Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) 5 tháng 11 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR

5

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) 5 tháng 11 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR

TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
Thứ Năm, ngày 5 tháng 11 năm 2026
Tổng hợp và biên soạn: Lm. Anmai, CSsR

Thứ Năm tuần 31 Thường niên Chúng ta thuộc về Chúa – Lm. Anmai, CSsR

Thứ Năm tuần 31 về lòng thương xót của Đức Giêsu và sự biến đổi nội tâm – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN THỨ NĂM TUẦN XXXI MÙA THƯỜNG NIÊN
Xin tìm con và đưa con trở về
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con đến trước mặt Chúa với lòng biết ơn, vì Chúa vẫn đón tiếp những người tội lỗi và cho họ đến gần để nghe lời Người. Trong số những người cần được thương xót ấy có con. Có những điều con đã làm khiến lòng mình nặng trĩu, những lỗi lầm con vẫn tìm cách che giấu, những quyết tâm con đã nhiều lần bỏ dở. Xin cho con đủ tin tưởng để ở lại bên Chúa, đủ thành thật để nhận lỗi và đủ can đảm để bắt đầu lại. Xin giúp con nghe được tiếng Chúa giữa những lời tự trách, để con không tuyệt vọng về chính mình.
Lạy Chúa, có lúc con đi lạc mà không nhận ra. Con vẫn làm việc, vẫn gặp gỡ mọi người, vẫn chu toàn những sinh hoạt quen thuộc, nhưng lòng con ngày càng xa Chúa. Con ít cầu nguyện hơn, dễ nóng giận hơn, quen nói những lời thiếu bác ái và dần thờ ơ trước nỗi đau của người khác. Có lúc con biết mình đang sai nhưng cứ lần lữa, tự nhủ rồi sẽ sửa đổi. Xin Chúa tìm đến con trong những ngày ấy. Xin đánh thức lương tâm con bằng lời Chúa, bằng một lời góp ý chân thành, bằng sự kiên nhẫn của người thân và bằng những khoảng lặng giúp con nhìn lại đời mình.
Chúa đã nói đến người mục tử đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Xin cho con cảm nhận tình yêu bền bỉ ấy, nhất là khi con mệt mỏi vì những yếu đuối cứ lặp lại. Xin đừng để mặc cảm giữ con xa bí tích Hòa Giải. Xin giúp con bước đến, thú nhận tội lỗi, đón nhận ơn tha thứ và thực lòng sửa đổi. Khi nghĩ đến hình ảnh con chiên được vác trên vai, xin cho con biết phó thác sự mong manh của mình vào lòng thương xót Chúa. Xin nâng con lên để con có thể bước tiếp, sống ngay lành hơn và biết yêu thương hơn.
Lạy Chúa Giêsu, xin thắp đèn trong tâm hồn con như người phụ nữ thắp đèn tìm đồng bạc đã mất. Xin soi vào những góc khuất con ngại nhìn tới: một lòng ganh tị, một sự gian dối, một mối hận thù, một thói quen làm tổn thương người bên cạnh. Xin giúp con dọn lại đời mình, bỏ đi những điều đang làm con xa Chúa và xa anh chị em. Xin cho con kiên nhẫn với hành trình hoán cải, biết cầu nguyện mỗi ngày và trung thành với từng việc tốt nhỏ bé. Khi vấp ngã, xin cho con mau đứng dậy; khi tiến bộ, xin giữ con trong lòng khiêm nhường.
Xin tha thứ cho những lần con giống những người đang xầm xì trong bài Tin Mừng. Con đã dễ gọi người khác bằng lỗi lầm của họ, dễ nghi ngờ sự thay đổi của họ và có khi khiến họ ngại trở về cộng đoàn. Xin thanh luyện ánh mắt và lời nói của con. Xin giúp con nhớ rằng mỗi người đều quý giá trước mặt Chúa, đều có một câu chuyện cần được lắng nghe và đều cần đến lòng thương xót. Xin cho con biết đón nhận người muốn làm lại cuộc đời, biết nâng đỡ sự cố gắng của họ và biết vui khi họ tìm được đường về với Chúa.
Chúng con xin dâng lên Chúa những người đang xa rời đức tin, những người đã lâu không đến nhà thờ, những người mang tổn thương từ một cuộc gặp gỡ trong Hội Thánh. Xin cho họ gặp được người biết lắng nghe và đồng hành. Xin thương những người đang bị ràng buộc bởi nghiện ngập, những người mất phương hướng và những người âm thầm nghĩ rằng mình chẳng còn đáng được yêu thương. Xin mở cho họ một lối đi, ban cho họ sự trợ giúp cần thiết và sức mạnh để đón nhận sự trợ giúp ấy. Xin dùng chúng con để đem đến một lời hỏi thăm, một bàn tay nâng đỡ và một sự hiện diện chân thành.
Lạy Chúa, xin gìn giữ những gia đình đang chờ một người thân trở về. Xin nâng đỡ cha mẹ lo lắng vì con cái, những người vợ, người chồng đang đau buồn vì sự xa cách. Xin ban cho họ sự khôn ngoan để yêu thương, biết nói lời cần nói và biết tìm người trợ giúp khi cần. Xin cho mái nhà của họ có chỗ cho sự thật, lời xin lỗi và những bước sửa đổi cụ thể. Xin giúp mọi người cùng nhau chữa lành những tổn thương, để niềm vui đoàn tụ được lớn lên trong sự tin tưởng và trách nhiệm.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết đem niềm vui được tha thứ vào ngày sống hôm nay. Xin cho con dịu dàng hơn với người yếu đuối, quảng đại hơn với người cần giúp đỡ và chân thành hơn trong bổn phận của mình. Con xin trao vào tay Chúa cả những bước chân còn chậm và trái tim còn nhiều thiếu sót. Xin tiếp tục tìm con, dẫn con và gìn giữ con trong tình yêu Chúa, để cuộc đời con trở thành một lời tạ ơn vì đã được thương xót và được đưa về. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Ca nhập lễ
Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng tôi, xin đừng bỏ rơi tôi, và xin đừng lìa xa tôi. Lạy Chúa là quền lực phần rỗi tôi, xin phù giúp tôi.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, chỉ nhờ Chúa ban ơn, các tín hữu Chúa mới có thể thờ Chúa cho phải đạo, xin giúp đỡ chúng con thẳng tiến về cõi trời Chúa hứa và không bị vấp ngã trên đường. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc: Pl 3, 3-8
“Những điều xưa kia được kể là lợi ích cho tôi, thì nay tôi coi là bất lợi vì Ðức Kitô”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, chính chúng ta là những người chịu cắt bì, chúng ta phụng thờ Thiên Chúa theo thần trí, và khoe mình trong Ðức Giêsu Kitô, chứ không tin tưởng vào xác thịt, mặc dầu chính tôi cũng có thể ỷ lại vào xác thịt. Nếu có ai khác nghĩ mình có lý để ỷ lại vào xác thịt, thì tôi còn có lý hơn: tôi đã chịu cắt bì từ ngày thứ tám, là người chủng tộc Israel, thuộc chi họ Bengiamin, là người Do-thái sinh bởi người Do-thái, là người biệt phái chiếu theo lề luật. Bởi lòng đạo đức nhiệt thành, tôi đã bách hại Hội Thánh Thiên Chúa, chiếu theo đức công chính do lề luật công bố, tôi được coi là người không có gì đáng trách.
Nhưng những điều xưa kia được kể là ích lợi cho tôi, thì nay vì Ðức Kitô tôi coi là bất lợi. Vả lại tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Ðức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Ðức Kitô.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 104, 2-3. 4-5. 6-7
Ðáp: Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui (c. 3b).
Xướng: Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Người, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa.
Xướng: Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ và những điều Ngài phán quyết.
Xướng: Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu. .
Alleluia: 2 Cr 5, 19
Alleluia, alleluia! – Thiên Chúa ở trong Ðức Kitô đã giải hoà thế gian, để chúng ta nghe lời của Con Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 15, 1-10
“Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng”. Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: “Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: “Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!” Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.
“Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: “Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất”. Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.

CHÚNG TA THUỘC VỀ CHÚA
Kính thưa quý cộng đoàn, trong hành trình đức tin Kitô giáo, một trong những chân lý nền tảng, sâu sắc và đầy quyền năng biến đổi cuộc đời chúng ta chính là ý thức thuộc về Thiên Chúa. Đứng trước những ba đào, thăng trầm, thử thách cũng như những cám dỗ của thế gian, tâm hồn con người thường dễ chao đảo, rơi vào cảm giác cô đơn, lạc lõng, hoặc lầm tưởng rằng mình phải tự xoay xở, tự định đoạt số phận trong một vũ trụ vô cảm. Thế nhưng, Lời Chúa luôn vang lên để đánh thức, an ủi và định hướng chúng ta trở về với bản chất thật sự của mình. Sứ điệp cứu độ khẳng định một cách hùng hồn rằng chúng ta không sống cho chính mình và cũng chẳng ai chết cho chính mình, nhưng dù sống hay dù chết, chúng ta đều thuộc về Chúa.
Sự thuộc về này không phải là một thứ ràng buộc pháp lý lạnh lùng, hay một sự lệ thuộc ép buộc của chế độ nô lệ thời cổ đại, mà là mối tình hiệp thông sâu thẳm xuất phát từ tình yêu hiến tế của Đức Giêsu Kitô. Ngài đã chịu chết và đã sống lại chính là để làm Chúa trên cả kẻ sống lẫn người chết. Việc nhận ra mình thuộc về Chúa mang lại một cuộc cách mạng nội tâm toàn diện trong cách chúng ta nhìn nhận bản thân, nhìn nhận tha nhân và nhìn nhận mọi biến cố xảy ra trong cuộc đời hằng ngày. Khi ý thức rằng từng nhịp đập con tim, từng hơi thở, từng khả năng và từng phút giây cuộc sống đều là của Chúa, chúng ta không còn sống ích kỷ, khép kín trong cái tôi hẹp hòi, mà mở rộng cõi lòng để cho ân sủng Ngài dẫn dắt.
Xét lại thực tế đời sống thiêng liêng, nguyên nhân sâu xa của mọi bất an, lo âu, thất vọng và tội lỗi trong con người chính là ảo tưởng tự trị – ảo tưởng cho rằng mình là chủ nhân ông tuyệt đối của cuộc đời mình. Con người hiện đại thường tung hô tinh thần tự do tuyệt đối, xem cái tôi là trung tâm và tôn thờ sự độc lập khỏi mọi quyền năng siêu việt. Tuy nhiên, sự tự do giả tạo ấy không mang lại hạnh phúc đích thực, mà trái lại, biến con người thành nô lệ cho những ngẫu tượng trần gian như tiền tài, danh vọng, lạc thú và quyền lực. Khi không biết mình thuộc về ai, con người dễ trở nên hoang mang trước những khủng hoảng, gục ngã trước những đau khổ và căm phẫn trước những bất công.
Ngược lại, khi bước vào ánh sáng của chân lý Tin Mừng, chúng ta khám phá ra phẩm giá cao cả nhất của mình. Trở thành của Chúa có nghĩa là chúng ta được yêu thương bằng một tình yêu đời đời, được cứu chuộc bằng giá máu vô giá của Con Thiên Chúa, và được chăm sóc bởi người Mục Tử nhân lành luôn biết rõ tên từng con chiên của mình. Sự thuộc về này giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng phải tự cứu lấy mình, khỏi áp lực phải chứng tỏ giá trị bản thân trước một thế giới đầy cạnh tranh và phán xét. Chúng ta được mời gọi phó thác hoàn toàn cuộc đời mình vào đôi bàn tay quan phòng đầy quyền năng và từ ái của Ngài.
Trong chiều kích luân lý và đạo đức Kitô giáo, chân lý chúng ta thuộc về Chúa chi phối toàn bộ lối hành xử của chúng ta đối với anh chị em đồng loại. Thánh Phaolô từng đưa ra những chất vấn rất sắc bén về việc tại sao chúng ta lại dám xét đoán, khinh miệt hay gây tổn thương cho anh chị em mình. Những người xung quanh chúng ta, dù là người thân yêu trong gia đình, người cộng sự nơi công sở, hay thậm chí là những kẻ khó ưa hoặc đối thủ, tất cả đều mang trong mình phẩm giá cao quý là thuộc về Thiên Chúa. Khi chúng ta phán xét gay gắt, chà đạp hay loại trừ người khác, chúng ta đang xâm phạm vào quyền sở hữu chí thánh của Thiên Chúa. Nhận thức rằng tha nhân cũng là tạo vật được Chúa Kitô yêu thương đến mức chịu chết trên thập giá sẽ giúp chúng ta thay đổi cái nhìn: từ cái nhìn phán xét, cay đắng sang cái nhìn bao dung, cảm thông và kính trọng.
Hơn thế nữa, việc thuộc về Chúa còn định hình cách chúng ta đối diện với những đau khổ và sự chết. Trong cuộc sống trần thế, không ai tránh khỏi những lúc bệnh tật, tang tóc, thất bại và những mất mát đớn đau. Đối với người không có đức tin, cái chết là dấu chấm hết tuyệt vọng, là sự tiêu vong hoàn toàn của mọi hy vọng và nỗ lực. Nhưng đối với người Kitô hữu, vì chúng ta thuộc về Chúa trong cả sự sống lẫn cái chết, nên đau khổ và sự chết không còn là ngõ cụt. Chúng ta bước đi qua thung lũng bóng tối với niềm hy vọng vững vàng rằng Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng tử thần, mở toang cửa thiên đàng và chuẩn bị cho chúng ta một chỗ nghỉ ngơi đời đời trong tình yêu của Ngài. Mọi hy sinh, gian khổ, mọi giọt nước mắt thầm lặng trong đời sống hằng ngày, khi được hiệp thông với sự hy sinh của Chúa Kitô, đều trở thành những viên gạch xây dựng Nước Trời và mang lại ơn cứu độ cho các linh hồn.
Để sống trọn vẹn ơn gọi thuộc về Chúa, chúng ta cần phải thực hiện một cuộc canh tân nội tâm sâu sắc qua đời sống cầu nguyện và kết hợp mật thiết với Ngài. Cầu nguyện không đơn thuần là đọc lên những công thức hay xin xắn ơn huệ vật chất, mà là không gian gặp gỡ biến đổi, nơi chúng ta nhắc nhở bản thân mỗi ngày rằng: “Lạy Chúa, con là của Chúa, xin hãy làm theo ý Chúa”. Trong sự thinh lặng của tâm hồn, chúng ta để cho Chúa thanh luyện những ý hướng lệch lạc, tháo cởi những xiềng xích ích kỷ và lấp đầy tâm hồn chúng ta bằng bình an đích thực. Một người thuộc về Chúa sẽ luôn tìm cách chu toàn bổn phận thường ngày của mình một cách hoàn hảo nhất, không phải để thu vén vinh quang cho bản thân, mà để tôn vinh danh Chúa trong từng việc nhỏ nhặt nhất.
Thêm vào đó, việc thuộc về Chúa đòi hỏi chúng ta phải sống chứng tá giữa lòng thế giới tục hóa. Thế giới hôm nay đang rất cần những chứng nhân sống động cho tình yêu và quyền làm chủ của Thiên Chúa. Khi chứng kiến một người Kitô hữu đối diện với nghịch cảnh bằng sự điềm tĩnh và phó thác, khi thấy họ tha thiết yêu thương kẻ thù và quảng đại sẻ chia với người nghèo khổ, những người chung quanh sẽ nhận ra rằng cuộc đời này còn có một chiều kích cao cả hơn là cơm áo gạo tiền. Sống làm môn đệ Chúa giữa đời nghĩa là chúng ta dám lội ngược dòng trước những trào lưu hưởng thụ, ích kỷ và bạo lực của xã hội đương thời, để trở nên những nhịp cầu nối kết tình huynh đệ và mang hơi ấm tình yêu Thiên Chúa đến cho những ai đang lạnh giá, cô đơn.
Nhìn lại lịch sử cứu độ và truyền thống của Hội Thánh, chúng ta thấy biết bao các thánh nam nữ đã minh chứng cho chân lý này bằng cả cuộc đời và máu của các ngài. Các ngài đã hiểu rằng không có sự mất mát nào lớn lao hơn là đánh mất ơn nghĩa cùng Thiên Chúa, và cũng không có sự giàu có nào sánh kịp bằng việc được làm con cái Ngài. Từ các vị tử đạo kiên trung không tiếc mạng sống vì danh Chúa, cho đến các thánh tông đồ miệt mài ra đi loan báo Tin Mừng, hay những vị thánh âm thầm phục vụ trong các tu viện và gia đình, tất cả đều chung một nhịp đập con tim hướng về Đấng tối cao. Gương sáng của các ngài soi rọi cho chúng ta con đường phải bước đi: con đường của sự từ bỏ ý riêng để trọn vẹn vâng theo thánh ý Chúa.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại với muôn vàn cám dỗ phân rã gia đình và cộng đoàn, lời nhắc nhở rằng chúng ta thuộc về Chúa càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Gia đình chúng ta không phải là tài sản riêng biệt để muốn hành xử thế nào thì hành xử, mà là gia đình của Chúa, nơi tình yêu hiệp thông được phản chiếu từ mầu nhiệm Ba Ngôi. Các bậc làm cha mẹ có trách nhiệm giáo dục con cái không chỉ để thành tài theo tiêu chuẩn xã hội, mà quan trọng hơn là để các em biết mình thuộc về ai và có cứu cánh đời đời là gì. Khi các gia đình đặt Thiên Chúa làm trung tâm, những xung đột sẽ được hóa giải, lòng bao dung sẽ chiến thắng sự giận hờn, và ánh sáng hy vọng sẽ chiếu soi những góc khuất tăm tối nhất của cuộc đời gia đình.
Chúng ta cũng hãy nhớ đến những người đang phải chịu đựng đau khổ bệnh tật, những người cảm thấy bị bỏ rơi ở bên lề xã hội, hay những ai đang chiến đấu với bóng tối của sự tuyệt vọng. Chính trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, tiếng gọi dịu dàng của Chúa vẫn vang lên trong sâu thẳm tâm hồn: “Con đừng sợ, vì Ta đã chuộc con, Ta đã gọi tên con, con là của Ta”. Niềm xác tín này là chiếc mỏ neo vững chắc giữ tâm hồn chúng ta không bị cuốn phăng đi trong những cơn lốc cuồng nộ của cuộc đời. Dù thế giới có thay đổi, dù vạn vật có suy tàn, tình yêu và quyền cai quản của Thiên Chúa vẫn muôn đời tồn tại vững bền.
Giờ đây, khi quy tụ bên bàn tiệc Thánh Thể, nơi Chúa Giêsu hiến mình làm lương thực nuôi dưỡng chúng ta, chúng ta được mời gọi canh tân lời cam kết thuộc về Ngài. Mỗi khi Rước lễ, chúng ta không chỉ rước Chúa vào lòng mà còn để cho Chúa biến đổi chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng và ban ơn trợ giúp, để từng lời nói, suy nghĩ, hành động và cả cuộc đời chúng ta thực sự trở thành bài ca chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa. Ước gì qua đời sống hằng ngày của chúng ta, mọi người xung quanh nhận ra rằng chúng ta mang dòng máu và nhịp đập của Nước Trời, để rồi tất cả cùng chung tay xây dựng một thế giới tràn ngập tình yêu thương, công lý và bình an.
Nguyện xin Thiên Chúa, Đấng là chủ tể sự sống và cái chết, chúc lành cho quyết tâm của mỗi người chúng ta. Xin cho dù chúng ta đang ở trong niềm vui hay nỗi buồn, lúc thuận lợi hay lúc khó khăn, chúng ta vẫn luôn giữ vững niềm xác tín kiên định rằng chúng ta là của Chúa, bây giờ và mãi mãi cho đến muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
LÒNG THƯƠNG XÓT TỆP GIÊN-XU VÀ SỰ BIẾN ĐỔI NỘI TÂM TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Hành trình đức tin của người môn đệ Đức Giêsu Kitô chưa bao giờ là một con đường bằng phẳng, tẻ nhạt hay khép kín trong những khuôn sáo ngột ngạt của lề luật hình thức. Trái lại, đó là một cuộc phiêu lưu tâm linh đầy mãnh liệt, nơi tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa liên tục thách đố, đảo lộn và tái thiết mọi chuẩn mực nhân loại. Khi nhìn ngắm dung nhan Thiên Chúa được mạc khải trọn vẹn nơi Đức Giêsu Nadarét, chúng ta không khỏi bàng hoàng trước một phong cách sống, một sứ mạng và một thái độ hoàn toàn nghịch đảo với logic trần thế. Nơi Đức Giêsu, sự thánh thiện không đồng nghĩa với việc xa lánh, thanh tẩy cực đoan hay tự cô lập mình trong những tháp ngà của sự tự mãn đạo đức. Sự thánh thiện đích thực chính là tấm lòng tràn đầy thương xót, dám bước xuống bùn nhơ của trần gian, dám chạm đến những vết thương rỉ máu của nhân loại tội lỗi để ôm ấp, chữa lành và nâng họ chỗi dậy. Sự tương phản giữa hai thái độ sống – một bên là sự khép kín, kiêu ngạo, câu nệ lề luật của nhóm Pharisêu và các kinh sư, và bên kia là tình yêu bao dung, cứu độ, tìm kiếm những gì bị mất của Đức Giêsu – mở ra cho chúng ta một chân trời suy tư sâu sắc về bản chất của ơn gọi Kitô hữu, về chiều kích đích thực của lòng sùng mộ và về sứ mạng loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay.
Để thấu hiểu sâu xa mầu nhiệm này, chúng ta cần quay về với khung cảnh Tin Mừng quen thuộc nhưng đầy sức chấn động, nơi những người thu thuế và tội lỗi lũ lượt kéo đến để lắng nghe Đức Giêsu. Trong xã hội Do Thái thời bấy giờ, thu thuế không chỉ đơn thuần là một nghề nghiệp mang tính kinh tế, mà còn là biểu tượng của sự phản bội và ô uế. Họ là những kẻ tay sai cho đế quốc Rôma áp bức đồng bào, vơ vét của cải và sống ngoài lề các chuẩn mực đạo đức tôn giáo chính thống. Sống chung quanh họ là những thành phần bị xã hội ruồng bỏ, những kẻ tội lỗi công khai. Đối với một rabbi, một bậc thầy tôn giáo hay một người tự nhận là đạo đức, việc giữ khoảng cách với những thành phần này là điều hiển nhiên, thậm chí là quy luật bất di bất dịch để bảo vệ sự tinh sạch của bản thân. Thế nhưng, Đức Giêsu lại hành động ngược lại hoàn toàn. Ngài không những không xua đuổi, không lên án, mà còn mở rộng vòng tay đón nhận họ, hòa mình vào cuộc sống của họ, và đỉnh điểm là ngồi vào bàn ăn chung với họ. Trong văn hóa Cận Đông cổ đại, bàn ăn là nơi biểu thị sự hiệp thông sâu sắc nhất, là dấu hiệu của sự chấp nhận, tình bằng hữu và sự chia sẻ sự sống. Việc Đức Giêsu ăn uống với những kẻ tội lỗi không chỉ là một hành vi xã hội táo bạo, mà còn là một tuyên ngôn thần học chói ngời về triều đại Thiên Chúa: Thiên Chúa không đến để kêu gọi những người công chính, nhưng là để tìm kiếm và cứu vớt những ai đang lầm đường lạc lối.
Phản ứng của nhóm Pharisêu và các kinh sư trước thái độ của Đức Giêsu là một tiếng lầm bầm đầy khinh miệt và phẫn nộ. Họ không thể chấp nhận được việc một vị thầy tôn giáo lại hạ mình giao du với những kẻ bất xứng. Họ nói với giọng điệu đầy miệt thị: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đối với họ, sự thanh sạch tôn giáo được xây dựng trên nguyên tắc loại trừ. Họ tin rằng để giữ mình không bị vấy bẩn, người ta phải cắt đứt mọi mối dây liên hệ với cái ác, với sự ô uế và với những kẻ vi phạm lề luật. Tôn giáo của họ là một hệ thống các hàng rào ngăn cách, các tiêu chuẩn khắt khe và sự tự biện minh cho bản thân. Họ nhìn người khác qua lăng kính phán xét, chia cắt thế giới thành hai nửa rõ rệt: người công chính thuộc về ơn cứu độ và phường tội lỗi đáng bị nguyền rủa. Sự kiêu ngạo thiêng liêng này làm cho tâm hồn họ trở nên chai cứng, mù lòa trước tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Họ tưởng rằng mình đang đứng ở phía bên kia chiến tuyến, nắm giữ chân lý và sự trọn lành, nhưng thực chất họ đang tự giam hãm mình trong ngục tù của sự ích kỷ và lòng dạ hẹp hòi. Họ quên mất rằng trước mặt Thiên Chúa, ai cũng là kẻ thiếu thốn ơn sủng, ai cũng cần đến lòng xót thương và sự tha thứ.
Trước thái độ chỉ trích và lòng dạ khép kín của nhóm Pharisêu, Đức Giêsu đã không đáp trả bằng những lời lẽ cay cú hay tranh chấp hơn thua, nhưng Ngài dùng những dụ ngôn tuyệt đẹp để mở rộng tầm nhìn của họ, để chạm đến chiều sâu tâm hồn họ và để mạc khải tâm tư đích thực của Thiên Chúa. Ngài kể về người mục tử có một trăm con chiên mà mất đi một con. Một người mục tử chân chính, người chủ tận tụy với đàn vật của mình, sẽ không đứng yên đếm đếm tính toán xem chín mươi chín con còn lại ở trong ràn an toàn là đủ rồi. Chín mươi chín con chiên ấy rất quan trọng, nhưng sự an toàn của chúng không làm cho mục tử quên đi nỗi đau xót và sự mất mát của con chiên đơn độc đang bơ vơ giữa chốn hoang địa hiểm nguy. Ngài bỏ lại chín mươi chín con nơi đồng cỏ để lên đường tìm kiếm con chiên lạc cho bằng được. Hình ảnh người mục tử kiên nhẫn cất bước giữa đồi hoang, lội suối băng ngàn, tìm kiếm trong đêm tối mịt mùng cho đến khi nhìn thấy con chiên đang run rẩy, rồi hoan hỉ đặt nó lên vai mình mang về, là một bức tranh tuyệt mỹ về tình yêu Thiên Chúa. Đó không phải là một thứ tình yêu thụ động ngồi chờ người ta quay về, mà là một tình yêu năng động, dấn thân, bất chấp hiểm nguy và nhọc nhằn để đi tìm kiếm con người.
Điều kỳ diệu hơn nữa là khi tìm thấy con chiên lạc, người mục tử không hề trách mắng, không hề quất roi trừng phạt vì tội dám bỏ bầy đi lang thang, mà ngược lại, ngài đặt nó lên vai mình – nơi gần với trái tim nhất, nơi an toàn và ấm áp nhất – và vác nó trở về nhà với niềm vui tràn trề. Niềm vui ấy lớn đến mức người mục tử phải gọi bạn bè và hàng xóm láng giềng lại để cùng chung vui, hô lên rằng: “Hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên bị mất của tôi.” Đức Giêsu kết luận dụ ngôn bằng một chân lý làm rung chuyển tận gốc rễ hệ thống đạo đức hình thức: “Tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối.” Câu nói này không có ý ca ngợi những kẻ sống tệ bạc hay chê bai những ai cố gắng sống tốt, nhưng nó mang một tầng ý nghĩa sâu xa mang tính mỉa mai thánh thiện và cảnh tỉnh. Những kẻ tự cho mình là công chính, không cần sám hối thực chất là những kẻ đang rơi vào ảo tưởng nguy hiểm nhất của đời sống tâm linh: ảo tưởng về sự tự mãn, tưởng rằng mình không cần ơn cứu độ, không cần biến đổi và không cần đến Thiên Chúa. Sự tự mãn đó làm chết ngạt lòng khao khát ơn thánh trong tâm hồn họ.
Không dừng lại ở dụ ngôn người mục tử, Đức Giêsu tiếp tục kể câu chuyện về người phụ nữ mất một đồng bạc trong tổng số mười đồng. Mười đồng bạc drachma đối với một người phụ nữ nghèo khổ thời bấy giờ không chỉ là một khoản tiền mua sắm tầm thường, mà có lẽ đó là gia tài quý giá nhất, là vốn liếng sinh kế hoặc thậm chí là kỷ vật quan trọng của gia đình. Khi mất đi một đồng, bà không đành lòng bỏ qua với suy nghĩ “vẫn còn chín đồng kia mà”. Ngược lại, ngôi nhà của người nghèo thời đó thường tối tăm, nền đất nện gồ ghề và không có cửa sổ lớn. Mất một đồng bạc giữa khung cảnh ấy chẳng khác nào mò kim đáy bể. Thế nhưng, người phụ nữ đã thắp đèn lên, quét sạch nhà cửa, và miệt mài tìm kiếm từng ngóc ngách, từng viên sỏi cho đến khi tìm thấy mới thôi. Và khi đã tìm lại được đồng tiền tưởng chừng như vĩnh viễn mất đi ấy, bà cũng gọi bạn bè láng giềng đến để cùng chúc mừng: “Hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy đồng bạc tôi đã mất.” Đức Giêsu một lần nữa khẳng định rằng: “Trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa, sẽ có niềm vui như thế vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
Những dụ ngôn này không chỉ là những câu chuyện kể hay ho mang tính giáo huấn luân lý hời hợt, mà chúng là chiếc gương soi thấu tâm can của mỗi người chúng ta trong hành trình theo Chúa. Khi đối chiếu bản thân với thái độ của nhóm Pharisêu và thái độ của Đức Giêsu, chúng ta nhận ra biết bao nhiêu điều cần phải hoán cải. Trong đời sống đạo hằng ngày, không ít lần chúng ta vô tình hay hữu ý mang tâm tình của người Pharisêu. Chúng ta thích trú ngụ trong những vòng tròn an toàn của những người “đạo đức”, những hội đoàn quen thuộc, những người có cùng quan điểm, cùng mức sống và cùng truyền thống với chúng ta. Chúng ta dễ dàng xây dựng những bức tường thành cao ngất để ngăn cách mình với thế giới bên ngoài – một thế giới mà chúng ta cho là ô uế, vô luân, đầy rẫy cạm bẫy và tội lỗi. Chúng ta thích chỉ trích, phán xét những ai không sống theo chuẩn mực của chúng ta, những ai vấp ngã trong đời sống hôn nhân, những người trẻ lầm đường lạc lối, hay những mảnh đời sống bên lề xã hội. Chúng ta quen với sự ấm cúng của ràn chiên an toàn đến mức quên mất tiếng kêu gào thảm thiết của những con chiên đang lạc loài giữa đêm đen hoang địa cuộc đời.
Sự nguy hiểm lớn nhất của đời sống Kitô hữu hình thức chính là sự thỏa thuê trong sự lành giả tạo. Chúng ta đi lễ đều đặn, đọc kinh râm ran, đóng góp việc bác ái trong phạm vi an toàn, nhưng trái tim lại lạnh lùng, dửng dưng trước nỗi đau đồng loại. Chúng ta sợ bị vấy bẩn bởi môi trường trần tục đến mức không dám bước chân ra khỏi vùng an toàn để mang hơi ấm tình thương của Chúa đến cho những ai đang rét mướt trong tội lỗi và tuyệt vọng. Trái ngược hoàn toàn với thái độ ấy, Đức Giêsu dạy chúng ta rằng ơn gọi của người môn đệ đích thực không phải là ngồi trong đền thờ tự vỗ ngực xưng tên ta đây là kẻ công chính, nhưng là ra đi, là bước xuống, là dấn thân vào những nơi tăm tối nhất của cuộc đời. Ngài không sợ bị ô uế bởi vì tình yêu và sự thánh thiện của Ngài mạnh hơn mọi thứ nhơ nhớp của trần gian. Ngài đến tiếp xúc với người thu thuế, ăn uống với phường tội lỗi không phải để đồng hóa với lối sống xấu xa của họ, mà là để cảm hóa họ bằng thứ tình yêu dịu dàng, nhẫn nại và đầy quyền năng biến đổi.
Bài học đặt ra cho Giáo hội hôm nay, cho mỗi cộng đoàn giáo xứ, mỗi gia đình và từng cá nhân Kitô hữu chúng ta là vô cùng cấp bách. Một Hội Thánh sống động không phải là một viện bảo tàng dành cho những vị thánh hoàn hảo, mà là một bệnh xá dã chiến dành cho những tâm hồn đang bị thương tích dọc theo các nẻo đường trần gian. Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng nhiều lần nhắc nhở chúng ta về hình ảnh một “Hội Thánh đi ra”, một Hội Thánh có mùi của chiên, sẵn sàng lấm lem bùn đất của đường phố thay vì ngồi lì trong những căn phòng máy lạnh tiện nghi để phán xét thế gian. Việc giữ gìn sự tinh tuyền giáo lý và đời sống luân lý là điều quan trọng, nhưng sự tinh tuyền ấy sẽ trở thành vô nghĩa, thậm chí trở thành sự giả hình đáng ghét, nếu nó thiếu vắng lòng trắc ẩn và sự dấn thân cứu vớt tha nhân. Chúa không tìm kiếm những con người tự mãn vỗ ngực tự hào vì chưa từng phạm lỗi nặng nề; Ngài tìm kiếm những tấm lòng biết khiêm tốn nhận ra sự bất toàn của mình và sẵn sàng mở rộng đôi tay để đón nhận, tha thứ cho anh chị em xung quanh.
Quá trình hoán cải nội tâm đòi hỏi chúng ta phải thực hiện một cuộc lột xác triệt để trong cách nhìn và cách hành xử. Trước hết, chúng ta phải thay đổi cái nhìn về tội nhân và những người sống xa lìa Thiên Chúa. Thay vì nhìn họ với ánh mắt khinh miệt, kết án hay xa lánh, chúng ta phải học cách nhìn bằng con mắt của Đức Giêsu – con mắt của tình thương xót và niềm hy vọng. Mỗi con người lầm lạc đều là một hình ảnh của Thiên Chúa bị lu mờ, là một người con đang bị thất lạc cần được tìm thấy, là một đồng bạc quý giá đang nằm dưới đống rác rưởi của cuộc đời chờ bàn tay nâng niu quét dọn. Khi nhìn tha nhân như thế, chúng ta sẽ không còn cảm thấy tức giận hay khó chịu trước sự thành công hay sự trở về của những người mà chúng ta cho là không xứng đáng. Thay vào đó, trái tim chúng ta sẽ tràn ngập niềm vui tột độ giống như người mục tử và người phụ nữ trong dụ ngôn, biết hân hoan ca tụng ơn thánh Chúa hoạt động nơi những mảnh đời bất hạnh.
Hơn thế nữa, bước theo Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta phải có sự can đảm để dấn thân vào những vùng biên cương của cuộc sống. Vùng biên cương ấy có thể nằm ngay trong chính gia đình chúng ta, nơi có những người thân đang nguội lạnh đức tin, những đứa con đang trượt dài trong cạm bẫy xã hội, hay những mối rạn nứt tưởng chừng không thể hàn gắn. Vùng biên cương ấy có thể xuất hiện nơi công sở, trường học hay cộng đoàn, nơi có những con người đang bị cô lập, bị thương tổn vì những định kiến, hiểu lầm và cay đắng. Thay vì né tránh họ để giữ gìn “sự bình an giả tạo” cho riêng mình, người Kitô hữu được mời gọi trở thành nhịp cầu nối kết, là hiện thân của lòng nhân ái Thiên Chúa. Sẵn sàng lắng nghe mà không phán xét, sẵn sàng tha thứ mà không đòi hỏi đền bù, và sẵn sàng chia sẻ hơi ấm tình người với những ai đang lạnh giá cô đơn – đó chính là cách chúng ta thực hiện sứ mạng ngôn sứ giữa lòng thế giới đương đại.
Sự biến đổi nội tâm này cũng đụng chạm sâu sắc đến thái độ của chúng ta đối với chính bản thân mình. Nhiều khi chúng ta rơi vào cạm bẫy tinh thần của người Pharisêu ngay trong đời sống cầu nguyện và tu đức cá nhân. Chúng ta cậy dựa vào việc mình giữ luật nghiêm ngặt, đọc nhiều kinh nguyện, làm nhiều việc đạo đức để tự mãn, để tự phong cho mình chức vị “công chính” và nhìn xuống những người yếu đuối khác với thái độ trịch thượng. Mùa chay hay những giờ phút tĩnh tâm không chỉ để chúng ta đếm xem mình đã làm được bao nhiêu việc tốt, mà cốt yếu là để chúng ta quỳ gối trước nhan Thánh Chúa, đấm ngực ăn năn vì nhận ra mình cũng chỉ là những kẻ tội lỗi khốn cùng được ơn cứu độ xót thương. Khi ý thức sâu sắc rằng tất cả những gì chúng ta có đều là hồng ân, rằng sự thánh thiện của chúng ta không phải là công trạng tự tạo ra mà là chiếc áo choàng trắng tinh mà Thiên Chúa ân huệ ban tặng qua lòng thương xót, thì chúng ta mới có thể nhìn anh chị em mình bằng sự khiêm nhường, thấu cảm và bao dung chân thành.
Lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ là sự dung túng cho tội lỗi, nhưng là nguồn năng lượng biến đổi mạnh mẽ nhất làm cho tội nhân từ bỏ con đường tối tăm để trở về với ánh sáng. Đức Giêsu không bao giờ nói với người phụ nữ ngoại tình hay ông Dakêô rằng: “Cứ tiếp tục sống như thế đi, không sao cả.” Ngài đón nhận họ với tất cả tình yêu thương vô điều kiện để từ chính tình yêu ấy, họ tìm thấy phẩm giá cao quý của mình, cảm thấy xấu hổ trước những sai trái cũ và tự nguyện canh tân đời sống. Tình yêu đi trước sự biến đổi; sự tha thứ mở đường cho sự sám hối chân thành. Nếu chúng ta muốn giúp ích cho những người lầm đường lạc lối, chúng ta không thể dùng gậy gộc của sự lên án hay những lời phán xét cay độc để đập vào đầu họ. Cách duy nhất chạm đến trái tim con người là làm cho họ cảm nghiệm được rằng họ vẫn được yêu thương, vẫn có giá trị và vẫn có chỗ đứng trong trái tim của Thiên Chúa cũng như trong cộng đoàn Hội Thánh.
Khi suy ngẫm về hình ảnh người mục tử vác con chiên lạc trên vai, chúng ta cũng được mời gọi trở thành những “người vác chiên” cho nhau trong cuộc sống thường nhật. Cuộc đời này có biết bao nhiêu người đang mang trên vai những gánh nặng quá sức chịu đựng: gánh nặng của bệnh tật đau khổ, gánh nặng của thất vọng chán chường, gánh nặng của nợ nần túng quẫn và nhất là gánh nặng của tội lỗi, sự cô độc, bị bỏ rơi. Là chi thể trong Nhiệm Thể của Đức Kitô, chúng ta không thể dửng dưng đi ngang qua những con người đang nằm gục bên vệ đường cuộc sống như tư tế hay thầy Lê-vi trong dụ ngôn người Samari nhân hậu. Chúng ta phải dừng lại, cúi xuống, băng bó vết thương và sẵn sàng san sẻ gánh nặng với họ. Mang lấy gánh nặng cho nhau chính là chu toàn luật của Đức Kitô, là thực thi lòng thương xót thiết thực nhất trong đời sống đức tin hằng ngày.
Sứ điệp về lòng thương xót và sự hoán cải này cũng là nguồn mạch của niềm hy vọng lớn lao cho mỗi người chúng ta. Dù quá khứ của chúng ta có ra sao, dù những vấp ngã, yếu đuối và tội lỗi của chúng ta có nặng nề đến đâu, chúng ta đừng bao giờ tuyệt vọng hay buông xuôi nghĩ rằng mình đã bị Thiên Chúa bỏ rơi. Thiên Chúa của Tin Mừng không phải là vị thẩm phán nghiêm khắc chỉ chực chờ giáng họa trên những kẻ lầm lỡ, mà là người Mục Tử nhân hậu đang ngày đêm rảo bước qua mọi nẻo đường hoang vu để tìm kiếm chúng ta. Ngài không mỏi mệt vì sự yếu đuối của chúng ta; trái lại, sự cùng đường và khốn khổ của chúng ta lại là nơi lòng thương xót của Ngài tỏa sáng rực rỡ nhất. Chỉ cần chúng ta có một chút thiện chí nhỏ bé để hé mở cõi lòng, để cho phép mình được ngài tìm thấy, thì ngay lập tức, cả triều thần thiên quốc sẽ vỡ oà trong niềm hoan hỉ vì một người con đã chết nay lại được sống, một người đã lạc mất nay đã tìm thấy.
Trong thế giới hôm nay, một thế giới đang bị xé nát bởi bạo lực, hận thù, sự chia rẽ và lòng ích kỷ cá nhân, sứ điệp về lòng thương xót của Đức Giêsu lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Con người thời đại đang khao khát tình yêu chân thực, khao khát được lắng nghe, được tha thứ và được chấp nhận hơn là những bài thuyết giáo đạo đức khô khan hay những bản án luân lý nặng nề. Hội Thánh được sai đi vào lòng thế giới này không phải để lên án trần gian, nhưng để trở thành bí tích cứu độ, là cánh tay vươn dài của lòng thương xót Chúa đến với mọi tâm hồn đang đau khổ. Mỗi Kitô hữu chúng ta chính là hiện thân của lòng thương xót ấy. Khi chúng ta biết tha thiết cầu nguyện cho những kẻ lăng mạ mình, khi chúng ta biết kiên nhẫn cảm thông với những người yếu đuối, khi chúng ta dám mở rộng cửa nhà và trái tim để đón nhận những mảnh đời bất hạnh, thì lúc ấy chúng ta đang làm cho Tin Mừng trở thành hiện thực sống động ngay giữa lòng trần thế.
Ước gì qua những suy tư này, ánh sáng của Lời Chúa soi rọi vào những ngóc ngách tăm tối nhất trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Xin cho chúng ta ơn can đảm để từ bỏ tinh thần Pharisêu kiêu ngạo, tự phụ và khép kín, để mặc lấy tâm tình khiêm tốn, bao dung và đầy trắc ẩn của Đức Giêsu Mục Tử nhân lành. Xin cho chúng ta biết hân hoan khi nhìn thấy anh chị em mình được ơn hoán cải, biết dấn thân không mệt mỏi để tìm kiếm những con chiên đang lạc loài, và biết sống trọn vẹn từng ngày trong niềm vui tràn ngập của những người đã được ơn tha thứ. Để rồi cuối cùng, khi hành trình dương thế khép lại, chúng ta được Chúa dang tay chào đón vào nhà Cha với niềm hân hoan khôn tả, nơi lòng xót thương vô biên của Ngài ôm ấp chúng ta trong sự sống đời đời và bình an viên mãn.
Lm. Anmai, CSsR

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN VÀ SỰ BIẾN ĐỔI NỘI TÂM TRONG ÂN SỦNG THIÊNG LIÊNG
Đời sống người tín hữu trong hành trình lữ hành trần thế luôn là một tiến trình liên lỉ hướng về ơn cứu độ, một sự thanh luyện nội tâm sâu sắc để từ bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới trong Đức Kitô. Khi nhìn ngắm mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa, chúng ta nhận ra rằng Ngài không bao giờ bỏ rơi tạo vật của mình, nhưng luôn chủ động bước vào lịch sử nhân loại, vào từng ngõ ngách trần tục và yếu đuối của mỗi người để trao ban sức sống mới. Sức sống ấy không mang tính áp đặt hay bạo lực, mà là một lời mời gọi thiết tha, dịu dàng nhưng đòi hỏi sự đáp trả triệt để bằng tất cả tự do và tình yêu mến.
Trong nhịp sống hôm nay, con người dễ dàng rơi vào trạng thái chênh vênh, lạc lõng giữa những bão táp của cuộc đời, giữa những toan tính thực dụng và cơn lốc xoáy của chủ nghĩa cá nhân. Đứng trước thực trạng đó, Lời Chúa vang lên như một chiếc la bàn định hướng, một nguồn mạch dưỡng khí thiêng liêng giúp tâm hồn không bị khô cằn. Sự biến đổi nội tâm không phải là một công trình mang tính thuần túy nhân mãn hay nỗ lực tự thân đơn độc, mà là hoa trái của việc mở tung cánh cửa lòng để đón nhận ơn thánh hóa. Thánh Phaolô từng minh định rằng khi con người yếu đuối, chính là lúc quyền năng Chúa được biểu lộ trọn vẹn nhất. Sự yếu đuối của con người trở thành không gian để Thiên Chúa khắc họa lòng thương xót vô biên của Ngài.
Xét cho cùng, cốt lõi của đời sống Kitô hữu chính là kinh nghiệm về sự gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô. Gặp gỡ Ngài không phải là một khái niệm trừu tượng hay một hệ thống triết lý khô khan, mà là một biến cố làm thay đổi toàn bộ hệ giá trị sống. Những ai từng chạm trán với tình yêu vô điều kiện ấy sẽ không thể giữ mãi lối sống dửng dưng, hững hờ với tha nhân. Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta vượt qua biên giới của sự ích kỷ, khép kín để bước ra vùng ngoại biên của cuộc sống, nơi có những anh chị em đang quằn quại trong đau khổ, nghèo đói, bất công và cô đơn. Tính liên đới Kitô giáo đòi hỏi một thái độ dấn thân trọn vẹn, không quản ngại khó khăn hay hy sinh.
Tuy nhiên, tiến trình bước theo Thầy Chí Thánh chưa bao giờ là con trải đầy hoa hồng. Ngược lại, lịch sử cứu độ và kinh nghiệm của các thánh nhân chứng minh rằng chứng tá cho Tin Mừng luôn đi liền với thập giá. Thập giá ở đây không chỉ là những đau khổ thể lý, mà còn là sự hiểu lầm, khinh miệt, thậm chí là sự chống đối từ một thế giới đôi khi thù nghịch với các giá trị Tin Mừng. Khi loan báo sự thật, khi bênh vực công lý và hòa bình, người môn đệ chắc chắn sẽ vấp phải những lực cản từ bóng tối. Nhưng chính trong những thời khắc đen tối nhất của thử thách, niềm tin Kitô giáo lại tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết. Sự kiên vững của các ngôn sứ trong Cựu Ước cũng như lòng can đảm của các tông đồ trong Tân Ước là nguồn cảm hứng mạnh mẽ nhắc nhở chúng ta rằng: Thiên Chúa hằng đứng về phía những kẻ trung kiên.
Nhìn lại chiều kích cộng đoàn, Giáo Hội được mời gọi trở nên dấu chỉ và khí cụ của ơn cứu độ giữa trần gian. Sứ mạng của Giáo Hội không khép kín trong bốn bức tường thánh đường, nhưng hướng ra toàn thể nhân loại với một trái tim của người mẹ. Giáo Hội phải là nơi dung dưỡng những tâm hồn tổn thương, là trạm xá dã chiến chữa lành những vết thương lòng do tội lỗi và hận thù gây ra. Mỗi người tín hữu, qua Bí tích Thánh Tẩy, đều được chia sẻ chức năng vương giả, tư tế và ngôn sứ của Đức Kitô, từ đó mang ơn thánh Chúa đến cho gia đình, nơi làm việc và môi trường xã hội xung quanh. Sự thánh hóa bản thân luôn đi đôi với trách nhiệm cải tạo xã hội theo tinh thần Tin Mừng.
Để đạt được chiều kích sâu thẳm ấy, đời sống cầu nguyện đóng vai trò là nền tảng không thể thay thế. Cầu nguyện không phải là đọc lên những công thức dài dòng hay tìm cách thuyết phục Thiên Chúa thay đổi ý định Ngài, mà là để cho Thiên Chúa biến đổi ý muốn của chính chúng ta nên đồng hình đồng dạng với ý Ngài. Trong thinh lặng của tâm hồn, ở nơi sâu kín nhất của cuộc gặp gỡ thân mật với Đấng Tối Cao, chúng ta mới nhận ra chân giá trị của bản thân và đường lối kỳ diệu của ơn quan phòng. Những ai biết chìm đắm trong cầu nguyện sẽ không dễ dàng ngã lòng trước nghịch cảnh, bởi vì họ xác tín rằng cuộc đời mình nằm trong lòng bàn tay yêu thương của Thiên Chúa.
Hơn thế nữa, thực thi bác ái là thước đo chính xác nhất cho chất lượng đời sống đức tin. Đức bác ái Kitô giáo không dừng lại ở sự bố thí vật chất mang tính hình thức, mà là sự chia sẻ phẩm giá, là việc nhìn nhận tha nhân là anh chị em đồng hình ảnh với Thiên Chúa. Khi một người đói được cho ăn, một người khách lạ được chào đón, hay một kẻ cô đơn được lắng nghe, chính là lúc chúng ta đang phục vụ trực tiếp cho chính Đức Giêsu Kitô. Xã hội hiện đại dù phát triển đến đâu về mặt kỹ thuật và kinh tế vẫn luôn khát khao tình yêu thương chân thật. Chỉ có tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa mới có khả năng lấp đầy những khoảng trống mênh mông trong cõi lòng con người.
Bên cạnh đó, việc canh tân tâm thức phụng vụ và lắng nghe Lời Chúa hằng ngày là chiếc chìa khóa mở ra kho tàng ân sủng. Thánh Kinh không phải là một cổ thư nằm im lìm trên kệ sách, mà là Lời hằng sống đang thì thầm trong tâm hồn mỗi người ở thì hiện tại. Khi đọc, suy niệm và sống Lời Chúa, người tín hữu được thanh tẩy khỏi những bụi bặm của thế gian. Phụng vụ Thánh Thể, đỉnh cao của đời sống Giáo Hội, quy tụ dân Chúa lại trong sự hiệp nhất nên một thân thể trong Đức Kitô. Qua Bí tích Thánh Thể, chúng ta được nuôi dưỡng bằng chính Thịt và Máu Người, nhận lãnh sức mạnh để tiếp tục bước đi trên con đường trọn lành.
Khi suy ngẫm về mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn cho những khổ đau và thăng trầm của phận người. Thập giá không phải là điểm chấm hết tồi tệ, mà là chiếc cầu nối dẫn đến vinh quang Phục Sinh. Mọi hy sinh thầm lặng, mọi giọt nước mắt vì công chính, mọi nỗ lực tha thiết để sống tử tế giữa một thế giới đầy dẫy những toan tính vụ lợi đều không bao giờ rơi vào quên lãng. Thiên Chúa ghi nhận tất cả và ban tặng phần thưởng vượt trên cả mong ước của con người. Hy vọng Kitô giáo chính là chiếc mỏ neo vững chắc giữ tâm hồn chúng ta luôn bình an giữa biển đời giông bão.
Hành trình đức tin cũng đòi hỏi một thái độ hoán cải không ngừng. Hoán cải không phải là một sự kiện xảy ra một lần cho tất cả, mà là một thái độ sống suốt đời, một ý thức liên tục nhận ra sự bất toàn của bản thân để quay về với nguồn mạch xót thương. Khiêm tốn nhận mình là tội nhân cần đến ơn cứu độ chính là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để tiến bước trên đường nhân đức. Sự kiêu ngạo làm tâm hồn ra chai đá, khép kín trước ơn Chúa, trong khi lòng khiêm nhường mở ra cánh cửa cho hồng ân tuôn đổ dạt dào.
Trong gia đình và xã hội, người Kitô hữu được mời gọi trở thành men, thành muối và thành ánh sáng. Ánh sáng đức tin phải được chiếu tỏa qua những nghĩa cử nhỏ nhặt thường ngày: một nụ cười thông cảm, một lời tha thứ kịp thời, một sự kiên nhẫn trong gia đình hay một tác phong liêm khiết trong công việc xã hội. Chính những biểu hiện bình dị ấy lại có sức mạnh cảm hóa lớn lao hơn ngàn bài thuyết giáo hào nhoáng. Thế giới hôm nay không chỉ cần những lời nói hay, mà cần những chứng nhân sống động dám đem Tin Mừng vào thực tế đời sống.
Nhìn về tương lai với niềm phó thác trọn vẹn, chúng ta xác tín rằng lịch sử nhân loại nằm trong tay Thiên Chúa. Dù có lúc sự dữ dường như lấn át, dù có những lúc bóng tối của chia rẽ và bạo lực tưởng chừng chiến thắng, nhưng quyền năng tình yêu của Thiên Chúa mới là lực lượng quyết định cuối cùng. Ngài biết cách rút ra sự thiện từ những biến đổi khốc liệt nhất của lịch sử. Nhiệm vụ của chúng ta là chu toàn bổn phận hiện tại của mình với tất cả khả năng và tình yêu mến, phần còn lại hãy để cho bàn tay quan phòng của Chúa định đoạt.
Luyện tập các nhân đức đối thé là đức tin, đức cậy và đức mến chính là cách thức cụ thể để xây dựng Nước Trời ngay tại trần thế này. Đức tin giúp ta nhìn mọi biến cố qua lăng kính siêu nhiên; đức cậy nâng đỡ ta đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, không bao giờ tuyệt vọng trước giới hạn của bản thân; và đức mến là sợi dây liên kết hoàn hảo, biến mọi hành động tầm thường trở nên phi thường vì được làm với tất cả tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân. Ba nhân đức ấy là đôi cánh nâng tâm hồn bay lên tới cõi trời cao, đồng thời cắm rễ sâu vào lòng đất mẹ để trổ sinh hoa trái ngọt ngào.
Kết thúc cuộc hành trình trần thế, điều duy nhất còn lại không phải là những thành tựu vật chất, chức tước hay danh vọng, mà là mức độ chúng ta đã yêu thương. Tình yêu là tấm vé duy nhất đưa chúng ta bước vào cõi vĩnh hằng của Thiên Chúa, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu”. Ước gì mỗi người chúng ta, sau khi đã chiêm ngắm và suy tư về mầu nhiệm ơn gọi cao cả của mình, luôn biết canh tân quyết tâm sống xứng đáng là con cái sự sáng. Nguyện xin ơn thánh Chúa rảy tràn trên mỗi bước đường chúng ta đi, để giữa một thế giới đầy những thử thách và cám dỗ, chúng ta vẫn hiên ngang đứng vững như những chứng nhân can đảm của tình yêu thương và sự thật.
Lm. Anmai, CSsR

HỆ LỤY VÀ SỰ CỨU RỘC KHI RỜI XA THIÊN CHÚA
Kính thưa quý cộng đoàn và anh chị em thân mến, trong hành trình đức tin đầy chông gai nhưng cũng chan chứa hồng ân này, đời sống của mỗi người tín hữu chúng ta tựa như một cuộc lữ hành dài hướng về quê trời. Thiên Chúa không tạo dựng nên chúng ta rồi bỏ mặc chúng ta cô độc giữa dòng đời trôi nổi. Ngài yêu thương, ôm ấp, che chở và đặt để chúng ta trong vòng tay yêu thương và sự quan phòng kỳ diệu của Ngài. Thế nhưng, trong thực tế trần thế đầy những cạm bẫy, cám dỗ, những mưu chước tinh vi của thế gian và sự yếu đuối mong manh của bản tính con người, đôi khi chúng ta lại dễ dàng sa vào một cạm bẫy nguy hiểm nhất: cạm bẫy của sự tự mãn, sai lạc và rời xa Thiên Chúa.
Hiện tượng con người lang thang, rời bỏ nguồn cội thiêng liêng để đi tìm những thứ hạnh phúc ảo ảnh bên ngoài không phải là điều gì mới mẻ. Giống như câu chuyện đau lòng về một đứa trẻ vì bất cẩn hay ham chơi đã bước ra khỏi vòng tay bảo bọc của gia đình, để rồi lạc lối giữa dòng đời mênh mông, gây ra những vết thương nhức nhối và nỗi đau tột cùng cho những người thân yêu ở lại. Sự rời xa ấy không chỉ đơn thuần là một bước chân đi dạo, mà ẩn sâu trong đó là một sự khước từ ngầm định đối với tình yêu, sự hướng dẫn và quyền bính yêu thương của Đấng Tối Cao. Khi chúng ta tự cho mình là khôn ngoan, khi chúng ta tự nhủ rằng mình có thể tự xoay xở lấy cuộc đời mà không cần ơn thánh, không cần Lời Chúa, không cần sự can thiệp của Đấng Tạo Hóa, đó chính là khoảnh khắc bi kịch bắt đầu diễn ra.
Bài giảng hôm nay sẽ cùng anh chị em đào sâu vào những nguyên nhân, những hệ lụy đau đớn khi chúng ta bước ra khỏi vòng tay an toàn của Thiên Chúa, đồng thời chiêm ngắm lòng thương xót hải hà của Người – Đấng không bao giờ mệt mỏi trong công cuộc tìm kiếm, cất nhắc và đưa những đứa con hoang đàng trở về nhà.
I. ẢNH HƯỞNG CỦA THẾ GIAN VÀ CĂN BỆNH TỰ MÃN CỦA TÂM HỒN
Con người chúng ta có một xu hướng kỳ lạ: khi cuộc sống bình an, khi mọi sự suôn sẻ, chúng ta thường quên mất ơn huệ của Đấng ban phát; còn khi nghịch cảnh ập đến, chúng ta lại dễ dàng trách móc Thiên Chúa. Trong dụ ngôn về con chiên lạc và đồng tiền đánh mất được ghi lại trong Tin Mừng, Chúa Giêsu muốn mặc khải cho chúng ta thấy tấm lòng xót thương vô biên của Thiên Chúa, đồng thời phơi bày thực trạng yếu đuối của con người.
Tại sao con chiên lại lạc lối? Con chiên không chủ tâm nhảy vực tự tử, nó lạc đường bởi vì mải cúi đầu gặm từng cọng cỏ xanh non trước mặt. Nó cứ bước đi, đi mãi, hết nhành cỏ này đến thảm cỏ khác, sự chú ý bị cuốn hút hoàn toàn vào những cám dỗ trước mắt mà quên mất việc ngẩng đầu lên để nhìn xem người mục tử hiền lành đang ở đâu. Cuộc sống hiện đại cũng đang giăng ra trước mắt chúng ta vô vàn những “cọng cỏ xanh non” ngọt ngào nhưng đầy độc tố như vậy: đó là danh vọng hão huyền, tiền tài vật chất, những thú vui xác thịt tầm thường, quyền lực ích kỷ và lối sống thực dụng chủ nghĩa.
Khi con người mải mê chạy theo những giá trị tạm bợ ấy, chúng ta vô tình nới lỏng mối dây liên kết thiêng liêng với Thiên Chúa. Ban đầu chỉ là sự lơ là trong việc cầu nguyện buổi sáng tối. Sau đó là sự thờ ơ với Bí tích Thánh Thể và Hòa Giải trong những ngày Chúa Nhật. Dần dần, Lời Chúa trở thành những âm thanh xa lạ, khô khan đối với tâm hồn. Chúng ta tự nhủ rằng mình vẫn ổn, mình vẫn là người tốt, mình không trộm cướp hay giết người, nên việc vắng bóng Chúa trong đời sống hằng ngày chẳng có gì là quan trọng. Đó chính là căn bệnh tự mãn chết người – căn bệnh làm tê liệt hệ thống miễn dịch thiêng liêng của linh hồn, khiến chúng ta trượt dài vào cõi vô định của sự lãng quên.
II. NHỮNG HỆ LỤY KHỐC LIỆT KHI TỰ Ý RỜI XA THIÊN CHÚA
Khi một tâm hồn quyết định bước ra khỏi sự che chở của Thiên Chúa, hậu quả nhãn tiền và lâu dài là vô cùng khốc liệt. Chúng ta có thể phác họa những hệ lụy đau xót đó qua ba chiều kích chính:
1. Sự Tự Cách Ly và Cảm Giác Đơn Côi Tuyệt Vọng Khi con người tự ý rời bỏ Thiên Chúa, điều đầu tiên xảy ra là sự cắt đứt nguồn mạch của sự sống và tình yêu đích thực. Giống như cành nho rời khỏi thân cây thì không thể tự mình sinh hoa kết quả, người tín hữu rời xa Thiên Chúa cũng tự đánh mất đi nguồn năng lượng thiêng liêng nuôi sống tâm hồn. Chúng ta tưởng rằng mình đang tìm kiếm sự tự do tuyệt đối, nhưng thực chất đó chỉ là một thứ tự do giả hiệu, tự giam mình vào chiếc lồng cô độc của cái tôi ích kỷ. Khi giông bão cuộc đời ập đến, khi đau khổ, bệnh tật, thất vọng gõ cửa, chúng ta bàng hoàng nhận ra xung quanh mình trống rỗng. Không có Đấng nâng đỡ, không có ơn thánh xoa dịu, con người trở nên yếu đuối, hoang mang và dễ dàng gục ngã trước những áp lực của trần gian.
2. Trở Nên Mồi Ngon Cho Các Cuộc Tấn Công Thiêng Liêng Con chiên khi ở trong đàn, dưới sự bảo vệ của gậy gộc và trượng của người mục tử, thì được an toàn tuyệt đối trước nanh vuốt của sói dữ. Thế nhưng, một khi nó bướng bỉnh lang thang một mình đến những nơi hoang vãnh, nó lập tức trở thành mục tiêu săn đuổi dễ dàng của thú dữ. Đời sống thiêng liêng của chúng ta cũng hoàn toàn tương tự. Ma quỷ, thế gian và xác thịt luôn rình rập quanh ta như sư tử gầm rống tìm mồi cắn xé. Khi chúng ta tự tách mình ra khỏi đời sống cộng đoàn Giáo Hội, lơ là các bí tích, buông lơi việc đạo đức, chúng ta đã tự tay dâng hiến chiếc khiên đức tin của mình cho thế lực bóng tối. Những cám dỗ nhỏ nhặt ban đầu bỗng chốc bành trướng thành những cơn bão nghiện ngập, dâm ô, hận thù, ghen ghét và tuyệt vọng. Sự sợ hãi vô cớ bắt đầu gặm nhấm tâm can, bởi vì nơi nào không có sự hiện diện của Thiên Chúa, nơi đó tràn ngập bóng tối của sự bất an.
3. Đánh Mất Phẩm Giá Con Người và Nguy Cơ Diệt Vong Đời Đời Hệ lụy cuối cùng và đáng sợ nhất của việc rời xa Thiên Chúa chính là sự đánh mất ơn cứu độ, rơi vào tình trạng chết ngạt trong tội lỗi và hướng đến sự hư mất đời đời. Thánh Phao-lô đã từng nhắc nhở rằng xa lìa sự hiện diện của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc xa lìa vinh quang và sức mạnh của Ngài, dẫn đến sự hủy diệt vĩnh cửu. Khi con người cứ ngoan cố bám giữ lấy tội lỗi, trái tim trở nên chai đá, tâm trí ra u mê, các giác quan thiêng liêng bị tê liệt hoàn toàn. Cuộc đời họ trôi dạt vô định như con thuyền không la bàn giữa đại dương đêm đen, đối diện với nguy cơ va vào những ghềnh đá của sự dữ và chìm đắm trong hỏa ngục đời đời. Đó là bi kịch lớn nhất của một đời người: được sinh ra làm con Chúa, được thừa hưởng gia nghiệp vĩnh cửu trên trời, nhưng lại tự tay đánh đổi lấy chiếc vé đi vào cõi lãng quên và diệt vong.
III. TÌNH YÊU TÌM KIẾM KHÔNG MỆT MỎI CỦA THIÊN CHÚA
Kính thưa anh chị em, nếu câu chuyện chỉ dừng lại ở sự sa ngã và hậu quả tàn khốc của nó, thì Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô đã không còn là Tin Mừng cứu độ nữa. Điểm tuyệt vời nhất, rực rỡ nhất trong mạc khải của Thiên Chúa chính là: Khi chúng ta bỏ Ngài mà chạy trốn, Ngài lại là Đấng chủ động bước đi tìm kiếm chúng ta.
Trong dụ ngôn về con chiên lạc, người mục tử để lại chín mươi chín con nơi an toàn ngoài đồng hoang để lặn lội băng qua đồi cao suối sâu, đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Ông không trách mắng nó ngay khi tìm thấy, ông không dùng roi vác để đánh đập nó vì tội bướng bỉnh, trái lại, với tình yêu thương vô bờ bến, ông trân trọng đặt nó lên vai mình, vui mừng đưa nó trở về nhà. Đó chính là dung mạo thật sự của Thiên Chúa chúng ta: một người Cha nhân hậu, một người Mục Tử tuyệt vời, Đấng không bao giờ đành lòng để bất cứ một linh hồn nào phải hư mất trong cõi lầm than.
Thiên Chúa sử dụng vô vàn phương thế tinh vi và kiên nhẫn để kéo chúng ta trở về với Ngài. Đôi khi Ngài dùng những biến cố thăng trầm, những thử thách cam go, thậm chí là những cú sốc lớn trong cuộc sống để đánh thức tâm hồn đang u mê ngủ quên của chúng ta. Ngài gửi đến những người thân, những người bạn đạo đức, hoặc một vị linh mục để đưa ra những lời khuyên chân tình, đúng lúc. Có khi Ngài chạm vào sâu thẳm tâm can chúng ta qua một câu Kinh Thánh bất chợt đọc được, qua một bài giảng sâu lắng, hoặc qua một ơn huệ bình an lạ lùng giữa lúc ta tưởng chừng như đã cùng đường.
Tất cả những ơn huệ, những biến cố, thậm chí cả những giọt nước mắt đau khổ mà chúng ta trải qua đôi khi lại chính là tiếng gọi thì thầm đầy yêu thương của Người: “Hỡi con, hãy quay về với Ta, vì Ta là sự sống và là hạnh phúc đời đời của con.” Thiên Chúa không tính toán lỗi lầm quá khứ, Ngài chỉ chờ đợi một cử chỉ nhỏ bé từ phía chúng ta: một sự hối hận chân thành, một tiếng thở dài hướng về trời cao, một quyết tâm bước trở lại ngưỡng cửa lòng thương xót.
IV. HÀNH ĐỘNG QUYẾT ĐỊNH: TRỞ VỀ ĐỂ ĐƯỢC TÁI TẠO
Hôm nay, qua Lời Hằng Sống này, Thiên Chúa đang mời gọi mỗi người chúng ta hãy dừng chân lại trên con đường bận rộn của cuộc sống. Hãy tự hỏi chính mình: Tôi có đang vô tình lang thang xa rời vòng tay yêu thương của Chúa không? Tâm hồn tôi có đang bị cuốn hút bởi những thứ phù vân giả tạo để rồi quên mất nguồn cội đích thực của mình không?
Trở về với Thiên Chúa không phải là một sự nhục nhã, mà là một sự phục hồi phẩm giá cao quý. Đó là hành động từ bỏ sự kiêu ngạo để mặc lấy sự khiêm nhu; từ bỏ chiếc áo rách rưới của tội lỗi để mặc lấy chiếc áo trắng tinh tuyền của ơn thánh; từ bỏ sự cô độc lạnh lẽo để bước vào bữa tiệc hoan hỉ của gia đình Thiên Chúa trên trời.
Để thực hiện cuộc hành trình trở về ấy, chúng ta cần thực hiện ba bước tiến quyết liệt trong đời sống thiêng liêng:
Thứ nhất, Can đảm thừa nhận sự thật về bản thân. Giống như người con hoang đàng trong dụ ngôn khi bừng tỉnh giữa chuồng heo đói khát, anh ta đã tự nhủ: “Ta sẽ đứng lên đi về cùng cha!” Chúng ta phải dám đối diện với những yếu đuối, những sai lầm, những lần vấp ngã và sự xa cách của mình đối với Thiên Chúa mà không ngụy biện, không trốn tránh. Sự thật lòng sám hối chính là chìa khóa đầu tiên mở ra cánh cửa lòng thương xót Chúa.
Thứ hai, Thiết lập lại đời sống cầu nguyện và Bí tích. Không thể có chuyện duy trì mối quan hệ tốt đẹp với ai đó mà không hề trò chuyện với họ. Muốn trở về với Chúa, chúng ta phải tái thiết lập thói quen cầu nguyện hằng ngày. Hãy dành ra những khoảng lặng tĩnh mịch trong ngày để thưa chuyện với Ngài, để đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đặc biệt, hãy khiêm tốn bước vào tòa cáo giải – nơi suối nguồn lòng thương xót Chúa đang tuôn trào để tẩy rửa mọi vết nhơ tội lỗi, trả lại cho linh hồn vẻ đẹp nguyên tuyền vốn có.
Thứ ba, Sống bác ái và làm chứng cho tình yêu Chúa giữa dòng đời. Một khi đã được ơn tha thứ và được đưa trở về đoàn chiên, cuộc đời chúng ta phải trở thành một dấu chỉ sống động của lòng thương xót. Hãy dùng chính những đau thương, những kinh nghiệm lầm lạc đã qua của mình để nâng đỡ, cảm thông và vực dậy những anh chị em khác hãy còn đang u mê lang thang ngoài nẻo đường tội lỗi. Hãy để tình yêu, sự tha thứ, sự tử tế và lòng nhân hậu thấm nhuần trong từng lời nói, cử chỉ và việc làm hằng ngày của chúng ta.
V. KẾT LUẬN: BÌNH AN ĐÍCH THỰC NƠI NHÀ CHA
Kính thưa quý cộng đoàn, cuộc đời lữ hành trần thế của chúng ta ngắn ngủi tựa gang tay. Sẽ có lúc chúng ta vấp ngã, sẽ có lúc chúng ta mệt mỏi, và đôi khi có những khoảnh khắc chúng ta dại dột bước lệch khỏi con đường ngay chính. Nhưng điều quan trọng nhất không phải là chúng ta đã đi xa đến đâu, mà là chúng ta có sẵn sàng quay đầu lại để nhìn thấy ánh sáng hy vọng từ nhà Cha đang chờ đợi hay không.
Đừng sợ hãi trước những yếu đuối của bản thân, cũng đừng chần chừ trước những cám dỗ của thế gian. Thiên Chúa vẫn đang đứng ở đầu ngõ, ngày đêm mong mỏi chờ đợi sự trở về của từng người chúng ta với tấm lòng rộng mở và vòng tay xiết chặt yêu thương. Hãy trao phó trọn vẹn quá khứ đầy thương tích của chúng ta cho Lòng Thương Xót Chúa, để Ngài chữa lành, thanh luyện và biến đổi tương lai của chúng ta thành một khúc ca cảm tạ không ngừng nghỉ.
Nguyện xin Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương ban ơn giúp sức cho chúng ta, để mỗi ngày sống của chúng ta luôn là một nhịp bước vững vàng trong vòng tay chở che của Ngài, không bao giờ để những cạm bẫy trần gian lôi kéo chúng ta lạc lối nữa. Xin cho chúng ta luôn biết gìn giữ tâm hồn mình trong trắng, trở thành những người con ngoan hiền, luôn sống trong Nhà Chúa muôn đời muôn thuở. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

TRÁI TIM MỤC TỬ NHÂN HẬU VÀ CUỘC TÌM KIẾM NHỮNG CON CHIÊN LẠC
Kính thưa cộng đoàn phụ vụ, khi bước vào không gian linh thiêng của Lời Chúa, tâm hồn chúng ta được mời gọi hướng về một chiều kích cao siêu nhưng vô cùng gần gũi, đó là lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Trong bức tranh toàn cảnh của Tin Mừng, Đức Giêsu Kitô hiện lên không phải như một vị quan tòa khắt khe sẵn sàng câu nệ lỗi lầm, mà là hiện thân trọn vẹn của tình yêu tha thiết, một vị Mục Tử sẵn sàng băng qua mọi nẻo đường hiểm trở chỉ để kiếm tìm một sinh linh đang lầm đường lạc lối. Khung cảnh đầu tiên thu hút ánh nhìn của chúng ta chính là thái độ cởi mở, chân thành và đầy khiêm tốn của những con người xã hội thời bấy giờ coi là tội lỗi, những thu thuế và người thu góp bất chính, những kẻ bị gạt ra bên lề xã hội, họ tuốn đến với Người để lắng nghe Lời Chúa. Điều này cho thấy một chân lý vĩnh cửu: trái tim của Thiên Chúa luôn rộng mở đón nhận bất cứ ai mang trong mình nỗi thống khổ của sự bất toàn, miễn là họ còn khao khát tìm về nguồn cội của sự sống.
Sự hiện diện của Đức Giêsu giữa những người tội lỗi đã làm chấn động và gây ra sự phẫn nộ trong lòng những người biệt phái và kinh sư. Với tư tưởng câu nệ lề luật hình thức, họ không tài nào hiểu được tại sao một bậc thầy tôn giáo lại có thể đồng bàn, ăn uống, chuyện trò và tỏ ra thân mật với những thành phần bị xã hội miệt thị. Họ nhìn đời bằng lăng kính của sự phán xét, chia cắt nhân loại thành hai thái cực rõ rệt: kẻ thanh sạch và người nhơ uế, người công chính tự phong và kẻ tội lỗi đáng bị loại trừ. Thế nhưng, chính trong sự bất bình mang tính phán xét ấy của con người, Thiên Chúa lại mạc khải một logic hoàn toàn khác biệt, một logic của tình yêu vô điều kiện. Đức Giêsu không đến vì những kẻ tự cho mình là mạnh khỏe và không cần thầy thuốc, nhưng Ngài đến để tìm kiếm và cứu chữa những ai đang quằn quại trong bệnh tật thiêng liêng. Ngài bước vào cuộc đời họ không phải để lên án, mà để thắp lên ngọn lửa hy vọng, biến đổi tâm hồn họ từ những kẻ tuyệt vọng trở thành những chứng nhân của lòng thương xót.
Để minh định cho thái độ đón nhận đầy yêu thương này, Đức Giêsu đã kể lại dụ ngôn về con chiên bị lạc. Hình ảnh một người mục tử có một trăm con chiên mà để mất một con, lập tức bỏ chín mươi chín con còn lại ngoài đồng hoang để lên đường kiếm tìm con chiên lạc cho đến khi tìm thấy, là một hình ảnh mang tính thách đố đối với logic tính toán của con người. Theo sự khôn ngoan trần thế, việc bỏ lại chín mươi chín con chiên để đánh cược sự an toàn của cả đàn chỉ vì một con đơn lẻ là một sự liều lĩnh thiếu khôn ngoan. Thế nhưng, tình yêu đích thực của Thiên Chúa không đo đếm bằng số lượng hay sự an toàn mang tính thống kê. Đối với Ngài, mỗi một linh hồn đều mang một giá trị vô hạn, độc nhất và không gì thay thế được. Sự mất mát của một cá nhân dù là nhỏ bé nhất cũng làm trĩu nặng trái tim của người mục tử. Hành trình tìm kiếm ấy không hề quản ngại khó khăn, mệt nhọc, băng qua những thung lũng sâu thẳm, những sườn đồi hiểm trở, đối mặt với bao hiểm nguy của chốn hoang vu, tất cả chỉ vì một mục đích duy nhất: đưa con chiên lầm đường trở về an toàn trong sự che chở của tình yêu.
Khoảnh khắc tìm thấy con chiên lạc mang đến một niềm vinh sướng tột cùng. Vị mục tử không hề trách mắng, không hề quở trách hay trừng phạt con chiên vì sự bất cẩn của nó, trái lại, ngài âu yếm đặt nó lên đôi vai mình, gánh lấy mọi nhọc nhằn, và bước đi trong niềm hân hoan trào trào. Đôi vai ấy chính là biểu tượng tuyệt mỹ của sự cứu chuộc, nơi mà sức nặng của tội lỗi, của sự yếu đuối nhân sinh được chuyển hóa thành gánh nặng của tình yêu thương xót. Khi trở về nhà, niềm vui ấy không thể giữ cho riêng mình, vị mục tử liền kêu gọi bạn bè và hàng xóm láng giềng cùng chung vui: “Hãy chia sẻ niềm vui với tôi, vì tôi đã tìm lại được con chiên bị lạc của mình”. Hình ảnh này mạc khải một thực tại thiêng liêng vô cùng sâu sắc: Thiên Chúa không bao giờ vui mừng trên sự diệt vong của kẻ gian ác, nhưng Ngài nhảy mừng, hân hoan xiết bao khi một người con quay trở về từ cõi chết thiêng liêng. Niềm vui trên trời lớn lao biết bao trước sự sám hối của một tội nhân, vượt lên trên cả niềm vui dành cho những người công chính không cần phải hoán cải.
Bên cạnh dụ ngôn về con chiên lạc, Đức Giêsu còn kể tiếp dụ ngôn về người phụ nữ đánh mất một đồng tiền trong số mười đồng tiền bạc của mình. Người phụ nữ ấy không dửng dưng trước sự thiếu hụt. Cô thắp đèn, quét nhà, miệt mài tìm kiếm từng ngóc ngách với tất cả sự cẩn trọng và kiên nhẫn cho đến khi tìm thấy mới thôi. Đồng tiền tuy chỉ là vật chất, nhưng trong hoàn cảnh bấy giờ, nó có thể là sinh kế, là gia tài quý giá hay là chiếc vòng bằng bạc biểu trưng cho món quà đính hôn truyền thống. Sự mất mát ấy tạo ra một khoảng trống trong gia đình, thúc giục người phụ nữ hành động ngay lập tức. Cũng vậy, mỗi tâm hồn con người được ví như một đồng tiền mang hình ảnh của Thiên Chúa. Khi con người sa ngã vào tội lỗi, họ đánh mất đi vẻ đẹp nguyên thủy, đánh mất đi giá trị cao quý vốn có của mình và nằm lẩn khuất trong đống bụi trần gian của sự ích kỷ, tham vọng và yếu đuối. Thiên Chúa, với tấm lòng của người mẹ dịu hiền và người cha nhân ái, không đành lòng để hình ảnh của chính mình bị phai mờ trong bóng tối. Ngài thắp lên ngọn lửa của ân sủng, soi rọi vào mọi ngõ ngách tối tăm của lịch sử nhân loại và cõi lòng cá nhân, kiên trì tìm kiếm từng mảnh đời đang chìm khuất.
Khi tìm lại được đồng tiền đã mất, người phụ nữ cũng quy tụ bạn bè, chòm xóm lại để cùng chung vui mừng rỡ. Điều này khẳng định một nguyên lý nền tảng của Tin Mừng: ơn cứu độ không phải là một đặc ân dành riêng cho một nhóm người biệt lập tự cho mình là đạo đức, là hoàn hảo, mà là một hồng ân phổ quát được trao ban cho hết thảy mọi người, đặc biệt là những ai nhận thức được sự nghèo nàn, khốn cùng và tội lỗi của bản thân để mở lòng đón nhận lòng thương xót. Sự hoán cải không phải là một nỗ lực thuần túy mang tính luân lý hay kỷ luật khắt khe, mà trước hết là việc để cho mình được Thiên Chúa tìm thấy, để cho Ngài ôm ấp vào lòng và biến đổi toàn diện từ bên trong. Con người chỉ thực sự tìm lại được chính mình khi để cho Thiên Chúa quy hoạch lại cuộc đời, đưa ra khỏi vùng đất hoang vu của tội lỗi để trở về với hiệp thông sự sống đích thực trong nhà của Cha trên trời.
Nhìn sâu vào lịch sử cứu độ, chúng ta nhận thấy rằng động lực duy nhất thúc đẩy Thiên Chúa hành động chính là tình yêu đi trước. Sứ điệp của thánh Phô-lô gửi tín hữu Rô-ma đã nhắc nhở chúng ta một chân lý làm rung động tâm can: ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi, đắm chìm trong nghịch luật và sự phản bội, thì Đức Kitô đã chịu chết vì chúng ta. Thiên Chúa không đợi chúng ta trở nên hoàn hảo rồi mới yêu thương, Ngài yêu thương chúng ta từ trước muôn thuở, chủ động vươn tay ra cứu vớt chúng ta khi chúng ta còn ngập chìm trong vũng lầy của sự bất toàn. Tình yêu đi trước ấy chính là nguồn mạch của mọi lòng trắc ẩn. Khi chúng ta cảm nghiệm được rằng mình đã được tha thứ nhiều, chúng ta mới có khả năng yêu thương nhiều, mới có thể nhìn tha nhân bằng đôi mắt của lòng thương xót chứ không phải bằng lăng kính của sự phán xét cay đắng hay sự loại trừ lạnh lùng.
Trong đời sống đạo đức hằng ngày, mỗi chúng ta đôi khi cũng dễ rơi vào cạm bẫy của những người biệt phái thuở xưa. Chúng ta dễ có xu hướng tự mãn về sự chu đáo trong việc giữ đạo, tuân thủ các quy định tôn giáo, để rồi từ đó tự cho phép mình nhìn xuống những ai đang sa ngã, yếu đuối hoặc lầm đường lạc lối với thái độ khinh miệt, dửng dưng hoặc kết án. Chúng ta quên mất rằng sự thánh thiện không nằm ở chỗ ta không hề vấp ngã, mà nằm ở sự khiêm nhường nhận biết mình luôn cần đến lòng xót thương của Chúa, và sẵn sàng trở thành cánh tay nối dài của vị Mục Tử nhân lành để đi tìm những anh chị em đang lang thang ngoài ánh sáng của chân lý. Đạo của Đức Giêsu không phải là đạo của những bức tường ngăn cách phân biệt người sạch kẻ nhơ, mà là đạo của những nhịp cầu thông hiệp, nơi những con tim biết rung cảm trước nỗi đau của người khác và biết mở rộng cửa đón chào người anh em trở về.
Hơn thế nữa, trải nghiệm về việc là con chiên lạc được tìm thấy cũng mang lại cho chúng ta một bài học về lòng khiêm tốn sâu xa. Không ai trong chúng ta có thể tự hào vỗ ngực xưng tên rằng mình hoàn toàn miễn nhiễm trước cám dỗ và tội lỗi. Ai trong chúng ta cũng có những góc khuất tối tăm, những khoảnh khắc lầm đường lạc lối, những lúc buông xuôi để cho thế gian cuốn đi xa rời nguồn mạch ân sủng. Chính trong những thời khắc yếu đuối ấy, nếu chúng ta nghe tiếng gọi dịu ngọt của Chúa vang lên trong tâm hồn, đừng chạy trốn vào bóng tối của sự thất vọng hay tự ti, nhưng hãy can đảm để cho Ngài tìm thấy. Hãy để cho đôi bàn tay ân cần của Ngài nâng đỡ, đặt chúng ta lên đôi vai vững chắc của tình yêu thương, để đưa chúng ta trở về với mái nhà hiệp thông của Giáo Hội. Sự trở về ấy không làm chúng ta bé nhỏ đi, trái lại, nó làm bừng lên một niềm vui lớn lao tột độ trong tâm hồn và trước tôn nhan Thiên Chúa cùng các thiên thần của Ngài.
Sứ vụ của người Kitô hữu trong thế giới hôm nay cũng chính là sứ vụ của lòng thương xót. Được mời gọi bước theo chân Thầy Chí Thánh, mỗi người chúng ta không thể đứng bên lề nhìn những bi kịch nhân sinh với sự thờ ơ vô cảm. Thế giới đương đại đang chứng kiến biết bao con người lang thang trong chốn hoang vu của sự cô đơn, tuyệt vọng, nghiện ngập, chủ nghĩa tiêu thụ và khủng hoảng căn tính. Họ đang là những con chiên lạc, những đồng tiền bị vùi lấp dưới đống đổ nát của văn hóa loại trừ và ích kỷ. Thiên Chúa đang chờ đợi đôi tay, đôi chân và tấm lòng của chúng ta để tiếp tục công cuộc tìm kiếm ấy. Ngài muốn dùng sự dấn thân của chúng ta, sự kiên nhẫn lắng nghe của chúng ta, và sự ấm áp trong tình huynh đệ của chúng ta để làm nhịp cầu đưa những tâm hồn đau khổ trở về bên nguồn suối bình an đích thực.
Để thực thi được sứ mạng cao cả này, đời sống cầu nguyện đóng vai trò là nền tảng cốt lõi. Chỉ khi nào chúng ta biết chìm đắm trong sự thân mật với Thiên Chúa, để cho trái tim chúng ta được nhào nặn và biến đổi theo nhịp đập của Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể nhìn tha nhân bằng cái nhìn nhân hậu và thấu cảm. Cầu nguyện không chỉ là dâng lên Chúa những lời kinh nguyện hình thức, mà là để cho Chúa thanh luyện những phán xét cay đắng trong tâm hồn chúng ta, thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt thành tông đồ, giúp chúng ta không quản ngại gian khổ, sẵn sàng bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân để đến với những vùng ngoại biên của xã hội, nơi có những mảnh đời đang khao khát được đón nhận và yêu thương.
Nhìn ngắm hình ảnh người phụ nữ miệt mài quét nhà, thắp đèn tìm kiếm đồng tiền mất, chúng ta cũng được mời gọi canh tân chính ngôi nhà tâm hồn mình. Đôi khi những bụi bẩn của sự ganh tị, giận hờn, ích kỷ và dửng dưng đã phủ lấp đi hình ảnh Thiên Chúa trong sâu thẳm con người chúng ta. Việc hoán cải đòi hỏi chúng ta phải có sự can đảm để thắp lên ngọn đèn của Lời Chúa, cầm chổi quét sạch đi những thói hư tật xấu, những toan tính vụn vặt, để tìm lại sự trong trắng, thanh tuyền và phẩm giá cao quý của người con cái Chúa. Quá trình này có thể đòi hỏi nhiều hy sinh và nước mắt của sự sám hối, nhưng thành quả đạt được vô cùng lớn lao: đó là sự bình an nội tâm và niềm vui tràn trề của một tâm hồn đã được phục hồi trọn vẹn trong ân sủng.
Hơn nữa, bầu khí của sự sum họp, của tình làng nghĩa xóm trong các dụ ngôn còn mở rộng tầm nhìn của chúng ta đến chiều kích cộng đoàn của ơn cứu độ. Thiên Chúa không cứu rỗi chúng ta đơn độc như những cá thể cô lập, nhưng Ngài muốn quy tụ chúng ta thành một gia đình lớn, nơi mà niềm vui của người này là niềm vui của tất cả mọi người, và nỗi đau của người anh em cũng là niềm đau của chính chúng ta. Trong gia đình Giáo Hội ấy, không có chỗ cho sự ghen tị trước lòng nhân hậu của Thiên Chúa dành cho người khác. Nếu những người biệt phái xưa cằn nhằn vì Chúa đón nhận những kẻ tội lỗi, thì tâm tình của người môn đệ chân chính hôm nay phải là sự hân hoan tột cùng khi thấy một người anh em từng lầm đường nay tìm lại được ánh sáng sự sống. Sự ghen tị làm héo úa tâm hồn, trong khi lòng bao dung và sự chia sẻ niềm vui lại làm cho đời sống đức tin thêm phần sinh khí và nở hoa kết trái.
Hành trình đức tin của chúng ta là một hành trình liên tục bước đi trong ánh sáng của lòng thương xót. Mỗi ngày sống là một cơ hội mới để chúng ta cảm nhận sâu xa hơn nữa sự kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với những bất toàn của chính mình, đồng thời mở rộng con tim để bao dung những yếu đuối của tha nhân. Đừng bao giờ tuyệt vọng trước bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là tăm tối nhất, bởi vì không có vực thẳm tội lỗi nào sâu thẳm hơn lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Vị Mục Tử nhân lành vẫn đang rảo bước trên muôn nẻo đường đời, gọi tên từng người chúng ta bằng cả tình thương dịu ngọt, chờ mong chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy bằng một quyết tâm hoán cải chân thành.
Nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn bước chân chúng ta, để mỗi người trong cộng đoàn chúng ta biết trở thành những sứ giả đích thực của lòng thương xót Chúa. Xin cho chúng ta biết mở rộng đôi tay ôm ấp những ai đang đau khổ, biết dung thứ những lầm lỗi của anh em, và nhất là biết sống sao cho mỗi ngày trọn cuộc đời chúng ta trở thành một bài ca chúc tụng tình yêu hải hà của Thiên Chúa, Đấng không muốn cho một ai phải hư mất, nhưng muốn cho tất cả mọi người được ơn cứu độ và bước vào niềm vĩnh phúc muôn đời trong nhà Cha trên trời.
Lm. Anmai, CSsR

ÂN HUỆ TIỆC CƯỚI VÀ TÌNH YÊU BAO LA CỦA THIÊN CHÚA
Khi bước vào hành trình đức tin hằng ngày, chúng ta thường được mời gọi dừng lại để chiêm ngắm cách thức Thiên Chúa hành động, cách Ngài yêu thương và mở rộng cõi lòng để đón nhận từng người con hoang đàng, từng mảnh đời lầm lỡ. Trong tâm tình ấy, Tin Mừng qua dụ ngôn về bữa tiệc cưới mở ra cho chúng ta một chân trời vô tận về lòng thương xót Chúa. Một vị chủ nhà mở tiệc lớn, sai đầy tớ đi gọi những người được mời. Thế nhưng, những người được mời ban đầu lại bận rộn với những mối bận tâm trần thế của riêng mình: người mua thửa ruộng cần đi xem, người tậu năm cặp bò cần thử chúng, kẻ khác mới cưới vợ nên không thể đến. Những lời từ chối tưởng chừng rất hợp lý theo logic nhân loại ấy lại ẩn chứa một bi kịch lớn của sự khép kín tâm hồn trước hồng ân cao cả.
Thiên Chúa không bao giờ chịu thua sự hững hờ của con người. Tình yêu của Ngài không bị giới hạn bởi những toan tính hay sự từ chối đầy ích kỷ. Khi cánh cửa của những kẻ tự cho mình là xứng đáng, là bận rộn khép lại, thì cánh cửa của lòng thương xót bao la lại được mở toang ra cho tất cả những ai nghèo khó, khốn cùng, tàn tật, đui mù, cho cả những kẻ ở ngoài đường, ngoài ngõ, bên lề xã hội. Hình ảnh người chủ ra lệnh cho đầy tớ đi ra các nẻo đường, ép người ta vào nhà cho đầy chỗ thể hiện một cơn khát cháy bỏng: cơn khát được yêu thương, được chia sẻ niềm vui cứu độ với hết thảy mọi người mà không một ai bị loại trừ.
Điểm sâu xa và kỳ diệu nhất trong dụ ngôn này chính là tấm vé bước vào dự tiệc. Đời người, chúng ta thường nghĩ rằng để xứng đáng đứng trước mặt Thiên Chúa, con người phải tích lũy thật nhiều công trạng, phải thật hoàn hảo, không vết nhơ, phải khoác lên mình chiếc áo của sự công chính tự lập. Thế nhưng, logic của Tin Mừng hoàn toàn đảo lộn những tiêu chuẩn hẹp hòi ấy. Chiếc vé thông hành duy nhất để bước vào tiệc thánh chính là sự nhận thức sâu sắc về sự nghèo hèn, bệnh hoạn và tội lỗi của chính mình. Phải là một con người cảm thấy mình đói khát, túng thiếu, đau khổ và rách rưới thì mới có thể thực sự mở rộng cõi lòng đón nhận ơn cứu độ dư tràn mà Thiên Chúa ban nhưng không.
Đức Giê-su Ki-tô chính là hiện thân của vị Chủ nhà nhân hậu ấy. Ngài không ngần ngại bước vào những không gian bị coi là ô uế, Ngài ngồi ăn uống cùng những người thu thuế và tội lỗi, những người bị xã hội gạt bỏ ra bên lề. Sự gần gũi của Ngài không phải là sự thỏa hiệp với tội ác, mà là một sức mạnh biến đổi, một thứ “bạo lực” của tình yêu tinh tuyết thúc đẩy con người đứng lên khỏi vũng lầy của sự tuyệt vọng để bước vào quỹ đạo của niềm vui vĩnh cửu. Thiên Chúa không chờ đợi chúng ta trở nên hoàn hảo rồi mới yêu thương; Ngài yêu thương chúng ta ngay trong trạng thái khốn cùng để rồi qua tình yêu ấy, Ngài thanh tẩy, nâng đỡ và làm cho chúng ta trở nên mới mẻ.
Tuy nhiên, trong hành trình đức tin sống động này, chúng ta cũng được mời gọi tự vấn về cõi lòng mình. Bao nhiêu lần trong cuộc sống thường ngày, chúng ta cũng giống như những vị khách đầu tiên trong dụ ngôn? Chúng ta mải mê với những công việc làm ăn, những lo toan cơm áo gạo tiền, những dự án cá nhân hay thậm chí là những mối bận tâm trần thế tưởng chừng như chính đáng, để rồi vô tình hay hữu ý khép lại tâm hồn trước lời mời gọi tha thiết của Thiên Chúa. Lời mời gọi ấy không phải là một thứ nghĩa vụ nặng nề hay một luật lệ khô khan, mà là một tiệc cưới hoan lạc, nơi Thiên Chúa muốn đãi ngộ tâm hồn ta bằng nguồn hạnh phúc đích thực. Khi ta từ chối thời giờ cầu nguyện, khi ta lãng quên việc thực thi bác ái, khi ta dửng dưng trước nỗi đau khổ của người anh em bên cạnh, chẳng phải là ta đang lặp lại điệp khúc từ chối của những kẻ thà ở lại với thửa ruộng và cỗ xe bò của mình hay sao?
Hơn thế nữa, dụ ngôn cũng thách đố nhãn quan cộng đoàn và xã hội của chúng ta. Trong một thế giới còn đầy rẫy sự chia rẽ, kỳ thị, tribalisme, chủ nghĩa loại trừ và những rào cản văn hóa, tôn giáo hay giai cấp, Thiên Chúa kêu gọi chúng ta mở rộng đôi tay và trái tim để ôm lấy toàn thể nhân loại. Người nghèo, kẻ khốn cùng, người bị bỏ rơi không phải là những đối tượng xa lạ để chúng ta ban phát lòng thương hại từ trên cao xuống, mà họ chính là những người được Thiên Chúa đặc quyền mời gọi vào bàn tiệc của Ngài trước tiên. Khi chúng ta khép cửa lòng mình trước người khác, khi chúng ta quy chiếu mọi sự về cái tôi ích kỷ hay nhóm lợi ích nhỏ hẹp của mình, chúng ta tự cô lập bản thân ra khỏi niềm vui cứu độ phổ quát.
Để sống tinh thần của tiệc cưới Thiên Chúa, mỗi Ki-tô hữu cần phải thực hiện một cuộc hành trình hoán cải tận căn. Cuộc hoán cải ấy bắt đầu từ việc từ bỏ sự tự mãn thiêng liêng. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã đạo đức, đã giữ chu đáo các luật lệ tôn giáo thì mình có đặc quyền đứng cao hơn những người khác. Sự tự mãn là kẻ thù nguy hiểm nhất tiêu diệt ơn sủng. Trước mặt Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều là những kẻ beggars – những kẻ xin ăn đứng bên lề đường lịch sử, ngửa tay chờ đợi lòng thương xót. Chỉ khi nào chúng ta khiêm tốn thừa nhận sự bất toàn và yếu đuối của mình, chúng ta mới thực sự nếm trải được sự ngọt ngào của bữa tiệc ân sủng.
Đồng thời, sứ điệp này cũng mời gọi chúng ta trở thành những người đầy tớ trung kiên của Chúa. Vị chủ nhà đã sai đầy tớ đi ra các nẻo đường để ép người ta vào. Cái “ép” ở đây tuyệt đối không mang ý nghĩa của bạo lực thể lý hay ép buộc tinh thần cực đoan, mà là sức mạnh cảm hóa của một tình yêu mãnh liệt, một thái độ kiên trì, nhiệt thành không mệt mỏi đem Tin Mừng đến cho những ai chưa nhận biết Chúa. Thế giới hôm nay đang rất cần những người tông đồ mang mùi của chiên, những người sẵn sàng bước ra khỏi những bức tường an toàn của nhà thờ, của hội đoàn để dấn thân vào các vùng ngoại biên của xã hội – nơi có những con người đang chết mòn vì cô đơn, vì tuyệt vọng, vì đói khát vật chất lẫn tinh thần.
Chúng ta hãy cầu xin ơn Chúa ban cho mỗi người chúng ta một trái tim rộng mở, một đôi tai biết lắng nghe tiếng Chúa gọi giữa bộn bề ồn ào của cuộc sống, và một đôi chân sẵn sàng bước đi trên các nẻo đường trần gian để loan báo Tin Mừng cứu độ. Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi những chiếc áo cũ kỹ của sự ích kỷ, kiêu ngạo và định kiến, để chúng ta biết mặc lấy tâm tình của Đức Ki-tô – Đấng đã đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.
Nguyện xin ánh sáng và ơn thiêng của Thiên Chúa hằng ở cùng anh chị em, soi đường chỉ lối cho từng bước chân chúng ta đi, để cuộc đời mỗi người chúng ta thực sự trở thành một khúc ca tụng hồng ân, một lời đáp trả đầy tín thác và yêu mến trước bàn tiệc muôn đời mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho tất cả những ai mở rộng tâm hồn đón nhận Ngài.
Lm. Anmai, CSsR

ÁNH SÁNG CỦA LÒNG TRUNG TẤN VÀ SỰ KHÔN NGOAN CỦA NƯỚC TRỜI TRONG HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN THƯỜNG NHẬT
Trong hành trình trần thế, mỗi người chúng ta đều là những kẻ lữ hành đang rảo bước tiến về quê hương vĩnh cửu. Đời sống đức tin không phải là một con đường bằng phẳng, trải đầy hoa hồng hay tách biệt khỏi những thử thách thực tế của cuộc sống, mà là một cuộc chiến đấu thiêng liêng đòi hỏi sự tỉnh thức, lòng kiên trì và một tầm nhìn vượt qua khỏi những giới hạn hữu hạn của trần gian. Khi lắng nghe Lời Chúa trong phụng vụ hôm nay, qua thư gửi tín hữu Phi-líp-phê và đoạn Tin Mừng theo thánh Lu-ca, tâm hồn chúng ta được mời gọi để chiêm ngắm sâu xa hơn về ý nghĩa của sự hiện hữu đích thực, về cách thức chúng ta quản lý những ơn ban mà Thiên Chúa đã phú bẩm, cũng như về sự khôn ngoan mà con cái ánh sáng cần phải thể hiện giữa một thế giới đầy dẫy những bóng tối và cạm bẫy của sự ích kỷ.
Thánh Phao-lô tông đồ, trong bức thư gửi cộng đoàn Phi-líp-phê, đã để lại cho chúng ta một tâm tình vừa mang tính khích lệ mạnh mẽ, vừa mang tính cảnh báo nghiêm túc. Ngài mời gọi các tín hữu hãy dõi bước theo ngài và nhìn vào những ai sống theo gương mẫu mà các ngài đã để lại. Bởi vì, như thánh nhân đau đớn nhận ra, có rất nhiều người ăn ở mà ngài đã từng nhiều lần nhắc nhở, và nay phải vừa khóc mà nói rằng họ là kẻ thù của thập giá Đức Ki-tô. Chung cục của những kẻ ấy là sự hủy diệt, vì chúa tể của họ chính là cái bụng, và vinh quang của họ lại đặt ở những điều đáng hổ thẹn, khi tâm trí họ chỉ hướng về những thực tại trần thế. Sự gắn bó mù quáng vào vật chất, vào những ham muốn thấp hèn hay những giá trị mau qua của thế gian này luôn là một cái bẫy tinh vi làm cho con người ta đánh mất đi căn cước linh thiêng của mình. Khi con người biến những nhu cầu thể lý hay những thành công tạm bợ thành thần tượng tối cao, họ tự động cắt đứt mối dây liên kết hiệp thông với Đấng Tạo Hóa, biến cuộc đời mình thành một chuỗi những toan tính khép kín, nơi mà tình yêu và sự hy sinh bị gạt ra bên lề.
Ngược lại với thái độ sống khép kín và tự mãn của những kẻ thù thập giá Đức Ki-tô, thánh Phao-lô khẳng định một cách đầy xác tín và hân hoan: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, sẽ đến”. Niềm hy vọng này không phải là một thứ ảo tưởng trốn chạy thực tế, cũng không phải là một sự an ủi tinh thần rẻ tiền dành cho những ai thất bại ở trần gian, mà là một động lực mãnh liệt biến đổi toàn bộ hiện sinh của người tín hữu. Đức Giê-su Ki-tô sẽ biến đổi thân thể yếu hèn của chúng ta nên giống thân thể vinh hiển của Người, nhờ quyền năng mà Người có thể bắt muôn vật phải quy phục mình. Chính vì thế, thánh Phao-lô mới tha thiết kêu gọi cộng đoàn Phi-líp-phê: “Vì vậy, hỡi anh em thân mến và là niềm hoan hở của tôi, là triều thiên của tôi, anh em hãy đứng vững trong Chúa như thế, anh em thân mến!” Sự đứng vững ấy không dựa vào sức mạnh tự nhiên hay sự khôn ngoan phàm nhân, mà dựa hoàn toàn vào ân sủng của Thiên Chúa và sự trung kiên của một tâm hồn biết hướng về cõi vĩnh hằng.
Sự hướng về cõi vĩnh hằng ấy không làm cho chúng ta trở thành những kẻ bàng quan, lười biếng hay vô trách nhiệm đối với thực tại trần thế hiện tại. Trái lại, chính ánh sáng của quê trời mới rọi chiếu xuống giúp chúng ta nhìn nhận đúng đắn giá trị của từng giây phút sống ở đời này, đặc biệt là cách thức chúng ta sử dụng những tài năng, thời gian và của cải mà Thiên Chúa trao phó. Điều này được minh họa một cách vô cùng sinh động qua dụ ngôn về người quản gia bất lương mà Chúa Giê-su đã kể trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca. Dụ ngôn này thoạt nghe có vẻ gây sốc và khó hiểu đối với những ai chỉ nhìn sự việc qua lăng kính đạo đức thông thường, bởi vì ông chủ lại đi khen ngợi tên quản gia bất lương vì hắn đã hành động một cách khôn khéo. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào ý nghĩa đích thực của hình ảnh mà Chúa Giê-su sử dụng, chúng ta sẽ nhận ra một bài học thiêng liêng vô cùng thâm trầm và sắc sảo về thái độ sống của người môn đệ.
Trong dụ ngôn, người quản gia khi bị cáo buộc là phung phí tài sản của chủ và sắp bị mất chức, đã không buông xuôi trong tuyệt vọng, cũng không đi xin ăn hay làm thuê vất vả, mà hắn đã dùng sự khôn ngoan tính toán để lo cho tương lai của mình. Hắn gọi từng con nợ của chủ lại và giảm bớt cho họ một phần nợ một cách đầy hào phóng, để khi bị cách chức, những người đó sẽ đón nhận hắn về nhà của họ. Hành động của hắn tự bản chất là bất lương vì đó là tài sản của chủ, nhưng điểm mà Chúa Giê-su muốn nhấn mạnh và ngợi khen không phải là sự gian lận hay bất chính của hắn, mà là sự sắc sảo, tầm nhìn xa trông rộng và thái độ quyết liệt, khẩn trương trong việc lo cho tương lai của chính mình. Chúa Giê-su đã đưa ra một nhận xét mang tính khẳng định đầy trăn trở: “Vì con cái đời này khôn khéo hơn con cái sự sáng khi đối xử với người đồng loại của mình”.
Lời nhận xét này của Chúa Giê-su là một tiếng chuông cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với tất cả những ai tự xưng mình là con cái sự sáng, là môn đệ của Đức Ki-tô. Biết bao nhiêu lần, những người thuộc về thế gian này lại tỏ ra vô cùng tận tụy, nhạy bén, sáng tạo, kiên trì và đầu tư toàn bộ tâm huyết, trí tuệ để đạt được những mục tiêu vật chất, danh vọng, quyền lực hay sự an toàn tạm bợ ở đời này. Họ biết cách tận dụng mọi cơ hội, tính toán từng đường đi nước bước, không quản ngại khó khăn vất vả để xây dựng tương lai cho bản thân và gia đình. Trong khi đó, không ít lần chúng ta, những người được mời gọi hướng về Vương Quốc vĩnh cửu, lại tỏ ra hời hợt, lười biếng, thiếu suy nghĩ chiến lược, sống buông xuôi theo dòng chảy của thời gian và lãng phí những ân huệ cao cả mà Thiên Chúa đã thương ban. Chúng ta đầu tư rất nhiều cho những cái sẽ qua đi, nhưng lại quá đỗi keo kiệt và hững hờ với những giá trị trường tồn vĩnh cửu.
Chính vì thế, Chúa Giê-su đã đưa ra lời mời gọi mang tính định hướng cho toàn bộ đời sống luân lý và thiêng liêng của người Ki-tô hữu: “Và tôi bảo các con: hãy dùng tiền của gian dối mà kết bạn cho mình, để khi tiền của cạn hết, các ngươi sẽ được đón nhận vào các lều trại vĩnh cửu”. Tiền của gian dối ở đây không có nghĩa là của cải kiếm được bằng con đường tội ác mà không thể sử dụng, nhưng là bản chất mau qua, bất định và thường là nguyên nhân dẫn đến sự bất chính, chia rẽ của của cải trần thế này. Thay vì bám víu vào chúng như là cứu cánh tối hậu, biến chúng thành những thần tượng chi phối tâm hồn, người môn đệ khôn ngoan là người biết biến những phương tiện vật chất hữu hạn ấy thành những nhịp cầu của tình bác ái, của lòng thương xót và sự chia sẻ. Khi chúng ta mở rộng bàn tay để giúp đỡ những người nghèo đói, bất hạnh, đau khổ và bé mọn, khi chúng ta dùng của cải để xoa dịu những nỗi đau của anh chị em đồng loại, chính là lúc chúng ta đang tích trữ những kho tàng đích thực trên trời, nơi mối mọt không thể đục phá và kẻ trộm không thể đào ngạch mà lấy đi.
Sự khôn ngoan của con cái sự sáng không nằm ở sự mưu mô, gian xảo hay tìm cách trục lợi cá nhân trên lưng người khác, mà nằm ở khả năng nhìn thấu suốt bản chất tạm bợ của trần gian này để đặt trọn vẹn niềm tin tưởng và hy vọng vào Thiên Chúa. Một con người trung tín trong những việc nhỏ nhặt nhất định sẽ là người trung tín trong những việc lớn lao. Chúa Giê-su đã đặt ra một nguyên lý nền tảng về lòng trung tín: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn”. Đời sống đức tin không phải là một chuỗi những hành động vĩ đại chỉ diễn ra vào những dịp lễ trọng hay trong những thời khắc lịch sử huy hoàng, mà được dệt nên từ những chọn lựa nhỏ nhặt, âm thầm, trung thực trong từng góc khuất của đời sống thường ngày. Một lời nói thật, một ánh mắt cảm thông, một sự sẵn sàng tha thứ, một thái độ tôn trọng phẩm giá người khác, hay một sự tận tụy trong công việc bổn phận hằng ngày chính là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên tòa nhà đức hạnh vững chắc.
Nếu chúng ta không biết trung tín trong việc sử dụng những tài sản vật chất mau qua — những thứ vốn dĩ chỉ là của mượn tạm mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta làm người quản gia trong một thời gian ngắn ngủi — thì làm sao chúng ta có thể được trao phó những tài sản thiêng liêng đích thực và vĩnh cửu? Của cải vật chất không phải là của riêng chúng ta để muốn làm gì thì làm, mà chúng ta chỉ là những người quản lý được chủ nhà trao phó để phân phát theo ý muốn của Ngài. Một người quản gia tồi là người nghĩ rằng những gì mình đang nắm giữ thuộc về sở hữu vĩnh viễn của mình, từ đó trở nên kiêu ngạo, hà tiện, bóc lột người khác và sống ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân. Ngược lại, người quản gia khôn ngoan và trung tín luôn ý thức rằng mọi thứ mình có đều là hồng ân, và mình sẽ phải trương mục, chịu trách nhiệm trước mặt Chủ tối cao vào một ngày không xa. Ý thức về tính trách nhiệm này tạo ra một sự tự do nội tâm tuyệt vời, giúp chúng ta không bị trói buộc bởi vật chất, mà ngược lại, biết sử dụng chúng như một phương tiện đắc lực để thực thi lòng bác ái và làm vinh danh Thiên Chúa.
Hơn thế nữa, bài học về sự trung tín và khôn ngoan này còn soi chiếu vào mối tương quan sâu thẳm giữa chúng ta với Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã đưa ra một chân lý tuyệt đối không thể chối cãi: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc nó ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ nọ mà khinh dể chủ kia. Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền của được”. Tiền của, hay nói rộng hơn là tinh thần thế tục, là một thứ chủ nhân vô cùng xảo quyệt và đòi hỏi sự tôn thờ tuyệt đối. Nó hứa hẹn mang lại sự an toàn, hạnh phúc, tự do và quyền lực, nhưng thực chất lại giam hãm con người trong vòng xoáy của sự lo âu bất tận, sự bất an sâu thẳm và lòng tham không đáy. Chỉ có Thiên Chúa mới là Chủ đích thực, Đấng giải thoát con người khỏi ách nô lệ của vật chất, ban cho tâm hồn sự bình an đích thực và mở ra trước mắt chúng ta chân trời của sự sống dồi dào. Việc chọn lựa phục vụ Thiên Chúa đòi hỏi một sự dứt khoát triệt để, một cuộc cách mạng nội tâm để đập tan ngẫu tượng tiền tài và đặt Thiên Chúa lên vị trí tối thượng trong toàn bộ hệ thống giá trị của đời sống mình.
Khi Pharisiêu, những kẻ vốn ham mê tiền bạc, nghe những lời ấy liền chế nhạo Người, Chúa Giê-su đã không ngần ngại vạch trần thái độ giả hình của họ: “Các ngươi là những kẻ ra điều công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu suốt lòng các ngươi; bởi vì điều gì cao sang đối với loài người thì lại là ghê tởm trước mặt Thiên Chúa”. Sự thật phũ phàng này vẫn luôn có tính thời sự nóng hổi đối với mỗi thế hệ Ki-tô hữu chúng ta hôm nay. Rất dễ để chúng ta khoác lên mình chiếc áo đạo đức bên ngoài, tham gia các hoạt động tôn giáo, đọc những lời kinh nguyện dài dòng, nhưng thâm tâm bên trong vẫn bị chi phối bởi lòng tham lam, sự đố kỵ, sự bám víu vào địa vị và tiền tài. Thiên Chúa không nhìn bề ngoài hay những hình thức tôn giáo trống rỗng, nhưng Ngài thấu suốt tâm can, dò thấu những động cơ ẩn giấu sau từng hành động của chúng ta. Ngài muốn một sự chân thành từ đáy lòng, một tình yêu sống động được thể hiện qua hành động cụ thể, và một lòng trung kiên không khoan nhượng trước những cám dỗ của thế gian.
Nhìn lại hành trình đức tin của chính mình trong bối cảnh xã hội hiện đại hôm nay, chúng ta thấy biết bao thách thức đang đè nặng lên đôi vai của những người muốn sống theo Tin Mừng. Thế giới hôm nay cổ suy vinh danh sự giàu có bằng mọi giá, đề cao chủ nghĩa tiêu thụ, biến con người thành những cỗ máy mua sắm và đánh giá phẩm giá con người dựa trên số dư tài khoản hay chiếc xe họ đi, ngôi nhà họ ở. Trong một bầu khí như thế, việc giữ gìn sự trong sạch của tâm hồn, sống khiêm tốn, biết chia sẻ và tìm kiếm Vương Quốc Thiên Chúa trước hết trở thành một cuộc lội ngược dòng đầy cam go. Đòi hỏi của Tin Mừng không cho phép chúng ta thỏa hiệp với tinh thần thế tục hay sống hai mặt: một mặt tỏ ra đạo đức trong cộng đoàn, mặt khác lại gian dối, thủ đoạn trong đời sống kinh tế và xã hội thường ngày.
Sự khôn ngoan của con cái sự sáng đòi hỏi chúng ta phải biết nhìn xa trông rộng, vượt qua khỏi những toan tính ngắn hạn của kiếp sống phù du này. Giống như người quản gia trong dụ ngôn đã biết chuẩn bị cho một tương lai khi ông chủ sa thải hắn, người môn đệ Đức Ki-tô cũng phải biết chuẩn bị cho ngày mình phải giã từ cõi đời này để diện kiến trước Tòa án tối cao của Thiên Chúa. Sự chuẩn bị đó không phải bằng sự lo sợ hãi hùng, mà bằng một đời sống tràn đầy tình yêu mến, bằng việc sử dụng thời gian, sức lực và tài năng Chúa ban để xây dựng nền văn minh của tình thương và sự sống. Mỗi hành động bác ái, mỗi sự hy sinh âm thầm vì lợi ích của tha nhân, mỗi nỗ lực gìn giữ sự công chính và trung tín trong công việc hằng ngày chính là những hạt giống gieo vào lòng đất vĩnh cửu, để rồi sẽ trổ sinh hoa trái dồi dào trong ngày phán xét cuối cùng.
Đức tin đích thực không bao giờ là một thứ đức tin nằm yên trên môi miệng, mà phải là một sức mạnh năng động đổi mới toàn diện cuộc sống. Khi chúng ta thực sự xác tín rằng quê hương chúng ta ở trên trời, chúng ta sẽ không còn quá bám víu vào những vinh quang tạm bợ hay những tổn thất nhỏ nhặt ở đời này. Sự tự do nội tâm ấy giúp chúng ta dám sống quảng đại hơn, dám tha thiết yêu thương ngay cả những người đối xử tệ với mình, dám dấn thân cho công lý và hòa bình dẫu phải gặp nhiều thiệtòi. Đó chính là nét đẹp cao cả của người con cái sự sáng, những người không bước đi trong bóng tối của sự ích kỷ và tính toán hẹp hòi, nhưng được soi rọi bởi ngọn lửa tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa.
Trong bầu khí thánh thiêng của buổi suy niệm này, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu xin chân thành từ đáy lòng. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta ơn khôn ngoan đích thực từ trời cao, để chúng ta biết nhìn thấu suốt giá trị mau qua của của cải và quyền lực trần thế, từ đó không để lòng mình bị trói buộc hay lệ thuộc vào chúng. Xin cho chúng ta biết trở thành những người quản gia trung tín và khôn ngoan, biết tận dụng mọi cơ hội mà Thiên Chúa ban cho trong cuộc đời này để làm việc thiện, để san sẻ tình thương và nâng đỡ những anh chị em đang gặp cảnh khốn cùng. Xin ơn Chúa thanh luyện tâm hồn chúng ta khỏi mọi thói giả hình, ích kỷ và ham muốn thấp hèn, để từng ngày sống của chúng ta thực sự là một lời ngợi ca đẹp đẽ dâng lên Thiên Chúa.
Và khi đối diện với những giông bão, thử thách hay những cám dỗ làm chao đảo đức tin, xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh vững vàng để đứng vững trong tình yêu của Người, luôn ngước mắt trông chờ ngày Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ chúng ta, quang lâm trong vinh quang để biến đổi thân thể yếu hèn của chúng ta nên giống thân thể vinh hiển của Người. Ước gì cuộc đời chúng ta, từ những việc nhỏ nhặt nhất trong đời sống thường nhật cho đến những quyết định lớn lao, đều được chiếu soi bởi ánh sáng của niềm hy vọng vĩnh cửu, để khi lữ hành trên mặt đất này, chân bước đi trong trần gian mà tâm hồn đã thuộc trọn về quê trời cao sang.
Lm. Anmai, CSsR