm qua chúng ta tưởng đã chấp nhận, hôm nay lại nổi lên. Có những tha thứ chúng ta phải tha lại nhiều lần. Có những tiếng “xin vâng” phải được lặp đi lặp lại trong nước mắt. Có những thập giá mỗi ngày thức dậy là phải ôm lại từ đầu. Đức Giêsu không coi việc lặp lại lời cầu nguyện là thất bại. Người trở lại với Cha. Một lần chưa đủ, Người trở lại. Hai lần chưa đủ, Người trở lại. Người ở lại trong cuộc đối thoại với Cha cho đến khi trái tim hoàn toàn đi vào ý Cha. Đời sống thiêng liêng nhiều khi không phải là có một cảm xúc mạnh rồi mọi chuyện thay đổi vĩnh viễn. Đời sống thiêng liêng là mỗi ngày trở lại, mỗi ngày dâng lại, mỗi ngày nói lại: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.”
Ta thử nhìn vào chính mình. Có lẽ chúng ta cũng có những chén mà mình không muốn uống. Chén của một căn bệnh kéo dài. Chén của tuổi già. Chén của một gia đình không được như mình mong. Chén của một người con khiến cha mẹ đau lòng. Chén của một cuộc hôn nhân đang phải đi qua thời kỳ khô cằn. Chén của sự thất bại. Chén của một lời vu khống. Chén của một người thân qua đời quá sớm. Chén của những dự định không thành. Chén của cô đơn. Chén của một sứ vụ không đem lại kết quả như mong đợi. Chén của việc phải sống và phục vụ với một người mình không hợp. Chén của sự giới hạn nơi chính mình. Chén của một quá khứ không thể thay đổi. Chúng ta cầm những chén đó và cầu xin Chúa lấy đi. Không có gì sai cả. Đức Giêsu cũng đã xin. Đức tin không buộc chúng ta phải yêu đau khổ. Ta có thể xin Chúa chữa bệnh. Ta có thể xin Chúa thay đổi hoàn cảnh. Ta có thể xin Chúa mở một cánh cửa khác. Ta có thể xin Chúa cho mình được nhẹ gánh. Nhưng trưởng thành đức tin bắt đầu khi sau tất cả những lời xin ấy, ta còn có thể nói thêm: “Nhưng nếu điều này vẫn phải ở lại, xin cho con biết sống nó với Chúa. Nếu chén này không cất đi, xin cho con biết uống nó cùng với Đức Kitô. Nếu cánh cửa con mong không mở, xin mở trái tim con. Nếu hoàn cảnh không thay đổi, xin thay đổi con. Nếu ý con không thành, xin cho ý Cha thành trong con.”
Đó là lời cầu nguyện rất khó. Nói “xin ý Cha được thể hiện” khi ý Cha trùng với ý mình thì dễ. Khi ta xin một điều và nhận được điều đó, ta dễ nói Chúa tốt lành. Khi ta tìm một việc và có việc, ta nói Chúa quan phòng. Khi ta cầu cho người bệnh và người ấy khỏi, ta nói Chúa nhậm lời. Nhưng Ghếtsêmani dạy chúng ta bước vào một tầng sâu hơn của đức tin: Chúa vẫn là Cha khi chén không được cất đi. Chúa vẫn yêu Con Một ngay cả khi Con Một phải bước lên Canvê. Điều này chạm đến một trong những hiểu lầm lớn nhất của chúng ta về tình yêu Thiên Chúa. Ta thường nghĩ: nếu Chúa thương tôi, Chúa phải làm đời tôi dễ hơn; nếu Chúa thương tôi, Chúa phải tránh cho tôi đau; nếu Chúa thương tôi, Chúa phải đáp lời theo cách tôi muốn. Nhưng đêm Ghếtsêmani nói với chúng ta rằng tình yêu của Chúa Cha dành cho Đức Giêsu không hề giảm đi dù chén không được cất khỏi Người. Có những lúc Chúa cứu ta khỏi thử thách. Có những lúc Chúa cứu ta ngay trong thử thách. Có những lúc Chúa thay đổi hoàn cảnh. Có những lúc Chúa làm một điều lớn hơn: Người làm cho ta trở thành một con người khác khi đi xuyên qua hoàn cảnh ấy.
Vâng phục, vì thế, không phải là thụ động. Vâng phục không phải là buông tay mặc kệ. Vâng phục không phải là “sao cũng được”. Đức Giêsu trong Ghếtsêmani không thờ ơ. Người “buồn đến chết được”. Người cầu nguyện đến tận cùng. Người nói ra mong muốn của mình. Nhưng rồi Người đặt mong muốn ấy dưới tình yêu và sự khôn ngoan của Cha. Đây là phân định thật sự. Phân định không phải là tìm cách làm cho ý Chúa giống với ý mình. Nhiều khi chúng ta cầu nguyện rất lâu nhưng thực ra chỉ để xin Chúa ký tên vào kế hoạch đã viết sẵn. Ta quyết định rồi mới cầu nguyện. Ta muốn rồi mới xin Chúa ban phép lành. Ta chọn rồi mới hỏi Chúa có đồng ý không. Đó không phải là phân định. Phân định bắt đầu khi tôi thật sự sẵn sàng cho khả năng rằng Chúa có thể muốn một điều khác với tôi. Khi trong lòng tôi còn nói: “Lạy Chúa, con cầu nguyện nhưng cuối cùng Chúa phải cho con điều này”, thì tôi vẫn đang tìm ý mình. Chỉ khi có thể nói: “Lạy Chúa, con rất muốn điều này, nhưng nếu điều này không dẫn con đến gần Chúa, xin lấy nó đi; con rất sợ điều kia, nhưng nếu đó là con đường Chúa muốn con đi, xin cho con đủ sức”, lúc ấy ta mới thật sự bước vào Ghếtsêmani.
Trong đời tận hiến, Ghếtsêmani lại càng là một trường học không thể tránh. Người tu sĩ có thể đã bỏ nhà cửa, gia đình, tài sản, nghề nghiệp, những dự định riêng để bước theo Chúa. Nhưng có một thứ đôi khi bỏ khó hơn tất cả: ý riêng. Ta có thể không có nhiều tiền nhưng vẫn giữ rất chặt ý của mình. Ta có thể sống khiết tịnh nhưng rất khó để người khác đụng đến tự ái. Ta có thể vâng lời bên ngoài nhưng bên trong vẫn cay đắng, chống đối, so đo. Ta có thể làm điều bề trên yêu cầu nhưng cả ngày kể cho mọi người nghe rằng mình không đồng ý. Vâng phục Kitô giáo không chỉ là cơ thể ở đúng nơi; đó là trái tim được uốn vào trái tim của Đức Kitô. Điều này không có nghĩa người tu sĩ không được trình bày ý kiến, không được phân định, không được nói ra những khó khăn. Đức Giêsu cũng đã nói: “Nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này.” Nhưng cuối cùng, Người đặt mình trong tay Cha. Người tận hiến không phải là người không có ý kiến. Người tận hiến là người biết rằng ý kiến của mình không phải là thần tượng cuối cùng.
Đời linh mục cũng có rất nhiều Ghếtsêmani. Khi còn trẻ, người ta có thể tưởng chức linh mục là những ngày lễ đẹp, những bài giảng, những người gọi mình bằng “cha”, những niềm vui phục vụ. Nhưng rồi dần dần sẽ gặp những chén không ngờ tới. Có khi là một nơi mình không muốn đến. Một công việc mình không thích. Một cộng đoàn khó sống. Một hiểu lầm không thể giải thích. Một lời phê bình làm đau. Một lần bị thay đổi nhiệm sở khi mình đang gắn bó. Một chương trình mình dồn bao công sức rồi không thành. Có lúc còn là cảm giác mình đã cho rất nhiều nhưng chẳng ai hiểu. Và khi đó câu hỏi không còn là: “Tại sao Chúa gọi con?” mà trở thành: “Con có còn để Chúa dẫn con không?” Bởi vì ngày truyền chức, một linh mục không chỉ dâng đôi tay cho Chúa để cử hành Thánh Thể; ngài còn phải học dâng cả ý riêng. Có khi ta rất sẵn sàng dâng một giờ để làm lễ nhưng không sẵn sàng dâng một tổn thương. Ta sẵn sàng trao Mình Thánh cho người khác nhưng lại khó trao cho Chúa một điều mình đang cố giữ. Ghếtsêmani nhắc mỗi linh mục rằng: đời mình chỉ thật sự thuộc về Chúa khi không chỉ công việc thuộc về Chúa mà cả ý muốn cũng dần thuộc về Chúa.
Gia đình cũng có Ghếtsêmani. Ngày cưới người ta nói với nhau những lời rất đẹp. Nhưng tình yêu thật sẽ đến lúc phải đi qua câu “xin đừng theo ý con”. Hai người không thể sống chung lâu dài nếu ai cũng chỉ muốn người kia theo ý mình. Bao gia đình tan vỡ không hẳn vì hết yêu ngay từ đầu, mà vì không ai chịu chết đi cho cái tôi. Ai cũng muốn thắng. Ai cũng muốn đúng. Ai cũng muốn lời cuối cùng thuộc về mình. Nhưng có những cuộc hôn nhân được cứu không phải khi một người thắng lý lẽ, mà khi một người thắng chính mình. Có lúc câu quan trọng nhất không phải “ai đúng?” mà là “điều gì giữ được tình yêu?” Có lúc phải xin lỗi dù mình cũng bị tổn thương. Có lúc phải im đi dù có thể cãi tiếp. Có lúc phải bước tới trước dù mình nghĩ người kia đáng lẽ phải bước tới. Đó là những Ghếtsêmani nhỏ. Và mỗi lần cái tôi chết đi vì tình yêu, một chút sự sống lại xuất hiện trong gia đình.
Một điểm rất đau trong Ghếtsêmani là Đức Giêsu không chỉ phải chiến đấu với nỗi sợ của mình, Người còn phải chiến đấu trong cô đơn. Người xin các môn đệ: “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” Một lời xin rất người. Thầy không xin họ chịu thay mình. Thầy chỉ xin họ thức với Thầy. Nhưng họ ngủ. Người trở lại và hỏi Phêrô: “Thế ra anh em không thể canh thức với Thầy một giờ sao?” Một giờ thôi. Nhưng họ không làm được. Đến lúc Người cần họ nhất, họ ngủ. Có những nỗi đau như thế. Ta không đòi ai giải quyết vấn đề cho mình, ta chỉ mong một người ở bên. Ta không cần lời khuyên, chỉ cần một người nghe. Ta không cần họ mang thập giá thay, chỉ cần họ đừng bỏ đi. Nhưng rồi có khi đúng lúc mình cần nhất, người ta lại không có mặt. Có những người đã từng nói yêu ta nhưng khi ta đau thì họ biến mất. Có những người từng hứa đồng hành nhưng khi hoàn cảnh khó khăn thì họ rút lui. Có những lúc người ta ngủ trong khi ta thức với nỗi đau. Ghếtsêmani nói với bất cứ ai đang cô đơn rằng: Đức Giêsu biết cảm giác ấy. Người đã từng quay lại và thấy những người thân cận nhất đang ngủ.
Nhưng điều lạ lùng là sự yếu đuối của các môn đệ không làm Đức Giêsu bỏ sứ mạng. Người không nói: “Nếu các anh không thức với tôi thì tôi cũng thôi.” Người không đặt sự trung thành của mình trên sự trung thành của người khác. Đây là một bài học lớn. Đôi khi chúng ta sống tốt khi người khác sống tốt với mình. Ta trung thành nếu người kia trung thành. Ta tử tế nếu người kia tử tế. Ta phục vụ nếu được ghi nhận. Ta tiếp tục nếu có người ủng hộ. Nhưng Đức Giêsu thì không. Các môn đệ ngủ, Người vẫn cầu nguyện. Các môn đệ bỏ chạy, Người vẫn đi đến cùng. Phêrô chối, Người vẫn yêu Phêrô. Đám đông chế nhạo, Người vẫn tha thứ. Đức Giêsu không để sự yếu đuối của người khác quyết định mình sẽ trở thành người thế nào. Đó là tự do của một trái tim hoàn toàn thuộc về Cha.
Và khi cầu nguyện xong, Đức Giêsu nói: “Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới.” Câu này rất đẹp. Trước khi cầu nguyện, Người buồn rầu xao xuyến, sấp mặt xuống đất. Sau khi cầu nguyện, hoàn cảnh không thay đổi. Giuđa vẫn đến. Quân lính vẫn đến. Thập giá vẫn chờ. Chén vẫn phải uống. Nhưng Đức Giêsu đã thay đổi trong cách Người bước vào hoàn cảnh đó. Người đứng dậy. “Ta đi nào.” Cầu nguyện đích thực không phải lúc nào cũng làm biến mất điều đang đe dọa ta. Cầu nguyện làm cho ta có thể đứng dậy để bước vào điều ấy với Chúa. Chúng ta thường đánh giá lời cầu nguyện bằng việc vấn đề có được giải quyết không. Nhưng Ghếtsêmani cho một thước đo khác: sau khi cầu nguyện, ta có đứng dậy được không? Ta có bình an hơn không? Ta có đủ sức bước tiếp không? Ta có bớt cay đắng không? Ta có thể tin rằng dù phía trước là một con đường rất khó, Cha vẫn ở đó không? Nếu có, lời cầu nguyện đã sinh hoa trái.
Có khi phép lạ lớn nhất không phải là chén biến mất, mà là một con người run sợ có thể đứng dậy và nói: “Ta đi nào.” Có khi phép lạ không phải bệnh khỏi, mà là người bệnh có một bình an không ai hiểu được. Có khi phép lạ không phải người làm ta đau thay đổi, mà là ta không còn để sự cay đắng của họ biến mình thành cay đắng. Có khi phép lạ không phải cánh cửa mở, mà là ta thôi đập đầu vào cánh cửa đã đóng và bắt đầu nhận ra một con đường khác. Có khi phép lạ không phải lấy thập giá khỏi vai ta, mà là làm cho vai ta mạnh hơn và trái tim ta mềm hơn trong khi vác nó.
Nhìn vào Ghếtsêmani, ta hiểu rằng chiến thắng của Đức Kitô không bắt đầu khi mồ trống. Nó đã bắt đầu khi Người nói “xin vâng”. Phục Sinh đi qua Canvê, nhưng Canvê đã đi qua Ghếtsêmani. Một con người chỉ thật sự tự do khi có thể dâng ý riêng cho Thiên Chúa. Thế gian thường gọi tự do là làm điều mình muốn. Tin Mừng gọi tự do là không còn bị điều mình muốn làm chủ. Một người nghiện phải làm điều mình muốn nhưng không hề tự do. Một người đầy tự ái phải bảo vệ cái tôi bằng mọi giá nhưng không tự do. Một người lúc nào cũng phải thắng, phải được khen, phải được công nhận, phải làm theo ý mình, tưởng là mạnh nhưng thực ra đang bị chính cái tôi xiềng lại. Đức Giêsu tự do tuyệt đối vì Người có thể nói: “Con muốn điều này, nhưng Con chọn Cha.” Đó là đỉnh cao của tự do.
Có lẽ điều chúng ta cần xin Chúa không phải chỉ là cho mình thoát khỏi mọi thập giá, nhưng là cho mình có một Ghếtsêmani đúng nghĩa. Một nơi mỗi ngày ta có thể đem ý riêng đến trước mặt Cha. Một khoảng thinh lặng để hỏi: điều gì thật sự là ý Chúa? Một giờ cầu nguyện mà trong đó ta thôi điều khiển Thiên Chúa. Một khoảnh khắc ta dám nói thật: “Lạy Chúa, con không muốn điều này. Con sợ. Con đau. Con thấy quá sức. Con mong một con đường khác.” Và rồi vẫn ở lại đủ lâu để lời cuối cùng không phải là nỗi sợ, mà là lòng tin: “Nhưng xin đừng theo ý con.”
Đừng tưởng câu ấy chỉ dành cho những người thánh thiện. Chính câu ấy làm người ta nên thánh. Không ai sinh ra đã biết từ bỏ ý riêng. Ta học từng chút. Hôm nay nhịn một lời. Ngày mai chấp nhận một điều trái ý. Một ngày khác tha thứ một người. Có lúc từ bỏ một cơ hội vì lương tâm. Có lúc dừng một tham vọng vì nhận ra nó làm mình xa Chúa. Có lúc chọn chăm sóc cha mẹ già thay vì chỉ nghĩ đến sự tiện lợi của mình. Có lúc nói không với điều có lợi nhưng không đúng. Có lúc chấp nhận rằng mình không còn trẻ, không còn khỏe, không còn làm được những gì trước đây. Mỗi lần ấy là một Ghếtsêmani. Và nếu sống với Đức Kitô, những cái chết nhỏ ấy không làm đời ta nghèo đi; chúng làm cho đời ta tự do hơn.
Cũng đừng quên rằng “xin theo ý Cha” không có nghĩa là gọi mọi đau khổ là ý Chúa. Có những đau khổ do tội lỗi, bất công, bạo lực, sự ích kỷ con người gây ra và chúng ta phải chống lại. Đức Giêsu không dạy ta cam chịu điều ác. Người đã lên án giả hình, bênh vực người bị áp bức, chữa lành bệnh nhân, giải thoát người bị trói buộc. Ý Cha không phải là con người hành hạ Con của Người; ý Cha là Con vẫn yêu đến cùng ngay giữa sự dữ. Đây là điều rất cần phân biệt. Không phải mọi thập giá đều do Chúa gửi. Nhưng không có thập giá nào mà Chúa không thể bước vào và biến đổi nếu ta đặt nó trong tay Người. Chúa không tạo nên mọi vết thương, nhưng Người có thể làm cho vết thương trở thành nơi ân sủng đi qua. Chúa không muốn phản bội, nhưng từ sự phản bội của Giuđa, Người vẫn đi đến công trình cứu độ. Chúa không muốn sự độc ác của con người, nhưng Người không để sự độc ác ấy có lời cuối cùng.
Có lẽ chiều sâu nhất của Ghếtsêmani nằm ở chữ “Cha”. “Lạy Cha, nếu có thể…” Đức Giêsu không phó mình cho một định mệnh mù quáng. Người không cúi đầu trước một quyền lực lạnh lùng. Người trao mình cho Cha. Vâng phục Kitô giáo chỉ hiểu được trong tương quan yêu thương ấy. Nếu ta nghĩ Thiên Chúa như một ông chủ khó tính, câu “xin theo ý Chúa” sẽ làm ta sợ. Nhưng nếu Thiên Chúa là Cha, câu ấy trở thành một hành vi tín thác. Đứa trẻ có thể không hiểu tại sao cha mẹ không cho nó điều nó muốn, nhưng nếu nó tin cha mẹ yêu mình, nó có thể chấp nhận. Chúng ta cũng vậy. Có những điều về cuộc đời mình ta không bao giờ hiểu hết ở đời này. Có những câu hỏi sẽ không có câu trả lời trọn vẹn bên này sự chết. Nhưng đức tin không phải là hiểu hết rồi mới trao mình. Đức tin là không hiểu hết nhưng biết mình đang trao vào tay Ai.
Trong giờ phút tối nhất, Đức Giêsu không hiểu theo kiểu con người rằng tất cả đau khổ sắp tới sẽ diễn ra cụ thể thế nào, nhưng Người biết Cha. Đó là đủ. Có lúc chúng ta cũng chỉ còn lại điều ấy. Ta không biết ngày mai ra sao. Ta không biết bệnh tình sẽ thế nào. Ta không biết người con có trở về không. Ta không biết gia đình có vượt qua khủng hoảng không. Ta không biết sứ vụ sẽ đi về đâu. Ta không biết mình còn đủ sức bao lâu. Nhưng ta biết Cha. Và có những lúc đức tin không còn là cầm trong tay câu trả lời; đức tin chỉ là nắm lấy bàn tay của Cha trong bóng tối.
Nếu hôm nay ai đó đang ở trong một Ghếtsêmani, đừng vội nghĩ mình đã mất đức tin chỉ vì mình đang buồn. Đức Giêsu đã buồn. Đừng nghĩ mình yếu đuối chỉ vì phải khóc. Đức Giêsu đã xao xuyến. Đừng nghĩ lời cầu nguyện của mình kém chỉ vì phải lặp lại. Đức Giêsu đã cầu nguyện ba lần. Đừng nghĩ Chúa bỏ mình chỉ vì chén chưa được cất đi. Chén của Đức Giêsu cũng không được cất. Điều quan trọng không phải là ta không bao giờ run, mà là khi run vẫn còn gọi được “Cha”. Không phải là không bao giờ muốn chạy, mà là cuối cùng vẫn có thể đứng lên. Không phải là không có ý riêng, mà là có thể đặt ý riêng trong tay Thiên Chúa.
Và nếu hôm nay ta chưa nói được trọn vẹn “xin theo ý Cha”, hãy bắt đầu bằng một lời nhỏ hơn: “Lạy Chúa, con muốn muốn điều Chúa muốn.” Có khi ngay cả điều ấy cũng đủ để mở ra một con đường. Nếu chưa thể vui vẻ đón nhận thập giá, hãy xin Chúa giúp mình đừng chạy khỏi Người. Nếu chưa thể nói lời cảm tạ, hãy chỉ ở lại. Nếu chưa đủ mạnh để bước nhanh, hãy bước chậm. Đức Giêsu không khinh một trái tim đang vật lộn. Người đã từng vật lộn trong Ghếtsêmani. Người hiểu.
Rồi một ngày, khi nhìn lại, có thể chúng ta sẽ nhận ra rằng những chiến thắng quan trọng nhất của đời mình không phải là lúc người khác khen mình, không phải lúc mình đạt thành công, không phải lúc mình có nhiều hơn, nhưng là những đêm không ai biết, khi trong nước mắt ta đã nói: “Thôi, lạy Chúa, con trao điều này cho Chúa.” Có thể đó là đêm ta quyết định tha thứ. Có thể là ngày ta chấp nhận một sự thật đau lòng. Có thể là lúc ta bỏ một mối quan hệ không đúng. Có thể là lúc ta thôi cố kiểm soát một người con trưởng thành. Có thể là lúc ta buông một tham vọng. Có thể là lúc ta chấp nhận bệnh tật. Có thể là lúc ta nói với Chúa: “Con không hiểu, nhưng con tin.”
Đó là chiến thắng Ghếtsêmani. Không có tiếng kèn. Không có đám đông. Không có vòng nguyệt quế. Chỉ có một người quỳ trong đêm và một lời thưa với Cha. Nhưng chính từ lời thưa ấy, lịch sử cứu độ đi đến Canvê rồi mở ra buổi sáng Phục Sinh. Cũng thế, nhiều cuộc phục sinh trong đời ta sẽ bắt đầu từ những lần rất âm thầm ta chịu chết đi cho ý riêng. Ta sẽ không phục sinh nếu cứ ôm chặt mọi thứ. Hạt lúa phải rơi xuống đất. Đức Kitô phải trao mình. Người môn đệ cũng phải học trao mình.
Xin cho mỗi người chúng ta có can đảm bước vào Ghếtsêmani của đời mình. Xin cho ta đừng bỏ chạy mỗi khi ý Chúa khác ý mình. Xin cho ta biết cầu nguyện đủ lâu để nỗi sợ không có lời cuối cùng. Xin cho ta biết phân định để không gọi ý riêng là ý Chúa, cũng không gọi mọi đau khổ là ý Chúa. Xin cho ta biết nhìn lên Đức Giêsu đang sấp mình trong vườn cây dầu và học nơi Người điều khó nhất nhưng cũng đẹp nhất của người môn đệ: trao tự do của mình vào trong tự do của Thiên Chúa, trao kế hoạch của mình vào trong sự khôn ngoan của Cha, trao điều mình yêu quý vào tay Đấng yêu mình hơn chính mình có thể yêu.
Và nhất là, xin cho ta nhớ rằng trước mọi Canvê đều có một Ghếtsêmani. Trước mỗi lần phải vác thập giá bên ngoài, hãy để Chúa giúp ta chiến thắng bên trong. Trước khi đối diện với người làm ta đau, hãy cầu nguyện. Trước khi quyết định một việc lớn, hãy cầu nguyện. Trước khi nói một lời có thể làm thay đổi một mối quan hệ, hãy cầu nguyện. Trước khi buông xuôi, hãy cầu nguyện. Trước khi chống lại điều trái ý, hãy cầu nguyện. Không phải để bắt Thiên Chúa đổi ý, nhưng để lòng ta đủ mềm cho ý Người đi vào. Không phải để mọi chén đều được cất đi, nhưng để dù phải uống, ta vẫn biết mình không uống một mình.
Ghếtsêmani dạy chúng ta rằng người mạnh nhất không phải là người không bao giờ cúi xuống. Người mạnh nhất là người biết sấp mình trước mặt Thiên Chúa để rồi có thể đứng thẳng trước mọi thử thách. Người chiến thắng không phải là người luôn làm được điều mình muốn, nhưng là người có thể nói với Chúa: “Điều con muốn, con trao cho Cha; điều Cha muốn, xin làm thành sự trong con.” Khi lời ấy thành thật bật ra từ tận đáy lòng, có thể Canvê vẫn ở phía trước, nhưng chiến thắng đã bắt đầu rồi.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ BẮT ĐẦU TỪ HAI CHỮ “XIN VÂNG”
Tin Mừng: Mt 26,39
“Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng: ‘Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.’”
Có lẽ khi nói đến Thập Giá, người ta thường nghĩ ngay đến đồi Canvê, đến cây gỗ nặng trên vai Đức Giêsu, đến những chiếc đinh xuyên qua tay chân, đến vòng gai, đến máu, đến sự nhục nhã, đến tiếng chế giễu, đến ba giờ hấp hối giữa trời và đất. Nhưng nếu chỉ bắt đầu nhìn Thập Giá từ Canvê thì có lẽ chúng ta đã bắt đầu hơi muộn. Thập Giá của Đức Giêsu đã bắt đầu từ trước khi cây gỗ được đặt lên vai Người. Nó đã bắt đầu trong một khu vườn tối, giữa một đêm thật dài, khi những người thân tín nhất đang ngủ, khi kẻ phản bội đang dẫn đoàn người cầm gươm giáo đến bắt Người, và khi Đức Giêsu một mình quỳ xuống trước mặt Cha để nói một câu mà có lẽ cả đời Kitô hữu chúng ta phải học mãi vẫn chưa thuộc: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Canvê chỉ là nơi thân xác Đức Giêsu bị đóng đinh; Ghếtsêmani mới là nơi ý riêng của Người được đặt hoàn toàn trong ý Cha. Đinh trên Canvê xuyên qua bàn tay; nhưng lời “xin vâng” ở Ghếtsêmani đã xuyên qua tận chiều sâu của một trái tim nhân loại. Và chính ở đó, cuộc hiến tế đã thực sự bắt đầu.
Có những thập giá chúng ta nhìn thấy được: bệnh tật, thất bại, tuổi già, hiểu lầm, cô đơn, mất mát, những trách nhiệm nặng nề, những người khó sống bên cạnh, những hoàn cảnh không thể thay đổi. Nhưng cũng có một thập giá kín đáo hơn, sâu hơn, đau hơn mà ít ai nhìn thấy: đó là thập giá phải từ bỏ ý riêng. Có khi một người có thể chịu khó, chịu nghèo, chịu cực rất giỏi, nhưng lại không chịu nổi khi ý mình không được chấp nhận. Có người có thể làm rất nhiều việc cho Chúa, nhưng nếu người khác không làm theo cách của mình thì khó chịu. Có người có thể hy sinh tiền bạc, thời gian, sức lực, nhưng không chịu hy sinh một quan điểm. Có người có thể nhịn ăn, thức khuya, làm việc vất vả, nhưng lại không thể nhịn một lời khi bị góp ý. Có người có thể bỏ gia đình để vào nhà tu, nhưng mang nguyên cả cái tôi vào trong cộng đoàn. Có người bỏ nghề nghiệp, bỏ tài sản, bỏ tương lai riêng, nhưng vẫn giữ chặt ý riêng như món tài sản cuối cùng không ai được phép chạm tới. Và đôi khi chính món tài sản cuối cùng ấy lại là điều Chúa muốn chúng ta đặt xuống trước chân Người.
Đời tu thường được nói đến bằng ba lời khấn: khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Trong ba lời ấy, có lẽ vâng phục là lời khấn ít gây ấn tượng bên ngoài nhưng lại chạm sâu nhất vào cái tôi. Khó nghèo đụng đến những gì tôi có. Khiết tịnh đụng đến những tình cảm tôi muốn trao và muốn nhận. Nhưng vâng phục đụng thẳng vào chính điều tôi muốn. Nó đi vào nơi rất sâu của con người, nơi tôi muốn tự quyết định đời mình, muốn chứng minh mình đúng, muốn chọn con đường mình thích, muốn làm điều hợp với suy nghĩ của mình, muốn người khác hiểu và công nhận mình. Vì thế, có thể sống trong một căn phòng nghèo mà lòng vẫn đầy sở hữu; có thể không lập gia đình mà trái tim vẫn tìm đủ thứ bù đắp; và cũng có thể khoác áo tu sĩ nhiều năm mà ý riêng vẫn còn nguyên vẹn. Người ta đã bỏ rất nhiều thứ, nhưng chưa bỏ chính mình.
Đức Giêsu ở Ghếtsêmani cho ta thấy vâng phục không phải là không có ý riêng. Người nói rất rõ: “Nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này.” Đức Giêsu không đóng kịch trước mặt Cha. Người không giả vờ rằng cuộc thương khó chẳng có gì đáng sợ. Người không tự biến mình thành một con người vô cảm. Tin Mừng nói Người buồn đến chết được. Người kinh hoàng. Người đau đớn. Người đổ mồ hôi như những giọt máu. Người muốn chén ấy đi qua. Đó là ý muốn thật của một con người thật. Nhưng điều làm nên sự vâng phục của Đức Giêsu chính là Người không tuyệt đối hóa ý muốn ấy. Người mang ý mình đến trước mặt Cha, nói thật với Cha, rồi trao nó cho Cha. “Con muốn thế này, nhưng nếu Cha muốn khác, con xin chọn điều Cha muốn.” Đó là vâng phục. Không phải không có ý kiến. Không phải không suy nghĩ. Không phải trở thành một cái máy. Không phải ai bảo gì cũng làm. Vâng phục Kitô giáo không hủy hoại con người; nó giải thoát con người khỏi chế độ độc tài của cái tôi.
Có một điều rất lạ trong đời sống thiêng liêng: nhiều khi chúng ta cầu nguyện không phải để tìm ý Chúa, mà để thuyết phục Chúa làm theo ý mình. Chúng ta đã quyết định rồi, sau đó mới cầu nguyện để Chúa ký tên vào quyết định ấy. Chúng ta nói “xin ý Cha thể hiện”, nhưng trong lòng lại mong ý Cha trùng khít với ý ta. Nếu Chúa cho điều mình xin thì ta bảo Chúa thương. Nếu Chúa mở con đường mình muốn thì ta bảo đó là Chúa quan phòng. Nếu Chúa không cho, ta bắt đầu hoang mang, trách móc, thậm chí nghi ngờ cả tình yêu của Người. Chúng ta rất dễ yêu một Thiên Chúa biết chiều ý mình; nhưng Tin Mừng mời gọi ta yêu một Thiên Chúa ngay cả khi Người dẫn mình qua con đường mình không chọn.
Ghếtsêmani là trường học của những người đã từng cầu xin mà không được như ý. Có người cầu cho một bệnh nhân nhưng người ấy vẫn qua đời. Có người cầu cho gia đình bình an nhưng sóng gió vẫn đến. Có người cầu xin một công việc nhưng cánh cửa ấy vẫn đóng. Có người xin cho một tương quan được chữa lành nhưng cuối cùng vẫn chia xa. Có người xin Chúa cất một gánh nặng nhưng nhiều năm gánh nặng ấy vẫn nằm đó. Có linh mục xin được thi hành một công việc mình yêu thích nhưng lại được sai đến một nơi chẳng hợp sở trường. Có tu sĩ mong một trách nhiệm nhưng lại được trao một công việc âm thầm. Có người tưởng ơn gọi của mình sẽ đi theo hướng này nhưng Chúa lại bẻ sang hướng khác. Và chính lúc ấy, đức tin không còn là những lời đẹp trên môi. Chính lúc ấy, chúng ta đứng trước ngưỡng cửa Ghếtsêmani: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.”
Nói câu ấy khi mọi chuyện thuận lợi thì dễ. Nói câu ấy khi ý Chúa làm mình vui thì chẳng khó. Nhưng nói câu ấy khi ý Chúa đi ngược lại dự tính của mình, khi ta không hiểu, khi ta thấy đau, khi phía trước chỉ là bóng tối, đó mới là vâng phục. Đức Giêsu không nói “xin vâng” vì Người nhìn thấy trước mọi chi tiết của sáng Phục Sinh theo cách một người đứng ngoài lịch sử có thể nhìn thấy. Người bước vào cuộc thương khó bằng sự tín thác của Người Con: Cha biết. Cha yêu Con. Cha không bỏ Con. Nếu đây là con đường Cha muốn, Con đi. Chính niềm tín thác ấy đã biến một cái chết ô nhục thành hiến lễ cứu độ.
Đời tận hiến sẽ trở nên rất đẹp khi người tận hiến hiểu rằng vâng phục không phải là mất tự do mà là trao tự do cho một tình yêu lớn hơn. Một người chỉ thật sự trao mình khi trao cả quyền quyết định về mình. Nếu tôi nói với Chúa: “Con cho Chúa tất cả, trừ việc này”; “Con đi bất cứ đâu, trừ nơi ấy”; “Con làm bất cứ việc gì, trừ việc kia”; “Con sống với bất cứ ai, trừ người nọ”; “Con chấp nhận bất cứ bề trên nào, miễn là người ấy hiểu con”; “Con vâng phục, miễn điều được yêu cầu hợp với ý con”, thì thật ra tôi vẫn đang giữ tay lái. Chúa được phép ngồi trong xe, nhưng tôi lái. Chúa có thể góp ý, nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về tôi. Và nhiều lúc đời tu mệt mỏi không hẳn vì công việc quá nhiều, mà bởi trong lòng có một cuộc giằng co dai dẳng giữa ý Chúa và ý mình.
Có những người sống đời tận hiến lâu năm nhưng vẫn mệt, vì suốt nhiều năm cứ phải bảo vệ một hình ảnh mình muốn trở thành. Muốn được ở nơi này. Muốn giữ công việc kia. Muốn người khác công nhận khả năng nọ. Muốn được hiểu. Muốn được trọng dụng. Muốn lời mình có trọng lượng. Muốn vị trí thích hợp với khả năng. Muốn cộng đoàn theo kiểu mình thấy đúng. Muốn bề trên quyết định theo cách mình thấy hợp lý. Những mong muốn ấy tự thân không nhất thiết xấu. Nhưng đến một lúc, Chúa có thể hỏi: “Nếu Cha không cho con những điều đó, con còn yêu Cha không? Nếu Cha lấy khỏi tay con điều con nghĩ là cần để con phục vụ Cha tốt hơn, con có còn ở lại không? Nếu Cha dẫn con qua một con đường mà danh dự của con nhỏ lại, ảnh hưởng của con ít đi, tiếng nói của con không còn được nghe nhiều như trước, con có còn tin rằng đời mình nằm trong tay Cha không?”
Vâng phục đau ở chỗ đó. Nó không chỉ bảo ta làm một việc; nó buộc ta buông nhu cầu làm chủ câu chuyện của đời mình. Mà cái tôi rất sợ điều ấy. Cái tôi muốn biết trước. Muốn kiểm soát. Muốn có lý. Muốn có quyền lựa chọn. Muốn được bảo đảm rằng sự hy sinh của mình sẽ đem lại kết quả. Nhưng Đức Giêsu ở Ghếtsêmani không được bảo đảm bằng bất cứ điều gì mà mắt Người có thể nắm giữ. Trước mặt Người là phản bội, bắt bớ, roi đòn, kết án, nhục nhã và cái chết. Vậy mà Người vẫn thưa: “Xin theo ý Cha.” Đây không phải sự đầu hàng của một người yếu. Đây là chiến thắng của một Người Con hoàn toàn tin tưởng.
Có lẽ vì thế mà chiến thắng lớn nhất của Đức Giêsu đã diễn ra trước Canvê. Trên Canvê, Người hoàn tất điều đã chọn ở Ghếtsêmani. Khi đã thưa được “xin vâng” trong lòng, những bước chân sau đó dù đau đớn vẫn nằm trên một hướng đã được quyết định. Giuđa đến, Người không chạy. Họ bắt Người, Người không chống cự. Phêrô rút gươm, Người bảo cất gươm. Bị xét xử, Người không tìm cách cứu mình bằng thỏa hiệp. Bị trao cây thập giá, Người vác lấy. Tất cả những điều ấy có thể xảy ra bởi trước đó Người đã trao ý mình cho Cha. Một đời sống cũng vậy. Có những trận chiến bên ngoài chỉ thắng được sau khi một trận chiến bên trong đã kết thúc. Khi lòng còn phản kháng, việc nhỏ cũng nặng. Khi lòng đã xin vâng, việc nặng vẫn đau nhưng không còn phá hủy bình an sâu xa.
Thật ra, nhiều đau khổ của chúng ta không đến hoàn toàn từ biến cố, mà từ cuộc chống cự trong lòng đối với biến cố. Một phần đau vì điều đã xảy ra; phần còn lại đau vì ta cứ nói: “Không được như thế. Tại sao lại là tôi? Tại sao phải là lúc này? Tại sao Chúa không làm khác?” Có những câu hỏi cần được đặt ra. Đức tin không cấm chúng ta hỏi. Nhưng nếu cả đời chỉ đứng ở câu hỏi “tại sao?” mà không bao giờ bước sang lời “xin vâng”, tâm hồn sẽ kiệt sức. Có những điều đến cuối đời ta vẫn không hiểu tại sao Chúa cho phép. Nhưng ta có thể học nói: “Con không hiểu, nhưng con tin. Con không thích điều này, nhưng con đón nhận. Con không nhìn thấy đường, nhưng con đặt tay trong tay Cha. Con không biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng hôm nay con xin vâng.”
Hai chữ “xin vâng” nhỏ bé vậy mà chứa cả một cuộc tử đạo của cái tôi. Mỗi lần xin vâng thật, một phần con người cũ chết đi. Xin vâng khi bị hiểu lầm mà không trả đũa. Xin vâng khi được giao việc không hợp ý. Xin vâng khi phải nhường chỗ cho người khác. Xin vâng khi tuổi già khiến mình không còn làm được như trước. Xin vâng khi phải rời một nơi mình yêu. Xin vâng khi một kế hoạch đã chuẩn bị kỹ phải dừng lại. Xin vâng khi người khác được chọn thay mình. Xin vâng khi lời góp ý đụng vào chỗ đau nhất. Xin vâng khi phải sống với một người rất khác mình. Xin vâng khi một căn bệnh làm thay đổi tất cả. Xin vâng khi phải chấp nhận rằng mình không còn quan trọng như mình tưởng. Xin vâng khi Chúa dẫn đời mình từ chỗ được thấy đến chỗ âm thầm, từ tiếng vỗ tay đến sự lặng lẽ, từ chủ động đến lệ thuộc, từ sức mạnh đến yếu đuối.
Không phải mọi điều xảy ra đều trực tiếp là “ý Chúa” theo nghĩa Chúa muốn sự dữ, bất công, phản bội hay bệnh tật. Thiên Chúa không muốn sự dữ. Nhưng trong một thế giới bị thương tích bởi tội lỗi và giới hạn, có những điều Chúa cho phép xảy đến, và chính trong những điều ấy Người vẫn có thể mở ra con đường cứu độ. Đức Giêsu không gọi sự phản bội của Giuđa là tốt, cũng không coi bản án bất công là thánh thiện; nhưng Người không để sự dữ của người khác cướp mất tự do yêu thương của mình. Đó là điều kỳ diệu của Thập Giá: người ta làm điều ác, còn Đức Giêsu biến chính nơi ấy thành nơi Người yêu đến cùng. Người không chọn sự ác; Người chọn yêu trong hoàn cảnh sự ác đang xảy ra. Và đó cũng là một bài học rất quan trọng về vâng phục: vâng phục không phải gọi cái sai là đúng, không phải dung túng lạm dụng, không phải im lặng trước tội lỗi. Vâng phục Kitô giáo luôn đứng trong sự thật, nhưng ngay giữa những hoàn cảnh mình không chọn, người môn đệ vẫn có thể chọn cách đáp lại theo tinh thần Đức Kitô.
Vì thế, lời khấn vâng phục trong đời tu không bao giờ được hiểu như việc trao cho con người quyền thay thế Thiên Chúa một cách tuyệt đối. Bề trên cũng là con người, có giới hạn, có thể sai, cần lắng nghe, phân định, đối thoại. Vâng phục đích thực không hủy bỏ lương tâm và trách nhiệm. Nhưng cũng phải thú nhận điều ngược lại: đôi khi chúng ta dùng hai chữ “phân định” để che một ý riêng không chịu chết. Ta đối thoại mãi cho đến khi người kia đồng ý với mình. Ta xin ý kiến nhiều người cho đến khi tìm được một người xác nhận điều mình đã muốn. Ta gọi sự chống đối là “trung thành với lương tâm”, trong khi rất có thể đó chỉ là tự ái bị đụng chạm. Phân định thật luôn mang một dấu chỉ: tôi có thật sự sẵn sàng để Chúa nói một điều khác với điều tôi muốn không? Nếu câu trả lời là không, thì tôi chưa phân định; tôi chỉ đang tìm lý do thiêng liêng để bảo vệ quyết định có sẵn.
Một dấu chỉ của trưởng thành thiêng liêng là càng đi với Chúa lâu, con người càng mềm hơn trước ý Người. Không phải yếu đuối hơn, nhưng mềm hơn. Không còn phải thắng trong mọi tranh luận. Không còn cần chứng minh mình đúng mỗi lần. Không còn nhất thiết mọi chuyện phải đi qua tay mình. Không còn hoảng sợ khi chương trình thay đổi. Không còn quá đau khi người khác được ưu tiên. Không còn xem một quyết định trái ý như xúc phạm phẩm giá. Người đã đi qua nhiều Ghếtsêmani sẽ hiểu rằng điều quan trọng nhất không phải đời mình diễn ra đúng kịch bản mình viết, mà là giữa bất cứ kịch bản nào, mình vẫn thuộc về Chúa.
Có người nói “con thuộc về Chúa” rất dễ, nhưng thử đụng tới chương trình riêng mới biết mình thuộc về ai. Có người hát “xin dâng đời con” rất cảm động, nhưng khi đời thật sự bị yêu cầu dâng thì lại co tay giữ lại. Chúng ta thích dâng những gì mình chọn hơn là dâng điều Chúa chọn. Ta thích chọn thập giá cho mình. Nếu được chọn, ta sẽ chọn một cây thập giá tương đối đẹp, vừa sức, hợp tính, không quá mất mặt, và tốt nhất là có người biết mình đang vác. Nhưng thập giá thật thường không xin ý kiến chúng ta. Nó đến dưới hình thức một người, một giới hạn, một quyết định, một thất bại, một trách nhiệm, một sự chờ đợi. Và vì không do ta chọn nên nó mới có khả năng chạm vào ý riêng.
Trong đời cộng đoàn, có lẽ lời “xin vâng” phải được nói nhiều hơn chúng ta tưởng. Xin vâng không chỉ khi bề trên trao một bài sai lớn. Xin vâng trong giờ giấc chung. Xin vâng với những quy định nhỏ. Xin vâng khi phải chờ người khác. Xin vâng khi sở thích cá nhân phải nhường cho lợi ích chung. Xin vâng khi ý kiến của mình chỉ là một trong nhiều ý kiến. Xin vâng khi phải làm lại điều mình đã làm. Xin vâng khi một người trẻ hơn được trao trách nhiệm. Xin vâng khi phải học từ một người mình không thích. Xin vâng khi phải xin lỗi dù trong lòng vẫn thấy mình có lý phần nào. Chính những cái “xin vâng” nhỏ ấy chuẩn bị cho những lời “xin vâng” lớn. Không ai bỗng nhiên trở thành Đức Giêsu ở Ghếtsêmani trong một đêm. Cả đời Người đã là một lời xin vâng. “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” Ghếtsêmani chỉ là giây phút lời xin vâng ấy đi đến tận cùng.
Đời Đức Maria cũng bắt đầu cuộc phiêu lưu của đức tin bằng hai tiếng “xin vâng”: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời xin vâng ở Nadarét dẫn Mẹ đến Bêlem, sang Ai Cập, về Nadarét, rồi cuối cùng đứng dưới chân Thập Giá. Khi nói xin vâng, Mẹ đâu được trao bản đồ chi tiết của cuộc đời. Mẹ chỉ được trao một lời hứa và một Đấng để tin. Có lẽ chúng ta cũng vậy. Chúa hiếm khi cho biết toàn bộ con đường. Nếu biết trước tất cả, chưa chắc ta dám đi. Người chỉ cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Vấn đề là ta có dám bước không.
Đời linh mục cũng được xây bằng những lời xin vâng. Ngày chịu chức, người linh mục nằm sấp trên nền cung thánh. Một hình ảnh thật đẹp: con người nằm xuống để một đời khác bắt đầu. Nhưng nằm xuống trong nghi thức chỉ mất vài phút; nằm xuống trong đời sống có khi phải học suốt mấy chục năm. Mỗi lần từ bỏ cái tôi để đoàn chiên được bình an là một lần nằm xuống. Mỗi lần tiếp một người lúc mình mệt, mỗi lần giảng khi trong lòng đang có nỗi buồn riêng, mỗi lần bước vào tòa giải tội khi muốn nghỉ, mỗi lần đến với bệnh nhân lúc đêm khuya, mỗi lần nhận một bài sai không mong muốn, mỗi lần bị hiểu lầm mà vẫn giữ lòng không cay đắng, mỗi lần phải bắt đầu lại ở tuổi không còn trẻ, mỗi lần thấy công việc mình đã xây được trao sang tay người khác mà vẫn thanh thản, đó là những lần lời hứa ngày chịu chức trở thành máu thịt.
Có lẽ bi kịch của đời tận hiến không phải chỉ là phạm những lỗi lớn. Một bi kịch âm thầm hơn là sống nhiều năm cho Chúa mà dần dần lại biến sứ vụ thành lãnh địa của mình. “Giáo xứ của tôi”, “cộng đoàn của tôi”, “công việc của tôi”, “chương trình của tôi”, “nhóm của tôi”, “cách của tôi”. Ban đầu tất cả đều làm vì Chúa, nhưng lâu dần cái chữ “của tôi” lớn lên mà ta không nhận ra. Đến lúc phải trao lại thì đau. Đến lúc người khác làm khác cách mình thì khó chịu. Đến lúc không còn được hỏi ý thì hụt hẫng. Khi ấy Chúa có thể đang nhẹ nhàng hỏi: “Con phục vụ công việc của Cha, hay con đang dùng công việc của Cha để xây căn tính của con?”
Thập Giá giải thoát người môn đệ khỏi việc phải trở thành trung tâm. Trên Thập Giá, Đức Giêsu không giữ gì cho mình. Áo Người bị chia. Danh dự bị lấy. Tự do bị lấy. Bạn bè bỏ đi. Cuối cùng Người trao cả hơi thở. Nhưng thật ra, trước khi tất cả bị lấy, Người đã tự nguyện trao mình: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh.” Vì đã trao trước nên Người không sống như một nạn nhân bị cuộc đời cướp đoạt. Đó là sức mạnh của lời xin vâng. Khi ta tự nguyện dâng cho Chúa điều rồi một ngày cuộc đời cũng sẽ lấy khỏi tay ta, ta trở nên tự do. Tuổi trẻ rồi sẽ qua. Sức khỏe rồi sẽ giảm. Chức vụ rồi sẽ đổi. Người ta rồi sẽ quên nhiều điều ta từng làm. Những công trình rồi sẽ sang tay người khác. Nếu tất cả những điều ấy là “của tôi”, mỗi lần mất đi là một lần chết. Nhưng nếu từ đầu đã nói: “Lạy Chúa, tất cả là của Chúa”, thì khi phải trao lại, ta chỉ trả về điều vốn thuộc về Người.
Xin vâng không làm đời dễ hơn, nhưng làm đời có nghĩa hơn. Đức Giêsu vẫn phải uống chén sau khi xin vâng. Cái roi không nhẹ hơn. Đinh không bớt đau. Canvê không thấp xuống. Nhưng từ lúc xin vâng, tất cả những điều ấy không còn là những biến cố vô nghĩa áp đặt trên Người; chúng trở thành hiến lễ. Đây có lẽ là một trong những bí mật lớn nhất của đời sống Kitô hữu: cùng một đau khổ, nếu chỉ chịu đựng trong cay đắng, nó có thể làm ta khô cằn; nhưng nếu được đặt vào tay Chúa trong tình yêu, nó có thể trở thành của lễ. Không phải đau khổ tự nó cứu độ. Tình yêu mới cứu độ. Thập Giá không cứu vì nó đau; Thập Giá cứu vì trên đó có một Người yêu cho đến cùng.
Bởi vậy, khi phải vâng phục, điều quan trọng không chỉ là hành vi bên ngoài. Người ta có thể làm đúng điều được yêu cầu nhưng trong lòng đầy phản kháng, nói xấu, cay cú, so đo. Bên ngoài vâng, bên trong nổi loạn. Đó mới chỉ là tuân lệnh chứ chưa phải vâng phục theo Đức Kitô. Vâng phục đẹp nhất là khi trái tim dần đi đến chỗ bình an: “Lạy Chúa, con đã nói điều con nghĩ cần nói. Con đã trình bày trong sự thật. Bây giờ nếu quyết định cuối cùng không như ý con, con đón nhận và con sẽ làm với tất cả tình yêu có thể.” Đó là tự do. Người như thế không còn bị quyết định của người khác làm mất bình an dễ dàng, vì sâu hơn mọi quyết định nhân loại, họ tin đời mình ở trong tay Chúa.
Tuy nhiên, phải mất rất lâu để đến được sự tự do ấy. Có những lời xin vâng phải nói trong nước mắt. Đức Giêsu cũng không nói ở Ghếtsêmani bằng nụ cười. Có những vâng phục vừa làm vừa đau. Có những quyết định phải mất nhiều tháng mới tiêu hóa được. Có những biến cố nhiều năm sau nhìn lại ta mới hiểu một phần. Đừng nghĩ xin vâng nghĩa là lập tức không còn buồn. Mẹ Maria đứng dưới chân Thập Giá vẫn đau. Đức Giêsu xin vâng vẫn đổ mồ hôi máu. Đức tin không làm trái tim hóa đá. Đức tin cho trái tim một nơi để đặt nỗi đau.
Nếu hôm nay ai đó đang ở trong một Ghếtsêmani riêng, có lẽ không cần ép mình phải hiểu ngay. Chỉ cần ở lại trước mặt Cha. Hãy nói thật như Đức Giêsu: “Cha ơi, con không muốn điều này. Con sợ. Con mệt. Con thấy quá sức. Nếu có thể, xin cất chén này.” Chúa không khó chịu vì lời cầu ấy. Chính Con Một Người đã cầu như thế. Nhưng đừng dừng ở đó. Sau mọi nước mắt, xin thêm một câu: “Dù vậy, xin theo ý Cha.” Có thể hôm nay chưa nói nổi câu ấy trọn vẹn. Hãy nói: “Lạy Chúa, con muốn muốn điều Chúa muốn.” Nếu vẫn khó, hãy nói: “Lạy Chúa, con chưa muốn nổi, nhưng xin cho con một ngày nào đó biết muốn điều Chúa muốn.” Đó cũng đã là một khởi đầu của vâng phục.
Có một thứ bình an rất lạ chỉ đến sau khi con người thôi vật lộn để bắt Thiên Chúa làm theo ý mình. Khi còn giằng co, lòng rối. Khi buông xuống, hoàn cảnh có thể chưa đổi, nhưng lòng đổi. Chén vẫn đó, nhưng bàn tay không còn run như trước. Con đường vẫn tối, nhưng không còn cô độc. Câu hỏi vẫn chưa có lời đáp, nhưng có một sự hiện diện đủ để bước tiếp. Đức Giêsu sau giờ cầu nguyện ở Ghếtsêmani đã đứng dậy và nói với các môn đệ: “Đứng dậy, ta đi nào.” Thật đẹp. Cầu nguyện không làm cho đoàn lính biến mất. Nó làm cho Đức Giêsu đủ tự do để bước về phía điều Người phải đối diện. Đó là hoa trái của cầu nguyện thật: không phải luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng làm con người có thể bước vào hoàn cảnh với một trái tim thuộc về Chúa.
“Đứng dậy, ta đi nào.” Có lẽ đó cũng là lời dành cho chúng ta sau mỗi lần xin vâng. Đừng nằm mãi trong buồn bã. Đừng sống cả đời như một người bị ép buộc. Nếu đã trao cho Chúa, hãy đứng dậy mà đi. Đi đến bài sai mới. Đi vào công việc mới. Đi vào tuổi già. Đi vào giới hạn. Đi vào trách nhiệm. Đi vào một tương quan cần chữa lành. Đi vào điều mình không chọn nhưng giờ đây được mời gọi sống. Đi với Chúa. Và khi đi như thế, một điều tưởng là thập giá có thể dần biến thành con đường nên thánh.
Thế giới hôm nay đề cao quyền tự quyết, và có lý do chính đáng khi bảo vệ tự do con người. Nhưng nếu tự do chỉ được hiểu là “tôi muốn gì thì làm nấy”, con người cuối cùng lại trở thành nô lệ cho chính ham muốn của mình. Đức Giêsu cho thấy một tự do lớn hơn: tự do có khả năng trao chính mình. Người tự do nhất không phải người không vâng ai; người tự do nhất là người có thể nói “không” với chính mình để nói “vâng” với điều thiện, với tình yêu, với Thiên Chúa. Một người không thể từ bỏ ý riêng không phải người rất tự do; có khi họ đang bị ý riêng cai trị.
Gia đình cũng có những Ghếtsêmani như thế. Hôn nhân bền không phải vì hai người luôn muốn giống nhau, nhưng vì nhiều lần mỗi người biết đặt cái tôi xuống để giữ lấy tình nghĩa. Cha mẹ nuôi con bằng hàng ngàn lời xin vâng âm thầm: thức dậy khi muốn ngủ, nhường phần khi muốn giữ, chịu thiệt để con được học, kiên nhẫn khi đã mệt. Con cái trưởng thành cũng phải học xin vâng với những trách nhiệm dành cho cha mẹ già. Tình yêu nào cũng đến một lúc phải đi qua Thập Giá của ý riêng. Nếu chỉ yêu khi người kia đáp ứng mong muốn của tôi, đó còn là một thứ trao đổi. Tình yêu bắt đầu trưởng thành khi tôi có thể hỏi: điều gì thực sự tốt cho người tôi yêu, dù điều ấy đòi tôi phải lùi lại?
Và trong mọi ơn gọi, câu hỏi cuối cùng vẫn là: tôi tin Thiên Chúa đến mức nào? Bởi vâng phục xét cho cùng không phải vấn đề kỷ luật trước hết; nó là vấn đề đức tin. Nếu tôi tin Chúa chỉ khi hiểu, tôi chưa tin nhiều. Nếu tôi tin Chúa chỉ khi thành công, đức tin ấy còn dựa vào kết quả. Nếu tôi tin Chúa chỉ khi Người cho điều tôi xin, có khi tôi đang tin vào những quà tặng hơn là tin Đấng ban quà. Đức Giêsu tin Cha khi mọi dấu hiệu bên ngoài dường như nói ngược lại. Người bị bỏ rơi, bị kết án, bị giết, nhưng vẫn gọi Thiên Chúa là Cha. Đó là vâng phục tận căn: đặt đời mình vào một Tình Yêu ngay cả khi không còn gì để bám ngoài Tình Yêu ấy.
Có lẽ vì vậy, hai chữ đẹp nhất của đời tận hiến không phải là “thành công”, cũng không phải “thành tựu”, nhưng là “xin vâng.” Một tu sĩ có thể làm ít việc nhưng nếu cả đời là một lời xin vâng thì đời ấy rất lớn trước mặt Chúa. Một linh mục có thể không nổi tiếng, không xây công trình lớn, không có những bài giảng hàng ngàn người nghe, nhưng nếu mỗi ngày âm thầm nói “xin vâng” với bổn phận, với đoàn chiên, với Giáo Hội, với tuổi già, với những giới hạn của mình, đời linh mục ấy đã trở thành một bài giảng không cần bục giảng. Trái lại, người ta có thể làm vô số công trình cho Chúa mà sâu trong lòng vẫn chỉ làm ý mình. Ngày phán xét, có lẽ điều đáng hỏi không phải “con đã làm được bao nhiêu?”, mà là “trong tất cả những điều con làm, con đã thuộc về ai?”
Một cây thập giá lớn được làm nên từ rất nhiều lời xin vâng nhỏ. Và sự thánh thiện cũng vậy. Không cần chờ một biến cố anh hùng. Hôm nay thôi. Xin vâng với tiếng chuông gọi mình dậy khi còn muốn ngủ thêm. Xin vâng với một người đang cần được lắng nghe. Xin vâng với một việc không ai thấy. Xin vâng khi phải im một câu để giữ bình an. Xin vâng khi phải nói một sự thật với lòng bác ái. Xin vâng khi phải nhận lỗi. Xin vâng khi phải tha thứ. Xin vâng khi kế hoạch bị đổi. Xin vâng khi phải chờ. Xin vâng khi Chúa chưa trả lời. Những lời xin vâng bé nhỏ đó mỗi ngày đóng một chiếc đinh vào cái tôi, nhưng cũng từng ngày mở rộng trái tim để Đức Kitô lớn lên.
Ta thường sợ rằng nếu cứ xin vâng, mình sẽ mất mình. Nhưng nghịch lý Tin Mừng là chính khi mất mình vì Chúa, ta lại tìm thấy mình. Hạt lúa phải chết mới sinh nhiều bông hạt. Cái tôi phải nhỏ xuống thì con người thật mới lớn lên. Những gì Chúa lấy khỏi tay ta không phải để làm ta nghèo đi, nhưng để đôi tay trống ra mà nhận chính Người. Điều đáng sợ nhất không phải là mất một công việc, một chức vụ, một chương trình, một sở thích. Điều đáng sợ là giữ được tất cả mà đánh mất sự tự do nội tâm, giữ được ý mình mà xa dần ý Chúa.
Nhìn Đức Giêsu sấp mặt xuống đất ở Ghếtsêmani, ta hiểu rằng Con Thiên Chúa cứu thế giới không bằng cách chứng minh mình mạnh, nhưng bằng cách trao mình. Ngày đầu của tội lỗi, con người nói với Thiên Chúa: “Không, tôi muốn theo ý tôi.” Trong vườn Ghếtsêmani, Đức Giêsu như Ađam mới trả lời: “Xin theo ý Cha.” Một tiếng “không” đã mở cửa cho tội bước vào; một lời “xin vâng” mở đường cho ơn cứu độ. Và từ đó, mỗi lần một người môn đệ nói “xin vâng” trong tình yêu, mầu nhiệm cứu độ lại được tiếp nối trong một góc nhỏ của thế giới.
Có thể chẳng ai biết những lời xin vâng của chúng ta. Không ai vỗ tay khi một tu sĩ chấp nhận một bài sai khó. Không ai dựng tượng cho một linh mục kiên nhẫn sống những năm cuối đời trong âm thầm. Không ai đăng báo việc một người mẹ nhịn một câu để gia đình khỏi đổ vỡ. Không ai biết một người bệnh đã mất bao lâu để có thể nói “Lạy Chúa, con xin nhận ngày hôm nay.” Nhưng Thiên Chúa biết. Và trong Nước Trời, có lẽ rất nhiều điều lớn lao được xây bằng những cái nhỏ mà thế gian chẳng bao giờ ghi nhận.
Sau cùng, mỗi người chúng ta rồi sẽ đến một Ghếtsêmani cuối cùng, khi phải trao cả cuộc đời lại cho Thiên Chúa. Lúc ấy ta chẳng mang theo được chức vụ, thành tựu, tài sản, tiếng khen hay những điều từng làm mình tự hào. Chỉ còn chính mình trước mặt Chúa. Và thật phúc cho người đã tập nói xin vâng suốt đời, bởi lời cuối cùng sẽ không quá xa lạ: “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha.” Người đã tập buông những điều nhỏ sẽ biết buông chính mình. Người đã tập chết với ý riêng sẽ không quá sợ cái chết cuối cùng, vì họ biết bên kia sự buông bỏ không phải là hư vô mà là vòng tay của Cha.
Thập Giá bắt đầu từ hai chữ “xin vâng”. Không phải bắt đầu từ cây gỗ, nhưng từ một trái tim chịu để Thiên Chúa dẫn đi. Không phải bắt đầu khi tay bị đóng đinh, nhưng khi ý riêng chịu mở ra. Không phải bắt đầu ở chỗ ta mất hết, nhưng ở giây phút ta tự nguyện trao hết. Và cũng chính vì bắt đầu bằng xin vâng nên Thập Giá không kết thúc trong mồ. Nó đi đến Phục Sinh. Mọi lời xin vâng thật lòng đều mang trong mình một mầm Phục Sinh, dù lúc nói ra ta chỉ nhìn thấy Canvê.
Xin cho mỗi chúng ta, nhất là những người đã hiến dâng đời mình cho Chúa, đừng chỉ đeo Thánh Giá trên ngực mà quên mang tinh thần Thập Giá trong lòng; đừng chỉ cúi mình trước Thánh Giá trong nhà nguyện mà lại dựng đứng cái tôi trong đời sống; đừng chỉ hát về sự hiến dâng mà sợ bị Chúa đụng đến những chỗ mình còn giữ lại. Xin cho ta đủ can đảm để mỗi sáng đặt đời mình trước mặt Người mà nói: “Lạy Chúa, hôm nay có thể có những điều không như con muốn. Có những người không như con mong. Có những biến cố không theo chương trình của con. Có thể con sẽ bị hiểu lầm, bị sửa dạy, bị thay đổi kế hoạch, bị lấy đi một điều con quý. Xin đừng để con sống ngày hôm nay bằng sự chống cự. Xin dạy con biết phân định, biết nói sự thật, biết chịu trách nhiệm, nhưng sau tất cả, xin cho con có được trái tim của Đức Giêsu: xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.”
Và khi lời ấy còn quá khó, xin cho ta biết nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh. Người đã nói trước ta. Người đã đi trước ta. Người biết một lời xin vâng có thể đau đến đâu. Người không đứng xa để dạy chúng ta vâng phục; Người đã vâng phục cho đến chết, và chết trên Thập Giá. Vì thế, mỗi khi ta phải chết đi một chút cho ý riêng, ta không chết một mình. Đức Kitô ở đó. Mỗi khi ta phải buông một điều mình rất muốn, Đức Kitô ở đó. Mỗi khi ta bước vào một con đường mình không chọn nhưng tin rằng Chúa đang mời gọi, Đức Kitô ở đó. Và Người sẽ biến từng lời xin vâng âm thầm của đời ta thành một phần trong lời xin vâng vĩ đại của Người dâng lên Chúa Cha.
Rồi một ngày nhìn lại, có thể chúng ta sẽ nhận ra rằng những điều từng làm mình đau nhất lại chính là những nơi Chúa thanh luyện mình nhiều nhất; những lần ý riêng bị bẻ gãy lại là những lúc tự do thật được sinh ra; những con đường mình không chọn lại dẫn mình đến gần Chúa hơn những con đường mình từng mơ ước. Lúc ấy ta sẽ hiểu: Thiên Chúa chưa bao giờ lấy khỏi ta điều gì chỉ để làm ta trống rỗng. Người làm trống để Người có thể lấp đầy. Người cắt tỉa để cây sinh nhiều trái. Người dẫn qua Ghếtsêmani không phải để bỏ ta ở đó, nhưng để từ Ghếtsêmani ta có thể đi qua Canvê và bước vào buổi sáng Phục Sinh.
Vậy nên, đừng sợ hai chữ “xin vâng.” Chúng có thể làm đau cái tôi, nhưng chữa lành con người. Chúng có thể đóng lại vài con đường ta muốn, nhưng mở ra con đường Chúa muốn. Chúng có thể lấy khỏi ta cảm giác kiểm soát, nhưng trao lại cho ta bình an của người biết mình đang ở trong tay Cha. Chúng có thể dẫn đến Thập Giá, nhưng Thập Giá của Đức Kitô chưa bao giờ là dấu chấm hết. Phía sau mọi lời xin vâng được nói trong đức tin đều có một bình minh mà hôm nay ta chưa nhìn thấy.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NGƯỜI DẠY TA IM LẶNG TRƯỚC BẤT CÔNG
Tin Mừng: Mt 26,62-63; 27,11-14
Có những lúc trong đời, điều làm ta đau không phải vì ta đã làm sai, nhưng vì ta bị nói sai. Không phải vì ta có lỗi, nhưng vì người khác gán lỗi cho ta. Không phải vì sự thật chống lại ta, nhưng vì sự thật chưa kịp lên tiếng thì lời vu khống đã chạy rất xa. Và có lẽ, trong những nỗi đau của con người, ít có nỗi đau nào âm thầm mà nhức nhối bằng nỗi đau bị hiểu lầm, bị xuyên tạc, bị kết án oan, bị người khác nói về mình những điều mình không hề làm, không hề nghĩ, không hề muốn. Khi ấy, phản ứng tự nhiên nhất của chúng ta là muốn nói. Muốn giải thích. Muốn thanh minh. Muốn chứng minh mình đúng. Muốn người khác phải hiểu mình. Muốn lấy lại danh dự. Muốn trả lại từng lời. Muốn vạch ra từng sự gian dối. Muốn nói cho đến khi người kia không còn gì để nói nữa. Thế nhưng, đứng trước Đức Kitô chịu đóng đinh, ta gặp một điều thật lạ lùng: Người có thể nói, nhưng Người im lặng. Người có thể biện hộ, nhưng Người không biện hộ. Người có thể làm cho cả đám đông phải câm miệng, nhưng Người lại để cho mình bị xét xử. Người có thể phơi bày tất cả sự giả dối của những kẻ đang tố cáo Người, nhưng Tin Mừng chỉ ghi một câu ngắn đến lạnh người: “Đức Giêsu vẫn làm thinh.” Và trước Philatô, khi các thượng tế và kỳ mục tố cáo Người đủ điều, Người cũng không trả lời, đến nỗi viên tổng trấn phải kinh ngạc. Sự im lặng ấy không phải là bất lực. Sự im lặng ấy không phải là hèn nhát. Sự im lặng ấy càng không phải là thái độ cam chịu mù quáng trước cái ác. Đó là sự im lặng của một Người đã đặt đời mình hoàn toàn trong tay Chúa Cha. Đó là sự im lặng của Đấng không còn cần phải tự cứu danh dự mình, bởi Người biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa.
Ta thường nghĩ rằng nếu mình không nói, người khác sẽ tưởng mình sai. Nếu mình không giải thích, người ta sẽ tin lời vu khống. Nếu mình không phản ứng, mình sẽ thua. Nếu mình không tự bảo vệ mình, ai sẽ bảo vệ mình? Chính ở đây, Thập Giá chạm vào một nơi rất sâu trong lòng ta. Bởi nhiều khi điều ta gọi là bảo vệ sự thật thật ra là bảo vệ cái tôi. Điều ta gọi là làm sáng tỏ vấn đề nhiều khi chỉ là muốn giữ bằng được hình ảnh của mình trong mắt người khác. Điều ta gọi là công bằng nhiều khi lại pha rất nhiều tự ái. Ta đau không chỉ vì điều sai được nói ra, mà còn vì người khác nghĩ xấu về ta. Ta giận không chỉ vì sự thật bị bóp méo, mà vì danh dự ta bị đụng đến. Ta muốn lên tiếng không chỉ để bảo vệ điều đúng, mà còn để chứng minh rằng ta không phải là người mà người khác đang nói. Và rồi từ một lời buộc tội, ta có thể lao vào một cuộc chiến không có điểm dừng: giải thích cho người này, thanh minh với người kia, kể lại cho người nọ, tìm người đứng về phía mình, thu thập chứng cứ để thắng người khác, nhớ từng câu người ta đã nói, chờ một ngày có cơ hội trả lại. Có khi ta thắng được một cuộc tranh luận nhưng mất bình an. Có khi ta chứng minh được mình đúng nhưng lại làm tình nghĩa chết đi. Có khi ta lấy lại được danh dự trước vài người nhưng đánh mất sự dịu dàng trong tâm hồn. Và có khi, vì muốn minh oan cho mình, ta lại làm tổn thương thêm biết bao người khác.
Đức Giêsu thì không như thế. Người biết rõ những lời buộc tội kia là giả. Người biết phiên tòa ấy bất công. Người biết những người đứng trước mặt mình đã quyết định kết án Người trước khi họ bắt đầu hỏi. Người biết Hannan, Caipha, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục chẳng tìm sự thật; họ chỉ tìm một cái cớ. Một phiên tòa mà người ta đã có bản án trước khi có chứng cứ thì lời biện hộ nào còn ý nghĩa? Một cuộc đối thoại mà bên kia không muốn nghe thì nói thêm chỉ làm cho sự thật bị kéo xuống thành một cuộc cãi vã. Và thế là Chúa im lặng. Có những lúc im lặng không phải vì không có gì để nói, mà vì người đối diện không còn khả năng nghe. Có những lúc không trả lời không phải là thua, mà là không để mình bị kéo xuống một sân chơi nơi sự thật không còn được tôn trọng. Có những lúc càng giải thích càng rối, càng thanh minh càng thêm lời, càng cố chứng minh mình vô tội càng khiến lòng mình lệ thuộc vào phán xét của người khác. Đức Giêsu dạy ta một bài học rất khó: không phải mọi lời buộc tội đều cần một câu trả lời; không phải mọi hiểu lầm đều cần được giải thích ngay; không phải ai nghĩ sai về ta cũng là người ta phải tìm cách thuyết phục; và không phải danh dự của ta nằm trong miệng người đời.
Điều này không có nghĩa là người Kitô hữu phải im lặng trước mọi bất công. Đức Giêsu không dạy một thứ đạo đức nhu nhược. Khi bị người đầy tớ của vị thượng tế vả mặt, Người đã nói: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại đánh tôi?” Người im lặng khi lời nói không còn phục vụ sự thật, nhưng Người lên tiếng khi cần đặt cái ác dưới ánh sáng. Đây chính là sự phân định khó nhất. Có lúc phải nói. Có lúc phải im. Có lúc im lặng là hèn. Có lúc lên tiếng lại là kiêu ngạo. Có lúc nói là trách nhiệm. Có lúc nói chỉ là tự ái. Có lúc im lặng làm cho kẻ yếu tiếp tục bị chà đạp, và khi ấy ta phải nói. Nhưng cũng có lúc ta cứ nói mãi chỉ để giành phần đúng về mình, khi ấy Thập Giá mời ta dừng lại. Không phải mọi cuộc chiến đều đáng tham dự. Không phải mọi lời công kích đều đáng để ta tiêu hao linh hồn mình. Không phải mọi người hiểu lầm ta đều cần phải được ta sửa lại suy nghĩ. Có những chuyện hãy để thời gian trả lời. Có những điều hãy để đời sống trả lời. Có những lời vu khống hãy để sự thật tự đứng lên vào ngày của nó. Và có những nỗi oan, cuối cùng chỉ còn có thể trao cho Thiên Chúa.
Ta hãy nhìn Đức Giêsu trước Philatô. Philatô hỏi: “Ông là vua dân Do Thái sao?” Đức Giêsu trả lời điều cần trả lời. Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố cáo Người, Người không trả lời một lời nào. Philatô ngạc nhiên. Thế gian luôn ngạc nhiên trước một con người có khả năng im lặng khi bị xúc phạm, bởi thế gian quen với quy luật: ai đánh tôi, tôi đánh lại; ai nói tôi, tôi nói lại; ai bôi nhọ tôi, tôi phải làm cho họ mất mặt. Nhưng Đức Kitô mở ra một tự do khác. Người không để kẻ tố cáo quyết định cách Người cư xử. Người không để lời của người khác điều khiển tâm hồn mình. Người không trao quyền làm chủ bình an của mình cho những kẻ đang vu cáo mình. Người vẫn là Người. Người vẫn hiền lành. Người vẫn tự do. Người vẫn thuộc về Chúa Cha. Và đó mới là chiến thắng lớn nhất. Người ta có thể trói tay Người nhưng không trói được tâm hồn Người. Người ta có thể đóng đinh thân xác Người nhưng không đóng đinh được tình yêu trong Người. Người ta có thể tước áo Người nhưng không tước được phẩm giá Người. Người ta có thể gọi Người bằng những tên xúc phạm nhưng không thay đổi được sự thật Người là Con yêu dấu của Chúa Cha.
Nhiều người trong chúng ta sống cả đời mệt mỏi chỉ vì quá lệ thuộc vào việc người khác nghĩ gì về mình. Một câu nói của người khác đủ làm ta mất ngủ. Một lời nhận xét đủ làm ta buồn cả ngày. Một người hiểu lầm ta đủ khiến ta phải tìm năm bảy người để kể lại câu chuyện. Ta nói rằng ta không quan tâm, nhưng thật ra ta quan tâm rất nhiều. Ta nói rằng “Chúa biết là đủ rồi”, nhưng rồi vẫn muốn cả thiên hạ phải biết. Ta nói rằng mình tha thứ, nhưng vẫn chờ một ngày người kia nhận ra rằng họ đã sai. Ta nói rằng mình bình an, nhưng chỉ cần nghe tên người ấy là lòng lại nổi sóng. Như thế có nghĩa là ta vẫn chưa học được sự tự do của Đức Kitô chịu đóng đinh. Người tự do vì Người biết mình thuộc về ai. Còn ta dễ bị chao đảo vì ta vẫn cần người đời xác nhận giá trị của mình. Nếu ai khen, ta vui. Nếu ai chê, ta buồn. Nếu ai hiểu, ta bình an. Nếu ai hiểu lầm, ta khổ sở. Như vậy thì chiếc chìa khóa bình an của ta đang nằm trong tay người khác.
Đức Kitô chịu đóng đinh lấy chiếc chìa khóa ấy về và trao lại cho ta. Người như muốn nói: con không phải là điều người khác nói về con. Con là điều Thiên Chúa biết về con. Con không phải là những lời người ta gán cho con. Con là người mà Cha trên trời đã gọi tên. Danh dự sâu nhất của con không nằm trên miệng đám đông, nhưng nằm trong cái nhìn của Thiên Chúa. Nếu lòng con ngay thẳng trước mặt Chúa, hãy bình an. Nếu con có lỗi, hãy sửa. Nếu con sai, hãy xin lỗi. Nếu con làm tổn thương ai, hãy đền bù. Nhưng nếu con đã sống ngay lành mà vẫn bị hiểu lầm, thì có khi việc phải làm không phải là chạy đi giải thích với tất cả mọi người, mà là quỳ xuống trước Chúa và nói: “Lạy Chúa, Chúa biết.” Có những lúc bốn chữ “Chúa biết lòng con” còn giải thoát hơn cả một ngàn lời thanh minh.
Ta sợ im lặng vì tưởng im lặng là yếu. Nhưng người yếu thường rất khó im. Người yếu cần thắng. Người yếu cần nói lời cuối. Người yếu cần người khác công nhận mình đúng. Người mạnh mới có thể ngừng một cuộc cãi vã khi mình vẫn còn rất nhiều điều để nói. Người mạnh mới có thể để người khác hiểu lầm mình mà không vội vàng đánh đổi bình an lấy một chiến thắng. Người mạnh mới có thể chịu một lời xúc phạm mà không lập tức trả lại. Người mạnh mới có thể mang một nỗi oan mà không để nỗi oan ấy biến mình thành người cay độc. Đức Giêsu không im lặng vì Người không có sức trả lời. Người im lặng vì Người có sức không cần trả lời. Đó là sức mạnh của người đã hoàn toàn ở trong tay Chúa Cha.
Có một thứ im lặng rất đáng sợ: im lặng vì sợ hãi, im lặng trước tội ác, im lặng khi người vô tội bị tổn thương, im lặng vì mình không muốn phiền, im lặng để giữ lợi ích. Đó không phải là sự im lặng của Chúa. Nhưng cũng có một thứ im lặng rất thánh: im lặng để không làm tổn thương thêm, im lặng để khỏi nói lời trong lúc nóng giận, im lặng trước một lời xúc phạm mà mình có thể bỏ qua, im lặng khi biết người kia đang đau và không còn đủ bình tĩnh, im lặng vì biết lời mình nói lúc này không còn xây dựng, im lặng để giao quyền xét xử cho Thiên Chúa. Đó là sự im lặng có sức cứu độ. Có những gia đình đã tránh được một trận cãi vã chỉ vì một người biết dừng. Có những tình bạn được giữ lại chỉ vì một người không nói lời cuối cùng. Có những cộng đoàn không vỡ ra chỉ vì có người chấp nhận thiệt một chút. Có những cuộc hôn nhân vượt qua sóng gió vì một người không biến từng lỗi lầm thành một phiên tòa. Có những đời tu vẫn còn bình an vì người ta biết có những điều cần mang vào nhà nguyện hơn là mang đi kể khắp nơi.
Ta thường nghĩ rằng nói ra hết mới nhẹ lòng. Nhưng có những điều nói ra không làm lòng nhẹ hơn, chỉ làm vết thương có thêm khán giả. Có những nỗi đau càng kể càng lớn. Có những hiểu lầm càng giải thích càng rối. Có những chuyện ban đầu chỉ có hai người, nhưng vì mỗi bên đều muốn tìm người ủng hộ, cuối cùng cả một gia đình, một cộng đoàn, một nhóm bạn đều bị kéo vào. Và rồi chuyện đúng sai ban đầu không còn quan trọng nữa; điều còn lại chỉ là phe này và phe kia. Đức Giêsu không lập phe trong cuộc thương khó. Người không tìm Nicôđêmô để nhờ vận động. Người không nhờ Lazarô kêu gọi đám đông đã từng chứng kiến phép lạ. Người không yêu cầu các môn đệ làm chứng cho những năm tháng Người đã sống. Người bước một mình vào sự bất công. Không phải vì Người khinh thường sự thật, nhưng vì Người biết sự thật tối hậu không cần đám đông bảo vệ.
Điều này đặc biệt khó đối với người làm việc cho Chúa. Người càng ở vị trí phục vụ, càng dễ bị nhận xét. Làm thì bị nói. Không làm cũng bị nói. Nói thì bị cho là nhiều lời. Im thì bị cho là lạnh lùng. Gần người này thì bị nói thiên vị. Giữ khoảng cách thì bị cho là xa cách. Quyết định thế này có người không hài lòng; quyết định thế kia cũng có người trách. Nếu một linh mục, một tu sĩ, một người phục vụ cộng đoàn mà cứ muốn mọi người hiểu mình, thương mình, công nhận mình, người ấy sẽ kiệt sức rất nhanh. Không thể vừa sống sứ vụ vừa liên tục chạy theo những lời người đời. Có khi ta phải chấp nhận rằng sẽ có người không hiểu mình. Có người sẽ chỉ biết một phần câu chuyện. Có người sẽ tin lời đồn. Có người sẽ nhớ về ta theo một cách không đúng. Và khi ấy, câu hỏi quan trọng không còn là: “Người ta nghĩ gì về tôi?” nhưng là: “Chúa thấy tôi thế nào?” Không phải để ta coi thường dư luận hay khước từ mọi góp ý, nhưng để đời ta có một điểm tựa sâu hơn dư luận.
Đức Kitô trên Thập Giá không xuống khỏi thập giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Người ta đã thách Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Chỉ cần một phép lạ thôi, mọi lời chế nhạo sẽ tắt. Chỉ cần Người bước xuống, những kẻ đang cười sẽ quỳ xuống. Nhưng Người không làm. Bởi nếu Người xuống để chứng minh Người là Con Thiên Chúa, Người sẽ thắng lời thách thức nhưng bỏ mất con đường tình yêu. Người không sống để chứng minh mình trước những kẻ chế nhạo. Người sống để hoàn tất ý Cha. Đây là điều chúng ta phải học suốt đời: đừng biến đời mình thành một cuộc thi chứng minh. Chứng minh mình tốt. Chứng minh mình đúng. Chứng minh mình có giá trị. Chứng minh mình thành công. Chứng minh những người từng coi thường mình đã sai. Sống như thế rất mệt. Người Kitô hữu không cần sống để chứng minh. Người Kitô hữu sống để trung thành.
Có người ôm một nỗi oan nhiều năm. Bên ngoài vẫn cười, vẫn làm việc, vẫn cầu nguyện, nhưng bên trong có một phiên tòa chưa bao giờ kết thúc. Ngày nào người ấy cũng xét xử lại quá khứ. Ngày nào cũng dựng lại lời người kia đã nói. Ngày nào cũng tưởng tượng mình sẽ trả lời thế nào nếu có cơ hội. Ngày nào cũng mong một ngày công lý được phơi bày theo cách mình muốn. Và thế là người đã làm tổn thương ta từ lâu vẫn tiếp tục sống trong đầu ta, điều khiển cảm xúc ta, lấy mất những năm tháng bình an của ta. Có những lúc tha thứ không chỉ là không trả thù. Tha thứ còn là chấp nhận rằng mình có thể không bao giờ được minh oan hoàn toàn ở đời này. Có những sự thật chỉ Thiên Chúa biết. Có những lời xin lỗi ta sẽ không bao giờ nhận được. Có những người sẽ chết mà vẫn nghĩ sai về ta. Có những câu chuyện sẽ không có một kết thúc đẹp theo cách ta mong. Đức tin là có thể trao cả điều chưa được giải quyết ấy cho Chúa.
Không dễ. Rất khó. Bởi bản năng con người muốn mọi chuyện phải được khép lại. Nhưng Thập Giá cho ta thấy có một thứ khép lại khác: không phải khi người kia nhận lỗi, mà khi lòng ta thôi đòi món nợ ấy. Không phải khi cả thế giới biết mình đúng, mà khi mình đủ bình an để không cần cả thế giới biết nữa. Không phải khi lời vu khống bị xóa khỏi miệng người đời, mà khi nó không còn quyền làm mình cay đắng. Chữa lành thật sự đôi khi không phải là người khác thay đổi cách họ nhìn ta, mà là ta không còn sống dưới cái nhìn ấy nữa.
Ta cũng cần nhớ rằng mình không chỉ là người bị nói oan. Nhiều lần ta cũng là người nói về người khác. Ta nghe một chuyện chưa rõ mà đã kể. Ta chỉ nghe một phía mà đã kết luận. Ta thấy một hành vi mà đoán cả con người. Ta nghe người ta nói xấu một ai đó và im lặng theo kiểu đồng tình. Ta chuyển tiếp một tin vì thấy hấp dẫn mà không biết nó đúng hay sai. Ta vô tình trở thành một phần của phiên tòa đã kết án người khác khi họ không có mặt. Nhìn Đức Giêsu đứng giữa những lời tố cáo, ta cần sợ chính cái lưỡi của mình. Một câu nói có thể chỉ mất vài giây, nhưng danh dự một con người có thể mất nhiều năm mới phục hồi. Một lời đồn có thể đi qua mười cái miệng và mỗi cái miệng thêm vào một chút. Đến cuối cùng, chẳng ai còn biết sự thật nằm ở đâu. Thập Giá không chỉ dạy người bị vu khống biết im lặng; Thập Giá còn dạy ta đừng trở thành kẻ đóng thêm một chiếc đinh bằng lời nói của mình.
Nếu không chắc, đừng nói. Nếu không biết toàn bộ câu chuyện, đừng kết án. Nếu người kia không có mặt để tự bảo vệ, hãy cẩn thận khi nói về họ. Nếu điều mình sắp kể không giúp ai tốt hơn, có khi tốt nhất nên giữ lại. Có người nghĩ mình chỉ “chia sẻ cho biết”, nhưng thật ra đang phát tán một vết thương. Có người nói: “Tôi chỉ nói sự thật thôi.” Nhưng sự thật mà không có tình yêu đôi khi vẫn có thể trở thành một lưỡi dao. Không phải sự thật nào cũng cần nói với tất cả mọi người. Không phải lỗi lầm nào của người khác cũng là tài sản chung. Và một trong những dấu hiệu của trưởng thành thiêng liêng là ta biết giữ lại điều mình có quyền nói nhưng không cần nói.
Đức Giêsu im lặng trước lời buộc tội, nhưng sự im lặng ấy cuối cùng đã trở thành tiếng nói lớn nhất. Hai ngàn năm qua, thế giới không còn nhớ rõ những lời các nhân chứng gian đã tố cáo Người, nhưng thế giới vẫn nhớ sự im lặng của Người. Những người tố cáo tưởng rằng họ đang viết bản án cho Người, nhưng thực ra họ đang viết bản án cho chính sự gian dối của mình. Sự thật không vội. Sự thật có sức chịu đựng thời gian. Gian dối phải nói rất nhiều để tự bảo vệ; sự thật có khi chỉ cần đứng đó. Đây là niềm an ủi lớn cho những ai đang bị hiểu lầm: đừng quá sợ khi sự thật chưa được nhìn nhận ngay. Hạt giống không nảy mầm trong một đêm. Bình minh không đến lúc ta muốn. Và công lý của Thiên Chúa không nhất thiết vận hành theo chiếc đồng hồ nóng ruột của ta.
Có người sẽ hỏi: vậy cứ để người khác nói sai về mình sao? Không. Hãy nói khi cần cho ích chung, cho trách nhiệm, cho người yếu thế, cho sự thật. Nhưng khi đã nói điều cần nói rồi, hãy biết dừng. Đừng biến việc thanh minh thành một ám ảnh. Đừng đòi tất cả mọi người phải hiểu. Đừng dành hết năng lượng cho việc sửa hình ảnh của mình trong mắt thiên hạ. Sống cho tốt. Làm điều phải làm. Để thời gian nói phần còn lại. Một đời sống ngay thẳng lâu dài thường có sức thuyết phục hơn một ngàn lời biện hộ.
Và nếu một ngày ta rơi vào hoàn cảnh chẳng còn ai hiểu mình, hãy nhớ Đức Giêsu. Có một lúc gần như tất cả đều hiểu sai Người. Kẻ thù thì gọi Người là kẻ phạm thượng. Philatô coi Người như một vụ án phiền phức. Đám đông chọn Baraba. Các môn đệ chạy trốn. Phêrô chối Người. Người bị treo giữa hai tên gian phi như thể Người cũng là một tội phạm. Nếu giá trị của Đức Giêsu tùy thuộc vào đánh giá của đám đông hôm ấy, thì Người chẳng còn gì. Nhưng Người biết Chúa Cha. Và chỉ điều đó đủ cho Người đi hết con đường. Đời ta cũng vậy. Sẽ có lúc không còn tiếng vỗ tay. Sẽ có lúc không còn ai bênh vực. Sẽ có lúc ta làm điều đúng nhưng bị hiểu là sai. Sẽ có lúc lòng tốt bị xem là yếu đuối, sự thẳng thắn bị xem là khó chịu, sự trung thành bị coi là cố chấp, sự im lặng bị diễn giải thành có tội. Những lúc ấy, ta cần một nơi sâu hơn dư luận để trú ẩn. Nơi ấy là ánh mắt của Thiên Chúa.
Lạy Đức Kitô chịu đóng đinh, xin dạy con sự im lặng của Ngài. Không phải thứ im lặng hèn nhát trước điều dữ, nhưng là sự im lặng của người không cần trả lại từng vết thương. Xin cho con biết lúc nào phải nói vì sự thật, và lúc nào phải im vì tình yêu. Xin giữ miệng con khi lòng con đang nóng. Xin đừng để con dùng lời nói để trả thù. Xin đừng để con biến một nỗi oan thành căn tính của đời mình. Xin cho con đủ tự do để chấp nhận rằng có người sẽ không hiểu con, và đủ đức tin để tin rằng Ngài hiểu. Xin cho con nhớ rằng danh dự thật của con không nằm nơi lời khen chê, mà ở trong bàn tay Chúa. Khi bị hiểu lầm, xin cho con đừng vội chạy khắp nơi tìm người bênh vực. Khi bị xúc phạm, xin cho con đừng lập tức đáp trả. Khi bị kết án oan, xin cho con biết đặt sự thật của đời mình dưới ánh sáng của Ngài.
Và hơn hết, xin đừng để con trở thành người làm cho kẻ khác phải mang nỗi đau mà con từng mang. Xin gìn giữ lưỡi con khỏi lời đồn, mắt con khỏi cái nhìn xét đoán, tai con khỏi niềm thích thú khi nghe chuyện xấu về người khác. Xin cho con biết đứng về phía người vắng mặt, biết bảo vệ danh dự của người không thể tự bảo vệ, biết dừng một câu chuyện đang có nguy cơ làm tổn thương, biết im lặng khi lời nói không còn sinh ích. Bởi có khi yêu thương không phải là nói một lời hay, mà là không nói một lời có thể phá hủy một con người.
Đức Kitô chịu đóng đinh đã không trả lời mọi lời buộc tội. Người chỉ sống sự thật cho đến cùng. Và cuối cùng, Chúa Cha đã trả lời thay Người bằng sự Phục Sinh. Có lẽ đời ta cũng vậy. Không phải câu hỏi nào cũng cần ta trả lời. Không phải bản án nào của người đời cũng cần ta kháng cáo. Không phải sự hiểu lầm nào cũng cần ta giải thích. Có những lần, điều đẹp nhất ta có thể làm là sống tiếp trong ngay thẳng, giữ lòng khỏi cay đắng, làm điều thiện, cầu nguyện cho người làm tổn thương mình, rồi để Thiên Chúa viết câu cuối cùng.
Bởi người đời có thể nói về ta điều họ muốn, nhưng họ không thể thay đổi sự thật ta là ai trước mặt Chúa. Người đời có thể lấy đi tiếng tốt của ta trong một thời gian, nhưng không thể lấy đi một lương tâm trong sáng. Người đời có thể khiến ta mất một vị trí, một mối quan hệ, một lời khen, nhưng không thể lấy được bình an nếu ta không tự trao nó cho họ. Và khi ta đứng dưới chân Thập Giá đủ lâu, ta sẽ hiểu: chiến thắng không phải là làm cho tất cả những người từng nói sai về mình phải nhận lỗi. Chiến thắng là sau tất cả những điều ấy, lòng ta vẫn còn khả năng yêu.
Đó là sự im lặng của Đức Kitô.
Một sự im lặng không trống rỗng.
Một sự im lặng đầy phẩm giá.
Một sự im lặng không đầu hàng sự dữ nhưng từ chối để sự dữ biến mình thành giống nó.
Một sự im lặng nói với ta rằng: có những lúc, sự thật không cần la lớn. Sự thật chỉ cần được sống cho đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NGƯỜI DẠY TA IM LẶNG TRƯỚC BẤT CÔNG
Tin Mừng: Mt 26,62-63; 27,11-14
Có những lúc trong đời, điều làm ta đau không phải vì ta đã làm sai, nhưng vì ta bị nói sai. Không phải vì ta có lỗi, nhưng vì người khác gán lỗi cho ta. Không phải vì sự thật chống lại ta, nhưng vì sự thật chưa kịp lên tiếng thì lời vu khống đã chạy rất xa. Và có lẽ, trong những nỗi đau của con người, ít có nỗi đau nào âm thầm mà nhức nhối bằng nỗi đau bị hiểu lầm, bị xuyên tạc, bị kết án oan, bị người khác nói về mình những điều mình không hề làm, không hề nghĩ, không hề muốn. Khi ấy, phản ứng tự nhiên nhất của chúng ta là muốn nói. Muốn giải thích. Muốn thanh minh. Muốn chứng minh mình đúng. Muốn người khác phải hiểu mình. Muốn lấy lại danh dự. Muốn trả lại từng lời. Muốn vạch ra từng sự gian dối. Muốn nói cho đến khi người kia không còn gì để nói nữa. Thế nhưng, đứng trước Đức Kitô chịu đóng đinh, ta gặp một điều thật lạ lùng: Người có thể nói, nhưng Người im lặng. Người có thể biện hộ, nhưng Người không biện hộ. Người có thể làm cho cả đám đông phải câm miệng, nhưng Người lại để cho mình bị xét xử. Người có thể phơi bày tất cả sự giả dối của những kẻ đang tố cáo Người, nhưng Tin Mừng chỉ ghi một câu ngắn đến lạnh người: “Đức Giêsu vẫn làm thinh.” Và trước Philatô, khi các thượng tế và kỳ mục tố cáo Người đủ điều, Người cũng không trả lời, đến nỗi viên tổng trấn phải kinh ngạc. Sự im lặng ấy không phải là bất lực. Sự im lặng ấy không phải là hèn nhát. Sự im lặng ấy càng không phải là thái độ cam chịu mù quáng trước cái ác. Đó là sự im lặng của một Người đã đặt đời mình hoàn toàn trong tay Chúa Cha. Đó là sự im lặng của Đấng không còn cần phải tự cứu danh dự mình, bởi Người biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa.
Ta thường nghĩ rằng nếu mình không nói, người khác sẽ tưởng mình sai. Nếu mình không giải thích, người ta sẽ tin lời vu khống. Nếu mình không phản ứng, mình sẽ thua. Nếu mình không tự bảo vệ mình, ai sẽ bảo vệ mình? Chính ở đây, Thập Giá chạm vào một nơi rất sâu trong lòng ta. Bởi nhiều khi điều ta gọi là bảo vệ sự thật thật ra là bảo vệ cái tôi. Điều ta gọi là làm sáng tỏ vấn đề nhiều khi chỉ là muốn giữ bằng được hình ảnh của mình trong mắt người khác. Điều ta gọi là công bằng nhiều khi lại pha rất nhiều tự ái. Ta đau không chỉ vì điều sai được nói ra, mà còn vì người khác nghĩ xấu về ta. Ta giận không chỉ vì sự thật bị bóp méo, mà vì danh dự ta bị đụng đến. Ta muốn lên tiếng không chỉ để bảo vệ điều đúng, mà còn để chứng minh rằng ta không phải là người mà người khác đang nói. Và rồi từ một lời buộc tội, ta có thể lao vào một cuộc chiến không có điểm dừng: giải thích cho người này, thanh minh với người kia, kể lại cho người nọ, tìm người đứng về phía mình, thu thập chứng cứ để thắng người khác, nhớ từng câu người ta đã nói, chờ một ngày có cơ hội trả lại. Có khi ta thắng được một cuộc tranh luận nhưng mất bình an. Có khi ta chứng minh được mình đúng nhưng lại làm tình nghĩa chết đi. Có khi ta lấy lại được danh dự trước vài người nhưng đánh mất sự dịu dàng trong tâm hồn. Và có khi, vì muốn minh oan cho mình, ta lại làm tổn thương thêm biết bao người khác.
Đức Giêsu thì không như thế. Người biết rõ những lời buộc tội kia là giả. Người biết phiên tòa ấy bất công. Người biết những người đứng trước mặt mình đã quyết định kết án Người trước khi họ bắt đầu hỏi. Người biết Hannan, Caipha, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục chẳng tìm sự thật; họ chỉ tìm một cái cớ. Một phiên tòa mà người ta đã có bản án trước khi có chứng cứ thì lời biện hộ nào còn ý nghĩa? Một cuộc đối thoại mà bên kia không muốn nghe thì nói thêm chỉ làm cho sự thật bị kéo xuống thành một cuộc cãi vã. Và thế là Chúa im lặng. Có những lúc im lặng không phải vì không có gì để nói, mà vì người đối diện không còn khả năng nghe. Có những lúc không trả lời không phải là thua, mà là không để mình bị kéo xuống một sân chơi nơi sự thật không còn được tôn trọng. Có những lúc càng giải thích càng rối, càng thanh minh càng thêm lời, càng cố chứng minh mình vô tội càng khiến lòng mình lệ thuộc vào phán xét của người khác. Đức Giêsu dạy ta một bài học rất khó: không phải mọi lời buộc tội đều cần một câu trả lời; không phải mọi hiểu lầm đều cần được giải thích ngay; không phải ai nghĩ sai về ta cũng là người ta phải tìm cách thuyết phục; và không phải danh dự của ta nằm trong miệng người đời.
Điều này không có nghĩa là người Kitô hữu phải im lặng trước mọi bất công. Đức Giêsu không dạy một thứ đạo đức nhu nhược. Khi bị người đầy tớ của vị thượng tế vả mặt, Người đã nói: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại đánh tôi?” Người im lặng khi lời nói không còn phục vụ sự thật, nhưng Người lên tiếng khi cần đặt cái ác dưới ánh sáng. Đây chính là sự phân định khó nhất. Có lúc phải nói. Có lúc phải im. Có lúc im lặng là hèn. Có lúc lên tiếng lại là kiêu ngạo. Có lúc nói là trách nhiệm. Có lúc nói chỉ là tự ái. Có lúc im lặng làm cho kẻ yếu tiếp tục bị chà đạp, và khi ấy ta phải nói. Nhưng cũng có lúc ta cứ nói mãi chỉ để giành phần đúng về mình, khi ấy Thập Giá mời ta dừng lại. Không phải mọi cuộc chiến đều đáng tham dự. Không phải mọi lời công kích đều đáng để ta tiêu hao linh hồn mình. Không phải mọi người hiểu lầm ta đều cần phải được ta sửa lại suy nghĩ. Có những chuyện hãy để thời gian trả lời. Có những điều hãy để đời sống trả lời. Có những lời vu khống hãy để sự thật tự đứng lên vào ngày của nó. Và có những nỗi oan, cuối cùng chỉ còn có thể trao cho Thiên Chúa.
Ta hãy nhìn Đức Giêsu trước Philatô. Philatô hỏi: “Ông là vua dân Do Thái sao?” Đức Giêsu trả lời điều cần trả lời. Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố cáo Người, Người không trả lời một lời nào. Philatô ngạc nhiên. Thế gian luôn ngạc nhiên trước một con người có khả năng im lặng khi bị xúc phạm, bởi thế gian quen với quy luật: ai đánh tôi, tôi đánh lại; ai nói tôi, tôi nói lại; ai bôi nhọ tôi, tôi phải làm cho họ mất mặt. Nhưng Đức Kitô mở ra một tự do khác. Người không để kẻ tố cáo quyết định cách Người cư xử. Người không để lời của người khác điều khiển tâm hồn mình. Người không trao quyền làm chủ bình an của mình cho những kẻ đang vu cáo mình. Người vẫn là Người. Người vẫn hiền lành. Người vẫn tự do. Người vẫn thuộc về Chúa Cha. Và đó mới là chiến thắng lớn nhất. Người ta có thể trói tay Người nhưng không trói được tâm hồn Người. Người ta có thể đóng đinh thân xác Người nhưng không đóng đinh được tình yêu trong Người. Người ta có thể tước áo Người nhưng không tước được phẩm giá Người. Người ta có thể gọi Người bằng những tên xúc phạm nhưng không thay đổi được sự thật Người là Con yêu dấu của Chúa Cha.
Nhiều người trong chúng ta sống cả đời mệt mỏi chỉ vì quá lệ thuộc vào việc người khác nghĩ gì về mình. Một câu nói của người khác đủ làm ta mất ngủ. Một lời nhận xét đủ làm ta buồn cả ngày. Một người hiểu lầm ta đủ khiến ta phải tìm năm bảy người để kể lại câu chuyện. Ta nói rằng ta không quan tâm, nhưng thật ra ta quan tâm rất nhiều. Ta nói rằng “Chúa biết là đủ rồi”, nhưng rồi vẫn muốn cả thiên hạ phải biết. Ta nói rằng mình tha thứ, nhưng vẫn chờ một ngày người kia nhận ra rằng họ đã sai. Ta nói rằng mình bình an, nhưng chỉ cần nghe tên người ấy là lòng lại nổi sóng. Như thế có nghĩa là ta vẫn chưa học được sự tự do của Đức Kitô chịu đóng đinh. Người tự do vì Người biết mình thuộc về ai. Còn ta dễ bị chao đảo vì ta vẫn cần người đời xác nhận giá trị của mình. Nếu ai khen, ta vui. Nếu ai chê, ta buồn. Nếu ai hiểu, ta bình an. Nếu ai hiểu lầm, ta khổ sở. Như vậy thì chiếc chìa khóa bình an của ta đang nằm trong tay người khác.
Đức Kitô chịu đóng đinh lấy chiếc chìa khóa ấy về và trao lại cho ta. Người như muốn nói: con không phải là điều người khác nói về con. Con là điều Thiên Chúa biết về con. Con không phải là những lời người ta gán cho con. Con là người mà Cha trên trời đã gọi tên. Danh dự sâu nhất của con không nằm trên miệng đám đông, nhưng nằm trong cái nhìn của Thiên Chúa. Nếu lòng con ngay thẳng trước mặt Chúa, hãy bình an. Nếu con có lỗi, hãy sửa. Nếu con sai, hãy xin lỗi. Nếu con làm tổn thương ai, hãy đền bù. Nhưng nếu con đã sống ngay lành mà vẫn bị hiểu lầm, thì có khi việc phải làm không phải là chạy đi giải thích với tất cả mọi người, mà là quỳ xuống trước Chúa và nói: “Lạy Chúa, Chúa biết.” Có những lúc bốn chữ “Chúa biết lòng con” còn giải thoát hơn cả một ngàn lời thanh minh.
Ta sợ im lặng vì tưởng im lặng là yếu. Nhưng người yếu thường rất khó im. Người yếu cần thắng. Người yếu cần nói lời cuối. Người yếu cần người khác công nhận mình đúng. Người mạnh mới có thể ngừng một cuộc cãi vã khi mình vẫn còn rất nhiều điều để nói. Người mạnh mới có thể để người khác hiểu lầm mình mà không vội vàng đánh đổi bình an lấy một chiến thắng. Người mạnh mới có thể chịu một lời xúc phạm mà không lập tức trả lại. Người mạnh mới có thể mang một nỗi oan mà không để nỗi oan ấy biến mình thành người cay độc. Đức Giêsu không im lặng vì Người không có sức trả lời. Người im lặng vì Người có sức không cần trả lời. Đó là sức mạnh của người đã hoàn toàn ở trong tay Chúa Cha.
Có một thứ im lặng rất đáng sợ: im lặng vì sợ hãi, im lặng trước tội ác, im lặng khi người vô tội bị tổn thương, im lặng vì mình không muốn phiền, im lặng để giữ lợi ích. Đó không phải là sự im lặng của Chúa. Nhưng cũng có một thứ im lặng rất thánh: im lặng để không làm tổn thương thêm, im lặng để khỏi nói lời trong lúc nóng giận, im lặng trước một lời xúc phạm mà mình có thể bỏ qua, im lặng khi biết người kia đang đau và không còn đủ bình tĩnh, im lặng vì biết lời mình nói lúc này không còn xây dựng, im lặng để giao quyền xét xử cho Thiên Chúa. Đó là sự im lặng có sức cứu độ. Có những gia đình đã tránh được một trận cãi vã chỉ vì một người biết dừng. Có những tình bạn được giữ lại chỉ vì một người không nói lời cuối cùng. Có những cộng đoàn không vỡ ra chỉ vì có người chấp nhận thiệt một chút. Có những cuộc hôn nhân vượt qua sóng gió vì một người không biến từng lỗi lầm thành một phiên tòa. Có những đời tu vẫn còn bình an vì người ta biết có những điều cần mang vào nhà nguyện hơn là mang đi kể khắp nơi.
Ta thường nghĩ rằng nói ra hết mới nhẹ lòng. Nhưng có những điều nói ra không làm lòng nhẹ hơn, chỉ làm vết thương có thêm khán giả. Có những nỗi đau càng kể càng lớn. Có những hiểu lầm càng giải thích càng rối. Có những chuyện ban đầu chỉ có hai người, nhưng vì mỗi bên đều muốn tìm người ủng hộ, cuối cùng cả một gia đình, một cộng đoàn, một nhóm bạn đều bị kéo vào. Và rồi chuyện đúng sai ban đầu không còn quan trọng nữa; điều còn lại chỉ là phe này và phe kia. Đức Giêsu không lập phe trong cuộc thương khó. Người không tìm Nicôđêmô để nhờ vận động. Người không nhờ Lazarô kêu gọi đám đông đã từng chứng kiến phép lạ. Người không yêu cầu các môn đệ làm chứng cho những năm tháng Người đã sống. Người bước một mình vào sự bất công. Không phải vì Người khinh thường sự thật, nhưng vì Người biết sự thật tối hậu không cần đám đông bảo vệ.
Điều này đặc biệt khó đối với người làm việc cho Chúa. Người càng ở vị trí phục vụ, càng dễ bị nhận xét. Làm thì bị nói. Không làm cũng bị nói. Nói thì bị cho là nhiều lời. Im thì bị cho là lạnh lùng. Gần người này thì bị nói thiên vị. Giữ khoảng cách thì bị cho là xa cách. Quyết định thế này có người không hài lòng; quyết định thế kia cũng có người trách. Nếu một linh mục, một tu sĩ, một người phục vụ cộng đoàn mà cứ muốn mọi người hiểu mình, thương mình, công nhận mình, người ấy sẽ kiệt sức rất nhanh. Không thể vừa sống sứ vụ vừa liên tục chạy theo những lời người đời. Có khi ta phải chấp nhận rằng sẽ có người không hiểu mình. Có người sẽ chỉ biết một phần câu chuyện. Có người sẽ tin lời đồn. Có người sẽ nhớ về ta theo một cách không đúng. Và khi ấy, câu hỏi quan trọng không còn là: “Người ta nghĩ gì về tôi?” nhưng là: “Chúa thấy tôi thế nào?” Không phải để ta coi thường dư luận hay khước từ mọi góp ý, nhưng để đời ta có một điểm tựa sâu hơn dư luận.
Đức Kitô trên Thập Giá không xuống khỏi thập giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Người ta đã thách Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Chỉ cần một phép lạ thôi, mọi lời chế nhạo sẽ tắt. Chỉ cần Người bước xuống, những kẻ đang cười sẽ quỳ xuống. Nhưng Người không làm. Bởi nếu Người xuống để chứng minh Người là Con Thiên Chúa, Người sẽ thắng lời thách thức nhưng bỏ mất con đường tình yêu. Người không sống để chứng minh mình trước những kẻ chế nhạo. Người sống để hoàn tất ý Cha. Đây là điều chúng ta phải học suốt đời: đừng biến đời mình thành một cuộc thi chứng minh. Chứng minh mình tốt. Chứng minh mình đúng. Chứng minh mình có giá trị. Chứng minh mình thành công. Chứng minh những người từng coi thường mình đã sai. Sống như thế rất mệt. Người Kitô hữu không cần sống để chứng minh. Người Kitô hữu sống để trung thành.
Có người ôm một nỗi oan nhiều năm. Bên ngoài vẫn cười, vẫn làm việc, vẫn cầu nguyện, nhưng bên trong có một phiên tòa chưa bao giờ kết thúc. Ngày nào người ấy cũng xét xử lại quá khứ. Ngày nào cũng dựng lại lời người kia đã nói. Ngày nào cũng tưởng tượng mình sẽ trả lời thế nào nếu có cơ hội. Ngày nào cũng mong một ngày công lý được phơi bày theo cách mình muốn. Và thế là người đã làm tổn thương ta từ lâu vẫn tiếp tục sống trong đầu ta, điều khiển cảm xúc ta, lấy mất những năm tháng bình an của ta. Có những lúc tha thứ không chỉ là không trả thù. Tha thứ còn là chấp nhận rằng mình có thể không bao giờ được minh oan hoàn toàn ở đời này. Có những sự thật chỉ Thiên Chúa biết. Có những lời xin lỗi ta sẽ không bao giờ nhận được. Có những người sẽ chết mà vẫn nghĩ sai về ta. Có những câu chuyện sẽ không có một kết thúc đẹp theo cách ta mong. Đức tin là có thể trao cả điều chưa được giải quyết ấy cho Chúa.
Không dễ. Rất khó. Bởi bản năng con người muốn mọi chuyện phải được khép lại. Nhưng Thập Giá cho ta thấy có một thứ khép lại khác: không phải khi người kia nhận lỗi, mà khi lòng ta thôi đòi món nợ ấy. Không phải khi cả thế giới biết mình đúng, mà khi mình đủ bình an để không cần cả thế giới biết nữa. Không phải khi lời vu khống bị xóa khỏi miệng người đời, mà khi nó không còn quyền làm mình cay đắng. Chữa lành thật sự đôi khi không phải là người khác thay đổi cách họ nhìn ta, mà là ta không còn sống dưới cái nhìn ấy nữa.
Ta cũng cần nhớ rằng mình không chỉ là người bị nói oan. Nhiều lần ta cũng là người nói về người khác. Ta nghe một chuyện chưa rõ mà đã kể. Ta chỉ nghe một phía mà đã kết luận. Ta thấy một hành vi mà đoán cả con người. Ta nghe người ta nói xấu một ai đó và im lặng theo kiểu đồng tình. Ta chuyển tiếp một tin vì thấy hấp dẫn mà không biết nó đúng hay sai. Ta vô tình trở thành một phần của phiên tòa đã kết án người khác khi họ không có mặt. Nhìn Đức Giêsu đứng giữa những lời tố cáo, ta cần sợ chính cái lưỡi của mình. Một câu nói có thể chỉ mất vài giây, nhưng danh dự một con người có thể mất nhiều năm mới phục hồi. Một lời đồn có thể đi qua mười cái miệng và mỗi cái miệng thêm vào một chút. Đến cuối cùng, chẳng ai còn biết sự thật nằm ở đâu. Thập Giá không chỉ dạy người bị vu khống biết im lặng; Thập Giá còn dạy ta đừng trở thành kẻ đóng thêm một chiếc đinh bằng lời nói của mình.
Nếu không chắc, đừng nói. Nếu không biết toàn bộ câu chuyện, đừng kết án. Nếu người kia không có mặt để tự bảo vệ, hãy cẩn thận khi nói về họ. Nếu điều mình sắp kể không giúp ai tốt hơn, có khi tốt nhất nên giữ lại. Có người nghĩ mình chỉ “chia sẻ cho biết”, nhưng thật ra đang phát tán một vết thương. Có người nói: “Tôi chỉ nói sự thật thôi.” Nhưng sự thật mà không có tình yêu đôi khi vẫn có thể trở thành một lưỡi dao. Không phải sự thật nào cũng cần nói với tất cả mọi người. Không phải lỗi lầm nào của người khác cũng là tài sản chung. Và một trong những dấu hiệu của trưởng thành thiêng liêng là ta biết giữ lại điều mình có quyền nói nhưng không cần nói.
Đức Giêsu im lặng trước lời buộc tội, nhưng sự im lặng ấy cuối cùng đã trở thành tiếng nói lớn nhất. Hai ngàn năm qua, thế giới không còn nhớ rõ những lời các nhân chứng gian đã tố cáo Người, nhưng thế giới vẫn nhớ sự im lặng của Người. Những người tố cáo tưởng rằng họ đang viết bản án cho Người, nhưng thực ra họ đang viết bản án cho chính sự gian dối của mình. Sự thật không vội. Sự thật có sức chịu đựng thời gian. Gian dối phải nói rất nhiều để tự bảo vệ; sự thật có khi chỉ cần đứng đó. Đây là niềm an ủi lớn cho những ai đang bị hiểu lầm: đừng quá sợ khi sự thật chưa được nhìn nhận ngay. Hạt giống không nảy mầm trong một đêm. Bình minh không đến lúc ta muốn. Và công lý của Thiên Chúa không nhất thiết vận hành theo chiếc đồng hồ nóng ruột của ta.
Có người sẽ hỏi: vậy cứ để người khác nói sai về mình sao? Không. Hãy nói khi cần cho ích chung, cho trách nhiệm, cho người yếu thế, cho sự thật. Nhưng khi đã nói điều cần nói rồi, hãy biết dừng. Đừng biến việc thanh minh thành một ám ảnh. Đừng đòi tất cả mọi người phải hiểu. Đừng dành hết năng lượng cho việc sửa hình ảnh của mình trong mắt thiên hạ. Sống cho tốt. Làm điều phải làm. Để thời gian nói phần còn lại. Một đời sống ngay thẳng lâu dài thường có sức thuyết phục hơn một ngàn lời biện hộ.
Và nếu một ngày ta rơi vào hoàn cảnh chẳng còn ai hiểu mình, hãy nhớ Đức Giêsu. Có một lúc gần như tất cả đều hiểu sai Người. Kẻ thù thì gọi Người là kẻ phạm thượng. Philatô coi Người như một vụ án phiền phức. Đám đông chọn Baraba. Các môn đệ chạy trốn. Phêrô chối Người. Người bị treo giữa hai tên gian phi như thể Người cũng là một tội phạm. Nếu giá trị của Đức Giêsu tùy thuộc vào đánh giá của đám đông hôm ấy, thì Người chẳng còn gì. Nhưng Người biết Chúa Cha. Và chỉ điều đó đủ cho Người đi hết con đường. Đời ta cũng vậy. Sẽ có lúc không còn tiếng vỗ tay. Sẽ có lúc không còn ai bênh vực. Sẽ có lúc ta làm điều đúng nhưng bị hiểu là sai. Sẽ có lúc lòng tốt bị xem là yếu đuối, sự thẳng thắn bị xem là khó chịu, sự trung thành bị coi là cố chấp, sự im lặng bị diễn giải thành có tội. Những lúc ấy, ta cần một nơi sâu hơn dư luận để trú ẩn. Nơi ấy là ánh mắt của Thiên Chúa.
Lạy Đức Kitô chịu đóng đinh, xin dạy con sự im lặng của Ngài. Không phải thứ im lặng hèn nhát trước điều dữ, nhưng là sự im lặng của người không cần trả lại từng vết thương. Xin cho con biết lúc nào phải nói vì sự thật, và lúc nào phải im vì tình yêu. Xin giữ miệng con khi lòng con đang nóng. Xin đừng để con dùng lời nói để trả thù. Xin đừng để con biến một nỗi oan thành căn tính của đời mình. Xin cho con đủ tự do để chấp nhận rằng có người sẽ không hiểu con, và đủ đức tin để tin rằng Ngài hiểu. Xin cho con nhớ rằng danh dự thật của con không nằm nơi lời khen chê, mà ở trong bàn tay Chúa. Khi bị hiểu lầm, xin cho con đừng vội chạy khắp nơi tìm người bênh vực. Khi bị xúc phạm, xin cho con đừng lập tức đáp trả. Khi bị kết án oan, xin cho con biết đặt sự thật của đời mình dưới ánh sáng của Ngài.
Và hơn hết, xin đừng để con trở thành người làm cho kẻ khác phải mang nỗi đau mà con từng mang. Xin gìn giữ lưỡi con khỏi lời đồn, mắt con khỏi cái nhìn xét đoán, tai con khỏi niềm thích thú khi nghe chuyện xấu về người khác. Xin cho con biết đứng về phía người vắng mặt, biết bảo vệ danh dự của người không thể tự bảo vệ, biết dừng một câu chuyện đang có nguy cơ làm tổn thương, biết im lặng khi lời nói không còn sinh ích. Bởi có khi yêu thương không phải là nói một lời hay, mà là không nói một lời có thể phá hủy một con người.
Đức Kitô chịu đóng đinh đã không trả lời mọi lời buộc tội. Người chỉ sống sự thật cho đến cùng. Và cuối cùng, Chúa Cha đã trả lời thay Người bằng sự Phục Sinh. Có lẽ đời ta cũng vậy. Không phải câu hỏi nào cũng cần ta trả lời. Không phải bản án nào của người đời cũng cần ta kháng cáo. Không phải sự hiểu lầm nào cũng cần ta giải thích. Có những lần, điều đẹp nhất ta có thể làm là sống tiếp trong ngay thẳng, giữ lòng khỏi cay đắng, làm điều thiện, cầu nguyện cho người làm tổn thương mình, rồi để Thiên Chúa viết câu cuối cùng.
Bởi người đời có thể nói về ta điều họ muốn, nhưng họ không thể thay đổi sự thật ta là ai trước mặt Chúa. Người đời có thể lấy đi tiếng tốt của ta trong một thời gian, nhưng không thể lấy đi một lương tâm trong sáng. Người đời có thể khiến ta mất một vị trí, một mối quan hệ, một lời khen, nhưng không thể lấy được bình an nếu ta không tự trao nó cho họ. Và khi ta đứng dưới chân Thập Giá đủ lâu, ta sẽ hiểu: chiến thắng không phải là làm cho tất cả những người từng nói sai về mình phải nhận lỗi. Chiến thắng là sau tất cả những điều ấy, lòng ta vẫn còn khả năng yêu.
Đó là sự im lặng của Đức Kitô.
Một sự im lặng không trống rỗng.
Một sự im lặng đầy phẩm giá.
Một sự im lặng không đầu hàng sự dữ nhưng từ chối để sự dữ biến mình thành giống nó.
Một sự im lặng nói với ta rằng: có những lúc, sự thật không cần la lớn. Sự thật chỉ cần được sống cho đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

AI THUỘC VỀ SỰ THẬT THÌ NGHE TIẾNG TÔI
Tin Mừng: Ga 18,37
Có lẽ trong cuộc đời, một trong những điều khó nhất không phải là biết sự thật nằm ở đâu, nhưng là có đủ can đảm để đứng về phía sự thật khi sự thật làm mình thiệt thòi. Người ta có thể thích nghe sự thật khi sự thật bênh vực mình, nhưng lại rất khó chịu khi sự thật chạm đến mình. Người ta có thể đòi người khác phải thành thật với mình, nhưng lại tìm đủ cách để tránh thành thật với chính mình. Người ta có thể lớn tiếng bảo vệ công lý khi quyền lợi của mình bị đụng đến, nhưng lại dễ dàng im lặng trước một bất công nếu sự bất công ấy đem lợi cho mình. Có lẽ vì thế mà câu nói của Đức Giêsu trước mặt Philatô vẫn cứ vang lên qua mọi thời đại như một câu hỏi không cho phép con người trốn chạy: “Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi.” Chúa không nói: ai biết nhiều giáo lý thì nghe tiếng tôi. Chúa cũng không nói: ai nói hay về đạo thì nghe tiếng tôi. Chúa càng không nói: ai có chức vụ, có địa vị, có tiếng nói trong cộng đoàn thì đương nhiên nghe tiếng tôi. Chúa chỉ nói một điều: ai thuộc về sự thật. Nghĩa là trước khi hỏi ta có nghe tiếng Chúa hay không, phải hỏi ta đang thuộc về ai, thuộc về điều gì, thuộc về sự thật hay thuộc về cái tôi, thuộc về Thiên Chúa hay thuộc về quyền lợi, thuộc về ánh sáng hay thuộc về những vùng tối mà ta cố che giấu trong lòng mình. Câu chuyện xảy ra trong một hoàn cảnh thật lạ lùng. Đức Giêsu đang bị xét xử. Người bị trói, bị tố cáo, bị giao nộp. Trước mắt Philatô, Đức Giêsu chẳng có vẻ gì là một vị vua. Không quân đội. Không binh lính. Không ngai vàng. Không vũ khí. Không đám đông bảo vệ. Những người từng tung hô Người nay đã biến mất. Những môn đệ gần gũi nhất cũng đã bỏ chạy. Người đứng đó một mình, trong dáng vẻ của một kẻ thất thế, nhưng chính trong giây phút ấy Người lại nói về sự thật. Đó là điều rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Bởi thông thường, khi con người rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm, điều đầu tiên họ nghĩ đến là làm thế nào để tự cứu mình. Người ta có thể nói bớt đi một chút, che đi một chút, uốn cong sự thật một chút, thỏa hiệp một chút, miễn sao thoát thân. Nhưng Đức Giêsu không làm như thế. Người không thương lượng với sự thật để đổi lấy an toàn. Người không bẻ cong lương tâm để đổi lấy sự sống. Người không nói điều Philatô muốn nghe để được trả tự do. Người đến thế gian để làm chứng cho sự thật, và Người trung thành với sự thật ấy đến cùng, dù cái giá phải trả là Thập Giá. Nhìn Đức Giêsu đứng trước Philatô, ta hiểu rằng sự thật không phải là một ý tưởng để bàn luận trong những lúc nhàn rỗi. Sự thật là một chọn lựa phải trả giá. Có khi trả bằng tiền bạc. Có khi trả bằng địa vị. Có khi trả bằng một mối quan hệ. Có khi trả bằng việc bị hiểu lầm. Có khi trả bằng cô đơn. Có khi trả bằng cả mạng sống. Và bởi thế, câu hỏi quan trọng nhất của một đời Kitô hữu không chỉ là: “Tôi có biết sự thật không?” nhưng còn là: “Khi biết sự thật rồi, tôi có dám sống theo sự thật hay không?”
Con người hôm nay sống trong một thời đại mà thông tin thì quá nhiều nhưng sự thật lại không vì thế mà dễ nhận ra hơn. Chúng ta nghe hàng ngàn tiếng nói mỗi ngày. Tiếng của mạng xã hội. Tiếng của đám đông. Tiếng của quảng cáo. Tiếng của dư luận. Tiếng của những người nổi tiếng. Tiếng của những người có quyền. Tiếng của bạn bè. Tiếng của cảm xúc. Tiếng của thành kiến. Tiếng của nỗi sợ. Tiếng của tự ái. Tiếng của lòng tham. Và giữa ngần ấy tiếng nói, tiếng của Chúa thường rất nhỏ. Không phải vì Chúa không nói, nhưng vì lòng ta quá ồn. Có những ngày ta cầm điện thoại hàng giờ nhưng không có lấy mười phút ngồi yên trước Chúa. Ta biết người ta đang nói gì về mình, nhưng không biết Chúa đang nói gì với mình. Ta biết thiên hạ đang nghĩ gì, nhưng không biết lương tâm đang nhắc điều gì. Ta sợ mất lòng người khác hơn sợ làm buồn lòng Chúa. Ta sợ bị người khác đánh giá hơn sợ chính mình trở nên giả dối. Và rồi có một bi kịch rất âm thầm xảy ra: ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc đạo đức, nhưng tiếng nói mạnh nhất trong đời ta không còn là tiếng của Chúa nữa. Đó có thể là tiếng của tự ái: “Người ta coi thường mình, phải cho họ biết mình là ai.” Có thể là tiếng của lòng tham: “Ai cũng làm thế cả, mình không làm thì mình thiệt.” Có thể là tiếng của sự ganh tị: “Tại sao người ấy được mà tôi không được?” Có thể là tiếng của sợ hãi: “Nếu nói thật, mình sẽ mất việc, mất lòng, mất vị trí.” Có thể là tiếng của đám đông: “Ai cũng nói thế, chắc thế là đúng.” Nhưng thưa anh chị em, đám đông không phải lúc nào cũng đúng. Đám đông đã từng tung hô Đức Giêsu vào thành Giêrusalem, rồi cũng chính đám đông ấy ít ngày sau la lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Nếu lương tâm của chúng ta chỉ đi theo số đông, rất có thể hôm nay ta tung hô Chúa và ngày mai lại đứng trong đám đông kết án Người. Người có lương tâm trưởng thành không hỏi trước hết: “Người ta nghĩ sao về tôi?” nhưng hỏi: “Trước mặt Chúa, điều này có đúng không?” Không hỏi: “Làm vậy tôi được gì?” nhưng hỏi: “Làm vậy tôi có còn bình an khi đứng trước mặt Chúa không?” Không hỏi: “Có ai biết không?” nhưng hỏi: “Chúa biết, và tôi biết, như thế đã đủ chưa?” Đó chính là nơi lương tâm bắt đầu lên tiếng. Lương tâm không phải là cảm giác thích hay không thích. Lương tâm cũng không phải là muốn gì làm nấy rồi bảo: “Tôi thấy lương tâm tôi bình an.” Một lương tâm có thể bị chai lì. Một lương tâm có thể quen với tội đến mức không còn thấy đau. Lần đầu nói dối, ta còn đỏ mặt. Nói dối nhiều lần, ta bắt đầu thấy bình thường. Lần đầu lấy một thứ không thuộc về mình, ta còn áy náy. Làm nhiều lần, ta bắt đầu gọi đó là “khôn ngoan”. Lần đầu nói xấu một người, ta còn bất an. Nói mãi, ta bắt đầu nghĩ mình chỉ đang “nói sự thật”. Lần đầu bất công, ta còn thấy xấu hổ. Khi cả một tập thể cùng bất công, người ta lại gọi đó là “quy định”. Có những điều sai lặp đi lặp lại lâu ngày đến mức người ta tưởng nó đúng. Nhưng cái sai được nhiều người làm vẫn là cái sai. Một lời nói dối được lặp đi lặp lại một ngàn lần vẫn không trở thành sự thật. Một bất công tồn tại nhiều năm vẫn là bất công. Và một tội lỗi được xã hội chấp nhận vẫn không vì thế mà trở thành điều đẹp lòng Thiên Chúa.
“Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi.” Điều đáng sợ là chúng ta rất dễ nghĩ câu này dành cho những người không tin Chúa, nhưng thật ra nó trước hết dành cho chính những người tự nhận mình là môn đệ của Chúa. Bởi người Công giáo không đương nhiên thuộc về sự thật chỉ vì đã chịu phép Rửa. Linh mục không đương nhiên thuộc về sự thật chỉ vì đã chịu chức. Tu sĩ không đương nhiên thuộc về sự thật chỉ vì đã khấn dòng. Người phục vụ Giáo Hội không đương nhiên thuộc về sự thật chỉ vì đang làm nhiều công việc cho Chúa. Ta chỉ thực sự thuộc về sự thật khi ta cho phép sự thật của Đức Kitô xét xử mình mỗi ngày. Đó là một điều đau. Bởi ta thích dùng Lời Chúa để soi người khác hơn soi mình. Đọc đoạn nói về người Pharisêu, ta nghĩ ngay tới một người nào đó. Nghe bài giảng về kiêu ngạo, ta nghĩ: “Giá mà ông ấy có mặt ở đây để nghe.” Nghe nói về tha thứ, ta lại nhớ ngay người đã làm mình đau và nghĩ rằng họ phải xin lỗi trước. Nghe nói về tham lam, ta nghĩ đến người giàu. Nghe nói về giả hình, ta nghĩ đến những người mình không thích. Rất ít khi ta đủ can đảm để đặt cuốn Tin Mừng trước mặt mình và hỏi: “Lạy Chúa, hôm nay Chúa đang nói gì với con?” Khi Lời Chúa chỉ dùng để xét đoán người khác, Lời Chúa đã bị biến thành một hòn đá. Nhưng khi Lời Chúa soi vào lòng mình, Lời Chúa trở thành ánh sáng. Và ánh sáng ấy đôi khi đau lắm. Nó cho ta thấy điều ta không muốn thấy. Nó cho thấy bên dưới những lời đạo đức có thể là một cái tôi đang tìm vinh quang. Bên dưới một cuộc tranh luận về chân lý có thể là lòng háo thắng. Bên dưới việc “bảo vệ danh dự” có thể chỉ là tự ái. Bên dưới sự nhiệt thành phục vụ có thể là nhu cầu được công nhận. Bên dưới một lời nói nghe rất đúng có thể là ý muốn làm người khác đau. Có khi ta nói: “Tôi chỉ nói sự thật”, nhưng thật ra ta đang trả thù bằng sự thật. Sự thật của Đức Kitô không bao giờ tách khỏi tình yêu. Đức Giêsu là Sự Thật, nhưng cũng chính Người là Đấng đã cúi xuống viết trên đất trước người phụ nữ ngoại tình. Người không nói tội là không có tội. Người nói: “Tôi không kết án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Đó là sự thật có lòng thương xót. Sự thật không che giấu tội, nhưng cũng không nghiền nát tội nhân. Sự thật gọi điều sai là sai, nhưng mở cho người sai một con đường trở về. Còn chúng ta nhiều khi dùng sự thật như con dao: nói đúng nhưng nói để hạ nhục; nói đúng nhưng nói trước đám đông để người kia không còn đường lui; nói đúng nhưng thêm thắt, cường điệu để thắng cho bằng được. Đó không phải là cách của Đức Kitô. Đức Kitô không dùng sự thật để giết người; Người dùng sự thật để cứu người. Vì thế, người thuộc về sự thật không chỉ là người “nói đúng”, mà còn là người biết nói đúng bằng một trái tim đúng.
Một trong những nơi sự thật bị thử thách mạnh nhất là trong chính gia đình. Có những gia đình không tan vỡ vì thiếu tiền mà vì thiếu sự thật. Vợ chồng bắt đầu giấu nhau những chuyện nhỏ, rồi chuyện nhỏ thành chuyện lớn. Có những người nói với người ngoài rất tử tế nhưng về nhà lại không thành thật với người thân. Có những bậc cha mẹ dạy con không được nói dối nhưng điện thoại reo lại bảo con: “Nói ba mẹ không có nhà.” Một đứa trẻ có thể quên nhiều lời dạy, nhưng nó sẽ nhớ cách cha mẹ sống. Nếu người lớn dạy một điều và sống một điều khác, đứa trẻ sẽ học đời sống chứ không học lời nói. Sự thật cũng bị thử thách trong chuyện tiền bạc. Một khoản tiền không ai kiểm tra. Một hóa đơn có thể sửa. Một món hàng có thể cân thiếu. Một công việc có thể làm qua loa nhưng báo cáo là hoàn thành. Một chữ ký có thể ký thay. Một chi tiết có thể che giấu. Có người nói: “Có đáng bao nhiêu đâu!” Nhưng vấn đề không nằm ở bao nhiêu tiền. Vấn đề là linh hồn mình đáng bao nhiêu. Có những người bán sự bình an của lương tâm rất rẻ. Chỉ một chút lợi, một lời khen, một chức vụ, một cơ hội, một món quà cũng đủ để họ uốn cong điều mình biết là đúng. Khi ấy, cái mất lớn nhất không phải là tiền. Cái mất lớn nhất là khả năng nghe tiếng Chúa. Vì mỗi lần ta cố tình đi ngược sự thật, tiếng lương tâm nhỏ đi một chút. Không phải Chúa nói nhỏ hơn, nhưng tai lòng mình điếc hơn. Rồi đến một ngày, người ta có thể làm một điều rất sai mà vẫn ngủ ngon. Đó không phải là bình an. Đó là một lương tâm đã bị gây mê. Bình an thật không phải là không thấy áy náy; bình an thật là biết mình đang sống trước mặt Chúa mà không cần che giấu.
Có một sự thật khác rất khó đối diện: sự thật về chính mình. Nhiều người sẵn sàng biết sự thật về người khác nhưng không muốn biết sự thật về mình. Ta có thể nhận ra rất nhanh khuyết điểm của người bên cạnh, nhưng rất chậm khi nhận ra khuyết điểm của mình. Người khác nóng tính, ta thấy ngay; còn mình nóng tính thì gọi là “thẳng”. Người khác cố chấp, ta thấy ngay; còn mình cố chấp thì gọi là “kiên định”. Người khác nói nhiều, ta bảo là thiếu khôn ngoan; còn mình nói nhiều thì bảo là “sống thật”. Người khác giữ tiền, ta bảo là tham; mình giữ tiền thì gọi là “biết lo xa”. Người khác không nghe góp ý, ta nói họ kiêu ngạo; đến khi có người góp ý cho ta, ta lại tìm đủ lý do để giải thích rằng họ chưa hiểu mình. Cái tôi là một luật sư rất giỏi. Nó luôn có thể tìm lý do để bào chữa cho ta. Vì thế, người thật sự sống trong sự thật phải học một nghệ thuật rất khó: không tự bào chữa quá nhanh. Khi ai đó nói một điều làm mình khó chịu, thay vì phản ứng ngay, hãy thử hỏi: “Trong điều họ nói, có một phần nào đúng không?” Có khi người nói không khéo. Có khi họ nói với thái độ làm ta tổn thương. Nhưng ngay trong một lời nói vụng về vẫn có thể có một mẩu sự thật mà Chúa muốn dùng để chữa mình. Nếu ta chỉ chăm chú vào thái độ của người góp ý mà bỏ qua điều họ góp ý, ta có thể đánh mất một cơ hội lớn để trưởng thành. Người khiêm nhường không phải là người nghĩ mình chẳng có gì tốt; người khiêm nhường là người đủ tự do để thấy cả điều tốt lẫn điều chưa tốt nơi mình mà không phải giả vờ. Họ có thể nhận một lời khen mà không say. Họ có thể nhận một lời chê mà không sụp. Vì căn tính của họ không nằm trong lời khen hay lời chê, nhưng nằm trong ánh mắt của Thiên Chúa. Một người càng lệ thuộc vào hình ảnh của mình trong mắt người khác, càng khó sống thật. Vì họ phải liên tục bảo vệ một phiên bản đẹp của mình. Còn người biết mình được Chúa yêu thì không cần diễn. Họ dám nhận: “Tôi đã sai.” Có lẽ ba chữ “tôi đã sai” là một trong những lời khó nói nhất của đời người. Nhiều cuộc hôn nhân đã có thể được cứu nếu một người chịu nói ba chữ đó. Nhiều tình bạn đã có thể được giữ nếu một người chịu nói: “Tôi đã quá lời.” Nhiều cộng đoàn đã có thể bình an hơn nếu một người có trách nhiệm biết nói: “Trong chuyện này tôi đã xử không công bằng.” Nhiều vết thương đã không kéo dài nhiều năm nếu người gây đau biết nói: “Tôi xin lỗi, không có chữ nhưng.” Nhưng cái tôi thường thích mất một mối quan hệ hơn là mất mặt. Và đó là bi kịch. Ta giữ được cái đúng của mình mà đánh mất một con người. Ta thắng được cuộc tranh luận mà mất tình nghĩa. Ta chứng minh mình không sai nhưng trong lòng chẳng còn bình an. Đức Giêsu không gọi chúng ta đến để thắng mọi cuộc tranh luận. Người gọi chúng ta đến để thuộc về sự thật.
Sống theo lương tâm không dễ, nhất là khi cả môi trường chung quanh đang đi theo hướng khác. Có những lúc một người trẻ biết điều bạn bè rủ rê là sai, nhưng nếu từ chối thì sợ bị chê là quê, là yếu, là không biết chơi. Có một nhân viên biết một chỉ thị không đúng nhưng sợ mất việc. Có một người kinh doanh biết cách làm ấy gian dối nhưng sợ mất khách. Có người trong một tập thể thấy một người khác bị đối xử bất công nhưng không dám lên tiếng vì sợ liên lụy. Có những lúc im lặng là khôn ngoan, nhưng cũng có những lúc im lặng trở thành đồng lõa. Không phải cứ lên tiếng là can đảm, và không phải cứ im lặng là hèn. Điều quan trọng là phải phân định trước mặt Chúa: sự im lặng của tôi lúc này đến từ bình an hay đến từ sợ hãi? Tôi không nói vì lời nói không còn ích lợi, hay tôi không nói vì quyền lợi của mình bị đe dọa? Tôi đang nhẫn nhịn vì yêu thương, hay tôi đang nhắm mắt trước điều sai vì muốn được yên thân? Đời sống lương tâm không thể được xây bằng những công thức đơn giản. Vì thế người Kitô hữu cần cầu nguyện. Không cầu nguyện, ta rất dễ gọi ý riêng là ý Chúa. Không cầu nguyện, ta có thể nhân danh “sự thật” để bảo vệ cái tôi. Không cầu nguyện, ta có thể tưởng rằng mình đang chiến đấu cho Tin Mừng trong khi thật ra chỉ đang chiến đấu cho vị trí của mình. Cần quỳ xuống đủ lâu để lòng mình lắng lại. Cần đặt vấn đề trước Thánh Thể. Cần đọc Lời Chúa không phải để tìm một câu chứng minh mình đúng nhưng để cho Chúa sửa mình. Cần có những người khôn ngoan mà mình cho phép họ nói thật với mình. Ai chỉ giữ quanh mình những người luôn đồng ý với mình thì rất nguy hiểm. Người có quyền càng cần những người dám nói thật. Người làm cha mẹ cần một người bạn dám nói thật. Người linh mục cần anh em dám nói thật. Người lãnh đạo cần cộng sự dám nói thật. Bởi khi người ta chỉ nghe những gì mình muốn nghe, họ dần sống trong một thế giới do chính mình dựng nên. Và trong thế giới ấy, mọi điều mình làm đều có vẻ đúng. Philatô cũng vậy. Ông biết Đức Giêsu vô tội. Lương tâm ông biết. Chính miệng ông nhiều lần xác nhận không tìm thấy lý do kết án Người. Nhưng ông sợ đám đông. Ông sợ mất vị trí. Ông sợ chuyện đến tai hoàng đế. Và cuối cùng, ông rửa tay. Một cử chỉ rất đặc biệt: rửa tay để nói rằng mình vô can. Nhưng nước có thể rửa bàn tay, không rửa được lương tâm. Có những lần chúng ta cũng “rửa tay” như Philatô. “Tôi chỉ làm theo lệnh.” “Ai cũng làm thế.” “Tôi đâu phải người quyết định.” “Chuyện đó không liên quan đến tôi.” “Tôi không muốn dính vào.” Nhưng trước mặt Chúa, ta không thể rửa tay khỏi trách nhiệm đạo đức của mình chỉ bằng vài lời biện minh.
Có lẽ điều đau nhất trong câu chuyện Philatô là ông đứng trước chính Sự Thật mà lại hỏi: “Sự thật là gì?” Ông hỏi, nhưng dường như không chờ câu trả lời. Sự Thật đang đứng trước mặt ông: Đức Giêsu. Và đây cũng là nguy cơ của đời sống đạo: ta có thể ở rất gần những điều thánh mà vẫn không gặp được Chúa. Có thể nghe Lời Chúa mỗi ngày mà Lời Chúa không chạm vào cách mình sống. Có thể đứng trước Thánh Thể mà lòng vẫn đầy gian dối. Có thể giảng về tình yêu nhưng sống cay nghiệt. Có thể nói về nghèo khó nhưng lòng dính chặt với tiền. Có thể nói về khiêm nhường nhưng không chịu nổi một lời phê bình. Có thể nói về tha thứ mà giữ một mối hận nhiều năm. Có thể nói về sự thật nhưng lại chỉ thích những sự thật có lợi cho mình. Điều Chúa mong không phải là chúng ta trở thành những người nói về chân lý thật giỏi. Điều Chúa mong là chân lý biến đổi đời mình. Có những lúc sự thật rất đơn sơ. Một người vợ biết mình đang lạnh lùng với chồng. Một người chồng biết mình đang dành cho công việc quá nhiều mà gia đình quá ít. Một người con biết cha mẹ đang già và cô đơn nhưng cứ viện cớ bận. Một người biết mình đang nghiện điện thoại nhưng không chịu thay đổi. Một người biết mình nói quá nhiều về người khác. Một người biết mình đang có mối quan hệ không đúng. Một người biết mình đang giữ một món tiền không thuộc về mình. Một người biết có một lời xin lỗi mình phải nói từ lâu. Một người biết có một người mình phải tha thứ. Một người biết có một tội cần đem đến tòa giải tội nhưng cứ trì hoãn. Ta biết. Chúa biết. Và rất nhiều khi chẳng cần thêm một bài giảng nào nữa. Chỉ cần vâng theo điều mình đã biết. Vấn đề của chúng ta nhiều khi không phải thiếu ánh sáng, nhưng thiếu can đảm bước theo ánh sáng.
Thưa anh chị em, mỗi người chỉ có một đời để sống. Có những thứ mất rồi còn tìm lại được. Mất tiền còn kiếm lại. Mất một cơ hội có thể có cơ hội khác. Mất sức khỏe đôi khi còn chữa được. Nhưng nếu một người đánh mất lương tâm, họ đánh mất chiếc la bàn của đời mình. Khi chiếc la bàn ấy sai, càng đi nhanh càng xa đường. Người ta có thể thành công mà sai đường. Có thể được nhiều người khen mà sai đường. Có thể giàu có mà sai đường. Có thể rất nổi tiếng mà sai đường. Có thể có một vẻ ngoài đạo đức mà vẫn sai đường. Sự thành công không chứng minh rằng ta đang sống đúng. Đôi khi con đường sai lại rất rộng, rất đông người và rất dễ đi. Chúa từng nói đường dẫn đến sự sống thì hẹp. Không phải vì Chúa muốn làm khó con người, nhưng vì chân lý luôn đòi chúng ta bỏ lại một điều gì đó: bỏ một chút kiêu ngạo, bỏ một chút ích kỷ, bỏ một chút tham lam, bỏ một chút giả dối, bỏ một chút tự ái. Có khi theo sự thật là chấp nhận mình bị thiệt. Nhưng xin nhớ: thà thiệt trước mặt người đời còn hơn mất bình an trước mặt Chúa. Thà mất một món lợi còn hơn mất lòng tự trọng. Thà người ta hiểu lầm mình một thời gian còn hơn mình phải sống cả đời trong giả dối. Thà nghèo mà ngủ yên còn hơn giàu mà mỗi tiếng động đều làm mình sợ. Thà nói một lời xin lỗi khó khăn còn hơn kéo một vết thương suốt nhiều năm. Thà đau vì sự thật một lần còn hơn sống với lời nói dối cả đời.
Và có một điều rất an ủi: sự thật của Chúa không nhằm làm ta tuyệt vọng. Khi ánh sáng chiếu vào căn phòng, nó cho ta thấy bụi không phải để chế nhạo căn phòng, nhưng để căn phòng được dọn sạch. Khi Chúa cho ta thấy tội, Người không cho thấy để ta ghét mình, nhưng để ta quay về. Sự thật của Tin Mừng luôn đi cùng lòng thương xót. Phêrô phải đối diện với sự thật rằng ông đã chối Thầy ba lần. Đau lắm. Nhưng chính sự thật ấy đưa ông đến nước mắt, và nước mắt ấy mở đường cho một Phêrô mới. Người con hoang đàng phải đối diện với sự thật: “Tôi ở đây sắp chết đói, trong khi ở nhà cha tôi…” Chính lúc không còn tự lừa dối mình nữa, anh bắt đầu đứng lên trở về. Chúng ta cũng thế. Bất cứ cuộc trở về nào cũng bắt đầu từ phút ta ngừng biện minh. “Lạy Chúa, con đã sai.” Chỉ một câu ấy, cánh cửa ân sủng mở ra. Chúa không sợ sự thật về ta. Chính ta mới sợ. Chúa đã biết hết rồi. Người biết những góc tối. Người biết những lần ta thất bại. Người biết những tội chưa ai biết. Người biết cả những điều ta cố quên. Nhưng Người vẫn yêu. Vì thế ta có thể sống thật trước mặt Người. Không cần diễn. Không cần che. Không cần làm ra vẻ mạnh khi đang yếu. Không cần làm ra vẻ thánh thiện khi đang chiến đấu với tội. Cứ đến như mình đang là, nhưng đừng ở mãi như mình đang là. Hãy để ánh mắt Đức Kitô đưa ta từ sự thật về tội lỗi đến sự thật lớn hơn: ta là người được yêu, được tha thứ, được gọi để bắt đầu lại.
“Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi.” Hôm nay, có lẽ Chúa không hỏi chúng ta những câu quá lớn. Người chỉ hỏi: “Con có thật không?” Thật trong cầu nguyện. Thật trong lời nói. Thật trong tiền bạc. Thật trong tình cảm. Thật với vợ, với chồng, với con cái, với cha mẹ. Thật trong công việc. Thật với cộng đoàn. Thật với chính mình. Có những người sống cả đời để xây dựng một hình ảnh, đến cuối cùng lại chẳng biết con người thật của mình là ai. Có những người làm mọi cách để người khác nghĩ tốt về mình, nhưng quên mất rằng điều quan trọng nhất không phải người ta nghĩ gì, mà Chúa thấy gì. Ngày ta chết, những lớp vỏ ấy sẽ rơi hết. Danh xưng ở lại. Chức vụ ở lại. Tiền bạc ở lại. Người ta có thể nói vài lời tốt đẹp trong đám tang, rồi ai cũng trở về nhà. Chỉ còn ta đứng trước Thiên Chúa. Lúc ấy chẳng còn gì để giấu. Vậy tại sao không sống ngay từ hôm nay như người sẽ có ngày đứng trước mặt Người? Không phải để sợ, nhưng để được tự do. Người sống thật là người tự do. Không phải nhớ mình đã nói dối ai điều gì. Không phải lo hôm nay bí mật bị lộ. Không phải thay đổi khuôn mặt tùy người đối diện. Không phải chạy theo từng lời khen chê. Cái đẹp của một người sống thật là họ có thể bình thản. Họ chẳng hoàn hảo, nhưng họ không giả. Họ có thể sai, nhưng biết nhận sai. Họ có thể yếu, nhưng không biến yếu đuối thành lý do để tiếp tục phạm tội. Họ có thể ngã, nhưng đứng lên. Họ không cần chứng minh mình tốt hơn người khác. Họ chỉ cần mỗi ngày tốt hơn con người của mình hôm qua.
Xin cho mỗi chúng ta hôm nay biết trở về với nơi rất sâu trong lòng mình, nơi chỉ có ta và Chúa. Đóng cửa lại một lúc. Tắt bớt những tiếng ồn. Đừng hỏi thiên hạ đang nói gì. Hãy hỏi Chúa đang nói gì. Có điều gì Chúa đã nói với tôi nhiều lần mà tôi cứ giả vờ không nghe? Có một sự thật nào về mình mà tôi đang trốn tránh? Có một thói quen nào tôi biết là không tốt nhưng cứ gọi bằng một cái tên nhẹ hơn để khỏi phải thay đổi? Có một người nào tôi đã xử không công bằng? Có món nợ nào cần trả? Có lời xin lỗi nào cần nói? Có mối hận nào cần buông? Có việc gì tôi đang làm chỉ vì sợ mất lòng người khác, dù biết không đẹp lòng Chúa? Có một quyết định nào lương tâm đã nhắc nhưng tôi cứ trì hoãn? Đừng sợ những câu hỏi ấy. Chính nơi đó Chúa đang đợi. Chúng ta không cần sửa cả cuộc đời trong một ngày. Nhưng hôm nay có thể bắt đầu bằng một sự thật. Một cuộc điện thoại. Một lời xin lỗi. Một lần xưng tội. Một món tiền trả lại. Một lời nói dối được chấm dứt. Một quyết định từ bỏ. Một cuộc hòa giải. Một việc thiện làm âm thầm. Một giờ cầu nguyện thật lòng. Chỉ một bước thôi. Nhưng một bước về phía ánh sáng vẫn là một bước ra khỏi bóng tối.
Và nếu một ngày nào đó vì sống thật mà ta phải trả giá, xin hãy nhìn lên Đức Giêsu trước mặt Philatô. Người cũng đã trả giá. Nếu có lúc ta bị hiểu lầm vì không chịu thỏa hiệp với điều sai, hãy nhìn Người. Nếu có lúc ta cô đơn vì không đi theo đám đông, hãy nhìn Người. Nếu có lúc ta mất một lợi lộc vì muốn giữ lương tâm trong sạch, hãy nhìn Người. Nếu có lúc nói thật làm ta đau, hãy nhìn Người. Đức Kitô đứng đó, bị trói nhưng tự do hơn tất cả những người đang xét xử Người. Philatô có quyền nhưng lại bị nỗi sợ trói buộc. Đức Giêsu không có quyền lực trần thế nhưng hoàn toàn tự do, bởi Người không sợ mất gì khi đã thuộc trọn về Cha. Đó là nghịch lý của Tin Mừng: người giữ chặt mọi thứ có thể trở thành nô lệ; người dám mất mọi thứ vì sự thật lại trở nên tự do. Thập Giá tưởng như là thất bại cuối cùng của sự thật, nhưng Phục Sinh cho thấy sự thật có thể bị đóng đinh chứ không thể bị tiêu diệt. Người ta có thể bịt miệng một con người nhưng không thể chôn vùi chân lý. Người ta có thể làm cho sự thật phải chịu đau một thời gian, nhưng cuối cùng ánh sáng vẫn là ánh sáng.
Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ là những người “biết đạo”, nhưng là những người thuộc về sự thật. Đừng chỉ có một đức tin trên môi, nhưng có một lương tâm được Tin Mừng uốn nắn. Đừng chỉ xin Chúa nói với mình, nhưng xin cả ơn can đảm để nghe điều mình không muốn nghe. Đừng chỉ xin Chúa chỉ đường, nhưng xin can đảm bước đi khi con đường ấy khó. Và mỗi tối trước khi ngủ, có lẽ ta chỉ cần đặt tay lên ngực mình và hỏi một câu rất đơn sơ: “Hôm nay, con đã sống thật chưa?” Nếu sai, xin lỗi Chúa. Nếu ngã, đứng lên. Nếu làm ai đau, hãy tìm cách chữa. Nếu đã sống đúng mà bị thiệt, hãy bình an. Bởi cuối cùng, điều quý nhất không phải là ta giữ được bao nhiêu, mà là sau tất cả những thăng trầm của một đời người, ta vẫn giữ được một trái tim trong sáng đủ để nhận ra tiếng của Đức Kitô và một lương tâm đủ tự do để thưa với Người: “Lạy Chúa, con muốn thuộc về sự thật. Xin đừng để con bán sự thật vì một chút lợi lộc, đừng để con bóp méo sự thật vì tự ái, đừng để con dùng sự thật làm tổn thương người khác, cũng đừng để con im lặng vì hèn nhát. Xin cho con yêu sự thật vì sự thật chính là Chúa. Xin cho con nghe được tiếng Chúa giữa muôn tiếng nói của cuộc đời. Và khi phải chọn giữa được lòng người đời với được bình an trước mặt Chúa, xin cho con biết chọn Chúa. Bởi một ngày kia, mọi tiếng nói sẽ im, mọi lời khen chê sẽ qua, mọi điều che giấu sẽ được tỏ lộ, và điều còn lại chỉ là con đã sống thế nào trước Sự Thật là chính Ngài.”
Lm. Anmai, CSsR

CHÚA KHÔNG CẦN THẮNG MỘT CUỘC TRANH LUẬN – CHÚA MUỐN CỨU MỘT CON NGƯỜI
Tin Mừng: Ga 18,33-38
Có lẽ chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện để nói như hôm nay, và cũng có lẽ chưa bao giờ con người khó nghe nhau như hôm nay. Chỉ cần một chiếc điện thoại trong tay, ai cũng có thể phát biểu, bình luận, phản bác, phê phán, kết luận về một con người mà mình chưa từng gặp, về một câu chuyện mà mình chỉ biết một phần, về một biến cố mà mình chưa hề kiểm chứng đến nơi đến chốn. Mạng xã hội đã cho mỗi người một cái bục để đứng lên nói, nhưng đáng tiếc là không phải lúc nào nó cũng cho ta một trái tim đủ rộng để lắng nghe. Có những cuộc tranh luận bắt đầu bằng một chuyện rất nhỏ rồi kết thúc bằng những lời làm tổn thương nhau rất lớn. Có những người vào một cuộc đối thoại với ý định ban đầu là bảo vệ sự thật, nhưng sau cùng lại chỉ còn muốn bảo vệ cái tôi. Có những người nói rằng mình đang bênh vực điều đúng, nhưng trong cách nói lại không còn một chút dịu dàng nào của tình yêu. Có những khi ta thắng được một cuộc cãi vã, khiến đối phương cứng họng, không còn lời để đáp, nhưng cũng chính lúc ấy ta làm mất một người anh em. Ta có thể đúng, rất đúng, nhưng cách ta dùng cái đúng ấy lại khiến người khác bị nghiền nát. Và đứng trước một thế giới thích hơn thua bằng lời như thế, Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta vào một căn phòng rất lạ: Đức Giêsu đứng trước Philatô. Một bên là người có quyền xét xử, một bên là người sắp bị xét xử. Một bên ngồi trên ghế quyền lực, một bên bị trói như một phạm nhân. Một bên có quân lính và luật pháp phía sau, một bên tưởng như chẳng có gì trong tay. Nếu nhìn theo cái nhìn của thế gian, Đức Giêsu đang ở thế yếu tuyệt đối. Thế nhưng đọc thật chậm cuộc đối thoại trong Ga 18,33-38, ta lại nhận ra một điều kỳ lạ: người bị xét xử mới là người hoàn toàn tự do, còn người ngồi ghế xét xử mới là người đang bối rối đi tìm câu trả lời cho đời mình.
Philatô hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Chúa Giêsu không vội vàng trả lời theo kiểu người ta tranh luận. Người hỏi ngược lại: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” Một câu hỏi rất sâu. Đức Giêsu không chỉ quan tâm đến câu hỏi trên môi Philatô, Người muốn chạm đến điều đang xảy ra trong lòng ông. “Ngài tự ý nói điều ấy hay nghe người ta nói?” Nói cách khác: Philatô, điều ông đang hỏi là điều ông thật sự muốn biết, hay ông chỉ đang lặp lại những gì đám đông nói? Ông đang đi tìm sự thật, hay ông chỉ đang làm cho xong một vụ án? Ông đang hỏi về Ta vì chính lòng ông khắc khoải, hay chỉ vì áp lực chính trị đang buộc ông phải hỏi? Đây cũng là câu hỏi Đức Giêsu có thể đặt cho mỗi chúng ta hôm nay: điều ta đang nói về một người khác có thật sự xuất phát từ sự hiểu biết của ta không, hay ta chỉ đang nhắc lại điều người ta nói? Điều ta đang phê phán có phải điều chính mắt ta thấy, chính tai ta nghe, chính lòng ta cân nhắc, hay ta chỉ đọc một mẩu tin, xem một đoạn video bị cắt, nghe một lời kể rồi vội vàng kết luận? Bao nhiêu sự bất công trên mạng xã hội bắt đầu từ hai chữ “nghe nói”. Bao nhiêu danh dự bị bôi nhọ bởi một bài đăng không được kiểm chứng. Bao nhiêu người bị đóng đinh trên cây thập giá dư luận chỉ vì người ta truyền nhau một câu chuyện mà chẳng ai buồn tìm hiểu đầu đuôi. Chúng ta sống trong thời đại mà tin giả chạy nhanh hơn sự thật, bởi sự thật thường cần thời gian để kiểm chứng, còn tin giật gân chỉ cần một giây để bấm nút chia sẻ. Và rồi rất nhiều người trong chúng ta, có khi cả những người đạo đức, cũng vô tình trở thành những chiếc đinh đóng vào danh dự của người khác bằng ngón tay của mình trên màn hình.
Philatô tiếp tục nói: “Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” Câu hỏi ấy nghe rất bình thường nhưng lại cho thấy cách thế con người thường nhìn nhau: người kia đã làm gì? Sai chỗ nào? Có tội gì? Có chuyện gì để kết án? Thật lạ, con người thường dễ tò mò về lỗi của nhau hơn là đau với nỗi đau của nhau. Một người vấp ngã, điều đầu tiên nhiều người muốn biết không phải “anh ấy có đau không?”, mà là “anh ấy đã làm gì?” Một gia đình đổ vỡ, người ta không hỏi “họ đang khổ thế nào?”, mà hỏi “lỗi tại ai?” Một linh mục gặp khủng hoảng, một tu sĩ có vấn đề, một người trẻ sa sút, một cuộc hôn nhân rạn nứt, một người nổi tiếng bị vướng scandal, lập tức đám đông kéo tới không phải để cứu mà để xét. Và càng nhiều người vào bình luận, vụ việc càng trở thành một sân khấu. Nỗi đau của một con người biến thành nội dung giải trí cho đám đông. Người thật phía sau màn hình có thể đang khóc, đang tuyệt vọng, đang muốn biến mất khỏi cuộc đời, nhưng người ta vẫn tiếp tục “thả” những lời cay độc bởi người ta không nhìn thấy đôi mắt ấy, không nghe được tiếng thở dài ấy. Mạng xã hội rất nguy hiểm ở chỗ nó làm ta quên rằng phía bên kia màn hình không phải là một tài khoản, mà là một con người. Không phải một avatar, mà là một tâm hồn. Không phải một cái tên để mình công kích, mà là một người đã được Thiên Chúa dựng nên, được Đức Kitô đổ máu cứu chuộc.
Đức Giêsu trả lời Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” Câu nói ấy không có nghĩa là Đức Giêsu không quan tâm đến thế giới, nhưng Người muốn nói rằng cách Người làm vua khác hoàn toàn cách thế gian hiểu quyền lực. Vương quyền của thế gian thường muốn thắng người khác; vương quyền của Đức Kitô muốn thắng sự dữ bằng tình yêu. Quyền lực thế gian muốn làm đối phương câm miệng; Đức Kitô muốn làm trái tim đối phương thức tỉnh. Người không cần chiến thắng một cuộc tranh luận bởi Người không đến để chứng minh rằng Người thông minh hơn Philatô. Người đến để cứu Philatô, cứu những thượng tế đang ghét Người, cứu đám đông đang la hét “đóng đinh nó đi”, cứu cả tên lính sẽ đóng đinh vào tay Người. Đó mới là điều làm chúng ta sững sờ. Đức Giêsu không đứng trước Philatô với tâm thế: “Ta phải thắng ông.” Người đứng đó với tâm thế: “Ta muốn cứu ông.” Và đây chính là khác biệt rất lớn giữa Đức Kitô với chúng ta. Khi bị ai hiểu lầm, chúng ta muốn chứng minh mình đúng. Khi bị ai phê bình, chúng ta muốn đáp trả. Khi bị ai nói xấu, ta muốn họ phải trả giá. Khi tranh luận, ta muốn có câu cuối cùng. Ta vui khi đối phương không còn gì để nói. Ta tưởng như thế là chiến thắng. Nhưng Tin Mừng hỏi ta: thắng rồi thì sao? Nếu anh thắng một cuộc tranh luận mà mất một người anh em thì anh thật sự thắng hay thua? Nếu chị chứng minh được mình đúng nhưng làm một người khác mang vết thương nhiều năm thì cái đúng ấy có còn mang khuôn mặt của Tin Mừng không? Nếu một người Công giáo bảo vệ giáo lý rất đúng nhưng dùng lời lẽ khinh miệt, cay độc, nhục mạ người khác, thì người ấy đang bảo vệ Đức Kitô hay đang làm cho khuôn mặt Đức Kitô bị méo mó?
Đây là điều cần nói thật sâu trong thời đại mạng xã hội. Chúng ta đang sống giữa một nền văn hóa mà thuật toán thường thưởng cho sự cực đoan. Một lời nói nhẹ nhàng ít ai chú ý; một câu công kích lại được chia sẻ rất nhanh. Một bài viết quân bình có thể chẳng được mấy người quan tâm; một tiêu đề gây sốc lại kéo hàng chục ngàn lượt xem. Người ta học cách làm người khác nổi giận để tăng tương tác. Người ta biết rằng càng gây chia rẽ càng dễ nổi tiếng. Và rồi, rất nguy hiểm, ngay cả người Kitô hữu cũng có thể bị cuốn vào nhịp ấy. Ta bắt đầu nghĩ rằng mình phải nói mạnh hơn, cay hơn, châm biếm hơn, làm đối phương “quê” hơn thì mới gọi là bảo vệ chân lý. Nhưng Đức Giêsu không cứu thế giới bằng cách làm nhục đối phương. Người cứu bằng cách để mình bị làm nhục. Người không trả lại một cái tát bằng một cái tát. Người không nguyền rủa những kẻ nguyền rủa mình. Trên Thập Giá, khi quyền lực thế gian tưởng đã bắt Người im tiếng, Người vẫn mở miệng, nhưng không phải để kết án: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó mới là tiếng nói có sức cứu độ. Nói một câu làm người khác đau rất dễ. Nói một câu khiến người làm mình đau có thể quay về mới khó. Chiến thắng một đối thủ dễ hơn cứu một linh hồn. Chúa chọn điều khó hơn.
Philatô hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” Chúa không né sự thật. Chúa không nói rằng yêu thương có nghĩa là cái gì cũng cho qua, sai cũng thành đúng, đúng cũng thành sai. Không. Đức Giêsu đến để làm chứng cho sự thật. Nhưng hãy để ý: Người “làm chứng” cho sự thật chứ không dùng sự thật như một viên đá để ném vào đầu người khác. Sự thật trong Đức Kitô không bao giờ tách khỏi tình yêu. Thánh Phaolô sau này nói rất đẹp: hãy sống “sự thật trong tình bác ái”. Một sự thật không có tình yêu rất dễ trở thành bạo lực. Một tình yêu không có sự thật lại trở thành dễ dãi. Đức Kitô giữ cả hai. Người có thể nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi không kết án chị”, nhưng ngay sau đó cũng nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Người không ném đá chị, nhưng cũng không gọi tội là điều tốt. Người cứu con người trước rồi giúp con người bước ra khỏi tội. Người không đứng về phía tội lỗi, nhưng cũng không đứng về phía đám đông muốn giết người tội lỗi. Cái nhìn của Chúa luôn phân biệt rất rõ: tội phải bị loại bỏ, nhưng người tội lỗi phải được cứu. Còn chúng ta rất hay làm ngược lại: có khi ta dung túng tội nhưng lại tiêu diệt con người.
Có những người nhân danh “nói thẳng” để làm đau người khác. “Tôi có sao nói vậy.” “Sự thật mất lòng.” “Tôi chỉ nói sự thật.” Nhưng không phải cứ đúng là phải nói ngay, và không phải cứ nói sự thật là đã sống theo Tin Mừng. Còn phải hỏi: tôi nói để làm gì? Tôi nói để người ấy tốt hơn hay để tôi hả giận? Tôi góp ý để cứu người ấy hay để chứng minh tôi hơn người ấy? Tôi đăng chuyện này lên mạng vì lợi ích chung hay vì muốn mọi người cùng ghét một người mà tôi đang ghét? Tôi đưa lỗi của người khác ra công khai vì không còn con đường nào khác hay vì thích được đám đông đồng tình? Đây là những câu hỏi rất khó nhưng rất cần. Đức Giêsu không chỉ nhìn nội dung của lời nói, Người nhìn động cơ nằm sau lời nói. Một câu nói hoàn toàn đúng về mặt dữ kiện vẫn có thể hoàn toàn sai về mặt bác ái. Có khi ta không nói dối một chữ nào mà vẫn phạm lỗi nặng với danh dự của người khác, bởi ta nói một sự thật không cần thiết, không đúng nơi, không đúng lúc, với một ý định xấu. Không phải mọi sự thật mình biết đều cần đem lên Facebook. Không phải mọi sai lầm của người khác đều cần biến thành một bài đăng. Không phải chuyện nào mình nghe cũng có nghĩa vụ phải chia sẻ. Có những điều giữ lại trong lòng là bác ái. Có những chuyện chỉ nên nói trực tiếp với người liên quan. Có những vết thương nếu đem phơi ra trước đám đông sẽ không chữa được mà chỉ nhiễm trùng thêm.
Chúng ta thử nhớ lại cách Đức Giêsu sửa lỗi các môn đệ. Phêrô sai rất nhiều. Ông từng ngăn Chúa đi vào con đường Thập Giá, từng khoe rằng dù mọi người bỏ Thầy con cũng không bỏ, rồi chỉ vài giờ sau chối Thầy ba lần. Nếu Đức Giêsu sống trong thời đại mạng xã hội và hành xử như chúng ta, có lẽ Người có thể đăng một dòng: “Có những người nói hay lắm, lúc khó khăn thì chẳng thấy đâu.” Chỉ cần như thế, cả cộng đồng sẽ đoán ra là Phêrô. Nhưng Chúa không làm vậy. Sau Phục Sinh, Chúa gặp riêng ông bên bờ hồ. Người không nhắc lại ba lần phản bội, Người hỏi ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Chúa không xóa nhẹ tội của Phêrô, nhưng Chúa chữa ông bằng cách khơi lại tình yêu. Chúa không hỏi: “Tại sao con làm nhục Thầy?” mà hỏi: “Con có còn yêu Thầy không?” Chỉ một Thiên Chúa muốn cứu con người mới hỏi như thế.
Giuđa cũng vậy. Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu biết ai sẽ phản bội mình. Người có đủ lý do để vạch mặt Giuđa trước nhóm Mười Hai. Nếu Người nói ngay: “Chính hắn”, chắc chắn các môn đệ sẽ xử lý Giuđa trước khi hắn kịp ra khỏi phòng. Nhưng Chúa không làm nhục ông. Người vẫn cho ông một cơ hội cuối cùng. Người trao miếng bánh cho ông, một cử chỉ thân tình. Trong vườn Cây Dầu, khi Giuđa đến với quân lính và dùng cái hôn để phản bội, Chúa vẫn gọi: “Này bạn.” Đọc chữ “bạn” ấy mà thấy đau. Không phải vì Chúa không biết Giuđa đang làm gì. Chúa biết rõ. Nhưng đến giây phút cuối cùng, Chúa vẫn không muốn Giuđa chỉ còn thấy mình là một kẻ phản bội; Chúa muốn ông nhớ rằng ông từng là một người bạn. Có khi một con người được cứu chỉ vì giữa lúc họ tệ nhất vẫn có ai đó gọi họ bằng tên của tình thương.
Còn chúng ta, nhiều khi một người chỉ sai với ta một chuyện thôi là ta đổi tên họ trong lòng ngay. Từ “người anh em” thành “thằng đó”, từ “chị ấy” thành “bà ấy”, từ “người đồng nghiệp” thành “kẻ đó”. Khi ngôn ngữ thay đổi, trái tim cũng đã thay đổi. Rồi từ chỗ không thích một việc họ làm, ta đi đến không thích con người họ. Từ chỗ phê bình một hành vi, ta kết luận cả nhân cách. “Nó là loại người như thế.” “Con người đó không thay đổi được đâu.” “Hạng ấy thì…” Đó là lúc ta đã tự ngồi lên ghế thẩm phán mà quên mình cũng là người cần lòng thương xót. Đức Giêsu không bao giờ giản lược một người vào trong lỗi lầm tệ nhất của họ. Người phụ nữ Samari không chỉ là người đã có năm đời chồng. Dakêu không chỉ là một người thu thuế tham lam. Maria Mađalêna không chỉ là quá khứ của bà. Phêrô không chỉ là kẻ chối Thầy. Phaolô không chỉ là người từng bắt bớ Hội Thánh. Trong mắt Đức Giêsu, một con người luôn lớn hơn tội của họ, lớn hơn quá khứ của họ, lớn hơn lời đồn về họ, lớn hơn cái nhãn mà xã hội dán lên họ.
Bởi vậy, người môn đệ Đức Kitô phải tập nhìn con người như Chúa nhìn. Điều này đặc biệt quan trọng trên mạng xã hội. Mỗi lần viết một bình luận, hãy nhớ: có một con người sẽ đọc nó. Mỗi lần chia sẻ một tin xấu về ai, hãy nhớ: người ấy có cha mẹ, có vợ hoặc chồng, có con cái, có những người yêu thương họ. Mỗi lần cười cợt một scandal, hãy nhớ: phía sau câu chuyện ấy có thể là một gia đình đang không dám ra đường. Mỗi lần hùa theo đám đông để tấn công ai đó, hãy nhớ cảnh dinh Philatô năm xưa. Đám đông luôn rất mạnh khi cùng hét một câu. “Đóng đinh nó đi!” Không ai cảm thấy mình chịu trách nhiệm bởi ai cũng nghĩ: người khác cũng nói như thế. Nhưng một đám đông vô trách nhiệm có thể giết một người. Ngày xưa họ hét bằng miệng. Hôm nay ta có thể hét bằng bàn phím. Ngày xưa họ ném đá. Hôm nay ta ném emoji, ảnh chế, lời mỉa mai, những câu bình luận tưởng vô hại. Đá đổi hình thức nhưng nỗi đau vẫn là thật.
Có một thứ nghiện rất kín đáo của thời đại hôm nay: nghiện cảm giác mình đúng. Cảm giác ấy dễ chịu lắm. Khi ai đó đồng ý với ta, ta thấy mình được xác nhận. Khi bài đăng của mình có nhiều lượt thích, ta càng tin rằng mình đúng. Khi cả một nhóm cùng đứng về phía ta, ta bắt đầu nghĩ rằng chắc chắn Chúa cũng đứng về phía ta. Nhưng đám đông chưa bao giờ là bảo chứng tuyệt đối của chân lý. Ngày Đức Giêsu bị kết án, đám đông cũng rất đông. Ngày Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô”, ông chỉ là một tiếng nói giữa nhiều ý kiến khác nhau. Chân lý không được quyết định bằng số lượt thích. Sự thật không trở thành sai vì ít người ủng hộ, cũng không trở thành đúng vì hàng triệu người chia sẻ. Người Kitô hữu phải đủ tự do để không chạy theo đám đông. Trước khi share, phải biết dừng. Trước khi bình luận, phải biết nghĩ. Trước khi kết án, phải biết cầu nguyện. Có khi cách sống Tin Mừng can đảm nhất hôm nay chỉ đơn giản là không tham gia vào một cuộc ném đá tập thể.
Một câu hỏi rất đẹp để tự xét mình là: trước khi viết điều này, tôi có cầu nguyện cho người tôi sắp viết về không? Nếu chưa bao giờ cầu nguyện cho họ mà đã sẵn sàng viết mười đoạn để kết án họ, có lẽ ta nên coi lại lòng mình. Rất khó vừa cầu nguyện thật lòng cho một người vừa tiếp tục muốn hủy diệt họ. Cầu nguyện không làm sai thành đúng, nhưng cầu nguyện làm trái tim ta bớt độc. Khi đặt một người trước mặt Chúa, ta bắt đầu nhớ rằng Chúa yêu họ. Khi nói tên một người trong lời cầu nguyện, ta khó coi họ chỉ là kẻ thù. Chúa Giêsu dạy: “Hãy cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” Không phải vì người ngược đãi ta luôn đúng, nhưng vì nếu ta không cầu nguyện, cái ác của họ có thể dần biến ta thành người giống họ.
Có người sẽ hỏi: vậy người Kitô hữu có được tranh luận không? Dĩ nhiên có. Có những điều phải lên tiếng. Có bất công cần phải phản đối. Có sai lầm cần được sửa. Có giáo huấn phải được bảo vệ. Im lặng trước sự dữ không phải lúc nào cũng là bác ái. Nhưng vấn đề là cách ta lên tiếng. Người môn đệ Đức Kitô không chỉ hỏi: “Điều tôi nói có đúng không?” mà còn phải hỏi: “Cách tôi nói có giống Chúa không?” Đây là tiêu chuẩn rất cao. Bởi ta có thể bảo vệ chân lý bằng một cách hoàn toàn không giống Đấng là Chân Lý. Ta có thể nói về lòng thương xót bằng giọng đầy cay nghiệt. Ta có thể nhân danh Đức Kitô để sỉ nhục một người mà chính Đức Kitô đã chết cho họ. Ta có thể thắng về lý nhưng thất bại hoàn toàn về Tin Mừng.
Đọc Ga 18, ta thấy Đức Giêsu không hề run sợ trước Philatô. Người không thỏa hiệp. Người nói rõ về vương quốc, về sự thật, về sứ mạng của mình. Nhưng Người không xúc phạm Philatô. Người không châm biếm ông. Người không gọi ông là con rối của Rôma, dù trên thực tế Philatô đang bị áp lực chính trị chi phối rất nhiều. Chúa nói sự thật mà vẫn để ngỏ một cánh cửa cho Philatô bước vào. Thậm chí câu “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” giống như một lời mời hơn là một lời kết án. Philatô có thể nghe. Ông vẫn còn một cơ hội. Chúa không ép ông. Người chỉ đặt sự thật trước mặt ông.
Rồi Philatô hỏi một câu nổi tiếng: “Sự thật là gì?” Một câu hỏi nghe rất triết học nhưng cũng rất buồn, bởi Sự Thật đang đứng ngay trước mặt ông mà ông không nhận ra. Đôi khi chúng ta cũng vậy. Ta tranh luận rất nhiều về sự thật nhưng quên rằng sự thật Kitô giáo trước hết không phải là một hệ thống lý luận; Sự Thật là một Ngôi Vị: Đức Giêsu Kitô. “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” Vì thế bảo vệ sự thật trước hết là sống giống Đức Giêsu. Nếu trong khi bảo vệ “sự thật” mà ta ngày càng kiêu ngạo, hung dữ, khinh người, thích hạ nhục, thì phải tự hỏi: ta đang bảo vệ sự thật nào? Sự thật của Đức Kitô làm con người tự do, không biến con người thành nô lệ cho hận thù. Sự thật của Đức Kitô soi sáng, không thiêu cháy người khác. Sự thật của Đức Kitô có Thập Giá ở trung tâm, nghĩa là người làm chứng cho sự thật sẵn sàng chịu thiệt về mình hơn là gây tổn thương không cần thiết cho người khác.
Có một bài học rất đau mà đời sống cộng đoàn, gia đình, giáo xứ, hội đoàn đều phải học: nhiều rạn nứt không bắt đầu từ những vấn đề quá lớn, mà từ việc ai cũng muốn mình có câu cuối cùng. Chồng muốn vợ phải nhận mình sai. Vợ muốn chồng phải chịu thua. Cha mẹ muốn con cái biết rằng mình mới đúng. Con cái muốn chứng minh cha mẹ lỗi thời. Trong cộng đoàn, người này muốn ý mình được nghe, người kia muốn kế hoạch mình được chọn. Trong hội đoàn, một chuyện nhỏ biến thành căng thẳng chỉ vì chẳng ai chịu nhường. Ai cũng nói: “Tôi chỉ bảo vệ nguyên tắc.” Nhưng đôi khi cái gọi là nguyên tắc chỉ là một cái tôi mặc áo đạo đức. Nếu điều ta bảo vệ thật sự là việc của Chúa, ta phải có khả năng chịu thiệt cho Chúa. Nếu chỉ cần người khác không nghe ý mình mà ta giận nhiều ngày, có lẽ điều ta đang bảo vệ không phải chân lý mà là danh dự của mình.
Thập Giá của Đức Giêsu cho thấy một kiểu chiến thắng hoàn toàn khác. Chúa thắng bằng cách không dùng bạo lực của đối phương. Người không thắng bằng cách đóng đinh kẻ thù; Người để kẻ thù đóng đinh mình, rồi từ chính nơi ấy mở ra ơn tha thứ. Điều này không yếu đuối. Đó là sức mạnh khó nhất trên đời. Đánh trả khi bị đánh rất tự nhiên. Im lặng vì sợ cũng rất tự nhiên. Nhưng nói đúng điều cần nói, rồi dừng lại, không để lòng mình bị kéo vào vòng xoáy hận thù, đó mới là tự do. Có những cuộc tranh luận ta nên bước ra không phải vì ta thua, mà vì tiếp tục chỉ làm cả hai bên xấu đi. Có những bình luận ta nên xóa trước khi gửi không phải vì nó sai, mà vì nó không giúp ai được cứu. Có những câu ta có thể nói nhưng chọn không nói bởi ta biết người kia đang quá đau để nghe. Có những khi ta phải chọn mất một chút thể diện để giữ lại một mối tương quan. Đó không phải hèn. Đôi khi đó là Thập Giá.
Người trưởng thành trong đời sống thiêng liêng không còn quá bận tâm phải chứng minh mình đúng trong mọi chuyện. Họ biết có một Đấng biết sự thật. Họ không cần thanh minh tất cả. Đức Giêsu đứng trước bao nhiêu lời cáo buộc mà nhiều lần Người im lặng. Không phải vì Người không có câu trả lời. Người có thể khiến tất cả câm miệng chỉ bằng một lời. Nhưng Người biết có những trái tim lúc ấy không còn khả năng nghe. Nói thêm chỉ làm người ta thêm cứng. Đây là một khôn ngoan rất sâu: không phải mọi hiểu lầm đều cần giải thích; không phải mọi lời vu khống đều cần phản bác; không phải mọi bình luận tiêu cực đều cần trả lời. Nếu ta phải đính chính, hãy đính chính. Nếu danh dự người khác hoặc ích chung bị đe dọa, có khi ta phải lên tiếng. Nhưng nếu chỉ là cái tôi ta đang bị xước một chút, hãy thử nhìn lên Chúa Giêsu.
Thời đại mạng xã hội đào tạo chúng ta phản ứng rất nhanh. Người ta chưa đọc hết đã bình luận. Chưa nghe hai phía đã chọn phe. Chưa hiểu ngữ cảnh đã phẫn nộ. Tin Mừng lại đào tạo ta theo chiều ngược lại: chậm nói, mau nghe; xét mình trước khi xét người; lấy cái xà khỏi mắt mình trước khi tìm cái rác trong mắt anh em. Nếu người Kitô hữu muốn làm chứng cho Đức Kitô trên mạng xã hội, có lẽ chứng tá đầu tiên không phải là đăng thật nhiều câu Kinh Thánh, nhưng là cách mình cư xử khi bất đồng. Người ta có thể không đọc bài đạo dài của ta, nhưng họ nhìn cách ta trả lời người xúc phạm mình. Người ta có thể không hiểu thần học ta trình bày, nhưng họ nhận ra ngay ta có lòng nhân hậu hay không. Có những người không bao giờ mở Tin Mừng, nhưng đang “đọc” Tin Mừng qua cách chúng ta bình luận.
Đừng nghĩ những lời viết trên mạng là không quan trọng vì “chỉ là online”. Lời nói có sức mạnh thật. Một câu có thể nâng người đang tuyệt vọng lên. Một câu cũng có thể là giọt nước cuối cùng khiến họ sụp xuống. Ta không biết người đang đọc bình luận của mình vừa trải qua chuyện gì. Ta không biết họ đang yếu đến mức nào. Vì thế trước khi nhấn “gửi”, đôi khi cần tự hỏi ba điều rất đơn giản: điều này có thật không? Có cần không? Có bác ái không? Nếu chỉ thật mà không cần, có khi nên im. Nếu cần nhưng cách nói chưa bác ái, hãy viết lại. Nếu chưa chắc thật, tuyệt đối đừng lan truyền. Chỉ ba câu hỏi ấy thôi có thể cứu ta khỏi rất nhiều tội của miệng lưỡi và bàn phím.
Một cộng đoàn Kitô hữu đẹp không phải là nơi không có bất đồng. Chẳng có cộng đoàn nào như thế. Ngay nhóm Mười Hai cũng tranh nhau xem ai lớn nhất. Phaolô và Barnaba từng bất đồng mạnh đến mức chia hai hướng truyền giáo. Điều làm một cộng đoàn mang khuôn mặt Đức Kitô không phải là mọi người luôn cùng ý, nhưng là dù khác ý vẫn không thôi nhìn nhau như anh em. Ta có thể nói: “Tôi không đồng ý với anh” mà không cần nói: “Anh là người xấu.” Ta có thể phản đối một quan điểm mà không hủy danh dự của người giữ quan điểm ấy. Ta có thể sửa một lỗi mà không phủ nhận cả cuộc đời người phạm lỗi. Và quan trọng hơn hết, ta phải luôn để một con đường cho người khác quay về.
Thiên Chúa luôn để đường cho con người quay về. Nếu Chúa hành xử như mạng xã hội, có lẽ chẳng ai trong chúng ta tồn tại nổi. Hãy tưởng tượng tất cả quá khứ của ta được công khai, mọi suy nghĩ xấu, những lần ghen tị, những lời nói sau lưng, những tội kín, những điều ta chưa từng dám kể với ai đều bị đưa lên trước công chúng. Ai còn dám ngẩng đầu? Thế nhưng Thiên Chúa biết hết mà vẫn che chở phẩm giá ta. Tòa giải tội là một bằng chứng tuyệt vời: Chúa muốn tội được thú nhận nhưng không muốn tội nhân bị làm nhục. Linh mục nghe một tội rất nặng nhưng bị buộc giữ kín tuyệt đối, bởi Thiên Chúa không biến sự ăn năn của con người thành một cuộc triển lãm. Chúa chữa trong kín đáo. Chúa phục hồi trong thinh lặng. Chúa rất khác chúng ta, những người đôi khi biết một lỗi của ai là muốn cả thế giới biết.
Có lẽ một trong những việc đạo đức rất cần hôm nay là “ăn chay tranh luận”. Có những lúc nên quyết định một ngày không đáp trả những bình luận gây hấn. Không phải vì sợ, nhưng để tập làm chủ mình. Có khi cần đặt điện thoại xuống, đi vào nhà nguyện, nhìn lên Thánh Giá và hỏi: “Nếu là Chúa, Chúa có viết câu con đang định viết không?” Câu hỏi ấy có thể làm ta xóa đi rất nhiều dòng. Hãy nhớ những bàn tay trên Thập Giá. Bàn tay ấy có thể chỉ xuống đám đông mà kết án, nhưng lại dang ra. Miệng ấy có thể nguyền rủa, nhưng lại xin tha. Trái tim ấy bị đâm thủng nhưng vẫn để nước và máu chảy ra. Đó là Đức Kitô của chúng ta. Nếu ta tự nhận là môn đệ Người, ta không thể mãi dùng miệng mình làm vũ khí.
Nói như thế không có nghĩa Kitô hữu phải trở thành người nhạt nhòa, chuyện gì cũng cười, ai nói gì cũng gật. Đức Giêsu hiền lành nhưng không yếu. Người từng gọi sự giả hình là giả hình. Người từng xua người buôn bán khỏi Đền Thờ. Người nói rất mạnh với những ai biến tôn giáo thành gánh nặng cho dân. Nhưng ngay cả những lời mạnh ấy cũng nhằm đánh thức, không nhằm thỏa mãn cơn giận cá nhân. Đây là ranh giới quan trọng. Ta có thể nổi giận vì bất công, nhưng phải coi chừng cơn giận ấy biến thành sự căm ghét con người. Ta có thể chống điều xấu, nhưng không được thôi mong người làm điều xấu được hoán cải. Nếu trong sâu thẳm lòng mình ta không còn muốn người kia được cứu, thì dù lời ta có đúng bao nhiêu, trái tim ta đã đi xa Tin Mừng.
“Chúa không cần thắng một cuộc tranh luận – Chúa muốn cứu một con người.” Câu này có thể trở thành một nguyên tắc rất đẹp cho mọi cuộc đối thoại. Trước khi bước vào một tranh luận, hãy hỏi: mục đích của tôi là gì? Nếu người kia nhận ra sự thật nhưng họ cảm thấy bị tôi làm nhục, tôi có vui không? Nếu tôi khiến họ câm miệng nhưng họ càng xa Chúa, tôi đã thành công chưa? Nếu một người Công giáo tranh luận với một người không tin mà sau cuộc tranh luận người kia nghĩ: “Những người theo Chúa sao dữ vậy”, thì dù ta trích dẫn bao nhiêu sách, có lẽ ta vẫn thất bại trong việc truyền giáo. Truyền giáo không phải là thắng người khác; là làm cho người khác có thể gặp Đức Kitô.
Đức Giêsu không xem Philatô là một đối thủ để đánh bại. Người nói với ông như một người còn có thể nghe sự thật. Đây là điều cảm động nhất. Philatô đang góp phần đưa Người đến cái chết, nhưng Chúa vẫn đối thoại với ông. Chúa vẫn nói sự thật cho ông. Chúa vẫn mở một cánh cửa. Có lẽ chúng ta cần học điều đó trong gia đình. Người chồng không phải đối thủ của người vợ. Người vợ không phải đối thủ của người chồng. Cha mẹ và con cái không ở hai chiến tuyến. Anh em trong cộng đoàn không phải là những phe cần đánh bại nhau. Khi một cuộc nói chuyện biến người bên kia thành “đối phương”, tình yêu đã bắt đầu nguy hiểm. Ta không được quên: mục tiêu cuối cùng không phải tôi thắng, mà là chúng ta còn giữ được nhau.
Đời người ngắn lắm. Nhiều cuộc tranh cãi mà lúc xảy ra tưởng quan trọng khủng khiếp, vài năm sau nhìn lại chẳng còn giá trị gì. Có những anh em ruột không nhìn mặt nhau mười năm chỉ vì một câu nói. Có những gia đình chia rẽ vì mấy mét đất. Có những người trong cộng đoàn tránh nhau chỉ vì một quyết định trong một cuộc họp đã qua từ lâu. Có những tình bạn hai mươi năm chết bởi một tin nhắn viết trong lúc nóng giận. Rồi một ngày một người nằm xuống, người còn lại đứng trước quan tài mới thấy câu hỏi “ai đúng ai sai” bỗng trở nên nhỏ bé. Khi ấy chỉ còn một nỗi đau: giá như mình đã mềm hơn một chút. Giá như mình đã gọi điện trước. Giá như mình đã chịu thua một lần. Giá như mình đã không nói câu ấy.
Đừng đợi đến lúc đứng trước quan tài mới nhận ra một con người quý hơn một cuộc tranh luận. Đức Giêsu biết điều đó từ đầu. Vì thế Người luôn chọn con người. Luật ngày Sabát rất quan trọng, nhưng khi một người cần được chữa, Chúa chữa. Các môn đệ bực vì trẻ nhỏ làm phiền, Chúa nói: “Hãy để trẻ nhỏ đến với Thầy.” Người ta muốn ném đá người phụ nữ, Chúa đứng giữa. Người ta ghét người thu thuế, Chúa vào nhà Dakêu. Người ta tránh người phong cùi, Chúa chạm vào. Với Chúa, chân lý không bao giờ là một cái cớ để bỏ con người. Luật được ban để phục vụ sự sống. Giáo huấn được trao để đưa người ta về với Thiên Chúa. Nếu cách ta dùng giáo huấn khiến ta khinh người, ta chưa hiểu giáo huấn.
Và sau cùng, khi nhìn Đức Giêsu trước Philatô, chúng ta thấy một tự do lạ lùng. Người không cần Philatô công nhận mình. Người không cần đám đông vỗ tay. Người biết mình là ai trước mặt Chúa Cha. Đây chính là bí quyết để không phải thắng mọi cuộc tranh luận. Người càng bất an về mình càng cần người khác công nhận mình đúng. Người càng dựa giá trị bản thân vào lời khen càng khó chịu khi bị phản đối. Nhưng người biết mình được Thiên Chúa yêu có thể chịu bị hiểu lầm một lúc. Người biết sự thật của đời mình ở trong tay Chúa không cần chạy khắp nơi giải thích bản thân. Có một bình an rất lớn khi ta có thể nói: “Chúa biết.” Ba chữ ấy đủ cứu ta khỏi nhiều cuộc chiến không cần thiết. Chúa biết lòng tôi. Chúa biết sự thật. Chúa biết tôi đã cố gắng thế nào. Chúa biết điều người ta không biết. Thôi, thế là đủ.
Ước gì mỗi lần bước vào mạng xã hội, chúng ta mang theo một chút thinh lặng của Đức Giêsu trước Philatô. Mỗi lần định tranh luận, hãy nhớ mục đích của Chúa là cứu người. Mỗi lần muốn đáp trả một lời cay độc, hãy nhìn lên Thập Giá. Mỗi lần nghe một chuyện xấu về ai, hãy chậm lại trước khi chia sẻ. Mỗi lần thấy cả đám đông đang ném đá một người, hãy tự hỏi mình muốn đứng ở đâu: giữa đám đông hay bên cạnh Đức Giêsu? Và mỗi lần phải nói sự thật, xin Chúa cho ta nói sự thật với một trái tim không hận thù.
Bởi cuối đời, Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận trên Facebook. Chúa cũng chẳng hỏi có bao nhiêu người từng thua lý trước ta. Có lẽ Chúa sẽ hỏi những điều đơn giản hơn nhiều: con đã làm ai được nâng lên? Con đã tha thứ cho ai? Con đã bảo vệ danh dự của ai khi người khác nói xấu họ? Con đã chọn im lặng bao nhiêu lần để khỏi làm một người đau thêm? Con đã nói một lời dịu dàng nào với người đang gục xuống? Con có giúp một người đến gần Ta hơn không?
Đến lúc ấy, ta sẽ hiểu: thắng một cuộc tranh luận chẳng đáng là bao. Cứu được một con người mới là điều làm Trái Tim Thiên Chúa vui.
Và nếu phải chọn giữa việc có câu cuối cùng với việc còn giữ được một người anh em, xin cho chúng ta biết chọn người anh em.
Nếu phải chọn giữa tự ái của mình với bình an của gia đình, xin cho chúng ta biết chọn bình an.
Nếu phải chọn giữa làm cho người khác bẽ mặt và mở cho họ một con đường quay về, xin cho chúng ta biết chọn con đường quay về.
Nếu phải chọn giữa được người đời công nhận là mình đúng với việc sống giống Đức Giêsu hơn một chút, xin cho chúng ta chọn Đức Giêsu.
Bởi Đức Giêsu đã không xuống thế để thắng chúng ta.
Người xuống thế để cứu chúng ta.
Người không đến để làm chúng ta câm miệng.
Người đến để làm trái tim chúng ta sống lại.
Người không đóng đinh kẻ thù của mình.
Người để mình bị đóng đinh vì kẻ thù.
Đó là sự thật Philatô đã đứng rất gần mà vẫn chưa nhận ra.
Và đó cũng là sự thật mỗi người chúng ta phải học suốt cả đời:
Chúa không cần thắng một cuộc tranh luận. Chúa muốn cứu một con người.
Lm. Anmai, CSsR


ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – SỰ THẬT KHÔNG CẦN BẠO LỰC ĐỂ TỒN TẠI
Tin Mừng: Ga 18,33-38
Có lẽ một trong những cảnh lạ lùng nhất trong cuộc Thương Khó của Đức Giêsu là cuộc đối thoại giữa Người với Philatô. Một bên là viên tổng trấn đại diện cho quyền lực của đế quốc Rôma, có quân lính, có pháp đình, có quyền xét xử, có quyền kết án, có quyền đóng đinh một con người vào thập giá. Một bên là Đức Giêsu, một người đang bị trói, bị trao nộp, không quân đội, không binh lính, không vũ khí, không một lực lượng nào đứng phía sau để bảo vệ mình. Nhìn bằng con mắt của thế gian, cán cân quyền lực nghiêng hẳn về phía Philatô. Philatô ngồi trên ghế xét xử, còn Đức Giêsu đứng trước mặt ông như một bị cáo. Philatô có thể tưởng rằng vận mạng của Đức Giêsu đang nằm trong tay mình. Thế nhưng càng đọc kỹ câu chuyện Tin Mừng, ta càng nhận ra một nghịch lý sâu xa: người thật sự đang bị xét xử không phải là Đức Giêsu, mà là Philatô; điều thật sự đang được phơi bày không phải là tội trạng của Đức Giêsu, mà là sự yếu đuối của một quyền lực không dám đứng về phía sự thật. Và câu hỏi còn vang lại cho mọi thời đại chính là câu hỏi của Philatô: “Sự thật là gì?”
Đức Giêsu nói với Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng Nước tôi không thuộc chốn này.” Câu nói ấy không có nghĩa là Đức Giêsu không quan tâm đến thế gian, càng không có nghĩa là Kitô giáo chỉ lo chuyện trên trời mà bỏ mặc những đau khổ của con người dưới đất. Chính Đức Giêsu đã đi giữa cuộc đời, chạm đến người phong hủi, chữa người bệnh, bênh vực người bị khinh miệt, tha thứ cho người tội lỗi, cho người đói ăn, khóc trước mồ Lazarô và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Người chưa bao giờ xa lạ với cuộc đời. Nhưng Người nói Nước Người “không thuộc về thế gian này” bởi vì nguồn gốc, cách thức và sức mạnh của Nước ấy không đến từ những phương tiện mà thế gian thường sử dụng để giành lấy và giữ lấy quyền lực. Đức Giêsu không dựng Nước Thiên Chúa bằng gươm giáo. Người không bắt ai tin mình bằng cưỡng bách. Người không tiêu diệt kẻ chống đối để chứng minh mình đúng. Người không dùng sợ hãi để bắt người khác phục tùng. Người không gieo bạo lực để bảo vệ chân lý. Người chỉ làm một điều: làm chứng cho sự thật bằng chính cuộc đời mình, và cuối cùng làm chứng bằng chính cái chết của mình.
Đây là điểm khiến Đức Kitô chịu đóng đinh trở thành một dấu hỏi rất lớn cho thế giới hôm nay. Bởi vì chúng ta đang sống trong một thời đại mà người ta rất dễ nghĩ rằng muốn bảo vệ điều đúng thì phải làm cho người khác im tiếng; muốn bảo vệ danh dự thì phải hạ nhục kẻ xúc phạm mình; muốn thắng một cuộc tranh luận thì phải đẩy người đối diện vào chỗ không còn đường lui; muốn giữ ảnh hưởng thì phải có thật nhiều người đứng về phía mình; muốn chứng minh mình mạnh thì phải cho người khác thấy mình có khả năng làm họ đau. Bạo lực không chỉ là súng đạn. Có thứ bạo lực của lời nói. Có thứ bạo lực của ánh mắt. Có thứ bạo lực của sự khinh miệt. Có thứ bạo lực của dư luận. Có thứ bạo lực của một bài viết được viết chỉ để làm nhục một con người. Có thứ bạo lực của một câu nói đúng nhưng được nói với ý định giết chết danh dự người khác. Có thứ bạo lực trong gia đình, nơi người mạnh tiếng hơn luôn cho rằng mình đúng. Có thứ bạo lực trong cộng đoàn, nơi người có chức vụ lớn hơn nghĩ rằng mình có quyền làm người khác sợ. Có thứ bạo lực trên mạng xã hội, nơi chỉ cần vài phút, một đám đông có thể biến thành một pháp đình, người ta kết án một người mà chưa cần nghe họ giải thích, rồi mỗi người ném thêm một hòn đá bằng bình luận, bằng chia sẻ, bằng mỉa mai, bằng chế giễu, bằng sự hả hê trước nỗi đau của người khác.
Trước tất cả những điều ấy, Đức Giêsu đứng đó, hai tay bị trói, nhưng hoàn toàn tự do. Người không có quân đội, nhưng Người không sợ. Người không có quyền lực chính trị, nhưng Người nói với một tổng trấn về một Vương Quốc mà Philatô không hiểu. Người không có vũ khí, nhưng lời Người còn tồn tại sau khi đế quốc Rôma đã trở thành lịch sử. Người bị kết án, nhưng sự thật Người làm chứng vẫn tiếp tục lay động hàng tỷ tâm hồn. Người bị đóng đinh, nhưng chính thập giá ấy trở thành dấu chỉ mà bao thế hệ con người nhìn lên để tìm hy vọng. Đó là sức mạnh kỳ lạ của sự thật: sự thật có thể bị đàn áp, nhưng không vì thế mà thành sai; sự thật có thể bị bịt miệng một thời gian, nhưng không vì thế mà biến mất; người sống cho sự thật có thể thua một trận, có thể mất danh dự, mất địa vị, thậm chí mất mạng sống, nhưng sự thật không cần bạo lực để tự làm cho mình thành sự thật. Nếu một điều chỉ có thể tồn tại bằng đe dọa, cưỡng bách, gian dối và sợ hãi, thì người Kitô hữu phải tự hỏi: điều ấy thật sự có đến từ Thiên Chúa không?
Đức Giêsu nói: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” Người không nói: “Tôi đến để buộc mọi người phải công nhận tôi.” Người cũng không nói: “Tôi đến để tiêu diệt những ai chống lại tôi.” Người nói: “Tôi đến để làm chứng.” Làm chứng là một từ rất đẹp nhưng cũng rất đắt. Bởi làm chứng không chỉ là nói một điều đúng. Làm chứng nghĩa là để cho điều mình tin trở thành hình dạng của cuộc sống. Một người có thể nói rất nhiều về chân lý mà vẫn sống trong gian dối. Một người có thể bảo vệ giáo lý rất mạnh mẽ mà lại đối xử với anh em không chút bác ái. Một người có thể trích dẫn Tin Mừng rất chính xác nhưng dùng Tin Mừng như cây gậy đánh vào đầu người khác. Một người có thể nói mình bảo vệ Giáo Hội nhưng cách nói của mình lại làm người ta chỉ thấy cay độc, kiêu căng và loại trừ. Khi ấy, có thể lời chúng ta đúng, nhưng cách chúng ta sống lại đang làm cho chân lý bị méo mó.
Đức Kitô cho thấy rằng sự thật của Thiên Chúa luôn mang khuôn mặt của tình yêu. Chính vì thế, Người có thể nói sự thật rất mạnh mà không căm ghét con người. Người có thể vạch trần sự giả hình của những người Pharisêu, nhưng Người vẫn khóc thương Giêrusalem. Người có thể nói với người phụ nữ Samari về đời sống rối ren của chị mà không làm nhục chị. Người có thể nói với người phụ nữ ngoại tình: “Chị hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa”, nhưng trước đó Người đã bảo vệ chị khỏi những viên đá của đám đông. Người có thể sửa Phêrô rất mạnh: “Satan, lui lại đằng sau Thầy”, nhưng chính Người cũng trao cho Phêrô trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên. Sự thật nơi Đức Giêsu không bao giờ là một lưỡi dao để thỏa mãn cơn giận. Sự thật nơi Người luôn là bàn tay muốn cứu.
Chúng ta cần học điều này rất nhiều, nhất là trong đời sống đạo. Có những lúc người ta nhân danh sự thật để làm điều rất không thật với Tin Mừng. Có người nhân danh bảo vệ đạo để chửi nhau. Có người nhân danh bảo vệ Giáo Hội để bôi nhọ một người. Có người nhân danh công lý để nuôi hận thù. Có người nhân danh sự thật để không cần lòng thương xót. Có người nghĩ rằng càng gay gắt thì càng chứng tỏ mình trung thành. Nhưng nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, ta phải hỏi: trung thành với ai? Nếu chúng ta trung thành với một Đức Kitô đã để người ta đóng đinh mình mà vẫn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ”, thì tại sao chúng ta lại có thể dễ dàng nguyền rủa người khác? Nếu chúng ta thờ lạy một Đức Kitô đã không gọi thiên binh xuống tiêu diệt kẻ bắt mình, tại sao chúng ta lại muốn dùng sức mạnh để ép người khác phải nghe mình? Nếu chúng ta tin một Đức Kitô đã để cho sự thật tự tỏa sáng bằng tình yêu, tại sao chúng ta lại nghĩ chân lý chỉ được bảo vệ khi ta làm người khác sợ?
Dĩ nhiên, nói như thế không có nghĩa là người Kitô hữu phải nhu nhược. Đức Giêsu hiền lành nhưng không hèn nhát. Người im lặng trước nhiều lời vu cáo, nhưng Người cũng đã nói thẳng trước thượng tế: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai; còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại đánh tôi?” Người không tìm bạo lực, nhưng Người không gọi gian dối là sự thật. Người tha thứ, nhưng Người không xóa nhòa ranh giới giữa thiện và ác. Người thương xót người tội lỗi, nhưng Người không gọi tội lỗi là điều tốt. Sống theo sự thật không phải là cúi đầu trước mọi bất công. Có những lúc phải nói. Có những lúc phải phản đối. Có những lúc phải bảo vệ người yếu thế. Có những lúc im lặng là đồng lõa. Nhưng câu hỏi quyết định là: ta đang nói bằng tinh thần nào? Ta muốn cứu một sự thật hay muốn thắng một người? Ta muốn bảo vệ người yếu hay muốn thỏa mãn cơn giận của mình? Ta muốn chữa một vết thương hay muốn làm kẻ khác bị thương giống như mình?
Đức Giêsu đứng trước Philatô cho ta một tiêu chuẩn rất rõ. Người nói sự thật nhưng không đánh mất bình an. Người bị xúc phạm nhưng không cần hạ nhục người xúc phạm mình. Người bị đe dọa nhưng không cần đe dọa lại. Người hoàn toàn có thể sử dụng quyền năng, nhưng Người từ chối dùng quyền năng như một thứ bạo lực. Chính ở đây ta thấy vẻ đẹp của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng, nhưng Người không cưỡng ép trái tim con người. Người có thể làm ta phải quỳ xuống, nhưng Người muốn ta tự nguyện yêu Người. Người có thể làm cho cả nhân loại phải sợ, nhưng Người lại chọn sinh ra như một trẻ thơ. Người có thể tiêu diệt kẻ đóng đinh mình, nhưng Người lại dang tay cho họ đóng đinh. Tình yêu của Thiên Chúa mạnh đến mức không cần ép buộc.
Đây là điều người làm cha, làm mẹ phải học. Cha mẹ có quyền trên con cái, nhưng quyền ấy không phải để làm con sợ mà để giúp con lớn lên. Có những gia đình tưởng rằng kỷ luật đồng nghĩa với quát tháo. Có những bậc cha mẹ nghĩ rằng vì mình đúng nên mình có quyền làm nhục con. Có những người nói với con những câu để lại vết thương hàng chục năm: “Mày chẳng làm nên trò trống gì”, “Mày chỉ làm tao xấu hổ”, “Sao mày không được như con người ta?” Có thể cha mẹ muốn điều tốt, nhưng nếu phương tiện là xúc phạm phẩm giá của con, thì điều tốt ấy đã bị thương ngay trong cách thực hiện. Đức Kitô không cứu chúng ta bằng cách hủy hoại phẩm giá chúng ta. Người cứu bằng cách trả lại phẩm giá cho chúng ta. Quyền bính Kitô giáo luôn phải mang khuôn mặt ấy.
Đây cũng là điều người lãnh đạo cộng đoàn cần học. Quyền bính trong Hội Thánh chưa bao giờ được trao để một người được đứng cao hơn người khác, nhưng để cúi xuống phục vụ. Chúng ta có thể nói rất đẹp về mục tử nhân lành, nhưng nếu trong thực tế người dưới quyền chỉ dám đến gặp ta với tâm trạng sợ hãi, nếu họ luôn phải đoán xem hôm nay ta vui hay buồn để biết nên nói gì, nếu họ không dám góp ý vì sợ bị để bụng, nếu quyền bính biến thành khả năng gây áp lực, thì ta cần nhìn lại Đức Giêsu trước Philatô. Đấng có mọi quyền trên trời dưới đất lại không dùng quyền để tự bảo vệ mình. Người rửa chân. Người cúi xuống. Người hỏi Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không?” trước khi trao đoàn chiên. Người không nói: “Hãy làm cho họ sợ con.” Người nói: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.”
Đời sống linh mục và đời tu càng phải đối diện với bài Tin Mừng này. Bởi người môn đệ Đức Kitô rất dễ rơi vào một cám dỗ tinh vi: nghĩ rằng vì mình phục vụ một chân lý thánh thiện nên mọi phương tiện mình dùng đều trở thành thánh thiện. Không. Mục đích tốt không tự động thánh hóa phương tiện sai. Ta không thể bảo vệ Tin Mừng bằng những cách trái Tin Mừng. Ta không thể nhân danh Đức Kitô để cư xử theo tinh thần của thế gian. Ta không thể rao giảng Đấng chịu đóng đinh bằng thái độ thích chiến thắng. Ta không thể loan báo một Thiên Chúa khiêm nhường bằng cái tôi luôn muốn mình đúng. Ta không thể mời người ta đến với lòng thương xót bằng giọng điệu không có lòng thương xót. Có khi thất bại lớn nhất của một người rao giảng không phải là họ nói sai giáo lý, mà là họ nói đúng nhưng không còn giống Đức Giêsu.
Đức Kitô chịu đóng đinh nhắc người môn đệ rằng chân lý Kitô giáo cuối cùng không phải chỉ là một hệ thống các mệnh đề phải bảo vệ, mà là một Con Người phải đi theo. Người nói: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” Sự thật có một khuôn mặt. Khuôn mặt ấy bị đội mão gai. Đôi tay của sự thật bị đóng đinh. Trái tim của sự thật bị đâm thâu. Miệng của sự thật đã nói lời tha thứ. Vì thế, bất cứ khi nào ta nói rằng mình bảo vệ sự thật mà ta càng ngày càng trở nên cay độc hơn, khắc nghiệt hơn, tự mãn hơn, thích kết án hơn, thì ta phải cẩn thận. Có thể ta đang bảo vệ một ý tưởng về sự thật, nhưng đang rời xa chính Đấng là Sự Thật.
Thời đại mạng xã hội làm cho cám dỗ bạo lực bằng lời nói trở nên đặc biệt nguy hiểm. Ngày trước muốn nói một lời làm tổn thương ai đó, ít nhất ta phải đối diện với họ. Bây giờ người ta có thể ngồi sau màn hình và viết những điều mà nếu nhìn vào mắt người kia có lẽ mình không bao giờ dám nói. Ta có thể hủy danh dự một người chỉ bằng vài dòng. Ta có thể chia sẻ một thông tin chưa được kiểm chứng chỉ vì nó phù hợp với điều ta muốn tin. Ta có thể biến một lỗi lầm của người khác thành món ăn cho đám đông. Và điều đáng sợ nhất là ta có thể làm tất cả những điều ấy mà vẫn tưởng mình đang chiến đấu cho sự thật. Nhưng sự thật không cần tin giả. Sự thật không cần cắt ghép. Sự thật không cần bịa thêm để trở nên thuyết phục. Sự thật không cần hủy một con người để chứng minh một vấn đề.
Người Kitô hữu trước khi bấm nút “đăng”, “chia sẻ”, hay viết một bình luận, có lẽ nên tự hỏi vài điều rất đơn giản: điều này có đúng không? Tôi có chắc không? Tôi có cần nói không? Tôi nói để giúp hay để làm đau? Nếu người này đang ngồi trước mặt tôi, tôi có nói như thế không? Và quan trọng nhất: nếu Đức Giêsu đang đứng cạnh tôi, Người có nhận ra cách tôi đang nói là cách của một môn đệ Người không? Những câu hỏi ấy có thể cứu chúng ta khỏi rất nhiều tội mà ta thường không xưng vì cứ tưởng đó chỉ là “bảo vệ sự thật”.
Philatô hỏi: “Sự thật là gì?” Có lẽ bi kịch lớn nhất của Philatô là Sự Thật đang đứng ngay trước mặt ông mà ông không nhận ra. Ông hỏi một câu rất lớn, nhưng dường như ông không đủ kiên nhẫn để nghe câu trả lời. Và sau đó, dù biết Đức Giêsu vô tội, ông vẫn trao Người cho đám đông. Có những người biết sự thật nhưng không dám sống theo sự thật. Đây mới là bi kịch. Không phải ta không biết đúng sai. Nhiều khi ta biết rất rõ. Nhưng sống theo sự thật có thể làm ta mất một số lợi ích. Philatô biết Đức Giêsu không đáng chết, nhưng ông sợ đám đông, sợ mất vị trí, sợ rắc rối. Ông rửa tay, nhưng nước không thể rửa khỏi lương tâm điều ông đã chọn.
Chúng ta cũng có những “chiếc chậu Philatô” của mình. Ta biết một người đang bị nói oan, nhưng ta im lặng vì không muốn liên lụy. Ta biết một câu chuyện chưa chắc đúng, nhưng ta chia sẻ vì nó đang được nhiều người nói. Ta biết đồng nghiệp mình bị đối xử bất công, nhưng ta sợ lên tiếng sẽ mất lòng cấp trên. Ta biết trong gia đình có một người đang chịu quá nhiều áp lực, nhưng ta cứ để mặc vì nghĩ “chuyện của họ”. Ta biết mình đã sai, nhưng ta không xin lỗi vì sợ mất mặt. Ta biết phải nói sự thật, nhưng ta chọn cách nói mập mờ để giữ lợi ích. Mỗi lần như thế, câu hỏi “Sự thật là gì?” không còn là câu hỏi triết học. Nó trở thành câu hỏi của lương tâm.
Đức Giêsu chịu đóng đinh không chỉ dạy ta phải nói sự thật; Người dạy ta phải trả giá cho sự thật. Có những sự thật nếu nói ra sẽ khiến ta thiệt thòi. Có những lần sống ngay thẳng sẽ khiến ta mất một cơ hội. Có những khi không tham gia vào một việc gian dối sẽ khiến ta bị cô lập. Có những lúc bảo vệ một người yếu thế sẽ khiến ta trở thành người khó chịu trong mắt tập thể. Có những khi giữ lương tâm trong sáng sẽ làm đường đời của ta chậm hơn những người biết luồn lách. Nhưng thập giá nói với ta rằng không phải mọi thất bại bên ngoài đều là thất bại thật. Đức Giêsu bị đóng đinh nhưng Người không phản bội sự thật. Philatô giữ được ghế ngày hôm ấy, nhưng ông đã đánh mất một cơ hội đứng về phía chân lý. Ai thắng? Ai thua?
Đời người rồi sẽ có lúc ta phải chọn giữa bình an của lương tâm và sự thuận tiện của cuộc sống. Có những quyết định không ai biết ngoài ta với Chúa. Ta có thể gian một chút mà không ai phát hiện. Ta có thể nói dối một chút để giữ danh dự. Ta có thể đẩy lỗi cho người khác để bảo vệ vị trí. Ta có thể làm ngơ trước một bất công để tránh phiền phức. Và trong khoảnh khắc ấy, Đức Giêsu đứng trước Philatô lại hiện ra. Một người bị trói nhưng tự do. Một người sắp chết nhưng không phản bội chính mình. Người như đang hỏi ta: con muốn giữ điều gì hơn, một lợi ích tạm thời hay sự thật trong tâm hồn?
Có một sự bình an chỉ những người dám sống thật mới hiểu. Không phải cuộc đời họ dễ dàng hơn. Có khi còn khó hơn. Nhưng họ không phải sống hai mặt. Họ không cần nhớ hôm qua mình đã nói dối điều gì để hôm nay nói cho khớp. Họ không phải sợ một ngày nào đó sự thật bị phơi bày. Họ có thể mất nhiều thứ, nhưng họ không mất chính mình. Đức Giêsu trên thập giá bị lột mất áo, mất tự do, mất danh dự trước mắt người đời, mất cả sự sống, nhưng không ai lấy được sự thật khỏi Người. Và vì thế, Người vẫn là Vua.
Vương quyền của Đức Kitô là một vương quyền rất lạ. Ngai của Người là thập giá. Vương miện của Người là mão gai. Áo hoàng bào là tấm áo lính khoác lên để chế giễu. Triều thần là hai tên gian phi. Danh hiệu được viết trên đầu Người như một lời nhạo báng: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Nhưng chính trong sự nhục nhã ấy, tình yêu của Thiên Chúa đạt tới tận cùng. Người không cai trị bằng sợ hãi. Người cai trị bằng cách làm cho con tim được chinh phục bởi tình yêu. Người không ép ai quỳ. Người khiến con người tự nguyện quỳ xuống vì nhận ra mình đã được yêu đến mức nào.
Đây là Vua mà chúng ta đi theo. Vì thế, Hội Thánh mạnh nhất không phải khi người ta sợ Hội Thánh, nhưng khi người đau khổ tìm đến Hội Thánh và thấy mình được đón nhận. Một giáo xứ mạnh không phải chỉ vì đông người, nhiều công trình, nhiều tiền, nhưng vì người nghèo có chỗ trong đó. Một cộng đoàn mạnh không phải vì không ai dám trái ý bề trên, nhưng vì mọi người dám nói thật trong tình yêu. Một gia đình Kitô giáo mạnh không phải vì một người có quyền quyết định tất cả, nhưng vì mọi người biết lắng nghe nhau. Một linh mục mạnh không phải vì lời nói của mình khiến người ta sợ, nhưng vì người ta gặp nơi ngài một điều gì đó của Đức Kitô: vừa có chân lý, vừa có lòng thương xót.
Sự thật và tình yêu không đối nghịch nhau. Nếu chỉ có tình yêu mà không có sự thật, tình yêu dễ biến thành nuông chiều. Nhưng nếu chỉ có sự thật mà không có tình yêu, sự thật dễ biến thành bạo lực. Đức Giêsu giữ cả hai. Người không bao giờ nói tội lỗi là không sao. Nhưng Người cũng không bao giờ biến người tội lỗi thành đồ bỏ đi. Người nhìn Zacchaeus và thấy một con người có thể đổi đời. Người nhìn Matthêu và thấy một tông đồ. Người nhìn người phụ nữ Samari và thấy một người có thể trở thành người loan báo Tin Mừng. Người nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy và vẫn hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Sự thật của Chúa luôn mở một cánh cửa cho con người trở về.
Có lẽ đó là điều chúng ta cần nhất trong cách đối xử với nhau. Khi một người sai, hãy gọi điều sai là sai, nhưng đừng đóng đinh con người ấy vào lỗi lầm của họ mãi mãi. Khi một người ngã, đừng biến cú ngã thành căn tính của họ. Khi ai đó có quá khứ xấu, đừng nói như thể tương lai của họ đã bị khóa lại. Thiên Chúa nói sự thật về tội của chúng ta, nhưng Người cũng nói một sự thật lớn hơn: chúng ta vẫn là những người Người muốn cứu. Thập giá chính là bằng chứng.
Đức Kitô chịu đóng đinh cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không chiến thắng con người. Người chiến thắng sự dữ để cứu con người. Đây là khác biệt căn bản. Chúng ta thường muốn thắng một người. Chúa muốn cứu một người. Chúng ta muốn chứng minh người kia sai. Chúa muốn người sai được trở về. Chúng ta muốn đối thủ câm miệng. Chúa muốn trái tim họ mở ra. Chúng ta muốn họ phải trả giá. Chúa sẵn sàng trả giá thay cho họ. Khi nhìn lên thập giá, ta mới hiểu tình yêu của Thiên Chúa xa lạ biết bao với cách chúng ta hành xử.
Vì thế, người môn đệ Đức Kitô phải canh chừng một ham muốn rất sâu trong lòng mình: ham muốn chiến thắng. Có những cuộc tranh luận ta không cần thắng. Có những lời cuối cùng ta không cần phải giành nói. Có những hiểu lầm ta có thể chịu một thời gian. Có những lúc im lặng không phải vì ta sai mà vì ta không muốn đẩy một cuộc xung đột đi xa hơn. Đức Giêsu không trả lời mọi lời vu cáo. Người không chạy theo từng người để thanh minh. Người biết mình là ai trước mặt Cha, nên Người không cần người khác xác nhận căn tính của mình.
Đây là một sự tự do lớn. Nhiều đau khổ của ta đến từ việc quá lệ thuộc vào cách người khác nhìn mình. Ai đó hiểu sai ta, ta mất ăn mất ngủ. Ai đó nói xấu ta, ta phải tìm cách nói lại. Ai đó không công nhận ta, ta thấy mình bị xúc phạm. Nhưng nếu ta biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa, ta sẽ bớt nhu cầu chiến đấu để bảo vệ cái tôi. Không phải mọi lời nói về ta đều đáng để trả lời. Không phải mọi cuộc tranh cãi đều đáng để bước vào. Không phải mọi lời vu cáo đều cần một bài thanh minh. Có khi cách tốt nhất để bảo vệ sự thật là tiếp tục sống một đời ngay thẳng đủ lâu để sự thật tự lên tiếng.
Dĩ nhiên, điều ấy đòi rất nhiều khiêm nhường. Vì cái tôi của chúng ta thích phản ứng tức thì. Nó muốn đáp trả ngay. Nó muốn cho người kia biết “tôi không phải người để anh muốn nói gì thì nói”. Nó muốn chứng minh mình mạnh. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh cho ta thấy một sức mạnh khác: sức mạnh của người không để sự ác quyết định cách mình hành xử. Kẻ khác xúc phạm tôi không có nghĩa là tôi phải trở thành người xúc phạm. Người khác nói dối về tôi không có nghĩa là tôi được phép nói dối về họ. Người khác dùng bạo lực không có nghĩa là tôi phải để bạo lực của họ đi vào trong tim mình. Đây mới là chiến thắng thật.
Có một câu rất đáng suy nghĩ: khi ta trả thù, người làm tổn thương ta đã không chỉ làm ta đau; họ còn khiến ta trở nên giống họ. Đức Kitô từ chối chiến thắng theo cách ấy. Người không để sự tàn ác của con người biến Người thành kẻ tàn ác. Người không để hận thù của họ tạo ra hận thù trong Người. Người mang tất cả lên thập giá và biến nó thành lời tha thứ. Đây là quyền năng mà thế gian không hiểu.
“Vương quốc của tôi không thuộc về thế gian này.” Vương quốc của thế gian thường hỏi: ai mạnh hơn? Vương quốc của Đức Kitô hỏi: ai yêu nhiều hơn? Thế gian hỏi: ai có tiếng nói cuối cùng? Đức Kitô hỏi: ai dám cúi xuống phục vụ? Thế gian hỏi: ai thắng? Đức Kitô hỏi: ai trung thành? Thế gian coi thập giá là thất bại. Đức Kitô biến thập giá thành ngai vua. Và từ ngai ấy, Người cho chúng ta thấy một quy luật mới của lịch sử cứu độ: tình yêu có thể bị đóng đinh, nhưng tình yêu vẫn sống; sự thật có thể bị kết án, nhưng sự thật không chết; người công chính có thể bị loại bỏ, nhưng Thiên Chúa không để lời cuối cùng thuộc về bạo lực.
Ngày hôm nay, mỗi người chúng ta nên đem bài Tin Mừng này vào thật sâu trong đời mình. Trong gia đình, tôi dùng lời nói để xây hay để thắng? Trong cộng đoàn, tôi bảo vệ chân lý hay bảo vệ cái tôi? Trên mạng xã hội, tôi làm chứng cho Đức Kitô hay chỉ tìm người để chống? Khi bị xúc phạm, tôi phản ứng như môn đệ của Đấng chịu đóng đinh hay theo bản năng của thế gian? Khi có quyền, tôi dùng quyền để phục vụ hay để người khác sợ? Khi tôi đúng, tôi có còn biết yêu người sai không? Khi tôi phải sửa một người, tôi có nhớ rằng mục tiêu không phải là làm họ nhục nhưng là giúp họ trở nên tốt hơn không?
Và có lẽ câu hỏi sâu nhất là: tôi có thật sự tin rằng sự thật đủ mạnh để không cần tôi trở thành bạo lực không? Nhiều khi vì thiếu đức tin, ta tưởng rằng nếu mình không giành giật, chân lý sẽ thất bại. Nhưng thập giá nói ngược lại. Đêm thứ Sáu Tuần Thánh, tất cả dường như đã thất bại. Đức Giêsu chết. Các môn đệ bỏ chạy. Đám đông giải tán. Tảng đá lấp cửa mồ. Nếu chỉ nhìn bằng con mắt thế gian, câu chuyện đã hết. Nhưng ba ngày sau, bình minh Phục Sinh xuất hiện. Thiên Chúa không cần đoàn quân để làm cho sự thật sống lại. Người chỉ cần trung thành với tình yêu đến cùng.
Có những lúc trong cuộc đời, chúng ta cũng phải chấp nhận một thứ “Thứ Sáu Tuần Thánh”. Ta sống đúng nhưng không được hiểu. Ta làm điều thiện nhưng bị nghi ngờ. Ta im lặng nhưng người ta tưởng ta yếu. Ta nhường nhưng người ta nghĩ ta thua. Ta trung thực nên mất lợi ích. Đừng vội kết luận. Nếu ta đứng về phía sự thật, hãy để Thiên Chúa có thời gian của Người. Không phải mọi sự thật đều được minh oan ngay. Có những sự thật phải đợi nhiều năm. Có những người chỉ sau khi qua đời mới được hiểu đúng. Nhưng người tin vào Đức Kitô chịu đóng đinh biết rằng lời cuối cùng không nằm trong tay đám đông, cũng không nằm trong tay Philatô. Lời cuối cùng thuộc về Thiên Chúa.
Và ngay cả khi sự thật của ta không được người đời minh oan, ta vẫn có thể bình an nếu lương tâm ta đứng trước mặt Chúa mà không phải cúi đầu. Đó là điều quan trọng nhất. Bởi cuối cùng, cuộc đời không được xét xử bởi những bình luận, những tiếng vỗ tay, những lời khen chê hay những bản án của dư luận. Ta sẽ đứng trước Đấng là Sự Thật. Và khi ấy, có lẽ điều ta mong nghe không phải là: “Con đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận?” nhưng là: “Con đã trung thành với Ta đến đâu? Con đã sống sự thật trong tình yêu thế nào? Con đã có làm ai gần Ta hơn vì cách con sống không?”
Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, ta thấy Sự Thật không cầm gươm. Sự Thật dang tay. Sự Thật không nguyền rủa. Sự Thật tha thứ. Sự Thật không chạy khỏi đau khổ bằng cách phản bội chính mình. Sự Thật đi qua thập giá để bước vào Phục Sinh. Và từ đó, Đức Kitô dạy chúng ta một bài học mà nhân loại vẫn còn phải học mãi: chân lý không cần bạo lực để tồn tại. Chỉ có gian dối mới phải liên tục dùng bạo lực để bịt miệng người khác. Sự thật có thể đứng một mình. Sự thật có thể bị trói. Sự thật có thể bị kết án. Sự thật thậm chí có thể bị đóng đinh. Nhưng sự thật vẫn là sự thật.
Xin cho chúng ta, những người mang danh Kitô hữu, đừng chỉ bảo vệ sự thật bằng lời nói nhưng trở thành những con người thật. Thật trong lời nói. Thật trong tương quan. Thật trong cách sử dụng quyền lực. Thật trong đời sống cầu nguyện. Thật trong sứ vụ. Thật cả khi điều ấy khiến ta phải trả giá. Và xin cho sự thật nơi chúng ta luôn mang khuôn mặt của Đức Kitô: hiền lành nhưng không yếu đuối, mạnh mẽ nhưng không bạo lực, rõ ràng nhưng không cay độc, trung thành nhưng đầy lòng thương xót.
Bởi vì người môn đệ của Đấng Chịu Đóng Đinh không được gọi để thắng bằng mọi giá. Người môn đệ được gọi để làm chứng. Không phải làm chứng rằng mình đúng hơn người khác, nhưng làm chứng rằng Đức Kitô là Chúa. Không phải để khiến thế gian sợ mình, nhưng để thế gian nhìn vào cách mình sống mà nhận ra một Vương Quốc khác. Một Vương Quốc không dựng bằng gươm giáo. Một Vương Quốc không xây bằng hận thù. Một Vương Quốc trong đó người lớn nhất là người phục vụ, người mạnh nhất là người biết tha thứ, và Đấng làm Vua lại là Đấng chịu đóng đinh vì yêu.
Và có lẽ chỉ khi nào chúng ta thật sự hiểu điều ấy, ta mới hiểu câu Đức Giêsu nói trước Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” Không phải vì Nước ấy xa cuộc đời, nhưng vì Nước ấy không sống theo luật của bạo lực. Nước ấy đang bắt đầu bất cứ nơi nào một người từ chối trả thù. Nước ấy xuất hiện khi một người dám nói thật nhưng vẫn yêu. Nước ấy hiện diện khi người có quyền cúi xuống phục vụ. Nước ấy lớn lên khi một người bị xúc phạm mà không để hận thù chiếm lấy trái tim. Nước ấy được xây dựng khi ta tin rằng tình yêu mạnh hơn sợ hãi, tha thứ mạnh hơn trả thù và sự thật mạnh hơn mọi thứ bạo lực trên đời.
Xin Đức Kitô chịu đóng đinh cho chúng ta đủ can đảm để đứng về phía sự thật, nhưng cũng đủ khiêm nhường để không biến sự thật thành vũ khí. Xin Người cho chúng ta biết nói khi cần nói, im lặng khi cần im lặng, lên tiếng cho người yếu thế nhưng không nuôi lòng căm ghét người gây bất công. Xin Người giữ trái tim chúng ta khỏi thứ nhiệt thành không có tình yêu, khỏi thứ đạo đức thích kết án, khỏi thứ chính nghĩa nuôi dưỡng bạo lực. Và xin cho mỗi lần nhìn lên thập giá, ta lại nhớ: Đấng đang treo ở đó chính là Sự Thật. Người không cần xuống khỏi thập giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Người chỉ cần yêu đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI THIÊN CHÚA BIẾN MẤT MÁT THÀNH QUÀ TẶNG
Tin Mừng: Ga 19,26-27
“Đức Giêsu thấy thân mẫu và môn đệ Người thương mến đứng bên cạnh, liền nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.”
Có những câu Tin Mừng đọc thật nhanh thì thấy rất bình thường, nhưng nếu dừng lại thật lâu, nếu đặt mình vào đúng khoảnh khắc ấy, nếu nghe được tiếng búa đã đóng những chiếc đinh xuyên qua tay chân Chúa, nếu nhìn thấy máu đang chảy trên khuôn mặt Người, nếu nhìn thấy một người mẹ đứng dưới chân cây gỗ nơi đứa con duy nhất của mình đang hấp hối, thì hai câu nói “Thưa Bà, đây là con của Bà” và “Đây là mẹ của anh” bỗng trở thành một trong những câu đau nhất mà cũng đẹp nhất của toàn bộ Tin Mừng. Đau, bởi vì những lời ấy được nói ra trong lúc Đức Maria đang mất Con. Đẹp, bởi vì cũng chính trong giây phút tưởng như chỉ còn mất mát, Thiên Chúa lại âm thầm đặt vào tay Mẹ một quà tặng mới. Đức Maria mất Đức Giêsu theo cách của một người mẹ trần gian, nhưng lại được trao cả một đoàn con. Gioan tưởng như chỉ đứng đó để chứng kiến cái chết của Thầy, nhưng rồi trong phút cuối cùng ấy, anh lại được nhận một người Mẹ. Thập Giá, vì thế, không chỉ là nơi con người mất đi những gì quý giá nhất; Thập Giá còn là nơi Thiên Chúa có thể biến điều bị lấy khỏi tay ta thành một quà tặng mà ta chưa từng nghĩ tới. Có những mất mát chúng ta không bao giờ hiểu nổi ngay khi nó xảy ra. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta tưởng đời mình đã hết đường. Có những người rời khỏi đời ta để lại một khoảng trống không gì lấp nổi. Có những giấc mơ đã nuôi nhiều năm bỗng tan trong một buổi chiều. Có những mái ấm đổ vỡ, những người thân qua đời, những mối tình đi đến đoạn cuối, những dự tính đẹp đẽ không bao giờ thành hiện thực, những tuổi trẻ đã qua, sức khỏe đã mất, cơ hội không trở lại, những chức vụ phải trao lại cho người khác, những nơi chốn từng gắn bó rồi một ngày phải rời xa. Đứng trước những điều ấy, phản ứng tự nhiên của con người là hỏi: “Tại sao Chúa lấy mất của con?” Nhưng Tin Mừng hôm nay mở ra một câu hỏi khác sâu hơn: biết đâu có những lúc Chúa không chỉ lấy đi, mà Người đang đưa ta qua một cách sở hữu khác, một cách yêu khác, một cách sống khác, một quà tặng khác? Và có lẽ chỉ những ai đủ can đảm đứng lại dưới chân Thập Giá mới từ từ nhận ra điều đó.
Đức Maria đã không được miễn trừ khỏi mất mát chỉ vì Mẹ là người đầy ân sủng. Trái lại, ân sủng không làm cho cuộc đời Mẹ ít đau hơn; ân sủng làm cho Mẹ có khả năng đi qua đau khổ mà không đánh mất lòng tin. Ngày thiên thần truyền tin, Mẹ đã thưa “Xin vâng”. Nhưng tiếng “Xin vâng” ấy không chỉ dành cho một buổi sáng đầy ánh sáng ở Nazareth. Nó còn kéo dài đến buổi chiều u tối trên đồi Canvê. Khi Mẹ bồng Hài Nhi trong máng cỏ, Mẹ có thể ôm Con vào lòng. Nhưng trên Canvê, Con ở ngay trước mắt mà Mẹ không thể đưa tay xuống khỏi Thập Giá. Khi Con còn bé, Mẹ có thể lấy khăn lau mặt cho Con. Còn giờ đây, máu chảy đầy mặt Con mà Mẹ bất lực. Khi Con còn thơ, Mẹ có thể thức bên nôi lúc Con sốt. Còn bây giờ, Con hấp hối ngay trước mắt và Mẹ không thể làm gì để kéo dài sự sống của Con thêm một phút. Có lẽ không có bất lực nào đau bằng bất lực của một người mẹ nhìn con mình đau mà không thể cứu. Vậy mà Mẹ vẫn đứng đó. Tin Mừng không nói Mẹ gào thét, không nói Mẹ nguyền rủa những người đóng đinh Con mình, không nói Mẹ hỏi Thiên Chúa tại sao. Chỉ một động từ: Mẹ đứng. Có những khi đức tin không còn là cảm giác sốt sắng, không còn là những câu trả lời đẹp, không còn là những lời cầu nguyện trôi chảy; đức tin chỉ còn là đứng lại. Đứng ở chỗ mình không muốn đứng. Đứng bên một thực tại mình không thể thay đổi. Đứng trước một mất mát mình không thể hiểu. Đứng mà không bỏ Chúa. Đứng mà không bỏ cuộc. Đứng mà trái tim như bị một lưỡi gươm đâm thâu. Và chính trong sự đứng lại ấy, Mẹ nghe được một lời mà có lẽ lúc đó Mẹ chưa thể hiểu hết: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”
Chúa Giêsu không trả lại cho Mẹ một Đức Giêsu khác. Người không làm phép lạ để tránh cho Mẹ mất Con. Người cũng không nói: “Mẹ đừng khóc, rồi mọi sự sẽ trở lại như cũ.” Bởi vì có những chuyện trong đời không bao giờ trở lại như cũ. Một người đã mất thì chiếc ghế ấy sẽ trống. Một tình thân đã gãy thì dù có hàn gắn, vẫn còn đường sẹo. Một thời tuổi trẻ qua rồi không lấy lại được. Một cơ hội đã mất đôi khi là mất thật. Một người con lớn lên rời khỏi nhà thì căn nhà cũng không còn như ngày xưa. Một linh mục rời nhiệm sở sau nhiều năm thì giáo xứ ấy không còn thuộc về mình theo cách cũ. Một người tu sĩ chuyển cộng đoàn thì căn phòng, hành lang, nhà nguyện quen thuộc rồi cũng phải để lại. Có những điều Thiên Chúa không trả lại cho ta nguyên vẹn như trước. Nhưng Người có thể làm một điều khác: Người biến khoảng trống thành chỗ cho một mối tương quan mới, biến vết thương thành một cánh cửa mới, biến điều ta mất thành khả năng yêu rộng hơn. Đức Maria mất quyền được chăm sóc Đức Giêsu bằng đôi tay của một người mẹ, nhưng từ nay Mẹ được trao một sứ mạng làm Mẹ cho người môn đệ, và trong người môn đệ ấy là cả Hội Thánh, là tất cả chúng ta. Điều Mẹ mất là một cách hiện diện của Con; điều Mẹ nhận là một chiều kích mới của tình mẫu tử. Tình yêu của Mẹ từ nay không còn chỉ quy tụ nơi một Người Con duy nhất theo huyết nhục, mà được mở ra cho vô số người con trong ân sủng. Chính khi lòng Mẹ bị xé ra vì đau, trái tim Mẹ lại được Thiên Chúa mở rộng đến mức có thể chứa cả nhân loại. Đó là mầu nhiệm kỳ lạ của Thập Giá: Thiên Chúa không luôn luôn cứu ta khỏi mất mát, nhưng Người có thể cứu chính sự mất mát khỏi trở thành vô nghĩa.
Con người chúng ta thường chỉ nhìn quà tặng dưới hình thức được thêm vào. Có thêm tiền là quà tặng. Có thêm sức khỏe là quà tặng. Có thêm một người yêu thương mình là quà tặng. Có thêm chức vụ, thêm danh dự, thêm thành công, thêm điều thuận lợi, ta dễ nói: “Chúa thương tôi.” Nhưng ít ai nghĩ có những quà tặng đến trong hình thức của một sự lấy đi. Có khi Chúa lấy khỏi ta một chỗ dựa để ta biết dựa vào Người. Có khi Chúa để một kế hoạch vỡ để ta thoát khỏi một ảo tưởng. Có khi Chúa để ta mất một vị trí để ta học rằng giá trị của mình không nằm trong chiếc ghế mình ngồi. Có khi Chúa để một người rời xa để ta học yêu mà không chiếm hữu. Có khi tuổi già lấy dần sức lực để ta học rằng đời người không chỉ có giá trị khi còn làm được nhiều việc. Có khi bệnh tật buộc ta nằm xuống để ta khám phá ra những điều mà lúc khỏe mạnh ta chạy quá nhanh nên không bao giờ nhìn thấy. Có khi một thất bại khiến ta nhục nhã, nhưng chính nó phá vỡ một cái tôi quá lớn mà bao nhiêu lời khuyên không phá nổi. Có khi một cánh cửa đóng lại là ân huệ, bởi nếu nó cứ mở, ta sẽ đi vào một con đường không phải dành cho mình. Nói như thế không có nghĩa mọi đau khổ tự nó đều tốt, mọi mất mát đều do Chúa trực tiếp gây ra, hay người có đức tin thì phải vui khi mất mát. Không. Đức Giêsu cũng đã khóc trước mộ Lazarô. Đức Maria chắc chắn đã đau đến tan nát dưới chân Thập Giá. Kitô giáo không dạy người ta giả vờ không đau. Nhưng đức tin dám nói một điều sâu hơn: không có mất mát nào, nếu được đặt trong tay Thiên Chúa, lại nhất thiết phải kết thúc chỉ bằng mất mát.
Nhiều người trong chúng ta cả đời chỉ đau vì cứ nhìn mãi điều đã mất mà không nhận ra điều đang được trao. Ta nhìn cánh cửa đã đóng nên không thấy cánh cửa đang mở. Ta nhìn người đã rời đi nên không thấy những người vẫn còn đang ở lại. Ta nhìn tuổi trẻ đã qua nên không thấy chiều sâu của tuổi già. Ta nhìn sức khỏe đã suy nên quên rằng mình vẫn còn khả năng yêu thương. Ta nhìn những điều không làm được nữa nên không thấy những điều chỉ lúc này mình mới có thể làm. Có người sau khi nghỉ hưu cảm thấy đời mình hết giá trị vì không còn chức danh. Có người sau khi con cái trưởng thành thấy căn nhà trống và nghĩ vai trò của mình đã hết. Có người sau khi mất người bạn đời sống như thể phần đời còn lại chỉ là phần thừa. Có linh mục khi rời một nhiệm sở cũ cứ nhớ mãi những điều từng làm, những người từng quý mến, rồi vô tình không thể mở lòng với nơi mới Chúa gửi đến. Có người tu sĩ cứ tiếc một cộng đoàn, một sứ vụ, một thời vàng son, đến mức không nhận ra Thiên Chúa đang trao một người anh em mới, một công việc mới, một cách phục vụ mới. Ta hay nói mình tin Chúa quan phòng, nhưng đôi khi lòng ta lại chỉ tin vào những gì giống với dự tính của mình. Trong khi Thiên Chúa của Tin Mừng là Đấng có thể trao Gioan ngay tại nơi Đức Maria đang mất Đức Giêsu. Quà tặng mới không xóa nỗi đau cũ; Gioan không thay thế được Đức Giêsu. Nhưng Gioan là quà tặng thật. Và nếu Mẹ chỉ khép lòng lại vì quá đau, Mẹ có thể không đón nhận người con đang được Con mình trao.
Có một điều rất đáng suy nghĩ: Chúa Giêsu không nói với Mẹ: “Đây là một người để Mẹ đỡ buồn.” Người nói: “Đây là con của Bà.” Nghĩa là quà tặng Thiên Chúa trao sau mất mát không phải một thứ thuốc giảm đau tạm thời; đó có thể là một trách nhiệm mới, một tương quan mới, một sứ mạng mới. Thiên Chúa không chỉ an ủi Mẹ; Người giao việc cho Mẹ. Đau khổ, nếu được sống với Chúa, có khả năng làm trái tim con người trở nên hữu ích cho người khác. Người đã từng khóc sẽ hiểu nước mắt. Người từng mất mát sẽ biết ngồi bên người mất mát. Người từng thất bại sẽ bớt khắt khe với người đang vấp ngã. Người từng bị hiểu lầm sẽ biết quý sự cảm thông. Người từng đi qua một đêm tối sẽ không dễ đưa ra những lời khuyên rẻ tiền cho người đang ở trong bóng tối. Có những mục tử sau khi đã đi qua nhiều vết thương lại trở nên hiền hơn trong tòa giải tội. Có những người mẹ sau khi mất con lại có một trái tim đặc biệt với những gia đình cùng cảnh ngộ. Có những người từng nghèo nên khi khá hơn không thể thờ ơ với người nghèo. Có người từng trải qua một thời bị bỏ rơi nên sau này không nỡ bỏ ai một mình. Không phải đau khổ tự động làm con người tốt hơn. Đau khổ cũng có thể làm người ta cay đắng. Nhưng đau khổ được đặt dưới chân Thập Giá có thể trở thành một trường học của lòng thương xót. Vết thương được trao cho Chúa có thể trở thành một cánh cửa để ta bước vào nỗi đau của người khác. Chính vì vậy, đôi khi quà tặng lớn nhất phát sinh từ một mất mát không phải là “tôi nhận lại được điều gì”, mà là “tôi đã trở thành một con người khác”.
Và rồi Chúa quay sang người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Gioan cũng nhận được quà tặng từ Thập Giá. Nhưng nhận quà tặng ấy đồng nghĩa với việc phải mở nhà mình ra. Tin Mừng nói một câu rất đẹp: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Đây không còn là một tình cảm thiêng liêng mơ hồ. Rước Mẹ vào nhà nghĩa là dành chỗ. Dành chỗ trong căn nhà, trong thời giờ, trong kế hoạch, trong đời sống. Mọi quà tặng thật của Thiên Chúa đều đòi ta phải dành chỗ. Ta thường cầu xin Chúa ban điều mới, nhưng lại muốn giữ nguyên mọi thứ cũ. Ta xin Chúa cho một tương lai mới nhưng không muốn rời quá khứ. Ta xin bình an nhưng không chịu buông điều làm mình bất an. Ta xin một tương quan lành mạnh nhưng vẫn ôm chặt những tổn thương cũ. Ta xin Chúa dùng mình nhưng lịch trình của mình kín hết. Gioan nhận Đức Maria thì từ giờ anh không còn sống hoàn toàn theo ý riêng. Một người mẹ bước vào nhà anh. Một trách nhiệm bước vào đời anh. Một tình thân mới bắt đầu. Quà tặng của Thập Giá luôn mang theo một lời mời gọi: con có dám rước điều Ta trao vào nhà con không?
Có lẽ đây là điểm rất thật với đời sống của mỗi người chúng ta. Khi mất một điều gì, ta thường muốn lấp khoảng trống càng nhanh càng tốt. Mất một tình cảm thì tìm ngay một tình cảm khác. Mất vị trí thì cố tìm một vị trí mới. Mất danh tiếng thì cố chứng minh lại. Mất tiền thì lao vào kiếm lại. Mất cảm giác bình an thì tìm đủ thứ để quên. Nhưng Thập Giá dạy ta một con đường khác: đừng vội lấp khoảng trống; hãy để Chúa bước vào khoảng trống ấy trước. Bởi có những khoảng trống không phải để lấp, mà để mở. Căn phòng trống sau khi một người thân qua đời có thể trở thành nơi ký ức được thanh luyện thành lòng biết ơn. Một khoảng lặng sau khi rời công việc có thể trở thành thời gian khám phá lại chính mình. Một thất bại có thể tạo ra khoảng trống để con người thôi sống vì ánh mắt thiên hạ. Một mùa đời tưởng như chẳng còn gì có thể trở thành mùa ta biết cầu nguyện sâu hơn. Nếu ta vội lấp đầy mọi khoảng trống bằng tiếng ồn, công việc, người khác, tiền bạc hay sự giải trí, có thể ta sẽ không nghe được câu Chúa đang nói từ trên Thập Giá: “Đây là con của Bà. Đây là mẹ của anh.” Có những quà tặng chỉ được nhận ra khi tay ta đã trống. Có những điều Chúa muốn trao mà khi ta còn nắm quá chặt điều cũ, ta không còn chỗ để nhận.
Thật ra, cả đời người là một hành trình học mất. Sinh ra là rời cung lòng mẹ. Lớn lên là mất dần tuổi thơ. Trưởng thành là rời những ảo tưởng. Lập gia đình là từ bỏ một phần tự do của đời độc thân. Đi tu là rời một mái nhà để bước vào một gia đình khác. Làm linh mục là trao đời mình cho một đoàn dân không do mình chọn. Tuổi già là mất dần sức khỏe, tốc độ, khả năng tự quyết. Và cuối cùng, cái chết là lúc bàn tay phải buông tất cả. Nếu không học nghệ thuật mất trong Chúa, ta sẽ sống cả đời trong sợ hãi. Sợ mất tiền, mất người, mất tiếng, mất chỗ, mất quyền, mất sức khỏe, mất mặt. Nhiều cuộc xung đột thực ra bắt đầu từ nỗi sợ mất. Ta tranh giành vì sợ mất phần. Ta nói xấu vì sợ người khác hơn mình. Ta kiểm soát người mình yêu vì sợ mất họ. Ta không chịu chuyển giao vì sợ mình không còn quan trọng. Ta tích lũy vì sợ một ngày thiếu. Ta bám lấy những điều đã hết hạn chỉ vì sợ khoảng trống. Nhưng người đứng dưới chân Thập Giá lâu ngày sẽ từ từ hiểu rằng: điều làm ta an toàn không phải là giữ được mọi thứ, mà là dù mất mọi thứ, Thiên Chúa vẫn còn. Và khi Thiên Chúa còn, đời ta vẫn còn khả năng sinh ra một điều mới.
Đức Maria là người đã học điều ấy suốt cuộc đời. Mẹ nhận Con không phải để giữ Con cho riêng mình. Ngay từ đầu, Hài Nhi ấy đã thuộc về Cha. Khi mười hai tuổi, Đức Giêsu đã nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Từ đó, Mẹ phải học một bài rất khó của tình yêu: yêu không phải là giữ. Sau này Con rời Nazareth để đi rao giảng, Mẹ lại phải buông. Có lúc dân chúng chen quanh Con, có lúc người ta hiểu lầm Con, có lúc người ta muốn ném đá Con, và cuối cùng họ đóng đinh Con. Mỗi chặng đường là một lần Mẹ phải từ bỏ quyền sở hữu. Cho đến Canvê, Mẹ buông đến tận cùng. Nhưng kỳ lạ thay, chính người đã buông Con trọn vẹn lại trở thành Mẹ của tất cả. Đó là quy luật của Tin Mừng: hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Năm chiếc bánh phải được bẻ ra mới nuôi được đám đông. Bình dầu phải đổ ra mới tỏa hương. Đức Kitô phải trao mạng sống mới ban sự sống cho nhân loại. Đức Maria phải để Con đi qua cái chết mới nhận lấy đoàn con mới dưới chân Thập Giá. Cái gì ta cứ nắm chặt, đôi khi chỉ còn là của riêng ta. Cái gì ta trao cho Chúa, có thể được Người làm cho sinh hoa trái vượt xa ta tưởng.
Trong đời sống gia đình, có lẽ cha mẹ hiểu điều này sâu nhất. Ngày con còn nhỏ, cha mẹ lo từng bữa ăn, giấc ngủ. Rồi một ngày con lớn. Nó có suy nghĩ riêng, chọn nghề riêng, yêu một người khác, lập gia đình, đi một nơi khác. Có cha mẹ thấy điều đó như một sự mất mát và vô thức muốn giữ con lại bằng trách móc, bằng nước mắt, bằng sự can thiệp. Nhưng yêu một người con là chấp nhận có ngày phải trao nó cho đời. Nếu không buông, tình yêu có thể biến thành chiếm hữu. Một người mẹ khôn ngoan biết rằng khi con trưởng thành, bà không mất con; bà nhận một cách làm mẹ mới. Từ chỗ quyết định thay, bà học đồng hành. Từ chỗ bảo vệ, bà học tin tưởng. Từ chỗ giữ con trong vòng tay, bà học đặt con trong tay Chúa. Và khi con lập gia đình, bà có thêm một người con dâu hay con rể. Khi cháu ra đời, bà lại nhận một vai trò mới. Cuộc đời cứ thế: điều gì đó khép lại để một điều khác mở ra. Nhưng muốn nhận quà tặng mới, phải thôi đòi cuộc đời mãi giống ngày hôm qua.
Trong đời tu và đời linh mục cũng vậy. Có những giai đoạn ta làm được rất nhiều việc. Có người từng xây nhà thờ, lập cộng đoàn, mở trường, chăm sóc bao người, được dân quý mến. Nhưng rồi một ngày phải chuyển đi. Nếu ta coi nơi ấy, công trình ấy, đoàn chiên ấy là “của tôi”, sự ra đi sẽ trở thành bi kịch. Nhưng nếu ta tin tất cả là của Chúa, ta có thể đau mà vẫn tự do. Đau là thật, vì tình cảm là thật. Nhưng tự do cũng phải thật, vì sứ vụ là của Chúa. Một linh mục không được gọi để sở hữu một giáo xứ, nhưng để yêu dân Chúa trong thời gian Chúa trao. Một tu sĩ không khấn để sở hữu một công việc, nhưng để thuộc về Đức Kitô. Có khi Chúa lấy khỏi ta một sứ vụ mình rất thích để trao một công việc âm thầm hơn. Có khi từ một nơi đông người, ta được gửi đến nơi ít ai biết. Có khi từ chỗ quyết định, ta trở thành người nghe người khác quyết định. Có khi sức khỏe không còn cho phép làm điều từng làm. Chính lúc ấy, câu chuyện dưới chân Thập Giá trở nên rất thật: điều cũ đang mất, nhưng Chúa vẫn đang trao. Vấn đề là mắt ta có còn đủ bình an để nhận ra quà tặng mới hay không. Có thể quà tặng ấy không hào nhoáng. Có thể đó chỉ là một người anh em cần được lắng nghe. Một người bệnh cần được thăm. Một giờ cầu nguyện dài hơn. Một cơ hội học sự khiêm nhường. Một thời gian để thanh luyện động cơ. Một chỗ ngồi phía sau thay vì chiếc ghế phía trước. Nhưng trong Nước Thiên Chúa, quà tặng không được đo bằng độ nổi bật; quà tặng được đo bằng mức độ nó đưa ta gần Đức Kitô hơn.
Có những người chỉ nhận ra giá trị của một biến cố sau nhiều năm. Lúc nó xảy ra, họ chỉ thấy đau. Sau này nhìn lại, họ mới hiểu: nếu ngày ấy không có chuyện đó, chắc đời mình đã rẽ sang một hướng rất khác. Có người mất một công việc rồi mới gặp được công việc phù hợp hơn. Có người trải qua một đổ vỡ rồi mới học cách yêu lành mạnh. Có người sau một biến cố đau đớn mới quay trở về với Chúa. Có người vì chăm sóc cha mẹ bệnh mà cả gia đình được nối lại. Có người vì chính mình từng đau mà chọn một nghề phục vụ người đau. Nhưng cũng có những mất mát cho đến cuối đời ta vẫn không thể nói: “Bây giờ tôi hiểu tại sao.” Đức tin không đòi ta phải giải thích được mọi sự. Đức Maria dưới chân Thập Giá cũng không được trao một bài giải thích thần học dài. Mẹ chỉ được trao một người: “Đây là con của Bà.” Có khi câu trả lời của Chúa cho nỗi đau của ta không phải là một lý do, mà là một người để yêu. Không phải “tại sao”, mà là “ai”. Ai đang cần con sau biến cố này? Ai đang được trao cho con? Ai mà trước đây vì quá bận với điều mình có, con chưa nhìn thấy? Có thể điều làm ta được chữa lành không phải là hiểu tất cả, mà là lại bắt đầu yêu.
Một người mất vợ có thể dành những năm còn lại chăm sóc con cháu sâu hơn. Một người không có con có thể trở thành cha, thành mẹ thiêng liêng của bao người. Một người sống độc thân có thể có một khả năng hiện diện rất rộng cho gia đình và xã hội. Một người bệnh không làm được nhiều việc nữa vẫn có thể trở thành trường học của kiên nhẫn cho cả nhà. Một người già tưởng mình vô dụng lại có thể là người giữ ký ức, giữ lời cầu nguyện, giữ sự bình an trong gia đình. Một linh mục về hưu có thể không còn điều hành một giáo xứ nhưng lại trở thành người cha tinh thần âm thầm cho biết bao người trẻ. Một tu sĩ không còn làm việc ngoài xã hội có thể trở thành cột trụ cầu nguyện của cộng đoàn. Quà tặng mới không nhất thiết giống quà tặng cũ. Và sai lầm của ta là cứ đòi Chúa phải trả lại đúng cái mình đã mất, trong khi Người muốn trao một điều khác sâu hơn.
“Thưa Bà, đây là con của Bà.” Câu nói ấy còn cho thấy một vẻ đẹp rất lạ của Đức Giêsu: ngay trong giờ đau khổ nhất của mình, Người vẫn nghĩ đến người khác. Người đang hấp hối nhưng vẫn lo cho Mẹ. Người đang bị bỏ rơi nhưng vẫn tạo nên một gia đình mới. Người đang mất tất cả nhưng vẫn trao tặng. Trên Thập Giá, Chúa không còn gì ngoài chính mình, và Người cho nốt chính mình. Áo đã bị chia. Sức lực đã cạn. Danh dự bị nghiền nát. Bạn bè phần lớn bỏ chạy. Sự sống đang tàn. Vậy mà Người vẫn còn có thể cho. Đây là bài học rất lớn cho chúng ta: nghèo đi không có nghĩa là hết khả năng trao ban. Già đi không có nghĩa là hết khả năng trao ban. Bệnh tật không có nghĩa là hết khả năng trao ban. Mất chức vụ không có nghĩa là hết khả năng trao ban. Người ta có thể lấy khỏi ta nhiều thứ, nhưng nếu trái tim còn yêu, ta vẫn còn một món quà để cho. Có khi món quà cuối cùng và lớn nhất không phải là điều ta làm, mà là con người ta trở thành.
Thập Giá vì thế thay đổi cách chúng ta nhìn mất mát. Nó không bảo ta đừng khóc. Nó dạy ta khóc mà không tuyệt vọng. Nó không bảo ta đừng đau. Nó dạy ta đau mà vẫn mở lòng. Nó không bảo ta rằng mọi thứ mất đi sẽ được trả lại giống hệt. Nó bảo ta rằng Thiên Chúa có thể sinh điều mới giữa nơi tưởng chỉ còn chết chóc. Nó không tô hồng đau khổ. Nó biến đau khổ thành nơi tình yêu vẫn có thể hành động. Nếu không có Thập Giá, mất mát chỉ là mất mát. Nhưng từ khi Đức Kitô bước vào Thập Giá, không còn vực sâu nào Người chưa đi xuống. Không còn bóng tối nào tuyệt đối vắng bóng Người. Không còn giọt nước mắt nào Người không biết. Và bởi có Đấng Phục Sinh ở phía bên kia Canvê, người Kitô hữu có quyền hy vọng rằng câu chuyện đời mình không kết thúc tại điều đã mất.
Có lẽ hôm nay mỗi người nên tự hỏi: tôi đang tiếc điều gì? Tôi đang giữ điều gì mà Chúa đã mời tôi buông? Có một mất mát nào đã xảy ra lâu rồi nhưng tôi vẫn sống như thể nó vừa xảy ra hôm qua? Có một người đã rời khỏi đời tôi nhưng tôi chưa cho phép đời mình tiếp tục? Có một thời vàng son tôi cứ ngoái lại nên không thể sống hiện tại? Có một vị trí, một danh dự, một tương quan, một giấc mơ đã qua mà tôi vẫn vô thức bắt Thiên Chúa phải trả lại? Và cũng nên hỏi thêm: giữa chính khoảng trống đó, Chúa đang trao ai cho tôi? Người môn đệ nào đang đứng bên cạnh mà vì mắt tôi chỉ nhìn lên điều đang mất, tôi chưa nhìn thấy? Có thể Chúa đang nói: “Đây là người con của con. Đây là người mẹ của con. Đây là người anh em của con. Đây là sứ vụ của con. Đây là phần đời mới của con.” Đừng chỉ nghe tiếng thứ đang ra đi. Hãy nghe cả tiếng của Đấng đang trao ban.
Đức Maria chắc chắn không hiểu tất cả trong buổi chiều ấy. Nhưng Mẹ đón nhận. Và Gioan cũng đón nhận. “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Có lẽ phép lạ lớn nhất của Canvê không phải là người ta tránh khỏi đau khổ, mà là giữa đau khổ, một gia đình mới được sinh ra. Dưới cây Thập Giá, một người mẹ mất Con và một người môn đệ mất Thầy, nhưng họ được trao cho nhau. Hai con người đang mất lại trở thành quà tặng cho nhau. Đó chẳng phải cũng là cách Thiên Chúa thường chữa lành thế giới sao? Người không luôn xóa hết những người đang đau, nhưng Người đưa họ đến gần nhau. Người không luôn làm cho nước mắt biến mất ngay, nhưng Người trao một bờ vai. Người không luôn trả lời mọi câu hỏi, nhưng Người ban một bàn tay. Người không luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng Người đặt vào hoàn cảnh ấy một con người để ta không phải đi một mình. Biết bao lần Chúa đến với ta như thế mà ta không nhận ra, bởi ta mong một phép lạ từ trời, trong khi phép lạ đang đứng ngay bên cạnh mình.
Vì thế, đừng vội kết luận rằng đời mình nghèo đi chỉ vì vừa mất một điều gì. Có thể bàn tay trống của ta đang được chuẩn bị để nhận một ân huệ khác. Đừng vội nghĩ Chúa bỏ mình chỉ vì Người không giữ lại điều mình yêu. Đôi khi tình yêu của Chúa không biểu lộ ở chỗ cho ta giữ mãi, mà ở chỗ dẫn ta từ một hình thức tình yêu nhỏ hơn sang một tình yêu rộng hơn. Đức Maria từ Mẹ của Đức Giêsu tại Nazareth trở thành Mẹ của người môn đệ dưới chân Thập Giá, và từ đó trở thành Mẹ của Hội Thánh. Một nỗi đau riêng được biến thành một sứ mạng phổ quát. Một mất mát tưởng chỉ còn nước mắt lại trở thành nơi khai sinh một gia đình mới.
Có lẽ đó là điều chúng ta cần học trong cả cuộc đời: những gì Chúa cho, hãy biết biết ơn; những gì Chúa để ta giữ, hãy yêu hết lòng; những gì đến lúc phải buông, hãy tập buông trong tín thác; và khi tay đã trống, đừng khép lại. Vì bàn tay trống có thể là bàn tay sẵn sàng nhận quà. Trái tim bị thương có thể là trái tim sẵn sàng hiểu người. Căn nhà vừa mất một người có thể trở thành căn nhà mở cửa cho một người khác. Một đời tưởng như đã đi qua phần đẹp nhất có thể lại bắt đầu một mùa sinh hoa trái âm thầm. Thiên Chúa không lãng phí bất cứ điều gì ta trao cho Người, kể cả nước mắt. Người có thể lấy chính điều làm ta tưởng mình nghèo nhất để biến ta thành quà tặng cho người khác.
Và rồi một ngày, khi chính ta phải buông mọi sự trong giờ chết, Thập Giá này sẽ là niềm hy vọng cuối cùng. Chúng ta sẽ mất căn nhà, mất thân xác này, mất những người đang nắm tay mình, mất tất cả những gì từng gọi là của mình. Nhưng người Kitô hữu tin rằng mất mát cuối cùng ấy cũng sẽ được Thiên Chúa biến thành quà tặng lớn nhất: mất đời tạm để nhận sự sống đời đời, rời căn nhà dưới đất để vào nhà Cha, nhắm mắt với thế gian để mở mắt trước dung nhan Thiên Chúa. Nếu Thập Giá kết thúc bằng Phục Sinh, thì ngay cả cái chết cũng không còn quyền nói lời cuối cùng. Trong Đức Kitô, điều ta gọi là mất có thể chỉ là một cuộc trao đổi mà ta chưa nhìn thấy hết.
Xin cho chúng ta biết đứng với Đức Maria dưới chân Thập Giá đời mình. Không chạy trốn. Không cay đắng. Không giả vờ mạnh mẽ. Chỉ đứng đó với tất cả nước mắt và lòng tin còn rất mong manh. Và xin cho giữa tiếng ồn của đau khổ, ta nghe được giọng Đức Giêsu: “Đây là quà Ta trao cho con.” Có thể quà ấy không giống điều ta mong. Có thể ta phải mất nhiều năm mới nhận ra. Nhưng xin đừng để đau khổ khép trái tim ta lại. Bởi điều bi thảm nhất không phải là mất một người, một việc, một giấc mơ hay một mùa đời. Điều bi thảm nhất là vì quá đau với điều đã mất mà ta không còn khả năng đón nhận điều Thiên Chúa đang trao.
Dưới chân Thập Giá, Đức Maria mất Con mà lại được làm Mẹ. Gioan mất Thầy mà lại được một mái nhà thiêng liêng. Nhân loại tưởng đã giết chết Đấng Cứu Độ mà lại nhận chính ơn cứu độ từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người. Từ nơi tưởng chỉ có mất mát, Thiên Chúa làm tuôn ra quà tặng. Đó là cách của Thiên Chúa. Và vì thế, người tin Chúa có thể khóc, nhưng không bao giờ phải tuyệt vọng. Có những món quà Thiên Chúa chỉ có thể đặt vào tay ta sau khi bàn tay ấy đã chịu đau vì phải buông một điều rất quý. Có những mùa hoa chỉ bắt đầu sau khi một chiếc lá cuối cùng đã rụng xuống. Có những cuộc đời chỉ thực sự trở nên phong nhiêu sau khi đi qua một Canvê.
Xin Mẹ Maria, người đã đứng dưới chân Thập Giá và đón nhận Gioan trong chính giờ phút đau đớn nhất, dạy chúng ta biết nhận ra những quà tặng được bọc trong hình dáng của mất mát. Xin Mẹ dạy ta biết khóc mà vẫn tin, biết đau mà vẫn yêu, biết buông mà không cay đắng, biết mất mà không đánh mất chính mình, và nhất là biết tin rằng khi cuộc đời đặt vào tay ta một cây Thập Giá, Thiên Chúa vẫn có thể làm cho từ chính cây gỗ ấy mọc lên sự sống. Bởi với Thiên Chúa, mất mát không nhất thiết là dấu chấm hết. Nhiều khi nó chỉ là khoảng trống để Người viết vào đó một câu chuyện mới, sâu hơn, đẹp hơn và rộng hơn điều chúng ta từng có thể tưởng tượng.
Lm. Anmai, CSsR

TRONG GIỜ ĐAU NHẤT, CHÚA VẪN TRAO CHO TA MỘT SỨ MẠNG
Tin Mừng: Ga 19,26-27
Có những lúc trong đời, người ta tưởng rằng mình đã đau đến mức không còn có thể làm gì được nữa. Có những biến cố xảy đến làm cho con người như bị rút hết sức lực, hết hy vọng, hết khả năng nghĩ đến ngày mai. Một người vừa mất đi người mình thương nhất, một người vừa nhận một tin dữ, một gia đình vừa trải qua một đổ vỡ không ngờ, một người tận hiến vừa đi qua một thất bại tưởng như làm sụp đổ cả đời mình, một người đang mang trong thân xác căn bệnh kéo dài, một người bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị lấy mất điều mà mình đã dành cả đời để vun đắp… Trong những giờ phút ấy, điều tự nhiên nhất là người ta chỉ còn nhìn thấy nỗi đau của mình. Người ta không muốn nghĩ đến ai nữa. Người ta không muốn làm gì nữa. Người ta chỉ muốn được yên. Có khi người ta chỉ muốn khép cửa lại với tất cả, bởi thấy mình đã cho quá nhiều, đã chịu quá nhiều, đã mất quá nhiều. Và trong sâu thẳm, một câu hỏi rất con người bật lên: “Chúa còn muốn gì ở con nữa? Con đã chịu thế này chưa đủ sao?” Nhưng Tin Mừng trên đồi Canvê hôm nay lại mở ra một điều hết sức lạ lùng: chính trong giờ đau nhất, Đức Giêsu vẫn trao cho người môn đệ một sứ mạng; chính trong giờ mất mát nhất, Đức Maria lại được trao cho một con người để yêu thương; và chính khi tưởng như tất cả đã kết thúc, một gia đình mới lại bắt đầu dưới chân Thập Giá. Đau khổ, vì thế, không nhất thiết là dấu chấm hết của sứ mạng. Có khi chính từ chỗ trái tim bị đâm thâu, một sứ mạng mới được sinh ra. Có khi điều chúng ta gọi là “hết rồi” lại chính là nơi Thiên Chúa âm thầm nói: “Từ đây, con hãy bắt đầu một cách khác.”
Hãy nhìn thật lâu vào khung cảnh ấy. Đức Giêsu đang ở những giờ phút cuối cùng của cuộc đời trần thế. Không còn phép lạ. Không còn đám đông tung hô. Không còn những con đường Galilê đông người đi theo. Không còn những bữa ăn thân tình với các môn đệ. Không còn những ngày Người bước vào hội đường giảng dạy. Không còn những buổi chiều chữa lành cho những người đau yếu. Tất cả dường như đã đi đến tận cùng. Thân thể Người bị đóng chặt vào gỗ. Hai bàn tay từng chạm vào mắt người mù giờ đây không còn có thể cử động. Đôi chân từng đi khắp làng mạc để tìm kiếm con người giờ đây bị đóng đinh. Đôi môi từng nói lời tha thứ, an ủi, chữa lành giờ đây khô cháy vì khát. Người chẳng còn gì để cho theo cách thế mà chúng ta vẫn thường hiểu về sự cho đi. Người không còn tiền bạc. Không còn quyền lực. Không còn tự do thân xác. Không còn một mái nhà. Không còn cả tấm áo, vì người ta đã chia nhau. Thế nhưng chính khi chẳng còn gì, Đức Giêsu lại tiếp tục cho. Và điều Người cho lúc này không phải là một vật, nhưng là những con người. “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Những lời ngắn ngủi ấy được nói ra trong một hoàn cảnh mà mỗi hơi thở đều đau đớn. Thế mà Người vẫn nghĩ đến người khác. Người vẫn nghĩ đến Mẹ. Người vẫn nghĩ đến môn đệ. Người vẫn nối những con người lại với nhau. Người vẫn xây dựng một tương lai ngay giữa một khung cảnh tưởng chỉ có cái chết. Đây là một trong những nét đẹp nhất của Đức Kitô Chịu Đóng Đinh: nỗi đau không làm Người khép lại trong chính mình. Càng đau, tình yêu của Người càng mở ra. Càng bị lấy mất, Người càng trao ban. Càng tiến gần cái chết, Người càng làm phát sinh sự sống.
Chúng ta thường nghĩ rằng chỉ khi khỏe mạnh, bình an, thành công, có đủ điều kiện thì mình mới có thể phục vụ. Chỉ khi mọi sự ổn thỏa thì mình mới nghĩ đến người khác. Chỉ khi lòng mình không còn tổn thương thì mình mới có khả năng yêu. Chỉ khi giải quyết xong những vấn đề của mình thì mình mới làm điều gì đó cho Chúa. Nhưng nếu đợi đến ngày đời mình hoàn toàn không còn vấn đề, có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ bắt đầu. Cuộc sống này không có một thời điểm hoàn hảo như thế. Người đang phục vụ vẫn có những vết thương. Người đang an ủi người khác có khi chính mình cũng đang cần được an ủi. Người đang nâng đỡ một gia đình có khi trong lòng mình cũng chất chứa những nỗi buồn không nói được với ai. Người linh mục đứng trên bục giảng đâu phải lúc nào cũng không có những đêm cô độc. Người mẹ đang chăm con đâu phải không có lúc mệt đến muốn khóc. Người cha đang làm chỗ dựa cho gia đình đâu phải không có những lúc trong lòng đầy bất an. Người tu sĩ vẫn mỉm cười phục vụ cộng đoàn đâu phải lúc nào cũng không có những cuộc chiến âm thầm. Có những người đang cầm tay người khác bước qua bóng tối trong khi chính bàn tay họ cũng run. Và có lẽ chính vì thế mà tình yêu của họ trở nên thật hơn. Bởi sứ mạng Kitô giáo không phải là việc của những con người không biết đau; sứ mạng Kitô giáo là việc của những người, dù đang đau, vẫn không để nỗi đau biến trái tim mình thành một cánh cửa đóng kín.
Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá là một hình ảnh thấm thía đến đau lòng. Không có người mẹ nào nhìn con mình chết mà không tan nát. Người Con mà Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, bồng ẵm; Người Con mà Mẹ từng nghe tiếng khóc đầu đời nơi Bêlem; Người Con đã lớn lên trong căn nhà nhỏ ở Nadarét; Người Con mà suốt bao năm Mẹ âm thầm dõi theo; giờ đây lại đang hấp hối trước mắt Mẹ. Mẹ không thể cứu Con xuống. Không thể chết thay Con. Không thể làm cho những cây đinh biến mất. Không thể ngăn những lời chế nhạo. Không thể xua đuổi bóng tối đang phủ trên đồi. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Chữ “đứng” của Tin Mừng thật đẹp. Đau đến vậy mà vẫn đứng. Tan nát đến vậy mà vẫn đứng. Không chạy trốn. Không oán hận. Không nguyền rủa. Không bỏ đi. Mẹ đứng. Và ngay trong giờ phút ấy, Đức Giêsu lại nói với Mẹ: “Đây là con của Bà.” Có thể nói theo ngôn ngữ rất con người rằng: Mẹ đang mất Người Con duy nhất mà lại được trao thêm một người để yêu. Một sứ mạng mới đến không phải sau khi nước mắt đã khô, nhưng đến ngay giữa lúc nước mắt còn đang chảy. Thiên Chúa không đợi cho Mẹ hết đau rồi mới trao Gioan cho Mẹ. Người trao Gioan ngay giữa Canvê. Điều ấy làm chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều. Có những sứ mạng Thiên Chúa trao không phải khi đời ta đang ở mùa xuân, mà chính lúc ta bước vào mùa đông. Có những con người Chúa gửi đến cho ta không phải khi ta thấy mình dư thừa tình yêu, mà khi chính ta cảm thấy mình chẳng còn gì để trao. Có những trách nhiệm mới đến đúng lúc ta tưởng rằng mình chỉ muốn buông bỏ tất cả. Và lạ thay, chính khi đón nhận người khác, có khi chúng ta lại dần được chữa lành.
“Đây là con của Bà.” Chúa không nói: “Mẹ hãy quên Con đi.” Không ai có thể thay thế Đức Giêsu trong lòng Đức Maria. Gioan không phải là một sự bù trừ rẻ tiền cho một mất mát vô hạn. Kitô giáo không dạy rằng mất một người thì hãy kiếm người khác để lấp vào chỗ trống. Những người ta yêu là độc nhất. Những mất mát thật sự luôn để lại dấu vết. Nhưng Thiên Chúa có một cách kỳ diệu để không cho vết thương cuối cùng trở thành mồ chôn trái tim. Người không xóa ký ức về người đã mất, nhưng Người có thể mở từ chính vết thương ấy một con đường mới của tình yêu. Có người sau khi mất một đứa con lại dành đời mình chăm sóc những đứa trẻ bất hạnh. Có người sau một thời gian dài bệnh tật lại trở nên nhạy cảm đặc biệt với những người đau yếu. Có người từng trải qua cô độc lại trở thành người biết lắng nghe những người bị bỏ quên. Có người từng thất bại lại có khả năng cảm thông với người đang thất bại hơn bất cứ ai. Có người từng bị tổn thương lại quyết tâm không làm người khác tổn thương như mình từng bị. Khi ấy, đau khổ không biến mất, nhưng đau khổ đã được biến đổi. Vết thương không còn chỉ là nơi máu chảy; nó trở thành một cánh cửa để tình yêu đi qua. Đó là một phép lạ rất âm thầm mà chỉ Thiên Chúa mới có thể làm.
Rồi Đức Giêsu nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Và Tin Mừng ghi: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Rất cụ thể. Gioan không chỉ xúc động. Gioan không chỉ đứng đó khóc. Gioan không chỉ nghe một lời trăng trối rồi ghi nhớ trong lòng. Anh rước Mẹ về nhà mình. Nghĩa là từ khoảnh khắc ấy, cuộc đời anh có thêm một trách nhiệm. Anh phải dành chỗ trong ngôi nhà của mình cho Mẹ. Phải dành chỗ trong lịch trình của mình cho Mẹ. Phải dành chỗ trong trái tim của mình cho Mẹ. Sứ mạng luôn có giá. Tình yêu đích thực luôn chiếm chỗ trong đời ta. Không thể yêu một người mà đời mình không bị xáo trộn chút nào. Không thể nhận một sứ mạng mà lịch sống vẫn hoàn toàn như cũ. Không thể nói “xin vâng” mà chẳng có điều gì phải từ bỏ. Gioan đã đứng dưới chân Thập Giá, nhưng anh không được ở đó chỉ để chứng kiến. Anh được biến thành người mang trách nhiệm. Đây cũng là điều Chúa nói với mỗi chúng ta: đứng gần Thập Giá của Đức Kitô thì không thể chỉ đứng nhìn. Sớm hay muộn, từ Thập Giá ấy sẽ có một lời được nói với ta: “Đây là mẹ của con. Đây là anh của con. Đây là chị của con. Đây là người nghèo của con. Đây là bệnh nhân của con. Đây là người cô độc của con. Đây là cộng đoàn của con. Đây là gia đình của con. Đây là con người mà Ta muốn con chăm sóc.” Đứng dưới Thập Giá thật sự bao giờ cũng dẫn đến sứ mạng.
Có một cám dỗ rất lớn khi đau khổ là tự cho mình quyền miễn trừ khỏi tình yêu. “Tôi đau rồi, tôi không còn sức quan tâm đến ai.” “Tôi bị tổn thương rồi, tôi có quyền lạnh lùng.” “Tôi từng bị phản bội, nên từ nay đừng ai mong tôi tin tưởng.” “Tôi đã hy sinh quá nhiều, bây giờ tôi chỉ sống cho mình.” Những câu ấy nghe rất hợp lý. Và trong một mức độ nào đó, người đau cần được nghỉ ngơi, cần được chữa lành, cần có thời gian. Đức tin không bắt chúng ta giả vờ mạnh mẽ. Nhưng có một ranh giới rất mong manh giữa nghỉ ngơi để được chữa lành và biến nỗi đau thành lý do để khép kín cả đời. Có người đau một biến cố nhưng rồi để biến cố ấy lấy luôn mười năm, hai mươi năm còn lại. Có người bị một người làm tổn thương nhưng rồi trừng phạt tất cả những người đến sau. Có người bị phản bội một lần rồi quyết định sẽ không bao giờ yêu nữa. Có người gặp thất bại trong sứ vụ rồi âm thầm rút khỏi mọi dấn thân, dù bên ngoài vẫn giữ nguyên hình thức. Khi ấy, kẻ đã làm ta đau không chỉ lấy đi một phần quá khứ; họ còn lấy mất cả tương lai của ta. Điều ấy thật đáng tiếc. Đức Kitô trên Thập Giá chỉ cho chúng ta một con đường khác: đừng để nỗi đau có tiếng nói cuối cùng.
Chúa đau, nhưng Chúa vẫn yêu. Chúa bị bỏ rơi, nhưng Chúa vẫn chăm sóc. Chúa sắp chết, nhưng Chúa vẫn tạo tương quan. Chúa không còn ngày mai theo nghĩa trần thế, nhưng Chúa vẫn lo ngày mai cho những người còn sống. Đấy là sự tự do kỳ diệu của tình yêu. Con người thật sự tự do không phải là người không bị thương; mà là người dù bị thương vẫn không trao cho vết thương quyền quyết định mình sẽ trở thành ai. Người khác có thể làm tôi đau, nhưng không thể bắt tôi trở thành cay độc nếu tôi không cho phép. Người khác có thể phản bội tôi, nhưng không thể buộc tôi phải sống phần đời còn lại trong thù hận. Người khác có thể lấy khỏi tôi nhiều thứ, nhưng không thể lấy mất khả năng yêu của tôi nếu tôi đặt trái tim mình trong Đức Kitô Chịu Đóng Đinh. Và đây có lẽ là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của đời Kitô hữu: không để điều xấu người khác làm cho ta biến ta thành một con người xấu hơn.
Trong đời sống gia đình, điều này rất thật. Có những người vợ đã chịu nhiều tổn thương, những người chồng mang nhiều thất vọng, những bậc cha mẹ đã trải qua bao năm nhọc nhằn với con cái. Nếu không tỉnh thức, một lúc nào đó người ta sẽ nói: “Thôi, tôi hết bổn phận rồi.” Nhưng tình yêu không dễ tính sổ như thế. Có những người cha sau một ngày bị công việc vắt kiệt vẫn cố ngồi lại hỏi con một câu: “Hôm nay con thế nào?” Đó là sứ mạng giữa đau khổ. Có người mẹ đang mang trong lòng bao nỗi lo vẫn chăm sóc người thân bệnh tật. Đó là sứ mạng giữa đau khổ. Có vợ chồng đang có những bất đồng nhưng vẫn quyết không nói xấu nhau trước mặt con cái. Đó là sứ mạng giữa đau khổ. Có một người con dù trong lòng còn nhiều tổn thương với cha mẹ vẫn chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già, không phải vì phủ nhận quá khứ, nhưng vì không muốn để quá khứ quyết định nhân cách hiện tại của mình. Đó là một hình thức rất thật của việc đứng dưới chân Thập Giá.
Trong đời sống linh mục và đời tận hiến lại càng đúng. Một linh mục đâu phải chỉ thi hành sứ mạng khi lòng đầy hứng khởi. Nếu chờ đến lúc cảm thấy hoàn toàn vui mới dâng lễ, hoàn toàn bình an mới giải tội, hoàn toàn được hiểu mới giảng, hoàn toàn được yêu mến mới phục vụ, thì có những ngày chẳng thể làm gì. Có những Thánh lễ được dâng khi chính lòng người dâng lễ đang nặng trĩu. Có những lời an ủi được nói ra bởi một người vừa trải qua một đêm dài cô độc. Có những lần ngồi tòa giải tội nghe người khác kể nỗi đau trong khi chính mình cũng có những vết thương chẳng biết kể với ai. Có những ngày phải cười với cộng đoàn dù vừa nhận một lời làm lòng mình nhói đau. Điều quan trọng không phải là giả vờ rằng mình không đau. Điều quan trọng là đem nỗi đau ấy lên bàn thờ với Đức Kitô, để nó không trở thành lý do làm tổn thương những người mình được sai đến phục vụ. Một linh mục đau khổ nhưng vẫn trung thành có thể trở thành một bài giảng mạnh hơn nhiều bài giảng trên bục. Một tu sĩ đang trải qua thử thách mà vẫn giữ được lòng hiền lành với anh em có khi đang sống lời khấn sâu hơn bao giờ hết. Một người tận hiến bị hiểu lầm nhưng không biến mình thành cay nghiệt đang kín đáo đứng rất gần Đức Kitô chịu đóng đinh.
Có lẽ chúng ta cũng cần phân biệt giữa “sứ mạng cũ” và “sứ mạng mới”. Đôi khi đau khổ thật sự kết thúc một giai đoạn. Không phải lúc nào Chúa cũng trả lại cho ta điều đã mất. Có những cánh cửa sẽ đóng thật. Có những công việc ta sẽ không thể làm lại. Có những tương quan không thể trở về như trước. Có những khả năng thân xác bị giới hạn vĩnh viễn. Có những tuổi tác khiến một người không thể tiếp tục sứ vụ theo cách cũ. Nhưng không làm được điều cũ không có nghĩa là đời mình không còn sứ mạng. Đây là điều đặc biệt quan trọng với những người già, những người bệnh, những người nghỉ hưu, những người phải rời một trách nhiệm từng là trung tâm đời mình. Có người đau đớn vì cảm thấy mình “không còn hữu dụng”. Suốt đời quen làm, quen quyết định, quen đi đây đi đó, quen được cần đến; nay phải ngồi một chỗ, người ấy tưởng rằng mình đã hết sứ mạng. Không. Sứ mạng có thể đổi hình thức. Khi không thể đi, ta có thể cầu nguyện. Khi không thể nói nhiều, ta có thể hiện diện. Khi không thể làm việc lớn, ta có thể trao một nụ cười. Khi không còn đứng ở vị trí trung tâm, ta có thể nâng đỡ người đang tiếp nối mình. Khi đôi tay không còn khỏe để phục vụ, trái tim vẫn có thể yêu. Có khi sứ mạng cuối đời không phải là “làm” nhiều hơn, mà là học cách để mình được người khác chăm sóc mà không khó chịu, học cách chúc lành, học cách trao lại, học cách rút lui trong bình an, học cách chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng với Chúa.
Đức Giêsu trên Thập Giá dường như không còn có thể “làm” gì theo cái nhìn của thế gian. Nhưng chính ở đó Người đang hoàn tất sứ mạng lớn nhất. Điều này đảo lộn thước đo của chúng ta. Chúng ta hay đồng hóa sứ mạng với hoạt động. Làm nhiều là có ích. Làm ít là vô dụng. Được thấy là quan trọng. Không ai biết đến là chẳng đáng kể. Nhưng dưới ánh sáng Thập Giá, điều quan trọng không chỉ là ta làm được bao nhiêu mà là ta yêu thế nào trong điều mình đang sống. Một bệnh nhân chấp nhận bệnh tật với lòng tín thác có thể đang thi hành một sứ mạng âm thầm. Một cụ già lần chuỗi cầu nguyện cho con cháu có thể đang làm một việc mà không ai đo được. Một người chịu oan nhưng không đáp trả bằng ác ý có thể đang làm chứng cho Tin Mừng mạnh mẽ. Một bà mẹ thức suốt đêm bên người con bệnh mà không ai biết có thể đang sống mầu nhiệm Thập Giá sâu sắc hơn nhiều lời nói. Một người âm thầm chịu những bất tiện của cộng đoàn mà không kể công đang âm thầm mang lấy một phần Thập Giá của Đức Kitô.
Và cũng cần nói thêm: không phải mọi đau khổ tự nó đều sinh ích. Đau khổ có thể làm con người nên thánh, nhưng đau khổ cũng có thể làm con người cay đắng. Thập Giá có thể trở thành con đường cứu độ khi được kết hợp với tình yêu, nhưng nếu chỉ đau mà không yêu, người ta có thể trở nên khép kín. Có người sau thử thách trở nên dịu dàng hơn. Có người sau thử thách lại trở nên cứng cỏi. Có người từng nghèo nên sau này rất thương người nghèo. Có người từng nghèo khi khá lên lại coi thường người nghèo. Có người từng bị chèn ép nên quyết không chèn ép ai. Có người từng bị chèn ép khi có quyền lại chèn ép người khác gấp đôi. Cùng một vết thương, nhưng hoa trái khác nhau. Điều làm nên khác biệt chính là ta để ai bước vào vết thương ấy. Nếu chỉ có cái tôi ở đó, vết thương có thể lên men thành oán hận. Nếu có Đức Kitô chịu đóng đinh bước vào, vết thương có thể trở thành nơi ân sủng hoạt động.
Vì thế, khi đau khổ đến, câu hỏi không chỉ là: “Tại sao điều này xảy ra với tôi?” Có lẽ sau những tiếng khóc, chúng ta còn phải học hỏi thêm một câu khác: “Lạy Chúa, trong hoàn cảnh này, Chúa còn muốn con yêu ai? Chúa còn muốn con làm điều gì? Chúa đang trao ai cho con?” Câu hỏi ấy không xóa đau khổ, nhưng nó mở một cánh cửa. Thay vì để mình trở thành trung tâm tuyệt đối của nỗi đau, ta bắt đầu nhìn ra chung quanh. Có khi đang buồn vì một mất mát, ta nhận ra bên cạnh còn một người cũng đang cần mình. Có khi đang khóc vì một cánh cửa đóng lại, ta thấy Chúa đang mở một cánh cửa khác. Có khi đang tiếc một sứ mạng lớn đã qua, ta phát hiện một sứ mạng nhỏ hơn nhưng sâu hơn ngay trong căn phòng mình đang sống. Có khi đang nghĩ rằng không còn ai cần mình, ta chợt nhận ra một người già đang chờ một cuộc điện thoại, một đứa trẻ đang chờ một ánh mắt, một người cô độc đang chờ ai đó ngồi xuống, một anh em trong cộng đoàn đang chờ một lời làm hòa.
Cuộc đời có nhiều Canvê. Có Canvê xảy ra trong bệnh viện. Có Canvê trong một căn nhà nơi vợ chồng không còn nói chuyện với nhau. Có Canvê trong phòng của một người già nghe tiếng con cháu ở ngoài mà thấy mình như bị bỏ quên. Có Canvê trong lòng một người trẻ thất bại sau bao cố gắng. Có Canvê trong đời một linh mục khi bị hiểu lầm, một tu sĩ khi đi qua khủng hoảng, một người cha khi mất việc, một người mẹ khi nhìn con đi sai đường. Có những Canvê không ai thấy. Người ta vẫn đi làm, vẫn nói cười, vẫn xuất hiện bình thường, nhưng bên trong đang có một cây thập giá. Và Tin Mừng không nói rằng cứ tin Chúa thì Canvê biến mất. Tin Mừng nói một điều khác: ngay tại Canvê, Chúa vẫn có thể nói một lời mở ra tương lai.
“Đây là con của Bà.” “Đây là Mẹ của anh.” Hai câu ấy là những nhịp cầu được dựng lên trên vực thẳm của mất mát. Một người sắp chết nối hai người còn sống với nhau. Tình yêu của Đức Kitô mạnh đến mức ngay cái chết cũng không làm Người ngừng sinh ra tương quan. Và Hội Thánh đã được nhìn thấy trong chính khoảnh khắc ấy: một cộng đoàn mới được hình thành dưới chân Thập Giá, nơi những người xa lạ trở thành người nhà vì được Đức Kitô trao cho nhau. Đó cũng là bản chất của Hội Thánh. Chúng ta không đến nhà thờ chỉ để mỗi người lo cứu linh hồn riêng mình. Đức Kitô trao chúng ta cho nhau. Người nói với ta về người bên cạnh: “Đây là anh của con. Đây là chị của con. Đây là mẹ của con. Đây là người con phải có trách nhiệm.” Một Giáo Hội chỉ biết thờ phượng Chúa mà không đón nhận nhau thì chưa đứng đủ gần Thập Giá. Vì dưới chân Thập Giá, mối tương quan với Chúa luôn biến thành trách nhiệm đối với con người.
Và rất có thể sứ mạng Chúa trao trong giờ đau nhất lại chính là sứ mạng cứu ta khỏi chìm xuống. Có những người vượt qua đau buồn không phải nhờ quên được nỗi đau, nhưng nhờ khám phá rằng đời mình vẫn còn có ích cho ai đó. Một người mất người thân nhưng còn con cái cần mình. Một người bệnh nặng nhưng những lời bình an của họ lại nâng đỡ cả gia đình. Một người thất bại trong một công việc nhưng kinh nghiệm ấy lại giúp họ hướng dẫn người trẻ. Một người đã về hưu nhưng những giờ cầu nguyện của họ trở thành nơi nâng đỡ con cháu. Khi còn một người để yêu, còn một người để cầu nguyện cho, còn một việc thiện để làm, còn một lời lành để nói, còn một sứ mạng nhỏ để nhận, thì đời chưa bao giờ hoàn toàn tối.
Nói như thế không có nghĩa là chúng ta phải ép người đang đau lập tức đứng dậy phục vụ. Có những nỗi đau cần được khóc. Đức Giêsu cũng đã khóc trước mộ Ladarô. Đức Maria không bị yêu cầu phải mỉm cười dưới chân Thập Giá. Kitô giáo không phải là một thứ đạo đức bắt người ta che giấu nước mắt. Được khóc. Được mệt. Được thừa nhận rằng mình đang đau. Được tìm người nâng đỡ. Được có những ngày không mạnh mẽ. Nhưng điều Tin Mừng mời gọi là đừng dựng nhà trong nỗi đau. Nước mắt có thể là nơi ta đi qua, nhưng đừng để nó thành địa chỉ thường trú của linh hồn. Rồi sẽ đến lúc, giữa tiếng khóc, ta nghe Chúa nói một điều gì đó. Có khi rất nhỏ. “Con hãy gọi điện cho người ấy.” “Con hãy tha thứ.” “Con hãy chăm sóc mẹ.” “Con hãy trở lại cộng đoàn.” “Con hãy cầu nguyện cho người đã làm con đau.” “Con hãy bắt đầu lại.” “Con hãy nhận lấy người này như một trách nhiệm.” Và nếu dám bước theo tiếng ấy, ta sẽ khám phá rằng đằng sau cây Thập Giá không chỉ có mồ đá; còn có một buổi sáng Phục Sinh.
Một điều rất đáng suy nghĩ nữa là Đức Giêsu không trao cho Mẹ một “công việc”, nhưng trao một “con người”. Đôi khi chúng ta biến sứ mạng thành công việc và rồi đo đời mình bằng thành tích. Bao nhiêu chương trình đã thực hiện. Bao nhiêu người đã tham dự. Bao nhiêu việc đã hoàn thành. Bao nhiêu dự án đã xây dựng. Nhưng ở cuối đời, có lẽ Chúa không hỏi chúng ta trước hết đã hoàn thành được bao nhiêu kế hoạch. Người sẽ hỏi về những con người Người đã trao cho ta. Ta đã đối xử với họ thế nào? Những người sống cùng nhà với ta có được yêu không? Những người làm việc dưới quyền ta có được tôn trọng không? Người nghèo bước qua đời ta có được nhìn thấy không? Người đau khổ tìm đến ta có được lắng nghe không? Những người khó tính nhất mà Chúa đặt cạnh ta đã giúp ta nên thánh hay chỉ trở thành đối tượng để ta than phiền?
Sứ mạng lớn nhất nhiều khi mang một khuôn mặt. Khuôn mặt của người bạn đời. Khuôn mặt của cha mẹ già. Khuôn mặt của đứa con khó dạy. Khuôn mặt của một anh em trong cộng đoàn không hợp tính. Khuôn mặt của một giáo dân hay làm phiền. Khuôn mặt của một người bệnh lặp đi lặp lại cùng một câu chuyện. Khuôn mặt của một người nghèo không thể trả ơn. Và Chúa nói: “Đây là người Ta trao cho con.” Ta có thể mơ những sứ mạng rất xa mà bỏ quên sứ mạng đang ngồi ngay bên cạnh. Ta có thể muốn cứu cả thế giới mà không chịu tử tế với người trong nhà. Ta có thể giảng về tình yêu rất hay nhưng lại lạnh lùng trong đời sống chung. Dưới chân Thập Giá, Đức Giêsu kéo sứ mạng của ta về cái cụ thể: một người được trao cho một người.
Có lẽ chính vì thế mà người môn đệ Chúa yêu “rước Mẹ về nhà mình”. Không phải về hội trường. Không phải về nơi công cộng. Về nhà. Nơi gần nhất. Nơi đời thường nhất. Nơi chẳng có khán giả. Sứ mạng sâu nhất của chúng ta thường được kiểm chứng trong những nơi không ai vỗ tay. Ngoài xã hội có thể rất tử tế, về nhà lại dễ nổi nóng. Trên bục giảng có thể nói rất hay, vào cộng đoàn lại thiếu kiên nhẫn. Trước người lạ có thể lịch thiệp, với người thân lại cộc cằn. Nhưng Chúa trao Mẹ cho Gioan không phải để anh tổ chức một sự kiện, mà để anh mở cửa nhà. Tình yêu thật luôn phải đi về nhà. Đức tin thật luôn phải đi vào bữa cơm, phòng khách, căn bếp, hành lang cộng đoàn, phòng người bệnh. Nếu Thập Giá chỉ làm ta cảm động trong nhà thờ nhưng không làm ta hiền hơn khi trở về nhà, có lẽ ta vẫn chưa nghe hết lời Chúa từ trên Thập Giá.
Và rồi mỗi người chúng ta cũng phải hỏi: trong nỗi đau hiện tại của đời mình, liệu có một sứ mạng nào tôi đang bỏ quên không? Có người nào Chúa đang trao cho tôi mà vì quá bận với vết thương của mình nên tôi không nhìn thấy? Có điều tốt nào tôi vẫn có thể làm dù hoàn cảnh không thay đổi? Có lời nào cần nói? Có người nào cần tha thứ? Có trách nhiệm nào cần tiếp tục? Có ai đang cần sự hiện diện của tôi? Có phải tôi đang đợi Chúa lấy hết đau khổ rồi mới sống, trong khi Chúa lại đang mời tôi sống ngay giữa đau khổ?
Có khi sứ mạng chỉ là đừng làm cho nỗi đau lan sang người khác. Nếu hôm nay tôi đang buồn nhưng vẫn không trút giận lên gia đình, đó đã là một sứ mạng. Nếu tôi bị xúc phạm nhưng không đi kể chuyện để hạ nhục người kia, đó đã là một chiến thắng. Nếu tôi thất vọng nhưng vẫn không gieo bi quan cho những người bên cạnh, đó đã là chứng tá. Nếu tôi bị tổn thương nhưng vẫn cố giữ lời nói tử tế, đó đã là một cách vác Thập Giá. Không phải ai cũng được gọi làm những việc phi thường. Nhưng ai cũng có thể không để đau khổ biến mình thành nguồn đau khổ cho người khác.
Và có khi sứ mạng là biến chính kinh nghiệm đau thương của mình thành lòng thương xót. Người từng đói sẽ hiểu một miếng cơm quý thế nào. Người từng cô đơn sẽ hiểu giá trị của một cuộc viếng thăm. Người từng bị hiểu lầm sẽ biết quý một người chịu ngồi nghe. Người từng khóc trong đêm sẽ không cười nhạo nước mắt của ai. Người từng sa ngã và được tha thứ sẽ bớt khắt khe với người khác. Nếu ta để Đức Kitô chạm vào vết thương, đau khổ sẽ làm lòng ta rộng hơn. Và lúc đó, vết thương không còn vô nghĩa nữa.
Thật đẹp nếu mỗi sáng thức dậy, kể cả trong những ngày mệt mỏi nhất, chúng ta có thể cầu nguyện: “Lạy Chúa, hôm nay con không khỏe như con muốn. Con không vui như con muốn. Hoàn cảnh của con chưa thay đổi. Vết thương của con vẫn còn. Nhưng xin đừng để con vì thế mà bỏ quên sứ mạng. Xin chỉ cho con biết hôm nay Chúa trao ai cho con. Xin cho con đủ sức làm ít nhất một điều thiện. Xin đừng để đau khổ làm trái tim con nhỏ lại.” Có lẽ đó là một lời cầu nguyện rất đẹp.
Chúng ta cũng đừng quên rằng trước khi Đức Giêsu trao một sứ mạng cho chúng ta, chính Người đã hoàn tất sứ mạng của Người bằng việc yêu đến cùng. Vì thế, sức để chúng ta tiếp tục không đến từ ý chí riêng. Có những nỗi đau quá lớn, ý chí con người không đủ. Ta cần đứng dưới chân Thập Giá. Ta cần nhìn lên Đấng cũng đã từng bị phản bội, bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị tước đoạt, bị chế nhạo. Ta cần nói với Người: “Chúa biết con đau thế nào.” Và rồi nghe Người nói lại: “Ta biết.” Không phải một Thiên Chúa đứng xa đau khổ để khuyên chúng ta cố gắng, mà là một Thiên Chúa mang vết đinh. Chính vì Người đã đi qua đau khổ nên Người có thể đưa chúng ta đi xuyên qua đau khổ.
Có thể hôm nay ai đó đang ở một “giờ đau nhất”. Một biến cố vừa xảy ra. Một kết quả không như mong muốn. Một người vừa rời khỏi đời mình. Một lời nói vẫn còn nhức nhối. Một kế hoạch đã sụp đổ. Một tương lai bỗng trở nên mù mịt. Nếu vậy, đừng bắt mình phải hiểu hết ngay hôm nay. Có những điều chỉ nhiều năm sau ta mới hiểu một phần. Nhưng xin hãy giữ lại một niềm tin nhỏ bé này: nỗi đau này không nhất thiết là dấu chấm hết. Chúa vẫn ở đây. Và khi đến lúc, có thể chính từ giữa đổ vỡ này, Người sẽ trao cho ta một điều gì đó để sống tiếp, một ai đó để yêu tiếp, một sứ mạng để bước tiếp.
Chúa có thể không trả lại cho ta ngày hôm qua, nhưng Người vẫn có thể trao một ngày mai. Chúa có thể không làm cho vết thương chưa từng xảy ra, nhưng Người có thể làm cho vết thương không trở thành vô ích. Chúa có thể không đưa ta trở lại con đường cũ, nhưng Người có thể mở một con đường khác. Chúa có thể không cho ta tiếp tục sứ mạng theo cách ta từng mơ, nhưng Người luôn có thể dạy ta yêu theo một cách sâu hơn.
Đức Maria đã không bước xuống khỏi Canvê với Người Con mình vừa mất. Mẹ bước xuống với Gioan. Mẹ xuống núi mang theo một nỗi đau không gì lấp đầy, nhưng Mẹ cũng mang theo một sứ mạng. Gioan cũng xuống núi với một trách nhiệm mới. Và có lẽ đó chính là cách người Kitô hữu bước ra khỏi những Canvê của đời mình: không phải không còn đau, nhưng mang theo một sứ mạng; không phải quên điều đã mất, nhưng biết rằng vẫn còn người để yêu; không phải hiểu hết mọi chuyện, nhưng đủ tin để đi bước kế tiếp.
Ngày nào chúng ta còn thở, ngày ấy tình yêu vẫn còn có việc để làm. Ngày nào còn một người bên cạnh cần được yêu thương, ngày ấy đời ta chưa vô nghĩa. Ngày nào còn có thể cầu nguyện cho ai, ngày ấy sứ mạng chưa kết thúc. Ngày nào còn có thể tha thứ, còn có thể an ủi, còn có thể nói một lời lành, còn có thể chịu đựng mà không trả đũa, còn có thể trao một chút thời gian, một chút kiên nhẫn, một chút lòng thương xót, ngày ấy chúng ta vẫn đang đứng trong dòng chảy sứ mạng của Đức Kitô.
Xin cho chúng ta đừng chỉ hỏi Chúa: “Bao giờ Chúa mới lấy Thập Giá này khỏi đời con?” nhưng đôi khi biết hỏi thêm: “Lạy Chúa, ngay dưới chân Thập Giá này, Chúa đang trao ai cho con?” Xin cho chúng ta đừng để những gì mình đã mất làm mình quên những gì Chúa vẫn còn trao. Xin cho chúng ta đừng để một cánh cửa khép lại khiến mình không nhận ra một cánh cửa khác đang mở. Xin cho chúng ta, cả trong những ngày đau nhất, vẫn giữ được một phần trái tim cho người khác. Vì chính lúc ấy, ta giống Đức Kitô nhất.
Và nếu có ngày nào ta không còn đủ sức làm gì lớn lao, xin hãy nhớ Đức Giêsu trên Thập Giá. Người không còn bước được nữa, nhưng vẫn yêu. Không còn giơ tay được nữa, nhưng vẫn trao ban. Không còn đi rao giảng được nữa, nhưng từng lời cuối cùng vẫn cứu độ. Không còn gì thuộc về mình, nhưng vẫn trao Mẹ cho môn đệ và trao môn đệ cho Mẹ. Đó là Tin Mừng cho tất cả những ai nghĩ rằng đời mình đã hết ích lợi: khi ta còn có thể yêu, sứ mạng vẫn chưa kết thúc.
Có thể sức khỏe mất đi. Có thể địa vị mất đi. Có thể công việc mất đi. Có thể người thân ra đi. Có thể tuổi trẻ qua đi. Có thể những điều từng làm ta tự hào không còn. Nhưng vẫn còn một điều không ai lấy được nếu ta không tự trao nó đi: khả năng yêu trong Đức Kitô. Và chính khả năng ấy làm cho đời ta đến phút cuối cùng vẫn sinh hoa trái.
Trên đồi Canvê, tưởng như mọi sự đều bị lấy khỏi Đức Giêsu. Nhưng chính ở nơi bị lấy hết ấy, Người đã trao tất cả.
Và đó cũng có thể là bí mật của đời ta.
Khi ta tưởng rằng chẳng còn gì để trao, có khi Chúa lại đang chuẩn bị cho ta một cách trao ban sâu nhất.
Khi ta tưởng rằng sứ mạng đã kết thúc, có khi Chúa chỉ đang đổi hình thức của sứ mạng.
Khi ta tưởng rằng đời mình chỉ còn một cây Thập Giá, có khi chính từ dưới chân cây Thập Giá ấy, Chúa đang nói rất khẽ:
“Đây là người Ta trao cho con.”
“Con hãy yêu họ.”
“Và con hãy tiếp tục.”
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ KHÔNG CHỈ CỨU TỪNG NGƯỜI – THẬP GIÁ TẠO NÊN MỘT GIA ĐÌNH
Tin Mừng: Ga 19,26-27
“Đức Giêsu thấy thân mẫu và môn đệ Người thương mến đứng bên cạnh, liền nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Chỉ có hai câu Tin Mừng rất ngắn, nhưng nếu đứng lâu dưới chân Thập Giá, ta sẽ nhận ra trong hai câu ngắn ngủi ấy có cả một mầu nhiệm lớn lao về Thiên Chúa, về con người, về Giáo Hội, về gia đình và về chính đời sống của mỗi chúng ta. Có lẽ từ lâu chúng ta đã quen nhìn Thập Giá như nơi Đức Giêsu chết để cứu từng người khỏi tội lỗi. Điều ấy hoàn toàn đúng. Trên Thập Giá, Con Thiên Chúa hiến mạng vì tôi, vì anh, vì chị, vì từng người mang một tên riêng, một cuộc đời riêng, một lịch sử riêng, một gánh nặng riêng. Không ai bị lẫn vào đám đông trước mắt Đấng chịu đóng đinh. Người biết từng giọt nước mắt, từng vết thương, từng lần sa ngã, từng lời cầu xin mà có khi chẳng ai khác nghe thấy. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, ta vẫn chưa nhìn hết chiều rộng của Thập Giá. Đức Giêsu không chỉ cứu những cá nhân đứng riêng lẻ rồi để mỗi người tự đi con đường của mình. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ngay trong giờ phút đau đớn nhất, Người còn làm một việc rất lạ: Người trao con người cho nhau. Người nói với Mẹ: “Đây là con của Bà.” Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Và từ giờ đó, một tương quan mới được khai sinh. Dưới chân Thập Giá, giữa cảnh một gia đình tưởng như đang tan vỡ vì người Con duy nhất sắp chết, Đức Giêsu lại tạo nên một gia đình rộng lớn hơn. Người chết, nhưng trước khi chết Người nối những bàn tay lại. Người ra đi, nhưng trước khi ra đi Người không để những người Người yêu phải sống đơn độc. Người chịu đóng đinh giữa trời và đất, đôi tay không còn có thể ôm một ai theo cách bình thường nữa, nhưng chính hai cánh tay bị đóng đinh ấy lại mở rộng để gom cả nhân loại thành một gia đình. Thập Giá vì thế không chỉ là cây gỗ dựng lên giữa đồi Canvê; Thập Giá là nơi những con người xa lạ được gọi là anh chị em, nơi một người mẹ được trao thêm những người con, nơi những người môn đệ được trao một người mẹ, nơi những kẻ vốn chẳng có quan hệ huyết thống với nhau lại được đưa vào một mối dây sâu hơn cả máu huyết: mối dây phát sinh từ máu của Đức Kitô.
Đứng trước cảnh Canvê hôm ấy, nếu chỉ nhìn bằng mắt người đời, chúng ta thấy toàn là mất mát. Đức Maria mất Con. Người môn đệ sắp mất Thầy. Các môn đệ mất Đấng họ đã bỏ mọi sự mà đi theo. Những hy vọng về một Đấng Mêsia dường như đang tan vỡ. Một người mẹ đứng nhìn con mình chết mà không thể làm gì; một môn đệ đứng nhìn người thầy mình yêu bị hành hình; vài người phụ nữ trung thành đứng đó giữa một đám đông lạnh lùng. Chẳng có gì giống một khởi đầu. Chẳng có gì giống một gia đình mới. Chẳng có gì giống một chiến thắng. Thế mà chính tại nơi người ta tưởng mọi sự kết thúc, Thiên Chúa lại bắt đầu một điều mới. Đó là cách Thiên Chúa vẫn thường làm. Con người chúng ta nghĩ phải có đầy đủ mới có thể trao ban; Thiên Chúa lại trao ban chính khi bị tước đoạt. Chúng ta nghĩ phải mạnh mới có thể xây dựng; Chúa lại xây dựng từ sự yếu đuối. Chúng ta nghĩ một gia đình được tạo thành khi mọi người vui vẻ ngồi quanh một bàn ăn; Tin Mừng hôm nay cho thấy gia đình của Đức Kitô lại được khai sinh dưới bóng một cây Thập Giá. Đức Maria chẳng còn gì để giữ cho riêng mình. Gioan cũng chẳng có gì để tặng Mẹ. Cả hai chỉ còn một nỗi đau chung và một lời trăn trối của Đức Giêsu. Nhưng chính lời trăn trối ấy biến hai người đau khổ thành người thân của nhau. Điều ấy thật thấm thía cho đời sống chúng ta. Nhiều khi chúng ta nghĩ mình chỉ có thể yêu khi đời mình yên ổn, chỉ có thể quan tâm đến người khác khi bản thân hết đau, chỉ có thể phục vụ khi những vấn đề riêng đã được giải quyết. Nhưng dưới chân Thập Giá, Chúa lại nói một điều khác: ngay giữa đau khổ của mình, con vẫn có thể trở thành quà tặng cho một người khác; ngay khi con đang mất mát, con vẫn có thể nhận lấy một người mà Chúa trao cho con; ngay trong lúc con tưởng mình chẳng còn gì, con vẫn còn khả năng yêu. Đức Maria trong giờ mất Con lại được mời gọi làm Mẹ. Gioan trong giờ mất Thầy lại được mời gọi làm con. Nỗi đau không khép họ lại; nỗi đau, khi được đặt dưới Thập Giá, mở trái tim họ ra cho một tương quan mới. Có lẽ đây là một trong những phép lạ âm thầm nhất của Thập Giá: nó biến đau khổ, vốn thường làm người ta co lại, thành một nơi để người ta mở lòng; nó biến mất mát, vốn thường làm người ta giữ chặt lấy phần còn lại, thành một cơ hội để người ta trao chính mình; nó biến những con người đang bị thương thành những người có khả năng chăm sóc vết thương của nhau.
Chúa Giêsu nói với Đức Maria: “Đây là con của Bà.” Người không nói: “Đây là Gioan.” Người không giới thiệu một cái tên. Người trao một tương quan. Rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Người cũng không nói: “Đây là Maria.” Người không trao một người xa lạ để Gioan chăm sóc vì lòng thương hại. Người trao một người mẹ. Từ đây, Gioan không chỉ “giúp đỡ” Đức Maria, nhưng phải đón nhận Mẹ như mẹ. Đức Maria không chỉ “quan tâm” đến Gioan như một người quen của Con mình, nhưng nhận Gioan như con. Tin Mừng nói tiếp một câu hết sức quan trọng: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Tình yêu Kitô giáo không dừng ở một cảm xúc đẹp dưới chân Thập Giá. Lời của Đức Giêsu phải bước vào nhà. Đức Maria phải được Gioan rước về. Tương quan mới phải trở thành đời sống cụ thể. Có cơm ăn, có căn phòng, có những ngày khỏe và những ngày đau, có những câu chuyện, có những sự khác biệt, có sự chăm sóc, có trách nhiệm, có sự kiên nhẫn. Câu “đây là mẹ của anh” chỉ thật sự hoàn tất khi Gioan “rước bà về nhà mình”. Và có lẽ đây cũng chính là nơi chúng ta phải xét lại cách sống đạo của mình. Chúng ta rất dễ yêu nhân loại, nhưng lại rất khó yêu người đang sống chung một mái nhà. Chúng ta rất dễ xúc động trước người nghèo ở đâu đó, nhưng có thể lạnh lùng với một người thân đang ngồi ngay bên cạnh. Chúng ta dễ cầu nguyện cho “mọi người”, nhưng lại khó tha thứ cho một người có tên, có khuôn mặt, có giọng nói khiến mình khó chịu. Chúng ta dễ nói Giáo Hội là gia đình của Thiên Chúa, nhưng bước ra khỏi nhà thờ lại chia bè, nói xấu, loại trừ, ghen tị, tranh hơn thua. Chúng ta dễ gọi nhau là “anh chị em trong Đức Kitô” trong những lời kinh rất đẹp, nhưng trong đời thường lại dựng giữa nhau những bức tường rất cao. Vậy thì có lẽ chúng ta đã đứng gần Thập Giá nhưng chưa nghe lời từ Thập Giá. Bởi tiếng nói của Đấng chịu đóng đinh luôn luôn hướng ta về người bên cạnh: “Đây là mẹ của con. Đây là con của con. Đây là anh em của con. Đây là chị em của con. Đây là người Ta trao cho con.”
Thập Giá tạo nên một gia đình, bởi tội lỗi trước hết là sức mạnh chia cắt. Ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh, sau khi con người xa cách Thiên Chúa, con người lập tức xa cách nhau. Ađam đổ lỗi cho Evà: “Người đàn bà Ngài cho ở với con…” Cain giết Aben rồi lạnh lùng hỏi: “Con là người giữ em con hay sao?” Tội luôn khiến ta nói: “Không phải chuyện của tôi.” Tội làm ta khép cửa. Tội làm ta dựng hàng rào. Tội làm ta nhìn người khác như đối thủ, như gánh nặng, như mối đe dọa, như người có thể lấy mất phần của mình. Tội làm anh em thành kẻ thù, vợ chồng thành người xa lạ, cha mẹ và con cái sống chung nhà mà như hai thế giới, cộng đoàn cùng cầu nguyện mà trong lòng chia phe, những người cùng tin một Chúa nhưng không muốn nhìn mặt nhau. Và bởi thế, công trình cứu độ của Đức Kitô không thể chỉ đơn giản là tha tội cho từng người rồi để những bức tường giữa chúng ta nguyên vẹn. Nếu Thập Giá thật sự hòa giải con người với Thiên Chúa, Thập Giá cũng phải hòa giải con người với nhau. Nếu máu Chúa làm chúng ta nên con cái của cùng một Cha, thì không thể có chuyện tôi nhận Thiên Chúa làm Cha nhưng nhất quyết không nhận người khác làm anh em. Nếu tôi quỳ trước Thánh Giá và nói “Lạy Chúa, con yêu Chúa”, rồi đứng dậy tiếp tục nuôi hận, khinh người, nói xấu, loại trừ, thì tình yêu ấy vẫn còn điều gì đó chưa chạm tới tận đáy. Thánh Gioan đã từng nói rất rõ: ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình thì là kẻ nói dối. Đó là một câu khó nghe, nhưng cần phải nghe. Bởi Thiên Chúa không cứu chúng ta để chúng ta trở thành những hòn đảo thánh thiện đứng riêng một mình. Người cứu chúng ta để đưa chúng ta vào hiệp thông. Người không dựng thiên đàng bằng những căn phòng khóa kín. Người dựng Nước Trời bằng một bàn tiệc.
Có một điều rất đáng suy nghĩ: Đức Giêsu có thể đợi đến sau Phục Sinh để sắp xếp mọi chuyện. Người sẽ sống lại. Người sẽ hiện ra với các môn đệ. Người có thể nói với Gioan khi ấy rằng: “Hãy chăm sóc Mẹ Ta.” Nhưng Người không đợi. Người nói ngay trên Thập Giá. Tại sao? Có lẽ vì Người muốn cho chúng ta hiểu rằng tình huynh đệ Kitô giáo không phải là một chuyện phụ thêm sau công trình cứu độ; nó nằm ngay trong trái tim của công trình ấy. Gia đình mới không được sinh ra bên lề Thập Giá nhưng ngay từ Thập Giá. Giáo Hội không phải câu lạc bộ của những người cùng sở thích tôn giáo. Giáo Hội phát sinh từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô. Giáo Hội được tụ họp bởi tình yêu của một Đấng đã chết cho tất cả. Và nếu nguồn gốc của Giáo Hội là Thập Giá, thì đời sống của Giáo Hội cũng phải mang hình dáng Thập Giá. Nghĩa là phải có chỗ cho sự hy sinh, nhẫn nại, tha thứ, nhường nhịn, mang lấy nhau. Không có gia đình nào tồn tại chỉ bằng cảm xúc. Không cộng đoàn nào bền vững chỉ bằng những ngày mọi người hợp ý nhau. Không cuộc hôn nhân nào đi hết đường nếu hai người chỉ ở lại khi người kia dễ thương. Không linh mục đoàn nào thật sự là anh em nếu chỉ gặp nhau trong những nghi thức trang trọng nhưng không thể mang lấy khác biệt của nhau. Không cộng đoàn tu nào có thể là dấu chỉ Nước Trời nếu những người đã bỏ gia đình riêng để sống chung trong một gia đình mới lại làm cho nhau cô đơn hơn. Gia đình được sinh ra dưới chân Thập Giá thì gia đình cũng phải được giữ gìn bằng những hy sinh mang hình Thập Giá.
Nhiều gia đình hôm nay không thiếu tiền, nhưng thiếu nhau. Nhà ngày càng rộng, nhưng khoảng cách giữa những người ở trong nhà cũng rộng hơn. Điện thoại ngày càng thông minh, nhưng có những bữa cơm chẳng ai nói với ai một câu. Cha mẹ tất bật kiếm tiền cho con, nhưng có khi chẳng biết điều gì đang làm con mình khóc. Con cái mua thuốc, mua quà cho cha mẹ, nhưng chẳng có thời gian ngồi nghe cha mẹ kể một câu chuyện đã kể đi kể lại cả chục lần. Vợ chồng cùng nằm trên một chiếc giường nhưng mỗi người quay về một màn hình. Anh chị em ruột đến khi chia một mảnh đất thì tình máu mủ cũng chia theo. Có những gia đình người ngoài nhìn vào thấy rất thành đạt, nhưng người trong nhà lại không tìm được một nơi để nói thật nỗi đau của mình. Chúng ta có thể xây nhà bằng xi măng và thép, nhưng chỉ tình yêu mới xây được một mái ấm. Và tình yêu ấy, nếu không học dưới chân Thập Giá, rất dễ trở thành một hợp đồng trao đổi: anh tốt với tôi thì tôi tốt với anh; con ngoan thì cha mẹ thương; cha mẹ cho đúng điều tôi muốn thì tôi hiếu thảo; người kia còn đáp ứng kỳ vọng của tôi thì tôi còn ở lại. Nhưng Đức Kitô yêu theo một cách khác. Người yêu khi chúng ta chẳng còn gì đáng yêu. Người tha thứ khi chính tay con người đang đóng đinh Người. Người trao Mẹ của mình cho nhân loại đang giết mình. Thập Giá phá vỡ lối yêu có điều kiện và dạy chúng ta một thứ tình yêu dám ở lại khi không còn thuận lợi.
Ở lại. Có lẽ đây là một trong những từ đẹp nhất của Tin Mừng Canvê. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người…” Mẹ đứng đó. Không làm được gì để tháo đinh. Không làm được gì để thay đổi bản án. Không làm được gì để ngăn đau đớn. Nhưng Mẹ ở lại. Gioan cũng ở lại. Khi phần đông các môn đệ chạy trốn, người môn đệ Chúa yêu ở lại. Và đôi khi gia đình được cứu không phải bằng một phép lạ lớn, nhưng chỉ vì còn một người chịu ở lại. Một người không bỏ đi khi người kia thất bại. Một người vẫn chăm sóc cha mẹ khi tuổi già làm cha mẹ khó tính. Một người mẹ vẫn chờ đứa con đã đi quá xa. Một người cha âm thầm cầu nguyện cho đứa con đang lạnh nhạt với đức tin. Một người vợ không ngừng cố gắng cứu cuộc hôn nhân khỏi sự nguội lạnh. Một người chồng học lại cách dịu dàng sau những năm tháng chỉ biết kiếm tiền. Một linh mục không bỏ một con chiên chỉ vì người ấy đã phạm quá nhiều lỗi. Một tu sĩ không rời bỏ cộng đoàn trong lòng chỉ vì mình bị hiểu lầm. Một người bạn không quay lưng khi người kia chẳng còn gì để đem lại. Có những lúc chúng ta không thể giải quyết nỗi đau của người mình yêu, nhưng ta có thể không để họ đau một mình. Và có khi đó là tình yêu lớn nhất.
“Đây là mẹ của anh.” Lời ấy còn mở ra cho chúng ta mầu nhiệm về Đức Maria trong đời sống người môn đệ. Dưới chân Thập Giá, Chúa không chỉ trao Gioan cho Mẹ, nhưng qua Gioan, Người trao cả chúng ta cho Mẹ. Người môn đệ được gọi trong bản văn không phải bằng tên riêng mà bằng một cách gọi rất đặc biệt: “môn đệ Người thương mến”. Chính vì không ghi tên, người đọc Tin Mừng qua mọi thời có thể đứng vào vị trí ấy. Bạn là người môn đệ Chúa yêu. Tôi là người môn đệ Chúa yêu. Và từ trên Thập Giá, Đức Giêsu nói với mỗi chúng ta: “Đây là mẹ của con.” Đức Maria vì thế không phải một nhân vật xa xôi chỉ thuộc về một trang Kinh Thánh. Mẹ được trao cho đời chúng ta như món quà cuối cùng của Đức Giêsu. Người đã cho chúng ta tất cả: lời Người, thân mình Người, máu Người, sự sống Người; và trong những giây phút cuối cùng, Người còn trao cả Mẹ Người. Thật khó mà nói rằng Đức Maria không quan trọng trong đời người môn đệ nếu chính Đức Giêsu, giữa cơn hấp hối, lại dành hơi sức ít ỏi còn lại để trao Mẹ cho người môn đệ. Nhưng cũng như Gioan, ta phải “rước Mẹ về nhà mình”. Không chỉ đặt một tượng Đức Mẹ trong nhà. Không chỉ đọc một vài kinh khi gặp khó khăn. Rước Mẹ về là để cách sống của Mẹ đi vào đời mình: sự khiêm nhường của Mẹ, lòng tín thác của Mẹ, sự lắng nghe của Mẹ, khả năng giữ lời Chúa trong lòng, sự hiện diện âm thầm của Mẹ, lòng trung thành đến tận chân Thập Giá. Rước Mẹ về nhà là để ngôi nhà của ta trở nên giống mái nhà Nadarét hơn: có Chúa ở trung tâm, có cầu nguyện, có lao động, có sự đơn sơ, có khả năng chịu đựng nhau, có lòng tin giữa những điều chưa hiểu.
Nhưng cũng cần nghe nửa kia của lời trăn trối: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Mỗi người chúng ta được Đức Giêsu trao cho Mẹ trong chính tình trạng thật của mình. Không phải sau khi đã hoàn hảo. Không phải sau khi đã bỏ được mọi tội. Không phải khi đã xứng đáng. Gioan đại diện cho người môn đệ, nhưng thử hỏi những môn đệ của Đức Giêsu lúc ấy có đáng tự hào không? Một người đã bán Chúa. Một người ba lần chối Chúa. Hầu hết đã chạy trốn. Cả nhóm tan tác vì sợ. Thế nhưng chính lúc cộng đoàn môn đệ bộc lộ tất cả yếu đuối, Đức Giêsu lại trao họ cho Mẹ. Điều ấy có sức an ủi biết bao. Chúa không trao cho Đức Maria những người con hoàn hảo. Người trao cho Mẹ một nhân loại mang đầy vết thương. Và Mẹ đón nhận. Từ Canvê đến nay, Mẹ vẫn âm thầm đứng bên biết bao Thập Giá của nhân loại. Có những đứa con rất ngoan. Có những đứa con đi lạc. Có những đứa con quay lưng với Chúa. Có những đứa con chỉ nhớ đến Mẹ khi khổ. Có những đứa con mang trong lòng những điều chẳng dám nói với ai. Nhưng lời của Đức Giêsu vẫn còn đó: “Đây là con của Bà.” Mẹ không tự chọn chúng ta; Chúa trao chúng ta cho Mẹ. Và bởi thế, khi cuộc đời có những lúc ta chẳng biết đi về đâu, có lẽ ta chỉ cần trở lại dưới chân Thập Giá, đứng vào chỗ của người môn đệ và nghe lại: “Đây là mẹ của con.”
Thập Giá tạo nên một gia đình cũng có nghĩa là không ai được quyền chọn anh chị em theo sở thích của mình. Đây là điều khó. Chúng ta thường muốn một Giáo Hội gồm toàn những người giống mình: cùng suy nghĩ, cùng tính khí, cùng cách sống đạo, cùng quan điểm, cùng văn hóa, cùng trình độ. Nhưng Chúa không hỏi Gioan xem có muốn nhận Đức Maria hay không; Chúa trao. Và trong Giáo Hội, phần lớn anh chị em cũng là những người được Chúa trao chứ không phải do ta chọn. Trong gia đình ruột thịt cũng thế. Ta không chọn cha mẹ. Ta không chọn anh chị em. Trong cộng đoàn tu, nhiều khi ta cũng không chọn những người sống chung. Trong giáo xứ, ta không chọn hết những người cùng dự lễ với mình. Và chính nơi đó, tình yêu được thử. Yêu người mình chọn vốn đã không luôn dễ; yêu người Chúa trao còn khó hơn nhiều. Có người dễ thương, có người khó tính. Có người tế nhị, có người vụng về. Có người hiểu ta, có người hiểu lầm ta. Có người biết ơn, có người nhận ơn rồi quên. Có người chỉ một câu nói đã làm ta nhẹ lòng, cũng có người chỉ cần xuất hiện là ta đã thấy mệt. Nhưng khi Chúa nói “đây là anh em của con”, ta không còn có thể chỉ đặt câu hỏi: “Tôi có thích người ấy không?” Câu hỏi phải trở thành: “Chúa muốn tôi yêu người ấy thế nào?” Gia đình của Thập Giá không được xây trên sự hợp tính mà trên sự trung thành với lời Chúa.
Nhiều khi chúng ta tưởng rằng sự thánh thiện nằm ở những điều rất cao xa, trong khi một phần rất lớn của sự thánh thiện nằm trong cách ta đối xử với người gần nhất. Một người có thể cầu nguyện hàng giờ mà vẫn khiến người sống chung sợ hãi vì tính nóng nảy. Một người có thể rất hăng say phục vụ giáo xứ mà về nhà không nói nổi một câu dịu dàng với chồng hay vợ. Một người có thể nói rất hay về lòng thương xót nhưng không chịu tha một lỗi nhỏ của anh em trong cộng đoàn. Một người có thể quỳ rất lâu trước Thánh Thể nhưng chẳng muốn nhường một chút quyền lợi. Khi ấy, có lẽ chúng ta vẫn yêu cây Thập Giá bằng gỗ nhưng chưa để Thập Giá đóng đinh cái tôi của mình. Thập Giá thật không chỉ treo trên tường; Thập Giá phải đi vào cách ta nói, cách ta nghe, cách ta nhường, cách ta xin lỗi, cách ta tha thứ. Có những Thập Giá không có đinh, nhưng là phải im đi một lời đáng lẽ mình có quyền nói. Có những Thập Giá không có mão gai, nhưng là phải chịu một sự hiểu lầm mà không trả đũa. Có những Thập Giá không có máu, nhưng là phải thức đêm bên một người bệnh. Có những Thập Giá không đứng trên đồi Canvê, nhưng nằm trong một căn phòng nơi người con thay tã cho cha già; trong căn bếp nơi một người mẹ chuẩn bị bữa ăn sau một ngày kiệt sức; trong cộng đoàn nơi một người chọn bước đến làm hòa trước dù mình không hoàn toàn sai; trong tòa giải tội nơi một linh mục ngồi hàng giờ nghe những đổ vỡ của người khác; trong bệnh viện nơi người thân nắm tay nhau khi chẳng còn lời gì để nói. Và chính những Thập Giá ấy âm thầm giữ một gia đình khỏi tan.
Ta cũng phải thú nhận một điều đau lòng: thời đại này có rất nhiều người cô đơn, kể cả khi đang sống giữa đám đông. Cô đơn không phải lúc nào cũng vì không có ai bên cạnh; nhiều khi cô đơn vì không có ai thật sự nhìn thấy mình. Có những người già cả ngày chẳng có ai hỏi một câu. Có những người trẻ có hàng ngàn bạn trên mạng nhưng không có một người để gọi lúc hai giờ sáng khi lòng sụp đổ. Có những đứa trẻ đủ đồ chơi nhưng thiếu vòng tay. Có những người vợ chồng vẫn còn chung một địa chỉ nhưng từ lâu đã không còn chung một tâm hồn. Có những linh mục mỗi ngày gặp rất nhiều giáo dân nhưng khi trở về căn phòng lại chẳng biết tâm sự với ai. Có những tu sĩ sống giữa cộng đoàn nhưng cô đơn vì cảm thấy không ai hiểu mình. Có những người bệnh nằm hàng tháng và dần cảm thấy mình là gánh nặng. Trong một thế giới như thế, lời “đây là mẹ của anh – đây là con của bà” trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết. Đức Kitô đang trao con người cho con người. Có lẽ ngay hôm nay Chúa đang chỉ cho tôi một ai đó và nói: “Đây là người của con. Đừng để họ một mình.” Không nhất thiết ta phải giải quyết tất cả vấn đề của họ. Đôi khi chỉ cần một cuộc điện thoại. Một lần ghé thăm. Một câu hỏi và thật sự nghe câu trả lời. Một bữa cơm. Một lời xin lỗi. Một cái nắm tay. Một sự hiện diện không vội vàng. Những điều ấy nhỏ bé, nhưng Nước Thiên Chúa thường bắt đầu từ những điều rất nhỏ.
Cũng dưới chân Thập Giá, chúng ta học được rằng gia đình không phải nơi không có vết thương; gia đình là nơi vết thương không biến người ta thành kẻ xa lạ. Nhà nào cũng có chuyện. Không gia đình nào hoàn hảo. Có những lời đã nói ra và không thể lấy lại. Có những quyết định của cha mẹ để lại thương tổn nơi con cái. Có những lỗi của con khiến cha mẹ đau đến bạc tóc. Có những vết rạn trong hôn nhân không thể chỉ bằng một câu xin lỗi là biến mất. Có những anh chị em ruột nhiều năm không nhìn mặt nhau. Có những ký ức chỉ cần nhắc đến là lòng lại đau. Tin Mừng không bảo chúng ta phủ nhận những điều đó. Thập Giá cũng không phủ nhận vết thương. Đấng Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Nhưng nơi Đức Kitô, vết thương không còn là tiếng nói cuối cùng. Dưới chân Thập Giá, ta có thể bắt đầu học cách nhìn người đã làm ta đau không chỉ bằng vết thương họ gây ra, nhưng bằng ánh mắt của Đức Giêsu. Đây là điều cực khó. Và nhiều khi cần một hành trình rất dài. Tha thứ không phải nói điều ác là điều tốt. Hòa giải không phải lúc nào cũng có nghĩa quay lại một tương quan nguy hiểm như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhưng người Kitô hữu không để hận thù trở thành căn tính của mình. Ta không thể kiểm soát người khác có thay đổi hay không, nhưng dưới chân Thập Giá ta có thể xin Chúa giải thoát lòng mình khỏi nhu cầu trả đũa. Bởi một gia đình chỉ có tương lai khi có người dám chấm dứt vòng lặp của tổn thương: tôi bị đau nên tôi làm người khác đau; tôi bị xúc phạm nên tôi xúc phạm; đời trước đã lạnh lùng nên đời sau tiếp tục lạnh lùng. Thập Giá nói: vòng lặp ấy có thể dừng lại ở đây. Đức Giêsu nhận bạo lực nhưng không trả lại bạo lực. Người nhận lời nguyền rủa nhưng đáp bằng lời tha thứ. Người bị tước đoạt nhưng vẫn trao ban. Đó là cách gia đình mới được sinh ra.
Và nếu Thập Giá tạo nên một gia đình, thì Bí tích Thánh Thể là nơi gia đình ấy được nuôi sống. Chúng ta đến nhà thờ không chỉ như hàng trăm cá nhân cùng lúc làm việc đạo đức riêng. Chúng ta được quy tụ quanh một bàn. Cùng nghe một Lời. Cùng ăn một Tấm Bánh. Cùng uống từ một Chén. Chúa không ban cho mỗi người một Đức Kitô khác nhau; tất cả cùng được nuôi bởi một Đức Kitô. Thánh Phaolô nói: bởi chỉ có một tấm bánh, chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể. Đây là điều đáng sợ nếu ta suy nghĩ thật nghiêm túc. Tôi không thể rước lấy Thân Mình Đức Kitô mà đồng thời khinh thường một chi thể của Thân Mình ấy. Tôi không thể nói “Amen” trước Mình Thánh Chúa rồi bước ra cố ý nuôi dưỡng chia rẽ. Mỗi lần lên rước lễ là mỗi lần tôi không chỉ nói “Amen, con tin đây là Mình Chúa”, nhưng sâu xa hơn còn phải nói: “Amen, con chấp nhận thuộc về thân thể này; con chấp nhận những anh chị em Chúa đã đặt bên con; con xin học yêu họ như Chúa đã yêu con.” Nếu Thánh Thể không đưa ta gần anh em hơn, có điều gì đó trong cách chúng ta rước Chúa cần được xét lại. Đức Kitô trong Nhà Tạm và Đức Kitô nơi người bé nhỏ không phải hai Đức Kitô. Đấng nói “Này là Mình Thầy” cũng là Đấng nói “Mỗi lần các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.”
Có một câu hỏi mà mỗi người chúng ta có thể mang về sau khi suy niệm đoạn Tin Mừng này: Ai là người Chúa đang trao cho tôi? Có thể là chính người vợ mà tôi đã quá quen đến mức không còn nhìn thấy những hy sinh của nàng. Có thể là người chồng lâu nay chỉ bị tôi nhìn bằng những khuyết điểm. Có thể là cha mẹ đang già dần và những cuộc điện thoại của tôi ngày càng thưa. Có thể là đứa con đang đi qua một giai đoạn khó khăn mà tôi chỉ biết mắng chứ chưa từng ngồi xuống nghe. Có thể là một người anh em trong cộng đoàn khiến tôi khó chịu. Có thể là một giáo dân cứ tìm tôi vào những lúc bất tiện. Có thể là một người nghèo vẫn thường ngồi bên cổng nhà thờ. Có thể là một người đang bệnh. Có thể là một người từng làm tôi tổn thương nhưng hôm nay Chúa mời tôi ít nhất bắt đầu cầu nguyện cho họ. Có thể là một người chẳng ai muốn nhận. Chúa không trao nhân loại cho ta một cách mơ hồ. Người thường trao bằng một khuôn mặt cụ thể. Và câu hỏi không phải chỉ là “người ấy có xứng đáng để tôi yêu không?” mà là “tôi có nhận ra người ấy đang được Đức Kitô trao cho mình không?”
Rồi còn một câu hỏi khác: Tôi có cho phép mình được người khác đón nhận không? Có những người rất giỏi chăm sóc người khác nhưng không bao giờ cho phép ai chăm sóc mình. Họ mạnh mẽ đến mức cô độc. Họ sợ trở thành gánh nặng. Họ không muốn ai thấy sự yếu đuối. Nhưng Gioan cũng phải đón nhận một người mẹ. Đức Maria cũng phải đón nhận một người con. Gia đình không chỉ được xây bằng khả năng cho; gia đình còn được xây bằng sự khiêm tốn biết nhận. Có lúc ta phải để người khác nghe mình. Có lúc ta phải nói: “Tôi đang mệt.” Có lúc ta phải nhận một bàn tay. Có lúc ta phải để cộng đoàn nâng đỡ. Có lúc người mục tử cũng cần được mục tử hóa; người chăm sóc cũng cần được chăm sóc; người vẫn thường an ủi người khác cũng cần một chỗ để khóc. Chúa không muốn chúng ta trở thành những anh hùng đơn độc. Chính Người trong Vườn Dầu đã nói với các môn đệ: “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” Được cần đến người khác không phải là thất bại. Đó là một phần của thân phận con người và cũng là một phần của mầu nhiệm hiệp thông.
Thập Giá còn dạy chúng ta rằng gia đình của Chúa rộng hơn biên giới máu huyết. Chúng ta yêu gia đình ruột thịt là đúng, là bổn phận, là điều đẹp. Nhưng tình yêu Kitô giáo không dừng ở cửa nhà mình. Đức Giêsu mở ra một gia đình mới trong đó người nghèo không còn là “họ”, người di dân không còn là “họ”, người già neo đơn không còn là “họ”, người không cùng địa vị không còn là “họ”. Tất cả đều có thể trở thành “chúng ta”. Đây là cuộc hoán cải khó khăn bởi bản năng con người luôn muốn phân loại: người của tôi và người ngoài; người cùng phe và người khác phe; người đáng được thương và người không đáng. Còn Thập Giá đập vỡ tất cả những hàng rào ấy. Trên Thập Giá, Đức Giêsu chết cho cả người đóng đinh mình. Trong lời cầu “Lạy Cha, xin tha cho họ”, Người mở cửa gia đình Thiên Chúa ngay cả cho những kẻ đang làm điều tàn nhẫn nhất. Không phải vì tội ác không nghiêm trọng, nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa còn lớn hơn tội lỗi. Nếu ta thật sự thuộc về gia đình sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô, trái tim chúng ta cũng phải ngày càng rộng hơn.
Nhìn lại đời mình, ta sẽ nhận ra rất nhiều ơn Chúa đã đến qua những người Chúa đặt bên cạnh. Ta thường nghĩ Chúa cứu ta bằng những phép lạ, nhưng phần nhiều Người cứu ta qua con người. Chúa gửi một người bạn đúng lúc. Chúa gửi một người thầy đã tin ta khi ta không tin chính mình. Chúa gửi một người mẹ cầu nguyện suốt những năm ta xa Chúa. Chúa gửi một người cha ít nói nhưng cả đời hy sinh. Chúa gửi một linh mục đã lắng nghe một lần và giúp đời ta đổi hướng. Chúa gửi một người vợ hay người chồng đã chịu đựng những tháng ngày khó khăn. Chúa gửi một cộng đoàn đã nâng ta khi ta ngã. Có người chỉ đi cùng ta một đoạn nhưng đoạn ấy đủ để cứu cả một đời. Chúng ta đừng coi những người ấy là chuyện đương nhiên. Có khi họ chính là cách Đức Kitô từ trên Thập Giá nói với ta: “Đây là mẹ của con. Đây là anh của con. Đây là chị của con. Đây là người Ta gửi đến cho con.” Và rồi một ngày, Chúa cũng muốn dùng chính ta để trở thành câu trả lời cho lời cầu nguyện của một ai đó.
Đặc biệt với đời tận hiến và đời linh mục, lời Tin Mừng hôm nay càng đáng để dừng lại thật lâu. Người linh mục không được gọi để trở thành một viên chức tôn giáo cung cấp các dịch vụ thiêng liêng. Người tu sĩ không được gọi chỉ để hoàn thành một chương trình mục vụ. Ơn gọi của chúng ta phát sinh từ một tiếng gọi vào gia đình của Đức Kitô. Người linh mục được gọi là “cha” không phải trước hết vì một danh xưng kính trọng, nhưng vì đời mình phải có khả năng sinh ra, nuôi dưỡng, bảo vệ và đón nhận những người con Chúa trao. Danh xưng ấy đẹp nhưng cũng đáng sợ. Bởi đã là cha thì không được chỉ yêu những người con ngoan. Đứa con khó khăn mới khiến trái tim người cha đau nhất. Người mục tử chân thật không chỉ có mặt lúc lễ lớn, khi mọi thứ đẹp đẽ, nhưng còn có mặt bên giường bệnh, trong tang lễ, bên một gia đình đổ vỡ, với một người vừa sa ngã, với một người đã xa Giáo Hội nhiều năm nhưng nay muốn trở về. “Đây là con của con.” Có lẽ ngày chịu chức, Chúa đã âm thầm nói câu ấy. Giáo xứ này, cộng đoàn này, những người nghèo này, cả những người làm cha đau lòng này: “Đây là những người Ta trao cho con.” Và cũng thế, đời sống cộng đoàn tu trì sẽ mất linh hồn nếu anh em chỉ cùng ở trong một nhà nhưng không thật sự thuộc về nhau. Chúng ta có thể cùng đọc kinh, cùng ăn, cùng làm việc, nhưng nếu không biết vui với người vui, khóc với người khóc, nâng người yếu, chịu đựng người khó, thì căn nhà tu chỉ còn là một nơi cư trú chung chứ chưa phải gia đình của Thập Giá.
Thưa anh chị em, cuối cùng rồi chúng ta sẽ rời khỏi thế gian này với hai bàn tay trắng. Nhà cửa để lại. Tiền bạc để lại. Chức vụ để lại. Thành tựu để lại. Ngay cả những điều ta từng tưởng không thể thiếu cũng sẽ ở lại phía sau. Nhưng điều ta mang tới trước mặt Chúa sẽ là những gì ta đã yêu. Có lẽ ngày ấy Chúa không hỏi căn nhà của ta rộng bao nhiêu, nhưng hỏi trong căn nhà ấy có chỗ cho ai. Không hỏi ta quen bao nhiêu người, nhưng hỏi có ai bớt cô đơn vì đã gặp ta. Không hỏi ta thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng hỏi ta đã cứu được bao nhiêu tương quan khỏi đổ vỡ. Không hỏi ta được bao nhiêu người kính trọng, nhưng hỏi có người đau khổ nào từng tìm thấy nơi ta một mái nhà không. Bởi cuối cùng, điều Đức Giêsu làm trước khi chết chính là xây một mái nhà giữa những con người.
Chúng ta hãy trở lại Canvê lần nữa. Trời đang tối dần. Thân thể Đức Giêsu đầy thương tích. Mỗi hơi thở là một cực hình. Mẹ đứng đó. Gioan đứng đó. Và trong hơi sức cuối cùng, Người vẫn nghĩ cho người khác. Người nhìn Mẹ. Người nhìn môn đệ. Người nối hai cuộc đời lại. “Thưa Bà, đây là con của Bà.” “Đây là mẹ của anh.” Thế rồi một gia đình được sinh ra. Không có tiếng nhạc. Không có một buổi lễ long trọng. Không có những lời chúc mừng. Chỉ có máu, nước mắt và một lời trao phó. Nhưng chính từ giây phút ấy, lịch sử nhân loại có một mái nhà mới. Giáo Hội bắt đầu hiện ra dưới chân Thập Giá như cộng đoàn của những người được trao cho nhau trong tình yêu của Đức Kitô.
Ước gì mỗi khi nhìn lên Thánh Giá, chúng ta đừng chỉ hỏi: “Chúa đã làm gì cho tôi?”, nhưng còn hỏi: “Chúa đang trao ai cho tôi?” Đừng chỉ cảm tạ vì mình được cứu, nhưng hãy để ơn cứu độ biến ta thành người biết đón nhận người khác. Đừng chỉ xin Chúa chữa lành những vết thương riêng, nhưng xin Người làm cho những vết thương ấy trở thành nơi ta biết cảm thông với vết thương của anh em. Đừng để đức tin biến thành một hành trình riêng tư chỉ có “Chúa và tôi”, bởi chính Chúa sẽ luôn chỉ sang người bên cạnh mà nói: “Đây là anh em của con.” Và xin cho trong từng gia đình, từng giáo xứ, từng cộng đoàn, từng mái nhà, chúng ta dám sống lời cuối cùng ấy của Đức Giêsu: nhận lấy nhau, mang lấy nhau, ở lại với nhau.
Bởi có thể ta không cứu được cả thế giới. Nhưng ta có thể làm cho một người bớt cô đơn. Ta không chữa được hết mọi vết thương. Nhưng ta có thể không làm thêm một vết thương. Ta không thể giữ mọi người mình yêu ở lại mãi. Nhưng khi họ còn bên mình, ta có thể yêu họ tử tế hơn. Ta không thể làm gia đình mình hoàn hảo. Nhưng ta có thể là người đầu tiên ngừng làm đau. Ta không thể thay đổi hết những người sống chung với ta. Nhưng ta có thể để Thập Giá thay đổi chính mình. Và khi một người chịu để Thập Giá đổi mình, một gia đình đã bắt đầu được chữa lành.
Đức Kitô đã không chết để chúng ta được cứu rồi mỗi người đi về một phía. Người chết để những kẻ xa lạ trở nên người nhà, những kẻ chia rẽ được hòa giải, những người cô độc được đón nhận, những người không còn mẹ được trao một người mẹ, những người tưởng mình chẳng thuộc về đâu được cho một mái nhà. Thập Giá không chỉ cứu từng người. Thập Giá tạo nên một gia đình. Và gia đình ấy chỉ thật sự có mặt nơi nào người ta còn biết nói với nhau bằng chính trái tim của Đấng chịu đóng đinh: Anh là anh em của tôi. Chị là chị em của tôi. Nỗi đau của anh không phải chuyện xa lạ với tôi. Cuộc đời của chị không phải chuyện không liên quan đến tôi. Chúng ta thuộc về nhau, bởi trước khi chúng ta chọn nhau, Đức Kitô đã trao chúng ta cho nhau dưới chân Thập Giá.
Và rồi, khi cuộc đời khép lại, có lẽ điều đẹp nhất mà một người Kitô hữu có thể để lại không phải là tên tuổi thật lớn, tài sản thật nhiều hay thành tích khiến người đời nhớ mãi, nhưng là một vài con người có thể nói: “Nhờ người ấy, tôi đã biết mình không cô độc. Nhờ người ấy, tôi đã hiểu một chút tình yêu của Thiên Chúa. Nhờ người ấy, lúc đời tôi tối nhất, tôi vẫn còn một mái nhà để trở về.” Nếu được như thế, thì cuộc đời ta đã mang hình Thập Giá. Và nếu cuộc đời ta mang hình Thập Giá, nó cũng sẽ làm điều Thập Giá của Đức Kitô đã làm: không chỉ cứu một người, nhưng âm thầm sinh ra một gia đình.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NƠI MỘT GIA ĐÌNH MỚI ĐƯỢC SINH RA
Tin Mừng: Ga 19,25-27
Có những gia đình được hình thành từ một mái nhà. Có những gia đình bắt đầu từ một cuộc hôn nhân. Có những gia đình được nối dài bằng tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ. Nhưng cũng có một gia đình rất lạ được sinh ra giữa buổi chiều Canvê, không có tiếng cười, không có tiệc cưới, không có hoa, không có lời chúc mừng, chỉ có một cây Thập Giá dựng lên giữa trời, một Người Con đang hấp hối, một người Mẹ đang đứng dưới chân Thập Giá và một môn đệ được Chúa yêu đang ở đó. Chính trong giây phút tưởng như tất cả đều tan vỡ ấy, Đức Giêsu lại làm một việc hết sức lạ lùng: Người thiết lập một tương quan mới, Người mở ra một mái nhà mới, Người sinh ra một gia đình mới. “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Và Tin Mừng ghi một câu rất đơn sơ: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Nếu chỉ đọc thật nhanh, người ta có thể nghĩ Đức Giêsu chỉ đang lo cho Mẹ mình trước khi chết. Một người con hiếu thảo biết mình sắp ra đi nên trao Mẹ cho một người bạn chăm sóc. Nhưng nếu chỉ hiểu như thế thì chưa đủ. Tin Mừng Gioan không bao giờ kể một chi tiết quan trọng chỉ để kể. Dưới chân Thập Giá, trong giờ của Đức Giêsu, giờ mà Người vẫn hằng nói đến suốt Tin Mừng, một điều sâu xa hơn đang xảy ra: từ cạnh sườn của Đấng Chịu Đóng Đinh, từ tình yêu đã đi đến tận cùng, một cộng đoàn mới, một dân mới, một gia đình mới đang được khai sinh. Và gia đình ấy chính là Giáo Hội.
Thật lạ lùng, Giáo Hội không được sinh ra trong một khung cảnh huy hoàng. Giáo Hội không bắt đầu bằng một cuộc biểu dương sức mạnh. Giáo Hội không xuất hiện trong cung điện, cũng không khai sinh giữa những tiếng tung hô. Giáo Hội được sinh ra bên một con người bị đóng đinh. Nguồn gốc của Giáo Hội là một Người đã bị lột áo, bị chế nhạo, bị loại trừ, bị đâm thủng và bị treo lên giữa hai tên gian phi. Điều này phải làm chúng ta suy nghĩ rất nhiều. Bởi vì đôi khi chúng ta dễ hình dung Giáo Hội qua những ngôi thánh đường lớn, những cơ cấu tổ chức, những lễ nghi trang trọng, những đoàn thể đông đảo, những chương trình mục vụ, những con số thống kê, những thành tựu, những tiếng vỗ tay. Tất cả những điều ấy có giá trị của nó, nhưng nếu một ngày nào đó Giáo Hội quên mất mình được sinh ra từ đâu, Giáo Hội sẽ đánh mất căn tính của mình. Giáo Hội được sinh ra dưới chân Thập Giá. Bởi thế, Giáo Hội chỉ thật sự là mình khi đứng gần những thập giá của con người, khi không bỏ chạy trước đau khổ của anh chị em, khi không chỉ tìm thành công mà dám ở lại với những người thất bại, khi không chỉ đứng bên người mạnh mà còn cúi xuống trước người yếu, khi không chỉ lên tiếng ở nơi người ta hoan nghênh mà còn có thể trung thành ở những nơi chẳng ai nhìn thấy.
Dưới chân Thập Giá hôm ấy có Đức Maria. Tin Mừng không nói Mẹ gào khóc, không nói Mẹ trách móc, không nói Mẹ ngất xỉu. Chỉ một động từ: Mẹ “đứng”. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người.” Một chữ “đứng” thôi mà chứa cả một đời trung tín. Mẹ đứng đó khi Con mình không còn vẻ gì là Đấng Cứu Thế theo cách người đời tưởng tượng. Mẹ đứng đó khi những lời thiên thần năm xưa xem ra hoàn toàn trái ngược với hiện tại. Ngày Truyền Tin, thiên thần nói Người Con ấy sẽ nên cao cả, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời. Thế mà giờ đây Người Con ấy đang chết như một tội nhân. Ngày dâng Con trong Đền Thờ, cụ Simêon từng nói với Mẹ rằng một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Mẹ. Và giờ đây lưỡi gươm ấy đang đi qua trái tim Mẹ thật sự. Nhưng Mẹ vẫn đứng. Có lẽ Giáo Hội được sinh ra từ chính sự đứng lại ấy. Giáo Hội trước hết không phải là những người làm được việc lớn, nhưng là những người biết đứng lại với Đức Kitô khi Người bị người đời bỏ rơi. Người môn đệ thật không được nhận ra chỉ khi đi rao giảng, làm phép lạ hay hoạt động hăng say, mà còn được nhận ra ở khả năng đứng dưới chân Thập Giá. Bởi vì có những lúc đức tin không còn là làm gì nữa, mà chỉ còn là ở lại. Có những lúc yêu thương không giải quyết được vấn đề, không lấy đi được đau khổ, không làm người bệnh khỏi bệnh, không làm người đã chết sống lại, không làm một gia đình đang rạn nứt lập tức hàn gắn, nhưng yêu thương vẫn có thể làm được một điều vô cùng quan trọng: không bỏ người đau khổ một mình.
Cũng dưới chân Thập Giá ấy có người môn đệ Chúa yêu. Gioan không nêu tên ông. Điều ấy khiến mỗi người chúng ta có thể đặt mình vào vị trí của người môn đệ ấy. Người môn đệ Chúa yêu không phải là một danh hiệu dành riêng cho một con người đã sống cách đây hai ngàn năm. Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi nhận mình là người môn đệ được Chúa yêu. Và thật đẹp khi nhận ra rằng Đức Giêsu trao Mẹ của Người cho môn đệ không phải sau khi sống lại trong một hoàn cảnh huy hoàng, nhưng ngay lúc Người đang hấp hối. Nghĩa là món quà cuối cùng của Đức Giêsu trước khi chết không phải là một giáo huấn mới, không phải là một phép lạ cuối cùng, mà là một con người. Người trao Mẹ. “Đây là mẹ của anh.” Người trao cho người môn đệ một tương quan, một mái ấm, một người để đón nhận, để yêu thương và để thuộc về. Đức tin Kitô giáo từ đó không bao giờ chỉ là chuyện giữa “tôi và Chúa”. Ai đi theo Đức Kitô thì sớm muộn cũng sẽ được Người trao cho những con người để yêu. Không thể nói tôi yêu Chúa mà không nhận những người Chúa trao cho mình. Không thể đứng dưới chân Thập Giá mà vẫn khăng khăng sống như một ốc đảo. Không thể làm môn đệ Đức Giêsu mà chỉ chọn những người hợp tính với mình. Bởi lẽ câu “Đây là mẹ của anh” đồng thời cũng hàm chứa một lời mời gọi: từ nay anh không còn chỉ sống cho mình nữa.
“Đây là mẹ của anh.” Câu nói ấy không chỉ trao Đức Maria cho Gioan, mà còn trao Gioan cho Đức Maria. Mẹ mất một Người Con, nhưng lại nhận được một người con khác. Và trong người môn đệ ấy là tất cả những ai sẽ trở thành môn đệ của Đức Giêsu qua mọi thời đại. Từ chân Thập Giá, Đức Maria trở thành Mẹ của một gia đình lớn hơn gia đình Nazareth. Một gia đình không được liên kết trước hết bằng huyết thống, ngôn ngữ, quốc gia hay văn hóa, mà bằng Máu của Con Mẹ đã đổ ra. Ở Nazareth, Mẹ là mẹ của Đức Giêsu theo xác thịt. Ở Canvê, Mẹ trở thành Mẹ của các môn đệ trong trật tự ân sủng. Điều ấy không làm lu mờ vai trò duy nhất của Đức Kitô, trái lại càng cho thấy ý muốn yêu thương của Người. Người không muốn những kẻ theo Người sống mồ côi. Trước khi ra đi, Người để lại cho họ một người Mẹ. Và đây là điều rất đẹp trong đời sống Kitô hữu: chúng ta không chỉ có một Thiên Chúa ở trên trời, nhưng còn được đưa vào một gia đình. Chúng ta có Cha là Thiên Chúa, có Đức Kitô là Anh Cả, có Đức Maria là Mẹ, có các thánh là những người đi trước, và có biết bao anh chị em cùng chung một đức tin. Giáo Hội nếu được sống đúng nghĩa phải là nơi người ta được cảm nghiệm rằng mình có một gia đình.
Tiếc thay, điều đau lòng là nhiều khi chúng ta nói rất hay về Giáo Hội là gia đình, nhưng cách sống của chúng ta lại làm cho người khác cảm thấy mình là người dưng. Có người đi lễ hàng chục năm nhưng vẫn không có ai hỏi thăm khi họ đau bệnh. Có người tham gia giáo xứ rất lâu nhưng khi họ gặp biến cố, họ mới nhận ra mình chẳng biết tìm ai để chia sẻ. Có người sống trong cộng đoàn tu trì nhưng có lúc lại cô độc đến mức không dám nói thật nỗi đau của mình. Có những gia đình mang danh Công giáo nhưng mỗi người sống trong một căn phòng tinh thần riêng biệt. Người cha có thế giới của cha, người mẹ có nỗi buồn của mẹ, con cái có chiếc điện thoại của chúng, và bữa cơm chung đôi khi chỉ còn là những người ngồi gần nhau mà tâm hồn cách xa nhau. Chúng ta có thể cùng ở dưới một mái nhà mà chưa chắc đã là gia đình. Có thể cùng chung một nhà dòng mà chưa chắc đã là anh em. Có thể cùng thuộc một giáo xứ mà chưa chắc đã biết đón nhận nhau. Có thể cùng rước một tấm Bánh mà lòng vẫn đóng cửa với nhau. Bởi vậy, đứng dưới chân Thập Giá hôm nay, chúng ta phải nghe lại lời Đức Giêsu như lời nói với chính mình: “Đây là mẹ của anh. Đây là con của bà.” Nói cách khác: đây là người Ta trao cho con. Hãy nhận lấy họ.
Điều rất đáng suy nghĩ là Đức Giêsu không hỏi Gioan có thích Đức Maria không. Người cũng không hỏi Đức Maria có thấy Gioan đủ tốt để làm con không. Người chỉ trao họ cho nhau. Đó chính là một nét rất thật của đời sống Giáo Hội. Chúng ta không chọn hết những người cùng sống với mình. Một gia đình không phải là một nhóm bạn nơi ta chỉ giữ lại người hợp ý. Anh chị em ruột không do ta chọn. Trong cộng đoàn cũng vậy. Trong giáo xứ cũng vậy. Trong Hội Thánh cũng vậy. Có những người rất dễ thương, nhưng cũng có những người làm ta mệt. Có người nói chuyện hợp với ta, có người chỉ mở miệng là ta đã thấy khó chịu. Có người hiểu ta, có người luôn hiểu lầm. Có người nâng đỡ ta, có người vô tình làm ta tổn thương. Thế mà chính trong sự không hoàn hảo ấy, Chúa lại nói: “Đây là anh em của con.” Đức Kitô không lập Giáo Hội bằng cách gom những người hoàn hảo lại với nhau. Người tạo nên Giáo Hội bằng cách trao những con người bất toàn cho nhau và dạy họ yêu như Người đã yêu.
Đây có lẽ là điều khó nhất của đời sống Kitô hữu. Chúng ta rất dễ yêu nhân loại, nhưng khó yêu một người cụ thể. Nói yêu người nghèo thì dễ, sống cạnh một người nghèo khó tính lại khác. Nói yêu Giáo Hội thì dễ, sống với những giới hạn của những con người trong Giáo Hội lại khác. Nói yêu cộng đoàn thì dễ, nhưng tha thứ cho một người anh em từng xúc phạm mình thì khó. Nói yêu gia đình thì dễ, nhưng kiên nhẫn với một người thân lặp đi lặp lại cùng một khuyết điểm suốt nhiều năm lại là chuyện khác. Thập Giá của Đức Kitô kéo tình yêu ra khỏi những khẩu hiệu đẹp và đặt nó vào những gương mặt cụ thể. Chúa không nói với Gioan: hãy yêu mọi người một cách chung chung. Người chỉ chỉ vào một người rất cụ thể: “Đây là mẹ của anh.” Tình yêu Kitô giáo bắt đầu từ đó. Đây là mẹ của anh. Đây là chồng của chị. Đây là vợ của anh. Đây là đứa con Chúa đã trao cho anh chị. Đây là người cha già khó tính của con. Đây là người mẹ đang lẫn trí của con. Đây là người anh em trong cộng đoàn mà con chẳng hợp tính. Đây là người giáo dân hay phàn nàn. Đây là vị mục tử còn nhiều giới hạn. Đây là người đang làm con phiền lòng. Đây là người Ta trao cho con. Đừng chỉ hỏi họ có xứng đáng để con yêu không. Hãy hỏi: Chúa đang muốn con làm gì cho họ?
Và Gioan đã làm gì? Tin Mừng viết: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Một câu ngắn nhưng vô cùng quan trọng. Gioan không chỉ nghe lời Chúa rồi gật đầu. Ông biến lời ấy thành một chỗ trong căn nhà của mình. “Rước về nhà mình” có nghĩa là dành chỗ. Mọi tình yêu thật đều đòi chúng ta dành chỗ. Dành chỗ trong lịch sống. Dành chỗ trong tâm trí. Dành chỗ trong sự quan tâm. Dành chỗ trong túi tiền. Dành chỗ trong những ưu tiên. Chúng ta có thể nói yêu một người rất nhiều, nhưng nếu trong cuộc sống thực tế của ta không có chỗ cho họ thì tình yêu ấy vẫn còn rất mơ hồ. Gioan rước Mẹ về nhà. Còn chúng ta, chúng ta đã rước ai về “nhà” của lòng mình? Có những người Chúa trao cho ta từ rất lâu nhưng vẫn cứ đứng ngoài cửa. Một người ta chưa chịu tha thứ. Một người ta cố tình tránh mặt. Một người trong gia đình ta đã không nói chuyện nhiều năm. Một người trong cộng đoàn mỗi lần gặp là lòng ta lập tức khép lại. Có khi ta giữ ảnh Đức Mẹ rất đẹp trong phòng, lần chuỗi rất nhiều, đi hành hương nhiều nơi, nhưng lại chưa biết rước một người anh em cụ thể vào “nhà” trái tim mình. Khi ấy, có lẽ ta vẫn chưa nghe hết lời Đức Giêsu từ Thập Giá.
Giáo Hội được sinh ra dưới chân Thập Giá vì chỉ nơi Thập Giá con người mới học được cách sống như một gia đình thật. Gia đình thật không phải là nơi không có vết thương. Nếu vậy thì chẳng gia đình nào trên đời là gia đình cả. Gia đình thật là nơi những vết thương không trở thành lý do để bỏ nhau. Dưới chân Thập Giá có một người Mẹ đang tan nát vì mất Con, có một môn đệ vừa chứng kiến Thầy mình bị giết, và ở giữa họ là một Người đang chết. Đó là một gia đình được khai sinh từ những người đang đau. Có lẽ vì vậy mà Giáo Hội cũng phải là nơi người đau khổ tìm được một chỗ. Nếu Giáo Hội chỉ dành cho những người mạnh khỏe, thành công, đạo đức và chỉnh chu, thì Giáo Hội đã rời xa Canvê. Canvê là nơi người tan vỡ được nhận vào nhà. Giáo Hội không phải viện bảo tàng của những người thánh thiện hoàn hảo, nhưng là mái nhà nơi những người tội lỗi được chữa lành, những người yếu đuối được nâng đỡ, những người lạc đường được đưa về, những người thất vọng được trao lại hy vọng.
Nhìn vào gia đình hôm nay, chúng ta càng thấy Tin Mừng này cần thiết biết bao. Chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện liên lạc như bây giờ, nhưng cũng chưa chắc đã gần nhau hơn. Người trong cùng một nhà có thể nhắn tin cho người ở bên kia trái đất nhưng lại không biết người ngồi cạnh mình đang buồn. Chúng ta biết hàng trăm câu chuyện trên mạng nhưng không biết mẹ mình đau chân đã mấy ngày. Chúng ta theo dõi đời sống của rất nhiều người nhưng không biết đứa con trong nhà đang mang nỗi sợ gì. Có những người trẻ có hàng ngàn người theo dõi nhưng không có một người để gọi khi đêm xuống và lòng mình tuyệt vọng. Có những người cha làm việc cả đời để lo cho gia đình nhưng đến lúc về già lại phát hiện mình rất ít hiểu các con. Có những bà mẹ hy sinh tất cả nhưng nhiều năm không nghe một lời cảm ơn. Có những đôi vợ chồng sống bên nhau hai mươi, ba mươi năm mà giữa hai người đã hình thành một khoảng im lặng rất dài. Thập Giá hôm nay đang nói gì với những gia đình như thế? Có lẽ Đức Giêsu vẫn đang lặp lại: “Đây là mẹ của anh. Đây là con của bà.” Hãy nhìn lại người bên cạnh. Đừng xem họ là điều đương nhiên. Họ là người Chúa trao cho ta.
Có những lúc chúng ta chỉ biết giá trị của một người khi sắp mất họ. Canvê dạy chúng ta đừng chờ tới lúc ấy. Đừng chờ cha mẹ nằm viện mới nhận ra mình đã lâu không ngồi nói chuyện với họ. Đừng chờ một người ra đi mới tiếc rằng có những lời yêu thương mình chưa nói. Đừng chờ con cái lớn rồi rời nhà mới tiếc những năm tháng đã quá bận rộn. Đừng chờ hôn nhân đứng bên bờ đổ vỡ mới bắt đầu hỏi mình đã vô tâm từ bao giờ. Đừng chờ người anh em qua đời mới kể cho nhau nghe những điều tốt đẹp về họ mà lúc sống ta chưa từng nói. Một gia đình được sinh ra dưới chân Thập Giá phải là gia đình biết yêu khi còn có thể, biết nói lời tử tế khi còn có cơ hội, biết xin lỗi khi chưa quá muộn, biết tha thứ trước khi trái tim hóa đá.
Nhưng có lẽ chúng ta cũng phải nhìn sâu hơn nữa. Dưới chân Thập Giá, Đức Giêsu đang mất tất cả. Quần áo đã bị chia. Danh dự đã bị tước. Các môn đệ phần lớn đã bỏ chạy. Sự sống đang cạn dần. Thế nhưng chính lúc không còn gì, Người vẫn còn cho. Người trao Mẹ. Người trao môn đệ cho Mẹ. Người trao Thần Khí. Người trao chính mình. Đây là điều đẹp nhất nơi Đức Kitô chịu đóng đinh: tình yêu của Người không dừng lại vì Người đang đau. Nhiều khi chúng ta nghĩ: khi nào tôi khỏe hơn tôi sẽ yêu; khi nào tôi bớt bận tôi sẽ quan tâm; khi nào người kia thay đổi tôi sẽ tha thứ; khi nào gia đình ổn hơn tôi sẽ dịu dàng; khi nào tôi được đối xử tốt tôi sẽ đối xử tốt lại. Đức Giêsu không chờ. Người yêu ngay trong lúc đau nhất. Người tạo dựng một gia đình ngay giữa lúc gia đình của chính Người đang bị xé nát bởi cái chết. Người cho đi ngay cả khi hai bàn tay đã bị đóng đinh không còn cầm được gì nữa.
Đó là lý do tại sao Thập Giá luôn là trường học của gia đình. Người chồng nhìn lên Thập Giá sẽ học rằng yêu vợ không chỉ khi vợ dễ thương. Người vợ nhìn lên Thập Giá sẽ học rằng yêu chồng không chỉ khi chồng hiểu mình. Cha mẹ nhìn lên Thập Giá sẽ học rằng yêu con không chỉ khi con thành công và ngoan ngoãn. Con cái nhìn lên Thập Giá sẽ học rằng hiếu thảo không chỉ khi cha mẹ còn khỏe mạnh, minh mẫn và không làm mình phiền. Người sống đời thánh hiến nhìn lên Thập Giá sẽ hiểu rằng tình huynh đệ cộng đoàn không phải là sống cạnh những người hợp ý, nhưng là học cách chết đi mỗi ngày cho cái tôi của mình để người khác có chỗ sống. Linh mục nhìn lên Thập Giá sẽ hiểu rằng đoàn chiên không phải “của mình”, nhưng là những người Đức Kitô trao: “Đây là con của con, đây là mẹ của con, đây là anh em của con.” Và người giáo dân nhìn lên Thập Giá cũng sẽ hiểu rằng Giáo Hội không phải một nơi để đến nhận dịch vụ tôn giáo, nhưng là một gia đình mà trong đó mình có trách nhiệm với người khác.
Một điều khác cũng rất thấm thía: Đức Giêsu không xóa nỗi đau của Đức Maria trước khi trao cho Mẹ một người con mới. Người không làm phép lạ để Mẹ khỏi phải đau. Người không xuống khỏi Thập Giá. Người không bảo Mẹ rằng đừng buồn. Người chỉ mở ra trong chính mất mát ấy một tương quan mới. Điều này chạm đến một kinh nghiệm rất thật của con người: có những mất mát không thể lấy lại, nhưng Thiên Chúa vẫn có thể làm cho từ khoảng trống ấy một tình yêu mới được sinh ra. Một người mất con có thể trở nên rất nhạy cảm trước nỗi đau của những người mẹ khác. Một người đã từng cô đơn có thể biết cách ở lại với người cô đơn. Một người từng trải qua đổ vỡ có thể trở nên dịu dàng hơn với những ai đang đổ vỡ. Một người từng mang vết thương có thể dùng chính vết thương ấy để chữa lành. Không phải vì mất mát là điều tốt. Thập Giá vẫn là Thập Giá, cái chết vẫn đau, chia ly vẫn xé lòng. Nhưng Thiên Chúa có một quyền năng lạ lùng: Người không để đau khổ có lời cuối cùng. Ở nơi cái chết tưởng như đang phá hủy mọi tương quan, Người lại sinh ra một gia đình.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đang sống một Canvê nào đó của gia đình. Có nhà đang có một người bệnh lâu năm. Có gia đình đang đau vì một người con đi xa đức tin. Có cha mẹ mất ngủ vì con cái. Có người đang chịu một cuộc hôn nhân đầy thử thách. Có người đang mang nỗi đau vì cha mẹ anh em bất hòa. Có người sống trong một gia đình tưởng còn nguyên nhưng thực ra đã vỡ từ bên trong. Có người không còn một mái nhà đúng nghĩa để trở về. Có người lớn lên mà chưa bao giờ cảm nhận mình thật sự được yêu. Tin Mừng hôm nay không hứa rằng mọi vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Nhưng Tin Mừng chỉ cho chúng ta một nơi để đứng: dưới chân Thập Giá. Ở đó, chúng ta không nhất thiết nhận được câu trả lời cho tất cả, nhưng chúng ta nhận được một tương quan mới. Chúng ta nhận Mẹ. Chúng ta nhận anh chị em. Chúng ta nhận một gia đình.
Và vì thế, một cộng đoàn Kitô hữu chỉ thật sự mang khuôn mặt của Đức Kitô khi người cô độc bước vào và cảm thấy mình được đón nhận. Một giáo xứ chỉ thật sự là gia đình khi người nghèo không cảm thấy xấu hổ, người có quá khứ không bị nhìn bằng ánh mắt kết án, người trẻ được lắng nghe, người già không bị lãng quên, người đau bệnh có người thăm viếng, người mới đến có người chào hỏi, người yếu đuối không bị loại trừ. Một nhà dòng chỉ thật sự là gia đình khi anh em không chỉ chia sẻ nhà, bàn ăn và giờ kinh mà còn biết mang gánh nặng của nhau. Một gia đình Công giáo chỉ thật sự sống Tin Mừng khi trong nhà có chỗ cho sự yếu đuối, có khả năng nói lời xin lỗi, có sự kiên nhẫn với người chậm chạp, có lòng thương xót với người sa ngã và có một bàn tay chìa ra trước khi quá muộn.
Chúng ta cần cẩn thận vì rất dễ biến Giáo Hội thành một nơi phân loại người. Người này đạo đức, người kia khô khan. Người này tốt, người kia phức tạp. Người này xứng đáng, người kia không. Dưới chân Thập Giá, Đức Giêsu không làm như vậy. Người chỉ nối những con người lại. Người biến một người phụ nữ đang mất Con thành Mẹ của một môn đệ. Người biến một môn đệ đang mất Thầy thành con của Mẹ. Đó là cách Đức Kitô chống lại sức mạnh chia rẽ của tội lỗi: Người tạo nên những tương quan mới. Ma quỷ luôn chia cách. Đức Kitô luôn quy tụ. Tội lỗi khiến con người nói: “Tôi không cần anh.” Thập Giá khiến Đức Giêsu nói: “Đây là mẹ của anh.” Tự ái khiến ta dựng tường. Thập Giá mở cửa. Hận thù khiến người ta biến nhau thành kẻ thù. Thập Giá biến người xa lạ thành người nhà.
Vì thế, nếu chúng ta muốn biết mình đã đứng gần Thập Giá bao nhiêu, đừng chỉ nhìn xem ta đeo Thánh Giá lớn thế nào, đọc bao nhiêu kinh, tham dự bao nhiêu giờ chầu. Hãy nhìn cách chúng ta đối xử với những người Chúa đã trao cho mình. Bởi vì không thể tôn kính Đấng Chịu Đóng Đinh mà khinh thường những người đứng dưới chân Thập Giá với ta. Không thể gọi Đức Maria là Mẹ mà không chịu nhận những người con khác của Mẹ là anh chị em. Không thể gọi Giáo Hội là Mẹ mà chỉ đến với Giáo Hội khi cần một bí tích rồi chẳng quan tâm gì đến đời sống của cộng đoàn. Một người thật sự ở dưới chân Thập Giá sẽ dần trở thành người biết đón nhận.
Có một câu rất đáng sợ mà con người thời nay thường nói: “Đó không phải chuyện của tôi.” Thế nhưng dưới chân Thập Giá, Đức Giêsu lại nói ngược lại: “Đây là mẹ của anh.” Nghĩa là từ nay chuyện của người này trở thành chuyện của anh. Nỗi đau của người kia không còn hoàn toàn xa lạ với anh nữa. Khi một người anh em đói, đó là chuyện của tôi. Khi một người già cô đơn, đó là chuyện của tôi. Khi một đứa trẻ thiếu tình thương, đó là chuyện của tôi. Khi một người trong cộng đoàn bị bỏ quên, đó là chuyện của tôi. Khi một gia đình đang tan vỡ, đó không chỉ là chuyện riêng của họ. Khi một người bệnh cần được thăm, một người tang chế cần được ở bên, một người thất vọng cần được lắng nghe, người Kitô hữu không thể mãi nói: “Không liên quan đến tôi.” Thập Giá làm cho chúng ta liên quan đến nhau.
Đặc biệt đối với những người sống đời tận hiến, Tin Mừng này là một lời chất vấn rất mạnh. Chúng ta đã bỏ gia đình riêng để bước vào một gia đình mới. Nhưng có khi chúng ta sống trong nhà dòng rất lâu mà vẫn giữ tâm hồn của một người độc thân theo nghĩa xấu: ai lo việc nấy, ai sống đời nấy, miễn đừng đụng đến tôi. Có khi chúng ta cùng đọc kinh mỗi ngày nhưng lại không biết người anh em bên cạnh đang trải qua cuộc chiến nào. Có khi một người trong cộng đoàn đau bệnh, mệt mỏi, khủng hoảng mà người khác vẫn thản nhiên vì “đã có bề trên lo”. Nhưng dưới chân Thập Giá, Đức Giêsu không trao trách nhiệm ấy cho một cơ cấu vô danh. Người nói trực tiếp với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Đời cộng đoàn chỉ trở thành Tin Mừng khi chúng ta thật sự rước nhau vào nhà lòng mình, nghĩa là vui với người vui, đau với người đau, chịu đựng nhau, sửa lỗi cho nhau trong yêu thương, và nhất là không bỏ nhau khi một người đang yếu.
Đối với linh mục cũng thế. Mỗi giáo dân được trao cho mình không phải là “đối tượng mục vụ” mà là một con người. Có những người rất dễ thương, có người rất khó. Có người luôn cộng tác, có người chỉ biết phê bình. Có người xuất hiện khi cần xin lễ, xin giấy tờ, xin giúp đỡ rồi biến mất. Có người làm linh mục đau lòng. Nhưng người mục tử đứng dưới chân Thập Giá phải nghe: “Đây là mẹ của con. Đây là anh em của con. Đây là đoàn chiên Ta trao cho con.” Và ngược lại, giáo dân cũng cần nhận linh mục của mình như một người anh em có giới hạn, không phải một chiếc máy cung cấp bí tích, không phải một người không bao giờ được mệt hay được yếu. Gia đình Giáo Hội chỉ trưởng thành khi chúng ta thôi đòi người khác phải hoàn hảo mới xứng đáng được yêu.
Một trong những bi kịch lớn nhất của thời đại chúng ta là người ta có thể bị loại bỏ rất dễ dàng. Một tài khoản có thể bị chặn trong một giây. Một mối quan hệ có thể bị xóa bằng một cú bấm. Không thích thì bỏ theo dõi. Bất đồng thì cắt liên lạc. Khó chịu thì tránh nhau. Văn hóa ấy dần đi vào cả gia đình và cộng đoàn. Người ta mất kiên nhẫn với nhau. Thế nhưng Thập Giá đi theo hướng ngược lại. Thập Giá không phải là nơi Đức Kitô “chặn” con người tội lỗi, nhưng là nơi Người mở rộng hai tay cho cả thế giới. Đôi tay bị đóng đinh ấy không còn có thể khép lại. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp của một tình yêu không loại trừ. Người Kitô hữu cũng được mời gọi để tay mình ngày càng mở ra như vậy.
“Đây là mẹ của anh.” Có lẽ hôm nay Chúa cũng đang nói với mỗi chúng ta câu ấy theo nhiều cách khác nhau. Đây là người vợ của con, đừng chỉ sống cạnh nhưng hãy yêu. Đây là chồng của con, đừng chỉ nhớ những điều ông ấy làm sai. Đây là cha mẹ của con, thời gian của họ không còn nhiều như con tưởng. Đây là con của con, đừng chỉ cho nó tiền, hãy cho nó chính con. Đây là anh em của con, đừng để một chuyện nhỏ phá hỏng tình nghĩa nhiều năm. Đây là người trong cộng đoàn của con, họ có những vết thương con không biết. Đây là người nghèo trước mặt con. Đây là người đang làm con khó chịu. Đây là người mà con đã cầu xin Chúa cất khỏi đời con, nhưng có lẽ chính qua họ Ta đang dạy con yêu.
Và rồi câu cuối cùng: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Tin Mừng không nói “ngày mai”, không nói “khi thuận tiện”, mà nói “kể từ giờ đó”. Có những điều phải bắt đầu ngay từ giờ này. Nếu cần xin lỗi, đừng chờ. Nếu cần gọi điện cho cha mẹ, đừng chờ. Nếu cần hòa giải, đừng cứ trì hoãn. Nếu cần thăm một người bệnh, hãy đi. Nếu đã lâu chưa nói với một người trong gia đình rằng mình thương họ, hãy nói khi còn có thể. Bởi chúng ta không biết một “giờ đó” nào sẽ là giờ cuối cùng. Canvê nhắc chúng ta rằng tình yêu luôn có một tính khẩn cấp.
Xin cho chúng ta biết trở lại dưới chân Thập Giá, nơi Đức Kitô đang mở rộng đôi tay để gom những người phân tán thành một gia đình. Xin cho các gia đình đang rạn nứt tìm lại được con đường trở về với nhau. Xin cho những người cô độc tìm được một mái nhà trong Giáo Hội. Xin cho những người mang vết thương không bị loại trừ nhưng được đón nhận. Xin cho mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn, mỗi gia đình Công giáo thật sự trở thành nơi có thể nghe vang lên lời của Đức Giêsu: “Đây là mẹ của anh. Đây là con của bà.” Và xin cho mỗi người chúng ta đừng chỉ đứng đó nghe, nhưng biết làm như người môn đệ Chúa yêu: rước người Chúa trao cho mình vào nhà, vào lòng, vào đời sống.
Bởi vì cuối cùng, điều làm cho Giáo Hội trở thành Giáo Hội không phải trước hết là chúng ta có bao nhiêu công trình, bao nhiêu chương trình hay bao nhiêu người tham dự. Điều làm nên Giáo Hội chính là tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh đang tạo nên những tương quan mới giữa những con người. Một người không còn là người dưng. Một người đau khổ không còn đau một mình. Một người mồ côi có Mẹ. Một người cô đơn có anh em. Một người tội lỗi có đường trở về. Một người bị loại trừ có một chỗ trong nhà. Từ trên Thập Giá, Đức Kitô đã không để lại cho chúng ta vàng bạc. Người để lại một gia đình. Và có lẽ một trong những cách đẹp nhất để tạ ơn Người là làm cho bất cứ ai Chúa đưa đến bên đời chúng ta đều cảm nghiệm rằng: ở đây, tôi không phải người dưng; ở đây, có một chỗ dành cho tôi; ở đây, tôi có anh chị em; ở đây, tôi có một người Mẹ; ở đây, dưới bóng Thập Giá Đức Kitô, tôi đã tìm được một gia đình.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – ĐIỂM HẸN CỦA MỌI NGƯỜI ĐAU KHỔ
Tin Mừng: Mt 11,28-30
“Hãy đến cùng tôi, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Có lẽ trong Tin Mừng, hiếm có lời nào của Chúa Giêsu lại dịu dàng đến thế, gần gũi đến thế, và cũng chạm đúng vào phần sâu kín nhất của đời người đến thế. Chúa không nói: hãy đến với tôi, hỡi những người thành công. Chúa cũng không nói: hãy đến với tôi, hỡi những người mạnh mẽ, những người đạo đức, những người không có vấn đề, những người đã giải quyết xong cuộc đời mình. Chúa gọi một hạng người rất đặc biệt, mà thật ra cũng là tất cả chúng ta: những người đang vất vả và mang gánh nặng. Nghĩa là những người đã mỏi. Những người đã đi một quãng đường dài mà chân bắt đầu run. Những người vẫn cười nhưng trong lòng đã rã rời. Những người ban ngày vẫn làm việc, vẫn trò chuyện, vẫn chăm sóc người khác, nhưng đêm về chỉ muốn nằm im và không còn muốn giải thích gì với ai. Những người có một nỗi đau không biết nói thế nào. Những người mang trong lòng một cái tên, một ký ức, một thất bại, một vết thương, một nỗi sợ, một sự mất mát mà nhiều năm trôi qua vẫn không quên được. Chúa gọi tất cả. Và lời gọi ấy càng trở nên thấm thía hơn khi ta nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Bởi Đấng nói “hãy đến cùng tôi” không phải là một người đứng ngoài đau khổ để đưa ra vài lời an ủi. Người là Đấng đã bước vào tận cùng của đau khổ. Người không đứng trên bờ gọi kẻ đang chìm; Người đã xuống tận dòng nước sâu. Người không nói với chúng ta từ một chiếc ngai vàng xa xôi; Người nói từ Thập Giá. Hai tay Người bị đóng đinh. Hai chân Người bị đóng đinh. Trán Người đội mão gai. Thân mình Người đầy thương tích. Người đã nếm cái đau của thân xác, cái đau của bị phản bội, cái đau của bị hiểu lầm, cái đau của cô độc, cái đau của bị kết án oan, cái đau của thấy người mình thương khóc mà mình không thể bước xuống để ôm lấy họ. Và chính từ nơi ấy, Đức Kitô trở thành điểm hẹn của mọi người đau khổ. Ai đau, hãy đến. Ai mệt, hãy đến. Ai không còn biết đi đâu, hãy đến. Ai đã cầu nguyện lâu ngày mà hoàn cảnh chưa thay đổi, hãy đến. Ai đang thấy lòng mình như một căn nhà vừa qua cơn bão, hãy đến. Ai đang mang những câu hỏi không có lời đáp, hãy đến. Chúa không hứa rằng Người sẽ lập tức cất khỏi vai ta mọi cây thập giá. Nhưng Người hứa một điều còn sâu hơn: “Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Có những gánh nặng được cất đi. Nhưng cũng có những gánh nặng không được cất đi, mà lòng người được làm cho mạnh hơn để có thể mang. Có những cánh cửa Chúa mở. Nhưng cũng có những cánh cửa vẫn đóng, trong khi Chúa mở một cánh cửa khác trong lòng ta để ta bước vào sự bình an. Có những bệnh tật được chữa lành. Nhưng cũng có những bệnh tật còn đó, mà người bệnh lại được chữa khỏi một căn bệnh khác nguy hiểm hơn: tuyệt vọng. Có những cuộc đời không được trả lại những gì đã mất, nhưng được ban cho một ý nghĩa mới để tiếp tục sống. Đó là mầu nhiệm của Thập Giá. Đức Kitô không giải thích đau khổ bằng một bài lý thuyết; Người đi vào đau khổ và biến nó thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa.
Cuộc đời này, xét cho cùng, ai cũng có một cây thập giá của riêng mình. Nhìn bên ngoài, ta thường tưởng người kia sung sướng hơn mình. Ta nhìn một gia đình đẹp và nghĩ họ chắc chẳng có chuyện gì. Ta nhìn một người thành đạt và nghĩ chắc đời họ bình yên. Ta thấy một linh mục vẫn cười, một tu sĩ vẫn phục vụ, một người cha vẫn đi làm, một người mẹ vẫn lo từng bữa cơm, một người trẻ vẫn đăng những tấm hình vui vẻ, rồi ta tưởng trong lòng họ cũng nhẹ như khuôn mặt họ. Nhưng không. Có những cây thập giá không treo ngoài vai. Nó nằm trong tim. Có những vết thương không chảy máu, nhưng đau suốt nhiều năm. Có những người đã khóc hết nước mắt nên người khác tưởng họ không còn đau nữa. Có những người không than thở vì họ đã quá quen với việc tự mình chịu đựng. Có người đau vì bệnh tật. Có người đau vì nghèo túng. Có người đau vì con cái. Có người đau vì hôn nhân. Có người đau vì cha mẹ già yếu. Có người đau vì một người thân đã mất. Có người đau vì một người còn sống nhưng tình nghĩa đã chết. Có người đau vì bị phản bội. Có người đau vì đã phản bội chính mình. Có người bị người khác làm tổn thương. Có người lại khổ sở vì lỗi lầm của chính mình trong quá khứ. Có những người bước vào nhà thờ với một bộ quần áo thật đẹp nhưng mang trong lòng một tang lễ không ai biết. Có những người ngồi rất gần bàn thờ nhưng tâm hồn đang ở rất xa vì họ giận Chúa. Họ đã từng cầu nguyện. Họ đã xin. Họ đã khóc. Họ đã lần chuỗi. Họ đã đi lễ. Họ đã nhờ người này người kia cầu nguyện. Nhưng chuyện họ xin vẫn chưa xảy ra. Và một câu hỏi bắt đầu lớn lên: Chúa ở đâu? Chúa có thấy không? Chúa có nghe không? Tại sao người khác được mà tôi không được? Tại sao tôi cố sống tử tế mà cuộc đời lại đối xử với tôi như thế? Tại sao người tôi yêu phải chết? Tại sao gia đình tôi phải tan? Tại sao căn bệnh ấy lại đến? Tại sao tôi phải mang gánh này lâu đến vậy? Những câu hỏi ấy không phải là dấu hiệu của một đức tin xấu. Nhiều khi đó chính là tiếng kêu của một trái tim vẫn còn muốn tin nhưng đã quá đau. Đức Giêsu trên Thập Giá cũng đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người đã đi qua cả cảm giác bị Thiên Chúa bỏ rơi. Vì thế, khi ta đến với Người bằng sự đau đớn của mình, ta không cần phải diễn. Ta không cần phải nói những câu thật đẹp. Ta không cần phải giả vờ bình an. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, con mệt.” Chỉ thế thôi. Có khi đó là lời cầu nguyện thật nhất trong ngày. “Lạy Chúa, con chịu hết nổi rồi.” “Lạy Chúa, con không hiểu.” “Lạy Chúa, con giận.” “Lạy Chúa, con sợ.” “Lạy Chúa, con nhớ người ấy.” “Lạy Chúa, sao Chúa im lặng lâu vậy?” Chúa không sợ những lời ấy. Người đã nghe những tiếng kêu đau đớn hơn thế trên đồi Canvê. Điều Chúa mong chỉ là: con đừng chạy khỏi Ta trong lúc đau. Con có thể giận Ta, nhưng hãy giận trước mặt Ta. Con có thể khóc, nhưng hãy khóc dưới chân Thập Giá. Con có thể không hiểu, nhưng đừng vì không hiểu mà bỏ đi. Bởi có những điều hôm nay ta không hiểu, nhưng một ngày nào đó nhìn lại, ta mới nhận ra Chúa đã ở đó từ đầu.
“Hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Đây là một điều rất lạ. Ta đang mang gánh nặng, vậy mà Chúa lại nói hãy mang thêm ách của Người. Nhưng ách của Chúa không phải là một gánh nặng chồng thêm trên gánh nặng. Ách ấy là cách Người dạy ta mang cuộc đời. Người không luôn luôn lấy cây thập giá ra khỏi vai ta, nhưng Người đứng vào phía bên kia của chiếc ách để mang cùng ta. Một cái ách chỉ trở nên nặng khi ta mang một mình. Nhưng nếu Đức Kitô cùng mang, con đường vẫn dài mà lòng bớt cô độc. Người đau khổ nhất không hẳn là người có thập giá nặng nhất. Nhiều khi người đau khổ nhất là người nghĩ mình phải mang thập giá một mình. Ta sợ làm phiền người khác. Ta không muốn ai biết. Ta khóa kín cửa lòng. Ta tự nhủ: “Mình phải mạnh.” Và cứ thế, ta cắn răng chịu. Nhưng Tin Mừng không nói rằng Kitô hữu là người không được yếu. Tin Mừng nói rằng Kitô hữu là người biết mình yếu và biết chạy về đâu. Phêrô yếu nên chìm, nhưng ông biết kêu: “Lạy Thầy, xin cứu con.” Người trộm lành đã sống một đời sai lạc, nhưng trong giờ cuối biết quay đầu về phía Đức Giêsu. Maria Mácđala đã từng có một quá khứ đầy những điều cần được chữa lành, nhưng bà biết tìm đến Chúa. Người đàn bà tội lỗi khóc dưới chân Người. Người đàn bà băng huyết chen qua đám đông chỉ để chạm vào áo Người. Người mù bên vệ đường cứ la lên mặc cho người ta bảo im. Tất cả họ đều có một điểm chung: họ không còn dựa vào sức mình. Đau khổ đã đẩy họ đến chỗ nghèo tận căn. Và nhiều khi chính ở chỗ ấy, cuộc gặp với Thiên Chúa bắt đầu. Chúng ta thường thích đến với Chúa bằng những gì mình có: thành tích, việc đạo đức, sự trung thành, những hy sinh. Nhưng có lúc Chúa cho phép tất cả những thứ ấy rơi khỏi tay để ta đến với Người chỉ bằng một trái tim trống rỗng. Và lúc ấy, ta mới hiểu ân sủng là gì. Khi không còn gì để trình bày, ta chỉ còn có thể nói: “Lạy Chúa, con đây.” Và Đức Kitô chịu đóng đinh đáp lại: “Ta biết.” Có lẽ trong đời ta, không lời nào cần thiết bằng lời ấy. Chúa biết. Người khác không biết, nhưng Chúa biết. Người khác hiểu lầm, nhưng Chúa biết. Người khác chỉ thấy phản ứng của ta, Chúa biết nguyên nhân sâu xa. Người khác trách ta sao hôm nay khó tính, Chúa biết đêm qua ta đã khóc thế nào. Người khác bảo ta phải mạnh lên, Chúa biết ta đã mạnh quá lâu rồi. Người khác thấy ta im lặng, Chúa nghe được tất cả những tiếng gào bên trong sự im lặng ấy. Và bởi vì Chúa biết, ta không còn hoàn toàn cô độc nữa.
Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh không chỉ là nơi ta đến để được an ủi. Người còn dạy ta một cách sống mới với đau khổ. Có những người sau khi đau thì trở nên dịu dàng hơn. Nhưng cũng có những người sau khi đau lại trở nên cay nghiệt. Có người vì đã từng bị tổn thương nên họ hiểu người khác hơn. Có người vì đã từng bị tổn thương nên quyết định làm người khác tổn thương. Có người đi qua một cuộc phản bội rồi học cách trân trọng sự trung tín. Có người đi qua phản bội rồi không còn tin ai. Có người đi qua nghèo khó rồi biết thương người nghèo. Có người đi qua nghèo khó rồi cả đời chỉ muốn tích lũy vì sợ mất. Đau khổ tự nó không làm ta nên thánh. Đau khổ chỉ mở ra một ngã rẽ. Ta có thể đi về phía Chúa, hoặc đi xa Chúa. Ta có thể để vết thương biến thành cửa sổ, hoặc biến thành bức tường. Ta có thể để nỗi đau làm trái tim mình sâu hơn, hoặc làm trái tim mình cứng hơn. Chính ở đây Đức Kitô chịu đóng đinh trở thành Thầy. Người chịu phản bội nhưng không trở thành kẻ phản bội. Người bị thù ghét nhưng không trở nên thù ghét. Người bị sỉ nhục nhưng không sỉ nhục lại. Người bị đóng đinh nhưng vẫn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó là điều phi thường nhất của Thập Giá. Không phải chỉ vì Chúa chịu đau nhiều, nhưng vì đau khổ không làm Chúa ngừng yêu. Người ta có thể đóng đinh tay Chúa, nhưng không đóng đinh được lòng thương xót của Người. Người ta có thể lấy áo của Chúa, lấy danh dự của Chúa, lấy tự do của Chúa, lấy cả mạng sống của Chúa, nhưng không lấy được tình yêu của Chúa. Và đó chính là chiến thắng của Thập Giá. Có những chiến thắng không phải là làm cho kẻ khác thua. Có những chiến thắng là không để cái xấu của người khác làm cho mình trở thành xấu. Không để sự cay nghiệt của người khác biến mình thành cay nghiệt. Không để phản bội giết chết khả năng yêu. Không để bất công lấy mất sự tử tế. Không để đau khổ giết chết niềm tin. Có thể ta không thay đổi được người đã làm mình đau. Nhưng ta có thể không trao cho họ quyền quyết định con người mình sẽ trở thành. Ta có thể chọn nhìn lên Đức Kitô và nói: “Lạy Chúa, xin đừng để vết thương này biến con thành một người mà chính con cũng không nhận ra.” Đó là một lời cầu nguyện rất cần cho nhiều người. Vì đau lâu ngày dễ làm lòng người đổi khác. Ta bắt đầu nhìn ai cũng nghi ngờ. Ta nói năng cộc cằn. Ta mất kiên nhẫn. Ta không còn muốn giúp ai. Ta thấy người khác vui thì khó chịu. Ta thấy người khác được phúc thì buồn vì nghĩ đến phần đời mình. Và rồi nỗi đau vốn chỉ là một biến cố lại từ từ trở thành căn tính của ta. Ta không còn là một con người có vết thương nữa; ta trở thành vết thương. Nhưng Chúa không muốn như vậy. Người không phủ nhận thương tích của ta, nhưng Người muốn thương tích ấy được cứu chuộc.
Có một điều thật lạ lùng: sau khi sống lại, Đức Giêsu vẫn mang những dấu đinh. Người có thể phục sinh với một thân thể không còn dấu vết nào, nhưng Người đã giữ lại những vết thương. Tôma nhận ra Chúa qua chính những vết ấy. Điều đó dạy ta một sự thật rất sâu: chữa lành không nhất thiết là xóa sạch mọi dấu vết. Có những chuyện trong đời ta sẽ không bao giờ trở lại như cũ. Một người đã mất không trở về. Một tuổi thơ đã đi qua không làm lại được. Một cuộc hôn nhân đã đổ vỡ có thể để lại những dấu hằn lâu dài. Một lời nói ác nghiệt có thể được tha thứ nhưng không dễ quên. Một căn bệnh có thể để lại di chứng. Một sai lầm có thể được Chúa tha nhưng hậu quả vẫn còn. Chữa lành không phải lúc nào cũng là được trở lại con người trước biến cố. Đôi khi chữa lành là trở thành một con người mới sau biến cố. Vẫn mang dấu vết nhưng không còn sống dưới quyền lực của vết thương ấy. Nhớ mà không còn oán. Nhắc lại mà không còn nghẹn. Gặp lại người ấy mà lòng không còn muốn trả đũa. Đi qua nơi cũ mà không còn sụp đổ. Đó là những phép lạ rất âm thầm. Không ai vỗ tay. Không ai biết. Nhưng trời biết. Chúa biết. Có thể một ngày kia chính vết thương của ta lại trở thành nơi người khác tìm thấy hy vọng. Một người từng mất con có thể hiểu một người mẹ đang khóc hơn bất kỳ bài giảng nào. Một người từng bị bỏ rơi có thể biết cách ngồi cạnh người cô độc. Một người từng nghiện ngập mà trở về có thể nói với người đang tuyệt vọng rằng con đường quay lại vẫn còn. Một người từng thất bại có thể nói với người đang thất bại: “Tôi hiểu.” Và đôi khi hai chữ “tôi hiểu” chữa lành hơn cả trăm lời khuyên. Thiên Chúa có thể dùng chính nơi ta từng vỡ để trở thành nơi ánh sáng đi qua. Ta thường muốn Chúa dùng những điểm mạnh của ta. Nhưng nhiều khi Chúa dùng cả những chỗ yếu. Ta muốn kể những chiến thắng. Chúa lại dùng những giọt nước mắt. Ta muốn làm chứng bằng những thành công. Chúa có khi lại làm cho người khác được nâng đỡ bằng câu chuyện ta đã ngã và đã được Người kéo dậy thế nào. Thập Giá vì thế không còn chỉ là biểu tượng của đau khổ. Nó là biểu tượng của đau khổ đã được tình yêu đi xuyên qua.
“Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Đau khổ cũng là trường học của sự khiêm nhường. Khi chưa đau, ta dễ nghĩ mình hiểu đời. Ta dễ phán xét người khác. Ta thấy một người buồn quá lâu thì bảo: “Có gì đâu mà buồn.” Ta thấy ai đó không đứng dậy nổi thì bảo: “Phải cố lên chứ.” Ta thấy một gia đình có chuyện thì nói: “Nếu là tôi, tôi đã xử lý khác.” Nhưng rồi đến ngày chính mình đi qua một cơn bão, ta mới thôi nói dễ dàng. Ta mới hiểu có những ngày ra khỏi giường đã là một chiến thắng. Có những người chỉ cần sống được hết ngày hôm nay đã là can đảm lắm rồi. Có những nụ cười là một cố gắng lớn. Có những người đi lễ nhưng không cầu được gì ngoài việc ngồi yên nhìn lên Thánh Giá. Và thế là đủ. Có lẽ Chúa cho phép ta đi qua một vài đoạn đường khó không phải vì Người thích làm ta đau, nhưng bởi Người muốn làm trái tim ta rộng hơn. Một người mục tử chưa từng biết đau rất dễ giảng những lời lạnh. Một người cha chưa từng thất bại có thể khó cảm thông với đứa con thất bại. Một người chưa từng bị hiểu lầm dễ phán xét người bị mang tiếng xấu. Đau khổ, nếu được đón nhận với Chúa, làm cho ta bớt kiêu. Ta thôi hỏi: “Tại sao người đó yếu thế?” và bắt đầu hỏi: “Không biết họ đã phải đi qua điều gì?” Ta thôi đứng từ xa mà đánh giá. Ta bước lại gần. Và đó chính là điều Đức Kitô đã làm. Người không cứu nhân loại từ xa. Người trở thành người. Người khóc. Người mệt. Người đói. Người cô đơn. Người bị thương. Người chết. Thiên Chúa không chỉ nói “Ta hiểu con”; Người chứng minh điều ấy bằng một thân thể bị đóng đinh.
Trong đời sống gia đình, trong cộng đoàn, trong Giáo Hội, có lẽ điều người đau khổ cần nhất không phải lúc nào cũng là lời giải thích. Nhiều khi họ chỉ cần một người ở lại. Khi Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá, Mẹ không thể tháo đinh cho Con. Mẹ không thể ngăn quân lính. Mẹ không thể đổi bản án. Mẹ chỉ đứng đó. Nhưng sự hiện diện ấy quý biết bao. Có những lúc yêu thương không giải quyết được vấn đề, nhưng không bỏ người đau một mình. Ta thường quá vội vàng muốn sửa người khác. Ai buồn, ta khuyên. Ai khóc, ta bảo đừng khóc. Ai đau, ta kể câu chuyện của mình để chứng minh họ vẫn còn may. Ai mất người thân, ta nói “ý Chúa.” Có thể những câu ấy đúng, nhưng không phải lúc nào cũng đúng lúc. Người đang đau chưa cần một bài thần học. Họ cần một bờ vai. Người vừa mất người thân chưa cần hiểu ngay chương trình Thiên Chúa. Họ cần được khóc. Đức Giêsu đứng trước mộ Ladarô đã khóc, dù Người biết ít phút nữa Người sẽ cho Ladarô sống lại. Người không bảo Mácta và Maria: “Đừng khóc, lát nữa anh các cô sống lại.” Người khóc với họ. Nước mắt của Chúa cho ta biết Thiên Chúa không coi thường nỗi đau của con người. Và người môn đệ của Chúa cũng phải học nghệ thuật khóc với người khóc. Có khi sứ mạng cao quý nhất trong một ngày không phải là nói gì hay, nhưng là ngồi bên một người và im lặng. Không phải im lặng vì không biết nói, nhưng im lặng vì biết rằng giờ này tình yêu phải nói bằng sự hiện diện.
Và nếu hôm nay chính ta là người đang vất vả mang gánh nặng, thì lời Chúa không phải là một lời nói chung chung. “Hãy đến cùng tôi.” Hãy đến. Đừng chờ mình khá hơn mới đến. Đừng đợi cầu nguyện sốt sắng rồi mới đến. Đừng đợi tha thứ được rồi mới đến. Đừng đợi hết giận Chúa mới đến. Cứ đến như mình đang là. Đem cả sự bực bội đến. Đem cả câu hỏi đến. Đem cả thất vọng đến. Đem cả ký ức đen tối đến. Đem cả tội lỗi đến. Đem cả cái phần trong ta mà ta xấu hổ nhất đến đặt dưới chân Đức Kitô. Có những căn phòng trong lòng ta đã khóa quá lâu. Ta không cho ai vào. Có khi chính ta cũng không dám bước vào. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh đứng trước cánh cửa ấy không phải với chiếc búa của một quan tòa, mà với đôi tay mang dấu đinh của một Đấng Cứu Độ. Người không đến để kết án, nhưng để cứu. Có thể ta sẽ phải khóc. Có thể phải mất thời gian. Có thể chữa lành không đến trong một đêm. Nhưng chỉ cần ta đừng bỏ điểm hẹn ấy. Mỗi ngày trở lại với Thập Giá một chút. Mỗi ngày ngồi trước Chúa một chút. Có ngày không đọc được kinh thì cứ nhìn. Có ngày không nhìn nổi thì cứ ngồi. Có ngày lòng chỉ nói được một câu: “Chúa ơi.” Thế cũng là cầu nguyện. Một em bé đau quá chỉ cần gọi “mẹ” thì người mẹ đã hiểu. Một linh hồn đau quá chỉ cần gọi “Chúa ơi” thì Thiên Chúa cũng hiểu tất cả phần còn lại.
Có một cám dỗ rất lớn khi đau khổ: ta nghĩ cuộc đời mình từ nay chỉ còn là nỗi đau này. Khi mất một người, ta nghĩ đời không còn gì. Khi thất bại, ta nghĩ mình là kẻ thất bại. Khi bị từ chối, ta nghĩ mình không đáng được yêu. Khi mắc một lỗi lầm lớn, ta nghĩ mình chính là lỗi lầm ấy. Nhưng Thập Giá nói ngược lại. Thập Giá nói rằng một ngày thứ Sáu đau đớn không phải là kết luận cuối cùng của lịch sử. Sau thứ Sáu Tuần Thánh còn có Chúa Nhật Phục Sinh. Điều này không có nghĩa mọi câu chuyện của chúng ta sẽ kết thúc như ta mong. Nhưng nó có nghĩa đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Những lời người khác nói về ta cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Và Thiên Chúa nói bằng Phục Sinh. Có người hôm nay đang ở thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình. Mọi thứ tối. Mọi điều dường như kết thúc. Có người đang ở ngày thứ Bảy thinh lặng, khi Chúa như vắng mặt và chẳng có gì xảy ra. Xin đừng vội kết luận cuộc đời mình khi câu chuyện chưa kết thúc. Hạt giống nằm dưới đất trông giống như đã chết. Thai nhi trong lòng mẹ sống chín tháng trong bóng tối. Bình minh bắt đầu khi trời vẫn còn đen. Thiên Chúa có cách làm việc của Thiên Chúa. Có những công trình lớn nhất của Người được thực hiện trong im lặng, nơi mắt ta không nhìn thấy.
Đức Kitô chịu đóng đinh là điểm hẹn của mọi người đau khổ, vì dưới chân Thập Giá không ai phải xấu hổ vì nước mắt của mình. Ở đó, người già có thể đem nỗi cô đơn của tuổi xế chiều. Người trẻ có thể đem những hoang mang về tương lai. Người cha có thể đem nỗi lo cơm áo. Người mẹ có thể đem những đêm thức vì con. Người chồng, người vợ có thể đem những rạn nứt không biết hàn gắn thế nào. Người bệnh có thể đem thân xác mỏi mòn. Người linh mục có thể đem những cô đơn của sứ vụ. Người tu sĩ có thể đem những ngày khô khan và những thập giá của đời cộng đoàn. Người tội lỗi có thể đem sự xấu hổ. Người vừa mất đức tin có thể đem cả sự trống rỗng. Không ai bị đuổi khỏi chân Thập Giá. Không ai phải trình giấy chứng nhận mình đủ tốt mới được đến. Thập Giá là nơi người ta đến không phải vì mình xứng đáng, nhưng vì mình cần được cứu.
Và rồi, sau khi đã được Chúa an ủi, ta lại được sai đi để trở thành một chút bình an của Người cho người khác. Người đã từng được Chúa nâng đỡ thì đừng đi ngang qua một người đang ngã. Người đã từng được tha thứ thì đừng quá khắt khe với lỗi lầm của anh em. Người đã từng được ai đó ngồi cạnh trong đêm tối thì khi thấy người khác khóc, hãy biết ngồi lại. Có lẽ đó là cách đẹp nhất để ta mang Thập Giá vào đời. Không phải bằng việc treo thật nhiều Thánh Giá trên tường mà lòng ta vẫn lạnh, nhưng bằng việc để cách sống của Đấng Chịu Đóng Đinh trở thành cách sống của ta. Mỗi khi ta tha thay vì trả đũa, Thập Giá hiện diện. Mỗi khi ta ở lại bên một người bị bỏ rơi, Thập Giá hiện diện. Mỗi khi ta im lặng để không làm đau thêm một vết thương, Thập Giá hiện diện. Mỗi khi ta chia sẻ gánh nặng với người khác, lời Chúa “hãy đến cùng tôi” lại được tiếp tục nói qua cuộc đời ta.
Rồi sẽ có một ngày mỗi người trong chúng ta phải đặt xuống gánh cuối cùng. Những gánh đã mang suốt đời. Những điều ta hiểu và những điều mãi không hiểu. Những ước mơ đã thành và những ước mơ còn dang dở. Những người ta đã gặp và những người ta phải chia tay. Khi ấy, người Kitô hữu hy vọng rằng ở cuối con đường vẫn là Đức Kitô. Đấng từng nói: “Hãy đến cùng tôi.” Đấng đã chờ ta trong mỗi lần cầu nguyện. Đấng đã đi bên ta những lúc ta tưởng chỉ có một mình. Đấng đã âm thầm đỡ lấy những phần của cây thập giá mà ta không biết. Đấng đã giữ ta lại trong những ngày ta muốn buông. Và lúc ấy, có lẽ ta mới hiểu đầy đủ thế nào là “nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Nghỉ trong Chúa. Không còn bệnh. Không còn chia ly. Không còn oan ức. Không còn đêm dài. Không còn những câu hỏi. Không còn tiếng khóc. Chỉ còn tình yêu.
Cho nên hôm nay, nếu lòng đang nặng, hãy đến với Chúa. Nếu đang bình an, cũng hãy đến với Chúa để nhớ đến những người đang nặng lòng. Đừng bao giờ nghĩ mình không cần Thập Giá. Và cũng đừng bao giờ nghĩ thập giá của mình quá lớn để Chúa không mang nổi. Hãy nhìn Đấng Chịu Đóng Đinh. Người đã mở hai tay từ hai ngàn năm nay và chưa bao giờ khép lại. Hai cánh tay ấy như muốn nói với mọi thế hệ, với mọi con người, với từng người chúng ta: Con còn chỗ ở đây. Con vẫn có thể trở về đây. Con không cần phải mang mọi sự một mình.
“Hãy đến cùng tôi, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng.”
Không phải ngày mai. Không phải khi nào mạnh hơn. Không phải khi nào giải quyết xong mọi chuyện.
Hôm nay.
Cứ đến.
Bởi Đức Kitô chịu đóng đinh vẫn đang chờ.
Và dưới chân Người, mọi người đau khổ đều có một điểm hẹn.
Lm. Anmai, CSsR

KHI KHÔNG AI HIỂU NỖI ĐAU CỦA TA, HÃY NHÌN LÊN THẬP GIÁ
Tin Mừng: Mt 27,45-46
“Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Có những nỗi đau người ta có thể kể. Có những nỗi đau người ta có thể khóc. Có những nỗi đau chỉ cần một người ngồi bên cạnh, nghe mình nói hết một lần, là lòng đã nhẹ đi được đôi chút. Nhưng cũng có những nỗi đau không biết phải kể thế nào, bởi chính mình cũng không biết phải gọi tên nó là gì. Nó không hẳn là một vết thương trên thân xác để người khác có thể nhìn thấy. Nó không hẳn là một biến cố quá lớn để ai nghe cũng phải sửng sốt. Nó chỉ là một nỗi buồn cứ âm thầm nằm đó trong lòng, ngày này qua ngày khác, như một viên đá đè lên ngực. Ta vẫn ăn, vẫn ngủ, vẫn làm việc, vẫn cười, vẫn gặp gỡ người khác, vẫn trả lời rằng “tôi ổn”, nhưng tận sâu bên trong, có một khoảng tối mà không ai chạm tới được. Đau nhất có khi không phải là điều đã xảy ra cho ta. Đau nhất là giữa tất cả những điều ấy, ta cảm thấy không một ai thực sự hiểu mình.
Con người vốn cần được hiểu. Khi vui, ta muốn có người chia vui. Khi thành công, ta muốn có người biết mình đã cố gắng thế nào. Khi thất bại, ta muốn có người hiểu rằng đằng sau cái thất bại ấy là biết bao ngày tháng mình đã tận lực. Và khi đau, ta càng mong có một người đừng vội khuyên, đừng vội phán, đừng vội nói những câu rất đúng nhưng rất xa, chỉ cần ngồi xuống và hiểu rằng lúc này lòng ta đang đau thật. Thế nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng cho ta một người như thế. Có những lúc ta đau mà người bên cạnh lại tưởng ta làm quá. Ta mệt mà người khác cho rằng ta yếu đuối. Ta im lặng thì người ta tưởng ta lạnh lùng. Ta khóc thì người ta bảo ta thiếu đức tin. Ta cố giải thích thì chẳng ai đủ kiên nhẫn nghe cho hết. Ta không giải thích nữa thì người ta tự kết luận về ta. Có khi người làm ta đau lại chính là người ta đã từng nghĩ sẽ hiểu ta nhất. Và rồi, giữa một căn nhà có nhiều người, giữa một cộng đoàn đông người, giữa một giáo xứ đông đảo, giữa một xã hội kết nối từng giây bằng điện thoại và mạng xã hội, con người vẫn có thể cô độc đến kinh khủng.
Chính trong những giờ phút ấy, Tin Mừng đưa chúng ta lên đồi Canvê. Không phải để cho ta một lý thuyết về đau khổ. Không phải để giải thích tại sao Thiên Chúa cho phép đau khổ xảy ra. Không phải để nói rằng đau khổ là tốt đẹp và ta phải vui vẻ đón nhận. Tin Mừng chỉ cho ta thấy một con người đang bị treo trên thập giá. Một con người đã đi đến tận đáy của cô độc. Một con người đã từng được dân chúng tung hô, giờ đây gần như bị bỏ lại một mình giữa trời và đất. Và từ miệng Người bật ra một tiếng kêu mà có lẽ không câu nào trong Tin Mừng khiến lòng người sửng sốt bằng: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Đó là lời của Đức Giêsu. Đấng đã từng nói: “Tôi và Chúa Cha là một.” Đấng đã từng thức suốt đêm để cầu nguyện với Cha. Đấng sống từng hơi thở trong tình yêu của Cha. Vậy mà trên thập giá, Người lại thốt lên: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Nếu không đọc bằng trái tim, người ta có thể vội vàng tìm đủ thứ giải thích thần học để làm cho câu nói ấy bớt dữ dội. Nhưng có lẽ trước khi giải thích, ta cần để cho tiếng kêu ấy vang vào lòng mình. Đức Kitô đã thực sự đi vào kinh nghiệm tăm tối nhất của con người: kinh nghiệm bị bỏ rơi. Người không phạm tội, nhưng Người mang lấy hậu quả của tội. Người không tách mình khỏi Chúa Cha, nhưng Người đi vào tận nơi con người cảm thấy Thiên Chúa xa vắng. Người không mất niềm tin, nhưng Người nếm trải nỗi cô độc đến độ tiếng cầu nguyện trở thành một tiếng kêu.
Bởi thế, từ ngày Đức Giêsu chịu đóng đinh, không còn một tiếng khóc nào của con người hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa nữa. Không còn một đêm tối nào mà Đức Kitô chưa từng bước vào. Không còn một cô độc nào mà Người không biết. Không còn một cảm giác bị bỏ rơi nào mà Người đứng ngoài để quan sát. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa đứng trên trời cao nói với người đang đau: “Hãy cố lên.” Người xuống tận chỗ chúng ta đau. Người mang thân xác biết mệt, biết đói, biết khát, biết bị hiểu lầm, biết bị phản bội, biết bị chối bỏ, biết mất bạn, biết khóc trước mồ người thân, biết run sợ trong vườn Ghếtsêmani, biết bị đánh, bị nhục mạ, bị lột trần, bị đóng đinh và cuối cùng biết cả cảm giác như thể Thiên Chúa đang im lặng. Đó là điều làm cho Kitô giáo khác với một hệ thống tư tưởng đẹp. Đức tin của chúng ta đứng dưới chân một thập giá, nơi Thiên Chúa không nói về đau khổ từ xa, nhưng đã mang đau khổ trên chính thân mình.
Có những lúc chúng ta cầu nguyện rất nhiều mà chẳng thấy gì thay đổi. Ta xin Chúa chữa một người, người ấy vẫn ra đi. Ta xin Chúa cứu một gia đình, gia đình ấy vẫn rạn nứt. Ta xin Chúa mở một con đường, trước mặt vẫn là bức tường. Ta xin Chúa cho mình được bình an, lòng vẫn bất an. Ta xin Chúa giải oan, nhưng sự hiểu lầm cứ kéo dài. Ta xin Chúa cho một người hiểu mình, nhưng người ấy càng ngày càng xa. Và có lẽ đau nhất không phải là những chuyện ấy chưa được giải quyết, mà là cảm giác Chúa cũng im lặng. Ta đọc kinh nhưng lời kinh khô khốc. Ta tham dự Thánh lễ mà tâm hồn chẳng cảm thấy gì. Ta ngồi trước Nhà Tạm mà chỉ thấy một khoảng trống. Ta nhìn người khác cầu nguyện sốt sắng mà tự hỏi tại sao mình lại khô khan đến thế. Rồi một tiếng hỏi rất đáng sợ xuất hiện trong lòng: “Chúa đâu rồi?”
Đừng sợ câu hỏi ấy. Đức Giêsu đã mang câu hỏi ấy lên thập giá cho chúng ta. Đức tin không có nghĩa là không bao giờ hỏi. Đức tin cũng không có nghĩa là người tin Chúa thì chẳng bao giờ cảm thấy Chúa vắng mặt. Có những vị thánh đã đi qua những năm tháng khô khan khủng khiếp. Có những tâm hồn rất yêu Chúa nhưng từng phải sống trong đêm tối. Điều quan trọng không phải là ta có cảm thấy Chúa hay không. Điều quan trọng là trong chính lúc không cảm thấy gì, ta vẫn hướng về Người. Hãy để ý tiếng kêu của Đức Giêsu: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con…” Người cảm thấy bị bỏ rơi, nhưng Người vẫn gọi: “Thiên Chúa của con.” Đó chính là đức tin trong đêm tối. Không thấy, nhưng vẫn gọi. Không hiểu, nhưng vẫn bám. Không cảm được sự hiện diện, nhưng vẫn thưa: “Ngài là Thiên Chúa của con.”
Có lẽ chúng ta thường nghĩ đức tin mạnh là lúc ta cầu nguyện và lòng tràn đầy cảm xúc, lúc ta thấy Chúa gần, lúc mọi chuyện thuận lợi, lúc lời cầu được nhận, lúc ta cảm thấy bình an. Không hẳn. Đôi khi đức tin đẹp nhất lại là đức tin của một người vẫn quỳ xuống dù chẳng cảm thấy gì. Vẫn đi lễ dù lòng đang tan nát. Vẫn cầm tràng hạt dù mỗi kinh Kính Mừng giống như kéo một hòn đá. Vẫn thưa với Chúa: “Con không hiểu, nhưng con không bỏ Chúa.” Đó là thứ đức tin được tinh luyện qua bóng tối. Nó không còn dựa trên cảm giác. Nó không còn dựa trên việc Chúa phải làm đúng điều ta mong. Nó bắt đầu trở thành một sự tín thác trần trụi: “Con chẳng còn gì để bám nữa ngoài chính Chúa.”
Khi không ai hiểu nỗi đau của ta, hãy nhìn lên thập giá. Đừng nhìn để so sánh rằng Chúa đau hơn mình nên mình không được phép buồn. Đó là một cách an ủi rất tàn nhẫn. Đức Giêsu không nhìn người đau mà bảo: “Ta đau hơn con, vậy con im đi.” Người nhìn ta như một người từng đau nhìn một người đang đau. Người hiểu nước mắt mà ta giấu. Người hiểu những câu ta chưa nói. Người hiểu nỗi thất vọng mà ta không dám thú nhận vì sợ người khác bảo mình thiếu lòng tin. Người hiểu cảm giác bị chính người mình thương làm tổn thương. Người hiểu nỗi đau bị phản bội bởi một người từng ngồi chung bàn. Giuđa đã ăn cùng Người, đi cùng Người, nghe Người giảng, chứng kiến phép lạ, vậy mà cuối cùng lại dùng một nụ hôn để trao nộp Người. Người hiểu nỗi đau bị bạn bè bỏ chạy. Người hiểu nỗi đau khi một người rất thân đã từng thề “dù mọi người bỏ Thầy, con cũng không”, rồi lại ba lần nói “tôi không biết người ấy”. Người hiểu nỗi đau của một người làm điều tốt mà bị vu là xấu. Người hiểu cái nhục bị xét xử bất công. Người hiểu cảm giác bị đám đông hôm qua tung hô, hôm nay gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!”
Người hiểu. Có lẽ chỉ hai chữ đó thôi cũng đã đủ cho một người đang đau có thể thở thêm một chút: Chúa hiểu.
Có những điều ta không thể kể với cha mẹ vì sợ cha mẹ buồn. Không thể kể với con cái vì sợ chúng lo. Không thể kể với bạn bè vì sợ bị đánh giá. Không thể kể với cộng đoàn vì không biết ai sẽ giữ kín. Không thể kể với người mình thương vì chính người ấy lại là một phần của nỗi đau. Cuối cùng ta giữ tất cả trong lòng. Nhưng đừng giữ khỏi Chúa. Hãy nói với Chúa bằng đúng ngôn ngữ của trái tim mình. Đừng nghĩ cầu nguyện lúc nào cũng phải đẹp. Đừng nghĩ đứng trước Chúa phải dùng những câu đạo đức. Có khi lời cầu nguyện thật nhất chỉ là: “Chúa ơi, con mệt.” “Chúa ơi, con chịu hết nổi rồi.” “Chúa ơi, tại sao lại là con?” “Chúa ơi, con giận.” “Chúa ơi, con chẳng hiểu gì.” “Chúa ơi, người ta làm con đau quá.” “Chúa ơi, sao Chúa im lặng?” Một lời cầu nguyện như thế có thể vụng về, nhưng thật. Và Thiên Chúa thích một trái tim thật hơn một tràng lời đẹp mà lòng ở xa.
Thập giá còn dạy ta một điều khác: bị người khác không hiểu không có nghĩa là cuộc đời ta vô nghĩa. Đức Giêsu bị hiểu lầm đến tận cùng. Người chữa bệnh trong ngày Sabát, người ta bảo Người phạm luật. Người ăn với người tội lỗi, người ta bảo Người bạn bè với phường xấu. Người trừ quỷ, người ta nói Người dựa thế quỷ vương. Người nói sự thật, người ta tìm cách giết. Người im lặng, người ta vẫn kết án. Đến cuối cùng, Người chết với bản án dành cho một kẻ nguy hiểm. Nếu lấy cái nhìn của đám đông làm thước đo, cuộc đời Đức Giêsu lúc ấy là một thất bại. Nhưng chính trong cái chết bị hiểu sai ấy, Người đang cứu thế giới. Điều đó cho ta một niềm an ủi rất lớn: có thể người khác không hiểu điều ta đang chịu, nhưng Thiên Chúa hiểu. Có thể người khác không thấy những hy sinh âm thầm của ta, nhưng Thiên Chúa thấy. Có thể chẳng ai biết ta đã phải chiến đấu thế nào để không bỏ cuộc, nhưng Thiên Chúa biết. Có thể không ai cảm ơn ta, nhưng sự trung thành của ta không mất trước mặt Người.
Nhiều người đau không phải vì thiếu sức chịu đựng, nhưng vì phải chịu đựng quá lâu mà không ai nhận ra. Một người mẹ vẫn nấu ăn cho cả nhà trong khi lòng bà đang tan vì một đứa con. Một người cha vẫn đi làm mỗi sáng, ít ai biết đêm qua ông không ngủ vì nợ nần. Một người vợ vẫn chăm sóc gia đình nhưng mang trong lòng một vết thương do người chồng gây ra. Một người chồng chẳng biết nói gì nên cứ im, càng im người nhà càng tưởng ông vô tâm, trong khi ông đang kiệt sức. Một người con vẫn cười để cha mẹ yên lòng dù bên ngoài vừa trải qua một cú ngã nặng nề. Một linh mục vẫn bước lên bàn thờ, vẫn giảng, vẫn ban Bí tích, vẫn mỉm cười với giáo dân, nhưng sau cánh cửa phòng riêng có khi là một sự cô độc không biết kể cùng ai. Một tu sĩ vẫn sống đúng giờ, vẫn phục vụ, vẫn cầu nguyện, mà trong lòng có thể đang đi qua một mùa sa mạc dài. Người ta nhìn bề ngoài và tưởng mọi sự bình thường. Nhưng Thiên Chúa thấy phần mà chẳng ai thấy.
Vì vậy, xin đừng đo nỗi đau của người khác bằng vẻ ngoài của họ. Người cười nhiều chưa chắc là người ít buồn. Người ít nói chưa chắc là người chẳng có gì để nói. Người mạnh mẽ lâu năm chưa chắc là người không cần được ôm lấy một lần. Có những người đã quen chăm sóc người khác đến nỗi chẳng ai nhớ rằng họ cũng cần được chăm sóc. Có những người luôn là chỗ dựa cho mọi người nên khi họ mệt, không ai biết họ phải tựa vào đâu. Nếu đã từng trải qua cảm giác không ai hiểu mình, ta hãy học từ kinh nghiệm ấy để đừng làm người khác đau thêm bằng sự vô tâm.
Đôi khi người đang đau không cần một bài giảng. Họ cần một người hiện diện. Không cần ai nói: “Phải tin Chúa.” Có thể họ vẫn tin, chỉ là lúc này họ quá mệt. Không cần ai nói: “Mọi sự đều có ý Chúa.” Điều ấy có thể đúng, nhưng nếu nói không đúng lúc, nó trở thành một viên đá ném vào vết thương. Không cần nói: “Người khác còn khổ hơn anh.” Nỗi đau không phải là cuộc thi. Một người bị thương ở chân không hết đau chỉ vì có người khác bị thương nặng hơn. Đức Giêsu dưới chân mộ Ladarô không đứng đó giảng cho Mácta và Maria một bài dài về sự sống đời sau ngay từ đầu. Người đã khóc. Thiên Chúa khóc với con người. Có những lúc tình yêu cao nhất không phải là giải quyết vấn đề, mà là không để người đau phải đau một mình.
Đó cũng chính là điều Mẹ Maria đã làm dưới chân thập giá. Mẹ không thể tháo đinh cho Con. Mẹ không thể đổi bản án. Mẹ không thể làm cho đám đông tỉnh ngộ. Mẹ chỉ đứng đó. Nhưng sự đứng đó của Mẹ là một trong những hình ảnh đẹp nhất của tình yêu. Khi không thể làm gì khác cho một người, ta vẫn có thể ở lại. Đừng coi thường sự hiện diện. Một cuộc điện thoại. Một cái nắm tay. Một bát cháo. Một lần ghé thăm. Một tin nhắn rất ngắn: “Tôi ở đây.” Có những người đã sống tiếp chỉ vì trong lúc họ nghĩ chẳng ai còn quan tâm, có một người không bỏ họ.
Nhưng sẽ có lúc ngay cả những người tốt nhất cũng không thể đi vào tận cùng lòng ta. Con người có giới hạn. Người thương ta nhất cũng không thể hiểu ta trọn vẹn. Chính ta nhiều khi còn không hiểu chính mình. Vì thế, nếu đời ta đặt hết kỳ vọng vào việc phải có một con người hiểu mình hoàn toàn, ta sẽ thất vọng. Chỉ có Thiên Chúa đi đến nơi sâu nhất của linh hồn. Thánh vịnh nói rằng Chúa dò xét và biết ta, ta đứng ta ngồi Chúa đều biết. Không phải một cái biết lạnh lùng, nhưng là cái biết của Đấng yêu ta. Người biết vết thương đầu tiên đã làm ta trở nên như hôm nay. Người biết tại sao một câu nói rất nhỏ lại khiến ta đau nhiều đến thế. Người biết những ký ức ta đã chôn rất sâu. Người biết vì sao ta sợ bị bỏ rơi. Người biết tại sao ta luôn phải tỏ ra mạnh. Người biết cả điều ta chưa từng kể cho bất cứ ai.
Và điều kỳ lạ là Người biết tất cả mà vẫn yêu.
Con người thường chỉ yêu khi biết một phần. Khi biết thêm những góc tối của nhau, nhiều người bắt đầu xa. Thiên Chúa thì khác. Người biết toàn bộ và vẫn không bỏ ta. Người biết cả tội, cả yếu đuối, cả ích kỷ, cả những điều ta xấu hổ nhất về chính mình, vậy mà trên thập giá, Người vẫn dang tay. Hai cánh tay bị đóng đinh ấy không thể khép lại. Như thể Thiên Chúa muốn nói: “Dù con thế nào, vòng tay Ta vẫn mở.”
Khi không ai hiểu nỗi đau của ta, hãy nhìn lên thập giá. Nhìn lâu một chút. Có lẽ lúc đầu ta chỉ thấy đau. Rồi ta sẽ thấy tình yêu. Và nếu ở lại đủ lâu, ta sẽ thấy hy vọng. Bởi thập giá không phải là chương cuối. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là ngày cuối cùng. Sau sự im lặng của mồ đá là buổi sáng Phục Sinh. Điều này không có nghĩa mọi vết thương trên đời đều được chữa theo cách ta muốn. Có những mất mát không thể lấy lại. Có những người đã ra đi. Có những mối quan hệ không thể trở lại như cũ. Có những vết sẹo sẽ theo ta suốt đời. Nhưng Phục Sinh nói rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Sự dữ không có tiếng nói cuối cùng. Cô độc không có tiếng nói cuối cùng. Cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa.
Tôma gặp Đấng Phục Sinh và điều Chúa cho ông thấy lại chính là những vết thương. Chúa sống lại nhưng không xóa hết dấu đinh. Những vết thương được mang vào vinh quang. Một hình ảnh thật đẹp cho đời chúng ta. Thiên Chúa không nhất thiết biến ta thành một con người chưa từng bị thương. Người có thể làm điều lớn hơn: biến chính những vết thương ấy thành nơi phát sinh lòng trắc ẩn. Người từng bị phản bội có thể trở thành người rất biết giữ lòng trung thành. Người từng cô độc có thể trở thành người không để ai bị bỏ lại. Người từng nghèo có thể có một trái tim rất nhạy với người thiếu thốn. Người từng trải qua tang tóc có thể biết cách ngồi bên một gia đình đang có người hấp hối mà không cần nói nhiều. Vết thương được trao vào tay Thiên Chúa có thể không biến mất, nhưng nó không còn chỉ là vết thương. Nó có thể trở thành một cửa sổ để ánh sáng đi qua.
Có một điều ta phải coi chừng: khi bị tổn thương, ta dễ biến nỗi đau thành căn tính. Ta bắt đầu nghĩ: “Tôi là người bị bỏ rơi. Tôi là người thất bại. Tôi là người không ai thương. Tôi là người không ai hiểu.” Không. Đó là điều đã xảy ra với ta, nhưng đó không phải là toàn bộ con người ta. Đức Giêsu bị đóng đinh nhưng Người không chỉ là “người bị đóng đinh”. Người là Con yêu dấu. Và ta cũng vậy. Vết thương có thể nằm trong câu chuyện đời ta, nhưng không được phép trở thành tên của ta. Tên sâu nhất của người Kitô hữu là: người được yêu.
Trước khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ, khi Người chưa làm một phép lạ nào, chưa giảng một bài nào, chưa chữa một bệnh nhân nào, tiếng Chúa Cha đã phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta.” Căn tính đến trước thành tích. Tình yêu đến trước công việc. Đây là điều ta cần nhớ nhất trong những ngày thất bại. Khi người khác không hiểu, khi người ta bỏ đi, khi danh dự bị tổn thương, khi công việc đổ vỡ, khi sức khỏe suy sụp, khi tuổi tác lấy khỏi ta những khả năng từng có, phẩm giá của ta không giảm đi trước mặt Thiên Chúa. Ta vẫn là người được Người yêu. Thập giá là bằng chứng đắt giá nhất của điều đó. Nếu muốn biết một linh hồn đáng giá bao nhiêu, hãy nhìn cái giá Thiên Chúa đã trả.
Thế nên đừng vội kết luận cuộc đời mình từ một giai đoạn tăm tối. Một đêm rất dài vẫn chỉ là một đêm. Một mùa đông không phải là cả năm. Một thất bại không phải là cả cuộc đời. Một người bỏ ta không có nghĩa mọi người sẽ bỏ ta. Một người không hiểu ta không có nghĩa ta không đáng được hiểu. Một lời kết án của con người không thể thay thế lời của Thiên Chúa về ta. Có khi hôm nay ta đang ở Thứ Sáu Tuần Thánh và chưa thấy Phục Sinh. Nhưng chưa thấy không có nghĩa Phục Sinh không đến.
Có những người hỏi: “Tại sao Chúa không cất thập giá khỏi đời con?” Tôi không có một câu trả lời dễ dàng. Nhiều câu trả lời quá nhanh chỉ làm người đau đau thêm. Đức Giêsu trong Ghếtsêmani cũng xin: “Nếu có thể được, xin cho chén này rời khỏi con.” Chúa không yêu đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ sự đau đớn. Điều chúng ta tôn thờ là tình yêu có thể đi xuyên qua đau khổ mà vẫn không ngừng yêu. Đức Giêsu không cứu thế giới vì Người đau nhiều. Người cứu thế giới vì giữa tất cả đau đớn ấy, Người vẫn yêu đến cùng. Đó mới là mầu nhiệm của thập giá.
Câu hỏi lớn nhất vì thế không chỉ là: “Tại sao tôi phải đau?” Có lúc chẳng có câu trả lời. Một câu hỏi khác có thể cứu đời ta hơn: “Trong nỗi đau này, tôi sẽ trở thành người thế nào?” Tôi sẽ cay nghiệt hơn hay nhân hậu hơn? Tôi sẽ khép lòng lại hay hiểu người khác hơn? Tôi sẽ dùng vết thương của mình để làm người khác bị thương, hay để nhận ra những người cũng đang chảy máu quanh mình? Tôi sẽ để điều đã xảy ra định nghĩa phần đời còn lại, hay để Thiên Chúa viết tiếp câu chuyện?
Đức Kitô trên thập giá vẫn nói lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người vẫn nghĩ đến người khác: “Đây là mẹ của anh.” Người vẫn mở cửa thiên đàng cho tên trộm bên cạnh: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng.” Thật lạ lùng. Đang đau mà vẫn yêu. Đang bị bỏ mà vẫn trao ban. Đang hấp hối mà vẫn cứu. Đây là tự do lớn nhất mà thập giá dạy ta: người khác có thể làm ta đau, nhưng họ không nhất thiết có quyền biến ta thành một người xấu. Họ có thể lấy khỏi ta nhiều thứ, nhưng nếu ta còn giữ được khả năng yêu, họ chưa lấy được điều sâu nhất.
Dĩ nhiên nói như thế dễ hơn sống. Có những vết thương cần thời gian. Có những chuyện phải mất nhiều năm mới có thể nhắc lại mà không run. Có những tha thứ phải lập đi lập lại mỗi ngày. Đừng ép mình phải lành thật nhanh. Một vết thương sâu không khép trong một đêm. Chúa kiên nhẫn với tiến trình của ta hơn chính ta. Người không đứng bên cạnh một tâm hồn tan vỡ mà hỏi: “Sao con chưa ổn?” Người giống người mục tử vác con chiên bị thương trên vai. Có những đoạn đường ta không tự đi nổi. Cứ để Chúa vác.
Và xin đừng xấu hổ khi cần sự giúp đỡ của con người. Nhìn lên thập giá không có nghĩa là đóng cửa với mọi trợ giúp. Chính Đức Giêsu trên đường Canvê đã để Simon Kyrênê vác đỡ thập giá. Thiên Chúa rất thường gửi tình yêu của Người qua một con người. Một linh mục. Một người bạn. Một người thân. Một nhà chuyên môn. Một cộng đoàn. Một người xa lạ xuất hiện đúng lúc. Đức tin không bảo ta chịu đựng một mình. Có những thập giá cần Simon. Có những đêm tối cần một Gioan đứng cạnh. Có những nước mắt cần một Maria hiện diện.
Nhưng khi tất cả các Simon đều chưa đến, khi Gioan cũng không ở đó, khi chẳng ai có thể hiểu hết, thì vẫn còn một Đấng đã từng kêu từ thập giá: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Hãy đến với Người. Không cần nói nhiều. Có thể chỉ cần ngồi trước thánh giá. Có thể nước mắt là lời cầu nguyện. Có thể im lặng là lời cầu nguyện. Có thể chỉ nhìn Người và nói: “Chúa biết.” Hai chữ ấy đủ rồi.
“Chúa biết con đau.”
“Chúa biết con đã cố.”
“Chúa biết chuyện thực sự là thế nào.”
“Chúa biết những gì người khác không biết.”
“Chúa biết con không mạnh như người ta tưởng.”
“Chúa biết đêm nay con mệt.”
“Chúa biết con nhớ người ấy.”
“Chúa biết con đang sợ.”
“Chúa biết con vẫn muốn tin dù con chẳng cảm thấy gì.”
Và có lẽ từ phía thập giá, câu trả lời không phải là một lời giải thích, nhưng là một sự hiện diện: “Ta ở đây.”
Đó là Tin Mừng cho người đau khổ. Thiên Chúa không hứa rằng người tin Người sẽ không khóc. Người hứa rằng trong nước mắt, ta không khóc một mình. Thiên Chúa không hứa rằng người tin Người sẽ không đi qua thung lũng tối. Người hứa Người đi cùng ta. Thiên Chúa không hứa rằng không ai sẽ bỏ ta. Chính Người cũng đã bị bỏ. Nhưng Người cho ta biết rằng ngay nơi con người tưởng mình bị bỏ rơi nhất, Thiên Chúa vẫn có thể đang gần hơn ta tưởng.
Trên Canvê, Đức Giêsu hỏi: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng Người kết thúc cuộc đời bằng lời: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Từ “sao bỏ con” đến “con phó thác” là cả một hành trình của đức tin. Có lẽ đó cũng là hành trình đời ta. Chúng ta không cần giả vờ rằng mình chưa từng hỏi “tại sao”. Cứ hỏi. Nhưng xin đừng dừng ở đó. Hãy đi dần đến chỗ có thể thưa: “Con vẫn không hiểu, nhưng con xin phó thác.” Phó thác không phải vì mọi chuyện đã sáng. Phó thác chính là khi trời vẫn tối mà ta đặt mình vào tay Cha.
Có thể hôm nay ai đó đang đọc những dòng này giữa một nỗi buồn mà chẳng ai biết. Có thể bạn đang mất ngủ. Có thể có một chuyện trong gia đình không biết nói với ai. Có thể bạn vừa bị một người mình tin làm tổn thương. Có thể bạn đang chịu một sự hiểu lầm và không còn sức giải thích. Có thể bạn đang chăm sóc một người bệnh quá lâu và đã kiệt sức. Có thể bạn đang đau vì một người đã mất. Có thể bạn đang ở giữa một cuộc khủng hoảng mà bề ngoài chẳng ai nhận ra. Tôi không biết nỗi đau ấy là gì. Nhưng xin bạn đừng nghĩ mình hoàn toàn một mình.
Hãy nhìn lên thập giá.
Không phải vì từ đó mọi câu hỏi sẽ được trả lời ngay.
Nhưng vì trên đó có Một Người hiểu.
Người đã từng đau.
Người đã từng khóc.
Người đã từng bị phản bội.
Người đã từng bị bỏ rơi.
Người đã từng kêu lên trong bóng tối.
Và chính Người đang nói với bạn bằng những vết thương của Người: “Ta biết.”
Có khi cả đời ta chỉ cần biết điều ấy để tiếp tục thêm một ngày.
Một ngày rồi một ngày.
Cho đến khi trời sáng.
Và nếu hôm nay ta đang ở bên cạnh một người đau khổ, xin đừng vội trở thành người giải thích Thiên Chúa. Hãy trở thành người làm cho họ cảm thấy Thiên Chúa đang ở gần. Đừng hỏi tại sao họ yếu thế. Đừng trách tại sao họ chưa vượt qua. Đừng đưa ra những lời đạo đức quá nhanh. Hãy nghe. Hãy ở lại. Hãy kiên nhẫn. Hãy cầu nguyện cùng họ nếu họ muốn. Có khi chính sự dịu dàng của ta sẽ là câu trả lời Thiên Chúa gửi đến cho tiếng kêu: “Sao Ngài bỏ rơi con?”
Một thế giới có quá nhiều người cô độc không cần thêm những bài diễn văn về tình yêu. Nó cần những người biết ở lại. Một Giáo Hội trung thành với Đấng Chịu Đóng Đinh phải là một Giáo Hội biết đứng gần người bị thương, gần người thất bại, gần người bị hiểu lầm, gần người bị bỏ quên, gần người chẳng còn gì để khoe. Nếu chúng ta chỉ biết đứng gần người thành công, người khỏe mạnh, người đạo đức, người dễ thương, chúng ta chưa đứng đủ gần thập giá. Đức Kitô chịu đóng đinh đang tiếp tục hiện diện trong những khuôn mặt không ai muốn nhìn lâu.
Và cuối cùng, thập giá dạy ta rằng điều cứu con người không phải là được mọi người hiểu, mà là biết mình được Thiên Chúa hiểu và yêu. Được con người hiểu là một ân huệ lớn. Nhưng ngay cả khi ân huệ ấy vắng mặt một thời gian, đời ta vẫn không mất nền. Nền của ta là tình yêu của Đấng đã xuống tận đáy vực để tìm ta. Thánh Phaolô có thể nói rằng không gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô chính vì Đức Kitô đã đi vào tất cả những nơi tưởng như có thể tách con người khỏi Thiên Chúa: đau khổ, nhục nhã, cô độc, sự chết. Người đã đi qua chúng, và từ bên trong, Người mở một con đường.
Vậy nên, khi không ai hiểu nỗi đau của ta, hãy nhìn lên thập giá. Khi không còn lời để cầu nguyện, hãy nhìn lên thập giá. Khi Chúa dường như im lặng, hãy nhìn lên thập giá. Khi thấy mình vô giá trị, hãy nhìn lên thập giá. Khi bị phản bội, hãy nhìn lên thập giá. Khi mất một người rất thương, hãy nhìn lên thập giá. Khi phải bước qua một đêm dài không biết sáng mai sẽ thế nào, hãy nhìn lên thập giá.
Hãy nhìn cho đến khi ta không chỉ thấy những chiếc đinh, nhưng thấy tình yêu.
Hãy nhìn cho đến khi ta không chỉ thấy một người bị bỏ rơi, nhưng thấy Đấng đang ở bên mọi người bị bỏ rơi.
Hãy nhìn cho đến khi lòng ta có thể nói, dù rất khẽ: “Lạy Chúa, con vẫn còn đau. Con vẫn chưa hiểu. Nhưng con tin Chúa hiểu con. Và hôm nay, như thế là đủ để con đi tiếp.”
Lm. Anmai, CSsR

CHÚA CŨNG ĐÃ TỪNG KÊU LÊN: TẠI SAO?
Tin Mừng: Mt 27,46
“Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Có những lúc trong đời, người ta không còn biết cầu nguyện thế nào nữa. Không phải vì hết tin Chúa, cũng chẳng hẳn vì muốn quay lưng lại với Chúa, nhưng vì đau quá. Đau đến độ những lời kinh quen thuộc bỗng trở nên xa xôi. Đau đến độ cầm tràng hạt mà không lần nổi. Đau đến độ mở miệng ra chỉ còn một câu ngắn ngủi: “Tại sao?” Tại sao lại là con? Tại sao chuyện này xảy đến với gia đình con? Tại sao con đã cầu nguyện nhiều như thế mà Chúa vẫn im lặng? Tại sao người tốt lại gặp điều dữ? Tại sao người con thương lại ra đi quá sớm? Tại sao người con tin tưởng lại phản bội con? Tại sao con sống tử tế mà cuối cùng vẫn bị hiểu lầm? Tại sao con cố gìn giữ gia đình mà gia đình vẫn tan vỡ? Tại sao con đã hy sinh cả đời mà đến tuổi già lại cô đơn? Tại sao con hết lòng với một người để rồi chính người ấy làm con đau nhất? Tại sao con xin Chúa chữa lành mà bệnh tình lại nặng thêm? Tại sao con xin Chúa mở một con đường mà trước mặt con chỉ thấy những cánh cửa đóng lại? Và có lẽ đau hơn tất cả những câu hỏi ấy là câu hỏi này: “Chúa đang ở đâu?” Nhiều người tưởng rằng người có đức tin thì không được phép hỏi như thế. Người có đức tin phải luôn luôn bình an, luôn luôn vui vẻ, luôn luôn nói rằng “ý Chúa nhiệm mầu”, rồi nuốt mọi nước mắt vào trong. Người có đức tin mà kêu “tại sao” thì dường như đã yếu lòng, đã nghi ngờ, đã thiếu tín thác. Nhưng nếu chúng ta đọc thật chậm Tin Mừng của ngày Thứ Sáu Thánh, chúng ta sẽ gặp một điều vừa lạ lùng vừa an ủi đến nghẹn lòng: trên đỉnh Canvê, chính Đức Giêsu cũng đã kêu lên một câu hỏi. Không phải một tiếng thì thầm nhẹ nhàng, nhưng Tin Mừng nói rằng Người kêu lớn tiếng: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Chúa cũng đã từng kêu lên: “Tại sao?” Từ ngày tiếng kêu ấy vang lên trên đồi Canvê, không một tiếng “tại sao” chân thành nào của con người còn xa lạ với Thiên Chúa nữa. Có những lúc ta không hiểu Thiên Chúa, nhưng ta vẫn có thể kêu với Thiên Chúa. Có những lúc ta không cảm thấy sự hiện diện của Người, nhưng ta vẫn có thể hướng về Người. Có những lúc ta chẳng còn gì để dâng lên ngoài một trái tim tan vỡ và một câu hỏi chưa có câu trả lời; và chính trong khoảnh khắc ấy, ta có thể đang gần Đức Kitô chịu đóng đinh hơn bao giờ hết.
Điều đáng chú ý là giữa câu hỏi khủng khiếp ấy, Đức Giêsu vẫn nói: “Lạy Thiên Chúa của con.” Người hỏi: “Sao Ngài bỏ rơi con?”, nhưng Người vẫn gọi Thiên Chúa là “Thiên Chúa của con”. Đó là khoảng cách rất nhỏ trong câu chữ nhưng là cả một vực sâu của đức tin. Đức tin không phải là không bao giờ hỏi. Đức tin cũng không phải là hiểu hết mọi việc Thiên Chúa làm. Đức tin đôi khi chỉ là, ngay giữa lúc không hiểu gì nữa, ta vẫn còn nói được hai chữ: “Chúa của con.” Con không hiểu Chúa, nhưng Chúa vẫn là Chúa của con. Con không cảm thấy Chúa, nhưng con vẫn thuộc về Chúa. Con không biết tại sao Chúa để điều này xảy đến, nhưng con vẫn muốn gọi tên Chúa. Con không nhìn thấy đường phía trước, nhưng con chưa muốn buông tay Chúa. Con giận, con buồn, con thất vọng, con hoang mang, con thậm chí muốn trách Chúa, nhưng sâu thẳm trong lòng con vẫn còn một sợi dây rất mỏng nối con với Người: “Lạy Chúa của con!” Và đôi khi, sợi dây rất mỏng ấy lại chính là đức tin tinh tuyền nhất. Bởi có những ngày ta tin Chúa khi mọi sự thuận lợi thì dễ lắm. Khi gia đình bình an, sức khỏe tốt, con cái ngoan, công việc thuận lợi, lời cầu nguyện được nhận lời, lòng ta sốt sắng, ta nói: “Con tin Chúa.” Nhưng đến một ngày những cột trụ ấy lần lượt sụp xuống, lúc ấy ta mới biết đức tin của mình bám vào đâu. Nếu ta chỉ tin khi Chúa làm theo ý mình, thì có khi điều ta yêu không phải là Chúa, mà là những món quà Chúa ban. Nếu ta chỉ cầu nguyện khi cầu nguyện mang lại cảm giác dễ chịu, thì có khi điều ta tìm không phải Thiên Chúa, mà là sự bình an cho chính mình. Canvê bóc hết những gì phụ thuộc bên ngoài để con người đứng trần trụi trước Thiên Chúa. Ở đó không còn phép lạ cho đám đông trầm trồ. Không còn những tiếng tung hô “Hosanna”. Không còn cảnh bánh hóa nhiều. Không còn những bệnh nhân được chữa khỏi. Không còn các môn đệ vây quanh. Chỉ còn một Người bị đóng đinh, bị chế nhạo, bị bỏ rơi, giữa trời và đất. Và chính ở nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất, công trình cứu độ lại đang được hoàn tất. Điều ấy thật nghịch lý. Điều ấy cũng nói với ta rằng: sự im lặng của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự vắng mặt của Thiên Chúa. Việc ta không hiểu những gì Chúa đang làm không có nghĩa là Chúa không làm gì cả. Có những trang đời khi đang sống, ta chỉ thấy những nét nguệch ngoạc vô nghĩa. Phải nhiều năm sau nhìn lại, ta mới thấy đâu đó một đường chỉ đỏ của ân sủng đã âm thầm chạy xuyên qua tất cả. Nhưng cũng phải thành thật rằng có những chuyện đến hết đời ta vẫn chẳng hiểu. Có những nấm mồ chẳng bao giờ có lời giải thích đủ làm lòng người mẹ nguôi ngoai. Có những cuộc chia ly không một bài giảng nào có thể làm thành hợp lý. Có những vết thương không thể chữa bằng một câu “Chúa có chương trình của Chúa”. Nói câu ấy quá nhanh trước nước mắt của người khác đôi khi còn làm họ đau thêm. Trước đau khổ, Kitô giáo không đưa cho ta một công thức để giải thích tất cả. Kitô giáo trao cho ta một Đấng đã chịu đau khổ cùng ta. Thiên Chúa không đứng ngoài cuộc đời con người để giảng giải về đau khổ. Người bước vào trong đau khổ. Người mang lấy thân xác có thể bị đánh. Người có một trái tim có thể bị phản bội. Người có những người bạn có thể bỏ chạy. Người biết cảm giác bị hiểu lầm. Người biết nước mắt. Người biết cô đơn. Người biết kinh hoàng trong Ghếtsêmani. Người biết thế nào là cầu xin mà chén đắng vẫn không được cất đi. Và trên Thập Giá, Người biết cả cảm nghiệm tưởng chừng như bị chính Thiên Chúa bỏ rơi. Bởi vậy, khi ta hỏi “Tại sao?”, ta không hỏi một Thiên Chúa chưa bao giờ biết đau. Ta đang hỏi Đấng mang trên thân thể mình những dấu đinh.
Nhiều lúc chúng ta quá vội vàng sửa lời cầu nguyện của người đau khổ. Một người mẹ vừa mất con nói: “Con không hiểu tại sao Chúa lại để điều này xảy ra.” Ta vội đáp: “Chị đừng nói vậy, phải vâng ý Chúa.” Một người đang chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo nói: “Con cầu nguyện mãi mà Chúa chẳng nghe.” Ta lại vội dạy: “Anh phải có đức tin mạnh hơn.” Một người bị phản bội trong hôn nhân bật khóc: “Chúa ơi, con đã làm gì sai?” Ta lập tức đem cả một bài thần học ra giải thích. Có khi điều người đau khổ cần trước hết không phải là một lời giải thích, mà là một người chịu ngồi xuống bên cạnh họ và không bỏ đi. Có lúc lời nói hay nhất là im lặng. Có lúc bài giảng hay nhất là một bàn tay nắm lấy bàn tay. Có lúc ta cần để cho một người được khóc cho hết nước mắt trước khi nói với họ về hy vọng. Đức Maria dưới chân Thập Giá không giảng cho Đức Giêsu một bài về ý nghĩa đau khổ. Mẹ đứng đó. Gioan đứng đó. Có những đau khổ lớn đến mức tình yêu chỉ còn biết ở lại. Chính Thiên Chúa cũng đã không giải thích với ông Gióp từng nguyên nhân của những gì ông phải chịu. Thiên Chúa dẫn ông đi vào một tương quan sâu hơn với Người. Chúng ta thường muốn biết “tại sao”, nhưng Thiên Chúa nhiều khi không trả lời bằng một lý thuyết; Người trả lời bằng chính sự hiện diện của Người. Mà đau khổ có một điều lạ lùng: khi ta đau, sự hiện diện của Chúa thường là điều ta khó cảm thấy nhất. Bởi vậy đức tin trong đau khổ không phải là cảm giác Chúa đang gần; nhiều khi chính là tiếp tục tin Người đang gần khi lòng ta chẳng cảm thấy gì cả. Đức Giêsu trên Thập Giá đã cầu bằng lời Thánh Vịnh 22. Thánh Vịnh bắt đầu bằng tiếng than “Lạy Thiên Chúa con, sao Ngài bỏ con?”, nhưng không kết thúc trong tuyệt vọng. Sau những tiếng than, người cầu nguyện dần nhớ lại lòng trung thành của Thiên Chúa và cuối cùng hướng về lời ca tụng. Điều ấy thật đẹp: Đức Giêsu không che giấu bóng tối, nhưng Người đưa bóng tối ấy vào trong lời cầu nguyện. Đây có lẽ là một trong những bài học quan trọng nhất cho đời sống thiêng liêng: đừng chạy khỏi Chúa khi đau; hãy mang chính nỗi đau đến với Chúa. Nếu giận Chúa, hãy nói với Chúa rằng con đang giận. Nếu thất vọng, hãy nói con thất vọng. Nếu không hiểu, hãy nói con không hiểu. Nếu chẳng còn lời nào, hãy ngồi trước Thánh Thể mà khóc. Nước mắt trước Chúa cũng là một lời kinh. Một tiếng thở dài trước Chúa cũng là lời cầu nguyện. Một câu “Chúa ơi, con mệt quá” đôi khi thật hơn hàng trăm lời kinh đọc bằng môi mà lòng ở nơi khác. Thiên Chúa không sợ sự thật của lòng ta. Người không cần ta đóng kịch trước mặt Người. Ta có thể che nỗi đau trước người đời, có thể cười ngoài môi để người khác tưởng mình ổn, nhưng trước mặt Chúa, ta được phép là mình. Chúa không đòi ta phải mạnh mẽ giả tạo. Đức tin Kitô giáo không phải nghệ thuật mỉm cười khi trái tim đang vỡ. Đức tin là dám mang trái tim vỡ ấy đến dưới chân Thập Giá.
Và cũng cần phân biệt giữa đặt câu hỏi với Thiên Chúa và rời bỏ Thiên Chúa vì câu hỏi chưa được trả lời. Người tin vẫn có thể hỏi. Các ngôn sứ đã hỏi. Các Thánh Vịnh đầy những tiếng “đến bao giờ nữa, lạy Chúa?” Ông Gióp đã hỏi. Giêrêmia đã than trách. Các thánh cũng đã trải qua những đêm tối của tâm hồn. Đức tin trưởng thành không phải là một đức tin không có câu hỏi, mà là một đức tin biết ở lại trong tương quan với Thiên Chúa ngay cả khi câu hỏi còn nguyên đó. Một đứa con có thể khóc với cha nó, có thể hỏi cha: “Tại sao cha để chuyện này xảy ra?”, nhưng chính việc nó còn quay về hỏi cha cho thấy mối tương quan chưa đứt. Nguy hiểm không phải là lúc ta thưa: “Chúa ơi, tại sao?” Nguy hiểm là khi ta không còn muốn nói với Chúa nữa. Đừng sợ câu hỏi của mình. Hãy sợ sự lạnh lùng. Đừng sợ những giọt nước mắt trong nhà nguyện. Hãy sợ ngày lòng ta không còn muốn bước vào nhà nguyện. Đừng sợ lúc mình vật lộn với Thiên Chúa. Có khi chính cuộc vật lộn ấy đưa ta đến một đức tin sâu hơn, thoát khỏi những hình ảnh quá đơn giản về Người. Khi còn nhỏ, ta dễ nghĩ Chúa giống như một Đấng phải bảo vệ người tốt khỏi mọi sự dữ: con ngoan thì Chúa cho khỏe mạnh, con cầu nguyện thì Chúa cho thành công, con làm việc lành thì Chúa tránh cho con tai họa. Nhưng đời sống rồi sẽ dạy ta rằng không phải như thế. Đức Giêsu là Người Con chí ái của Cha, vậy mà Người vẫn đi qua Canvê. Đức Maria “đầy ân sủng” nhưng một lưỡi gươm vẫn đâm thâu tâm hồn Mẹ. Các Tông đồ được Chúa yêu thương nhưng phần lớn chết trong bách hại. Các thánh không phải là những người không có thập giá; họ là những người không để thập giá tách mình khỏi Đức Kitô. Đức tin không phải hợp đồng bảo hiểm chống đau khổ. Đức tin là lời bảo đảm rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Người Kitô hữu không được hứa rằng mình sẽ không khóc. Chúa Giêsu đã khóc. Người Kitô hữu không được hứa rằng mình sẽ không bao giờ đi qua đêm tối. Đức Giêsu đã đi qua đêm tối. Điều Tin Mừng hứa là: sau Thứ Sáu Thánh còn có Chúa Nhật Phục Sinh; sau ngôi mộ còn có buổi sáng; sau tiếng “tại sao” trên Thập Giá còn có lời “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Ta có thể chưa đi từ “tại sao” đến “phó thác” trong một ngày. Có người mất nhiều tháng. Có người mất nhiều năm. Thiên Chúa kiên nhẫn với hành trình ấy. Đừng ép mình phải bình an quá sớm. Đừng giả vờ tha thứ khi lòng chưa tha nổi. Đừng buộc mình phải hiểu điều chưa thể hiểu. Nhưng mỗi ngày hãy cố làm một việc nhỏ: vẫn hướng về Chúa. Hôm nay chỉ nói được “Chúa ơi”, thì hãy nói “Chúa ơi”. Ngày mai nói thêm được “con đau lắm”, thì nói “con đau lắm”. Một ngày nào đó có thể ta sẽ nói được: “Con chưa hiểu, nhưng con tin.” Và rồi có lẽ một ngày xa hơn nữa, sau rất nhiều nước mắt, ta sẽ có thể thì thầm: “Con xin phó thác.”
Có một cám dỗ rất lớn khi đau khổ là đem hoàn cảnh của mình so với người khác. “Tại sao họ hạnh phúc mà tôi lại khổ?” “Tại sao gia đình họ yên ổn mà nhà tôi đủ chuyện?” “Tại sao người ta có con cái thành đạt còn con tôi như thế?” “Tại sao người sống chẳng ra gì lại khỏe mạnh giàu có, còn tôi cố sống tử tế lại lắm tai ương?” Những câu hỏi ấy rất người. Nhưng nếu cứ nhìn ngang, ta càng thêm đắng lòng. Thập Giá mời ta nhìn lên. Không phải nhìn lên để quên đời, nhưng để thấy một sự thật: Thiên Chúa không hứa chia cho mỗi người một cuộc đời giống nhau; Người hứa đi cùng mỗi người trong cuộc đời riêng của họ. Có những thập giá ta hiểu được nguyên nhân, có những thập giá do sai lầm của chính mình, có những thập giá do tội lỗi người khác, có những thập giá đến từ giới hạn của thân phận con người, và có những thập giá mà ta chẳng bao giờ biết tại sao. Điều quan trọng không chỉ là hỏi “Tại sao thập giá này đến?”, nhưng một ngày nào đó còn phải học hỏi: “Lạy Chúa, giữa thập giá này, Chúa muốn con trở thành người thế nào?” Có nỗi đau làm người ta cay đắng. Nhưng cũng chính nỗi đau ấy có thể làm một người trở nên dịu dàng hơn với nỗi đau của kẻ khác. Có người sau khi mất một người thân trở nên nhạy cảm hơn với những gia đình tang chế. Có người sau khi đi qua bệnh tật biết cúi xuống với bệnh nhân hơn. Có người từng bị phản bội nên sau này rất cẩn trọng không làm tổn thương lòng tin của ai. Có người từng nghèo nên khi có điều kiện không quên người khốn khó. Có người từng trải qua một đêm tối đức tin nên về sau không còn kết án những người đang nghi ngờ. Thập Giá không tự động làm con người tốt hơn. Có người vì đau mà thành cứng cỏi, cay nghiệt. Nhưng nếu nỗi đau được đặt vào tay Đức Kitô, Người có thể biến vết thương thành một nơi phát sinh lòng thương xót. Vết thương vẫn là vết thương; nhưng từ đó có thể chảy ra sự cảm thông. Như cạnh sườn Chúa bị đâm thủng đã tuôn ra máu và nước, những nơi bị đâm thủng trong đời ta, khi được kết hợp với Người, cũng có thể trở thành nơi ân sủng chảy đến cho người khác.
Có lẽ một trong những nỗi đau sâu nhất của con người là cảm giác bị bỏ rơi. Bị người mình yêu bỏ. Bị bạn bè quay lưng. Bị cộng đoàn hiểu lầm. Bị chính những người mình từng giúp đỡ phủi tay. Có những người sống trong một mái nhà đông người nhưng lòng cô độc đến lạnh lẽo. Có những linh mục đứng giữa giáo dân nhưng có những đêm không biết tâm sự với ai. Có những tu sĩ sống giữa cộng đoàn nhưng mang trong lòng một nỗi niềm không ai hiểu. Có những người cha cả đời gánh gia đình, đến lúc yếu đau mới thấy chẳng mấy ai còn ngồi cạnh. Có những người mẹ suốt đời sống cho con, đến tuổi già nhìn chiếc điện thoại im lìm mà nghẹn lòng. Có những người trẻ giữa hàng nghìn bạn bè trên mạng nhưng khi tuyệt vọng lại chẳng biết gọi cho ai. Cảm giác bị bỏ rơi có thể đau hơn chính nghịch cảnh. Và chính tại điểm ấy, câu Tin Mừng hôm nay trở nên gần gũi khôn tả: Chúa biết cảm giác ấy. Người không chỉ biết bằng sự toàn tri của Thiên Chúa; Người đã nếm nó trong thân phận con người. Giuđa bán Người. Phêrô chối Người. Các môn đệ bỏ chạy. Đám đông từng tung hô Người nay đòi đóng đinh. Những người qua đường lắc đầu chế nhạo. Các lãnh đạo tôn giáo mỉa mai. Quân lính chia nhau áo của Người. Và cuối cùng, ngay cả cảm giác về sự gần gũi của Cha dường như cũng chìm trong bóng tối. Người đã xuống tới đáy của sự cô độc để từ đó không ai còn có thể nói: “Chúa không hiểu tôi.” Có thể không ai hiểu nỗi đau của ta trọn vẹn. Có thể người thân thương nhất cũng chỉ đứng bên ngoài cánh cửa của một số vùng tối trong lòng ta. Nhưng Đức Kitô đã đi vào đó. Có những căn phòng trong tâm hồn ta không ai có chìa khóa. Chỉ Đấng Chịu Đóng Đinh bước vào được. Vì thế, nếu hôm nay đang ở một đoạn đời chẳng ai hiểu, xin đừng nghĩ mình cầu nguyện sai khi chỉ có thể nói: “Chúa ơi, tại sao?” Hãy đặt câu hỏi ấy cạnh câu hỏi của Đức Giêsu. Hãy để tiếng khóc của mình hòa vào tiếng kêu trên Canvê. Rồi nếu chưa đủ sức nói thêm gì, cứ ở đó. Đừng chạy khỏi Thập Giá. Đừng chạy khỏi Chúa chỉ vì Chúa chưa trả lời. Có những câu hỏi không được giải đáp bằng một câu nói; chúng được ôm lấy bởi một Đấng.
Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, ta cũng hiểu rằng tình yêu không phải lúc nào cũng cứu người ta khỏi đau khổ; có khi tình yêu bước vào đau khổ và ở lại trong đó đến cùng. Chúa Cha yêu Chúa Con, nhưng Canvê vẫn có thật. Chúa Con yêu nhân loại, và chính vì yêu nên Người không xuống khỏi Thập Giá. Người ta thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nhưng nếu Người xuống để chứng minh quyền năng, có lẽ Người sẽ cứu được chính mình mà không cứu được chúng ta. Người ở lại không phải vì bất lực, mà vì tình yêu không bỏ cuộc giữa chừng. Chúng ta thường nghĩ phép lạ lớn nhất là làm cho thập giá biến mất. Nhưng trong Tin Mừng, có khi phép lạ sâu hơn là một con người mang thập giá mà vẫn không ngừng yêu. Đức Giêsu đau nhưng không nguyền rủa. Bị đóng đinh nhưng vẫn tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Bị tước đoạt nhưng vẫn nghĩ đến Mẹ: “Đây là con của Mẹ.” Khát khô nhưng vẫn mở cửa thiên đàng cho người trộm biết ăn năn. Bị bóng tối bao phủ nhưng cuối cùng vẫn trao mình vào tay Cha. Đó mới là chiến thắng của Thập Giá. Sự dữ có thể làm Người chảy máu nhưng không biến Người thành kẻ ác. Bạo lực có thể đóng đinh đôi tay Người nhưng không đóng đinh được tình yêu. Người ta lấy mọi thứ khỏi Đức Giêsu, nhưng không lấy được quyền Người chọn yêu thương đến cùng. Đây cũng là tự do cuối cùng không ai lấy khỏi ta. Có thể ta không chọn được những gì xảy đến trong đời, nhưng với ân sủng Chúa, ta vẫn có thể chọn mình sẽ trở thành người thế nào sau những điều ấy. Ta có thể bị tổn thương mà không trở thành người chuyên làm tổn thương. Ta có thể bị phản bội mà không để phản bội biến trái tim mình thành đá. Ta có thể trải qua bất công mà không biến mình thành kẻ bất công. Ta có thể khóc mà không tuyệt vọng. Ta có thể hỏi “tại sao” mà vẫn không buông Thiên Chúa. Đó không phải sức mạnh tự nhiên. Đó là hoa trái của việc ở gần Đức Kitô chịu đóng đinh.
Vì thế, đừng bao giờ xấu hổ vì nước mắt của mình. Đừng nghĩ rằng một người đạo đức thì không được buồn. Chúa Giêsu trong Ghếtsêmani đã nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Đừng nghĩ người tin Chúa không được sợ. Đức Giêsu đã “xao xuyến bồi hồi”. Đừng nghĩ người tín thác thì không được xin cho chén đắng cất đi. Chính Người đã cầu xin như thế. Đừng nghĩ người có đức tin không được hỏi “tại sao”. Chính Người đã hỏi. Nhưng hãy nhìn cho hết hành trình của Người: Người không dừng ở câu hỏi. Tiếng “tại sao” không phải lời cuối cùng trên môi Đức Giêsu. Sau đó còn có “Ta khát”, còn có “Mọi sự đã hoàn tất”, và còn có: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Có lẽ đó cũng là hành trình của mỗi chúng ta. Đức tin bắt đầu không phải bằng việc ép câu “tại sao” im đi, nhưng bằng việc đem câu “tại sao” đến với Chúa và để Người từ từ dẫn ta đến lời phó thác. Có những ngày ta ở câu “tại sao”. Cứ ở đó với Chúa. Có những ngày ta chỉ nói được “con khát”: con khát một lời giải thích, khát được yêu, khát bình an, khát một dấu chỉ. Cứ nói với Người. Rồi có ngày, ân sủng sẽ giúp ta nhận ra rằng giữa những gì tưởng dang dở, Chúa vẫn đang âm thầm hoàn tất điều gì đó. Và cuối cùng, khi đã đi hết con đường của mình, lời cầu đẹp nhất có thể không phải là “Con đã hiểu tất cả”, mà là: “Lạy Cha, con xin phó thác.” Bởi đức tin không phải là hiểu hết rồi mới phó thác. Nếu hiểu hết thì đâu còn cần đức tin. Đức tin chính là có những điều ta không hiểu mà vẫn dám trao mình vào một Đôi Tay mà ta tin là yêu thương.
Hôm nay, nếu ai đó đang mang trong lòng một câu “tại sao”, xin đừng vội tìm một câu trả lời dễ dàng. Hãy đem nó đến trước Thập Giá. Nhìn lên Đấng bị đóng đinh và nói với Người tất cả. “Chúa ơi, tại sao chuyện ấy lại đến với con?” “Tại sao Chúa để người ấy bỏ con?” “Tại sao con của con phải như vậy?” “Tại sao gia đình con không bình an?” “Tại sao con cố gắng mãi mà chẳng thấy kết quả?” “Tại sao con cầu nguyện mà Chúa cứ im lặng?” “Tại sao những năm tháng cuối đời của con lại cô độc thế này?” Hãy nói. Nói thật. Khóc nếu cần. Im lặng nếu không còn lời. Và rồi nhìn kỹ Đấng trên Thập Giá. Người không đưa xuống cho ta một mảnh giấy ghi sẵn mọi câu trả lời. Người đưa xuống cho ta đôi tay mang dấu đinh. Người như muốn nói: “Con chưa hiểu ư? Thầy hiểu. Con cảm thấy bị bỏ rơi ư? Thầy đã từng ở đó. Con đau ư? Hãy để nỗi đau của con chạm vào vết thương của Thầy. Con sợ ư? Hãy ở lại với Thầy. Con không đi nổi nữa ư? Thì đừng đi một mình.” Có những lúc Thiên Chúa thay đổi hoàn cảnh. Ta tạ ơn Người. Nhưng có những lúc Người không thay đổi hoàn cảnh ngay; Người bước vào hoàn cảnh ấy cùng ta. Và rồi một cách âm thầm, Người thay đổi trái tim ta để ta có thể đi xuyên qua điều tưởng mình không bao giờ vượt nổi. Sau này ngoảnh lại, có thể ta vẫn không biết tại sao chuyện ấy đã xảy ra, nhưng ta biết một điều khác quan trọng không kém: mình đã không đi qua nó một mình.
Thập Giá không giải thích hết mầu nhiệm đau khổ, nhưng Thập Giá thay đổi hoàn toàn câu hỏi về đau khổ. Trước Canvê, con người có thể hỏi: “Thiên Chúa ở đâu khi tôi đau?” Sau Canvê, ta nhìn thấy Thiên Chúa ở chính giữa đau khổ của con người. Người ở trên cây gỗ ấy. Người đứng về phía những người bị tổn thương, bị khinh miệt, bị bỏ rơi, bị kết án bất công. Người không cứu chúng ta bằng cách đứng xa. Người cứu chúng ta bằng cách đi xuống tận đáy thân phận chúng ta. Vì thế, từ nay khi tiếng “tại sao” bật ra giữa đêm khuya, ta có thể nhớ rằng đã từng có một tiếng “tại sao” vang lên giữa trời chiều Canvê. Tiếng “tại sao” của Đức Giêsu thánh hóa những câu hỏi của chúng ta. Nó cho phép ta đến với Thiên Chúa không phải bằng khuôn mặt giả tạo của một người lúc nào cũng mạnh, mà bằng chính khuôn mặt thật của mình: có lúc tin, có lúc sợ; có lúc hy vọng, có lúc hoang mang; có lúc hát Alleluia, có lúc chỉ biết khóc. Và kỳ diệu thay, Thiên Chúa nhận lấy tất cả.
Xin cho ta đừng bao giờ dùng đức tin để chối bỏ nỗi đau của mình hay nỗi đau của người khác. Xin cho ta đừng biến những câu đạo đức thành chiếc nắp đậy lên những trái tim đang chảy máu. Xin cho ta biết ngồi cạnh người đang hỏi “tại sao” mà không ép họ phải có ngay câu trả lời. Xin cho ta biết rằng có khi người đau khổ cần một người đồng hành hơn một nhà lý luận; cần một bờ vai hơn một bài diễn thuyết; cần một sự hiện diện hơn một lời khuyên. Và khi đến lượt chính mình phải đi qua thung lũng tối, xin cho ta nhớ tiếng kêu của Đức Kitô: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Để ta hiểu rằng cảm thấy bị bỏ rơi không đồng nghĩa với thực sự bị Thiên Chúa bỏ rơi. Đức Giêsu đã cảm nếm bóng tối sâu thẳm ấy, nhưng chính lúc ấy Chúa Cha đang thực hiện qua Người công trình cứu độ thế gian. Có thể trong một vài đêm của đời ta cũng vậy: ta tưởng chẳng có gì đang xảy ra ngoài mất mát, nhưng trong nơi sâu thẳm mà ta chưa thấy, ân sủng vẫn đang làm việc.
Và rồi, khi câu hỏi “tại sao” vẫn chưa có lời đáp, hãy thử đổi câu hỏi, không phải để chạy trốn nỗi đau, nhưng để mở một cánh cửa khác cho ân sủng: “Lạy Chúa, Chúa đang ở đâu trong chuyện này?” “Chúa muốn ở với con thế nào trong những ngày này?” “Con có thể học yêu thế nào qua vết thương này?” “Con phải giữ điều gì để đau khổ không lấy mất tâm hồn con?” “Ai đang cần sự cảm thông mà chỉ người từng đau như con mới có thể trao?” Có lẽ ta sẽ không nhận được câu trả lời lập tức. Nhưng chỉ cần tiếp tục hỏi trong cầu nguyện, một ngày ta có thể khám phá ra rằng Đấng ta tưởng đang đứng rất xa thực ra đã ngồi cạnh ta từ lâu. Người không ồn ào. Người không luôn giải thích. Nhưng Người ở đó. Như Người đã ở với hai môn đệ trên đường Emmaus khi họ buồn bã mà chưa nhận ra Người. Như Người đã đứng bên Maria Mađalêna đang khóc bên mộ mà bà tưởng Người là người làm vườn. Chúa có thể gần ta nhất trong lúc ta tưởng Người xa nhất.
Có những câu “tại sao” phải chờ đến đời sau mới được giải đáp. Có lẽ đến ngày gặp Chúa, nhiều câu hỏi mà ta từng ôm suốt đời sẽ bỗng trở nên sáng rõ. Cũng có thể khi ấy, trước tình yêu vô biên của Người, ta chẳng còn cần hỏi nữa. Như một đứa trẻ khóc lạc mẹ giữa chợ, nó có hàng trăm câu hỏi, nhưng khi được ôm lại vào lòng mẹ, câu hỏi nào cũng trở nên nhỏ bé. Đức tin của ta hôm nay là đi về vòng tay ấy. Trên đường đi, ta được phép khóc. Được phép mệt. Được phép hỏi. Được phép có những ngày không hiểu gì. Chỉ xin đừng buông tay Đấng đã không buông ta. Trên Thập Giá, đôi tay Chúa bị đóng đinh mở rộng như không còn cách nào khép lại nữa. Có lẽ đó là hình ảnh đẹp nhất về tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người: một vòng tay vĩnh viễn mở ra. Ta có thể nghi ngờ Người, Người vẫn mở tay. Ta có thể trách Người, Người vẫn mở tay. Ta có thể bỏ Người một đoạn đường, Người vẫn đợi. Ta có thể đến với Người chỉ với một câu “tại sao”, Người vẫn đón nhận.
Cho nên, người anh chị em của tôi, nếu đời bạn hôm nay đang là một Thứ Sáu Thánh, xin đừng tuyệt vọng chỉ vì chưa nhìn thấy bình minh Phục Sinh. Nếu hôm nay bạn chưa hát nổi Alleluia, hãy cứ khóc dưới chân Thập Giá. Nếu bạn chưa nói được “con tạ ơn Chúa”, hãy nói “Chúa ơi, xin đừng bỏ con.” Nếu chưa nói được “con hiểu”, hãy nói “con vẫn muốn tin.” Nếu chưa nói được “con vui lòng đón nhận”, hãy nói “xin cho con đủ sức đi thêm một ngày.” Thiên Chúa không khinh một lời cầu nhỏ bé như thế. Có khi chính lời cầu rất nghèo ấy lại làm Người vui hơn những lời đạo đức lớn lao không xuất phát từ đáy lòng. Đức Kitô không đòi người đau phải đóng vai người không đau. Người chỉ mời chúng ta đừng đóng cửa trái tim trước Người.
Chúa cũng đã từng kêu lên: “Tại sao?” Bởi vậy, câu hỏi của bạn không làm bạn thành người kém đức tin. Có khi chính câu hỏi ấy, nếu được đặt trong tay Chúa, sẽ trở thành khởi đầu của một đức tin sâu hơn. Một đức tin không còn dựa trên việc mọi chuyện phải diễn ra như ta muốn, nhưng dựa trên một Đấng đã yêu ta đến chết và đã sống lại. Một đức tin biết rằng Thứ Sáu Thánh có thật, nhưng Thứ Sáu Thánh không phải ngày cuối cùng. Một đức tin có thể khóc trước ngôi mộ nhưng vẫn chờ bình minh. Một đức tin có thể nói “tại sao” mà vẫn thưa “Thiên Chúa của con”. Một đức tin cuối cùng không cần hiểu hết mới yêu, không cần thấy hết mới bước, không cần được giải thích hết mới trao mình.
Lạy Đức Giêsu chịu đóng đinh, có những lúc chúng con chẳng biết phải nói gì với Chúa ngoài hai chữ “tại sao”. Xin đừng để chúng con xấu hổ về câu hỏi ấy. Chúa đã từng mang tiếng kêu ấy trên môi. Xin cho những câu hỏi của chúng con không trở thành bức tường ngăn cách chúng con với Chúa, nhưng trở thành cánh cửa dẫn chúng con vào sâu hơn trong trái tim bị đâm thâu của Chúa. Khi chúng con không cảm thấy Chúa, xin giúp chúng con vẫn tin Chúa ở đó. Khi chúng con không hiểu Chúa, xin giúp chúng con vẫn gọi Chúa là “Chúa của con”. Khi chúng con không còn sức bước, xin cho chúng con biết tựa vào Thập Giá. Khi người khác đau khổ, xin đừng để chúng con vội vàng giảng giải, nhưng biết đứng lại, lắng nghe, ở bên và yêu thương. Và khi một ngày mọi câu “tại sao” của cuộc đời chúng con chìm vào sự im lặng, xin cho lời cuối cùng còn lại trong lòng chúng con là lời của chính Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác.”
Bởi sau tất cả, điều cứu chúng con không phải là chúng con đã tìm được câu trả lời cho mọi bí ẩn của cuộc đời. Điều cứu chúng con là giữa mọi bí ẩn ấy, chúng con đã tìm thấy Đấng Chịu Đóng Đinh. Và khi đã tìm thấy Người, dù còn hàng ngàn câu hỏi chưa được giải đáp, trái tim vẫn có một nơi để trở về.
Lm. Anmai, CSsR

CÓ THỂ KHÔNG HIỂU MÀ VẪN TIN
Tin Mừng: Mt 27,46; Lc 23,46
Có những lúc trong đời, người ta không còn đủ sức để hỏi xem mình phải làm gì nữa, bởi vì chỉ riêng câu hỏi “Tại sao?” thôi cũng đã làm cho lòng mình kiệt quệ. Tại sao chuyện ấy lại xảy ra? Tại sao lại là tôi? Tại sao người tốt phải đau khổ? Tại sao người mình thương lại ra đi quá sớm? Tại sao tôi đã cầu nguyện mà dường như Chúa vẫn im lặng? Tại sao tôi đã cố sống tử tế mà vẫn gặp những điều quá cay nghiệt? Tại sao một gia đình đang yên ấm bỗng chốc tan tác? Tại sao một người dành cả đời phục vụ Chúa lại có lúc phải bước qua những đêm tối đến mức không còn cảm thấy Chúa ở đâu? Và còn biết bao nhiêu chữ “tại sao” khác vẫn âm thầm nằm trong lòng con người, không nói thành lời, không ai biết, không ai hiểu, nhưng ngày ngày vẫn rỉ máu. Có lẽ một trong những an ủi lớn nhất của Tin Mừng không phải là Tin Mừng cho chúng ta một câu trả lời thật nhanh cho mọi đau khổ, nhưng Tin Mừng cho chúng ta thấy chính Đức Giêsu cũng đã từng kêu lên một tiếng “tại sao”. Trên thập giá, giữa giờ phút tối tăm nhất của cuộc đời Người, Đức Giêsu đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Một câu hỏi nghe đau đến xé lòng. Một câu hỏi khiến ta nhận ra rằng Con Thiên Chúa đã không đứng bên ngoài những đêm tối của con người để giảng cho chúng ta một bài học về chịu đựng. Người đã đi vào chính bóng tối ấy. Người đã mang lấy cảm giác cô đơn ấy. Người đã bước tới tận nơi mà con người cảm thấy chẳng còn ai hiểu mình, chẳng còn ai ở bên mình, thậm chí tưởng như cả Thiên Chúa cũng đã quay mặt đi. Và chính ở nơi đó, Đức Kitô đã cất tiếng hỏi: “Tại sao?”
Đức tin không làm cho con người trở thành một kẻ không biết đau. Đức tin cũng không biến người tín hữu thành một người lúc nào cũng phải tỏ ra mạnh mẽ, lúc nào cũng phải nói rằng “con hiểu ý Chúa”, “con vui lòng”, “con không sao”. Không. Có những chuyện ta không hiểu. Có những biến cố ta không thể nào gọi là dễ chấp nhận. Có những vết thương nếu ai đó đứng ngoài mà nói một câu quá dễ dàng rằng “Chúa có chương trình của Người”, đôi khi câu nói ấy chẳng những không an ủi mà còn khiến người đau khổ cảm thấy mình bị hiểu lầm thêm. Bởi chương trình của Thiên Chúa là một mầu nhiệm, và con người đứng giữa đau khổ không phải lúc nào cũng đủ sức nhìn thấy toàn bộ chương trình ấy. Người đang mất con không thể ngay lập tức hiểu tại sao. Người vừa mất chồng, mất vợ, mất cha, mất mẹ không thể chỉ trong một vài ngày đã nói được rằng mọi sự đều tốt đẹp. Người vừa nhận một tin dữ không thể lập tức mỉm cười như chưa hề có chuyện gì. Người bị phản bội không thể chỉ nghe vài lời đạo đức rồi lập tức bình an. Đức tin không đòi ta phải giả vờ không đau. Đức tin không bắt ta phải bịt miệng trước Thiên Chúa. Đức tin cho phép ta khóc trước mặt Người. Đức tin cho phép ta hỏi. Đức tin cho phép ta nói: “Lạy Chúa, con không hiểu.”
Có một thứ đức tin rất non nớt, đó là đức tin chỉ tồn tại khi mọi chuyện hợp ý mình. Khi khỏe mạnh thì cảm thấy Chúa yêu mình. Khi công việc thuận lợi thì cảm thấy Chúa ở bên. Khi cầu xin được như ý thì cảm thấy Chúa linh thiêng. Khi gia đình bình an thì nói Chúa thật tốt lành. Nhưng chỉ cần biến cố xảy đến, chỉ cần lời cầu xin không được nhận theo cách mình muốn, chỉ cần con đường trước mặt tối đi một chút là bắt đầu nghi ngờ: Chúa ở đâu? Chúa có thật không? Chúa có thương tôi không? Đó là điều rất con người, và không ai có quyền khinh thường một người đang trải qua khủng hoảng như thế. Nhưng Tin Mừng mời ta đi sâu hơn. Đức tin trưởng thành không phải là khi ta hiểu hết về Thiên Chúa. Đức tin trưởng thành là khi có những điều ta vẫn không hiểu, nhưng ta vẫn không buông tay Người. Giữa “không hiểu” và “không tin” có một khoảng cách rất lớn. Ta có thể không hiểu mà vẫn tin. Ta có thể không nhìn thấy mà vẫn bước. Ta có thể không biết ngày mai sẽ ra sao mà vẫn trao ngày mai vào tay Chúa. Ta có thể vừa khóc vừa cầu nguyện. Ta có thể vừa hỏi “tại sao” vừa gọi Người là “Thiên Chúa của con”.
Đó chính là điều thật kỳ diệu trong tiếng kêu của Đức Giêsu trên thập giá. Người không chỉ nói: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Người nói: “Lạy Thiên Chúa của con.” Cái đau vẫn ở đó. Cảm giác bị bỏ rơi vẫn ở đó. Bóng tối vẫn ở đó. Nhưng mối tương quan vẫn còn. Người vẫn gọi Thiên Chúa là “của con”. Có lẽ đây là một trong những biểu hiện sâu nhất của đức tin: khi cảm xúc bảo rằng Thiên Chúa đang ở rất xa, nhưng ta vẫn gọi Người là Thiên Chúa của con; khi lòng ta không còn cảm nhận được sự hiện diện của Người, nhưng môi ta vẫn thì thầm danh Người; khi mọi bằng chứng trước mắt dường như nói rằng ta đang bị bỏ mặc, nhưng trong sâu thẳm ta vẫn không cắt đứt sợi dây giữa mình với Chúa. Đức tin không phải lúc nào cũng là cảm thấy Chúa thật gần. Có khi đức tin chỉ còn là một lời gọi rất yếu: “Lạy Chúa của con.” Và đôi khi chỉ thế thôi cũng đã là một chiến thắng lớn.
Có người nghĩ rằng người có đức tin thì không được phép hoang mang. Điều ấy không đúng. Đức Maria có đức tin lớn lao, nhưng Tin Mừng vẫn nói Mẹ “hằng ghi nhớ mọi điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Có những điều Mẹ chưa hiểu ngay. Thánh Giuse là người công chính, nhưng khi biết Maria mang thai, ông cũng bối rối. Các môn đệ đã theo Chúa, nhưng đứng trước thập giá họ tan tác. Hai môn đệ trên đường Emmau đã từng đặt niềm hy vọng nơi Đức Giêsu, nhưng khi Người chết, họ nói một câu rất buồn: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng…” Đức tin của con người luôn có những đoạn phải đi qua mù mịt. Điều đáng sợ không phải là có lúc ta không hiểu. Điều đáng sợ là vì không hiểu nên ta đóng cửa lòng mình lại với Chúa. Điều đáng sợ không phải là ta đã từng hỏi “tại sao”, nhưng là ta biến câu hỏi ấy thành bản án cuối cùng dành cho Thiên Chúa. Có những người vì một biến cố đau đớn mà cả đời không còn muốn nhìn lên thập giá nữa. Họ giận Chúa. Họ thấy mình bị phản bội. Ta không nên vội trách họ. Có khi chỉ những người đã đi qua những mất mát tương tự mới hiểu được cái sâu của sự giận dữ ấy. Nhưng ngay chính lúc ấy, thập giá vẫn ở đó, không để kết án, mà để nói với họ rằng: “Ta đã từng ở nơi con đang ở. Ta đã từng kêu lên điều con đang kêu. Ta biết bóng tối này.”
Điều đẹp nhất là tiếng “tại sao” không phải là lời cuối cùng của Đức Giêsu. Tin Mừng Luca ghi lại một lời khác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Giữa hai tiếng nói ấy là cả một hành trình của đức tin: từ “tại sao” đến “con xin phó thác”. Không phải từ “tại sao” đến “à, bây giờ con hiểu rồi”. Đức Giêsu không nói: “Bây giờ Con đã hiểu hết mọi sự nên Con phó thác.” Người phó thác ngay trong khi thập giá vẫn còn đó, thân xác vẫn đau đớn, kẻ thù vẫn chế giễu, các môn đệ vẫn vắng mặt, sự chết vẫn ở ngay trước mắt. Phó thác không bắt đầu khi mọi câu hỏi đã có câu trả lời. Phó thác bắt đầu khi ta dám trao chính những câu hỏi chưa có lời giải vào tay Thiên Chúa.
Đây là điều rất quan trọng cho đời sống đức tin. Ta thường nghĩ rằng muốn tin thì phải hiểu. Hiểu đã rồi mới tin. Có bằng chứng rồi mới phó thác. Thấy đường rồi mới bước. Nhưng nhiều khi trong hành trình với Chúa, trật tự lại khác: ta phó thác rồi mới dần hiểu; ta bước rồi mới thấy đường mở ra; ta trung thành rồi nhiều năm sau mới nhìn lại và nhận ra ý nghĩa của một biến cố; thậm chí có những chuyện có lẽ chỉ đến khi đứng trước mặt Chúa ta mới hiểu. Một đứa trẻ ngồi trong xe với cha mình không hiểu con đường phía trước, nhưng nó có thể ngủ vì nó tin người cha đang cầm lái. Nó không hiểu bản đồ, không biết đoạn đường còn dài bao nhiêu, không biết phía trước có khúc cua nào, nhưng nó biết mình không cô độc. Hình ảnh ấy tuy đơn sơ nhưng nói được phần nào điều ta gọi là phó thác. Phó thác không phải là biết hết đường đi. Phó thác là biết mình đang ở trong tay Ai.
“Trong tay Cha.” Đó là nơi Đức Giêsu đặt chính mình. Không phải trong tay số phận. Không phải trong tay sự ngẫu nhiên. Không phải trong tay kẻ thù. Bên ngoài người ta tưởng rằng cuộc đời Đức Giêsu đang nằm trong tay Philatô, quân lính, thượng tế, đám đông. Nhưng trong sâu thẳm, Người biết đời mình nằm trong tay Cha. Đây là sự tự do lạ lùng của người có đức tin. Người ta có thể làm ta đau, nhưng không ai có thể giật ta khỏi bàn tay Thiên Chúa nếu ta còn muốn ở trong bàn tay ấy. Hoàn cảnh có thể làm ta mất nhiều thứ, nhưng không thể tước mất khỏi ta quyền phó thác. Người khác có thể hiểu lầm ta, có thể phản bội ta, có thể bỏ ta lại một mình, nhưng ngay khi cả thế giới dường như buông tay, ta vẫn còn một đôi tay để rơi vào: tay của Cha.
Có người đã sống qua nhiều năm mà vẫn không hiểu tại sao một biến cố lại xảy đến với mình. Và có thể họ sẽ không bao giờ hiểu trọn vẹn trong đời này. Chúng ta phải học tôn trọng điều đó. Không nên biến đức tin thành những câu trả lời rẻ tiền. Đứng trước quan tài của một đứa trẻ, đừng vội giảng giải quá nhiều. Ngồi bên một người vừa mất người thân, có khi điều cần nhất không phải là nói cho họ hiểu ý Chúa, mà là ở đó với họ. Dưới chân thập giá, Đức Maria không nói gì. Mẹ đứng đó. Có những đau khổ chỉ có thể được nâng đỡ trước khi có thể được giải thích. Có những vết thương cần được ôm lấy trước khi được nói đến. Có những câu “tại sao” không cần ta trả lời thay Chúa. Chúng ta chỉ cần giúp người đang đau đừng buông tay Chúa trong khi họ chưa có câu trả lời.
Đời linh mục, đời tu, đời Kitô hữu cũng có những mùa như vậy. Có thể ta đã trao cả tuổi trẻ cho Chúa, nhưng rồi đến một thời điểm lại thấy mình trống rỗng. Có thể ta đã hăng say phục vụ, nhưng càng phục vụ càng gặp hiểu lầm. Có thể ta đã hy sinh rất nhiều cho một cộng đoàn, một giáo xứ, một gia đình, một con người, rồi cuối cùng điều nhận lại là vô ơn. Có lúc nhìn lại, ta muốn hỏi: “Lạy Chúa, để làm gì?” Có lúc thấy những người không sống tử tế lại thuận lợi, còn người cố sống ngay lành thì chật vật, ta thấy lòng mình chao đảo. Có lúc chính những người trong nhà Chúa làm mình đau hơn người ngoài. Có lúc một sứ vụ mà ta từng nghĩ là ơn gọi bỗng trở thành thập giá. Có lúc những năm tháng đẹp nhất dường như trôi qua trong những việc chẳng ai biết, chẳng ai nhớ, chẳng ai cảm ơn. Và câu “tại sao” lại xuất hiện.
Nếu lúc ấy ta nghĩ rằng mình không được hỏi, ta sẽ phải giả vờ. Nhưng Chúa không cần một đứa con giả vờ trước mặt Người. Chúa muốn sự thật. Nếu đau, hãy nói là đau. Nếu mệt, hãy nói là mệt. Nếu không hiểu, hãy nói là không hiểu. Nếu thấy thất vọng, hãy mang chính sự thất vọng ấy vào cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là đến trước Chúa chỉ với những tâm tình đẹp. Cầu nguyện là đem cả con người thật đến với Người. Một lời cầu nguyện rất thật có khi chỉ là: “Lạy Chúa, hôm nay con chẳng muốn cầu nguyện gì cả. Con chỉ thấy buồn.” Và như thế đã là cầu nguyện. Một lời cầu nguyện rất thật có khi chỉ là ngồi trước Nhà Tạm mà không nói gì. Một lời cầu nguyện rất thật có khi chỉ là nước mắt. Thiên Chúa hiểu thứ ngôn ngữ không thành lời ấy.
Nhưng rồi, đức tin không để ta ở mãi trong chữ “tại sao”. Có một lúc, dù câu hỏi vẫn còn, ta phải học nói thêm một câu nữa: “Con xin phó thác.” Đây không phải là một cú nhảy dễ dàng. Đôi khi giữa hai câu ấy là nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Có người phải mất rất lâu mới đi được từ phản kháng đến chấp nhận. Đừng ép họ. Nhưng cũng đừng để họ tin rằng mình phải hiểu hết mới có thể bình an. Bình an sâu nhất không đến từ việc có tất cả lời giải. Bình an đến từ việc biết rằng điều mình không hiểu vẫn nằm trong tay một Thiên Chúa mình tin là yêu thương.
Chúng ta thường muốn Thiên Chúa giải thích. Nhưng đôi khi Thiên Chúa không giải thích; Người trao cho ta chính Người. Ông Gióp đã hỏi rất nhiều. Cuối cùng, ông không nhận được một bản thuyết minh chi tiết về nguyên nhân mọi đau khổ của mình. Ông gặp Thiên Chúa. Và cuộc gặp ấy làm thay đổi ông. Các môn đệ trên biển hồ tưởng rằng điều họ cần là một biển êm; nhưng điều họ cần hơn là biết Chúa đang ở trên thuyền. Phaolô xin Chúa cất khỏi ông “cái dằm” khiến ông đau khổ. Chúa không cất đi, nhưng nói: “Ơn của Thầy đủ cho anh.” Có những khi điều Chúa ban không phải là câu trả lời, mà là đủ sức để sống tiếp với câu hỏi.
Đó là một sự thật rất thấm thía: có những câu hỏi không được giải quyết, nhưng con người được biến đổi để có thể mang câu hỏi ấy mà không bị nó nghiền nát. Có những nỗi đau không biến mất, nhưng trái tim rộng ra đủ để chứa nỗi đau ấy mà vẫn còn chỗ cho hy vọng. Có những mất mát không bao giờ được bù lại, nhưng qua năm tháng ta học cách sống với khoảng trống mà không để khoảng trống ấy nuốt mất cả cuộc đời. Có những vết sẹo không bao giờ mất, nhưng vết sẹo không còn chảy máu. Đức tin không phải lúc nào cũng xóa thập giá; nhiều khi đức tin cho ta một đôi vai mới để mang thập giá.
Nhìn lên Đức Kitô, ta thấy hành trình ấy thật rõ: “Tại sao?” rồi “Trong tay Cha.” Đó là con đường mỗi người rồi cũng phải học. Khi còn trẻ, ta muốn hiểu đời. Khi đi qua đủ vui buồn, ta bắt đầu nhận ra có quá nhiều điều vượt quá khả năng hiểu của mình. Ta không hiểu hết tại sao mình gặp người này mà không gặp người khác. Ta không hiểu tại sao một cánh cửa đóng, một cánh cửa mở. Ta không hiểu vì sao một lời cầu xin được nhận, còn một lời khác lại không. Ta không hiểu tại sao có người sống rất lâu, có người ra đi rất sớm. Ta không hiểu tại sao đôi khi một lỗi lầm lại dẫn đến một cuộc trở về rất đẹp, còn một thành công lại khiến người ta đi xa Chúa. Đời người đầy những mầu nhiệm. Khôn ngoan không phải là đến cuối đời ta giải thích được mọi chuyện. Khôn ngoan là đến cuối đời ta có thể nói: “Con đã không hiểu hết, nhưng con biết Chúa đã không bỏ con.”
Có thể hôm nay ai đó đang ở trong đoạn “tại sao”. Xin đừng tự kết án mình là yếu đức tin. Đức Giêsu đã từng kêu như thế. Nhưng xin cũng đừng dựng nhà ở mãi trong câu hỏi đó. Hãy bắt đầu, rất chậm thôi, tập thêm câu thứ hai: “Lạy Cha, con xin phó thác.” Nếu chưa phó thác được cả cuộc đời, hãy phó thác một ngày. Nếu một ngày vẫn quá nhiều, hãy phó thác một giờ. Nếu một giờ vẫn quá dài, hãy nói: “Lạy Chúa, con trao cho Chúa phút này.” Rồi phút kế tiếp. Đức tin đôi khi không phải là bước những bước vĩ đại. Đức tin là mỗi sáng vẫn thức dậy, vẫn làm bổn phận, vẫn cầu nguyện dù lòng khô khan, vẫn tử tế dù mình đang đau, vẫn không lấy vết thương của mình để làm đau người khác, vẫn tin rằng ngày mai còn đáng sống dù hôm nay chưa hiểu gì cả.
Có những người làm ta kính phục không phải vì họ chưa từng khóc, mà vì họ đã khóc rất nhiều mà vẫn không trở nên cay độc. Không phải vì họ chưa từng mất mát, mà vì sau mất mát họ vẫn còn biết yêu thương. Không phải vì họ chưa từng hỏi Chúa “tại sao”, mà vì cuối cùng họ vẫn có thể nói: “Con xin phó thác.” Đó là những con người đã đi qua lửa mà không để lửa đốt mất lòng tin. Có lẽ họ không giảng một bài thần học nào, nhưng chính cách họ sống đã là một bài giảng lớn.
Cha mẹ có thể không hiểu hết con cái, nhưng vẫn yêu. Vợ chồng có lúc không hiểu nổi nhau, nhưng vẫn chọn trung thành. Một linh mục có thể không hiểu hết tại sao Chúa đặt mình ở một nơi khó khăn, nhưng vẫn phục vụ. Một tu sĩ có thể không hiểu tại sao đời tận hiến của mình phải đi qua những năm tháng âm thầm, nhưng vẫn giữ lời khấn. Một bệnh nhân không hiểu tại sao bệnh tật đến với mình, nhưng vẫn giữ lòng nhân hậu. Một người già không hiểu tại sao những người từng gần gũi dần ra đi hết, nhưng mỗi tối vẫn lần chuỗi. Những điều đó rất nhỏ trước mắt thế gian, nhưng rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Đó là đức tin đã đi qua câu hỏi.
Chúng ta cũng cần nhớ rằng phó thác không có nghĩa là thụ động. Người phó thác cho Chúa vẫn đi khám bệnh khi đau. Vẫn tìm việc khi thất nghiệp. Vẫn nói sự thật khi bị bất công. Vẫn xin trợ giúp khi quá sức. Vẫn bảo vệ người yếu thế. Vẫn sửa điều có thể sửa. Phó thác không phải là ngồi yên rồi gọi mọi thứ là ý Chúa. Có những đau khổ do tội lỗi con người gây ra và cần phải được chống lại. Có những bất công cần lên tiếng. Có những mối quan hệ độc hại cần đặt ranh giới. Có những sai lầm cần sửa chữa. “Xin phó thác” không phải là lời biện minh cho sự hèn nhát. Đức Giêsu phó thác trong tay Cha, nhưng cả đời Người đã chiến đấu cho sự thật, chữa lành người bệnh, bênh vực người bị bỏ rơi, lật đổ những giả hình, và yêu đến cùng. Phó thác là làm hết phần mình rồi trao phần còn lại cho Chúa.
Có lẽ điều làm ta mệt nhất trong đau khổ không chỉ là chính nỗi đau, mà là nỗ lực ép mình phải hiểu nó. Ta cứ xoay câu hỏi mãi: vì sao? Nếu hôm đó tôi làm khác thì sao? Nếu tôi nói câu kia thì sao? Nếu tôi đến sớm hơn thì sao? Nếu tôi nhận ra dấu hiệu trước thì sao? Chúng ta có thể tự tra tấn mình bằng hàng trăm chữ “nếu”. Đến một lúc nào đó, để được chữa lành, ta phải chấp nhận rằng có những cánh cửa quá khứ không thể mở lại. Có những câu hỏi không còn ai trên đời trả lời được. Có những điều ta phải đặt xuống. “Lạy Cha, con xin phó thác” cũng có nghĩa là: “Con trao cả điều con không thể thay đổi vào tay Cha.”
Phó thác cũng là trao những người mình yêu vào tay Chúa. Cha mẹ không thể đi theo con suốt đời. Linh mục không thể giữ giáo dân mãi bên mình. Người ta không thể bảo vệ người mình yêu khỏi tất cả đau khổ. Một ngày nào đó ta phải chấp nhận rằng người khác có con đường của họ, và mình không phải là Thiên Chúa của họ. Nhiều nỗi khổ đến vì ta muốn kiểm soát những điều không thuộc quyền mình. Ta lo cho con cái đến mất ngủ, lo tương lai đến kiệt sức, lo những điều chưa xảy ra đến mức không còn sống được hôm nay. Trong những lúc ấy, lời của Đức Giêsu trở thành lời cầu nguyện cho chúng ta: “Trong tay Cha.” Con của con ở trong tay Cha. Gia đình con ở trong tay Cha. Sức khỏe con ở trong tay Cha. Ơn gọi con ở trong tay Cha. Tương lai con ở trong tay Cha. Cả sự sống và sự chết của con cũng ở trong tay Cha.
Đức tin đẹp nhất có lẽ không nằm ở những lúc con người nói rất nhiều về Chúa, mà ở những lúc chẳng còn gì để bám ngoài Chúa mà họ vẫn bám. Khi mọi bảo đảm khác lần lượt mất đi, điều thật sự nằm trong tim sẽ lộ ra. Thập giá đã lột bỏ khỏi Đức Giêsu mọi chỗ dựa nhân loại: danh dự bị chà đạp, thân xác bị treo lên, môn đệ bỏ chạy, đám đông chế nhạo, sự sống đang cạn. Nhưng có một điều không ai lấy được: Người vẫn là Con và Thiên Chúa vẫn là Cha. Vì thế lời cuối cùng không phải là tuyệt vọng, mà là phó thác.
Đó cũng là đích đến của đời Kitô hữu. Không phải để đến cuối đời ta có thể nói: “Tôi đã hiểu mọi điều.” Nhưng để có thể nói: “Lạy Cha, con xin phó thác.” Thật đẹp biết bao nếu sau tất cả những năm tháng bôn ba, những thành công và thất bại, những điều làm được và chưa làm được, những người còn ở lại và những người đã ra đi, những câu hỏi được trả lời và những câu hỏi vẫn còn nguyên, ta có thể nhắm mắt bình an vì biết mình đang rơi vào tay Cha. Cái chết đối với người có đức tin không phải là rơi vào khoảng không. Đó là rơi vào tay.
Vì vậy, mỗi ngày chúng ta nên tập chết một chút bằng cách phó thác một chút. Đừng đợi đến giây phút cuối đời mới học câu “trong tay Cha”. Hãy tập nói nó hôm nay. Khi kế hoạch không thành: trong tay Cha. Khi bị hiểu lầm: trong tay Cha. Khi người ta quên công lao của mình: trong tay Cha. Khi tương lai mịt mù: trong tay Cha. Khi tuổi già đến: trong tay Cha. Khi sức khỏe yếu đi: trong tay Cha. Khi con cái lớn lên và đi khỏi vòng tay mình: trong tay Cha. Khi một người thân sắp ra đi: trong tay Cha. Khi chính mình không còn sức: trong tay Cha. Mỗi lần nói như vậy không phải ta buông xuôi, mà là ta trả Thiên Chúa lại vị trí Thiên Chúa, và trả mình lại vị trí của một thụ tạo được yêu thương.
Có những lúc Chúa không trả lời câu “tại sao” của ta, nhưng Người vẫn trả lời bằng thập giá. Thập giá nói rằng đau khổ không có nghĩa là Thiên Chúa không yêu. Nếu đau khổ đồng nghĩa với bị Thiên Chúa bỏ rơi, thì Đức Giêsu trên thập giá phải là người bị bỏ rơi nhất. Nhưng chính nơi ấy tình yêu của Thiên Chúa lại được tỏ lộ đến tận cùng. Điều này không biến đau khổ thành điều tốt tự nó. Thập giá vẫn là thập giá. Cái chết vẫn là kẻ thù. Nước mắt vẫn là nước mắt. Nhưng kể từ Đức Kitô, đau khổ không còn là một căn phòng không có cửa. Thiên Chúa đã đi vào đó. Và nơi nào Người đã đi vào, nơi ấy có thể trở thành con đường dẫn đến phục sinh.
Chúng ta không biết hết tại sao. Nhưng chúng ta biết Ai đã đi trước mình. Chúng ta không biết ngày mai. Nhưng chúng ta biết bàn tay giữ ngày mai. Chúng ta không hiểu hết ý nghĩa của từng giọt nước mắt, nhưng chúng ta biết không một giọt nào rơi ngoài ánh mắt Chúa. Chúng ta không thể trả lời mọi câu hỏi về đau khổ, nhưng chúng ta có thể nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh và nghe Người nói bằng chính thân xác bị thương tích rằng: “Ta ở đây.”
Và có lẽ như thế là đủ để ta bước thêm một ngày.
Nếu hôm nay lòng ta vẫn còn một chữ “tại sao”, hãy đem nó đến dưới chân thập giá. Đừng giấu. Đừng tô đẹp. Đừng sợ Chúa phiền. Hãy nói hết. Rồi sau khi đã khóc, đã hỏi, đã im lặng, hãy thử thêm vào một câu, dù còn run rẩy: “Nhưng lạy Cha, con vẫn xin phó thác đời con trong tay Cha.” Có thể ngày mai ta vẫn chưa hiểu. Có thể hoàn cảnh vẫn chưa đổi. Nhưng điều gì đó trong lòng ta sẽ bắt đầu đổi. Câu hỏi không còn là vực thẳm nuốt ta xuống, bởi phía dưới vực thẳm ấy có một bàn tay đang đỡ lấy.
Từ “tại sao” đến “con xin phó thác” là con đường rất dài. Có khi là con đường của cả một đời người. Nhưng đó chính là hành trình của đức tin. Đức tin không phải là chưa bao giờ hỏi. Đức tin là sau tất cả những câu hỏi, ta vẫn còn một nơi để trao mình. Đức tin không phải là nhìn thấy hết. Đức tin là trong bóng tối vẫn dám bước về phía Đấng mình đã biết. Đức tin không phải là không có nước mắt. Đức tin là nước mắt vẫn có thể rơi trong lòng bàn tay của Cha. Đức tin không phải là hiểu hết về Thiên Chúa. Đức tin là có thể nói giữa mầu nhiệm của đời mình: “Con không hiểu, nhưng con tin. Con không thấy, nhưng con vẫn bước. Con đang đau, nhưng con không bỏ Chúa. Con chưa có câu trả lời, nhưng con vẫn trao mình cho Cha.”
Và đến một ngày, khi tất cả những câu “tại sao” của đời này đã nằm lại phía sau, ta sẽ hiểu điều hôm nay mình chưa hiểu. Nhưng có lẽ lúc ấy, điều làm ta xúc động nhất không phải là cuối cùng đã có câu trả lời, mà là nhận ra rằng suốt những năm tháng mình tưởng mình đi một mình, thật ra có một bàn tay chưa từng buông mình ra.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI CÂU HỎI KHÔNG NHẤT THIẾT CÓ CÂU TRẢ LỜI NHƯNG VẪN CÓ MỘT ĐẤNG ĐỂ BÁM VÀO
Tin Mừng: Mt 27,45-50
Có những ngày trong đời, người ta không còn cần một bài giải thích hay nữa. Có những nỗi đau mà mọi lời khuyên đều trở nên nhỏ bé. Có những biến cố xảy đến quá bất ngờ, quá nghiệt ngã, quá sức chịu đựng, đến nỗi câu hỏi duy nhất còn lại trong lòng chỉ là: “Tại sao?” Tại sao lại là tôi? Tại sao lại là gia đình tôi? Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Tại sao tôi đã cầu nguyện mà Chúa không cứu? Tại sao một người tốt lại phải chịu đau khổ? Tại sao một người mẹ phải tiễn con? Tại sao một người vợ phải mất chồng khi tuổi đời còn trẻ? Tại sao một gia đình đang bình yên bỗng chốc tan tác? Tại sao người sống ngay lành lại bị hiểu lầm, bị vu oan, bị phản bội? Tại sao người ta làm điều ác mà vẫn bình an, còn người cố sống tử tế lại phải mang hết thử thách này đến thử thách khác? Tại sao? Tại sao? Tại sao? Có những đêm con người hỏi đến kiệt sức mà trời vẫn im. Có những lần quỳ trước Nhà Tạm thật lâu mà không nghe được một lời nào. Có những lần cầm tràng chuỗi trên tay mà nước mắt cứ rơi, miệng đọc kinh nhưng lòng chỉ còn một câu hỏi. Và điều làm người ta đau nhất đôi khi không phải vì biến cố xảy ra, nhưng vì có cảm giác Thiên Chúa cũng im lặng trước biến cố ấy.
Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến một nơi rất lạ: dưới chân Thập Giá. Ở đó, Con Thiên Chúa cũng không được miễn khỏi câu hỏi “tại sao”. “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đó không phải là lời của một người không tin. Đó là tiếng kêu của chính Đức Giêsu. Người đã chữa người mù, đã làm cho kẻ chết sống lại, đã truyền cho sóng gió im tiếng; vậy mà đến giờ phút của chính mình, Người lại ở trên cây thập giá, hai bàn tay bị đóng đinh, chân không thể bước xuống, thân xác rách nát, những người thân yêu đứng xa, môn đệ bỏ chạy, đám đông nhạo cười, và bầu trời thì tối sầm. Đức Giêsu đã cứu bao nhiêu người, nhưng vào giờ ấy dường như không có ai cứu Người. Người đã nói với bao người: “Đừng sợ”, nhưng giờ đây Người bước vào tận cùng kinh nghiệm của con người: kinh nghiệm không hiểu nổi điều đang xảy ra. Và từ Thập Giá vang lên câu hỏi mà nhân loại đã hỏi từ bao đời: “Tại sao?”
Có lẽ chúng ta đã quá quen nhìn Đức Giêsu như Đấng có câu trả lời cho tất cả, đến nỗi quên rằng trên Thập Giá, Người đã chọn bước vào chính vùng tối nơi con người không tìm thấy câu trả lời. Đức Kitô không cứu chúng ta bằng cách đứng ở ngoài đau khổ rồi giảng cho chúng ta một bài thật hay về đau khổ. Người cứu chúng ta bằng cách đi vào trong đau khổ. Người không đứng bên ngoài cái chết để giải thích cái chết; Người bước vào cái chết. Người không đứng bên ngoài cô đơn để khuyên người cô đơn; Người nếm chính sự cô đơn. Người không đứng bên ngoài cảm nghiệm bị bỏ rơi để bảo chúng ta phải mạnh mẽ; Người đã kêu lên từ đáy sâu của cảm nghiệm ấy: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Đây là một điều vô cùng an ủi cho đức tin Kitô giáo: chúng ta không tin vào một Thiên Chúa xa lạ với nước mắt. Chúng ta không tin vào một Thiên Chúa chỉ biết đau khổ bằng lý thuyết. Chúng ta tin vào một Đấng đã từng run sợ ở Ghếtsêmani, từng đổ mồ hôi máu, từng bị bạn hữu bỏ rơi, từng bị phản bội bằng một nụ hôn, từng bị xét xử bất công, từng bị nhục mạ, từng bị lột áo, từng bị đánh đòn, từng đội mão gai, từng vác thập giá, từng ngã xuống đường, từng bị đóng đinh, từng khát nước, từng kêu lên và từng chết. Vì thế, không một giọt nước mắt nào của con người là xa lạ với Người.
Chúng ta thường nghĩ rằng đức tin trưởng thành là lúc mình hiểu được tất cả. Không. Có khi đức tin trưởng thành nhất chính là lúc mình không hiểu gì mà vẫn không buông tay Chúa. Khi mọi sự thuận lợi, tin Chúa không khó lắm. Khi gia đình bình an, sức khỏe tốt, công việc thuận lợi, con cái ngoan ngoãn, lời cầu nguyện được nhận lời, chúng ta dễ nói: “Chúa thương con.” Nhưng rồi sẽ có một ngày, nếu sống đủ lâu, mỗi người đều gặp một nơi mà những công thức quen thuộc không còn đủ sức nâng đỡ. Có người đến nơi đó qua một căn bệnh. Có người qua sự ra đi của một người thân. Có người qua thất bại. Có người qua một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Có người qua sự phản bội. Có người qua tuổi già. Có người qua một đứa con làm mình đau lòng. Có người qua đời sống cộng đoàn. Có người qua chính ơn gọi mà mình từng ôm lấy với biết bao nhiệt thành. Có người vẫn mặc áo dòng, vẫn đứng trên bàn thờ, vẫn cử hành Thánh Lễ mỗi ngày, nhưng bên trong là một vùng hoang mạc khô cằn mà chẳng ai nhìn thấy. Và chính lúc ấy câu hỏi thật sự của đức tin không còn là: “Con có hiểu Chúa không?” nhưng là: “Khi con không hiểu Chúa, con còn ở lại với Chúa không?”
Ở lại mới khó. Bỏ đi nhiều khi dễ hơn. Khi không được như ý, người ta dễ bỏ cầu nguyện. Khi xin mãi không được, người ta dễ thôi đi lễ. Khi bị một người trong Giáo Hội làm tổn thương, người ta dễ quay lưng với cả Giáo Hội. Khi thấy một linh mục không sống như mình mong đợi, người ta dễ mất niềm tin vào tất cả linh mục. Khi chứng kiến một điều bất công, người ta dễ kết luận rằng Thiên Chúa không còn hiện diện. Chúng ta muốn một Thiên Chúa phải hành động theo thời gian biểu của mình, trả lời theo cách mình muốn, can thiệp đúng lúc mình yêu cầu. Nhưng Thiên Chúa không phải là người phục vụ những kế hoạch của chúng ta. Đức tin không phải là một hợp đồng trong đó ta sống tốt để đổi lấy một cuộc đời không đau khổ. Nếu Kitô giáo hứa rằng ai tin Chúa thì sẽ không bệnh, không mất mát, không bị hiểu lầm, không gặp thất bại, thì chỉ cần nhìn lên cây Thập Giá là toàn bộ lời hứa ấy sụp đổ. Người tốt lành nhất đã chịu đau khổ nhất. Người vô tội nhất đã bị kết án. Người yêu thương nhất đã bị phản bội. Đấng là Sự Sống đã chết. Đó là nghịch lý mà Kitô giáo không giấu đi. Trái lại, Kitô giáo đặt chính cây Thập Giá ở giữa nhà thờ, giữa bàn thờ, giữa đời sống người tín hữu, như muốn nói với chúng ta rằng: đừng mong đi theo Đức Kitô mà không có ngày phải bước qua Canvê.
Nhưng Thập Giá không nói rằng đau khổ là tốt. Thập Giá cũng không bảo chúng ta phải đi tìm đau khổ. Thiên Chúa không vui vì thấy con cái mình khóc. Đức Giêsu đã chữa bệnh, đã cho người đói ăn, đã khóc trước mộ Ladarô, đã chạnh lòng thương đám đông. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ; Kitô giáo tôn thờ một Đấng đã biến đau khổ thành nơi tình yêu đi đến cùng. Khác nhau rất nhiều. Đau khổ tự nó không cứu ai. Một người đau khổ vẫn có thể trở nên cay độc. Một người bị tổn thương vẫn có thể làm tổn thương người khác. Một người mang thập giá vẫn có thể dùng chính thập giá ấy để oán trách cả đời. Điều cứu chúng ta không phải là đau khổ, nhưng là tình yêu của Đức Kitô hiện diện trong đau khổ. Chính vì thế, khi đứng trước những điều mình không hiểu, điều quan trọng không phải lúc nào cũng là tìm được câu trả lời, nhưng là tìm được một Đấng để bám vào.
Một đứa trẻ đi trong đêm với cha mình không cần hiểu con đường. Nó chỉ cần nắm tay cha. Người cha biết đường, còn đứa trẻ không biết. Nó không thấy xa, nhưng nó biết bàn tay mình đang nằm trong một bàn tay khác. Có lẽ đức tin cũng đơn sơ như thế. Chúng ta muốn Chúa đưa cho mình tấm bản đồ cả cuộc đời, giải thích từng khúc quanh, cho biết tại sao phải đi qua đoạn đường này, còn bao lâu mới hết bóng tối, phía trước sẽ xảy ra chuyện gì. Chúa thường không làm như thế. Người chỉ nói: “Hãy theo Thầy.” Chúng ta hỏi: “Đi đâu?” Người nói: “Theo Thầy.” Chúng ta hỏi: “Bao giờ hết đau?” Người nói: “Theo Thầy.” Chúng ta hỏi: “Tại sao chuyện này xảy ra?” Người không luôn trả lời câu hỏi ấy, nhưng Người đưa bàn tay có dấu đinh cho chúng ta. Có những lúc đó là tất cả những gì đức tin nhận được. Nhưng kỳ lạ thay, nếu đó thật sự là bàn tay của Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh, thì như thế đã đủ để đi tiếp.
Có những điều trên đời này có lẽ đến lúc nhắm mắt chúng ta vẫn không hiểu. Tại sao đứa trẻ ấy sinh ra rồi chỉ sống được vài ngày? Tại sao người mẹ ấy cầu nguyện bao nhiêu năm mà con vẫn không trở về? Tại sao một người dâng cả đời phục vụ Chúa lại kết thúc trong bệnh tật và cô đơn? Tại sao có những gia đình hết tai họa này đến tai họa khác? Tại sao có người vừa chịu tang chồng lại phát hiện mình mắc bệnh? Tại sao có những lời cầu nguyện dường như rơi vào im lặng? Chúng ta rất dễ tìm những câu trả lời đạo đức quá nhanh: “Chúa thử thách đấy”, “Chúa có chương trình”, “Chúa muốn như vậy.” Nhiều khi những câu nói ấy đúng về mặt thần học nhưng lại có thể làm đau thêm một trái tim đang tan vỡ nếu nói không đúng lúc. Trước người vừa mất con, đôi khi điều họ cần không phải một lời giải thích về ý Chúa, mà là một người ngồi bên cạnh và khóc với họ. Trước một người đang đau đớn, đôi khi đừng vội đóng vai người biết hết ý định của Thiên Chúa. Ngay cả ông Gióp cũng đã phải chịu thêm đau khổ vì những người bạn cứ cố giải thích thay cho Thiên Chúa. Có những lúc lòng bác ái đòi chúng ta biết im lặng. Maria dưới chân Thập Giá không giảng cho Con mình về ý nghĩa cứu độ của đau khổ. Mẹ chỉ đứng đó. Có những sự hiện diện quý hơn một nghìn câu trả lời.
Đứng dưới chân Thập Giá, chúng ta còn học được một điều khác: có thể hỏi Chúa mà vẫn tin Chúa. Đức tin không cấm câu hỏi. Đức tin không buộc chúng ta phải giả vờ mạnh mẽ. Đức Giêsu đã kêu lên. Người không giả vờ rằng đau không đau. Người không nói: “Không sao đâu.” Người không biến Thập Giá thành một sân khấu của sự chịu đựng lạnh lùng. Người kêu: “Tôi khát.” Người kêu: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Và như thế, Người thánh hóa cả tiếng kêu của chúng ta. Người tín hữu có quyền khóc. Có quyền nói với Chúa rằng mình mệt. Có quyền thú nhận rằng mình sợ. Có quyền nói: “Lạy Chúa, con không hiểu.” Có quyền hỏi: “Chúa đang ở đâu?” Có quyền thưa: “Con không chịu nổi nữa.” Đó không nhất thiết là mất đức tin. Có khi chính việc còn quay về phía Chúa để hỏi đã là dấu hiệu của một đức tin sâu xa. Người hoàn toàn không tin thì đâu cần hỏi Chúa nữa. Chính vì còn tin Người đang ở đâu đó nên chúng ta mới kêu Người.
Nhưng hãy để ý lời Đức Giêsu: “Lạy Thiên Chúa của con.” Ngay trong câu hỏi đau đớn nhất vẫn có hai chữ “của con”. Người cảm nghiệm sự bỏ rơi nhưng vẫn gọi Thiên Chúa là “Thiên Chúa của con”. Khoảng cách dường như mênh mông nhưng tương quan chưa bị cắt đứt. Đây chính là bí quyết của đức tin trong đêm tối: con có thể không cảm thấy Chúa, nhưng đừng thôi gọi Người là Chúa của con. Con có thể không hiểu đường Người dẫn, nhưng đừng buông lời cầu nguyện. Con có thể không thấy ánh sáng, nhưng đừng bước khỏi bàn tay Người. Con có thể thất vọng về mình, về người, về hoàn cảnh, nhưng đừng tuyệt vọng về Thiên Chúa. Một đức tin chưa từng đi qua thử thách thường dựa rất nhiều vào cảm giác. Một đức tin đã đi qua đêm tối thì không còn dựa vào cảm giác nữa. Nó dựa vào một điều sâu hơn: Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa, dù tôi có hiểu hay không; Thiên Chúa vẫn yêu tôi, dù tôi có cảm thấy hay không; Đức Kitô vẫn đang ở đây, dù mắt tôi không nhìn thấy.
Có những người nói: “Ngày xưa tôi cầu nguyện thấy sốt sắng lắm, bây giờ chẳng cảm thấy gì.” Điều đó chưa chắc nghĩa là bạn đang xa Chúa. Có khi Chúa đang đưa bạn sang một giai đoạn trưởng thành hơn, nơi bạn yêu Người không phải vì những an ủi Người ban, nhưng vì chính Người. Một em bé ôm mẹ vì mẹ có kẹo là một kiểu yêu. Một người con trưởng thành ở bên mẹ khi mẹ già yếu, không còn cho mình gì được nữa, là một kiểu yêu khác. Có lúc chúng ta yêu Chúa vì Chúa ban bình an, cho sức khỏe, giúp công việc thuận lợi. Nhưng rồi sẽ đến lúc Chúa hỏi: “Nếu Thầy không cho con điều con đang xin, con còn yêu Thầy không? Nếu Thầy im lặng, con còn ở lại không? Nếu con không hiểu Thầy, con còn tin Thầy không?” Những câu hỏi ấy không dễ. Chỉ ai đã từng đi qua một đêm thật dài mới hiểu.
Thập Giá là nơi Đức Giêsu không xuống khỏi Thập Giá dù Người có thể. Những người đứng dưới chân Thập Giá chế nhạo: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Đó là cám dỗ cuối cùng. Hãy chứng minh mình là Con Thiên Chúa bằng cách tránh đau khổ. Nhưng Đức Giêsu chứng minh Người là Con bằng cách ở lại trong tình yêu cho đến cùng. Đây cũng là điều chúng ta phải học. Chúng ta thường muốn Chúa chứng minh Người yêu mình bằng cách cất thập giá đi. Chúa đôi khi chứng minh tình yêu bằng cách không để chúng ta mang thập giá một mình. Hai điều khác nhau. Chúng ta xin: “Lạy Chúa, xin đổi hoàn cảnh này.” Chúa có thể đổi. Nhưng có lúc Người không đổi hoàn cảnh ngay; Người đổi chính chúng ta giữa hoàn cảnh ấy. Ta xin Chúa làm biển lặng; có khi Người làm biển lặng. Nhưng có khi Người để biển vẫn động mà dạy ta bước trên mặt nước. Ta xin đừng phải đi qua thung lũng; có khi Người mở một con đường khác. Nhưng có khi Người đi cùng ta qua thung lũng. Và nhiều năm sau nhìn lại, ta mới nhận ra phép lạ lớn nhất không phải là mình đã tránh được đau khổ, nhưng là mình đã không bị đau khổ hủy diệt.
Bao nhiêu người đã bước ra khỏi những tháng năm tăm tối với một trái tim mềm hơn, khiêm tốn hơn, thương người hơn. Trước kia họ rất dễ phán xét người khác; sau khi chính mình đổ vỡ, họ biết xót thương. Trước kia nghe ai nói “tôi không chịu nổi” thì họ bảo “phải có đức tin chứ”; sau khi chính mình từng có một đêm muốn gục xuống, họ biết ngồi bên người khác mà không nói nhiều. Trước kia họ tưởng mạnh mẽ là không khóc; sau này họ hiểu mạnh mẽ nhiều khi là khóc hết nước mắt rồi sáng hôm sau vẫn đứng dậy làm điều phải làm. Trước kia họ nghĩ người thánh thiện là người không bao giờ đặt câu hỏi; sau này họ hiểu người thánh thiện là người có thể mang câu hỏi suốt nhiều năm mà vẫn không rời Chúa. Đó là một thứ đức tin đã được tôi luyện trong lửa.
Điều này đặc biệt cần cho những người sống đời tận hiến, cho linh mục, tu sĩ, những người đã đặt cuộc đời mình trong tay Chúa. Thuở ban đầu của ơn gọi thường đẹp lắm. Người ta bước vào với nhiệt huyết, với những lý tưởng rất trong. Muốn phục vụ Chúa, muốn cứu các linh hồn, muốn sống nghèo, muốn trao tất cả. Nhưng năm tháng đi qua, đời tu cũng có những mùa Đông. Có khi đau không đến từ người ngoài mà đến từ chính những người cùng sống với mình. Có khi điều khó nhất không phải nghèo vật chất mà là nghèo tình cảm. Có khi không phải thiếu công việc mà là làm rất nhiều nhưng cảm thấy chẳng ai hiểu. Có khi vâng phục một điều mình không hiểu. Có khi thấy sức khỏe giảm sút trong khi bao dự tính còn dang dở. Có khi nhìn thế hệ trẻ đi qua mình và chợt thấy mình không còn quan trọng như trước. Có khi bị chuyển khỏi một công việc mình đã gắn bó. Có khi bị hiểu lầm mà không có cơ hội giải thích. Có khi đã hy sinh rất nhiều nhưng chẳng ai nhớ. Và một ngày nào đó người tận hiến cũng có thể hỏi: “Lạy Chúa, con đã bỏ mọi sự theo Chúa, tại sao Chúa lại để con đi qua chuyện này?” Câu hỏi ấy rất thật.
Những lúc ấy, ơn gọi được thanh luyện. Ta bắt đầu nhận ra mình theo Chúa hay theo một hình ảnh đẹp về đời theo Chúa. Ta yêu Đức Kitô hay yêu cảm giác hữu ích trong sứ vụ. Ta trung thành vì Chúa hay vì được người khác ghi nhận. Ta làm việc cho Chúa hay vô tình lấy công việc của Chúa làm căn tính của mình. Đến lúc sức khỏe không còn, chức vụ không còn, tiếng vỗ tay không còn, những người từng tìm đến mình không còn, ta có còn đủ bình an để nói: “Chúa vẫn còn, thế là đủ”? Câu ấy dễ nói, khó sống. Nhưng đó là sự nghèo khó sâu nhất của đời tận hiến: để cuối cùng tất cả có thể mất đi mà Đức Kitô vẫn là kho tàng duy nhất còn lại.
Thập Giá còn dạy chúng ta đừng tuyệt đối hóa câu trả lời. Nhiều người nghĩ chỉ cần biết “tại sao” thì sẽ hết đau. Không chắc. Giả sử bạn biết chính xác tại sao người thân mình phải chết, liệu bạn có bớt nhớ họ không? Giả sử ai đó giải thích rất đầy đủ vì sao một tai nạn xảy ra, căn nhà có bớt vắng không? Giả sử một bác sĩ giải thích hoàn hảo cơ chế của căn bệnh, người bệnh có vì thế mà thôi đau không? Con người không chỉ cần ý nghĩa. Con người cần sự hiện diện. Một em bé bị đau không cần mẹ giải thích hệ thần kinh truyền tín hiệu đau thế nào. Nó cần mẹ ôm nó. Và có lẽ trong những giờ phút đen tối nhất, điều Thiên Chúa ban cho chúng ta trước hết không phải một học thuyết về đau khổ, mà là chính Con Một của Người. Kitô giáo không nói với nhân loại: “Đây là lời giải thích cho mọi đau khổ.” Kitô giáo nói: “Đây là Đấng Chịu Đóng Đinh.” Hãy nhìn Người. Hãy ở với Người. Hãy để Người ở với bạn.
Đó là lý do cây Thánh Giá quý giá đến thế. Một người đang hạnh phúc có thể nhìn cây Thánh Giá như biểu tượng tôn giáo. Một người đang đau thật sự sẽ nhìn khác. Khi mọi lời cầu nguyện dường như không được trả lời, người ấy nhìn cây Thánh Giá và biết: Người hiểu. Khi bị phản bội, nhìn cây Thánh Giá: Người hiểu. Khi bị vu oan: Người hiểu. Khi cô đơn: Người hiểu. Khi thân xác đau đớn: Người hiểu. Khi sợ chết: Người hiểu. Khi cảm thấy Chúa xa: chính Người đã từng kêu “sao Ngài bỏ rơi con?” Một Thiên Chúa như thế ta có thể bám vào. Không phải vì Người giải thích mọi chuyện, nhưng vì Người đã đi qua tất cả trước ta.
Và rồi Tin Mừng kể: Đức Giêsu “lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn”. Mọi sự tưởng như kết thúc ở đó. Nếu Matthêu dừng Tin Mừng tại câu 50 chương 27 thì Kitô giáo là một bi kịch. Nhưng chúng ta biết câu chuyện không kết thúc ở chiều Thứ Sáu. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh là Thứ Bảy thinh lặng. Và sau Thứ Bảy là sáng Phục Sinh. Đây là hy vọng lớn nhất của người Kitô hữu: Thiên Chúa có thể im lặng vào Thứ Sáu và Thứ Bảy, nhưng Người chưa nói lời cuối cùng. Nấm mồ chưa bao giờ là dấu chấm hết đối với Thiên Chúa. Có những câu hỏi hôm nay chưa trả lời được bởi vì câu chuyện chưa kết thúc. Chúng ta đang ở giữa một chương mà cứ tưởng đó là toàn bộ cuốn sách. Chúng ta nhìn một mặt trái của tấm thảm, thấy toàn chỉ những sợi chỉ rối tung, rồi trách người dệt. Nhưng Thiên Chúa nhìn toàn bộ tấm thảm. Một ngày nào đó, khi đứng trước mặt Người, có lẽ chúng ta sẽ nhìn lại đời mình bằng một ánh sáng khác.
Điều đó không có nghĩa chúng ta phải nói dễ dàng rằng “rồi mọi chuyện sẽ ổn”. Có những chuyện ở đời này không bao giờ trở lại như cũ. Một người mất đi thì không ai thay thế được. Một vết thương có thể lành nhưng vẫn để sẹo. Phục Sinh không xóa dấu đinh khỏi thân thể Đức Kitô. Người sống lại nhưng vẫn mang những vết thương. Điều ấy thật đẹp. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách giả vờ rằng quá khứ chưa từng xảy ra. Người biến chính những vết thương thành dấu chỉ của tình yêu. Đức Giêsu Phục Sinh cho Tôma xem tay và cạnh sườn. Những dấu đinh không còn là dấu của thất bại; chúng trở thành căn cước của tình yêu chiến thắng. Và có lẽ những vết thương của chúng ta cũng vậy. Một ngày nào đó những nơi từng làm ta đau nhất có thể trở thành nơi ta có khả năng yêu người khác sâu nhất.
Người từng mất người thân biết cách ngồi bên một gia đình có tang. Người từng thất bại biết an ủi người vừa thất bại mà không làm họ xấu hổ. Người từng bị hiểu lầm biết cẩn thận trước khi kết luận về người khác. Người từng trải qua khô khan thiêng liêng sẽ không vội kết án người đang nghi nan. Người từng đổ vỡ biết rằng một câu “cố lên” nhiều khi vô nghĩa, và một cái nắm tay đôi khi quý hơn cả bài giảng. Thiên Chúa không lãng phí những vết thương nếu chúng ta trao chúng cho Người. Những vết thương được ôm lấy trong Đức Kitô có thể trở thành những cánh cửa qua đó lòng thương xót đi vào thế giới.
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa câu hỏi và sự nổi loạn. Hỏi Chúa không sai. Nhưng có một cám dỗ là vì không hiểu nên tự đặt mình vào vị trí quan tòa của Thiên Chúa. Ta muốn Thiên Chúa phải trình bày hồ sơ để ta duyệt. Ta nói: “Nếu Chúa yêu con thì Chúa phải làm thế này. Nếu Chúa là Thiên Chúa thì chuyện kia không được xảy ra.” Ta dùng trí hiểu rất nhỏ của mình để đo toàn bộ mầu nhiệm. Sách Gióp đưa chúng ta đến một sự khiêm tốn sâu xa: không phải mọi sự đều nằm trong khả năng hiểu biết của con người. Điều này không phải lời trốn tránh câu hỏi; đó là thừa nhận giới hạn. Một em bé năm tuổi không thể hiểu hết quyết định của cha mẹ. Không phải vì quyết định ấy vô lý, mà vì tầm nhìn của nó chưa đủ. Nếu giữa một đứa trẻ và cha mẹ đã có khoảng cách như thế, thì giữa trí óc hữu hạn của con người và sự khôn ngoan vô hạn của Thiên Chúa còn lớn đến đâu?
Đức tin vì thế không phải là có đáp án cho mọi câu hỏi. Người có đức tin sâu chưa chắc là người nói được nhiều nhất về Thiên Chúa. Có khi người ấy là người đã học được cách quỳ rất lâu trước Thiên Chúa mà không cần nói gì. Sau bao năm, họ không còn hỏi Chúa quá nhiều: “Tại sao?” Họ bắt đầu hỏi: “Lạy Chúa, trong chuyện này Chúa muốn con sống thế nào?” Đó là một chuyển biến rất lớn. “Tại sao?” thường giữ mắt ta ở quá khứ, ở điều đã xảy ra. “Con phải sống thế nào?” mở mắt ta về phía trước. Có những câu hỏi sẽ không có câu trả lời, nhưng ta vẫn phải sống ngày hôm nay. Ta vẫn phải thức dậy. Vẫn phải chăm sóc con cái. Vẫn phải làm việc. Vẫn phải yêu. Vẫn phải tha thứ. Vẫn phải cầu nguyện. Vẫn phải làm điều thiện. Vẫn phải bước tiếp. Và có lẽ ở điểm ấy, một đức tin rất đẹp được sinh ra: không phải đức tin của người hiểu hết, mà là đức tin của người đau mà không trở nên độc ác, bị tổn thương mà không từ bỏ tình yêu, không hiểu Chúa nhưng vẫn không bỏ Chúa.
Có lẽ phép lạ lớn nhất đôi khi không phải là Chúa cất chén đắng đi, nhưng là sau khi uống chén ấy chúng ta vẫn còn khả năng yêu. Hãy nhìn Đức Giêsu trên Thập Giá. Trong lúc đau nhất, Người vẫn nghĩ đến người khác. Người trao Mẹ cho môn đệ. Người tha thứ. Người hoàn tất sứ mạng. Đau khổ không làm trái tim Người nhỏ lại. Đó là dấu chỉ lớn nhất của sự chiến thắng. Khi đau khổ khiến ta cay nghiệt, nó đang thắng ta. Khi đau khổ khiến ta khép kín, nó đang thắng ta. Khi vết thương biến ta thành người chuyên gây thương tích cho người khác, cái ác đã sinh thêm cái ác. Nhưng khi một người chịu đau mà vẫn chọn hiền lành, chịu mất mát mà vẫn biết cho đi, bị phản bội mà vẫn không trả thù, khóc mà vẫn biết lau nước mắt cho người khác, thì Thập Giá đang bắt đầu trở thành Phục Sinh trong họ.
Chúng ta đừng nghĩ những điều này chỉ dành cho những thảm họa lớn. Mỗi ngày đều có những “tại sao” nhỏ. Tại sao người ấy không hiểu mình? Tại sao mình làm việc nhiều mà chẳng ai ghi nhận? Tại sao con mình không nghe lời? Tại sao người kia được ưu ái hơn? Tại sao cầu nguyện mãi mà một tính xấu vẫn chưa sửa được? Tại sao cộng đoàn không như mình mong? Tại sao tuổi già đến nhanh thế? Tại sao người bạn thân ngày xưa giờ xa cách? Tại sao sức khỏe không còn như trước? Những câu hỏi nhỏ ấy tích tụ thành mệt mỏi. Và chính trong những điều rất bình thường ấy, ta phải học bám lấy Chúa. Không phải chỉ bám Chúa trong tai họa, nhưng bám Chúa trong một ngày buồn, trong một bữa cơm im lặng, trong một lời nói làm mình đau, trong một lần bị quên lãng, trong một công việc lặp đi lặp lại, trong một buổi cầu nguyện khô khan.
Bám vào Chúa không phải là cảm xúc. Bám vào Chúa nhiều lúc đơn giản chỉ là hôm nay vẫn đọc kinh dù chẳng muốn đọc; vẫn đi lễ dù tâm hồn chẳng cảm thấy gì; vẫn không bỏ việc thiện dù không ai cảm ơn; vẫn giữ lời hứa dù chẳng ai kiểm tra; vẫn không nói xấu người đã làm mình đau; vẫn trở lại Nhà Tạm sau một ngày thất vọng; vẫn làm dấu Thánh Giá trước khi ngủ và thưa: “Lạy Chúa, con chẳng hiểu gì, nhưng con vẫn trao ngày mai cho Chúa.” Những hành vi rất nhỏ ấy có thể là những hành vi đức tin lớn nhất đời người.
Có những người đức tin sâu lắm nhưng họ không biết nói những câu thần học. Một bà mẹ già ngày nào cũng ngồi cuối nhà thờ, cuộc đời đã mất quá nhiều, nhưng vẫn lần chuỗi. Một người chồng chăm sóc vợ bệnh nhiều năm mà không than phiền. Một người mẹ có đứa con đi sai đường vẫn cầu nguyện hàng chục năm. Một linh mục già sức yếu, không còn làm được nhiều, nhưng mỗi ngày vẫn dâng Thánh Lễ cho đoàn chiên. Một nữ tu âm thầm trong bếp, chẳng ai nhắc đến tên, vẫn vui vẻ phục vụ. Có thể những người ấy vẫn còn những câu hỏi chưa trả lời. Nhưng họ đã tìm thấy điều quan trọng hơn câu trả lời: họ đã tìm thấy một Đấng để bám vào.
Và đó là điểm đẹp nhất của Thập Giá. Khi chẳng còn gì để bám, vẫn còn Đức Kitô. Khi tiền bạc không cứu được, vẫn còn Đức Kitô. Khi sức khỏe rời ta, vẫn còn Đức Kitô. Khi người thân không thể đi cùng nữa, vẫn còn Đức Kitô. Khi danh dự mất, vẫn còn Đức Kitô. Khi chức vụ kết thúc, vẫn còn Đức Kitô. Khi trí nhớ yếu dần, vẫn còn Đức Kitô. Khi một ngày nào đó chúng ta nằm trên giường bệnh, không còn tự mình đọc kinh nổi, thậm chí chẳng còn biết nói gì, vẫn còn Đức Kitô. Và khi bàn tay cuối cùng của người thân phải buông tay ta ở cửa sự chết, có một bàn tay khác sẽ nắm lấy. Bàn tay ấy có dấu đinh.
Đời người rồi sẽ đi đến một nơi mà mọi thứ ta từng tự hào đều phải bỏ lại. Không ai mang chức vụ xuống mồ. Không ai mang bằng cấp. Không ai mang tiền bạc. Không ai mang những lời người ta từng ca tụng mình. Cuối cùng, câu hỏi không phải là ta đã giải thích được bao nhiêu mầu nhiệm, nhưng là ta có biết Đấng mình đã tin không. Thánh Phaolô không nói: “Tôi biết mọi câu trả lời.” Ngài nói: “Tôi biết tôi đã tin vào ai.” Một chữ “Ai” quan trọng hơn một nghìn chữ “tại sao”. Kitô giáo cuối cùng không phải là một hệ thống những câu trả lời; Kitô giáo là một tương quan với một Con Người: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.
Vì thế, nếu hôm nay ai đó đang mang trong lòng một câu hỏi chưa có lời đáp, xin đừng nghĩ mình là người có đức tin yếu. Có thể bạn đã cầu nguyện rất lâu. Có thể bạn đã hỏi Chúa đến mệt mỏi. Có thể bạn không còn muốn nghe thêm những câu khuyên sáo rỗng. Vậy thì đừng cố bắt mình hiểu. Hãy chỉ đứng dưới chân Thập Giá. Nhìn Người. Không cần nói nhiều. Nếu khóc được, cứ khóc. Nếu chỉ nói được một câu, hãy nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng xin đừng để con buông Chúa.” Có khi lời cầu nguyện ấy đẹp hơn rất nhiều kinh nguyện được đọc khi đời bình an.
Nếu hôm nay Chúa chưa cho bạn câu trả lời, Người vẫn cho bạn chính Người. Nếu Chúa chưa cất thập giá, Người vẫn ở trên thập giá bên bạn. Nếu đường còn tối, Người vẫn là Đấng đã đi qua bóng tối trước bạn. Nếu bạn thấy mình bị bỏ rơi, hãy nhớ rằng Đấng bạn cầu nguyện cũng từng kêu lên từ nơi sâu nhất của cảm nghiệm bị bỏ rơi. Nếu bạn sợ cái chết, hãy nhớ Người đã chết. Nếu bạn đứng trước một nấm mồ, hãy nhớ Người đã nằm trong mồ. Và nếu mọi sự dường như kết thúc, hãy nhớ rằng sáng Phục Sinh bắt đầu từ chính một ngôi mộ tưởng như đã đóng kín.
Có những câu hỏi rồi cuộc đời sẽ trả lời. Có những câu hỏi thời gian sẽ làm sáng tỏ. Có những câu hỏi khi bình tâm ta sẽ nhận ra ý nghĩa. Nhưng cũng có những câu hỏi phải đem theo suốt đời, và có lẽ chỉ bên kia sự chết mới hiểu. Không sao cả. Chúng ta không được cứu nhờ hiểu mọi sự. Chúng ta được cứu nhờ Đức Kitô. Không phải sự hiểu biết đưa ta qua thung lũng tối; Người đưa ta qua. Không phải câu trả lời ôm ta khi cô đơn; Người ôm ta. Không phải một lý thuyết chết trên Thập Giá vì ta; Người chết vì ta. Không phải một công thức sống lại từ mồ; Người sống lại. Và vì thế, khi những câu trả lời biến mất, Đức Kitô vẫn còn.
Có lẽ cuối cùng, tất cả đời sống đức tin chỉ còn lại điều này: bám vào Người. Bám khi vui. Bám khi buồn. Bám khi được. Bám khi mất. Bám khi hiểu. Bám khi không hiểu. Bám khi cầu nguyện đầy an ủi. Bám khi cầu nguyện khô như sa mạc. Bám khi thấy Chúa gần. Bám cả khi tưởng Người rất xa. Bám cho đến ngày không còn sức bám nữa. Và lúc bàn tay ta yếu đi, ta sẽ khám phá một sự thật rất đẹp: từ đầu đến cuối không phải ta đã giữ được Chúa, mà chính Chúa đã giữ ta.
Thế nên, trước Thập Giá hôm nay, có lẽ ta không cần xin Chúa giải thích mọi điều. Ta chỉ xin một điều thôi: “Lạy Đức Giêsu chịu đóng đinh, khi con không hiểu, xin cho con vẫn tin. Khi con không cảm thấy Chúa, xin cho con vẫn tìm Chúa. Khi lời cầu xin của con dường như không được đáp lại, xin cho con đừng bỏ cầu nguyện. Khi con bị thương, xin đừng để con trở thành người làm thương người khác. Khi con mất một điều rất quý, xin cho con nhớ rằng con vẫn còn Chúa. Khi con đi vào bóng tối, xin cho con nắm lấy bàn tay mang dấu đinh của Chúa. Khi con hỏi ‘tại sao’ mà trời vẫn im, xin cho con đủ bình an để nói: con chưa hiểu, nhưng con biết con đang ở với Ai.”
Và nếu một ngày nào đó ta không còn đủ sức nói một lời cầu nguyện dài, xin chỉ còn một tiếng thôi cũng được: “Giêsu.” Một cái tên. Một Đấng. Một bàn tay. Một Thập Giá. Một niềm hy vọng. Có lẽ như thế đã đủ cho cả một đời.
Bởi sau hết, chúng ta không cần mang theo mọi câu trả lời để bước qua cửa sự chết. Chúng ta chỉ cần mang theo niềm tin rằng ở phía bên kia cánh cửa ấy có Đấng đã chết và đã sống lại đang đợi mình. Người không hứa rằng ta sẽ hiểu mọi con đường trước khi đi hết. Người chỉ hứa rằng Người sẽ ở cùng ta mọi ngày cho đến tận thế. Và đối với một người đã từng thật sự đau, lời hứa ấy quý hơn mọi lời giải thích.
Thập Giá vì thế không phải nơi mọi câu hỏi được trả lời. Thập Giá là nơi ta khám phá rằng ngay cả khi câu hỏi còn đó, tình yêu vẫn còn đó. Ngay cả khi bóng tối còn đó, Đức Kitô vẫn còn đó. Ngay cả khi nước mắt còn đó, bàn tay mang dấu đinh vẫn còn đó. Ngay cả khi chúng ta không biết “tại sao”, chúng ta vẫn biết “Ai”.
Và nhiều khi, biết Ai đã đủ để tiếp tục sống.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – NIỀM AN ỦI CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ BỎ RƠI
Tin Mừng: Mc 15,33-37
Có lẽ trong đời người, đau nhất không hẳn là nghèo, không hẳn là bệnh, không hẳn là thất bại, cũng chưa chắc là mất đi một điều mình quý. Có một nỗi đau nằm sâu hơn tất cả những nỗi đau ấy: nỗi đau bị bỏ rơi. Bởi vì khi nghèo, người ta vẫn có thể chịu được nếu còn một bàn tay nắm lấy tay mình. Khi bệnh, người ta vẫn có thể đi qua những đêm dài nếu còn một người ngồi bên cạnh. Khi thất bại, người ta vẫn có thể đứng lên nếu còn một tiếng nói bảo rằng: “Tôi vẫn tin anh.” Khi mất mát, người ta vẫn có thể khóc mà không tuyệt vọng nếu còn một bờ vai để dựa. Nhưng khi một người cảm thấy mình đã bị tất cả bỏ lại phía sau, khi điện thoại không còn ai gọi, khi căn phòng chỉ còn tiếng thở dài của chính mình, khi người từng hứa sẽ ở lại đã quay lưng, khi người thân không hiểu, bạn bè xa dần, anh em lạnh nhạt, cộng đoàn không còn chỗ cho mình, và ngay cả lời cầu nguyện cũng dường như rơi vào một khoảng trời im lặng, thì lúc ấy con người không chỉ đau vì một hoàn cảnh; họ đau vì cảm thấy sự hiện diện của mình chẳng còn nghĩa gì đối với ai nữa. Chính ở nơi sâu nhất và tối nhất ấy, Tin Mừng hôm nay dẫn chúng ta đến một ngọn đồi. Không phải đến một cung điện, không phải đến một nơi đầy ánh sáng, nhưng đến Canvê. Và ở đó có một Người đang bị treo giữa trời và đất. Người ấy không chỉ chịu đau vì đinh xuyên tay chân, không chỉ khát, không chỉ bị sỉ nhục, không chỉ bị lột áo, không chỉ bị chế nhạo. Người ấy còn đi vào tận cùng nỗi cô độc của con người. Giữa bóng tối phủ xuống mặt đất, Đức Giêsu đã cất lên một tiếng kêu làm nhói lòng mọi thế hệ: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni?” – “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Có lẽ không có lời nào gần với những người bị bỏ rơi hơn lời ấy. Chúa không đứng bên ngoài nỗi đau của họ để giảng cho họ một bài về kiên nhẫn. Chúa không đứng trên cao để bảo họ rằng đừng buồn nữa. Chúa đi vào chính nỗi đau ấy. Chúa đã mang nó trong thân xác mình. Chúa đã để tiếng kêu ấy bật ra từ trái tim mình. Và từ giây phút đó, không một ai trên đời này có thể nói rằng: “Không ai hiểu tôi.” Nếu không một người nào hiểu, thì vẫn còn Đấng Chịu Đóng Đinh hiểu.
Ta thường nghĩ niềm an ủi của Thiên Chúa là việc Người lấy đau khổ ra khỏi cuộc đời ta. Ta cầu xin và mong Chúa làm cho người đã bỏ ta quay về, làm cho căn bệnh biến mất, làm cho người khác hiểu ta, làm cho những bất công được sửa lại, làm cho mọi chuyện trở về như cũ. Ta thường nghĩ được Chúa an ủi nghĩa là ngày mai mọi sự phải tốt hơn hôm nay. Nhưng Thập Giá cho thấy có một sự an ủi sâu hơn rất nhiều: Thiên Chúa không luôn cất khỏi ta bóng tối, nhưng Người bước vào bóng tối với ta. Có những đêm Chúa không thắp đèn ngay, nhưng Chúa ngồi xuống bên cạnh ta trong đêm ấy. Có những giọt nước mắt Chúa không ngăn lại, nhưng Người đón lấy từng giọt. Có những câu hỏi Chúa không trả lời tức thì, nhưng Người không bỏ người đang hỏi. Có những hoàn cảnh Chúa không đổi ngay, nhưng chính sự hiện diện của Người làm cho hoàn cảnh ấy không còn là nơi tuyệt vọng. Đó là điều kỳ lạ của Kitô giáo. Kitô giáo không hứa với ta rằng người tin Chúa sẽ không bao giờ cô đơn, nhưng nói với ta rằng ngay trong cô đơn, ta không bao giờ hoàn toàn một mình. Kitô giáo không bảo rằng người theo Chúa sẽ không bị phản bội, bởi chính Chúa đã bị Giuđa phản bội. Kitô giáo không bảo rằng người tốt sẽ luôn được hiểu, bởi chính Đấng vô tội đã bị hiểu lầm, vu khống và kết án. Kitô giáo không bảo rằng yêu thương rồi sẽ luôn được yêu thương lại, bởi chính Đấng yêu đến cùng đã bị con người đóng đinh. Nhưng Kitô giáo cho ta một điều lớn hơn: trong tất cả những kinh nghiệm ấy, Đức Kitô đã ở đó trước ta. Ta đi vào con đường đau khổ và bất chợt nhận ra trên con đường ấy đã có dấu chân của Người.
Có những người bị bỏ rơi ngay trong chính ngôi nhà của mình. Bên ngoài nhìn vào, gia đình vẫn đủ người, bữa cơm vẫn đủ chén, ảnh gia đình vẫn đẹp, nhưng bên trong có một người đang chết dần vì không ai còn thật sự nghe họ. Người chồng đi làm về chỉ biết điện thoại. Người vợ đã quá mỏi mệt đến mức chẳng còn muốn nói. Đứa con đóng cửa phòng, sống trong một thế giới cha mẹ không bước vào được. Cha mẹ già ngồi đợi một cuộc điện thoại từ những đứa con quá bận. Có người cả ngày chăm sóc người khác nhưng chẳng ai hỏi một câu rất đơn giản: “Hôm nay bạn có mệt không?” Có những mái nhà không thiếu đồ đạc nhưng thiếu sự hiện diện. Không thiếu lời nói nhưng thiếu lắng nghe. Không thiếu người nhưng thiếu một người thật sự ở bên. Và có lẽ điều cay đắng nhất là bị bỏ rơi bởi chính những người mà ta từng nghĩ sẽ không bao giờ bỏ mình. Một người xa lạ không nhớ đến ta, ta có thể chấp nhận. Nhưng người mình yêu mà quên mình thì đau lắm. Người từng nói sẽ đồng hành mà quay lưng thì đau lắm. Người mình đã hy sinh nhiều nhất lại là người làm mình tổn thương sâu nhất thì đau lắm. Chính vì thế, Thập Giá không phải là một biểu tượng xa vời. Thập Giá nằm trong căn nhà có người vợ khóc một mình. Thập Giá nằm nơi người chồng không biết tâm sự với ai. Thập Giá nằm nơi người mẹ già chờ tiếng xe của con mà đêm nào cũng thất vọng. Thập Giá nằm trong căn phòng của một người trẻ cảm thấy chẳng ai hiểu mình. Và giữa tất cả những thập giá ấy, có Đức Kitô Chịu Đóng Đinh đang thầm nói: “Ta biết. Ta đã từng ở đó.”
Có những người lại bị bỏ rơi vì bệnh tật. Khi còn khỏe, quanh mình nhiều người. Khi còn làm ra tiền, nhiều người tìm đến. Khi còn có vị trí, có khả năng giúp người khác, điện thoại reo liên tục. Nhưng rồi một ngày nằm xuống, người đến thăm thưa dần. Ban đầu ai cũng hỏi. Sau vài tháng, người ta quen với bệnh của ta. Sau vài năm, bệnh của ta trở thành chuyện cũ đối với mọi người, dù với ta nó vẫn là một cuộc chiến mỗi ngày. Có những bệnh nhân đau không chỉ vì thuốc men, mà vì nhận ra thế giới bên ngoài vẫn chạy rất nhanh trong khi đời mình bị giữ lại trên một chiếc giường. Có những người già ngồi bên cửa sổ nhìn ngày qua ngày, thấy mình dần trở thành một sự bất tiện cho con cháu. Có những người không sợ chết bằng sợ lúc chết chẳng có ai cầm tay. Nếu ai đang ở trong hoàn cảnh ấy, hãy nhìn lên Đức Kitô Chịu Đóng Đinh. Trên Canvê, Người cũng bất động. Người không còn đi trên những con đường Galilê. Không còn giảng cho đám đông. Không còn làm phép lạ trước bao người. Hai bàn tay từng chữa lành giờ bị đóng lại. Đôi chân từng đi tìm chiên lạc giờ không thể bước. Người bị đặt vào tình trạng mà mắt người đời có thể gọi là “vô dụng”. Nhưng chính lúc tưởng như không còn làm được gì, Người lại đang làm điều lớn nhất: cứu thế gian. Bởi thế, xin những người bệnh, người già, người tưởng rằng mình chẳng còn ích lợi gì, đừng bao giờ đo giá trị đời mình bằng khả năng lao động hay hiệu quả. Một con người không có giá trị vì họ còn làm được bao nhiêu việc; họ có giá trị vì họ là người được Thiên Chúa yêu. Đức Kitô không cứu thế giới bằng đôi tay đang tự do hoạt động, nhưng bằng đôi tay đã bị đóng đinh. Có những đời sống tưởng như bất động trước mắt thế gian lại đang âm thầm trở thành một lời cầu nguyện rất lớn trước mặt Thiên Chúa.
Có những người bị bỏ rơi trong thất bại. Khi thành công, người ta vỗ tay. Khi thất bại, người ta phân tích. Khi ta đứng trên cao, nhiều người nhận là quen. Khi ta rơi xuống, mới biết ai thật lòng ở lại. Thất bại có một sức mạnh rất lạ: nó làm rơi những chiếc mặt nạ quanh ta. Và cũng chính vì thế nó đau. Không chỉ đau vì mất tiền, mất việc, mất vị trí, mà vì mất luôn một số tương quan từng tưởng là bền chặt. Khi ấy con người dễ hỏi: “Mình còn là ai?” Nếu danh dự mất rồi, mình là ai? Nếu chức vụ không còn, mình là ai? Nếu công việc thất bại, mình là ai? Nếu chẳng ai khen, mình là ai? Nếu những gì từng làm nên tên tuổi bỗng mất hết, mình còn gì? Canvê trả lời: Bạn vẫn là người Thiên Chúa yêu. Đức Giêsu trên Thập Giá không còn dáng vẻ của một vị Thầy được đám đông tung hô. Những người từng đi theo Người phần lớn đã chạy trốn. Những tiếng “Hoan hô” ngày Người vào Giêrusalem đã biến thành những lời nhục mạ. Bề ngoài, đó là một thất bại hoàn toàn. Nhưng chính ở nơi thế gian nghĩ Người thua, tình yêu lại chiến thắng. Bởi thế đừng vội dùng những tiêu chuẩn của đám đông để xét giá trị đời mình. Có thể bạn đã thua một công việc, nhưng đừng thua chính mình. Có thể bạn mất một vị trí, nhưng đừng mất lòng tin. Có thể người ta không còn cần bạn, nhưng Thiên Chúa chưa bao giờ thôi cần trái tim bạn để Người yêu qua đó.
Và cũng có một thứ bị bỏ rơi đau đớn hơn nữa: bị bỏ rơi trong chính đời sống đức tin. Có những ngày ta cầu nguyện mà không cảm thấy gì. Quỳ trước Nhà Tạm mà lòng khô như đá. Đọc kinh nhưng từng lời rơi xuống rồi tan đi. Ta cầu một chuyện rất lâu mà chẳng thấy câu trả lời. Ta xin cho một người thân khỏi bệnh, rồi họ vẫn ra đi. Ta cầu cho gia đình hòa thuận, rồi những rạn nứt vẫn sâu hơn. Ta cầu cho mình thoát khỏi một thử thách, nhưng thử thách cứ kéo dài. Có lúc người ta không dám nói ra, nhưng trong lòng đã từng bật lên: “Chúa ơi, Chúa ở đâu?” Đừng sợ câu hỏi ấy. Đừng tưởng chỉ người yếu đức tin mới hỏi như vậy. Chính Đức Giêsu đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức tin trưởng thành không phải là đức tin không bao giờ có câu hỏi. Đức tin trưởng thành là giữa một ngàn câu hỏi vẫn không buông tay Thiên Chúa. Ta hãy để ý: Chúa Giêsu nói “Lạy Thiên Chúa của con”. Trong tiếng kêu bị bỏ rơi vẫn còn hai chữ “của con”. Một sợi dây mỏng manh nhưng chưa đứt. Một tương quan bị phủ trong bóng tối nhưng không bị chối bỏ. Người không nói: “Thiên Chúa không còn tồn tại.” Người nói: “Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Có những lúc đức tin của ta chỉ còn như thế. Không còn cảm xúc. Không còn lời đẹp. Không còn sự sốt sắng. Chỉ còn một tiếng kêu: “Lạy Chúa của con…” Thế là đủ để bắt đầu. Có thể ta không hiểu Chúa, nhưng vẫn gọi Người là Chúa của mình. Có thể ta không cảm thấy Người, nhưng vẫn hướng về Người. Có thể ta chẳng biết ngày mai ra sao, nhưng vẫn không quay lưng. Đó chính là đức tin được thanh luyện qua lửa.
Ta cũng cần hiểu rằng nỗi cô đơn của Đức Kitô trên Thập Giá không phải là bằng chứng Chúa Cha ngừng yêu Chúa Con. Trong mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Giêsu mang lấy đến tận cùng kinh nghiệm đau khổ, tội lỗi và sự xa cách của nhân loại; nhưng Người không thôi là Con yêu dấu của Cha. Đây là điều cực kỳ quan trọng đối với những người đang đau: cảm thấy bị bỏ rơi không có nghĩa là thật sự bị Thiên Chúa bỏ rơi. Cảm giác là thật, nỗi đau là thật, nước mắt là thật, bóng tối là thật, nhưng cảm giác của ta không phải lúc nào cũng là toàn bộ sự thật. Có những hôm trời nhiều mây đến mức ta không nhìn thấy mặt trời, nhưng mặt trời không vì thế mà biến mất. Có những giai đoạn đời ta tối đến mức không cảm được tình yêu của Chúa, nhưng tình yêu ấy không vì thế mà chấm dứt. Người mẹ đứng bên giường con bệnh có thể ngủ quên vì kiệt sức, nhưng tình yêu của mẹ không ngủ. Huống hồ Thiên Chúa. Ta có thể không nhận ra bàn tay Người, nhưng không có nghĩa Người đã rút tay. Ta có thể không nghe tiếng Người, nhưng không có nghĩa Người không ở đó. Có khi chính lúc Người im lặng nhất là lúc Người đang làm những điều sâu nhất mà ta chưa hiểu được.
Nhiều năm trong đời, rồi ta sẽ nhận ra có những chuyện lúc xảy ra ta chỉ biết khóc, nhưng sau này nhìn lại mới hiểu mình đã được dẫn đi qua đó thế nào. Có những cánh cửa đóng lại từng khiến ta tuyệt vọng, rồi nhiều năm sau mới biết nếu cánh cửa ấy không đóng, đời mình có thể đã đi về một nơi rất khác. Có những người ra khỏi đời ta khiến ta nghĩ mình không thể sống nổi, nhưng chính khoảng trống họ để lại buộc ta lớn lên. Có những lần Chúa không cho điều ta xin, để rồi sau này ta nhận ra Người đang bảo vệ ta khỏi chính điều ta tưởng là hạnh phúc. Tuy nhiên, cũng phải nói thật: không phải mọi đau khổ rồi ta đều hiểu được trên đời này. Có những cái chết quá sớm. Có những bất công quá lớn. Có những vết thương cả đời vẫn còn nhói. Có những câu hỏi có lẽ phải đợi đến khi đứng trước mặt Chúa ta mới hiểu. Đức tin không phải là cố bịa ra một lời giải thích cho mọi nỗi đau. Đôi khi câu trả lời Kitô giáo không phải là “tại sao”, mà là “Ai đang ở với tôi?” Và câu trả lời ấy là: Đức Kitô Chịu Đóng Đinh.
Thật vậy, khi ta không hiểu tại sao đời mình lại như thế, ta có thể nhìn lên Thập Giá. Không phải nhìn để tìm một công thức giải thích, nhưng để thấy một Đấng đang ở đó. Người bị thương. Người bị chế nhạo. Người bị tước đoạt. Người bị phản bội. Người bị cô độc. Người đã chết. Nếu Kitô giáo chỉ cho ta một Thiên Chúa không biết đau, thì Thiên Chúa ấy thật xa người đau khổ. Nhưng Thiên Chúa của chúng ta mang những vết đinh. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu vẫn cho Tôma chạm vào vết thương. Thật lạ. Chúa Phục Sinh có thể xóa mọi dấu vết của Thập Giá, nhưng Người đã giữ chúng. Như thể Người muốn đời đời nói với nhân loại rằng: “Ta nhớ nỗi đau của các con. Ta đã mang nó trong thân xác Ta.” Bởi vậy, những vết thương của ta không phải điều khiến Chúa tránh xa. Ngược lại, chính vết thương lại có thể trở thành nơi gặp gỡ. Ta thường tưởng phải mạnh mẽ mới đến với Chúa. Không. Có khi chính lúc tan vỡ nhất ta lại gần Người nhất. Ta tưởng phải cầu nguyện thật hay. Không. Có những ngày lời cầu nguyện đẹp nhất chỉ là một tiếng thở dài trước Thập Giá. Ta tưởng phải tỏ ra bình an. Không. Có thể khóc. Có thể nói thật với Chúa: “Con mệt.” “Con đau.” “Con giận.” “Con không hiểu.” “Con tưởng Chúa quên con.” Chúa không sợ sự thật của trái tim ta. Đấng đã nghe tiếng khóc của bao người trong Tin Mừng vẫn nghe tiếng khóc của ta hôm nay.
Nhưng nhìn lên Đức Kitô Chịu Đóng Đinh không chỉ để được an ủi; còn để học cách trở thành niềm an ủi cho người khác. Có một nghịch lý rất đau của đời sống: ta thích nói về người cô đơn, nhưng nhiều khi chính ta lại làm ai đó cô đơn. Ta thương người bị bỏ rơi ở đâu xa, nhưng có thể đang bỏ rơi người trong nhà mình. Ta quyên góp cho người nghèo nhưng nhiều tháng không gọi hỏi cha mẹ. Ta chia sẻ những câu rất hay về lòng nhân ái trên mạng, nhưng lại lạnh lùng với người đang sống cùng mình. Ta đọc Tin Mừng về Chúa bị bỏ rơi, nhưng đôi khi chính lời nói, sự vô tâm, cái tôi, sự bận rộn của ta đang tạo nên một Canvê trong trái tim người khác. Đừng chỉ hỏi: “Ai đã bỏ rơi tôi?” Có khi cần hỏi thêm: “Tôi đang bỏ rơi ai?” Có một người nào lâu rồi ta chưa hỏi thăm không? Có một người trong cộng đoàn vì khác tính với ta nên ta cố tình tránh mặt không? Có một người từng phạm lỗi mà ta đã đóng khung họ mãi trong quá khứ không? Có một người già ta nghĩ “ngày nào cũng vậy” nên không còn kiên nhẫn ngồi nghe không? Có một đứa trẻ đang cần cha mẹ nhưng cha mẹ cứ nghĩ cho tiền là đủ không? Có một người bệnh đang rất mong ai đó ghé thăm, còn ta cứ trì hoãn vì bận không? Có một người đang trầm lặng bất thường mà ta chỉ nói “nó khó tính” rồi bỏ qua không? Có khi cứu một người khỏi cảm giác bị bỏ rơi không cần làm điều lớn. Chỉ cần ngồi xuống. Chỉ cần nghe. Chỉ cần gọi một cuộc điện thoại. Chỉ cần nói: “Tôi ở đây.” Chỉ cần đừng bỏ đi.
Dưới chân Thập Giá, Đức Maria đứng đó. Gioan đứng đó. Họ không tháo được đinh. Không làm cho Chúa hết đau. Không thay đổi bản án. Không tạo ra một phép lạ. Nhưng họ ở lại. Và có những lúc, ở lại chính là hình thức tinh tuyền nhất của tình yêu. Ta thường bối rối trước người đau vì không biết nói gì. Thật ra nhiều khi chẳng cần nói. Người mất người thân không cần ta giảng dài về sự chết. Họ cần ta hiện diện. Người bị phản bội không cần nghe ngay mười bài học đạo đức. Họ cần được khóc mà không bị phán xét. Người bệnh lâu ngày đôi khi chẳng cần câu “cố lên” nữa; họ cần biết rằng dù bệnh kéo dài, ta vẫn chưa mệt mỏi vì họ. Người già không cần quá nhiều quà; cần thời giờ. Trẻ nhỏ không cần cha mẹ hoàn hảo; cần cha mẹ hiện diện. Một người đang tuyệt vọng không nhất thiết cần một người có tất cả câu trả lời; họ cần một người không bỏ họ một mình. Đây chính là điều ta học dưới chân Thập Giá: tình yêu không luôn giải quyết được ngay vấn đề, nhưng tình yêu không bỏ người đau khổ phải đau một mình.
Đức Kitô Chịu Đóng Đinh còn an ủi những ai bị bỏ rơi vì lỗi lầm của chính mình. Có những người cô đơn vì người khác bất công với họ, nhưng cũng có người cô đơn vì chính những lựa chọn sai đã làm tan vỡ các tương quan. Có khi ta đã làm tổn thương người khác. Có khi ta phản bội. Có khi ta ích kỷ. Có khi ta đi một con đường sai quá lâu và đến ngày quay lại thì thấy quanh mình chẳng còn ai. Lúc ấy nỗi cô đơn pha thêm mặc cảm. Người ta nghĩ: “Tôi đáng đời.” “Chúa cũng chẳng tha tôi.” “Tôi đã hỏng rồi.” Nếu có ai đang nghĩ như thế, hãy nhìn người trộm lành bên cạnh Thập Giá. Ông chẳng còn gì để khoe. Không còn thời gian làm lại quá khứ. Không còn cơ hội đền bù hết những gì mình đã gây ra. Chỉ còn vài giờ trước cái chết. Nhưng ông quay sang Chúa: “Khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa không bảo: “Muộn rồi.” Chúa nói về thiên đàng. Điều ấy cho thấy không một con người nào bị bỏ rơi ngoài tầm với của lòng thương xót. Người đời có thể đã bỏ ta. Những người từng yêu ta có thể đã không chịu nổi ta nữa. Có những hậu quả ta vẫn phải mang. Nhưng còn Đức Kitô. Chừng nào ta còn có thể quay về với Người, chừng ấy chưa phải hết.
Và rồi có một ngày, tất cả chúng ta sẽ đi vào một sự cô độc mà không người thân nào đi thay được: cái chết. Người ta có thể đứng quanh giường ta, nắm tay ta, khóc vì ta, nhưng có một ngưỡng cửa mỗi người phải bước qua trong chính ngôi vị của mình. Chính ở đây, Thập Giá trở thành niềm an ủi cuối cùng. Vì Đức Kitô đã đi qua cái chết trước. Người đã bước vào nơi ta sợ nhất và mở một con đường xuyên qua nó. Người Kitô hữu không chết một mình, vì trong chính sự chết có Đấng đã chết và sống lại đang đón họ. Có thể đến ngày mắt ta không còn nhìn rõ những người quanh mình. Tai không nghe được tiếng họ. Tay không đủ sức nắm tay ai. Nhưng nếu cả đời ta đã tập nhìn lên Đức Kitô Chịu Đóng Đinh, thì giây phút ấy ta có thể thưa: “Lạy Chúa, con chẳng còn gì ngoài Chúa.” Và có lẽ đó lại là khoảnh khắc ta giàu nhất, bởi khi mọi sự bị lấy khỏi tay, ta khám phá bàn tay đã nắm lấy mình từ đầu vẫn chưa từng buông.
Thưa anh chị em, thế giới hôm nay có nhiều phương tiện kết nối nhưng lại có vô số người cô đơn. Danh sách bạn bè dài nhưng không biết gọi cho ai lúc ba giờ sáng. Tin nhắn đến liên tục nhưng trái tim vẫn trống. Người ta có thể được hàng ngàn người biết tên mà chẳng có một người thực sự biết nỗi đau của họ. Người ta có thể sống giữa thành phố đông đúc nhưng cảm thấy mình vô hình. Có những người cười rất nhiều ngoài xã hội nhưng về nhà thì khóc. Có người luôn giúp người khác nên mọi người tưởng họ mạnh, đến lúc họ gục xuống lại chẳng ai biết. Có người mỗi Chúa nhật vẫn ngồi trong nhà thờ, ăn mặc chỉnh tề, đọc kinh cùng mọi người, nhưng trong lòng đang mang một khoảng tối chẳng biết chia sẻ với ai. Xin đừng vội đánh giá một con người chỉ bởi vẻ bên ngoài. Ta đâu biết người đang ngồi cạnh mình đã phải chiến đấu thế nào để có mặt hôm nay. Ta đâu biết sau nụ cười kia là bao nhiêu nước mắt. Ta đâu biết một câu nói vô tâm của ta có thể là giọt cuối cùng làm một trái tim vốn đã quá nặng thêm tan vỡ. Vì thế người đã nhìn lâu vào Đức Kitô Chịu Đóng Đinh phải trở nên dịu dàng hơn. Không phải yếu đuối, nhưng dịu dàng. Bớt kết án. Bớt nói những câu chắc nịch về cuộc đời người khác. Bớt nghĩ rằng mình hiểu tất cả. Bởi chỉ có Chúa biết hết câu chuyện nằm sau một con người.
Có những vết thương không nhìn thấy. Có những người bị bỏ rơi bởi một cuộc hôn nhân tan vỡ. Có người bị bỏ rơi vì tuổi già. Có người bị bỏ rơi vì nghèo. Có người vì bệnh. Có người vì khuyết tật. Có người vì một quá khứ người ta không chịu quên. Có người bị chính con cái bỏ quên. Có người bị cha mẹ lạnh nhạt. Có người bị bạn bè tẩy chay. Có người bị cộng đoàn hiểu lầm. Có người bị những người họ từng phục vụ quay lại chỉ trích. Có người sau hàng chục năm hy sinh bỗng nghe một câu lạnh lùng: “Ai nhờ đâu mà làm.” Một câu thôi có thể khiến bao năm tận tụy bỗng trở nên cay đắng. Trong những giờ ấy, nếu cứ chờ người đời trả lại công bằng cho mình rồi mới bình an, có thể ta phải chờ rất lâu. Hãy trở về với Chúa. Không phải để nuôi sự cay cú rằng “Chúa biết tôi đúng”, nhưng để đặt vết thương dưới chân Thập Giá và xin Chúa giữ lòng mình khỏi hóa cứng. Bởi bi kịch lớn hơn việc bị bỏ rơi là để cho việc bị bỏ rơi biến ta thành người không còn biết yêu. Bi kịch lớn hơn việc bị phản bội là để phản bội biến ta thành kẻ đa nghi với tất cả. Bi kịch lớn hơn việc bị tổn thương là dùng vết thương của mình để làm người khác bị thương. Đức Kitô trên Thập Giá bị xúc phạm nhưng không trở thành kẻ xúc phạm. Bị ghét nhưng không học cách ghét. Bị đóng đinh nhưng vẫn tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó mới là chiến thắng của Thập Giá.
Có người hỏi: làm thế nào để đi qua nỗi cô đơn? Có lẽ không có một công thức áp dụng cho mọi người. Nhưng người Kitô hữu có thể bắt đầu bằng một việc rất đơn giản: đừng chạy trốn Thập Giá của Chúa. Hãy ngồi trước Người. Không cần nói nhiều. Nhìn Người và để Người nhìn mình. Có những đau đớn phải được khóc trước khi được chữa lành. Có những nỗi buồn phải được gọi đúng tên. Có những vết thương phải thôi giả vờ rằng “con không sao”. Trước Chúa, ta không cần diễn. Người đã thấy tất cả. Người biết điều ta chưa kể với ai. Người biết câu nói nào đã làm ta đau. Người biết người nào ta vẫn còn nhớ. Người biết ta đã chờ một lời xin lỗi bao lâu. Người biết có những tối ta nằm mà không ngủ. Người biết cả điều ta xấu hổ không muốn nhìn lại. Hãy đem tất cả đến cho Người. Đức Kitô Chịu Đóng Đinh không ghê sợ một trái tim tan vỡ. Thánh vịnh nói: “Một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.” Có khi lời cầu nguyện chân thật nhất không phải là “Lạy Chúa, con mạnh mẽ lắm”, nhưng là: “Lạy Chúa, con không chịu nổi nữa, xin ở với con.” Và chính lời cầu nguyện đó có thể mở một cánh cửa.
Rồi sau khi đã khóc với Chúa, đừng khép mình mãi. Thiên Chúa thường an ủi ta qua một con người. Có người vì từng bị tổn thương nên quyết định không cần ai nữa. Họ xây một bức tường quanh lòng và gọi đó là mạnh mẽ. Nhưng trái tim con người được tạo dựng cho tương quan. Đức Giêsu trong giờ cuối cùng vẫn nói với Mẹ và Gioan, vẫn tạo nên một gia đình dưới chân Thập Giá. Vì thế đừng xấu hổ tìm một người đáng tin để chia sẻ. Một người thân. Một người bạn. Một linh mục. Một người có khả năng đồng hành. Khi nỗi cô đơn kéo dài và trở nên quá nặng, tìm sự nâng đỡ thích hợp không phải là thiếu đức tin. Chúa có thể chữa lành trực tiếp, nhưng rất nhiều lần Người đặt dầu chữa lành vào bàn tay của một người khác. Đừng để tự ái bắt mình chịu đựng một mình. Và cũng đừng đòi một người nào trên đời phải lấp đầy mọi khoảng trống trong ta. Không người chồng nào, người vợ nào, người bạn nào, người linh mục nào, cộng đoàn nào có thể mang trọng lượng mà chỉ Thiên Chúa mới mang được. Nếu ta biến một con người thành “tất cả” của mình, sớm muộn ta sẽ làm họ kiệt sức và chính mình thất vọng. Chỉ Đức Kitô mới có thể đi vào nơi sâu nhất mà không một người nào chạm tới.
Ta hãy nhớ lời này: bị người khác bỏ rơi không có nghĩa là ta không đáng yêu. Đây là một trong những cám dỗ lớn nhất của người bị từ chối. Một người bỏ mình, ta kết luận chẳng ai cần mình. Một tương quan thất bại, ta kết luận đời mình thất bại. Một người không nhìn thấy giá trị của ta, ta tưởng mình không có giá trị. Không. Giá trị của một viên ngọc không giảm vì một người mù không nhìn thấy nó. Giá trị của ta không do số người ở lại quyết định. Hãy nhìn Thập Giá. Giá của ta là giá Con Thiên Chúa đã trả. Nếu muốn biết mình đáng giá bao nhiêu, đừng nhìn vào những người đã rời đi; hãy nhìn Đấng đã dang tay chịu đóng đinh để kéo ta về. Người ta có thể nói: “Tôi không cần anh nữa.” Nhưng Đức Kitô nói bằng chính những vết thương: “Ta đã yêu con đến thế này.” Người đời có thể quên tên ta. Chúa nói Người ghi tên ta trong lòng bàn tay. Có thể chẳng ai nhớ sinh nhật ta. Chúa biết cả số tóc trên đầu. Có thể ta chết đi rồi chẳng có nhiều người nhớ. Nhưng ta được nhớ trong trái tim của Đấng Vĩnh Cửu. Như thế chẳng phải là đủ sao?
Ngày Thứ Sáu Thánh nhìn bề ngoài là ngày Đức Giêsu bị bỏ lại. Nhưng chính từ sự cô độc ấy, một nhân loại mới được quy tụ. Chính khi Người bị treo một mình, Người kéo mọi người lên với mình. Chính khi không còn gì để cho, Người cho tất cả. Chính khi bị tước sạch, Người ban thiên đàng cho kẻ trộm, ban Mẹ cho môn đệ, ban sự tha thứ cho kẻ đóng đinh mình, ban Thánh Thần và ban chính mạng sống. Điều ấy dạy ta một điều rất đẹp: nỗi đau không nhất thiết làm cuộc đời ta vô ích. Một trái tim từng bị bỏ rơi có thể trở thành trái tim biết nhận ra người bị bỏ rơi. Một người từng khóc một mình có thể trở thành người không để ai khác phải khóc một mình. Một người từng bị hiểu lầm có thể học lắng nghe người khác sâu hơn. Một người từng trải qua đêm tối có thể cầm đèn cho người đang đi trong đêm. Nếu để Chúa chạm vào vết thương, vết thương có thể trở thành cửa ngõ của lòng thương xót. Đó không phải là lãng mạn hóa đau khổ. Đau vẫn là đau. Nhưng ân sủng có thể làm cho ngay cả nơi đau nhất cũng sinh hoa trái.
Có lẽ trong một giáo xứ, một cộng đoàn, một gia đình, điều đẹp nhất không phải là không ai có vấn đề. Điều đẹp nhất là khi người có vấn đề không bị loại trừ. Một Hội Thánh mang khuôn mặt Đức Kitô phải là nơi người thất bại vẫn có chỗ ngồi, người tội lỗi còn đường trở về, người nghèo không bị coi thường, người già không bị quên lãng, người bệnh không trở thành gánh nặng, người yếu đuối không bị chế giễu, người khác biệt không bị đẩy ra ngoài. Nếu một người bước vào nhà thờ với trái tim tan nát mà lại bị ánh mắt của chúng ta làm họ đau thêm, chúng ta cần nhìn lại Thập Giá. Nếu ta chỉ muốn một cộng đoàn toàn người dễ thương, giỏi giang, thành công, đạo đức theo tiêu chuẩn của mình, có lẽ ta đang tìm một câu lạc bộ chứ chưa chắc đang xây Hội Thánh. Đức Kitô đã dang tay trên Thập Giá, và đôi tay ấy mở rộng chứ không khép lại. Người chết ngoài thành, ở nơi dành cho kẻ bị loại trừ, để từ đó chẳng một người bị loại trừ nào còn có thể nói rằng Thiên Chúa không biết đường đến chỗ họ.
“Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Tiếng kêu ấy vẫn còn vang qua bao thế kỷ. Nó vang trong bệnh viện. Vang ở viện dưỡng lão. Vang trong những căn nhà trọ của người xa quê. Vang trong những gia đình đổ vỡ. Vang nơi người mẹ mất con. Vang nơi người chồng mất vợ. Vang trong nhà tù. Vang nơi người trẻ bị bạn bè cô lập. Vang nơi người thất nghiệp không biết ngày mai lấy gì nuôi gia đình. Vang trong lòng người mục tử đã cố hết sức nhưng vẫn bị hiểu lầm. Vang trong đời người tận hiến có những đêm bỗng thấy con đường mình chọn quá cô độc. Vang nơi một người cả đời sống cho người khác nhưng đến tuổi già lại cảm thấy chẳng còn ai cần mình. Và ở đâu tiếng kêu ấy vang lên, ở đó Đức Kitô Chịu Đóng Đinh đang rất gần. Không phải Người đứng ngoài nghe. Tiếng kêu của họ đã được Người cất lên trước rồi.
Vậy nên, nếu hôm nay ai đang cảm thấy bị bỏ rơi, xin đừng vội kết luận đời mình hết rồi. Đừng quyết định tương lai trong một đêm quá tối. Đừng biến một ngày tồi tệ thành bản án cho cả cuộc đời. Đừng lấy sự im lặng của một người làm lời phán quyết về giá trị của mình. Đừng vì một người rời đi mà nghĩ tất cả đều sẽ rời đi. Và nhất là đừng nghĩ Chúa đã quên. Hãy đến với Đức Kitô Chịu Đóng Đinh. Nếu không nói được thì chỉ cần nhìn. Nếu không cầu nguyện nổi thì chỉ cần ngồi đó. Nếu không khóc được thì cứ im lặng. Nếu chỉ còn sức nói một câu, hãy nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin ở với con.” Đôi khi ơn cứu độ bắt đầu từ một lời nhỏ như thế.
Và nếu hôm nay đời ta đang bình an, xin đừng quên những người đang ở trong ngày Thứ Sáu Thánh của họ. Hãy nhìn quanh. Có thể Chúa muốn dùng ta làm câu trả lời cho lời cầu nguyện của một người. Một cuộc gọi của ta có thể cứu họ khỏi một buổi tối tuyệt vọng. Một lần ghé thăm có thể khiến người già biết mình chưa bị quên. Một cái ôm có thể nói điều mà hàng trăm lời không nói được. Một sự tha thứ có thể kéo một người trở về khỏi vực sâu mặc cảm. Một chút kiên nhẫn có thể giữ một gia đình khỏi tan thêm. Đừng chờ làm điều lớn. Đức ái rất thường mang hình dáng của những việc bé nhỏ được làm đúng lúc.
Cuối cùng, điều an ủi nhất nơi Thập Giá không phải chỉ là Đức Kitô đã đau như ta. Nếu Người chỉ chết rồi hết, Thập Giá vẫn chỉ là một bi kịch cao cả. Niềm hy vọng nằm ở chỗ Đấng Chịu Đóng Đinh đã sống lại. Bóng tối của Mc 15 không phải chương cuối. Ngôi mộ không phải địa chỉ cuối cùng của Đức Giêsu. Và vì thế, bóng tối đời ta cũng không có quyền viết câu cuối cùng. Có thể hôm nay là Thứ Sáu Thánh, nhưng Chúa nhật Phục Sinh tồn tại. Có thể hôm nay chưa thấy đường, nhưng đường vẫn có. Có thể hôm nay ta cảm thấy đời mình chỉ là mất mát, nhưng Thiên Chúa chưa hoàn tất câu chuyện. Người đã đưa sự sống ra khỏi mồ, ánh sáng ra khỏi bóng tối, ơn tha thứ ra khỏi tội lỗi, và một gia đình mới ra khỏi sự cô độc của Thập Giá. Người vẫn có thể làm điều ấy với ta.
Xin Đức Kitô Chịu Đóng Đinh trở thành nơi ta tựa đầu khi không còn chỗ nào để tựa. Xin những cánh tay bị đóng đinh của Người trở thành vòng tay đón lấy những ai không còn được ai ôm. Xin trái tim bị đâm thâu của Người trở thành nơi trú ẩn cho những trái tim đã bị cuộc đời làm thương tích. Xin tiếng kêu cô độc của Người làm cho những ai đang cô độc biết rằng họ có một Người hiểu mình từ bên trong. Xin Người dạy chúng ta đừng bỏ rơi nhau. Và khi một ngày nào đó chính ta phải bước qua những đoạn đường mà không ai có thể đi thay, xin cho ta đủ tin để ngước lên và nhận ra: trên đoạn đường ấy, Đức Kitô đã đi trước.
Có thể một ngày nào đó tất cả đều rời khỏi ta. Sức khỏe có thể rời ta. Tuổi trẻ rời ta. Danh vọng rời ta. Tiền bạc rời ta. Những người thân yêu rồi cũng phải chia tay. Và cuối cùng cả hơi thở cũng sẽ rời ta. Nhưng có một Đấng đã hứa ở cùng ta mọi ngày cho đến tận thế. Người không hứa từ xa. Người ký lời hứa ấy bằng máu trên Thập Giá. Vì vậy, giữa mọi cuộc chia ly của đời người, người Kitô hữu vẫn có một nơi để bám vào, một khuôn mặt để nhìn, một Danh để gọi: Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh.
Nếu hôm nay lòng ta đang đau, hãy ở lại với Người. Nếu hôm nay ta đang khóc, hãy khóc trước mặt Người. Nếu hôm nay ta cảm thấy chẳng còn ai, hãy nhớ Người. Và nếu ngay cả việc nhớ cũng quá khó, thì chỉ cần để Người nhớ đến ta. Bởi trước khi ta tìm Chúa, Chúa đã tìm ta. Trước khi ta gọi tên Người, Người đã gọi tên ta. Trước khi ta biết thế nào là bị bỏ rơi, Người đã mang lấy nỗi bỏ rơi của nhân loại trên Thập Giá. Và từ Canvê, Người vẫn đang nói với từng trái tim cô độc bằng một thứ ngôn ngữ không cần nhiều lời: “Con có thể bị người đời bỏ lại, nhưng trong trái tim Ta, con không bao giờ là người bị bỏ rơi.”
Lm. Anmai, CSsR

KHI THIÊN CHÚA DƯỜNG NHƯ IM LẶNG
Tin Mừng: Mc 15,33-34
“Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!’ Nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?’”
Có lẽ trong đời sống đức tin, điều làm người ta đau nhất không hẳn là nghèo, không hẳn là bệnh, không hẳn là thất bại, cũng chưa chắc là bị người đời hiểu lầm. Có một nỗi đau còn sâu hơn tất cả những nỗi đau ấy: đó là khi người ta đã cầu nguyện rất nhiều mà Thiên Chúa dường như vẫn im lặng. Nếu chưa từng đi qua những ngày như thế, người ta rất dễ nói về đức tin. Người ta có thể nói với người khác rằng: cứ tin đi, cứ cầu nguyện đi, Chúa sẽ lo; cứ phó thác đi, Chúa không bỏ đâu; cứ kiên nhẫn đi, rồi mọi chuyện sẽ ổn. Những lời ấy không sai. Nhưng đến một ngày chính mình đứng trước một cánh cửa đóng kín, chính mình quỳ xuống hết đêm này sang đêm khác mà chẳng thấy điều gì thay đổi, chính mình nhìn người thân đau đớn, nhìn gia đình rạn vỡ, nhìn một người tốt gặp tai họa, nhìn một đứa trẻ phải chịu những điều nó không đáng chịu, nhìn những lời cầu xin tưởng như rất chính đáng cứ rơi vào khoảng không, lúc ấy người ta mới hiểu rằng đức tin không phải lúc nào cũng là một con đường đầy ánh sáng. Có những đoạn đường của đức tin phải đi trong đêm tối. Có những giờ người ta cầu nguyện mà không cảm thấy gì. Có những Thánh lễ người ta tham dự mà lòng khô khan như đất nứt. Có những lúc người ta nhìn lên Nhà Tạm mà chỉ thấy cánh cửa đóng kín. Có những lần cầm tràng hạt mà từng kinh Kính Mừng nặng như đá. Có những lúc đọc Tin Mừng mà chữ nghĩa vẫn ở trên trang giấy, còn Thiên Chúa dường như ở một nơi rất xa. Và chính trong những giờ như thế, câu Tin Mừng hôm nay trở thành một lời an ủi lạ lùng, bởi vì trên đỉnh Canvê, chính Đức Giêsu cũng đã đi vào tận cùng kinh nghiệm ấy: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Đây là một trong những câu đau đớn nhất của toàn bộ Tin Mừng. Đức Giêsu không nói nhỏ. Thánh Máccô ghi rằng Người “kêu lớn tiếng.” Có những nỗi đau không thể nói bằng giọng bình thường. Có những vết thương đi quá sâu khiến tiếng nói biến thành tiếng kêu. Và tiếng kêu của Đức Giêsu trên Thập Giá cho chúng ta hiểu một điều vô cùng quan trọng: Kitô giáo không phải là một tôn giáo dạy người ta giả vờ mạnh mẽ. Tin vào Thiên Chúa không có nghĩa là không được khóc. Tin vào Thiên Chúa không có nghĩa là không được hỏi. Tin vào Thiên Chúa cũng không có nghĩa là khi đau khổ ta phải lập tức tìm được một câu trả lời thật đẹp để giải thích tất cả. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Đức Giêsu đã buồn đến chết được ở Ghếtsêmani. Đức Giêsu đã xin Chúa Cha cất chén đắng. Và hôm nay, Đức Giêsu kêu lên: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Nếu Con Thiên Chúa đã có thể thốt lên tiếng kêu ấy, thì đừng bao giờ làm cho một người đang đau khổ cảm thấy có lỗi chỉ vì họ hỏi Thiên Chúa: “Tại sao?” Có những người đang mang một vết thương quá lớn mà chúng ta lại vội vàng giảng đạo cho họ. Có người vừa mất chồng, ta bảo: “Chúa có ý của Chúa.” Có cha mẹ vừa mất một đứa con, ta bảo: “Chúa thương nên Chúa gọi về.” Có người đang chống chọi với một căn bệnh, ta bảo: “Cứ vui lên, Chúa thử thách thôi.” Nhiều khi những câu ấy phát xuất từ thiện chí, nhưng nếu nói quá sớm, nó có thể làm người đau thêm đau. Người đang đứng dưới chân Thập Giá không cần một bài diễn văn về Thập Giá. Có khi họ chỉ cần một người đứng cạnh. Người đang khóc không cần ta giải thích vì sao họ phải khóc. Có khi họ chỉ cần một bàn tay. Người đang hỏi “Chúa ở đâu?” chưa chắc cần một câu trả lời thần học. Có khi điều họ cần nhất là một người không bỏ họ một mình trong đêm tối.
Điều đáng chú ý là Đức Giêsu không kêu: “Thiên Chúa đâu rồi?” Người nói: “Lạy Thiên Chúa của con.” Hai chữ “của con” ấy quý vô cùng. Người cảm thấy bị bỏ rơi, nhưng Người vẫn gọi Thiên Chúa là Thiên Chúa của con. Người không hiểu được sự im lặng, nhưng Người không cắt đứt tương quan. Người không cảm thấy bàn tay Cha, nhưng Người vẫn hướng tiếng kêu về Cha. Đó chính là đức tin trong hình thức tinh tuyền nhất của nó. Đức tin khi mọi chuyện thuận lợi chưa chắc đã khó. Khi cầu gì được nấy, khi gia đình bình an, khi sức khỏe tốt, khi công việc hanh thông, khi đi lễ thấy sốt sắng, khi cầu nguyện thấy ngọt ngào, ta dễ nói: “Chúa thương tôi.” Nhưng có một đức tin khác sâu hơn rất nhiều: đức tin vẫn gọi “Lạy Thiên Chúa của con” khi chẳng hiểu gì cả. Đức tin vẫn quỳ khi chẳng cảm thấy gì cả. Đức tin vẫn bước khi chẳng thấy con đường. Đức tin vẫn giữ lấy Chúa khi chính lòng mình tưởng rằng Chúa đã buông mình ra. Đó không còn là đức tin được nâng đỡ bởi cảm xúc nữa. Đó là đức tin được thanh luyện qua lửa.
Có người đã từng cầu xin một điều suốt nhiều năm. Họ xin cho chồng bỏ rượu, nhưng ông vẫn uống. Họ xin cho con trở về với gia đình, nhưng đứa con vẫn đi xa. Họ xin cho một người thân khỏi bệnh, nhưng bệnh tình ngày càng nặng. Họ xin cho gia đình hòa thuận, nhưng những vết rạn ngày càng sâu. Họ xin tìm được việc làm, nhưng hết cánh cửa này đến cánh cửa kia vẫn đóng. Họ xin được thoát khỏi một nỗi oan, nhưng càng giải thích càng bị hiểu lầm. Và sau một thời gian dài, câu hỏi bắt đầu xuất hiện: “Chúa có nghe không?” Rồi một câu hỏi đau hơn: “Chúa có thương mình không?” Rồi nguy hiểm nhất: “Hay là chẳng có Chúa?” Khủng hoảng đức tin thường không bắt đầu từ những cuốn sách triết học. Nó thường bắt đầu từ một vết thương. Có người không bỏ Chúa vì họ đọc một lập luận vô thần. Họ bỏ Chúa vì một ngày nào đó họ đã cầu nguyện trong tuyệt vọng mà không thấy Chúa trả lời theo điều họ mong đợi. Họ từng tin rất nhiều, nên khi đau, họ cũng đau rất nhiều. Chính vì thế, đừng vội kết án một người đang khủng hoảng đức tin. Đằng sau câu “tôi không tin nữa” đôi khi là một tiếng khóc: “Tại sao Chúa không cứu tôi?” Đằng sau sự lạnh nhạt có khi là một trái tim đã từng chờ quá lâu. Đằng sau thái độ bất cần có thể là một người từng thất vọng với Thiên Chúa. Họ không cần chúng ta tranh luận để thắng. Họ cần gặp một Đức Kitô Chịu Đóng Đinh đã từng kêu lên trong bóng tối giống như họ.
Trên Canvê, bóng tối bao phủ mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín. Đó không chỉ là bóng tối của bầu trời. Đó như là bóng tối của toàn bộ thân phận con người gom lại quanh Thập Giá. Bóng tối của phản bội. Bóng tối của bất công. Bóng tối của bạo lực. Bóng tối của cô đơn. Bóng tối của cái chết. Bóng tối của những câu hỏi không có lời giải ngay tức khắc. Đức Giêsu đi vào giữa bóng tối ấy, không đứng bên ngoài để giảng về nó. Thiên Chúa của Kitô giáo không phải một Thiên Chúa ngồi trên cao nhìn xuống con người đau khổ rồi bảo họ hãy cố chịu. Người xuống tận đáy đau khổ. Người để mình bị khước từ. Người bị đánh. Người bị nhổ vào mặt. Người bị lột trần. Người bị đóng đinh. Người bị bạn hữu bỏ chạy. Và cuối cùng Người đi vào chính cảm nghiệm khủng khiếp nhất của con người: cảm nghiệm như thể Thiên Chúa đã vắng mặt. Vì thế, từ sau Canvê, không một ai có thể nói với Đức Kitô: “Chúa không hiểu con.” Chúng ta có thể nói: “Chúa chưa trả lời con.” Chúng ta có thể nói: “Con không hiểu Chúa.” Chúng ta có thể nói: “Con đau quá.” Nhưng chúng ta không thể nói: “Chúa không biết cảm giác này.” Người biết. Người đã ở đó trước chúng ta.
Nhiều khi ta cứ nghĩ sự hiện diện của Thiên Chúa phải là sự hiện diện có thể cảm thấy. Nếu Chúa ở với tôi, tôi phải bình an. Nếu Chúa ở với tôi, mọi việc phải thuận lợi. Nếu Chúa nghe tôi, điều tôi xin phải xảy ra. Nếu Chúa thương tôi, đau khổ phải giảm. Nhưng Thập Giá phá vỡ lối suy nghĩ ấy. Có những lúc Thiên Chúa hiện diện sâu nhất chính là lúc ta cảm thấy Người xa nhất. Không phải vì cảm giác của ta sai, nhưng vì sự hiện diện của Thiên Chúa lớn hơn cảm giác của chúng ta. Một đứa bé ngủ trên tay mẹ không cần biết mẹ đang thức. Người mẹ vẫn ở đó. Một người nằm mê man trên giường bệnh không cảm nhận được người thân đang nắm tay mình, nhưng bàn tay ấy vẫn nắm. Cũng vậy, có những lúc linh hồn ta tê dại đến mức không cảm thấy Thiên Chúa, nhưng điều đó không đồng nghĩa Thiên Chúa đã rời đi. Sự im lặng của Thiên Chúa không nhất thiết là sự vắng mặt của Thiên Chúa.
Đây là điều rất khó tin khi mình đang đau. Nói điều ấy cho người khác thì dễ. Tin điều ấy trong chính đêm tối của mình mới khó. Người ta hay nhìn lại quá khứ và nói: “Bây giờ tôi mới hiểu.” Nhưng khi đang ở giữa thử thách, ta thường chẳng hiểu gì. Giuse khi bị bán sang Ai Cập đâu biết một ngày mình sẽ cứu cả gia đình. Ông chỉ biết mình bị chính anh em bán. Môsê đứng trước Biển Đỏ đâu thấy đường. Abraham lên núi Moria đâu biết cuối cùng sẽ có con cừu thay thế. Maria ngày Truyền Tin đâu thấy trước cả con đường Canvê. Các môn đệ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh đâu hiểu rằng Chúa Nhật Phục Sinh đang đến. Họ chỉ thấy Thầy chết. Và chính đó là bi kịch của chúng ta: ta đang sống ngày Thứ Sáu nhưng lại muốn có câu trả lời của sáng Chúa Nhật. Ta đang ở chương giữa nhưng muốn hiểu cả cuốn sách. Ta đang nhìn một mảnh nhỏ nhưng muốn hiểu toàn bộ bức tranh. Có những điều chỉ sau này ta mới hiểu. Có những điều có lẽ suốt đời này ta vẫn không hiểu. Và đức tin không có nghĩa là Thiên Chúa sẽ giải thích cho ta mọi chuyện. Đức tin là dám đặt đời mình vào tay Người ngay cả khi ta chưa có lời giải thích.
Nói như thế không có nghĩa đau khổ tự nó là tốt. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta tôn thờ Đấng đã yêu trong đau khổ. Không phải cây thập giá tự nó cứu chúng ta, nhưng tình yêu của Đức Kitô trên Thập Giá cứu chúng ta. Không phải bệnh tật là một ơn lành tự nó. Không phải mất mát là điều đáng mừng. Không phải bất công là ý muốn của Thiên Chúa. Ta không được lấy hai chữ “Thánh Giá” để hợp thức hóa bạo lực, cam chịu điều ác hay bắt người khác phải cắn răng chịu đựng những gì có thể và cần phải thay đổi. Đức Giêsu chữa bệnh. Đức Giêsu chống lại sự giả hình. Đức Giêsu bênh vực người yếu thế. Đức Giêsu khóc trước sự chết. Nhưng khi đau khổ không thể tránh được, khi cánh cửa không mở, khi chén đắng không được cất đi, Người cho ta thấy rằng ngay cả nơi tưởng như chỉ còn thất bại, tình yêu vẫn có thể chiến thắng.
Có khi Thiên Chúa im lặng vì câu trả lời của Người không phải là một lời giải thích mà là một sự hiện diện. Chúng ta hỏi: “Tại sao con phải đau?” Chúa không đưa cho ta một cuốn sách giải thích mọi nguyên nhân. Người đưa cho ta Người Con Chịu Đóng Đinh. Chúng ta hỏi: “Tại sao người tốt lại gặp đau khổ?” Thập Giá không đưa ra một công thức đơn giản, nhưng cho thấy Người Tốt Lành tuyệt đối đã bị đóng đinh. Chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu khi con khóc?” Và Thập Giá trả lời: “Ta đang khóc với con.” Chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu khi con bị bỏ rơi?” Và từ Canvê vọng xuống: “Ta đã từng ở nơi ấy.” Chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu khi con không còn sức?” Và ta thấy một Đức Kitô không còn sức để vác Thập Giá, phải nhờ Simon thành Kyrênê. Chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu khi con bị người khác phán xét?” Ta nhìn thấy Người bị cả đám đông la ó. Chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu khi con mất tất cả?” Ta nhìn thấy Người trần trụi trên Thập Giá. Chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu khi con phải chết?” Ta nghe Người nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Có những đêm Thiên Chúa không cất khỏi ta bóng tối. Người chỉ cho ta đủ ánh sáng để đi thêm một bước. Và có khi ánh sáng ấy không phải một phép lạ lớn lao, nhưng chỉ là một con người được gửi đến đúng lúc. Một cuộc điện thoại. Một bàn tay. Một linh mục ngồi nghe mà không phán xét. Một người bạn không bỏ đi. Một bữa cơm nóng. Một câu Tin Mừng bất chợt chạm vào lòng. Một bài thánh ca nghe đúng lúc mình gần như gục xuống. Một ánh mắt tử tế. Một người âm thầm cầu nguyện cho ta. Ta cứ chờ Thiên Chúa xé trời mà xuống, trong khi Người đã đến trong một người đang ngồi bên cạnh. Ta cứ chờ một tiếng nói từ trời, trong khi Người đang nói qua một con người biết lắng nghe. Ta cứ xin Chúa cất Thập Giá, trong khi Người gửi một Simon đến đỡ một phần Thập Giá cho ta.
Nhưng cũng có những giai đoạn ngay cả những dấu hiệu nhỏ ấy dường như cũng biến mất. Khi ấy, điều còn lại có khi chỉ là một quyết định trần trụi: tôi vẫn không bỏ Chúa. Không phải vì tôi hiểu. Không phải vì tôi đang cảm thấy Người. Không phải vì tôi đã nhận được điều mình xin. Chỉ vì sâu trong lòng tôi vẫn biết rằng nếu bỏ Người, tôi cũng chẳng biết đi đâu. Phêrô từng nói: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Có những ngày đức tin không còn là chạy đến với Chúa trong vui mừng, nhưng là không chạy khỏi Chúa trong đau khổ. Có những ngày cầu nguyện không phải nói được nhiều, mà chỉ là ngồi đó. Có những hôm người ta vào nhà thờ không đọc nổi một kinh, chỉ nhìn lên Thánh Giá. Và như thế đã là cầu nguyện. Có khi lời cầu nguyện chân thật nhất chỉ có một câu: “Chúa ơi, con không hiểu.” Có khi còn ngắn hơn: “Chúa ơi, con mệt.” Có khi chẳng còn chữ nào, chỉ còn nước mắt. Đừng nghĩ nước mắt là thiếu đức tin. Có những giọt nước mắt chính là lời cầu nguyện mà miệng không nói nổi.
Thánh Vịnh mà Đức Giêsu bắt đầu đọc trên Thập Giá mở đầu bằng tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” nhưng không kết thúc trong tuyệt vọng. Tiếng kêu ấy thuộc về một lời cầu nguyện lớn hơn. Nghĩa là ngay lúc đau đớn nhất, Đức Giêsu vẫn đứng trong truyền thống cầu nguyện của dân Người. Người biến cả cảm giác bị bỏ rơi thành lời thưa với Cha. Đây là điều ta phải học: đừng bỏ cầu nguyện chỉ vì lời cầu nguyện của ta không đẹp. Cầu nguyện không phải lúc nào cũng là “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa.” Có lúc cầu nguyện là: “Lạy Chúa, tại sao?” Có lúc là: “Lạy Chúa, con giận.” Có lúc là: “Con chẳng hiểu Chúa đang làm gì.” Có lúc là: “Con không muốn chuyện này.” Có lúc là: “Con sợ.” Có lúc là: “Xin cứu con.” Thiên Chúa không mong ta đến trước mặt Người với chiếc mặt nạ đạo đức. Người muốn sự thật. Nếu lòng đang đau mà miệng cứ nói như không đau, đó chưa chắc đã là đức tin. Đem chính nỗi đau vào cầu nguyện mới là đức tin. Đem chính câu hỏi vào cầu nguyện mới là đức tin. Đem cả sự giận dữ, hụt hẫng, thất vọng đến trước Thiên Chúa thay vì quay lưng với Người, đó đã là một hình thức của lòng tin.
Có lẽ một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất khi Thiên Chúa im lặng là ta bắt đầu so sánh. “Tại sao người ta cầu một lần đã được, tôi cầu mười năm vẫn không?” “Tại sao gia đình người khác êm ấm, nhà tôi tan nát?” “Tại sao họ sống chẳng tử tế bao nhiêu mà mọi chuyện thuận lợi, còn tôi cố gắng sống đàng hoàng mà cứ gặp chuyện?” Những câu hỏi ấy rất con người. Nhưng nếu cứ nuôi chúng, trái tim sẽ dần cay đắng. Ta biến Thiên Chúa thành một người phân phát phần thưởng và nghĩ rằng mình sống tốt thì đương nhiên phải được hưởng một cuộc đời dễ chịu. Tin Mừng không hứa như vậy. Người sống tốt nhất lịch sử nhân loại đã kết thúc đời trần thế trên một cây thập giá. Đức Maria đầy ơn phúc vẫn đứng nhìn Con mình chết. Các Tông đồ đã hiến mạng. Các thánh không phải là những người không gặp khổ đau, nhưng là những người không để khổ đau cướp mất Thiên Chúa khỏi lòng mình.
Có những người sau thử thách trở nên dịu dàng hơn. Cũng có người trở nên cay nghiệt hơn. Đau khổ tự nó không làm ta nên thánh. Đau khổ có thể làm người ta tốt hơn, nhưng cũng có thể làm người ta đóng kín. Điều quyết định là ta để đau khổ đi qua trái tim mình thế nào. Nếu mang nó đến dưới chân Thập Giá, đau khổ có thể mở cho ta một con mắt mới. Người từng khóc sẽ hiểu nước mắt của người khác. Người từng cô đơn sẽ biết quý một sự hiện diện. Người từng bị hiểu lầm sẽ bớt vội kết án. Người từng trải qua khủng hoảng đức tin sẽ biết kiên nhẫn với những người đang nghi ngờ. Người từng đi qua đêm tối sẽ không dễ dàng nói những lời sáo rỗng với người đang khổ. Có những linh mục giảng về đau khổ rất hay không phải vì đã đọc nhiều sách, mà vì chính mình từng ngồi một mình trước Nhà Tạm giữa một đêm không biết phải làm gì. Có những người an ủi người khác rất sâu không phải vì có nhiều câu trả lời, mà vì họ từng cần được an ủi. Vết thương khi được trao cho Chúa có thể trở thành cánh cửa để ta đi vào nỗi đau của người khác.
Và có một điều cần nhớ: Thiên Chúa im lặng không có nghĩa Thiên Chúa không hành động. Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh là một ngày im lặng khủng khiếp. Đức Giêsu nằm trong mộ. Các môn đệ trốn. Maria khóc. Đối với mắt con người, mọi chuyện đã kết thúc. Không một phép lạ. Không một bài giảng. Không một tiếng nói từ trời. Chỉ là một ngôi mộ được niêm phong. Nhưng chính trong sự im lặng ấy, công trình cứu độ đang tiến tới hoàn tất. Có những lúc đời ta cũng giống Thứ Bảy Tuần Thánh. Ta tưởng chẳng có gì xảy ra. Cầu nguyện không có kết quả. Hoàn cảnh không đổi. Nhưng ta không biết dưới lớp đất im lặng của cuộc đời, Thiên Chúa đang chuẩn bị điều gì. Hạt giống nằm trong đất cũng im lặng. Người nhìn bên ngoài tưởng nó chết. Nhưng bên trong, sự sống đang làm việc. Một thai nhi lớn lên trong lòng mẹ cũng trong âm thầm. Bình minh đến cũng không gây tiếng động. Những điều lớn nhất của Thiên Chúa nhiều khi bắt đầu trong sự im lặng.
Tuy nhiên, đừng biến điều ấy thành một lời hứa rằng rồi mọi chuyện đời này chắc chắn sẽ kết thúc theo cách ta mong. Có những người cầu nguyện mà người thân vẫn chết. Có những gia đình không được hàn gắn như mong muốn. Có những vết thương mang theo suốt đời. Có những công lý ta không thấy được thực hiện trọn vẹn trên trần gian. Đức tin Kitô giáo không bảo đảm cho ta một cái kết có hậu theo tiêu chuẩn thế gian. Đức tin hứa một điều lớn hơn: không đau khổ nào, không giọt nước mắt nào, không sự trung thành nào trong Chúa là vô nghĩa. Phục Sinh không có nghĩa Đức Giêsu chưa từng chịu đóng đinh. Người phục sinh vẫn mang dấu đinh. Điều đó đẹp biết bao. Thiên Chúa không xóa quá khứ như thể nó chưa từng xảy ra. Người cứu chuộc nó. Những dấu đinh từng là dấu hiệu của thất bại trở thành dấu hiệu để các môn đệ nhận ra Chúa Phục Sinh. Có lẽ một ngày kia, những vết thương ta từng muốn xóa đi lại chính là những nơi cho thấy ân sủng Thiên Chúa đã giữ ta thế nào.
Đối với người đang khủng hoảng đức tin, tôi chỉ muốn nói một điều rất nhỏ: đừng đưa ra một quyết định vĩnh viễn trong một giờ phút tối tăm. Nếu hôm nay không cầu nguyện nổi, cứ ngồi yên trước Chúa. Nếu không đọc được mười kinh, đọc một kinh. Nếu một kinh cũng không đọc nổi, hãy nói tên Giêsu. Nếu ngay cả tên Giêsu cũng thấy nặng, cứ để nước mắt nói thay. Nếu không muốn vào nhà thờ, hãy thử đứng ngoài cửa một lúc. Nếu đang giận Chúa, hãy nói với Chúa rằng mình đang giận. Đừng biến khủng hoảng thành sự chia tay quá sớm. Đôi mắt trong đêm không nhìn rõ đường, nhưng không có nghĩa con đường đã biến mất.
Và với những người ở cạnh một người đang mất đức tin, xin đừng biến mình thành quan tòa. Đừng nói: “Anh yếu đức tin quá.” Đừng nói: “Chị không cầu nguyện đủ.” Đừng nói: “Chắc có tội nên Chúa phạt.” Có những câu nói tưởng đạo đức nhưng tàn nhẫn vô cùng. Hãy nhớ ông Gióp. Những người bạn của ông ban đầu làm một việc rất đẹp: họ ngồi với ông trong im lặng. Giá mà họ cứ im lặng như thế thì có lẽ đã tốt hơn. Nhưng rồi họ bắt đầu giải thích và cuối cùng làm ông đau thêm. Nhiều khi phục vụ người đau khổ là biết lúc nào phải nói và lúc nào phải im. Ta không cần bảo vệ danh dự của Thiên Chúa bằng những lời giải thích dễ dãi. Thiên Chúa đủ lớn để đón nhận câu hỏi của con người.
Một người mẹ có thể chịu được tiếng con mình khóc trong vòng tay hơn là thấy nó bỏ nhà đi vì giận mẹ. Thiên Chúa cũng vậy. Hãy khóc với Người. Hãy chất vấn Người. Hãy vật lộn với Người như Giacóp. Nhưng đừng vội rời khỏi vòng tay ấy. Kinh Thánh đầy những con người tranh đấu với Thiên Chúa. Giêrêmia than phiền. Êlia muốn chết. Gióp chất vấn. Các Thánh Vịnh đầy những tiếng kêu. Đức Maria hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào?” Các môn đệ kêu: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” Và trên hết, chính Đức Giêsu hỏi: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Thiên Chúa không sợ câu hỏi. Điều nguy hiểm không phải là ta hỏi Thiên Chúa. Điều nguy hiểm là ta ngừng nói chuyện với Người.
Có những lúc ta tưởng đức tin của mình sắp chết, nhưng thực ra một dạng đức tin non trẻ đang chết để một dạng đức tin trưởng thành hơn được sinh ra. Đức tin ban đầu có thể nghĩ: tôi tin Chúa vì Chúa bảo vệ tôi khỏi đau khổ. Đức tin trưởng thành dần hiểu: tôi tin Chúa vì ngay trong đau khổ Người vẫn ở với tôi. Đức tin ban đầu nói: tôi biết Chúa thương tôi vì Chúa cho tôi điều tôi xin. Đức tin trưởng thành nói: tôi tin Chúa thương tôi ngay cả khi tôi không nhận được điều mình xin. Đức tin ban đầu muốn hiểu rồi mới tin. Đức tin trưởng thành nhiều lúc phải tin trước khi hiểu, và có khi không hiểu mà vẫn tin. Không phải một thứ tin mù quáng, nhưng là lòng tín thác của một đứa con đã biết trái tim của Cha mình đủ lâu để giữa một biến cố không hiểu nổi, nó vẫn không kết luận rằng Cha đã hết thương.
Nhìn lên Thập Giá, ta thấy một nghịch lý. Đức Giêsu hỏi tại sao Cha bỏ mình, nhưng chính lúc ấy Cha không hề ngừng yêu Con. Người cảm nghiệm sự cô đơn tột cùng, nhưng mầu nhiệm cứu độ lại đang được hoàn tất. Bề ngoài là thất bại, bên trong là chiến thắng. Bề ngoài là Thiên Chúa im lặng, nhưng chính sự im lặng ấy đang nói một lời tình yêu lớn nhất: Thiên Chúa yêu thế gian đến mức trao ban Con Một. Canvê cho thấy cảm giác bị bỏ rơi và thực tế được yêu có thể cùng tồn tại. Đây là điều rất quan trọng cho đời sống thiêng liêng: cảm giác của ta là thật, nhưng cảm giác của ta không phải lúc nào cũng là toàn bộ sự thật. Tôi có thể thực sự cảm thấy cô đơn mà vẫn đang được yêu. Tôi có thể thực sự cảm thấy Thiên Chúa xa mà Người vẫn gần. Tôi có thể thực sự không thấy lối ra mà vẫn có một con đường phía trước.
Có lẽ hôm nay có ai đó đọc những dòng này đang mệt mỏi. Đã cầu nguyện quá lâu. Đã hy vọng quá nhiều. Đã thất vọng quá nhiều lần. Có thể người ấy không cần nghe thêm một câu: “Ráng lên.” Người ấy đã ráng đủ rồi. Có thể cũng không cần nghe: “Mọi chuyện rồi sẽ ổn.” Bởi chẳng ai trong chúng ta biết mọi chuyện trần gian sẽ diễn ra thế nào. Tôi chỉ muốn mời người ấy nhìn lên Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh. Không phải để tìm ngay câu trả lời, mà để thấy một Người đang ở cùng mình trong câu hỏi. Đôi khi đó là tất cả những gì ta cần để sống tiếp một ngày.
Khi không còn hiểu được đường lối Thiên Chúa, hãy bám lấy trái tim Thiên Chúa. Khi không hiểu điều Người đang làm, hãy nhớ điều Người đã làm trên Canvê. Nếu còn nghi ngờ Chúa có thương mình không, đừng chỉ nhìn hoàn cảnh hiện tại. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh. Đừng đo tình yêu Thiên Chúa bằng số lời cầu xin đã được đáp đúng ý ta. Hãy đo bằng Thập Giá. Không ai chịu đóng đinh cho một người mình không yêu.
Một ngày kia, mọi bóng tối sẽ qua. Không nhất thiết hôm nay. Không nhất thiết theo cách ta mong. Nhưng lời cuối cùng của đời người Kitô hữu không thuộc về Thứ Sáu Tuần Thánh. Lời cuối cùng thuộc về Phục Sinh. Không phải vì người Kitô hữu phủ nhận đau khổ, mà vì chúng ta tin đau khổ không phải vị thần cuối cùng. Không phải vì cái chết không đáng sợ, nhưng vì cái chết không còn là tiếng nói sau hết. Không phải vì bóng tối không thật, nhưng vì bóng tối không thể nuốt được ánh sáng mãi mãi.
Vậy nên nếu hôm nay Thiên Chúa dường như im lặng, xin đừng vội kết luận rằng Người đã bỏ ta. Có thể ta đang ở trong giờ thứ sáu và chưa đến giờ thứ chín. Có thể ta đang đứng giữa Thứ Sáu và chưa thấy sáng Chúa Nhật. Có thể ta đang đi qua một đoạn đường mà ý nghĩa của nó chưa được tỏ lộ. Và cũng có thể có những điều mãi đến khi gặp Người mặt đối mặt, ta mới hiểu. Nhưng cho đến ngày ấy, ta có một Đấng để bám lấy: Đức Kitô Chịu Đóng Đinh.
Khi không còn biết cầu nguyện thế nào, hãy mượn chính lời Người: “Lạy Thiên Chúa của con…” Chỉ cần còn nói được hai chữ “của con”, nghĩa là sợi dây vẫn chưa đứt. Chỉ cần còn quay về phía Người, đức tin vẫn chưa chết. Chỉ cần trong nước mắt ta vẫn gọi Người, đêm tối chưa thắng được ta.
Và nếu một ngày ta chẳng còn đủ sức giữ lấy Chúa nữa, hãy nhớ một điều cuối cùng: ơn cứu độ không tùy thuộc trước hết vào việc bàn tay ta giữ Chúa mạnh đến đâu, nhưng vào việc bàn tay bị đóng đinh của Chúa vẫn giữ lấy ta. Có những ngày ta tưởng mình đang bám lấy Chúa; sau cùng mới hiểu chính Chúa đã bám lấy mình suốt cả quãng đường. Có những đêm ta tưởng mình hoàn toàn cô độc; đến khi trời sáng mới nhận ra Người đã ngồi bên ta trong bóng tối. Có những lần ta trách Chúa không trả lời, nhiều năm sau mới nhận ra câu trả lời của Người không phải một lời nói mà là chính Người đã ở lại.
Thiên Chúa có thể im lặng. Nhưng Thiên Chúa không vô tình.
Thiên Chúa có thể chưa giải thích. Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi.
Thiên Chúa có thể không cất khỏi ta ngay cây Thập Giá. Nhưng Người đã leo lên Thập Giá trước ta.
Và vì thế, giữa những giờ phút đen nhất của đời người, ta vẫn có thể run rẩy mà thưa: “Lạy Thiên Chúa của con, con không hiểu Ngài, nhưng con vẫn thuộc về Ngài. Con không thấy Ngài, nhưng xin cho con đừng rời xa Ngài. Con không biết ngày mai sẽ thế nào, nhưng hôm nay, xin giữ con lại dưới chân Thập Giá. Và nếu con không còn đủ sức tin vào tình yêu của Ngài, xin Ngài tin thay phần con, cho đến khi trời sáng.”
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ – NƠI ĐỨC TIN KHÔNG CÒN DỰA TRÊN CẢM GIÁC
Tin Mừng: Lc 23,44-46
“Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Mặt trời mất ánh sáng. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa. Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.’ Nói xong, Người tắt thở.” Có lẽ trong toàn bộ cuộc đời của Đức Giêsu, chưa bao giờ bên ngoài lại tối như lúc này. Không phải cái tối dịu dàng của một buổi chiều sắp tàn, không phải bóng đêm bình thường của đất trời khi mặt trời đã lặn, nhưng là thứ bóng tối phủ xuống giữa ban ngày, bóng tối như muốn nuốt cả Canvê, nuốt những khuôn mặt đang đứng dưới chân thập giá, nuốt luôn chút hy vọng cuối cùng của những người đã từng tin vào Người. Vậy mà chính vào lúc bóng tối chưa rút đi, thập giá chưa được hạ xuống, đinh vẫn còn xuyên qua tay chân, những kẻ chế nhạo chưa chắc đã bỏ về, những người thân yêu vẫn còn khóc, và cái chết đã ở ngay trước mặt, Đức Giêsu lại thốt lên một lời mà có lẽ chỉ những ai đã đi rất sâu vào đức tin mới hiểu được hết sức nặng của nó: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Chúa không đợi trời sáng rồi mới phó thác. Chúa không đợi đau đớn biến mất rồi mới phó thác. Chúa không đợi có một dấu hiệu rõ ràng rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp mới phó thác. Chúa cũng không đợi những kẻ kết án mình nhận ra sai lầm, không đợi các môn đệ quay trở lại, không đợi một thiên thần từ trời xuống tháo những chiếc đinh. Chúa phó thác ngay giữa bóng tối. Và chính ở đó, ta chạm đến một trong những mầu nhiệm sâu nhất của đời Kitô hữu: đức tin trưởng thành không phải là tin vì mình đang thấy ánh sáng, nhưng là vẫn trao mình cho Thiên Chúa ngay khi chung quanh chẳng còn một tia sáng nào để bám víu. Có một thứ đức tin rất dễ dàng, đó là đức tin khi mọi chuyện đang thuận lợi. Khi gia đình bình an, con cái ngoan ngoãn, sức khỏe còn tốt, công việc ổn định, cộng đoàn yêu thương, người ta quý trọng mình, lời cầu nguyện có vẻ được Chúa nhậm, bước vào nhà thờ thấy lòng nhẹ nhàng, quỳ trước Thánh Thể thấy sốt sắng, đọc một đoạn Tin Mừng thấy như Chúa đang nói trực tiếp với mình, ta rất dễ thưa: “Lạy Chúa, con tin.” Nhưng có một thứ đức tin khác, đắt giá hơn nhiều: vẫn nói “con tin” khi đời mình chẳng có gì giống như điều mình đã cầu xin; vẫn nói “con tin” khi người mình yêu ra đi; vẫn nói “con tin” khi căn bệnh chưa thuyên giảm; vẫn nói “con tin” khi những gì mình đã hy sinh dường như chẳng ai biết đến; vẫn nói “con tin” khi bị hiểu lầm mà không thể thanh minh; vẫn nói “con tin” khi mình làm điều tốt mà lại nhận về những lời cay đắng; vẫn nói “con tin” khi cầu nguyện lâu ngày mà Thiên Chúa dường như hoàn toàn im lặng. Đức tin ấy không còn sống bằng cảm giác nữa. Đức tin ấy bắt đầu chạm đến Thập Giá.
Con người chúng ta rất dễ nhầm cảm giác có Chúa với sự hiện diện của Chúa. Khi lòng mình ấm áp, ta nói Chúa gần. Khi lòng mình khô khan, ta tưởng Chúa xa. Khi cầu nguyện được an ủi, ta nghĩ Chúa thương. Khi cầu nguyện chẳng thấy gì, ta bắt đầu tự hỏi Chúa còn thương mình không. Khi đời sống xuôi thuận, ta nói Chúa chúc lành. Khi tai họa đến, ta hoang mang không biết Chúa đang ở đâu. Nhưng nếu sự hiện diện của Thiên Chúa tùy thuộc vào cảm giác của ta thì Thiên Chúa sẽ trở thành một Thiên Chúa thay đổi theo tâm trạng của con người. Hôm nay tôi vui thì Chúa ở gần; ngày mai tôi buồn thì Chúa biến mất. Hôm nay tôi cầu nguyện sốt sắng thì Chúa hiện diện; ngày mai tôi khô khan thì Chúa không còn ở đó. Không. Thiên Chúa không phải là một cảm giác. Thiên Chúa là Thiên Chúa. Người trung tín ngay cả khi lòng ta không cảm thấy gì. Người hiện diện ngay cả khi mắt ta không nhìn thấy. Người vẫn nắm tay ta ngay cả khi chính ta tưởng mình đang rơi. Canvê là bằng chứng tuyệt đối cho điều ấy. Trên Canvê, mọi cảm giác bên ngoài đều có thể nói với Đức Giêsu rằng Người đã thất bại. Đám đông không tin. Những thủ lãnh chế nhạo. Những môn đệ tản mác. Thân thể Người bị nghiền nát. Sự sống đang rời khỏi Người từng hơi thở. Bầu trời cũng tối lại. Nếu đức tin dựa trên những gì mắt thấy, Canvê là lý do đủ để tuyệt vọng. Nhưng Đức Giêsu không đọc sự thật của Chúa Cha bằng những gì đang xảy ra quanh mình. Người đọc sự thật của Chúa Cha bằng chính tương quan sâu thẳm Người đã sống với Cha từ muôn đời. Bởi vậy, giữa đêm tối, Người vẫn gọi: “Cha.” Chỉ một tiếng “Cha” thôi cũng đủ làm cả Canvê đổi nghĩa. Người không gọi Thiên Chúa như một quyền lực xa xôi. Người không nói với một số phận mù quáng. Người không trao mạng sống mình cho hư vô. Người nói: “Lạy Cha.” Nghĩa là trong lòng Đức Giêsu, bên dưới tất cả những gì đang vỡ vụn, tương quan với Cha vẫn không vỡ. Đau khổ có thể chạm đến thân xác Người, sự phản bội có thể làm trái tim Người đau đớn, cái chết có thể đến rất gần, bóng tối có thể bao phủ cả trời đất, nhưng không gì có thể tách Người khỏi tình yêu của Cha. Và đức tin của chúng ta cũng chỉ thật sự trưởng thành khi giữa bao nhiêu điều không hiểu nổi, ta vẫn còn giữ được một tiếng ấy: “Cha ơi.”
Có những giai đoạn trong đời, người ta cầu nguyện mà không thấy gì. Ngày trước bước vào nhà nguyện mười phút đã thấy bình an, giờ ngồi cả giờ chỉ thấy lòng trống rỗng. Ngày trước đọc Lời Chúa thấy câu nào cũng sáng, giờ đọc mãi mà chữ nghĩa như khô khốc. Ngày trước lần chuỗi Mân Côi thấy gần Đức Mẹ, giờ vừa đọc vài kinh đã chia trí. Ngày trước tham dự Thánh lễ lòng đầy cảm động, giờ mọi sự dường như quen thuộc đến mức không còn xúc cảm nào. Có người hoảng sợ: “Có phải tôi mất đức tin không?” Chưa chắc. Đôi khi chính lúc cảm giác biến mất lại là lúc Chúa đang mời ta bước từ một đức tin trẻ thơ dựa nhiều trên an ủi sang một đức tin sâu hơn, chỉ dựa vào chính Người. Một em bé yêu mẹ vì mẹ ôm, mẹ cho bánh, mẹ dỗ dành, đó là một tình yêu đẹp. Nhưng một người con trưởng thành có thể yêu mẹ cả khi mẹ già yếu, khó tính, chẳng còn cho mình được gì. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Ban đầu Chúa có thể cho ta rất nhiều cảm xúc ngọt ngào để kéo ta đến gần Người. Nhưng sẽ có lúc Người dường như rút lại những an ủi ấy, không phải vì Người bỏ ta, nhưng để ta bắt đầu tự hỏi: tôi đi tìm Chúa hay tôi chỉ đi tìm cảm giác dễ chịu Chúa ban? Tôi yêu Chúa hay yêu sự bình an mình nhận được từ Chúa? Tôi trung thành với Thánh lễ vì Đức Kitô đang ở đó hay chỉ vì hôm nay bài hát hay, bài giảng cảm động, cộng đoàn thân thiện? Tôi cầu nguyện vì tôi muốn ở với Chúa hay vì tôi muốn Chúa làm cho tôi cảm thấy dễ chịu? Những câu hỏi ấy không dễ. Nhưng nếu không đi qua chúng, đức tin của ta rất dễ dừng ở lớp cảm xúc bên ngoài. Và một đức tin chỉ sống bằng cảm xúc sẽ rất dễ chết khi cảm xúc đổi thay.
Ta hãy nhìn Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá. Có lẽ Mẹ chẳng cảm thấy một chút “dễ chịu thiêng liêng” nào lúc ấy. Người Con Mẹ đã cưu mang đang hấp hối trước mắt. Những lời thiên thần năm xưa về một ngai vàng, về một vương quyền không cùng, giờ đây dường như đối nghịch hoàn toàn với thực tại: ngai vàng là cây thập giá, vương miện là vòng gai, thần dân là những người chế nhạo, triều phục là thân thể bị lột trần. Nếu Mẹ sống bằng cảm giác, Mẹ đã bỏ về từ lâu. Nếu Mẹ tin dựa trên những gì mắt thấy, Mẹ có đủ lý do để kết luận rằng mọi điều mình từng nghe đã tan vỡ. Nhưng Mẹ đứng đó. Tin Mừng không ghi Mẹ nói gì dưới chân Thập Giá. Chính sự đứng lại của Mẹ đã là một lời tuyên xưng đức tin. Có những lúc đức tin không cần nói những câu rất đẹp. Chỉ cần không bỏ đi. Có những lúc ta không còn sức để đọc một kinh dài, không còn tâm trí để suy niệm, không còn cảm giác để thưa những lời sốt sắng. Nhưng ta vẫn bước vào nhà thờ. Vẫn ngồi trước Nhà Tạm. Vẫn làm dấu Thánh Giá. Vẫn tham dự Thánh lễ. Vẫn không bỏ Chúa. Chính sự ở lại ấy là đức tin. Một người vợ ở lại với chồng trong những năm tháng bệnh tật; một người chồng kiên nhẫn bên người vợ khi tuổi già làm mọi thứ thay đổi; một người mẹ vẫn cầu nguyện cho đứa con đã bỏ nhà ra đi nhiều năm; một linh mục vẫn bước lên bàn thờ sau những ngày lòng nặng như đá; một tu sĩ vẫn trung thành với giờ kinh dù chẳng còn cảm thấy chút sốt sắng nào; một người bệnh vẫn làm dấu Thánh Giá trước khi ngủ dù chẳng hiểu vì sao Chúa để mình đau lâu đến thế: những con người ấy có thể không nói được những bài thần học cao siêu, nhưng họ đang sống một nền thần học rất sâu của Thập Giá. Họ đang nói bằng chính cuộc đời: “Lạy Cha, con không hiểu, nhưng con vẫn ở đây. Con không cảm thấy, nhưng con vẫn tin. Con không nhìn thấy đường, nhưng con vẫn trao tay con cho Cha.”
Điều nguy hiểm của thời đại chúng ta là con người ngày càng quen lấy cảm giác làm thước đo cho sự thật. Tôi cảm thấy vui thì điều ấy tốt. Tôi cảm thấy khó chịu thì điều ấy chắc là sai. Tôi cảm thấy yêu thì tôi tiếp tục; hết cảm giác yêu thì tôi nghĩ tình yêu đã chết. Tôi cảm thấy thích công việc này thì tôi làm; chán thì bỏ. Tôi cảm thấy hợp cộng đoàn này thì ở; khó chịu thì ra đi. Tôi cảm thấy sốt sắng thì cầu nguyện; khô khan thì thôi. Nhưng nếu cả cuộc đời bị dẫn bởi cảm giác, ta sẽ trở thành nô lệ cho một thứ thay đổi từng giờ. Cảm giác không xấu. Thiên Chúa dựng nên con người có cảm xúc. Chúa Giêsu cũng vui, buồn, xúc động, đau đớn. Vấn đề không phải là có cảm giác hay không, mà là đặt cảm giác ở đâu. Cảm xúc là một phần của đời sống nhưng không thể là ông chủ của đời sống. Có những điều đúng dù ta không thích. Có những việc phải làm dù ta chẳng hứng thú. Có những lời hứa phải giữ dù cảm xúc ban đầu đã phai. Có những người phải tiếp tục yêu dù họ không còn làm ta dễ chịu. Có những bổn phận phải trung thành dù chẳng ai khen. Và có một Thiên Chúa phải tiếp tục tin ngay cả khi lòng ta không cảm thấy Người. Đức Kitô trên Thập Giá dạy ta điều ấy. Nếu Người chỉ làm theo cảm giác, hẳn Người đã xuống khỏi Thập Giá. Nếu Người đợi đến khi nỗi đau biến mất mới thưa “xin phó thác”, lời ấy đã không còn sức nặng. Chính vì thân xác đang tan nát mà Người vẫn phó thác, nên lời ấy trở thành đỉnh cao của đức tin và tình yêu.
Ta thường nghĩ phó thác là một cảm giác bình an. Thật ra không hẳn. Có khi phó thác diễn ra trong nước mắt. Có khi tay vẫn run mà lòng vẫn nói “xin vâng”. Có khi ta rất sợ nhưng vẫn bước tới. Có khi trong lòng đầy câu hỏi nhưng vẫn không rời Chúa. Phó thác không có nghĩa là không đau. Nếu không đau, nhiều khi chẳng cần phó thác. Phó thác không có nghĩa là không sợ. Chính vì sợ mà ta mới phải trao mình cho một Đấng lớn hơn nỗi sợ. Phó thác không phải biết chắc ngày mai sẽ xảy ra điều mình muốn. Phó thác là biết chắc rằng dù ngày mai xảy ra điều gì, mình vẫn ở trong tay Chúa. Đó là khác biệt rất lớn. Ta thường muốn Thiên Chúa cho mình bản kế hoạch rồi mới tin: Chúa hãy cho con biết bệnh này rồi sẽ khỏi không; Chúa hãy cho con biết đứa con này rồi có quay về không; Chúa hãy cho con biết công việc này rồi có thành công không; Chúa hãy cho con biết cộng đoàn này rồi có thay đổi không; Chúa hãy giải thích vì sao chuyện này xảy ra, rồi con sẽ phó thác. Nhưng Chúa không luôn trao bản đồ. Nhiều khi Người chỉ đưa bàn tay. Ta muốn ánh sáng soi hết con đường, còn Người chỉ cho đủ ánh sáng để bước thêm một bước. Ta muốn câu trả lời, Người cho sự hiện diện. Ta muốn biết tương lai, Người nói: “Hãy ở với Ta hôm nay.” Đức Giêsu trên Thập Giá cũng không chờ nhìn thấy bình minh Phục Sinh bằng mắt trần rồi mới trao mình. Người đi vào cái chết bằng niềm tin tuyệt đối vào Cha. Đó chính là phó thác.
Có người nói: “Con cầu nguyện nhiều nhưng Chúa không trả lời.” Thật ra có khi câu trả lời của Chúa không đến dưới hình thức ta chờ đợi. Ta xin Chúa cất Thập Giá, Chúa lại cho sức để mang. Ta xin Chúa đổi người khác, Chúa lại bắt đầu đổi chính ta. Ta xin Chúa lấy đi vấn đề, Chúa lại mở trong ta một chiều sâu mà nếu không có vấn đề ấy, ta không bao giờ khám phá được. Ta xin ánh sáng, Chúa lại dạy ta bước trong đêm. Ta xin cảm giác bình an, Chúa lại cho một đức tin không cần cảm giác. Và nhiều năm sau nhìn lại, ta mới hiểu: hóa ra Chúa đã không im lặng; Người chỉ trả lời bằng một ngôn ngữ sâu hơn điều ta mong đợi. Có những lời cầu nguyện Chúa trả lời bằng một cánh cửa mở. Có những lời cầu nguyện Chúa trả lời bằng một cánh cửa đóng. Có những lời cầu nguyện Chúa trả lời bằng việc bảo ta chờ đợi. Và cũng có những lời cầu nguyện mà câu trả lời chỉ được hiểu khi ta đứng bên kia đời này. Đức tin không phải là bắt Thiên Chúa trả lời mọi câu hỏi. Đức tin là dù còn những câu hỏi chưa được trả lời, ta vẫn biết Đấng mình đang trao đời mình là ai.
Thực ra cuộc đời mỗi người rồi cũng có một “giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, một khoảng thời gian bóng tối phủ xuống mà chẳng ai tránh được. Có thể là ngày bác sĩ nói một câu làm cả thế giới quanh ta đổi màu. Có thể là cuộc điện thoại báo một người thân vừa ra đi. Có thể là ngày người mình tin nhất quay lưng. Có thể là một thất bại kéo theo những lời dị nghị. Có thể là tuổi già khi từng người thân quen lần lượt vắng bóng. Có thể là một đêm trong đời linh mục khi nhìn lại hàng chục năm sứ vụ rồi tự hỏi mình đã làm được gì. Có thể là một người tu sĩ bước vào giai đoạn mà mọi lý tưởng thuở ban đầu không còn rực rỡ như trước. Có thể là một đôi vợ chồng sau nhiều năm chung sống bỗng nhận ra tình yêu không còn những rung động ngày đầu. Có thể là người cha, người mẹ đứng trước bàn thờ cầu nguyện cho con mà chẳng thấy chút chuyển biến nào. Ai rồi cũng có giờ của bóng tối. Và trong giờ ấy, mọi lời đạo đức mình từng nói với người khác sẽ được thử lửa. Ta đã từng bảo người khác: “Hãy tin Chúa.” Đến lượt ta, ta có còn tin không? Ta từng nói: “Mọi sự đều trong tay Chúa.” Khi điều đau đớn xảy ra với chính mình, ta có còn nói như thế không? Ta từng giảng về Thập Giá. Khi Thập Giá nằm trên vai mình, ta có còn nhận ra đó là con đường Chúa đã đi không? Đức tin thật không được chứng minh nhiều nhất lúc ta nói về Thiên Chúa, nhưng trong cách ta đứng trước bóng tối.
Và ta phải thành thật: không phải ai trong bóng tối cũng có thể lập tức thưa được những lời thật đẹp. Có người đau đến mức chỉ biết khóc. Có người ngồi trước Thánh Thể cả giờ không nói được gì. Có người giận Chúa. Có người hỏi tại sao. Có người thấy lòng rỗng không. Đừng vội kết án họ thiếu đức tin. Đức Giêsu cũng đã đi qua tận cùng kinh nghiệm của đau khổ. Đức tin Kitô giáo không đòi con người phải giả vờ mạnh mẽ. Ta có thể khóc trước Chúa. Có thể nói với Chúa rằng mình sợ. Có thể thú nhận: “Lạy Chúa, con không hiểu nổi.” Có thể nói: “Con mệt quá.” Có thể thưa: “Con chẳng cảm thấy Chúa đâu cả.” Điều quan trọng là đừng bỏ đi. Hãy mang cả nước mắt ấy đến với Chúa. Hãy mang cả sự thất vọng ấy đến trước Thánh Thể. Hãy mang cả câu hỏi ấy vào trong cầu nguyện. Đức tin không phải không bao giờ đặt câu hỏi. Đức tin là đặt câu hỏi mà vẫn đứng trước mặt Chúa để hỏi. Tuyệt vọng thật sự không phải là khóc với Chúa, nhưng là bỏ Chúa mà đi. Một đứa con có thể khóc trong vòng tay mẹ; tiếng khóc ấy không làm nó xa mẹ, trái lại chứng tỏ nó vẫn biết nơi nào để trở về. Cũng thế, những giọt nước mắt trước mặt Thiên Chúa đôi khi lại là một hình thức rất sâu của đức tin.
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Hãy để ý: Đức Giêsu nói “trong tay Cha.” Không phải trong tay định mệnh. Không phải trong tay người kết án Người. Không phải trong tay quân lính. Nhìn bên ngoài, mạng sống Đức Giêsu dường như nằm trong tay Philatô, trong tay Thượng Hội Đồng, trong tay quân lính Rôma, trong tay những kẻ đóng đinh. Nhưng ở tầng sâu nhất, Người biết đời mình ở trong tay Cha. Đây là sự tự do kỳ diệu của người có đức tin. Người ta có thể làm nhiều điều đối với ta, nhưng họ không sở hữu đời ta. Một lời vu khống có thể làm tổn thương danh dự, nhưng không quyết định giá trị của ta trước mặt Thiên Chúa. Một quyết định bất công có thể lấy mất một vị trí, nhưng không lấy được ơn gọi. Một căn bệnh có thể làm thân xác yếu đi, nhưng không thể cướp ta khỏi tay Chúa. Tuổi già có thể lấy đi sức lực, nhưng không lấy được phẩm giá. Cái chết có thể lấy ta khỏi vòng tay người thân, nhưng chỉ đưa ta sâu hơn vào vòng tay của Cha. Đó là lý do người Kitô hữu có thể đau nhưng không hoàn toàn tuyệt vọng. Bởi vì điều cuối cùng của đời ta không nằm trong tay đau khổ. Điều cuối cùng của đời ta nằm trong tay Thiên Chúa.
Nhiều khi chúng ta nói “phó thác” nhưng thật ra chỉ phó thác sau khi đã sắp xếp mọi chuyện theo ý mình. Ta nói: “Lạy Chúa, con phó thác, nhưng xin Chúa làm đúng điều con đang nghĩ.” Nếu sự việc khác đi, ta mất bình an. Đó chưa phải là phó thác hoàn toàn. Phó thác đích thực luôn có một chút chết đi: chết ý riêng, chết nhu cầu kiểm soát, chết ảo tưởng rằng mình phải hiểu hết, chết đòi hỏi cuộc đời phải diễn ra theo bản kế hoạch của mình. Có lẽ một trong những chiếc thập giá nặng nhất của con người hiện đại là không chịu nổi sự bất định. Ta muốn biết hết, kiểm soát hết, dự tính hết. Điện thoại cho ta biết thời tiết ngày mai, bản đồ cho biết từng khúc đường, ứng dụng cho biết máy bay đang ở đâu, thị trường cho biết giá lên xuống từng phút; chúng ta quen với việc có thông tin. Bởi thế khi bước vào đời sống thiêng liêng, ta cũng muốn Thiên Chúa gửi cho mình một thông báo: “Yên tâm, ba tháng nữa chuyện này sẽ xong.” Nhưng Thiên Chúa thường không làm thế. Người muốn con cái không chỉ biết kế hoạch của Người mà còn biết tin vào chính Người. Một đứa trẻ ngủ ngon trên xe không phải vì nó biết đường về nhà, nhưng vì nó biết cha mình đang lái. Đức tin cũng vậy. Ta không nhất thiết biết con đường sẽ đi qua đâu. Điều quan trọng là biết Ai đang cầm đời mình.
Có những người sau nhiều năm sống đạo vẫn rất lệ thuộc cảm giác. Họ chạy từ nơi này sang nơi khác chỉ để tìm một cảm nghiệm mạnh. Nghe ở đâu có chuyện lạ là đi. Nghe ai giảng gây xúc động là tìm đến. Hôm nào cầu nguyện rơi nước mắt thì nghĩ mình gần Chúa; hôm nào khô khan thì nghĩ mình sa sút. Nhưng dấu chỉ của đời sống thiêng liêng trưởng thành không phải là có bao nhiêu cảm xúc, mà là có bao nhiêu trung tín. Một người có thể không rơi một giọt nước mắt nào khi cầu nguyện nhưng vẫn âm thầm tha thứ cho người làm mình tổn thương: đó là đức tin. Một người không có cảm nghiệm lạ lùng nào nhưng ngày nào cũng chăm sóc cha mẹ già: đó là đức tin. Một người tham dự Thánh lễ không phải vì hôm ấy “thấy thích”, nhưng bởi biết mình cần Chúa: đó là đức tin. Một linh mục dâng lễ trong một nhà nguyện chỉ có vài người, vẫn chuẩn bị bài giảng tử tế, vẫn cử hành với lòng kính trọng như trước hàng ngàn người: đó là đức tin. Một nữ tu làm công việc âm thầm suốt nhiều năm, chẳng ai nhắc tên, chẳng có bức ảnh nào đăng lên đâu cả, nhưng vẫn làm bằng tất cả tình yêu: đó là đức tin. Cảm xúc có thể đưa ta vào cửa; trung tín mới giữ ta ở lại.
Cũng vậy trong hôn nhân. Nếu tình yêu chỉ dựa trên cảm giác thì chẳng cuộc hôn nhân nào đi được đường dài. Ngày cưới, cảm xúc có thể rất đẹp. Nhưng rồi sẽ có những buổi sáng mệt mỏi, những khác biệt, những hiểu lầm, áp lực tiền bạc, chuyện con cái, bệnh tật, tuổi già. Có những ngày người ta không “cảm thấy yêu” như ngày đầu. Vậy tình yêu hết sao? Không. Có khi chính từ lúc cảm giác bớt mãnh liệt, tình yêu mới bắt đầu trở nên thật. Bởi lúc ấy tôi yêu không chỉ vì người kia làm tôi vui, mà vì tôi đã chọn thuộc về người ấy. Tôi tiếp tục chăm sóc, nhường nhịn, tha thứ, giữ lời hứa. Tình yêu trở thành một quyết định được lặp lại mỗi ngày. Đức tin cũng thế. Ngày chịu phép Rửa, ngày thêm sức, ngày khấn dòng, ngày chịu chức, có thể ta đầy xúc động. Nhưng giá trị của lời “xin vâng” không được quyết định bởi cảm xúc hôm ấy mà bởi hàng ngàn ngày bình thường sau đó, đặc biệt những ngày ta chẳng còn thấy gì mà vẫn sống lời đã hứa. Thập Giá là nơi Đức Giêsu sống trọn vẹn lời “xin vâng” của Người. Không còn tiếng thiên thần hát như Bêlem. Không còn trời mở ra như sông Giođan. Không còn đám đông tung hô như ngày vào Giêrusalem. Chỉ còn bóng tối, đau đớn và một lời phó thác. Nhưng chính ở đó, tình yêu đạt đến sự tinh tuyền tuyệt đối.
Trong đời linh mục và đời thánh hiến, điều này lại càng cần thiết. Những năm đầu có thể đầy nhiệt huyết. Người ta thích giảng, thích làm mục vụ, thích được sai đi, thích những dự án mới, thích cảm giác mình có ích. Nhưng rồi thời gian qua, sức khỏe thay đổi, khả năng giới hạn, người trẻ hơn xuất hiện, những công việc từng thuộc về mình được trao cho người khác, những người từng nghe mình nay nghe một người khác, những thành công ngày trước không còn lặp lại. Nếu căn tính của ta dựa trên cảm giác mình hữu ích, ta sẽ khủng hoảng. Nếu niềm vui của ta dựa trên việc được người khác công nhận, ta sẽ cay đắng. Nếu đời dâng hiến chỉ đứng trên sự phấn khởi của sứ vụ, đến lúc sứ vụ khó khăn ta dễ mất Chúa. Nhưng ơn gọi sâu hơn thế. Trước khi là người làm việc cho Chúa, ta là người thuộc về Chúa. Trước khi Chúa cần đôi tay ta, Người muốn trái tim ta. Và đôi khi, khi tuổi già hoặc bệnh tật lấy khỏi ta những khả năng hoạt động, Chúa đưa ta đến một Canvê riêng để hỏi: nếu con không còn làm được gì nhiều cho Ta nữa, con vẫn yêu Ta chứ? Nếu chẳng ai biết đến việc con làm, con vẫn trung thành chứ? Nếu Ta không cho con cảm giác thành công, con vẫn ở lại chứ? Chính những câu hỏi ấy thanh luyện ơn gọi. Có những linh mục giảng rất hay; nhưng có những linh mục tuổi già không còn giảng được nữa mà chỉ ngồi lần chuỗi trong căn phòng nhỏ, và lời cầu nguyện của họ có thể đang nâng cả một giáo xứ. Có những tu sĩ trẻ hoạt động rất mạnh; nhưng có những tu sĩ nằm trên giường bệnh, dâng từng cơn đau cho Chúa, và cuộc đời ấy cũng là một sứ vụ. Canvê dạy ta rằng lúc Đức Giêsu dường như không còn làm gì được nữa, hai tay bị đóng đinh, chân không thể bước đi, chính lúc ấy Người đang hoàn tất công trình cứu độ. Có những mùa trong đời, Chúa cứu thế giới qua hoạt động của ta. Có những mùa khác, Chúa cứu thế giới qua sự bất lực được ta dâng hiến.
Người Kitô hữu cũng cần học phân biệt giữa bình an và cảm giác dễ chịu. Bình an của Chúa đôi khi nằm rất sâu bên dưới một bề mặt đầy sóng gió. Đức Giêsu trên Canvê không hề dễ chịu, nhưng Người có một điểm tựa tuyệt đối nơi Cha. Một người đang khóc vẫn có thể có bình an. Một người đang sợ vẫn có thể tin. Một người chưa biết chuyện ngày mai ra sao vẫn có thể phó thác. Bình an Kitô giáo không phải là đời không còn vấn đề, mà là giữa vấn đề vẫn biết đời mình thuộc về ai. Nhiều người mất bình an bởi cứ chờ hoàn cảnh hoàn hảo. “Khi con giải quyết xong chuyện này, con sẽ bình an.” Nhưng xong chuyện này lại có chuyện khác. “Khi con cái ổn hết, con sẽ bình an.” Rồi chúng lớn lên và có những vấn đề mới. “Khi sức khỏe tốt lại, con sẽ bình an.” Nhưng thân xác con người rồi cũng già. Nếu bình an phụ thuộc vào hoàn cảnh, ta sẽ phải đợi đến hết đời. Đức Giêsu cho ta một bình an khác: bình an của người biết mình ở trong tay Cha ngay khi bóng tối còn phủ quanh. Đây là thứ bình an không ai có thể cho và cũng không ai có thể lấy.
Có một điều rất đẹp: lời cuối của Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca không phải là một lời nguyền rủa, cũng không phải một lời tuyệt vọng. Người chết bằng một lời cầu nguyện. Sau tất cả, Người vẫn nói với Cha. Điều đó dạy ta một bí quyết rất đơn sơ mà vô cùng quan trọng: trong những giờ đen tối nhất, hãy cứ nói với Chúa. Không cần nói hay. Không cần câu chữ trau chuốt. Không cần cảm xúc sốt sắng. Chỉ đừng cắt đứt cuộc đối thoại. “Lạy Chúa, hôm nay con mệt.” Đó là cầu nguyện. “Lạy Chúa, con sợ.” Đó là cầu nguyện. “Lạy Chúa, con giận vì con không hiểu.” Vẫn là cầu nguyện. “Lạy Chúa, con chẳng còn biết nói gì.” Câu ấy cũng là cầu nguyện. Và đôi khi câu nguyện đẹp nhất chỉ còn là: “Lạy Cha, con ở đây.” Cầu nguyện không phải là trình diễn trước Thiên Chúa một tâm trạng thánh thiện. Cầu nguyện là đem con người thật của ta đến trước Người. Nếu lòng tan nát, đem lòng tan nát đến. Nếu lòng rỗng không, đem cả sự rỗng không đến. Nếu chỉ còn một chút đức tin như sợi chỉ mong manh, hãy trao sợi chỉ ấy cho Chúa. Người có thể giữ ta bằng một sợi chỉ nếu đầu kia nằm trong tay Người.
Có lẽ một trong những lời cầu nguyện cần thiết nhất của đời ta là: “Lạy Chúa, xin đừng để con đồng hóa sự im lặng của Chúa với sự vắng mặt của Chúa.” Bởi Thiên Chúa im lặng không có nghĩa Người đã bỏ đi. Một giáo viên im lặng trong giờ thi không có nghĩa giáo viên không hiện diện. Một người cha đôi khi đứng xa để con tập bước, nhưng mắt ông không rời đứa trẻ. Chúa cũng có những sự im lặng mà ta chỉ hiểu về sau. Hạt giống nằm trong lòng đất tưởng như chẳng có gì xảy ra, nhưng sự sống đang âm thầm tách vỏ. Thứ Sáu Tuần Thánh tưởng là dấu chấm hết, nhưng trong sự im lặng của ngôi mộ, mầu nhiệm Phục Sinh đã ở rất gần. Nếu các môn đệ chỉ đọc sự thật bằng cảm giác của chiều Canvê, họ sẽ kết luận mọi chuyện đã hết. Nhưng Thiên Chúa đang viết một chương mà họ chưa nhìn thấy. Đời ta cũng vậy. Có những trang hôm nay đọc không hiểu. Đừng vội kết luận khi Chúa chưa viết xong câu chuyện.
Đức tin vì thế không phải cảm giác chắc chắn về mọi điều, nhưng là quyết định tin vào Đấng trung tín. Abraham lên đường mà không biết mình sẽ đi đâu. Đức Maria thưa xin vâng mà không biết hết những gì lời ấy sẽ kéo theo. Phêrô bước khỏi thuyền khi mặt nước vẫn còn là mặt nước. Và Đức Giêsu phó thác khi bóng tối vẫn còn là bóng tối. Kinh Thánh không kể câu chuyện của những con người luôn nhìn thấy rõ, mà của những con người dám bước bởi tin Đấng gọi mình. Nếu Thiên Chúa phải giải thích hết mọi sự rồi ta mới đi, đó không còn là đức tin, chỉ là làm theo một bản kế hoạch đã được bảo đảm. Đức tin bắt đầu ở chỗ con đường chưa rõ nhưng tiếng gọi đủ đáng tin. Và nền tảng cuối cùng của đức tin Kitô giáo không phải là ta mạnh, mà là Chúa trung tín. Có ngày đức tin của ta rất mạnh. Có ngày nó yếu. Có ngày ta cầu nguyện với tất cả lòng sốt sắng. Có ngày chỉ đọc được một kinh Lạy Cha rồi ngủ quên. Nhưng ơn cứu độ của ta không dựa trên sự ổn định của cảm xúc mình; nó dựa trên lòng trung tín không thay đổi của Thiên Chúa.
Cho nên, nếu hôm nay ai đó đang ở trong một giai đoạn không còn cảm thấy Chúa, xin đừng vội nghĩ rằng đời sống thiêng liêng của mình đã chết. Có thể Chúa đang dẫn người ấy sâu hơn. Nếu ai đang cầu nguyện trong khô khan, cứ cầu nguyện. Nếu ai tham dự Thánh lễ mà lòng không có cảm xúc, cứ đến với Thánh lễ. Nếu ai đã cầu cho một người thân nhiều năm chưa thấy thay đổi, cứ đặt họ trong tay Chúa. Nếu ai đang đau đến mức chẳng hiểu Chúa muốn gì, đừng cố tạo ra những cảm giác giả tạo; chỉ cần đứng dưới chân Thập Giá và nhìn Đức Giêsu. Người sẽ dạy ta cách tin trong bóng tối. Đừng hỏi mình: “Hôm nay tôi có cảm thấy Chúa không?” trước hết hãy hỏi: “Hôm nay tôi có còn chọn Chúa không?” Đừng hỏi: “Tôi có thấy cầu nguyện dễ chịu không?” hãy hỏi: “Tôi có trung thành gặp Người không?” Đừng hỏi: “Sao Chúa chưa làm điều tôi muốn?” hãy hỏi: “Trong điều đang xảy ra, Chúa đang mời tôi trao điều gì cho Người?” Chính những câu hỏi này dẫn đức tin từ cảm giác tới phó thác, từ trẻ thơ tới trưởng thành, từ chân núi lên Canvê.
Và có lẽ đến cuối đời, tất cả chúng ta rồi cũng phải học lời cầu nguyện cuối cùng ấy. Sẽ có lúc không còn gì để nắm. Tiền bạc phải để lại. Nhà cửa để lại. Danh tiếng để lại. Công việc đang dang dở cũng để lại. Những người ta yêu, dù không muốn, cũng phải rời tay. Thân xác mà cả đời ta chăm sóc cuối cùng cũng yếu dần. Lúc ấy, nếu cả cuộc đời chỉ tập nắm giữ, ta sẽ hoảng sợ. Nhưng nếu từng ngày ta đã học đặt những điều nhỏ bé trong tay Chúa, giờ cuối cùng sẽ chỉ là lần phó thác lớn nhất. Hôm nay tập phó thác một nỗi lo. Ngày mai phó thác một người thân. Khi bị hiểu lầm, phó thác danh dự. Khi kế hoạch thất bại, phó thác tương lai. Khi tuổi già đến, phó thác sức khỏe. Từng lần như thế là tập cho lời cuối đời: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người Kitô hữu không chết vào hư vô. Người Kitô hữu đi từ một bàn tay sang một bàn tay: từ bàn tay của những người thân đang nắm lấy mình sang bàn tay của Cha đã chờ đợi từ muôn đời.
Thập Giá vì thế không dạy ta yêu đau khổ, cũng không bảo ta phải đi tìm đau khổ. Thập Giá dạy ta rằng ngay cả khi đau khổ đến, tình yêu vẫn có thể lớn hơn nó. Bóng tối có thể phủ quanh nhưng không thể phủ kín Thiên Chúa. Cảm giác có thể biến mất nhưng giao ước của Người không biến mất. Ta có thể không hiểu nhưng vẫn có thể tin. Ta có thể khóc nhưng vẫn phó thác. Ta có thể run nhưng vẫn bước tới. Ta có thể đứng trước một tương lai hoàn toàn mờ mịt mà vẫn nói: “Con ở trong tay Cha.” Và đây có lẽ là tự do đẹp nhất mà đức tin trao cho con người: tôi không cần chờ mọi thứ ổn mới bình an; tôi không cần hiểu hết mới tin; tôi không cần cảm thấy Chúa mới biết Chúa ở gần; tôi không cần thấy ánh sáng mới biết đêm tối không phải là tiếng nói cuối cùng.
Canvê vẫn tối khi Đức Giêsu phó thác. Xin nhớ điều ấy. Trời chưa sáng. Kẻ dữ chưa xin lỗi. Thập Giá chưa biến mất. Đau đớn chưa dừng. Ngôi mộ còn đang chờ phía trước. Phục Sinh còn chưa xuất hiện trước mắt bất cứ ai. Nhưng Đức Giêsu đã phó thác. Người không cần nhìn thấy bình minh để tin rằng Cha vẫn là Cha. Có lẽ đây chính là bài học lớn nhất cho tất cả những ai đang đi qua những đêm dài của đời mình. Đừng chờ trời sáng mới tin. Hãy tin giữa đêm. Đừng chờ nước mắt ngừng mới cầu nguyện. Hãy cầu nguyện trong nước mắt. Đừng chờ mọi câu hỏi có câu trả lời mới phó thác. Hãy mang cả những câu hỏi chưa lời giải mà đặt vào tay Chúa. Đừng chờ cảm thấy mạnh mới bước đi. Chính khi yếu nhất, hãy để Chúa cầm tay. Đừng chờ lòng mình đầy cảm xúc mới nói rằng mình yêu Chúa. Có một tình yêu cao hơn cảm xúc: tình yêu ở lại.
Và nếu có ngày ta không còn nói được điều gì khác, hãy mượn chính lời Đức Giêsu mà cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Phó thác người con ta đang lo. Phó thác căn bệnh ta đang mang. Phó thác một tương lai chưa rõ. Phó thác một nỗi đau chẳng ai hiểu. Phó thác một vết thương chưa lành. Phó thác một cuộc hôn nhân đang nhiều thử thách. Phó thác cộng đoàn đang khiến ta mệt mỏi. Phó thác sứ vụ mình không biết sẽ đi về đâu. Phó thác tuổi già. Phó thác cả những lỗi lầm của quá khứ mà ta không thể quay lại sửa. Phó thác những điều chưa hoàn thành. Phó thác những người không còn thuộc về ta. Phó thác cả chính đức tin yếu ớt của mình. Bởi cuối cùng, điều làm ta được cứu không phải là bàn tay ta nắm Chúa mạnh đến đâu, nhưng là bàn tay Chúa không bao giờ buông ta.
Có những đêm Chúa không cất bóng tối đi ngay. Nhưng Người ở với ta trong bóng tối. Có những cơn bão Chúa không làm biển lặng lập tức. Nhưng Người vẫn ở trong thuyền. Có những Thập Giá Chúa không tháo khỏi vai ta. Nhưng Người đứng dưới vai mà đỡ lấy. Có những câu hỏi Chúa chưa trả lời. Nhưng Người trao cho ta chính Người. Và khi đã có Người, ta có thể đi qua cả những đoạn đường mà mình không hiểu. Đức tin cuối cùng không phải là nói: “Con biết mọi chuyện rồi sẽ xảy ra như con mong.” Đức tin là nói: “Dù mọi chuyện không xảy ra như con mong, Cha vẫn là Cha của con.” Đức tin không nói: “Con chắc sẽ không đau.” Đức tin nói: “Nếu đau, con vẫn ở trong tay Cha.” Đức tin không nói: “Con chắc sẽ không mất gì.” Đức tin nói: “Nếu phải mất, xin đừng để con mất Cha.” Đức tin không nói: “Con nhìn thấy hết con đường.” Đức tin nói: “Con không thấy, nhưng Cha thấy.” Đó là đức tin của Canvê. Đó là đức tin đã đi qua cảm giác để trở thành phó thác. Đó là đức tin không còn xây nhà trên cát của những xúc cảm mau đổi mà đặt nền trên đá của lòng trung tín Thiên Chúa.
Xin cho mỗi chúng ta, đặc biệt trong những ngày đời không còn dễ dàng, biết ngước nhìn Đức Kitô chịu đóng đinh. Không phải để tìm một lời giải thích đơn giản cho đau khổ, bởi Thập Giá không phải là một công thức. Nhưng để gặp một Đấng đã đi vào tận cùng bóng tối và ở đó vẫn gọi Thiên Chúa là Cha. Nếu Người đã đi qua con đường ấy, ta không còn phải đi một mình. Nếu Người đã phó thác giữa bóng tối, ta cũng có thể học phó thác. Nếu bàn tay bị đóng đinh của Người đã trao mình vào tay Cha, thì đôi tay run rẩy của ta cũng có một nơi để đặt vào. Và rồi một ngày nào đó, khi mọi bóng tối của đời này qua đi, ta sẽ hiểu điều mà hôm nay ta mới chỉ có thể tin: không một giây phút nào ta bị bỏ rơi; không một giọt nước mắt nào rơi ngoài ánh mắt Thiên Chúa; không một lời cầu nguyện nào tan vào hư vô; không một bước đi nào trong đêm mà Cha không biết; không một Thập Giá nào được mang trong tình yêu mà trở thành vô ích.
Cho đến ngày ấy, xin cho ta đừng sống đức tin như người chạy theo cảm giác. Cảm giác đến, hãy tạ ơn. Cảm giác đi, vẫn trung thành. Được an ủi, hãy yêu Chúa. Bị khô khan, vẫn yêu Chúa. Đường sáng, hãy bước. Đường tối, vẫn bước. Chúa nói, hãy lắng nghe. Chúa im lặng, hãy ở lại. Được chữa lành, hãy ca tụng. Chưa được chữa lành, vẫn phó thác. Có người bên cạnh, hãy biết ơn. Khi phải cô đơn, hãy nhớ Canvê. Và trong mọi hoàn cảnh, chỉ cần giữ một lời cuối cùng trong tim: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Bởi người có đức tin không phải là người không bao giờ đi vào bóng tối. Người có đức tin là người ngay giữa bóng tối vẫn biết tay mình đang nằm trong tay Ai.
Lm. Anmai, CSsR

TIN KHÔNG PHẢI VÌ ĐANG THẤY ÁNH SÁNG – NHƯNG VÌ BIẾT MÌNH ĐANG Ở TRONG TAY CHA
Tin Mừng: Lc 23,46
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Có lẽ trong tất cả những lời Đức Giêsu đã nói trên Thập Giá, đây là một trong những lời bình an nhất, nhưng cũng là một trong những lời khó sống nhất. Bình an, bởi vì đó là lời của một người đã đặt trọn đời mình vào tay Cha. Khó sống, bởi vì lời ấy được thốt ra không phải giữa một buổi sáng chan hòa ánh nắng, không phải sau một phép lạ huy hoàng, không phải khi đám đông đang tung hô, cũng không phải trong một giờ cầu nguyện ngọt ngào trên núi cao, nhưng vào chính lúc mọi ánh sáng chung quanh Đức Giêsu dường như đã tắt. Thân thể Người đã kiệt quệ. Những người thân yêu chẳng còn làm gì được. Các môn đệ phần lớn đã bỏ chạy. Những tiếng chế giễu vẫn còn đó. Những chiếc đinh vẫn còn đó. Vết thương vẫn còn đó. Cái chết đã ở rất gần. Không có một dấu hiệu nào trên bình diện con người bảo đảm rằng mọi sự sắp trở nên tốt đẹp. Vậy mà chính trong giờ phút ấy, Đức Giêsu lại gọi: “Lạy Cha.” Và Người nói: “Con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đó là đức tin. Đức tin không phải là nhìn thấy con đường rồi mới bước. Đức tin nhiều khi là bước đi vì biết bàn tay nào đang nắm lấy mình. Đức tin không phải lúc nào cũng là thấy ánh sáng; có những lúc đức tin chỉ còn là biết rằng dù bóng tối có phủ kín, mình vẫn đang ở trong tay Cha. Chúng ta thường nghĩ rằng mình tin Chúa khi lòng mình bình an, khi lời cầu xin được nhận lời, khi gia đình thuận hòa, sức khỏe ổn định, công việc thuận lợi, tương lai rõ ràng. Nhưng có lẽ những lúc ấy, chưa chắc ta đã biết hết chiều sâu của chữ “tin”. Bởi vì khi mọi sự đang sáng sủa, ta có thể đang tin vào ánh sáng hơn là tin vào Thiên Chúa. Khi mọi chuyện đang thuận lợi, ta có thể đang tin vào sự thuận lợi hơn là tin vào Cha. Khi những điều mình mong chờ liên tiếp xảy đến, ta rất dễ đồng hóa lòng tin với cảm giác được Chúa thương. Chỉ đến một ngày ánh sáng ấy tắt đi, những gì từng nâng đỡ mình rơi khỏi tay mình, những câu trả lời biến mất, con đường phía trước mù mịt, ta mới bắt đầu biết mình thực sự đặt niềm tin ở đâu. Có những người nói: “Con tin Chúa,” nhưng điều họ muốn nói sâu xa là: “Con tin Chúa miễn là Chúa làm theo điều con mong.” Có những người nói: “Con phó thác,” nhưng sự phó thác ấy chỉ tồn tại cho đến khi biến cố đầu tiên đi ngược ý mình. Có những người cầu nguyện rất sốt sắng khi cuộc đời đang đẹp, nhưng đến khi bệnh tật đến, một người thân ra đi, gia đình có chuyện, sứ vụ thất bại, người khác hiểu lầm, lời cầu xin kéo dài mà chẳng thấy câu trả lời, họ lập tức hỏi: “Chúa đâu rồi?” Câu hỏi ấy không có gì đáng trách. Chính Đức Giêsu cũng đã từng kêu lên giữa bóng tối. Nhưng hành trình đức tin không dừng ở câu hỏi ấy. Tin Mừng đưa ta đi xa hơn: từ tiếng kêu trong bóng tối đến lời phó thác trong bóng tối. Ánh sáng chưa trở lại, Thập Giá chưa được tháo xuống, nhưng Đức Giêsu vẫn nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Và chính ở đó, chúng ta hiểu rằng đỉnh cao của đức tin không phải là lúc ta hiểu tất cả, nhưng là lúc ta có thể trao tất cả cho Thiên Chúa ngay cả khi ta chưa hiểu gì.
Chúng ta thường muốn Thiên Chúa đưa cho mình một tấm bản đồ trước khi xin mình lên đường. Ta muốn biết tại sao chuyện này xảy ra, chuyện kia kéo dài bao lâu, rồi ngày mai sẽ thế nào, người nọ có thay đổi không, căn bệnh này sẽ đi đến đâu, dự định kia có thành công không, những hy sinh của mình có được ghi nhận không, những năm tháng mình đã bỏ ra cuối cùng có kết quả gì không. Ta muốn Chúa giải thích rồi ta mới tin. Ta muốn Chúa cho thấy ánh sáng rồi ta mới bước. Ta muốn Chúa chứng minh rằng Người đang làm chủ mọi sự rồi ta mới chịu trao mình cho Người. Nhưng lạ lùng thay, đường lối của Thiên Chúa nhiều khi không như thế. Người không luôn đưa cho ta câu trả lời; Người trao cho ta chính Người. Người không luôn cho ta nhìn thấy đoạn cuối của con đường; Người mời ta nắm lấy tay Người trong đoạn đường hiện tại. Người không hứa rằng ta sẽ không bao giờ phải đi qua đêm tối; Người chỉ hứa rằng đêm tối cũng không thể tách ta khỏi tình yêu của Người. Chúng ta muốn ánh sáng, Chúa trao một bàn tay. Chúng ta muốn lời giải thích, Chúa trao một sự hiện diện. Chúng ta muốn biết tương lai, Chúa nói: “Hãy ở lại với Ta hôm nay.” Chúng ta muốn mọi khúc mắc được tháo gỡ trước khi đặt chân xuống, trong khi Chúa chỉ xin ta đủ tin để bước một bước kế tiếp. Và có lẽ đây là điều con người hiện đại khó chấp nhận nhất. Ta quen kiểm soát. Ta quen lên kế hoạch. Ta quen đo lường, dự báo, tính toán, chuẩn bị phương án một, phương án hai, phương án ba. Những điều ấy không sai. Người khôn ngoan phải biết dự liệu. Nhưng có những biến cố vượt quá mọi dự liệu. Có những đêm không một kế hoạch nào cứu được ta khỏi cảm giác chơ vơ. Có những giây phút tiền bạc, kiến thức, kinh nghiệm, các mối quan hệ, uy tín, địa vị đều trở nên nhỏ bé trước một biến cố quá lớn. Có một ngày bác sĩ nói một câu làm cả gia đình chết lặng. Có một ngày một người mình từng nghĩ sẽ ở bên mình mãi lại bước đi. Có một ngày người con mình đã dành cả đời yêu thương chọn một con đường khiến mình đau lòng. Có một ngày công việc mình dốc cả tâm huyết bị người khác phủ nhận. Có một ngày tuổi già đến, sức lực giảm, những nơi từng cần mình không còn cần mình như trước. Có một ngày ta nhìn lại và chợt nhận ra những gì ta tưởng thuộc về mình hóa ra đều chỉ được trao cho mình một thời gian. Và trong những giờ phút ấy, câu hỏi cuối cùng không còn là: “Tôi kiểm soát được bao nhiêu?” nhưng là: “Tôi đang ở trong tay ai?” Nếu chỉ ở trong tay mình, ta có lý do để tuyệt vọng, bởi tay mình yếu lắm. Nếu chỉ ở trong tay người khác, ta có lý do để sợ, bởi lòng người thay đổi lắm. Nếu đời mình chỉ nằm trong tay hoàn cảnh, ta có lý do để hoảng hốt, bởi hoàn cảnh vô thường lắm. Nhưng nếu đời ta thực sự ở trong tay Cha, thì ngay cả khi ta không thấy ánh sáng, vẫn còn một nơi để trao mình. Chính vì thế, lời cuối của Đức Giêsu trên Thập Giá không phải là một lời tuyệt vọng, nhưng là một lời trở về: “Con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người không nói: “Con hiểu hết rồi.” Người không nói: “Mọi sự đang dễ dàng.” Người không nói: “Con đang cảm thấy Cha thật gần.” Người chỉ nói một điều đủ cho tất cả: “Trong tay Cha.” Có những ngày đời người cũng chỉ cần giữ được ba chữ ấy thôi: trong tay Cha.
Thật ra, ta sợ bóng tối không chỉ vì bóng tối, mà còn vì trong bóng tối ta không kiểm soát được bước chân mình. Khi có ánh sáng, ta thấy đâu là đường, đâu là hố, đâu là vật cản. Trong bóng tối, ta phải dựa vào người dẫn đường. Có lẽ vì thế mà Thiên Chúa đôi khi cho phép đức tin của ta đi qua những giai đoạn không còn cảm giác chắc chắn. Không phải để hành hạ ta, càng không phải vì Người bỏ ta, nhưng để thanh luyện ta khỏi một ảo tưởng rất sâu: tưởng rằng ta có thể sống bằng cảm giác về Thiên Chúa thay vì sống bằng chính Thiên Chúa. Có những thời gian cầu nguyện rất sốt sắng. Ta bước vào nhà thờ là thấy bình an. Nghe một câu Lời Chúa là thấy xúc động. Dâng Thánh Lễ thấy lòng mình ấm lại. Làm việc tông đồ thấy hăng say. Những lúc ấy thật quý. Nhưng rồi có những mùa khô hạn. Ta vẫn quỳ đó mà tâm hồn trơ trọi. Kinh vẫn đọc nhưng chẳng thấy gì. Lời Chúa vẫn nghe nhưng lòng không rung động. Thánh Lễ vẫn dâng nhưng cảm xúc không còn như trước. Sứ vụ vẫn làm mà không còn những kết quả khiến mình vui. Ta bắt đầu sợ rằng mình đang mất Chúa. Không. Có khi chính lúc ấy, Chúa đang đưa ta từ một đức tin dựa trên cảm giác sang một đức tin dựa trên lòng trung tín. Một đứa trẻ nhỏ đi bên cha giữa ban ngày có thể chạy nhảy vì nó thấy rõ mọi sự. Nhưng nếu đang đi mà trời tối, đứa trẻ sẽ nắm tay cha chặt hơn. Bóng tối không làm người cha biến mất. Bóng tối chỉ làm đứa trẻ nhận ra nó cần bàn tay cha đến mức nào. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Có những lúc Chúa để ta không còn nhìn thấy những bảo đảm quen thuộc để ta học điều sâu hơn: không phải tin vì đang thấy, nhưng tin vì biết mình đang được giữ. Điều làm ta bình an không phải là ta đang thấy Cha, mà là Cha đang thấy ta. Không phải ta đang giữ tay Cha thật chặt, mà là tay Cha chưa bao giờ buông tay ta. Một người đang chìm giữa dòng nước không được cứu bởi sức nắm của bàn tay mình, nhưng bởi bàn tay mạnh hơn đang kéo mình lên. Có những lúc ta chỉ còn có thể thưa: “Lạy Chúa, con không giữ nổi Chúa nữa. Xin Chúa giữ lấy con.” Đó không phải là thất bại của đức tin. Đôi khi đó lại là đức tin tinh tuyền nhất. Bao năm ta tưởng phó thác nghĩa là mình phải mạnh mẽ, phải không khóc, phải không sợ, phải luôn mỉm cười và nói “xin vâng” thật đẹp. Không. Đức Giêsu trong cuộc thương khó đã đau thật, khát thật, cô đơn thật, kêu lên thật. Kitô giáo không bắt con người giả vờ không đau. Phó thác không phải là bảo trái tim đừng run. Phó thác là trái tim vẫn run nhưng không chạy khỏi tay Cha. Phó thác không phải là không còn nước mắt, nhưng là để nước mắt mình rơi vào lòng bàn tay Thiên Chúa. Phó thác không phải là nói “con không sợ,” nhưng là nói: “Con đang sợ, nhưng con vẫn ở đây với Cha.” Phó thác không phải là hiểu tại sao, mà là dám thưa: “Con chưa hiểu, nhưng con tin Cha không dẫn con vào hư mất.” Và nếu hôm nay có ai đang mỏi mệt vì đã cầu nguyện quá lâu mà chưa thấy ánh sáng, xin đừng vội nghĩ mình đã mất đức tin. Có khi đức tin đang bắt đầu trưởng thành chính ở chỗ ta vẫn còn quỳ xuống dù chẳng cảm thấy gì; vẫn còn đến với Chúa dù chưa có câu trả lời; vẫn còn thưa “Lạy Cha” trong khi lòng mình đầy câu hỏi; vẫn còn đặt ngày mai vào tay Người dù hôm nay chưa hiểu nổi.
“Trong tay Cha.” Đẹp biết bao nếu đó không chỉ là lời cuối của Đức Giêsu mà còn là linh đạo của đời chúng ta. Chúng ta khổ nhiều không hẳn vì biến cố quá nặng, nhưng vì cứ muốn giữ trong tay mình những điều vượt quá sức mình. Ta giữ tương lai trong tay rồi lo. Ta giữ con cái trong tay rồi sợ. Ta giữ danh dự trong tay rồi đau khi bị xúc phạm. Ta giữ ý riêng trong tay rồi bất an khi mọi việc đi khác ý mình. Ta giữ người mình yêu trong tay rồi hoảng hốt khi nhận ra mình không thể giữ họ mãi. Ta giữ sức khỏe trong tay rồi sống nơm nớp mỗi khi cơ thể thay đổi. Ta giữ chức vụ, tiếng tốt, công việc, thành quả trong tay và tưởng rằng mất chúng là mất chính mình. Càng siết chặt, càng mệt. Càng cố kiểm soát, càng sợ. Bởi vì tận sâu lòng ta biết: chẳng có gì trên đời này thật sự nằm yên trong bàn tay con người. Ta có thể chăm sóc con cái nhưng không thể sống thay đời chúng. Ta có thể yêu một người nhưng không thể bắt họ ở lại. Ta có thể chữa bệnh nhưng không thể mua sự bất tử. Ta có thể làm việc tận tâm nhưng không thể buộc mọi người hiểu đúng mình. Ta có thể vun đắp một cộng đoàn nhưng không thể kiểm soát mọi tâm hồn. Ta có thể cố gắng sống tử tế nhưng không thể ngăn mọi lời vu oan. Ta có thể cầu nguyện nhưng không thể ra lệnh cho Thiên Chúa. Và đến một lúc nào đó, điều làm tâm hồn được giải thoát là mở bàn tay mình ra. Không phải vì mình bất cần. Không phải vì mình buông xuôi. Nhưng vì mình nhận ra có một bàn tay khác lớn hơn. “Lạy Cha, con xin phó thác.” Con phó thác người con mà con lo lắng. Con phó thác người chồng, người vợ mà con không thể thay đổi. Con phó thác căn bệnh này. Con phó thác tuổi già đang đến. Con phó thác những điều người ta hiểu lầm về con. Con phó thác sứ vụ con đang cố gắng mà chưa thấy kết quả. Con phó thác một tương lai con chưa nhìn rõ. Con phó thác cả những lỗi lầm trong quá khứ mà con không thể quay lại sửa chữa. Con phó thác người đã ra đi mà con vẫn còn thương nhớ. Con phó thác chính con, với những yếu đuối con đã vật lộn bao năm mà vẫn chưa thắng hết. Phó thác không có nghĩa là ngày mai mọi vấn đề tự động biến mất. Đức Giêsu nói lời phó thác rồi Người chết. Nhưng chính cái chết ấy nằm trong tay Cha và vì nằm trong tay Cha nên cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng. Đây là niềm hy vọng lớn nhất của người Kitô hữu: điều ta trao vào tay Thiên Chúa có thể đi qua cái chết nhưng không bao giờ đi vào hư vô. Ta thấy Thứ Sáu Tuần Thánh, Cha đã thấy sáng Phục Sinh. Ta thấy viên đá lấp cửa mồ, Cha đã thấy ngôi mộ trống. Ta thấy dấu chấm hết, Cha có thể đang viết một câu mới. Ta thấy mất mát, Cha nhìn thấy một con đường sinh hoa trái mà hôm nay ta chưa thể hiểu. Vì thế, phó thác không phải là phủ nhận thực tại. Phó thác là đặt thực tại vào một chân trời lớn hơn. Trên Thập Giá, mọi thứ xem ra thất bại. Nhưng trong tay Cha, chính nơi tưởng là thất bại nhất lại trở thành nơi cứu độ nhân loại. Điều ấy phải làm ta rất khiêm tốn khi đánh giá những gì đang xảy ra trong cuộc đời mình. Chưa chắc điều hôm nay ta gọi là “hết” thực sự là hết. Chưa chắc cánh cửa đóng lại là Thiên Chúa bỏ ta. Chưa chắc một lần thất bại là đời ta vô ích. Chưa chắc một mùa khô hạn là Chúa xa ta. Chưa chắc việc phải dừng lại là mất sứ mạng. Chưa chắc sự yếu đi của tuổi già là hết khả năng sinh hoa trái. Có khi cây không còn ra cành mới nhưng rễ đang đi sâu hơn. Có khi Thiên Chúa lấy khỏi ta khả năng làm nhiều để dạy ta cách yêu sâu. Có khi Người lấy khỏi ta tiếng vỗ tay để trái tim chỉ còn cần ánh mắt của Người. Có khi Người để ta mất một chỗ đứng để ta tìm lại nơi mình thực sự thuộc về. Có khi Người để một kế hoạch tan vỡ để cứu ta khỏi việc đồng hóa ý riêng với thánh ý. Và tất cả chỉ có thể được hiểu khi ta đủ bình tâm đặt chúng trong tay Cha.
Đặc biệt đối với đời tận hiến, đời linh mục, đời phục vụ, lời “con xin phó thác hồn con trong tay Cha” phải là một lời được học suốt đời. Ngày đầu bước vào đời tu, người ta dễ phó thác vì trong lòng đầy lý tưởng. Ngày chịu chức, ngày khấn dòng, ngày nhận sứ vụ, lòng người có thể rực sáng với bao ước mơ. Nhưng phó thác thật không chỉ nằm trong ngày ta hăng say bước đi. Phó thác thật còn nằm trong ngày ta được sai đến nơi mình không muốn đến, ngày một sứ vụ đang quen bỗng được trao cho người khác, ngày mình đã cố gắng rất nhiều mà chẳng ai biết, ngày những người từng quý mến bỗng hiểu lầm, ngày sức khỏe không còn cho phép mình làm điều đã từng làm, ngày phải học rời tay khỏi một công việc mình yêu, ngày phải nhìn lớp trẻ làm khác mình, ngày chợt nhận ra Hội Thánh vẫn đi tiếp mà không cần mình ở trung tâm. Có một cuộc tử đạo âm thầm trong đời dâng hiến mà không ai phong thánh cho: tử đạo của ý riêng, tử đạo của nhu cầu được nhìn nhận, tử đạo của ước muốn mình phải cần thiết, tử đạo của cảm giác “không có tôi thì việc này không xong.” Và chính ở đó, người tận hiến được mời nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Trên Thập Giá, Đức Giêsu không còn “làm” gì theo cách người đời hiểu. Tay Người bị đóng lại. Chân Người bị đóng lại. Người không còn đi giảng, không còn chữa bệnh, không còn hóa bánh, không còn vượt biển, không còn tụ họp đám đông. Nhưng chưa bao giờ Người cứu độ thế giới cách sâu xa hơn lúc ấy. Bài học quá lớn: giá trị của đời ta trước mặt Thiên Chúa không tùy vào việc ta còn làm được bao nhiêu, nhưng tùy vào việc ta thuộc về Người đến đâu. Có người làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng trong lòng chưa trao mình cho Chúa. Có người đến tuổi già không làm được bao nhiêu nữa nhưng từng hơi thở đã thành của lễ. Có người đứng trên bục giảng hàng chục năm nhưng chưa chắc đã phó thác bằng một người nằm trên giường bệnh và mỗi sáng chỉ đủ sức thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con lại thuộc về Chúa.” Sẽ có một ngày mỗi người chúng ta phải trả lại sứ vụ. Trả lại cộng đoàn. Trả lại những công việc từng gắn với tên mình. Trả lại khả năng nói, đi, làm. Trả lại sức khỏe. Trả lại chính thân xác này. Và nếu cả đời đã tập sống trong tay Cha, giây phút cuối sẽ không hoàn toàn xa lạ. Cái chết khi ấy chỉ là lời phó thác cuối cùng của một chuỗi phó thác đã bắt đầu từ rất lâu: “Lạy Cha, ngày trẻ con đã trao Cha tuổi trẻ. Ngày khỏe con trao Cha sức lực. Ngày làm việc con trao Cha sứ vụ. Ngày thành công con trao Cha thành quả. Ngày thất bại con trao Cha nước mắt. Ngày bị hiểu lầm con trao Cha danh dự. Ngày già con trao Cha sự bất lực. Và giờ đây, con chẳng còn gì để trao ngoài chính hơi thở cuối cùng này. Con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Một đời như thế đẹp biết bao. Không phải vì đời ấy không có bão tố, nhưng vì qua mọi bão tố, con người vẫn biết mình thuộc về ai.
Có những người đang đọc những dòng này có thể đang ở trong một đêm rất dài. Có người không biết ngày mai chuyện gì sẽ xảy ra. Có người đang chờ kết quả khám bệnh. Có người đã mất một người thân và căn nhà từ đó bỗng rộng ra một cách đáng sợ. Có người đang đau vì con cái. Có người mang một cuộc hôn nhân đầy những vết nứt mà không biết sẽ đi về đâu. Có người đã chịu một sự bất công quá lâu. Có người bị người mình tin tưởng phản bội. Có người đang mang một bí mật khiến đêm nào cũng khó ngủ. Có người nhìn tương lai mà không thấy cửa nào mở. Có người trong đời tu đang mệt mỏi, vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện, vẫn làm việc nhưng bên trong đã cạn. Có người làm mục vụ đã nhiều năm và đang tự hỏi liệu tất cả những gì mình làm có ý nghĩa gì không. Có người sống giữa rất nhiều người mà vẫn cô độc. Có người chẳng muốn điều gì lớn lao nữa, chỉ xin một chút bình an mà cũng không thấy. Với những người ấy, có lẽ nói “mọi chuyện rồi sẽ ổn” là quá dễ. Ta không biết ngày mai mọi chuyện có “ổn” theo nghĩa ta mong hay không. Đức tin Kitô giáo cũng không phải một lời hứa rằng mọi câu chuyện trên đời đều kết thúc theo kịch bản chúng ta thích. Người công chính vẫn có thể bệnh. Người tốt vẫn có thể bị oan. Người cầu nguyện vẫn có thể mất người thân. Người trung thành vẫn có thể trải qua cô đơn. Chính Con Thiên Chúa đã chết trên Thập Giá. Nhưng Tin Mừng cho ta một lời mạnh hơn nhiều so với câu “mọi chuyện rồi sẽ ổn”: dù chuyện gì xảy ra, đời con vẫn ở trong tay Cha. Đó mới là nền đá. Tôi không biết ngày mai, nhưng Cha biết. Tôi không kiểm soát được tương lai, nhưng tương lai của tôi không ra khỏi tay Người. Tôi không hiểu con đường này, nhưng Người hiểu. Tôi không đủ mạnh để đi hết đoạn đường, nhưng tôi không phải đi một mình. Tôi không nhìn thấy ánh sáng, nhưng bóng tối của tôi vẫn nằm dưới ánh mắt Người. Nếu hôm nay ta không cầu nguyện nổi những lời dài, hãy chỉ cầu một câu: “Con ở trong tay Cha.” Khi sợ: “Con ở trong tay Cha.” Khi bệnh: “Con ở trong tay Cha.” Khi người khác bỏ mình: “Con ở trong tay Cha.” Khi bị hiểu lầm: “Con ở trong tay Cha.” Khi thất bại: “Con ở trong tay Cha.” Khi thấy mình già đi: “Con ở trong tay Cha.” Khi chẳng biết phải làm gì nữa: “Con ở trong tay Cha.” Khi đêm xuống mà lòng đầy lo âu: “Con ở trong tay Cha.” Có những lời cầu nguyện không làm biến cố thay đổi ngay, nhưng làm vị trí của ta trước biến cố thay đổi hoàn toàn. Một người nghĩ mình rơi vào hư vô sẽ hoảng loạn. Một người biết mình đang rơi vào vòng tay Cha có thể vẫn khóc, vẫn đau, nhưng không tuyệt vọng. Hình ảnh ấy thật đẹp: có những lúc tưởng như đời đang rơi, nhưng người có đức tin hiểu rằng không có khoảng không nào sâu đến mức vượt khỏi lòng bàn tay Thiên Chúa. Ta có thể rơi khỏi một vị trí, khỏi một kế hoạch, khỏi một mối quan hệ, khỏi sức khỏe, khỏi những bảo đảm quen thuộc; nhưng nếu ta thuộc về Thiên Chúa, ta không rơi khỏi tay Người.
Và có lẽ đây là điều chúng ta cần tập mỗi ngày, chứ đừng chờ đến giờ hấp hối mới học lời Đức Giêsu. Mỗi tối trước khi ngủ, hãy tập trả ngày sống lại cho Cha: “Hôm nay có điều con làm được, con cảm tạ Cha. Có điều con làm chưa tốt, con xin Cha tha thứ. Có điều con chưa giải quyết xong, con xin trao lại. Có người con đang lo, con đặt họ trong tay Cha. Có câu nói người khác làm con đau, con trao vết thương ấy cho Cha. Có công việc ngày mai chưa biết ra sao, con xin phó thác. Và nếu đêm nay là đêm cuối của đời con, con cũng xin được ngủ trong tay Cha.” Một người biết kết thúc ngày sống như thế sẽ dần học được tự do. Không phải tự do vì chẳng còn trách nhiệm, nhưng tự do vì không tự phong mình làm Thiên Chúa. Ta làm hết phần mình rồi để phần của Thiên Chúa cho Thiên Chúa. Ta gieo hạt, tưới nước, chăm bón, nhưng không đứng bên hạt giống cả đêm bắt nó phải mọc. Ta yêu con mình, dạy chúng, cầu nguyện cho chúng, đồng hành với chúng, nhưng cuối cùng phải nhớ chúng thuộc về Chúa trước khi thuộc về ta. Ta làm việc bằng tất cả lương tâm, nhưng không lấy thành công làm bằng chứng rằng đời mình có giá trị. Ta nói sự thật, sống ngay thẳng, nhưng không thể bắt mọi người hiểu đúng mình. Ta xin chữa lành, nhưng cũng dám thưa: “Nếu đường của con phải đi qua bệnh tật, xin Cha đi cùng con.” Ta cầu cho những kế hoạch tốt đẹp, nhưng dám thêm: “Nếu điều này không phải đường Cha muốn, xin cho con đủ tự do để buông.” Đây không phải thái độ thụ động. Đây là sự tự do của người con. Người con làm tất cả những gì có thể nhưng biết rằng nhà mình nằm trong tay Cha. Và biết đâu điều khiến ta mệt mỏi nhất bao lâu nay không phải vì gánh quá nặng, nhưng vì ta cứ mang cả những gánh vốn không thuộc phần mình. Có những việc ta chỉ có thể cầu nguyện chứ không thể sửa. Có những con người ta chỉ có thể yêu chứ không thể điều khiển. Có những câu hỏi ta chỉ có thể sống cùng chứ chưa thể trả lời. Có những mất mát ta chỉ có thể khóc chứ không thể đảo ngược. Có những đoạn đường chỉ có thể bước từng ngày. Và trong tất cả những điều ấy, lời của Chúa Giêsu vẫn là chiếc neo: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Thập Giá cho thấy đức tin Kitô giáo không phải niềm tin của những người luôn nhìn thấy ánh sáng, nhưng là niềm tin của những người biết ánh sáng vẫn tồn tại ngay cả khi mắt họ chưa thấy. Mặt trời không biến mất chỉ vì người ta đang đứng trong đêm. Thiên Chúa không vắng mặt chỉ vì lòng ta không cảm được Người. Một đứa trẻ ngủ trong vòng tay mẹ đâu cần biết con đường mẹ đang đi qua; nó chỉ cần biết mình được bồng. Có lẽ đến cuối cùng, sự thánh thiện cũng đơn sơ như thế: không phải biết hết về Thiên Chúa, nhưng dám để Thiên Chúa bồng lấy đời mình. Bao nhiêu năm ta đã cố mạnh. Bao nhiêu năm ta đã cố hiểu. Bao nhiêu năm ta đã cố chứng minh, cố bảo vệ, cố giữ, cố sắp xếp, cố kiểm soát. Rồi đến một tuổi nào đó, sau đủ những va vấp của cuộc đời, người ta bắt đầu hiểu điều quan trọng nhất không phải là tay mình nắm được bao nhiêu, mà là mình có dám để bản thân nằm trong tay Cha hay không. Bàn tay ấy đã tạo dựng ta từ hư vô. Bàn tay ấy dẫn ta qua những năm tháng ta không nhớ nổi. Bàn tay ấy đã cứu ta nhiều lần mà ta chẳng hay. Bàn tay ấy đón đứa con hoang trở về. Bàn tay ấy chạm vào người phong cùi, nâng người đau yếu, chúc lành cho trẻ nhỏ. Và đôi tay của Đức Kitô trên Thập Giá, dù bị đinh xuyên thấu, lại chính là dấu chỉ rõ nhất rằng Thiên Chúa thà để tay mình bị thương còn hơn buông con người ra. Vậy ta còn sợ điều gì? Ta có thể không thấy ánh sáng, nhưng ta biết mình đang ở trong tay Cha. Ta có thể chưa hiểu, nhưng ta biết Ai đang giữ đời mình. Ta có thể đang khóc, nhưng nước mắt ấy không rơi vào khoảng không. Ta có thể đang bước qua Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng Thứ Sáu ấy đã được đặt trong lòng mầu nhiệm Phục Sinh. Ta có thể chẳng còn đủ sức nói một lời cầu nguyện dài, nhưng chỉ cần còn đủ hơi để thưa “Lạy Cha,” ta vẫn chưa mất đường về.
Và rồi sẽ đến một ngày, sớm hay muộn, mỗi người đều phải nói lời của Đức Giêsu theo nghĩa trọn vẹn nhất. Khi ấy ta không mang theo được tài sản. Không mang theo chức danh. Không mang theo những tràng pháo tay. Không mang theo căn nhà đã xây. Không mang theo những điều người ta từng nói tốt hay xấu về mình. Không mang theo những thành tựu khiến ta từng tự hào. Hai bàn tay ta sẽ mở ra, hoàn toàn trống. Nhưng thật ra, đó không phải là lúc ta mất tất cả. Đó là lúc ta khám phá điều duy nhất cần thiết: chỉ cần đời mình rơi vào đúng bàn tay. Người đã tập phó thác từng ngày sẽ có thể nhắm mắt mà nói: “Con không biết bên kia cái chết thế nào, nhưng con biết Cha đang ở đó. Con không thấy ánh sáng, nhưng con biết con đang ở trong tay Cha.” Đức tin cuối cùng không phải là một hệ thống lý luận ta mang theo bên mình, mà là một tương quan. Không phải “tôi biết mọi câu trả lời,” nhưng là “tôi biết Đấng tôi đã tin.” Không phải “tôi hiểu hết đời tôi,” nhưng là “tôi biết đời tôi thuộc về ai.” Có thể suốt cuộc đời còn rất nhiều câu “tại sao” không được giải đáp. Có những vết thương chỉ đến khi gặp Chúa ta mới hiểu. Có những mất mát có lẽ mãi ở đời này vẫn là một mầu nhiệm. Nhưng nếu cuối cùng ta có thể đặt tất cả vào tay Cha, như Đức Kitô đã làm trên Thập Giá, thế là đủ. Đủ để chết trong bình an. Đủ để sống những ngày còn lại không quá hoảng hốt. Đủ để yêu mà không chiếm hữu. Đủ để phục vụ mà không cần được tôn vinh. Đủ để thất bại mà không mất giá trị của mình. Đủ để già đi mà không thấy đời vô nghĩa. Đủ để buông những gì cần buông. Đủ để đi qua bóng tối mà không gọi bóng tối là tiếng nói cuối cùng.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, có những ngày chúng con tin vì chúng con thấy quá nhiều ánh sáng, nhưng cũng có những ngày chúng con phải học tin trong bóng tối. Xin đừng để chúng con chỉ yêu Chúa khi Chúa làm cho đường đời dễ đi. Xin đừng để chúng con chỉ phó thác khi mọi việc xảy ra đúng ý. Xin dạy chúng con lời cầu nguyện cuối cùng của Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Khi con không hiểu, xin cho con vẫn tin. Khi con không thấy, xin cho con vẫn bước. Khi con mệt mỏi, xin cho con biết tựa vào Cha. Khi con mất điều mình quý, xin nhắc con rằng con chưa mất Cha. Khi người khác rời xa, xin nhắc con rằng tay Cha vẫn ở đó. Khi tương lai mờ mịt, xin đừng nhất thiết cho con thấy cả con đường; chỉ xin cho con đủ ánh sáng cho một bước và đủ lòng tin cho bước kế tiếp. Khi cầu nguyện khô khan, xin đừng để con chạy theo cảm giác; xin cho con trung thành ở lại. Khi tuổi già đến, xin cho con biết trao dần mọi sự. Khi bệnh tật làm con yếu đi, xin cho con nhận ra giá trị đời mình không nằm trong sức lực. Khi sứ vụ phải trao lại, xin cho con vui vì công việc là của Chúa chứ không phải của con. Khi danh dự bị tổn thương, xin cho con nhớ tên con đã được ghi trong lòng Cha. Khi một người con thương bước ra khỏi vòng tay con, xin giúp con đặt họ vào vòng tay lớn hơn của Cha. Khi con đứng trước một nấm mộ, xin cho con tin rằng người con yêu đã đi khỏi tầm mắt con nhưng không đi khỏi tầm tay Chúa. Và khi đến lượt con đi qua cánh cửa cuối cùng, nếu miệng con không còn đủ sức đọc một kinh dài, xin cho trái tim con còn nhớ được một điều: con đang ở trong tay Cha.
Tin không phải vì đang thấy ánh sáng. Tin là khi đêm đã xuống mà ta vẫn biết nhà Cha còn đó. Tin không phải vì mọi câu hỏi đã có câu trả lời. Tin là dù chưa có câu trả lời, ta vẫn biết Đấng mình đang thưa chuyện là Cha. Tin không phải vì con đường không có Thập Giá. Tin là trên chính Thập Giá ấy, ta vẫn có thể nói: “Lạy Cha.” Tin không phải vì mình mạnh. Tin là vì bàn tay đang giữ mình mạnh hơn tất cả những gì có thể kéo mình xuống. Vì thế, nếu hôm nay cuộc đời đang sáng, hãy cảm tạ Chúa, nhưng đừng chỉ tin vào ánh sáng. Nếu hôm nay cuộc đời đang tối, đừng tuyệt vọng, bởi bóng tối không đồng nghĩa với việc Thiên Chúa đã rời đi. Dù sáng hay tối, hãy nhớ một điều thôi: mình đang ở trong tay Cha. Và một khi còn ở trong tay Cha, đời ta chưa bao giờ là một đời bị bỏ rơi. Một khi còn ở trong tay Cha, Thập Giá chưa bao giờ là dấu chấm hết. Một khi còn ở trong tay Cha, ngay cả cái chết cũng chỉ là cánh cửa. Một khi còn ở trong tay Cha, có thể ta chưa thấy bình minh, nhưng bình minh đã nằm trong lời hứa của Người.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – TẤT CẢ CỦA ĐỜI TÔI
Tin Mừng: Ga 6,66-69
“Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?”
Có những câu nói trong Tin Mừng nghe qua tưởng như rất đơn sơ, nhưng càng sống lâu, càng đi nhiều, càng nếm đủ những vui buồn của phận người, ta càng thấy đó không còn là một câu nói nữa, mà là cả một đời người được cô đọng lại. “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Câu nói của Phêrô năm xưa bên Đức Giêsu có lẽ cũng phải là câu nói sau cùng của mỗi người chúng ta, nhất là của một người đã chọn Đức Kitô làm phần gia nghiệp của đời mình. Không phải vì ta không còn ai khác để gặp, không còn nơi nào khác để đến, không còn công việc nào khác để làm, cũng không phải vì cuộc đời đã khép hết mọi cánh cửa, nhưng vì sau tất cả những gì đã đi qua, sau tất cả những gì từng tưởng là quan trọng, từng tưởng là không thể thiếu, từng nghĩ rằng mất nó thì đời mình sẽ sụp đổ, ta mới nhận ra chỉ có một Đấng thực sự không thể thay thế: Đức Giêsu Kitô, và hơn nữa, Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Người không chỉ là một phần trong đời tôi. Người không phải một chọn lựa đứng bên cạnh những chọn lựa khác. Người không phải một mối bận tâm đạo đức giữa trăm ngàn mối bận tâm của đời sống. Người phải là tất cả. Không phải vì thế gian chẳng còn gì đẹp, nhưng vì mọi vẻ đẹp chỉ tìm được đúng chỗ của nó khi được đặt dưới ánh sáng của Người. Không phải vì con người không đáng yêu, nhưng vì ta chỉ biết yêu con người đúng nghĩa khi đã học yêu từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô. Không phải vì sứ vụ không quan trọng, nhưng vì sứ vụ sẽ trở thành một thứ thần tượng nếu ta làm rất nhiều việc cho Chúa mà lại để chính Chúa trở thành người xa lạ. Không phải vì danh dự, thành công, hiểu biết, tài năng hay những tình cảm nhân loại đều xấu, nhưng vì tất cả những thứ ấy đều có thể chiếm lấy ngai của Đức Kitô trong lòng ta nếu ta không biết trở về mãi với câu hỏi căn bản nhất: thật sự, ai là tất cả của đời tôi?
Tin Mừng hôm nay kể một khoảnh khắc đau. Sau bài giảng về Bánh Hằng Sống, nhiều môn đệ nghe Đức Giêsu nói và thấy lời ấy chói tai. Họ không hiểu, không chấp nhận, không muốn đi xa hơn nữa. Và thánh Gioan ghi một câu rất buồn: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.” Họ đã từng đi theo. Họ đã từng nghe giảng. Họ đã từng chứng kiến phép lạ. Có thể họ từng chen lấn để được ở gần Người. Có thể họ từng kể cho người khác về một vị ngôn sứ lạ lùng đang xuất hiện giữa dân. Nhưng rồi đến một lúc, khi lời của Chúa không còn thuận tai, khi con đường của Chúa không còn trùng với con đường họ muốn đi, khi Chúa không còn đáp ứng những mong đợi của họ, họ quay lưng. Điều đáng sợ của đời sống đức tin không phải là chưa từng đi theo Chúa. Điều đáng sợ hơn là đã từng đi theo, đã từng sốt sắng, đã từng rất gần, nhưng rồi một ngày nào đó, ta vẫn có thể bỏ đi. Không nhất thiết bỏ nhà thờ. Không nhất thiết bỏ áo dòng. Không nhất thiết bỏ chức vụ. Không nhất thiết công khai tuyên bố rằng mình không còn tin nữa. Có những cuộc bỏ Chúa rất âm thầm. Vẫn dâng lễ, vẫn đọc kinh, vẫn giảng, vẫn phục vụ, vẫn mang danh môn đệ, nhưng trong lòng, Đức Kitô không còn là tất cả nữa. Một cái gì đó khác đã đi vào. Một tham vọng. Một nỗi tự ái. Một chức vụ. Một con người. Một nhu cầu được công nhận. Một nỗi đam mê quyền lực. Một cơn mê thành công. Một sự say sưa với chính hình ảnh của mình. Và thế là ta không bỏ Chúa bằng đôi chân, nhưng bỏ Chúa bằng trái tim.
Đức Giêsu nhìn nhóm Mười Hai và hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Câu hỏi ấy thật đau. Chúa không giữ người ta bằng cách hạ thấp Tin Mừng. Chúa không mặc cả. Chúa không nói: thôi được, nếu khó quá thì Ta nói nhẹ lại một chút; nếu các con không thích thì Ta sửa lại cho vừa lòng các con. Không. Chúa để họ tự do. Tình yêu không cưỡng bách. Người có thể đau vì người ta bỏ đi, nhưng Người không dùng quyền lực để giữ họ lại. Và có lẽ hôm nay Chúa cũng hỏi từng người chúng ta như thế: “Con cũng muốn bỏ đi hay sao?” Khi cầu nguyện khô khan, con có muốn bỏ đi không? Khi sống đời tận hiến mà thấy chẳng còn gì mới mẻ, con có muốn bỏ đi không? Khi bị hiểu lầm, bị quên lãng, bị bỏ bên lề, con có muốn bỏ đi không? Khi tuổi trẻ qua rồi, sức khỏe giảm xuống, vai trò cũng ít dần, người ta không còn nhắc tên mình như trước, con có muốn bỏ đi không? Khi Chúa không cho con điều con xin, không giải thích điều con không hiểu, không cất đi cây thập giá con đã mang quá lâu, con có muốn bỏ đi không? Khi chính cộng đoàn làm con đau, chính người anh em làm con thất vọng, chính Giáo Hội trong nét nhân loại của mình làm con tổn thương, con có muốn bỏ đi không? Khi người con từng tin lại quay lưng, khi điều con xây cả đời bỗng như chẳng còn ý nghĩa, con có muốn bỏ đi không? Chúa không hỏi ta lúc mọi sự đang thuận lợi. Trung thành chỉ thật sự được biết tới khi có một cánh cửa khác mở ra và ta vẫn chọn ở lại.
Phêrô trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Phêrô không nói: chúng con hiểu hết lời Thầy. Không. Ông cũng không hiểu. Phêrô không nói: con đường Thầy dễ quá nên chúng con ở lại. Không. Ông sẽ còn vấp ngã. Sẽ còn phản đối Thập Giá. Sẽ còn chối Thầy. Nhưng trong ông có một trực giác rất sâu của tình yêu: con có thể chưa hiểu Thầy, nhưng con biết không có ai thay thế được Thầy. Đó là đức tin. Đức tin không phải lúc nào cũng là nhìn thấy rõ. Đức tin nhiều khi chỉ là biết rằng dù đang ở giữa đêm tối, tôi vẫn không còn nơi nào khác đáng để trao cả cuộc đời mình. Đức tin là đứng trước một Đức Kitô không giải thích hết mọi sự, nhưng vẫn thưa: con ở lại. Đức tin là khi lòng mình đầy câu hỏi mà đôi chân vẫn không quay lưng. Đức tin là khi chẳng còn cảm giác ngọt ngào, nhưng ta vẫn quỳ xuống. Đức tin là khi Chúa trở nên thinh lặng, nhưng ta vẫn nói: “Bỏ Thầy thì con biết đến với ai?”
Có lẽ phải sống đủ lâu người ta mới hiểu câu này. Thuở ban đầu của một ơn gọi, ta dễ nói về Chúa bằng những lời rất đẹp. Tâm hồn còn nhiều lửa. Mọi sự còn mới. Một ngày khấn, một ngày chịu chức, một ngày nhận sứ vụ, một ngày lên đường truyền giáo, tất cả đều có thể đầy xúc động. Ta tưởng tình yêu là cảm giác cháy bỏng ấy. Nhưng rồi năm tháng đi qua. Những điều đẹp đẽ trở thành quen thuộc. Những việc từng làm ta xúc động trở thành bổn phận hằng ngày. Những người từng vỗ tay có thể rời đi. Những nơi từng cần ta có thể tìm được người khác. Sức khỏe có thể không còn. Trí nhớ có thể giảm. Tiếng nói có thể yếu. Công việc có thể bị người khác tiếp nhận. Và trong thinh lặng, một câu hỏi trồi lên: vậy rốt cuộc tôi đã đi theo ai? Nếu tôi đi theo công việc, khi công việc mất, tôi sẽ mất tất cả. Nếu tôi đi theo danh tiếng, khi người ta không còn nhắc đến tôi, tôi sẽ thấy đời mình trống rỗng. Nếu tôi đi theo sự ngưỡng mộ, khi những tràng pháo tay im đi, tôi sẽ cô đơn. Nếu tôi đi theo một lý tưởng đẹp nhưng không có một tương quan sống động với Đức Kitô, đến một lúc lý tưởng cũng sẽ trở thành gánh nặng. Chỉ khi ta đi theo một Con Người, ta mới có thể đi đến cùng. Chỉ khi Đức Kitô là tất cả, mọi mất mát khác mới không thể lấy mất căn tính của ta.
Nhưng Đức Kitô nào là tất cả của đời ta? Không chỉ là Đức Kitô làm phép lạ. Không chỉ là Đức Kitô được dân chúng tung hô. Không chỉ là Đức Kitô sáng láng trên núi Taborê. Không chỉ là Đức Kitô phục sinh trong vinh quang. Mà trước hết, với linh đạo của người môn đệ, là Đức Kitô chịu đóng đinh. Chính Người mới là “đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta”. Đức Kitô với những bàn tay bị đóng đinh, để tay ta thôi nắm chặt điều thuộc về mình. Đức Kitô với đôi chân bị đóng vào gỗ, để ta thôi chạy theo những con đường của tham vọng. Đức Kitô với đầu đội vòng gai, để trí ta thôi tìm vinh quang cho cái tôi. Đức Kitô với cạnh sườn bị đâm thâu, để trái tim khép kín của ta học lại cách mở ra. Đức Kitô trần trụi, để ta học buông bỏ những lớp áo giả tạo. Đức Kitô bị nhạo báng, để ta học chịu mất danh dự mà không mất tình yêu. Đức Kitô bị bỏ rơi, để ta biết ở lại với những người chẳng còn ai ở lại. Đức Kitô thinh lặng, để ta thôi tưởng rằng mọi điều đều phải được mình giải thích hay biện minh. Đức Kitô chết đi, để cái tôi của ta cũng từng ngày chết đi. Nếu không có Đức Kitô chịu đóng đinh ở trung tâm, đời Kitô hữu rất dễ trở thành một thứ đạo đức tìm an ủi. Đời tu rất dễ trở thành một nghề tôn giáo. Chức linh mục rất dễ trở thành một vị trí. Sứ vụ rất dễ trở thành sân khấu. Cộng đoàn rất dễ trở thành nơi tranh chấp. Và lời rao giảng rất dễ chỉ còn là những lời đẹp mà không có máu của Thập Giá.
“Đức Kitô chịu đóng đinh – tất cả của đời tôi.” Nói được câu ấy không khó. Sống câu ấy mới khó. Nếu Người thật sự là tất cả, ta sẽ phải nhìn lại rất nhiều điều. Khi người khác hơn mình, tôi có bình an không? Nếu không, có lẽ Đức Kitô chưa phải tất cả; tôi còn cần vị trí. Khi người ta quên tên mình, tôi có bình an không? Nếu không, có lẽ Đức Kitô chưa phải tất cả; tôi còn cần được nhớ đến. Khi bị hiểu lầm, tôi có thể im lặng mà không cay độc không? Nếu không, có lẽ Đức Kitô chưa phải tất cả; tôi còn cần giữ hình ảnh. Khi một người anh em được yêu mến hơn, được giao việc hơn, được ca ngợi hơn, lòng tôi có vui thật không? Nếu không, có lẽ Đức Kitô chưa phải tất cả. Khi công việc tôi đang làm bị trao cho người khác, tôi có thể nhẹ nhàng lùi lại không? Nếu không, tôi có thể yêu công việc của Chúa hơn chính Chúa. Khi tuổi già đến, khi tay không còn làm được nhiều, khi chân không còn đi xa, khi tiếng nói không còn mạnh, liệu tôi còn thấy đời mình có giá trị không? Nếu giá trị đời tôi nằm ở Đức Kitô, thì còn. Nếu giá trị đời tôi nằm trong việc mình làm, tôi sẽ khủng hoảng. Có một sự thanh luyện rất đau trong hành trình thiêng liêng: Chúa dần dần lấy khỏi ta những chỗ dựa phụ để ta biết mình có thật sự chọn Người không. Không phải Người tàn nhẫn. Người chỉ muốn trái tim ta tự do. Tự do đến mức cuối cùng, ta có thể mất nhiều thứ mà vẫn còn câu nói: “Bỏ Thầy thì con biết đến với ai?”
Người tận hiến rất dễ nói rằng mình đã bỏ mọi sự. Nhưng bỏ mọi sự chưa chắc đã có Chúa. Có người bỏ gia đình mà vẫn mang cả thế gian vào lòng. Có người không sở hữu tiền riêng nhưng lại sở hữu ý riêng rất chặt. Có người không có tài sản nhưng rất giàu tự ái. Có người khấn vâng phục mà cả đời chỉ muốn người khác theo ý mình. Có người sống khiết tịnh mà trái tim vẫn đầy những bám víu tinh tế. Có người làm việc truyền giáo nhưng sâu bên trong lại cần thành công để xác nhận giá trị bản thân. Vì vậy, câu hỏi lớn không phải: tôi đã bỏ được bao nhiêu? Câu hỏi là: sau khi bỏ, lòng tôi đã được lấp đầy bởi Ai? Một căn phòng được quét sạch nhưng bỏ trống thì sẽ lại đầy thứ khác. Một trái tim rời nhiều sự mà không đầy Đức Kitô sẽ tìm một thứ khác để bám. Ta có thể bỏ tiền rồi bám quyền. Bỏ gia đình rồi bám cộng đoàn. Bỏ sự nghiệp đời rồi bám sự nghiệp đạo. Bỏ danh tiếng ngoài xã hội rồi tìm danh tiếng trong Giáo Hội. Cái tôi tinh vi lắm. Nó có thể mặc áo đạo đức. Nó có thể đứng sau bàn thờ. Nó có thể cầm chuỗi Mân Côi. Nó có thể giảng những bài rất hay về khiêm nhường mà vẫn khát khao được nhìn nhận. Chỉ Thập Giá mới lột được những lớp ngụy trang ấy. Chỉ khi nhìn lâu vào Đấng đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang”, ta mới thấy mình còn giữ lại quá nhiều.
Đức Kitô là tất cả không có nghĩa là ta khinh chê con người. Ngược lại, khi Người là tất cả, ta mới bắt đầu yêu con người cho đúng. Ta không còn bắt người khác phải lấp đầy khoảng trống trong mình. Ta không còn bắt họ phải luôn hiểu, luôn đồng ý, luôn biết ơn, luôn ở lại. Ta không biến tình thân thành sở hữu. Ta không biến cộng đoàn thành nơi phải đáp ứng nhu cầu tình cảm của mình. Ta không biến người giáo dân thành người phải ngưỡng mộ linh mục. Ta không biến anh em thành khán giả. Khi Đức Kitô đủ cho tôi, tôi có thể yêu mà không chiếm hữu. Tôi có thể phục vụ mà không cần được biết ơn. Tôi có thể cho đi mà không ghi sổ. Tôi có thể ở bên một người mà không bắt họ phải thuộc về mình. Tôi có thể để người khác lớn lên, thậm chí lớn hơn mình, mà vẫn vui. Đó là tự do của người đã có một Kho Tàng duy nhất.
Và cũng vì Đức Kitô là tất cả, ta không còn sợ những mùa khô cằn. Có một giai đoạn trong đời thiêng liêng, Chúa cho ta nhiều cảm nhận. Nhưng rồi Người có thể cất chúng đi. Ta cầu nguyện mà chẳng thấy gì. Dâng lễ mà tâm hồn khô. Ngồi trước Nhà Tạm mà không có một ý tưởng. Đọc Lời Chúa mà từng câu dường như rơi xuống một mảnh đất cứng. Những lúc ấy, ta dễ tưởng mình đã mất Chúa. Không. Có khi chính lúc không cảm thấy Chúa, ta mới bắt đầu yêu Chúa thật. Khi một người mẹ thức đêm chăm con bệnh, bà đâu cần lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc để tiếp tục yêu. Khi một người chồng trung thành với người vợ đau yếu nhiều năm, tình yêu ấy không còn dựa trên cảm giác. Khi một người tu sĩ vẫn vào nhà nguyện sau bốn mươi, năm mươi năm đời tu dù chẳng có gì mới mẻ để cảm, đó có thể là một lời “con yêu Chúa” sâu hơn bao nhiêu cảm xúc ban đầu. “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Không phải câu của một người đang say mê cảm xúc. Đó là câu của một người biết rằng dù không hiểu, không cảm, không thấy, vẫn không có ai khác.
Đời ta có những lúc Chúa để một thứ gì đó chết đi. Một dự định. Một tương quan. Một giấc mơ. Một khả năng. Một sức khỏe. Một vị trí. Đôi khi là cả hình ảnh mà ta từng xây dựng về chính mình. Những cái chết đó rất thật. Ta đau. Và không cần giả vờ không đau. Đức Giêsu trên Thập Giá cũng đã kêu lên. Nhưng giữa những mất mát ấy, một tiếng gọi vang lên: con có còn Ta không? Nếu còn Ta, con có thể bắt đầu lại từ đây không? Có những lúc đời sống thiêng liêng trưởng thành không phải khi ta được thêm một điều gì, mà khi bị lấy đi một điều và khám phá ra rằng Đức Kitô vẫn đủ. Ta cứ tưởng mình cần nhiều thứ để sống. Rồi có một ngày, Chúa cho ta thấy: có Ta là đủ. Câu ấy nghe rất đẹp, nhưng chỉ người đã đi qua mất mát mới hiểu nó đắt như thế nào.
“Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Phêrô không biết tương lai. Ông không biết mình sẽ có một đêm chối Thầy ba lần. Ông không biết có ngày chính mình sẽ bị dẫn đến nơi không muốn đến. Ông không biết rằng tình yêu dành cho Đức Kitô cuối cùng sẽ đưa ông đến thập giá. Nhưng câu trả lời hôm nay đặt hướng cho cả đời ông. Có thể ta cũng vậy. Ta không biết đời còn đưa mình qua những gì. Không biết còn bao nhiêu đổi thay. Không biết ngày mai ai ở lại, ai ra đi. Không biết sức khỏe sẽ thế nào. Không biết sứ vụ sẽ đổi ra sao. Không biết cộng đoàn sẽ còn những thử thách nào. Không biết Giáo Hội sẽ đi qua những cơn bão gì. Nhưng người môn đệ không cần biết hết ngày mai để trung thành hôm nay. Ta chỉ cần biết mình thuộc về Ai.
Có lẽ điều đáng buồn nhất trong đời tận hiến không phải là một người yếu đuối. Yếu đuối còn có thể được chữa lành. Đáng buồn là một người không còn yêu Đức Kitô mà vẫn tiếp tục làm mọi việc như thể mình đang yêu. Một linh mục có thể rất bận nhưng không còn ở với Chúa. Một tu sĩ có thể rất đúng giờ với cộng đoàn nhưng từ lâu đã không còn để Đức Kitô chạm vào phần sâu nhất của lòng mình. Một nhà truyền giáo có thể nói về Chúa cả ngày nhưng rất ít nói với Chúa. Ta có thể quen đến mức chạm vào những sự thánh mà lòng không rung nữa. Đó là nguy hiểm của thói quen. Không phải thói quen xấu, mà thói quen với những điều thánh. Ta quen bàn thờ. Quen Nhà Tạm. Quen áo lễ. Quen Lời Chúa. Quen đọc tên Giêsu. Quen cầm Mình Thánh. Quen ban phép lành. Và vì quen, ta có thể quên mất đây là một Mầu Nhiệm. Vì thế, mỗi ngày phải trở về với tình yêu ban đầu. Không phải tình yêu non nớt của cảm xúc, nhưng tình yêu đã qua lửa, đã được thanh luyện, đã biết Người đáng để mình sống và chết cho.
Đức Kitô chịu đóng đinh phải là trung tâm của mọi chọn lựa. Khi đứng trước hai con đường, ta đừng chỉ hỏi con đường nào có lợi hơn, dễ hơn, được người ta thích hơn; hãy hỏi con đường nào giống Đức Kitô hơn. Khi bị xúc phạm, đừng chỉ hỏi làm sao bảo vệ danh dự; hãy hỏi Đức Kitô chịu đóng đinh muốn tôi phản ứng thế nào. Khi được trao quyền, đừng chỉ hỏi mình có thể làm gì; hãy hỏi mình phải cúi xuống rửa chân ai. Khi có tiền, đừng chỉ hỏi mua được gì; hãy hỏi ai đang cần được chia sẻ. Khi có tài, đừng chỉ hỏi làm sao tỏa sáng; hãy hỏi làm sao tài năng này đưa người khác đến gần Chúa. Khi người anh em sa ngã, đừng hỏi làm sao kết án cho đúng; hãy hỏi làm sao giữ sự thật mà vẫn cứu một con người. Khi chính ta sa ngã, đừng chỉ nhìn vào sự thất bại; hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh và nhớ rằng lòng thương xót của Người lớn hơn tội mình. Nếu Đức Kitô là tất cả, ta sẽ dần có một bản năng mới: mọi sự đều được đọc dưới ánh sáng Thập Giá.
Và có lẽ điều đẹp nhất là đến cuối đời, ta chẳng cần còn nhiều lời. Những bài giảng rồi sẽ bị quên. Những công trình rồi sẽ đổi chủ. Những căn phòng từng có tên ta rồi sẽ có người khác ở. Những người trẻ rồi sẽ thay người già. Những tiếng vỗ tay rồi sẽ im. Những chức vụ rồi sẽ trao lại. Một ngày nào đó, ta sẽ nằm xuống, hai tay trống, không còn khả năng làm gì cho Chúa nữa. Lúc đó chỉ còn một câu hỏi: con có Chúa không? Nếu cả đời ta đã tập thưa “Bỏ Thầy thì con biết đến với ai?”, thì giờ sau cùng sẽ không phải là một sự sụp đổ, nhưng là cuộc trở về. Bởi người ta chỉ thật sự nghèo khi chết mà không biết mình thuộc về ai. Còn người có Đức Kitô thì ngay cả trong cái chết vẫn không mất tất cả. Chết chỉ là buông nốt điều cuối cùng để được ôm lấy Đấng mình đã tìm kiếm cả đời.
Ta hãy xin cho mình đừng chỉ giảng về Đức Kitô chịu đóng đinh, nhưng yêu Người. Đừng chỉ đeo Thánh Giá, nhưng mang Thập Giá. Đừng chỉ nhìn Thánh Giá trên tường, nhưng để Thập Giá đi vào cách ta sống với anh em. Đừng chỉ hôn Thánh Giá trong phụng vụ, nhưng biết hôn những thập giá Chúa gửi đến trong đời thường. Bởi có những người quỳ rất lâu trước Thánh Giá nhưng không chịu nổi một lời trái ý. Có người yêu Đức Giêsu chịu đóng đinh trong tượng ảnh nhưng không chịu nổi một người anh em làm mình khó chịu. Có người xúc động trước cuộc khổ nạn nhưng cả đời chạy trốn mọi hy sinh. Đức Kitô chịu đóng đinh chỉ thật sự là tất cả khi Thập Giá của Người bắt đầu định hình đời ta.
Xin cho đến một ngày, ta có thể nói câu này mà không còn giả dối: Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, Chúa là tất cả của đời con. Không phải vì con đã luôn trung thành, nhưng vì mỗi lần lạc xa, con chỉ có thể trở về với Chúa. Không phải vì con hiểu mọi đường lối của Chúa, nhưng vì chẳng còn con đường nào con muốn đi nếu không có Chúa. Không phải vì Chúa đã cho con mọi điều con xin, nhưng vì cuối cùng con hiểu rằng chính Chúa mới là điều con cần. Không phải vì theo Chúa lúc nào cũng dễ, nhưng vì ngay cả khi khó nhất, con vẫn biết bỏ Chúa thì con chẳng biết đi đâu. Người đời có thể đổi thay. Những gì hôm nay ta có, mai có thể mất. Sức khỏe thay đổi. Thành công qua đi. Tình cảm con người mong manh. Danh tiếng như gió. Những gì từng tưởng là vững chắc hóa ra đều có thể biến mất. Chỉ Chúa còn lại.
Và vì thế, nếu có phải bắt đầu lại một đời người, xin vẫn cho con chọn Chúa. Nếu có phải đi lại mọi đoạn đường, kể cả những đoạn đã làm con khóc, xin vẫn cho con đi với Chúa. Nếu có phải chịu thêm những thương tích để hiểu được Thập Giá sâu hơn, xin đừng để con rời tay Chúa. Nếu một ngày mọi người rời đi, xin cho con còn biết ở lại. Nếu một ngày chính con không còn nhận ra mình trong những gì đã từng quen thuộc, xin cho con vẫn nhận ra Chúa. Nếu một ngày miệng con không còn đủ sức nói dài, xin cho chỉ còn đủ một lời: Giêsu. Nếu một ngày mắt con khép lại, xin cho hình ảnh cuối cùng trong lòng vẫn là khuôn mặt Đấng chịu đóng đinh. Nếu một ngày tay con buông hết mọi sự, xin cho trái tim vẫn nắm lấy Người.
Bởi sau cùng, Kitô giáo không phải trước hết là có một hệ thống giáo lý, dù giáo lý cần thiết. Đời tu không phải trước hết là có một bản luật, dù luật rất cần. Chức linh mục không phải trước hết là có một sứ vụ, dù sứ vụ là thánh thiêng. Tất cả khởi đầu từ một cuộc gặp gỡ và chỉ sống được nếu cuộc gặp gỡ ấy không chết đi. Một Con Người đã nhìn tôi, gọi tôi, yêu tôi, chịu đóng đinh vì tôi, và hỏi tôi: “Con có muốn bỏ đi không?” Và tôi, với tất cả nghèo hèn, tất cả bất trung, tất cả những lần sa ngã, chỉ còn một câu để đáp: “Lạy Chúa, bỏ Chúa thì con biết đến với ai?”
Đó không phải là tiếng nói tuyệt vọng của người không còn lựa chọn. Đó là tiếng nói bình an của người cuối cùng đã tìm thấy Kho Tàng. Không còn phải chạy nữa. Không còn phải chứng minh nữa. Không còn phải sở hữu nữa. Không còn phải thắng ai nữa. Có Đức Kitô là đủ. Được ở với Người là đủ. Được thuộc về Người là đủ. Được chết trong Người cũng đủ. Và nếu Người là tất cả của đời tôi, thì dù đời có lấy khỏi tôi bao nhiêu điều, tôi vẫn chưa mất điều quan trọng nhất.
Lạy Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, xin đừng để lòng con chia năm xẻ bảy cho quá nhiều thứ đến mức Chúa chỉ còn nhận được một góc nhỏ. Xin đừng để con làm rất nhiều việc mà quên mất Người vì Người mà con bắt đầu. Xin đừng để sứ vụ lấy mất Đấng đã sai con. Xin đừng để thành công làm con quên Thập Giá. Xin đừng để thất bại làm con nghi ngờ tình yêu Chúa. Xin đừng để lời khen làm con say, cũng đừng để lời chê làm con gục. Xin cho con chỉ cần Chúa. Xin cho lòng trí con quy hướng về Chúa như kim chỉ nam không thể quay sang hướng khác. Xin cho Đức Kitô chịu đóng đinh thực sự trở thành đối tượng duy nhất của lòng trí con, không chỉ trong khẩu hiệu, không chỉ trong lời khấn, không chỉ trong những giờ tĩnh tâm, mà trong từng ngày rất bình thường, trong từng chọn lựa nhỏ, trong từng tương quan, trong cách con chịu đau, trong cách con tha thứ, trong cách con lùi lại, trong cách con chết đi cho chính mình.
Và mai này, khi cuộc đời đi đến câu cuối cùng, xin cho con không cần nói gì nhiều. Chỉ cần còn đủ hơi để thưa lại câu của Phêrô, câu đã nâng đỡ bao nhiêu người môn đệ qua các thế kỷ: “Lạy Thầy, bỏ Thầy thì con biết đến với ai?” Rồi xin cho con nhắm mắt trong bình an, vì cuối cùng, con không đi vào khoảng không. Con đi về với Đấng đã là tất cả của đời con.
Lm. Anmai, CSsR

LẠY CHÚA, CHÚNG CON SẼ ĐI THEO AI?
Tin Mừng: Ga 6,68
“Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”
Có những câu nói trong Tin Mừng chỉ cần đọc lên một lần thôi cũng đủ làm lòng người lặng xuống. Không phải vì câu ấy khó hiểu, nhưng vì nó chạm đến một nơi rất sâu trong đời sống chúng ta, nơi mà cuối cùng mỗi người đều phải tự mình đứng trước mặt Chúa và trả lời. “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Câu nói của Phêrô hôm ấy không phải là một câu trả lời thuộc lòng, cũng không phải là một lời tuyên bố hùng hồn của một người đang ở đỉnh cao của lòng sốt sắng. Trái lại, nó được thốt lên trong một giờ phút rất buồn. Người ta đang bỏ Chúa. Những người từng đi theo Chúa đang quay lưng. Những người từng chen nhau nghe Chúa giảng bây giờ lẩm bẩm. Những người từng ăn bánh Chúa hóa nhiều bây giờ thấy lời Chúa chướng tai. Tin Mừng kể một câu rất đau: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.” Và chính trong cái cảnh người ta bỏ đi ấy, Đức Giêsu quay lại hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Chúa không níu. Chúa không hạ thấp đòi hỏi để giữ người. Chúa không nói: thôi, nếu lời Thầy khó quá thì Thầy sẽ nói nhẹ lại; nếu con đường này hẹp quá thì Thầy sẽ mở rộng ra; nếu Thập Giá làm anh em sợ thì Thầy sẽ bỏ Thập Giá đi. Không. Người chỉ hỏi một câu. Một câu thôi. Nhưng đó là câu hỏi có thể soi thấu cả một đời người: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”
Và Phêrô đã trả lời thay cho anh em mình: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Có lẽ Phêrô chưa hiểu hết điều Đức Giêsu vừa nói. Có lẽ ông vẫn còn rất nhiều thắc mắc. Có lẽ ông cũng thấy lời Thầy khó nghe như những người khác. Nhưng Phêrô đã hiểu một điều quan trọng hơn tất cả: không hiểu hết Chúa không có nghĩa là có thể sống không cần Chúa. Có những lúc ta chẳng hiểu Chúa dẫn mình đi đâu, nhưng ta vẫn biết rằng ngoài Chúa ra, chẳng có nơi nào đáng để trao cả đời mình. Có những lúc ta không hiểu tại sao Chúa lại để chuyện này xảy ra, không hiểu tại sao lời cầu nguyện kéo dài mà không được đáp lại theo điều ta mong, không hiểu tại sao người lành vẫn đau khổ, người tận tụy vẫn bị hiểu lầm, người trung thành vẫn có lúc phải đi trong bóng tối; nhưng giữa tất cả những điều không hiểu ấy, người môn đệ vẫn có thể nói một điều rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con biết con không thể bỏ Ngài. Vì bỏ Ngài rồi, con biết đi đâu?”
Có lẽ đó cũng là câu thích hợp nhất để khép lại một tuần tĩnh tâm. Sau những bài giảng, những giờ cầu nguyện, những phút hồi tâm, những lần xét mình, những giọt nước mắt, những quyết tâm, những điều được Chúa đánh động trong sâu thẳm, cuối cùng ta vẫn phải trở về với một câu hỏi căn bản: Sau tất cả, tôi chọn Ai? Không phải tôi học được bao nhiêu điều. Không phải tôi ghi được bao nhiêu trang. Không phải tôi cảm động đến mức nào. Không phải tôi đã có bao nhiêu phút sốt sắng. Cũng không phải tôi đã khóc bao nhiêu lần trước Nhà Tạm. Tất cả những điều ấy đều quý, nhưng chưa phải điều cuối cùng. Điều cuối cùng là: sau tuần tĩnh tâm này, trong những tháng năm sắp tới, giữa những ngày bình thường, giữa công việc, bổn phận, thử thách, thành công và thất bại, tôi sẽ thuộc về ai? Một kỳ tĩnh tâm không thành công vì người ta ra về với thật nhiều cảm xúc. Một kỳ tĩnh tâm chỉ thực sự sinh hoa trái khi người ta ra về với một lựa chọn được làm mới lại trong lòng: “Lạy Chúa, con chọn Chúa. Con không biết tương lai sẽ thế nào, nhưng con chọn Chúa. Con không biết con còn phải trả giá bao nhiêu, nhưng con chọn Chúa. Con không biết ngày mai lòng con còn sốt sắng như hôm nay không, nhưng hôm nay, ở đây, trước mặt Chúa, con xin nói lại điều Phêrô đã nói: bỏ Chúa thì con biết đến với ai?”
Câu hỏi ấy lại càng thấm thía trong một lễ khấn. Khi một người quỳ xuống trước bàn thờ và đọc lời khấn, người ấy không chỉ hứa giữ một số điều. Người ấy đang trao một đời. Khó nghèo không phải chỉ là chuyện không sở hữu. Khiết tịnh không phải chỉ là chuyện không lập gia đình. Vâng phục không phải chỉ là chuyện nghe lời bề trên. Nếu đời tận hiến chỉ được hiểu như một hệ thống những điều không được làm, nó sẽ trở thành một gánh nặng khủng khiếp. Không ai có thể sống một đời chỉ bằng những chữ “không”. Không có tiền riêng. Không lập gia đình. Không làm theo ý mình. Không chạy theo điều nọ điều kia. Một đời được xây trên những chữ “không” rồi sẽ khô héo. Đời tận hiến chỉ có ý nghĩa vì phía sau tất cả những điều từ bỏ ấy có một chữ “Có” lớn hơn: Có Đức Kitô. Tôi không chọn nghèo vì nghèo tự nó đẹp; tôi chọn nghèo vì muốn Đức Kitô là kho tàng của tôi. Tôi không chọn khiết tịnh vì tình yêu con người là xấu; tôi chọn khiết tịnh vì muốn trái tim mình được dành cách đặc biệt cho Đức Kitô và, trong Người, mở ra với mọi người. Tôi không chọn vâng phục vì tôi không có ý riêng; tôi chọn vâng phục vì tin rằng Đức Kitô đã cứu thế giới bằng lời “xin vâng” và tôi cũng muốn đời mình đi vào con đường ấy. Nói cho cùng, người khấn không khấn với một điều luật. Người khấn với một Con Người. Người ấy trao đời mình cho Đức Giêsu Kitô. Và nếu một ngày nào đó không còn thấy Đức Kitô là tất cả nữa, người ấy có thể vẫn giữ nề nếp bên ngoài, vẫn mặc tu phục, vẫn đi kinh, vẫn làm việc, vẫn chu toàn chức vụ, nhưng bên trong, đời tận hiến đã bắt đầu nghèo đi một cách đáng sợ.
Bởi vậy, câu “Lạy Chúa, chúng con sẽ đi theo ai?” không phải là câu nói dành cho ngày đầu của ơn gọi mà thôi. Nó phải được lập lại suốt đời. Người trẻ nói câu ấy khi vừa bước vào nhà dòng. Người khấn lần đầu nói câu ấy. Người khấn trọn nói câu ấy. Người chịu chức nói câu ấy. Nhưng rồi người tu sĩ ba mươi năm cũng phải nói lại. Người linh mục bốn mươi năm cũng phải nói lại. Và có lẽ càng sống lâu trong ơn gọi, người ta càng cần nói lại câu ấy với một lòng khiêm nhường sâu hơn. Vì những nguy hiểm lớn nhất của đời tận hiến nhiều khi không đến vào những ngày đầu. Ngày đầu người ta còn nghèo, còn đơn sơ, còn biết mình cần Chúa. Nhưng sau nhiều năm, người ta có thể có kinh nghiệm, có vị trí, có trách nhiệm, có người biết đến, có những công việc thành công, có những mối quan hệ, có những thói quen, có cả một thế giới riêng được xây lên quanh mình. Khi ấy, người ta rất dễ vẫn đang làm việc cho Chúa mà lòng lại không còn sống nhờ Chúa. Vẫn giảng về Chúa mà không còn nói chuyện nhiều với Chúa. Vẫn trao Mình Thánh Chúa cho người khác mà chính mình không còn run lên vì điều mình đang cầm trong tay. Vẫn dẫn người khác đến cầu nguyện mà lòng mình đã lâu không thực sự ở lại trước mặt Người. Vẫn khuyên người ta tín thác mà chính mình lại âm thầm đặt sự an toàn vào những điều khác. Điều đáng sợ nhất không phải là một ngày ta tuyên bố bỏ Chúa. Điều đáng sợ nhất là ta không bỏ Chúa bằng đôi chân nhưng đã từ từ rời xa Người bằng trái tim.
Có những cuộc bỏ đi rất ồn ào, nhưng cũng có những cuộc bỏ đi không ai biết. Một người vẫn ở trong cộng đoàn nhưng lòng đã đi rất xa. Một người vẫn dự Thánh Lễ nhưng tâm hồn chẳng còn mong gặp Chúa. Một người vẫn đọc kinh nhưng kinh nguyện chỉ còn là âm thanh trên môi. Một người vẫn phục vụ nhưng niềm vui không còn đến từ việc được thuộc về Chúa mà đến từ việc được người khác nhìn nhận. Một người vẫn làm việc tông đồ nhưng bắt đầu cay đắng khi người khác thành công, buồn bực khi mình không được nhắc đến, tổn thương quá mức khi mình bị quên, khó chịu khi người khác không biết ơn. Những điều ấy có thể là dấu hiệu rất kín đáo cho thấy Đức Kitô không còn là trung tâm duy nhất nữa. Khi Chúa là trung tâm, ta vẫn có thể buồn, vẫn có thể đau, vẫn có thể bị tổn thương; nhưng những điều ấy không có quyền định nghĩa đời ta. Khi Chúa không còn là trung tâm, chỉ một lời chê cũng đủ làm ta mất bình an nhiều ngày, chỉ một chuyện không được như ý cũng đủ khiến ta muốn buông tất cả, chỉ một chút thiệt thòi cũng đủ làm ta nghĩ mình bị đối xử bất công. Vì lúc ấy, có lẽ điều ta đang bảo vệ không còn là sứ mạng của Chúa nữa, mà là cái tôi của mình.
“Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Phêrô không nói: “Chúng con ở lại vì mọi chuyện với Thầy đều dễ.” Không. Theo Chúa chẳng dễ. Phêrô biết điều đó. Chính ông sẽ còn vấp ngã. Ông sẽ còn cãi Chúa khi Chúa nói về Thập Giá. Ông sẽ còn ngủ trong Ghếtsêmani. Ông sẽ còn rút gươm chém tai người đầy tớ. Và đau đớn nhất, ông sẽ còn chối Thầy ba lần. Nhưng có một sợi chỉ âm thầm nối xuyên qua những yếu đuối ấy: trái tim Phêrô cuối cùng vẫn biết đường trở về với Đức Giêsu. Ông có thể ngã, nhưng không thể sống xa Thầy. Ông có thể sợ, nhưng không thể quên Thầy. Ông có thể chối, nhưng khi ánh mắt Đức Giêsu nhìn ông, ông ra ngoài khóc cay đắng. Có những người phạm tội nhưng lòng vẫn còn hướng về Chúa; và cũng có những người bên ngoài rất chỉn chu nhưng lòng đã nguội lạnh từ lâu. Chúa không tìm những con người chưa bao giờ vấp ngã. Người tìm những con người, sau mỗi lần vấp ngã, vẫn biết mình phải trở về đâu.
Đó là một an ủi rất lớn cho chúng ta. Bởi có lẽ sau một tuần tĩnh tâm, ta nhìn thấy nhiều điều trong mình mà trước đây ta không muốn nhìn. Ta thấy sự ích kỷ. Ta thấy tính tự ái. Ta thấy những tham vọng kín đáo. Ta thấy mình đã có những lúc làm việc cho Chúa nhưng muốn người ta nhớ đến tên mình. Ta thấy mình đã phục vụ nhưng vẫn chờ lời cảm ơn. Ta thấy mình đã nói về tha thứ nhưng trong lòng còn giữ những vết thương cũ. Ta thấy mình đã khấn vâng phục nhưng vẫn bám chặt ý riêng. Ta thấy mình đã khấn nghèo nhưng đôi khi vẫn quá gắn bó với tiện nghi, tiền bạc, đồ dùng, danh dự. Ta thấy mình đã khấn khiết tịnh nhưng trái tim có lúc tìm những bù đắp, những gắn bó khiến Chúa không còn giữ vị trí thứ nhất. Nhìn những điều ấy không phải để tuyệt vọng. Nhìn để trở về. Bởi tĩnh tâm không phải là tuần lễ để ta phát hiện mình tốt đến đâu; tĩnh tâm là thời gian để ta nhận ra mình cần lòng thương xót đến mức nào. Và khi nhận ra mình nghèo như thế, câu của Phêrô lại trở thành lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, con biết mình yếu. Nhưng bỏ Chúa rồi, con biết đi đâu?”
Đi đâu thật? Đi theo tiền bạc sao? Tiền cần cho cuộc sống, nhưng tiền chưa bao giờ ôm được một người đang hấp hối. Tiền mua được giường đẹp nhưng không mua được giấc ngủ bình an. Tiền mua được thuốc nhưng không mua được sự sống đời đời. Đi theo danh vọng sao? Danh vọng ngọt lắm khi người ta tung hô, nhưng vô cùng lạnh khi đám đông quay lưng. Hôm nay người ta vỗ tay, ngày mai người ta có thể quên tên mình. Đi theo quyền lực sao? Quyền lực có thể khiến người khác nghe lời ta nhưng không thể làm một trái tim yêu ta. Đi theo kiến thức sao? Kiến thức rất quý, nhưng có những đêm đời người bước vào bóng tối mà một thư viện cũng không trả lời được câu hỏi “tại sao”. Đi theo những mối quan hệ sao? Con người là quà tặng lớn lao, nhưng chẳng một con người nào có thể mang nổi trọng lượng của một trái tim đòi họ phải trở thành Thiên Chúa cho mình. Đi theo cảm xúc sao? Cảm xúc hôm nay đầy, mai cạn. Đi theo chính mình sao? Có lẽ đó là con đường nguy hiểm nhất, vì cái tôi luôn biết cách thuyết phục ta rằng ý mình là đúng. Rốt cuộc, mọi con đường không có Đức Kitô ở cuối đều đưa con người đến một thứ khát mà không gì trên thế gian làm no được.
Thánh Augustinô từng diễn tả kinh nghiệm ấy bằng cả đời thao thức của ngài: trái tim con người không yên cho đến khi nghỉ yên trong Thiên Chúa. Ta có thể thử rất nhiều chiếc giếng. Ta có thể cúi xuống bao nhiêu nơi để múc nước. Ta có thể nghĩ chỉ cần thêm chút thành công, thêm chút tiền, thêm chút được người ta yêu mến, thêm một chức vụ, thêm một sự công nhận, thêm một tiện nghi thì lòng sẽ yên. Nhưng điều lạ lùng là càng uống nhiều thứ nước ấy, lòng càng khát. Bởi trong ta có một khoảng trống mang hình dáng của Thiên Chúa. Không vật nào lấp được. Không người nào lấp được. Không thành công nào lấp được. Chỉ một mình Người.
Vì thế, lời khấn không phải là câu chuyện của một con người từ bỏ mọi thứ rồi sống trong thiếu thốn. Lời khấn là chuyện của một con người đã gặp được một kho tàng nên những thứ khác không còn giữ vị trí tối hậu. Người ngoài nhìn vào có thể hỏi: tại sao người này không lập gia đình? Tại sao người kia bỏ một nghề tốt? Tại sao một người trẻ lại trao cả đời vào một nếp sống đầy giới hạn? Nếu chỉ trả lời bằng kỷ luật, luật dòng, truyền thống hay lý tưởng phục vụ thì chưa đủ. Câu trả lời sâu nhất phải là: vì tôi đã gặp Một Người. Vì có một Đấng đã nhìn tôi trước khi tôi biết nhìn Người. Có một Đấng đã gọi tên tôi trước khi tôi biết gọi tên Người. Có một Đấng đã yêu tôi khi tôi chẳng có gì đáng yêu. Có một Đấng đã chịu đóng đinh vì tôi. Và khi đã biết tình yêu ấy, tôi muốn trả lời bằng cả đời mình. Người tận hiến không phải là người không có gì để yêu. Người tận hiến là người đã được một Tình Yêu chiếm lấy.
Nhưng điều ấy phải được bảo vệ mỗi ngày. Vì không có một lời khấn nào tự động làm cho con người trung thành đến chết. Ngày khấn chỉ là khởi đầu của một lời “xin vâng” cần được lặp lại trong hàng ngàn ngày sau đó. Có lời “xin vâng” trong những ngày rất đẹp, khi cộng đoàn vui, sức khỏe tốt, sứ vụ thuận lợi, anh em dễ thương, bề trên hiểu mình. Nhưng cũng có lời “xin vâng” trong những ngày chẳng ai hiểu, khi công việc thất bại, khi bị đổi nơi mình không muốn đi, khi phải sống với người mình không hợp, khi tuổi tác bắt đầu lấy đi sức lực, khi bệnh tật làm mình phụ thuộc, khi những người trẻ hơn được trao việc mình từng làm, khi tên mình dần ít được nhắc đến. Chính ở những ngày ấy, lời khấn mới lộ ra chiều sâu. Yêu Chúa khi Chúa cho nhiều điều an ủi không khó bằng yêu Chúa khi Chúa dường như chỉ còn lại một mình Người.
Và rồi có thể sẽ đến một ngày, sau nhiều năm tận hiến, ta đứng trước Chúa mà chẳng còn gì để khoe. Sức khỏe đã giảm. Những công trình từng làm có người khác tiếp tục hoặc cũng có thể đã mất. Những người từng biết mình nhiều người đã đi xa. Vai trò đã trao lại. Bài giảng không còn ai nhớ. Thành tích không ai nhắc. Khi ấy mới thấy điều duy nhất còn lại là mối tương quan giữa ta với Đức Kitô. Và thật phúc cho ai vào cuối đời có thể nói, dù bằng một giọng yếu ớt: “Lạy Chúa, bao nhiêu năm qua con đã vụng về lắm, đã có lúc đi xa, đã làm Chúa buồn, nhưng con vẫn biết một điều: con thuộc về Chúa. Bỏ Chúa con biết đi đâu?” Một đời tận hiến đẹp không phải vì người ấy làm được những chuyện khiến thiên hạ kinh ngạc. Một đời tận hiến đẹp là một đời, qua bao nhiêu mùa nắng mưa, vẫn giữ được một trái tim biết mình thuộc về Ai.
Câu hỏi “chúng con sẽ đi theo ai?” cũng đặt trước mỗi người chúng ta một vấn đề rất thật: ta đang đi theo Chúa, hay đang đi theo hình ảnh về Chúa phù hợp với ý mình? Hai điều ấy không giống nhau. Rất nhiều người theo Chúa khi Chúa ban bánh. Trong chương sáu của Tin Mừng Gioan, đám đông đi tìm Chúa sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Họ thích một Đấng Mêsia làm bánh cho họ ăn. Nhưng khi Chúa bắt đầu nói những điều khó, khi Người không còn đáp ứng hình ảnh họ muốn, họ bỏ đi. Ta cũng vậy. Ta dễ yêu một Đức Giêsu an ủi, chữa lành, ban ơn, giải quyết vấn đề. Nhưng Đức Giêsu của Tin Mừng cũng là Đức Giêsu nói: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Người nói: hãy tha thứ bảy mươi lần bảy. Người nói: hãy yêu kẻ thù. Người nói: ai muốn làm lớn phải làm người phục vụ. Người nói với Phêrô về một ngày ông sẽ phải dang tay để người khác thắt lưng và dẫn đến nơi ông không muốn. Ta có yêu cả Đức Giêsu ấy không? Hay ta chỉ yêu Đức Giêsu miễn là Người đừng đụng đến ý riêng của ta?
Đây là điểm rất thật của đời sống thiêng liêng: có những lúc Chúa làm ta hụt hẫng. Không phải vì Chúa thay đổi, mà vì những ảo tưởng của ta về Chúa bị vỡ. Ta tưởng theo Chúa thì sẽ được bình an theo nghĩa không có sóng gió. Không phải. Ta tưởng tận hiến thì sẽ sống giữa toàn những người thánh thiện dễ thương. Không phải. Ta tưởng làm việc lành sẽ được hiểu và biết ơn. Không phải. Ta tưởng trung thành thì Chúa phải giữ ta khỏi những đau đớn lớn. Không phải. Và khi những ảo tưởng ấy vỡ ra, ta đứng trước cùng một lựa chọn như các môn đệ ngày xưa: bỏ đi hay ở lại? Có những cuộc khủng hoảng không phải là dấu chấm hết của ơn gọi. Đôi khi đó lại là thời điểm ơn gọi đi từ non trẻ đến trưởng thành. Ban đầu ta theo Chúa vì cảm thấy Người đẹp. Sau đó ta học theo Chúa vì biết Người là Chúa. Ban đầu ta ở lại vì được an ủi. Sau này ta ở lại ngay cả khi chẳng được an ủi. Ban đầu ta yêu những quà tặng của Chúa. Sau này ta học yêu chính Chúa.
“Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Phêrô không chỉ nói: chúng con không còn ai khác. Nếu chỉ như thế thì câu ấy nghe có vẻ bất đắc dĩ: vì chẳng biết đi đâu nên đành ở lại. Không. Ông còn nói lý do tích cực: “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Ở lại với Chúa không phải là lựa chọn của người hết đường. Ở lại với Chúa là lựa chọn của người đã nhận ra nơi Người có điều không nơi nào khác có: sự sống đời đời. Và sự sống đời đời ấy không chỉ bắt đầu sau khi ta chết. Nó bắt đầu ngay từ lúc một người sống trong tương quan với Đức Kitô. Có những người có rất ít nhưng lòng lại rộng. Có những người đau bệnh nhưng bình an làm người khác ngạc nhiên. Có những người bị hiểu lầm nhưng không trở nên cay độc. Có những người chịu thiệt nhưng vẫn tử tế. Có những người tuổi đã cao, chẳng còn làm được gì nhiều, nhưng chỉ cần ngồi cạnh họ ta đã cảm thấy một thứ bình an sâu thẳm. Đó là sự sống của Đức Kitô đang âm thầm lớn lên trong một con người.
Cho nên sau tuần tĩnh tâm này, có lẽ ta không cần mang về quá nhiều quyết tâm. Nhiều quyết tâm quá đôi khi rồi chẳng giữ được cái nào. Chỉ xin mang về một điều: mỗi ngày trở lại với Đức Kitô. Khi vui, trở lại. Khi buồn, trở lại. Khi thành công, trở lại để khỏi kiêu. Khi thất bại, trở lại để khỏi nản. Khi được khen, trở lại để nhớ mình là ai. Khi bị chê, trở lại để không sống bằng lời thiên hạ. Khi phạm tội, đừng trốn, hãy trở lại. Khi khô khan, cứ trở lại. Khi chẳng cảm thấy gì trong cầu nguyện, vẫn trở lại. Khi thấy lời Chúa khó nghe, đừng bỏ đi, hãy ngồi lại dưới chân Người lâu hơn. Khi không hiểu ý Chúa, hãy nói: “Con không hiểu, nhưng con vẫn ở đây.” Đời sống thiêng liêng không được xây bằng những khoảnh khắc phi thường cho bằng bằng lòng trung thành với những lần trở lại rất nhỏ như thế.
Có người hỏi bí quyết trung thành là gì. Có lẽ chẳng có bí quyết nào phức tạp. Đừng để lòng mình ở quá xa Chúa quá lâu. Ai cũng có ngày nguội. Ai cũng có lúc mệt. Ai cũng có những khoảng tối. Nhưng đừng ở mãi trong đó. Hãy trở về Nhà Tạm. Hãy mở Tin Mừng. Hãy ngồi trước Thập Giá. Hãy để cho mình có những phút không làm gì, chỉ nhìn Chúa và để Chúa nhìn mình. Hãy nhớ lại ngày đầu. Ngày ta nghe tiếng gọi. Ngày ta thấy mình chẳng xứng nhưng vẫn được chọn. Ngày ta run run đọc lời khấn. Ngày đôi tay Giám mục đặt trên đầu trong lễ truyền chức. Ngày lòng ta từng cháy lên vì chỉ muốn sống cho Chúa. Đừng sống bằng hoài niệm, nhưng đôi khi cần nhớ lại để trái tim được đánh thức. Sách Khải Huyền có một lời trách rất đau: “Ta trách ngươi điều này: ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu.” Có khi ta không mất đức tin, không bỏ luật, không rời cộng đoàn; nhưng ta mất tình yêu thuở đầu. Mà mất tình yêu thuở đầu rồi, tất cả những gì còn lại dễ trở thành bổn phận nặng nề.
Có lẽ Chúa không đòi chúng ta hôm nay phải hứa rằng sẽ không bao giờ yếu đuối nữa. Một lời hứa như thế vượt quá sức mình. Chúa chỉ muốn nghe một lời chân thành: “Lạy Chúa, con muốn thuộc về Chúa.” Rồi ngày mai nói lại. Ngày kia nói lại. Khi bị cám dỗ nói lại. Khi mệt mỏi nói lại. Khi giận anh em nói lại. Khi muốn làm theo ý mình nói lại. Khi đứng trước một lựa chọn khó nói lại. “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa. Xin đừng để điều gì chiếm chỗ của Chúa trong lòng con.” Nếu mỗi ngày lời ấy được nói thật, đời người sẽ dần dần trở nên một lời khấn sống.
Với người sắp tuyên khấn, xin đừng nghĩ hôm nay mình đang khép lại một hành trình đào tạo. Hôm nay mới thật sự bắt đầu. Những năm trước người khác đã giúp con sống: có lịch, có chương trình, có người nhắc, có những giai đoạn rõ ràng. Nhưng từ đây, lời khấn phải trở thành chọn lựa của chính con mỗi ngày. Sẽ có những buổi sáng con thức dậy rất vui vì ơn gọi. Cũng có những sáng con chẳng thấy gì đặc biệt. Có ngày cộng đoàn là mái nhà. Có ngày cộng đoàn trở thành Thập Giá. Có người con dễ yêu. Có người Chúa sẽ dùng để mài bớt những góc cạnh trong con. Có sứ vụ con thích. Có nơi Chúa sai con đến mà lòng chẳng muốn. Đừng đo ơn gọi bằng cảm giác. Hãy đo bằng lòng trung thành. Và khi khó, đừng hỏi trước hết: “Tại sao con phải chịu chuyện này?” Hãy thử hỏi: “Trong chuyện này, Chúa đang mời con yêu Người thế nào?”
Với người đã sống đời tu lâu năm, câu Tin Mừng hôm nay lại có thể trở thành một cuộc xét mình rất sâu. Sau bao nhiêu năm, Chúa còn là niềm vui của tôi không? Tôi còn muốn gặp Người không? Tôi còn cầu nguyện vì nhớ Chúa, hay chỉ vì giờ kinh đến? Tôi còn đọc Tin Mừng như một người đang được Người yêu nói với mình, hay chỉ như tài liệu để chuẩn bị bài? Tôi còn thấy Thánh Thể là mầu nhiệm làm mình kinh ngạc, hay vì quá quen mà trở thành bình thường? Tôi có còn để Chúa sửa mình không, hay kinh nghiệm lâu năm đã khiến tôi nghĩ mình biết đủ rồi? Tôi có còn khả năng xin lỗi? Có còn khả năng thay đổi? Có còn để một người trẻ nói cho mình điều mình không thích nghe? Có còn đủ tự do để buông một chức vụ khi đến lúc phải buông? Đó là những câu rất đau nhưng rất cần. Vì người môn đệ chỉ già khi trái tim không còn để Chúa làm mới.
Và với linh mục, “bỏ Thầy thì con biết đến với ai?” phải là một lời cầu nguyện gần như mỗi ngày. Chúng ta có thể có giáo xứ, cộng đoàn, công việc, bài giảng, chương trình, dự án, những người tìm đến, những lời mời, những trách nhiệm không hết. Nhưng tất cả những thứ ấy không phải là căn tính sau cùng. Trước khi là người giảng về Đức Kitô, linh mục là người thuộc về Đức Kitô. Trước khi cầm Mình Thánh Chúa trao cho dân, linh mục phải để Chúa nuôi chính mình. Trước khi giải tội cho người khác, linh mục cũng là một tội nhân cần được thương xót. Trước khi bảo người khác cầu nguyện, linh mục phải là người có một nơi kín đáo để khóc trước mặt Chúa. Khi linh mục không còn đời sống riêng tư với Đức Kitô, sứ vụ từ từ sẽ ăn hết con người. Người ta có thể rất bận mà bên trong rất trống. Có thể được nhiều người cần mà lại chẳng biết mình cần Chúa. Có thể nói rất hay về tình yêu mà lòng đã kiệt sức. Chỉ có việc trở về thường xuyên với Đức Giêsu mới giữ cho sứ vụ không biến thành nghề nghiệp.
Rồi một ngày, những người nghe ta giảng hôm nay sẽ không còn nhớ câu nào. Những công trình ta xây có thể được sửa lại. Những chức vụ ta từng giữ sẽ có tên người khác. Những tấm hình sẽ mờ. Những người từng biết ta rồi cũng qua đi. Cái còn lại trước mặt Chúa không phải là người ta từng gọi ta bằng chức danh gì. Chúa sẽ nhìn vào trái tim. Và biết đâu Người chỉ hỏi một câu giống như đã hỏi Phêrô bên bờ hồ Tibêria sau tất cả những thành công và thất bại: “Con có yêu mến Thầy không?” Không hỏi: con đã xây bao nhiêu nhà thờ? Không hỏi: con giảng bao nhiêu bài? Không hỏi: con có bao nhiêu người theo dõi? Không hỏi: tên con được biết đến bao nhiêu nơi? “Con có yêu mến Thầy không?” Vì cuối cùng, chỉ tình yêu ở lại.
Có một điều rất đẹp trong câu trả lời của Phêrô: ông nói “chúng con”, không nói “con”. “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Đức tin không chỉ là câu chuyện cá nhân. Chúng ta cần nhau để ở lại. Có ngày tôi mạnh, anh em tôi yếu, tôi nâng anh em. Có ngày tôi yếu, cộng đoàn nâng tôi. Có ngày một người chẳng cầu nguyện nổi, nhưng tiếng kinh của cộng đoàn mang người ấy đi. Có ngày một người muốn buông, nhưng sự trung thành âm thầm của một người anh em làm họ xấu hổ mà ở lại. Cộng đoàn tu không phải là nơi tập hợp những người hợp nhau. Nếu chỉ cần hợp nhau, đó là câu lạc bộ. Cộng đoàn là nơi những con người rất khác nhau cùng nói một câu: “Chúng con không biết đi đâu ngoài Chúa.” Chính Đức Kitô là lý do ta chịu đựng nhau, tha thứ cho nhau, bắt đầu lại với nhau. Không có Người, khác biệt sẽ chia rẽ. Có Người ở giữa, khác biệt trở thành nơi học yêu.
Vì vậy, một tuần tĩnh tâm đẹp phải kết thúc bằng việc ta nhìn lại anh em mình với đôi mắt khác. Có thể người bên cạnh vẫn có những khuyết điểm cũ. Có thể sau tuần tĩnh tâm họ không trở thành thiên thần. Và ta cũng thế. Nhưng nếu Đức Kitô đã tha thứ cho tôi quá nhiều, tôi còn lý do gì để đóng khung anh em trong một lỗi lầm? Nếu Chúa vẫn kiên nhẫn với tôi, tôi lấy quyền gì để hết hy vọng vào người khác? Nếu tất cả chúng ta cùng là những kẻ đã được gọi dù bất xứng, thì cộng đoàn phải là nơi người ta được phép lớn lên, được phép sửa sai, được phép bắt đầu lại. Đừng biến đời tu thành nơi ai cũng phải mang mặt nạ thánh thiện. Chúa không cần chúng ta đóng vai người hoàn hảo. Chúa cần những con người thật biết để Người cứu mình.
“Lạy Chúa, chúng con sẽ đi theo ai?” Có lẽ trong giờ phút cuối của tuần tĩnh tâm này, mỗi người nên đem câu ấy vào thinh lặng. Đừng vội nói nhiều với Chúa. Chỉ ngồi trước Người. Nhìn Thập Giá. Nhìn đôi tay đã bị đâm thủng. Nhìn cạnh sườn mở ra. Nhớ rằng Đấng đang hỏi ta có muốn ở lại không chính là Đấng đã ở lại với ta đến cùng. Khi chúng ta bỏ Người, Người không bỏ chúng ta. Khi chúng ta bất trung, Người vẫn trung tín. Khi chúng ta chạy xa, Người chờ. Khi chúng ta trở về với hai bàn tay trắng, Người không hỏi tại sao con mất lâu thế; Người ôm lấy. Trước một tình yêu như vậy, câu trả lời nào còn xứng hơn là trao lại chính mình?
Chúa đã ở lại trên Thập Giá khi Người có thể bước xuống. Chúa đã ở lại khi người ta chế nhạo. Chúa đã ở lại khi các môn đệ chạy trốn. Chúa đã ở lại khi trời tối. Chúa đã ở lại cho đến lời cuối: “Mọi sự đã hoàn tất.” Đời tận hiến, xét cho cùng, là học nơi Đức Kitô nghệ thuật ở lại. Ở lại trong tình yêu khi hết cảm xúc. Ở lại trong lời khấn khi phải trả giá. Ở lại với cộng đoàn khi có va chạm. Ở lại với sứ vụ khi âm thầm. Ở lại với người nghèo khi chẳng được đáp lại. Ở lại với Giáo Hội ngay cả khi phải đau vì những yếu đuối của con người trong Giáo Hội. Ở lại dưới chân Thập Giá khi chẳng hiểu gì. Trung thành là tên khác của một tình yêu biết ở lại.
Có người nghĩ hạnh phúc là luôn có quyền đi nơi mình thích. Tin Mừng lại cho ta thấy một thứ tự do khác: tự do của người biết mình thuộc về đâu nên không còn phải chạy khắp nơi tìm một nơi thuộc về. Người đã chọn Đức Kitô không phải không còn những hấp dẫn khác. Nhưng giữa hàng ngàn tiếng gọi, họ đã có một tiếng gọi nền tảng. Giữa hàng ngàn khuôn mặt, đã có một Khuôn Mặt. Giữa hàng ngàn lời, đã có một Lời. Giữa hàng ngàn con đường, đã có một Con Đường. Và khi lòng dao động, họ chỉ cần trở về với câu: “Bỏ Thầy, con biết đi đâu?”
Cuộc đời sẽ có lúc lấy khỏi ta nhiều thứ. Tuổi trẻ sẽ qua. Sức khỏe sẽ yếu. Người thân sẽ lần lượt ra đi. Những điều ta từng tự hào có thể chẳng còn. Chính chúng ta rồi cũng phải đặt lại mọi sự. Nhưng có một điều không ai lấy được nếu ta không tự buông: Đức Kitô. Thánh Phaolô đã từng nói rằng không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu. Không phải gian truân. Không phải khốn khổ. Không phải bắt bớ. Không phải đói rách. Không phải hiểm nguy. Điều duy nhất đáng sợ là chính ta để lòng mình rời khỏi Người.
Vậy hôm nay, nếu đây là ngày cuối của tuần tĩnh tâm, xin đừng kết thúc bằng một tràng pháo tay. Xin kết thúc bằng một lời phó thác. Nếu đây là ngày khấn, xin đừng chỉ nhớ hoa, áo lễ, bài hát, hình ảnh. Xin nhớ khoảnh khắc mình đã đặt đời mình vào tay Chúa. Và khi năm tháng qua đi, khi những tấm hình ngày hôm nay đã cũ, xin vẫn giữ câu này còn mới trong lòng: “Lạy Chúa, chúng con sẽ đi theo ai?”
Lạy Chúa Giêsu, có những ngày chúng con đi theo Chúa thật dễ, vì đường đầy ánh sáng. Nhưng cũng sẽ có những ngày đường tối. Có ngày chúng con nghe tiếng Chúa rõ ràng, cũng có ngày Chúa im lặng. Có ngày chúng con thấy đời tận hiến đẹp vô cùng, cũng sẽ có ngày Thập Giá nặng đến mức chúng con chỉ muốn đặt xuống. Có ngày chúng con yêu anh em dễ dàng, cũng có ngày chỉ nhìn nhau thôi đã mệt. Có ngày lời cầu nguyện tuôn chảy, cũng có ngày ngồi trước Chúa mà lòng khô như đá. Xin trong tất cả những ngày ấy, đừng để chúng con quên câu hỏi này: nếu bỏ Chúa, chúng con sẽ đi đâu?
Xin đừng để chúng con đổi Chúa lấy một chút tiện nghi. Đừng để chúng con đổi Chúa lấy lời khen. Đừng để chúng con đổi Chúa lấy một mối tình chóng qua. Đừng để chúng con đổi Chúa lấy quyền lực, chức vụ, danh dự, tiền bạc hay ý riêng. Đừng để chúng con vì một vết thương với con người mà quay lưng với Đấng đã chịu thương tích vì chúng con. Đừng để chúng con vì một lần thất vọng mà quên cả một đời Chúa trung thành. Đừng để một vài năm mỏi mệt xóa đi tiếng gọi mà Chúa đã gieo từ thuở ban đầu.
Xin cho chúng con có trái tim của Phêrô: có thể yếu, nhưng biết quay về; có thể khóc, nhưng không tuyệt vọng; có thể ngã, nhưng vẫn yêu; có thể không hiểu, nhưng vẫn ở lại. Xin cho đến ngày cuối đời, khi mắt chúng con đã mờ, khi tay không còn làm được gì, khi miệng chẳng còn đủ sức nói nhiều, trái tim vẫn còn có thể thầm thĩ một lời: “Lạy Chúa, con biết đến với ai ngoài Chúa?”
Và nếu có lúc chúng con không còn đủ sức nắm lấy Chúa, xin Chúa hãy nắm lấy chúng con. Nếu có lúc chúng con không còn đủ sức gọi tên Chúa, xin Chúa vẫn gọi tên chúng con. Nếu có lúc đức tin chỉ còn như một đốm than nhỏ dưới tro, xin Chúa đừng dập tắt. Xin thổi lên. Xin giữ lấy. Xin đưa chúng con đi đến cùng.
Bởi cuối cùng, lạy Chúa, chúng con chẳng có gì ngoài Chúa. Những gì chúng con gọi là “của mình” rồi sẽ phải trả lại. Chỉ có tình yêu của Chúa là không qua đi. Chúng con đã bắt đầu hành trình này vì Chúa; xin cho chúng con đừng kết thúc ở một nơi nào khác ngoài Chúa. Chúng con đã bỏ những điều quý giá không phải để trở nên trống rỗng, nhưng để Chúa lấp đầy. Chúng con đã nói lời khấn không phải để trở thành những người đáng phục, nhưng để được thuộc về Chúa cách trọn vẹn hơn.
Xin cho Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh mãi mãi là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng con. Khi lòng trí bị phân tán, xin quy tụ lại nơi Người. Khi tình yêu nguội lạnh, xin đưa chúng con trở lại chân Thập Giá. Khi ý riêng nổi lên, xin cho chúng con nhìn Người trong Ghếtsêmani. Khi tự ái bị tổn thương, xin cho chúng con nhìn Người im lặng trước những lời vu cáo. Khi muốn bỏ cuộc, xin cho chúng con nhớ Người đã vác Thập Giá đến tận đồi Canvê. Khi cô đơn, xin nhớ Người từng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Khi giờ chết đến, xin cho chúng con cùng Người thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Và rồi, sau mọi bài giảng, sau mọi lời khuyên, sau mọi quyết tâm, có lẽ chỉ còn một câu đáng mang theo suốt đời. Một câu đủ cho ngày khấn. Đủ cho ngày truyền chức. Đủ cho những ngày hạnh phúc. Đủ cho những đêm khủng hoảng. Đủ cho lúc đứng trước một ngã rẽ. Đủ cho giờ hấp hối. Một câu của người đã biết mình nghèo nhưng cũng biết mình đã tìm được Kho Tàng:
“LẠY CHÚA, CHÚNG CON SẼ ĐI THEO AI? CHỈ MÌNH CHÚA CÓ NHỮNG LỜI ĐEM LẠI SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI.”
Xin cho lời ấy không chỉ nằm trên môi, nhưng trở thành câu trả lời của cả cuộc đời chúng con.
Lm. Anmai, CSsR

KHÔNG PHẢI VÌ CON HIỂU HẾT – NHƯNG VÌ CON KHÔNG CÓ AI KHÁC NGOÀI THẦY
Tin Mừng: Ga 6,68-69
“Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”
Có những lời tuyên xưng đức tin được thốt ra trong lúc trời quang mây tạnh, khi lòng người đầy bình an, khi cuộc đời đang thuận buồm xuôi gió, khi cầu gì dường như cũng được, xin gì dường như cũng thấy Chúa nhận lời. Những lời tuyên xưng như thế thật đẹp. Nhưng có những lời tuyên xưng khác được sinh ra giữa một buổi chiều buồn, khi người ta không còn hiểu nổi Chúa đang làm gì, khi những điều từng rất chắc chắn bỗng lung lay, khi những người đã từng đi bên cạnh bắt đầu quay lưng, khi những lời của Chúa trở nên khó nghe, khó chấp nhận, khó sống, và chính lúc ấy, một con người vẫn đứng lại mà nói: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Lời ấy có một sức nặng khác. Lời ấy không phải tiếng reo của người vừa nhận được điều mình muốn; đó là tiếng nói của một trái tim đã đi qua khủng hoảng mà vẫn không bỏ đi. Đó không phải lời của người đã hiểu hết; đó là lời của người đã quyết định rằng dù mình chưa hiểu, mình vẫn không rời khỏi Đức Kitô. Và có lẽ đây là một trong những lời đẹp nhất của Phêrô, bởi vì ông không nói: “Thưa Thầy, chúng con hiểu hết những gì Thầy vừa nói.” Ông cũng không nói: “Thưa Thầy, tất cả những điều Thầy nói đều dễ dàng và hợp lý đối với chúng con.” Ông càng không nói: “Thưa Thầy, chúng con ở lại vì theo Thầy mọi chuyện đều tốt đẹp.” Không. Ông chỉ nói một điều rất thật: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Nghĩa là: Thầy ơi, con chưa hiểu hết, nhưng con biết con không thể sống thiếu Thầy. Con còn nhiều câu hỏi, nhưng con không muốn mang những câu hỏi ấy đi xa Thầy. Con còn nhiều điều chưa sáng, nhưng con thà đứng trong bóng tối bên cạnh Thầy còn hơn đi tìm ánh sáng ở một nơi không có Thầy. Con còn có lúc mệt mỏi, có lúc thất vọng, có lúc không hiểu tại sao Thầy để chuyện này xảy ra, nhưng nếu phải rời Thầy để tìm một câu trả lời khác, thì con không đi. Bởi vì sau tất cả, con đã nhận ra rằng điều con cần nhất không phải là một lời giải thích, nhưng là chính Thầy.
Bối cảnh của lời tuyên xưng này làm cho nó càng thấm thía. Chương sáu Tin Mừng Gioan bắt đầu bằng một phép lạ rất đẹp: Chúa hóa bánh ra nhiều. Đám đông ăn no. Người ta phấn khởi. Người ta tìm Chúa. Người ta muốn tôn Người làm vua. Một Đức Giêsu cho bánh ăn thì rất dễ được yêu mến. Một Đức Giêsu làm phép lạ thì rất dễ được người ta chạy theo. Một Đức Giêsu chữa bệnh, giải quyết khó khăn, đáp ứng nhu cầu, dẹp bỏ thiếu thốn thì luôn có đám đông chung quanh. Nhưng rồi Đức Giêsu bắt đầu nói về thứ bánh khác: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.” Người nói đến việc phải ăn thịt và uống máu Người. Người đưa đám đông từ cái bụng đến trái tim, từ nhu cầu vật chất đến mầu nhiệm hiệp thông, từ phép lạ đến Thập Giá, từ món quà đến chính Đấng trao ban món quà. Và ngay lập tức, những người từng chen nhau tìm Chúa bắt đầu phản ứng. “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Rồi Tin Mừng ghi một câu rất buồn: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.” Không phải người ngoài bỏ Chúa. Là môn đệ. Những người đã từng nghe Người giảng, từng đi theo Người, từng chứng kiến phép lạ, từng ăn bánh Người trao, từng có những ngày rất đẹp bên Người. Họ bỏ đi. Và điều đáng sợ là Chúa không chạy theo giữ họ lại bằng cách giảm nhẹ Tin Mừng. Người không nói: “Thôi, nếu các con thấy khó quá, Thầy sẽ nói lại cho dễ nghe.” Người không sửa chân lý để giữ số người theo mình. Người quay sang Nhóm Mười Hai và hỏi một câu đau lòng: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Đức Giêsu chấp nhận nguy cơ bị bỏ lại một mình hơn là có một đám đông đi theo Người vì hiểu lầm Người. Người muốn người môn đệ ở lại vì đã chọn Người, chứ không phải vì đang được hưởng lợi từ Người.
Và chính trong khoảnh khắc ấy Phêrô lên tiếng. Có lẽ Phêrô cũng không hiểu hơn những người vừa bỏ đi bao nhiêu. Chúng ta đừng tưởng rằng trong vài phút Phêrô đã hiểu hết mầu nhiệm Thánh Thể, hiểu hết Thập Giá, hiểu hết sự tự hiến của Đức Kitô. Sau này chính Phêrô còn phản đối khi Chúa nói đến cuộc thương khó. Ông còn vung gươm trong vườn Cây Dầu. Ông còn bỏ chạy. Ông còn chối Thầy. Phêrô chưa hiểu hết. Nhưng ông có một điều mà đám đông kia không có: ông biết mình thuộc về ai. Có những lúc trong đời, đức tin không còn là chuyện hiểu được bao nhiêu nhưng là chuyện biết mình thuộc về ai. Có những thời điểm, ta không thể trả lời tất cả câu hỏi, nhưng ta có thể trả lời câu hỏi căn bản nhất: “Tôi sẽ ở lại với ai?” Và Phêrô đã trả lời: “Ở lại với Thầy.” Không phải vì Thầy dễ hiểu. Không phải vì Thầy luôn làm điều con mong. Không phải vì con chưa bao giờ thất vọng. Nhưng vì ngoài Thầy, con không biết đi đâu nữa. Đây không phải một câu nói tuyệt vọng của người không có lựa chọn; đây là sự trưởng thành của một người đã nhìn đủ nhiều để biết mọi con đường khác cuối cùng đều không thể cho điều mà linh hồn mình đang khát.
Con người chúng ta thường muốn hiểu rồi mới tin, muốn thấy rồi mới bước, muốn chắc chắn rồi mới trao mình. Chúng ta muốn Chúa giải thích trước: tại sao bệnh tật này? Tại sao thất bại này? Tại sao người tốt lại đau khổ? Tại sao một lời cầu nguyện kéo dài nhiều năm vẫn không thấy gì thay đổi? Tại sao một người mình yêu lại ra đi quá sớm? Tại sao gia đình mình phải mang thập giá này? Tại sao mình đã sống ngay lành mà vẫn gặp chuyện chẳng lành? Tại sao người làm điều xấu dường như lại thành công? Tại sao Chúa im lặng? Tại sao Chúa không can thiệp? Tại sao Chúa để mình đi qua những tháng ngày khô khan đến độ quỳ trước Nhà Tạm mà không cảm thấy gì? Những câu hỏi ấy không phải luôn là dấu hiệu của một đức tin yếu. Có khi chính người tin sâu mới hỏi đau đến thế, bởi vì họ đã đặt rất nhiều hy vọng nơi Chúa. Và chúng ta được quyền hỏi. Đức Giêsu trên Thập Giá cũng từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức tin không bắt ta phải giả vờ rằng mình hiểu những gì mình không hiểu. Đức tin cũng không biến con người thành những kẻ vô cảm trước đau khổ. Nhưng đức tin đưa ta đến một bước sâu hơn: khi câu hỏi vẫn còn mà câu trả lời chưa đến, ta sẽ làm gì? Ta bỏ Chúa hay tiếp tục ở lại? Ta rời khỏi bàn chân Người vì không hiểu Người, hay ta ngồi xuống đó mà nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn ở đây”?
Đời sống đức tin có những giai đoạn rất đẹp. Ta cầu nguyện thấy sốt sắng. Ta đi lễ thấy lòng bình an. Ta cảm nhận sự hiện diện của Chúa. Ta thấy sứ vụ sinh hoa trái. Ta được người khác yêu thương, đón nhận. Lúc ấy nói “con tin Chúa” không quá khó. Nhưng rồi sẽ có lúc Thiên Chúa cho phép ta bước vào một vùng đất khác, nơi đức tin không còn được nuôi bằng cảm giác dễ chịu. Lúc ấy ta đọc Kinh Thánh nhưng thấy khô. Ta cầu nguyện mà tưởng như lời mình rơi xuống đất. Ta làm việc tốt nhưng không được hiểu. Ta hy sinh nhưng bị quên lãng. Ta trao tình thương nhưng gặp vô ơn. Ta giữ lòng trung tín nhưng chẳng thấy phần thưởng nào. Và khi ấy câu hỏi của Đức Giêsu vang lên cho từng người: “Con cũng muốn bỏ đi sao?” Có thể ta không bỏ đạo. Có thể ta vẫn đi lễ. Có thể ta vẫn giữ các kinh. Nhưng có những cách bỏ Chúa tinh tế hơn nhiều. Ta không bỏ nhà thờ nhưng lòng đã tìm chỗ dựa khác. Ta không phủ nhận Chúa bằng môi miệng nhưng bắt đầu đặt tiền bạc vào vị trí của Chúa, đặt danh dự vào vị trí của Chúa, đặt một con người vào vị trí của Chúa, đặt quyền lực, thành công, tiếng khen, sự an toàn vào vị trí của Chúa. Ta vẫn gọi Người là Chúa, nhưng thực tế điều làm ta sống, điều làm ta vui, điều làm ta sợ mất nhất lại là một thứ khác. Và như thế, có khi ta vẫn đứng trong nhà thờ mà đã đi xa Đức Kitô từ lâu.
“Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Câu ấy cần được đọc chậm. Không phải “bỏ Thầy thì chúng con biết đi đâu”, nhưng “biết đến với ai”. Đức tin Kitô giáo trước hết không phải một hệ thống tư tưởng, không phải một bộ luân lý, không phải một tập hợp những nghi thức, mà là một mối tương quan với một Ngôi Vị. Kitô giáo không bắt đầu bằng “tôi biết điều gì”, nhưng bằng “tôi biết Ai”. Người môn đệ không đi theo một ý tưởng; người môn đệ đi theo Đức Giêsu Kitô. Vì thế khi đời sống đức tin bị khủng hoảng, điều cần tìm lại trước hết không phải một cảm xúc, không phải một hoạt động, không phải một phong trào, mà là khuôn mặt của Đức Kitô. Có người sống đạo lâu năm nhưng mệt mỏi vì họ đã mang quá nhiều thứ mà lại đánh mất Người. Có người làm việc cho Chúa đến kiệt sức nhưng ít ở với Chúa. Có người biết rất nhiều về giáo lý mà lại ít nói chuyện với Đấng mình học biết. Có người bảo vệ Giáo Hội rất hăng nhưng lòng không còn dịu dàng như trái tim Đức Kitô. Có người thắng rất nhiều cuộc tranh luận về Thiên Chúa nhưng lại đánh mất bình an của Thiên Chúa. Và có những người tận hiến đã bỏ rất nhiều thứ nhưng rồi âm thầm nhận ra rằng mình vẫn chưa thực sự chọn Chúa làm tất cả. Ta có thể bỏ nhà, bỏ gia đình, bỏ tài sản, bỏ sự nghiệp, mà trái tim vẫn còn đầy những tham vọng rất tinh tế. Ta có thể sống giữa những biểu tượng thánh mà trong lòng vẫn tìm mình hơn tìm Chúa. Bởi vậy lời của Phêrô là một lời xét mình rất mạnh: Sau tất cả những năm tháng này, nếu mọi thứ khác bị lấy khỏi tôi, Đức Kitô có còn đủ cho tôi không?
Có một thời người trẻ đi theo Chúa vì được nâng đỡ bởi nhiệt huyết. Có một thời linh mục bước lên bàn thánh với trái tim run lên vì xúc động. Có một thời người khấn dòng cảm thấy mình có thể trao cả cuộc đời. Có một thời đôi vợ chồng đứng trước bàn thờ tin rằng chỉ cần có nhau là đủ. Có một thời người cha người mẹ ôm đứa con bé bỏng và nghĩ tương lai sẽ toàn những ngày đẹp. Nhưng đời sống không dừng ở ngày đầu tiên. Ơn gọi nào rồi cũng phải đi qua những ngày không còn hoa. Hôn nhân phải đi qua bệnh tật, khác biệt, mệt mỏi, hiểu lầm. Đời tu phải đi qua cộng đoàn, giới hạn, vâng phục, tuổi tác, những công việc âm thầm không ai biết. Đời linh mục phải đi qua những năm tháng đôi khi cô độc, những thất bại mục vụ, những lời phê bình, những lúc chính mình phải mang những vết thương mà vẫn đứng lên trao bình an cho người khác. Đức tin của giáo dân phải đi qua cơm áo, bệnh viện, nợ nần, tang tóc, con cái, tuổi già. Và đến một lúc, câu “con theo Chúa” sẽ được thanh luyện khỏi rất nhiều lãng mạn. Ta sẽ phải quyết định: con theo Chúa vì điều gì? Nếu Chúa không cho con điều con mong, con còn yêu Người không? Nếu sứ vụ không thành công, con còn ở lại không? Nếu người khác không công nhận, con còn trung thành không? Nếu cầu nguyện không đem lại cảm giác gì, con còn quỳ xuống không? Nếu Thập Giá xuất hiện, con có còn gọi Người là Thầy không?
Phêrô nói: “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Ông không nói: “Thầy có những lời luôn dễ nghe.” Lời đem lại sự sống đời đời nhiều khi lại là lời làm ta đau trước khi chữa ta. Lời Chúa không phải thuốc gây tê. Lời Chúa có lúc như dao hai lưỡi, cắt vào những gì giả dối trong ta. “Hãy yêu kẻ thù” – khó nghe. “Hãy tha thứ bảy mươi lần bảy” – khó nghe. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình” – khó nghe. “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy” – khó nghe. “Nếu anh sắp dâng lễ vật mà nhớ có người đang bất bình với anh, hãy đi làm hòa trước” – khó nghe. “Đừng xét đoán” – khó nghe. “Hãy bán những gì anh có rồi đến theo tôi” – khó nghe. Và chính vì Lời Chúa có sức cứu ta nên nhiều lúc Lời ấy phải chống lại cái tôi của ta. Một bác sĩ chỉ chiều theo bệnh nhân mà không dám chạm vào vết thương thì không cứu được bệnh nhân. Một Tin Mừng chỉ nói những điều ta thích nghe sẽ không còn là Tin Mừng cứu độ nữa. Chúng ta muốn một Đức Giêsu an ủi nhưng không sửa dạy, tha thứ nhưng không đòi hoán cải, ban bình an nhưng không đụng đến những thần tượng ta đang ôm, hứa thiên đàng nhưng đừng nói đến thập giá. Một Đức Giêsu như vậy rất dễ được yêu, nhưng đó không phải Đức Giêsu của Tin Mừng.
Có lẽ nhiều người bỏ Chúa không phải vì Chúa không tốt, nhưng vì Chúa không chịu trở thành vị thần theo ý họ. Khi Chúa không làm đúng kịch bản mình viết, người ta thất vọng. Khi lời cầu xin không được nhận theo cách mình mong, người ta nghi ngờ. Khi Giáo Hội nói một điều trái với xu hướng thời đại, người ta thấy “chướng tai”. Khi Tin Mừng chạm vào một lối sống mình không muốn bỏ, người ta tìm cách giải thích Tin Mừng cho nhẹ đi, và nếu không thể thì người ta rời đi. Nhưng người môn đệ trưởng thành phải học một điều: Chúa không đến để xác nhận mọi điều tôi nghĩ. Chúa đến để cứu tôi, và cứu tôi có nghĩa là đôi khi Người phải phá vỡ điều tôi đang bám lấy. Tôi không phải thước đo của chân lý. Cảm xúc của tôi không phải là tiêu chuẩn cuối cùng. Điều tôi thích chưa chắc là điều đưa tôi đến sự sống. Phêrô ở lại vì ông bắt đầu hiểu rằng mình không cần một Thiên Chúa làm theo ý mình; ông cần một Thiên Chúa có thể đưa mình đến sự sống đời đời.
“Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” Trật tự ấy cũng rất đẹp: tin rồi nhận biết. Có những điều trong đời sống thiêng liêng ta chỉ hiểu được sau khi đã trung thành đi một quãng đường dài. Ngày đầu cầm thập giá, ta không thể hiểu nó sẽ sinh hoa trái nào. Ngày đầu tha thứ, ta không biết lòng mình rồi sẽ được giải thoát ra sao. Ngày đầu chấp nhận một biến cố đau đớn, ta không thể thấy điều Chúa đang âm thầm làm. Chỉ nhiều năm sau nhìn lại, ta mới nói: hóa ra ngày ấy Chúa không bỏ mình. Hóa ra cánh cửa đóng lại ấy đã cứu mình khỏi một con đường khác. Hóa ra con người làm mình đau ấy đã giúp mình trưởng thành. Hóa ra những năm tháng tưởng như vô ích lại là thời gian Chúa đào sâu lòng mình. Hóa ra lời cầu nguyện Chúa không đáp theo cách mình xin lại được đáp bằng một cách sâu hơn. Nhưng điều ấy chỉ người ở lại mới biết. Người bỏ đi giữa chừng sẽ không bao giờ thấy phần cuối của câu chuyện. Người rời khỏi hạt giống vì thấy nó bị chôn trong đất sẽ không nhìn thấy ngày nó nảy mầm. Người chạy khỏi Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ không bao giờ đứng trước ngôi mộ trống sáng Phục Sinh.
Có những điều ta chỉ hiểu khi đã khóc đủ. Có những đoạn Kinh Thánh lúc trẻ ta đọc thấy bình thường, đến khi đau khổ rồi mới thấy từng chữ như nói với chính mình. “Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi” nghe rất khác trong ngày ta thật sự sợ. “Hãy đến với Ta, hỡi những ai vất vả mang gánh nặng” nghe rất khác khi vai mình thật sự nặng. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” nghe rất khác khi ta đứng bên giường một người hấp hối. “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” nghe rất khác khi mọi chỗ dựa của mình đã lần lượt sụp xuống. Có những chân lý chỉ hiểu bằng nước mắt. Có những điều về Chúa không thể học hết trong sách, mà phải học trong những đêm dài của đời mình.
Đến một tuổi nào đó, ta bắt đầu thấy Phêrô nói đúng. Lúc trẻ, ta tưởng mình có rất nhiều nơi để đến. Ta nghĩ tiền bạc có thể cho mình sự chắc chắn. Rồi có tiền mới biết tiền giải quyết được nhiều chuyện nhưng không giải quyết được mọi chuyện. Tiền mua được thuốc nhưng không mua được sự sống. Mua được căn nhà nhưng không mua được gia đình. Mua được chiếc giường rất tốt nhưng không mua được giấc ngủ bình an. Ta tưởng danh vọng sẽ lấp đầy trái tim, nhưng được người khác khen hôm nay rồi ngày mai vẫn thấy trống. Ta tưởng một con người nào đó sẽ là tất cả của mình, rồi đến ngày nhận ra không một thụ tạo nào có thể gánh nổi khát vọng vô biên của trái tim ta. Ta tưởng công việc sẽ cho mình căn tính, rồi một ngày nghỉ hưu, bệnh tật hoặc thất bại, ta mới hỏi: nếu không còn công việc này, tôi là ai? Ta tưởng tuổi trẻ sẽ ở mãi, sức khỏe sẽ ở mãi, người thân sẽ ở mãi. Nhưng cuộc đời lần lượt dạy ta rằng mọi cái “ở mãi” của thế gian đều có ngày nói lời chia tay. Và cuối cùng câu của Phêrô không còn là một câu thuộc lòng trong Tin Mừng, mà trở thành lời bật lên từ chính kinh nghiệm: Lạy Chúa, thật sự ngoài Chúa, con còn đi đâu được?
Ta có thể chạy đến rất nhiều nơi để tránh nỗi buồn. Có người chạy vào công việc. Có người chạy vào tiền bạc. Có người chạy vào giải trí. Có người chạy lên mạng xã hội, cần người khác nhìn thấy mình, khen mình, công nhận mình. Có người chạy từ mối quan hệ này sang mối quan hệ khác vì không dám ở một mình. Có người thậm chí chạy vào các hoạt động đạo đức để khỏi phải đối diện với khoảng trống sâu trong lòng. Nhưng rồi đêm xuống, khi không còn tiếng vỗ tay, không còn công việc, điện thoại đặt xuống, căn phòng im lặng, câu hỏi vẫn còn nguyên: linh hồn tôi đang tìm ai? Thánh Augustinô đã nói bằng cả cuộc đời ngài rằng lòng con người khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa. Đó không phải một câu thơ đẹp để trang trí. Đó là bản mô tả của trái tim con người. Ta được dựng nên với một khoảng trống mang kích thước của Thiên Chúa, và không một thứ hữu hạn nào có thể lấp vừa.
Nhưng nói “con không có ai khác ngoài Thầy” không có nghĩa là người Kitô hữu khinh thường những tình yêu trần thế. Trái lại, khi Đức Kitô đứng đúng vị trí thứ nhất, ta mới yêu những người khác cho đúng. Nếu biến một người thành “tất cả” của mình, ta sẽ đòi họ làm điều chỉ Thiên Chúa mới làm được. Ta sẽ bóp nghẹt họ bằng kỳ vọng. Ta sẽ sợ mất họ đến mức chiếm hữu. Ta sẽ đau khổ quá mức khi họ không đáp ứng. Nhưng khi Chúa là tất cả, ta có thể yêu người khác mà không biến họ thành thần tượng; có thể biết ơn mà không sở hữu; có thể trao mình mà không đòi người kia phải cứu mình. Người yêu Chúa hơn hết không phải người yêu người khác ít hơn, nhưng là người có khả năng yêu người khác tự do hơn, tinh tuyền hơn, bền bỉ hơn.
Đặc biệt với đời tận hiến, lời “bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” phải là lời trở về liên lỉ. Người tu sĩ không sống độc thân vì không tìm được người để yêu; người tu sĩ sống độc thân vì đã để cho một Tình Yêu chiếm vị trí trung tâm. Người linh mục không thuộc về cộng đoàn trước khi thuộc về Đức Kitô. Nếu một ngày Đức Kitô không còn là mối tình đầu, đời tận hiến rất dễ biến thành nghề nghiệp. Người ta vẫn làm lễ, vẫn giảng, vẫn họp, vẫn quản trị, vẫn chạy công việc, vẫn có chương trình này chương trình khác, nhưng bên trong cạn dần. Khi ấy dễ cáu, dễ buồn, dễ ghen, dễ so sánh, dễ cần sự công nhận, dễ bị lời khen điều khiển, dễ bị lời chê làm tổn thương, bởi vì trái tim đang đói. Và điều nguy hiểm là ta có thể tìm cách chữa cái đói ấy bằng nhiều thứ khác thay vì trở về với Đức Kitô. Nhưng không có gì thay thế được Người. Không một thành công mục vụ nào thay được giờ ở trước Nhà Tạm. Không một lời khen nào thay được ánh mắt của Đấng đã gọi mình. Không một chức vụ nào thay được niềm vui được thuộc về Chúa. Không một đám đông nào thay được sự thân tình của một người môn đệ với Thầy mình.
Có khi sau nhiều năm theo Chúa, điều Chúa muốn làm không phải cho ta thêm việc, mà đưa ta trở về câu hỏi đầu tiên: “Con có yêu Thầy không?” Chúng ta dễ tưởng đời sống thiêng liêng tiến lên bằng cách làm nhiều hơn. Nhưng có lúc tiến lên lại là đơn giản hóa: bớt những điều làm lòng phân tán, bớt tìm mình, bớt chứng minh mình, bớt chạy theo tiếng khen, để chỉ còn lại Đức Kitô. Thánh Phaolô sau bao nhiêu kinh nghiệm, kiến thức, thành công cuối cùng có thể nói: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi.” Càng đi sâu trong đời sống thiêng liêng, con người càng đơn giản. Không phải đơn giản vì biết ít, nhưng bởi đã biết điều gì là quan trọng nhất.
Có những người giữ đức tin không phải vì họ chưa từng nghi ngờ, nhưng vì qua bao lần nghi ngờ họ vẫn quay về. Có những người trung thành không phải vì họ chưa từng muốn bỏ cuộc, nhưng vì mỗi lần muốn bỏ họ lại nhớ mình sẽ đi đâu. Đây là điều cần nói với những ai đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng đức tin: đừng vội sợ những câu hỏi của mình. Hãy đem chúng đến trước Đức Kitô. Đừng nghĩ rằng phải giải quyết xong tất cả rồi mới được cầu nguyện. Có khi lời cầu nguyện thật nhất chỉ là: “Lạy Chúa, con không hiểu.” Và thêm một câu nữa: “Nhưng con không muốn bỏ Chúa.” Thế là đủ cho một khởi đầu. Chúa không đòi ta phải luôn cảm thấy Người. Người đòi ta ở lại. Một đứa con ngồi bên cha trong im lặng vẫn là ở bên cha. Một người vợ ngồi bên giường người chồng bệnh nặng mà không nói được gì vẫn là yêu. Một người môn đệ quỳ trước Nhà Tạm khô khan, chẳng có một cảm xúc nào, nhưng vẫn không bỏ giờ cầu nguyện, đó cũng là một hình thức rất tinh tuyền của tình yêu.
Ta thường đánh giá đức tin bằng cảm giác: hôm nay cầu nguyện thấy sốt sắng thì tưởng đức tin mạnh; ngày mai không thấy gì thì tưởng đức tin yếu. Nhưng tình yêu trưởng thành không được đo bằng cảm giác. Người mẹ thức đêm chăm con bệnh có thể chẳng cảm thấy dễ chịu gì, nhưng đó là tình yêu. Người chồng chăm người vợ bệnh lâu năm có thể mệt đến kiệt sức, nhưng vẫn ở bên, đó là tình yêu. Người tu sĩ sống trung thành một ngày bình thường, chẳng có gì đặc biệt, vẫn giữ giờ kinh, giờ nguyện, phục vụ anh em, đó là tình yêu. Người tín hữu vẫn đến với Chúa sau tang chế dù trong lòng còn đau và còn hỏi tại sao, đó là tình yêu. Đức tin mạnh nhất có khi không nói những câu hùng hồn. Nó chỉ thì thầm: “Con vẫn ở đây.”
Và có lẽ Thiên Chúa quý lời ấy biết bao. Bởi vì khi ta ở lại trong lúc mọi thứ đều đẹp, ta chưa biết mình yêu Chúa hay yêu những quà tặng của Chúa. Chỉ khi những quà tặng bị lấy đi mà ta vẫn ở lại, tình yêu mới lộ ra. Ông Gióp mất tài sản, mất con cái, mất sức khỏe; vợ ông còn bảo hãy nguyền rủa Thiên Chúa rồi chết đi. Nhưng ông vẫn vật lộn với Thiên Chúa. Ông tranh luận, ông than thở, ông đặt câu hỏi, nhưng ông không bỏ tương quan. Đó là điều rất sâu: người tin có thể giận, có thể khóc, có thể chất vấn Thiên Chúa, nhưng vẫn nói với Thiên Chúa chứ không quay lưng khỏi Người. Có những lời than trách cũng là một hình thức cầu nguyện, nếu sau tất cả ta vẫn hướng mặt về Chúa.
“Con không có ai khác ngoài Thầy” càng đúng khi ta đứng dưới chân Thập Giá. Ở đó, Đức Giêsu không còn bánh để trao cho đám đông, không còn phép lạ để làm người ta kinh ngạc. Tay Người bị đóng đinh. Chân Người không bước được nữa. Khuôn mặt không còn hình dạng hấp dẫn. Người không đáp lại những lời thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Người dường như thất bại. Và chính ở đó ta phải quyết định ta yêu một Đức Giêsu nào. Nếu ta chỉ yêu Chúa quyền năng, ta sẽ bỏ đi trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Nếu ta chỉ yêu Chúa khi Người ban ơn, ta sẽ không chịu nổi khi bàn tay ấy bị đóng đinh. Nhưng nếu ta yêu chính Người, ta sẽ đứng lại như Đức Maria, như người môn đệ Chúa yêu, như những phụ nữ trung thành. Họ chẳng hiểu hết. Maria cũng không được trao cho một bản giải thích thần học dưới chân Thập Giá. Mẹ chỉ đứng đó. “Stabat Mater” – Mẹ đứng. Có khi đó là hình ảnh cao nhất của đức tin: không hiểu, không thay đổi được hoàn cảnh, không cứu người mình yêu khỏi đau khổ, nhưng vẫn đứng đó với Chúa.
Chúng ta thường xin Chúa cho mình hiểu. Và lời xin ấy tốt. Nhưng có lẽ phải xin thêm một ơn còn quan trọng hơn: “Lạy Chúa, nếu chưa đến lúc cho con hiểu, xin cho con đủ yêu để ở lại.” Bởi vì hiểu biết không luôn đi trước trung thành. Có nhiều mầu nhiệm chỉ được mở ra cho người trung thành. Một ngày nào đó, trong ánh sáng vĩnh cửu, có lẽ chúng ta sẽ nhìn lại toàn bộ cuộc đời và thấy từng đường chỉ của tấm thảm mà hôm nay ta chỉ nhìn thấy mặt trái. Hôm nay ta thấy những nút thắt, những sợi chỉ rối, những màu không ăn nhập. Nhưng Thiên Chúa thấy cả bức tranh. Đức tin là để cho Người tiếp tục dệt ngay cả khi ta chưa nhìn thấy mẫu hình.
Có những người hỏi: “Nếu Chúa yêu tôi, tại sao Người để tôi chịu chuyện này?” Câu hỏi ấy không nên được trả lời quá nhanh. Trước một người đang đau, những câu giải thích gọn gàng đôi khi lại thành vô tình. Kitô giáo không có một công thức giải thích mọi đau khổ. Kitô giáo có một Đấng đã bước vào đau khổ. Chúng ta không luôn biết tại sao thập giá này đến, nhưng chúng ta biết ai đang ở trên Thập Giá cùng mình. Sự khác biệt rất lớn. Một đứa trẻ đi vào căn phòng tối nếu một mình sẽ sợ, nhưng nếu nắm tay cha, căn phòng vẫn tối mà nó có thể bước. Đức tin không luôn bật đèn cho ta thấy mọi thứ; nhiều khi đức tin chỉ đặt tay ta vào tay Chúa và nói: cứ đi.
“Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Sau cùng, đây cũng là lời phải chuẩn bị cho giờ chết. Suốt đời ta có rất nhiều người bên cạnh. Nhưng rồi sẽ đến một cánh cửa mà không ai bước qua thay mình được. Người thân có thể đứng bên giường. Bác sĩ có thể làm hết sức. Linh mục có thể xức dầu. Gia đình có thể nắm tay. Nhưng có một khoảnh khắc linh hồn phải tự mình bước vào cuộc gặp gỡ cuối cùng. Khi ấy tiền để lại. Danh để lại. Nhà cửa để lại. Thành tích để lại. Những điều từng làm ta bận lòng cả đời bỗng hóa nhỏ. Và nếu cả đời đã tập nói “Lạy Chúa, con không có ai khác ngoài Chúa”, thì giờ chết không còn chỉ là mất tất cả; đó là đi về với Đấng đã là tất cả. Người Kitô hữu có thể run trước cái chết, nhưng không bước vào hư vô. Ta bước về một khuôn mặt quen. Khuôn mặt mà ta đã nhìn trong Thánh Giá. Khuôn mặt mà ta đã tìm trong giờ cầu nguyện. Khuôn mặt đã ẩn mình trong tấm bánh nhỏ trên bàn thờ. Khuôn mặt của Đấng từng nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em.”
Vì vậy hôm nay, thay vì cố hiểu hết đời mình rồi mới tin, có lẽ ta chỉ cần trở về và nói thật với Chúa. “Lạy Thầy Giêsu, có nhiều điều con không hiểu. Có những chuyện con đã hỏi Chúa nhiều năm mà chưa có câu trả lời. Có những vết thương vẫn còn đau. Có những lời cầu xin con vẫn chờ. Có những lần con đã tưởng Chúa ở rất xa. Có những lúc con đã muốn bỏ cuộc. Có khi con nhìn những người khác bỏ đi và tự hỏi mình ở lại để làm gì. Có khi chính lời Chúa cũng làm con khó chịu vì nó đòi con phải thay đổi. Có khi con muốn một Chúa khác, dễ chịu hơn, dễ điều khiển hơn. Nhưng hôm nay con lại nhìn Thầy và con chẳng biết đi đâu. Con đã thử tìm bình an ở nhiều nơi, và cuối cùng con lại trở về. Con đã tìm giá trị của mình trong ánh mắt người đời, và ánh mắt ấy thay đổi. Con đã tìm sự chắc chắn trong những thứ con có, và chúng mong manh. Con đã bám vào những con người con yêu, và con biết một ngày phải chia xa. Chỉ có Thầy là vẫn ở đó. Chỉ có lời Thầy đi xuyên qua cả cái chết. Chỉ có tình yêu Thầy không đổi.”
Có lẽ trưởng thành trong đức tin là đến một ngày câu “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” không còn là câu của Phêrô nữa mà trở thành câu của chính mình. Sau những lần thành công và thất bại, sau những ngày sốt sắng và khô khan, sau những lời cầu xin được nhận và những lời cầu xin vẫn chìm trong im lặng, sau những cuộc gặp gỡ và chia ly, sau những lần mình trung tín và cả những lần mình phản bội, cuối cùng ta trở về đứng trước Đức Kitô và nói: “Lạy Chúa, con đã đi đủ để biết rằng không có đường nào đưa con về nhà ngoài Chúa.” Điều đẹp nhất là Chúa không hề nói với Phêrô: “Vì anh vừa tuyên xưng hay nên từ nay anh sẽ không yếu đuối nữa.” Không lâu sau ông còn ngã. Nhưng Chúa biết trái tim ấy thuộc về Người. Sau lần chối Thầy, Phêrô lại quay về. Ông khóc. Ông được tha thứ. Và một ngày khác bên bờ hồ, Chúa chỉ hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” Phêrô chẳng còn tự tin như trước. Ông chỉ nói: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đó là hành trình của đức tin: từ chỗ nghĩ mình biết mình, biết Chúa, biết con đường, đến chỗ chỉ còn biết rằng Chúa biết mình và mình cần Chúa.
Có những lúc chúng ta mong có một đức tin không bao giờ chao đảo. Nhưng có lẽ điều Chúa muốn không phải một trái tim chưa từng chao đảo; Người muốn một trái tim dù chao đảo vẫn quay về. Phêrô từng chìm xuống nước nhưng ông kêu: “Lạy Thầy, xin cứu con.” Ông từng phản đối Thập Giá nhưng rồi chính ông cũng sẽ chết trên thập giá. Ông từng chối rằng không biết Đức Giêsu nhưng cuối đời lại trao mạng sống vì Người. Chúa có thể làm nên một vị thánh từ một con người nhiều lần không hiểu, miễn là người ấy đừng bỏ Người. Điều quyết định không phải ta chưa từng ngã; điều quyết định là mỗi lần ngã ta hướng về đâu.
Vậy nên nếu hôm nay có ai đang mệt, đang khô khan, đang không hiểu Chúa, xin đừng quyết định điều gì về cả cuộc đời trong một ngày tâm hồn đầy mây. Đừng bỏ Thầy chỉ vì hôm nay chưa hiểu Thầy. Đừng rời bàn tiệc chỉ vì có một lời chướng tai. Đừng bỏ cầu nguyện chỉ vì cầu nguyện không còn ngọt ngào. Đừng bỏ ơn gọi chỉ vì đang đi qua một đoạn khó. Đừng bỏ Giáo Hội chỉ vì đã gặp những con người bất toàn trong Giáo Hội. Đừng vứt bỏ cả một mối tình chỉ vì đang đứng dưới chân Thập Giá. Hãy ở lại đủ lâu để thấy bình minh. Hãy ở lại đủ lâu để nghe Chúa hỏi lại: “Con có yêu Thầy không?” Hãy ở lại, không phải vì mọi sự đã sáng, nhưng vì trong bóng tối vẫn còn bàn tay Chúa.
Và nếu không nói được gì dài, hãy nói như Phêrô: “Lạy Thầy, bỏ Thầy thì con biết đến với ai?” Một câu thôi cũng đủ. Khi bệnh tật đến: “Con không hiểu, nhưng con biết đến với ai.” Khi gia đình gặp chuyện: “Con không hiểu, nhưng con biết đến với ai.” Khi bị hiểu lầm: “Con không hiểu, nhưng con biết đến với ai.” Khi lời cầu xin chưa được nhận: “Con không hiểu, nhưng con biết đến với ai.” Khi tuổi già đến và những người quen dần vắng: “Con không hiểu hết, nhưng con biết đến với ai.” Khi giờ chết gần: “Lạy Chúa, con không có ai khác ngoài Chúa.”
Rồi một ngày, ta sẽ hiểu rằng đức tin đẹp nhất không phải là đức tin của người có mọi câu trả lời. Đức tin đẹp nhất là đức tin của người vẫn nắm lấy Chúa khi những câu trả lời chưa tới. Tình yêu đẹp nhất không phải tình yêu chỉ ca hát trong ngày hội. Tình yêu đẹp nhất là tình yêu biết đứng dưới chân Thập Giá. Trung thành đẹp nhất không phải là chưa từng nghĩ đến chuyện bỏ đi; trung thành đẹp nhất là đã nghe cánh cửa ngoài kia mở ra, đã thấy nhiều người bước khỏi, đã cảm nhận sức hấp dẫn của những con đường khác, mà rồi vẫn nhìn Đức Giêsu và nói: “Con ở lại.”
Con ở lại không phải vì con hiểu hết Thầy. Làm sao một thụ tạo nhỏ bé có thể hiểu hết Thiên Chúa? Con ở lại không phải vì con hiểu hết đời con. Có những trang chỉ đến cuối sách con mới hiểu. Con ở lại không phải vì con không đau. Có những vết thương sẽ còn nhức. Con ở lại không phải vì con chưa từng thất vọng. Có những ngày con đã khóc trước mặt Thầy. Con ở lại không phải vì con mạnh. Chính vì con yếu nên con càng không thể rời bàn tay Thầy. Con ở lại vì con đã biết một điều mà năm tháng càng dài càng làm con xác tín: ngoài Thầy, chẳng ai có lời ban sự sống đời đời. Ngoài Thầy, mọi nguồn nước rồi cũng cạn. Ngoài Thầy, mọi ánh sáng rồi cũng tắt. Ngoài Thầy, mọi cuộc gặp rồi cũng có chia ly. Nhưng trong Thầy, ngay cả cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng.
Lạy Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, xin trở thành Đấng duy nhất của lòng trí chúng con. Khi chúng con hiểu, xin cho chúng con yêu Chúa. Khi chúng con không hiểu, xin càng cho chúng con bám lấy Chúa. Khi được an ủi, xin cho chúng con tạ ơn. Khi không cảm thấy gì, xin cho chúng con trung thành. Khi được ban ơn, xin cho chúng con đừng chỉ yêu quà mà quên Đấng ban quà. Khi bị lấy mất những điều quý giá, xin cho chúng con nhận ra vẫn còn Chúa. Khi nhiều người bỏ đi, xin cho chúng con ở lại. Khi thế gian hỏi chúng con tại sao vẫn tin, xin cho đời chúng con trở thành câu trả lời. Khi lòng chúng con muốn tìm một nơi nương tựa khác, xin cho lời Phêrô vang lên từ đáy lòng: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?”
Và đến cuối cuộc đời, khi mọi câu hỏi dần im, khi những gì từng quan trọng không còn quan trọng nữa, khi chúng con chẳng mang theo được gì ngoài một linh hồn nghèo khó, xin cho lời cuối cùng của đời chúng con không phải là một lời sợ hãi, nhưng là một lời phó thác: “Lạy Thầy, con đến với Thầy. Con đã chẳng hiểu hết cuộc đời mình. Con cũng chẳng hiểu hết những con đường Thầy đã dẫn. Nhưng bây giờ con biết: không có một bước chân nào là vô nghĩa nếu bước ấy đưa con gần Thầy hơn; không có giọt nước mắt nào mất đi nếu đã rơi trong tay Thầy; không có thập giá nào là vô ích nếu đã được nối với Thập Giá của Thầy. Và sau tất cả, con không cần phải hiểu hết nữa. Con chỉ cần có Thầy.”
Bởi vì rốt cuộc, đức tin không phải là có trong tay một tấm bản đồ giải thích mọi con đường. Đức tin là có một Người cùng đi. Đức tin không phải nhìn thấy hết tương lai. Đức tin là biết Đấng đang nắm tương lai. Đức tin không phải chưa từng đặt câu hỏi. Đức tin là vẫn hướng câu hỏi về phía Chúa. Đức tin không phải không bao giờ thấy tối. Đức tin là trong bóng tối vẫn nhận ra bàn tay mình đang được nắm. Và tình yêu không phải nói với Chúa: “Con ở với Chúa vì Chúa đã làm cho con hiểu mọi sự.” Tình yêu là cúi đầu thật sâu mà nói: “Lạy Chúa, có những điều con vẫn không hiểu. Có những điều có lẽ suốt đời này con sẽ không hiểu. Nhưng con biết một điều thôi, và một điều ấy đủ cho con: con không có ai khác ngoài Thầy.”
Lm. Anmai, CSsR

CHỈ MỘT MÌNH CHÚA ĐỦ CHO ĐỜI CON
Tin Mừng: Mt 13,44-46
Có những câu Tin Mừng đọc qua tưởng như rất nhẹ, rất đơn sơ, chỉ vài dòng ngắn ngủi, nhưng càng sống lâu, càng đi nhiều trong đời, càng trải qua những được mất, những vui buồn, những lần nắm được rồi lại buông ra, những lần tưởng rằng mình đã có tất cả rồi bỗng nhận ra lòng mình vẫn trống, người ta mới hiểu rằng có những lời của Chúa không thể hiểu bằng trí óc mà phải hiểu bằng cả một đời người. “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.” Chỉ một câu đó thôi đã nói gần như tất cả bí mật của đời môn đệ. Người ấy bán tất cả. Nhưng điều làm ta phải suy nghĩ không phải trước hết là chuyện anh ta đã bán bao nhiêu, đã bỏ những gì, đã hy sinh những gì. Điều quan trọng nhất nằm ở chỗ trước khi bán tất cả, anh ta đã gặp được kho báu. Nếu không gặp kho báu, chẳng ai điên đến mức bán hết những gì mình có. Nếu không nhìn thấy một giá trị lớn hơn, chẳng ai tự nhiên lại buông cái đang ở trong tay. Nếu không gặp được một điều quý hơn tất cả, mọi lời mời gọi từ bỏ chỉ trở thành gánh nặng, mọi hy sinh chỉ biến thành ép buộc, mọi lời khấn chỉ còn là kỷ luật, mọi luật lệ chỉ còn là chiếc hàng rào bao quanh một trái tim đang muốn chạy trốn. Nhưng khi đã gặp được kho báu, tất cả thay đổi. Người ấy không bán trong nước mắt. Tin Mừng nói rất rõ: “vui mừng đi bán tất cả.” Anh ta không buồn bã bước ra khỏi căn nhà của mình. Anh ta không kể công rằng tôi đã hy sinh thế này, tôi đã bỏ thế kia. Anh ta không đứng giữa chợ mà than rằng vì thửa ruộng kia tôi đã phải mất bao nhiêu. Anh chỉ biết rằng điều anh sắp có lớn hơn tất cả những gì anh đang bỏ. Chính ở chỗ này, ta hiểu được điều sâu xa nhất của đời Kitô hữu, và còn sâu hơn nữa, của đời tận hiến: người tìm được Đức Kitô mới hiểu tại sao mình có thể từ bỏ mọi sự. Không phải vì mọi sự xấu. Không phải vì tình thân xấu. Không phải vì tiền bạc tự nó là xấu. Không phải vì tự do là xấu. Không phải vì những dự định riêng của đời người đều là vô nghĩa. Nhưng vì đã gặp một Đấng đáng giá hơn tất cả. Và khi lòng người thật sự gặp được Đấng ấy, nó có thể nói một câu mà chỉ người đang yêu mới hiểu: Chỉ một mình Chúa đủ cho đời con.
Có lẽ đây là câu phải được nói thật chậm, bởi chúng ta dễ nói nó trong những ngày đẹp trời, nhưng rất khó nói nó trong những ngày lòng mình khô khan. “Chỉ một mình Chúa đủ cho đời con” không phải là một khẩu hiệu đẹp để viết trên tấm thiệp khấn dòng, không phải là một câu đạo đức để đọc trong giờ tĩnh tâm, càng không phải là một kiểu phủ nhận mọi tương quan của đời người. Nói “Chúa đủ” không có nghĩa là ta không cần anh em, không cần cộng đoàn, không cần tình thương, không cần tình bạn, không cần một lời an ủi. Thiên Chúa đã dựng nên con người để sống trong tương quan, và chính Đức Giêsu cũng có những người bạn, cũng đến nhà Bêtania, cũng yêu Mácta, Maria và Ladarô, cũng đau khi Ladarô chết, cũng cần các môn đệ ở bên trong giờ Ghếtsêmani. Nói “Chúa đủ” có nghĩa là không một con người nào bị bắt phải đóng vai Thiên Chúa trong đời ta. Không ai phải mang trên vai trách nhiệm làm cho ta hoàn toàn hạnh phúc. Không ai có thể là nền móng cuối cùng của đời ta. Không một thành công nào có thể cho ta căn tính. Không một chức vụ nào có thể cho ta giá trị. Không một lời khen nào có thể cứu ta khỏi cô đơn. Không một sự công nhận nào có thể lấp được khoảng sâu nhất của tâm hồn. Chỉ có Chúa mới vào được nơi đó. Chỉ có Chúa mới biết ta từ trước khi người đời biết ta. Chỉ có Chúa mới ở lại khi những gì ta từng dựa vào lần lượt rời khỏi tay. Và chỉ khi ta biết Chúa là Đấng đủ cho mình, ta mới có thể yêu người khác một cách tự do, không biến họ thành thần tượng, không đòi họ trả món nợ mà họ chưa từng vay, không bắt họ phải bù vào những thiếu hụt sâu kín nhất của đời ta.
Người gặp kho báu “bán tất cả”. Câu ấy thật đẹp nhưng cũng thật đáng sợ. Chúng ta thường thích Đức Kitô như một phần của đời mình hơn là Đức Kitô như tất cả của đời mình. Ta muốn có Chúa, nhưng vẫn muốn giữ lại vài căn phòng khóa kín. Ta muốn theo Chúa, nhưng thích tự quyết định con đường. Ta muốn Chúa làm Chủ, miễn là Người đừng đụng đến những chỗ ta không muốn trao. Ta muốn nói “xin vâng”, nhưng trong lòng vẫn có một danh sách những điều Chúa được phép hỏi và những điều Chúa không được phép hỏi. Chúng ta có thể bỏ rất nhiều thứ bên ngoài mà vẫn giữ nguyên cái tôi bên trong. Một người có thể không sở hữu nhiều tiền, nhưng lại sở hữu rất chặt danh dự của mình. Một người có thể sống nghèo vật chất, nhưng rất giàu ý riêng. Một người có thể rời gia đình, nhưng không rời được nhu cầu phải được mọi người yêu mến. Một người có thể đi truyền giáo xa, nhưng mang theo trong hành trang một cái tôi cần được nhìn nhận. Một người có thể làm rất nhiều việc cho Chúa mà lại âm thầm xây dựng chính mình. Một người có thể nói “con thuộc về Chúa” mà vẫn đau khổ dữ dội mỗi khi người khác không làm theo ý mình. Vì thế, cái “bán tất cả” của Tin Mừng không thể chỉ đo bằng những gì mắt thấy. Có những thứ ta ký giấy trao đi rất dễ, nhưng có những thứ phải mất cả đời mới chịu buông. Có khi cái cuối cùng ta giữ lại không phải là một món đồ, mà là quyền được hiểu, quyền được công nhận, quyền được đối xử theo cách mình mong, quyền được người khác biết mình đã hy sinh bao nhiêu, quyền được trả lời khi bị hiểu lầm, quyền được chiến thắng trong một cuộc tranh luận, quyền được giữ lấy hình ảnh đẹp về chính mình. Và chính những thứ ấy mới là những đồng tiền cuối cùng phải đặt xuống để mua thửa ruộng có kho báu.
Nhưng Tin Mừng không bắt đầu bằng “bán tất cả”. Tin Mừng bắt đầu bằng “gặp được kho báu”. Đây là điều rất quan trọng. Nhiều khi trong đời sống đạo, chúng ta nói quá nhiều về bỏ, về hy sinh, về từ bỏ, về vâng phục, về kỷ luật, mà nói chưa đủ về việc gặp Chúa. Khi một người chưa gặp Chúa mà chỉ nghe nói phải bỏ, đời sống đức tin sẽ trở nên nặng nề. Khi một người chưa yêu Chúa mà chỉ được dạy phải giữ luật, luật sẽ là cái ách. Khi một người chưa nếm được Chúa ngọt ngào thế nào mà đã phải từ bỏ, họ dễ sống cả đời trong tâm trạng tiếc nuối. Họ sẽ nhìn về thế gian như nhìn qua cửa sổ của một căn phòng bị khóa và nghĩ: ngoài kia người ta vui quá, còn mình thì phải hy sinh. Họ sẽ thấy đời tu như một chuỗi những điều không được phép. Không được cái này, không được cái kia, không có gia đình riêng, không có tài sản riêng, không có chương trình riêng. Nếu đời tận hiến chỉ được diễn tả bằng những cái “không”, người tận hiến rất dễ trở thành một con người sống trong thiếu hụt. Nhưng Tin Mừng không nói như thế. Người ấy bán tất cả vì đã thấy kho báu. Cái “không” của người môn đệ chỉ có ý nghĩa vì một cái “có” lớn hơn. Tôi không chọn đời này vì tôi ghét đời kia. Tôi không từ bỏ vì tôi không biết giá trị những gì mình bỏ. Tôi bỏ vì tôi đã tìm thấy một điều lớn hơn. Tôi không khinh thường tình yêu của con người, nhưng tôi đã được một Tình Yêu gọi tên. Tôi không coi thường mái ấm gia đình, nhưng tôi đã nghe một tiếng gọi kéo đời tôi về một mái nhà rộng hơn. Tôi không khinh những ước mơ bình thường của một đời người, nhưng tôi đã bị chạm bởi một Ước Mơ lớn hơn tôi. Và nếu một ngày ta chỉ còn nhớ những gì mình đã bỏ mà quên mất Đấng mình đã chọn, ngày ấy đời tận hiến bắt đầu khô cạn.
Có một câu hỏi rất đáng sợ mà mỗi người theo Chúa phải đôi lần tự hỏi mình: Nếu hôm nay lấy hết mọi công việc khỏi tay tôi, lấy chức vụ khỏi tôi, lấy những lời khen khỏi tôi, lấy cả những người đang cần tôi khỏi tôi, tôi còn Chúa không? Và nếu chỉ còn Chúa, tôi có thấy đủ không? Có thể đây là câu hỏi ta không muốn trả lời vội. Vì chúng ta đôi khi tưởng mình cần Chúa, nhưng thật ra ta cần cảm giác mình hữu ích cho Chúa. Ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng có khi ta yêu cả vị trí mình có trong công việc của Chúa. Ta tưởng mình đang phục vụ, nhưng đôi khi chính sự phục vụ lại trở thành nơi ta tìm căn tính. Bởi vậy khi bị đổi nhiệm sở, ta hụt hẫng. Khi không còn được giao việc quan trọng, ta buồn. Khi người khác làm thay được mình, ta khó chịu. Khi không còn ai hỏi ý kiến, ta thấy mình bị bỏ rơi. Những cảm giác ấy rất con người, không cần phải giả vờ không có. Nhưng chúng cũng là lời mời để ta trở về với câu hỏi căn bản: kho báu của tôi là Chúa hay là những thứ gắn quanh Chúa? Tôi yêu Đức Kitô hay yêu cảm giác được làm việc cho Đức Kitô? Tôi tìm Chúa hay tìm chỗ đứng trong nhà Chúa? Tôi muốn Nước Trời hay muốn mình có một chỗ danh dự trong Nước Trời?
“Chỉ một mình Chúa đủ cho đời con” là một lời rất đẹp, nhưng để nói được lời ấy, nhiều khi Chúa phải âm thầm tháo khỏi tay ta từng cái nạng. Không phải vì Người tàn nhẫn, nhưng vì Người biết ta đang dựa vào điều gì nhiều hơn dựa vào Người. Có những năm tháng Chúa cho ta thành công, rồi có những năm tháng Chúa để ta thất bại. Có lúc Người cho ta được yêu mến, rồi có lúc ta thấy mình bị hiểu lầm. Có lúc ta ở giữa rất nhiều người, rồi có lúc ta đi qua những đoạn đường không ai hiểu. Có lúc ta cầu nguyện thấy ngọt ngào, rồi có lúc nhà tạm vẫn ở đó mà lòng ta lạnh ngắt. Có lúc đọc Lời Chúa câu nào cũng sáng, rồi có lúc mở sách ra chỉ thấy chữ. Có lúc ta cảm thấy đời mình có ý nghĩa vô cùng, rồi có lúc một buổi sáng thức dậy thấy mọi thứ bình thường đến mức gần như vô nghĩa. Chính trong những giờ ấy câu “Chúa đủ cho đời con” mới thôi là thơ và bắt đầu thành đức tin. Nếu chỉ thấy Chúa đủ khi Người làm ta vui, thì chưa chắc là ta cần Chúa; có khi ta chỉ cần cảm giác dễ chịu Chúa mang lại. Nếu chỉ thấy Chúa đủ khi lời cầu nguyện được nhận, có khi điều ta cần là quà của Chúa hơn chính Chúa. Nếu chỉ thấy Chúa đủ khi mọi người kính trọng ta, có khi ta đang sống bằng ánh mắt người khác. Nhưng nếu có một ngày mọi thứ tối đi, mà trong căn phòng nhỏ ấy ta vẫn có thể quỳ xuống và nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, con không cảm thấy gì, con chẳng còn gì để khoe, nhưng Chúa vẫn là Chúa của con”, thì ngày ấy ta đã đi gần đến thửa ruộng có kho báu.
Chúng ta thường nghĩ từ bỏ là chuyện làm một lần. Không. Có những từ bỏ phải làm lại mỗi sáng. Một lời khấn có thể được tuyên trong vài phút, nhưng để sống lời khấn ấy phải mất cả đời. Một lần nói “con xin thuộc về Chúa” thì dễ; nhưng mỗi sáng thức dậy lại trao quyền sở hữu đời mình cho Chúa mới khó. Vì cái tôi rất khéo. Hôm qua ta vừa đặt xuống, hôm nay nó đã nhặt lại. Hôm qua ta vừa xin vâng, hôm nay ta lại muốn Chúa xin phép mình. Hôm qua ta nói “ý Cha thể hiện”, hôm nay khi ý Cha đi ngược ý mình, ta bắt đầu thương lượng. Có những lúc ta không chống Chúa công khai, ta chỉ trì hoãn. Ta nói: “Vâng, nhưng chưa phải lúc.” “Vâng, nhưng chuyện này thì khác.” “Vâng, nhưng Chúa phải hiểu hoàn cảnh của con.” Thực ra lời “xin vâng” trưởng thành không phải là lời nói của một người không còn ý muốn riêng. Đức Giêsu trong Ghếtsêmani vẫn có ý muốn rất thật: “Nếu có thể được, xin cho chén này rời khỏi con.” Nhưng Người trao ý ấy cho Cha. Vâng phục không phải là không có ý riêng. Vâng phục là có ý riêng nhưng không tôn ý riêng lên làm thần. Từ bỏ không phải là trở thành người không còn cảm xúc. Từ bỏ là yêu một Đấng đến mức có thể đặt cả cảm xúc của mình dưới chân Người.
Người thương gia trong dụ ngôn kế tiếp “đi tìm ngọc đẹp”. Khi tìm được một viên ngọc quý, ông cũng bán tất cả mà mua. Có một khác biệt rất hay: người thứ nhất dường như tình cờ gặp kho báu, người thứ hai chủ động đi tìm ngọc. Có người gặp Chúa trong một biến cố bất ngờ. Có người phải tìm rất lâu. Có người nghe một câu Tin Mừng mà cuộc đời đổi hướng. Có người trải qua nhiều năm tháng hoang mang, thử thách, đi vòng, rồi cuối cùng mới nhận ra Chúa đã đứng đó từ lâu. Nhưng dù gặp cách nào, kết quả vẫn giống nhau: khi thật sự nhận ra giá trị của điều mình gặp, người ta sẵn sàng đặt lại trật tự mọi thứ. Đó chính là hoán cải. Hoán cải không chỉ là bỏ một vài tật xấu. Hoán cải sâu nhất là đổi thứ tự của các giá trị. Trước đây mình là trung tâm; nay Chúa là trung tâm. Trước đây tôi hỏi: “Điều này có lợi cho tôi không?” Nay tôi hỏi: “Điều này có đẹp lòng Chúa không?” Trước đây tôi hỏi: “Người ta nghĩ gì về tôi?” Nay tôi hỏi: “Chúa nhìn tôi thế nào?” Trước đây tôi sống để giữ lấy. Nay tôi học cách trao đi. Trước đây tôi sợ mất vì căn tính của tôi nằm trong những gì tôi có. Nay tôi có thể mất nhiều thứ mà vẫn không mất mình, vì căn tính tôi nằm trong Đấng tôi thuộc về.
Có một nghịch lý rất đẹp trong đời sống thiêng liêng: khi Chúa thật sự là tất cả, những thứ khác không mất giá trị nhưng lại được trả về đúng vị trí. Khi Chúa đứng thứ nhất, ta không yêu gia đình ít hơn, mà yêu họ đúng hơn. Ta không yêu anh em ít hơn, mà bớt chiếm hữu họ. Ta không bớt nhiệt thành với công việc, nhưng không còn để công việc nuốt linh hồn. Ta không coi thường thành công, nhưng không còn phải sống chết vì thành công. Ta có thể nhận lời khen mà không bay lên và chịu lời chê mà không sụp xuống. Ta có thể được trao quyền mà không nghiện quyền, bị lấy quyền mà không mất chính mình. Ta có thể sống giữa đám đông mà không lệ thuộc tiếng vỗ tay, và sống trong âm thầm mà không cay đắng vì không ai biết đến. Bởi nền nhà đã có một cột trụ khác: Chúa.
Người ta thường sợ rằng nếu trao tất cả cho Chúa thì đời mình sẽ nghèo đi. Nhưng kinh nghiệm của các thánh lại nói ngược lại. Khi giữ tất cả cho mình, bàn tay ta đầy mà trái tim có thể rỗng. Khi trao tất cả cho Chúa, bàn tay có khi trống nhưng trái tim bắt đầu đầy. Vấn đề là ta chưa tin đủ vào giá trị của kho báu nên cứ mặc cả. Chúng ta muốn mua thửa ruộng nhưng không muốn bán căn nhà. Muốn có viên ngọc nhưng giữ tiền trong túi. Muốn có Chúa nhưng cũng muốn giữ mọi bảo đảm khác. Và Chúa kiên nhẫn. Người không giật khỏi tay ta. Người chỉ để ta dần nhận ra rằng không gì ta đang giữ có thể giữ được ta mãi. Tiền có thể mất. Sức khỏe có thể mất. Danh tiếng có thể mất. Người thân rồi có ngày cũng phải rời nhau. Trí nhớ có thể yếu đi. Khả năng có thể suy giảm. Một ngày nào đó ngay cả những việc ta đã làm cả đời cũng có người khác làm thay. Cuối cùng, có một giây phút ta phải buông tất cả, dù muốn hay không. Cái chết là lời khấn khó nghèo cuối cùng của mọi người: đi khỏi thế gian với hai bàn tay trắng. Và hạnh phúc cho ai đã tập đặt mọi sự vào tay Chúa trước khi ngày ấy đến.
Chỉ một mình Chúa đủ cho đời con. Câu đó không có nghĩa là đời con sẽ không bao giờ cô đơn. Có khi chính người nói câu này sẽ đi qua những cô đơn rất sâu. Không có nghĩa là đời con sẽ không đau. Có khi theo Chúa lại gặp những nỗi đau người khác không gặp. Không có nghĩa là Chúa sẽ giải thích mọi chuyện. Có những câu hỏi mang theo cả đời. Nhưng “Chúa đủ” nghĩa là trong mọi cô đơn ấy vẫn có một sự hiện diện không bỏ đi; trong mọi đau khổ ấy vẫn có một Đấng đã mang thương tích; trong mọi câu hỏi không lời đáp vẫn có một bàn tay để mình đặt đời mình vào. Đức tin trưởng thành không phải là có câu trả lời cho mọi sự. Đức tin trưởng thành là dù không hiểu hết, vẫn biết mình thuộc về Ai.
Có những ngày người tận hiến phải trở lại với buổi đầu. Không phải trở lại những cảm xúc lãng mạn, nhưng trở lại với câu hỏi: ngày ấy mình đã thấy gì mà dám bước đi? Ngày ấy mình đã nghe tiếng ai mà dám bỏ? Ngày ấy điều gì làm cho mình tin rằng một đời thuộc về Chúa là đáng? Sau nhiều năm, bụi của công việc, những va chạm cộng đoàn, những thất vọng, những thương tích, những chuyện rất người có thể phủ lên kho báu. Ta vẫn ở trong thửa ruộng nhưng quên rằng dưới đất có kho báu. Ta vẫn giữ lời khấn nhưng không còn vui. Ta vẫn đọc kinh nhưng lòng xa. Ta vẫn làm mục vụ nhưng cạn. Ta vẫn đứng trước bàn thờ nhưng trong lòng lại đang đi tìm những viên ngọc khác: một lời công nhận, một sự thành công, một mối tương quan đặc biệt, một vị trí, một cảm giác mình quan trọng. Những thứ ấy không nhất thiết xấu. Nhưng khi chúng bắt đầu trở thành điều mà thiếu nó ta không sống nổi, nó đã len vào chỗ của kho báu.
Có lẽ khủng hoảng lớn nhất của đời sống thánh hiến không phải là khi người ta không còn làm được nhiều việc, mà là khi Đức Kitô không còn đủ hấp dẫn. Khi đó, người ta bắt đầu cần những thứ phụ để bù. Cần bận rộn hơn để khỏi nghe khoảng trống. Cần người ta khen hơn để thấy mình có giá trị. Cần kiểm soát hơn để thấy an toàn. Cần sở hữu hơn để bớt bất an. Cần một ai đó hiểu mình tuyệt đối vì không còn thấy Chúa hiểu mình đủ. Và rồi đời tu trở thành nặng. Không phải vì lời khấn nặng, nhưng vì trái tim đang ôm quá nhiều thứ ngoài kho báu.
Cho nên, điều cần nhất không phải luôn luôn là siết mình thêm, làm thêm, hy sinh thêm, mà có khi là gặp lại Chúa. Ngồi lại trước Nhà Tạm. Không để xin việc này việc kia, nhưng chỉ để Người nhìn mình. Mở Tin Mừng không phải để tìm ý giảng, nhưng để nghe một lời cho chính mình. Cầm Thánh Giá lên không phải như một biểu tượng nghề nghiệp, nhưng nhìn Đấng đã chết vì mình. Nhớ lại rằng trước khi mình làm gì cho Chúa, Người đã làm tất cả cho mình. Trước khi mình chọn Người, Người đã chọn mình. Trước khi mình bỏ điều gì, Người đã bỏ trời cao để tìm mình. Trước khi mình nói “con thuộc về Chúa”, Người đã nói trên Thập Giá bằng máu: “Con thuộc về Ta.” Khi gặp lại tình yêu ấy, ta mới lại có khả năng buông. Người ta không thể ép một trái tim từ bỏ; chỉ có một tình yêu lớn hơn mới làm nó buông được điều nhỏ hơn.
Có người hỏi: làm sao biết Chúa đã thật sự trở thành kho báu của đời mình? Có lẽ không phải bằng những cảm xúc sốt sắng. Một dấu khá rõ là ta bắt đầu tự do. Tự do trước việc được khen hay bị chê. Tự do trước thành công hay thất bại. Tự do trước việc được chọn hay bị bỏ qua. Tự do trước những gì đang có. Ta biết ơn khi có, nhưng không chết khi mất. Ta yêu người bên cạnh, nhưng không trói họ vào nhu cầu của mình. Ta làm việc hết lòng, nhưng biết dừng lại để ngồi dưới chân Chúa. Ta có quan điểm, nhưng không phải lúc nào cũng cần thắng. Ta bị hiểu lầm mà không nhất thiết phải chạy khắp nơi minh oan. Ta có thể nói: “Nếu Chúa biết là đủ.” Câu ấy không dễ. Nhưng đó là một thứ tự do rất sâu. Khi Chúa đủ, ta không còn phải làm cho mọi người hiểu mình. Khi Chúa đủ, ta không cần gom mọi lời khen để sưởi ấm bản thân. Khi Chúa đủ, ta có thể sống một phần đời rất âm thầm mà vẫn bình an.
Và có lẽ đó là điều đẹp nhất của người môn đệ: không phải người không có gì, mà là người có một Kho Báu đến mức mọi thứ khác trở thành thứ yếu. Người ấy có thể nghèo mà không cay. Có thể nhỏ bé mà không tủi. Có thể ở chỗ cuối mà không ghen. Có thể chịu thiệt mà không thấy đời mình mất giá. Có thể bước qua một mùa không ai nhớ đến mình mà vẫn tin rằng Chúa nhớ. Có thể già đi, yếu đi, bớt làm được nhiều thứ mà không hoảng loạn, vì giá trị của mình chưa từng nằm ở năng suất. Có thể đến một ngày tay run, mắt mờ, chẳng còn đứng giảng, chẳng còn đi đâu, chỉ nằm đó với chuỗi Mân Côi và một cây Thánh Giá, nhưng lại thấy đời mình đầy hơn bao giờ hết, vì cuối cùng chỉ còn điều từ đầu vẫn là chính yếu: Chúa.
“Chỉ một mình Chúa đủ cho đời con.” Đừng vội nói câu ấy như một người đã làm được. Hãy nói như một lời cầu xin. “Lạy Chúa, xin làm cho Chúa đủ với con.” Vì có khi miệng ta nói Chúa đủ, nhưng lòng ta vẫn đòi thêm rất nhiều. Xin Chúa thanh luyện dần. Xin Người chỉ cho ta thấy những thứ ta đang đặt ngang hàng với Người. Xin Người đừng để ta đi hết đời tu mà cuối cùng kho báu lớn nhất lại là cái tôi. Xin Người đừng để ta giữ mọi lời khấn bên ngoài mà bên trong trái tim đã có những chủ nhân khác. Xin Người làm cho ta say mê Đức Kitô trở lại. Không phải say mê một ý tưởng về Đức Kitô, nhưng chính Đức Kitô chịu đóng đinh, nghèo, khiêm hạ, vâng phục, tự hiến, âm thầm, Đấng không hứa cho môn đệ một đời dễ dàng nhưng hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày.”
Có khi điều Chúa muốn lấy khỏi ta không phải là một vật, mà là một ảo tưởng. Ảo tưởng rằng mình phải được hiểu. Ảo tưởng rằng mình không thể sống nếu thiếu một người. Ảo tưởng rằng mình phải thành công mới có giá trị. Ảo tưởng rằng vì đã phục vụ nhiều năm nên người khác phải đối xử với mình theo một cách nào đó. Ảo tưởng rằng đời mình chỉ có ý nghĩa khi còn làm được việc. Chúa lấy những điều ấy không phải để làm ta nghèo, nhưng để trả lại cho ta sự thật: Con là của Ta. Thế là đủ.
Có một lúc nào đó trong đời, mỗi người phải đi đến một chỗ mà không ai đi thay được. Một căn phòng bệnh. Một đêm mất ngủ. Một cuộc chia ly. Một quyết định khó. Một tuổi già. Một khoảnh khắc đứng trước cái chết. Khi đó, mọi tiếng vỗ tay đã xa, mọi chức danh nằm ngoài cửa, mọi thành tích không thể nắm tay ta. Và người đã tập sống với Chúa sẽ nhận ra một điều kỳ lạ: điều mình cần nhất vẫn đang ở đó. Một cây Thánh Giá. Một lời kinh. Một tên gọi: Giêsu. Và khi mọi thứ khác lùi xa, câu này có thể trở thành lời cuối đẹp nhất của một đời người: “Lạy Chúa, con đã từng nghĩ con cần rất nhiều thứ. Con đã từng sợ mất rất nhiều thứ. Con đã từng bám rất nhiều người. Nhưng cuối cùng, con hiểu: có Chúa là con còn tất cả. Mất Chúa mới là mất tất cả.”
Thửa ruộng của Tin Mừng nhìn bên ngoài chẳng có gì đặc biệt. Người khác đi ngang có thể thấy nó bình thường. Chỉ người đã thấy kho báu mới biết tại sao nó đáng để bán tất cả. Đời tận hiến cũng vậy. Người ngoài có thể nhìn vào và hỏi: tại sao phải bỏ? Tại sao không lập gia đình? Tại sao vâng phục? Tại sao sống khó nghèo? Tại sao đi đến nơi xa? Tại sao chấp nhận một đời có nhiều giới hạn? Nếu trả lời chỉ bằng luật, sẽ không bao giờ đủ. Chỉ có một câu trả lời: vì ở đây có một Kho Báu. Vì có một Đấng đã chiếm trái tim. Vì đã gặp Người. Vì Người đáng giá hơn tất cả. Nếu không có điều ấy, mọi từ bỏ đều vô lý. Nhưng nếu có Người, mọi từ bỏ bỗng trở thành một hình thức của tự do.
Thật ra, không phải chúng ta bán tất cả để mua Đức Kitô, vì Đức Kitô không phải món hàng có thể mua. Chính Người đã mua chúng ta bằng giá máu. Câu chuyện của Tin Mừng chỉ muốn nói rằng khi nhận ra Người là Kho Báu, ta sẵn sàng để mọi thứ khác tìm lại đúng giá trị của nó. Và rồi một ngày, điều tưởng là mất hóa ra lại là được. “Ai mất mạng sống mình vì Thầy sẽ tìm lại được.” Đó là nghịch lý của Tin Mừng. Nắm chặt thì mất. Trao đi thì được. Giữ mình thì cạn. Hiến mình thì đầy. Và người bán tất cả không trở thành người nghèo nhất. Anh trở thành người giàu nhất, vì anh có kho báu.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con gặp Chúa cho thật. Không chỉ biết về Chúa, không chỉ nói về Chúa, không chỉ làm việc cho Chúa, nhưng gặp Chúa. Xin cho con được nếm một chút vẻ đẹp của Chúa đủ để những điều khác không còn thống trị lòng con. Xin cho con đừng biến lời khấn thành gánh nặng vì đã quên mất kho báu. Xin cho con đừng đếm những gì con đã bỏ, nhưng mỗi ngày biết ngạc nhiên vì điều con đã được. Xin cho con biết nói với Chúa trong những ngày vui: “Chúa đủ cho con.” Và nhất là trong những ngày không còn gì đẹp để cảm: “Chúa vẫn đủ cho con.” Khi con được yêu mến, Chúa đủ. Khi con bị hiểu lầm, Chúa đủ. Khi con thành công, Chúa đủ. Khi con thất bại, Chúa đủ. Khi con khỏe mạnh, Chúa đủ. Khi con đau yếu, Chúa đủ. Khi con ở giữa cộng đoàn, Chúa đủ. Khi con cô đơn, Chúa đủ. Khi con cầu nguyện đầy an ủi, Chúa đủ. Khi con cầu nguyện chỉ thấy khô khan, Chúa vẫn đủ. Khi con còn làm được nhiều việc, Chúa đủ. Khi một ngày con chẳng còn làm được gì, xin cho con vẫn tin rằng Chúa đủ.
Và xin cho lời ấy không chỉ là lời trên môi, mà trở thành bình an trong lòng. Để đến cuối đời, con không phải tiếc rằng mình đã bỏ quá nhiều, nhưng chỉ tiếc rằng mình đã yêu Chúa quá ít. Để con hiểu rằng mọi điều con đã trao cho Chúa chưa bao giờ thật sự mất. Người đã giữ tất cả trong một cách lớn hơn. Những gì con buông khỏi tay mình, Người nhận lấy. Những người con không thể sở hữu, Người dạy con yêu trong tự do. Những dự định con không thực hiện, Người đưa vào một chương trình rộng hơn. Những hy sinh không ai thấy, Người thấy. Những giọt nước mắt không ai hiểu, Người hiểu. Những ngày âm thầm không ai nhớ, Người nhớ. Và khi hành trình này kết thúc, xin cho con được bước vào trước mặt Chúa với hai bàn tay trắng nhưng một trái tim đầy, để nhận ra rằng cả đời mình tưởng đã bán tất cả để mua Kho Báu, nhưng thật ra chính Kho Báu đã đi tìm con trước, đã mua con trước, đã yêu con trước, đã chờ con suốt cả đời.
Chỉ một mình Chúa đủ cho đời con. Không phải vì đời này không có gì đẹp. Chính vì đời có quá nhiều điều đẹp mà con cần một Tình Yêu lớn hơn để sắp chúng vào đúng chỗ. Không phải vì con không cần ai. Chính vì con yêu nhiều người mà con cần Chúa để không biến tình yêu thành sở hữu. Không phải vì con mạnh. Chính vì con yếu nên con cần một điểm tựa không đổi. Không phải vì con thánh thiện. Chính vì con còn quá nhiều dính bén nên mỗi ngày con lại phải xin Chúa giải thoát. Không phải vì con đã buông được tất cả. Nhưng vì con tin rằng nếu một ngày Chúa xin, Chúa sẽ cho con sức để buông. Và không phải vì con hiểu hết cuộc đời này. Nhưng vì con biết một điều đủ để đi đến hết: Chúa là Kho Báu. Chúa là viên ngọc quý. Chúa là phần gia nghiệp của con. Chúa là tất cả của con. Chỉ một mình Chúa đủ cho đời con.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ LÀ KHO BÁU KHIẾN MỌI TỪ BỎ TRỞ THÀNH NHẸ NHÀNG
Tin Mừng: Mt 13,44
“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.” Chỉ một câu Tin Mừng rất ngắn, nhưng có lẽ đủ để soi sáng cả một đời người, nhất là đời của một người đã có lúc nào đó nghe tiếng Chúa gọi mình bỏ lại một điều gì, bước ra khỏi một điều gì, trao đi một điều gì, chết đi cho một điều gì để thuộc về Chúa nhiều hơn. Người đời thường nhìn đời Kitô hữu, nhất là đời tận hiến, từ phía những gì người ta phải bỏ: bỏ gia đình, bỏ quyền tự quyết, bỏ tiền bạc, bỏ những dự tính riêng, bỏ một mái ấm riêng, bỏ cơ hội lập thân theo lối thông thường, bỏ nhiều niềm vui rất chính đáng của đời người. Vì chỉ nhìn từ phía cái phải bỏ nên người ta thấy đời theo Chúa nặng. Vì chỉ đếm những mất mát nên người ta thấy Tin Mừng đòi hỏi quá nhiều. Vì chỉ nhìn cái giá phải trả mà chưa nhìn thấy điều mình nhận được nên người ta có thể hỏi: tại sao phải cực như vậy, tại sao phải hy sinh như vậy, tại sao phải sống khó như vậy, tại sao không chọn một con đường dễ hơn? Thế nhưng dụ ngôn kho báu hôm nay lại cho ta một cái nhìn hoàn toàn khác. Đức Giêsu không kể chuyện một người bị ép phải bán hết mọi sự. Người không kể về một người nghiến răng chịu đựng, nước mắt lưng tròng, đau đớn chia tay từng món tài sản rồi miễn cưỡng bước đi mua một thửa ruộng mà mình chẳng yêu thích gì. Tin Mừng viết một chữ rất quan trọng: “vui mừng.” Anh ta “vui mừng đi bán tất cả những gì mình có.” Anh không bán vì ghét tài sản. Anh không bán vì tài sản xấu. Anh không bán vì có người ép buộc. Anh bán vì anh đã gặp một điều quý hơn tất cả những gì anh đang sở hữu. Chính kho báu đã làm cho việc bán mọi sự trở thành có lý. Chính kho báu đã làm cho điều tưởng như mất mát lại trở thành một cuộc trao đổi quá lời. Chính kho báu đã làm cho hy sinh không còn là câu chuyện của một người bị lấy mất, mà trở thành niềm vui của một người vừa tìm thấy. Và nếu phải nói đâu là bí mật sâu xa nhất của một đời Kitô hữu hạnh phúc, của một đời linh mục hạnh phúc, của một đời tu hạnh phúc, thì có lẽ chỉ có một điều này thôi: người ấy đã gặp được Kho Báu là Đức Giêsu Kitô.
Có một sự thật mà ta cần nói với nhau rất thẳng: nếu một người chưa gặp Đức Kitô như kho báu, mọi từ bỏ trong đời đạo rồi sẽ trở thành gánh nặng. Nếu Chúa chỉ là một bổn phận, các giới răn sẽ rất nặng. Nếu Chúa chỉ là một khái niệm thần học, cầu nguyện sẽ rất nặng. Nếu Chúa chỉ là một vị Thiên Chúa phải thờ phượng vì sợ phạm tội, Thánh lễ sẽ rất nặng. Nếu Chúa chỉ là một điều khoản trong đời sống, việc trung thành sẽ rất nặng. Và nếu Đức Kitô không còn là Đấng mà trái tim mình yêu hơn mọi sự, đời tận hiến rất dễ biến thành một chuỗi dài những điều cấm đoán: không được cái này, không được cái kia, phải làm cái này, phải làm cái nọ. Khi đó lời khấn khiết tịnh chỉ còn là không được lập gia đình; lời khấn khó nghèo chỉ còn là không được sở hữu; lời khấn vâng phục chỉ còn là không được làm theo ý mình; đời linh mục chỉ còn là một lịch làm việc kín mít; đời truyền giáo chỉ còn là những chuyến đi; mục vụ chỉ còn là chương trình; cộng đoàn chỉ còn là nơi phải sống chung; kinh nguyện chỉ còn là giờ phải có mặt. Một đời như vậy có thể vẫn chạy rất tốt bên ngoài nhưng bên trong đã kiệt sức từ lâu. Có thể vẫn làm đủ việc, vẫn giữ đủ giờ, vẫn đứng trước cộng đoàn, vẫn nói về Chúa, vẫn phục vụ Chúa, nhưng lòng lại không còn vui vì có Chúa. Và đó là một trong những nỗi buồn âm thầm nhất của đời sống đức tin: ta có thể làm rất nhiều việc cho Kho Báu mà quên mất chính Kho Báu.
Người trong dụ ngôn không bắt đầu bằng việc bán hết tài sản. Anh bắt đầu bằng việc tìm thấy kho báu. Trật tự này rất quan trọng. Tin Mừng không nói: hãy bán hết trước, rồi một ngày nào đó may ra con sẽ hiểu tại sao. Tin Mừng nói: vì đã gặp được kho báu nên anh có sức bán tất cả. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Kitô giáo trước hết không phải là một tôn giáo của sự từ bỏ. Kitô giáo trước hết là cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô. Và mọi từ bỏ chỉ có ý nghĩa khi phát sinh từ cuộc gặp gỡ ấy. Thánh Phêrô có thể bỏ lưới vì đã gặp Chúa. Mátthêu có thể đứng dậy khỏi bàn thu thuế vì Đức Giêsu vừa đi ngang đời ông và nói: “Hãy theo tôi.” Phaolô có thể xem những điều trước kia ông coi là lợi như rác, không phải vì những điều đó tự nhiên trở thành vô giá trị, nhưng bởi ông đã gặp Đức Kitô. Các thánh có thể sống những điều khiến người đời ngạc nhiên không phải vì các ngài được sinh ra với một khả năng chịu đựng phi thường, nhưng vì lòng các ngài đã bị một Người chiếm lấy. Khi trái tim đã bị Đức Kitô chiếm lấy, rất nhiều điều trước kia tưởng không thể bỏ bỗng trở nên nhỏ. Không phải bởi điều đó không quý nữa, nhưng vì có một Đấng quý hơn.
Đó cũng là điều ta thường quên khi nói về hy sinh. Ta nói nhiều quá về chuyện phải hy sinh mà đôi khi nói quá ít về Đấng khiến ta muốn hy sinh. Ta nói với người trẻ: theo Chúa phải bỏ. Ta nói với người đi tu: phải từ bỏ. Ta nói với người lập gia đình: phải hy sinh. Ta nói với người tín hữu: phải vác thập giá. Những điều đó hoàn toàn đúng, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, Kitô giáo dễ mang khuôn mặt của một con đường đầy mất mát. Trong khi ở trung tâm Tin Mừng không phải là mất, mà là được. Không phải trước tiên là chuyện ta bỏ cái gì, nhưng là ta đã tìm thấy Ai. Không phải vấn đề là bàn tay ta đã buông bao nhiêu thứ, mà là bàn tay ấy đang nắm lấy ai. Không phải câu hỏi sâu nhất là “con đã hy sinh được gì cho Chúa?”, nhưng là “Đức Kitô có thực sự là kho báu của đời con không?” Bởi vì nếu Ngài thực sự là kho báu, ta sẽ hiểu tại sao bao nhiêu người đã có thể bỏ nhiều như thế mà vẫn vui. Còn nếu Ngài không phải kho báu, người ta có thể bỏ rất ít mà vẫn thấy tiếc, hy sinh rất nhỏ mà vẫn thấy mình thiệt thòi.
Có những người sống cả đời trong tâm trạng mình đã hy sinh cho Chúa quá nhiều. Họ nhớ từng điều mình đã bỏ. Họ đếm từng cái giá mình đã trả. Họ nhắc lại những cơ hội mình đã từ chối. Họ nhìn người khác rồi âm thầm nghĩ: nếu ngày xưa mình không đi con đường này, có lẽ đời mình đã khác. Có thể mình đã có gia đình, có nhà cửa, có tiền bạc, có địa vị, có đời sống riêng, có những niềm vui mà hôm nay mình không có. Những suy nghĩ ấy đôi khi đến trong một buổi chiều rất mệt, một lần bị hiểu lầm, một lần thất bại, một lần thấy mình cô đơn, một giai đoạn tuổi đời đi xuống, một ngày nhìn quanh và nhận ra bao nhiêu điều đã qua. Và chính lúc ấy ta phải trở lại câu Tin Mừng này: người kia vui mừng bán tất cả, không phải vì tất cả những gì anh có chẳng đáng gì, nhưng vì anh biết rất rõ kho báu mình vừa gặp đáng giá thế nào. Vấn đề của ta nhiều khi không phải là ta đã hy sinh quá nhiều, nhưng là ta đang nhìn kho báu quá ít. Ta ngồi kiểm kê những gì đã bỏ mà quên nhìn Đấng mình đã chọn. Ta nhớ những mất mát rất rõ mà nhớ tình yêu ban đầu rất mờ. Ta nhìn con đường không đi với bao nhiêu tưởng tượng đẹp đẽ, rồi nhìn con đường Chúa đã dẫn mình bằng đôi mắt đã mệt mỏi. Và thế là một đời vốn là câu chuyện tình yêu bỗng biến thành bản kê khai thiệt hại.
Nhưng người yêu thật không sống như thế. Một người mẹ thức đêm bên đứa con bệnh không ngồi mỗi sáng tính xem tối qua mình mất mấy giờ ngủ. Một người cha lam lũ làm việc cả đời cho gia đình không gọi từng giọt mồ hôi là sự mất mát nếu trái tim ông còn yêu. Một người trẻ yêu thật lòng có thể vượt hàng trăm cây số chỉ để gặp người mình thương và chẳng ai phải giảng cho anh ta bài học về hy sinh. Tình yêu có một thứ toán học rất lạ: điều càng đắt càng có thể trở nên nhẹ nếu ta biết mình đang trả giá cho ai. Và điều rất nhỏ cũng có thể nặng như đá nếu ta không yêu. Vì thế, trước khi hỏi tại sao đời tu hôm nay thiếu niềm vui, tại sao một số người mỏi mệt với đời dâng hiến, tại sao có người sống lời khấn như một gánh nặng, có lẽ phải hỏi một câu đơn giản hơn: còn yêu Đức Kitô không? Không phải còn làm việc cho Ngài không. Không phải còn nói về Ngài không. Không phải còn ở trong nhà dòng không. Không phải còn mặc áo dòng hay mang chức linh mục không. Nhưng là còn yêu Ngài không? Còn thấy Ngài là kho báu không? Còn có thể ngồi một mình trước Nhà Tạm mà lòng thấy: “Có Ngài là đủ” không? Còn có những phút trong cầu nguyện mà không cần xin gì, chỉ muốn ở đó với Ngài không? Còn đau khi biết mình đã làm Ngài buồn không? Còn khát khao gần Ngài không? Còn muốn thuộc về Ngài hơn mỗi ngày không?
Điều làm nên bi kịch của người thanh niên giàu có không phải vì anh có nhiều của cải. Abraham cũng rất giàu. Giuse Arimathê cũng là người có địa vị. Nhiều người giàu vẫn có thể trở thành môn đệ. Vấn đề là khi Đức Giêsu đứng trước mặt anh, tài sản vẫn là kho báu lớn hơn. Bởi thế anh “buồn rầu bỏ đi.” Có hai người cùng bỏ mọi sự: người trong dụ ngôn hôm nay thì vui mừng, người thanh niên giàu có thì buồn rầu. Sự khác biệt không nằm ở số tài sản, nhưng ở trái tim. Người này đã tìm được điều lớn hơn những gì mình bỏ; người kia chưa thấy Đức Kitô đáng giá hơn những gì mình đang giữ. Và đây cũng là một bài kiểm tra rất thật cho lòng chúng ta: điều gì nếu Chúa chạm tới sẽ làm tôi buồn rầu bỏ đi? Một kế hoạch riêng? Một mối quan hệ? Một chức vụ? Danh tiếng? Tiền bạc? Sự tự do? Một sự thoải mái? Cái nhìn của người khác? Một chút quyền lực? Một ý riêng đã nuôi bao năm? Có thể ta đã bỏ nhà cửa để đi tu mà chưa bỏ được cái tôi. Có thể ta đã tuyên khấn khó nghèo mà vẫn rất giàu nhu cầu được trọng vọng. Có thể ta không sở hữu tiền bạc nhưng sở hữu chức vụ bằng một bàn tay rất chặt. Có thể ta giữ khiết tịnh nhưng lại khát được chiếm hữu tình cảm người khác. Có thể ta vâng phục trong những việc nhỏ nhưng giữ ý riêng như một vùng bất khả xâm phạm. Từ bỏ theo Tin Mừng không chỉ là bỏ những vật ngoài ta; khó nhất vẫn là để Đức Kitô trở thành kho báu lớn đến mức ta có thể trao cho Ngài cả những vùng sâu kín nhất của lòng mình.
Có những thứ ta giữ không phải vì nó lớn, mà vì cái tôi của ta quá lớn. Một câu xin lỗi rất nhẹ nhưng có người mang không nổi. Một lần nhường bước rất nhỏ nhưng có người thấy nặng. Một lần im lặng trước khi bị hiểu lầm tưởng rất đơn giản mà hóa ra khó hơn nhiều việc lớn. Một quyết định vâng lời có khi không tốn một đồng bạc nhưng đụng tới lòng tự ái nên trở thành thập giá. Có lúc ta tưởng mình đang bảo vệ một nguyên tắc, nhưng thật ra chỉ đang bảo vệ cái tôi. Có lúc ta nói mình trung thành với sự thật, nhưng thật ra ta không chịu nổi chuyện người khác không nhìn nhận mình đúng. Có lúc ta nhân danh sứ vụ để giữ lấy một vị trí. Có lúc ta nhân danh trách nhiệm để không chịu trao việc cho người khác. Có lúc ta nhân danh kinh nghiệm để không phải nghe người trẻ. Và nếu Đức Kitô thực sự là kho báu, Ngài sẽ dần dần chạm tới tất cả những nơi ấy. Bởi Ngài không chỉ muốn vài giờ trong ngày của ta. Ngài muốn trái tim. Không chỉ muốn những gì ta dễ trao. Ngài muốn cả những gì ta đang nắm rất chặt. Không phải vì Ngài nghèo nên cần lấy của ta, nhưng vì Ngài biết những gì ta ôm quá chặt cuối cùng sẽ trói tay ta.
“Từ bỏ” trong Tin Mừng không phải là Thiên Chúa làm cho đời người nghèo đi. Trái lại, từ bỏ là giải phóng trái tim để trái tim có thể nhận điều lớn hơn. Một bàn tay nắm chặt không thể nhận quà. Một căn phòng đầy những thứ cũ không còn chỗ cho điều mới. Một trái tim chứa đầy cái tôi sẽ không còn đủ không gian cho Đức Kitô. Chính vì thế Chúa mời ta buông. Ngài không mời buông để ta trở thành trắng tay; Ngài mời buông để hai bàn tay ta tự do đón lấy Ngài. Khi một người bỏ tất cả mà chưa có Chúa, đó có thể chỉ là sự nghèo khó. Nhưng khi một người bỏ tất cả vì đã gặp Chúa, đó là tự do. Khi một người từ bỏ vì bị ép, đó là mất mát. Khi một người từ bỏ vì yêu, đó là hiến dâng. Khi một người vâng phục vì sợ, đó là nặng nề. Khi một người vâng phục vì muốn thuộc về Chúa, đó là tình yêu. Bên ngoài có thể giống nhau, nhưng bên trong hoàn toàn khác nhau.
Có lẽ vì vậy mà trong đời sống tận hiến, điều đáng sợ nhất không phải là thiếu thốn vật chất nhưng là đánh mất niềm say mê Đức Kitô. Một tu sĩ có thể sống trong một căn phòng rất đơn sơ mà lòng đầy thế gian. Một linh mục có thể chẳng sở hữu nhiều nhưng trong lòng lại chất đầy những tham vọng. Ngược lại, có người phải quản lý rất nhiều tài sản của cộng đoàn nhưng lòng hoàn toàn thanh thoát. Nghèo khó Tin Mừng trước hết không đo bằng số tiền trong túi nhưng bằng mức độ Đức Kitô đủ cho trái tim ta. Khi Đức Kitô chưa đủ, ta sẽ luôn cần thêm một thứ khác để cảm thấy mình có giá trị: thêm một lời khen, thêm một chức vụ, thêm một người đứng về phía mình, thêm một thành công, thêm một phương tiện, thêm một sự chú ý. Và ta có thể trở thành một người rất nghèo bên ngoài nhưng luôn đói bên trong. Nhưng khi Đức Kitô đủ, người ta có một sự tự do kỳ lạ. Không phải không còn đau khi mất; không phải không buồn khi bị hiểu lầm; không phải vô cảm trước chia ly; nhưng dưới tất cả vẫn có một nền đá rất sâu: tôi còn Chúa.
“Tôi còn Chúa.” Có lẽ đó là một trong những câu đẹp nhất người môn đệ có thể nói khi đời lấy đi một điều gì. Khi sức khỏe không còn như trước: tôi còn Chúa. Khi một người thân ra đi: tôi còn Chúa. Khi người ta hiểu lầm: tôi còn Chúa. Khi những gì mình xây dựng bao năm bỗng tan vỡ: tôi còn Chúa. Khi tuổi già đến và những khả năng từng làm nên căn tính của mình dần mất đi: tôi còn Chúa. Khi một sứ vụ được trao cho người khác: tôi còn Chúa. Khi phải rời một nơi mình rất yêu: tôi còn Chúa. Khi chẳng còn ai vỗ tay: tôi còn Chúa. Khi lời cầu nguyện khô khan và cảm xúc đạo đức chẳng còn: tôi còn Chúa. Khi tương lai mờ mịt: tôi còn Chúa. Và tới một ngày, khi mọi thứ của đời này phải nằm lại ngoài cửa sự chết, người Kitô hữu vẫn có thể nói: tôi còn Chúa, và Chúa là đủ. Đó không phải là câu nói của người coi thường cuộc đời; đó là lời của người cuối cùng đã biết điều gì là vĩnh cửu.
Thật ra ta chỉ biết một điều có phải kho báu hay không khi phải chọn. Khi mọi thứ cùng tồn tại, ta có thể nói Chúa là số một rất dễ. Nhưng khi Chúa và một điều khác bắt đầu đòi hỏi hai hướng khác nhau, lúc đó mới biết kho báu thật đang ở đâu. Khi danh dự và Tin Mừng xung đột, ta chọn gì? Khi tiền bạc và lương tâm xung đột, ta chọn gì? Khi ý riêng và thánh ý Chúa xung đột, ta chọn gì? Khi việc giữ một mối quan hệ không đúng khiến ta xa Chúa, ta chọn ai? Khi sự nổi tiếng đòi ta thỏa hiệp với sự thật, ta chọn gì? Khi việc theo Chúa dẫn tới thiệt thòi, ta có còn đi không? Đức tin không được chứng minh nhiều nhất ở những lúc ta có thể giữ cả Chúa lẫn mọi thứ khác. Đức tin được thử ở lúc chỉ được giữ một. Và người gặp kho báu sẽ biết mình phải giữ điều gì.
Chúng ta thường đọc câu “bán tất cả” và nghĩ ngay đến một lần từ bỏ lớn lao. Nhưng đời Kitô hữu thật ra được dệt bằng hàng ngàn lần “bán” rất nhỏ. Sáng nay bán bớt sự lười biếng để dành thời gian cầu nguyện. Trong cộng đoàn bán bớt cái tôi để nghe người anh em. Khi bị xúc phạm bán bớt niềm khoái cảm trả đũa để giữ lòng hiền lành. Khi có tiền bán bớt một nhu cầu của mình để chia sẻ cho người nghèo. Khi người khác thành công bán bớt lòng ghen để vui với họ. Khi mình sai bán bớt sĩ diện để nói một câu xin lỗi. Khi bị hiểu lầm bán bớt nhu cầu phải giải thích mọi chuyện. Khi phục vụ bán bớt sự thoải mái. Khi cầu nguyện bán bớt những chia trí. Khi đứng trước một quyết định bán bớt ý riêng để hỏi: “Chúa muốn gì?” Những cuộc bán nhỏ bé ấy diễn ra mỗi ngày. Và mỗi lần như thế, nếu được thực hiện vì Đức Kitô, ta mua lại một chút tự do cho tâm hồn.
Điều đẹp nhất trong dụ ngôn là người ấy bán tất cả trong niềm vui. Đó chính là dấu chỉ của người đã khám phá Tin Mừng đúng nghĩa. Nhiều khi ta hiểu thập giá mà quên niềm vui, hiểu từ bỏ mà quên kho báu, hiểu hy sinh mà quên tình yêu. Rồi khuôn mặt đạo trở nên buồn. Người đi tu kể nhiều về vất vả hơn niềm vui. Người phục vụ kể nhiều về những hy sinh của mình hơn vẻ đẹp của Chúa. Cha mẹ kể nhiều về những gì đã làm cho con cái khiến con cái đôi khi cảm thấy tình yêu là một món nợ phải trả. Người đạo đức nói nhiều về những điều không được phép làm đến mức người ngoài tưởng Thiên Chúa là Đấng chuyên đi thu lại niềm vui của con người. Nhưng Đức Giêsu nói rất khác: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” Nếu một sự từ bỏ khiến ta cay đắng mãi, có lẽ ta cần hỏi lại: mình đang nhìn kho báu ở đâu? Từ bỏ Kitô giáo không làm người môn đệ nhỏ bé hơn; nó làm người môn đệ tự do hơn. Không làm cuộc đời hẹp lại; nó giải phóng cuộc đời khỏi những thứ quá nhỏ đang chiếm mất trái tim.
Có những lúc ta không cảm thấy việc từ bỏ nhẹ nhàng chút nào. Và ở đây cần phải rất thật. Người yêu Chúa vẫn đau. Đức Giêsu ở Ghếtsêmani đã không xem chén đắng là chuyện nhẹ. Ngài “buồn đến chết được”. Mồ hôi Ngài như những giọt máu. “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho Con khỏi uống chén này.” Thế nên nói rằng Đức Kitô là kho báu khiến mọi từ bỏ trở nên nhẹ nhàng không có nghĩa là mọi hy sinh từ nay không đau nữa. “Nhẹ” không phải vì thập giá mất trọng lượng, nhưng vì có tình yêu cùng mang. Nhẹ không phải vì nước mắt biến mất, nhưng vì ta biết mình khóc cho ai. Nhẹ không phải vì không còn giằng co, nhưng vì dưới giằng co ấy có một chọn lựa sâu hơn: “Xin đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha.” Người mẹ sinh con đau, nhưng niềm vui về đứa con khiến nỗi đau mang ý nghĩa. Người môn đệ cũng vậy. Có những điều phải từ bỏ khiến tim thực sự đau; nhưng nếu trong nỗi đau ấy vẫn có Đức Kitô, nó không trở thành tuyệt vọng. Ta có thể vừa khóc vừa dâng. Vừa tiếc vừa buông. Vừa run vừa bước. Vừa không hiểu vừa tin. Đó không phải là thiếu đức tin. Đó là đức tin đang đi qua thân phận con người.
Có lẽ người ta sẽ hỏi: kho báu ấy thật sự là gì mà đáng để đánh đổi mọi sự? Câu trả lời của Kitô giáo không phải là một học thuyết. Kho báu ấy là một Người. Đức Giêsu Kitô. Đấng biết tên tôi. Đấng yêu tôi không vì tôi hữu ích. Đấng biết tất cả phần tối của tôi mà vẫn không quay mặt. Đấng đã chết cho tôi khi tôi còn là tội nhân. Đấng không hứa tôi sẽ không phải đi qua thung lũng tối nhưng hứa Ngài ở cùng tôi. Đấng đã đi vào cái chết để cái chết không còn là nơi tôi đi một mình. Đấng tha thứ những điều tôi không thể tự tha thứ cho mình. Đấng nhìn tôi không bằng thành tích nhưng bằng tình yêu. Đấng không bỏ tôi ngay cả những ngày chính tôi muốn bỏ mình. Nếu chưa từng để những sự thật ấy chạm tới lòng, ta khó hiểu tại sao các thánh có thể nói những câu tưởng như quá đáng: “Chỉ mình Chúa đủ cho con.” Nhưng khi đã có một chút kinh nghiệm về tình yêu ấy, ta bắt đầu hiểu rằng đó không phải là thơ. Đó là kinh nghiệm.
Trong đời sống thiêng liêng, một nguy cơ rất lớn là kho báu dần dần trở thành quen thuộc. Ta sống gần những điều thánh quá lâu nên không còn thấy chúng quý. Linh mục cầm Mình Thánh mỗi ngày đến nỗi có thể quên mình đang cầm ai. Tu sĩ cầu nguyện mỗi ngày đến nỗi có thể đọc kinh mà lòng không còn kinh ngạc. Người Kitô hữu nghe Tin Mừng suốt nhiều năm đến nỗi những lời từng làm các thánh bỏ cả cuộc đời lại đi qua tai mình nhẹ như một bản tin. Ta có Nhà Tạm ở ngay cuối hành lang mà có khi cả ngày không một lần ghé vào. Ta có Thánh lễ mỗi sáng nhưng có thể tham dự như một thói quen. Ta có thể nói chữ “Chúa” hàng trăm lần mà lòng lại hiếm khi rung động vì chính Ngài. Kho báu vẫn ở đó, nhưng ta đã quen với việc sống trên thửa ruộng có kho báu đến mức quên đào xuống.
Có những cuộc khủng hoảng ơn gọi thực chất là khủng hoảng của cái nhìn. Không hẳn Chúa đã thay đổi. Không hẳn lời khấn đã trở nên khó hơn. Không hẳn sứ vụ ngày nay nặng hơn mọi thời. Nhưng đôi mắt ta đã thôi nhìn Đức Kitô như kho báu. Ta bắt đầu so sánh. Người này có cái này, người kia có cái kia, còn mình thì không. Ta nhìn những thứ mình không có lâu đến nỗi quên điều mình đang có. Và sự so sánh là một thứ axít âm thầm ăn mòn niềm vui. Người trong dụ ngôn không so kho báu của mình với tài sản hàng xóm. Anh chỉ biết điều anh tìm thấy đáng giá hơn tất cả tài sản hiện có. Đời ơn gọi cũng vậy. Bình an không đến khi ta có mọi điều người khác có; bình an đến khi ta đủ xác tín rằng điều mình đã tìm thấy là đáng giá.
Một người linh mục có thể nhìn gia đình người bạn cũ và thoáng một chút chạnh lòng. Một tu sĩ có thể nhìn cuộc sống tự do của bạn bè rồi tự hỏi. Điều ấy rất con người và không cần phải xấu hổ. Nhưng đừng dừng ở đó. Hãy quay về nhìn Kho Báu. Hãy nhớ ngày đầu. Nhớ một ngày nào đó có một tiếng gọi rất nhẹ nhưng đủ làm mình thao thức. Nhớ lần đầu quỳ trước Nhà Tạm mà lòng thốt lên: “Lạy Chúa, con muốn thuộc về Chúa.” Nhớ ngày khấn, ngày chịu chức, ngày trao cả đời mình trong đôi tay Hội Thánh. Không phải để sống với hoài niệm, nhưng để nhận ra rằng dưới tất cả lớp bụi của năm tháng, Kho Báu vẫn còn nguyên đó. Đức Kitô hôm nay không kém đáng yêu hơn Đức Kitô của ngày ta bước vào nhà dòng. Ngài không ít trung tín hơn. Chỉ có thể là mắt ta đã mờ vì quá nhiều thứ.
Và vì thế, đôi khi điều một người tận hiến cần nhất không phải là thêm một khóa kỹ năng, thêm một chương trình mục vụ, thêm một chức vụ mới, thêm một chuyến đi, nhưng là trở lại yêu Đức Giêsu. Trở lại ngồi dưới chân Ngài. Trở lại với một Tin Mừng mở trên đầu gối. Trở lại với những giờ chầu không cần chuẩn bị bài giảng. Trở lại với một lời nguyện rất nghèo: “Lạy Chúa, xin cho con lại yêu Chúa.” Bởi không có kỹ năng nào bù được một trái tim nguội. Không có thành công mục vụ nào chữa được một linh hồn đã xa nguồn. Có thể một người đang kiệt sức không hẳn vì làm quá nhiều, mà vì làm mọi việc quá xa Đấng mình yêu. Một cành nho không chết vì nó phải sinh nhiều trái; nó chết vì rời khỏi cây nho. Và Đức Giêsu đã nói rất rõ: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.”
Cũng phải nói rằng có một hình thức từ bỏ khó hơn từ bỏ tài sản: từ bỏ hình ảnh về chính mình. Ta thích được xem là người giỏi. Ta thích người khác biết công mình. Ta thích được cần đến. Ta thích được nhắc tên. Ta thích lời mình có trọng lượng. Ta thích được giữ vai trò trung tâm. Và đôi khi Chúa dẫn một người qua những giai đoạn rất lạ: từ người đang làm nhiều thành người phải ngồi yên; từ người từng quyết định thành người phải nghe người khác quyết định; từ người từng được biết đến thành người dần đi vào bóng tối; từ khỏe mạnh thành yếu đau; từ có ảnh hưởng thành không còn ai hỏi ý. Những giai đoạn ấy có thể là một cuộc thanh luyện sâu. Chúa như hỏi: “Nếu Con không còn được ai biết, Ta có còn là kho báu của con không? Nếu không còn chức vụ, Ta có đủ không? Nếu không còn những thành quả làm con tự hào, con có vẫn thấy cuộc đời đáng sống chỉ vì thuộc về Ta không?” Đây là bài kiểm tra cuối cùng của mọi ơn gọi. Bởi ta có thể bỏ tiền để lấy danh tiếng. Có thể bỏ gia đình để lấy chức vụ. Có thể bỏ tài sản để sở hữu ảnh hưởng. Và rồi tới một ngày Chúa mời ta bỏ luôn cả những thứ tinh tế ấy, để chỉ còn một mình Ngài.
Gioan Tẩy Giả đã nói một câu rất đẹp: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó chính là logic của kho báu. Khi Kho Báu lớn lên trong mắt ta, những điều khác tự nhiên nhỏ lại. Không cần phải ghét thế gian. Không cần phải khinh thường những điều tốt đẹp của cuộc đời. Chỉ cần đặt chúng đúng chỗ. Đức Kitô không đòi ta yêu cha mẹ ít đi; Ngài đòi ta yêu Ngài trước hết để ta yêu cha mẹ đúng hơn. Ngài không đòi ta coi thường tiền bạc; Ngài đòi ta đừng để tiền bạc làm chủ mình. Ngài không đòi ta ghét chính mình; Ngài đòi ta thôi biến cái tôi thành trung tâm vũ trụ. Khi Chúa đứng đúng vị trí, mọi điều khác cũng dần đứng đúng chỗ. Nhưng khi Chúa bị đẩy xuống thứ hai, thứ ba, cả cuộc đời bắt đầu rối.
Và lạ thay, người buông vì Chúa thường nhận lại nhiều hơn điều mình đã buông. Không nhất thiết theo nghĩa vật chất. Phêrô hỏi Chúa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” Đức Giêsu không trách câu hỏi ấy. Ngài hứa gấp trăm. Người đi tu bỏ một gia đình, rồi được nhận vô số người gọi mình là cha, là thầy, là anh, là chị. Người truyền giáo rời quê nhà nhưng tìm được anh chị em ở những nơi chưa từng nghĩ mình sẽ đến. Người bỏ ý riêng để vâng phục đôi khi khám phá một con đường đẹp hơn điều mình tự hoạch định. Nhưng gấp trăm lớn nhất không phải những điều ấy. Gấp trăm lớn nhất là chính Đức Kitô. Nếu bỏ mọi sự mà cuối cùng không có Chúa, ta đã chẳng được gì. Nhưng nếu có Chúa, ngay cả khi bên ngoài chẳng nhận thêm điều gì, ta đã nhận nhiều hơn tất cả.
Người trong dụ ngôn đã không bán tất cả để sống nghèo; anh bán tất cả để mua thửa ruộng có kho báu. Đích đến của từ bỏ là sở hữu kho báu. Đích đến của đời khiết tịnh không phải là cô độc nhưng là một trái tim thuộc trọn về Đức Kitô và rộng ra cho mọi người. Đích đến của khó nghèo không phải là thiếu thốn nhưng là tự do để nói: Chúa là gia nghiệp của đời tôi. Đích đến của vâng phục không phải là mất nhân cách nhưng là để ý mình được nhập vào ý của Đấng yêu mình. Đích đến của thập giá không phải đau khổ; đích đến là Phục Sinh. Nếu quên đích đến, ta sẽ sợ mọi bước đường. Nếu chỉ nhìn đinh mà không nhìn tình yêu, thập giá vô nghĩa. Nếu chỉ nhìn mồ mà không nhìn sáng Phục Sinh, Kitô giáo là một bi kịch. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh chính là Kho Báu: Đấng đã mất tất cả để có được chúng ta.
Và ở đây có một nghịch lý đẹp hơn nữa. Ta tưởng câu chuyện dụ ngôn chỉ nói về ta đi tìm Chúa. Nhưng nếu đọc cả Tin Mừng dưới ánh sáng thập giá, ta còn có thể nhìn theo hướng ngược lại: chính chúng ta cũng là kho báu mà Đức Kitô đã bán tất cả để lấy về. Vì chúng ta, Ngài đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang.” Vì chúng ta, Ngài chấp nhận máng cỏ. Vì chúng ta, Ngài sống đời nghèo khó. Vì chúng ta, Ngài không có chỗ tựa đầu. Vì chúng ta, Ngài để người ta hiểu lầm, phản bội, bỏ rơi. Vì chúng ta, Ngài trao cả áo ngoài lẫn áo trong. Trên thập giá, Ngài không còn giữ gì cho mình: sức lực đã hết, máu đã chảy, danh dự bị chà đạp, bạn bè bỏ chạy, áo quần bị chia, và cuối cùng Ngài trao cả hơi thở. Nếu hỏi Đức Kitô đã “bán tất cả” cho ai, câu trả lời khiến ta phải lặng người: cho tôi. Tôi, với những tội lỗi này, yếu đuối này, bất trung này, lại được Ngài xem là đáng để trả bằng chính mạng sống.
Nếu đã hiểu điều đó, ta sẽ không còn nghĩ mình là người duy nhất hy sinh. Trước khi ta bỏ một điều gì vì Chúa, Chúa đã bỏ tất cả vì ta. Trước khi ta nói “con trao đời con cho Chúa”, Ngài đã nói trên thập giá: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Trước khi ta sống khó nghèo, Ngài đã sinh ra nghèo. Trước khi ta vâng phục, Ngài đã “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết.” Trước khi ta sống khiết tịnh vì Nước Trời, Ngài đã trao trái tim hoàn toàn cho Chúa Cha và nhân loại. Khi nghĩ vậy, từ bỏ không còn là ta làm một ân huệ cho Chúa. Nó trở thành câu trả lời rất nhỏ trước một tình yêu quá lớn. Người yêu Chúa không nói: “Chúa thấy con đã hy sinh nhiều chưa?” Người ấy chỉ có thể nói: “So với điều Chúa đã làm cho con, con đã trao được gì đâu.”
Đời người ngắn lắm. Rồi những điều hôm nay ta nắm thật chặt cũng sẽ có ngày tự rơi khỏi tay. Tiền bạc sẽ ở lại. Nhà cửa ở lại. Chức vụ ở lại. Danh tiếng vài năm rồi cũng mờ. Những cuộc tranh luận từng làm ta mất ngủ sẽ chẳng còn quan trọng. Những lần ta cố chứng minh mình đúng rồi cũng chìm vào quên lãng. Những người từng khen ta rồi sẽ có người khác để khen. Những điều ta từng xem là không thể thiếu sẽ có ngày ta rời chúng mà đi. Sự chết là cuộc từ bỏ cuối cùng mà không ai tránh được. Khôn ngoan Kitô giáo là tập từ bỏ ngay từ hôm nay những gì không thể mang theo, để ôm lấy Đấng duy nhất đi cùng ta qua bên kia cái chết. Kho báu thật phải là điều còn lại khi mọi sự khác mất đi. Và chỉ có Đức Kitô là như thế.
Có thể một ngày nào đó trong đời, Chúa sẽ lấy khỏi tay ta một điều ta rất yêu. Khi ấy đừng vội nghĩ Ngài tàn nhẫn. Có khi Ngài chỉ đang mở bàn tay ta. Một đứa trẻ giữ quá chặt viên sỏi sẽ không nhận được viên ngọc cha nó đưa. Ta cũng vậy. Có những điều không xấu, nhưng nếu ta biến chúng thành tuyệt đối, chúng trở thành ngẫu tượng. Và Thiên Chúa yêu ta quá nhiều để mặc ta sống cả đời vì những điều quá nhỏ. Đôi khi ân sủng đến dưới hình thức mất mát. Ta mất một điều rồi mới khám phá điều nền tảng. Ta thất bại rồi mới học rằng giá trị mình không nằm ở thành công. Ta bị bỏ rơi rồi mới biết Chúa không bỏ. Ta yếu đi mới biết sức mạnh không phải tất cả. Ta mất quyền kiểm soát mới biết thế nào là phó thác. Ta bước vào một đêm tối rồi mới khám phá đức tin không phải cảm giác. Không phải mọi mất mát đều do Chúa trực tiếp gửi đến, nhưng trong mọi mất mát, Chúa có thể làm một việc rất đẹp: kéo trái tim ta trở về Kho Báu.
Thế nên có lẽ hôm nay ta cần ngồi lại và hỏi mình một câu thôi: Kho báu của tôi thật sự là gì? Đừng trả lời bằng câu giáo lý thuộc lòng. Hãy nhìn cách ta sống. Ta nghĩ tới điều gì nhiều nhất? Ta sợ mất điều gì nhất? Điều gì quyết định tâm trạng ta? Điều gì nếu người khác chạm tới ta sẽ nổi giận? Ta dành thời gian nhiều nhất cho điều gì? Khi một mình, lòng ta chạy về đâu? Ta mong chờ điều gì để cảm thấy mình có giá trị? Những câu hỏi ấy sẽ chỉ ra kho báu thật. Đức Giêsu từng nói: “Kho tàng anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó.” Nếu lòng ta luôn bất an vì tiền, tiền có thể đang là kho báu. Nếu lòng ta tan nát chỉ vì một người không nhìn nhận mình, sự công nhận có thể đang là kho báu. Nếu thay đổi chức vụ làm mình như mất căn tính, chức vụ có thể đã trở thành kho báu. Nếu thất bại làm ta nghĩ cuộc đời không còn ý nghĩa, thành công có thể đã chiếm chỗ của Chúa.
Và nếu phát hiện Đức Kitô chưa phải kho báu, đừng tuyệt vọng. Hãy xin Ngài cho ta gặp lại Ngài. Người trong dụ ngôn không tự thuyết phục mình rằng kho báu quý. Anh thấy nó. Cũng vậy, đời sống thiêng liêng không thể chỉ dựa trên ý chí: “Từ nay tôi sẽ yêu Chúa hơn.” Hãy đến gần Ngài. Hãy để Tin Mừng cho ta thấy khuôn mặt Ngài. Hãy ở với Ngài. Tình yêu lớn lên trong sự hiện diện. Không ai yêu một người bằng mệnh lệnh. Ta yêu vì gặp, vì biết, vì được chạm đến. Hãy xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết Chúa, vì nếu thật sự biết Chúa, con sẽ yêu Chúa; nếu yêu Chúa, con sẽ tin Chúa; nếu tin Chúa, con sẽ dám trao cho Chúa mọi sự.”
Đời tận hiến, nếu có một vẻ đẹp, thì vẻ đẹp ấy không nằm trước hết ở những gì người tu sĩ không có, nhưng ở Đấng mà người ấy có. Một người đi tu không phải là người không được yêu; là người đã gặp một tình yêu đủ lớn để hiến cả cuộc đời. Một linh mục không phải là người không có gia đình; là người được gọi để trái tim mình thành nhà cho rất nhiều người vì trước hết đã thuộc về Đức Kitô. Một lời khấn không phải là ba chữ “không được”; đó là ba cách nói một chữ “thuộc về.” Con không cần sở hữu vì con thuộc về Chúa. Con không cần chiếm hữu một người cho riêng mình vì trái tim con thuộc về Chúa và vì thế được tự do để yêu mọi người. Con không phải đặt ý con làm tuyệt đối vì con thuộc về Đấng có thể dẫn con xa hơn những gì con tự nghĩ.
Đời tu chỉ đẹp khi người ta nhìn vào và thấy một con người đang có kho báu. Nếu nhìn vào người tận hiến mà chỉ thấy mệt mỏi, cay đắng, ganh đua, than phiền, hơn thua, thì dù giữ đủ lời khấn, chứng tá đã trở nên mờ. Thế giới không cần thêm những người cho thấy theo Chúa là khổ sở. Thế giới cần những người có thể sống đơn sơ mà vui, phục vụ âm thầm mà bình an, bị quên mà không cay đắng, vâng phục mà không mất phẩm giá, nghèo mà không thiếu niềm vui, vì khuôn mặt họ nói một điều mà miệng chưa cần nói: “Tôi đã tìm thấy Kho Báu.”
Người ta có thể tranh luận hàng giờ xem Thiên Chúa có đáng tin hay không. Nhưng một vị thánh vui tươi có sức thuyết phục hơn nhiều trang lý luận. Một người đã bỏ rất nhiều mà không cay đắng là một câu hỏi cho thế gian. Tại sao người ấy vui? Tại sao không sở hữu nhiều mà vẫn bình an? Tại sao bị hiểu lầm mà vẫn hiền? Tại sao bao nhiêu năm phục vụ không ai nhớ mà vẫn không buồn? Câu trả lời chỉ có thể là: họ có một kho báu mà mắt thế gian không thấy.
Và có lẽ đến cuối đời, câu hỏi quan trọng không phải là ta đã làm được bao nhiêu việc, xây được bao nhiêu công trình, viết được bao nhiêu cuốn sách, giảng được bao nhiêu bài, có bao nhiêu người biết tên mình. Câu hỏi có thể chỉ là: sau từng ấy năm, Đức Giêsu có còn là Kho Báu không? Nếu sau năm mươi năm linh mục mà vẫn còn có thể quỳ trước Chúa và nói: “Lạy Chúa, con vẫn chọn Chúa,” thì đời ấy đã đẹp. Nếu sau bao nhiêu lần vấp ngã vẫn trở về với Ngài, đời ấy đã đẹp. Nếu sau bao nhiêu thành công không quên Ngài, đời ấy đã đẹp. Nếu khi mọi thứ đang dần rời khỏi tay mà vẫn bình an vì biết mình sắp gặp Đấng đã yêu cả đời, đời ấy thực sự đã tìm được kho báu.
Sẽ đến một ngày ta phải bán tất cả dù muốn hay không. Sự chết không hỏi ta có muốn từ bỏ không. Nó sẽ lấy khỏi tay ta mọi thứ. Nhưng hạnh phúc cho người trước ngày ấy đã biết trao từng thứ vào tay Chúa. Họ sẽ không chết như người bị cướp sạch; họ ra đi như người đã gửi kho báu của mình vào nơi không mối mọt nào phá được. Và khi nhắm mắt trước thế gian, họ mở mắt trước Đấng mà mình đã tìm kiếm cả đời. Khi ấy mới hiểu rằng chẳng có hy sinh nào vì Đức Kitô là uổng phí. Không giọt nước mắt nào rơi vì tình yêu là mất. Không một lần vâng phục nào bị quên. Không một việc phục vụ âm thầm nào vô nghĩa. Không một lựa chọn trung thành nào trở thành trắng tay. Tất cả đều đã được cất giữ trong Kho Báu.
Lạy Chúa Giêsu, có những ngày con thấy theo Chúa thật nhẹ, nhưng cũng có những ngày con thấy rất nặng. Có những ngày con sẵn sàng nói rằng con bỏ mọi sự để theo Chúa, nhưng cũng có những ngày con tiếc một điều rất nhỏ. Có những lúc con tưởng Chúa là tất cả, nhưng chỉ cần ai đụng tới danh dự, ý riêng, quyền lợi hay một chút tự ái của con, con mới biết trong lòng mình còn nhiều “kho báu” khác. Xin đừng để con chỉ giữ hình thức của một người đã từ bỏ mà trái tim vẫn đầy những chiếm hữu. Xin đừng để con kể mãi với Chúa những điều con đã bỏ, mà quên rằng trước hết Chúa đã bỏ tất cả vì con. Xin cho con mỗi sáng lại khám phá Chúa như người kia khám phá kho báu trong ruộng. Xin cho mắt con sáng để thấy Chúa quý hơn những điều đời này có thể cho. Xin cho lòng con đủ yêu để những hy sinh không trở thành cay đắng. Xin cho con biết buông những gì phải buông, không phải bằng bàn tay miễn cưỡng nhưng bằng niềm vui của người biết mình đang giữ điều lớn hơn.
Lạy Chúa, nếu một ngày Chúa hỏi con bỏ một điều con yêu, xin nhắc con rằng Chúa đáng yêu hơn. Nếu Chúa xin con bỏ một ý riêng, xin nhắc con rằng ý Chúa lớn hơn tầm nhìn của con. Nếu Chúa để con mất một chức vụ, xin nhắc con rằng căn tính của con không nằm trong chức vụ nhưng trong việc thuộc về Chúa. Nếu Chúa để người đời quên con, xin nhắc con rằng tên con vẫn được khắc trong lòng Chúa. Nếu tuổi già lấy khỏi con sức lực, xin cho con hiểu rằng điều đẹp nhất con có thể làm lúc ấy vẫn là yêu Chúa. Và khi đến ngày con phải bỏ mọi sự cuối cùng, xin cho môi con còn đủ bình an để nói: “Lạy Chúa, con chẳng mất gì cả, vì con đang về với Kho Báu của đời con.”
Cuối cùng, đời Kitô hữu chẳng phải là câu chuyện của một người mất mọi thứ để được Thiên Chúa thương. Đó là câu chuyện của một người được Thiên Chúa yêu đến mức đã tìm thấy nơi Đức Kitô một kho báu lớn hơn tất cả, rồi từ đó học cách đặt mọi sự khác vào đúng vị trí. Vì thế, đừng hỏi đời theo Chúa đã lấy khỏi ta bao nhiêu. Hãy hỏi Đức Kitô đã ban cho ta điều gì. Đừng chỉ nhìn những gì bàn tay phải buông. Hãy nhìn Đấng mà bàn tay đang nắm. Đừng chỉ nhìn con đường hẹp. Hãy nhìn Người đang đi phía trước. Đừng chỉ nhìn thập giá. Hãy nhìn Đấng bị đóng đinh trên đó. Đừng chỉ nhìn lời mời “bán tất cả.” Hãy nhìn Kho Báu.
Nếu thật sự gặp được Kho Báu ấy, ta sẽ hiểu tại sao Phêrô bỏ lưới, tại sao Phaolô xem mọi sự là thiệt thòi trước mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, tại sao bao thế hệ các thánh có thể rời gia đình, quê hương, tài sản, địa vị và cả mạng sống mà vẫn hát. Họ không phải những người yêu cuộc đời ít hơn chúng ta. Họ chỉ đã gặp một Người mà họ yêu hơn tất cả. Và khi một tình yêu đủ lớn bước vào trái tim, những hy sinh vốn tưởng không thể mang được bỗng mang được; những cánh cửa tưởng không thể bước qua bỗng bước qua được; những thứ tưởng không thể buông bỗng một ngày được đặt xuống rất nhẹ. Không phải vì chúng không còn giá trị, nhưng vì trước mắt ta đã có Đấng vô giá.
Đức Kitô là Kho Báu khiến mọi từ bỏ trở thành nhẹ nhàng. Không phải nhẹ vì không đau, nhưng nhẹ vì đáng. Không phải nhẹ vì ta mạnh, nhưng vì ta yêu. Không phải nhẹ vì điều ta bỏ quá nhỏ, nhưng vì Đấng ta nhận được quá lớn. Và đến cuối cùng, người môn đệ sẽ nhận ra: mình tưởng mình đã bỏ tất cả để có Chúa, nhưng thật ra khi có Chúa, mình đã có tất cả.
Lm. Anmai, CSsR

NẾU CHƯA GẶP KHO BÁU, MỌI HY SINH CHỈ LÀ MẤT MÁT
Tin Mừng: Mt 13,44-46
Có một điều rất lạ trong dụ ngôn kho báu mà Chúa Giêsu kể: người kia bán tất cả những gì mình có, nhưng Tin Mừng không hề nói ông buồn. Ông mất tất cả, nhưng lại vui. Ông từ bỏ tất cả, nhưng không có cảm giác mình là người thua thiệt. Ông trao đi những gì đã từng thuộc về mình, nhưng bước chân ông không nặng nề. Thánh Matthêu ghi một chi tiết rất nhỏ mà nếu đọc vội chúng ta có thể bỏ qua, nhưng chính chi tiết ấy lại mở ra cả một con đường thiêng liêng: “Vui mừng, ông đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.” Ông bán tất cả, nhưng ông bán trong niềm vui. Và có lẽ đây là điều cần phải suy nghĩ thật lâu, nhất là đối với những người đã bước vào đời tận hiến, những người đã từng nói lời từ bỏ, đã từng để lại phía sau gia đình, một mái nhà, một con đường riêng, một quyền sở hữu riêng, một tương lai riêng, một khả năng xây dựng tổ ấm riêng, để đi theo Đức Kitô. Tại sao cùng là từ bỏ tất cả, có người càng đi càng nhẹ, có người càng đi càng nặng? Tại sao cùng sống ba lời khấn, có người bình an và tự do, có người lại âm thầm đếm những điều mình đã mất? Tại sao cùng một đời tu, có người mỗi năm càng thấy Chúa đáng yêu hơn, còn có người mỗi năm lại càng thấy đời mình giống như một chuỗi dài những hy sinh không được bù đắp? Có lẽ câu trả lời nằm ngay trong dụ ngôn này: điều quyết định không phải trước hết là người ấy đã bán bao nhiêu, nhưng là người ấy đã gặp được gì. Nếu chưa gặp kho báu, bán một chút cũng thấy tiếc. Nếu đã gặp kho báu, bán tất cả vẫn thấy lời. Nếu chưa gặp Đức Kitô như kho báu của đời mình, mọi lời khấn sẽ dễ trở thành gánh nặng, mọi kỷ luật sẽ dễ trở thành xiềng xích, mọi bổ nhiệm sẽ dễ trở thành áp đặt, mọi hy sinh sẽ dễ trở thành mất mát. Nhưng nếu đã thực sự gặp Người, nếu một ngày nào đó trong sâu thẳm linh hồn ta đã nhận ra rằng Đức Kitô quý hơn tất cả những gì ta có thể sở hữu, thì điều ta bỏ không còn là trung tâm nữa. Trung tâm là Đấng ta đã tìm thấy. Đời tu không bắt đầu từ câu hỏi “tôi phải bỏ những gì?”, mà phải bắt đầu từ câu hỏi “tôi đã gặp được Ai?”. Nếu bắt đầu từ những gì phải bỏ, người ta có thể đi tu bằng một trái tim luôn ngoái lại. Nếu bắt đầu từ Đấng mình đã gặp, người ta có thể bỏ rất nhiều mà vẫn đi trong niềm vui. Người thanh niên giàu có trong Tin Mừng cũng được mời gọi bán tất cả. Người trong dụ ngôn kho báu cũng bán tất cả. Hành động bên ngoài gần như giống nhau. Nhưng kết quả hoàn toàn khác. Người thanh niên giàu có “buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải”; còn người gặp kho báu thì “vui mừng đi bán tất cả”. Một người được yêu cầu bỏ trước khi nhìn thấy Đức Kitô là kho báu lớn hơn những gì mình đang có; một người đã thấy kho báu rồi mới bán. Chính chỗ này là một ánh sáng rất lớn cho đời sống thiêng liêng: Kitô giáo không phải là nghệ thuật làm cho con người mất đi thật nhiều; Kitô giáo là cuộc gặp gỡ làm cho con người khám phá một giá trị lớn đến mức những gì từng được xem là không thể thiếu bỗng trở thành thứ yếu. Đời tận hiến cũng vậy. Không ai có thể sống đời tu lâu dài chỉ bằng sức của sự hy sinh. Không ai có thể giữ mình suốt đời bằng một ý chí căng cứng. Không ai có thể sống khiết tịnh chỉ bằng cách cắn răng từ bỏ tình yêu nhân loại. Không ai có thể sống khó nghèo chỉ bằng cách tự nhủ rằng mình không được sở hữu. Không ai có thể sống vâng phục chỉ bằng cách ép cái tôi phải cúi xuống. Những điều ấy có thể giúp ta đi một đoạn đường, nhưng không thể làm ta hạnh phúc. Đời tu chỉ thực sự có sức sống khi phía sau tất cả những từ bỏ ấy có một kho báu. Kho báu ấy có một khuôn mặt. Kho báu ấy có một cái tên. Kho báu ấy là Đức Giêsu Kitô. Không phải ý tưởng về Đức Kitô, không phải công việc cho Đức Kitô, không phải chức vụ nhân danh Đức Kitô, không phải uy tín có được vì phục vụ Đức Kitô, nhưng là chính Đức Kitô, một Đức Kitô sống động, một Đức Kitô được yêu, một Đức Kitô mà người tu sĩ có thể nói thật với lòng mình: “Nếu không có Ngài, tất cả những gì con đang làm chẳng còn nghĩa gì nữa.”
Có lẽ bi kịch sâu nhất của đời tận hiến không phải là có những người đã bỏ đời tu. Bi kịch sâu hơn nhiều là có thể có những người vẫn còn ở trong đời tu nhưng đã đánh mất kho báu. Áo dòng vẫn còn. Lời khấn vẫn còn. Kinh nguyện vẫn đều. Công việc vẫn chạy. Chức vụ vẫn giữ. Cộng đoàn vẫn thấy mình hiện diện. Người ngoài vẫn gọi mình là cha, là thầy, là soeur, là người của Chúa. Nhưng bên trong, Đức Kitô không còn là niềm vui đầu tiên nữa. Khi đó đời tu trở nên khủng khiếp vì người ta vẫn phải trả giá của sự từ bỏ mà không còn cảm được niềm vui của kho báu. Đây mới là sự nghèo nàn đáng sợ. Người ta vẫn không có gia đình riêng, nhưng lại không cảm thấy Đức Kitô đủ cho mình. Người ta vẫn không có tài sản riêng, nhưng trái tim lại đầy những thèm muốn sở hữu. Người ta vẫn vâng phục bề trên, nhưng bên trong chất chứa cay đắng vì ý mình không được thực hiện. Người ta vẫn làm việc tông đồ, nhưng niềm vui lại tùy thuộc vào sự công nhận của người khác. Người ta vẫn đứng trên bục giảng nói về Chúa, nhưng có khi đã rất lâu không ngồi yên trước mặt Chúa chỉ để ở với Người. Khi ấy, những gì đã bỏ đi bắt đầu trở lại trong ký ức với một sức hấp dẫn lạ lùng. Người ta bắt đầu tự hỏi: nếu ngày ấy mình không đi tu thì sao? Nếu mình có một gia đình thì sao? Nếu mình theo con đường khác thì sao? Nếu mình được tự do chọn lựa như người ta thì sao? Nếu mình có tiền của mình, thời gian của mình, kế hoạch của mình thì sao? Những câu hỏi ấy tự nó không phải là tội. Có những lúc mệt mỏi, ai cũng có thể nghĩ như thế. Nhưng nếu chúng trở thành một dòng chảy thường xuyên trong lòng, có lẽ vấn đề không nằm ở những thứ ta đã bỏ; vấn đề là kho báu đã mờ đi. Khi kho báu sáng, những gì ta bỏ nằm đúng chỗ của nó. Khi kho báu mờ, những gì ta bỏ bỗng trở nên khổng lồ. Chuyện của đời tu, vì thế, không phải trước hết là cố gắng quên những gì mình đã từ bỏ; chuyện của đời tu là mỗi ngày phải tìm lại vẻ đẹp của Đấng vì Người mà ta đã từ bỏ. Không phải làm cho quá khứ biến mất, nhưng làm cho Đức Kitô đủ lớn trong hiện tại. Không phải tự thuyết phục rằng đời ngoài kia chẳng có gì đáng tiếc. Không, ngoài kia có rất nhiều điều đẹp: một mái ấm là đẹp, tình nghĩa vợ chồng là đẹp, những đứa con là quà tặng, nghề nghiệp và thành đạt là những giá trị thật. Ta không cần hạ thấp những điều ấy để biện minh cho sự lựa chọn của mình. Người tu sĩ không nói rằng thế gian vô nghĩa để chứng minh đời tu có nghĩa. Người gặp kho báu không chê những thứ mình bán là rác. Chính vì chúng có giá trị nên việc bán chúng mới là một sự chọn lựa. Nhưng ông biết có một giá trị lớn hơn. Đó chính là vẻ đẹp của đời tận hiến: không phải khước từ những điều xấu, mà nhiều khi là từ bỏ những điều rất đẹp để thuộc trọn về một Đấng đẹp hơn. Nếu không hiểu điều này, người ta rất dễ biến đời tu thành một thứ đạo đức khổ hạnh buồn bã, như thể Chúa chỉ hài lòng khi thấy con cái Người thiếu thốn, như thể càng khổ càng thánh, càng mất càng đẹp lòng Chúa. Không. Thiên Chúa không yêu thích sự mất mát của chúng ta. Người muốn trái tim chúng ta. Và Người biết trái tim con người chỉ có thể trao trọn khi nó đã bị chinh phục bởi một tình yêu lớn hơn. Phêrô đã từng hỏi Chúa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” Câu hỏi rất thật. Đằng sau nó có một chút tự hào, một chút mệt, một chút tính toán, và có lẽ một chút mong được công nhận. Đó cũng có thể là câu hỏi âm thầm của rất nhiều người trong đời tận hiến: “Lạy Chúa, con đã bỏ nhiều như thế, con được gì?” Có những ngày người ta không dám nói thành lời nhưng lòng vẫn hỏi. Con đã bỏ tuổi trẻ. Con đã bỏ một con đường có thể dễ dàng hơn. Con đã bỏ quyền lập gia đình. Con đã chịu những bổ nhiệm con không chọn. Con đã đi đến những nơi con không muốn. Con đã sống với những con người con không hợp. Con đã làm biết bao công việc chẳng ai nhớ. Con đã hy sinh biết bao nhiêu mà rồi có lúc vẫn bị hiểu lầm, bị phê bình, bị lãng quên. “Con được gì?” Và nếu câu trả lời cuối cùng chỉ là những chức vụ, thành tích, bằng cấp, những lời khen, những công trình đã xây, số người biết đến mình, thì một ngày kia tất cả sẽ không đủ. Chỉ có một câu trả lời đủ lớn: con được Đức Kitô. Nếu Đức Kitô không đủ, chẳng có thứ gì khác đủ. Nếu Đức Kitô đủ, ngay cả khi những thứ khác bị lấy đi, đời vẫn không trở thành trắng tay. Thánh Phaolô đã nói bằng một thứ ngôn ngữ chỉ người thật sự gặp Đức Kitô mới có thể nói được: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô.” Phaolô không phải là người ghét cuộc đời. Ông từng có địa vị, học thức, truyền thống, nhiệt thành, một căn cước đáng tự hào. Nhưng sau biến cố Đamát, một điều kỳ lạ đã xảy ra: những giá trị cũ không nhất thiết biến mất, nhưng thước đo của ông đã thay đổi. Đức Kitô trở thành chuẩn mực mới để định giá mọi sự. Đây cũng là điều phải xảy ra trong mỗi ơn gọi đích thực. Chừng nào Đức Kitô chưa trở thành chuẩn mực để định giá, người ta vẫn sẽ sống trong cuộc so sánh: tôi mất gì, người khác có gì; tôi phải làm gì, người khác được tự do gì; tôi chịu gì, người khác được hưởng gì. So sánh là dấu hiệu cho thấy mắt ta đang nhìn ra bên ngoài nhiều hơn nhìn vào kho báu. Người gặp kho báu không còn đủ thời gian để ghen với người chưa gặp kho báu. Ông không đứng ở bờ ruộng nhìn nhà hàng xóm rồi than: “Người ta còn đồ đạc, mình bán hết rồi.” Ông biết tại sao mình bán. Cái biết ấy không chỉ ở cái đầu. Nó nằm trong niềm vui của trái tim.
Đời tu có ba lời khấn, nhưng có lẽ trước ba lời khấn phải có một lời sâu hơn: “Chúa là kho báu của đời con.” Nếu câu ấy không có thật, ba lời khấn rất dễ trở thành ba vết thương không bao giờ lành. Khiết tịnh mà không có kho báu sẽ chỉ được cảm nhận như thiếu một người để yêu và được yêu. Khó nghèo mà không có kho báu sẽ chỉ được cảm nhận như không có quyền trên những gì mình sử dụng. Vâng phục mà không có kho báu sẽ chỉ được cảm nhận như bị người khác quyết định cuộc đời. Nhưng khi Đức Kitô thực sự là kho báu, mọi sự thay đổi từ bên trong. Khiết tịnh không còn đơn thuần là không lấy vợ, không lấy chồng; đó là một trái tim muốn dành một khoảng trung tâm không ai thay thế được cho Đức Kitô và trong Người có thể yêu mọi người bằng một tình yêu rộng hơn sự chiếm hữu. Khó nghèo không còn chỉ là không có tài khoản riêng; đó là tự do không cần phải bám vào bất cứ thứ gì để xác định giá trị của mình, bởi mình đã có một kho báu mà mối mọt không ăn được, trộm cắp không lấy được. Vâng phục không còn chỉ là cúi đầu làm theo một quyết định; đó là hành trình học với Đức Kitô câu nói ở Ghếtsêmani: “Xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Khi ấy, lời khấn không còn là những hàng rào dựng quanh một cuộc đời bị thu hẹp. Chúng trở thành những con đường mở một trái tim ra để thuộc trọn về Chúa. Nhưng chúng ta cũng phải khiêm tốn thú nhận rằng không phải cứ một lần đã gặp kho báu là cả đời không thể quên. Con người chúng ta lạ lắm. Một ngày đã khóc vì cảm thấy Chúa gần đến thế, vài năm sau có thể cầu nguyện khô khan như một công việc. Một ngày đã quỳ xuống khấn với một trái tim bừng cháy, vài chục năm sau có thể đọc lại lời khấn mà lòng chẳng rung động bao nhiêu. Một ngày đã sung sướng nghĩ rằng đời mình thuộc về Chúa, rồi giữa những va chạm, thất vọng, trách nhiệm, hiểu lầm và mệt mỏi, ta có thể âm thầm biến đời tu thành một nghề. Điều đáng sợ không phải là cảm xúc nguội đi, vì cảm xúc không thể cháy mãi ở một mức độ. Điều đáng sợ là chúng ta bằng lòng sống mà không còn tìm lại kho báu. Ta vẫn làm hết bổn phận nên tưởng rằng mọi sự ổn. Nhưng đời tận hiến không chỉ cần sự trung thành của bàn chân ở lại; nó cần sự trung thành của trái tim vẫn tìm kiếm. Có người không bỏ cộng đoàn nhưng trái tim đã đi rất xa. Có người không vi phạm lời khấn trên giấy tờ nhưng trong lòng đã xây cả một thế giới riêng không có Chúa ở trung tâm. Có người vẫn giữ mọi luật lệ, nhưng tình yêu đầu tiên đã nguội. Và có lẽ điều Chúa muốn hỏi ta không chỉ là: “Con có còn ở đây không?” nhưng là: “Con còn yêu Thầy không?” Sau tất cả những năm tháng phục vụ, sau bao nhiêu bài giảng, bao nhiêu Thánh lễ, bao nhiêu giờ kinh, bao nhiêu chuyến mục vụ, bao nhiêu trách nhiệm, câu hỏi cuối cùng vẫn đơn giản đến đau lòng: “Con có yêu Thầy không?” Vì có thể làm rất nhiều cho Chúa mà không còn yêu Chúa như thuở ban đầu. Có thể bận rộn với công việc của Người đến mức không còn thời gian cho chính Người. Có thể bảo vệ Giáo Hội mà lòng trở nên cay nghiệt. Có thể rao giảng lòng thương xót mà bản thân không còn biết ngồi yên để đón nhận lòng thương xót. Có thể nói với người khác rằng Chúa là tất cả, trong khi chính mình lại đang đi tìm quá nhiều thứ để bù đắp khoảng trống do Chúa không còn được gặp gỡ cách sống động. Khi ấy ta bắt đầu cần được chú ý, cần được khen, cần có chức vụ, cần được hỏi ý, cần thấy mình quan trọng, cần người khác nhìn nhận những hy sinh của mình. Không phải vì ta xấu; nhiều khi đơn giản vì trái tim đói. Mà khi trái tim không được nuôi bằng kho báu thật, nó sẽ kiếm những đồng tiền lẻ để lấp đầy. Tiếng khen là đồng tiền lẻ. Quyền lực là đồng tiền lẻ. Sự nổi tiếng là đồng tiền lẻ. Cảm giác người khác cần mình là đồng tiền lẻ. Tiện nghi là đồng tiền lẻ. Một thế giới riêng được bảo vệ khỏi mọi đụng chạm cũng là đồng tiền lẻ. Ta gom rất nhiều đồng tiền lẻ vì đã quên kho báu. Và rồi nghịch lý xảy ra: một người đã bỏ mọi sự để theo Chúa lại trở nên rất khó bỏ một chức vụ; đã khấn khó nghèo nhưng rất khó chịu khi mất một tiện nghi; đã khấn vâng phục nhưng đau khổ dữ dội khi ý mình không được nghe; đã khấn khiết tịnh nhưng lại đòi hỏi người khác phải dành cho mình một chỗ đặc biệt trong tình cảm. Không phải lời khấn thất bại; kho báu đã không còn ở trung tâm.
Vì thế, mỗi cuộc khủng hoảng trong đời tu, bên cạnh những nguyên nhân tâm lý, cộng đoàn, cơ cấu hay mục vụ rất thật và cần được nhìn nhận nghiêm túc, vẫn có thể trở thành một câu hỏi thiêng liêng: kho báu của tôi bây giờ là gì? Điều gì mà nếu bị lấy đi tôi cảm thấy đời mình sụp đổ? Câu trả lời cho câu hỏi ấy thường cho biết Chúa đang đứng ở đâu trong trái tim ta. Nếu mất một chức vụ mà tôi mất luôn bình an, có thể chức vụ đã trở thành một phần kho báu. Nếu không được ghi nhận mà tôi thấy mọi hy sinh trở nên vô nghĩa, có thể sự công nhận đã trở thành kho báu. Nếu một người không còn quý tôi như trước mà đời tôi chao đảo, có thể tình cảm ấy đã chiếm một chỗ vốn thuộc về Chúa. Nếu cộng đoàn thay đổi kế hoạch của tôi mà tôi thấy như mất chính mình, có thể ý riêng đã trở thành kho báu. Điều này không có nghĩa người tu sĩ phải vô cảm, phải không đau, không buồn, không bị tổn thương. Chúa Giêsu ở Ghếtsêmani đã buồn đến chết được. Người trên thập giá đã kêu lên. Người không phải là một pho tượng không cảm xúc. Nhưng ngay ở đáy của đau đớn vẫn còn một nền tảng không bị lấy mất: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đó là kho báu. Mọi thứ khác có thể rung chuyển, nhưng tương quan với Cha vẫn là nơi Người trao mình vào. Cũng vậy, một người tận hiến trưởng thành không phải là người chẳng bao giờ đau khi mất. Đó là người trong mọi mất mát vẫn còn một Đấng để trở về. Người ấy có thể khóc vì một người thân qua đời, có thể đau vì bị hiểu lầm, có thể buồn vì một công việc mình dốc cả đời không thành, có thể xót xa khi phải rời một nơi đã gắn bó, có thể cảm thấy hụt hẫng khi tuổi già đến và khả năng phục vụ giảm xuống. Nhưng sâu hơn tất cả, người ấy vẫn biết: tôi chưa mất tất cả. Đức Kitô còn đó. Và chừng nào Đức Kitô còn đó, đời tôi không phải là một cuộc phá sản. Thật ra, tuổi già là một phép thử rất thật cho kho báu của người tu sĩ. Khi còn trẻ, ta có sức khỏe, có hoạt động, có khả năng, có những người cần ta. Những thứ ấy dễ hòa lẫn vào căn tính ơn gọi. Ta có thể tưởng mình yêu Chúa, trong khi một phần niềm vui đến từ việc mình có ích. Rồi một ngày sức khỏe giảm, người trẻ lên thay, mình không còn ở trung tâm của công việc nữa, điện thoại ít reo hơn, ít người hỏi ý hơn, nhiều chuyện được quyết định mà không cần mình. Lúc ấy, nếu kho báu của ta là “được cần đến”, tuổi già trở thành một sa mạc khủng khiếp. Nhưng nếu kho báu là Đức Kitô, tuổi già có thể trở thành một mùa rất đẹp: cuối cùng ta được trả lại cho điều căn bản nhất của ơn gọi, không phải làm nhiều cho Chúa nữa mà chỉ ở với Chúa. Có khi cả đời ta nói rằng Chúa là tất cả, nhưng chỉ khi mọi thứ khác lần lượt rời khỏi tay, ta mới biết câu đó có thật hay không.
“Nước Trời giống như kho báu chôn giấu trong ruộng.” Kho báu lại được chôn giấu. Điều quý nhất không nằm trên bề mặt. Có lẽ vì vậy mà đời tu cũng có những thời gian phải đào rất sâu. Có những giai đoạn Chúa không còn dễ cảm như ngày đầu. Cầu nguyện chẳng có gì đặc biệt. Thánh lễ mỗi ngày vẫn thế. Lời Chúa quen thuộc đến mức tưởng chẳng còn gì mới. Công việc lặp lại. Cộng đoàn với những khuôn mặt quá quen, cả những giới hạn quá quen. Ta có thể lầm tưởng rằng kho báu không còn nữa. Thực ra nhiều khi nó chỉ được chôn sâu hơn để ta ngừng sống bằng cảm giác và bắt đầu sống bằng đức tin. Người tìm kho báu phải đào. Người tận hiến cũng phải đào. Đào xuyên qua lớp đất của thói quen. Đào qua sự nhàm chán. Đào qua những thất vọng về bản thân. Đào qua những vỡ mộng về cộng đoàn và Giáo Hội. Đào qua cả những hình ảnh non nớt về Thiên Chúa mà ta từng mang khi mới bước vào. Có khi phải mất rất nhiều thứ ta từng nghĩ là Chúa để gặp chính Chúa. Thuở đầu, ta có thể yêu một Thiên Chúa luôn làm mình xúc động. Sau này phải học yêu một Thiên Chúa im lặng. Thuở đầu ta yêu một Đức Kitô dường như luôn nâng đỡ mình. Sau này phải học ở lại với Đức Kitô chịu đóng đinh, Đấng không đưa ta xuống khỏi thập giá nhưng ở trên thập giá với ta. Thuở đầu ta có thể nghĩ theo Chúa là một hành trình ngày càng rõ ràng. Sau này mới hiểu có những đoạn Người dẫn ta đi trong đêm. Nhưng chính trong những đêm ấy, tình yêu được thanh luyện khỏi sự tìm kiếm chính mình. Ta không còn theo Chúa vì Chúa cho ta cảm giác tốt. Ta theo Chúa vì Người là Chúa. Ta không cầu nguyện vì cầu nguyện làm ta bình an. Ta cầu nguyện vì Người xứng đáng được yêu, ngay cả khi ta không thấy bình an. Ta không trung thành vì đời tu luôn đem lại cho ta niềm vui. Ta trung thành vì một ngày ta đã nhận ra Người là kho báu, và ngay cả khi mắt ta hôm nay mờ đi, ta vẫn tin vào điều mình đã thấy. Tình yêu trưởng thành không phải lúc nào cũng nói: “Con cảm thấy Ngài.” Nhiều khi nó chỉ có thể nói: “Con không cảm thấy gì, nhưng con vẫn ở đây.” Và đôi khi chính câu ấy là một trong những lời yêu đẹp nhất của đời tận hiến.
Một nguy hiểm khác là chúng ta rất dễ biến sự hy sinh thành căn cước. Ta nhớ mình đã chịu những gì, đã làm những gì, đã bỏ những gì, đã thiệt những gì. Rồi vô tình ta đem những hy sinh đó đặt trước mặt Chúa như một thứ hóa đơn: “Con đã trả từng này, Chúa phải cho con từng kia.” Khi ấy ta không còn là người mua thửa ruộng vì vui mừng gặp kho báu; ta trở thành người luôn kiểm kê cái giá mình đã trả. Có những người càng lớn tuổi càng dịu dàng vì họ thấy đời mình toàn ân huệ. Cũng có người càng lớn tuổi càng cay vì họ thấy đời mình toàn hy sinh. Hai người có thể đã trải qua những hoàn cảnh rất giống nhau, nhưng cách họ nhìn khác nhau vì kho báu khác nhau. Người thấy Đức Kitô là kho báu sẽ nhìn quá khứ và nói: “Chúa đã cho tôi quá nhiều.” Người lấy chính sự hy sinh của mình làm trung tâm sẽ nói: “Tôi đã cho Chúa quá nhiều.” Chỉ khác một chủ từ mà khác cả đời sống thiêng liêng. “Chúa đã cho tôi” làm nảy sinh biết ơn. “Tôi đã cho Chúa” dễ làm nảy sinh đòi hỏi. Thật ra chúng ta đã cho Chúa được gì mà trước đó không phải là điều chính Người trao? Tuổi trẻ của ta là của Chúa. Khả năng của ta là của Chúa. Thời gian của ta là của Chúa. Ngay cả khả năng nói lời “xin vâng” cũng là ân sủng. Nếu nhìn thật sâu, đời tu không phải câu chuyện một con người quảng đại hiến dâng rất nhiều cho Thiên Chúa; đó là câu chuyện một Thiên Chúa đã trao chính mình cho một con người, đến mức con người ấy bối rối và chỉ biết đáp lại bằng cả đời mình. Ơn gọi trước hết không phải là hy sinh. Ơn gọi là được yêu. “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em.” Trước khi ta bỏ nhà để theo Chúa, Chúa đã bỏ trời để đến với ta. Trước khi ta sống khó nghèo, Người đã “vốn giàu sang phú quý nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em.” Trước khi ta khấn khiết tịnh, trái tim Người đã thuộc trọn về Cha và về nhân loại. Trước khi ta học vâng phục, Người đã “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” Ta không phải người đầu tiên hy sinh trong câu chuyện này. Đức Kitô mới là người đã trao tất cả trước. Và thập giá là nơi mọi người tận hiến phải trở về khi bắt đầu nghĩ rằng mình đã cho Chúa quá nhiều. Hãy nhìn Đấng chịu đóng đinh. Người không giữ lại đôi tay, vì đôi tay bị đóng đinh. Không giữ lại đôi chân. Không giữ lại áo xống. Không giữ lại danh dự. Không giữ lại máu. Không giữ lại sự sống. Không giữ lại cả Mẹ mình: “Đây là mẹ của anh.” Người trao đến giọt cuối cùng. Trước thập giá ấy, ta khó có thể nói: “Lạy Chúa, con đã cho Ngài quá nhiều.” Ta chỉ có thể thưa: “Lạy Chúa, hóa ra con vẫn nhận nhiều hơn con cho.”
Nếu chưa gặp kho báu, mọi hy sinh chỉ là mất mát. Nhưng khi đã gặp kho báu, mất mát có thể trở thành của lễ. Hai điều bên ngoài có thể giống nhau nhưng bên trong khác hoàn toàn. Một người bị lấy mất điều gì đó là một người nghèo đi. Một người tự do trao đi vì yêu là một người đang dâng hiến. Cuộc đời tận hiến chỉ đẹp khi những điều ta mất được biến thành những điều ta trao. Tôi không “mất” quyền lập gia đình; tôi trao khả năng ấy cho một tình yêu rộng lớn hơn. Tôi không “mất” quyền sở hữu; tôi trao sự tự do khỏi tài sản để chứng minh rằng Thiên Chúa có thể là gia nghiệp của một đời người. Tôi không “mất” quyền tự quyết; tôi trao ý riêng để tìm ý Chúa qua một lịch sử cụ thể, dù lịch sử ấy đi qua những con người bất toàn. Và ngay cả khi đời tu đặt tôi trước những mất mát không hề do tôi chọn, tôi vẫn có thể làm một điều cuối cùng mà không ai lấy khỏi tôi được: tôi có thể biến cái bị lấy thành cái được trao. Đây là tự do của Đức Kitô trên thập giá. Người bị bắt, nhưng Người nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Bề ngoài Người là nạn nhân của bạo lực; bên trong Người là tư tế đang tự hiến. Bề ngoài mạng sống bị lấy; bên trong mạng sống được trao. Đó là bí mật để không trở nên cay đắng trước những mất mát. Có những chuyện ta không chọn: bệnh tật, tuổi già, thất bại, hiểu lầm, một cộng đoàn khó sống, một người anh em làm ta đau, một bổ nhiệm bất ngờ, một công việc bị dang dở, một dự định phải bỏ. Ta không thể gọi tất cả những điều ấy là tốt. Nhưng ta có thể đặt chúng trên bàn thờ. “Lạy Chúa, điều này con không muốn, nhưng vì nó đã đi vào đời con và con không thể loại bỏ, con xin đừng để nó trở thành chất độc trong lòng con. Con trao nó cho Ngài.” Khi đó mất mát trở thành của lễ. Không phải vì nỗi đau biến mất, nhưng vì nỗi đau có một nơi để đi đến. Nó đi vào tình yêu.
Có lẽ điều đáng thương nhất không phải là một người hy sinh quá nhiều, mà là hy sinh quá nhiều cho một kho báu quá nhỏ. Có người tiêu cả đời để giữ danh dự. Có người mất bình an để bảo vệ cái tôi. Có người đánh đổi tình huynh đệ để thắng một cuộc tranh luận. Có người dành nhiều năm để xây một vị trí rồi cuối cùng vị trí ấy vẫn phải trao cho người khác. Có người hy sinh sức khỏe, tình nghĩa, đời sống cầu nguyện chỉ để hoàn thành một công trình mang tên mình. Chúng ta ai cũng đang bán một điều gì đó để mua một điều gì đó. Câu hỏi không phải có hy sinh hay không. Ai cũng hy sinh. Người lập gia đình hy sinh tự do của người độc thân. Người theo đuổi sự nghiệp hy sinh thời gian. Người chạy theo tiền hy sinh nhiều điều để có tiền. Người sống cho danh tiếng hy sinh bình an để giữ hình ảnh. Người tu sĩ cũng hy sinh. Vấn đề là kho báu nào đáng để ta bán cả đời mình? Đức Giêsu không dạy ta đừng trả giá. Người dạy ta trả đúng giá cho đúng kho báu. Bi kịch không phải là mất cả đời. Bi kịch là mất cả đời cho một thứ cuối cùng không thể cứu mình. “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích gì?” Một ngày kia chúng ta sẽ buông hết. Cái chết là lời khấn khó nghèo cuối cùng mà cả nhân loại phải tuyên, dù muốn hay không. Cái chết lấy hết chức vụ, tài sản, uy tín, kế hoạch, thân xác, khả năng. Người tận hiến thực ra tập chết suốt đời, không phải vì ghét sự sống nhưng để học giữ đúng một điều mà cái chết không thể lấy: Đức Kitô. Nếu đời tu không chuẩn bị cho ta cuộc gặp cuối cùng ấy, đời tu đã thất bại. Một linh mục khi nằm trên giường bệnh cuối đời sẽ không còn giảng được nữa, không quản trị được nữa, không xây dựng được nữa, có khi ngay cả đọc kinh cũng khó. Nếu căn tính của ngài nằm ở việc làm linh mục, ngài sẽ cảm thấy mình vô dụng. Nhưng nếu căn tính nằm ở việc thuộc về Đức Kitô, thì ngay khi không còn làm được gì, ngài vẫn còn điều quan trọng nhất: ở với Người. Lúc đó mới hiểu rằng từ ban đầu, ơn gọi không phải là Chúa cần công việc của ta. Chúa muốn chính ta. Người gọi Nhóm Mười Hai “để các ông ở với Người” trước khi sai các ông đi rao giảng. “Ở với Người” là kho báu. Sứ vụ là hoa trái. Khi đảo ngược hai điều này, ta sẽ dùng Chúa để phục vụ công việc. Khi đặt đúng thứ tự, ta sẽ dùng công việc để phục vụ Chúa.
Vậy làm sao biết mình còn thấy Đức Kitô là kho báu? Không phải lúc nào cũng đo được bằng cảm xúc. Có lẽ hãy nhìn vào sự tự do của mình. Kho báu thật làm con người tự do. Người trong dụ ngôn bán tất cả vì không còn bị tất cả giữ lại. Khi Đức Kitô đủ lớn, ta dần có thể buông những thứ trước đây tưởng không thể buông: một sự tự ái, một quyền lợi, một cách làm quen thuộc, một nhu cầu phải được hiểu, một đòi hỏi phải được đối xử đúng như mình muốn. Người gần Chúa lâu năm đáng lẽ phải nhẹ hơn. Không phải nhẹ vì đời dễ hơn, nhưng vì ít thứ có thể trói mình hơn. Nếu sau ba mươi năm đời tu mà ta càng dễ tổn thương vì danh dự, càng khó đổi ý, càng bám quyền, càng cần người khác chiều theo mình, thì phải hỏi xem ta đã tích lũy kho báu ở đâu. Đời tận hiến không phải hành trình gom thêm đặc quyền; đó phải là hành trình trở nên nghèo hơn để Chúa trở nên lớn hơn. Gioan Tẩy Giả nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Có lẽ đây là một trong những câu đẹp nhất cho đời tu. Nhỏ lại không phải tự khinh mình. Nhỏ lại là không cần mình phải ở trung tâm. Không cần mọi người biết việc này do tôi làm. Không cần người ta nhớ công lao tôi. Không cần ý kiến tôi lúc nào cũng được chọn. Không cần tôi có mặt thì mọi chuyện mới đúng. Đó là một tự do lớn. Và chỉ kho báu thật mới làm được điều ấy. Người không có kho báu phải giữ rất nhiều thứ để thấy mình có giá trị. Người có Đức Kitô có thể để rất nhiều thứ đi qua tay mà không đánh mất mình.
Hôm nay, trước dụ ngôn rất ngắn này, có lẽ mỗi người tận hiến cần ngồi thật lâu với Chúa và đừng vội nói gì. Hãy nhớ lại ngày đầu. Không phải để sống bằng hoài niệm, nhưng để hỏi: điều gì đã khiến tôi bước đi? Một thời, chắc chắn không ai đi tu chỉ vì muốn có một cuộc đời dễ dàng. Ta đã từng có một ngọn lửa. Có thể ngọn lửa ấy non nớt, lẫn nhiều mơ mộng, nhưng trong đó có một điều thật: ta đã từng muốn Chúa. Ta đã từng nghĩ rằng nếu có Chúa thì đủ. Ta đã từng thấy vui khi được dâng đời mình. Ta đã từng nói lời khấn với một thứ run rẩy rất thánh: “Con thuộc về Ngài.” Rồi năm tháng đến. Bụi của đường dài phủ lên kho báu. Xin đừng vội trách mình. Chỉ cần đào lại. Đào lại bằng một giờ cầu nguyện thật lòng. Đào lại bằng việc mở Tin Mừng không phải để soạn bài giảng nhưng để nghe Chúa nói với chính mình. Đào lại bằng một cuộc tĩnh tâm không dùng hết thời gian để lập chương trình, nhưng dám để Chúa hỏi những câu khó. Đào lại bằng bí tích Hòa Giải, nơi ta thôi đóng vai người hướng dẫn người khác và trở về làm một tội nhân cần lòng thương xót. Đào lại bằng một buổi chiều ngồi trước Nhà Tạm chẳng cần nói gì, chỉ thưa: “Lạy Chúa, con mệt rồi. Con đã đi xa khỏi tình yêu đầu tiên. Xin cho con gặp lại Ngài.” Đôi khi kho báu không biến mất. Chỉ là ta đã thôi đào.
Và nếu hôm nay có ai đó trong đời tận hiến cảm thấy đời mình toàn là mất mát, xin đừng vội kết luận rằng ơn gọi của mình là một sai lầm. Có thể linh hồn đang mệt. Có thể đã có những vết thương cần được chữa lành. Có thể đã có những bất công thật sự cần được gọi đúng tên. Có thể cần nghỉ ngơi, cần người đồng hành, cần được lắng nghe, cần điều chỉnh một lối sống không lành mạnh. Đức tin không bắt ta phủ nhận những điều ấy. Nhưng ở tận đáy, vẫn có một câu hỏi mà không ai trả lời thay được: “Đức Kitô còn là kho báu của tôi không?” Nếu câu trả lời chỉ còn là một tiếng thì thầm rất nhỏ: “Con muốn Người vẫn là kho báu”, thế cũng đã đủ để bắt đầu lại. Chúa không khinh một ngọn bấc còn khói. Người có thể thổi nó cháy lại. Ơn gọi không được giữ bằng sức chúng ta yêu Chúa, nhưng sâu xa hơn, bằng việc Chúa không ngừng yêu chúng ta. Có ngày ta không giữ nổi Người; chỉ còn để Người giữ ta. Và đôi khi đó là hình thức tinh tuyền nhất của lòng trung thành.
Sau cùng, người trong dụ ngôn bán tất cả để mua thửa ruộng, nhưng kho báu ông tìm thấy không phải là phần thưởng cho sự hy sinh. Chính kho báu đã làm cho sự hy sinh có thể xảy ra. Đây là thứ tự chúng ta đừng bao giờ đảo lộn. Không phải hy sinh thật nhiều rồi hy vọng một ngày sẽ gặp Chúa. Phải gặp Chúa, rồi từ cuộc gặp ấy mới có sức hy sinh. Không phải cố sống ba lời khấn thật hoàn hảo rồi hy vọng nhờ thế trái tim sẽ yêu Chúa. Phải để mình được Chúa yêu và chinh phục mỗi ngày, rồi lời khấn mới có máu thịt. Không phải tự làm mình trống rỗng rồi mong Chúa đến lấp đầy. Chính vì đã nếm được Chúa nên ta mới dám để những thứ khác rời khỏi tay. Kitô giáo luôn bắt đầu bằng ân sủng. Ơn gọi luôn bắt đầu bằng ánh mắt của Đức Kitô: “Hãy theo Thầy.” Phêrô và Anrê bỏ lưới không phải vì ghét lưới. Giacôbê và Gioan rời thuyền không phải vì con thuyền xấu. Matthêu đứng dậy khỏi bàn thu thuế vì có một ánh mắt đã đi vào đời ông. Phaolô coi mọi sự là thiệt thòi vì Đamát đã cho ông gặp một Đấng. Các thánh có thể sống nghèo, sống khiết tịnh, vâng phục, chịu bách hại, đi đến những miền truyền giáo xa xôi, chấp nhận bệnh tật và cả cái chết không phải vì các ngài có một khả năng chịu đựng phi thường hơn người khác, nhưng vì trái tim các ngài đã được một vẻ đẹp chiếm lấy. Không ai có thể hiểu sự từ bỏ của các thánh nếu không hiểu tình yêu của các thánh. Không ai hiểu thập giá nếu chỉ nhìn vào những cây đinh. Phải nhìn vào Đấng đang yêu trên cây thập giá.
Cho nên, lạy Chúa, nếu hôm nay con thấy những gì mình đã bỏ quá lớn, có lẽ không phải vì chúng bỗng quý hơn, mà vì Chúa đã trở nên quá nhỏ trong mắt con. Xin đừng chỉ cho con thêm sức để hy sinh. Xin cho con gặp lại kho báu. Xin đừng chỉ làm cho con mạnh để chịu đựng đời tu. Xin làm cho con lại yêu đời tận hiến vì trong đó con có Ngài. Xin đừng chỉ dạy con phải bỏ gì. Xin cho con thấy Ngài đáng để con bỏ mọi sự. Nếu con đã biến lời khấn thành bổn phận, xin trả lại cho lời khấn khuôn mặt của tình yêu. Nếu con đã biến khó nghèo thành thiếu thốn, xin nhắc con rằng Ngài là gia nghiệp. Nếu con đã biến khiết tịnh thành cô đơn, xin cho con biết trái tim Ngài vẫn là nhà. Nếu con đã biến vâng phục thành chịu đựng, xin cho con được cùng Ngài thưa lại: “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha.” Nếu con đã đếm những gì con cho Ngài, xin cho con nhìn thập giá để nhớ những gì Ngài đã trao cho con. Nếu con đang tiếc một điều gì đã bỏ, xin cho con nhìn lại kho báu. Nếu con mỏi mệt, xin cho con được nghỉ nơi Ngài. Nếu con đã quên ngày đầu, xin gọi tên con một lần nữa như ngày ấy. Nếu một ngày mọi người quên con, xin cho con biết Ngài vẫn nhớ. Nếu một ngày không còn ai cần con, xin cho con biết Ngài vẫn muốn con. Nếu một ngày tay con không còn làm được gì, môi con không còn giảng được gì, chân con không còn đi được đâu, xin cho con vẫn đủ bình an để nói: “Con còn Ngài.” Và nếu đến ngày cuối cùng, khi mọi thứ con từng có đều phải ở lại phía bên này, xin cho con bước qua cái chết không như một người bị lấy mất tất cả, nhưng như người cuối cùng đã bán xong mọi sự để nhận trọn kho báu mà cả đời mình tìm kiếm.
Bởi vì, lạy Chúa, đời tận hiến không đáng sợ vì phải bỏ nhiều. Điều đáng sợ là bỏ nhiều mà không biết mình bỏ vì Ai. Đời tu không buồn vì không có nhiều thứ. Nó chỉ buồn khi không còn thấy Đấng mình có là đủ. Một đời người có thể rất nghèo mà vô cùng giàu, nếu có Đức Kitô. Một đời người có thể sở hữu cả thế gian mà vẫn trắng tay, nếu thiếu Người. Xin cho chúng con đừng tự hào vì đã từ bỏ. Xin chỉ cho chúng con biết kinh ngạc vì đã được tìm thấy. Vì xét cho cùng, trước khi chúng con tìm thấy kho báu, chính Kho Báu đã tìm thấy chúng con. Trước khi chúng con chọn Chúa, Chúa đã chọn chúng con. Trước khi chúng con yêu Người, Người đã yêu chúng con. Trước khi chúng con dâng đời mình, Người đã dâng mạng sống Người. Và có lẽ điều đẹp nhất của đời tận hiến không phải là một con người đã bỏ tất cả để có Chúa, nhưng là một con người một ngày kia bàng hoàng nhận ra: mình tưởng mình đã bỏ tất cả, hóa ra mình đã nhận được Tất Cả. Khi nhận ra điều ấy, những gì từng gọi là hy sinh sẽ mang một tên khác. Không còn là mất mát. Đó là tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH – VIÊN NGỌC QUÝ CỦA ĐỜI NGƯỜI
Tin Mừng: Mt 13,45-46
“Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.” Có lẽ trong những dụ ngôn ngắn nhất của Tin Mừng, đây lại là một trong những dụ ngôn có sức lay động sâu xa nhất đối với đời sống người môn đệ. Chỉ hai câu thôi. Không có những biến cố lớn lao. Không có phép lạ. Không có đám đông. Không có tranh luận. Không có một lời giải thích dài dòng. Chỉ có một người đi tìm, một viên ngọc được gặp, một quyết định được thực hiện và một cuộc đời đổi hướng. Nhưng có lẽ cả đời Kitô hữu, cả đời linh mục, cả đời tu, cả hành trình theo Chúa cũng có thể được gom lại trong bốn động từ giản dị ấy: đi tìm – gặp được – bán tất cả – mua lấy. Và ở chính giữa bốn động từ đó là một điều quyết định: người thương gia đã gặp được một viên ngọc quý đến mức tất cả những gì ông đang có bỗng trở thành thứ có thể buông xuống. Không phải vì những gì ông có vốn chẳng đáng gì. Cũng không phải vì ông ghét tài sản của mình. Càng không phải vì ông là người chán đời, muốn vứt bỏ mọi sự. Ông bán tất cả bởi vì ông đã gặp một giá trị lớn hơn tất cả. Đây chính là bí mật của mọi sự từ bỏ trong đời Kitô hữu. Nếu chưa gặp được viên ngọc quý, mọi hy sinh chỉ là mất mát. Nếu chưa thấy Đức Kitô đáng giá hơn mọi sự, lời mời gọi từ bỏ sẽ chỉ là một gánh nặng. Nếu chưa yêu Chúa đủ sâu, đời sống theo Chúa rất dễ trở thành một chuỗi những điều “không được”: không được cái này, không được cái kia, phải bỏ cái này, phải hy sinh cái nọ, phải giữ điều này, phải chịu điều kia. Và rồi một ngày, người ta có thể sống trong nhà Chúa mà lòng lại thầm tiếc những gì mình đã bỏ; có thể mặc áo tu mà trong lòng vẫn quay về với những “viên ngọc nhỏ” của thế gian; có thể đứng trên bàn thờ mà tâm hồn lại âm thầm tìm kiếm một sự bù đắp khác ngoài Đức Kitô. Nhưng khi người ta thật sự gặp Chúa, nhất là gặp Đức Kitô chịu đóng đinh, mọi sự đổi khác. Không phải thập giá nhẹ đi, nhưng trái tim đã tìm được lý do để mang thập giá. Không phải những gì phải bỏ trở thành vô giá trị, nhưng Đấng ta chọn trở thành quý giá hơn tất cả.
Người thương gia trong Tin Mừng là người đi tìm ngọc đẹp. Điều này rất đáng để dừng lại. Ông không phải người tình cờ đi ngang rồi cúi xuống nhặt được một vật gì đó. Ông là người đã có một khát vọng. Ông biết mình đang tìm gì. Ông đã nhìn thấy nhiều viên ngọc trước đó, chắc hẳn cũng đã cầm trên tay nhiều viên đẹp, có thể đã mua bán rất nhiều viên quý, nhưng lòng ông vẫn chưa dừng lại. Trong đời người cũng vậy. Mỗi người đều đang đi tìm một điều gì đó, dù có khi chính mình không gọi tên được. Người ta đi tìm bình an. Đi tìm tình yêu. Đi tìm một người hiểu mình. Đi tìm sự thành công. Đi tìm một chỗ đứng. Đi tìm tiếng khen. Đi tìm quyền lực. Đi tìm sự an toàn. Đi tìm một mái nhà. Đi tìm một người để dựa vào. Đi tìm một lý tưởng đủ lớn để sống và đủ mạnh để chết. Có người tìm suốt tuổi trẻ. Có người tìm đến tuổi già. Có người tưởng đã tìm thấy rồi sau đó mới nhận ra thứ mình ôm chặt nhiều năm chỉ là một viên đá sáng lên dưới nắng chứ không phải viên ngọc quý. Có người dành cả đời để leo lên một ngọn núi, tới đỉnh mới đau đớn nhận ra mình đã leo nhầm núi. Có người mất cả đời để sở hữu thật nhiều thứ rồi cuối cùng lại phát hiện điều mình cần nhất không phải là “có thêm” mà là “có Chúa”. Con người có thể lấp đầy căn nhà nhưng vẫn để trống tâm hồn. Có thể có đầy đủ tiện nghi mà không có bình an. Có thể rất nổi tiếng mà vô cùng cô độc. Có thể được nhiều người vỗ tay mà đêm về chẳng biết mình sống để làm gì. Có thể phục vụ rất nhiều mà bên trong đã cạn. Có thể nói về Chúa rất hay mà không còn thật sự nhớ Chúa là ai đối với mình. Và chính ở đây dụ ngôn viên ngọc quý trở nên một câu hỏi không thể né tránh: viên ngọc quý nhất của đời tôi là gì? Điều gì mà nếu mất nó, tôi thấy đời mình sụp xuống? Điều gì làm tôi vui nhất khi có được? Điều gì chiếm nhiều nhất trong suy nghĩ của tôi? Điều gì khiến tôi có thể hy sinh những thứ khác để bảo vệ? Câu trả lời thật của những câu hỏi ấy sẽ cho tôi biết “vị thần” thực sự của lòng mình là ai.
Với người môn đệ, viên ngọc quý ấy không phải trước hết là thiên đàng, không phải phần thưởng, không phải sự bình an, không phải một đời sống đạo đức đẹp đẽ, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô. Và đối với người đã được gọi bước sâu vào mầu nhiệm cứu độ, viên ngọc ấy mang một khuôn mặt rất đặc biệt: Đức Kitô chịu đóng đinh. Chúng ta không theo một tư tưởng. Không yêu một lý thuyết. Không hiến đời mình cho một hệ thống. Không đặt đời mình vào tay một nguyên tắc luân lý vô hình. Chúng ta theo một Con Người. Một Con Người có tên là Giêsu. Một Con Người đã yêu chúng ta đến cùng. Một Con Người đã mang lấy thân phận của chúng ta, đã đói, đã khát, đã mệt, đã khóc, đã bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi, bị kết án, bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị đóng đinh và chết trần trụi trên thập giá. Nếu ai hỏi người Kitô hữu: “Thiên Chúa của bạn yêu bạn đến mức nào?”, chúng ta không cần trình bày một bài thần học dài. Chỉ cần chỉ lên thập giá. Đến mức này. Hai cánh tay dang ra ấy là thước đo tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Trái tim bị đâm thâu ấy là giá của linh hồn chúng ta. Những vết đinh ấy nói với ta rằng ta không phải một con số vô danh trong thế giới. Ta đã được yêu bằng máu. Được tìm bằng đau khổ. Được chuộc bằng mạng sống của Con Thiên Chúa. Vì thế, Đức Kitô chịu đóng đinh không phải là một vật trang trí trong nhà thờ, càng không phải hình ảnh buồn bã của một thất bại xa xưa. Người là viên ngọc quý của đời người, bởi nơi Người ta gặp được điều mà mọi cuộc kiếm tìm sâu xa nhất của con người đều khao khát: một tình yêu không bỏ ta khi ta không còn gì đáng yêu.
Ta thử nhìn thật lâu vào thập giá. Chúa không đẹp theo tiêu chuẩn thế gian nữa. Khuôn mặt Người biến dạng. Thân thể đầy thương tích. Tay chân bị đóng chặt. Không quyền lực. Không tiền bạc. Không đám đông tung hô. Những người từng chạy theo Người khi Người làm phép lạ hầu như đã biến mất. Các môn đệ bỏ chạy. Người bị treo giữa hai tên tội phạm. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt thế gian, đó là một con người đã mất tất cả. Nhưng chính lúc Người dường như không còn gì, Người lại trao tất cả. Người trao áo mình cho quân lính. Trao Mẹ mình cho người môn đệ. Trao sự tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. Trao thiên đàng cho người trộm thống hối. Trao Thần Khí. Trao máu. Trao nước. Và cuối cùng trao chính mạng sống mình vào tay Cha. Đức Kitô trên thập giá không còn gì để giữ lại, bởi tình yêu thật không giữ lại. Chính vì thế, thập giá là nơi sự giàu có vô cùng của Thiên Chúa được mặc lấy hình thức của một sự nghèo khó tận cùng. Người đời nhìn vào thấy một tử tội. Đức tin nhìn vào và nhận ra viên ngọc quý. Người đời nhìn thấy yếu đuối. Đức tin nhìn thấy quyền năng của tình yêu. Người đời nhìn thấy thất bại. Đức tin nhìn thấy chiến thắng. Người đời nhìn thấy cái chết. Đức tin nhìn thấy sự sống đang được mở ra. Người đời hỏi: “Một Thiên Chúa như thế này có gì đáng để theo?” Người môn đệ đã yêu thì trả lời: “Chính vì Người đã yêu tôi như thế, nên không còn ai khác đáng để tôi trao đời mình hơn Người.”
Có một điều rất lạ trong dụ ngôn: người thương gia bán tất cả những gì mình có. Chúa Giêsu không nói ông bán một phần. Không nói ông thanh lý những thứ dư thừa. Không nói ông bỏ vài món không cần thiết. Ông bán tất cả. Tin Mừng bao giờ cũng có cái triệt để như thế. Chúng ta thường muốn theo Chúa nhưng giữ lại một căn phòng khóa kín cho mình. Chúng ta trao Chúa rất nhiều nhưng vẫn có những điều ghi chữ: “Xin Chúa đừng đụng đến.” Con cho Chúa thời giờ nhưng xin giữ lại ý riêng. Con cho Chúa công việc nhưng xin giữ danh dự. Con sống khó nghèo nhưng xin giữ quyền quyết định. Con sống khiết tịnh nhưng xin giữ những tình cảm mà con biết đang chiếm chỗ của Chúa. Con vâng lời nhưng chỉ khi điều được yêu cầu phù hợp với điều con nghĩ. Con phục vụ nhưng xin được nhìn nhận. Con tha thứ nhưng xin giữ lại quyền nhắc người khác rằng họ đã từng làm con đau. Con dâng đời nhưng xin giữ lại cái tôi. Chính vì thế có những đời sống theo Chúa đã nhiều năm mà vẫn nặng. Nặng không hẳn vì thập giá lớn, mà vì ta vừa muốn mang viên ngọc quý vừa muốn ôm cả những món đồ cũ. Hai tay đầy thì làm sao cầm được viên ngọc? Trái tim bị chia năm sẻ bảy thì làm sao yêu một mình Chúa? Chúa không đòi ta buông mọi sự vì Người nghèo nàn đến mức cần chiếm hết của ta. Người đòi ta buông bởi Người biết trái tim con người chỉ thật sự tự do khi nó có một trung tâm. Một trái tim có quá nhiều trung tâm sẽ bị xé nát. Một đời người có quá nhiều ông chủ sẽ kiệt sức. Một người tu sĩ vừa muốn thuộc trọn về Đức Kitô vừa muốn thuộc về danh tiếng, tiện nghi, quyền lực, sự kính nể, ảnh hưởng, tiền bạc hay tình cảm riêng thì sớm muộn cũng đau khổ, bởi không ai có thể phục vụ hai chủ.
Thế nhưng phải hiểu cho đúng: “bán tất cả” của Tin Mừng không phải là một cuộc trao đổi lạnh lùng. Người thương gia không nói: “Tội nghiệp tôi, tôi phải bán hết.” Tin Mừng không diễn tả ông vừa bán vừa khóc. Tại sao? Bởi tâm trí ông đang ở nơi viên ngọc. Đây chính là điều rất đẹp. Người đang yêu thật sự ít khi đếm giá của sự hy sinh. Một người mẹ thức trắng đêm chăm con bệnh không ngồi tính mình đã mất bao nhiêu giờ ngủ. Một người cha vất vả cả đời nuôi con không mỗi tối ghi vào sổ để sau này đòi lại. Khi tình yêu đủ lớn, hy sinh vẫn đau nhưng không còn vô nghĩa. Cũng thế, những vị thánh đã bỏ của cải, quê hương, danh vọng, gia đình, những dự phóng riêng không phải bởi họ coi thường những điều đó. Họ bỏ vì đã gặp một Đấng đáng yêu hơn. Thánh Phaolô đã nói một câu có thể xem như lời bình tuyệt vời nhất cho dụ ngôn hôm nay: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi.” Không phải Phaolô không biết giá trị của những gì ông từng có. Ông biết chứ. Nhưng khi ánh mặt trời lên, ta không còn tiếc ngọn đèn dầu. Khi biển cả mở trước mắt, ta không còn ôm một chén nước. Khi gặp được Đức Kitô, những điều từng làm ta say mê có thể vẫn còn giá trị, nhưng chúng không còn là tuyệt đối. Và tự do bắt đầu từ đó: khi chỉ còn một Đấng là tuyệt đối.
Có lẽ bi kịch lớn của đời sống đức tin hôm nay không phải là người ta không có Chúa, nhưng là Chúa chỉ trở thành một viên ngọc trong số rất nhiều viên ngọc. Chúng ta có Chúa, có tiền, có công việc, có điện thoại, có mạng xã hội, có tiếng tăm, có những mối quan hệ, có những sở thích, có những dự định; và tất cả được đặt gần như ngang hàng trên chiếc kệ của cuộc đời. Chúa có một chỗ, nhưng không phải chỗ duy nhất. Chúa được nhớ đến khi ta cần. Chúa được tìm khi ta khổ. Chúa được gọi khi bệnh tật. Chúa được cảm tạ khi thuận lợi. Nhưng để Chúa trở thành “viên ngọc quý” nghĩa là một chuyện khác: mọi sự khác phải được định giá lại từ Chúa. Tôi nhận công việc này hay không – nhìn từ Chúa. Tôi giữ mối quan hệ này thế nào – nhìn từ Chúa. Tôi sử dụng tiền bạc ra sao – nhìn từ Chúa. Tôi nói câu này hay im lặng – nhìn từ Chúa. Tôi nhận một chức vụ thế nào – nhìn từ Chúa. Tôi chịu một sự thiệt thòi ra sao – nhìn từ Chúa. Tôi già đi thế nào – nhìn từ Chúa. Tôi đối diện bệnh tật thế nào – nhìn từ Chúa. Tôi đối diện cái chết thế nào – cũng nhìn từ Chúa. Khi Đức Kitô thật sự là viên ngọc quý, Người không chỉ được thêm vào cuộc đời; Người sắp xếp lại toàn bộ cuộc đời.
Và có lẽ đối với đời linh mục, đời tận hiến, câu hỏi này càng đau đáu hơn: sau bao nhiêu năm theo Chúa, Đức Kitô còn là viên ngọc quý của tôi không? Ngày đầu có thể đã rất đẹp. Ngày vào nhà dòng, lòng chỉ muốn thuộc về Chúa. Ngày khấn, tiếng “xin vâng” thật trong. Ngày chịu chức, nằm phủ phục trên nền cung thánh, có lẽ đã từng nghĩ: “Lạy Chúa, đời con từ nay là của Chúa.” Nhưng năm tháng đi qua. Sứ vụ nhiều lên. Trách nhiệm nhiều lên. Kinh nghiệm nhiều lên. Mối quan hệ nhiều lên. Và cũng có thể những viên ngọc khác bắt đầu xuất hiện. Viên ngọc của uy tín. Viên ngọc của chức vụ. Viên ngọc của sự thành công mục vụ. Viên ngọc của lời khen. Viên ngọc của ảnh hưởng. Viên ngọc của tiện nghi. Viên ngọc của việc được người khác cần đến. Viên ngọc của cảm giác mình quan trọng. Đáng sợ nhất là ta vẫn làm việc cho Chúa nhưng Đức Kitô không còn là trung tâm nữa. Ta nói về Người nhưng ít nói với Người. Ta cử hành Thánh lễ nhưng lòng không còn rung động trước mầu nhiệm mình cử hành. Ta giảng về thập giá nhưng rất khó chịu khi chính mình bị đóng đinh bởi một lời hiểu lầm, một quyết định trái ý, một thất bại, một lần không được nhìn nhận. Ta rao giảng về khiêm nhường nhưng lại đau lâu vì không được tôn trọng. Ta nói về khó nghèo nhưng lại bất an khi mất tiện nghi. Ta giảng về vâng phục nhưng chỉ bình an khi ý bề trên giống ý mình. Khi ấy, có lẽ viên ngọc quý vẫn nằm trên bàn thờ, nhưng một viên ngọc khác đang nằm sâu trong lòng.
Vì thế, thỉnh thoảng đời tận hiến cần một cuộc trở về rất thật: tôi đã bắt đầu vì ai? Tôi rời gia đình vì ai? Tôi bỏ những con đường khác vì ai? Tôi học hành, chịu đào luyện, vượt qua những khủng hoảng vì ai? Tôi đã từng khóc trước Chúa vì ai? Tôi đã từng sốt sắng những ngày đầu vì ai? Chẳng lẽ cuối cùng tất cả chỉ để có một danh xưng, một vị trí, một công việc, một sự kính trọng? Không. Nếu vậy thì quá rẻ. Cuộc đời này đã được trả bằng một giá quá lớn để đem đổi lấy những điều quá nhỏ. Đời linh mục chỉ có nghĩa khi Đức Kitô là phần thưởng của đời linh mục. Đời tu chỉ có nghĩa khi Đức Kitô là gia nghiệp của người tu sĩ. Nếu một người đã bỏ mọi sự mà cuối cùng không có Chúa, đó mới là nghèo khủng khiếp. Nhưng nếu một người mất nhiều thứ mà còn Chúa, người ấy vẫn giàu. Có những lúc tuổi già đến, công việc bị lấy đi, sức khỏe suy giảm, người trẻ thay thế, tiếng nói không còn được nghe như trước, những vai trò từng làm ta thấy mình hữu ích dần biến mất. Đó có thể là giờ phút rất khó. Nhưng cũng chính lúc ấy câu hỏi căn bản trở lại: nếu không còn những điều này, Chúa có còn đủ cho con không? Nếu câu trả lời là có, thì ta đã tìm đúng viên ngọc. Nếu câu trả lời là không, có lẽ bao năm qua ta đã vô tình yêu chiếc hộp hơn viên ngọc nằm trong hộp.
Đức Kitô chịu đóng đinh là viên ngọc quý bởi Người dạy chúng ta một điều mà thế gian không thể dạy: giá trị của một đời người không nằm ở những gì người ấy sở hữu, nhưng ở khả năng tự hiến vì yêu. Thế gian thường hỏi: Anh có gì? Tin Mừng hỏi: Anh trao được gì? Thế gian hỏi: Anh đứng ở đâu? Tin Mừng hỏi: Anh quỳ trước ai? Thế gian hỏi: Bao nhiêu người biết đến anh? Tin Mừng hỏi: Chúa có biết anh không? Thế gian hỏi: Anh có quyền lực gì? Thập giá hỏi: Anh yêu đến đâu? Cuối đời, những câu hỏi quan trọng nhất có thể không phải là ta đã xây được gì, để lại bao nhiêu, được bao nhiêu người biết tới, có bao nhiêu thành tích. Có thể câu hỏi cuối cùng chỉ giản dị: ta đã yêu chưa? Bởi mọi thứ khác sẽ ở lại. Nhà cửa ở lại. Tiền bạc ở lại. Chức vụ ở lại. Danh xưng ở lại. Ngay cả thân xác này cũng gửi lại trong lòng đất. Chỉ tình yêu đi theo ta. Và trên thập giá, Đức Kitô đã cho thấy một đời người hoàn tất không phải khi giữ được tất cả mà khi trao được tất cả: “Thế là đã hoàn tất.”
“Ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.” Có những lúc trong đời, Chúa cũng cho phép ta bị lấy đi nhiều thứ để xem điều gì thật sự còn lại. Một thất bại có thể lấy đi niềm kiêu hãnh. Một bệnh tật lấy đi sức khỏe. Tuổi già lấy đi vẻ trẻ trung. Một sự hiểu lầm lấy đi tiếng tốt. Một sự chuyển đổi nhiệm sở lấy đi môi trường quen thuộc. Một cái chết lấy đi người ta yêu thương. Một biến cố lấy đi kế hoạch ta từng tin chắc. Và những lúc ấy ta cảm thấy mình nghèo đi. Nhưng đôi khi chính trong sự nghèo đó, ta mới khám phá viên ngọc đã luôn nằm đó mà ta không thấy, bởi trước kia bàn tay ta đầy quá. Có những người chỉ thật sự gặp Chúa sau khi mất nhiều thứ. Không phải vì Thiên Chúa thích lấy đi. Nhưng bởi có những sự bám víu phải vỡ ra thì trái tim mới mở. Thánh giá nhiều khi làm một việc đau đớn nhưng cần thiết: nó tách ta khỏi những điều ta đã lầm tưởng là tuyệt đối. Nó hỏi ta: “Nếu điều này không còn, con còn sống được không?” Và sâu hơn nữa: “Nếu chỉ còn một mình Ta, Ta có đủ cho con không?”
Có lẽ đây là một trong những câu hỏi khó nhất của đời đức tin: Lạy Chúa, nếu cuối cùng chỉ còn Chúa, Chúa có đủ cho con không? Ta dễ trả lời “đủ” khi mọi thứ đang còn nguyên. Nhưng khi sức khỏe mất, người thân mất, tiền bạc thiếu, danh dự tổn thương, tương lai mịt mờ, lời cầu xin dường như không được đáp, lúc ấy câu trả lời mới thật. Thánh Phêrô một ngày nọ đã đứng trước một khoảnh khắc như vậy. Nhiều môn đệ bỏ Chúa vì lời Người quá chói tai. Đức Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Và Phêrô trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Đó chính là tiếng nói của một người đã tìm thấy viên ngọc quý. Phêrô không nói: “Con hiểu hết.” Ông không hiểu hết. Không nói: “Theo Thầy dễ lắm.” Không dễ. Không nói: “Thầy luôn làm điều con muốn.” Không phải. Ông chỉ biết một điều: không còn ai khác. Đây cũng là chỗ sâu nhất của ơn gọi. Không phải vì tôi hiểu mọi chuyện nên tôi ở lại. Không phải vì cộng đoàn luôn dễ thương nên tôi ở lại. Không phải vì sứ vụ luôn thành công nên tôi ở lại. Không phải vì tôi chưa từng thất vọng nên tôi ở lại. Tôi ở lại vì sau tất cả những gì đã thấy, đã đau, đã trải qua, tôi vẫn biết: không có ai đáng để tôi trao đời mình hơn Đức Kitô.
Nhìn lại đời mình, chúng ta cũng nên biết ơn cả những viên ngọc giả đã từng làm ta thất vọng. Bởi đôi khi phải thất vọng về chúng, ta mới thôi thờ lạy chúng. Có những lúc ta từng nghĩ chỉ cần được người khác yêu mến là đủ; rồi một ngày ta bị hiểu lầm. Từng nghĩ chỉ cần thành công là đủ; rồi một ngày thất bại đến. Từng nghĩ chỉ cần sức khỏe là đủ; rồi bệnh tật gõ cửa. Từng nghĩ chỉ cần tiền bạc là đủ; rồi thấy những người có rất nhiều vẫn không mua được bình an. Từng nghĩ chỉ cần một người nào đó là đủ; rồi nhận ra không một con người hữu hạn nào có thể gánh nổi toàn bộ khát vọng vô hạn của trái tim ta. Chúng ta làm khổ nhau nhiều khi bởi đòi một người khác phải trở thành “Thiên Chúa” cho mình. Ta mong họ luôn hiểu, luôn có mặt, luôn đáp ứng, luôn yêu ta đúng cách ta muốn. Nhưng không ai làm được. Chỉ có một tình yêu đủ sâu để bước xuống tận đáy cô đơn của con người mà không bỏ chạy: tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.
Bởi vậy, người đã tìm được Đức Kitô không phải là người từ nay chẳng còn đau. Ngược lại, có thể họ còn phải đi qua nhiều đau khổ hơn. Nhưng họ có một Đấng để đau cùng. Người ấy không còn một mình. Khi bị phản bội, họ nhìn Đấng từng bị Giuđa hôn rồi nộp. Khi bị bỏ rơi, họ nhìn Đấng đã thấy các môn đệ chạy hết. Khi bị hiểu lầm, họ nhìn Đấng im lặng trước những lời vu cáo. Khi bị đau thân xác, họ nhìn những vết thương trên thân thể Chúa. Khi cảm thấy Thiên Chúa im lặng, họ nghe tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Khi đối diện cái chết, họ nghe: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Chúa không luôn cất khỏi ta đau khổ, nhưng Người bước vào đau khổ với ta. Có một khác biệt vô cùng lớn giữa việc mang thập giá một mình và mang thập giá bên cạnh Đấng đã từng mang thập giá. Và đôi khi phép lạ lớn nhất không phải thập giá biến mất, nhưng là giữa thập giá ta vẫn biết mình được yêu.
Viên ngọc quý cũng làm thay đổi cách ta nhìn người khác. Nếu Đức Kitô chịu đóng đinh là kho tàng của ta, ta dần học cách nhìn con người bằng ánh mắt của Đấng chịu đóng đinh. Trên thập giá, Chúa không nhìn kẻ đóng đinh mình như kẻ thù cần tiêu diệt, nhưng như những con người cần được tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đây là một trong những điều khó nhất của Kitô giáo. Yêu Chúa chịu đóng đinh mà vẫn nuôi hận thù là một mâu thuẫn. Quỳ trước Đấng bị thương mà lại thích làm người khác bị thương là một mâu thuẫn. Hôn thánh giá rồi bước ra ngoài dùng lời nói đóng đinh anh em là một mâu thuẫn. Rước lấy Thân Mình bị bẻ ra vì mình rồi lại không chịu “bẻ” chút cái tôi cho người khác là một mâu thuẫn. Nếu viên ngọc quý thực sự đi vào đời ta, nó phải dần làm trái tim ta giống Người. Không thể mang thánh giá trên ngực mà trong lòng lại đầy dao. Không thể kính Chúa chịu đóng đinh mà xem thường người nghèo, người yếu, người lỗi lầm. Bởi trên thập giá, Chúa đã đứng về phía tất cả những ai bị tổn thương.
Đức Kitô là viên ngọc quý còn bởi Người giải thoát ta khỏi nỗi ám ảnh phải chứng minh giá trị của mình. Khi biết mình đã được Con Thiên Chúa chết cho, ta còn phải chạy khắp nơi xin người đời xác nhận mình đáng giá nữa không? Một người biết mình được yêu sâu xa sẽ bớt khát tiếng khen. Một người biết giá trị của mình nằm trong ánh mắt Chúa sẽ bớt đau khi bị đánh giá sai. Một người biết tên mình được khắc trong lòng bàn tay Thiên Chúa sẽ bớt ám ảnh phải khắc tên mình lên mọi công trình. Nhiều đau khổ của chúng ta đến từ việc quá cần người khác công nhận. Ta buồn vì không được cảm ơn. Ta giận vì không được nhắc tên. Ta tổn thương vì người khác không thấy công của mình. Ta so bì khi người khác được yêu mến hơn. Ta mệt mỏi vì phải xây dựng một hình ảnh. Nhưng hãy nhìn Đức Kitô trên thập giá: Người làm công trình lớn nhất lịch sử cứu độ trong hoàn cảnh không ai vỗ tay. Không bảng tên. Không huy chương. Không bài diễn văn tôn vinh. Chỉ có vài người đứng khóc dưới chân thập giá và một đám đông chế nhạo. Tình yêu lớn nhất đã được thực hiện trong âm thầm như thế. Đó là lời chữa lành cho tất cả những ai đang mệt vì phải được nhìn thấy: nếu Cha thấy, thế là đủ.
Người thương gia bán tất cả không phải để trở thành người nghèo nhất, nhưng để trở thành người sở hữu điều quý nhất. Đây là nghịch lý Tin Mừng. Chúng ta thường sợ rằng theo Chúa sẽ mất. Mất tự do. Mất niềm vui. Mất cơ hội. Mất hưởng thụ. Mất chính mình. Nhưng Đức Giêsu nói: “Ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Tin Mừng không mời ta mất để mất. Tin Mừng mời ta bỏ cái nhỏ để nhận cái lớn, bỏ điều tạm để nhận điều vĩnh cửu, bỏ sự sống khép kín để nhận sự sống phong phú, bỏ cái tôi nhỏ bé để tìm lại chính mình trong Thiên Chúa. Chẳng ai nghèo đi vì có Đức Kitô. Có thể họ ít tài sản hơn, ít quyền hơn, ít tự do theo nghĩa thế gian hơn, nhưng lại có thứ mà tiền không mua được: một ý nghĩa để sống, một Đấng để yêu, một hy vọng để chết trong bình an.
Và rồi đến cuối cùng, có lẽ cái chết chính là cuộc “bán tất cả” cuối cùng của đời người. Dù muốn hay không, đến giờ ấy, từng thứ sẽ rời khỏi tay. Không ai mang theo căn nhà. Không ai mang theo tài khoản. Không ai mang chức vụ xuống mồ. Không ai mang bằng cấp, huân chương, số người theo dõi hay lời khen của thiên hạ sang bên kia. Ngay cả những người thân yêu nhất cũng chỉ có thể đi cùng ta đến một đoạn. Họ có thể đứng bên giường bệnh. Có thể nắm tay. Có thể khóc. Có thể cầu nguyện. Nhưng cánh cửa cuối cùng mỗi người phải bước qua một mình. Chỉ có một Đấng có thể đi qua cánh cửa ấy cùng ta, bởi Người đã đi qua trước: Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Chính lúc đó ta mới thấy viên ngọc nào thật sự quý. Những thứ từng khiến ta lo lắng, tranh giành, hơn thua bỗng nhỏ lại. Những câu chuyện từng làm ta mất ngủ bỗng chẳng còn đáng. Điều quan trọng chỉ còn là: tôi có Chúa không? Nếu có Người, cái chết không còn là bàn tay cướp sạch, nhưng là cánh cửa đưa ta vào sở hữu trọn vẹn điều ta đã chọn suốt đời.
Vì thế, thật đẹp nếu một đời người có thể kết thúc bằng cùng một lựa chọn đã khởi đầu đời người ấy: Chúa thôi. Khi trẻ: Chúa thôi. Khi khỏe: Chúa thôi. Khi làm được nhiều việc: Chúa thôi. Khi được người ta cần: Chúa thôi. Khi tuổi già và chẳng còn làm gì: vẫn Chúa thôi. Khi người ta nhớ đến mình: Chúa thôi. Khi người ta quên mình: vẫn Chúa thôi. Khi lời cầu nguyện đầy an ủi: Chúa thôi. Khi cầu nguyện khô khan: vẫn Chúa thôi. Khi thành công: Chúa thôi. Khi thất bại: cũng Chúa thôi. Khi sống: Chúa là viên ngọc. Khi chết: Chúa vẫn là viên ngọc. Đó mới là sự thống nhất đẹp nhất của một cuộc đời.
Thế nhưng chúng ta cũng phải thú nhận rằng trái tim mình rất yếu. Hôm nay thấy Chúa là tất cả, ngày mai một chuyện nhỏ cũng đủ làm ta quay đi. Hôm nay sẵn sàng dâng đời, ngày mai lại tiếc một chút quyền lợi. Vì thế lựa chọn viên ngọc quý không phải chỉ xảy ra một lần. Mỗi ngày phải chọn lại. Mỗi sáng thức dậy, chọn lại Chúa. Mỗi khi phải tha thứ, chọn lại Chúa. Mỗi khi bị tổn thương, chọn lại Chúa thay vì chọn tự ái. Mỗi khi đứng trước tiền bạc, chọn lại Chúa thay vì chọn tham lam. Mỗi khi có cơ hội phô trương, chọn lại Chúa thay vì chọn hư danh. Mỗi khi ý mình va với ý Chúa, chọn lại Chúa. Đời Kitô hữu là một chuỗi dài những lần “bán đi” những viên ngọc nhỏ để giữ viên ngọc duy nhất. Có những ngày phải bán cái tôi. Có ngày bán sự hơn thua. Có ngày bán một lời muốn nói cho hả giận. Có ngày bán một quyền lợi chính đáng vì bác ái. Có ngày bán sự tiện nghi để phục vụ. Có ngày bán kế hoạch riêng để vâng phục. Có ngày bán cả những ước mơ đẹp để nhận một con đường khác Chúa muốn. Mỗi lần như thế đều đau một chút. Nhưng mỗi lần ấy viên ngọc lại sáng hơn trong lòng.
Và có một điều kỳ diệu: càng giữ chặt Đức Kitô, ta càng có khả năng trao chính mình cho người khác. Viên ngọc này không khiến ta ích kỷ. Trái lại, ai thực sự có Chúa sẽ không còn phải dùng người khác để lấp đầy khoảng trống của mình. Họ có thể yêu tự do hơn. Phục vụ mà không cần được trả. Cho mà không cần được nhớ. Đi mà không cần giữ. Ở mà không cần sở hữu. Tha thứ mà không đòi bồi thường. Bởi kho báu của họ không nằm trong tay người khác. Kho báu của họ là Chúa. Người ta có thể lấy khỏi họ nhiều thứ, nhưng không ai lấy được Đức Kitô nếu họ không tự buông Người. Đây là tự do sâu nhất của các thánh. Có thể tước tài sản, nhưng không tước được niềm vui. Có thể nhốt thân xác, nhưng không nhốt được linh hồn. Có thể lấy mạng sống, nhưng không lấy được Đấng họ yêu. Các vị tử đạo là những người đã nói bằng máu rằng: có một Viên Ngọc đáng giá hơn mạng sống.
Có người sẽ hỏi: Làm sao biết mình đã thật sự gặp viên ngọc quý? Có lẽ dấu hiệu không nằm trước hết ở những cảm xúc đạo đức mạnh. Có những lúc cầu nguyện rất sốt sắng nhưng chưa chắc đã sâu. Dấu hiệu rõ hơn là những gì ta sẵn sàng buông vì Chúa. Khi một người dần bớt cố chấp vì Chúa, họ đang gặp Người. Khi có thể tha thứ điều trước kia tưởng không bao giờ tha được, họ đang để viên ngọc thay đổi lòng mình. Khi họ làm việc âm thầm mà vẫn bình an dù chẳng ai biết, viên ngọc đang sáng. Khi một người bị lấy đi chức vụ mà vẫn yêu Chúa, viên ngọc là thật. Khi một người bệnh mà vẫn không trách Chúa, viên ngọc là thật. Khi một linh mục không còn làm nổi những công việc lớn nhưng vẫn vui vì còn được dâng lễ, còn được ngồi trước Nhà Tạm, viên ngọc là thật. Khi một tu sĩ đi qua những khủng hoảng mà cuối cùng vẫn nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn chọn Ngài”, viên ngọc là thật. Tình yêu được chứng minh không phải lúc mọi chuyện thuận lợi, nhưng khi cái giá bắt đầu xuất hiện.
Có lẽ mỗi người chúng ta hôm nay cần một phút đứng thật lâu dưới chân thập giá và hỏi: Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, Ngài có thật là viên ngọc quý nhất của đời con không? Hay con chỉ nói như vậy? Nếu Chúa là quý nhất, tại sao một lời người đời lại có thể làm con mất bình an nhiều hơn lời Chúa? Nếu Chúa là quý nhất, tại sao con có thể dành hàng giờ cho bao chuyện nhưng lại thấy mười lăm phút trước Thánh Thể quá dài? Nếu Chúa là quý nhất, tại sao con dễ bỏ giờ cầu nguyện mà khó bỏ điện thoại? Nếu Chúa là quý nhất, tại sao ý riêng đôi khi còn quý hơn ý Chúa? Nếu Chúa là quý nhất, tại sao con đau khi mất mặt hơn khi phạm tội? Nếu Chúa là quý nhất, tại sao con sợ người đời không thích mình hơn sợ làm Chúa buồn? Những câu hỏi ấy không nhằm kết án chúng ta. Chúng chỉ giúp ta nhìn thật vào lòng mình. Bởi Chúa biết chúng ta yếu. Chúa không đòi một tình yêu hoàn hảo ngay tức khắc. Người chỉ muốn một trái tim thành thật để Người thanh luyện mỗi ngày.
Và thật an ủi khi nhận ra rằng trước khi ta bán mọi sự để “mua” viên ngọc quý là Đức Kitô, thì chính Đức Kitô đã làm điều đó trước cho ta. Thật ra, trong mắt Chúa, chính chúng ta cũng là viên ngọc Người đã trả tất cả để có được. Người đã bỏ vinh quang trời cao, mang thân phận tôi đòi, sinh trong máng cỏ, sống nghèo, đi qua những con đường bụi bặm, bị chống đối, bị nhục mạ, và cuối cùng trao cả mạng sống. Thập giá là cái giá Người trả để chuộc ta. Điều này làm ta nghẹn ngào: ta cứ tưởng mình là người đi tìm Chúa, nhưng trước đó Chúa đã đi tìm mình. Ta tưởng mình bỏ nhiều vì Chúa, nhưng Người đã bỏ tất cả vì ta. Ta tưởng ta yêu Người trước, nhưng “chính Người đã yêu chúng ta trước”. Ta nhìn thập giá và nói: “Lạy Chúa, Ngài là viên ngọc quý của đời con.” Nhưng từ trên thập giá, dường như Chúa cũng nói: “Con đã quý đối với Ta đến mức Ta không tiếc mạng sống.”
Chính điều đó chữa lành nỗi tự ti sâu nhất của con người. Có những người cả đời nghĩ mình chẳng đáng giá. Có người mang vết thương vì bị bỏ rơi. Có người sống dưới bóng của những sai lầm cũ. Có người không thể tha thứ cho chính mình. Có người luôn nghĩ mình kém hơn người khác. Hãy nhìn thập giá. Giá của một món đồ được cho thấy phần nào bởi điều người ta sẵn sàng trả để có nó. Nếu Con Thiên Chúa đã trả bằng chính máu mình để cứu bạn, xin đừng nói đời bạn vô giá trị. Nếu Chúa đã coi bạn đáng để Người chết, xin đừng coi thường chính mình. Nhưng cũng đừng kiêu ngạo, bởi giá trị đó không do ta tự tạo. Nó đến từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Ta quý không phải vì ta hoàn hảo, nhưng bởi ta được yêu.
Và có lẽ từ đây, ta hiểu tại sao Đức Kitô chịu đóng đinh phải là “đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta”. Không phải vì thế giới không đẹp. Không phải vì con người không đáng yêu. Không phải vì đời này chỉ toàn nước mắt. Nhưng bởi chỉ khi Đức Kitô ở trung tâm, ta mới yêu mọi thứ khác đúng cách. Khi Chúa đứng thứ nhất, mọi sự còn lại tìm được đúng vị trí. Ta yêu gia đình mà không sở hữu. Yêu bạn bè mà không lệ thuộc. Làm việc mà không thờ công việc. Có tiền mà không làm nô lệ tiền. Có quyền mà không để quyền nuốt mình. Thành công mà không kiêu. Thất bại mà không tuyệt vọng. Được yêu mà biết ơn. Bị bỏ mà không sụp đổ. Bởi căn nhà đời ta đã có nền móng sâu hơn mọi biến động.
Có một ngày, tất cả những viên ngọc nhỏ sẽ rơi khỏi tay. Chỉ còn viên ngọc duy nhất. Ước gì khi ấy ta không hoảng sợ, bởi đã tập chọn Người cả đời. Ước gì giờ chết không phải là lần đầu tiên ta buông, nhưng chỉ là lần buông cuối của một đời đã quen buông để có Chúa. Và khi đôi mắt trần gian khép lại, đôi mắt linh hồn mở ra, ta sẽ nhận ra Đấng ta đã tìm kiếm trong cầu nguyện, đã đón nhận trong Thánh Thể, đã yêu qua người nghèo, đã ôm trong những thập giá, đã nhiều lần tưởng như mất Người giữa đêm tối, nay đang đứng trước mặt ta. Khi ấy ta mới hiểu viên ngọc này quý đến mức nào. Mọi hy sinh sẽ trở nên nhỏ. Mọi nước mắt sẽ được lau. Mọi lần trung thành âm thầm sẽ có ý nghĩa. Và có thể lúc đó ta chỉ thốt lên được một câu rất đơn sơ: “Lạy Chúa, hóa ra có Chúa thật sự là đủ.”
Cho nên hôm nay, trước Đức Kitô chịu đóng đinh, ta xin một ơn không phải là ơn được có thêm nhiều thứ, nhưng là ơn thấy Người quý hơn mọi thứ. Xin cho ta đừng chỉ biết Chúa bằng trí nhưng nếm được Chúa bằng lòng. Đừng chỉ nói về Chúa nhưng thật sự gặp Chúa. Đừng chỉ làm việc cho Chúa nhưng biết ở với Chúa. Đừng chỉ mang thánh giá bằng dây chuyền trên cổ nhưng để thánh giá in vào cách sống. Xin cho ta dám để Người lấy khỏi lòng những viên ngọc giả mà lâu nay ta ôm chặt. Những điều ấy có thể đẹp, có thể tốt, thậm chí có thể cần, nhưng không được phép trở thành Chúa của ta. Xin cho tiền chỉ là tiền. Chức vụ chỉ là chức vụ. Thành công chỉ là thành công. Danh tiếng chỉ là danh tiếng. Con người chỉ là con người. Và Chúa mới là Chúa.
Lạy Đức Kitô chịu đóng đinh, viên ngọc quý của đời con, có thể con đã tìm rất xa điều vẫn ở rất gần. Có thể con đã chạy sau những ánh sáng lấp lánh rồi nhiều lần trở về với đôi tay trống. Có thể con đã cho những điều nhỏ bé một chỗ quá lớn trong lòng, và dành cho Chúa một chỗ quá nhỏ. Có thể môi con nói Chúa là tất cả nhưng những lựa chọn của con lại cho thấy nhiều điều khác quan trọng hơn Chúa. Xin thương con. Xin kéo trái tim con trở lại. Xin cho con một lần nữa nhìn thật lâu lên thập giá và nhớ rằng đã có một Đấng yêu con đến chết. Xin cho tình yêu ấy đủ lớn để con không còn tiếc những gì phải bỏ. Xin cho con hiểu rằng đời người không nghèo khi mất mọi sự, chỉ nghèo khi mất Chúa. Không thất bại khi bị người đời quên, chỉ thất bại khi quên Chúa. Không vô nghĩa khi chẳng làm được điều lớn, chỉ vô nghĩa khi sống mà không yêu.
Lạy Chúa, ngày nào con còn xem thập giá là gánh nặng, có lẽ ngày ấy con chưa nhìn đủ lâu vào Đấng đang ở trên thập giá. Ngày nào con còn tiếc quá nhiều những gì đã bỏ vì Chúa, có lẽ ngày ấy con chưa thấy Chúa quý đến mức nào. Ngày nào con còn phải tìm khắp nơi một sự bù đắp cho ơn gọi, có lẽ ngày ấy con chưa để Chúa lấp đầy lòng mình. Xin đưa con trở về với mối tình đầu. Trở về với ngày con đã từng chỉ muốn một mình Chúa. Trở về với sự đơn sơ của tiếng xin vâng. Trở về với một trái tim có thể nói không phải bằng môi nhưng bằng cả đời: “Chúa là phần gia nghiệp đời con.”
Và xin cho đến ngày cuối cùng, giữa tất cả những gì mất đi, con vẫn giữ được một điều: Đức Kitô. Khi sức khỏe không còn, còn Chúa. Khi công việc không còn, còn Chúa. Khi người thân lần lượt ra đi, còn Chúa. Khi những người từng biết con không còn nhớ, còn Chúa. Khi thân xác này yếu dần, còn Chúa. Khi đôi mắt mờ, còn Chúa. Khi lời nói trở nên khó khăn, còn Chúa. Khi mọi cánh cửa của đời này khép lại, cánh cửa nơi Chúa vẫn mở. Và lúc ấy, con sẽ không còn phải “bán tất cả” nữa, bởi con chẳng còn gì để bán. Con chỉ còn chính mình. Xin cho con có thể trao nốt điều cuối cùng ấy vào tay Chúa như Chúa đã trao mình vào tay Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Đời người thật ngắn. Những gì hôm nay làm ta hơn thua rồi cũng qua. Những lời khen rồi cũng tắt. Những chức vụ rồi cũng có người khác thay. Những căn nhà rồi sẽ đổi chủ. Những đồ vật ta nâng niu rồi có ngày thành đồ cũ. Những tấm ảnh rồi cũng phai màu. Những tiếng vỗ tay rồi cũng im. Nhưng tình yêu không qua. Đức Kitô không qua. Và người đã chọn Người sẽ không bao giờ phải hối tiếc vì đã chọn quá nhiều. Chỉ có thể hối tiếc vì đã yêu Người quá ít, đã trao Người quá muộn, đã giữ lại cho mình quá lâu.
Vậy thì xin một lần nữa nghe lời Tin Mừng rất ngắn mà sâu như vực thẳm: “Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.” Xin cho chúng ta tìm thấy Đức Kitô. Không phải chỉ tìm thấy tên Người trong sách. Không phải chỉ gặp Người trong kiến thức thần học. Không phải chỉ gặp Người như một bổn phận tôn giáo. Nhưng gặp Người như một Kho Báu, như một Viên Ngọc, như một Tình Yêu, như Đấng duy nhất không thể thay thế. Và một khi đã gặp, xin cho ta đủ can đảm để bán. Bán cái tôi. Bán tự ái. Bán sự hơn thua. Bán những bám víu. Bán những ảo tưởng. Bán những thứ đang chiếm chỗ của Chúa. Bán tất cả những gì cần bán, không phải để trở thành kẻ trắng tay, nhưng để đôi tay cuối cùng có thể ôm lấy Đấng đáng ôm nhất.
Đến cuối đời, điều đẹp nhất có lẽ không phải là người ta nói chúng ta đã làm được bao nhiêu, nhưng là Chúa có thể nói: “Con đã chọn Ta.” Và ta có thể nhìn Người mà thưa: “Vâng, lạy Chúa. Có lúc con đã chọn sai. Có lúc con chạy theo những viên ngọc khác. Có lúc con đã làm Chúa buồn. Có lúc con tưởng những điều chóng qua quý hơn Chúa. Nhưng sau tất cả, con vẫn trở về. Sau tất cả, con vẫn biết không có ai khác. Sau tất cả, con vẫn muốn Chúa. Và giờ đây, khi không còn gì nữa, con mới hiểu: điều duy nhất con cần từ đầu đến cuối vẫn chỉ là Chúa.”
Đức Kitô chịu đóng đinh – Viên Ngọc Quý của đời người. Có Người, mất tất cả vẫn còn tất cả. Không có Người, có tất cả vẫn là trắng tay.
Lm. Anmai, CSsR

BÁN TẤT CẢ KHÔNG PHẢI VÌ GHÉT TẤT CẢ – NHƯNG VÌ ĐÃ TÌM THẤY ĐIỀU QUÝ HƠN TẤT CẢ
Tin Mừng: Mt 13,45-46
Có những câu Tin Mừng rất ngắn, đọc qua tưởng như chẳng có gì để nói nhiều, vậy mà càng ở lại lâu với câu chữ ấy, càng thấy như trước mặt mình mở ra cả một vực sâu của mầu nhiệm. “Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.” Chỉ có vậy. Không một bài diễn văn dài. Không một cuộc tranh luận thần học. Không một phép lạ ngoạn mục. Chỉ một người đi tìm, một viên ngọc được gặp, một quyết định được thực hiện và một cuộc bán sạch những gì trước đó người ấy đã xem là của cải đời mình. Nhưng có lẽ chính nơi câu chuyện đơn sơ ấy, Đức Giêsu đã chạm đến một trong những câu hỏi căn bản nhất của đời người: điều gì là quý nhất đối với tôi? Tôi đang sống cho điều gì? Tôi có thể mất điều gì mà vẫn còn sống được, và đâu là điều nếu đánh mất thì dù còn mọi sự, đời tôi cũng trở thành nghèo nàn? Người thương gia trong dụ ngôn không phải là một người chán đời. Ông không bán tất cả vì giận dữ với tài sản của mình. Ông không vứt bỏ những gì đang có vì cho rằng chúng xấu xa. Ông cũng không phải người thất bại, phá sản, không còn gì để lựa chọn. Trái lại, ông là người biết giá trị. Ông hiểu ngọc. Ông biết phân biệt viên ngọc bình thường với viên ngọc thực sự quý giá. Và chính vì biết giá trị nên khi gặp được viên ngọc vượt xa mọi thứ mình đang sở hữu, ông có đủ tự do để buông những cái nhỏ hơn. Đây chính là điểm quan trọng của Tin Mừng hôm nay: ông bán tất cả không phải vì ghét tất cả, nhưng vì đã tìm thấy một điều quý hơn tất cả.
Chúng ta thường hiểu đời sống Kitô hữu, nhất là đời sống tận hiến, từ phía của những gì phải bỏ. Đi tu phải bỏ gia đình. Khấn khó nghèo phải bỏ quyền sở hữu. Khấn khiết tịnh phải bỏ đời sống hôn nhân. Khấn vâng phục phải bỏ ý riêng. Đi theo Chúa phải bỏ mình, vác thập giá, từ bỏ những đam mê, những lựa chọn, những con đường mà người khác có quyền đi. Nếu chỉ nhìn như thế, đời tu dễ biến thành một bản danh sách dài những mất mát. Và nếu một người sống ơn gọi của mình suốt đời với tâm thức rằng “tôi đã bỏ cái này, tôi đã hy sinh cái kia, tôi đã mất điều nọ”, thì rồi một ngày người ấy có thể trở nên cay đắng. Bởi con người không thể sống lâu bằng cảm giác mình luôn luôn bị lấy mất. Người ta có thể cố gắng một thời gian vì kỷ luật, vì trách nhiệm, vì danh dự, vì sợ dư luận, thậm chí vì sợ Thiên Chúa, nhưng người ta không thể sống vui suốt đời chỉ bằng những chữ “không được”, “không có”, “không được phép”, “phải từ bỏ”. Đời tận hiến không thể được xây dựng trên nỗi tiếc nuối. Ơn gọi không thể sống bằng một trái tim ngày ngày quay đầu nhìn lại những gì mình đã bỏ ở phía sau. Người môn đệ của Đức Kitô không được gọi để trở thành một người nghèo vì đã mất hết, nhưng là người giàu vì đã gặp được Đấng đáng giá hơn mọi sự. Nếu Đức Kitô không trở thành viên ngọc quý ấy, mọi hy sinh sớm muộn cũng trở thành gánh nặng. Nếu Đức Kitô không đủ lớn trong lòng mình, cái giá của việc theo Người sẽ luôn luôn có vẻ quá đắt. Nhưng khi Đức Kitô thật sự là kho báu, là viên ngọc, là đối tượng duy nhất của lòng trí, thì điều lạ lùng xảy ra: những gì từng tưởng không thể bỏ bỗng trở nên có thể bỏ; những gì từng tưởng không thể sống thiếu bỗng trở thành thứ yếu; những gì từng khiến mình sợ mất bỗng không còn đủ sức trói buộc trái tim mình nữa.
Người thương gia “bán tất cả”. Ba chữ ấy làm ta giật mình. Không phải bán một phần. Không phải bán những thứ dư thừa. Không phải bán những gì không thích. Không phải bán những món đã cũ. Nhưng là tất cả. Tại sao một con người có thể đi đến một quyết định triệt để như thế? Chỉ có một câu trả lời: vì ông đã nhìn thấy viên ngọc. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được sự từ bỏ của các thánh nếu chỉ nhìn vào những gì các ngài đã bỏ. Nếu chỉ nhìn Phanxicô Assisi cởi bỏ áo quần trước mặt cha mình, chúng ta có thể cho ông là điên. Nếu chỉ nhìn các vị tử đạo bước ra pháp trường, chúng ta có thể nghĩ họ coi thường mạng sống. Nếu chỉ nhìn những nhà truyền giáo rời quê hương, đi đến những miền đất xa lạ, sống giữa bệnh tật, nghèo đói và nguy hiểm, chúng ta có thể tưởng đó là một sự liều lĩnh khó hiểu. Nếu chỉ nhìn một người nam hay một người nữ từ bỏ khả năng lập gia đình để sống đời khiết tịnh, ta có thể thấy đó là một mất mát rất lớn. Nhưng nếu nhìn vào viên ngọc mà họ đã gặp, mọi sự bỗng có nghĩa. Họ không bỏ thế gian vì ghét thế gian. Họ không từ bỏ tình yêu vì khinh thường tình yêu. Họ không từ bỏ gia đình vì gia đình không quý. Họ không từ bỏ tự do vì tự do không đẹp. Chính vì những điều ấy đẹp và quý nên hy lễ mới có giá trị. Chẳng ai gọi là hy sinh khi bỏ một thứ mình vốn chẳng cần. Chỉ khi buông một điều quý để ôm lấy một điều quý hơn, việc từ bỏ mới trở thành lễ dâng.
Điều này cần được nhắc thật mạnh trong đời sống đức tin. Kitô giáo không phải đạo của sự phủ nhận cuộc đời. Đức Giêsu không đến để làm cho con người ghét trần gian, ghét thân xác, ghét tình yêu, ghét gia đình, ghét niềm vui, ghét cái đẹp. Người đến để đặt mọi giá trị về đúng chỗ. Chúa không bảo ta rằng tiền bạc hoàn toàn vô nghĩa, nhưng Người cảnh báo đừng biến tiền bạc thành chúa. Chúa không bảo danh dự không đáng quý, nhưng Người dạy đừng bán linh hồn để mua lời khen. Chúa không bảo tình cảm con người là xấu, nhưng Người không muốn bất kỳ tình cảm nào chiếm chỗ chỉ dành cho Thiên Chúa. Chúa không bảo công việc là vô ích, nhưng Người không muốn công việc cho Chúa lại lấy mất chính Chúa. Chúa không bảo sứ vụ không quan trọng, nhưng Người không muốn người tông đồ say mê sứ vụ đến nỗi quên Đấng đã sai mình. Chúa không đến để lấy khỏi chúng ta những điều đẹp; Người đến để cho ta biết đâu là điều đẹp nhất. Và một khi cái đẹp nhất xuất hiện, những cái đẹp khác được đặt vào đúng thứ tự của chúng.
Vấn đề của chúng ta nhiều khi không phải là đang giữ quá nhiều thứ xấu, mà là đang để những điều tương đối chiếm vị trí tuyệt đối. Có những thứ hoàn toàn tốt nhưng vẫn có thể trở thành thần tượng. Một công việc mục vụ rất tốt có thể trở thành thần tượng khi tôi cần thành công của nó để biết mình có giá trị. Một cộng đoàn rất tốt có thể trở thành thần tượng khi tôi chỉ bình an nếu mọi người đối xử với tôi đúng như tôi muốn. Danh tiếng trong Giáo Hội có thể trở thành thần tượng. Uy tín của một linh mục có thể trở thành thần tượng. Số người nghe mình giảng có thể trở thành thần tượng. Một chức vụ có thể trở thành thần tượng. Một chiếc ghế trong cộng đoàn có thể trở thành thần tượng. Một ý kiến riêng có thể trở thành thần tượng. Thậm chí một kinh nghiệm thiêng liêng đẹp cũng có thể trở thành thần tượng nếu tôi yêu cảm giác đạo đức hơn yêu chính Thiên Chúa. Dụ ngôn viên ngọc đặt chúng ta trước một cuộc xét mình không dễ chịu: giả như hôm nay Chúa chạm vào điều tôi quý nhất và hỏi: “Con có yêu Thầy hơn điều này không?”, tôi sẽ trả lời thế nào?
Có lẽ chúng ta đã nói quá quen câu “Chúa là trên hết” đến mức đôi khi không còn giật mình trước sức nặng của nó. Chúa trên hết không có nghĩa là Chúa đứng đầu một danh sách rồi sau đó là hàng trăm thứ khác. Chúa trên hết nghĩa là tất cả những thứ khác phải được yêu trong Chúa, nhận từ Chúa và sẵn sàng trả lại cho Chúa. Chúa trên hết nghĩa là không có điều gì được phép trở thành điều kiện để tôi tiếp tục yêu Chúa. Không phải: con sẽ trung thành nếu con khỏe. Không phải: con sẽ vui nếu bề trên hiểu con. Không phải: con sẽ bình an nếu cộng đoàn quý con. Không phải: con sẽ phục vụ nếu người khác nhìn nhận. Không phải: con sẽ tiếp tục nếu sứ vụ thành công. Không phải: con sẽ tin nếu lời cầu nguyện được đáp lại theo cách con muốn. Nếu lòng trung thành của tôi luôn kèm theo những chữ “nếu”, rất có thể viên ngọc chưa thực sự là viên ngọc. Bởi người thương gia khi nhận ra viên ngọc không mặc cả. Ông không nói: “Tôi sẽ mua nếu không phải bán căn nhà kia. Tôi sẽ mua nếu vẫn được giữ mảnh đất nọ. Tôi sẽ mua nếu không động tới số vàng này.” Ông bán tất cả. Không phải vì những thứ ấy bỗng hóa thành rác, nhưng vì trước viên ngọc, chúng không còn là điều tối hậu.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa người “bị lấy mất” và người “tự do trao đi”. Nhìn bên ngoài có thể giống nhau. Cả hai đều không còn giữ một món đồ. Nhưng bên trong là hai thế giới hoàn toàn khác. Người bị lấy mất thường buồn, cay đắng và nhớ mãi. Người tự do trao đi có thể đau nhưng có bình an. Đức Kitô trên thập giá không phải một người bị tước đoạt đến trắng tay theo nghĩa cuối cùng. Người nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Đó là sự tự do của tình yêu. Người có thể cho đi bởi Người biết mình thuộc về Cha. Người có thể mất mọi sự vì Người không mất Cha. Và đây chính là nơi Đức Kitô chịu đóng đinh trở thành lời giải sâu nhất cho dụ ngôn viên ngọc. Người thương gia bán tất cả để có viên ngọc; còn Đức Kitô trên Canvê lại chính là Đấng bán tất cả, trao tất cả, trút bỏ tất cả vì Người coi chúng ta như viên ngọc đáng để Người trả giá bằng chính máu mình. Trước khi ta nói rằng mình đã bỏ tất cả vì Chúa, hãy đứng dưới chân thập giá và nhớ rằng Chúa đã trao tất cả vì ta. Ta không phải người đầu tiên yêu. Ta không phải người đầu tiên hy sinh. Ta không phải người đầu tiên từ bỏ. Mọi hy lễ nhỏ bé của ta chỉ là câu trả lời rất muộn với một Tình Yêu đã đi trước.
Có một điều rất cảm động: Thiên Chúa không đòi chúng ta buông bỏ trước rồi mới cho chúng ta viên ngọc. Trong đời sống thiêng liêng, thường chính kinh nghiệm gặp Chúa đi trước sự từ bỏ thật sự. Người môn đệ bỏ lưới vì đã nghe tiếng gọi. Phêrô bỏ thuyền vì đã gặp một Đấng khiến biển hồ không còn là chân trời cuối cùng. Matthêu đứng dậy khỏi bàn thu thuế vì có một ánh mắt gọi ông đến một cuộc đời khác. Phaolô xem mọi sự là thiệt thòi không phải vì đời ông vốn thất bại, nhưng “vì mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu”. Một người chỉ có thể thực sự buông khi đã có cái gì đó để ôm. Một trái tim không thể sống trong khoảng trống. Nếu ta chỉ dạy người trẻ phải từ bỏ mà không giúp họ gặp Đức Kitô, ta sẽ biến Tin Mừng thành luân lý khô cứng. Nếu chỉ nói với người tu phải hy sinh, phải chịu đựng, phải vâng lời, phải khiết tịnh, phải nghèo khó, mà không đưa họ vào kinh nghiệm yêu mến Đức Kitô, ta đang đặt lên vai họ một gánh nặng không ai có sức mang lâu dài. Luật lệ có thể giữ một người ở lại một thời gian; chỉ tình yêu mới giữ họ ở lại đến cuối cùng.
Đời tu vì thế không khởi đi từ chữ “bỏ”, nhưng từ chữ “gặp”. Trước khi hỏi “anh đã bỏ được gì?”, hãy hỏi “anh đã gặp Ai?” Trước khi xét mình “tôi hy sinh đủ chưa?”, hãy xét sâu hơn: “Đức Kitô còn làm lòng tôi rung động không?” Một đời tu có thể rất đúng giờ, rất kỷ luật, rất bận rộn, rất hoạt động, rất nhiều thành quả, nhưng vẫn âm thầm khô cạn nếu viên ngọc đã bị phủ bụi. Có thể ta vẫn giữ lời khấn nhưng lòng lại bắt đầu đi tìm những viên ngọc khác: sự công nhận, sự nổi tiếng, tiền bạc, tiện nghi, ảnh hưởng, quyền quyết định, sự dễ chịu, một nhóm người luôn ủng hộ mình, một thế giới riêng nơi mình được chiều theo ý muốn. Khi Đức Kitô không còn đủ quý, trái tim tự nhiên sẽ đi tìm vật thay thế. Không trái tim nào chịu được khoảng trống lâu. Vì thế câu hỏi quan trọng của đời tận hiến không chỉ là “tôi có phạm lời khấn không?”, nhưng còn là “lòng tôi đang thuộc về ai?” Có khi bên ngoài không vi phạm điều gì rõ ràng, nhưng bên trong viên ngọc thật đã bị đổi lấy hàng trăm viên đá lấp lánh.
Cái nguy hiểm của những viên đá giả là chúng lấp lánh. Nếu xấu hoàn toàn, ta dễ tránh. Nhưng chúng thường mang vẻ rất hợp lý. “Tôi cần người ta tôn trọng tôi.” “Tôi chỉ muốn công bằng.” “Tôi chỉ muốn có chút tiện nghi.” “Tôi chỉ muốn được làm điều phù hợp với khả năng.” “Tôi chỉ muốn người khác hiểu mình.” Tất cả đều có phần chính đáng. Nhưng có lúc chính những điều hợp lý trở thành nơi cái tôi ẩn náu. Và Chúa nhẹ nhàng hỏi: “Nếu không có điều đó, con vẫn còn Thầy, Thầy có đủ cho con không?” Đây là câu hỏi rất khó. Không ai nên trả lời quá nhanh. Có lẽ chúng ta đã nhiều lần nói trong bài giảng rằng Chúa đủ, nhưng khi một điều mình quý bị lấy đi, ta mới biết Chúa thực sự đủ đến đâu. Khi mất sức khỏe. Khi mất chức vụ. Khi bị đổi khỏi nơi mình thích. Khi một người thân rời đi. Khi người từng hiểu mình lại hiểu lầm. Khi công việc mình dốc lòng xây dựng được trao cho người khác. Khi những năm tháng phục vụ không còn ai nhắc tới. Khi tuổi già đến và mình không còn hữu dụng như trước. Chính những lúc ấy, viên ngọc thật mới hiện ra. Nếu mọi thứ lần lượt rời khỏi tay mà tôi vẫn có thể thưa: “Lạy Chúa, còn Chúa là đủ”, khi ấy Tin Mừng không còn là câu chữ.
Thật ra đời người rồi cũng sẽ đi đến chỗ “bán tất cả”, dù muốn hay không. Khi còn trẻ, ta tưởng mình sở hữu nhiều thứ. Ta có sức khỏe, thời gian, dự định, các mối quan hệ, khả năng, tiếng nói, vị trí. Nhưng tuổi đời sẽ từ từ lấy đi từng món. Mắt yếu hơn. Chân chậm hơn. Trí nhớ kém hơn. Công việc được giao cho người khác. Những người cùng thế hệ lần lượt ra đi. Một ngày nào đó ngay cả căn phòng quen thuộc cũng phải để lại. Chiếc áo, cuốn sách, điện thoại, bằng cấp, chức danh, tài khoản, những lời khen, những tranh cãi mình từng nhất định phải thắng, tất cả đều ở lại. Cuộc đời bắt buộc mỗi người đi vào sự trần trụi cuối cùng. Vì thế, khôn ngoan không phải là cố giữ tất cả cho đến lúc chúng bị giật khỏi tay, nhưng là tập buông trong tình yêu từ hôm nay. Người đã tập đặt mọi sự dưới viên ngọc Đức Kitô sẽ bước vào tuổi già nhẹ hơn. Người đã biết mọi thứ chỉ là phương tiện sẽ ít hoảng hốt khi phương tiện bị lấy đi. Người đã lấy Chúa làm gia nghiệp thì lúc chết không phải đi vào sự mất trắng; họ chỉ đi đến chỗ nhận trọn vẹn điều mình đã chọn suốt đời.
Có lẽ vì thế các thánh có một thứ tự do khiến chúng ta kinh ngạc. Không phải vì họ không có tình cảm. Không phải vì họ vô cảm trước mất mát. Họ khóc, họ đau, họ nhớ, họ bị tổn thương như chúng ta. Nhưng trong tận đáy lòng họ có một nơi không ai lấy được, vì nơi ấy thuộc về Đức Kitô. Thánh Phaolô có thể bị tù nhưng không ai giam được Tin Mừng trong ông. Các vị tử đạo có thể bị tước mạng sống nhưng không ai tước được Đấng họ yêu. Thánh Phanxicô có thể không sở hữu gì mà vẫn hát với mặt trời, mặt trăng và chim trời vì người nghèo nhất Assisi lại là người sở hữu cả thế giới trong Thiên Chúa. Những con người ấy cho thấy nghèo không đồng nghĩa với thiếu; nhiều khi chính người sở hữu ít nhất lại là người giàu nhất bởi họ không cần thế giới phải cho mình điều mà chỉ Thiên Chúa có thể cho.
Người thương gia bán tất cả nhưng dụ ngôn không hề mô tả ông buồn. Trong dụ ngôn kho báu ngay trước đó, Đức Giêsu còn nói người kia “vui mừng đi bán tất cả”. Đó là nét rất đáng suy nghĩ. Từ bỏ Kitô giáo nếu đúng nghĩa luôn có một niềm vui ẩn phía sau. Nếu một người từ bỏ mà chỉ trở nên khó chịu hơn, cay nghiệt hơn, xét đoán người khác hơn, có thể họ đã bỏ nhiều nhưng chưa gặp kho báu. Có những người hy sinh rất nhiều rồi vì thế cảm thấy mình có quyền đòi cả thế giới biết ơn. Họ thường nhắc công trạng. “Tôi đã làm bao nhiêu năm.” “Tôi đã hy sinh quá nhiều.” “Nếu không có tôi…” Những câu ấy không nhất thiết sai, nhưng khi được lặp đi lặp lại, chúng có thể cho thấy trong lòng đang có một món nợ chưa được giải quyết. Người đã thực sự gặp viên ngọc không sống bằng cuốn sổ tính toán những gì mình đã mất. Tình yêu thật không giữ biên lai.
Đây là điều đặc biệt cần suy nghĩ đối với đời linh mục và đời tu. Chúng ta có thể bắt đầu ơn gọi với nhiều nhiệt thành. Ngày khấn, ngày chịu chức, tưởng như có thể cho Chúa tất cả. Nhưng thời gian rất lạ. Nó không chỉ làm tóc bạc; nó còn thử xem lời mình nói ngày xưa thật đến đâu. Ban đầu bỏ những điều lớn có khi lại dễ, nhưng về sau buông những điều nhỏ lại khó. Một linh mục đã bỏ gia đình để đi tu nhưng có thể không bỏ nổi một ý kiến trong cuộc họp. Đã hứa vâng phục cả đời nhưng có thể buồn hàng tháng vì một quyết định không theo ý mình. Đã khấn nghèo khó nhưng có thể quá gắn bó với một vài tiện nghi. Đã khấn khiết tịnh nhưng lại âm thầm cần quá nhiều sự chú ý tình cảm. Đã rao giảng về khiêm nhường nhưng khó chịu khi tên mình không được nhắc. Những điều ấy không phải để kết án ai. Đó là lời nhắc rằng “bán tất cả” không phải biến cố một lần, mà là công việc cả đời. Có những thứ ta đã bán hôm qua nhưng hôm nay lại âm thầm mua lại. Có những thứ ta đặt xuống bàn thờ ngày khấn, rồi nhiều năm sau lặng lẽ lấy về.
Bởi vậy mỗi ngày đều phải trở lại với viên ngọc. Không phải chỉ nhìn vào những gì cần bỏ, nhưng nhìn thật lâu vào Đức Kitô. Càng nhìn Người, ta càng biết cái gì đáng giữ và cái gì có thể buông. Hãy nhìn Đức Kitô chịu đóng đinh. Trên thập giá, Người không còn gì theo tiêu chuẩn trần gian. Áo bị chia. Danh dự bị chà đạp. Bạn hữu chạy trốn. Dân chúng chế nhạo. Thân xác bị thương tích. Ngay cả cảm giác được Cha gần gũi cũng chìm trong bóng tối của tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Một con người không còn gì. Nhưng chính nơi ấy, Người là người giàu nhất bởi Người còn tình yêu. Người không có gì để nắm nhưng có tất cả để trao. Hai tay bị đóng đinh không thể giữ lại gì nữa; và có lẽ chính vì không giữ gì, đôi tay ấy ôm được cả nhân loại.
Thập giá dạy chúng ta rằng sự nghèo khó sâu nhất không phải là không có, nhưng là không cần nắm giữ. Chúa Giêsu không nắm giữ thiên tính như đặc quyền. Người tự hủy. Người không nắm giữ danh dự. Người không nắm giữ sự an toàn. Người không nắm giữ mạng sống. Tất cả được trao. Và vì thế Người trở thành quà tặng. Một đời người chỉ thật sự sinh hoa trái khi chuyển từ sở hữu sang trao ban. Có những người có rất nhiều nhưng chẳng ai nhận được gì từ họ. Có những người gần như không có gì nhưng gặp họ ai cũng được giàu hơn. Tại sao? Vì điều làm một con người phong phú không phải là những gì họ giữ trong tay, mà là những gì có thể chảy qua trái tim họ đến với người khác.
“Bán tất cả” vì thế không chỉ là chuyện vật chất. Có những thứ khó bán hơn tiền. Bán cái tôi khó hơn bán căn nhà. Bán tự ái khó hơn bán chiếc xe. Bán nhu cầu được công nhận khó hơn bỏ một bữa ăn ngon. Bán ý riêng khó hơn cho đi một số tiền lớn. Bán quyền được thắng trong một cuộc tranh luận đôi khi còn khó hơn chịu một việc hãm mình. Bán ký ức về một vết thương cũ để thực sự tha thứ có khi phải mất nhiều năm. Bán hình ảnh đẹp mà ta muốn người khác nghĩ về mình có thể là cuộc thanh luyện đau đớn. Chính ở những chỗ ấy, câu Tin Mừng “bán tất cả” trở nên rất thật.
Có người hỏi: phải chăng Thiên Chúa quá đòi hỏi? Tại sao Chúa cứ muốn tất cả? Vì sao Người không bằng lòng với một phần? Có lẽ vì tình yêu vốn như thế. Không ai muốn người mình yêu nói: “Anh cho em bảy mươi phần trăm trái tim, ba mươi phần trăm còn lại dành cho người khác.” Thiên Chúa muốn toàn bộ trái tim không phải vì Người ích kỷ, nhưng vì chỉ khi trái tim thống nhất quanh một tình yêu lớn nhất, con người mới được tự do. Một trái tim có quá nhiều ông chủ sẽ bị xé nát. Một phần chạy theo Chúa, một phần chạy theo tiền. Một phần muốn phục vụ, một phần muốn được phục vụ. Một phần muốn khiêm nhường, một phần rất cần được người khác kính nể. Một phần muốn nên thánh, một phần vẫn muốn giữ riêng một góc không cho Chúa bước vào. Chính sự chia đôi ấy làm ta mệt mỏi. Chúa muốn cả trái tim bởi Người muốn chữa trái tim khỏi tình trạng bị chia cắt.
Thế nhưng điều đẹp nhất là Thiên Chúa chỉ xin cái toàn thể sau khi Người đã cho cái toàn thể. Trên thập giá, Chúa không yêu chúng ta một nửa. Người không giữ lại một giọt máu. Người không nói: “Ta sẽ yêu ngươi tới mức này thôi.” Tin Mừng nói Người yêu những kẻ thuộc về mình “đến cùng”. Bởi vậy, lời mời gọi bán tất cả không phải tiếng nói của một ông chủ lạnh lùng muốn tước đoạt, mà là lời của Đấng đã bị lột trần vì ta. Chúa có quyền xin đời ta bởi Chúa đã trao đời Người trước.
Đôi khi chúng ta sợ nếu trao tất cả cho Chúa thì mình sẽ không còn gì. Đó có lẽ là nỗi sợ sâu nhất. Sợ Chúa lấy mất niềm vui. Sợ nếu sống nghiêm túc với Tin Mừng thì đời sẽ khô khan. Sợ nếu vâng phục thì mất tự do. Sợ nếu tha thứ thì người khác thắng. Sợ nếu khiêm nhường thì bị coi thường. Sợ nếu sống nghèo thì thiếu thốn. Sợ nếu trao đờ

Previous articleNHỮNG MẢNH VỤN SUY TƯ ĐỨC MẸ SẦU BI Lm. Anmai, CSsR