NHỮNG NGUY HIỂM TRÊN CÁC XA LỘ KỸ THUẬT SỐ – HƯỚNG TỚI MỘT SỰ HIỆN DIỆN TRỌN VẸN – Lm. Anmai, CSsR

7

NHỮNG NGUY HIỂM TRÊN CÁC XA LỘ KỸ THUẬT SỐ – HƯỚNG TỚI MỘT SỰ HIỆN DIỆN TRỌN VẸN
Nhân loại hôm nay đang sống trong một cuộc chuyển dịch lớn lao mà có lẽ chính chúng ta, những người đang ở giữa lòng cuộc chuyển dịch ấy, cũng chưa thể hình dung hết những hệ quả lâu dài của nó. Nếu trong những thế kỷ trước, những con đường bằng đất, những tuyến hàng hải, những đường sắt và những xa lộ đã nối các thành phố, các quốc gia và các nền văn minh lại với nhau, thì hôm nay một hệ thống đường sá khác đang bao phủ gần như toàn thể địa cầu: những “xa lộ kỹ thuật số”. Trên những xa lộ ấy, con người không di chuyển bằng đôi chân, bằng xe cộ hay tàu thuyền, nhưng bằng hình ảnh, dữ liệu, tiếng nói, ý tưởng, cảm xúc, ký ức, mong muốn và cả những vết thương sâu kín nhất của mình. Chỉ trong vài giây, một lời nói có thể vượt qua hàng nghìn cây số; một hình ảnh có thể được hàng triệu người nhìn thấy; một câu chuyện có thể chạm đến những người mà người kể sẽ không bao giờ gặp trực tiếp; một lời cầu nguyện có thể nối kết những tâm hồn ở những múi giờ khác nhau; một bài giáo lý, một đoạn Tin Mừng, một chứng từ đức tin có thể đến với một người trẻ đang cô độc trong một căn phòng mà không một nhà truyền giáo nào biết đến. Đó là những khả năng kỳ diệu không thể phủ nhận của thời đại kỹ thuật số. Nhưng chính vì những xa lộ ấy quá rộng lớn, quá nhanh, quá hấp dẫn và ngày càng đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, chúng cũng mang theo những nguy hiểm không thể xem nhẹ. Văn kiện “Hướng tới sự hiện diện trọn vẹn” mời gọi chúng ta không chỉ hỏi: chúng ta đang làm gì trên mạng? nhưng còn phải đặt một câu hỏi sâu xa hơn: chúng ta đang trở thành loại người nào khi sống trên mạng? Không chỉ hỏi: chúng ta có bao nhiêu người theo dõi? nhưng phải hỏi: chúng ta có thực sự gặp được ai không? Không chỉ hỏi: thông điệp của chúng ta có được lan truyền không? nhưng phải hỏi: sự hiện diện của chúng ta có giúp một người nào đó cảm thấy mình được nhìn thấy, được lắng nghe, được tôn trọng và được yêu thương hay không?
Điều đáng lo ngại nhất của đời sống kỹ thuật số không phải đơn giản là công nghệ xấu. Công nghệ tự nó là một thành tựu lớn lao của trí tuệ con người và có thể trở thành khí cụ phục vụ thiện ích. Nguy hiểm bắt đầu khi con người bước vào thế giới kỹ thuật số mà không còn đủ tỉnh thức để nhận ra rằng chính mình cũng đang bị thế giới ấy định hình. Ta tưởng rằng mình đang sử dụng chiếc điện thoại, nhưng rất nhiều khi chiếc điện thoại đang sử dụng thời gian của ta. Ta tưởng rằng mình đang lựa chọn nội dung, nhưng rất nhiều khi thuật toán đã lựa chọn trước điều ta sẽ nhìn thấy. Ta tưởng rằng mình đang tự do lướt mạng, nhưng từng cú chạm, từng giây dừng lại trước một đoạn phim, từng từ khóa tìm kiếm và từng phản ứng của ta đang trở thành dữ liệu để hệ thống dự đoán điều gì sẽ giữ ta ở lại lâu hơn. Và khi mục tiêu của một nền kinh tế kỹ thuật số là giữ sự chú ý của con người càng lâu càng tốt, thì sự chú ý – một trong những khả năng quý giá nhất của tâm hồn – có nguy cơ trở thành món hàng để mua bán. Con người không còn chỉ là người sử dụng; con người có thể trở thành sản phẩm. Không phải thân xác được bán, nhưng sự chú ý, hành vi, sở thích, nỗi sợ và khát vọng của họ trở thành nguồn dữ liệu có giá trị kinh tế. Đây là một trong những nghịch lý lớn nhất của các “xa lộ kỹ thuật số”: ta bước vào đó để tìm tự do, nhưng nếu thiếu phân định, ta có thể để cho những cơ chế vô hình dẫn dắt lựa chọn của mình mà không hề hay biết.
Một nguy hiểm khác còn âm thầm hơn: chúng ta có thể trở nên “kết nối” với rất nhiều người nhưng lại ngày càng khó hiện diện thật sự với một người. Chúng ta có hàng trăm, hàng nghìn “bạn”, nhưng đôi khi không có một người để gọi khi trái tim tan vỡ. Chúng ta biết người ta đang ăn gì, đi đâu, mua gì, yêu ai, giận ai, nhưng lại không biết họ đang sợ điều gì trong đêm tối. Chúng ta có thể gửi hàng chục biểu tượng trái tim trong một ngày nhưng lại hiếm khi ngồi bên một người đang đau khổ đủ lâu để nghe họ kể hết câu chuyện của mình. Chúng ta có thể phản hồi một tin nhắn trong vài giây nhưng lại trở nên thiếu kiên nhẫn khi phải nghe một người nói chậm. Chúng ta có thể “thích” một bài viết nói về lòng thương xót nhưng lại lạnh lùng với người sống ngay trong cùng một mái nhà. Đây chính là nơi câu hỏi về “sự hiện diện trọn vẹn” trở nên cấp thiết. Hiện diện không chỉ là xuất hiện trên màn hình. Hiện diện là trao cho người khác thời gian, sự chú ý và một phần đời sống của mình. Hiện diện là để người khác cảm nhận rằng trong khoảnh khắc này họ không phải cạnh tranh với một thông báo, một cuộc gọi, một dòng tin hay một đoạn video khác. Hiện diện là nói bằng chính thái độ của mình: “Lúc này, anh quan trọng đối với tôi; câu chuyện của chị đáng để tôi nghe; nỗi đau của bạn không phải là một nội dung để tôi lướt qua.” Thế nhưng chính khả năng hiện diện ấy đang bị thử thách trong một nền văn hóa của phân tán, nơi tâm trí chúng ta bị kéo về hàng chục hướng cùng lúc.
Có lẽ một trong những nghèo khó lớn nhất của con người kỹ thuật số là sự nghèo khó của chú ý. Một người có thể ngồi trước một cuốn sách nhưng sau vài phút đã muốn kiểm tra điện thoại; có thể bước vào nhà nguyện nhưng tâm trí vẫn đang chờ một tin nhắn; có thể ăn cơm với gia đình nhưng mỗi người lại nhìn vào một màn hình; có thể đi nghỉ nhưng vẫn không ngừng chụp ảnh, đăng tải, kiểm tra phản hồi và quan sát phản ứng của người khác. Dần dần, ta có nguy cơ mất khả năng ở lại với một điều đủ lâu để nó thấm vào lòng. Nhưng tất cả những gì sâu sắc nhất của đời người đều cần thời gian: tình bạn cần thời gian, tình yêu cần thời gian, sự chữa lành cần thời gian, cầu nguyện cần thời gian, học hỏi cần thời gian, ăn năn cần thời gian, tha thứ cần thời gian. Thiên Chúa không thường xuyên nói với chúng ta theo nhịp độ của những video vài chục giây. Một tâm hồn quen với kích thích liên tục sẽ thấy thinh lặng trở nên khó chịu. Một trí óc quen với việc chuyển nội dung mỗi vài giây sẽ thấy một trang sách dài là gánh nặng. Một trái tim quen với phần thưởng tức thời của những lượt thích sẽ khó học sự trung thành âm thầm của tình yêu. Vì thế, vấn đề của đời sống kỹ thuật số không chỉ nằm ở nội dung xấu mà còn nằm ở nhịp độ sống mà nó có thể tạo ra trong chúng ta.
Trên các xa lộ kỹ thuật số, một nguy hiểm khác đang lan nhanh: chúng ta ngày càng dễ nhìn người khác như một ý kiến thay vì như một con người. Ngoài đời, trước khi tranh luận với ai đó, ta nhìn thấy gương mặt của họ, nghe giọng nói của họ, nhận ra sự mệt mỏi trong đôi mắt, biết rằng họ có một gia đình, một lịch sử, những tổn thương và những giới hạn. Trên mạng, tất cả những chiều kích ấy có thể biến mất. Một con người bị thu nhỏ vào một bài đăng. Một đời người bị phán xét từ một câu nói. Một nhân cách bị đóng khung bởi một quan điểm chính trị, tôn giáo hay xã hội. Và khi người đối diện chỉ còn là một cái tên hoặc một hình đại diện, người ta dễ nói những điều mà nếu đứng trước mặt nhau có lẽ họ sẽ không bao giờ nói. Sự vô danh có thể giải phóng những gì thấp nhất trong con người: mỉa mai, khinh miệt, sỉ nhục, vu khống, kết án, chế giễu. Những cuộc thảo luận dễ biến thành đấu trường, nơi người ta không còn tìm kiếm sự thật nhưng tìm cách chiến thắng; không còn muốn hiểu nhưng muốn hạ gục; không còn đối thoại nhưng phân phe. Điều nguy hiểm nhất là sau một thời gian dài sống trong văn hóa ấy, ta bắt đầu xem thái độ đó là bình thường.
Kitô hữu không thể chấp nhận một thứ hiện diện kỹ thuật số mà trong đó danh dự của người khác bị hy sinh để đổi lấy sự chú ý. Tin Mừng không cho phép chúng ta biến mạng xã hội thành một quảng trường ném đá. Người Kitô hữu không được quyền nói: “Tôi chỉ chia sẻ thôi” nếu điều mình chia sẻ có thể hủy hoại thanh danh một người mà mình chưa hề kiểm chứng. Không thể viện cớ “đó là sự thật” để biện minh cho sự tàn nhẫn, bởi sự thật Kitô giáo luôn gắn với đức ái. Sự thật không cần đến nhục mạ để trở thành sự thật. Sự thật không trở nên mạnh hơn khi người khác bị hạ thấp. Một người có thể thắng một cuộc tranh luận trên mạng mà đánh mất tinh thần Tin Mừng. Có thể bảo vệ một giáo lý đúng bằng một cung cách hoàn toàn sai. Có thể nói nhân danh Thiên Chúa nhưng làm cho người khác khó nhận ra gương mặt dịu hiền của Thiên Chúa. Đây là một cám dỗ đặc biệt đối với những người làm truyền thông Công giáo: chúng ta dễ đo lường thành công bằng lượt xem, lượt chia sẻ, độ lan truyền và mức độ tương tác, đến mức đôi khi vô tình áp dụng chính logic của thị trường chú ý vào việc loan báo Tin Mừng. Khi ấy, chúng ta bắt đầu thích những tiêu đề gây sốc hơn sự chính xác, thích những cuộc tranh cãi hơn sự hiệp thông, thích những nội dung kích thích cảm xúc hơn những điều nuôi dưỡng chiều sâu tâm hồn.
Truyền giáo kỹ thuật số vì thế không thể chỉ là đưa nhiều nội dung Công giáo lên internet. Nếu chỉ đổi nội dung nhưng giữ nguyên logic gây nghiện, gây chia rẽ, câu tương tác và khai thác cảm xúc của nền kinh tế chú ý, chúng ta chưa thật sự mang Tin Mừng vào môi trường kỹ thuật số; trái lại, có khi chúng ta chỉ khoác một lớp áo tôn giáo lên chính những cơ chế mà Tin Mừng mời gọi chúng ta vượt qua. Người môn đệ Chúa Kitô hiện diện trên mạng phải mang theo một cách hiện diện khác: chậm hơn một chút, nhân hậu hơn một chút, biết lắng nghe hơn một chút, cẩn trọng hơn trước khi phán xét, khiêm tốn hơn khi chưa biết đủ sự thật, sẵn sàng sửa sai khi mình sai, từ chối lan truyền điều chưa kiểm chứng và không lấy sự nổi tiếng làm thước đo cho hoa trái của sứ vụ. Có những bài viết hàng triệu lượt xem nhưng không thay đổi được một trái tim nào. Và cũng có một tin nhắn được gửi trong âm thầm vào lúc một người đang tuyệt vọng lại có thể giữ họ ở lại với cuộc đời. Trong Nước Thiên Chúa, điều lớn lao không phải lúc nào cũng là điều ồn ào.
Một trong những nguy hiểm đáng sợ nhất của thế giới kỹ thuật số còn là sự hình thành của những “buồng vang” – nơi mỗi người ngày càng chỉ được nghe những điều giống với điều mình đã tin. Thuật toán có khuynh hướng đề nghị cho chúng ta nội dung dựa trên những gì ta từng xem, từng thích và từng tương tác. Ban đầu điều đó có vẻ tiện lợi. Nhưng lâu dần, ta có thể sống trong một thế giới ngày càng thu hẹp, nơi mọi người chung quanh đều nghĩ giống ta, nói giống ta và xác nhận ta. Khi ấy, ta tưởng rằng toàn thế giới đồng ý với mình, trong khi thật ra ta chỉ đang sống bên trong một chiếc gương lớn. Sự khác biệt trở nên đáng sợ. Người bất đồng trở thành kẻ thù. Ý kiến đối lập không còn được xem là cơ hội để suy nghĩ nhưng là một cuộc tấn công vào căn tính của mình. Và xã hội bị phân mảnh thành những bộ lạc kỹ thuật số, mỗi bộ lạc có những “sự thật”, những thần tượng, những nỗi sợ và những kẻ thù riêng. Một xã hội như thế có thể rất kết nối về kỹ thuật nhưng bị chia cắt sâu sắc về tinh thần.
Tin Mừng lại mời gọi một con đường khác. Đức Giêsu không bao giờ xây dựng cộng đoàn bằng cách tập hợp những người giống hệt nhau. Trong nhóm Mười Hai đã có những con người khác nhau đến mức nếu không có Người ở giữa, có lẽ họ khó ngồi chung một bàn. Hiệp thông Kitô giáo không có nghĩa là mọi người nghĩ giống nhau trong mọi vấn đề; hiệp thông là biết nhìn nhận rằng người đối diện vẫn là anh chị em ngay cả khi bất đồng. Trên mạng, điều này đòi hỏi một thứ khổ chế rất cụ thể: khổ chế khỏi nhu cầu luôn luôn phải có lời cuối cùng; khổ chế khỏi niềm vui bệnh hoạn khi thấy đối phương bị bẽ mặt; khổ chế khỏi việc chia sẻ điều làm tăng cơn giận chỉ vì nó củng cố phe mình; khổ chế khỏi thói quen biến người khác thành biểu tượng của tất cả những gì ta ghét. Có những lúc chứng tá Kitô giáo mạnh nhất trên mạng không phải là viết thêm một bình luận nhưng là không viết. Không phải vì sợ hãi, nhưng vì biết rằng lời sắp nói không xây dựng được gì.
Một nguy cơ khác của các xa lộ kỹ thuật số là sự nhầm lẫn giữa được nhìn thấy và được yêu thương. Nhiều người, nhất là người trẻ, lớn lên trong một môi trường nơi hình ảnh bản thân liên tục được đặt trước mắt người khác để nhận đánh giá. Bao nhiêu người đã xem? Bao nhiêu người thích? Bao nhiêu người theo dõi? Bao nhiêu bình luận? Một cách rất kín đáo, giá trị của bản thân có thể bắt đầu gắn với những con số ấy. Người ta chụp không còn để lưu giữ kỷ niệm nhưng để chứng minh rằng mình đang sống một cuộc đời đáng ngưỡng mộ. Người ta đi một nơi đẹp nhưng lại dành phần lớn thời gian tìm góc chụp để người khác thấy mình đã ở đó. Người ta làm một việc tốt nhưng cảm thấy việc ấy chưa hoàn tất cho tới khi nó được đăng lên. Người ta đau khổ nhưng cũng có thể bị cám dỗ biến nỗi đau thành một hình thức tìm kiếm sự chú ý. Rồi một câu hỏi âm thầm xuất hiện: “Nếu không ai nhìn thấy tôi, tôi có còn giá trị không?”
Tin Mừng trả lời bằng một tiếng “có” mạnh mẽ. Giá trị của một con người không bắt đầu từ ánh mắt của đám đông nhưng từ ánh mắt của Thiên Chúa. Trước khi ta có một người theo dõi nào, Thiên Chúa đã biết tên ta. Trước khi ta đăng một bức ảnh đầu tiên, Người đã nhìn thấy ta trong lòng mẹ. Trước khi thế giới vỗ tay, Người đã yêu ta. Và ngay cả khi mọi người bỏ theo dõi, khi danh tiếng biến mất, khi không còn ai nhắc đến tên mình, phẩm giá của ta không giảm đi một chút nào. Một nền linh đạo cho thời đại kỹ thuật số phải giúp con người tìm lại sự tự do này: tôi không cần biến mọi khoảnh khắc thành nội dung; tôi không cần chứng minh liên tục rằng mình đang hạnh phúc; tôi không cần trình diễn mọi việc tốt; tôi có quyền giữ một phần đời sống của mình trong sự thinh lặng trước mặt Thiên Chúa. Có những điều đẹp nhất sẽ mất vẻ đẹp nếu bị đưa ra triển lãm. Có những kinh nghiệm chỉ lớn lên được trong kín đáo. Đức Maria không có một khán giả đứng quanh khi thưa tiếng “Xin Vâng”. Thánh Giuse sống phần lớn cuộc đời trong âm thầm. Đức Giêsu dành ba mươi năm tại Nazareth trước khi ba năm công khai. Tin Mừng nhắc ta rằng điều vô hình trước mắt thế gian vẫn có thể vô cùng quý giá trước mặt Thiên Chúa.
Cũng không thể bỏ qua nguy hiểm của thông tin sai lệch. Các xa lộ kỹ thuật số cho phép sự thật đi rất nhanh, nhưng lời dối trá cũng có thể đi nhanh không kém, thậm chí nhiều khi nhanh hơn vì nó gây sốc hơn, kích thích hơn, đánh trúng nỗi sợ và thành kiến của con người. Một bức ảnh có thể bị cắt khỏi bối cảnh. Một câu nói có thể bị rút ra khỏi toàn bộ bài phát biểu. Một tiêu đề có thể bóp méo nội dung. Một đoạn phim có thể được chỉnh sửa. Công nghệ trí tuệ nhân tạo càng phát triển, khả năng tạo ra hình ảnh, âm thanh và video giả càng khiến ranh giới giữa thật và giả trở nên phức tạp. Trong bối cảnh ấy, Kitô hữu có một trách nhiệm luân lý rất cụ thể đối với nút “chia sẻ”. Chia sẻ không phải là một hành động vô tội. Mỗi lần chia sẻ, ta đang góp phần làm cho một nội dung lan rộng hơn. Nếu nội dung ấy sai, ta có phần trong sự lan truyền của sai lạc. Nếu nó xúc phạm thanh danh người khác, ta có phần trong vết thương ấy. Nếu nó gieo sợ hãi vô căn cứ, ta góp thêm sợ hãi vào xã hội. Vì thế, sự khôn ngoan kỹ thuật số phải trở thành một phần của lương tâm Kitô hữu: kiểm chứng trước khi chia sẻ, phân biệt giữa tin tức và bình luận, giữa dữ kiện và suy đoán, giữa bằng chứng và cảm xúc.
Một thứ nghèo khó nữa mà công nghệ có thể tạo ra là mất khả năng chịu đựng sự buồn chán. Ta không còn đứng chờ vài phút mà không rút điện thoại ra. Không còn ngồi trên xe mà chỉ nhìn qua cửa sổ. Không còn xếp hàng mà để tâm trí trôi tự do. Mỗi khoảng trống đều được lấp bằng nội dung. Nhưng chính trong những khoảng trống ấy, con người từng suy nghĩ, nhớ lại, đặt câu hỏi, cầu nguyện, tưởng tượng, nhận ra một nỗi buồn đang bị che giấu hay nghe thấy một tiếng nói sâu hơn bên trong. Nếu mọi khoảng lặng đều bị lấp, tâm hồn mất nơi để vang tiếng. Có thể vì thế mà người hiện đại biết rất nhiều chuyện đang xảy ra ngoài thế giới nhưng lại ngày càng khó trả lời những câu hỏi căn bản về chính mình: Tôi đang sống để làm gì? Tôi thật sự yêu ai? Tôi đang chạy trốn điều gì? Tôi có bình an không? Tôi còn biết cầu nguyện không? Tôi có đang trở thành người mà Thiên Chúa muốn tôi trở thành hay không?
“Hướng tới sự hiện diện trọn vẹn” vì thế không phải là lời kêu gọi bỏ kỹ thuật số để trở về một thời đại trước công nghệ. Giáo Hội không được kêu gọi đứng bên lề những xa lộ mới của nhân loại. Chính ở đó có những con người cần được gặp gỡ. Chính ở đó có người trẻ đang tìm ý nghĩa. Có những người sẽ không bước vào nhà thờ nhưng có thể tình cờ nghe một đoạn Tin Mừng trên điện thoại. Có những người đang sống một mình, người bệnh, người khuyết tật, người ở xa cộng đoàn, người đang sợ hãi, người đã từng bị tổn thương bởi Giáo Hội nhưng vẫn âm thầm tìm kiếm Thiên Chúa. Không thể nói rằng môi trường kỹ thuật số không phải là nơi truyền giáo. Nhưng điều Giáo Hội cần mang vào môi trường ấy không chỉ là “nội dung Công giáo”; điều Giáo Hội phải mang vào đó chính là phong cách của Đức Kitô.
Phong cách ấy là gì? Là nhìn con người trước khi nhìn vấn đề. Là lắng nghe trước khi trả lời. Là đến gần trước khi giảng giải. Là chữa lành trước khi đòi hỏi. Là tôn trọng tự do. Là nói sự thật mà không nghiền nát người nghe. Là biết khi nào phải lên tiếng và khi nào cần im lặng. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu có thể trở thành một chìa khóa đẹp để suy nghĩ về đời sống kỹ thuật số. Người bị đánh nằm bên vệ đường. Thầy tư tế đi qua. Thầy Lêvi đi qua. Người Samaria dừng lại. Chính động từ “dừng lại” có lẽ là một trong những động từ mang tính ngôn sứ nhất trong thời đại chúng ta. Trên những xa lộ kỹ thuật số nơi tất cả đều lướt, người Kitô hữu được gọi để biết dừng. Dừng trước một câu chuyện đau lòng. Dừng trước một người đang tuyệt vọng. Dừng trước một lời kêu cứu bị chôn giữa hàng nghìn bài đăng. Dừng trước khi chia sẻ một tin chưa kiểm chứng. Dừng trước khi gõ một lời cay nghiệt. Dừng để tự hỏi: “Nếu Đức Giêsu đang đứng cạnh tôi, Người có muốn tôi nhấn nút gửi câu này không?”
Người Samaria không biến người bị thương thành một “nội dung”. Ông không chụp ảnh rồi tiếp tục hành trình. Ông đến gần, băng bó vết thương, đưa người ấy lên lừa, đưa vào quán trọ, trả tiền và hứa sẽ trở lại. Một sự hiện diện trọn vẹn luôn có giá. Nó tốn thời gian. Nó làm ta chậm lại. Nó phá vỡ kế hoạch của ta. Nó đòi ta chịu trách nhiệm. Trong thế giới kỹ thuật số cũng vậy. Một lời nhắn chân thành có thể mất hai phút để viết nhưng có khi cứu một ngày của một người. Một cuộc gọi có thể giá trị hơn một trăm biểu tượng cảm xúc. Một cuộc gặp trực tiếp đôi khi cần thiết hơn hàng nghìn tin nhắn. Truyền thông Kitô giáo cuối cùng phải dẫn con người từ kết nối đến hiệp thông, từ hiệp thông đến gặp gỡ và từ gặp gỡ đến tình yêu.
Chúng ta cũng phải cảnh giác với một cám dỗ trong đời sống đạo: thay thế đời sống thiêng liêng thật bằng việc tiêu thụ nội dung thiêng liêng. Có thể mỗi ngày xem hàng chục video đạo đức mà không cầu nguyện thật sự. Có thể nghe nhiều bài giảng mà không thay đổi đời sống. Có thể theo dõi rất nhiều trang Công giáo mà không tham dự đời sống cộng đoàn. Có thể tranh luận rất hăng về phụng vụ, giáo lý, thần học mà lại không có lòng thương xót với người thân. Có thể đăng những câu Lời Chúa rất đẹp nhưng trong lòng chất đầy ghen ghét. Công nghệ tạo cho chúng ta một ảo tưởng nguy hiểm: biết nhiều về Thiên Chúa đồng nghĩa với biết Thiên Chúa. Nhưng Kitô giáo không phải là một kho nội dung. Đức tin là tương quan. Đức Giêsu không nói: “Hãy tiêu thụ nội dung của Thầy”, nhưng nói: “Hãy theo Thầy.” Theo Người nghĩa là để Tin Mừng đi vào cách ta sử dụng thời gian, cách ta nói, cách ta tranh luận, cách ta tha thứ, cách ta đối xử với những người không thể mang lại lợi ích cho mình.
Ngay cả việc cầu nguyện cũng cần được bảo vệ khỏi sự phân tán kỹ thuật số. Một tâm hồn không bao giờ tắt màn hình sẽ rất khó nhìn vào chiều sâu của chính mình. Không phải vì điện thoại là kẻ thù của cầu nguyện, nhưng vì cầu nguyện đòi một sự quy tụ nội tâm. Người ta cần những thời gian thật sự không có thông báo, không có tin tức, không có cuộc tranh luận, không có tiếng gọi của đám đông. Có lẽ một trong những hình thức khổ chế thiết thực nhất hôm nay là biết đặt điện thoại xuống. Không phải đặt xuống trong vài phút vì hết pin, nhưng đặt xuống vì biết rằng có một Người đáng để ta trao trọn sự chú ý. Trong Thánh Thể, chúng ta học một thứ hiện diện trái ngược hoàn toàn với logic của mạng xã hội. Không ồn ào. Không tranh giành sự chú ý. Không thúc giục. Không ép buộc. Đức Kitô hiện diện. Ngài ở đó. Im lặng. Trao ban. Chờ đợi. Một nền văn hóa kỹ thuật số Kitô giáo phải học từ chính sự hiện diện Thánh Thể ấy.
Gia đình cũng là nơi cần đặc biệt lưu tâm. Có một bi kịch rất âm thầm đang xảy ra trong nhiều mái nhà: mọi người ở cùng một phòng nhưng không thật sự ở với nhau. Cha mẹ nhìn điện thoại, con cái nhìn máy tính bảng, người trẻ đeo tai nghe, mỗi người sống trong một thế giới riêng. Không có tiếng cãi nhau, nhưng cũng không có đối thoại. Không có xung đột, nhưng cũng không có sự gặp gỡ. Những bữa cơm từng là nơi kể chuyện trong ngày có thể trở thành những khoảng thời gian ai cũng im lặng trước màn hình. Và một đứa trẻ có thể lớn lên trong một gia đình đầy thiết bị mà thiếu ánh mắt. Có lẽ một trong những món quà lớn nhất cha mẹ có thể dành cho con không phải là chiếc điện thoại tốt nhất nhưng là một ánh mắt không bị gián đoạn. Một đứa trẻ cần được cảm nhận rằng khi nó kể chuyện, cha mẹ đang nghe. Khi nó hỏi, cha mẹ không chỉ ậm ừ trong lúc lướt mạng. Khi nó buồn, có người nhận ra. Sự hiện diện là một ngôn ngữ của tình yêu mà không một ứng dụng nào có thể thay thế.
Đối với người trẻ, Giáo Hội không thể chỉ nói về những nguy hiểm của internet bằng giọng sợ hãi hoặc cấm đoán. Người trẻ sinh ra trong môi trường này; đó là một phần trong thế giới của họ. Điều họ cần là người lớn giúp họ học nghệ thuật tự do bên trong thế giới ấy. Tự do không có nghĩa là muốn xem gì thì xem, muốn nói gì thì nói. Tự do sâu xa hơn là có khả năng nói “không” với điều đang muốn chiếm lấy mình. Tôi có thể tắt máy dù còn nhiều điều muốn xem. Tôi có thể không trả lời một bình luận đang làm mình tức giận. Tôi có thể không chạy theo một trào lưu. Tôi có thể rời khỏi một nhóm làm mình trở nên cay độc. Tôi có thể chọn một ngày không mạng xã hội. Tôi có thể giữ cho một vài điều trong đời sống chỉ thuộc về Thiên Chúa và những người tôi yêu. Đó là tự do.
Một câu hỏi quan trọng khác là: ai đang bị bỏ lại bên lề các xa lộ kỹ thuật số? Khi chúng ta ca tụng khả năng kết nối, đừng quên rằng vẫn có những người nghèo không đủ phương tiện, những người lớn tuổi không theo kịp công nghệ, những người ít học dễ bị lừa đảo, những người sống ở vùng xa thiếu hạ tầng, những người khuyết tật cần công nghệ dễ tiếp cận hơn. Công nghệ chỉ thực sự phục vụ nhân loại khi nó không làm sâu thêm khoảng cách giữa người mạnh và người yếu. Một Giáo Hội hiện diện trọn vẹn trong không gian kỹ thuật số phải luôn tự hỏi: tiếng nói nào đang bị bỏ quên? Ai không có khả năng tham gia? Ai đang bị thuật toán làm cho vô hình? Ai đang bị khai thác? Ai đang bị tổn thương? Sự hiện diện Kitô giáo luôn phải nghiêng về phía người yếu thế.
Cuối cùng, những xa lộ kỹ thuật số đặt chúng ta trước một vấn đề rất sâu xa về ý nghĩa của sự hiện diện. Con người không chỉ cần thông tin; con người cần một người khác. Không chỉ cần lời khuyên; nhiều lúc cần một bàn tay. Không chỉ cần hình ảnh về cộng đoàn; cần một cộng đoàn thật. Không chỉ cần nghe nói về Thánh Thể; cần tham dự Thánh Thể. Không chỉ cần đọc một lời chia buồn; cần một người đến bên quan tài. Không chỉ cần một biểu tượng cầu nguyện; cần người cùng quỳ xuống cầu nguyện. Có những điều kỹ thuật số có thể hỗ trợ nhưng không thể thay thế. Khi một em bé chào đời, mẹ nó cần vòng tay chứ không phải một biểu tượng. Khi một người sắp chết, họ cần một bàn tay để nắm. Khi một người xưng thú tội lỗi, họ cần nghe lời tha thứ được nói với chính mình. Khi một cộng đoàn cử hành Thánh Thể, họ cần quy tụ bằng thân xác. Kitô giáo là tôn giáo của Ngôi Lời nhập thể. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách gửi một thông điệp từ xa. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Đây có lẽ là nền tảng thần học sâu nhất cho mọi suy tư về hiện diện trong thời đại kỹ thuật số: tình yêu đích thực cuối cùng luôn hướng về nhập thể, về đến gần, về ở cùng.
Vì thế, vấn đề không phải là chọn giữa đời sống trực tuyến và đời sống ngoại tuyến như thể hai thế giới hoàn toàn đối lập. Vấn đề là sống trong cả hai với một trái tim không bị chia cắt. Những gì ta viết trên mạng phải thuộc về cùng một con người đang quỳ trước Thánh Thể. Những gì ta bình luận phải phù hợp với lời kinh ta đọc. Cách ta đối xử với một người không quen biết trên mạng phải phản ánh cùng một Tin Mừng mà ta tuyên xưng trong nhà thờ. Không thể có một “tôi Kitô hữu” vào Chúa nhật và một “tôi dữ dằn” trên mạng vào thứ Hai. Sự thánh thiện không dừng lại ở cửa nhà thờ; nó đi vào cả lịch sử tìm kiếm, cách chia sẻ tin tức, cách xem hình ảnh, cách phản ứng trước bất đồng và cách sử dụng thời gian trên điện thoại.
Các xa lộ kỹ thuật số sẽ còn mở rộng. Trí tuệ nhân tạo sẽ tiếp tục thay đổi truyền thông. Những thực tại ảo ngày càng tinh vi. Ranh giới giữa trực tuyến và ngoại tuyến có thể ngày càng mờ đi. Giáo Hội không thể chỉ phản ứng sau mỗi thay đổi. Điều cần nhất không phải là biết hết mọi công nghệ, nhưng là đào tạo những con người có nội tâm đủ sâu để không bị bất cứ công nghệ nào nuốt chửng. Một con người biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa sẽ ít bị lệ thuộc vào ánh mắt đám đông. Một con người biết thinh lặng sẽ không dễ bị nghiện tiếng ồn. Một con người biết yêu sự thật sẽ không dễ chia sẻ điều giả dối. Một con người biết thương xót sẽ không dễ tham gia vào đám đông ném đá. Một con người biết cầu nguyện sẽ có khả năng phân định điều gì nên giữ lại, điều gì cần buông bỏ.
Có lẽ mỗi chúng ta nên tự hỏi mình vào cuối một ngày: hôm nay những giờ phút trên mạng đã làm tôi trở nên người như thế nào? Tôi bình an hơn hay bồn chồn hơn? Tôi biết yêu người khác hơn hay khinh miệt họ hơn? Tôi hiểu thế giới sâu hơn hay chỉ giận dữ hơn? Tôi đến gần Thiên Chúa hơn hay xa Người hơn? Tôi đã dùng công nghệ hay công nghệ đã dùng tôi? Tôi đã thực sự gặp một ai đó hay chỉ đi ngang qua hàng trăm khuôn mặt? Tôi có làm cho không gian kỹ thuật số nhân bản hơn một chút không?
Không ai trong chúng ta có thể quay ngược lịch sử để đóng lại những xa lộ kỹ thuật số, và cũng không cần làm điều đó. Điều chúng ta có thể làm là học cách đi trên những xa lộ ấy mà không đánh mất linh hồn. Ta có thể mang vào đó sự chậm rãi giữa một thế giới vội vàng, sự tử tế giữa một thế giới cay nghiệt, sự thật giữa một thế giới hỗn loạn, lòng thương xót giữa những cuộc kết án, thinh lặng giữa tiếng ồn và hy vọng giữa những thuật toán thường ưu tiên cho sợ hãi và giận dữ. Có thể chúng ta không thay đổi được toàn bộ internet, nhưng chúng ta có thể làm cho một góc nhỏ của internet trở nên nhân bản hơn. Có thể ta không chặn được mọi lời độc hại, nhưng ta có thể không thêm một lời độc hại nào nữa. Có thể ta không cứu được tất cả những người cô đơn, nhưng ta có thể dừng lại với một người. Và nhiều khi Nước Thiên Chúa bắt đầu như thế: không phải bằng những điều vĩ đại gây tiếng vang, nhưng bằng một người biết dừng lại bên một người khác.
“Hướng tới sự hiện diện trọn vẹn” cuối cùng không phải chỉ là một định hướng cho truyền thông Công giáo. Đó là lời mời gọi trở lại với điều căn bản nhất của Tin Mừng: Thiên Chúa là Đấng hiện diện. “Ta ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Đức Kitô không hứa rằng Người sẽ gửi chúng ta thật nhiều thông tin; Người hứa sẽ ở cùng. Và người môn đệ của Người cũng được gọi trở thành một sự hiện diện như thế cho người khác. Trong một thời đại nơi người ta có thể liên lạc với cả thế giới nhưng vẫn cảm thấy không ai thật sự ở bên mình, có lẽ chứng tá Kitô giáo cần thiết nhất chính là khả năng ở lại. Ở lại với người cô đơn. Ở lại với người đau khổ. Ở lại trong cuộc đối thoại khi bất đồng. Ở lại bên gia đình. Ở lại trước mặt Chúa. Ở lại đủ lâu để nghe, đủ lâu để hiểu, đủ lâu để yêu. Khi ấy, những xa lộ kỹ thuật số sẽ không còn chỉ là những con đường vận chuyển dữ liệu; chúng có thể trở thành những con đường của gặp gỡ. Những màn hình sẽ không chỉ phản chiếu cái tôi; chúng có thể trở thành cửa sổ mở ra với tha nhân. Và công nghệ, thay vì khiến con người xa cách, có thể trở thành khí cụ giúp chúng ta tiến gần hơn tới điều mà trái tim nhân loại luôn khao khát từ thuở ban đầu: được thấy, được nghe, được yêu và được ở cùng.
Điều quyết định không phải là chúng ta có mặt trên các xa lộ kỹ thuật số hay không, nhưng là khi chúng ta đi qua đó, người khác gặp được điều gì nơi chúng ta. Họ gặp thêm tiếng ồn hay gặp một chút bình an? Gặp thêm kết án hay gặp lòng thương xót? Gặp thêm một người đang cố chứng minh mình đúng hay gặp một người thật sự muốn hiểu? Gặp một nhân vật đang xây dựng thương hiệu cá nhân hay gặp một môn đệ đang âm thầm chỉ về Đức Kitô? Nếu có thể trả lời những câu hỏi ấy mỗi ngày, có lẽ chúng ta sẽ từng bước học được nghệ thuật hiện diện trọn vẹn: hiện diện với chính mình mà không trốn chạy, hiện diện với tha nhân mà không chiếm hữu, hiện diện trong thế giới mà không bị thế gian nuốt chửng, hiện diện trên mạng mà vẫn giữ được một trái tim bằng thịt, và trên hết, hiện diện trước Thiên Chúa – Đấng luôn hiện diện với chúng ta trước cả khi chúng ta biết tìm kiếm Người.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articlePhụng vụ Thánh lễ – Lời nguyện – Chia sẻ Lời Chúa (Youtube & bản văn) Thứ Năm tuần XXIV TN – Lm. Anmai, CSsR
Next articleGIÁO HỘI CŨNG KHÔNG NẰM NGOÀI MỐI NGUY HIỂM CỦA MẠNG XÃ HỘI – Lm. Anmai, CSsR