GIA ĐÌNH DI DÂN: MANG THEO CẢ MỘT MÁI NHÀ TRÊN ĐƯỜNG MƯU SINH Lm. Anmai, CSsR.
Có những cuộc ra đi không bắt đầu bằng một ước mơ lớn lao, mà bắt đầu bằng một phép tính rất nhỏ trên bàn ăn: tiền học của con tháng tới, tiền thuốc của mẹ già, khoản nợ mùa trước, giá lúa vừa bán, mái nhà sắp dột khi mùa mưa về. Người ta ngồi trước mâm cơm, gắp thức ăn cho nhau như mọi ngày, nhưng ai cũng hiểu rằng nếu cứ ở lại, gia đình sẽ khó sống nổi. Thế là một buổi sáng, người cha buộc chiếc vali sau xe; người mẹ xếp mấy bộ quần áo của con vào túi; đứa trẻ ôm con gấu đã sờn một bên tai. Cánh cửa nhà khép lại. Phía trước là thành phố, nơi người ta hy vọng sẽ tìm được việc làm, có tiền gửi về quê, cho con tiếp tục đến trường và dành dụm một ngày nào đó trở về. Không ai biết ngày ấy sẽ đến khi nào.
Nói về gia đình di dân, ta thường nhìn thấy những con số: bao nhiêu người rời quê, bao nhiêu lao động trong khu công nghiệp, bao nhiêu trẻ em theo cha mẹ đến thành phố. Nhưng một gia đình không bao giờ chỉ là một con số. Trong chiếc vali của họ có giấy khai sinh, sổ khám bệnh, vài tấm ảnh cưới, áo quần đã được chọn đi chọn lại vì không thể mang theo tất cả. Trong lòng họ còn có những thứ không xếp được vào vali: tiếng chuông nhà thờ quê, mộ ông bà, hàng xóm từng giúp nhau lúc trái gió trở trời, con đường đứa trẻ đã quen đi học, chỗ ngồi quen thuộc trong thánh lễ Chúa nhật. Rời làng quê để kiếm sống là một quyết định kinh tế, nhưng cái giá của nó được trả bằng rất nhiều mối dây thân thuộc.
Có người đến thành phố và dần gây dựng được cuộc sống ổn định. Đó là niềm vui chính đáng, là thành quả của bao năm lao động cần cù. Nhưng cũng có những gia đình làm việc nhiều hơn trước mà vẫn không đủ. Đồng lương vừa nhận đã phải chia ra: tiền phòng, điện nước, ăn uống, học phí, tiền gửi về cho cha mẹ, tiền trả góp, một khoản để dành phòng khi đau bệnh. Chỉ cần một người mất việc, một đứa con nhập viện, hoặc chủ nhà tăng tiền thuê, mọi tính toán lập tức đảo lộn. Đằng sau câu nói “lên thành phố làm ăn” đôi khi là một đời sống bấp bênh đến mức người ta không dám nghỉ một ngày để bị sốt cho đàng hoàng.
Người cha có thể ra khỏi nhà khi con còn ngủ và về lúc con đã ngủ. Người mẹ có thể đi làm cả ngày, tối về vẫn nấu cơm, giặt đồ, xem bài tập cho con, gọi điện hỏi thăm ông bà ở quê. Có những đôi vợ chồng ở chung một căn phòng mà hiếm khi có thời giờ thật sự ngồi lại với nhau. Họ nói chuyện qua những việc cần làm: ngày mai ai đón con, tháng này lấy đâu ra tiền đóng học, cuối tuần có phải tăng ca không. Lâu dần, những câu hỏi về tâm hồn bị lùi lại: “Hôm nay anh có mệt không?”, “Em đang lo điều gì?”, “Con có chuyện gì ở trường?”. Gia đình vẫn cùng sống dưới một mái nhà, nhưng ai nấy phải gồng mình trong phần việc riêng.
Cần nhìn những gia đình ấy bằng lòng kính trọng trước khi đưa ra một lời khuyên. Có người dễ nói: “Cha mẹ bây giờ chỉ lo kiếm tiền, bỏ bê con cái.” Nhưng nếu chưa từng đứng ở trạm xe buýt lúc trời chưa sáng, chưa từng phải lựa giữa ca tăng giờ và tiền học của con, ta nên chậm lại trước khi phán xét. Quả thật, con cái cần sự hiện diện của cha mẹ, và tiền bạc không thể thay thế tình thương. Tuy nhiên, không phải mọi sự vắng mặt đều do thiếu yêu thương. Có những người cha, người mẹ vắng mặt chính vì đang cố giữ cho gia đình khỏi rơi xuống một vực sâu hơn. Nỗi đau của họ là càng làm việc để lo cho con, họ càng ít thời gian ở bên con.
Dẫu vậy, sự bận rộn có thể để lại những khoảng trống thật trong lòng trẻ. Một đứa bé không hiểu hết tiền thuê nhà hay áp lực công việc. Nó chỉ biết hôm nay bố lại không đến xem tiết mục của mình; mẹ hứa nghe con kể chuyện nhưng vừa ngồi xuống đã ngủ thiếp đi; đến ngày sinh nhật, cả nhà ăn vội chiếc bánh nhỏ trong ánh đèn phòng trọ. Có những em ngoan ngoãn đến mức người lớn tưởng rằng chúng không cần được chăm sóc. Có những em gây chuyện, nói dối, thu mình hoặc cắm mặt vào điện thoại vì không biết cách nào khác để nói: “Con đang cô đơn.” Nếu chỉ trách đứa trẻ hư, ta có thể bỏ lỡ lời kêu cứu ẩn dưới hành vi của nó.
Đối với trẻ theo cha mẹ chuyển chỗ ở nhiều lần, việc học không chỉ là chuyện sách vở. Các em phải làm quen với trường mới, giọng nói mới, bạn bè mới và đôi khi cả cảm giác mình là người ngoài. Một số em nghe bạn hỏi quê ở đâu rồi bắt chước giọng nói của mình. Một số em không dám mời bạn về nhà vì xấu hổ với căn phòng chật. Một số em phải tự trông em nhỏ, phụ bán hàng hoặc học bài giữa tiếng máy móc và tiếng xe ngoài ngõ. Cha mẹ mong con học giỏi để sau này đỡ khổ; con lại có thể nghe mong ước ấy như một gánh nặng: “Nếu con không thành công, những hy sinh của bố mẹ sẽ thành vô ích.” Bởi vậy, bên cạnh việc thúc con cố gắng, cha mẹ cần nói cho con biết một điều căn bản hơn: Con được yêu thương trước cả khi con mang về một bảng điểm tốt.
Có những gia đình chọn để con ở quê với ông bà vì chưa đủ điều kiện đưa con lên thành phố. Quyết định ấy thường được đưa ra trong nước mắt. Ở quê, đứa trẻ có sân chơi, có người trông nom, có trường lớp ổn định; ở thành phố, cha mẹ có thể gửi tiền về đều hơn. Nhưng mỗi cuộc gọi video kết thúc cũng có một khoảng lặng: con đưa tay chạm vào màn hình, mẹ bảo “ngủ ngoan nhé”, rồi cả hai bên cùng tắt máy để người kia khỏi nhìn thấy mình khóc. Ông bà thay cha mẹ chăm cháu bằng tất cả tình thương có thể, nhưng không ai có thể lấp đầy hoàn toàn sự thiếu vắng ấy. Có khi đến lúc gia đình đoàn tụ, cha mẹ và con lại phải học cách gần nhau từ đầu. Người lớn tưởng con lạnh nhạt; đứa trẻ thì sợ mở lòng vì đã quen với những cuộc chia xa.
Đời sống hôn nhân của các gia đình di dân cũng chịu nhiều thử thách âm thầm. Thiếu tiền khiến người ta dễ căng thẳng. Chỗ ở chật khiến một bất đồng nhỏ cũng khó có khoảng lùi để nguôi đi. Lịch làm việc khác nhau khiến vợ chồng ít gặp nhau khi cả hai còn đủ sức lắng nghe. Có người mang sự bực bội ở nơi làm việc về nhà và trút lên người thân. Có người im lặng vì nghĩ nói ra cũng chẳng giải quyết được gì. Những lời trách móc bắt đầu từ chuyện tiền bạc rồi chạm đến những vết thương cũ: “Anh có bao giờ nghĩ cho em?”, “Em có biết tôi đã chịu đựng thế nào không?” Một cuộc hôn nhân hiếm khi rạn nứt chỉ vì một hóa đơn chưa trả. Nó rạn nứt khi hai người quá lâu không còn cảm thấy mình được cùng gánh vác.
Vì thế, giữa cuộc mưu sinh, vợ chồng cần giữ những cuộc trò chuyện không chỉ xoay quanh khoản phải chi. Có khi chỉ mười phút sau khi con ngủ, tắt điện thoại, hỏi nhau hôm nay điều gì làm mình nặng lòng. Có khi là lời cảm ơn vì người kia đã dậy sớm nấu cơm, đã chạy đi đón con dưới mưa, đã nhịn mua một món đồ mình thích để cả nhà đủ tiền cuối tháng. Những điều ấy không giải quyết ngay khó khăn kinh tế, nhưng giúp hai người nhớ rằng họ đang đứng cùng một phía. Người ta có thể chịu đựng nhiều thiếu thốn khi biết mình không phải chịu đựng một mình.
Đức tin của gia đình di dân cũng đi qua những thay đổi sâu sắc. Ở quê, đời sống đạo nhiều khi được nâng đỡ bởi một nhịp sống quen thuộc. Nhà thờ ở gần; tiếng chuông nhắc giờ lễ; con cái đi giáo lý cùng bạn; người lớn quen biết nhau sau nhiều năm. Khi lên thành phố, tất cả có thể trở nên xa lạ. Họ không biết giờ lễ nào phù hợp với ca làm; không rõ con cần đăng ký lớp giáo lý ra sao; không biết nên tìm ai khi muốn xin bí tích hay nhờ thăm một người bệnh. Đến nhà thờ mới, họ có thể đứng ở cuối, dự lễ xong rồi về, tuần này qua tuần khác mà không ai biết tên họ. Một gia đình vẫn đi lễ, nhưng chưa cảm thấy mình thuộc về cộng đoàn.
Có những người dần thưa việc đạo. Ta không nên vội kết luận họ hết yêu Chúa. Một người mẹ vừa tan ca đêm có thể ngủ quên giờ lễ sáng. Một người cha làm công nhật có thể sợ mất việc nếu xin nghỉ Chúa nhật. Một gia đình chuyển trọ liên tục có thể không theo được lớp giáo lý cố định cho con. Có những lựa chọn cần được phân định và sắp xếp lại; cũng có những trở ngại đòi hỏi cộng đoàn giúp họ tìm một lối đi khả thi. Lời nhắc sống đạo chỉ thật sự chạm tới họ khi đi cùng sự hiểu biết về cuộc sống của họ.
Đức tin không tự lớn lên chỉ nhờ một gia đình có tên trong sổ giáo xứ. Nó cần được sống và được truyền bằng những cử chỉ mỗi ngày. Một đứa trẻ có thể thuộc nhiều kinh mà vẫn không hiểu cầu nguyện là gì, nếu chưa bao giờ thấy cha mẹ đem nỗi lo thật của gia đình đến trước Chúa. Ngược lại, em có thể nhớ suốt đời hình ảnh mẹ làm dấu thánh giá trước khi đi làm, bố xin lỗi sau một lần nóng giận, cả nhà đọc một đoạn Tin Mừng ngắn rồi cầu nguyện cho bà ngoại đang đau. Trong căn phòng trọ chật hẹp, một lời kinh không cần dài. “Lạy Chúa, hôm nay nhà con mệt lắm. Xin giữ chúng con biết thương nhau.” Một lời cầu nguyện như thế có thể chân thật hơn nhiều câu đọc vội cho xong.
Việc giáo dục đức tin cho con cái ở thành phố còn gặp một thách đố khác: những gì trẻ thấy mỗi ngày thường nói lớn hơn những gì người lớn dạy. Mạng xã hội, quảng cáo và bạn bè có thể khiến các em tin rằng giá trị của mình nằm ở chiếc điện thoại, đôi giày, chuyến đi hay hình ảnh đăng lên mạng. Một đứa trẻ từng cùng cha mẹ ăn bữa cơm đạm bạc trong vui vẻ có thể bắt đầu xấu hổ vì gia đình mình không có điều bạn bè có. Cha mẹ nhìn thấy điều ấy, đôi khi lại cố mua cho con bằng được món đồ vượt quá khả năng, vì không nỡ để con thiệt thòi thêm. Tình thương rất dễ bị kéo vào cuộc đua mà cuối cùng cả nhà đều mệt.
Trẻ cần được giúp hiểu sự khác nhau giữa một nhu cầu thật và một lời rủ rê tiêu dùng. Nhưng muốn nói với con về sự giản dị, người lớn cũng phải thành thật trước những cám dỗ của mình. Không ít cha mẹ cũng đau vì so sánh: bạn cùng quê đã mua nhà, đồng nghiệp đổi xe, người quen đưa con học trường tốt hơn. Sự so sánh làm những cố gắng chân chính bỗng trở nên nhỏ bé trong mắt ta. Một gia đình Kitô hữu có thể nghèo về của cải mà giàu về lòng trung thực, sự chăm chỉ, khả năng sẻ chia; nhưng những giá trị ấy không tự động được con cái nhận ra. Cha mẹ cần gọi tên chúng bằng đời sống: “Nhà mình chưa mua được thứ đó. Nhà mình sẽ dành tiền cho điều cần hơn. Mình vẫn có thể vui và tử tế với nhau.”
Điều đáng lo không chỉ là con cái bị lôi cuốn bởi lối sống hưởng thụ. Đáng lo hơn là khi các em không còn nơi nào để đem những câu hỏi thật của mình đến. Một thiếu niên có thể hỏi: “Nhà mình cầu nguyện mà sao vẫn nghèo?”, “Sao người sống gian dối lại kiếm được nhiều tiền?”, “Nếu Chúa thương, sao bố mẹ phải vất vả như vậy?” Những câu hỏi ấy không nên bị dập tắt bằng lời trách rằng con thiếu đức tin. Có khi chính người lớn cũng từng hỏi như thế trong đêm không ngủ. Cha mẹ có thể nói thật: “Bố mẹ cũng không hiểu hết. Nhưng bố mẹ tin Chúa không bỏ mình, và mình sẽ cùng tìm cách sống ngay lành giữa những khó khăn này.” Một câu trả lời chân thật mở đường cho đối thoại. Đức tin của con trưởng thành khi con được phép mang cả sự hoang mang đến trước Chúa.
Gia đình di dân còn mang theo một nỗi nhớ khó gọi tên. Người lớn nhớ quê; con cái sinh ra ở thành phố lại có thể không cảm thấy quê là nhà. Về quê dịp Tết, các em thấy mình lạ với họ hàng; trở lại thành phố, các em vẫn nghe người khác gọi mình là dân tỉnh. Chúng lớn lên giữa hai thế giới, có khi chẳng biết mình thuộc về đâu. Nếu người lớn chỉ kể về quê bằng giọng than thở hoặc chỉ nói về thành phố như nơi phải tranh đấu, trẻ khó nhận ra vẻ đẹp của câu chuyện gia đình mình. Hãy kể cho con nghe vì sao bố mẹ đã ra đi, ông bà đã sống thế nào, ai từng giúp gia đình lúc khó khăn, những điều tốt đẹp nào từ quê vẫn có thể được giữ lại. Gốc rễ không phải sợi dây buộc chân con; gốc rễ giúp con đứng vững khi bước vào một nơi mới.
Với cộng đoàn giáo xứ, câu hỏi không chỉ là “Làm sao đưa các gia đình di dân đến nhà thờ?”, mà còn là “Khi họ đến, họ có tìm thấy một chỗ trong nhà không?” Một nụ cười ở cửa nhà thờ có ý nghĩa; nhưng sự đón tiếp cần đi xa hơn. Người mới đến cần biết giờ lễ, nơi đăng ký giáo lý, người có thể hướng dẫn thủ tục bí tích, nhóm có thể cùng sinh hoạt và người sẵn lòng lắng nghe khi gia đình gặp khó. Nếu một gia đình phải nghỉ nhiều buổi giáo lý vì chuyển ca hoặc chuyển trọ, có thể tìm cách giúp em tiếp tục học. Nếu cha mẹ không quen nếp sinh hoạt của giáo xứ, có thể giải thích rõ ràng và kiên nhẫn. Những việc nhỏ ấy cho họ cảm nhận rằng Hội Thánh nhận ra khuôn mặt của họ.
Cũng cần thận trọng với cách ta đối xử với người di dân trong sinh hoạt cộng đoàn. Họ có thể không ăn mặc như nhiều người khác, không có thời giờ tham gia hội đoàn đều đặn, không đóng góp tài chính nhiều, không quen biết những người có trách nhiệm. Nhưng phẩm giá của một người trong Hội Thánh không được đo bằng khả năng đóng góp hay mức độ xuất hiện trong các chương trình. Người phụ nữ ngồi cuối nhà thờ với đứa con ngủ trên vai, người đàn ông mặc bộ đồng phục chưa kịp thay sau ca làm, đôi vợ chồng lặng lẽ dự lễ rồi về kịp giờ mở hàng: họ là những anh chị em của cộng đoàn. Họ cần được gọi bằng tên trước khi được giao một mẫu đơn hay nghe một lời nhắc nhở.
Một giáo xứ quan tâm đến gia đình di dân cần lắng nghe chính họ. Có nơi điều họ cần nhất là giờ giáo lý thuận tiện cho con. Có nơi là người giúp hướng dẫn những gia đình mới chuyển đến. Có nơi là nhóm bạn đồng hành cho các đôi vợ chồng trẻ, hoặc một cách liên lạc đơn giản để họ biết tin tức phụng vụ. Không phải vấn đề nào giáo xứ cũng giải quyết được. Giáo xứ không thể trả thay tiền thuê nhà hay xóa hết bất công trong đời sống lao động. Nhưng cộng đoàn có thể tránh để người ta phải chịu mọi khó khăn trong cô độc. Sự quan tâm đúng lúc có khi bắt đầu từ một câu rất bình thường: “Gia đình mình mới đến đây phải không? Các cháu đã có lớp giáo lý chưa?”
Các gia đình đã ổn định trong giáo xứ cũng có thể trở thành người đón tiếp. Một người mẹ chỉ cho gia đình mới chỗ mua đồ vừa túi tiền. Một giáo lý viên hỏi vì sao em học sinh vắng mặt thay vì lập tức ghi nhận là thiếu chuyên cần. Một gia đình mời nhà bên cạnh cùng ăn bữa cơm Chúa nhật. Một người biết nghề giới thiệu cơ hội việc làm phù hợp. Sự trợ giúp cần giữ lòng tế nhị, để người nhận được tôn trọng và có quyền nói điều mình cần. Bác ái Kitô giáo đẹp nhất khi người được giúp vẫn được nhìn nhận như một người có khả năng đóng góp, yêu thương và nâng đỡ người khác.
Thật vậy, các gia đình di dân không chỉ mang đến những nhu cầu. Họ mang theo sức sống của đức tin. Có người từ quê lên thành phố vẫn giữ thói quen đọc kinh với con, dù căn phòng chỉ đủ chỗ trải vài tấm nệm. Có người làm việc vất vả mà vẫn dành phần cơm cho người lao động mới đến chưa tìm được việc. Có người không học nhiều, nhưng con cái nhớ mãi lời cha dặn: “Có thiếu thì chịu thiếu, đừng lấy thứ không phải của mình.” Có người mẹ nhiều năm đi lễ trong lặng lẽ, để rồi chính sự bền bỉ của mẹ giúp con tìm lại đường về với Chúa khi trưởng thành. Nếu biết lắng nghe, giáo xứ sẽ nhận ra mình cũng được những gia đình ấy làm cho phong phú hơn.
Trong Tin Mừng, ta gặp một Thiên Chúa không xa lạ với cảnh phải lên đường. Thánh Gia đã từng phải rời nơi quen thuộc để bảo vệ Hài Nhi Giêsu; Đức Giêsu đã lớn lên trong một gia đình biết lao động, biết lo cho nhau và biết tín thác. Ta không nên đem câu chuyện ấy ra để làm nhẹ nỗi nhọc nhằn của người di dân hôm nay, như thể chỉ cần chịu đựng là đủ. Nhưng hình ảnh Thánh Gia nhắc ta rằng Thiên Chúa có thể hiện diện giữa một hành trình bất định, trong một mái nhà đang tìm nơi trú ngụ, nơi cha mẹ phải đưa ra quyết định khó khăn vì con. Người không chỉ chờ gia đình đến gặp mình trong một nhà thờ yên tĩnh. Người cũng đến gần họ trên chuyến xe đông người, trong hành lang bệnh viện, ở xưởng làm việc, bên bàn học của đứa trẻ trong phòng trọ.
Sẽ có những ngày cha mẹ di dân cảm thấy mình thất bại. Họ tưởng ra đi thì con sẽ có đời sống tốt hơn, nhưng con lại xa mình. Họ muốn giữ nếp đạo, nhưng cả nhà cứ mệt mỏi và lỡ hết dự định này đến dự định khác. Họ muốn dành dụm, nhưng hết năm này qua năm khác vẫn chưa thấy một nơi ở ổn định. Trong những ngày ấy, điều gia đình cần có khi không phải thêm một lời thúc phải cố hơn, mà là được nhắc rằng giá trị của họ không nằm ở việc đã mua được nhà hay chưa, con đã đứng đầu lớp hay chưa, đời sống đã ngăn nắp như mong muốn hay chưa. Họ đang yêu thương giữa nhiều giới hạn. Tình yêu ấy cần được chăm sóc, sửa lại khi làm nhau đau, và bắt đầu lại khi đã quá mệt.
Bắt đầu lại có thể rất nhỏ. Một bữa cơm cả nhà không cầm điện thoại. Một cuộc gọi cho đứa con đang ở với ông bà mà cha mẹ thật sự ngồi nghe, không vừa nói vừa làm việc khác. Một lời xin lỗi khi đã nổi nóng vì áp lực tiền bạc. Một buổi tìm hiểu giờ lễ phù hợp với lịch làm. Một lần hỏi con: “Ở trường có điều gì làm con buồn không?” Một lần vợ chồng cùng nhìn lại các khoản chi mà không đổ lỗi cho nhau. Một lần gia đình cầu nguyện cho người hàng xóm cũng đang vất vả. Những bước ấy không làm căn phòng trọ rộng thêm, nhưng có thể làm lòng người bớt chật.
Và cộng đoàn cũng cần bắt đầu lại, bằng cách nhìn quanh trong chính thánh lễ của mình. Có gia đình nào đã đến nhiều tháng mà ta chưa một lần chào hỏi? Có đứa trẻ nào nghỉ giáo lý vì cha mẹ đổi ca, nhưng ta chỉ nghĩ em lười học? Có người mẹ nào bồng con đứng ngoài hiên nhà thờ vì sợ làm phiền người khác? Có đôi vợ chồng nào đang bên bờ đổ vỡ mà không biết tìm ai để nói chuyện? Nếu giáo xứ là một gia đình của các gia đình, thì người mới đến không thể mãi là khách. Họ phải có thể tìm thấy ở đây sự thật, sự nâng đỡ và một chỗ để cùng bước đi.
Ngày một gia đình rời quê, họ thường nghĩ mình chỉ đi kiếm sống. Nhưng trong hành trình ấy, họ còn phải học cách giữ nhau: giữ cho vợ chồng biết nói chuyện, giữ cho con cái cảm thấy được yêu, giữ cho lời kinh không biến mất giữa tiếng xe và tiếng máy, giữ cho lòng ngay thẳng không bị mài mòn bởi thiếu thốn, giữ cho hy vọng không tắt sau những tháng ngày cố gắng mà chưa thấy kết quả. Đó là một hành trình khó. Không ai nên buộc họ phải đi một mình.
Xin Chúa chúc lành cho những gia đình đã lên đường vì miếng cơm và tương lai của con. Xin cho người cha trở về sau ca làm còn đủ dịu dàng để ôm con; cho người mẹ giữa muôn việc không quên mình cũng cần được nghỉ ngơi và lắng nghe; cho những đôi vợ chồng đang loay hoay với nợ nần biết nắm tay nhau thay vì quay lưng; cho những đứa trẻ xa quê hoặc xa cha mẹ gặp được người yêu thương và bảo vệ chúng. Xin mở lòng các giáo xứ để mỗi gia đình mới đến có thể nghe, qua cách cộng đoàn sống, một lời thật giản dị: “Anh chị em đã đến rồi. Ở đây có chỗ cho gia đình mình.”
Lm. Anmai, CSsR.













