KHOÁN TRẮNG HAY ĐỒNG HÀNH? Lm. Anmai, CSsR.

1

KHOÁN TRẮNG HAY ĐỒNG HÀNH? Lm. Anmai, CSsR.
Khi cha mẹ gửi con đến lớp giáo lý nhưng quên cùng con bước đi trong đức tin
Có một cảnh rất quen thuộc ở nhiều giáo xứ. Sáng Chúa nhật, cha mẹ chở con đến nhà thờ, dừng xe trước cổng, nhắc vội: “Vào lớp đi con, học cho đàng hoàng.” Đứa trẻ xuống xe, chạy vào sân. Một lát sau, cha mẹ quay lại đón, hỏi: “Hôm nay cô có điểm danh không? Có bài tập gì không?” Con lắc đầu hoặc đáp qua loa. Cuộc trò chuyện kết thúc ở đó. Tuần sau mọi việc lặp lại. Rồi một năm, hai năm, nhiều năm trôi qua. Con được lên lớp, được lãnh nhận các bí tích, có hình chụp trong ngày lễ đẹp đẽ. Nhưng có khi cha mẹ chưa từng ngồi xuống hỏi con một câu: “Hôm nay con nghe điều gì về Chúa? Điều ấy làm con vui, thắc mắc hay khó hiểu?”
Câu hỏi ấy tưởng nhỏ, nhưng chạm đến một thực trạng đáng suy nghĩ. Nhiều cha mẹ hết lòng lo cho con. Họ sắp xếp giờ giấc, đưa đón đều đặn, đóng góp cho lớp học, mua sách giáo lý, chuẩn bị quần áo cho ngày lãnh bí tích. Những việc ấy là công sức thật và đáng trân trọng. Tuy nhiên, có một việc không thể chỉ giao cho giáo xứ: giúp con nhận ra đức tin có chỗ trong chính ngôi nhà của mình. Giáo lý viên có thể dạy con một giờ mỗi tuần. Cha xứ có thể giảng, cử hành bí tích và hướng dẫn cộng đoàn. Nhưng sau giờ học, đứa trẻ trở về với những người con yêu thương và quan sát nhiều nhất. Ở đó, con sẽ tự hỏi, dù chưa biết diễn tả thành lời: “Điều con học về Chúa có liên quan gì đến cách nhà mình sống không?”
Có những cha mẹ sẵn sàng hỏi rất kỹ việc học văn hóa của con. Hôm nay kiểm tra mấy điểm? Bài toán này sao làm sai? Cô giáo nhận xét thế nào? Kỳ tới cần học thêm môn gì? Những câu hỏi ấy phát xuất từ trách nhiệm và sự lo lắng cho tương lai con. Thế nhưng sau lớp giáo lý, nhiều khi câu hỏi duy nhất là: “Con học thuộc kinh chưa?” Con thuộc thì cha mẹ yên tâm; con chưa thuộc thì bị nhắc nhở. Ta vô tình đối xử với đức tin như một môn học phụ, trong khi lại mong con có một tương quan sâu xa với Chúa. Ta kiểm tra trí nhớ của con mà ít khi tìm hiểu tâm hồn con.
Đức tin cần kiến thức. Con phải được học Kinh Thánh, kinh nguyện, giáo huấn của Hội Thánh, ý nghĩa các bí tích và đời sống luân lý. Không thể lấy sự chân thành để thay cho việc học hỏi. Nhưng học giáo lý cũng không chỉ là nhớ đúng câu trả lời. Một đứa trẻ có thể thuộc câu “Thiên Chúa là Cha nhân lành” mà vẫn sợ hãi không dám kể với bố mẹ khi mình phạm lỗi. Con có thể trả lời rất trôi chảy rằng phải tha thứ, nhưng nhiều năm không thấy người lớn trong nhà xin lỗi nhau. Con có thể biết Chúa Giêsu yêu thương người nghèo, nhưng nghe gia đình khinh miệt người làm những công việc ít được trọng vọng. Khi ấy, điều con nghe ở lớp và điều con thấy ở nhà bắt đầu đi về hai hướng. Trẻ nhỏ có thể chưa tranh luận về sự mâu thuẫn ấy; chúng chỉ âm thầm ghi nhớ.
Đến một tuổi nào đó, con đặt câu hỏi: “Sao con phải đi lễ nếu bố mẹ chỉ đi khi rảnh?”, “Sao con phải đọc kinh mà nhà mình chưa bao giờ cùng cầu nguyện?”, “Sao Chúa dạy yêu thương mà bố mẹ cứ nói những lời làm nhau đau?” Có những câu hỏi nghe như chống đối, nhưng thật ra là dấu hiệu con đang cố nối đức tin với cuộc sống. Nếu người lớn chỉ đáp: “Trẻ con biết gì mà hỏi” hoặc “Cứ đi học giáo lý đi rồi sẽ hiểu”, ta có thể bỏ lỡ một cơ hội quan trọng. Con cần được hướng dẫn. Và con cũng cần thấy người hướng dẫn mình đủ thành thật để nhìn nhận: “Bố mẹ cũng đang học sống điều Chúa dạy. Có khi bố mẹ làm chưa tốt. Mình cùng cố gắng nhé.”
Khoán trắng việc giáo dục đức tin không chỉ là không đưa con đến nhà thờ. Có khi cha mẹ đưa con đi học rất đầy đủ nhưng trong lòng nghĩ rằng phần việc của mình đã xong. Giáo xứ sẽ dạy con cầu nguyện; giáo lý viên sẽ làm con yêu mến Chúa; cha xứ sẽ nhắc con đi lễ; đến ngày lãnh bí tích, cả nhà lo tổ chức chu đáo. Sau đó, nếu con nguội lạnh, người lớn thở dài: “Không hiểu giáo xứ dạy kiểu gì.” Câu nói ấy có thể làm đau những giáo lý viên đã dành biết bao tối để soạn bài, bao sáng Chúa nhật để đứng lớp và bao lần kiên nhẫn với những em nhỏ đang lớn. Nhưng sâu hơn, nó cho thấy ta đã hiểu nhầm bản chất của giáo dục đức tin. Không ai có thể trao trọn phần sống của cha mẹ cho một lớp học.
Giáo xứ có vai trò rất quý. Có những giáo lý viên trở thành người nâng đỡ một đứa trẻ vào đúng giai đoạn gia đình em gặp biến cố. Có những cha xứ, nữ tu, huynh trưởng và người đồng hành gieo vào lòng các em một lời Tin Mừng theo các em suốt đời. Ta cần biết ơn và cộng tác với họ. Nhưng sự cộng tác đòi một nhịp nối giữa lớp học và mái nhà. Con vừa học bài về lòng thương xót, ở nhà cha mẹ có thể hỏi: “Theo con, nhà mình nên nói với nhau thế nào khi ai đó mắc lỗi?” Con vừa nghe chuyện người Samari nhân hậu, cả nhà có thể bàn xem có ai quanh mình đang cần được giúp. Con học về cầu nguyện, cha mẹ có thể mời con thưa với Chúa bằng lời của chính con. Khi ấy, điều được gieo trong lớp có đất để bén rễ.
Nhiều bậc cha mẹ sẽ nói rất thật: “Tôi không rành giáo lý. Tôi sợ con hỏi mà mình không biết trả lời.” Nỗi sợ ấy dễ hiểu. Có những người trưởng thành từng học giáo lý cách đây nhiều năm, nay không nhớ rõ; có những người mới trở lại với đức tin; có những người mang chính các thắc mắc chưa được giải đáp. Nhưng đồng hành với con không đòi cha mẹ phải là một cuốn sách biết nói. Đôi khi câu trả lời tốt nhất là: “Câu này mẹ chưa biết rõ. Mình cùng xem sách, cùng hỏi giáo lý viên hoặc hỏi cha nhé.” Một đứa trẻ sẽ học được điều quý giá từ câu nói ấy: người tin Chúa vẫn có thể đặt câu hỏi, vẫn cần học, và không phải giả vờ biết hết mọi sự.
Cha mẹ không cần chuẩn bị một bài giảng mỗi tối. Con thường cần một người chịu lắng nghe hơn là một người luôn có câu trả lời tức thì. Khi con hỏi vì sao Chúa để bà bị bệnh, đừng vội biến nỗi đau của con thành một bài giải thích trơn tru. Hãy ngồi cạnh con, nói rằng bố mẹ cũng buồn, rồi cùng cầu nguyện cho bà và chăm sóc bà. Khi con kể một người bạn không tin Chúa và hỏi liệu bạn ấy có phải người xấu không, hãy giúp con nhận ra phẩm giá của người bạn ấy và học cách đối thoại với sự tôn trọng. Khi con nói đi lễ buồn ngủ, hãy hỏi con điều gì con chưa hiểu, thay vì lập tức kết luận con hư. Những cuộc trò chuyện như thế là giáo dục đức tin, dù chúng diễn ra trong lúc rửa chén, trên đường đi học hay trước giờ ngủ.
Có những gia đình xem ngày con lãnh nhận bí tích như đích đến của việc học giáo lý. Trước ngày Rước lễ lần đầu hay Thêm sức, cả nhà hồi hộp chuẩn bị: áo quần, ảnh, khách mời, tiệc mừng. Hôm ấy đẹp và đáng được ghi nhớ. Nhưng ngày lãnh bí tích là một bước trên hành trình sống với Chúa. Một đứa trẻ Rước lễ lần đầu cần người lớn giúp em tiếp tục yêu mến Thánh Thể sau khi đã cất bộ quần áo ngày lễ vào tủ. Một thiếu niên chịu phép Thêm sức cần được lắng nghe khi bắt đầu hỏi những câu khó về Hội Thánh, về đau khổ, về lựa chọn đời mình. Nếu sau ngày lễ, sự quan tâm cũng kết thúc, con có thể hiểu rằng đức tin chỉ quan trọng cho đến lúc hoàn tất một nghi thức.
Nguy cơ này hiện rõ hơn khi con bước vào tuổi thiếu niên. Lúc nhỏ, con đi lễ vì cha mẹ dẫn đi, học giáo lý vì gia đình sắp xếp. Lớn lên, con muốn biết lý do. Con gặp bạn bè có cách nghĩ khác. Con đọc những điều gây thắc mắc trên mạng. Con nhận ra người lớn trong Giáo Hội cũng có sai lầm. Con bắt đầu xét lại những điều trước đây mình tiếp nhận. Một số cha mẹ nghe con hỏi thì hoảng sợ, nghĩ rằng con đang đánh mất đức tin. Nhưng nhiều khi con đang tìm cách làm cho đức tin trở thành lựa chọn của chính mình. Giai đoạn ấy cần một người lớn đủ vững để không bị xúc phạm bởi câu hỏi của con và đủ khiêm tốn để cùng con tìm hiểu.
Có em nói: “Con không muốn đi lễ nữa.” Phía sau câu nói ấy có thể là nhiều chuyện khác nhau. Con không hiểu Thánh lễ; con đang giận cha mẹ; con bị một người trong cộng đoàn làm tổn thương; con cảm thấy bị ép mà chưa từng được nghe giải thích; con đang đau buồn và thấy Chúa xa cách. Nếu cha mẹ chỉ nghe câu nói rồi lập tức quát mắng, điều sâu hơn sẽ tiếp tục bị giấu đi. Đồng hành bắt đầu bằng việc hỏi: “Điều gì khiến con cảm thấy như vậy?” Hỏi để nghe thật, dù câu trả lời có thể làm mình buồn. Sau đó, cha mẹ vẫn có trách nhiệm hướng dẫn con, chia sẻ xác tín của mình và giúp con thực hành đức tin. Sự hướng dẫn sẽ đi vào lòng con dễ hơn khi con biết mình được lắng nghe.
Cũng cần nhìn đến sự mệt mỏi của cha mẹ hôm nay. Có người rời nhà từ sáng sớm, tối muộn mới về. Có người làm nhiều việc để trả tiền nhà, học phí và chăm sóc ông bà. Có người một mình nuôi con, không có ai thay phiên. Có những gia đình chỉ cần giữ được bữa cơm và giấc ngủ đã là một cố gắng lớn. Vì thế, khi nói cha mẹ phải đồng hành trong đức tin, ta không nên chất thêm lên vai họ một bản danh sách dài đến mức không thể thực hiện. Điều cần thiết là giúp họ nhận ra: đồng hành có thể bắt đầu ngay trong những phút vốn đã có của đời sống gia đình.
Trên đường đưa con đến lớp giáo lý, cha hoặc mẹ có thể hỏi: “Dạo này con thích điều gì ở lớp?” Khi đón con về, thay vì chỉ hỏi điểm danh, có thể hỏi: “Hôm nay có câu chuyện nào làm con nhớ không?” Trước bữa ăn, một người trong nhà dâng một lời tạ ơn ngắn. Khi con gặp chuyện buồn, cha mẹ vừa tìm cách giúp con, vừa nói: “Tối nay mình cùng cầu nguyện cho chuyện này nhé.” Khi cả nhà đi lễ, cha mẹ có thể nhắc một ý rất đơn giản của bài Tin Mừng rồi hỏi con nghĩ sao. Không phải cuộc trò chuyện nào cũng thành công. Có hôm con đáp “không biết” rồi im lặng. Sự kiên trì dịu dàng quan trọng hơn việc lần nào cũng nhận được một câu trả lời hay.
Có một điều cha mẹ cần đặc biệt lưu tâm: trẻ em học đức tin bằng cách nhìn người lớn đối xử với người yếu hơn. Con nhìn cách bố nói chuyện với mẹ lúc mẹ mệt. Con nhìn cách mẹ nói về bố khi bố vắng mặt. Con nhìn ông bà có được kiên nhẫn lắng nghe hay chỉ bị xem là phiền. Con nhìn người giúp việc, người bán hàng, người bảo vệ, người xin giúp đỡ được đối xử ra sao. Con nhìn cha mẹ có thành thật nhận lỗi hay luôn tìm người khác để đổ lỗi. Những bài học ấy diễn ra hằng ngày và có sức mạnh rất lớn. Nếu cha mẹ bảo con “hãy yêu người thân cận” nhưng thường xuyên khinh thường người khác, con sẽ phải tự lựa chọn tin vào lời dạy hay cảnh con thấy trước mắt.
Vì thế, giáo dục đức tin tại nhà không thể thu hẹp vào chuyện nhắc con học thuộc kinh. Nó còn nằm trong cách gia đình giải quyết bất hòa. Vợ chồng có thể bất đồng; cha mẹ có thể nổi nóng; con cái có thể làm điều sai. Một gia đình Kitô hữu không phải gia đình chưa từng cãi nhau. Nhưng sau cơn giận, có ai chịu quay lại để nói thật và chữa lành không? Người cha biết xin lỗi con khi mình mắng oan. Người mẹ biết nói với con rằng mình đã quá mệt nên trả lời cộc cằn. Vợ chồng biết trao đổi với nhau mà không bắt con làm trọng tài. Những điều ấy giúp đứa trẻ hiểu lòng thương xót là một cách sống, chứ không chỉ là một từ trong sách giáo lý.
Cũng có những cha mẹ chăm lo đời sống đạo rất kỹ nhưng vô tình làm con sợ Chúa. Con làm sai, người lớn dọa: “Chúa phạt đó.” Con đặt câu hỏi, người lớn bảo: “Nói thế là có tội.” Con buồn và không muốn cầu nguyện, người lớn kết luận ngay: “Con hết tin Chúa rồi.” Dĩ nhiên, trẻ cần được dạy về trách nhiệm, tội lỗi và sự hoán cải. Nhưng nếu Chúa chỉ xuất hiện trong lời cha mẹ như Đấng chờ bắt lỗi, con sẽ khó chạy đến với Người khi vấp ngã. Cha mẹ có thể giúp con hiểu Chúa mời ta nhận lỗi, sửa sai và trở về. Một lời cầu nguyện chân thành sau khi mắc lỗi có thể dạy con nhiều hơn một lời đe dọa.
Điều ấy càng quan trọng khi con lớn lên và vấp những lỗi khiến cha mẹ đau lòng. Có em nói dối. Có em lén xem những nội dung không phù hợp. Có em bỏ lễ, bỏ lớp, giao du khiến cha mẹ lo sợ. Trách nhiệm của cha mẹ là đặt giới hạn cần thiết và bảo vệ con. Nhưng xin đừng để con tin rằng chỉ cần mình phạm một lỗi nghiêm trọng thì không còn chỗ trong gia đình và trước mặt Chúa. Con cần biết sự thật về việc mình làm; đồng thời, con cần biết vẫn có người cùng con tìm đường sửa chữa. Chính trong những lúc khó ấy, vai trò đồng hành của cha mẹ trở nên rõ nhất. Đưa con đến giáo xứ để được giúp đỡ là điều tốt, nhưng con vẫn cần được đón nhận khi bước qua cửa nhà.
Có những bậc cha mẹ nghĩ mình không làm gương được vì đời sống đức tin còn nhiều thiếu sót. “Tôi chưa cầu nguyện đều, sao dạy con cầu nguyện?” “Tôi có lúc không đi lễ, sao nhắc con?” Nỗi ngại ấy có thể trở thành khởi điểm cho một thay đổi rất đẹp. Cha mẹ không phải chờ mình hoàn hảo rồi mới đi cùng con. Một ngày, người mẹ có thể nói: “Trước đây mẹ ít cầu nguyện. Mẹ muốn tập lại. Tối nay con đọc kinh với mẹ nhé.” Người cha có thể nói: “Bố cũng có nhiều điều chưa hiểu. Chúa nhật này bố đưa con đi lễ, rồi mình cùng tìm hiểu.” Đứa trẻ không cần thấy một người lớn chưa bao giờ ngã. Con cần thấy người lớn biết đứng dậy và trở về với Chúa.
Có lẽ ta cần đổi cách hỏi về lớp giáo lý. Đừng chỉ hỏi: “Con học được bao nhiêu câu?” Hãy hỏi: “Con đang gặp Chúa thế nào qua điều con học?” Đừng chỉ hỏi giáo lý viên: “Bao giờ con tôi được lên lớp?” Hãy hỏi thêm: “Ở nhà, chúng tôi có thể giúp con thực hành bài học này ra sao?” Đừng chỉ quan tâm con có mặt trong ngày thi và ngày lễ. Hãy quan tâm con có một nơi để nói ra những nghi ngại, niềm vui và tổn thương trên đường đức tin hay không. Nếu giáo lý viên nhận thấy một em thu mình, nếu cha mẹ biết ở nhà em cũng đang buồn, hai phía có thể cùng tìm cách nâng đỡ. Đó là sự cộng tác thiết thực.
Sự cộng tác ấy cần lòng tôn trọng hai chiều. Cha mẹ đừng xem giáo lý viên như người được thuê để sửa mọi điều mình không có thời gian chăm sóc. Giáo lý viên cũng không nên vội đánh giá một gia đình chỉ qua việc một em thường đi trễ hay chưa thuộc bài. Có thể phía sau là lịch làm việc rất khó xoay, một người thân đau bệnh, một cuộc khủng hoảng mà chưa ai biết. Khi người lớn biết nói chuyện với nhau bằng sự cảm thông, trẻ em được hưởng điều tốt nhất: các em không bị kéo giữa hai nơi cùng trách móc nhau; các em được nhiều người cùng yêu thương và nâng đỡ.
Trong gia đình, người cha và người mẹ đều có phần trong hành trình đức tin của con. Không ít nơi, việc nhắc con đọc kinh, chuẩn bị đi lễ, liên hệ giáo lý viên, theo dõi lớp học dồn lên vai người mẹ. Người cha vẫn lo cho con, vẫn làm việc vất vả, nhưng dễ nghĩ chuyện đạo của con đã có mẹ phụ trách. Một lời cầu nguyện do cha cất lên, một lần cha ngồi nghe con kể chuyện lớp giáo lý, một câu cha nói về cách mình vượt qua khó khăn nhờ đức tin có thể ở lại rất lâu trong ký ức con. Người mẹ cũng cần được người bạn đời chia sẻ gánh nặng này. Con được nâng đỡ nhiều hơn khi thấy đức tin là điều cả gia đình cùng sống.
Ông bà thường giữ một vai trò âm thầm và sâu đậm. Nhiều người lớn hôm nay vẫn nhớ tiếng bà đọc kinh trong nhà, bàn tay ông làm dấu thánh giá trên trán mình trước chuyến đi xa, câu chuyện ông bà kể về một giai đoạn gian khó mà cả nhà đã vượt qua nhờ cầu nguyện và nâng đỡ nhau. Ông bà không cần thay cha mẹ quyết định mọi việc; cha mẹ cũng không nên giao hết con cho ông bà. Nhưng khi các thế hệ cùng hiện diện trong sự tôn trọng, đứa trẻ có thể thấy đức tin nối những người trước mình với đời sống hôm nay. Con hiểu rằng mình thuộc về một câu chuyện dài hơn bản thân.
Tuy nhiên, có những người lớn kể về đức tin của gia đình như một di sản chỉ cần trao lại nguyên vẹn là con sẽ nhận. Con cái hôm nay sống giữa những câu hỏi, ngôn ngữ và thử thách mà cha mẹ ngày trước không gặp theo cùng một cách. Một thiếu niên có thể đọc được hàng trăm ý kiến trái ngược về tôn giáo chỉ trong một buổi tối. Con chứng kiến những người công khai nói về đạo nhưng cư xử thiếu yêu thương. Con có thể có bạn thân thuộc một tôn giáo khác hoặc không có tôn giáo. Nếu cha mẹ chỉ nói “ngày xưa bố mẹ thế nào thì con cứ làm y như vậy”, con sẽ thấy mình chưa được hiểu. Truyền lại đức tin đòi cha mẹ gìn giữ điều cốt yếu, đồng thời chịu nghe những câu hỏi của thời con đang sống.
Có lúc câu hỏi của con khiến cha mẹ chạnh lòng: “Nếu Chúa yêu thương, sao người tốt vẫn đau khổ?” “Vì sao người đi lễ đều vẫn sống ích kỷ?” “Con cầu nguyện mà chẳng thấy gì.” Những câu ấy không nên bị dập tắt bằng một lời trách mắng. Cha mẹ có thể trả lời phần mình biết, nhận phần mình chưa biết, rồi cùng con tìm người và tài liệu đáng tin cậy để học hỏi. Đôi khi, sau mọi giải thích, con vẫn còn thắc mắc. Ta có thể tiếp tục ở bên con. Sự hiện diện trung thành của cha mẹ nói với con rằng hành trình tìm kiếm sự thật không làm con mất đi tình thương của gia đình.
Đồng hành cũng bao gồm việc cho con tham gia đời sống cộng đoàn một cách có ý nghĩa. Đừng để giáo xứ đối với con chỉ là một nơi phải đến để điểm danh. Cha mẹ có thể cùng con tham dự Thánh lễ, gặp gỡ mọi người, thăm một người đau yếu, góp một phần nhỏ trong sinh hoạt bác ái phù hợp với tuổi con. Sau đó, hãy trò chuyện về điều con thấy. Có em lần đầu hiểu lời Chúa về người nghèo khi tận tay trao một phần quà và được nghe một người kể chuyện đời mình. Có em hiểu cầu nguyện cho bệnh nhân theo một cách khác khi cùng cha mẹ đến thăm bà trong bệnh viện. Đức tin đi vào lòng người qua lời giảng, qua bí tích, và qua những lần con được chứng kiến tình yêu trở thành hành động.
Dẫu vậy, cha mẹ cũng cần cẩn thận đừng biến mọi việc tốt thành một bài giảng. Con giúp một người bạn, cha mẹ có thể vui cùng con trước khi rút ra lời khuyên. Con có một ngày khó khăn, hãy ôm con trước khi đưa ra một câu Kinh Thánh. Khi mọi cuộc trò chuyện đều kết thúc bằng lời sửa dạy, con sẽ dần ít kể. Đôi khi cách diễn tả đức tin sâu nhất là ở lại, nghe, mang cho con một ly nước, cho con biết rằng con đang được yêu. Từ nền tảng ấy, lời nói về Chúa mới có nơi để đậu xuống.
Ta cũng cần chấp nhận rằng cha mẹ không thể kiểm soát kết quả cuối cùng. Có những gia đình sống đạo chân thành mà con vẫn trải qua giai đoạn xa nhà thờ. Có những cha mẹ đã cầu nguyện, làm gương, trò chuyện hết sức mình nhưng con vẫn chọn một hướng khác. Nỗi đau ấy có thật. Không nên lấy nó làm bằng chứng kết án cha mẹ, cũng không nên vội phán xét người con. Cha mẹ được mời gọi tiếp tục yêu, tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục giữ một cánh cửa đối thoại. Đức tin không nảy mầm theo một lịch trình mà người lớn ấn định. Điều cha mẹ có thể làm là gieo hạt bằng đời sống trung thực, chăm sóc mối quan hệ và tin rằng Thiên Chúa vẫn có thể gặp con trên những con đường mình không nhìn thấy.
Có một hình ảnh rất đáng nghĩ: cha mẹ đưa con đến cửa lớp giáo lý, rồi đứng lại bên ngoài. Việc ấy tự nó không sai. Con cần những người thầy, người bạn và không gian học hỏi riêng. Nhưng sau khi buổi học kết thúc, cha mẹ có thể đón con với một tâm thế khác. Không chỉ là người đưa đón, cha mẹ trở thành người bạn đường. Con mang về một câu hỏi, cha mẹ cùng tìm. Con kể một câu chuyện, cha mẹ cùng lắng nghe. Con muốn cầu nguyện cho ai đó, cả nhà cùng nhớ đến người ấy. Con không hiểu vì sao phải tha thứ, cha mẹ kể cho con một lần chính mình đã phải cố gắng tha thứ. Lớp học có một giờ; sự đồng hành có thể âm thầm tiếp diễn trong cả tuần.
Hãy thử tưởng tượng một tối rất bình thường. Cả nhà ăn cơm muộn. Người cha vừa đi làm về, còn mệt. Người mẹ dọn nốt bát canh. Đứa con kể hôm nay ở lớp giáo lý em học về việc Chúa Giêsu đón nhận những người bị người khác coi thường. Người lớn có thể gật đầu rồi chuyển sang chuyện khác. Nhưng người cha dừng lại hỏi: “Ở lớp con, có bạn nào hay bị các bạn bỏ riêng ra không?” Con im một chút rồi kể về một người bạn. Người mẹ lắng nghe và hỏi: “Theo con, ngày mai con có thể làm một việc nhỏ nào để bạn ấy đỡ cô đơn?” Cả nhà không có một buổi học giáo lý hoàn chỉnh. Họ chỉ có một cuộc trò chuyện ngắn bên mâm cơm. Nhưng chính ở đó, bài học bắt đầu bước ra khỏi trang sách.
Một tối khác, cha mẹ cãi nhau. Con nghe thấy và buồn. Sáng hôm sau, người cha nói với con: “Tối qua bố mẹ nói chuyện lớn tiếng, làm con sợ. Bố mẹ xin lỗi. Bố mẹ đang cố giải quyết chuyện ấy.” Sau đó, cả nhà có thể đọc một kinh ngắn. Lời kinh hôm ấy không xóa ngay nỗi buồn, nhưng nó gắn với sự thật và trách nhiệm. Con hiểu cầu nguyện không phải một tấm màn che phủ những điều trong nhà; cầu nguyện có thể giúp người ta can đảm nhìn vào điều mình đã làm và tìm đường sửa lại.
Một Chúa nhật khác, con không muốn đi lễ vì đang giận bạn cùng lớp. Cha mẹ vẫn đưa con đến nhà thờ, nhưng trên đường đi hỏi con chuyện gì xảy ra. Có thể câu chuyện chưa được giải quyết trước khi Thánh lễ bắt đầu. Tuy vậy, con biết nỗi buồn của mình không bị gạt sang một bên. Sau lễ, cả nhà tìm lúc nói tiếp. Những việc như thế không hào nhoáng, không được chụp ảnh đăng lên, nhưng chúng nuôi đức tin của con từ bên trong.
Nếu hỏi một người trưởng thành vì sao họ còn giữ đạo, câu trả lời đôi khi không bắt đầu bằng một bài học thuộc lòng. Họ nhớ mẹ đã cầu nguyện bên giường bệnh của mình. Họ nhớ bố lặng lẽ đưa cả nhà đi lễ dù tuần ấy công việc nặng nhọc. Họ nhớ ông ngoại xin lỗi bà ngoại sau một cuộc bất hòa. Họ nhớ lần mình phạm lỗi lớn, về nhà trong sợ hãi, mà cha mẹ vẫn ngồi xuống để cùng tìm cách sửa chữa. Họ nhớ giáo lý viên đã không bỏ cuộc với mình. Những ký ức ấy không thay thế chân lý đức tin; chúng giúp một con người cảm nhận chân lý ấy có thể được sống giữa đời thường.
Vì vậy, cha mẹ thân mến, xin đừng chỉ hỏi giáo xứ đã dạy con những gì. Hãy tự hỏi trong tuần qua, nhà mình đã giúp con gặp Chúa ở đâu. Có phải nơi một lời kinh ngắn trước khi ngủ? Nơi bữa cơm có người chịu lắng nghe? Nơi lời xin lỗi mà người lớn đã can đảm nói ra? Nơi cách cả nhà chia sẻ việc chăm sóc người đau yếu? Nơi sự kiên nhẫn dành cho một đứa con đang nhiều thắc mắc? Nếu câu trả lời là “chưa có”, ta vẫn có thể bắt đầu hôm nay. Không cần đợi một dịp lễ lớn, một cuộc tĩnh tâm hay đến khi mình trở thành bậc cha mẹ thật giỏi.
Hôm nay, hãy hỏi con một câu về lớp giáo lý và nghe câu trả lời đến cùng. Nếu con không nhớ bài, đừng vội trách. Hãy hỏi điều gì đang khiến con bận tâm. Nếu con nhớ một câu Tin Mừng, hãy để con kể bằng lời của con. Nếu con hỏi một điều khó, hãy cùng con tìm hiểu. Nếu con đã lớn và không còn muốn trò chuyện ngay, hãy cho con biết: “Khi nào con muốn nói, bố mẹ sẽ nghe.” Sự đồng hành bắt đầu từ việc con tin rằng mình có thể trở về với người thân bằng con người thật của mình.
Giáo xứ gieo hạt. Giáo lý viên chăm tưới. Cộng đoàn mở ra cho con một gia đình rộng lớn hơn. Còn mái nhà là nơi hạt giống ấy đi qua những ngày nắng, những chiều mưa, những lần vui, những lúc vấp ngã của chính con. Cha mẹ không phải làm thay công việc của Chúa, cũng không phải một mình gánh hết việc giáo dục đức tin. Nhưng cha mẹ có một sự hiện diện không ai thay thế được. Con cần nghe cha mẹ nói về Chúa; hơn thế nữa, con cần được ở gần cha mẹ khi họ cố sống điều mình tin.
Một ngày nào đó, con có thể quên câu trả lời của một bài kiểm tra giáo lý. Con có thể không nhớ chính xác mình học bài nào vào Chúa nhật năm mười tuổi. Nhưng con có thể nhớ rất rõ: sau buổi học ấy, mẹ đã ngồi nghe con kể; bố đã chịu nhận mình cũng có một thắc mắc giống con; cả nhà đã cùng cầu nguyện cho người bạn đang đau bệnh. Từ những điều nhỏ ấy, con dần hiểu đức tin là một con đường có người cùng đi.
Xin cho các bậc cha mẹ đủ can đảm bước vào hành trình ấy với con. Xin cho giáo lý viên được gia đình tin tưởng và cộng tác. Xin cho giáo xứ trở thành nơi nâng đỡ cả cha mẹ lẫn con cái. Và xin cho mỗi đứa trẻ, khi rời lớp giáo lý trở về nhà, không cảm thấy mình phải để Chúa ở lại cổng nhà thờ, nhưng nhận ra Người vẫn được đón vào mái nhà mình: trong câu chuyện bên bàn ăn, trong lời cầu nguyện vụng về, trong sự tha thứ sau một lỗi lầm, và trong tình yêu kiên nhẫn của những người đang cùng con lớn lên.
Lm. Anmai, CSsR.