THUỘC ĐƯỜNG LÊN THIÊN ĐÀNG, QUÊN LỐI ĐẾN NHÀ NHAU – Lm. Anmai, CSsR
Có một thứ nghèo không nằm trong chiếc ví, mà nằm trong đôi bàn tay chưa bao giờ chịu mở ra. Có một thứ đói không do thiếu cơm, mà do nhiều năm được nghe nói về tình yêu nhưng chưa một lần cảm thấy mình được yêu thương. Và có một thứ bệnh rất khó chữa trong đời sống đạo: người ta biết gần như mọi điều phải làm, nhưng lại sống như thể những điều ấy được viết riêng cho người khác. Bài giảng nào cũng nghe, sách đạo nào cũng có, câu Kinh Thánh nào cũng sẵn sàng trích dẫn, đến mức ai vừa mở miệng tâm sự một nỗi khổ là lập tức được phát cho một toa thuốc tinh thần gồm ba lời khuyên, bốn câu đạo lý và một kết luận rất gọn: “Phải tin tưởng vào Chúa!” Phát thuốc xong, người kê toa ung dung về nhà ăn cơm. Người nhận toa tiếp tục ngồi đó với khoản tiền nhà chưa trả, đứa con đang bệnh, cuộc hôn nhân rạn nứt và một trái tim vừa được dạy thêm một bài về sự kiên nhẫn. Đạo lý quả thật rất đầy. Chỉ có chiếc ghế bên cạnh người đau khổ vẫn trống.
Chúng ta đã quen gọi những người thuộc nhiều kinh, biết nhiều chuyện nhà đạo, có mặt lâu năm trong các hội đoàn là những người “đạo đức”. Điều ấy có thể đúng, và nhiều người như thế đã âm thầm sống rất đẹp. Nhưng cũng có lúc chúng ta chấm điểm sự đạo đức bằng một chiếc thước khá tiện lợi: đếm số năm, đếm số buổi, đếm số chức vụ, đếm số lần đứng trên bục, rồi cộng lại thành uy tín. Còn những chuyện hơi khó đếm như đã làm ai bớt tủi thân, đã nhận lỗi với ai, đã trả lại món tiền nào không thuộc về mình, đã thôi làm tổn thương người nhà ra sao, thì thường được đưa vào một mục phụ mang tên “Chúa biết”. Chúa biết, đúng thế. Nhưng đôi khi chúng ta dùng câu ấy với hy vọng mọi người đừng biết. Thế là một đời sống đạo có hồ sơ rất đẹp vẫn có thể đi cùng một đời sống gia đình đầy thương tích; một người nói về tha thứ rất lưu loát vẫn có thể giữ sổ thù dai hơn người giữ sổ đất; một người yêu thích bài giảng về lòng thương xót vẫn có thể đối xử với người yếu thế bằng giọng nói lạnh đến mức nghe xong ai cũng muốn kéo áo lên cho đỡ rét.
Căn bệnh bội thực giáo lý mà suy kiệt hành động bắt đầu từ một sự nhầm lẫn nghe qua rất nhỏ: tưởng rằng biết điều thiện là đã trở nên người thiện. Người ta nghe một bài giảng hay và thấy lòng rung động, rồi vội tính sự rung động ấy như một thành tích thiêng liêng. Người ta đọc một trang sách sâu sắc và gật đầu, rồi tưởng cái gật đầu đã thay cho một quyết định đổi đời. Người ta chia sẻ một câu nói về yêu thương lên mạng, nhận được mấy trăm lượt thích, rồi có cảm giác mình vừa đóng góp đáng kể cho nền văn minh tình thương. Trong khi đó, người mẹ già ở phòng bên đã gọi lần thứ ba, người vợ vẫn đang rửa một đống chén sau bữa ăn, và đứa con đã đứng cạnh bàn khá lâu để chờ cha mình rời mắt khỏi chiếc điện thoại đang phát đi thông điệp: “Gia đình là nơi yêu thương bắt đầu.” Thông điệp đi rất xa. Yêu thương thì chưa đi nổi từ chiếc ghế ra đến căn bếp.
Có người sở hữu một kho từ vựng tôn giáo phong phú đến mức nói chuyện gì cũng có thể phủ lên một lớp hương trầm. Nóng giận thì gọi là “nhiệt thành bảo vệ chân lý”; thích điều khiển thì gọi là “có trách nhiệm với cộng đoàn”; không chịu nghe ai thì gọi là “vững lập trường”; nói xấu người khác thì gọi là “chia sẻ để cùng cầu nguyện”; gạt người mình không thích ra khỏi công việc chung thì gọi là “sắp xếp cho phù hợp”. Chiếc áo ngôn từ may rất khéo, mặc lên vừa vặn, che được gần hết những chỗ chúng ta không muốn nhìn nhận. Chỉ khổ cho những người bị cái “nhiệt thành” ấy đốt bỏng, bị cái “trách nhiệm” ấy đè nghẹt và bị lời “chia sẻ” ấy làm cho không còn muốn đến nhà thờ. Chúng ta đã có đủ chữ để giải thích hành vi của mình, nhưng chưa có đủ khiêm nhường để hỏi một câu: “Có phải tôi đang làm người khác đau không?”
Điều đáng buồn là giáo lý vốn được trao để mở mắt chúng ta, nhưng đôi khi lại bị dùng làm một chiếc kính chỉ nhìn rõ lỗi người khác. Học về công bằng, chúng ta lập tức nhớ đến người đã nợ mình. Học về trung tín, chúng ta lập tức nghĩ đến người phối ngẫu. Học về vâng phục, người có quyền nghĩ ngay đến người dưới quyền. Học về lòng biết ơn, cha mẹ lập tức muốn gọi con cái lại nghe. Còn lúc học về xét mình, chúng ta lại xét hộ cả giáo xứ, rất chăm chỉ, rất chu đáo, chỉ bỏ sót đúng một người đang ngồi ở vị trí thuận tiện nhất để được xét. Người ấy chính là mình. Thật kỳ lạ, chúng ta có thể soi từng hạt bụi trong cách sống của người khác, nhưng trước một căn phòng đầy đồ đạc ngổn ngang trong lòng mình, lại bình thản bảo: “Tính tôi vốn vậy.”
“Tính tôi vốn vậy” là một câu rất ngắn, nhưng có thể trở thành chiếc khóa đóng chặt mọi cánh cửa hoán cải. Nó cho phép một người đi lễ suốt mấy chục năm mà tiếp tục làm khổ người thân theo đúng một kiểu cũ. Nó giúp chúng ta giữ nguyên sự cay nghiệt trong lời nói, sự cố chấp trong tranh luận, sự bất công trong việc làm ăn, rồi phủ lên tất cả một tấm khăn có dòng chữ “con người ai chẳng có khuyết điểm”. Đúng, ai cũng có khuyết điểm. Nhưng khuyết điểm được nhận ra để chữa lành khác với khuyết điểm được dựng thành quyền lợi. Không thể vì tôi đã nóng tính ba mươi năm mà mọi người phải tiếp tục chịu đựng thêm ba mươi năm nữa để bảo toàn truyền thống. Có những truyền thống gia đình cần được gìn giữ. Việc làm người khác khóc vì những cơn giận của mình không nằm trong số đó.
Rồi chúng ta lại đem thâm niên ra làm bảo chứng. “Tôi đạo gốc.” “Nhà tôi mấy đời giữ đạo.” “Tôi phục vụ giáo xứ từ hồi anh chưa sinh.” Những điều ấy đáng quý khi được nói với lòng biết ơn; chúng trở nên nặng nề khi được dùng để chặn miệng người khác. Đạo gốc là một hồng ân, nhưng cái gốc phải nuôi được thân cây và sinh được hoa trái. Một cây lâu năm mà chỉ chăm treo bảng ghi tuổi, còn bóng mát chẳng có, quả cũng chẳng có, thì người đi đường biết tựa vào đâu? Tổ tiên đã gìn giữ đức tin qua biết bao gian khó để con cháu được sống trong tình yêu Chúa, chứ đâu phải để con cháu có thêm một tấm huy chương đeo lên ngực mỗi khi cần thắng một cuộc tranh luận. Gia phả đức tin càng đẹp, đời sống hôm nay càng phải có trách nhiệm. Không ai có thể lấy sự hy sinh của ông bà để thanh toán những món nợ yêu thương mà chính mình đang cố tình bỏ mặc.
Có khi chúng ta đối xử với giáo lý giống như đối xử với một bộ đồ sứ quý: lau rất kỹ, đặt rất cao, giới thiệu rất tự hào, nhưng tuyệt đối không đem ra dùng vì sợ sứt mẻ. Công bằng nằm trong tủ. Bác ái nằm trong tủ. Tha thứ nằm trong tủ. Khiêm nhường cũng nằm trong tủ, ở ngăn đẹp nhất. Đến lúc có người nghèo gõ cửa, chúng ta mở hé cánh cửa nhà, nhìn một chút rồi bảo đang bận. Đến lúc có người góp ý, chúng ta nổi giận. Đến lúc phải chia lợi nhuận cho công bằng, chúng ta tính rất nhanh phần có lợi cho mình. Bộ đồ sứ vẫn nguyên vẹn. Đời sống xung quanh thì đầy những mảnh vỡ. Chúng ta giữ các nhân đức sạch đến mức chúng chưa từng chạm vào một hoàn cảnh thực tế nào.
Nhưng Tin Mừng đâu được trao để làm đẹp một chiếc tủ. Tin Mừng đi vào những căn nhà có người bệnh, những bữa ăn có người bị khinh thường, những con đường có kẻ bị bỏ lại, những cuộc gặp gỡ khiến người đang cúi mặt có thể ngẩng đầu. Đức Giêsu dạy dỗ, cầu nguyện, lắng nghe, chữa lành, chạm đến người bị loại trừ; lời Người và việc Người thuộc về cùng một tình yêu. Vì thế, học giáo lý là điều cần thiết, rất cần thiết. Chúng ta cần biết mình tin vào ai, điều mình tin có nghĩa gì, và phải phân định thế nào giữa bao nhiêu tiếng nói. Nhưng học mà không để điều đã học sửa đổi cách sống thì giống như đọc rất kỹ hướng dẫn sử dụng một chiếc đèn, thuộc cả cấu tạo lẫn công suất, rồi tiếp tục để người nhà ngồi trong bóng tối. Vấn đề không phải chiếc đèn. Vấn đề là người cầm chiếc đèn nhất quyết chưa chịu bật lên.
Dụ ngôn người Samari nhân hậu có một chi tiết làm chúng ta khó yên lòng: người bị nạn nằm ngay trên đường. Không phải trong một đề tài thảo luận, không phải trong bản tổng kết cuối năm, không phải ở một nơi xa đến mức chúng ta có thể thương bằng trí tưởng tượng. Anh nằm đó, nơi người khác phải quyết định bước lại gần hay đi qua. Và đôi khi chúng ta có một nghệ thuật đi qua rất tinh tế: vẫn nhìn thấy, vẫn thương cảm, vẫn nói “tội nghiệp quá”, nhưng chân tiếp tục bước. Ta có thể vừa đi vừa phân tích nguyên nhân xã hội, vừa lên án tình trạng vô cảm, vừa đề xuất một chuyên đề về lòng nhân ái. Đề xuất ấy có khi sẽ được duyệt. Một buổi hội thảo sẽ được tổ chức. Phông nền sẽ rất đẹp. Chỉ mong người nằm bên đường đủ sức chờ đến ngày khai mạc.
Chúng ta không thiếu khả năng xúc động trước nỗi khổ ở xa. Một câu chuyện trên mạng có thể làm chúng ta rơi nước mắt. Một đoạn phim về người nghèo có thể khiến chúng ta viết lời bình rất tha thiết. Nhưng nỗi khổ ở gần lại bất tiện hơn nhiều. Nó có tên, có địa chỉ, có giờ giấc, có nhu cầu, và thường xuất hiện đúng lúc chúng ta đang muốn nghỉ. Người cha già cần có người đưa đi khám. Người hàng xóm cần ai đó ngồi nghe một chuyện buồn. Một người trong cộng đoàn cần được hỏi thăm sau nhiều tuần vắng mặt. Người làm thuê cần được trả lương đúng hẹn. Những việc ấy ít hào quang, ít tiếng vỗ tay, chẳng mấy ai chụp hình. Có lẽ vì vậy mà tình yêu ở gần trở thành bài kiểm tra khó: nó yêu cầu chúng ta trả giá bằng thời gian, sự chú ý, tiền bạc, sự nhẫn nại và cả cái tôi.
Một trong những cảnh trào phúng buồn nhất của đời sống đạo là chúng ta có thể làm việc bác ái rất long trọng mà vẫn thiếu bác ái với người đang cùng làm việc. Quà được đóng gói ngay ngắn, danh sách được lập cẩn thận, chương trình được thông báo đầy đủ, nhưng người phục vụ trong nhóm lại bị quát mắng, bị coi thường, bị sai khiến đến kiệt sức. Ta đem sự tử tế đến cho người nhận quà, rồi để sự cay nghiệt dành riêng cho người đứng phía sau bàn phát quà. Có người nghèo nhận được một phần gạo; có người cộng tác nhận được một phần tủi nhục. Cuối ngày, báo cáo vẫn ghi: “Chương trình thành công tốt đẹp.” Thành công ấy cần được hỏi thêm một chút: tốt đẹp đối với ai? Người được giúp có được tôn trọng không? Người cùng phục vụ có được đối xử như anh chị em không? Và người tổ chức có thấy mình đang phục vụ, hay đang điều hành một sân khấu để hình ảnh của mình xuất hiện rõ nhất?
Cũng có những bàn tay cho đi nhưng vẫn giữ người nhận ở dưới thấp. Cho một món quà rồi nhắc mãi. Giúp một lần rồi đòi người khác biết ơn suốt đời. Đem chuyện khốn khó của một gia đình kể trước đám đông để chứng minh mình rộng lượng. Người nghèo được nhận tiền nhưng mất quyền giữ kín nỗi đau. Họ được cứu khỏi một khó khăn trước mắt, nhưng phải bước vào một khoản nợ danh dự không biết bao giờ trả hết. Bác ái như thế có thể làm nhẹ túi người cho mà lại làm nặng lòng người nhận. Yêu thương cần được học đến nơi đến chốn, vì có những cách giúp người khác khiến họ cảm thấy mình bé lại. Một việc tốt còn phải có một cách làm tốt. Tôn trọng phẩm giá của người được giúp là phần nằm ngay trong việc bác ái, không phải món trang trí thêm sau khi đã chụp đủ ảnh.
Nhìn vào gia đình, chúng ta sẽ thấy nơi giáo lý cần được tiêu hóa đầu tiên thường rất nhỏ bé. Nó nằm trong cách một người chồng trả lời vợ khi đang mệt, cách một người mẹ lắng nghe con khi đang lo, cách anh chị em chia nhau trách nhiệm chăm sóc cha mẹ. Nó nằm trong việc xin lỗi sau khi nói quá lời, trong một bữa cơm bớt xét nét, trong quyết định không đem điểm yếu của nhau làm vũ khí. Có những người nói về gia đình Công giáo như một cộng đoàn yêu thương rất hay, nhưng ở nhà, ai cũng phải dò nét mặt họ trước khi dám mở miệng. Có những người dạy con phải tôn trọng người khác, nhưng lại làm nhục người phối ngẫu trước mặt con. Có những người muốn con cái nhớ kinh tối, còn chính mình quên lời đã hứa sửa một thói quen gây đau đớn. Đứa trẻ nghe được cả hai bài học: bài học cha mẹ nói và bài học cha mẹ sống. Bài thứ hai thường được nhớ lâu hơn.
Rồi đến công việc và chuyện tiền bạc, nơi lòng đạo dễ bị thử thách bằng những con số rất cụ thể. Chúng ta có thể hăng hái đóng góp cho một công trình, nhưng chậm trả công cho người đã làm việc cho mình. Có thể bàn về công lý xã hội với giọng đầy xác tín, nhưng tìm đủ lý do để người lao động chịu thiệt. Có thể xin Chúa chúc lành cho việc kinh doanh, rồi coi sự gian dối là một kỹ năng sinh tồn không cần đem vào tòa giải tội. “Ngoài đời phải vậy” trở thành cái cửa phụ rất tiện: những điều không thể đi qua cửa chính của lương tâm được đưa vòng ra phía sau. Nhưng người bị thiếu lương vẫn phải mua gạo bằng tiền thật. Người mua phải món hàng gian vẫn chịu thiệt thật. Lòng đạo không thể chỉ sáng vào Chúa nhật rồi được cất đi cùng bộ quần áo đẹp khi tuần làm việc bắt đầu.
Vì thế, cuộc phẫu thuật cần thiết nhất có lẽ là cắt bỏ thói quen miễn trừ cho bản thân. Chúng ta rất giỏi hiểu hoàn cảnh của mình, nhưng lại rất ít kiên nhẫn với hoàn cảnh người khác. Mình nổi nóng vì áp lực; người khác nổi nóng vì thiếu tu dưỡng. Mình vắng mặt vì bận; người khác vắng mặt vì nguội lạnh. Mình nói sai vì sơ suất; người khác nói sai vì có ý xấu. Mình cần thời gian để sửa đổi; người khác phải sửa ngay để khỏi ảnh hưởng đến cộng đoàn. Chiếc cân ấy nghiêng đã lâu đến mức chúng ta tưởng nó cân đúng. Hoán cải bắt đầu khi ta chịu đặt mình lên cùng một bàn cân, chịu gọi điều sai của mình bằng tên thật, và thôi dùng kiến thức đạo để bào chữa cho những điều lẽ ra kiến thức ấy phải giúp mình sửa chữa.
Nhưng nói đến phẫu thuật tâm hồn, xin đừng hiểu đó là một cuộc hành hình. Những lời trào phúng có thể làm chúng ta giật mình, nhưng mục đích cuối cùng phải là giúp một con người đứng lên, chứ không phải khiến họ nằm xuống dưới một đống nhục nhã. Đằng sau người hay nói đạo đôi khi là một người sợ bị coi thường. Đằng sau người bám vào chức vụ có thể là một trái tim chưa biết mình còn giá trị gì khi không được gọi bằng một danh xưng. Đằng sau sự cay nghiệt có thể là những tổn thương chưa được chữa lành. Những điều ấy cần được lắng nghe, đồng thời cũng cần được đặt trước trách nhiệm: nỗi đau của tôi không cho phép tôi tiếp tục làm đau người khác. Tôi cần được thương, và người sống bên tôi cũng cần được thương. Xin cho cuộc chữa lành của tôi bắt đầu đủ sớm để họ không phải tiếp tục trả giá.
Ta cũng cần công bằng với những người đang âm thầm sống đạo bằng cả cuộc đời. Có người không nói được những lời sâu sắc, nhưng đêm nào cũng thức chăm một người bệnh. Có người ít xuất hiện ở các sinh hoạt vì đang làm hai công việc để nuôi gia đình. Có người già yếu, không còn đủ sức tham gia, nhưng vẫn cầu nguyện, vẫn gọi điện hỏi thăm, vẫn cố giữ một lời nói hiền lành giữa đau đớn. Có người phục vụ mà chẳng ai biết tên. Nếu chỉ nhìn vào sự nổi bật, chúng ta sẽ chê trách lầm những đôi tay đã quá mỏi vì yêu thương. Đức tin sinh hoa trái theo nhiều cách, có cách ồn ào, có cách rất lặng. Hành động cũng không chỉ là chạy thật nhiều, tổ chức thật nhiều hay xuất hiện thật nhiều. Một người biết dừng lại để lắng nghe, biết nhịn một lời gây tổn thương, biết chăm sóc tận tụy trong một căn phòng kín, đang làm những việc rất thật.
Và chúng ta càng không thể chữa bệnh nói suông bằng bệnh hoạt động không ngừng. Bận rộn có thể trở thành một nơi trốn tránh khác. Người ta lao vào hết chương trình này đến chương trình kia để khỏi phải ở yên với chính mình, khỏi phải đối diện một mối quan hệ đang rạn, khỏi phải nghe Chúa hỏi về những điều chưa chịu sửa. Có người phục vụ đến kiệt sức rồi đem sự kiệt sức ấy biến thành cáu gắt, trách móc và quyền đòi mọi người phải phục tùng. Vì vậy, đời sống đạo cần cả cầu nguyện, học hỏi, nghỉ ngơi, phân định và thực hành. Lời Chúa nuôi hành động; hành động làm lộ ra những nơi lòng mình còn cần được Lời Chúa sửa chữa. Chúng ta cần trở về với Chúa để đôi bàn tay phục vụ được dẫn dắt bằng tình yêu, thay vì bị điều khiển bởi nhu cầu chứng tỏ bản thân.
Một bước bắt đầu rất thật có thể là ngưng hỏi hôm nay mình đã nghe được bao nhiêu điều hay, để hỏi hôm nay mình đã sống được điều nào. Nghe về tha thứ, hãy nghĩ đến cuộc trò chuyện đang cố tránh. Nghe về công bằng, hãy nhìn lại khoản tiền đang giữ. Nghe về yêu thương, hãy hỏi người nhà có cảm thấy được an toàn khi nói chuyện với mình không. Nghe về khiêm nhường, hãy nhớ xem lần gần nhất mình nhận lỗi mà không thêm chữ “nhưng” là khi nào. Cái chữ “nhưng” ấy nhỏ thôi mà khỏe lắm: “Tôi xin lỗi, nhưng tại anh…” Vừa đặt viên gạch đầu tiên xây lại chiếc cầu, ta đã dùng chính câu tiếp theo để tháo nó xuống. Có những lời xin lỗi cần ngắn lại để sự chân thành có chỗ đứng. Có những bài giảng cần được tiếp tục bằng một cuộc điện thoại, một lần hoàn trả, một buổi thăm hỏi, một quyết định thôi nói xấu.
Chúng ta cũng cần bỏ ý nghĩ chỉ những việc lớn mới xứng đáng được gọi là sống đạo. Chờ một dịp hy sinh thật anh hùng đôi khi là cách khéo léo để khỏi phải làm những việc tử tế rất bình thường. Chúng ta sẵn sàng tuyên bố sẽ làm mọi điều cho Chúa, nhưng người nhà nhờ một việc nhỏ thì lại thở dài. Sẵn sàng yêu nhân loại, nhưng khó chịu với một người cụ thể. Sẵn sàng dấn thân nếu được giao một vai trò quan trọng, nhưng chưa muốn xếp lại vài chiếc ghế sau buổi họp. Nhân loại đông quá nên ít ai trực tiếp làm phiền lòng tự trọng của ta. Người đứng cạnh thì có, họ có ý kiến riêng, có giới hạn, có những điều làm ta không vừa ý. Chính ở đó, tình yêu phải lớn lên: giữa những con người không được thiết kế theo sở thích của mình.
Ước gì sau một bài giảng hay, trong giáo xứ có thêm một người được đỡ đần. Sau một buổi học giáo lý, trong gia đình có bớt một lời cay nghiệt. Sau một lần rước lễ, trong công việc có thêm một quyết định ngay thẳng. Sau một giờ chầu, có ai đó đủ can đảm trở về xin lỗi. Ước gì những điều thánh thiêng chúng ta lãnh nhận đi cùng chúng ta ra khỏi cửa nhà thờ, vào con hẻm, lên chuyến xe, đến bàn làm việc và ngồi xuống bên mâm cơm. Người đang cô đơn cần thấy đức tin có thể mang đến một sự hiện diện. Người bị đối xử bất công cần thấy đức tin có thể làm một con người trả lại điều phải trả. Đứa trẻ đang sợ cha mẹ cần thấy đức tin có thể làm giọng nói trong nhà dịu xuống. Những dấu chỉ ấy nhỏ, nhưng đủ thật để người ta bắt đầu hy vọng.
Xin đừng đợi đến ngày mình biết hết mới bắt đầu sống điều đã biết. Chúng ta đã biết đủ để bớt làm đau một người. Đã biết đủ để trả một món nợ. Đã biết đủ để thôi cười trên sự yếu đuối của ai đó. Đã biết đủ để hỏi thăm người lâu nay bị bỏ quên. Những phần giáo lý còn phải học, ta cứ tiếp tục học với lòng khiêm nhường. Nhưng món nợ yêu thương hôm nay đừng để đến ngày mai mới thanh toán. Có người sẽ không còn ở đó để nghe lời xin lỗi muộn. Có cha mẹ sẽ không còn đủ sức chờ một chuyến về thăm. Có đứa trẻ sẽ lớn lên với những điều đau đớn mà một sự thay đổi từ sớm đã có thể làm dịu lại. Sự trì hoãn trong tình yêu không vô hại; nó để lại dấu trên cuộc đời người khác.
Lạy Chúa, chúng con đã nói về Ngài rất nhiều, xin giúp chúng con biết đối xử với nhau theo những điều chúng con vẫn nói. Xin cho chúng con đủ thành thật để nhận ra rằng đôi khi kiến thức của mình đã lớn nhanh hơn lòng nhân hậu, danh tiếng đã đi xa hơn sự tử tế, và những lời tuyên xưng đã vượt trước những bước chân. Xin cho người nghe chúng con giảng về tình thương được gặp tình thương trong cách chúng con lắng nghe họ. Xin cho người cùng chúng con đọc kinh về tha thứ được thấy chúng con biết nhận lỗi. Xin cho người làm việc với chúng con không phải ao ước giá như chúng con ít nói về đạo hơn mà trả công cho họ đúng hẹn hơn. Xin chữa lành lòng tự mãn, nỗi sợ mất uy tín và thói quen luôn đòi người khác thay đổi trước. Xin đặt vào đôi bàn tay chúng con một việc tốt vừa sức, vào miệng chúng con một lời chân thành, vào lòng chúng con sự nhẫn nại để bắt đầu lại mỗi ngày.
Và nếu hôm nay chúng ta chỉ có thể nhớ một điều, xin hãy nhớ người đang ở gần mình nhất cũng cần được hưởng hoa trái của đức tin mình. Đừng để người ấy phải nghe bao nhiêu lời cao đẹp rồi tiếp tục sống trong lạnh lẽo. Đừng để họ nhìn một tủ sách đầy mà vẫn không tìm được nơi nương tựa trong trái tim ta. Chúng ta có thể chưa thuộc hết những con đường trong sách, nhưng có một lối đi đang ở ngay trước mặt: từ sự tự mãn đến lời xin lỗi, từ lời hứa đến việc làm, từ chiếc ghế của mình đến bên người đang cần được đỡ dậy. Xin bước đi. Một bước thôi cũng được, miễn là bước thật. Bởi thật đau lòng nếu cả đời chúng ta nói vanh vách về đường lên thiên đàng, mà người sống cạnh mình vẫn phải tự hỏi: “Không biết bao giờ người ấy mới tìm được lối đến với tôi?”
Lm. Anmai, CSsR.
