ĐỨC TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT – VỊ ĐẠI ÂN NHÂN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM
Giữa một Sài Gòn hôm nay mỗi ngày thay đổi đến chóng mặt, nơi những con đường mới mở ra, những tòa nhà mới mọc lên, những khu phố cũ dần khoác những chiếc áo khác, vẫn có một nơi khiến người ta khi bước vào tự nhiên muốn đi chậm lại, nói nhỏ hơn và để lòng mình lắng xuống: Lăng Ông Bà Chiểu, nơi an nghỉ của Đức Thượng Công Tả Quân Lê Văn Duyệt. Gần hai thế kỷ đã đi qua kể từ ngày vị đại thần ấy lìa đời, triều đại mà ngài từng phụng sự đã trở thành lịch sử, những chiến trường ngài từng đi qua chỉ còn được nhắc lại trong sử sách, những con thuyền chiến, những thành lũy, những quan phục, những nghi thức triều đình, những sắc phong và những tranh chấp quyền lực của một thời đã lùi rất xa khỏi đời sống con người hôm nay, vậy mà tên tuổi Lê Văn Duyệt vẫn không mất đi. Người Sài Gòn xưa và nay vẫn quen gọi ngài bằng hai tiếng đầy kính trọng: Đức Ông. Có những con người được nhớ vì từng ngồi trên ngai cao, có người được nhớ vì chiến thắng lẫy lừng, có người được nhớ bởi một công trình vĩ đại để lại trên mặt đất, nhưng cũng có những người được nhớ bằng một thứ ký ức bền hơn cả đá: ký ức của lòng dân. Một triều đình có thể phong chức rồi tước chức, có thể ban bia rồi phá bia, có thể vinh danh rồi kết án, nhưng lòng biết ơn của con người đôi khi lại đi theo một con đường khác. Nó không nhất thiết tuân theo từng biến động của quyền lực. Nó được truyền từ ông bà sang cha mẹ, từ cha mẹ sang con cháu, từ một câu chuyện được kể bên bàn trà đến một nén nhang được thắp trước phần mộ người xưa. Và trong dòng ký ức ấy, người Công giáo Việt Nam có một lý do rất riêng để nhắc tên Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt với sự trân trọng đặc biệt. Ngài không phải một vị thánh của Giáo Hội. Ngài không phải linh mục. Ngài cũng không phải một người Công giáo. Không có lý do nào để biến ngài thành một nhân vật Công giáo hay dùng ngôn ngữ đạo đức để phủ lên toàn bộ cuộc đời của một võ tướng và đại thần sống trong một thời đại đầy chiến tranh, quyền lực và những quyết định không đơn giản. Nhưng chính vì ngài không phải người cùng đạo mà nghĩa cử của ngài đối với những người Công giáo càng đáng suy nghĩ. Trong một thời điểm mà việc truyền giáo bắt đầu bị nhìn bằng ánh mắt ngày càng nghi ngại, khi những vị thừa sai ngoại quốc có nguy cơ bị kiểm soát, ngăn cản hoặc giữ lại, khi nhiều cộng đoàn tín hữu phải sống giữa những bất an không biết tương lai của đời sống đạo sẽ ra sao, Đức Tả Quân đã sử dụng uy tín, vị thế và ảnh hưởng của mình để bảo vệ một số vị thừa sai, tạo điều kiện cho những cộng đoàn Công giáo tiếp tục sinh hoạt và đặc biệt can thiệp để những nhà truyền giáo đang bị giữ ở kinh đô được trở lại miền Nam tiếp tục sứ vụ. Những sự kiện ấy không làm cho Đức Tả Quân trở thành người Công giáo; chúng chỉ cho thấy một phẩm chất rất đáng quý: ngài có khả năng nhìn người khác vượt qua ranh giới tôn giáo và biết nhớ những ân nghĩa của quá khứ. Bởi thế, đối với người Công giáo, tưởng nhớ Đức Tả Quân không phải là lẫn lộn lịch sử với đức tin, càng không phải là phong thánh cho một nhân vật lịch sử, mà đơn giản là thực hành một điều rất căn bản của đạo làm người: ai đã làm điều tốt cho mình và cho tiền nhân mình thì phải biết nhớ. Một cộng đoàn không biết nhớ ơn những người từng bảo vệ mình trong lúc khó khăn là một cộng đoàn dễ mắc căn bệnh vô ơn. Một Giáo Hội biết cầu nguyện cho ân nhân, biết trân trọng điều thiện nơi người khác, kể cả nơi những người không cùng niềm tin, lại càng thể hiện rõ hơn tinh thần Tin Mừng. Chính từ góc nhìn ấy mà câu chuyện Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt không chỉ là câu chuyện về một vị võ tướng nổi tiếng của triều Nguyễn, cũng không chỉ là chuyện những tranh chấp quanh một nhân vật quyền lực, nhưng là câu chuyện về lòng trung thành, về ký ức, về quyền lực được sử dụng để che chở người yếu thế, về một ân nghĩa đi xuyên qua gần hai thế kỷ và vẫn còn có thể nói với con người hôm nay.
Muốn hiểu vì sao lời nói của Đức Tả Quân từng có sức nặng đến mức có thể giúp những vị thừa sai được trở về tiếp tục sứ vụ, phải trở lại với cả một thời kỳ đầy máu, nước mắt và biến động khi triều Nguyễn chưa hình thành trong sự ổn định như những gì hậu thế nhìn thấy trên bản đồ lịch sử. Lê Văn Duyệt sinh ra và trưởng thành giữa một thời mà đất nước bị cuốn vào những cuộc xung đột dữ dội. Đó không phải một thế giới nơi người trẻ có thể bình thản tính toán nghề nghiệp, lập gia đình rồi sống an ổn bên ruộng đồng. Chính trị, chiến tranh và việc tranh giành quyền lực giữa các thế lực đã xô đẩy biết bao con người vào những cuộc lên đường không biết ngày trở về. Lê Văn Duyệt theo Nguyễn Ánh trong thời kỳ Nguyễn Ánh còn nhiều phen thất thế. Nói rằng ngài trung thành với Nguyễn Ánh thì rất dễ, nhưng muốn hiểu chữ “trung thành” ấy phải đặt mình vào hoàn cảnh khi chưa biết người mình theo rồi sẽ trở thành hoàng đế hay ngày mai sẽ lại phải bỏ chạy trước quân đối phương. Trung thành với người chiến thắng thì nhiều người làm được; trung thành với người đang bị dồn vào thế hiểm nghèo mới là điều bộc lộ bản lĩnh. Những người đi cùng Nguyễn Ánh trong giai đoạn khó khăn không sống với một bảo đảm rằng rồi đây tất cả sẽ được đền đáp bằng chức tước. Họ có thể chết trong một trận đánh vô danh, có thể bị bắt, có thể chứng kiến mọi công sức tiêu tan chỉ trong một thất bại. Chính những năm tháng ấy đã tạo nên mối quan hệ đặc biệt giữa Nguyễn Ánh và nhiều công thần khai quốc, trong đó Lê Văn Duyệt là một nhân vật nổi bật. Một người từng cùng chủ tướng đi qua những thời khắc sinh tử sẽ có một vị thế hoàn toàn khác với một viên quan chỉ xuất hiện sau khi cơ nghiệp đã yên. Vì thế, khi Nguyễn Ánh trở thành vua Gia Long, những người như Lê Văn Duyệt không chỉ mang trên mình chức vụ do triều đình ban; họ còn mang theo cả một vốn liếng uy tín được hình thành từ chiến trận, gian nan và lòng trung thành. Trận Thị Nại năm 1801 thường được nhắc đến như một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp quân sự của Lê Văn Duyệt. Đó là giai đoạn quyết liệt của cuộc chiến giữa lực lượng Nguyễn Ánh và Tây Sơn, khi kết quả từng trận đánh có thể làm thay đổi tương quan sức mạnh giữa hai bên. Nhưng nếu chỉ nói về Đức Tả Quân như một người đánh giặc giỏi thì chưa đủ. Lịch sử có rất nhiều tướng giỏi mà dân chúng không nhớ lâu. Điều khiến một võ tướng trở thành một nhân vật có dấu ấn sâu trong lòng dân thường nằm ở chỗ sau khi tiếng súng lắng xuống, người ấy đã làm gì với quyền lực mình có. Có những tướng lĩnh quen ra lệnh trên chiến trường nên khi cai trị dân cũng chỉ biết dùng mệnh lệnh. Có người thắng trận nhưng thất bại trong việc làm cho dân được sống yên. Có người khiến quân lính nể sợ nhưng không khiến dân chúng tin cậy. Lê Văn Duyệt lại có một cuộc đời cho thấy khả năng chuyển từ vai trò quân sự sang công việc quản trị một vùng đất rộng lớn, phức tạp và đầy tiềm năng. Ngài hai lần nắm trọng trách ở Gia Định, lần đầu trong triều Gia Long và lần sau dưới triều Minh Mạng, kéo dài cho đến khi qua đời năm 1832. Gia Định khi ấy không phải chỉ là một phần nhỏ của Sài Gòn như người hôm nay hình dung khi nghe tên địa danh ấy. Đó là cả một không gian rộng lớn ở phương Nam với những đường sông chằng chịt, nhiều cộng đồng cư dân, nhiều hoạt động giao thương và vị trí chiến lược quan trọng đối với triều đình. Người đứng đầu khu vực này phải giải quyết đồng thời những vấn đề quân sự, hành chính, biên giới, an ninh, kinh tế, thương mại và đời sống dân chúng. Đây chính là nơi uy tín cá nhân của Đức Tả Quân ngày càng lớn. Nhưng quyền lực luôn mang trong nó một nghịch lý: khi được dùng đúng, nó có thể mở đường sống cho rất nhiều người; khi bị lạm dụng, nó có thể làm cả một vùng đất đau khổ. Giá trị của người nắm quyền vì thế không chỉ nằm ở quyền lực họ có, mà ở cách họ sử dụng quyền lực ấy. Nhìn từ câu chuyện người Công giáo, Đức Tả Quân trở nên đáng nhớ chính ở điểm này. Khi có trong tay khả năng nói một lời có trọng lượng, ngài đã không chỉ dùng lời ấy để bảo vệ quyền lợi riêng, dòng họ riêng hay phe nhóm riêng. Có lúc ngài đã dùng nó để bênh vực những người không cùng tôn giáo với mình. Đó là một việc tưởng nhỏ nhưng thật ra rất lớn. Bởi bản chất của quyền lực luôn có xu hướng tìm cách bảo vệ chính mình. Người có quyền thường dễ nghĩ rằng chuyện của những người yếu thế không phải chuyện của mình. Nhưng chính lúc một người quyền thế chịu đặt uy tín của mình vào việc cứu người đang bị kẹt, quyền lực mới có được một vẻ đẹp mà danh hiệu không thể tự tạo ra.
Gia Định đầu thế kỷ XIX là một vùng đất đặc biệt. Đây là miền đất của những cuộc di dân, của sự gặp gỡ giữa nhiều nhóm cư dân, của những dòng sông vừa là con đường đi lại vừa là mạch máu kinh tế. Người Việt, người Hoa, người Khmer và những cộng đồng khác cùng hiện diện trong một không gian mà sự sống còn gắn chặt với ruộng lúa, ghe thuyền, chợ búa, giao thương và khả năng giữ cho vùng đất được ổn định. Một viên quan cai quản nơi ấy không thể chỉ ngồi trong dinh để ban lệnh. Nếu đường thủy không an toàn, người buôn không dám đi. Nếu cướp bóc xảy ra thường xuyên, người dân không dám khai khẩn. Nếu việc thu thuế quá nặng hoặc cai trị quá khắc nghiệt, người ta sẽ tìm cách bỏ đi. Nếu thương nhân bên ngoài không thể đến, hàng hóa sẽ khó lưu thông. Nếu cộng đồng này nghi kỵ cộng đồng kia, một miền đất mới rất dễ trở thành nơi xung đột. Đức Tả Quân được nhắc tới như một người chú ý đến đời sống thực tế ấy. Việc mở mang đường sá, đào vét kênh rạch, giữ trật tự, khuyến khích sản xuất và giao thương không hào hùng như một trận đại chiến, nhưng đối với người dân bình thường, đó lại là những việc có thể quyết định cả một đời sống. Người làm ruộng cần có nơi bán lúa. Người chèo ghe cần biết đoạn sông phía trước không đầy cướp. Người buôn cần một môi trường đủ ổn định để dám đưa vốn vào. Người mới đến khai phá cần một cơ hội để biến vùng đất xa lạ thành quê hương. Đó là thứ “chính trị” rất gần với bữa cơm. Và người dân thường không nhớ một nhà cai trị bằng những lý thuyết cao xa; họ nhớ xem khi người ấy cầm quyền, cuộc sống của họ có dễ thở hơn hay không. Trong bối cảnh ấy, sự hiện diện của người Công giáo cũng phải được nhìn bằng một ánh mắt đời thường như thế. Những tín hữu Công giáo thời đó không phải những con người sống trong một thế giới tách biệt. Họ cũng làm ruộng, đánh cá, buôn bán, lập gia đình, nuôi con, chăm cha mẹ già, đóng góp cho xã hội và đối diện với những thiên tai, bệnh tật, nghèo đói giống những người khác. Đức tin của họ hiện diện trong những điều rất gần: buổi đọc kinh gia đình, thánh lễ khi có linh mục, việc học giáo lý, bí tích rửa tội cho trẻ nhỏ, xức dầu cho người hấp hối, hôn phối của đôi vợ chồng, lời cầu nguyện nơi một ngôi nhà đơn sơ. Khi một nhà truyền giáo bị bắt hoặc bị buộc rời khỏi khu vực, hậu quả không chỉ rơi trên cá nhân vị linh mục. Cả một chuỗi đời sống cộng đoàn bị ảnh hưởng. Một linh mục không tới được một họ đạo có thể đồng nghĩa với nhiều người không được lãnh nhận bí tích trong thời gian dài. Một chủng viện không thể hoạt động đồng nghĩa với việc tương lai các cộng đoàn thiếu mục tử. Một lệnh cấm khiến người ta phải che giấu đời sống tôn giáo có thể biến cả một gia đình thành những con người thường xuyên sống trong sợ hãi. Vì vậy, khi nói Đức Tả Quân đã giúp người Công giáo, không nên chỉ hình dung ngài giúp vài người Tây phương xa lạ. Đằng sau mỗi vị thừa sai là rất nhiều giáo dân Việt Nam không để lại tên trong sử sách. Một người được cứu khỏi cảnh bị giữ lại có thể tiếp tục đi đến hàng chục cộng đoàn. Một chủng viện được yên trong vài năm có thể đào tạo những người sau này phục vụ Giáo Hội hàng chục năm. Một giai đoạn tương đối bình yên có thể tạo nên những hoa trái chỉ xuất hiện nhiều năm sau. Có những việc thiện khi vừa được làm nhìn rất nhỏ nhưng hậu quả của nó vượt xa tầm mắt của người làm. Người mở cửa cho một linh mục trở về sứ vụ có thể không biết rằng vị linh mục ấy sau này sẽ trở thành giám mục. Người can thiệp để một nhà truyền giáo được tiếp tục hoạt động có thể không biết rằng người ấy về sau sẽ đổ máu vì đức tin và được Giáo Hội tuyên thánh. Đức Tả Quân chắc chắn không làm việc mình làm vì biết trước những kết quả ấy. Ngài hành động trong hoàn cảnh cụ thể của thời đại mình. Nhưng chính vì thế mà câu chuyện càng đáng suy nghĩ. Điều tốt ta làm hôm nay có thể đi xa hơn rất nhiều so với khả năng ta nhìn thấy.
Muốn hiểu sâu hơn thái độ của Đức Tả Quân đối với những người Công giáo, phải nhớ rằng quan hệ giữa nhà Nguyễn thời Nguyễn Ánh và các nhân vật Công giáo đã được hình thành từ trước khi triều Nguyễn ra đời. Đức cha Bá Đa Lộc là một nhân vật nổi bật trong bối cảnh ấy. Toàn bộ câu chuyện liên hệ giữa vị giám mục này với Nguyễn Ánh và các thế lực ngoại quốc là một vấn đề lịch sử phức tạp, không thể giản lược thành vài câu ca tụng hay kết án. Tuy nhiên có một điều khó phủ nhận: trong ký ức của thế hệ từng theo Nguyễn Ánh từ những năm gian nan, sự giúp đỡ của những nhân vật Công giáo và những người phương Tây từng hiện diện là một phần của quá khứ khai nghiệp. Lê Văn Duyệt thuộc chính thế hệ đó. Ngài không cần ai kể lại chuyện Nguyễn Ánh từng thất thế thế nào, bởi ngài đã sống trong những năm ấy. Ngài hiểu cảm giác một con người bị dồn đến đường cùng cần một bàn tay giúp đỡ ra sao. Và ngài cũng hiểu rằng một khi cơ nghiệp đã thành, người ta rất dễ quên những người từng ở bên mình trong ngày khốn khó. Đây là một bài học không chỉ của vua chúa mà của tất cả chúng ta. Khi nghèo, ta nhớ từng người cho mình vay vài đồng; khi khá giả, ta có thể quên. Khi bệnh nặng, ta biết ơn từng người hỏi thăm; khi khỏe lại, ta dễ trở nên vô tâm. Khi thất nghiệp, ta trân trọng người giới thiệu một công việc; khi thành đạt, ta có thể xem tất cả là thành tích riêng. Khi Giáo Hội bị khó khăn, ta nhớ ơn người bênh vực; khi mọi sự bình yên, ta dễ cho rằng mình đương nhiên có tất cả. Đức Tả Quân dường như là người không muốn quá khứ bị xóa quá nhanh. Khi chủ trương đối với hoạt động truyền giáo bắt đầu thay đổi dưới triều Minh Mạng, ngài hiểu rằng những người đang bị nhìn với ánh mắt nghi ngờ hôm nay cũng thuộc cùng một thế giới từng có quan hệ ân nghĩa với nhà Nguyễn trong ngày trước. Đương nhiên không thể vì một món nợ trong quá khứ mà mọi hoạt động của bất cứ người ngoại quốc nào cũng đương nhiên được chấp nhận. Một nhà cầm quyền có trách nhiệm bảo vệ an ninh và độc lập quốc gia. Nhưng giữa cảnh giác cần thiết và việc coi tất cả những người khác biệt là kẻ thù có một khoảng cách rất lớn. Đó là khoảng cách của công bằng. Đức Tả Quân đã đứng trong khoảng cách ấy. Ngài có thể không chia sẻ đức tin Công giáo nhưng dường như không chấp nhận việc chỉ vì khác niềm tin mà một cộng đồng bị xem như đáng nghi ngờ. Đây là bài học rất hiện đại. Con người hôm nay thường tự hào vì đang sống trong thời đại văn minh, nhưng chúng ta vẫn rất dễ đóng nhãn nhau. Chỉ cần người kia thuộc một nhóm khác, một vùng khác, một quan điểm khác, một tôn giáo khác, ta có thể lập tức dựng lên trong đầu hàng loạt nghi ngại. Đức Tả Quân sống cách chúng ta hai thế kỷ nhưng thái độ của ngài lại đặt một câu hỏi cho người thời nay: ta có đủ công bằng để nhìn một con người từ hành vi thật của họ hay chỉ nhìn qua chiếc nhãn mình gắn cho họ? Có đủ rộng lượng để biết ơn một người không thuộc nhóm mình không? Có đủ ngay thẳng để bênh vực một người khi họ bị đối xử bất công dù người ấy không đem lại lợi ích gì cho mình không? Chính những câu hỏi ấy làm cho lịch sử thôi là chuyện của người chết. Lịch sử trở thành một tấm gương đặt trước lương tâm người sống.
Dưới triều Gia Long, người Công giáo có những giai đoạn tương đối dễ thở hơn, nhưng sự ổn định ấy không phải một bảo đảm vĩnh viễn. Khi Minh Mạng lên ngôi năm 1820, triều đình ngày càng chú ý đến việc củng cố quyền lực trung ương, kiểm soát các ảnh hưởng bên ngoài và thống nhất cách quản trị đất nước. Trong bối cảnh quốc tế phức tạp đầu thế kỷ XIX, nỗi lo của một triều đình Á Đông trước sự hiện diện ngày càng mạnh của các cường quốc phương Tây không hoàn toàn vô căn cứ. Chính vì phải tôn trọng sự thật lịch sử, người Công giáo hôm nay cũng không nên kể câu chuyện này theo lối đơn giản rằng một bên hoàn toàn thiện còn bên kia hoàn toàn ác. Nhà Nguyễn đứng trước những mối lo có thật về chủ quyền. Các nước phương Tây không phải chỉ mang theo nhà truyền giáo; đằng sau họ còn có tham vọng thương mại và rồi sau này là cả những dự án thuộc địa. Nhưng sai lầm xảy ra khi sự cảnh giác đối với những thế lực chính trị được mở rộng thành sự nghi ngờ đối với toàn bộ một tôn giáo và những người theo tôn giáo ấy. Một giáo dân Việt Nam nghèo khó trong một làng quê không thể bị xem như một phần của một âm mưu chính trị chỉ vì họ đọc kinh theo đức tin Công giáo. Một linh mục đến chăm sóc giáo dân không thể tự động bị đồng nhất với một viên chức của một chính quyền ngoại quốc. Nhưng trong bầu khí nghi ngại, những phân biệt ấy ngày càng khó giữ. Các vị thừa sai bị hạn chế việc đi lại và truyền giáo. Có người bị triệu tập về kinh đô với lý do phục vụ triều đình bằng khả năng ngôn ngữ hay kiến thức kỹ thuật. Nhìn từ bên ngoài, việc được vua triệu dụng có thể giống một sự trọng vọng. Nhưng với một nhà truyền giáo, được giữ tại kinh đô trong khi các cộng đoàn mình có trách nhiệm chăm sóc ở xa lại là một hình thức mất tự do mục vụ. Người ấy đến Việt Nam không phải chủ yếu để làm phiên dịch. Người ấy đến vì tin mình được sai đi rao giảng Tin Mừng, cử hành bí tích, đào tạo người địa phương và đồng hành với cộng đoàn. Khi không thể trở về với đoàn chiên, điều đau khổ không nằm ở việc bản thân họ có được ăn ngon mặc đẹp trong kinh thành hay không, nhưng ở chỗ ơn gọi của họ bị ngăn trở. Và chính trong hoàn cảnh ấy, Đức Tả Quân trở thành người các vị thừa sai nghĩ tới. Điều ấy tự nó đã nói lên nhiều điều. Người ta chỉ tìm tới một người để cầu cứu khi đã biết người ấy có khả năng lắng nghe. Người ta càng không gửi vận mạng của mình cho một đại thần quyền lực nếu chưa có lý do để tin rằng đại thần đó ít nhất sẽ nhìn mình như một con người. Đây là vẻ đẹp thầm lặng của uy tín. Chức vụ có thể làm người ta sợ, còn uy tín làm người ta tìm đến. Quyền lực khiến người khác phải cúi đầu; nhân cách khiến người khác dám trình bày nỗi khổ. Một người nắm quyền mà người yếu thế không dám đến gần có thể rất mạnh nhưng chưa chắc được kính trọng. Đức Tả Quân trong câu chuyện này lại trở thành nơi người khác tìm đến đúng lúc đường đi gần như bị khóa.
Những vị thừa sai gắn với lần can thiệp nổi tiếng của Đức Tả Quân gồm những nhà truyền giáo đang bị hạn chế ở Huế, trong đó nổi bật có cha Jean-Louis Taberd và cha François-Isidore Gagelin. Bản cha gửi còn nhắc đến một vị thừa sai dòng Phanxicô. Điều đáng chú ý là Đức Tả Quân không dừng lại ở việc cảm thông. Có rất nhiều người sẵn sàng nói: “Tôi hiểu hoàn cảnh của anh”, nhưng rất ít người chịu dùng uy tín của mình để hành động. Cảm thông không trả giá thì dễ. Can thiệp vào một vấn đề có thể làm mình mất lòng cấp trên mới khó. Đức Tả Quân đang là một đại thần của triều Nguyễn, không phải một người đứng ngoài hệ thống quyền lực. Khi cách nhìn của ngài không hoàn toàn trùng với xu hướng ngày càng cứng rắn từ triều đình, mỗi lần lên tiếng đều có thể làm cho khoảng cách giữa ngài với nhà vua thêm rõ. Nhưng ngài vẫn lựa chọn hành động. Đặc biệt đáng chú ý là việc ngài không chỉ dựa vào cảm xúc hay khí phách của một viên tướng già. Ngài cho tìm những thư từ, tài liệu cũ liên quan đến mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và những người Công giáo từng giúp đỡ trong thời gian trước, sao lại và xác nhận để mang ra kinh đô làm căn cứ cho lời trình bày của mình. Chi tiết này rất đẹp bởi nó cho thấy Đức Tả Quân không chỉ có cái gan của một võ tướng mà còn có sự thực tế của người hiểu cách quyền lực vận hành. Muốn bênh vực một người hiệu quả, đôi khi thiện chí chưa đủ. Cần sự thật. Cần chứng cứ. Cần trí nhớ. Cần biết phải nói điều gì, ở đâu, với ai và bằng cách nào. Ngày nay có rất nhiều người nổi giận trước một bất công trên mạng xã hội, viết vài dòng thật mạnh rồi tưởng như mình đã làm xong nhiệm vụ. Nhưng một người thật sự muốn giải quyết vấn đề thường phải làm công việc âm thầm hơn nhiều: tìm tài liệu, kiểm chứng thông tin, gặp đúng người, kiên trì trình bày, chịu trách nhiệm về lời mình nói. Đức Tả Quân đã hành xử theo cách ấy. Ngài đem quá khứ trở lại trước hiện tại. Ngài nhắc triều đình rằng cơ nghiệp hôm nay không tự nhiên từ trời rơi xuống; trong những ngày khó khăn đã có những người giúp đỡ. Một người biết nhớ ơn không có nghĩa là mù quáng trước mọi sai sót của ân nhân, nhưng ít nhất không được phép hành xử như thể ân nghĩa chưa từng tồn tại. Đây là phẩm chất ngày càng hiếm trong xã hội. Người ta dễ nhớ lỗi của người khác suốt đời nhưng chỉ nhớ ơn vài tháng. Người ta có thể kể rất chính xác một câu làm mình tổn thương từ mười năm trước nhưng quên hàng chục lần người ấy từng giúp mình. Đức Tả Quân đã chọn cách nhắc lại điều tốt khi cả bầu khí chính trị đang nghiêng về phía ngờ vực. Kết quả của sự can thiệp ấy không phải là một sắc chỉ bảo đảm tự do tôn giáo vĩnh viễn cho toàn bộ đất nước. Ngài không thể đảo ngược hoàn toàn xu thế chính sách đang hình thành. Nhưng đối với những vị thừa sai cụ thể, lời can thiệp của ngài mang lại một thay đổi rất thật: khoảng giữa năm 1828 họ được rời Huế và trở về miền Nam. Một dòng sử có thể ghi sự kiện ấy bằng vài chữ. Nhưng nếu ta đặt mình vào vị trí những người trong cuộc, vài chữ ấy mang trọng lượng của cả một đời. Một cánh cửa được mở. Một người đang bị giữ lại được lên đường. Một cộng đoàn được gặp lại mục tử. Một công việc tưởng gián đoạn được tiếp tục. Một chủng viện tiếp tục đào tạo. Một mạng lưới cộng đoàn tiếp tục có người chăm sóc. Từng kết quả ấy giống những vòng sóng nhỏ trên mặt nước, nhưng chúng lan ra rất xa.
Nhìn vào cuộc đời của những vị thừa sai sau khi được trở lại sứ vụ, ta càng hiểu vì sao người Công giáo có lý do biết ơn Đức Tả Quân. Cha François-Isidore Gagelin tiếp tục hành trình mục vụ trên nhiều vùng của Nam Bộ rồi miền Trung. Trong một thời không có phương tiện giao thông hiện đại, việc một nhà truyền giáo di chuyển giữa những khu vực xa xôi không phải chuyện nhẹ nhàng. Những địa danh ngày nay chỉ cần vài giờ xe hoặc một chuyến bay thì khi ấy có thể là những cuộc hành trình dài bằng ghe thuyền, đường bộ, đối diện với bệnh tật, thời tiết và nguy hiểm. Một linh mục đến một giáo điểm xa không chỉ “ghé qua làm lễ”. Ngài phải sống giữa người dân, học tiếng, hiểu phong tục, dạy giáo lý, giải tội, rửa tội, chứng hôn, thăm người bệnh, chăm sóc người sắp chết, đào tạo giáo lý viên, giải quyết những vấn đề nội bộ cộng đoàn và nhiều khi còn làm cả những việc mà ngày nay thuộc trách nhiệm của hàng loạt cơ quan xã hội. Những năm một nhà truyền giáo được tự do phục vụ vì thế vô cùng quý giá. Sau này, khi cuộc bách hại trở nên khốc liệt, cha Gagelin đã chọn một con đường đưa ngài tới cái chết. Biết rằng tín hữu đang chịu tra khảo và có người vì sợ hãi mà chối đạo, ngài quyết định ra trình diện. Đó không phải hành động của một người coi thường sự sống. Ngược lại, chỉ người đã dùng từng ngày sống để phục vụ mới hiểu cái chết phải được cân nhắc nghiêm túc thế nào. Nhưng ngài không muốn sự an toàn của mình trở thành gánh nặng trên đoàn chiên. Cha bị bắt, đưa về Huế, kết án vì hoạt động truyền giáo và chịu chết năm 1833 khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau này Giáo Hội tôn kính ngài trong hàng các Thánh Tử đạo Việt Nam. Một trong những người từng được Đức Tả Quân giúp mở lại con đường sứ vụ cuối cùng đã hiến chính mạng sống cho sứ vụ ấy. Chúng ta không nên nói rằng nếu không có Đức Tả Quân thì chắc chắn mọi sự về sau sẽ khác, bởi lịch sử không cho phép khẳng định những điều không thể kiểm chứng. Nhưng ta có thể nói một điều chắc chắn hơn và khiêm tốn hơn: Đức Tả Quân đã giúp vị thừa sai ấy có thêm một khoảng thời gian để tiếp tục phục vụ trước ngày tử đạo. Khoảng thời gian đó không vô ích. Bao nhiêu người được gặp ngài, được học đạo, được lãnh nhận bí tích và được nâng đỡ trong đức tin? Không ai còn có thể đếm hết. Đó là lý do một việc tưởng chỉ là “can thiệp hành chính” lại có thể trở thành một phần trong lịch sử thiêng liêng của cả cộng đoàn.
Cha Jean-Louis Taberd cũng có một hành trình đáng chú ý. Sau này ngài trở thành giám mục và gắn bó với công cuộc đào tạo người bản xứ, trong đó chủng viện Lái Thiêu giữ một vị trí đáng nhớ. Việc đào tạo linh mục bản địa là vấn đề sống còn đối với một Giáo Hội truyền giáo. Nếu mọi cộng đoàn chỉ phụ thuộc vào những linh mục ngoại quốc, tương lai của Giáo Hội sẽ luôn bấp bênh trước chiến tranh, chính sách biên giới, bệnh tật và khoảng cách địa lý. Một Giáo Hội thật sự bén rễ phải có những mục tử được sinh ra từ chính dân tộc ấy, nói ngôn ngữ ấy, hiểu đời sống của người dân ấy. Các chủng viện vì vậy không chỉ là những trường học. Chúng là nơi chuẩn bị tương lai. Trong một lớp học nhỏ với vài chủng sinh nghèo, không ai nhìn thấy ngay một biến cố vĩ đại. Không có cờ xí. Không có tiếng pháo mừng. Không có chiến thắng. Chỉ có những giờ học tiếng Latinh, thần học, Kinh Thánh, luân lý, phụng vụ, những buổi cầu nguyện, những thử thách ơn gọi, những người trẻ học cách từ bỏ một cuộc sống bình thường để chuẩn bị trở thành linh mục. Nhưng vài chục năm sau, chính những người ấy có thể là người ở lại khi thừa sai ngoại quốc bị trục xuất, là người cử hành thánh lễ cho giáo dân, là người đem bí tích đến một làng xa, là người chết cùng đoàn chiên trong cơn bách hại. Một giai đoạn bình yên cho chủng viện vì thế có giá trị vượt xa chính những năm bình yên ấy. Đức Tả Quân không xây dựng chủng viện và cũng không đào tạo chủng sinh, nhưng thái độ dung nạp của ngài tạo nên điều kiện để công việc ấy được tiếp tục. Đây cũng là một bài học về cách ta đánh giá công lao. Không phải chỉ người trực tiếp làm một việc mới có phần trong hoa trái của việc ấy. Một người cho mượn căn nhà để mở lớp có thể không phải giáo viên nhưng vẫn góp phần vào việc học. Một người giúp tạo điều kiện pháp lý cho một cơ sở bác ái hoạt động có thể không trực tiếp chăm bệnh nhân nhưng vẫn có phần trong những người được cứu. Một người bảo vệ sự tự do của nhà truyền giáo có thể không giảng một bài giáo lý nào nhưng đã giúp những bài giáo lý ấy được tiếp tục. Trong đời sống Giáo Hội cũng vậy. Có người đứng trên bục giảng nên ai cũng biết tên. Có người âm thầm nấu cơm cho nhà dòng, sửa mái nhà thờ, chở linh mục đi thăm bệnh nhân, đóng một khoản học phí cho một chủng sinh, cho một gia đình Công giáo trú nhờ trong thời gian nguy hiểm. Người đời có thể không nhớ, nhưng lịch sử của ân sủng được dệt bằng vô số con người như thế.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là thái độ của Đức Tả Quân diễn ra trong lúc quan hệ giữa ngài với triều đình không hề đơn giản. Minh Mạng muốn tập trung quyền lực về kinh đô, trong khi Gia Định dưới thời Lê Văn Duyệt có mức độ tự chủ rất lớn do chính đặc thù lịch sử của vùng và uy tín cá nhân của vị tổng trấn. Những khác biệt ấy không chỉ liên quan đến tôn giáo. Chúng bao gồm quan niệm về quản trị, tổ chức hành chính, nhân sự và mối quan hệ giữa quyền lực trung ương với miền Nam. Vì thế, nếu nói Đức Tả Quân về sau bị kết tội đơn giản chỉ vì đã bảo vệ Công giáo thì sẽ làm nghèo đi lịch sử và thậm chí vô tình bóp méo chính con người ta muốn ca ngợi. Một nhân vật lịch sử càng lớn càng không nên bị nhốt vào một khẩu hiệu. Đức Tả Quân có những mâu thuẫn chính trị thực sự với xu hướng quản trị của triều Minh Mạng. Ngài cũng là người của một thời đại quân chủ, từng tham gia chiến tranh và có những cách hành xử mà người hôm nay phải nhìn bằng cả bối cảnh lịch sử lẫn tiêu chuẩn nhân bản. Biết ơn ngài không có nghĩa là tuyên bố mọi quyết định ngài từng làm đều đúng. Người trưởng thành có thể vừa ghi nhận công lao vừa nhìn nhận giới hạn của một nhân vật. Chỉ trẻ con mới cần mọi người trong câu chuyện phải được chia thành người hoàn toàn trắng và người hoàn toàn đen. Lịch sử thật thường có rất nhiều màu xám. Nhưng chính trong màu xám ấy, một hành vi tốt lại càng đáng quý, bởi nó là lựa chọn thật chứ không phải một chi tiết được dựng ra để hoàn thiện bức tượng. Người Công giáo nhớ ơn Đức Tả Quân không phải vì muốn biến ngài thành biểu tượng của toàn bộ những gì tốt đẹp, nhưng vì một công ơn cụ thể: trong lúc cộng đoàn mình gặp khó khăn, ngài đã giúp. Chỉ cần sự thật ấy thôi đã đủ cho lòng biết ơn.
Năm 1832, Đức Tả Quân qua đời. Một người từng giữ quyền lực rất lớn ở phương Nam cuối cùng cũng nằm xuống như mọi người. Cái chết luôn là nơi mọi danh vọng bị thử lửa. Khi còn sống, quanh một người quyền thế thường có quan quân, người hầu, khách khứa, người xin việc, người cầu cạnh, kẻ ca ngợi. Khi người ấy chết, rất nhiều gương mặt biến mất. Quyền lực không đi vào quan tài. Chiếc ấn từng khiến hàng ngàn người phải tuân lệnh trở thành một vật không còn tiếng nói. Một đời từng có thể bảo vệ người khác đến lúc ấy lại không thể tự bảo vệ chính tên tuổi mình. Đây chính là phần bi thương nhất trong câu chuyện Đức Tả Quân. Sau khi ngài qua đời, cơ chế Tổng trấn Gia Định được bãi bỏ, quyền lực quản trị miền Nam được tổ chức lại theo hướng gắn chặt hơn với triều đình trung ương. Những xung đột, bất mãn và mâu thuẫn tích tụ trong thời kỳ chuyển tiếp góp phần tạo nên cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, người con nuôi của Đức Tả Quân, năm 1833. Cuộc nổi dậy trở thành một biến cố rất nghiêm trọng đối với triều đình và kéo dài đến năm 1835. Nhưng cần nhớ thật rõ: Lê Văn Duyệt đã qua đời trước cuộc nổi dậy. Người chết không thể chỉ huy một cuộc nổi loạn xảy ra sau mình. Tuy vậy, sau khi triều đình dẹp được cuộc nổi dậy, trách nhiệm và những cáo buộc đã được truy ngược lại cả người đã chết. Những bất đồng cũ, những quyết định bị cho là vượt quyền và mối liên hệ với Lê Văn Khôi được đưa vào quá trình kết tội. Một công thần từng đi theo Nguyễn Ánh từ thời gian khó, từng giúp nhà Nguyễn giành và củng cố cơ nghiệp, cuối cùng bị kết án sau khi đã nằm dưới đất. Phần mộ của ngài bị xúc phạm, bia kết tội được dựng lên. Gia đình và thân thuộc chịu những hậu quả nặng nề. Hình ảnh ấy chứa đựng một nghịch lý khiến người ta phải suy nghĩ: một người từng dùng tiếng nói để giúp kẻ khác thoát cảnh bị giam giữ thì giờ đây không còn tiếng nói để tự bảo vệ mình; một người từng có thể đem hồ sơ quá khứ ra trước nhà vua để bảo vệ ân nhân thì giờ chính quá khứ của mình bị đọc lại bởi những người không còn muốn nhìn nó như trước; một người từng cầm quân, từng khiến bao người nghe lệnh, giờ không thể ngăn một tấm bia kết tội dựng lên trên phần mộ. Quyền lực của con người cuối cùng mong manh đến thế. Hôm nay người ta tung hô, ngày mai người ta có thể phủ nhận. Hôm nay một người đứng ở vị trí không ai dám động tới, ngày mai họ có thể trở thành mục tiêu của chính hệ thống từng đưa họ lên cao. Câu chuyện ấy không chỉ thuộc thế kỷ XIX. Bất cứ ai quá tin vào chức vụ, danh tiếng hay sức ảnh hưởng của mình đều nên đứng trước mộ Đức Tả Quân một lần trong tâm tưởng. Không có chức vụ nào bảo đảm ta sẽ được nhớ đúng. Không có quyền lực nào bảo đảm con cháu mình sẽ được an toàn. Không có lời ca tụng nào của hôm nay bảo đảm ngày mai người ta không nói khác. Chỉ những việc tốt thật sự ta làm cho người khác mới có khả năng sống lâu hơn cả những bản án của thời cuộc.
Cuộc kết án sau khi chết của Đức Tả Quân là một trong những đoạn bi thương nhất của lịch sử triều Nguyễn, nhưng chính phần lịch sử tiếp theo lại cho thấy một điều khác: sự thật thường có sức bền riêng. Một bản án được đặt lên người chết không nhất thiết trở thành phán quyết cuối cùng của lịch sử. Qua những triều đại kế tiếp, danh dự của Lê Văn Duyệt dần được xem xét lại. Dưới triều Thiệu Trị, một số người thân được tha. Dưới thời Tự Đức, việc phục hồi danh dự được tiến hành thêm. Năm 1849, tấm bia kết tội trước mộ bị dỡ bỏ và thân thuộc được phép sửa sang phần mộ, nơi thờ tự. Đến năm 1868, phẩm hàm của ngài được khôi phục. Từ ngày Đức Tả Quân qua đời đến lúc danh dự được phục hồi trải qua hơn ba thập niên. Với một người chết, ba mươi sáu năm chỉ là một con số; với người sống, đó là cả một thế hệ. Một đứa trẻ sinh năm ngài mất có thể đã có con khi việc phục hồi diễn ra. Những người thân từng chứng kiến cảnh gia tộc bị vạ lây có người đã không còn sống để thấy ngày danh dự được trả lại. Bởi vậy, phục hồi danh dự tuy cần thiết nhưng không thể xóa hết nỗi đau. Một lời xin lỗi đến ba mươi năm sau không làm người chết sống lại. Một bản án được sửa không trả lại tuổi trẻ cho người từng bị liên lụy. Đây là lý do sự công bằng phải được thực hiện khi còn có thể, chứ không nên luôn tin rằng mai sau sẽ sửa. Biết bao bi kịch của lịch sử sinh ra từ việc người đang nắm quyền nghĩ rằng mình có thể quyết định sự thật. Nhưng sự thật không thuộc độc quyền của quyền lực. Một triều đình có thể bắt mọi người im lặng nhưng không thể ra lệnh cho ký ức của dân chúng. Một tấm bia có thể được dựng trước mộ để công bố bản án nhưng không thể bắt mọi người bên trong lòng phải tin rằng người nằm dưới mộ chỉ có tội mà không có công. Lòng dân vẫn nhớ. Những ký ức gia đình vẫn truyền. Những người từng được giúp vẫn còn câu chuyện để kể. Và thời gian, với sự chậm chạp nhưng đôi khi công bằng của nó, dần tách tiếng ồn của tranh chấp chính trị khỏi những việc thật một người đã làm.
Bởi thế Lăng Ông Bà Chiểu không đơn thuần là một địa điểm du lịch hay một di tích kiến trúc. Đối với nhiều người Nam Bộ, đó là một không gian ký ức. Từng thế hệ đã đến đây dâng hương, dự lễ giỗ, xem hát bội, tham gia những nghi thức truyền thống và kể cho con cháu nghe về vị Tổng trấn Gia Định. Hình ảnh ấy rất đẹp: một người đã chết gần hai trăm năm nhưng vẫn có những người chưa từng gặp ngài đến thắp nhang. Điều gì giữ một tên tuổi lâu như thế? Chắc chắn không chỉ là sắc phong. Sắc phong có thể mất. Không chỉ là chức vụ. Chức Tổng trấn từ lâu không còn. Không chỉ là triều Nguyễn. Triều Nguyễn đã kết thúc. Thứ còn lại chính là ký ức cộng đồng. Người ta nhớ một nhân vật vì câu chuyện về người ấy đã được tích hợp vào căn tính của vùng đất. Với người Sài Gòn – Gia Định, Đức Tả Quân không còn chỉ thuộc gia đình Lê Văn Duyệt. Ngài trở thành một phần lịch sử của chính thành phố. Và trong ký ức rộng lớn ấy, người Công giáo mang theo một sợi chỉ riêng: câu chuyện ân nghĩa. Ta đến Lăng Ông không phải để thực hiện một hành vi phụng vụ Công giáo. Ta cũng không thần thánh hóa một danh nhân. Ta đến với tư cách những người Việt biết kính trọng tiền nhân và biết ơn một người từng làm điều tốt cho cộng đoàn mình. Đạo Công giáo không dạy con người phải phủ nhận những nét đẹp trong truyền thống biết ơn của dân tộc. Ngược lại, giới răn “thảo kính cha mẹ” còn mở lòng người ra với cả một thái độ trân trọng đối với những người đi trước. Không phải chỉ cha mẹ sinh thành mới đáng biết ơn. Thầy dạy ta một chữ, người cứu ta trong lúc hoạn nạn, người từng che chở tổ tiên ta, người góp phần tạo nên bình yên cho quê hương, tất cả đều có thể trở thành những người mà lương tâm nhắc ta phải nhớ.
Ở đây, người Công giáo có thể học một điều rất đẹp từ chính câu chuyện Đức Tả Quân: ân nhân không nhất thiết phải cùng đạo. Thiên Chúa có thể làm điều lành cho ta qua những con người không chia sẻ niềm tin với ta. Trong Kinh Thánh, lịch sử cứu độ không ít lần cho thấy Thiên Chúa sử dụng những người ở ngoài cộng đoàn giao ước để thực hiện những điều có lợi cho dân Người. Đời sống thực tế cũng vậy. Có những bác sĩ không Công giáo đã cứu sống một linh mục. Có những quan chức không Công giáo từng bảo vệ một giáo xứ. Có những người hàng xóm khác tôn giáo đã giấu một gia đình Công giáo lúc họ bị truy đuổi. Có những ân nhân không bao giờ bước vào nhà thờ nhưng đã giúp xây trường, nuôi trẻ mồ côi, cứu trợ người nghèo. Nếu ta chỉ biết cảm ơn những ai giống mình thì lòng biết ơn ấy vẫn còn rất nhỏ. Tin Mừng dẫn ta tới một trái tim rộng hơn. Người Samari nhân hậu trong dụ ngôn của Đức Giêsu chính là người thuộc nhóm mà nhiều người Do Thái lúc ấy không ưa. Người nằm bên đường không được cứu bởi người gần mình về tôn giáo nhưng bởi một người bị xem là “khác”. Đó là lời cảnh tỉnh cho mọi cộng đoàn đức tin. Có khi người làm điều tốt cho ta không thuộc nhóm ta. Có khi người thuộc nhóm ta lại đi ngang qua. Vậy ta sẽ ghi nhớ ai? Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt trong lịch sử người Công giáo Việt Nam có thể được nhớ theo tinh thần ấy: không phải vì ngài thuộc Giáo Hội, nhưng vì khi những con người của Giáo Hội cần giúp, ngài đã giúp.
Câu chuyện của ngài cũng buộc những người có quyền hôm nay phải tự hỏi mình đang dùng quyền lực như thế nào. Quyền lực không chỉ nằm ở chức tổng trấn hay ngai vua. Một người cha trong gia đình có quyền. Một người mẹ có quyền trên con nhỏ. Một cha xứ có quyền trong cộng đoàn. Một bề trên có quyền trên người thuộc quyền. Một giám đốc có quyền đối với nhân viên. Một giáo viên có quyền trên học sinh. Một quản trị viên của một nhóm mạng xã hội cũng có quyền ở mức độ nào đó. Mỗi người đều có những khu vực trong đó một lời của mình có thể làm người khác dễ sống hơn hoặc khổ hơn. Câu hỏi không phải ta có quyền hay không, nhưng khi thấy một người đang bị chặn đường, ta làm gì với quyền mình có? Đức Tả Quân có thể nói: “Chuyện những linh mục ấy không liên quan tới tôi.” Nếu ngài nói thế, chẳng ai trách được. Ngài không cùng đạo. Các vị thừa sai cũng không phải họ hàng hay thuộc hạ của ngài. Nhưng chính việc ngài không chọn thái độ dửng dưng làm cho ân nghĩa ấy tồn tại gần hai trăm năm. Có những lúc cuộc đời đặt một người đau khổ trước cửa ta không phải vì ta có trách nhiệm pháp lý với họ, nhưng vì ta đang có thứ họ cần. Có thể ta có một chữ ký, một lời giới thiệu, một cuộc điện thoại, một mối quan hệ, một kiến thức, một chiếc xe, vài giờ rảnh hay chỉ là đủ uy tín để nói: “Tôi biết người này, xin hãy đối xử công bằng với họ.” Nếu ta có thể giúp mà vẫn quay đi, quyền lực trở thành một thứ ích kỷ được trang điểm bằng danh phận. Nếu ta dám giúp, có thể nhiều năm sau chính ta cũng quên, nhưng người được cứu có thể không bao giờ quên.
Đức Tả Quân còn cho chúng ta một bài học khác: hãy sử dụng ảnh hưởng của mình trước khi quá muộn. Khi ngài còn sống, lời ngài có trọng lượng. Sau khi ngài chết, ngay cả chính phần mộ của mình ngài cũng không bảo vệ được. Con người thường nghĩ mình còn nhiều thời gian. Người có chức quyền nghĩ năm sau vẫn còn ghế ấy. Người giàu nghĩ tiền mình rồi vẫn có. Người khỏe nghĩ sức mình còn dài. Nhưng một ngày mọi cánh cửa đóng lại. Có người sống cả đời tích lũy rất nhiều ảnh hưởng nhưng đến cuối cùng không có mấy ai nhớ một lần họ dùng ảnh hưởng ấy để cứu một người. Đó là một bi kịch. Ta không mang chức vụ xuống mồ, nhưng hậu quả cách ta dùng chức vụ sẽ còn. Một ông quan có thể chết, nhưng gia đình từng được ông cứu vẫn kể chuyện về ông. Một linh mục có thể mất, nhưng người nghèo từng được ngài lắng nghe còn nhớ. Một người cha có thể qua đời, nhưng những đứa con sẽ biết cha mình từng dùng uy tín để che chở người yếu hay dùng quyền lực để đè người khác. Mỗi chức vụ đều có ngày hết hạn. Điều ở lại là cách ta đã sử dụng nó.
Nhưng có lẽ phần sâu nhất của câu chuyện nằm ở chữ “nhớ”. Đức Tả Quân nhớ ân nghĩa của những ngày Nguyễn Ánh gian nan. Người Công giáo nhớ việc ngài từng bảo vệ tiền nhân của mình. Dân Gia Định nhớ một vị tổng trấn đã gắn với vùng đất. Các triều vua sau cuối cùng cũng phải nhớ lại công trạng đã bị phủ xuống bởi bản án. Cả câu chuyện là một cuộc đấu tranh giữa ký ức và sự lãng quên. Con người sa ngã rất dễ quên. Quên ơn Chúa. Quên cha mẹ. Quên người giúp mình. Quên những ngày mình từng nghèo. Quên những lời mình từng hứa khi đau bệnh. Quên người bạn từng ở bên khi mọi người quay lưng. Quên người thầy đã dạy mình từ những bước đầu. Quên người cấp dưới từng gánh việc giúp mình thành công. Quên cả quá khứ của chính mình. Vì thế Kinh Thánh liên tục nói: “Hãy nhớ.” Nhớ những gì Thiên Chúa đã làm. Nhớ mình từng là nô lệ. Nhớ giao ước. Nhớ ơn cứu độ. Thánh lễ cũng nằm trong lệnh truyền: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Đức tin Kitô giáo là một đức tin chống lại sự lãng quên. Bởi quên ơn thường là khởi đầu của phản bội. Một người nhớ mình đã được tha thứ sẽ dễ tha thứ. Người quên mình đã được tha sẽ trở nên khắc nghiệt. Người nhớ lúc mình từng yếu sẽ biết thương người yếu. Người quên quá khứ sẽ kiêu ngạo. Nếu người Công giáo kể lại câu chuyện Đức Tả Quân cho thế hệ trẻ, mục đích không phải để tạo một huyền thoại chính trị, mà để dạy một bài học đạo đức rất căn bản: đừng quên người đã làm điều lành cho mình.
Ngày hôm nay, một bạn trẻ Công giáo có thể đi ngang Lăng Ông Bà Chiểu hàng trăm lần mà không biết vì sao nơi ấy tồn tại. Một người có thể biết Đức Tả Quân qua tên đường, qua những câu chuyện dân gian hay qua vài trang sách nhưng không biết rằng giữa vị đại thần ấy và lịch sử Công giáo Việt Nam từng có một món nợ ân nghĩa. Chính vì vậy, việc kể lại câu chuyện là cần thiết. Không phải mọi ký ức đều sống mãi nếu chúng ta không truyền lại. Một thế hệ im lặng có thể làm đứt một dòng ký ức vài trăm năm. Cha mẹ nếu không kể, con cái sẽ không biết. Linh mục nếu không nhắc, giáo dân trẻ sẽ không hay. Người nghiên cứu nếu không viết, những câu chuyện chỉ còn lại trong vài kho tài liệu. Thế nhưng cách kể cũng phải trung thực. Ta không được thêm vào những điều lịch sử không chứng minh. Không nên biến Đức Tả Quân thành người bí mật theo Công giáo nếu không có bằng chứng. Không nên nói toàn bộ cuộc xung đột giữa ngài và Minh Mạng chỉ vì vấn đề tôn giáo. Không nên che những phần phức tạp của một đời đại thần. Sự biết ơn không cần huyền thoại. Sự thật đã đủ đẹp. Một người không cùng đạo đã đứng ra giúp người Công giáo. Một người có quyền đã dùng quyền để mở đường cho người khác. Một công thần sau khi chết bị kết tội rồi nhiều năm sau được phục hồi. Một người từng cứu người khác khỏi cảnh bị giữ lại nhưng cuối cùng chính mình không thể tự bảo vệ trước bản án hậu thế. Chừng ấy thôi đã đủ tạo nên một câu chuyện làm người ta suy nghĩ.
Và nếu đi sâu hơn nữa, câu chuyện Đức Tả Quân còn đặt chúng ta trước mầu nhiệm của những điều thiện được thực hiện ngoài ranh giới hữu hình của Giáo Hội. Người Công giáo tin rằng mọi điều chân, thiện, mỹ đều có nguồn gốc cuối cùng nơi Thiên Chúa. Bởi thế, khi gặp một việc tốt nơi người khác, phản ứng Kitô giáo không phải là ghen tị hay phủ nhận vì người ấy không cùng đạo, nhưng là trân trọng. Chúng ta không cần biến người ấy thành tín hữu để công nhận việc tốt của họ. Hạt giống của chân lý và lòng nhân có thể hiện diện nơi nhiều tâm hồn. Một người chưa biết Đức Kitô vẫn có thể làm một việc rất gần với Tin Mừng. Một người không đọc dụ ngôn Samari nhân hậu vẫn có thể dừng xe cứu người bị nạn. Một người không cầu nguyện Kinh Lạy Cha vẫn có thể tha thứ cho kẻ làm mình đau. Một vị quan không theo Công giáo vẫn có thể đứng ra che chở người Công giáo. Điều ấy không làm tương đối hóa đức tin; ngược lại, nó giúp người có đức tin nhận ra hoạt động của ân sủng rộng hơn những chiếc hộp chật hẹp ta thường dựng lên trong đầu.
Nếu một ngày người Công giáo đến viếng Lăng Ông, có lẽ điều đẹp nhất không phải chỉ là nhìn những công trình kiến trúc hay nghe kể các giai thoại. Điều cần làm là đứng yên một chút trước thân phận của một con người. Đây từng là một người có quyền lực rất lớn. Đây từng là một võ tướng khiến người khác kính sợ. Đây từng là một đại thần có thể vào triều trình bày với vua. Đây từng là Tổng trấn của cả một vùng rộng lớn. Nhưng cuối cùng ngài chỉ còn một ngôi mộ. Hãy nhìn ngôi mộ ấy rồi hỏi: nếu một ngày mình nằm xuống, người khác sẽ nhớ mình vì điều gì? Vì chiếc xe mình từng đi? Vì căn nhà mình từng xây? Vì danh thiếp từng ghi nhiều chức vụ? Vì những lần mình thắng người khác trong tranh luận? Hay vì lúc ai đó gặp nạn mình đã không bỏ họ? Một ngôi mộ có khả năng giảng một bài giảng rất dài mà không cần lời. Nó nói rằng tất cả rồi qua. Nhưng nó cũng nói rằng có những điều không qua nhanh như ta tưởng. Một nghĩa cử có thể sống hai trăm năm. Một hành động bất công cũng có thể bị nhớ hàng thế kỷ. Vì thế hãy sống sao cho khi tên mình được nhắc lại, người ta có ít nhất một lý do để nói: “Người ấy đã từng làm điều tốt cho ai đó.”
Ngày lễ giỗ Đức Tả Quân rồi mỗi năm lại đến và đi. Nhang được thắp rồi tàn. Tiếng trống hát bội rồi lắng. Người đến viếng rồi trở về với cuộc sống thường ngày. Nhưng ký ức chỉ thật sự có ý nghĩa nếu nó biến thành thái độ sống. Tưởng nhớ một người từng bênh vực người yếu mà hôm nay ta im lặng trước bất công thì việc tưởng nhớ ấy rỗng. Kính trọng một người biết nhớ ân nghĩa mà ta sống vô ơn với cha mẹ, thầy cô, ân nhân thì nén nhang chỉ còn là hình thức. Khen Đức Tả Quân rộng lượng với người khác tôn giáo mà chính ta kỳ thị người không cùng niềm tin thì ta chưa hiểu điều mình đang ca ngợi. Câu chuyện lịch sử chỉ có sức sống khi nó trở thành một câu hỏi cho lương tâm hiện tại.
Có lẽ vì vậy mà gần hai thế kỷ sau ngày Đức Tả Quân qua đời, điều đáng kể nhất không phải ngài từng có bao nhiêu binh sĩ hay từng mặc phẩm phục nào. Điều khiến người Công giáo có thể cúi đầu biết ơn chính là ở một thời điểm cụ thể, khi những người thuộc Giáo Hội gặp khó khăn, một người không thuộc Giáo Hội đã không quay mặt đi. Chỉ một điều ấy đã đủ để hậu thế nhớ. Và có lẽ đó cũng là cách đẹp nhất để chúng ta kết thúc câu chuyện này: không bằng việc biến Đức Tả Quân thành một con người hoàn hảo, mà bằng việc nói lời cảm ơn cho một điều rất thật. Cảm ơn một người đã biết dùng ảnh hưởng của mình để mở cánh cửa cho những người đang cần được trở về với sứ vụ. Cảm ơn một người đã không để khác biệt tôn giáo ngăn mình nhìn thấy những con người cụ thể. Cảm ơn một người từng nhớ những nghĩa tình của quá khứ giữa lúc nhiều người muốn quên. Cảm ơn một người đã góp phần tạo nên một khoảng bình yên để những hạt giống đức tin tiếp tục bén rễ trên vùng đất phương Nam. Và xin cho chính chúng ta cũng trở thành những con người mà một ngày nào đó người khác có thể nhớ với cùng một lý do đơn sơ: trong lúc họ cần giúp, chúng ta đã không bỏ đi.
Lạy Chúa là Đấng thấu suốt mọi tâm hồn và biết rõ từng việc thiện âm thầm mà con người đã làm trong cuộc đời, chúng con xin dâng lên Chúa lòng biết ơn đối với những người đã từng làm điều lành cho quê hương, cho dân tộc và cho Hội Thánh, kể cả những người không cùng niềm tin với chúng con. Xin Chúa nhớ đến những điều thiện họ đã thực hiện, những người họ đã bảo vệ, những đau khổ họ đã làm vơi nhẹ và những con đường họ từng giúp mở ra cho người khác. Xin cho chúng con đừng trở thành một thế hệ vô ơn, chỉ biết hưởng những hoa trái của quá khứ mà quên người đã gieo trồng. Xin cho chúng con biết nhìn lịch sử với sự công bằng, không thần tượng hóa con người nhưng cũng không để định kiến xóa mất điều tốt họ từng làm. Xin cho những ai đang nắm giữ quyền lực hôm nay hiểu rằng quyền lực rồi sẽ qua, chức vụ rồi sẽ hết, tiếng tung hô rồi sẽ im, nhưng một việc thiện có thể ở lại trong ký ức của nhiều thế hệ. Xin cho chúng con, khi có khả năng nói một lời để bênh vực người bị oan, biết nói; khi có khả năng mở một cánh cửa cho người đang bị chặn lối, biết mở; khi có thể giúp người khác bằng một chút ảnh hưởng Chúa trao, đừng ích kỷ giữ nó cho riêng mình. Xin cho chúng con biết nhớ ơn người đã giúp mình, biết tha thứ cho người đã làm mình đau và biết làm điều đúng không phải vì người khác cùng phe, cùng đạo, cùng quê hay cùng lợi ích, nhưng đơn giản vì đó là điều phải làm trước mặt Chúa và trước lương tâm. Và khi cuộc đời chúng con khép lại, xin cho điều còn ở lại không phải là những danh hiệu đã từng mang, nhưng là những dấu chân của lòng nhân hậu mà chúng con đã để lại trong cuộc đời người khác. Amen.
Lm. Anmai, CSsR













