LY DỊ TRONG CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC XƯNG TỘI RƯỚC LỄ KHÔNG? GIẢI ĐÁP CHI TIẾT THEO GIÁO LUẬT CÔNG GIÁO

16

LY DỊ TRONG CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC XƯNG TỘI RƯỚC LỄ KHÔNG?
GIẢI ĐÁP CHI TIẾT THEO GIÁO LUẬT CÔNG GIÁO
HỎI:
Thưa cha, con là người Công giáo đã kết hôn với một người ngoại giáo. Hôn phối chúng con được cử hành trong nhà thờ, vì chúng con có phép chuẩn kết hôn khác đạo. Sau ba năm chung sống, con gặp nhiều khó khăn trong việc giữ đạo. Chồng con luôn tìm cách ngăn cản không cho con đến nhà thờ dâng lễ, có khi còn đánh đập con, và cũng không cho phép đứa con được rửa tội. Bây giờ con làm đơn xin ly dị, con có được xưng tội rước lễ không? Con có được đưa con của con đến nhà thờ để rửa tội không? Và nếu con muốn kết hôn với người khác, con phải làm sao? Xin cha chỉ dẫn giúp con.
TRẢ LỜI:
Trước hết, phải nói ngay một điều cho rõ, để người đang đau khổ không bị đè thêm bởi mặc cảm tội lỗi, nhưng cũng không bị dẫn đi sai đường vì những lời giải thích quá đơn giản: trong Giáo Hội Công giáo, ly dị dân sự, ly thân, tiêu hôn, tháo gỡ dây hôn phối, kết hôn mới và việc được xưng tội rước lễ là những vấn đề có liên hệ với nhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Nếu không phân biệt kỹ, người ta rất dễ nói sai: hoặc quá nghiêm khắc đến mức làm người bị bạo hành tưởng rằng mình phải tiếp tục sống trong nguy hiểm mới là giữ đạo; hoặc quá dễ dãi đến mức làm người ta tưởng rằng cứ ly dị xong là tự do kết hôn với người khác. Cả hai cách hiểu ấy đều không đúng với tinh thần Tin Mừng và giáo luật.
Trường hợp của chị là trường hợp một người Công giáo kết hôn với một người chưa được rửa tội. Theo giáo luật, hôn nhân giữa một người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo và một người chưa được rửa tội bị ngăn trở bởi điều gọi là ngăn trở khác đạo, tức disparitas cultus. Giáo luật điều 1086 §1 nói rằng hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không được rửa tội là bất thành nếu không có phép chuẩn; và §2 cho biết không được ban phép chuẩn nếu các điều kiện liên quan chưa được chu toàn. Vì thế, khi chị nói hôn phối đã được cử hành trong nhà thờ với phép chuẩn kết hôn khác đạo, điều đó có nghĩa là Giáo Hội đã nhìn nhận cuộc hôn nhân ấy là một hôn nhân được cử hành hợp pháp theo hình thức Công giáo, với phép chuẩn cần thiết từ Đấng Bản quyền.
Khi xin phép chuẩn ấy, phía Công giáo phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh những nguy hiểm làm mất đức tin, và phải thành tâm hứa làm hết sức mình để con cái được rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội Công giáo. Bên không Công giáo không buộc phải tuyên hứa như bên Công giáo, nhưng phải được thông báo rõ ràng về những lời hứa và bổn phận của bên Công giáo, để biết người bạn đời Công giáo của mình có nghĩa vụ gì trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội. Giáo luật điều 1125 nói rõ những điều kiện ấy: bên Công giáo phải tránh nguy cơ mất đức tin, phải hứa làm hết sức để con cái được rửa tội và giáo dục Công giáo; bên kia phải được thông báo về lời hứa và nghĩa vụ ấy; và cả hai phải được dạy về mục đích cũng như những đặc tính căn bản của hôn nhân. Điều này rất quan trọng trong trường hợp của chị, vì chính vấn đề giữ đạo và rửa tội cho con đang trở thành điểm bị ngăn cản nghiêm trọng.
Cũng cần nói chính xác thêm: hôn nhân của chị với người chưa rửa tội, dù được cử hành trong nhà thờ và có phép chuẩn khác đạo, không phải là bí tích hôn phối theo nghĩa chặt, vì bí tích hôn phối chỉ có giữa hai người đã được rửa tội. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là hôn nhân ấy “không ra gì” hay “không ràng buộc”. Trái lại, đó vẫn là một hôn nhân thật sự, một dây hôn phối tự nhiên thành sự nếu có đủ tự do, ý thức, khả năng kết hôn, sự ưng thuận thật sự và phép chuẩn hợp lệ. Giáo luật điều 1059 nói rằng hôn nhân của người Công giáo, dù chỉ một bên là Công giáo, vẫn được điều chỉnh không chỉ bởi luật Thiên Chúa mà còn bởi giáo luật, trong khi các hiệu quả dân sự thuộc thẩm quyền dân sự. Vì thế, không thể nói rằng vì hôn nhân ấy không phải là bí tích nên muốn bỏ là bỏ, muốn lấy người khác là lấy. Hôn nhân ấy vẫn có tính nghiêm trọng, vẫn hướng đến sự chung thủy, một vợ một chồng, và một đời sống gia đình bền vững.
Vậy chị làm đơn ly dị dân sự trong hoàn cảnh bị ngăn cản giữ đạo, bị đánh đập, và con không được cho rửa tội, chị có phạm tội đến mức không được xưng tội rước lễ không? Câu trả lời phải hết sức rõ: tự bản thân việc ly dị dân sự hoặc sống ly thân, khi có lý do nghiêm trọng như bạo hành, nguy hiểm cho đức tin, nguy hiểm cho thân xác, tinh thần hoặc con cái, không tự động làm người Công giáo mất quyền xưng tội rước lễ. Giáo Hội không buộc một người vợ hay người chồng phải tiếp tục sống chung trong một hoàn cảnh có bạo lực, nguy hiểm, hoặc làm tổn thương nặng nề đến đức tin và sự an toàn của mình hay của con cái. Giáo luật điều 1153 §1 nói rằng nếu một người phối ngẫu gây nguy hiểm nghiêm trọng về tinh thần hoặc thể xác cho người kia hay cho con cái, hoặc làm cho đời sống chung trở nên quá khó khăn, thì người ấy cho bên kia một lý do hợp pháp để rời đi; trong trường hợp nguy hiểm khẩn cấp, người bị hại có thể tự mình rời đi.
Điều này rất quan trọng về mặt mục vụ. Có những người vì quá sợ “ly dị là tội” nên cam chịu bạo hành nhiều năm, để rồi thân xác bị tổn thương, tinh thần bị nghiền nát, con cái sống trong ám ảnh, đức tin bị bóp nghẹt. Giáo Hội bảo vệ sự thánh thiêng của hôn nhân, nhưng Giáo Hội không thần thánh hóa bạo lực. Giáo Hội dạy hôn nhân là giao ước yêu thương, chung thủy, nâng đỡ và sinh ích cho nhau, chứ không phải là một nhà tù nơi một người được quyền hành hạ người kia nhân danh “không được ly dị”. Nếu người chồng đánh đập vợ, cấm vợ đi lễ, ngăn cản con được rửa tội, xúc phạm nghiêm trọng đến tự do tôn giáo và đời sống đức tin của người vợ, thì người vợ có lý do rất nghiêm trọng để tìm sự bảo vệ, ly thân, và trong nhiều hoàn cảnh, làm thủ tục dân sự cần thiết để bảo đảm an toàn, quyền nuôi con, tài sản, cư trú và các quyền lợi pháp lý.
Tuy nhiên, cần phân biệt: ly dị dân sự không đồng nghĩa với việc dây hôn phối trước mặt Giáo Hội đã chấm dứt. Về mặt dân sự, tòa án đời có thể tuyên bố hai người đã ly dị, không còn là vợ chồng theo pháp luật xã hội. Nhưng trước mặt Giáo Hội, nếu hôn nhân ấy đã thành sự, thì dây hôn phối vẫn còn, trừ khi được tòa án hôn phối tuyên bố vô hiệu từ đầu, hoặc được tháo gỡ theo một thủ tục đặc biệt do thẩm quyền Giáo Hội. Giáo luật điều 1085 §1 nói rằng người đang bị ràng buộc bởi dây hôn phối trước thì kết hôn mới cách bất thành; và §2 còn nói rằng dù hôn nhân trước có thể vô hiệu hoặc đã được tháo gỡ vì một lý do nào đó, người ấy vẫn không được kết hôn mới trước khi sự vô hiệu hay tháo gỡ ấy được xác lập cách hợp pháp và chắc chắn. Đây là điểm rất nhiều người hiểu lầm.
Vậy chị có được xưng tội rước lễ không? Nếu chị chỉ ly thân hoặc ly dị dân sự vì lý do chính đáng, nhất là để tránh bạo hành, bảo vệ đức tin, bảo vệ con, và chị không sống chung như vợ chồng với người khác, không kết hôn mới trái luật, thì chị vẫn có thể xưng tội, rước lễ, tham dự đời sống bí tích bình thường, miễn là chị sống trong tình trạng ân sủng và không có tội trọng nào khác chưa được thống hối. Nói đơn giản: người Công giáo ly dị nhưng không tái hôn trái luật thì không tự động bị cấm rước lễ. Vấn đề thường làm người ta không được rước lễ không phải là “đã ly dị dân sự” tự nó, mà là sau đó bước vào một kết hợp mới trái với dây hôn phối còn tồn tại, hoặc sống trong tình trạng khách quan nghịch với hôn nhân Công giáo mà chưa được giải quyết theo đường hướng của Giáo Hội.
Do đó, trong hoàn cảnh chị nêu, nếu chị bị chồng ngăn cản giữ đạo, đánh đập, không cho con rửa tội, thì chị nên đến gặp cha xứ càng sớm càng tốt, trình bày đầy đủ, bình tĩnh, trung thực, và nếu có nguy hiểm thật sự thì cũng cần tìm sự bảo vệ từ gia đình, cộng đoàn và pháp luật dân sự. Việc bảo vệ mạng sống, thân xác, nhân phẩm và con cái không phải là phản bội hôn nhân. Trái lại, đó có thể là bổn phận lương tâm. Một người mẹ không có bổn phận để con mình lớn lên trong sợ hãi, bạo lực và bị cấm đoán đức tin. Một người vợ không buộc phải để mình bị đánh đập mới được gọi là “giữ đạo”. Đức tin Công giáo không dạy sự cam chịu mù quáng trước bạo hành; đức tin dạy yêu thương, tha thứ, nhưng cũng dạy tôn trọng sự thật, công lý, nhân phẩm và sự sống.
Về câu hỏi thứ hai: chị có được đưa con đến nhà thờ xin rửa tội không? Câu trả lời là: được, và hơn nữa, chị có bổn phận phải làm hết sức để con được rửa tội và được giáo dục trong đức tin Công giáo, đúng như lời cam kết khi xin phép chuẩn khác đạo. Giáo luật điều 1136 nói rằng cha mẹ có bổn phận rất nghiêm trọng và quyền ưu tiên trong việc chăm sóc giáo dục con cái về thể lý, xã hội, văn hóa, luân lý và tôn giáo. Riêng đối với việc rửa tội cho trẻ em, giáo luật điều 868 §1 đòi phải có sự đồng ý của cha mẹ, ít là của một trong hai người, hoặc của người thay quyền cha mẹ cách hợp pháp; đồng thời phải có hy vọng chắc chắn rằng em bé sẽ được giáo dục trong đạo Công giáo, nếu hoàn toàn thiếu hy vọng ấy thì việc rửa tội phải được hoãn lại sau khi cha mẹ được giải thích lý do.
Như vậy, nếu chị là mẹ của cháu, là người Công giáo, và chị thật lòng muốn nuôi dạy con trong đức tin Công giáo, thì chị có thể đến gặp cha xứ để xin rửa tội cho con. Cha xứ có thể hỏi thêm về hoàn cảnh cụ thể: con đang ở với ai, ai có quyền nuôi dưỡng hợp pháp, người cha có phản đối dữ dội đến mức gây nguy hiểm cho mẹ và con không, sau khi rửa tội cháu có được đưa đến nhà thờ, được học giáo lý, được sống đời sống đức tin không. Những câu hỏi ấy không phải để làm khó chị, nhưng để bảo đảm rằng bí tích Rửa tội được cử hành với trách nhiệm mục vụ và có hy vọng thật sự về việc giáo dục đức tin cho trẻ. Trong trường hợp có nguy cơ bạo hành hoặc tranh chấp gay gắt, cha xứ và Đấng Bản quyền địa phương có thể giúp phân định cách khôn ngoan để vừa bảo vệ quyền được rửa tội của con, vừa tránh làm mẹ con rơi vào nguy hiểm không cần thiết.
Về câu hỏi thứ ba: nếu sau này chị muốn kết hôn với người khác thì phải làm sao? Đây là điểm cần sửa cho thật chính xác. Không nên nói đơn giản rằng chị “xin Đấng Bản quyền rút lại phép chuẩn hôn phối” rồi chị hết ràng buộc. Cách nói ấy rất dễ gây hiểu lầm. Phép chuẩn khác đạo đã được ban để hôn nhân được cử hành thành sự và hợp pháp; sau khi hôn nhân đã thành sự, không phải chỉ cần rút lại phép chuẩn là dây hôn phối tự động biến mất. Giáo Hội không giải quyết hôn nhân bằng cách “rút lại phép chuẩn” như rút lại một giấy phép hành chính sau khi sự việc đã hoàn tất. Nếu muốn kết hôn với người khác, chị phải đến tòa án hôn phối giáo phận hoặc văn phòng hôn phối của giáo phận để được hướng dẫn xem trường hợp của chị thuộc hướng nào: tuyên bố hôn nhân vô hiệu, đặc ân đức tin, hoặc một thủ tục khác nếu hội đủ điều kiện.
Hướng thứ nhất là xin tòa án hôn phối điều tra xem hôn nhân trước có vô hiệu ngay từ đầu hay không. Tiêu hôn, nói cho đúng, không phải là “làm cho một hôn nhân đang có hiệu lực trở nên không còn hiệu lực”, nhưng là Giáo Hội tuyên bố rằng, sau khi điều tra, hôn nhân ấy đã không thành sự ngay từ lúc cử hành vì thiếu một yếu tố thiết yếu nào đó. Những yếu tố ấy có thể liên quan đến sự ưng thuận, tự do nội tâm, lừa dối nghiêm trọng, sợ hãi nghiêm trọng, loại trừ con cái, loại trừ sự chung thủy, loại trừ tính bất khả phân ly, không có khả năng đảm nhận nghĩa vụ hôn nhân vì nguyên nhân tâm lý nghiêm trọng, hoặc một ngăn trở nào đó chưa được chuẩn đúng cách. Giáo luật điều 1095 nói đến những trường hợp không có khả năng kết hôn vì thiếu sử dụng lý trí, thiếu phán đoán nghiêm trọng về quyền lợi và nghĩa vụ hôn nhân, hoặc không thể đảm nhận nghĩa vụ thiết yếu của hôn nhân do nguyên nhân tâm lý; điều 1103 nói hôn nhân bất thành nếu được kết lập do bạo lực hay sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài khiến người ta buộc phải chọn hôn nhân để thoát khỏi sợ hãi. Những điều này chỉ là ví dụ; không thể tự kết luận tại nhà, mà phải qua thẩm quyền của tòa án hôn phối.
Hướng thứ hai, vì chồng chị là người chưa rửa tội, có thể phải xem đến khả năng tháo gỡ hôn nhân không bí tích vì lợi ích đức tin, thường được gọi rộng rãi là đặc ân đức tin. Cần phân biệt thật rõ: đặc ân Phaolô theo nghĩa chặt chỉ áp dụng cho hôn nhân được kết lập giữa hai người đều chưa rửa tội, rồi sau đó một người lãnh nhận bí tích Rửa tội và người kia bỏ đi hoặc không muốn chung sống bình an mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa. Giáo luật điều 1143 §1 nói hôn nhân giữa hai người không rửa tội được tháo gỡ nhờ đặc ân Phaolô vì lợi ích đức tin của bên đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, khi bên không rửa tội rời bỏ, và sự tháo gỡ xảy ra do chính việc người đã rửa tội kết hôn mới, với các điều kiện luật định. Trong trường hợp của chị, chị đã là người Công giáo trước khi kết hôn, còn chồng chị là người chưa rửa tội; vì thế, trường hợp này thường không phải là đặc ân Phaolô theo nghĩa chặt, vì không phải hôn nhân giữa hai người đều chưa rửa tội lúc ban đầu.
Tuy nhiên, vì đây là hôn nhân giữa một người đã rửa tội và một người chưa rửa tội, tức hôn nhân không bí tích, có thể có những trường hợp được xét theo đặc ân đức tin do quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng, thường được gọi trong thực hành là đặc ân Phêrô hoặc tháo gỡ in favorem fidei. Đây không phải là thủ tục đơn giản ở cấp giáo xứ, cũng không phải cha xứ tự quyết, và cũng không phải cứ bị chồng ngoại giáo ngăn cản giữ đạo là chắc chắn được tháo gỡ. Hồ sơ phải được điều tra, lập đầy đủ, chuyển theo đường giáo phận, và tùy trường hợp có thể được trình lên thẩm quyền Tòa Thánh. Một văn kiện của Bộ Giáo lý Đức tin khi bàn về những trường hợp liên quan đến người không rửa tội cũng phân biệt rằng đặc ân Phaolô đòi khởi điểm là hôn nhân giữa hai người không rửa tội, còn các hôn nhân giữa một người đã rửa tội và một người chưa rửa tội, trong những điều kiện nhất định, có thể được tháo gỡ bởi thẩm quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng.
Vì thế, nếu chị muốn kết hôn với người khác, con đường đúng không phải là tự ý ly dị rồi tổ chức hôn nhân mới. Con đường đúng là: trước hết đến gặp cha xứ; sau đó cha xứ sẽ hướng dẫn chị liên hệ với tòa án hôn phối giáo phận hoặc văn phòng phụ trách hôn phối của giáo phận; chị cần trình bày toàn bộ hồ sơ: giấy rửa tội của chị, giấy hôn phối, giấy phép chuẩn khác đạo, giấy đăng ký kết hôn dân sự, giấy ly dị dân sự nếu đã có, bằng chứng về việc chồng chưa rửa tội, bằng chứng về bạo hành nếu có, bằng chứng về việc chồng ngăn cản giữ đạo, ngăn cản rửa tội cho con, lời chứng của người thân hoặc người biết sự việc, và mọi tài liệu liên quan. Tòa án hôn phối sẽ không chỉ nghe một phía theo cảm xúc, nhưng sẽ điều tra theo sự thật, vì hôn nhân luôn được hưởng sự ưu favor của luật: khi còn nghi ngờ, phải coi hôn nhân là thành sự cho đến khi chứng minh ngược lại. Giáo luật điều 1060 nói rõ hôn nhân được hưởng sự ưu favor của luật, nên trong trường hợp nghi ngờ, phải bảo vệ tính thành sự của hôn nhân cho đến khi có chứng cứ ngược lại.
Trong thời gian chưa có phán quyết vô hiệu hoặc chưa có quyết định tháo gỡ hợp pháp, chị không được kết hôn với người khác. Nếu chị kết hôn dân sự với người khác trong khi dây hôn phối trước vẫn còn trước mặt Giáo Hội, thì đời sống hôn nhân mới ấy sẽ đặt chị vào tình trạng rất khó khăn đối với bí tích Hòa giải và Thánh Thể. Đây không phải là vì Giáo Hội thiếu lòng thương xót, nhưng vì Giáo Hội không thể vừa công nhận dây hôn phối trước còn tồn tại, vừa công nhận người ấy đang tự do bước vào một hôn nhân mới. Lòng thương xót không bao giờ tách khỏi sự thật. Chính sự thật mới bảo vệ người đau khổ khỏi những quyết định vội vàng, và bảo vệ bí tích hôn phối khỏi bị xem như một thủ tục có thể tháo ra buộc vào theo cảm xúc.
Cần nói thêm một điểm mục vụ rất tế nhị: nếu chồng chị đánh đập chị, đe dọa chị, ngăn cản chị đi lễ, cấm con được rửa tội, thì trước khi nghĩ đến chuyện kết hôn với người khác, việc khẩn thiết nhất là bảo vệ sự an toàn của chị và con, ổn định đời sống, chữa lành những tổn thương, tìm sự nâng đỡ thiêng liêng, và đặt lại đời sống đức tin trên nền vững chắc. Khi một người vừa bước ra khỏi bạo hành, tâm hồn thường rất dễ cô đơn, rất dễ bám vào một người mới như chiếc phao cứu sinh. Nhưng hôn nhân mới không nên là thuốc giảm đau cho vết thương cũ. Nếu vết thương cũ chưa được chữa lành, người ta có thể mang cả nỗi sợ, sự bất an, sự thiếu tin tưởng, và những phản ứng phòng vệ vào một tương quan mới. Giáo Hội thận trọng không phải để làm khó, nhưng để người tín hữu không đi từ một đau khổ này sang một ràng buộc đau khổ khác.
Tóm lại, trong trường hợp chị nêu, có thể trả lời rõ từng điểm như sau. Một là, nếu chị ly thân hoặc ly dị dân sự vì bị bạo hành, bị ngăn cản giữ đạo, và để bảo vệ con cái, thì đó có thể là lý do chính đáng; việc ấy tự nó không làm chị mất quyền xưng tội rước lễ. Hai là, nếu chị không tái hôn trái luật và không sống trong một kết hợp mới trái với giáo huấn hôn nhân Công giáo, chị vẫn có thể xưng tội, rước lễ, sống đời sống bí tích bình thường, sau khi xét mình và lãnh nhận bí tích Hòa giải như mọi tín hữu khác. Ba là, chị có quyền và có bổn phận đưa con đến gặp cha xứ để xin rửa tội, miễn là có sự đồng ý của ít là một người cha hoặc mẹ theo quy định, và có hy vọng thật sự rằng con sẽ được giáo dục trong đức tin Công giáo. Bốn là, chị chưa được tự do kết hôn với người khác chỉ vì đã ly dị dân sự. Năm là, nếu muốn kết hôn với người khác, chị phải xin tòa án hôn phối hoặc thẩm quyền giáo phận điều tra, để xem hôn nhân trước có thể được tuyên bố vô hiệu hay có thể được tháo gỡ theo một thủ tục đặc biệt vì lợi ích đức tin hay không. Sáu là, không nên nói đơn giản rằng chỉ cần “rút lại phép chuẩn hôn phối” là chị hết ràng buộc; cách nói chính xác hơn là phải có một phán quyết hoặc quyết định hợp pháp của thẩm quyền Giáo Hội về tình trạng dây hôn phối.
Điều cần giữ trong lòng là: Giáo Hội không bỏ rơi người bị bạo hành. Giáo Hội cũng không xem nhẹ lời hứa hôn nhân. Giáo Hội vừa bảo vệ sự thánh thiêng của hôn phối, vừa bảo vệ đức tin, sự sống, nhân phẩm và con cái. Một người Công giáo bị ngăn cản sống đức tin không nên âm thầm chịu đựng một mình. Hãy đến với cha xứ, trình bày sự thật, xin hướng dẫn. Hãy bảo vệ mình và con khỏi bạo lực. Hãy đưa con đến với bí tích Rửa tội nếu có thể. Hãy tiếp tục tham dự Thánh lễ, cầu nguyện, xưng tội, rước lễ nếu lương tâm ngay thẳng và không có ngăn trở bí tích. Và nếu sau này nghĩ đến một cuộc hôn nhân mới, hãy đi trên con đường chính thức của Giáo Hội, đừng tự quyết theo cảm xúc, cũng đừng nghe những lời khuyên nửa đúng nửa sai.
Trong những hoàn cảnh như thế, người tín hữu cần nhớ rằng Chúa không bao giờ muốn đức tin của ta bị bóp nghẹt trong sợ hãi. Chúa không muốn người mẹ bất lực nhìn con mình bị cắt khỏi nguồn ân sủng. Chúa không muốn người yếu thế bị đánh đập rồi còn bị kết án thêm bởi những hiểu biết sai lạc về giáo luật. Nhưng Chúa cũng mời gọi ta bước đi trong sự thật, kiên nhẫn với tiến trình của Giáo Hội, tôn trọng dây hôn phối cho đến khi thẩm quyền hợp pháp xác định khác đi. Đức tin không phải là sự liều lĩnh mù quáng, nhưng là ánh sáng giúp ta biết lúc nào phải chịu đựng vì tình yêu, lúc nào phải rời xa để bảo vệ sự sống, lúc nào phải tha thứ trong lòng, và lúc nào phải nhờ Giáo Hội phân định để khỏi tự mình quyết định một điều vượt quá thẩm quyền của lương tâm cá nhân.
Vì thế, câu trả lời mục vụ sau cùng dành cho chị là: chị hãy can đảm đến gặp cha xứ. Hãy nói rõ rằng chị đã kết hôn khác đạo có phép chuẩn, nay bị ngăn cản giữ đạo, bị đánh đập, và con bị ngăn cản rửa tội. Hãy xin cha giúp chị ba việc: nâng đỡ đời sống bí tích của chị, hướng dẫn rửa tội cho con, và giới thiệu hồ sơ lên tòa án hôn phối giáo phận nếu sau này cần xác định tình trạng hôn nhân. Trong khi chờ đợi, chị hãy sống trong sạch, trung tín với Chúa, không tự ý bước vào một quan hệ vợ chồng mới, và đặt mọi sự dưới ánh sáng của sự thật, công lý và lòng thương xót.
Lm. Anmai, CSsR