KHI MÁI NHÀ TRỞ THÀNH LỜI RAO GIẢNG – Lm. Anmai, CSsR

5

KHI MÁI NHÀ TRỞ THÀNH LỜI RAO GIẢNG – Lm. Anmai, CSsR
Thách đố truyền giáo từ lòng chung thủy và cách vợ chồng đối xử với nhau mỗi ngày
Có người chưa từng bước vào nhà thờ nhưng đã có một nhận xét rất rõ về đạo Công giáo sau nhiều năm sống cạnh một gia đình Công giáo. Họ không biết hết các kinh nguyện, chưa đọc Tin Mừng, cũng chẳng phân biệt được các mùa trong năm phụng vụ. Họ chỉ biết đôi vợ chồng nhà bên đi lễ mỗi Chúa nhật. Và họ biết thêm một điều nữa: mỗi khi người vợ bệnh, người chồng đi chợ, nấu cơm, đưa vợ đi khám; mỗi khi người chồng gặp chuyện không vui, người vợ bớt những lời trách móc để ngồi bên cạnh. Họ cũng từng nghe hai người bất đồng, nhưng chưa thấy họ dùng nỗi yếu đuối của nhau để làm nhục nhau trước mặt người khác. Một ngày nào đó, người hàng xóm có thể hỏi: “Sao anh chị sống được với nhau như vậy?” Câu hỏi ấy là một cánh cửa. Đôi vợ chồng có thể kể về Chúa, về đức tin đã nâng đỡ mình. Nhưng trước khi cất lời, họ đã kể một phần câu chuyện ấy bằng cách sống.
Truyền giáo trong gia đình thường được nói đến bằng những việc dễ nhận thấy: dạy con làm dấu, mời người khác đến nhà dự giờ kinh, tham gia việc bác ái của giáo xứ, chia sẻ một lời Chúa trên mạng. Những việc ấy đáng quý. Tuy nhiên, nếu một người muốn biết Tin Mừng có sức đi vào đời sống thật hay không, họ thường nhìn nơi gần nhất và khó diễn nhất: cách vợ chồng Công giáo đối xử với nhau. Họ nhìn khi tiền bạc thiếu hụt, khi một người mệt mỏi, khi đứa con ốm, khi cha mẹ già cần chăm sóc. Họ nhìn một cuộc cãi vã đi về đâu. Họ nhìn xem sau nhiều năm chung sống, hai người còn dành cho nhau sự tôn trọng hay chỉ giữ lại một cuộc hôn nhân nguyên vẹn trên giấy tờ. Những điều ấy không thể trình bày trong một bài nói hay rồi cất đi. Chúng diễn ra từng ngày, trước mắt con cái, người thân và láng giềng.
Lòng chung thủy của vợ chồng trước hết là một lời hứa được sống qua thời gian. Ngày cưới, hai người đứng trước Thiên Chúa và cộng đoàn, trao cho nhau một lời cam kết. Khi ấy, họ còn trẻ hơn hôm nay, hoặc ít nhất còn nhiều sức hơn hôm nay. Có những điều họ hiểu, và cũng có rất nhiều điều họ chưa thể hình dung: một lần mất việc, những đêm thức vì con, một cơn bệnh kéo dài, sự thay đổi nơi thân thể, tính tình và các ước mơ. Lời hứa năm ấy không tự giữ mình qua những biến cố. Hai người phải chăm sóc nó, đôi lúc bằng những lựa chọn rất nhỏ: không tìm đến một mối thân mật khác để trốn khó khăn ở nhà; không tiết lộ điều riêng tư của bạn đời để mua tiếng cười trong một cuộc gặp gỡ; không bỏ mặc người kia đối diện mọi gánh nặng một mình; biết quay lại cuộc trò chuyện đã dở dang dù lòng vẫn còn tự ái.
Vì thế, chung thủy có chiều sâu hơn việc không phản bội. Một người có thể chưa bước qua ranh giới của ngoại tình, nhưng đã vắng mặt khỏi đời sống của vợ hoặc chồng trong nhiều năm. Họ cùng ở một nhà, cùng lo các hóa đơn, cùng xuất hiện trong những dịp lễ, nhưng không còn hỏi người kia đang vui hay đau điều gì. Khi người kia nói, họ đáp qua loa. Khi người kia cần, họ cho rằng việc ấy có thể chờ. Càng ngày, đời sống chung càng giống một sự phân công công việc. Từ bên ngoài, không ai thấy một biến cố lớn. Bên trong, cả hai đang cô đơn. Giữ lời hứa hôn nhân cũng đòi mỗi người trở lại với sự hiện diện: nhìn vào mặt nhau, nghe một câu nói đến hết, nhận ra người mình đã cưới hôm nay có thể đang mang một nỗi lo mới mà mình chưa biết.
Có những người nghe nói đến truyền giáo qua đời sống vợ chồng rồi nghĩ ngay đến hình ảnh một gia đình luôn vui vẻ. Nhưng một gia đình luôn phải tỏ ra vui vẻ sẽ khó làm chứng cho sự thật. Ai sống gần nhau cũng có lúc bất đồng. Vợ chồng Công giáo không được miễn khỏi nóng giận, hiểu lầm, mệt mỏi hoặc thất vọng. Lời rao giảng nằm ở cách họ đi qua những điều ấy. Khi tranh luận, họ có còn nhớ người trước mặt là người mình đã chọn yêu, chứ không phải đối thủ cần đánh bại? Khi một người lỡ lời, họ có biết nhận lỗi mà không thêm chữ “nhưng em cũng…” hoặc “nhưng anh đã…” để rút lại lời xin lỗi? Khi phải quyết định chuyện tiền bạc, con cái hay chăm sóc cha mẹ hai bên, họ có cố hiểu nỗi lo của nhau trước khi giữ chặt ý mình? Người ngoài có thể không biết chi tiết cuộc tranh luận, nhưng họ thấy hoa trái của cách hai người giải quyết nó.
Nhường nhịn trong hôn nhân là một từ rất dễ bị hiểu sai. Có người nhường nhịn vì yêu, có người nhường nhịn vì sợ. Có người lùi một bước để giữ cuộc đối thoại, có người phải im lặng vì mỗi lần nói thật đều bị đe dọa hoặc hạ nhục. Hai điều ấy khác nhau. Sự nhường nhịn có sức làm chứng cho Tin Mừng khi cả hai người cùng được tôn trọng. Người chồng có thể bỏ ý định của mình lần này vì nhận ra vợ đang kiệt sức. Người vợ có thể đổi một kế hoạch vì hiểu chồng đang gánh một khó khăn chưa nói ra. Lần khác, người từng được nhường cũng biết lắng nghe và thay đổi. Không ai bị buộc phải biến sự im lặng của mình thành bằng chứng rằng gia đình đang êm ấm. Một mái nhà có bạo lực, cưỡng ép hoặc sợ hãi cần được bảo vệ và giúp đỡ; không thể dùng chữ hy sinh để bắt người chịu hại ở lại trong nguy hiểm.
Sự nhường nhịn lành mạnh bắt đầu khi ta công nhận người kia có một đời sống nội tâm riêng. Sau nhiều năm chung sống, vợ chồng rất dễ nghĩ mình đã biết hết nhau. “Anh ấy lúc nào cũng vậy.” “Cô ấy nói câu ấy là biết rồi.” Ta bắt đầu nghe nửa câu và tự điền nửa còn lại. Nhưng người bên cạnh ta vẫn đang đổi thay. Công việc hôm nay có thể làm họ sợ. Một câu nói của con có thể khiến họ day dứt. Một ký ức cũ có thể vừa được khơi lại. Nếu yêu thương chỉ dựa trên hình ảnh ta đã quen về bạn đời, ta sẽ bỏ lỡ con người đang ngồi trước mặt. Có khi một câu hỏi đơn giản, “Hôm nay điều gì làm em nặng lòng?” hoặc “Anh có muốn kể thêm không?”, đã là sự nhường nhịn quý giá: nhường chỗ cho câu chuyện của người kia hiện diện trước khi nói về câu chuyện của mình.
Những người chưa biết Chúa có thể hiểu một lời chứng như vậy mà không cần nhiều thuật ngữ. Họ thấy người chồng đang vội vẫn dừng lại khi vợ nói mình mệt. Họ thấy người vợ không kể lỗi của chồng như một câu chuyện mua vui. Họ thấy hai người không luôn đồng ý, nhưng không vì bất đồng mà tước đi phẩm giá của nhau. Điều họ nhận ra có thể rất giản dị: trong mái nhà ấy, con người được đối xử như người đáng quý. Nếu sau đó họ hỏi đức tin đã góp phần thế nào, vợ chồng Công giáo có thể trả lời thành thật. Họ không cần nói rằng mình đã sống tốt mọi ngày. Họ có thể nói Chúa dạy mình trở lại sau những ngày sống chưa tốt, cho mình lý do để xin lỗi và bắt đầu lại.
Lời chứng ấy đặc biệt rõ trong lúc một người không còn mạnh mẽ như trước. Những năm khỏe mạnh, vui vẻ, thuận lợi, yêu nhau có nhiều điều nâng đỡ. Khi một người bệnh, mất việc, trầm xuống vì biến cố, hoặc không còn đem lại cảm giác dễ chịu cho người kia như thuở ban đầu, lời hứa hôn nhân được thử bằng những việc cụ thể. Một người chồng ngồi chờ ngoài phòng khám cùng vợ; một người vợ kiên nhẫn giúp chồng tập lại một việc sau cơn bệnh; cả hai học cách nói về sự kiệt sức và tìm thêm người hỗ trợ thay vì âm thầm chịu đựng đến lúc oán trách nhau. Những việc ấy có thể diễn ra âm thầm đến mức ít ai biết. Nhưng khi người khác nhìn thấy, họ nhận ra tình yêu có thể tồn tại cả lúc người mình yêu không còn đáp ứng được những mong đợi ban đầu.
Dĩ nhiên không nên kể những cảnh chăm sóc ấy như thể người ở lại không bao giờ mệt. Người vợ chăm chồng bệnh có thể khóc vì kiệt sức. Người chồng chăm vợ nhiều năm có thể thấy mình cô độc. Họ cần sự giúp đỡ của người thân và cộng đoàn. Một lời rao giảng chân thật không đòi ta che giấu những giới hạn đó. Trái lại, khi một đôi vợ chồng biết nói “chúng tôi đang khó khăn, xin giúp chúng tôi”, họ cho thấy tình yêu không phải là cuộc biểu diễn của hai người luôn đủ sức. Có lúc lòng trung tín cần cả một cộng đoàn đỡ lấy: người trông giúp con, người mang đến một bữa ăn, người đưa bệnh nhân đi khám, người ngồi nghe mà không phán xét. Khi giáo xứ nâng đỡ một gia đình như thế, lời chứng về tình yêu mở rộng ra khỏi bốn bức tường nhà họ.
Con cái là những người chứng kiến đời sống vợ chồng gần nhất. Chúng nghe giọng cha mẹ trước khi hiểu những lý lẽ cha mẹ đưa ra. Chúng biết cha có thật sự tôn trọng mẹ khi mẹ không có mặt không. Chúng biết mẹ có cho cha cơ hội nói hết ý mình không. Chúng thấy ai thường phải xuống nước và ai luôn có quyền nổi giận. Bài giáo lý về hôn nhân mà con ghi nhớ có khi không nằm trong một lớp học, mà ở bữa cơm tối thứ ba, khi cha mẹ bất đồng về việc của con và chọn nói với nhau mà không biến con thành trọng tài. Nếu con lớn lên giữa những lời xúc phạm, rồi nghe cha mẹ bảo sau này hãy sống đạo tốt, em có quyền bối rối. Nếu con lớn lên và thấy cha mẹ biết xin lỗi nhau, biết chăm sóc nhau, biết nói sự thật mà không làm nhục nhau, em đã gặp một chứng tá có thể đi theo mình rất lâu.
Có những cha mẹ muốn làm gương nên giấu hết bất đồng trước mặt con. Giữ những chuyện riêng tư không đổ lên vai trẻ là điều cần thiết. Nhưng con không cần một bức tranh gia đình chưa từng có vết xước. Nếu em đã thấy cha mẹ cãi nhau, em cũng cần được thấy người lớn có thể trở lại, làm hòa và sửa cách nói. Cha mẹ có thể nói vừa đủ: “Lúc nãy bố mẹ đã nói chuyện với nhau không tốt. Đó không phải lỗi của con. Bố mẹ đang giải quyết.” Câu ấy giải thoát con khỏi ý nghĩ mình phải chịu trách nhiệm cho căng thẳng của người lớn. Nó cũng cho con biết yêu thương không đồng nghĩa với việc chẳng bao giờ bất đồng; yêu thương đòi trách nhiệm đối với điều mình làm khi bất đồng.
Một trong những thử thách âm thầm nhất của hôn nhân là thói quen coi sự hiện diện của nhau như điều hiển nhiên. Người chồng mặc nhiên tin vợ sẽ nhớ mọi lịch học của con, mọi món cần mua, mọi cuộc hẹn của gia đình. Người vợ mặc nhiên tin chồng sẽ gánh những việc tài chính mà không bao giờ cần nghe anh đang lo. Có những việc được làm hằng ngày nên dần trở nên vô hình. Người làm nhiều cảm thấy mình chỉ được nhớ đến lúc có việc chưa xong. Khi hai người biết nhận ra lao nhọc của nhau và nói lời cảm ơn, họ giữ cho tình yêu khỏi bị bào mòn bởi sự quen thuộc. “Anh thấy hôm nay em đã vất vả.” “Cảm ơn anh đã đi cùng mẹ đến bệnh viện.” Những câu ấy không lớn lao. Nhưng có người đã chờ chúng nhiều năm.
Lòng chung thủy còn được thể hiện trong cách vợ chồng giữ gìn hình ảnh của nhau trước người khác. Đôi khi một câu đùa về bạn đời trong cuộc gặp mặt có thể khiến mọi người cười, còn người bị đem ra kể thì lặng đi. “Nhà tôi chẳng biết làm gì.” “Chồng tôi vô tâm lắm.” “Vợ tôi lúc nào cũng cằn nhằn.” Có những câu được nói quá nhiều đến mức người nói không còn nghe thấy sự coi thường trong đó. Vợ chồng cần có người để chia sẻ lúc khó khăn; việc tìm sự hỗ trợ đáng tin là cần thiết. Nhưng chia sẻ để được giúp khác với phơi bày lỗi riêng của người kia để mình được đứng ở vị trí cao hơn. Người hàng xóm có thể quên lời giáo lý ta từng kể, nhưng nhớ rất rõ ta đã đối xử với người bạn đời vắng mặt như thế nào.
Trong một thời đại mà nhiều mối quan hệ được bày ra trên mạng, lời chứng của vợ chồng Công giáo còn đối diện một câu hỏi mới: ta đang kể điều gì về gia đình mình? Có người đăng rất nhiều hình ảnh hạnh phúc, những lời chúc ngọt ngào, những chuyến đi đẹp, nhưng ở nhà hai người đã không trò chuyện thật sự từ lâu. Những hình ảnh ấy không có lỗi; lưu giữ niềm vui là điều tốt. Chỉ có điều đời sống chung cần được chăm sóc ở nơi không ai bấm thích. Một lời hỏi han khi điện thoại đã đặt xuống, một buổi tối chịu nghe điều người kia lo lắng, một quyết định không đưa cuộc cãi vã của mình lên mạng để tìm người đứng về phía mình: đó có thể là những việc bảo vệ hôn nhân tốt hơn nhiều lời tuyên bố công khai.
Có những người chưa nhận biết Chúa quan sát gia đình Công giáo với một sự dè dặt dễ hiểu. Họ đã từng gặp người nói rất hay về tình yêu, nhưng đối xử tệ với người nhà. Họ không cần thêm một gia đình tự nhận mình mẫu mực. Họ cần thấy sự nhất quán vừa sức con người: người tin Chúa cố sống theo điều mình tin; khi sai, họ không lấy đức tin làm lá chắn; khi yếu, họ không giả vờ mạnh. Nếu ta mời người khác tìm hiểu Tin Mừng mà ở nhà người thân phải chịu sự khắc nghiệt của ta, lời mời ấy sẽ khó được đón nhận. Nếu ta còn nhiều giới hạn nhưng đang thật lòng học sống tử tế hơn nhờ đức tin, người khác có thể nhận ra điều đó.
Cũng cần nhìn nhận rằng không phải mọi cuộc hôn nhân bền lâu đều tự động là một lời chứng tốt. Ở lại bên nhau trong oán giận, dùng danh dự gia đình để ép một người chịu bạo lực, hoặc giữ vẻ ngoài êm ấm trong khi con cái sống trong sợ hãi, không diễn tả vẻ đẹp của lòng chung thủy. Một lời chứng chân thật đòi sự an toàn, công bằng và phẩm giá của cả hai. Khi có hành vi gây hại, điều cần làm là ngăn chặn, tìm sự trợ giúp thích hợp và bảo vệ người đang bị tổn thương. Đừng gọi việc chịu đựng nguy hiểm là một cách truyền giáo. Đừng buộc một người im lặng để hàng xóm tiếp tục nghĩ gia đình mình đạo đức. Sự thật của Tin Mừng không cần được bảo vệ bằng một vẻ ngoài giả tạo.
Vậy vợ chồng làm sao biến đời sống thường ngày thành lời rao giảng? Có lẽ trước hết là thôi nghĩ đến việc rao giảng như một màn trình diễn trước người ngoài. Hai người không cần tự hỏi sáng nay mình phải làm gì để hàng xóm thấy gia đình Công giáo đáng ngưỡng mộ. Hãy hỏi người bên cạnh mình đang cần điều gì. Hôm nay vợ cần chồng đón con để có một giờ nghỉ? Hôm nay chồng cần vợ nghe anh nói hết về nỗi lo công việc? Có một cuộc hẹn đã hứa mà mình cứ dời lại? Có lời nào đã nói quá nặng mà mình chưa xin lỗi? Khi sự chú tâm ấy được lặp lại, người ngoài sẽ tự nhìn thấy hoa trái. Một mái nhà được chăm sóc thật không cần cố gây ấn tượng.
Tiếp đến, hai người cần có chỗ cho cầu nguyện. Không nhất thiết lúc nào cũng là một giờ kinh dài mà cả nhà cố gắng đọc cho xong. Có những giai đoạn con nhỏ, bệnh tật hoặc công việc khiến nhịp sống xáo trộn. Vợ chồng có thể bắt đầu rất đơn sơ: trước khi ngủ, cùng cảm ơn Chúa vì một điều trong ngày; cầu nguyện cho người thân đang bệnh; xin ơn để ngày mai nói chuyện với nhau tốt hơn. Nếu vừa cãi nhau, hai người có thể chưa thể cầu nguyện cùng ngay. Hãy bắt đầu bằng việc không dùng lời kinh để buộc người kia im lặng, không đòi họ phải làm hòa theo thời hạn mình đặt ra. Cầu nguyện thật dẫn con người đến sự thật và sự hoán cải; nó không thay thế việc nói rõ một điều đã gây đau.
Đời sống bí tích cũng có thể nuôi dưỡng lời chứng ấy khi vợ chồng để điều mình cử hành đi vào đời thường. Cùng đến thánh lễ không giải quyết thay một cuộc tranh luận về tiền bạc. Nhưng thánh lễ có thể nhắc hai người rằng mình cần được nuôi dưỡng để tiếp tục yêu, nhất là khi sức riêng không đủ. Bí tích Hòa Giải không chỉ là nơi kể những lỗi riêng của mình rồi trở lại với nếp sống cũ; nó có thể giúp mỗi người thành thật nhìn xem sự ích kỷ, tự ái và những lời nói thiếu bác ái đã làm gì cho người bạn đời. Những ân sủng ấy cần gặp những quyết định cụ thể. Nếu hôm nay tôi xin được tha thứ, tôi cũng cần trở về và sửa một lời hứa mình đã nhiều lần thất hứa.
Còn có một hình thức truyền giáo rất âm thầm: đón người khác vào nhà mà không khiến họ thấy mình bị đánh giá. Một đôi vợ chồng sống hiếu khách có thể mời người hàng xóm đang cô đơn ăn bữa cơm; hỏi thăm gia đình mới chuyển đến; giúp một người mẹ đơn thân khi chị không có ai trông con; thăm một người già nằm bệnh. Họ không cần biến mỗi lần giúp đỡ thành cơ hội thuyết phục ai đó theo đạo. Khi người khác hỏi vì sao họ dành thời gian như vậy, họ có thể nói về nguồn mạch đức tin của mình. Nhưng ngay cả khi không ai hỏi, việc họ làm vẫn có ý nghĩa. Người được giúp trước hết cần được yêu thương và tôn trọng như chính họ, chứ không như một kết quả mà gia đình mong đạt được.
Lời rao giảng từ gia đình cũng cần mở ra với những gia đình đang gặp khó. Có đôi vợ chồng thường được khen là hạnh phúc, rồi dần chỉ kết giao với những người cũng ổn thỏa như mình. Trong khi ở cạnh họ, một gia đình đang gồng mình vì nợ nần, một người vợ vừa sinh con thấy kiệt sức, một người chồng thất nghiệp không dám gặp ai, một đôi đang đứng trước nguy cơ tan vỡ. Lòng chung thủy của một gia đình có thể trở thành niềm hy vọng khi họ biết đồng hành mà không lên lớp. “Chúng tôi cũng từng có thời gian rất khó. Nếu anh chị muốn, chúng tôi có thể nghe.” Một lời mời khiêm tốn như thế thường gần với Tin Mừng hơn những nhận xét vội vàng về nguyên nhân gia đình người khác rạn nứt.
Giáo xứ cũng có trách nhiệm đối với lời chứng của các gia đình. Ta thường mời vợ chồng tham gia nhiều công việc, nhờ họ đóng góp, tổ chức lễ kỷ niệm hôn phối và chụp những bức ảnh thật đẹp. Những việc ấy có thể đem lại niềm vui. Nhưng cộng đoàn cần hỏi thêm: các đôi vợ chồng có nơi nào để nói về áp lực, bất đồng và sự cô đơn mà không sợ bị coi là gia đình thiếu đạo đức không? Người chăm con nhỏ có được cảm thông không? Người đang chăm bạn đời bệnh tật có ai đỡ đần không? Khi một gia đình gặp bạo lực, cộng đoàn có đặt sự an toàn của người bị hại lên trước vẻ đẹp bề ngoài của một cuộc hôn nhân không? Nếu muốn gia đình trở thành lời rao giảng, cộng đoàn phải giúp các gia đình sống trong sự thật.
Có lúc một gia đình truyền giáo bằng niềm vui. Tiếng cười ở bàn ăn, một ngày cùng nấu món giản dị, cách hai người trêu nhau mà không chạm vào điều người kia xấu hổ, niềm vui đón một đứa trẻ, sự bình an khi cả nhà cùng nghỉ ngơi: những điều ấy hấp dẫn vì chúng thật. Có lúc gia đình truyền giáo bằng nước mắt. Người vợ và người chồng cùng trải qua một mất mát, không ai tìm được câu nào để an ủi người kia, nhưng vẫn ở lại, cùng đi qua ngày hôm sau. Có lúc họ truyền giáo bằng một lời xin lỗi được nói trước mặt con. Có lúc bằng cách trao cho người kia quyền được nghỉ khi người ấy đã quá mệt. Không phải lúc nào lời rao giảng cũng hùng hồn. Nhiều lời rao giảng chỉ vừa đủ cho người đứng gần nghe thấy.
Tôi nghĩ đến người hàng xóm ban đầu. Có thể chị chưa bao giờ đặt câu hỏi về Thiên Chúa vì nghe một bài giảng. Chị bắt đầu hỏi vì thấy đôi vợ chồng sát nhà đã chung sống nhiều năm mà vẫn biết chừa chỗ cho nhau. Chị cũng thấy họ có những ngày không vui. Có lần người chồng nóng nảy. Có lần người vợ đóng cửa rất mạnh. Nhưng rồi chị thấy họ tìm cách sửa điều vừa xảy ra. Chị thấy người chồng tiếp tục chăm vợ trong những tháng bệnh, còn người vợ không coi sự thất bại của chồng là điều đáng xấu hổ. Khi được hỏi bí quyết, có lẽ họ không nên đáp như thể mình sở hữu một công thức. Họ có thể nói: “Chúng tôi đã làm nhau buồn không ít lần. Đức tin giúp chúng tôi nhớ rằng lời hứa của mình cần được chăm sóc mỗi ngày. Có lúc chúng tôi cũng phải nhờ người khác giúp.” Một câu thật như thế có sức mở lòng người nghe, vì chị nhận ra gia đình này đang sống giữa những khó khăn giống bao gia đình khác.
Có khi người ngoài chẳng bao giờ hỏi. Họ chỉ âm thầm ghi nhớ. Một đứa trẻ hàng xóm nhìn thấy cách cha mẹ bạn đối xử với nhau và lần đầu hình dung rằng vợ chồng có thể bất đồng mà vẫn an toàn. Một người trẻ chưa muốn tìm hiểu đạo nhìn thấy một đôi lớn tuổi nắm tay nhau đi chậm qua con hẻm. Một người đang mất lòng tin vào hôn nhân nhìn thấy người chồng đưa vợ đi khám trong nhiều tháng mà không kể công. Những người ấy có thể chưa gọi tên điều họ nhận ra. Ta cũng không thể biết lời chứng của mình sẽ đi đến đâu. Việc của vợ chồng là sống lời hứa của mình cách chân thật, và sẵn sàng chia sẻ nguồn hy vọng của mình khi có người muốn nghe.
Nếu hôm nay một đôi vợ chồng đọc những dòng này và thấy nhà mình còn xa hình ảnh ấy, xin đừng vội nản. Không ai bắt đầu truyền giáo từ một cuộc hôn nhân hoàn hảo. Có thể hai người đang mệt đến mức chẳng biết nói gì với nhau ngoài chuyện tiền và con. Có thể một lời làm đau từ nhiều năm trước vẫn chưa được giải quyết. Có thể một người đã cố mở lời nhiều lần, còn người kia chỉ biết lặng im. Hãy bắt đầu ở nơi mình thật sự đang đứng. Một câu “anh muốn hiểu vì sao em buồn” có thể là khởi đầu. Một lời “em xin lỗi vì đã kể chuyện riêng của anh trước mặt mọi người” có thể là khởi đầu. Một quyết định tìm người đồng hành đáng tin hoặc sự trợ giúp chuyên môn khi cần cũng có thể là khởi đầu. Chúa không đòi gia đình phải trông như một bức ảnh đẹp mới có thể bước đến với Ngài.
Lòng chung thủy được lớn lên bằng những lần trở lại. Trở lại với người mình từng hứa yêu khi công việc đã lấy hết sự chú ý. Trở lại với cuộc đối thoại sau khi cơn giận lắng xuống. Trở lại với lời cầu nguyện khi cả hai đã quen chỉ dựa vào sức mình. Trở lại với sự tôn trọng lúc lời nói bắt đầu trở nên sắc lạnh. Mỗi lần trở lại đều phải đi cùng một thay đổi thật, dù nhỏ. Người bị tổn thương cần thấy điều gì khác đi, chứ không chỉ nghe thêm một lời hứa. Khi vợ chồng kiên trì như vậy, họ đang cho người khác thấy lòng trung tín có dáng vẻ cụ thể trong cuộc sống.
Ước gì các gia đình Công giáo đừng quá lo làm sao để người ngoài thấy nhà mình đạo đức. Xin hãy lo cho người đang sống cùng mình trước. Người vợ có được lắng nghe không? Người chồng có được phép nói mình sợ và mình mệt không? Con cái có thấy cha mẹ tôn trọng nhau không? Người thân đau yếu có được chăm sóc mà không bị coi là gánh nặng không? Người từng làm sai có cơ hội sửa sai trong sự thật không? Nếu trong nhà, con người được đón nhận và được mời gọi lớn lên như thế, cánh cửa ấy sẽ mở ra ngoài. Bạn bè, láng giềng và những người chưa biết Chúa sẽ thấy một điều đáng để họ dừng lại.
Đến lúc ấy, đôi vợ chồng có thể nói về Tin Mừng. Họ có thể kể về Đức Kitô, về lời hứa hôn nhân đã trao trước mặt Ngài, về ơn tha thứ họ đã nhiều lần cần đến. Những lời ấy sẽ có trọng lượng vì người nghe đã nhìn thấy đời sống đứng phía sau. Có thể đây là một trong những thách đố truyền giáo lớn nhất của gia đình hôm nay: để lời mình nói về tình yêu không đi xa hơn cách mình yêu người ở gần nhất.
Lạy Chúa, xin gìn giữ các đôi vợ chồng trong lòng chung thủy. Xin cho họ đủ dịu dàng để nghe nhau giữa ngày bận rộn, đủ can đảm để nói thật khi có điều cần sửa, đủ khiêm tốn để xin lỗi và đủ khôn ngoan để tìm sự giúp đỡ khi tự mình không thể vượt qua. Xin cho con cái được lớn lên trong một mái nhà nơi cha mẹ biết tôn trọng nhau. Xin cho người hàng xóm, người bạn và người khách bước qua cửa nhà họ gặp được sự tử tế chân thành. Và nếu một ngày có ai hỏi họ vì sao vẫn cố yêu thương như vậy, xin cho họ có thể kể về Chúa bằng lời nói giản dị, bởi từ lâu họ đã kể bằng cuộc đời mình.
Lm. Anmai, CSsR.