CHÚA CHUNG MỘT NHÀ, TÌNH THƯƠNG MỖI NGƯỜI MỘT KHÓA – Lm. Anmai, CSsR

3

CHÚA CHUNG MỘT NHÀ, TÌNH THƯƠNG MỖI NGƯỜI MỘT KHÓA – Lm. Anmai, CSsR
Nhìn lại căn bệnh “Đạo ai nấy giữ, Chúa ai nấy thờ”
Có một kiểu sống đạo rất ngăn nắp: Chúa ở trên bàn thờ, tôi ở dưới hàng ghế, người bên cạnh ở ngoài phạm vi quan tâm. Mọi thứ được phân chia rõ ràng đến mức nếu đem vẽ thành sơ đồ, chắc cũng đủ tiêu chuẩn nghiệm thu một công trình. Tôi có giờ lễ của tôi, chỗ ngồi của tôi, ý nguyện của tôi, ơn cần xin của tôi, nỗi lo của tôi; còn người khác có khổ thì đó là phần việc của người khác. Thiên Chúa, trong cách sắp xếp ấy, được chúng ta kính cẩn đặt ở vị trí cao nhất, nhưng đồng thời bị âm thầm giao cho một nhiệm vụ khá thấp: phục vụ sự yên ổn riêng của từng người. Chúng ta gọi Người là Cha chung, rồi sống như những đứa con đã chia gia tài, dựng hàng rào, khóa cửa và dặn người làm rằng: “Ai bên nhà kia có chuyện gì thì đừng báo, tôi đang bận cầu nguyện.” Thật đáng nể. Một gia đình đông con, cùng đọc kinh, cùng thưa “Amen”, cùng hát một bài, nhưng có thể chẳng ai muốn biết người ngồi cách mình nửa mét đang phải sống qua một tuần như thế nào. Cung thánh sáng đèn, lòng người tắt điện. Chuông nhà thờ vang rất xa, tiếng thở dài bên cạnh lại không đủ sức đi qua một hàng ghế.
Người ta bảo đi lễ là đi tìm Chúa. Điều ấy đẹp và đúng. Nhưng đôi khi cách chúng ta đi tìm khiến người ngoài tưởng rằng Chúa đang tổ chức một kỳ thi có giới hạn chỗ ngồi. Vừa bước vào cổng, mắt đã đảo nhanh để xác định vị trí thuận lợi: chỗ nào mát, chỗ nào nhìn rõ, chỗ nào ra về nhanh, chỗ nào khỏi phải nhường. Có người thuộc bản đồ nhà thờ còn kỹ hơn thuộc những nẻo đường lòng mình. Hàng ghế ấy đã thành lãnh thổ truyền thống, được bảo vệ bằng một cái túi, một quyển sách, một chiếc nón hoặc một ánh mắt đủ lạnh để người mới đến hiểu ngay luật bất thành văn. Chúa thì của mọi người, nhưng cái ghế trước mặt Chúa hình như đã có chủ quyền. Ai lỡ ngồi vào sẽ được đón tiếp bằng một thứ nhiệt tình đặc biệt: nhiệt tình báo cho họ biết họ đang ngồi sai chỗ. Chúng ta có thể nghe cả bài giảng về đức ái với vẻ rất xúc động, rồi ngay sau đó dùng khuỷu tay để nhắc người bên cạnh rằng đức ái cũng nên biết giữ khoảng cách. Thật ra, chẳng có gì sai khi muốn một chỗ ngồi thuận tiện; điều đáng buồn nằm ở chỗ chúng ta có thể chăm chút cho sự thuận tiện ấy hơn cả phẩm giá của người đang đứng trước mặt mình.
Rồi đến phần cầu nguyện. Chúng ta sốt sắng xin cho gia đình bình an, con cái thành đạt, công việc thuận lợi, bệnh tật qua đi. Những lời xin ấy chân thành và cần thiết. Nhưng có lúc bản danh sách dài đến mức người anh em đang đau khổ ngay bên cạnh không chen nổi vào một dòng. Ta nhớ cuộc phỏng vấn của con, nhớ khoản nợ của mình, nhớ chuyến đi của người thân, nhớ chuyện làm ăn chưa suôn sẻ; còn bà cụ đã ngồi phía sau suốt nhiều năm, hôm nay không xuất hiện, thì chẳng ai nhớ. Có lẽ bà đau. Có lẽ bà ngã. Có lẽ bà đã chuyển đi. Cũng có lẽ bà đang nằm trong một căn phòng nhỏ, nhìn đồng hồ đến giờ lễ và chờ một cuộc gọi không tới. Nhưng ta yên tâm: hôm nay mình không bỏ lễ. Cuốn sổ bổn phận đã có dấu kiểm, còn một con người vắng mặt thì chưa chắc nằm trong danh mục cần kiểm tra. Đức tin được quản lý cẩn thận như hồ sơ, chỉ tiếc là trong hồ sơ ấy đôi khi thiếu tên người.
Thế là xuất hiện một kiểu Công giáo rất tiết kiệm: tiết kiệm lời hỏi thăm, tiết kiệm thời giờ lắng nghe, tiết kiệm công sức đồng hành, tiết kiệm đến cả một nét mặt tử tế. Chúng ta có thể dành nhiều phút để chọn một câu chúc thật đẹp gửi vào nhóm, nhưng lại thấy khó dành vài phút cho một người đang ngồi đối diện. Trên màn hình, tình thương được trình bày rất phong phú: hoa nở, nến sáng, chim bồ câu bay, lời chúc bình an chạy qua chạy lại. Ngoài đời, gặp nhau thì gật đầu cho đủ phép rồi bước nhanh, vì nếu dừng lại có khi người ta kể chuyện buồn, mà chuyện buồn thường không có nút tắt tiếng. Ta thích một thứ bác ái gọn nhẹ, ít phát sinh, không kéo dài sang ngày mai. Một lời “cố lên” là đẹp; nhưng nếu người kia vẫn chưa đứng dậy được thì ta bắt đầu thấy họ thiếu hợp tác. Đã gửi lời động viên rồi, còn muốn gì nữa? Hình như ta đang mong người đau khổ tiếp nhận tình thương theo hình thức giao hàng một lần, nhận xong ký tên, tuyệt đối đừng đề nghị bảo hành.
Căn bệnh “Đạo ai nấy giữ, Chúa ai nấy thờ” thường không mặc áo xấu. Nó ăn mặc rất lịch sự, nói năng rất chừng mực, và có thể mang theo một cuốn sách kinh đã sờn gáy. Nó hiếm khi tuyên bố: “Tôi ích kỷ.” Nó nói: “Tôi không muốn xen vào chuyện người khác.” Nghe thật văn minh. Nhưng có những lúc, câu ấy chỉ là giấy thông hành cho sự dửng dưng. Không xen vào đời tư là một sự tôn trọng; thấy người khác cần giúp đỡ mà dùng đời tư của họ làm lý do quay đi lại là một chuyện khác. Không ai đòi chúng ta phải tra hỏi mọi mái nhà, kiểm kê từng cuộc hôn nhân, hoặc biến giáo xứ thành một cơ quan điều tra. Nhưng giữa việc xâm phạm và việc bỏ mặc còn có một khoảng rộng dành cho lòng tử tế. Ta có thể hỏi: “Anh chị có cần tôi giúp điều gì không?” Ta có thể nói: “Nếu muốn chia sẻ, tôi sẵn sàng nghe.” Ta có thể đứng bên ngoài một cánh cửa bằng sự tôn trọng, mà vẫn cho người bên trong biết rằng họ không bị quên. Chỉ tiếc, nhiều người chọn đứng thật xa cho khỏe, rồi gọi khoảng cách ấy là khôn ngoan.
Có khi sự dửng dưng còn được trang điểm bằng một câu nghe rất đạo đức: “Để Chúa lo.” Phải, hãy tín thác vào Chúa. Nhưng nếu người hàng xóm đang đói, trong nhà tôi còn cơm, mà tôi chỉ nói “để Chúa lo”, thì có lẽ tôi đang chuyển phần việc của mình lên trời cho nhẹ vai. Chúa ban cho tôi đôi tay, tôi chắp lại; Chúa cho tôi đôi chân, tôi đứng yên; Chúa cho tôi một phần khả năng, tôi cất kỹ; rồi tôi thắc mắc vì sao phép lạ chưa đến. Chúng ta cầu xin Chúa sai người đến giúp người đau khổ, với một điều kiện kín đáo: xin đừng sai con. Người nào đó tốt bụng, ở đâu đó, vào một lúc nào đó, làm một việc gì đó, miễn đừng ảnh hưởng lịch sinh hoạt của con. Lời cầu nguyện ấy rất rộng ở phần đối tượng và rất hẹp ở phần trách nhiệm. Ta muốn lòng thương xót xuất hiện, nhưng tốt nhất nên xuất hiện bằng công sức của người khác.
Cần nói cho ngay: có những người phải về vội vì đang chăm bệnh nhân, có người ít trò chuyện vì mệt, vì nhút nhát, vì không nghe rõ, vì trong lòng đang có một vết thương chưa biết nói cùng ai. Một người ngồi im không có nghĩa là một người vô cảm. Một người đi lễ rồi về ngay không đương nhiên là kẻ ích kỷ. Đôi khi chính người ít được chú ý ấy lại âm thầm chăm cha mẹ, nuôi con, lo cho hàng xóm và làm những việc mà cả cộng đoàn chẳng hề biết. Nếu chỉ nhìn dáng đi, nét mặt, thời gian đứng lại ngoài sân mà kết án, chúng ta lại mắc thêm một bệnh khác: bệnh chẩn đoán đạo đức từ xa. Căn bệnh cần nhìn vào ở đây là thái độ đóng cửa có ý thức, là sự yên tâm trước nỗi đau mình đã thấy, là thói quen dùng đời sống tôn giáo để khỏi phải thay đổi cách đối xử với con người. Mũi nhọn của lời trào phúng phải quay về lương tâm chúng ta, chứ đừng trở thành cây gậy để đánh người đang kiệt sức.
Điều đáng buồn nhất là chúng ta có thể rất gần nhau về vị trí mà rất xa nhau về đời sống. Cùng một nhà thờ, cùng một giờ lễ, cùng một lời kinh, cùng một lối ra; nhưng trong trí nhớ của nhau chỉ tồn tại dưới dạng “ông áo xanh”, “bà hay ngồi cuối”, “chị có đứa nhỏ khóc”, “anh thường đến trễ”. Một người đã cầu nguyện bên ta nhiều năm mà ta không biết tên; chuyện ấy có thể xảy ra. Nhưng một người đã ngã quỵ bên ta mà ta vẫn chỉ nhớ họ như một sự bất tiện thì đó là điều cần giật mình. Có những cộng đoàn nhận ra sự vắng mặt của người khác nhanh nhất khi đến phiên họ đóng tiền, trực nhật hoặc thực hiện một nhiệm vụ. Khi họ không còn làm được việc, điện thoại reo ngay; khi họ không còn chịu nổi cuộc sống, điện thoại lại im. Hóa ra chúng ta nhớ người ta rất rõ ở phần chức năng, còn ở phần con người thì trí nhớ bỗng yếu đi một cách đáng thương.
Trong gia đình cũng vậy. Có nhà giữ giờ kinh tối đều đặn, nhưng lại thiếu giờ nói chuyện thật lòng. Cả nhà cùng đọc về yêu thương, rồi ai trở về pháo đài của người ấy. Cha giữ uy quyền, mẹ giữ nỗi tủi, con giữ điện thoại, ông bà giữ sự cô độc; mọi thành viên đều có tài sản tinh thần riêng, khóa rất kỹ. Một đứa trẻ muốn kể chuyện bị bạn làm nhục thì nhận được lời nhắc: “Đọc kinh đi, nghĩ linh tinh làm gì.” Một người vợ muốn nói mình mệt thì được trả lời: “Nhà nào chẳng thế.” Một người chồng thú nhận đang lo sợ vì thất nghiệp thì được khuyên: “Có đức tin mà yếu đuối vậy?” Chúng ta dùng những lời đáng lẽ nâng đỡ để đóng nắp lên nỗi đau. Đứa trẻ học được rằng muốn được nghe phải im; người vợ học được rằng muốn giữ bình an phải nuốt; người chồng học được rằng muốn được kính trọng phải giả vờ không sợ. Gia đình vẫn có tiếng kinh, nhưng thiếu tiếng người được tiếp nhận. Bàn thờ lau sạch mỗi ngày, còn những hiểu lầm thì để bụi phủ qua năm tháng.
Có những người bên ngoài rất được quý mến vì làm việc nhà thờ, nhưng người thân lại phải chờ phần tình thương còn dư. Họ sẵn sàng đi xa phục vụ một chương trình, nhưng không có thời gian ngồi với cha già ở căn phòng bên cạnh. Họ kiên nhẫn với một người mới quen, nhưng nổi nóng khi con hỏi lần thứ hai. Họ vận động người khác sống hiệp nhất, nhưng giữ một cuộc chiến lạnh trong nhà suốt nhiều năm. Người nhà không yêu cầu họ bỏ việc phục vụ; người nhà chỉ mong được đối xử bằng chính sự tử tế mà họ đang đem tặng khắp nơi. Nhưng hình như lòng bác ái đôi khi cũng thích đi du lịch: càng xa càng có cảm hứng, càng gần càng dễ cáu. Nỗi đau ở nơi xa thành một câu chuyện xúc động; nỗi đau trong nhà thành một tiếng than phiền cần chấm dứt. Ta có thể ôm cả nhân loại bằng lời nói, rồi không tìm được chỗ cho một người thân trong buổi tối của mình.
Ra đến giáo xứ, căn bệnh ấy có thêm nhiều hình thức tinh vi. Một hội đoàn có thể họp rất đều, có danh sách rất đẹp, có chương trình rất đầy, có hình ảnh rất sáng, mà thành viên vẫn cô độc. Ai gặp khó khăn thì được khuyên “cố gắng tham gia cho đều”; ai vừa trải qua mất mát thì được nhắc “đừng ảnh hưởng việc chung”; ai không thể tiếp tục công việc vì kiệt sức thì bị đánh giá “thiếu tinh thần”. Cộng đoàn cần sự trách nhiệm, điều đó đúng. Nhưng trách nhiệm sẽ trở nên lạnh lẽo khi chúng ta chỉ nhìn thấy việc chưa xong mà không nhìn thấy người đang gánh việc. Người ấy có thể đã thức nhiều đêm chăm con bệnh. Người ấy có thể đang nợ nần. Người ấy có thể vẫn đến phục vụ vì yêu mến, nhưng trong lòng đã gần cạn. Chúng ta khen chiếc xe chạy bền, rồi trách nó khi hết xăng; với con người, đôi lúc cũng làm như thế. Đến khi họ rút lui, ta nói họ thay đổi. Ít ai tự hỏi có phải mình đã yêu cầu họ hiện diện quá nhiều trong chương trình, mà hiện diện quá ít trong sự quan tâm.
Một kiểu khác là hiệp thông có điều kiện. Ai cùng nhóm thì dễ được hiểu, ai khác nhóm thì cần được xem xét. Ai quen biết thì lỗi lầm có hoàn cảnh; ai mới đến thì hoàn cảnh chẳng cứu nổi lỗi lầm. Một người trong vòng thân hữu nói nặng thì “tính họ thẳng”; một người ngoài vòng nói nặng thì “thiếu giáo dục”. Một người được quý đến trễ thì “chắc có việc”; một người không được quý đến trễ thì “ý thức kém”. Chúng ta sở hữu một bộ cân đạo đức rất hiện đại: cùng một vật, đặt ở hai đĩa khác nhau sẽ cho hai kết quả khác nhau. Sự chính xác tùy thuộc quan hệ. Đến đây, “Đạo ai nấy giữ” đã phát triển thành “nhóm ai nấy thương”. Chúa vẫn là Cha chung trong lời tuyên xưng, nhưng ngoài sân nhà thờ, gia đình của Người được chia thành nhiều phòng, mỗi phòng có danh sách khách riêng.
Người nghèo bước vào sẽ hiểu điều ấy nhanh hơn ai hết. Họ không cần một bài phân tích dài để nhận ra mình được đón tiếp hay chỉ được chịu đựng. Một ánh mắt lướt qua quần áo, một cách gọi trống không, một lời hỏi hơi lớn trước đám đông, một sự sốt ruột khi họ nói chậm: những điều nhỏ ấy đủ cho họ biết vị trí của mình. Có người đến xin giúp đỡ phải kể hoàn cảnh nhiều lần, mỗi lần như tháo thêm một lớp da tự trọng. Chúng ta có lý do để tìm hiểu, có trách nhiệm sử dụng nguồn lực cho đúng; nhưng việc tìm hiểu vẫn có thể diễn ra bằng sự kín đáo và kính trọng. Người nghèo không chỉ cần tiền. Họ cần được giúp mà không bị biến thành một bài trình diễn về sự khốn khó của chính mình. Nếu một túi gạo đi kèm một tấm ảnh khiến người nhận muốn cúi mặt, thì túi gạo đã no phần bụng nhưng để lại một món nợ trong lòng. Bác ái đâu phải cuộc trao đổi mà người có của nhận sự ngưỡng mộ, còn người thiếu thốn trả bằng phẩm giá.
Đôi khi chúng ta thích thương người theo mùa. Mùa lễ thì có quà, mùa chiến dịch thì có đoàn đi, mùa tổng kết thì có con số. Những việc ấy quý và cần được làm. Nhưng đời người khó khăn lại không khéo tuân theo lịch sự kiện. Họ có thể đói vào một ngày rất thường. Họ có thể mất việc sau khi chương trình đã kết thúc. Họ có thể cần được nghe đúng lúc ban tổ chức đang nghỉ. Một người mẹ kiệt sức vì chăm con bệnh không sống bằng ảnh lưu niệm của chuyến thăm tháng trước. Một người già không bớt cô độc chỉ vì từng được nhận quà trong ngày lễ. Tình thương cần có lúc xuất hiện tưng bừng, và cần nhiều lúc xuất hiện rất lặng: một cuộc gọi, một lần ghé, một lời nhớ, một việc làm không có ai ghi hình. Đáng tiếc, chúng ta đôi khi tổ chức rất giỏi một ngày quan tâm và sống rất vụng những ngày còn lại.
Cũng có một dạng đạo đức rất hăng hái trong việc bảo vệ điều đúng, nhưng rất chậm trong việc bảo vệ người bị đau. Trên mạng, một câu thiếu chuẩn có thể khiến chúng ta tranh luận nhiều giờ. Ngoài đời, một người bị nói xấu ngay trong nhóm lại không khiến ta lên tiếng. Ta phân tích một thuật ngữ rất sắc, nhưng làm ngơ một lời làm nhục rất rõ. Ta sợ chân lý bị xúc phạm trong một bài viết, mà không sợ phẩm giá bị chà đạp trong một cuộc họp. Bảo vệ đức tin là điều cần thiết; nhưng đức tin ấy dạy chúng ta nhìn thấy người anh em, nên không thể vừa bảo vệ bằng miệng vừa bỏ quên bằng hành động. Nếu sự hiểu biết chỉ khiến ta giỏi bắt lỗi, còn lòng thương người cứ còi cọc, thì kiến thức đã được dùng như một bộ dụng cụ tháo người khác ra từng mảnh. Chúng ta có thể thắng cuộc tranh luận, rồi để một con người ra về với cảm giác mình không còn chỗ đứng.
Tệ hơn nữa, có khi chúng ta quan tâm đến người khác theo cách người ấy mong mình đừng quan tâm. Họ vừa lâm vào khủng hoảng, cộng đoàn đã nhanh chóng biết đủ chi tiết; chỉ có việc giúp thì chưa thấy ai biết bắt đầu từ đâu. Một gia đình rạn vỡ trở thành đề tài để người ta phân tích sau giờ lễ. Một đứa trẻ bỏ học trở thành bằng chứng cho một bài lên án. Một người sa ngã được nhắc tên trong những cuộc trò chuyện mang giọng lo lắng rất thành thạo. Chúng ta nói “thương quá” rồi kể tiếp, nói “tội nghiệp” rồi thêm một chi tiết, nói “đừng nói ai” rồi chọn người có khả năng truyền tin tốt nhất. Lòng quan tâm ấy có chân rất nhanh để đi đến khắp nơi, nhưng không có tay để đỡ người đang ngã. Người gặp nạn vừa chịu chuyện của mình, vừa chịu chuyện người khác kể về mình. Nếu cộng đoàn khiến người đau khổ sợ bị biết hơn sợ phải chịu đau một mình, thì chúng ta cần xét lại nghiêm túc thứ hơi ấm đang tỏa ra từ những lời hỏi han.
Và rồi người ấy im lặng. Họ bớt tham gia, bớt trò chuyện, ngồi cuối nhà thờ hoặc tìm một nơi khác. Chúng ta nhìn theo và kết luận: “Họ nguội lạnh.” Có thể có những người đang nguội lạnh thật. Nhưng cũng có người đang cố giữ đức tin giữa những trải nghiệm bị làm tổn thương. Họ không rời xa vì ghét Chúa; họ đang tránh những ánh mắt khiến mình không thở được. Họ không từ chối hiệp thông; họ chưa biết hiệp thông ở đâu khi câu chuyện riêng của mình cứ bị đem ra bàn. Chúng ta cần đủ khiêm tốn để nhận rằng đôi khi người ta vắng mặt vì cộng đoàn đã làm việc hiện diện trở nên quá khó. Một căn nhà có thể mở cửa lớn mà vẫn khiến khách không dám vào. Cánh cửa gỗ chỉ là một phần; cánh cửa trong cách nhìn, cách nói, cách đón tiếp mới quyết định người khác có được ở lại hay không.
Điều ấy càng đau khi chúng ta nhớ mình cùng đọc một lời kinh bắt đầu bằng “Lạy Cha chúng con”. “Chúng con” là một từ ngắn mà làm cái tôi khá khó chịu. Nó không cho phép tôi bước vào tương quan với Thiên Chúa như một khách hàng độc lập, chỉ cần giải quyết hồ sơ riêng. Tôi có nỗi khổ của tôi, nhưng không chỉ có nỗi khổ của tôi. Tôi có gia đình cần bảo vệ, nhưng gia đình tôi không phải mái nhà duy nhất đáng được bình an. Tôi có quyền cầu xin, nhưng lời cầu xin phải mở lòng tôi ra với những người cũng đang cần. Thế mà có lúc ta đọc “chúng con” rất rõ, rồi sống “mỗi con” rất kỹ. Mỗi con một lịch, mỗi con một phần, mỗi con một bức tường; đến khi xảy ra chuyện, mỗi con lại mong tất cả những con khác cùng xúm vào. Ta muốn tự lập khi người khác cần mình và muốn cộng đoàn khi mình cần người khác. Một cách tổ chức rất có lợi, chỉ hơi thiếu công bằng.
Trong Thánh lễ, chúng ta được quy tụ, được nghe Lời Chúa, được nuôi dưỡng bởi cùng một bàn tiệc. Những ân ban ấy có chiều sâu vượt khỏi cảm xúc nhất thời của người tham dự. Nhưng chính vì quý giá, chúng ta càng cần để chúng đi vào cách sống. Nếu vừa lãnh nhận bình an đã dùng lời nói làm người nhà mất bình an, ta cần dừng lại. Nếu vừa nghe lời mời yêu thương đã tránh người cần giúp bằng một lý do quen thuộc, ta cần nhìn lại. Nếu cùng tiến lên rước lễ mà ra về vẫn quyết tâm giữ mãi một sự khinh bỉ, ta cần xin ơn để tháo nút thắt ấy. Không phải cứ tham dự là lập tức trở nên hoàn hảo; ai cũng còn yếu đuối và phải được biến đổi từng ngày. Nhưng yếu đuối khác với việc kê ghế ngồi yên trong sự ích kỷ, rồi lấy lịch đi lễ làm giấy chứng nhận rằng mọi thứ đã ổn.
Có những lời hát rất đẹp mà đời sống chúng ta làm cho trở nên khó nghe. Ta hát về tình yêu, nhưng người bên cạnh phải dè chừng. Ta hát về hiệp nhất, nhưng giữ danh sách những người không muốn gặp. Ta hát về phục vụ, nhưng một việc nhỏ ngoài phần phân công cũng đủ làm mình khó chịu. Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta hát sai nốt. Có người hát rất đúng, đúng đến mức ca trưởng yên tâm, nhưng lòng người thân lại không yên tâm khi họ về nhà. Âm nhạc có thể được tập nhiều lần; lòng tử tế cũng cần được tập như vậy. Ta chịu sửa một chỗ lấy hơi để bài hát tròn hơn, sao lại không chịu sửa một câu nói để người khác đỡ đau? Ta kiên nhẫn nghe góp ý về nhịp điệu, sao vừa được góp ý về thái độ đã thấy bị xúc phạm? Cái tôi quả là một ca sĩ khó tính: rất thích được chỉnh cho đẹp trước công chúng, rất ghét được chỉnh cho thật trước lương tâm.
Dụ ngôn người Samari nhân hậu đặt chúng ta trước một sự thật không dễ né: có thể đi trên một con đường tôn giáo mà vẫn bỏ qua người đang cần mình. Người bị thương không cần biết người đi ngang thuộc nhóm nào, có bao nhiêu kiến thức, giữ bao nhiêu chức vụ. Lúc ấy, điều họ cần là có người dừng lại. Dừng lại thì sẽ trễ, sẽ bẩn tay, sẽ phải chi trả, sẽ phải nghĩ thêm cho ngày mai. Đi tiếp thì dễ hơn nhiều, nhất là khi ta có một việc “quan trọng” đang chờ. Chúng ta thường đọc dụ ngôn ấy rồi thương người nằm bên đường trong câu chuyện. Nhưng người nằm bên đường trong đời mình có thể mang một gương mặt không dễ thương: người từng làm ta khó chịu, người có giọng nói cộc, người khác quan điểm, người đã thất bại nhiều lần. Khi ấy, lòng thương xót bắt đầu gặp bài kiểm tra thật. Thương một hình ảnh trong sách tương đối thuận tiện; thương một con người có mùi mồ hôi, có lịch sử phức tạp và có thể không biết cảm ơn thì đòi hỏi nhiều hơn.
Đó là lý do chúng ta hay đặt ra điều kiện trước khi yêu thương. Người cần giúp phải hiền, phải ngoan, phải đáng, phải nghe lời, phải thay đổi nhanh. Họ nên khổ theo cách khiến mình dễ xúc động, và nhận giúp theo cách khiến mình dễ hài lòng. Nếu họ lúng túng, cáu gắt hoặc quay lại với khó khăn cũ, ta thấy việc bác ái mất hiệu quả. Nhưng con người không phải một chiếc máy được sửa xong là hoạt động ngay. Có người cần nhiều thời gian để tin. Có người đã bị làm tổn thương quá lâu nên một bàn tay đưa ra cũng khiến họ dè chừng. Có người cảm ơn vụng về vì đang xấu hổ. Giúp đỡ vẫn cần sự phân định, giới hạn và trách nhiệm; song nếu chỉ muốn gặp những người đau khổ dễ quản lý, thì ta đang tìm một công việc thuận lợi hơn là học thương người. Lòng thương xót có thể rất tỉnh táo mà vẫn mềm; không cần ngây thơ, nhưng cũng không cần hóa thành một quầy xét duyệt khiến người đứng trước chỉ muốn bỏ về.
Tuy nhiên, hiệp thông cũng không có nghĩa mọi người phải biết hết đời nhau, lúc nào cũng vui vẻ, lúc nào cũng sẵn sàng. Con người cần nghỉ, cần riêng tư, cần có quyền nói “hôm nay tôi chưa thể”. Một cộng đoàn biết yêu thương sẽ tôn trọng điều ấy. Không thể chữa bệnh dửng dưng bằng bệnh kiểm soát. Không thể nhân danh gần gũi để đòi người khác báo cáo tâm trạng, giải thích sự vắng mặt, mở hết những điều riêng tư. Người đang đau có thể chưa muốn nói; hãy cho họ thời gian. Người không đủ sức giúp có thể cần được nâng đỡ; hãy cho họ chỗ nghỉ. Sự liên đới là cùng mang lấy phần có thể mang, biết tìm thêm sự trợ giúp khi cần, và không làm người yếu phải gánh thêm cảm giác có lỗi. Một câu “tôi chưa làm được việc này, nhưng tôi sẽ giúp anh chị tìm người phù hợp” vẫn có tình thương hơn nhiều lời hứa lớn rồi biến mất.
Cũng đừng nhân danh tha thứ để bắt người bị tổn thương tiếp tục chịu đựng một điều nguy hiểm. Có người thích nói về hòa giải theo cách rất tiết kiệm trách nhiệm: người gây hại chưa cần thay đổi, người chịu hại cứ mở lòng trước đã. Thế là bình an được xây bằng sự im lặng của người yếu. Một cộng đoàn thật sự thương người phải biết bảo vệ, biết gọi đúng điều sai, biết giúp người gặp nguy hiểm tìm sự an toàn và sự hỗ trợ cần thiết. Lòng thương xót không phải tấm khăn phủ lên mọi chuyện để hình ảnh tập thể được đẹp. Có những vết thương muốn lành phải được nhìn thấy, có những hành vi muốn chấm dứt phải được ngăn lại. Nếu chỉ lo cộng đoàn “mang tiếng” mà không lo một con người tiếp tục bị hại, thì chúng ta đang thương cái bảng tên hơn thương người đứng dưới bảng tên ấy.
Căn bệnh này không chừa người làm mục vụ. Một linh mục có thể bận rộn đến mức ngày nào cũng gặp người mà ít khi thật sự gặp một người. Lịch kín, điện thoại nhiều, chương trình nối tiếp; mỗi cuộc tiếp xúc bị kéo về chuyện cần xử lý. Người đến nói về nỗi đau thì được nghe giải pháp trước khi kịp nói xong. Người đang bối rối nhận một lời nhắc đúng, nhưng chưa nhận được cảm giác mình đã được hiểu. Áp lực mục vụ là thật, sự mệt mỏi là thật; vì vậy cộng đoàn cũng cần nâng đỡ linh mục, chia sẻ công việc và tôn trọng giới hạn. Nhưng người mang trách nhiệm hướng dẫn vẫn phải tự hỏi: mình đang nhìn thấy một con người hay chỉ nhìn thấy một trường hợp? Có khi một lời giải quyết rất nhanh đã xong phần việc, mà chưa chạm được phần người. Sự bận rộn đáng quý khi phục vụ tình thương; nó trở nên đáng lo khi khiến tình thương liên tục phải chờ.
Giáo dân cũng có thể giúp nhau thoát khỏi kiểu sống ấy, thay vì đứng ngoài đợi linh mục làm hết. Một giáo xứ có đông người mà mọi việc quan tâm đều dồn lên một vài người thì sẽ sớm có những khoảng trống. Không cần ai cũng trở thành chuyên viên tư vấn hay người phụ trách bác ái. Có người chỉ cần nhớ tên, có người chỉ cần đưa một cụ già đi lễ, có người nấu thêm một phần ăn, có người hỗ trợ việc học cho một đứa trẻ, có người biết nghe mà không kể lại. Những việc ấy nhỏ đến mức khó đưa vào một bài báo cáo hoành tráng, nhưng đủ lớn để một người không cảm thấy mình bị bỏ rơi. Cộng đoàn sống bằng nhiều việc âm thầm như vậy. Người ta có thể quên một khẩu hiệu sau vài tuần, nhưng nhớ rất lâu ai đã đứng ngoài cửa bệnh viện cùng mình trong đêm khó khăn.
Chúng ta thường thích bắt đầu sự đổi mới bằng một cuộc họp. Họp có ích, kế hoạch có ích, phân công có ích. Nhưng có một nguy cơ quen thuộc: họp về lắng nghe rất nhiều mà chưa nghe ai; lập ban liên đới rất kỹ mà một thành viên đang đau vẫn tự xoay xở; chọn khẩu hiệu rất đẹp mà cách nói với nhau vẫn cũ. Cái bệnh này giỏi sinh tồn trong văn bản. Nó có thể tham gia buổi thảo luận, phát biểu đầy tâm huyết, đề nghị vài giải pháp, rồi về nhà tiếp tục dửng dưng. Nếu không cẩn thận, việc đổi mới chỉ làm tấm biển trước cửa sáng hơn, còn căn phòng bên trong vẫn lạnh. Chúng ta cần kế hoạch, nhưng cũng cần một việc thật ngay sau kế hoạch. Một cái tên được nhớ. Một cuộc gọi được thực hiện. Một lời xin lỗi được nói. Một khoản tiền giúp đỡ được trao kín đáo. Một nhiệm vụ được chia bớt cho người đang quá tải. Tình thương phải có ngày giờ, có bàn tay, có người nhận; nếu chỉ nằm trong ý tưởng, nó rất dễ sống khỏe mà chẳng ai được nhờ.
Có lẽ việc đầu tiên là tập nhận ra ai đang hiện diện trong đời mình. Người quét sân nhà thờ tên gì? Người giữ xe hôm nay có mệt không? Người thường ngồi cuối đã vắng bao lâu? Đứa trẻ hay bị nhắc nhở có đang cần một người kiên nhẫn? Người nói chuyện khó nghe ấy có điều gì khiến họ trở nên phòng thủ? Không phải câu hỏi nào cũng có câu trả lời, không phải ai cũng muốn được tiếp cận, nhưng tập nhận ra đã là một bước khỏi căn phòng kín của cái tôi. Người khác sẽ bớt là một vật cản khi ta nhớ họ có một đời sống. Một người chậm trước mặt có thể đang đau chân. Một người ít chào có thể đang bối rối. Một người khó tập trung có thể vừa trải qua mất mát. Chỉ cần bớt vội kết luận, chúng ta đã làm không khí quanh mình dễ thở hơn.
Rồi tập nghe mà không lập tức sửa. Có những người đến với ta không phải để nhận một bài giảng ngắn, họ cần có chỗ đặt xuống điều đã mang quá lâu. Ta nghe được hai câu đã đoán kết luận, nghe được ba câu đã đưa giải pháp, nghe được bốn câu đã kể chuyện của mình. Người kia chưa đi hết nỗi đau thì ta đã mở đường tắt. Đường tắt ấy tiện cho người nghe, chưa chắc đưa người nói đến đâu. Thử để họ nói xong. Thử hỏi điều mình chưa hiểu. Thử chịu một khoảng lặng mà không vội lấp bằng lời khuyên. Sự lắng nghe chân thành có vẻ ít hoạt động, nhưng đòi hỏi cái tôi làm một việc rất vất vả: nhường chỗ. Nhiều khi ta muốn làm người cứu giúp nổi bật hơn muốn làm người đồng hành có mặt. Ta muốn một câu nói khiến người kia thán phục, trong khi họ chỉ cần một người đừng rời đi quá sớm.
Và phải tập giữ kín điều đã được trao. Một câu chuyện riêng không phải phần thưởng cho sự thân thiết, cũng không phải tài liệu để thêm hấp dẫn cho cuộc trò chuyện sau lễ. Người khác kể vì tin; ta đem kể lại là làm họ mất một chỗ dựa. Có những cộng đoàn thiếu hiệp thông vì ai cũng sợ sự thật của mình sẽ được lưu hành. Người ta giữ khoảng cách không hẳn vì ích kỷ, mà vì đã từng mở lòng và bị làm đau. Muốn xây lại, cần sự đáng tin được chứng minh qua thời gian. Biết chuyện mà không khoe mình biết. Có cơ hội kể mà không kể. Nghe người khác bàn tán thì ngăn lại nhẹ nhàng. Bảo vệ người vắng mặt dù không ai khen. Những việc ấy không tạo tiếng vang, nhưng tạo nền nhà. Một cộng đoàn muốn đứng vững phải có nền như thế.
Sau cùng, cần học giúp nhau theo cách người nhận vẫn được đứng thẳng. Đừng đòi họ phải mang mãi thân phận “người được tôi giúp”. Đừng nhắc món quà mỗi lần họ khác ý. Đừng lấy một lần làm ơn để xin quyền quyết định đời họ. Lòng tốt mà biến thành dây buộc sẽ khiến người nhận vừa biết ơn vừa sợ. Có người giúp một bữa ăn nhưng muốn nhận lại cả một sự phục tùng; giúp một khoản tiền nhưng giữ quyền nhắc suốt nhiều năm. Đó là một cuộc đầu tư vào ảnh hưởng được khoác áo bác ái. Tình thương thật có thể hướng dẫn, có thể cùng đặt ra trách nhiệm phù hợp, nhưng không mua quyền sở hữu con người. Người được giúp vẫn có tên, có ý chí, có phẩm giá và có những lựa chọn riêng. Chúa chung một nhà; không ai được dùng lòng tốt để trở thành chủ của người anh em.
Nghĩ cho cùng, có một ngày những hàng ghế quen sẽ thiếu chúng ta. Chiếc túi giữ chỗ sẽ không còn đặt đó, giọng hát sẽ không còn vang, lịch sinh hoạt sẽ khép lại. Khi ấy, người ta có thể nhớ ta rất chăm chỉ, rất đúng giờ, rất thông thạo. Những điều ấy quý. Nhưng còn một câu hỏi khác, nhỏ mà sâu: có ai nhớ rằng ở gần ta họ đã bớt cô độc không? Có ai nhớ mình từng được ta lắng nghe mà không bị xét xử? Có ai nhớ một lần ta nhường, một lần ta đến, một lần ta im lặng để bảo vệ họ? Có ai nhờ cách ta sống mà dám tin rằng tình yêu Thiên Chúa có thể chạm tới một ngày bình thường? Chúng ta không cần trở thành người được tất cả yêu mến. Nhưng thật buồn nếu cả đời đứng trong một cộng đoàn mà điều người khác nhớ nhất chỉ là chỗ ngồi ta từng giữ.
Một ngôi thánh đường khang trang là điều đáng quý. Vẻ đẹp có thể nâng tâm hồn, sự trang nghiêm có thể giúp người cầu nguyện, những công việc chăm sóc nhà Chúa đều đáng được trân trọng. Nhưng giữa những viên đá đã được lau sạch, đừng để con người phải sống như những thứ không ai bảo quản. Đừng chăm từng vết nứt trên tường mà bỏ qua một cuộc đời đang nứt. Đừng sốt ruột vì chiếc micro rè mà quen dần với tiếng khóc bị nén. Đừng tranh luận mãi về màu trang trí trong khi một gia đình đang tối đi vì không biết nói với ai. Nhà Chúa đẹp sẽ càng đẹp khi người bước vào được đối xử bằng lòng kính trọng. Sự trang nghiêm sẽ càng sâu khi người yếu không phải sợ. Ánh sáng trên cung thánh sẽ càng có sức dẫn đường khi từ đó, chúng ta học đem một chút sáng về những căn phòng còn lạnh.
“Đạo ai nấy giữ” nghe rất gọn, rất ít phiền, rất hợp với người muốn yên thân. Nhưng giữ đến mức không cho đức tin đi ra gặp ai thì có khi ta đang giữ một chiếc hộp, chứ chưa sống điều bên trong chiếc hộp ấy. “Chúa ai nấy thờ” nghe rất riêng tư, rất sốt sắng; nhưng Thiên Chúa không trở thành tài sản riêng chỉ vì tôi cầu nguyện lâu hơn người khác. Người anh em không mất chỗ trong tình thương của Chúa chỉ vì tôi không thích họ. Người nghèo không ở xa lòng Chúa vì họ đứng ngoài vòng quen biết của tôi. Và tôi cũng không đến gần Chúa hơn bằng cách đẩy người khác ra xa mình. Những điều ấy có thể đã nghe nhiều lần, nhưng nghe nhiều mà chưa sống thì vẫn cần nghe lại, lần này bằng sự thật của một gương mặt đang chờ.
Bởi vậy, có lẽ sau một Thánh lễ, điều cần mang về không chỉ là cảm giác đã hoàn tất bổn phận. Hãy mang về một câu hỏi làm mình hơi mất yên: hôm nay tôi đã gặp Chúa, vậy tôi sẽ gặp người khác bằng cách nào? Người trong nhà có được hưởng chút bình an tôi vừa cầu xin không? Người làm việc cùng có được nhận chút kiên nhẫn tôi vừa nghe giảng không? Người tôi không ưa có được đối xử công bằng không? Người đang cần có biết rằng họ được phép gõ cửa không? Những câu hỏi ấy không đòi ta lập tức làm điều lớn. Chúng chỉ không cho ta tiếp tục khóa mọi cửa rồi gọi sự kín bưng ấy là thánh thiện.
Ngày mai, ta vẫn có thể ngồi ở hàng ghế quen. Vẫn có thể giữ giờ kinh, đi lễ, phục vụ và cầu xin cho gia đình. Nhưng thử để chiếc ghế quen không biến thành một chiếc đảo. Thử nhìn người bên cạnh bằng một ánh mắt có chỗ cho họ. Thử hỏi thăm mà không tò mò, lắng nghe mà không chiếm lời, giúp đỡ mà không làm nhục, góp ý mà không hạ thấp, tha thứ mà không né trách nhiệm, và nói “tôi chưa thể” bằng sự chân thành thay vì viện cớ. Một cộng đoàn bắt đầu ấm lên từ những việc ấy. Không ồn ào, không gây choáng ngợp, không nhất thiết có ảnh đẹp. Chỉ có một người bớt lạnh, rồi thêm một người bớt sợ, rồi thêm một người dám ở lại.
Và nếu có lúc thấy mình trong những dòng mỉa mai này, đừng vội tìm một người khác giống hơn để chuyển bài cho họ. Cái tôi rất lanh: vừa nghe phê bình đã lập tức làm nhân viên chuyển phát. “Bài này đúng với ông ấy.” “Đoạn này phải gửi bà kia.” “Ước gì hội đoàn nọ đọc được.” Còn mình thì nhẹ nhàng bước ra khỏi vùng kiểm tra, tay vẫn cầm chìa khóa. Thử giữ bài lại một chút. Thử nhận phần của mình trước. Có thể người đầu tiên cần được ta xin lỗi đang ở ngay trong nhà. Có thể người đầu tiên cần được ta nhớ tới đã vắng mặt khá lâu. Có thể cánh cửa đầu tiên cần mở không nằm ở giáo xứ nào xa, mà ở chỗ ta vẫn kiên quyết bảo vệ quyền được không bận tâm.
Chúng ta cùng thờ một Thiên Chúa, cùng gọi Người là Cha, cùng xin một bình an, cùng mong một sự sống. Xin đừng để lời “chúng con” chỉ gặp nhau trong tiếng đọc, còn những người đọc nó thì suốt đời lạc nhau. Xin đừng để người bước vào nhà thờ tìm một nơi nương tựa phải ra về với cảm giác mình đã ghé nhầm một phòng chờ. Xin đừng để một người ngồi sát chúng ta vẫn phải sống như không có ai bên cạnh. Và xin đừng để đến cuối đời, khi bàn tay đã mỏi không còn giữ được chìa khóa, chúng ta mới hiểu rằng điều mình khóa kỹ nhất suốt những năm tháng sốt sắng ấy chính là lối tình thương có thể đi vào.
Lm. Anmai, CSsR.

Previous articleBẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO NGÀY 30 THÁNG 9 NĂM 2026 Lễ nhớ Thánh Giêrônimô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Next articleTƯƠNG TÁC THÌ NHIỀU NHƯNG TƯƠNG QUAN THÌ ÍT – Lm. Anmai, CSsR