TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
Ngày 3 tháng 11 năm 2026
Linh mục Anmai, CSsR tổng hợp
Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) 3 tháng 11 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR
THỨ 3 TUẦN 31 THƯỜNG NIÊN BÀN TIỆC ĐÃ SẴN, CÒN LÒNG TA ĐÃ MỞ CHƯA – Lm. Anmai, CSsR
THỨ 3 TUẦN 31 THƯỜNG NIÊN BÀN TIỆC ĐÃ SẴN, LÒNG TA CÓ SẴN CHƯA – Lm. Anmai, CSsR
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng tôi, xin đừng bỏ rơi tôi, và xin đừng lìa xa tôi. Lạy Chúa là quền lực phần rỗi tôi, xin phù giúp tôi.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, chỉ nhờ Chúa ban ơn, các tín hữu Chúa mới có thể thờ Chúa cho phải đạo, xin giúp đỡ chúng con thẳng tiến về cõi trời Chúa hứa và không bị vấp ngã trên đường. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : Pl 2, 5-11
“Người đã tự hạ mình, vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô: Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm.
Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 21, 26b-27. 28-30a. 31-32
Ðáp: Lạy Chúa, bởi Chúa mà lời con ca ngợi vang lên trong Ðại hội (c. 26a).
Xướng: Bởi Chúa mà lời con ca ngợi vang lên trong Ðại hội. Con sẽ làm trọn những lời khấn hứa của con, trước mặt những người tôn sợ Chúa. Bạn cơ bần sẽ ăn và được no nê, những kẻ tìm kiếm Chúa sẽ ca khen Chúa: “Tâm hồn các bạn hãy vui sống tới muôn đời”.
Xướng: Thiên hạ sẽ ghi lòng và trở về với Chúa, khắp cùng bờ cõi địa cầu; và toàn thể bá tánh chư dân sẽ phủ phục trước thiên nhan Chúa. Bao người ngủ trong lòng đất sẽ tôn thờ duy một Chúa.
Xướng: Miêu duệ con sẽ phục vụ Ngài, sẽ tường thuật về Chúa cho thế hệ tương lai, và chúng kể cho dân hậu sinh biết đức công minh Chúa, rằng: “Ðiều đó Chúa đã làm”.
Alleluia: Tv 147, 12a và 15a
Alleluia, alleluia! – Giêrusalem, hãy ngợi khen Chúa, Ðấng đã sai lời Người xuống cõi trần ai. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 14, 15-24
“Anh hãy ra ngoài đường ngoài ngõ, và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, một người đồng bàn thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Phúc cho kẻ sẽ được ăn tiệc trong nước Thiên Chúa”. Người phán cùng kẻ ấy rằng: “Có một người kia dọn tiệc linh đình, và đã mời nhiều thực khách. Tới giờ dự tiệc, ông sai đầy tớ đi báo cho những kẻ được mời để họ đến, vì mọi sự đã dọn sẵn sàng rồi. Nhưng mọi người đồng thanh xin kiếu. Người thứ nhất nói với ông rằng: “Tôi mới tậu một thửa ruộng, tôi cần phải đi xem đất, nên xin ông cho tôi kiếu”. Người thứ hai nói: “Tôi mới mua năm đôi bò, và tôi phải đi thử chúng, nên xin ông cho tôi kiếu”. Người khác lại rằng: “Tôi mới cưới vợ, bởi đó tôi không thể đến được”.
“Người đầy tớ trở về thuật lại những điều đó cho chủ mình. Bấy giờ chủ nhà liền nổi giận, bảo người đầy tớ rằng: “Anh hãy cấp tốc đi ra các công trường và các ngõ hẻm thành phố mà dẫn về đây những người hành khất, tàn tật, đui mù và què quặt”. Người đầy tớ trở về trình rằng: “Thưa ông, lệnh ông ban đã được thi hành, thế mà hãy còn dư chỗ”. Ông chủ lại bảo người đầy tớ rằng: “Anh hãy ra ngoài đường ngoài ngõ và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi. Vì tôi bảo cho các người biết: không một ai trong những kẻ đã được mời, sẽ được nếm bữa tiệc của tôi”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho bánh rượu chúng con dâng trở nên của lễ tinh tuyền trước nhan Chúa và đem lại cho chúng con nguồn ơn phúc dồi dào. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi biết đường lối trường sinh, và xin cho tôi no đầy hoan hỉ trước thiên nhan.
Hoặc đọc:
Chúa phán: cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta chính người ấy cũng sống nhờ Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa được Mình và Máu Ðức Kitô bồi dưỡng, xin Chúa tăng cường hoạt động nơi chúng con, để chúng con được sẵn sàng lãnh nhận những ơn lành Chúa hứa cho những ai tham dự bí tích này. Chúng con cầu xin….
LỜI NGUYỆN THỨ BA TUẦN XXXI MÙA THƯỜNG NIÊN
Xin cho chúng con biết đáp lại lời Chúa mời
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay Chúa mở ra trước mắt chúng con một bàn tiệc đã sẵn, một ngôi nhà còn chỗ và một tình yêu đang chờ được đón nhận. Chúa mời chúng con đến với Chúa, đem theo cả những nhọc nhằn, thiếu thốn và yếu đuối của đời mình. Thế nhưng, chúng con đã nhiều lần để Chúa chờ. Chúng con có thời gian cho công việc, cho những cuộc hẹn, cho màn hình điện thoại, nhưng lại dễ xin kiếu khi Chúa mời cầu nguyện, tham dự Thánh lễ hoặc chăm sóc một người đang cần giúp đỡ. Xin tha thứ cho những lần chúng con khất lại lời mời của Chúa, tưởng rằng ngày mai mình sẽ có nhiều thời gian và nhiều lòng yêu mến hơn hôm nay.
Lạy Chúa, thửa đất, những cặp bò và mái ấm gia đình trong dụ ngôn nhắc chúng con nhớ đến những điều rất gần với cuộc sống mình. Chúng con cần làm việc, cần lo cơm áo, cần chăm sóc người thân. Xin giúp chúng con chu toàn những trách nhiệm ấy trong sự kết hợp với Chúa. Xin đừng để lòng chúng con bị cuốn đi bởi nỗi lo sở hữu, bởi ham muốn thành công và bởi những bận rộn kéo dài đến mức không còn nghe được tiếng Chúa. Xin cho chúng con biết dừng lại, dành cho Chúa một khoảng thời gian chân thành, để được soi sáng và tìm lại hướng đi giữa bao điều đang đòi hỏi mình.
Xin chữa lành nơi chúng con thói quen trì hoãn điều thiện. Có những lời xin lỗi đã nằm trong lòng quá lâu, những cuộc thăm viếng cứ hẹn lần sau, những quyết tâm trở về với bí tích Hòa Giải chưa bao giờ được thực hiện. Có người thân đang đợi chúng con lắng nghe, có người đau bệnh đang mong một lần hỏi thăm, có người cô đơn cần một lời nói dịu dàng. Xin cho chúng con hiểu rằng lời mời yêu thương đang đến trong chính những con người ấy. Xin ban cho chúng con sự quảng đại để đáp lại hôm nay, khi còn có thể gặp nhau, còn có thể nâng đỡ nhau và còn có thể làm một điều tốt.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con xúc động trước bàn tiệc được mở ra cho những người nghèo khó, tàn tật, đui mù và què quặt. Những người dễ bị bỏ quên lại được gọi vào nhà, được dành một chỗ và được đón tiếp. Xin giúp chúng con nhận ra phẩm giá của từng người. Xin cho chúng con biết kính trọng người nghèo, kiên nhẫn với người yếu đuối, quan tâm đến người khuyết tật và nâng đỡ người đang mang những thương tích trong tâm hồn. Xin đừng để một ánh mắt lạnh lùng, một lời nói thiếu tế nhị hay một thái độ xa cách của chúng con khiến ai đó cảm thấy mình không xứng đáng bước vào cộng đoàn.
Xin cho giáo xứ và gia đình chúng con có lòng hiếu khách của Chúa. Xin mở cửa lòng chúng con cho người mới đến, người ít nói, người đã lâu không dự lễ và người đang ngại trở về vì những lỗi lầm của mình. Xin dạy chúng con biết gọi tên họ, hỏi thăm họ và lắng nghe câu chuyện của họ. Khi mời một người đến với Chúa, xin cho chúng con biết tôn trọng tự do của họ, kiên trì đồng hành và làm chứng bằng một đời sống chân thành. Xin cho lời mời của chúng con có sự ấm áp đủ để người đang e ngại nhận ra rằng họ được yêu thương và có một chỗ trong nhà Chúa.
Lạy Chúa, lời người đầy tớ thưa rằng vẫn còn chỗ đánh động chúng con. Xin giúp chúng con nhớ đến những người đang ở ngoài sự quan tâm của mình: người già sống một mình, người di dân xa quê, người trẻ mất phương hướng, những gia đình đang rạn nứt và những người âm thầm chịu đựng mà không biết tìm ai. Xin cho chúng con biết bước ra khỏi sự tiện nghi, dành thời gian để gặp gỡ và chia sẻ. Dù khả năng nhỏ bé, xin cho chúng con sẵn lòng góp một phần để người khác có bữa ăn, có sự trợ giúp và có niềm hy vọng.
Khi đến bàn tiệc Thánh Thể, xin cho chúng con ý thức mình đang được đón nhận bởi tình yêu nhưng không của Chúa. Xin giúp chúng con chuẩn bị tâm hồn, thành thật hoán cải và đón rước Chúa với lòng biết ơn. Xin cho sự hiệp thông với Chúa tiếp tục trong cách chúng con sống sau Thánh lễ: biết chia sẻ hơn, biết tha thứ hơn và biết dành chỗ cho người khác trong ngày sống của mình.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay chúng con xin đáp lại: chúng con muốn đến với Chúa. Xin tháo gỡ những ràng buộc đang giữ lòng chúng con lại, nâng đỡ những bước chân còn chần chừ và làm lớn lên trong chúng con niềm vui được thuộc về Chúa. Xin cho chúng con trung thành với lời mời hôm nay, để suốt cuộc đời biết sống trong tình yêu Chúa, và mai sau được cùng anh chị em dự bàn tiệc Nước Trời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
BỮA TIỆC CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ LỜI MỜI GỌI PHẦN RỔI VĨNH CỬU
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ và quý thính giả thân mến, trong hành trình đức tin Kitô giáo, một trong những hình ảnh đẹp đẽ, sâu lắng và bao la nhất mà Chúa Giêsu Kitô thường dùng để mặc khải về mầu nhiệm Nước Trời chính là hình ảnh về một bữa tiệc lớn. Bữa tiệc ấy không chỉ tượng trưng cho niềm vui hoan lạc tột cùng của sự hiệp thông vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và con người, mà còn là hiện thân của lòng thương xót vô biên, nơi Thiên Chúa mở rộng cõi lòng để đón nhận tất cả những ai đót khát chân lý, tình yêu và ơn cứu độ. Khi suy niệm về dụ ngôn “Được mời dự tiệc”, chúng ta được mời gọi bước vào một không gian thiêng liêng đầy ngạc nhiên, nơi những tính toán thiển cận, những bận rộn trần thế và sự tự mãn của con người bị đảo lộn hoàn toàn trước tình yêu quảng đại đến ngỡ ngàng của Đấng Tạo Hóa.
Cuộc sống trần thế của chúng ta thường bị cuốn xoay bởi vô vàn những lo toan thường nhật, những mục tiêu vụ lợi và những giá trị mau qua. Con người thời đại hôm nay, giống như những vị khách đầu tiên trong dụ ngôn, thường viện ra biết bao lý do để từ chối lời mời gọi thân tình của Thiên Chúa. Người ta bận rộn với những mảnh đất mới tậu, những dự án kinh tế, những phương tiện vật chất hoặc những mối bận tâm gia đình tưởng chừng như chính đáng nhưng lại vô tình làm cho tâm hồn trở nên xơ cứng, vô cảm trước tiếng gọi siêu thoát. Sự khước từ ấy không chỉ là một hành động từ chối một bữa ăn thông thường, mà là sự khước từ chính nguồn mạch của sự sống, khước từ ơn thánh hóa và tình bằng hữu thâm mật với Thiên Chúa. Dụ ngôn phơi bày một thực trạng đau lòng rằng: đôi khi những người tưởng chừng như ở gần Thiên Chúa nhất, những người quen thuộc với lề luật và nghi thức tôn giáo lại là những kẻ hờ hững nhất trước thời điểm Thiên Chúa đến viếng thăm và ban ơn cứu độ.
Thế nhưng, Thiên Chúa của chúng ta là Đấng giàu lòng xót thương và không bao giờ chịu thua sự hững hờ của con người. Khi những vị khách được mời ban đầu tự chuốc lấy sự xa cách vì những toan tính ích kỷ của họ, chủ nhà không vì thế mà dẹp bỏ bữa tiệc hay thu hồi tấm lòng hiếu khách. Ngược lại, cơn giận của tình yêu bị khước từ đã biến thành một động lực mới để mở rộng biên giới của lòng thương xót. Người chủ sai đầy tớ đi ra các quảng trường, các con đường nhỏ, vào những nơi tối tăm nhất của thành phố, để mời gọi những kẻ nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt — những con người bị xã hội lãng quên, bị coi thường và gạt ra bên lề cuộc sống. Hình ảnh này mang một ý nghĩa thần học vô cùng sâu sắc: Nước Trời không dành riêng cho những ai tự hào về sự công chính tự mãn của mình, nhưng rộng mở cho những ai nhận ra sự nghèo hèn, bất xứng và khốn cùng của bản thân để rồi hoàn toàn phó thác vào ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa.
Chính qua những người khốn cùng ấy, bữa tiệc mới thực sự mang đúng ý nghĩa của một bữa tiệc tình yêu. Những con người này không có khả năng đáp đền, không có của cải để trả ơn, và cũng chẳng có địa vị xã hội để khoe khoang. Họ đến với bữa tiệc hoàn toàn bằng đôi bàn tay trắng, với một tâm hồn biết ơn sâu sắc và một niềm khao khát cháy bỏng được thuộc về chủ nhà. Điều này phản ánh một quy luật tuyệt đối trong trật tự siêu nhiên: ơn cứu độ là một hồng ân thuần túy, một món quà vô giá phát xuất từ lòng từ bi hải hà của Thiên Chúa chứ không phải là phần thưởng do công trạng loài người tự lập nên. Khi chúng ta cảm thấy mình yếu đuối, tội lỗi và bất xứng nhất, đó lại chính là lúc chúng ta đang đứng gần nhất với lời mời gọi tha thiết của Ngài, bởi vì Thiên Chúa đến không phải để kêu gọi người công chính, mà là để tìm kiếm và cứu vớt những kẻ lầm lạc, những mảnh đời thương tổn.
Hơn thế nữa, chủ nhà trong dụ ngôn vẫn chưa thỏa mãn khi nhà mình vẫn còn chỗ trống. Ngài tiếp tục sai đầy tớ ra các nẻo đường, bờ bụi, ép người ta vào để nhà mình được đầy tràn. Động từ “ép buộc” ở đây không mang ý nghĩa bạo lực hay áp bức tự do tôn giáo, mà diễn tả một thứ tình yêu kiên trì, nài nỉ, một sự thúc bách đầy cảm động của Thiên Chúa đối với từng linh hồn. Thiên Chúa không muốn một ai phải hư mất; Ngài khao khát từng người con của Ngài được quây quần bên bàn tiệc vĩnh cửu. Sự kiên nhẫn và lòng nhiệt thành của vị chủ nhà trong dụ ngôn cũng là tấm gương phản chiếu sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh và của mỗi Kitô hữu trong thế giới hôm nay. Chúng ta được sai đi không phải để phán xét ai xứng đáng hay không xứng đáng, nhưng để mang hơi ấm của Tin Mừng đến cho những ai đang lang thang ngoài kia giữa giông bão cuộc đời, những người đang đói khát tình thương và lạc lối trong bóng tối của tuyệt vọng.
Nhìn sâu hơn vào mầu nhiệm Thánh Thể mà chúng ta cử hành mỗi ngày, bàn tiệc trong dụ ngôn chính là hình ảnh tiên báo cho Bàn tiệc Thánh Thể — nơi Chúa Giêsu hiến tế chính Thịnh và Máu Ngài để làm lương thực trường sinh cho nhân loại. Mỗi khi chúng ta tham dự Thánh lễ, chúng ta chính là những khách quý được chính Vua Trời mời gọi bước vào cung thánh của tình yêu Ngài. Lời mời gọi ấy đòi hỏi chúng ta phải cởi bỏ chiếc áo của sự tự phụ, cái tôi ích kỷ và những toan tính trần tục để mặc lấy tâm tình của sự khiêm nhường, thống hối và bác ái chân thành. Đến với Bàn tiệc Thánh Thể không chỉ là để nhận lãnh ơn sủng cho riêng mình, mà còn là để được biến đổi nên giống Chúa Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó để làm cho chúng ta trở nên giàu có, Đấng đã tự hiến mình trên thập giá để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.
Trong đời sống thường ngày, thái độ của chúng ta đối với lời mời gọi của Thiên Chúa được thể hiện qua cách chúng ta đối xử với tha nhân, đặc biệt là những người nghèo khổ, bất hạnh, bị gạt ra bên lề xã hội. Chúa Giêsu đã từng dạy rằng khi chúng ta tổ chức tiệc chiêu đãi, đừng chỉ mời những người giàu sang có khả năng trả ơn, nhưng hãy mở rộng cửa đón những người không thể đáp đền. Thực thi lòng bác ái vô vị lợi này chính là cách chúng ta dọn mình xứng đáng để tham dự vào bữa tiệc vĩnh cửu trên trời. Thế giới hôm nay đang rất cần những chứng nhân của lòng thương xót, những con người dám từ bỏ lối sống ích kỷ, khép kín để bước ra các “nẻo đường, bờ bụi” của cuộc sống, đem niềm vui, sự sẻ chia và hy vọng đến cho những ai đang chịu nhiều đau khổ, cô đơn và lầm than.
Khi suy ngẫm về những hồng ân cao cả mà Thiên Chúa đã thương ban, chúng ta hãy dâng lên Ngài tâm tình cảm tạ vì Ngài đã kiên nhẫn chờ đợi, đã không chấp nê những lần chúng ta hững hờ hay từ chối Ngài. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta một đôi tai luôn rộng mở trước tiếng nói êm ái của ơn thánh, một trái tim biết rung động trước nỗi đau của tha nhân, và một lòng quyết tâm không ngừng canh tân đời sống để mỗi ngày trở nên xứng đáng hơn với chiếc áo cướiân sủng mà Chúa đã rộng ban trong ngày chịu phép Thanh Tẩy. Ước gì cuộc đời chúng ta trở thành một lời đáp trả vâng phục tuyệt vời, một khúc ca tạ ơn vang dội bằng chính những hành động bác ái, yêu thương và phục vụ khiêm tốn.
Giờ đây, khi khép lại những dòng suy niệm này, chúng ta hãy phó thác toàn bộ cuộc đời, gia đình và những dự định tương lai của mình vào bàn tay quan phòng đầy từ ái của Thiên Chúa. Xin Ngài tiếp tục hướng dẫn bước chân chúng ta đi trong ánh sáng chân lý, để dù giữa những giông bão, thử thách và cám dỗ của cuộc đời trần thế này, tâm hồn chúng ta vẫn luôn hướng về quê trời cao, nơi Bàn tiệc Nước Trời đang chờ đón những ai bền đỗ đến cùng trong tình yêu và lòng trung tín. Nguyện xin ơn thánh của Thiên Chúa Ba Ngôi ở cùng cộng đoàn phụng vụ, ban muôn ơn lành phồn thịnh và gìn giữ chúng ta luôn mãi trong lòng thương xót vô biên của Ngài.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRANG SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI VÀ MẦU NHIỆM CÁ KHÚC KHẢI HOÀN TRÊN NGƯỠNG CỬA TỬ VONG
Cuộc đời nhân thế từ ngàn xưa vẫn luôn là một hành trình đầy trăn trở, một cuộc lữ hành đượm màu âu lo nhưng cũng tràn ngập hy vọng. Đứng trước ngưỡng cửa của sự chết, con người ở mọi thời đại đều cảm thấy chao đảo. Tử vong dường như là bức tường thành kiên cố nhất, là dấu chấm hết lạnh lùng, dập tắt mọi hoài bão, tước đoạt mọi tình cảm chân thành và đẩy con người vào vực thẳm của sự cô độc tuyệt đối. Thế nhưng, chính trong tâm điểm của nỗi sợ hãi nguyên thủy này, ánh sáng của đức tin Kitô giáo lại bừng lên mạnh mẽ, chiếu rọi vào góc khuất tăm tối nhất của cõi nhân sinh để biến cái chết từ một tai họa định mệnh thành một cuộc vượt qua, một cánh cửa mở ra sự sống vĩnh hằng.
Khi suy ngẫm về mầu nhiệm các linh hồn và ý nghĩa thực sự của sự chết, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở sự thương cảm hay những nghi thức tưởng niệm bên nấm mồ lạnh lẽo. Vượt lên trên hết, đây là lúc để chúng ta tái khám phá chiều kích sâu thẳm của ơn gọi làm con Thiên Chúa, một ơn gọi hướng về cõi trường sinh. Sự chết, dưới ánh sáng của mạc khải divine, không còn là tiếng gầm thét của hư vô, mà đã trở thành nốt nhạc trầm trong bản giao hưởng vĩ đại của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa không dựng nên con người để rồi bỏ mặc họ chìm đắm vào cõi chết muôn đời; trái lại, Ngài đã khắc ghi vào tận tâm khảm con người khát vọng vô biên về sự sống, một khát vọng chỉ có thể được thỏa mãn trọn vẹn trong vòng tay yêu thương của Đấng Tối Cao.
Do đó, việc đối diện với sự chết không phải là một sự đầu hàng yếm thế, mà là một lời mời gọi sống mãnh liệt hơn, tỉnh thức hơn và sâu sắc hơn. Giữa lòng một thế giới hiện đại đang chìm đắm trong chủ nghĩa thực dụng, nơi người ta tìm cách che giấu, lãng quên hoặc trốn chạy cái chết bằng mọi giá, tiếng nói của đức tin vang lên như một chiếc la bàn định hướng cho tâm hồn. Bài giảng này sẽ cùng quý vị đi sâu vào mầu nhiệm ấy, để thấy rằng cái chết không phải là dấu chấm hết, mà là bước ngoặt tối cao dẫn dắt con người bước vào đại dương ánh sáng của Thiên Chúa, nơi không còn đau khổ, lệ sầu, mà chỉ có sự sống viên mãn muôn đời.
Từ ngàn xưa, nỗi sợ cái chết là nỗi sợ lớn nhất, bám rễ sâu xa nhất trong bản năng sinh tồn của nhân loại. Con người yêu sự sống bằng một tình cảm tự nhiên và mãnh liệt. Chúng ta yêu ánh sáng mặt trời, yêu tiếng cười của trẻ thơ, yêu hơi ấm của tình người và những kỳ công mà trí tuệ cùng đôi tay nhân loại đã kiến tạo trên mặt đất này. Chính vì yêu sự sống thiết tha như thế, nên ý nghĩ về sự chấm dứt, về một ngày nào đó ta phải rời bỏ tất cả để đi vào cõi hư vô mờ mịt, lại trở thành một nhát dao cứa vào tâm can.
Trong bối cảnh văn hóa đương đại, người ta tìm đủ mọi cách để xua đuổi bóng tối của cái chết ra khỏi tầm nhìn. Các kỹ thuật y học hiện đại, các dịch vụ thẩm mỹ chống lão hóa, và nhịp sống hối hả,ồn ào của xã hội tiêu thụ đôi khi chỉ nhằm mục đích duy nhất: khiến con người quên mất rằng mình phải chết. Người ta che đậy tuổi già trong những viện dưỡng lão khuất nẻo, biến tang lễ thành những buổi tri ân chóng vánh, và xem cái chết như một sự cố kỹ thuật đáng tiếc của cơ thể sinh học hơn là một biến cố mang tính hiện sinh sâu sắc. Sự tục hóa này làm cho con người trở nên mong manh hơn, bởi vì khi không dám nhìn thẳng vào cái chết, con người cũng đánh mất khả năng hiểu thấu giá trị đích thực của sự sống.
Tuy nhiên, sự trốn chạy ấy không bao giờ thành công triệt để. Đứng trước sự ra đi đột ngột của một người thân yêu, trước một thảm họa thiên nhiên, hay đơn giản là trong những khoảnh khắc tĩnh lặng của đêm dài, khi tuổi già kề cận và sức lực cạn kiệt, con người lại phải đối diện với câu hỏi buốt giá: “Rồi đây ta sẽ về đâu? Mọi công sức, tài sản, danh vọng sẽ trôi về đâu?”. Nỗi sợ hãi này không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, mà là tiếng kêu thét của cõi lòng đang hướng về cõi vĩnh hằng. Nó chứng minh rằng con người được dựng nên không phải để chìm sâu vào cõi đất lạnh lẽo, mà để hướng tới một cùng đích cao cả hơn nhiều.
Nỗi sợ hãi cái chết còn bắt nguồn từ cảm thức tội lỗi. Sâu thẳm trong lương tâm, con người nhận thức rõ sự bất toàn, những bất trung và những vết nhơ do tội lỗi gây ra trong mối quan hệ với Thiên Chúa và tha nhân. Đối diện với sự chết chính là đối diện với sự phán xét tối cao, nơi mọi chiếc mặt nạ bị lột bỏ và sự thật về cuộc đời mỗi người được phơi bày dưới ánh sáng tinh tuyền của Đấng Thánh Thiêng. Chính cảm thức về sự mong manh luân lý này khiến cõi lòng con người chùng xuống trong âu lo. Nhưng chính tại điểm quỵ ngã này, ánh sáng của lòng thương xót Chúa mới bắt đầu tỏa rạng, mời gọi con người ngẩng đầu lên để nhìn nhận rằng cái chết không chỉ là bản án, mà còn là cuộc gặp gỡ với Đấng Hằng Sống đầy từ bi nhân hậu.
Nếu chỉ dựa vào sức mạnh của lý trí tự nhiên, con người sẽ mãi mãi bế tắc trước vực thẳm của tử vong. Tư tưởng triết học nhân bản dù cao siêu đến đâu cũng chỉ có thể giúp con người đối diện với cái chết bằng một sự kiên cường bi tráng, chứ không thể giải quyết triệt để nỗi khát khao trường sinh. Chỉ có ánh sáng mặc khải divine mới vén mở được bức màn bí mật ấy. Trung tâm điểm của mạc khải này chính là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Đấng đã đi vào tận cùng cõi chết để khuất phục nó từ bên trong.
Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa chưa bao giờ bỏ rơi con người trong ách nô lệ của tử thần. Qua các ngôn sứ, Ngài đã từng bước ném những tia sáng hy vọng vào cõi lòng nhân loại. Đặc biệt, trong Tân Ước, mầu nhiệm về sự chết đã trải qua một cuộc lột xác triệt để nhờ biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu. Ngài đã không ngần ngại chia sẻ phận người mong manh của chúng ta, đã khóc thương trước cái chết của người bạn Ladarô, và đã trải qua sự cay đắng tột cùng của cuộc khổ nạn trên thập giá. Bằng cách bước xuống cõi chết, Đức Kitô đã mang ánh sáng của Ngài vào trong vương quốc tối tăm ấy. Ngài đã biến thập giá, một biểu tượng của sự nhục nhã và chết chóc, thành cội nguồn của sự sống và ơn cứu độ.
Khi Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, Ngài đã trở thành “hoa trái đầu mùa” của những ai đã an giấc. Sự phục sinh của Ngài không phải là một sự hồi sinh tạm bợ theo kiểu sinh học như trường hợp của Ladarô, mà là một sự biến đổi toàn diện con người vào một thực tại vinh quang, vượt trên không gian và thời gian. Từ đây, cái chết của người Kitô hữu được nhìn nhận bằng một lăng kính hoàn toàn mới: nó không còn là sự tiêu diệt, mà là cuộc “vượt qua” (Pascha) theo chân Thầy Chí Thánh. Đó là khoảnh khắc hạt lúa mì rơi xuống đất và chịu thối đi để sinh ra nhiều bông hạt mới tràn đầy nhựa sống.
Đức tin Kitô giáo khẳng định rằng cái chết của thân xác chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp. Giống như giấc ngủ đêm chuẩn bị cho ánh bình minh ngày mới, cái chết khép lại lịch sử trần thế để mở ra cõi vĩnh cửu. Trong Đức Kitô, nỗi sợ hãi cái chết đã bị đánh bại, bởi vì Ngài nắm giữ chìa khóa của sự sống và sự chết. Ngài đã hứa với những ai tin vào Ngài rằng: “Ai tin vào Ta, dù đã chết, cũng sẽ được sống”. Lời hứa này không phải là một niềm an ủi tâm lý rẻ tiền, mà là một thực tại vững chắc dựa trên quyền năng và tình yêu vô biên của Thiên Chúa, Đấng là Chúa tể của sự sống.
Khi một người hữu hạn bước qua ngưỡng cửa sự chết, hành trình của họ chưa phải là dừng lại, mà là bước vào một giai đoạn thanh luyện và thanh tẩy thẳm sâu để có thể hoàn toàn xứng đáng diện kiến dung nhan Thiên Chúa. Truyền thống thánh thiện của Giáo hội từ ngàn đời nay, được nuôi dưỡng bởi linh đạo sâu xa của ngày tưởng niệm các tín hữu đã qua đời, luôn dành một chỗ đứng ưu ái đặc biệt cho việc cầu nguyện cho các linh hồn. Đây không chỉ là một nghĩa cử hiếu thảo mang tính hình thức, mà là một biểu hiện tuyệt vời của tình hiệp thông trong Nhiệm Thể Đức Kitô.
Giáo hội lữ hành trên trần gian, Giáo hội khải hoàn trên thiên quốc và Giáo hội thanh luyện trong luyện ngục gắn bó mật thiết với nhau bằng sợi dây liên kết của tình yêu thương và lời cầu nguyện. Những linh hồn đang trong quá trình thanh luyện chưa thể ngay lập tức bước vào vinh quang tuyệt đối của Thiên Chúa, bởi vì tình yêu của họ dẫu có hướng về Ngài nhưng vẫn còn vương vấn những vết nhơ, những xao xuyến và những ích kỷ của kiếp người trần thế. Luyện ngục không phải là một nơi chốn địa lý hình sự theo cách hiểu thô thiển, mà là một trạng thái gặp gỡ đau thương nhưng đầy hồng ân với lòng thương xót Chúa. Đó là ngọn lửa thanh luyện của tình yêu, một thứ lửa thanh tẩy làm cho tâm hồn trở nên tinh tuyền như vàng mười để có thể ôm ấp Thiên Chúa – Đấng là Ánh Sáng Tinh Tuyển.
Trong bối cảnh này, những lời cầu nguyện, những hy sinh, và đặc biệt là sự hiệp dâng Thánh lễ của chúng ta có một giá trị vô song. Chúng ta, những kẻ còn đang lữ hành trên mặt đất, có thể làm vơi bớt những giọt nước mắt thanh luyện của những người thân yêu đã đi trước chúng ta. Việc chúng ta viếng nghĩa trang, thắp lên những ngọn nến thiêng liêng và dâng lời kinh nguyện không phải là để khơi gợi lại sự đau buồn tuyệt vọng, mà là để khẳng định một niềm tin bất diệt: tình yêu thì mạnh hơn cái chết. Tình yêu chân chính không bao giờ bị cắt đứt bởi lằn ranh của mộ phần. Nó vượt qua không gian, xuyên thấu thời gian và chạm đến cõi vĩnh hằng, mang lại sự trợ giúp thiêng liêng cho những ai đang bước trên chặng đường cuối cùng để về nhà Cha.
Hơn thế nữa, việc tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn cũng là một bài học sâu sắc cho chính những người đang sống. Nhìn ngắm những ngôi mộ chí, suy ngẫm về sự ngắn ngủi của đời người (“Memento mori” – hãy nhớ mình phải chết), con người trần thế được kéo ra khỏi ảo tưởng về sự vĩnh cửu giả tạo của của cải vật chất, danh vọng và quyền lực. Sống tỉnh thức trước cái chết không làm cho con người trở nên yếm thế, trái lại, nó dạy chúng ta biết trân trọng từng giây phút hiện tại, biết sống sao cho trọn vẹn tình yêu thương, tha thứ cho nhau và xây dựng những giá trị thiêng liêng trường tồn.
Mỗi phút giây chúng ta đang hít thở trên cõi đời này đều mang một trọng lượng vĩnh cửu. Nếu cái chết là ranh giới định hình cho ý nghĩa của cuộc đời, thì chính cách chúng ta sống ngày hôm nay sẽ quyết định hình hài của chúng ta trong cõi vĩnh hằng. Chủ nghĩa vật chất thời đại thường xúi giục con người sống gấp, sống ích kỷ, hưởng thụ trọn vẹn những gì trước mắt với lý lẽ “ngày mai chúng ta sẽ chết”. Thế nhưng, dưới ánh sáng của đức tin Kitô giáo, chân lý lại hoàn toàn ngược lại: chính vì chúng ta sẽ chết, nên mỗi hành động yêu thương, mỗi cử chỉ bác ái, mỗi sự hy sinh âm thầm của chúng ta hôm nay lại mang giá trị vô giá cho mai sau.
Đời sống trần thế là trường học của tình yêu. Thiên Chúa ban cho chúng ta thời gian không phải để tích lũy của cải mau qua, mà là để học cách yêu thương theo khuôn mẫu của chính Ngài. Tình yêu đích thực đòi hỏi sự từ bỏ cái tôi ích kỷ, đòi hỏi sự dấn thân phục vụ những người bé mọn, đau khổ và bị bỏ rơi. Khi một người biết san sẻ tấm bánh cho kẻ đói, biết lau khô giọt nước mắt cho người sầu khổ, hoặc đơn giản là biết tha thiết cầu nguyện cho kẻ thù, thì người đó đang dệt nên cõi vĩnh hằng ngay giữa lòng thời gian này. Những công việc đó không hề mất đi khi thân xác phàm hụt ngã xuống, mà sẽ được biến đổi và tồn tại mãi mãi trong kho tàng của Nước Trời.
Hơn nữa, việc ý thức về sự vô thường của kiếp người giúp chúng ta thanh thoát trước những thăng trầm, được mất của cuộc đời. Biết bao người ngã gục trong tuyệt vọng chỉ vì họ đặt trọn vẹn hạnh phúc của mình vào những giá trị mong manh như tiền tài, địa vị hay sắc đẹp. Khi những thứ đó sụp đổ, tâm hồn họ cũng vỡ nát theo. Ngược lại, người môn đệ của Đức Kitô, dẫu vẫn lao động hăng say và xây dựng cuộc sống trần thế tốt đẹp, nhưng luôn giữ cho mình một cái nhìn cánh chung. Họ xem những thực tại trần thế này chỉ là phương tiện chứ không phải là cùng đích. Tâm hồn họ luôn rộng mở để đón chờ giờ phút Chúa gọi về, không phải với sự sợ hãi của kẻ tội phạm bị trát hầu tòa, mà với niềm mong mỏi của người con thảo được trở về mái nhà của người Cha nhân ái.
Sống dưới bóng của cõi vĩnh hằng cũng có nghĩa là biết sống trong sự thật. Trong thế giới của những chiếc mặt nạ và sự giả hình, cái chết là sự thật tuyệt đối trần trụi nhất, không ai có thể trốn tránh hay mua chuộc. Đứng trước sự thật ấy, mọi ganh đua tranh chấp, mọi hận thù ghen ghét bỗng trở nên vô nghĩa lý biết bao. Tại sao chúng ta lại phải phung phí những năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời cho sự giận hỗi, chia rẽ và tàn nhẫn? Tại sao không dùng thời gian quý báu này để trao ban sự tha thứ, để vun đắp hòa bình và để yêu thương nhau bằng một thứ tình yêu không điều kiện? Đó chính là thông điệp cứu độ mà mầu nhiệm về sự chết và sự sống đời đời muốn gửi gắm vào tâm hồn mỗi người chúng ta.
Khi tiến dần đến những chương cuối của mạc khải Kitô giáo về sự chết, chúng ta không dừng lại ở sự chia ly hay cảnh tượng u buồn của những nấm mồ, mà được nâng cao đôi mắt lên để nhìn ngắm viễn cảnh cánh chung tuyệt mỹ: “Trời mới và đất mới”, nơi Thiên Chúa sẽ lau sạch mọi giọt nước mắt trên mi mắt nhân loại. Sách Khải Huyền đã phác họa một bức tranh rực rỡ về tương lai của nhân loại được cứu chuộc: sẽ không còn sự chết, không còn tang tóc, kêu than hay đau khổ, bởi vì thế giới cũ đã qua đi và Đang ngự trên ngai vàng đang đổi mới vạn vật.
Niềm hy vọng cánh chung này không phải là một thứ thuốc phiện tinh thần để vỗ về con người quên đi thực tại đau thương, mà là một động lực mãnh liệt thúc đẩy lịch sử tiến về phía trước. Chính vì biết rằng lịch sử này có một cùng đích tốt đẹp, rằng công lý, tình yêu và sự thật sẽ chiến thắng rốt cuộc, nên người Kitô hữu mới có đủ can đảm để lội ngược dòng giữa một thế giới đầy bất công, bạo lực và tuyệt vọng. Chúng ta tin tưởng rằng không một giọt nước mắt nào rơi vì đau khổ bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa; không một nỗ lực xây dựng hòa bình và công lý nào trở thành vô ích; và không một tấm lòng yêu thương nào bị chôn vùi trong quên lãng.
Đức cố Giáo hoàng Biển Đức XVI, trong thông điệp tuyệt vời về niềm hy vọng Kitô giáo (Spe Salvi), đã nhắc nhở chúng ta rằng một xã hội không có chỗ cho hy vọng vào cuộc sống đời đời là một xã hội nghèo nàn và ngột ngạt. Nếu không có cõi vĩnh hằng, những bất công của lịch sử sẽ mãi mãi treo lơ lửng không lời giải đáp, và những đau khổ của người vô tội sẽ trở nên phi lý đến tột cùng. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, đỉnh điểm là cái chết và sự phục sinh của Con Ngài, chính là bảo chứng chắc chắn nhất rằng tình yêu mạnh hơn cái chết.
Cõi vĩnh hằng không phải là một cõi vô định mờ mịt, cũng không phải là một sự tan biến vô nghĩa của bản ngã vào không gian vũ trụ theo quan niệm của các triết thuyết Đông phương bi quan. Cõi vĩnh hằng, theo mặc khải Kitô giáo, là một cuộc gặp gỡ sống động, chan chứa tình yêu thương và sự tương giao trọn vẹn với Thiên Chúa Ba Ngôi và với tất cả những người thân yêu của chúng ta. Đó là trạng thái mà thánh Augustinô đã diễn tả một cách bất hủ: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con bất an cho đến khi được nghỉ ngơi trong Chúa”. Sự nghỉ ngơi này không phải là sự bất động vô tri, mà là sự sung mãn tối cao của mọi khát vọng, sự bừng nở rực rỡ nhất của vẻ đẹp và tình yêu đích thực.
Khép lại những suy ngẫm sâu thẳm về sự chết, sự sống đời đời và mầu nhiệm cứu độ, tâm hồn chúng ta được mời gọi lắng đọng trong một sự bình an vượt lên trên mọi hiểu biết. Sự chết, dù mang theo diện mạo lạnh lẽo và đầy thách thức, cuối cùng đã được thuần hóa và biến đổi bởi tình yêu vô biên của Đức Giêsu Kitô. Nó không còn là bức tường đá vô cảm chặn đứng con đường nhân loại, mà đã trở thành cánh cửa rộng mở dẫn vào ngôi nhà của Người Cha nhân hậu, nơi cỗ bàn tiệc cưới muôn đời đang chờ đón những người con trở về.
Trong hành trình lữ hành trần thế này, mỗi chúng ta hãy sống với ý thức cánh chung rõ nét. Hãy trân trọng từng nhịp đập của trái tim, từng ngày sống mà Thiên Chúa ban tặng như một hồng ân vô giá. Hãy dùng thời gian ngắn ngủi này để kiến tạo những giá trị của tình yêu, của sự tha thứ và của lòng bác ái chân thành. Khi đối diện với những giông bão, đau khổ và cả sự chia ly của cái chết, chúng ta hãy ngước mắt lên nhìn cây thập giá – dấu chỉ của tình yêu tuyệt đối, nơi sự chết đã bị đánh bại và sự sống đã bừng lên vĩnh cửu.
Và khi giờ phút cuối cùng của cuộc đời trần thế đến gần, khi bóng tối của sự yếu đuối thể xác bao trùm, xin cho mỗi người chúng ta biết dâng lên lời nguyện phó thác trọn vẹn trong tay Chúa như lời nguyện của chính Thầy Chí Thánh trên cây thập giá: “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha”. Với niềm tin tưởng sắt đá ấy, chúng ta có thể bước qua ngưỡng cửa tử vong không phải trong sự run rẩy sợ hãi, mà với niềm hân hoan của người lữ hành sắp được về đến quê hương đích thực của mình – nơi ánh sáng không bao giờ tắt, nơi tình yêu không bao giờ phai tàn, và nơi chúng ta sẽ được đoàn tụ trong hoan lạc muôn đời với Thiên Chúa và với tất cả những người thân yêu.
Lm. Anmai, CSsR
TIỆC THÁNH VƯƠNG VÀ SỰ TỰ DO TUYỆT ĐỐI CỦA ÂN SỦNG THIÊNG LIÊNG
Giữa nhịp sống cuộn trào của thế giới hiện đại, con người hôm nay dường như đang bị cuốn vào một vòng xoáy không hồi kết của những toan tính, vụ lợi và giao dịch. Mọi khía cạnh của đời sống con người, từ các mối quan hệ xã hội, thương trường cho đến cả những không gian tinh thần, đôi khi cũng bị chi phối bởi thứ logic lạnh lùng mang tính đổi chác: “Tôi cho anh cái này để nhận lại cái kia”, “Tôi bỏ công sức ra thì phải thu về lợi lộc tương xứng”. Thứ logic ấy tiêm nhiễm vào tận sâu thẳm tâm hồn, khiến con người dần đánh mất đi một khả năng nguyên thủy và cao quý nhất mà Thiên Chúa đã phú bẩm: khả năng đón nhận và trao ban sự nhưng không. Khi mọi thứ trên đời đều phải đem lên bàn cân để định giá, con người vô tình biến mình thành những thương nhân cô độc ngay trong chính cuộc đời của họ.
Chính trong bối cảnh đầy rẫy sự thực dụng ấy, dụ ngôn về bữa tiệc lớn trong Tin Mừng vang lên như một tiếng chuông thức tỉnh tâm hồn đang u mê. Hình ảnh người chủ nhà dọn một bữa tiệc linh đình, sai đầy tớ đi muôn nơi để mời gọi khách khứa, không chỉ gợi lên một viễn cảnh cánh chung về ngày hội ngộ muôn đời trong Vương Quốc Trời, mà còn mặc khải trực diện bản chất sâu thẳm nhất của Thiên Chúa: bản chất của sự nhưng không tuyệt đối. Thiên Chúa không đóng khung tình yêu của Ngài vào những khuôn khổ tính toán hẹp hòi của con người. Ngài yêu thương không phải vì con người xứng đáng, không phải vì con người đã lập được công trạng lớn lao, mà bởi vì bản tính của Ngài chính là tình yêu tự hiến vô điều kiện.
Thế nhưng, thảm kịch lớn nhất của lịch sử nhân loại từ xưa đến nay không nằm ở việc Thiên Chúa thiếu lòng xót thương hay xẻ chia ơn cứu độ, mà nằm ở việc con người từ chối bữa tiệc ấy chỉ vì họ quá bận rộn với những mối bận tâm vụn vặt của riêng mình. Khi lời mời gọi bước vào hiệp thông với Đấng Tạo Hóa được ngỏ lời, những vị khách đầu tiên trong dụ ngôn đã lần lượt chối từ bằng những cái cớ rất đỗi quen thuộc của cuộc sống thường nhật: người thì bận đi xem thửa ruộng mới mua, kẻ thì lo kiểm tra năm cặp bò vừa tậu, người khác nữa lại vướng bận chuyện gia đình. Nhìn bề ngoài, đó đều là những công việc chính đáng, hợp pháp và cần thiết cho đời sống trần thế. Không ai trong số họ phạm những trọng tội tày trời; họ chỉ đơn giản là đặt những mối quan tâm cá nhân, những tài sản vật chất và những toan tính đời thường lên trên lời mời gọi thiêng liêng.
Sự gắn kết quá mức với của cải và danh lợi trần thế đã tạo nên một thứ “nô lệ tinh thần” vô hình nhưng vô cùng kiên cố. Con người bị trói buộc vào những thứ mà tự tay mình gầy dựng, để rồi trở nên tê liệt trước vẻ đẹp của ơn cứu độ nhưng không. Khi tâm trí đã bị lấp đầy bởi câu hỏi “Tôi được gì từ việc này?” hoặc “Điều đó mang lại lợi ích gì cho công việc làm ăn của tôi?”, thì tiếng gọi của tình yêu thương vô vị lợi trở nên xa lạ và phiền toái. Họ khước từ bữa tiệc không phải vì căm ghét người chủ tiệc, mà vì họ xem thường giá trị của sự nhưng không. Đối với họ, thứ gì không mua được bằng tiền hoặc không đổi chác được bằng mồ hôi công sức thì thứ đó không đáng bận tâm. Đó chính là sự nghèo nàn bi đát nhất của tâm hồn con người khi tự giam mình trong chiếc lồng của sự ích kỷ và tính toán.
Hậu quả của thái độ khước từ ấy là gì? Đó là việc tự đánh mất cơ hội được chia sẻ niềm vui hiệp thông trọn vẹn. Người chủ nhà, dẫu bị từ chối phũ phàng, vẫn không từ bỏ ý định bày tỏ lòng hiếu khách và tình bằng hữu. Trái tim của Đấng Tối Cao không bị đóng lại bởi sự thờ ơ của con người. Ngài mở rộng biên giới của lòng thương xót, sai đầy tớ ra các ngõ hẻm, góc phố để mời gọi những thành phần bên lề của xã hội: những người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt. Thậm chí, trong một phiên bản khác của dụ ngôn, lời mời còn vươn đến cả những kẻ tốt xấu lẫn lộn ngoài đường sá. Điều này khẳng định một chân lý rực rỡ rằng: bàn tiệc của Thiên Chúa là bàn tiệc phổ quát, không loại trừ một ai, miễn là con người sẵn sàng buông bỏ sự kiêu ngạo tự phụ của mình để bước vào.
Để có thể bước vào bàn tiệc ấy, điều kiện tiên quyết không phải là tấm vé được mua bằng sự hoàn hảo luân lý hay những thành tích đạo đức xuất sắc, mà lại là sự nhận thức sâu sắc về sự khốn cùng và bất xứng của chính mình. Chiếc vé duy nhất hợp lệ để vào dự tiệc thánh chính là thái độ biết mình đau yếu, nghèo hèn, tội lỗi và đang khao khát được ơn Chúa chữa lành. Những ai tự cho mình là công chính, những ai cậy dựa vào sức riêng, vào việc giữ đạo hình thức hay những nghĩa cử công trạng của bản thân để mặc cả với Thiên Chúa, thì tự nhiên họ tự loại trừ mình ra khỏi bàn tiệc. Họ giống như người anh cả trong dụ ngôn đứa con hoang đàng từng phẫn nộ trước lòng xót thương của người cha dành cho đứa em tội lỗi. Họ không tài nào hiểu nổi logic của tình yêu nhưng không, bởi vì trong tâm thức của họ, ơn cứu độ là phần thưởng phải trả công, là kết quả của một bản hợp đồng sòng phẳng giữa con người và thần linh.
Sự hiểu lầm tai hại này về ơn cứu độ đã làm tê liệt biết bao tâm hồn đạo đức. Nhiều người trong chúng ta, vì quá quen với nếp sống tôn giáo hình thức, vô tình biến mối quan hệ với Thiên Chúa thành một thứ thương vụ thiêng liêng. Ta dâng kinh nguyện, ta đi lễ đều đặn, ta làm việc bác ái với một niềm thầm kín rằng Thiên Chúa đang “nợ” ta một ân huệ, rằng Ngài phải ban phước lành và sự bình an để bù đắp cho những gì ta đã bỏ ra. Khi cuộc sống gặp trắc trở hoặc khi thấy những kẻ khác mà ta cho là tội lỗi lại được ơn lành, ta dễ sinh lòng oán trách, hậm hực y hệt như người anh cả xưa. Ta quên mất rằng mọi ơn huệ từ Thiên Chúa đều là hồng ân thuần túy. Không ai có thể mua chuộc được Thiên Chúa, cũng chẳng ai có thể tự lập công để tước đoạt ơn cứu độ như một quyền lợi tất yếu.
Chính vì thế, ơn cứu độ đích thực luôn đòi hỏi một cuộc lội ngược dòng triệt để trong cung cách nhìn nhận về Thiên Chúa và về tha nhân. Ta không thể đến với Thiên Chúa bằng đôi tay nắm chặt của sự tự đắc, mà phải đến với đôi bàn tay rộng mở của kẻ nghèo khó trắng tay. Sự nghèo khó tinh thần này không phải là sự nghèo đói vật chất tầm thường, mà là thái độ nội tâm biết nhìn nhận bản thân mình hoàn toàn lệ thuộc vào lòng thương xót của Đấng Tạo Hóa. Khi một người nhận ra mình được yêu thương một cách vô điều kiện, họ sẽ không còn cảm thấy cần phải chứng minh giá trị bản thân qua những thành tích hay sự hoàn hảo giả tạo. Họ được giải phóng khỏi gánh nặng của sự lo âu, sợ hãi bị chối bỏ và sự ám ảnh bởi thành bại.
Cội rễ của mọi nỗi bất hạnh trong đời sống thiêng liêng và nhân thế chính là việc đánh mất khả năng cảm thấy mình được yêu thương. Khi con người nghi ngờ lòng nhân hậu của Thiên Chúa, khi họ tin rằng mọi thứ trên đời này đều phải đổi chác bằng mồ hôi nước mắt hoặc bằng sự hoàn hảo luân lý, thì họ rơi vào trạng thái cô đơn cùng cực. Một khi không còn cảm nhận được hơi ấm của tình yêu nhưng không, tâm hồn sẽ trở nên khô cằn, chai sạn và đầy rẫy sự hoang tưởng, tự vệ. Họ cảm thấy mọi ánh mắt xung quanh đều là phán xét, mọi biến cố xảy ra đều là hình phạt, và cuộc đời chỉ là một chuỗi những bất công chực chờ vùi dập. Đó là tình trạng mất phương hướng trầm trọng nhất của con người thời đại mới.
Ðể chữa lành vết thương sâu thẳm ấy, Thiên Chúa không ngừng mời gọi con người hãy quay trở về với nguồn cội của tình yêu tinh tuyết. Ngài không đòi hỏi gì ở chúng ta ngoài một trái tim chân thành biết đón nhận và đáp trả tình yêu bằng tình yêu. Trong không gian của bàn tiệc thánh thiện ấy, mọi rào cản giai cấp, mọi mặc cảm tội lỗi, mọi sự chia rẽ do ích kỷ gây ra đều bị xóa nhòa. Người chủ nhà mong mỏi lấp đầy ngôi nhà của Ngài không phải để khoe khoang sự giàu sang, mà vì trái tim Ngài chứa đựng một nỗi khát khao được chia sẻ hạnh phúc cho muôn loài. Tình yêu của Thiên Chúa có đặc tính lan tỏa và bao trùm; nó tìm kiếm những mảnh đời rách nát nhất, những con người tơi tả nhất để ôm ấp và phục hồi phẩm giá cao quý của họ.
Nhìn ngắm lại hành trình đức tin của chính mình, mỗi người chúng ta được mời gọi tự vấn về thái độ tâm hồn trước lời mời gọi của ơn thánh. Ta đang đứng ở đâu trong dụ ngôn về bữa tiệc lớn? Ta có đang là những kẻ vì quá bận rộn với những lo toan cơm áo gạo tiền, với những dự án trần thế và danh vọng hão huyền mà vô tình khước từ tiếng gọi thẳm sâu của Chúa? Hay ta đang là những người ngồi dự tiệc nhưng vẫn giữ trong mình tâm thức của kẻ làm thuê mướn, luôn so đo tính toán từng chút thiệt hơn với Chúa và với anh chị em đồng loại?
Sự biến đổi nội tâm đòi hỏi chúng ta phải can đảm dứt khoát buông bỏ những thứ xiềng xích của sự vụ lợi. Hãy tập nhìn thế giới và tha nhân bằng đôi mắt của sự nhưng không. Khi ta biết làm một việc bác ái mà không mong chờ sự đền đáp, khi ta biết tha thiết yêu thương một kẻ chẳng lấy gì làm đáng yêu, khi ta biết tạ ơn Chúa về từng hơi thở sự sống mà chẳng dám tự hào cho là mình xứng đáng, ấy là lúc ta đang thực sự bước chân vào sảnh đường của bữa tiệc Nước Trời. Đó là lúc tâm hồn được chạm đến sự tự do đích thực, sự tự do của những người con được sống trong vòng tay của Người Cha nhân hậu vô biên.
Hơn thế nữa, kinh nghiệm về bữa tiệc thánh này còn phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể trong đời sống tông đồ và phục vụ hằng ngày. Người Kitô hữu không thể chỉ ngồi tận hưởng ơn cứu độ cho riêng mình trong sự ích kỷ thánh thiện. Đã nhận lấy tình yêu nhưng không từ Thiên Chúa, chúng ta có sứ mạng phải trở thành những sứ giả của lòng thương xót, mang lời mời gọi của bàn tiệc đến với những vùng ngoại biên của xã hội đương đại. Những vùng ngoại biên ấy không chỉ nằm ở những nơi xa xôi về địa lý, mà hiện diện ngay bên cạnh chúng ta: trong những khu xóm nghèo nàn, trong những gia đình đang rạn nứt, trong tâm hồn những người trẻ đang chới với giữa dòng đời lạc lõng, và thậm chí trong chính những tâm hồn chai sạn của những kẻ đang thù hận, ghen tương.
Đem Tin Mừng đến cho những mảnh đời ấy đồng nghĩa với việc lặp lại cử chỉ của người chủ nhà trong dụ ngôn: không tra vấn quá khứ, không đòi hỏi điều kiện tiên quyết, mà chỉ trao ban tấm lòng bao dung và sự chấp nhận vô điều kiện. Thế giới hôm nay đang khát khao biết bao những chứng nhân của tình yêu không vụ lợi. Giữa một xã hội tràn ngập sự dối lừa, tranh giành và bạo lực, sự hiện diện của một con người biết sống hiền hòa, quảng đại và tha thứ chính là hiện thân sống động nhất của bàn tiệc Nước Trời đang hiện diện giữa trần thế. Đó là thứ ngôn ngữ duy nhất có sức mạnh đập tan những bức tường kỳ thị và sưởi ấm những cõi lòng đang lạnh lẽo vì cô đơn.
Con đường bước theo Thiên Chúa chưa bao giờ là con đường của sự hưởng thụ ích kỷ, nhưng là con đường của sự tự hiến đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Ngài đã tự biến mình thành tấm bánh bẻ ra cho muôn người, không giữ lại gì cho riêng mình. Trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã trao ban tất cả sự sống của Ngài một cách hoàn toàn nhưng không cho một nhân loại bất xứng và phản bội. Đó là đỉnh cao tuyệt đối của logic tình yêu Thiên Chúa: yêu cho đến cùng, yêu không đòi đền đáp, yêu ngay cả khi bị khước từ. Tham dự vào bàn tiệc thánh chính là rước lấy tinh thần tự hiến ấy vào trong tâm hồn, để từng nhịp đập của con tim, từng hơi thở của cuộc sống đều trở thành một khúc ca ngợi khen tình yêu nhưng không của Đấng Tạo Thành.
Do đó, hành trình đức tin không phải là một chuỗi những nghĩa vụ nặng nề hay những luật lệ khô khan cần phải tuân giữ để tránh né án phạt, mà là một tiến trình liên tục để cho lòng mình được mở rộng trước sự bao la của ơn thánh. Hãy để cho những toan tính trần tục được thanh luyện trong ngọn lửa của lòng mến. Hãy tập buông bỏ quyền kiểm soát, buông bỏ sự ngạo mạn nghĩ rằng mình có thể tự cứu lấy chính mình hay tự tạo ra công trạng trước mặt Thiên Chúa. Khi con người hoàn toàn tay trắng trước mặt Chúa, đó cũng là khoảnh khắc quyền năng và lòng thương xót của Ngài được thể hiện một cách rạng rỡ nhất trong cuộc đời họ.
Nguyện xin ơn trên tuôn đổ xuống trên mỗi tâm hồn chúng ta niềm khao khát cháy bỏng được ngồi vào bàn tiệc muôn đời ấy. Xin cho chúng ta đừng bao giờ để cho những bận tâm trần thế làm tê liệt thính giác tâm hồn trước tiếng gọi dịu ngọt của tình yêu Thiên Chúa. Xin giải thoát chúng ta khỏi gông cùm của sự vụ lợi và tính toán, để mỗi ngày sống thực sự trở thành một lời đáp trả vâng phục trong tự do và hoan hỉ. Và khi cuộc lữ hành trần世 này khép lại, xin cho tất cả chúng ta được cùng muôn thánh nhân hoan hỉ bước vào ngôi nhà của Cha trên trời, nơi bữa tiệc hoan lạc chẳng bao giờ tàn lụi, nơi tình yêu và sự nhưng không ngự trị muôn đời muôn thuở.
Lm. Anmai, CSsR
BƯỚC VÀO TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI BẰNG CON ĐƯỜNG KHIÊM TỐN VÀ PHỤC VỤ
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ và quý thính giả thân mến, trong hành trình đức tin lữ hành trần gian, mỗi người chúng ta đều mang trong mình một khát vọng sâu thẳm: khát vọng được hạnh phúc, khát vọng được bước vào bữa tiệc vĩnh cửu của Thiên Chúa nơi quê trời cao sang. Khát vọng ấy không phải là một ảo tưởng, mà là một lời mời gọi thiết tha phát xuất từ chính trái tim đầy lòng thương xót của Đấng Tối Cao. Thiên Chúa không ngừng dọn sẵn cho nhân loại chúng ta một bàn tiệc thịnh soạn, một bàn tiệc tràn đầy ân sủng, bình an và tình yêu thương vô biên. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta trong cuộc sống bộn bề hôm nay là: liệu chúng ta đã sẵn sàng đáp lại lời mời gọi ấy chưa? Và quan trọng hơn, chúng ta đang mang tâm tình nào, chiếc áo nào để bước vào hội ngộ linh thiêng cùng Đấng Tạo Hóa?
Khi suy tư về mầu nhiệm Nước Trời, các Tin Mừng thường dùng hình ảnh bữa tiệc cưới để diễn tả niềm vui hoan lạc tột cùng của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người. Bữa tiệc ấy không dành riêng cho một nhóm người đặc quyền, cũng không loại trừ bất kỳ ai có thiện tâm. Trái lại, cửa lòng thương xót của Thiên Chúa luôn rộng mở đón nhận tất cả, từ những người ở các nẻo đường xa xôi, những kẻ nghèo hèn, đau khổ, cho đến những ai đang bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời. Thế nhưng, bi kịch lớn nhất của con người không nằm ở việc Chúa không mời gọi, mà nằm ở chỗ con người thường tự chuốc lấy sự từ chối vì những bận tâm trần thế. Tiền tài, danh vọng, những toan tính ích kỷ hay sự kiêu ngạo thường làm cho đôi tai linh hồn trở nên nặng tai trước tiếng gọi dịu ngọt của ơn thánh. Chúng ta say sưa với những mảnh vườn, những cỗ bò mới mua, những công việc làm ăn tạm bợ, để rồi vô tình khước từ lời mời gọi tham dự vào sự sống đời đời.
Sự kiêu ngạo chính là bức tường dày ngăn cách con người với Thiên Chúa và với tha nhân. Trong tương quan xã hội cũng như trong đời sống đạo đức, thói quen tìm kiếm chỗ nhất, ham chuộng danh vọng, đòi hỏi người khác phải phục vụ thay vì đi đầu trong tinh thần phục vụ, đang làm xói mòn vẻ đẹp tinh tuyết của Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô đã đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc cho muôn người. Ngài đã tự hạ mình xuống, mặc lấy thân phận con người, chấp nhận sinh ra trong cảnh nghèo hèn máng cỏ và chết trên cây thập giá. Đi theo Con Đường ấy, người môn đệ Chúa không thể tìm kiếm sự vinh rạng chóng qua của thế gian, mà phải học lấy bài học khiêm tốn thẳm sâu. Khiêm tốn không phải là sự tự ti, yếm thế hay chối bỏ phẩm giá của mình, nhưng là việc nhận thức rõ ràng chân lý về bản thân trước mặt Thiên Chúa: chúng ta chỉ là những thụ tạo mỏng giòn, mọi ơn lành đều đến từ lòng thương xót Chúa, và không có ơn Chúa, chúng ta chẳng thể làm được gì.
Hơn thế nữa, thái độ phục vụ khiêm tốn chính là chiếc áo cưới tinh tuyết mà mỗi Kitô hữu cần mặc lấy khi bước vào bàn tiệc Nước Trời. Phục vụ không phải là một nghĩa vụ khô khan hay một thứ công việc hình thức bên ngoài, mà là một lối sống phát xuất từ tình yêu chân thành. Khi chúng ta mở rộng đôi tay để nâng đỡ những mảnh đời đau khổ, khi chúng ta biết tha thiết lắng nghe nỗi cô đơn của tha nhân, khi chúng ta sẵn lòng tha thứ và xoa dịu những vết thương lòng cho anh chị em xung quanh, chính là lúc chúng ta đang thực thi tinh thần của Tin Mừng một cách sống động nhất. Chúa Giêsu không nhìn vào địa vị xã hội hay sự giàu sang phú quý của chúng ta, nhưng Ngài nhìn vào trái tim đầy lòng trắc ẩn và tinh thần sẵn sàng hiến thân vì anh chị em. Một cuộc đời biết quên mình để phục vụ tha nhân chính là một bài giảng sống động, có sức cảm hóa mạnh mẽ hơn ngàn vạn lời nói hoa mỹ.
Trong đời sống thường nhật, không ít lần chúng ta rơi vào cạm bẫy của sự tự phụ, tưởng rằng những thành quả đạo đức, những việc bác ái hay những chức vụ tôn giáo mình đang đảm nhận là do tài năng siêu việt của bản thân. Sự ngộ nhận nguy hiểm này biến chúng ta thành những người Pharisêu thời đại, những kẻ thích ngồi ghế đầu, thích được ca tụng nơi công cộng nhưng tâm hồn lại nguội lạnh tình yêu mến Chúa. Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can. Ngài không ưa chuộng những nghi thức trống rỗng hay những lời kinh nguyện đầu môi chót lưỡi nếu những điều đó không phát xuất từ một tấm lòng khiêm tốn và chân thành. Bài học về sự chọn lựa chỗ ngồi thấp hèn trong dụ ngôn tiệc cưới là một lời nhắc nhở mạnh mẽ: ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. Sự tôn vinh đích thực không đến từ sự tự ca tụng, mà là món quà cao quý mà Thiên Chúa ban tặng cho những ai biết sống khiêm hạ trong âm thầm.
Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy rõ một hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa đã trao ban qua Đức Giêsu Kitô. Ngài đã biến thập giá ô nhục thành ngai tòa vinh quang của tình yêu tự hiến. Mỗi thánh lễ chúng ta tham dự cử hành hằng ngày chính là hình ảnh tiên báo và là sự hiện tại hóa của bàn tiệc Nước Trời. Tại bàn tiệc Thánh Thể này, chính Thiên Chúa lại trở nên người phục vụ chúng ta, ban cho chúng ta Thịnh Máu Thánh Ngài làm lương thực linh hồn. Khi rước lấy Mình Thánh Chúa, chúng ta được mời gọi biến đổi tâm hồn mình nên giống như Ngài. Chúng ta không thể rước Chúa vào lòng rồi lại sống ích kỷ, kiêu căng hay thờ ơ trước nỗi đau của anh chị em đồng loại. Thánh Thể đòi hỏi chúng ta phải sống hiệp nhất, yêu thương và sẻ chia. Bàn tiệc Thánh Thể là trường học dạy chúng ta bài học về sự khiêm nhường tuyệt đối, nơi mà mọi rào cản giai cấp, giàu nghèo đều bị xóa nhòa trong tình yêu bao la của Thiên Chúa.
Đời sống chứng nhân giữa lòng thế giới tục hóa hôm nay đặt ra cho chúng ta nhiều thử thách không nhỏ. Áp lực của chủ nghĩa vật chất, lòng tham lam và lối sống hưởng thụ dễ làm cho con người chao đảo, đánh mất phương hướng. Nhiều người vì mải miết chạy theo những giá trị ảo ảnh mà quên mất cùng đích đời mình. Giữa bối cảnh đó, người Kitô hữu được mời gọi trở nên những ánh sáng soi chiếu trần gian, những chứng nhân dấn thân cho công lý và hòa bình. Sự dấn thân ấy không đòi hỏi phải làm những điều lớn lao phi thường, mà bắt đầu từ những cử chỉ bác ái nhỏ bé trong gia đình, nơi công sở, trong xóm làng. Một lời nói dịu dàng xoa dịu cơn giận, một sự nhường nhịn đúng lúc, một cái ôm ấm áp dành cho kẻ cô đơn, hay một sự hy sinh âm thầm vì hạnh phúc của người khác chính là những viên gạch xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa ngay trên mặt đất này.
Hãy tự hỏi chính mình: hôm nay, chúng ta đang đáp lại lời mời gọi của Chúa bằng tâm tình nào? Có phải chúng ta đang mải mê với những toan tính cá nhân mà để lỡ mất cơ hội bước vào bữa tiệc ân sủng của Ngài không? Có phải chúng ta vẫn đang giữ lại sự kiêu ngạo, tự đắc và chưa thực sự sẵn sàng tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến mình không? Thiên Chúa vẫn đang kiên nhẫn đợi chờ chúng ta quay về. Ngài không chấp nhất những yếu đuối nguyên thủy của chúng ta, nhưng Ngài mong ước chúng ta có một tấm lòng thống hối, khiêm hạ và khao khát ơn cứu độ. Hãy mạnh dạn cởi bỏ chiếc áo tự mãn của thế gian để khoác lên mình tấm áo của lòng khiêm tốn và tinh thần phục vụ chân thành.
Con đường theo Chúa là con đường hẹp, đòi hỏi sự hy sinh từ bỏ ý riêng mỗi ngày, nhưng đó cũng là con đường duy nhất dẫn đến sự sống đích thực và niềm vui vĩnh cửu. Đừng sợ hãi trước những yếu đuối và giới hạn của bản thân, bởi vì ơn Chúa luôn đủ cho chúng ta, và sức mạnh của Ngài được biểu lộ trọn vẹn nơi sự yếu đuối của con người. Khi chúng ta biết cậy dựa vào ơn Chúa, biết lấy khiêm nhường làm nền tảng cho mọi nhân đức, cuộc đời chúng ta sẽ trở thành một khúc ca cảm tạ tuyệt vời dâng lên Thiên Chúa. Mọi khó khăn thử thách trần gian rồi sẽ qua đi, nhưng tình yêu và những việc làm bác ái thực hiện trong khiêm tốn sẽ còn mãi miên viễn trong cõi vĩnh hằng.
Ước gì qua những giây phút suy niệm này, tâm hồn mỗi chúng ta được ơn biến đổi sâu xa. Xin cho chúng ta biết luôn giữ gìn lòng nhiệt thành trong đời sống đức tin, biết trân trọng từng cơ hội mà Chúa ban tặng để làm ơn ích cho tha nhân. Xin cho ánh sáng khiêm tốn của Chúa Giêsu Kitô chiếu rọi vào góc khuất tâm hồn chúng ta, soi sáng con đường chúng ta bước đi, để ngày sau hết, khi tiếng kèn chung cuộc vang lên, chúng ta được xứng đáng bước vào tiệc cưới vĩnh hằng trên trời, nơi cùng chung hưởng hạnh phúc muôn đời với các thánh và các thiên thần. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
BỮA TIỆC CỦA TÌNH YÊU MIỄN PHÍ VÀ SỰ KHIÊM TỐN THẬT
Trong hành trình đức tin của mỗi người chúng ta, có lẽ không có hình ảnh nào gần gũi, ấm áp và đồng thời cũng mang tính cánh chung sâu sắc cho bằng hình ảnh của một bữa tiệc. Bữa tiệc là nơi hội tụ của niềm vui, của sự chia sẻ, của tình bằng hữu và sự sung túc. Từ ngàn xưa, trong Kinh Thánh, các ngôn sứ thường dùng hình ảnh bữa tiệc linh đình để diễn tả về Nước Trời, về thời đại hồng ân mà Thiên Chúa dọn sẵn cho nhân loại. Đó là một bữa tiệc không thiếu thốn bất cứ thứ gì, một không gian tràn ngập ánh sáng, tiếng cười, và trên hết là sự hiện diện thân mật giữa Thiên Chúa và con người. Thế nhưng, khi bước vào dụ ngôn về bữa tiệc hay những lời giáo huấn xoay quanh bàn tiệc của Tin Mừng, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước logic hoàn toàn đảo ngược của Thiên Chúa so với logic trần thế.
Trần gian chúng ta quen thuộc với những bữa tiệc mang tính giao thiệp, tính toán và đổi chác. Khi người ta tổ chức một buổi tiệc lớn, danh sách khách mời thường được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên địa vị xã hội, mối thâm giao, quyền lợi kinh tế hoặc khả năng đáp trả. Người ta mời những người có thể mời lại mình, những người có tiếng tăm để nâng cao oai thế, hoặc những đối tác có thể đem lại lợi ích trong tương lai. Đó là thứ văn hóa của sự trao đổi, nơi tình cảm và sự hiện diện bị thương mại hóa, bị đặt lên bàn cân của sự có qua có lại. Nếu chúng ta không cẩn thận, thứ logic trần tục này cũng dễ dàng len lỏi vào đời sống tôn giáo và đạo đức của chúng ta. Chúng ta có xu hướng đối xử với Thiên Chúa như thể Ngài là một đối tác thương mại: chúng ta dâng hiến, chúng ta giữ đạo, chúng ta làm việc bác ái với ngầm ý đòi hỏi Ngài phải ban ơn đổi lại, phải trả công cho sự trung thành của chúng ta.
Chính tại điểm này, Thiên Chúa bước vào và phá vỡ mọi khuôn mẫu tính toán ích kỷ của con người bằng một khái niệm hoàn toàn cách mạng: sự nhưng không, hay còn gọi là tính miễn phí tuyệt đối của tình yêu. Khi Đức Giêsu đưa ra những lời khuyên về cách ứng xử tại bàn tiệc, Ngài không chỉ dừng lại ở những quy tắc xã giao thông thường, mà Ngài đang mặc khải bản chất sâu thẳm nhất của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng yêu thương mà không cần điều kiện, không chờ đợi sự đền bù. Ngài mở tiệc không phải để tìm kiếm danh tiếng hay sự trả lễ từ những kẻ có quyền thế, nhưng vì trái tim Ngài tràn ngập tình yêu thương và mong muốn lấp đầy ngôi nhà của Ngài bằng con cái từ muôn phương.
Hãy ngước nhìn lên người chủ tiệc trong dụ ngôn, hình ảnh tuyệt vời phản chiếu chính lòng nhân ái của Thiên Chúa Cha. Ngài sai đầy tớ đi ra các ngả đường, mời gọi tất cả những ai gặp gỡ, đặc biệt là những người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt – những con người chẳng có gì để trả lễ, chẳng có món quà nào giá trị để dâng lại, thậm chí chẳng có một chỗ đứng đáng kính trong xã hội thời bấy giờ. Tại sao chủ nhà lại mời những thành phần ấy? Bởi vì họ là những người không có gì để trao đổi. Họ đến với hai bàn tay trắng, chỉ mang theo nỗi khốn cùng, sự bất xứng và lòng khát khao được đón nhận. Việc mời gọi họ chính là biểu hiện rực rỡ nhất của sự nhưng không tinh tuyền. Thiên Chúa muốn trao ban trọn vẹn sự sống và niềm vui của Ngài cho những ai hoàn toàn bất lực không thể tự cứu mình, những ai không thể mua chuộc tình yêu của Ngài bằng công trạng hay tài sản.
Sự nhưng không này là một thách đố lớn lao đối với bản tính tự phụ của con người. Con người sa ngã luôn thích tự lập, thích chứng tỏ bản thân, thích tạo ra công trạng để có quyền đòi hỏi. Chúng ta cảm thấy ngượng ngùng hoặc khó chịu khi phải nhận lấy một món quà quá lớn mà mình biết chắc chắn không bao giờ có khả năng đền trả. Cảm giác nợ nần, cảm giác “mắc cỡ” hay ngượng ngùng trước lòng thương xót vô biên của Chúa đôi khi đẩy chúng ta ra xa Ngài. Có những người tự thấy mình quá tội lỗi, quá bất xứng nên tự chuốc lấy sự mặc cảm, không dám bước vào nhà Chúa vì nghĩ rằng mình chẳng có gì dâng lại cho Ngài để xứng đáng với ơn huệ đó. Nhưng Thiên Chúa không đòi hỏi sự đền trả; Ngài chỉ đòi hỏi một tấm lòng biết khiêm tốn mở ra để đón nhận. Ngài muốn chúng ta hiểu rằng ơn cứu độ là một hồng ân thuần túy, một món quà phát xuất từ tình yêu vô biên chứ không phải là tiền lương cho những nỗ lực đạo đức của chúng ta.
Bên cạnh mầu nhiệm về sự nhưng không của tình yêu, Lời Chúa cũng đặt ra trước mắt chúng ta một bài học cốt lõi khác về thái độ nội tâm khi tham dự vào bữa tiệc của Ngài, đó là sự khiêm tốn đích thực. Đức Giêsu quan sát cách những khách dự tiệc tranh giành những chỗ nhất, những chiếc ghế danh dự gần chủ nhà nhất. Bản năng tự nhiên của con người là muốn được tôn sủng, muốn đứng ở vị trí cao, muốn người khác phải ngưỡng mộ và kính nể. Chúng ta luôn có xu hướng tự ca tụng mình, tự đặt mình lên bục cao và tìm kiếm chỗ đứng ưu tiên trong mọi không gian xã hội, đôi khi ngay cả trong các cộng đoàn đức tin. Sự kiêu ngạo này tinh vi đến mức nó có thể ẩn giấu đằng sau cả những vỏ bọc đạo đức, phục vụ hay hy sinh bề ngoài.
Đức Giêsu đưa ra một lời khuyên đầy tính thực tế nhưng mang chiều kích thiêng liêng sâu sắc: khi được mời đi dự tiệc, đừng chọn chỗ nhất. Đừng tự mãn vỗ ngực xưng tên hay tự cho mình là người quan trọng nhất. Bởi vì nếu chúng ta tự cao tự đại tự ý ngồi vào chỗ danh dự, nguy cơ bẽ mặt là rất lớn khi chủ nhà bước tới và bảo chúng ta nhường chỗ cho một vị khách tôn quý hơn. Lúc đó, trong sự ngượng ngùng tột độ, chúng ta sẽ phải lủi thủi bước xuống chỗ rốt hết với nỗi hổ thẹn ê chề. Ngược lại, thái độ khôn ngoan và đẹp lòng Thiên Chúa là việc tự nguyện chọn chỗ rốt hết. Khi chúng ta khiêm tốn ngồi ở vị trí thấp nhất, không phải vì giả hình để mong được chú ý, mà vì nhận thức đúng đắn về sự bé nhỏ và bất xứng của mình trước mặt Chúa và tha nhân, thì điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Chủ nhà sẽ đến, nhìn thấy sự khiêm nhường ấy, và ân cần nói với chúng ta: “Hỡi bạn, hãy lên trên cao mà ngồi.” Lúc ấy, vinh dự đến từ tha nhân, vinh dự đến từ chính Thiên Chúa, chứ không phải từ sự tự tung tự tác của cái tôi ích kỷ.
Sự khiêm tốn không phải là sự tự ti, không phải là việc chà đạp nhân phẩm của chính mình hay cố tình tỏ ra yếu đuối để được thương hại. Khiêm tốn là sự thật. Sống khiêm tốn là sống đúng với chân lý về con người mình: chúng ta là ai trước mặt Đấng Tạo Hóa? Chúng ta chỉ là những thọ tạo mỏng giòn, tro bụi, nhận lãnh sự sống và mọi ơn lành hoàn toàn từ lòng thương xót của Ngài. Tất cả những gì chúng ta có – từ tài năng, sức khỏe, trí tuệ cho đến đức tin và ơn gọi – đều là những nén bạc được giao phó, là quà tặng từ ơn trên chứ không phải là chiến lợi phẩm do tài năng tuyệt đối của chúng ta tự kiếm lấy. Do đó, không có chỗ cho sự kiêu ngạo, không có lý do gì để chúng ta vỗ ngực tự đắc hay coi thường người khác.
Khi suy ngẫm sâu xa về hai chiều kích này – sự nhưng không của tình yêu Thiên Chúa và thái độ khiêm tốn đích thực của con người – chúng ta nhận ra một mối liên kết mật thiết không thể tách rời. Chỉ khi nào chúng ta thấu hiểu và đón nhận sự nhưng không của Thiên Chúa, chúng ta mới có thể trở nên thực sự khiêm tốn. Tại sao lại như vậy? Bởi vì một khi chúng ta nhận ra mình được yêu thương vô điều kiện, được cứu độ không phải vì công trạng to tát của bản thân mà hoàn toàn do lòng thương xót hải hà của Ngài, thì cái tôi ngạo mạn của chúng ta sẽ bị tước bỏ tận gốc rễ. Chúng ta không còn lý do gì để khoe khoang, không còn cớ gì để tự mãn trước mặt Thiên Chúa hay trước mặt anh chị em mình. Sự kiêu ngạo tan biến đi, nhường chỗ cho lòng biết ơn sâu xa và tâm tình thờ lạy.
Ngược lại, sự kiêu ngạo chính là bức tường thành kiên cố nhất ngăn cách con người với bữa tiệc ân sủng của Thiên Chúa. Người kiêu ngạo là người tự mãn với những gì mình có, tự cho mình là công chính, là thông minh, là đạo đức hơn người khác. Họ nghĩ rằng mình không cần đến ơn cứu độ, không cần đến lòng thương xót vì họ tự thấy mình đã hoàn hảo, đã tự túc tự cấp về mặt thiêng liêng. Chính thái độ tự phụ đó khiến họ khước từ lời mời gọi của Thiên Chúa, hoặc nếu có đến dự tiệc thì họ cũng chỉ tìm cách chiếm lấy vị trí cao nhất để phục vụ cho cái tôi vĩ đại của mình. Những người như thế tự chuốc lấy sự đói khát thiêng liêng trầm trọng, bởi vì tâm hồn họ đã chật ních sự tự mãn, không còn một chỗ trống nào cho ơn Chúa tràn vào.
Trong đời sống đạo hằng ngày của chúng ta, cạm bẫy của sự kiêu ngạo và tính toán thường rất tinh vi. Chúng ta dễ dàng rơi vào thái độ phán xét tha nhân, nhìn những người yếu đuối, tội lỗi hoặc kém may mắn hơn bằng ánh mắt khinh miệt hoặc dửng dưng. Chúng ta quên mất rằng chính chúng ta cũng chỉ là những kẻ ăn mày ơn thiêng, những vị khách được mời gọi vào bàn tiệc hoàn toàn nhờ vào lòng nhân từ của Chủ Nhà chứ chẳng có chút công trạng nào đáng kể. Khi chúng ta đối xử với người khác dựa trên địa vị, sự giàu có hoặc khả năng đem lại lợi ích cho bản thân, chúng ta đang tái lập lại thứ logic trần thế mà Đức Giêsu đã kịch liệt lên án. Ngài mời gọi chúng ta hãy mở rộng cánh cửa trái tim, bước ra khỏi vòng tròn ích kỷ của gia đình hay nhóm hội thân quen để vươn tới những ai bị gạt ra bên lề xã hội.
Việc chia sẻ tình yêu và sự quan tâm với những người không có khả năng đáp đền là thước đo chân thực nhất cho lòng mến Chúa của chúng ta. Khi chúng ta tổ chức một bữa ăn, một hành động bác ái hay một sự giúp đỡ mà không hề tính toán xem người nhận có trả ơn mình hay không, có mang lại danh tiếng cho mình hay không, lúc đó chúng ta mới thực sự bước đi theo vết chân của Thầy Chí Thánh. Đó là thứ tình bác ái vô vị lợi, thứ tình yêu phản chiếu trọn vẹn khuôn mặt nhân hậu của Thiên Chúa Cha trên trời. Ngài ban mưa xuống cho người công chính lẫn kẻ bất lương, Ngài cho mặt trời mọc lên chiếu sáng mọi người. Ngài không phân biệt đối xử, và Ngài muốn con cái Ngài cũng phải sống với một tấm lòng rộng mở, bao dung và quảng đại như thế.
Hành trình bước theo Đức Giêsu cũng là hành trình thanh luyện không ngừng để chúng ta đánh mất đi sự cằn cỗi của tâm hồn tính toán và vun trồng sự nhạy bén của tình yêu thương nhưng không. Đôi khi, chúng ta cảm thấy mệt mỏi trong đời sống đạo vì chúng ta cứ mãi loay hoay với những nghĩa vụ câu nệ hình thức, những luật lệ khô khan mà thiếu đi nhịp đập của tình yêu mến. Chúng ta giữ đạo như một thứ thuế phải đóng, như một bản hợp đồng phải hoàn thành để mua lấy sự bình an giả tạo hoặc quyền được lên thiên đàng sau khi chết. Cách sống đạo vụ hình thức ấy biến tôn giáo thành một gánh nặng nề thay vì là một nguồn suối hoan lạc và ơn cứu độ. Khi đánh mất khả năng cảm thấy mình được yêu thương, chúng ta cũng đánh mất luôn khả năng yêu thương người khác một cách chân thành.
Chính vì thế, ơn gọi lớn lao nhất của chúng ta trong thế giới hôm nay chính là khẩn xin Thiên Chúa gìn giữ chúng ta khỏi việc đánh mất khả năng cảm thấy mình được yêu thương. Đây là một lời cầu nguyện vô cùng thấm thía và cấp thiết. Thế giới hiện đại với nhịp sống hối hả, với sự tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, vật chất và thành công đang làm tê liệt cảm giác thiêng liêng bên trong con người. Người ta dễ dàng cảm thấy cô đơn ngay giữa đám đông tấp nập, cảm thấy mình chỉ có giá trị khi tạo ra năng suất kinh tế hoặc khi đạt được những đỉnh cao danh vọng. Khi thất bại, khi gục ngã trước những giông bão cuộc đời, con người dễ rơi vào hố sâu tuyệt vọng, nghĩ rằng mình là kẻ bỏ đi, không ai cần đến và chẳng ai yêu thương.
Chính trong những khoảnh khắc tăm tối ấy của phận người, tiếng gọi của bữa tiệc Tin Mừng vang lên như một niềm an ủi vô bờ bến. Thiên Chúa không nhìn chúng ta qua lăng kính của thành công sự nghiệp, của tài khoản ngân hàng hay của sự hoàn hảo luân lý. Ngài nhìn chúng ta bằng con mắt của một người cha đầy ắp tình thương xót, Đấng luôn khao khát quy tụ tất cả con cái về mái nhà chung của Ngài. Ngôi nhà của Thiên Chúa luôn rộng mở, và bàn tiệc của Ngài không bao giờ thiếu chỗ cho những ai mang tâm tình nghèo khó và khao khát ơn cứu độ. Ngài muốn ngôi nhà của Ngài được lấp đầy, bởi vì trái tim Ngài quá đỗi lớn lao, chứa đựng trọn vẹn nỗi đau khổ và niềm hy vọng của nhân loại.
Để được biến đổi thực sự, chúng ta cần phải để cho ơn thánh đụng đến tận những ngóc ngách sâu kín nhất của tâm hồn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có sự can đảm để buông bỏ cái tôi ngạo mạn, buông bỏ những toan tính thiệt hơn, và bước vào sự khiêm tốn thẳm sâu. Khiêm tốn không phải là sự tự ti gò bó, mà là sự tự do tuyệt vời của những ai biết mình được Thiên Chúa yêu thương trọn vẹn dẫu bản thân còn nhiều yếu đuối và bất toàn. Khi chúng ta cảm nghiệm được rằng mình được yêu thương vô điều kiện, chúng ta không còn cần phải đeo những chiếc mặt nạ giả tạo để che đậy sự yếu đuối, không còn phải cố gắng tranh giành những chỗ nhất để khẳng định giá trị bản thân trước mặt người đời. Chúng ta được tự do để trở thành chính mình: những người con bé nhỏ, phó thác trọn vẹn cuộc đời mình vào bàn tay quan phòng đầy ân sủng của Cha trên trời.
Sự biến đổi nội tâm này sẽ tuôn trào thành những hành động cụ thể trong đời sống gia đình, xứ đạo và xã hội của chúng ta. Một người đã nếm trải hương vị của bữa tiệc tình yêu nhưng không sẽ không thể dửng dưng trước những đói khát, những bất công và những đau khổ của anh chị em xung quanh. Họ sẽ trở thành những sứ giả của lòng quảng đại, mang niềm vui và sự an phí đến cho những mảnh đời bất hạnh. Họ sẽ biết lắng nghe nhiều hơn thay vì phán xét, biết chia sẻ nhiều hơn thay vì tích lũy cho riêng mình, và biết cúi xuống phục vụ tha nhân với tất cả sự khiêm nhường và dịu hiền. Đó chính là khuôn mặt rạng ngời của Hội Thánh, là hiện thân sống động của Nước Trời giữa lòng trần gian hiện đại đầy biến động này.
Bàn tiệc thánh thể mà chúng ta cử hành mỗi ngày chính là hình ảnh tiên trưng và là nguồn mạch nuôi dưỡng cho hành trình đó. Tại bàn tiệc này, chính Đức Giêsu hiến mình làm lương thực cho chúng ta. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải trả tiền hay mang theo công trạng hào nhoáng nào; Ngài chỉ mời gọi chúng ta đến với tâm hồn khao khát và đói khát sự sống thật. Ngài tự hạ mình xuống dưới hình bánh bé nhỏ để nên một với chúng ta, dạy chúng ta bài học tuyệt đỉnh về sự khiêm tốn và tình yêu nhưng không. Khi rước lấy Mình và Máu Thánh Ngài, chúng ta không chỉ nhận lãnh ơn cứu độ cho riêng mình, nhưng còn được sai đi để trở thành những chứng nhân của tình yêu thương vô vị lợi đó giữa lòng thế giới đang khao khát tình người.
Nguyện xin Thiên Chúa ban ơn soi sáng và nâng đỡ mỗi người chúng ta, để qua mỗi bước đi của cuộc đời, chúng ta biết từ bỏ con đường tính toán ích kỷ, chọn lấy chỗ rốt hết trong sự khiêm tốn chân thành, và luôn giữ vững tâm tình biết ơn trước tình yêu thương nhưng không mà Ngài đã thương ban. Ước gì cuộc đời chúng ta trở thành một lời tụng ca tuyệt vời dâng lên Thiên Chúa, một khúc hoan ca của những người con được mời gọi vào dự tiệc cưới của Con Chiên, nơi niềm vui và sự hiệp thông sẽ tồn tại mãi mãi muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
