BẢN TIN GIÁO HỘI công giáo – thứ hai NGÀY 12 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
CHIA SẺ PHỤNG VỤ : Bước vào phụng vụ bằng cả con người và sống Thánh lễ trong đời thường – Lm. Anmai, CSsR
Tìm hiểu TIN MỪNG THEO THÁNH LUCA
Lời mở đầu: mở sách Tin Mừng cũng là mở lòng mình – Lm. Anmai, CSsR – Lm. Anmai, CSsR
Lời Chúa hôm nay (12 tháng 10 – 2026)
Suy niệm thứ 2 tuần 28 thường niên – Lm. Anmai, CSsR
suy niệm thứ hai tuần 28 thường niên DẤU LẠ ÔNG GIÔNA KHI THIÊN CHÚA ĐỨNG TRƯỚC MẶT TA MÀ TA VẪN ĐÒI MỘT DẤU KHÁC – Lm. Anmai, CSsR
BẢN TIN GIÁO HỘI – thứ hai NGÀY 12 THÁNG 10 NĂM 2026
Linh mục Anmai, CSsR Tổng hợp
BẢN TIN GIÁO HỘI – thứ hai NGÀY 12 THÁNG 10 NĂM 2026 Linh mục Anmai, CSsR Tổng hợp
LỜI NGUYỆN: XIN CHO CHÚNG CON BIẾT TIN VÀ THÀNH TÂM HOÁN CẢI
Lạy Chúa Giêsu, chúng con đến trước nhan Chúa với lòng khiêm nhường, xin Chúa mở đôi mắt đức tin để chúng con nhận ra sự hiện diện và tình yêu Chúa trong cuộc đời. Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng con nhìn lại lòng mình, từ bỏ thái độ đòi hỏi những dấu lạ và thành tâm đón nhận lời Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa đã đến giữa nhân loại, đã chịu chết và sống lại để cứu độ chúng con. Nơi Chúa, chúng con được gặp tình yêu Thiên Chúa, được soi sáng bằng sự thật và được mở đường bước vào sự sống đời đời. Xin cho chúng con biết quý trọng hồng ân ấy, để không sống hờ hững trước Tin Mừng và không trì hoãn việc trở về với Chúa.
Lạy Chúa, xin tha thứ vì nhiều lần chúng con muốn Chúa chứng minh tình yêu bằng cách thực hiện điều mình mong đợi. Khi cầu nguyện chưa được như ý, chúng con dễ nản lòng; khi gặp thử thách, chúng con nghi ngờ sự quan phòng; khi phải chờ đợi, chúng con muốn tìm một bảo đảm tức thời. Có lúc chúng con mải tìm những điều khác thường mà quên nhận ra ân sủng Chúa trong những điều gần gũi: một ngày còn được sống, một người kiên nhẫn chăm sóc, một lời chân thành giúp chúng con sửa mình, một cơ hội làm lại sau lỗi lầm. Xin thanh luyện lòng tin chúng con. Xin cho chúng con biết đem những câu hỏi, lo âu và thất vọng đến với Chúa bằng lòng chân thật, đồng thời kiên trì bước theo Chúa ngay cả khi chưa hiểu hết những điều đang xảy ra.
Lạy Chúa Giêsu, dân thành Ni-ni-vê đã biết sám hối khi nghe lời cảnh tỉnh. Xin cho chúng con cũng có một trái tim biết đón nhận lời mời gọi hoán cải. Xin đừng để sự quen thuộc với kinh nguyện làm chúng con mất khả năng lắng nghe, hay những năm tháng sống đạo khiến chúng con tự cho mình không còn cần sửa đổi. Xin soi sáng để chúng con nhận ra những điều đang làm mình xa Chúa: sự kiêu căng, lòng ganh tị, thói gian dối, những oán hờn và sự vô cảm trước nỗi đau của người khác. Xin cho chúng con can đảm gọi tên lỗi lầm, thành tâm lãnh nhận Bí tích Hòa Giải và thực hiện những việc cần thiết để sửa chữa. Khi đã xúc phạm ai, xin giúp chúng con biết xin lỗi; khi làm thiệt hại người khác, xin cho chúng con sẵn lòng đền bù; khi một thói quen xấu đã bén rễ, xin nâng đỡ chúng con kiên trì thay đổi và biết tìm sự trợ giúp.
Lạy Chúa, nữ hoàng Phương Nam đã vượt đường xa để tìm nghe sự khôn ngoan. Xin khơi dậy nơi chúng con lòng khao khát học biết Chúa và tìm kiếm chân lý. Xin giúp chúng con dành thời gian đọc Sách Thánh, chú tâm khi nghe giảng và suy niệm điều Chúa muốn dạy. Giữa những tiếng nói trái ngược, xin ban cho chúng con sự sáng suốt để phân định, biết kiểm chứng điều mình tiếp nhận và tránh truyền đi những lời sai sự thật. Xin cho chúng con đủ khiêm nhường để lắng nghe lời góp ý, đủ kiên nhẫn để học hỏi và đủ can đảm để thực hành điều đúng. Ước gì sự hiểu biết về Chúa làm chúng con trở nên nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn và biết phục vụ anh chị em bằng lòng tôn trọng.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho sự hoán cải bắt đầu ngay trong gia đình và cộng đoàn chúng con. Xin giúp vợ chồng biết đối thoại chân thành, cha mẹ biết lắng nghe con cái, con cái biết hiếu thảo và mọi người biết nhận phần trách nhiệm của mình khi xảy ra bất hòa. Xin chữa lành những mối tương quan đang bị tổn thương, giải thoát chúng con khỏi ý muốn trả đũa và hướng dẫn chúng con xây dựng lại lòng tin bằng những việc làm bền bỉ. Xin thương những người đang xa Chúa, những ai thất vọng về bản thân và những người nghĩ rằng mình không còn được tha thứ. Xin cho họ gặp được sự đón nhận, lời nâng đỡ và những người đồng hành tận tâm. Xin cho cộng đoàn chúng con trở thành nơi người yếu đuối có thể tìm sự trợ giúp và người muốn trở về có thể bắt đầu lại.
Lạy Chúa, trước lời nhắc nhở về cuộc Phán Xét, xin cho chúng con biết sống tỉnh thức và có trách nhiệm với những hồng ân đã nhận. Xin giúp chúng con thôi trì hoãn việc thiện, biết yêu thương khi còn có thể, hòa giải khi còn cơ hội và trở về khi được Chúa mời gọi. Khi chiêm ngắm thập giá và sự phục sinh của Chúa, xin củng cố niềm hy vọng và ban sức mạnh để chúng con trung thành đến cùng. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, xin cho chúng con biết ghi nhớ Lời Chúa, thực hành trong từng ngày sống và trao phó tương lai trong lòng thương xót Chúa. Xin biến đổi đời chúng con thành một chứng tá khiêm nhường của đức tin, để những người gặp chúng con cũng được nâng đỡ trên hành trình tìm đến Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, lạy Chúa, nếu Chúa nhớ hoài sự lỗi, nào ai chịu nổi được ư? Vì lạy Thiên Chúa Israel, Chúa thường rộng lượng thứ tha.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy, Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 1, 1-7
“Nhờ Ðức Kitô, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về đức tin”.
Khởi đầu bức thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Phaolô, tôi tớ Chúa Giêsu Kitô, đã được kêu gọi làm Tông đồ và đã được tuyển chọn để rao giảng tin mừng Thiên Chúa. Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Ðavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần, đã sống lại từ cõi chết. Ðó chính là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, để nhân danh Người, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về Ðức Tin, trong đó có cả anh em là những người mà Chúa Giêsu Kitô đã kêu gọi.
Tôi chúc tất cả mọi người trong thành Rôma, được Thiên Chúa yêu mến và kêu gọi nên thánh, được ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4
Ðáp: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người
Xướng: Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người.
Xướng: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel.
Xướng: Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca!
Bài Ðọc I: (Năm II) Gl 4, 22-24. 26-27. 31 – 5, 1
“Chúng ta không phải là con của nữ tỳ, nhưng là con của người vợ tự do”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Galata.
Anh em thân mến, có lời chép rằng: Abraham có hai người con trai: một sinh bởi người nữ tỳ, và một sinh bởi người vợ tự do. Nhưng con sinh bởi nữ tỳ, thì đã sinh ra theo lối xác thịt, còn con sinh bởi người vợ tự do, đã sinh ra bởi lời hứa. Những sự ấy đã được nói cách bóng bảy, vì hai người vợ tiêu biểu cho hai giao ước: một bởi núi Sanai, sinh con cái làm nô lệ, đó là Agar. Còn Giêrusalem ở trên cao thì được tự do, đó là mẹ chúng ta, vì có lời chép rằng: “Hỡi người son sẻ, chẳng sinh con, hãy hân hoan! Hỡi người không sinh sản, hãy vui reo và hò lên! Vì con cái của người vợ bị ruồng bỏ, lại đông hơn con của gái có chồng”.
Bởi đó, anh em thân mến, chúng ta không phải là con của nữ tỳ, nhưng là con của người vợ tự do; chính để chúng ta được tự do mà Ðức Kitô đã giải thoát chúng ta. Anh em hãy đứng vững, đừng để bị đặt dưới ách nô lệ một lần nữa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 112, 1-2. 3-4. 5a và 6-7
Ðáp: Nguyện danh Chúa được chúc tụng đến muôn đời! (c. 2).
Xướng: Hãy ngợi khen, hỡi những người tôi tớ Chúa, chư vị hãy ngợi khen danh Chúa! Nguyện danh Chúa được chúc tụng từ bây giờ và cho đến muôn đời!
Xướng: Từ mặt trời mọc lên tới khi lặn xuống, nguyện cho danh Chúa được ngợi khen! Chúa siêu việt trên hết thảy chư dân, trên muôn cõi trời, là vinh quang của Chúa. –
Xướng: Ai được như Thiên Chúa chúng ta, Người để mắt nhìn coi khắp cả trên trời dưới đất? Người nâng kẻ hèn hạ lên khỏi trần ai, và rước người nghèo khó khỏi nơi phẩn thổ.
Alleluia: Tv 118, 27
Alleluia, alleluia! – Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 11, 29-32
“Không ban cho dòng giống này điềm lạ nào ngoài điềm lạ của tiên tri Giona”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại, Chúa Giêsu phán rằng: “Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin chấp nhận những lời cầu xin và lễ vật chúng con dâng tiến, để làm cho thánh lễ chúng con đang sốt sắng cử hành mở đường dẫn chúng con tới quê trời vinh hiển. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Bọn giàu sang đã sa cơ nghèo đói; nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo.
Hoặc đọc:
Khi Chúa tỏ mình ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng cao cả. Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô làm của ăn nuôi dưỡng chúng con; chúng con nài xin Chúa cho chúng con được chia sẻ chức vị làm con Chúa với Người, Người hằng sống và hiển trị muôn đời…
KHI NGƯỜI CÓ ĐẠO CŨNG CẦN TRỞ VỀ
Có một điều rất đáng sợ trong đời sống đức tin: chúng ta có thể ở rất gần những điều thánh thiêng mà lòng lại ở rất xa Thiên Chúa. Chúng ta có thể quen với tiếng chuông nhà thờ, thuộc những lời kinh, biết những mùa phụng vụ, nhớ những điều phải làm và những điều phải tránh, nhưng vẫn chưa thực sự để cho tình yêu của Chúa chạm đến phần sâu nhất trong tâm hồn. Có người đã sống nhiều năm trong cộng đoàn, đã tham gia nhiều hội đoàn, đã làm nhiều việc phục vụ, nhưng khi thấy một người lầm lỡ được đón nhận, họ lại khó chịu; khi thấy một người lâu năm không đến nhà thờ được quan tâm, họ lại nghĩ rằng sự quan tâm ấy không công bằng; khi thấy một người có quá khứ không tốt bắt đầu sống lại, họ lại chờ đợi một sơ suất để chứng minh rằng người ấy chẳng thay đổi được gì. Đó là lúc chúng ta cần dừng lại để tự hỏi: đức tin đang làm cho trái tim mình rộng hơn hay hẹp hơn? Những năm tháng sống đạo đang giúp mình yêu thương hơn hay chỉ giúp mình có thêm lý do để xét đoán? Mình đang bước theo Thiên Chúa hay đang muốn Thiên Chúa bước theo những giới hạn của mình? Bởi lẽ, điều khó nhất nhiều khi không phải là tin rằng Thiên Chúa có quyền năng, nhưng là chấp nhận rằng Người có thể dùng quyền năng ấy để cứu cả những người chúng ta không muốn được cứu. Điều khó nhất không phải là thừa nhận Thiên Chúa công chính, nhưng là đón nhận một sự công chính không bị thu hẹp vào lối tính toán của con người. Và điều khó nhất không phải là nói rằng Thiên Chúa yêu thương, nhưng là để tình yêu của Người phá vỡ những bức tường mà chúng ta đã xây rất lâu trong lòng mình.
Tin Mừng về dấu lạ Giô-na đặt chúng ta trước một cuộc xét mình sâu sắc như thế. Những người đến với Đức Giêsu muốn một dấu lạ. Họ muốn một điều có thể nhìn thấy, có thể kiểm tra, có thể đưa ra làm bằng chứng. Nhưng phía sau một lời yêu cầu có vẻ hợp lý đôi khi lại là một tâm hồn không muốn thay đổi. Con người có thể đòi thêm ánh sáng trong khi vẫn nhắm mắt; có thể xin thêm lời giải thích trong khi đã quyết định không lắng nghe; có thể yêu cầu thêm bằng chứng trong khi điều thực sự thiếu không phải là bằng chứng, nhưng là sự chân thành. Điều này không có nghĩa rằng mọi thắc mắc đều là thiếu đức tin. Người đang đau khổ có quyền kêu lên; người đang tìm kiếm có quyền hỏi; người đang trải qua bóng tối có thể tha thiết xin Chúa nâng đỡ. Thiên Chúa không khinh thường những câu hỏi phát xuất từ một trái tim đang muốn đến gần Người. Nhưng có một cách hỏi nhằm trì hoãn sự vâng phục, một cách tìm hiểu nhằm tránh né sự hoán cải, một cách đòi dấu lạ nhằm giữ mình ở vị trí người kiểm soát. Khi ấy, chúng ta không còn tìm Chúa để sống theo Người, nhưng muốn thử Chúa xem Người có đáp ứng những điều kiện mình đặt ra hay không. Chúng ta muốn Người chứng minh trước, bảo đảm trước, làm theo ý mình trước, rồi mới cân nhắc xem có trao lòng tin hay không. Một mối tương quan như thế rất khó trở thành tình yêu, bởi tình yêu không thể lớn lên khi một bên luôn giữ quyền đặt điều kiện và bên kia chỉ được chấp nhận nếu đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi ấy.
Nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta sẽ nhận ra rằng thói quen đòi dấu lạ không nhất thiết xuất hiện dưới hình thức mong chờ một biến cố phi thường. Nó có thể rất bình thường, rất kín đáo, rất quen thuộc. Chúng ta hứa sẽ cầu nguyện nhiều hơn nếu công việc thuận lợi; sẽ trở lại với Chúa nếu gia đình hết khó khăn; sẽ sống quảng đại hơn nếu thu nhập khá lên; sẽ tha thứ nếu người kia biết điều; sẽ phục vụ nếu được nhìn nhận; sẽ tin tưởng nếu mọi chuyện diễn ra đúng với điều mình mong muốn. Chúng ta đặt sự trung thành của mình sau những điều kiện mà cuộc sống chưa chắc có thể đáp ứng. Rồi ngày này qua ngày khác, lời hứa vẫn nằm đó, còn việc trở về thì luôn bị dời lại. Có khi chúng ta không nói thành lời, nhưng trong lòng đã hình thành một kiểu mặc cả: Chúa hãy làm cho con điều này, rồi con sẽ làm cho Chúa điều kia. Trong khi đó, điều Người mong nơi chúng ta không phải là một cuộc trao đổi, nhưng là một sự gặp gỡ. Người muốn chúng ta nhận ra rằng ngay giữa công việc chưa thành, bệnh tật chưa khỏi, những băn khoăn chưa được giải đáp, chúng ta vẫn có thể bắt đầu sống thật, sống tốt, sống yêu thương. Một người không cần chờ mọi khó khăn biến mất mới có thể xin lỗi vợ mình. Một người mẹ không cần chờ con hoàn hảo mới có thể lắng nghe con. Một người đã làm điều sai không cần chờ quá khứ được xóa khỏi trí nhớ mọi người mới có thể bắt đầu sửa chữa. Và một người đang xa Chúa không cần chờ một cảm xúc đặc biệt mới có thể bước vào nhà thờ, quỳ xuống, và thành thật nhận mình cần được cứu.
Câu chuyện Giô-na làm lộ ra một nghịch lý rất gần với chúng ta: người được trao sứ mạng có thể không yêu những người mình được sai đến. Ông biết mình phải đi, nhưng không muốn đi. Ông có thể nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa, nhưng lại không sẵn lòng để tiếng gọi ấy thay đổi những đánh giá đã có trong mình. Thành phố cần được nhắc nhở, những con người cần được thức tỉnh, một cơ hội trở về đang mở ra, nhưng người mang lời mời gọi lại muốn quay lưng. Sự trốn chạy ấy không chỉ là chuyện của một ngôn sứ xa xưa. Có người cha trốn tránh cuộc đối thoại cần thiết với con vì sợ phải nghe những điều làm mình đau. Có người mẹ trốn vào công việc để khỏi đối diện với sự rạn nứt của gia đình. Có người phục vụ cộng đoàn trốn vào những nhiệm vụ bên ngoài để khỏi nhìn lại tính nóng nảy, sự kiêu căng hay nhu cầu được đề cao của mình. Có người mang danh Kitô hữu nhưng tránh những người nghèo vì thấy họ phiền phức, tránh những người đang khủng hoảng vì sợ mất thời gian, tránh những người mắc sai lầm vì không muốn bị liên lụy. Chúng ta có thể bận rộn với rất nhiều điều tốt mà vẫn đang trốn một điều Chúa thực sự muốn mình làm. Chúng ta có thể đi rất xa, làm rất nhiều, nói rất hay, nhưng lại không bước nổi một bước đến gần người đang cần lòng thương xót của mình.
Có những cuộc trốn chạy không đưa chúng ta ra khỏi nhà thờ, nhưng đưa chúng ta ra khỏi tình yêu. Chúng ta vẫn dự lễ, vẫn làm việc đạo đức, vẫn giữ những bổn phận quen thuộc, nhưng không muốn nhìn vào khuôn mặt của người mà mình đã làm tổn thương. Chúng ta sẵn lòng đóng góp cho một công việc lớn, nhưng không sẵn lòng trả lại một món nợ nhỏ. Chúng ta có thể nói rất nhiều về sự hiệp nhất, nhưng lại không chịu ngồi xuống với người mình đang bất hòa. Chúng ta mong những người khác hoán cải, còn bản thân thì chỉ muốn được công nhận là người có thiện chí. Đó là một hình thức trốn chạy rất tinh vi, bởi nó mang dáng vẻ của sự nghiêm túc và trách nhiệm. Người ta dễ nhận ra một người bỏ bê đời sống đạo, nhưng khó nhận ra một người dùng chính những hoạt động đạo đức để tránh né sự thật về mình. Chỉ khi cầu nguyện thật lòng, chúng ta mới bắt đầu thấy những điều ấy. Chỉ khi thôi kể công và thôi tự bảo vệ, chúng ta mới nghe được câu hỏi âm thầm đang đặt ra trong lòng: có phải con đang phục vụ vì yêu, hay đang dùng sự phục vụ để giữ hình ảnh tốt đẹp của mình? Có phải con đang bảo vệ điều thiện, hay đang bảo vệ quyền được đứng trên người khác? Có phải con muốn người ấy trở về, hay chỉ muốn người ấy thừa nhận rằng con đúng?
Tuy nhiên, nét đáng suy nghĩ nhất trong câu chuyện Giô-na không chỉ là việc ông trốn chạy trước sứ mạng. Đó còn là sự khó chịu của ông khi những người được cảnh tỉnh đã quay về và được tha thứ. Một người rao giảng có thể buồn vì lời mình không được nghe, nhưng cũng có thể buồn vì lời mình đã được nghe theo một cách không phù hợp với mong muốn của mình. Ông đã loan báo điều nghiêm trọng, và lòng ông dường như muốn thấy sự nghiêm trọng ấy diễn ra. Khi lòng thương xót mở ra một tương lai khác, ông lại không vui. Chúng ta cũng có thể rơi vào tình trạng ấy. Chúng ta nói rằng mình muốn người khác thay đổi, nhưng khi họ thực sự thay đổi, ta không biết đón nhận. Chúng ta đã quen với việc xem họ là người sai, người hư, người thiếu trách nhiệm, đến mức sự trở về của họ làm lung lay vị trí đạo đức mà chúng ta đang giữ. Nếu họ được tha thứ, chúng ta sẽ kể lại câu chuyện cũ với ai? Nếu họ được tin tưởng, những lời cảnh báo của chúng ta sẽ còn sức nặng đến đâu? Nếu họ bắt đầu làm điều tốt, chúng ta có sẵn lòng công nhận hay vẫn tìm cách giải thích rằng họ chỉ đang đóng kịch? Một tâm hồn như thế có thể nói nhiều về chân lý, nhưng lại không muốn chân lý giải phóng người khác. Và khi không muốn người khác được giải phóng, chính chúng ta cũng đang bị giam giữ trong sự cay đắng của mình.
Sự trở về của một người thường không diễn ra trọn vẹn trong một ngày. Họ có thể còn vụng về, còn thiếu nhất quán, còn phải sửa rất nhiều điều. Một người đã sống lâu trong thói quen xấu cần thời gian để học cách sống mới. Một người từng làm tổn thương người khác cần thực hiện những trách nhiệm cụ thể, chứ không thể chỉ nói một lời xin lỗi rồi xem như mọi chuyện đã xong. Một người đã đánh mất lòng tin phải chấp nhận rằng lòng tin được xây lại từng chút. Nhưng chính trong tiến trình khó khăn ấy, cộng đoàn có thể trở thành nơi nâng đỡ hoặc nơi làm họ tuyệt vọng. Nếu mỗi cố gắng đều bị nghi ngờ, mỗi bước tiến đều bị chế giễu, mỗi vấp ngã đều bị dùng để phủ nhận toàn bộ hành trình, người ấy sẽ rất khó đứng lên. Có những người không rời xa đức tin vì không nghe được lời mời gọi, nhưng vì khi đáp lại lời mời gọi, họ không tìm thấy một chỗ đứng giữa những người có đạo. Họ được khuyên trở về, nhưng khi trở về lại gặp những ánh mắt nhắc rằng họ không thuộc về nơi này. Họ được nhắc hãy tin vào sự tha thứ, nhưng lại bị đối xử như thể quá khứ của họ là bản án không bao giờ kết thúc. Một cộng đoàn biết sống Tin Mừng cần đủ sáng suốt để không dung túng điều sai, đồng thời đủ nhân hậu để không bóp nghẹt điều tốt đang bắt đầu.
Lòng thương xót không phải là thái độ làm ngơ trước sự dữ. Tha thứ không biến điều sai thành điều đúng. Đón nhận người có lỗi không có nghĩa là bỏ qua trách nhiệm bảo vệ những người dễ bị tổn thương. Có những trường hợp cần những giới hạn rõ ràng, những biện pháp ngăn chặn, những trách nhiệm phải được thực hiện và những hậu quả không thể tránh. Người bị tổn thương không bị buộc phải lập tức tin tưởng như trước, không bị buộc phải trở lại một hoàn cảnh nguy hiểm, cũng không bị buộc phải coi nỗi đau của mình là chuyện nhỏ. Nhưng trong tất cả những điều ấy, người Kitô hữu được mời gọi giữ cho lòng mình khỏi trở thành nơi nuôi dưỡng sự hủy diệt. Chúng ta có thể đòi công lý mà vẫn mong người có lỗi thay đổi. Chúng ta có thể đặt giới hạn mà không chối bỏ phẩm giá của họ. Chúng ta có thể bảo vệ người yếu thế mà không lấy sự nhục nhã của người khác làm niềm vui. Chính sự phân biệt ấy đòi hỏi một đời sống nội tâm sâu sắc. Nóng giận thường khiến chúng ta muốn giải quyết mọi chuyện bằng một lời kết án. Tình yêu đòi chúng ta chịu khó hơn: nhìn rõ sự thật, bảo vệ điều thiện, nâng đỡ người bị hại, và vẫn không đóng lại mọi cánh cửa của sự hoán cải.
Dân thành Ninivê trở thành một lời chất vấn đối với những người tưởng rằng mình đã có đủ mọi điều cần thiết trong đời sống tôn giáo. Những người ở xa lại biết lắng nghe, còn những người ở gần có thể không chịu nghe. Những người bị xem là không xứng đáng lại biết cúi đầu, còn những người quen nghĩ mình ngay chính lại không thấy cần thay đổi. Khoảng cách với Thiên Chúa không thể đo chỉ bằng số lần xuất hiện trong một nơi thánh. Có một khoảng cách nằm trong sự tự mãn, trong thái độ bất khả sửa dạy, trong việc luôn giải thích lỗi của mình và phóng đại lỗi của người khác. Có người chỉ mới biết rất ít về đức tin, nhưng lại có một trái tim sẵn sàng học. Có người chưa quen nhiều lời kinh, nhưng khi nhận ra mình đã làm tổn thương ai, họ biết đau lòng và tìm cách sửa chữa. Có người không có chức vụ nào trong cộng đoàn, nhưng biết lặng lẽ chăm sóc người đau yếu. Những điều ấy không làm cho việc học hỏi giáo lý hay thực hành phụng vụ trở nên không cần thiết. Trái lại, chúng nhắc chúng ta rằng mọi điều được trao trong đời sống Hội Thánh phải dẫn đến một con người biết yêu thương và biết trở về. Nếu điều chúng ta học không đi vào cách sống, nếu điều chúng ta cử hành không đi vào những tương quan, nếu điều chúng ta tuyên xưng không làm cho lòng mình mềm lại trước nỗi khổ của người khác, thì chúng ta cần nghiêm túc nhìn lại cách mình đón nhận những ân huệ ấy.
Hoán cải không bắt đầu bằng việc chúng ta tìm được một danh sách những người cần sửa đổi. Hoán cải bắt đầu khi chúng ta để sự thật gọi tên chính mình. Đây là điều rất khó, vì bản năng của con người thường muốn né tránh cảm giác có lỗi. Chúng ta dễ kể hoàn cảnh, kể áp lực, kể những điều người khác đã làm, kể những lý do khiến mình không thể hành xử tốt hơn. Những hoàn cảnh ấy có thể có thật và cần được hiểu, nhưng chúng không luôn xóa đi trách nhiệm của mình. Một lời nói làm người khác đau vẫn cần được nhận lỗi. Một hành vi thiếu trung thực vẫn cần được sửa. Một sự bỏ bê vẫn cần được bù đắp. Một thói quen làm gia đình bất an vẫn cần được thay đổi. Chúng ta không thể chỉ xin Chúa ban bình an trong khi tiếp tục tạo ra những điều làm mất bình an. Chúng ta không thể chỉ xin Chúa chữa lành gia đình trong khi vẫn giữ cách nói khinh miệt, vẫn từ chối lắng nghe, vẫn để cái tôi điều khiển mọi cuộc đối thoại. Lời cầu nguyện chân thật sẽ dần đưa chúng ta đến những hành động chân thật. Nó có thể bắt đầu bằng một việc rất nhỏ: ngừng biện minh, nhận một lỗi cụ thể, trả lời một tin nhắn đang tránh né, trả lại điều không thuộc về mình, hoặc ngồi xuống nghe người thân nói hết một điều mà lâu nay mình luôn cắt ngang.
Trong gia đình, nhiều khi điều cần thiết nhất không phải là một biến cố lớn, nhưng là một người chịu bắt đầu sống khác. Có những mái nhà đã mệt mỏi vì ai cũng chờ người kia thay đổi trước. Người chồng chờ người vợ dịu dàng rồi mới quan tâm. Người vợ chờ người chồng biết lắng nghe rồi mới bớt trách móc. Cha mẹ chờ con ngoan rồi mới gần gũi. Con cái chờ cha mẹ hiểu rồi mới thành thật. Tất cả đều có những điều hợp lý để mong đợi, nhưng nếu không ai chịu bước trước, khoảng cách sẽ tiếp tục lớn lên. Sự hoán cải mở một lối đi trong tình trạng bế tắc ấy. Nó không đòi một người phải gánh hết lỗi của cả gia đình, nhưng mời mỗi người nhận phần trách nhiệm của mình. Tôi chưa thể thay đổi trái tim người khác, nhưng có thể thay đổi cách mình nói. Tôi chưa thể làm quá khứ biến mất, nhưng có thể thôi sử dụng quá khứ như một vũ khí. Tôi chưa thể bảo đảm ngày mai mọi chuyện sẽ tốt, nhưng hôm nay có thể làm một điều giúp người thân bớt sợ. Những bước nhỏ ấy cần sự kiên trì. Có khi người kia chưa đáp lại ngay. Có khi nỗ lực của mình chưa được hiểu. Nhưng một hành động yêu thương thật sự không mất ý nghĩa chỉ vì nó chưa đem lại kết quả như mong đợi. Nó đã làm cho một phần đời sống của chúng ta được đưa ra khỏi sự cứng cỏi và đặt lại trong ánh sáng của Chúa.
Đối với những người phục vụ trong Hội Thánh, bài Tin Mừng này còn mang một lời nhắc rất riêng. Sứ mạng không chỉ là chuyển đến cho người khác những điều mình biết, nhưng là đồng hành để họ có thể gặp Chúa. Người dạy giáo lý không chỉ cần nội dung đúng, nhưng còn cần sự kiên nhẫn trước những người học chậm. Người phụ trách một hội đoàn không chỉ cần tổ chức tốt, nhưng còn cần biết nhìn thấy người đang mất dần nhiệt tình. Người làm việc bác ái không chỉ cần phân phối đúng, nhưng còn cần giữ gìn phẩm giá của người nhận. Người giảng dạy không chỉ cần nói rõ về tội, nhưng còn cần mở ra con đường để người có tội trở về. Nếu người ta nghe chúng ta mà chỉ thấy mình bị loại trừ, nếu họ đến gặp chúng ta mà chỉ thấy quá khứ bị lục lại, nếu họ xin giúp đỡ mà chỉ nhận được lời trách, thì chúng ta phải xét lại cách thi hành sứ mạng. Một lời đúng có thể được nói bằng một thái độ làm người khác không còn đủ sức nghe. Một lời khuyên có thể trở thành gánh nặng khi người đưa ra lời khuyên chưa chịu hiểu hoàn cảnh. Sự trung thành với Tin Mừng đòi chúng ta vừa học hỏi kỹ lưỡng vừa yêu thương cụ thể, vừa giữ sự thật vừa biết cúi xuống, vừa kiên quyết trước điều sai vừa không quên rằng người đang đứng trước mặt mình là một con người cần được cứu.
Một cám dỗ khác rất sâu trong đời sống đạo là xem những việc tốt như một thứ tài sản giúp mình có quyền đòi hỏi Thiên Chúa. Chúng ta đã cầu nguyện, đã phục vụ, đã hy sinh, nên nghĩ rằng đời mình phải được thuận lợi hơn. Chúng ta đã giữ nhiều bổn phận, nên thấy khó chịu khi một người không sống giống mình lại nhận được điều tốt. Chúng ta đã làm việc trong cộng đoàn nhiều năm, nên nghĩ rằng mình có quyền được ưu tiên, được lắng nghe, được kính trọng hơn những người khác. Việc tốt vốn là điều quý, nhưng khi bị dùng để nuôi cảm giác hơn người, nó có thể làm lòng chúng ta khép lại. Chúng ta bắt đầu đếm, so sánh, ghi nhớ, và âm thầm lập một bảng công trạng. Rồi từ bảng công trạng ấy, chúng ta đánh giá cách Chúa phải đối xử với mình. Nhưng không ai có thể mua được tình yêu Thiên Chúa bằng một số lượng hành vi đạo đức. Ơn cứu độ là ân huệ Người trao, và chính ân huệ ấy mời gọi chúng ta đáp lại bằng đời sống đức tin, đức cậy và đức mến. Những việc lành cần thiết không phải vì chúng biến chúng ta thành chủ nợ của Thiên Chúa, nhưng vì chúng là cách tình yêu được đón nhận và trở thành sự thật trong cuộc sống. Người biết mình đã được yêu sẽ muốn yêu. Người biết mình đã được tha thứ sẽ học tha thứ. Người biết mình đang sống nhờ ân sủng sẽ bớt tự hào về mình và bớt khinh thường người khác.
Điều đó giúp chúng ta hiểu sâu hơn ý nghĩa của dấu lạ Giô-na. Trong Tin Mừng Luca, sự đáp lại của dân Ninivê làm nổi bật trách nhiệm lắng nghe và hoán cải của những người đang đứng trước Đức Giêsu. Họ được gặp một Đấng lớn hơn người đã đến cảnh tỉnh Ninivê, nên không thể mãi nấp sau những đòi hỏi mới để tránh lời mời gọi đang ở ngay trước mặt. Toàn bộ đời sống Đức Giêsu mở cho chúng ta thấy dung mạo của Thiên Chúa: Người đến gần những người bị bỏ quên, chạm đến những người đau khổ, gọi những người lầm lạc, chữa lành những gì con người không thể tự chữa lành. Và trong cuộc thương khó cùng sự phục sinh, tình yêu ấy được bày tỏ đến tận cùng. Người không chỉ cho chúng ta một bài học về việc sống tốt. Người trao chính mình để mở đường cho chúng ta bước ra khỏi tội lỗi và sự chết. Vì thế, khi nhìn lên thập giá, chúng ta không nên chỉ nghĩ đến tội của những người đã đóng đinh Người. Chúng ta cần nhìn cả những cách mình đang từ chối tình yêu: sự vô cảm trước đau khổ, thói quen làm nhục người khác, sự gian dối được che đậy khéo léo, lòng kiêu căng khiến mình không thể nhận sai. Nhưng cũng chính ở đó, chúng ta nhận ra rằng không cần phải tuyệt vọng. Đấng đã yêu đến cùng vẫn đang mở một con đường trở về cho chúng ta.
Có những người cảm thấy mình không còn xứng đáng đến gần Chúa. Họ mang trong lòng một quá khứ khiến họ xấu hổ, một sai lầm khiến họ sợ bị nhìn thấy, một đổ vỡ khiến họ không dám bước vào cộng đoàn. Họ nghĩ rằng nhà thờ chỉ dành cho những người sống tốt, rằng cầu nguyện chỉ có ý nghĩa khi lòng mình đã trong sạch, rằng phải tự sửa được mọi thứ rồi mới có thể tìm đến Chúa. Nhưng nếu phải tự cứu được mình trước, chúng ta sẽ không còn cần đến Đấng Cứu Độ. Sự trở về không bắt đầu ở chỗ chúng ta đã hoàn hảo, mà ở chỗ chúng ta chấp nhận để Người giúp mình thay đổi. Một người đang bị giam trong thói quen xấu có thể bắt đầu bằng việc thành thật nhìn nhận mình cần giúp đỡ. Một người đã xa đời sống bí tích có thể bắt đầu bằng việc tìm đến một linh mục để nói rõ những điều đang làm mình sợ. Một người đã mất niềm tin có thể bắt đầu bằng một lời cầu nguyện vụng về, chưa chắc chắn, nhưng thật lòng. Thiên Chúa không cần chúng ta trình diễn một sự thánh thiện chưa có. Người muốn chúng ta thôi trốn. Người muốn chúng ta mang đến cả sự mệt mỏi, cả những mâu thuẫn, cả điều mình chưa hiểu, để từ đó có thể bắt đầu một hành trình thật. Và hành trình ấy cần những bước cụ thể, những trách nhiệm cụ thể, những chọn lựa cụ thể, bởi lòng thương xót khi được đón nhận sẽ sinh ra một đời sống đang được đổi mới.
Nữ hoàng phương Nam là một hình ảnh khác làm chúng ta phải suy nghĩ về thái độ tìm kiếm. Bà đã vượt một khoảng cách lớn để nghe sự khôn ngoan, còn chúng ta nhiều khi không vượt nổi khoảng cách rất nhỏ giữa sự tự mãn và việc chịu học. Có người dành nhiều giờ mỗi ngày để xem những điều không giúp mình sống tốt hơn, nhưng lại cho rằng không có thời gian đọc một đoạn Tin Mừng. Có người có thể ghi nhớ vô số chuyện về người khác, nhưng không chịu dành vài phút nhìn lại điều đang diễn ra trong lòng mình. Có người theo dõi mọi biến động bên ngoài, nhưng không nhận ra gia đình đang thiếu một cuộc trò chuyện tử tế. Sự khôn ngoan không tự đi vào lòng chúng ta chỉ vì chúng ta biết nhiều thông tin. Nó đòi một thái độ khiêm tốn, một sự chú tâm, một khả năng lắng nghe điều mình chưa muốn nghe. Có khi điều cần nghe đến từ một người rất bình thường: một đứa con nói rằng nó sợ cha nổi nóng, một người vợ nói rằng mình cảm thấy cô đơn, một người cộng tác nói rằng cách làm việc của mình khiến mọi người kiệt sức, một người nghèo nói rằng họ cần được tôn trọng chứ không chỉ cần một phần quà. Nếu chúng ta chỉ nghe những người làm mình dễ chịu, chúng ta sẽ bỏ lỡ nhiều lời nhắc có thể giúp mình trở về.
Mỗi ngày sống đều có những dấu chỉ rất âm thầm. Một cơn bệnh có thể khiến chúng ta nhận ra sự mong manh của đời mình. Một cái chết có thể nhắc chúng ta đừng trì hoãn lời yêu thương. Một thất bại có thể làm lộ ra những tham vọng đang điều khiển mình. Một người kiên nhẫn với chúng ta có thể giúp chúng ta hiểu rằng mình đã được nhận rất nhiều điều không do công trạng. Những biến cố ấy không nên bị giải thích một cách tùy tiện, như thể chúng ta biết chắc mọi ý định của Thiên Chúa. Nhưng chúng có thể trở thành cơ hội để cầu nguyện, để nhìn lại, để chọn một hướng sống tốt hơn. Điều quan trọng là chúng ta có chịu dừng lại hay không. Người chỉ chăm chăm tìm điều phi thường có thể không nhận ra những cơ hội rất gần. Người chỉ chờ một sự thay đổi lớn có thể bỏ qua một việc tốt đang có thể làm ngay. Người chỉ mong được nghe một lời từ trời có thể không nghe tiếng kêu của người thân ngay bên cạnh. Đời sống đức tin cần một trái tim biết chú ý: chú ý đến Lời Chúa, đến sự thật trong lòng mình, đến nỗi đau của người khác, đến những trách nhiệm đang hiện diện. Chính trong những điều ấy, sự đáp lại của chúng ta trở nên cụ thể.
Chúng ta cũng cần học cách vui trước điều tốt của người khác. Đây là một dấu hiệu rất rõ cho thấy trái tim đang được chữa lành. Khi một người từng xa Chúa bắt đầu trở về, chúng ta có thể cầu nguyện cho họ thay vì bình luận về họ. Khi một người từng mắc sai lầm được trao cơ hội phù hợp để làm lại, chúng ta có thể mong họ sống xứng đáng với cơ hội ấy thay vì chờ họ thất bại. Khi một người khác phục vụ tốt hơn mình, chúng ta có thể biết ơn thay vì tìm khuyết điểm để hạ thấp họ. Khi một người được yêu quý, chúng ta có thể nhận ra rằng tình yêu dành cho họ không làm tình yêu dành cho mình ít đi. Nhiều nỗi cay đắng phát sinh vì chúng ta nhìn đời sống như một cuộc tranh giành sự công nhận. Người khác được đón nhận thì mình bị xem nhẹ; người khác được tha thứ thì những hy sinh của mình trở nên vô ích; người khác có chỗ đứng thì mình mất chỗ đứng. Nhưng trong gia đình của Thiên Chúa, niềm vui của một người trở về có thể trở thành niềm vui chung. Điều tốt nơi người khác không phải là mối đe dọa đối với chúng ta. Khi hiểu được điều ấy, chúng ta sẽ nhẹ lòng hơn, ít phải so sánh hơn, và có khả năng yêu thương tự do hơn.
Đối với người đã sống đạo lâu năm, lời mời gọi hôm nay có thể không phải là bỏ một tội quá rõ ràng, nhưng là từ bỏ một thái độ đã trở nên quá quen. Thái độ luôn nghĩ mình biết đủ. Thái độ xem người khác qua lỗi cũ. Thái độ cho rằng người trẻ chỉ cần nghe mà không được hỏi. Thái độ coi người nghèo là đối tượng nhận trợ giúp, nhưng không phải là người có tiếng nói. Thái độ dùng chức vụ để tránh bị góp ý. Thái độ chỉ mềm mỏng với những người có lợi cho mình. Những điều ấy có thể không gây ra một biến cố ồn ào, nhưng âm thầm làm nghèo đời sống cộng đoàn. Người ta trở nên sợ nhau, giữ ý với nhau, nói khác điều mình nghĩ, và dần mất khả năng gặp gỡ trong sự thật. Một cuộc hoán cải ở đây sẽ rất quý: người có trách nhiệm biết nhận lỗi; người lớn tuổi biết lắng nghe; người có kiến thức biết nói cách dễ hiểu; người phục vụ biết hỏi xem người khác đang cần gì; người từng bị tổn thương biết tìm sự chữa lành để không tiếp tục truyền nỗi đau cho người sau. Những thay đổi ấy làm cho Tin Mừng có một khuôn mặt gần gũi. Chúng cho thấy rằng đức tin không chỉ nằm trong những lời tuyên xưng, nhưng đang tác động đến cách con người đối xử với nhau.
Có lẽ mỗi người chúng ta đều có một thành Ninivê trong lòng: một nơi mình không muốn đến, một con người mình không muốn gặp, một nhóm người mình đã vội vàng kết luận, một vết thương mình không muốn đối diện. Với người này, đó là một người thân từng làm mình đau. Với người khác, đó là những người không cùng quan điểm. Với một người phục vụ, đó có thể là những ai đặt câu hỏi khó hoặc không làm theo cách mình muốn. Với một người đã quen được kính trọng, đó có thể là lời góp ý khiến mình cảm thấy bị đụng chạm. Thiên Chúa không mời chúng ta phủ nhận những khác biệt hay quên đi những sự thật cần được nhìn nhận. Người mời chúng ta bước ra khỏi sự khép kín để thấy rằng lòng mình chưa phải là thước đo cuối cùng cho giá trị của người khác. Có những điều chúng ta chưa biết về họ. Có những cuộc chiến trong lòng họ chúng ta chưa từng thấy. Có những cố gắng họ đang thực hiện mà chúng ta không nhận ra. Khi khiêm tốn chấp nhận sự giới hạn của mình, chúng ta sẽ bớt vội kết án. Khi cầu nguyện cho người mình khó yêu, chúng ta có thể chưa lập tức thấy họ khác đi, nhưng sẽ bắt đầu thấy lòng mình khác đi. Và nhiều khi chính sự thay đổi ấy là bước đầu của một cuộc giải thoát mà lâu nay chúng ta không biết mình đang cần.
Đừng chờ đến khi đời sống không còn rắc rối mới bắt đầu hoán cải. Đừng chờ đến khi cảm xúc trở nên dễ chịu mới làm một việc đúng. Đừng chờ người khác hoàn toàn xứng đáng mới giữ cho lòng mình khỏi hận thù. Đừng chờ một dấu lạ lớn mới nhận ra rằng mình đã được ban rất nhiều cơ hội. Hôm nay, chúng ta vẫn còn có thể nói một lời chân thật. Hôm nay, chúng ta vẫn còn có thể sửa một việc sai. Hôm nay, chúng ta vẫn còn có thể tìm đến bí tích Hòa Giải, dành thời gian cầu nguyện, thăm một người đang cô đơn, hoặc làm lại một bổn phận đã bỏ bê. Có những thay đổi cần thời gian dài, nhưng quyết định bắt đầu không cần bị trì hoãn mãi. Mỗi lần chúng ta chân thành quay về, đời sống được mở thêm một khoảng sáng. Mỗi lần chúng ta đón nhận một người đang cố gắng sống lại, cộng đoàn có thêm một cơ hội trở thành mái nhà. Mỗi lần chúng ta để Chúa sửa lòng mình thay vì chỉ xin Người sửa người khác, đức tin đi sâu thêm một bước. Và mỗi lần chúng ta biết vui vì một người được cứu, chúng ta đang học cách có một trái tim gần với trái tim Thiên Chúa hơn.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đủ can đảm để nhìn nhận rằng chính mình cũng cần trở về. Xin đừng để những năm tháng sống đạo làm chúng con tự mãn, nhưng giúp chúng con càng ngày càng biết ơn, càng ngày càng khiêm tốn, càng ngày càng yêu thương. Xin soi sáng những góc tối mà chúng con vẫn tìm cách che giấu, những định kiến mà chúng con đã xem là sự thật, những tổn thương mà chúng con đang biến thành lý do để làm đau người khác. Xin giúp chúng con biết nhận lỗi mà không tuyệt vọng, biết sửa mình mà không chỉ cậy vào sức riêng, biết tìm sự nâng đỡ khi không thể tự vượt qua những yếu đuối. Xin gìn giữ những người đang bị tổn thương, ban cho họ sự bảo vệ, sự đồng hành và sức mạnh để bước tiếp. Xin đánh động những người đã gây ra điều sai, để họ biết thực lòng sám hối và thực hiện những trách nhiệm cần thiết. Xin cho gia đình chúng con có những cuộc đối thoại chân thành, cho cộng đoàn chúng con có chỗ dành cho người đang trở về, cho những người phục vụ biết yêu những người mình được trao phó. Xin dạy chúng con đừng lấy quá khứ của người khác làm nhà tù giam họ, cũng đừng lấy công trạng của mình làm bức tường ngăn cách với anh em. Khi chúng con muốn trốn tránh, xin giúp chúng con dừng lại. Khi chúng con muốn kết án, xin giúp chúng con nhìn sâu hơn. Khi chúng con mệt mỏi trước hành trình đổi mới, xin nâng chúng con đứng lên và tiếp tục. Xin cho chúng con nhận ra tình yêu của Chúa đang hiện diện trong Lời Chúa, trong các bí tích, trong những bổn phận hằng ngày và trong những con người đang cần chúng con. Để hôm nay, ngay trong cuộc sống còn nhiều giới hạn này, chúng con có thể trao cho Chúa một lời đáp chân thật bằng chính cách mình sống, mình yêu thương và mình trở về. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
ĐỪNG ĐỢI MỘT DẤU LẠ MỚI BẮT ĐẦU YÊU THƯƠNG
Có những người dành gần cả cuộc đời để chờ đợi một điều gì đó thật lớn lao rồi mới chịu thay đổi. Họ chờ một biến cố làm rung chuyển tâm hồn, một lời nhắc nhở đủ mạnh, một hoàn cảnh thuận lợi hơn, một câu trả lời rõ ràng hơn, một sự can thiệp khiến mọi nghi ngờ tan biến. Trong khi chờ đợi, những ngày bình thường vẫn trôi qua, những người thân vẫn âm thầm chịu đựng, những cơ hội làm điều tốt vẫn lần lượt đi ngang, và trái tim vẫn giữ nguyên những cánh cửa đã đóng từ lâu. Người ta tưởng mình đang kiên nhẫn tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng đôi khi điều thực sự đang diễn ra là một cuộc trì hoãn kéo dài. Ta muốn được bảo đảm trước khi phó thác, muốn hiểu hết trước khi bước đi, muốn nhìn thấy kết quả trước khi dấn thân, muốn được thuyết phục đến mức không còn phải chiến đấu với chính mình. Thế nhưng, đời sống đức tin không thể trưởng thành nếu con người cứ đặt mọi quyết định dưới điều kiện phải có thêm một dấu lạ. Có những điều đã đủ sáng để ta bước tới, đủ thật để ta đón nhận, đủ gần để ta chạm vào, nhưng ta vẫn quay đi bởi điều được yêu cầu không phải chỉ là một cái gật đầu trong suy nghĩ, mà là một sự đổi hướng trong đời sống. Có thể điều chúng ta thiếu không phải là ánh sáng, mà là lòng can đảm để sống theo ánh sáng đã được ban. Có thể điều chúng ta cần không phải là một biến cố mới, mà là một trái tim mới trước những điều đã quá quen thuộc.
Tin Mừng thứ Hai tuần XXVIII Thường niên đặt chúng ta trước một câu hỏi rất sâu: tại sao con người vẫn đòi thêm dấu chỉ khi Thiên Chúa đã đến gần? Đám đông có thể ngày càng đông, nhưng sự đông đúc không đồng nghĩa với sự đón nhận. Người ta có thể đứng rất gần Đức Giê-su mà vẫn giữ khoảng cách rất xa với lời mời gọi của Người. Có thể chăm chú theo dõi những gì Người làm nhưng chưa sẵn sàng để Người chạm đến những gì mình đang sống. Có thể mong nhìn thấy một điều phi thường nhưng lại không muốn từ bỏ một thói quen làm tổn thương người khác. Đây là điều đáng sợ trong hành trình tôn giáo: ta có thể trở thành người quan sát rất nhiệt tình mà chưa trở thành người môn đệ thực sự. Ta biết nhiều điều về Chúa, nhưng những điều ấy chưa đi xuống cách sử dụng tiền bạc, cách đối xử với người yếu thế, cách nói về người vắng mặt, cách giải quyết bất hòa trong gia đình. Ta có thể cảm động trước một bài suy niệm, nhưng sau đó vẫn lạnh lùng với người đang cần được lắng nghe. Ta có thể xúc động trong giờ cầu nguyện, nhưng trở về nhà vẫn nói những lời khiến người thân co rúm. Chính khoảng cách giữa điều được nghe và điều được sống là nơi lời cảnh tỉnh của Tin Mừng cần được đón nhận. Chúa không muốn chúng ta chỉ thêm một lần ngạc nhiên. Người muốn chúng ta bắt đầu một đời sống khác.
Tuy nhiên, cần phân biệt sự kiếm tìm chân thành với thái độ đòi hỏi để trì hoãn. Không phải mọi câu hỏi đều là thiếu đức tin. Một người đang đau khổ có thể hỏi vì họ không còn biết bám vào đâu. Một người trải qua mất mát có thể khắc khoải vì lòng họ bị xé ra bởi điều chưa thể hiểu. Một người đang bước vào đời sống đức tin có thể cần được giải thích, được đồng hành, được giúp phân định. Những thao thức ấy cần được đón nhận bằng sự kiên nhẫn và lòng thương xót. Thiên Chúa không khinh chê một tâm hồn thành thật đang tìm đường. Điều cần được chữa lành là thái độ biến Thiên Chúa thành người phải liên tục chứng minh mình, trong khi bản thân ta không bao giờ chịu bước ra khỏi vị trí của người xét đoán. Ta đặt điều kiện cho Chúa, rồi thay đổi điều kiện khi điều mình yêu cầu đã được đáp ứng. Ta muốn Chúa hành động theo cách mình dự tính, đúng thời điểm mình mong muốn, với kết quả mình đã định sẵn. Nếu không, ta cho rằng Người vắng mặt. Nhưng một Thiên Chúa chỉ được chấp nhận khi làm đúng ý ta sẽ dần trở thành hình ảnh do ta dựng nên. Đức tin bắt đầu trưởng thành khi ta nhận ra rằng mình có thể chưa hiểu đường đi của Chúa, nhưng vẫn có thể mở lòng để được Người dẫn dắt; mình có thể đang run sợ, nhưng vẫn có thể chọn điều thiện; mình có thể chưa có câu trả lời cho mọi câu hỏi, nhưng vẫn có thể sống trung thực với điều đã biết là đúng.
Có những lời cầu xin rất đẹp vì chúng xuất phát từ lòng tín thác. Ta xin ơn chữa lành, xin được nâng đỡ, xin một lối ra giữa bế tắc, xin ánh sáng cho một quyết định khó khăn. Người bệnh không có gì đáng trách khi mong được bình phục. Người mẹ không có gì đáng trách khi khẩn cầu cho đứa con đang lạc đường. Người đang thất nghiệp không có gì đáng trách khi xin một công việc để nuôi gia đình. Nhưng giữa việc cầu xin và việc mặc cả có một ranh giới cần được nhận ra. Cầu xin là đem sự yếu đuối của mình đến với tình yêu của Chúa. Mặc cả là buộc tình yêu ấy phải đáp ứng một điều kiện thì mình mới chịu mở lòng. Khi ta nghĩ chỉ cần được như ý thì mình sẽ sống tốt, có thể ta đang quên rằng sống tốt là điều có thể bắt đầu ngay giữa hoàn cảnh chưa được như ý. Ta chưa hết khó khăn, nhưng vẫn có thể không gian dối. Ta chưa được người khác hiểu, nhưng vẫn có thể không trả đũa. Ta chưa thoát khỏi nỗi buồn, nhưng vẫn có thể tránh làm nỗi buồn ấy trở thành vết thương của người bên cạnh. Chúa không yêu cầu chúng ta giả vờ mạnh mẽ. Người mời ta đem cả sự mệt mỏi vào một bước đi chân thật. Nhiều khi lời đáp cho lời cầu nguyện không đến dưới hình thức mọi vấn đề lập tức biến mất, mà dưới hình thức ta được ban sức để không đánh mất lòng nhân hậu khi vấn đề vẫn còn.
Trong đoạn Tin Mừng này, hình ảnh ông Giô-na đưa chúng ta về với sức mạnh của lời mời gọi hoán cải. Dân thành Ni-ni-vê được nhắc đến vì họ đã để lời cảnh tỉnh làm thay đổi hướng đi của mình. Điểm đáng suy nghĩ nằm ở sự đáp lại: một lời được nghe đã trở thành một quyết định, một quyết định đã đi vào hành động. Điều đó đặt ra cho chúng ta một câu hỏi không dễ tránh: ta đã nghe bao nhiêu mà vẫn chưa chịu đổi thay? Có người đã trải qua rất nhiều mùa Chay nhưng vẫn giữ nguyên một mối thù. Có người đã nghe biết bao lời mời gọi bác ái nhưng vẫn không thể chịu nổi việc chia sẻ một phần nhỏ những gì mình có. Có người đã dự nhiều buổi tĩnh tâm nhưng vẫn chưa một lần nghiêm túc nhận trách nhiệm về nỗi đau mình gây ra. Sự quen thuộc với lời đạo đức có thể làm con người mất khả năng ngạc nhiên và mất cả sự nhạy bén trước lời mời gọi. Ta nghe đến sám hối như nghe một nội dung dành cho mọi người nói chung, rồi âm thầm loại mình ra khỏi số những người cần thay đổi. Ta nghĩ ngay đến người chồng cần sửa, người vợ cần sửa, người con cần sửa, người hàng xóm cần sửa, người đang có trách nhiệm cần sửa. Trong khi ấy, điều Chúa muốn có thể rất cụ thể và rất gần: chính ta cần thôi nói lời cay nghiệt, thôi giữ một lợi ích bất công, thôi che giấu một sự gian dối, thôi dùng sự mệt mỏi để biện minh cho cách đối xử tàn nhẫn.
Sám hối không thể chỉ là một cảm giác buồn vì mình chưa hoàn hảo. Nếu dừng ở cảm giác, người ta có thể xúc động nhiều mà thay đổi ít. Sám hối đòi một chuyển động thật sự: nhận ra điều sai, gọi đúng tên điều sai, nhận trách nhiệm về điều sai, xin ơn để từ bỏ và thực hiện những bước cần thiết để sửa chữa. Một người đã làm tổn thương gia đình không thể chỉ nói mình rất hối hận rồi tiếp tục cư xử như cũ. Một người đã lấy điều không thuộc về mình không thể chỉ cầu nguyện cho lòng được bình an mà không nghĩ đến việc hoàn trả. Một người đã truyền đi thông tin sai không thể chỉ thầm xin Chúa tha thứ mà bỏ mặc danh dự của người khác bị tổn hại. Có những lời xin lỗi chưa đủ vì chúng chưa đi cùng sự thay đổi. Có những giọt nước mắt chưa chữa lành vì sau đó người bị tổn thương vẫn phải sống trong cùng một hoàn cảnh. Ơn hoán cải giúp chúng ta đi xa hơn sự tự trách để bước vào trách nhiệm. Ta không cần dựng lại hình ảnh một con người chưa từng sai. Ta cần trở thành một con người dám sống thật sau khi đã sai. Chúa có thể mở ra tương lai cho ta, nhưng ta phải chịu bước ra khỏi nơi mình đang cố thủ. Và bước ra ấy thường bắt đầu bằng những việc không hào nhoáng: một lời nhận lỗi không kèm biện hộ, một cuộc hẹn để giải quyết món nợ, một quyết định chấm dứt quan hệ làm hại gia đình, một sự thay đổi trong cách quản lý cơn giận.
Có lẽ một trong những dấu hiệu rõ nhất của việc chưa muốn hoán cải là thói quen luôn tìm lý do để giữ nguyên mình. Ta nổi nóng vì người khác chậm chạp. Ta gian dối vì hoàn cảnh khó khăn. Ta nói xấu vì người kia cũng chẳng tốt đẹp. Ta không tha thứ vì vết thương quá sâu. Ta bỏ bê gia đình vì công việc quá nhiều. Ta khinh người nghèo vì họ thiếu cố gắng. Mỗi lời giải thích có thể chứa một phần sự thật về hoàn cảnh, nhưng hoàn cảnh không thể gánh thay toàn bộ trách nhiệm của con người. Có những nỗi đau cần được chữa trị lâu dài; có những giới hạn cần được nhìn nhận; có những tình huống cần được bảo vệ bằng khoảng cách và ranh giới thích hợp. Tuy nhiên, ngay trong những điều ấy, ta vẫn cần phân định phần nào thuộc về trách nhiệm của mình. Ta không thể điều khiển mọi việc, nhưng có thể học cách không dùng mọi việc để biện hộ cho điều sai. Ta không thể làm người khác thay đổi ngay, nhưng có thể thôi nuôi dưỡng sự độc ác trong lòng mình. Ta không thể xóa ký ức đau buồn theo ý muốn, nhưng có thể tìm sự giúp đỡ để ký ức ấy không tiếp tục điều khiển mọi quan hệ. Hoán cải không phủ nhận sự phức tạp của cuộc đời. Hoán cải đưa vào sự phức tạp ấy một quyết tâm mới: từ hôm nay, tôi không muốn tiếp tục làm điều mình đã nhận ra là gây hại.
Hình ảnh nữ hoàng Phương Nam lại mở ra một chiều kích khác: sự sẵn lòng lên đường để tìm kiếm điều khôn ngoan. Có những người ở rất xa nhưng mang trong lòng một khát vọng đủ mạnh để bước đi. Có những người ở rất gần nhưng lại không chịu mở tai. Khoảng cách địa lý không phải lúc nào cũng là khoảng cách sâu nhất. Một người sống cạnh nhà thờ có thể xa đời sống cầu nguyện; một người giữ nhiều sinh hoạt đạo có thể xa tinh thần phục vụ; một người thuộc nhiều lời kinh có thể chưa biết nói một lời tử tế với người trong nhà. Trong khi đó, một người chưa có nhiều hiểu biết tôn giáo có thể đang chân thành tìm kiếm sự thật, cố gắng sống ngay thẳng và sẵn sàng học hỏi. Điều này mời chúng ta khiêm tốn. Không ai có thể biến sự gần gũi với những thực hành tôn giáo thành lý do để coi nhẹ hành trình của người khác. Điều được trao cho ta càng nhiều, trách nhiệm đáp lại càng cần được sống nghiêm túc. Ta được nghe Lời Chúa thường xuyên để trái tim được uốn nắn thường xuyên. Ta được tham dự phụng vụ để đời sống được đưa vào sự hiệp thông sâu hơn. Ta được lãnh nhận ân sủng để biết yêu thương bằng một tình yêu bền bỉ hơn. Những ân huệ ấy thật quý giá, nhưng ta phải để chúng đi vào chính nơi mình đang sống, đang làm việc, đang chịu đựng và đang quyết định.
Đôi khi người ta lầm tưởng rằng sống đức tin lâu năm thì tự nhiên sẽ có một tâm hồn trưởng thành. Nhưng thời gian chỉ trở thành kinh nghiệm thiêng liêng khi được sống bằng sự tỉnh thức. Nếu không, nhiều năm có thể chỉ là sự lặp lại của cùng một cách sống. Người đã có tuổi vẫn có thể chưa biết nhận lỗi. Người đã giữ đạo lâu vẫn có thể chưa biết tôn trọng lương tâm người khác. Người đã phục vụ nhiều vẫn có thể không chịu nổi khi công việc của mình không được nhắc tên. Người thường xuyên nói về hy sinh vẫn có thể đòi cả gia đình phải xoay quanh ý muốn của mình. Vì thế, đức tin cần được xem xét bằng những câu hỏi rất đời thường. Những người sống gần ta có thấy dễ thở hơn vì ta cầu nguyện không? Những người yếu thế có được đối xử công bằng hơn vì ta dự lễ không? Những cuộc bất hòa có bớt cay đắng hơn vì ta suy niệm không? Những quyết định liên quan đến tiền bạc có minh bạch hơn vì ta muốn sống theo Chúa không? Nếu đời sống tôn giáo chưa tạo được một chuyển động trong cách yêu thương, ta cần xin ơn mở lại cánh cửa giữa bàn thờ và cuộc sống. Cánh cửa ấy có thể đã bị đóng bằng thói quen, bằng sự tự mãn, bằng nỗi sợ phải thay đổi, hoặc bằng một cách hiểu đạo chỉ chú trọng những gì có thể đếm được.
Gia đình là nơi lời mời gọi hoán cải trở nên rất cụ thể. Trong gia đình, chúng ta ít có thể sống mãi bằng hình ảnh đẹp mà mình tạo trước đám đông. Người thân biết giọng nói của ta khi mệt, biết cách ta cư xử khi bị trái ý, biết sự im lặng của ta là bình an hay trừng phạt, biết lời quan tâm của ta có đi cùng thời gian và trách nhiệm hay không. Có người ngoài xã hội rất lịch thiệp nhưng về nhà lại xem sự dịu dàng là điều không cần thiết. Có người sẵn lòng giúp người xa nhưng luôn cáu gắt với người gần. Có người dành nhiều công sức cho những việc được nhìn thấy mà quên rằng một người vợ đang cần được chia sẻ, một người chồng đang cần được lắng nghe, một đứa trẻ đang cần được ôm lấy, một người cha già đang cần có ai ngồi cạnh. Ta có thể chờ một dấu lạ cho gia đình bình an, nhưng sự bình an ấy đang cần chính ta ngừng một câu nói làm nhục, dành lại một bữa cơm chung, trả chiếc điện thoại xuống, hỏi một câu bằng giọng chân thành. Không phải mọi đổ vỡ đều được hàn gắn dễ dàng. Không phải chỉ một người cố gắng thì mọi quan hệ sẽ lập tức tốt đẹp. Nhưng điều đó không làm mất giá trị của một khởi đầu đúng. Một mái nhà có thể được mở lại từ một người chịu thôi áp đặt, chịu học cách đối thoại, chịu tìm sự hỗ trợ cần thiết và chịu sống điều mình đã hứa.
Đặc biệt, cha mẹ cần nhận ra rằng đức tin của con cái được nuôi dưỡng cả bằng những gì chúng nhìn thấy mỗi ngày. Trẻ có thể nghe nói về lòng thương xót, nhưng sẽ khó hiểu lòng thương xót nếu mọi sai sót của chúng đều bị đáp lại bằng sự sỉ nhục. Trẻ có thể được dạy cầu nguyện, nhưng sẽ khó tin vào vẻ đẹp của cầu nguyện nếu sau giờ kinh người lớn tiếp tục cãi nhau bằng những lời độc địa. Trẻ có thể được nhắc phải trung thực, nhưng sẽ bối rối nếu thấy người lớn xem gian dối là khôn ngoan. Điều này không có nghĩa cha mẹ phải hoàn hảo. Một đứa trẻ không cần lớn lên trong gia đình không bao giờ có lỗi lầm. Nó cần lớn lên trong gia đình biết đối diện với lỗi lầm bằng sự thật và tình yêu. Khi cha mẹ biết xin lỗi con, đứa trẻ học được rằng phẩm giá không bị mất đi vì sự khiêm tốn. Khi cha mẹ biết sửa lời nói của mình, đứa trẻ học được rằng yêu thương đòi nỗ lực. Khi cha mẹ biết cầu nguyện rồi thực sự thay đổi một thói quen, đứa trẻ thấy đức tin có sức chạm vào cuộc sống. Có thể dấu chỉ mà con cái cần nhất không phải là một câu chuyện phi thường, mà là chứng kiến người cha bớt nóng nảy, người mẹ bớt cay đắng, cả nhà bớt làm tổn thương nhau và biết cùng nhau bắt đầu lại.
Trong đời sống cộng đoàn, lời cảnh tỉnh của Tin Mừng cũng mời chúng ta xem lại những tiêu chuẩn mình dùng để đánh giá sự phát triển. Một cộng đoàn đông người là điều đáng quý. Một ngôi thánh đường đẹp là thành quả của biết bao hy sinh. Những sinh hoạt được chuẩn bị chu đáo có thể giúp nhiều người gặp gỡ và cầu nguyện. Nhưng cùng với những điều ấy, cộng đoàn cần tự hỏi người nghèo có được nhìn thấy không, người mới đến có được đón nhận không, người từng thất bại có được nâng đỡ không, người có ý kiến khác có được lắng nghe không. Có thể chúng ta rất thành công trong việc tổ chức nhưng còn vụng về trong việc đồng hành. Có thể chúng ta biết tạo một chương trình gây xúc động nhưng chưa biết dành thời gian cho một gia đình đang rạn nứt. Có thể chúng ta nhớ những người đóng góp nhiều nhưng quên người âm thầm cần một túi gạo, một chuyến xe, một lời hướng dẫn. Một cộng đoàn được biến đổi sẽ có những chuyển động rất thật: bớt tranh giành, bớt phe nhóm, bớt nói xấu, bớt đặt gánh nặng lên những người vốn đã kiệt sức. Người phục vụ không chỉ hỏi việc này sẽ được thực hiện ra sao, mà còn hỏi ai đang bị bỏ lại trong quá trình thực hiện. Chính sự quan tâm ấy làm cho những công việc chung mang được hơi ấm của Tin Mừng.
Ngày nay, việc chạy theo điều gây sửng sốt còn được thúc đẩy bởi nhịp sống trên các phương tiện truyền thông. Những nội dung càng lạ càng dễ được chú ý. Một câu chuyện được trình bày đầy kịch tính có thể được chia sẻ rất nhanh, trong khi những lời mời gọi kiên nhẫn, trung thực, tiết độ và trách nhiệm lại dễ bị lướt qua. Trong đời sống tôn giáo, chúng ta cũng có thể bị cuốn vào thói quen ấy. Ta tìm điều mới để kích thích cảm xúc, rồi chỉ ít lâu sau lại cần một điều mới hơn. Tâm hồn được nuôi bằng sự tò mò có thể trở nên bồn chồn, khó ở lại trong thinh lặng và khó kiên trì với việc tốt nhỏ bé. Vì thế, cần học cách đón nhận thông tin bằng sự thận trọng, không vội xem mọi lời kể là sự thật và không biến sự sốt sắng thành lý do bỏ qua việc phân định. Một nội dung khiến ta xúc động chưa chắc đã giúp ta sống trưởng thành hơn. Một câu chuyện khiến ta sợ hãi chưa chắc đã đưa ta đến gần Chúa hơn. Cần nhìn xem điều ấy có dẫn ta đến sự thật, lòng bác ái, sự khiêm tốn và đời sống có trách nhiệm hay không. Có những ngày, việc thiêng liêng nhất ta có thể làm trên mạng là ngừng phát tán một điều chưa được kiểm chứng, không tham gia một cuộc chế giễu và dành thời gian ấy cho người đang sống bên cạnh mình.
Nhưng có lẽ điều sâu nhất mà Tin Mừng hôm nay đánh thức là khả năng nhận ra Đức Giê-su đang hiện diện. Người có thể đã ở rất gần mà ta vẫn sống như phải đi thật xa mới tìm được Người. Ta chờ một dấu chỉ trên trời trong khi một người đau khổ đang cần được giúp ngay trước cửa. Ta chờ một cảm xúc mạnh trong khi một bổn phận đã rõ đang chờ được thực hiện. Ta chờ một câu trả lời đặc biệt trong khi lương tâm từ lâu đã nhắc mình phải dừng lại. Ta chờ một ngày bình an trong khi đang tiếp tục gieo bất an bằng lời nói. Sự hiện diện của Chúa không phải lúc nào cũng đi cùng cảm giác dễ chịu. Có khi Người đến trong một lời sửa dạy khiến ta khó chịu vì nó chạm vào điều ta đang che giấu. Có khi Người đến trong một giới hạn buộc ta phải thôi sống như mình có thể kiểm soát tất cả. Có khi Người đến trong nhu cầu của một người mà ta đã nhiều lần cố tránh. Có khi Người đến trong một khoảnh khắc rất yên, khi ta bỗng nhận ra rằng nếu tiếp tục cách sống này, những người mình yêu sẽ còn đau. Điều cần thiết lúc ấy là đừng lập tức phủ kín sự nhận ra bằng tiếng ồn. Hãy ở lại đủ lâu để nghe, đủ thật để nhìn và đủ khiêm tốn để đáp lại.
Thinh lặng vì thế có một vai trò rất lớn trong đời sống hoán cải. Nhiều người không hẳn thiếu những lời nhắc nhở; họ thiếu khoảng trống để lời nhắc nhở được đi vào lòng. Ngày sống bị lấp đầy bởi công việc, tin tức, màn hình, lo toan và những phản ứng liên tiếp. Ta không có thời gian nhận ra mình đang trở thành người như thế nào. Ta chỉ biết mình đang bận, đang mệt, đang cần hoàn thành một việc nữa. Trong nhịp sống ấy, điều sai có thể trở thành thói quen mà không được gọi tên. Sự thiếu kiên nhẫn trở thành tính cách, sự khinh miệt trở thành cách nói, sự vô tâm trở thành điều đương nhiên. Dành ít phút mỗi ngày để đứng trước Chúa trong sự thật có thể giúp ta dừng quá trình ấy. Không cần tạo một hình ảnh đẹp về bản thân. Cũng không cần biến việc xét mình thành một cuộc kết án không có lối ra. Chỉ cần thành thật nhìn ngày sống: hôm nay tôi đã yêu thương ở đâu, đã làm ai buồn, đã né tránh trách nhiệm nào, đã nhận được điều tốt nào mà chưa biết cảm ơn? Rồi chọn một bước nhỏ cho ngày mai. Một việc cụ thể, vừa sức, có thể thực hiện. Chính sự bền bỉ của những bước ấy giúp lời cầu nguyện thấm vào đời sống.
Cũng cần nói đến những người đang đau khổ, vì họ dễ nghĩ rằng nếu Chúa yêu thương thì lẽ ra Người phải ban một dấu chỉ rõ ràng để xóa đi sự bất an. Khi bệnh tật kéo dài, khi gia đình gặp biến cố, khi người thân qua đời, khi công việc đổ vỡ, một lời nói quá dễ dàng về đức tin có thể làm họ đau thêm. Không ai nên dùng đoạn Tin Mừng này để trách người đang khổ rằng họ chưa tin đủ nên chưa được cứu giúp. Có những lời cầu nguyện được thốt lên giữa nước mắt chỉ có thể được đón nhận bằng sự tôn trọng. Có những đêm người ta không còn lời nào ngoài một tiếng thở dài. Chúa không xa lạ với sự yếu đuối ấy. Tin Mừng mời ta đừng khép lòng trong việc đòi hỏi, nhưng cũng cho phép ta đem toàn bộ nỗi đau đến với Người. Người đang khổ không nhất thiết phải hiểu ngay ý nghĩa của điều mình chịu. Họ cần được nâng đỡ, được chăm sóc, được giúp tiếp cận những nguồn hỗ trợ thích hợp, được có người ở bên mà không vội phán xét. Và trong khi chưa thấy hoàn cảnh thay đổi, họ vẫn có thể nương tựa vào Chúa từng ngày, từng giờ. Một bàn tay nâng người bệnh ngồi dậy, một người bạn kiên trì thăm hỏi, một cộng đoàn không bỏ quên gia đình gặp nạn có thể giúp người đau khổ cảm nhận rằng họ đang được yêu thương ngay giữa điều chưa thể giải thích.
Đối với người đang mang mặc cảm vì quá khứ, lời mời gọi sám hối cần được nghe như một cánh cửa mở. Có người đã sai nhiều nên nghĩ mình không còn tư cách trở lại. Có người đã hứa rồi thất bại nên sợ lời hứa tiếp theo chỉ là giả dối. Có người nhìn vào đời sống của người khác rồi thấy mình quá xa, quá muộn, quá hư hỏng. Nhưng sự hoán cải không khởi đầu bằng việc chứng minh rằng mình xứng đáng được yêu. Nó khởi đầu bằng việc đón nhận tình yêu để có sức đổi thay. Ta cần nghiêm túc với trách nhiệm, nhưng không nên biến trách nhiệm thành một bản án vĩnh viễn dành cho bản thân. Một người từng sống gian dối vẫn có thể bắt đầu sống trung thực. Một người từng bỏ bê gia đình vẫn có thể học cách hiện diện. Một người từng nghiện ngập có thể tìm sự giúp đỡ và kiên trì bước trên con đường phục hồi. Một người từng gây tổn thương có thể nhận trách nhiệm, sửa chữa điều có thể sửa và chấp nhận rằng niềm tin cần thời gian để được xây lại. Không phải mọi hậu quả đều biến mất khi ta sám hối, nhưng một tương lai mới có thể bắt đầu ngay trong việc đối diện với hậu quả ấy bằng thái độ khác. Điều quan trọng là đừng dùng sự xấu hổ để tiếp tục trốn tránh và đừng dùng lòng thương xót để coi nhẹ việc thay đổi.
Lời cảnh tỉnh về sự phán xét trong Tin Mừng cũng giúp chúng ta hiểu rằng những gì được trao cho ta cần được đón nhận bằng trách nhiệm. Ta không thể sống mãi như thể lời mời gọi của Chúa không có liên quan đến lựa chọn của mình. Những lần khước từ điều thiện để giữ sự tiện lợi đều để lại dấu vết trong tâm hồn. Những lần làm ngơ trước nỗi đau của người khác đều góp phần định hình con người ta. Nhưng suy nghĩ về sự phán xét không phải để chúng ta chìm trong hoảng sợ. Nó giúp ta thức tỉnh trước giá trị của hiện tại. Hôm nay có một lời xin lỗi còn có thể nói. Hôm nay có một người còn có thể được thăm. Hôm nay có một sự bất công còn có thể ngừng lại. Hôm nay có một đứa trẻ còn có thể được bảo vệ. Hôm nay có một thói quen còn có thể được đưa ra ánh sáng để tìm sự giúp đỡ. Ta thường sống như còn rất nhiều thời gian, rồi bất ngờ nhận ra có những cánh cửa không còn mở theo cách mình mong muốn. Vì thế, hãy nghiêm túc với điều thiện đang nằm trong khả năng của mình. Đừng đợi tâm trạng hoàn hảo mới bắt đầu. Đừng đợi mọi người đồng ý mới làm điều đúng. Đừng đợi một biến cố lớn mới nhìn nhận rằng đời sống của người khác đang bị ảnh hưởng bởi cách mình sống.
Một thái độ giúp con người bớt chạy theo dấu lạ là lòng biết ơn. Người biết ơn có thể nhận ra những điều quý giá đang có mặt mà trước đây mình xem là đương nhiên. Một người còn kiên nhẫn với ta sau nhiều lần bị làm buồn là một ân huệ đáng được trân trọng. Một cơ hội làm việc lương thiện là điều đáng gìn giữ. Một lời góp ý chân thành là điều đáng suy nghĩ. Một ngày có thể bắt đầu lại là điều đáng cảm tạ. Lòng biết ơn không khiến ta phủ nhận khó khăn, cũng không buộc ta phải hài lòng với điều bất công. Nó giúp ta không để toàn bộ tầm nhìn bị nuốt chửng bởi điều còn thiếu. Khi chỉ nhìn điều thiếu, ta dễ biến mọi lời cầu nguyện thành đòi hỏi và mọi người chung quanh thành những người chưa đáp ứng đủ nhu cầu của mình. Khi biết nhận ra điều đã được trao, ta có thể cầu xin trong tín thác hơn và đối xử với người khác bằng sự dịu dàng hơn. Một người biết ơn sẽ ít dễ dàng làm tổn thương những gì mình có. Họ hiểu rằng tình thân cần được chăm sóc, niềm tin cần được bảo vệ, sức khỏe cần được gìn giữ, thời gian cần được sử dụng có trách nhiệm. Có khi điều Chúa muốn biến đổi nơi ta trước tiên là đôi mắt, để từ đó đôi tay và bước chân biết đi theo hướng khác.
Rồi đức tin sẽ lớn lên bằng sự kiên trì trong những việc rất bình thường. Không phải ngày nào ta cũng cảm thấy sốt sắng. Không phải lời cầu nguyện nào cũng đem lại sự an ủi rõ rệt. Không phải việc tốt nào cũng được cảm ơn. Có lúc ta phục vụ mà mệt mỏi, cố gắng mà bị hiểu lầm, làm điều đúng mà chịu thiệt. Nếu chỉ sống dựa vào những cảm xúc mạnh, ta sẽ dễ dừng lại khi cảm xúc không còn. Nhưng một tình yêu trưởng thành biết ở lại với điều tốt vì điều ấy đáng được làm. Người cha tiếp tục chăm sóc con dù đêm qua ngủ rất ít. Người mẹ tiếp tục nói lời dịu dàng dù trong lòng đang lo lắng. Người làm việc tiếp tục trung thực dù gian dối có vẻ đem lại lợi ích nhanh hơn. Người phục vụ tiếp tục lắng nghe dù câu chuyện của người kia dài và khó giải quyết. Những lựa chọn ấy có thể không gây chú ý, nhưng chúng làm cho đức tin trở thành một sức sống bền bỉ. Chúa không chỉ được tìm thấy trong những giờ phút đặc biệt. Người được đón nhận cả khi ta chọn giữ lời hứa, hoàn thành bổn phận, nhường lại một quyền lợi không cần thiết và làm một việc tốt mà không đòi ai biết đến. Một đời sống như thế có chiều sâu vì được xây bằng những quyết định thật.
Vì vậy, câu hỏi cần mang theo sau khi nghe Tin Mừng hôm nay không chỉ là tôi có tin vào những dấu chỉ của Chúa hay không. Câu hỏi còn là tôi đang đòi thêm điều gì để khỏi phải thực hiện điều đã rõ? Tôi đang chờ điều kiện nào trước khi chịu tha thứ, trước khi nhận lỗi, trước khi sống ngay thẳng, trước khi chăm sóc người thân? Có thể ta đang chờ người khác thay đổi trước. Có thể ta đang chờ công việc bớt bận. Có thể ta đang chờ tâm trạng ổn định. Có thể ta đang chờ một lời bảo đảm rằng cố gắng của mình sẽ không bị phí bỏ. Nhưng nhiều điều thiện chỉ có thể thành hình khi có người chịu khởi đầu. Sự hòa giải cần một người thôi nuôi thêm thù hận. Cuộc đối thoại cần một người chịu lắng nghe. Một môi trường công bằng cần có người không tham gia điều sai. Một gia đình ấm áp cần có người biết dành thời gian. Ta không phải gánh trách nhiệm của tất cả mọi người, nhưng phải nhận phần trách nhiệm thuộc về mình. Chúa đang mời ta bước đi ở chính phần ấy. Một bước chân khiêm tốn hôm nay có thể đem lại nhiều sự sống hơn những dự tính lớn lao được trì hoãn mãi. Một lời xin lỗi thật có thể chữa lành nhiều hơn hàng giờ giải thích vì sao mình đã làm như vậy. Một hành động bác ái cụ thể có thể đưa người khác đến gần niềm hy vọng hơn nhiều lời nói đẹp.
Lạy Chúa Giê-su, xin giúp chúng con nhận ra Người đang đến gần trong ngày sống của chúng con. Xin đừng để chúng con quá bận tìm điều phi thường mà bỏ quên điều thiện đang chờ được thực hiện. Xin cho chúng con đủ khiêm tốn để lắng nghe lời sửa dạy, đủ chân thật để nhìn nhận lỗi lầm và đủ can đảm để thay đổi một điều cụ thể. Có những thói quen chúng con đã mang quá lâu nên tưởng không thể từ bỏ; xin nâng đỡ chúng con trên con đường sửa đổi. Có những vết thương khiến chúng con sợ mở lòng; xin cho chúng con được chữa lành và biết tìm sự giúp đỡ. Có những trách nhiệm chúng con đã né tránh; xin giúp chúng con trở lại với sự trung thực. Có những người thân đã mỏi mệt vì chờ chúng con dịu dàng hơn; xin đừng để họ tiếp tục phải chờ một lời hứa không đi vào đời sống. Khi chúng con cầu xin trong đau khổ, xin giữ chúng con trong tình yêu của Chúa. Khi chúng con chưa hiểu, xin cho chúng con vẫn biết sống điều tốt. Khi chúng con sa ngã, xin giúp chúng con đứng dậy bằng lòng sám hối thật. Khi chúng con tự mãn, xin đánh thức chúng con bằng sự thật đầy thương xót. Xin cho mỗi ngày chúng con được gần Chúa hơn bằng cách yêu thương người khác tốt hơn. Và xin cho ngay hôm nay, trong một lời nói, một quyết định, một việc làm nhỏ bé, chúng con biết đáp lại tình yêu đã đến với mình, để không còn trì hoãn sự hoán cải và không còn bỏ lỡ những người đang cần được chúng con yêu thương. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
ĐỪNG ĐỢI THÊM MỘT DẤU LẠ MỚI BẮT ĐẦU YÊU THƯƠNG
Có những người dành gần cả cuộc đời để chờ một điều đặc biệt xảy ra rồi mới quyết định sống khác đi. Họ chờ một biến cố đủ mạnh để bắt đầu cầu nguyện, chờ một phép lạ đủ rõ để tin tưởng, chờ một tiếng gọi đủ lớn để trở về, chờ một sự bảo đảm đủ chắc để dám trao phó cuộc đời cho Thiên Chúa. Trong khi đó, ngày này qua ngày khác, sự sống vẫn được ban tặng, những người thân vẫn âm thầm ở bên, một bàn tay vẫn đưa ra khi họ yếu đuối, một lời nhắc nhở vẫn đến đúng lúc khi họ có nguy cơ lạc đường, một cơ hội làm lại vẫn mở ra sau những lần thất bại. Nhưng vì những điều ấy quá gần, quá quen, quá bình thường, họ không nhận ra. Con người có thể nhìn rất xa mà không thấy người đang ngồi trước mặt mình, có thể tìm hiểu những chuyện rất lớn mà không hiểu nỗi buồn của người cùng sống dưới một mái nhà, có thể mong thấy dấu chỉ từ trời mà bỏ qua những lời mời gọi đã được đặt ngay trong lương tâm. Tin Mừng Thứ Hai tuần XXVIII Thường Niên đánh thức chúng ta ở chính điểm ấy: Thiên Chúa đã đến gần, nhưng lòng người vẫn có thể ở rất xa; lời cứu độ đã được trao ban, nhưng chúng ta vẫn có thể trì hoãn việc đón nhận bằng cách đòi thêm điều kiện. Và có lẽ câu hỏi cần đặt ra hôm nay không chỉ là Chúa có ban cho tôi một dấu lạ hay không, mà còn là nếu Chúa đã ban đủ ánh sáng để tôi biết điều phải làm, tại sao tôi vẫn chưa chịu bước đi?
Đòi dấu lạ đôi khi là biểu hiện của một tâm hồn đang đau khổ và muốn được nâng đỡ. Một người mẹ bên giường bệnh của con, một người cha trước nguy cơ gia đình tan vỡ, một người trẻ bị dồn vào ngõ cụt, một người bệnh nghe tin sức khỏe của mình không còn nhiều hy vọng, tất cả đều có thể tha thiết xin Chúa một sự can thiệp. Những lời cầu xin như thế không đáng bị coi thường. Chúa hiểu nước mắt của con người, hiểu sự mong manh của chúng ta, hiểu nỗi sợ khiến chúng ta không biết bám vào đâu. Nhưng có một cách đòi dấu lạ khác phát xuất từ sự khép kín: người ta không thật sự muốn tìm kiếm chân lý, chỉ muốn Thiên Chúa đáp ứng điều kiện do mình đặt ra; không muốn thay đổi cuộc sống, chỉ muốn được xác nhận rằng mình có thể tiếp tục sống như cũ; không muốn bước vào tương quan tín thác, chỉ muốn nắm giữ bằng chứng để khỏi phải trao phó. Khi ấy, điều tưởng như là một yêu cầu của đức tin lại có thể trở thành phương tiện trì hoãn đức tin. Chúng ta đặt Chúa trước một cuộc kiểm tra, nhưng lại không cho phép chính mình được soi xét. Chúng ta muốn Chúa chứng minh quyền năng, nhưng không muốn nhìn nhận sự bất lực của mình trước thói quen ích kỷ. Chúng ta muốn một sự kiện làm rung chuyển bầu trời, nhưng lại không muốn một lời chân thật làm rung chuyển cái tôi. Có những người sẽ tiếp tục xin thêm dấu chỉ, dù đã chứng kiến bao nhiêu điều tốt đẹp, bởi điều họ thiếu không phải là ánh sáng, mà là sự sẵn lòng mở mắt.
Một người có thể đọc nhiều sách đạo, tham dự nhiều buổi hành hương, nghe nhiều bài giảng, đi qua nhiều nơi thánh, nhưng vẫn chưa chịu nói một lời xin lỗi với người mình đã làm tổn thương. Một người có thể kể rất nhiều chuyện về những ơn lạ, nhưng vẫn không trả lại số tiền mình đã giữ cách bất công. Một người có thể xúc động trước một câu chuyện chữa lành, nhưng lại lạnh lùng trước người thân đang cần được lắng nghe. Những nghịch lý ấy cho thấy đời sống thiêng liêng không thể được đo chỉ bằng mức độ xúc động. Có những giây phút chúng ta khóc rất nhiều trong cầu nguyện, nhưng sau đó vẫn làm người khác khóc bằng cách cư xử của mình. Có những lúc chúng ta nói về lòng thương xót rất hay, nhưng khi gặp một người có quá khứ không tốt, chúng ta lập tức đóng cửa. Có những lần chúng ta tha thiết xin Chúa đổi mới thế giới, nhưng lại bảo vệ đến cùng một nếp sống đang làm căn nhà mình trở nên ngột ngạt. Tin Mừng không nhằm làm chúng ta xấu hổ để rồi chán nản, nhưng giúp chúng ta nhìn rõ khoảng cách giữa điều mình tuyên xưng và điều mình thực sự sống. Nếu đã nhận ra khoảng cách ấy, chúng ta không cần chờ thêm một biến cố khác mới bắt đầu thu hẹp nó. Một lời xin lỗi có thể được nói ngay hôm nay. Một món nợ có thể được nhìn nhận ngay hôm nay. Một cuộc trò chuyện bị trì hoãn có thể được bắt đầu ngay hôm nay. Một sự bất công có thể được chấm dứt ngay hôm nay. Đôi khi, dấu chỉ rõ nhất cho thấy chúng ta đã gặp Chúa chính là một người khác bắt đầu được đối xử tử tế hơn sau cuộc gặp gỡ ấy.
Trong lời mời gọi sám hối, điều khó khăn nhất thường không phải là nhận biết điều tốt, mà là chấp nhận mình cần thay đổi. Ai cũng dễ thấy khuyết điểm của người khác. Người chồng biết rất rõ vợ mình cần sửa điều gì; người vợ có thể kể đầy đủ những điều chồng mình còn thiếu; cha mẹ nhận ra sai lầm của con cái; con cái nhìn thấy những bất nhất của cha mẹ; giáo dân thấy những giới hạn của người phục vụ; người phục vụ thấy những thiếu sót của cộng đoàn. Nhưng khi ánh sáng quay về phía mình, chúng ta thường tìm cách tránh né. Ta gọi sự nóng nảy của mình là thẳng tính, gọi sự cố chấp là kiên định, gọi thái độ coi thường người khác là bảo vệ sự thật, gọi sự thiếu quan tâm là bận rộn, gọi việc không chịu tha thứ là giữ nguyên tắc. Con người có một khả năng rất tinh vi: biến điều cần sám hối thành điều đáng tự hào. Vì thế, hoán cải bắt đầu bằng việc ngừng trang điểm cho những bóng tối của mình. Tôi đã làm người khác đau, dù tôi có nhiều lý do. Tôi đã thiếu công bằng, dù tôi cảm thấy mình bị thiệt thòi. Tôi đã nói quá lời, dù người kia cũng có lỗi. Tôi đã bỏ bê bổn phận, dù cuộc sống của tôi thực sự khó khăn. Sự thành thật ấy không khiến chúng ta mất phẩm giá; trái lại, nó đưa chúng ta trở về với phẩm giá của một người có khả năng nhận trách nhiệm và làm lại. Chỉ khi thôi dùng mọi sức lực để chứng minh mình vô tội, chúng ta mới có thể dùng sức lực ấy để chữa lành điều mình đã làm tổn thương.
Hình ảnh dân thành Ni-ni-vê trong Tin Mừng đặt trước chúng ta một điều đáng suy nghĩ: người ở xa vẫn có thể trở về, trong khi người tưởng mình đã ở gần lại có thể đứng yên. Sự gần gũi về hình thức không tự động bảo đảm sự gần gũi của tâm hồn. Một người sinh ra trong gia đình Công giáo, được học giáo lý từ nhỏ, quen thuộc với kinh nguyện và những sinh hoạt giáo xứ, vẫn có thể sống như thể Chúa không có quyền chạm vào những quyết định thực tế của mình. Ngược lại, một người chưa biết nhiều về đức tin có thể rất nghiêm túc trước tiếng nói của lương tâm, biết hối tiếc khi làm sai, biết sửa chữa khi gây thiệt hại, biết bảo vệ người yếu thế khi chính họ cũng chịu nhiều thiếu thốn. Điều ấy không làm cho những hồng ân chúng ta đã nhận trở nên vô nghĩa; nó nhắc rằng hồng ân luôn đi cùng một lời mời gọi đáp trả. Được nghe Lời Chúa nhiều lần là một đặc ân, nhưng đặc ân ấy cũng khiến chúng ta phải tự hỏi mình đã để Lời Chúa thay đổi điều gì. Nếu mỗi năm đều nghe về tha thứ mà mỗi năm lòng vẫn chất thêm những oán hờn, chúng ta cần dừng lại. Nếu thường xuyên nghe về bác ái mà vẫn không để ý tới ai ngoài lợi ích của mình, chúng ta cần xét lại. Nếu đã nhiều lần được nhắc phải sống chân thật mà vẫn coi gian dối là điều không thể tránh trong làm ăn, chúng ta cần nhận ra sự nguy hiểm của việc quen nghe mà không còn chịu nghe. Có một sự chai lì không đến từ việc thiếu tôn giáo, nhưng từ việc tiếp xúc với điều thánh quá lâu mà không còn để điều thánh chất vấn mình.
Dẫu vậy, lời mời gọi hoán cải không phải là lời tuyên bố rằng con người chỉ có thể đến với Chúa sau khi đã trở nên hoàn hảo. Nếu phải chờ hoàn hảo mới trở về, không ai trong chúng ta có thể bắt đầu. Chúa đón người tội lỗi để làm cho họ được đổi mới. Người biết chúng ta có những vết thương lâu năm, những thói quen đã ăn sâu, những nỗi sợ khiến việc thay đổi trở nên khó khăn, những ký ức làm chúng ta phản ứng mạnh hơn mức cần thiết. Có người nóng giận vì chưa bao giờ được học cách diễn tả nỗi buồn; có người kiểm soát người khác vì rất sợ bị bỏ rơi; có người bám vào tiền bạc vì từng trải qua những năm tháng thiếu thốn; có người không dám tin ai vì đã nhiều lần bị phản bội. Hiểu những điều ấy giúp chúng ta bớt kết án, nhưng không có nghĩa là từ bỏ trách nhiệm. Một vết thương có thể giải thích cách tôi cư xử, nhưng không cho phép tôi tiếp tục gây thương tích cho người khác. Một tuổi thơ khó khăn có thể khiến tôi cần được nâng đỡ nhiều hơn, nhưng không biến mọi hành động của tôi thành đúng. Hoán cải vì thế vừa là trở về với Chúa, vừa là học cách sống trưởng thành hơn: biết nhận diện điều đang diễn ra trong lòng, biết xin giúp đỡ, biết dừng lại trước khi làm hại người khác, biết để ân sủng thấm vào những phần đời mình từng che giấu. Chúa không chỉ muốn chúng ta thay một vài hành vi bên ngoài; Người muốn chữa lành tận nơi những hành vi ấy phát sinh.
Một trong những trở ngại lớn của việc trở về là chúng ta thường tưởng mình còn rất nhiều thời gian. Ta nghĩ một ngày nào đó sẽ sống nghiêm túc hơn, khi công việc bớt áp lực, khi con cái lớn lên, khi kinh tế ổn định, khi hết những chuyện phiền lòng, khi tuổi tác khiến mình không còn ham muốn nhiều như trước. Nhưng cuộc sống không tự nhiên trở nên thuận lợi để chúng ta làm điều tốt. Mỗi giai đoạn đều có những khó khăn riêng. Người trẻ bận học và xây dựng tương lai; người trung niên bận gia đình và công việc; người cao tuổi bận bệnh tật và những lo âu khác. Nếu cứ đợi hoàn cảnh không còn gây trở ngại, có thể chúng ta sẽ đợi đến cuối đời. Điều đáng buồn là nhiều người không cố ý từ chối Chúa; họ chỉ liên tục hẹn Chúa vào một ngày khác. Họ không nói mình sẽ không tha thứ; họ chỉ nói chưa phải lúc. Họ không nói mình sẽ không cầu nguyện; họ chỉ nói hôm nay quá mệt. Họ không nói mình sẽ không thay đổi; họ chỉ nói cần thêm thời gian. Và những ngày được trì hoãn ấy nối lại thành một đời người. Trong khi đó, tình yêu thường cần được thực hiện vào lúc rất cụ thể. Người mẹ đang già cần sự hiện diện của con hôm nay. Người chồng đang kiệt sức cần được hiểu hôm nay. Đứa trẻ đang bị tổn thương cần được bảo vệ hôm nay. Người bị oan cần có ai lên tiếng hôm nay. Có những điều nếu để đến ngày mai vẫn còn có thể làm, nhưng cũng có những điều đến ngày mai sẽ chỉ còn là một nỗi tiếc nuối.
Lời nhắc đến nữ hoàng Phương Nam mở ra một chiều kích khác của đức tin: sự khao khát tìm kiếm điều khôn ngoan. Một tâm hồn biết mình chưa hiểu hết sẽ có khả năng lên đường. Một tâm hồn tin rằng mình đã biết đủ sẽ dễ dàng đóng cửa. Trong đời sống gia đình, cộng đoàn và xã hội, biết bao căng thẳng bắt đầu từ việc không ai còn muốn học nơi ai. Người lớn nghĩ mình có tuổi nên luôn đúng; người trẻ nghĩ mình biết công nghệ nên không cần nghe người đi trước; người có học vị nghĩ người ít học không có gì để đóng góp; người có kinh nghiệm nghĩ những câu hỏi mới chỉ gây phiền phức. Nhưng sự khôn ngoan không bị giam trong tuổi tác, bằng cấp hay chức vụ. Có những điều một em nhỏ giúp người lớn nhận ra bằng sự chân thành. Có những điều một người lao động nghèo hiểu rõ hơn người chỉ nhìn đời qua những con số. Có những điều một người bệnh dạy chúng ta về sự kiên nhẫn mà những năm khỏe mạnh chưa từng dạy được. Có những điều một người từng vấp ngã hiểu về lòng thương xót sâu hơn người chưa bao giờ chịu nhìn vào giới hạn của mình. Đi tìm sự khôn ngoan là chấp nhận rằng Chúa có thể dạy tôi qua những người tôi ít nghĩ tới. Muốn nghe được, tôi phải bớt vội trả lời, bớt nhu cầu chứng tỏ, bớt thái độ xem thường. Một người thực sự trưởng thành không sợ mình phải học thêm; họ chỉ sợ sống quá lâu mà lòng không còn mở ra trước điều tốt đẹp.
Ngày nay, chúng ta có thể tiếp cận rất nhiều thông tin trong một thời gian ngắn, nhưng thông tin không tự động trở thành sự khôn ngoan. Ta biết chuyện xảy ra ở nơi rất xa, nhưng không biết con mình đang lo điều gì. Ta có thể đọc hàng trăm bình luận về một biến cố, nhưng không dành nổi vài phút để nghe người thân nói hết một câu. Ta có thể thuộc những quan điểm đang được tranh luận, nhưng không biết cách giải quyết một mâu thuẫn nhỏ trong nhà mà không làm nhau tổn thương. Một màn hình luôn sáng có thể khiến nội tâm ngày càng tối nếu chúng ta dùng nó để tránh gặp chính mình. Một dòng tin liên tục có thể khiến tâm hồn không còn đủ yên tĩnh để phân biệt đâu là điều đáng quan tâm, đâu chỉ là điều kích thích sự tò mò. Đời sống đức tin cần những khoảng dừng. Chúng ta cần có lúc không tiếp nhận thêm gì để những điều đã nghe có thể lắng xuống. Cần có lúc không tranh luận để nhận ra mình đang giận vì sự thật bị xúc phạm hay vì cái tôi bị chạm tới. Cần có lúc đặt điện thoại xuống để nhìn khuôn mặt người đang nói với mình. Cần có lúc để một lời Tin Mừng ở lại trong lòng lâu hơn một tiêu đề vừa lướt qua. Nếu không học cách dừng lại, chúng ta sẽ dễ đòi thêm những dấu chỉ mới trong khi chưa từng chú tâm tới những dấu chỉ đã có. Sự thiếu chú ý làm đời sống trở nên nghèo nàn ngay giữa lúc có quá nhiều điều được trao tặng.
Có những người nghĩ rằng nếu Chúa thật sự hiện diện thì mọi chuyện phải diễn ra thuận lợi hơn. Gia đình phải bình an hơn, công việc phải ổn định hơn, bệnh tật phải giảm đi, người tốt phải được thành công, người cầu nguyện phải ít chịu đau khổ. Vì thế, mỗi khi gặp thử thách, họ cảm thấy như Thiên Chúa đã rời bỏ mình. Nhưng sự hiện diện của Chúa không thể được đo đơn giản bằng mức độ thuận lợi của hoàn cảnh. Một người có thể đang được nhiều điều như ý mà lại dần đánh mất lương tâm; một người khác có thể đang chịu rất nhiều giới hạn mà lòng vẫn lớn lên trong tình yêu. Điều ấy không có nghĩa đau khổ tự nó là tốt, càng không có nghĩa chúng ta phải tìm kiếm đau khổ hay cam chịu những bất công có thể ngăn chặn. Người bệnh cần được chữa trị, người bị bạo hành cần được bảo vệ, người gặp khó khăn cần được hỗ trợ, người chịu oan cần được bênh vực. Nhưng ngay khi những điều ấy chưa được giải quyết trọn vẹn, chúng ta vẫn có thể gặp Chúa trong sự kiên trì của người chăm sóc, trong một bàn tay giúp đỡ, trong lòng can đảm đi tìm sự thật, trong khả năng không để nỗi đau biến mình thành người tàn nhẫn. Đôi khi điều Chúa thực hiện trước hết không phải là cất ngay gánh nặng, nhưng là giúp chúng ta không phải mang nó một mình. Đôi khi câu trả lời đến dưới hình thức một con người chịu ở lại. Đôi khi sức mạnh được ban không làm ta hết khóc, nhưng giúp ta tiếp tục sống mà không đánh mất niềm hy vọng.
Vì thế, khi một người đang trải qua tai họa, chúng ta phải rất cẩn trọng trước ý nghĩ rằng họ bị Chúa phạt. Không ai có quyền nhìn bệnh tật, thất bại hay mất mát của người khác rồi kết luận về tương quan của họ với Thiên Chúa. Một lời giải thích vội vàng có thể làm vết thương sâu hơn. Người đang đau không cần bị đặt thêm lên vai một bản án. Họ cần sự hiện diện, sự chăm sóc, sự tôn trọng và những giúp đỡ cụ thể. Ngay trong đời sống của mình, chúng ta cũng không nên biến mọi biến cố thành một mật mã phải giải cho bằng được. Không phải lúc nào ta cũng biết tại sao chuyện ấy xảy ra. Có những câu hỏi vẫn còn đó sau nhiều năm cầu nguyện. Đức tin không bắt chúng ta phải có một lời giải thích đầy đủ trước mọi đau khổ; đức tin giúp chúng ta bám vào Chúa và tiếp tục làm điều tốt ngay giữa những điều chưa hiểu. Chúng ta có thể nói thật với Chúa rằng mình buồn, mình sợ, mình không hiểu, mình gần như không còn sức. Sự thành thật ấy không làm lời cầu nguyện kém giá trị. Khi không còn đủ sức đọc nhiều lời, một tiếng thở dài hướng về Chúa vẫn có thể là lời cầu nguyện sâu xa. Khi không thể cảm thấy bình an, việc vẫn chịu để người khác nâng đỡ mình cũng có thể là một bước tín thác. Chúa biết có những ngày lòng người chỉ có thể mở ra rất ít, và Người không khinh thường sự mở ra nhỏ bé ấy.
Trong gia đình, lời mời gọi hoán cải thường mang một hình thức rất gần gũi: thay đổi cách chúng ta đối xử với nhau khi không có người ngoài nhìn thấy. Có người ra ngoài rất lịch sự, nhưng về nhà lại để mọi bực bội trút lên người thân. Có người nhiệt tình với việc chung, nhưng không biết lần cuối mình ngồi nghe con kể chuyện là khi nào. Có người sẵn sàng giúp một người xa lạ, nhưng xem sự phục vụ của vợ hoặc chồng như điều đương nhiên. Có người chăm chỉ cầu nguyện, nhưng lời nói trong nhà luôn khiến người khác phải phòng thủ. Chúng ta có thể mong gia đình nhận được nhiều ơn lành, nhưng một phần việc đón nhận ơn lành ấy nằm trong những lựa chọn rất thực tế: bớt một câu mỉa mai, ngừng một kiểu so sánh, không đem lỗi cũ ra làm vũ khí, không dùng im lặng để trừng phạt, không dùng quyền làm cha mẹ để phủ nhận cảm xúc của con. Một mái nhà được đổi mới khi người có lỗi dám nhận lỗi, người có quyền biết tự giới hạn, người đang giận biết chờ bình tĩnh trước khi nói, người đang tổn thương được nghe mà không bị chế giễu. Có những đứa trẻ không cần nhìn thấy một phép lạ lớn để tin rằng tình yêu có thật; chúng cần thấy cha mẹ biết hòa giải. Có những người vợ không cần một món quà đắt tiền để được an ủi; họ cần sự chia sẻ đều đặn. Có những người chồng không cần được khen trước đám đông; họ cần được hiểu trong những ngày mình cảm thấy thất bại. Tình yêu trở nên đáng tin khi nó hiện diện trong những việc nhỏ được làm cách trung thành.
Hoán cải cũng đòi chúng ta xem lại cách sử dụng lời nói. Một lời có thể nâng người khác dậy, nhưng cũng có thể theo họ như một vết thương rất lâu. Chúng ta thường nhớ rõ những lời người khác làm mình đau, nhưng dễ quên những lời mình đã dùng để làm đau người khác. Có những câu nói trong lúc giận dữ đã khiến một đứa trẻ tin rằng nó vô dụng. Có những lời so sánh đã làm một người trẻ luôn cảm thấy mình không đủ tốt. Có những lời bêu xấu đã khiến một người không còn muốn bước vào cộng đoàn. Có những lời đùa tưởng như vô hại lại chạm vào điều người khác đang rất khó khăn để chấp nhận. Sống theo Tin Mừng đòi hỏi ta biết tự hỏi trước khi nói: điều này có thật không, có cần thiết không, có giúp người nghe nhận ra điều tốt không, và tôi có thể nói bằng một cách ít gây tổn thương hơn không? Không phải mọi sự thật đều cần được nói trước đám đông. Không phải mọi điều mình biết đều được phép đem ra kể. Không phải cứ tức giận là có quyền dùng những lời nặng nề. Sự thành thật cần đi cùng lòng kính trọng. Việc sửa lỗi cần có mục đích giúp người khác lớn lên, chứ không chỉ để mình được nhẹ lòng sau khi trút hết bực bội. Nếu sau một lời góp ý, người kia chỉ còn thấy mình bị khinh thường, chúng ta cần xét lại cả nội dung lẫn cách nói. Một trái tim đang hoán cải sẽ dần biết dùng ngôn ngữ để mở đường cho sự thật, thay vì dựng thêm những bức tường ngăn cản nhau.
Trong cộng đoàn đức tin, có một cám dỗ âm thầm là mong Chúa đổi mới những người khác mà ít nghĩ đến phần việc của mình. Chúng ta mong giáo xứ hiệp nhất, nhưng vẫn thích nghe và truyền đi chuyện không tốt về nhau. Chúng ta mong người trẻ đến gần Hội Thánh, nhưng không kiên nhẫn trước những câu hỏi của họ. Chúng ta mong người xa đạo trở về, nhưng khi họ xuất hiện lại nhìn họ bằng ánh mắt dò xét. Chúng ta mong có nhiều người tham gia phục vụ, nhưng lại không muốn chia sẻ trách nhiệm hoặc chấp nhận một cách làm khác với thói quen của mình. Chúng ta mong cộng đoàn đầy tình thương, nhưng vẫn phân biệt người có điều kiện với người nghèo, người quen với người mới, người đóng góp nhiều với người chỉ có thể hiện diện bằng một tấm lòng. Hoán cải của cộng đoàn bắt đầu khi từng người chịu nhận phần trách nhiệm của mình trong bầu khí chung. Một cộng đoàn dễ trở về hơn khi người yếu đuối không sợ bị bêu xấu, người mới đến không cảm thấy mình thừa, người nghèo không bị đối xử như một gánh nặng, người góp ý không lập tức bị xem là chống đối. Điều ấy không có nghĩa bỏ qua sự thật hay để mọi hành vi sai trái tiếp tục. Chính vì tôn trọng con người, cộng đoàn phải biết bảo vệ người bị hại, sửa chữa bất công và giúp người có lỗi chịu trách nhiệm. Nhưng mọi việc cần được thực hiện trong ý thức rằng mục tiêu là sự thật, sự chữa lành và đời sống chung tốt đẹp hơn.
Có khi chúng ta giữ đức tin như một tài sản riêng, một dấu hiệu để phân biệt mình với những người bên ngoài, hơn là một hồng ân thúc đẩy mình đến gần họ. Khi ấy, người khác đạo, người ít thực hành tôn giáo, người có hoàn cảnh hôn nhân phức tạp, người từng phạm lỗi, người đang sống trong nghiện ngập, người có cách nghĩ khác với chúng ta dễ bị nhìn trước hết qua một nhãn gọi. Nhưng một con người luôn lớn hơn điều chúng ta biết về họ. Sau một hành vi đáng trách có thể là một lịch sử mà chúng ta chưa hiểu; sau một thái độ chống đối có thể là một kinh nghiệm bị tổn thương; sau sự xa cách có thể là nỗi sợ bị từ chối thêm lần nữa. Nhìn nhận điều ấy không buộc chúng ta gọi điều sai là đúng, nhưng giúp chúng ta tránh biến một người thành chính lỗi lầm của họ. Người đã làm sai vẫn cần chịu trách nhiệm, nhưng họ cũng cần có khả năng bước sang một đời sống khác. Người đang xa Chúa cần được gặp những người tin Chúa có lòng kiên nhẫn. Người đang sống trong bóng tối cần được thấy ánh sáng có thể đến gần mà không thiêu đốt họ bằng sự khinh miệt. Nếu đức tin chỉ khiến tôi dễ phán xét hơn, tôi cần tự hỏi mình đã đón nhận đức tin ấy thế nào. Nếu việc giữ đạo làm tôi khó thương người hơn, tôi cần để Tin Mừng chạm lại vào những cách nghĩ đang trở nên cứng nhắc. Chúng ta không thể loan báo một Thiên Chúa giàu lòng thương xót bằng một trái tim luôn tìm cách loại trừ.
Tuy nhiên, lòng thương xót không đồng nghĩa với việc xóa bỏ mọi giới hạn cần thiết. Có người nghe nói tha thứ rồi tưởng rằng mình phải tiếp tục ở trong một hoàn cảnh bị xúc phạm hoặc bị bạo hành. Có người nghĩ nếu đặt ra ranh giới thì mình thiếu tình yêu. Có người tưởng rằng người có đức tin phải chịu đựng mọi thứ trong im lặng để giữ vẻ bình an. Những cách hiểu ấy có thể gây hại. Tha thứ không bắt người bị tổn thương phải phủ nhận điều đã xảy ra. Hòa giải cần có sự thật và sự thay đổi của người gây hại. Tin tưởng được xây dựng bằng những hành động đáng tin, chứ không chỉ bằng lời hứa. Một gia đình muốn được chữa lành phải có nơi an toàn cho người yếu thế. Một cộng đoàn muốn sống bác ái phải ngăn chặn việc lợi dụng người khác. Một người muốn sửa mình phải chấp nhận những giới hạn giúp họ không tái diễn điều sai. Hoán cải thật luôn có hệ quả cụ thể. Nếu tôi nói mình hối hận vì đã làm người khác sợ hãi, tôi phải thay đổi cách ứng xử khiến họ sợ. Nếu tôi xin lỗi vì đã gian dối, tôi phải chịu để sự thật được làm rõ. Nếu tôi nhận lỗi vì đã chiếm đoạt, tôi phải tìm cách hoàn trả. Nếu tôi đã lạm dụng quyền lực, tôi phải chấp nhận không tiếp tục nắm giữ những điều kiện cho phép mình làm hại người khác. Ân sủng đưa chúng ta tới sự thật, và sự thật mở đường cho một tình yêu có khả năng bảo vệ sự sống.
Một nơi rất cụ thể để kiểm chứng sự hoán cải là công việc và việc làm ăn. Trong nhà thờ, chúng ta có thể dễ dàng đồng ý rằng phải sống công bằng; nhưng ngoài cuộc sống, chúng ta lại có thể cho rằng công bằng là điều xa xỉ. Ta nghĩ ai cũng làm thế nên mình không thể khác. Ta nghĩ chỉ gian dối một chút thì không đáng kể. Ta nghĩ người lao động cần việc nên sẽ chấp nhận bị trả thấp, người mua không biết nên mình có thể che giấu, người yếu thế không có tiếng nói nên sự thiệt thòi của họ sẽ không gây hậu quả cho mình. Nhưng lương tâm không thể được giữ sạch chỉ bằng cách tránh những lỗi lớn mà chúng ta dễ nhận ra. Có những bất công được thực hiện rất bình thản, nằm trong những quyết định hằng ngày: trì hoãn tiền công của người đang cần nuôi gia đình, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người khác, ép người dưới quyền làm điều mình không dám đứng ra chịu trách nhiệm, lấy công sức của người khác làm thành tích cho mình. Chúa không đứng ngoài những điều ấy. Một đời sống được đổi mới sẽ tìm cách làm cho việc kiếm sống đi cùng sự tôn trọng con người. Có thể điều đó khiến ta mất một lợi ích trước mắt, nhưng có những lợi ích khi giữ lại sẽ làm tâm hồn phải trả giá quá đắt. Không phải mọi thành công đều giúp con người lớn lên. Có những người đạt được điều mình muốn nhưng càng ngày càng khó nhìn thẳng vào mắt người khác. Hoán cải giúp chúng ta nhận ra giá trị của một giấc ngủ bình an, một lời nói có thể tin được, một công việc không xây trên sự thiệt thòi của người yếu hơn mình.
Trong đời sống cầu nguyện, chúng ta cũng cần một sự đổi mới tương tự. Cầu nguyện có thể bắt đầu bằng việc xin Chúa giải quyết những nhu cầu của mình, nhưng dần dần phải mở ra thành sự sẵn lòng để Chúa dẫn mình đi. Nếu lời cầu nguyện chỉ xoay quanh điều tôi muốn, tôi có thể bỏ lỡ điều Chúa đang muốn làm nơi tôi. Tôi xin cho người khác thay đổi, nhưng Chúa có thể đang mời tôi học cách lắng nghe. Tôi xin cho gia đình bình an, nhưng Chúa có thể đang mời tôi ngừng một thói quen gây căng thẳng. Tôi xin cho mình được tôn trọng, nhưng Chúa có thể đang mời tôi nhận ra người mình chưa từng tôn trọng. Tôi xin cho lòng nhẹ nhõm, nhưng Chúa có thể đang mời tôi thôi giữ một điều sai trái đang đè nặng lương tâm. Cầu nguyện trưởng thành không làm nhu cầu của chúng ta biến mất; nó giúp chúng ta đặt những nhu cầu ấy trong một tương quan sâu hơn. Ta vẫn xin được chữa lành, nhưng cũng xin được nâng đỡ để sống những ngày chưa lành. Ta vẫn xin tìm được việc, nhưng cũng xin lòng can đảm và sự trung thực trong lúc tìm kiếm. Ta vẫn xin người thân trở về, nhưng cũng xin biết yêu thương họ bằng một cách không làm họ xa hơn. Ta vẫn xin được thoát khó khăn, nhưng cũng xin không đánh mất lòng nhân hậu trong khó khăn. Có những lời cầu nguyện được đáp lại bằng việc hoàn cảnh thay đổi; có những lời được đáp lại bằng việc chính người cầu nguyện được đổi mới để có thể bước vào hoàn cảnh ấy với một trái tim khác.
Thánh Thể giúp chúng ta học sự hiện diện âm thầm của Thiên Chúa. Giữa một thế giới quen đo giá trị bằng sự nổi bật, Chúa đến trong một hình thức nhỏ bé mà chúng ta có thể dễ dàng bỏ qua nếu chỉ tìm kiếm điều gây ấn tượng. Đến với Thánh lễ, chúng ta được mời đem theo cuộc đời thật của mình: niềm vui, mệt mỏi, công việc, những người mình thương, những người mình chưa thương nổi, điều mình đã làm tốt và điều mình đang cần sửa chữa. Việc tham dự không kết thúc ở lúc rời nhà thờ. Một người đã được nuôi dưỡng bằng tình yêu của Chúa cần tập trở thành sự nâng đỡ cho người khác. Một người đã nhận sự bình an cần học cách làm giảm những xung đột do chính mình gây ra. Một người đã được đón nhận cần tập mở cửa cho người đang cô độc. Nếu chúng ta chỉ mong cảm thấy điều gì đó đặc biệt mà không để việc gặp Chúa đi vào cách sống, chúng ta sẽ dễ thất vọng khi cảm xúc lắng xuống. Nhưng khi biết trở về với bổn phận bằng một lòng mến được làm mới, chúng ta có thể nhận ra những hoa trái rất thực: bớt nóng nảy hơn, thành thật hơn, nhẫn nại hơn, có sức để làm một việc tốt mà trước đây mình luôn né tránh. Ân sủng thường lớn lên trong chúng ta theo cách ấy, âm thầm nhưng bền bỉ, giống như sự sống đang được nuôi dưỡng từ bên trong trước khi người khác nhìn thấy sự thay đổi bên ngoài.
Có một điều chúng ta cũng phải học: đừng khinh thường những bước nhỏ. Sau một lần quyết tâm, nhiều người mong mình thay đổi ngay và thay đổi hoàn toàn. Khi lại vấp ngã, họ kết luận rằng mình không có hy vọng. Nhưng một thói quen đã hình thành trong nhiều năm thường cần một hành trình kiên trì để được thay thế. Một người thường xuyên nóng giận có thể bắt đầu bằng việc nhận ra sớm hơn lúc cơn giận xuất hiện. Một người hay nói xấu có thể bắt đầu bằng việc dừng lại giữa câu và không kể tiếp. Một người đã lâu không cầu nguyện có thể bắt đầu bằng vài phút hiện diện thật lòng trước Chúa. Một người sống khép kín có thể bắt đầu bằng một lời hỏi thăm chân thành. Những bước ấy không quá nhỏ nếu chúng là những bước thật. Điều cần tránh là lấy sự chậm chạp làm lý do để không làm gì, hoặc lấy một lần thất bại làm bằng chứng rằng mọi cố gắng đều vô ích. Hoán cải có lúc rất mạnh mẽ, có lúc lại diễn ra qua nhiều lần đứng dậy. Sau mỗi lần ngã, chúng ta cần nhìn rõ điều gì đã xảy ra, nhận trách nhiệm, tìm sự trợ giúp cần thiết và tiếp tục. Chúa không vui vì chúng ta vấp ngã, nhưng Người không thôi yêu thương chúng ta khi chúng ta vấp ngã. Một tâm hồn còn biết trở về vẫn đang mở ra trước ân sủng. Một người còn chịu sửa mình vẫn chưa để bóng tối có tiếng nói cuối cùng trong cuộc đời.
Điều nguy hiểm hơn sự yếu đuối là thái độ không còn muốn được chữa lành. Người yếu đuối có thể xin giúp đỡ; người tự mãn thường nghĩ mình không cần ai. Người nhận ra lỗi có thể bắt đầu sửa; người luôn có lý do biện hộ sẽ tiếp tục làm điều cũ. Người đau vì đã gây tổn thương có thể tìm cách hàn gắn; người xem sự đau đớn của người khác là chuyện không đáng quan tâm sẽ làm vết thương sâu thêm. Vì thế, chúng ta cần xin Chúa giữ cho lòng mình còn mềm. Còn biết xúc động trước một nỗi đau. Còn biết ngượng khi làm điều sai. Còn biết vui khi người khác được tốt hơn mình. Còn biết cảm ơn khi nhận một điều tử tế. Còn biết xin lỗi mà không kèm theo một lời đổ lỗi. Còn biết nghe một lời góp ý dù cách góp ý chưa hoàn hảo. Một trái tim mềm không phải là trái tim thiếu lập trường; đó là trái tim chưa đánh mất khả năng đáp lại sự thật và tình yêu. Có người càng lớn tuổi càng trở nên rộng lượng, bởi họ đã hiểu ai cũng có những gánh nặng riêng. Có người càng trải qua khó khăn càng biết nâng đỡ người khác, bởi họ nhớ mình từng cần được nâng đỡ thế nào. Nhưng cũng có người để những thất vọng làm lòng mình đóng lại. Hoán cải mời chúng ta chọn một hướng khác: để những điều đã trải qua làm mình sâu sắc hơn, chứ không chỉ cay đắng hơn; biết giữ sự khôn ngoan cần thiết mà vẫn không đánh mất khả năng yêu thương.
Khi nhìn vào Đức Giê-su, chúng ta gặp Đấng không chỉ chỉ đường từ xa, nhưng đã bước vào sự mong manh của phận người. Người biết thế nào là mệt mỏi, bị hiểu lầm, bị khước từ, bị bỏ rơi. Vì thế, trở về với Người không phải là bước tới một vị quan tòa xa lạ với nỗi khó khăn của mình. Chúng ta trở về với Đấng biết con người cần được cứu thế nào. Tuy nhiên, tình yêu ấy cũng rất nghiêm túc. Người yêu chúng ta quá nhiều để mặc chúng ta ở mãi trong những điều đang phá hủy mình và làm hại người khác. Khi lời Tin Mừng khiến ta khó chịu, có thể đó là lúc một nơi cần được chữa lành đang được chạm tới. Khi ta muốn lảng tránh một câu hỏi về sự thành thật, có thể lương tâm đang được gọi thức dậy. Khi ta thấy khó chấp nhận việc phải tha thứ, có thể ta đang đối diện với một vết thương cần được đưa vào ánh sáng. Khi ta không muốn nghe về trách nhiệm, có thể một thói quen trốn tránh đang bị chất vấn. Chúng ta không cần làm cho mọi lời mời gọi trở nên dễ chịu trước khi đón nhận. Có những điều tốt ban đầu làm ta đau vì chúng buộc ta rời bỏ cách sống đã quen. Nhưng nỗi đau của việc nhìn nhận sự thật có thể mở đầu cho sự chữa lành, trong khi sự dễ chịu của việc tiếp tục tự lừa dối chỉ khiến bóng tối ở lại lâu hơn.
Bởi vậy, dấu chỉ mà cuộc đời chúng ta cần nhất có thể không phải là một sự kiện khiến mọi người kinh ngạc, mà là sự thay đổi khiến những người gần mình được sống nhẹ hơn. Một người cha biết dừng cơn giận để không làm con sợ. Một người mẹ biết nghe mà không lập tức so sánh. Một người trẻ chịu trách nhiệm về lời hứa của mình. Một người chủ trả công đúng hẹn. Một người phục vụ biết nhận thiếu sót. Một người từng sống trong oán hờn bắt đầu thôi tìm cách làm người khác đau. Một người lâu nay chỉ lo cho mình dành thời gian chăm sóc ai đó không thể đáp lại. Những điều ấy có thể không được nhiều người biết, nhưng chúng làm thế giới quanh chúng ta trở nên khác. Có những cuộc đời đã tìm lại niềm tin vì gặp được một người sống đàng hoàng. Có những người quay về với cầu nguyện vì được đối xử bằng lòng kiên nhẫn. Có những gia đình được giữ lại vì một người chịu thay đổi trước, không tiếp tục chờ người kia bắt đầu. Có những cộng đoàn được hồi sinh từ những việc phục vụ âm thầm. Chúng ta không thể tự tạo ra ân sủng, nhưng có thể đón nhận ân sủng và cộng tác với ân sủng bằng những lựa chọn hằng ngày. Điều Chúa ban cho một người có thể trở thành sự nâng đỡ cho nhiều người khác nếu người ấy chịu để tình yêu đi qua cuộc đời mình.
Hôm nay, mỗi người có thể tự hỏi một câu thật cụ thể: điều gì tôi đã biết là cần làm mà vẫn chưa làm? Có thể là một lời xin lỗi. Có thể là một lần đi xưng tội đã bị trì hoãn quá lâu. Có thể là việc chấm dứt một sự gian dối. Có thể là một cuộc gọi về cho cha mẹ. Có thể là tìm sự giúp đỡ để thoát một thói quen đang làm mình và gia đình kiệt sức. Có thể là bảo vệ một người đang bị đối xử bất công. Có thể là thôi tham gia vào những câu chuyện làm mất danh dự người khác. Có thể là nhận lại một bổn phận mình đã đẩy hết cho người thân. Chúng ta không cần đưa ra một danh sách quá dài rồi nản lòng vì không thực hiện nổi. Hãy bắt đầu ở nơi rõ nhất, nơi lương tâm đã nhắc nhiều lần nhất, nơi một hành động có thể làm giảm ngay một nỗi đau. Hãy làm điều ấy với sự khiêm tốn, không cần phô bày, không cần chờ được khen, không cần biến sự thay đổi của mình thành một lý do để xét đoán người chưa thay đổi. Một bước đúng có thể mở ra bước tiếp theo. Một việc chân thật có thể giúp ta có sức sống chân thật hơn. Một quyết định dứt khoát có thể làm đứt một chuỗi sai lầm đã kéo dài. Chúa gặp chúng ta trong sự sẵn lòng bắt đầu, dù sự sẵn lòng ấy còn run rẩy và nhỏ bé.
Đến cuối cùng, điều làm cuộc đời có ý nghĩa không phải là chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu chuyện lạ, nhưng là chúng ta đã để tình yêu đổi mới mình đến mức nào. Có người đi qua nhiều nơi mà lòng vẫn khép kín; có người chỉ sống trong một căn nhà nhỏ mà cuộc đời trở thành nơi nhiều người tìm được sự an ủi. Có người biết nhiều điều về tôn giáo nhưng không để ai được gần mình; có người cầu nguyện bằng những lời rất đơn sơ mà cách sống lại làm người khác nhận ra lòng nhân hậu của Chúa. Có người luôn chờ một câu trả lời lớn; có người đã bắt đầu sống câu trả lời bằng một sự trung thành lặng lẽ. Chúng ta được mời trở thành người biết nghe khi còn có thể nghe, biết trở về khi con đường vẫn đang mở, biết yêu thương khi người mình thương vẫn còn ở bên. Đừng để sự quen thuộc làm chúng ta mất lòng biết ơn. Đừng để nỗi sợ làm chúng ta ngừng bước. Đừng để cái tôi biến những lời mời gọi thành những điều kiện phải thương lượng mãi. Và đừng để ngày hôm nay trôi qua chỉ với một ý định tốt được dời sang ngày mai. Chúa đang hiện diện trong cuộc đời thật này, giữa những bổn phận, những vết thương, những giới hạn và những cơ hội nhỏ bé của chúng ta. Chính ở đây, chúng ta có thể bắt đầu một đời sống mới.
Lạy Chúa Giê-su, xin giúp chúng con nhận ra điều Chúa đang mời gọi trong ngày hôm nay. Khi chúng con mải chờ một điều khác thường, xin cho chúng con biết trân trọng những hồng ân bình dị đã được trao ban. Khi chúng con chỉ muốn người khác thay đổi, xin cho chúng con can đảm nhìn vào phần trách nhiệm của mình. Khi chúng con sợ sự thật, xin nâng đỡ để chúng con không tiếp tục che giấu. Khi chúng con đã làm ai tổn thương, xin giúp chúng con biết nhận lỗi và sửa chữa bằng những việc cụ thể. Xin giữ lòng chúng con khỏi sự tự mãn khiến chúng con tưởng mình không cần trở về, khỏi sự thất vọng khiến chúng con nghĩ mình không thể trở về, khỏi sự trì hoãn khiến chúng con luôn hẹn Chúa vào một ngày khác. Xin thương những người đang chịu đau khổ, những người cầu nguyện mà chưa thấy câu trả lời, những người đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn còn yếu đuối. Xin đặt bên cạnh họ những người biết lắng nghe, biết bảo vệ, biết giúp đỡ và biết ở lại. Xin đổi mới gia đình chúng con từ những lời nói hằng ngày, đổi mới cộng đoàn chúng con từ cách đối xử với người bé mọn, đổi mới công việc chúng con từ lòng trung thực và sự công bằng. Xin cho chúng con có một trái tim biết học, biết cảm ơn, biết xin lỗi, biết tha thứ và biết bắt đầu lại. Để khi rời giờ cầu nguyện, chúng con mang tình yêu của Chúa vào nơi mình sống; để có ai đó bớt cô đơn vì sự hiện diện của chúng con, bớt đau vì cách chúng con cư xử, có thêm hy vọng vì điều chúng con đã làm. Xin cho ngày hôm nay trở thành ngày chúng con thật sự đáp lại Chúa, bằng một bước nhỏ nhưng chân thành, bằng một quyết định có trách nhiệm, bằng một tình yêu không còn chỉ nằm trong lời nói. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
ĐỪNG ĐỢI MỘT DẤU LẠ MỚI BẮT ĐẦU YÊU MẾN
Có những lúc trong đời, chúng ta đứng trước một cánh cửa mà lòng mình vừa muốn bước vào vừa muốn quay lưng. Chúng ta muốn tin, nhưng lại sợ tin rồi sẽ thất vọng. Chúng ta muốn trao phó, nhưng lại sợ trao phó rồi sẽ mất quyền kiểm soát. Chúng ta muốn thay đổi, nhưng vẫn mong có một điều gì đó thật rõ ràng xảy ra trước, một điều đủ mạnh để xóa sạch mọi nghi ngờ, đủ sáng để không còn phải dò dẫm, đủ lớn để chúng ta không cần liều mình nữa. Bởi vậy, lời cầu nguyện nhiều khi âm thầm trở thành một cuộc thương lượng: nếu Chúa cho con thấy điều này, con sẽ tin; nếu Chúa giải quyết chuyện kia, con sẽ trở về; nếu Chúa làm cho người ấy thay đổi, con sẽ tha thứ; nếu Chúa ban cho con cuộc sống thuận lợi hơn, con sẽ sống tốt hơn. Chúng ta tưởng mình đang chờ Chúa, nhưng có khi Chúa đã ở đó rất lâu, còn chúng ta đang chờ một Thiên Chúa hành động đúng theo ý mình. Chúng ta tưởng mình cần thêm bằng chứng, nhưng điều thực sự còn thiếu có thể là sự can đảm để đáp lại một tình yêu đã được trao ban. Tin Mừng thứ Hai tuần XXVIII mùa Thường Niên đặt chúng ta trước một câu hỏi không dễ né tránh: phải chăng chúng ta đã nhận quá nhiều mà vẫn sống như người chưa từng được yêu thương? Phải chăng chúng ta đang xin một dấu lạ mới để trì hoãn một sự hoán cải mà mình đã biết là cần thiết? Và phải chăng, giữa bao nhiêu lời cầu xin, điều Chúa mong đợi nhất lại là một trái tim chịu mở ra, một con người chịu dừng lại, một cuộc đời chịu bắt đầu bước theo Người?
Đám đông tụ họp quanh Đức Giêsu có thể tạo cho người ta cảm giác mọi sự đang diễn ra rất tốt đẹp. Người ta đến đông, người ta muốn nghe, người ta muốn thấy, người ta muốn biết. Nhưng sự đông đảo không tự nó bảo đảm chiều sâu của đức tin. Một người có thể đứng rất gần Đức Giêsu mà lòng vẫn ở rất xa Người. Một người có thể nghe rất nhiều lời thánh thiện mà chưa để một lời nào chạm đến cách mình đối xử với người bên cạnh. Một người có thể đi từ cuộc hành hương này sang cuộc hành hương khác, từ nơi được cho là có sự lạ này đến nơi được đồn là có sự lạ khác, nhưng khi trở về nhà vẫn tiếp tục làm khổ vợ chồng, vẫn khinh thường người nghèo, vẫn nuôi dưỡng những tính toán bất công. Vấn đề không nằm ở việc đi hành hương hay mong được Chúa trợ giúp; vấn đề nằm ở chỗ trái tim chỉ muốn thưởng thức điều lạ mà không muốn được biến đổi. Có một thứ tò mò rất dễ khoác áo đạo đức. Có một thứ háo hức rất giống lòng sốt sắng nhưng thực chất chỉ là nhu cầu được kích thích. Có một thứ quan tâm đến Thiên Chúa mà cuối cùng vẫn đặt bản thân ở trung tâm: Chúa phải làm gì để con thấy thích, Chúa phải chứng tỏ điều gì để con chấp nhận, Chúa phải đáp ứng ra sao để con tiếp tục ở lại. Khi ấy, chúng ta không còn đến với Chúa như người con tìm về cùng Cha, nhưng như người quan sát chờ xem một cuộc biểu diễn có đủ sức thuyết phục mình hay không.
Điều đáng suy nghĩ là Đức Giêsu không chiều theo mọi đòi hỏi của đám đông. Người yêu thương họ, nhưng tình yêu ấy không đồng nghĩa với việc đáp ứng tất cả những gì họ muốn. Người cứu độ con người, nên Người không thể để con người mãi mắc kẹt trong lối sống chỉ biết đòi hỏi. Một người mẹ thương con không thể vì thương mà trao cho con mọi thứ khiến nó hư hỏng. Một người thầy thật lòng với học trò không thể vì muốn được yêu quý mà bỏ qua sự lười biếng và gian dối. Một người bạn chân thành không thể chỉ nói những điều dễ nghe trong khi nhìn bạn mình đi vào con đường nguy hiểm. Cũng vậy, lời nghiêm khắc của Đức Giêsu không phải là sự thiếu kiên nhẫn trước những người yếu đức tin, nhưng là tiếng gọi đánh thức những trái tim đang tự khóa mình. Người không xua đuổi người thành thật tìm kiếm. Người không khinh thường những ai đang hoang mang, những ai từng bị tổn thương, những ai chưa biết phải tin thế nào. Nhưng Người vạch trần thái độ cố tình tránh né chân lý bằng cách liên tục đặt thêm điều kiện. Có những câu hỏi mở đường cho một cuộc gặp gỡ; cũng có những câu hỏi được dùng để dựng thêm một bức tường. Có những nghi ngờ là tiếng kêu của một tâm hồn muốn được nâng đỡ; cũng có những nghi ngờ chỉ là chiếc áo che đậy một quyết định đã có sẵn: tôi không muốn thay đổi. Vì thế, điều cần xét lại không chỉ là chúng ta đang hỏi Chúa điều gì, mà còn là chúng ta sẽ làm gì nếu nhận ra Người đang trả lời.
Trong đời sống thường ngày, chúng ta hiểu rất rõ sự khác biệt giữa người thực sự muốn nghe và người chỉ chờ cơ hội phản bác. Người muốn nghe sẽ cố gắng hiểu cả khi lời nói chưa thật hoàn hảo. Người không muốn nghe sẽ tìm một sơ hở nhỏ để phủ nhận tất cả. Trong đời sống đức tin cũng thế, khi lòng đã đóng lại, một lời nhắc nhở chân thành bị xem là can thiệp, một cơ hội trở về bị xem là phiền phức, một việc tốt của người khác bị diễn giải thành giả hình, một lời mời gọi sống ngay thẳng bị cho là thiếu thực tế. Chúng ta có thể đòi Chúa phải cho một dấu chỉ rõ ràng hơn, trong khi những điều rất rõ ràng đã bị mình phớt lờ. Chúng ta biết nói dối làm tổn thương lòng tin, nhưng vẫn nói dối và mong có một dấu hiệu giúp mình sống tốt. Chúng ta biết sự nóng giận đang làm gia đình sợ hãi, nhưng vẫn để cơn giận điều khiển lời nói và mong Chúa ban bình an. Chúng ta biết người già trong nhà đang cô đơn, nhưng vẫn dành hết thời gian cho màn hình rồi cầu xin cho gia đình được hiệp nhất. Chúng ta biết có một món nợ cần trả, một lời xin lỗi cần nói, một hành vi bất công cần chấm dứt, nhưng lại muốn đợi đến một biến cố đặc biệt mới bắt đầu. Đức tin không thể trưởng thành khi con người luôn biến điều mình đã biết thành điều mình chưa biết để khỏi phải thực hành. Nhiều khi bước tiến thiêng liêng lớn nhất không phải là khám phá thêm một điều mới, mà là nghiêm túc sống điều đã nghe từ rất lâu.
Hình ảnh dân thành Ninivê giúp chúng ta nhận ra một thái độ khác. Họ không có mọi thuận lợi, không có một quá khứ đạo đức đáng tự hào, không được mô tả như một cộng đoàn đã sống ngay lành từ đầu. Nhưng khi lời cảnh tỉnh đến, họ đã để lời ấy chạm vào mình. Điều làm nên bước ngoặt của họ không phải là một sự tò mò được thỏa mãn, mà là sự sẵn lòng nhận ra cuộc đời mình đang cần thay đổi. Hoán cải bắt đầu ở chỗ con người thôi xem mình là ngoại lệ. Người ta thường dễ đồng ý rằng thế giới cần tốt hơn, xã hội cần công bằng hơn, các gia đình cần yêu thương hơn, người khác cần bớt ích kỷ hơn. Nhưng đến khi phải nhìn vào chính mình, chúng ta lại có sẵn hàng trăm lý do để miễn trừ: tôi nóng vì họ làm tôi bực; tôi gian dối vì hoàn cảnh bắt buộc; tôi bỏ bê gia đình vì công việc quá nhiều; tôi không tha thứ vì người ấy không xứng đáng; tôi sống như vậy vì ai cũng sống như vậy. Sự hoán cải thật không phủ nhận hoàn cảnh phức tạp, nhưng cũng không cho phép hoàn cảnh trở thành tấm giấy phép để tiếp tục làm điều sai. Nó giúp chúng ta nói một câu đơn sơ mà rất khó: tôi có phần trách nhiệm trong chuyện này. Không phải mọi đau khổ đều do tôi gây ra, không phải mọi rạn nứt đều là lỗi của tôi, nhưng tôi có những điều cần sửa, những chọn lựa cần đổi, những bước cần đi. Khi một người bắt đầu nói được như thế, cánh cửa của ân sủng đã mở ra trong lòng họ.
Chúng ta thường sợ nhận lỗi vì tưởng nhận lỗi sẽ làm mình nhỏ đi. Thực ra, điều làm con người nhỏ bé hơn là phải dành cả đời bảo vệ một hình ảnh không đúng về mình. Một người cha luôn cần chứng minh mình đúng sẽ khiến con cái không dám nói thật. Một người mẹ không bao giờ chấp nhận mình có thể sai sẽ biến mọi cuộc trao đổi thành cuộc xét xử. Một người có trách nhiệm trong cộng đoàn mà không chịu nghe góp ý sẽ dần sống trong một vòng vây của những lời thuận tai. Một người tín hữu không muốn nhìn nhận tội lỗi sẽ khó cảm nhận niềm vui được tha thứ, bởi người ấy đến với Chúa chỉ để xác nhận mình vẫn tốt. Hoán cải giải thoát chúng ta khỏi công việc mệt mỏi ấy. Chúng ta không cần đóng vai người hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta có thể đến với Người bằng sự thật của mình: con đã yếu đuối, con đã làm tổn thương, con đã để lòng mình chai cứng, con đã biết điều tốt mà không làm, con đã có thể yêu thương hơn nhưng lại chọn giữ phần dễ chịu cho bản thân. Khi sự thật ấy được trao vào lòng thương xót, nó không còn là chiếc búa đập nát đời mình, nhưng trở thành điểm khởi đầu cho việc được chữa lành. Chúa không vui vì chúng ta tự khinh mình. Chúa muốn chúng ta thôi chạy trốn để có thể được Người nâng dậy.
Nữ hoàng phương Nam lại mở ra một chiều kích khác của đức tin: lòng khao khát tìm kiếm sự khôn ngoan. Có những người sẵn sàng đi rất xa để học một điều đáng học, chấp nhận vất vả để gặp một người có thể giúp mình hiểu đời sống sâu hơn. Nhưng cũng có những người ở ngay cạnh nguồn nước mà vẫn để mình khô cạn, chỉ vì họ quen với sự hiện diện của nguồn nước ấy. Sự quen thuộc đôi khi khiến chúng ta đánh mất lòng kính trọng. Chúng ta quen nhà thờ, quen tiếng chuông, quen Thánh lễ, quen các lời kinh, quen những trang Tin Mừng, đến mức mọi sự đi qua mình mà không còn gây được một chuyển động nào. Chúng ta biết hôm nay sẽ nghe gì, biết nghi thức tiếp theo là gì, biết khi nào đứng, khi nào ngồi, khi nào đáp, nhưng lại ít khi tự hỏi mình có thực sự hiện diện hay không. Thân xác ở trong nhà thờ, còn tâm trí vẫn ở một cuộc tranh cãi hôm qua, một món hàng muốn mua, một kế hoạch sắp tới, một sự khó chịu chưa được giải quyết. Dĩ nhiên, sự phân tâm là một phần của thân phận con người, và không phải ai phân tâm cũng là người thiếu lòng tin. Nhưng chúng ta cần phân biệt giữa sự yếu đuối mình đang cố gắng vượt qua và sự hờ hững mình đã mặc nhiên chấp nhận. Lòng khao khát không đòi chúng ta lúc nào cũng xúc động. Nó đòi chúng ta biết quý trọng cuộc gặp gỡ, biết dành chỗ cho Chúa, biết đến với Người bằng một tâm hồn muốn được dạy dỗ.
Có lẽ một trong những căn bệnh âm thầm của người sống đạo lâu năm là tưởng rằng mình không còn cần học nữa. Chúng ta đã nghe nhiều bài giảng, đã biết nhiều câu chuyện, đã thuộc nhiều công thức, nên dễ nghĩ mình đã hiểu đủ. Nhưng biết về sự tha thứ không đồng nghĩa với biết tha thứ. Biết về sự khiêm nhường không đồng nghĩa với có thể lắng nghe một lời phê bình. Biết về tình yêu không đồng nghĩa với biết chăm sóc một người đang khiến mình mệt mỏi. Biết về cầu nguyện không đồng nghĩa với có thể ngồi yên trước Chúa mà không đòi Người phải lập tức làm theo ý mình. Sự khôn ngoan của Tin Mừng chỉ thực sự đi vào đời sống khi nó thay đổi cách chúng ta nhìn, cách chúng ta chọn, cách chúng ta phản ứng. Một người có thể nói rất hay về lòng thương xót mà vẫn làm người khác khiếp sợ. Một người có thể giải thích rất rõ về sự hiệp thông mà vẫn không chịu ngồi chung bàn với người mình không thích. Một người có thể bênh vực sự thật bằng những lời đầy giận dữ, đến mức làm cho người nghe không còn nhận ra nét dịu hiền của Đức Kitô. Bởi vậy, người môn đệ cần giữ mãi thái độ của người đang học. Mỗi ngày vẫn có một điều để Chúa chỉ cho mình, một góc khuất để Chúa soi sáng, một thói quen để Chúa thanh luyện. Tuổi đời và số năm giữ đạo không thể thay thế cho sự mềm mại của trái tim.
Đức Giêsu không chỉ đem đến một thông điệp để con người cân nhắc như bao nhiêu thông điệp khác. Người đến để gặp gỡ, để cứu độ, để đưa chúng ta vào tương quan với Thiên Chúa. Vì thế, trung tâm của đức tin không phải là một chuỗi sự kiện gây kinh ngạc, nhưng là chính Người. Nếu chỉ tìm điều lạ, chúng ta sẽ luôn bị cuốn đi bởi điều mới hơn. Hôm nay một câu chuyện khiến mình xúc động, ngày mai một câu chuyện khác khiến mình tò mò, rồi khi không còn gì mới, lòng sốt sắng cũng nguội dần. Nhưng nếu thực sự gắn bó với Đức Giêsu, chúng ta có thể ở lại ngay cả trong những ngày rất bình thường, khi không có cảm giác đặc biệt, khi lời cầu nguyện khô khan, khi công việc vẫn nặng nhọc, khi bệnh tật chưa khỏi, khi những vấn đề của gia đình chưa được giải quyết. Ở lại không có nghĩa là không đau. Tin không có nghĩa là không hỏi. Phó thác không có nghĩa là ngừng cố gắng. Ở lại là không để nỗi đau có quyền quyết định rằng Chúa đã hết yêu mình. Tin là vẫn mở lòng cho Người ngay khi mình chưa hiểu đường đi. Phó thác là làm điều mình có trách nhiệm làm và trao phần vượt quá khả năng của mình vào tay Thiên Chúa. Một tình yêu trưởng thành không chỉ tồn tại trong những giờ thuận lợi. Nó được nuôi dưỡng qua những lần con người tiếp tục chọn nhau khi cảm xúc không còn nâng đỡ mọi bước chân.
Mầu nhiệm thập giá đưa chúng ta đến tận chiều sâu của tình yêu ấy. Con người thường muốn một Thiên Chúa biểu lộ sức mạnh bằng cách làm cho mọi đối thủ im lặng, mọi khó khăn biến mất, mọi bất công chấm dứt ngay trước mắt. Nhưng nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta gặp một tình yêu đi vào chính nơi con người bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị hành hạ, bị đối xử như không còn giá trị. Thập giá không ca tụng bạo lực, không làm cho sự dữ trở thành tốt, không yêu cầu người bị tổn thương phải im lặng để người gây hại tiếp tục hành động. Thập giá cho thấy Thiên Chúa không đứng xa nỗi đau của con người. Người đã đến gần đến mức mang lấy nỗi đau ấy trong thân phận nhân loại của mình. Vì thế, khi cầu nguyện trước thập giá, chúng ta không chỉ nhìn một hình ảnh để xúc động, nhưng được mời bước vào một lối sống: yêu thương mà không biến người khác thành công cụ, trung thành mà không tìm cách thống trị, bảo vệ sự thật mà không đánh mất lòng nhân hậu, chịu thiệt vì điều thiện mà không nuôi dưỡng lòng thù hận. Đây là con đường khó, bởi nó đụng đến bản năng muốn trả đũa, muốn thắng, muốn được nhìn nhận. Nhưng chính trên con đường ấy, con người được giải thoát khỏi một thứ nô lệ rất sâu: phải làm người khác nhỏ đi thì mình mới thấy mình lớn lên.
Ánh sáng phục sinh cho chúng ta biết sự dữ và cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Điều này không phải là một lời động viên dễ dãi dành cho những người đang đau khổ. Có những mất mát không thể được bù lại bằng vài câu an ủi. Có những người phải đi qua một thời gian dài mới có thể thở nhẹ hơn. Có những gia đình vẫn sống với một chỗ trống không ai thay thế được. Có những vết thương cần sự đồng hành kiên nhẫn, cần những trợ giúp cụ thể, cần thời gian và cần cả sự chăm sóc chuyên môn. Đức tin vào Chúa phục sinh không cho phép chúng ta bỏ qua những thực tế ấy. Trái lại, nó giúp chúng ta đủ kiên nhẫn để không buộc người đau khổ phải mau chóng tỏ ra mạnh mẽ. Hy vọng Kitô giáo có thể bắt đầu bằng một việc rất nhỏ: hôm nay tôi vẫn đứng dậy, hôm nay tôi vẫn ăn một bữa, hôm nay tôi vẫn gọi cho một người có thể giúp mình, hôm nay tôi vẫn thưa với Chúa một lời dù rất ngắn. Có khi sự sống mới không xuất hiện như một tiếng reo vui, mà như một hơi thở vừa lấy lại được sau nhiều ngày nghẹn ngào. Có khi dấu chỉ của hy vọng không phải là mọi chuyện đã tốt đẹp, mà là lòng mình chưa hoàn toàn khép lại trước khả năng có một ngày khác. Chúa biết cách đi cùng những bước chân như thế. Người không khinh thường một niềm tin đang run rẩy, cũng không coi thường một lời cầu nguyện chỉ còn đủ sức cất lên trong nước mắt.
Trong gia đình, lời mời gọi hoán cải thường đến qua những việc rất gần. Một đứa trẻ trở nên im lặng hơn có thể đang cần cha mẹ dừng lại để lắng nghe. Một người vợ nói ít đi có thể không phải vì không còn điều gì để nói, mà vì đã nhiều lần nói nhưng không được đón nhận. Một người chồng thu mình có thể đang mang một gánh nặng mà lòng tự ái khiến anh không biết mở lời. Một người già hay nhắc lại chuyện cũ có thể đang cố giữ sợi dây nối mình với gia đình, vì đời sống hiện tại dường như không còn dành nhiều chỗ cho họ. Chúng ta có thể mong Chúa làm một điều gì đó để gia đình được hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ấy thường đòi một sự thay đổi nơi chính cách mình hiện diện. Đi làm về, chúng ta có thật sự về nhà hay chỉ mang thân xác vào nhà rồi tiếp tục sống trong điện thoại? Ngồi bên nhau, chúng ta có thật sự nhìn nhau hay chỉ chờ người kia nói xong để trở lại việc riêng? Khi nghe một lời than phiền, chúng ta có cố hiểu nỗi đau phía sau hay lập tức chuẩn bị một lời tự vệ? Một mái nhà có thể đầy đủ tiện nghi nhưng thiếu những cuộc gặp gỡ. Một bữa ăn có thể đầy món ngon nhưng không ai dám nói thật. Một gia đình có thể giữ những sinh hoạt đạo đức đều đặn nhưng vẫn cần học lại cách xin lỗi, cách biết ơn, cách sửa sai mà không làm nhục nhau. Nếu chúng ta muốn gia đình trở thành nơi người khác nhận ra Chúa, tình yêu phải có hình hài trong những hành động như thế.
Một người cha bắt đầu biết xin lỗi con không mất đi uy tín; người ấy đang dạy con rằng trách nhiệm quan trọng hơn sĩ diện. Một người mẹ chịu lắng nghe mà không vội kết luận không trở nên yếu thế; người ấy đang mở một con đường để con trở về khi gặp khó khăn. Hai vợ chồng dám nói thật về những rạn nứt không nhất thiết đang làm hôn nhân nguy hiểm hơn; đôi khi chính sự im lặng kéo dài mới khiến khoảng cách lớn dần. Dĩ nhiên, có những hoàn cảnh không thể giải quyết bằng một cuộc nói chuyện đơn giản, nhất là khi có bạo lực, nghiện ngập hoặc những hành vi gây tổn hại nghiêm trọng. Khi ấy, yêu thương còn đòi biết tìm sự trợ giúp phù hợp và bảo vệ người dễ bị tổn thương. Nhưng trong rất nhiều gia đình, bước đầu của sự chữa lành là thôi đòi người kia phải thay đổi hoàn toàn trước khi mình chịu làm một điều tốt. Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc ngừng một lời xúc phạm, giữ một lời hứa, dành một khoảng thời gian, hỏi một câu với ý muốn thực sự nghe câu trả lời. Không ai bảo đảm rằng mọi đáp trả sẽ đến ngay. Nhưng một hành động chân thành vẫn có giá trị dù chưa được công nhận. Hạt giống cần thời gian. Trái tim con người cũng vậy. Sự kiên nhẫn của tình yêu không phải là đứng yên; nó là tiếp tục làm điều có ích trong khi chấp nhận rằng mình không thể điều khiển sự trưởng thành của người khác.
Ngoài gia đình, Tin Mừng mời chúng ta nhận ra trách nhiệm của mình trong công việc và các tương quan xã hội. Có người cầu xin Chúa cho công việc phát đạt nhưng lại chậm trả lương cho người làm. Có người mong được người khác tôn trọng nhưng thường xuyên coi nhẹ phẩm giá của những ai phục vụ mình. Có người muốn con cái sống trung thực nhưng chính mình lại xem sự gian dối là một kỹ năng cần thiết để thành công. Những mâu thuẫn ấy không thể được chữa bằng việc thêm một nghi thức đạo đức trong khi giữ nguyên lối hành xử. Cầu nguyện phải dẫn chúng ta đến việc sống ngay thẳng hơn. Một người buôn bán cân đúng, nói thật về sản phẩm, không lợi dụng sự thiếu hiểu biết của khách hàng, đang để đức tin đi vào một nơi rất cụ thể. Một người quản lý biết nhận trách nhiệm, không đẩy lỗi cho nhân viên yếu thế, đang làm cho sự công bằng có chỗ đứng. Một người lao động làm việc nghiêm túc dù không có ai giám sát, đang chống lại sự cám dỗ sống bằng vẻ bề ngoài. Một người có điều kiện giúp đỡ mà không dùng sự giúp đỡ để mua lòng biết ơn, đang gìn giữ phẩm giá của người nhận. Những điều ấy có thể không gây chú ý, nhưng chúng làm cho đời sống con người đáng tin hơn. Chúng ta không cần đợi một sân khấu lớn mới có thể làm chứng cho Chúa. Nơi mình đang làm việc, người mình đang gặp, đồng tiền mình đang sử dụng, lời mình đang nói đều là những nơi đức tin có thể được thể hiện hoặc bị phủ nhận.
Đời sống trên mạng cũng là một nơi cần hoán cải. Chúng ta có thể cảm thấy mình vô can vì chỉ chia sẻ một bài viết, chỉ để lại một bình luận, chỉ bấm một nút. Nhưng phía sau màn hình vẫn là những con người có danh dự, có gia đình, có nỗi đau. Một thông tin chưa được kiểm chứng có thể làm một người bị tổn thương rất lâu. Một lời chế giễu có thể khiến một người vốn đã cô đơn cảm thấy không còn nơi nào an toàn. Một cuộc tranh luận nhân danh điều tốt có thể biến thành nơi người ta thỏa mãn sự giận dữ của mình. Người tín hữu cần tự hỏi: điều tôi sắp viết có thật không, có cần thiết không, có giúp người khác hiểu hơn không, có tôn trọng người bị nhắc đến không? Không phải mọi điều gây xúc động đều đáng tin. Không phải mọi điều được chia sẻ nhiều đều đúng. Không phải mọi lời mạnh mẽ đều có sức xây dựng. Nếu chúng ta muốn bảo vệ sự thật, chúng ta phải chấp nhận công việc chậm hơn của việc kiểm tra, lắng nghe và phân biệt. Nếu chúng ta muốn làm chứng cho lòng thương xót, chúng ta không thể dùng ngôn ngữ làm nhục người khác rồi cho rằng mục đích tốt đã đủ biện minh. Một trái tim hoán cải sẽ học cách dừng lại trước khi đăng, học cách sửa một điều mình đã nói sai, học cách rút khỏi một cuộc công kích đang làm mình mất bình an và làm người khác thêm tổn thương.
Trong cộng đoàn Hội Thánh, chúng ta cũng dễ đòi những điều lớn lao mà bỏ qua trách nhiệm gần gũi của mình. Chúng ta mong giáo xứ sốt sắng hơn, nhưng lại không muốn góp phần tạo một bầu khí đón tiếp. Chúng ta mong giới trẻ gần Chúa hơn, nhưng ít khi chịu nghe những câu hỏi thật của họ. Chúng ta mong người xa cách trở về, nhưng khi họ trở về lại dò xét quá khứ của họ. Chúng ta mong có sự hiệp nhất, nhưng vẫn giữ những lời nói làm các nhóm nghi ngờ nhau. Một cộng đoàn không thể trở thành mái nhà chỉ nhờ một khẩu hiệu đẹp. Mái nhà ấy được xây bằng cách người ta đối xử với người mới đến, với người ít tiếng nói, với người từng sai lầm, với người chưa biết các tập quán. Một người bước vào nhà thờ có thể chưa hiểu nhiều về đức tin, nhưng họ hiểu rất nhanh một ánh mắt lạnh lùng hoặc một nụ cười chân thành. Một người đang muốn trở về có thể chưa đủ sức kể hết câu chuyện đời mình, nhưng họ cảm nhận được mình đang bị xét xử hay được đón nhận. Điều này không có nghĩa là cộng đoàn bỏ qua sự thật hoặc xem mọi hành vi đều như nhau. Đón nhận một con người là giúp người ấy có chỗ đứng để có thể bước về phía sự thật. Sự thật được trao trong tình yêu có sức chữa lành; sự thật bị dùng như một vũ khí có thể khiến người ta chạy xa hơn.
Đối với người được giao trách nhiệm hướng dẫn người khác, Tin Mừng hôm nay còn là một lời nhắc nhở phải sống gần điều mình rao giảng. Không ai có thể làm cho mọi người nhận ra Chúa chỉ bằng những bài nói hay. Người ta cần gặp sự kiên nhẫn khi mình yếu đuối, cần gặp sự công bằng khi có tranh chấp, cần gặp sự chân thành khi một điều sai được chỉ ra, cần gặp một người biết xin lỗi khi chính mình đã làm tổn thương. Người phục vụ có thể mệt, có thể bị hiểu lầm, có thể chịu áp lực từ nhiều phía. Những giới hạn ấy cần được nhìn nhận, nhưng không thể trở thành lý do để lời nói thô bạo hoặc thái độ lạnh lùng được mặc nhiên chấp nhận. Càng có trách nhiệm, chúng ta càng cần đời sống cầu nguyện giúp mình trở lại với lý do ban đầu của việc phục vụ. Tôi đang muốn đưa người khác đến với Chúa hay đang muốn họ đánh giá cao mình? Tôi đang bảo vệ lợi ích chung hay đang bảo vệ quyền quyết định của mình? Tôi có còn nhận ra từng con người hay chỉ thấy những việc cần hoàn thành? Khi những câu hỏi ấy được đặt ra trong sự thành thật, người phục vụ có thể được thanh luyện khỏi một cám dỗ rất kín: làm nhiều việc cho Chúa nhưng dần ít ở với Chúa, nói nhiều về tình yêu nhưng dần không còn đủ khoảng lặng để yêu thương người đang đứng trước mặt.
Thánh Thể đưa chúng ta trở về với cuộc gặp gỡ ấy. Trước Chúa, chúng ta không cần phải có một câu chuyện thành công để trình bày. Chúng ta có thể mang theo một ngày làm việc chưa trọn, một cuộc cãi vã còn khiến mình xấu hổ, một nỗi lo không biết nói với ai, một niềm vui nhỏ chưa kịp cảm tạ. Điều quan trọng là chúng ta đến thật. Không chỉ đứng đó để hoàn thành một bổn phận, nhưng để cho Chúa gặp con người thật của mình. Có khi chúng ta không cảm thấy gì đặc biệt. Có khi tâm trí cứ chạy đi rồi phải được đưa trở lại nhiều lần. Có khi điều duy nhất có thể làm là ngồi yên và thưa rằng mình vẫn muốn ở đây. Những phút ấy không vô ích. Một mối tương quan không chỉ được nuôi dưỡng bằng những cuộc trò chuyện đầy cảm xúc, mà còn bằng sự hiện diện bền bỉ. Khi trở lại với Chúa qua những ngày bình thường, chúng ta dần học cách sống mà không bị cảm xúc nhất thời điều khiển. Chúng ta có thể bớt phản ứng vội vàng, bớt cần được khen ngay, bớt hoảng sợ khi mọi việc không theo kế hoạch. Ân sủng không biến chúng ta thành những con người không còn giới hạn, nhưng giúp chúng ta mang giới hạn ấy trong một tương quan được yêu thương, để từ đó có thể kiên nhẫn hơn với giới hạn của người khác.
Bí tích Hòa Giải là một nơi khác mà chúng ta không cần đợi một sự kiện phi thường mới có thể bắt đầu lại. Có người chờ đến khi mình đủ tốt mới trở về, nhưng càng chờ lại càng thấy khoảng cách lớn hơn. Có người nghĩ mình đã phạm cùng một lỗi quá nhiều lần nên không còn xứng đáng được tha thứ. Có người tránh xét mình vì sợ phải nhìn thấy những điều mình đã cố quên. Nhưng trở về với Chúa không phải là đem một cuộc đời đã tự sửa xong đến để xin xác nhận. Đó là đến với lòng thương xót để được tha thứ và nhận sức mạnh tiếp tục sửa đổi. Sự chân thành đòi chúng ta không xem việc xưng tội như một cách xóa cảm giác khó chịu rồi tiếp tục sống như cũ. Nếu đã làm hại người khác, chúng ta cần tìm cách sửa chữa trong khả năng của mình. Nếu biết một hoàn cảnh thường kéo mình vào tội, chúng ta cần có những bước cụ thể để thay đổi. Nếu một thói quen đã thành sự lệ thuộc, chúng ta cần sự trợ giúp thích hợp. Nhưng tất cả những điều đó được thực hiện từ niềm tin rằng mình có thể đứng dậy, chứ không phải từ sự tuyệt vọng rằng mình đã bị loại bỏ. Người được tha thứ có thể học cách sống có trách nhiệm hơn vì không còn phải dùng hết sức để che giấu sự thật về mình.
Trong những quyết định quan trọng, chúng ta cũng cần học cách tìm kiếm ý Chúa bằng một thái độ trưởng thành. Có người muốn biết ngay mình phải làm gì, muốn có một tín hiệu rõ ràng để không còn phải cân nhắc. Nhưng đời sống thường đòi sự kiên nhẫn của việc lắng nghe, suy nghĩ, tham khảo, cầu nguyện và chịu trách nhiệm. Không thể lấy một cảm xúc thoáng qua làm bằng chứng chắc chắn rằng một chọn lựa là đúng. Cũng không thể xem mọi khó khăn là dấu hiệu phải bỏ cuộc. Có việc đúng vẫn khiến chúng ta sợ, vì nó đòi phải ra khỏi sự quen thuộc. Có việc sai lại đem đến cảm giác dễ chịu ngay, vì nó giúp chúng ta tránh một trách nhiệm nặng nề. Bởi vậy, chúng ta cần xét chọn lựa ấy có phù hợp với sự thật và các bổn phận của mình không, có tôn trọng phẩm giá của những người liên quan không, có làm mình trung thực hơn không, có giúp mình yêu thương cách có trách nhiệm hơn không. Chúng ta cần phân biệt giữa bình an sâu xa và sự nhẹ nhõm do vừa trốn được một điều khó. Cũng cần phân biệt giữa lòng quảng đại và sự bốc đồng muốn làm thật nhiều để được người khác công nhận. Một chọn lựa trưởng thành có thể được thực hiện trong run sợ, nhưng vẫn giữ được sự ngay thẳng. Một quyết định tốt không miễn chúng ta khỏi mọi thử thách; nó giúp chúng ta biết vì sao mình chấp nhận đi qua thử thách ấy.
Chúng ta càng lớn lên trong đức tin càng nhận ra không phải mọi chuyện xảy đến đều có thể được giải thích ngay như một thông điệp riêng Chúa gửi. Một lần thất bại không nhất thiết là hình phạt. Một cơn bệnh không phải bằng chứng rằng người bệnh thiếu lòng tin. Một sự thuận lợi cũng không tự động chứng minh rằng mọi chọn lựa của mình đều đúng. Chúng ta cần tránh biến đời sống thành một hệ thống đoán ý Chúa qua từng biến cố, vì điều đó dễ khiến người ta lo sợ và có những quyết định thiếu sáng suốt. Điều chúng ta có thể làm là đem mọi hoàn cảnh vào tương quan với Chúa và hỏi: trong việc này, con có thể sống trung tín, yêu thương và có trách nhiệm thế nào? Nếu bệnh, con có thể tìm sự chữa trị và đón nhận sự chăm sóc. Nếu thất bại, con có thể nhìn lại những điều cần học. Nếu được thuận lợi, con có thể biết ơn và sử dụng điều mình có cách công bằng. Nếu bị tổn thương, con có thể tìm sự trợ giúp và không để vết thương biến mình thành người tiếp tục gây hại. Đức tin giúp chúng ta sống những thực tế ấy trong hy vọng. Nó không đòi chúng ta phải biết lý do của tất cả mọi điều trước khi có thể bước tiếp.
Có một điều rất đẹp khi người tín hữu bắt đầu nhận ra rằng mình cũng được mời trở thành một dấu chỉ của tình yêu Chúa cho người khác. Có người đang cầu xin được gặp một chút lòng tốt, và lời cầu xin ấy có thể được đáp lại qua cách chúng ta dành thời gian cho họ. Có người đang nghĩ mình không còn giá trị, và một thái độ tôn trọng của chúng ta có thể giúp họ lấy lại can đảm. Có người đã mất lòng tin vào những lời hứa, và sự trung thành âm thầm của chúng ta có thể mở một khe cửa nhỏ. Có người đang chịu gánh nặng mà không ai biết, và một sự giúp đỡ kín đáo có thể làm ngày của họ bớt tối. Chúng ta không phải là Đấng Cứu Thế, không thể giải quyết mọi vấn đề, không thể mang thay tất cả những đau khổ. Nhưng chúng ta có thể để Chúa dùng những điều nhỏ mình làm. Điều ấy giải thoát chúng ta khỏi cả sự tự cao lẫn sự bất lực. Chúng ta không cần tưởng rằng mọi sự tùy thuộc vào mình; cũng không cần nghĩ vì mình không làm được tất cả nên làm một chút chẳng có ý nghĩa gì. Một ly nước được trao đúng lúc vẫn có giá trị. Một cuộc gọi chân thành vẫn có giá trị. Một lời nói bảo vệ người vắng mặt vẫn có giá trị. Một lần từ chối tham gia vào sự gian dối vẫn có giá trị. Tình yêu được thực hiện luôn để lại một điều tốt, dù chúng ta không nhìn thấy hết những gì nó sẽ làm.
Điều cần thiết là những việc tốt ấy được làm bằng một trái tim tự do. Nếu giúp người khác chỉ để họ biết ơn, chúng ta sẽ sớm thất vọng. Nếu phục vụ chỉ để được nhìn nhận, chúng ta sẽ dễ cay đắng khi người khác được khen hơn mình. Nếu sống tốt chỉ vì sợ bị đánh giá, chúng ta sẽ khó giữ được sự ngay thẳng khi không có ai biết. Tình yêu Chúa mời chúng ta đi sâu hơn, đến chỗ làm điều tốt vì điều ấy thật sự tốt, vì người ấy có phẩm giá, vì mình đã được yêu thương và muốn trao điều đã nhận. Sự tự do này không đến trong một ngày. Nó lớn lên qua những lần chúng ta nhận ra ý riêng đang chen vào và nhẹ nhàng đưa lòng mình trở lại. Có khi mình đang giúp mà vẫn mong được cảm ơn; nhận ra điều đó không có nghĩa phải ngừng giúp, nhưng là cơ hội để thanh luyện động cơ. Có khi mình đang phục vụ mà thấy buồn vì không được ghi nhận; chúng ta có thể thành thật đem nỗi buồn ấy đến với Chúa thay vì để nó biến thành lời trách móc. Người không đòi một trái tim hoàn toàn trong sáng rồi mới cho phép chúng ta yêu. Người dạy chúng ta yêu trong khi tiếp tục chữa lành trái tim ấy. Mỗi lần chọn điều thiện với ít nhu cầu chiếm hữu hơn, chúng ta đã tiến thêm một bước.
Đức Maria giúp chúng ta học sự hiện diện trung tín ấy. Cuộc đời của Mẹ không phải là một con đường trong đó mọi điều đều được giải thích trước. Mẹ phải đi qua những điều chưa hiểu, những chặng đường vất vả, những mất mát đau đớn. Nhưng Mẹ vẫn giữ một trái tim lắng nghe và một sự sẵn lòng đáp lại. Trong đời sống của chúng ta, có những ngày cần làm như thế: giữ điều mình chưa hiểu trước mặt Chúa, không vội đưa ra một kết luận tuyệt vọng, không để một biến cố khó khăn xóa bỏ tất cả những ân huệ đã nhận. Chúng ta có thể xin Mẹ dạy mình sự kiên nhẫn của người đang đồng hành với một đứa con chậm trưởng thành, sự dịu dàng của người đang chăm một người bệnh, sự vững vàng của người phải đưa ra một quyết định khó, sự khiêm nhường của người biết mình cũng cần được giúp. Sự trung tín không luôn có vẻ lớn lao. Có khi nó là chuẩn bị một bữa ăn trong lúc lòng đang buồn, tiếp tục một công việc cần thiết trong lúc không được ai chú ý, ngồi bên một người mà mình chưa biết phải an ủi thế nào, giữ một lời kinh ngắn giữa một ngày đầy lo lắng. Những việc ấy có thể trở thành nơi tình yêu được gìn giữ. Và khi tình yêu được gìn giữ, con người vẫn có một con đường để đi về phía sự sống.
Vậy hôm nay, chúng ta sẽ đáp lại Tin Mừng bằng điều gì? Có lẽ không cần một kế hoạch quá lớn đến mức vừa nghĩ tới đã thấy mệt. Có thể bắt đầu bằng một sự thật mình đã né tránh. Có thể là trả lại một điều không thuộc về mình. Có thể là xin lỗi một người mà mình đã làm tổn thương. Có thể là đặt điện thoại xuống để nghe con nói. Có thể là đến thăm cha mẹ, tìm sự trợ giúp cho một vấn đề đang vượt quá khả năng, trở lại với bí tích Hòa Giải, dành ít phút cầu nguyện cách thành thật. Có thể là ngừng kể một câu chuyện gây hại cho người khác, ngừng dùng lời đạo đức để che đậy sự thiếu công bằng, ngừng đòi người bên cạnh phải luôn làm mình hài lòng. Một bước nhỏ nhưng thật sẽ đưa chúng ta đi xa hơn nhiều lời hứa lớn mà không được thực hiện. Đừng xem thường điều tốt mình có thể làm hôm nay. Chúng ta không biết ngày mai sẽ có những cơ hội nào, nhưng cơ hội hiện tại đang ở trong tay. Đừng để việc chờ một điều phi thường khiến mình bỏ qua người đang cần một hành động rất bình thường. Đừng để mong muốn hiểu hết mọi sự làm mình chậm sống điều đã rõ. Và đừng nghĩ phải có một đức tin mạnh mẽ mới có thể đến với Chúa. Chính khi đến với Người bằng sự yếu đuối của mình, chúng ta mới học được cách tin.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con nhận ra những lần mình đã dùng việc chờ đợi để trì hoãn điều tốt. Xin soi sáng những điều chúng con không muốn nhìn, nhưng cũng xin giữ chúng con trong lòng thương xót để sự thật không làm chúng con tuyệt vọng. Xin cho chúng con biết lắng nghe trước khi tự vệ, biết nhận lỗi trước khi đổ lỗi, biết làm hòa trước khi khoảng cách trở nên quá lớn. Xin đi vào những gia đình đang mỏi mệt, những cuộc hôn nhân đang thiếu lời nói chân thành, những người trẻ đang loay hoay tìm hướng đi, những người già đang sợ mình trở thành gánh nặng, những người bệnh đang chờ một bàn tay ở lại. Xin giúp chúng con trở thành những bàn tay ấy trong khả năng của mình. Xin thanh luyện lòng đạo đức của chúng con để mỗi lời kinh đưa chúng con đến gần người khác hơn, mỗi lần dự lễ giúp chúng con sống có trách nhiệm hơn, mỗi lần được tha thứ giúp chúng con bớt khắt khe hơn. Xin cho chúng con biết quý trọng sự hiện diện của Chúa trong những ngày không có gì đặc biệt. Khi chưa hiểu, xin cho chúng con vẫn thành thật tìm kiếm. Khi mệt mỏi, xin cho chúng con biết nghỉ ngơi và đón nhận sự nâng đỡ. Khi sa ngã, xin cho chúng con đủ khiêm nhường để trở về. Khi được thuận lợi, xin cho chúng con biết cảm tạ và chia sẻ. Và khi đứng trước một điều tốt cần làm, xin cho chúng con đừng đợi thêm một dấu lạ, nhưng biết đáp lại bằng chính cuộc đời mình, ngay hôm nay. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
ĐỪNG ĐỢI MỘT DẤU LẠ MỚI ĐỂ BẮT ĐẦU ĐỔI MỚI CUỘC ĐỜI
Có những người đi hết một đời để chờ một điều khác thường xảy ra, nhưng lại bỏ qua biết bao điều tốt lành đang âm thầm được trao cho mình mỗi ngày. Họ mong một biến cố đủ mạnh để đánh thức đức tin, một phép lạ đủ rõ để chấm dứt mọi nghi ngờ, một lời đáp đủ trực tiếp để không còn phải dò dẫm giữa những bất định của cuộc sống. Họ nghĩ rằng nếu Thiên Chúa cho họ thấy một điều thật lớn lao, họ sẽ tin sâu hơn, cầu nguyện sốt sắng hơn, sống tử tế hơn, tha thứ dễ dàng hơn. Nhưng ngày này qua ngày khác, khi điều họ mong đợi chưa xuất hiện, họ tiếp tục giữ nguyên cuộc sống cũ. Lời xin lỗi vẫn chưa được nói. Một người thân vẫn bị đối xử lạnh nhạt. Một bất công vẫn chưa được sửa chữa. Một thói quen gây tổn thương vẫn được dung túng. Một quyết định ngay lành vẫn bị trì hoãn. Đằng sau sự chờ đợi có vẻ đạo đức ấy, đôi khi là một trái tim chưa muốn bước ra khỏi vùng an toàn của mình. Chúng ta muốn Thiên Chúa hành động trước theo cách chúng ta lựa chọn, rồi mới tính đến chuyện mình phải thay đổi. Chúng ta muốn có đủ bảo đảm trước khi trao lòng tin, muốn nhìn thấy kết quả trước khi bắt đầu yêu thương, muốn biết chắc mình không thiệt thòi trước khi sống quảng đại. Thế nhưng, đức tin không trưởng thành bằng cách buộc Thiên Chúa phải liên tục chứng minh rằng Người xứng đáng được tin. Đức tin trưởng thành khi con người nhận ra mình đã được yêu thương, đã được mời gọi, đã được nâng đỡ, và bắt đầu đáp lại bằng chính cuộc đời của mình.
Trong Tin Mừng của ngày hôm nay, đám đông đến với Đức Giê-su ngày càng đông. Nhưng sự đông đảo ấy không tự động có nghĩa là lòng tin đang lớn lên. Người ta có thể đứng rất gần Đức Giê-su mà lòng vẫn ở rất xa Người. Người ta có thể nghe Người nhiều lần mà vẫn không cho phép lời Người đi vào những chỗ sâu kín nhất của tâm hồn. Người ta có thể biết những việc Người làm, chứng kiến người đau khổ được nâng dậy, thấy một cuộc đời bị trói buộc được giải thoát, nhưng vẫn tiếp tục đòi một bằng chứng khác. Khi trái tim đã khép lại, điều tốt lành trước mắt cũng có thể bị giải thích thành một điều đáng ngờ. Khi người ta nhất quyết bảo vệ quan điểm của mình, mọi ánh sáng đều phải đi qua một cánh cửa rất hẹp, và cánh cửa ấy thường bị khóa từ bên trong. Vì thế, lời cảnh tỉnh của Đức Giê-su không chỉ nhắm đến những người đang vây quanh Người vào thời ấy. Lời ấy chạm đến mọi người có thói quen trì hoãn sự hoán cải bằng những điều kiện do chính mình đặt ra. Nó chạm đến chúng ta khi chúng ta nghe lời mời gọi yêu thương mà chỉ nghĩ xem ai khác cần phải nghe. Nó chạm đến chúng ta khi chúng ta muốn được chữa lành nhưng không muốn nhìn nhận vết thương, muốn được tha thứ nhưng không muốn nhận trách nhiệm, muốn có bình an nhưng vẫn giữ nguyên những cách sống làm tan vỡ bình an của người khác.
Cần phân biệt sự kiếm tìm chân thành với thái độ đòi hỏi để khỏi phải đáp lại. Một người đang đau khổ có thể xin Chúa cho mình một dấu chỉ nâng đỡ. Một người đang khủng hoảng có thể mong được soi sáng. Một người đang vật lộn với đức tin có thể đặt những câu hỏi rất khó, rất thật, thậm chí rất đau. Những lời cầu xin như thế không đáng bị khinh thường. Thiên Chúa hiểu sự mong manh của con người. Người hiểu những đêm dài mà một người mẹ thức bên giường bệnh của con, những buổi chiều một người thất nghiệp trở về mà không biết ngày mai sẽ sống bằng gì, những lúc một người vừa mất người thân không còn tìm được lời cầu nguyện. Không thể nhìn mọi câu hỏi như một sự chống đối, cũng không thể xem mọi băn khoăn là thiếu lòng tin. Có những câu hỏi chính là tiếng kêu của một tâm hồn đang cố bám lấy Chúa giữa bóng tối. Nhưng cũng có một kiểu đòi dấu lạ khác: đòi để trì hoãn, đòi để đặt mình vào vị trí người kiểm tra Thiên Chúa, đòi để không phải thay đổi khi điều cần thay đổi đã quá rõ ràng. Người đang chân thành tìm kiếm sẽ sẵn sàng để ánh sáng hướng dẫn mình. Người chỉ muốn né tránh sẽ liên tục dời điều kiện sang một chỗ khác. Hôm nay họ muốn một phép lạ. Nếu phép lạ xảy ra, ngày mai họ muốn một sự giải thích khác. Nếu được giải thích, họ lại đòi một bảo đảm mới. Không có bằng chứng nào đủ cho một trái tim đã quyết định không đáp lại.
Nhìn vào chính mình, chúng ta có thể nhận ra rất nhiều điều đã rõ mà mình vẫn chưa sống. Chúng ta biết một lời nói cay nghiệt có thể làm người thân đau đớn, nhưng vẫn nói vì muốn thắng. Chúng ta biết người già trong nhà cần được lắng nghe, nhưng vẫn để họ sống giữa một mái nhà đầy người mà thiếu một người thật sự trò chuyện. Chúng ta biết con cái cần sự hiện diện của cha mẹ, nhưng vẫn dùng công việc để giải thích cho mọi lần vắng mặt. Chúng ta biết làm ăn gian dối gây thiệt hại cho người khác, nhưng vẫn gọi đó là sự khôn ngoan cần thiết. Chúng ta biết mình đã xúc phạm một người, nhưng vẫn chờ họ chủ động trước. Những điều ấy không cần một hiện tượng lạ trên bầu trời mới có thể hiểu. Chúng cần một trái tim đủ khiêm nhường để làm điều mình đã hiểu. Có khi trở ngại lớn nhất của đời sống thiêng liêng không nằm ở chỗ chúng ta chưa biết ý Chúa, mà ở chỗ chúng ta đã biết một phần rất rõ nhưng chưa muốn sống. Bởi vậy, trước khi xin thêm ánh sáng, chúng ta cần thành thật hỏi mình đã làm gì với ánh sáng đang có. Trước khi xin Chúa mở một cánh cửa mới, chúng ta cần nhìn xem cánh cửa Người đã mở có bị chính sự sợ hãi, ích kỷ hay tự ái của mình chặn lại hay không.
Hình ảnh Giô-na đưa chúng ta về với một lời mời gọi rất căn bản: trở lại. Người dân Ni-ni-vê đã để một lời cảnh báo đánh động mình. Điều đáng suy nghĩ là họ không đợi mọi sự trở nên hoàn hảo mới bắt đầu thay đổi. Họ không đòi người được sai đến phải có một lý lịch không tì vết, một giọng nói hợp ý, một cách trình bày khiến ai cũng hài lòng. Họ nhận ra cuộc sống của mình cần được sửa đổi và đáp lại. Đó là điều chúng ta thường thấy khó hơn mình tưởng. Chúng ta dễ đánh giá người mang đến lời nhắc nhở hơn là xét xem lời nhắc nhở ấy có đúng không. Nếu người ấy trẻ hơn, chúng ta cho rằng họ thiếu kinh nghiệm. Nếu người ấy có khuyết điểm, chúng ta nghĩ họ không có quyền góp ý. Nếu cách nói của họ làm chúng ta khó chịu, chúng ta lập tức bỏ qua cả điều đúng trong lời họ. Dĩ nhiên, một lời góp ý cần được nói với sự tôn trọng, và không ai có quyền dùng danh nghĩa sửa dạy để hạ nhục người khác. Nhưng sự thiếu khéo léo của một người không làm cho mọi điều họ nói đều sai. Thiên Chúa có thể giúp chúng ta nhận ra sự thật qua một người rất bình thường, qua một câu nói không được chuẩn bị, qua một cuộc gặp gỡ khiến chúng ta bối rối, thậm chí qua một người mà trước đó chúng ta không muốn lắng nghe.
Có những lúc, người giúp một người cha nhận ra mình cần thay đổi lại là đứa con nhỏ đang sợ tiếng bước chân của cha mỗi khi cha trở về. Có những lúc, người đánh thức một người mẹ lại là đứa con đã thôi kể chuyện trường lớp vì quá nhiều lần bị ngắt lời. Có những lúc, lời nhắc nhở cần thiết cho một người có trách nhiệm trong cộng đoàn lại đến từ một người ít nói, ít được chú ý, nhưng đã chịu đựng một cách tổ chức thiếu công bằng quá lâu. Có những lúc, chính sự im lặng của người bạn đời cho thấy một vết rạn mà chúng ta cố tình không nhìn nhận. Không phải mọi sự im lặng đều có cùng một ý nghĩa, nhưng một người biết yêu sẽ không chỉ hỏi vì sao người kia không nói; họ còn hỏi mình đã tạo được một nơi an toàn để người kia nói hay chưa. Hoán cải bắt đầu khi chúng ta ngừng coi mình là người duy nhất có quyền giải thích mọi sự. Hoán cải bắt đầu khi chúng ta chấp nhận rằng người khác cũng có một nỗi đau đáng được nghe, một kinh nghiệm đáng được tôn trọng, một sự thật có thể giúp chúng ta sống đúng hơn. Một tâm hồn khép kín có thể biến mọi lời góp ý thành sự xúc phạm. Một tâm hồn khiêm nhường có thể tìm thấy trong lời góp ý một cơ hội để được cứu khỏi chính những thói quen đang làm mình và người khác đau khổ.
Ni-ni-vê còn nhắc chúng ta rằng không một cộng đoàn nào được đổi mới nếu mọi người chỉ yêu cầu người khác hoán cải. Trong một gia đình, người cha có thể đòi con cái biết nghe lời, người mẹ có thể đòi chồng biết quan tâm, con cái có thể đòi cha mẹ biết hiểu mình, nhưng nếu không ai bắt đầu từ trách nhiệm của bản thân thì những yêu cầu ấy chỉ tạo thêm căng thẳng. Một giáo xứ cũng có thể nói rất nhiều về hiệp nhất, nhưng vẫn giữ cách đối xử khiến một số người luôn được ưu tiên còn một số khác luôn bị bỏ quên. Một nhóm phục vụ có thể hăng hái tổ chức những công việc lớn, nhưng lại thiếu sự tế nhị với người đang mệt mỏi ngay trong nhóm mình. Một cộng đoàn có thể cầu nguyện cho hòa bình mà không chịu sửa cách tranh luận đầy khinh miệt giữa các thành viên. Sự hoán cải chung cần được hình thành từ những lựa chọn cụ thể của từng người. Người có trách nhiệm biết nhận lỗi sẽ mở một lối đi cho người khác. Người có ảnh hưởng biết từ bỏ một đặc quyền không chính đáng sẽ giúp cộng đoàn trở nên công bằng hơn. Người đang bất hòa biết nói một lời chân thành sẽ làm dịu một bầu khí vốn đã căng thẳng. Chúng ta không thể quyết định thay cho mọi người, nhưng có thể chấm dứt phần góp sức của mình vào điều đang làm tổn thương cộng đoàn.
Hình ảnh nữ hoàng Phương Nam lại mở ra một câu hỏi khác: chúng ta có thật sự khao khát sự khôn ngoan hay chỉ muốn tìm một điều củng cố ý riêng? Muốn gặp sự khôn ngoan, người ta phải chấp nhận lên đường. Lên đường nghĩa là rời khỏi một số thói quen, dành thời gian, chịu bất tiện, thừa nhận rằng mình cần được học hỏi. Đời sống đức tin cũng đòi một cuộc lên đường như thế. Có người muốn hiểu Chúa nhưng không bao giờ dành thời gian để đọc Tin Mừng cách chậm rãi. Có người muốn có một tâm hồn bình an nhưng luôn để mình bị kéo đi bởi những cuộc tranh cãi, những tin tức kích động, những so sánh không ngừng. Có người muốn cầu nguyện sâu hơn nhưng không chịu để điện thoại xuống dù chỉ vài phút. Có người muốn sống gần Chúa nhưng chỉ dành cho Người những khoảng thời gian thừa, sau khi mọi điều khác đã được ưu tiên. Không phải ai cũng có nhiều giờ rảnh; có những người lao động vất vả từ sáng đến tối, có những người chăm sóc bệnh nhân gần như không có thời gian riêng. Nhưng lòng khao khát sẽ tìm ra một cách đáp lại phù hợp với hoàn cảnh. Một người có thể cầu nguyện trong lúc đi đường, dâng công việc khi bắt đầu một ca làm, giữ một câu Tin Mừng trong lòng khi chăm sóc người bệnh, dành ít phút cuối ngày để nhìn lại cách mình đã sống. Điều cần xét không chỉ là lượng thời gian, mà còn là tình yêu đang hướng dẫn việc sử dụng thời gian ấy.
Sự khôn ngoan mà chúng ta tìm nơi Đức Giê-su đi sâu hơn những lời khuyên giúp cuộc sống thuận lợi. Người đưa chúng ta đến một cách nhìn mới về giá trị của con người, về thành công, về đau khổ, về tha thứ, về sự sống. Trong một thế giới thường đo giá trị bằng khả năng sở hữu, Người dạy chúng ta nhìn thấy phẩm giá của người không có gì để trao đổi. Trong một môi trường dễ xem người yếu thế là gánh nặng, Người giúp chúng ta nhận ra trách nhiệm chăm sóc. Khi chúng ta muốn dùng quyền lực để bảo vệ cái tôi, Người hướng chúng ta đến việc phục vụ. Khi chúng ta nghĩ mình chỉ có thể bình an sau khi mọi người khác thay đổi, Người mời chúng ta bắt đầu từ sự thật trong chính tâm hồn mình. Sự khôn ngoan ấy không luôn khiến chúng ta dễ chịu ngay lập tức. Có lúc nó làm chúng ta phải từ bỏ một điều mình đã quen dựa vào. Có lúc nó khiến chúng ta nhận ra thành công của mình có phần được xây trên sự thiệt thòi của người khác. Có lúc nó buộc chúng ta nhìn lại cách sử dụng tiền bạc, cách đối xử với nhân viên, cách nói về người có quan điểm khác, cách thực thi trách nhiệm trong gia đình. Nhưng chính sự thật ấy mở đường cho một cuộc sống tự do hơn, vì con người không còn phải liên tục che giấu điều sai hay bảo vệ một hình ảnh không đúng về mình.
Ở trung tâm của lời mời gọi hôm nay là chính Đức Giê-su. Chúng ta không chỉ được mời đón nhận một lời khuyên đạo đức hay sửa một vài thói quen. Chúng ta được mời bước vào tương quan với Người, để Người trở thành Đấng hướng dẫn cuộc sống. Có một khác biệt lớn giữa việc biết những điều về Đức Giê-su và việc để Người có chỗ trong các quyết định của mình. Chúng ta có thể nhớ nhiều câu chuyện Tin Mừng, thuộc nhiều kinh, quen mọi nghi thức, nhưng khi phải lựa chọn giữa sự thật và lợi ích trước mắt, chúng ta vẫn chỉ nghe tiếng nói của lợi ích. Chúng ta có thể tham dự nhiều sinh hoạt đạo đức, nhưng khi trở về nhà lại không đủ kiên nhẫn với một người già chậm chạp. Chúng ta có thể xúc động trước cuộc thương khó, nhưng không muốn dành thời gian cho người đang mang một nỗi khổ thật sự bên cạnh. Đức Giê-su muốn đi vào chính khoảng cách ấy, khoảng cách giữa điều chúng ta tuyên xưng và điều chúng ta sống. Người không bước vào để làm chúng ta tuyệt vọng về mình, nhưng để chữa lành sự chia đôi đang khiến đức tin trở nên mệt mỏi. Khi những lựa chọn nhỏ dần phù hợp với điều chúng ta tin, lòng sẽ bớt phải chống đỡ cho những mâu thuẫn bên trong. Khi lời cầu nguyện dẫn đến sự tử tế, và sự tử tế lại đưa chúng ta về với lời cầu nguyện, đời sống đức tin bắt đầu có một sự thống nhất sâu xa.
Chúng ta thường mong dấu lạ làm thay đổi hoàn cảnh, nhưng có những điều cần được thay đổi ngay trong cách mình đón nhận hoàn cảnh. Một người cầu xin cho gia đình được bình an có thể đang cần học cách nói mà không làm nhục người thân. Một người cầu xin cho công việc được thuận lợi có thể đang cần sửa sự thiếu trách nhiệm của mình. Một người cầu xin được người khác tôn trọng có thể đang cần từ bỏ thói quen coi thường người yếu hơn. Một người cầu xin cộng đoàn hiệp nhất có thể đang cần ngừng kể lại những câu chuyện chưa được kiểm chứng. Điều này không có nghĩa mọi khó khăn đều do lỗi của người đang chịu khó khăn. Có những bất công rất thật, những bệnh tật không do ai lựa chọn, những mất mát vượt quá khả năng con người. Chúng ta cần hết sức cẩn trọng để không biến lời mời gọi hoán cải thành một cách đổ lỗi cho nạn nhân. Nhưng ngay trong những hoàn cảnh không do mình gây ra, mỗi người vẫn có thể hỏi đâu là bước ngay lành mình được mời thực hiện. Có khi đó là tìm sự giúp đỡ. Có khi đó là đặt một giới hạn cần thiết. Có khi đó là ngừng tự trách mình vì một điều nằm ngoài quyền kiểm soát. Có khi đó là chấp nhận để người khác đồng hành. Hoán cải không luôn có nghĩa làm nhiều hơn; đôi lúc nó có nghĩa từ bỏ sự cố chấp muốn tự mình mang tất cả.
Trong gia đình, lời mời gọi ấy trở nên rất cụ thể. Một mái nhà có thể có bàn thờ đẹp, những ảnh tượng được gìn giữ cẩn thận, những giờ kinh được duy trì đều đặn, nhưng vẫn cần được đổi mới trong cách các thành viên đối xử với nhau. Giờ kinh không thay thế cho việc xin lỗi. Việc đi lễ không cho phép người ta bỏ qua sự công bằng trong nhà. Sự nghiêm khắc không tự động là trách nhiệm, cũng như sự chiều chuộng không tự động là tình thương. Một người cha cần đủ can đảm để nhìn nhận rằng tiếng quát của mình đã làm con sợ. Một người mẹ cần đủ bình tâm để nghe điều con đang muốn nói trước khi đưa ra kết luận. Người con trưởng thành cần nhận ra cha mẹ không chỉ là những người cung cấp tiền bạc hay giải quyết khó khăn. Người vợ và người chồng cần nhớ rằng người đang sống cạnh mình không phải một đối thủ phải bị khuất phục. Có những gia đình đã quen nói với nhau bằng mệnh lệnh đến mức không còn biết hỏi một câu quan tâm. Có những gia đình không có cuộc cãi vã lớn nhưng lại bị bào mòn bởi sự lạnh nhạt kéo dài. Có những người vẫn làm đủ bổn phận bên ngoài nhưng đã thôi nhìn người thân bằng lòng thương. Dấu chỉ của một sự đổi mới có thể bắt đầu rất nhỏ: một bữa cơm có người thật sự lắng nghe, một lời xin lỗi không kèm theo biện minh, một buổi tối cha mẹ hiện diện với con, một lần người trong nhà dám nói về điều mình đang sợ mà không bị chế giễu.
Đối với những người đang mang một vết thương trong gia đình, lời mời gọi hoán cải cũng cần được đón nhận bằng sự khôn ngoan. Tha thứ không buộc một người phải phủ nhận điều đã xảy ra. Yêu thương không yêu cầu ai tiếp tục ở trong một tình trạng bạo lực mà không tìm sự bảo vệ. Bình an không được xây bằng việc bắt người bị tổn thương im lặng để giữ thể diện cho người gây tổn thương. Một sự trở lại đích thực cần có sự thật, trách nhiệm và những thay đổi có thể nhận thấy. Người đã gây đau khổ cần ngừng hành vi ấy, chấp nhận hậu quả, tìm sự giúp đỡ phù hợp và kiên nhẫn xây dựng lại lòng tin. Người đã chịu đau khổ cần được nâng đỡ, được nghe, được bảo vệ phẩm giá. Trong những hoàn cảnh như vậy, đừng chờ một dấu lạ làm mọi chuyện tự nhiên tốt đẹp trong khi những bước cần thiết vẫn bị bỏ qua. Chúa có thể mở đường qua những người biết đồng hành, qua sự tư vấn đáng tin cậy, qua một quyết định bảo vệ người yếu thế, qua sự can đảm nói rõ điều không thể tiếp tục. Tình yêu của Thiên Chúa không khuyến khích chúng ta làm ngơ trước sự dữ. Tình yêu ấy giúp chúng ta đối diện với sự dữ mà không để nó quyết định toàn bộ tương lai của mình.
Trong đời sống cộng đoàn, chúng ta cũng dễ bị cuốn hút bởi điều gây chú ý. Một chương trình đông người, một sự kiện được chia sẻ rộng rãi, một công trình lớn, một thành tích được nhắc đến nhiều có thể tạo cảm giác mọi sự đang rất tốt. Nhưng sự sống của một cộng đoàn cần được nhìn cả ở những nơi ít người chú ý: cách đón tiếp người nghèo, cách chăm sóc người bệnh, cách xử lý một lời phàn nàn, cách tôn trọng người phục vụ âm thầm, cách sử dụng tiền chung, cách sửa một sai sót. Một cộng đoàn có thể rất năng động mà vẫn khiến một người mới đến cảm thấy không có chỗ. Một nhóm có thể nói nhiều về bác ái mà vẫn dành phần việc nặng cho những người ít có tiếng nói. Một người có thể nhiệt tình phục vụ nhưng dùng sự nhiệt tình ấy để giành quyền kiểm soát. Vì thế, chúng ta cần để Đức Giê-su soi sáng cả điều mình đang làm nhân danh Người. Người phục vụ cũng cần hoán cải. Người hướng dẫn cũng cần lắng nghe. Người thường xuyên khuyên bảo người khác cũng cần có người giúp mình nhìn lại. Khi một cộng đoàn biết nhận lỗi và sửa lỗi, đó là một dấu chỉ hy vọng rất thật. Khi người yếu thế được bảo vệ ngay cả lúc việc bảo vệ ấy gây bất tiện cho người có ảnh hưởng, đức tin đang đi vào đời sống. Khi một người ít được chú ý được gọi bằng tên và được hỏi han chân thành, tình yêu đã trở nên cụ thể.
Cám dỗ tìm dấu lạ còn có thể làm chúng ta bỏ quên vẻ đẹp của lòng trung tín. Chúng ta dễ nhớ một khoảnh khắc xúc động, nhưng ít chú ý đến những người đã sống tử tế bền bỉ qua nhiều năm. Một người vợ chăm sóc chồng bệnh không được nhiều người biết đến. Một người chồng âm thầm thay đổi cách sống để gia đình được an toàn hơn không làm nên một câu chuyện ồn ào. Một người trẻ giữ sự ngay thẳng trong công việc dù chịu thiệt thòi không luôn được khen ngợi. Một người già tiếp tục cầu nguyện cho con cháu trong khi sức khỏe suy yếu không tạo ra một biến cố gây kinh ngạc. Nhưng chính những cuộc đời ấy cho thấy sức mạnh của tình yêu. Họ không chờ cảm xúc đẹp mới làm điều đúng. Họ không cần được nhìn thấy mới tiếp tục phục vụ. Họ có thể mệt, có thể buồn, có thể có lúc muốn bỏ cuộc, nhưng vẫn tìm cách đáp lại điều ngay lành trong ngày hôm nay. Không nên lý tưởng hóa sự chịu đựng đến mức quên nhu cầu được nghỉ ngơi và nâng đỡ của họ. Người trung tín cũng cần được chăm sóc. Tuy vậy, khi nhìn vào họ, chúng ta học được rằng ân sủng có thể hoạt động rất sâu trong một cuộc sống không có gì gây chú ý. Thiên Chúa có thể làm một điều lớn lao bằng cách giúp một người tiếp tục yêu thương cách khôn ngoan qua những ngày rất bình thường.
Một trở ngại khác đối với sự hoán cải là cảm giác mình đã quen với Chúa. Sự quen thuộc có thể là một ân huệ, vì nó giúp chúng ta có một nền tảng đức tin từ nhỏ. Nhưng nếu không được nuôi dưỡng bằng tình yêu và sự chú tâm, nó cũng có thể khiến chúng ta nghe mà không còn thật sự nghe. Chúng ta biết giờ nào đứng, giờ nào ngồi, câu kinh nào tiếp theo, bài Tin Mừng nào thường được đọc, nhưng lòng lại đi nơi khác. Chúng ta có thể đến nhà thờ thường xuyên mà không còn mong một cuộc gặp gỡ. Chúng ta có thể đọc lời cầu nguyện mà không để lời ấy chạm đến điều mình đang sống. Khi đó, một người mới bắt đầu tìm Chúa có thể làm chúng ta ngạc nhiên bởi sự chân thành của họ. Họ hỏi điều chúng ta đã thôi hỏi, trân trọng điều chúng ta đã xem là đương nhiên, vui mừng trước điều chúng ta đi qua cách hững hờ. Điều ấy không phải để người sống đạo lâu năm xấu hổ, nhưng để tất cả cùng được đánh thức. Không ai sở hữu Thiên Chúa bằng thâm niên. Không ai được miễn khỏi lời mời gọi trở lại vì mình đã phục vụ nhiều năm. Mỗi ngày, người môn đệ vẫn cần học cách đón nhận, vẫn cần cho phép Đức Giê-su dẫn mình đi xa hơn những điều mình đã quen.
Sự hoán cải có một chiều sâu đặc biệt khi chúng ta thôi so sánh tội lỗi của mình với tội lỗi của người khác để tự trấn an. Chúng ta có thể nghĩ mình không làm điều gì quá nghiêm trọng, vẫn đi lễ, vẫn giữ những bổn phận căn bản, vẫn tốt hơn một số người. Nhưng tình yêu không thể lớn lên mãi bằng sự so sánh ấy. Một người chỉ cố giữ mình ở mức ít sai hơn người khác sẽ khó nhận ra tiếng gọi trở nên quảng đại hơn. Câu hỏi cần thiết không chỉ là mình đã tránh được điều gì, mà còn là mình đã bỏ qua điều tốt nào có thể làm. Có ai đang cần một cuộc điện thoại mà mình cứ trì hoãn? Có ai đã nhiều lần tìm sự giúp đỡ nhưng mình chỉ đáp bằng lời khuyên cho xong? Có người nào mình đối xử công bằng trên giấy tờ nhưng thiếu sự tôn trọng trong thực tế? Có một bổn phận nào mình giao cho người khác vì không muốn bất tiện? Có một lời đồn nào mình góp phần lan truyền mà chưa bao giờ nghĩ đến thiệt hại của người bị nói đến? Những câu hỏi ấy giúp chúng ta đi sâu vào đời sống thật. Chúng không nhằm tạo ra sự lo âu liên tục, nhưng giúp lương tâm trở nên nhạy bén trước tình yêu. Người biết mình được Chúa thương có thể nhìn nhận thiếu sót mà không phải sụp đổ, vì họ biết sự thật là nơi ân sủng có thể bắt đầu chữa lành.
Bí tích Hòa Giải là một nơi đặc biệt để chúng ta ngừng chờ đợi và bắt đầu trở về. Có người trì hoãn việc xưng tội vì xấu hổ, có người vì sợ phải nói lại những lỗi đã tái phạm, có người vì nghĩ mình cần tự sửa được trước rồi mới đến. Nhưng người đang bị thương không cần đợi vết thương lành mới tìm sự chữa trị. Sự trở về bắt đầu bằng việc thành thật nhìn nhận điều đang cần được cứu chữa. Điều quan trọng không chỉ là kể ra một danh sách, mà là để lòng mình mở ra với lòng thương xót và sẵn sàng thực hiện những bước sửa đổi cụ thể. Nếu đã gây thiệt hại, cần tìm cách đền bù trong khả năng và theo trách nhiệm của mình. Nếu đã làm tổn thương người khác bằng lời nói, cần học cách ngừng lặp lại và xin lỗi khi phù hợp. Nếu một thói quen xấu đã ăn sâu, cần nhận ra những hoàn cảnh khiến mình dễ vấp ngã và tìm sự đồng hành. Có những cuộc đổi mới cần thời gian, có những điều cần được hỗ trợ bằng những phương tiện rất thực tế. Ân sủng không làm trách nhiệm biến mất; ân sủng giúp chúng ta có sức mang trách nhiệm ấy. Mỗi lần trở về chân thành là một bước ra khỏi sự cô lập của tội lỗi, một lần thôi tự bảo vệ bằng những lý do, một lần để Thiên Chúa yêu mình ngay tại nơi mình đang yếu đuối.
Cũng có người đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn thấy mình chậm thay đổi. Họ cầu nguyện, xét mình, xin tha thứ, quyết tâm, rồi lại vấp ngã. Trong hoàn cảnh ấy, lời mời gọi hoán cải cần đi cùng sự kiên nhẫn. Không nên vì chưa thấy kết quả lớn mà phủ nhận mọi bước nhỏ. Một người trước đây nổi nóng ngay lập tức, nay đã biết dừng lại vài giây để không nói điều gây tổn thương, đang có một thay đổi đáng quý. Một người trước đây luôn đổ lỗi, nay đã có thể nhận một phần trách nhiệm, đang mở cửa cho sự thật. Một người đã nhiều năm sống xa Chúa, nay bắt đầu cầu nguyện vụng về, đang thực hiện một cuộc trở về. Nhưng kiên nhẫn cũng khác với việc dễ dãi trước điều sai. Chúng ta cần vừa tin vào lòng thương xót vừa nghiêm túc với những quyết định của mình. Khi vấp ngã, hãy nhìn xem điều gì đã xảy ra, đâu là điểm cần sửa, ai có thể giúp, bước tiếp theo là gì. Đừng biến một lần thất bại thành bản án cho toàn bộ cuộc đời. Cũng đừng dùng lòng thương xót như một lý do để không chuẩn bị cho lần thử thách tiếp theo. Thiên Chúa muốn chúng ta đứng dậy, và sự đứng dậy ấy có thể bắt đầu bằng một hành động rất nhỏ nhưng thật.
Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần giúp lời mời gọi hôm nay trở thành một con đường có thể bước đi. Nếu chỉ dựa vào ý chí, chúng ta dễ mệt mỏi khi phải đối diện với những thói quen đã bám sâu, những vết thương đã kéo dài, những sợ hãi đã thành phản xạ. Chúng ta cần xin được soi sáng để nhận ra điều đúng, được sức mạnh để thực hiện điều đúng, được sự dịu dàng để không sửa mình bằng sự thù ghét chính mình, được lòng can đảm để không trốn tránh trách nhiệm. Chúa Thánh Thần có thể giúp một người nhận ra thời điểm cần im lặng, thời điểm cần nói, thời điểm cần chờ, thời điểm cần hành động. Người có thể mở một lối đi trong điều tưởng như bế tắc, nhưng chúng ta cần sẵn sàng bước vào lối đi ấy. Một lời cầu nguyện đơn sơ trước một cuộc đối thoại khó có thể giúp chúng ta bớt bị điều khiển bởi tự ái. Một phút dừng lại trước khi đưa ra quyết định có thể giúp chúng ta nhớ đến người sẽ chịu hậu quả. Một lần xét mình cuối ngày có thể làm rõ điều cần xin lỗi vào sáng hôm sau. Đời sống thiêng liêng được nuôi dưỡng bằng những lần trở về như thế, những lần chúng ta cho phép Thiên Chúa có tiếng nói trong một ngày vốn dễ bị lấp đầy bởi tiếng nói của lo âu, ham muốn và thói quen.
Đức Maria giúp chúng ta hiểu vẻ đẹp của một trái tim đón nhận. Mẹ không có một bản đồ cho mọi chặng đường sắp tới. Mẹ không được miễn khỏi những lúc khó hiểu, những cuộc lên đường vất vả, những biến cố đau đớn. Nhưng Mẹ để lời Thiên Chúa có chỗ trong lòng và tiếp tục bước đi trong sự tín thác. Sự tín thác ấy không phải một thái độ hời hợt trước đau khổ. Nó là sự gắn bó với Thiên Chúa ngay cả khi chưa nhìn thấy toàn bộ ý nghĩa của điều đang xảy ra. Chúng ta cũng cần học sự gắn bó ấy. Có những lời cầu nguyện chưa được đáp theo cách mình mong. Có những người mình thương vẫn chưa thay đổi. Có những nỗ lực chưa đem lại kết quả. Có những mất mát không thể bù đắp bằng một lời giải thích. Trong những lúc ấy, chúng ta có thể mang đến Chúa cả điều mình chưa hiểu, thay vì giả vờ mọi sự đều dễ dàng. Chúng ta có thể tiếp tục làm điều ngay lành trong phạm vi mình có thể, tiếp tục tìm sự nâng đỡ, tiếp tục giữ một khoảng thinh lặng cho lời Chúa. Một trái tim tin tưởng không phải lúc nào cũng bình thản; có khi nó run rẩy, nhưng vẫn không muốn rời xa Đấng mình yêu.
Việc Tin Mừng nhắc đến ngày phán xét làm cho lời mời gọi hoán cải trở nên nghiêm túc hơn. Những lựa chọn của chúng ta có ý nghĩa. Người bị bỏ quên có ý nghĩa. Nỗi đau chúng ta gây ra có ý nghĩa. Điều tốt chúng ta từ chối làm có ý nghĩa. Không thể sống như thể mọi sự đều sẽ tự tan biến mà không cần đối diện với sự thật. Nhưng sự nghiêm túc ấy không nhằm đẩy chúng ta vào sợ hãi vô vọng. Ngay hôm nay, chúng ta vẫn đang được mời trở về. Ngay hôm nay, vẫn có thể sửa một điều sai, tìm một người để xin lỗi, trả lại một điều không thuộc về mình, ngừng một hành vi gây tổn thương, bắt đầu một cách sống công bằng hơn. Lòng thương xót mở cho chúng ta một tương lai, còn trách nhiệm giúp chúng ta bước vào tương lai ấy cách chân thành. Nếu ngày phán xét khiến chúng ta nhận ra mình không thể mãi viện cớ, thì lòng thương xót giúp chúng ta nhận ra mình không cần mãi trốn chạy. Thiên Chúa biết toàn bộ cuộc đời chúng ta, cả điều người khác nhìn thấy lẫn điều không ai biết, cả những lần thất bại lẫn những cố gắng âm thầm. Trở về với Người là chấp nhận để cuộc đời được nhìn trong sự thật và được nâng đỡ bằng một tình yêu lớn hơn những sai lầm của mình.
Có lẽ một việc rất cần thiết sau khi nghe Tin Mừng hôm nay là chọn một điều cụ thể để bắt đầu. Đừng vội hứa đổi mới mọi sự trong một lúc. Hãy nhìn vào điều đang rõ nhất trước lương tâm. Nếu đó là một mối quan hệ bị tổn thương, hãy nghĩ đến bước có thể thực hiện cách chân thành và khôn ngoan. Nếu đó là một thói quen nói xấu, hãy quyết định ngừng ở chính cuộc trò chuyện tiếp theo. Nếu đó là sự thiếu trách nhiệm trong công việc, hãy hoàn thành điều mình đang nợ. Nếu đó là sự xa cách với Chúa, hãy dành một khoảng thời gian thật sự cho Người trong ngày hôm nay. Nếu đó là sự kiệt sức vì tự mang quá nhiều, hãy tìm một người đáng tin để xin giúp đỡ. Nếu đó là một bất công mình đang góp phần duy trì, hãy bắt đầu thay đổi phần thuộc trách nhiệm của mình. Một bước nhỏ được thực hiện có giá trị hơn nhiều dự định đẹp chỉ được giữ trong ý nghĩ. Điều ấy có thể không gây xúc động mạnh, không được ai biết, không làm cuộc sống thay đổi ngay tức khắc. Nhưng nó cho thấy trái tim đã bắt đầu đáp lại. Và khi đã có một bước chân thật, bước tiếp theo có thể được mở ra.
Đừng đợi đến khi hết sợ mới làm điều đúng. Đừng đợi đến khi lòng hoàn toàn bình an mới bắt đầu cầu nguyện. Đừng đợi đến khi người khác trở nên dễ thương mới học cách đối xử với họ bằng phẩm giá. Đừng đợi đến khi có thật nhiều thời gian mới dành sự hiện diện cho người thân. Đừng đợi đến khi mọi câu hỏi đều được giải đáp mới cho phép Đức Giê-su đồng hành. Có những điều chỉ sáng lên khi chúng ta bắt đầu sống. Người tập tha thứ sẽ hiểu thêm về tự do của lòng mình, dù tiến trình ấy có thể dài và cần nhiều nâng đỡ. Người tập phục vụ sẽ nhận ra những nhu cầu trước đây mình không thấy. Người tập cầu nguyện sẽ dần biết mình có thể mang đến Chúa cả những điều rất thật, rất vụng về. Người tập sống ngay thẳng sẽ hiểu sự bình an của việc không phải che giấu. Chúng ta không thể tạo ra ân sủng, nhưng có thể ngừng khép cửa trước ân sủng. Chúng ta không thể điều khiển mọi biến cố, nhưng có thể trao cho Thiên Chúa một sự đáp lại tự do. Chính sự đáp lại ấy làm cho ngày hôm nay, dù bình thường đến đâu, trở thành một ngày có ý nghĩa trong hành trình cứu độ của mình.
Lạy Chúa Giê-su, con đã nhiều lần muốn nhận thêm một dấu chỉ trong khi chưa sống điều Chúa đã giúp con nhận ra. Con đã có lúc dùng sự bận rộn để trì hoãn yêu thương, dùng tự ái để trì hoãn xin lỗi, dùng nỗi sợ để trì hoãn một quyết định ngay lành. Con đã dễ nhìn thấy thiếu sót của người khác hơn là nhận trách nhiệm của mình. Con đã muốn cuộc sống đổi khác nhưng lại giữ rất chặt những thói quen làm cuộc sống trở nên nặng nề. Xin giúp con thành thật trước nhan Chúa. Xin cho con biết nhận ra nơi nào con đang chống lại sự thật, nơi nào con đang làm người khác đau, nơi nào con đang cần được chữa lành. Xin cho con một trái tim có thể lắng nghe mà không vội phòng thủ, có thể nhận lỗi mà không tuyệt vọng, có thể đứng dậy mà không cần giả vờ mình chưa từng ngã. Xin nâng đỡ những người đang tìm Chúa giữa đau khổ, những người đã cầu nguyện lâu mà vẫn chưa thấy câu trả lời, những người mang vết thương khiến họ khó tin tưởng. Xin đặt bên cạnh họ những người biết đồng hành với sự kiên nhẫn và tôn trọng. Xin giúp các gia đình của chúng con có những cuộc trò chuyện chân thành hơn, những lời nói dịu dàng hơn, những hành động có trách nhiệm hơn. Xin giúp cộng đoàn chúng con biết bảo vệ người bé mọn, biết sửa điều bất công, biết phục vụ mà không tìm cách chiếm hữu. Xin đừng để con chỉ cảm động trước lời Chúa rồi trở về với mọi sự như cũ. Xin cho con thực hiện một bước trở về ngay hôm nay, trong một việc nhỏ nhưng thật, trong một lựa chọn âm thầm nhưng ngay lành. Và khi con chưa nhìn thấy toàn bộ con đường, xin cho con vẫn đủ tin tưởng để bước tiếp cùng Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
