BỆNH “NÓI THÌ HAY, LÀM THÌ NGƯỢC LẠI”: KHI MIỆNG ĐI LỄ MÀ LÒNG CHƯA CHỊU ĐI THEO Lm. Anmai, CSsR.
Có những cuộc trở về từ nhà thờ thật đẹp: người ta đem về một chút bình an, một lời muốn xin lỗi, một quyết tâm bớt làm khổ người thân. Nhưng cũng có những cuộc trở về khiến người ở nhà chỉ muốn thở dài: “Ước gì hôm nay ông ấy ngồi lại cầu nguyện thêm một chút nữa!”. Bởi vừa mới bước ra khỏi nơi vừa nghe giảng về yêu thương, người ta đã sẵn sàng thực hành một bài giảng khác, rất sống động, về cách làm cho người bên cạnh mất bình an. Trong nhà thờ, tiếng “Amen” ngân vang như chuông bạc; ngoài bãi xe, tiếng quát tháo vang lên như kẻng báo động. Trong nhà thờ, đôi tay chắp lại rất nghiêm trang; ngoài cổng, cũng đôi tay ấy chỉ thẳng vào mặt người khác để phân xử xem ai đáng bị mắng. Trong nhà thờ, ngực được đấm ba lần vì lỗi của mình; ngoài sân, người ta tìm đủ ba mươi lý do để chứng minh lỗi hoàn toàn thuộc về thiên hạ. Một cuộc chuyển cảnh nhanh đến mức nếu đem dựng thành phim, đạo diễn cũng phải khen diễn viên nhập vai giỏi: mới phút trước còn là người tội lỗi cần được thương xót, phút sau đã trở thành chánh án tối cao, chuyên tuyên án những người chưa kịp giải thích.
Ngồi xuống hàng ghế đá sau một giờ kinh kệ, chưa kịp lau mồ hôi, đôi khi chúng ta đã được chứng kiến một màn “thượng đài” ngay giữa sân thánh đường. Chuyện có thể khởi đầu từ một chiếc xe dựng hơi lệch, một đứa trẻ chạy hơi nhanh, một câu chào chưa đủ kính cẩn, một sự phân công chưa đúng ý. Những điều bé bằng hạt bụi ấy bỗng được lòng tự ái thổi lên thành những quả núi. Người vừa đọc lời cầu xin được tha thứ liền mở kho lưu trữ để lấy ra những lỗi cũ của người khác: chuyện năm ngoái, chuyện năm kia, chuyện từ thời còn dùng điện thoại bấm nút, tất cả vẫn còn nguyên, không mất một dấu phẩy. Trí nhớ của chúng ta đối với bài giảng đôi khi khá khiêm tốn, nhưng đối với một lần bị chạm tự ái thì thật đáng nể. Có những người quên hôm nay cha giảng điều gì, nhưng nhớ chính xác mười hai năm trước ai đã nói với mình một câu không vừa ý. Nếu khả năng nhớ ấy được dùng để học Lời Chúa, chắc giáo xứ đã có thêm nhiều nhà nghiên cứu Kinh Thánh; tiếc rằng nó lại được đầu tư chủ yếu vào ngành bảo quản hiềm khích.
Căn bệnh “nói thì hay, làm thì ngược lại” không nhất thiết bắt đầu bằng một ý định gian dối. Nó thường bắt đầu rất nhẹ nhàng: chúng ta nghe một điều tốt, thấy điều ấy đúng, thích điều ấy đẹp, rồi vô tình tưởng rằng mình đã sống điều ấy. Được đánh động về lòng bác ái, ta nghĩ mình có lòng bác ái. Rơi nước mắt trước một câu chuyện tha thứ, ta nghĩ mình đã biết tha thứ. Chia sẻ một bài viết về sự khiêm nhường, ta nghĩ mình đã khiêm nhường hơn người không chia sẻ. Thế là giữa cảm xúc và hành động xuất hiện một khoảng cách, nhưng ta lấy lời nói phủ lên khoảng cách ấy, trang trí thêm vài câu đạo đức, rồi tự báo cáo rằng công trình đã hoàn tất. Thật ra, nền móng chưa đổ, tường chưa xây, cửa chưa có, nhưng bảng khánh thành thì đã treo rất đẹp. Đời sống đức tin có khi trở thành một căn nhà như thế: mặt tiền rực rỡ, bên trong chưa có chỗ cho ai trú ngụ, nhất là những người đang cần lòng thương xót của chúng ta.
Chúng ta có thể nói về tình yêu rất lâu mà không chịu dành mười phút để nghe người thân nói hết một câu. Có thể phân tích sự hy sinh thật sâu sắc mà nổi giận vì hôm nay mình phải rửa thêm hai cái chén. Có thể lên án sự ích kỷ của thời đại bằng một giọng hùng hồn, rồi âm thầm chọn phần thuận lợi nhất về mình trong một việc chung. Có thể bảo người khác phải sống đơn sơ, nhưng bản thân lại đau khổ ba ngày vì không được xếp ngồi ở vị trí trang trọng. Có thể nói rằng mọi người đều là anh chị em, nhưng khi một người nghèo bước đến, ánh mắt ta lập tức làm công việc phân loại: người này có đáng tiếp không, có làm phiền không, có khiến mình mất thời giờ không? Miệng gọi nhau là anh chị em thì rất nhanh; đối xử với nhau như anh chị em mới là đoạn đường dài. Và chính ở đoạn đường dài ấy, đôi chân của chúng ta thường xin nghỉ phép.
Điều đáng buồn là đôi khi người càng quen nói những lời đẹp càng khó nhận ra sự xấu xí trong cách hành xử của mình. Bởi chúng ta đã có sẵn một kho lý lẽ để tự bào chữa. Nóng nảy thì gọi là thẳng tính. Làm người khác tổn thương thì gọi là góp ý chân thành. Kể chuyện đời tư của người ta thì gọi là chia sẻ để cùng cầu nguyện. Gạt một người ra khỏi công việc chung thì gọi là giữ gìn sự ổn định. Muốn nắm quyền mãi thì gọi là hy sinh vì tập thể. Không chịu nghe ai thì gọi là bảo vệ nguyên tắc. Cái tôi của con người quả là một thợ may tài tình: bất cứ khuyết điểm nào đưa vào, nó cũng may được cho một chiếc áo có tên rất đạo đức. Và khi đã mặc chiếc áo ấy rồi, chúng ta ung dung bước đi, tưởng mình đang bảo vệ điều thiện, trong khi những người chung quanh phải âm thầm chịu đựng một điều chẳng thiện lành chút nào.
Có những cuộc nói xấu được mở đầu bằng một lời hết sức cảm động: “Tôi nói chuyện này cũng vì thương thôi!”. Thương đến mức chuyện kín của người khác đi một vòng giáo xứ. Thương đến mức người bị nói không còn dám ngẩng đầu. Thương đến mức một lỗi lầm đang có cơ hội sửa chữa bị biến thành nhãn hiệu đóng lên cả cuộc đời. Chúng ta đọc kinh cầu cho người ấy, nhưng trước khi cầu nguyện đã cẩn thận phổ biến đầy đủ hồ sơ để mọi người biết phải cầu cho “đúng đối tượng”. Lòng bác ái kiểu ấy thật chu đáo: không những biết người ta đau ở đâu, mà còn chỉ cho cả xóm biết chỗ ấy để cùng nhìn. Đáng lẽ bàn tay phải che lại một vết thương, ta lại cầm loa thông báo. Đáng lẽ lời nói phải mở một con đường trở về, ta lại dựng thêm hàng rào. Rồi khi người ta bỏ sinh hoạt, tránh gặp mặt, hoặc mất lòng tin, chúng ta thở dài: “Đức tin của họ yếu quá!”. Có thể đức tin của họ đang yếu thật; nhưng cũng có thể họ đã phải chịu những cú đánh quá mạnh từ những người luôn nói mình đang yêu thương.
Chúng ta rất thích sửa người khác, vì công việc ấy khiến mình có cảm giác đang làm điều hữu ích mà không phải thay đổi quá nhiều. Sửa chính mình thì khó hơn: phải chịu đau, phải nhận lỗi, phải bỏ một thói quen đã đem lại cho cái tôi nhiều tiện nghi. Cho nên có những bài giảng được nghe bằng đôi tai hướng về người bên cạnh. Nghe nói đến tham lam, ta nghĩ ngay đến một người trong họ. Nghe nói đến kiêu ngạo, ta nhớ ngay một thành viên trong hội đoàn. Nghe nói đến lười biếng, ta chỉ mong đứa con đang ngồi kế bên biết đường mà nghe. Lời Chúa vừa chạm tới cửa lòng, ta đã nhanh nhẹn ghi địa chỉ khác rồi chuyển phát. Tâm hồn chúng ta trở thành một bưu cục đạo đức: nhận rất nhiều, gửi rất nhanh, giữ lại cho mình chẳng bao nhiêu. Đến cuối lễ, ai cũng được ta phân công một phần phải sửa, chỉ riêng ta vẫn được miễn vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phân phối.
Nhưng tiếng cười ấy sẽ trở nên cay đắng nếu chúng ta chỉ dùng nó để cười một người khác. Bởi căn bệnh này không có ranh giới rõ ràng giữa người mắc và người miễn nhiễm. Người viết về sự chân thành vẫn có thể thiếu chân thành. Người giảng về sự hiền lành vẫn có thể làm cộng đoàn sợ hãi. Người phê bình thói đạo đức giả vẫn có thể say mê hình ảnh mình như một người dũng cảm vạch trần sự giả hình. Cả người đang đọc những dòng này cũng có thể gật gù rất mạnh rồi nghĩ: “Đúng quá, phải gửi cho ông kia đọc!”. Khoảnh khắc ấy, căn bệnh đã khéo léo thoát khỏi bàn khám. Bởi nếu tất cả những lời cảnh tỉnh đều được gửi cho người khác, sẽ không có ai thật sự bắt đầu chữa mình. Muốn bài viết này có ích, có lẽ trước khi tìm tên một người để gửi, chúng ta cần gọi thầm tên mình.
Trong gia đình, sự chênh lệch giữa lời nói và việc làm thường hiện ra rõ nhất. Ngoài xã hội, ta có thể giữ một hình ảnh khá đẹp, vì cuộc gặp ngắn, vì người ta chưa biết nhiều, vì mọi người còn dành cho nhau những khoảng lịch sự. Nhưng ở nhà, con người thật của chúng ta dần lộ ra qua từng bữa cơm, từng việc nhỏ, từng lần mệt mỏi. Có người ra ngoài nói chuyện mềm như lụa, về nhà lời nào cũng có cạnh. Có người đối với người lạ hết sức nhẫn nại, nhưng với vợ chồng, con cái, cha mẹ thì chỉ còn một câu: “Nói mãi mà không hiểu!”. Có người phục vụ một buổi sinh hoạt rất tận tâm, nhưng về nhà lại xem những công việc không tên của người thân như chuyện đương nhiên. Họ có thể cảm ơn một vị khách vì giúp xếp một chiếc ghế, nhưng nhiều năm chưa nói được một lời cảm ơn người đã nấu cơm, giặt áo, chăm sóc mình mỗi ngày. Lòng biết ơn của chúng ta đôi khi hoạt động như đèn trang trí: sáng rực ở mặt tiền, còn gian bếp phía sau thì tối.
Một người cha dạy con phải thật thà, rồi bảo con nghe điện thoại và nói rằng bố không có ở nhà, đã trao cho con một bài học rất rõ. Bài học ấy không nằm trong lời dạy về sự thật; nó nằm trong việc sự thật được phép nghỉ khi người lớn thấy bất tiện. Một người mẹ dạy con không được nói xấu, rồi kể chuyện hàng xóm bằng giọng đầy khinh miệt ngay trong bữa cơm, đã giúp con hiểu rằng nói xấu có thể trở thành sinh hoạt gia đình, miễn là người nói đủ lớn tuổi. Cha mẹ dạy con kính trọng ông bà, nhưng khi ông bà chậm chạp, hay hỏi lại, lại buông những tiếng thở dài và những lời gắt gỏng. Sau đó, khi con cái thiếu kính trọng mình, người lớn ngạc nhiên như vừa gặp một hiện tượng từ hành tinh khác. Thật ra, nhiều khi đứa trẻ đang trả lại nguyên văn bài học mà nó đã học bằng mắt. Chúng ta cứ tưởng con chỉ nghe điều mình bảo; chúng còn nhìn cách mình sống, và có những điều nhìn thấy thì một trăm lời giải thích cũng không xóa được.
Đau nhất là khi một đứa trẻ bắt đầu cảm thấy người lớn trở nên dễ cáu gắt hơn sau những việc đạo đức. Nó không hiểu thần học, không biết phân biệt giữa chân lý đức tin và sự bất toàn của người tin, nó chỉ biết người vừa đi lễ về đang làm mình sợ. Nó nghe nói Chúa yêu thương, nhưng người nhân danh Chúa trong nhà lại khiến nó thấy mình không bao giờ đủ tốt. Nó nghe nói phải tôn trọng phẩm giá con người, nhưng cảm xúc của nó luôn bị gạt đi bằng câu: “Trẻ con biết gì!”. Nó nghe nói gia đình là nơi nâng đỡ, nhưng mỗi lần kể một thất bại, nó nhận thêm một bài xét xử. Đến khi đứa trẻ im lặng, người lớn tưởng nó đã ngoan. Đến khi nó tránh mặt, người lớn tưởng nó đang bướng. Đến khi nó xa nhà, người lớn trách thời đại. Có những khoảng cách trong gia đình được xây từng viên gạch bằng những câu rất đúng về mặt đạo lý nhưng thiếu hẳn một bàn tay biết ôm lấy người đang đau.
Trong giáo xứ, căn bệnh ấy cũng có thể mang những hình thức rất trang trọng. Chúng ta nói về hiệp nhất, nhưng chia nhóm và giữ phe. Nói về phục vụ, nhưng tính xem ai được nhắc tên. Nói về sự khiêm nhường, nhưng không chịu nổi một ý kiến khác mình. Nói rằng mọi công việc đều để làm sáng danh Chúa, nhưng nếu tên mình không có trong lời cảm ơn thì lòng buồn như Chúa vừa bị thiệt thòi nghiêm trọng. Có những người đã phục vụ lâu năm đến mức dần xem chỗ mình đứng là tài sản riêng. Ai góp ý thì bị coi là vô ơn. Ai đề nghị đổi cách làm thì bị xem là phá truyền thống. Ai làm tốt hơn thì trở thành đối thủ. Rốt cuộc, công việc phục vụ vẫn còn, nhưng niềm vui phục vụ đã rút lui; thay vào đó là nỗi lo giữ ghế, giữ tiếng, giữ ảnh hưởng. Một chiếc ghế nhựa trong phòng sinh hoạt đôi khi mang sức nặng chẳng khác gì một ngai vàng, chỉ vì người ngồi đã đặt vào đó quá nhiều lòng tự ái.
Cũng có những cuộc họp mở đầu bằng lời cầu xin được biết lắng nghe, rồi suốt buổi chẳng ai nghe ai. Ai cũng đợi đến lượt mình nói, và trong lúc người khác nói thì âm thầm soạn bài phản bác. Có người dùng giọng rất nhẹ để nói những câu rất nặng. Có người không cần quát tháo; chỉ một nụ cười và một câu bóng gió đã đủ làm người khác thấy mình bị hạ thấp trước tập thể. Sau cuộc họp, chúng ta vẫn có thể chụp một tấm hình rất đẹp, đứng sát nhau, mỉm cười, thêm một dòng chú thích về tình huynh đệ. Bức ảnh ấy không biết nói, nên nó cũng không kể rằng mười phút trước có một người đã phải nuốt nước mắt. Và thế là sinh hoạt được báo cáo thành công, còn một tâm hồn bị tổn thương thì không có ô nào trong bản tổng kết để ghi vào.
Không gian mạng lại cho căn bệnh này một sân khấu rộng hơn. Một câu yêu thương được đăng lên có thể nhận hàng trăm lượt thích, trong khi một hành động yêu thương trong nhà chẳng có ai bấm nút ghi nhận. Bởi vậy, chúng ta dễ chọn điều có thể nhìn thấy ngay. Đăng một câu về tha thứ thì mất nửa phút; gọi điện xin lỗi một người thì có khi chuẩn bị nửa tháng vẫn chưa đủ can đảm. Chia sẻ một bài về người nghèo thì rất thuận tiện; giúp một người nghèo cụ thể lại đòi hỏi thời giờ, sự kiên nhẫn và đôi khi cả việc chấp nhận mình không được cảm ơn như mong đợi. Trên trang cá nhân, chúng ta có thể trông giống một người sống hoàn toàn bằng lòng thương xót; trong tin nhắn riêng, lại sẵn sàng làm người khác tê tái bằng những lời cay nghiệt. Màn hình sáng quá, thành thử những góc tối của lòng mình dễ được bỏ qua. Người ta biết chúng ta thích câu nào, nhưng người sống chung mới biết chúng ta đã làm đau họ bằng câu nào.
Điều ấy không có nghĩa là những bài viết đẹp vô ích, những lời khuyên vô nghĩa, hay những việc đạo đức chỉ là hình thức. Một lời tốt có thể đánh thức một tâm hồn. Một thói quen cầu nguyện có thể giữ người ta qua những ngày khô khan. Một giờ tham dự Thánh lễ có thể là nơi người đang bất lực tìm lại sức để sống tử tế. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có chịu để điều đã nghe đi vào cách sống hay không. Đừng đổ lỗi cho chuỗi hạt vì bàn tay cầm chuỗi hạt chưa biết nâng đỡ người khác. Đừng đổ lỗi cho nhà thờ vì người đi nhà thờ chưa chịu hoán cải. Đừng xem sự đều đặn là kẻ thù của lòng sốt sắng. Trong tình yêu, có những ngày cảm xúc dạt dào, cũng có những ngày chỉ còn sự trung thành âm thầm. Người vẫn cầu nguyện giữa một mùa khô hạn có thể đang sống một đức tin sâu hơn điều mắt chúng ta thấy. Điều cần xét là liệu sự trung thành ấy có dần làm họ thật hơn, biết thương hơn, biết nhận lỗi hơn, hay đang bị dùng làm một giấy chứng nhận để khỏi phải xét lại bản thân.
Cũng đừng vội kết luận rằng ai còn yếu đuối đều là người diễn kịch. Một người nóng nảy biết đau vì đã làm tổn thương người thân, biết xin lỗi, biết tìm cách sửa, đang thật sự chiến đấu. Một người nhiều lần thất bại nhưng không thôi trở về vẫn có thể mang một lòng tin chân thành. Hoán cải không phải màn biểu diễn hoàn hảo, và sự thánh thiện không phải tình trạng chưa từng làm ai buồn. Căn bệnh trở nên nguy hiểm khi chúng ta không còn muốn nhìn nhận khoảng cách giữa điều mình nói và điều mình làm; khi ta yêu hình ảnh đạo đức của mình hơn sự thật; khi mọi lời góp ý đều bị xem là xúc phạm; khi lời cầu nguyện được dùng để xoa dịu lương tâm mà không để lương tâm gọi mình đứng dậy. Người đang tập đi có thể vấp ngã. Người ngồi yên nhưng cứ khẳng định mình đã đi rất xa mới thật sự cần được đánh thức.
Và chúng ta cần được đánh thức bằng sự thật, nhưng cũng cần được nâng dậy bằng lòng thương xót. Có những người nói một đằng, làm một nẻo vì đã quen tự bảo vệ mình bằng một bộ mặt mạnh mẽ. Họ sợ thừa nhận sai lầm sẽ mất uy tín. Sợ xin lỗi con cái thì con sẽ coi thường. Sợ nhận mình cần được giúp đỡ thì người khác sẽ thấy mình yếu. Thế là họ cứ gồng lên, cứ đúng, cứ giảng, cứ phán, trong khi bên trong ngày càng mệt. Một người cha có thể chưa bao giờ được cha mình xin lỗi, nên ông không biết phải bắt đầu một lời xin lỗi thế nào. Một người phục vụ có thể đã nhiều năm chỉ được đánh giá bằng kết quả, nên dần quên rằng người khác cần được quan tâm chứ không chỉ được giao việc. Hiểu những điều ấy không xóa trách nhiệm của ai, nhưng giúp chúng ta sửa nhau mà không biến sự sửa dạy thành một cuộc trả đũa. Có những người cần một lời thẳng thắn; cũng có những người cần được nghe rằng họ vẫn có thể trở nên tốt hơn, và không nhất thiết phải tiếp tục sống sau chiếc mặt nạ ấy.
Tin Mừng đặt chúng ta trước một câu hỏi rất cụ thể: điều đã tin đang sinh hoa trái nào trong cuộc đời? Người ta có được an toàn hơn khi ở gần mình không? Người yếu thế có được đối xử tử tế hơn không? Người làm mình không vừa ý có còn được mình nhìn như một con người có phẩm giá không? Khi không ai thấy, mình có còn giữ sự thật không? Khi chịu thiệt, mình có còn biết cư xử ngay thẳng không? Khi có quyền, mình có dùng quyền để nâng đỡ hay để buộc người khác phải sợ? Những câu hỏi ấy ít hào nhoáng hơn một cuộc tranh luận về đạo đức, nhưng chúng đi thẳng vào nơi đức tin cần được sống. Chúng không hỏi chúng ta đã nói bao nhiêu lần về ánh sáng; chúng hỏi người đang ở cạnh có bớt tối tăm, bớt cô độc, bớt đau đớn nhờ sự hiện diện của chúng ta hay không.
Có một sự thật khó chịu: chúng ta thường yêu nhân loại dễ hơn yêu một người cụ thể. Nhân loại không dựng xe chắn lối của mình. Nhân loại không hỏi đi hỏi lại vì tuổi già. Nhân loại không làm đổ nước trên bàn khi mình vừa lau. Nhân loại không đưa ra một ý kiến khiến mình mất mặt trong cuộc họp. Cho nên yêu nhân loại trong một bài diễn văn rất thuận tiện; yêu người đang làm mình khó chịu mới khiến lòng ta phải lao động. Chúng ta có thể xúc động trước những nỗi đau ở xa, nhưng cáu kỉnh trước một nhu cầu ngay trong nhà. Có thể mong mọi trẻ em trên thế giới được yêu thương, nhưng không đủ kiên nhẫn với đứa con đang đứng trước mặt. Có thể cầu cho hòa bình giữa các dân tộc, nhưng không chịu hạ giọng trong một cuộc cãi vã với vợ chồng. Những lời cầu ấy vẫn tốt, vẫn cần, nhưng nếu muốn lời cầu có chỗ bám vào cuộc đời, chúng ta phải bắt đầu từ phần hòa bình mà mình đang có trách nhiệm tạo nên.
Trong công việc và chuyện tiền bạc, đức tin lại gặp một cuộc kiểm tra khác. Người ta dễ nói đến sự công bằng khi mình đang chịu thiệt; khó hơn khi sự công bằng đòi mình trả lại một lợi ích đang hưởng. Dễ phê phán tham lam ở một người giàu xa lạ; khó hơn khi phải bỏ một món lời kiếm được bằng cách thiếu trung thực. Dễ khuyên người lao động hãy kiên nhẫn; khó hơn khi chính mình là người phải trả công đúng hẹn. Có những khoản đóng góp rất đẹp trước cộng đoàn, nhưng phía sau lại là những đồng tiền chưa được trả sòng phẳng cho người đã làm việc. Có những người sẵn sàng chi cho một việc khiến tên mình được nhắc đến, nhưng mặc cả đến kiệt sức với người nghèo đang bán một món hàng nhỏ. Rồi chúng ta vẫn nói mình có lòng bác ái. Lòng bác ái ấy cần được dẫn vào sổ sách, hợp đồng, tiền công và những lời hứa. Nếu nó chỉ xuất hiện trong buổi trao quà, nó còn quá ít cơ hội để trở thành sự thật của một đời người.
Sự ngay thẳng cũng không được phép nghỉ lễ khi ta gặp một tình huống bất lợi. Một người chỉ nói thật lúc nói thật có lợi cho mình thì chưa đi xa lắm trên con đường chân thành. Một người chỉ hiền lành với người có thể đem lại lợi ích thì sự hiền lành ấy cần được xét lại. Một người chỉ kính trọng người có chức vị, còn người phục vụ, người bán hàng, người lao công thì tùy tiện quát mắng, đã cho thấy thứ bậc mà lòng mình đang tôn thờ. Có những người gọi điện cho một người quan trọng bằng giọng ngọt đến mức đường cũng phải xin thua, rồi quay sang người yếu thế bằng giọng khiến muối còn thấy mặn. Chúng ta không thể lấy những lời lịch thiệp dành cho người có quyền làm bằng chứng rằng mình biết tôn trọng mọi người. Phẩm chất của lòng tử tế thường hiện rõ ở cách ta đối xử với người không có khả năng trả ơn, bảo vệ ta hay làm hại danh tiếng ta.
Và nếu là người giảng dạy, người hướng dẫn, người có trách nhiệm trong cộng đoàn, chúng ta càng cần khiêm tốn trước điều mình nói. Một bài giảng về lắng nghe sẽ gặp thử thách khi có người đến trình bày một nỗi khổ dài hơn dự tính. Một lời mời gọi phục vụ sẽ gặp thử thách khi công việc không có tiếng vỗ tay. Một bài nói về tôn trọng sẽ gặp thử thách khi người góp ý còn trẻ, ít học, hoặc không biết dùng những từ ngữ trau chuốt. Những người được trao trách nhiệm cũng có giới hạn, cũng cần nghỉ ngơi, cũng có lúc không thể đáp ứng mọi điều; nhưng giới hạn có thể được nói bằng sự chân thành và tôn trọng. Chúng ta không cần giả vờ mình đủ sức làm tất cả. Chúng ta cần tránh dùng vai trò để che một thái độ thiếu yêu thương. Người nghe có thể quên một đoạn diễn giải rất hay, nhưng họ thường nhớ lâu cách mình đã được đón tiếp khi mang một nỗi đau đến cửa.
Sức hấp dẫn của Tin Mừng có thể bị tổn thương nghiêm trọng bởi khoảng cách ấy. Người ta nghe chúng ta nói Chúa là tình yêu, rồi gặp một cộng đoàn đầy nghi kỵ. Nghe nói người nghèo có chỗ trong lòng Hội Thánh, rồi thấy người nghèo bị xem như phiền phức. Nghe nói mỗi người có phẩm giá, rồi thấy một người mắc lỗi bị đẩy ra giữa đám đông để chịu nhục. Có người từ đó trở nên dè dặt với đức tin; có người lặng lẽ rời xa; có người vẫn ở lại nhưng lòng bị thương. Chúng ta không nên hấp tấp quy mọi sự ra đi cho một nguyên nhân, cũng không được tự kết án rằng một thất bại của mình đã quyết định cả đời người khác. Nhưng chúng ta có trách nhiệm hỏi: cách sống của mình đang giúp người khác đến gần Chúa hay đang làm con đường ấy thêm khó? Có những cánh cửa nhà thờ mở rất rộng, trong khi thái độ của người bên trong lại khiến người đứng ngoài không dám bước vào.
Dẫu vậy, giữa chúng ta vẫn có biết bao người sống đức tin thật đẹp mà không gây tiếng động. Một người mẹ nhẫn nại chăm sóc đứa con đau yếu. Một người cha làm việc lương thiện, chịu thiệt để không gian dối. Một cụ già cầu nguyện âm thầm và nói với con cháu bằng giọng hiền hậu. Một người giáo dân đến thăm người bệnh khi chẳng có ai chụp hình. Một linh mục biết ngồi nghe một tâm hồn đổ vỡ mà không vội biến nỗi đau ấy thành bài học để giảng. Một người trong hội đoàn chịu nhận phần việc khó, rồi vẫn vui khi người khác được khen. Họ không hoàn hảo, nhưng nơi họ có một sự nhất quán khiến người ta được an lòng. Họ giúp chúng ta hiểu rằng điều đang cần chữa là sự bất trung của mình, và điều đang cần gìn giữ là vẻ đẹp thật của đời sống đức tin. Những người ấy giống những ngọn đèn trong nhà: không đứng ngoài đường quảng cáo rằng mình đang sáng, nhưng người trở về có thể nhờ ánh sáng ấy mà khỏi vấp.
Vậy phải bắt đầu chữa căn bệnh này từ đâu? Có lẽ từ việc ngừng làm luật sư riêng cho cái tôi. Mỗi lần bị góp ý, đừng lập tức mở phiên tòa để chứng minh mình vô tội. Hãy thử im một chút, nghe hết một chút, hỏi lại cho rõ một chút. Có thể người góp ý chưa khéo, có thể họ cũng sai ở vài điểm, nhưng trong điều họ nói vẫn có phần sự thật mình cần nhận. Một câu rất đơn giản như “Tôi sẽ nghĩ lại điều này” có thể mở một cánh cửa mà mười câu biện hộ đã đóng chặt. Chúng ta thường sợ mất thể diện đến mức đánh mất cơ hội trưởng thành. Trong khi thật ra, một người dám nhận mình chưa đúng nhiều khi đáng tin hơn một người chưa bao giờ chịu sai. Sự đáng kính không cần được bảo vệ bằng việc làm người khác im tiếng.
Rồi hãy tập xin lỗi cho đúng. Có những lời xin lỗi nghe xong người bị tổn thương lại phải đi an ủi người xin lỗi: “Nếu anh quá nhạy cảm thì tôi xin lỗi”; “Tôi xin lỗi, nhưng anh cũng phải hiểu”; “Tôi nói vậy vì muốn tốt cho anh thôi”. Một lời xin lỗi cứ kéo theo cả đoàn xe chở lý do thì khó đến được nơi người kia đang đau. Hãy thử nói gọn và thật: “Tôi đã nói nặng với anh. Điều ấy làm anh tổn thương. Tôi xin lỗi”. Với con cái, có thể là: “Bố đã quát con khi chưa nghe hết. Bố sai ở chỗ ấy”. Với người phục vụ chung, có thể là: “Tôi đã gạt ý kiến của chị đi trước mặt mọi người. Tôi cần sửa cách cư xử của mình”. Những lời ấy không làm con người nhỏ đi. Chúng giúp một quan hệ có cơ hội được chữa lành. Và sau lời xin lỗi, còn cần hành động: trả lại điều đã lấy, sửa thông tin đã nói sai, đính chính trước những người đã nghe mình làm nhục một người khác, thay đổi cách ứng xử đã gây đau.
Đức tin cần những việc nhỏ như thế để đi vào đời sống. Sau khi cầu nguyện về sự tha thứ, hãy ngừng kể lại lỗi cũ chỉ để thắng một cuộc cãi vã. Sau khi nghe về lòng bác ái, hãy dành thời giờ cho một người mình thường bỏ qua. Sau khi xin được sống chân thành, hãy kiểm tra một lời hứa mình đang trì hoãn. Sau khi cầu cho gia đình bình an, hãy hạ giọng khi bước vào nhà. Sau khi nói về sự tôn trọng, hãy nhìn người lao động đang phục vụ mình và nói một lời cảm ơn. Sau khi cầu xin lòng thương xót, hãy bớt một câu khiến người khác thấy mình bị khinh. Những việc ấy không đủ ngoạn mục để thành tin lớn, nhưng đủ thật để một người bên cạnh bớt khổ. Và đôi khi, một người bớt khổ vì chúng ta chính là dấu hiệu đầu tiên rằng điều chúng ta cầu nguyện đang bắt đầu có hoa trái.
Cũng cần tập những khoảng dừng trước khi hành động. Cơn giận rất thích tốc độ. Nó muốn câu trả lời được gửi ngay, lời kết tội được nói ngay, tin đồn được chuyển ngay, cánh cửa được đóng ngay. Một khoảng dừng có thể làm cơn giận mất quyền điều khiển. Đặt điện thoại xuống trước khi gửi một tin nhắn cay nghiệt. Uống một ngụm nước trước khi quát con. Đợi người kia nói hết trước khi phản bác. Nếu quá mệt, hãy nói mình cần nghỉ một chút rồi sẽ trở lại chuyện đang bàn. Đó không phải những điều quá cao siêu, nhưng chúng đòi sự khiêm nhường: thừa nhận rằng lúc này mình chưa đủ bình tĩnh để nói cho tử tế. Có người đi rất xa để tham dự một buổi tĩnh tâm, nhưng chưa tập nổi một khoảng lặng mười giây trước khi làm đau người thân. Chúng ta vẫn cần những buổi tĩnh tâm; và có lẽ hoa trái của chúng sẽ được nhận ra ngay trong mười giây ấy.
Việc xét mình cũng cần đi từ những khái niệm lớn xuống những khuôn mặt cụ thể. Hôm nay mình đã làm ai phải sợ? Đã để ai nói mà không được nghe? Đã dùng một lời đạo đức để né một trách nhiệm nào? Đã lấy việc mình bận làm lý do cho sự lạnh lùng ra sao? Có ai đang đợi mình trả một lời hứa, một món nợ, một lời xin lỗi? Có câu chuyện nào mình cần ngừng truyền đi? Có một sự thật nào mình đang giấu chỉ vì nó bất lợi cho hình ảnh của mình? Khi xét mình như thế, ta bớt khả năng trốn trong những câu chung chung. “Tôi còn thiếu bác ái” nghe khá nhẹ; “Tôi đã làm người ấy nhục trước tập thể” buộc ta nhìn vào việc phải sửa. “Tôi chưa sống tốt” có thể được nói rồi quên; “Ngày mai tôi cần gọi cho người ấy để nhận lỗi” đã đặt một bước chân lên đường trở về.
Tha thứ cũng cần được hiểu bằng sự trưởng thành. Sống lòng thương xót không buộc một người phải tiếp tục chịu bạo lực, lạm dụng hay những hành vi gây hại. Một người có thể tha thứ và vẫn đặt giới hạn; có thể cầu nguyện cho người gây tổn thương và vẫn yêu cầu họ chịu trách nhiệm; có thể tìm sự hòa giải mà không giả vờ rằng mọi việc đã ổn. Nếu chúng ta chỉ khuyên người bị đau hãy nhịn, còn người gây đau thì được tiếp tục, chúng ta đang làm cho những lời đạo đức trở thành gánh nặng đặt lên người yếu thế. Muốn chữa bệnh nói hay làm ngược, cần bắt đầu bằng sự công bằng trong cách đối xử: người bị tổn thương cần được nghe, được bảo vệ, được tôn trọng; người làm sai cần được mời gọi sửa đổi bằng những việc có thể kiểm chứng. Bình an trong gia đình hay cộng đoàn không thể chỉ là cảnh mọi người im lặng vì sợ người lớn tiếng nhất.
Và hãy để người khác có quyền nhận thấy sự thay đổi của mình theo thời gian. Có người vừa xin lỗi hôm trước, hôm sau đã sốt ruột: “Tôi xin lỗi rồi mà sao anh còn buồn?”. Cứ như lòng người là một chiếc công tắc, mình nói xong thì họ phải bật ngay trạng thái vui vẻ. Nhưng một lời xin lỗi không xóa được mọi hậu quả tức khắc. Vết thương cần thời gian, lòng tin cần những lần cư xử mới, và người từng bị làm đau cần được tự do đi qua tiến trình của họ. Chúng ta không thể vừa gây tổn thương vừa quy định hạn chót để người kia lành lại. Sự hoán cải chân thành biết kiên nhẫn ở chỗ ấy: tiếp tục sống tử tế dù chưa được tin ngay, tiếp tục giữ lời dù chưa được khen, tiếp tục sửa mình dù người khác vẫn còn dè dặt. Đó là lúc ta bắt đầu làm điều tốt vì điều tốt, chứ không chỉ để nhanh chóng được phục hồi danh tiếng.
Thật ra, một cộng đoàn trưởng thành không phải nơi chẳng ai mắc lỗi. Đó là nơi lỗi lầm có thể được gọi đúng tên mà không biến người mắc lỗi thành đồ bỏ; nơi sự thật có thể được nói mà người nói không bị trả đũa; nơi lời xin lỗi có trọng lượng vì đi cùng thay đổi; nơi sự tha thứ không bị ép buộc bằng những khẩu hiệu; nơi người phục vụ có thể nghỉ mà không bị kết tội thiếu nhiệt thành; nơi người có trách nhiệm cũng sẵn sàng học cách lắng nghe. Khi ấy, những lời về hiệp nhất, bác ái, khiêm nhường mới có căn nhà để ở. Chúng không còn bay lơ lửng trong các bài diễn văn. Chúng hiện diện trong cách một cuộc họp được điều hành, cách một người già được đón tiếp, cách một đứa trẻ được sửa dạy, cách một sai sót được giải quyết. Đức tin trở nên gần gũi vì người ta có thể chạm vào những hoa trái của nó.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải việc chúng ta còn nhiều bất nhất, mà là việc chúng ta đã quen đến mức chẳng còn đau vì sự bất nhất ấy. Nói về yêu thương mà làm người khác khóc, rồi vẫn ngủ yên vì cho rằng mình có lý. Nói về phục vụ mà biến người khác thành công cụ, rồi vẫn tự hào vì công việc đạt kết quả. Nói về khiêm nhường mà không cho ai được góp ý, rồi vẫn nghĩ mình đang bảo vệ cộng đoàn. Một lương tâm còn biết đau là một lương tâm còn có thể được đánh thức. Xin đừng vội dập tắt nỗi đau ấy bằng những lời biện hộ. Có khi chính sự khó chịu khi nhìn lại bản thân là khởi đầu của một cuộc trở về thật. Chúng ta không cần phải tuyệt vọng vì thấy mình còn xa điều đã tin; chúng ta cần thành thật nhận khoảng cách ấy và bắt đầu đi.
Rồi một ngày, có thể người thân sẽ nhận ra một thay đổi rất nhỏ. Người cha vẫn có lúc bực, nhưng đã biết dừng lại và nghe con. Người mẹ vẫn nhiều lo toan, nhưng đã bớt dùng lời trách để nói thay nỗi mệt. Người phục vụ vẫn có ý kiến mạnh, nhưng đã biết nhường chỗ cho một người khác. Người hay nói xấu đã học cách giữ kín một chuyện không thuộc quyền mình kể. Người từng thích được cảm ơn đã có thể vui với một việc âm thầm. Chẳng có tiếng kèn nào vang lên để báo rằng một người vừa bớt kiêu ngạo. Chẳng có ai tổ chức lễ khánh thành cho một lời xin lỗi chân thành. Nhưng trong một căn nhà, một người đã bớt phải co mình lại; trong một cộng đoàn, một người đã dám nói thật hơn; trong một mối quan hệ, một cánh cửa đã được mở. Những điều ấy nhỏ, nhưng không hề tầm thường.
Xin đừng để người sống gần chúng ta phải đợi đến khi ta ra ngoài mới được bình an. Đừng để con cái chỉ biết sự dịu dàng của cha mẹ qua lời người ngoài khen. Đừng để người nghèo chỉ thấy lòng bác ái của mình trong những tấm ảnh. Đừng để người cùng phục vụ chỉ nghe về sự hiệp nhất trong lời khai mạc. Đừng để một lời kinh rất đẹp phải đứng lặng ở cửa, nhìn chúng ta bước vào đời sống bằng cách cư xử hoàn toàn trái với điều vừa cầu xin. Chúng ta đã nói nhiều điều đúng. Đã nghe nhiều điều hay. Đã có nhiều lần xúc động. Bây giờ, người bên cạnh đang cần được gặp một phần sự thật của những điều ấy trong cách chúng ta đối xử với họ.
Lạy Chúa, chúng con có khi rất giỏi kể về lòng thương xót của Chúa, nhưng vụng về biết bao khi phải thương xót một người đang làm mình khó chịu. Chúng con nói mình muốn sống chân thành, nhưng vẫn tìm những lời đẹp để che phần chưa đẹp của mình. Chúng con xin được bình an, nhưng lại làm người thân mất bình an bằng giọng nói, ánh mắt và sự cố chấp. Xin cho chúng con đủ can đảm để nhìn lại mà không chạy trốn, đủ khiêm nhường để nhận lỗi mà không biện hộ, đủ kiên nhẫn để sửa đổi mà không đòi được công nhận ngay. Xin gìn giữ những người đã bị chúng con làm tổn thương, và giúp chúng con biết chịu trách nhiệm về những điều mình đã gây ra. Khi chúng con lại cầm chuỗi hạt, xin tập cho đôi tay biết nâng đỡ. Khi chúng con lại mở sách cầu nguyện, xin mở cả lòng chúng con trước một người đang cần được nghe. Khi chúng con bước ra khỏi Thánh lễ, xin giúp chúng con đem một chút hiền lành vào bữa cơm, một chút công bằng vào công việc, một chút trung thực vào lời hứa, một chút thương xót vào cuộc gặp gỡ thường ngày.
Có thể ngày mai chúng ta vẫn còn vấp. Vẫn còn một câu nói quá nặng, một phút tự ái, một việc làm chưa xứng với điều mình tin. Nhưng xin cho sau mỗi lần ấy, chúng ta biết trở về bằng một việc cụ thể. Một lời xin lỗi không quanh co. Một món nợ được trả. Một câu chuyện được đính chính. Một người bị bỏ quên được hỏi thăm. Một cuộc cãi vã được dừng lại trước khi thành một vết thương mới. Để rồi, người ta không chỉ nhớ rằng chúng ta nói về Chúa rất hay, mà còn nhớ một lần, khi họ yếu đuối, họ đã được chúng ta đối xử bằng lòng thương xót. Và chính từ lần ấy, họ có thêm can đảm để tin rằng tình yêu mình vẫn nghe nói đến thật sự có thể được sống giữa cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR.
