GIÁO HỘI CŨNG KHÔNG NẰM NGOÀI MỐI NGUY HIỂM CỦA MẠNG XÃ HỘI – Lm. Anmai, CSsR

0

GIÁO HỘI CŨNG KHÔNG NẰM NGOÀI MỐI NGUY HIỂM CỦA MẠNG XÃ HỘI
Những lo ngại về mạng xã hội ngày càng trở nên rõ ràng khi con người bắt đầu nhận ra rằng phía sau một màn hình tưởng như vô hại không chỉ có những hình ảnh, những dòng chữ, những đoạn video và những cuộc trò chuyện, nhưng còn có cả một hệ thống kỹ thuật được thiết kế rất tinh vi để giữ người dùng ở lại càng lâu càng tốt. Những thuật toán của các nền tảng không đơn giản chỉ làm nhiệm vụ chuyển tải thông tin. Chúng quan sát điều chúng ta thích, điều khiến chúng ta dừng lại, điều khiến chúng ta nổi giận, điều làm chúng ta tò mò, điều khiến chúng ta sợ hãi, điều làm chúng ta xúc động; rồi từ những dấu vết ấy, chúng tiếp tục chọn lựa những nội dung có khả năng khiến chúng ta nhìn lâu hơn, bấm nhiều hơn, phản ứng mạnh hơn và quay trở lại thường xuyên hơn. Trong cơ chế đó, sự chú ý của con người trở thành một thứ tài nguyên quý giá, thậm chí trở thành một món hàng. Người sử dụng tưởng rằng mình đang tự do lựa chọn nội dung, nhưng không ít lần chính nội dung đang âm thầm lựa chọn người sử dụng. Ta tưởng mình cầm chiếc điện thoại trong tay, nhưng có những lúc chiếc điện thoại lại đang cầm giữ tâm trí ta. Ta tưởng mình chỉ mở mạng xã hội vài phút, nhưng rồi một giờ trôi qua lúc nào không biết. Ta tưởng mình đang xem thế giới, nhưng thực ra thế giới được thuật toán chọn lọc đang dần định hình cách ta nhìn người khác, nhìn xã hội, nhìn Giáo hội và đôi khi cả cách ta nhìn Thiên Chúa. Chính vì thế, ngày càng có nhiều người nhận ra mối liên hệ giữa cơ chế tối đa hóa tương tác với những hiện tượng như lướt mạng một cách cưỡng chế, khó tập trung, lệ thuộc vào cảm giác được chú ý, tìm kiếm sự công nhận liên tục, phản ứng nóng nảy và ngày càng bị nhốt trong những vòng tròn quan điểm khép kín. Điều đáng suy nghĩ là Giáo hội cũng không đứng bên ngoài mối nguy hiểm ấy. Chúng ta có thể mang Thánh Kinh lên mạng, có thể đăng những bài giảng, những lời cầu nguyện, những hình ảnh đạo đức, những chương trình giáo lý và những suy tư rất đẹp, nhưng nếu không tỉnh thức, chúng ta vẫn có thể vô tình hành xử theo cùng một thứ logic đang chi phối môi trường kỹ thuật số: logic của lượt xem, lượt thích, số người theo dõi, sự nổi tiếng, tốc độ, tranh luận, phe nhóm và kích thích cảm xúc. Khi ấy, điều đáng sợ không phải chỉ là Kitô hữu sử dụng mạng xã hội quá nhiều, nhưng là chính não trạng của mạng xã hội bắt đầu thấm vào cách người Kitô hữu sống đức tin.
Nguy hiểm đầu tiên là khi chúng ta bắt đầu nhầm lẫn giữa sự chú ý và giá trị. Trong đời sống Tin Mừng, điều có giá trị nhất nhiều khi lại diễn ra trong thinh lặng. Đức Maria đón nhận Ngôi Lời không phải giữa đám đông reo hò nhưng trong căn nhà nhỏ tại Nazareth. Đức Giêsu sống ba mươi năm ẩn dật trước khi bước vào những năm công khai. Người thường rút lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Hạt giống Nước Trời lớn lên âm thầm. Men làm dậy cả khối bột mà không gây tiếng động. Người đàn bà góa bỏ hai đồng tiền nhỏ vào hòm tiền Đền Thờ mà chẳng có ai vỗ tay, nhưng ánh mắt Đức Giêsu nhìn thấy một sự quảng đại lớn lao. Tin Mừng có một thứ logic hoàn toàn khác với logic của sự nổi tiếng: điều nhỏ bé có thể rất lớn trước mặt Thiên Chúa; điều âm thầm có thể sinh hoa trái đời đời; điều không ai biết đến có thể lại là điều Thiên Chúa quý trọng nhất. Mạng xã hội, trái lại, rất dễ huấn luyện chúng ta tin rằng điều được nhiều người chú ý là điều quan trọng, điều có nhiều lượt thích là điều có giá trị, điều được chia sẻ mạnh là điều đáng tin, người có đông người theo dõi là người có tiếng nói lớn nhất. Khi não trạng ấy đi vào đời sống Giáo hội, chúng ta có thể vô thức bắt đầu đánh giá cả việc mục vụ bằng những thước đo của thị trường kỹ thuật số. Một bài giảng được nhiều người xem thì được coi là thành công. Một chương trình ít tương tác thì dễ bị xem là thất bại. Một linh mục nổi tiếng trên mạng có thể được chú ý nhiều hơn một linh mục âm thầm phục vụ người nghèo suốt nhiều năm. Một câu nói mạnh gây tranh cãi có thể lan truyền nhanh hơn một suy tư chậm rãi, quân bình và đầy lòng thương xót. Một đoạn video gây xúc động tức thời có thể được chia sẻ hàng trăm nghìn lần, trong khi một đời sống chứng tá trung thành âm thầm lại chẳng bao giờ xuất hiện trên màn hình. Nhưng Nước Thiên Chúa chưa bao giờ được đo bằng số lượt xem. Sự thánh thiện chưa bao giờ được tính bằng số người theo dõi. Giá trị của một linh hồn không tăng lên khi được nhiều người biết đến, cũng không giảm đi khi chẳng ai nhắc tên. Có những người không bao giờ có tài khoản mạng xã hội nhưng mỗi ngày vẫn đang làm cho thế giới trở nên nhân hậu hơn bằng cách chăm sóc một người bệnh, kiên nhẫn với một người già, nuôi dạy một đứa trẻ, tha thứ cho một người đã làm mình tổn thương, âm thầm lần chuỗi trong đêm hoặc mang một túi gạo đến cho gia đình đang túng thiếu. Nếu Giáo hội quên điều ấy, chúng ta sẽ rất dễ dùng những tiêu chuẩn của nền kinh tế chú ý để đo lường những thực tại thuộc về ân sủng.
Nguy hiểm thứ hai là sự lệ thuộc vào cảm giác được công nhận. Mạng xã hội có một khả năng rất mạnh trong việc biến phản ứng của người khác thành chiếc gương để một người soi giá trị của chính mình. Một bài viết được nhiều người thích thì ta vui. Một bài ít người tương tác thì ta thất vọng. Một lời khen khiến ta phấn khởi. Một lời chỉ trích làm ta bực bội suốt cả ngày. Có người mở điện thoại liên tục không hẳn vì họ cần thêm thông tin, nhưng vì họ muốn xem có ai phản ứng với điều mình vừa đăng hay không. Dần dần, con người có thể trở thành tù nhân của ánh mắt người khác. Điều nguy hiểm hơn là ngay cả việc đạo đức cũng có thể bị cuốn vào vòng xoáy ấy. Ta có thể bắt đầu đăng không phải vì muốn phục vụ mà vì muốn được nhìn thấy; nói không phải vì sự thật cần được nói mà vì ta muốn tiếng nói của mình được chú ý; chia sẻ việc bác ái không phải để khích lệ điều thiện mà để xây dựng hình ảnh về mình; tranh luận về đức tin không phải để giúp người khác đến gần chân lý hơn mà để chứng minh rằng mình đúng, mình hiểu biết, mình thuộc phe đạo đức hơn. Chính ở đây một câu hỏi rất khó nhưng rất cần thiết phải được đặt ra: Nếu không có ai biết việc tôi đang làm, tôi có còn làm không? Nếu bài viết ấy không có lượt thích, tôi có còn muốn viết không? Nếu không ai khen bài giảng ấy, tôi có còn trung thành chuẩn bị không? Nếu công việc phục vụ ấy không bao giờ được chụp hình, tôi có còn vui lòng làm không? Nếu câu trả lời thay đổi quá nhiều tùy thuộc vào ánh mắt người khác, có lẽ chúng ta cần trở lại với căn phòng kín mà Đức Giêsu nói đến: “Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo.” Kitô giáo luôn có một chiều kích kín đáo rất sâu. Có những việc phải được làm chỉ vì Thiên Chúa nhìn thấy. Có những hy sinh không cần ai biết. Có những giọt nước mắt chỉ cần Chúa hiểu. Có những hành động yêu thương càng âm thầm càng tinh tuyền. Người Kitô hữu phải giữ lại cho mình một khoảng không gian mà thuật toán không chạm tới được, nơi không có lượt thích, không có bình luận, không có người theo dõi, chỉ có một linh hồn đứng trước Thiên Chúa.
Nguy hiểm thứ ba là sự lướt mạng cưỡng chế làm suy yếu khả năng hiện diện. Một trong những nghịch lý lớn nhất của thời đại kỹ thuật số là con người có thể kết nối với hàng nghìn người nhưng lại ngày càng khó ở trọn vẹn với một người đang ngồi trước mặt mình. Ta có thể biết tin tức từ nhiều nơi trên thế giới nhưng lại không biết người sống chung nhà đang buồn. Ta có thể phản ứng rất nhanh với một bài đăng của người xa lạ nhưng không đủ kiên nhẫn nghe người thân kể hết một câu chuyện. Ta có thể đọc hàng trăm dòng trạng thái mỗi ngày nhưng khó ngồi mười phút trong thinh lặng. Ta có thể xem liên tục những đoạn video rất ngắn nhưng lại mất dần khả năng đọc một cuốn sách dài, suy nghĩ một vấn đề phức tạp, cầu nguyện chậm rãi hoặc lắng nghe Lời Chúa mà không sốt ruột. Khi sự chú ý bị chia thành những mảnh nhỏ, đời sống nội tâm cũng có nguy cơ bị phân mảnh. Đặc biệt đối với đời sống Kitô hữu, đây là vấn đề rất nghiêm trọng, bởi đức tin cần một khả năng hiện diện sâu. Cầu nguyện cần hiện diện. Phụng vụ cần hiện diện. Xưng tội cần hiện diện. Đồng hành thiêng liêng cần hiện diện. Tình bạn cần hiện diện. Hôn nhân cần hiện diện. Giáo dục con cái cần hiện diện. Chăm sóc người bệnh cần hiện diện. Không thể yêu một người thật sự nếu tâm trí lúc nào cũng bị kéo đi nơi khác. Có những gia đình ngồi cùng bàn nhưng mỗi người nhìn một màn hình. Có những người trẻ đến gặp nhau nhưng phần lớn thời gian lại chăm chú vào điện thoại. Có những buổi họp cộng đoàn mà mỗi vài phút lại có người nhìn xuống màn hình. Có những lúc ngay cả trước Thánh Thể người ta vẫn bị thôi thúc kiểm tra thông báo. Đây không chỉ là một thói quen nhỏ. Nó đặt ra một câu hỏi lớn về khả năng con người còn có thể sống sự hiện diện sâu đến đâu. Bởi Thiên Chúa không gặp chúng ta trong một dòng thông báo vô tận. Ngài gặp chúng ta trong hiện tại. Người đau khổ trước mặt ta cũng hiện diện trong hiện tại. Người cần được lắng nghe đang ở trước mặt ta ngay bây giờ. Nếu tâm trí luôn chạy đến nơi khác, ta có thể đi qua cả đời mà chưa bao giờ thực sự ở đâu cả.
Nguy hiểm thứ tư là sự phân cực. Các thuật toán thường ưu tiên những nội dung khiến người dùng phản ứng mạnh bởi phẫn nộ, sợ hãi, bất bình và tranh cãi thường giữ người ta ở lại lâu hơn sự bình tĩnh. Vì thế, môi trường mạng rất dễ biến những khác biệt thành đối đầu, biến bất đồng thành thù địch, biến người có quan điểm khác thành kẻ phải đánh bại. Đáng buồn là đời sống Giáo hội cũng có thể bị cuốn vào vòng xoáy đó. Người Công giáo có thể chia nhau thành những nhóm dán nhãn lẫn nhau: người này bị xem là quá bảo thủ, người kia bị cho là quá cấp tiến; người này thuộc “phe” này, người kia thuộc “phe” nọ; người này thích vị giám mục này, người kia bênh vị linh mục khác; người này chỉ trích một phong trào, người kia bảo vệ một cộng đoàn; rồi từ những khác biệt có thật, người ta dần đánh mất khả năng nhìn nhau như anh chị em cùng chịu phép Rửa. Khi thuật toán chỉ cho ta thấy những người nghĩ giống mình, ta rất dễ tưởng rằng mọi người tốt đều nghĩ như ta, còn ai khác quan điểm thì hoặc ngu dốt, hoặc xấu xa, hoặc thiếu đức tin. Đó là một cám dỗ vô cùng nguy hiểm. Bởi Giáo hội không phải là một cộng đồng của những người hoàn toàn giống nhau. Giáo hội là Thân Thể Đức Kitô, trong đó có nhiều chi thể, nhiều ơn gọi, nhiều truyền thống thiêng liêng, nhiều hoàn cảnh, nhiều thế hệ và nhiều cách diễn đạt khác nhau. Hiệp nhất Kitô giáo không phải là tất cả mọi người nói giống hệt nhau, nhưng là có thể ở lại trong cùng một thân thể dù vẫn có những khác biệt chính đáng. Khi một người Công giáo bắt đầu vui mừng vì “phe bên kia” bị bẽ mặt, khi ta chia sẻ một tin bất lợi cho một người chỉ vì không thích họ, khi ta châm biếm anh chị em cùng đức tin để làm cho nhóm mình cười, khi ta kết án động cơ của người khác mà không biết lòng họ, khi ta biến không gian Công giáo thành một chiến trường ý thức hệ, thì dù những nội dung ta chia sẻ có mang nhãn Kitô giáo, tinh thần của Tin Mừng đã bị tổn thương.
Đức Giêsu không nói: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em chiến thắng mọi cuộc tranh luận.” Người nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” Đó phải là tiêu chuẩn để người Kitô hữu tự xét mình trên mạng xã hội. Sau khi đọc những gì tôi đăng, người khác có cảm nhận được lòng yêu thương không? Sau khi tranh luận với tôi, người bất đồng quan điểm có cảm thấy phẩm giá của họ vẫn được tôn trọng không? Tôi có khả năng nói sự thật mà không làm nhục người khác không? Tôi có thể bảo vệ giáo huấn của Giáo hội mà không biến người đang sống xa giáo huấn ấy thành một kẻ đáng khinh không? Tôi có thể phản bác một ý tưởng mà không nghiền nát con người đang mang ý tưởng ấy không? Tôi có thể nói điều mạnh mẽ mà vẫn giữ lòng hiền lành không? Tôi có thể im lặng khi biết rằng một cuộc tranh luận nữa sẽ không đưa ai đến gần chân lý hơn không? Đó mới là sự trưởng thành Kitô giáo. Bởi không phải mọi điều đúng đều phải nói ngay. Không phải mọi sai lầm đều cần được ta sửa trên mạng. Không phải mọi cuộc tranh luận đều cần có người thắng. Có những lúc chân lý được phục vụ tốt hơn bằng một câu nói nhỏ nhẹ. Có những lúc lòng bác ái đòi ta im lặng. Có những lúc điều cần thiết nhất không phải là thêm một bình luận, nhưng là cầu nguyện cho người khiến ta tức giận.
Một nguy hiểm nữa là tốc độ của mạng xã hội có thể làm suy yếu khả năng phân định. Mạng thưởng cho người phản ứng nhanh. Nhưng đời sống thiêng liêng thường đòi hỏi điều ngược lại: chậm lại, cầu nguyện, kiểm chứng, lắng nghe và suy xét. Một tin chưa được kiểm chứng nhưng gây sốc có thể lan đi hàng nghìn lần trước khi sự thật kịp mang giày. Một đoạn video vài chục giây có thể bị cắt khỏi bối cảnh. Một câu phát biểu có thể bị trích dẫn thiếu phần trước và phần sau. Một bức ảnh cũ có thể được dùng để minh họa cho một sự kiện mới. Một lời đồn về một linh mục, một giám mục, một cộng đoàn hay một người nào đó có thể làm tổn thương danh dự của họ trong vài giờ, trong khi phải mất nhiều tháng hoặc nhiều năm để sửa chữa. Người Kitô hữu không thể tự cho phép mình sống bằng thứ đạo đức phản ứng tức thời ấy. Điều răn “chớ làm chứng dối” vẫn có giá trị trong thời đại kỹ thuật số. Danh dự của người khác vẫn là một điều phải được bảo vệ. Chia sẻ một điều sai mà không kiểm chứng không trở nên vô tội chỉ vì ta không phải người viết đầu tiên. Nhấn nút “chia sẻ” cũng là một hành vi luân lý. Đăng lại một lời đồn cũng là một lựa chọn. Bình luận dưới một tin chưa rõ cũng tạo thêm ảnh hưởng. Có khi chỉ một lần bấm nút trong vài giây lại góp phần đẩy một con người vào những ngày tháng đau khổ. Vì thế, trước khi chia sẻ, người Kitô hữu cần học lại một nhân đức tưởng như rất cũ nhưng vô cùng cần thiết trong thời đại mới: sự thận trọng. Điều này có thật không? Nguồn ở đâu? Tôi có đọc toàn bộ hay chỉ đọc tiêu đề? Việc chia sẻ này giúp ích gì? Có cần thiết không? Có làm tổn thương ai cách bất công không? Tôi chia sẻ vì lợi ích chung hay chỉ vì nó phù hợp với điều tôi vốn muốn tin? Những câu hỏi đơn giản ấy có thể cứu chúng ta khỏi rất nhiều tội lỗi trên môi trường kỹ thuật số.
Mạng xã hội cũng tạo nên một cám dỗ đặc biệt đối với những người làm truyền thông Công giáo: biến Tin Mừng thành sản phẩm. Khi mọi thứ được đo bằng tương tác, người làm nội dung rất dễ học cách nói những gì công chúng thích nghe hơn là những gì họ cần nghe. Những chủ đề gây sốc dễ được ưu tiên. Những tiêu đề kích thích tò mò được sử dụng nhiều hơn. Những vấn đề phức tạp bị đơn giản hóa thành trắng và đen. Những lời nói ôn hòa bị xem là nhạt. Những tiếng nói cực đoan lại thường được chú ý. Từng chút một, người loan báo Tin Mừng có thể bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh mà chính mình không nhận ra: ai có nhiều người xem hơn, ai có lượng theo dõi lớn hơn, ai được nhắc tới nhiều hơn. Nhưng truyền giáo không phải là xây dựng thương hiệu cá nhân. Sứ vụ không phải là tạo dựng một đám đông trung thành với người rao giảng. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói một câu mà mọi người hoạt động trong truyền thông Công giáo cần khắc vào lòng: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi.” Nếu càng làm truyền thông mà cái tôi càng phình lớn, nếu càng nói về Chúa mà càng cần người khác ngưỡng mộ mình, nếu càng đông người theo dõi mà càng khó chịu khi có người khác được chú ý, thì chúng ta cần tự hỏi mình đang đưa người ta đến với Đức Kitô hay đang tập hợp người ta quanh chính mình. Một nhà truyền giáo đích thực phải luôn sẵn sàng để mình trở nên nhỏ lại miễn là Đức Kitô được lớn lên trong lòng người nghe.
Một nguy hiểm tinh vi khác là người làm mục vụ có thể dần trở thành “nhân vật mạng” nhiều hơn là một con người thật. Mạng xã hội luôn tạo áp lực phải xây dựng hình ảnh. Người ta chọn những bức ảnh đẹp nhất, những khoảnh khắc tốt nhất, những lời nói hấp dẫn nhất. Điều ấy tự nó không sai. Nhưng nếu không tỉnh thức, khoảng cách giữa hình ảnh công khai và đời sống thực có thể ngày càng lớn. Một người có thể nói rất hay về lòng thương xót nhưng lại khó chịu với người sống bên cạnh. Có thể viết rất đẹp về gia đình nhưng không dành thời gian cho gia đình. Có thể giảng về cầu nguyện nhưng chính mình cầu nguyện ngày càng ít. Có thể nói về người nghèo nhưng hiếm khi thực sự ngồi bên cạnh một người nghèo. Có thể nhận hàng nghìn lời khen trên mạng nhưng lại không có ai đủ gần để góp ý cho mình. Đây là một nguy cơ lớn bởi sự nổi tiếng có thể tạo ra một căn phòng vang vọng, nơi người ta chỉ nghe điều mình muốn nghe. Người càng được biết đến càng cần những người có thể nói thật với mình. Người càng có ảnh hưởng càng cần một cha linh hướng, một cộng đoàn, những người bạn trưởng thành và những khoảng thời gian hoàn toàn rời khỏi sân khấu. Không ai đủ mạnh để sống mãi dưới ánh mắt của đám đông mà không bị ảnh hưởng. Đức Giêsu cũng thường rời đám đông. Người không để tiếng reo hò quyết định sứ vụ của mình. Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, khi dân chúng muốn tôn Người làm vua, Người rút lui. Một người phục vụ Giáo hội trên mạng cũng phải biết lúc nào cần bước xuống khỏi sân khấu kỹ thuật số để trở về với sa mạc, với Thánh Thể, với Lời Chúa, với cộng đoàn thật và với sự thật về chính mình.
Chúng ta cũng phải nói đến nguy cơ của thứ “phẫn nộ đạo đức” được nuôi dưỡng mỗi ngày trên mạng. Có những tài khoản gần như tồn tại bằng cách liên tục cho người khác biết hôm nay họ cần phải tức giận về điều gì. Mỗi ngày một scandal mới, một nhân vật mới để chỉ trích, một phát biểu mới để lên án. Người theo dõi dần nghiện cảm giác phẫn nộ. Họ bắt đầu cảm thấy rằng tức giận là một hình thức trung thành với đức tin. Nhưng một tâm hồn liên tục sống trong phẫn nộ sẽ rất khó giữ được bình an của Đức Kitô. Dĩ nhiên Kitô hữu phải biết đau trước sự dữ, phải có khả năng lên tiếng trước bất công, phải bảo vệ chân lý. Đức Giêsu cũng đã nổi giận trước sự chai đá của lòng người. Nhưng cơn giận thánh thiện hoàn toàn khác với việc nghiện cảm giác tức giận. Cơn giận thánh thiện phát xuất từ tình yêu và hướng đến việc chữa lành; cơn giận độc hại nuôi sống cái tôi và cần một kẻ thù để tồn tại. Cơn giận thánh thiện vẫn có thể cầu nguyện cho đối phương; cơn giận độc hại mong đối phương bị tiêu diệt. Cơn giận thánh thiện buồn vì người khác lạc đường; cơn giận độc hại vui khi người khác vấp ngã. Khi ta nhận ra mình mỗi ngày lên mạng chỉ để tìm thêm một điều đáng giận, có lẽ đã đến lúc phải hỏi xem tâm hồn mình đang được Tin Mừng nuôi dưỡng hay đang được thuật toán nuôi dưỡng.
Một Giáo hội hiện diện lành mạnh trong không gian kỹ thuật số phải chống lại logic của thuật toán bằng logic của Tin Mừng. Thuật toán nói: giữ người ta càng lâu càng tốt. Tin Mừng nói: hãy giải thoát con người. Thuật toán nói: hãy kích thích cảm xúc mạnh nhất. Tin Mừng nói: phúc thay ai xây dựng hòa bình. Thuật toán nói: hãy cho người ta những gì họ đã thích. Tin Mừng nói: hãy mời con người hoán cải. Thuật toán nói: hãy chia họ thành những nhóm giống nhau để dễ dự đoán. Tin Mừng nói: trong Đức Kitô không còn những bức tường ngăn cách. Thuật toán nói: hãy xây dựng thương hiệu của bạn. Tin Mừng nói: hãy từ bỏ chính mình. Thuật toán nói: hãy làm mọi thứ để được nhìn thấy. Tin Mừng nói: Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh. Thuật toán nói: phản ứng ngay. Tin Mừng nói: hãy mau nghe, chậm nói và chậm giận. Thuật toán nói: người bất đồng là đối thủ. Tin Mừng nói: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho người ngược đãi anh em. Có lẽ đây chính là cuộc chiến thiêng liêng mới của thời đại chúng ta: không chỉ sử dụng công nghệ một cách đạo đức, nhưng giữ cho trái tim không bị công nghệ định hình trái với Tin Mừng.
Điều ấy đòi hỏi những kỷ luật rất cụ thể. Người Kitô hữu phải học cách đặt giới hạn cho việc sử dụng mạng xã hội. Không phải vì công nghệ xấu, nhưng vì tự do cần được bảo vệ. Ta cần những giờ không có điện thoại, những bữa cơm không có màn hình, những cuộc gặp không bị gián đoạn bởi thông báo, những buổi sáng bắt đầu bằng lời cầu nguyện thay vì dòng tin tức, những buổi tối kết thúc bằng xét mình thay vì lướt vô tận. Có lẽ mỗi gia đình cần có những “khoảng đất thánh” nơi điện thoại không được phép bước vào. Có lẽ phòng ngủ nên trở lại thành nơi nghỉ ngơi. Có lẽ nhà nguyện phải là nơi hoàn toàn không có tiếng báo tin. Có lẽ ngày Chúa nhật cũng cần có một hình thức “nghỉ kỹ thuật số” để con người nhớ rằng mình không sinh ra để luôn trực tuyến. Người hoạt động mục vụ càng cần điều này hơn bởi nếu không có một đời sống nội tâm đủ sâu, họ sẽ dần chỉ còn biết phản ứng với nhu cầu của đám đông mà quên lắng nghe tiếng Chúa.
Giáo hội cũng cần đào tạo lương tâm kỹ thuật số. Chúng ta đã dạy nhiều thế hệ Kitô hữu xét mình về lời nói, hành động và ý nghĩ, nhưng hôm nay có lẽ phải thêm những câu hỏi mới: Tôi đã dùng bao nhiêu thời gian trên mạng hôm nay? Tôi có để mạng xã hội làm mất thời gian dành cho gia đình hay cầu nguyện không? Tôi có chia sẻ điều chưa kiểm chứng không? Tôi có làm tổn thương danh dự ai bằng một bình luận không? Tôi có tìm kiếm những nội dung kích thích sự giận dữ trong mình không? Tôi có ghen tị với cuộc sống của người khác vì những gì họ đăng không? Tôi có khoe khoang chính mình không? Tôi có dùng mạng xã hội để trốn chạy sự cô đơn thay vì đối diện với nó không? Tôi có coi người khác như con người hay chỉ như một tài khoản? Tôi có nhớ rằng sau mỗi bức ảnh đại diện là một trái tim có thể bị tổn thương không? Đây không phải là những vấn đề phụ thuộc bên lề đời sống thiêng liêng. Chúng đang trở thành một phần của đời sống luân lý hàng ngày.
Điều sâu xa hơn nữa là Giáo hội phải giúp con người khám phá lại giá trị của thinh lặng. Một nền văn hóa luôn phát tín hiệu sẽ tạo ra những con người sợ khoảng trống. Nhưng chính trong khoảng trống, những câu hỏi lớn mới xuất hiện: Tôi là ai? Tôi đang sống vì điều gì? Tôi thực sự yêu ai? Tôi đang chạy trốn điều gì? Thiên Chúa đang mời gọi tôi điều gì? Mạng xã hội có thể lấp đầy mọi khoảnh khắc trống, và chính vì thế nó cũng có thể lấy mất những khoảnh khắc nơi linh hồn bắt đầu nghe được chính mình. Có những câu hỏi không xuất hiện khi ta liên tục cuộn màn hình. Có những vết thương không thể được chữa lành bằng thêm nội dung. Có những nỗi cô đơn cần được mang vào cầu nguyện chứ không phải được gây tê bằng hàng giờ lướt mạng. Có những quyết định cần nhiều ngày thinh lặng chứ không phải một cuộc khảo sát ý kiến tức thời. Kitô giáo có một kho tàng rất lớn về thinh lặng, chiêm niệm, sa mạc, tĩnh tâm và cầu nguyện nội tâm. Có lẽ chính những thực hành tưởng như cổ xưa ấy lại trở thành thuốc giải quan trọng cho một nền văn hóa bị quá tải bởi tín hiệu.
Tuy nhiên, nói về nguy hiểm không có nghĩa là phủ nhận những điều tốt đẹp mà mạng xã hội có thể mang lại. Nhờ môi trường kỹ thuật số, người cô đơn có thể tìm được một cộng đoàn. Người bệnh không thể đến nhà thờ có thể nghe Lời Chúa. Người trẻ đang tìm hiểu đức tin có thể tìm được một câu trả lời vào lúc nửa đêm. Một lời cầu nguyện có thể đến với người đang tuyệt vọng ở rất xa. Một bài giáo lý có thể được nghe tại những nơi người rao giảng không bao giờ đặt chân tới. Một lời chứng có thể chạm đến một tâm hồn đúng vào lúc họ cần. Nhiều người đã trở lại với Chúa từ một video nhỏ, một câu Kinh Thánh, một cuộc trò chuyện hoặc một lời mời gọi trên mạng. Công nghệ là một không gian truyền giáo thật sự. Nhưng chính vì thế, Giáo hội càng phải bước vào đó với sự khôn ngoan, chứ không chỉ với sự nhiệt thành. Không phải cứ có nội dung Công giáo là tự động có truyền giáo. Truyền giáo không phải là phủ đầy internet bằng các biểu tượng tôn giáo. Truyền giáo là làm cho người khác có thể gặp một con người mang trong mình một điều gì đó thuộc về Đức Kitô: sự thật không tách khỏi lòng thương xót, lòng can đảm không tách khỏi hiền lành, niềm xác tín không tách khỏi khiêm nhường, niềm vui không tách khỏi chiều sâu.
Sau cùng, câu “Giáo hội cũng không nằm ngoài mối nguy hiểm này” không nên được hiểu như một lời bi quan, nhưng như một lời mời gọi tỉnh thức. Giáo hội gồm những con người, mà con người thì luôn có thể bị cám dỗ. Chúng ta có thể dùng một công cụ tốt cho mục đích xấu, hoặc sử dụng một phương tiện hữu ích theo một cách làm nghèo tâm hồn. Chính vì thế, câu hỏi không chỉ là Giáo hội có nên hiện diện trên mạng xã hội hay không. Câu hỏi sâu hơn là Giáo hội sẽ hiện diện ở đó như thế nào. Chúng ta có mang vào không gian ấy tinh thần của Đức Kitô hay không? Chúng ta có giúp con người tự do hơn hay khiến họ lệ thuộc hơn? Chúng ta có xây cầu hay dựng thêm tường? Chúng ta có dẫn người khác đến với Chúa hay quy tụ họ quanh cái tôi của mình? Chúng ta có làm cho đối thoại trở nên nhân bản hơn hay chỉ góp thêm tiếng ồn? Chúng ta có làm cho người đang cô đơn cảm thấy được nhìn thấy hay chỉ biến họ thành một con số tương tác? Chúng ta có dám nói sự thật mà không biến sự thật thành vũ khí? Chúng ta có thể hiện diện giữa một thế giới rất nhanh mà vẫn giữ được nhịp chậm của cầu nguyện, giữa một thế giới rất ồn mà vẫn gìn giữ thinh lặng nội tâm, giữa một thế giới rất phân cực mà vẫn kiên trì xây dựng hiệp thông hay không?
Có lẽ thách đố lớn nhất của Giáo hội trong kỷ nguyên kỹ thuật số không phải là làm thế nào để có mặt trên mọi nền tảng, nhưng là làm thế nào để ở trên mọi nền tảng mà không đánh mất linh hồn của mình. Không phải là làm sao để Tin Mừng trở nên “viral”, nhưng là làm sao để giữa một nền văn hóa của tốc độ, cạnh tranh và kích thích, Tin Mừng vẫn giữ được hương vị của Bêlem, Nazareth, Bàn Tiệc Ly và đồi Canvê: nhỏ bé, gần gũi, thật, tự hiến và yêu thương đến cùng. Không phải là có bao nhiêu người theo dõi chúng ta, nhưng là chúng ta đang giúp bao nhiêu người đi theo Đức Kitô. Không phải là nội dung của chúng ta lan xa đến đâu, nhưng là khi nó đến được với một con người, nó có làm người ấy nhân hậu hơn, tự do hơn, bình an hơn, biết cầu nguyện hơn, biết yêu thương hơn hay không. Không phải là chúng ta nói lớn đến đâu, nhưng là giữa vô vàn tiếng nói của thế giới, người ta có nghe được qua chúng ta một âm vang rất nhỏ của tiếng Chúa hay không.
Và có lẽ mỗi lần cầm điện thoại lên, mỗi lần chuẩn bị đăng một bài, chia sẻ một tin, bình luận về một người hay tham gia một cuộc tranh luận, người Kitô hữu có thể dừng lại chỉ vài giây để hỏi một câu rất đơn sơ: “Điều tôi sắp làm có làm cho thế giới này gần với Tin Mừng hơn một chút không?” Nếu câu hỏi ấy trở thành thói quen, mạng xã hội có thể thôi là nơi chỉ khai thác sự chú ý để trở thành nơi chúng ta trao tặng sự chú ý; thôi là nơi tranh giành ảnh hưởng để trở thành nơi trao ban sự hiện diện; thôi là nơi người ta tìm cách thắng người khác để trở thành nơi học cách gặp gỡ người khác. Khi đó, Giáo hội không chạy trốn khỏi thế giới kỹ thuật số, cũng không ngây thơ trước những nguy cơ của nó, nhưng bước vào đó với đôi mắt tỉnh thức, trái tim tự do và đôi tay của người môn đệ biết rằng sứ mạng cuối cùng không phải là làm cho mình được nhìn thấy, mà là giúp người khác nhận ra khuôn mặt của Đức Kitô giữa một thế giới ngày càng đầy màn hình nhưng vẫn khát một ánh mắt thật sự yêu thương.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleNHỮNG NGUY HIỂM TRÊN CÁC XA LỘ KỸ THUẬT SỐ – HƯỚNG TỚI MỘT SỰ HIỆN DIỆN TRỌN VẸN – Lm. Anmai, CSsR
Next articleKHÔNG CHỈ LÀ NỘI DUNG, NHƯNG LÀ MỘT HÀNH TRÌNH ĐƯỢC ĐỒNG HÀNH – Lm. Anmai, CSsR