NHỮNG BÍ QUYẾT LÃNH ĐẠO CỦA ĐỨC GIÊSU
Lm. Anmai, CSsR
DÀI LỜI …
Có lẽ một trong những ngộ nhận lớn nhất của con người khi nói đến hai chữ “lãnh đạo” là nghĩ ngay đến một chức vụ, một chiếc ghế, một danh xưng, một quyền hạn, một vị trí cao hơn người khác. Người ta thường gọi một người là lãnh đạo khi người ấy có quyền quyết định, có người dưới quyền, có tiếng nói ảnh hưởng đến một tập thể, có khả năng điều hành một tổ chức hay đứng ở vị trí mà người khác phải nghe theo. Bởi thế, trong suy nghĩ rất tự nhiên của con người, lãnh đạo thường đi chung với quyền lực, ảnh hưởng, thành công, năng lực, tài tổ chức, khả năng thuyết phục và những dấu hiệu bên ngoài của một người “đứng đầu”. Nhưng nếu mở Tin Mừng ra và đứng thật lâu trước con người Đức Giêsu, chúng ta sẽ gặp một kiểu lãnh đạo hoàn toàn khác. Một kiểu lãnh đạo có thể làm đảo lộn những tiêu chuẩn quen thuộc của thế gian. Đức Giêsu không bao giờ xuất hiện như một nhà lãnh đạo đang tìm cách xây dựng hình ảnh cho mình. Ngài không tìm một chức danh. Ngài không dựng lên một ngai tòa. Ngài không bao quanh mình bằng những người chỉ biết tung hô. Ngài không dùng quyền lực để ép buộc người khác phải trung thành với mình. Ngài cũng chẳng hứa với những người đi theo mình rằng họ sẽ có một đời sống dễ dàng hơn, được nhiều đặc quyền hơn hay có một vị trí tốt hơn trong xã hội. Trái lại, Ngài nói đến thập giá, đến từ bỏ, đến phục vụ, đến mất mạng sống mình, đến việc trở nên người rốt hết và người phục vụ mọi người. Ngài nói những điều mà nếu nhìn bằng con mắt của thế gian thì dường như chẳng có gì hấp dẫn. Vậy mà con người đã đi theo Ngài. Những người nghèo đi theo Ngài. Những người đau khổ đi theo Ngài. Những người tội lỗi tìm đến Ngài. Những người đã từng thất bại, từng bị loại trừ, từng mang mặc cảm, từng không được ai coi trọng lại tìm thấy nơi Ngài một sức hút không thể giải thích chỉ bằng tài diễn thuyết hay khả năng tổ chức. Họ đi theo Ngài bởi vì nơi Đức Giêsu, họ gặp được một con người sống thật điều mình nói, yêu thật điều mình rao giảng, và dám trả giá bằng chính mạng sống cho điều mình tin. Đó là khởi điểm để hiểu thế nào là lãnh đạo theo Đức Giêsu: lãnh đạo không phải trước hết là điều ta làm cho người khác, nhưng là con người ta trở thành trước mặt Thiên Chúa và trước anh chị em mình.
Đức Giêsu không viết một cuốn sách mang tên “Nghệ thuật lãnh đạo”. Ngài không để lại cho các môn đệ một bản kế hoạch chiến lược dày hàng trăm trang. Ngài cũng không mở những khóa đào tạo để dạy họ cách gây ảnh hưởng trên đám đông, cách xây dựng thương hiệu hay cách bảo vệ quyền lực của tổ chức. Ngài chỉ sống. Nhưng chính đời sống ấy đã trở thành cuốn sách lãnh đạo vĩ đại nhất mà nhân loại từng được đọc. Ngài sống giữa con người, đi trên những con đường đầy bụi, bước vào những căn nhà nghèo, ngồi bên những bàn ăn rất bình thường, chạm đến những người mà xã hội tránh xa, lắng nghe những tiếng kêu mà đám đông cố át đi, nhìn thấy những phận người mà người khác đã quen coi như vô hình. Ngài biết dừng lại trước một người mù đang kêu bên vệ đường. Ngài biết nhìn lên cây để gọi một người thu thuế đang trốn mình giữa những cành lá. Ngài biết ngồi bên bờ giếng để nói chuyện với một người phụ nữ mà xã hội không muốn tiếp xúc. Ngài biết cúi xuống trước một người đàn bà bị kéo đến giữa vòng người kết án. Ngài biết khóc trước mộ một người bạn. Ngài biết chạnh lòng thương khi nhìn đám đông bơ vơ như chiên không người chăn dắt. Ngài biết mệt, biết đói, biết đau, biết cô đơn, nhưng chẳng bao giờ dùng những điều đó làm lý do để ngừng yêu thương. Nếu muốn hiểu bí quyết lãnh đạo của Đức Giêsu, có lẽ chúng ta phải bắt đầu từ những điều bình dị ấy. Bởi quyền lãnh đạo của Ngài không đi ra từ khoảng cách với con người, mà đi ra từ sự gần gũi. Ngài không lãnh đạo từ trên cao nhìn xuống. Ngài đi vào giữa. Ngài không đứng ngoài nỗi đau để nói cho người đau khổ biết phải sống thế nào. Ngài bước vào nỗi đau ấy. Ngài không nói với nhân loại về hy sinh trong khi chính mình đứng ngoài mọi mất mát. Ngài đi tới thập giá. Ngài không dạy con người tha thứ rồi giữ lại cho mình quyền trả thù. Ngay trong giờ bị đóng đinh, Ngài vẫn cầu xin cho những người làm khổ mình. Chính vì thế, người ta có thể không hiểu hết mọi lời Ngài nói, nhưng người ta không thể phủ nhận sự thật của đời Ngài.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu vì thế không bắt đầu bằng câu hỏi: “Tôi có quyền gì?” mà phải bắt đầu bằng câu hỏi: “Tôi đang sống thế nào?” Không phải: “Có bao nhiêu người nghe tôi?” nhưng là: “Cuộc sống của tôi có đáng để người khác tin không?” Không phải: “Tôi có khả năng điều khiển người khác đến đâu?” nhưng là: “Tôi có khả năng làm chủ chính mình đến đâu?” Không phải: “Người khác có kính trọng tôi không?” nhưng là: “Tôi có thật sự kính trọng những người được trao cho mình không?” Không phải: “Tôi đang ở vị trí nào?” nhưng là: “Từ vị trí này, tôi đang phục vụ ai?” Một người có thể mang một chức vụ rất cao mà vẫn chưa bao giờ thật sự lãnh đạo. Ngược lại, một người không có chức danh nào vẫn có thể là một người lãnh đạo rất lớn, bởi cách họ sống làm cho người khác trở nên tốt hơn. Một người mẹ âm thầm hy sinh cho gia đình có thể đang lãnh đạo bằng tình yêu. Một người cha sống trung thực, giữ lời, biết nhận lỗi và biết cầu nguyện có thể đang lãnh đạo con cái bằng chính đời sống của mình. Một giáo lý viên kiên nhẫn với những đứa trẻ khó dạy có thể đang lãnh đạo chúng đến gần Chúa hơn. Một tu sĩ lặng lẽ phục vụ trong một công việc không ai thấy có thể đang để lại ảnh hưởng sâu hơn rất nhiều người đứng trên bục cao. Một linh mục biết cúi xuống để nghe một người đau khổ nói hết câu chuyện của họ có thể đang lãnh đạo theo cách của Đức Giêsu hơn cả khi ngài điều hành rất thành công nhiều chương trình lớn. Bởi lãnh đạo Kitô giáo không đo bằng độ cao của chiếc ghế, nhưng bằng độ sâu của tình yêu; không đo bằng số người đứng phía sau mình, nhưng bằng số người được mình nâng dậy; không đo bằng bao nhiêu mệnh lệnh mình có thể ban ra, nhưng bằng bao nhiêu lần mình có thể cúi xuống mà vẫn không cảm thấy phẩm giá của mình bị mất đi.
Đức Giêsu đã nói một câu khiến mọi quan niệm về quyền lực của các môn đệ phải thay đổi: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em.” Các môn đệ của Ngài lúc ấy vẫn rất giống chúng ta. Họ cũng tranh nhau xem ai lớn hơn. Họ cũng nghĩ đến vị trí. Họ cũng mơ một ngày Đức Giêsu làm vua và họ sẽ có chỗ đứng tương xứng bên cạnh Ngài. Có người còn nhờ mẹ đến xin một ghế bên hữu, một ghế bên tả. Rõ ràng ngay cả những người ở rất gần Chúa cũng không dễ thoát khỏi cơn cám dỗ của quyền lực. Chúng ta cũng vậy. Trong đời sống Giáo Hội, trong cộng đoàn, trong hội đoàn, trong gia đình, thậm chí trong những công việc được gọi là phục vụ, con người vẫn có thể mang theo một khát vọng rất âm thầm là muốn được nhìn nhận, muốn được nghe theo, muốn tiếng nói của mình nặng ký hơn, muốn tên mình được nhắc đến, muốn công lao của mình được ghi nhận. Có những lúc chúng ta nói rằng mình phục vụ Chúa nhưng lại rất buồn khi chẳng ai cảm ơn. Có những lúc chúng ta nói mình chỉ làm cho Giáo Hội, nhưng nếu người khác được giao một việc mà ta nghĩ đáng lẽ thuộc về mình, lòng ta lập tức bất an. Có những lúc ta nói mình không ham danh, nhưng chỉ một lời chê cũng đủ làm mình mất bình an nhiều ngày. Có những lúc ta nói mình làm vì cộng đoàn, nhưng nếu ý kiến của mình không được chọn, ta liền lạnh nhạt hoặc buông xuôi. Những điều ấy cho thấy trong mỗi người vẫn có một “chiếc ghế” vô hình mà ta muốn giữ. Đức Giêsu không lên án khát vọng làm điều lớn. Ngài chỉ thay đổi định nghĩa về cái lớn. Với Ngài, người lớn nhất là người phục vụ nhiều nhất. Người cao nhất là người cúi thấp nhất. Người có quyền nhất là người biết dùng quyền để người khác được sống. Người đáng được theo nhất là người sẵn sàng đi trước trên con đường hy sinh.
Cao điểm của bài học lãnh đạo ấy chính là bữa Tiệc Ly. Hôm đó, Đức Giêsu biết giờ của mình đã đến. Ngài biết phía trước là phản bội, bắt bớ, xét xử, nhục hình và cái chết. Nếu là chúng ta, có lẽ trong một giờ phút như vậy, ta sẽ mong những người thân cận nhất đến an ủi mình. Ta có quyền nghĩ rằng đây là lúc mình phải được phục vụ. Nhưng Đức Giêsu lại đứng dậy khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Đôi bàn tay đã chữa lành người bệnh giờ đây cầm lấy những bàn chân đầy bụi. Đấng mà các môn đệ gọi là Thầy và là Chúa lại quỳ xuống trước mặt họ. Không có bài giảng nào về lãnh đạo mạnh hơn hình ảnh ấy. Không có một lý thuyết nào về quyền bính sâu hơn chiếc khăn thắt lưng ấy. Đức Giêsu không từ bỏ căn tính của mình khi cúi xuống. Ngài vẫn là Thầy. Ngài vẫn là Chúa. Nhưng chính bởi biết mình là ai, Ngài mới có thể tự do phục vụ mà không sợ mất mình. Người bất an về giá trị của bản thân thường phải dùng quyền lực để chứng minh mình. Người biết rõ căn tính của mình trong Thiên Chúa không cần phải chứng minh điều gì cả. Họ có thể cúi xuống mà không thấy thấp đi. Họ có thể xin lỗi mà không thấy mất mặt. Họ có thể lắng nghe người nhỏ bé hơn mà không thấy quyền của mình bị đe dọa. Họ có thể trao cơ hội cho người khác mà không sợ người ấy nổi bật hơn mình. Họ có thể chia sẻ quyền lực mà không cảm thấy mình bị mất quyền. Đó là sự tự do bên trong mà người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải học suốt đời.
Điều lạ lùng hơn nữa là Đức Giêsu không chỉ rửa chân cho những môn đệ tốt. Ngài rửa chân cho Phêrô, người chỉ ít giờ sau sẽ chối Ngài ba lần. Ngài rửa chân cho những người sẽ bỏ chạy khi Ngài bị bắt. Và Ngài rửa cả chân Giuđa, người đã quyết định phản bội Ngài. Ở đây, lãnh đạo theo Đức Giêsu đạt đến một chiều sâu mà lý trí tự nhiên rất khó chấp nhận. Chúng ta thường dễ phục vụ những người biết ơn. Dễ yêu những người trung thành. Dễ trao cơ hội cho những người đáp ứng kỳ vọng của mình. Nhưng Đức Giêsu có thể yêu cả trong khi biết người kia sẽ làm mình đau. Điều đó không có nghĩa Ngài ngây thơ. Ngài biết rõ lòng người. Ngài nhìn thẳng vào sự phản bội. Ngài không gọi bóng tối là ánh sáng. Nhưng Ngài không để sự phản bội của người khác quyết định phẩm chất tình yêu của mình. Đây là điều vô cùng quan trọng với người lãnh đạo. Nếu ta chỉ tử tế khi người khác tử tế với mình, đó chưa phải là lãnh đạo theo Tin Mừng. Nếu cách ta đối xử với người khác hoàn toàn phụ thuộc vào việc họ có làm ta hài lòng hay không, ta vẫn đang bị cái tôi điều khiển. Lãnh đạo theo Đức Giêsu đòi hỏi một trái tim rộng hơn phản ứng tự nhiên. Có thể phải sửa sai, có thể phải đặt giới hạn, có thể phải nói sự thật rất đau, nhưng tất cả phải đi ra từ một trái tim không muốn hủy diệt người khác.
Đức Giêsu cũng cho thấy một người lãnh đạo thật không phải là người luôn giữ mọi việc trong tay mình. Ngài chọn các môn đệ, đào tạo họ, sai họ đi, rồi cuối cùng giao cho chính họ sứ mạng tiếp tục công việc của Ngài. Điều đáng nói là những con người ấy chẳng phải một đội ngũ hoàn hảo. Có người nóng tính. Có người tham vọng. Có người hay nghi ngờ. Có người phản ứng nhanh hơn suy nghĩ. Có người từng làm nghề mà xã hội khinh miệt. Có người nhiều lần không hiểu lời Thầy. Nếu xây dựng một tổ chức theo tiêu chuẩn hiện đại, có lẽ nhiều người trong nhóm Mười Hai đã không vượt qua được vòng phỏng vấn đầu tiên. Vậy mà Đức Giêsu nhìn thấy nơi họ điều mà chính họ chưa nhìn thấy. Ngài nhìn Simon và thấy Phêrô, tảng đá. Ngài nhìn những ngư phủ bình thường và thấy những con người có thể trở thành những kẻ lưới người. Ngài không chỉ nhìn vào hiện tại của một con người, Ngài nhìn vào khả năng họ có thể trở thành trong ân sủng. Đây là một trong những nét đẹp nhất của lãnh đạo. Người lãnh đạo tồi thường khiến những người xung quanh ngày càng sợ hãi, phụ thuộc và nhỏ bé. Người lãnh đạo tốt làm cho người khác dần trưởng thành, tự tin, có trách nhiệm và có khả năng đứng vững. Đức Giêsu không xây dựng những con người lệ thuộc vào sự hiện diện hữu hình của Ngài mãi mãi. Ngài chuẩn bị để họ có thể đi khi Ngài không còn ở bên theo cách trước đó. Ngài trao cho họ Tin Mừng. Ngài trao cho họ Thánh Thần. Ngài trao cho họ trách nhiệm. Nói cách khác, Ngài không giữ sứ mạng cho riêng mình.
Đây cũng là một thách đố lớn với những người đang có trách nhiệm trong Giáo Hội. Có khi ta nghĩ mình đang đào tạo người khác nhưng thực ra ta đang làm họ lệ thuộc vào mình. Có khi ta nói trao quyền nhưng cuối cùng mọi quyết định nhỏ nhất vẫn phải quay về với ta. Có khi ta rất vui khi người khác giỏi, miễn là họ chưa giỏi hơn ta. Có khi ta muốn người kế nhiệm tiếp tục công việc của mình, nhưng lại muốn họ làm mọi sự đúng y như cách mình đã làm. Đức Giêsu thì khác. Ngài để các môn đệ lớn lên bằng cả những lần vấp ngã. Phêrô đã từng thất bại rất đau. Nhưng thất bại ấy không khiến Đức Giêsu hủy bỏ ơn gọi của ông. Sau Phục Sinh, Ngài không hỏi Phêrô: “Tại sao con yếu đuối như vậy?” Ngài hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Rồi trao lại đoàn chiên cho ông. Điều đó không có nghĩa là sai lầm không quan trọng, nhưng Đức Giêsu nhìn con người sâu hơn sai lầm của họ. Một người lãnh đạo theo Ngài phải biết phân biệt giữa một hành động thất bại và toàn bộ giá trị của một con người. Không nên đóng đinh người khác vào một sai lầm trong quá khứ. Không nên biến một lần yếu đuối thành bản án suốt đời. Có những người chỉ cần một người còn tin vào họ là đủ để họ có thể bắt đầu lại. Đức Giêsu đã làm điều ấy với Phêrô. Và Phêrô đã trở thành một con người hoàn toàn khác.
Nhưng có lẽ điều làm cho lãnh đạo của Đức Giêsu trở nên sâu xa nhất không chỉ là cách Ngài đối xử với con người, mà còn là mối tương quan của Ngài với Chúa Cha. Đức Giêsu không lãnh đạo từ cái tôi. Ngài lãnh đạo từ sự hiệp thông. Trước những quyết định quan trọng, Ngài cầu nguyện. Trước khi chọn các Tông đồ, Ngài lên núi cầu nguyện suốt đêm. Khi đám đông muốn tôn Ngài làm vua, Ngài rút lui. Khi công việc quá nhiều, Ngài tìm nơi thanh vắng. Trong vườn Cây Dầu, trước giờ quyết định của cuộc đời, Ngài cầu nguyện đến mức mồ hôi như máu nhỏ xuống đất. Một người nhìn từ bên ngoài có thể hỏi: nếu Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, tại sao Ngài cần cầu nguyện nhiều như vậy? Bởi chính nơi cầu nguyện, Ngài sống căn tính người Con. Chính nơi cầu nguyện, mọi việc Ngài làm được đặt lại trong ý Cha. Điều ấy là một lời cảnh tỉnh rất mạnh đối với chúng ta. Người lãnh đạo Kitô hữu có thể rất bận rộn với công việc của Chúa đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Có thể họp rất nhiều về truyền giáo nhưng không còn lửa truyền giáo vì đã xa nguồn lửa. Có thể xây dựng nhiều chương trình mục vụ nhưng đời sống nội tâm ngày càng cạn. Có thể nói nhiều về cầu nguyện nhưng chính mình lại chỉ cầu nguyện khi còn thời gian. Có thể tổ chức rất nhiều cho cộng đoàn nhưng tâm hồn ngày càng bực bội, mệt mỏi, dễ nổi nóng, dễ tổn thương vì đã đánh mất nơi trở về. Lúc ấy, công việc có thể vẫn chạy, nhưng người lãnh đạo đang dần rỗng bên trong. Đức Giêsu cho thấy người lãnh đạo thật cần một nơi mà ở đó mình không phải lãnh đạo ai cả, nơi mình chỉ là một người con trước mặt Thiên Chúa. Nếu không có nơi ấy, quyền lực sẽ rất dễ trở thành căn tính của ta. Và khi quyền lực trở thành căn tính, ta sẽ làm mọi cách để bảo vệ nó.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu còn là khả năng không bị đám đông điều khiển. Đây là điều rất khó trong thời đại ngày nay. Chúng ta đang sống giữa một nền văn hóa đếm mọi thứ: bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu người tham dự, bao nhiêu lời khen, bao nhiêu thành tích, bao nhiêu con số có thể đưa vào báo cáo. Những con số có giá trị của chúng, nhưng rất nguy hiểm nếu chúng trở thành thước đo cuối cùng của sứ mạng. Đức Giêsu có những lúc được đám đông tung hô, nhưng Ngài không để tiếng vỗ tay quyết định hướng đi. Có lúc rất đông người tìm Ngài, nhưng Ngài lại nói những lời khiến nhiều người bỏ đi. Có lúc dân chúng muốn giữ Ngài ở lại, nhưng Ngài nói còn phải đi nơi khác để rao giảng. Có lúc người ta muốn tôn Ngài làm vua, nhưng Ngài tránh đi. Một người lãnh đạo không có căn tính vững sẽ rất dễ nghiện sự công nhận. Khi được khen, họ đầy năng lượng. Khi bị chê, họ suy sụp. Khi có đông người, họ hăng hái. Khi ít người, họ mất lửa. Khi được chú ý, họ làm rất nhiều. Khi không ai biết, họ không còn muốn làm. Đức Giêsu không sống như thế. Ngài biết mình đến để làm gì. Sứ mạng của Ngài không được quyết định bởi mức độ hài lòng của đám đông, mà bởi ý muốn của Chúa Cha. Đó là tự do của người lãnh đạo có tầm nhìn: biết nghe con người nhưng không trở thành nô lệ cho dư luận; biết trân trọng lời góp ý nhưng không sống bằng lời khen; biết đón nhận phê bình nhưng không để một lời chê phá hủy căn tính mình.
Cũng cần nói rằng lãnh đạo theo Đức Giêsu không có nghĩa là luôn mềm yếu, luôn tránh xung đột hay luôn làm mọi người hài lòng. Đức Giêsu rất hiền lành nhưng không nhu nhược. Ngài đầy lòng thương xót nhưng rất rõ ràng. Ngài có thể dịu dàng với người tội lỗi và rất mạnh mẽ trước sự giả hình. Ngài có thể ôm trẻ nhỏ nhưng cũng có thể lật bàn của những người biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Ngài có thể tha thứ cho người phụ nữ phạm tội nhưng vẫn nói: “Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Ngài có thể gọi các môn đệ là bạn hữu nhưng cũng sửa họ rất thẳng khi họ sai. Lãnh đạo bằng tình yêu không có nghĩa là né tránh sự thật. Ngược lại, chỉ có tình yêu thật mới đủ can đảm nói sự thật đúng lúc và đúng cách. Một người lãnh đạo chỉ muốn được mọi người thích sẽ không thể dẫn dắt lâu dài. Sẽ có lúc họ phải đưa ra quyết định không được lòng tất cả. Sẽ có lúc họ phải bảo vệ những giá trị mà người khác muốn thỏa hiệp. Sẽ có lúc họ phải nói “không”. Sẽ có lúc họ phải đối diện với một hành vi gây tổn thương cộng đoàn. Nhưng điều làm nên khác biệt là cách họ làm điều đó. Đức Giêsu không sửa người khác để hạ nhục. Ngài sửa để cứu. Ngài không vạch trần yếu đuối để chứng tỏ mình đúng. Ngài đưa sự thật ra ánh sáng để mở đường cho hoán cải. Đó là ranh giới rất mong manh mà mỗi người lãnh đạo phải xét mình thường xuyên: tôi đang nói sự thật vì yêu người này hay vì tôi muốn thắng họ?
Tất cả những điều ấy dẫn chúng ta về với trung tâm của lãnh đạo Kitô giáo: trái tim. Kỹ năng là cần. Kiến thức là cần. Khả năng tổ chức, giao tiếp, quản trị, phân quyền, lập kế hoạch đều cần. Giáo Hội không cổ võ sự vụng về và cũng không coi việc thiếu chuẩn bị là một nhân đức. Nhưng tất cả những kỹ năng ấy chỉ là công cụ. Một con dao sắc trong tay người chữa bệnh có thể cứu sống, nhưng trong tay người mang lòng thù hận có thể gây thương tích. Quyền lực cũng vậy. Kỹ năng lãnh đạo cũng vậy. Nếu trái tim chưa được Tin Mừng biến đổi, càng giỏi lãnh đạo theo nghĩa kỹ thuật đôi khi càng có khả năng gây tổn thương lớn. Một người nói rất hay nhưng đầy tham vọng có thể lôi kéo rất nhiều người đi theo mình thay vì đi theo Chúa. Một người tổ chức rất giỏi nhưng thiếu lòng thương xót có thể biến cộng đoàn thành một cỗ máy hiệu quả nhưng lạnh lẽo. Một người có khả năng gây ảnh hưởng nhưng không biết tự xét mình có thể dùng chính sức ảnh hưởng ấy để bảo vệ cái tôi. Vì thế, trước khi học cách dẫn người khác, người môn đệ phải học để Chúa dẫn chính mình. Trước khi hỏi “làm sao để người khác thay đổi?”, phải dám hỏi “Chúa đang muốn thay đổi gì nơi tôi?” Trước khi sửa người khác, phải để Lời Chúa sửa mình. Trước khi đòi người khác khiêm nhường, phải xem mình có thể nhận lỗi không. Trước khi nói với người khác về tinh thần phục vụ, phải xem mình phản ứng thế nào khi phải làm một công việc không ai thấy.
Cuốn sách về những bí quyết lãnh đạo của Đức Giêsu vì thế không thể được đọc như một tập hợp các mẹo để thành công. Nếu đọc với tâm thế ấy, chúng ta sẽ bỏ lỡ điều quan trọng nhất. Đức Giêsu không đến để dạy ta làm thế nào có nhiều ảnh hưởng hơn. Ngài mời ta trở thành một con người mới. Lãnh đạo theo Ngài không phải là lấy vài nguyên tắc Tin Mừng rồi gắn chúng vào một mô hình quyền lực cũ. Đó là một cuộc hoán cải về cách nhìn quyền bính. Là học để thấy chức vụ là trách nhiệm chứ không phải đặc quyền. Là hiểu rằng người được trao nhiều không phải để được phục vụ nhiều hơn nhưng để phục vụ nhiều hơn. Là hiểu rằng quyền lực trong Giáo Hội chỉ có ý nghĩa khi trở thành phương tiện nâng đỡ sự sống của người khác. Là biết vui khi người mình đào tạo trưởng thành. Là biết lùi lại để người khác tiến lên. Là biết nhận trách nhiệm khi thất bại nhưng chia sẻ công trạng khi thành công. Là biết bảo vệ người yếu thay vì dùng người yếu để bảo vệ vị trí của mình. Là biết ở lại với những người khó thương, khó dạy, khó đồng hành. Là biết không bỏ cuộc quá nhanh trước sự chậm chạp của con người, bởi chính Chúa cũng đã kiên nhẫn với ta rất nhiều.
Mỗi người trong chúng ta, dù có mang một chức vụ chính thức hay không, đều đang lãnh đạo theo một nghĩa nào đó. Cha mẹ đang dẫn dắt con cái. Anh chị lớn đang ảnh hưởng đến em nhỏ. Người thầy đang định hình học trò. Linh mục đang đồng hành với cộng đoàn. Tu sĩ đang tác động đến những người sống bên mình. Người phụ trách một hội đoàn đang tạo ra một bầu khí có thể giúp người khác lớn lên hoặc làm họ co lại. Thậm chí một người bạn cũng có thể ảnh hưởng đến hướng đi của một người bạn khác. Vì thế câu hỏi không phải là: “Tôi có phải lãnh đạo không?” mà là: “Tôi đang dẫn người khác đi đâu bằng chính cách sống của mình?” Có thể miệng ta nói hãy tin Chúa nhưng sự lo âu triền miên của ta lại dạy người khác rằng Thiên Chúa không đáng tin. Có thể ta nói về lòng thương xót nhưng cách ta nói về người lỗi lầm lại dạy người khác sự kết án. Có thể ta giảng về khiêm nhường nhưng phản ứng của ta khi bị góp ý lại dạy một bài hoàn toàn ngược lại. Có thể ta nói về sự hiệp nhất nhưng cách ta đối xử với người không cùng quan điểm lại gieo chia rẽ. Chúng ta không chỉ lãnh đạo bằng những bài nói. Chúng ta lãnh đạo bằng cách ta bước vào phòng, bằng cách ta lắng nghe, bằng cách ta phản ứng khi kế hoạch bị phá vỡ, bằng cách ta nói về một người vắng mặt, bằng cách ta đối xử với người không thể đem lại lợi ích gì cho ta.
Đức Giêsu đã làm thay đổi lịch sử không phải bởi Ngài chiếm được một đế quốc bằng quân đội, nhưng bởi Ngài chinh phục trái tim con người bằng tình yêu. Ngài không để lại cung điện. Ngài để lại một bàn tiệc. Ngài không để lại ngai vàng dát vàng. Ngài để lại một cây thập giá. Ngài không để lại những người lính trung thành vì sợ hãi. Ngài để lại những môn đệ có thể tự do bỏ đi nhưng cuối cùng lại sẵn sàng chết vì điều mình đã gặp. Đó là sức mạnh của một kiểu lãnh đạo không dựa trên cưỡng chế. Chỉ quyền lực có thể bắt một người vâng lời bên ngoài; tình yêu mới có thể khiến một người trao cả cuộc đời. Chỉ quyền lực có thể giữ một người ở lại khi bị giám sát; tình yêu khiến người ấy tiếp tục sứ mạng ngay cả khi người lãnh đạo không còn hiện diện. Đức Giêsu đã làm điều ấy. Sau khi Ngài về cùng Chúa Cha, các môn đệ không giải tán. Họ đi. Họ rao giảng. Họ chịu bách hại. Họ chết. Điều gì khiến những con người từng bỏ chạy nay có thể can đảm đến thế? Bởi họ không chỉ học một hệ thống tư tưởng. Họ đã được một tình yêu chạm đến. Người lãnh đạo lớn nhất không phải người khiến người khác nhớ đến mình nhiều nhất, mà là người đánh thức nơi người khác một tình yêu đủ lớn để họ tiếp tục đi ngay cả khi mình không còn ở đó.
Vì vậy, những trang sách phía trước không nhằm biến chúng ta thành những “nhà lãnh đạo chuyên nghiệp” theo tiêu chuẩn thành công của thế gian. Chúng ta không tìm cách sao chép một kỹ thuật của Đức Giêsu. Đức Giêsu không phải một phương pháp. Ngài là một con người sống động. Ngài là Thầy, là Chúa, là Con Thiên Chúa, là Đấng gọi chúng ta bước vào một tương quan. Mỗi chương vì thế phải được đọc như một tấm gương soi. Khi đọc về sự khiêm nhường của Ngài, ta phải hỏi mình đang nắm giữ điều gì quá chặt. Khi đọc về cách Ngài nhìn thấy tiềm năng nơi các môn đệ, ta phải hỏi mình có đang đóng khung ai trong quá khứ của họ không. Khi đọc về đời sống cầu nguyện của Ngài, ta phải nhìn lại sự bận rộn của chính mình. Khi đọc về cách Ngài đối diện phản bội, ta phải nhìn vào những vết thương ta đang giữ. Khi đọc về thập giá, ta phải tự hỏi mình đang cố tránh cái giá nào của tình yêu. Và khi đọc về việc Ngài trao sứ mạng cho những con người yếu đuối, ta phải học tin tưởng hơn vào ân sủng đang hoạt động nơi những người không hoàn hảo.
Có lẽ điều chúng ta cần nhất hôm nay không phải là nhiều nhà lãnh đạo tài ba hơn, mà là nhiều người lãnh đạo có trái tim của Đức Giêsu hơn. Những con người có thể mạnh mà không làm người khác sợ. Có thể quyết đoán mà không độc đoán. Có thể khiêm nhường mà không yếu đuối. Có thể biết mình có thẩm quyền nhưng không cần phô trương thẩm quyền ấy. Có thể sửa sai mà vẫn giữ được phẩm giá của người bị sửa. Có thể thành công mà không chiếm công. Có thể thất bại mà không tìm người để đổ lỗi. Có thể trao quyền mà không bất an. Có thể đứng trước đám đông nhưng vẫn nhớ đến một con chiên lạc. Có thể làm những công việc rất lớn mà không bỏ quên những con người rất nhỏ. Có thể bận rộn nhưng vẫn dành thời gian cầu nguyện. Có thể bị hiểu lầm mà không trở nên cay độc. Có thể bị phản bội mà không trở thành người chỉ còn biết nghi ngờ. Có thể đi qua thập giá mà không đánh mất niềm hy vọng.
Người lãnh đạo như thế không được tạo nên trong một ngày. Đó là hoa trái của cả một hành trình để Chúa uốn nắn. Có những bài học ta chỉ học được khi thất bại. Có những góc kiêu ngạo trong lòng chỉ lộ ra khi người khác không làm theo ý mình. Có những sự lệ thuộc vào lời khen chỉ được nhận ra khi ta bị quên lãng. Có những nhu cầu kiểm soát chỉ được nhận ra khi phải trao công việc cho người khác. Có những vết thương quyền lực chỉ được chữa khi ta đủ can đảm nhìn lại cách mình đã đối xử với người yếu hơn. Bởi thế, học lãnh đạo theo Đức Giêsu không phải là đi tìm thêm quyền lực, mà là để quyền năng của Tin Mừng thanh luyện cách ta sử dụng quyền lực đang có. Đó là hành trình đi từ việc muốn người khác phục vụ sứ mạng của mình đến chỗ chính mình phục vụ sứ mạng của Chúa. Đi từ việc xây dựng tên tuổi của mình đến chỗ làm cho danh Chúa được nhận biết. Đi từ việc muốn người ta nói “ông ấy, bà ấy, cha ấy thật giỏi” đến chỗ ước mong sau khi gặp mình, người khác có thể nói: “Tôi cảm thấy mình được gần Chúa hơn.”
Đến cuối cùng, Đức Giêsu cho chúng ta thấy rằng lãnh đạo không phải là đứng trước người khác để họ nhìn mình, mà là đi trước trên con đường yêu thương để họ biết đường mà bước. Ngài đi trước vào sự phục vụ. Ngài đi trước vào tha thứ. Ngài đi trước vào cầu nguyện. Ngài đi trước vào hy sinh. Ngài đi trước vào thập giá. Và Ngài cũng đi trước vào sự sống mới. Ngài không đòi các môn đệ đi một con đường mà chính Ngài chưa từng bước. Đó là lý do lời Ngài có uy quyền. Người lãnh đạo có thể yêu cầu bằng chức vụ, nhưng chỉ có thể thuyết phục bằng đời sống. Có những điều người ta làm vì sợ ta; những điều ấy sẽ chấm dứt khi ta không còn quyền. Có những điều người ta làm vì họ đã được cách sống của ta đánh động; những điều ấy có thể tiếp tục rất lâu sau khi ta đã đi khỏi. Đức Giêsu đã sống như thế. Hơn hai ngàn năm đã trôi qua, Ngài vẫn tiếp tục dẫn dắt hàng triệu con người, không bằng một văn phòng quyền lực hữu hình, nhưng bằng một Tin Mừng, một Thánh Thể, một cây thập giá và một tình yêu vẫn còn làm trái tim con người rung động.
Ước gì khi đọc những trang này, chúng ta không vội nghĩ đến một người khác cần thay đổi. Đừng đọc một chương về khiêm nhường rồi nghĩ đến người đang kiêu ngạo bên cạnh mình. Đừng đọc một chương về lắng nghe rồi nhớ ngay đến vị lãnh đạo nào đó không chịu nghe ai. Đừng đọc về quyền lực rồi chỉ nghĩ đến những người đang có chức vụ cao. Hãy để mọi lời trước hết chạm đến mình. Bởi cuộc cải cách sâu nhất của Giáo Hội luôn bắt đầu khi một người dám để Chúa cải cách trái tim mình. Một cộng đoàn sẽ đổi khác nếu người phụ trách đổi khác. Một gia đình có thể đổi khác nếu người cha hay người mẹ bắt đầu sống khác. Một giáo xứ có thể đổi khác nếu người mục tử thật sự để trái tim mình nên giống trái tim Chúa. Và đôi khi sự thay đổi ấy không bắt đầu bằng một dự án mới, mà bắt đầu bằng một lời xin lỗi. Không bắt đầu bằng một hội nghị, mà bằng một giờ cầu nguyện. Không bắt đầu bằng một quyết định lớn, mà bằng việc lắng nghe một con người vốn lâu nay ta không muốn nghe.
Xin Chúa Thánh Thần dẫn chúng ta vào trường học của Đức Giêsu. Xin Ngài dạy chúng ta hiểu rằng lãnh đạo không phải là đặc quyền nhưng là trách nhiệm, không phải là đứng trên nhưng là đứng cùng, không phải là điều khiển nhưng là đồng hành, không phải là làm cho người khác nhỏ đi để mình lớn lên, nhưng là làm cho người khác lớn lên ngay cả khi điều đó khiến mình phải lùi lại. Xin Ngài chữa lành nơi chúng ta tất cả những ham muốn quyền lực bị pha trộn với cái tôi, những khao khát được công nhận, những sợ hãi khiến ta muốn kiểm soát, những tổn thương khiến ta khép lòng trước người khác. Xin Ngài ban cho những ai đang mang trách nhiệm trong Giáo Hội một trái tim biết quỳ xuống, một đôi tai biết lắng nghe, một ánh mắt biết nhìn xa hơn lỗi lầm, một đôi tay biết nâng dậy, và một đời sống cầu nguyện đủ sâu để mọi quyết định không chỉ là sản phẩm của tính toán con người nhưng là hoa trái của sự phân định trước mặt Chúa.
Và xin cho chúng ta đừng bao giờ quên hình ảnh cuối cùng này: ở trung tâm của đức tin Kitô giáo không phải là một ngai vàng của quyền lực trần thế, nhưng là một người bị treo trên thập giá, hai tay mở rộng, không còn gì để giữ cho mình. Đó là Vua của chúng ta. Đó là Người Lãnh Đạo tối cao của chúng ta. Ngài dẫn dắt bằng cách hiến mình. Ngài chiến thắng bằng cách yêu đến cùng. Ngài làm chủ bằng cách trở thành tôi tớ. Ngài cứu thế gian không phải bằng việc buộc thế gian quỳ dưới chân mình, nhưng bằng việc chính Ngài quỳ xuống rửa chân cho thế gian. Nếu chưa hiểu nghịch lý ấy, chúng ta chưa hiểu lãnh đạo của Đức Giêsu. Và nếu một ngày nào đó chúng ta có thể sống được dù chỉ một phần rất nhỏ của nghịch lý ấy, có lẽ khi ấy chúng ta mới thật sự bắt đầu trở thành những người lãnh đạo theo trái tim của Ngài.
Cuốn sách này, bởi vậy, không mong trao cho người đọc một công thức để thành công. Nó chỉ mong mở ra một con đường để trở nên giống Đức Giêsu hơn. Bởi cuối cùng, đó mới là bí quyết duy nhất. Không phải giỏi hơn để lãnh đạo tốt hơn, nhưng giống Chúa hơn để yêu tốt hơn. Không phải mạnh hơn để kiểm soát nhiều hơn, nhưng tự do hơn để phục vụ nhiều hơn. Không phải nổi bật hơn để được người ta nhớ, nhưng trong suốt hơn để qua đời mình người ta có thể nhìn thấy Đức Kitô. Và nếu sau tất cả những chương sách này, chúng ta chỉ giữ lại được một điều, xin hãy giữ điều này: lãnh đạo không phải là chức vụ; lãnh đạo là cách sống. Và người lãnh đạo Kitô hữu chỉ thật sự tìm thấy con đường của mình khi dám bước theo dấu chân Đức Giêsu, Đấng đã cúi xuống để nâng con người lên, đã tự hạ để con người được sống, đã hiến mạng để người khác được cứu, và đã yêu cho đến tận cùng.
Lm. Anmai, CSsR
NHỮNG BÍ QUYẾT LÃNH ĐẠO CỦA ĐỨC GIÊSU
Có lẽ khi nói đến hai chữ “lãnh đạo”, người ta thường nghĩ ngay đến quyền lực, chức vụ, khả năng điều hành, tài tổ chức, chiến lược, tầm nhìn, nghệ thuật dùng người, khả năng thuyết phục đám đông và bản lĩnh đưa một tập thể đi đến thành công. Thế giới đã viết không biết bao nhiêu cuốn sách về lãnh đạo. Người ta tổ chức những khóa học về lãnh đạo, những hội nghị về lãnh đạo, những chương trình đào tạo kỹ năng lãnh đạo, những cuộc hội thảo dạy người ta cách gây ảnh hưởng, cách nói sao cho người khác nghe, cách xây dựng thương hiệu cá nhân, cách tạo động lực, cách quản trị nhân sự, cách xử lý khủng hoảng, cách đưa một tổ chức phát triển. Tất cả những điều ấy đều có giá trị của nó. Thế nhưng, nếu có một ngày chúng ta ngồi thật yên trước dung nhan Đức Giêsu và hỏi: “Thưa Chúa, Chúa đã lãnh đạo như thế nào mà hơn hai ngàn năm qua vẫn có hàng tỷ con người sẵn sàng bước theo Chúa? Chúa đã làm gì mà một nhóm mười hai con người rất bình thường, phần lớn chẳng có học vị, chẳng có thế lực, chẳng có tiền bạc, chẳng có vị trí xã hội, lại có thể đi khắp thế giới và làm thay đổi lịch sử nhân loại?”, có lẽ chúng ta sẽ nhận ra rằng Đức Giêsu đã để lại một kiểu lãnh đạo hoàn toàn khác. Ngài không lãnh đạo bằng ngai vàng nhưng bằng chiếc khăn thắt lưng của người tôi tớ. Ngài không lãnh đạo bằng khoảng cách nhưng bằng sự hiện diện. Ngài không lãnh đạo bằng nỗi sợ nhưng bằng tình yêu. Ngài không giữ người khác dưới quyền mình nhưng nâng họ đứng lên để họ có thể tiếp tục sứ mạng khi Ngài không còn hiện diện hữu hình với họ nữa. Ngài không tìm cách làm cho mình lớn lên trong mắt người khác; trái lại, Ngài làm cho những con người nhỏ bé quanh mình lớn lên. Ngài không chết trên ngai mà chết trên thập giá. Và kỳ lạ thay, chính từ nơi tưởng như thất bại hoàn toàn ấy, sức mạnh lãnh đạo của Ngài lại bừng lên mãnh liệt nhất. Bởi lãnh đạo của Đức Giêsu không bắt đầu từ quyền lực, mà bắt đầu từ tình yêu; không hướng đến việc thống trị con người, mà hướng đến việc giải phóng con người; không tìm sự trung thành bằng ép buộc, mà đánh thức sự tự do để người ta tự nguyện bước theo. Một người lãnh đạo có thể khiến người khác làm việc cho mình vì tiền lương, vì bổn phận, vì sợ hãi, vì lợi ích hay vì quyền lực. Nhưng Đức Giêsu khiến con người bước theo Ngài bằng một sức hấp dẫn sâu xa hơn tất cả: họ cảm nhận rằng ở bên Ngài, họ được nhìn thấy, được hiểu, được yêu, được tha thứ, được trao cơ hội, được tin tưởng và được gọi trở thành một con người lớn hơn chính con người họ đang là. Đó chính là bí mật đầu tiên của nghệ thuật lãnh đạo theo Đức Giêsu: trước khi muốn thay đổi công việc, hãy chạm đến con người; trước khi muốn điều khiển hành vi, hãy đánh thức trái tim; trước khi muốn người khác đi theo mình, hãy yêu họ đủ để chính sự hiện diện của mình trở thành một lời mời gọi.
Đức Giêsu không xuất hiện như một nhà lãnh đạo theo tiêu chuẩn quen thuộc của thế gian. Ngài sinh ra trong một gia đình nghèo ở Nazareth, một miền quê nhỏ bé đến mức Nathanael từng buột miệng: “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?” Ngài không học trong những trường danh tiếng của đế quốc. Ngài không có quân đội. Ngài không có tài sản. Ngài không có hệ thống truyền thông. Ngài không nắm quyền chính trị. Ngài cũng không xây dựng một cơ chế đồ sộ để bảo vệ ảnh hưởng của mình. Khi bắt đầu sứ vụ công khai, Ngài đi bộ từ làng này sang làng khác, nói chuyện với những người bình thường, chữa lành người đau yếu, ngồi ăn với những người bị khinh miệt, chạm vào người phong cùi, nói chuyện với phụ nữ Samari, để trẻ nhỏ đến gần mình, và chọn những người không mấy ai trong xã hội xem là “nhân sự tiềm năng”. Nhìn bằng con mắt quản trị thuần túy, lựa chọn của Đức Giêsu quả là khó hiểu. Nếu muốn xây một phong trào lớn, tại sao không chọn những nhà thông thái? Nếu muốn thay đổi xã hội, tại sao không kết thân với tầng lớp quyền lực? Nếu muốn lan truyền thông điệp nhanh chóng, tại sao không tập trung vào những trung tâm chính trị và văn hóa? Nhưng Đức Giêsu lại bắt đầu với một nhóm ngư phủ Galilê, một người thu thuế, một người nhiệt thành chống Rôma và những con người mang trong mình đủ thứ giới hạn. Có người nóng nảy, có người tham vọng, có người hoài nghi, có người dễ nản chí, có người sẽ chối Ngài, có người cuối cùng phản bội Ngài. Đức Giêsu biết tất cả. Ngài vẫn gọi họ. Vì Ngài không chỉ nhìn thấy con người ở hiện tại. Ngài nhìn thấy con người trong khả thể mà ân sủng có thể làm nên. Ngài nhìn Simon và thấy Phêrô – tảng đá. Ngài nhìn một người thu thuế và thấy một tông đồ. Ngài nhìn những người đánh cá và thấy những kẻ lưới người. Ngài nhìn người phụ nữ bị xã hội khép án và thấy một trái tim còn có thể yêu rất nhiều. Ngài nhìn người trộm hấp hối và thấy một linh hồn có thể bước vào thiên đàng ngay trong ngày hôm ấy. Người lãnh đạo lớn không chỉ thấy người khác như họ đang là; người lãnh đạo lớn còn thấy được điều họ có thể trở thành. Đó là một trong những khác biệt sâu sắc nhất giữa người quản lý và người lãnh đạo. Người quản lý hỏi: “Người này làm được gì cho công việc của tôi?” Người lãnh đạo theo Đức Giêsu hỏi: “Thiên Chúa có thể làm gì nơi con người này, và tôi có thể giúp họ lớn lên thế nào?” Khi người lãnh đạo chỉ nhìn con người qua hiệu suất, người khác sẽ trở thành công cụ. Khi người lãnh đạo nhìn con người bằng ánh mắt của Đức Giêsu, mỗi người trở thành một mầu nhiệm cần được tôn trọng, một hạt giống cần được vun trồng, một ơn gọi cần được đánh thức.
Điều làm nên sức mạnh lạ lùng nơi Đức Giêsu là Ngài không bao giờ lãnh đạo từ phía sau một chiếc mặt nạ. Ngài sống điều Ngài nói. Ngài không dạy một điều rồi làm một điều khác. Ngài dạy phải yêu kẻ thù và Ngài cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh mình. Ngài dạy tha thứ “bảy mươi lần bảy” và chính Ngài tha thứ cho Phêrô sau ba lần chối Thầy. Ngài dạy người ta đừng tìm chỗ nhất và chính Ngài chọn chỗ cuối cùng. Ngài bảo ai muốn làm lớn thì hãy làm người phục vụ, rồi Ngài cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài dạy phải tín thác vào Chúa Cha, và trong giờ hấp hối Ngài thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Ngài dạy phải vác thập giá, rồi chính Ngài vác thập giá trước. Đức Giêsu không yêu cầu môn đệ đi trên con đường mà Ngài chưa đi. Ngài không đứng nơi an toàn rồi bảo người khác bước vào nguy hiểm. Ngài luôn đi trước. Đây là cốt lõi của uy tín lãnh đạo. Quyền lực có thể khiến người khác vâng lời một thời gian. Chức vụ có thể khiến người khác giữ phép lịch sự. Nội quy có thể buộc người ta hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng chỉ có đời sống nhất quán mới làm người ta kính phục thật sự. Người lãnh đạo có thể nói rất hay về khiêm nhường, nhưng nếu lúc nào cũng muốn mình được nhắc tên, lời nói ấy chẳng còn sức nặng. Người lãnh đạo có thể giảng về tinh thần phục vụ, nhưng nếu mọi người đều phải phục vụ mình, lời giảng ấy sẽ trở nên rỗng. Người lãnh đạo có thể nói về tình huynh đệ, nhưng nếu gặp người yếu thế lại lạnh lùng, những khẩu hiệu đẹp đẽ sẽ chẳng che được sự thật. Đức Giêsu không cần xây dựng hình ảnh bởi đời sống Ngài chính là thông điệp. Có lẽ đây là một lời chất vấn rất mạnh cho bất cứ ai đang mang trách nhiệm lãnh đạo trong Giáo Hội, gia đình, cộng đoàn hay xã hội: trước khi hỏi “Tôi phải nói gì để người khác thay đổi?”, hãy hỏi “Đời sống của tôi đang nói điều gì?” Người khác có thể quên bài diễn văn của chúng ta, nhưng họ nhớ cách chúng ta đối xử với họ. Họ có thể quên những nguyên tắc chúng ta dạy, nhưng họ sẽ nhớ lúc họ yếu đuối thì chúng ta đã ở đâu. Họ có thể quên kế hoạch chúng ta trình bày, nhưng họ sẽ nhớ khi xảy ra thất bại, chúng ta đã bảo vệ hay đổ lỗi cho họ. Uy tín không được xây bằng lời tuyên bố. Uy tín được tích lũy từng ngày qua vô số hành động nhỏ, qua cách giữ lời, qua sự công bằng, qua thái độ khiêm tốn nhận lỗi, qua khả năng chịu trách nhiệm và đặc biệt qua việc người lãnh đạo có dám sống điều mình đòi hỏi nơi người khác hay không.
Một bí quyết khác rất sâu của Đức Giêsu là Ngài luôn đặt con người lên trên công việc. Ngài có sứ mạng lớn lao nhất lịch sử nhân loại, nhưng chưa bao giờ vì sứ mạng mà biến con người thành phương tiện. Ngài đang trên đường thì vẫn dừng lại vì một người mù kêu xin. Ngài đang được đám đông vây quanh vẫn cảm nhận một người phụ nữ âm thầm chạm vào áo mình. Ngài đang mệt vẫn nói chuyện với người phụ nữ bên bờ giếng. Ngài đang bận rao giảng vẫn để trẻ nhỏ chạy đến. Ngài đi ngang Giêricô và giữa đám đông vẫn nhìn lên cây sung để gọi một người tên Dakêu. Đức Giêsu có khả năng kỳ diệu là đứng trước một con người và làm cho họ cảm thấy lúc ấy trên đời dường như chỉ còn mình họ trước mắt Ngài. Đó không phải là kỹ thuật giao tiếp. Đó là phẩm chất của tình yêu. Người lãnh đạo thiếu tình yêu thường nhìn con người như “nguồn lực”. Người lãnh đạo có trái tim Đức Giêsu nhìn họ như anh chị em. Có những tổ chức đạt thành tích rất cao nhưng bên trong con người kiệt quệ. Có những cộng đoàn có rất nhiều chương trình nhưng thành viên cảm thấy cô độc. Có những giáo xứ tổ chức đủ thứ hoạt động nhưng người nghèo vẫn cảm thấy mình đứng ngoài. Có những gia đình có đầy đủ vật chất nhưng con cái lại không có ai chịu ngồi nghe chúng nói. Đó là bi kịch của một thứ lãnh đạo chỉ biết hiệu quả mà quên con người. Đức Giêsu dạy một điều hết sức căn bản: công việc tồn tại để phục vụ con người, chứ con người không sinh ra để phục vụ cho guồng máy. Một kế hoạch dù tốt đến đâu, nếu nghiền nát con người, cần phải được xem xét lại. Một thành công dù lớn đến đâu, nếu đánh đổi bằng việc làm tổn thương những người yếu thế, thì chưa chắc đã là thành công theo Tin Mừng. Lãnh đạo theo Đức Giêsu là biết dừng lại. Biết nghe. Biết gọi tên. Biết nhìn vào mắt. Biết nhận ra người đang bị bỏ quên phía sau những con số. Biết rằng đôi khi một cuộc trò chuyện chân thành có giá trị hơn mười cuộc họp. Biết rằng người cộng sự không chỉ có khả năng, mà còn có gia đình, có tổn thương, có nỗi sợ, có giới hạn, có những ngày mệt mỏi. Người lãnh đạo biết tôn trọng tất cả những điều ấy sẽ không làm cho tổ chức yếu đi; trái lại, họ tạo nên lòng trung thành mà tiền bạc và chức vụ không thể mua được.
Đức Giêsu còn có một nghệ thuật đặc biệt: trao quyền và tin tưởng. Điều này đáng suy nghĩ biết bao. Ngài biết rõ sự yếu đuối của các môn đệ hơn bất cứ ai. Ngài biết Phêrô sẽ chối Ngài. Ngài biết Giacôbê và Gioan có tham vọng. Ngài biết Tôma sẽ hoài nghi. Ngài biết các môn đệ có lúc tranh nhau xem ai là người lớn nhất. Vậy mà Ngài vẫn trao Hội Thánh cho họ. Sau Phục Sinh, Ngài không ở lại trần gian hàng trăm năm để kiểm soát mọi việc cho chắc chắn. Ngài trao sứ mạng và ra đi. Đây là một nét rất quan trọng trong nghệ thuật lãnh đạo. Người lãnh đạo yếu thường không dám trao quyền bởi họ sợ người khác làm không giống mình, sợ mất kiểm soát, sợ có người nổi bật hơn mình, sợ tổ chức không còn phụ thuộc vào mình. Họ ôm tất cả công việc. Họ muốn mọi quyết định đều phải qua mình. Dần dần, xung quanh họ chỉ còn những người thụ động. Khi họ vắng mặt, mọi thứ đình trệ. Đó không phải là dấu hiệu của lãnh đạo giỏi, mà là dấu hiệu của một hệ thống chưa trưởng thành. Đức Giêsu thì ngược lại. Ngài đào tạo môn đệ để họ có thể làm việc khi Ngài không còn hiện diện hữu hình. Ngài sai họ từng hai người. Ngài cho họ quyền rao giảng và chữa lành. Khi họ trở về, Ngài nghe họ kể lại. Có lúc họ thất bại, Ngài dạy họ. Có lúc họ hiểu sai, Ngài sửa họ. Nhưng Ngài không vì thế mà làm mọi thứ thay họ. Một người lãnh đạo thật không tạo ra những người lệ thuộc; họ tạo ra những người trưởng thành. Người lãnh đạo thật vui khi thấy học trò giỏi hơn mình, người cộng sự đi xa hơn mình, thế hệ sau làm được điều mình chưa làm được. Bởi mục tiêu không phải là bảo vệ cái tôi của người lãnh đạo, mà là bảo đảm sứ mạng được tiếp tục. Câu hỏi rất hay để mỗi người lãnh đạo tự xét là: nếu ngày mai mình rời khỏi vị trí, tổ chức có tiếp tục sống mạnh mẽ không? Nếu câu trả lời là không, có thể chúng ta đã xây dựng quá nhiều quanh bản thân mình. Đức Giêsu xây một cộng đoàn có thể bước tiếp sau khi Ngài ra đi. Đó là thành công lớn nhất của lãnh đạo: không phải khiến mọi người mãi cần mình, mà là giúp họ đủ mạnh để tiếp tục sứ mạng mà không cần mình nữa.
Nhưng để có thể trao quyền, Đức Giêsu đã dành rất nhiều thời gian đào tạo con người. Ngài không chỉ giảng cho đám đông. Ngài sống với các môn đệ. Họ đi đường cùng nhau, ăn cùng nhau, nghỉ cùng nhau, gặp những tình huống thật của đời sống cùng nhau. Chính trong đời sống ấy, Đức Giêsu đào tạo họ. Người môn đệ học lòng thương xót khi nhìn thấy Thầy chạm vào người phong cùi. Họ học phục vụ khi thấy Thầy rửa chân. Họ học cầu nguyện khi thấy Thầy thức đêm với Chúa Cha. Họ học can đảm khi thấy Thầy đối diện giới lãnh đạo tôn giáo. Họ học tha thứ khi nghe lời cầu nguyện từ thập giá. Đức Giêsu không đào tạo bằng lý thuyết đơn thuần. Ngài đào tạo bằng việc cho họ bước vào đời sống của Ngài. Ngài sửa họ ngay trong tình huống cụ thể. Khi họ muốn gọi lửa từ trời xuống trên người Samari, Ngài chỉnh lại tinh thần của họ. Khi họ tranh nhau chỗ nhất, Ngài đặt một em nhỏ giữa họ. Khi Phêrô ngăn Ngài đi vào thập giá, Ngài nói rất mạnh. Khi họ ngủ trong giờ cầu nguyện tại Ghếtsêmani, Ngài đánh thức họ. Ngài kiên nhẫn với quá trình trưởng thành rất chậm của họ. Ba năm sống bên Đức Giêsu mà đến bữa Tiệc Ly họ vẫn còn tranh luận ai lớn nhất. Nếu là chúng ta, có lẽ đã thất vọng từ lâu. Nhưng Đức Giêsu không bỏ cuộc. Người lãnh đạo tốt cần một sự kiên nhẫn lớn với tiến trình trưởng thành của con người. Chúng ta thường muốn người khác thay đổi ngay sau một lần góp ý, hiểu ngay sau một bài giảng, trưởng thành ngay sau một khóa học. Nhưng con người không lớn lên theo cách ấy. Có những điều phải được nhắc lại nhiều lần. Có những lỗi lầm phải được sửa nhiều lần. Có những bài học chỉ có thể hiểu sau một thất bại. Lãnh đạo là kiên nhẫn gieo hạt khi chưa thấy mùa gặt. Nếu Đức Giêsu chỉ nhìn các môn đệ vào đêm Ngài bị bắt, có lẽ mọi thứ giống như thất bại: Giuđa phản bội, Phêrô chối Thầy, những người khác bỏ chạy. Nhưng Đức Giêsu nhìn xa hơn đêm ấy. Ngài biết sau Phục Sinh, sau Lễ Ngũ Tuần, những con người run sợ ấy sẽ đứng giữa quảng trường mà công bố Tin Mừng. Người lãnh đạo cần có đôi mắt nhìn qua thất bại hiện tại để thấy hoa trái tương lai.
Một bí quyết nữa của Đức Giêsu là Ngài không lệ thuộc vào lời khen của đám đông. Đây là điểm vô cùng quan trọng bởi nhiều người lãnh đạo bị dẫn dắt không phải bởi sứ mạng mà bởi phản ứng của người khác. Khi được khen thì vui, khi bị chê thì nản. Khi đám đông ủng hộ thì mạnh mẽ, khi người ta quay lưng thì lung lay. Đức Giêsu không như thế. Có lúc đám đông muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi. Có lúc mọi người tìm kiếm Ngài, Ngài lại nói phải sang những làng khác vì đó là lý do Ngài được sai đến. Sau phép lạ bánh hóa nhiều, có thời điểm dân chúng bỏ Ngài vì giáo huấn quá khó. Đức Giêsu không chạy theo họ để sửa thông điệp cho dễ nghe hơn. Ngài quay sang nhóm Mười Hai và hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Đó là sự tự do nội tâm của một người biết rõ mình sống vì điều gì. Người lãnh đạo không có trung tâm nội tâm sẽ rất dễ bị dư luận kéo đi. Hôm nay thấy người ta thích điều này, họ làm điều này. Ngày mai đám đông muốn điều khác, họ đổi hướng. Cuối cùng, tổ chức không còn sứ mạng, chỉ còn phản ứng. Đức Giêsu có thể mềm mại với người tội lỗi nhưng rất cứng rắn với sự giả hình. Ngài có thể khóc trước nỗi đau con người nhưng không sợ đối diện quyền lực. Vì căn tính của Ngài không đến từ tiếng vỗ tay. Ngài biết mình là Con yêu dấu của Chúa Cha. Chính căn tính ấy tạo ra tự do. Một người lãnh đạo biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa sẽ ít bị ám ảnh bởi việc phải chứng minh mình trước mặt con người. Khi không còn phải bảo vệ cái tôi, họ có thể làm điều đúng dù không được khen. Họ có thể nhận lỗi mà không cảm thấy bị hạ nhục. Họ có thể nghe góp ý mà không lập tức phòng thủ. Họ có thể trao cơ hội cho người khác mà không sợ bị lu mờ. Họ có thể nói “tôi không biết” mà không thấy mất uy tín. Họ có thể im lặng khi bị hiểu lầm nếu biết điều mình đang làm là đúng. Đây chính là một trong những hoa trái lớn của đời sống cầu nguyện nơi người lãnh đạo: càng đứng vững trước mặt Thiên Chúa, người ta càng tự do trước ánh mắt của con người.
Thật vậy, Đức Giêsu lãnh đạo từ cầu nguyện. Mỗi khi đứng trước những thời khắc quan trọng, Ngài trở về với Chúa Cha. Trước khi chọn mười hai tông đồ, Ngài thức suốt đêm cầu nguyện. Sau những ngày giảng dạy và chữa lành đông đảo dân chúng, Ngài tìm nơi thanh vắng. Trước cuộc Thương Khó, Ngài cầu nguyện trong Ghếtsêmani đến mức mồ hôi như những giọt máu. Đời sống công khai của Đức Giêsu được nâng đỡ bởi một đời sống ẩn giấu sâu thẳm với Chúa Cha. Có lẽ đây là điều người lãnh đạo Kitô hữu cần nhớ hơn bao giờ hết. Chúng ta có thể họp rất nhiều mà cầu nguyện rất ít. Có thể đọc rất nhiều báo cáo mà ít đọc Lời Chúa. Có thể dành hàng giờ xây dựng kế hoạch nhưng chỉ dành vài phút để hỏi Chúa: “Chúa muốn gì?” Có thể nói rất nhiều về sứ mạng nhưng chính tâm hồn lại xa dần Đấng đã sai mình. Khi điều đó xảy ra, người lãnh đạo bắt đầu dựa vào bản thân. Và khi dựa vào bản thân, họ dễ kiểm soát, dễ nóng giận, dễ sợ hãi, dễ đổ lỗi, dễ kiệt sức. Cầu nguyện không phải là một hoạt động thêm vào chương trình lãnh đạo. Cầu nguyện là nơi người lãnh đạo được giải thoát khỏi ảo tưởng rằng mọi thứ tùy thuộc vào mình. Trong cầu nguyện, họ nhớ rằng mình chỉ là người quản lý, không phải chủ nhân. Sứ mạng là của Chúa. Con người là của Chúa. Thành công là của Chúa. Kết quả cuối cùng cũng thuộc về Chúa. Người lãnh đạo cầu nguyện sâu sẽ làm việc hết sức nhưng không tuyệt vọng khi kết quả không như ý. Họ biết gieo và biết chờ. Họ biết hành động và biết trao lại. Họ biết chịu trách nhiệm nhưng không mang ảo tưởng mình là đấng cứu thế. Đó là lý do Đức Giêsu có thể ngủ giữa cơn bão. Không phải Ngài thờ ơ, nhưng Ngài có một sự bình an đến từ lòng tin. Biết bao người lãnh đạo hôm nay cần học sự bình an ấy. Một cộng đoàn rất dễ bị lây tâm trạng của người đứng đầu. Nếu người lãnh đạo lúc nào cũng căng thẳng, mọi người sẽ căng thẳng. Nếu họ sống trong sợ hãi, tổ chức sẽ vận hành bằng sợ hãi. Nếu họ bình an, cả cộng đoàn có thêm không gian để thở. Sự bình an của người lãnh đạo không phải do mọi việc đều thuận lợi, mà do họ biết mình đang ở trong tay Thiên Chúa.
Đức Giêsu cũng không né tránh xung đột. Có người nghĩ rằng người lãnh đạo tốt là người làm cho mọi người lúc nào cũng hài lòng. Nhưng Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu không bao giờ theo kiểu lãnh đạo ấy. Ngài hiền lành nhưng không yếu đuối. Ngài đầy lòng thương xót nhưng không thỏa hiệp với điều sai. Ngài có thể nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi không lên án chị”, nhưng cũng nói tiếp: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Ngài có thể yêu Phêrô sâu xa nhưng khi Phêrô cản đường thập giá, Ngài nói thẳng: “Satan, lui lại đằng sau Thầy.” Ngài có thể rửa chân cho Giuđa nhưng không giả vờ rằng sự phản bội không tồn tại. Ngài có thể thương dân chúng nhưng cũng lật bàn của những kẻ biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Lãnh đạo theo Đức Giêsu không có nghĩa là né tránh mọi khó chịu. Có những lúc yêu thương đòi hỏi phải nói sự thật. Có những vấn đề nếu không được đối diện sớm sẽ trở thành vết thương lớn hơn. Có những hành vi nếu cứ nhân danh “bình an” mà bỏ qua sẽ làm cả cộng đoàn tổn thương. Nhưng cách Đức Giêsu đối diện xung đột rất đáng học: Ngài không làm nhục con người. Ngài đối diện hành vi sai mà vẫn giữ phẩm giá của người sai. Ngài mạnh mẽ mà không cay độc. Ngài rõ ràng mà không trả thù. Đó là sự trưởng thành rất khó. Nhiều người chỉ có hai lựa chọn: hoặc im lặng chịu đựng, hoặc bùng nổ giận dữ. Đức Giêsu cho thấy một con đường thứ ba: nói sự thật trong tình yêu. Người lãnh đạo cần học cách có những cuộc trò chuyện khó khăn. Không nói sau lưng. Không tích tụ bực tức. Không dùng quyền lực để trừng phạt cảm tính. Không biến góp ý thành nhục mạ. Nhưng cũng không giả vờ rằng mọi thứ đều ổn khi thực tế không ổn. Một cộng đoàn trưởng thành không phải là nơi không có xung đột, mà là nơi xung đột được xử lý bằng sự thật, công bằng và lòng thương xót.
Và có lẽ nét đẹp nhất trong lãnh đạo của Đức Giêsu là Ngài phục vụ. Đêm trước khi chết, trong lúc các môn đệ còn đang mang những tham vọng rất con người, Đức Giêsu đứng lên, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu rồi quỳ xuống rửa chân cho từng người. Đó không chỉ là một cử chỉ khiêm nhường đẹp đẽ. Đó là một tuyên ngôn về quyền lực. Đức Giêsu đang nói bằng hành động: quyền lực thật không nằm ở việc bao nhiêu người phục vụ mình, mà ở việc mình phục vụ được bao nhiêu người. Sau đó Ngài nói: “Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.” Từ giây phút ấy, chiếc khăn của người tôi tớ trở thành biểu tượng lãnh đạo Kitô giáo. Nhưng đây là biểu tượng rất dễ được treo lên và rất khó được sống. Bởi sâu trong con người chúng ta có một khát vọng được công nhận, được ưu tiên, được phục vụ. Chức vụ càng cao, cám dỗ ấy càng lớn. Người ta dễ quen với những đặc quyền. Dễ nghĩ rằng mình quan trọng hơn người khác. Dễ xem sự phục vụ của người khác đối với mình là chuyện đương nhiên. Và từng chút một, trái tim người lãnh đạo có thể xa dần Đức Giêsu. Bởi vậy, người lãnh đạo cần luôn trở về với căn phòng Tiệc Ly và nhìn Chúa quỳ xuống. Khi muốn biết mình đang lãnh đạo theo tinh thần nào, hãy hỏi: mình đang tìm chiếc ghế hay chiếc khăn? Mình muốn được gọi bằng danh xưng nào, hay mình muốn người yếu đuối được nâng lên? Mình quan tâm người khác nghĩ gì về mình, hay quan tâm họ đang cần gì? Quyền lực Kitô giáo không phải là quyền để đứng trên, mà là quyền để cúi xuống. Và nghịch lý của Tin Mừng là: chính khi cúi xuống, người ta mới thực sự trở nên lớn.
Đức Giêsu còn dạy chúng ta lãnh đạo bằng lòng thương xót. Một trong những điều nguy hiểm nhất của người có trách nhiệm là dễ trở nên cứng cỏi vì phải xử lý quá nhiều vấn đề. Gặp người sai nhiều lần, người ta mệt. Gặp người chậm thay đổi, người ta nản. Gặp người phản bội, người ta muốn đóng cửa trái tim. Nhưng Đức Giêsu luôn giữ được lòng thương xót. Phêrô chối Ngài ba lần. Sau Phục Sinh, Đức Giêsu không dựng một phiên tòa để buộc Phêrô giải trình. Ngài chỉ hỏi ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Đức Giêsu không phủ nhận lỗi lầm nhưng đưa Phêrô trở về với tình yêu, bởi Ngài biết sứ mạng chỉ có thể được xây lại từ tình yêu. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải biết phân biệt giữa con người và lỗi lầm của họ. Một người thất bại không có nghĩa họ là một thất bại. Một người phạm sai lầm không có nghĩa cuộc đời họ hết cơ hội. Nếu Đức Giêsu loại Phêrô sau lần chối Thầy, chúng ta đã không có vị thủ lãnh đầu tiên của Hội Thánh. Nếu Barnaba không tin vào Phaolô sau quá khứ bách hại Kitô hữu, lịch sử truyền giáo có thể đã rất khác. Đôi khi điều một con người cần nhất để thay đổi chính là có ai đó còn tin vào họ sau khi họ đã không còn tin vào chính mình. Lãnh đạo bằng lòng thương xót không có nghĩa là bỏ qua trách nhiệm. Đức Giêsu vẫn hỏi Phêrô, vẫn đưa ông đối diện với tình yêu bị phản bội. Nhưng sau đó Ngài lại trao sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Đó là nghệ thuật tái trao niềm tin. Có những người sau một lỗi lầm bị đóng dấu suốt đời. Họ không bao giờ được giao việc nữa, không bao giờ được tin tưởng nữa, không bao giờ được nhìn khác đi. Đức Giêsu không làm như vậy. Ngài nhìn con người bằng con mắt phục sinh. Ngài tin rằng ân sủng có thể viết tiếp câu chuyện tại nơi người đời chỉ nhìn thấy dấu chấm hết.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu cũng phải học cách chấp nhận thất bại. Nếu chỉ nhìn vào chiều thứ Sáu Tuần Thánh, tất cả dường như sụp đổ. Đám đông từng tung hô nay biến mất. Những người thân tín bỏ chạy. Một môn đệ phản bội. Một môn đệ khác chối Thầy. Kẻ thù chiến thắng. Đức Giêsu chết giữa hai tên tội phạm. Không một mô hình thành công thế gian nào gọi đó là chiến thắng. Nhưng chính từ thập giá, sự sống mới bắt đầu. Đây là một bài học rất lớn: không phải mọi thất bại đều là kết thúc; có những thất bại là nơi Thiên Chúa mở một khởi đầu mà ta chưa nhìn thấy. Người lãnh đạo quá sợ thất bại sẽ không dám thử điều mới. Họ chỉ chọn điều an toàn. Họ che giấu sai lầm. Họ tìm người để đổ lỗi. Cuối cùng, tổ chức mất khả năng học hỏi. Đức Giêsu dạy chúng ta một cách khác: đi xuyên qua thất bại mà không đánh mất sứ mạng. Có dự án không thành công. Có người mình đầu tư rất nhiều rồi vẫn rời đi. Có quyết định nhìn lại thấy chưa sáng suốt. Có lúc người lãnh đạo bị hiểu lầm. Có lúc mình cố hết sức nhưng kết quả vẫn nghèo nàn. Câu hỏi không phải là “Làm sao để không bao giờ thất bại?” bởi điều đó không thể. Câu hỏi đúng là: “Tôi sẽ trở thành người thế nào sau thất bại này?” Thất bại có thể làm ta cay đắng hoặc khiêm tốn hơn; làm ta khép lại hoặc khôn ngoan hơn; làm ta đổ lỗi hoặc học hỏi. Thập giá dạy rằng thất bại được đặt trong tay Thiên Chúa có thể trở thành hạt giống phục sinh.
Một nét khác không thể bỏ qua nơi Đức Giêsu là khả năng giữ tầm nhìn dài hạn. Ngài không bị cuốn theo những cơn sóng ngắn hạn. Ngài biết mình từ đâu đến và đi về đâu. Ngài biết sứ mạng cốt lõi: loan báo Nước Thiên Chúa, làm cho con người nhận biết tình yêu của Chúa Cha, cứu độ nhân loại. Vì thế, ngay cả những việc tốt cũng không làm Ngài mất hướng. Có lần dân chúng muốn giữ Ngài lại vì họ đã thấy những phép lạ. Nhưng Ngài nói phải đi các nơi khác nữa vì Ngài được sai đến cho sứ mạng ấy. Đây là một bài học rất quan trọng: không phải mọi việc tốt đều là việc mình phải làm. Người lãnh đạo rất dễ kiệt sức không phải vì làm điều xấu, mà vì làm quá nhiều điều tốt nhưng không còn phân biệt điều gì thực sự thuộc về sứ mạng. Một tổ chức không có tầm nhìn rõ sẽ bị kéo về mọi phía. Ai đề nghị gì cũng làm. Thấy nơi khác có chương trình gì cũng bắt chước. Cuối cùng, rất bận nhưng không tiến xa. Đức Giêsu biết nói “không” với điều tốt để trung thành với điều cần thiết. Người lãnh đạo cần thường xuyên trở lại với những câu hỏi căn bản: Chúng ta tồn tại để làm gì? Điều quan trọng nhất là gì? Nếu chỉ được làm ba việc trong năm nay, ba việc ấy là gì? Điều nào đang chiếm nhiều thời gian nhưng thực ra không còn phục vụ sứ mạng? Tầm nhìn không phải là câu khẩu hiệu đẹp treo trên tường. Tầm nhìn là tiêu chuẩn giúp ta biết điều gì cần làm và điều gì phải can đảm bỏ đi.
Cuối cùng, đỉnh cao của lãnh đạo Đức Giêsu nằm trên thập giá. Ở đó không còn đám đông. Không còn phép lạ ngoạn mục. Không còn những bài giảng hùng hồn. Chỉ còn một con người bị treo giữa trời và đất. Nhưng chính ở đó, mọi lời dạy của Ngài trở thành sự thật trọn vẹn. “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu.” Đức Giêsu không chỉ nói câu ấy; Ngài sống câu ấy đến giọt máu cuối cùng. Lãnh đạo đích thực luôn có giá. Có giá của việc từ bỏ cái tôi. Có giá của sự kiên nhẫn. Có giá của việc gánh trách nhiệm. Có giá của những đêm mất ngủ vì người khác. Có giá của những quyết định đúng nhưng cô đơn. Có giá của việc bảo vệ người yếu thế. Có giá của sự trung thành khi không được hiểu. Người lãnh đạo chỉ muốn vinh quang mà không muốn thập giá sẽ sớm biến quyền lực thành công cụ phục vụ bản thân. Đức Giêsu cho chúng ta thấy: người lãnh đạo thật là người dám mất mình để người khác được sống. Không phải lúc nào cũng mất mạng theo nghĩa thể lý, nhưng mỗi ngày mất một chút cái tôi, mất nhu cầu phải thắng, mất nhu cầu được công nhận, mất sự thoải mái để bước đến với người đang cần mình.
Nhìn lại tất cả những điều ấy, ta hiểu rằng “bí quyết lãnh đạo của Đức Giêsu” không phải là một bộ kỹ thuật. Đó là một con đường biến đổi con người. Chúng ta không thể học lãnh đạo theo Đức Giêsu chỉ bằng cách ghi nhớ vài nguyên tắc. Muốn lãnh đạo như Ngài, trước hết phải ở với Ngài. Phải để Ngài thay đổi trái tim mình. Một người đầy bất an sẽ lãnh đạo bằng kiểm soát. Một người đầy kiêu ngạo sẽ lãnh đạo bằng việc chứng minh mình. Một người đang mang nhiều tổn thương chưa được chữa lành có thể dùng quyền lực để bù đắp những thiếu hụt bên trong. Một người gần Đức Giêsu sẽ dần học được tự do, khiêm nhường, lòng thương xót, sự can đảm và bình an của Ngài. Bởi lãnh đạo không chỉ là điều chúng ta làm; lãnh đạo là điều tỏa ra từ con người chúng ta. Người ta có thể học kỹ thuật nói chuyện nhưng không thể giả một trái tim khiêm tốn quá lâu. Có thể học kỹ thuật tạo ảnh hưởng nhưng không thể giả tình yêu mãi. Có thể xây dựng hình ảnh đẹp nhưng cuối cùng đời sống thật vẫn sẽ lộ ra. Vì thế, cuộc cải cách lớn nhất của người lãnh đạo luôn bắt đầu trong chính tâm hồn mình.
Giáo Hội hôm nay không thiếu những người có bằng cấp. Không thiếu những người có tài tổ chức. Không thiếu những người nói hay. Không thiếu những chương trình, những kế hoạch, những phương tiện hiện đại. Điều Giáo Hội và thế giới luôn cần là những người lãnh đạo mang dáng dấp Đức Giêsu: có thể mạnh mẽ mà vẫn dịu dàng; có quyền nhưng không thích thống trị; có khả năng nhưng không xem thường người yếu; có tầm nhìn nhưng vẫn nhìn thấy một con người đang khóc bên đường; có trách nhiệm nhưng biết quỳ gối cầu nguyện; có thể nói sự thật nhưng không làm tổn thương phẩm giá; có thể sửa lỗi nhưng vẫn trao cơ hội; có thể đứng ở vị trí cao nhưng không quên chiếc khăn rửa chân; có thể được nhiều người kính trọng nhưng trái tim vẫn nghèo khó; có thể làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng không để công việc lấy mất chính Chúa.
Nếu một linh mục lãnh đạo giáo xứ theo Đức Giêsu, giáo dân sẽ không chỉ thấy một người điều hành, mà gặp một mục tử biết tên chiên mình. Nếu một bề trên lãnh đạo cộng đoàn theo Đức Giêsu, anh chị em không chỉ thấy một người ra quyết định, mà thấy một người đồng hành. Nếu cha mẹ lãnh đạo gia đình theo Đức Giêsu, con cái sẽ không chỉ học vâng lời mà học được tình yêu và trách nhiệm. Nếu một giám đốc lãnh đạo doanh nghiệp theo Đức Giêsu, người lao động sẽ không chỉ cảm thấy mình là nhân viên, mà cảm thấy phẩm giá mình được tôn trọng. Nếu một người trẻ sống tinh thần lãnh đạo theo Đức Giêsu, họ không cần chức vụ vẫn có thể làm ánh sáng cho bạn bè. Bởi lãnh đạo, theo nghĩa sâu nhất, không phải là có người ở dưới quyền mình. Lãnh đạo là khả năng làm cho sự hiện diện của mình giúp người khác trở nên tốt hơn.
Có lẽ thế giới hôm nay không cần thêm quá nhiều người muốn đứng đầu. Thế giới cần những người biết cúi xuống. Không cần thêm những người muốn tiếng nói mình lớn hơn. Cần những người biết lắng nghe. Không cần thêm những người muốn được phục vụ. Cần những người biết phục vụ. Không cần thêm những người muốn xây tượng cho mình. Cần những người biết xây con người. Không cần thêm những lãnh đạo chỉ nghĩ nhiệm kỳ của mình. Cần những người gieo những hạt giống có thể chỉ nở sau khi mình đã đi xa. Đức Giêsu đã sống như thế. Ngài gieo vào mười hai con người một ngọn lửa. Rồi Ngài để ngọn lửa ấy cháy tiếp. Hai ngàn năm sau, chúng ta vẫn đang sống nhờ ánh sáng ấy.
Vì vậy, học lãnh đạo từ Đức Giêsu không phải để trở thành “nhà lãnh đạo thành công” theo nghĩa thế gian. Mục tiêu sâu xa hơn là để những người được trao cho chúng ta cảm nghiệm được một chút gì đó về cách Thiên Chúa lãnh đạo đời họ: không áp đặt nhưng mời gọi, không nghiền nát nhưng nâng lên, không loại bỏ khi họ thất bại nhưng mở đường trở về, không dùng họ như công cụ nhưng yêu họ như những người con. Và có lẽ đến cuối đời, thước đo của một người lãnh đạo cũng không phải là đã xây được bao nhiêu công trình, tổ chức được bao nhiêu chương trình, có bao nhiêu người biết tên mình. Thước đo có thể đơn giản hơn nhiều: sau khi mình đi qua cuộc đời họ, người ta có yêu Chúa hơn không? Có tin vào chính mình hơn không? Có biết yêu thương hơn không? Có trưởng thành hơn không? Có được chữa lành hơn không? Có dám đứng lên tiếp tục sứ mạng không?
Nếu có, đó là lãnh đạo.
Và nếu một ngày nào đó người ta quên tên chúng ta nhưng vẫn sống tốt hơn vì những gì chúng ta đã âm thầm gieo vào cuộc đời họ, có lẽ như thế đã là đủ.
Đức Giêsu không để lại một ngai vàng.
Ngài để lại một chiếc khăn.
Ngài không để lại một cung điện.
Ngài để lại một bàn tiệc.
Ngài không để lại một đội quân.
Ngài để lại một cộng đoàn.
Ngài không để lại tài sản.
Ngài để lại chính thân mình.
Ngài không nói với các môn đệ: “Hãy làm cho mọi người phục vụ anh em.”
Ngài nói: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”
Đó là bí quyết.
Đó là con đường.
Đó là cuộc cách mạng lãnh đạo mà thế giới này, dù đã hơn hai ngàn năm, vẫn còn phải học rất nhiều.
Và người muốn bước vào con đường ấy có lẽ phải bắt đầu không phải bằng câu hỏi: “Làm sao để tôi lãnh đạo người khác tốt hơn?”
Nhưng bằng một câu hỏi khiêm tốn hơn:
“Lạy Chúa Giêsu, làm sao để con trở nên giống Chúa hơn?”
Bởi khi người lãnh đạo thực sự trở nên giống Đức Giêsu, họ sẽ không còn quá bận tâm đến việc mình có đang lãnh đạo hay không. Họ chỉ sống, yêu thương, phục vụ, cầu nguyện, trao ban, tha thứ, nâng đỡ, đào tạo, tin tưởng, can đảm đi trước và trung thành với sứ mạng.
Và chính đời sống ấy sẽ dẫn đường cho người khác.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 2: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC SỐNG ĐIỀU MÌNH DẠY
Có lẽ một trong những khủng hoảng lớn nhất của đời sống hôm nay không phải là con người thiếu lời để nói, nhưng là có quá nhiều lời được nói ra mà quá ít lời được sống. Người ta có thể nói rất hay về yêu thương nhưng trong lòng lại đầy cay nghiệt; có thể nói rất nhiều về khiêm nhường nhưng cách sống lại luôn muốn mình được nhìn thấy, được kính trọng, được nhắc tên; có thể giảng về sự khó nghèo nhưng đời sống lại ngày càng tìm kiếm tiện nghi; có thể nói về tha thứ nhưng chỉ một va chạm nhỏ cũng giữ mãi trong lòng; có thể khuyên người khác cầu nguyện nhưng chính mình lại không còn đủ kiên nhẫn để ngồi yên trước mặt Chúa; có thể mời gọi người khác hy sinh nhưng bản thân thì tìm mọi cách tránh những phần thiệt về mình. Chính khoảng cách giữa điều người ta nói và điều người ta sống đã làm cho biết bao lời tốt đẹp mất đi sức mạnh. Và cũng chính trong một thế giới như thế, Đức Giêsu hiện lên như một mẫu gương lãnh đạo hoàn toàn khác. Người không chỉ nói về chân lý. Người là Chân Lý. Người không chỉ giảng về con đường. Người chính là Con Đường. Người không chỉ dạy con người phải sống thế nào. Người đã sống trước tất cả những điều Người dạy. Bởi vậy, sức mạnh của Đức Giêsu không chỉ nằm ở những lời tuyệt vời Người nói, nhưng nằm ở chỗ người ta nhìn vào cuộc đời Người và nhận ra rằng từng lời Người nói đều đã được đóng dấu bằng chính đời sống của Người.
Đức Giêsu không bao giờ đặt trên vai người khác một gánh nặng mà chính Người không muốn mang. Người không bao giờ đứng ở một khoảng cách an toàn rồi bảo người khác phải bước vào nơi nguy hiểm. Người không bao giờ ngồi trên cao để ra lệnh cho người dưới thấp phải hy sinh. Người luôn đi trước. Người nói: “Hãy theo Thầy”, chứ không nói: “Các anh hãy đi, còn Thầy ở lại.” Người bước vào con đường trước rồi mới mời các môn đệ bước theo. Người sống điều Người dạy trước khi đòi hỏi người khác sống điều ấy. Đó là nét căn bản của phong cách lãnh đạo nơi Đức Giêsu: lãnh đạo không bằng những khẩu hiệu đẹp, nhưng bằng một đời sống có thể được nhìn thấy, chạm đến và kiểm chứng.
Người dạy: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” Đó là một lời dạy rất khó. Nếu chỉ được nói trong một lớp học, người ta có thể cho rằng đó là một lý tưởng đẹp nhưng quá xa thực tế. Thế nhưng Đức Giêsu đã không để lời ấy nằm trên môi. Khi Người bị đóng đinh trên thập giá, khi bàn tay bị đâm thủng, khi thân xác rách nát, khi đám đông chế nhạo, khi những kẻ vừa đóng đinh Người còn đứng đó nhìn Người hấp hối, Người không nguyền rủa họ. Người không cầu xin Chúa Cha trừng phạt họ. Người không nói: “Các ngươi sẽ phải trả giá.” Người lại thưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Câu nói ấy làm cho tất cả những gì Người từng dạy về yêu thương trở thành sự thật. Người không yêu kẻ thù bằng lý thuyết. Người yêu họ khi họ đang làm Người đau. Người không cầu nguyện cho kẻ ngược đãi sau khi mọi chuyện đã qua. Người cầu nguyện cho họ ngay giữa lúc họ đang ngược đãi Người. Chính vì thế, lời dạy của Người có sức nặng. Người có quyền nói với con người rằng hãy yêu kẻ thù, bởi vì chính Người đã yêu kẻ thù bằng một tình yêu phải trả bằng máu.
Người dạy phải tha thứ “không phải đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.” Người kể dụ ngôn về người cha ôm lấy đứa con hoang đàng trở về. Người kể về người đầy tớ được tha món nợ lớn nhưng lại không chịu tha món nợ nhỏ cho người anh em. Người nói với các môn đệ rằng nếu họ không tha thứ thì chính họ cũng không thể đón nhận trọn vẹn sự tha thứ của Thiên Chúa. Nhưng một lần nữa, Đức Giêsu không chỉ dạy. Người sống sự tha thứ đến tận cùng. Phêrô chối Người ba lần, nhưng sau phục sinh, Người không đến gặp Phêrô để trách móc. Người không nhắc lại từng câu Phêrô đã chối. Người không làm cho Phêrô xấu hổ trước các anh em. Người chỉ hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Ba lần chối được chữa lành bằng ba lần tuyên xưng tình yêu. Đó là cách Đức Giêsu tha thứ. Người không chỉ xóa lỗi, Người còn phục hồi con người. Người không chỉ nói: “Thôi, bỏ qua.” Người trao lại sứ mạng: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Một người lãnh đạo thật sự không dùng lỗi lầm của người khác để cột họ vào quá khứ. Người lãnh đạo theo gương Đức Giêsu biết mở cho người đã ngã một con đường để đứng dậy. Và người ấy chỉ có thể làm được điều đó khi chính mình đã học cách tha thứ thật sự.
Người dạy khiêm nhường. Người nói: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ.” Người nói: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.” Nhưng rồi Người làm một việc mà có lẽ các môn đệ không bao giờ quên: Người đứng dậy khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ. Không phải một người đầy tớ rửa chân cho chủ. Không phải một môn đệ rửa chân cho thầy. Chính Thầy rửa chân cho môn đệ. Chính Đấng mà các ông gọi là Chúa lại quỳ xuống trước đôi chân bụi bặm của họ. Và trong số những đôi chân ấy có chân của Giuđa, người sắp phản bội Người; có chân của Phêrô, người sắp chối Người; có chân của những môn đệ vài giờ nữa sẽ bỏ chạy. Đức Giêsu không rửa chân cho những người hoàn hảo. Người quỳ xuống trước những con người yếu đuối, bất toàn và đầy giới hạn. Người dạy khiêm nhường bằng đôi đầu gối chạm đất. Người dạy phục vụ bằng đôi tay cầm lấy những bàn chân của người khác. Không có bài giảng nào về khiêm nhường có sức mạnh bằng hình ảnh ấy.
Người dạy phó thác. Người dạy các môn đệ cầu nguyện: “Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Nhưng rồi đến vườn Ghếtsêmani, khi thập giá không còn là một ý tưởng xa xôi mà đã ở ngay trước mặt, Người đã run sợ. Người cảm thấy buồn đến chết được. Người quỳ xuống cầu nguyện. Người xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Đức Giêsu không giả vờ rằng thập giá là chuyện nhẹ nhàng. Người không phủ nhận nỗi sợ của mình. Nhưng Người nói thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha.” Chính ở đó, lời dạy về phó thác đạt đến chiều sâu nhất. Phó thác không có nghĩa là không sợ. Phó thác không có nghĩa là không đau. Phó thác là khi đang sợ và đang đau, con người vẫn đặt đời mình trong tay Thiên Chúa. Đức Giêsu đã sống như thế. Bởi vậy, khi Người bảo chúng ta hãy tin tưởng vào Chúa Cha, Người không nói như một người chưa từng đi qua đêm tối. Người nói như một người đã đi qua bóng tối của Ghếtsêmani và đã trao chính mình cho Cha trong bóng tối đó.
Sự nhất quán giữa lời nói và đời sống chính là một trong những sức mạnh lớn nhất của người lãnh đạo. Người ta có thể bị thuyết phục bởi tài hùng biện trong một lúc, nhưng chỉ có đời sống mới làm cho người ta tin lâu dài. Người ta có thể vỗ tay sau một bài diễn văn, nhưng họ sẽ quan sát cách người diễn thuyết sống khi bước xuống khỏi bục. Người ta có thể xúc động trước một bài giảng về bác ái, nhưng họ sẽ nhìn cách người giảng đối xử với những người bé nhỏ. Người ta có thể thích nghe một linh mục nói về khó nghèo, nhưng họ cũng sẽ nhìn cách vị linh mục ấy dùng tiền, chọn tiện nghi, tiếp xúc với người nghèo. Người ta có thể cảm động khi nghe nói về lòng thương xót, nhưng rồi họ sẽ xem người giảng có dễ tha thứ cho người làm mình tổn thương hay không. Chính ở đây, đời sống trở thành bài giảng dài nhất, rõ nhất và không thể che giấu.
Có một sự thật rất đau nhưng người lãnh đạo Kitô hữu phải can đảm nhìn nhận: đôi khi điều làm cho người ta xa Giáo Hội không phải là Tin Mừng khó, mà là những người rao giảng Tin Mừng sống không giống Tin Mừng. Một người có thể không hiểu hết thần học, nhưng họ hiểu sự giả hình. Một người có thể không thuộc nhiều câu Kinh Thánh, nhưng họ nhận ra rất nhanh khi lời nói và đời sống của một người không khớp với nhau. Người tín hữu có thể tha thứ cho người mục tử vì yếu đuối, vì vụng về, vì thiếu khả năng, nhưng họ rất khó chấp nhận sự giả tạo. Họ có thể thương một linh mục giảng không hay nhưng sống chân thành. Họ có thể kính trọng một người lãnh đạo không có nhiều bằng cấp nhưng biết sống đơn sơ, công bằng và tử tế. Ngược lại, một người nói rất hay, kiến thức rất rộng, xuất hiện rất đẹp trước công chúng nhưng đời sống lại trái ngược với điều mình nói thì sớm muộn uy tín cũng tan biến.
Uy tín trong Giáo Hội không phải là thứ có thể trao cùng với một chức vụ. Ngày một người được truyền chức, người ấy nhận bí tích, nhận sứ mạng, nhận trách nhiệm; nhưng lòng tin của cộng đoàn không tự động xuất hiện chỉ vì một nghi thức đã diễn ra. Chức vụ có thể trao quyền thi hành một số công việc, nhưng đời sống mới tạo nên uy tín. Người ta có thể gọi một người là “cha”, là “đức cha”, là “bề trên”, là “trưởng ban”, là “người phụ trách”, nhưng danh xưng ấy chưa bảo đảm người ta thật sự mở lòng. Sự kính trọng sâu xa không thể đòi hỏi. Nó phải được sinh ra từ một đời sống đáng kính. Uy tín không đến từ chiếc áo đang mặc, nhưng từ con người ở bên trong chiếc áo ấy. Uy tín không đến từ ghế đang ngồi, nhưng từ cách người ấy sử dụng quyền lực khi ngồi trên chiếc ghế đó. Uy tín không đến từ việc có bao nhiêu người nghe mình nói, nhưng từ việc những người sống gần mình có nhìn thấy Tin Mừng nơi đời mình hay không.
Một linh mục có thể giảng rất hay về cầu nguyện, nhưng nếu đời sống không có giờ cầu nguyện, sớm muộn lời giảng sẽ trở nên rỗng. Bởi vì người ta không thể cho người khác điều mình không có. Nếu một linh mục không còn ngồi trước Thánh Thể, không còn đọc Lời Chúa như lời dành cho chính mình, không còn biết im lặng trước Chúa, thì có thể ngài vẫn chuẩn bị được một bài giảng bằng sách vở, bằng tài liệu, bằng kỹ năng, nhưng bài giảng ấy thiếu một điều rất khó gọi tên: hơi ấm của cuộc gặp gỡ. Người nghe có thể nhận được thông tin, nhưng không nhận được lửa. Có sự khác biệt rất lớn giữa một người nói về Chúa và một người vừa từ nơi gặp Chúa bước ra để nói. Người thứ nhất có thể cung cấp kiến thức. Người thứ hai có khả năng đánh thức lòng người.
Cũng vậy, một linh mục giảng về khó nghèo mà đời sống ngày càng tìm kiếm tiện nghi sẽ tự làm suy yếu lời mình. Khó nghèo không có nghĩa là phải sống thiếu thốn một cách cực đoan hay khinh thường những phương tiện cần thiết cho sứ vụ. Nhưng khó nghèo Tin Mừng đòi hỏi một tâm hồn không bị của cải điều khiển. Người lãnh đạo Kitô hữu phải tự hỏi mình có còn tự do trước tiền bạc hay không. Có những thứ mình mua vì thực sự cần hay vì muốn chứng tỏ một vị thế? Có những sự lựa chọn mình thực hiện vì sứ vụ hay vì sự thoải mái của bản thân? Có những người nghèo đang ở rất gần nhưng mình không còn thấy họ bởi vì đời sống của mình đã đi quá xa đời sống của họ? Một người lãnh đạo càng sống đơn sơ, lời nói càng dễ đi vào lòng người. Bởi vì sự đơn sơ làm cho khoảng cách giữa người lãnh đạo và người được lãnh đạo thu ngắn lại.
Một linh mục giảng về khiêm nhường nhưng lại rất nhạy cảm với danh dự của mình cũng phải coi lại. Đôi khi người ta nói về khiêm nhường rất dễ, nhưng chỉ cần bị quên tên, bị xếp chỗ không như ý, không được mời phát biểu, không được nhắc đến công lao, là trong lòng đã bất an. Khi ấy ta mới nhận ra mình chưa khiêm nhường như mình tưởng. Đức Giêsu đã dạy rằng khi được mời dự tiệc hãy chọn chỗ cuối. Nhưng điều ấy không chỉ là câu chuyện về chỗ ngồi. Nó là thái độ nội tâm: không cần phải ở trung tâm. Người lãnh đạo trưởng thành là người không cần mọi ánh sáng chiếu vào mình. Họ có thể vui khi người khác được nổi bật. Họ có thể lùi lại để người khác lớn lên. Họ không biến cộng đoàn thành sân khấu cho bản thân. Họ không sợ người khác giỏi hơn mình. Bởi vì họ hiểu rằng sứ mạng quan trọng hơn tên tuổi của người thực hiện sứ mạng.
Sự nhất quán còn phải được thể hiện trong những điều rất nhỏ. Nhiều khi chúng ta nghĩ uy tín bị phá vỡ bởi những sai phạm lớn. Thực ra uy tín có thể bị bào mòn mỗi ngày bởi những điều nhỏ: một lời hứa không giữ, một cuộc hẹn bị coi nhẹ, một cách nói thiếu tôn trọng với người dưới quyền, một sự thiên vị, một cách sử dụng tiền bạc không minh bạch, một thái độ khác nhau giữa người có địa vị và người nghèo, một vẻ đạo đức nơi công cộng nhưng nóng nảy với người sống chung. Người ngoài có thể chỉ thấy một giờ ta đứng trên bục giảng, nhưng anh em trong cộng đoàn thấy hai mươi ba giờ còn lại. Và thường những người sống gần ta mới là những người biết rõ nhất bài giảng của ta có thật hay không.
Có một nguyên tắc rất đơn giản nhưng nghiêm khắc: người lãnh đạo không thể đòi người khác sống một kỷ luật mà chính mình thường xuyên phá vỡ. Không thể đòi cộng đoàn đúng giờ nếu chính mình thường xuyên trễ. Không thể đòi người khác tôn trọng nội quy nếu mình luôn tìm ngoại lệ cho bản thân. Không thể yêu cầu người dưới quyền minh bạch nếu chính mình mập mờ. Không thể khuyên người khác tiết kiệm nếu mình phung phí. Không thể dạy người ta đối thoại nếu mỗi khi bị góp ý mình lại nổi giận. Không thể kêu gọi người khác hiệp nhất nếu chính mình thích phe nhóm. Không thể bảo người khác cầu nguyện cho kẻ làm mình tổn thương nếu mình vẫn nuôi một danh sách những người không muốn gặp. Người lãnh đạo Kitô hữu phải chấp nhận một sự thật: tiêu chuẩn mình đặt ra cho người khác trước hết phải là tiêu chuẩn mình đặt trên chính mình.
Đức Giêsu từng mạnh mẽ cảnh cáo các kinh sư và người Pharisêu: “Họ nói mà không làm.” Câu này cần được nghe như một lời cảnh tỉnh cho mọi người đang có trách nhiệm hướng dẫn người khác. Điều đáng sợ không phải là chúng ta yếu đuối. Ai cũng yếu đuối. Điều đáng sợ là chúng ta quen với khoảng cách giữa lời nói và đời sống đến mức không còn thấy đó là vấn đề. Một người có thể ngã rồi đứng dậy; đó là yếu đuối. Nhưng một người dạy một đàng, cố tình sống một nẻo, rồi dùng chức vụ để che giấu sự mâu thuẫn ấy, đó là một nguy cơ lớn cho đời sống thiêng liêng. Đức Giêsu rất cảm thông với người tội lỗi, nhưng Người rất nghiêm khắc với sự giả hình. Bởi vì người tội lỗi biết mình cần được cứu, còn người giả hình dễ nghĩ mình không cần hoán cải.
Vì thế, câu hỏi quan trọng nhất của người lãnh đạo Kitô hữu không phải là: “Tôi nói có hay không?” nhưng là: “Điều tôi nói có đang trở thành đời sống của tôi không?” Không phải: “Người ta có thích bài giảng của tôi không?” nhưng là: “Những người sống gần tôi có thấy tôi đang cố gắng sống điều tôi giảng không?” Không phải: “Tôi có đủ kiến thức để dạy người khác không?” nhưng là: “Tôi có đủ khiêm nhường để cho Lời Chúa trước hết dạy chính tôi không?” Một nhà giảng thuyết trưởng thành không đứng bên ngoài Lời Chúa để dùng Lời Chúa sửa người khác. Người ấy đứng dưới Lời Chúa cùng với cộng đoàn. Khi giảng về sự tha thứ, người ấy biết mình cũng đang được gọi phải tha thứ. Khi giảng về cầu nguyện, người ấy nghe lời mời trở lại với cầu nguyện. Khi giảng về khó nghèo, người ấy để Tin Mừng chất vấn cách mình sử dụng của cải. Khi giảng về khiêm nhường, người ấy biết chính mình cũng cần cúi xuống.
Có lẽ trước mỗi bài giảng, người linh mục cần hỏi không chỉ: “Tôi sẽ nói gì?” mà còn: “Lời này đang nói gì với tôi?” Nếu Tin Mừng chưa chạm vào chính người giảng, rất khó để nó chạm sâu vào người nghe. Nếu Lời Chúa chưa làm người giảng đau, chưa làm người giảng phải xét mình, chưa làm người giảng muốn thay đổi một điều gì đó, thì có nguy cơ bài giảng chỉ là một bài phân tích. Lời Chúa không được trao cho chúng ta để chúng ta trở thành những người bình luận giỏi, nhưng để chúng ta được biến đổi. Và người lãnh đạo Kitô hữu chỉ có thể dẫn người khác đến nơi mà chính mình đang thực sự muốn đi.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa rằng người lãnh đạo phải chờ đến khi hoàn hảo mới được nói. Nếu vậy thì không ai có thể giảng Tin Mừng. Không ai hoàn hảo. Không linh mục nào sống trọn tất cả điều mình giảng. Không cha mẹ nào sống hoàn toàn tất cả điều mình dạy con. Không bề trên nào đạt trọn mọi nhân đức mình mong nơi cộng đoàn. Vấn đề không phải là hoàn hảo, nhưng là chân thành. Có một khác biệt rất lớn giữa người chưa sống trọn điều mình dạy nhưng đang cố gắng sống và người không hề muốn sống điều mình dạy. Người thứ nhất có thể nói với sự khiêm tốn của một người cùng đang trên đường. Người ấy có thể thưa: “Lời Chúa hôm nay cũng đang chất vấn chính tôi.” Khi người nghe cảm nhận sự chân thành ấy, lời giảng không mất uy tín. Trái lại, nó trở nên gần gũi. Bởi vì người giảng không đứng như một người đã đến đích, nhưng như một người anh em đang cùng bước đi.
Đôi khi câu “Nếu chưa sống thì im lặng còn hơn” cần được hiểu trong chiều sâu này. Không phải là chỉ những ai hoàn hảo mới được nói, nhưng là đừng biến lời dạy thành chiếc mặt nạ để che đời sống. Nếu một điều mình đang rất yếu, hãy nói với sự khiêm nhường. Nếu đang giảng về tha thứ trong khi chính mình đang vật lộn để tha thứ, hãy để lời ấy trước hết trở thành lời cầu nguyện cho chính mình. Nếu đang nói về cầu nguyện trong lúc đời sống cầu nguyện khô khan, hãy thú nhận trong lòng rằng mình cũng đang cần trở về. Khi ấy người lãnh đạo không còn là người đứng trên cao ra lệnh, nhưng là người đứng giữa cộng đoàn và nói: “Chúng ta cùng đi con đường này.”
Lãnh đạo bằng đời sống còn có nghĩa là dám chịu những điều mình yêu cầu người khác chịu. Đức Giêsu không mời các môn đệ vác thập giá trong khi Người tránh thập giá. Người vác trước. Người không nói về hy sinh từ một nơi an toàn. Người đã để thân mình bị bẻ ra. Đây là điểm người lãnh đạo trong Giáo Hội phải suy nghĩ rất nhiều. Nếu cộng đoàn đang gặp khó khăn, người lãnh đạo có chấp nhận phần khó hơn về mình không? Khi cần tiết giảm, mình có tiết giảm trước không? Khi cần hy sinh thời gian, mình có hy sinh trước không? Khi có một công việc không ai muốn nhận, mình có sẵn sàng làm không? Khi xảy ra thất bại, mình có đứng ra nhận trách nhiệm hay tìm người để đổ lỗi? Người lãnh đạo theo Đức Giêsu không nói: “Các anh hãy hy sinh cho tôi.” Người ấy nói bằng đời sống: “Tôi sẽ hy sinh cùng anh em.”
Người lãnh đạo thật cũng không sử dụng những tiêu chuẩn kép. Một trong những điều làm tổn thương cộng đoàn nhiều nhất là khi người có quyền đặt luật nghiêm cho người khác nhưng dễ dãi cho mình và những người thân cận. Đức Giêsu không như thế. Người không thiên vị người giàu. Người không đối xử khác vì địa vị xã hội. Người có thể ngồi ăn với người thu thuế, nói chuyện với người phụ nữ Samari, để trẻ em đến gần, chạm vào người phong cùi, dừng lại với người mù bên vệ đường. Người nhìn con người trước khi nhìn vị trí của họ. Một người lãnh đạo sống Tin Mừng cũng phải như vậy. Cách ta đối xử với người không thể mang lại lợi ích cho ta thường nói thật nhất về con người của ta. Ta lịch sự thế nào với người phục vụ? Ta kiên nhẫn thế nào với người chậm chạp? Ta quan tâm thế nào đến người không có tiếng nói? Ta tiếp đón người nghèo có giống cách ta tiếp đón người có địa vị không? Chính những điều đó là bài kiểm tra của lãnh đạo Kitô giáo.
Đời sống của người lãnh đạo còn phải nhất quán trong cách sử dụng quyền lực. Đức Giêsu có quyền, nhưng Người không dùng quyền để bảo vệ mình. Trong cuộc thương khó, Người nói Người có thể xin Cha sai các đạo binh thiên thần, nhưng Người không làm. Người dùng quyền để chữa lành, để giải thoát, để phục vụ. Quyền lực trong tay Đức Giêsu trở thành sự sống cho người khác. Đây là tiêu chuẩn rất quan trọng. Người lãnh đạo không chỉ cần hỏi mình có quyền làm điều này không, mà phải hỏi làm điều này có làm người khác lớn lên không. Có những điều hoàn toàn nằm trong quyền hạn của ta nhưng không nên làm theo cách độc đoán. Có những quyết định đúng nhưng nếu cách thực hiện thiếu tình người sẽ gây thương tổn. Đức Giêsu dạy chúng ta rằng quyền lực chỉ thật sự mang tính Kitô giáo khi nó cúi xuống phục vụ.
Người lãnh đạo sống điều mình dạy cũng phải biết nhận lỗi. Có một quan niệm sai rằng người lãnh đạo mà nhận lỗi sẽ mất uy. Thực tế thường ngược lại. Một người cố che lỗi mới dần mất uy tín. Một người đủ can đảm nói: “Tôi đã sai, xin anh em tha thứ” thường được kính trọng hơn. Sự khiêm nhường không làm quyền lãnh đạo nhỏ đi; nó làm quyền lãnh đạo trở nên đáng tin. Người ta không cần một người lãnh đạo không bao giờ sai, bởi vì con người như thế không tồn tại. Người ta cần một người lãnh đạo khi sai thì biết sửa, khi làm tổn thương thì biết xin lỗi, khi được góp ý thì biết nghe. Đó cũng là sống điều mình dạy. Nếu ta dạy người khác hoán cải, chính ta phải biết hoán cải. Nếu ta khuyên người khác xin lỗi, chính ta phải có khả năng xin lỗi.
Đời sống nhất quán không được xây trong một ngày. Nó được hình thành bằng những lựa chọn nhỏ lặp đi lặp lại. Một giờ cầu nguyện mỗi ngày có thể không ai thấy, nhưng sau nhiều năm nó tạo ra một con người khác. Một thói quen giữ lời hứa tưởng rất nhỏ, nhưng dần làm nên sự đáng tin. Một cách sống đơn sơ được chọn mỗi ngày sẽ tạo nên tự do nội tâm. Một thái độ sẵn sàng nghe người khác, thực hành đều đặn, sẽ làm cho người lãnh đạo bớt độc đoán. Không ai trở thành người lãnh đạo theo gương Đức Giêsu chỉ bằng việc đọc vài cuốn sách về lãnh đạo. Con người ấy được hình thành trong cầu nguyện, trong những lần phải chiến đấu với cái tôi, trong những lúc chọn phục vụ thay vì được phục vụ, trong những lần bị hiểu lầm mà vẫn giữ lòng bình an, trong những lần có quyền đáp trả nhưng chọn im lặng, trong những lần có thể giữ lợi cho mình nhưng chọn phần thiệt.
Có một hình ảnh rất đáng suy nghĩ: cây không nói về trái của mình. Nó chỉ sống, rồi đến mùa sinh trái. Một đời sống thánh thiện cũng thế. Người sống thật không cần thường xuyên nói rằng mình chân thành. Người khiêm nhường không cần nhắc rằng mình khiêm nhường. Người sống khó nghèo không cần quảng cáo sự khó nghèo của mình. Người cầu nguyện sâu không cần làm cho người khác biết mình cầu nguyện nhiều. Trái tự nó chứng minh cây. Đời sống tự nó chứng minh lời nói. Có những linh mục không nói nhiều, nhưng chỉ cần nhìn cách các ngài sống đã làm người khác muốn sống tốt hơn. Có những người lớn tuổi không có khả năng diễn thuyết, nhưng sự hiền lành nơi họ là một bài giảng. Có những bề trên không có tài quản trị đặc biệt, nhưng cách họ yêu thương anh em làm cho cộng đoàn muốn cộng tác. Đó là sức mạnh của đời sống.
Thánh Phaolô đã từng nói: “Anh em hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô.” Đây là một câu rất táo bạo. Nhưng một người lãnh đạo Kitô hữu cuối cùng cũng phải có thể nói điều đó, ít nhất bằng đời sống. Không phải: “Hãy bắt chước mọi điều nơi tôi”, nhưng: “Nếu nơi tôi có điều gì giống Đức Kitô, xin anh em hãy cùng tôi sống điều ấy.” Người lãnh đạo không kéo người khác về mình. Người ấy làm cho người khác nhìn xuyên qua mình để thấy Đức Kitô. Nếu người ta càng gần ta mà càng lệ thuộc vào ta, có lẽ lãnh đạo của ta đang có vấn đề. Nếu người ta càng gần ta mà càng yêu Chúa hơn, tự do hơn, trưởng thành hơn, đó là dấu tốt. Đức Giêsu không tạo ra những con người lệ thuộc tâm lý vào Người theo kiểu mất khả năng quyết định. Người đào tạo họ rồi sai họ đi.
Và đây có lẽ là điểm sâu nhất: người lãnh đạo Kitô hữu không sống điều mình dạy chỉ để giữ uy tín. Nếu mục tiêu chỉ là uy tín, sự nhất quán cũng có thể biến thành một hình thức xây dựng hình ảnh. Ta sống tốt để người khác nghĩ tốt về ta. Đó chưa phải Tin Mừng. Người Kitô hữu sống điều mình dạy vì yêu Đức Kitô. Uy tín chỉ là hoa trái phụ. Cốt lõi vẫn là sự trung tín. Ta cầu nguyện không phải để người khác thấy lời giảng có sức, nhưng vì ta cần Chúa. Ta sống khó nghèo không phải để được tiếng là đơn sơ, nhưng vì Đức Kitô đã trở nên nghèo vì ta. Ta tha thứ không phải để được khen là quảng đại, nhưng vì chính ta đã được tha thứ. Ta phục vụ không phải để xây dựng hình ảnh mục tử tốt, nhưng vì Thầy đã quỳ xuống rửa chân cho ta. Khi động lực là tình yêu, đời sống sẽ có một sự tự nhiên mà không kỹ thuật nào tạo được.
Mỗi tối, có lẽ người lãnh đạo Kitô hữu nên dành ít phút đứng trước Chúa và hỏi: “Lạy Chúa, hôm nay có khoảng cách nào giữa điều con nói và điều con sống không?” Câu hỏi ấy nếu được hỏi chân thành mỗi ngày có thể cứu cả một đời mục vụ. “Con đã dạy người ta kiên nhẫn, hôm nay con có kiên nhẫn không? Con nói về lòng thương xót, hôm nay con đã đối xử thế nào với người làm con khó chịu? Con nói về người nghèo, hôm nay con có thực sự nhìn thấy một người nghèo không? Con mời gọi giáo dân cầu nguyện, hôm nay con đã dành bao nhiêu thời gian ở với Chúa? Con khuyên người khác đừng chạy theo danh vọng, hôm nay con có buồn vì không được người khác nhắc đến không? Con nói phải yêu sự thật, hôm nay con có che giấu điều gì vì sợ mất mặt không?” Những câu hỏi ấy không nhằm làm ta nản lòng. Chúng giữ ta thật.
Người lãnh đạo càng có trách nhiệm lớn càng cần đời sống nội tâm sâu. Bởi vì càng nhiều người nhìn vào ta, khoảng cách giữa lời và đời càng có hậu quả lớn. Một người cha sống mâu thuẫn có thể làm con cái mất niềm tin. Một người thầy sống mâu thuẫn có thể làm học trò hoài nghi. Một linh mục sống mâu thuẫn có thể làm một người tổn thương không chỉ với linh mục ấy mà cả với Giáo Hội. Trách nhiệm này rất nặng. Nhưng nó không được trao để làm chúng ta sợ hãi. Nó nhắc chúng ta bám vào Chúa hơn. Không ai có thể sống nhất quán chỉ nhờ ý chí. Ta cần ân sủng. Ta cần Bí tích Hòa Giải. Ta cần Thánh Thể. Ta cần đời sống cầu nguyện. Ta cần anh em có thể nói thật với ta. Một người lãnh đạo không có ai dám góp ý là một người đang ở trong tình trạng nguy hiểm. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa mà vẫn sống trong tương quan mật thiết với Chúa Cha. Chúng ta càng không thể tự mình.
Cuối cùng, người lãnh đạo bằng việc sống điều mình dạy sẽ không phải là người không có vết thương, nhưng là người để cho những vết thương của mình được Tin Mừng biến đổi. Người ấy không phải người chưa từng thất bại, nhưng là người sau mỗi thất bại biết trở về với điều mình đã giảng. Không phải người chưa từng mâu thuẫn, nhưng là người luôn cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa lời nói và cuộc sống. Con đường đó kéo dài suốt đời. Có lẽ đến ngày cuối cùng chúng ta vẫn phải xin Chúa tha thứ vì có quá nhiều điều mình đã nói hay hơn mình sống. Nhưng điều quan trọng là đừng bao giờ bằng lòng với khoảng cách ấy. Đừng bao giờ cho rằng vì ai cũng yếu đuối nên mình được quyền sống dễ dãi. Hãy để mỗi lời mình nói trở thành một lời mời gọi chính mình hoán cải trước.
Đức Giêsu đã thay đổi thế giới không chỉ vì Người nói những lời chưa ai nói, nhưng vì Người đã trở thành điều Người nói. Người nói về tình yêu và đời Người là tình yêu. Người nói về phục vụ và đời Người là phục vụ. Người nói về hy sinh và đời Người là một của lễ. Người nói về tha thứ và trái tim Người là trái tim tha thứ. Người nói về phó thác và hơi thở cuối cùng của Người là lời phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Không có khoảng cách giữa Tin Mừng Người rao giảng và cuộc đời Người sống. Đó là lý do hai ngàn năm sau, lời Người vẫn có sức khiến con người bỏ mọi sự để đi theo.
Người lãnh đạo Kitô hữu cũng được mời gọi đi theo con đường ấy. Có thể chúng ta sẽ không bao giờ nói được những lời thật lớn. Có thể chúng ta không có tài diễn thuyết. Có thể tên tuổi chúng ta không được nhiều người biết. Nhưng nếu đời sống chúng ta làm chứng cho điều chúng ta tin, chúng ta đã lãnh đạo theo cách của Đức Giêsu. Một linh mục sống trung thành với giờ cầu nguyện đã âm thầm dạy cộng đoàn rằng Thiên Chúa là quan trọng. Một người bề trên biết xin lỗi đã dạy anh em về khiêm nhường. Một người có quyền mà biết lắng nghe đã dạy người khác về phẩm giá. Một mục tử sống đơn sơ đã giảng một bài rất dài về khó nghèo. Một người bị xúc phạm mà không trả đũa đã giảng về tha thứ. Một người âm thầm phục vụ mà không cần ai biết đã giảng về Đức Kitô.
Và đến cuối cùng, có lẽ câu hỏi không phải là chúng ta đã nói được bao nhiêu bài giảng, viết bao nhiêu cuốn sách, tổ chức bao nhiêu chương trình, xây bao nhiêu công trình, hay có bao nhiêu người biết tên mình. Câu hỏi sẽ đơn giản hơn nhiều: đời sống của chúng ta có làm cho điều chúng ta rao giảng trở nên đáng tin hơn không? Người ta gặp chúng ta có thấy Đức Giêsu gần hơn không? Những người sống bên cạnh chúng ta có nhận ra rằng Tin Mừng có thể sống được không? Nếu câu trả lời là có, dù chỉ một phần nhỏ, thì đó đã là một ân huệ rất lớn.
Xin cho người lãnh đạo Kitô hữu đừng bao giờ chỉ là người chỉ đường bằng ngón tay nhưng chính mình không bước. Xin cho chúng ta biết đi trước một bước trong điều mình mời người khác sống: cầu nguyện trước khi mời người khác cầu nguyện, tha thứ trước khi dạy người khác tha thứ, hy sinh trước khi yêu cầu người khác hy sinh, phục vụ trước khi nói về phục vụ, cúi xuống trước khi nói về khiêm nhường, yêu thương trước khi giảng về tình yêu. Vì sau tất cả, bài giảng có sức mạnh nhất vẫn là một đời sống. Người ta có thể quên câu chữ chúng ta nói, nhưng họ sẽ nhớ cách chúng ta đã sống. Người ta có thể không nhớ một bài giảng cách đây mười năm, nhưng họ vẫn có thể nhớ một lần vị linh mục ấy đến thăm khi gia đình họ đau khổ, một lần ngài ngồi hàng giờ nghe họ khóc, một lần ngài xin lỗi vì đã hiểu lầm họ, một lần ngài chia sẻ phần của mình cho người nghèo. Những điều ấy ở lại lâu hơn lời nói.
Đức Giêsu đã không viết một cuốn sách nào bằng tay, nhưng Người đã viết Tin Mừng bằng chính cuộc đời Người. Người viết bằng đôi chân đi tìm người đau khổ, bằng đôi tay chạm người phong cùi, bằng đôi mắt nhìn người tội lỗi với lòng thương xót, bằng đầu gối quỳ xuống rửa chân, bằng thân mình bị đóng đinh và bằng trái tim bị đâm thâu. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu cũng được mời gọi viết bài giảng lớn nhất của mình như thế: viết bằng cách sống. Và nếu có một ước nguyện dành cho mọi người mang trách nhiệm lãnh đạo trong Giáo Hội, có lẽ đó là lời nguyện rất đơn sơ này: Lạy Chúa, xin đừng để đời sống con phủ nhận điều môi miệng con rao giảng. Xin cho lời con nói và đường con đi ngày càng trở nên một. Xin cho những gì con dạy người khác, trước hết được Tin Mừng khắc vào chính cuộc đời con. Và xin cho người ta, khi nhìn thấy con sống, không dừng lại nơi con, nhưng nhận ra Đức Giêsu – Đấng đã không chỉ dạy chúng con phải yêu, nhưng đã yêu chúng con đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 3: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC NHÌN THẤY TIỀM NĂNG NƠI NGƯỜI KHÁC
Có một điều rất đẹp trong cách Đức Giêsu gặp gỡ con người: Ngài không chỉ nhìn con người như họ đang là, Ngài còn nhìn thấy họ có thể trở thành ai trong bàn tay của Thiên Chúa. Cái nhìn của Đức Giêsu không đóng khung một con người vào quá khứ của họ, không kết án họ bằng những thất bại của hôm qua, không đồng hóa họ với những yếu đuối đang bày ra trước mắt, và cũng không vội vàng loại bỏ họ chỉ vì họ chưa đạt tới điều mà người ta mong đợi. Ngài nhìn Simon, một người đánh cá bình thường, nóng nảy, bộc trực, nhiều lần nói trước khi suy nghĩ, và Ngài thấy Phêrô – tảng đá trên đó Ngài sẽ xây Hội Thánh. Ngài nhìn Lêvi đang ngồi ở bàn thu thuế, một con người mà xã hội Do Thái thời ấy có đủ lý do để dè bỉu và khinh miệt, và Ngài thấy Matthêu – một tông đồ, một chứng nhân và một người sẽ góp phần lưu lại Tin Mừng cho Hội Thánh. Ngài nhìn những người ngư phủ Galilê ít học, vụng về, nhiều tham vọng, nhiều lần tranh nhau xem ai là người lớn nhất, và Ngài thấy nơi họ những người sẽ đi đến tận cùng thế giới để loan báo Tin Mừng. Ngài nhìn một người phụ nữ Samari với một đời sống tình cảm đổ vỡ, mang trong mình cả một quá khứ rối ren và một nỗi khát sâu xa mà không người đàn ông nào có thể lấp đầy, và Ngài thấy nơi chị một người có thể chạy về làng mà nói với mọi người: “Đến mà xem.” Chỉ một cuộc gặp gỡ, một cái nhìn, một cuộc đối thoại bên bờ giếng, người phụ nữ từng tránh ánh mắt của người đời lại trở thành người dẫn người khác đến gặp Đức Giêsu. Đó không chỉ là câu chuyện của ân sủng. Đó còn là một bài học rất lớn về lãnh đạo: người lãnh đạo thật sự không chỉ quản lý con người trong tình trạng hiện tại, nhưng biết nhìn thấy một tương lai còn đang được Thiên Chúa âm thầm chuẩn bị trong họ.
Chúng ta thường nhìn người khác bằng những gì họ đã làm. Đức Giêsu nhìn họ bằng những gì ân sủng có thể làm nơi họ. Chúng ta nhìn một người nóng tính và nói: “Người này không dùng được.” Đức Giêsu nhìn Simon và thấy một Phêrô có thể khóc sau khi chối Thầy, có thể đứng dậy sau vấp ngã, và một ngày kia có thể trao cả mạng sống mình vì Thầy. Chúng ta nhìn một người có quá khứ phức tạp và nói: “Người này khó tin lắm.” Đức Giêsu nhìn người phụ nữ Samari và thấy một trái tim đang khát, mà nếu được chạm tới đúng nơi, có thể trở thành một nguồn nước chảy sang những người khác. Chúng ta nhìn một người tham tiền và nói: “Người này chắc chỉ nghĩ đến mình.” Đức Giêsu nhìn Matthêu và thấy một người có khả năng bỏ bàn thu thuế để bước theo Ngài. Chúng ta nhìn một người yếu đuối và nghĩ ngay đến nguy cơ mà họ có thể gây ra; Đức Giêsu nhìn người yếu đuối và nghĩ đến công trình mà Thiên Chúa có thể thực hiện nếu người đó để cho mình được biến đổi. Sự khác biệt nằm ở cái nhìn. Và đôi khi, số phận của một con người được thay đổi không phải vì họ gặp một người tài giỏi hơn họ, nhưng vì họ gặp được một người tin vào điều tốt đẹp mà chính họ chưa nhìn thấy nơi bản thân mình.
Đức Giêsu không chọn những con người hoàn hảo. Thật ra, nếu đọc Tin Mừng mà không tô hồng các môn đệ, chúng ta sẽ thấy nhóm Mười Hai là một tập thể có khá nhiều vấn đề. Phêrô bốc đồng. Giacôbê và Gioan nóng nảy đến mức muốn xin lửa từ trời xuống thiêu hủy một làng Samari không tiếp đón Thầy. Hai ông cùng với mẹ mình còn từng quan tâm đến những chiếc ghế bên hữu bên tả trong Nước Trời. Tôma nghi ngờ. Philipphê nhiều lần chậm hiểu. Các môn đệ thường xuyên không hiểu những điều Đức Giêsu nói, ngay cả khi Ngài đã giải thích nhiều lần. Khi Thầy loan báo cuộc thương khó, họ lại tranh luận về địa vị. Khi Ngài cần họ ở bên trong vườn Cây Dầu, họ ngủ. Khi Ngài bị bắt, họ bỏ chạy. Phêrô còn công khai chối Ngài ba lần. Giuđa phản bội. Nếu áp dụng tiêu chuẩn tuyển dụng của nhiều tổ chức hôm nay, có lẽ phần lớn các tông đồ sẽ không vượt qua vòng đầu tiên. Nhưng Đức Giêsu đã chọn họ. Không phải vì Ngài không biết những giới hạn của họ. Ngài biết rất rõ. Ngài biết Phêrô sẽ chối Ngài. Ngài biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Ngài biết họ còn tham vọng, còn sợ hãi, còn nông cạn. Nhưng Ngài cũng biết rằng con người không phải là một sản phẩm đã hoàn tất. Con người là một câu chuyện đang được viết. Và khi ân sủng bước vào câu chuyện ấy, điều tưởng như không thể có thể trở thành hiện thực.
Đây chính là một trong những khác biệt lớn nhất giữa người lãnh đạo theo Đức Giêsu và người chỉ biết điều hành công việc. Người điều hành thường hỏi: “Người này hiện nay làm được gì cho tôi?” Người lãnh đạo theo Đức Giêsu còn hỏi thêm: “Người này có thể trở thành ai nếu được trao cơ hội, được hướng dẫn, được tin tưởng và được đồng hành?” Một bên nhìn con người như nguồn lực để sử dụng; bên kia nhìn con người như một mầu nhiệm để phục vụ cho sự trưởng thành. Một bên tìm người hoàn thiện để công việc chạy nhanh; bên kia sẵn sàng dành thời gian để một con người dần dần trưởng thành, cho dù việc ấy chậm, mệt, nhiều khi còn làm mình thất vọng. Một bên thích những người “dễ bảo”, ít đặt câu hỏi, làm đúng điều được giao; bên kia không ngại những cá tính mạnh nếu biết rằng phía sau sự vụng về ấy có thể là một sức sống lớn cần được uốn nắn. Một bên chỉ nhìn hiệu suất hôm nay; bên kia nhìn cả một hành trình ngày mai.
Trong mục vụ, cám dỗ chọn người “an toàn” là một cám dỗ rất thật. Chúng ta thích cộng tác với người ngoan, người có khả năng, người hiểu ý nhanh, người ít gây phiền phức, người không làm mình mất thời giờ. Điều đó không sai. Một cộng đoàn hay một tổ chức đương nhiên cần những người có trách nhiệm và có khả năng. Nhưng sẽ là một mất mát rất lớn nếu chúng ta chỉ muốn những con người đã hoàn thiện. Bởi vì Hội Thánh không chỉ là nơi những người giỏi đến để làm việc; Hội Thánh còn là nơi con người được biến đổi. Mục vụ không chỉ nhằm hoàn thành một chương trình; mục vụ còn nhằm làm cho những con người trưởng thành. Nếu một giáo xứ tổ chức rất tốt, chương trình rất đẹp, các sự kiện rất thành công, nhưng suốt nhiều năm không làm cho một ai trưởng thành hơn trong đức tin, trong nhân cách, trong khả năng phục vụ và trong tinh thần trách nhiệm, thì vẫn còn điều gì đó rất đáng suy nghĩ. Một cộng đoàn khỏe mạnh không chỉ sản sinh ra những chương trình, mà còn sản sinh ra những con người.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu vì thế phải học cách nhìn xa hơn hiện tại. Có những người hôm nay còn lóng ngóng, ngày mai có thể trở thành người gánh vác. Có những người hôm nay nói năng chưa khéo, sau một thời gian được hướng dẫn có thể trở thành người truyền cảm hứng. Có một em thiếu nhi hôm nay nghịch ngợm, hay bị nhắc nhở, nhưng biết đâu mười lăm năm nữa lại là một linh mục, một tu sĩ, một giáo lý viên tận tụy hay một người cha tuyệt vời của gia đình. Có một người trẻ hôm nay còn bấp bênh trong đức tin, còn nhiều thắc mắc, thậm chí có lúc phản kháng, nhưng nếu gặp được một người chịu lắng nghe thay vì vội kết án, có thể một ngày kia họ trở thành người đồng hành với biết bao người trẻ khác. Có một người đã từng sai lầm trong hôn nhân, kinh tế hay đời sống luân lý, nhưng quá khứ ấy không có quyền định nghĩa toàn bộ cuộc đời họ. Trong một cộng đoàn, đôi khi chính những người từng bị thương lại trở thành những người có khả năng chăm sóc những vết thương của người khác sâu sắc nhất, bởi họ biết đau là gì. Người từng trải qua thất bại có thể trở thành người biết cảm thông. Người từng lạc đường có thể trở thành người biết cách đi tìm người lạc. Người từng được tha thứ thường hiểu giá trị của lòng thương xót hơn người chưa bao giờ phải quỳ xuống xin một cơ hội khác.
Nhưng để nhìn thấy tiềm năng nơi người khác, người lãnh đạo cần có một đức tin rất lớn vào quyền năng của ân sủng. Nếu chỉ tin vào khả năng tự nhiên, chúng ta sẽ nhanh chóng thất vọng. Bởi con người có giới hạn thật. Có những khuyết điểm không thể sửa trong một ngày. Có những thói quen cần nhiều năm để thay đổi. Có những vết thương khiến một người phản ứng rất khó hiểu. Có những người được trao cơ hội rồi vẫn làm chúng ta thất vọng. Có người được tin tưởng nhưng lại phạm sai lầm. Có người được đào tạo nhưng tiến bộ chậm. Có người hôm nay hứa rất nhiều nhưng ngày mai lại quay về lối cũ. Nếu không có đức tin, người lãnh đạo sẽ nhanh chóng trở nên cay nghiệt: “Tôi đã nói rồi, người này không thay đổi được đâu.” Nhưng Đức Giêsu không nghĩ như thế về Phêrô. Ngài không đóng hồ sơ Phêrô vào đêm ông chối Thầy. Ngài gặp ông lại bên bờ hồ Tibêria. Không phải để kể tội, nhưng để hỏi về tình yêu: “Anh có yêu mến Thầy không?” Ba lần chối Thầy được chữa lành bằng ba lần tuyên xưng tình yêu. Và điều kỳ lạ là sau thất bại lớn nhất của Phêrô, Đức Giêsu lại trao cho ông một trách nhiệm lớn: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Đây là cách lãnh đạo của Đức Giêsu: Ngài không phủ nhận thất bại, nhưng cũng không cho phép thất bại có tiếng nói cuối cùng.
Có lẽ rất nhiều người trong chúng ta đã từng trưởng thành nhờ một ai đó không bỏ cuộc về mình. Một thầy giáo nhìn thấy trong một học sinh yếu kém một khả năng mà đứa trẻ không biết. Một người cha kiên nhẫn với đứa con nhiều lần thất bại. Một người mẹ tin con mình rồi sẽ thay đổi dù người ngoài chỉ thấy những điều đáng buồn. Một linh mục trao cho một người trẻ một trách nhiệm nhỏ và từ trách nhiệm nhỏ ấy, người trẻ khám phá ra rằng mình có thể sống hữu ích. Một bề trên không chỉ nhìn một tu sĩ qua sai sót vừa xảy ra, nhưng nhìn cả hành trình ơn gọi của người đó. Một người bạn nói với chúng ta trong lúc chính chúng ta gần như mất niềm tin: “Tôi vẫn tin anh làm được.” Đôi khi chỉ một câu nói như thế cũng đủ giữ một con người lại bên bờ vực thất vọng. Có những người đã không bỏ cuộc vì một ai đó còn tin vào họ. Và cũng có những người đã không bao giờ phát triển hết khả năng bởi vì suốt đời họ chỉ nghe người khác nói rằng họ vô dụng, bất tài, không đáng tin, không có tương lai.
Lời nói của người lãnh đạo có sức tạo dựng nhưng cũng có sức phá hủy. Khi một người có trách nhiệm nói với ai đó: “Anh chẳng bao giờ làm nên trò trống gì,” có thể câu nói ấy đi vào lòng người kia nhiều năm. Khi một linh mục nói trước cộng đoàn về một người bằng giọng miệt thị, đôi khi danh dự của người đó bị tổn thương rất lâu. Khi cha mẹ liên tục so sánh một đứa trẻ với anh chị em của nó, đứa trẻ có thể lớn lên với cảm giác mình luôn kém cỏi. Khi bề trên chỉ nhìn thấy lỗi mà không bao giờ ghi nhận sự tiến bộ, người được đào tạo dần mất động lực. Lãnh đạo không phải chỉ là giao việc. Lãnh đạo còn là sử dụng ánh mắt, lời nói và thái độ để giúp người khác nhìn thấy giá trị của mình trong ánh sáng của Thiên Chúa.
Nhưng nhìn thấy tiềm năng không có nghĩa là lãng mạn hóa con người. Đức Giêsu tin Phêrô, nhưng Ngài cũng sửa Phêrô. Có lúc Ngài nói rất mạnh: “Satan, lui lại đằng sau Thầy.” Ngài yêu các môn đệ nhưng cũng nhiều lần trách họ kém tin, chậm hiểu. Ngài không chiều chuộng sự yếu đuối. Tình yêu của Ngài không phải là một thứ dễ dãi khiến người ta cứ mãi như cũ. Trái lại, vì nhìn thấy người ta có thể trở nên tốt hơn, Ngài đòi hỏi họ bước ra khỏi tình trạng cũ. Đây là điều rất quan trọng. Tin vào tiềm năng của một người không đồng nghĩa với việc nhắm mắt trước khuyết điểm của họ. Một người lãnh đạo tốt không nói: “Không sao đâu, cứ thế cũng được.” Người lãnh đạo tốt nói bằng cả thái độ của mình: “Tôi biết anh còn có thể tốt hơn thế này, và tôi sẽ không đối xử với anh như thể anh chỉ có thể ở mãi mức này.” Sự kỳ vọng đúng đắn cũng là một hình thức của tình yêu.
Đức Giêsu gọi Simon là Phêrô trước khi Simon thật sự sống được như một tảng đá. Điều này rất đáng suy nghĩ. Ngài như gọi tên tương lai của ông. Mỗi lần nghe cái tên Phêrô, Simon được nhắc rằng đời mình còn có một ơn gọi lớn hơn tính khí thất thường hiện tại. Có thể người lãnh đạo cũng cần học nghệ thuật “gọi tên tương lai” nơi người khác. Không phải bằng những lời tâng bốc rỗng tuếch, nhưng bằng khả năng nhận ra một phẩm chất thật và khích lệ nó. Một người biết lắng nghe có thể được nói: “Anh có khả năng đồng hành với người khác.” Một người trẻ có trách nhiệm có thể được nói: “Cha nghĩ con có tố chất để dẫn một nhóm.” Một giáo lý viên còn thiếu kinh nghiệm nhưng đầy nhiệt huyết có thể được trao một phần trách nhiệm lớn dần. Một người thường xuyên âm thầm giúp đỡ người nghèo có thể được mời cộng tác trong một sứ vụ bác ái. Người lãnh đạo không chỉ phân công dựa trên những gì một người đã chứng minh; đôi lúc họ trao cơ hội dựa trên điều họ nhận ra người ấy có thể học được.
Tất nhiên, trao cơ hội luôn đi kèm rủi ro. Ai chưa làm bao giờ cũng có thể làm chưa tốt. Người mới có thể mắc lỗi. Một người được trao micro lần đầu có thể nói vấp. Một người được giao tổ chức có thể quên việc. Một giáo lý viên mới có thể đứng lớp chưa cuốn hút. Một người trẻ được giao phụ trách nhóm có thể xử lý xung đột vụng về. Nếu cứ đợi đến khi một người hoàn toàn sẵn sàng rồi mới trao trách nhiệm, có lẽ họ sẽ không bao giờ sẵn sàng. Bởi nhiều năng lực chỉ xuất hiện khi người ta được đặt vào trách nhiệm. Người ta học lãnh đạo bằng cách lãnh đạo. Người ta học giảng bằng cách bắt đầu giảng. Người ta học phục vụ bằng cách được trao việc phục vụ. Người ta học trách nhiệm bằng việc có một điều thật sự thuộc trách nhiệm của mình. Đức Giêsu cũng đào tạo các môn đệ theo cách ấy. Ngài gọi họ đến, cho họ ở với Ngài, rồi sai họ đi. Họ không đợi học xong một chương trình thần học hoàn chỉnh mới được sai đi. Họ được sai đi giữa lúc vẫn còn đang học. Sau đó họ trở về, kể lại những gì đã xảy ra, và tiếp tục được huấn luyện. Đào tạo trong Tin Mừng không chỉ diễn ra trên ghế. Nó diễn ra trên đường.
Đây là điều người lãnh đạo mục vụ rất cần lưu ý. Có khi chúng ta ôm hết việc vì nghĩ: “Để tôi làm thì nhanh hơn.” Quả thật, nhiều lúc làm một mình nhanh hơn. Nhưng nếu cứ như vậy mười năm, chúng ta sẽ có rất nhiều công việc đã hoàn tất mà rất ít con người trưởng thành. Người lãnh đạo không chỉ hỏi làm thế nào để xong việc hôm nay, mà phải hỏi ai sẽ làm được việc này ngày mai. Nếu mọi quyết định đều phải chờ một người, mọi chương trình đều lệ thuộc vào một người, mọi sáng kiến đều xuất phát từ một người, đó chưa hẳn là dấu hiệu của lãnh đạo mạnh; đôi khi đó là dấu hiệu của một hệ thống chưa biết đào tạo người khác. Đức Giêsu không xây một sứ vụ trong đó chỉ có Ngài làm mọi thứ. Ngài tạo ra những người có thể tiếp tục sứ mạng sau khi Ngài về cùng Chúa Cha. Thành công của người lãnh đạo không phải là khiến mọi người luôn cần mình. Thành công sâu xa hơn là giúp những người khác trưởng thành đến mức có thể đảm nhận trách nhiệm mà không cần mình đứng bên cạnh từng phút.
Muốn như thế, người lãnh đạo phải chấp nhận cho người khác làm theo cách không hoàn toàn giống mình. Đây là một thử thách lớn. Chúng ta thường nói muốn đào tạo người, nhưng trong thực tế lại muốn người được đào tạo làm mọi thứ y hệt mình. Nếu họ có cách khác, chúng ta thấy khó chịu. Nếu họ đưa ra một ý tưởng mình chưa nghĩ tới, chúng ta cảm thấy bị đe dọa. Nếu họ làm tốt, đôi khi trong lòng lại xuất hiện một chút ghen tị rất kín đáo. Nhưng lãnh đạo theo Đức Giêsu không phải là nhân bản chính mình thành nhiều bản sao. Mỗi tông đồ có một cá tính. Phêrô không phải Gioan. Tôma không phải Anrê. Phaolô sau này cũng không giống Phêrô. Một cộng đoàn mạnh không phải là cộng đoàn trong đó mọi người giống nhau, mà là nơi những khác biệt được quy tụ trong cùng một sứ mạng. Người lãnh đạo giỏi không bóp chết cá tính; họ giúp cá tính được thanh luyện và đặt đúng chỗ.
Có một điều nữa rất quan trọng: chúng ta thường dễ nhìn thấy tiềm năng nơi những người giống mình hơn là nơi những người khác mình. Người học nhiều thường đánh giá cao người nói năng có lý luận. Người hoạt bát thường thích người nhanh nhẹn. Người kỷ luật thường ưu ái người đúng giờ, ngăn nắp. Người thiên về nội tâm lại đánh giá cao những người trầm lặng. Nhưng Thiên Chúa không tạo ra Hội Thánh chỉ với một loại người. Có người giỏi đứng trước đám đông; có người tuyệt vời khi ngồi bên giường một bệnh nhân. Có người có khả năng tổ chức; có người có khả năng lắng nghe. Có người nhanh; có người chậm nhưng rất chắc. Có người sáng tạo; có người giữ hệ thống bền vững. Có người giỏi bắt đầu; có người giỏi hoàn tất. Có người không nói hay nhưng sống rất đáng tin. Nếu chỉ dùng một thước đo, người lãnh đạo có thể bỏ sót rất nhiều quà tặng.
Đức Giêsu đã nhìn thấy những điều mà xã hội lúc ấy không nhìn thấy. Ngài thấy phẩm giá nơi những người phong cùi. Ngài thấy lòng tin nơi những người ngoại giáo. Ngài thấy một môn đệ nơi người thu thuế. Ngài thấy một chứng nhân nơi người phụ nữ Samari. Ngài thấy sự quảng đại nơi bà góa nghèo chỉ bỏ hai đồng tiền nhỏ. Ngài thấy một người con nơi Dakêu đang bị đám đông xem là kẻ tội lỗi. Cái nhìn của Ngài không bị thống trị bởi nhãn mác xã hội. Và đây là điều Hội Thánh luôn cần học. Có bao nhiêu con người đang mang những chiếc nhãn mà cộng đoàn vô tình dán lên họ: “người ly dị”, “người bỏ lễ lâu năm”, “người từng nghiện”, “gia đình phức tạp”, “người nóng tính”, “đứa trẻ hư”, “người chống đối”, “người chẳng biết gì”, “người nghèo”, “người ít học”. Một khi đã dán nhãn, chúng ta không còn nhìn thấy người nữa; chúng ta chỉ thấy cái nhãn. Đức Giêsu tháo những chiếc nhãn ấy ra để gặp một con người cụ thể.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải tập nhìn người khác bằng một ánh mắt đủ sâu để không giản lược họ vào một biến cố. Một người đã phạm lỗi không có nghĩa toàn bộ con người họ là lỗi lầm. Một người thất bại trong một nhiệm vụ không có nghĩa họ là người thất bại. Một người không phù hợp với một công việc không có nghĩa họ vô dụng. Có thể chỉ là chúng ta đặt họ sai chỗ. Người không giỏi quản lý chưa chắc không giỏi chăm sóc. Người không nói trước công chúng được chưa chắc không có đời sống nội tâm sâu. Người không thích các chương trình đông người có thể lại rất tốt trong việc đồng hành cá nhân. Lãnh đạo không chỉ là chọn người; còn là đặt người đúng chỗ. Một hạt giống tốt đặt trên đá cũng khó mọc. Nhiều lúc vấn đề không phải con người kém, mà vì môi trường không phù hợp hoặc nhiệm vụ không đúng với quà tặng của họ.
Dĩ nhiên, nhìn thấy tiềm năng nơi người khác đòi hỏi thời gian. Chúng ta không thể hiểu một con người chỉ qua một cuộc họp. Không thể biết hết một người chỉ bằng vài lần họ mắc lỗi. Đức Giêsu đã sống với các môn đệ. Ngài đi đường với họ, ăn uống với họ, nghe họ tranh luận, thấy họ sợ hãi, chứng kiến những giây phút họ tỏa sáng và những lúc họ rất đáng thất vọng. Lãnh đạo Kitô giáo không thể chỉ diễn ra từ bàn giấy. Muốn thấy tiềm năng của một con người, phải ở gần họ đủ lâu. Phải nghe họ kể về điều họ thao thức. Phải biết điều gì khiến mắt họ sáng lên. Phải hiểu điều gì khiến họ sợ. Phải biết những vết thương nào đang làm họ co lại. Phải nhìn thấy cả những việc tốt họ làm khi không ai vỗ tay. Có những tài năng không xuất hiện trong cuộc họp, nhưng lộ ra trong lúc phục vụ. Có những người ít nói ở nơi đông người nhưng khi ngồi với một người đau khổ lại có những lời rất sâu. Nếu chỉ đánh giá con người qua các tiêu chuẩn bề ngoài, chúng ta sẽ bỏ sót nhiều điều quý giá.
Kiên nhẫn vì thế là một phẩm chất không thể thiếu. Cây không lớn bằng cách kéo thân cây lên. Người lãnh đạo không thể ép một con người trưởng thành chỉ vì mình sốt ruột. Có những tiến trình cần thời gian. Một Phêrô phải đi một quãng đường dài từ bờ hồ Galilê đến sân dinh thượng tế, rồi từ những giọt nước mắt đêm phản bội đến bờ hồ Tibêria, và cuối cùng đến một đời hiến mạng. Không thể cắt bỏ những chặng đường ấy. Một người trưởng thành không chỉ nhờ nghe những lời đúng, mà còn nhờ trải nghiệm, thất bại, cầu nguyện, được sửa dạy, được tha thứ, được trao cơ hội lần nữa. Có những bài học chỉ vấp ngã mới dạy được. Người lãnh đạo kiên nhẫn không phải vì họ xem nhẹ lỗi lầm, nhưng vì họ hiểu rằng Thiên Chúa thường làm việc theo tiến trình.
Và có lẽ một trong những điều khó nhất đối với người lãnh đạo là cho ai đó một cơ hội lần thứ hai. Cơ hội đầu tiên dễ cho hơn. Sau khi bị thất vọng, lòng chúng ta tự nhiên muốn tự bảo vệ. Nhưng Đức Giêsu là Đấng của những cơ hội mới. Phêrô được cơ hội mới. Gioan Marcô sau này từng rời Phaolô trong hành trình truyền giáo, nhưng rồi vẫn trở thành người hữu ích cho sứ vụ. Hội Thánh được xây dựng bởi vô số con người từng có lúc yếu đuối nhưng đã đứng lên. Nếu Thiên Chúa chỉ dùng những người chưa bao giờ sai, có lẽ lịch sử cứu độ sẽ rất trống. Điều này không có nghĩa là mọi người đều phải được trao lại cùng một trách nhiệm trong mọi hoàn cảnh. Sự khôn ngoan và việc bảo vệ cộng đoàn vẫn cần thiết. Nhưng trong trái tim người lãnh đạo Kitô giáo không được có sự kết án tuyệt đối rằng một người từ nay không còn giá trị gì nữa.
Người lãnh đạo nhìn thấy tiềm năng cũng phải biết phân biệt giữa tiềm năng và ảo tưởng. Không phải ai cũng thích hợp với mọi vai trò. Không phải cứ khích lệ là có thể biến bất kỳ người nào thành bất kỳ điều gì. Thiên Chúa ban các ân huệ khác nhau. Khôn ngoan là giúp một người khám phá đúng điều Thiên Chúa đã gieo vào họ, chứ không ép họ trở thành điều mình muốn. Có cha mẹ muốn con thực hiện giấc mơ của mình. Có lãnh đạo thích “đúc” người trẻ theo một khuôn. Có người nghĩ rằng vì mình giỏi một việc nên người khác cũng phải giỏi việc ấy. Nhưng lãnh đạo theo Đức Giêsu không phải là áp đặt bản thiết kế của mình lên cuộc đời người khác. Người lãnh đạo giống người làm vườn hơn là người làm công nghiệp. Người làm công nghiệp ép các sản phẩm giống nhau; người làm vườn biết cây nho khác cây ôliu, lúa khác vả, mỗi cây cần một cách chăm sóc và mỗi cây sinh một loại trái riêng.
Vì thế, câu hỏi người lãnh đạo nên đặt ra không chỉ là: “Tôi cần người này làm gì?” mà còn là: “Thiên Chúa đang làm gì nơi người này?” Đây là một câu hỏi rất khác. Nó đòi chúng ta bước ra khỏi tính thực dụng. Có khi một người đến với cộng đoàn không phải trước tiên để làm một việc cho chúng ta, nhưng để chính họ được chữa lành. Có người cần được ở trong cộng đoàn một thời gian trước khi nhận trách nhiệm. Có người đang khủng hoảng và điều họ cần không phải là thêm việc, mà là được lắng nghe. Có người đã làm rất nhiều nhưng bên trong đang cạn kiệt. Nếu chỉ nhìn con người qua năng suất, chúng ta có thể sử dụng họ đến kiệt sức. Đức Giêsu nhìn con người trước khi nhìn công việc. Ngài để các môn đệ nghỉ. Ngài hỏi người mù muốn Ngài làm gì cho anh. Ngài không biến người gặp mình thành công cụ cho chương trình của Ngài. Đây là một nền tảng rất quan trọng của lãnh đạo mục vụ: con người luôn quan trọng hơn công việc.
Một người lãnh đạo thật sự lớn không sợ người khác lớn lên. Trái lại, họ vui khi thấy người khác trưởng thành hơn mình tưởng. Gioan Tẩy Giả nói về Đức Giêsu: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Câu ấy cũng có thể trở thành một nguyên tắc của người đào tạo. Mục tiêu cuối cùng không phải để người khác mãi ngưỡng mộ chúng ta, lệ thuộc vào chúng ta, hỏi chúng ta từng chuyện. Mục tiêu là để họ lớn lên, biết tự phân định, biết gánh trách nhiệm, biết phục vụ, biết đào tạo người khác. Người lãnh đạo thành công nhất là người có thể nhìn quanh và thấy nhiều người đang trưởng thành, đang tự đứng bằng đôi chân của mình, đang trao lại cho người khác điều họ từng được trao. Một cây đại thụ rất đẹp, nhưng một khu rừng còn đẹp hơn. Một người giỏi có thể làm nhiều việc; một người biết đào tạo người khác có thể làm cho điều tốt được nhân lên qua nhiều thế hệ.
Điều này đòi hỏi một sự khiêm nhường rất lớn. Vì khi người được mình đào tạo trở nên nổi bật, có khi họ được yêu mến hơn mình, nói hay hơn mình, tổ chức tốt hơn mình, người lãnh đạo phải vui thật chứ không chỉ vui ngoài mặt. Nếu sâu xa chúng ta cần người khác nhỏ để mình cảm thấy lớn, chúng ta sẽ vô thức kìm họ lại. Có thể không bằng lời nói, nhưng bằng việc không trao cơ hội, không chia sẻ thông tin, không cho họ xuất hiện, luôn sửa quá mức cần thiết hoặc làm họ cảm thấy rằng không có mình thì họ chẳng làm được gì. Đó không phải là đào tạo. Đó là tạo sự lệ thuộc. Đức Giêsu không làm như vậy. Ngài nói với các môn đệ rằng họ sẽ làm những việc còn lớn lao. Ngài trao sứ mạng cho họ. Ngài tin tưởng đặt Tin Mừng trong tay những con người rất mong manh. Một Thiên Chúa dám trao sứ mạng của mình cho con người cho thấy Ngài tin con người đến mức nào.
Nhưng không phải ai được tin cũng đáp lại. Giuđa là một sự thật đau đớn. Đức Giêsu đã gọi, đã đồng hành, đã trao trách nhiệm, đã rửa chân cho ông, nhưng cuối cùng ông vẫn chọn con đường phản bội. Điều ấy nhắc người lãnh đạo rằng tin vào tiềm năng không bảo đảm mọi câu chuyện sẽ có kết thúc như ta mong muốn. Chúng ta không thể cứu thay người khác. Không thể thay họ tự do đáp lại ân sủng. Có những đầu tư không sinh hoa trái như mong đợi. Có những người chúng ta đã kiên nhẫn rất lâu vẫn chọn rời đi. Có người lợi dụng lòng tin. Điều ấy đau. Nhưng thất bại của một vài tương quan không được phép làm trái tim người lãnh đạo trở nên chai cứng với tất cả những người còn lại. Đức Giêsu biết Giuđa phản bội nhưng Ngài không vì thế mà ngừng tin Phêrô, Gioan, Tôma hay những người khác.
Trong đời mục vụ, có lẽ chúng ta cần thường xuyên tự hỏi: có ai quanh mình mà mình đã vô tình đóng khung không? Có người nào mình chỉ còn nhìn bằng lỗi lầm cũ của họ? Có người trẻ nào mình từng kết luận quá nhanh rằng “không nên chuyện”? Có cộng tác viên nào mình chỉ nhìn thấy khuyết điểm mà quên những điều tốt họ đã âm thầm làm? Có người nào cần một cơ hội mà mình chưa bao giờ trao vì họ không thuộc “nhóm quen”? Có ai có năng lực nhưng không được phát triển chỉ vì mình sợ mất kiểm soát? Và ngược lại, có ai đang được giao sai việc chỉ vì mình chưa thật sự hiểu họ? Những câu hỏi ấy đôi khi khó chịu, nhưng rất cần thiết.
Lãnh đạo bằng việc nhìn thấy tiềm năng nơi người khác cuối cùng là một hành vi của hy vọng. Hy vọng rằng một con người còn có thể thay đổi. Hy vọng rằng ân sủng mạnh hơn quá khứ. Hy vọng rằng hạt giống nhỏ có thể thành cây. Hy vọng rằng một người đang chậm hiểu hôm nay có thể trở thành người hướng dẫn người khác ngày mai. Hy vọng rằng người từng gục ngã có thể đứng lên. Hy vọng rằng Thiên Chúa chưa hoàn tất công trình nơi bất cứ ai đang còn trên đường. Người lãnh đạo mất hy vọng về con người sẽ dần chỉ còn quản lý. Người lãnh đạo còn hy vọng sẽ tiếp tục đào tạo.
Có lẽ một trong những món quà lớn nhất chúng ta có thể trao cho một người không phải là giải quyết mọi vấn đề của họ, nhưng là giúp họ nhìn thấy điều Thiên Chúa đã đặt trong họ. Nói với một người trẻ: “Con có thể sống một cuộc đời đẹp hơn điều con đang nghĩ.” Nói với một người từng thất bại: “Quá khứ của anh không phải là chương cuối.” Nói với một người nhút nhát: “Anh có một điều để trao.” Nói với người đang nản: “Tôi thấy sự tiến bộ của anh.” Nói với người đang tập phục vụ: “Cứ tiếp tục, chưa hoàn hảo không có nghĩa là không có ơn gọi.” Có những câu nói không thay đổi cuộc đời ngay lập tức, nhưng chúng gieo một hạt giống. Và đôi khi nhiều năm sau, hạt giống ấy mới nảy mầm.
Đức Giêsu đã làm như vậy với các môn đệ. Ngài thấy những tông đồ trong những người đánh cá. Ngài thấy tảng đá trong một Simon đầy bất ổn. Ngài thấy chứng nhân trong một người phụ nữ bị xã hội dè bỉu. Ngài thấy người môn đệ trong người thu thuế. Ngài thấy những gì con người chưa thấy. Rồi Ngài không chỉ nói về tiềm năng ấy; Ngài dành đời mình để đào tạo họ. Ngài ở với họ, sửa họ, giải thích lại, trao cơ hội, chịu đựng sự chậm hiểu, tha thứ những vấp ngã, rồi lại trao trách nhiệm. Đây là điểm mà người lãnh đạo hôm nay cần học sâu nhất: nhìn thấy tiềm năng chỉ là khởi đầu. Nếu thật sự tin vào tiềm năng của ai đó, chúng ta phải sẵn sàng trả giá bằng thời gian. Không có đào tạo nào chỉ bằng lời khen. Đào tạo là đồng hành. Là có mặt. Là nói sự thật khi cần. Là không bỏ người ta giữa chừng chỉ vì tiến trình chậm hơn mình mong đợi.
Một Phêrô không được hình thành trong một ngày. Một Matthêu không từ bàn thu thuế trở thành tông đồ chỉ bằng một khẩu hiệu. Các môn đệ không từ những người ngư phủ trở thành những người thay đổi thế giới nhờ một khóa huấn luyện ngắn. Họ được hình thành bởi những năm tháng sống bên Đức Giêsu, nghe Ngài, quan sát Ngài, bị Ngài sửa, được Ngài tin, được Ngài sai đi, trở về, lại học, lại thất bại, lại đứng lên. Lãnh đạo con người luôn chậm hơn quản lý công việc. Nhưng những gì được xây bằng con người sẽ bền hơn những gì chỉ được xây bằng chương trình.
Có thể chúng ta sẽ không bao giờ biết hết hoa trái của một lần mình tin một người. Người thiếu niên được giao một việc nhỏ hôm nay có thể ba mươi năm sau trở thành người dìu dắt hàng ngàn người. Một lời khích lệ có thể nằm trong lòng ai đó suốt đời. Một cơ hội được trao đúng lúc có thể đổi hướng một ơn gọi. Một lần không kết án có thể giữ một người ở lại với Hội Thánh. Một lần lắng nghe có thể ngăn một người bỏ cuộc. Người lãnh đạo không phải lúc nào cũng được thấy mùa gặt của những hạt giống mình gieo. Nhưng điều đó không làm cho việc gieo trở nên vô nghĩa.
Và nếu có lúc chúng ta thấy khó tin vào một người, hãy nhớ rằng Thiên Chúa cũng từng nhìn chúng ta bằng cái nhìn ấy. Chúng ta có mặt hôm nay không phải vì luôn hoàn hảo. Có lẽ trong cuộc đời mỗi người đều có những giai đoạn rất đáng thất vọng. Có những lần chúng ta sai, chậm hiểu, ích kỷ, yếu đuối, sợ hãi. Nhưng Thiên Chúa không bỏ cuộc. Ngài kiên nhẫn. Ngài gọi lại. Ngài mở một cánh cửa khác. Ngài dùng cả những thất bại để dạy chúng ta. Nếu hôm nay ta có thể phục vụ, có thể lãnh đạo, có thể giúp người khác, đó cũng là vì đã có lúc Thiên Chúa nhìn thấy nơi ta điều mà chính ta chưa thấy. Người lãnh đạo Kitô giáo không trao cho người khác điều gì xa lạ; họ chỉ tiếp tục trao đi cái nhìn mà chính mình đã nhận được từ Thiên Chúa.
Bởi vậy, lãnh đạo bằng việc nhìn thấy tiềm năng nơi người khác không phải là một kỹ thuật nhân sự. Nó là một linh đạo. Đó là học nhìn con người bằng ánh mắt của Đức Kitô. Ánh mắt không ngây thơ nhưng đầy hy vọng. Ánh mắt thấy rõ yếu đuối nhưng không tuyệt vọng. Ánh mắt biết sự thật mà vẫn yêu. Ánh mắt không phủ nhận quá khứ nhưng mở ra tương lai. Ánh mắt không hỏi trước hết: “Người này làm được gì cho tôi?” mà hỏi: “Thiên Chúa có thể làm gì nơi người này, và tôi có thể cộng tác với Ngài thế nào?”
Một cộng đoàn được dẫn dắt bởi những con người có ánh mắt như thế sẽ trở thành một nơi rất đẹp. Người trẻ không sợ thử. Người thất bại không sợ đứng lên. Người mới không sợ mình vụng về. Người có quá khứ không bị nhốt mãi trong quá khứ. Người tài năng không bị kiềm chế. Người yếu đuối không bị loại bỏ. Mọi người biết rằng họ vừa được yêu như họ đang là, vừa được mời gọi trở thành điều tốt đẹp hơn. Đó chính là môi trường mà con người có thể lớn lên.
Ngược lại, một cộng đoàn nơi người ta luôn sợ sai sẽ dần không còn sáng tạo. Một tổ chức nơi chỉ một vài “người giỏi” được làm mọi việc sẽ dần cạn người. Một cộng đoàn nơi sai lầm bị ghi nhớ lâu hơn điều tốt sẽ làm con người co lại. Một môi trường nơi người lãnh đạo không tin ai sẽ cuối cùng chỉ còn những người không dám làm gì. Khi người ta biết rằng bất cứ sai sót nào cũng có thể trở thành cái nhãn gắn cả đời, họ sẽ chọn an toàn thay vì dấn thân. Đức Giêsu không tạo ra một môi trường như thế. Các môn đệ của Ngài đã sai rất nhiều, nhưng họ vẫn tiếp tục được học.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu vì thế là nghệ thuật thấy một Phêrô đang ẩn trong Simon, thấy một Matthêu đang ẩn sau bàn thu thuế, thấy một nhà truyền giáo đang ẩn trong người phụ nữ Samari, thấy một chứng nhân đang ẩn trong người từng nghi ngờ như Tôma, thấy một tương lai mà người khác chưa thấy. Không phải vì chúng ta ảo tưởng về con người, nhưng vì chúng ta tin vào Thiên Chúa. Chính Ngài là Đấng có thể lấy một con người rất bình thường để làm một điều phi thường, miễn là con người ấy sẵn sàng để Ngài đào tạo.
Vậy nên, khi đứng trước một con người còn nhiều khuyết điểm, xin đừng hỏi quá nhanh: “Tại sao người này lại như thế?” Hãy thử hỏi thêm: “Người này có thể trở thành ai?” Khi một người trẻ làm chưa tốt, đừng chỉ hỏi: “Sao con làm dở vậy?” Hãy hỏi: “Con cần học gì để lần sau làm tốt hơn?” Khi một cộng tác viên thất bại, đừng chỉ tìm người thay thế; hãy phân định xem thất bại ấy là dấu chấm hết hay chỉ là một bài học. Khi một người làm chúng ta thất vọng, đừng quên rằng Đức Giêsu từng có cả một nhóm môn đệ làm Ngài thất vọng rất nhiều lần, nhưng Ngài vẫn tiếp tục yêu và đào tạo họ.
Người lãnh đạo lớn không phải là người tập hợp quanh mình toàn những người hoàn hảo. Người lãnh đạo lớn là người góp phần làm cho những con người bình thường trở nên tốt hơn, tự do hơn, trưởng thành hơn, có trách nhiệm hơn và gần Thiên Chúa hơn. Di sản lớn nhất của một người lãnh đạo không phải là những tòa nhà họ xây, những chương trình họ tổ chức hay những con số họ đạt được. Di sản thật sự là những con người đã trưởng thành vì từng được họ tin tưởng, đào tạo và trao cơ hội.
Đức Giêsu đã không để lại một cơ cấu đồ sộ theo nghĩa trần thế. Ngài để lại những con người. Những con người từng yếu đuối. Từng sợ. Từng tranh giành. Từng bỏ chạy. Nhưng cũng chính những con người ấy, sau khi được Ngài yêu, đào tạo, tha thứ và trao Thánh Thần, đã đi ra và thay đổi thế giới.
Có lẽ đó là lời nhắc mạnh nhất cho bất cứ ai đang mang trách nhiệm lãnh đạo: đừng chỉ xây công việc, hãy xây con người. Đừng chỉ tìm người giỏi, hãy đào tạo người có thể trưởng thành. Đừng chỉ nhìn điều người khác đang thiếu; hãy nhìn điều Thiên Chúa đã âm thầm gieo trong họ. Đừng vội kết luận một đời người khi Thiên Chúa còn đang viết tiếp.
Bởi vì ở đâu chúng ta chỉ thấy Simon, Đức Giêsu có thể đang thấy Phêrô.
Ở đâu chúng ta chỉ thấy một bàn thu thuế, Đức Giêsu có thể đang thấy một Matthêu.
Ở đâu chúng ta chỉ thấy một người phụ nữ mang một quá khứ đổ vỡ, Đức Giêsu có thể đang thấy một người chạy về làng và kéo cả làng đến gặp Ngài.
Và ở đâu chúng ta chỉ thấy những con người rất bình thường, Thiên Chúa có thể đang nhìn thấy những người sẽ làm những điều mà hôm nay chưa ai dám tưởng tượng.
Đó là lý do người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải có đôi mắt của hy vọng, trái tim của người đào tạo, sự kiên nhẫn của người gieo giống và đức tin của người biết rằng công trình lớn nhất nơi một con người không phải do mình làm nên. Chúng ta chỉ vun trồng, tưới nước, nâng đỡ, sửa dạy, trao cơ hội. Thiên Chúa mới là Đấng làm cho lớn lên.
Và có lẽ, vào cuối đời, niềm vui lớn nhất của một người lãnh đạo không phải là có thể nói: “Tôi đã làm được rất nhiều,” nhưng là có thể nhìn những con người đang tiếp tục phục vụ, tiếp tục yêu thương, tiếp tục dẫn dắt những thế hệ khác và âm thầm thưa với Chúa: “Lạy Chúa, những người này ngày trước còn rất mong manh. Con chỉ cố gắng tin họ thêm một chút, kiên nhẫn với họ thêm một chút, trao cho họ thêm một cơ hội. Phần còn lại, chính Chúa đã làm.”
Đó là lãnh đạo theo Đức Giêsu.
Đó là nhìn một con người không chỉ bằng đôi mắt, nhưng bằng đức tin.
Đó là nhìn hiện tại mà vẫn thấy tương lai.
Đó là gặp một Simon nhưng đã bắt đầu yêu mến một Phêrô đang thành hình.
Và đó cũng là một trong những cách đẹp nhất để người lãnh đạo trở thành người cộng tác với Thiên Chúa trong công trình làm cho con người lớn lên.
CHƯƠNG 4: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC TRAO QUYỀN VÀ TIN TƯỞNG
Có một cám dỗ rất âm thầm nhưng rất mạnh nơi người lãnh đạo, đó là nghĩ rằng nếu mình không có mặt thì công việc sẽ không chạy, nếu mình không quyết định thì mọi sự sẽ rối, nếu mình không kiểm soát thì người khác sẽ làm sai, và nếu trao cho người khác quá nhiều quyền thì một ngày nào đó chính mình sẽ trở nên không còn cần thiết nữa. Cám dỗ ấy có thể khoác rất nhiều chiếc áo đẹp. Nó có thể mang tên “trách nhiệm”, mang tên “cẩn thận”, mang tên “bảo vệ công việc chung”, mang tên “giữ chất lượng”, thậm chí mang tên “hy sinh”. Người lãnh đạo có thể làm việc từ sáng đến khuya, ôm hết việc này sang việc khác, tự mình trả lời mọi câu hỏi, tự mình ký mọi giấy tờ, tự mình quyết định mọi chuyện, tự mình can thiệp vào từng chi tiết nhỏ, rồi nghĩ rằng mình đang tận tụy vì cộng đoàn. Nhưng có khi đằng sau sự tận tụy ấy lại là một nỗi sợ rất sâu: sợ người khác không làm được như mình, sợ người khác làm khác mình, sợ họ sai, sợ họ thành công hơn mình, sợ mất ảnh hưởng, sợ mất vị trí, sợ một ngày nào đó người ta nhận ra rằng công việc vẫn có thể tiếp tục mà không cần đến mình. Đức Giêsu không lãnh đạo như thế. Một trong những vẻ đẹp lớn lao nhất nơi cách Ngài đào tạo các môn đệ chính là Ngài dám trao. Ngài trao công việc, trao trách nhiệm, trao quyền, trao niềm tin, trao cả tương lai của sứ mạng vào tay những con người mà nếu xét theo tiêu chuẩn thông thường, chẳng ai dám đặt cược quá nhiều. Những người ấy không phải là một nhóm chuyên gia được tuyển chọn sau những vòng phỏng vấn nghiêm ngặt. Họ là những ngư phủ, người thu thuế, những con người nóng nảy, tranh giành, hiểu chậm, có lúc cứng lòng, có lúc sợ hãi, có lúc bỏ chạy. Vậy mà Đức Giêsu vẫn sai họ đi. Ngài không đợi cho họ hoàn hảo mới giao việc. Ngài không đợi cho họ hiểu hết thần học Nước Trời mới cho họ rao giảng. Ngài không đợi cho tính tình của Phêrô được sửa hết mới để ông đứng trong Nhóm Mười Hai. Ngài không đợi cho Gioan và Giacôbê hết tham vọng mới cho họ tham dự vào sứ mạng. Ngài biết rất rõ những giới hạn của họ, nhưng Ngài cũng biết một điều sâu xa hơn: con người chỉ trưởng thành khi được tin tưởng và được trao trách nhiệm.
Tin Mừng kể rằng Đức Giêsu gọi Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế và sai các ông đi từng hai người một. Chi tiết ấy thật đẹp. Ngài không nói: “Các anh cứ đi theo Thầy thêm mười năm nữa, quan sát cho thật kỹ, đến khi không còn khả năng sai nữa rồi Thầy mới cho làm.” Ngài trao việc ngay trong quá trình đào tạo. Có nghĩa là chính khi thi hành sứ mạng, các môn đệ mới được lớn lên. Chính khi bước ra khỏi vùng an toàn, họ mới biết mình yếu ở đâu, thiếu ở đâu, cần Chúa thế nào. Nếu Đức Giêsu cứ giữ họ mãi bên cạnh mình, để họ chỉ nghe, chỉ nhìn, chỉ vỗ tay trước những phép lạ của Thầy, có lẽ họ sẽ trở thành những khán giả đạo đức chứ không bao giờ trở thành những tông đồ. Ngài muốn họ tự bước đi, tự đối diện với con người, tự gặp thất bại, tự nếm cảm niềm vui khi thấy Tin Mừng sinh hoa trái. Ngài trao quyền chữa bệnh, trừ quỷ, rao giảng; nghĩa là Ngài không chỉ giao cho họ những công việc vụn vặt, không chỉ bảo họ lo hậu cần, chuẩn bị chỗ ăn ngủ hay giữ trật tự đám đông. Ngài trao cho họ một phần chính công việc mà Ngài đang làm. Đây là điều đáng suy nghĩ cho bất cứ ai đang có trách nhiệm trên người khác. Có những người lãnh đạo nói rằng họ muốn đào tạo người kế thừa, nhưng việc quan trọng thì họ vẫn giữ. Họ giao cho người khác những gì ít rủi ro, ít ảnh hưởng, ít có khả năng tạo dấu ấn; còn những điều thật sự quyết định thì họ nắm chặt. Như thế chưa phải là trao quyền. Trao quyền thật là dám cho người khác được bước vào vùng trách nhiệm thực sự, được quyền quyết định trong phạm vi của họ, được quyền thử sức, được quyền sáng tạo, và cũng được quyền mắc sai lầm.
Sai lầm là điều mà nhiều người lãnh đạo rất sợ. Có người thà làm hết còn hơn để người khác làm rồi phải sửa. Xét trong ngắn hạn, điều ấy có vẻ hợp lý. Làm một mình có thể nhanh hơn, ít lỗi hơn, đúng ý hơn. Nhưng xét trong dài hạn, đó là một lối lãnh đạo làm cho mọi người xung quanh yếu đi. Một cộng đoàn mà mọi việc đều phải chờ người đứng đầu sẽ trở thành cộng đoàn không có khả năng tự đứng. Một nhóm mà mọi sáng kiến đều cần được cấp trên nghĩ trước sẽ dần mất sức sáng tạo. Một người cộng tác mà mọi quyết định đều bị kiểm tra từng chút sẽ sớm học cách không quyết định gì cả. Và cuối cùng, người lãnh đạo sẽ than rằng: “Sao chẳng ai có trách nhiệm? Sao chẳng ai chủ động? Sao cái gì cũng phải hỏi tôi?” Nhưng đôi khi chính cách lãnh đạo của họ đã tạo nên điều họ đang phàn nàn. Nếu suốt nhiều năm, người ta bị dạy rằng chỉ có một người được phép nghĩ, một người được phép quyết, một người được phép sai, thì làm sao những người còn lại có thể trưởng thành?
Đức Giêsu thì khác. Ngài chấp nhận cái giá của việc đào tạo con người. Và cái giá ấy bao gồm cả những lần học trò làm chưa tốt. Tin Mừng không che giấu những thất bại của các môn đệ. Có lần họ không trừ được quỷ. Có lần họ tranh cãi xem ai là người lớn nhất. Có lần họ muốn xin lửa từ trời xuống thiêu hủy một làng Samari vì người ta không đón tiếp Thầy trò. Có lần họ hiểu hoàn toàn sai về con đường của Đức Giêsu. Phêrô còn kéo riêng Thầy ra mà can ngăn khi nghe Ngài nói về thập giá. Đến giờ phút nguy nan nhất, chính những người từng được trao quyền ấy lại bỏ chạy. Phêrô chối Thầy ba lần. Tôma không tin lời các anh em. Nhóm môn đệ đóng kín cửa vì sợ. Nếu Đức Giêsu lãnh đạo theo kiểu đánh giá nhân sự hiện đại một cách lạnh lùng, có lẽ hồ sơ của Nhóm Mười Hai sau ba năm đào tạo không đẹp chút nào. Nhưng điều lạ lùng là Ngài không thu lại niềm tin. Sau Phục Sinh, thay vì nói: “Thầy đã lầm khi tin các anh”, Đức Giêsu lại trao nhiều hơn. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Câu nói ấy gần như khiến chúng ta phải kinh ngạc. Ngài đặt sứ mạng của các môn đệ trong chính dòng sứ mạng của mình. Cha sai Thầy thế nào, Thầy sai anh em như vậy. Không còn là vài chuyến thực tập truyền giáo nữa. Đây là việc tiếp nối công trình của Đức Kitô giữa trần gian. Và những người nhận sứ mạng ấy lại chính là những người vừa mới thất bại cách không lâu. Điều đó cho thấy Đức Giêsu nhìn con người không chỉ bằng lịch sử những lần họ vấp ngã, nhưng bằng tương lai mà ân sủng có thể tạo nên nơi họ.
Đây là một bài học lớn cho lãnh đạo Kitô giáo: đừng đóng khung một con người trong một lần họ làm sai. Có những người chỉ vì một lỗi lầm mà bị mất niềm tin suốt nhiều năm. Họ được tha bằng lời nhưng không bao giờ được trao lại trách nhiệm. Người ta nói với họ rằng chuyện cũ đã qua, nhưng mỗi lần cần chọn người làm việc quan trọng, lỗi cũ lại âm thầm trở về như một bản án. Có người sau một lần thất bại thì suốt đời chỉ được làm những việc bên lề, vì người lãnh đạo không còn dám tin nữa. Cách ấy có thể giữ cho tổ chức an toàn, nhưng không giống cách Đức Giêsu phục hồi con người. Ngài không phủ nhận lỗi của Phêrô. Ngài cũng không nói rằng ba lần chối Thầy chẳng có gì nghiêm trọng. Nhưng bên bờ hồ Tibêria, Ngài hỏi Phêrô ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” và sau mỗi câu trả lời lại là một lần trao phó: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Thật đáng suy nghĩ: nơi chính vết thương của sự phản bội, Đức Giêsu dựng lại một con người bằng một trách nhiệm mới. Ngài không chỉ chữa lành Phêrô bằng sự tha thứ; Ngài chữa lành ông bằng sự tín nhiệm. Có những vết thương trong lòng con người chỉ được chữa khi người ấy biết rằng mình vẫn còn được tin.
Người lãnh đạo giỏi không phải là người không bao giờ cần đến ai. Ngược lại, một trong những dấu hiệu cho thấy người lãnh đạo đã trưởng thành là họ biết làm cho người khác trở nên có khả năng đảm nhận công việc mà trước kia chỉ mình họ làm được. Một người cha tốt không giữ con cái mãi lệ thuộc vào mình. Một người thầy tốt không vui khi học trò suốt đời phải hỏi mình từng câu. Một người mục tử tốt không xây một cộng đoàn mà khi mình rời đi thì tất cả sụp đổ. Nếu sau nhiều năm lãnh đạo mà mọi thứ vẫn chỉ vận hành khi người lãnh đạo có mặt, đó có thể là dấu hiệu của sự tận tụy, nhưng cũng có thể là dấu hiệu của một hệ thống chưa trưởng thành. Lãnh đạo không phải là làm cho mình trở nên không thể thay thế. Lãnh đạo là làm cho sứ mạng có thể tiếp tục vượt quá sự hiện diện của mình. Đức Giêsu chỉ thi hành sứ vụ công khai trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng Ngài đào tạo những người có thể tiếp tục sứ mạng khi Ngài không còn hiện diện hữu hình. Đó là một dấu chỉ tuyệt vời về sức mạnh của lãnh đạo biết trao quyền.
Điều đáng chú ý hơn nữa là Đức Giêsu không chỉ trao việc, Ngài trao quyền. Hai điều ấy khác nhau. Giao việc có thể chỉ là: “Anh làm điều tôi đã nghĩ, theo cách tôi đã quy định, trong thời gian tôi đã tính, và trước mỗi bước anh phải hỏi tôi.” Người nhận việc chỉ là cánh tay kéo dài của người giao. Còn trao quyền là nói: “Đây là sứ mạng. Anh hiểu tinh thần, hiểu mục tiêu, hiểu những giới hạn cần thiết; bây giờ anh hãy dùng những khả năng Chúa ban để thực hiện.” Người được trao quyền không còn chỉ làm bằng đôi tay, nhưng bắt đầu làm bằng đầu óc, bằng trái tim, bằng trách nhiệm và sáng kiến của chính mình. Đức Giêsu cho các môn đệ những chỉ dẫn rõ ràng, nhưng Ngài không biến họ thành những chiếc máy. Ngài sai họ đi vào những vùng đất thật, gặp những con người thật, đối diện với những tình huống thật. Họ phải học cách ứng xử. Họ phải phân định. Họ phải chịu trách nhiệm về điều mình làm. Khi trở về, họ kể lại cho Đức Giêsu những gì đã xảy ra. Đó là một tiến trình rất đẹp: được sai đi, được hành động, rồi trở về để chia sẻ, để học, để điều chỉnh, để được nghỉ ngơi. Đây chính là hình ảnh của việc trao quyền đi đôi với đồng hành.
Bởi vì trao quyền không phải là ném người khác xuống nước rồi đứng trên bờ xem họ có bơi được không. Một số người nhân danh “tin tưởng” nhưng thật ra là buông. Họ giao việc rồi mất hút. Không hướng dẫn, không cung cấp nguồn lực, không hỏi thăm, không lắng nghe, đến khi có sự cố thì lập tức trách: “Tôi đã tin anh mà anh làm thế à?” Đó không phải là cách Đức Giêsu trao quyền. Ngài ở với các môn đệ trước khi sai họ. Họ đã nhìn thấy cách Ngài cầu nguyện, cách Ngài giảng dạy, cách Ngài tiếp xúc với người nghèo, người bệnh, người tội lỗi, cách Ngài đối diện chống đối. Nghĩa là việc trao quyền được đặt trên nền của một quá trình sống chung và học cùng Thầy. Ngài trao cho họ quyền năng, chỉ dẫn họ phải đi thế nào, mang gì, nói gì, ứng xử ra sao khi được đón tiếp hay bị từ chối. Khi họ trở về, Ngài lắng nghe. Khi họ thất bại, Ngài giải thích. Khi họ mệt, Ngài bảo: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Khi họ sợ, Ngài củng cố. Khi họ bỏ chạy, Ngài tìm lại. Khi họ mất phương hướng, Ngài hiện ra. Như thế, trao quyền không đối lập với đồng hành. Càng trao trách nhiệm lớn, càng cần một sự hiện diện khôn ngoan.
Khó nhất trong việc trao quyền có lẽ không phải là giao việc, nhưng là chấp nhận người khác sẽ làm khác mình. Đây là một thử thách rất thật. Người lãnh đạo thường đã có nhiều kinh nghiệm. Họ biết một cách làm đã từng hiệu quả. Vì thế, khi thấy người trẻ hơn chọn con đường khác, họ dễ nghĩ rằng đó là sai. Nhưng “khác tôi” không đồng nghĩa với “sai”. Có khi người cộng tác làm một việc không theo cách ta quen nhưng vẫn đạt mục tiêu, thậm chí tốt hơn. Nếu người lãnh đạo chỉ chấp nhận một kiểu làm, cộng đoàn sẽ không bao giờ có sáng tạo. Một khu vườn chỉ có một loại cây thì có thể rất ngay ngắn, nhưng không phong phú. Thiên Chúa ban cho mỗi người những đặc sủng khác nhau. Có người giỏi tổ chức, người khác giỏi lắng nghe. Có người nhạy bén với công nghệ, người khác có chiều sâu thiêng liêng. Có người nói rất hay, người khác ít nói nhưng làm bền bỉ. Có người nhìn thấy toàn cảnh, người khác rất giỏi chi tiết. Lãnh đạo không phải là biến tất cả thành bản sao của mình. Lãnh đạo là giúp từng người đem đúng quà tặng của họ phục vụ một sứ mạng chung.
Nhiều cộng đoàn nghèo nhân sự không phải vì thiếu người có khả năng, nhưng vì khả năng của họ chưa bao giờ được gọi tên và trao chỗ để phát triển. Có người trẻ có sáng kiến nhưng mỗi lần đề xuất đều nghe: “Xưa nay chúng ta vẫn làm thế này.” Sau vài lần, họ im. Có người muốn dấn thân nhưng mỗi lần nhận việc đều bị sửa từng chi tiết, đến mức cuối cùng họ nghĩ tốt nhất cứ chờ lệnh. Có người có năng lực lãnh đạo nhưng người đứng đầu cảm thấy bị đe dọa, nên chỉ giao những việc nhỏ. Có người làm rất tốt nhưng chẳng bao giờ được công nhận vì người lãnh đạo sợ họ “tự cao”. Lâu dần, một cộng đoàn có thể có rất nhiều người tốt nhưng rất ít người trưởng thành. Đức Giêsu thì không sợ các môn đệ lớn lên. Ngài muốn họ lớn. Ngài còn nói một câu rất mạnh: “Ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm; người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.” Một nhà lãnh đạo thế gian có thể bất an khi nghe cấp dưới của mình sẽ làm những điều lớn hơn. Đức Giêsu thì vui vì điều đó. Đây là một sự tự do nội tâm hiếm có: không cần mình luôn là người giỏi nhất trong phòng; không cần mọi thành công phải mang dấu tay của mình; không cần mọi người nhắc tên mình; không thấy bị đe dọa khi người khác tỏa sáng.
Muốn trao quyền được, người lãnh đạo phải có một căn tính vững. Khi một người biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa, họ không cần bám vào quyền lực để xác nhận giá trị của mình. Họ có thể trao mà không cảm thấy mình mất. Họ có thể thấy người khác thành công mà không ghen. Họ có thể để người trẻ bước lên mà không cảm thấy bị đẩy xuống. Họ có thể nghe một ý tưởng tốt hơn ý của mình mà không thấy nhục. Họ có thể nói: “Cách của anh hay hơn, cứ làm đi.” Đó là một dấu hiệu của tự do. Ngược lại, người lãnh đạo càng bất an bên trong càng dễ kiểm soát bên ngoài. Họ cần biết mọi chuyện, cần được hỏi mọi quyết định, cần tên mình xuất hiện trong mọi thành công, cần người khác xin phép cả những điều rất nhỏ. Không phải lúc nào họ cũng cố tình độc đoán; nhiều khi đó chỉ là nỗi sợ đang điều khiển. Nhưng nếu không nhìn ra nỗi sợ ấy, họ có thể làm nghẹt sức sống của cả cộng đoàn.
Quyền lực trong Tin Mừng không phải là một chiếc bánh càng chia thì mình càng ít. Trong logic của Đức Giêsu, quyền lực để phục vụ càng được chia sẻ thì sứ mạng càng lớn lên. Nếu chỉ một người được quyền làm, sức mạnh của cả nhóm bị giới hạn trong sức của một người. Nhưng nếu mười người được đào tạo và trao quyền, khả năng phục vụ tăng lên gấp nhiều lần. Chính vì thế Đức Giêsu sai nhóm Mười Hai, rồi sau đó còn sai bảy mươi hai môn đệ. Nước Thiên Chúa không được xây bằng một cá nhân làm tất cả, nhưng bằng một cộng đoàn được đánh thức. Giáo Hội ngay từ đầu đã sống nhờ nguyên tắc này. Các tông đồ không giữ mọi việc. Khi cộng đoàn lớn lên và nảy sinh nhu cầu phục vụ bàn ăn, họ chọn những người khác để đảm nhận, còn họ chuyên cần cầu nguyện và phục vụ Lời. Đây không phải là coi nhẹ công việc phục vụ, nhưng là nhận ra rằng sứ mạng chỉ lớn lên khi trách nhiệm được phân chia cách khôn ngoan.
Trong đời sống giáo xứ cũng thế. Một cha xứ có thể làm mọi việc: chọn bài hát, duyệt hoa bàn thờ, quyết định chương trình thiếu nhi, kiểm tra tài chính, lo truyền thông, sắp xếp lễ nghi, tổ chức bác ái, hướng dẫn từng hội đoàn, theo dõi từng công trình. Làm như thế có thể tạo cảm giác rất chắc chắn. Nhưng câu hỏi cần đặt ra là: sau năm năm, mười năm, những người giáo dân chung quanh đã trưởng thành hơn chưa? Họ có biết tự tổ chức không? Họ có dám quyết định trong trách nhiệm được giao không? Họ có cảm thấy đây là Giáo Hội của họ, là sứ mạng của họ, hay chỉ là “việc của cha” mà họ phụ giúp? Công đồng Vaticanô II nhắc mạnh đến trách nhiệm và phẩm giá của mọi thành phần Dân Chúa. Người giáo dân không chỉ là người thực hiện các chỉ dẫn của hàng giáo sĩ. Họ có ơn gọi, đặc sủng, trách nhiệm tông đồ từ chính Bí tích Rửa tội. Nếu lãnh đạo trong Giáo Hội không biết trao chỗ cho ơn gọi ấy phát triển, chúng ta có thể vô tình biến một cộng đoàn môn đệ thành một đám đông khán giả.
Trao quyền không có nghĩa là ai muốn làm gì thì làm. Tin tưởng không có nghĩa là không có nguyên tắc. Đức Giêsu rất tin các môn đệ nhưng Ngài cũng rất rõ về sứ mạng. Ngài cho họ biết phải rao giảng điều gì. Ngài sửa họ khi họ đi sai tinh thần. Khi Gioan và Giacôbê muốn xin lửa từ trời xuống, Ngài quở trách. Khi Phêrô muốn ngăn con đường thập giá, Ngài sửa rất mạnh. Như vậy, người lãnh đạo trao quyền phải làm rõ ba điều: mục tiêu là gì, những giá trị nào không được đánh mất, và đâu là phạm vi tự do của người được giao. Nếu không rõ những điều ấy, việc trao quyền dễ trở thành hỗn loạn. Một cộng đoàn trưởng thành không phải là nơi không có lãnh đạo, nhưng là nơi lãnh đạo tạo ra một khung đủ rõ để người khác có thể tự do hành động bên trong.
Có thể hình dung cách đơn giản thế này: người lãnh đạo không nên cầm tay người khác mãi, nhưng cũng không nên đẩy họ ra giữa đường mà không cho bản đồ. Cần cho họ biết điểm đến, những nguyên tắc căn bản, những giới hạn cần tôn trọng; rồi để họ tự chọn nhiều bước đi. Nếu mỗi khi họ rẽ hơi khác dự tính ta lập tức kéo lại, họ sẽ không bao giờ học phân định. Sự trưởng thành chỉ đến khi một người có không gian để chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình.
Và đương nhiên, sẽ có những lần họ chọn sai. Lúc ấy, phản ứng của người lãnh đạo rất quan trọng. Nếu cứ mỗi sai lầm lại bị làm nhục, bị nhắc lại mãi, bị lấy làm bằng chứng rằng “tôi đã nói rồi mà”, người ta sẽ không dám thử nữa. Một môi trường sợ sai sẽ sinh ra những con người chỉ biết bảo toàn. Họ sẽ chọn việc ít rủi ro nhất, ý tưởng quen thuộc nhất, và cách làm an toàn nhất. Không ai dám sáng tạo. Không ai dám bước ra. Không ai dám chịu trách nhiệm. Đức Giêsu không tạo ra một nhóm người không bao giờ sai; Ngài tạo ra những con người biết học từ sai lầm. Đây mới là điều quan trọng.
Có một khác biệt rất lớn giữa “sai vì vô trách nhiệm” và “sai trong quá trình trưởng thành”. Người lãnh đạo khôn ngoan phải phân biệt. Có lỗi cần được sửa nghiêm túc vì liên quan đến đạo đức, sự trung thực, an toàn hay công ích. Nhưng cũng có những sai sót đơn giản vì người ta đang học. Nếu đối xử với mọi sai lầm như một tội lớn, chúng ta sẽ tạo ra sự co rúm. Người lãnh đạo cần có khả năng ngồi xuống sau một việc chưa thành công và hỏi: “Chuyện gì đã xảy ra? Điều gì chúng ta học được? Lần sau sẽ làm khác thế nào?” Câu hỏi ấy mạnh hơn rất nhiều so với việc chỉ hỏi: “Ai chịu trách nhiệm?” Trách nhiệm cần có, nhưng mục tiêu cuối cùng không phải tìm người để đổ lỗi; mục tiêu là làm cho con người và cộng đoàn khôn ngoan hơn.
Đức Giêsu cũng trao quyền từng bước. Đây là điều rất thực tế. Tin tưởng không đồng nghĩa với ngây thơ. Không phải ai cũng có thể được trao ngay một trách nhiệm lớn. Đức Giêsu gọi các môn đệ trước hết “để các ông ở với Người”, rồi mới sai đi. Có một tiến trình: được gọi, được ở với, được nghe, được quan sát, được thử sức, được sửa, được sai đi rộng hơn. Lãnh đạo hôm nay cũng cần như thế. Muốn trao quyền tốt, phải biết người. Biết khả năng, tính cách, mức trưởng thành, điểm mạnh, điểm yếu. Giao một trách nhiệm vượt quá sức có thể làm người ta gãy. Giao một trách nhiệm quá nhỏ so với khả năng có thể làm người ta chán. Nghệ thuật của người lãnh đạo là trao một bước vừa đủ lớn để người khác phải vươn lên, nhưng không lớn đến mức họ bị bỏ mặc trong thất bại.
Có người hỏi: “Nếu trao quyền mà họ làm tốt hơn mình thì sao?” Câu hỏi ấy vô tình chạm đến một nỗi sợ thật. Nhưng nếu là lãnh đạo theo Đức Giêsu, câu trả lời phải là: “Thì tạ ơn Chúa.” Thành công lớn nhất của một người thầy là học trò vượt thầy. Thành công lớn nhất của một người lãnh đạo là đào tạo được những người có thể làm những điều mình không làm được. Nếu ta chỉ muốn quanh mình toàn người kém hơn để mình luôn nổi bật, đó không còn là lãnh đạo, mà là nuôi dưỡng cái tôi. Một vị mục tử trưởng thành sẽ vui khi thấy người trẻ giảng hay, tổ chức tốt, có sức quy tụ. Một người phụ trách trưởng thành sẽ vui khi thấy cộng sự của mình được người khác quý mến. Một bề trên trưởng thành sẽ vui khi thấy người dưới có những đặc sủng mình không có. Vì mục tiêu không phải là làm cho bản thân sáng, mà là làm cho sứ mạng sinh hoa trái.
Đức Giêsu đã cho thấy sự tự do ấy cách tuyệt đẹp nơi Gioan Tẩy Giả và chính trong phong cách của Ngài. Gioan nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Câu ấy cũng có thể là một lời nguyện cho mọi người lãnh đạo. Một ngày nào đó, những người ta đang hướng dẫn phải lớn lên. Họ phải có tiếng nói. Họ phải đứng được trên đôi chân mình. Có thể họ sẽ có những cách làm mới. Có thể có những lúc họ không còn cần hỏi ta nữa. Điều ấy không phải là thất bại. Đó có thể là bằng chứng rằng việc đào tạo đã thành công.
Nhưng để người khác lớn lên, người lãnh đạo phải chấp nhận mình nhỏ lại một chút. Khi trao quyền, ta không còn là trung tâm của mọi câu chuyện. Khi người khác quyết định, sẽ có những điều không đi đúng sở thích của ta. Khi họ được ghi nhận, tên ta có thể không được nhắc đến. Khi họ trưởng thành, họ có thể không còn phụ thuộc vào ta. Đây chính là một dạng “tự hủy” rất Tin Mừng trong lãnh đạo. Đức Giêsu đã không xây sứ mạng để giữ các môn đệ quanh mình như những người lệ thuộc. Ngài chuẩn bị họ cho một ngày Ngài sẽ đi. Người lãnh đạo cũng cần hỏi mình: “Tôi đang đào tạo người khác để họ tiếp tục sứ mạng, hay đang giữ họ để họ tiếp tục cần tôi?”
Có một hình ảnh rất đẹp về người làm vườn. Người làm vườn không kéo cây lên để nó lớn nhanh. Họ chỉ tạo điều kiện: đất tốt, nước đủ, ánh sáng, cắt tỉa khi cần. Cây phải tự mọc. Lãnh đạo con người cũng thế. Ta không thể sống thay họ, nghĩ thay họ, quyết định thay họ mãi. Ta có thể tạo môi trường, đặt câu hỏi, cho cơ hội, sửa đúng lúc, nâng khi họ ngã, và rồi để ân sủng làm việc. Có khi vì quá nhiệt tình, người lãnh đạo can thiệp quá nhiều đến mức người khác không còn không gian nội tâm để phát triển. Họ giống như người trồng cây cứ vài ngày lại đào gốc lên xem rễ đã dài chưa. Sự kiểm soát quá mức có thể giết chính điều ta đang muốn bảo vệ.
Một trong những món quà lớn nhất mà người lãnh đạo có thể cho cộng sự là câu nói: “Tôi tin anh.” Không phải một niềm tin mù quáng, nhưng là niềm tin sau khi đã biết con người ấy, đã cùng họ đi một đoạn đường, và sẵn sàng đứng bên họ khi khó khăn. Một người có thể thay đổi rất nhiều khi biết rằng có ai đó tin mình. Bao nhiêu người đã trưởng thành chỉ vì một người thầy trao cho họ một việc. Bao nhiêu người trẻ bước ra khỏi sự rụt rè chỉ vì một linh mục nói: “Con thử làm đi, cha tin con.” Bao nhiêu giáo dân khám phá ơn gọi tông đồ vì được trao trách nhiệm thật, chứ không chỉ được nhờ “phụ một tay”. Tin tưởng có sức đánh thức những khả năng mà chính người ấy chưa biết mình có.
Nhưng cũng phải nói rằng niềm tin cần đi kèm với sự thật. Có những lúc người lãnh đạo phải nói: “Việc này hiện tại anh chưa sẵn sàng.” Đó không phải là phủ nhận con người. Tình yêu không có nghĩa là giao mọi trách nhiệm cho bất cứ ai. Đức Giêsu cũng có những mức độ thân cận và trách nhiệm khác nhau trong nhóm môn đệ. Có Nhóm Mười Hai, có nhóm ba người Phêrô, Giacôbê, Gioan được chứng kiến một số biến cố đặc biệt. Việc trao quyền cần phân định. Điều quan trọng là ngay cả khi chưa trao một trách nhiệm, người lãnh đạo vẫn có thể cho người ấy thấy con đường để trưởng thành: “Anh cần rèn thêm điều này, học thêm điều kia, rồi chúng ta sẽ thử lại.” Như thế, một giới hạn không trở thành bản án, nhưng thành lời mời tiến lên.
Trong gia đình, nguyên tắc này cũng rất đúng. Cha mẹ yêu con nhưng nếu làm thay con mọi việc, con sẽ không trưởng thành. Một em nhỏ phải dần được trao những trách nhiệm phù hợp: tự sắp xếp đồ, tự giữ lời hứa, tự quản lý một khoản nhỏ, tự chịu hậu quả hợp lý của lựa chọn. Nếu cha mẹ cứ vì thương mà che mọi hậu quả, giải quyết mọi vấn đề, can thiệp mọi mâu thuẫn, đứa trẻ có thể lớn về tuổi nhưng nhỏ về trách nhiệm. Yêu thật đôi khi là lùi lại để người khác tự bước. Đức Giêsu cũng lùi lại như thế. Ngài về trời không phải vì bỏ môn đệ, nhưng vì một hình thức hiện diện mới cần bắt đầu. Ngài trao Thánh Thần để họ không còn chỉ đi sau một Thầy hữu hình, nhưng học sống từ bên trong bởi Thần Khí.
“Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Và rồi Ngài thổi hơi trên họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.” Đây là điều khiến cách trao quyền của Đức Giêsu khác với mọi kỹ thuật quản trị. Ngài không chỉ tin vào khả năng con người. Ngài tin vào điều Thiên Chúa có thể làm trong con người. Nếu chỉ nhìn các môn đệ bằng hồ sơ năng lực, thật khó để trao cho họ tương lai của Giáo Hội. Nhưng Đức Giêsu nhìn họ trong ánh sáng của Thánh Thần. Phêrô hôm nay yếu đuối, nhưng Thánh Thần có thể biến ông thành người đứng lên giữa đám đông. Các môn đệ hôm nay khóa cửa vì sợ, nhưng Thánh Thần có thể mở cửa và đẩy họ ra khắp thế giới. Đây là nền tảng sâu xa nhất của việc trao quyền trong Giáo Hội: chúng ta không chỉ đặt niềm tin vào con người; chúng ta đặt niềm tin vào ân sủng đang hoạt động trong họ.
Điều đó cũng giúp người lãnh đạo bớt kiểm soát. Nếu nghĩ rằng mọi sự chỉ phụ thuộc vào mình, ta buộc phải kiểm soát. Nhưng nếu tin rằng Thiên Chúa cũng đang làm việc nơi người khác, ta có thể thở. Ta có thể cầu nguyện và trao. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, người này là của Chúa trước khi là cộng sự của con. Công việc này là của Chúa trước khi là trách nhiệm của con. Con sẽ làm phần của con, nhưng con không phải là Đấng Cứu Thế.” Có lẽ một trong những nguyên nhân khiến nhiều người lãnh đạo kiệt sức là họ âm thầm sống như thể tất cả phụ thuộc vào họ. Họ không nghỉ được vì sợ việc hỏng. Họ không tắt điện thoại được vì sợ có chuyện. Họ không cho người khác quyết vì sợ sai. Cuối cùng, chính họ trở thành nút thắt của hệ thống. Đức Giêsu có thể ngủ trên thuyền giữa cơn bão. Không phải Ngài vô trách nhiệm, nhưng Ngài không bị ám ảnh bởi việc kiểm soát mọi thứ.
Người lãnh đạo trưởng thành phải học nghệ thuật vắng mặt. Có những lúc chính sự vắng mặt của họ lại cần thiết để người khác lớn lên. Khi thầy luôn ở bên, học trò dễ quay sang hỏi. Khi thầy lùi lại, học trò buộc phải nhớ điều đã học, suy nghĩ, quyết định. Đức Giêsu đã chuẩn bị các môn đệ cho sự vắng mặt của mình. Trong diễn từ ly biệt, Ngài nói trước rằng Ngài sẽ đi. Các ông buồn, hoang mang, nhưng Ngài giải thích rằng chính việc Ngài ra đi lại mở đường cho Đấng Bảo Trợ đến. Trong lãnh đạo, có lúc hiện diện là yêu, nhưng có lúc biết lùi lại cũng là yêu. Nếu ta xuất hiện trong mọi cuộc họp, mọi quyết định, mọi sáng kiến, người khác khó có cơ hội tập lãnh đạo.
Dĩ nhiên, nghệ thuật vắng mặt khác hoàn toàn với thờ ơ. Người lãnh đạo lùi lại nhưng vẫn quan tâm. Họ không can thiệp từng việc nhưng vẫn biết những gì thực sự quan trọng. Họ không quyết thay nhưng sẵn sàng tư vấn. Họ không giành lại tay lái mỗi khi đường xóc nhưng sẽ lên tiếng khi có nguy cơ đi khỏi sứ mạng. Đây là một sự cân bằng khó và chỉ có thể học qua thời gian.
Cũng cần nói đến việc trao thông tin. Không thể trao trách nhiệm mà giữ hết thông tin. Có người lãnh đạo nói với cộng sự: “Anh chịu trách nhiệm việc này”, nhưng những dữ liệu cần thiết, các mối liên hệ, tiêu chí, lịch sử quyết định lại giữ hết trong đầu mình. Sau đó họ ngạc nhiên khi người kia làm không đúng. Trao quyền thật đòi chia sẻ kiến thức. Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ… nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha, Thầy đã cho anh em biết.” Đây là một câu rất đẹp về lãnh đạo. Bạn hữu được cho biết. Người được trao sứ mạng cần hiểu trái tim của sứ mạng, chứ không chỉ nhận mệnh lệnh.
Trong cộng đoàn, minh bạch hợp lý tạo nên trách nhiệm. Khi người ta hiểu tại sao một quyết định được đưa ra, họ dễ đồng hành hơn. Khi họ hiểu mục tiêu, họ có thể tự điều chỉnh việc mình làm. Ngược lại, một hệ thống mà thông tin chỉ nằm trên đỉnh sẽ luôn khiến cấp dưới phụ thuộc. Tri thức cũng là một dạng quyền lực. Chia sẻ tri thức là một phần của trao quyền.
Và còn một điều rất quan trọng: trao quyền phải đi cùng với trao sự công nhận. Có những người lãnh đạo giao việc cho người khác nhưng khi thành công thì nhận hết lời khen, còn khi thất bại thì để người thực hiện chịu hết trách nhiệm. Đó là cách nhanh nhất để giết lòng nhiệt thành. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải làm ngược lại: khi thành công, hãy cho người khác được đứng trong ánh sáng; khi thất bại, hãy đứng bên họ. Một câu cảm ơn công khai, một lời ghi nhận đúng lúc, một sự tín nhiệm tiếp theo có thể làm người cộng sự lớn lên rất nhiều. Người lãnh đạo không cần giành công vì họ biết sứ mạng không phải sân khấu của mình.
Đức Giêsu vui khi các môn đệ trở về kể rằng cả ma quỷ cũng khuất phục họ nhân danh Ngài. Ngài không nói: “Thực ra đó là quyền của Thầy, các anh đừng tưởng mình giỏi.” Ngài chia sẻ niềm vui với họ, rồi nhẹ nhàng dẫn họ đến một niềm vui sâu hơn: “Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” Đó là cách một người lãnh đạo vừa khích lệ thành công vừa giữ trái tim người môn đệ khỏi kiêu ngạo. Không dập tắt niềm vui, cũng không nuôi cái tôi. Thật tinh tế.
Một người lãnh đạo trao quyền sẽ phải chấp nhận rằng mình không biết mọi điều. Họ phải học hỏi từ người dưới. Đây là một cuộc hoán cải lớn, nhất là với những ai đã có tuổi, kinh nghiệm hay vị trí cao. Thế giới thay đổi nhanh. Có những lãnh vực người trẻ hiểu hơn. Có những công nghệ họ thành thạo hơn. Có những cách truyền thông, tổ chức, tiếp cận mà thế hệ trước không quen. Nếu người lãnh đạo nghĩ chức vụ đồng nghĩa với biết nhiều nhất, họ sẽ phải giả vờ. Nhưng nếu đủ tự do để nói: “Cái này tôi không biết, anh chỉ cho tôi”, cộng đoàn sẽ đẹp hơn rất nhiều. Thẩm quyền không giảm khi người lãnh đạo biết học; ngược lại, nó trở nên đáng tin hơn.
Có lẽ chúng ta cần phân biệt giữa uy tín và kiểm soát. Người càng thiếu uy tín càng phải dùng nhiều kiểm soát. Khi người ta thực sự tin vào tấm lòng, sự nhất quán và hướng đi của người lãnh đạo, nhiều việc không cần mệnh lệnh. Đức Giêsu không giữ môn đệ bằng ép buộc. Sau một bài giảng khó về Bánh Hằng Sống, nhiều người bỏ đi. Ngài quay sang Nhóm Mười Hai và hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Ngài để họ tự do. Thật lạ: Đấng có quyền tuyệt đối lại không sợ tự do của người khác. Người lãnh đạo càng phải ép người khác ở lại, càng cần tự hỏi điều gì đang xảy ra với mối tương quan và sứ mạng.
Trao quyền cuối cùng là một hành vi hy vọng. Đó là nói rằng tương lai không chỉ nằm trong tay mình. Đó là tin rằng những người trẻ hơn có thể tiếp tục. Đó là tin rằng ân sủng không dừng lại với thế hệ mình. Có những người nói nhiều về việc chuẩn bị thế hệ kế thừa nhưng trong thực tế không bao giờ chịu trao. Họ có thể trao danh nghĩa, nhưng giữ quyền quyết định. Họ có thể cho người trẻ đứng tên, nhưng chính mình vẫn điều khiển phía sau. Như thế, việc chuyển giao chỉ là hình thức. Chuyển giao thật đòi người đi trước dám buông một phần quyền lực, chấp nhận người đi sau có phong cách khác và có thể sửa một số điều mình đã xây.
Đức Giêsu làm điều ấy tận căn. Ngài trao Tin Mừng cho Giáo Hội rồi về cùng Chúa Cha. Ngài không để lại một quyển sách hướng dẫn chi tiết cho mọi tình huống tương lai. Ngài để lại Lời, Thánh Thần, cộng đoàn và sứ mạng. Qua bao thế kỷ, Giáo Hội phải phân định trong những hoàn cảnh mới. Điều ấy cho thấy Thiên Chúa thật sự tin con người một cách đáng kinh ngạc. Ngài cho chúng ta quyền tham dự vào công trình của Ngài. Ngài có thể làm mọi sự một mình, nhưng Ngài lại muốn cần đến những con người yếu đuối. Chính việc Thiên Chúa trao sứ mạng cho con người đã là một mầu nhiệm của tình yêu.
Nếu Thiên Chúa dám tin chúng ta như thế, tại sao chúng ta lại quá khó để tin nhau? Nếu Đức Giêsu dám trao Giáo Hội cho Phêrô từng chối Ngài, tại sao một lỗi nhỏ của người cộng tác lại khiến ta mất niềm tin suốt đời? Nếu Thánh Thần dám hoạt động trong những con người khác biệt, tại sao ta cứ muốn mọi người phải suy nghĩ giống mình? Có lẽ vấn đề sâu nhất của việc trao quyền không nằm ở kỹ thuật quản trị, nhưng ở đức tin. Ta có thực sự tin Chúa đang làm việc nơi người khác không? Ta có thực sự tin sứ mạng là của Chúa chứ không phải của ta không? Ta có thực sự tin rằng sau khi ta rời đi, Thiên Chúa vẫn tiếp tục dẫn dắt không?
Một ngày nào đó, mọi người lãnh đạo đều phải rời vị trí. Một cha xứ sẽ được chuyển nhiệm sở hoặc nghỉ hưu. Một bề trên sẽ hết nhiệm kỳ. Một người sáng lập sẽ già đi. Một người cha, người mẹ cũng sẽ đến lúc không thể lo cho con như trước. Câu hỏi không phải là ngày ấy có đến hay không, nhưng là khi ngày ấy đến, những người còn lại có đứng được không. Nếu họ đứng được, đó là hoa trái của việc trao quyền. Nếu họ hoảng loạn vì không ai biết phải làm gì ngoài người lãnh đạo cũ, có lẽ chúng ta đã xây quá nhiều quanh một cá nhân.
Có một cách rất đơn giản để tự kiểm tra phong cách lãnh đạo: hãy nhìn xem khi mình vắng mặt, người khác làm gì. Nếu họ tiếp tục sứ mạng với tinh thần trách nhiệm, đó là một dấu hiệu tốt. Nếu họ dừng hết để chờ, ta cần xem lại. Nếu mỗi quyết định đều bị trì hoãn vì “phải hỏi”, ta cần xem lại. Nếu những người giỏi dần rời đi vì không có không gian, ta càng cần xem lại. Lãnh đạo không phải là tạo ra sự lệ thuộc. Lãnh đạo là tạo ra năng lực.
Và năng lực ấy không chỉ là kỹ năng. Đức Giêsu đào tạo cả trái tim. Ngài muốn các môn đệ không chỉ biết làm việc, nhưng biết tại sao mình làm. Người lãnh đạo Kitô giáo cũng phải trao không chỉ công việc nhưng cả linh đạo của công việc. Một người phụ trách bác ái phải hiểu người nghèo không phải “đối tượng trợ giúp” mà là anh chị em. Người làm truyền thông phải hiểu mục tiêu không chỉ là nhiều lượt xem mà là phục vụ sự thật và Tin Mừng. Người lo phụng vụ phải hiểu không chỉ là tổ chức trơn tru nhưng là giúp cộng đoàn gặp Chúa. Khi người ta hiểu tinh thần sâu xa, họ có thể tự quyết định đúng ngay cả khi người lãnh đạo không có mặt.
Đó chính là cấp độ cao nhất của trao quyền: không phải người dưới làm đúng vì sợ người trên kiểm tra, nhưng vì họ đã mang sứ mạng vào trong tim. Khi ấy, lãnh đạo đã đi từ bên ngoài vào bên trong. Đức Giêsu không muốn các môn đệ suốt đời chỉ hỏi: “Thầy có cho phép không?” Ngài muốn họ có tâm trí của Ngài, trái tim của Ngài, Thần Khí của Ngài. Đến mức Phaolô có thể nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Một cộng đoàn trưởng thành không phải là cộng đoàn có nhiều luật nhất, nhưng là cộng đoàn có nhiều con người trưởng thành trong lương tâm và trách nhiệm.
Trong đời mục vụ, có những lúc người lãnh đạo phải chịu đau vì đã tin người. Có người được trao quyền rồi làm sai. Có người phụ lòng tin. Có người thậm chí dùng chính cơ hội ta cho để làm tổn thương ta. Đức Giêsu hiểu điều ấy hơn bất cứ ai. Giuđa là người được gọi, được sai đi, được trao quyền như những người khác, nhưng cuối cùng phản bội. Việc ấy không khiến Đức Giêsu kết luận rằng trao quyền là sai. Một người phản bội không làm Ngài ngừng tin mười một người còn lại. Đây là một bài học rất quý. Có khi vì một kinh nghiệm đau, người lãnh đạo đóng cửa với tất cả. “Tôi từng tin người và bị phản bội, từ nay tôi tự làm.” Nhưng nếu sống như thế, vết thương của một người sẽ khiến cả cộng đoàn phải trả giá. Khôn ngoan hơn sau tổn thương là cần; đóng cửa hoàn toàn thì không.
Niềm tin luôn có rủi ro. Yêu cũng vậy. Giao trách nhiệm cũng vậy. Không có cách lãnh đạo con người mà hoàn toàn không có khả năng bị thất vọng. Nếu muốn không bao giờ bị thất vọng, tốt nhất đừng làm việc với con người. Nhưng Đức Giêsu chọn con người, biết rõ sự mong manh của họ. Ngài không lãng mạn hóa các môn đệ, nhưng Ngài không tuyệt vọng về họ.
Đẹp nhất có lẽ là cảnh cuối Tin Mừng Matthêu. Các môn đệ lên núi gặp Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng nói một chi tiết rất thật: có mấy ông còn hoài nghi. Ngay trong giây phút trao sứ mạng lớn nhất, vẫn có sự hoài nghi. Thế mà Đức Giêsu vẫn nói: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Ngài không đợi cho tất cả không còn chút nghi ngờ nào. Ngài trao sứ mạng cho một cộng đoàn còn đang trên đường trưởng thành. Và lời cuối của Ngài không phải là một hệ thống kiểm soát, nhưng là một lời hứa hiện diện: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Đây chính là tinh thần của lãnh đạo Kitô giáo: trao đi, nhưng không bỏ; tin tưởng, nhưng vẫn hiện diện; cho tự do, nhưng không lạnh lùng; chấp nhận con người còn yếu, nhưng không hạ thấp ơn gọi của họ.
Có lẽ mỗi người đang giữ trách nhiệm nên tự hỏi: quanh tôi có ai đang chờ được tin không? Có người nào tôi đang giữ quá chặt? Có việc nào tôi vẫn ôm chỉ vì nghĩ rằng không ai làm tốt bằng mình? Có người trẻ nào cần một cơ hội? Có ai đã từng sai nhưng đã đến lúc cần được trao lại trách nhiệm? Có cộng sự nào làm tốt mà tôi chưa từng nói lời cảm ơn? Có điều gì tôi biết mà cần chia sẻ để người khác có thể trưởng thành? Có quyết định nào thật ra người khác có thể tự làm mà tôi vẫn bắt họ xin phép? Những câu hỏi ấy không dễ, bởi chúng đụng đến cái tôi sâu hơn là kỹ năng quản trị.
Và cũng nên hỏi một câu đau hơn: nếu hôm nay tôi rời khỏi vị trí, điều gì sẽ xảy ra? Nếu câu trả lời là “mọi thứ sẽ sụp”, đừng vội tự hào rằng mình quá quan trọng. Có khi đó là dấu hiệu ta chưa trao đủ. Đức Giêsu rời đi, và những người Ngài đào tạo đã mang Tin Mừng đến tận cùng thế giới. Đó là thành công của lãnh đạo: không phải khiến công việc chết cùng với mình, nhưng khiến sứ mạng sống mạnh hơn sau mình.
Trao quyền vì thế cũng là một cách sống mầu nhiệm Vượt Qua. Có cái gì đó phải chết trong người lãnh đạo: nhu cầu kiểm soát, nhu cầu được cần đến, nhu cầu được công nhận, ý muốn mọi thứ theo ý mình. Nhưng khi những điều ấy chết đi, một sự sống mới xuất hiện nơi người khác. Ta nhỏ lại để người khác lớn lên. Ta lùi lại để người khác bước tới. Ta buông một việc để một người khác nhận lấy trách nhiệm. Và rồi sứ mạng không còn là “việc của tôi”, nhưng trở thành “việc của chúng ta”, sâu xa hơn nữa, trở thành “việc của Chúa”.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu không đo thành công bằng số việc mình tự làm được, nhưng bằng số người đã trưởng thành vì được mình tin tưởng. Không đo bằng việc bao nhiêu người phụ thuộc vào mình, nhưng bằng việc bao nhiêu người đã có thể đứng vững. Không đo bằng quyền lực giữ trong tay, nhưng bằng trách nhiệm đã được đánh thức nơi người khác. Không đo bằng việc mình xuất hiện bao nhiêu, nhưng bằng việc sứ mạng vẫn tiếp tục ngay cả khi mình lùi vào phía sau.
Và có lẽ đến cuối đời, niềm vui lớn nhất của người lãnh đạo không phải là nhìn lại những công trình mang tên mình, những quyết định mình đã đưa ra, những thành tích người ta từng ca ngợi, nhưng là nhìn thấy những con người mà một thời mình đã tin. Người này giờ đang dẫn dắt một cộng đoàn. Người kia đang âm thầm phục vụ. Một người trẻ năm xưa rụt rè nay đã trở thành người có khả năng nâng đỡ người khác. Một cộng sự từng mắc sai lầm nay lại trở thành người biết cảm thông với những người vấp ngã. Những hoa trái ấy có thể chẳng ai gắn với tên người lãnh đạo cũ, nhưng Thiên Chúa biết. Và có lẽ đó mới là vinh quang đẹp nhất.
Đức Giêsu trao quyền cho các môn đệ không phải vì họ hoàn hảo, nhưng vì tình yêu luôn nhìn thấy nơi con người một khả thể lớn hơn hiện tại. Ngài tin họ không phải vì Ngài không biết họ yếu, nhưng vì Ngài biết Thánh Thần mạnh. Ngài giao sứ mạng không phải vì muốn rút lui khỏi trách nhiệm, nhưng vì muốn họ trở thành những cộng tác viên thật sự. Ngài đồng hành nhưng không chiếm chỗ. Ngài sửa nhưng không nghiền nát. Ngài tin lại sau thất bại. Ngài trao lần nữa sau phản bội. Ngài để họ đi, và Ngài cầu nguyện cho họ.
Đó là một trong những bí quyết sâu xa nhất của lãnh đạo theo Tin Mừng: hãy yêu người khác đủ để không giữ họ mãi ở vị trí nhỏ bé. Hãy tin họ đủ để trao trách nhiệm. Hãy khiêm nhường đủ để chấp nhận họ làm khác mình. Hãy tự do đủ để vui khi họ giỏi hơn. Hãy kiên nhẫn đủ để đồng hành khi họ sai. Hãy có đức tin đủ để nhận ra rằng Thiên Chúa có thể làm nơi họ những điều mà chính ta không thể làm. Và khi đến lúc cần lùi lại, hãy lùi trong bình an, bởi sứ mạng chưa bao giờ thuộc về ta.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu, cuối cùng, không phải là giữ quyền lực cho chắc, nhưng là đặt quyền lực vào trong dòng chảy của tình yêu. Quyền lực ấy khi giữ chặt sẽ chết, nhưng khi trao đi sẽ sinh hoa trái. Một ngọn nến không mất ánh sáng khi châm cho ngọn nến khác. Căn phòng chỉ sáng hơn. Người lãnh đạo cũng vậy. Khi họ đánh thức ánh sáng nơi người khác, ánh sáng của chính họ không nhỏ lại; trái lại, điều họ đã sống được nhân lên trong nhiều cuộc đời. Có lẽ đó là lý do Đức Giêsu đã dám trao tất cả cho một nhóm người nhỏ bé. Ngài biết một ngày nào đó, từ Giêrusalem, họ sẽ đi đến Giuđê, Samari và tận cùng trái đất. Ngài nhìn những ngư phủ và thấy các tông đồ. Ngài nhìn những kẻ sợ hãi và thấy những chứng nhân. Ngài nhìn những con người còn đầy giới hạn và thấy một Giáo Hội sẽ được sinh ra.
Người lãnh đạo hôm nay cũng được mời gọi có đôi mắt ấy: không chỉ nhìn người khác như họ đang là, nhưng nhìn họ như những gì họ có thể trở thành nếu được tin, được trao, được hướng dẫn và được yêu. Có khi điều một con người cần nhất để lớn lên không phải là thêm một lời phê bình, nhưng là một trách nhiệm. Không phải thêm một bài giảng, nhưng là một cơ hội. Không phải thêm một sự kiểm soát, nhưng là một câu rất đơn giản: “Anh cứ làm đi. Tôi tin anh.”
Và biết đâu chính từ câu nói ấy, một con người bắt đầu lớn lên.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 5: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC ĐẶT MỐI TƯƠNG QUAN LÊN TRÊN CÔNG VIỆC
Có một cám dỗ rất lớn nơi người lãnh đạo, đó là càng có nhiều trách nhiệm thì càng dễ nhìn con người qua lăng kính của công việc. Người này hữu ích đến đâu, người kia làm được gì, người nọ có hoàn thành phần việc được giao hay không, người kia có làm chậm tiến độ không, người nọ có đem lại kết quả không. Cứ thế, từ lúc nào không hay, những khuôn mặt bằng xương bằng thịt dần biến thành những “nhân sự”, những “vị trí”, những “nguồn lực”, những “cánh tay”, những “bộ phận” để phục vụ một kế hoạch nào đó. Người ta vẫn nói rất nhiều về con người, nhưng thực ra chỉ quan tâm đến khả năng sử dụng con người. Người ta vẫn họp hành, vẫn hỏi han, vẫn giao tiếp, nhưng phần lớn câu chuyện đều xoay quanh việc phải làm, mục tiêu phải đạt, chương trình phải hoàn tất. Và rồi sau những thành công rất đẹp trên giấy tờ, có khi người lãnh đạo chợt nhận ra chung quanh mình là những con người mệt mỏi, bị tổn thương, không còn tin nhau và cũng chẳng còn thiết tha đồng hành với nhau nữa. Đức Giêsu không lãnh đạo như thế. Ngài có một sứ mạng lớn lao hơn bất cứ sứ mạng nào con người từng biết, vì Ngài đến để loan báo Nước Thiên Chúa, quy tụ Israel mới, mặc khải dung mạo Chúa Cha và hiến mạng sống để cứu độ nhân loại. Thời gian công khai của Ngài lại rất ngắn. Nếu nhìn bằng não trạng hiệu suất, có lẽ người ta sẽ nghĩ Ngài phải làm việc liên tục, phải tranh thủ từng giờ, phải mở rộng phạm vi hoạt động, phải huấn luyện thật nhanh một đội ngũ đông đảo, phải xây dựng một cơ cấu thật chặt chẽ để bảo đảm sứ mạng tiếp tục sau khi Ngài ra đi. Nhưng đọc Tin Mừng, ta gặp một Đức Giêsu rất khác. Ngài dành một phần rất lớn đời sống công khai chỉ để ở với một nhóm nhỏ. Ngài đi với họ trên những con đường đầy bụi. Ngài xuống thuyền với họ. Ngài ăn cùng bàn với họ. Ngài vào nhà cùng họ. Ngài đưa họ ra nơi thanh vắng nghỉ ngơi. Ngài để họ hỏi những câu ngây ngô. Ngài chịu đựng những tranh cãi trẻ con của họ. Ngài giải thích riêng cho họ những điều đám đông chưa hiểu. Ngài nhìn thấy nỗi sợ của họ, lòng tham vọng của họ, tính nóng nảy của họ, sự cứng lòng của họ, và cả những giấc mơ rất vụng về mà họ mang trong lòng. Ngài không chỉ giao cho họ một công việc. Ngài cho họ một chỗ trong đời mình.
Đó là điều rất đáng suy nghĩ. Khi Đức Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên, Tin Mừng Máccô ghi một chi tiết tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại chứa cả một linh đạo lãnh đạo: Ngài lập Nhóm Mười Hai “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,14). Thứ tự ấy không hề tình cờ. Trước khi “được sai đi”, họ phải “ở với Người”. Trước sứ vụ là tương quan. Trước công việc là sự hiện diện. Trước khi trở thành những cộng sự viên, họ được mời gọi trở thành những người bạn đồng hành. Đức Giêsu không bắt đầu bằng một bảng mô tả công việc. Ngài bắt đầu bằng một lời mời: “Hãy theo Thầy.” Theo không chỉ có nghĩa là làm giống, mà trước hết là đi cùng, ở gần, chia sẻ đường đi, chia sẻ bữa ăn, chia sẻ nắng mưa, chia sẻ cả những giờ phút chẳng có gì đáng kể để ghi vào báo cáo. Đó chính là trường học sâu nhất của người môn đệ. Có những điều không thể truyền đạt bằng bài giảng mà chỉ truyền được bằng sự sống. Có những giá trị không thể học trong một khóa huấn luyện nhưng chỉ thấm dần khi người ta được sống bên cạnh một con người. Các môn đệ biết Đức Giêsu cầu nguyện thế nào không chỉ vì Ngài dạy họ một công thức cầu nguyện, mà vì họ thấy Ngài nhiều lần rút lui vào nơi thanh vắng, thức dậy từ sáng sớm, ngước mắt lên trời, ở lại với Chúa Cha. Họ biết Ngài đối xử với người nghèo thế nào bởi họ đã cùng Ngài đi qua các làng quê, đã thấy Ngài dừng lại trước một người mù, chạm vào một người phong, trò chuyện với một người phụ nữ bị khinh thường, ôm lấy một đứa trẻ chẳng có vị trí gì trong xã hội. Họ biết Ngài bình tĩnh giữa sóng gió bởi họ đã ở trên cùng một chiếc thuyền với Ngài. Họ biết Ngài tha thứ bởi họ đã từng được chính Ngài tha thứ. Họ biết Ngài yêu đến cùng bởi họ đã được yêu ngay cả lúc họ yếu đuối nhất.
Đức Giêsu biết từng người. Ngài không lãnh đạo một tập thể vô danh. Phêrô không phải là một mã số trong Nhóm Mười Hai. Gioan không phải một vị trí. Tôma không phải một nguồn lực. Matthêu không phải một chức danh. Mỗi người có một khuôn mặt, một lịch sử, một khí chất, một điểm mạnh, một vết thương, một cuộc chiến nội tâm. Đức Giêsu biết Phêrô bộc trực, nóng nảy và dễ hứa nhiều hơn sức mình. Ngài biết Gioan và Giacôbê có một ngọn lửa mãnh liệt đến mức từng muốn xin lửa từ trời xuống thiêu hủy những người không tiếp đón Thầy. Ngài biết Tôma là người phải đi qua nghi nan mới đến được một tuyên xưng đức tin sâu xa. Ngài biết Matthêu mang quá khứ của một người thu thuế, từng bị đồng bào xem như phản bội. Ngài biết Giuđa có những bóng tối riêng mà không một ai trong nhóm hiểu hết. Và lạ lùng thay, Đức Giêsu không đối xử với tất cả mọi người theo một công thức. Với mỗi người, Ngài có một cách đến gần riêng. Với Phêrô, có lúc Ngài mạnh mẽ quở trách, có lúc lại âm thầm cầu nguyện để đức tin ông khỏi mất, và sau tất cả sự chối Thầy, Ngài không lôi lỗi cũ ra kết án mà chỉ hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” Với Tôma, Ngài không chế giễu sự nghi ngờ, nhưng cho ông được chạm vào chính vết thương. Với người môn đệ Chúa yêu, Ngài trao một sự thân tình rất sâu. Với hai môn đệ Emmau đang bỏ cuộc, Ngài kiên nhẫn đi cùng cả một đoạn đường dài, nghe họ kể lại chính câu chuyện về Ngài mà họ vẫn chưa nhận ra người đang bước bên cạnh mình. Đức Giêsu lãnh đạo bằng việc biết con người từ bên trong. Ngài không chỉ biết người ta làm gì, mà biết họ đang mang gì trong lòng.
Bởi thế, lời Đức Giêsu nói trong bữa Tiệc Ly thật cảm động: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,15). Chúng ta có thể đọc câu này quá quen nên không còn cảm được sức nặng của nó. Đấng là Thầy, là Chúa, là Con Thiên Chúa, lại gọi những con người rất bất toàn ấy là bạn hữu. Ngài không phủ nhận vai trò của mình, không xóa bỏ sự khác biệt giữa Thầy và trò, nhưng Ngài đưa mối tương quan lên một chiều sâu mới. Người tôi tớ chỉ cần nhận lệnh rồi thi hành. Người bạn được biết trái tim của người kia. Người tôi tớ có thể hoàn thành nhiệm vụ mà không cần hiểu lý do. Người bạn được chia sẻ ý định, nỗi niềm, niềm vui và cả đau khổ. Người tôi tớ làm vì bổn phận. Người bạn sống trong tương quan của tin tưởng và tình yêu. Đức Giêsu không muốn các môn đệ chỉ thi hành công việc cho Ngài. Ngài muốn họ hiểu trái tim Ngài, ở lại trong tình yêu của Ngài, và từ tình yêu ấy mà lên đường. Vì thế, Kitô giáo từ đầu không bao giờ chỉ là một guồng máy làm việc. Giáo Hội không được sinh ra như một tổ chức của những nhân viên thi hành một kế hoạch, nhưng như một cộng đoàn của những người đã gặp Đấng Phục Sinh, đã được Ngài gọi tên, đã được Ngài yêu và được sai đi.
Điều này đặt ra một câu hỏi rất thật cho mọi người đang mang trách nhiệm lãnh đạo: những người đang làm việc với ta có cảm thấy họ được ta nhìn như những con người không, hay chỉ như những người phải làm cho xong việc? Ta có biết họ đang vui hay buồn không? Ta có biết gia đình họ đang có chuyện gì không? Ta có biết có người đang bước vào một giai đoạn rất khó khăn nhưng vẫn cố gắng giữ vẻ bình thường trước mặt ta không? Ta có biết có một cộng sự đã nhiều tháng âm thầm kiệt sức vì lúc nào cũng bị giao thêm việc chỉ vì người ấy có trách nhiệm? Ta có biết người thường xuyên đến trễ có thể đang chăm một người thân đau bệnh? Ta có biết người gần đây làm việc thiếu tập trung có thể đang trải qua một khủng hoảng trong gia đình? Ta có biết một người ít nói không hẳn vì không nhiệt tình mà có khi vì nhiều lần phát biểu đã bị gạt đi nên họ không muốn nói nữa? Nếu ta chỉ nhìn vào công việc, ta sẽ dễ kết luận. Nếu ta đặt mối tương quan lên trước, ta sẽ học cách tìm hiểu. Nhiều rạn nứt trong cộng đoàn không đến từ khác biệt lớn về quan điểm mà từ cảm giác rất nhỏ: “Không ai thật sự quan tâm đến mình.” Con người có thể làm việc rất cực nếu biết mình được trân trọng. Nhưng ngay cả một công việc nhẹ cũng trở nên nặng nề khi người ta cảm thấy mình chỉ được nhớ đến lúc cần.
Có một nghịch lý trong lãnh đạo: càng chăm chăm vào kết quả, đôi khi lại càng mất kết quả; càng đầu tư vào con người, kết quả lại đến bền vững hơn. Một người chỉ làm vì mệnh lệnh sẽ làm vừa đủ để tránh bị trách. Một người làm vì tin tưởng sẽ tự nguyện cho đi nhiều hơn những gì người ta có thể yêu cầu. Một người cảm thấy bị kiểm soát sẽ tìm cách bảo vệ mình. Một người cảm thấy được tin cậy sẽ học cách chịu trách nhiệm. Một người thấy mình có thể bị thay thế bất cứ lúc nào sẽ không bao giờ trao trọn trái tim cho công việc. Một người biết mình được nhìn nhận không chỉ bởi khả năng, nhưng bởi chính con người mình, sẽ có một sự gắn bó hoàn toàn khác. Đây không phải là một kỹ thuật quản trị khéo léo để “giữ chân nhân sự”. Nếu người lãnh đạo xây dựng quan hệ chỉ nhằm mục đích khai thác người khác hiệu quả hơn, thì đó vẫn chỉ là một dạng sử dụng tinh vi. Đức Giêsu không yêu người ta để họ làm việc cho Ngài. Ngài yêu bởi vì họ đáng được yêu. Và chính vì được yêu, họ dần trở nên những người có khả năng trao ban đời mình.
Hãy nhìn những cuộc chữa lành trong Tin Mừng. Đức Giêsu không chữa người mù để có thêm một nhân chứng quảng bá hình ảnh. Ngài không thanh tẩy người phong để chứng minh quyền năng trước đám đông. Ngài không làm cho con gái ông Giairô sống lại để tạo một hiệu ứng truyền thông. Ngài không nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng vì đang cần mở một “thị trường truyền giáo mới”. Ngài dừng lại bởi Ngài thấy một con người. Khi anh mù Bartimê kêu lớn giữa đám đông, những người xung quanh muốn bắt anh im đi, nhưng Đức Giêsu dừng lại. Chỉ hai chữ “dừng lại” thôi đã nói lên cả một triết lý lãnh đạo. Người lãnh đạo thường sợ dừng vì còn nhiều việc phải làm. Đức Giêsu có một hành trình phải đi, có đám đông đang chờ, nhưng tiếng kêu của một con người đủ để làm Ngài dừng bước. Ngài hỏi Bartimê: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Chẳng lẽ Ngài không biết một người mù muốn gì sao? Dĩ nhiên Ngài biết. Nhưng Ngài vẫn hỏi, bởi Ngài tôn trọng con người, để chính anh nói ra khát vọng của mình. Đó là khác biệt giữa thương hại và gặp gỡ. Thương hại có thể ban cho người ta điều ta nghĩ họ cần. Gặp gỡ là đủ khiêm nhường để hỏi: “Anh cần gì? Anh đang mong điều gì? Tôi có thể làm gì cho anh?”
Một trong những thất bại phổ biến của lãnh đạo là nghĩ rằng mình hiểu người khác quá nhanh. Vì có kinh nghiệm, ta tưởng ta biết. Vì đã làm lâu năm, ta cho rằng mình nhìn một lần là đủ. Vì có quyền quyết định, ta dễ đưa ra kết luận mà không nghe hết câu chuyện. Nhưng con người không phải một bài toán đơn giản. Có những hành vi nhìn bên ngoài là giống nhau nhưng nguyên nhân bên trong hoàn toàn khác. Hai người cùng im lặng, một người vì đồng thuận, người kia vì đã thất vọng. Hai người cùng làm việc chậm, một người thiếu trách nhiệm, người kia quá cầu toàn. Hai người cùng phản ứng mạnh, một người kiêu căng, người kia đang mang một vết thương mà lời nói vô tình chạm tới. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải có một sự tò mò đầy yêu thương về con người. Không phải tò mò để kiểm soát đời riêng của họ, mà là một quan tâm đủ sâu để không vội vàng quy kết. Có những lúc điều người cộng sự cần không phải một lời chỉ dẫn mới, nhưng là một người chịu ngồi xuống nghe họ nói hết. Có khi một buổi trò chuyện chân thành cứu được một mối quan hệ mà mười cuộc họp công việc không cứu nổi. Có khi một câu “Dạo này anh thế nào?” được hỏi với tất cả sự hiện diện lại có giá trị hơn một bài huấn luyện dài.
Đức Giêsu biết lắng nghe. Hai môn đệ trên đường Emmau là một minh họa tuyệt đẹp. Ngài thừa biết chuyện gì đã xảy ra ở Giêrusalem, thậm chí Ngài chính là nhân vật trung tâm của biến cố ấy, vậy mà Ngài vẫn hỏi: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Rồi Ngài nghe. Họ kể nỗi thất vọng, kể giấc mơ đã tan vỡ, kể những điều nghe được từ các phụ nữ, kể sự bối rối của họ. Đức Giêsu không cắt ngang ngay từ đầu để nói: “Các anh hiểu sai rồi.” Ngài để họ có chỗ nói ra. Đó là một bài học lớn. Người lãnh đạo thường có xu hướng nghe rất ít nhưng giải thích rất nhiều. Người khác mới nói được vài câu, ta đã biết mình sẽ trả lời gì. Ta nghe không phải để hiểu mà để tìm chỗ xen vào. Đôi khi ta vừa nghe vừa chuẩn bị lời phản biện. Nhưng lắng nghe thật sự đòi ta tạm gác bản thân sang một bên. Lắng nghe là nói bằng toàn bộ thái độ: câu chuyện của anh đáng để tôi dành thời gian; cảm xúc của anh không phải chuyện vô nghĩa; điều anh đang trải qua quan trọng với tôi. Khi một người được lắng nghe thật sự, họ bắt đầu nghe được chính mình. Và nhiều khi, trong khi nói, họ tự tìm thấy điều mà không một mệnh lệnh nào có thể trao cho họ.
Trong lãnh đạo Kitô giáo, sự lắng nghe càng quan trọng vì người đứng đầu không phải là người sở hữu tất cả ánh sáng. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng biết trọn vẹn. Một người lãnh đạo khôn ngoan không sợ người khác có ý kiến khác mình. Họ hiểu rằng Chúa Thánh Thần có thể nói qua một người trẻ, một người ít học, một người ít kinh nghiệm, thậm chí qua một người từng khiến mình khó chịu. Đặt mối tương quan lên trên công việc có nghĩa là tạo ra một không gian nơi người ta dám nói thật. Một cộng đoàn trong đó ai cũng gật đầu với người lãnh đạo chưa chắc là cộng đoàn hiệp nhất; có thể chỉ là một cộng đoàn sợ hãi. Một tập thể không bao giờ có bất đồng chưa chắc khỏe mạnh; có khi chỉ vì mọi người đã học cách im lặng để sống yên. Đức Giêsu cho phép các môn đệ đặt câu hỏi, thậm chí những câu hỏi rất vụng về. Ngài cho họ bộc lộ sự tham vọng. Ngài để Phêrô phản đối kế hoạch thập giá. Ngài để Tôma nói rằng mình không tin. Và chính trong những khoảnh khắc không đẹp ấy, việc đào tạo thật sự mới diễn ra. Người lãnh đạo nếu chỉ muốn nghe những điều dễ chịu sẽ sớm sống trong một thế giới giả tạo do những người chung quanh dựng lên để làm vừa lòng mình.
Xây dựng tương quan còn có nghĩa là dành thời gian. Đây là điều khó nhất trong một thời đại ai cũng bận. Người lãnh đạo thường có một lịch kín đặc, và chính vì lịch kín nên con người dễ trở thành những cuộc hẹn chen giữa hai công việc khác. Nhưng không có mối tương quan sâu nào được xây dựng mà không cần thời gian. Không thể ra lệnh cho sự tin tưởng xuất hiện. Tin tưởng tích lũy qua rất nhiều điều nhỏ: lời hứa được giữ, câu chuyện riêng được tôn trọng, lúc yếu đuối không bị đem ra chế giễu, khi phạm lỗi được sửa trong phẩm giá, khi làm tốt được ghi nhận, khi gặp khó khăn không bị bỏ rơi. Người ta nhìn thấy những điều ấy từng ngày rồi mới dần dần trao lòng mình. Đức Giêsu ở với các môn đệ trong nhiều hoàn cảnh. Họ thấy Ngài khi được tung hô, thấy Ngài khi bị chống đối; thấy Ngài với đám đông, thấy Ngài trong nơi thanh vắng; thấy Ngài giảng dạy, thấy Ngài mệt mỏi ngồi bên bờ giếng; thấy Ngài khóc trước mộ Ladarô; thấy Ngài rửa chân cho họ; thấy Ngài run sợ và buồn đến chết được trong vườn Cây Dầu. Mối tương quan thật cho phép người ta được thấy nhau không chỉ trong vai trò mà trong nhân tính.
Đây cũng là một bài học cho những người làm mục vụ. Một linh mục có thể rất giỏi tổ chức, xây dựng được nhiều công trình, mở nhiều hoạt động, có lịch làm việc kín mít từ sáng đến tối, nhưng câu hỏi vẫn còn đó: đoàn chiên có gặp được một người cha không? Người ta có thể đến gần không? Hay chỉ gặp một người quản lý luôn vội? Hội đồng mục vụ có cảm thấy mình là những người đồng hành hay chỉ là những người được gọi đến để thi hành việc? Giáo lý viên có được hỏi thăm đời sống thiêng liêng hay chỉ được hỏi lớp học có đủ sĩ số? Ca đoàn có được nâng đỡ trong đức tin hay chỉ được nhắc hát cho hay? Các bạn trẻ có cảm thấy được nghe, hay chỉ được huy động khi giáo xứ có chương trình? Những người nghèo có được biết tên, hay chỉ xuất hiện trong một danh sách phát quà? Mục vụ rất dễ bị biến thành những chuỗi sự kiện. Sự kiện có thể thành công nhưng con người vẫn cô đơn. Chương trình có thể đông nhưng mối dây cộng đoàn vẫn lỏng lẻo. Đặt tương quan lên trên công việc không có nghĩa là bỏ bê công việc. Ngược lại, đó là trả công việc về đúng vị trí: công việc phục vụ con người, không phải con người phục vụ công việc.
Trong đời sống cộng đoàn tu trì cũng thế. Có khi sống chung một mái nhà nhiều năm mà vẫn rất xa nhau. Người ta biết lịch của nhau nhưng không biết lòng nhau. Biết người kia phụ trách việc gì nhưng không biết người ấy đang chiến đấu với điều gì. Cùng cầu nguyện một nhà nguyện, cùng ăn một bàn, cùng tham gia một sứ vụ nhưng đôi lúc vẫn sống cạnh nhau hơn là sống với nhau. Cám dỗ lớn nhất của đời sống chung là thay thế tương quan bằng cơ chế. Chúng ta có giờ chung, việc chung, luật chung, nhưng điều làm nên cộng đoàn không chỉ là chữ “chung” trên lịch, mà là khả năng mang lấy nhau. Đức Giêsu đã xây dựng Nhóm Mười Hai như một gia đình mới, và gia đình ấy không hề lý tưởng. Có cạnh tranh, hiểu lầm, thất bại, phản bội. Nhưng Ngài không bỏ cuộc với họ. Ngài tiếp tục yêu, tiếp tục sửa, tiếp tục mời gọi trở lại. Một cộng đoàn trưởng thành không phải nơi không có vấn đề, mà là nơi con người đủ tin tưởng để cùng đi qua vấn đề mà không bỏ nhau.
Đặt tương quan lên trên công việc còn được thể hiện rất rõ trong cách người lãnh đạo sửa lỗi. Khi công việc là tối thượng, người ta chỉ quan tâm lỗi này làm hại kết quả thế nào, nên rất dễ nổi giận, làm nhục hoặc loại bỏ người mắc lỗi. Nhưng khi con người là quan trọng, việc sửa lỗi nhằm phục hồi con người chứ không chỉ bảo vệ hệ thống. Đức Giêsu sửa các môn đệ rất thẳng. Ngài từng nói với Phêrô: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy!” Ngài từng trách các ông kém tin. Ngài từng hỏi họ sao còn chưa hiểu. Nhưng điều đáng chú ý là sau lời sửa, mối tương quan không bị rút lại. Ngài không dùng lỗi lầm để định danh con người. Phêrô đã chối Chúa ba lần nhưng Đức Giêsu không gọi ông là “kẻ phản bội”. Tôma nghi ngờ nhưng Ngài không gọi ông là “người vô tín” như một nhãn dán vĩnh viễn. Giacôbê và Gioan tham vọng nhưng không vì thế mà bị gạt khỏi nhóm. Người lãnh đạo yêu con người đủ nhiều sẽ dám nói sự thật, nhưng cũng yêu đủ sâu để không biến sự thật thành một lưỡi dao hủy diệt.
Nhiều người đã rời khỏi một tập thể không hẳn vì công việc quá nặng, mà vì cách họ được đối xử trong lúc thất bại. Khi thành công thì được vỗ vai, khi mắc lỗi thì bị bỏ rơi; khi hữu dụng thì được săn đón, khi yếu đi thì chẳng ai hỏi. Kiểu tương quan ấy khiến người ta nhận ra rằng thứ người lãnh đạo quý không phải là họ, mà là khả năng họ đem lại. Đức Giêsu làm ngược lại. Chính lúc các môn đệ tệ nhất, tình yêu của Ngài lại hiện rõ nhất. Trong bữa Tiệc Ly, Ngài biết Phêrô sắp chối mình, biết Giuđa sắp phản bội, biết những người còn lại sẽ bỏ chạy, vậy mà Ngài vẫn quỳ xuống rửa chân cho họ. Ngài rửa cả đôi chân sẽ bỏ chạy khỏi vườn Cây Dầu. Ngài trao bánh cho cả người sẽ nộp mình. Đó không phải sự ngây thơ. Ngài biết tất cả. Nhưng tình yêu của Ngài không dựa trên thành tích của họ.
Một người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải tự hỏi: tôi có đối xử tử tế với người ta chỉ khi họ làm đúng ý tôi không? Tôi có gần gũi với người hữu ích hơn những người ít khả năng không? Tôi có dễ dàng dành thời gian cho người có địa vị, nhưng vội vàng với người không đem lại lợi ích gì cho mình không? Tôi có nhớ đến một cộng sự sau khi họ không còn giữ nhiệm vụ nữa không? Đây là những câu hỏi đụng đến phần sâu nhất của trái tim. Bởi đôi khi ta tưởng mình sống tương quan, nhưng thật ra những tương quan ấy được xây dựng quanh lợi ích. Khi người kia còn có ích, ta thấy họ quan trọng. Khi họ rời vị trí, điện thoại thưa dần, cuộc gặp ít dần, tên họ cũng ít xuất hiện trong trí nhớ. Đức Giêsu không yêu kiểu đó. Phẩm giá của một người không tăng lên khi họ giữ chức vụ và cũng không giảm đi khi họ thôi chức vụ. Một linh hồn vẫn vô giá trước mặt Thiên Chúa cho dù người ấy có đứng trên sân khấu hay nằm một mình trong căn phòng bệnh.
Đặt mối tương quan lên trước còn có nghĩa là biết hiện diện trong những lúc không có gì để “giải quyết”. Đây là điều rất khó cho người quen lãnh đạo, bởi người lãnh đạo thường thích tìm giải pháp. Ai kể một vấn đề, ta lập tức đưa phương án. Ai đau khổ, ta vội cho lời khuyên. Ai buồn, ta muốn giúp họ hết buồn. Nhưng có những nỗi đau không cần lời giải thích, chỉ cần có người ngồi bên cạnh. Trước mộ Ladarô, Đức Giêsu biết mình sắp làm gì. Ngài biết ít phút nữa người chết sẽ bước ra khỏi mồ. Thế nhưng trước nước mắt của Maria và những người chung quanh, Ngài vẫn khóc. Ngài không đứng đó lạnh lùng nói: “Có gì đâu mà khóc, lát nữa sẽ sống lại.” Ngài bước vào nỗi đau của họ. Đó là sự hiện diện. Một nhà lãnh đạo trưởng thành biết rằng không phải lúc nào mình cũng phải có câu trả lời. Có khi điều tốt nhất có thể làm là ở đó. Không giảng. Không sửa. Không giải thích. Chỉ ở đó. Một bàn tay đặt lên vai đúng lúc có thể nói được những điều mà cả trăm câu đạo lý không nói nổi.
Tương quan cũng đòi một điều nữa: khả năng vui với người khác. Lãnh đạo không chỉ xuất hiện khi có khủng hoảng. Nếu người ta chỉ thấy ta khi cần nhắc việc hoặc sửa lỗi, mối tương quan sẽ dần mang màu của áp lực. Đức Giêsu dự tiệc cưới Cana. Ngài ăn tại nhà Matthêu. Ngài đến nhà chị em Mácta, Maria và Ladarô. Có những bữa ăn trong Tin Mừng không gắn với một bài giảng lớn, chỉ đơn giản cho thấy Ngài bước vào đời thường của con người. Người lãnh đạo biết chia sẻ những niềm vui nhỏ tạo nên một bầu khí khác. Mừng sinh nhật một người. Nhớ ngày kỷ niệm. Chúc mừng một việc nhỏ họ làm được. Hỏi thăm con cái. Cùng uống một ly cà phê không có chương trình nghị sự. Những điều ấy tưởng là không sinh “hiệu suất”, nhưng chính chúng tạo nên sợi chỉ vô hình nối con người với nhau. Rồi đến lúc khó khăn, người ta sẽ dựa vào chính những sợi chỉ tưởng rất nhỏ ấy.
Có những người lãnh đạo tự hào rằng mình “không để tình cảm xen vào công việc”. Câu ấy nghe có vẻ chuyên nghiệp, nhưng cần phân biệt. Tất nhiên lãnh đạo không được thiên vị vì tình cảm. Không thể vì thân người này mà bỏ qua sai phạm, không thể vì ghét người kia mà xử bất công. Nhưng loại bỏ tình người khỏi công việc thì lại là một sai lầm khác. Đức Giêsu không lạnh lùng. Ngài chạnh lòng thương. Ngài xúc động. Ngài khóc. Ngài yêu. Ngài giận trước sự chai đá. Ngài vui mừng trong Thánh Thần. Con người của Ngài hoàn toàn hiện diện trong sứ vụ. Một người lãnh đạo tốt không phải là một cỗ máy công bằng vô cảm, mà là người biết kết hợp sự sáng suốt với lòng trắc ẩn. Công bằng cho ta biết điều gì đúng. Tình thương giúp ta thực hiện điều đúng theo cách không nghiền nát con người.
Trong một thế giới ngày càng bị chi phối bởi tốc độ, dữ liệu và công nghệ, bài học này càng trở nên cấp thiết. Chúng ta có thể gửi hàng trăm tin nhắn nhưng vẫn không thật sự nói chuyện với ai. Có thể tham gia hàng chục nhóm nhưng vẫn cô đơn. Có thể nắm được rất nhiều dữ liệu về một người mà vẫn chẳng biết người ấy đang đau ở đâu. Lãnh đạo qua màn hình có nhiều tiện lợi, nhưng cũng dễ làm cho con người trở thành những ô vuông, những tài khoản, những dòng trạng thái. Đức Giêsu nhắc ta trở về với điều căn bản: gặp một khuôn mặt. Nghe một giọng nói. Nhận ra một ánh mắt. Gọi một người bằng tên. Ngay sau phục sinh, bên bờ hồ, Maria Mácđala không nhận ra Chúa cho đến khi Ngài gọi: “Maria!” Chỉ một tiếng gọi tên ấy làm cả thế giới của bà thay đổi. Bởi được gọi tên nghĩa là tôi không phải một người vô danh. Tôi được biết. Tôi được nhớ. Tôi quan trọng với ai đó. Người lãnh đạo biết gọi con người bằng tên, theo nghĩa sâu nhất, là người không để họ biến mất trong đám đông.
Có thể người ta sẽ hỏi: nếu lúc nào cũng quan tâm đến mối tương quan thì công việc làm sao chạy? Câu hỏi ấy hợp lý, nhưng thật ra đặt tương quan lên trên công việc không có nghĩa là bỏ tiêu chuẩn, bỏ kỷ luật hay chấp nhận sự vô trách nhiệm. Đức Giêsu yêu các môn đệ nhưng vẫn đòi hỏi rất cao. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Ngài không hạ thấp lý tưởng để giữ người. Ngài không dùng sự thân tình để bao che. Nhưng mọi đòi hỏi đều phát xuất từ tình yêu và nhằm giúp người kia trưởng thành. Đó là điểm khác biệt. Có thể hai nhà lãnh đạo cùng nói một câu rất nghiêm, nhưng một người nói vì bực mình và muốn khẳng định quyền lực, còn người kia nói vì thật sự muốn người cộng sự lớn lên. Người nhận có thể cảm được sự khác biệt ấy. Kỷ luật không đối lập với tương quan. Kỷ luật đúng đắn là một hình thức của trách nhiệm trong tương quan. Người cha yêu con không phải người để con làm gì cũng được. Nhưng khi sửa con, đứa trẻ phải biết rằng dù nó sai, nó vẫn được yêu.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải học ba chữ rất quan trọng: “ở với người”. Trước khi làm cho người, hãy ở với người. Trước khi làm việc cùng người, hãy biết người. Trước khi đòi sự tin tưởng, hãy sống sao cho đáng tin. Trước khi yêu cầu người khác mở lòng, hãy tạo một không gian an toàn để họ không sợ bị xét đoán. Trước khi nói “anh phải hiểu tôi”, hãy tự hỏi mình đã cố hiểu họ đến đâu. Tất cả những điều đó mất thời gian, nhưng đó không phải thời gian bị mất. Một giờ xây dựng sự tin tưởng có thể tiết kiệm hàng chục giờ giải quyết xung đột về sau. Một cuộc nói chuyện chân thành hôm nay có thể ngăn một sự ra đi ngày mai. Một lời ghi nhận đúng lúc có thể giúp một người vượt qua nhiều tháng mệt mỏi. Một lần bảo vệ phẩm giá của cộng sự trước đám đông có thể tạo nên lòng trung thành suốt nhiều năm.
Và rồi có một ngày công việc sẽ hết. Chức vụ sẽ qua. Nhiệm kỳ sẽ kết thúc. Công trình rồi cũng được bàn giao. Những cuộc họp từng làm ta mất ngủ sẽ chẳng ai còn nhớ. Những kế hoạch từng tưởng vô cùng quan trọng rồi cũng nhường chỗ cho kế hoạch khác. Nhưng điều ở lại trong lòng người không phải là bao nhiêu văn bản ta đã ký, bao nhiêu chương trình ta đã tổ chức, bao nhiêu chỉ tiêu ta đã đạt. Họ sẽ nhớ mình đã cảm thấy thế nào khi ở bên ta. Họ sẽ nhớ có lần mình thất bại mà ta không làm nhục họ. Nhớ lúc gia đình họ gặp chuyện, ta đã gọi điện. Nhớ một ngày họ chẳng còn vị trí gì nhưng ta vẫn tìm đến. Nhớ khi mọi người hiểu lầm, ta đã chịu nghe họ nói. Nhớ một lần họ phạm lỗi mà ta vẫn nhìn vào mắt họ với sự tôn trọng. Những điều ấy trở thành một di sản không ghi được trong báo cáo.
Đức Giêsu chỉ sống công khai khoảng vài năm, nhưng những mối tương quan Ngài xây dựng đã làm thay đổi lịch sử. Sau khi Ngài về với Chúa Cha, các môn đệ không tiếp tục sứ mạng chỉ vì nhớ một hệ thống Ngài để lại. Họ tiếp tục vì đã được Ngài chiếm lấy trái tim. Gioan có thể viết sau nhiều năm: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến…” Đức tin của họ bắt đầu từ một kinh nghiệm tương quan. Phêrô bước vào cái chết tử đạo không phải để hoàn thành KPI tông đồ. Ông chết cho Đấng đã từng nhìn ông sau ba lần chối Thầy, đã từng nướng cá cho ông bên bờ hồ, đã từng gọi ông một lần nữa sau thất bại. Gioan đứng dưới chân thập giá vì mối dây giữa Thầy và trò đã vượt quá mọi công việc. Các tông đồ ra đi đến tận cùng thế giới bởi họ không chỉ nhớ một giáo lý; họ nhớ một người.
Đây chính là bí mật sâu xa của lãnh đạo Kitô giáo. Người ta có thể tuân lệnh một nhà quản lý, nhưng chỉ có thể dâng đời mình cho một tình yêu. Người ta có thể làm theo một kế hoạch, nhưng chỉ có tương quan mới đánh thức nơi họ sự tự nguyện. Đức Giêsu không sở hữu các môn đệ bằng quyền lực. Ngài chinh phục họ bằng tình yêu. Và chính những người được yêu như vậy đã có khả năng yêu người khác.
Cho nên, khi đứng trước bất cứ một quyết định nào liên quan đến con người, người lãnh đạo nên tự hỏi: điều này có bảo vệ phẩm giá của họ không? Tôi đang muốn đạt kết quả hay đang giúp con người trưởng thành? Tôi có đang hy sinh một con người để bảo vệ một hình ảnh, một thành tích, một sự thuận tiện của mình không? Công việc này quan trọng, nhưng người đang làm công việc ấy còn quan trọng hơn. Kế hoạch này cần hoàn thành, nhưng linh hồn một người không thể bị nghiền nát để đổi lấy sự hoàn thành ấy. Có những thành công quá đắt nếu cái giá là những con người bị tổn thương. Có những công trình đẹp bên ngoài nhưng được xây bằng quá nhiều nước mắt ở bên trong. Có những cộng đoàn trông rất trật tự, nhưng sự trật tự ấy được duy trì bằng nỗi sợ. Đó không phải phong cách của Đức Giêsu.
Một người lãnh đạo trưởng thành không chỉ hỏi: “Việc đã xong chưa?” mà còn hỏi: “Người làm việc ấy có còn bình an không?” Không chỉ hỏi: “Chương trình có thành công không?” mà còn hỏi: “Sau chương trình này, chúng ta có gần nhau hơn không?” Không chỉ hỏi: “Họ có vâng lời tôi không?” mà còn hỏi: “Tôi có trở thành một người đáng để họ tin không?” Không chỉ hỏi: “Tôi đã nói cho họ điều cần làm chưa?” mà còn hỏi: “Tôi đã nghe đủ để hiểu điều họ đang cần chưa?” Những câu hỏi ấy thay đổi hoàn toàn cách lãnh đạo.
Có lẽ chúng ta phải trở lại với căn phòng Tiệc Ly và nhìn Đức Giêsu trong những giờ cuối. Khi biết thời gian chẳng còn bao nhiêu, Ngài không dùng những phút cuối để giao thêm một danh sách công việc thật dài. Ngài rửa chân. Ngài ăn với họ. Ngài nói về tình yêu. Ngài gọi họ là bạn. Ngài dặn họ hãy ở lại trong Ngài. Ngài cầu nguyện cho họ được nên một. Trong giờ phút quan trọng nhất, điều Ngài quan tâm là mối tương quan: họ với Ngài, họ với Chúa Cha, họ với nhau. Và từ mối tương quan ấy, sứ mạng sẽ phát sinh. “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Đó không phải một câu phụ trong chiến lược của Đức Giêsu. Đó là trung tâm.
Một cộng đoàn ở lại trong tình yêu sẽ biết phải làm gì. Một người được yêu đủ sẽ học cách trao ban. Một nhóm người tin nhau có thể vượt qua những thử thách rất lớn. Nhưng một tập thể mất tương quan, dù giỏi đến đâu, cuối cùng cũng tự bào mòn từ bên trong. Vì thế, điều đầu tiên người lãnh đạo cần chăm sóc không phải chỉ là cấu trúc, mà là những mối dây. Không chỉ là chương trình, mà là lòng người. Không chỉ là hiệu quả hôm nay, mà là sự hiệp thông có thể sinh hoa trái nhiều năm sau.
Và có lẽ đây là một cuộc hoán cải rất lớn đối với nhiều người chúng ta. Bởi công việc dễ đo, còn tình yêu thì không. Ta có thể đếm số chương trình, số người tham dự, số tiền gây quỹ, số công trình hoàn tất. Nhưng không có bảng Excel nào đo chính xác được một người đã cảm thấy được tôn trọng đến mức nào, một cộng đoàn đã tin nhau sâu đến đâu, một người trẻ đã được nâng đỡ ra sao, một cộng sự đã được chữa lành thế nào nhờ một cuộc gặp gỡ. Vì không đo được nên ta dễ coi những điều ấy là phụ. Trong khi trước mặt Thiên Chúa, có khi chính những điều không thống kê được mới là phần quý nhất.
Sau cùng, lãnh đạo theo Đức Giêsu là học cách nhìn người trước khi nhìn việc. Là nhớ rằng phía sau mỗi nhiệm vụ là một con người có trái tim. Phía sau mỗi sai sót có thể là một câu chuyện. Phía sau mỗi sự chống đối có thể là một nỗi sợ. Phía sau một người ít nói có thể là một thế giới chưa ai chịu lắng nghe. Và người lãnh đạo được mời gọi không chỉ tổ chức công việc cho họ, nhưng bước vào đời họ với một sự tôn trọng thánh thiêng. Bởi mỗi con người không phải là phương tiện cho sứ mạng; chính họ là những người mà sứ mạng phải phục vụ.
Ngày nào ta còn nhìn cộng sự như công cụ, ngày ấy ta chưa lãnh đạo theo Đức Giêsu. Ngày nào ta chỉ nhớ đến người khác khi cần họ, ngày ấy ta vẫn còn phải học lại Tin Mừng. Ngày nào thành tích của tổ chức quan trọng với ta hơn bình an của những người đang phục vụ trong đó, ngày ấy ta phải trở về nhìn Đấng đã bỏ đám đông để đi tìm một con chiên lạc. Ngài có chín mươi chín con, nhưng một con vẫn đáng để Ngài lên đường. Đối với Đức Giêsu, không ai là một con số có thể bỏ qua.
Người lãnh đạo lớn không phải là người có nhiều người làm việc cho mình, nhưng là người làm cho những ai đi cùng mình cảm thấy họ được nhìn thấy, được lắng nghe, được tôn trọng, được tin tưởng và được yêu. Một ngày kia, khi chẳng còn chức danh, chẳng còn bàn làm việc, chẳng còn người gọi ta là “cha”, “thầy”, “sếp”, “trưởng”, “giám đốc”, điều còn lại sẽ là những mối tương quan ta đã gieo vào đời. Nếu những người từng đi với ta trở nên nhân ái hơn, tự do hơn, trưởng thành hơn, gần Chúa hơn và biết yêu nhau hơn, khi ấy ta đã lãnh đạo đúng đường. Còn nếu công việc lớn lên mà con người nhỏ lại, tổ chức mạnh lên mà lòng người nguội đi, chương trình nhiều lên mà tình huynh đệ ít đi, thì dù thành tích có đẹp đến đâu, ta vẫn phải tự hỏi mình đã bỏ quên điều gì.
Đức Giêsu đã không để lại một tòa nhà. Ngài để lại những con người. Ngài không để lại một kho tiền. Ngài để lại một cộng đoàn. Ngài không viết một cẩm nang quản trị. Ngài trao cho các môn đệ một ký ức không thể xóa: ký ức về một người Thầy đã sống với họ, ăn với họ, khóc với họ, chịu đựng họ, sửa họ, tha thứ cho họ, quỳ xuống rửa chân cho họ, rồi chết cho họ. Và từ ký ức về một tình yêu như thế, họ đã thay đổi thế giới.
Đó là lãnh đạo của Đức Giêsu: trước khi hỏi con người có thể làm gì cho sứ mạng, Ngài cho họ biết họ là ai trong trái tim Ngài. Trước khi sai họ đi, Ngài cho họ ở với mình. Trước khi đòi họ hiến mạng, Ngài hiến mạng cho họ. Trước khi bảo họ yêu nhau, Ngài yêu họ đến cùng.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu cũng chỉ có một con đường ấy: ở với người trước khi làm với người, lắng nghe trước khi chỉ dạy, yêu trước khi đòi hỏi, xây dựng tin tưởng trước khi yêu cầu vâng phục, và luôn nhớ rằng công việc rồi sẽ qua, nhưng một con người từng được ta yêu thương đúng cách có thể mang hoa trái của tình yêu ấy đi suốt cả cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 6: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC CẦU NGUYỆN TRƯỚC MỌI QUYẾT ĐỊNH QUAN TRỌNG
Có một điều rất dễ nhận ra khi đọc Tin Mừng, nhưng cũng là điều người ta rất dễ đọc lướt qua: Đức Giêsu là một con người của cầu nguyện. Ngài giảng dạy, Ngài chữa lành, Ngài đi từ làng này sang làng khác, Ngài gặp đám đông, Ngài tranh luận với những người chống đối, Ngài đồng hành với các môn đệ, Ngài chạm vào những phận người đau khổ, nhưng ở phía sau tất cả những hoạt động ấy luôn có một đời sống âm thầm mà nếu không để ý, chúng ta sẽ không hiểu được nguồn sức mạnh thật sự của Ngài. Đó là cầu nguyện. Đức Giêsu không chỉ cầu nguyện khi gặp khó khăn. Ngài không chỉ cầu nguyện khi cần một phép lạ. Ngài không chỉ cầu nguyện khi mọi phương thế của con người đã thất bại. Cầu nguyện nơi Đức Giêsu không phải là giải pháp cuối cùng. Cầu nguyện là khởi điểm. Cầu nguyện không phải là chuyện thêm vào sau khi mọi kế hoạch đã được hoàn tất. Cầu nguyện chính là nơi những kế hoạch được thanh luyện, những chọn lựa được soi sáng, những động cơ được xét lại và những quyết định được đặt trước mặt Chúa Cha. Chính ở đây ta gặp một trong những bí quyết sâu xa nhất của cách Đức Giêsu lãnh đạo: trước khi dẫn người khác đi, Ngài ở lại với Cha; trước khi quyết định cho người khác, Ngài để cho ý Cha định hướng chính mình; trước khi cất tiếng nói với đám đông, Ngài đã biết thinh lặng trước mặt Thiên Chúa.
Thánh Luca kể một chi tiết hết sức quan trọng: trước khi chọn Nhóm Mười Hai, Đức Giêsu “đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12). Chỉ một câu ngắn ngủi như thế thôi, nhưng nếu dừng lại thật lâu ở câu ấy, chúng ta sẽ thấy cả một linh đạo lãnh đạo. Chọn mười hai tông đồ đâu phải chuyện nhỏ. Đó là chọn những người sẽ ở với Ngài, sẽ được Ngài đào tạo, sẽ mang Tin Mừng đi khắp nơi, sẽ trở thành những viên đá nền tảng cho cộng đoàn Hội Thánh sau này. Đó là một quyết định liên quan đến con người, liên quan đến sứ vụ, liên quan đến tương lai. Và Đức Giêsu đã làm gì? Ngài không triệu tập một hội đồng để chấm điểm từng ứng viên. Ngài không lập bảng ưu khuyết điểm. Ngài không chọn theo tiêu chuẩn thành công thông thường. Ngài lên núi. Ngài cầu nguyện. Ngài ở đó suốt đêm. Cả một đêm để đặt những con người ấy trước mặt Chúa Cha. Cả một đêm để nghe hơn là nói. Cả một đêm để cho ý riêng lắng xuống và ý Cha trở nên sáng hơn. Cả một đêm để từ bỏ sự vội vàng vốn thường khiến con người chọn điều tiện nhất thay vì điều đúng nhất.
Chi tiết “suốt đêm” thật đáng để suy nghĩ. Đức Giêsu không cầu nguyện qua loa vài phút rồi xuống núi. Tin Mừng cố ý ghi lại điều ấy, như muốn nói rằng có những quyết định lớn đến mức người ta không được phép quyết định trong vội vã. Có những chọn lựa liên quan đến con người, đến cộng đoàn, đến tương lai, đến sứ mạng mà một nhà lãnh đạo không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm, vào cảm tính, vào sự khôn ngoan nghề nghiệp hay vào lời của những người thân cận. Có những chuyện cần phải đem lên núi. Có những chuyện phải thức với Chúa một đêm, hay nhiều đêm, theo nghĩa đen hoặc nghĩa thiêng liêng, trước khi dám đặt bút ký, dám bổ nhiệm một người, dám thay đổi một hướng đi, dám nói một lời có thể ảnh hưởng đến cuộc đời của người khác. Đức Giêsu cho ta thấy rằng một quyết định càng ảnh hưởng đến nhiều người thì càng cần được sinh ra từ cầu nguyện.
Điều đáng chú ý là sau một đêm cầu nguyện, Đức Giêsu chọn những con người mà nếu nhìn bằng tiêu chuẩn của một chuyên gia nhân sự hôm nay, có lẽ chẳng ai dám bảo đảm. Trong Nhóm Mười Hai có những người nóng nảy, có những người tranh hơn tranh thua, có người từng làm nghề thu thuế bị xã hội khinh ghét, có những ngư phủ bình thường, có người sau này chối Thầy, có người hoài nghi, và thậm chí có một Giuđa phản bội. Điều đó nói với chúng ta một điều hết sức sâu xa: cầu nguyện không phải là cách để chắc chắn rằng mọi quyết định của ta sẽ đem lại kết quả dễ chịu theo tiêu chuẩn con người. Cầu nguyện cũng không biến đời sống lãnh đạo thành một con đường không có rủi ro. Cầu nguyện làm một điều khác: giúp người lãnh đạo đứng trong ý muốn của Thiên Chúa ngay cả khi con đường ấy sẽ đi qua thử thách, thất vọng và thập giá. Nhiều người nghĩ rằng nếu đã cầu nguyện thì mọi sự phải trôi chảy. Không. Đức Giêsu cầu nguyện trước khi chọn các tông đồ, nhưng các tông đồ vẫn nhiều lần làm Ngài đau lòng. Đức Giêsu cầu nguyện trước cuộc Thương Khó, nhưng chén đắng vẫn không được cất đi. Đức Giêsu sống kết hợp sâu xa với Chúa Cha, nhưng Ngài vẫn bị hiểu lầm, chống đối và đóng đinh. Cầu nguyện không phải để chúng ta thao túng Thiên Chúa sao cho Ngài làm mọi chuyện theo ý mình. Cầu nguyện là để ý mình được uốn lại theo ý Thiên Chúa.
Đó chính là điểm khác biệt giữa người thật sự cầu nguyện và người chỉ dùng cầu nguyện như một thứ trang trí đạo đức cho quyết định của mình. Có khi chúng ta đã quyết xong tất cả, đã muốn như thế, đã chọn người ấy, đã định con đường ấy, đã khép lòng trước mọi khả năng khác, rồi sau đó mới nói: “Xin Chúa chúc lành cho quyết định này.” Nếu thành thật, nhiều khi điều chúng ta gọi là xin Chúa soi sáng thực ra chỉ là xin Chúa đóng dấu xác nhận vào ý riêng. Chúng ta không hỏi Chúa: “Chúa muốn gì?” mà chỉ hỏi: “Chúa có đồng ý với điều con muốn không?” Hai thái độ ấy hoàn toàn khác nhau. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải học lại từ đầu một kiểu cầu nguyện trong đó mình có thể thật sự đổi ý nếu nhận ra Chúa đang dẫn sang hướng khác. Nếu sau cầu nguyện mà ta chưa bao giờ phải từ bỏ một dự định mình rất thích, chưa bao giờ phải xin lỗi vì một phán đoán sai, chưa bao giờ phải đổi hướng vì nhận ra điều mình muốn không phải là điều tốt nhất, thì có lẽ cần tự hỏi: ta đang cầu nguyện để nghe Chúa, hay chỉ để nghe tiếng vọng của chính mình?
Cầu nguyện trước quyết định đòi một sự nghèo khó nội tâm. Người ta chỉ cầu nguyện thật sự khi chấp nhận rằng mình không biết hết. Một trong những cám dỗ lớn nhất của người lãnh đạo là tưởng rằng vì mình có chức vụ nên mình có câu trả lời; vì mình có kinh nghiệm nên mình ít có thể sai; vì mình hiểu tổ chức nên mình hiểu con người; vì mình có trách nhiệm nên ý kiến của mình mặc nhiên phải là ý kiến đúng. Nhưng chức vụ không làm một người trở nên toàn tri. Kinh nghiệm có thể giúp ta sáng suốt hơn, nhưng cũng có thể khiến ta chủ quan hơn. Thành công quá lâu đôi khi làm người lãnh đạo mất khả năng nghi ngờ chính mình. Chính lúc ấy cầu nguyện trở thành một trường học của sự khiêm nhường. Trước mặt Thiên Chúa, chiếc ghế ta đang ngồi không làm ta lớn hơn. Danh xưng của ta không làm lời cầu nguyện của ta đáng giá hơn. Trước mặt Chúa, ta lại trở thành một thụ tạo phải nói: “Lạy Chúa, con không thấy hết. Con không hiểu hết. Con có thể sai. Xin soi sáng cho con.”
Có lẽ đây là lý do càng giữ trách nhiệm lớn, người ta càng cần cầu nguyện nhiều. Không phải vì người có trách nhiệm nhiều thì thánh thiện hơn, nhưng vì mỗi sai lầm của họ có khả năng gây hậu quả rộng hơn. Một người bình thường nóng giận có thể làm tổn thương vài người. Một người lãnh đạo nóng giận có thể tạo ra một bầu khí sợ hãi cho cả tập thể. Một người bình thường có thành kiến có thể đối xử bất công với một người. Một nhà lãnh đạo mang thành kiến có thể biến thành kiến ấy thành chính sách, thành cách bổ nhiệm, thành lối vận hành làm nhiều người bị thiệt thòi. Một người bình thường thiếu cầu nguyện có thể đi lạc một đoạn trong đời mình. Một nhà lãnh đạo thiếu cầu nguyện có thể kéo cả một cộng đoàn đi lạc cùng mình. Trách nhiệm càng lớn, nhu cầu ở lại với Chúa càng không thể xem nhẹ.
Trong đời sống Giáo Hội, điều này lại càng quan trọng. Có những cuộc họp rất dài, rất nhiều số liệu, rất nhiều bản báo cáo, rất nhiều tranh luận và lý lẽ. Tất cả những điều ấy cần thiết. Đức tin không thay thế cho trách nhiệm, cầu nguyện không loại bỏ phân tích, phân định không đồng nghĩa với làm việc tùy hứng. Nhưng nguy hiểm nằm ở chỗ chúng ta có thể làm mọi thứ rất chuyên nghiệp mà quên mất câu hỏi căn bản: Chúa đang muốn gì nơi cộng đoàn này? Có khi chúng ta hỏi: Làm sao tăng số người tham dự? Làm sao tổ chức chương trình cho thành công? Làm sao gây quỹ? Làm sao xây dựng? Làm sao có thêm nhân sự? Những câu hỏi ấy hoàn toàn hợp lý. Nhưng trước đó phải có một câu khác: Điều gì đang làm đẹp lòng Chúa? Nếu một chương trình rất thành công nhưng làm người ta kiệt sức, chia rẽ và cạnh tranh, liệu thành công ấy có đáng không? Nếu một công trình rất lớn nhưng cộng đoàn mất bình an, liệu đó có thật sự là công trình của Chúa? Nếu một quyết định rất hiệu quả nhưng làm tổn thương phẩm giá một con người, liệu ta có thể gọi đó là khôn ngoan không? Cầu nguyện không làm cho câu trả lời đơn giản hơn; nhiều khi nó làm chúng ta khó quyết định hơn, vì lương tâm bắt đầu nhạy bén hơn trước những điều mà tính toán thuần túy có thể bỏ qua.
Đức Giêsu nhiều lần rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Điều ấy đặc biệt đáng chú ý vì Ngài thường làm như thế ngay trong những giai đoạn rất bận rộn. Đám đông đang tìm Ngài. Người bệnh cần Ngài. Các môn đệ chắc hẳn có cả trăm việc muốn hỏi. Vậy mà Ngài vẫn đi vào nơi vắng vẻ. Nhìn theo logic hiệu suất, việc ấy có vẻ lãng phí thời gian. Nhưng chính nơi đó Ngài lấy lại điều căn bản nhất: mình đến từ đâu, mình thuộc về ai, mình đang làm điều gì và vì ai. Người lãnh đạo nếu không có những khoảng thinh lặng như vậy sẽ rất dễ bị cuốn vào cơn nghiện hoạt động. Hết việc này đến việc khác. Hết cuộc họp này đến cuộc họp khác. Hết chương trình này đến chương trình khác. Lịch kín đặc tạo cho người ta cảm giác mình quan trọng. Điện thoại reo liên tục khiến người ta tưởng mình không thể thiếu. Nhưng có những người làm việc rất nhiều mà ngày càng xa khỏi căn tính của mình. Họ bắt đầu sống theo nhu cầu của đám đông, theo áp lực của kỳ vọng, theo lời khen chê, theo những chỉ số thành công. Và rồi một ngày họ không còn biết mình làm tất cả những điều ấy vì Chúa hay vì không chịu được cảm giác bị quên lãng.
Cầu nguyện cứu người lãnh đạo khỏi việc biến sứ vụ thành một hình thức xây dựng bản thân. Ở trong cầu nguyện, người ta phải đối diện với những động cơ rất kín. Tại sao con muốn công việc này thành công đến thế? Vì vinh danh Chúa, hay vì con muốn người ta công nhận con? Tại sao con không muốn giao việc cho người khác? Vì con chưa tìm được người thích hợp, hay vì con sợ người khác làm tốt hơn con? Tại sao con muốn giữ người này và loại người kia? Vì lợi ích chung, hay vì người này làm con dễ chịu còn người kia hay đặt những câu hỏi khiến con khó chịu? Tại sao con nóng lòng phải quyết ngay? Vì tình thế thực sự cấp bách, hay vì con không chịu nổi trạng thái chưa biết? Những câu hỏi như thế khó có thể xuất hiện nếu chúng ta chỉ ngồi trong phòng họp. Chúng thường xuất hiện khi người ta quỳ xuống.
Cầu nguyện còn cho người lãnh đạo một điều rất quý: tự do trước con người. Người không cầu nguyện đủ thường rất dễ trở thành tù nhân của lời khen và lời chê. Khi được ủng hộ thì vui, khi bị phản đối thì mất bình an. Khi người ta vỗ tay thì tưởng mình đúng, khi người ta bỏ đi thì bắt đầu nghi ngờ mọi thứ. Đức Giêsu không sống theo cách ấy. Ngài yêu con người, nhưng không lệ thuộc vào sự tán thưởng của con người. Có lúc đám đông muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi. Có lúc đám đông bỏ Ngài vì lời giảng quá khó, Ngài không thay đổi chân lý để giữ người. Nguồn tự do ấy không đến từ một cá tính cứng cỏi. Nó đến từ việc Ngài biết mình là Con yêu dấu của Chúa Cha. Khi căn tính đã bén rễ trong tình yêu của Cha, người ta không còn phải dùng chức vụ để chứng minh giá trị của mình.
Một nhà lãnh đạo không có đời sống cầu nguyện sâu dễ sử dụng quyền lực như một cách chữa những bất an bên trong. Người ấy muốn kiểm soát vì sợ mất kiểm soát. Muốn mọi người nghe mình vì sâu xa sợ bị xem thường. Muốn được nhắc đến vì sợ bị lãng quên. Muốn người khác lệ thuộc vào mình vì không biết sống với cảm giác mình không còn cần thiết. Những điều ấy đôi khi được che bằng những từ rất đẹp như “trách nhiệm”, “kỷ luật”, “bảo vệ truyền thống”, “giữ sự thống nhất”. Nhưng cầu nguyện chân thật sẽ từ từ bóc những lớp vỏ ấy. Nó giúp ta hỏi: nếu ngày mai không còn chức vụ này, con còn biết mình là ai trước mặt Chúa không? Nếu người khác làm tốt hơn con, con có thật lòng vui không? Nếu ý kiến của con bị bác bỏ nhưng công việc chung lại tốt hơn, con có bình an không? Nếu Chúa muốn con lui xuống để người khác bước lên, con có đủ tự do để vâng không?
Đỉnh cao của lời cầu nguyện Đức Giêsu trước một quyết định và một biến cố lớn chính là vườn Ghếtsêmani. Ở đó, chúng ta thấy Ngài không đóng vai một người lãnh đạo vô cảm. Ngài sợ. Ngài buồn. Ngài “xao xuyến” đến độ nói với các môn đệ rằng tâm hồn buồn đến chết được. Và rồi Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó không phải là câu nói của một người không có ý riêng. Đức Giêsu có một khát vọng rất thật: nếu có thể, xin cho chén này qua đi. Cầu nguyện không có nghĩa là không còn mong muốn. Cầu nguyện là đem mong muốn thật của mình đến trước Thiên Chúa và đặt nó dưới một lời lớn hơn: “xin theo ý Cha.”
Đây có lẽ là lời cầu nguyện khó nhất đối với một nhà lãnh đạo. “Xin đừng theo ý con.” Không dễ chút nào. Bởi lãnh đạo vốn là vị trí phải đưa ra ý kiến, phải quyết định, phải định hướng. Làm lâu ngày, người ta rất dễ quen với việc người khác hỏi mình: cha nghĩ sao, anh quyết thế nào, chị chọn phương án nào? Và dần dần người lãnh đạo có thể tưởng rằng sự khôn ngoan luôn phát xuất từ mình. Ghếtsêmani phá tan ảo tưởng ấy. Người lãnh đạo vĩ đại nhất lại là Đấng có thể nói: “Xin đừng theo ý con.” Điều đó không làm Ngài yếu. Trái lại, chính sự vâng phục ấy làm Ngài mạnh đến mức có thể đi hết con đường Thập Giá.
Không phải mọi quyết định đều cần một đêm thức trắng cầu nguyện. Có những chuyện hằng ngày ta phải quyết nhanh. Nhưng mọi người lãnh đạo cần xây dựng một đời sống cầu nguyện đủ sâu để ngay cả những quyết định nhanh cũng được lấy ra từ một con tim đã quen ở trước mặt Chúa. Người nhạc công giỏi không phải mỗi lần biểu diễn mới học nhạc. Người cầu nguyện cũng vậy. Không thể sống cả tháng tách khỏi Chúa rồi đến ngày cần quyết một việc lớn mới mong trong mười lăm phút nhận được ánh sáng rõ ràng. Phân định được chuẩn bị bằng một đời sống thân mật lâu dài với Thiên Chúa. Khi ngày qua ngày người ta đọc Lời Chúa, ở lại trong thinh lặng, xét lại lòng mình, tập nghe và tập vâng, dần dần trong họ hình thành một thứ bản năng thiêng liêng. Không phải lúc nào cũng nghe được câu trả lời cụ thể, nhưng họ nhạy hơn với điều nào mang mùi của Tin Mừng và điều nào chỉ là tham vọng khoác áo đạo đức.
Một điều nữa rất đáng nói: cầu nguyện trước quyết định không loại bỏ việc tham khảo người khác. Trái lại, cầu nguyện thật làm người lãnh đạo biết lắng nghe hơn. Bởi nếu tôi thực sự tin Chúa có thể nói, tôi cũng phải khiêm tốn chấp nhận rằng Ngài có thể nói qua người khác, kể cả qua người ít kinh nghiệm hơn tôi, qua người làm tôi khó chịu, qua người đang phản biện tôi. Có những nhà lãnh đạo rất “đạo đức”, cầu nguyện nhiều nhưng không ai góp ý được với họ. Kiểu cầu nguyện ấy cần được xét lại. Càng gần Chúa, con người càng phải hiền hơn, mềm hơn, biết lắng nghe hơn. Đức Giêsu cầu nguyện với Cha nhưng cũng hỏi các môn đệ: “Người ta nói Con Người là ai?” Rồi Ngài hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ngài để họ nói. Ngài tạo không gian cho tiếng nói của người khác. Cầu nguyện không biến nhà lãnh đạo thành người cô lập, tưởng rằng chỉ mình và Chúa là đủ. Thiên Chúa thường hướng dẫn chúng ta qua cộng đoàn.
Trong thực tế, có thể phân biệt một quyết định được sinh ra từ cầu nguyện với một quyết định chỉ được tô màu tôn giáo qua những hoa trái của nó. Quyết định đến từ cầu nguyện thường có sự bình an sâu, ngay cả khi khó. Nó không nhất thiết làm mọi người hài lòng, nhưng người ra quyết định không mang tinh thần trả đũa. Nó có khả năng bảo vệ người yếu hơn, không chỉ lợi ích của người mạnh. Nó cho phép nhà lãnh đạo giải thích cách minh bạch, không cần dùng sự sợ hãi để buộc người khác chấp nhận. Nó để chỗ cho điều chỉnh nếu sau này thấy mình sai. Nó không khiến người quyết định trở nên kiêu hãnh vì thành công hay cay đắng vì bị phản đối. Trái lại, những quyết định xuất phát từ bản ngã thường đi kèm sự hấp tấp, nhu cầu phải thắng, nhu cầu chứng minh, thái độ phòng thủ và sự khó chịu với bất kỳ ai đặt câu hỏi.
Có những lúc sau rất nhiều cầu nguyện, ta vẫn không biết chắc phải chọn gì. Điều ấy cũng bình thường. Đức tin không biến mọi ngã ba đường thành bảng chỉ dẫn phát sáng. Thiên Chúa không luôn trả lời bằng một cảm giác rõ ràng hay một dấu lạ. Nhiều khi người lãnh đạo phải dùng trí khôn Chúa ban, tham khảo người khác, cân nhắc các dữ kiện rồi chọn một phương án với lương tâm ngay thẳng. Cầu nguyện lúc đó không làm ta có sự chắc chắn tuyệt đối, nhưng cho ta sự khiêm tốn để nói: “Lạy Chúa, với ánh sáng con có lúc này, con tin đây là điều nên làm. Nếu con sai, xin sửa con. Nếu con đúng, xin giữ con khỏi kiêu căng.” Một người có thể lãnh đạo tốt mà không cần lúc nào cũng tỏ ra chắc chắn. Thật ra, câu “tôi có thể sai” đôi khi là một trong những dấu hiệu trưởng thành nhất của một nhà lãnh đạo.
Điều nguy hiểm là nhiều người vì sợ bị xem là yếu nên không dám thú nhận mình chưa biết. Họ vội quyết để bảo vệ hình ảnh mạnh mẽ. Nhưng Đức Giêsu cho thấy một kiểu sức mạnh khác. Ngài có thể ở trong thinh lặng. Ngài không bị ám ảnh phải trả lời mọi câu hỏi ngay lập tức. Trước những kẻ tố cáo người phụ nữ ngoại tình, Ngài cúi xuống viết trên đất trước khi lên tiếng. Trước Philatô, có lúc Ngài im lặng. Trong thế giới hôm nay, nơi tốc độ thường được đánh đồng với năng lực, một nhà lãnh đạo biết nói “tôi cần cầu nguyện thêm về chuyện này” đôi khi là người can đảm hơn người đưa ra đáp án tức thì.
Trong các cộng đoàn Kitô hữu, một trong những cuộc hoán cải lớn nhất có lẽ là chuyển từ cầu nguyện sau quyết định sang cầu nguyện trong tiến trình quyết định. Hai điều ấy rất khác. Cầu nguyện sau quyết định thường chỉ xin cho mọi việc thuận lợi. Cầu nguyện trong tiến trình là để chính quyết định có thể thay đổi. Ví dụ, khi chọn một người cho một trách nhiệm, đừng chỉ hỏi người ấy có tài không. Hãy cầu nguyện và hỏi: trách nhiệm này có giúp người ấy lớn lên không, hay sẽ làm người ấy hư đi? Người ấy có đủ đời sống nội tâm để gánh quyền lực không? Cộng đoàn cần tài của người ấy, nhưng người ấy có cần vị trí này không? Khi bắt đầu một công trình, đừng chỉ hỏi có đủ tiền không. Hãy hỏi: công trình này có thật sự phục vụ con người không? Nó có trở thành gánh nặng cho tương lai không? Nó có được xây từ sự hiệp nhất hay từ nhu cầu phải chứng minh điều gì? Khi giải quyết một xung đột, đừng chỉ hỏi ai đúng ai sai. Hãy cầu nguyện để nhìn xem điều gì trong cách cư xử của chính mình cần được sửa trước.
Cầu nguyện như thế có giá. Nó làm người lãnh đạo chậm lại. Nó buộc ta đối diện với mình. Nó có thể khiến ta phải thay đổi một điều đã tuyên bố. Nó có thể dẫn đến một quyết định ít tiếng vỗ tay hơn. Nó có thể buộc ta chọn người không thuộc “phe” của mình. Nó có thể làm ta từ bỏ một dự án mà ta đã đầu tư rất nhiều danh dự. Nhưng đó chính là cái giá của việc để Thiên Chúa thật sự là Chúa. Nếu cầu nguyện không bao giờ có quyền phủ quyết ý định của ta, thì Thiên Chúa chỉ còn là cố vấn danh dự trong đời lãnh đạo của ta.
Một người lãnh đạo Kitô hữu cần đặc biệt nhớ rằng mình không sở hữu sứ mạng. Giáo xứ không phải của cha xứ. Hội đoàn không phải của ban điều hành. Cộng đoàn không phải của người sáng lập. Một tổ chức Công giáo cũng không phải là tài sản tinh thần của những người đang nắm quyền. Tất cả đều thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta chỉ được trao cho một thời gian. Chính vì thế, cầu nguyện là hành động trả lại quyền sở hữu cho Ngài. Mỗi lần cầu nguyện trước một quyết định, người lãnh đạo như đang nói: “Lạy Chúa, đây là dân của Chúa, không phải dân của con. Đây là công việc của Chúa, không phải công trình riêng của con. Đây là những con người Chúa yêu, không phải những nhân sự để con sử dụng. Xin đừng để con làm tổn thương điều thuộc về Chúa vì cái tôi của con.”
Đây là điểm rất quan trọng trong mọi lãnh đạo mang tính mục vụ. Con người không phải quân cờ. Một quyết định nhân sự trên giấy có thể chỉ là một dòng: điều chuyển, thay thế, bổ nhiệm, miễn nhiệm. Nhưng phía sau mỗi dòng ấy là một con người với lịch sử, gia đình, nỗi sợ, những vết thương, lòng tự trọng và cả một đời sống tinh thần. Cầu nguyện không nhất thiết làm quyết định khác đi, nhưng nó thay đổi cách ta đưa ra quyết định. Có những việc vẫn phải làm, có những thay đổi vẫn cần thiết, có những người vẫn phải được nhắc nhở hoặc chuyển khỏi vị trí. Nhưng khi người lãnh đạo đã thật sự cầu nguyện, họ sẽ làm điều cần làm với lòng kính trọng hơn, không hạ nhục, không triệt đường sống, không biến kỷ luật thành sự trả thù.
Đức Giêsu ở Ghếtsêmani đã cầu nguyện giữa nỗi sợ. Điều đó cũng nhắc chúng ta rằng nhiều quyết định tồi không xuất phát từ ác ý mà từ sợ hãi. Sợ thiếu người. Sợ mất tiền. Sợ mất uy tín. Sợ người khác vượt mình. Sợ truyền thống thay đổi. Sợ tương lai. Sợ dư luận. Khi sợ, con người có xu hướng kiểm soát nhiều hơn và yêu ít hơn. Cầu nguyện đưa nỗi sợ ra ánh sáng. Ta có thể nói thật với Chúa: “Con đang sợ.” Đó không phải yếu đuối. Yếu đuối là để nỗi sợ âm thầm điều khiển quyết định mà vẫn tưởng mình đang hành động vì lý tưởng. Khi nỗi sợ được gọi tên trước mặt Thiên Chúa, nó mất bớt quyền lực trên chúng ta.
Người lãnh đạo cầu nguyện cũng học được cách chờ đợi. Có khi Chúa chưa cho câu trả lời vì thời điểm chưa tới. Trong xã hội đề cao tốc độ, chờ đợi bị xem là bất lực. Nhưng Kinh Thánh đầy những khoảng chờ. Abraham chờ. Giuse chờ. Môsê chờ. Đavít được xức dầu nhưng còn phải chờ nhiều năm mới làm vua. Các môn đệ được bảo ở lại Giêrusalem mà chờ Thánh Thần. Không phải mọi trì hoãn đều là thánh ý, nhưng cũng không phải mọi việc nhanh đều là dấu của Chúa. Có những cánh cửa ta phải đẩy. Có những cánh cửa ta phải chờ Chúa mở. Khôn ngoan là biết phân biệt.
Một trong những dấu hiệu đáng sợ trong đời sống lãnh đạo là khi người ta quá bận đến mức không còn giờ cầu nguyện. Nghe có vẻ hợp lý: nhiều việc quá, nhiều người cần quá, trách nhiệm quá lớn. Nhưng chính ở đó ta cần tự hỏi: nếu tôi bận đến mức không còn thời gian ở với Đấng đã trao cho tôi sứ vụ này, có phải cách tôi đang sống sứ vụ đã sai ở đâu đó không? Đức Giêsu có thể nói rằng Ngài bận hơn tất cả chúng ta. Đám đông theo Ngài từ sáng tới tối. Người bệnh chen nhau chạm vào Ngài. Các môn đệ luôn cần được dạy. Vậy mà Ngài vẫn cầu nguyện. Cầu nguyện không phải việc ta làm khi còn dư giờ. Cầu nguyện là điều giữ cho những giờ còn lại không bị phí phạm vào những việc không thật sự cần.
Có những người nói: “Công việc của tôi là cầu nguyện.” Câu ấy nghe đạo đức nhưng rất nguy hiểm nếu nó trở thành cái cớ cho một đời sống không cầu nguyện. Hoạt động mục vụ không tự động là cầu nguyện. Giảng về Chúa không có nghĩa là đang ở với Chúa. Làm việc cho Giáo Hội không đồng nghĩa với làm việc từ Thiên Chúa. Có thể cả ngày nói về Ngài mà lòng đã xa Ngài rất lâu. Cũng có thể điều hành hàng chục chương trình đạo đức nhưng bên trong ngày càng khô cứng. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu không thể chỉ là người làm nhiều việc của Chúa; họ phải là người sống với Chúa.
Khi cầu nguyện đủ sâu, người lãnh đạo bắt đầu nhận ra một sự thật có sức giải thoát: mình không phải Đấng Cứu Thế. Công việc sẽ không sụp đổ chỉ vì mình nghỉ một ngày. Cộng đoàn không hoàn toàn tùy thuộc vào mình. Thiên Chúa đã hoạt động trước khi mình đến và vẫn hoạt động sau khi mình đi. Sự thật ấy giúp người lãnh đạo biết nghỉ ngơi, biết trao quyền, biết chuẩn bị người kế nhiệm và biết rời đi đúng lúc. Người không cầu nguyện thường khó rời quyền lực, vì sâu xa họ đã đồng hóa căn tính của mình với vai trò. Người cầu nguyện biết rằng mình là con của Chúa trước khi là người đứng đầu bất kỳ tổ chức nào.
Và rồi có một nghịch lý rất đẹp: càng lệ thuộc vào Thiên Chúa, người lãnh đạo lại càng tự do trong hành động. Vì họ không còn phải bảo vệ cái tôi quá nhiều. Họ có thể quyết mạnh khi cần, nhưng không độc đoán. Có thể mềm khi cần, nhưng không yếu đuối. Có thể thay đổi, nhưng không cơ hội. Có thể kiên trì, nhưng không cố chấp. Cội rễ của sự tự do ấy nằm ở việc họ không sống từ phản ứng của người khác, mà từ một tương quan sâu với Thiên Chúa.
Quyền lực thật không đến từ chức vụ. Chức vụ có thể khiến người ta nghe lời ta vì bổn phận. Quyền lực thiêng liêng khiến người ta tin ta vì họ cảm được rằng lời nói của ta đã đi qua cầu nguyện. Có những người không nói nhiều nhưng khi nói lại có trọng lượng, bởi người ta biết họ không phát biểu để phô mình. Có những vị mục tử chỉ cần ngồi im đã đem lại bình an, vì đời họ có mùi của sự hiện diện Thiên Chúa. Ngược lại, có người nắm chức vụ rất cao nhưng lời nói nhẹ tênh, bởi người ta cảm thấy phía sau đó là tham vọng, phản ứng và nhu cầu kiểm soát. Quyền lực thiêng liêng không thể giả vờ. Nó được sinh ra trong những giờ không ai thấy, khi một người ở một mình trước mặt Chúa.
Có thể nói như thế này: phòng cầu nguyện là nơi vô hình quyết định chất lượng của phòng họp. Cách một người ngồi trước Chúa sẽ ảnh hưởng đến cách họ ngồi trước người khác. Nếu trước Chúa họ biết mình là kẻ được tha thứ, họ sẽ bớt kết án. Nếu trước Chúa họ nhận ra mình bất toàn, họ sẽ bớt khắt khe. Nếu trước Chúa họ được yêu nhưng không vì công trạng, họ sẽ bớt biến người khác thành công cụ chứng minh thành công của mình. Nếu trước Chúa họ đã học vâng phục, họ sẽ bớt đòi hỏi người khác phải tuyệt đối vâng phục mình.
Đức Giêsu lãnh đạo từ cầu nguyện. Ngài không mượn cầu nguyện để trang trí cho quyền lực; chính cầu nguyện làm cho cách Ngài sử dụng quyền lực trở thành phục vụ. Ngài biết mình từ Cha mà đến và sẽ về cùng Cha, nên trong bữa Tiệc Ly Ngài có thể đứng dậy, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng rồi quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Người biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa không cần dùng địa vị để đứng cao hơn người khác. Và đó chính là hoa trái đẹp nhất của một đời cầu nguyện nơi người lãnh đạo: quyền lực được thanh luyện thành phục vụ.
Mỗi người đang gánh một trách nhiệm, dù trong Giáo Hội, gia đình, cộng đoàn hay xã hội, có lẽ cần đôi lúc tự hỏi: quyết định lớn gần nhất của mình đã được cầu nguyện bao lâu? Trước khi nói lời có thể thay đổi cuộc đời một người, mình đã đặt người ấy trước Chúa chưa? Trước khi loại bỏ một cộng sự, mình có hỏi Chúa xem phần lỗi nào thuộc về cách lãnh đạo của mình không? Trước khi nhận một chức vụ mới, mình có hỏi đó là lời mời gọi hay chỉ là một bước tiến của tham vọng? Trước khi bắt đầu một công trình lớn, mình đã xin Chúa cho mình đủ tự do để dừng lại nếu đó không phải ý Ngài chưa? Những câu hỏi ấy có thể làm ta không thoải mái, nhưng nếu không hỏi, chúng ta rất dễ dùng danh Chúa để thực hiện ý riêng.
Một nhà lãnh đạo theo Đức Giêsu phải học cầu nguyện không chỉ bằng môi miệng, mà bằng sự sẵn sàng vâng phục. Lời cầu nguyện thật luôn có một khoảng trống cho Thiên Chúa chen vào. Nó phải có khả năng kết thúc bằng câu: “Nếu Chúa muốn khác, con xin đổi.” Đó là điều khiến cầu nguyện trở nên đáng sợ đối với cái tôi, nhưng lại trở thành nguồn bình an cho tâm hồn. Bởi từ giây phút ấy, ta không còn phải gánh toàn bộ tương lai trên vai. Ta làm phần của mình, với tất cả sự khôn ngoan, trách nhiệm và can đảm; phần còn lại trao cho Chúa.
Sau cùng, bí quyết lãnh đạo của Đức Giêsu không nằm ở một kỹ thuật phân định phức tạp. Nó nằm trong một mối tương quan: Con với Cha. Ngài sống từ mối tương quan ấy, trở về với mối tương quan ấy và quyết định trong mối tương quan ấy. Đó cũng phải là cội nguồn của mọi lãnh đạo Kitô hữu. Khi người lãnh đạo không còn cầu nguyện, họ sẽ sớm bắt đầu lấy năng lực của mình thay cho ân sủng, lấy kế hoạch của mình thay cho thánh ý, lấy quyền kiểm soát thay cho niềm tin. Nhưng khi người lãnh đạo ở lại trong Chúa, ngay cả lúc phải đi qua những quyết định đau đớn, họ vẫn có một nơi để trở về.
Càng nắm nhiều trách nhiệm, càng phải cầu nguyện nhiều hơn. Không phải để trở nên thần bí trước mắt người khác, nhưng để bớt nguy hiểm cho người khác. Càng có nhiều quyền, càng phải quỳ nhiều hơn. Càng có nhiều người nghe lời mình, càng phải dành nhiều thời gian để nghe lời Chúa. Càng có khả năng quyết định số phận của người khác, càng phải nhớ rằng chính mình cũng đang đứng dưới một Đấng lớn hơn mình. Người lãnh đạo không quỳ trước Thiên Chúa rất dễ bắt người khác quỳ trước mình. Người thường xuyên quỳ trước Thiên Chúa sẽ hiểu rằng quyền lực chỉ là một món quà tạm thời được trao để phục vụ.
Có lẽ trước mỗi quyết định lớn, chúng ta không cần nói những lời cầu nguyện dài. Chỉ cần thật lòng thưa: “Lạy Chúa, xin đừng để con quyết vì tự ái. Xin đừng để con quyết vì sợ. Xin đừng để con quyết để chứng minh mình đúng. Xin cho con nhìn con người này như Chúa nhìn họ. Xin cho con yêu sự thật hơn danh dự của con. Xin cho con đủ can đảm làm điều cần làm và đủ khiêm nhường để đổi ý khi nhận ra mình sai. Và nếu điều con muốn không phải điều Chúa muốn, xin Chúa phá vỡ kế hoạch của con trước khi kế hoạch ấy làm tổn thương người khác.”
Đó là lời cầu nguyện của một người lãnh đạo đang học cách trở thành môn đệ. Và có lẽ chỉ khi còn là môn đệ, người ta mới thật sự xứng đáng để lãnh đạo.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu, cuối cùng, không phải là đứng trước người khác mà chỉ đường bằng sự khôn ngoan của mình. Đó là đứng sau Chúa, lắng nghe Ngài, rồi mới dám nói với người khác: chúng ta hãy đi con đường này. Người lãnh đạo Kitô hữu không phải là người biết hết con đường. Họ là người biết phải tìm ánh sáng ở đâu. Và trước mọi quyết định quan trọng, họ trở về nơi Đức Giêsu đã luôn trở về: nơi thanh vắng, trong sự hiện diện của Chúa Cha, nơi mọi tham vọng được đặt xuống, mọi sợ hãi được gọi tên, mọi kế hoạch được mở ra, và chỉ còn một lời sau cùng đáng được giữ lại: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.”
CHƯƠNG 7: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC ĐỐI DIỆN VỚI XUNG ĐỘT VÀ PHẢN BỘI MỘT CÁCH TRUNG THỰC
Có lẽ một trong những thử thách đau đớn nhất của người lãnh đạo không phải là thiếu tiền, thiếu người, thiếu phương tiện hay thiếu những điều kiện thuận lợi để làm việc. Những thứ ấy, dù khó khăn, vẫn còn là những khó khăn ở bên ngoài. Điều thực sự làm một người lãnh đạo kiệt sức nhiều khi lại đến từ bên trong: một người mình đã tin không còn tin mình nữa, một người từng đứng cạnh mình nay quay lưng, một cộng sự từng chia sẻ với mình những dự định tốt đẹp bỗng trở thành người chống đối, một người mình đã nâng đỡ lại là người làm mình tổn thương, một người mình từng bênh vực lại nói những lời khiến mình đau nhất. Có những nỗi đau người lãnh đạo không thể kể ra vì kể ra thì sợ làm tổn thương cộng đoàn. Có những hiểu lầm không thể giải thích ngay vì càng giải thích người ta càng nghĩ mình thanh minh. Có những phản bội không đến từ người xa lạ mà đến từ người từng ăn cùng bàn, từng cầu nguyện chung, từng chia sẻ sứ vụ, từng gọi nhau bằng những tiếng rất thân thương. Chính trong những giờ phút như vậy, phẩm chất thật của một người lãnh đạo mới được bộc lộ. Khi mọi người yêu mến mình, sống tử tế không khó. Khi mọi việc thuận lợi, giữ bình tĩnh không khó. Khi cộng sự trung thành, cư xử rộng lượng không khó. Nhưng khi bị chống đối, bị hiểu lầm, bị phản bội, bị người thân cận làm đau, lúc ấy người lãnh đạo sẽ lộ ra điều đang thực sự cai trị trái tim mình: tình yêu hay tự ái, sự thật hay sĩ diện, lòng thương xót hay nhu cầu trả đũa, niềm tin vào Thiên Chúa hay nỗi ám ảnh phải bảo vệ chính mình. Đức Giêsu đã đi qua tất cả những kinh nghiệm ấy. Ngài không lãnh đạo một nhóm người lý tưởng. Mười hai tông đồ không phải là mười hai con người đã trưởng thành hoàn hảo. Họ nóng nảy, tham vọng, ghen tị, cạnh tranh, chậm hiểu, nhát sợ, cứng lòng. Có người chối Thầy. Có người phản bội Thầy. Có người bỏ chạy. Có người muốn ngồi bên hữu bên tả. Có người ngăn cản con đường thập giá. Có lúc các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất ngay khi Đức Giêsu đang nói về cuộc khổ nạn của mình. Nếu nhìn theo tiêu chuẩn quản trị thông thường, đây là một đội ngũ đầy vấn đề. Nhưng điều đáng kinh ngạc là Đức Giêsu không né tránh những vấn đề ấy. Ngài không xây dựng một bầu khí hòa thuận giả tạo. Ngài không giả vờ mọi chuyện đều tốt đẹp để giữ hình ảnh của nhóm. Ngài yêu các môn đệ, nhưng tình yêu của Ngài không phải thứ tình cảm yếu mềm không dám nói sự thật. Ngài bao dung, nhưng sự bao dung của Ngài không phải là sự dễ dãi. Ngài tha thứ, nhưng tha thứ không có nghĩa là gọi điều sai thành đúng. Ngài chịu đựng, nhưng không im lặng trước điều cần phải được nói ra. Nơi Đức Giêsu, sự thật và lòng thương xót không chống lại nhau. Sự thật không trở thành cây gậy để đánh người khác, còn lòng thương xót không trở thành tấm màn để che giấu những điều cần được chữa lành.
Một trong những khoảnh khắc mạnh mẽ nhất trong Tin Mừng là khi Phêrô vừa tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, nhưng ngay sau đó lại kéo Ngài ra mà can ngăn khi Ngài loan báo con đường thập giá. Phêrô yêu Thầy, nhưng tình yêu của ông lúc ấy vẫn còn pha lẫn với một quan niệm rất con người về thành công, quyền lực và vinh quang. Ông không muốn Thầy đau khổ. Có thể ông nghĩ mình đang bảo vệ Thầy. Có thể ông nghĩ mình đang nói điều hợp lý nhất. Nhưng Đức Giêsu nhìn sâu hơn. Ngài thấy trong lời can ngăn ấy một cám dỗ rất nguy hiểm: con đường cứu thế không qua thập giá, một sứ mạng không phải trả giá, một vinh quang không cần tự hiến. Và Đức Giêsu nói một lời rất mạnh: “Satan, lui lại đằng sau Thầy!” Câu nói ấy, nếu chỉ đọc bằng cảm xúc, có thể khiến chúng ta ngỡ ngàng. Tại sao Đức Giêsu lại nói mạnh với người vừa tuyên xưng đức tin vào Ngài? Tại sao Ngài không nhẹ nhàng hơn? Bởi vì có những lúc tình yêu đòi phải nói thật. Có những sai lầm nếu không được gọi đúng tên sẽ trở thành tai họa. Có những lời nghe có vẻ đầy thiện ý nhưng lại dẫn người ta ra khỏi con đường của Thiên Chúa. Đức Giêsu không sợ làm Phêrô buồn trong chốc lát nếu điều đó giúp Phêrô trưởng thành cho cả đời. Ngài không tìm cách giữ sự dễ chịu trong quan hệ bằng giá của sự thật. Một người lãnh đạo chỉ muốn mọi người thích mình sẽ rất khó trở thành người lãnh đạo theo Đức Giêsu. Bởi có những lúc người lãnh đạo phải nói một lời không được hoan nghênh. Có những lúc phải sửa sai một người mình quý. Có những lúc phải chặn lại một hướng đi dù nhiều người ủng hộ. Có những lúc phải nói “không” với một đề nghị có vẻ hấp dẫn nhưng không đúng với căn tính và sứ mạng. Có những lúc phải chấp nhận bị hiểu lầm vì không thể thỏa hiệp với điều mình biết là không đúng. Lãnh đạo không phải là nghệ thuật làm cho tất cả mọi người luôn vui vẻ. Lãnh đạo là trách nhiệm giúp cộng đoàn đi trong sự thật, ngay cả khi sự thật ấy làm đau.
Nhưng cần chú ý một điều rất quan trọng: Đức Giêsu nói mạnh với Phêrô nhưng không loại Phêrô. Đây chính là sự khác biệt giữa sửa dạy và loại trừ. Chúng ta thường rơi vào hai thái cực. Hoặc là không dám nói gì vì sợ mất lòng, và cứ thế để vấn đề ngày càng lớn. Hoặc một khi đã nói thì nói với tất cả sự bực tức dồn nén, biến việc sửa sai thành một cuộc kết án, làm người kia cảm thấy mình không còn đường trở về. Đức Giêsu không như thế. Ngài có thể nói: “Lui lại đằng sau Thầy”, nhưng vẫn tiếp tục cho Phêrô đi đằng sau Ngài. Ngài sửa ông để ông trở lại đúng chỗ của người môn đệ: bước theo Thầy chứ không đi trước Thầy để chỉ đường cho Thầy. Sau này, Phêrô còn chối Ngài ba lần, nhưng Ngài vẫn trao cho ông trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên. Điều đó cho thấy một nguyên tắc rất sâu sắc của lãnh đạo Kitô giáo: người ta có thể sai mà vẫn còn tương lai; người ta có thể yếu đuối mà chưa vì thế mất phẩm giá; người ta có thể làm mình đau mà mình vẫn không nhất thiết phải xóa tên họ khỏi cuộc đời. Sự thật cần được nói, nhưng được nói để cứu chứ không phải để giết. Sửa lỗi là để phục hồi tương quan, không phải để chứng minh ai thắng ai thua. Người lãnh đạo trưởng thành không cần thắng mọi cuộc tranh luận. Điều họ quan tâm là làm sao chân lý được sáng tỏ, con người được cứu, cộng đoàn được chữa lành và sứ mạng không bị đánh mất.
Câu chuyện của Giuđa còn đau hơn nhiều. Phêrô yếu đuối nhưng vẫn yêu Thầy. Giuđa đã đi đến chỗ phản bội. Ông không phải một kẻ xa lạ trà trộn vào nhóm môn đệ. Ông là một trong Nhóm Mười Hai. Ông đã nghe những bài giảng mà chúng ta chỉ có thể đọc lại qua các trang Tin Mừng. Ông đã chứng kiến phép lạ. Ông đã đi cùng Đức Giêsu trên những con đường Galilê. Ông đã ngồi cùng bàn. Ông đã được sai đi rao giảng. Ông đã được trao trách nhiệm. Ông đã sống trong vòng thân cận của Thầy. Chính vì thế, sự phản bội của Giuđa đau đến tận cùng. Bị người lạ chống đối đã đau, bị người mình tin phản bội còn đau hơn. Một lời của kẻ thù có thể làm ta buồn, nhưng một lời của người thân có thể làm tim ta vỡ. Một hành động của người ngoài có thể khiến ta tức giận, nhưng một hành động của người đã từng được mình tin cậy có thể làm ta mất niềm tin vào cả con người. Đức Giêsu biết Giuđa sẽ phản bội. Ngài không ngây thơ. Ngài không bị bất ngờ vì không đọc được lòng người. Tin Mừng cho thấy Ngài biết điều gì đang xảy ra. Nhưng điều lạ lùng là Ngài không hạ nhục Giuđa trước mặt anh em. Ngài không biến bữa Tiệc Ly thành một phiên tòa. Ngài không kể hết những điều mình biết để các môn đệ còn lại quay sang kết án ông. Ngài vẫn cúi xuống rửa chân cho Giuđa. Hãy dừng lại thật lâu ở hình ảnh ấy. Đôi tay của Đấng biết mình sắp bị bán với giá ba mươi đồng bạc vẫn chạm vào bàn chân của kẻ sẽ bán mình. Nước vẫn được đổ. Khăn vẫn được thắt ngang lưng. Đức Giêsu không dùng tri thức của mình về sự phản bội để nhục mạ kẻ phản bội. Ngài biết sự thật nhưng không dùng sự thật như một vũ khí để trả thù. Đây là một bài học vô cùng khó cho bất cứ ai làm lãnh đạo. Biết ai đó đang chống lại mình mà vẫn cư xử với họ bằng phẩm giá. Biết một người đã nói xấu mình mà vẫn không dùng quyền lực để nghiền nát họ. Biết người ấy làm mình thiệt hại mà vẫn không tung tất cả những gì mình biết để bôi nhọ họ. Điều đó không phải là yếu đuối. Đó là một sức mạnh nội tâm rất lớn.
Nhưng Đức Giêsu cũng không giả vờ rằng Giuđa không phản bội. Ngài không nói: “Không sao cả, chuyện ấy chẳng quan trọng.” Ngài không gọi sự phản bội là một hiểu lầm nhỏ. Trong bữa ăn, Ngài nói rõ: “Một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” Sự thật được đặt giữa bàn ăn. Bóng tối được gọi tên. Chuyện đang xảy ra không bị che giấu bằng những lời đạo đức dễ nghe. Đức Giêsu biết có những vết thương chỉ được chữa lành khi người ta dám gọi đúng tên chúng. Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Có những xung đột kéo dài nhiều năm không phải vì không có giải pháp, mà vì không ai dám nói sự thật. Mọi người vẫn cười với nhau, vẫn dự họp, vẫn ăn chung bàn, vẫn gọi nhau bằng những danh xưng đẹp, nhưng bên dưới là những tầng bất mãn, nghi ngờ, tổn thương và cạnh tranh chưa bao giờ được đụng tới. Đó không phải là bình an. Đó là sự im lặng đầy căng thẳng. Bình an Kitô giáo không phải là không có xung đột. Bình an là khả năng đi qua xung đột mà không đánh mất tình yêu, không đánh mất sự thật và không đánh mất nhau. Một cộng đoàn không bao giờ có tranh luận chưa chắc là một cộng đoàn khỏe mạnh. Có thể mọi người đã quá sợ nói. Có thể người lãnh đạo quá độc đoán nên chẳng ai dám góp ý. Có thể mọi người quen sống bằng những nụ cười xã giao. Có thể những người có suy nghĩ khác đã âm thầm rời đi. Một cộng đoàn trưởng thành không phải là cộng đoàn mọi người nghĩ giống hệt nhau. Đó là cộng đoàn có thể khác nhau mà vẫn biết lắng nghe, có thể tranh luận mà không hạ nhục, có thể sửa nhau mà không thù nhau, có thể nói sự thật mà không phá hủy phẩm giá của người khác.
Đức Giêsu còn đi xa hơn: Ngài trao cho Giuđa một miếng bánh. Trong văn hóa của bữa ăn, đó là một cử chỉ thân tình. Và khi Giuđa đến vườn Ghếtsêmani với đám đông mang gươm giáo, Đức Giêsu vẫn gọi ông là “bạn”. Chúng ta dễ đọc chữ “bạn” ấy như một cách nói xã giao, nhưng nếu nhìn toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu, chúng ta hiểu đó không phải là giả tạo. Ngài không phủ nhận sự phản bội. Ngài hỏi Giuđa về chính hành động ông đang làm. Nhưng Ngài không để tội của Giuđa quyết định cách Ngài yêu. Đây có lẽ là đỉnh cao của tự do nội tâm: người khác có thể lựa chọn cách họ đối xử với mình, nhưng họ không được quyền quyết định mình sẽ trở thành người như thế nào. Giuđa chọn phản bội. Đức Giêsu vẫn chọn yêu. Người ta chọn bạo lực. Đức Giêsu không để mình bị biến thành kẻ bạo lực. Người ta chọn dối trá. Đức Giêsu không vì thế mà trở thành người dối trá. Người ta chọn thù ghét. Ngài không để lòng thù ghét của họ chui vào trái tim mình rồi sinh sản thêm một lòng thù ghét khác. Đây là điều người lãnh đạo rất cần học. Có những người làm ta đau đến mức ta bắt đầu sống theo cách của họ. Họ nói xấu, ta cũng nói xấu. Họ bè phái, ta lập phe. Họ dùng quyền lực, ta đáp lại bằng quyền lực. Họ làm mình nhục, ta tìm cơ hội làm họ nhục hơn. Và cuối cùng, trong khi nghĩ mình đang chiến thắng họ, mình lại dần trở thành giống họ. Đức Giêsu cho thấy một con đường khác: không trả đũa không có nghĩa là không nhìn thấy sự dữ; không trả đũa có nghĩa là từ chối để sự dữ sao chép chính nó trong lòng mình.
Điều này đặc biệt quan trọng với những người đang mang trách nhiệm trong Giáo Hội, trong cộng đoàn tu trì, trong giáo xứ, trong hội đoàn, trong gia đình hoặc bất cứ môi trường nào cần lãnh đạo con người. Quyền lực, dù nhỏ, luôn tạo ra một cám dỗ rất lớn: khi bị tổn thương, ta có thể dùng quyền để tự bảo vệ mình. Người khác chỉ có lời nói, còn người lãnh đạo có thể có quyền điều chuyển, quyền bổ nhiệm, quyền quyết định, quyền phân công, quyền tiếp cận thông tin, quyền ảnh hưởng đến danh tiếng của người khác. Chính vì thế, người lãnh đạo càng phải cẩn trọng khi đang giận. Đừng bao giờ đưa ra quyết định lớn khi lòng mình còn đang bị thương. Bởi lúc đó, ta rất dễ gọi sự trả đũa là “kỷ luật”, gọi việc loại trừ một người là “vì lợi ích chung”, gọi sự thiên vị là “phân định”, gọi việc bảo vệ cái tôi là “bảo vệ uy tín của tổ chức”. Tâm hồn con người rất tinh vi trong việc tìm những từ đẹp để che cho những động cơ không đẹp. Đức Giêsu không làm như thế. Khi Phêrô rút gươm chém đứt tai người đầy tớ của thượng tế, Đức Giêsu bảo ông tra gươm vào vỏ. Ngài thậm chí chữa lành tai của người đến bắt mình. Đó là một hình ảnh lạ lùng: giữa lúc bị bắt, Ngài vẫn chữa lành. Giữa lúc bị đối xử bất công, Ngài vẫn không ngừng là Đấng chữa lành. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu được mời gọi giữ được căn tính của mình ngay giữa xung đột. Đừng để một cuộc khủng hoảng biến mình thành con người mà trước đây mình từng không muốn trở thành.
Có một kiểu lãnh đạo rất phổ biến nhưng rất nguy hiểm: lãnh đạo bằng cách né tránh mọi xung đột. Người lãnh đạo ấy nghĩ rằng giữ được sự yên ổn là thành công. Họ không muốn nghe chuyện khó. Ai có vấn đề thì tự giải quyết. Ai bị tổn thương thì được khuyên “bỏ qua đi”. Ai phản ánh một bất công thì bị xem là gây chia rẽ. Ai nêu một sai sót thì bị đánh giá là thiếu tinh thần cộng đoàn. Dần dần, người ta học cách im lặng. Bề ngoài mọi thứ êm, nhưng bên dưới là những vết thương không được chăm sóc. Đó là sự bình an giả tạo. Đức Giêsu không bao giờ xây dựng sự hiệp nhất bằng cách bịt miệng sự thật. Khi các môn đệ tranh nhau địa vị, Ngài đưa vấn đề ra ánh sáng và dạy họ về phục vụ. Khi họ không hiểu con đường thập giá, Ngài nói lại. Khi người Pharisêu giả hình, Ngài đối diện. Khi những kẻ buôn bán biến Đền Thờ thành nơi trục lợi, Ngài hành động mạnh mẽ. Khi người phụ nữ bị ném vào giữa để xét xử, Ngài không thuận theo đám đông. Ngài không tìm kiếm xung đột, nhưng khi sự thật và phẩm giá con người đòi hỏi, Ngài không trốn tránh.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu vì thế phải học một nghệ thuật rất khó: chọn đúng điều đáng để đối diện. Không phải chuyện gì cũng cần biến thành một cuộc chiến. Có những khác biệt chỉ là khác biệt về tính cách. Có người làm nhanh, người làm chậm; người thích chi tiết, người nhìn toàn cảnh; người nói thẳng, người kín đáo; người thích quy củ, người linh hoạt. Nếu người lãnh đạo biến mọi khác biệt thành vấn đề đạo đức, cộng đoàn sẽ ngột ngạt. Nhưng cũng có những vấn đề không thể im lặng: sự bất công, lạm dụng quyền lực, gian dối, xúc phạm phẩm giá, thao túng, bè phái, tham nhũng, những hành vi làm tổn thương người yếu thế. Khôn ngoan không phải là né mọi cuộc đối đầu. Khôn ngoan là biết khi nào nên im lặng, khi nào phải nói; nói điều gì, nói với ai, nói ở đâu và nói với tinh thần nào. Có những sự thật đúng nhưng nói sai lúc sẽ thành sai. Có những lời cần nói riêng nhưng ta lại nói giữa đám đông để làm người khác mất mặt. Có những vấn đề cần lắng nghe thật kỹ nhưng ta đã vội kết luận. Có những lúc người lãnh đạo tưởng mình đang bảo vệ sự thật nhưng thực ra chỉ đang xả cơn giận. Đức Giêsu cho thấy sự trung thực của Ngài luôn đi cùng với khả năng nhìn con người trong chiều sâu của họ. Ngài không chỉ phản ứng với hành vi. Ngài nhìn đến trái tim, hoàn cảnh, yếu đuối và khả năng hoán cải.
Đối diện với phản bội còn đòi người lãnh đạo phải chấp nhận một sự thật đau đớn: không phải ai mình yêu cũng sẽ đáp lại tình yêu; không phải ai mình trao cơ hội cũng sẽ dùng cơ hội ấy tốt; không phải ai được mình tin cũng sẽ trung thành; và không phải mọi tương quan đều có thể cứu được theo cách mình mong muốn. Đức Giêsu đã yêu Giuđa đến cùng, nhưng Ngài không cưỡng ép Giuđa ở lại. Tình yêu không phải là kiểm soát. Lãnh đạo không phải là làm sao giữ tất cả mọi người bên mình bằng mọi giá. Có lúc một người sẽ đi. Có lúc một cộng sự chọn một con đường khác. Có lúc một người không còn muốn ở trong mối tương quan lành mạnh. Người lãnh đạo không thể dùng quyền lực, tội lỗi hóa hoặc thao túng cảm xúc để buộc họ phải ở lại. Đức Giêsu để Giuđa bước ra khỏi phòng Tiệc Ly. Tin Mừng ghi một câu ngắn mà buồn: “Lúc đó, trời đã tối.” Đức Giêsu đau, nhưng Ngài tôn trọng tự do của Giuđa. Đây là bài học lớn cho người lãnh đạo: trách nhiệm của mình là yêu, nói thật, mở đường trở về; nhưng mình không thể hoán cải người khác thay cho họ. Có những lúc ta phải trao một người lại cho Thiên Chúa, không phải vì mình hết yêu, nhưng vì hiểu rằng mình không phải là Đấng Cứu Thế.
Một trong những cám dỗ mạnh nhất sau khi bị phản bội là kể câu chuyện theo cách làm mình thành người hoàn toàn đúng và người kia thành người hoàn toàn xấu. Ta tìm những người đứng về phía mình. Ta kể hết những chuyện cũ để chứng minh rằng người kia “từ trước đã như thế”. Ta gom những lỗi lầm của họ lại và biến chúng thành căn tính của họ. Từ “người ấy đã làm một điều sai” rất nhanh trở thành “người ấy là người xấu”. Đức Giêsu không làm thế với các môn đệ. Phêrô không bị đóng khung mãi bằng ba lần chối Thầy. Tôma không bị gọi suốt đời là người cứng tin. Giacôbê và Gioan không bị loại khỏi sứ mạng vì từng nuôi tham vọng. Đức Giêsu nhìn thấy lỗi nhưng vẫn nhìn thấy tương lai. Đây là một phẩm chất rất cần của lãnh đạo: không đóng đinh người khác vào lỗi lầm của họ. Một người có thể sai hôm nay mà trưởng thành ngày mai. Một người từng chống mình có thể một ngày trở thành người hiểu mình hơn. Một người từng gây tổn thương có thể thực sự hoán cải. Nếu người lãnh đạo không tin vào khả năng con người thay đổi, thì sớm muộn họ sẽ lãnh đạo bằng nhãn dán: người này trung thành, người kia nguy hiểm; người này thuộc phe mình, người kia không đáng tin; người này “được”, người kia “không được”. Khi ấy cộng đoàn không còn là nơi con người được biến đổi mà chỉ là nơi con người bị phân loại.
Tuy nhiên, lòng thương xót không loại bỏ ranh giới. Đây là điều cần nói thật rõ. Tha thứ không có nghĩa là tiếp tục để một người làm hại cộng đoàn. Yêu thương không có nghĩa là trao lại ngay quyền lực cho người đã lạm dụng quyền lực. Không trả thù không có nghĩa là không cần trách nhiệm. Đức Giêsu tha thứ, nhưng Ngài cũng đòi hoán cải. Tin Mừng về sửa lỗi huynh đệ cho thấy một tiến trình: gặp riêng, rồi có thêm người làm chứng, rồi đưa ra cộng đoàn nếu cần. Nghĩa là tình yêu có cấu trúc. Lòng thương xót có trách nhiệm. Người lãnh đạo không được lấy chữ “tha thứ” để bắt nạn nhân tiếp tục chịu đựng. Không được lấy chữ “hiệp nhất” để ép người bị tổn thương im lặng. Không được lấy chữ “vâng phục” để bảo vệ một cách hành xử sai trái. Có những lúc yêu một người cũng đồng nghĩa với việc không để họ tiếp tục làm điều sai. Có những lúc tha thứ cho họ nhưng vẫn phải giới hạn trách nhiệm của họ. Có những lúc mở cửa cho sự hòa giải nhưng không giả vờ niềm tin đã trở lại như cũ chỉ sau một lời xin lỗi. Niềm tin bị phá vỡ có thể được xây lại, nhưng cần thời gian, sự thật, trách nhiệm và những dấu hiệu hoán cải cụ thể. Đức Giêsu dạy chúng ta yêu kẻ thù, nhưng Ngài không dạy chúng ta giả ngu trước sự dữ.
Người lãnh đạo cũng phải biết đối diện với xung đột ngay bên trong chính mình. Nhiều cuộc xung đột bên ngoài trở nên dữ dội vì chúng chạm vào những vùng chưa được chữa lành trong lòng người lãnh đạo. Một góp ý nhỏ có thể khiến ta nổi giận không phải vì lời góp ý quá nặng, mà vì nó đụng tới nỗi sợ mình không đủ tốt. Một người không đồng ý với ta có thể bị ta xem là chống đối chỉ vì sâu trong lòng ta luôn bất an về vị trí của mình. Một cộng sự giỏi có thể làm ta khó chịu nếu ta sợ họ nổi bật hơn mình. Một câu hỏi bình thường có thể được ta nghe như một sự thách thức quyền lực nếu ta quá cần được kiểm soát mọi thứ. Vì vậy, lãnh đạo theo Đức Giêsu không chỉ là học cách giải quyết xung đột giữa người với người. Đó còn là hành trình thanh luyện cái tôi. Người lãnh đạo phải thường xuyên tự hỏi: điều gì đang khiến mình phản ứng mạnh như vậy? Mình đang bảo vệ sự thật hay bảo vệ hình ảnh của mình? Mình đang sửa người kia vì yêu họ hay vì họ làm mình mất mặt? Mình muốn giải quyết vấn đề hay muốn họ phải nhận rằng mình đúng? Nếu người lãnh đạo không đủ can đảm để đối diện với bóng tối trong chính mình, họ rất dễ đem bóng tối ấy đổ lên người khác.
Nhìn vào Đức Giêsu trong cuộc Thương Khó, chúng ta thấy một sự tự do nội tâm rất sâu. Ngài bị tố cáo sai, nhưng không chạy khắp nơi để bảo vệ danh tiếng. Ngài bị nhạo báng, nhưng không đáp trả bằng nhạo báng. Ngài bị đánh, nhưng vẫn giữ phẩm giá. Khi tên lính tát Ngài trước mặt thượng tế, Đức Giêsu không trả đũa, nhưng Ngài cũng không giả vờ rằng hành động ấy đúng. Ngài hỏi: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai; còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại đánh tôi?” Đây là một mẫu mực tuyệt đẹp của sự bất bạo động đầy sức mạnh. Ngài không đánh lại, nhưng Ngài gọi sự bất công bằng đúng tên. Có người nghĩ hiền lành là im lặng trước mọi điều. Không. Hiền lành của Tin Mừng không phải sự hèn yếu. Hiền lành là sức mạnh đã được làm chủ. Người hiền lành có thể nói “điều anh làm là sai” mà không cần hạ nhục anh. Có thể thiết lập ranh giới mà không thù ghét. Có thể bảo vệ người yếu mà không nuôi ý trả thù. Có thể đứng vững trong sự thật mà không biến mình thành kẻ bạo lực.
Trong đời sống cộng đoàn, xung đột thường bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Một lời nói không đúng lúc. Một quyết định không được giải thích. Một người cảm thấy mình không được tôn trọng. Một người khác nghĩ mình bị bỏ qua. Một tin nhắn bị hiểu sai. Một cuộc họp mà ai đó không được mời. Một sự phân công khiến người ta thấy bất công. Nếu những điều nhỏ ấy được nói ra sớm, trong tinh thần đơn sơ, chúng có thể được giải quyết. Nhưng nếu chúng bị giữ lại, chúng bắt đầu lên men. Người ta không còn nói với nhau mà nói về nhau. Đây là bước chuyển rất nguy hiểm. Khi có vấn đề với một người mà ta không nói với họ, nhưng đi nói với người thứ ba, xung đột bắt đầu lan. Rồi những nhóm nhỏ hình thành. Mỗi bên có câu chuyện của mình. Những sự kiện được chọn lọc để củng cố câu chuyện ấy. Dần dần, người ta không còn nhìn người kia như một anh chị em có điều cần giải quyết mà như một đối thủ cần phải thắng. Đức Giêsu dạy một nguyên tắc đơn giản nhưng rất khó: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi.” Hãy đi đến người ấy trước. Không phải đến năm người khác. Không phải lên mạng. Không phải đưa vào bài giảng bóng gió. Không phải dùng người trung gian để truyền lời đe dọa. Hãy gặp người ấy. Nói rõ. Lắng nghe. Đây là một kỷ luật mà nếu được thực hành nghiêm túc có thể cứu rất nhiều cộng đoàn khỏi những chia rẽ không đáng có.
Người lãnh đạo có trách nhiệm tạo ra một văn hóa trong đó người ta có thể nói sự thật mà không sợ bị trừng phạt. Nếu một cộng sự biết rằng hễ góp ý là sẽ bị để ý, hễ đặt câu hỏi là sẽ bị gán cho thái độ chống đối, hễ báo cáo một vấn đề là sẽ bị xem như người gây phiền, thì sớm muộn người ấy sẽ im lặng. Và một hệ thống mà mọi người đều im lặng trước người đứng đầu là một hệ thống rất nguy hiểm. Những sai lầm lớn thường không xảy ra vì không ai nhìn thấy; chúng xảy ra vì những người nhìn thấy không dám nói. Đức Giêsu có thể chịu được những câu hỏi của môn đệ. Ngài chịu được sự chậm hiểu của họ. Ngài cho phép họ bộc lộ cả những suy nghĩ rất vụng về. Một người lãnh đạo mạnh không phải là người không ai dám trái ý. Người lãnh đạo mạnh là người đủ vững để người khác có thể nói thật với mình.
Điều này đòi sự khiêm nhường. Không ai lãnh đạo lâu mà không phạm sai lầm. Đức Giêsu không phạm sai lầm, nhưng chúng ta thì có. Có lúc quyết định của ta thiếu thông tin. Có lúc cách nói của ta làm người khác tổn thương dù mình không có ý. Có lúc ta đã thiên vị mà không nhận ra. Có lúc ta không lắng nghe đủ. Có lúc ta quá mệt nên phản ứng không đẹp. Người lãnh đạo đáng tin không phải là người luôn luôn đúng, nhưng là người biết nhận sai. Một câu “tôi đã sai ở chuyện này” có thể chữa lành nhiều hơn mười bài nói về khiêm nhường. Một lời xin lỗi chân thành từ người có quyền có thể giải phóng cả một cộng đoàn khỏi nhiều năm căng thẳng. Nhưng tiếc thay, quyền lực thường làm lời xin lỗi trở nên khó nói. Người ta sợ xin lỗi sẽ làm mất uy tín. Thực ra điều làm mất uy tín không phải là thừa nhận mình sai; chính sự cố chấp bảo vệ điều sai mới làm mất uy tín. Một người lãnh đạo dám xin lỗi cho thấy họ đặt sự thật cao hơn cái tôi. Và đó mới chính là uy tín thật.
Phản bội cũng buộc người lãnh đạo học cách đau mà không cay đắng. Đây có lẽ là một trong những điều khó nhất. Có những vết thương không thể biến mất nhanh. Có những người dù mình đã tha thứ, ký ức vẫn còn đau. Tha thứ không phải một cảm xúc xảy ra trong vài phút. Nhiều khi đó là một quyết định phải lặp lại mỗi ngày: hôm nay tôi lại chọn không trả thù, hôm nay tôi lại trao người ấy cho Chúa, hôm nay tôi lại không kể câu chuyện ấy để làm họ xấu đi, hôm nay tôi lại xin Chúa giữ trái tim mình khỏi đắng. Đức Giêsu trên thập giá cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Ngài không chờ đến khi hết đau mới tha. Ngài tha ngay trong khi đang đau. Đó là mầu nhiệm lớn. Người lãnh đạo sẽ có lúc phải làm điều tương tự. Không phải vì người kia xứng đáng, nhưng vì mình không muốn vết thương ấy trở thành ông chủ của đời mình. Không tha thứ là tiếp tục cho người làm mình đau một chỗ ở trong trái tim. Họ có thể đã rời đi, nhưng mình vẫn mang họ theo trong những cuộc đối thoại tưởng tượng, trong những lần kể đi kể lại, trong những cơn giận bất chợt. Tha thứ không nhất thiết đưa họ trở lại vị trí cũ, nhưng đưa mình ra khỏi nhà tù của oán hận.
Đức Giêsu còn cho thấy một điều khác: trong giờ đau nhất, Ngài không ở một mình theo nghĩa thiêng liêng. Ngài cầu nguyện. Ở Ghếtsêmani, Ngài đem nỗi đau của mình đến với Chúa Cha. Đây là điều người lãnh đạo rất cần nhớ. Khi bị phản bội, phản xạ đầu tiên của ta thường là tìm người để kể. Điều đó có thể cần thiết, nhưng nếu không cẩn thận, nỗi đau của ta sẽ biến thành một chiến dịch xây dựng phe. Người lãnh đạo cần có những người khôn ngoan để chia sẻ, nhưng trước hết cần mang nỗi đau đến với Thiên Chúa. Có những lời chỉ nên nói trong cầu nguyện. Có những giọt nước mắt nên rơi trước Chúa trước khi mình bước vào phòng họp. Có những quyết định phải chờ cho lòng lắng lại trước khi ký. Nếu ta giải quyết xung đột chỉ từ vết thương, ta sẽ làm đau người khác. Nếu ta để Chúa bước vào vết thương, nó có thể trở thành nơi phát sinh sự khôn ngoan.
Một người lãnh đạo theo Đức Giêsu vì thế cần phân biệt rất rõ giữa hòa giải và hòa bình giả tạo. Hòa giải đòi sự thật. Một mối tương quan không thể thực sự được chữa lành nếu mọi người chỉ nói “thôi bỏ qua” nhưng không ai hiểu điều gì đã xảy ra. Hòa giải không phải xóa ký ức. Hòa giải là để ký ức được chữa lành. Không phải quên rằng mình đã bị tổn thương, nhưng nhớ điều ấy mà không còn muốn làm người kia tổn thương lại. Không phải trở về như chưa từng có gì xảy ra, mà bước sang một giai đoạn mới với sự thật lớn hơn, ranh giới rõ hơn và trái tim tự do hơn. Có những mối tương quan sau khủng hoảng trở nên sâu sắc hơn trước, bởi hai bên đã đi qua một cuộc đối thoại thật. Nhưng cũng có những mối tương quan chỉ có thể được hòa giải ở mức độ nội tâm, không còn cộng tác gần như trước. Điều đó không nhất thiết là thất bại. Có những khoảng cách cần thiết để cả hai bên không tiếp tục làm hại nhau. Tình yêu Kitô giáo không đồng nghĩa với việc mọi người phải luôn ở thật gần nhau.
Nhìn Đức Giêsu với Phêrô sau Phục Sinh, ta thấy một cách thức phục hồi tuyệt đẹp. Ngài không phớt lờ ba lần chối Thầy. Ngài hỏi Phêrô ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” Vết thương được chạm tới, nhưng không để kết án mà để chữa lành. Đức Giêsu không nói: “Chuyện cũ bỏ đi, đừng nhắc nữa.” Nếu Ngài làm thế, có lẽ Phêrô sẽ mang sự xấu hổ ấy suốt đời. Ngài cũng không nói: “Ta sẽ nhắc anh mãi về điều anh đã làm.” Ngài đưa Phêrô trở lại tận cội nguồn của ơn gọi: tình yêu. “Anh có yêu mến Thầy không?” Và rồi: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Một người đã thất bại được trao sứ mạng mới. Đây là nghệ thuật lãnh đạo biết phục hồi con người. Không phải cứ ai sai là gạt bỏ. Không phải cứ một lỗi là chấm dứt tất cả. Có những người, sau khi đi qua thất bại và hoán cải thật, lại trở thành những người lãnh đạo nhân hậu hơn nhiều, vì họ biết mình cũng từng yếu đuối.
Chúng ta cũng cần học từ Đức Giêsu rằng không phải mọi lời tố cáo đều cần được trả lời. Có những lúc Ngài trả lời. Có những lúc Ngài im lặng. Trước Hêrôđê, Ngài gần như không nói gì. Trước Philatô, Ngài nói những điều cần nói. Sự khôn ngoan của người lãnh đạo nằm ở chỗ không bị kéo vào mọi cuộc tranh cãi. Có những lời đồn nếu mình chạy theo giải thích từng lời, cả đời chỉ còn sống để thanh minh. Có những người không tìm sự thật, họ chỉ tìm thêm vật liệu để tranh cãi. Có những cuộc đối thoại đáng để bước vào, có những cuộc đối thoại phải biết rời đi. Không phải im lặng nào cũng là hèn, cũng như không phải lên tiếng nào cũng là can đảm. Có khi im lặng là sự tự chủ. Có khi lên tiếng là trách nhiệm. Phân định được hai điều ấy cần đời sống cầu nguyện rất sâu.
Cuối cùng, lãnh đạo bằng cách đối diện với xung đột và phản bội một cách trung thực chính là học yêu theo cách của Đức Giêsu: một tình yêu không mù, không yếu, không giả tạo. Đó là tình yêu nhìn thẳng vào sự thật nhưng không tuyệt vọng về con người. Là tình yêu có thể nói lời mạnh nhưng không nuôi lòng hận. Là tình yêu biết đặt ranh giới nhưng không trả thù. Là tình yêu dám sửa lỗi nhưng cũng dám xin lỗi. Là tình yêu không che giấu xung đột, nhưng không để xung đột định nghĩa cộng đoàn. Là tình yêu chịu đau mà không biến nỗi đau thành vũ khí. Là tình yêu có thể nhìn một người từng phản bội mình mà vẫn nhớ rằng họ trước hết là một con người được Thiên Chúa yêu.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu không thể mong một con đường không có Giuđa, không có Phêrô yếu đuối, không có những cuộc tranh luận, không có những hiểu lầm. Nếu Đức Giêsu còn gặp những điều ấy, chúng ta không nên ngạc nhiên khi chúng đến trong đời mình. Vấn đề không phải là làm sao xây một cộng đoàn không bao giờ có xung đột. Vấn đề là khi xung đột đến, chúng ta sẽ trở thành người như thế nào. Khi bị phản bội, ta sẽ dùng quyền lực hay dùng tình yêu? Khi bị hiểu lầm, ta sẽ thao túng dư luận hay kiên nhẫn sống trong sự thật? Khi một người sai, ta sẽ nghiền nát họ hay tìm cách giúp họ trở về? Khi chính mình sai, ta có đủ khiêm nhường để nói một lời xin lỗi không? Khi người khác không thay đổi, ta có đủ tự do để trao họ cho Chúa và tiếp tục bước đi không?
Có lẽ một trong những dấu chỉ trưởng thành nhất của người lãnh đạo không nằm ở khả năng điều hành một tổ chức lớn, nhưng ở cách họ đối xử với người làm mình đau. Ai cũng có thể tử tế với người trung thành với mình. Đức Giêsu tử tế cả với người sắp phản bội mình. Ai cũng có thể yêu người hiểu mình. Đức Giêsu vẫn yêu cả người không hiểu Ngài. Ai cũng có thể giữ bình tĩnh khi được tôn trọng. Đức Giêsu giữ phẩm giá cả khi bị sỉ nhục. Ai cũng có thể nói về tha thứ khi chưa bị tổn thương sâu. Đức Giêsu tha thứ khi những chiếc đinh còn đang ở trong tay chân mình.
Đó là lãnh đạo của thập giá. Không phải thứ lãnh đạo mềm yếu, nhưng là một sức mạnh không cần nghiền nát ai để chứng minh mình mạnh. Không phải thứ lãnh đạo né tránh sự thật, nhưng là sự thật được nói bằng một trái tim không thù ghét. Không phải thứ lãnh đạo giữ người bằng sợ hãi, nhưng mở cho họ con đường của tự do và hoán cải. Và có lẽ trước mỗi cuộc xung đột, trước mỗi người làm ta thất vọng, trước mỗi lời khiến ta đau, người lãnh đạo Kitô hữu cần dừng lại và tự hỏi một câu rất đơn giản nhưng rất khó: “Trong hoàn cảnh này, nếu Đức Giêsu đứng ở chỗ của tôi, Ngài sẽ nói sự thật thế nào, yêu người này thế nào, và giữ trái tim mình thế nào?”
Nếu chúng ta đủ can đảm để hỏi câu ấy, và đủ khiêm nhường để sống theo câu trả lời, thì cả những cuộc xung đột đau đớn nhất cũng có thể trở thành trường học của sự thánh thiện. Cả phản bội cũng có thể trở thành nơi thanh luyện trái tim. Cả thất vọng cũng có thể làm người lãnh đạo sâu hơn, hiền hơn, tự do hơn. Và rồi, sau tất cả những va chạm của đời người, điều còn lại không phải là ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, đã loại được bao nhiêu người chống đối, đã bảo vệ được danh tiếng của mình đến đâu. Điều còn lại là giữa tất cả những điều ấy, ta có còn giống Đức Giêsu không. Bởi thành công sâu xa nhất của người lãnh đạo Kitô hữu không phải là không bao giờ bị phản bội, nhưng là sau khi bị phản bội, vẫn không đánh mất khả năng yêu; không phải là không bao giờ bị chống đối, nhưng là giữa chống đối vẫn không đánh mất sự thật; không phải là không bao giờ bị tổn thương, nhưng là trong tổn thương vẫn không đánh mất trái tim của người môn đệ.
Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 8: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC CHẤP NHẬN THẤT BẠI VÀ BIẾN NÓ THÀNH ĐIỂM KHỞI ĐẦU MỚI
Có lẽ một trong những điều khó chấp nhận nhất đối với người lãnh đạo là thất bại. Người ta có thể nói rất hay về khiêm nhường, về phó thác, về chấp nhận giới hạn, nhưng khi chính công việc mình dày công xây dựng đổ xuống, khi một kế hoạch mình tin tưởng không đi đến đâu, khi một cộng đoàn mình hết lòng vun đắp lại xảy ra chia rẽ, khi một người mình tin tưởng lại quay lưng, khi một sáng kiến mình đã cầu nguyện, suy nghĩ, hy sinh và đặt biết bao kỳ vọng cuối cùng vẫn không thành, lúc ấy mới biết trong lòng mình thực sự đặt niềm tin vào đâu. Có khi ta tưởng mình đang làm tất cả vì Chúa, nhưng chỉ đến lúc thất bại ta mới nhận ra rằng mình cũng đã âm thầm đồng hóa thành công của công việc với giá trị của chính mình. Công việc thành thì ta vui, điều ấy bình thường; nhưng có lúc công việc thất bại, ta lại cảm thấy bản thân mình trở thành một con người thất bại. Người khác không hưởng ứng một sáng kiến, ta tưởng người ta phủ nhận chính con người mình. Một dự án không đạt kết quả, ta nghĩ mọi cố gắng trước đó đều vô nghĩa. Một người cộng sự ra đi, ta kết luận rằng mình đã chọn sai tất cả. Một cộng đoàn có vấn đề, ta thấy mình không còn khả năng lãnh đạo. Và từ một thất bại cụ thể, ta rất dễ đi tới một bản án toàn diện về bản thân: “Tôi không làm được. Tôi không đủ khả năng. Tôi đã mất hết. Chẳng còn gì để bắt đầu nữa.” Chính ở điểm này, người lãnh đạo Kitô hữu phải ngước nhìn Đức Giêsu chịu đóng đinh, bởi vì nếu có một nơi nào cho thấy Thiên Chúa có thể biến thất bại thành khởi đầu, nơi ấy chính là đồi Canvê.
Nhìn bằng mắt người đời, thập giá là một thất bại không thể chối cãi. Đức Giêsu đã rao giảng Nước Thiên Chúa, nhưng cuối cùng lại bị treo giữa hai tên tử tội. Ngài đã chữa lành biết bao người, nhưng đến giờ đau khổ thì gần như không ai có thể làm gì cho Ngài. Ngài đã làm cho người mù được thấy, người điếc được nghe, người què đi được, người chết sống lại, thế nhưng khi chính Ngài bị đóng đinh, đám đông lại chế giễu: “Hắn cứu được người khác mà chẳng cứu nổi mình.” Ngài đã quy tụ môn đệ, đã dành cho họ bao thời gian, đã dạy họ, sửa dạy họ, tin tưởng họ, sống cùng họ, vậy mà khi Ngài bị bắt, phần lớn họ bỏ chạy. Phêrô, người từng mạnh miệng nói rằng dù mọi người có bỏ Thầy thì ông cũng không bỏ, lại chối Thầy ba lần chỉ trong một đêm. Giuđa, một trong nhóm Mười Hai, lại trở thành người chỉ điểm. Dân chúng từng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít” chẳng bao lâu sau lại có những tiếng la “Đóng đinh nó vào thập giá.” Các thủ lãnh tôn giáo tưởng như đã loại bỏ được một người gây phiền toái. Chính quyền Rôma đóng dấu bản án. Tảng đá lớn được lăn vào cửa mồ. Nếu câu chuyện dừng ở chiều thứ Sáu Tuần Thánh, lịch sử có thể đã ghi Đức Giêsu như một nhà giảng thuyết đầy sức hấp dẫn nhưng cuối cùng bị nghiền nát bởi guồng máy quyền lực. Nhìn từ bên ngoài, không còn gì giống thành công nữa. Không đám đông. Không tiếng tung hô. Không một tổ chức vững mạnh. Không một chiến thắng chính trị. Không một bằng chứng cho thấy điều Ngài khởi sự sẽ tiếp tục. Chỉ còn một thân xác bị đóng đinh, vài người phụ nữ đứng xa xa, một người môn đệ bên cạnh Đức Maria và một ngôi mộ lạnh lẽo.
Nhưng chính ở nơi con người nhìn thấy dấu chấm hết, Thiên Chúa lại viết chữ khởi đầu.
Đó là điều làm cho thập giá khác mọi thất bại của con người. Đức Giêsu không chiến thắng bằng cách né tránh thất bại. Ngài không chiến thắng bằng cách kịp thời rút lui để bảo toàn danh dự. Ngài không chiến thắng bằng cách chứng minh cho kẻ thù thấy rằng Ngài mạnh hơn họ. Ngài không từ trời xuống khỏi thập giá để làm cho tất cả phải quỳ gối kinh sợ. Ngài đi xuyên qua thất bại. Ngài chấp nhận để tất cả những gì người đời vẫn dùng làm tiêu chuẩn thành công bị tước khỏi Ngài: uy tín, quyền lực, đám đông, sự ủng hộ, an toàn, hình ảnh, thậm chí cả sự sống. Ngài đi vào tận cùng của sự bất lực, đến nỗi có thể thốt lên lời đau đớn: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Thế nhưng chính khi chẳng còn gì để nắm giữ, Ngài vẫn giữ một điều cuối cùng: lòng tín thác. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đây là bí quyết sâu xa nhất của một người lãnh đạo trước thất bại: có thể mất công việc mà không mất Chúa, có thể mất một vị trí mà không mất căn tính, có thể mất tiếng khen mà không mất bình an, có thể mất một kế hoạch mà không mất niềm hy vọng, có thể đứng trước một cánh cửa đóng mà vẫn tin rằng Thiên Chúa còn những con đường mình chưa thấy.
Người lãnh đạo thường rất sợ thất bại vì người lãnh đạo sống dưới ánh mắt của nhiều người. Khi một người bình thường thất bại, đôi khi chỉ vài người biết. Nhưng khi người đứng đầu thất bại, người ta bàn tán. Có người phân tích. Có người phê bình. Có người chờ cơ hội để nói: “Tôi đã biết trước rồi.” Có người từng im lặng lúc mọi việc đang thuận lợi nhưng lại lên tiếng mạnh mẽ khi có sự cố. Người lãnh đạo vì thế rất dễ rơi vào cám dỗ phải chứng minh mình đúng bằng mọi giá. Ta có thể cố kéo dài một dự án đã không còn phù hợp chỉ vì không muốn thừa nhận rằng nó không thành. Ta có thể tiếp tục bảo vệ một quyết định sai chỉ vì sợ mất mặt nếu thay đổi. Ta có thể tìm người chịu trách nhiệm thay mình, bởi thú nhận “tôi đã sai” là điều quá đau. Ta có thể tô đẹp báo cáo, lựa chọn con số thuận lợi, kể lại câu chuyện theo cách làm mình bớt thất bại hơn. Ta có thể trách hoàn cảnh, trách cộng sự, trách cấp trên, trách cấp dưới, trách thời thế, trách “người ta không hiểu”, nhưng không bao giờ nhìn lại phần trách nhiệm của mình. Và thế là thay vì để thất bại dạy ta trưởng thành, ta biến thất bại thành nơi sản sinh thêm những sai lầm mới.
Đức Giêsu không dạy ta như vậy. Ngài cho thấy rằng thất bại không đáng sợ bằng sự giả dối trước thất bại. Có những điều đã không thành thì phải đủ tự do để gọi đúng tên: nó đã không thành. Có những lựa chọn không sáng suốt thì phải đủ khiêm tốn để nói: tôi đã lựa chọn chưa đúng. Có những người mình đặt không đúng chỗ thì phải can đảm nhìn nhận. Có những mục tiêu lúc đầu tưởng rất đẹp nhưng về sau mới nhận ra không còn hợp với thực tế, ta phải có khả năng thay đổi. Người lãnh đạo trưởng thành không phải là người không bao giờ sai. Trên đời không có người lãnh đạo như thế. Người lãnh đạo trưởng thành là người không dùng chức vụ để bảo vệ cái sai của mình. Họ có khả năng phân biệt giữa “tôi đã thất bại trong việc này” và “tôi là một kẻ thất bại”. Hai câu ấy hoàn toàn khác nhau. Câu thứ nhất có thể mở ra sự học hỏi. Câu thứ hai đóng cửa tương lai.
Một dự án thất bại không có nghĩa là cả đời ta thất bại. Một quyết định sai không chứng minh rằng mọi quyết định khác của ta đều sai. Một người phản bội không có nghĩa rằng không còn ai đáng tin. Một cộng đoàn trải qua khủng hoảng không đồng nghĩa rằng cộng đoàn ấy không còn tương lai. Một mùa vụ không sinh hoa trái không có nghĩa rằng mảnh đất đã chết. Một cánh cửa đóng lại không đồng nghĩa với việc Thiên Chúa đã bỏ ta. Đây là điều cần phải nhắc đi nhắc lại cho chính mình, bởi khi đang ở trong thất bại, tâm trí con người có một khuynh hướng rất nguy hiểm: nó lấy một phần đau đớn rồi biến thành toàn bộ câu chuyện. Một chuyện không được như ý, ta nói “chẳng bao giờ có chuyện gì tốt đẹp.” Một người làm mình tổn thương, ta nói “không ai đáng tin.” Một lần bị hiểu lầm, ta nghĩ “mọi người đều chống lại mình.” Một sáng kiến thất bại, ta kết luận “từ nay không nên làm gì nữa.” Cách suy nghĩ ấy không phải là đức tin. Đức tin không phủ nhận bóng tối, nhưng đức tin không cho bóng tối quyền tuyên bố rằng mặt trời đã biến mất.
Hãy nhìn các môn đệ sau cái chết của Đức Giêsu. Họ thật sự thất bại. Không thể gọi cách nào khác. Những lời họ từng nói về lòng trung thành đã sụp đổ. Những ảo tưởng về một vương quốc trần thế tan biến. Nỗi sợ tràn ngập. Hai môn đệ trên đường Emmau nói ra một câu nghe thật buồn: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel.” “Trước đây vẫn hy vọng” có nghĩa là bây giờ không còn hy vọng nữa. Họ đang đi khỏi Giêrusalem. Họ quay lưng lại với nơi đã xảy ra biến cố. Họ muốn trở về đời cũ. Đây cũng là phản ứng quen thuộc của con người sau thất bại: bỏ cuộc, rút lui, tránh nơi gợi lại đau đớn, thôi không dám hy vọng để khỏi thất vọng thêm lần nữa. Thế nhưng Đức Giêsu Phục Sinh lại đến đồng hành với chính hai con người đang bỏ cuộc ấy. Ngài không đứng ở đích để mắng họ vì đã đi sai đường. Ngài bước cùng họ trên con đường họ đang đi sai. Ngài hỏi họ đang nói chuyện gì. Ngài để họ kể hết nỗi thất vọng. Ngài giải thích Kinh Thánh. Ngài bẻ bánh. Và khi họ nhận ra Ngài, cũng chính đôi chân từng bước ra khỏi Giêrusalem lại quay trở về Giêrusalem ngay trong đêm tối. Thất bại của họ không phải điểm kết thúc. Nó trở thành nơi họ gặp Đấng Phục Sinh theo một cách hoàn toàn mới.
Đây là một bài học rất lớn cho người lãnh đạo: đôi khi chính khi một kiểu lãnh đạo cũ chết đi, một người lãnh đạo mới mới có thể được sinh ra. Phêrô trước cuộc Thương Khó là người rất tự tin. Ông nghĩ mình mạnh. Ông nghĩ mình hiểu mình. Ông nghĩ mình có thể trung thành hơn người khác. “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa thì con cũng không.” Nhưng Phêrô sau ba lần chối Thầy không còn nói kiểu đó nữa. Bên bờ hồ Tibêria, khi Đức Giêsu hỏi: “Con có yêu mến Thầy hơn những người này không?”, Phêrô không còn so mình với ai. Ông chỉ nói: “Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Thất bại đã làm vỡ một Phêrô tự phụ để sinh ra một Phêrô khiêm tốn. Thất bại đã lấy khỏi ông ảo tưởng về sức mạnh riêng, để ông biết phải dựa vào ân sủng. Và thật lạ lùng, chính người đã ngã nặng ấy lại được trao sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Đức Giêsu không nói: “Con đã thất bại, từ nay con không còn xứng đáng lãnh đạo.” Ngài cũng không giả vờ rằng chuyện chối Thầy chưa từng xảy ra. Ngài đưa Phêrô trở lại chính vết thương ấy bằng ba câu hỏi tình yêu, như ba lần chữa lành ba lần chối bỏ, rồi từ đống tro của thất bại trao cho ông một sứ mạng mới.
Có những người chỉ có thể trở thành người lãnh đạo tốt sau khi đã thất bại một lần đủ đau. Điều này nghe có vẻ nghịch lý, nhưng rất thật. Bởi trước thất bại, người ta dễ nghĩ rằng mọi thành công đến từ tài năng của mình. Sau thất bại, nếu biết học, người ta hiểu rằng mình hữu hạn. Trước thất bại, người ta dễ phán xét người yếu đuối: “Sao chuyện đó mà cũng làm không được?” Sau khi chính mình nếm mùi bất lực, người ta bớt nặng lời. Trước thất bại, người ta có thể nghĩ chỉ cần kế hoạch tốt là mọi chuyện sẽ ổn. Sau thất bại, họ hiểu yếu tố con người phức tạp hơn mọi sơ đồ. Trước thất bại, người ta dễ tự tin rằng mình biết người. Sau khi bị một người tin tưởng làm mình tổn thương, họ học khôn ngoan hơn nhưng cũng phải học để không trở thành cay đắng. Trước thất bại, người ta thường thích nói. Sau thất bại, đôi khi họ biết im lặng để nghe. Trước thất bại, họ muốn tỏ ra mạnh. Sau thất bại, nếu để Chúa huấn luyện, họ có thể trở nên thật.
Thất bại có thể làm con người cay đắng hoặc sâu sắc hơn. Nó có thể làm người lãnh đạo khép kín hoặc khiêm tốn hơn. Nó có thể làm ta mất lòng tin nơi mọi người hoặc giúp ta biết đặt lòng tin đúng cách hơn. Nó có thể biến ta thành một con người suốt đời kể về chuyện cũ với giọng oán trách, hoặc thành một con người hiểu nỗi đau của người khác vì chính mình đã từng đi qua. Thất bại tự nó không làm ai trưởng thành. Có người thất bại rất nhiều nhưng chỉ trở nên cứng cỏi và chua chát hơn. Điều làm ta trưởng thành là cách ta mang thất bại đến trước mặt Chúa, cách ta đọc lại nó, cách ta để sự thật soi sáng nó, cách ta chấp nhận phần trách nhiệm của mình, cách ta tha thứ cho người khác và tha thứ cho chính mình, cách ta rút ra bài học rồi đứng dậy.
Một trong những điều khó nhất sau thất bại là đứng dậy mà không mang theo cay đắng. Người lãnh đạo bị phản bội có thể vẫn tiếp tục lãnh đạo, nhưng từ đó không còn tin ai. Họ kiểm soát mọi chuyện, nghi ngờ mọi người, giữ mọi quyền quyết định, không giao việc, không trao cơ hội. Bề ngoài họ nói đó là “cẩn thận”, nhưng sâu bên trong là một vết thương chưa lành. Người lãnh đạo từng bị phê bình bất công có thể về sau không chịu nghe bất kỳ góp ý nào, vì mọi góp ý đều gợi lại cảm giác bị tấn công. Người từng bị bỏ rơi có thể giữ người khác quá chặt. Người từng bị lừa dối có thể kiểm soát đến nghẹt thở. Người từng thất bại công khai có thể trở nên ám ảnh bởi hình ảnh và luôn tìm cách chứng minh rằng mình thành công. Nếu không được chữa lành, thất bại hôm qua sẽ bí mật điều khiển cách ta lãnh đạo hôm nay.
Đức Giêsu Phục Sinh cho ta một hình ảnh hoàn toàn khác. Ngài sống lại nhưng vẫn mang những vết thương. Ngài không xóa dấu đinh như thể chẳng từng có Thứ Sáu Tuần Thánh. Ngài cho Tôma chạm vào cạnh sườn. Vết thương vẫn còn, nhưng nó không còn chảy máu. Nó trở thành dấu chỉ của tình yêu. Đây có lẽ là hình ảnh đẹp nhất cho một người lãnh đạo đã đi qua thất bại: không phải người không còn vết sẹo, mà là người có những vết sẹo đã được chữa lành đến mức có thể dùng chính chúng để đem lại hy vọng cho người khác. Người ấy có thể nói với một người đang thất bại: “Tôi hiểu.” Không phải kiểu hiểu lý thuyết. Họ hiểu vì đã từng nằm dưới đáy. Họ biết cảm giác khi thấy mọi thứ mình xây dựng dường như tan biến. Họ biết những đêm không ngủ. Họ biết câu hỏi “tại sao?” Họ biết sự xấu hổ khi người khác nhìn vào mình. Họ biết cảm giác phải bắt đầu lại từ gần như số không. Vì thế, cách họ đối xử với người đang ngã cũng khác. Họ bớt phán xét. Họ biết cho cơ hội. Họ hiểu rằng một con người không thể bị đóng khung mãi trong thất bại tồi tệ nhất của đời họ.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu vì thế không phải là xây dựng một hình ảnh bất khả chiến bại. Hình ảnh ấy vừa giả tạo vừa nguy hiểm. Một người lãnh đạo lúc nào cũng phải đúng sẽ khiến những người chung quanh sợ nói thật. Một người lãnh đạo lúc nào cũng phải tỏ ra mạnh sẽ khiến cộng sự giấu vấn đề cho đến khi quá muộn. Một người lãnh đạo không bao giờ thừa nhận sai lầm sẽ xây dựng một nền văn hóa trong đó không ai dám nhận lỗi. Và khi không ai dám nhận lỗi, người ta sẽ học cách che giấu, đổ lỗi và bảo vệ mình. Một cộng đoàn như vậy có thể bên ngoài rất trật tự nhưng bên trong mất sự thật.
Ngược lại, khi người lãnh đạo đủ bình an để nói: “Việc này tôi đã tính chưa đúng”, họ không mất uy tín như họ tưởng. Nhiều khi họ còn có uy tín hơn. Khi họ có thể nói với cộng sự: “Phần này tôi chịu trách nhiệm”, người khác cũng học được cách chịu trách nhiệm. Khi họ có thể nói: “Chúng ta thử cách này nhưng kết quả cho thấy cần thay đổi”, cộng đoàn học được rằng thay đổi không phải nhục nhã. Khi họ nói: “Chúng ta đã thất bại, nhưng chúng ta sẽ học từ thất bại này”, người khác cảm thấy thất bại không còn là điều phải giấu. Đây là nền văn hóa rất cần trong Giáo Hội, trong cộng đoàn tu trì, trong giáo xứ, trong các hội đoàn, trong gia đình và trong bất cứ tổ chức nào: một nơi người ta có thể thử, có thể sai, có thể sửa, có thể bắt đầu lại mà không bị đóng dấu suốt đời.
Chúng ta cũng phải phân biệt thất bại với vô sinh. Có những việc về mặt con số dường như thất bại nhưng trong chương trình của Thiên Chúa lại sinh hoa trái theo một cách khác. Đức Giêsu chỉ có một nhóm nhỏ môn đệ. Ngài không xây được một cơ cấu đồ sộ lúc còn sống ở trần gian. Ngài không để lại tài sản. Ngài không viết một cuốn sách. Ngài chết khi còn trẻ. Nếu đánh giá theo nhiều tiêu chuẩn quản trị hiện đại, người ta có thể đặt ra vô số câu hỏi về “hiệu quả”. Thế nhưng hoa trái của đời Ngài không đo bằng những gì nhìn thấy vào chiều thứ Sáu ấy. Có những hạt giống phải nằm trong lòng đất rất lâu. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Người lãnh đạo Kitô hữu phải học logic của hạt lúa. Không phải mọi thứ chết đều là mất. Có những điều phải chết để điều khác được sinh ra. Có những mô hình phải kết thúc để một cách phục vụ mới bắt đầu. Có những vai trò ta phải buông để người khác lớn lên. Có những chương trình từng rất hữu ích nhưng đã hoàn thành sứ mạng và cần nhường chỗ. Có những giấc mơ của ta phải chết để ta nhận ra giấc mơ của Chúa lớn hơn.
Đôi khi thất bại xảy ra vì ta sai. Khi ấy cần sám hối và học. Nhưng cũng có những thất bại không phải vì ta sai. Một sáng kiến tốt vẫn có thể bị từ chối. Một người làm điều đúng vẫn có thể bị hiểu lầm. Một người trung thực vẫn có thể bị chống đối. Một mục tử tận tâm vẫn có thể bị phản bội. Đức Giêsu không bị đóng đinh vì Ngài lãnh đạo kém. Các ngôn sứ không bị bách hại vì họ đã chọn sai chiến lược truyền thông. Có những lúc sự trung thành sẽ khiến ta phải trả giá. Vì vậy, khi thất bại, câu hỏi không phải lúc nào cũng là “Tôi đã sai ở đâu?” nhưng còn là “Trong chuyện này, điều gì thuộc trách nhiệm của tôi, điều gì là cái giá của sự trung thành, và Chúa đang mời tôi học điều gì?” Nếu tự nhận mọi thất bại là lỗi của mình, ta có thể rơi vào mặc cảm không lành mạnh. Nếu quy mọi thất bại cho người khác, ta không bao giờ trưởng thành. Khôn ngoan là biết phân định.
Có một thái độ rất đẹp nơi người lãnh đạo theo Đức Giêsu: họ không vội vàng tìm ý nghĩa khi vết thương còn quá mới. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh là Thứ Bảy Tuần Thánh. Có một ngày im lặng. Không lời giải thích. Không phép lạ công khai. Không tiếng reo vui. Chỉ có ngôi mộ đóng kín. Đời sống cũng có những Thứ Bảy Tuần Thánh như thế. Sau một thất bại lớn, không phải lúc nào ta cũng lập tức hiểu được “Chúa muốn dạy gì.” Đôi khi câu nói ấy nếu đến quá sớm còn làm người đau khổ thêm đau. Có những biến cố cần thời gian. Cần khóc. Cần im. Cần để tâm hồn thở. Cần không ép mình phải tích cực ngay lập tức. Hy vọng Kitô giáo không phải là giả vờ vui khi đang đau. Đức Maria đứng dưới thập giá không cười vì tin Phục Sinh. Mẹ đau thật. Nhưng Mẹ không bỏ đi. Đó là hy vọng: không phải không đau, mà là vẫn ở lại với Chúa trong khi chưa hiểu.
Người lãnh đạo cũng cần cho mình quyền được đau khi thất bại. Có khi người ta nghĩ người lãnh đạo phải luôn mạnh để người khác dựa vào. Nhưng nếu không biết nơi nào mình có thể yếu đuối, một ngày nào đó sức nặng sẽ nghiền nát ta. Đức Giêsu ở Ghếtsêmani đã nói với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Ngài không che giấu cảm xúc. Ngài xin họ ở lại và canh thức. Người lãnh đạo không cần kể mọi chuyện cho mọi người, nhưng cần có một nơi an toàn: trước Chúa, nơi một người linh hướng, một người bạn trưởng thành, một cộng đoàn huynh đệ, nơi mình không cần đóng vai người mạnh. Bởi một trái tim không bao giờ được phép than khóc sẽ dần trở nên cứng.
Sau khi đã đau, đã cầu nguyện, đã nhìn sự thật và rút bài học, phải có lúc đứng dậy. Phục Sinh không để các môn đệ ở mãi trong phòng đóng kín. Đức Giêsu đến và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Ngài sai họ đi. Điều tuyệt vời là Ngài sai chính những người vừa thất bại. Ngài không thay cả nhóm Mười Hai bằng một nhóm khác “chất lượng hơn”. Ngài lấy những con người từng chạy trốn và biến họ thành chứng nhân. Đây là niềm hy vọng rất lớn cho mỗi người lãnh đạo: Chúa có thể dùng lại một con người đã thất bại. Thậm chí đôi khi Ngài dùng họ tốt hơn trước, bởi họ bây giờ ít dựa vào mình hơn.
Bắt đầu lại sau thất bại không có nghĩa là làm lại y hệt. Nếu làm y hệt mà mong một kết quả khác, đó chưa phải học. Khởi đầu mới phải mang theo sự khôn ngoan mới. Có thể phải thay đổi cách làm. Có thể phải thu nhỏ quy mô. Có thể phải chọn lại cộng sự. Có thể phải giao quyền nhiều hơn. Có thể phải lắng nghe nhiều hơn. Có thể phải chấp nhận mình không phải người phù hợp cho một vai trò nào đó. Có khi bắt đầu mới không phải là xây lại điều cũ, nhưng là có can đảm để đi theo một hướng mình chưa từng nghĩ tới.
Một trong những hình ảnh cảm động nhất của Tin Mừng Phục Sinh là cảnh các môn đệ trở lại đánh cá. Sau tất cả những biến cố quá lớn, họ quay về nghề cũ. Phêrô nói: “Tôi đi đánh cá đây.” Những người khác nói: “Chúng tôi cùng đi với anh.” Họ đánh cả đêm mà không bắt được gì. Lại một thất bại nữa. Nhưng sáng sớm, Đức Giêsu đứng trên bờ. Ngài bảo họ thả lưới bên phải mạn thuyền. Lưới đầy cá. Rồi trên bờ đã có than hồng, cá và bánh. Chúa không chỉ phục hồi sứ mạng của Phêrô bằng lời nói. Ngài gặp ông ngay trong nơi ông cảm thấy quen thuộc nhất và có lẽ cũng thất vọng nhất. Than hồng bên bờ hồ có thể gợi lại than hồng trong sân thượng tế, nơi Phêrô đã chối Thầy. Nhưng lần này bên than hồng không có lời kết án. Có bữa sáng. Có câu hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Và có một khởi đầu.
Thiên Chúa thật lạ. Ngài có thể dẫn ta trở lại nơi mình từng thất bại, nhưng không phải để làm nhục ta mà để chữa lành ta. Một ngày nào đó ta có thể phải gặp lại người mình từng làm tổn thương để xin lỗi. Có thể phải quay lại một công việc từng không thành, nhưng với một tâm thế khác. Có thể phải trở lại một cộng đoàn từng làm mình đau, không nhất thiết để ở lại, nhưng để lòng mình được tự do khỏi oán hận. Có thể phải nhìn lại một quyết định mình xấu hổ, không để tự hành hạ, nhưng để nói với chính mình: “Tôi đã học được.” Khi đó ký ức không còn là nhà tù.
Trong đời lãnh đạo, sẽ có những mùa thành công và những mùa thất bại. Người non nớt để thành công làm mình kiêu và thất bại làm mình gục. Người trưởng thành học cách nhận cả hai bằng một trái tim tự do. Thành công thì tạ ơn nhưng không chiếm hữu. Thất bại thì học hỏi nhưng không tuyệt vọng. Vì người ấy biết công trình rốt cuộc không phải của mình. Đây là một trong những sự tự do đẹp nhất của người phục vụ: tôi làm hết sức mình, nhưng tôi không phải Đấng Cứu Thế. Tôi có trách nhiệm, nhưng tôi không kiểm soát được tất cả. Tôi gieo, người khác tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Có những hạt tôi gieo sẽ nảy mầm sau khi tôi đã rời đi. Có những việc tôi tưởng thất bại hôm nay một ngày nào đó lại trở thành kinh nghiệm cứu ai đó. Có những cánh cửa đóng để tôi khỏi đi vào con đường không dành cho mình. Có những mất mát buộc tôi phải trở lại điều cốt lõi.
Đây cũng là lý do người lãnh đạo Kitô hữu không nên quá ám ảnh bởi di sản cá nhân. Ta hay muốn để lại một công trình mang dấu ấn của mình. Muốn người sau nhớ đến mình. Muốn có thứ gì đó chứng minh rằng thời của mình đã “làm được chuyện”. Nhưng Đức Giêsu cho thấy điều lớn nhất một người có thể để lại không phải là tượng đài cho chính mình, mà là những con người biết tiếp tục sứ mạng mà không cần mình nữa. Một người lãnh đạo thật sự thành công không phải khi mọi thứ sụp đổ nếu họ rời đi, nhưng khi người khác có thể đứng lên và làm tốt hơn. Có khi điều ta gọi là thất bại – phải rời một vai trò, giao một công việc, không còn ở trung tâm – lại chính là lúc sứ mạng trưởng thành.
Thất bại còn dạy người lãnh đạo biết thương người. Ai chưa từng thất bại thường dễ nghiêm khắc. Ai đã từng được Chúa nâng dậy sẽ biết nâng người khác. Hãy nghĩ đến Phêrô sau này. Người đã từng chối Thầy chắc chắn hiểu thế nào là yếu đuối. Người đã từng chìm khi đi trên nước hiểu thế nào là sợ hãi. Người đã từng nói trước khi suy nghĩ hiểu thế nào là bốc đồng. Người đã từng được Đức Giêsu sửa rất mạnh hiểu thế nào là cần được uốn nắn. Và người đã được tha thứ biết rằng một con người không thể bị giản lược vào khoảnh khắc tệ nhất của họ. Đây là phẩm chất vô giá của người lãnh đạo mục tử.
Có những cộng sự làm ta thất vọng. Có người đang làm rất tốt rồi một ngày phạm sai lầm lớn. Nếu chỉ nhìn vào sai lầm ấy, ta có thể mất một con người mà Chúa vẫn còn đang đào tạo. Tất nhiên không phải mọi người sau sai phạm đều có thể giữ nguyên trách nhiệm. Có những trường hợp phải thay đổi vị trí để bảo vệ cộng đoàn, bảo vệ người yếu thế, bảo đảm trách nhiệm và công bằng. Tha thứ không đồng nghĩa với xóa bỏ hậu quả. Nhưng ngay cả khi phải đặt giới hạn, người lãnh đạo theo Đức Giêsu vẫn nhìn người kia như một con người có tương lai. Đức Giêsu không giao lại túi tiền cho Giuđa sau phản bội, bởi Giuđa đã đi con đường riêng của mình; nhưng với Phêrô, Ngài phục hồi. Lãnh đạo đòi hỏi phân định: khi nào một người cần cơ hội thứ hai, khi nào cần nghỉ ngơi, khi nào phải rời một vị trí, khi nào cần được đồng hành lâu dài. Điều quan trọng là mọi quyết định không phát xuất từ trả thù.
Cũng cần nói đến thất bại của chính các cơ cấu và tổ chức. Có những cộng đoàn có thể đã từng rất phát triển nhưng rồi suy giảm. Có những hội đoàn từng đông nhưng giờ ít người. Có những phương pháp mục vụ từng hiệu quả nhưng nay không còn chạm được đến thế hệ mới. Phản ứng dễ dàng là tiếc quá khứ: “Ngày xưa…” Ngày xưa nhà thờ đông hơn. Ngày xưa người trẻ ngoan hơn. Ngày xưa đời tu sốt sắng hơn. Ngày xưa dân chúng dễ nghe hơn. Nhưng một người lãnh đạo không được Chúa đặt vào “ngày xưa”. Chúa đặt ta vào hôm nay. Và trung thành không phải là bảo tồn nguyên xi mọi hình thức cũ. Trung thành là giữ điều cốt lõi trong khi dám tìm hình thức phù hợp để Tin Mừng tiếp tục được trao đi.
Có những thất bại thực ra là lời mời hoán cải mục vụ. Một chương trình không còn ai tham dự không nhất thiết vì “người ta ngày nay lạnh nhạt”; có thể cách ta tổ chức không còn nói với họ. Người trẻ không đến không phải lúc nào cũng vì họ không quan tâm đến đức tin; có thể họ không thấy nơi đó có chỗ cho câu hỏi thật của họ. Một cộng đoàn mất người không phải lúc nào cũng vì người đi “không tốt”; đôi khi phải can đảm hỏi liệu môi trường của mình có điều gì cần thay đổi. Người lãnh đạo khôn ngoan không lấy thất bại làm bằng chứng chống lại người khác. Họ dùng nó như chiếc gương.
Tuy nhiên, cũng phải giữ một sự thật khác: không phải mọi thất bại đều cần sửa bằng việc làm nhiều hơn. Có những lúc Thiên Chúa mời ta dừng. Người lãnh đạo rất dễ nghĩ rằng trước thất bại phải tăng tốc: họp thêm, làm thêm, chương trình thêm, kế hoạch thêm. Nhưng đôi khi vấn đề không phải thiếu hoạt động mà thiếu chiều sâu. Các môn đệ sau khi Đức Giêsu lên trời được dặn chờ đợi Chúa Thánh Thần. Họ không ngay lập tức chạy đi truyền giáo bằng sức riêng. Họ ở lại cầu nguyện. Có những khởi đầu mới chỉ sinh ra sau một khoảng lặng đủ dài.
Chấp nhận thất bại còn là chấp nhận giới hạn của đời người. Sẽ có những việc ta không hoàn thành. Môsê nhìn thấy Đất Hứa nhưng không bước vào. Đavít muốn xây Đền Thờ nhưng công việc ấy dành cho Salômôn. Gioan Tẩy Giả chuẩn bị đường cho Đấng khác rồi lui vào bóng tối. Có những người gieo, người khác gặt. Người lãnh đạo càng trưởng thành càng bớt nhu cầu phải thấy tất cả kết quả trong thời mình. Điều này giải thoát ta khỏi sự nóng vội. Ta có thể gieo hạt mà không đào lên mỗi ngày để kiểm tra xem nó mọc chưa. Ta có thể đào tạo một người trẻ dù biết hoa trái có thể chỉ xuất hiện nhiều năm sau. Ta có thể bắt đầu một nền văn hóa tốt mà người kế nhiệm mới là người thấy kết quả. Điều quan trọng là mình đã trung thành với phần việc Chúa trao.
Và biết đâu, chính những điều ta từng coi là thất bại lại trở thành phần đẹp nhất trong di sản đời mình. Một lần vấp ngã khiến ta bớt kiêu. Một lần bị từ chối khiến ta biết lắng nghe. Một người bỏ đi khiến ta học không sở hữu người khác. Một dự án tan vỡ khiến ta trở lại với cầu nguyện. Một giai đoạn cô đơn khiến ta khám phá rằng căn tính của mình không nằm trong tiếng vỗ tay. Một lần bị hiểu lầm khiến ta hiểu Chúa Giêsu hơn. Một lần phải bắt đầu lại khiến ta biết rằng Phục Sinh không chỉ là tín điều để giảng mà là kinh nghiệm có thể sống.
Thập giá mãi mãi là lời nhắc nhở rằng Thiên Chúa không làm việc theo logic thành công tức thời của con người. Hạt giống phải mục đi. Ngày phải đi qua đêm. Ngôi mộ phải đóng trước khi được mở. Đức Giêsu phải thốt lên “Đã hoàn tất” trong một khung cảnh tưởng như mọi thứ đều dang dở. Có một nghịch lý tuyệt đẹp ở đó: con người nói “hết rồi”, Thiên Chúa nói “hoàn tất”; con người nhìn thấy cái chết, Thiên Chúa đang chuẩn bị sự sống; con người thấy một ngôi mộ, Thiên Chúa thấy một cửa ngõ.
Vì thế, người lãnh đạo theo Đức Giêsu không cần trở thành một người không bao giờ thất bại. Điều ấy bất khả. Điều họ cần trở thành là người biết thất bại theo cách của Tin Mừng: không chạy trốn sự thật, không đổ lỗi, không tự hủy, không cay đắng, không bám vào quá khứ, không đánh mất niềm tin nơi Thiên Chúa. Họ biết quỳ xuống trước thập giá và đặt ở đó những kế hoạch không thành, những mối tương quan tan vỡ, những lần bị hiểu lầm, những quyết định sai, những giấc mơ chưa tới đích. Họ để Chúa thanh luyện tất cả. Rồi một ngày, khi đến lúc, họ đứng dậy.
Có thể đứng dậy chậm hơn trước. Có thể bước đi khiêm tốn hơn. Có thể không còn tiếng vỗ tay. Có thể con đường mới nhỏ hơn con đường cũ. Nhưng họ bước với một thứ tự do mà trước đây chưa có. Họ không còn cần chứng minh quá nhiều. Họ biết mình có thể ngã và vẫn được yêu. Họ biết công việc có thể mất mà ơn gọi vẫn còn. Họ biết con người có thể bỏ mình nhưng Chúa không bỏ. Họ biết một mùa có thể kết thúc mà đời vẫn chưa hết. Và chính người đã học được điều ấy sẽ trở thành chỗ dựa rất lớn cho những người đang ở giữa mùa thất bại.
Có lẽ người lãnh đạo đẹp nhất không phải là người đứng trên đỉnh cao kể cho người dưới đáy cách leo lên. Người lãnh đạo đẹp nhất là người đã từng ở dưới đáy, đã được một bàn tay kéo dậy, và bây giờ biết cúi xuống.
Đức Giêsu Phục Sinh không xóa Thập Giá khỏi lịch sử. Ngài biến Thập Giá thành cây sự sống. Đó cũng là điều Ngài muốn làm với những thất bại của chúng ta. Ngài không hứa rằng mọi dự án sẽ thành công, mọi cộng sự sẽ trung thành, mọi kế hoạch sẽ được đón nhận, mọi công sức sẽ được ghi nhận. Ngài chỉ hứa một điều lớn hơn: nếu chúng ta ở lại trong Ngài, chẳng điều gì phải trở nên vô nghĩa. Ngay cả nước mắt cũng có thể tưới một hạt giống. Ngay cả vết thương cũng có thể thành cánh cửa. Ngay cả đổ vỡ cũng có thể mở ra một cách sống mới. Ngay cả một ngôi mộ cũng có thể trở thành nơi thiên thần nói: “Người không còn ở đây nữa. Người đã sống lại.”
Vì vậy, khi một công việc thất bại, đừng quá vội viết bản cáo chung cho sứ mạng. Khi một người quay lưng, đừng kết luận rằng mọi tình nghĩa đều giả dối. Khi một kế hoạch tan vỡ, đừng nghĩ Thiên Chúa đã rời bỏ mình. Khi một cánh cửa đóng, đừng dùng hết sức để phá nó bằng mọi giá. Có khi Chúa đang dẫn ta sang một cánh cửa khác. Khi mọi thứ tối đi như chiều Canvê, hãy nhớ rằng người đứng dưới chân thập giá không nhìn thấy bình minh Phục Sinh, nhưng bình minh ấy vẫn đang đến.
Người lãnh đạo theo Đức Giêsu có quyền buồn, nhưng không có quyền tuyệt vọng. Có quyền khóc, nhưng không được để nước mắt che mất Thiên Chúa. Có quyền nhìn nhận mình sai, nhưng không được tự kết án mình mãi mãi. Có quyền dừng lại, nhưng không được xây nhà trong thất bại. Có quyền mất một giấc mơ, nhưng phải để Chúa dạy mình mơ lại.
Và đôi khi giấc mơ thứ hai mới thật sự là giấc mơ của Chúa.
Bởi sau cùng, bí quyết không nằm ở chỗ làm sao để không bao giờ có Thứ Sáu Tuần Thánh. Đời người nào rồi cũng có những ngày như thế. Bí quyết nằm ở chỗ khi Thứ Sáu đến, ta có đủ đức tin để không bỏ Chúa; khi Thứ Bảy im lặng, ta có đủ kiên nhẫn để chờ; và khi sáng Chúa Nhật mở ra, ta có đủ khiêm tốn để nhận ra rằng điều mới Chúa đang làm có thể không giống điều cũ mà ta từng muốn giữ.
Thất bại không phải lúc nào cũng là dấu chấm hết.
Trong bàn tay Thiên Chúa, đôi khi chính dấu chấm hết của chúng ta lại là dấu hai chấm của Ngài.
Câu chuyện vẫn còn tiếp tục.
CHƯƠNG 9: LÃNH ĐẠO BẰNG VIỆC GIỮ TẦM NHÌN DÀI HẠN VÀ SỨ MẠNG RÕ RÀNG
Có một điều rất lạ nơi Đức Giêsu mà càng đọc Tin Mừng, chúng ta càng thấy rõ: Ngài sống giữa vô vàn biến động nhưng không bao giờ đánh mất phương hướng. Chung quanh Ngài là những đám đông luôn thay đổi, những tiếng tung hô rồi những lời chống đối, những người tìm đến vì đau bệnh, những người tìm đến vì tò mò, những người theo Ngài vì tin, những người theo Ngài vì muốn xem phép lạ, những người muốn tôn Ngài làm vua, những người muốn bắt Ngài, những người muốn thử Ngài, những người muốn sử dụng Ngài cho những mục tiêu của họ. Có lúc Ngài được hàng ngàn người vây quanh. Có lúc chỉ còn vài môn đệ. Có lúc dân chúng kinh ngạc trước lời giảng dạy. Có lúc chính những người từng nghe Ngài lại cầm đá định ném Ngài. Có lúc người ta trải áo xuống đường đón Ngài như một vị vua. Chỉ ít ngày sau, một đám đông khác lại gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Nếu một người lãnh đạo bình thường sống giữa những thay đổi dữ dội như thế, có lẽ rất dễ bị dao động. Khi được tung hô thì tưởng mình đang thành công. Khi bị chống đối thì tưởng sứ mạng của mình đã thất bại. Khi đông người thì phấn khởi. Khi ít người thì chán nản. Khi người ta ca ngợi thì muốn ở lại. Khi người ta phê bình thì muốn bỏ đi. Nhưng Đức Giêsu thì không như thế. Ngài biết mình từ đâu đến. Ngài biết mình đang đi đâu. Và trên hết, Ngài biết mình được sai đến để làm gì. Chính vì thế, cuộc đời Ngài có một sự tự do kỳ lạ. Ngài có thể đứng giữa những tiếng vỗ tay mà không say men thành công. Ngài có thể đứng giữa những lời chống đối mà không đánh mất bình an. Ngài có thể làm những phép lạ lớn lao mà không biến phép lạ thành mục tiêu. Ngài có thể được dân chúng tìm kiếm mà vẫn rời đi khi cần phải rời đi. Ngài có thể yêu thương từng con người cụ thể mà không để bất cứ người nào kéo Ngài ra khỏi con đường Chúa Cha đã trao phó. Đó là sức mạnh của một người sống với một tầm nhìn dài hạn và một sứ mạng rõ ràng.
Ngay từ những trang đầu của đời sống công khai, Đức Giêsu đã công bố điều có thể gọi là “tuyên ngôn sứ mạng” của Ngài. Trong hội đường Nadarét, Ngài mở sách ngôn sứ Isaia và đọc: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Những lời ấy không phải chỉ là một đoạn Kinh Thánh đẹp được Đức Giêsu chọn để khai mạc một bài giảng. Đó là toàn bộ hướng đi của cuộc đời Ngài. Ngài đến vì người nghèo. Ngài đến vì người bị thương tổn. Ngài đến để giải thoát. Ngài đến để chữa lành. Ngài đến để đưa những con người đang xa cách trở về với Thiên Chúa. Ngài đến để loan báo Nước Trời. Ngài đến để làm cho con người nhận ra khuôn mặt của Chúa Cha. Và từ ngày ấy cho đến khi nói lời cuối cùng trên thập giá: “Thế là đã hoàn tất”, Đức Giêsu không rời khỏi sứ mạng ấy một bước nào. Hoàn cảnh có thay đổi, phương pháp có thay đổi, những người chung quanh có thay đổi, nhưng sứ mạng không thay đổi. Khi ở hội đường, Ngài thực hiện sứ mạng ấy. Khi đi trên đường làng Galilê, Ngài thực hiện sứ mạng ấy. Khi ngồi bên giếng với người phụ nữ Samari, Ngài thực hiện sứ mạng ấy. Khi chạm vào người phong cùi, Ngài thực hiện sứ mạng ấy. Khi ngồi ăn với những người thu thuế và tội lỗi, Ngài thực hiện sứ mạng ấy. Khi đối thoại với Nicôđêmô trong đêm, Ngài thực hiện sứ mạng ấy. Khi đứng trước Philatô, Ngài vẫn thực hiện sứ mạng ấy. Khi bị đóng đinh trên thập giá, tưởng như không còn có thể làm gì nữa, chính lúc ấy Ngài hoàn tất sứ mạng ấy cách trọn vẹn nhất.
Điều này cho thấy một nguyên tắc rất quan trọng của lãnh đạo: người lãnh đạo không thể chỉ biết mình đang làm gì; người lãnh đạo phải biết tại sao mình làm điều đó. Hai câu hỏi ấy rất khác nhau. “Tôi đang làm gì?” là câu hỏi về công việc. “Tại sao tôi làm việc này?” là câu hỏi về sứ mạng. Công việc có thể thay đổi từng ngày. Sứ mạng thì phải đủ sâu để nối tất cả những công việc ấy lại với nhau. Một linh mục hôm nay có thể dâng lễ, ngày mai đi thăm bệnh, ngày kia họp hội đồng mục vụ, hôm khác ngồi viết bài, giảng tĩnh tâm, giải tội, xây nhà thờ, gặp một gia đình đang khủng hoảng, giải quyết một cuộc xung đột trong cộng đoàn. Những công việc ấy rất khác nhau. Nếu chỉ nhìn vào từng việc, người ta có thể cảm thấy đời mình bị chia năm xẻ bảy. Nhưng nếu tất cả được nối lại bằng một sứ mạng rõ ràng – đưa con người đến gần Chúa hơn, chữa lành những gì bị thương tổn, loan báo Tin Mừng và phục vụ Dân Chúa – thì từng việc nhỏ đều có ý nghĩa. Ngược lại, nếu sứ mạng bị quên mất, người ta có thể làm rất nhiều mà cuối cùng không biết mình đang đi đâu. Lịch làm việc kín mít nhưng tâm hồn trống rỗng. Chạy từ cuộc họp này đến cuộc họp khác nhưng không biết những cuộc họp ấy phục vụ điều gì. Xây được nhiều công trình nhưng không chắc đã xây được con người. Tổ chức được nhiều chương trình nhưng không chắc đã giúp ai gặp Chúa. Có nhiều hoạt động nhưng không có phương hướng. Có rất nhiều việc để làm nhưng không còn biết việc nào thật sự đáng để làm.
Một trong những cám dỗ tinh vi nhất của người lãnh đạo không phải là làm điều xấu, mà là làm quá nhiều điều tốt đến mức không còn thời gian và sức lực cho điều quan trọng nhất. Đây là một cám dỗ rất khó nhận ra, bởi vì những điều làm chúng ta phân tán thường không phải là những điều sai trái. Chúng có thể rất tốt. Một chương trình mới rất tốt. Một dự án mới rất tốt. Một lời mời mới rất tốt. Một sáng kiến mới rất tốt. Một hoạt động mới cũng rất tốt. Vấn đề nằm ở chỗ: không phải mọi điều tốt đều là điều chúng ta được gọi để làm. Có những việc tốt nhưng không thuộc về sứ mạng của mình. Có những cơ hội tốt nhưng nếu nhận lấy, chúng ta sẽ phải bỏ mất những điều quan trọng hơn. Có những lời mời rất đáng trân trọng nhưng nếu cứ nhận tất cả, cuối cùng mình không còn sống được điều căn bản nhất của ơn gọi. Người lãnh đạo trưởng thành không chỉ biết nói “không” với điều xấu; họ còn phải biết nói “không” với một số điều tốt để trung thành với điều tốt hơn. Đây là một thứ kỷ luật rất khó. Bởi nói “không” với điều xấu thường dễ giải thích. Nhưng nói “không” với một việc tốt thường khiến người khác không hiểu. Thậm chí họ có thể trách móc: “Tại sao cha không làm việc này? Tại sao cộng đoàn không tổ chức việc kia? Tại sao không mở thêm chương trình nọ? Tại sao không nhận thêm công việc này?” Nếu người lãnh đạo không có sứ mạng rõ ràng, họ sẽ dễ bị dẫn dắt bởi áp lực của người khác. Ai đề nghị gì cũng làm. Ai mong gì cũng cố đáp ứng. Ai phàn nàn gì cũng thay đổi. Sau một thời gian, họ không còn lãnh đạo nữa; họ chỉ phản ứng với những yêu cầu liên tục đến từ chung quanh.
Đức Giêsu cho chúng ta một ví dụ rất mạnh về điều này. Sau khi chữa lành nhiều người, danh tiếng của Ngài lan rộng. Dân chúng tìm kiếm Ngài. Họ muốn giữ Ngài ở lại. Nếu nhìn bằng tiêu chuẩn thành công của con người, đây là thời điểm lý tưởng để Đức Giêsu ở lại và “phát triển ảnh hưởng”. Người ta đang thích Ngài. Người ta đang cần Ngài. Đám đông đang kéo đến. Đây có thể là cơ hội để xây dựng một trung tâm lớn, tập trung mọi người về đó, tạo thành một phong trào thật mạnh. Nhưng Đức Giêsu nói: “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó” (Lc 4,43). Một câu nói ngắn nhưng cho thấy một tâm hồn vô cùng tự do. Ngài biết tại sao mình được sai đi. Chính sự rõ ràng ấy giúp Ngài biết lúc nào nên ở lại và lúc nào cần phải đi. Đám đông muốn giữ Ngài, nhưng sứ mạng đòi Ngài phải lên đường. Người lãnh đạo không có tầm nhìn sẽ rất dễ ở lại nơi mình được yêu mến. Người lãnh đạo có sứ mạng sẽ dám rời cả nơi mình đang thành công nếu biết rằng mình còn được gọi đi xa hơn.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa sống theo sự tung hô và sống theo sứ mạng. Nếu sống theo sự tung hô, chúng ta sẽ luôn hỏi: người ta nghĩ gì về mình? Có bao nhiêu người ủng hộ? Có bao nhiêu lời khen? Có bao nhiêu người tham dự? Có bao nhiêu lượt xem? Có bao nhiêu người vỗ tay? Nhưng nếu sống theo sứ mạng, câu hỏi sẽ khác: điều này có trung thành với điều Chúa trao cho mình không? Nó có thực sự giúp con người sống tốt hơn không? Nó có đưa họ đến gần Chúa hơn không? Nó có phục vụ người nghèo, người yếu đuối, người bị bỏ quên không? Nó có làm cho cộng đoàn trưởng thành hơn không? Những câu hỏi ấy đôi khi đưa chúng ta đến những lựa chọn không gây ấn tượng. Có những việc rất quan trọng nhưng chẳng ai nhìn thấy. Có những cuộc gặp chỉ có hai người. Có những cuộc thăm viếng không ai chụp hình. Có những giờ ngồi lắng nghe một người đang đau khổ mà chẳng đem lại “thành tích” nào. Có những quyết định đúng nhưng khiến mình bị hiểu lầm. Có những việc phải kiên trì nhiều năm mới thấy kết quả. Nếu một người lãnh đạo chỉ sống bằng những phản hồi tức thời, họ sẽ không đủ sức đi con đường dài. Họ sẽ luôn cần những dấu hiệu thành công ngay lập tức để tiếp tục. Nhưng những công việc thực sự có giá trị thường cần thời gian. Một con người thay đổi cần thời gian. Một cộng đoàn trưởng thành cần thời gian. Một nền văn hóa mục vụ tốt cần thời gian. Một thế hệ trẻ được đào tạo cần thời gian. Một hạt giống đức tin gieo vào một gia đình có khi nhiều năm sau mới mọc lên. Người lãnh đạo phải học nhìn xa hơn những gì đang thấy trước mắt.
Đức Giêsu đã sống chính sự kiên nhẫn ấy. Ngài không xây dựng sứ mạng của mình dựa trên kết quả tức thời. Nếu chỉ nhìn những giờ cuối cùng của cuộc đời Ngài bằng mắt con người, chúng ta có thể kết luận rằng công trình của Ngài thất bại. Sau ba năm rao giảng, Ngài bị bắt. Một môn đệ bán Ngài. Một môn đệ chối Ngài. Những môn đệ khác bỏ chạy. Dân chúng quay lưng. Các nhà lãnh đạo tôn giáo loại trừ Ngài. Chính quyền Rôma đóng đinh Ngài. Dưới chân thập giá chỉ còn một nhóm nhỏ. Nếu Đức Giêsu chỉ đo sự thành công bằng số người ở bên mình vào ngày cuối, có lẽ không có gì đáng gọi là thành công. Nhưng Ngài nhìn xa hơn. Ngài biết hạt giống phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Ngài biết Nước Thiên Chúa không lớn lên theo logic của quyền lực tức thời. Ngài biết công trình của Chúa Cha không kết thúc vào chiều thứ Sáu trên đồi Canvê. Chính vì có tầm nhìn vượt quá hiện tại, Ngài có thể đi qua bóng tối mà không tuyệt vọng.
Người lãnh đạo cũng vậy. Có những giai đoạn chúng ta phải làm những điều mà kết quả chưa thể nhìn thấy. Có khi chúng ta đầu tư nhiều năm cho việc đào tạo một thế hệ trẻ mà mãi sau mới thấy hoa trái. Có khi chúng ta sửa đổi một cơ cấu chưa hợp lý và phải chịu rất nhiều phản ứng. Có khi chúng ta khởi sự một hướng mục vụ mới nhưng những năm đầu chưa có bao nhiêu người hưởng ứng. Có khi chúng ta chọn đặt ưu tiên cho người nghèo, cho người yếu thế, cho những vùng ít được quan tâm, và vì thế những con số bề ngoài không đẹp bằng những chương trình đông người, dễ gây chú ý. Tầm nhìn dài hạn giúp người lãnh đạo không thay đổi hướng đi mỗi khi gặp khó khăn. Không phải cứng đầu. Không phải bảo thủ. Người lãnh đạo vẫn phải biết điều chỉnh phương pháp. Nhưng điều chỉnh phương pháp khác với đánh mất sứ mạng. Một con tàu có thể đổi hướng chút ít để tránh bão, nhưng nó không được quên cảng mình đang đi tới.
Một trong những nguy hiểm lớn nhất trong lãnh đạo là nhầm lẫn phương tiện với mục tiêu. Nhà thờ là phương tiện, không phải mục tiêu. Cơ sở vật chất là phương tiện. Tiền bạc là phương tiện. Truyền thông là phương tiện. Các cuộc họp là phương tiện. Các hội đoàn là phương tiện. Chương trình mục vụ là phương tiện. Những con số thống kê cũng chỉ là phương tiện để hiểu thực trạng. Mục tiêu vẫn là con người được gặp Chúa, được biến đổi, được yêu thương, được sống phẩm giá của mình, được trở nên môn đệ và chứng nhân của Tin Mừng. Nhưng chúng ta rất dễ quên điều này. Khi một phương tiện phát triển mạnh, nó có thể tự biến thành mục tiêu. Người ta bắt đầu dành hầu hết thời gian để giữ cho hệ thống vận hành, đến mức quên hỏi hệ thống ấy tồn tại để làm gì. Có những cộng đoàn tổ chức rất nhiều sự kiện nhưng đời sống thiêng liêng lại nghèo đi. Có những giáo xứ xây dựng rất nhiều nhưng những gia đình đổ vỡ vẫn không ai đồng hành. Có những tổ chức sở hữu rất nhiều cơ cấu nhưng người nghèo lại cảm thấy mình không có chỗ. Có những nhà lãnh đạo bận rộn cả ngày với việc điều hành nhưng gần như không còn thời gian để gặp con người. Khi ấy, phương tiện đã âm thầm chiếm chỗ của sứ mạng.
Đức Giêsu không bao giờ để điều đó xảy ra. Phép lạ không trở thành mục tiêu của Ngài. Khi người ta tìm đến chỉ vì bánh ăn, Ngài đưa họ đi xa hơn: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh.” Ngài biết rằng cho người ta một bữa ăn là quan trọng, nhưng Ngài không dừng ở đó. Chữa bệnh là quan trọng, nhưng Ngài luôn dẫn người được chữa lành đến một tương quan sâu hơn với Thiên Chúa. Ngài không chỉ muốn con người khỏe mạnh; Ngài muốn họ được cứu. Ngài không chỉ muốn giải quyết một vấn đề trước mắt; Ngài muốn phục hồi toàn bộ con người. Đó là tầm nhìn dài hạn của Tin Mừng. Chúa không chỉ sửa một vài triệu chứng của đời sống chúng ta. Ngài muốn chữa tận căn. Ngài không chỉ muốn chúng ta có một ngày dễ chịu hơn. Ngài muốn chúng ta được sống đời đời.
Tầm nhìn dài hạn cũng giúp người lãnh đạo biết chịu đựng những giai đoạn chưa hoàn hảo. Đức Giêsu chọn mười hai môn đệ, nhưng trong nhiều năm họ vẫn đầy khuyết điểm. Họ tranh nhau ai lớn nhất. Họ hiểu sai về quyền lực. Họ muốn gọi lửa từ trời xuống thiêu đốt những người không đón tiếp mình. Họ ngủ khi Thầy cần họ tỉnh thức. Họ bỏ chạy khi nguy hiểm xảy đến. Nếu Đức Giêsu chỉ nhìn vào hiện trạng, có lẽ Ngài đã thất vọng từ lâu. Nhưng Ngài nhìn thấy điều họ có thể trở thành. Ngài không chỉ nhìn Phêrô của hôm nay, nóng nảy và yếu đuối; Ngài nhìn Phêrô của ngày mai, người sẽ củng cố anh em mình. Ngài không chỉ nhìn Gioan và Giacôbê đang muốn ngồi bên hữu bên tả; Ngài nhìn thấy những người sẽ học được bài học của tình yêu và hiến mạng. Tầm nhìn lãnh đạo là khả năng nhìn con người không chỉ như họ đang là, mà còn như họ có thể trở thành dưới tác động của ân sủng. Nếu chỉ nhìn hiện tại, chúng ta sẽ dễ loại bỏ người khác. Nếu nhìn bằng hy vọng, chúng ta sẽ biết đầu tư vào họ.
Nhưng tầm nhìn dài hạn không phải là mơ mộng. Đức Giêsu không sống trong những ý tưởng mơ hồ. Ngài có một hướng đi rất rõ và từng bước tiến về hướng ấy. Ngài đào tạo các môn đệ. Ngài sai họ đi từng hai người. Ngài dạy họ cầu nguyện. Ngài dạy họ cách phục vụ. Ngài sửa họ khi họ hiểu sai. Ngài chuẩn bị họ cho thời gian Ngài không còn hiện diện hữu hình. Ngài trao trách nhiệm cho họ. Nói cách khác, Ngài không chỉ có tầm nhìn; Ngài xây dựng con người để tiếp tục tầm nhìn ấy. Đây là điều một số nhà lãnh đạo quên. Họ có rất nhiều ý tưởng nhưng mọi thứ đều xoay quanh bản thân họ. Họ làm rất tốt khi còn hiện diện, nhưng khi họ rời đi thì mọi việc tan vỡ. Đó không phải là tầm nhìn dài hạn. Một người lãnh đạo thực sự phải tự hỏi: nếu ngày mai tôi không còn ở đây, sứ mạng có tiếp tục không? Những người chung quanh có đủ trưởng thành để tiếp tục không? Hay tôi đã vô tình xây dựng một hệ thống phụ thuộc hoàn toàn vào mình?
Đức Giêsu không giữ mọi quyền quyết định trong tay mình cho đến phút cuối. Ngài trao cho các môn đệ quyền rao giảng, chữa lành, phục vụ. Ngài chấp nhận để họ đi và có lúc thất bại. Ngài để họ trở về kể lại những gì họ đã làm. Ngài hướng dẫn họ. Ngài kiên nhẫn sửa dạy. Trước khi về cùng Chúa Cha, Ngài trao cho họ sứ mạng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Điều này thật đáng suy nghĩ. Chúa Giêsu có thể làm mọi sự tốt hơn các môn đệ. Không ai giảng hay bằng Ngài. Không ai hiểu con người bằng Ngài. Không ai yêu thương hoàn hảo như Ngài. Vậy mà Ngài vẫn trao công việc cho những con người rất bất toàn. Vì Ngài không xây dựng một sứ mạng chỉ tồn tại khi Ngài hiện diện hữu hình. Ngài xây dựng một cộng đoàn có thể tiếp tục sứ mạng qua nhiều thế hệ. Người lãnh đạo có tầm nhìn dài hạn không sợ người khác giỏi lên. Họ không giữ mọi kiến thức cho riêng mình. Họ không xem những người có khả năng là mối đe dọa. Ngược lại, niềm vui lớn nhất của họ là thấy những người mình đào tạo có thể đi xa hơn mình.
Có lẽ một trong những câu hỏi đau nhưng cần thiết nhất cho mọi người lãnh đạo là: “Tôi đang xây dựng sứ mạng hay đang xây dựng vị trí của mình?” Hai điều ấy bên ngoài đôi khi rất giống nhau. Người ta đều làm việc. Đều tổ chức. Đều nói những điều đẹp. Nhưng động lực bên trong khác nhau. Nếu xây dựng vị trí của mình, ta sẽ muốn mọi người phụ thuộc vào ta. Ta sẽ khó chịu khi ai đó được chú ý hơn. Ta sẽ sợ trao quyền. Ta sẽ giữ thông tin. Ta sẽ muốn mọi thành công đều gắn với tên mình. Ta sẽ coi sự vắng mặt của mình là một nguy cơ. Nhưng nếu xây dựng sứ mạng, ta sẽ vui khi công việc tiếp tục mà không cần ta. Ta sẽ chủ động tìm người có khả năng. Ta sẽ trao cơ hội. Ta sẽ đào tạo người kế tiếp. Ta sẽ để người khác có không gian để trưởng thành, kể cả khi họ làm khác mình. Bởi mục tiêu không phải là bảo vệ vai trò của mình; mục tiêu là để Tin Mừng được tiếp tục.
Một sứ mạng rõ ràng còn giúp người lãnh đạo vượt qua một căn bệnh rất phổ biến: bệnh so sánh. Khi không biết rõ mình được gọi để làm gì, chúng ta dễ nhìn người khác rồi bắt chước. Thấy nơi kia làm chương trình này thành công, mình cũng muốn làm. Thấy cộng đoàn nọ có mô hình kia hấp dẫn, mình cũng muốn áp dụng. Thấy người khác có nhiều người theo dõi, mình cũng muốn như vậy. Thấy nơi khác xây được công trình lớn, mình cảm thấy mình cũng phải có. Nhưng mỗi cộng đoàn có một hoàn cảnh. Mỗi con người có một ơn gọi. Mỗi sứ mạng có một nét riêng. Điều phù hợp với nơi này chưa chắc phù hợp với nơi kia. Điều Chúa gọi người khác làm chưa chắc là điều Chúa gọi mình làm. Đức Giêsu không dành thời gian để cạnh tranh với Gioan Tẩy Giả. Khi có người nói rằng môn đệ của Đức Giêsu làm phép rửa và nhiều người kéo đến với Ngài, Tin Mừng không cho thấy Đức Giêsu bận tâm xây dựng một cuộc cạnh tranh. Ngài biết sứ mạng của mình. Gioan cũng biết sứ mạng của mình và có thể nói: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi.” Khi một người thực sự biết mình được Chúa gọi để làm gì, họ không cần phải trở thành bản sao của người khác.
Trong đời sống Giáo Hội, điều này đặc biệt quan trọng. Có những giáo xứ được gọi để trở thành nơi đào tạo. Có những cộng đoàn có khả năng đặc biệt trong việc phục vụ người nghèo. Có những nơi có một sứ mạng mạnh mẽ với giới trẻ. Có những hội dòng được trao một đặc sủng riêng. Có những linh mục được Chúa ban khả năng giảng dạy, người khác lại có khả năng đồng hành, người khác nữa có khả năng tổ chức, có người âm thầm nhưng rất sâu trong việc giải tội và hướng dẫn thiêng liêng. Không ai phải làm tất cả. Cũng không ai cần phải giống người khác. Bi kịch bắt đầu khi chúng ta quên đặc sủng của mình để chạy theo điều đang nổi tiếng ở nơi khác. Một cây cam không cần phải xấu hổ vì không sinh trái xoài. Nó chỉ cần sinh những trái cam thật tốt. Một người lãnh đạo cần giúp cộng đoàn của mình khám phá: Chúa đã đặt chúng ta ở đây để làm gì? Đâu là những nhu cầu cụ thể của những con người Chúa giao cho chúng ta? Đâu là đặc sủng Ngài đã trao? Nếu không trả lời những câu hỏi ấy, chúng ta sẽ cứ chạy theo hết xu hướng này đến xu hướng khác.
Sứ mạng rõ ràng cũng là một hàng rào bảo vệ người lãnh đạo khỏi sự kiệt sức. Có nhiều người kiệt sức không phải vì họ lười biếng, nhưng vì họ làm quá nhiều. Họ muốn đáp ứng mọi nhu cầu. Họ không dám từ chối. Họ cảm thấy có lỗi mỗi khi nghỉ ngơi. Họ nghĩ rằng yêu thương nghĩa là luôn phải có mặt cho tất cả mọi người. Nhưng ngay cả Đức Giêsu cũng không chữa tất cả mọi người ở Palestine. Ngài không đi đến mọi ngôi làng trên thế giới trong ba năm đời công khai. Ngài không đáp ứng mọi yêu cầu. Có lúc đám đông tìm Ngài nhưng Ngài đi nơi khác. Có lúc Ngài rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Có lúc Ngài nói với các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Ngài biết mình có một sứ mạng, nhưng Ngài cũng biết mình phải sống sứ mạng ấy trong sự hiệp thông với Chúa Cha, chứ không phải trong sự điên cuồng của hoạt động. Người không biết sứ mạng của mình sẽ luôn cảm thấy có một việc nữa cần làm. Người biết sứ mạng sẽ có thể nói: việc này quan trọng, việc kia có thể chờ, việc nọ không phải trách nhiệm của tôi.
Nói “không” là một trong những kỹ năng thiêng liêng khó nhất của người lãnh đạo. Không phải nói “không” vì ích kỷ, nhưng nói “không” để có thể nói “có” với điều quan trọng hơn. Đức Maria đã nói “xin vâng” với Thiên Chúa, và chính lời “xin vâng” ấy đồng thời có nghĩa là Mẹ phải nói “không” với một cuộc đời bình thường như Mẹ từng hình dung. Các tông đồ nói “có” với lời mời gọi của Đức Giêsu nên phải nói “không” với rất nhiều điều khác. Mọi ơn gọi đều có những lựa chọn. Không ai có thể sống mọi cuộc đời cùng một lúc. Người lãnh đạo cũng vậy. Nếu sứ mạng chính là đào tạo con người, chúng ta phải dành thời gian cho đào tạo, dù điều đó có nghĩa là phải bớt một số hoạt động khác. Nếu sứ mạng là phục vụ người nghèo, ngân sách phải phản ánh điều ấy. Nếu nói rằng người trẻ là ưu tiên, lịch làm việc và nhân sự cũng phải phản ánh điều ấy. Nếu nói cầu nguyện là trung tâm, người lãnh đạo phải thực sự dành thời gian cầu nguyện. Không thể nói một điều là ưu tiên nhưng nó luôn đứng cuối lịch. Ưu tiên không phải là điều chúng ta nói quan trọng. Ưu tiên là điều chúng ta thực sự dành thời gian, năng lượng, con người và tài nguyên cho nó.
Đây cũng là nơi đòi hỏi sự trung thực rất lớn. Đôi khi chúng ta thích nói về những tầm nhìn lớn vì nghe rất đẹp, nhưng đời sống thực tế lại không thay đổi. Ta nói muốn xây dựng một cộng đoàn hiệp thông nhưng vẫn để những nhóm nhỏ chia rẽ nhau nhiều năm. Ta nói người nghèo là trung tâm nhưng phần lớn nguồn lực chỉ dành cho những người đã có nhiều. Ta nói muốn đào tạo thế hệ kế tiếp nhưng không trao cho người trẻ cơ hội thật sự. Ta nói muốn truyền giáo nhưng gần như mọi chương trình chỉ hướng vào những người đã ở trong nhà thờ. Ta nói muốn lãnh đạo theo Đức Giêsu nhưng vẫn đo thành công bằng quyền lực và danh tiếng. Tầm nhìn không phải là một câu khẩu hiệu treo trên tường. Tầm nhìn phải trở thành tiêu chuẩn để lựa chọn. Nếu một tầm nhìn không ảnh hưởng đến ngân sách, lịch làm việc, cách sử dụng nhân sự, cách đánh giá thành công và cách người lãnh đạo dành thời gian, thì tầm nhìn ấy chỉ là lời đẹp.
Đức Giêsu rất rõ ràng về điều Ngài ưu tiên. Ngài ưu tiên con người hơn luật lệ khi luật lệ bị sử dụng chống lại con người. Ngài ưu tiên lòng thương xót hơn sự phô trương tôn giáo. Ngài ưu tiên những người bị bỏ quên. Ngài dừng lại trước người mù đang kêu bên đường dù đám đông muốn ông im đi. Ngài bước vào nhà Dakêu dù người ta xì xầm. Ngài để người phụ nữ tội lỗi chạm đến mình dù những người đạo đức khó chịu. Ngài dành thời gian cho trẻ nhỏ dù các môn đệ muốn xua chúng đi. Mỗi lựa chọn ấy đều cho thấy sứ mạng. Ngài không cần công bố một bản chiến lược dài để người ta biết điều Ngài coi trọng. Cách Ngài dùng thời gian đã nói lên tất cả. Cách người lãnh đạo sử dụng thời gian cũng là bản tuyên bố trung thực nhất về điều họ thực sự coi trọng.
Tầm nhìn dài hạn cũng đòi người lãnh đạo chấp nhận rằng có những điều mình gieo nhưng người khác sẽ gặt. Đây là một sự khiêm nhường rất lớn. Con người tự nhiên muốn nhìn thấy kết quả của công việc mình làm. Ta muốn biết nỗ lực của mình có ích. Ta muốn chứng kiến thành quả. Nhưng có những sứ mạng lớn hơn một đời người. Môsê dẫn dân Israel suốt bốn mươi năm nhưng không bước vào Đất Hứa. Đavít chuẩn bị nhiều thứ cho Đền Thờ nhưng Salômôn mới là người xây. Các ngôn sứ loan báo những điều mà nhiều thế hệ sau mới được thực hiện. Trong Giáo Hội cũng thế. Có những linh mục đặt nền móng cho một giáo xứ mà nhiều năm sau người khác mới xây dựng hoàn chỉnh. Có những người âm thầm đào tạo một lớp trẻ mà về sau họ trở thành những người phục vụ lớn lao. Có những cha mẹ gieo đức tin trong gia đình nhưng có thể đến khi họ qua đời, hạt giống ấy mới nở mạnh trong con cháu. Nếu chỉ muốn làm những việc mà mình có thể đứng đó nhận thành quả, chúng ta sẽ không đủ tầm để phục vụ Nước Thiên Chúa.
Có một câu trong Tin Mừng Gioan rất đẹp: “Người gieo kẻ gặt.” Trong Nước Thiên Chúa, không ai sở hữu toàn bộ công trình. Người này gieo. Người kia tưới. Người khác gặt. Và Thiên Chúa mới là Đấng làm cho lớn lên. Người lãnh đạo có tầm nhìn dài hạn không hỏi: “Công trình này có mang tên tôi không?” Họ hỏi: “Công trình này có phục vụ sứ mạng không?” Có khi việc tốt nhất một người lãnh đạo có thể làm là chuẩn bị nền móng cho người đến sau. Có khi thành công lớn nhất của một nhiệm kỳ không phải là hoàn thành thật nhiều dự án, mà là để lại một cộng đoàn trưởng thành hơn, một nhóm người có khả năng hơn, một nền văn hóa lành mạnh hơn, một hướng đi rõ ràng hơn. Những điều ấy khó chụp hình. Khó đo bằng con số. Nhưng lại bền hơn rất nhiều.
Giữ tầm nhìn dài hạn còn có nghĩa là biết rằng khủng hoảng hiện tại không phải toàn bộ câu chuyện. Khi gặp một thất bại, người lãnh đạo dễ bị nó nuốt chửng. Một dự án không thành. Một người cộng tác bỏ đi. Một quyết định bị phản đối. Một chương trình không đạt kết quả. Một cộng đoàn trải qua chia rẽ. Nếu chỉ nhìn vào thời điểm ấy, chúng ta có thể nghĩ mọi sự đã hỏng. Nhưng tầm nhìn đức tin nhắc rằng lịch sử của Thiên Chúa luôn dài hơn một biến cố. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải chương cuối. Ngôi mộ không phải điểm kết thúc. Chúa có thể dùng cả những điều tưởng như thất bại để mở một con đường mới. Người lãnh đạo vì thế phải biết đau mà không tuyệt vọng. Biết nhìn thực tế nhưng không trở thành tù nhân của thực tế. Biết nhận trách nhiệm nhưng không tự kết án mình. Biết học từ thất bại và tiếp tục tiến về sứ mạng.
Một tầm nhìn thực sự theo Đức Giêsu còn phải đủ lớn để vượt khỏi đời mình, nhưng cũng đủ cụ thể để chạm đến người đang đứng trước mặt. Đôi khi người ta nghĩ tầm nhìn lớn nghĩa là lúc nào cũng nói về những chuyện vĩ đại. Đức Giêsu có tầm nhìn cứu độ toàn thế giới, nhưng Ngài vẫn dừng lại nói chuyện với một người phụ nữ bên giếng. Ngài muốn Tin Mừng được loan báo cho muôn dân, nhưng vẫn có thời gian đặt tay trên từng đứa trẻ. Ngài nói về Nước Thiên Chúa, nhưng cũng hỏi người mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Tầm nhìn không làm Ngài xa con người; tầm nhìn làm Ngài biết tại sao mỗi con người lại quan trọng. Đó là bài học rất lớn. Người lãnh đạo có tầm nhìn không phải là người lúc nào cũng nhìn lên trời mà không thấy người dưới đất. Ngược lại, vì biết mình đang phục vụ điều gì, họ càng biết trân trọng những hành động nhỏ.
Một lời hỏi thăm đúng lúc có thể là một phần của sứ mạng. Một cuộc điện thoại cho người đang đau buồn có thể quan trọng hơn một cuộc họp. Một giờ lắng nghe một người trẻ đang mất phương hướng có thể có giá trị hơn một chương trình lớn. Một lần đi thăm người già bị bỏ quên có thể nói về Tin Mừng mạnh hơn nhiều bài diễn văn. Tầm nhìn không khiến chúng ta xem thường việc nhỏ. Nó giúp ta hiểu việc nhỏ nào đáng làm. Đức Giêsu dùng những hình ảnh rất nhỏ để nói về Nước Trời: hạt cải, nắm men, hạt lúa. Những thứ nhỏ bé ấy mang trong mình một tương lai lớn. Người lãnh đạo phải học nhìn những hạt giống như thế.
Có một nguy cơ khác: tầm nhìn có thể biến thành tham vọng nếu không được thanh luyện bằng cầu nguyện. Hai thứ đôi khi nhìn rất giống nhau. Người có tham vọng cũng có thể nói về tương lai, về mở rộng, về phát triển, về ảnh hưởng. Nhưng câu hỏi là: đó là tầm nhìn của Thiên Chúa hay giấc mơ của cái tôi? Đức Giêsu nhiều lần rút vào cầu nguyện chính vì Ngài luôn sống sứ mạng trong tương quan với Chúa Cha. Ngài nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” Đây là tiêu chuẩn cuối cùng. Không phải điều gì lớn cũng là điều Chúa muốn. Không phải điều gì gây tiếng vang cũng là điều Chúa muốn. Không phải điều gì thành công về mặt tổ chức cũng là thành công trong mắt Thiên Chúa. Có những việc rất nhỏ nhưng hoàn toàn đúng với ý Chúa. Có những công trình rất lớn nhưng lại sinh ra từ nhu cầu chứng tỏ bản thân. Vì thế, người lãnh đạo Kitô hữu phải thường xuyên đem tầm nhìn của mình trở lại trước Chúa và hỏi: “Lạy Chúa, đây có thật sự là điều Chúa muốn, hay chỉ là điều con muốn?”
Câu hỏi này cần được lặp lại nhiều lần, bởi cái tôi rất khéo léo. Ban đầu ta có thể bắt đầu một việc hoàn toàn vì sứ mạng. Nhưng dần dần, khi người ta khen, ta bắt đầu thích sự chú ý. Khi công việc lớn lên, ta bắt đầu coi nó là của mình. Khi có người góp ý, ta thấy bị đe dọa. Khi ai đó làm tốt hơn, ta khó chịu. Một công việc từng là của Chúa có thể dần biến thành nơi ta bảo vệ danh dự của mình. Vì thế, giữ sứ mạng rõ ràng không chỉ là một lần viết ra mục tiêu rồi thôi. Đó là một tiến trình thanh luyện liên tục. Mỗi ngày phải quay lại. Mỗi giai đoạn phải xét lại. Mỗi thành công càng cần xét lại. Thất bại có thể làm ta khiêm tốn, nhưng thành công đôi khi làm ta quên mình nhanh hơn.
Đức Giêsu đã chống lại cám dỗ này ngay từ đầu trong hoang địa. Ma quỷ đề nghị Ngài những con đường rất hấp dẫn: biến đá thành bánh, làm những dấu lạ ngoạn mục, có quyền lực trên các nước. Nếu chỉ xét bề ngoài, những điều ấy thậm chí có thể được sử dụng cho mục đích tốt. Có quyền lực thì có thể làm nhiều điều tốt. Có phép lạ ngoạn mục thì người ta dễ tin. Có bánh thì người nghèo được ăn. Nhưng Đức Giêsu nhận ra đằng sau những đề nghị ấy là một cách thực hiện sứ mạng không thuộc về Chúa Cha. Ngài từ chối. Đây là điều hết sức sâu sắc: không chỉ mục tiêu phải đúng; con đường cũng phải đúng. Người lãnh đạo không được nói: “Miễn là đạt mục tiêu tốt thì cách nào cũng được.” Đức Giêsu không cứu thế giới bằng thao túng, quyền lực hay trình diễn. Ngài cứu thế giới bằng tình yêu, phục vụ và thập giá.
Vì vậy, tầm nhìn Kitô giáo không chỉ hỏi: “Chúng ta muốn đi đến đâu?” mà còn hỏi: “Chúng ta sẽ đi đến đó bằng cách nào?” Một cộng đoàn có thể muốn lớn mạnh, nhưng không thể lớn mạnh bằng cách biến con người thành con số. Một tổ chức có thể muốn có ảnh hưởng, nhưng không thể đạt ảnh hưởng bằng cách hy sinh sự thật. Một người lãnh đạo có thể muốn xây dựng hiệp nhất, nhưng không thể tạo hiệp nhất bằng cách bịt miệng những người có ý kiến khác. Có những con đường rất nhanh nhưng không thuộc về Tin Mừng. Đức Giêsu chọn con đường chậm hơn: đào tạo mười hai con người. Ba năm với một nhóm rất nhỏ. Trong mắt chiến lược hiện đại, điều đó có vẻ không hiệu quả. Nhưng hai ngàn năm sau, chúng ta hiểu sức mạnh của lựa chọn ấy.
Đôi khi người lãnh đạo phải có can đảm chọn điều chậm. Chậm để đào tạo. Chậm để lắng nghe. Chậm để xây nền. Chậm để giúp con người thay đổi thật sự. Thời đại chúng ta thích tốc độ. Mọi thứ phải nhanh. Kết quả phải thấy ngay. Nhưng con người không lớn lên theo tốc độ của máy móc. Một người trẻ cần thời gian để trưởng thành. Một cộng đoàn từng bị tổn thương cần thời gian để học tin tưởng lại. Một người đang khủng hoảng đức tin cần thời gian. Một gia đình đang rạn nứt cần thời gian. Nếu lãnh đạo chỉ tìm những giải pháp nhanh, chúng ta có thể tạo ra vẻ ngoài của thành công mà không chạm được vào căn nguyên. Đức Giêsu dành ba năm để hình thành các môn đệ, và ngay cả sau ba năm họ vẫn còn nhiều điều chưa hiểu. Ngài không thất vọng vì tiến trình chậm. Ngài tin vào công việc của Thánh Thần sẽ tiếp tục sau đó.
Một sứ mạng rõ ràng cũng tạo ra bình an nội tâm. Khi biết mình đang đi đâu, chúng ta không cần phải chạy theo tất cả mọi người. Không phải ai cũng phải đồng ý với ta. Không phải mọi người đều phải thích ta. Đức Giêsu đã chấp nhận điều đó. Có người nghe lời Ngài rồi bỏ đi. Tin Mừng kể rằng sau một bài giảng khó, nhiều môn đệ không còn đi theo Ngài nữa. Đức Giêsu không chạy theo để làm nhẹ thông điệp chỉ vì sợ mất người. Ngài quay sang nhóm Mười Hai và hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Đây không phải thái độ lạnh lùng. Đây là sự tự do của người biết mình không thể phản bội sự thật để giữ đám đông. Người lãnh đạo sống bằng nhu cầu được yêu thích sẽ rất khó nói những điều cần nói. Họ sẽ né mọi quyết định có thể gây phản ứng. Họ sẽ cố làm hài lòng mọi phía. Nhưng cuối cùng, họ không còn dẫn ai đi đâu cả.
Lãnh đạo không có nghĩa là luôn làm mọi người vui. Có lúc phải nói một sự thật khó nghe. Có lúc phải dừng một chương trình đã quen thuộc. Có lúc phải thay đổi cách làm. Có lúc phải từ chối một đề nghị. Có lúc phải bảo vệ người yếu thế dù điều đó khiến người có quyền lực không hài lòng. Có lúc phải đi ngược lại ý kiến số đông. Nếu sứ mạng đủ rõ, người lãnh đạo có một điểm tựa để quyết định. Nếu không, họ sẽ chỉ nhìn xem phản ứng chung quanh thế nào.
Tuy nhiên, rõ ràng về sứ mạng không đồng nghĩa với độc đoán. Đức Giêsu rất rõ về sứ mạng nhưng vẫn lắng nghe. Ngài để người khác đặt câu hỏi. Ngài đối thoại. Ngài để các môn đệ bày tỏ suy nghĩ, dù đôi khi rất ngây ngô. Ngài hỏi: “Người ta nói Thầy là ai? Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” Một người lãnh đạo có tầm nhìn không cần phải kiểm soát mọi chi tiết. Họ có thể lắng nghe vì họ không sợ rằng mỗi ý kiến khác sẽ làm mình mất phương hướng. Trái lại, chính vì biết đích đến, họ có thể linh hoạt trong cách đi. Người không rõ đích đến thường bám rất chặt vào phương pháp. Người rõ đích đến có thể thay đổi phương pháp khi cần.
Đây là điều cần thiết trong một thế giới thay đổi nhanh. Những cách truyền giáo hôm qua chưa chắc đủ cho hôm nay. Những phương pháp đào tạo của một thế hệ trước có thể cần được điều chỉnh. Công nghệ thay đổi. Văn hóa thay đổi. Cách con người giao tiếp thay đổi. Cách người trẻ học hỏi thay đổi. Người lãnh đạo không được nhầm sự trung thành với sứ mạng và sự trung thành với phương pháp cũ. Đức Giêsu dùng những hình ảnh người thời Ngài hiểu: ruộng lúa, lưới cá, đồng tiền, hạt giống, tiệc cưới. Ngài nói ngôn ngữ của con người. Sứ điệp không thay đổi, nhưng cách truyền đạt phải chạm đến người đang sống hôm nay. Một tầm nhìn rõ ràng không làm chúng ta đóng kín; nó cho phép chúng ta đổi mới mà không đánh mất căn tính.
Trong thời đại truyền thông, điều này càng đáng suy nghĩ. Chúng ta có những phương tiện mà các thế hệ trước không thể tưởng tượng: mạng xã hội, video, phát trực tiếp, trí tuệ nhân tạo, những nền tảng có thể đưa một thông điệp đến hàng triệu người. Tất cả những điều ấy có thể là công cụ tuyệt vời cho Tin Mừng. Nhưng chính vì công cụ mạnh, nguy cơ nhầm công cụ với sứ mạng càng lớn. Lượt xem không phải là sứ mạng. Người theo dõi không phải là sứ mạng. Sự nổi tiếng không phải là sứ mạng. Những thứ ấy có thể giúp sứ mạng, nhưng chúng không thể thay thế sứ mạng. Một video có hàng triệu lượt xem nhưng không đưa con người đến gần sự thật, lòng thương xót và hy vọng thì có thể rất thành công về truyền thông nhưng không nhất thiết thành công về Tin Mừng. Ngược lại, một nội dung chỉ chạm đến vài trăm người nhưng giúp một người trở về với Chúa, giúp một gia đình hòa giải, giúp một người tuyệt vọng tìm lại hy vọng, thì trong cái nhìn của Nước Trời, đó có thể là một hoa trái rất lớn.
Người lãnh đạo vì thế phải thường xuyên hỏi: chúng ta đang đo lường điều gì? Điều gì được đo sẽ dần trở thành điều được coi trọng. Nếu chỉ đo số người tham dự, chúng ta sẽ tìm cách tăng số người. Nếu chỉ đo tiền quyên góp, chúng ta sẽ tập trung vào tiền. Nếu chỉ đo lượt xem, chúng ta sẽ bị dẫn dắt bởi thuật toán. Nhưng nếu chúng ta quan tâm đến sự trưởng thành của con người, đến việc họ có cầu nguyện hơn không, có biết tha thứ hơn không, có biết phục vụ hơn không, có sống Tin Mừng trong gia đình và công việc không, thì chúng ta sẽ phải nhìn sâu hơn các con số. Những điều quan trọng nhất thường khó đo nhất.
Có một câu hỏi rất đáng để mọi người lãnh đạo tự hỏi vào cuối mỗi ngày: “Hôm nay tôi đã tiến gần hơn hay xa hơn khỏi sứ mạng của mình?” Không phải: “Hôm nay tôi đã làm được bao nhiêu việc?” Có ngày chúng ta làm mười việc nhưng không việc nào thực sự quan trọng. Có ngày chỉ làm một việc nhưng đó lại là việc cần thiết nhất. Đức Giêsu không bị ám ảnh bởi việc phải chứng minh mình bận rộn. Ngài có thể ngồi bên giếng. Ngài có thể đi dự một bữa tiệc cưới. Ngài có thể nghỉ trên thuyền. Ngài có thể dành cả đêm cầu nguyện. Vì Ngài không đo đời mình bằng số lượng hoạt động. Ngài đo bằng sự trung thành với Chúa Cha.
Một người lãnh đạo sống như thế sẽ dần có khả năng phân định giữa khẩn cấp và quan trọng. Những điều khẩn cấp luôn kêu to. Điện thoại reo. Tin nhắn đến. Một vấn đề phát sinh. Một người cần câu trả lời ngay. Nhưng những điều quan trọng thường im lặng. Cầu nguyện không kêu. Đào tạo người kế tiếp không kêu. Chăm sóc sức khỏe không kêu. Xây dựng mối tương quan không kêu. Dành thời gian suy nghĩ chiến lược không kêu. Nếu chúng ta chỉ phản ứng với điều kêu to nhất, cả đời sẽ bị những việc khẩn cấp điều khiển. Tầm nhìn dài hạn giúp dành chỗ cho những điều quan trọng trước khi chúng trở thành khủng hoảng.
Đức Giêsu dành nhiều thời gian với nhóm Mười Hai dù đám đông còn nhiều nhu cầu. Đó là một lựa chọn dài hạn. Nếu chỉ nhìn ngắn hạn, Ngài có thể dành toàn bộ thời gian cho đám đông. Nhưng Ngài biết cần chuẩn bị những người sẽ tiếp tục sứ mạng. Người lãnh đạo ngày nay cũng cần làm điều ấy. Mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm, phải có một phần thời gian không dành cho việc chữa cháy mà dành cho việc xây nền. Đào tạo. Cầu nguyện. Đọc. Học. Gặp những người có tiềm năng. Chuẩn bị thế hệ kế tiếp. Suy nghĩ xem cộng đoàn sẽ ở đâu trong năm năm, mười năm tới. Nếu không, người lãnh đạo có thể rất giỏi giải quyết vấn đề hôm nay nhưng để lại một ngày mai đầy vấn đề lớn hơn.
Tầm nhìn dài hạn cuối cùng là một hành vi của đức tin. Bởi chúng ta không kiểm soát tương lai. Chúng ta chỉ có thể gieo. Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Người lãnh đạo Kitô hữu không phải là người có thể tiên đoán mọi thứ. Họ cũng không phải là người không bao giờ sai. Họ là người biết lắng nghe, phân định, chọn hướng đi và bước đi trong niềm tin. Abraham lên đường mà không biết hết con đường. Môsê dẫn dân vào sa mạc mà không có bản đồ cho bốn mươi năm. Các tông đồ được sai đi khắp thế giới mà không có một kế hoạch chi tiết cho hai ngàn năm Giáo Hội. Nhưng họ biết Đấng đã gọi họ. Có khi tầm nhìn không phải là nhìn thấy tất cả tương lai; tầm nhìn là nhìn thấy đủ rõ bước trung thành kế tiếp.
Đó có lẽ là điều người lãnh đạo cần nhất: không phải luôn có câu trả lời cho mọi thứ, nhưng luôn nhớ câu hỏi lớn nhất: “Chúa đã sai tôi đến để làm gì?” Khi câu hỏi ấy còn sống, chúng ta sẽ biết bỏ bớt nhiều điều. Sẽ biết từ chối nhiều cám dỗ. Sẽ biết kiên trì khi chưa thấy kết quả. Sẽ biết rời đi khi một nơi không còn là nơi mình phải ở. Sẽ biết ở lại khi khó khăn nhưng sứ mạng vẫn gọi mình ở lại. Sẽ biết đầu tư vào con người hơn là hình ảnh. Sẽ biết chọn chiều sâu hơn là tiếng vang. Sẽ biết nghĩ đến thế hệ sau hơn là nhiệm kỳ của mình. Sẽ biết vui khi người khác tiếp tục công việc. Sẽ biết làm những điều nhỏ với một tầm nhìn lớn.
Cuộc đời Đức Giêsu chỉ kéo dài khoảng ba mươi ba năm, đời công khai chỉ vài năm, vậy mà sức sống của sứ mạng Ngài vẫn tiếp tục qua hai ngàn năm và sẽ còn tiếp tục. Ngài không để lại một tòa nhà. Không để lại một cuốn sách do chính tay Ngài viết. Không để lại một kho tài sản. Ngài để lại những con người đã được biến đổi, một Tin Mừng được sống, một Thánh Thần được trao ban và một sứ mạng đủ rõ để đi qua mọi thế hệ: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Đó là tầm nhìn lớn nhất của lãnh đạo Kitô giáo. Người lãnh đạo không sống để mọi người nhớ đến mình. Người lãnh đạo sống để sứ mạng tiếp tục khi mình không còn ở đó.
Và có lẽ đây là câu hỏi đẹp nhất để khép lại chương này: nếu một ngày chúng ta rời khỏi nơi mình đang phục vụ, điều gì sẽ còn lại? Một vài công trình mang tên mình? Một vài tấm bảng ghi công? Một số kỷ niệm? Hay sẽ còn lại những con người biết yêu Chúa hơn, biết yêu nhau hơn, biết phục vụ hơn, biết tiếp tục sứ mạng mà không cần mình đứng đó? Nếu điều còn lại là những con người trưởng thành, một cộng đoàn hiệp nhất hơn, một hướng đi rõ ràng hơn, những người nghèo được quan tâm hơn, những người trẻ được trao cơ hội hơn, những người cộng tác biết tự đứng vững hơn, thì đó có lẽ là dấu hiệu của một đời lãnh đạo có tầm nhìn.
Đức Giêsu đã không để những tiếng tung hô quyết định hướng đi của Ngài. Ngài cũng không để những lời chống đối làm Ngài quay lại. Ngài không dừng lại ở những phép lạ. Không ở mãi nơi đang thành công. Không cố làm mọi thứ. Không tìm cách đáp ứng mọi mong đợi. Ngài chỉ trung thành với điều Chúa Cha đã trao. Và chính sự trung thành ấy đã làm cho một cuộc đời tưởng như ngắn ngủi trở thành nguồn sống cho cả nhân loại. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu cũng được mời gọi sống như thế: nhìn xa nhưng bước từng bước; có một sứ mạng lớn nhưng yêu từng con người nhỏ bé; dám nói “không” với điều không cần thiết để nói “có” trọn vẹn với điều Thiên Chúa trao; không chạy theo thành công tức thời nhưng kiên nhẫn gieo những hạt giống cho ngày mai; không xây dựng công trình cho tên tuổi mình nhưng xây dựng con người cho Nước Thiên Chúa.
Sau cùng, tầm nhìn của người lãnh đạo Kitô hữu không phải là một bản kế hoạch được đóng khung, nhưng là một ánh sáng dẫn đường. Có lúc đường rõ. Có lúc mờ. Có lúc phải đi qua đêm tối. Có lúc phải đổi cách đi. Nhưng solange còn biết mình thuộc về ai và được sai đi vì điều gì, người lãnh đạo sẽ không hoàn toàn lạc đường. Đức Giêsu đã sống trọn đời với một hướng duy nhất: từ Chúa Cha mà đến, sống cho Chúa Cha và đưa con người về với Chúa Cha. Mọi lời Ngài nói, mọi bước Ngài đi, mọi phép lạ Ngài làm, mọi giọt nước mắt Ngài rơi, cả thập giá Ngài mang đều nằm trong hướng ấy. Đó chính là bí quyết làm nên sức mạnh của Ngài. Và đó cũng là lời mời cho bất cứ ai đang mang trách nhiệm dẫn dắt người khác: đừng để những việc nhỏ làm mất điều lớn; đừng để sự ồn ào của hiện tại làm quên tiếng gọi ban đầu; đừng để thành công làm mình lệch hướng; đừng để thất bại làm mình bỏ cuộc; đừng để những điều tốt lấy mất điều cần thiết. Hãy giữ mắt hướng về sứ mạng. Hãy giữ lòng ở lại với Đấng đã sai mình. Hãy đi đủ chậm để nghe tiếng Chúa, đủ can đảm để nói “không”, đủ kiên nhẫn để gieo, đủ khiêm nhường để người khác gặt, và đủ đức tin để tin rằng những gì được thực hiện trong tình yêu và sự trung thành sẽ không bao giờ mất đi.
Người lãnh đạo lớn không nhất thiết là người làm được nhiều nhất. Người lãnh đạo lớn là người biết điều gì mình nhất định phải làm và trung thành với điều ấy đến cùng. Đức Giêsu đã làm như thế. Và khi giờ cuối cùng đến, trên thập giá, Ngài có thể nói một câu mà có lẽ bất cứ người lãnh đạo nào cũng mong một ngày có thể nói trước mặt Thiên Chúa: “Mọi sự đã hoàn tất.” Không phải vì Ngài đã làm tất cả mọi việc có thể làm trên thế gian, nhưng vì Ngài đã hoàn tất điều Chúa Cha trao cho Ngài. Đó mới là thành công cuối cùng của một đời lãnh đạo. Không phải làm tất cả. Không phải được tất cả mọi người biết đến. Không phải xây tất cả những gì có thể xây. Nhưng là, khi nhìn lại con đường mình đã đi, có thể bình an thưa với Chúa: “Con đã cố gắng trung thành với điều Chúa trao. Con đã không sống cho tiếng vỗ tay. Con đã không dùng người khác để xây tên tuổi mình. Con đã gieo những gì con có thể gieo. Con đã trao lại sứ mạng cho những người đi sau. Và giờ đây, phần còn lại, con phó thác trong tay Chúa.”
Đó là lãnh đạo theo Đức Giêsu. Đó là giữ tầm nhìn dài hạn. Đó là sống một sứ mạng đủ rõ để giữa muôn tiếng gọi, chúng ta vẫn nhận ra tiếng gọi quan trọng nhất; giữa muôn con đường, vẫn biết con đường nào mình phải đi; giữa muôn việc tốt, vẫn chọn được việc cần thiết; giữa những thành công và thất bại, vẫn giữ lòng bình an; giữa những thay đổi của thời đại, vẫn không đánh mất căn tính; và giữa một đời người rất ngắn, vẫn biết gieo những hạt giống có thể sinh hoa trái cho những thế hệ mình sẽ không bao giờ gặp. Khi ấy, đời lãnh đạo không còn là một cuộc chạy đua để chứng minh mình đã làm được bao nhiêu, nhưng trở thành một hành trình trung thành. Và sự trung thành ấy, trong tay Thiên Chúa, có thể đi xa hơn rất nhiều so với những gì chúng ta từng tưởng tượng.
KẾT LUẬN – LÃNH ĐẠO THEO ĐỨC GIÊSU LÀ TRỞ NÊN GIỐNG NGÀI HƠN
Sau cùng, khi đi hết hành trình tìm hiểu những bí quyết lãnh đạo của Đức Giêsu, có lẽ điều quan trọng nhất chúng ta cần giữ lại không phải là một danh sách những nguyên tắc, càng không phải là một bộ kỹ năng để áp dụng nhằm trở thành người lãnh đạo thành công hơn. Đức Giêsu chưa bao giờ đến để dạy con người cách xây dựng một hình ảnh quyền lực, cách điều hành một tổ chức hiệu quả hơn hay cách khiến người khác phải nghe theo mình. Ngài đến để mặc khải một cách sống. Và chính cách sống ấy đã trở thành một kiểu lãnh đạo hoàn toàn khác với mọi kiểu lãnh đạo mà thế gian thường đề cao. Lãnh đạo theo Đức Giêsu, vì thế, không phải trước hết là trở thành một người giỏi hơn, mạnh hơn, nổi bật hơn, tài ba hơn hay được nhiều người biết đến hơn. Lãnh đạo theo Đức Giêsu là trở nên giống Ngài hơn. Chỉ vậy thôi. Nhưng “chỉ vậy thôi” lại là cả một cuộc hoán cải kéo dài suốt đời. Trở nên giống Ngài hơn trong cách nhìn con người, trong cách sử dụng quyền bính, trong cách đối diện với người chống đối, trong cách chịu đựng sự phản bội, trong cách tha thứ, trong cách cầu nguyện, trong cách chọn lựa, trong cách bước xuống khỏi vị trí cao để cúi mình phục vụ những người bé nhỏ nhất. Một người có thể đọc hàng trăm cuốn sách về lãnh đạo, tham dự hàng chục khóa đào tạo, sở hữu một khả năng tổ chức tuyệt vời, nói chuyện cuốn hút, có tầm nhìn xa, có khả năng quy tụ đám đông, nhưng nếu trong tâm hồn người ấy ngày càng xa cách tinh thần của Đức Giêsu thì tất cả những thành công đó cũng không phải là điều Tin Mừng gọi là lãnh đạo. Ngược lại, có những người chẳng bao giờ được gọi là “nhà lãnh đạo”, chẳng có chức danh lớn, chẳng đứng trên sân khấu, chẳng được ai tung hô, nhưng mỗi ngày âm thầm sống trung thực, biết lắng nghe, biết nhường nhịn, biết chịu phần thiệt, biết bảo vệ người yếu thế, biết nâng người khác đứng lên, biết để người khác tỏa sáng hơn mình, biết kiên nhẫn với những con người khó thương, biết cúi xuống phục vụ mà không cần ai biết đến; những con người ấy, rất có thể, đang sống tinh thần lãnh đạo của Đức Giêsu sâu sắc hơn rất nhiều người đang nắm quyền trong tay.
Điều kỳ lạ nơi Đức Giêsu là Ngài có tất cả quyền năng nhưng không bao giờ dùng quyền năng ấy để làm cho mình trở nên lớn hơn. Ngài có thể khiến đám đông kinh ngạc, nhưng Ngài không tìm kiếm sự ngưỡng mộ. Ngài có thể làm phép lạ, nhưng Ngài nhiều lần tránh để dân chúng tung hô. Ngài có thể khiến những kẻ bắt Ngài ngã xuống đất chỉ bằng một lời, nhưng Ngài lại để người ta trói tay mình. Ngài có thể gọi các đạo binh thiên thần đến giải cứu, nhưng Ngài đã chọn con đường thập giá. Ngài là Thầy và là Chúa, nhưng lại quỳ xuống trước những bàn chân bụi bặm của các môn đệ để rửa chân cho họ. Đó là nghịch lý của quyền bính Kitô giáo. Càng ở gần Đức Giêsu, người lãnh đạo càng không còn nhu cầu chứng minh mình quan trọng. Càng ở gần Đức Giêsu, người lãnh đạo càng bớt ám ảnh về việc người khác có công nhận mình hay không. Càng giống Đức Giêsu, người ta càng nhẹ nhàng với chức vụ và nghiêm túc với trách nhiệm; càng bớt giữ ghế và càng biết giữ người; càng ít nói về quyền lợi của mình và càng thao thức về những người được trao phó cho mình. Bi kịch của nhiều cộng đoàn không phải vì thiếu người tài, mà vì có quá nhiều người muốn được nhìn nhận là tài. Không phải vì thiếu kế hoạch, mà vì thiếu những con người sẵn sàng hy sinh cái tôi cho một sứ mạng lớn hơn. Không phải vì thiếu những bài nói về phục vụ, mà vì có quá ít người thực sự chấp nhận trở thành người phục vụ. Đức Giêsu không biến phục vụ thành một khẩu hiệu. Ngài biến phục vụ thành cách hiện hữu của mình. Ngài không nói với các môn đệ: “Các con hãy trở thành những người phục vụ tốt.” Ngài làm nhiều hơn thế: Ngài tự đặt mình giữa họ như một người phục vụ. Và Ngài nói: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” Chính câu nói ấy đặt ra một tiêu chuẩn rất nghiêm khắc cho mọi người đang mang trách nhiệm lãnh đạo trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội: người khác có thể nhìn vào đời sống của chúng ta mà học được điều gì? Nếu họ chỉ nghe những lời hay nhưng nhìn thấy một lối sống hoàn toàn khác, thì lời nói của chúng ta sẽ mất sức mạnh. Nếu chúng ta dạy khiêm nhường nhưng lại dễ tổn thương khi không được tôn trọng, dạy phục vụ nhưng luôn đòi hỏi người khác phục vụ mình, dạy tha thứ nhưng không thể bỏ qua một câu nói làm mình khó chịu, dạy tín thác nhưng luôn tính toán mọi thứ để bảo vệ vị trí của mình, thì Tin Mừng dù được nói bằng những lời đúng vẫn có thể trở thành một Tin Mừng mất sức sống.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu cũng có nghĩa là học cách nhìn con người bằng ánh mắt của Ngài. Đức Giêsu chưa bao giờ đóng khung một con người trong quá khứ của họ. Khi nhìn Simon, Ngài thấy Phêrô. Khi nhìn Lêvi bên bàn thu thuế, Ngài thấy một người có thể trở thành môn đệ. Khi nhìn người phụ nữ Samari với một đời sống đổ vỡ, Ngài không chỉ thấy những sai lầm của bà; Ngài thấy nơi bà một khả năng trở thành người loan báo Tin Mừng cho cả thành. Khi nhìn người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội, Ngài không thấy một hồ sơ cần kết án nhưng thấy một con người cần được cứu. Khi nhìn người trộm bị đóng đinh bên cạnh mình, Ngài vẫn nhìn thấy khả năng của một cuộc trở về vào phút cuối. Đây là một bài học vô cùng lớn cho người lãnh đạo: đừng bao giờ chỉ nhìn một người bằng lỗi lầm hiện tại của họ. Người lãnh đạo tồi thường dán nhãn rất nhanh: người này khó làm việc, người kia yếu, người nọ không đáng tin, người này chẳng có khả năng, người kia chỉ gây phiền phức. Một khi đã dán nhãn, chúng ta ngừng hy vọng vào họ. Nhưng Đức Giêsu không như thế. Ngài biết rất rõ sự yếu đuối của các môn đệ, nhưng Ngài vẫn đặt tương lai của Hội Thánh vào tay họ. Ngài biết Phêrô sẽ chối mình nhưng vẫn cầu nguyện cho Phêrô để sau khi trở lại, ông củng cố anh em. Ngài biết các môn đệ tranh giành địa vị, hiểu lầm sứ mạng, ngủ quên trong giờ phút Ngài đau khổ nhất, bỏ chạy khi Ngài bị bắt, nhưng Ngài không hủy bỏ lời mời gọi dành cho họ. Đó là lòng kiên nhẫn của một người lãnh đạo biết nhìn xa hơn thất bại hiện tại. Có những người chỉ có thể trưởng thành vì một ai đó đã không bỏ cuộc với họ. Có những con người hôm nay đang sống rất đẹp chỉ vì năm nào đó, giữa lúc chính họ cũng không tin vào mình, đã có một người vẫn tin rằng trong họ còn có điều tốt đẹp. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải trở thành người gìn giữ hy vọng cho người khác, nhất là khi người ấy đang không còn hy vọng về chính mình.
Nhưng nhìn thấy tiềm năng nơi người khác không có nghĩa là dung túng mọi sai lầm. Đức Giêsu đầy lòng thương xót, nhưng Ngài không xây dựng sự bình an trên sự giả dối. Ngài có thể tha thứ cho Phêrô, nhưng trước đó Ngài cũng thẳng thắn nói: “Satan, lui lại đằng sau Thầy.” Ngài có thể rửa chân cho Giuđa, nhưng Ngài không giả vờ rằng sự phản bội không tồn tại. Ngài có thể ngồi ăn với người tội lỗi, nhưng sự hiện diện của Ngài luôn là lời mời gọi họ bước vào một đời sống mới. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu phải học được sự kết hợp rất khó này: vừa yêu thương con người vừa trung thực với sự thật. Nếu chỉ có sự thật mà không có tình thương, lãnh đạo sẽ trở thành khắc nghiệt. Nếu chỉ có tình thương mà không có sự thật, lãnh đạo sẽ trở thành nhu nhược. Đức Giêsu không rơi vào một trong hai cực đoan ấy. Ngài có thể nói một lời rất mạnh nhưng không bao giờ làm nhục người khác để thỏa mãn cái tôi của mình. Ngài có thể sửa lỗi nhưng mục đích luôn là cứu người, không phải thắng người. Đây là một khác biệt rất lớn. Có những lúc chúng ta tưởng mình đang bảo vệ sự thật, nhưng thật ra chúng ta chỉ đang muốn chứng minh mình đúng. Có những lúc chúng ta nhân danh kỷ luật, nhưng ẩn sâu bên dưới là sự tức giận vì người khác không làm theo ý mình. Có những lúc chúng ta nói rằng phải “dạy cho người ta một bài học”, nhưng rất có thể bài học ấy phục vụ lòng tự ái của chúng ta hơn là lợi ích của người kia. Người lãnh đạo của Tin Mừng phải thường xuyên xét lại động cơ của mình: khi tôi sửa một người, tôi muốn họ tốt lên hay tôi muốn họ biết rằng tôi đúng? Khi tôi dùng quyền, tôi đang bảo vệ lợi ích chung hay bảo vệ uy tín cá nhân? Khi tôi im lặng, tôi đang khôn ngoan hay đang né tránh trách nhiệm? Khi tôi lên tiếng, tôi đang phục vụ sự thật hay đang trút sự khó chịu? Những câu hỏi ấy không dễ chịu, nhưng nếu không dám hỏi, quyền lực rất dễ làm chúng ta mù.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu còn có nghĩa là đặt mối tương quan lên trên công việc. Đức Giêsu có một sứ mạng lớn lao, nhưng Ngài không bao giờ biến con người thành phương tiện để hoàn thành sứ mạng ấy. Ngài dành thời gian ăn uống với các môn đệ, đi đường với họ, nghe họ kể chuyện, giải thích riêng cho họ những điều họ chưa hiểu. Ngài để Gioan tựa đầu vào ngực mình. Ngài đến nhà Mácta, Maria và Ladarô như một người bạn. Ngài khóc bên mộ Ladarô. Ngài dừng lại giữa đám đông chỉ để hỏi một người phụ nữ vừa chạm vào áo mình: “Ai đã chạm đến Thầy?” Có thể nói, Đức Giêsu luôn có thời gian cho con người. Đây là điều những người bận rộn rất dễ đánh mất. Chúng ta có thể điều hành rất nhiều chương trình nhưng không còn thời gian nhìn vào mắt những người đang cộng tác với mình. Chúng ta có thể xây dựng những công trình lớn nhưng để những mối tương quan chung quanh mình dần trở nên lạnh lẽo. Chúng ta có thể chăm sóc hàng trăm người mà người ở ngay cạnh mình lại cảm thấy bị bỏ quên. Sứ mạng Kitô giáo không được đo chỉ bằng số lượng công việc hoàn thành. Có khi một cuộc ngồi lại thật sự với một người đang tổn thương còn có giá trị hơn một chương trình lớn. Có khi một lời cảm ơn đúng lúc cứu được một người khỏi buông xuôi. Có khi một lời xin lỗi của người lãnh đạo chữa lành cả một cộng đoàn. Có khi chỉ cần chúng ta nhớ tên một người nhỏ bé, nhớ hoàn cảnh gia đình họ, hỏi thăm một nỗi đau mà họ từng chia sẻ, họ sẽ hiểu rằng mình không chỉ là một “nhân sự” trong guồng máy. Đức Giêsu không quản trị con người. Ngài yêu họ. Và chính vì họ biết mình được yêu, họ mới có thể dám đi xa với Ngài.
Một yếu tố không thể thiếu nữa là đời sống cầu nguyện. Đức Giêsu càng bận rộn càng cầu nguyện. Càng đứng trước những quyết định quan trọng, Ngài càng lui vào nơi thanh vắng. Trước khi chọn Nhóm Mười Hai, Ngài cầu nguyện suốt đêm. Trước cuộc Thương Khó, Ngài quỳ xuống trong vườn Ghếtsêmani. Sau những ngày dân chúng chen lấn, những phép lạ nối tiếp, những tiếng tung hô vang lên, Ngài vẫn tìm về với Chúa Cha. Điều ấy cho thấy một sự thật căn bản: người lãnh đạo Kitô hữu không được phép để công việc thay thế đời sống nội tâm. Sứ vụ không bao giờ có thể bù đắp cho sự thiếu vắng Thiên Chúa. Thật nguy hiểm khi chúng ta làm việc cho Chúa đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Thật nguy hiểm khi chúng ta nói về Ngài cả ngày mà lòng mình ngày càng xa Ngài. Thật nguy hiểm khi chúng ta đưa ra nhiều quyết định ảnh hưởng đến đời sống người khác nhưng chỉ dựa trên tính toán, kinh nghiệm và cảm xúc của mình mà không đặt các quyết định ấy dưới ánh sáng cầu nguyện. Một người lãnh đạo không cầu nguyện sẽ rất dễ lấy ý mình làm ý Chúa, lấy kế hoạch của mình làm sứ mạng của Chúa, lấy sự thành công của mình làm vinh quang của Chúa. Cầu nguyện không phải là xin Chúa ký tên dưới những gì chúng ta đã quyết định. Cầu nguyện là đủ can đảm để đặt kế hoạch của mình trước mặt Chúa và nói: “Nếu đây không phải điều Ngài muốn, xin cho con đủ tự do để bỏ nó.” Đó là một lời nguyện khó. Người lãnh đạo thường gắn mình với những dự án do chính mình tạo ra. Một sáng kiến bị thất bại có thể khiến ta cảm thấy mình bị thất bại. Một người không nghe mình có thể khiến ta cảm thấy uy tín bị xúc phạm. Nhưng khi thật sự cầu nguyện, chúng ta bắt đầu hiểu rằng sứ mạng là của Chúa chứ không phải của mình. Mình chỉ là người được mời cộng tác trong một khoảng thời gian. Công việc có thể tiếp tục mà không có mình. Cộng đoàn không thuộc về mình. Con người không thuộc về mình. Và chính sự tự do ấy khiến người lãnh đạo nhẹ nhàng hơn, bình an hơn và bớt kiểm soát hơn.
Lãnh đạo theo Đức Giêsu cũng là biết đối diện với thất bại. Đây có lẽ là một trong những bài học khó nhất, bởi con người vốn muốn thành công. Chúng ta thích những con số đi lên, những chương trình được đón nhận, những lời khen, những thành quả rõ ràng. Nhưng hành trình của Đức Giêsu không đi theo đường thẳng của thành công. Có lúc hàng ngàn người theo Ngài, rồi cũng có lúc “nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa”. Có lúc đám đông reo hò “Hoan hô Con vua Đavít”, chỉ ít ngày sau cũng một thành phố ấy vang lên tiếng “Đóng đinh nó đi!” Có lúc Phêrô tuyên xưng Ngài là Đấng Kitô, rồi chính Phêrô ấy lại chối rằng mình không biết Ngài. Cuối cùng, dưới mắt người đời, thập giá là một thất bại không thể chối cãi. Người lãnh đạo bị kết án. Nhóm môn đệ tan tác. Sứ mạng tưởng như chấm dứt. Nhưng Thiên Chúa lại bắt đầu từ chính nơi mọi người tưởng là kết thúc. Từ ngôi mộ trống, một lịch sử mới mở ra. Điều ấy nói với chúng ta rằng thất bại không luôn có nghĩa là Chúa vắng mặt. Có những thất bại cứu chúng ta khỏi ảo tưởng về chính mình. Có những cánh cửa đóng lại để chúng ta thôi đi theo hướng sai. Có những dự án đổ vỡ để một điều lớn hơn được sinh ra. Có những người rời bỏ chúng ta để chúng ta học rằng mình không thể sở hữu bất kỳ ai. Có những lúc bị hiểu lầm để chúng ta trở về hỏi lại xem mình sống vì Chúa hay vì sự công nhận của người khác. Một người lãnh đạo trưởng thành không phải là người không bao giờ thất bại, nhưng là người biết thất bại mà không trở nên cay đắng. Không tìm người để đổ lỗi. Không tự đóng mình trong mặc cảm. Không lấy một lần vấp ngã làm định nghĩa cho cả cuộc đời. Đức Giêsu cho chúng ta một cách đọc khác về thất bại: hãy đưa nó vào trong mầu nhiệm Vượt Qua. Đừng vội kết luận ở chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Có những câu chuyện chỉ có thể hiểu được khi ánh sáng Phục Sinh chiếu vào.
Cũng thế, người lãnh đạo theo Đức Giêsu không thể tránh khỏi phản bội và xung đột. Ai càng sống gần con người càng có nguy cơ bị tổn thương bởi con người. Đức Giêsu biết điều ấy hơn bất cứ ai. Người phản bội Ngài không phải là kẻ xa lạ ngoài đường, nhưng là người đã ăn cùng bàn, đi cùng đường, nghe những lời dạy thân mật nhất, từng được sai đi rao giảng và làm phép lạ. Người chối Ngài cũng không phải một người ngoài nhóm, nhưng là Phêrô, người đã từng thề sẽ chết với Ngài. Những môn đệ khác cũng bỏ chạy. Thế nhưng điều gây xúc động nhất là Đức Giêsu không để sự phản bội biến trái tim mình thành cay nghiệt. Ngài vẫn gọi Giuđa là “bạn”. Ngài vẫn rửa chân cho ông. Ngài nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy không phải bằng ánh mắt hủy diệt mà bằng ánh mắt làm ông bật khóc. Sau Phục Sinh, Ngài không triệu tập các môn đệ để kiểm điểm trách nhiệm. Lời đầu tiên Ngài nói là: “Bình an cho anh em.” Đó không phải là sự yếu đuối. Đó là sức mạnh của một trái tim không để tội lỗi của người khác quyết định mình sẽ trở thành người thế nào. Có người đã làm tổn thương ta, nhưng ta không bắt buộc phải trở thành một con người cay đắng vì họ. Có người đã phản bội lòng tin của ta, nhưng ta không cần sống phần đời còn lại bằng sự nghi ngờ tất cả mọi người. Có người đã nói xấu, hiểu lầm, chống đối, nhưng ta vẫn có thể giữ tâm hồn mình khỏi hận thù. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận sự thật. Tha thứ không có nghĩa là tiếp tục giao trách nhiệm cho một người không đáng tin. Tha thứ không loại bỏ sự khôn ngoan và những ranh giới cần thiết. Nhưng tha thứ có nghĩa là không cho phép vết thương điều khiển phần còn lại của cuộc đời mình. Đây là một sức mạnh rất cần nơi những người lãnh đạo. Bởi người lãnh đạo mang trong lòng quá nhiều vết thương chưa được chữa lành sẽ dễ làm người khác bị thương. Một người từng bị phản bội nhưng không chữa lành có thể trở thành người luôn kiểm soát. Một người từng bị hạ nhục có thể tìm cách hạ nhục người khác khi có quyền. Một người từng không được lắng nghe có thể trở thành người không bao giờ chịu nghe ai. Vì thế, lãnh đạo theo Đức Giêsu cũng là để Ngài chữa lành cách chúng ta sử dụng quyền lực.
Và rồi, giữa tất cả những điều ấy, Đức Giêsu luôn giữ một tầm nhìn dài hạn và một sứ mạng rõ ràng. Ngài không để mình bị cuốn theo tiếng vỗ tay của đám đông. Khi dân chúng muốn giữ Ngài ở lại vì những phép lạ, Ngài nói mình còn phải đi nơi khác để loan báo Nước Thiên Chúa. Khi người ta muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi. Khi Phêrô muốn Ngài tránh thập giá, Ngài từ chối. Đức Giêsu biết mình đến để làm gì. Người lãnh đạo không biết mình đang phục vụ điều gì sẽ rất dễ bị mọi thứ chung quanh kéo đi. Hôm nay chạy theo một phong trào, ngày mai chạy theo một nhu cầu khác, mốt này đến lại thay đổi tất cả, lời khen làm mình hăng hái, lời chê làm mình bỏ cuộc. Một sứ mạng rõ ràng giúp ta phân biệt giữa điều tốt và điều cần. Có vô số việc tốt có thể làm, nhưng không phải việc tốt nào cũng thuộc về ơn gọi của mình. Có vô số lời mời, vô số chương trình, vô số sáng kiến, nhưng người lãnh đạo khôn ngoan biết hỏi: điều này có phục vụ sứ mạng mà Chúa trao không? Đức Giêsu không chữa tất cả mọi bệnh nhân trên đất Palestine. Ngài không giải quyết mọi vấn đề xã hội của thời mình. Ngài cũng không đáp ứng mọi mong đợi của dân chúng. Không phải vì Ngài thiếu tình thương, nhưng vì Ngài trung thành với điều Chúa Cha sai mình thực hiện. Người lãnh đạo càng trưởng thành càng dám nói “không” với những điều tốt để có thể trung thành với điều quan trọng nhất. Và đôi khi, lời “không” khó nhất chính là nói với những điều làm mình được khen.
Tất cả những điều ấy cuối cùng quy về một câu hỏi rất đơn giản nhưng cũng rất sâu: tôi đang trở nên giống Đức Giêsu hơn hay chỉ đang trở thành một người điều hành hiệu quả hơn? Sau nhiều năm lãnh đạo, tôi có nhân hậu hơn không? Tôi có bớt nóng giận không? Tôi có biết lắng nghe hơn không? Tôi có bớt cần được công nhận không? Tôi có dễ nói lời xin lỗi hơn không? Tôi có đủ tự do để người khác giỏi hơn mình không? Tôi có vui khi người khác thành công không? Tôi có thể giao việc rồi tin tưởng không? Tôi có dám thừa nhận mình không biết không? Tôi có thể thay đổi một quyết định khi nhận ra mình sai không? Tôi có còn cầu nguyện như ngày đầu không? Tôi có còn xúc động trước nỗi đau của một con người hay đã trở nên chai lì vì quá quen với công việc? Tôi có còn nhìn người nghèo như anh chị em hay bắt đầu nhìn họ như một “đối tượng mục vụ”? Tôi có còn nhớ lý do ban đầu mình bước vào sứ vụ không? Những câu hỏi ấy quan trọng hơn nhiều so với việc người khác đánh giá chúng ta thành công đến đâu. Có những người xây được rất nhiều thứ nhưng đánh mất chính mình. Có những người đưa tổ chức phát triển nhưng những người gần họ nhất lại kiệt sức. Có những người được đám đông ngưỡng mộ nhưng cộng đoàn thân cận lại sợ hãi. Đó không thể là hình ảnh lãnh đạo của Đức Giêsu. Ngài không xây dựng sự lớn mạnh của Nước Trời bằng cách nghiền nát con người. Ngài không hy sinh con người cho chương trình. Ngài hy sinh chính mình cho con người.
Bởi thế, lãnh đạo theo Đức Giêsu cuối cùng luôn dẫn đến thập giá. Không có thứ lãnh đạo Tin Mừng nào chỉ toàn hào quang. Sẽ có những lúc người lãnh đạo phải nói điều đúng dù biết mình sẽ mất lòng. Sẽ có lúc phải nhận trách nhiệm cho một thất bại mà không tìm cách đổ xuống cho cấp dưới. Sẽ có lúc phải bảo vệ một người yếu thế dù điều ấy khiến mình bị hiểu lầm. Sẽ có lúc phải im lặng trước một lời xúc phạm vì lên tiếng chỉ làm mọi thứ tệ hơn. Sẽ có lúc phải xin lỗi một người nhỏ bé hơn mình. Sẽ có lúc phải từ bỏ một quyền lợi chính đáng để giữ sự hiệp nhất. Sẽ có lúc phải tiếp tục phục vụ dù không ai cảm ơn. Sẽ có lúc phải nhìn một người mình đào tạo rời đi và chấp nhận rằng họ có con đường riêng. Sẽ có lúc phải trao công việc mình yêu quý cho thế hệ khác. Sẽ có lúc phải bước xuống để người khác bước lên. Đó là thập giá của lãnh đạo. Nhưng chính nơi ấy, một thứ tự do rất đẹp được sinh ra: tôi không còn phải giữ lấy mình nữa. Người lãnh đạo thực sự tự do là người có thể nói như Gioan Tẩy Giả: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Nếu một ngày chúng ta có thể vui khi thấy một người mình đào tạo vượt xa mình, nếu có thể bình an khi một công trình mình khởi đầu được người khác làm tốt hơn, nếu có thể rời khỏi một vị trí mà không mang theo sự cay đắng, nếu có thể làm điều đúng dù tên mình không được nhắc đến, thì có lẽ chúng ta đã bắt đầu hiểu một chút về cách Đức Giêsu lãnh đạo.
Sau cùng, điều Đức Giêsu mong muốn nơi chúng ta không phải là trở thành những người hoàn hảo. Các tông đồ Ngài chọn chưa bao giờ hoàn hảo. Giáo Hội hai ngàn năm qua cũng được xây dựng bằng những con người mong manh. Ngài chỉ cần những con người sẵn sàng để Ngài biến đổi. Những người dám nhìn nhận: “Con vẫn còn kiêu ngạo. Con vẫn còn muốn được công nhận. Con vẫn dễ tổn thương. Con vẫn thích kiểm soát. Con vẫn đôi khi dùng quyền để bảo vệ mình. Con vẫn có những vùng trong lòng chưa thuộc về Chúa.” Chính từ sự thật ấy, ân sủng bắt đầu làm việc. Người nguy hiểm nhất không phải là người có yếu đuối, mà là người không biết mình yếu đuối. Phêrô có thể trở thành đá tảng không phải vì ông không bao giờ ngã, nhưng vì ông đã khóc sau khi ngã. Phaolô có thể trở thành vị Tông đồ dân ngoại không phải vì ông có một quá khứ hoàn hảo, nhưng vì ông để cho cuộc gặp gỡ Đức Kitô thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc đời. Vì vậy, đừng sợ sự yếu đuối của mình. Hãy sợ việc mình không còn để Chúa chạm vào sự yếu đuối ấy. Đừng sợ mình chưa phải một người lãnh đạo tốt. Hãy sợ ngày mình tưởng rằng mình không còn gì phải học. Khi còn có thể quỳ xuống trước Chúa và nói: “Lạy Chúa, xin dạy con”, ngày ấy chúng ta vẫn còn hy vọng.
Xin Chúa Giêsu, Đấng đã lãnh đạo không bằng ngai vàng nhưng bằng chiếc khăn quấn ngang lưng của người tôi tớ; không bằng gươm giáo nhưng bằng đôi tay giang rộng trên thập giá; không bằng việc bắt người khác chết cho mình nhưng bằng việc tự hiến mạng sống cho người khác; không bằng sự sợ hãi nhưng bằng tình yêu; không bằng cưỡng ép nhưng bằng lời mời gọi; không bằng việc giữ lấy môn đệ cho mình nhưng bằng việc sai họ đi; xin Ngài dạy chúng ta biết sử dụng quyền bính như một trách nhiệm, biết xem chức vụ như một cơ hội để phục vụ, biết xem người được trao phó như một quà tặng chứ không phải tài sản, biết sống khiêm nhường khi được khen, bình an khi bị chê, kiên nhẫn khi người khác chậm thay đổi, can đảm khi phải nói sự thật, dịu dàng khi phải sửa lỗi, vững vàng khi bị phản bội và tự do khi đến lúc phải bước xuống. Xin Ngài cho chúng ta hiểu rằng một đời lãnh đạo thành công không nhất thiết là một đời được ghi tên trên nhiều công trình, được nhớ đến qua nhiều chức vụ hay để lại một tổ chức lớn mạnh. Có thể thành công lớn nhất trước mặt Chúa chỉ là sau khi chúng ta đi qua, có một vài người biết yêu thương hơn vì đã từng gặp chúng ta; có một vài người dám tin vào mình hơn vì chúng ta từng tin vào họ; có một vài người trở về với Chúa vì họ đã nhìn thấy nơi chúng ta một chút gương mặt dịu dàng của Đức Kitô.
Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ nhầm lẫn giữa sự nổi tiếng và ảnh hưởng, giữa quyền lực và thẩm quyền, giữa đông người theo và nhiều người được biến đổi. Một người có thể có hàng ngàn người biết tên mình mà chẳng giúp ai đến gần Thiên Chúa hơn. Nhưng một người khác có thể âm thầm sống ở một nơi rất nhỏ, chẳng ai biết, mà đời sống của họ lại trở thành nguồn bình an cho cả một cộng đoàn. Đức Giêsu khởi đầu với mười hai con người, trong đó một người phản bội, một người chối Thầy và hầu hết đều bỏ chạy trong giờ phút khó khăn nhất. Thế nhưng Ngài đã làm thay đổi lịch sử. Vì sức mạnh của Nước Trời không nằm ở con số. Nó nằm ở những con người để Thiên Chúa sử dụng đời mình đến tận cùng. Có thể chúng ta không làm được những điều lớn. Nhưng nếu ở nơi Chúa đặt chúng ta, chúng ta sống trung tín, yêu thương những người Ngài trao, phục vụ với một tâm hồn trong sáng, tha thứ khi bị tổn thương, cầu nguyện trước những chọn lựa, dám sửa mình khi sai, dám bước xuống khi cần và dám để Chúa quyết định kết quả, thế là đủ. Hạt cải rất nhỏ nhưng trở thành cây. Men rất ít nhưng làm dậy cả khối bột. Năm chiếc bánh và hai con cá chẳng đáng là bao nhưng trong tay Chúa có thể nuôi một đám đông. Điều Chúa cần nơi chúng ta không phải là sự vĩ đại. Điều Ngài cần là sự sẵn sàng.
Vì thế, nếu phải tóm lại tất cả những bí quyết lãnh đạo của Đức Giêsu trong một câu, có lẽ chỉ cần nói: hãy yêu như Ngài yêu. Bởi khi yêu thật, ta sẽ biết phục vụ. Khi yêu thật, ta sẽ biết khiêm nhường. Khi yêu thật, ta sẽ biết lắng nghe. Khi yêu thật, ta sẽ dám nói sự thật mà không làm tổn thương người khác cách vô ích. Khi yêu thật, ta sẽ đủ kiên nhẫn để đào tạo những con người chưa hoàn thiện. Khi yêu thật, ta sẽ không sử dụng người khác cho tham vọng của mình. Khi yêu thật, ta sẽ biết tha thứ. Khi yêu thật, ta sẽ dám chịu thiệt. Khi yêu thật, ta sẽ không sợ người khác giỏi hơn. Khi yêu thật, ta sẽ đặt sứ mạng của Chúa cao hơn danh tiếng của mình. Và khi yêu đến tận cùng, ta sẽ hiểu tại sao Đức Giêsu đã chọn thập giá. Thập giá không phải thất bại của lãnh đạo. Thập giá là đỉnh cao của lãnh đạo theo Tin Mừng, bởi ở đó một người có tất cả quyền năng đã dùng quyền năng duy nhất còn lại của mình để yêu đến cùng.
Lạy Chúa Giêsu, vị Mục Tử nhân lành và cũng là vị Lãnh đạo duy nhất chúng con muốn học theo, xin đừng cho chúng con chỉ học những nguyên tắc của Ngài mà quên học chính trái tim Ngài. Xin đừng để chúng con trở thành những người nói về phục vụ nhưng lại thích được phục vụ, nói về khiêm nhường nhưng lại đau khổ vì danh dự, nói về hiệp nhất nhưng không thể chịu đựng người khác biệt, nói về tha thứ nhưng giữ mãi những vết thương cũ, nói về phó thác nhưng vẫn muốn kiểm soát mọi thứ. Xin cho chúng con mỗi ngày giống Ngài hơn một chút. Hôm nay bớt kiêu căng hơn hôm qua. Hôm nay biết lắng nghe hơn hôm qua. Hôm nay biết nói lời cảm ơn nhiều hơn hôm qua. Hôm nay biết xin lỗi nhanh hơn hôm qua. Hôm nay biết vui với thành công của người khác hơn hôm qua. Hôm nay bớt nóng nảy, bớt xét đoán, bớt khắt khe, bớt sợ mất vị trí, bớt cần người khác phải hiểu mình. Và hôm nay, yêu nhiều hơn hôm qua.
Xin cho chúng con nhớ rằng cuối cuộc đời, Chúa sẽ không hỏi chúng con đã nắm giữ bao nhiêu chức vụ, đã xây được bao nhiêu công trình, có bao nhiêu người nghe lời mình hay có bao nhiêu người biết tên mình. Chúa sẽ hỏi: con đã yêu những người Ta trao cho con thế nào? Con đã đối xử với người yếu thế ra sao? Khi có quyền, con đã dùng quyền để nâng người khác lên hay để bảo vệ chính mình? Khi bị xúc phạm, con đã tha thứ chưa? Khi thấy người khác sai, con đã sửa họ bằng tình thương hay bằng sự tự ái? Khi một người thất bại, con có còn tin vào họ không? Khi thành công đến, con có nhớ rằng mọi sự là ân sủng không? Khi thất bại đến, con có còn tin rằng Ta vẫn đang ở đó không? Và khi đến lúc phải buông tay, con có thể nói như chính Đức Giêsu trên thập giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” hay không?
Lãnh đạo theo Đức Giêsu cuối cùng không phải là làm cho người khác đi theo mình. Đó là giúp họ đi theo Chúa. Không phải khiến người khác lệ thuộc vào mình, nhưng giúp họ trưởng thành đến mức một ngày nào đó không còn cần đến mình nữa. Không phải xây dựng một vương quốc mang tên mình, nhưng âm thầm góp một viên đá nhỏ cho Nước Thiên Chúa. Người lãnh đạo theo Đức Giêsu có thể bị quên tên, nhưng điều họ gieo sẽ còn ở lại. Có thể không còn ai nhớ họ đã nói gì, nhưng người ta sẽ nhớ cảm giác được tôn trọng khi ở bên họ. Có thể những công trình mang dấu ấn của họ rồi cũng đổi thay, nhưng những con người họ đã nâng dậy sẽ tiếp tục nâng dậy người khác. Đó mới là di sản đẹp nhất.
Xin Chúa Giêsu, vị Lãnh đạo tối cao, ban cho chúng ta ơn can đảm để sống những điều ấy. Không phải để thành công theo tiêu chuẩn của thế gian, nhưng để Nước Chúa hiện diện rõ nét hơn qua đời sống và sứ vụ của chúng ta. Không phải để người khác nói rằng chúng ta giỏi, nhưng để qua chúng ta người ta nhận ra Chúa tốt lành. Không phải để tên tuổi chúng ta lớn lên, nhưng để danh Chúa được cả sáng. Không phải để chúng ta được phục vụ, nhưng để cuộc đời mình trở thành một lời phục vụ. Không phải để đi tìm vị trí cao hơn, nhưng để mỗi ngày biết cúi xuống thấp hơn trước những bàn chân mệt mỏi của anh chị em mình. Không phải để trở thành người mạnh nhất, nhưng để đủ mạnh mà dịu dàng. Không phải để trở thành người không bao giờ thất bại, nhưng để biết đứng dậy trong hy vọng. Không phải để trở thành người không có vết thương, nhưng để những vết thương đã được Chúa chữa lành trở thành nơi chúng ta biết cảm thông với nỗi đau của người khác.
Và nếu một ngày nào đó, sau tất cả những năm tháng phục vụ, khi nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta có thể bình an thưa với Chúa rằng: “Con đã không làm được mọi điều con muốn. Con đã sai nhiều lần. Có những quyết định con hối tiếc. Có những người con chưa yêu đủ. Có những lúc con đã nóng giận, kiêu căng, yếu đuối. Nhưng lạy Chúa, con đã cố gắng mỗi ngày để giống Chúa hơn một chút. Con đã học cách cúi xuống. Con đã học cách tha thứ. Con đã học cách buông bỏ. Con đã học cách yêu những con người Chúa trao. Và cuối cùng, con đã học cách phó thác mọi sự trong tay Chúa”, thì có lẽ đó đã là một đời lãnh đạo rất đẹp.
Bởi cuối cùng, lãnh đạo theo Đức Giêsu không phải là câu chuyện về quyền lực. Đó là câu chuyện về tình yêu. Không phải câu chuyện về việc mình đã đứng cao đến đâu, nhưng về việc mình đã cúi thấp đến mức nào để nâng người khác lên. Không phải câu chuyện về bao nhiêu người phục vụ mình, nhưng về bao nhiêu người đã được mình phục vụ. Không phải câu chuyện về những gì mình giữ lại, nhưng về những gì mình đã trao đi. Không phải câu chuyện về việc mình trở nên lớn lao thế nào, nhưng về việc Đức Kitô đã lớn lên thế nào trong chính cuộc đời mình.
Xin cho đến cuối cùng, điều còn lại nơi mỗi người chúng ta không phải là một chức danh, một chiếc ghế, một thành tích hay một danh tiếng, nhưng là một trái tim đã học được cách yêu như Đức Giêsu. Vì đó mới là bí quyết lớn nhất của mọi bí quyết lãnh đạo. Và cũng là bí quyết duy nhất đủ sức làm thay đổi một con người, một cộng đoàn, một Giáo Hội và cả thế giới.
Lm. Anmai, CSsR
