GIÁO HỘI TÔI YÊU KHÔNG CÓ TRONG SÁCH GIÁO KHOA – Lm. Anmai, CSsR

5

GIÁO HỘI TÔI YÊU KHÔNG CÓ TRONG SÁCH GIÁO KHOA – Lm. Anmai, CSsR

Sách giáo lý vẽ Giáo Hội bằng những đường nét chính xác, trang trọng và không thể thiếu: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Tôi tin những điều ấy như tin vào bộ xương nâng đỡ toàn thân thể, như tin vào nền móng nằm sâu dưới một ngôi nhà đã đứng qua bao mùa mưa nắng. Tôi tin Giáo Hội là duy nhất, dù mỗi ngày vẫn nhìn thấy con cái Giáo Hội chia rẽ nhau chỉ vì một cách đọc kinh, một kiểu dâng lễ, một lựa chọn mục vụ hay một lời nói chưa vừa ý. Tôi tin Giáo Hội là thánh thiện, dù đôi khi phải cúi mặt trước những vết nhơ do chính những người trong Giáo Hội gây nên. Tôi tin Giáo Hội là công giáo, nghĩa là mở ra cho mọi dân, mọi nước, mọi ngôn ngữ và mọi phận người, dù có lúc ngay trong một cộng đoàn nhỏ, người ta vẫn chia nhau thành phe, vẫn phân biệt giàu nghèo, sang hèn, người cũ người mới, người đạo gốc và người mới trở lại. Tôi tin Giáo Hội là tông truyền, dù có những lúc người kế vị các Tông đồ và những người cộng tác với các ngài cũng mang đầy giới hạn, mệt mỏi, vụng về và có khi làm người khác thất vọng. Tôi tin không phải vì tôi nhắm mắt trước thực tế, nhưng vì tôi đã nhìn thực tế đủ lâu để hiểu rằng nếu Giáo Hội chỉ sống nhờ phẩm chất của con người, Giáo Hội đã tan từ lâu rồi. Một cộng đoàn gồm những con người nóng nảy, yếu đuối, tham vọng, dễ tổn thương, thích được công nhận, hay hiểu lầm nhau và đôi khi nhân danh cả Thiên Chúa để bảo vệ cái tôi của mình, vậy mà vẫn tồn tại suốt hơn hai ngàn năm, vẫn có người quỳ xuống cầu nguyện, vẫn có người bỏ đời mình để đi đến những vùng đất không ai muốn đến, vẫn có người tha thứ, vẫn có người chết cho đức tin, vẫn có những bàn tay âm thầm bẻ bánh cho người đói — đó không thể chỉ là kết quả của tài tổ chức. Phải có một Đấng nào khác đang ở bên trong sự mong manh ấy. Phải có một bàn tay vô hình vẫn giữ lấy con thuyền, ngay cả khi những người chèo thuyền đang cãi nhau. Phải có Chúa Thánh Thần kiên nhẫn hơn mọi sự bất trung của con người. Vì thế, tôi tin những điều sách giáo lý dạy. Nhưng Giáo Hội tôi yêu không nằm trọn trong bốn tính từ. Giáo Hội tôi yêu có khuôn mặt, có bàn tay, có mùi nhang, mùi áo mưa, mùi hoa huệ trong đám tang, mùi cơm nguội sau một buổi họp dài, mùi dầu gió trên trán một bà cụ, mùi đất ướt ngoài nghĩa trang và cả mùi mồ hôi của những người chen nhau trong một thánh lễ chiều. Giáo Hội ấy nằm trong bà cố của tôi, người không biết giải thích tín điều nhưng biết lần chuỗi bằng những ngón tay đã cong vì tuổi tác. Bà không nói được “mầu nhiệm hiệp thông” là gì, nhưng hễ trong xóm có người đau thì bà sang thăm; có người chết thì bà đi đọc kinh; có gia đình bất hòa thì bà ngồi lại, chẳng giảng gì cao siêu, chỉ nói một câu rất cũ: “Thôi, người nhà với nhau, bỏ qua cho nhau mà sống.” Bà có thể đọc sai một chữ, quên một câu, lẫn mầu nhiệm thứ ba với mầu nhiệm thứ tư, nhưng trong cách bà nhường phần thức ăn ngon cho cháu, cách bà lặng lẽ bỏ một ít tiền vào phong bì giúp người bệnh, cách bà xin lỗi dù bà là người lớn tuổi hơn, tôi đã thấy một thứ thần học sống động hơn nhiều trang sách. Không phải sách không cần. Chính nhờ sách mà tôi biết gọi tên những gì bà đang sống. Nhưng chính nhờ bà mà tôi biết những điều trong sách có thể trở thành máu thịt.

Giáo Hội tôi yêu còn nằm trong cha xứ già giảng không hay. Bài giảng của ngài có khi dài, lặp ý, đang nói chuyện Tin Mừng lại chuyển sang chuyện sửa mái nhà thờ, chuyện giữ vệ sinh, chuyện đừng để xe chắn cổng. Có người ngồi dưới thở dài, có người nhìn đồng hồ, có đứa trẻ ngủ gục trên vai mẹ. Ngài không có những câu nói đủ đẹp để cắt thành video, không biết chọn nhạc nền, không biết đặt tiêu đề gây xúc động. Nhưng tối hôm ấy, khi mọi người đã về, ngài lại khoác chiếc áo cũ, cầm túi dầu bệnh nhân và đi qua con đường lầy tới căn nhà cuối xóm. Có một ông cụ đang hấp hối. Gia đình bối rối. Cha ngồi xuống bên giường, gọi tên ông, đặt tay trên mái đầu đã bạc, nghe một lời xưng tội đứt quãng, trao Mình Thánh Chúa bằng sự chậm rãi của một người biết mình đang đứng trước ngưỡng cửa đời đời. Ngài ở lại cho đến khi hơi thở người bệnh dịu xuống. Trở về nhà xứ đã khuya, bữa cơm chỉ còn một chén canh nguội. Chẳng ai quay phim. Chẳng ai viết lời cảm ơn. Sáng hôm sau, ngài lại dâng lễ, lại giảng vụng, lại bị chê là cũ. Nhưng tôi biết Giáo Hội đang hiện diện trong bước chân lấm bùn ấy. Giáo Hội tôi yêu cũng nằm trong cô giáo lý viên đôi lúc mất bình tĩnh vì lũ trẻ không chịu ngồi yên. Cô có thể gắt, có thể quên chuẩn bị bài, có thể dạy một tiết chẳng hấp dẫn gì. Cô không phải hình mẫu hoàn hảo. Nhưng hết năm này sang năm khác, chiều Chúa nhật nào cô cũng có mặt. Cô đi làm cả tuần, về còn lo cơm nước cho gia đình, vậy mà vẫn đến sớm kê ghế, lau bảng, cắt từng tấm hình nhỏ, nhắn phụ huynh nhắc các em đi lễ. Có em nghịch đến mức cô phát khóc. Có phụ huynh đưa con đến rồi giao hết trách nhiệm cho cô. Có người chỉ nhớ tới cô khi con mình không được lãnh bí tích đúng ngày dự định. Cô cũng có những giới hạn rất người, nhưng nếu không có cô và hàng ngàn người giống cô, đức tin của biết bao thế hệ sẽ bị đứt đoạn. Giáo Hội tôi yêu có những con người như thế: không nổi bật, không hoàn hảo, không được gọi tên trong bất cứ biên niên sử nào, nhưng cứ kiên trì đứng đúng chỗ của mình. Họ giống những chiếc đinh nhỏ giữ mái nhà qua mùa giông. Người ta chỉ thấy mái nhà đẹp mà không nhìn thấy những chiếc đinh. Chỉ đến khi một chiếc bung ra, người ta mới biết nó đã âm thầm chịu lực bao năm. Giáo Hội không chỉ được xây bằng những công đồng lớn, những văn kiện quan trọng, những cuộc hành hương hàng triệu người hay những vị thánh lừng danh. Giáo Hội còn được giữ lại bằng một bà mẹ sáng Chúa nhật gọi con dậy đi lễ dù nó vùng vằng; bằng một ông trùm mở cửa nhà thờ lúc trời chưa sáng; bằng một người đánh chuông đứng giữa mưa; bằng một ca viên hát sai một nốt nhưng vẫn hát với tất cả tấm lòng; bằng một người quét lá ngoài sân mà chẳng ai nhớ tên; bằng một bà bán rau giữ lại bó rau tươi nhất đem biếu nhà các sơ; bằng một cậu bé giúp lễ run tay làm đổ chút rượu lễ rồi được cha xứ vỗ vai bảo: “Không sao, lần sau cẩn thận hơn.” Những điều ấy không được viết thành tín điều, nhưng chúng là nơi tín điều có da, có thịt, có nhiệt độ và có nhịp tim.

Tôi từng mất khá nhiều thời gian để giận Giáo Hội, vì thực tế tôi gặp không giống điều tôi đã học. Tôi đã tưởng rằng nếu Giáo Hội là thánh thiện thì người trong Giáo Hội phải tử tế hơn; nếu Giáo Hội là hiệp thông thì cộng đoàn phải bớt chia rẽ hơn; nếu Giáo Hội nói về người nghèo thì người nghèo phải được ngồi ở chỗ danh dự hơn; nếu Giáo Hội rao giảng sự thật thì những người có trách nhiệm phải can đảm nhận lỗi; nếu Giáo Hội là mẹ thì không một đứa con nào được phép cảm thấy mình bị bỏ rơi. Rồi tôi đã chứng kiến những điều khiến mình đau. Có người phục vụ rất lâu nhưng chỉ vì một lỗi nhỏ mà bị phủi sạch mọi đóng góp. Có người nghèo đến xin giúp đỡ, chưa kịp trình bày đã bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ. Có người trẻ đầy nhiệt huyết bước vào cộng đoàn, rồi dần dần im tiếng vì ý kiến của họ chưa bao giờ được lắng nghe. Có người mang một vết thương sâu đến tìm sự nâng đỡ, nhưng nhận lại vài câu đạo đức lạnh lùng. Có linh mục mỏi mệt mà không biết tâm sự với ai, vì người ta tưởng đã làm linh mục thì không được phép yếu. Có tu sĩ khóc trong phòng riêng nhưng sáng ra vẫn phải mỉm cười, bởi ai cũng cần họ bình an mà không ai hỏi họ có đang bình an thật không. Có giáo dân trung thành cả đời, đến lúc già yếu lại ngồi một mình phía cuối nhà thờ, không còn ai nhớ họ đã từng gánh bao nhiêu việc. Có những cuộc tranh cãi không bắt đầu từ chân lý nhưng từ tự ái; không kéo dài vì vấn đề khó mà vì chẳng ai chịu bước xuống trước. Tôi đã giận. Có khi giận đến mức muốn đứng thật xa để khỏi phải thất vọng thêm. Nhưng rồi tôi hiểu: sách không sai. Sách nói Giáo Hội là gì trong Đức Kitô; đời sống phơi bày chúng ta còn xa Đức Kitô đến đâu. Sách trình bày căn tính mà Thiên Chúa ban; thực tế bộc lộ tiến trình con người đang tập sống căn tính ấy bằng đôi chân còn yếu, trái tim còn hẹp và trí óc còn đầy định kiến. Khoảng cách giữa điều Giáo Hội tuyên xưng và điều con cái Giáo Hội đang sống không phải lý do để xé sách, cũng không phải cái cớ để che giấu thực tế. Khoảng cách ấy chính là nơi sám hối phải xảy ra. Nếu không có khoảng cách, chúng ta chẳng cần hoán cải. Nếu chỉ nhìn vào lý tưởng mà phủ nhận vết thương, chúng ta biến đức tin thành tuyên truyền. Nếu chỉ nhìn vào vết thương mà chối bỏ lý tưởng, chúng ta biến thất vọng thành tuyệt vọng. Người yêu Giáo Hội thật phải đủ trung thực để nhìn cả hai: nhìn dung nhan rạng ngời của Hiền Thê Đức Kitô và nhìn lớp bụi bẩn do bàn tay chúng ta làm vấy lên chiếc áo ấy. Yêu không phải là bảo rằng mọi sự đều ổn. Yêu cũng không phải ngày ngày đứng trước cửa nhà mình mà nguyền rủa. Yêu là thấy mái nhà dột thì đau, rồi tìm chiếc thang. Yêu là dám nói sự thật nhưng không nói bằng khoái cảm của người muốn thấy người khác bị hạ nhục. Yêu là tố giác điều sai để người bị tổn thương được bảo vệ, để người gây ra điều sai có cơ hội hoán cải và để căn nhà chung trở nên xứng đáng hơn với Đấng đã xây nó. Có những im lặng được gọi là khôn ngoan nhưng thật ra chỉ là sợ hãi. Có những lời bênh vực được gọi là bảo vệ Giáo Hội nhưng thật ra đang bảo vệ danh dự của một số người. Giáo Hội không được bảo vệ bằng cách chôn nỗi đau của nạn nhân dưới nền nhà. Sự thật bị chôn không chết; nó lên men, làm mục cả căn nhà từ bên trong. Giáo Hội chỉ được bảo vệ khi Giáo Hội trở về với Chúa Giêsu, Đấng không sợ chạm vào người bị xem là ô uế, không sợ đứng về phía người yếu thế, không sợ gọi sự giả hình đúng tên và cũng không khép cửa sám hối trước một tội nhân nào. Tôi yêu Giáo Hội, nên tôi không muốn Giáo Hội chỉ đẹp trong ảnh. Tôi muốn Giáo Hội là nơi một người bị thương có thể bước vào mà không sợ bị thương thêm. Tôi muốn những người có quyền biết cúi xuống, những người không có tiếng nói được lắng nghe, những người lầm lỗi được sửa dạy trong công bình, những người đau khổ được ôm lấy trong sự thật. Tôi muốn lời “xin lỗi” được nói không phải như một thủ tục truyền thông mà như một khởi đầu của đền bù. Tôi muốn việc sám hối không chỉ dành cho những người ngồi dưới tòa giải tội, mà còn dành cho cả những người ngồi trên ghế trách nhiệm.

Có một thứ Giáo Hội tồn tại rất mạnh trên mạng: hoặc toàn ánh sáng, hoặc toàn bùn. Một phía chỉ đăng những hình ảnh đẹp, những đoàn rước ngay ngắn, những thánh lễ đông người, những câu chuyện ơn gọi cảm động, những công trình bác ái đáng khâm phục, như thể trong Giáo Hội không có nước mắt, không có bất công, không có lạm quyền, không có ai bị bỏ lại. Phía kia chỉ thu gom những vụ bê bối, những lời nói vụng, những quyết định sai, những khuôn mặt đáng trách, như thể Giáo Hội chưa từng sinh ra một vị thánh, chưa từng nuôi một người nghèo, chưa từng đứng bên một người hấp hối, chưa từng mở cửa trường học, bệnh viện, trại phong, mái ấm, nhà tình thương. Cả hai hình ảnh đều dễ lan truyền vì thuật toán thích sự cực đoan. Ánh sáng tuyệt đối khiến người ta ngưỡng mộ; bùn tuyệt đối khiến người ta phẫn nộ. Cả ngưỡng mộ lẫn phẫn nộ đều giữ người ta ở lại trên màn hình. Nhưng Giáo Hội tôi yêu không nằm gọn trong hai chiếc khung ấy. Giáo Hội tôi yêu chậm hơn một dòng tin, phức tạp hơn một tiêu đề, thật hơn một tấm ảnh được chỉnh màu. Giáo Hội ấy có mùi nhà bếp của hội đồng giáo xứ sau buổi họp, có tiếng kéo ghế chói tai, có tranh luận về giờ lễ, về chỗ dựng hang đá, về tiền sửa mái, về ca đoàn hát bài nào. Có người quỳ hàng giờ trước Thánh Thể và có người đứng ngoài cổng hút thuốc chờ vợ con tan lễ. Có người đến nhà thờ vì yêu Chúa, có người đi vì sợ mẹ buồn, có người đến chỉ để tìm một chỗ ngồi yên sau tuần lễ quá mệt. Có cụ già đọc kinh rất lớn vì tai đã nặng. Có em bé khóc đúng lúc thinh lặng nhất. Có bà mẹ vừa dỗ con vừa cố nghe bài Tin Mừng. Có người chia trí suốt thánh lễ nhưng đến lúc rước lễ lại rơi nước mắt mà không biết vì sao. Có người lâu lắm rồi không xưng tội, vẫn ngồi nép cuối nhà thờ, như một đứa con chưa đủ can đảm bước về phía cha. Có người đạo đức nhưng khó tính. Có người bề ngoài khô khan nhưng âm thầm trả tiền thuốc cho một gia đình nghèo. Có người nói rất hay về yêu thương nhưng về nhà lại làm tổn thương người thân. Có người chẳng nói được gì cao siêu nhưng cả đời chăm sóc người chồng bại liệt như chăm sóc chính Chúa. Tất cả cùng đứng trong một căn nhà, nghe cùng một Lời, nhận cùng một Tấm Bánh, dù trái tim mỗi người đang ở một khoảng cách khác nhau. Tôi yêu cái hỗn độn ấy hơn một Giáo Hội đã được lọc sạch để dễ đăng. Không phải tôi yêu sự lộn xộn, càng không phải tôi lấy sự yếu đuối làm tiêu chuẩn. Tôi yêu vì chính trong đám người chưa hoàn tất ấy, Đức Kitô vẫn hiện diện. Người không đợi chúng ta hoàn hảo rồi mới gọi là Hội Thánh. Người gọi chúng ta trước, quy tụ chúng ta trước, bẻ bánh cho chúng ta trước, rồi từ từ dạy chúng ta trở thành điều chúng ta đã lãnh nhận. Giáo Hội giống một bệnh viện hơn một phòng trưng bày. Trong bệnh viện có mùi thuốc, có tiếng rên, có những ca chữa được và có những ca khiến bác sĩ bất lực. Không ai bước vào bệnh viện rồi nổi giận vì ở đó có người bệnh. Điều đáng giận là khi bệnh viện không còn chữa bệnh, khi bác sĩ quên lời thề, khi người nghèo bị từ chối vì không có tiền, khi người bệnh bị coi như con số. Cũng vậy, tôi không rời Giáo Hội chỉ vì trong Giáo Hội có tội nhân, bởi tôi cũng là một người trong số đó. Điều khiến tôi đau là khi chúng ta không còn nhận mình có bệnh; khi chúng ta trang điểm vết thương thay vì rửa sạch nó; khi chúng ta dùng ngôn ngữ đạo đức để tránh một cuộc giải phẫu cần thiết. Giáo Hội là thánh không phải vì mọi thành viên đều vô tội. Giáo Hội thánh vì Đấng ở giữa Giáo Hội là Đấng Thánh, vì các bí tích không cạn ơn do sự bất xứng của người cử hành, vì Lời Chúa vẫn có sức xuyên qua những môi miệng vụng về và vì giữa một cánh đồng lẫn lộn, ân sủng vẫn âm thầm làm cho lúa chín.

Khi người ta hỏi tôi theo đạo nào, tôi có thể trả lời bằng tên một tôn giáo, một truyền thống, một hệ thống giáo lý. Nhưng trong lòng, tôi thường nghĩ đến một ngôi làng. Tôi nghĩ đến ngọn tháp chuông nhìn thấy từ xa mỗi khi trở về quê. Tôi nghĩ đến con đường nhỏ dẫn vào nhà thờ, nơi ngày bé tôi từng chạy chân đất. Tôi nghĩ đến hàng ghế gỗ đã nhẵn vì bao thế hệ quỳ lên đó. Tôi nghĩ đến chỗ bà cố tôi thường ngồi, chiếc khăn trùm đầu, quyển kinh cũ đã sờn gáy. Tôi nghĩ đến bài Thánh vịnh được cộng đoàn đọc không đều, người nhanh người chậm, nhưng bằng cách nào đó vẫn kết thúc cùng nhau. Tôi nghĩ đến lễ an táng của một người nghèo, chẳng có vòng hoa lớn, chỉ có vài người đứng dưới mưa, nhưng linh mục vẫn đọc từng lời nguyện với tất cả sự trang nghiêm, như thể cả thiên quốc đang nghiêng mình đón một vị vua. Tôi nghĩ đến nước rửa tội đã chảy trên trán một đứa trẻ đang khóc. Tôi nghĩ đến dầu thánh trên đôi tay một linh mục trẻ trong ngày chịu chức. Tôi nghĩ đến chiếc nhẫn được trao trong một lễ cưới đơn sơ, trước khi đôi vợ chồng ấy bắt đầu học yêu nhau qua hóa đơn, bệnh tật, hiểu lầm và những đêm thức trắng vì con. Tôi nghĩ đến bàn tay giám mục đặt trên đầu những người sắp được sai đi. Tôi nghĩ đến chút tro được xức lên trán vào đầu Mùa Chay, nhắc mọi người rằng rồi đây người sang lẫn kẻ hèn cũng trở về bụi đất. Tôi nghĩ đến nghĩa trang sau nhà thờ, nơi người sống đi lễ ngang qua người chết mỗi ngày, như một bài giáo lý không lời về mầu nhiệm các thánh cùng thông công. Đức tin của tôi không chỉ được cất trong trí óc. Nó đi vào tôi qua nước, qua dầu, qua bánh, qua rượu, qua tro, qua bàn tay, qua tiếng chuông, qua mùi nhang, qua đất nghĩa trang. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng một ý tưởng lạnh. Ngôi Lời đã trở thành xác phàm. Bởi thế, Giáo Hội cũng phải có thân thể. Thân thể ấy có những phần mạnh và những phần yếu, có những vết sẹo cũ, có những chỗ đang chảy máu, có những bàn tay làm việc đến chai cứng, có những đầu gối đã mòn vì cầu nguyện. Thần học nếu không bám rễ vào thịt thì dễ trở thành cuộc tranh luận của những người chưa từng băng bó cho ai. Phụng vụ nếu không dẫn tới lòng thương xót thì chỉ còn là vẻ đẹp tự ngắm mình. Giáo luật nếu không phục vụ ơn cứu độ các linh hồn thì có thể biến thành hàng rào. Lòng đạo đức nếu không làm con người bớt độc ác, bớt kiêu căng, bớt vô cảm thì chỉ là một lớp áo khoác lên cái tôi. Nhưng ngược lại, lòng tốt nếu cắt khỏi chân lý cũng dễ trở thành sự nuông chiều; cảm xúc nếu tách khỏi đức tin dễ tan theo hoàn cảnh; nhiệt tình nếu không được uốn bởi truyền thống dễ bùng lên rồi tắt. Tôi cần Giáo Hội vừa là mẹ vừa là thầy. Tôi cần vòng tay của mẹ để biết mình được đón nhận, và cần lời dạy của thầy để không ở mãi trong sự dễ dãi. Tôi cần một Giáo Hội biết khóc cùng người đau, nhưng cũng đủ can đảm nói với tôi rằng có những điều trong tôi phải chết đi. Tôi cần được yêu như tôi đang là, nhưng cũng cần được gọi trở thành con người mà Thiên Chúa muốn tôi trở thành. Nếu Giáo Hội chỉ vỗ về, tôi sẽ không lớn. Nếu Giáo Hội chỉ sửa phạt, tôi sẽ không dám trở về. Trong Chúa Giêsu, sự thật và lòng thương xót không đánh nhau. Sự thật của Người không làm người tội lỗi tuyệt vọng; lòng thương xót của Người cũng không gọi bóng tối là ánh sáng. Giáo Hội tôi yêu phải học lại sự quân bình ấy mỗi ngày.

Yêu Giáo Hội như vậy có nguy cơ biến Giáo Hội thành một miền hoài niệm đẹp đẽ: tiếng chuông làng, bà cố lần hạt, ngọn nến đêm Giáng Sinh, những cuộc rước tháng hoa, chiếc áo lễ cũ, những mùa Chay tuổi nhỏ. Tôi biết nguy cơ ấy. Có những điều trong ký ức đẹp lên vì ta đã đứng xa. Có những làng quê tưởng rất bình yên nhưng từng có những người bị đẩy ra ngoài. Có những truyền thống tưởng rất đạo đức nhưng đôi khi che giấu sự bất công. Có những thời người ta nhớ là “đức tin mạnh” nhưng không phải ai cũng được quyền lên tiếng. Vì thế tôi không muốn dùng hoài niệm để trốn khỏi hiện tại. Tôi không yêu Giáo Hội chỉ vì Giáo Hội giữ cho tôi những ký ức tuổi thơ. Tôi yêu vì trong Giáo Hội, tôi đã gặp Đức Kitô; hay đúng hơn, Đức Kitô đã tìm gặp tôi khi tôi còn chưa biết tìm Người. Tôi đã được nuôi bằng Lời Chúa khi lòng mình đói mà không biết gọi tên cơn đói. Tôi đã được nuôi bằng Thánh Thể khi sức riêng không đủ kéo mình qua những ngày tối. Tôi đã được tha thứ trong bí tích Hòa Giải vào những lúc chính tôi cũng thấy khó tha thứ cho mình. Tôi đã được cộng đoàn cầu nguyện cho khi không còn biết phải cầu nguyện thế nào. Tôi đã được những con người bất toàn nâng đỡ bằng những cách cũng bất toàn, nhưng đủ để mình không gục xuống. Cho nên nếu hôm nay tôi lên tiếng về những điều cần thay đổi, tôi không đứng ngoài ném đá vào một căn nhà xa lạ. Tôi đang nói từ bên trong căn nhà đã cưu mang mình. Tôi phê bình không phải như một khán giả mua vé rồi chê buổi diễn, nhưng như một người con thấy mái nhà của mẹ đang dột. Tôi không muốn căn nhà cháy. Tôi muốn nó được sửa. Tôi không muốn người trong nhà bị bêu giữa đường. Tôi muốn những ai làm sai biết chịu trách nhiệm, những ai bị tổn thương được trả lại phẩm giá và những đứa trẻ sau này được lớn lên trong một ngôi nhà an toàn hơn. Người chỉ trích Giáo Hội chưa chắc đã ghét Giáo Hội; đôi khi họ đau vì từng yêu rất nhiều. Và người luôn miệng bênh vực Giáo Hội chưa chắc đã yêu Giáo Hội; đôi khi họ chỉ yêu một hình ảnh khiến họ cảm thấy an toàn. Tình yêu thật không sợ sự thật. Chính vì yêu, người ta mới không chịu để cái xấu tiếp tục mang tên điều thánh. Chính vì yêu, người ta mới dám phân biệt giữa Giáo Hội là Thân Thể Đức Kitô với những hành vi sai trái của một số thành viên. Chính vì yêu, người ta mới ở lại để cầu nguyện, làm việc, góp ý, sửa mình và chịu phần trách nhiệm của mình, thay vì chỉ chỉ tay vào người khác. Tôi không có quyền yêu cầu Giáo Hội sám hối nếu bản thân tôi không chịu sám hối. Tôi không thể đòi người có trách nhiệm biết lắng nghe trong khi ở nhà tôi không lắng nghe ai. Tôi không thể lên án thái độ loại trừ mà lòng mình vẫn âm thầm khinh miệt những người khác quan điểm. Tôi không thể đòi Giáo Hội nghèo khi chính tôi bị tiền bạc điều khiển. Tôi không thể mong cộng đoàn hiệp nhất nếu cứ mang câu chuyện của người này kể cho người kia. Mọi cuộc canh tân đáng tin đều bắt đầu từ một trái tim để Chúa canh tân. Giáo Hội không phải là “họ”. Giáo Hội là “chúng ta”. Khi Giáo Hội đẹp, tôi được hưởng vẻ đẹp ấy. Khi Giáo Hội bị thương, tôi không thể phủi tay như người ngoài. Khi Giáo Hội có lỗi, tôi phải hỏi không chỉ “ai đã làm thế?” mà còn “trong nền văn hóa nào điều ấy đã có thể xảy ra, và tôi đã im lặng ở đâu?” Khi Giáo Hội cần đổi mới, tôi không thể chỉ đòi người khác đổi.

Tôi đến với Giáo Hội trước hết không phải để kiện, dù có những điều cần phải được gọi tên và xét xử công minh. Tôi đến vì đã được nuôi. Kiện mà quên mình từng được nuôi thì dễ trở thành đứa con chỉ nhớ những trận đòn mà quên những đêm mẹ thức. Nhưng nhớ những đêm mẹ thức cũng không có nghĩa là phủ nhận những trận đòn đã làm con bị thương. Trưởng thành là có thể giữ cả hai sự thật trong cùng một trái tim: biết ơn mà không mù quáng, đau đớn mà không cay độc, trung thành mà không nô lệ, can đảm nói mà không đánh mất lòng kính trọng. Giáo Hội tôi yêu không phải một Giáo Hội tưởng tượng không có khuyết điểm. Tôi yêu chính Giáo Hội này: Giáo Hội của Phêrô đã từng chối Thầy nhưng sau đó khóc; Giáo Hội của Tôma đã từng nghi ngờ nhưng rồi quỳ xuống tuyên xưng; Giáo Hội của Phaolô từng bắt bớ các tín hữu nhưng được biến đổi thành Tông đồ; Giáo Hội của những môn đệ đã từng tranh nhau chỗ lớn nhất ngay khi Đức Giêsu đang nói về thập giá. Ngay từ đầu, Chúa đã không chọn một nhóm người hoàn hảo. Người chọn những con người có thể được biến đổi. Hy vọng của Giáo Hội không nằm ở chỗ chúng ta không bao giờ sa ngã, nhưng ở chỗ Đức Kitô không ngừng gọi chúng ta đứng dậy. Sự thánh thiện của Giáo Hội không phải tấm huy chương chúng ta tự đeo, mà là ân sủng phải đón nhận trong run rẩy và trách nhiệm. Mỗi lần một người kiêu ngạo biết xin lỗi, Giáo Hội trở nên giống Đức Kitô hơn một chút. Mỗi lần một người có quyền chịu lắng nghe người bé nhỏ, Giáo Hội được chữa lành một phần. Mỗi lần một cộng đoàn thôi đồn đoán để đến gặp nhau trực tiếp, một vết nứt được hàn lại. Mỗi lần một người già được nhớ tới, một người trẻ được tin tưởng, một người nghèo được tiếp đón, một tội nhân được mở đường trở về, một nạn nhân được bảo vệ, một linh mục mệt mỏi được hỏi thăm, một tu sĩ cô đơn được ngồi cạnh mà không bị bắt phải tỏ ra mạnh mẽ, Giáo Hội lại hiện ra đúng hơn với khuôn mặt của Thầy mình. Có thể chẳng ai ghi nhận những biến đổi nhỏ ấy. Nhưng Nước Trời vốn lớn lên như hạt cải, như nắm men, như hạt lúa mục đi trong đất. Giáo Hội không được đổi mới chỉ bằng những khẩu hiệu lớn. Giáo Hội được đổi mới khi một người quyết định hôm nay sẽ không nói xấu; một cha xứ quyết định sẽ nghe hết câu chuyện của người đang khóc; một hội đồng quyết định công khai minh bạch điều cần công khai; một cộng đoàn quyết định không dùng thinh lặng để trừng phạt; một gia đình quyết định tha thứ; một người trẻ quyết định ở lại phục vụ dù không được vỗ tay; một người già quyết định trao chỗ cho thế hệ sau; một người bị tổn thương quyết định tìm sự chữa lành thay vì biến vết thương của mình thành vũ khí làm đau người khác.

Và rồi, sau tất cả những tranh luận, những văn kiện, những cuộc họp, những lời khen chê, Giáo Hội tôi yêu vẫn trở về với một bàn thờ. Ở đó không có người giàu hơn hay nghèo hơn trước Tấm Bánh được bẻ ra. Ở đó vị linh mục cũng phải cúi mình trước điều chính ngài không thể tạo ra bằng quyền lực riêng. Ở đó cộng đoàn gồm những người có thể ngoài đời không bao giờ ngồi cùng bàn, lại bước lên cùng một lối để nhận chung một Thân Mình. “Mình Thánh Chúa Kitô.” “Amen.” Chỉ một từ thôi, nhưng nếu nói thật, nó đòi cả cuộc đời. Amen với Đức Kitô thì cũng phải học amen với Thân Thể của Người đang bị thương. Không thể rước lấy Đầu mà khinh miệt các chi thể. Không thể yêu Chúa trong nhà tạm mà bỏ mặc Chúa đang đói ngoài cổng. Không thể hôn kính thánh giá rồi đóng thêm đinh vào đời người khác bằng lời nói độc ác. Không thể xin bình an của Chúa rồi nhất quyết giữ mãi một cuộc chiến trong gia đình. Mỗi thánh lễ vừa là nguồn an ủi, vừa là một cuộc xét mình. Chúng ta đến như những mảnh vỡ và được quy tụ thành một thân thể. Chúng ta nghe Lời không phải để biết thêm một điều, nhưng để đời mình bị cắt tỉa. Chúng ta rước lấy Tấm Bánh được bẻ ra để chính mình cũng trở thành tấm bánh biết bẻ ra cho người khác. Rồi vị chủ tế nói: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.” Nghĩa là đừng ở mãi trong nhà thờ. Hãy đem điều vừa cử hành ra ngoài đường, vào nhà bếp, phòng bệnh, trường học, công sở, khu chợ, mạng xã hội và cả những cuộc gặp gỡ khó khăn nhất. Nếu sau thánh lễ chúng ta vẫn tàn nhẫn như trước, thì có lẽ môi đã thưa “Amen” nhưng đời chưa thưa. Giáo Hội không chỉ hiện hữu lúc chuông lễ vang lên. Giáo Hội tiếp tục trong cách chúng ta lái xe ngoài đường, trả lương cho người làm, đối xử với cha mẹ già, nói về người vắng mặt, sử dụng quyền lực, nhìn người nghèo, bảo vệ trẻ nhỏ và xin lỗi khi mình sai. Những điều rất nhỏ ấy mới cho biết chúng ta có thật sự tin điều mình cử hành hay không.

Một ngày nào đó, những ngôi nhà thờ chúng ta xây sẽ cũ. Những chiếc micro sẽ hỏng. Những tranh luận hôm nay tưởng lớn lao rồi cũng rơi vào quên lãng. Tên tuổi của phần lớn chúng ta sẽ không còn ai nhắc. Nhưng Giáo Hội vẫn đi tiếp, nếu vẫn còn một người mẹ dạy con làm dấu thánh giá; một người cha dù mệt vẫn dẫn con đến nhà thờ; một linh mục đặt tay tha tội cho người trở về; một nữ tu lau mặt cho người bệnh; một giáo lý viên kể cho trẻ thơ nghe rằng các em được Thiên Chúa yêu; một cộng đoàn không để người chết ra đi trong cô độc; một người bị xúc phạm vẫn chọn không trả thù; một tội nhân sau nhiều năm đứng ngoài cuối cùng đủ can đảm bước qua cánh cửa. Giáo Hội sống bằng những điều như thế. Không ồn ào. Không hoàn hảo. Nhưng bền bỉ như ngọn đèn dầu được chuyền từ tay người này sang tay người khác giữa một đêm dài. Có những bàn tay run, có những lần dầu gần cạn, có lúc ngọn lửa tưởng đã tắt. Nhưng rồi một người khác cúi xuống che gió, một người khác châm thêm dầu và ánh sáng lại đi tiếp. Tôi yêu Giáo Hội không phải vì mọi người trong Giáo Hội đều đáng yêu. Tôi yêu vì Đức Kitô đã yêu Giáo Hội trước, yêu đến nỗi hiến mình, yêu không phải để mặc Giáo Hội mãi trong những vết nhơ, nhưng để thanh tẩy và làm cho Giáo Hội nên xinh đẹp. Tôi ở lại không phải vì chẳng còn nơi nào khác để đi, mà vì giữa tất cả những tiếng nói, tôi vẫn nghe trong lòng Giáo Hội lời của Đấng có lời ban sự sống đời đời. Tôi ở lại không phải như người bảo vệ một bảo tàng, nhưng như người cùng xây một căn nhà còn dang dở. Tôi ở lại với đôi mắt mở, với trái tim biết đau, với trí óc biết phân định, với đôi tay sẵn sàng làm phần việc nhỏ của mình. Tôi ở lại và cầu xin cho mình đừng bao giờ biến tình yêu thành sự mù quáng, cũng đừng biến sự thật thành con dao. Tôi cầu xin được yêu Giáo Hội như Đức Kitô yêu: thấy rõ mọi vết thương mà không bỏ đi, gọi đúng mọi tội lỗi mà không thôi hy vọng, cúi xuống rửa chân thay vì tranh ghế, hiến mình thay vì đòi được phục vụ.

Giáo Hội tôi yêu không có trọn trong sách giáo khoa. Nhưng nếu không có sách, có lẽ tôi không hiểu mình đang yêu điều gì. Và nếu không có những con người bằng xương bằng thịt, có lẽ những điều trong sách sẽ mãi chỉ là những dòng chữ đẹp. Tôi cần cả hai: chân lý để tình yêu không lạc đường, và những khuôn mặt để chân lý không trở nên lạnh lẽo. Tôi cần bốn đặc tính cao cả của Giáo Hội, và cũng cần tiếng ho của bà cụ trong thánh lễ sáng. Tôi cần giáo huấn về mầu nhiệm hiệp thông, và cũng cần một bàn cơm nơi người ta chừa phần cho người đến muộn. Tôi cần thần học về bí tích, và cũng cần bàn tay chai sần của người mở cửa nhà thờ mỗi ngày. Tôi cần vẻ đẹp của phụng vụ, và cũng cần một trái tim biết nhận ra Đức Kitô nơi người làm phiền mình. Giữa lý tưởng và thực tế, giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa huy hoàng và nghèo khó, Giáo Hội vẫn bước đi. Có lúc đi thẳng, có lúc loạng choạng, có khi phải dừng lại băng bó, có khi phải quay về vì đã đi sai đường. Nhưng Đức Kitô vẫn không bỏ Giáo Hội. Và nếu Người chưa bỏ, tôi cũng xin đừng vội bỏ. Tôi xin ở lại, không phải để làm ngơ, nhưng để yêu cho đúng; không phải để che đậy, nhưng để góp phần chữa lành; không phải để chỉ trích từ xa, nhưng để cúi xuống nhặt một viên gạch, lau một vết bẩn, ôm một người đang khóc, nhận một lỗi thuộc về mình và thắp một ngọn nến trong đêm. Có thể phần việc của tôi rất nhỏ. Nhưng Giáo Hội từ đầu đã lớn lên nhờ những điều nhỏ được làm bằng một tình yêu lớn. Và đến cuối cùng, có lẽ Giáo Hội tôi yêu vẫn chỉ là thế này: một đám người không hoàn hảo được một Thiên Chúa hoàn hảo yêu đến cùng; một đoàn người có lúc lạc đường nhưng vẫn nghe tiếng Mục Tử gọi tên; một căn nhà có nhiều vết nứt nhưng trong đó vẫn có Bánh được bẻ, Lời được công bố, tội được tha, nước mắt được lau và hy vọng được trao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo Hội ấy không vừa trong sách giáo khoa. Giáo Hội ấy đang sống, đang đau, đang sám hối, đang được thanh luyện, đang yêu và đang học yêu. Và đó là Giáo Hội tôi yêu.

Lm. Anmai, CSsR.