CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ: QUYỀN BÍNH PHỤC VỤ CON NGƯỜI, CÔNG LÝ BẢO VỆ PHẨM GIÁ VÀ TÌNH HUYNH ĐỆ XÂY DỰNG XÃ HỘI Lm. Anmai, CSsR.
Có những điều trong đời sống chúng ta tưởng như rất xa, nhưng thực ra lại ở gần đến mức đi vào từng bữa cơm, từng chuyến xe, từng lần đưa con đến trường, từng buổi thăm người thân trong bệnh viện và từng đêm lo lắng về tương lai của gia đình. Đời sống chính trị là một trong những điều như thế. Khi nghe đến chính trị, nhiều người lập tức nghĩ đến những cơ quan quyền lực, những diễn đàn lớn, những cuộc tranh luận về đường hướng phát triển hay những quyết định mà người bình thường dường như không có khả năng tác động. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chúng ta sẽ nhận ra rằng đời sống chính trị có mặt trong câu hỏi rất cụ thể: một người nghèo có được đối xử công bằng khi tìm đến cơ quan công quyền hay không; một đứa trẻ có được đến trường trong điều kiện xứng đáng hay không; một người bệnh có được chăm sóc mà không bị bỏ rơi vì thiếu tiền hay không; một người lao động có được bảo vệ trước sự bóc lột hay không; một cộng đồng thiểu số có được giữ tiếng nói, văn hóa và niềm tin của mình hay không; một người bị nghi ngờ phạm tội có còn được nhìn nhận là con người hay không. Bởi thế, suy tư về cộng đồng chính trị là suy tư về cách chúng ta sống chung, về cách quyền lực được sử dụng, về cách những người yếu thế được bảo vệ và về cách mỗi người có thể góp phần làm cho đời sống chung trở nên công bằng, bình an, nhân bản hơn. Đối với người Kitô hữu, những câu hỏi ấy đi vào chính trách nhiệm của đức tin, bởi đức tin vào Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và yêu thương con người phải giúp chúng ta biết chăm lo cho những điều kiện mà trong đó con người đang sống, đang làm việc, đang hy vọng và đôi khi đang âm thầm chịu đựng.
Con người không sinh ra để sống như một hòn đảo. Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc đời, mỗi người đã được đón nhận trong một mạng lưới tương quan: có cha mẹ, có người chăm sóc, có gia đình, có xóm làng, có ngôn ngữ, có phong tục, có những người đi trước đã dựng nên những điều kiện cho mình tồn tại. Không ai tự tạo ra tất cả những gì mình đang sử dụng. Một ổ bánh mì có công sức của người trồng lúa, người làm bột, người vận chuyển, người làm bánh, người giữ gìn đường sá và những người bảo đảm các điều kiện trao đổi. Một cuốn sách có người viết, người dạy chữ, người làm giấy, người in, người gìn giữ kho tàng văn hóa. Một cuộc sống bình yên có sự đóng góp của rất nhiều người mà chúng ta chưa từng biết tên. Vì thế, bản tính xã hội của con người mang ý nghĩa sâu xa: chúng ta cần nhau để sống và cần nhau để trở thành chính mình. Cộng đồng chính trị phát sinh từ nhu cầu tổ chức đời sống chung ấy, nhằm tạo ra những điều kiện mà một cá nhân hay một gia đình riêng lẻ không thể tự mình bảo đảm. Những công việc như giữ gìn trật tự, xây dựng hệ thống pháp luật, tổ chức các dịch vụ công, bảo vệ người yếu thế, điều hòa những lợi ích khác nhau và gìn giữ hòa bình đòi hỏi một trách nhiệm chung có tổ chức. Tuy nhiên, ngay tại đây phải xác định một nguyên tắc nền tảng: mọi cơ cấu được thiết lập đều phải hướng đến con người. Cơ cấu có thể cần thiết, thủ tục có thể cần thiết, quyền lực có thể cần thiết, nhưng giá trị của chúng phải được đánh giá theo việc chúng giúp con người sống xứng đáng đến mức nào.
Trong ánh sáng đức tin, phẩm giá con người có nền tảng sâu hơn mọi sự công nhận của xã hội. Một người có phẩm giá vì người ấy là thụ tạo được Thiên Chúa muốn có, được Thiên Chúa yêu thương, được dựng nên theo hình ảnh của Người và được mời gọi bước vào sự hiệp thông với Người. Phẩm giá ấy không phát sinh từ giấy tờ, từ địa vị, từ tài sản, từ trình độ học vấn hay từ mức đóng góp kinh tế. Một em bé chưa thể lao động vẫn có phẩm giá. Một người già không còn khả năng sản xuất vẫn có phẩm giá. Một người khuyết tật cần được chăm sóc mỗi ngày vẫn có phẩm giá. Một người nghèo không có tiếng nói trong những cuộc tranh luận lớn vẫn có phẩm giá. Ngay cả một người đã phạm tội nghiêm trọng cũng không mất đi tư cách làm người. Những hành vi xấu phải bị ngăn chặn, những trách nhiệm phải được xác định, những hậu quả phải được sửa chữa, nhưng việc xét xử một hành vi không trao cho bất cứ ai quyền phủ nhận phẩm giá căn bản của người đã thực hiện hành vi ấy. Khi đặt con người ở trung tâm cộng đồng chính trị, chúng ta đang khẳng định rằng mọi quyền bính đều đứng trước một giới hạn luân lý: quyền bính không được biến con người thành đồ vật, thành phương tiện, thành con số vô danh hoặc thành một trở ngại có thể tùy tiện loại bỏ.
Thánh Kinh mở ra một hành trình sâu sắc giúp chúng ta hiểu quyền hành vừa cần thiết vừa luôn cần được thanh luyện. Trong lịch sử Israel, dân Chúa trước hết nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng hướng dẫn mình. Những người được trao trách nhiệm lãnh đạo phải sống dưới sự phán xét của giao ước, phải nhớ rằng dân thuộc về Thiên Chúa và rằng người lãnh đạo được giao một nhiệm vụ phục vụ. Khi dân xin có một vị vua, lời cảnh báo của Samuel cho thấy quyền lực có thể phát triển thành một bộ máy chiếm hữu: lấy người, lấy của, lấy sức lao động và cuối cùng làm cho dân mất tự do. Lời cảnh báo ấy chạm đến một cám dỗ rất lâu đời của con người: người được trao quyền dễ quên mình đang được giao trách nhiệm và bắt đầu nghĩ rằng mọi sự chung quanh thuộc về mình. Nhưng Thánh Kinh cũng nhìn nhận rằng một vị vua công chính có thể trở thành khí cụ giúp dân được bảo vệ, được hướng dẫn và được sống trong công lý. Như vậy, điều quyết định nằm ở cách quyền lực được thi hành, ở mục tiêu mà nó theo đuổi và ở thái độ của người nắm quyền trước Thiên Chúa, trước chân lý và trước những con người đang được giao cho mình chăm lo.
Hình ảnh nhà vua trong Thánh Kinh được đo lường đặc biệt bằng thái độ đối với người nghèo, người cô thế, người không có khả năng tự bảo vệ. Một vị vua có thể nổi tiếng vì những công trình lớn, vì sức mạnh quân sự, vì sự giàu có hay vì danh tiếng của triều đại, nhưng dưới ánh sáng giao ước, những điều ấy không đủ để xác định sự công chính của ông. Câu hỏi quan trọng hơn là: người yếu đuối có được xét xử công bằng không; người không có người bênh vực có được bảo vệ không; những người có thế lực có bị ngăn cản khi họ chèn ép người khác không. Các ngôn sứ đã lên tiếng trước những bất công bởi họ nhìn thấy mối liên hệ giữa lòng trung thành với Thiên Chúa và cách con người đối xử với nhau. Một xã hội có nhiều nghi thức tôn giáo nhưng lại chà đạp người nghèo vẫn cần hoán cải. Một người lãnh đạo nói những lời cao đẹp nhưng dùng quyền lực để phục vụ tham vọng riêng vẫn phải chịu sự chất vấn của lương tâm. Một cộng đồng tự hào về lịch sử của mình nhưng bỏ rơi những người bé nhỏ trong hiện tại vẫn chưa sống trọn ý nghĩa của sự cao quý mà mình tuyên xưng. Đức tin chân thật đưa con người đến chỗ nhận ra rằng sự bất công đối với tha nhân luôn là một vấn đề liên quan đến tương quan với Thiên Chúa.
Nơi Đức Giêsu, ý nghĩa của quyền hành được bày tỏ bằng một cách sống hoàn toàn cụ thể. Người đến giữa nhân loại, gặp những người bị gạt ra ngoài, chạm đến những người bị coi là ô uế, lắng nghe những người không được lắng nghe và phục hồi hy vọng cho những ai tưởng như đã hết chỗ đứng. Khi các môn đệ tranh luận về vị trí lớn nhỏ, Người đưa họ trở về với tinh thần phục vụ. Khi họ nghĩ đến những chỗ ngồi danh dự, Người nói đến con đường trao hiến. Khi con người muốn dùng sức mạnh để xác lập ưu thế, Người cho thấy sức mạnh của sự thật, lòng thương xót và tình yêu trung thành. Trước giờ chịu khổ nạn, việc Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trở thành một hình ảnh có khả năng chất vấn mọi hình thức lãnh đạo. Người có quyền lại quỳ xuống để phục vụ. Người là Thầy lại thực hiện công việc của người tôi tớ. Người biết mình là ai nên không cần bảo vệ phẩm giá bằng cách làm cho người khác thấp xuống. Từ đây, người Kitô hữu hiểu rằng quyền hành được thi hành đúng đắn phải giúp người khác được đứng lên, được phát triển, được sống trong sự thật và được gìn giữ phẩm giá của mình.
Lời Đức Giêsu về việc trả cho hoàng đế những gì thuộc về hoàng đế và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa giúp chúng ta nhận ra sự phân biệt cần thiết trong đời sống con người. Các nghĩa vụ dân sự có tính chính đáng của chúng. Người tín hữu sống trong xã hội phải chu toàn trách nhiệm đối với đời sống chung, tôn trọng những quy định công bằng, đóng góp cho các nhu cầu chung và cư xử như một công dân có trách nhiệm. Đồng thời, con người thuộc về Thiên Chúa theo một nghĩa sâu xa mà không quyền lực trần thế nào có thể chiếm hữu. Nhà nước có thể yêu cầu những bổn phận thuộc phạm vi công ích, nhưng không thể đòi hỏi sự thờ phượng. Một người lãnh đạo có thể được kính trọng, nhưng không được biến mình thành chuẩn mực tuyệt đối của thiện ác. Một hệ thống có thể được ủng hộ trong những việc đúng đắn, nhưng không có quyền yêu cầu người ta gọi điều sai là đúng chỉ vì điều ấy phục vụ lợi ích của hệ thống. Nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối giúp người tín hữu tôn trọng quyền bính cách trưởng thành, đồng thời giữ được tự do nội tâm trước những yêu sách vượt quá giới hạn luân lý.
Chính vì thế, sự vâng phục trong đức tin luôn cần được hiểu cùng với trách nhiệm của lương tâm. Các cộng đoàn Kitô hữu sơ khai được mời gọi sống ngay lành, tôn trọng nhà cầm quyền, chu toàn nghĩa vụ và cầu nguyện cho những người có trách nhiệm lãnh đạo. Những lời khuyên ấy giúp các tín hữu tránh thái độ vô trách nhiệm đối với xã hội và nhận ra giá trị của một đời sống có trật tự. Tuy nhiên, việc nhìn nhận quyền bính không đồng nghĩa với việc hợp thức hóa mọi hành vi của người nắm quyền. Người Kitô hữu phải nhận ra mục tiêu của quyền hành là phục vụ điều thiện và bảo vệ con người. Khi quyền lực yêu cầu thực hiện những điều trái với luật luân lý, người tín hữu đứng trước trách nhiệm phải trung thành với Thiên Chúa. Các Tông đồ đã cho thấy điều ấy khi xác quyết phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm. Sự trung thành này đòi hỏi một lương tâm được đào luyện, một sự phân định nghiêm túc và lòng can đảm chấp nhận trách nhiệm. Nó không thể được thay thế bằng phản ứng nóng giận, cũng không thể bị xóa bỏ bởi lý do rằng mình chỉ làm theo lệnh. Mỗi người vẫn phải trả lời về điều mình đã tự do thực hiện trong khả năng và trách nhiệm của mình.
Cầu nguyện cho những người lãnh đạo là một hình thức tham gia sâu sắc vào đời sống chung. Khi cầu nguyện, người tín hữu xin cho người nắm quyền có sự khôn ngoan để phân định, có lòng ngay thẳng để không bị lợi ích riêng lôi kéo, có sự khiêm tốn để nghe điều mình chưa biết và có lòng can đảm để sửa những điều sai. Lời cầu nguyện ấy cũng thanh luyện chính người cầu nguyện. Chúng ta có thể dễ dàng chỉ nhìn thấy lỗi của người khác mà quên trách nhiệm của mình; có thể phê phán sự bất công trong xã hội nhưng lại đối xử bất công với người làm việc cho mình; có thể lên án sự gian dối nơi người có chức quyền nhưng vẫn chấp nhận gian dối trong việc buôn bán; có thể mong một hệ thống liêm chính nhưng tìm cách dùng quan hệ để có lợi thế riêng. Cầu nguyện thật đưa chúng ta đến việc xét mình và thay đổi. Người Kitô hữu cầu cho xã hội tốt đẹp cũng cần góp phần làm cho xã hội tốt đẹp bằng đời sống trung thực của mình. Một lời cầu cho công lý trở nên đáng tin khi người cầu nguyện sẵn sàng trả công đúng, giữ lời hứa, không lợi dụng người yếu và không tìm cách biến quyền lợi chung thành đặc quyền riêng.
Mục tiêu căn bản của cộng đồng chính trị là công ích. Khái niệm này cần được hiểu thật rõ, bởi trong đời sống thực tế, người ta có thể nhân danh lợi ích chung để biện minh cho rất nhiều quyết định khác nhau. Công ích là toàn bộ những điều kiện xã hội giúp các cá nhân và cộng đồng phát triển xứng hợp với phẩm giá của mình. Trong công ích có việc bảo đảm những nhu cầu căn bản, có sự tôn trọng các quyền, có cơ hội học tập và lao động, có môi trường an toàn, có trật tự công bằng, có khả năng tham gia và có không gian để đời sống tinh thần được phát triển. Công ích cũng bao gồm sự ổn định cần thiết để các gia đình có thể xây dựng tương lai mà không luôn sống trong sợ hãi. Một xã hội có công ích được chăm lo là xã hội trong đó người dân có thể tin rằng những quy định căn bản được thực hiện cách công bằng, rằng tiếng nói của mình có giá trị, rằng những khó khăn của mình được nhìn nhận và rằng khi gặp biến cố, mình không hoàn toàn đơn độc. Công ích cần đến sự phối hợp giữa nhiều trách nhiệm, vì không một cơ quan, một ngành nghề hay một tổ chức nào có thể tự mình đáp ứng mọi chiều kích của đời sống con người.
Muốn đánh giá một quyết định có phục vụ công ích hay không, cần nhìn vào những người chịu tác động cụ thể của quyết định ấy. Một công trình có thể rất lớn nhưng nếu làm cho nhiều gia đình mất sinh kế mà không được quan tâm xứng đáng, người ta phải xem lại tính công bằng của cách thực hiện. Một chính sách có thể đem lại hiệu quả kinh tế nhưng nếu khiến người lao động kiệt sức, trẻ em thiếu chăm sóc và người già không còn được nâng đỡ, thì sự phát triển ấy cần được xem xét toàn diện hơn. Một thủ tục có thể giúp cơ quan quản lý thuận tiện nhưng nếu gây những trở ngại quá lớn cho người dân, đặc biệt cho người ít học và người khuyết tật, thì tính hợp lý của thủ tục ấy cần được đánh giá lại. Điều này đòi hỏi một cái nhìn biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác. Người có điều kiện đi lại dễ dàng có thể không hiểu sự khó khăn của người phải bỏ một ngày công để làm giấy tờ. Người có khả năng sử dụng công nghệ thành thạo có thể không thấy nỗi lúng túng của một cụ già trước một quy trình điện tử. Người có nguồn lực tài chính ổn định có thể không nhận ra rằng một khoản chi nhỏ đối với mình lại là gánh nặng lớn đối với một gia đình nghèo. Công ích trở nên thực chất khi những khác biệt ấy được đưa vào sự phân định.
Từ việc nhìn nhận con người là nền tảng của cộng đồng chính trị, chúng ta phải đi đến việc bảo vệ các quyền căn bản. Các quyền ấy diễn tả những đòi hỏi gắn với phẩm giá con người: quyền sống, quyền được tôn trọng, quyền được phát triển, quyền có những điều kiện cần thiết cho đời sống, quyền tìm kiếm sự thật, quyền tự do lương tâm, quyền tự do tôn giáo, quyền tham gia và nhiều quyền khác liên quan đến các chiều kích của đời sống. Những quyền này đòi hỏi được thể hiện trong cơ cấu, trong luật lệ và trong các hành vi cụ thể. Một quyền được ghi nhận nhưng không có điều kiện thực hiện có thể trở thành một lời hứa xa xôi đối với người yếu thế. Một người có quyền học tập nhưng phải bỏ học vì hoàn cảnh nghèo khó vẫn cần được nâng đỡ. Một người có quyền được đối xử bình đẳng nhưng luôn gặp những rào cản do nguồn gốc, giới tính, tình trạng khuyết tật hay niềm tin vẫn đang cần sự bảo vệ thực tế. Vì thế, cộng đồng chính trị có trách nhiệm vừa ngăn chặn những hành vi xâm phạm quyền, vừa tạo ra những điều kiện thích hợp để con người có thể thực hiện quyền của mình.
Quyền và nghĩa vụ gắn bó chặt chẽ với nhau trong đời sống chung. Khi tôi đòi được tôn trọng, tôi cũng được mời gọi tôn trọng người khác. Khi tôi yêu cầu quyền tự do của mình được bảo vệ, tôi cần nhìn nhận quyền tự do chính đáng của những người không đồng ý với mình. Khi tôi mong có các dịch vụ công tốt, tôi phải đóng góp cách trung thực vào những nguồn lực chung theo trách nhiệm của mình. Khi tôi muốn được sống trong một môi trường sạch, tôi cần tránh những hành vi gây ô nhiễm. Khi tôi muốn được nghe sự thật, tôi phải cẩn trọng với những thông tin mình chia sẻ. Sự liên hệ này giúp chúng ta vượt qua thái độ chỉ nhìn xã hội như nơi cung cấp các lợi ích cho mình. Một công dân trưởng thành hiểu rằng mình là người cùng xây dựng đời sống chung. Tuy nhiên, việc nhắc đến nghĩa vụ không được trở thành cách phủ nhận những quyền căn bản. Người nghèo có thể cần được giúp để chu toàn nghĩa vụ; người yếu thế có thể cần được hỗ trợ để tham gia; người thiếu thông tin có thể cần được hướng dẫn. Xã hội công bằng biết đòi hỏi trách nhiệm theo hoàn cảnh thực tế và biết tạo cơ hội để mỗi người trở thành chủ thể tích cực.
Một dân tộc là một cộng đồng gồm những con người có ký ức, có tiếng nói, có trách nhiệm và có khả năng đóng góp. Khi nói đến nhân dân, cần luôn giữ trước mắt những khuôn mặt cụ thể: người mẹ chăm con, người cha lao động, người nông dân ngoài đồng, người công nhân trong nhà máy, người giáo viên trong lớp học, người nhân viên y tế trực đêm, người già sống một mình và người trẻ đang loay hoay tìm hướng đi. Nếu nhân dân chỉ được nhắc đến như một danh từ chung chung, rất dễ xảy ra tình trạng người ta nói thay họ mà không nghe họ. Việc lắng nghe thật sự đòi hỏi có những hình thức để người dân bày tỏ nhu cầu, có khả năng tiếp cận thông tin, có cơ hội góp ý và có thể biết những ý kiến của mình được tiếp nhận như thế nào. Một cộng đồng chính trị trưởng thành biết rằng những người trực tiếp trải qua vấn đề thường có những hiểu biết mà người ra quyết định cần học hỏi. Người lao động biết những khó khăn trong điều kiện làm việc. Người dân vùng xa biết những trở ngại của đường sá và trường học. Người khuyết tật biết những rào cản trong không gian công cộng. Lắng nghe họ là một yêu cầu của sự khôn ngoan và của lòng tôn trọng.
Đời sống của một dân tộc còn được hình thành bởi những giá trị tinh thần mà các thế hệ cùng gìn giữ. Trong một nền văn hóa có những ký ức về lòng hiếu thảo, về sự thủy chung, về lòng biết ơn, về tinh thần đùm bọc và về cách cư xử với những người gặp hoạn nạn. Những giá trị ấy có thể trở thành sức mạnh nâng đỡ đời sống chung nếu được sống cách chân thật. Nhưng truyền thống cũng cần được phân định và thanh luyện, bởi có những thói quen lâu đời có thể duy trì sự bất công hoặc làm cho một số người không được phát triển đầy đủ. Giữ gìn văn hóa đòi hỏi biết yêu những gì tốt đẹp, biết sửa những gì làm tổn thương con người và biết tiếp nhận những điều mới có khả năng làm phong phú đời sống. Một dân tộc trưởng thành có thể tự hào về căn tính của mình đồng thời tôn trọng căn tính của các dân tộc khác. Lòng yêu quê hương được diễn tả bằng việc chăm lo cho người đang sống trên quê hương ấy, bảo vệ những điều kiện để các thế hệ sau có thể sống xứng đáng và xây dựng những tương quan hòa bình với các cộng đồng khác.
Trong lòng một quốc gia, các cộng đồng thiểu số cần được nhìn nhận và bảo vệ trong phẩm giá của mình. Sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống có thể làm phong phú đời sống chung khi được đón nhận bằng tinh thần tôn trọng. Một em bé thuộc cộng đồng thiểu số không nên lớn lên với cảm giác tiếng mẹ đẻ của mình là điều đáng xấu hổ. Một cộng đồng không nên phải từ bỏ toàn bộ ký ức văn hóa để được nhìn nhận là thành viên có giá trị của xã hội. Những người thuộc một nhóm nhỏ có quyền được sống, được phát triển, được gìn giữ những đặc điểm chính đáng của mình và được tiếp cận các cơ hội chung. Đồng thời, mọi cộng đồng đều có trách nhiệm tôn trọng phẩm giá và tự do của các thành viên, kể cả khi một thành viên có những lựa chọn khác với tập quán của nhóm. Quyền của cộng đồng không được dùng để nghiền nát tự do của cá nhân, và quyền của đa số không được dùng để làm cho thiểu số biến mất. Những vấn đề phát sinh cần được xử lý bằng đối thoại, bằng sự tìm kiếm công lý và bằng những phương thế hòa bình, bởi bạo lực nhằm vào người vô tội chỉ tạo thêm đau khổ và làm tổn thương chính mục tiêu mà người ta muốn bảo vệ.
Một xã hội còn cần đến tình hữu nghị giữa các công dân. Pháp luật giúp xác định những quyền và nghĩa vụ, nhưng các mối tương quan hằng ngày cần được nâng đỡ bởi lòng tin, sự tử tế và thiện chí. Hai người cùng sống trong một khu phố có thể tuân thủ mọi quy định mà vẫn hoàn toàn xa lạ với nhau; một cơ quan có thể làm đủ thủ tục mà vẫn khiến người dân cảm thấy bị xem thường; một cộng đồng có thể có trật tự bên ngoài nhưng bên trong đầy nghi ngờ. Tình hữu nghị công dân bắt đầu khi chúng ta nhận ra người khác cũng đang mong được sống bình yên, cũng có những người thân để chăm sóc, cũng có những nỗi lo mà mình chưa biết. Tình hữu nghị ấy được diễn tả trong việc sẵn sàng giúp người gặp khó khăn, tôn trọng người có ý kiến khác, không vội quy kết và không dùng những khác biệt để hạ thấp nhau. Nó giúp xã hội vượt qua sự lạnh lùng của những tương quan chỉ dựa trên trao đổi lợi ích. Khi một người biết làm điều tốt cho cộng đồng mà không cần được trả lại ngay, người ấy đang góp phần xây dựng một nền tảng tinh thần quý giá cho đời sống chung.
Tình hữu nghị không xóa bỏ công lý. Trái lại, công lý là điều kiện căn bản để tình hữu nghị có thể đứng vững. Không thể yêu cầu người bị thiệt thòi im lặng để giữ hòa khí. Không thể bảo người bị xúc phạm hãy bỏ qua trong khi người gây tổn thương không chịu nhìn nhận trách nhiệm. Không thể nói đến đoàn kết mà không sửa những cơ chế tạo ra bất công. Tình yêu chân thật biết trao cho người khác điều họ có quyền được hưởng, rồi còn sẵn sàng đi xa hơn trong lòng quảng đại. Một người trả đúng tiền công đang thực hiện công lý; khi người ấy còn quan tâm đến hoàn cảnh đau yếu của gia đình người lao động, lòng bác ái làm cho tương quan trở nên phong phú hơn. Một cơ quan giải quyết hồ sơ đúng thời hạn đang chu toàn trách nhiệm; khi nhân viên kiên nhẫn giải thích cho người không hiểu thủ tục, tinh thần phục vụ làm cho trách nhiệm ấy trở nên nhân bản. Trong đời sống chính trị, công lý và tình huynh đệ cần nâng đỡ nhau như vậy. Công lý bảo vệ người yếu khỏi bị lệ thuộc vào lòng tốt tùy hứng của người mạnh, còn tình huynh đệ giúp công lý được thực hiện với sự quan tâm đến con người cụ thể.
Quyền hành chính trị cần thiết để tổ chức đời sống chung, điều phối các hoạt động và giải quyết những xung đột lợi ích. Nếu không có những cơ cấu có thẩm quyền, nhiều vấn đề sẽ bị bỏ mặc cho sự áp đảo của người có sức mạnh, có tiền hoặc có khả năng gây ảnh hưởng. Nhưng quyền hành chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi được hướng dẫn bởi trật tự luân lý và khi hướng đến công ích. Một quyết định có thể được đưa ra đúng thẩm quyền mà vẫn cần được đánh giá về tính công bằng. Một việc có thể đem lại lợi ích cho một số người mà gây thiệt hại vô lý cho những người khác. Một mệnh lệnh có thể được thực hiện nhanh chóng mà lại làm tổn thương phẩm giá. Vì thế, quyền bính cần cả năng lực lẫn đạo đức, cả sự hiểu biết chuyên môn lẫn ý thức giới hạn, cả quyết đoán lẫn khả năng lắng nghe. Người lãnh đạo phải biết rằng mình không nắm toàn bộ sự thật và cần những cơ chế giúp phát hiện sai lầm. Sự khiêm tốn trong quyền lực được thể hiện bằng việc chấp nhận kiểm tra, cung cấp giải thích, tiếp nhận phản biện và sửa chữa những hậu quả khi quyết định của mình gây ra tổn hại.
Khi nói quyền hành có nguồn gốc tối hậu nơi Thiên Chúa, người Kitô hữu đang nhìn nhận rằng bản tính xã hội của con người và nhu cầu về một trật tự công bằng thuộc về ý định tốt lành của Đấng Tạo Hóa. Điều ấy không có nghĩa là mọi người nắm quyền đều được Thiên Chúa phê chuẩn trong từng hành vi, cũng không có nghĩa là một chính quyền có thể viện đến danh Thiên Chúa để tránh bị đánh giá về luân lý. Chính vì quyền hành phải phục vụ một trật tự công bằng, người nắm quyền càng phải chịu trách nhiệm về cách mình hành động. Quyền lực không tự tạo ra thiện ác. Sự thật về phẩm giá con người vẫn là chuẩn mực để đánh giá quyền lực. Một người có thể có quyền ra quyết định nhưng vẫn có nghĩa vụ không quyết định cách tùy tiện. Một tổ chức có thể có khả năng thực hiện một việc nhưng vẫn cần hỏi việc ấy có đúng hay không. Sự phân biệt giữa khả năng và tính chính đáng rất quan trọng, bởi con người thường bị cám dỗ nghĩ rằng điều mình có thể làm cũng là điều mình được phép làm. Lương tâm nhắc chúng ta rằng quyền hành luôn là một trách nhiệm phải được sử dụng trong giới hạn của công lý.
Luật pháp có vai trò lớn trong việc bảo vệ đời sống chung. Một xã hội cần những quy định rõ ràng để người dân biết quyền và nghĩa vụ, để các cơ quan biết phạm vi trách nhiệm và để những tranh chấp được giải quyết theo chuẩn mực có thể kiểm chứng. Tuy nhiên, luật cần phù hợp với phẩm giá con người, với lý trí ngay thẳng và với những đòi hỏi căn bản của công bằng. Giá trị luân lý của một quy định không thể chỉ dựa trên việc nó đã được ban hành. Nếu một quy định cho phép xâm phạm nghiêm trọng phẩm giá, phân biệt đối xử vô lý hoặc cưỡng ép con người thực hiện điều xấu, thì quy định ấy cần được sửa đổi. Trong các xã hội phức tạp, việc áp dụng những nguyên tắc chung có thể đòi hỏi nhiều sự phân định và kiến thức chuyên môn; những người thiện chí có thể bất đồng về phương án cụ thể. Bất đồng ấy cần được giải quyết bằng lý lẽ, bằng thông tin đáng tin cậy và bằng sự chú ý đến các hậu quả thực tế. Điều cần giữ là sự trung thành với con người và với công ích, để những thủ tục làm luật không trở thành công cụ phục vụ những lợi ích hẹp hòi.
Sự đồng thuận của số đông có vai trò quan trọng trong việc tổ chức đời sống chính trị, nhưng không biến mọi lựa chọn của số đông thành đúng đắn về luân lý. Một nhóm người không được quyền tước bỏ phẩm giá của một nhóm khác chỉ vì mình đông hơn. Một cộng đồng không thể lấy sự phổ biến của một thói quen để biện minh cho việc thói quen ấy làm hại người yếu thế. Điều này cũng đúng trong những môi trường rất gần gũi. Nếu nhiều người trong một cơ quan chấp nhận gian lận, sự chấp nhận ấy không làm gian lận trở thành trung thực. Nếu nhiều người trong một khu phố cùng xúc phạm một gia đình, sức mạnh của đám đông không biến sự xúc phạm thành công bằng. Vì thế, đời sống dân chủ cần có những nền tảng đạo đức vững chắc: tôn trọng sự sống, nhìn nhận phẩm giá bình đẳng, bảo vệ tự do chính đáng, gìn giữ sự thật và chịu trách nhiệm trước công ích. Những nền tảng ấy giúp các thủ tục có hướng đi nhân bản. Khi thủ tục bị tách khỏi các giá trị, người ta có thể sử dụng chính những công cụ của đời sống chung để làm cho một số người bị loại trừ.
Một cộng đồng chính trị lành mạnh cần có những cơ chế giới hạn quyền lực và kiểm soát việc sử dụng quyền lực. Điều này bắt nguồn từ sự hiểu biết thực tế về con người: mọi người đều có thể sai lầm, mọi người đều có thể bị cám dỗ và không ai nên được đặt vào một vị trí mà quyết định của mình hoàn toàn không thể bị kiểm tra. Sự phân định trách nhiệm giữa các cơ quan, sự độc lập cần thiết trong xét xử, việc giải trình và những hình thức giám sát hữu hiệu giúp bảo vệ cả người dân lẫn người được giao quyền. Khi có cơ chế rõ ràng, người dân ít phải phụ thuộc vào sự ưu ái cá nhân; người thi hành trách nhiệm có thể dựa vào những chuẩn mực chung thay vì chịu áp lực từ những quan hệ riêng. Một xã hội công bằng cần tạo điều kiện để người yếu có thể được bảo vệ trước người mạnh, để người không quen biết ai vẫn có thể được giải quyết công việc đúng đắn và để sự thật có thể được tìm kiếm ngay cả khi nó gây khó chịu cho người có thế lực. Những điều ấy làm cho pháp luật trở thành điểm tựa đáng tin trong đời sống chung.
Người đại diện chính trị mang một trách nhiệm đạo đức đặc biệt, bởi những lựa chọn của họ ảnh hưởng đến rất nhiều người. Sự đại diện đòi hỏi biết lắng nghe, biết tổng hợp các nhu cầu khác nhau, biết cân nhắc hậu quả và biết bảo vệ những lợi ích lâu dài mà đôi khi không đem lại sự hài lòng tức thời. Người đại diện phải tránh bị những lợi ích riêng chi phối, kể cả lợi ích của những nhóm có khả năng ủng hộ mình. Trong nhiều hoàn cảnh, phục vụ công ích đòi hỏi chấp nhận những quyết định khó, giải thích chúng cách trung thực và chịu trách nhiệm về kết quả. Các đức tính như kiên nhẫn, khiêm tốn, chừng mực, lòng can đảm và sự liêm chính vì thế có giá trị thực tế trong đời sống chính trị. Người thiếu kiên nhẫn có thể không nghe hết những điều cần nghe. Người thiếu khiêm tốn có thể không nhận ra giới hạn hiểu biết của mình. Người thiếu chừng mực có thể phản ứng quá mức. Người thiếu liêm chính có thể dùng trách nhiệm chung để tạo lợi thế riêng. Năng lực chuyên môn cần được nâng đỡ bởi những đức tính giúp người lãnh đạo sử dụng năng lực ấy cách ngay lành.
Tham nhũng làm tổn thương đời sống chung theo nhiều cách. Nó chiếm đoạt những nguồn lực đáng lẽ phải phục vụ người dân, làm lệch các quyết định, tạo những đặc quyền không chính đáng và làm suy giảm lòng tin vào các cơ quan công cộng. Một khoản tiền bị lấy đi có thể đồng nghĩa với những nhu cầu thiết yếu không được đáp ứng. Một hợp đồng được quyết định vì lợi ích riêng có thể làm cho chất lượng công trình bị giảm sút. Một việc tuyển chọn thiếu công bằng có thể đẩy người có năng lực ra ngoài và đặt người không phù hợp vào trách nhiệm quan trọng. Hậu quả của tham nhũng còn kéo dài trong tâm lý xã hội: người ta bắt đầu tin rằng sống trung thực là thiệt thòi, rằng muốn giải quyết công việc phải có quan hệ, rằng công bằng chỉ là một lời nói đẹp. Khi lòng tin bị bào mòn, cả những người ngay thẳng cũng có thể bị nghi ngờ, và những nỗ lực cải thiện trở nên khó khăn hơn. Vì thế, chống tham nhũng là bảo vệ các nguồn lực chung, bảo vệ những cơ hội công bằng và phục hồi khả năng tin tưởng vào đời sống có tổ chức.
Việc thanh luyện đời sống xã hội khỏi tham nhũng cũng đi vào những lựa chọn của mỗi công dân. Có những lúc chúng ta muốn được giải quyết nhanh hơn người khác, muốn bỏ qua một quy định mà người khác phải tuân thủ, muốn người quen can thiệp cho mình hoặc muốn che giấu một thông tin vì nó gây bất lợi. Những lựa chọn ấy có thể được biện minh bằng hoàn cảnh khó khăn, bằng thói quen xã hội hoặc bằng lý do rằng nhiều người cũng làm như vậy. Nhưng người Kitô hữu cần dừng lại để hỏi: mình đang tìm một quyền lợi chính đáng hay đang tìm một đặc quyền; mình đang giải quyết một bất công hay đang góp phần tạo ra bất công cho người khác. Một xã hội liêm chính cần những cơ cấu có khả năng phòng ngừa, phát hiện và xử lý sai phạm, đồng thời cần những con người không coi sự gian dối là cách sống bình thường. Giáo dục đức tin có thể đóng góp bằng cách giúp các tín hữu nhận ra sự liên hệ giữa trung thực trong những việc nhỏ và công bằng trong những vấn đề lớn. Khi một người từ chối làm chứng gian, từ chối gian lận, từ chối sử dụng những nguồn lực chung cho việc riêng, người ấy đang làm cho lương tâm xã hội được mạnh hơn.
Tinh thần phục vụ trong các cơ quan hành chính được thể hiện qua những điều rất cụ thể. Một lời hướng dẫn rõ ràng có thể giúp người dân tránh nhiều chuyến đi vô ích. Một thái độ kiên nhẫn có thể làm cho người ít học bớt sợ hãi. Một quy trình dễ hiểu có thể giảm sự lệ thuộc vào những người trung gian. Một cơ chế tiếp nhận phản ánh nghiêm túc có thể giúp sửa một bất cập trước khi nó gây hại cho nhiều người. Ngược lại, sự quan liêu và vô cảm có thể khiến một vấn đề nhỏ trở thành gánh nặng lớn. Khi người dân phải đi lại nhiều lần vì thiếu một thông tin đáng lẽ đã được giải thích ngay từ đầu, thời gian và sức lao động của họ bị tiêu hao. Khi một người bệnh cần được hỗ trợ mà gặp thái độ lạnh lùng, sự đau khổ tăng thêm. Khi trách nhiệm bị đẩy từ nơi này sang nơi khác, người yếu thế dễ bị bỏ quên. Một cơ quan phục vụ tốt cần có những quy định hợp lý, nguồn lực phù hợp và những người biết nhìn công việc của mình trong tương quan với đời sống thật của người dân.
Quyền phản đối theo lương tâm xuất hiện khi một người được yêu cầu thực hiện điều trái với những đòi hỏi nghiêm trọng của luân lý. Trong hoàn cảnh ấy, người ta không thể đơn giản giao toàn bộ trách nhiệm cho người đã ra lệnh. Một chữ ký, một hành vi làm chứng, một sự cộng tác có thể gây những hậu quả thực sự cho tha nhân. Nếu biết rõ một việc là gian dối, người Kitô hữu không thể gọi nó là trung thực để được yên thân. Nếu được yêu cầu xúc phạm hoặc chà đạp người khác, người ấy phải phân định trách nhiệm từ chối. Tuy nhiên, lương tâm cần được đào luyện để tránh việc đồng hóa những sở thích riêng với những đòi hỏi luân lý. Không phải mọi bất đồng về cách tổ chức công việc đều là vấn đề phản đối theo lương tâm. Có những điều không hợp ý mình nhưng vẫn chính đáng; có những quyết định mình không thích nhưng vẫn thuộc phạm vi trách nhiệm của người có thẩm quyền. Sự phân định cần đến hiểu biết, cầu nguyện, đối thoại và việc tham khảo những người có khả năng hướng dẫn. Một lương tâm trưởng thành vừa biết tôn trọng trật tự chung, vừa đủ can đảm để không cộng tác vào điều thực sự sai trái.
Trước những bất công, người tín hữu được mời gọi tìm kiếm các phương thế hòa bình để bảo vệ phẩm giá và sửa chữa những điều gây hại. Lên tiếng trung thực, trình bày bằng chứng, sử dụng những cơ chế khiếu nại thích hợp, tham gia đối thoại, liên kết với những người thiện chí và hỗ trợ người bị thiệt hại đều có thể là những hình thức trách nhiệm. Điều quan trọng là giữ cho phương thế phù hợp với mục tiêu. Nếu muốn bảo vệ con người, chúng ta phải cẩn trọng để hành động của mình không làm tổn thương những người vô tội. Nếu muốn bênh vực sự thật, chúng ta phải tránh sử dụng những thông tin chưa được kiểm chứng. Nếu muốn sửa bất công, chúng ta cần tránh để lòng thù hận trở thành động lực chính. Học thuyết xã hội Công giáo đặt những điều kiện hết sức nghiêm ngặt đối với việc sử dụng vũ lực trong phản kháng, vì bạo lực có thể gây những hậu quả lớn và tạo ra những bất công mới. Trong đời sống thông thường, trách nhiệm của chúng ta là kiên trì với các phương thế hòa bình, tìm kiếm sự đối thoại có thực chất và xây dựng những điều kiện giúp công lý được thực hiện mà không làm cho xã hội chìm sâu hơn trong sợ hãi.
Hệ thống tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ công ích, xác định trách nhiệm, sửa chữa những xáo trộn do tội phạm gây ra và tạo điều kiện cho người phạm tội được cải hóa. Xã hội cần được bảo vệ trước những hành vi gây hại, các nạn nhân cần được lắng nghe và những người gây thiệt hại cần chịu trách nhiệm. Nhưng công lý phải được thi hành trong sự tôn trọng phẩm giá của mọi người. Người bị nghi ngờ phạm tội cần được đối xử theo những bảo đảm công bằng; sự thật cần được tìm kiếm bằng chứng cứ và bằng các thủ tục chính đáng. Không thể thay thế sự điều tra cẩn trọng bằng những định kiến. Không thể coi sự phẫn nộ của đám đông là một bản án. Không thể lấy một lời buộc tội chưa được chứng minh để hủy hoại danh dự của một người. Những sai lầm tư pháp có thể làm tổn thương cả một đời người và cả một gia đình. Vì thế, sự thận trọng, tính độc lập, sự liêm chính và khả năng sửa sai là những yêu cầu rất quan trọng. Công lý đáng tin cần bảo vệ người vô tội, xác định đúng trách nhiệm của người có tội và tránh biến sức mạnh chế tài thành sự trả thù.
Tra tấn làm tổn thương nghiêm trọng phẩm giá con người và không thể được xem là một phương thế chính đáng để tìm kiếm sự thật. Khi một người bị đặt dưới đau đớn hoặc sợ hãi quá mức, lời nói của họ có thể phản ánh nhu cầu thoát khỏi sự đau đớn hơn là sự thật về điều đã xảy ra. Hơn nữa, việc dùng bạo lực để hạ nhục một người làm tổn thương cả người bị hành hạ lẫn lương tâm của người thực hiện. Một xã hội muốn bảo vệ công lý phải giữ những giới hạn luân lý ngay trong lúc đối diện với các hành vi nghiêm trọng. Các giới hạn ấy cho thấy xã hội đang trung thành với những giá trị nào. Người bị giam giữ có thể bị hạn chế tự do theo một phán quyết chính đáng, nhưng vẫn cần được chăm sóc trong những nhu cầu căn bản và vẫn có quyền được đối xử như một con người. Điều kiện giam giữ, việc chăm sóc sức khỏe, cơ hội học tập, khả năng liên hệ thích hợp với gia đình và việc chuẩn bị cho tái hòa nhập đều liên quan đến mục tiêu cải hóa. Khi xã hội chỉ giữ người phạm tội trong một môi trường làm cho họ bị hủy hoại hơn, việc bảo vệ công ích lâu dài cũng bị ảnh hưởng.
Đối với án tử hình, cần đọc phần trình bày trong tài liệu cùng với giáo huấn đã được cập nhật. Số 2267 của Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, được sửa đổi năm 2018, xác định rằng án tử hình là điều không thể chấp nhận vì xâm phạm phẩm giá và tính bất khả xâm phạm của con người; Giáo Hội dấn thân cho việc bãi bỏ án tử hình trên toàn thế giới. Giáo huấn này nhấn mạnh rằng phẩm giá vẫn tồn tại ngay cả nơi người đã phạm những tội rất nghiêm trọng, và việc bảo vệ xã hội phải đi cùng khả năng cải hóa của người phạm tội. vatican.va Từ nền tảng ấy, người Kitô hữu cần quan tâm đồng thời đến nỗi đau của nạn nhân, sự an toàn của cộng đồng và trách nhiệm của người gây tội. Lòng thương xót đòi hỏi sự nghiêm túc trong việc bảo vệ người có nguy cơ bị hại, sự công bằng trong việc xác định trách nhiệm và một cái nhìn không tuyệt vọng về khả năng hoán cải của con người. Chúng ta có thể thừa nhận mức độ khủng khiếp của một hành vi mà vẫn giữ xác tín rằng việc đáp trả phải được hướng dẫn bởi phẩm giá con người và mục tiêu bảo vệ sự sống.
Các nạn nhân và gia đình họ cần có một vị trí rõ ràng trong sự quan tâm của cộng đồng. Có những đau khổ không chấm dứt khi vụ việc đã được xét xử. Một người có thể mang thương tích lâu dài, mất khả năng lao động, mất sự an toàn nội tâm hoặc phải sống với những ký ức rất khó chịu đựng. Một gia đình có thể mất người thân, mất nguồn sống và mất cảm giác tin tưởng vào cuộc đời. Vì thế, công lý cần đi cùng việc hỗ trợ, phục hồi và đồng hành. Trong khi đó, gia đình người phạm tội cũng có thể chịu những hệ quả mà họ không trực tiếp gây ra. Những đứa trẻ có cha mẹ bị giam giữ cần được chăm sóc và không nên bị khinh miệt vì hành vi của người lớn. Những người thân đang cố gắng sống ngay lành cần có cơ hội tiếp tục cuộc sống của mình. Một cộng đồng có lòng nhân hậu biết phân biệt trách nhiệm và không mở rộng sự trừng phạt sang những người vô tội. Mục vụ trong hoàn cảnh này cần nhiều kiên nhẫn: thăm viếng, lắng nghe, hỗ trợ các nhu cầu thực tế, giúp người bị tổn thương tìm lại những điểm tựa và đồng hành với những tiến trình hoán cải có thật.
Trong đời sống dân chủ, sự tham gia của công dân là một điều kiện quan trọng để các quyết định chung phản ánh nhu cầu và trách nhiệm của cộng đồng. Sự tham gia ấy có nhiều hình thức, tùy theo cơ cấu và hoàn cảnh cụ thể: tìm hiểu những vấn đề chung, góp ý, sử dụng các quyền chính trị được nhìn nhận, tham gia các tổ chức thích hợp, theo dõi việc thực hiện trách nhiệm và cộng tác trong những hoạt động vì công ích. Để tham gia có chất lượng, người dân cần được giáo dục, được tiếp cận thông tin và được tạo điều kiện để hiểu những lựa chọn đặt ra trước xã hội. Một người thiếu thông tin dễ bị dẫn dắt bởi khẩu hiệu. Một người chỉ nghe một phía có thể khó nhận ra những hậu quả mà quyết định gây ra cho các nhóm khác. Một người bị cuốn theo cảm xúc có thể ủng hộ điều mình chưa thực sự hiểu. Vì thế, trưởng thành công dân đòi hỏi việc học hỏi liên tục. Người Kitô hữu cần biết rằng sự thiện chí rất quý, nhưng thiện chí cần đi cùng hiểu biết và khả năng phân định để sự đóng góp của mình thực sự giúp đời sống chung.
Thông tin có vai trò thiết yếu trong quá trình ấy. Muốn đánh giá một vấn đề, con người cần biết điều gì đã xảy ra, những dữ kiện nào đáng tin cậy, những giải pháp nào được đề nghị và mỗi giải pháp có những hậu quả gì. Khi thông tin bị bóp méo, sự lựa chọn của người dân cũng bị ảnh hưởng. Khi chỉ một số người có khả năng tiếp cận thông tin quan trọng, sự bất bình đẳng trong tham gia tăng lên. Khi các phương tiện truyền thông ưu tiên kích động cảm xúc hơn là giải thích sự thật, người ta dễ bị cuốn vào những phản ứng mạnh nhưng thiếu hiểu biết. Đạo đức truyền thông vì thế liên quan đến nội dung, cách thức và cơ cấu của việc truyền đạt. Người làm truyền thông cần tôn trọng sự thật, bảo vệ phẩm giá, tránh làm tổn thương vô lý và có trách nhiệm đối với tác động của thông tin. Người tiếp nhận cũng cần tập thói quen kiểm chứng, phân biệt giữa dữ kiện và nhận định, nhận ra những giới hạn của một nguồn tin và không vội chia sẻ chỉ vì thông tin phù hợp với cảm xúc của mình.
Trong môi trường số, một hành vi nhỏ có thể có phạm vi ảnh hưởng rất lớn. Chỉ một lần chia sẻ, chúng ta có thể đưa một lời vu khống đến nhiều người; chỉ một lời bình luận, chúng ta có thể góp phần làm cho một người bị sỉ nhục; chỉ một hình ảnh được phổ biến thiếu suy nghĩ, chúng ta có thể xâm phạm đời tư của một gia đình. Đời sống đức tin cần đi vào cả những hành vi ấy. Trước khi đăng một thông tin, người Kitô hữu nên tự hỏi mình có biết nó đúng hay không, có hiểu hoàn cảnh hay không, có làm cho người khác bị tổn thương vô lý hay không và có đang phục vụ một điều tốt đẹp thực sự hay không. Việc bảo vệ sự thật đôi khi đòi hỏi lên tiếng, nhưng cũng có lúc đòi hỏi chờ đợi, tìm hiểu thêm và giữ sự thận trọng. Một người giữ lại một thông tin chưa được kiểm chứng có thể đang ngăn chặn một bất công. Một người sửa công khai điều mình đã chia sẻ sai đang góp phần phục hồi lòng tin. Một người từ chối tham gia vào việc làm nhục người khác đang bảo vệ phẩm giá trong một môi trường mà sự xúc phạm có thể lan truyền rất nhanh.
Cộng đồng chính trị phục vụ một xã hội gồm nhiều chủ thể: gia đình, các cộng đồng tôn giáo, các hiệp hội, các tổ chức nghề nghiệp, các nhóm tình nguyện, các cơ sở giáo dục và những hình thức liên kết khác. Các chủ thể ấy có đời sống và những khả năng đóng góp riêng. Khi một nhóm người cùng tổ chức giúp người già, khi một cộng đồng tạo quỹ học tập cho trẻ em nghèo, khi những người có cùng nghề nghiệp trao đổi để nâng cao chất lượng phục vụ, khi các gia đình liên kết để chăm sóc những người gặp khó khăn, xã hội đang bộc lộ khả năng tự tổ chức và tinh thần trách nhiệm của mình. Những hoạt động này cần được tôn trọng và được tạo điều kiện thích hợp. Cộng đồng chính trị có nhiệm vụ xây dựng khung pháp lý công bằng, bảo vệ các quyền chính đáng và can thiệp khi cần để ngăn sự áp đảo của người mạnh. Đồng thời, cần nhìn nhận rằng đời sống xã hội có sự phong phú lớn hơn những gì một cơ quan quản lý có thể trực tiếp tổ chức. Nhiều sáng kiến tốt phát sinh từ sự gần gũi với những nhu cầu thật và từ lòng quảng đại của những người biết rõ hoàn cảnh địa phương.
Nguyên tắc bổ trợ giúp điều hòa tương quan giữa các cấp độ trách nhiệm. Những gì cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng nhỏ có thể thực hiện cách thích hợp cần được tôn trọng; cấp lớn hơn có nhiệm vụ nâng đỡ, tạo điều kiện và hỗ trợ khi khả năng của cấp nhỏ không đủ. Áp dụng nguyên tắc này đòi hỏi tránh cả sự can thiệp quá mức lẫn sự bỏ mặc. Một gia đình có trách nhiệm giáo dục con cái, nhưng cần những điều kiện xã hội hỗ trợ việc giáo dục ấy. Một cộng đồng địa phương có thể tổ chức những hoạt động tương trợ, nhưng có những nhu cầu vượt quá nguồn lực của họ và cần sự hỗ trợ lớn hơn. Một người có khả năng tự lo cần được khuyến khích phát huy trách nhiệm, còn người đang gặp những giới hạn nghiêm trọng cần được nâng đỡ phù hợp. Nguyên tắc bổ trợ có chiều kích rất nhân bản vì nó tôn trọng khả năng hành động của người khác. Giúp một người không chỉ là trao cho họ một điều cần thiết, mà còn có thể là tạo điều kiện để họ hiểu, lựa chọn, tham gia và dần dần có khả năng tự đảm nhận những trách nhiệm của mình.
Bổ trợ cần đi cùng liên đới. Nếu chỉ nhấn mạnh khả năng tự lo mà quên những bất bình đẳng lớn trong điều kiện sống, chúng ta có thể làm cho người yếu bị bỏ rơi. Nếu chỉ nhấn mạnh sự trợ giúp mà không tôn trọng khả năng và trách nhiệm của người nhận, chúng ta có thể khiến họ trở nên lệ thuộc. Liên đới giúp chúng ta nhận ra rằng sự khó khăn của một nhóm người có liên quan đến đời sống của cả cộng đồng. Bổ trợ giúp chúng ta tổ chức sự giúp đỡ theo cách tôn trọng chủ thể được giúp. Trong mục vụ, hai nguyên tắc này có thể được thực hiện qua việc lắng nghe người nghèo trước khi quyết định giúp họ như thế nào, qua việc mời người được hỗ trợ tham gia vào những công việc phù hợp, qua việc tạo cơ hội học nghề hoặc qua việc cùng gia đình tìm những giải pháp lâu dài. Một chương trình bác ái có thể đáp ứng nhu cầu khẩn cấp bằng lương thực và thuốc men, đồng thời tiếp tục hỗ trợ để người gặp khó khăn có thể ổn định cuộc sống. Khi sự giúp đỡ được tổ chức với lòng tôn trọng, người nhận có thể cảm thấy mình được đón nhận như một thành viên có giá trị.
Tự do tôn giáo là một quyền căn bản gắn với phẩm giá con người và với bản chất của hành vi tin. Đức tin đòi hỏi sự đáp trả tự do; sự cưỡng ép bên ngoài không thể tạo nên một sự gắn bó chân thật với Thiên Chúa. Vì thế, con người cần được bảo vệ khỏi việc bị buộc hành động trái với lương tâm trong lĩnh vực tôn giáo, cũng như cần có không gian để sống niềm tin trong những hình thức chính đáng. Chiều kích cộng đồng của tôn giáo khiến quyền này liên quan đến việc cầu nguyện chung, giáo dục đức tin, tổ chức đời sống nội bộ và thực hiện những hoạt động phù hợp với sứ mạng. Đồng thời, quyền tự do tôn giáo phải được hiểu trong tương quan với các quyền của người khác và với trật tự công cộng chính đáng. Các giới hạn cần có phải dựa trên những chuẩn mực công bằng, được áp dụng cách không kỳ thị và không trở thành cái cớ để đàn áp một cộng đồng. Một xã hội tôn trọng tự do tôn giáo tạo điều kiện để con người tìm kiếm sự thật và sống theo xác tín của mình, trong tinh thần trách nhiệm đối với đời sống chung.
Người Công giáo bảo vệ tự do tôn giáo cũng được mời gọi tôn trọng quyền ấy nơi những người có niềm tin khác hoặc không chia sẻ niềm tin của mình. Việc xác tín rằng đức tin của mình là chân thật không trao quyền cưỡng ép lương tâm người khác. Sự thật cần được trình bày bằng chứng tá, bằng lời nói có lý lẽ, bằng sự kiên nhẫn và bằng lòng tôn trọng. Trong một gia đình có những khác biệt tôn giáo, điều này đòi hỏi nhiều sự tế nhị: không dùng tình cảm để gây áp lực, không xúc phạm điều người khác coi là thiêng liêng, không biến các nghi thức thành dịp tranh chấp và không xem người khác như một đối tượng phải chinh phục bằng mọi giá. Trong xã hội, tinh thần tôn trọng giúp các cộng đồng có thể hợp tác vì những mục tiêu chung như chăm sóc người nghèo, bảo vệ trẻ em, hỗ trợ người bệnh và xây dựng hòa bình. Sự hợp tác ấy không đòi hỏi mọi người xóa bỏ các xác tín riêng, nhưng đòi hỏi mỗi người nhận ra phẩm giá của những người khác và khả năng cùng nhau thực hiện điều thiện.
Giáo Hội và cộng đồng chính trị có những mục tiêu và trách nhiệm khác nhau trong phạm vi riêng của mình. Cộng đồng chính trị có nhiệm vụ tổ chức những điều kiện phục vụ công ích trần thế. Giáo Hội có sứ mạng loan báo Tin Mừng, cử hành các bí tích, chăm sóc đời sống đức tin và hướng con người đến sự hiệp thông với Thiên Chúa. Sự phân biệt này cần được tôn trọng để mỗi bên thực hiện đúng trách nhiệm. Giáo Hội không đồng hóa sứ mạng của mình với một cương lĩnh chính trị cụ thể, và không thể để lòng trung thành với Tin Mừng bị thay thế bởi lòng trung thành tuyệt đối với một nhóm quyền lực. Đồng thời, cộng đồng chính trị cần tôn trọng sự tự do chính đáng của Giáo Hội trong việc thi hành sứ mạng. Sự tự trị của hai bên mở ra khả năng hợp tác lành mạnh, vì cùng một con người vừa có những nhu cầu của đời sống xã hội vừa có những nhu cầu tinh thần. Trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, bác ái và chăm sóc những người gặp khó khăn, sự hợp tác có thể đem lại ích lợi lớn khi được thực hiện với mục tiêu rõ ràng, trách nhiệm minh bạch và lòng tôn trọng lẫn nhau.
Tiếng nói luân lý của Giáo Hội có ý nghĩa đặc biệt khi phẩm giá con người, các quyền căn bản hoặc những đòi hỏi nghiêm trọng của công lý bị đe dọa. Khi Giáo Hội bênh vực người nghèo, nhắc đến trách nhiệm bảo vệ sự sống, yêu cầu tôn trọng lương tâm hay lên án sự xúc phạm phẩm giá, Giáo Hội đang thực hiện trách nhiệm gắn với sứ mạng của mình. Tiếng nói ấy cần được diễn tả bằng sự trung thực, hiểu biết và lòng bác ái. Việc phê phán luân lý phải hướng đến điều sai thực sự, được nâng đỡ bởi những dữ kiện đáng tin và được trình bày theo cách giúp người nghe nhận ra con đường sửa chữa. Giáo Hội cũng cần giữ sự khiêm tốn để nhìn nhận những sai lầm của chính các thành viên mình và để thanh luyện cách thực hiện trách nhiệm. Một tiếng nói về công lý trở nên đáng tin hơn khi đi cùng sự công bằng trong những cơ cấu gần gũi. Một lời mời gọi liêm chính có sức thuyết phục hơn khi việc quản lý các nguồn lực được thực hiện cách minh bạch. Một lời bênh vực người yếu có sức nặng hơn khi những người yếu thực sự được đón nhận trong đời sống cộng đoàn.
Các giáo dân có một trách nhiệm riêng và rất quan trọng trong việc đem những nguyên tắc của đức tin vào đời sống xã hội. Họ hiện diện trong các gia đình, nơi làm việc, các cơ quan, trường học, bệnh viện, thị trường và những môi trường khác của đời sống chung. Qua nghề nghiệp và những lựa chọn hằng ngày, họ có thể góp phần làm cho các tương quan trở nên công bằng hơn. Một người làm việc trong cơ quan công quyền sống liêm chính đang phục vụ công ích. Một giáo viên đối xử công bằng với học sinh đang bảo vệ phẩm giá. Một người làm kinh doanh giữ sự trung thực đang xây dựng lòng tin. Một nhân viên y tế chăm sóc người bệnh với sự tôn trọng đang làm cho lòng thương xót hiện diện trong một hoàn cảnh cụ thể. Một người có trách nhiệm quản lý biết lắng nghe người lao động đang góp phần thanh luyện quyền lực. Các giáo dân cần được đào luyện để có thể thực hiện những trách nhiệm ấy cách trưởng thành, biết phân biệt các nguyên tắc luân lý với những lựa chọn chuyên môn và biết cộng tác với những người thiện chí trong việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp.
Gia đình là nơi việc giáo dục trách nhiệm công dân bắt đầu từ rất sớm. Một đứa trẻ học cách nhìn đời sống chung qua những điều người lớn thực hiện: có giữ lời hứa không, có nói thật không, có biết xin lỗi không, có tôn trọng người lao động không, có cư xử lịch sự với người không thể đem lại lợi ích cho mình không. Nếu trong nhà, người lớn luôn dùng sức mạnh để áp đặt, trẻ có thể học rằng quyền hành cho phép người mạnh làm theo ý mình. Nếu người lớn chấp nhận gian dối để đạt mục tiêu, trẻ có thể học rằng kết quả quan trọng hơn sự ngay thẳng. Nếu gia đình biết lắng nghe, phân chia trách nhiệm công bằng, chăm sóc người yếu và giải quyết bất đồng với sự tôn trọng, trẻ được chuẩn bị để trở thành một công dân có trách nhiệm. Những thói quen như không xả rác, không làm hư của chung, không chen lấn, không lấy đồ của người khác, không chế giễu người khuyết tật và không nói xấu vô căn cứ có ý nghĩa sâu xa đối với đời sống xã hội. Giáo dục công dân được hình thành từ các lựa chọn nhỏ có khả năng trở thành nếp sống.
Giáo xứ cũng có thể trở thành một môi trường nuôi dưỡng sự trưởng thành ấy. Khi các thành viên được mời gọi đóng góp theo khả năng, khi công việc được phân chia rõ ràng, khi những người có trách nhiệm biết giải thích và lắng nghe, khi nguồn lực được quản lý cách ngay thẳng, cộng đoàn đang tạo ra những kinh nghiệm cụ thể về tinh thần phục vụ. Một cuộc họp có sự tôn trọng giúp người ta học cách trình bày ý kiến mà không công kích. Một hoạt động bác ái có sự quan tâm đến phẩm giá người nhận giúp người ta học cách giúp đỡ mà không làm nhục. Một quyết định biết chú ý đến những người ít có tiếng nói giúp cộng đoàn tránh chỉ nghe những người thường xuyên xuất hiện. Cách sử dụng quyền hành trong Giáo Hội cần phản ánh tinh thần của Đức Kitô, Đấng phục vụ và trao hiến. Người có trách nhiệm mục vụ cần nhớ rằng sự tin tưởng được xây dựng bằng việc chăm sóc, bằng sự nhất quán và bằng khả năng đặt lợi ích của cộng đoàn lên trên nhu cầu được nhìn nhận của bản thân.
Việc tham gia đời sống chung thường bắt đầu bằng những công việc không gây chú ý. Một người giúp cụ già hiểu một thủ tục; một nhóm thanh niên tổ chức dọn vệ sinh khu phố; một gia đình hỗ trợ trẻ em có nguy cơ bỏ học; một người có chuyên môn chia sẻ kiến thức để cộng đồng hiểu một vấn đề; một người biết ngăn lại một lời vu khống; một người giúp hòa giải mâu thuẫn giữa những người hàng xóm. Những hành động ấy làm cho xã hội có thêm sự tin tưởng và thêm khả năng hợp tác. Người Kitô hữu cần tránh coi các việc nhỏ là không đáng kể chỉ vì chúng không xuất hiện trên những diễn đàn lớn. Đời sống chung được dệt nên bởi hàng triệu hành vi thường ngày. Khi những hành vi ấy mang sự trung thực, trách nhiệm và lòng nhân hậu, xã hội có một nền tảng tốt hơn để đối diện với các vấn đề lớn. Khi chúng mang sự gian dối, khinh miệt và vô cảm, những cơ cấu dù được thiết kế kỹ lưỡng cũng phải chịu những sức ép làm chúng suy yếu.
Tuy nhiên, việc sống tử tế trong các tương quan gần gũi cũng cần được mở rộng thành sự quan tâm đến những nguyên nhân gây khó khăn cho nhiều người. Nếu một gia đình nghèo cần lương thực, chúng ta giúp họ; đồng thời có thể tìm hiểu điều gì làm cho họ không có sinh kế ổn định. Nếu một đứa trẻ cần học phí, chúng ta hỗ trợ; đồng thời cần chú ý đến những rào cản khiến nhiều trẻ em không thể tiếp tục học. Nếu một người bị đối xử bất công, chúng ta đồng hành; đồng thời nên tìm những cách thích hợp để việc tương tự không tiếp diễn. Bác ái có chiều kích cá nhân và cũng có chiều kích xã hội. Một trái tim biết yêu người gặp nạn sẽ dần biết quan tâm đến những điều kiện làm cho người ta dễ gặp nạn. Sự quan tâm này cần được thực hiện với hiểu biết và với khả năng hợp tác, bởi các vấn đề xã hội thường có nhiều nguyên nhân. Những thay đổi bền vững có thể đòi hỏi thời gian, nguồn lực, chuyên môn và sự phối hợp của nhiều chủ thể. Người tín hữu góp phần bằng lòng kiên trì và bằng việc giữ cho con người cụ thể luôn ở trung tâm của quá trình tìm giải pháp.
Một thách đố lớn trong đời sống xã hội là thái độ thờ ơ. Có người thờ ơ vì cảm thấy mình quá nhỏ bé; có người thờ ơ vì đã thất vọng nhiều lần; có người thờ ơ vì quá bận với những nhu cầu của gia đình; cũng có người thờ ơ vì nghĩ rằng chuyện chung luôn là trách nhiệm của người khác. Những hoàn cảnh ấy cần được hiểu với sự cảm thông, nhưng chúng ta vẫn được mời gọi khám phá phần trách nhiệm có thể thực hiện. Không phải ai cũng có cùng khả năng tham gia, và không phải ai cũng phải đảm nhận những công việc lớn. Một người có thể bắt đầu bằng việc tìm hiểu, bằng việc sống đúng trong nghề nghiệp, bằng việc giúp một người khác tiếp cận quyền lợi chính đáng hoặc bằng việc cộng tác trong một sáng kiến phù hợp. Khi mỗi người nhận phần trách nhiệm của mình, sự thờ ơ giảm đi. Lòng hy vọng Kitô giáo giúp chúng ta không đồng hóa hiện tại với toàn bộ tương lai. Dù có những điều khó thay đổi, vẫn có những điều chúng ta có thể làm để giảm đau khổ, bảo vệ phẩm giá và tạo điều kiện cho điều thiện lớn lên.
Một thách đố khác là sự phân cực, khi người ta dễ nhìn nhau qua những nhãn dán và mất khả năng đối thoại. Trong bầu khí ấy, một ý kiến khác có thể bị xem là dấu hiệu của sự thù địch; một sai lầm của người cùng phía được bỏ qua, còn một sai lầm của người khác phía bị phóng đại; những dữ kiện không thuận lợi bị loại bỏ khỏi sự chú ý. Người Kitô hữu cần giữ sự tự do nội tâm trước cách nhìn như vậy. Chân lý không lệ thuộc vào việc ai nói ra, và phẩm giá không lệ thuộc vào việc một người có cùng quan điểm với mình hay không. Đối thoại đòi hỏi biết nghe điều người khác thực sự nói, biết đặt câu hỏi để hiểu và biết nhìn nhận những điểm đúng dù chúng không đến từ người mình ưa thích. Đồng thời, đối thoại cần có sự trung thành với các nguyên tắc, để lòng tôn trọng không biến thành thái độ bỏ qua những điều nghiêm trọng. Một người có thể nói rõ sự bất đồng mà vẫn giữ sự tử tế. Một cộng đồng có thể tranh luận về giải pháp mà vẫn nhìn nhận nhau là những người cùng có trách nhiệm đối với đời sống chung.
Trong việc sử dụng quyền hành, lòng nhân hậu phải đi cùng sự sáng suốt. Có những hoàn cảnh người lãnh đạo cần đưa ra quyết định khó, cần ngăn một hành vi gây hại, cần xác định trách nhiệm hoặc cần từ chối một yêu cầu không chính đáng. Tinh thần phục vụ không làm cho người lãnh đạo mất khả năng quyết định; nó giúp họ quyết định vì lợi ích thật của những người liên quan. Một người cha thương con cần có những giới hạn giúp con trưởng thành. Một người quản lý quan tâm nhân viên cần bảo vệ sự công bằng trong nơi làm việc. Một người có trách nhiệm cộng đoàn cần ngăn những hành vi làm tổn thương người khác. Vấn đề là những quyết định ấy được thực hiện với mục tiêu nào và theo cách nào. Có thể sửa lỗi mà không hạ nhục, có thể giữ kỷ luật mà vẫn tôn trọng, có thể nói một điều khó nghe mà không cố ý làm đau. Khi quyền hành được sử dụng với sự sáng suốt và lòng nhân hậu, người được hướng dẫn có thể hiểu rằng những giới hạn được đặt ra nhằm bảo vệ điều thiện và giúp cộng đồng cùng phát triển.
Đời sống chính trị cũng cần đến sự khôn ngoan để nhìn về tương lai. Những quyết định hôm nay có thể ảnh hưởng đến những người chưa sinh ra, đến môi trường sống, đến chất lượng giáo dục, đến khả năng tiếp cận việc làm và đến lòng tin giữa các thế hệ. Một cộng đồng chỉ chú ý đến lợi ích trước mắt có thể để lại những gánh nặng lớn cho con cháu. Vì thế, công ích có chiều kích thời gian. Người trẻ cần có điều kiện để học tập và xây dựng đời sống; người già cần được chăm sóc và được tôn trọng; các gia đình cần có khả năng ổn định; tài nguyên cần được sử dụng có trách nhiệm. Tình liên đới giữa các thế hệ giúp chúng ta nhận ra rằng hiện tại là nơi gặp nhau của những gì đã được trao và những gì sẽ được truyền lại. Chúng ta đang hưởng những công sức của người đi trước, và chúng ta có trách nhiệm để lại những điều kiện tốt cho người đến sau. Một nền chính trị phục vụ con người biết đặt các quyết định trong tầm nhìn ấy, để sự phát triển không chỉ được đánh giá bằng những kết quả tức thời.
Nhìn sâu hơn, sự đổi mới của cộng đồng chính trị cần đến những con người được đổi mới trong lương tâm. Các cơ chế công bằng rất quan trọng, nhưng chính con người vận hành cơ chế có thể làm cho nó phục vụ đúng mục tiêu hoặc bị biến dạng. Một quy định minh bạch có thể bị lách nếu người ta quyết tâm gian dối. Một cơ chế giám sát có thể mất hiệu quả nếu những người có trách nhiệm bao che nhau. Một chương trình hỗ trợ có thể không đến được người cần nếu việc phân bổ bị chi phối bởi tư lợi. Vì vậy, việc xây dựng xã hội cần đi cùng việc giáo dục con người biết yêu sự thật, biết nhận trách nhiệm và biết tự giới hạn những ham muốn của mình. Đức tin đóng góp vào tiến trình ấy bằng việc đặt con người trước Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lòng người và mời gọi hoán cải. Khi một người biết rằng giá trị của mình không nằm ở việc chiếm được bao nhiêu lợi thế, người ấy có thể sống tự do hơn trước cám dỗ quyền lực. Khi một người tin rằng tha nhân được Thiên Chúa yêu thương, người ấy có thêm động lực để tôn trọng họ ngay cả khi không ai quan sát.
Việc xét mình về đời sống xã hội vì thế cần có chỗ trong hành trình thiêng liêng. Tôi có dùng vị trí của mình để làm khó người khác không? Tôi có trả công xứng đáng không? Tôi có giữ sự trung thực trong giấy tờ và trong các giao dịch không? Tôi có lắng nghe người yếu hơn mình không? Tôi có dùng lời nói để hạ nhục người khác không? Tôi có góp phần lan truyền thông tin sai không? Tôi có xem của chung như nơi mình có thể lấy mà không chịu trách nhiệm không? Tôi có bỏ qua một người đang cần giúp chỉ vì họ không thuộc nhóm của mình không? Những câu hỏi ấy giúp đức tin đi vào những ngóc ngách cụ thể của đời sống. Đôi khi chúng ta rất chăm chỉ trong các thực hành đạo đức nhưng lại ít để ý đến cách mình sử dụng quyền hành hoặc cách mình đối xử với người làm việc cho mình. Sự hoán cải cần chạm đến cả hai. Người đã gặp lòng thương xót của Thiên Chúa được mời gọi để lòng thương xót ấy thay đổi cách mình sống trong gia đình, trong nghề nghiệp và trong cộng đồng.
Đứng trước những giới hạn của xã hội, người Kitô hữu giữ một niềm hy vọng vừa tỉnh táo vừa bền bỉ. Tỉnh táo vì biết rằng con người có thể phạm sai lầm, các cơ cấu có thể bị làm biến dạng và những thay đổi tốt thường cần nhiều thời gian. Bền bỉ vì tin rằng điều thiện có giá trị, rằng việc phục vụ chân thành không vô ích và rằng Thiên Chúa vẫn hoạt động trong lịch sử qua những con người sẵn sàng cộng tác. Niềm hy vọng ấy giúp chúng ta tránh thái độ thần thánh hóa một giải pháp, một người lãnh đạo hay một hệ thống. Không có một thành tựu trần thế nào thay thế được sự viên mãn của Nước Thiên Chúa. Đồng thời, hy vọng ấy thúc đẩy chúng ta chăm lo cho thế giới hiện tại, vì chính nơi đây những con người được Thiên Chúa yêu thương đang sống. Mỗi hành vi bảo vệ một người yếu, mỗi quyết định công bằng, mỗi sự từ chối gian dối và mỗi sáng kiến tạo cơ hội cho người khác đều góp phần làm cho đời sống chung có thêm ánh sáng.
Có thể hình dung một cộng đồng chính trị xứng đáng với con người qua những cảnh đời rất bình thường: một cụ già đến làm giấy tờ được hướng dẫn bằng sự kiên nhẫn; một đứa trẻ nghèo được tiếp tục học; một người lao động được trả công đúng; một người bệnh được chăm sóc với lòng tôn trọng; một người bị cáo buộc được xét xử công bằng; một cộng đồng nhỏ được giữ tiếng nói của mình; một người có niềm tin khác được sống theo lương tâm; một gia đình gặp biến cố được nâng đỡ; một người nắm quyền biết nhận sai; một công dân dám nói thật và cũng biết nghe sự thật. Những điều ấy không xa xôi. Chúng có thể được thực hiện qua những lựa chọn cụ thể, qua việc thiết kế các cơ cấu hợp lý và qua sự trưởng thành của các lương tâm. Xã hội được xây dựng bởi những người biết rằng quyền lực là một trách nhiệm, công lý là một bổn phận và tình huynh đệ là một khả năng cần được nuôi dưỡng mỗi ngày.
Xin Thiên Chúa ban cho những người có trách nhiệm lãnh đạo một trái tim biết lắng nghe, một trí khôn sáng suốt và một lương tâm ngay thẳng. Xin cho họ nhận ra những người đang âm thầm chịu hậu quả của các quyết định, biết bảo vệ người yếu và biết đặt công ích lên trên lợi ích riêng. Xin cho những người làm việc trong các cơ quan công cộng có tinh thần phục vụ, cho những người thi hành công lý có sự liêm chính, cho những người làm truyền thông có lòng yêu sự thật và cho mọi công dân có ý thức trách nhiệm. Xin cho các gia đình trở thành nơi con trẻ học được sự trung thực, lòng tôn trọng và tinh thần cộng tác. Xin cho các cộng đoàn đức tin biết sử dụng quyền hành theo gương Đức Kitô, biết chăm sóc người bé nhỏ và biết làm chứng cho tình yêu bằng những hành vi đáng tin. Xin cho chúng ta đủ can đảm để không cộng tác vào điều sai, đủ khiêm tốn để sửa lỗi của mình và đủ kiên nhẫn để cùng nhau xây dựng điều thiện. Giữa một thế giới còn nhiều thương tích, xin cho mỗi người biết góp phần bằng khả năng được trao, để người khác có thể sống bớt sợ hãi, được tôn trọng hơn và có thêm hy vọng. Và xin cho mọi sự phục vụ của chúng ta, dù lớn hay nhỏ, đều bắt nguồn từ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa và từ xác tín rằng mỗi con người đang ở trước mặt mình đều là một người được Người yêu thương.
Lm. Anmai, CSsR.
