Phụng vụ Thánh lễ – Lời nguyện – Chia sẻ Lời Chúa (Youtube & bản văn) Thứ Năm tuần XXIV TN – Lm. Anmai, CSsR

14

TIN GH CÔNG GIÁO THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM THỨ NĂM, NGÀY 17.9.2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Thứ Năm tuần 24 TN ĐƯỢC THA THỨ NHIỀU THÌ YÊU MẾN NHIỀU – Lm. Anmai, CSsR

https://youtu.be/tX9Daz9XvCThứ Năm tuần 24 TN KHI NƯỚC MẮT TRỞ THÀNH LỜI CẦU NGUYỆN – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN SÁNG – THỨ NĂM TUẦN XXIV MÙA THƯỜNG NIÊN
Lạy Chúa Giê-su, trong buổi sáng hôm nay, con đến trước Chúa với tất cả những gì con đang là: những điều tốt đẹp lẫn những yếu đuối, những cố gắng lẫn những lần sa ngã, những niềm vui lẫn những điều âm thầm khiến lòng con nặng trĩu. Tin Mừng hôm nay cho con thấy một người phụ nữ tội lỗi bước vào nhà ông Si-môn, không có một bài diễn văn nào, không biện minh cho quá khứ, cũng chẳng tìm cách che giấu con người mình. Chị chỉ đứng sau chân Chúa mà khóc, lấy nước mắt tưới chân Chúa, lấy tóc mình mà lau, hôn chân Chúa và đổ dầu thơm lên chân Người. Lạy Chúa, xin cho con sáng nay cũng biết đến với Chúa bằng một tâm hồn chân thật như thế. Xin cho con thôi cố tỏ ra mình tốt lành trước mặt Chúa, thôi che giấu những vết thương và những góc tối trong lòng, bởi Chúa biết con còn rõ hơn chính con biết mình. Xin cho những giọt nước mắt thống hối của lòng con trở thành lời cầu nguyện, để con nhận ra rằng không có quá khứ nào quá tối đến độ lòng thương xót của Chúa không thể chiếu tới, không có tội lỗi nào quá lớn đến độ Chúa không thể tha thứ khi con thật lòng trở về.
Lạy Chúa, xin đừng để con trở thành ông Si-môn Pha-ri-sêu của ngày hôm nay, ngồi gần Chúa mà lòng lại xa Chúa, ở cùng bàn với Chúa mà vẫn bận tâm xét đoán người khác. Ông nhìn người phụ nữ và chỉ thấy một người tội lỗi, còn Chúa nhìn chị và thấy một tâm hồn đang trở về. Bao lần con cũng nhìn anh chị em bằng quá khứ của họ, bằng lỗi lầm của họ, bằng những điều con nghe người khác kể về họ. Bao lần con dễ dàng đặt cho người khác một nhãn hiệu rồi đóng kín cánh cửa trong lòng mình. Xin Chúa chữa con khỏi căn bệnh xét đoán. Xin cho con nhớ rằng chỉ Chúa mới biết trọn vẹn một con người, chỉ Chúa mới thấy được những giọt nước mắt người khác đã khóc trong đêm tối, những cuộc chiến âm thầm họ đang phải trải qua, những cố gắng họ chưa kịp nói với ai và những lần họ đã đứng dậy sau vấp ngã. Xin cho con có ánh mắt của Chúa: một ánh mắt vừa thấy rõ sự thật của tội lỗi nhưng lại không nghiền nát người tội lỗi; một ánh mắt không dung túng điều sai nhưng vẫn mở đường cho người sai được trở về.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa nói: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều.” Xin cho con hiểu rằng người nhận ra mình được tha thứ nhiều thì sẽ biết yêu nhiều. Xin đừng để con sống như thể con chẳng mắc nợ Chúa điều gì. Nếu Chúa không thương xót, con có gì để tự hào? Nếu Chúa không kiên nhẫn, biết bao lần con đã tự đánh mất mình? Nếu Chúa không nâng dậy, biết bao lỗi lầm đã đủ làm con tuyệt vọng? Sáng nay, xin cho con biết nhìn lại cuộc đời bằng lòng biết ơn. Có biết bao lần Chúa đã tha mà con quên cảm tạ, biết bao lần Chúa bảo vệ mà con tưởng đó là may mắn, biết bao lần Chúa cho con bắt đầu lại mà con cứ nghĩ đó là quyền đương nhiên của mình. Xin cho con càng nhận ra mình được thương xót bao nhiêu thì càng biết yêu Chúa và yêu người khác bấy nhiêu.
Lạy Chúa, người phụ nữ đã đem đến một bình dầu thơm quý giá. Xin hỏi lòng con sáng nay: con có gì để dâng Chúa? Có thể con chẳng có dầu thơm, nhưng con có thể dâng Chúa một ngày sống trung thành; con có thể dâng một lời nói tử tế thay cho một lời làm tổn thương; một sự nhẫn nhịn thay cho nóng giận; một lần tha thứ thay cho giữ lòng oán hận; một việc bác ái âm thầm thay cho ích kỷ; một chút thời gian cho người cô đơn; một lời cầu nguyện cho người làm con buồn lòng. Xin cho con đừng chỉ nói rằng con yêu Chúa, nhưng biết lấy chính cuộc sống hôm nay làm bình dầu thơm dâng dưới chân Người.
Lạy Chúa Giê-su, cuối cùng Chúa nói với người phụ nữ: “Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an.” Con cũng khao khát được nghe lời ấy cho đời mình. Xin cho con bắt đầu ngày mới không phải với gánh nặng của mặc cảm, nhưng với bình an của một người biết mình được Chúa yêu thương. Xin cho quá khứ không còn trói buộc con, lỗi lầm không làm con tuyệt vọng, những lời phán xét của người đời không lấy mất niềm hy vọng trong con. Xin cho con tin rằng Chúa vẫn có thể viết tiếp một câu chuyện đẹp từ chính những trang đời đã từng lem luốc. Xin cho con hôm nay bước đi trong bình an, nhưng là thứ bình an sinh ra từ lòng tin, sự hoán cải và tình yêu.
Lạy Chúa, con xin dâng cho Chúa ngày hôm nay với tất cả những người con sẽ gặp. Xin cho con biết thương nhiều hơn vì chính con đã được tha nhiều; biết cảm thông hơn vì chính con cũng yếu đuối; biết mở cửa cho người khác vì Chúa chưa bao giờ đóng cửa trước mặt con. Xin biến trái tim con thành một nơi mà người khác có thể tìm thấy sự dịu dàng, một lời khích lệ và một cơ hội để bắt đầu lại. Và khi chiều xuống, xin cho con có thể trở về trước mặt Chúa với một tâm hồn biết ơn mà thưa rằng: hôm nay con đã cố gắng sống như một người đã được thương xót.
Xin Chúa ở với con, dẫn con đi, gìn giữ con và cho con biết yêu mến Chúa thật nhiều trong từng việc nhỏ của ngày hôm nay.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR

Ca nhập lễ
Lạy Chúa, xin ban bình an cho những ai trông cậy vào Chúa, xin cho các tiên tri của Chúa được trung trực; xin nhậm lời cầu nguyện của tôi tớ Chúa, và của Is-ra-el dân Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Ðấng sáng tạo và điều khiển muôn loài, xin nhìn đến chúng con và cho chúng con biết tận tình thờ phượng Chúa, hầu luôn được cảm thấy rõ ràng lòng Chúa yêu thương. Chúng con cầu xin…
cách khôn ngoan. Lời khen ngợi Chúa còn tồn tại tới muôn đời.
Bài Ðọc 1 Cr 15, 1-11
“Chúa hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng mà tôi đã rao giảng cho anh em, và anh em đã lãnh nhận và đang tin theo, nhờ đó anh em được cứu độ, nếu anh em tuân giữ lời lẽ tôi đã rao giảng cho anh em, bằng không, anh em đã tin cách vô ích. Tôi đã rao truyền cho anh em trước tiên điều mà chính tôi đã nhận lãnh: đó là Ðức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng theo như lời Thánh Kinh. Người được mai táng và ngày thứ ba Người đã sống lại đúng theo như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với mười một vị. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em trong một lúc; nhiều người trong số anh em đó hãy còn sống tới nay, nhưng có vài người đã chết. Thế rồi Người hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ. Sau cùng, Người cũng hiện ra với chính tôi như đứa con sinh non.
Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội thánh của Thiên Chúa. Nhưng nay tôi là người thế nào là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các đấng: song không phải tôi, mà là ơn của Thiên Chúa ở với tôi. Dù tôi, dù là các đấng, chúng tôi đều rao giảng như thế cả, và anh em cũng đã tin như vậy.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 28
Ðáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm (c. 1a).
Xướng: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”.
Xướng: Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa.
Xướng: Chúa là Thiên Chúa của con và con cảm tạ Chúa, lạy Chúa con, con hoan hô chúc tụng Ngài.
Alleluia: Tv 118, 135
Alleluia, alleluia! – Xin tỏ cho tôi tớ Chúa thấy long nhan hiền hậu, và dạy bảo con những thánh chỉ của Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 7, 36-50
“Tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có một người biệt phái kia mời Chúa Giêsu đến dùng bữa với mình; Người vào nhà người biệt phái và vào bàn ăn. Chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người biệt phái, liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Bấy giờ bà đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm. Thấy thế, người biệt phái đã mời Người, tự nghĩ rằng: “Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai, và thuộc hạng người nào chứ: là một đứa tội lỗi (mà)!” Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: “Hỡi Simon, Tôi có điều muốn nói với ông”. Simon thưa: “Xin Thầy cứ nói”.
“Một người chủ nợ có hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?” Simon đáp: “Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn”. Chúa Giêsu bảo ông: “Ông đã xét đoán đúng”.
Và quay lại phía người đàn bà, Người bảo Simon: “Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, ông đã không đổ nước rửa chân Tôi, còn bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít”.
Rồi Người bảo người đàn bà: “Tội con đã được tha rồi”. Những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: “Ông này là ai mà lại tha tội được?” Và Người nói với người đàn bà: “Ðức tin con đã cứu con, con hãy về bình an”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin nghe lời chúng con cầu nguyện và thương nhận những lễ vật này để hiến lễ mỗi người chúng con dâng mà tôn vinh Danh Thánh, giúp mọi người đạt tới ơn cứu độ. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Ôi Thiên Chúa, cao quý thay ân sủng của Ngài. Con người ta tìm nương tựa trong bóng cánh của Ngài.
Hoặc đọc:
Chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa, là thông hiệp với máu Chúa Kitô, và tấm bánh mà chúng ta bẻ ra, là thông phần vào mình Chúa.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin làm cho sức mạnh của bí tích này tràn ngập chúng con cả hồn lẫn xác, để chúng con không còn sống theo những cảm nghĩ tự nhiên, nhưng luôn theo ơn Thánh Thần hướng dẫn. Chúng con cầu xin…


KHI NƯỚC MẮT TRỞ THÀNH LỜI CẦU NGUYỆN – THỨ NĂM TUẦN XXIV THƯỜNG NIÊN
Có những lúc trong cuộc đời, con người chẳng còn biết phải nói gì với Thiên Chúa. Miệng không tìm ra lời, trí không tìm ra lý lẽ, đôi bàn tay cũng chẳng có gì đáng giá để dâng lên Người, và cuối cùng chỉ còn lại những giọt nước mắt. Tin Mừng hôm nay kể cho chúng ta về một người phụ nữ như thế. Chị không bước vào nhà ông Simon với một bài diễn văn được chuẩn bị cẩn thận, không mang theo một bảng thành tích đạo đức, không tìm cách giải thích quá khứ của mình, cũng chẳng đứng trước Đức Giêsu để biện hộ rằng người ta đã hiểu lầm chị. Chị chỉ bước vào, đến gần chân Người, khóc, lấy nước mắt mà tưới chân Người, lấy tóc mình mà lau, hôn chân Người rồi đổ dầu thơm lên. Một khung cảnh thật lạ. Chung quanh Đức Giêsu có những người rất chỉnh tề, rất nghiêm túc, rất đúng luật, rất hiểu biết; còn dưới chân Người lại là một người đàn bà mà cả thành phố dường như đã biết quá khứ. Thế nhưng điều kỳ diệu của Tin Mừng nằm ngay ở nghịch lý ấy: người bị mọi người coi là xa Thiên Chúa nhất lại có thể đang là người ở gần Thiên Chúa nhất; còn người tưởng mình gần Thiên Chúa nhất đôi khi lại đang đứng rất xa lòng thương xót của Người. Cuộc gặp gỡ ấy vì thế không chỉ là câu chuyện về một người phụ nữ tội lỗi hai ngàn năm trước, nhưng là tấm gương soi vào từng người chúng ta hôm nay: tôi đang đứng ở đâu trong căn nhà ấy? Tôi là người phụ nữ đang khóc dưới chân Đức Giêsu, hay tôi đang ngồi ở bàn tiệc như Simon, bình thản quan sát người khác và âm thầm kết án họ trong lòng?
Simon mời Đức Giêsu dùng bữa. Đó là một hành động đáng quý. Ông mở cửa nhà cho Chúa, nhưng dường như ông chưa mở cửa lòng cho Chúa. Người phụ nữ không có tên trong Tin Mừng lại làm điều ngược lại: chị có thể không sở hữu một ngôi nhà đủ danh giá để mời Đức Giêsu, nhưng chị mở cả cuộc đời mình trước mặt Người. Simon cho Chúa một chỗ trong bàn ăn, người phụ nữ cho Chúa một chỗ trong tận đáy lòng mình. Simon nhìn Đức Giêsu bằng con mắt dò xét: “Nếu ông này thật là ngôn sứ, ông phải biết người đàn bà đang chạm vào mình là hạng người nào.” Còn người phụ nữ nhìn Đức Giêsu bằng đôi mắt đẫm lệ của một người biết mình cần được cứu. Đây chính là khác biệt rất lớn giữa một thứ đạo đức chỉ dừng lại ở việc quan sát và một đức tin thực sự dẫn con người đến gặp Thiên Chúa. Có thể người ta ở rất gần nhà thờ mà lòng rất xa Chúa; có thể người ta biết rất nhiều giáo lý mà chưa từng để cho Tin Mừng chạm đến những góc tối của đời mình; có thể người ta đọc kinh mỗi ngày nhưng vẫn giữ trong lòng cả một danh sách những người mình khinh thường; có thể người ta đi lễ đều đặn mà trái tim vẫn rất cứng trước nỗi đau của một người sa ngã. Đức tin không được đo trước hết bằng việc ta nhìn người khác rõ đến đâu, nhưng bằng việc ta nhận ra mình cần lòng thương xót của Thiên Chúa đến mức nào.
Simon nhìn người phụ nữ và chỉ thấy quá khứ. Đức Giêsu nhìn chị và thấy một con người đang trở về. Simon nhìn thấy tội lỗi; Đức Giêsu nhìn thấy nước mắt thống hối. Simon nhìn thấy một người không xứng đáng; Đức Giêsu nhìn thấy một trái tim đang mở ra. Simon giam người phụ nữ trong điều chị đã từng làm; Đức Giêsu mở cho chị một con đường đi tới tương lai. Và đây là một trong những nét đẹp nhất của Tin Mừng: Thiên Chúa không đồng hóa một con người với tội lỗi của họ. Con người có thể phạm tội, nhưng con người không phải là tội lỗi. Một người có thể đã sai lầm, nhưng đời họ không bị kết án phải sống mãi trong sai lầm ấy. Một người có thể đã ngã rất sâu, nhưng nơi sâu nhất họ ngã xuống vẫn không sâu hơn lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta thường rất dễ đóng khung nhau bằng quá khứ: “Anh ấy là người như vậy rồi”, “chị ấy trước kia đã từng thế”, “người đó không thay đổi đâu”, “gia đình ấy có tiếng từ lâu rồi”. Chỉ một câu nói cũng đủ dựng lên một nhà tù quanh đời một người. Nhưng Đức Giêsu không dựng nhà tù; Người mở cửa. Người không bảo rằng tội chẳng quan trọng. Trái lại, Người nhìn tội rất nghiêm túc, bởi tội làm con người tổn thương, phá hủy tương quan và làm chúng ta xa Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu còn nhìn thấy một điều lớn hơn tội: đó là khả năng một con người được ân sủng biến đổi.
Người phụ nữ khóc. Có lẽ chị đã khóc rất nhiều lần trong đời. Có những giọt nước mắt vì bị người ta lợi dụng, có những giọt nước mắt vì bị khinh khi, có những giọt nước mắt vì chính mình thất vọng về mình, có những giọt nước mắt vì muốn làm lại mà không biết bắt đầu từ đâu. Nhưng hôm nay nước mắt ấy rơi xuống chân Đức Giêsu. Và từ giây phút đó, nước mắt không còn chỉ là biểu hiện của đau khổ nữa; nước mắt trở thành lời cầu nguyện. Có những lời cầu nguyện không được đọc bằng môi mà được viết bằng nước mắt. Một người mẹ ngồi bên giường bệnh của con, chẳng còn lời nào ngoài tiếng thở dài; một người cha thất nghiệp nhìn gia đình mà không biết ngày mai phải làm sao; một người vợ chịu quá nhiều tổn thương nhưng vẫn cố giữ mái ấm; một người chồng muốn quay lại sau những lỗi lầm của mình; một người trẻ vừa phạm một sai lầm lớn và cảm tưởng cuộc đời đã khép lại; một người già cô đơn trong căn phòng nhỏ; một người đang mang mặc cảm về một quá khứ không thể kể cho ai nghe. Có thể họ không đọc được những lời cầu nguyện dài, nhưng nước mắt của họ đã đến trước mặt Chúa. Và nếu Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta điều gì, thì đó là: đừng xấu hổ khi khóc trước mặt Thiên Chúa. Ta có thể phải mạnh mẽ trước mặt người đời, nhưng trước mặt Chúa ta không cần đóng kịch. Người biết hết những gì đang vỡ vụn bên trong ta. Người phụ nữ hôm nay được cứu không phải vì chị giỏi che giấu quá khứ, mà vì chị đủ can đảm đem quá khứ ấy đến đặt dưới chân Đức Giêsu.
Chị đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Có lẽ đó là vật quý. Nhưng khi một trái tim thật sự gặp được lòng thương xót, người ta không còn tính toán nữa. Tình yêu đích thực luôn có một chút “hoang phí” trong mắt những người chỉ biết cân đo. Một người mẹ thức cả đêm với con bệnh là hoang phí nếu tính bằng giờ lao động; một người cha âm thầm hy sinh cả tuổi trẻ cho gia đình là hoang phí nếu đo bằng lợi ích cá nhân; một người tha thứ cho kẻ từng làm mình tổn thương có thể bị xem là dại; một người dành đời mình phục vụ người nghèo có thể bị hỏi rằng được gì; một linh mục bỏ nhiều giờ ngồi nghe một người đang đau khổ có thể chẳng tạo ra thứ gì đo được bằng con số. Nhưng tình yêu không sống bằng máy tính. Người phụ nữ đổ dầu thơm lên chân Chúa bởi chị biết mình đã gặp một điều quý hơn tất cả những gì mình sở hữu: chị gặp lòng thương xót. Khi đã chạm vào lòng thương xót, người ta sẽ hiểu rằng có những thứ trong đời đáng để trao đi mà không cần thu lại.
Đức Giêsu kể cho Simon câu chuyện hai con nợ. Một người mắc nợ nhiều, một người mắc nợ ít, cả hai đều không có khả năng trả, và chủ nợ tha cho cả hai. Ai sẽ yêu chủ nợ hơn? Simon trả lời: người được tha nhiều hơn. Đức Giêsu nói ông xét đúng. Câu chuyện rất đơn giản nhưng đánh trúng căn bệnh sâu trong lòng người đạo đức: ta thường tưởng mình mắc nợ Chúa ít hơn người khác. Ta nhìn một người nghiện ngập, một người đổ vỡ hôn nhân, một người từng sống bê bối, một người bỏ đạo nhiều năm, rồi tự nhiên cảm thấy mình khá hơn. Ta quên mất những thứ không ai nhìn thấy: tính kiêu căng, ích kỷ, lạnh lùng, ganh tị, tham vọng, cay nghiệt, những lần nói xấu, những lần không tha thứ, những phán đoán âm thầm, những việc tốt được làm chỉ để tìm tiếng khen, những giờ cầu nguyện nhưng lòng không có tình yêu. Có những tội ồn ào khiến cả làng biết, nhưng cũng có những tội rất im lặng được che dưới một vẻ ngoài đạo đức. Và đôi khi chính những tội im lặng ấy nguy hiểm hơn, bởi người mắc nó không còn cảm thấy mình cần được chữa lành.
Đức Giêsu không nói người phụ nữ yêu nhiều nên mua được ơn tha thứ. Tình yêu của chị là hoa trái của kinh nghiệm được tha thứ. Khi một người thật sự biết Thiên Chúa đã tha thứ cho mình nhiều đến mức nào, lòng họ tự nhiên trở nên mềm lại. Người từng được đỡ dậy sẽ bớt chế nhạo người đang ngã. Người biết mình từng được kiên nhẫn sẽ kiên nhẫn hơn với người khác. Người ý thức mình đã nhiều lần được Chúa cho cơ hội làm lại sẽ bớt đóng cửa tương lai của anh chị em. Đó là lý do một người sống sâu bí tích Hòa Giải không thể trở thành một con người thích kết án. Tòa giải tội thật sự phải làm trái tim chúng ta mềm đi. Nếu càng đi xưng tội mà càng khó chịu với lỗi lầm người khác, có lẽ chúng ta mới chỉ kể tội mà chưa thật sự gặp lòng thương xót. Nếu mỗi lần lãnh nhận ơn tha thứ, ta nhớ rằng mình đang sống nhờ ân sủng chứ không nhờ công trạng, ta sẽ nhìn anh chị em bằng một ánh mắt khác.
Bài đọc thứ nhất cho chúng ta một chứng nhân khác của ân sủng: thánh Phaolô. Ông không che quá khứ của mình. Ông từng bắt bớ Hội Thánh. Ông ý thức mình không xứng đáng được gọi là Tông đồ. Thế nhưng ông có một câu rất đẹp: “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay.” Đó có thể là câu tóm tắt đời mỗi Kitô hữu. Nếu hôm nay ta còn đức tin, là nhờ ơn Chúa. Nếu sau bao lần lạc đường ta vẫn biết đường trở về, là nhờ ơn Chúa. Nếu ta đã đi qua những năm tháng khó khăn mà vẫn đứng được, là nhờ ơn Chúa. Nếu sau một biến cố khiến ta tưởng mình không thể tiếp tục mà hôm nay vẫn còn sống, còn cầu nguyện, còn hy vọng, là nhờ ơn Chúa. Nếu trong đời ta có một chút gì tốt đẹp, đừng vội biến nó thành lý do để kiêu ngạo. Phaolô là một Tông đồ lớn nhưng không bao giờ quên mình đã từng được cứu từ đâu. Một người càng đi sâu vào đời sống thiêng liêng càng nhận ra mình sống bằng ân sủng. Ngược lại, càng xa ân sủng người ta càng dễ nghĩ rằng tất cả là công trạng của mình.
Câu nói của Phaolô “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay” và giọt nước mắt của người phụ nữ dưới chân Đức Giêsu gặp nhau ở một điểm: cả hai đều thú nhận rằng con người không tự cứu mình. Ta có thể cố gắng rất nhiều, nhưng có những xiềng xích chỉ ân sủng mới tháo được. Có những vết thương chỉ tình yêu Thiên Chúa mới chữa được. Có những quá khứ chỉ lòng thương xót mới giải thoát ta khỏi sức nặng của nó. Tin Mừng không nói rằng chúng ta chẳng cần cố gắng; Tin Mừng nói rằng mọi cố gắng sinh hoa trái khi ta để cho ân sủng hoạt động. Người Kitô hữu không phải người tự hào: “Tôi đã tự làm mình nên thánh.” Người Kitô hữu là người kinh ngạc thốt lên: “Chúa đã kiên nhẫn với tôi biết bao!”
Điều đáng sợ nhất không phải là một con người có tội. Điều đáng sợ nhất là một con người không còn thấy mình cần được tha thứ. Người phụ nữ biết chị cần Chúa, nên chị đến. Simon nghĩ mình khá ổn, vì thế ông đứng ngoài phép lạ dù phép lạ đang xảy ra ngay trong nhà ông. Có thể phép lạ lớn nhất trong căn nhà ấy không phải là một bệnh nhân được chữa khỏi hay một người chết sống lại, nhưng là một trái tim bị tội lỗi nghiền nát được dựng dậy. Một đời người được trả lại phẩm giá. Một người mà xã hội gọi bằng quá khứ của chị được Đức Giêsu gọi bằng tương lai: “Đức tin của chị đã cứu chị; chị hãy đi bình an.” Câu cuối ấy tuyệt đẹp. Chúa không nói: “Ngồi đây mãi mà khóc.” Người nói: “Hãy đi.” Lòng thương xót không giữ ta mãi trong mặc cảm. Chúa tha thứ để sai ta trở lại cuộc đời. Người không muốn chúng ta sống suốt đời với cái đầu cúi xuống vì xấu hổ. Khi đã thú nhận, đã sám hối, đã đón nhận ơn tha thứ, hãy đứng lên mà đi. Có những người đã được Chúa tha từ lâu nhưng chính họ vẫn chưa chịu tha cho mình. Họ cứ đào lại vết thương, cứ nhớ mãi một lỗi lầm, cứ nghĩ mình không xứng đáng có tương lai. Tin Mừng hôm nay nói với họ: “Hãy đi bình an.” Đừng biến quá khứ thành một vị thần quyền lực hơn lòng thương xót của Chúa.
Nhưng có một điều nữa: người phụ nữ bước vào một căn phòng đầy ánh mắt xét đoán. Chị biết người ta nghĩ gì về chị mà vẫn đi. Điều đó đòi hỏi một đức tin rất lớn. Đôi khi con đường trở về với Chúa khó không phải vì Chúa khước từ chúng ta, nhưng vì chúng ta sợ ánh mắt của người đời. Một người muốn trở lại nhà thờ sau nhiều năm xa cách có thể ngại: người ta sẽ nói gì? Một người muốn đi xưng tội sau một lỗi lầm lớn có thể sợ: cha giải tội sẽ nghĩ gì? Một gia đình từng đổ vỡ muốn bắt đầu lại có thể lo: hàng xóm sẽ nhìn thế nào? Tin Mừng hôm nay trả lời: đừng để ánh mắt của Simon ngăn ta đến chân Đức Giêsu. Ơn cứu độ của ta quan trọng hơn lời bàn tán của thiên hạ. Người ta có quyền nhớ quá khứ của ta; nhưng chỉ Thiên Chúa có quyền nói lời cuối cùng về cuộc đời ta. Và lời cuối cùng của Người, nếu ta thành tâm trở về, không phải là kết án mà là bình an.
Đối với cộng đoàn Kitô hữu, Tin Mừng này cũng đặt ra một câu hỏi rất đau: những người mang quá khứ nhiều thương tích có cảm thấy an toàn khi bước vào nhà thờ của chúng ta hay không? Một người sa ngã, một đôi vợ chồng đang khủng hoảng, một bạn trẻ có đời sống rối ren, một người nghiện, một người vừa ra tù, một người đã nhiều năm bỏ lễ, một bà mẹ đơn thân, một người bị xã hội mang tiếng – khi họ bước vào cộng đoàn, họ sẽ gặp ánh mắt của Đức Giêsu hay ánh mắt của Simon? Cộng đoàn Kitô hữu không phải là bảo tàng trưng bày những người hoàn hảo; Hội Thánh là ngôi nhà của những người đang được chữa lành. Không ai đến bệnh viện vì đã khỏe hoàn toàn. Cũng vậy, người ta đến với Chúa chính vì đang cần cứu chữa. Giáo xứ sẽ thật sự mang khuôn mặt Tin Mừng khi người tội lỗi có thể bước qua cửa mà biết rằng nơi đây người ta không gọi họ bằng vết thương của họ nhưng bằng tên của họ; không khoét sâu quá khứ nhưng giúp họ tìm đường trở lại.
Chúng ta cũng cần nhìn lại cách mình sử dụng lời nói. Simon không nói câu xét đoán thành tiếng, ông chỉ nghĩ trong lòng. Đức Giêsu vẫn biết. Có nghĩa là xét đoán không chỉ là những gì ta nói trên môi. Có những phiên tòa diễn ra hoàn toàn bên trong trái tim: ta tự làm quan tòa, tự thu thập chứng cứ, tự kết tội, tự tuyên án một con người mà chẳng bao giờ nghe câu chuyện đầy đủ của họ. Có khi ta nhìn một bức ảnh, nghe một lời đồn, biết một phần sự việc rồi lập tức kết luận cả cuộc đời người ta. Thời đại mạng xã hội làm căn bệnh Simon trở nên nguy hiểm hơn, bởi chỉ vài phút người ta có thể biến lỗi lầm của một người thành trò giải trí cho hàng ngàn người. Người Kitô hữu phải tự hỏi trước khi chia sẻ một chuyện về người khác: việc này có cứu ai không? Có chữa lành ai không? Có giúp người ấy trở về không? Hay chỉ khiến tôi cảm thấy mình tốt hơn họ?
Đức Giêsu nhìn Simon mà không làm nhục ông. Đây cũng là lòng thương xót. Chúa thương người phụ nữ nhưng Người cũng muốn chữa Simon. Người kể dụ ngôn để mở mắt ông. Như thế Tin Mừng hôm nay không chia nhân loại thành một bên là người xấu cần sám hối và một bên là người tốt không cần gì nữa. Cả người phụ nữ lẫn Simon đều cần được cứu, chỉ khác nhau ở chỗ người phụ nữ biết mình cần, còn Simon chưa nhận ra. Có khi tội nhân công khai dễ được chữa hơn người đạo đức kiêu căng, bởi người đầu tiên thấy vết thương nên tìm thầy thuốc, còn người thứ hai tưởng mình khỏe nên từ chối chữa trị. Vì thế lời cầu nguyện khôn ngoan không phải: “Lạy Chúa, xin sửa người kia”, mà trước hết là: “Lạy Chúa, xin cho con thấy phần nào trong con đang cần được chữa.”
Có một chi tiết rất cảm động: người phụ nữ đứng ở phía sau, sát chân Đức Giêsu. Chị không dám đòi một vị trí danh dự. Nhưng chính nơi thấp nhất ấy chị gặp được điều cao quý nhất. Đời sống Kitô hữu có nghịch lý như vậy: càng cúi xuống ta càng gần Chúa. Thế giới dạy người ta cố đứng cao để được nhìn thấy; Tin Mừng dạy cúi thấp để nhìn thấy Chúa. Càng bớt bảo vệ cái tôi, ta càng dễ mở lòng cho ân sủng. Người phụ nữ không còn gì để bảo vệ. Danh tiếng đã mất, quá khứ ai cũng biết, chị chỉ còn một hy vọng là Đức Giêsu. Và khi Chúa trở thành hy vọng cuối cùng, nhiều khi ta mới khám phá Người vốn là hy vọng duy nhất ngay từ đầu.
Dầu thơm của người phụ nữ rồi sẽ cạn. Nước mắt rồi sẽ khô. Bữa tiệc rồi sẽ kết thúc. Nhưng câu nói của Đức Giêsu sẽ đi với chị suốt phần đời còn lại: “Đức tin của chị đã cứu chị; chị hãy đi bình an.” Bình an không có nghĩa là từ ngày ấy chị sẽ không bao giờ gặp khó khăn. Bình an là từ ngày ấy chị biết mình thuộc về ai. Người khác có thể tiếp tục nhớ quá khứ của chị, nhưng chị đã nghe chính Đức Giêsu nói lời tha thứ. Đó là sức mạnh của người đã gặp Chúa. Không phải mọi lời người đời nói về mình đều biến mất; nhưng có một Lời lớn hơn tất cả những lời ấy. Nếu Chúa nói “con được tha”, tại sao tôi cứ để lời kết án của người đời cai trị mình? Nếu Chúa nói “hãy đi bình an”, tại sao tôi cứ tự nhốt mình trong nhà tù mặc cảm?
Ngày hôm nay, có lẽ mỗi người chúng ta nên dành một chút thời gian đứng vào vị trí của người phụ nữ ấy. Không cần mang dầu thơm. Chỉ cần mang sự thật của đời mình. Có điều gì ta vẫn đang giấu Chúa dù biết Người đã biết? Có tội nào ta trì hoãn xưng thú? Có vết thương nào khiến ta trở nên cay nghiệt? Có người nào ta đang xét đoán như Simon? Có quá khứ nào ta vẫn chưa tin rằng Chúa có thể chữa lành? Hãy đặt tất cả xuống chân Đức Giêsu. Ta không cần phải làm mình trở nên xứng đáng rồi mới đến với Người; ta đến với Người để Người làm ta nên mới. Người phụ nữ không tẩy sạch đời mình trước khi bước vào căn nhà ấy. Chị bước vào như chị đang là. Đó là khởi đầu của ân sủng.
Có người nghĩ rằng muốn trở về với Chúa phải đợi khi mình tốt hơn. Không. Nếu một người đang chìm mà nói: “Đợi tôi biết bơi rồi tôi mới nắm lấy tay cứu hộ”, thì người ấy chẳng bao giờ được cứu. Chúng ta đến với Chúa vì ta cần Người. Hãy đến trong tình trạng bừa bộn của đời mình. Hãy đến với những câu hỏi chưa có câu trả lời, những thói quen chưa chiến thắng, những vết thương chưa lành, những nước mắt chưa khô. Chúa không sợ sự bừa bộn của lòng ta. Người chỉ chờ ta mở cửa. Ân sủng không bắt đầu ở chỗ ta hoàn hảo; ân sủng bắt đầu ở chỗ ta thành thật.
Và sau khi được tha thứ, đến lượt ta trở thành người mang lòng thương xót vào đời. Không thể quỳ dưới chân Chúa để xin tha thứ rồi đứng lên bóp cổ anh em vì một món nợ nhỏ. Không thể mỗi ngày đọc “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” mà vẫn nuôi hận thù như một báu vật. Dĩ nhiên tha thứ không có nghĩa là coi điều ác thành điều tốt, không có nghĩa là tiếp tục để người khác làm hại mình, cũng không có nghĩa là không cần công lý. Tha thứ là từ chối để cái ác người khác đã làm trở thành ông chủ của trái tim mình. Tha thứ là trao quyền phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa. Tha thứ đôi khi cần thời gian rất dài, nhưng bước đầu có thể chỉ là một lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa thể yêu người ấy, nhưng xin đừng để lòng con biến thành nơi trú ngụ của hận thù.”
Người được tha nhiều sẽ yêu nhiều. Nhưng muốn yêu nhiều, trước hết phải biết mình đã được tha nhiều. Có lẽ căn bệnh lớn của đời sống thiêng liêng không phải chúng ta không biết Chúa yêu, nhưng là chúng ta đã quen với lòng thương xót đến mức không còn kinh ngạc. Ta đi xưng tội rồi bước ra như vừa hoàn tất một thủ tục. Ta dự lễ, nghe lời tha thứ, rước Mình Thánh Chúa nhưng chẳng còn thấy sửng sốt trước việc Thiên Chúa vẫn muốn ở với một con người mong manh như mình. Nếu một ngày chúng ta thực sự hiểu rằng Đấng thánh thiện tuyệt đối vẫn không chán chúng ta, rằng sau hàng trăm lần thất hứa Người vẫn mở cửa, rằng sau những lần ta quay lưng Người vẫn chờ, có lẽ ta cũng sẽ khóc như người phụ nữ kia. Không nhất thiết bằng nước mắt bên ngoài, nhưng bằng một trái tim tan chảy vì biết mình được yêu vượt quá điều mình xứng đáng.
Thánh Phaolô biết điều ấy nên ông nói: “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay.” Người phụ nữ biết điều ấy nên chị đổ bình dầu thơm. Cả hai đều là những con người đã được lòng thương xót viết lại cuộc đời. Phaolô từ người bách hại trở thành Tông đồ. Người phụ nữ từ kẻ bị xét đoán trở thành hình ảnh của tình yêu biết ơn. Điều đó có nghĩa là quá khứ không quyết định quyền năng của Thiên Chúa trên tương lai chúng ta. Có thể chúng ta đã đi sai một quãng rất dài, nhưng chỉ cần quay lại, Chúa vẫn có thể dùng phần đời còn lại để làm nên điều đẹp đẽ. Đừng bao giờ nói về chính mình hoặc về người khác rằng “hết rồi”. Chừng nào con người còn sống, chừng ấy cánh cửa ân sủng còn có thể mở.
Ước gì hôm nay khi nghe câu chuyện này, ta đừng đứng ngoài mà phân tích người phụ nữ đã phạm những tội gì. Tin Mừng cố tình không kể chi tiết ấy, có lẽ bởi điều quan trọng không phải chị đã phạm bao nhiêu tội, mà là chị đã gặp ai. Câu hỏi quan trọng nhất của đời Kitô hữu cũng không phải: “Quá khứ tôi tệ đến đâu?” nhưng là: “Hôm nay tôi có dám đến với Đức Giêsu hay không?” Người ta có thể mất nhiều năm để kể về bóng tối, nhưng chỉ một tia sáng cũng đủ làm bóng tối lui đi. Đức Kitô là ánh sáng ấy.
Nếu hôm nay trong lòng ta có nước mắt, hãy để nó rơi dưới chân Chúa. Nếu có mặc cảm, hãy đặt nó xuống. Nếu có tội lỗi, hãy trở về với bí tích Hòa Giải. Nếu đang giận ai, hãy xin Chúa bắt đầu công việc chữa lành. Nếu đang nhìn ai bằng ánh mắt của Simon, hãy xin một trái tim mới. Nếu ta nghĩ đời mình đã quá rối để Chúa sử dụng, hãy nhớ Phaolô. Nếu ta nghĩ mình đã quá xa để quay lại, hãy nhớ người phụ nữ trong Tin Mừng. Nếu người khác vẫn nhắc mãi quá khứ của ta, hãy nhớ lời Đức Giêsu. Và nếu chính ta không thể tha cho mình, hãy nghe Người nói thật chậm trong lòng: “Đức tin của con đã cứu con. Hãy đi bình an.”
Cuối cùng, có lẽ điều đẹp nhất của Tin Mừng hôm nay là Đức Giêsu không để người phụ nữ nằm mãi dưới chân Người. Sau nước mắt phải có một con đường. Sau sám hối phải có một cuộc đời mới. Sau tòa giải tội phải có sự thay đổi. Sau lời “con xin lỗi Chúa” phải có một quyết định cụ thể. Người đã gian dối thì tập sống thật. Người làm tổn thương gia đình thì bắt đầu chữa lành gia đình. Người nghiện nói xấu thì học im lặng. Người giữ hận thì bắt đầu cầu nguyện cho người mình không ưa. Người xa Chúa thì trở lại với Thánh lễ. Người khô khan thì dành lại vài phút mỗi ngày cho cầu nguyện. Lòng thương xót không phải chiếc chăn che để ta ngủ yên trong tội lỗi; lòng thương xót là bàn tay kéo ta đứng lên khỏi tội lỗi.
Xin cho mỗi người chúng ta hôm nay được gặp Đức Giêsu không chỉ như Simon gặp Người ở một bữa ăn, nhưng như người phụ nữ gặp Người bằng cả cuộc đời mình. Xin cho chúng ta đừng chỉ biết Chúa bằng trí óc nhưng thực sự để lòng thương xót của Người chạm đến những vùng sâu nhất trong tâm hồn. Xin cho những giọt nước mắt của chúng ta, nếu có, không trở thành tuyệt vọng nhưng trở thành lời cầu nguyện. Xin cho những lỗi lầm đã qua không biến thành xiềng xích nhưng thành nơi ta nhận ra ân sủng. Xin cho ta đủ khiêm nhường để nói như Phaolô: “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay.” Và xin cho một ngày nào đó, khi nhìn lại tất cả những đoạn đường quanh co của đời mình, ta có thể nhận ra rằng ở mọi khúc quanh ấy đều có một bàn tay âm thầm dẫn dắt, một lòng thương xót không mệt mỏi chờ đợi, một Thiên Chúa chưa bao giờ ngừng tin rằng chúng ta có thể bắt đầu lại.
Bởi vì điều làm nên vẻ đẹp của Kitô giáo không phải là câu chuyện những con người chưa bao giờ ngã, nhưng là câu chuyện của những con người đã ngã mà được Chúa đỡ dậy; không phải câu chuyện những người chưa từng có quá khứ, nhưng là những người đã trao quá khứ cho lòng thương xót; không phải câu chuyện của những trái tim không có vết thương, nhưng là những trái tim đã để Đức Kitô chạm vào vết thương và biến nó thành nơi ân sủng đi qua. Người phụ nữ trong Tin Mừng bước vào căn nhà ấy với một cái tên bị người đời che khuất bằng hai chữ “tội lỗi”, nhưng chị bước ra với một căn tính mới: một người được tha thứ, một người được cứu, một người được sai đi trong bình an. Đó cũng là điều Chúa muốn làm cho từng người chúng ta. Đừng sợ đến gần Người. Đừng sợ khóc trước mặt Người. Đừng sợ nói lại từ đầu câu chuyện đời mình. Vì dưới chân Đức Giêsu, không có giọt nước mắt chân thành nào bị phí đi, không có lời sám hối nào bị xem thường, không có quá khứ nào lớn hơn lòng thương xót, và không có một con người nào thành tâm trở về mà Người lại từ chối.
Lm. Anmai, CSsR

ĐƯỢC THA THỨ NHIỀU THÌ YÊU MẾN NHIỀU
Có những trang Tin Mừng chúng ta đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng mỗi lần đọc vẫn thấy lòng mình bị chạm đến, bởi câu chuyện Tin Mừng không chỉ kể chuyện của một người đã sống cách đây hai ngàn năm mà dường như đang kể chính câu chuyện đời mình. Tin Mừng hôm nay, Lc 7,36-50, là một trang Tin Mừng như thế. Có một người Pharisêu tên là Simon mời Đức Giêsu dùng bữa tại nhà mình. Đức Giêsu nhận lời. Đang khi Người ngồi tại bàn thì một người phụ nữ vốn nổi tiếng là người tội lỗi trong thành bước vào. Chị mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm, đứng phía sau Đức Giêsu, sát chân Người mà khóc. Nước mắt chị rơi xuống chân Chúa. Chị lấy tóc mình mà lau, hôn chân Người rồi lấy dầu thơm xức lên. Chúng ta hãy dừng lại thật lâu trước khung cảnh ấy, bởi đôi khi chỉ một hình ảnh Tin Mừng cũng đủ trở thành cả một bài giảng cho cuộc đời. Một người đàn bà bị xã hội nhìn bằng ánh mắt khinh miệt đang quỳ dưới chân Đức Giêsu. Chị không nói một lời. Tin Mừng không ghi lại một lời xin lỗi nào của chị, không có bài diễn văn thống hối, không có một bản kê khai tội lỗi. Chỉ có nước mắt. Chỉ có mái tóc. Chỉ có những nụ hôn. Chỉ có bình dầu thơm. Nhưng Đức Giêsu đọc được tất cả những gì nằm phía sau nước mắt ấy. Người hiểu điều mà những người chung quanh không hiểu. Người nhìn thấy điều mà Simon không nhìn thấy. Simon nhìn thấy một người đàn bà tội lỗi; Đức Giêsu nhìn thấy một người con đang trở về. Simon nhìn thấy một quá khứ nhơ nhớp; Đức Giêsu nhìn thấy một trái tim đang tan vỡ vì thống hối. Simon nhìn thấy một kẻ không xứng đáng được đến gần; Đức Giêsu nhìn thấy một linh hồn đang khao khát được yêu thương. Simon nhìn thấy vết nhơ; Đức Giêsu nhìn thấy nước mắt. Simon nhìn thấy tội; Đức Giêsu nhìn thấy đức tin. Và có lẽ đây chính là điều đầu tiên Tin Mừng hôm nay muốn nói với mỗi người chúng ta: Thiên Chúa nhìn con người khác với cách con người nhìn nhau.
Chúng ta thường nhìn người khác bằng quá khứ của họ. Chúa nhìn họ bằng tương lai mà ân sủng có thể mở ra. Chúng ta thường đóng khung một con người vào một lần vấp ngã. Chúa nhìn thấy khả năng họ đứng lên. Chúng ta nhớ rất dai lỗi lầm người khác, còn Chúa lại nhớ rất lâu những giọt nước mắt ăn năn. Chúng ta có thể kể vanh vách những điều một người đã làm sai cách đây mười năm, hai mươi năm, nhưng đôi khi chẳng nhận ra rằng chính trong khoảng thời gian ấy Thiên Chúa đã âm thầm làm biết bao điều trong tâm hồn họ. Một con người có thể đã từng hư hỏng nhưng hôm nay đang trở về. Một người có thể từng sống ích kỷ nhưng hôm nay đang tập yêu thương. Một người có thể từng phản bội nhưng hôm nay đang đau đớn vì lỗi lầm của mình. Một người có thể từng sống rất xa Chúa nhưng hôm nay lại đang quỳ rất gần chân Người. Đừng lấy quá khứ của một người làm bản án chung thân cho họ. Đừng lấy một lỗi lầm để định nghĩa cả cuộc đời một người. Đừng tự phong mình làm vị quan tòa cuối cùng của anh chị em, bởi chỉ Thiên Chúa biết hết những cuộc chiến diễn ra âm thầm trong lòng họ. Simon nghĩ rằng mình biết người phụ nữ ấy. Ông nghĩ: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!” Điều đáng suy nghĩ là Simon không nói thành lời. Ông chỉ “nghĩ bụng”. Nhưng Đức Giêsu biết cả điều ông đang nghĩ. Người phụ nữ bị Simon xét đoán vì những tội lỗi công khai; còn Simon lại mang trong mình một tội kín đáo hơn: sự kiêu căng của người tự cho mình công chính. Tội của người phụ nữ ai cũng thấy; tội của Simon được che dưới chiếc áo đạo đức. Người phụ nữ biết mình có tội nên tìm đến Chúa. Simon tưởng mình tốt nên chẳng cảm thấy mình cần được chữa lành. Và chính ở đây Tin Mừng đặt ra một câu hỏi rất sâu: Ai thực sự ở xa Chúa hơn? Người biết mình là tội nhân đang khóc dưới chân Chúa, hay người tưởng mình công chính đang ngồi cùng bàn với Chúa nhưng lòng lại đầy phán xét?
Đôi khi khoảng cách từ một con người đến với Thiên Chúa không được đo bằng số tội người ấy đã phạm, mà bằng mức độ người ấy có nhận ra mình cần lòng thương xót của Chúa hay không. Một người tội lỗi có thể rất gần Chúa nếu họ biết mình cần Chúa. Một người sống đạo nhiều năm vẫn có thể rất xa Chúa nếu họ chỉ nhìn thấy tội của thiên hạ mà không bao giờ nhìn thấy tội của chính mình. Người đàn bà bước vào nhà Simon với hai bàn tay chẳng có gì đáng tự hào. Chị không có danh tiếng tốt. Chị không có vị trí xã hội. Chị không có thành tích đạo đức. Điều chị có chỉ là một trái tim tan vỡ và một niềm tin rằng Đức Giêsu sẽ không xua đuổi mình. Chính niềm tin ấy đã cứu chị. Chính vì vậy, cuối câu chuyện, Đức Giêsu nói: “Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an.” Chúa không nói: “Quá khứ của chị đã cứu chị.” Không. Quá khứ của chị đầy thương tích. Chúa không nói: “Công trạng của chị đã cứu chị.” Chị đâu có công trạng gì để khoe. Chúa cũng không nói: “Dư luận tốt đẹp của người đời đã cứu chị.” Người đời đang khinh chị. Chúa nói: “Lòng tin của chị đã cứu chị.” Một lòng tin đủ lớn để chị vượt qua sự xấu hổ. Một lòng tin đủ lớn để chị bước vào một căn nhà nơi chị biết mình sẽ bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt. Một lòng tin đủ lớn để chị quỳ xuống dưới chân Đức Giêsu. Một lòng tin đủ lớn để chị tin rằng lòng thương xót của Thiên Chúa còn lớn hơn quá khứ của mình. Và có lẽ chúng ta cũng cần một đức tin như thế. Không phải chỉ là tin rằng Thiên Chúa tồn tại, nhưng tin rằng Thiên Chúa vẫn còn yêu mình dù mình đã phạm tội. Tin rằng mình vẫn có thể trở về. Tin rằng không có vết thương nào Chúa không thể chữa lành. Tin rằng không có bóng tối nào sâu đến mức ánh sáng Chúa không thể chiếu vào. Tin rằng không có quá khứ nào nhơ nhớp đến mức máu Đức Kitô không thể thanh tẩy. Tin rằng không có cuộc đời nào tan vỡ đến mức ân sủng Chúa không thể dựng lại.
Nhiều Kitô hữu tin vào lòng thương xót của Chúa trên lý thuyết nhưng lại rất khó tin rằng lòng thương xót ấy dành cho chính mình. Chúng ta nói rằng “Chúa nhân từ vô cùng”, nhưng khi nhìn lại những lỗi lầm quá khứ, ta vẫn tự hành hạ mình. Có người đã xưng một tội từ nhiều năm trước, đã thực lòng thống hối, đã lãnh nhận ơn tha thứ trong Bí tích Hòa Giải, nhưng mỗi khi nhớ lại vẫn nghĩ: “Không biết Chúa có thật sự tha cho tôi không?” Thưa, nếu Chúa đã tha thì tại sao ta cứ cố giữ lại bản án mà chính Thiên Chúa đã xóa? Có những người sống cả đời trong mặc cảm vì một sai lầm tuổi trẻ. Có người không thể tha thứ cho chính mình vì một quyết định dại dột. Có người cứ nghĩ rằng sau những gì mình đã làm, mình không còn xứng đáng đến gần Chúa nữa. Nhưng hãy nhìn người phụ nữ trong Tin Mừng. Nếu chị chờ đến khi mình trở thành người hoàn hảo mới đến với Đức Giêsu thì chắc chị chẳng bao giờ đến được. Chị đến với Chúa chính trong tình trạng của một người đầy vết thương. Chị đến không phải vì chị sạch rồi mà vì chị cần được thanh tẩy. Chị đến không phải vì chị khỏe mà vì chị đang bệnh. Chị đến không phải vì chị xứng đáng mà vì chị tin vào lòng thương xót. Chúng ta cũng vậy. Đừng đợi hết tội rồi mới cầu nguyện. Đừng đợi lòng bình an rồi mới đến với Chúa. Đừng đợi đời mình ổn định rồi mới quỳ xuống. Hãy đến với Chúa ngay trong lúc mình yếu đuối nhất. Hãy đem chính nước mắt của mình đến với Người. Có khi ta không biết nói gì trong cầu nguyện. Không sao. Người phụ nữ hôm nay cũng chẳng nói gì. Nước mắt của chị đã trở thành lời cầu nguyện. Có những lời cầu nguyện không được viết bằng chữ nhưng bằng nước mắt. Có những kinh nguyện không đi qua môi miệng nhưng đi thẳng từ một trái tim tan vỡ lên trái tim Thiên Chúa. Có những lúc ta chỉ đủ sức quỳ xuống và thưa: “Lạy Chúa, con mệt lắm. Lạy Chúa, con sai rồi. Lạy Chúa, xin thương con.” Chỉ vậy thôi cũng có thể là khởi đầu của một cuộc đời mới.
Đức Giêsu kể cho Simon một dụ ngôn rất ngắn. Có hai con nợ, một người nợ năm trăm quan tiền, người kia nợ năm mươi. Cả hai đều không có gì để trả nên chủ nợ thương tình tha cho cả hai. Đức Giêsu hỏi: “Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” Simon trả lời: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.” Đức Giêsu nói: “Ông xét đúng lắm.” Và từ dụ ngôn ấy, Chúa đưa Simon đến một chân lý quan trọng: Ai cảm nhận sâu xa mình đã được tha thứ thì sẽ biết yêu sâu xa. Vấn đề không phải Thiên Chúa yêu người này nhiều hơn người kia; vấn đề là có người nhận ra tình yêu ấy, có người lại coi nó là điều đương nhiên. Người phụ nữ biết mình được cứu khỏi vực sâu nên từng cử chỉ của chị tràn đầy lòng biết ơn. Simon thì không cảm thấy mình mắc nợ ân sủng bao nhiêu nên tình yêu của ông nhạt nhòa. Đức Giêsu nói với ông: “Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi; còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi.” Simon có Chúa ở trong nhà nhưng không nhận ra món quà lớn lao đang hiện diện trước mặt mình. Người phụ nữ chỉ cần được đến gần chân Chúa thôi đã thấy đó là ân huệ quá lớn. Đây cũng là bi kịch có thể xảy ra trong đời sống đạo của chúng ta: có Chúa rất gần nhưng lại quen Chúa đến mức không còn rung động trước Chúa nữa.
Ta có thể đi lễ mỗi ngày nhưng không còn cảm thấy Thánh Thể là một phép lạ. Ta có thể đọc Tin Mừng mỗi ngày nhưng Lời Chúa chỉ còn là những dòng chữ quen thuộc. Ta có thể đi xưng tội thường xuyên nhưng quên rằng mỗi lần được giải tội là một lần một bản án đời đời được lòng thương xót của Thiên Chúa xóa đi. Ta có thể đọc Kinh Lạy Cha hàng ngàn lần nhưng chẳng còn run lên khi gọi Đấng tạo dựng trời đất là “Cha chúng con”. Ta có thể phục vụ trong giáo xứ, trong hội đoàn, trong cộng đoàn nhiều năm và dần dần nghĩ rằng mình đang làm một điều gì đó cho Chúa, mà quên rằng chính việc Chúa cho ta được phục vụ Người đã là một hồng ân. Người phụ nữ trong Tin Mừng nhắc ta hãy lấy lại sự kinh ngạc trước ân sủng. Sống đạo mà mất khả năng kinh ngạc thì đời sống đức tin rất dễ biến thành thói quen. Thánh Phaolô trong bài đọc thứ nhất cũng có một tâm tình rất giống người phụ nữ ấy. Ngài nhìn lại đời mình và biết rằng mình đã từng bách hại Hội Thánh. Ngài không phủ nhận quá khứ. Ngài không tô hồng lịch sử của mình. Nhưng ngài nói một câu thật đẹp: “Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa.” Một con người từng bách hại Kitô hữu lại trở thành Tông đồ dân ngoại. Một người từng tìm bắt những kẻ tin vào Đức Kitô lại trở thành người đem Tin Mừng Đức Kitô đi khắp nơi. Một người từng phá Hội Thánh lại trở thành một trong những cột trụ lớn lao nhất của Hội Thánh. Làm sao điều ấy xảy ra được? Ân sủng. Không phải vì Phaolô giỏi hơn người khác. Không phải vì quá khứ của ông sạch hơn. Chính ông thú nhận mình là người chẳng đáng được gọi là Tông đồ. Nhưng ân sủng của Thiên Chúa đã không trở nên vô hiệu nơi ông. Đó cũng chính là niềm hy vọng của chúng ta: quá khứ có thể giải thích ta đã từng là ai, nhưng không có quyền quyết định ta sẽ trở thành người nào nếu ta để cho ân sủng Thiên Chúa hành động.
Có những người nghĩ: “Tính tôi vậy rồi, không sửa được.” Không đúng. Ân sủng có thể thay đổi con người. Có người nói: “Gia đình tôi thế này mấy chục năm rồi, chẳng thay đổi đâu.” Đừng giới hạn quyền năng Thiên Chúa. Có người nói: “Con tôi hư quá rồi.” Đừng ngừng cầu nguyện. Có người nghĩ: “Chồng tôi, vợ tôi chẳng bao giờ thay đổi.” Hãy nhớ Phaolô. Hãy nhớ người phụ nữ trong Tin Mừng. Trong từ điển của Thiên Chúa, không có cụm từ “hết hy vọng” dành cho một người đang còn sống. Người ta có thể từ bỏ một người, Thiên Chúa thì vẫn kiên nhẫn chờ. Người ta có thể đóng hồ sơ một cuộc đời, Thiên Chúa vẫn có thể viết chương mới. Người ta có thể nhìn một người và nói “không còn gì để cứu”, Thiên Chúa lại có thể nhìn người đó và nói “đây là con của Ta”. Đừng bao giờ tuyệt vọng về một linh hồn. Đừng bao giờ tuyệt vọng về chính mình. Đừng bao giờ tuyệt vọng về người thân. Đừng nghĩ rằng những lời cầu nguyện âm thầm của một người mẹ cho đứa con đang bỏ Chúa là vô ích. Đừng nghĩ những giọt nước mắt của một người vợ cầu nguyện cho chồng là bị quên lãng. Đừng nghĩ những lời cầu nguyện của cha mẹ dành cho gia đình đang tan vỡ không lên tới trời. Có những hạt giống ân sủng nằm sâu trong lòng đất nhiều năm ta không thấy gì, nhưng đến một ngày Thiên Chúa cho mọc lên. Phần ta là tin, cầu nguyện, yêu thương và kiên nhẫn.
Tin Mừng hôm nay còn đặt trước chúng ta một vấn đề rất thời sự: căn bệnh xét đoán. Simon không làm gì người phụ nữ, nhưng trong lòng ông đã kết án chị. Đôi khi chúng ta không giết một ai bằng dao, nhưng giết họ bằng một lời nói. Không đẩy ai xuống vực bằng tay, nhưng đẩy họ xuống bằng dư luận. Một câu chuyện riêng tư được kể thêm một chút. Một lỗi lầm được truyền đi từ người này sang người khác. Một tin chưa biết thật giả được chia sẻ. Một bức ảnh bị đem ra bình phẩm. Một gia đình đang khổ lại trở thành đề tài trong bàn trà. Một người vừa sa ngã đã bị cả cộng đồng đóng nhãn. Trong thời đại mạng xã hội, con người càng dễ trở thành Simon Pharisêu. Chỉ cần vài giây để phán xét một cuộc đời mà ta chưa bao giờ sống. Chỉ cần đọc một dòng trạng thái để tưởng mình hiểu toàn bộ một con người. Chỉ cần xem một đoạn video vài chục giây để tuyên án đạo đức cho người khác. Nhưng Tin Mừng hôm nay mời ta đặt một câu hỏi trước mỗi lời nhận xét: Nếu Đức Giêsu đang ngồi ở đây, Người sẽ nhìn người ấy thế nào? Có lẽ Chúa sẽ không đồng ý với điều sai họ đã làm, nhưng Người vẫn nhìn họ như một người cần được cứu. Chúa không bao giờ gọi tội là tốt, nhưng Chúa cũng không bao giờ đồng hóa tội nhân với tội lỗi của họ. Người phụ nữ có tội, nhưng chị không phải chỉ là “một cục tội”. Chị vẫn là một con người. Vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa. Vẫn có thể yêu. Vẫn có thể trở về. Vẫn xứng đáng được trao cơ hội. Đó là ánh nhìn Kitô giáo mà chúng ta phải học.
Cũng nên hỏi lại mình: tại sao ta dễ xét đoán? Đôi khi bởi khi nhìn vào lỗi người khác, ta tạm quên lỗi mình. Nếu tôi có thể thuyết phục bản thân rằng người kia xấu hơn tôi thì tôi thấy mình khá hơn. Nếu tôi nhấn mạnh sự yếu đuối của họ, tôi có cảm giác mình mạnh. Nếu tôi kể tội họ, tôi chẳng cần đối diện với tội của tôi. Nhưng người trưởng thành trong đời sống thiêng liêng không sống như thế. Càng gần Thiên Chúa, con người càng ý thức sự nghèo nàn của mình. Các thánh không phải là những người nghĩ rằng mình hoàn hảo, nhưng là những người càng đến gần ánh sáng càng nhận ra những hạt bụi trong tâm hồn. Vì vậy người thánh thiện thật sự thường rất hiền với tội nhân. Họ ghét tội nhưng thương người có tội. Họ mạnh mẽ trước sự dữ nhưng dịu dàng với người yếu đuối. Họ không coi thường người ngã vì họ biết chính mình cũng chỉ đứng được nhờ ân sủng. Khi ta thấy mình ngày càng dễ thương cảm, dễ tha thứ, ít nói xấu, ít xét đoán, đó có thể là dấu hiệu ân sủng đang lớn lên. Còn nếu càng sống đạo lâu ta càng cay nghiệt, càng khắt khe, càng thích chỉ trích thiên hạ, ta phải coi lại xem mình đang theo Đức Giêsu hay chỉ đang xây dựng một thứ đạo đức tự mãn giống Simon.
“Được tha nhiều thì yêu nhiều.” Câu này không có nghĩa chúng ta phải phạm thật nhiều tội rồi mới yêu Chúa nhiều. Không. Điều cần thiết là nhận ra dù đời ta có vẻ ngay lành đến đâu, mọi sự ta có đều là ân sủng. Ta cần được Chúa giữ gìn từng ngày. Có khi tội ta không ồn ào như người phụ nữ nhưng lại kín đáo như Simon: kiêu ngạo, lạnh lùng, ích kỷ, ghen tị, không tha thứ, thiếu bác ái, nói xấu, vô cảm, ích kỷ trong gia đình, khinh thường người nghèo, xem nhẹ người yếu thế, cầu nguyện hời hợt, dự lễ máy móc, không quan tâm đến nỗi đau của người bên cạnh. Có những tội không làm người ta xôn xao nhưng làm trái tim Thiên Chúa đau. Một lời lạnh lùng với cha mẹ già. Một thái độ vô tâm với vợ chồng. Một sự bỏ mặc con cái. Một mối hận giữ nhiều năm. Một người anh em ta không chịu nhìn mặt. Một người nghèo ta đi ngang như chẳng thấy. Một câu nói ta biết sẽ làm người khác đau nhưng vẫn nói. Một bí mật của người khác ta biết không nên kể nhưng vẫn kể. Những điều ấy cũng cần lòng thương xót.
Và khi nhận ra mình cũng là con nợ, ta sẽ bớt đòi nợ anh em. Đây là điều rất quan trọng. Có người cầu nguyện mỗi ngày: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, nhưng trong lòng lại giữ một danh sách những người mình nhất quyết không tha. Có người được Thiên Chúa tha vô số lần nhưng một lỗi nhỏ người khác làm với mình thì giữ suốt mười năm. Tin Mừng hôm nay mời ta nhớ lại xem mình đã được Chúa tha bao nhiêu. Bao nhiêu lần ta hứa rồi lại phạm? Bao nhiêu lần Chúa vẫn cho ta bắt đầu lại? Bao nhiêu sáng ta mở mắt ra dù hôm qua sống chẳng tốt lành gì? Bao nhiêu lần ta lãnh Bí tích Hòa Giải? Bao nhiêu lần Chúa lại đặt Mình Thánh vào bàn tay hay trên lưỡi ta? Bao nhiêu lần Chúa kiên nhẫn chờ? Nếu Chúa đối xử với ta đúng như ta đối xử với người xúc phạm mình, liệu ta còn đứng nổi không? Người đã nếm lòng thương xót phải trở thành người biết thương xót. Người đã được tha phải học tha. Người đã được Chúa kiên nhẫn phải kiên nhẫn với người khác. Người đã được Chúa cho cơ hội thứ một trăm không được keo kiệt với người chỉ xin ta cơ hội thứ hai.
Người phụ nữ lấy dầu thơm đổ lên chân Chúa. Dầu thơm là thứ quý. Chị không tính toán. Tình yêu thật sự thường có một chút “hoang phí” như thế. Người yêu không hỏi: “Tối thiểu phải làm bao nhiêu?” nhưng hỏi: “Tôi còn có thể làm gì nữa?” Người sống đạo vì luật thường hỏi: “Bỏ lễ trong trường hợp nào mới thành tội?” Người yêu Chúa lại hỏi: “Làm sao tôi có thể gặp Chúa nhiều hơn?” Người giữ đạo vì nghĩa vụ hỏi: “Phải cầu nguyện bao lâu?” Người yêu hỏi: “Sao thời gian với Chúa lại trôi nhanh thế?” Người sống bác ái tối thiểu hỏi: “Cho bao nhiêu thì đủ?” Người có lòng thương xót hỏi: “Người anh em này còn cần gì?” Khi ta thật sự biết Chúa đã yêu ta đến mức nào, Kitô giáo không còn là một danh sách những điều phải làm và không được làm. Nó trở thành một chuyện tình. Ta giữ điều răn vì yêu. Ta tránh tội vì không muốn làm buồn Đấng yêu mình. Ta phục vụ vì biết mọi người là anh chị em. Ta đi lễ không chỉ vì sợ tội trọng nhưng vì nhớ một Người đang đợi mình. Ta xưng tội không chỉ để xóa một danh sách vi phạm nhưng để trở lại vòng tay Cha. Ta làm việc bác ái không phải để được tiếng tốt mà vì nhận ra khuôn mặt Đức Kitô nơi người nghèo. Khi tình yêu bước vào, đời sống đạo đổi khác.
Có lẽ trong ngày hôm nay, mỗi người nên dành ít phút ngồi yên trước Chúa và tự hỏi: Tôi giống người phụ nữ hay giống Simon hơn? Có lẽ câu trả lời thật nhất là: tôi có cả hai. Trong tôi có người phụ nữ cần được tha thứ, và cũng có Simon thích xét đoán. Trong tôi có một trái tim khát Chúa, nhưng cũng có một cái tôi tự mãn. Có lúc tôi khóc vì tội mình; có lúc tôi lại vui khi thấy lỗi người khác. Có lúc tôi thấy mình chẳng là gì nếu không có Chúa; có lúc tôi sống như thể mọi thành công là của mình. Vì vậy tôi cần Chúa chữa cả hai phần ấy: chữa người tội lỗi trong tôi bằng lòng thương xót, và chữa người Pharisêu trong tôi bằng sự khiêm nhường. Xin Chúa cho tôi đủ thật lòng để thú nhận rằng tôi cần được cứu. Xin Chúa cho tôi đủ khiêm nhường để không coi thường một ai. Xin Chúa cho tôi nhớ rằng dưới chân thập giá không có người nào có thể đứng mà khoe công trạng; tất cả chúng ta đều là những người được cứu bởi một tình yêu mà mình không thể tự mua lấy.
Cuối cùng, có một câu thật đẹp Đức Giêsu nói với người phụ nữ: “Chị hãy đi bình an.” Chúa không giữ chị mãi ở quá khứ. Chúa không nói: “Chị cứ ngồi đây mà nhớ lại những tội ngày xưa.” Không. “Hãy đi.” Tha thứ thật sự mở ra một con đường mới. Chúa tha không phải chỉ để ta cảm thấy dễ chịu trong vài phút nhưng để ta đứng lên và sống một cuộc đời khác. Sau Bí tích Hòa Giải, hãy đi. Sau một lần được Chúa đánh động, hãy đi. Sau những giọt nước mắt, hãy đi. Đừng ở mãi bên nấm mồ của quá khứ. Đừng đào lại những gì Thiên Chúa đã chôn. Đừng cho tội lỗi cũ quyền điều khiển tương lai mới. “Hãy đi bình an.” Bình an ở đây không có nghĩa đời từ nay không còn khó khăn. Bình an là biết rằng giữa mọi khó khăn mình thuộc về Chúa. Bình an là biết rằng tội mình đã được tha. Bình an là không còn phải trốn chạy Thiên Chúa. Bình an là có thể nhìn vào quá khứ mà không tuyệt vọng, nhìn vào hiện tại mà không sợ hãi, nhìn về tương lai mà vẫn hy vọng. Bình an là biết rằng đời tôi có thể nhiều vết sẹo nhưng những vết sẹo ấy không còn là dấu hiệu của thất bại mà có thể trở thành chứng tích của lòng thương xót.
Nếu hôm nay có ai đọc Tin Mừng này mà đang mang một quá khứ nặng nề, xin hãy nghe lời Đức Giêsu như nói cho chính mình: “Đừng sợ. Hãy đến.” Nếu có ai nghĩ mình tội quá, xin nhớ: lòng thương xót Chúa lớn hơn tội của ta. Nếu có ai đã lâu không xưng tội vì xấu hổ, hãy trở về. Tòa giải tội không phải phòng xử án để Thiên Chúa làm nhục con người; đó là nơi người Cha dang tay đón đứa con trở về. Nếu có ai đang tuyệt vọng về một người thân, hãy tiếp tục cầu nguyện. Ân sủng đã biến Saulô thành Phaolô thì cũng có thể chạm đến người ta đang nghĩ là chẳng còn hy vọng. Nếu có ai đang giữ hận, hôm nay hãy xin Chúa cho mình bắt đầu tha thứ. Có thể cảm xúc chưa thay đổi ngay, nhưng ít nhất hãy nói với Chúa: “Con muốn muốn tha thứ. Xin Chúa giúp con.” Nếu có ai đang quen xét đoán, hôm nay trước khi kể lỗi của người khác, hãy nhớ lại một lỗi của chính mình đã từng được Chúa tha. Có khi chỉ cần nhớ mình cũng là một con nợ, ta sẽ dịu dàng hơn rất nhiều với con nợ bên cạnh.
Và nếu hôm nay đời ta tương đối bình an, hãy đừng quên cảm ơn. Có thể Chúa đã cứu ta khỏi rất nhiều điều mà ta chẳng bao giờ biết. Có những cám dỗ ta không sa vào không hẳn vì ta mạnh hơn người khác mà vì Chúa gìn giữ. Có những hoàn cảnh ta không gặp phải nên ta chưa biết mình yếu đến đâu. Vì vậy đừng vội nói: “Nếu là tôi, tôi không bao giờ làm như người ấy.” Ta không biết. Tốt hơn hãy nói: “Lạy Chúa, xin giữ con.” Khi thấy một người ngã, thay vì khinh họ, hãy âm thầm cầu: “Lạy Chúa, xin nâng họ dậy và cũng xin giữ con khỏi sa ngã.” Đó là thái độ của người biết ân sủng.
Người phụ nữ hôm nay bước vào căn nhà với một cái tên xấu nhưng bước ra với bình an. Chị bước vào dưới ánh mắt kết án của con người nhưng bước ra dưới ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa. Chị bước vào mang theo quá khứ, bước ra mang theo tương lai. Chị bước vào như một “người tội lỗi”, bước ra như một người được cứu. Khoảng cách giữa hai thân phận ấy chỉ là một cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu. Và đó cũng là Tin Mừng cho chúng ta: một cuộc gặp thật sự với Đức Kitô có thể làm thay đổi toàn bộ hướng đi của đời người. Không phải lúc nào Chúa cũng thay đổi hoàn cảnh ngay lập tức, nhưng Người có thể thay đổi trái tim đang sống trong hoàn cảnh ấy. Không phải lúc nào Chúa cũng xóa mọi hậu quả quá khứ, nhưng Người có thể biến chính những vết thương thành nơi ân sủng đi qua. Không phải lúc nào Chúa cũng trả lại những gì ta đã mất, nhưng Người có thể cho ta một ý nghĩa mới, một hy vọng mới, một con đường mới. Vì vậy, đừng chạy khỏi Chúa khi phạm tội. Chính lúc ấy càng phải chạy đến với Người. Trẻ nhỏ té ngã không chạy khỏi mẹ; nó chạy về phía mẹ. Người Kitô hữu cũng vậy. Khi yếu đuối, hãy chạy về phía Chúa. Khi lạc đường, hãy trở lại. Khi lòng tan vỡ, hãy đặt những mảnh vỡ ấy dưới chân Chúa. Khi không còn lời nào để cầu nguyện, hãy để nước mắt cầu thay.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con không muốn đứng xa để quan sát người phụ nữ trong Tin Mừng; con muốn nhận ra chính mình trong chị. Con cũng là người đã được Chúa tha rất nhiều. Có những tội người khác biết, có những tội chỉ mình con biết, và có lẽ còn những bóng tối trong lòng mà chính con chưa nhìn thấy hết. Nhưng Chúa biết tất cả và Chúa vẫn cho con được đến gần. Xin đừng để con vì đã sống đạo lâu năm mà trở thành Simon, quen ngồi cạnh Chúa nhưng lòng lại xa Chúa; nói nhiều về đạo nhưng thiếu lòng thương xót; biết luật nhưng không biết khóc; thấy rất rõ cái rác trong mắt người khác nhưng lại không nhận ra sự kiêu ngạo trong chính mình. Xin cho con trái tim của người phụ nữ hôm nay: biết đau vì đã làm Chúa buồn, biết tin vào lòng thương xót, biết yêu nhiều vì ý thức mình đã được tha nhiều. Xin cho con đừng bao giờ tuyệt vọng về chính mình, cũng đừng tuyệt vọng về bất cứ người nào. Xin cho con biết nhìn người khác bằng ánh mắt Chúa nhìn họ, biết cho người sa ngã một con đường trở về, cho người lầm lỗi một cơ hội bắt đầu, cho người đang bị kết án một chút cảm thông, cho người đang khóc một bờ vai, cho người đang tuyệt vọng một lời hy vọng. Xin dạy con biết tha thứ vì con đã được tha, biết thương xót vì con đang sống từng ngày nhờ lòng thương xót, biết khiêm nhường vì mọi điều tốt đẹp nơi con đều là ân sủng.
Lạy Chúa, xin cho mỗi Thánh lễ con tham dự không trở thành thói quen, mỗi lần rước lễ không trở thành một cử chỉ máy móc, mỗi lần xưng tội không trở thành thủ tục. Xin làm cho con biết kinh ngạc vì Chúa vẫn còn muốn bước vào căn nhà tâm hồn con. Xin cho con hiểu rằng điều kỳ diệu không phải là con đi tìm được Chúa, nhưng là Chúa đã tìm con trước; không phải con yêu Chúa trước, nhưng Chúa đã yêu con trước; không phải con xứng đáng được tha thứ, nhưng Chúa đã chọn thương xót con. Và khi hiểu điều ấy, xin cho cuộc đời con trở thành bình dầu thơm được đổ ra: dầu thơm của những việc bác ái âm thầm, của những lời nói dịu dàng, của sự nhẫn nại trong gia đình, của một lần chủ động làm hòa, của một lời xin lỗi chân thành, của một lần im lặng không nói xấu, của một nghĩa cử dành cho người nghèo, của một giờ cầu nguyện trong đêm tối, của một đời sống phục vụ không tìm tiếng khen.
Bởi sau cùng, lạy Chúa, khi đứng trước mặt Chúa, con chẳng có gì để khoe ngoài lòng thương xót Chúa đã dành cho con. Nếu con còn đứng được là nhờ Chúa nâng. Nếu con còn tin là nhờ Chúa giữ. Nếu con còn có thể yêu là vì con đã được yêu trước. Nếu con còn có thể bắt đầu lại là vì lòng thương xót của Chúa không bao giờ mệt mỏi. Xin cho đến ngày cuối đời, con vẫn giữ được tâm tình của người phụ nữ quỳ dưới chân Chúa: không tự hào, không biện minh, không xét đoán ai, chỉ biết khóc vì đã từng làm Chúa buồn, biết ơn vì đã được Chúa tha, và yêu Chúa bằng tất cả phần đời còn lại. Và khi hành trình dương thế khép lại, xin cho con cũng được nghe chính lời Chúa đã nói với chị năm xưa: “Lòng tin của con đã cứu con. Hãy đi bình an.”
Lm. Anmai, CSsR

KHI NƯỚC MẮT TRỞ THÀNH LỜI CẦU NGUYỆN – THỨ NĂM TUẦN XXIV THƯỜNG NIÊN
Có những lúc trong cuộc đời, con người chẳng còn biết phải nói gì với Thiên Chúa. Miệng không tìm ra lời, trí không tìm ra lý lẽ, đôi bàn tay cũng chẳng có gì đáng giá để dâng lên Người, và cuối cùng chỉ còn lại những giọt nước mắt. Tin Mừng hôm nay kể cho chúng ta về một người phụ nữ như thế. Chị không bước vào nhà ông Simon với một bài diễn văn được chuẩn bị cẩn thận, không mang theo một bảng thành tích đạo đức, không tìm cách giải thích quá khứ của mình, cũng chẳng đứng trước Đức Giêsu để biện hộ rằng người ta đã hiểu lầm chị. Chị chỉ bước vào, đến gần chân Người, khóc, lấy nước mắt mà tưới chân Người, lấy tóc mình mà lau, hôn chân Người rồi đổ dầu thơm lên. Một khung cảnh thật lạ. Chung quanh Đức Giêsu có những người rất chỉnh tề, rất nghiêm túc, rất đúng luật, rất hiểu biết; còn dưới chân Người lại là một người đàn bà mà cả thành phố dường như đã biết quá khứ. Thế nhưng điều kỳ diệu của Tin Mừng nằm ngay ở nghịch lý ấy: người bị mọi người coi là xa Thiên Chúa nhất lại có thể đang là người ở gần Thiên Chúa nhất; còn người tưởng mình gần Thiên Chúa nhất đôi khi lại đang đứng rất xa lòng thương xót của Người. Cuộc gặp gỡ ấy vì thế không chỉ là câu chuyện về một người phụ nữ tội lỗi hai ngàn năm trước, nhưng là tấm gương soi vào từng người chúng ta hôm nay: tôi đang đứng ở đâu trong căn nhà ấy? Tôi là người phụ nữ đang khóc dưới chân Đức Giêsu, hay tôi đang ngồi ở bàn tiệc như Simon, bình thản quan sát người khác và âm thầm kết án họ trong lòng?
Simon mời Đức Giêsu dùng bữa. Đó là một hành động đáng quý. Ông mở cửa nhà cho Chúa, nhưng dường như ông chưa mở cửa lòng cho Chúa. Người phụ nữ không có tên trong Tin Mừng lại làm điều ngược lại: chị có thể không sở hữu một ngôi nhà đủ danh giá để mời Đức Giêsu, nhưng chị mở cả cuộc đời mình trước mặt Người. Simon cho Chúa một chỗ trong bàn ăn, người phụ nữ cho Chúa một chỗ trong tận đáy lòng mình. Simon nhìn Đức Giêsu bằng con mắt dò xét: “Nếu ông này thật là ngôn sứ, ông phải biết người đàn bà đang chạm vào mình là hạng người nào.” Còn người phụ nữ nhìn Đức Giêsu bằng đôi mắt đẫm lệ của một người biết mình cần được cứu. Đây chính là khác biệt rất lớn giữa một thứ đạo đức chỉ dừng lại ở việc quan sát và một đức tin thực sự dẫn con người đến gặp Thiên Chúa. Có thể người ta ở rất gần nhà thờ mà lòng rất xa Chúa; có thể người ta biết rất nhiều giáo lý mà chưa từng để cho Tin Mừng chạm đến những góc tối của đời mình; có thể người ta đọc kinh mỗi ngày nhưng vẫn giữ trong lòng cả một danh sách những người mình khinh thường; có thể người ta đi lễ đều đặn mà trái tim vẫn rất cứng trước nỗi đau của một người sa ngã. Đức tin không được đo trước hết bằng việc ta nhìn người khác rõ đến đâu, nhưng bằng việc ta nhận ra mình cần lòng thương xót của Thiên Chúa đến mức nào.
Simon nhìn người phụ nữ và chỉ thấy quá khứ. Đức Giêsu nhìn chị và thấy một con người đang trở về. Simon nhìn thấy tội lỗi; Đức Giêsu nhìn thấy nước mắt thống hối. Simon nhìn thấy một người không xứng đáng; Đức Giêsu nhìn thấy một trái tim đang mở ra. Simon giam người phụ nữ trong điều chị đã từng làm; Đức Giêsu mở cho chị một con đường đi tới tương lai. Và đây là một trong những nét đẹp nhất của Tin Mừng: Thiên Chúa không đồng hóa một con người với tội lỗi của họ. Con người có thể phạm tội, nhưng con người không phải là tội lỗi. Một người có thể đã sai lầm, nhưng đời họ không bị kết án phải sống mãi trong sai lầm ấy. Một người có thể đã ngã rất sâu, nhưng nơi sâu nhất họ ngã xuống vẫn không sâu hơn lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta thường rất dễ đóng khung nhau bằng quá khứ: “Anh ấy là người như vậy rồi”, “chị ấy trước kia đã từng thế”, “người đó không thay đổi đâu”, “gia đình ấy có tiếng từ lâu rồi”. Chỉ một câu nói cũng đủ dựng lên một nhà tù quanh đời một người. Nhưng Đức Giêsu không dựng nhà tù; Người mở cửa. Người không bảo rằng tội chẳng quan trọng. Trái lại, Người nhìn tội rất nghiêm túc, bởi tội làm con người tổn thương, phá hủy tương quan và làm chúng ta xa Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu còn nhìn thấy một điều lớn hơn tội: đó là khả năng một con người được ân sủng biến đổi.
Người phụ nữ khóc. Có lẽ chị đã khóc rất nhiều lần trong đời. Có những giọt nước mắt vì bị người ta lợi dụng, có những giọt nước mắt vì bị khinh khi, có những giọt nước mắt vì chính mình thất vọng về mình, có những giọt nước mắt vì muốn làm lại mà không biết bắt đầu từ đâu. Nhưng hôm nay nước mắt ấy rơi xuống chân Đức Giêsu. Và từ giây phút đó, nước mắt không còn chỉ là biểu hiện của đau khổ nữa; nước mắt trở thành lời cầu nguyện. Có những lời cầu nguyện không được đọc bằng môi mà được viết bằng nước mắt. Một người mẹ ngồi bên giường bệnh của con, chẳng còn lời nào ngoài tiếng thở dài; một người cha thất nghiệp nhìn gia đình mà không biết ngày mai phải làm sao; một người vợ chịu quá nhiều tổn thương nhưng vẫn cố giữ mái ấm; một người chồng muốn quay lại sau những lỗi lầm của mình; một người trẻ vừa phạm một sai lầm lớn và cảm tưởng cuộc đời đã khép lại; một người già cô đơn trong căn phòng nhỏ; một người đang mang mặc cảm về một quá khứ không thể kể cho ai nghe. Có thể họ không đọc được những lời cầu nguyện dài, nhưng nước mắt của họ đã đến trước mặt Chúa. Và nếu Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta điều gì, thì đó là: đừng xấu hổ khi khóc trước mặt Thiên Chúa. Ta có thể phải mạnh mẽ trước mặt người đời, nhưng trước mặt Chúa ta không cần đóng kịch. Người biết hết những gì đang vỡ vụn bên trong ta. Người phụ nữ hôm nay được cứu không phải vì chị giỏi che giấu quá khứ, mà vì chị đủ can đảm đem quá khứ ấy đến đặt dưới chân Đức Giêsu.
Chị đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Có lẽ đó là vật quý. Nhưng khi một trái tim thật sự gặp được lòng thương xót, người ta không còn tính toán nữa. Tình yêu đích thực luôn có một chút “hoang phí” trong mắt những người chỉ biết cân đo. Một người mẹ thức cả đêm với con bệnh là hoang phí nếu tính bằng giờ lao động; một người cha âm thầm hy sinh cả tuổi trẻ cho gia đình là hoang phí nếu đo bằng lợi ích cá nhân; một người tha thứ cho kẻ từng làm mình tổn thương có thể bị xem là dại; một người dành đời mình phục vụ người nghèo có thể bị hỏi rằng được gì; một linh mục bỏ nhiều giờ ngồi nghe một người đang đau khổ có thể chẳng tạo ra thứ gì đo được bằng con số. Nhưng tình yêu không sống bằng máy tính. Người phụ nữ đổ dầu thơm lên chân Chúa bởi chị biết mình đã gặp một điều quý hơn tất cả những gì mình sở hữu: chị gặp lòng thương xót. Khi đã chạm vào lòng thương xót, người ta sẽ hiểu rằng có những thứ trong đời đáng để trao đi mà không cần thu lại.
Đức Giêsu kể cho Simon câu chuyện hai con nợ. Một người mắc nợ nhiều, một người mắc nợ ít, cả hai đều không có khả năng trả, và chủ nợ tha cho cả hai. Ai sẽ yêu chủ nợ hơn? Simon trả lời: người được tha nhiều hơn. Đức Giêsu nói ông xét đúng. Câu chuyện rất đơn giản nhưng đánh trúng căn bệnh sâu trong lòng người đạo đức: ta thường tưởng mình mắc nợ Chúa ít hơn người khác. Ta nhìn một người nghiện ngập, một người đổ vỡ hôn nhân, một người từng sống bê bối, một người bỏ đạo nhiều năm, rồi tự nhiên cảm thấy mình khá hơn. Ta quên mất những thứ không ai nhìn thấy: tính kiêu căng, ích kỷ, lạnh lùng, ganh tị, tham vọng, cay nghiệt, những lần nói xấu, những lần không tha thứ, những phán đoán âm thầm, những việc tốt được làm chỉ để tìm tiếng khen, những giờ cầu nguyện nhưng lòng không có tình yêu. Có những tội ồn ào khiến cả làng biết, nhưng cũng có những tội rất im lặng được che dưới một vẻ ngoài đạo đức. Và đôi khi chính những tội im lặng ấy nguy hiểm hơn, bởi người mắc nó không còn cảm thấy mình cần được chữa lành.
Đức Giêsu không nói người phụ nữ yêu nhiều nên mua được ơn tha thứ. Tình yêu của chị là hoa trái của kinh nghiệm được tha thứ. Khi một người thật sự biết Thiên Chúa đã tha thứ cho mình nhiều đến mức nào, lòng họ tự nhiên trở nên mềm lại. Người từng được đỡ dậy sẽ bớt chế nhạo người đang ngã. Người biết mình từng được kiên nhẫn sẽ kiên nhẫn hơn với người khác. Người ý thức mình đã nhiều lần được Chúa cho cơ hội làm lại sẽ bớt đóng cửa tương lai của anh chị em. Đó là lý do một người sống sâu bí tích Hòa Giải không thể trở thành một con người thích kết án. Tòa giải tội thật sự phải làm trái tim chúng ta mềm đi. Nếu càng đi xưng tội mà càng khó chịu với lỗi lầm người khác, có lẽ chúng ta mới chỉ kể tội mà chưa thật sự gặp lòng thương xót. Nếu mỗi lần lãnh nhận ơn tha thứ, ta nhớ rằng mình đang sống nhờ ân sủng chứ không nhờ công trạng, ta sẽ nhìn anh chị em bằng một ánh mắt khác.
Bài đọc thứ nhất cho chúng ta một chứng nhân khác của ân sủng: thánh Phaolô. Ông không che quá khứ của mình. Ông từng bắt bớ Hội Thánh. Ông ý thức mình không xứng đáng được gọi là Tông đồ. Thế nhưng ông có một câu rất đẹp: “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay.” Đó có thể là câu tóm tắt đời mỗi Kitô hữu. Nếu hôm nay ta còn đức tin, là nhờ ơn Chúa. Nếu sau bao lần lạc đường ta vẫn biết đường trở về, là nhờ ơn Chúa. Nếu ta đã đi qua những năm tháng khó khăn mà vẫn đứng được, là nhờ ơn Chúa. Nếu sau một biến cố khiến ta tưởng mình không thể tiếp tục mà hôm nay vẫn còn sống, còn cầu nguyện, còn hy vọng, là nhờ ơn Chúa. Nếu trong đời ta có một chút gì tốt đẹp, đừng vội biến nó thành lý do để kiêu ngạo. Phaolô là một Tông đồ lớn nhưng không bao giờ quên mình đã từng được cứu từ đâu. Một người càng đi sâu vào đời sống thiêng liêng càng nhận ra mình sống bằng ân sủng. Ngược lại, càng xa ân sủng người ta càng dễ nghĩ rằng tất cả là công trạng của mình.
Câu nói của Phaolô “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay” và giọt nước mắt của người phụ nữ dưới chân Đức Giêsu gặp nhau ở một điểm: cả hai đều thú nhận rằng con người không tự cứu mình. Ta có thể cố gắng rất nhiều, nhưng có những xiềng xích chỉ ân sủng mới tháo được. Có những vết thương chỉ tình yêu Thiên Chúa mới chữa được. Có những quá khứ chỉ lòng thương xót mới giải thoát ta khỏi sức nặng của nó. Tin Mừng không nói rằng chúng ta chẳng cần cố gắng; Tin Mừng nói rằng mọi cố gắng sinh hoa trái khi ta để cho ân sủng hoạt động. Người Kitô hữu không phải người tự hào: “Tôi đã tự làm mình nên thánh.” Người Kitô hữu là người kinh ngạc thốt lên: “Chúa đã kiên nhẫn với tôi biết bao!”
Điều đáng sợ nhất không phải là một con người có tội. Điều đáng sợ nhất là một con người không còn thấy mình cần được tha thứ. Người phụ nữ biết chị cần Chúa, nên chị đến. Simon nghĩ mình khá ổn, vì thế ông đứng ngoài phép lạ dù phép lạ đang xảy ra ngay trong nhà ông. Có thể phép lạ lớn nhất trong căn nhà ấy không phải là một bệnh nhân được chữa khỏi hay một người chết sống lại, nhưng là một trái tim bị tội lỗi nghiền nát được dựng dậy. Một đời người được trả lại phẩm giá. Một người mà xã hội gọi bằng quá khứ của chị được Đức Giêsu gọi bằng tương lai: “Đức tin của chị đã cứu chị; chị hãy đi bình an.” Câu cuối ấy tuyệt đẹp. Chúa không nói: “Ngồi đây mãi mà khóc.” Người nói: “Hãy đi.” Lòng thương xót không giữ ta mãi trong mặc cảm. Chúa tha thứ để sai ta trở lại cuộc đời. Người không muốn chúng ta sống suốt đời với cái đầu cúi xuống vì xấu hổ. Khi đã thú nhận, đã sám hối, đã đón nhận ơn tha thứ, hãy đứng lên mà đi. Có những người đã được Chúa tha từ lâu nhưng chính họ vẫn chưa chịu tha cho mình. Họ cứ đào lại vết thương, cứ nhớ mãi một lỗi lầm, cứ nghĩ mình không xứng đáng có tương lai. Tin Mừng hôm nay nói với họ: “Hãy đi bình an.” Đừng biến quá khứ thành một vị thần quyền lực hơn lòng thương xót của Chúa.
Nhưng có một điều nữa: người phụ nữ bước vào một căn phòng đầy ánh mắt xét đoán. Chị biết người ta nghĩ gì về chị mà vẫn đi. Điều đó đòi hỏi một đức tin rất lớn. Đôi khi con đường trở về với Chúa khó không phải vì Chúa khước từ chúng ta, nhưng vì chúng ta sợ ánh mắt của người đời. Một người muốn trở lại nhà thờ sau nhiều năm xa cách có thể ngại: người ta sẽ nói gì? Một người muốn đi xưng tội sau một lỗi lầm lớn có thể sợ: cha giải tội sẽ nghĩ gì? Một gia đình từng đổ vỡ muốn bắt đầu lại có thể lo: hàng xóm sẽ nhìn thế nào? Tin Mừng hôm nay trả lời: đừng để ánh mắt của Simon ngăn ta đến chân Đức Giêsu. Ơn cứu độ của ta quan trọng hơn lời bàn tán của thiên hạ. Người ta có quyền nhớ quá khứ của ta; nhưng chỉ Thiên Chúa có quyền nói lời cuối cùng về cuộc đời ta. Và lời cuối cùng của Người, nếu ta thành tâm trở về, không phải là kết án mà là bình an.
Đối với cộng đoàn Kitô hữu, Tin Mừng này cũng đặt ra một câu hỏi rất đau: những người mang quá khứ nhiều thương tích có cảm thấy an toàn khi bước vào nhà thờ của chúng ta hay không? Một người sa ngã, một đôi vợ chồng đang khủng hoảng, một bạn trẻ có đời sống rối ren, một người nghiện, một người vừa ra tù, một người đã nhiều năm bỏ lễ, một bà mẹ đơn thân, một người bị xã hội mang tiếng – khi họ bước vào cộng đoàn, họ sẽ gặp ánh mắt của Đức Giêsu hay ánh mắt của Simon? Cộng đoàn Kitô hữu không phải là bảo tàng trưng bày những người hoàn hảo; Hội Thánh là ngôi nhà của những người đang được chữa lành. Không ai đến bệnh viện vì đã khỏe hoàn toàn. Cũng vậy, người ta đến với Chúa chính vì đang cần cứu chữa. Giáo xứ sẽ thật sự mang khuôn mặt Tin Mừng khi người tội lỗi có thể bước qua cửa mà biết rằng nơi đây người ta không gọi họ bằng vết thương của họ nhưng bằng tên của họ; không khoét sâu quá khứ nhưng giúp họ tìm đường trở lại.
Chúng ta cũng cần nhìn lại cách mình sử dụng lời nói. Simon không nói câu xét đoán thành tiếng, ông chỉ nghĩ trong lòng. Đức Giêsu vẫn biết. Có nghĩa là xét đoán không chỉ là những gì ta nói trên môi. Có những phiên tòa diễn ra hoàn toàn bên trong trái tim: ta tự làm quan tòa, tự thu thập chứng cứ, tự kết tội, tự tuyên án một con người mà chẳng bao giờ nghe câu chuyện đầy đủ của họ. Có khi ta nhìn một bức ảnh, nghe một lời đồn, biết một phần sự việc rồi lập tức kết luận cả cuộc đời người ta. Thời đại mạng xã hội làm căn bệnh Simon trở nên nguy hiểm hơn, bởi chỉ vài phút người ta có thể biến lỗi lầm của một người thành trò giải trí cho hàng ngàn người. Người Kitô hữu phải tự hỏi trước khi chia sẻ một chuyện về người khác: việc này có cứu ai không? Có chữa lành ai không? Có giúp người ấy trở về không? Hay chỉ khiến tôi cảm thấy mình tốt hơn họ?
Đức Giêsu nhìn Simon mà không làm nhục ông. Đây cũng là lòng thương xót. Chúa thương người phụ nữ nhưng Người cũng muốn chữa Simon. Người kể dụ ngôn để mở mắt ông. Như thế Tin Mừng hôm nay không chia nhân loại thành một bên là người xấu cần sám hối và một bên là người tốt không cần gì nữa. Cả người phụ nữ lẫn Simon đều cần được cứu, chỉ khác nhau ở chỗ người phụ nữ biết mình cần, còn Simon chưa nhận ra. Có khi tội nhân công khai dễ được chữa hơn người đạo đức kiêu căng, bởi người đầu tiên thấy vết thương nên tìm thầy thuốc, còn người thứ hai tưởng mình khỏe nên từ chối chữa trị. Vì thế lời cầu nguyện khôn ngoan không phải: “Lạy Chúa, xin sửa người kia”, mà trước hết là: “Lạy Chúa, xin cho con thấy phần nào trong con đang cần được chữa.”
Có một chi tiết rất cảm động: người phụ nữ đứng ở phía sau, sát chân Đức Giêsu. Chị không dám đòi một vị trí danh dự. Nhưng chính nơi thấp nhất ấy chị gặp được điều cao quý nhất. Đời sống Kitô hữu có nghịch lý như vậy: càng cúi xuống ta càng gần Chúa. Thế giới dạy người ta cố đứng cao để được nhìn thấy; Tin Mừng dạy cúi thấp để nhìn thấy Chúa. Càng bớt bảo vệ cái tôi, ta càng dễ mở lòng cho ân sủng. Người phụ nữ không còn gì để bảo vệ. Danh tiếng đã mất, quá khứ ai cũng biết, chị chỉ còn một hy vọng là Đức Giêsu. Và khi Chúa trở thành hy vọng cuối cùng, nhiều khi ta mới khám phá Người vốn là hy vọng duy nhất ngay từ đầu.
Dầu thơm của người phụ nữ rồi sẽ cạn. Nước mắt rồi sẽ khô. Bữa tiệc rồi sẽ kết thúc. Nhưng câu nói của Đức Giêsu sẽ đi với chị suốt phần đời còn lại: “Đức tin của chị đã cứu chị; chị hãy đi bình an.” Bình an không có nghĩa là từ ngày ấy chị sẽ không bao giờ gặp khó khăn. Bình an là từ ngày ấy chị biết mình thuộc về ai. Người khác có thể tiếp tục nhớ quá khứ của chị, nhưng chị đã nghe chính Đức Giêsu nói lời tha thứ. Đó là sức mạnh của người đã gặp Chúa. Không phải mọi lời người đời nói về mình đều biến mất; nhưng có một Lời lớn hơn tất cả những lời ấy. Nếu Chúa nói “con được tha”, tại sao tôi cứ để lời kết án của người đời cai trị mình? Nếu Chúa nói “hãy đi bình an”, tại sao tôi cứ tự nhốt mình trong nhà tù mặc cảm?
Ngày hôm nay, có lẽ mỗi người chúng ta nên dành một chút thời gian đứng vào vị trí của người phụ nữ ấy. Không cần mang dầu thơm. Chỉ cần mang sự thật của đời mình. Có điều gì ta vẫn đang giấu Chúa dù biết Người đã biết? Có tội nào ta trì hoãn xưng thú? Có vết thương nào khiến ta trở nên cay nghiệt? Có người nào ta đang xét đoán như Simon? Có quá khứ nào ta vẫn chưa tin rằng Chúa có thể chữa lành? Hãy đặt tất cả xuống chân Đức Giêsu. Ta không cần phải làm mình trở nên xứng đáng rồi mới đến với Người; ta đến với Người để Người làm ta nên mới. Người phụ nữ không tẩy sạch đời mình trước khi bước vào căn nhà ấy. Chị bước vào như chị đang là. Đó là khởi đầu của ân sủng.
Có người nghĩ rằng muốn trở về với Chúa phải đợi khi mình tốt hơn. Không. Nếu một người đang chìm mà nói: “Đợi tôi biết bơi rồi tôi mới nắm lấy tay cứu hộ”, thì người ấy chẳng bao giờ được cứu. Chúng ta đến với Chúa vì ta cần Người. Hãy đến trong tình trạng bừa bộn của đời mình. Hãy đến với những câu hỏi chưa có câu trả lời, những thói quen chưa chiến thắng, những vết thương chưa lành, những nước mắt chưa khô. Chúa không sợ sự bừa bộn của lòng ta. Người chỉ chờ ta mở cửa. Ân sủng không bắt đầu ở chỗ ta hoàn hảo; ân sủng bắt đầu ở chỗ ta thành thật.
Và sau khi được tha thứ, đến lượt ta trở thành người mang lòng thương xót vào đời. Không thể quỳ dưới chân Chúa để xin tha thứ rồi đứng lên bóp cổ anh em vì một món nợ nhỏ. Không thể mỗi ngày đọc “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” mà vẫn nuôi hận thù như một báu vật. Dĩ nhiên tha thứ không có nghĩa là coi điều ác thành điều tốt, không có nghĩa là tiếp tục để người khác làm hại mình, cũng không có nghĩa là không cần công lý. Tha thứ là từ chối để cái ác người khác đã làm trở thành ông chủ của trái tim mình. Tha thứ là trao quyền phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa. Tha thứ đôi khi cần thời gian rất dài, nhưng bước đầu có thể chỉ là một lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa thể yêu người ấy, nhưng xin đừng để lòng con biến thành nơi trú ngụ của hận thù.”
Người được tha nhiều sẽ yêu nhiều. Nhưng muốn yêu nhiều, trước hết phải biết mình đã được tha nhiều. Có lẽ căn bệnh lớn của đời sống thiêng liêng không phải chúng ta không biết Chúa yêu, nhưng là chúng ta đã quen với lòng thương xót đến mức không còn kinh ngạc. Ta đi xưng tội rồi bước ra như vừa hoàn tất một thủ tục. Ta dự lễ, nghe lời tha thứ, rước Mình Thánh Chúa nhưng chẳng còn thấy sửng sốt trước việc Thiên Chúa vẫn muốn ở với một con người mong manh như mình. Nếu một ngày chúng ta thực sự hiểu rằng Đấng thánh thiện tuyệt đối vẫn không chán chúng ta, rằng sau hàng trăm lần thất hứa Người vẫn mở cửa, rằng sau những lần ta quay lưng Người vẫn chờ, có lẽ ta cũng sẽ khóc như người phụ nữ kia. Không nhất thiết bằng nước mắt bên ngoài, nhưng bằng một trái tim tan chảy vì biết mình được yêu vượt quá điều mình xứng đáng.
Thánh Phaolô biết điều ấy nên ông nói: “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay.” Người phụ nữ biết điều ấy nên chị đổ bình dầu thơm. Cả hai đều là những con người đã được lòng thương xót viết lại cuộc đời. Phaolô từ người bách hại trở thành Tông đồ. Người phụ nữ từ kẻ bị xét đoán trở thành hình ảnh của tình yêu biết ơn. Điều đó có nghĩa là quá khứ không quyết định quyền năng của Thiên Chúa trên tương lai chúng ta. Có thể chúng ta đã đi sai một quãng rất dài, nhưng chỉ cần quay lại, Chúa vẫn có thể dùng phần đời còn lại để làm nên điều đẹp đẽ. Đừng bao giờ nói về chính mình hoặc về người khác rằng “hết rồi”. Chừng nào con người còn sống, chừng ấy cánh cửa ân sủng còn có thể mở.
Ước gì hôm nay khi nghe câu chuyện này, ta đừng đứng ngoài mà phân tích người phụ nữ đã phạm những tội gì. Tin Mừng cố tình không kể chi tiết ấy, có lẽ bởi điều quan trọng không phải chị đã phạm bao nhiêu tội, mà là chị đã gặp ai. Câu hỏi quan trọng nhất của đời Kitô hữu cũng không phải: “Quá khứ tôi tệ đến đâu?” nhưng là: “Hôm nay tôi có dám đến với Đức Giêsu hay không?” Người ta có thể mất nhiều năm để kể về bóng tối, nhưng chỉ một tia sáng cũng đủ làm bóng tối lui đi. Đức Kitô là ánh sáng ấy.
Nếu hôm nay trong lòng ta có nước mắt, hãy để nó rơi dưới chân Chúa. Nếu có mặc cảm, hãy đặt nó xuống. Nếu có tội lỗi, hãy trở về với bí tích Hòa Giải. Nếu đang giận ai, hãy xin Chúa bắt đầu công việc chữa lành. Nếu đang nhìn ai bằng ánh mắt của Simon, hãy xin một trái tim mới. Nếu ta nghĩ đời mình đã quá rối để Chúa sử dụng, hãy nhớ Phaolô. Nếu ta nghĩ mình đã quá xa để quay lại, hãy nhớ người phụ nữ trong Tin Mừng. Nếu người khác vẫn nhắc mãi quá khứ của ta, hãy nhớ lời Đức Giêsu. Và nếu chính ta không thể tha cho mình, hãy nghe Người nói thật chậm trong lòng: “Đức tin của con đã cứu con. Hãy đi bình an.”
Cuối cùng, có lẽ điều đẹp nhất của Tin Mừng hôm nay là Đức Giêsu không để người phụ nữ nằm mãi dưới chân Người. Sau nước mắt phải có một con đường. Sau sám hối phải có một cuộc đời mới. Sau tòa giải tội phải có sự thay đổi. Sau lời “con xin lỗi Chúa” phải có một quyết định cụ thể. Người đã gian dối thì tập sống thật. Người làm tổn thương gia đình thì bắt đầu chữa lành gia đình. Người nghiện nói xấu thì học im lặng. Người giữ hận thì bắt đầu cầu nguyện cho người mình không ưa. Người xa Chúa thì trở lại với Thánh lễ. Người khô khan thì dành lại vài phút mỗi ngày cho cầu nguyện. Lòng thương xót không phải chiếc chăn che để ta ngủ yên trong tội lỗi; lòng thương xót là bàn tay kéo ta đứng lên khỏi tội lỗi.
Xin cho mỗi người chúng ta hôm nay được gặp Đức Giêsu không chỉ như Simon gặp Người ở một bữa ăn, nhưng như người phụ nữ gặp Người bằng cả cuộc đời mình. Xin cho chúng ta đừng chỉ biết Chúa bằng trí óc nhưng thực sự để lòng thương xót của Người chạm đến những vùng sâu nhất trong tâm hồn. Xin cho những giọt nước mắt của chúng ta, nếu có, không trở thành tuyệt vọng nhưng trở thành lời cầu nguyện. Xin cho những lỗi lầm đã qua không biến thành xiềng xích nhưng thành nơi ta nhận ra ân sủng. Xin cho ta đủ khiêm nhường để nói như Phaolô: “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi được như tôi hiện nay.” Và xin cho một ngày nào đó, khi nhìn lại tất cả những đoạn đường quanh co của đời mình, ta có thể nhận ra rằng ở mọi khúc quanh ấy đều có một bàn tay âm thầm dẫn dắt, một lòng thương xót không mệt mỏi chờ đợi, một Thiên Chúa chưa bao giờ ngừng tin rằng chúng ta có thể bắt đầu lại.
Bởi vì điều làm nên vẻ đẹp của Kitô giáo không phải là câu chuyện những con người chưa bao giờ ngã, nhưng là câu chuyện của những con người đã ngã mà được Chúa đỡ dậy; không phải câu chuyện những người chưa từng có quá khứ, nhưng là những người đã trao quá khứ cho lòng thương xót; không phải câu chuyện của những trái tim không có vết thương, nhưng là những trái tim đã để Đức Kitô chạm vào vết thương và biến nó thành nơi ân sủng đi qua. Người phụ nữ trong Tin Mừng bước vào căn nhà ấy với một cái tên bị người đời che khuất bằng hai chữ “tội lỗi”, nhưng chị bước ra với một căn tính mới: một người được tha thứ, một người được cứu, một người được sai đi trong bình an. Đó cũng là điều Chúa muốn làm cho từng người chúng ta. Đừng sợ đến gần Người. Đừng sợ khóc trước mặt Người. Đừng sợ nói lại từ đầu câu chuyện đời mình. Vì dưới chân Đức Giêsu, không có giọt nước mắt chân thành nào bị phí đi, không có lời sám hối nào bị xem thường, không có quá khứ nào lớn hơn lòng thương xót, và không có một con người nào thành tâm trở về mà Người lại từ chối.
Lm. Anmai, CSsR

KHI NƯỚC MẮT CỦA NGƯỜI TỘI LỖI CHẠM ĐẾN LÒNG THƯƠNG XÓT
Có những trang Tin Mừng người ta đọc một lần rồi nhớ; cũng có những trang Tin Mừng càng sống lâu, càng nếm trải những yếu đuối của thân phận con người, càng va chạm với những đổ vỡ, những vấp ngã, những hối tiếc, những lần mình làm người khác đau và những lần chính mình bị người khác làm tổn thương, ta càng thấy trang Tin Mừng ấy giống như được viết riêng cho mình. Câu chuyện người phụ nữ tội lỗi bước vào nhà một người Pharisêu, quỳ xuống dưới chân Đức Giêsu, khóc, lấy nước mắt tưới chân Người, lấy tóc mình mà lau, hôn chân Người và xức dầu thơm, là một trang Tin Mừng như thế. Ở đó không có một bài diễn văn dài của người phụ nữ. Chị gần như chẳng nói lời nào. Nhưng nước mắt chị nói. Mái tóc chị nói. Bình dầu thơm chị mang theo nói. Đôi tay run rẩy chạm vào chân Chúa nói. Những nụ hôn của một con người từng bị người đời khinh miệt nói. Và trên tất cả, trái tim tan vỡ của chị nói với Đức Giêsu một điều mà đôi khi hàng ngàn lời kinh cũng chưa chắc nói được: “Lạy Chúa, con biết con là ai. Con biết quá khứ của con. Con biết những gì người ta nói về con. Con biết chính con cũng chẳng thể biện minh cho mình. Nhưng con tin Chúa vẫn còn một chỗ cho con.” Chính niềm tin ấy làm nên phép lạ. Không phải phép lạ làm người què bước đi, người mù nhìn thấy, người chết sống lại, nhưng là một phép lạ âm thầm hơn và có lẽ còn khó hơn: một con người đang bị quá khứ kết án được trao lại tương lai; một người tưởng như không còn giá trị được trả lại phẩm giá; một tâm hồn tưởng đã chết được sống lại; một con người từng chỉ biết cúi mặt trước ánh mắt khinh miệt của thế gian nay có thể đứng dậy và bước đi trong bình an. Tin Mừng hôm nay vì thế không chỉ kể chuyện một phụ nữ hai ngàn năm trước. Tin Mừng đang hỏi từng người chúng ta: khi đứng trước Chúa, ta là người phụ nữ đang khóc dưới chân Người, hay ta là Simon đang ngồi ở bàn ăn và âm thầm xét đoán? Có khi ta nghĩ mình là Simon, nhưng thật ra ta cũng là người phụ nữ tội lỗi; có khi ta nhận mình là người tội lỗi, nhưng trong cách sống lại cư xử như Simon, rất nhanh chóng đóng nhãn lên người khác, rất dễ dàng nhớ tội của họ, rất thành thạo trong việc kể lại quá khứ của họ, rất hào phóng khi nói về lòng thương xót của Thiên Chúa cho chính mình nhưng lại vô cùng dè sẻn khi phải trao lòng thương xót ấy cho người bên cạnh.
Điều đáng chú ý đầu tiên là Đức Giêsu nhận lời vào nhà người Pharisêu. Người không từ chối Simon. Nhưng Người cũng không xua đuổi người phụ nữ. Đó chính là trái tim của Thiên Chúa: một bàn ăn có chỗ cho người đạo đức và cũng có chỗ cho người tội lỗi; có chỗ cho người nghĩ mình đang sống đúng và có chỗ cho người biết rất rõ rằng đời mình đã sai; có chỗ cho kẻ đứng thẳng và có chỗ cho người chỉ đủ sức quỳ xuống mà khóc. Chúng ta thường thích chia thế giới thành hai phần: tốt và xấu, thánh thiện và tội lỗi, đáng kính và đáng khinh, người của Chúa và người không thuộc về Chúa. Nhưng Tin Mừng hôm nay phá vỡ đường ranh đơn giản ấy. Người tưởng mình công chính chưa chắc đã gần Chúa hơn; người mang cả một quá khứ tội lỗi chưa chắc đã xa Chúa hơn. Khoảng cách giữa một người với Thiên Chúa không được đo bằng số lần người ấy đã ngã, mà nhiều khi được đo bằng việc sau khi ngã, người ấy có còn dám trở về hay không. Thảm kịch lớn nhất của đời Kitô hữu không phải là có lúc phạm tội. Tất cả chúng ta đều yếu đuối. Thảm kịch lớn nhất là phạm tội rồi tuyệt vọng; sa ngã rồi bỏ luôn con đường trở về; thấy mình nhơ bẩn rồi nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ yêu những người sạch sẽ; thấy mình bất xứng rồi tưởng rằng vì bất xứng nên không còn được quyền đến gần Chúa. Đó là một trong những cám dỗ tinh vi nhất: làm cho người ta tưởng rằng lòng thương xót có giới hạn. Nhưng nếu lòng thương xót của Thiên Chúa có giới hạn, ai trong chúng ta có thể đứng vững? Nếu Chúa chỉ đón những người hoàn hảo, ai có thể bước vào nhà Người? Nếu phải sạch rồi mới được đến với Chúa, thì chúng ta sẽ lấy gì để làm mình sạch trước khi đến? Người phụ nữ trong Tin Mừng hiểu điều rất đơn giản ấy: chị không chờ mình tốt rồi mới đến với Đức Giêsu; chị đến với Đức Giêsu để được chữa lành và nhờ đó bắt đầu một đời sống mới. Đây chính là con đường của sám hối. Sám hối không có nghĩa là đứng xa Thiên Chúa vì xấu hổ. Sám hối là vì xấu hổ nên chạy về phía Thiên Chúa. Sám hối không phải là kết án mình đến mức không còn muốn sống. Sám hối là can đảm nhìn nhận sự thật về mình và đồng thời tin một sự thật còn lớn hơn: lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của tôi.
Người phụ nữ ấy bước vào căn nhà mà chị biết chắc mình sẽ bị nhìn. Chị biết người ta biết chị là ai. Chị biết ánh mắt của khách dự tiệc sẽ hướng về mình. Chị biết chỉ cần bước qua cửa là quá khứ của chị sẽ bước vào cùng chị. Thế nhưng chị vẫn đi. Có những cuộc trở về với Chúa đòi người ta phải vượt qua một cánh cửa rất khó: cánh cửa của xấu hổ. Bao nhiêu người muốn trở về mà ngại xưng tội vì đã quá lâu; bao nhiêu người muốn đến nhà thờ nhưng sợ người ta nhìn; bao nhiêu người muốn làm lại nhưng quá khứ cứ thì thầm: “Mày không xứng”; bao nhiêu gia đình có một người sa ngã nhưng thay vì mở cửa cho họ trở về lại nhắc đi nhắc lại lỗi lầm cũ; bao nhiêu người đã được Thiên Chúa tha nhưng chưa bao giờ tha được cho chính mình. Người phụ nữ hôm nay dạy chúng ta một điều rất lớn: đừng để ánh mắt của con người ngăn ta đi đến với ánh mắt của Thiên Chúa. Người đời có thể gọi ta bằng tên của lỗi lầm; Chúa gọi ta bằng tên của một người con. Người đời có thể chỉ thấy chương đen tối nhất trong cuộc đời ta; Chúa nhìn thấy cả cuốn sách và biết câu chuyện vẫn chưa kết thúc. Người đời có thể đóng dấu “hết hy vọng”; Thiên Chúa vẫn viết hai chữ “bắt đầu”. Người đời có thể nói “người này là thứ người nào”; còn Đức Giêsu hỏi một câu hoàn toàn khác: “Con có tin vào lòng thương xót của Ta không?” Đó là lý do người phụ nữ có thể quỳ dưới chân Chúa giữa bao ánh mắt mà không bỏ chạy. Có lẽ chị đã quá mệt với việc chạy trốn. Chị không còn muốn sống cho ánh mắt của thiên hạ nữa. Chị chỉ cần một ánh mắt không khinh chị. Và chị đã tìm thấy ánh mắt ấy nơi Đức Giêsu.
Nước mắt của chị là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Tin Mừng. Không phải mọi giọt nước mắt đều giống nhau. Có nước mắt vì đau đớn, nước mắt vì mất mát, nước mắt vì bị hiểu lầm, nước mắt của người mẹ lo cho con, nước mắt của người con đứng trước phần mộ cha mẹ, nước mắt của một người thất bại, nước mắt của một linh mục sau những năm dài mục vụ nhìn lại biết bao giới hạn của mình, nước mắt của người từng phạm lỗi và giờ đây chỉ ước gì có thể quay lại để đừng làm điều ấy. Nhưng có một thứ nước mắt đặc biệt: nước mắt của sám hối. Đó không phải thứ nước mắt của tuyệt vọng, mà là nước mắt phát sinh khi một con người chợt nhận ra mình đã được yêu nhiều hơn mình xứng đáng. Có những lúc ta khóc không phải vì Chúa phạt, mà vì Chúa không phạt như ta đáng bị phạt; không phải vì Chúa đẩy ta ra, mà vì sau tất cả những lần ta quay lưng, Chúa vẫn mở cửa; không phải vì ta mất Chúa, mà vì nhận ra mình đã từng bỏ Chúa biết bao lần trong khi Chúa chưa bao giờ bỏ mình. Đó là lúc nước mắt trở thành lời cầu nguyện. Có lẽ nhiều lời cầu nguyện đẹp nhất trong đời một người không được đọc bằng môi mà bằng nước mắt. Chúa hiểu những giọt nước mắt ấy. Chúa đọc được những điều nằm sau nước mắt mà chính chúng ta không nói được. Chúa hiểu một tiếng thở dài. Chúa hiểu một lần quỳ xuống mà không biết nói gì. Chúa hiểu một người già ngồi cuối nhà thờ chỉ nhìn lên Thánh Giá. Chúa hiểu một người mẹ cầm chuỗi Mân Côi mà không đọc nổi vì đang khóc. Chúa hiểu người tội lỗi đứng trước tòa giải tội chỉ nói được: “Thưa cha, con không biết phải bắt đầu từ đâu.” Thiên Chúa không cần chúng ta trình bày đời mình cho thật đẹp. Người cần chúng ta thật lòng.
Người phụ nữ dùng tóc lau chân Đức Giêsu. Một hành vi rất khiêm hạ. Những gì có thể từng là niềm kiêu hãnh của chị nay được dùng để phục vụ. Bình dầu thơm, có thể rất quý giá, được đổ xuống chân Chúa. Khi một người thực sự gặp lòng thương xót, họ bắt đầu hiểu rằng chẳng có gì quý hơn Đấng đã trả lại cuộc đời cho mình. Vì thế tình yêu của chị không tính toán. Simon lại tính. Simon quan sát. Simon phân loại. Simon phân tích. Người phụ nữ thì yêu. Và Tin Mừng cho thấy một nghịch lý: người có kiến thức tôn giáo lại không nhận ra điều đang xảy ra trước mắt, còn người bị coi là tội lỗi lại nhận ra Đấng có thể cứu đời mình. Đây là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ cho tất cả những ai sống đạo lâu năm. Có thể rất gần những điều thánh mà trái tim vẫn xa Thiên Chúa. Có thể thuộc nhiều kinh mà ít thương người. Có thể tham dự Thánh lễ hằng ngày mà rất khó tha thứ. Có thể nói rất đúng về giáo lý mà ánh mắt nhìn người khác lại vô cùng lạnh lùng. Có thể làm việc trong giáo xứ, phục vụ hội đoàn, đứng gần cung thánh, thậm chí dành cả đời cho những công việc của Hội Thánh, nhưng nếu lòng mình ngày càng dễ xét đoán, ngày càng ít cảm thông, ngày càng thích nhìn người khác từ trên xuống, thì ta phải tự hỏi mình đang đứng gần Đức Giêsu hay chỉ đứng gần những gì thuộc về Đức Giêsu. Simon có Đức Giêsu ngồi ngay trong nhà nhưng vẫn chưa thật sự gặp Người. Người phụ nữ chỉ ở dưới chân Người mà lại gặp được lòng thương xót. Khoảng cách với Chúa đôi khi không phải từ cửa nhà thờ đến bàn thờ, mà từ cái đầu biết nhiều đến trái tim biết yêu.
Đức Giêsu kể dụ ngôn hai con nợ. Một người nợ nhiều, một người nợ ít, cả hai đều không có khả năng trả và cả hai được chủ nợ tha. Câu hỏi của Người thật đơn giản: ai sẽ yêu chủ nợ hơn? Simon trả lời đúng: người được tha nhiều hơn. Chính câu trả lời ấy mở khóa toàn bộ câu chuyện. Người phụ nữ yêu nhiều vì chị ý thức mình đã được tha nhiều. Đây là một trong những bí quyết sâu xa nhất của đời sống thiêng liêng: ai quên rằng mình đã được tha, người ấy rất dễ trở nên cứng lòng. Ai luôn nhớ mình sống được hôm nay nhờ ân sủng, người ấy sẽ dịu dàng hơn với lỗi lầm của anh em. Thánh Phaolô trong bài đọc cũng nhìn lại cuộc đời mình với ký ức về ân sủng. Ngài không xóa quá khứ, không giả vờ như mình chưa từng bách hại Hội Thánh, nhưng cũng không để quá khứ biến mình thành tù nhân. Ngài có thể nhìn lại và nhận ra: con người hiện tại của tôi là nhờ ơn Thiên Chúa. Đó là sự khiêm nhường Kitô giáo đúng nghĩa. Khiêm nhường không phải lúc nào cũng nói mình vô dụng. Khiêm nhường là biết điều tốt nơi mình là ân huệ, điều yếu nơi mình cần lòng thương xót, và vì thế không có lý do gì để khinh người khác. Phaolô từng là người bắt bớ, rồi trở thành Tông đồ. Người phụ nữ từng được biết đến bởi tội lỗi, rồi được Đức Giêsu sai đi trong bình an. Thiên Chúa có một khả năng mà con người rất kém: Người có thể nhìn thấy một vị thánh đang ẩn trong một tội nhân. Chúng ta nhìn người khác và nói: “Hắn là như thế.” Thiên Chúa nói: “Hắn có thể trở thành khác.” Chúng ta nhìn một đứa con hư và kết luận. Thiên Chúa nhìn nó và vẫn chờ. Chúng ta nhìn một người nghiện ngập, một người thất bại trong hôn nhân, một thanh niên bỏ lễ nhiều năm, một người từng tai tiếng và cho rằng câu chuyện đã xong. Nhưng Thiên Chúa chưa ký vào bản kết luận của chúng ta. Ân sủng luôn dành quyền viết chương cuối.
Vấn đề của Simon không phải là ông không có đạo. Trái lại, có lẽ ông rất đạo đức theo tiêu chuẩn xã hội. Vấn đề là ông tin rằng mình không cần lòng thương xót nhiều như người phụ nữ ấy. Đây là căn bệnh thiêng liêng nguy hiểm nhất vì người mắc bệnh không biết mình bệnh. Người tội lỗi công khai đôi khi biết mình cần Chúa. Người tự cho mình công chính có thể không còn thấy mình cần được cứu. Một người say rượu biết mình đang say. Một người kiêu ngạo nhiều khi tưởng mình chỉ đang “sống nguyên tắc”. Một người nóng tính có thể gọi đó là “thẳng thắn”. Một người thích nói xấu bảo mình “chỉ nói sự thật”. Một người không tha thứ bảo đó là “công bằng”. Một người khinh người khác bảo rằng mình “phân định đúng sai”. Tội lỗi đáng sợ không chỉ khi nó xấu xí. Tội lỗi đáng sợ nhất khi nó mặc áo đạo đức. Simon không nói lời xúc phạm nào với người phụ nữ, nhưng ông đã kết án chị trong lòng. Đức Giêsu nghe được cả câu nói không thành tiếng ấy. Điều đó nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa không chỉ nghe những gì miệng ta nói; Người nghe cả những bản án âm thầm ta tuyên trong đầu về người khác. Có thể chúng ta không chửi ai, nhưng lòng đầy khinh miệt. Không nói xấu trực tiếp nhưng vui khi nghe người khác nói xấu. Không công khai loại trừ nhưng trong thâm tâm cho rằng một số người không đáng được Chúa yêu như mình. Đó cũng là điều cần sám hối.
Thật ra trong căn phòng ấy có hai người cần được Chúa chữa: người phụ nữ cần được giải thoát khỏi tội lỗi, Simon cần được giải thoát khỏi sự tự mãn. Người phụ nữ biết bệnh mình nên đến với Thầy Thuốc. Simon không nghĩ mình bệnh nên chỉ ngồi quan sát cách Thầy Thuốc chữa người khác. Câu hỏi vì thế không phải đơn giản là “tôi có phạm những tội lớn không?” mà còn là “tôi có nhận ra mình cần ơn Chúa mỗi ngày không?” Có người không ngoại tình nhưng trái tim lạnh với bạn đời. Không trộm tiền nhưng trộm danh dự của người khác bằng lời nói. Không giết người nhưng giết hy vọng của con bằng những câu chì chiết. Không bỏ lễ nhưng ra khỏi nhà thờ lại không nói chuyện với anh chị em ruột vì tranh chấp. Không làm điều tiếng xấu lớn lao nhưng suốt ngày sống trong đố kỵ, ghen ghét, thành kiến, vô cảm. Tin Mừng không cho phép ta dùng những tội lớn của người khác để che những tội nhỏ nhưng dai dẳng của mình. Chúa không mời chúng ta so sánh: “Tôi có tốt hơn người ấy không?” Chúa hỏi: “Trái tim con có thuộc về Ta không?” Đây mới là câu hỏi quyết định.
Người phụ nữ được Đức Giêsu nói: “Tội của chị đã được tha.” Ta thử tưởng tượng câu ấy vang lên trong lòng một con người đã sống bao năm dưới sức nặng của ký ức. Có những bản án pháp lý chỉ kéo dài vài năm, nhưng bản án trong tâm hồn có thể kéo dài cả đời. Một lỗi lầm xảy ra trong mấy phút nhưng người ta mang nó ba mươi năm. Một quyết định sai ở tuổi trẻ mà đến tuổi già vẫn chưa tự tha cho mình. Một lần phản bội, một lần bỏ con, một lần nóng giận làm tan vỡ một mối quan hệ, một năm tháng sống buông thả, một khoảng đời xa Chúa… rồi từ đó người ta tự gọi mình bằng cái tên của quá khứ. Nhưng Đức Giêsu không đồng hóa con người với tội lỗi của họ. Tội là điều người ấy đã làm; tội không phải là toàn bộ căn tính của người ấy. Đây là khác biệt nền tảng giữa ánh mắt của ma quỷ và ánh mắt của Chúa. Ma quỷ nói: “Mày đã phạm tội, vậy mày là đồ vô giá trị.” Thiên Chúa nói: “Con đã phạm tội, nhưng con vẫn là con của Ta; hãy trở về.” Ma quỷ dùng ký ức để đóng cửa tương lai. Thiên Chúa chữa lành ký ức để mở tương lai. Ma quỷ nhắc lỗi cũ để làm ta tuyệt vọng. Chúa có thể nhắc lỗi cũ để làm ta khiêm nhường, biết ơn và thương người hơn. Cũng một quá khứ ấy, dưới tay kẻ dữ nó thành xiềng xích; dưới tay Thiên Chúa nó có thể trở thành nơi ân sủng tỏa sáng.
“Tội của chị đã được tha.” Đây không phải là lời dung túng cho tội. Lòng thương xót không bao giờ biến điều xấu thành điều tốt. Tha thứ không có nghĩa là nói tội chẳng quan trọng. Trái lại, chính vì tội có sức phá hủy kinh khủng nên con người cần được cứu khỏi nó. Chúa không nói với chị: “Chẳng có chuyện gì đâu.” Có chuyện chứ. Đời chị đã bị tổn thương. Những chọn lựa sai có hậu quả. Có thể nhiều người khác cũng từng bị tổn thương bởi chị. Nhưng lòng thương xót nói một điều lớn hơn: chuyện đã xảy ra không nhất thiết phải quyết định chuyện sẽ xảy ra. Quá khứ có thật nhưng không phải là ông chủ của tương lai. Đây là niềm hy vọng của Kitô giáo. Nếu con người chỉ là tổng cộng những sai lầm của mình, chẳng ai còn hy vọng. Nhưng con người còn là điều ân sủng có thể làm nơi họ. Thánh Phêrô không chỉ là người từng chối Thầy ba lần; ông còn là người sau đó đã hiến mạng vì Thầy. Phaolô không chỉ là người từng bách hại Kitô hữu; ông còn là Tông đồ dân ngoại. Augustinô không chỉ là chàng thanh niên từng sống một đời đầy xáo trộn; ngài còn trở thành vị đại thánh và tiến sĩ Hội Thánh. Phêrô, Phaolô, Augustinô và biết bao con người khác cho thấy Thiên Chúa không cần một quá khứ hoàn hảo để tạo nên một tương lai thánh thiện. Người cần một trái tim chịu mở ra.
Đức Giêsu còn nói: “Lòng tin của chị đã cứu chị.” Điều cứu chị không đơn thuần là nước mắt, dầu thơm hay cử chỉ bên ngoài. Những cử chỉ ấy là hoa trái của một niềm tin: chị tin Đức Giêsu không giống những người khác; chị tin có thể đến gần Người; chị tin nơi Người có điều lớn hơn lời kết án; chị tin lòng thương xót tồn tại. Có khi đức tin lớn nhất không phải là tin Chúa làm phép lạ cho bệnh khỏi, công việc thành công, khó khăn biến mất. Có một đức tin còn sâu hơn: tin rằng sau khi ta đã làm hỏng nhiều thứ, Chúa vẫn có thể làm lại đời ta. Tin rằng mình còn được yêu khi không thấy điều gì nơi mình đáng yêu. Tin rằng bí tích Hòa Giải thực sự là nơi một cuộc đời có thể bắt đầu lại. Tin rằng không có đêm nào sâu đến mức ánh sáng Phục Sinh không thể bước vào. Tin rằng một gia đình tưởng đã tan vỡ vẫn có thể có con đường hòa giải. Tin rằng một người con đi xa vẫn có ngày trở về. Tin rằng một linh mục sau thất vọng mục vụ vẫn có thể bắt đầu lại với lòng nhiệt thành mới. Tin rằng tuổi già chưa phải lúc hết khả năng nên thánh. Tin rằng người hấp hối sau một đời xa Chúa chỉ cần một tiếng “xin thương xót con” chân thành cũng không nằm ngoài vòng tay Người. Đó là đức tin của người phụ nữ: chị đặt toàn bộ hy vọng của mình vào lòng thương xót.
Rồi Đức Giêsu nói câu cuối: “Hãy đi bình an.” Thật đẹp. Người phụ nữ bước vào căn nhà với một cái tên đầy tai tiếng; chị bước ra với bình an. Bước vào dưới cái nhìn xét đoán; bước ra dưới lời chúc của Chúa. Bước vào mang theo bình dầu thơm; bước ra mang theo một cuộc đời mới. Bước vào cúi mặt; bước ra có thể ngẩng đầu. Sứ mạng của lòng thương xót cuối cùng là đưa con người đến bình an. Nhưng bình an ấy không phải cảm giác dễ chịu tạm thời. Đó là bình an của người đã được hòa giải với Thiên Chúa, với chính mình và từ đó được mời gọi hòa giải với người khác. Có những người đã xưng tội nhưng vẫn chưa bình an vì vẫn không tha cho chính mình. Có người xin Chúa tha nhưng vẫn giữ hận thù với người khác. Có người rất mong Chúa xóa lỗi của mình nhưng nhất quyết không xóa lỗi của anh em. Ta không thể xin sống trong một dòng sông thương xót mà lại xây con đập trước cửa nhà mình. Lòng thương xót ta nhận được phải chảy tiếp. Nếu thực sự hiểu Chúa đã tha mình bao nhiêu, ta sẽ bớt gay gắt với chồng, với vợ, với con cái, với anh chị em, với cộng đoàn, với người từng làm ta đau. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận công lý. Có những tổn thương cần thời gian, có những mối quan hệ cần ranh giới, có những sai trái cần được sửa chữa và chịu trách nhiệm. Nhưng người Kitô hữu không được nuôi hận thù như một căn tính. Chúng ta có thể chưa thể quên nhưng có thể quyết định không trả thù. Có thể chưa gần lại được nhưng có thể cầu nguyện. Có thể vết thương còn đau nhưng không để nó biến trái tim mình thành đá.
Tin Mừng hôm nay còn là lời chất vấn rất mạnh đối với cộng đoàn Kitô hữu: giáo xứ của chúng ta có phải nơi người tội lỗi dám trở về không? Nhà thờ có phải nơi một người với quá khứ phức tạp có thể bước vào mà không cảm thấy mọi con mắt đều phán xét không? Một người hôn nhân đổ vỡ, một người từng nghiện ngập, một thanh niên xăm mình, một cô gái lỡ lầm, một người từng bỏ đạo, một người mới ra tù, một người nghèo ăn mặc không chỉnh tề, một người sống bên lề xã hội… khi họ bước vào cộng đoàn, họ gặp Đức Giêsu hay gặp những Simon? Đây là câu hỏi đáng sợ. Hội Thánh không thể rao giảng lòng thương xót bằng miệng nhưng tạo ra bầu khí xét đoán bằng ánh mắt. Một cộng đoàn thánh thiện không phải cộng đoàn toàn người chưa bao giờ ngã; đó là cộng đoàn biết đưa người ngã trở về. Một giáo xứ đẹp không chỉ vì cung thánh đẹp, ca đoàn hay, lễ nghi trang trọng, mà còn vì người yếu đuối có thể bước vào đó và cảm nhận: “Ở đây tôi có thể bắt đầu lại.” Nếu một người tội lỗi thấy dễ đến quán nhậu hơn đến nhà thờ vì ở quán người ta ít nhìn quá khứ của họ hơn, chúng ta phải tự hỏi cách mình đang làm chứng cho Tin Mừng. Đức Giêsu có một sức hút kỳ lạ đối với người tội lỗi. Người thánh thiện nhưng tội nhân không sợ đến gần. Chúng ta đôi khi chưa thánh bằng Người mà lại làm người tội lỗi sợ hơn Người. Đây là nghịch lý cần sám hối.
Đối với người làm mục vụ, trang Tin Mừng này càng cần được giữ rất gần trái tim. Một linh mục có thể nghe rất nhiều chuyện đời. Có những chuyện đẹp, có những chuyện đau, có những tội lỗi mà khi nghe có thể khiến người ta sửng sốt. Nhưng người ngồi trước mặt mình không chỉ là một “trường hợp”. Họ là một linh hồn mà Chúa Kitô đã chết cho. Sau lưới tòa giải tội có thể là một người đã mất nhiều năm mới gom đủ can đảm để trở về. Một câu nói lạnh lùng có thể đóng cánh cửa họ vừa khó khăn lắm mới dám mở; một lời dịu dàng đúng lúc có thể cứu một đời người. Người mục tử không được coi nhẹ tội lỗi nhưng cũng không được làm người tội lỗi tuyệt vọng. Phải gọi điều xấu là xấu nhưng đồng thời chỉ cho họ thấy đường về. Đức Giêsu hôm nay vừa nhìn thấy sự thật về người phụ nữ vừa nhìn thấy khả năng đổi mới của chị. Đó chính là nghệ thuật mục vụ của Tin Mừng: sự thật và lòng thương xót gặp nhau. Không có sự thật, lòng thương xót biến thành dễ dãi. Không có lòng thương xót, sự thật biến thành chiếc búa. Trong Đức Kitô, sự thật trở thành ánh sáng dẫn về, không phải đèn pha để làm người ta xấu hổ.
Trong gia đình cũng vậy. Bao nhiêu cha mẹ thương con nhưng khi con sai lại nói những câu đóng đinh con vào lỗi lầm: “Mày lúc nào cũng thế”, “Mày chẳng làm được gì nên hồn”, “Đời mày coi như bỏ.” Những câu ấy đôi khi được nói trong lúc nóng nhưng đứa trẻ mang theo nhiều năm. Có những người năm mươi tuổi vẫn nghe vang trong đầu một câu cha mẹ nói khi họ mười tuổi. Thiên Chúa không giáo dục ta như vậy. Người sửa dạy nhưng không hủy phẩm giá. Người vạch ra lỗi nhưng vẫn gọi ta là con. Người phụ nữ trong Tin Mừng không được Chúa bảo rằng đời chị chẳng có gì sai; nhưng chị được cho thấy rằng chị lớn hơn những điều sai ấy. Cha mẹ Kitô hữu cũng cần học cách ấy: hãy để con cái biết rằng “việc con làm là sai” khác hoàn toàn với “con là đồ xấu xa”. Hành vi phải sửa; con người phải được yêu. Chính tình yêu bền vững tạo sức mạnh để người ta thay đổi.
Và còn một hình ảnh rất sâu: người phụ nữ đứng phía sau, sát chân Đức Giêsu. Chân là phần thấp nhất của thân thể. Chị chọn nơi thấp nhất. Nhưng chính từ nơi thấp nhất chị lại được nâng lên. Đây là logic của Nước Trời: ai cúi xuống trước Thiên Chúa sẽ được Người nâng dậy; ai tự nâng mình lên bằng việc hạ người khác xuống cuối cùng lại đứng xa Chúa. Simon ngồi bàn với Đức Giêsu nhưng về mặt thiêng liêng có khi lại xa hơn người phụ nữ đang dưới chân Người. Điều này nhắc ta đừng nhầm vị trí bên ngoài với vị trí trong trái tim Chúa. Một người có chức vụ trong Hội Thánh chưa chắc gần Chúa hơn bà cụ âm thầm đọc kinh. Người có tiếng nói, có kiến thức, được nhiều người biết đến chưa chắc yêu Chúa hơn một người chẳng ai biết tên nhưng mỗi tối quỳ bên giường cầu nguyện cho con cháu. Trước mặt Thiên Chúa, không phải ghế ta ngồi cao bao nhiêu mà là lòng ta cúi sâu bao nhiêu.
Có lẽ điều khiến người phụ nữ yêu nhiều không chỉ vì chị biết mình tội lỗi, mà vì chị đã gặp một Đấng không hạ nhục mình khi biết sự thật. Con người rất sợ bị người khác biết hết về mình, vì kinh nghiệm dạy ta rằng càng bị biết nhiều càng dễ bị tổn thương. Ta che giấu phần yếu vì sợ bị khinh. Ta dựng hình ảnh vì sợ nếu người ta biết thật sẽ không còn yêu. Nhưng trước Thiên Chúa, nghịch lý xảy ra: Người biết hết mà vẫn yêu. Không có căn phòng kín nào trong đời ta mà Người không biết. Không có ký ức nào ta giấu được. Không có động cơ nào Người không nhìn thấy. Và chính Đấng biết mọi sự ấy lại là Đấng yêu ta nhất. Đó là nền tảng của bình an. Ta không cần giả vờ với Chúa. Không phải diễn vai người đạo đức. Không cần tô son cho linh hồn. Hãy đến như mình đang là. Có thể bẩn, có thể rách, có thể kiệt sức, có thể đầy câu hỏi. Nhưng hãy đến. Bởi vì Chúa không thể chữa một con người mà người ấy không chịu đưa vết thương cho Người.
Bài đọc về Phaolô và Tin Mừng người phụ nữ tội lỗi gặp nhau thật đẹp ở chữ “ân sủng”. Phaolô có thể nói rằng mình là như hiện nay nhờ ơn Thiên Chúa. Người phụ nữ cũng vậy. Có lẽ chị không nói thành lời, nhưng toàn bộ hành động của chị là một lời tuyên xưng: nếu đời tôi có ngày mai thì đó là nhờ Người. Ân sủng không xóa nhân tính mà phục hồi nhân tính. Ân sủng không làm ta thành người không có lịch sử; nó biến lịch sử thành nơi Thiên Chúa cứu độ. Vết sẹo vẫn còn nhưng không còn rỉ máu. Ký ức còn đó nhưng không còn quyền điều khiển. Nhìn lại, ta không còn chỉ thấy điều mình đã làm, mà còn thấy điều Chúa đã làm với mình. Có lẽ đây là lúc một người thực sự trưởng thành trong đức tin: khi họ có thể kể quá khứ không phải để khoe tội lỗi cũng không để dằn vặt, nhưng để tôn vinh lòng thương xót. “Tôi đã từng ở đó, nhưng Chúa đã đưa tôi ra.” “Gia đình tôi từng gần tan vỡ, nhưng Chúa đã dẫn chúng tôi qua.” “Tôi từng mất đức tin, nhưng Người không bỏ tôi.” “Tôi đã từng rất cay đắng, rồi Chúa dạy tôi tha.” Những lời chứng như thế đôi khi có sức mạnh hơn một bài giảng dài vì chúng nói rằng Tin Mừng vẫn đang xảy ra.
Có một chi tiết khác rất đáng suy nghĩ: Simon mời Đức Giêsu vào nhà nhưng lại thiếu những cử chỉ hiếu khách thông thường; người phụ nữ không phải chủ nhà nhưng lại dành cho Người sự tiếp đón chan chứa yêu thương. Điều này như một lời nhắc rằng ta có thể “mời Chúa vào nhà” về hình thức nhưng chưa thật sự dành cho Người trái tim. Nhà có tượng Chúa nhưng vợ chồng không nói với nhau. Có bàn thờ nhưng anh em tranh chấp. Có đọc kinh nhưng không tha thứ. Có tượng Đức Mẹ nhưng đối xử tệ với mẹ già. Có Thánh Giá treo trong phòng khách nhưng lời nói trong nhà đầy xúc phạm. Chúa không chỉ muốn được treo trên tường; Người muốn bước vào cách ta đối xử với nhau. Chúa không chỉ muốn một góc bàn thờ đẹp; Người muốn lòng ta trở thành bàn thờ. Một bình dầu thơm đổ xuống chân Chúa có thể là một việc nhỏ ta làm vì yêu: kiên nhẫn nghe một người già kể lại câu chuyện đã kể nhiều lần; chủ động gọi cho người mình giận; bớt một lời chua cay; đi xưng tội sau nhiều tháng; dành thời gian cho một đứa con đang buồn; trả một món nợ; xin lỗi khi mình sai; im lặng khi có cơ hội nói xấu. Đó là những bình dầu thơm của đời thường.
Tin Mừng hôm nay cũng buộc ta xét lại cách nhìn người. Simon nhìn người phụ nữ và thấy “một người tội lỗi”. Đức Giêsu nhìn và thấy một người đang yêu, đang sám hối, đang trở về. Cùng một con người, hai ánh mắt tạo ra hai thế giới khác nhau. Mỗi ngày chúng ta cũng đang dùng ánh mắt để dựng hoặc phá người khác. Một đứa trẻ học không giỏi: ta thấy “đứa kém cỏi” hay thấy một con người có những khả năng khác cần được khám phá? Một người già khó tính: ta thấy “người phiền phức” hay thấy một con người đang sợ cô đơn? Một người hay nổi nóng: ta chỉ thấy tính xấu hay thử tự hỏi họ đang mang vết thương nào? Điều đó không có nghĩa biện minh cho mọi hành vi. Nhưng người Kitô hữu được mời gọi nhìn sâu hơn hành vi để thấy con người. Đức Giêsu chưa bao giờ giản lược ai vào một nhãn. Người thu thuế trở thành môn đệ. Người phụ nữ Samari trở thành người loan báo. Người trộm lành trở thành công dân đầu tiên được nghe lời hứa thiên đàng ngay trên thập giá. Thiên Chúa luôn nhìn thấy nhiều hơn ta.
Có lẽ hôm nay mỗi người cần tự hỏi mình đang mang bình dầu thơm nào đến với Chúa. Có thể Chúa không cần thêm những lời đẹp. Có khi điều Người chờ là một sự thật. Một lời thú nhận. Một quyết định chấm dứt mối quan hệ tội lỗi. Một cuộc trở về với bí tích Hòa Giải. Một món đồ bất chính phải trả. Một cuộc gọi xin lỗi. Một sự hòa giải đã trì hoãn nhiều năm. Một lần từ bỏ tự ái. Một việc bác ái kín đáo. Một buổi cầu nguyện không cầm điện thoại. Một quyết tâm bỏ thói quen nói xấu. Một nghĩa cử với cha mẹ. Đó có thể chính là bình bạch ngọc của ta. Bình dầu của người phụ nữ bị đập ra thì không lấy lại được. Tình yêu đích thực luôn có giá. Sám hối thật luôn có giá. Nó đòi bỏ điều mình từng bám. Tha thứ có giá. Trung thành có giá. Theo Chúa có giá. Nhưng điều kỳ diệu là thứ ta mất vì Chúa chẳng bao giờ lớn hơn điều ta nhận lại nơi Người.
Và nếu hôm nay có ai đang đọc những dòng này với một quá khứ nặng nề, hãy nhớ người phụ nữ ấy. Đừng đứng ngoài cửa. Đừng nghĩ “tôi tệ quá”. Chính vì thế hãy vào. Đừng chờ hết xấu hổ. Hãy mang cả xấu hổ đến. Đừng chờ hết tội mới xưng tội. Hãy đến để được giải thoát khỏi tội. Đừng chờ lòng mình sạch mới cầu nguyện. Hãy cầu nguyện để Chúa làm sạch lòng. Đừng nghĩ Chúa mệt vì phải tha cho mình nhiều lần. Một người mẹ không đếm số lần con ngã khi tập đi; bà chỉ lo nâng con dậy. Tình thương của Thiên Chúa còn lớn hơn thế vô cùng. Điều Chúa muốn không phải là ta chưa bao giờ ngã, mà là mỗi lần ngã hãy đưa tay cho Người. Có thể hôm nay chỉ nói được một câu: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Hãy nói câu ấy. Có khi đó là khởi đầu của cả một cuộc phục sinh.
Nhưng nếu hôm nay ta thấy mình khá ổn, sống đạo đều, không có tội gì lớn, thì hãy nhớ Simon. Cũng đừng đứng ngoài Tin Mừng. Hãy hỏi mình: tôi có đang khinh ai không? Có người nào tôi cho rằng không đáng được tha không? Có lỗi của ai tôi thích nhắc lại không? Tôi có vui khi một người sa ngã không? Có ai chỉ cần nhắc tên là lòng tôi đầy cay đắng? Tôi có dùng đạo đức để đứng cao hơn người khác không? Tôi có thường cảm tạ Chúa vì mình “không như bao kẻ khác” hơn là cảm tạ vì Người thương xót mình không? Nếu có, ta cũng cần quỳ xuống. Không nhất thiết nước mắt phải chảy từ mắt; nhưng trái tim phải mềm. Chỉ có người biết mình đã được thương xót mới có thể trở thành người của lòng thương xót.
Cuối cùng, Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến một xác tín thật đẹp: không ai là tổng số của những thất bại đời mình. Không ai chỉ là lỗi lầm tồi tệ nhất họ từng phạm. Không ai bị loại khỏi khả năng nên thánh chỉ vì lịch sử quá phức tạp. Chừng nào người ta còn quay mặt về Đức Kitô, chừng ấy còn hy vọng. Một người phụ nữ bước vào nhà dưới cái tên “tội lỗi” và ra về với một lời “hãy đi bình an”. Đó chính là Tin Mừng. Tin Mừng không phải câu chuyện những người hoàn hảo tìm thấy Thiên Chúa; Tin Mừng là câu chuyện Thiên Chúa tìm thấy những con người tan vỡ và làm cho họ nên mới. Tin Mừng không nói rằng tội chẳng đáng gì; Tin Mừng nói rằng Thập Giá của Đức Kitô lớn hơn tội. Tin Mừng không bảo quá khứ không có thật; Tin Mừng bảo ân sủng có thể viết tiếp. Tin Mừng không hứa chúng ta sẽ không còn khóc; Tin Mừng hứa có những giọt nước mắt sẽ rơi xuống chân Chúa và từ đó biến thành bình an. Vì thế, hôm nay đừng hỏi quá nhiều rằng người khác nghĩ gì về mình. Hãy hỏi Đức Giêsu nghĩ gì. Đừng chỉ nghe tiếng kết án của ký ức. Hãy nghe lời Người: “Tội con đã được tha.” Đừng để thất bại khiến ta nằm mãi dưới đất. Hãy nghe lời Người: “Hãy đi.” Đừng mang đời mình đi trong sợ hãi. Hãy nghe hai chữ cuối cùng: “bình an.” Và khi đã được tha, xin đừng trở thành Simon của một người nào khác. Hãy nhớ mình cũng từng đứng dưới chân Chúa. Hãy nhớ mình cũng sống nhờ ân sủng. Hãy nhớ đã có lúc Chúa nhìn mình khác với cách thiên hạ nhìn. Rồi từ đó, hãy học nhìn anh em bằng ánh mắt Người. Có thể đó chính là dấu chỉ đẹp nhất cho thấy ta đã thật sự hiểu lòng thương xót: ta không chỉ vui vì Chúa tha cho mình, mà bắt đầu mong rằng không một ai phải sống cả đời dưới bản án của quá khứ; ta không chỉ xin Chúa mở cửa cho mình, mà cũng biết giữ cửa mở cho người khác trở về. Khi ấy nước mắt của người tội lỗi không còn rơi vô ích; nó trở thành dòng nước rửa sạch một trái tim, tưới lên một cuộc đời mới, và dẫn người ấy đến lời chúc mà mọi tâm hồn đều khao khát được nghe từ chính môi Đức Kitô: “Lòng tin của con đã cứu con. Hãy đi bình an.”
Lm. Anmai, CSsR

AI ĐƯỢC THA NHIỀU THÌ YÊU MẾN NHIỀU
Có những trang Tin Mừng mà đọc xong người ta có cảm tưởng như vừa bước vào một căn phòng rất đông người nhưng lại nghe rõ tiếng khóc của chỉ một con người; có những câu chuyện trong Tin Mừng không có phép lạ người què đứng lên, người mù mở mắt, người chết sống lại, nhưng vẫn là một phép lạ lớn lao đến nghẹn lòng: phép lạ một con người tưởng như đã mất tất cả phẩm giá được Thiên Chúa trả lại cho một tương lai; phép lạ một tâm hồn bị quá khứ đè nặng bỗng được nghe một lời mà có lẽ cả đời chị không dám mơ sẽ có người nói với mình: “Tội của chị đã được tha rồi”; và có lẽ Lc 7,36-50 là một trong những trang Tin Mừng như thế. Một người Pharisêu tên là Simon mời Đức Giêsu đến dùng bữa. Một người phụ nữ bị cả thành phố biết đến như “một người tội lỗi” bất ngờ bước vào. Chị không có tên. Thánh Luca dường như cố ý không cho chúng ta biết tên chị, bởi nếu có tên, chúng ta rất dễ biến câu chuyện thành chuyện riêng của một con người đã sống cách đây hai ngàn năm; còn khi chị không có tên, bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra mình nơi chị. Chị có thể là người đã sai lầm rất lâu. Chị có thể là người từng sống một quá khứ mà chỉ cần ai nhắc lại cũng đủ cúi mặt. Chị có thể là người đã bị thiên hạ đóng khung bằng một nhãn hiệu. Chị có thể là người đã nhiều lần muốn làm lại cuộc đời nhưng những ánh mắt quanh mình cứ kéo chị trở lại quá khứ. Chị có thể là bất cứ ai đã từng cảm thấy mình không xứng đáng đến gần Thiên Chúa. Chị bước vào nhà Simon không mang theo một bài biện hộ, không mang theo giấy chứng nhận mình đã thay đổi, không mang theo một bản thành tích để chứng minh mình đã trở nên tốt hơn; chị chỉ mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm và một trái tim đã vỡ ra trong nước mắt. Người ta có thể tranh luận rất nhiều về những giọt nước mắt ấy, nhưng bản văn nói bằng những hành động rõ hơn mọi lời: chị đứng phía sau Đức Giêsu, sát chân Người mà khóc; nước mắt làm ướt chân Người; chị lấy tóc mình lau chân Người; chị hôn chân Người; chị lấy dầu thơm mà xức. Không một lời được thốt ra từ miệng người phụ nữ. Thế nhưng toàn bộ con người chị đang nói. Đôi mắt nói bằng nước mắt. Mái tóc nói bằng sự hạ mình. Đôi môi nói bằng những nụ hôn. Bình dầu nói bằng sự trao hiến. Có những lúc con người không còn lời nào để cầu nguyện nữa, và chính nước mắt trở thành kinh nguyện. Có những lỗi lầm sâu đến mức câu “con xin lỗi Chúa” dường như quá nhỏ bé, và người ta chỉ còn biết quỳ xuống. Người phụ nữ ấy đã làm như vậy. Chị không đứng trước mặt Đức Giêsu để Người phải nhìn chị; chị đứng phía sau. Chị không đòi Người giải thích tại sao cuộc đời mình thành ra như thế. Chị không xin Người lên án những người từng làm chị tổn thương. Chị cũng không kể những hoàn cảnh đã đẩy chị vào tội lỗi. Chị chỉ đến với tất cả sự thật của đời mình. Và có lẽ đây là điều đầu tiên Tin Mừng muốn nói với chúng ta: ơn cứu độ thường bắt đầu khi một người không chạy trốn sự thật về chính mình nữa. Có những người dành cả đời để che chắn, để giải thích, để đổ lỗi, để chứng minh mình đúng, để giữ hình ảnh trước mặt người khác; nhưng chẳng ai được chữa lành bằng cách giả vờ mình không có vết thương. Chẳng ai được tha thứ nếu cứ khăng khăng rằng mình không cần lòng thương xót. Người phụ nữ trong Tin Mừng không còn gì để bảo vệ trước mặt Chúa. Chị đã mất danh dự trước mắt người đời rồi, nên có lẽ giờ đây chị chỉ còn một điều duy nhất để tìm kiếm: ánh mắt của Thiên Chúa. Và kỳ lạ thay, nơi căn nhà của một người được coi là đạo đức, chính người phụ nữ bị coi là tội lỗi lại là người hiểu Đức Giêsu hơn cả. Simon mời Đức Giêsu vào nhà nhưng chưa chắc đã mời Người vào lòng. Người phụ nữ không có nhà để mời Đức Giêsu, nhưng chị đã mở cả trái tim cho Người. Simon có một chỗ ở bàn tiệc nhưng khoảng cách trong tâm hồn ông với Đức Giêsu lại rất xa; người phụ nữ chỉ dám ở dưới chân Người nhưng tâm hồn chị lại ở rất gần Người. Đây chính là nghịch lý đáng sợ của đời sống đức tin: người ta có thể ở rất gần những điều thánh mà lòng lại xa Thiên Chúa; có thể biết rất nhiều luật mà chưa hiểu lòng thương xót; có thể thường xuyên xuất hiện ở nơi thờ phượng nhưng chưa từng thực sự để Chúa chạm vào phần sâu nhất của đời mình. Simon biết người phụ nữ này là ai. Ông nhìn chị và lập tức toàn bộ quá khứ của chị hiện ra trong đầu ông. Đối với Simon, chị không còn là một con người nữa; chị là “một người tội lỗi”. Có lẽ ông không biết những đêm chị đã khóc. Ông không biết bao lần chị hối hận. Ông không biết những vết thương đã tạo nên cuộc đời chị. Ông không biết chị đã phải chiến đấu thế nào để bước vào căn nhà hôm ấy. Ông chỉ biết cái nhãn mà xã hội dán lên chị. Đáng buồn thay, điều ấy vẫn xảy ra trong đời sống chúng ta hôm nay. Chúng ta có thể thu gọn một đời người vào một lỗi lầm: “người đó ngoại tình”, “người đó nghiện ngập”, “người đó bỏ lễ”, “người đó từng vào tù”, “người đó đã ly dị”, “người đó sống bê bối”, “người đó từng phản bội tôi”. Một con người có thể đã sống năm mươi năm, đã làm hàng nghìn điều tốt, đã đau khổ, đã cố gắng, đã thay đổi, nhưng chúng ta vẫn chỉ nhớ một lỗi lầm của họ. Thiên Chúa không nhìn con người như thế. Chúa biết tội nhưng Người cũng biết nước mắt sau tội. Chúa biết sự sa ngã nhưng Người cũng nhìn thấy khát vọng đứng lên. Chúa biết quá khứ nhưng Người còn thấy cả một tương lai mà chính người ấy chưa nhìn thấy. Simon nhìn người phụ nữ và thấy một hồ sơ phạm tội; Đức Giêsu nhìn chị và thấy một người con đang trở về.
Điều đặc biệt hơn nữa là Simon không chỉ xét đoán người phụ nữ; ông bắt đầu xét đoán cả Đức Giêsu: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào.” Ông nghĩ thầm, nhưng Đức Giêsu biết. Chính lúc Simon nghi ngờ khả năng tiên tri của Đức Giêsu thì Người chứng minh Người biết cả điều đang diễn ra trong lòng Simon. Người nói: “Này ông Simon, tôi có điều muốn nói với ông.” Chúa không làm nhục Simon trước đám đông. Người không nói: “Ông là kẻ đạo đức giả.” Người kể một dụ ngôn: có hai người mắc nợ một chủ nợ, người này nợ năm trăm quan tiền, người kia năm mươi; vì cả hai đều không có gì để trả nên chủ nợ tha cho cả hai. “Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” Simon đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.” Đức Giêsu nói: “Ông xét đúng lắm.” Một câu chuyện rất ngắn, nhưng như chiếc gương được đặt trước mặt Simon. Người phụ nữ là con nợ năm trăm, đúng; nhưng Simon cũng là con nợ. Khác biệt không phải một người có nợ và một người không nợ; khác biệt chỉ là một người biết mình mắc nợ còn người kia tưởng mình chẳng nợ bao nhiêu. Và đó có thể là căn bệnh nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng: không phải phạm nhiều tội, mà là mất ý thức mình cần được cứu. Người biết mình đau sẽ tìm thầy thuốc; người nghĩ mình khỏe sẽ không bao giờ chữa bệnh. Người ý thức mình nghèo sẽ mở tay đón nhận; người tưởng mình giàu sẽ đóng cửa lòng. Người phụ nữ biết mình cần lòng thương xót nên chị lao vào lòng thương xót. Simon tưởng mình chỉ thiếu rất ít nên ông không cảm được niềm vui của người được tha thứ. Chính vì vậy, Đức Giêsu bắt đầu so sánh: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” Một câu hỏi nghe đơn giản nhưng vô cùng sâu. Simon đã nhìn chị từ đầu, nhưng Chúa vẫn hỏi: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” Nghĩa là ông nhìn mà chưa thật sự thấy. Ông thấy tội, nhưng không thấy người. Ông thấy quá khứ, nhưng không thấy nước mắt. Ông thấy điều đáng chê trách, nhưng không thấy khát vọng đổi đời. Ông thấy một người đang làm ô uế căn nhà mình, nhưng không thấy một linh hồn đang tìm đường về với Thiên Chúa. Có biết bao lần trong đời, chúng ta cũng nhìn mà không thấy. Ta nhìn một đứa con hư nhưng không thấy nỗi cô đơn của nó. Ta nhìn một người chồng nóng tính mà không thấy những áp lực ông ấy mang theo. Ta nhìn một người vợ hay than phiền mà không nhận ra sự mệt mỏi âm thầm. Ta nhìn một người nghèo và nghĩ họ lười biếng mà không biết họ đã thất bại bao lần. Ta nhìn một người nghiện và thấy sự yếu đuối nhưng không thấy những năm tháng họ chiến đấu với vết thương. Ta nhìn một người đã xa Giáo Hội và gọi họ nguội lạnh nhưng không biết có khi họ từng bị tổn thương bởi chính những người trong Giáo Hội. “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” Câu hỏi ấy Chúa cũng đang hỏi mỗi chúng ta: con có thật sự nhìn thấy người trước mặt con không, hay con chỉ nhìn thấy điều con đã kết luận về họ? Rồi Đức Giêsu nói với Simon: “Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi; còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái; còn chị ấy từ lúc vào đây đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu, ông cũng không đổ trên đầu tôi; còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi.” Simon có sự đúng đắn nhưng thiếu tình yêu. Người phụ nữ có một quá khứ sai lầm nhưng hôm nay trái tim chị đang cháy lên vì biết ơn. Chúa không bảo tội lỗi là tốt. Chúa không nói điều ác chẳng quan trọng. Trái lại, nếu tội chẳng nghiêm trọng thì tha thứ cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chính vì tội nghiêm trọng nên lòng thương xót mới kỳ diệu. Chính vì con người thực sự có thể làm hỏng cuộc đời mình nên việc Thiên Chúa mở cho họ một con đường trở về mới là Tin Mừng. Người phụ nữ không được khen vì đã từng phạm nhiều tội; chị được khen vì đã để cho lòng thương xót biến đổi mình. Và đây là điều cần hiểu đúng nơi câu nói nổi tiếng: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều.” Không phải vì chị yêu nhiều nên chị mua được sự tha thứ. Lòng tha thứ của Thiên Chúa không phải một món hàng mà ta trả bằng nước mắt, dầu thơm hay việc lành. Những hành vi yêu mến của chị là hoa trái của một trái tim đã được ân sủng chạm tới. Đức Giêsu kết thúc rất rõ: “Đức tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an.” Đức tin cứu chị; lòng yêu mến biểu lộ rằng chị đã đón nhận lòng thương xót.
Có một chi tiết rất đẹp: người phụ nữ không nói gì nhưng Đức Giêsu nói thay chị. Khi cả căn phòng có thể đang nhìn chị với ánh mắt khinh miệt, Người bảo vệ chị. Khi Simon chỉ nhớ tội, Đức Giêsu công bố sự tha thứ. Khi xã hội có thể tiếp tục gọi chị bằng quá khứ, Đức Giêsu mở ra cho chị một căn tính mới. “Tội của chị đã được tha rồi.” Không có âm nhạc, không có tiếng sấm, không có ánh sáng từ trời, nhưng đó chính là một cuộc phục sinh. Có những người vẫn thở, vẫn làm việc, vẫn ăn uống nhưng tâm hồn đã chết vì mặc cảm. Họ không tha thứ được cho mình. Họ tin Chúa có thể tha cho người khác nhưng không tin Chúa tha được cho mình. Họ đi xưng tội rồi vẫn ôm lấy tội đã được tha mà tự đánh mình mỗi ngày. Họ nghĩ rằng càng dằn vặt bản thân thì càng chứng minh mình thành tâm. Nhưng Thiên Chúa không mời chúng ta sống phần còn lại của đời mình như những tù nhân sau khi Người đã mở cửa nhà giam. Nếu Chúa nói “tội con đã được tha”, thì khiêm nhường không phải là tiếp tục khẳng định “không, tội con lớn hơn lòng thương xót Chúa”; khiêm nhường là tin lời Người. Thánh giá chính là lời tuyên bố rằng không một tội lỗi nào lớn hơn tình yêu của Thiên Chúa khi con người thật lòng trở về. Chúng ta cần nghe điều này, đặc biệt khi quá khứ quay trở lại lúc đêm khuya, khi những hình ảnh của lỗi lầm cũ hiện lên trong trí nhớ, khi ma quỷ nói: “Mày là người như thế”, còn Tin Mừng nói: “Đức tin của con đã cứu con; hãy đi bình an.” Chúa không nói với người phụ nữ: “Hãy ở đây và khóc suốt đời.” Người nói: “Hãy đi.” Lòng thương xót luôn gửi chúng ta trở lại cuộc đời. Tha thứ không chỉ xóa quá khứ; tha thứ giải phóng tương lai. Có người sau khi phạm lỗi nghĩ đời mình hết rồi: tôi không còn xứng đáng phục vụ Chúa, không còn xứng đáng làm cha làm mẹ, không còn xứng đáng được người khác tin tưởng, không còn khả năng làm điều gì tốt. Nhưng Tin Mừng hôm nay nói: một quá khứ tội lỗi không buộc phải trở thành định mệnh của một con người. Ơn Chúa có thể viết những chương mới sau những chương rất tối. Thánh Phêrô đã chối Thầy nhưng sau đó trở thành người củng cố anh em. Phaolô từng bắt bớ Hội Thánh nhưng trở thành Tông đồ dân ngoại. Người trộm lành đã tiêu phí phần lớn đời mình nhưng ở những phút cuối lại nghe lời hứa thiên đàng. Thiên Chúa không phủ nhận quá khứ; Người cứu chuộc nó. Người thậm chí có thể biến chính nơi ta từng vấp ngã thành nơi ta biết thương người khác hơn. Người từng được tha thứ sâu xa thường bớt khắt khe với kẻ yếu đuối. Người từng nếm nỗi đau của thất bại thường biết nâng người khác đứng dậy. Người biết mình đã sống được đến hôm nay nhờ lòng thương xót sẽ khó kiêu ngạo trước lỗi lầm của anh em. Bởi vậy, một câu hỏi rất cần cho đời sống Kitô hữu là: tôi có ý thức mình đã được Chúa tha thứ không? Nếu có, tại sao tôi lại quá khó tha cho người khác? Nếu tôi mỗi ngày cầu “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, tại sao tôi vẫn giữ sổ nợ của người khác trong lòng? Nếu Chúa không nhắc đi nhắc lại những lỗi lầm đã được tha của tôi, tại sao tôi lại lấy lỗi của người thân ra nhắc mỗi khi cãi nhau? Có những cuộc hôn nhân không chết vì lỗi lầm ban đầu nhưng chết vì lỗi lầm ấy bị đào lên mỗi tuần. Có những đứa con không thể làm lại vì cha mẹ cứ nói: “Mày trước đây đã từng…” Có những cộng đoàn làm người ta nghẹt thở vì ai đã một lần sai thì mãi bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ. Chúng ta nói tin vào ơn tha thứ nhưng đôi khi cách cư xử của ta lại không cho người khác quyền có một tương lai. Đức Giêsu thì khác. Người nhìn người phụ nữ trong hiện tại của ân sủng chứ không giam chị trong quá khứ của tội lỗi.
Nhưng có lẽ điều đáng suy nghĩ nhất không phải chỉ là người phụ nữ mà còn là Simon, bởi trong nhiều người chúng ta có một Simon rất kín đáo. Simon không phải kẻ xấu theo nghĩa thông thường. Ông có đời sống tôn giáo. Ông quan tâm đến Đức Giêsu đủ để mời Người đến nhà. Ông chắc chắn biết Lề Luật. Ông có lẽ được xã hội kính trọng. Điều nguy hiểm chính là một người có nhiều yếu tố tốt như vậy có thể không nhận ra sự nghèo nàn của lòng mình. Tội của Simon không ồn ào như tội của người phụ nữ. Không ai ngoài Đức Giêsu nghe thấy lời xét đoán trong lòng ông. Nhưng chính thứ tội âm thầm ấy lại khiến ông không yêu mến. Đó là kiêu ngạo thiêng liêng: tôi tốt hơn người kia; tôi đi lễ đều hơn; gia đình tôi đàng hoàng hơn; tôi giữ đạo lâu năm hơn; tôi hiểu giáo lý hơn; tôi không sống bê bối như họ. Khi một người bắt đầu dùng điều tốt mình làm để xây một chiếc bục đứng cao hơn người khác, điều tốt ấy đã bị biến dạng. Chúng ta không cần phạm những tội tai tiếng mới xa Chúa. Có khi chỉ cần trái tim lạnh. Có khi chỉ cần mất khả năng xúc động trước lòng thương xót. Có khi chỉ cần quen với các Bí tích đến mức không còn kinh ngạc. Có người xưng tội từ nhỏ đến già mà chưa một lần rơi nước mắt vì nhận ra Chúa đã kiên nhẫn với mình đến thế nào. Có người rước lễ hàng ngàn lần nhưng ít khi nghĩ: tại sao Đấng Thánh lại bước vào một tâm hồn nghèo nàn như tôi? Có người đọc Kinh Thánh rất nhiều nhưng dùng Kinh Thánh để phán xét hơn là để hoán cải. Có người phục vụ Giáo Hội rất nhiệt tình nhưng bắt đầu nghĩ cộng đoàn không thể thiếu mình. Chính ở đây Simon trở thành lời cảnh tỉnh cho những người “ở trong nhà”. Người phụ nữ biết mình cần Chúa; Simon có nguy cơ nghĩ Chúa cần ông. Người phụ nữ đến với bàn tay trắng; Simon có cả một căn nhà và bàn tiệc nhưng thiếu điều quan trọng nhất: trái tim biết ơn. Điều ấy giải thích tại sao Đức Giêsu kể dụ ngôn hai con nợ. Cả hai đều không có khả năng trả. Đây là nền tảng của đời sống ân sủng. Trước mặt Thiên Chúa, chẳng ai có thể nói: “Con tự cứu được mình.” Người nợ năm mươi không thể trả cũng như người nợ năm trăm không thể trả. Một người có thể sống đạo đức hơn người khác; điều ấy tốt và cần thiết. Nhưng không ai có thể dựa vào công trạng của mình để biến Thiên Chúa thành con nợ. Mọi sự đều là ân sủng: hơi thở sáng nay, cơ hội sửa sai, một lần được thức tỉnh sau khi lầm lạc, một người đã tha thứ cho ta, một Bí tích Hòa Giải, một Thánh lễ, một Lời Chúa bất ngờ đánh động, một người bạn kéo ta trở lại, một cơn bệnh khiến ta thay đổi cách sống, một thất bại làm ta bớt kiêu ngạo. Khi nhìn đời bằng con mắt này, người ta bỗng thấy mình nợ Thiên Chúa quá nhiều. Và từ lòng biết ơn ấy, tình yêu nảy sinh. Người phụ nữ yêu nhiều bởi vì chị biết mình đã được tha nhiều. Simon yêu ít bởi vì ông chưa nhận ra mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót.
“Chị hãy đi bình an.” Đây có lẽ là câu đẹp nhất để kết thúc câu chuyện. Bình an trong Kinh Thánh không chỉ là hết lo lắng hay không còn xung đột. Bình an là được phục hồi mối tương quan với Thiên Chúa, với chính mình, với người khác và với cuộc đời. Người phụ nữ bước vào căn nhà ấy mang theo nỗi nhục, và chị bước ra mang theo bình an. Chị bước vào với cái tên “người tội lỗi”, chị bước ra với lời của Đức Giêsu: “Đức tin của chị đã cứu chị.” Thiên hạ có thể ngày hôm sau vẫn gọi chị bằng tên cũ, nhưng từ hôm đó có một tiếng nói lớn hơn mọi tiếng nói khác đã nói về chị. Đó là điều mỗi người chúng ta phải học: đừng để tiếng nói của thế gian mạnh hơn tiếng nói của Chúa. Có thể người ta bảo bạn thất bại; Chúa vẫn có thể nói: hãy đứng dậy. Người ta có thể nói bạn hết hy vọng; Chúa nói: hãy trở về. Người ta có thể nhớ tội của bạn; Chúa nhìn thấy đức tin của bạn. Người ta có thể khóa bạn trong một định kiến; Chúa mở một cánh cửa. Và cũng đừng để chính tiếng kết án trong lòng mình mạnh hơn Tin Mừng. Sám hối Kitô giáo không phải ghét chính mình. Sám hối là ghét điều đã làm ta xa Chúa nhưng đồng thời tin mình vẫn được Thiên Chúa yêu đến mức Người muốn cứu ta. Nước mắt của người phụ nữ không phải nước mắt tuyệt vọng; đó là nước mắt đã tìm được một nơi để rơi xuống. Có những giọt nước mắt vô vọng vì chẳng biết khóc với ai; nhưng khi nước mắt rơi dưới chân Đức Giêsu, nó có thể trở thành khởi đầu của một cuộc đời mới. Vì thế, nếu hôm nay có ai đang mang một quá khứ nặng nề, đừng chạy khỏi Chúa. Chính lúc xấu hổ nhất là lúc cần đến gần Người nhất. Đừng đợi trở nên tốt rồi mới cầu nguyện. Đừng đợi sạch rồi mới đến với Đấng có thể thanh tẩy. Đừng đợi hết tội mới đi xưng tội. Đừng nghĩ phải tự vá đời mình xong rồi mới trở về nhà Cha. Người bệnh không đợi lành mới tới bệnh viện. Người chìm dưới nước không đợi biết bơi mới kêu cứu. Người phụ nữ Tin Mừng hôm nay bước đến như chị đang là, nhưng chị không ra về như lúc bước vào. Đó là sức mạnh của một cuộc gặp gỡ thật với Đức Kitô.
Và nếu hôm nay ta không thấy mình giống người phụ nữ, có lẽ ta cần tự hỏi liệu ta có đang giống Simon. Ta có mời Chúa vào nhà nhưng không trao cho Người trái tim không? Ta có thể đọc kinh nhưng lòng đầy cay đắng; dự lễ nhưng không chịu hòa giải; làm việc đạo đức nhưng thích xét đoán; nói về lòng thương xót nhưng không cho người trong gia đình cơ hội sửa sai; kính ảnh Chúa nhưng khinh một người nghèo; hôn Thánh giá nhưng lạnh lùng trước một người đang đau khổ. Người phụ nữ dùng nước mắt rửa chân Chúa; hôm nay chân Chúa có thể đang mang khuôn mặt của một người già bị bỏ quên, một người bệnh cần được thăm, một người con cần được lắng nghe, một người nghèo cần một bữa ăn, một người lầm lỗi cần ai đó tin rằng họ có thể làm lại. Bình dầu thơm của chúng ta hôm nay có thể không phải là một vật quý giá; có thể đó là thời gian. Có khi thứ đắt nhất ta phải đổ ra là cái tôi. Có khi là lời xin lỗi ta trì hoãn mười năm. Có khi là cuộc điện thoại cho người ta đã đoạn tuyệt. Có khi là việc ngừng nói xấu một người. Có khi là một lần vào tòa giải tội sau nhiều năm. Có khi là từ bỏ một mối quan hệ sai trái. Có khi là trả lại điều không thuộc về mình. Có khi là tha một món nợ. Có khi chỉ là quỳ xuống trước Chúa và nói thật: “Lạy Chúa, con mệt rồi, con không thể tự cứu mình.” Đó có thể là lúc một bình dầu được mở ra.
Tin Mừng Lc 7,36-50 cuối cùng không phải là câu chuyện về một người phụ nữ tội lỗi. Đó là câu chuyện về Đức Giêsu. Nếu chỉ nhìn chị, ta sẽ thấy nước mắt; nhìn Đức Giêsu, ta thấy lòng thương xót. Nếu chỉ nhìn Simon, ta thấy xét đoán; nhìn Đức Giêsu, ta thấy một Đấng kiên nhẫn dạy cả người xét đoán lẫn người bị xét đoán. Người không loại Simon khỏi bàn ăn. Người cũng muốn cứu Simon khỏi sự cứng cỏi của ông. Lòng thương xót không đứng về phe người tội lỗi để chống người đạo đức; lòng thương xót muốn cứu cả hai. Người phụ nữ cần được giải thoát khỏi tội lỗi công khai; Simon cần được giải thoát khỏi kiêu ngạo kín đáo. Cả hai đều là con nợ. Cả hai đều cần Đấng Chủ nợ xóa nợ. Và chúng ta cũng vậy. Có ngày ta là người phụ nữ, cúi đầu vì lỗi lầm của mình; có ngày ta là Simon, ngẩng đầu quá cao vì lỗi lầm của người khác. Có ngày ta cần được tha; có ngày ta cần học cách tha. Có ngày ta khóc dưới chân Chúa; có ngày ta đứng bên cạnh và khó chịu vì Chúa quá nhân từ với một người ta không thích. Nhưng Đức Giêsu vẫn ở giữa căn phòng, lặng lẽ đưa chúng ta về với một sự thật duy nhất: tất cả đều sống nhờ ân sủng.
Ước gì mỗi lần bước vào Thánh lễ, chúng ta bước vào với trái tim của người phụ nữ ấy: không phải với mặc cảm bệnh hoạn, nhưng với ý thức sâu xa rằng mình được yêu hơn điều mình xứng đáng. Ước gì mỗi lần nghe lời xá giải, chúng ta thật sự tin rằng Chúa đang mở cửa nhà tù. Ước gì mỗi lần rước lễ, ta biết kinh ngạc rằng chính Đấng Thánh đang đến với người bất toàn. Ước gì khi nhìn một người đã sai, chúng ta đừng chỉ hỏi họ đã làm gì, nhưng hãy tự hỏi Thiên Chúa còn có thể làm gì nơi đời họ. Ước gì trong gia đình, cộng đoàn và Giáo Hội, những người mang vết thương không phải sợ bước vào vì ánh mắt của những Simon, nhưng dám bước vào vì họ tin ở đó có Đức Giêsu. Giáo Hội không phải bảo tàng trưng bày những con người hoàn hảo; Giáo Hội là mái nhà nơi những người được thương xót học cách trở thành người biết thương xót. Một cộng đoàn Kitô hữu đẹp không phải là cộng đoàn chẳng ai từng sai, nhưng là cộng đoàn mà người sai có thể thật lòng sám hối, được sửa dạy trong chân lý, được nâng lên bằng tình thương và được trao cơ hội để sống một đời mới.
Có lẽ cuối cùng, điều đáng xin nhất hôm nay không phải là: “Lạy Chúa, xin cho con đừng bao giờ giống người phụ nữ tội lỗi kia”, nhưng là: “Lạy Chúa, xin đừng để con quên rằng con cũng cần lòng thương xót.” Bởi khi quên điều đó, ta sẽ rất dễ trở thành Simon. Xin cho ta còn biết khóc trước tình yêu Chúa, còn biết xúc động trước ơn tha thứ, còn biết cúi xuống thay vì chỉ tay, còn biết mở bình dầu của đời mình thay vì giữ mọi thứ cho bản thân. Xin cho chúng ta hiểu rằng mình không cần có một quá khứ hoàn hảo để có một tương lai thánh thiện. Điều cần thiết là hôm nay dám bước về phía Đức Giêsu. Người phụ nữ ấy đã bước vào một căn nhà đầy ánh mắt phán xét nhưng chị chỉ cần một ánh mắt không kết án. Chúng ta cũng thế. Cuộc đời có thể có hàng trăm người nhớ điều xấu về ta, nhưng chỉ cần Thiên Chúa nói “con đã được tha” thì đó mới là lời cuối cùng. Và khi đã được tha, đừng đứng mãi bên những mảnh vỡ của hôm qua. Hãy đứng lên. Hãy sống khác đi. Hãy yêu nhiều hơn. Hãy thương những người yếu đuối hơn. Hãy dùng chính kinh nghiệm được thương xót để trở thành lòng thương xót cho người khác. Rồi một ngày nào đó, khi nhìn lại, ta sẽ nhận ra rằng chính nơi mình từng nghĩ là dấu chấm hết, Thiên Chúa đã đặt một dấu phẩy; chính nơi ta nghĩ chỉ còn xấu hổ, Người đã bắt đầu một lịch sử ân sủng; chính nơi ta tưởng cuộc đời đã hỏng, Người làm nảy sinh một tình yêu sâu hơn. Bởi thế, giữa mọi tiếng kết án của quá khứ, hãy nghe lời Đức Giêsu nói với người phụ nữ và cũng đang nói với từng người chúng ta: “Tội của con đã được tha… Đức tin của con đã cứu con. Hãy đi bình an.” Và khi đã nghe được lời ấy bằng cả trái tim, có lẽ ta sẽ hiểu vì sao người được tha nhiều lại yêu mến nhiều đến thế.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleKỂ LẠI ĐIỀU MÌNH ĐÃ SỐNG VỚI CHÚA – Lm. Anmai, CSsR
Next articleNHỮNG NGUY HIỂM TRÊN CÁC XA LỘ KỸ THUẬT SỐ – HƯỚNG TỚI MỘT SỰ HIỆN DIỆN TRỌN VẸN – Lm. Anmai, CSsR