BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO 11-10-2026
Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Tin Giáo Hội công giáo ngày 11 tháng 10 năm 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Lễ Chúa Nhật tuần XXVIII TN – Lm. Anmai, CSsR
CHIẾC ÁO DỰ TIỆC CƯỚI ĐƯỢC DỆT BẰNG TÌNH YÊU CN 28 TN Năm A – Lm. Anmai, CSsR
BỮA TIỆC ĐÃ DỌN SẴN, SAO TA VẪN CHƯA ĐẾN SN DN tiệc cưới 28 Thường Niên năm A – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN: XIN CHO CHÚNG CON ĐÁP LẠI LỜI MỜI DỰ TIỆC NƯỚC TRỜI
Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, chúng con cảm tạ Cha đã yêu thương mời gọi chúng con bước vào sự hiệp thông với Cha, được dự bàn tiệc cứu độ mà Cha đã chuẩn bị nơi Đức Giêsu Kitô. Chúng con hiện diện trước nhan Cha với lòng biết ơn, vì giữa những yếu đuối và bất xứng, chúng con vẫn được Cha tìm kiếm, đón nhận và ban cơ hội trở về. Xin giúp chúng con nhận ra giá trị của lời mời ấy, để biết mở lòng đón nhận ân sủng và sống xứng đáng với tình yêu Cha. Xin cho chúng con hiểu rằng được thuộc về Cha là một hồng ân lớn lao, cần được đáp lại bằng lòng tin, sự hoán cải và một đời sống yêu thương chân thành.
Lạy Cha, chúng con xin lỗi vì những lần đã thờ ơ trước lời mời của Cha. Nhiều khi chúng con dành hết tâm trí cho công việc, tiền bạc và những dự định riêng, rồi để việc cầu nguyện, tham dự Thánh lễ và chăm sóc đời sống đức tin ở cuối những ưu tiên. Chúng con dễ tìm thời gian cho điều mình yêu thích, nhưng lại viện cớ bận rộn khi Cha mời gọi chúng con đến gặp Cha. Có lúc chúng con nghe lời Cha mà không muốn thay đổi, nhận ra điều cần làm nhưng vẫn trì hoãn, biết mình đang đi sai mà chưa can đảm trở lại. Xin Cha tha thứ cho sự hờ hững ấy. Xin đánh thức tâm hồn chúng con, để chúng con biết sử dụng thời gian cách khôn ngoan, chu toàn bổn phận trong tình yêu và dành cho Cha một chỗ thật sự trong từng ngày sống.
Lạy Cha, lời mời đi ra các ngả đường giúp chúng con nhận ra lòng quảng đại của Cha đối với mọi người. Xin cho Hội Thánh và các cộng đoàn chúng con biết mở rộng vòng tay, quan tâm đến những người ít được chú ý, tìm đến những người đang xa cách và đồng hành với những ai mang nhiều thương tích. Xin giải thoát chúng con khỏi thái độ tự mãn, khỏi thói đánh giá người khác theo địa vị, hoàn cảnh hoặc quá khứ của họ. Xin cho người nghèo được tôn trọng, người cô đơn được thăm hỏi, người lầm lỗi được nâng đỡ để hoán cải, người đang tìm kiếm đức tin được lắng nghe với lòng chân thành. Xin dạy chúng con đón tiếp nhau như những người cùng được Cha yêu thương, biết phục vụ âm thầm và không dùng việc tốt để đề cao bản thân.
Lạy Cha, xin mặc cho chúng con y phục của một đời sống được đổi mới trong Đức Kitô. Xin thanh tẩy lòng chúng con khỏi sự gian dối, ganh tị, ích kỷ và những hận thù còn giữ kín. Xin cho đức tin chúng con sinh hoa trái trong cách sống ngay thẳng, lòng quảng đại và sự trung thành với các bổn phận. Khi đã làm tổn thương ai, xin cho chúng con can đảm nhận lỗi và sửa chữa; khi bị xúc phạm, xin nâng đỡ chúng con trên hành trình tha thứ; khi gặp người thiếu thốn, xin giúp chúng con sẵn lòng chia sẻ. Xin đừng để chúng con bằng lòng với việc đạo đức bên ngoài mà bỏ quên sự công chính và lòng thương xót. Xin ban cho chúng con ơn biết xét mình, thành tâm lãnh nhận Bí tích Hòa Giải và kiên trì thực hiện những điều đã quyết tâm sửa đổi.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa nuôi dưỡng chúng con bằng chính Mình và Máu Chúa trong bàn tiệc Thánh Thể. Xin cho chúng con đến tham dự Thánh lễ với tâm hồn chuẩn bị, biết lắng nghe Lời Chúa, dâng lên Chúa những vui buồn và đón nhận Chúa với lòng kính yêu. Xin cho sự hiệp thông với Chúa tiếp tục trong đời sống gia đình, nơi làm việc và giữa cộng đoàn. Xin giúp chúng con biết đem lại bình an bằng những lời chân thật, xây dựng sự hiệp nhất bằng lòng tôn trọng và làm chứng cho Tin Mừng bằng những việc bác ái cụ thể. Xin thương những người đang đau bệnh, đói nghèo, mất phương hướng hoặc thất vọng về bản thân; xin cho họ nhận ra lời mời yêu thương của Chúa qua sự nâng đỡ của những người chung quanh.
Lạy Cha, xin cho chúng con luôn tỉnh thức trước trách nhiệm đáp lại ân sủng đã nhận. Xin gìn giữ chúng con khỏi sự chần chừ và lòng chai cứng, để hôm nay chúng con biết trở về, hôm nay biết yêu thương, hôm nay biết thực hiện điều thiện Cha đang mời gọi. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, xin giúp chúng con trung thành bước theo Đức Kitô suốt cuộc đời. Và khi hành trình trần thế kết thúc, xin Cha thương đón chúng con cùng những người chúng con yêu mến vào bàn tiệc Nước Trời, được hưởng niềm vui hiệp thông trọn vẹn với Cha đến muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến! Tin Mừng hôm nay kể cho chúng ta nghe dụ ngôn bữa tiệc cưới. Mỗi người chúng ta đều được mời đến dự bữa tiệc này, nghĩa là đến với vương quốc mà Chúa Kitô đã đến thiết lập trên trần gian. Chúa mời loài người đến dự tiệc cưới Con Chiên. Thế nhưng biết bao người đã từ chối lời mời đó, thích làm việc riêng của mình, sinh nhai hoặc đeo đuổi lạc thú riêng. Nếu chúng ta biết đáp lại lời kêu gọi của Chúa mà mặc áo cưới để xứng đáng ngồi vào Bàn Tiệc Thánh, thì cuộc sống của chúng ta sẽ sáng ngời với niềm vui mỗi ngày. Cuộc đời chúng ta sẽ là một ngày lễ, mặc dù thử thách và lo âu thế nào. Chúng ta cùng nhau xin Chúa thứ tha để xứng đáng cử hành Thánh Lễ.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, lạy Chúa, nếu Chúa nhớ hoài sự lỗi, nào ai chịu nổi được ư? Vì lạy Thiên Chúa Is-ra-el, Chúa thường rộng lượng thứ tha.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy, Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Is 25, 6-10a
“Chúa mời đến dự tiệc của Người và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ngày ấy, Chúa các đạo binh sẽ thết tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon. Trên núi này, Người sẽ cất khăn tang bao trùm muôn dân và tấm khăn liệm trải trên mọi nước. Người tiêu diệt sự chết đến muôn đời. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt, và cất bỏ khỏi toàn mặt đất sự tủi hổ của dân Người, vì Người đã phán. Ngày đó, người ta sẽ nói: Này đây Chúa chúng ta. Ðây là Chúa, nơi Người, chúng ta đã tin tưởng, chúng ta hãy hân hoan và vui mừng vì ơn Người cứu độ, vì Chúa sẽ đặt tay của Người trên núi này.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Ðáp: Trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài
Xướng: Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Xướng: Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – (Lạy Chúa,) dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Người, đó là điều an ủi lòng con.
Xướng: Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.
Xướng: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo con hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, con sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
Bài Ðọc II: Pl 4, 12-14. 19-20
“Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê.
Anh em thân mến, tôi biết chịu thiếu thốn và biết hưởng sung túc. Trong mọi trường hợp và hết mọi cách, tôi đã học cho biết no, biết đói, biết dư dật và thiếu thốn. Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi. Nhưng anh em đã hành động chí lý khi san sẻ nỗi quẫn bách của tôi. Xin Thiên Chúa cung cấp dư dật những nhu cầu của anh em, theo sự phú túc vinh sang của Người trong Ðức Giêsu Kitô. Vinh danh Thiên Chúa là Cha chúng ta muôn đời. Amen!
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: x. Cv 16, 14b
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin hãy mở lòng chúng con, để chúng con lắng nghe lời Con của Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 22, 1-10 {hoặc 1-14}
“Các ngươi gặp bất cứ ai, thì hãy mời vào dự tiệc cưới”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu lại phán cùng các đầu mục tư tế và kỳ lão trong dân những dụ ngôn này rằng: “Nước trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai các đầy tớ khác mà rằng: “Hãy nói cùng những người đã được mời rằng: Này ta đã dọn tiệc sẵn rồi, đã hạ bò và súc vật béo tốt rồi, mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới”. Những người ấy đã không đếm xỉa gì và bỏ đi: người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán; những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi. Khi vua nghe biết, liền nổi cơn thịnh nộ, sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó, và thiêu huỷ thành phố của chúng. Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: “Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Các đầy tớ liền đi ra đường, gặp ai bất luận tốt xấu, đều quy tụ lại và phòng cưới chật ních khách dự tiệc.
{Ðoạn vua đi vào quan sát những người dự tiệc, và thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới. Vua liền nói với người ấy rằng: “Này bạn, sao bạn vào đây mà lại không mặc y phục lễ cưới?” Người ấy lặng thinh. Bấy giờ vua truyền cho các đầy tớ rằng: “Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng! Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít”.}
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
MẪU 1
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Cha làm cho chúng ta gia nhập gia đình của Ngài. Ngài còn mời gọi chúng ta đón nhận lời Ngài. Giờ đây chúng ta dâng lên Chúa những lời khẩn nguyện.
1. Chúng ta cầu nguyện cho Giáo Hội, thành đô của Chúa được xây dựng trên núi, luôn là muối và ánh sáng cho trần gian, ngõ hầu Giáo Hội mang lại hương vị cho cuộc sống nhân loại.
2. Chúng ta cầu nguyện, xin Thiên Chúa là niềm hy vọng của các dân tộc. Xin cho các nhà lãnh đạo các quốc gia trở thành khí cụ bình an, và nỗ lực loại trừ chiến tranh ra khỏi mặt đất này.
3. Chúng ta cầu nguyện, xin Chúa nhớ đến giao ước mà Ngài đã thiết lập trong thời Cựu Ước và Tân Ước. Xin cho các dân tộc đón nhận lời mời gọi của Chúa mà bước vào sống hiệp thông với Ngài.
4. Chúng ta cầu nguyện, xin Chúa nhìn đến nỗi yếu hèn của mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, mà ban cho chúng ta trở thành chứng nhân niềm vui ơn cứu độ của Chúa cho mọi người.
Chủ tế: Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha. Hôm nay, cùng với Giáo Hội, Cha mời gọi chúng con cử hành tiệc Thánh Thể với Chúa Giêsu, Con Cha. Xin cho mọi người trên khắp cùng thế giới thành tâm đón nhận lời mời gọi của Cha, để trong tiệc Thánh Thể họ trở thành một thân thể duy nhất. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
MẪU 2
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa là Cha đã yêu thương mời gọi chúng ta vào dự Tiệc Cưới Nước Trời, và ban của ăn thịnh soạn là chính Lời Chúa và Thánh Thể. Chúng ta cùng tạ ơn và dâng lên Người những lời nguyện xin:
1. “Này mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mọi thành phần trong Hội Thánh, biết siêng năng tham dự bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, là lương thực thần linh nuôi sống linh hồn mình.
2. “Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nhà lãnh đạo quốc gia, biết nhiệt thành cộng tác với Đấng Tạo Hoá, để đem lại hạnh phúc cho mọi người.
3.“Đức Chúa sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những người vô gia cư, không có việc làm, tìm được nơi nương tựa trong tình yêu Chúa và lòng thương mến của mọi người, để tìm thấy niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống.
4.“Này bạn, sao bạn vào đây mà không có y phục lễ cưới?”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, luôn biết mặc áo công chính, thánh thiện để được vào dự tiệc cưới Con Chiên trên Nước Trời.
Chủ tế: Lạy Chúa, xin thương đoái nhận những ước nguyện của chúng con và ban ơn trợ lực để chúng con vượt thắng những cám dỗ khiến chúng con không còn hăm hở đến dự tiệc vui muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin chấp nhận những lời cầu xin và lễ vật chúng con dâng tiến, để làm cho thánh lễ chúng con đang sốt sắng cử hành mở đường dẫn chúng con tới quê trời vinh hiển. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Bọn giàu sang đã sa cơ nghèo đói; nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo.
Hoặc đọc:
Khi Chúa tỏ mình ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng cao cả. Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô làm của ăn nuôi dưỡng chúng con; chúng con nài xin Chúa cho chúng con được chia sẻ chức vị làm con Chúa với Người, Người hằng sống và hiển trị muôn đời…
ĐỪNG ĐỂ LÒNG MÌNH VẮNG MẶT TRONG BỮA TIỆC THIÊN CHÚA
Có những cánh cửa vẫn mở mà chúng ta không bước vào. Có những bàn ăn đã dọn sẵn mà chiếc ghế dành cho chúng ta cứ mãi trống không. Có những người kiên nhẫn chờ đợi chúng ta trở về, nhưng chúng ta lại dành hết thời gian cho những cuộc hẹn khác. Điều đau đớn nhất trong một tương quan nhiều khi không phải là một lời từ chối gay gắt, nhưng là sự dửng dưng kéo dài: người này tha thiết muốn gặp, người kia không thấy cuộc gặp ấy có gì đáng bận tâm; người này đã chuẩn bị bằng tất cả tình yêu, người kia coi đó chỉ là một việc có thể làm sau. Dụ ngôn tiệc cưới đặt chúng ta trước một sự thật vừa đẹp đẽ vừa đáng suy nghĩ: Thiên Chúa muốn con người được dự phần vào niềm vui của Người, nhưng con người có thể sống như thể niềm vui ấy chẳng liên quan gì đến mình. Một vị vua mở tiệc cưới cho con, mọi sự được chuẩn bị, những người được mời được nhắc lại lời mời, vậy mà họ không đến. Không phải vì bàn tiệc thiếu chỗ. Không phải vì chủ tiệc không muốn đón tiếp. Không phải vì niềm vui quá nhỏ bé. Vấn đề nằm ở chỗ lòng người đã ở nơi khác. Và khi nghe câu chuyện này, chúng ta rất dễ nhìn những người từ chối như những kẻ xa lạ, trong khi có thể chính mình cũng đang để chiếc ghế của mình trống trong những cuộc gặp gỡ mà Thiên Chúa dành cho mình mỗi ngày.
Trước khi hỏi con người đã đáp lại thế nào, chúng ta cần dừng lại trước điều Thiên Chúa đang muốn trao ban. Người mở một tiệc cưới. Hình ảnh ấy mang theo niềm vui, sự gắn bó, tình thân và một khởi đầu mới. Trong một đám cưới, người ta không chỉ đến để ăn, nhưng đến để chia sẻ hạnh phúc của những người mình yêu quý. Sự hiện diện của khách mời làm cho niềm vui được lan rộng. Một người cha chuẩn bị tiệc cưới cho con không chỉ tính toán số mâm, số món, số chỗ ngồi; ông mong thấy những gương mặt thân thuộc, mong nghe lời chúc mừng, mong những người được mời bước vào niềm vui của gia đình. Khi dùng hình ảnh ấy để nói về Nước Trời, Đức Giê-su mở ra cho chúng ta một cách nhìn sâu xa về đời sống đức tin. Thiên Chúa không gọi chúng ta đến một cuộc sống trống rỗng, chỉ có những cấm đoán và nghĩa vụ. Người gọi chúng ta vào sự sống có tình yêu, vào một tương quan trong đó chúng ta được biết mình thuộc về ai, được nâng đỡ bởi ai, đang đi về đâu. Có người sống đạo nhiều năm nhưng trong lòng chỉ còn một danh sách những việc phải làm, những điều phải tránh, những bổn phận phải hoàn tất. Họ biết giờ lễ, biết kinh đọc, biết các ngày buộc, nhưng dần dần đánh mất cảm thức mình đang được yêu thương. Khi không còn nhận ra tình yêu ở phía sau lời mời, việc đến với Chúa dễ trở thành một gánh nặng. Khi nhận ra mình được chờ đợi, bước chân đến với Người bắt đầu có một sức sống khác.
Lời mời của Thiên Chúa chạm đến một nhu cầu rất sâu trong con người: nhu cầu được đón nhận. Có những người bề ngoài mạnh mẽ nhưng trong lòng luôn sợ mình không đủ tốt để được yêu. Có những người thành công nhưng vẫn sống trong cảm giác phải chứng minh giá trị của mình từng ngày. Có những người lớn lên giữa nhiều lời chê trách đến mức khi được đối xử tử tế, họ cũng khó tin rằng sự tử tế ấy là thật. Có người đã phạm sai lầm, đã làm tổn thương gia đình, đã xa nhà thờ, đã sống trong những lựa chọn khiến chính họ xấu hổ, và họ nghĩ Thiên Chúa chỉ còn nhìn mình bằng sự thất vọng. Dụ ngôn tiệc cưới mở ra một lối về cho những tâm hồn như thế. Lời mời được đưa đến những ngả đường, đến những người không có vị trí nổi bật, không có hồ sơ đẹp, không có lý do để tự nhận mình xứng đáng hơn người khác. Bàn tiệc không chỉ dành cho những người từ nhỏ đã quen bước vào nơi sang trọng. Những người đang ở bên lề cũng được tìm đến. Tuy nhiên, được đón nhận không có nghĩa là mọi vết thương và mọi sai lầm đều trở thành điều không đáng quan tâm. Chính vì Thiên Chúa yêu con người thật sự, Người muốn chữa lành những gì đang làm con người mất tự do. Người đón ta trong sự thật của đời ta, rồi dẫn ta đến một sự sống mới. Lời mời không buộc ta phải tự cứu mình trước khi đến, nhưng cũng không cho phép ta coi việc được cứu chữa là chuyện thừa.
Điều khiến dụ ngôn trở nên gần gũi là những người từ chối có những việc rất quen thuộc để làm. Người đi thăm nông trại, người đi buôn. Đó là những công việc thuộc đời sống thường ngày. Chúng ta cũng có gia đình phải chăm sóc, công việc phải hoàn thành, những khoản tiền phải trả, những dự định phải theo đuổi. Không ai có thể sống mà không lo đến cơm áo. Người cha lo học phí cho con, người mẹ lo bữa ăn cho cả nhà, người lao động lo giữ việc, người kinh doanh lo trả nợ, người trẻ lo tìm một chỗ đứng: tất cả những điều ấy đều có sức nặng thật. Bởi vậy, vấn đề của dụ ngôn không thể được hiểu một cách hời hợt như thể làm việc là xấu hay lo cho gia đình là thiếu đức tin. Điều cần xét là những việc ấy đang chiếm vị trí nào trong lòng chúng ta. Một công việc tốt vẫn có thể trở thành nơi ta trốn tránh mọi câu hỏi về ý nghĩa đời mình. Một trách nhiệm chính đáng vẫn có thể bị dùng làm lý do để trì hoãn mãi việc cầu nguyện, hòa giải, sống trung thực. Có người nói mình làm tất cả vì gia đình, nhưng càng làm càng không còn thời gian nhìn vào mắt người thân. Có người nói mình kiếm tiền để con được hạnh phúc, nhưng con lại lớn lên trong cảm giác không bao giờ được cha mẹ thật sự lắng nghe. Có người nói khi nào ổn định sẽ sống đạo nghiêm túc hơn, nhưng sự ổn định cứ lùi xa như một đường chân trời. Chúng ta cần can đảm hỏi: những việc tôi đang làm có đang phục vụ sự sống, hay đang âm thầm lấy mất khả năng sống của tôi?
Sự dửng dưng thường phát triển rất chậm nên khó nhận ra. Hiếm khi một người thức dậy và quyết định từ hôm nay mình sẽ không cần Thiên Chúa nữa. Thường họ chỉ bỏ một lần cầu nguyện vì quá mệt, rồi thêm một lần vì quá bận, rồi nhiều lần vì không thấy có gì thay đổi. Họ bỏ qua một tiếng nhắc của lương tâm vì lợi ích trước mắt, rồi lần sau việc bỏ qua trở nên dễ dàng hơn. Họ nghe một người thân nói mình đang buồn nhưng nghĩ rằng chuyện ấy có thể để mai, rồi ngày mai lại có việc khác. Một đời sống xa Chúa có thể hình thành từ rất nhiều lần trì hoãn nhỏ. Cũng như một mái nhà không đổ ngay khi xuất hiện vết nứt đầu tiên, tâm hồn không trở nên chai cứng trong một ngày. Nó chai cứng khi liên tục từ chối cảm động, từ chối lắng nghe, từ chối sửa mình. Đến một lúc, lời mời vẫn vang lên nhưng không còn đánh thức được gì. Người ta có thể nghe bài giảng về lòng thương xót mà không nghĩ đến người mình đang làm tổn thương; nghe về sự thật mà không nghĩ đến điều mình đang che giấu; nghe về bác ái mà chỉ nghĩ đến việc người khác cần phải thay đổi. Bởi vậy, tỉnh thức không nhất thiết phải là chờ đợi một biến cố lớn. Tỉnh thức bắt đầu từ việc giữ cho lòng mình còn biết đáp lại điều tốt, còn biết xấu hổ trước điều xấu, còn biết cảm ơn, còn biết nhận lỗi, còn biết dừng lại khi nhận ra mình đang đi sai.
Một trong những cám dỗ tinh vi nhất là tưởng mình có thể hẹn Thiên Chúa vào lúc thuận tiện hơn. Khi công việc bớt áp lực, tôi sẽ cầu nguyện. Khi con cái lớn, tôi sẽ quan tâm đến đời sống tâm linh. Khi sức khỏe tốt hơn, tôi sẽ làm việc bác ái. Khi người kia xin lỗi trước, tôi sẽ hòa giải. Khi đã kiếm đủ tiền, tôi sẽ sống thanh thản. Những lời hẹn ấy nghe hợp lý, nhưng có thể che giấu một thói quen sâu hơn: ta chỉ muốn đáp lại khi không còn phải từ bỏ điều gì. Trong khi đó, tình yêu luôn đòi một sự hiện diện cụ thể giữa những giới hạn cụ thể. Người mẹ không chờ đến khi hết mệt mới ôm con. Người bạn không chờ đến khi lịch trống hoàn toàn mới đến bên người đang đau khổ. Người sống đức tin cũng không thể chờ đến khi cuộc đời hết xáo trộn mới bắt đầu gặp Chúa. Có những ngày lời cầu nguyện chỉ là vài phút chân thành giữa một ca làm việc dài. Có những ngày việc đáp lại Chúa là giữ một lời nói hiền hòa dù mình đang kiệt sức. Có những ngày đó là từ chối một lợi nhuận không ngay thẳng, dù gia đình đang rất cần tiền. Có những ngày đó là xin người khác giúp đỡ vì mình không còn đủ sức tự xoay xở. Thiên Chúa gặp chúng ta trong đời sống thật, nơi có tiếng trẻ khóc, có hóa đơn chưa trả, có bệnh tật, có những lo âu chưa được giải quyết. Người không đợi chúng ta trở thành những người không có vấn đề rồi mới yêu thương chúng ta.
Những hình ảnh nghiêm khắc trong dụ ngôn khiến chúng ta phải dừng lại. Có sự xúc phạm, có bạo lực, có phán xét, có bóng tối. Không thể lấy các chi tiết ấy để hợp thức hóa sự hung hăng của con người, cũng không thể dùng chúng để nuôi lòng khinh miệt đối với một dân tộc hay một nhóm người. Khi nghe Tin Mừng, điều trước tiên cần làm là để lời ấy xét soi lòng mình. Dụ ngôn cho thấy việc từ chối tình yêu không phải chuyện hoàn toàn vô hại. Có những lựa chọn tạo nên hậu quả lâu dài. Một người cứ từ chối sự thật sẽ ngày càng bị ràng buộc bởi những điều phải che giấu. Một người cứ nuôi oán hận sẽ làm cho cả những ngày bình thường cũng trở nên cay đắng. Một người cứ coi người khác là phương tiện sẽ dần mất khả năng có những tương quan chân thành. Sự dữ không chỉ nằm ở một hành động đã qua; nó có thể trở thành môi trường sống nếu ta liên tục cho nó chỗ đứng. Thiên Chúa cảnh tỉnh vì Người coi tự do của chúng ta là điều nghiêm túc. Tình yêu của Người không biến con người thành những kẻ không cần chịu trách nhiệm. Ta không thể vừa mong sống trong hiệp thông vừa quyết tâm giữ những điều phá hủy hiệp thông. Ta không thể mong được chữa lành mà mãi bảo vệ vết thương bằng cách từ chối mọi sự chăm sóc. Lời cảnh tỉnh đánh thức chúng ta trước khi sự khép kín trở thành một thói quen quá sâu.
Sau những lời từ chối, các đầy tớ được sai đi đến các ngả đường. Chi tiết ấy mở ra một chân trời mục vụ rất rộng. Những người ở ngả đường có thể là những người không biết mình nên đi đâu, những người chỉ đang tìm cách sống qua ngày, những người chưa từng nghĩ mình có chỗ trong một bữa tiệc lớn. Trong đời sống hôm nay, những ngả đường ấy hiện diện ngay quanh chúng ta. Đó là phòng trọ của người di dân, căn nhà có người bệnh nằm lâu năm, góc phố của người bán hàng rong, gia đình có một cuộc hôn nhân đang rạn vỡ, tâm hồn của một người trẻ thấy mình vô dụng, đời sống của một người từng bị cộng đoàn làm tổn thương. Một giáo xứ có thể có nhà thờ rất đẹp mà vẫn có những người ở gần đó không bao giờ cảm thấy mình được mong đợi. Một cộng đoàn có thể tổ chức nhiều sinh hoạt mà vẫn chưa biết tên những người âm thầm ngồi ở hàng ghế cuối. Một gia đình có thể treo ảnh đạo khắp nhà mà vẫn khiến một thành viên thấy mình không có quyền nói ra nỗi đau. Đi ra các ngả đường trước hết là bước ra khỏi những tương quan tiện lợi, khỏi thói quen chỉ gần gũi người giống mình, khỏi cách nghĩ rằng người khác phải tự tìm đến nếu họ thật sự cần. Có những người cần một lời chào trước khi đủ can đảm bước vào. Có những người cần được lắng nghe trước khi có thể hiểu một lời khuyên. Có những người cần thấy một gương mặt hiền hòa để tin rằng cánh cửa ấy thật sự mở cho mình.
Cả người xấu lẫn người tốt đều được tập hợp vào phòng tiệc. Điều ấy phá vỡ sự tự mãn của những ai muốn biến đời sống tôn giáo thành một câu lạc bộ của những người tự nhận mình tốt. Chúng ta dễ yêu thích một cộng đoàn không có người khó tính, không có người chậm hiểu, không có người mắc lỗi, không có người mang những vấn đề phức tạp. Nhưng cộng đoàn ấy chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng. Trong thực tế, mỗi người đều mang theo một lịch sử có ánh sáng và bóng tối. Người rất quảng đại có thể vẫn dễ nóng giận. Người siêng năng đi lễ có thể vẫn khó tha thứ. Người từng sống xa Chúa có thể đang học sự chân thành bằng những bước nhỏ nhưng rất thật. Người làm nhiều việc tốt có thể vẫn cần được chữa lành khỏi nhu cầu kiểm soát người khác. Chúng ta không nhìn thấy hết những cuộc chiến âm thầm trong lòng nhau. Vì thế, việc đón nhận cần đi cùng sự khiêm tốn. Không ai được phép tự coi mình là chủ của bàn tiệc, tự quyết ai đáng được ngồi gần, ai phải đứng xa. Tuy nhiên, sự đón nhận cũng cần có sự thật và trách nhiệm. Cộng đoàn phải bảo vệ người yếu thế, sửa chữa điều sai, ngăn những hành vi gây hại. Thương xót không có nghĩa là để người bị tổn thương tiếp tục chịu đựng. Một cộng đoàn trưởng thành vừa mở đường cho người có lỗi hoán cải, vừa chăm sóc người đã bị lỗi lầm ấy làm đau.
Rồi vị vua bước vào nhìn các thực khách và gặp một người không mặc y phục lễ cưới. Từ đây, dụ ngôn đi sâu vào một vấn đề mà những người đã bước vào đời sống đạo không thể né tránh: có mặt bên ngoài chưa chắc đã là đáp lại bên trong. Một người có thể ở trong phòng tiệc mà lòng không có chút tương quan nào với niềm vui đang diễn ra. Một người có thể ngồi trong nhà thờ mà tâm hồn vẫn cố tình đóng kín trước Chúa. Một người có thể thuộc về một hội đoàn, giữ một trách nhiệm, tham gia nhiều sinh hoạt, nhưng không cho phép Tin Mừng sửa đổi cách mình đối xử với người khác. Chiếc áo cưới đặt ra câu hỏi về sự phù hợp giữa điều ta tuyên xưng và điều ta sống. Không nên thu nhỏ hình ảnh ấy thành giá tiền của bộ quần áo hay sự sang trọng bên ngoài. Người nghèo mặc bộ đồ đã bạc màu vẫn có thể đến với Chúa bằng tất cả sự kính trọng và tình yêu. Người lao động vừa hết ca, người mẹ vất vả chăm con, người bệnh không thể chuẩn bị như ý mình vẫn có thể mang một tâm hồn rất đẹp. Đương nhiên, khi có thể, chúng ta nên chuẩn bị sự hiện diện của mình cách xứng hợp, nhưng sự trang trọng sâu nhất phải đi vào lương tâm. Một bộ áo được là phẳng không thể thay thế một đời sống trung thực. Một vẻ ngoài nghiêm trang không thể che lấp việc cố tình làm hại người khác. Chiếc áo cưới của tâm hồn đòi chúng ta để ân sủng chạm đến con người thật của mình.
Con người thường quen làm đẹp phần người khác nhìn thấy. Chúng ta chú ý đến ảnh chụp, cách xuất hiện, lời giới thiệu, những thành tích có thể kể ra. Điều ấy không phải lúc nào cũng sai, nhưng rất dễ dẫn đến một khoảng cách giữa hình ảnh và thực tại. Có người càng được khen là đạo đức càng khó nhận lỗi, vì việc nhận lỗi làm họ sợ mất hình ảnh. Có người càng có trách nhiệm trong cộng đoàn càng thấy mình phải luôn tỏ ra đúng. Có người giúp đỡ người khác rất nhiều nhưng ở nhà lại khiến người thân phải sống trong căng thẳng. Một đời sống như thế làm tâm hồn mệt mỏi, vì ta phải liên tục bảo vệ một con người mà mình đang trình diễn. Thiên Chúa muốn giải thoát chúng ta khỏi sự mệt mỏi ấy bằng sự thật. Đứng trước Người, ta có thể thôi giả vờ rằng mình không ghen tị, không ích kỷ, không sợ hãi, không tổn thương. Ta có thể gọi tên điều đang xảy ra trong lòng mình mà không tuyệt vọng. Khi dám nhận mình đang cần được chữa lành, ta bắt đầu có một chỗ cho ân sủng. Khi còn quyết tâm che giấu mọi yếu đuối, ta dễ biến cả việc đạo đức thành một lớp áo bảo vệ cái tôi. Chiếc áo cưới không phải lớp vỏ giúp ta tránh bị nhận ra. Đó là dấu chỉ của một đời sống đang được đổi mới, có thể còn nhiều giới hạn nhưng đã thật sự quay về phía tình yêu.
Sự đổi mới ấy bắt đầu từ ân sủng. Chúng ta không tự tạo ra sự sống của Thiên Chúa bằng cố gắng riêng, không mua được chỗ trong Nước Trời bằng số lượng việc tốt, không có quyền đòi Thiên Chúa trả công như người trả một món nợ. Mọi đáp trả chân thành đều được nâng đỡ bởi tình yêu đi trước của Người. Nhưng ân sủng cần được đón nhận trong tự do. Một bàn tay đang nắm chặt không thể nhận thêm điều gì nếu không chịu mở ra. Một tâm hồn quyết giữ sự gian dối sẽ khó sống niềm vui của sự thật. Một người cứ bảo vệ quyền được trả thù sẽ khó hiểu thế nào là bình an của tha thứ. Việc hoán cải không làm cho tình yêu Thiên Chúa bắt đầu tồn tại; việc hoán cải giúp chúng ta thật sự sống trong tình yêu vốn đang được trao ban. Vì thế, có hai sai lầm cần tránh trong đời sống đức tin. Một là nghĩ mọi sự tùy vào sức mình, rồi kiệt sức vì không bao giờ thấy mình đủ tốt. Hai là nghĩ Chúa thương nên mình chẳng cần thay đổi, rồi để những thói quen xấu tiếp tục chi phối cuộc đời. Con đường trưởng thành là vừa tin tưởng vừa cộng tác: xin ơn, đón nhận ơn, tập sống điều tốt, đứng lên khi ngã, tìm sự giúp đỡ khi cần, và không lấy yếu đuối của mình làm lý do để ngừng cố gắng.
Chiếc áo cưới được nhận ra rõ nhất trong đức mến. Đức mến không chỉ là một cảm xúc ấm áp khi ta gặp những người dễ thương. Nó trở thành cụ thể khi ta biết tôn trọng người đang khác ý mình, giữ lời hứa khi không có ai kiểm tra, bảo vệ danh dự người vắng mặt, trả công công bằng cho người lao động, nhường một phần tiện nghi để người khác bớt thiếu thốn. Có những người tưởng mình yêu thương vì họ dễ xúc động trước những câu chuyện buồn, nhưng lại rất khó kiên nhẫn với người già trong nhà. Có những người quảng đại trong một cuộc quyên góp nhưng không muốn trả khoản nợ mình đang thiếu. Có những người nói nhiều về hòa bình nhưng mỗi lần bất đồng đều tìm cách khiến người khác mất mặt. Đức mến cần đi qua những mâu thuẫn ấy để trở nên thật. Nó hỏi chúng ta đang sử dụng quyền lực thế nào, đang nói năng ra sao, đang đối xử với người không thể đem lại lợi ích cho mình bằng cách nào. Một người chồng tập nghe hết câu nói của vợ trước khi phản bác đang để tình yêu sửa đổi mình. Một người mẹ ngừng so sánh con với đứa trẻ khác đang bảo vệ phẩm giá của con. Một người có trách nhiệm nhận lỗi công khai khi mình đã làm sai đang mở đường cho cộng đoàn được lành mạnh hơn. Những việc ấy có thể không gây chú ý, nhưng làm cho cuộc sống mang hình dáng của Tin Mừng.
Gia đình là nơi chiếc áo ấy được thử thách mỗi ngày. Trong nhà, chúng ta ít có thể giữ mãi vẻ đẹp của một hình ảnh được chuẩn bị kỹ. Sự mệt mỏi, tính khí, nỗi lo, những nhu cầu chưa được đáp ứng đều bộc lộ. Chính ở đó, đời sống đức tin cần trở thành sự dịu dàng có trách nhiệm. Một gia đình cầu nguyện không chỉ là gia đình đọc kinh đều, mà còn là gia đình tập để lời cầu nguyện thay đổi cách nói chuyện với nhau. Sau giờ kinh, nếu cha mẹ vẫn xúc phạm con, vợ chồng vẫn dùng im lặng để trừng phạt nhau, anh chị em vẫn cố tình chia rẽ nhau, thì gia đình ấy đang cần một bước hoán cải rất cụ thể. Có khi bước ấy là giảm giọng nói. Có khi là ngừng nhắc lại một lỗi cũ để thắng trong cuộc cãi vã. Có khi là đặt điện thoại xuống trong bữa ăn. Có khi là nhìn nhận rằng người kia đã làm nhiều việc âm thầm mà mình chưa từng cảm ơn. Có khi là tìm người tư vấn hoặc người đồng hành đáng tin cậy vì những xung đột đã vượt quá khả năng tự giải quyết. Đức tin không đòi gia đình phải trình diễn sự hoàn hảo. Đức tin giúp gia đình dám đi vào sự thật mà vẫn giữ được hy vọng. Một mái nhà biết xin lỗi, biết sửa sai và biết bảo vệ nhau có thể làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa cách rất sâu xa, ngay giữa những khó khăn chưa chấm dứt.
Trong cộng đoàn cũng vậy, có mặt đông đủ chưa đủ để tạo nên hiệp thông. Một phòng họp đầy người vẫn có thể thiếu sự lắng nghe. Một buổi lễ long trọng vẫn có thể có những người đang bị xem thường. Một chương trình bác ái lớn vẫn có thể làm người nhận cảm thấy bị hạ thấp nếu cách trao ban thiếu tôn trọng. Chúng ta cần xét lại những điều rất cụ thể: ai thường xuyên bị ngắt lời, ai luôn phải làm phần việc nặng, ai không bao giờ được hỏi ý kiến, ai bị gắn nhãn chỉ vì một lần mắc lỗi, ai đang rút lui dần mà không được ai quan tâm. Có những cộng đoàn không thiếu người tài nhưng thiếu người sẵn lòng nhường chỗ. Không thiếu hoạt động nhưng thiếu sự chăm sóc. Không thiếu những lời nói về phục vụ nhưng thiếu khả năng cộng tác mà không tranh hơn thua. Chiếc áo cưới của cộng đoàn được dệt bằng những tương quan được thanh luyện khỏi sự ganh đua và lòng chiếm hữu. Người có trách nhiệm phải học rằng công việc chung không phải tài sản riêng của mình. Người cộng tác phải học rằng bất đồng không cho phép mình phá hoại. Người bị góp ý cần có cơ hội được lắng nghe, và người góp ý cần giữ sự tôn trọng. Khi một cộng đoàn biết cùng nhau sửa điều sai mà không hủy hoại con người, cộng đoàn ấy đang trở thành nơi người khác có thể nhận ra niềm vui của bàn tiệc.
Việc tham dự Thánh lễ đặt những câu hỏi này vào trung tâm đời sống Kitô hữu. Chúng ta đến để gặp Chúa, để được nuôi dưỡng, để cùng cộng đoàn dâng cuộc đời mình trong sự kết hợp với Đức Kitô. Vì thế, sự chuẩn bị không chỉ diễn ra trong vài phút trước khi bước qua cửa nhà thờ. Nó có liên quan đến cả tuần sống. Tôi mang đến bàn thờ một tuần đã đối xử với người khác thế nào? Tôi đang giữ trong lòng điều gì mà chưa muốn để Chúa chạm đến? Tôi có một lỗi lầm cần nhìn nhận, một người cần xin lỗi, một khoản tiền cần trả lại, một sự thật cần nói ra không? Có thể ta chưa giải quyết được mọi chuyện trước khi đến lễ, nhưng ít nhất ta có thể đến với một lòng không cố tình khước từ sự đổi mới. Việc tham dự cũng cần được nhìn trong sự thật của hoàn cảnh mỗi người. Người đau bệnh, người chăm sóc bệnh nhân, người gặp trở ngại thực sự không thể bị đánh đồng với người cố tình dửng dưng. Một cộng đoàn biết yêu thương phải tìm cách nâng đỡ những người ấy, thăm viếng, giúp họ giữ sự hiệp thông, mang đến cho họ sự chăm sóc phù hợp. Còn đối với chúng ta, khi có điều kiện tham dự, cần xét xem mình đang đến bằng tâm tình nào. Có thể thân xác ta hiện diện nhưng lòng vẫn chạy theo việc khác. Khi nhận ra điều ấy, ta hãy nhẹ nhàng quay về, lắng nghe, đặt những lo âu trước Chúa, xin Người giúp mình thật sự có mặt.
Tâm hồn được chuẩn bị không phải tâm hồn chưa từng phạm lỗi. Đó là tâm hồn không còn muốn coi lỗi lầm là nơi ở lâu dài của mình. Có những người rất sợ nhìn lại đời sống vì nghĩ rằng việc ấy chỉ dẫn đến tự trách và buồn khổ. Nhưng sự xét mình trong ánh sáng tình yêu giúp con người phân biệt rõ: tôi đã làm điều sai, nhưng tôi vẫn được mời gọi trở về; tôi phải chịu trách nhiệm, nhưng tôi không bị đồng nhất hoàn toàn với sai lầm; tôi cần sửa chữa, nhưng tôi có thể xin được giúp đỡ. Bí tích Hòa giải là một con đường quý giá để người tín hữu đem đời sống thật của mình đến với lòng thương xót. Điều quan trọng là sự chân thành: thôi kể lỗi của người khác để né lỗi của mình, thôi tìm một lời giải thích khiến điều sai trở nên vô hại, thôi hứa thay đổi cách chung chung mà không đụng đến hành vi cụ thể. Nếu đã nói xấu, hãy tập ngừng lại và sửa điều mình có thể sửa. Nếu đã gian dối, hãy tìm cách trả lại sự thật. Nếu đã làm người thân sợ hãi, hãy nhìn nhận mức độ nghiêm trọng của hành vi và tìm sự trợ giúp cần thiết để không lặp lại. Sám hối trở nên đáng tin khi nó đi vào lựa chọn. Lời xin lỗi có sức chữa lành hơn khi phía sau là một nỗ lực bền bỉ, không phải chỉ là cảm xúc của một buổi tối.
Có người nghe về chiếc áo cưới và lập tức lo lắng rằng mình không bao giờ đủ tốt. Họ nhìn những yếu đuối kéo dài, những lần đã quyết tâm rồi lại thất bại, những thói quen khó sửa, và nghĩ mình chẳng có hy vọng. Cần nhớ rằng đời sống thiêng liêng có những tiến trình chậm. Một người đang học kiềm chế nóng giận có thể còn vấp ngã, nhưng việc họ biết dừng lại sớm hơn, biết xin lỗi thật hơn, biết tìm nguyên nhân và học một cách phản ứng khác là điều đáng quý. Một người từng sống gian dối có thể phải mất nhiều thời gian để học lại sự trung thực trong những chuyện nhỏ. Một người bị tổn thương sâu có thể chưa thể tha thứ ngay, nhưng họ có thể bắt đầu bằng việc không trả thù, tìm sự chữa lành và bảo vệ mình khỏi việc tiếp tục bị gây hại. Thiên Chúa không nhầm một cuộc chiến chân thành với sự ngoan cố muốn ở mãi trong điều xấu. Chúng ta cũng đừng nhầm hai điều ấy khi nhìn người khác. Có những tâm hồn đang cố gắng nhiều hơn chúng ta biết. Có những bước tiến rất nhỏ nhưng phải trả bằng nhiều nước mắt. Điều cần giữ là hướng đi: tôi có còn để Chúa dẫn mình về phía sự thật và tình yêu không? Tôi có sẵn lòng nhận sự giúp đỡ không? Tôi có đang đứng lên, dù chậm, hay đang dùng thất bại để biện minh cho việc từ bỏ?
Người không mặc áo cưới im lặng khi được hỏi. Sự im lặng ấy khiến chúng ta nghĩ đến những lúc không còn muốn nói thật với chính mình. Có một kiểu im lặng là khiêm tốn, nhưng cũng có một kiểu im lặng là đóng cửa. Người ta có thể tránh xét mình vì biết câu trả lời sẽ đòi mình thay đổi. Có thể tránh cầu nguyện sâu vì sợ phải nhìn nhận một sự rạn nứt. Có thể tránh trò chuyện với người thân vì biết mình đã làm họ tổn thương. Có thể tìm thật nhiều tiếng ồn để không phải nghe tiếng lương tâm. Trong một đời sống luôn đầy màn hình, thông báo, công việc và những cuộc trao đổi vội vàng, việc dành vài phút thinh lặng trở thành một lựa chọn có ý nghĩa. Ta có thể hỏi: hôm nay tôi đã làm ai nhẹ lòng, đã làm ai nặng lòng? Điều gì trong tôi đang cần được chữa lành? Tôi đang sợ mất điều gì đến mức không dám sống đúng? Những câu hỏi ấy không cần dẫn đến một bài tự kết án dài. Chúng cần dẫn đến một hành động. Có khi hành động là một cuộc điện thoại xin lỗi. Có khi là trả lại một món đồ. Có khi là ngừng một cuộc bàn tán. Có khi là đặt lịch gặp một người có thể giúp mình. Lương tâm được nuôi dưỡng khi ta đáp lại, chứ không chỉ khi ta nghe.
Lời cảnh tỉnh cuối dụ ngôn cũng không cho phép chúng ta lập danh sách những người chắc chắn ở ngoài Nước Trời. Việc phán xét con người thuộc về Thiên Chúa, Đấng biết trọn vẹn lịch sử, tự do, giới hạn và những chuyển động sâu kín của mỗi tâm hồn. Điều chúng ta được mời làm là sống có trách nhiệm với lời mời đã nhận. Danh xưng Kitô hữu không thay thế được sự hoán cải. Một quá khứ nhiều việc tốt không cho phép ta cố tình làm điều xấu hôm nay. Một chức vụ trong Giáo Hội không bảo đảm lòng mình luôn ở gần Chúa. Một gia đình có truyền thống đạo đức vẫn cần từng người đáp lại bằng tự do của mình. Và một quá khứ xa Chúa cũng không ngăn một người bắt đầu một đời sống mới. Bởi vậy, niềm hy vọng Kitô giáo đi cùng sự khiêm tốn. Ta không tự mãn vì những gì đã làm, cũng không tuyệt vọng vì những gì đã hỏng. Ta sống ngày hôm nay như một cơ hội có thật để yêu thương. Ta để lời mời của Thiên Chúa kéo mình ra khỏi sự trì trệ. Ta nhớ rằng đời sống có giới hạn, nên những điều cần làm không thể cứ bị đẩy vào một ngày chưa chắc sẽ đến.
Có những cuộc trở về bắt đầu bằng một việc rất nhỏ. Một người đã lâu không cầu nguyện ngồi xuống vài phút và thật lòng thưa với Chúa rằng mình đang mệt. Một người cha nhìn con và nhận ra đã nhiều tháng mình chỉ hỏi điểm số mà không hỏi con đang buồn điều gì. Một người vợ thôi dùng những lời châm chọc để diễn tả nỗi thất vọng và tìm một lúc bình tĩnh để nói điều mình cần. Một người có trách nhiệm trong giáo xứ chủ động gặp người đã rút lui để nghe họ, thay vì vội kết luận họ thiếu nhiệt thành. Một người trẻ xóa đi điều đang làm tâm trí mình nặng nề và tìm một người trưởng thành đáng tin cậy để trò chuyện. Một người kinh doanh quyết định sửa một cách làm không ngay thẳng dù lợi nhuận trước mắt giảm xuống. Không phải mọi việc ấy đều dễ, và không phải sau đó mọi vấn đề sẽ lập tức được giải quyết. Nhưng chúng là những bước chân thật về phía bàn tiệc. Tình yêu được đáp lại bằng một quyết định có thể nhìn thấy. Ân sủng đi vào thời gian, vào lời nói, vào việc sử dụng tiền bạc, vào cách ta chăm sóc thân xác và tâm hồn, vào thái độ đối với người yếu thế. Một đời sống mới được hình thành khi những bước nhỏ ấy được lặp lại trong sự trung thành.
Chúng ta cũng cần học niềm vui của người biết mình được mời. Có người sống đạo nghiêm túc nhưng lúc nào cũng như đang mang một bản án. Họ nhìn người khác bằng sự nghi ngờ, nhìn bản thân bằng sự khắc nghiệt, và nhìn Thiên Chúa như Đấng chỉ chờ họ sai. Một tâm hồn như thế cần được gặp lại sự dịu dàng của Chúa. Người cảnh tỉnh để cứu, sửa dạy để dẫn về sự sống, mời gọi để chúng ta được hiệp thông với Người. Niềm vui ấy không phải sự hời hợt phủ lên mọi đau khổ. Người đang bệnh vẫn có thể khóc. Người đang mất người thân vẫn có thể thấy lòng trống vắng. Người đang gánh trách nhiệm vẫn có thể mệt đến mức không biết nói gì. Nhưng giữa tất cả những điều ấy, họ có thể dần nhận ra mình không hoàn toàn đơn độc, cuộc đời mình không chỉ được đo bằng thành công, và tình yêu Thiên Chúa vẫn đang mở một lối đi. Một cộng đoàn sống niềm vui ấy sẽ bớt đòi nhau phải luôn tỏ ra mạnh mẽ. Họ biết ngồi bên người đau khổ, biết chia sẻ phần việc, biết đón một người trở lại mà không bắt người ấy sống mãi dưới bóng của quá khứ. Đó là niềm vui có chiều sâu, niềm vui của những người đã được thương xót nên học thương xót nhau.
Ngày nào chúng ta cũng có thể tập chuẩn bị chiếc áo cưới của mình bằng những lựa chọn rất bình thường. Buổi sáng, dành một khoảnh khắc để nhớ rằng ngày hôm nay là một quà tặng. Trong công việc, giữ sự ngay thẳng ở cả những chỗ ít ai thấy. Trong gia đình, nói một lời làm người khác được nâng đỡ. Khi bất đồng, chậm lại trước khi dùng lời nói như một vũ khí. Khi có lỗi, nhận lỗi trước khi giải thích. Khi thấy ai bị bỏ quên, chủ động đến gần. Khi mệt, biết nghỉ ngơi và xin trợ giúp để sự kiệt sức không biến thành tổn thương cho người bên cạnh. Khi cầu nguyện, đem đến với Chúa cả điều đẹp lẫn điều chưa đẹp trong lòng mình. Khi đêm xuống, nhìn lại ngày sống bằng sự thật và phó thác. Những việc ấy không làm chúng ta trở thành người hoàn hảo ngay lập tức, nhưng giữ cho tâm hồn còn mềm, còn mở, còn có thể được hướng dẫn. Chiếc áo cưới của đời sống không được chuẩn bị chỉ bằng một khoảnh khắc xúc động. Nó lớn lên trong sự trung thành của những ngày thường, trong những lần âm thầm chọn điều tốt, trong những quyết tâm được bắt đầu lại sau thất bại.
Rồi sẽ đến ngày những công việc mà hôm nay ta cho là cấp bách không còn ở trong tay ta nữa. Người khác sẽ tiếp tục cuộc buôn bán, tiếp tục chăm mảnh đất, tiếp tục sử dụng những đồ vật ta từng quý trọng. Những cuộc tranh hơn thua từng khiến ta mất ngủ có thể trở nên rất nhỏ. Những lời khen từng làm ta tự hào có thể không còn được ai nhớ. Điều ấy không khiến đời sống hiện tại trở nên vô nghĩa; nó giúp chúng ta đặt mọi sự đúng vị trí. Công việc cần được làm tốt, nhưng người thân cần được yêu thương. Tiền bạc cần được quản lý, nhưng lương tâm cần được gìn giữ. Danh dự cần được tôn trọng, nhưng sự thật không thể bị hy sinh để bảo vệ một hình ảnh. Chúng ta không biết mình còn bao nhiêu thời gian, nhưng biết hôm nay vẫn có một lời mời. Hôm nay còn có thể cầu nguyện. Hôm nay còn có thể xin lỗi. Hôm nay còn có thể sống công bằng hơn, dịu dàng hơn, chân thật hơn. Hôm nay còn có thể ngừng một điều đang làm mình và người khác tổn thương. Đừng để sự bận rộn khiến ta quên mất cuộc đời đang trôi. Đừng để nỗi sợ thay đổi giữ ta ngoài niềm vui mà Thiên Chúa đã chuẩn bị. Và đừng để thân xác có mặt trong đời sống đạo mà lòng mình cứ mãi ở một nơi xa.
Lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra tình yêu trong lời Chúa mời gọi. Có những ngày chúng con quá bận để dừng lại, quá lo để tin tưởng, quá tự ái để nhận lỗi, quá quen với những lý do của mình để nhận ra mình đang trì hoãn. Xin đánh thức nơi chúng con khả năng lắng nghe. Xin cho chúng con thôi bảo vệ những điều đang làm tâm hồn khép kín. Xin dạy chúng con biết chăm sóc công việc mà không đánh mất gia đình, biết lo cho gia đình mà không bỏ quên Chúa, biết phục vụ cộng đoàn mà không nuôi lớn cái tôi. Xin cho những người đang đứng ở ngả đường cuộc đời gặp được một lời đón tiếp chân thành qua chúng con. Xin cho người nghèo không bị đo giá trị bằng áo quần, người có lỗi không bị tước mất cơ hội hoán cải, người bị tổn thương được bảo vệ và nâng đỡ, người đang cố gắng được khích lệ để tiếp tục đứng lên. Xin thanh luyện lòng chúng con khỏi sự giả dối, ganh tị và dửng dưng. Xin cho chiếc áo của đời sống chúng con mang sự hiền hòa trong lời nói, sự công bằng trong việc làm, lòng trung tín trong các tương quan và đức mến trong những lựa chọn hằng ngày. Khi chúng con vấp ngã, xin giúp chúng con trở về. Khi chúng con tự mãn, xin giúp chúng con biết khiêm tốn. Khi chúng con sợ hãi, xin giúp chúng con tin vào lòng thương xót. Và khi ngày sống của chúng con trên trần gian khép lại, xin cho chúng con được đến với Chúa bằng một tâm hồn đã học yêu thương, đã biết đón nhận ân sủng, đã thật sự đáp lại lời mời của Chúa bằng cả cuộc đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
ĐỪNG ĐỂ CẢ CUỘC ĐỜI BẬN RỘN MÀ VẪN ĐỨNG NGOÀI BỮA TIỆC TÌNH YÊU
Suy niệm Chúa Nhật XXVIII Thường Niên – Năm A
Có một điều rất đáng suy nghĩ trong cuộc sống: người ta có thể dành nhiều năm để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp, nhưng lại không có đủ vài phút để nhận ra điều tốt đẹp đang được trao cho mình hôm nay. Người ta có thể đi rất xa để tìm một cơ hội đổi đời, nhưng lại bước qua một lời mời có khả năng đổi mới chính tâm hồn mình. Người ta có thể biết rất rõ giá trị của một mảnh đất, một hợp đồng, một công việc, một vị trí, nhưng lại không biết giá trị của một buổi tối ngồi bên gia đình, một lần thành thật trở về với Chúa, một cuộc hòa giải sau nhiều năm xa cách. Chúng ta thường nghĩ bi kịch của đời người là không được yêu thương, không được nhìn nhận, không được ai nhớ tới. Nhưng còn một bi kịch khác âm thầm hơn: được yêu thương mà không đón nhận, được nhớ tới mà không đáp lời, được mở cửa mà vẫn chọn đứng ngoài. Trong đời sống đức tin, điều ấy có thể xảy ra mỗi ngày. Thiên Chúa không ngừng tìm đến, nhưng chúng ta cứ hẹn lại. Thiên Chúa muốn trao sự sống, nhưng chúng ta chỉ xin những điều giúp mình sống tiện nghi hơn. Thiên Chúa muốn bước vào trung tâm cuộc đời, nhưng chúng ta chỉ dành cho Người một khoảng trống nhỏ khi mọi công việc khác đã xong. Và vì công việc của con người hiếm khi thực sự xong, nên cuộc gặp gỡ quan trọng nhất cứ bị đẩy về phía một ngày chưa biết bao giờ sẽ tới.
Hình ảnh tiệc cưới trong Tin Mừng mở ra trước mắt chúng ta một cách nhìn rất đẹp về đời sống với Thiên Chúa. Nước Trời được diễn tả bằng một cuộc vui, một nơi có sự gặp gỡ, có niềm hân hoan, có những con người cùng được quy tụ. Điều ấy giúp chúng ta xét lại hình ảnh về Chúa mà mình vẫn mang trong lòng. Có người sống đạo với tâm trạng như đang bước vào một căn phòng chỉ để chờ bị kiểm tra. Có người cầu nguyện nhưng trong lòng luôn sợ mình nói chưa đúng, làm chưa đủ, giữ chưa trọn. Có người nghĩ đến Chúa trước hết như Đấng sẽ bắt lỗi những gì mình sai. Khi hình ảnh ấy chi phối quá mạnh, đời sống đạo dễ trở nên căng thẳng, nặng nề, khô cứng. Người ta chu toàn nhiều việc mà vẫn không biết mình được yêu. Người ta dự lễ nhiều năm mà vẫn không có niềm vui được thuộc về. Người ta giữ một nếp sống tôn giáo khá nghiêm túc, nhưng ở bên trong lại giống một đứa con chưa bao giờ dám tin rằng cha mình thật sự muốn mình hiện diện trong nhà. Bữa tiệc trong Tin Mừng chạm vào nỗi sợ sâu kín đó. Thiên Chúa muốn con người được sống trong sự hiệp thông với Người. Người muốn cứu chúng ta khỏi tình trạng phải tự mình gánh hết mọi điều, tự mình chứng minh giá trị, tự mình chống chọi với bóng tối của cô đơn và cái chết. Người mở ra một chỗ cho chúng ta trong tình yêu của Người.
Bởi thế, câu hỏi đầu tiên của bài Tin Mừng không phải là chúng ta có tài giỏi đến mức nào, đã làm được những việc lớn lao nào, có bao nhiêu thành tích đạo đức để trình bày. Câu hỏi đầu tiên là chúng ta có chịu đến hay không. Đến với Chúa bằng con người thật của mình, bằng những giới hạn thật của mình, bằng cả sự nghèo nàn mà mình thường giấu kín. Có những người rất khó đến với Chúa vì họ nghĩ phải tự sửa mình cho hoàn hảo rồi mới có thể bắt đầu cầu nguyện. Họ chờ hết yếu đuối mới trở về, chờ giải quyết xong mọi rối ren mới tìm đến bí tích, chờ tâm hồn thanh thản mới bước vào nhà thờ. Nhưng nếu cứ chờ mình tự chữa lành được tất cả, chúng ta có thể chờ suốt một đời. Người đang bệnh cần đến nơi được chăm sóc. Người đang lạc cần để mình được tìm thấy. Người đang mang mặc cảm cần được đặt trong một tương quan có khả năng phục hồi phẩm giá. Trở về với Chúa không phải là đem đến cho Người một bản báo cáo hoàn hảo về chính mình. Trở về là ngừng chạy trốn, ngừng giả vờ, ngừng tự khép cửa, để ân sủng có thể chạm vào những nơi mình không tự cứu nổi. Có khi bước đầu tiên của một cuộc hoán cải rất lớn chỉ là một lời thưa rất nhỏ: con đang mệt, con đang rối, con không biết phải bắt đầu từ đâu, nhưng con muốn trở về.
Tuy nhiên, lời mời đẹp đẽ ấy lại gặp một phản ứng khiến chúng ta phải dừng lại: những người được mời không muốn đến. Sự từ chối ban đầu có thể xem ra không ồn ào, không dữ dội, không mang dáng vẻ của một cuộc phản loạn. Người ta đơn giản tiếp tục những việc của mình. Một người lo chuyện đất đai, một người lo chuyện làm ăn. Chính sự bình thường đó làm cho dụ ngôn trở nên gần gũi và đáng sợ. Không phải lúc nào con người cũng đánh mất điều lớn lao vì một tội ác lớn lao. Có khi người ta đánh mất điều quan trọng nhất vì đã để những việc nhỏ hơn chiếm hết chỗ. Một người không nhất thiết phải tuyên bố mình chống lại Thiên Chúa mới sống xa Thiên Chúa. Chỉ cần ngày nào cũng không dành thời gian cho Người, quyết định nào cũng không cần hỏi ý Người, lựa chọn nào cũng chỉ dựa trên lợi ích trước mắt, thì sau một thời gian, Thiên Chúa sẽ trở thành một tên gọi có trong ký ức nhưng không còn có ảnh hưởng trong đời sống. Một cuộc hôn nhân không nhất thiết phải bắt đầu tan vỡ từ một biến cố dữ dội. Có khi nó tan dần trong hàng ngàn buổi tối không ai lắng nghe ai. Một gia đình không nhất thiết phải mất đức tin vì một cuộc tranh luận gay gắt. Có khi đức tin phai đi vì không còn được thực hành, không còn được nuôi dưỡng, không còn được sống như một điều đáng quý.
Chúng ta cần nói rõ rằng công việc, việc làm ăn, những trách nhiệm vật chất đều có giá trị. Người cha cần lao động để lo cho con. Người mẹ cần tính toán để gia đình có bữa ăn, có tiền học, có những điều kiện tối thiểu để sống. Người trẻ cần học hành, cần tìm nghề nghiệp, cần chuẩn bị tương lai. Không ai có quyền dùng lời nói về đời sống thiêng liêng để coi nhẹ những gánh nặng thực tế ấy. Nhưng có một ranh giới phải được nhận ra: công việc có thể phục vụ đời sống, và công việc cũng có thể nuốt mất đời sống. Tiền bạc có thể giúp gia đình được bảo đảm, và tiền bạc cũng có thể trở thành thứ khiến gia đình không còn gặp được nhau. Sự cố gắng có thể là biểu hiện của trách nhiệm, nhưng cũng có thể trở thành nơi người ta trốn tránh một vấn đề nội tâm. Có người làm việc liên tục vì yêu gia đình. Cũng có người làm việc liên tục vì không muốn trở về đối diện với sự lạnh nhạt trong nhà, không muốn nghe nỗi buồn của người bạn đời, không muốn nhận ra mình đang xa con. Nhìn bên ngoài, cả hai đều rất bận. Nhưng ở bên trong, hướng đi của họ khác nhau. Tin Mừng mời chúng ta nhìn vào hướng đi ấy: những gì mình đang làm có giúp mình yêu sâu hơn, sống thật hơn, gần Chúa hơn, hay đang làm mình ngày càng khép lại?
Sự bận rộn thường đem đến một cảm giác có giá trị. Khi có nhiều việc phải làm, chúng ta dễ nghĩ mình quan trọng. Khi nhiều người cần mình, chúng ta dễ nghĩ đời mình có ý nghĩa. Khi lịch trình kín chỗ, chúng ta ít phải ngồi một mình để đối diện với những câu hỏi không dễ trả lời. Tôi đang sống vì điều gì? Tôi có đang trở thành người mà mình muốn trở thành không? Tôi có đang làm tổn thương những người mình nói là yêu thương không? Tôi có bình an khi mọi tiếng động tắt đi không? Vì những câu hỏi ấy làm chúng ta khó chịu, chúng ta tìm thêm việc, mở thêm màn hình, nhận thêm cuộc hẹn, kéo dài thêm một cuộc trò chuyện không cần thiết. Chúng ta làm cho ngày sống đầy đến mức không còn chỗ để nghe trái tim mình. Rồi chúng ta gọi tình trạng ấy là cuộc sống bình thường. Nhưng một đời sống không có khoảng lặng dễ trở thành một đời sống bị dẫn dắt bởi những điều ở bên ngoài. Ai gọi cũng phải trả lời, việc gì đến cũng phải làm, điều gì hấp dẫn cũng phải xem. Chúng ta có vẻ đang điều khiển rất nhiều thứ, nhưng lại mất dần khả năng điều khiển chính sự chú ý của mình. Lời mời của Chúa thường không chen lấn theo cách những thông báo trên điện thoại chen lấn. Người đợi một tâm hồn chịu mở ra. Và vì thế, nếu chúng ta không học cách dừng lại, có thể chúng ta sẽ đi ngang qua nhiều lần Người đang chờ.
Một trong những cách từ chối tinh vi nhất là trì hoãn. Chúng ta không nói không, chúng ta nói để sau. Để sau con sẽ cầu nguyện nghiêm túc hơn. Để sau con sẽ sửa cách sống này. Để sau con sẽ xin lỗi người ấy. Để sau con sẽ dành thời gian cho cha mẹ. Để sau con sẽ đưa gia đình trở lại với giờ kinh chung. Để sau con sẽ đi xưng tội. Từ để sau nghe rất hiền, rất hợp lý, thậm chí có vẻ đầy thiện chí. Nhưng nếu lặp lại quá lâu, nó trở thành một cách đóng cửa mà chúng ta không muốn nhận mình đang đóng cửa. Người ta có thể sống nhiều năm trong sự trì hoãn mà vẫn giữ được cảm giác mình là người có ý tốt. Chúng ta dự định nhiều điều tốt đến mức đôi khi tưởng rằng mình đã thực hiện chúng. Chúng ta nghĩ mình sẽ trở thành người biết lắng nghe, rồi tiếp tục cắt ngang người khác. Chúng ta nghĩ mình sẽ sống công bằng hơn, rồi tiếp tục hưởng lợi từ một điều sai trái. Chúng ta nghĩ mình sẽ trở về với Chúa, rồi vẫn không bước một bước nào. Ý định tốt cần được tôn trọng, nhưng ý định tốt chưa thay thế được một hành động thật. Tình yêu cần có thời điểm đi vào cuộc sống. Nếu chỉ tồn tại trong dự định, tình yêu dễ trở thành một điều mà người khác không bao giờ được nhận.
Có một sự thật khiến chúng ta cần tỉnh thức: con người không chỉ được hình thành bởi những quyết định lớn, mà còn bởi những việc nhỏ được lặp đi lặp lại. Mỗi lần chúng ta gạt một lời mời tốt đẹp sang bên, lòng mình có thể trở nên khó đáp lại hơn một chút. Mỗi lần chúng ta bỏ qua tiếng lương tâm, tiếng ấy có thể trở nên xa hơn một chút. Mỗi lần chúng ta lấy một lý do hợp lý để che một điều không ngay thẳng, chúng ta có thể trở nên quen với việc tự bào chữa hơn một chút. Không phải Thiên Chúa ngừng gọi, nhưng chính khả năng lắng nghe của chúng ta bị suy yếu. Giống như một mối quan hệ bị bỏ mặc: ban đầu chỉ là ít trò chuyện hơn, sau đó là không còn biết nói gì, rồi cuối cùng là cảm thấy sự hiện diện của nhau trở nên xa lạ. Bởi vậy, hoán cải không chỉ là tránh một hành vi sai. Hoán cải còn là phục hồi khả năng đáp lại điều thiện. Hôm nay nghe được một điều đúng, hãy làm một điều cụ thể. Hôm nay nhận ra mình đã làm đau ai, hãy bắt đầu một bước sửa chữa. Hôm nay thấy gia đình đang thiếu sự hiện diện của mình, hãy thật sự trở về. Những bước nhỏ ấy làm mềm lại một trái tim đã cứng vì thói quen.
Dụ ngôn còn cho thấy một mức độ từ chối nghiêm trọng hơn: lời mời bị đáp lại bằng sự xúc phạm và bạo lực. Khi con người không muốn thay đổi, họ có thể chuyển từ né tránh sự thật sang tấn công người mang sự thật đến. Điều này không chỉ xảy ra ở những nơi xa xôi hay trong những hoàn cảnh đặc biệt. Nó có thể xảy ra ngay trong một gia đình. Người vợ nhắc một điều cần sửa, người chồng phản ứng bằng lời nặng nề. Người con nói rằng mình đang bị tổn thương, cha mẹ lập tức cho rằng con vô ơn. Một người trong cộng đoàn góp ý về cách sử dụng tiền chung, người khác tìm cách làm họ mất uy tín. Một người nhắc đến trách nhiệm với người nghèo, chúng ta đáp lại bằng cách nghi ngờ động cơ của họ để khỏi phải xem xét chính mình. Khi sự thật chạm đến một nơi chúng ta muốn giữ nguyên, phản ứng phòng vệ có thể rất mạnh. Chúng ta không còn nghe nội dung, chúng ta chỉ tìm cách chứng minh người kia không có quyền nói. Đó là lúc lòng tự ái trở thành một bức tường. Muốn lớn lên trong đức tin, chúng ta cần học một khả năng rất khó: tiếp nhận một điều đúng ngay cả khi người nói điều ấy chưa hoàn hảo, ngay cả khi cách nói của họ còn vụng về, ngay cả khi điều ấy khiến mình xấu hổ.
Những hình ảnh trừng phạt trong dụ ngôn khiến chúng ta không thể biến Tin Mừng thành một lời an ủi dễ dãi. Sự từ chối tình yêu có hậu quả. Bạo lực có hậu quả. Khinh thường lời mời của Thiên Chúa có hậu quả. Nhưng những hình ảnh ấy cũng không cho phép chúng ta lấy danh nghĩa Thiên Chúa để trả thù, làm nhục, đe dọa hay loại bỏ người khác. Dụ ngôn đặt chúng ta trước trách nhiệm của chính mình. Nó đánh thức lương tâm đang ngủ, chứ không trao cho chúng ta quyền đóng vai người xét xử mọi người. Trong thực tế, chúng ta thường thích nghe lời cảnh báo dành cho người khác hơn lời cảnh báo dành cho mình. Người nóng tính dễ nghe bài giảng rồi nghĩ đến người tham lam. Người tham lam dễ nghe rồi nghĩ đến người bỏ lễ. Người sống hình thức dễ nghe rồi nghĩ đến người có một quá khứ đổ vỡ. Nhưng nếu Lời Chúa chỉ giúp mình tìm ra lỗi của người khác, mình vẫn chưa để Lời Chúa đi vào nơi cần được chữa lành nhất. Một cuộc xét mình thật bắt đầu khi chúng ta thôi đứng ngoài câu chuyện để phê bình các nhân vật, và nhận ra có một phần của họ đang sống trong chính mình.
Điều làm chúng ta hy vọng là bữa tiệc không bị hủy bỏ vì có những người không đến. Sự thờ ơ của con người không làm cạn kiệt lòng quảng đại của Thiên Chúa. Cánh cửa tiếp tục mở ra. Những con đường trở thành nơi gặp gỡ. Những con người không nghĩ mình sẽ được mời lại nhận được lời mời. Hình ảnh ấy có sức chữa lành đặc biệt đối với những ai đang mang một cảm giác bị bỏ quên. Có người đã bị đánh giá từ rất sớm: học không giỏi, gia đình không có điều kiện, tính tình vụng về, quá khứ có sai lầm. Có người đã nghe quá nhiều lần rằng mình không làm được, không xứng đáng, không đủ tốt. Có người sống trong cộng đoàn nhưng luôn cảm thấy mình ở bên lề, chỉ được chú ý khi cần làm một việc nặng, chỉ được nhớ đến khi cần đóng góp, nhưng rất ít khi được hỏi xem mình có đang đau khổ không. Tin Mừng mở ra một điều lớn hơn những đánh giá ấy. Phẩm giá của một người không bị quyết định hoàn toàn bởi lời nhận xét của người khác. Thiên Chúa có thể bắt đầu một tương lai nơi con người chỉ nhìn thấy một quá khứ. Người có thể gọi một người đứng dậy ngay tại chỗ người ấy đã quen ngồi xuống trong mặc cảm.
Tuy nhiên, việc được đón nhận không có nghĩa là mọi điều trong đời sống đều trở nên đúng. Một người được yêu thương trong lúc còn yếu đuối cần để tình yêu ấy giúp mình lớn lên. Một người được mở cửa khi còn mang nhiều vết thương cần để sự chữa lành đi vào những vết thương đó. Một người được tha thứ cần học cách không tiếp tục gây ra cùng một sự tổn thương mà không chịu sửa đổi. Chúng ta dễ hiểu lòng thương xót theo cách chỉ giữ lại phần khiến mình nhẹ nhõm, rồi bỏ qua phần mời gọi mình có trách nhiệm. Nhưng lòng thương xót thật có sức làm con người biến đổi. Nó giúp người đang tuyệt vọng có thể đứng dậy, giúp người đang quanh co có thể sống ngay thẳng hơn, giúp người đang khép kín có thể tập yêu thương. Nếu sau khi được tha thứ chúng ta chỉ cảm thấy mình được phép làm lại điều cũ mà không cần cố gắng, chúng ta chưa hiểu chiều sâu của ơn tha thứ. Thiên Chúa đón nhận con người với cả sự thật của họ, và Người đưa họ vào một hành trình mới. Trong hành trình ấy có kiên nhẫn, có nâng đỡ, có những lần vấp ngã, nhưng cũng phải có một hướng đi.
Chính ở đây, hình ảnh chiếc áo cưới trở thành một lời chất vấn rất sâu. Chúng ta có thể bước vào một nơi tốt đẹp mà vẫn không chịu thay đổi cách hiện diện của mình. Chúng ta có thể ở trong nhà thờ mà tâm hồn vẫn nuôi dưỡng thù hận. Chúng ta có thể tham gia nhiều sinh hoạt đạo đức mà vẫn không muốn sống công bằng. Chúng ta có thể có một tên gọi Công giáo, có những dấu hiệu thuộc về cộng đoàn, có những mối quan hệ rất gần với đời sống Hội Thánh, nhưng vẫn giữ nguyên một lối sống lấy bản thân làm trung tâm. Chiếc áo cưới mời chúng ta xét xem điều mình tuyên xưng có đang đi vào cách sống hay không. Một người có thể mặc rất đẹp khi đến dự lễ nhưng lại dùng lời nói làm người trong nhà cảm thấy mình không đáng được tôn trọng. Một người có thể dâng một khoản tiền lớn nhưng lại trả công không công bằng cho người lao động. Một người có thể thuộc nhiều lời kinh nhưng lại không muốn tha thứ một lỗi nhỏ. Khi đó, vấn đề không nằm ở hình thức bên ngoài của bộ áo. Vấn đề nằm ở sự thiếu thống nhất giữa điều mình biểu lộ và điều mình thực sự chọn.
Chúng ta cũng cần tránh biến chiếc áo cưới thành một yêu cầu rằng phải hoàn hảo ngay lập tức. Nếu thế, không ai có thể bước vào. Một người đang chiến đấu với tật xấu nhưng thật lòng muốn sửa không giống một người tự hào về điều sai trái và nhất định không chịu đổi. Một người nhiều lần ngã xuống nhưng vẫn tìm đến ơn Chúa không giống một người dùng lòng thương xót để bào chữa cho việc cố tình gây hại. Một người chưa biết sống tử tế trong mọi hoàn cảnh nhưng chịu lắng nghe và học hỏi không giống một người coi mọi góp ý là xúc phạm. Đời sống thánh thiện có một lịch sử, có những bước trưởng thành, có sự nâng đỡ của ân sủng và sự cộng tác của tự do. Điều Chúa mời gọi là một tâm hồn thật lòng đáp lại. Có thể hôm nay tôi chưa vượt qua hoàn toàn sự nóng giận, nhưng tôi không còn coi việc quát tháo là quyền của mình. Có thể hôm nay tôi vẫn khó tha thứ, nhưng tôi không tiếp tục nuôi những kế hoạch trả thù. Có thể hôm nay tôi còn nhiều sợ hãi, nhưng tôi chịu bước một bước về phía sự thật. Một chiếc áo đang được sửa lại từng đường kim vẫn khác với một chiếc áo mà người mặc nhất quyết không cho ai chạm tới.
Trong gia đình, chiếc áo cưới của tình yêu được dệt bằng những hành động rất cụ thể. Đó là khi người chồng biết nói một lời xin lỗi mà không lập tức thêm vào những lý do khiến người vợ phải nhận lỗi thay mình. Đó là khi người vợ có thể nói ra điều mình đang đau mà không dùng sự khinh miệt để làm người chồng tổn thương. Đó là khi cha mẹ chịu nghe hết một câu chuyện của con trước khi kết luận. Đó là khi người con trưởng thành hiểu rằng cha mẹ không chỉ cần tiền gửi về, mà còn cần một sự hiện diện khiến họ biết mình chưa bị bỏ lại. Đó là khi cả nhà có thể cùng ăn một bữa mà không mỗi người chìm trong một màn hình. Đó là khi có một vấn đề khó, mọi người không chỉ hỏi ai sai, mà còn hỏi phải làm gì để gia đình được chữa lành. Những điều ấy xem ra rất nhỏ so với hình ảnh một bữa tiệc lớn, nhưng chính chúng làm cho tình yêu có chỗ ở. Một gia đình trở thành nơi có sự sống khi người yếu hơn không phải sợ người mạnh hơn, khi người phạm lỗi vẫn có thể nói thật, khi người đang mệt không bị coi là gánh nặng, khi sự quan tâm không chỉ xuất hiện trong những ngày lễ mà được thực hành trong đời thường.
Có những mái nhà đủ đầy đồ đạc nhưng thiếu sự dịu dàng. Có những gia đình đầu tư rất nhiều cho tương lai của con nhưng không biết tâm hồn con đang sống thế nào. Có những người cha, người mẹ sẵn sàng hy sinh cả đời nhưng lại không biết cách biểu lộ tình yêu để con có thể cảm nhận. Họ yêu, nhưng tình yêu đi qua quá nhiều lo lắng nên trở thành kiểm soát. Họ quan tâm, nhưng sự quan tâm đi qua quá nhiều sợ hãi nên trở thành trách móc. Họ muốn con tốt, nhưng cách nói khiến con tin rằng mình chỉ được yêu khi thành công. Tin Mừng mời chúng ta đưa tình yêu trở lại với sự thật và sự tự do. Người mình yêu cần được hướng dẫn, nhưng cũng cần được lắng nghe. Cần được nhắc nhở, nhưng cũng cần được nhìn nhận những cố gắng. Cần có những giới hạn rõ ràng, nhưng cũng cần hiểu rằng giới hạn ấy phục vụ sự trưởng thành của mình. Một gia đình có đức tin cần học cách để tình yêu của Chúa sửa cả cách mình yêu. Bởi có khi chúng ta cầu xin Chúa biến đổi con mình, người bạn đời mình, người thân mình, trong khi điều đầu tiên cần được biến đổi lại là giọng nói, thái độ và cách phản ứng của chính mình.
Trong cộng đoàn giáo xứ, lời mời dự tiệc đặt ra một câu hỏi cũng rất cụ thể: người mới đến có cảm thấy họ được chào đón không? Một người đã xa nhà thờ nhiều năm, khi trở lại, có được giúp đỡ để bắt đầu hay lập tức bị hỏi tại sao bây giờ mới đến? Một gia đình nghèo có được nhìn như những anh chị em có phẩm giá hay chỉ như một đối tượng nhận trợ cấp? Một người trẻ đang có nhiều câu hỏi có được lắng nghe hay bị gán cho sự thiếu đạo đức? Một người đang gặp khủng hoảng có tìm thấy một nơi để nói thật hay phải tiếp tục giữ vẻ bình thường vì sợ lời đồn? Chúng ta có thể tổ chức rất nhiều sinh hoạt, nhưng người đang đau vẫn không biết phải tìm ai. Chúng ta có thể có những công trình đẹp, nhưng một người lặng lẽ bước vào vẫn cảm thấy mình không thuộc về. Chúng ta có thể rất nhanh trong việc huy động nhân lực và tiền bạc, nhưng rất chậm trong việc nhận ra một người đã vắng mặt nhiều tuần vì đang mắc bệnh, đang suy sụp, đang mất việc. Bữa tiệc tình yêu đòi cộng đoàn tập nhìn thấy con người trước khi nhìn thấy công việc người ấy có thể làm. Khi một người được gọi bằng tên, được hỏi thăm thật lòng, được dành thời gian, họ có thể bắt đầu tin rằng cánh cửa này thực sự mở cho mình.
Những người có trách nhiệm trong Hội Thánh càng cần để dụ ngôn ấy soi vào cách phục vụ của mình. Có thể chúng ta rất bận với những việc dành cho Chúa mà lại thiếu thời gian ở với Chúa. Có thể chúng ta nói nhiều về lòng thương xót nhưng trong cách xử lý một con người lại thiếu kiên nhẫn. Có thể chúng ta mong mọi người đến với cộng đoàn nhưng cách cư xử của mình khiến họ sợ đến. Có thể chúng ta bảo vệ một chương trình rất chặt chẽ nhưng không nhận ra một người đang cần được giúp đỡ ngay trước mắt. Trách nhiệm mục vụ có nhiều áp lực thật, nhiều giới hạn thật, và người phục vụ cũng là người cần được nâng đỡ. Nhưng chính vì thế, họ cần thường xuyên trở về với nguồn của việc phục vụ. Nếu không, công việc thánh có thể dần trở thành một công việc chỉ được điều hành bằng sự nóng ruột, thói quen và nỗi sợ không đạt kết quả. Một người phục vụ cần nhớ rằng mình cũng là khách được mời, cũng sống nhờ ân sủng, cũng cần mặc lấy sự hiền lành, công bằng và chân thật. Chức vụ không thay thế được cuộc hoán cải. Sự quen thuộc với những điều thánh không bảo đảm một trái tim đang gần Chúa.
Bữa tiệc còn giúp chúng ta nhìn lại sự hiệp thông. Muốn cùng ngồi vào một bàn, chúng ta phải chấp nhận rằng bên cạnh mình có những người không giống mình. Họ có một hoàn cảnh khác, một tính cách khác, một tốc độ trưởng thành khác, một lịch sử đức tin khác. Có người dễ nói, có người rất khó mở lòng. Có người làm việc nhanh, có người cần thêm thời gian. Có người hiểu một vấn đề ngay, có người phải được giải thích nhiều lần. Nếu chỉ muốn ở bên những người hợp ý, chúng ta sẽ thu hẹp cộng đoàn thành một nhóm làm mình dễ chịu. Nhưng tình yêu Kitô giáo đưa chúng ta đến khả năng sống với những khác biệt mà vẫn tôn trọng phẩm giá của nhau. Điều này không có nghĩa là bỏ qua sai trái hoặc để người khác tiếp tục gây hại. Sống hiệp thông cần sự thật, cần trách nhiệm, cần những giới hạn lành mạnh. Tuy nhiên, khi phải sửa một lỗi, chúng ta vẫn có thể tránh làm nhục một người. Khi phải nói một điều khó, chúng ta vẫn có thể giữ sự tôn trọng. Khi phải từ chối một hành vi, chúng ta vẫn có thể mở một lối cho người ấy sửa đổi. Cách chúng ta đối xử với người gây khó chịu cho mình thường cho thấy rất rõ chiều sâu của chiếc áo tình yêu mình đang mặc.
Thánh lễ là nơi lời mời của Thiên Chúa đi vào nhịp sống cụ thể của người tín hữu. Nhưng để cuộc gặp gỡ ấy sinh hoa trái, chúng ta cần đem theo một tâm hồn chịu hiện diện. Có người đến nhà thờ với thân xác, còn tâm trí vẫn đang ở trong một cuộc tranh cãi, một phép tính, một kế hoạch, một câu chuyện trên mạng. Điều đó có thể xảy ra với bất cứ ai, nhất là khi cuộc sống có nhiều lo âu. Vì vậy, chúng ta không cần giả vờ rằng mình luôn tập trung tốt. Chúng ta cần tập đưa lòng mình trở lại. Trước khi bắt đầu, hãy dành một khoảng lặng để ý thức mình đang đứng trước Chúa. Trong khi lắng nghe Lời Chúa, hãy tìm một điều có thể chạm vào đời sống hôm nay. Khi dâng lễ, hãy dâng cả công việc, nỗi mệt, những quan hệ đang rạn nứt, những quyết định đang khó khăn. Khi chuẩn bị rước lễ, hãy xét lòng mình và đón nhận Bí tích Hòa Giải khi cần, để cuộc gặp gỡ với Chúa đi cùng lòng chân thành và sự kính trọng. Khi trở về, hãy giữ lại một hành động cụ thể. Thánh lễ có thể tiếp tục trong cách chúng ta nói với người nhà, xử lý một bất đồng, trả một khoản nợ, chăm sóc một người bệnh. Điều đã được cử hành cần tìm được một hình thức sống.
Một người có thể dự lễ đều mà vẫn không nhận ra mình đang từ chối Chúa ở những nơi khác. Chúa mời mình sống trung thực, mình lại cho rằng trong việc làm ăn ai cũng phải như thế. Chúa mời mình tôn trọng người yếu, mình lại cho rằng muốn điều hành phải làm người khác sợ. Chúa mời mình chăm sóc gia đình, mình lại cho rằng chỉ cần cung cấp vật chất là đủ. Chúa mời mình sửa lời nói, mình lại cho rằng tính mình vốn thẳng. Chúa mời mình từ bỏ một thói quen gây hại, mình lại cho rằng đó là cách giải tỏa duy nhất. Những lý do ấy có thể chứa một phần khó khăn thật, nhưng cũng có thể che một sự không muốn thay đổi. Chúng ta cần đủ thành thật để phân biệt giới hạn với sự cố chấp. Giới hạn khiến mình cần được giúp. Sự cố chấp khiến mình từ chối sự giúp đỡ. Giới hạn có thể được đem đến trước Chúa trong khiêm nhường. Sự cố chấp thường tìm mọi cách để chứng minh mình không cần sửa. Đôi khi điều làm đời sống đức tin bế tắc không phải là mình quá yếu, mà là mình quá quen với việc bảo vệ sự yếu đuối như một điều không ai được phép đụng tới.
Lời Chúa cũng đi vào những nỗi thiếu thốn và bất an mà chúng ta đang mang. Con người dễ nghĩ rằng chỉ khi có đủ mọi điều kiện mình mới có thể bình an, mới có thể quảng đại, mới có thể sống đạo nghiêm túc. Nhưng thực tế cho thấy có những người có rất nhiều mà vẫn sống trong nỗi sợ mất mát không nguôi. Có những người có ít hơn nhưng lại biết chia sẻ, biết biết ơn, biết giữ một sự vững vàng đáng quý. Sự vững vàng ấy không xóa những khó khăn vật chất. Nó giúp con người không để toàn bộ giá trị của đời mình bị quyết định bởi những khó khăn đó. Một người mất việc cần tìm việc, cần sự hỗ trợ, cần những giải pháp thực tế. Nhưng họ cũng cần biết mình không trở thành vô giá trị chỉ vì hiện tại chưa có thu nhập. Một người đang bệnh cần được chữa trị, chăm sóc và đồng hành. Nhưng họ cũng cần biết mình vẫn là một người đáng được yêu, không chỉ là một gánh nặng. Một gia đình đang thiếu thốn cần những bàn tay giúp đỡ cụ thể. Và trong khi đón nhận sự giúp đỡ, họ cần được tôn trọng. Đức tin làm chúng ta có khả năng bước qua những hoàn cảnh ấy với một niềm hy vọng không bị giới hạn hoàn toàn bởi số tiền trong túi hay kết quả của một ngày làm việc.
Đối với người đang đau khổ, hình ảnh bữa tiệc có thể nghe thật xa. Có người vừa mất một người thân. Có người đang đi qua những tháng ngày hôn nhân căng thẳng. Có người mệt mỏi vì bệnh tật, vì trách nhiệm chăm sóc, vì một nỗi buồn chưa thể gọi tên. Họ không dễ cảm thấy vui khi nghe nói đến niềm vui. Chúng ta cần đón nhận sự thật ấy với lòng kính trọng. Niềm vui của đức tin không buộc người đau khổ phải cười để chứng minh mình tin Chúa. Người đang khóc vẫn có thể ở rất gần Người. Người chưa hiểu điều đang xảy ra vẫn có thể cầu nguyện. Người không còn đủ sức nói nhiều vẫn có thể hướng lòng về Người trong thinh lặng. Hy vọng Kitô giáo đi vào tận những nơi ấy. Nó giúp người đau khổ biết rằng nỗi đau của mình được nhìn thấy, rằng sự sống mình không bị bỏ mặc, rằng cái chết và chia lìa không phải là điều cuối cùng có quyền định đoạt mọi sự. Trong hiện tại, niềm hy vọng ấy thường được trao qua một người chịu ngồi bên, một người không vội giảng giải, một người giúp làm một việc nhỏ, một người nhớ đến mình sau khi đám đông đã ra về.
Vì thế, một cộng đoàn biết sống lời mời của Chúa sẽ không chỉ chăm lo những ngày đông vui. Cộng đoàn ấy còn biết tìm đến những căn phòng vắng, những người không còn đủ sức tham gia, những gia đình đang xấu hổ vì một biến cố, những người bị đẩy ra ngoài cuộc trò chuyện. Có người không trở lại cộng đoàn vì họ nghĩ mọi người sẽ chỉ nhớ lỗi cũ của mình. Có người không xin giúp đỡ vì sợ bị thương hại. Có người im lặng vì nhiều lần nói ra đã không được nghe. Muốn đưa lời mời đến với họ, chúng ta cần nhiều hơn một thông báo. Cần một sự hiện diện đáng tin. Cần cách nói khiến họ không phải tự bảo vệ ngay từ đầu. Cần kiên nhẫn để họ có thể mở lòng theo nhịp của mình. Cần kín đáo để câu chuyện họ trao không trở thành đề tài cho người khác. Khi một người đang tổn thương cảm thấy được an toàn trong tương quan, họ mới có thể bắt đầu một bước trở về. Sự quảng đại của Thiên Chúa cần được phản chiếu bằng những cách phục vụ có hiểu biết, có trách nhiệm và có lòng thương thật.
Có một nguy cơ khác mà chúng ta thường ít nhận ra: ganh tị trước việc người khác được đón nhận. Chúng ta vui khi mình được tha thứ, nhưng có thể khó chịu khi một người mình không thích cũng được tha thứ. Chúng ta muốn có cơ hội mới cho bản thân, nhưng lại giữ người khác trong lỗi cũ của họ. Chúng ta nói về một cánh cửa rộng mở, nhưng trong lòng vẫn phân biệt ai đáng được ở gần hơn, ai chỉ nên đứng ở xa. Người đã phục vụ lâu năm có thể thấy khó chấp nhận khi một người mới được tin tưởng. Người giữ đạo lâu có thể thấy khó chịu khi một người vừa trở về nhận được nhiều sự quan tâm. Lúc ấy, lòng chúng ta đang biến ân sủng thành một cuộc cạnh tranh. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa không trở nên ít hơn đối với mình khi được trao cho người khác. Một người được chữa lành không làm mình mất chỗ. Một người được nâng đỡ không làm công sức của mình vô nghĩa. Nếu chúng ta thật sự yêu cộng đoàn, chúng ta sẽ học cách vui khi cộng đoàn có thêm một người được sống. Niềm vui trước sự trở về của người khác là một dấu hiệu rất đẹp cho thấy chúng ta đang hiểu trái tim của Chúa.
Chiếc áo cưới cũng được chuẩn bị trong cách chúng ta sống trên không gian mạng. Ở đó, con người có thể rất dễ quên rằng phía sau một tên tài khoản là một người có gia đình, có nỗi sợ, có phẩm giá. Chúng ta đọc một thông tin chưa rõ rồi lập tức chia sẻ. Chúng ta thấy một lỗi lầm rồi góp thêm một câu làm nhục. Chúng ta theo một cuộc tranh cãi đến mức lòng đầy tức giận, sau đó đem sự tức giận ấy về với những người không liên quan. Có người nói những điều rất đạo đức trên mạng, nhưng cách bình luận lại thiếu sự công bằng và lòng nhân. Đức tin cần đi vào cả đầu ngón tay đang chuẩn bị bấm gửi. Trước một câu nói, chúng ta có thể dừng lại để hỏi: điều này có thật không, có cần thiết không, có giúp ai hiểu hơn hoặc sống tốt hơn không? Nếu mình đang phản ứng vì nóng giận, có lẽ cần chờ. Nếu thông tin chưa được kiểm chứng, có lẽ cần ngừng chia sẻ. Nếu một người đang bị đám đông vùi dập, có lẽ điều cần làm là giữ sự công bằng, tránh góp thêm tổn thương. Một người sống gần Chúa không nhất thiết phải có mặt trong mọi cuộc tranh luận. Họ cần có khả năng chọn điều làm cho sự thật và phẩm giá con người được phục vụ.
Để đáp lại lời mời của Chúa, chúng ta không cần chờ một biến cố phi thường. Có thể bắt đầu ngay bằng cách nhìn lại một ngày sống. Trong ngày ấy, điều gì chiếm phần lớn sự chú ý của tôi? Tôi đã dành thời gian cho ai? Tôi đã dùng lời nói để nâng đỡ hay làm người khác sợ? Tôi đã để một việc quan trọng bị trì hoãn vì một việc dễ chịu hơn hay chưa? Tôi đã cầu nguyện bằng con người thật hay chỉ đọc cho xong? Tôi đã nhận ra một ơn lành nào để biết ơn? Những câu hỏi đó không nhằm biến đời sống thành một cuộc kiểm tra liên tục. Chúng giúp chúng ta sống có ý thức hơn. Rồi hãy chọn một việc cần làm, vừa sức nhưng thật. Dành một khoảng thời gian ngắn để cầu nguyện mà không cầm điện thoại. Gọi cho một người thân mình đã lâu không hỏi thăm. Nói một lời xin lỗi rõ ràng. Trả lại điều không thuộc về mình. Dừng một câu chuyện làm tổn thương danh dự người khác. Sắp xếp một cuộc gặp để tháo gỡ bất hòa. Tìm sự giúp đỡ khi một thói quen đã vượt quá khả năng tự kiểm soát. Những việc ấy là cách đưa câu trả lời của mình ra khỏi ý nghĩ và đặt vào đời sống.
Chúng ta cũng cần học cách tiếp tục sau một lần thất bại. Nhiều người bắt đầu thay đổi rất quyết tâm, nhưng chỉ sau một lần trở lại thói quen cũ đã nghĩ rằng mọi nỗ lực đều vô ích. Họ tự kết án mình, rồi buông xuôi. Trong khi đó, trưởng thành thường đòi một sự kiên nhẫn bền bỉ. Người đang tập kiểm soát lời nói có thể vẫn lỡ lời. Điều quan trọng là họ chịu nhận lỗi, sửa hậu quả và học xem điều gì đã làm mình phản ứng như thế. Người đang tập cầu nguyện có thể có những ngày khô khan. Điều quan trọng là họ không chỉ tìm Chúa khi có cảm xúc dễ chịu. Người đang sửa một thói quen xấu có thể cần người đồng hành, cần thay đổi môi trường, cần những biện pháp cụ thể để tránh hoàn cảnh khiến mình dễ vấp ngã. Ân sủng không miễn cho chúng ta việc học hỏi những cách sống khôn ngoan. Cầu nguyện và hành động có thể nâng đỡ nhau. Xin Chúa giúp rồi chịu bước đi. Nhận ra giới hạn rồi tìm sự hỗ trợ. Khi đã sai, trở về với sự thật. Một cuộc đời được biến đổi thường mang dấu vết của nhiều lần bắt đầu lại, và chính lòng trung tín trong những lần bắt đầu ấy làm cho con người trưởng thành.
Sau cùng, lời mời dự tiệc đặt chúng ta trước câu hỏi về điều sẽ còn lại. Rồi sẽ đến một lúc những công việc hôm nay không còn cần chúng ta giải quyết. Những cuộc cạnh tranh từng làm mình mất ngủ sẽ lùi xa. Những điều mình cố sở hữu sẽ được trao cho người khác. Danh tiếng có thể phai, sức khỏe có thể giảm, những vai trò từng làm mình tự hào có thể kết thúc. Điều ấy không khiến công việc và thành quả của đời người trở nên vô nghĩa. Nó giúp chúng ta đặt chúng vào đúng tầm mức. Một công việc có thể trở thành nơi mình sống công bằng. Một trách nhiệm có thể trở thành nơi mình học hy sinh. Một thành quả có thể trở thành phương tiện giúp người khác. Một nỗi đau có thể trở thành nơi mình học tín thác và đón nhận sự nâng đỡ. Khi được sống trong tình yêu, những điều hữu hạn ấy mang một chiều sâu vượt quá chính chúng. Nhưng nếu suốt đời chỉ chạy theo việc sở hữu, được công nhận và giữ phần hơn, chúng ta có thể đi đến cuối hành trình với rất nhiều thứ đã nắm trong tay mà vẫn không biết mình đã thực sự sống với ai, đã yêu ai, đã để ai yêu mình.
Bởi vậy, hôm nay là một thời điểm quý giá. Hôm nay còn có thể nghe. Hôm nay còn có thể đáp lời. Hôm nay còn có thể bước đến một người mình đang xa cách. Hôm nay còn có thể đặt lại trật tự cho một ngày sống. Hôm nay còn có thể để Chúa chạm vào một nơi mình đã che giấu rất lâu. Chúng ta không cần sửa xong cả cuộc đời trong một buổi sáng, nhưng cần thôi dùng sự lớn lao của công việc phải sửa để trì hoãn bước đầu tiên. Một người bắt đầu cầu nguyện thật hôm nay đã mở một cánh cửa. Một người chịu xin lỗi hôm nay đã đặt viên đá đầu tiên cho một cuộc hòa giải. Một người chịu từ bỏ một lợi ích bất chính hôm nay đã làm cho sự thật có chỗ đứng. Một gia đình chịu ngồi lại với nhau hôm nay đã cho tình yêu một cơ hội. Một cộng đoàn chịu đến tìm người bị bỏ quên hôm nay đã làm cho lời mời của Chúa trở nên có thể cảm nhận. Đời sống được đổi mới từ những câu trả lời như thế, những câu trả lời có ngày tháng, có hành động, có con người cụ thể được hưởng sự tốt lành.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận ra những lần Chúa đã đến mà chúng con vẫn mải mê với những điều khác. Xin soi sáng để chúng con hiểu việc gì cần được đặt trước, việc gì cần được giới hạn, điều gì cần phải từ bỏ. Xin chữa lành nỗi sợ khiến chúng con không dám trở về với con người thật của mình. Xin làm mềm lòng tự ái khiến chúng con khó đón nhận một lời góp ý. Xin giải thoát chúng con khỏi thói quen hẹn lại những việc tốt, khỏi sự bận rộn khiến chúng con tưởng mình đang sống đầy đủ trong khi những tương quan quan trọng nhất đang héo mòn. Xin cho những người đang mặc cảm biết rằng họ có thể bắt đầu lại; cho những người đang đau khổ có được một bàn tay nâng đỡ; cho những gia đình đang xa nhau tìm được một cách nói chuyện chân thành; cho những cộng đoàn đang khép kín biết mở cửa bằng sự tôn trọng và lòng nhân. Xin dạy chúng con chuẩn bị chiếc áo cưới bằng sự trung thực trong công việc, sự dịu dàng trong lời nói, sự công bằng trong quyết định, sự quảng đại trong chia sẻ và lòng trung tín trong những bổn phận âm thầm. Xin cho mỗi lần đến với Chúa, chúng con biết đem theo cả đời sống mình, và mỗi lần trở về từ cuộc gặp gỡ ấy, chúng con có thể mang một chút bình an đến cho người khác. Đến cuối hành trình, xin cho chúng con được nhìn lại một đời đã biết đáp lời, đã biết đón nhận ân sủng, đã biết để tình yêu biến đổi mình từng ngày, và được ở trong niềm vui mà Chúa đã dành cho những người thuộc về Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
ĐỪNG ĐỂ CẢ MỘT ĐỜI BẬN RỘN KHIẾN TA BỎ LỠ TIỆC CƯỚI CỦA THIÊN CHÚA
Có những cuộc hẹn bị bỏ lỡ rồi vẫn có thể sắp xếp lại. Có những chuyến xe đi qua rồi vẫn còn chuyến khác. Có những công việc làm chậm một ngày cũng chưa gây ra hậu quả quá lớn. Nhưng có những điều, khi chúng ta nhận ra mình đã bỏ lỡ, thời gian không còn trả lại được nữa. Một người mẹ đã chờ con về dùng bữa suốt nhiều năm, đến lúc người con có thể thu xếp thì chiếc ghế của mẹ đã trống. Một người cha đã muốn nói với con vài điều, nhưng người con luôn bận, đến lúc muốn lắng nghe thì chỉ còn đứng trước di ảnh. Một người bạn đã nhiều lần tìm đến vì cần một người ở bên, nhưng lần nào cũng gặp câu trả lời hẹn khi khác, đến lúc chúng ta nhớ ra thì tình bạn đã nguội lạnh. Một đứa trẻ đã từng chạy đến khoe một bức tranh, một điểm tốt, một chuyện nhỏ ở trường, nhưng người lớn cứ nhìn vào màn hình và bảo để đó, đến một ngày đứa trẻ không còn muốn kể nữa. Cuộc đời có những mất mát không bắt đầu bằng một biến cố dữ dội, nhưng bằng hàng trăm lần chúng ta không có mặt. Đời sống đức tin cũng có thể bị hao mòn như thế. Không phải ai xa Chúa cũng bắt đầu bằng một lời phủ nhận. Nhiều người vẫn tin, vẫn giữ những dấu hiệu bên ngoài của người có đạo, vẫn nghĩ rằng Thiên Chúa quan trọng, nhưng trong lịch sinh hoạt thực tế, Người luôn đứng sau những việc khác. Chúng ta không tuyên bố từ chối Người; chúng ta chỉ liên tục để Người chờ. Và đến một lúc nào đó, lòng mình trở nên xa lạ với chính Đấng mà miệng vẫn gọi là Cha.
Hình ảnh tiệc cưới trong Tin Mừng mở ra một cách nhìn rất đẹp về đời sống với Thiên Chúa. Một bàn tiệc được chuẩn bị, một niềm vui đang chờ được chia sẻ, một chỗ ngồi được dành sẵn: tất cả gợi lên sự đón nhận và thuộc về. Người được mời không chỉ đến để ăn, nhưng để bước vào niềm vui của chủ nhà, để hiện diện bên những người khác, để nhận ra rằng sự có mặt của mình có ý nghĩa. Trong một đám cưới, có những món ăn rất ngon, có những trang trí rất đẹp, có những chương trình được chuẩn bị chu đáo, nhưng điều làm người chủ thực sự vui vẫn là những người thân yêu đã đến. Bàn tiệc dù đầy đủ mà thiếu những khuôn mặt được mong đợi vẫn để lại một khoảng trống. Khi suy nghĩ về tương quan với Thiên Chúa, chúng ta thường chỉ hỏi mình phải làm gì, phải tránh gì, phải giữ luật nào, phải hoàn thành bổn phận nào. Những câu hỏi ấy cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, đức tin dễ trở thành một cuộc kiểm tra kéo dài suốt đời. Hình ảnh tiệc cưới nhắc chúng ta nhớ rằng ở tận nguồn sâu của mọi bổn phận là một tình yêu muốn gặp gỡ. Thiên Chúa muốn con người sống trong sự hiệp thông với Người. Người muốn chúng ta có mặt bằng cả tâm hồn, có thể nhận lãnh, biết tạ ơn, biết yêu thương và để đời mình được đổi mới.
Thế nhưng có một điều khiến chúng ta phải dừng lại: người ta có thể được mời đến một điều tốt đẹp mà vẫn không đến. Không phải vì không hiểu lời mời, cũng không hẳn vì không biết người mời, nhưng vì tâm trí đang đặt ở một nơi khác. Một người đang nghĩ đến đất đai, một người đang tính chuyện làm ăn, một người đang bị cuốn vào những lợi ích trước mắt. Công việc chiếm toàn bộ tầm nhìn, khiến bàn tiệc trở nên xa xôi, không cấp bách, có thể bỏ qua. Đây là một kinh nghiệm rất gần với chúng ta. Những gì thuộc về Thiên Chúa thường không gây tiếng động lớn. Giờ cầu nguyện không rung chuông liên tục như điện thoại. Lời mời hoán cải không hiện thành thông báo đỏ trên màn hình. Một người nghèo cần giúp đỡ không có khả năng đòi hỏi mạnh như một khách hàng đang thúc ép. Một đứa trẻ cần cha mẹ lắng nghe không có quyền lực như người quản lý đang yêu cầu hoàn tất công việc. Vì thế, điều có tiếng nói lớn dễ được ưu tiên, còn điều có giá trị sâu lại dễ bị gạt sang bên. Chúng ta xử lý những việc đang thúc giục mình, nhưng có thể không còn chăm sóc những điều đang âm thầm nuôi sống mình. Sau nhiều năm, công việc vẫn tiến triển, tài sản có thể tăng thêm, các kế hoạch được hoàn thành, nhưng trái tim lại nghèo đi vì những mối tương quan quan trọng đã bị bỏ đói.
Cần nhìn nhận công bằng rằng lao động, kinh doanh, chăm sóc nhà cửa, học hành và lo cho tương lai đều là những trách nhiệm tốt đẹp. Người cha đi làm để nuôi con đang thực hiện một bổn phận yêu thương. Người mẹ tính toán từng khoản chi đang bảo vệ đời sống gia đình. Người trẻ học tập nghiêm túc đang chuẩn bị để phục vụ tốt hơn. Người làm ăn lương thiện đang góp phần xây dựng xã hội. Tin Mừng không yêu cầu chúng ta coi thường những điều ấy. Nhưng một công việc tốt có thể bị đặt vào một vị trí không đúng, và từ đó bắt đầu làm tổn thương đời sống. Khi việc kiếm sống chiếm hết khả năng sống với nhau, khi việc chăm sóc tương lai khiến chúng ta không còn hiện diện trong hiện tại, khi trách nhiệm với bên ngoài trở thành lý do thường xuyên để bỏ mặc người thân, chúng ta cần xét lại. Một người có thể lao động vì gia đình lúc ban đầu, nhưng dần dần lại chỉ sống cho thành công của riêng mình. Một người có thể phục vụ cộng đoàn vì lòng yêu mến lúc ban đầu, nhưng sau đó lại bị cuốn vào nhu cầu được công nhận. Một người có thể học tập để trưởng thành, nhưng dần dần chỉ còn sợ thua kém. Điều đáng lo không nằm ở bản thân công việc, mà ở chỗ công việc đã trở thành trung tâm điều khiển tất cả. Khi ấy, lời mời của Thiên Chúa chạm đến một tâm hồn đã quá đầy, không còn chỗ để nhận thêm điều gì.
Nhiều người trong chúng ta mang một nỗi sợ âm thầm: nếu dừng lại, mình sẽ tụt phía sau; nếu nghỉ ngơi, mình sẽ trở nên vô dụng; nếu không luôn bận rộn, người khác sẽ thấy mình không quan trọng. Nỗi sợ ấy làm chúng ta khó ở yên trước mặt Chúa. Cầu nguyện đòi hỏi một sự dừng lại, mà dừng lại đôi khi khiến con người phải đối diện với những điều mình đã cố tránh. Khi không còn việc gì để làm ngay lập tức, ta nghe rõ hơn sự cô đơn trong lòng, sự mỏi mệt của thân xác, sự tổn thương chưa được chữa lành, những câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống. Vì vậy, có khi bận rộn trở thành nơi trú ẩn. Chúng ta không chỉ làm nhiều vì có nhiều việc; chúng ta còn làm nhiều để khỏi phải gặp chính mình. Người khác nhìn thấy một người đầy năng lượng, nhưng bên trong có thể là một tâm hồn đang chạy trốn. Người ấy sợ một buổi chiều yên tĩnh vì sự yên tĩnh làm hiện ra những khoảng trống. Người ấy sợ cầu nguyện vì đứng trước Chúa thì không thể mãi dùng thành tích để che giấu nỗi bất an. Lời mời đến với Thiên Chúa vì thế có thể gặp sự kháng cự rất sâu. Chúng ta muốn được bình an, nhưng lại sợ mở ra những nơi cần được chữa lành; muốn được yêu, nhưng lại không quen sống mà không phải chứng minh mình xứng đáng.
Một bước trở về quan trọng là học nhìn mình như một người con. Người con có trách nhiệm, có bổn phận, có những điều cần sửa đổi, nhưng người con không phải giành lấy quyền được hiện hữu trong nhà bằng thành tích. Nếu một đứa trẻ chỉ được ôm khi đạt điểm cao, chỉ được lắng nghe khi ngoan ngoãn, chỉ được đón nhận khi làm người lớn hài lòng, nó sẽ lớn lên với sự lo âu rằng tình yêu có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Nhiều người mang cách hiểu ấy vào đời sống thiêng liêng. Họ nghĩ Chúa chỉ muốn gặp mình khi mình đã thật tốt, chỉ nghe mình khi mình đã đủ sốt sắng, chỉ chấp nhận mình khi mình không còn yếu đuối. Vì vậy, sau một lần sa ngã, họ càng tránh cầu nguyện; sau một thời gian nguội lạnh, họ càng ngại đến nhà thờ; sau một biến cố xấu hổ, họ càng nghĩ mình không còn thuộc về cộng đoàn. Nhưng chính trong những lúc ấy, họ cần được nâng dậy. Trở về với Chúa không có nghĩa là giả vờ mình đã ổn. Trở về là đem cả tình trạng chưa ổn của mình đến trước Người, nhận trách nhiệm về điều đã sai và xin ơn để bắt đầu lại. Một tâm hồn thành thật về sự nghèo nàn của mình đã mở được một cánh cửa mà sự tự mãn luôn khép kín.
Lời mời dự tiệc cưới cũng giúp chúng ta xét lại cách mình sử dụng thời gian. Ai cũng có thể nói Thiên Chúa quan trọng, gia đình quan trọng, sức khỏe quan trọng, nhưng thời gian cụ thể sẽ cho thấy những lời ấy đã trở thành đời sống đến mức nào. Một ngày có thể trôi qua với hàng giờ đọc những điều không thật sự cần, nhiều lần kiểm tra những tin nhắn không cấp bách, những cuộc trò chuyện kéo dài chỉ để nói về lỗi của người khác, nhưng lại không có vài phút cầu nguyện bằng sự chú tâm. Chúng ta có thể nhớ rất rõ giờ phát sóng, giờ giao hàng, giờ hẹn công việc, nhưng liên tục quên gọi điện cho người thân đang đau yếu. Có thể sẵn sàng bỏ cả buổi để lựa chọn một món đồ, nhưng thấy việc lắng nghe một người đang buồn là quá lâu. Những điều đó không phải để chúng ta tự kết án, nhưng để thấy rõ sự phân bố của trái tim. Thời gian mang hình dạng của tình yêu mà chúng ta đang sống. Điều mình thường xuyên dành thời gian cho sẽ dần chiếm một chỗ lớn trong tâm hồn. Điều mình liên tục trì hoãn sẽ dần trở nên xa lạ. Muốn trở về với Chúa, đôi khi phải bắt đầu bằng một quyết định rất cụ thể: dành cho Người một khoảng giờ xác định, giữ khoảng giờ ấy, và kiên nhẫn ở lại ngay cả khi chưa cảm thấy gì đặc biệt.
Tuy nhiên, không nên dùng lời mời này để chất thêm gánh nặng lên những người đang kiệt sức. Có những người lao động nhiều giờ vì cuộc sống thật sự khó khăn. Có những người mẹ gần như không có giấc ngủ trọn vẹn vì chăm con nhỏ. Có những người chăm bệnh nhân nhiều tháng, nhiều năm, thân xác và tinh thần đều mỏi mòn. Có những người phải làm việc theo ca, sống xa nhà, chịu những điều kiện khiến việc tham dự sinh hoạt cộng đoàn không dễ dàng. Thiên Chúa biết hoàn cảnh của họ. Một lời cầu nguyện ngắn giữa ca làm, một hành động ngay thẳng trong lúc khó khăn, một sự chăm sóc kiên trì dành cho người bệnh đều có thể là những cách đáp lại Người. Điều cần xét mình là sự thành thật: tôi đang khó thu xếp vì trách nhiệm thực sự, hay đang dùng trách nhiệm làm lời giải thích cho mọi sự trì hoãn? Tôi có thể dành cho Chúa một khoảng nhỏ mà vẫn không làm, hay tôi đang cố gắng trung tín trong điều kiện rất hạn chế? Cộng đoàn cũng phải biết giúp nhau có thời gian để sống đức tin. Một người mẹ sẽ dễ tham dự Thánh lễ hơn nếu có người hỗ trợ trông con. Một người chăm bệnh sẽ có cơ hội nghỉ ngơi nếu có người thay phiên. Lời mời yêu thương cần được nâng đỡ bằng những hành động yêu thương thực tế.
Trong gia đình, có thể hình dung bàn tiệc của Thiên Chúa bắt đầu được cảm nhận từ bàn ăn mỗi ngày. Một bữa cơm không nhất thiết phải đầy đủ món ngon mới có sức nuôi dưỡng. Điều làm bữa cơm trở nên quý giá là người ta được ngồi với nhau trong sự tôn trọng, được hỏi han mà không bị tra xét, được kể một chuyện nhỏ mà không bị xem thường, được nhận một lời cảm ơn vì công sức đã bỏ ra. Nhưng có những bàn ăn đầy thức ăn mà thiếu sự hiện diện. Cha nhìn vào điện thoại, mẹ vừa ăn vừa làm việc, con đeo tai nghe, mỗi người ở trong một thế giới riêng. Có những bữa cơm biến thành giờ kiểm điểm, nơi đứa trẻ chỉ nghe về điểm kém, người vợ chỉ nghe về thiếu sót, người chồng chỉ nghe về thất bại. Dần dần, người ta không muốn trở về bàn ăn nữa, vì nơi đáng lẽ mang lại sức sống lại khiến mình phải phòng thủ. Một gia đình sống tinh thần Tin Mừng sẽ học sửa những điều rất nhỏ ấy. Đặt điện thoại xuống. Chờ người đang nói kể hết câu. Nhìn vào khuôn mặt người thân. Nhận ra người nấu ăn đã mệt. Để một thành viên có thể nói mình buồn mà không lập tức bị trách yếu đuối. Khi con người được đón nhận như thế, họ dễ hiểu hơn rằng tình yêu Thiên Chúa có thể được chạm đến qua những mối tương quan hằng ngày.
Có những người không từ chối bữa cơm gia đình vì ghét gia đình, nhưng vì không còn biết cách ở cùng nhau. Họ có thể lo tiền rất tốt, tổ chức mọi việc rất giỏi, giải quyết những vấn đề bên ngoài rất nhanh, nhưng khi người thân cần sự gần gũi, họ lúng túng. Một người cha có thể mua cho con nhiều thứ mà không biết hỏi con hôm nay có điều gì làm con lo. Một người chồng có thể sửa mọi vật dụng trong nhà mà không biết nhận ra vợ đang cần được an ủi. Một người mẹ có thể chăm sóc đầy đủ mà không biết để con nói khác ý mình. Chúng ta cần học sự hiện diện như học một khả năng sống. Sự hiện diện đòi hỏi bớt kiểm soát, bớt vội vàng, bớt nhu cầu phải có câu trả lời ngay. Có khi việc tốt nhất là ngồi lại, nghe, và thừa nhận rằng mình chưa hiểu hết. Đời sống cầu nguyện cũng có một sự học hỏi tương tự. Chúng ta không phải lúc nào cũng đến trước Chúa với một danh sách điều cần giải quyết. Có khi cần ở lại trong thinh lặng, để những lo lắng lắng xuống, để nhận ra lòng mình đang ở đâu, để tập đón nhận sự sống như một hồng ân. Người quen hiện diện trước Chúa sẽ có cơ hội học hiện diện sâu hơn trước người thân.
Một nguy cơ khác là chúng ta quen với những điều thánh đến mức không còn thấy chúng quý. Người sống gần nhà thờ có thể nghe tiếng chuông mỗi ngày mà không còn để ý. Người tham dự Thánh lễ lâu năm có thể thuộc các lời đáp nhưng tâm trí không thực sự tham dự. Người làm việc trong giáo xứ có thể quen với bàn thờ, sách lễ, ca đoàn, các sinh hoạt đến mức mọi sự trở thành công việc thường lệ. Sự quen thuộc tự nó không xấu; nó có thể giúp chúng ta gắn bó bền vững. Nhưng khi thiếu sự tỉnh thức, cái quen làm chúng ta tưởng mình đã biết hết và không còn cần nhận lãnh. Chúng ta có thể ở rất gần đời sống Hội Thánh mà lòng lại khô cứng. Có thể phục vụ nhiều giờ nhưng không còn cầu nguyện. Có thể chuẩn bị cho người khác gặp Chúa nhưng chính mình không dành thời gian gặp Người. Có thể bảo vệ những quy định rất quyết liệt nhưng không còn biết nói với một người đau khổ bằng sự dịu dàng. Vì thế, người đã ở trong cộng đoàn càng cần tự hỏi: việc mình đang làm có giúp mình yêu mến hơn không? Sau nhiều năm phục vụ, mình có trở nên kiên nhẫn hơn, chân thật hơn, dễ cảm thông hơn không? Hay mình đang ngày càng khó chịu, dễ phán xét và xem mọi người như những người gây phiền?
Đối với người phục vụ, sự bận rộn còn có thể được che phủ bằng những lý do rất cao đẹp. Một người có thể nghĩ rằng vì mọi việc đều làm cho Chúa nên không cần xét lại nhịp sống của mình. Nhưng khi không còn nghỉ ngơi, không còn lắng nghe, không còn quan tâm đến giới hạn của thân xác, người ấy dễ đưa sự mệt mỏi vào cách đối xử với người khác. Những người đến xin giúp đỡ gặp một khuôn mặt cáu gắt. Những cộng sự gặp một thái độ kiểm soát. Những sai sót nhỏ bị phản ứng như xúc phạm lớn. Sau đó, người phục vụ cảm thấy không được thông cảm và càng khép lòng hơn. Cần có can đảm nhìn nhận rằng việc mình làm tốt không miễn cho mình khỏi trách nhiệm sống tốt với người đang ở gần. Cũng cần có can đảm trao bớt công việc, chấp nhận người khác làm theo một cách khác, xây dựng sự cộng tác thay vì giữ mọi thứ trong tay. Một cộng đoàn trưởng thành không dựa trên sự kiệt sức kéo dài của vài người. Khi biết cùng nhau gánh trách nhiệm, mỗi người có cơ hội trở về với nguồn sức sống, và việc phục vụ cũng trở nên nhân bản hơn.
Bàn tiệc mở rộng đến những người ở các nẻo đường đặt ra một câu hỏi nghiêm túc cho cộng đoàn: ai đang cảm thấy mình không có chỗ? Có thể là một người nghèo mặc áo cũ, một người mới đến chưa biết ai, một người di dân không có giấy tờ sinh hoạt quen thuộc, một người trẻ đã lâu không đi lễ, một gia đình đang có rạn nứt, một người từng gây ra lỗi lầm và đang muốn trở lại. Không phải lúc nào họ cũng bị từ chối bằng lời nói rõ ràng. Có khi chỉ một ánh nhìn, một câu hỏi thiếu tế nhị, một thái độ lạnh nhạt cũng đủ khiến họ nghĩ rằng mình không được mong đợi. Có người đứng ngoài cổng rất lâu rồi bỏ về vì không biết nên hỏi ai. Có người đến sinh hoạt một lần rồi không trở lại vì không ai chào. Có người muốn nói về nỗi đau của mình nhưng chỉ nhận được những lời kết luận vội. Chúng ta cần nhớ rằng người đang tìm đường trở về thường rất dễ bị tổn thương. Họ có thể đã phải vượt qua nhiều sợ hãi mới bước đến cửa. Đón tiếp họ đòi hỏi một sự tinh tế, biết tôn trọng đời tư, biết giữ kín điều được chia sẻ, biết giúp họ đi từng bước. Một chỗ ngồi có thể được dành sẵn trong nhà thờ, nhưng trái tim con người cũng phải có chỗ để họ thực sự cảm thấy được đón nhận.
Sự đón nhận ấy không làm mất đi lời mời hoán cải. Bàn tiệc có niềm vui, nhưng niềm vui của Nước Trời không thể lớn lên trong sự cố chấp với những điều gây hại. Hình ảnh áo cưới giúp chúng ta suy nghĩ về sự đáp lại cần có nơi người được mời. Không nên dùng hình ảnh này để đo giá trị con người bằng vẻ ngoài, địa vị hay một hồ sơ hoàn hảo. Điều cần được chuẩn bị là đời sống bên trong và cách sống cụ thể. Một người có thể bước vào nhà thờ mà vẫn nuôi ý định làm hại người khác. Có thể tham dự các nghi thức nhưng không muốn trả lại điều mình đã lấy. Có thể xin bình an nhưng tiếp tục gieo lời chia rẽ. Có thể muốn được tha thứ nhưng không chịu nhận trách nhiệm về tổn thương mình gây ra. Khi ấy, sự hiện diện bên ngoài chưa trở thành một lời đáp trọn vẹn. Hoán cải đòi chúng ta để tình yêu chạm vào những quyết định thật: ngừng một hành vi sai, nói một lời xin lỗi, sửa một điều bất công, từ bỏ một lợi ích không ngay thẳng, tìm sự giúp đỡ khi không thể tự mình thay đổi. Không ai làm được tất cả ngay lập tức, nhưng mỗi người cần thành thật bước theo hướng ấy. Một khởi đầu nhỏ được thực hiện còn quý hơn một ý định lớn liên tục bị hoãn lại.
Có những lời xin lỗi cần được nói trước khi quá muộn. Có những khoản nợ cần được trả, những lời đồn cần được cải chính, những trách nhiệm cần được nhận lại. Có những người đang chờ chúng ta thực hiện điều đã hứa. Nếu chỉ cảm động khi nghe Tin Mừng mà không thay đổi gì, sự cảm động ấy dễ tan đi. Lời đáp của đức tin phải đi vào những nơi cụ thể nhất của đời sống: cách sử dụng tiền, cách nói chuyện với người yếu thế, cách điều hành công việc, cách bảo vệ phẩm giá người khác, cách sống chung với người khó tính. Một chủ cơ sở đáp lại Chúa bằng việc trả lương công bằng và đúng hạn. Một người bán hàng đáp lại Chúa bằng sự trung thực về chất lượng sản phẩm. Một người có trách nhiệm đáp lại Chúa bằng việc không dùng quyền lực để ép người khác phục vụ cái tôi của mình. Một người đang có mâu thuẫn đáp lại Chúa bằng việc ngừng làm nhục đối phương. Những hành động ấy không gây tiếng vang lớn, nhưng làm cho đời sống được chỉnh lại từ gốc. Chúng ta có thể không cảm thấy mình đang làm điều gì đặc biệt; thực ra, chính ở đó tình yêu được trao một thân thể, một tiếng nói, một cách hiện diện có thể nhìn thấy.
Tình trạng dửng dưng cũng cần được nhìn nhận bằng sự can đảm. Sự dửng dưng có thể mang một vẻ ngoài rất lịch sự: không phản đối, không tranh cãi, không làm gì quá xấu, nhưng cũng không để bất cứ nỗi đau nào chạm đến mình. Một người đọc tin về cảnh khó khăn rồi lướt qua ngay. Một người biết hàng xóm đang bệnh nhưng cho rằng sẽ có ai khác giúp. Một người nghe bạn nói mình tuyệt vọng nhưng không muốn mất thời gian. Một người nhận ra gia đình đang xa cách nhưng nghĩ mọi chuyện chắc tự ổn. Lâu dần, con người mất khả năng rung động. Họ có thể sống an toàn trong một phạm vi hẹp, nhưng bên trong ngày càng khô cạn. Để chống lại sự dửng dưng, cần tập một sự quan tâm có giới hạn mà bền bỉ. Chúng ta không thể giải quyết mọi vấn đề của mọi người, cũng không phải gánh mọi nỗi đau. Nhưng có thể giúp một người cụ thể, giữ một lời hứa cụ thể, thực hiện một việc tốt cụ thể. Một cuộc gọi, một bữa ăn được mang đến, một lần đưa người bệnh đi khám, một khoản hỗ trợ đúng lúc, một giờ ngồi bên người cô đơn: những điều ấy mở lòng chúng ta ra. Khi tình yêu có việc để làm, tâm hồn dần lấy lại sức sống.
Trong thời đại mà sự chú ý liên tục bị chia nhỏ, việc đáp lại lời mời của Thiên Chúa còn đòi hỏi chăm sóc khả năng tập trung. Chúng ta có thể ngồi ở một nơi nhưng tâm trí đi qua hàng chục nơi khác trong vài phút. Một tiếng báo tin nhắn đủ kéo mình khỏi câu chuyện đang nghe. Một hình ảnh trên màn hình đủ làm mình quên người đang ngồi bên cạnh. Thói quen ấy theo chúng ta vào cầu nguyện, vào Thánh lễ, vào bữa cơm và cả những giây phút đáng lẽ phải dành cho người thân. Không thể chỉ yêu cầu mình tập trung mà không thay đổi môi trường sống. Cần có những khoảng thời gian đặt thiết bị xa khỏi tầm tay, tắt các thông báo không cần thiết, không vừa nghe người khác vừa đọc một chuyện khác. Cần tập hoàn tất một việc với sự chú tâm trước khi chuyển sang việc tiếp theo. Những thay đổi ấy có vẻ nhỏ, nhưng giúp chúng ta lấy lại quyền lựa chọn. Khi mọi tiếng động đều có thể điều khiển mình, lời mời sâu xa rất khó được nghe. Một chút thinh lặng được bảo vệ mỗi ngày sẽ tạo ra khoảng trống cần thiết để ta nhận ra điều đang xảy ra trong lòng và điều người bên cạnh đang cần.
Có người sẽ tự hỏi vì sao mình đã đi lễ, đã cầu nguyện mà vẫn không cảm thấy niềm vui. Cần nhớ rằng niềm vui thiêng liêng không phải lúc nào cũng biểu hiện bằng cảm xúc mạnh. Có những giai đoạn khô khan, những thời gian buồn đau, những ngày thân xác mệt mỏi khiến tâm hồn khó cảm nhận. Một người vừa mất người thân có thể tham dự Thánh lễ với nước mắt. Một người đang lo cho bệnh tật có thể cầu nguyện mà lòng vẫn nặng. Một người bị tổn thương sâu có thể cần thời gian và sự đồng hành để học tin tưởng trở lại. Sự hiện diện của Chúa không chỉ được đo bằng mức độ vui vẻ chúng ta cảm thấy. Có khi ơn Người được nhận ra trong việc chúng ta chưa buông xuôi, còn có thể đi tiếp, còn giữ được một quyết định ngay thẳng giữa áp lực, còn chấp nhận nhờ người khác giúp. Đồng thời, cũng cần thành thật nhìn nhận xem những thói quen nào đang làm suy yếu đời sống bên trong: thiếu ngủ kéo dài, sống cô lập, nuôi oán giận, làm việc quá sức, để mình bị cuốn vào những so sánh liên tục. Đức tin không khiến chúng ta bỏ qua việc chăm sóc thân xác và tâm trí. Con người được mời đến bàn tiệc với toàn bộ đời sống của mình, và toàn bộ đời sống ấy cần được chăm sóc.
Một trong những dấu hiệu đẹp của việc ở gần Chúa là lòng biết ơn trở nên cụ thể hơn. Người biết ơn bắt đầu nhận ra những điều trước đây mình xem là đương nhiên: một bữa ăn được chuẩn bị, một người vẫn kiên nhẫn với mình, một ngày còn sức khỏe, một cơ hội sửa sai, một cộng đoàn còn đón nhận, một người bạn chịu nghe. Khi nhận ra những điều ấy, cách đối xử của chúng ta thay đổi. Ta bớt đòi hỏi mọi người phải đáp ứng đúng ý mình, bớt nổi giận vì những thiếu sót nhỏ, bớt nhìn đời chỉ qua điều chưa có. Biết ơn không có nghĩa là phủ nhận bất công hoặc chịu đựng mọi điều gây hại. Người biết ơn vẫn có thể yêu cầu sự công bằng, đặt giới hạn cần thiết và bảo vệ phẩm giá của mình. Nhưng họ làm những điều ấy với một trái tim còn có khả năng nhận ra sự thiện. Một đời sống chỉ chú ý đến thiếu hụt sẽ dễ trở nên cay đắng; một đời sống biết nhận lãnh sẽ có thêm sức để xây dựng. Bàn tiệc nhắc chúng ta rằng có những điều không thể tự mình tạo ra: sự sống đã được trao, tình yêu đã được nhận, những cơ hội đã được mở. Từ ý thức ấy, việc tạ ơn có thể dần trở thành một nếp sống.
Tham dự Thánh lễ cũng cần được nuôi dưỡng bằng sự chuẩn bị như vậy. Nếu đến trong vội vàng, giữ nguyên nhịp phân tán và ra về mà không để điều gì lắng lại, chúng ta dễ cảm thấy việc tham dự chỉ là hoàn tất một bổn phận. Có thể bắt đầu bằng một điều đơn giản: đến sớm hơn một chút khi hoàn cảnh cho phép, dành ít phút thinh lặng, nhận ra mình đang đem điều gì vào cuộc gặp gỡ này. Một nỗi lo, một lỗi lầm, một người cần cầu nguyện, một điều muốn tạ ơn đều có thể được đặt trước Chúa. Khi nghe Lời Chúa, hãy để một ý nghĩa cụ thể chạm đến mình, thay vì chỉ chờ phần tiếp theo. Khi ra về, giữ lại một quyết định nhỏ có thể thực hiện trong tuần. Người đang nóng nảy tập dừng trước khi trả lời. Người đang xa gia đình dành một cuộc gọi tử tế. Người đang giữ chuyện bất hòa chủ động mở một cuộc đối thoại đúng lúc. Nhờ đó, Thánh lễ tiếp tục đi vào đời sống. Chúng ta trở lại với công việc, với gia đình, với những khó khăn cũ, nhưng có thể mang một thái độ mới. Sự đổi mới thường âm thầm, đòi nhiều lần bắt đầu lại, nhưng chính sự trung tín ấy sẽ tạo ra chiều sâu.
Trong đời sống gia đình và cộng đoàn, cũng có những người đã quá quen bị bỏ quên nên không còn dám mong được mời. Họ không đòi hỏi nữa, không chia sẻ nữa, không muốn làm phiền nữa. Một người cao tuổi ngồi yên trong góc nhà; một người trẻ luôn có vẻ bất cần; một người cộng tác âm thầm đã lâu không được hỏi han; một người bệnh chỉ trả lời rằng mình vẫn ổn. Chúng ta dễ nghĩ họ không cần gì vì họ không nói. Nhưng sự im lặng có thể chứa một nỗi thất vọng lâu ngày. Cần có sự chú ý để nhận ra những người ấy và đến gần bằng lòng tôn trọng. Đừng chỉ hỏi cho có. Đừng vội ép họ vui lên. Đừng biến việc lắng nghe thành dịp kể về mình. Hãy để họ có thời gian nói, hoặc có quyền chưa nói. Một sự hiện diện bền bỉ có thể giúp lòng tin được xây lại. Đôi khi, lời mời của Thiên Chúa đến với một người qua việc chúng ta nhớ tên họ, dành cho họ một chỗ, gọi cho họ khi lâu không gặp, nhận ra họ đã vắng mặt. Cộng đoàn trở nên có sức chữa lành khi con người cảm thấy sự hiện diện và vắng mặt của mình đều được quan tâm.
Dẫu vậy, ai cũng phải đối diện với trách nhiệm tự do của mình. Không người nào có thể đáp lại Chúa hoàn toàn thay cho người khác. Cha mẹ có thể dạy con cầu nguyện, nhưng con cần lớn lên trong một tương quan riêng với Thiên Chúa. Cộng đoàn có thể nâng đỡ, nhưng mỗi người vẫn phải chọn sống ngay thẳng khi không ai nhìn thấy. Người khác có thể mời gọi chúng ta hòa giải, nhưng chúng ta phải quyết định ngừng nuôi thù hận. Sự tự do trưởng thành không chỉ được thể hiện ở khả năng làm điều mình muốn, mà còn ở khả năng chọn điều tốt khi điều ấy khó. Có khi lời đáp với Chúa đòi từ bỏ một món lợi. Có khi đòi nhận lỗi mà mình đã cố che giấu. Có khi đòi bước ra khỏi một lối sống quen thuộc đã gây hại cho bản thân và người khác. Chúng ta thường mong có một thời điểm hoàn hảo để thay đổi: lúc bớt việc, lúc đủ tiền, lúc không còn áp lực, lúc người khác thay đổi trước. Nhưng cuộc sống hiếm khi cho một khoảng trống hoàn hảo như thế. Hoán cải thường bắt đầu ngay giữa những điều còn dang dở, bằng một lựa chọn có thể thực hiện hôm nay.
Hôm nay, tôi có thể dừng một cuộc nói xấu. Hôm nay, tôi có thể dành thời gian cho người đang cần mình. Hôm nay, tôi có thể mở lòng trong bí tích Hòa giải, đặt lại giờ cầu nguyện, sửa một việc làm thiếu trung thực, trả lời người thân với sự tôn trọng. Những việc ấy không làm biến mất tất cả vấn đề, nhưng tạo ra một hướng đi. Đừng coi thường một bước nhỏ đúng hướng. Người đã nhiều năm xa cách không nhất thiết có thể lấy lại sự gần gũi trong một buổi nói chuyện, nhưng có thể bắt đầu bằng một lần hiện diện chân thành. Người đã hình thành thói quen nóng giận không thay đổi sau một lời quyết tâm, nhưng có thể học nhận ra dấu hiệu căng thẳng, dừng lại, xin lỗi và tìm cách sửa. Người đã nguội lạnh trong đức tin không phải lập tức có cảm xúc sốt sắng, nhưng có thể trung tín trở lại với việc cầu nguyện và các bí tích. Ơn Chúa nâng đỡ những khởi đầu thành thật ấy. Điều cần giữ là đừng biến sự yếu đuối thành lý do để bỏ cuộc, cũng đừng biến một lần thất bại thành lời kết luận rằng mình không thể thay đổi.
Đến một lúc nào đó, mỗi người sẽ phải nhìn lại đời mình. Những thành công từng làm ta mất ngủ có thể không còn quan trọng như trước. Những chuyện hơn thua từng khiến ta giận dữ có thể trở nên rất nhỏ. Nhưng một khuôn mặt đã được mình chăm sóc, một người đã được mình nâng đỡ, một sự hòa giải đã được thực hiện, một lời xin lỗi đã được nói sẽ có một trọng lượng khác. Người ta có thể nhớ nhiều công việc đã làm, nhưng cũng đau vì những lần không có mặt bên người thân. Vì thế, cần sống ngay hôm nay với sự tỉnh táo của một người biết thời gian hữu hạn. Chúng ta không được trao cả cuộc đời một lần để tiêu dùng tùy ý; chúng ta nhận từng ngày và phải chọn cách sống từng ngày. Đừng đợi một mất mát mới nhận ra giá trị của sự hiện diện. Đừng đợi một cơn bệnh mới hỏi mình đã chăm sóc đời sống ra sao. Đừng đợi đến khi một người rời đi mới muốn lắng nghe. Và đừng đợi tâm hồn hoàn toàn cạn kiệt mới trở về với Chúa. Có những điều cần được làm khi còn có thể làm, những tình yêu cần được đáp lại khi lời mời vẫn đang chạm đến lòng mình.
Đức Maria giúp chúng ta học một sự đáp lại có lòng tin và sự bền bỉ. Cuộc đời của Mẹ có những điều chưa thể hiểu hết, những hoàn cảnh khó khăn và những nỗi đau sâu sắc. Tuy nhiên, Mẹ vẫn sống trong sự gắn bó với Thiên Chúa, đón nhận trách nhiệm của mình và đi từng bước trong lòng tin. Chúng ta cũng được mời sống như vậy trong hoàn cảnh riêng. Không phải ai cũng có những công việc lớn lao, nhưng ai cũng có một đời sống để trao. Một người mẹ chăm con, một người cha làm việc lương thiện, một người trẻ kiên trì học tập, một người bệnh dâng nỗi đau, một người cao tuổi cầu nguyện cho gia đình, một người phục vụ âm thầm: tất cả đều có thể sống một lời đáp đẹp. Điều làm những công việc ấy mang giá trị thiêng liêng là trái tim biết gắn bó với Chúa và biết hướng đến người khác. Khi ấy, những ngày tưởng như lặp lại vẫn có thể trở thành nơi tình yêu lớn lên. Chúng ta không cần đợi cuộc đời đổi sang một hoàn cảnh khác mới có thể sống tốt. Ngay trong ngày thường, giữa những bổn phận quen thuộc, lời mời đã có thể được đáp lại.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhìn rõ những điều đang chiếm hết tâm trí mình. Xin cho chúng con biết nhận trách nhiệm về những lần đã trì hoãn tình yêu, đã để người thân chờ đợi, đã bỏ qua nỗi đau của người khác, đã dùng sự bận rộn để tránh gặp gỡ Chúa và tránh đối diện với chính mình. Xin ban cho chúng con một trái tim thành thật, có thể thừa nhận sự mỏi mệt, sự yếu đuối và những điều cần được chữa lành. Xin dạy chúng con biết sắp xếp thời gian để những điều quý giá được chăm sóc: một giờ cầu nguyện, một Thánh lễ được tham dự với lòng yêu mến, một bữa cơm có sự hiện diện, một cuộc trò chuyện có lắng nghe, một hành động bác ái có sự tôn trọng. Xin giúp người đang kiệt sức nhận được sự nâng đỡ, người đang cô đơn gặp được một người bạn, người đang muốn trở về tìm được một cộng đoàn biết đón nhận. Xin cho chúng con có can đảm sửa điều sai, xin lỗi người đã bị tổn thương, từ bỏ điều bất công và kiên trì với những bước đổi mới nhỏ bé. Xin đừng để chúng con trải qua cả một đời đầy công việc mà thiếu tình yêu, đi qua biết bao ngày mà không biết sống, có mặt ở nhiều nơi mà lại vắng mặt trong những cuộc gặp gỡ quan trọng nhất. Xin cho lời đáp của chúng con được thể hiện trong hôm nay, trong người đang ở bên cạnh, trong bổn phận đang được trao và trong từng lựa chọn âm thầm. Để khi đời sống khép lại, chúng con có thể mang đến trước Chúa một trái tim đã học nhận lãnh, biết tạ ơn và đã cố gắng yêu thương. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
CHIẾC ÁO CƯỚI CỦA TÂM HỒN: ĐỪNG ĐỂ MỘT ĐỜI ĐƯỢC MỜI TRỞ THÀNH MỘT ĐỜI ĐỨNG NGOÀI
Có những cánh cửa người ta phải gõ suốt đời mà vẫn không được mở. Có những bàn tiệc người ta chỉ được nhìn từ xa, bởi hoàn cảnh, bởi nghèo khó, bởi thân phận, bởi những ranh giới vô hình mà con người dựng lên giữa nhau. Có những người đi qua cuộc sống với cảm giác mình luôn là kẻ đến sau, kẻ không có tên trong danh sách, kẻ không đủ quan trọng để được nhớ đến. Bởi vậy, hình ảnh Thiên Chúa mở tiệc và cho người đi mời gọi mang một vẻ đẹp rất sâu: con người không phải tự chen vào nhà Thiên Chúa bằng sự khôn khéo, không phải mua một chỗ bằng thành tích, cũng không phải chứng minh mình hơn người khác để được nhìn nhận. Trước mọi cố gắng của chúng ta đã có một tình yêu đi bước trước. Trước khi chúng ta biết tìm Chúa, Chúa đã tìm chúng ta. Trước khi chúng ta biết mình cần được cứu, lòng thương xót đã chuẩn bị một con đường để chúng ta trở về. Đời sống đức tin bắt đầu từ sự thật ấy: tôi được yêu, tôi được gọi, tôi được mong đợi. Nhưng chính tại đây cũng xuất hiện bi kịch của con người. Chúng ta có thể được mong đợi mà vẫn sống như thể chẳng ai chờ mình; có thể được yêu mà vẫn đóng kín lòng; có thể được mời vào niềm vui mà vẫn mải miết đi tìm những điều cuối cùng chỉ làm mình thêm trống rỗng. Dụ ngôn tiệc cưới chạm đến nỗi đau ấy. Một bàn tiệc đã sẵn sàng, một lời mời đã được gửi đi, nhưng những người được mời lại không muốn đến. Khi nghe câu chuyện, chúng ta dễ ngạc nhiên trước sự vô lý của họ. Nhưng nếu nhìn thật sâu vào nhịp sống của mình, có lẽ chúng ta sẽ nhận ra rằng sự vô lý ấy vẫn âm thầm lặp lại mỗi ngày, ngay trong những lựa chọn rất bình thường của một người vẫn tự nhận mình có đức tin.
Thiên Chúa dùng hình ảnh tiệc cưới để mở cho chúng ta một cách nhìn đầy hy vọng về Nước Trời. Tiệc cưới gợi lên sự gặp gỡ, niềm vui, sự gắn bó, một khởi đầu mới trong tình yêu. Người ta đến tiệc cưới để chia sẻ hạnh phúc của người khác và để bước vào một cộng đoàn cùng vui. Như thế, đích đến của đời người không phải chỉ là thoát khỏi hình phạt, cũng không phải một trạng thái tồn tại lạnh lẽo sau khi mọi hoạt động đã chấm dứt. Đích đến ấy là hiệp thông với Thiên Chúa, là được ở trong tình yêu không còn bị đe dọa bởi phản bội, chia lìa và cái chết. Nhiều khi chúng ta sống đạo trong một tâm thế quá căng thẳng: chỉ nghĩ xem mình đã vi phạm điều gì, đã thiếu sót điều gì, đã làm đủ những việc phải làm hay chưa. Việc xét mình là cần thiết, nhưng nếu toàn bộ tương quan với Chúa bị thu hẹp vào việc kiểm tra lỗi lầm, trái tim sẽ khó lớn lên trong lòng yêu mến. Người con có thể rất sợ làm sai mà vẫn chưa cảm nhận được niềm vui được làm con. Người tín hữu có thể quen với các bổn phận mà vẫn chưa biết nghỉ ngơi trong sự hiện diện của Cha. Hình ảnh bàn tiệc giúp chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa muốn chia sẻ sự sống của Người cho chúng ta. Người muốn chúng ta có mặt, muốn chúng ta được nuôi dưỡng, muốn chúng ta tìm lại niềm vui sâu hơn mọi thành công mau qua. Một đời sống đạo trưởng thành phải dần dần đưa con người đến chỗ biết yêu điều mình đang sống, biết nhận ra ân huệ trong điều mình đang thực hành, biết đến với Chúa bằng lòng biết ơn ngay cả khi còn phải chiến đấu với yếu đuối của mình.
Điều đau lòng trong dụ ngôn là những người được mời không hẳn đang làm những chuyện xấu xa. Có người đi thăm nông trại, có người lo công việc buôn bán. Đó là những hoạt động cần thiết cho đời sống. Con người phải làm việc, phải nuôi gia đình, phải chăm sóc tài sản được trao cho mình, phải chu toàn những trách nhiệm cụ thể. Nhưng một điều tốt có thể trở thành một sức mạnh kéo chúng ta xa Chúa khi nó chiếm lấy toàn bộ trái tim. Công việc trở thành vấn đề khi chúng ta không còn khả năng dừng lại. Trách nhiệm trở thành gánh nặng lệch lạc khi chúng ta dùng nó để biện minh cho việc bỏ quên mọi tương quan khác. Tiền bạc trở thành ông chủ khi chúng ta đánh giá tất cả bằng lợi nhuận và bắt đầu xem những giờ dành cho Chúa, cho gia đình, cho người đau khổ là những giờ không sinh lời. Chúng ta thường hình dung cám dỗ như một lời rủ rê rõ ràng vào tội lỗi, nhưng có những cám dỗ rất kín đáo: cứ làm thêm một chút, cứ kiếm thêm một chút, cứ đợi đến khi ổn định hơn rồi cầu nguyện, cứ giải quyết xong mọi việc rồi mới sống đức tin nghiêm túc. Vấn đề là mọi việc hiếm khi thực sự xong. Sau một khoản nợ là một dự định mới. Sau một thành công là một nỗi lo giữ vị trí. Sau một giai đoạn bận rộn là một giai đoạn bận rộn khác. Nếu Chúa luôn được đặt ở cuối danh sách, cuối cùng Người có thể không còn chỗ nào trong đời sống của chúng ta. Không phải vì chúng ta đã tuyên bố chối bỏ Người, nhưng vì chúng ta đã tổ chức cuộc đời theo cách khiến mình không còn nghe được tiếng Người nữa.
Một người có thể nói rằng mình yêu Chúa mà lịch sống lại không có khoảng nào dành cho Chúa. Một gia đình có thể treo ảnh đạo rất trang trọng mà nhiều tháng không cùng nhau cầu nguyện. Một cộng đoàn có thể tổ chức nhiều hoạt động nhưng càng ngày càng ít lắng nghe nhau. Một người phục vụ có thể dành rất nhiều giờ cho công việc nhà thờ nhưng không còn sự dịu dàng với những người sống bên cạnh. Những điều ấy khiến chúng ta phải nhìn lại: lời mời của Chúa đang đi vào cuộc sống thật của tôi đến mức nào? Đừng chỉ trả lời bằng những điều mình tin trong đầu. Hãy nhìn vào những điều mình sẵn lòng dành thời gian, những điều mình chấp nhận hy sinh, những điều mình bảo vệ khi phải lựa chọn. Người ta thường tìm được thời gian cho điều mình xem là quan trọng, dù khoảng thời gian ấy có thể rất nhỏ. Một phút cầu nguyện chân thành giữa ngày lao động có thể mang nhiều sự sống hơn một lời hứa lớn lao được trì hoãn mãi. Một buổi tối tắt màn hình để ngồi với vợ chồng, con cái có thể là một cách rất thật để đáp lời Chúa. Một quyết định ngừng làm điều gian dối dù mất một khoản lợi có thể là bước chân đầu tiên vào bàn tiệc. Đáp lời Thiên Chúa không nhất thiết bắt đầu bằng một thay đổi ngoạn mục. Nó thường bắt đầu khi chúng ta thôi nói rằng mình không thể làm gì và bắt đầu thực hiện điều nhỏ bé đang nằm trong khả năng của mình.
Tuy nhiên, cũng cần có một trái tim công bằng khi nhìn những người đang vắng mặt trong đời sống cộng đoàn. Có người thờ ơ thật, nhưng có người đang bị bệnh tật giữ lại. Có người mải mê kiếm tiền, nhưng cũng có người đang phải làm việc trong những hoàn cảnh rất khắc nghiệt để gia đình có cơm ăn. Có người tránh xa vì không muốn đổi đời, nhưng có người lùi bước vì từng bị làm nhục, bị hiểu lầm, bị đối xử lạnh lùng ngay tại nơi họ đã hy vọng tìm được sự an ủi. Có người im lặng vì khép kín, nhưng cũng có người im lặng vì kiệt sức. Chúng ta không thể nhìn thấy toàn bộ lương tâm và hoàn cảnh của một người từ một chỗ ngồi trống trong nhà thờ. Dụ ngôn phải giúp chúng ta xét mình trước khi trở thành một công cụ để kết án người khác. Nếu tôi đã được nâng đỡ trong đức tin, được sống gần nhà thờ, được gia đình khuyến khích, được cộng đoàn đón nhận, thì sự hiện diện của tôi còn là kết quả của rất nhiều ân huệ. Nhận ra điều đó sẽ làm tôi khiêm tốn hơn khi gặp người đang ở xa. Tôi có thể mời họ, tìm hiểu khó khăn của họ, giúp họ tháo gỡ một trở ngại, đồng hành với một bước trở về. Lời mời chỉ có thể trở nên đáng tin khi người mang lời mời cũng có khả năng thương người mình đang mời.
Nhà vua tiếp tục sai người đi, và cánh cửa bàn tiệc được mở rộng ra những nẻo đường. Chi tiết ấy đem lại niềm an ủi cho những ai nghĩ rằng đời mình đã quá muộn. Những người ở ngoài đường có thể không hề dự tính hôm ấy mình sẽ dự một bữa tiệc. Họ đang đi trong những công việc riêng, trong những lo lắng riêng, trong một đời sống có thể chẳng ai chú ý. Nhưng lời mời tìm đến họ. Điều đó gợi cho chúng ta một niềm hy vọng: Thiên Chúa có thể gặp con người ở những khúc quanh rất bất ngờ. Có người gặp lại Chúa trong lúc chăm sóc một người bệnh. Có người bắt đầu trở về sau một lần làm tổn thương con mình và đau đớn nhận ra mình cần thay đổi. Có người tưởng mình đã mất đức tin nhưng một hành động tử tế làm lòng họ mở ra. Có người đã xa nhà thờ nhiều năm, rồi một ngày đứng trước sự mong manh của sự sống, bỗng nhận ra mình không muốn tiếp tục sống như trước. Chúng ta không thể lập lịch cho tất cả những cuộc gặp gỡ ấy, nhưng có thể giữ lòng mình khỏi tuyệt vọng. Quá khứ có thể nặng nề, thói quen có thể ăn sâu, sự xấu hổ có thể khiến bước chân chậm lại, nhưng không vì thế mà lời mời của Chúa đã hết hiệu lực. Khi còn có thể thành thật hướng về Người, chúng ta còn có thể bắt đầu một hành trình mới.
Trong phòng tiệc có cả người tốt lẫn người xấu. Đó là một chi tiết đòi chúng ta phải học cách nhìn Hội Thánh với sự trưởng thành. Cộng đoàn đức tin gồm những con người đang được gọi để nên thánh, và trên đường đi ấy họ vẫn mang theo rất nhiều yếu đuối. Có người quảng đại ở một phương diện nhưng thiếu kiên nhẫn ở phương diện khác. Có người bền bỉ cầu nguyện nhưng chưa biết đối thoại. Có người phục vụ âm thầm nhưng vẫn dễ tổn thương vì không được nhìn nhận. Có người mới trở về, chưa sửa được nhiều thói quen, nhưng trong lòng đang có một cuộc chiến rất thật mà không ai thấy. Nếu đòi một cộng đoàn chỉ gồm những người đã hoàn hảo, chúng ta sẽ không tìm được nơi nào để sống, và chính chúng ta cũng không đủ điều kiện để ở trong đó. Nhưng chấp nhận sự yếu đuối của con người không có nghĩa là làm ngơ trước điều gây hại. Một cộng đoàn biết thương phải vừa nâng đỡ người yếu đuối, vừa bảo vệ người bị tổn thương; vừa kiên nhẫn với tiến trình thay đổi, vừa có trách nhiệm trước những hành vi sai trái. Người ta cần được đón nhận để có thể đứng dậy, và khi được đón nhận, họ cũng cần học cách sống sao cho người khác được an toàn, được tôn trọng, được lớn lên. Bàn tiệc có thể mở cửa cho mọi người, nhưng niềm vui của bàn tiệc đòi mỗi người tập sống trong tương quan với người khác.
Chính vì thế, hình ảnh chiếc áo cưới xuất hiện như một lời đánh thức. Đã bước vào phòng tiệc vẫn chưa phải là toàn bộ câu trả lời. Có một sự hiện diện bằng thân xác và có một sự hiện diện bằng trái tim. Có người ngồi giữa cộng đoàn nhưng vẫn giữ nguyên quyết định chỉ sống cho mình. Có người thuộc lòng nghi thức mà chưa chịu để Tin Mừng chạm vào cách kiếm tiền, cách sử dụng quyền lực, cách nói về người khác. Có người đến gần bàn thờ nhưng trong gia đình vẫn dùng sự giận dữ để khiến mọi người sợ hãi. Chiếc áo cưới vì vậy mời chúng ta nhìn vào sự tương hợp giữa điều mình tuyên xưng và điều mình đang sống. Không cần biến chi tiết này thành một cuộc bàn luận về giá tiền của áo quần hay những quy định xã hội của một tiệc cưới. Dụ ngôn hướng tới chiều sâu hơn: lời mời đã đi đến tôi, nhưng tôi có thực sự đón nhận ý nghĩa của lời mời ấy không? Tôi có sẵn lòng để tình yêu của Chúa đổi mới mình không? Tôi có muốn bước vào niềm vui chung, hay chỉ muốn hưởng những gì thuận lợi trong khi vẫn giữ một lối sống làm tổn thương người khác? Sự hiện diện trong nhà Chúa trở nên chân thật khi con người bắt đầu trao cho Chúa quyền bước vào những góc khuất mà trước đây họ luôn khóa lại.
Chiếc áo cưới của tâm hồn không phải một vẻ ngoài đạo đức được may bằng lời nói đẹp. Nó không nằm ở khả năng gây ấn tượng, ở sự nổi bật trong sinh hoạt, ở một danh xưng khiến người khác phải kính trọng. Nó được biểu lộ trong một đời sống đang được ân sủng biến đổi. Khi người dễ nóng giận bắt đầu tập dừng lại trước khi làm đau người khác, có một điều gì đang thay đổi trong chiếc áo ấy. Khi người quen gian dối dám chấp nhận thiệt thòi để sống ngay thẳng, có một điều gì đang được làm mới. Khi người thích được phục vụ học cách tự làm một việc nhỏ cho người khác, khi người luôn trách móc bắt đầu nhận phần trách nhiệm của mình, khi người chỉ quan tâm đến gia đình mình biết mở lòng trước nỗi khổ của hàng xóm, tình yêu đang trở nên có hình dạng. Những thay đổi ấy có thể rất chậm, có thể không ai khen, có thể không tạo ra một câu chuyện hấp dẫn để kể lại. Nhưng chúng có giá trị vì chúng đi vào con người thật. Thiên Chúa biết sự khác nhau giữa một nụ cười để giữ hình ảnh và một nỗ lực dịu dàng giữa lúc lòng đang mệt; giữa một việc thiện để được nhắc tên và một sự hy sinh không mong được nhớ. Chiếc áo của tâm hồn được nhận ra nơi sự thật ấy.
Đức ái là vẻ đẹp không thể thiếu của chiếc áo cưới. Người ta có thể biết nhiều điều đúng mà vẫn sống rất cứng. Có thể bảo vệ một nguyên tắc bằng cách làm nhục một người. Có thể nhân danh sự ngay thẳng để thỏa mãn tính thích phê bình. Có thể lo cho một sinh hoạt thành công mà không quan tâm những người đang bị nghiền nát bởi cách tổ chức của mình. Đức ái đòi chúng ta đi xa hơn việc không làm điều xấu rõ ràng. Nó khiến ta hỏi xem cách mình sống đang làm cho người khác dễ thở hơn hay ngột ngạt hơn. Trong gia đình, đức ái có thể là biết nghe hết câu trước khi phản ứng. Trong cộng đoàn, nó có thể là góp ý trực tiếp và có trách nhiệm thay vì kể lỗi của người khác cho nhiều người nghe. Trong công việc, nó có thể là không tận dụng sự yếu thế của một người để ép họ chịu điều bất công. Trong đời sống mục vụ, nó có thể là nhớ rằng người đang đến xin giúp đỡ không phải một hồ sơ cần giải quyết cho xong, mà là một con người mang theo lo lắng, phẩm giá và hy vọng. Đức ái không làm cho sự thật trở nên yếu đi. Nó giúp sự thật đi đến con người theo cách có khả năng chữa lành. Một lời đúng nhưng thiếu tình thương có thể đóng cửa lòng người; một lời đúng được nói trong sự khiêm tốn và kiên nhẫn có thể mở ra một khởi đầu.
Có những vết bẩn của tâm hồn dễ thấy, và có những vết bẩn được che kín dưới một đời sống rất chỉnh tề. Lòng kiêu ngạo thường thuộc loại thứ hai. Người kiêu ngạo không nhất thiết nói lớn hay phô trương. Họ có thể rất nghiêm túc, rất tận tụy, rất đúng giờ, nhưng trong lòng luôn cần người khác công nhận rằng mình hơn họ. Họ khó chịu khi người khác được khen, khó chấp nhận khi ý kiến mình không được chọn, khó xin lỗi vì xem việc nhận sai như một sự hạ thấp. Họ có thể làm nhiều việc cho cộng đoàn nhưng dần dần coi cộng đoàn như nơi phải đáp ứng nhu cầu được nhìn nhận của mình. Khi đó, phục vụ trở nên nặng nề cho cả người phục vụ lẫn người được phục vụ. Chỉ một lời không vừa ý cũng đủ khiến họ rút lui, chỉ một thay đổi nhỏ cũng đủ khiến họ cảm thấy bị phản bội. Chiếc áo cưới mời chúng ta trở về với sự khiêm tốn: tôi được gọi bởi tình yêu, tôi nhận nhiều hơn tôi có thể kể, tôi cần được tha thứ không ít hơn người khác. Khi ý thức ấy đi vào lòng, ta có thể làm điều tốt mà không cần sở hữu điều tốt ấy. Có thể vui khi người khác tiếp tục một việc mình đã khởi đầu. Có thể đón nhận một lời sửa bảo mà không biến nó thành cuộc chiến để bảo vệ bản thân.
Một trở ngại sâu xa khác là thói quen tự bào chữa. Chúng ta thường có một câu chuyện rất hợp lý để giải thích vì sao mình chưa thay đổi. Tôi nóng tính vì người khác quá chậm. Tôi nói nặng vì họ không chịu nghe. Tôi giữ khoảng cách vì đã từng bị tổn thương. Tôi làm điều thiếu ngay thẳng vì hoàn cảnh không cho phép. Tôi không cầu nguyện vì quá bận. Mỗi lời giải thích có thể chứa một phần sự thật, nhưng nếu chúng luôn dẫn đến kết luận rằng tôi không có gì cần sửa, chúng đang giữ tôi trong một căn phòng đóng kín. Sự trưởng thành bắt đầu khi một người có thể nói: hoàn cảnh của tôi có những khó khăn thật, người khác có thể đã làm sai thật, nhưng tôi vẫn phải chịu trách nhiệm về cách mình đáp lại. Tôi không thể thay đổi tất cả mọi người, nhưng tôi có thể ngừng một câu nói gây hại. Tôi không thể xóa ngay mọi tổn thương, nhưng tôi có thể tìm một sự giúp đỡ thích hợp. Tôi không thể làm cho cuộc sống hết bận rộn, nhưng tôi có thể đặt một khoảng nhỏ cho việc cầu nguyện. Khi nhận phần trách nhiệm của mình, con người không mất phẩm giá. Họ tìm lại khả năng hành động. Người luôn đổ lỗi sẽ phải chờ thế giới đổi khác; người dám nhận trách nhiệm có thể bắt đầu đổi khác ngay hôm nay.
Chiếc áo cưới cũng dẫn chúng ta trở về với ân huệ của Bí tích Rửa Tội. Người Kitô hữu đã được đưa vào một đời sống mới, được thuộc về Đức Kitô, được gọi để lớn lên như một người con của Thiên Chúa. Nhưng ân huệ ấy cần được sống trong từng ngày. Một tấm giấy chứng nhận không thể thay thế một tương quan sống động. Một kỷ niệm đẹp không thể thay thế một quyết định hiện tại. Có những người rất tự hào về truyền thống đạo đức của gia đình nhưng ít khi tự hỏi mình đang trao truyền điều gì cho con cháu. Trẻ em có thể nghe người lớn nói về Chúa, nhưng chúng cũng nhìn thấy cách người lớn tranh cãi, sử dụng tiền bạc, đối xử với người giúp việc, chăm sóc ông bà, phản ứng khi gặp một người không cùng quan điểm. Nếu những điều ấy trái ngược nhau, trẻ sẽ gặp khó khăn khi hiểu đức tin. Giữ gìn phẩm giá người đã chịu phép rửa vì thế là một việc rất cụ thể. Đó là học sống sao cho tên gọi Kitô hữu trở thành một lời chứng đáng tin. Không ai thực hiện điều ấy hoàn hảo trong một ngày, nhưng mỗi ngày có thể là một bước đi. Mỗi lần ta chọn sự thật, chọn sự tử tế, chọn lòng thương xót, ân huệ đã nhận lại có thêm một lối để đi vào cuộc sống.
Khi chiếc áo tâm hồn đã vương bẩn, điều cần nhất là can đảm trở về. Nhiều người ở xa Chúa không phải vì chưa từng biết điều đúng, mà vì quá xấu hổ trước điều mình đã làm. Họ nghĩ rằng phải tự sửa cho tốt rồi mới được đến. Họ chờ một ngày mình đủ trong sạch, đủ bình an, đủ xứng đáng để cầu nguyện. Nhưng chờ đợi như thế có thể khiến con người ngày càng cô độc trong yếu đuối. Chúng ta cần đến với lòng thương xót chính khi đang cần được nâng dậy. Bí tích Hòa Giải mở ra một nơi để người tín hữu thành thật với Chúa về tội lỗi của mình và đón nhận ơn tha thứ. Sự thành thật ấy không phải một thủ tục kể lại vài lỗi quen thuộc cho xong. Nó đòi ta nhìn vào điều mình đã làm, người mình đã gây tổn thương, những chọn lựa mình phải sửa, những dịp tội mình cần tránh, những trách nhiệm mình phải thực hiện. Có những thiệt hại cần được bồi hoàn. Có những lời vu khống cần được đính chính. Có những thói quen cần được thay đổi bằng một kế hoạch cụ thể. Có những vấn đề cần sự đồng hành lâu dài. Ơn tha thứ đem lại một khởi đầu, và khởi đầu ấy cần được chăm sóc bằng lòng trung thành. Khi ta ngã lại, điều quan trọng là tiếp tục trở về với sự khiêm tốn, đồng thời nghiêm túc tìm hiểu vì sao mình ngã và cần thay đổi điều gì để bước vững hơn.
Trong hôn nhân và gia đình, chiếc áo cưới của tâm hồn được thử thách mỗi ngày bởi những điều rất nhỏ. Người ta có thể dễ tử tế với khách mà khó tử tế với người đã sống bên mình nhiều năm. Có thể kiên nhẫn trong một cuộc họp nhưng nổi giận khi con làm đổ một ly nước. Có thể nói về yêu thương trước nhiều người nhưng ở nhà lại chỉ giao tiếp bằng mệnh lệnh và lời trách. Chính sự gần gũi làm lộ ra những phần con người mà chúng ta thường che được ngoài xã hội. Vì thế, gia đình là nơi rất thật để sống dụ ngôn tiệc cưới. Đáp lời Chúa ở đây có thể là trở về bàn ăn đúng lúc, đặt điện thoại xuống, chú ý đến gương mặt người thân, hỏi một câu rồi thật sự chờ câu trả lời. Có thể là người chồng nhận ra vợ mình đang kiệt sức và chủ động chia sẻ việc nhà. Có thể là người vợ nói rõ điều mình cần mà không dùng sự im lặng kéo dài để trừng phạt. Có thể là cha mẹ sửa lỗi cho con mà vẫn bảo vệ phẩm giá của con. Có thể là con cái dành thời gian nghe ông bà kể lại một điều đã cũ. Những hành động ấy làm cho một mái nhà trở thành nơi con người được tiếp nhận, được nuôi dưỡng, được tập sống yêu thương. Một gia đình biết dành chỗ cho nhau sẽ hiểu sâu hơn niềm vui được Thiên Chúa dành chỗ cho mình.
Tha thứ cũng là một phần khó nhưng cần thiết của chiếc áo ấy. Khi bị tổn thương, con người có thể giữ mãi một hồ sơ trong lòng về lỗi của người khác. Mỗi lần gặp họ, hồ sơ ấy lại được mở ra. Mỗi hành động mới của họ đều bị đọc qua lăng kính chuyện cũ. Dần dần, ta không còn thấy một con người có khả năng thay đổi, chỉ thấy người đã làm mình đau. Tha thứ giúp chúng ta bước ra khỏi sự giam giữ ấy, nhưng tiến trình này cần được hiểu với sự tế nhị. Người bị hại không phải giả vờ rằng điều xảy ra không nghiêm trọng. Họ có thể cần thời gian, sự bảo vệ, khoảng cách và sự giúp đỡ. Niềm tin cần được xây dựng lại bằng hành vi đáng tin; hòa giải đòi sự thật và trách nhiệm từ những người liên quan. Tuy nhiên, ngay cả khi chưa thể nối lại một tương quan, ta vẫn có thể xin Chúa giúp mình không để thù hận trở thành người điều khiển cuộc đời. Có thể bắt đầu bằng việc ngừng nuôi những tưởng tượng trả đũa, ngừng kể lại câu chuyện chỉ để làm nhục người kia, tìm cách chăm sóc vết thương của mình, cầu nguyện trong mức độ mình có thể. Lòng thương xót thường bắt đầu từ những bước nhỏ như thế, giữa một trái tim còn đau nhưng đã muốn hướng về sự sống.
Đời sống cộng đoàn cũng cần được mặc lại chiếc áo cưới. Một cộng đoàn có thể rất đông mà một người mới đến vẫn cảm thấy không có chỗ. Có thể có nhiều chương trình nhưng thiếu người chịu ngồi nghe một câu chuyện buồn. Có thể có nhiều người phụ trách nhưng khi một thành viên gặp khủng hoảng, ai cũng nghĩ đó là việc của người khác. Có thể có nhiều lời nói về hiệp nhất nhưng những nhóm nhỏ vẫn giữ sự nghi kỵ và tranh giành. Nếu bàn tiệc của Chúa được mở ra cho những người ngoài đường, cộng đoàn không thể chỉ chăm sóc những người đã quen mặt và đã biết cách thích nghi với mình. Cần có một ánh nhìn nhận ra người đang đứng lúng túng. Cần một người giải thích cách tham dự mà không làm họ xấu hổ. Cần một thái độ tôn trọng người nghèo, người ít học, người có hoàn cảnh gia đình phức tạp, người chưa biết nhiều về đạo. Cần những người lãnh đạo có khả năng nhận lỗi và lắng nghe góp ý. Cần những nguyên tắc giúp công việc được minh bạch và con người được bảo vệ. Một cộng đoàn đẹp lên khi sự thánh thiện đi vào cách đối xử hằng ngày, khi người yếu không phải tự tìm cách tồn tại giữa sự vội vàng của người mạnh, khi người trở về không bị biến thành đề tài bàn tán.
Người phục vụ trong Hội Thánh cũng phải thường xuyên xét lại động lực của mình. Có thể chúng ta đã bắt đầu bằng tình yêu rất trong sáng, nhưng qua thời gian, sự mệt mỏi, va chạm và thiếu được nhìn nhận làm lòng mình cứng lại. Chúng ta tiếp tục làm việc nhưng không còn vui khi gặp người. Tiếp tục giữ trách nhiệm nhưng luôn cảm thấy người khác là gánh nặng. Tiếp tục nói về Chúa nhưng ít trò chuyện thật với Chúa. Lúc ấy, điều cần thiết có thể là dừng lại một chút để nhận ra tình trạng của mình, tìm sự nâng đỡ, sắp xếp lại nhịp sống, học chia sẻ trách nhiệm, trở về với cầu nguyện. Một người kiệt sức không thể được chữa lành chỉ bằng lời yêu cầu cố gắng hơn. Một người luôn phải gồng lên dễ làm đau người khác trong chính công việc họ muốn thực hiện tốt. Chăm sóc đời sống nội tâm và sức khỏe của người phục vụ là một cách chăm sóc cộng đoàn. Chiếc áo cưới không được giữ đẹp nhờ một nỗ lực căng cứng để không bao giờ có lỗi. Nó được gìn giữ trong tương quan sống động với Chúa, trong sự thành thật về giới hạn, trong khả năng nhận giúp đỡ và trong lòng sẵn sàng sửa mình.
Thánh lễ là nơi lời mời của Chúa đến với chúng ta một cách đặc biệt. Chúng ta mang đến đó cả một tuần sống: những điều đã làm tốt, những điều còn dang dở, những người đang lo lắng cho mình, những người mình đã làm đau, những ước muốn và sợ hãi chưa biết nói với ai. Nếu chỉ đến bằng một thói quen, chúng ta có thể ra về mà không để điều gì chạm tới lòng. Nhưng nếu đến bằng sự tỉnh thức, ngay cả một lời nguyện, một khoảng thinh lặng, một điều được soi sáng cũng có thể mở ra một thay đổi. Việc chuẩn bị cho Thánh lễ có thể bắt đầu từ trước khi bước vào nhà thờ: thu xếp công việc trong khả năng của mình, đọc trước Lời Chúa, xin ơn lắng nghe, nhận ra điều cần hoán cải, tìm sự hòa giải khi có thể. Trong Thánh lễ, hãy tập hiện diện. Tâm trí có thể phân tán, nhưng ta có thể nhẹ nhàng đưa nó trở lại. Trái tim có thể khô khan, nhưng ta vẫn có thể trao cho Chúa sự khô khan ấy. Khi rước lễ, người tín hữu được mời chuẩn bị theo những đòi hỏi của đời sống bí tích, và để cuộc gặp gỡ với Đức Kitô tiếp tục trong đời sống sau đó. Bàn tiệc Thánh Thể phải dần dần làm cho bàn ăn gia đình có thêm sự dịu dàng, cuộc làm việc có thêm sự ngay thẳng, cuộc gặp người nghèo có thêm lòng tôn trọng.
Có một khoảng cách rất đáng sợ giữa lòng sùng kính và khả năng yêu thương nếu chúng ta không chịu xét mình. Ta có thể xúc động khi nhìn một ảnh thánh mà dửng dưng trước một người đang khổ. Có thể sốt sắng trong giờ cầu nguyện mà cay nghiệt ngay khi bước ra ngoài. Có thể muốn bảo vệ danh Chúa nhưng lại làm cho người khác sợ hãi khi nghe đến Chúa vì cách cư xử của mình. Khoảng cách ấy không phải lý do để bỏ cầu nguyện; nó là lý do để cầu nguyện sâu hơn và thành thật hơn. Cần đưa vào lời cầu nguyện chính người mình khó chịu, chính cuộc tranh cãi mình vừa trải qua, chính sự ganh tị mình chưa muốn nhận, chính lợi ích mình đang sợ mất. Đừng chỉ trao cho Chúa một phiên bản đẹp đẽ của bản thân. Hãy để Người gặp con người thật. Khi cầu nguyện như thế, ta không thể dễ dàng dùng đời sống đạo để tránh né việc sửa mình. Ta sẽ nhận ra rằng có những lời cầu xin cần được nối tiếp bằng một cuộc xin lỗi; có những điều xin Chúa chữa lành cần được nối tiếp bằng việc tìm sự hỗ trợ; có những lời xin bình an cần được nối tiếp bằng quyết định ngừng gieo bất hòa. Đức tin đi vào cuộc đời qua những bước cụ thể ấy.
Lời cảnh tỉnh cuối dụ ngôn khiến chúng ta phải sống tỉnh thức. Một lời mời quý giá vẫn có thể bị bỏ lỡ. Một ân huệ lớn vẫn có thể bị khước từ. Tình yêu của Chúa không làm cho những chọn lựa của con người trở nên vô nghĩa. Chúng ta thực sự có thể mở lòng, và cũng thực sự có thể đóng lòng. Nhưng lời cảnh tỉnh ấy không trao cho chúng ta quyền đếm người được cứu hay phán quyết số phận của ai. Nó hướng mỗi người trở về với câu trả lời của chính mình. Tôi đang làm gì với ân huệ đã nhận? Tôi đang nuôi dưỡng hay làm suy yếu khả năng yêu thương? Tôi có trì hoãn mãi một điều mình biết cần phải sửa? Tôi có đang dùng việc người khác sai để tránh nhìn lỗi của mình? Tôi có giữ một góc đời sống mà Chúa không được phép bước vào? Những câu hỏi ấy có thể làm ta không dễ chịu, nhưng sự không dễ chịu đôi khi cần thiết để một vết thương được chữa. Người bệnh không được giúp chỉ bằng việc luôn nghe rằng mọi sự đều ổn. Tâm hồn cũng cần một sự thật có khả năng đánh thức. Và khi sự thật ấy được đón nhận trong niềm tin vào lòng thương xót, nó đưa chúng ta đến hành động thay vì tuyệt vọng.
Thời gian của đời người có giới hạn. Một ngày nào đó, những công việc chúng ta tưởng không thể thiếu sẽ tiếp tục mà không có chúng ta. Những cuộc tranh luận chúng ta từng muốn thắng sẽ không còn đáng kể. Những khoản tích lũy sẽ được người khác quản lý. Những lời khen rồi sẽ lắng xuống. Khi ấy, điều còn lại trong chiều sâu con người là cách chúng ta đã yêu, đã đón nhận ân sủng, đã sống sự thật, đã đối xử với những người được đặt trên đường đời mình. Nghĩ đến cái chết không nhất thiết làm cuộc sống u ám. Nó có thể giúp ta nhìn đúng tỷ lệ của mọi sự. Một lời xin lỗi có thể cần thiết hơn một cuộc tranh cãi kéo dài. Một giờ bên cha mẹ già có thể quý hơn một buổi theo đuổi sự chú ý trên mạng. Một quyết định sống ngay thẳng có thể quan trọng hơn một món lợi khiến lương tâm bất an. Một khoảng cầu nguyện có thể giúp cả ngày được sắp xếp lại từ bên trong. Chuẩn bị cho bàn tiệc vĩnh cửu chính là tập sống những điều còn có giá trị khi mọi vẻ ngoài đã rơi xuống. Và điều đó bắt đầu trong hôm nay, khi chúng ta vẫn còn có thể làm một việc tốt, nói một lời thật, chữa một phần tổn thương, mở một cánh cửa.
Hãy nghĩ đến người mà chúng ta đang cố tránh vì một chuyện chưa giải quyết. Hãy nghĩ đến người thân đã lâu không được nghe một lời cảm ơn. Hãy nghĩ đến món nợ trách nhiệm mà chúng ta vẫn để người khác gánh. Hãy nghĩ đến một hành vi gian dối đã trở thành thói quen đến mức mình không còn thấy áy náy. Hãy nghĩ đến người nghèo mà ta chỉ gặp như một phiền phức. Hãy nghĩ đến lời mời cầu nguyện vẫn bị bỏ lại trong một ngày đầy tiếng động. Không cần ôm tất cả những điều ấy cùng một lúc rồi nản lòng vì không thể sửa hết. Hãy chọn một điều thật, một điều đang cần được thay đổi, và xin Chúa giúp mình bắt đầu. Nếu cần xin lỗi, hãy xin lỗi rõ ràng, đừng kèm theo một bản cáo trạng về lỗi của người kia. Nếu cần trả lại điều đã lấy, hãy tìm cách thực hiện. Nếu cần bớt một thói quen gây hại, hãy thay đổi cả hoàn cảnh đang nuôi thói quen đó. Nếu cần cầu nguyện, hãy đặt một giờ cụ thể và giữ nó trong mức độ có thể. Nếu cần giúp đỡ, hãy tìm người có khả năng đồng hành. Một bước đi thật có thể mở ra bước kế tiếp. Ân sủng của Chúa thường nâng đỡ chúng ta ngay trong tiến trình kiên nhẫn ấy.
Rồi khi đã cảm nhận mình được đón nhận, chúng ta sẽ hiểu hơn trách nhiệm mang lời mời đến người khác. Có những người cần một lời nhắc, nhưng có những người cần được chứng kiến một đời sống đáng tin trước khi có thể nghe lời nhắc ấy. Người con xa đạo có thể cần nhìn thấy cha mẹ bớt ép buộc và biết lắng nghe hơn. Người hàng xóm chưa biết Chúa có thể cần thấy một gia đình Công giáo sống tử tế trong những việc chung. Người từng bị tổn thương trong cộng đoàn có thể cần một lời xin lỗi chân thành và một sự thay đổi thực tế. Người nghèo có thể cần được giúp đỡ mà không phải đánh đổi phẩm giá bằng việc bị phô bày trước đám đông. Người đang lạc hướng có thể cần một người bạn kiên nhẫn ở bên, không vội biến mỗi cuộc gặp thành một cuộc thuyết phục. Rao giảng bắt đầu từ lòng tin rằng người kia cũng được Thiên Chúa yêu, và vì thế cách ta tiếp cận họ phải xứng với tình yêu ấy. Chúng ta mang lời mời bằng tiếng nói, nhưng cũng mang nó bằng cách hiện diện, cách phục vụ, cách tôn trọng tự do, cách thành thật nhận lỗi. Một gia đình biết sống như thế sẽ mở ra một khoảng nhỏ của bàn tiệc ngay giữa khu xóm. Một cộng đoàn biết sống như thế sẽ khiến nhiều người dám hy vọng rằng vẫn còn một nơi họ có thể trở về.
Niềm vui của người đáp lời Chúa có thể âm thầm nhưng rất bền. Đó là niềm vui khi không còn phải giữ quá nhiều lớp che giấu. Niềm vui khi một lời xin lỗi được nói ra và lòng nhẹ đi. Niềm vui khi người thân bắt đầu cảm thấy an toàn hơn bên mình. Niềm vui khi một việc phục vụ được làm mà không cần ai biết. Niềm vui khi vẫn còn khó khăn nhưng không còn thấy mình phải mang tất cả một mình. Niềm vui ấy không xóa hết nước mắt, không khiến mọi tương quan lập tức tốt đẹp, không bảo đảm mọi dự định đều thành công. Nhưng nó cho con người một chỗ đứng trong tình yêu. Từ chỗ đứng ấy, ta có thể đối diện với sự thật về mình mà không sụp đổ; có thể nhận lỗi mà vẫn hy vọng; có thể đi qua thất bại mà vẫn tiếp tục yêu. Chiếc áo cưới của tâm hồn lớn lên trong đời sống như vậy: được ân sủng trao ban, được lòng khiêm tốn đón nhận, được đức ái biểu lộ, được sự hoán cải gìn giữ. Chúng ta có thể còn nhiều đường khâu vụng về, nhiều chỗ cần sửa, nhưng điều quan trọng là đừng khóa lòng trước Đấng đang muốn làm mới cuộc đời mình.
Lạy Chúa, chúng con đã nhiều lần nghe lời mời mà vẫn trì hoãn. Có những ngày chúng con dành hết sự chú ý cho công việc và chỉ trao cho Chúa phần mệt mỏi còn lại. Có những lần chúng con hiện diện trong nhà thờ nhưng trái tim vẫn khép kín trước người bên cạnh. Có những điều sai chúng con đã biết mà chưa muốn sửa, có những lời xin lỗi chúng con giữ lại vì tự ái, có những người chúng con đã làm đau mà chưa đủ can đảm nhìn nhận. Xin giúp chúng con trở về với sự thật. Xin cho chúng con nhận ra mình được yêu trước khi có thể làm điều gì xứng đáng, để chúng con thôi tuyệt vọng về yếu đuối của mình và cũng thôi tự hào về những điều tốt đã làm. Xin làm mới trong chúng con ân huệ được thuộc về Chúa. Xin cho bàn tay chúng con biết phục vụ, miệng chúng con biết nói sự thật trong tình thương, đôi mắt chúng con biết nhận ra người bị bỏ quên, trái tim chúng con biết mở ra mà vẫn sống có trách nhiệm. Xin nâng đỡ những người đang quá mệt để nghe lời mời, những người quá xấu hổ để bước vào, những người đã từng bị tổn thương nên không còn dám tin. Xin làm cho gia đình và cộng đoàn chúng con trở thành nơi họ được đón nhận với sự tôn trọng. Và trong từng ngày còn được sống, xin giúp chúng con chuẩn bị chiếc áo của tâm hồn bằng những lựa chọn chân thành, để khi Chúa gọi, chúng con có thể đến với Chúa bằng một trái tim đã tập yêu, đã biết trở về, đã để lòng thương xót của Chúa dẫn mình đi. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
KHI THIÊN CHÚA MỞ TIỆC, CHÚNG TA CÓ THẬT SỰ MUỐN ĐẾN?
Suy niệm Chúa nhật XXVIII Thường niên – Năm A
Có những lời mời chúng ta giữ rất cẩn thận. Một tấm thiệp cưới được đặt trên bàn, một cuộc hẹn được ghi vào điện thoại, một buổi gặp quan trọng được chuẩn bị từ nhiều ngày trước. Chúng ta nhớ giờ, nhớ địa điểm, chọn áo quần, thu xếp công việc, thậm chí vượt một quãng đường dài để có mặt. Nhưng cũng có những lời mời đi qua đời mình rất âm thầm, không in trên giấy đẹp, không được gửi bằng những phương tiện sang trọng, không tạo ra cảm giác rằng nếu vắng mặt thì người khác sẽ chú ý. Đó có thể là lời mời dành ít phút để cầu nguyện, lời mời ngồi lại với người thân đang buồn, lời mời làm hòa sau một cuộc cãi vã, lời mời đến thăm một người đau yếu, lời mời trở về với đời sống ngay thẳng sau một thời gian lạc hướng. Những lời mời ấy thường dễ bị đặt xuống cuối cùng. Chúng ta không nhất thiết phản đối. Chúng ta chỉ để đó. Chúng ta nghĩ rằng ngày mai vẫn còn, tuần sau vẫn còn, khi công việc bớt đi thì sẽ làm, khi tâm hồn bình an hơn thì sẽ trở lại. Nhưng cuộc đời có một sự thật khiến người ta phải giật mình: nhiều điều quan trọng nhất đã bị đánh mất không phải vì chúng ta quyết tâm hủy bỏ, mà vì chúng ta liên tục trì hoãn. Một mái nhà nguội lạnh vì những cuộc trò chuyện cứ bị hẹn lại. Một tương quan đổ vỡ vì lời xin lỗi cứ chờ dịp thuận tiện. Một đời sống đức tin khô cạn vì Thiên Chúa cứ phải đứng sau tất cả những việc khác. Dụ ngôn tiệc cưới chạm đến chính vùng sâu ấy của lòng người. Thiên Chúa mở tiệc, chuẩn bị mọi sự, sai người đi mời, nhưng con người vẫn có thể không đến. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta không chỉ là mình có biết Chúa hay không, nhưng là giữa vô số điều đang chiếm lấy thời gian và tâm trí, mình có thực sự dành chỗ cho Người hay không.
Hình ảnh một tiệc cưới cho thấy điều rất đẹp về tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Người muốn chúng ta bước vào một cuộc gặp gỡ có niềm vui, có sự gần gũi, có tình thân. Chúng ta thường mang trong lòng hình ảnh về Thiên Chúa được tạo nên từ những trải nghiệm riêng: người từng sống dưới sự kiểm soát nghiêm khắc dễ hình dung Chúa như một người chỉ chờ bắt lỗi; người từng bị từ chối dễ nghĩ rằng mình phải làm thật nhiều việc tốt mới xứng đáng được đón nhận; người đã quen phải tự lo mọi sự có thể thấy việc phó thác là điều xa lạ. Bởi thế, khi nghe nói đến Thiên Chúa, có người lập tức nghĩ đến bổn phận, những điều phải giữ, những lỗi cần tránh, những hình phạt đáng sợ. Các bổn phận và việc xét mình có vị trí cần thiết trong đời sống đạo, nhưng nếu chỉ có chúng, tâm hồn sẽ khó cảm nhận được niềm vui làm con. Tiệc cưới mở ra một chân trời khác: được mời đến gần, được có phần trong niềm vui, được nhận một chỗ trong sự hiệp thông. Người ta không thể sống một tương quan sâu sắc nếu suốt đời chỉ đứng trước nhau với tâm thế đề phòng. Cũng vậy, chúng ta khó trưởng thành trong đức tin nếu chỉ tự hỏi làm sao để không bị phạt mà chẳng bao giờ tự hỏi làm sao để yêu mến Chúa hơn. Một người con có thể giữ mọi quy định trong nhà nhưng vẫn xa cha mẹ. Một người tín hữu có thể quen thuộc những thực hành tôn giáo nhưng vẫn chưa trao cho Thiên Chúa sự tin tưởng của lòng mình. Lời mời dự tiệc gọi chúng ta vượt qua khoảng cách ấy, để việc sống đạo dần trở thành một cuộc sống được nuôi dưỡng bằng tình yêu.
Tuy nhiên, lời mời yêu thương không tự động được đón nhận. Trong dụ ngôn, những người được mời vẫn có công việc, có ruộng vườn, có chuyện buôn bán. Đây là một chi tiết rất gần đời sống. Phần lớn những điều khiến chúng ta xa Chúa không mang dáng vẻ ghê gớm ngay từ đầu. Công việc là cần thiết. Kiếm sống là cần thiết. Lo cho con cái, chăm sóc gia đình, hoàn thành trách nhiệm đều là những việc tốt. Nhưng điều tốt cũng có thể trở thành một sức mạnh làm lệch đời sống khi nó chiếm toàn bộ trái tim. Người ta có thể làm việc để nuôi gia đình, rồi dần dần không còn thời gian sống với gia đình. Người ta có thể muốn tạo một tương lai tốt cho con, rồi không còn biết con đang sợ điều gì, vui điều gì, cần điều gì. Người ta có thể phục vụ một cộng đoàn, rồi vì quá bận rộn mà trở nên nóng nảy với chính những người mình phục vụ. Người ta có thể lo cho những sinh hoạt tôn giáo, rồi đánh mất giờ cầu nguyện và sự dịu dàng trong lời nói. Khi ấy, vấn đề không nằm ở việc chúng ta có nhiều trách nhiệm, nhưng ở chỗ chúng ta có còn biết trách nhiệm nào giúp mình sống đúng với ơn gọi, và trách nhiệm nào đang được dùng để che đậy một sự tránh né. Có người bận thật. Có người tìm cách luôn bận vì sợ phải ngồi yên trước những câu hỏi của lòng mình. Có người nhận thêm việc để khỏi phải đối diện với một tương quan đang rạn nứt. Có người lao vào thành công vì không chịu nổi cảm giác mình bình thường. Lời mời của Chúa có thể khiến chúng ta phải dừng lại và nhận ra rằng lịch trình đầy kín chưa chắc là một đời sống đầy ý nghĩa.
Sự dửng dưng đáng sợ ở chỗ nó không luôn gây ra một cuộc khủng hoảng dễ nhìn thấy. Người ta vẫn ăn uống, làm việc, gặp gỡ, tính toán, và tưởng rằng mọi sự đang diễn ra bình thường. Nhưng bên trong, khả năng nhận ra điều quý giá đang yếu dần. Một lời cầu nguyện trở nên nhạt. Một Thánh lễ trở nên dài. Một cuộc thăm hỏi trở nên phiền. Một người thân cần lắng nghe trở thành sự gián đoạn. Một hoàn cảnh đau khổ chỉ còn là thông tin lướt qua. Chúng ta không thể xúc động trước mọi chuyện, cũng không thể gánh mọi nhu cầu của người khác, nhưng nếu đời sống chỉ còn xoay quanh điều có lợi cho mình, trái tim sẽ dần mất đi độ nhạy cần thiết để yêu thương. Khi ấy, Chúa có thể đang mời qua những điều rất gần mà chúng ta không nhận ra: một đứa trẻ muốn kể chuyện sau giờ học, một người già lặp lại điều đã nói nhiều lần, một người bạn im lặng khác thường, một người trong cộng đoàn đã lâu không xuất hiện. Đôi khi chúng ta mong được nghe một tiếng gọi lớn lao, trong khi đã nhiều lần bỏ qua tiếng gọi rất nhỏ của bổn phận và lòng thương xót. Đời sống thiêng liêng cần sự chú ý. Cần biết ngẩng đầu khỏi những điều đang cuốn mình đi. Cần tập hỏi mỗi ngày: hôm nay có ai đang cần một chút hiện diện của tôi? Hôm nay có điều gì tôi biết là đúng nhưng vẫn chưa muốn làm? Hôm nay tôi đã để công việc phục vụ sự sống, hay đã để công việc nuốt mất sự sống?
Có những người từ chối vì tự mãn, nhưng cũng có những người không dám đến vì mặc cảm. Họ nghĩ rằng mình đã sai quá nhiều, đã xa quá lâu, đã làm tổn thương quá sâu, nên một lời mời tốt đẹp như thế không còn dành cho mình. Họ có thể vẫn đi lễ, nhưng ở trong lòng luôn cảm thấy mình đứng ngoài. Họ có thể nghe về lòng thương xót, nhưng chỉ tin rằng lòng thương xót dành cho người khác. Nỗi xấu hổ có một sức nặng rất riêng. Nó khiến người ta muốn trốn ánh mắt, tránh cuộc gặp gỡ, không muốn nói ra điều thật. Một người đang mắc nợ có thể tránh cả người thân. Một người từng thất bại có thể không dám bước vào nơi mình từng được kỳ vọng. Một người sa ngã có thể rời xa việc cầu nguyện vì nghĩ rằng mình không còn quyền mở lời với Chúa. Nhưng càng trốn, người ta càng cô độc; càng cô độc, người ta càng dễ trở lại những điều làm mình tổn thương. Bởi vậy, lời mời vào tiệc cũng là lời mời bước ra khỏi sự tự kết án. Việc nhìn nhận tội lỗi phải đưa chúng ta đến với ơn tha thứ và sự sửa đổi, chứ không nhốt chúng ta trong cảm giác vô vọng. Chúng ta cần đủ khiêm tốn để nhận mình đã sai, và cũng cần đủ tin tưởng để đón nhận rằng đời mình còn có thể được đổi mới. Có những người tưởng mình đang khiêm nhường khi liên tục nói rằng mình không xứng đáng, nhưng thực ra họ đang không cho tình yêu một cơ hội chạm đến mình. Sự khiêm nhường trưởng thành biết đón nhận điều tốt đẹp mà mình không thể tự làm ra.
Khi những người được mời không đến, các đầy tớ được sai ra những nẻo đường để gọi những người họ gặp. Hình ảnh ấy làm chúng ta nghĩ đến biết bao cuộc đời đang sống ở bên lề những vòng tròn quen thuộc. Có người ở bên lề vì nghèo. Có người vì di cư. Có người vì hoàn cảnh gia đình phức tạp. Có người vì một lỗi lầm cũ mà luôn bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ. Có người vì tính tình vụng về, ít nói, không biết tạo thiện cảm. Có người chỉ đơn giản là mới đến, chưa quen ai, nên luôn đứng một mình giữa một cộng đoàn đông đúc. Chúng ta thường dễ đón tiếp người giống mình, người có thể đáp lại sự quan tâm, người khiến việc gặp gỡ trở nên thuận lợi. Nhưng một cộng đoàn sống tinh thần Tin Mừng phải tập mở rộng khả năng đón tiếp. Điều ấy không đòi hỏi ai cũng phải lập tức trở thành bạn thân của nhau. Nó bắt đầu bằng những điều có thể thực hiện được: chào một người chưa quen, giới thiệu cho họ một chỗ ngồi, giải thích một sinh hoạt, hỏi xem họ có cần giúp gì, nhớ tên họ khi gặp lại. Đối với người đang cảm thấy mình không thuộc về đâu, một cử chỉ nhỏ có thể mang ý nghĩa rất lớn. Họ cần cảm nhận rằng sự hiện diện của mình được nhận ra. Họ cần được gặp những khuôn mặt không làm họ xấu hổ vì hoàn cảnh của mình. Một giáo xứ có nhiều chương trình vẫn có thể khiến người mới đến thấy lạnh lẽo, nếu tất cả những mối quan hệ đều khép kín. Một cộng đoàn ít điều kiện vẫn có thể trở thành nơi đầy sức sống, nếu người ta biết dành cho nhau sự quan tâm thật.
Việc đón tiếp cả người tốt lẫn người xấu đặt chúng ta trước một thách đố khác: chúng ta phải sống với những con người đang trên đường trưởng thành. Trong thực tế, chẳng ai chỉ có một màu. Một người quảng đại có thể nóng tính. Một người chăm chỉ có thể hay xét đoán. Một người sống ngay thẳng có thể thiếu cảm thông với người yếu đuối. Một người đang lầm lạc vẫn có thể mang trong lòng một khát vọng rất thật về điều thiện. Nếu chỉ nhìn một hành vi rồi đóng khung toàn bộ con người, chúng ta dễ làm cho sự thay đổi trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên, đón tiếp không có nghĩa là bỏ qua mọi hành vi gây hại. Một cộng đoàn yêu thương phải biết bảo vệ người yếu, ngăn chặn sự xúc phạm, xử lý những bất công và giúp người sai lỗi chịu trách nhiệm. Lòng thương xót cần sự thật để không trở thành sự dung túng; sự thật cần lòng thương xót để không trở thành vũ khí làm nhục người khác. Trong gia đình, cha mẹ cần sửa dạy con mà vẫn giữ cho con biết rằng mình được yêu. Trong cộng đoàn, việc góp ý cần cụ thể, đúng lúc, hướng đến điều có thể sửa đổi. Trong những tương quan bị tổn thương, sự tha thứ có thể bắt đầu trước khi lòng tin được phục hồi hoàn toàn; lòng tin cần thời gian và những hành vi đáng tin cậy. Đón tiếp một người là tạo cho họ cơ hội bước vào con đường tốt hơn, đồng thời cùng họ tôn trọng những điều giúp mọi người được sống an toàn và có phẩm giá.
Thế nhưng, dụ ngôn không dừng lại khi phòng tiệc đầy người. Người khách không mặc áo cưới khiến chúng ta phải nhìn sâu hơn vào cách mình đáp lại lời mời. Có thể đã bước vào một nơi mà lòng mình vẫn chưa thật sự tham dự. Có thể ngồi giữa cộng đoàn mà chỉ quan tâm đến vị trí của mình. Có thể hiện diện trong một cuộc gặp gỡ nhưng không muốn thay đổi điều gì để tôn trọng người khác. Áo cưới, trong suy niệm của chúng ta, trở thành hình ảnh về một đời sống biết đáp lại ân sủng bằng sự hoán cải. Điều Chúa trao ban cần được đón nhận trong cả cách nghĩ, cách nói, cách hành động. Chúng ta không thể xin bình an mà cứ nuôi dưỡng những lời gây chia rẽ. Không thể xin gia đình hạnh phúc mà luôn muốn mọi người phải theo ý mình. Không thể xin cộng đoàn hiệp nhất mà liên tục lôi lỗi của người khác ra để kể. Không thể cầu nguyện cho người nghèo rồi cố tình làm thiệt hại người đang làm việc cho mình. Việc sống đạo có sức biến đổi khi nó đi vào những chỗ cụ thể ấy. Một giờ cầu nguyện cần giúp ta thành thật hơn. Việc tham dự Thánh lễ cần dẫn ta đến lòng biết ơn và sự chia sẻ. Việc lãnh nhận ơn tha thứ cần làm ta biết nhận lỗi, sửa lỗi và bớt khắc nghiệt với những người cũng đang vấp ngã.
Chúng ta dễ hiểu sai lời mời hoán cải khi nghĩ rằng phải trở nên hoàn hảo ngay lập tức. Điều ấy làm nhiều người nản lòng. Họ cố một thời gian, rồi khi thấy mình vẫn nóng giận, vẫn yếu đuối, vẫn bị những thói quen cũ kéo lại, họ kết luận rằng mọi nỗ lực đều vô ích. Nhưng một đời sống được đổi mới thường lớn lên qua những bước nhỏ, được lặp lại với sự kiên trì. Một người hay nói lời xúc phạm bắt đầu bằng việc dừng lại trước khi đáp trả. Một người thường trốn tránh trách nhiệm bắt đầu bằng việc hoàn thành một điều đã hứa. Một người sống trong gian dối bắt đầu bằng việc chấp nhận một thiệt thòi để nói thật. Một người lâu ngày không cầu nguyện bắt đầu bằng vài phút đặt mình trước Chúa, không cần những lời thật hay. Một người đang bất hòa bắt đầu bằng việc bỏ một lời mỉa mai, rồi tìm một dịp nói chuyện bình tĩnh. Những việc ấy có thể nhỏ trong mắt người khác, nhưng chúng đòi hỏi một cuộc chiến thật trong lòng. Điều cần xét không chỉ là hôm nay tôi còn yếu đuối đến đâu, nhưng là tôi đang hướng về đâu, có còn muốn trở về không, có chấp nhận được giúp đỡ không. Người đang đứng dậy sau một lần vấp ngã khác với người cố tình nằm lại và gọi sự sa ngã là điều bình thường. Niềm hy vọng không xóa bỏ trách nhiệm; niềm hy vọng cho chúng ta sức mạnh để tiếp tục chịu trách nhiệm mà không tuyệt vọng.
Một trong những nơi chúng ta có thể nhận ra chiếc áo cưới của mình đang cần được sửa lại là cách sử dụng lời nói. Lời nói rất gần, rất quen, nên chúng ta dễ xem nhẹ sức ảnh hưởng của nó. Trong một gia đình, có những câu được nói từ nhiều năm trước vẫn còn làm người nghe đau. Có những cách gọi nhau khiến một đứa trẻ lớn lên với cảm giác mình vô dụng. Có những lời so sánh làm người vợ hay người chồng thấy mình không bao giờ đủ tốt. Trong cộng đoàn, một chuyện chưa được kiểm chứng có thể truyền đi rất nhanh và làm một người mất danh dự. Người kể đôi khi chỉ xem đó là một cuộc trò chuyện, nhưng người bị kể phải sống với hậu quả rất lâu. Bởi vậy, hoán cải cần đi vào miệng lưỡi. Trước khi nói, chúng ta có thể tập hỏi điều này có đúng không, có cần nói không, có giúp giải quyết vấn đề không, và mình có sẵn sàng nói điều ấy trước mặt người liên quan không. Góp ý trực tiếp với sự tôn trọng thường khó hơn than phiền sau lưng, nhưng nó có khả năng mở đường cho thay đổi. Một lời xin lỗi rõ ràng thường khó hơn lời giải thích dài, nhưng nó có thể cứu một tương quan. Một lời khích lệ đúng lúc có thể giúp người khác bền lòng thêm nhiều ngày. Khi biết giữ lời nói khỏi sự tàn nhẫn, chúng ta đang làm cho nơi mình sống trở nên dễ thở hơn, và đang đón nhận lời mời của Chúa bằng một hành vi rất cụ thể.
Một nơi khác cần được đổi mới là cách chúng ta xử lý những tổn thương. Người bị đau thường có nhu cầu được nhìn nhận. Nếu nỗi đau ấy bị phủ nhận, họ có thể càng tức giận, càng muốn kể lại, càng muốn chứng minh rằng mình đã bị đối xử bất công. Có người mang một chuyện cũ vào mọi cuộc gặp mới. Có người nghe một câu bình thường nhưng lập tức hiểu như lời công kích, vì trong lòng đã có sẵn một vết thương. Có người phản ứng rất mạnh trước một lỗi nhỏ của người khác, vì lỗi nhỏ ấy chạm vào một ký ức lớn. Chúng ta cần học cách nhìn nhận những điều này với sự thành thật. Đời sống cầu nguyện có thể giúp ta nhận ra nỗi đau mà lâu nay chỉ biểu lộ bằng giận dữ. Một cuộc trò chuyện với người đáng tin, sự đồng hành mục vụ, hoặc sự trợ giúp chuyên môn khi cần có thể giúp ta hiểu và chăm sóc chính mình tốt hơn. Không phải mọi vấn đề đều được giải quyết chỉ bằng việc cố nén cảm xúc. Cũng không phải cứ gọi một cảm xúc là thật thì mọi hành vi phát sinh từ nó đều đúng. Tôi có quyền nhận rằng mình buồn, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm nếu làm nhục người khác. Tôi có thể đang sợ, nhưng cần học cách nói về nỗi sợ thay vì kiểm soát mọi người. Tôi có thể cần thời gian để tha thứ, nhưng không nên nuôi ý định trả thù. Lời mời của Chúa đi vào những vùng rối ấy để giúp chúng ta dần sống tự do hơn.
Trong gia đình, lời mời dự tiệc có thể được đón nhận bằng việc khôi phục sự hiện diện. Một mái nhà có đủ người vẫn có thể thiếu cuộc gặp gỡ. Mỗi người ở một góc, nhìn vào một màn hình, mang một nỗi lo riêng, và chỉ trao đổi khi cần nhắc việc hoặc phàn nàn. Dần dần, người ta biết lịch sinh hoạt của nhau nhưng không biết lòng nhau. Cha mẹ biết điểm số của con nhưng không biết con đang bị áp lực thế nào. Con cái biết cha mẹ hay mệt nhưng không hiểu điều gì đang làm cha mẹ nặng lòng. Vợ chồng biết các khoản chi tiêu nhưng ít khi hỏi nhau có đang cô đơn không. Sự gần gũi cần được nuôi dưỡng bằng thời gian và sự chú ý, chứ không tự tồn tại vì chung một địa chỉ. Một bữa ăn có mặt đủ người, một buổi tối ngồi lại không vội phán xét, một lời hỏi thăm được nghe đến hết câu, một công việc cùng làm có thể mở lại những cánh cửa đã khép. Người lớn cần tập nghe con trước khi giảng giải. Con cái cần tập nhìn thấy công sức của cha mẹ. Vợ chồng cần tập nói về nhu cầu của mình bằng những lời rõ ràng, thay vì chờ người kia đoán rồi trách họ không hiểu. Cầu nguyện chung trong gia đình có thể bắt đầu rất đơn sơ, nhưng cần đi cùng sự tử tế trong đời thường. Nếu vừa đọc kinh xong đã tiếp tục làm tổn thương nhau bằng những lời quen thuộc, chúng ta cần thành thật nhìn nhận khoảng cách ấy và bắt đầu sửa từ những điều nhỏ nhất.
Trong giáo xứ và cộng đoàn, việc đón nhận lời mời của Chúa còn đòi hỏi chúng ta học làm việc chung mà không đánh mất lòng bác ái. Khi nhiều người cùng phục vụ, khác biệt là điều không tránh khỏi. Có người làm nhanh, có người cẩn thận. Có người nhiều ý tưởng, có người quan tâm đến điều kiện thực tế. Có người thích nói thẳng, có người cần cách diễn đạt nhẹ nhàng. Nếu mỗi người xem cách của mình là chuẩn duy nhất, công việc chung sẽ nhanh chóng trở thành nơi va chạm. Khi ấy, một chuyện nhỏ có thể bị hiểu thành sự coi thường; một ý kiến khác có thể bị xem là chống đối; một thiếu sót có thể trở thành lý do để phủ nhận toàn bộ công sức của người khác. Chúng ta cần học phân biệt giữa con người và vấn đề, giữa góp ý và công kích, giữa trách nhiệm và quyền lực. Một người phụ trách tốt cần biết nói rõ điều cần làm, phân chia việc phù hợp, nghe những khó khăn và nhận phần trách nhiệm của mình khi có sai sót. Một người cộng tác tốt cần biết giữ lời, phản hồi đúng lúc, và trình bày bất đồng mà không phá sự hiệp thông. Có những việc cần được điều chỉnh, có những quyết định cần được xem lại, nhưng tất cả phải hướng đến việc phục vụ tốt hơn. Cộng đoàn trưởng thành khi người ta có thể nói sự thật mà không làm nhục nhau, nhận lỗi mà không sợ bị gạt bỏ, và cùng sửa một việc chưa tốt mà không biến nó thành cuộc tranh giành hơn thua.
Chúng ta cũng cần xét cách mình đối xử với những người ít có khả năng mang lại lợi ích cho mình. Đây là một thước đo rất thật của tình yêu. Người có địa vị thường được lắng nghe dễ dàng. Người có khả năng đóng góp thường được nhớ đến. Người nói năng khéo léo thường được đón tiếp thuận lợi. Nhưng người già yếu, người nghèo, người chậm hiểu, người có hoàn cảnh rối ren có thể làm chúng ta mất kiên nhẫn. Họ cần nhiều thời gian, đôi khi lặp lại nhu cầu, đôi khi không biết diễn đạt, đôi khi không thể đáp lại điều đã được giúp. Chính ở đây, lòng bác ái cần trở nên cụ thể và bền bỉ. Chúng ta không phải đáp ứng mọi yêu cầu, nhưng có thể từ chối một yêu cầu bằng cách vẫn giữ phẩm giá của người xin. Chúng ta không thể giải quyết tất cả khó khăn, nhưng có thể giúp người khác tìm một hướng đi. Chúng ta không cần biến việc giúp đỡ thành dịp phô bày lòng tốt của mình. Người được giúp cần cơm ăn, sự hỗ trợ, cơ hội, và cả sự kín đáo để không bị làm cho xấu hổ. Một cộng đoàn biết quan tâm đến người yếu sẽ phải thay đổi cách tổ chức nhiều việc: lối đi có thuận tiện cho người già không, thông tin có dễ hiểu không, người khó khăn có biết tìm ai không, người cần trợ giúp có được nghe với sự tôn trọng không. Những điều rất thực tế ấy làm cho lời mời yêu thương có hình hài trong đời sống.
Thánh lễ là một cuộc gặp gỡ mà chúng ta cần chuẩn bị bằng cả tâm hồn. Có khi chúng ta đến nhà thờ sau một tuần quá mệt, đầu óc vẫn đầy công việc, lòng còn bực bội vì chuyện ở nhà. Có khi thân xác đã ngồi trong nhà thờ nhưng tâm trí vẫn chạy theo những tính toán. Điều ấy cho thấy sự mong manh của con người và nhu cầu được Chúa quy tụ lại. Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc đến sớm hơn một chút, đặt điện thoại xuống, thở chậm, nhận ra mình đang mang điều gì trong lòng, và trao điều ấy cho Chúa. Việc tham dự cần có sự lắng nghe, lòng biết ơn, sự hiệp thông với cộng đoàn, và một ý hướng đem điều đã đón nhận vào cuộc sống. Sau Thánh lễ, có lẽ câu hỏi hữu ích không chỉ là mình nhớ được bao nhiêu điều, nhưng là mình sẽ sống điều gì. Tôi sẽ bớt gắt gỏng với ai? Tôi sẽ trả lại điều gì không thuộc về mình? Tôi sẽ thăm người nào? Tôi sẽ bắt đầu cuộc trò chuyện nào đã trì hoãn? Tôi sẽ dừng hành vi nào đang làm tổn thương gia đình? Một quyết tâm nhỏ mà được thực hiện có thể mở đường cho những thay đổi lớn hơn. Khi đời sống hằng ngày được đưa vào lời cầu nguyện, và lời cầu nguyện trở lại nâng đỡ đời sống hằng ngày, đức tin dần có chiều sâu và sức sống.
Có những lúc lời mời của Chúa được nghe rõ nhất giữa thiếu thốn và mất mát. Khi mọi sự thuận lợi, chúng ta dễ tưởng rằng mình kiểm soát được đời mình. Nhưng một bệnh tật, một biến cố gia đình, một thất bại, một cuộc chia xa có thể làm những điều từng được xem là chắc chắn trở nên mong manh. Trong những lúc ấy, người ta có thể giận, có thể hỏi, có thể không tìm được lời cầu nguyện. Chúng ta không cần vội vàng phủ lên nỗi đau những lời giải thích. Một người đang mất người thân cần được ở bên. Một người vừa nhận tin bệnh cần được nghe với sự kiên nhẫn. Một người đang thất nghiệp cần cả sự cảm thông lẫn những trợ giúp thực tế. Đức tin không buộc người đau khổ phải lập tức tỏ ra mạnh mẽ. Đức tin giúp họ có thể mang sự yếu đuối của mình đến trước Chúa và tiếp tục bước từng ngày. Có ngày lời cầu nguyện chỉ là một tiếng thở dài. Có ngày lòng tin được thể hiện bằng việc không buông tay người đang đồng hành với mình. Có ngày điều tốt nhất có thể làm là ăn một bữa, nghỉ một chút, hoàn thành một việc cần thiết, và xin đủ sức cho ngày mai. Lời mời vào sự sống của Chúa vẫn có thể được đón nhận bằng những bước rất nhỏ ấy. Chúng ta không phải chờ hết đau khổ mới có thể đến gần Người.
Khi suy nghĩ về việc được mời và được chọn, chúng ta cần tránh biến đời sống đức tin thành một cuộc đoán xét số phận của người khác. Rất dễ nhìn một người đang yếu đuối rồi tự cho mình quyền kết luận về họ. Nhưng chúng ta không biết hết lịch sử của một tâm hồn, không biết những cuộc chiến âm thầm, những thương tích, những cố gắng mà họ đang mang. Điều mình cần nhìn trước hết là cách mình đang đáp lại lời mời. Tôi có đang dùng việc sống đạo để thấy mình hơn người không? Tôi có tưởng rằng những việc đã làm cho cộng đoàn cho phép mình đối xử tùy tiện với người khác không? Tôi có lấy sự quen thuộc với nhà thờ làm lý do để khỏi phải hoán cải không? Một người có thể đã ở rất lâu trong một môi trường đạo đức mà vẫn chưa chịu học sự khiêm nhường. Một người mới trở lại có thể đang đón nhận từng lời cầu nguyện với lòng biết ơn sâu xa. Bởi thế, chúng ta cần giữ một tâm hồn biết học. Cần để Lời Chúa chất vấn cả những điều mình đã quen. Cần cho phép người khác góp ý về cách mình sống. Cần nhớ rằng mỗi ngày đều có những cơ hội để đáp lại hoặc khước từ tình yêu. Sự trung thành được hình thành trong những lựa chọn lặp lại: chọn sự thật khi nói dối có lợi hơn, chọn công bằng khi thiên vị thuận tiện hơn, chọn lòng thương xót khi lên án dễ hơn, chọn hiện diện khi rút lui có vẻ thoải mái hơn.
Đời người có giới hạn, và chính giới hạn ấy khiến lời mời hôm nay trở nên quý giá. Chúng ta không biết mình còn bao nhiêu dịp ngồi với cha mẹ, bao nhiêu lần được nghe giọng người thân, bao nhiêu cơ hội để sửa một điều sai. Có những người chỉ nhận ra mình đã quá bận khi ngôi nhà không còn tiếng người chờ đợi. Có những người chuẩn bị rất kỹ cho những thành công xa xôi nhưng không kịp nói một lời cảm ơn với người đã âm thầm nâng đỡ mình. Nhận ra điều này không nhằm làm chúng ta hoảng sợ, nhưng giúp ta sống có thứ tự hơn. Điều cần làm có thể rất gần: gọi một cuộc điện thoại, dành một buổi thăm hỏi, xin lỗi một người, trở lại với bí tích Hòa giải, sắp xếp lại thời gian cầu nguyện, đặt giới hạn cho công việc, dừng một cuộc nói xấu. Chúng ta thường chờ có một cảm xúc mạnh mới hành động, nhưng nhiều thay đổi bắt đầu từ một quyết định bình tĩnh. Tôi biết điều này là cần, nên hôm nay tôi sẽ làm. Tôi biết tương quan này đáng quý, nên tôi sẽ dành thời gian. Tôi biết thói quen này đang làm hại mình và người khác, nên tôi sẽ tìm sự giúp đỡ. Một đời sống mới không nhất thiết khởi đầu bằng biến cố lớn. Nó có thể khởi đầu bằng việc hôm nay chúng ta đáp lại một lời mời đã bị trì hoãn quá lâu.
Và khi đã được đón nhận, chúng ta cũng được mời trở thành người mang sự đón nhận ấy đến cho người khác. Có thể một người sẽ dám trở lại nhà thờ vì gặp nơi chúng ta một thái độ tôn trọng. Có thể một đứa trẻ sẽ biết cầu nguyện vì thấy cha mẹ đặt niềm tin vào Chúa trong lúc khó khăn. Có thể một người đang tuyệt vọng sẽ tìm được sức bước tiếp vì có ai đó chịu ngồi nghe họ mà không vội kết án. Có thể một người mang mặc cảm sẽ bắt đầu đứng dậy vì được góp ý với sự chân thành và được giúp sửa lỗi. Chúng ta không cần xuất hiện như người đã có câu trả lời cho mọi chuyện. Chúng ta có thể hiện diện như người cũng đang được Chúa sửa dạy, cũng có yếu đuối, nhưng muốn sống thật và yêu thương hơn. Sự khiêm nhường ấy làm cho lời chứng có sức gần gũi. Một người biết nhận lỗi thường giúp người khác bớt sợ sự thật. Một người biết giữ lời khiến người khác có thể tin cậy. Một người biết phục vụ âm thầm làm cộng đoàn được nâng đỡ mà không bị đè nặng bởi nhu cầu phải tôn vinh ai. Khi chúng ta sống như thế, lời mời của Chúa được tiếp tục bằng chính cách chúng ta đi qua đời nhau.
Lạy Chúa, giữa những điều đang cuốn con đi mỗi ngày, xin giúp con nghe được lời mời của Chúa. Xin cho con nhận ra những lúc con đã lấy sự bận rộn để tránh cầu nguyện, lấy công việc để tránh gặp gỡ, lấy tự ái để tránh xin lỗi, lấy mặc cảm để tránh trở về. Xin dạy con biết sắp xếp đời mình theo điều thật sự nuôi dưỡng sự sống. Xin cho con đủ thành thật để nhìn những chỗ cần thay đổi, đủ khiêm tốn để nhận sự giúp đỡ, và đủ kiên trì để bắt đầu lại sau những lần yếu đuối. Xin sửa lời nói của con, để người sống bên con không phải thường xuyên chịu những vết thương do sự nóng nảy và bất cẩn. Xin chữa những vùng đau trong lòng con, để con không đem nỗi đau của mình làm đau thêm người khác. Xin cho gia đình con biết dành thời gian cho nhau, biết nghe nhau, biết giữ sự tôn trọng ngay cả khi bất đồng. Xin cho cộng đoàn con biết mở cửa với người mới đến, nâng đỡ người yếu, bảo vệ người bị tổn thương, và góp ý cho nhau bằng sự thật cùng lòng bác ái. Xin giúp con đón nhận từng Thánh lễ bằng tâm hồn có mặt, rồi mang điều đã đón nhận vào những trách nhiệm nhỏ của ngày thường. Xin cho con biết đáp lại lời mời hôm nay bằng một việc cụ thể, để ngày mai con có thể tiếp tục bước đi với lòng tin sâu hơn. Và khi con lại chậm chạp, lại sợ hãi, lại bị những điều quen thuộc kéo xa, xin nâng đỡ con trở về. Con mong được ở gần Chúa, được học yêu thương trong sự hiện diện của Chúa, và được cùng những người Chúa trao cho con bước vào niềm vui mà Chúa đã chuẩn bị. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
