Phụng vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Bài chia sẻ (youtube & bản văn) Chúa Nhật XXV TN – Lm. Anmai, CSsR

5

Tin giáo hội công giáo ngày 20 tháng 9 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Chúa nhật 25 TN ĐỪNG BUỒN VÌ THIÊN CHÚA QUÁ TỐT – Lm. Anmai, CSsR

Chúa nhật 25 TN THIÊN CHÚA KHÔNG TÍNH TOÁN NHƯ CON NGƯỜI- Lm. Anmai, CSsR


LỜI NGUYỆN CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN
Lạy Chúa là Cha nhân từ và giàu lòng thương xót, trong ngày Chúa Nhật hôm nay, chúng con quy tụ trước nhan Chúa với lòng biết ơn vì Chúa đã gọi mỗi người chúng con bước vào vườn nho của Chúa. Có người được Chúa gọi từ rất sớm, có người giữa trưa, có người khi ngày đã gần tàn, nhưng tất cả đều được Chúa nhìn đến bằng cùng một ánh mắt yêu thương. Xin cho chúng con hiểu rằng ơn gọi, đức tin, sức khỏe, thời gian, khả năng và mọi điều tốt đẹp chúng con đang có đều là ân huệ nhưng không Chúa ban, chứ không phải là công trạng để chúng con tự hào hay dùng làm lý do so sánh mình với người khác.
Lạy Chúa, nhiều khi chúng con cũng giống những người thợ làm từ sáng sớm trong Tin Mừng: chúng con dễ tính toán, dễ so đo, dễ buồn khi thấy người khác được yêu thương, được tha thứ, được thành công hay được đón nhận nhiều hơn chúng con tưởng họ xứng đáng. Xin chữa lành nơi chúng con lòng ganh tị và thói quen xét đoán. Xin cho chúng con biết vui với niềm vui của anh chị em, biết cảm tạ vì điều Chúa làm nơi người khác, và biết nhận ra rằng lòng quảng đại của Chúa không bao giờ làm chúng con nghèo đi, nhưng luôn mở rộng trái tim chúng con.
Xin Chúa dạy chúng con trung thành với phần việc Chúa trao, dù âm thầm và bé nhỏ. Khi được gọi sớm, xin cho chúng con đừng kiêu căng; khi được gọi muộn, xin cho chúng con đừng thất vọng; khi phải chờ đợi, xin cho chúng con biết tín thác; khi gặp bất công hay thiệt thòi, xin cho chúng con đừng để cay đắng chiếm lấy tâm hồn. Xin cho chúng con luôn nhớ rằng phần thưởng lớn nhất không phải là những gì chúng con nhận được, nhưng chính là được thuộc về Chúa, được làm việc trong vườn nho của Chúa và được sống trong tình yêu của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi trái tim chúng con nên giống Trái Tim Chúa: quảng đại hơn, dịu dàng hơn, biết cảm thông hơn và không tính toán trong tình yêu. Xin cho gia đình chúng con biết nâng đỡ nhau, cộng đoàn chúng con biết đón nhận nhau, và mỗi người chúng con biết trở thành dấu chỉ của lòng thương xót giữa một thế giới còn quá nhiều ganh đua và hơn thua. Xin cho chúng con sống ngày hôm nay với lòng biết ơn, làm mọi việc với tình yêu, và khi chiều xuống, có thể bình an thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con đã cố gắng trung thành trong phần việc Chúa trao.”
Amen.
Lm. Anmai, CSsR


Dẫn vào thánh lễ
Anh chị em thân mến! Vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên con người bởi Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta bằng chính những giới luật của Ngài, nhờ Ngài qui hướng chúng ta về một mục đích duy nhất là phục vụ cho tình yêu: tình yêu Ngài và tình yêu tha nhân.
Vậy, chúng ta hãy can đảm, chân thành mở rộng lòng mình để đón nhận và trao ban lại cho nhau tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Do đó, mỗi người cần thu dọn rác rưởi trong tâm hồn là những kiêu căng, lỗi lầm, để đón nhận ơn Chúa là Đấng nhân hậu và rất mục từ bi.
Ca nhập lễ
Chúa phán: Ta là phần rỗi của dân Ta. Họ đã kêu cầu Ta trong mọi nỗi gian truân. Ta đã nhậm lời họ, và Ta sẽ là Chúa của họ đến muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã thu gọn toàn thể lề luật thánh vào giới răn độc nhất là mến Chúa yêu người, xin giúp chúng con hằng vâng giữ điều Chúa truyền dạy, để sau này đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Is 55, 6-9
“Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót; hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ.
Vì tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 144, 2-3. 8-9. 17-18
Ðáp: Chúa ở gần mọi kẻ kêu cầu Người
Xướng: Hằng ngày tôi sẽ chúc tụng Chúa, và tôi sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, sự vĩ đại của Chúa không thể đo lường được.
Xướng: Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi người, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa.
Xướng: Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong việc Chúa làm. Chúa gần gũi mọi kẻ kêu cầu Người, mọi kẻ kêu cầu Người cách thành tâm.
Bài Ðọc II: Pl 1, 20c-24. 27a
“Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô”
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, dù tôi sống hay tôi chết, Ðức Kitô sẽ được vẻ vang trong thân xác tôi. Vì đối với tôi, sống là Ðức Kitô, còn chết là một mối lợi. Nhưng nếu sống trong xác thịt này đem lại cho tôi kết quả trong việc làm, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Tôi đang lúng túng trong hai điều này: là ước ao chết để được ở với Ðức Kitô thì tốt hơn bội phần, nhưng cứ ở lại trong xác thịt thì cần thiết cho anh em. Anh em hãy sống xứng đáng với Tin Mừng của Ðức Kitô.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Lc 19, 38
Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.
Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin mở lòng chúng con, để chúng con lắng nghe lời của Con Chúa
Phúc Âm: Mt 20, 1-16a
“Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: “Nước trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng”. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy.
Ðến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: “Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?” Họ thưa rằng: “Vì không có ai thuê chúng tôi”. Ông bảo họ rằng: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta”.
Ðến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: “Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết.” Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng.
Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn, nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Ðang khi lãnh liền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: “Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao”? Chủ nhà trả lời với một kẻ trong nhóm họ rằng: “Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao?” Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng? Như thế, kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
MẪU 1
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Lòng nhân hậu của Chúa Cha vượt quá sự mong đợi của chúng ta. Người luôn sẵn sàng đón nhận và quảng đại đáp ứng những lời khẩn cầu của chúng ta. Giờ đây chúng ta hãy tin tưởng dâng lên Người những lời cầu nguyện.
1. Giáo Hội tiếp tục khơi dậy nơi các con cái mình ước muốn ngay lành. Xin cho các tín hữu, tùy theo ơn gọi và khả năng của mình, làm việc trong vườn nho của Chúa cách nhiệt thành và vui tươi.
2. Mọi người đều được Chúa ban dư tràn hồng ân. Xin cho mỗi người biết nhận ra lòng nhân từ và thương xót của Chúa để dâng lời cảm tạ vì muôn ơn lành Ngài đã thương ban.
3. Mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn đều được Chúa trao ban một sứ mạng. Xin cho mỗi người trong chúng ta biết trở thành người phục vụ vô vị lợi và biết cộng tác với chương trình cứu độ của Ngài.
4. Chúng ta thường nhìn người khác một cách chủ quan theo tính tham lam và ích kỉ của mình. Xin Chúa thương mở lòng mỗi người chúng ta để luôn biết giúp đỡ, yêu mến anh em mình cách quảng đại, và vui mừng với niềm vui của họ.
Chủ tế: Lạy Cha, xin hướng dẫn cuộc đời của chúng con, xin cho chúng con nhận ra lòng quảng đại và tình thương của Cha, xin giúp các tín hữu biết biết làm cho Cha hiện diện giữa anh em của họ bằng đời sống chứng tá. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con.
MẪU 2
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót khi kêu gọi mỗi người chúng ta vào làm việc trong vườn nho của Chúa. Trong tâm tình tạ ơn, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Nước Trời giống như chuyện chủ nhà kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị mục tử trong Hội Thánh, trở nên những người thợ lành nghề trong cánh đồng truyền giáo, luôn đầy lòng mến Chúa yêu người.
2. “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho anh chị em chưa tin nhận Đức Ki-tô, biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa mời gọi, để được hiệp nhất trong đại gia đình Giáo Hội.
3. “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những người đang gặp khó khăn thử thách, luôn cảm nhận được tình yêu của Chúa, qua sự ân cần chăm sóc của mọi người, để luôn được sống trong niềm vui và hạnh phúc.
4. “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, biết từ bỏ tính ích kỷ ghen tương, để trở nên muối và ánh sáng trong môi trường sống của mình.
Chủ tế: Lạy Chúa, xin thương đoái nhận những ước nguyện chúng con thành khẩn dâng lên Chúa.Xin cho chúng con biết sử dụng mọi khả năng Chúa ban, để làm sáng danh Chúa, hầu góp phần mở rộng Giáo Hội nơi trần gian này. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận của lễ cộng đoàn chúng con dâng, và nhờ thánh lễ này, xin cho chúng con được hưởng những hồng ân cao cả, mà chúng con hết lòng tin tưởng cậy trông. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Chúa đã ban bố các huấn lệnh, để chúng tôi được tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường nẻo tôi vững chắc, để tuân giữ thánh chỉ của Chúa.
Hoặc đọc:
Chúa phán: Ta là mục tử tốt lành, ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô nuôi dưỡng chúng con; xin nâng đỡ và giữ gìn chúng con luôn mãi, để chúng con được hưởng nhờ hiệu quả ơn cứu chuộc trong thánh lễ cũng như trong đời sống hàng ngày. Chúng con cầu xin…


Dẫn vào thánh lễ
Anh chị em thân mến! Vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên con người bởi Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta bằng chính những giới luật của Ngài, nhờ Ngài qui hướng chúng ta về một mục đích duy nhất là phục vụ cho tình yêu: tình yêu Ngài và tình yêu tha nhân.
Vậy, chúng ta hãy can đảm, chân thành mở rộng lòng mình để đón nhận và trao ban lại cho nhau tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Do đó, mỗi người cần thu dọn rác rưởi trong tâm hồn là những kiêu căng, lỗi lầm, để đón nhận ơn Chúa là Đấng nhân hậu và rất mục từ bi.
Ca nhập lễ
Chúa phán: Ta là phần rỗi của dân Ta. Họ đã kêu cầu Ta trong mọi nỗi gian truân. Ta đã nhậm lời họ, và Ta sẽ là Chúa của họ đến muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã thu gọn toàn thể lề luật thánh vào giới răn độc nhất là mến Chúa yêu người, xin giúp chúng con hằng vâng giữ điều Chúa truyền dạy, để sau này đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Is 55, 6-9
“Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót; hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ.
Vì tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 144, 2-3. 8-9. 17-18
Ðáp: Chúa ở gần mọi kẻ kêu cầu Người
Xướng: Hằng ngày tôi sẽ chúc tụng Chúa, và tôi sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, sự vĩ đại của Chúa không thể đo lường được.
Xướng: Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi người, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa.
Xướng: Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong việc Chúa làm. Chúa gần gũi mọi kẻ kêu cầu Người, mọi kẻ kêu cầu Người cách thành tâm.
Bài Ðọc II: Pl 1, 20c-24. 27a
“Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô”
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, dù tôi sống hay tôi chết, Ðức Kitô sẽ được vẻ vang trong thân xác tôi. Vì đối với tôi, sống là Ðức Kitô, còn chết là một mối lợi. Nhưng nếu sống trong xác thịt này đem lại cho tôi kết quả trong việc làm, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Tôi đang lúng túng trong hai điều này: là ước ao chết để được ở với Ðức Kitô thì tốt hơn bội phần, nhưng cứ ở lại trong xác thịt thì cần thiết cho anh em. Anh em hãy sống xứng đáng với Tin Mừng của Ðức Kitô.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Lc 19, 38
Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.
Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin mở lòng chúng con, để chúng con lắng nghe lời của Con Chúa
Phúc Âm: Mt 20, 1-16a
“Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: “Nước trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng”. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy.
Ðến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: “Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?” Họ thưa rằng: “Vì không có ai thuê chúng tôi”. Ông bảo họ rằng: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta”.
Ðến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: “Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết.” Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng.
Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn, nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Ðang khi lãnh liền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: “Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao”? Chủ nhà trả lời với một kẻ trong nhóm họ rằng: “Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao?” Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng? Như thế, kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
MẪU 1
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Lòng nhân hậu của Chúa Cha vượt quá sự mong đợi của chúng ta. Người luôn sẵn sàng đón nhận và quảng đại đáp ứng những lời khẩn cầu của chúng ta. Giờ đây chúng ta hãy tin tưởng dâng lên Người những lời cầu nguyện.
1. Giáo Hội tiếp tục khơi dậy nơi các con cái mình ước muốn ngay lành. Xin cho các tín hữu, tùy theo ơn gọi và khả năng của mình, làm việc trong vườn nho của Chúa cách nhiệt thành và vui tươi.
2. Mọi người đều được Chúa ban dư tràn hồng ân. Xin cho mỗi người biết nhận ra lòng nhân từ và thương xót của Chúa để dâng lời cảm tạ vì muôn ơn lành Ngài đã thương ban.
3. Mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn đều được Chúa trao ban một sứ mạng. Xin cho mỗi người trong chúng ta biết trở thành người phục vụ vô vị lợi và biết cộng tác với chương trình cứu độ của Ngài.
4. Chúng ta thường nhìn người khác một cách chủ quan theo tính tham lam và ích kỉ của mình. Xin Chúa thương mở lòng mỗi người chúng ta để luôn biết giúp đỡ, yêu mến anh em mình cách quảng đại, và vui mừng với niềm vui của họ.
Chủ tế: Lạy Cha, xin hướng dẫn cuộc đời của chúng con, xin cho chúng con nhận ra lòng quảng đại và tình thương của Cha, xin giúp các tín hữu biết biết làm cho Cha hiện diện giữa anh em của họ bằng đời sống chứng tá. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con.
MẪU 2
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót khi kêu gọi mỗi người chúng ta vào làm việc trong vườn nho của Chúa. Trong tâm tình tạ ơn, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Nước Trời giống như chuyện chủ nhà kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị mục tử trong Hội Thánh, trở nên những người thợ lành nghề trong cánh đồng truyền giáo, luôn đầy lòng mến Chúa yêu người.
2. “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho anh chị em chưa tin nhận Đức Ki-tô, biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa mời gọi, để được hiệp nhất trong đại gia đình Giáo Hội.
3. “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những người đang gặp khó khăn thử thách, luôn cảm nhận được tình yêu của Chúa, qua sự ân cần chăm sóc của mọi người, để luôn được sống trong niềm vui và hạnh phúc.
4. “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, biết từ bỏ tính ích kỷ ghen tương, để trở nên muối và ánh sáng trong môi trường sống của mình.
Chủ tế: Lạy Chúa, xin thương đoái nhận những ước nguyện chúng con thành khẩn dâng lên Chúa.Xin cho chúng con biết sử dụng mọi khả năng Chúa ban, để làm sáng danh Chúa, hầu góp phần mở rộng Giáo Hội nơi trần gian này. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận của lễ cộng đoàn chúng con dâng, và nhờ thánh lễ này, xin cho chúng con được hưởng những hồng ân cao cả, mà chúng con hết lòng tin tưởng cậy trông. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Chúa đã ban bố các huấn lệnh, để chúng tôi được tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường nẻo tôi vững chắc, để tuân giữ thánh chỉ của Chúa.
Hoặc đọc:
Chúa phán: Ta là mục tử tốt lành, ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô nuôi dưỡng chúng con; xin nâng đỡ và giữ gìn chúng con luôn mãi, để chúng con được hưởng nhờ hiệu quả ơn cứu chuộc trong thánh lễ cũng như trong đời sống hàng ngày. Chúng con cầu xin…

THIÊN CHÚA KHÔNG TÍNH TOÁN NHƯ CON NGƯỜI
Có lẽ một trong những điều khó chấp nhận nhất trong đời sống đức tin không phải là chuyện Thiên Chúa có hiện hữu hay không, cũng không hẳn là chuyện Thiên Chúa có yêu thương chúng ta hay không, nhưng là chuyện tại sao Thiên Chúa lại yêu người khác theo cách mà chúng ta cho là “không công bằng”. Chúng ta dễ dàng vui khi được Chúa thương, nhưng lại có thể khó chịu khi thấy Chúa cũng thương một người mà chúng ta nghĩ rằng họ không đáng được thương như mình. Chúng ta dễ dàng cảm tạ vì mình được tha thứ, nhưng đôi khi lại bực bội khi thấy một người khác, sau bao nhiêu năm sống sai lạc, cuối cùng cũng được Chúa đón nhận. Chúng ta dễ dàng nói rằng lòng thương xót của Thiên Chúa là vô biên, nhưng trong thực tế, lòng chúng ta lại muốn đặt biên giới cho lòng thương xót ấy. Chúng ta muốn Thiên Chúa nhân từ, nhưng nhân từ với chúng ta thôi; chúng ta muốn Thiên Chúa rộng lượng, nhưng đừng rộng lượng với người mà chúng ta không ưa; chúng ta muốn Thiên Chúa tha thứ, nhưng đôi khi lại muốn Ngài nhớ thật kỹ lỗi lầm của kẻ đã làm chúng ta tổn thương. Và chính ở điểm ấy, dụ ngôn những người thợ làm vườn nho trong Tin Mừng Chúa nhật XXV Thường Niên năm A chạm rất sâu vào căn bệnh âm thầm của lòng người: bệnh so sánh, bệnh tính toán, bệnh muốn biến ân sủng thành tiền công, bệnh muốn đo lòng quảng đại của Thiên Chúa bằng chiếc thước rất ngắn của công bằng loài người.
Chúa Giêsu kể rằng Nước Trời giống như một gia chủ sáng sớm ra thuê thợ vào làm vườn nho. Ông đi ra lúc sáng sớm, rồi khoảng giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín, và thậm chí đến giờ thứ mười một, tức gần cuối ngày, ông vẫn tiếp tục gọi người vào làm. Cuối ngày, khi trả công, điều gây bất ngờ là những người vào làm cuối cùng cũng được một đồng như những người đã làm từ sáng. Và ngay lập tức, những người làm cả ngày bắt đầu lẩm bẩm: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.” Đây không chỉ là câu chuyện của những người thợ hai ngàn năm trước. Đây chính là câu chuyện của chúng ta hôm nay. Bởi vì rất nhiều khi trong lòng mình, chúng ta cũng nói với Chúa y như thế: “Lạy Chúa, con đã đi lễ bao nhiêu năm, con đã đọc kinh bao nhiêu năm, con đã hy sinh, con đã phục vụ, con đã giữ đạo từ nhỏ; tại sao người kia sống bê bối cả đời, đến lúc cuối đời mới trở về, Chúa cũng tha? Tại sao người kia mới đến với Chúa mà lại được bình an như con? Tại sao con đã chịu khó nhiều như thế mà đời con vẫn đầy thử thách, trong khi có người chẳng sống đạo nghiêm túc mà xem ra lại thuận lợi hơn?” Đằng sau những câu hỏi ấy có một nỗi đau thật, nhưng cũng có một cám dỗ rất tinh vi: chúng ta bắt đầu xem tương quan với Thiên Chúa như một hợp đồng làm công hơn là một tương quan tình yêu.
Nếu người Kitô hữu nghĩ rằng mình cầu nguyện để Chúa phải trả công, mình đi lễ để Chúa mắc nợ mình, mình làm việc bác ái để Chúa buộc phải ban phúc, thì đời sống đạo đã bị biến dạng. Thiên Chúa không phải là ông chủ trả lương theo bảng chấm công thiêng liêng. Ơn cứu độ không phải là tiền lương. Nước Trời không phải là phần thưởng mà ta có thể tính theo số giờ cầu nguyện hay số năm sống đạo. Tất cả bắt đầu từ ân sủng. Ngay cả khả năng chúng ta biết Chúa, yêu Chúa, đi theo Chúa, phục vụ Chúa cũng đã là ân sủng. Người thợ được gọi từ sáng sớm không phải là người bất hạnh vì phải làm cả ngày; trái lại, họ là người may mắn vì từ sáng sớm đã có việc, đã có chỗ đứng, đã có một tương quan với chủ vườn nho. Những người đứng đến cuối ngày ngoài chợ mới thực sự là những người đáng thương: cả ngày không ai thuê họ. Họ đứng chờ trong bất an, trong mặc cảm, trong cảm giác mình vô dụng, không biết cuối ngày gia đình sẽ ăn gì, con cái sẽ sống ra sao. Khi chủ vườn nho đến gọi họ vào giờ thứ mười một, ông không chỉ cho họ một giờ làm việc; ông trả lại cho họ phẩm giá, cho họ hy vọng, cho họ khả năng mang bánh về nhà. Một đồng mà ông trao cho họ không phải là sự bất công với người làm từ sáng, nhưng là lòng thương xót dành cho người có nguy cơ trở về tay không.
Đọc Tin Mừng bằng đôi mắt của lòng thương xót, ta sẽ thấy nhân vật đáng chú ý nhất không phải là những người thợ, mà là ông chủ. Ông ra đi hết lần này đến lần khác. Ông không ngồi trong nhà chờ người ta đến xin việc; chính ông đi tìm họ. Sáng sớm ông đi. Giờ thứ ba ông lại đi. Giờ thứ sáu ông lại đi. Giờ thứ chín ông vẫn đi. Và gần hết ngày ông vẫn không ngừng tìm kiếm. Đây là hình ảnh tuyệt đẹp của Thiên Chúa. Thiên Chúa không mệt mỏi đi tìm con người. Có người được Chúa gọi khi còn nhỏ. Có người được đánh động lúc tuổi trẻ. Có người sau khi lập gia đình mới bắt đầu hiểu đức tin. Có người sau một biến cố đau thương mới quay về với Chúa. Có người gần cuối đời mới mở lòng. Nhưng điều lạ lùng là Thiên Chúa vẫn đi tìm. Ngài không nói: “Trễ quá rồi.” Ngài không nói: “Con đã bỏ phí quá nhiều năm nên Ta không cần con nữa.” Ngài không khép cửa vườn nho lúc giữa trưa. Bao lâu ngày đời còn chưa chấm dứt, lời mời gọi của Chúa vẫn có thể vang lên: “Cả anh nữa, hãy đi vào vườn nho của Ta.”
Đó là Tin Mừng lớn lao cho những người nghĩ rằng đời mình đã quá muộn để làm lại. Có người đã sống hai mươi năm xa Chúa. Có người đã làm gia đình tan vỡ. Có người đã mang theo một lỗi lầm quá lớn và nghĩ rằng mình không còn xứng đáng bước vào nhà thờ. Có người đã nghiện ngập, đã phản bội, đã làm tổn thương người khác, đã sống trong những tháng năm tăm tối. Có người bước qua nửa đời mới nhận ra mình đã chạy sai hướng. Tin Mừng hôm nay nói với họ rằng: vẫn còn giờ thứ mười một. Chúa vẫn đi ngang qua quảng trường cuộc đời và hỏi: “Sao anh đứng đây suốt ngày không làm gì?” Và nếu người ấy trả lời: “Vì không ai thuê chúng tôi,” Chúa vẫn có thể nói: “Cả anh nữa, hãy đi vào vườn nho.” Kitô giáo là tôn giáo của những khởi đầu lại. Không ai bị đóng đinh vĩnh viễn vào quá khứ của mình nếu người ấy thật lòng quay về. Trước mặt Thiên Chúa, quá khứ không có quyền lực lớn hơn lòng thương xót.
Nhưng dụ ngôn không chỉ an ủi những người đến muộn. Nó còn sửa dạy những người “đến sớm”. Những người đã có mặt trong Hội Thánh lâu năm, những người đã phục vụ nhiều năm, những người giữ đạo sốt sắng, những người hy sinh cho cộng đoàn, những người có kinh nghiệm thiêng liêng, tất cả chúng ta đều cần coi chừng một cám dỗ nguy hiểm: từ người con biến thành người làm thuê. Ta bắt đầu đếm công. Ta bắt đầu nhìn người mới bằng ánh mắt nghi ngờ. Ta bắt đầu thấy mình có quyền nhiều hơn. Ta bắt đầu nghĩ rằng vì ta đã phục vụ lâu nên tiếng nói của ta quan trọng hơn; vì ta đã đóng góp nhiều nên ta phải được trọng vọng hơn; vì ta sống đạo nghiêm túc nên ta ở một bậc cao hơn những người còn yếu đuối. Và khi ấy, dù thân xác chúng ta vẫn ở trong vườn nho, trái tim chúng ta đã đứng bên ngoài.
Điều đau lòng nhất trong dụ ngôn là những người thợ đầu tiên đã nhận đúng điều ông chủ hứa. Ông không hề lừa họ. Ông không bớt lương của họ. Ông trả đủ một đồng như đã thỏa thuận. Vấn đề không nằm ở việc họ bị thiệt, mà nằm ở việc họ không chịu nổi sự rộng lượng dành cho người khác. Đó là một thứ buồn rất lạ: buồn không phải vì mình thiếu, mà vì người khác cũng có. Có khi đây là căn nguyên của rất nhiều đau khổ trong đời. Ta có đủ, nhưng thấy người khác cũng có thì ta mất vui. Ta được yêu, nhưng thấy người khác cũng được yêu thì ta ghen. Ta được thành công, nhưng thấy người khác thành công hơn thì ta cay đắng. Ta có chỗ đứng, nhưng thấy người khác được chú ý thì ta khó chịu. Nếu không chữa căn bệnh so sánh, ta sẽ không bao giờ bình an, bởi luôn luôn sẽ có một người trẻ hơn, giỏi hơn, đẹp hơn, được yêu mến hơn, thành công hơn, may mắn hơn, được ghi nhận nhiều hơn ta. Người sống bằng so sánh sẽ biến cả những ân huệ đang có thành lý do để bất mãn.
Ông chủ hỏi một câu rất mạnh: “Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” Đây là câu hỏi Chúa gửi thẳng vào lòng mỗi người. Có phải ta đang buồn vì Chúa tốt với người khác không? Có phải ta đang khó chịu vì Chúa ban ơn cho một người mà ta không thích không? Có phải ta thấy bất bình khi một người tội lỗi được tha thứ không? Có phải ta muốn lòng thương xót có giới hạn, và giới hạn ấy do ta quyết định? Tất cả những điều đó cho thấy ta vẫn chưa thực sự hiểu trái tim Thiên Chúa.
Thiên Chúa công bằng, nhưng công bằng của Thiên Chúa không lạnh lùng. Công bằng của Ngài không đối nghịch với lòng thương xót. Con người thường hiểu công bằng theo kiểu: ai làm nhiều được nhiều, ai làm ít được ít, ai tốt được thưởng, ai xấu bị phạt. Cách hiểu ấy cần thiết trong nhiều lãnh vực xã hội, nhưng không đủ để diễn tả Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa chỉ đối xử với chúng ta theo công trạng tuyệt đối, không một ai đứng vững. Ta thường quên điều ấy. Ta nhìn lỗi người khác rất rõ nhưng nhìn lỗi mình rất mờ. Ta biết người kia đến vào giờ thứ mười một, nhưng quên rằng chính sự hiện diện của ta từ sáng sớm cũng đã là một món quà. Ta tưởng mình “xứng đáng”, nhưng thử hỏi: ai đã cho ta được sinh ra trong một gia đình biết Chúa? Ai đã cho ta gặp những người hướng dẫn tốt? Ai đã ban sức khỏe để ta phục vụ? Ai đã nâng ta dậy những lần ta ngã? Ai đã giữ ta khỏi những hoàn cảnh có thể làm ta hư mất? Cuối cùng, tất cả vẫn là ân sủng.
Thánh Phaolô từng nói: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại tự hào như không hề nhận? Câu hỏi ấy có thể đặt cạnh dụ ngôn hôm nay. Người làm từ sáng có gì mà không nhận? Họ nhận được cơ hội làm việc. Họ nhận được một lời hứa chắc chắn. Họ nhận được sự bảo đảm rằng cuối ngày sẽ có tiền mang về nhà. Trong khi những người đứng ngoài kia trải qua cả một ngày đầy lo lắng. Thế nhưng chỉ vì người khác được đối xử rộng lượng mà họ quên mất ơn riêng mình đã nhận.
Có một dạng vô ơn rất tinh vi: không phải quên điều Thiên Chúa đã cho, mà là coi điều mình nhận như quyền đương nhiên. Khi coi sức khỏe là quyền đương nhiên, ta chỉ nhận ra nó khi bệnh. Khi coi gia đình là quyền đương nhiên, ta chỉ thấy quý khi mất. Khi coi Thánh lễ, Bí tích, cộng đoàn, đức tin là chuyện đương nhiên, ta không còn biết cảm tạ. Người thợ làm từ sáng đã quen với một đồng đã hứa, đến nỗi cuối ngày họ không còn vui vì nhận một đồng; họ chỉ nhìn sang túi tiền người khác. Đó cũng là nguy cơ trong đời sống đạo lâu năm: ta quen với ơn Chúa đến mức không còn ngạc nhiên nữa. Ta nghe Tin Mừng mà không xúc động. Ta rước lễ mà không còn thấy đó là một phép lạ. Ta được tha tội mà không cảm nhận lòng thương xót. Ta đọc Kinh Lạy Cha mỗi ngày nhưng không còn kinh ngạc vì được gọi Thiên Chúa là Cha. Khi mất khả năng kinh ngạc trước ân sủng, ta dễ rơi vào so sánh và đòi hỏi.
Dụ ngôn còn đặt ra câu hỏi: tại sao ông chủ lại đi ra nhiều lần như vậy? Một người chủ thực dụng có thể thuê đủ người từ sáng. Nhưng ông này dường như không chỉ quan tâm đến công việc của vườn nho; ông quan tâm đến những người đang đứng thất nghiệp. Ông không cần thêm lao động đến mức phải thuê một người khi chỉ còn một giờ. Nếu xét thuần túy kinh tế, việc ấy không hợp lý. Nhưng xét bằng lòng thương xót, nó hoàn toàn có lý: ông muốn không ai trở về nhà tay trắng. Đây chính là trái tim của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ quan tâm đến “công việc” của Ngài. Ngài quan tâm đến con người. Hội Thánh cũng phải học điều ấy. Đôi khi trong sinh hoạt giáo xứ, hội đoàn, cộng đoàn, ta quá chú ý đến chương trình, tổ chức, thành tích, hiệu quả mà quên mất con người. Ta muốn mọi thứ chạy tốt nhưng quên hỏi một người đang buồn. Ta muốn buổi lễ thật đẹp nhưng có thể bỏ qua một người cô đơn. Ta muốn hội đoàn đông nhưng không nhận ra một thành viên đang dần rời xa. Vườn nho của Chúa không phải một công ty. Hội Thánh không phải nơi dùng con người để hoàn thành kế hoạch. Hội Thánh là nơi con người được tìm thấy, được gọi tên, được phục hồi phẩm giá và được đưa về nhà Cha.
Đặc biệt, câu nói “Không ai thuê chúng tôi” rất đáng để suy nghĩ. Trong thế giới hôm nay, có biết bao người đang âm thầm nói câu ấy dưới những hình thức khác nhau. Một người già có thể nói: “Không ai cần tôi nữa.” Một người khuyết tật có thể cảm thấy: “Tôi không có ích gì.” Một người thất nghiệp có thể nghĩ: “Tôi là gánh nặng.” Một người trẻ bị thất bại có thể nói: “Không ai tin tôi.” Một người từng phạm tội có thể nghĩ: “Không ai muốn cho tôi cơ hội thứ hai.” Một người ly dị, một người nghiện ngập, một người tù trở về, một người mang tiếng xấu, một người sống bên lề xã hội đều có thể cảm thấy mình đang đứng ngoài chợ đời chờ một lời mời mà không bao giờ đến.
Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa là Đấng đi ra tìm những người ấy. Và nếu Hội Thánh thực sự là thân thể Đức Kitô, Hội Thánh cũng phải đi ra. Không chỉ mở cửa và chờ người ta bước vào, nhưng đi tìm họ. Đi đến với người bị bỏ quên. Đi đến với người đang sống xa Bí tích. Đi đến với gia đình đang rạn nứt. Đi đến với người trẻ không còn thấy Hội Thánh liên quan đến đời mình. Đi đến với người nghèo. Đi đến với người thất vọng. Đi đến với người nghĩ rằng Chúa không còn cần họ. Đó chính là sứ mạng.
Dụ ngôn cũng cho ta một cái nhìn rất đẹp về ơn gọi. Không phải mọi người đều được gọi cùng một lúc. Có người khám phá ơn gọi rất sớm. Có người phải đi qua nhiều vòng vèo. Có người sống cả đời trong một nghề rồi mới nhận ra Chúa đang mời mình phục vụ theo một cách khác. Có người sau một biến cố mất mát mới bắt đầu sống cho người khác. Điều quan trọng không phải là ta được gọi lúc mấy giờ, mà là khi nghe tiếng gọi, ta có bước vào vườn nho không. Người vào giờ thứ mười một vẫn phải vào. Họ không thể nói: “Chỉ còn một giờ thì thôi, chẳng đáng.” Một giờ cuối cùng sống trọn vẹn cho Chúa vẫn có giá trị vô cùng. Một ngày còn lại của đời người mà được sống trong yêu thương có thể đẹp hơn hàng chục năm sống vô nghĩa.
Điều ấy đặc biệt an ủi những người cao tuổi. Có người nghĩ: “Tôi già rồi, tôi còn làm gì cho Chúa được?” Tin Mừng nói: vẫn có việc trong vườn nho. Có thể không còn làm những việc nặng. Nhưng vẫn có thể cầu nguyện. Vẫn có thể tha thứ. Vẫn có thể nói một lời hòa giải. Vẫn có thể làm chứng cho con cháu. Vẫn có thể dâng đau bệnh. Vẫn có thể khích lệ một người. Vẫn có thể biến những ngày cuối đời thành mùa sinh hoa trái. Trong Nước Chúa, không có tuổi nghỉ hưu khỏi tình yêu.
Ngược lại, người trẻ cũng đừng nghĩ: “Còn sớm, để sau này sống đạo cũng được.” Đúng là Chúa có thể gọi vào giờ thứ mười một, nhưng không ai biết đời mình kết thúc lúc nào. Và hơn nữa, người làm từ sáng có một đặc ân mà người đến muộn không có: họ được sống cả ngày trong vườn nho. Được biết Chúa sớm không phải là gánh nặng, mà là ân huệ. Sống sạch từ trẻ không phải là mất vui, nhưng tránh được nhiều vết thương. Biết cầu nguyện sớm giúp đời có nền móng. Biết yêu thương sớm giúp ta không phí mất những năm tháng đẹp nhất. Chúng ta không nên dùng lòng thương xót của Chúa làm lý do trì hoãn hoán cải. Lòng thương xót không phải giấy phép để sống cẩu thả; nó là cánh cửa để quay về.
Cũng cần nói đến một khía cạnh khác: người thợ làm từ sáng thực sự đã chịu nắng nóng. Đức tin không xóa bỏ sự hy sinh. Người sống trung thành có thể phải chịu thiệt thòi. Người giữ lương tâm có khi mất cơ hội. Người chung thủy trong hôn nhân có khi phải mang thập giá rất nặng. Người phục vụ âm thầm có thể không được biết đến. Người sống ngay thẳng có khi bị cười chê. Và ta có quyền mang những mệt mỏi ấy đến với Chúa. Chúa không bảo chúng ta giả vờ rằng khó khăn không tồn tại. Điều Chúa chữa không phải là sự mệt mỏi, mà là sự cay đắng. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, con mệt,” nhưng đừng để nó biến thành: “Lạy Chúa, vì con mệt nên người khác không được Chúa thương.”
Có khi sau nhiều năm phục vụ, người ta dễ rơi vào tâm trạng này. Một linh mục có thể mệt sau hàng chục năm mục vụ. Một tu sĩ có thể cảm thấy mình đã cho quá nhiều mà nhận lại quá ít. Một giáo lý viên có thể thấy thế hệ sau không trân trọng công sức mình. Một người cha, người mẹ có thể cay đắng vì đã hy sinh cho con mà con không hiểu. Tất cả những cảm xúc ấy đều rất con người. Nhưng chính lúc ấy, Chúa mời ta quay về với động cơ ban đầu: tôi đã làm vì tình yêu hay vì phần thưởng? Nếu chỉ vì phần thưởng, sớm muộn gì cũng thất vọng. Nếu vì tình yêu, chính việc được yêu và được phục vụ đã là phần thưởng.
Một trong những dấu chỉ trưởng thành thiêng liêng là khả năng vui khi người khác được chúc lành. Đây là điều rất khó. Ta có thể chịu đựng người khác thành công, nhưng để thật sự vui vì họ thì cần ân sủng. Khi nghe một người được khen, lòng ta phản ứng thế nào? Khi một người từng yếu kém nay được giao trách nhiệm, ta phản ứng thế nào? Khi một người mới vào cộng đoàn nhưng nhanh chóng được yêu mến, ta phản ứng thế nào? Khi Chúa ban cho người khác điều ta vẫn cầu xin mà chưa được, ta phản ứng thế nào? Những phản ứng đầu tiên ấy cho ta biết rất nhiều về tình trạng của trái tim.
Đời sống thiêng liêng không chỉ là yêu Chúa, mà còn là học yêu điều Chúa yêu. Nếu Chúa vui vì một tội nhân trở về, tôi cũng phải học vui. Nếu Chúa chạy ra ôm người con hoang đàng, tôi không thể đứng ngoài như người anh cả mãi. Nếu Chúa trả một đồng cho người đến cuối ngày, tôi phải học nhìn thấy lòng nhân hậu trong đó. Trưởng thành trong đức tin là dần dần có trái tim giống trái tim Thiên Chúa.
Chúa Giêsu kết thúc bằng nghịch lý: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết.” Đây không phải là lời đe dọa tùy tiện. Nó cho thấy trong Nước Trời, những thước đo của con người bị đảo lộn. Người ta có thể đứng đầu trong xã hội nhưng rất xa Chúa. Người âm thầm chẳng ai biết đến có thể rất lớn trong Nước Trời. Một người giữ đạo lâu năm nhưng đầy kiêu căng có thể đứng sau một người mới trở lại nhưng đầy lòng khiêm nhường. Một người biết nhiều giáo lý nhưng không biết thương người có thể thua xa một người đơn sơ nhưng sống lòng thương xót. Chúa nhìn sâu hơn bề ngoài. Ngài không chỉ đếm số năm mà nhìn tình yêu.
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải: “Tôi đã làm trong vườn nho bao lâu?” mà là: “Tôi đang làm với trái tim nào?” Có thể tôi đã đi lễ sáu mươi năm, nhưng lòng tôi có nhân hậu hơn không? Có thể tôi đọc kinh mỗi ngày, nhưng tôi có bớt xét đoán không? Có thể tôi phục vụ giáo xứ hai mươi năm, nhưng tôi có biết vui khi người khác được trao trách nhiệm không? Có thể tôi mang danh Kitô hữu từ lúc chịu phép Rửa, nhưng tôi có đang trở nên giống Đức Kitô không? Số năm không tự động làm nên sự thánh thiện. Thời gian chỉ có giá trị khi được biến thành tình yêu.
Tin Mừng hôm nay cũng giúp ta hiểu sâu hơn Thánh Thể. Mỗi lần đến bàn tiệc Chúa, tất cả chúng ta đều đứng như những người thợ nhận tiền công cuối ngày. Người giàu hay nghèo, linh mục hay giáo dân, người đạo đức lâu năm hay người vừa trở lại, tất cả đều nhận cùng một Đức Kitô. Không ai được một Đức Kitô lớn hơn người khác. Người đi tu sáu mươi năm và người vừa xưng tội trở lại sau ba mươi năm xa Chúa cùng đón nhận một Mình Thánh Chúa. Bàn tiệc Thánh Thể là nơi mọi tính toán kiêu hãnh bị phá vỡ. Chúng ta đến không vì xứng đáng, mà vì được mời. Trước khi rước lễ, Hội Thánh không dạy ta nói: “Lạy Chúa, con đã phục vụ đủ nhiều nên con xứng đáng,” nhưng: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con.” Đó chính là thái độ của người hiểu ân sủng.
Nếu mỗi người thật sự ý thức mình sống nhờ lòng thương xót, ta sẽ bớt khắt khe với người khác. Người biết mình đã được tha sẽ dễ tha. Người biết mình từng yếu đuối sẽ bớt khinh người yếu đuối. Người nhớ mình cũng từng đứng ngoài vườn nho sẽ không khép cửa với người mới đến. Ngược lại, người quên lòng thương xót rất dễ trở thành người Pharisêu: đúng nhưng lạnh, đạo đức nhưng kiêu, giữ luật nhưng thiếu tình.
Trong gia đình, dụ ngôn này cũng rất thực tế. Cha mẹ cần tránh so sánh con cái. Có đứa học giỏi, đứa học kém. Có đứa thành công sớm, đứa trưởng thành muộn. Có đứa ngoan từ nhỏ, có đứa phải trải qua nhiều sai lầm mới biết quay về. Nếu cha mẹ chỉ yêu theo thành tích, gia đình sẽ trở thành một “bảng lương”. Nhưng tình yêu cha mẹ thật sự phải có một chút gì đó giống ông chủ vườn nho: không bỏ ai, kể cả đứa con đến muộn. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận trách nhiệm hay hậu quả của sai lầm, nhưng là không đóng cửa hy vọng.
Trong cộng đoàn cũng vậy. Có người phục vụ từ những ngày đầu, có người mới tới. Kính trọng người đi trước là điều đúng, nhưng người đi trước cũng phải mở chỗ cho người đến sau. Một cộng đoàn chỉ khỏe khi truyền thống và sức mới gặp nhau, khi người cũ không chiếm hữu và người mới không khinh thường quá khứ. Tất cả đều là thợ trong cùng một vườn nho, và chủ là Chúa chứ không phải chúng ta.
Một chi tiết rất đáng suy nghĩ là ông chủ bảo người quản lý trả công bắt đầu từ những người đến sau. Tại sao? Có lẽ chính để những người đầu tiên thấy lòng quảng đại của ông. Đây là một thử thách cho họ. Và cũng là thử thách cho ta: Thiên Chúa đôi khi cố ý cho ta chứng kiến người khác được ban ơn, để xem lòng ta phản ứng thế nào. Ơn của người khác có thể trở thành mặc khải về chính trái tim ta. Nếu tôi cay đắng, tôi khám phá rằng trong tôi còn ghen tị. Nếu tôi vui, đó là dấu hiệu trái tim tôi đang mở rộng.
Đừng nghĩ rằng ghen tị chỉ tồn tại trong chuyện tiền bạc hay thành công đời thường. Nó có thể len vào ngay trong việc đạo. Ta có thể ghen vì người khác giảng hay hơn, được tín nhiệm hơn, có nhiều người tìm đến hơn, được trao trách nhiệm lớn hơn, được đánh giá đạo đức hơn. Những cạnh tranh thiêng liêng như thế còn nguy hiểm hơn cạnh tranh đời thường, vì chúng thường khoác áo phục vụ. Ta có thể tưởng mình bảo vệ chân lý trong khi thực ra đang bảo vệ cái tôi. Ta có thể nói mình lo cho cộng đoàn nhưng thật ra lo mất vị trí. Chỉ cầu nguyện chân thành mới giúp ta nhận diện những chuyển động ấy.
Một cách chữa bệnh so sánh là tập tạ ơn cụ thể. Mỗi ngày hãy nhìn vào “một đồng” Chúa đã trao cho mình. Có thể đó là một mái nhà. Một người bạn. Một sức khỏe tương đối. Một bữa ăn. Một Thánh lễ. Một cơ hội làm việc. Một ngày còn được sống. Một người vẫn thương mình dù mình có nhiều khuyết điểm. Khi biết ơn điều mình có, ta ít bị ám ảnh bởi điều người khác có.
Cách thứ hai là tập chúc lành cho người làm ta ghen. Khi nghe họ thành công, hãy cầu: “Lạy Chúa, xin chúc lành cho họ nhiều hơn nữa.” Ban đầu lời cầu ấy có thể rất khó và chưa thật lòng. Nhưng cứ cầu. Trái tim sẽ dần thay đổi. Ta không thể vừa liên tục cầu phúc cho một người vừa nuôi ghen ghét họ mãi.
Cách thứ ba là nhớ rằng phần của người khác không lấy mất phần của ta. Tình yêu Thiên Chúa không phải chiếc bánh cắt thành nhiều miếng, người kia được nhiều thì ta còn ít. Chúa yêu mỗi người trọn vẹn. Khi Ngài thương người khác, Ngài không bớt thương ta. Khi Ngài tha cho người khác, lòng thương xót dành cho ta không giảm đi. Thiên Chúa không nghèo đến mức phải tiết kiệm tình yêu.
Và cuối cùng, hãy nhìn lên Thập giá. Trên Thập giá, người trộm lành đến với Chúa vào “giờ thứ mười một” của đời mình. Cả cuộc đời anh có thể đầy sai lầm. Anh chẳng còn thời gian làm việc bác ái, chẳng còn cơ hội sửa chữa quá khứ, chẳng còn năm tháng để chứng minh sự thay đổi. Anh chỉ có một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Nếu ta mang tâm lý của người thợ làm từ sáng, có lẽ ta sẽ phản đối: “Không công bằng. Anh ta phạm tội cả đời mà cuối cùng chỉ nói một câu đã được Thiên Đàng.” Nhưng đó chính là Tin Mừng. Không phải Tin Mừng rằng tội lỗi không quan trọng, mà là Tin Mừng rằng lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi khi con người thật lòng quay về.
Vậy Chúa nhật này, có lẽ Chúa không hỏi ta đã đứng trong vườn nho từ lúc nào. Ngài hỏi ta có nhận ra mình đang sống bởi ân sủng không. Ngài hỏi ta có vui khi một người khác được thương không. Ngài hỏi ta có sẵn sàng mở cửa cho người đến muộn không. Ngài hỏi ta có còn đứng ngoài quảng trường nào đó trong cuộc đời, vì mặc cảm hay thất vọng, trong khi Ngài đang gọi ta bước vào không.
Nếu chúng ta đang là người đến sớm, hãy cảm tạ vì được ở với Chúa lâu hơn. Đừng biến đặc ân ấy thành kiêu hãnh. Nếu chúng ta là người đến muộn, đừng tuyệt vọng. Hãy bước vào. Nếu chúng ta đang mệt vì đã làm quá lâu, hãy nói thật với Chúa nhưng đừng để mệt mỏi biến thành cay đắng. Nếu chúng ta thấy người khác được ưu ái, hãy xin Chúa giải thoát lòng mình khỏi so sánh. Và nếu chúng ta đang đứng bên lề, tưởng rằng không ai cần đến mình, hãy nghe lại tiếng của Chủ vườn nho: “Cả con nữa, hãy đi vào vườn nho của Ta.”
Ngày đời rồi sẽ tàn. Chiều xuống rất nhanh. Không ai biết mình đang ở giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín hay thứ mười một. Điều quan trọng không phải là nhìn đồng hồ của người khác, nhưng là đáp lại tiếng Chúa hôm nay. Có thể ta đã bỏ phí nhiều năm, nhưng đừng bỏ phí giờ này. Có thể ta đã đi với Chúa lâu, nhưng hãy xin ơn để đừng trở thành người làm thuê cay đắng. Có thể ta đang mang đầy tổn thương, hãy để lòng quảng đại của Chúa chữa lành ta.
Thiên Chúa không tính toán như con người. Và thật may mắn cho chúng ta là như vậy. Nếu Ngài tính từng lỗi, ai đứng vững? Nếu Ngài chỉ trả theo công trạng, ai dám đòi? Nếu Ngài ngừng tìm kiếm vào giữa ngày, biết bao người sẽ bị bỏ lại. Nếu Ngài khóa cửa khi chúng ta đến muộn, chính chúng ta có thể là người đứng ngoài. Vì thế, thay vì trách Thiên Chúa quá rộng lượng, hãy cúi đầu cảm tạ vì lòng rộng lượng ấy cũng chính là niềm hy vọng của đời ta.
Lạy Chúa, xin chữa chúng con khỏi trái tim thích so sánh. Xin đừng để chúng con đếm công lao của mình và đếm ân huệ của người khác. Xin cho chúng con nhớ rằng được làm việc trong vườn nho của Chúa đã là một hạnh phúc. Xin cho những người đã phục vụ Chúa lâu năm vẫn giữ được niềm vui ban đầu. Xin cho những người đến muộn không mặc cảm. Xin cho những người đang đứng ngoài quảng trường cuộc đời nghe được tiếng Chúa gọi. Xin cho Hội Thánh trở thành ngôi nhà luôn có cửa mở cho người trở về. Xin cho chúng con học vui vì lòng nhân hậu của Chúa, kể cả khi lòng nhân hậu ấy dành cho người mà chúng con khó yêu nhất. Và đến chiều đời, khi tất cả chúng con đứng trước mặt Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng điều quý nhất không phải là mình đã làm bao nhiêu giờ, nhưng là đã được ở trong vườn nho của Chúa, đã được gọi bằng tên, đã được yêu, đã được tha thứ và cuối cùng được trở về nhà Cha.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG BUỒN VÌ THIÊN CHÚA QUÁ TỐT
Có lẽ trong những dụ ngôn của Chúa Giêsu, dụ ngôn những người thợ làm vườn nho là một trong những dụ ngôn dễ làm người nghe khó chịu nhất, bởi vì nếu nghe bằng cái tai của một người làm kinh tế, một người quen tính công, tính lương, tính giờ, tính năng suất, tính quyền lợi, chúng ta rất dễ đứng về phía những người đã vào làm từ sáng sớm và rất dễ nói rằng: “Như vậy đâu có công bằng!” Một người đã làm từ sáng đến chiều, chịu nắng nóng, chịu mệt nhọc, trong khi một người khác chỉ xuất hiện vào giờ cuối cùng, vậy mà cuối ngày hai người lại nhận cùng một số tiền; nếu câu chuyện này xảy ra trong một công ty, một xí nghiệp hay một công trường, chắc chắn sẽ có phản ứng, sẽ có đơn khiếu nại, sẽ có người nói rằng ông chủ đang phá vỡ nguyên tắc lao động. Nhưng Chúa Giêsu kể dụ ngôn này không nhằm dạy chúng ta cách xây dựng bảng lương cho doanh nghiệp. Người muốn đưa chúng ta bước vào một thế giới hoàn toàn khác: thế giới của ân sủng, thế giới của lòng thương xót, thế giới của một Thiên Chúa không cư xử với con người theo kiểu cân đo đong đếm lạnh lùng, nhưng theo trái tim của một người Cha. Và chính ở đây Tin Mừng chạm vào một góc rất sâu, rất thật, đôi khi rất tối trong lòng mỗi người chúng ta: chúng ta có thể vui khi mình được Chúa thương, nhưng chưa chắc chúng ta đã vui khi thấy Chúa thương người khác; chúng ta có thể cảm tạ vì mình được tha thứ, nhưng đôi lúc lại khó chịu khi thấy một người mà ta cho là không xứng đáng cũng được tha thứ; chúng ta có thể sung sướng vì Chúa ban cho mình một cơ hội mới, nhưng khi thấy Chúa mở cơ hội ấy cho một người đã từng lầm lỗi rất nặng, lòng chúng ta lại bắt đầu đặt câu hỏi. Vấn đề của dụ ngôn vì thế không chỉ nằm ở đồng tiền công. Vấn đề nằm trong ánh mắt. Chúa Giêsu đặt trước mặt chúng ta câu hỏi rất đau: tại sao mắt con lại trở nên xấu chỉ vì Ta tốt lành? Tại sao lòng con lại buồn chỉ vì Ta rộng lượng? Tại sao ân sủng Ta trao cho một người khác lại khiến con có cảm tưởng rằng phần của con bị mất đi?
Từ sáng sớm, ông chủ đã đi ra tìm người làm vườn nho. Rồi khoảng giờ thứ ba ông lại đi. Giờ thứ sáu ông lại đi. Giờ thứ chín ông lại đi. Thậm chí đến giờ thứ mười một, khi ngày làm việc gần như đã hết, ông vẫn đi ra quảng trường. Chi tiết này thật đẹp. Thiên Chúa không mỏi mệt đi tìm con người. Con người có thể mỏi mệt với Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không mỏi mệt với con người. Con người có thể chạy trốn Chúa, nhưng Chúa vẫn đi tìm. Con người có thể trì hoãn việc trở về, nhưng Chúa vẫn đứng ngoài quảng trường đời ta và hỏi: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì?” Có người gặp Chúa rất sớm. Có người sinh ra trong một gia đình đạo đức, được cha mẹ dạy cầu nguyện từ nhỏ, được dẫn đến nhà thờ, được học giáo lý, được sống trong bầu khí đức tin. Đó có thể là những người thợ vào vườn nho từ sáng sớm. Có người mãi đến tuổi trưởng thành mới bắt đầu biết Chúa. Có người phải trải qua một cuộc khủng hoảng, một biến cố gia đình, một thất bại, một cơn bệnh, một lần mất mát, một lúc gần như tuyệt vọng rồi mới bắt đầu ngước mắt lên trời. Có người đến rất muộn. Có người cả cuộc đời tưởng như chẳng quan tâm gì đến Chúa, vậy mà vào một buổi chiều cuối đời, lòng họ bỗng mềm lại trước một cây thánh giá, một lời kinh, một lời tha thứ, một cuộc gặp gỡ. Con người có đồng hồ; Thiên Chúa có lòng thương xót. Chúng ta nói: “Muộn quá rồi.” Thiên Chúa nói: “Con hãy vào vườn nho.” Chúng ta nói: “Anh ấy đã phí mất gần hết đời mình.” Thiên Chúa nói: “Ta vẫn còn một giờ cho nó.” Chúng ta nói: “Người này chẳng xứng đáng.” Thiên Chúa nói: “Ta muốn cứu nó.” Và nếu thực sự hiểu Tin Mừng, chúng ta sẽ không hỏi tại sao Chúa còn đón người ấy, nhưng sẽ mừng vì cánh cửa vẫn còn mở.
Điều đáng suy nghĩ là những người đứng ngoài quảng trường vào giờ thứ mười một không hẳn đứng đó vì lười biếng. Khi ông chủ hỏi tại sao họ đứng đây cả ngày không làm gì, họ trả lời: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Một câu rất ngắn mà phía sau có thể là cả một biển buồn. “Không ai mướn chúng tôi.” Nghĩa là không ai chọn chúng tôi. Không ai cần chúng tôi. Không ai thấy chúng tôi có ích. Không ai trao cho chúng tôi cơ hội. Có biết bao con người trong xã hội hôm nay cũng đang sống với cảm giác ấy. Có những người trẻ thất bại nhiều lần rồi nghĩ mình vô dụng. Có những người từng phạm lỗi rồi thấy mọi cánh cửa đều đóng. Có những người nghèo cảm thấy mình chẳng được ai quan tâm. Có những người già cảm thấy mình đã trở thành gánh nặng. Có người trong gia đình cảm thấy tiếng nói của mình không còn giá trị. Có người từng bị bỏ rơi trong tình cảm và kết luận rằng mình không đáng được yêu. Có người bước vào nhà thờ nhưng vẫn mang mặc cảm rằng quá khứ của mình quá đen tối để có thể đứng trước mặt Chúa. Tin Mừng hôm nay nói với họ rằng: có thể chẳng ai mướn bạn, nhưng Thiên Chúa vẫn gọi bạn. Có thể chẳng ai nhìn thấy giá trị của bạn, nhưng Thiên Chúa nhìn thấy. Có thể xã hội đã đóng dấu thất bại lên đời bạn, nhưng Chúa chưa viết dấu chấm hết. Có thể người khác chỉ thấy quá khứ của bạn, còn Thiên Chúa lại thấy điều bạn có thể trở thành nếu bạn chịu bước vào vườn nho của Người.
Ở đây chúng ta cũng cần hiểu vườn nho không chỉ là một nơi để làm việc; vườn nho trước hết là hình ảnh của Nước Thiên Chúa, của mối tương quan với Chúa, của đời sống theo Tin Mừng. Vì thế người vào từ sáng sớm không phải là người “xui” vì phải làm nhiều giờ hơn, nhưng lẽ ra phải là người hạnh phúc vì đã được ở trong vườn nho lâu hơn. Nếu một người nghĩ rằng sống với Chúa năm mươi năm là thiệt thòi so với một người chỉ trở về với Chúa ở phút cuối, thì người ấy đã hiểu sai đời sống đức tin. Nếu chúng ta xem cầu nguyện như gánh nặng, xem giữ đạo như một loạt nghĩa vụ mệt mỏi, xem phục vụ Giáo Hội như công việc để tích lũy công trạng, xem hy sinh như một món đầu tư để cuối đời đòi Chúa trả lãi, thì chắc chắn chúng ta sẽ ganh tị với những người đến muộn. Chúng ta sẽ nghĩ: “Tôi giữ đạo cả đời, còn người kia cuối đời mới trở lại mà cũng được Chúa cứu sao?” Nhưng nếu thực sự yêu Chúa, ta sẽ nói ngược lại: “Tội nghiệp người ấy vì mãi đến cuối đời mới biết niềm vui mà tôi đã được hưởng từ rất lâu.” Một người yêu gia đình sẽ không than rằng: “Tại sao tôi phải sống với những người thân yêu của mình lâu như vậy?” Một người yêu Chúa cũng không nói: “Tôi theo Chúa quá sớm nên tôi thiệt.” Được biết Chúa sớm là ân huệ. Được cầu nguyện sớm là ân huệ. Được sống trong ân sủng là ân huệ. Được phục vụ Người là ân huệ. Được bước đi trong vườn nho của Chúa từ sáng sớm đã chính là phần thưởng.
Có một bi kịch âm thầm trong đời sống đạo: người ta có thể ở rất gần nhà Chúa nhưng lòng lại sống như người làm thuê. Người ta có thể phục vụ nhiều nhưng bên trong luôn ghi sổ: tôi đã làm bao nhiêu, người khác làm bao nhiêu; tôi hy sinh bao nhiêu, người khác hy sinh bao nhiêu; tôi đóng góp bao nhiêu, người khác đóng góp bao nhiêu; tôi đến nhà thờ bao nhiêu, người kia vắng bao nhiêu; tôi đạo đức hơn ai; tôi đáng được tôn trọng hơn ai. Khi đó, từ một người con chúng ta biến mình thành kế toán viên của Thiên Chúa. Ta mở trong lòng một cuốn sổ vô hình: bên này là công trạng của tôi, bên kia là ân huệ Chúa phải trả. Rồi mỗi lần thấy một người khác nhận được điều tốt, ta lật sổ ra và nói: “Không hợp lý.” Đó là căn bệnh của người con cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu. Anh ở nhà với cha nhưng không sống như con. Người em trở về, anh không mừng. Cha mở tiệc, anh nổi giận. Cũng vậy, những người thợ làm từ sáng sớm ở trong vườn nho cả ngày nhưng đến cuối ngày lại không hiểu trái tim ông chủ. Điều đáng buồn không phải là họ làm nhiều. Điều đáng buồn là họ ở gần ông chủ mà không trở nên giống ông chủ.
Thiên Chúa muốn chúng ta không chỉ làm việc trong vườn nho của Người mà còn học trái tim của Người. Trái tim ấy rộng hơn phép tính của chúng ta. Chính vì thế bài đọc thứ nhất vang lên lời của ngôn sứ Isaia: tư tưởng của Thiên Chúa không phải tư tưởng của chúng ta, đường lối của Người không phải đường lối của chúng ta; trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Chúa cũng cao hơn đường lối con người bấy nhiêu. Chúng ta thường tưởng mình hiểu công lý, hiểu ai đáng thưởng, ai đáng phạt, ai đáng được cơ hội, ai không. Nhưng nếu Thiên Chúa thực sự đối xử với chúng ta chỉ bằng công lý lạnh lùng theo nghĩa “ai làm gì nhận đúng cái ấy”, liệu có ai trong chúng ta dám đứng trước mặt Người không? Nếu từng tư tưởng ích kỷ, từng lời nói làm tổn thương, từng lần vô ơn, từng phút lạnh nhạt, từng cơ hội làm điều tốt mà ta bỏ qua đều được đặt trên cán cân tuyệt đối, ai có thể tự hào? Chúng ta sống được đến hôm nay không chỉ nhờ công sức mình; chúng ta đứng vững được đến hôm nay vì đã nhận không biết bao nhiêu điều mình không thể tự tạo ra: sự sống, hơi thở, những người yêu thương ta, những cơ hội, những lần được tha thứ, những lần thoát khỏi tai họa mà có khi ta chẳng biết, những sức mạnh xuất hiện đúng lúc ta tưởng mình không chịu nổi nữa. Đời chúng ta từ đầu đến cuối được nâng đỡ bởi những ân huệ.
Thế mà con người rất lạ. Khi Chúa cho ta điều tốt, ta nói: “Đó là điều đương nhiên.” Khi Chúa cho người khác điều tốt, ta hỏi: “Tại sao?” Khi ta thành công, ta cho rằng đó là kết quả của năng lực. Khi người khác thành công, ta dễ tìm lý do để giảm giá trị của họ. Khi ta được tha thứ, ta gọi đó là lòng thương xót. Khi kẻ làm ta đau được tha thứ, ta lại gọi đó là dễ dãi. Khi ta có cơ hội thứ hai, ta nói Thiên Chúa nhân từ. Khi người mình không thích có cơ hội thứ hai, ta bảo cuộc đời không công bằng. Tin Mừng hôm nay lật tấm gương lên để chúng ta nhìn thẳng vào chính mình. Có khi điều làm ta khổ không phải là mình thiếu, mà là người khác có. Người thợ làm từ sáng đã nhận đúng tiền đã thỏa thuận. Ông chủ không lấy của họ một đồng nào. Vậy điều gì khiến họ bực? Không phải vì họ bị mất, nhưng vì người khác được nhiều. Đây chính là bản chất của ganh tị: đau vì hạnh phúc của người khác.
Ganh tị rất độc vì nó có thể biến phúc lành thành nguyên nhân của đau khổ. Hai người cùng được Chúa ban ơn, đáng lẽ cả hai đều vui; nhưng nếu một người cứ nhìn vào phần của người kia, niềm vui của mình sẽ tan biến. Một gia đình có thể đang bình an, nhưng chỉ vì nhìn sang gia đình khác giàu hơn mà bắt đầu bất mãn. Một linh mục có thể đang có một sứ vụ rất đẹp, nhưng nếu cứ nhìn vào người khác được nhiều người biết đến hơn, lòng có thể mất bình an. Một người làm việc âm thầm có thể đang sống rất ý nghĩa, nhưng nếu cứ so mình với người nhận nhiều lời khen hơn, họ sẽ cảm thấy mọi cố gắng của mình vô nghĩa. Một người có thể được Chúa ban nhiều ơn nhưng vẫn buồn chỉ vì người hàng xóm có thêm một ơn mà mình không có. Đó là bi kịch của so sánh. So sánh biến cuộc đời thành cuộc thi không có đích. Luôn luôn sẽ có người giàu hơn ta, đẹp hơn ta, tài hơn ta, thành công hơn ta, được chú ý hơn ta, khỏe mạnh hơn ta. Nếu bình an của ta lệ thuộc vào việc mình phải hơn người khác, ta sẽ không bao giờ bình an.
Tin Mừng mời gọi ta chuyển ánh mắt từ phần của người khác về mối tương quan của mình với Thiên Chúa. Ông chủ nói: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi một đồng sao?” Nói cách khác: hãy nhìn lại điều bạn đã nhận. Có những lúc chúng ta cần ngừng than về điều mình không có và bắt đầu đếm điều mình đã có. Hôm nay ta còn thở. Còn có thể cầu nguyện. Còn có người để yêu. Còn có cơ hội sửa một điều sai. Còn có thể nói một lời xin lỗi. Còn có thể làm một việc thiện. Còn có thể đến với Chúa. Có thể đời ta không hoàn hảo, nhưng vẫn đầy dấu vết của ân sủng. Lòng biết ơn chữa được nhiều căn bệnh tinh thần mà tiền bạc không chữa được. Người biết ơn không nhất thiết là người có nhiều nhất; họ là người nhận ra nhiều nhất. Có người sở hữu rất nhiều mà luôn thấy thiếu. Có người có rất ít mà lòng lại đầy bình an, bởi họ nhìn mọi điều bằng con mắt của quà tặng.
Đặc biệt, dụ ngôn hôm nay là một Tin Mừng lớn cho những người nghĩ rằng đời mình đã quá muộn. Không. Bao lâu còn sống, vẫn chưa quá muộn để yêu lại. Chưa quá muộn để xin lỗi. Chưa quá muộn để bỏ một thói quen xấu. Chưa quá muộn để cầu nguyện lại. Chưa quá muộn để xưng tội. Chưa quá muộn để trở về với gia đình. Chưa quá muộn để hòa giải với một người. Chưa quá muộn để bắt đầu sống tử tế. Chưa quá muộn để đặt Chúa vào vị trí Người phải có trong đời ta. Có người nói: “Con đã bảy mươi tuổi rồi, thay đổi gì nữa?” Tại sao không? Người thợ giờ thứ mười một vẫn được gọi. Có người nói: “Con đã sống sai quá lâu.” Nhưng lòng thương xót Chúa lớn hơn lịch sử sai lầm của ta. Có người nói: “Con đã làm tổn thương quá nhiều người, Chúa chắc không muốn nhìn con nữa.” Nhưng chính những người bệnh mới cần thầy thuốc. Có người nói: “Con từng bỏ Chúa.” Nhưng Chúa chưa bỏ con. Có người nói: “Con không biết bắt đầu lại ở đâu.” Hãy bắt đầu bằng một câu rất đơn giản: “Lạy Chúa, con đây.” Đôi khi cả một cuộc đời mới bắt đầu từ ba chữ ấy.
Đừng bao giờ coi thường một sự trở về muộn màng. Người trộm lành trên thập giá gần như chỉ còn vài giờ sống. Anh không còn thời gian để làm lại những gì đã sai. Không còn thời gian đi bồi thường hết những thiệt hại. Không còn thời gian xây dựng một hồ sơ đạo đức. Anh chỉ còn một trái tim quay về và một lời cầu xin: xin nhớ đến tôi. Và cánh cửa thiên đàng mở ra. Điều đó không có nghĩa là chúng ta được phép trì hoãn việc hoán cải; trái lại, chính vì lòng thương xót lớn như vậy, ta càng phải trở về hôm nay. Đừng nói: “Mai tôi sẽ thay đổi.” Người khôn ngoan không chơi trò may rủi với linh hồn mình. Nếu hôm nay nghe tiếng Chúa, hãy đáp lại hôm nay. Nếu hôm nay biết mình cần tha thứ cho ai, hãy bắt đầu hôm nay. Nếu hôm nay nhận ra một tội lỗi đang phá hủy mình, đừng bảo vài năm nữa. Người thợ giờ thứ mười một được cứu không phải để chúng ta cố tình đứng ngoài đến giờ thứ mười một, mà để nói rằng ngay cả khi bạn đã lỡ đứng ngoài đến giờ ấy, đừng tuyệt vọng.
Ngược lại, người đã ở trong vườn nho từ sớm cũng cần nghe một lời cảnh tỉnh: đừng để thời gian phục vụ Chúa trở thành lý do cho sự kiêu ngạo. Có những người càng ở gần Nhà Chúa càng có nguy cơ nghĩ mình sở hữu Chúa. “Tôi đạo gốc.” “Gia đình tôi mấy đời Công giáo.” “Tôi phục vụ giáo xứ mấy chục năm.” “Tôi thuộc hội đoàn này từ lâu.” “Tôi đọc kinh mỗi ngày.” Những điều đó rất quý. Nhưng nếu vì chúng mà ta nhìn một người mới trở lại đạo bằng ánh mắt khinh thường, thì ta chưa hiểu Tin Mừng. Nếu một người đã bỏ lễ nhiều năm bước vào nhà thờ và chúng ta nhìn họ như kẻ xa lạ, ai sẽ giúp họ cảm nhận được vòng tay của Cha? Nếu một người có quá khứ phức tạp đến xin được bắt đầu lại mà ta chỉ nhắc họ về vết nhơ, ta đang làm công việc của người anh cả hay của người cha? Giáo Hội không phải là viện bảo tàng của những người hoàn hảo. Giáo Hội là ngôi nhà nơi những người được thương xót học cách thương xót nhau.
Thật ra tất cả chúng ta đều là những người đến muộn theo một nghĩa nào đó. Có thể ta đã giữ đạo lâu nhưng lại yêu Chúa rất muộn. Có thể ta đi lễ từ nhỏ nhưng đến năm bốn mươi tuổi mới bắt đầu thật sự cầu nguyện. Có thể ta đọc Kinh Lạy Cha hàng chục năm nhưng đến một ngày mới hiểu thế nào là tha thứ. Có thể ta nghe Tin Mừng cả đời nhưng đến một biến cố mới thực sự tin vào sự quan phòng của Chúa. Có thể ta đã làm linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, trưởng hội đoàn nhiều năm mà vẫn có những vùng trong lòng chưa cho Chúa bước vào. Vì thế ai trong chúng ta dám nói mình là người thợ tuyệt đối của giờ đầu tiên? Trong rất nhiều phần của đời mình, chúng ta cũng chỉ là người giờ thứ mười một. Và Thiên Chúa đã không từ chối chúng ta.
Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai đưa chúng ta đến một chiều sâu khác khi ngài nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô.” Đây có lẽ là câu trả lời đẹp nhất cho dụ ngôn vườn nho. Nếu “sống là Đức Kitô”, thì phần thưởng lớn nhất của người thợ không phải đồng tiền cuối ngày mà là chính Đức Kitô. Khi Đức Kitô trở thành gia nghiệp, chúng ta không còn bận tâm quá mức xem người khác được bao nhiêu. Người có Chúa không nghèo. Người có Chúa không phải tranh giành ân sủng. Tình yêu Thiên Chúa không giống một chiếc bánh chia cho người này thì người kia mất phần. Thiên Chúa yêu người khác không làm tình yêu Người dành cho ta nhỏ đi. Một người mẹ có thể yêu nhiều đứa con mà không cần giảm tình yêu với đứa này để dành cho đứa kia; huống chi trái tim vô hạn của Thiên Chúa.
Nhưng con người lại hay biến đời sống đức tin thành hợp đồng: “Lạy Chúa, con làm cái này, Chúa phải cho con cái kia.” Con đi lễ, xin Chúa cho con làm ăn thuận lợi. Con đọc kinh, xin Chúa giữ con khỏi bệnh. Con làm việc bác ái, xin Chúa cho gia đình con bình an. Việc cầu xin hoàn toàn chính đáng, nhưng nguy hiểm nằm ở chữ “phải”. Nếu Chúa không làm theo ý ta, ta bắt đầu thấy mình bị đối xử bất công. Ta nói: “Con sống tốt mà sao con lại bệnh?” “Con phục vụ Chúa mà sao gia đình con gặp chuyện?” “Người kia chẳng đạo đức bằng con mà sao họ lại thành công?” Lúc ấy chúng ta đang đứng cùng những người thợ ban sáng và nói: “Chúng tôi chịu nắng nôi cả ngày, sao ông lại đối xử với họ ngang chúng tôi?” Nhưng Thiên Chúa không phải ông chủ cửa hàng ân huệ nơi chúng ta đổi kinh nguyện lấy thành công. Đức tin không miễn chúng ta khỏi thập giá. Đức tin cho chúng ta một Đấng cùng vác thập giá.
Một trong những cám dỗ mạnh nhất của đời sống thiêng liêng chính là đòi hiểu hết Thiên Chúa. Ta muốn Người phải hành động theo lý luận của ta. Nhưng bài đọc Isaia nhắc rằng đường lối của Chúa cao hơn đường lối ta. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa phi lý. Nó có nghĩa tình yêu của Người vượt quá cái lý nhỏ hẹp của chúng ta. Người môn đệ phải học một thái độ rất khó: tin ngay cả khi chưa hiểu. Có những biến cố phải nhiều năm sau ta mới nhận ra tại sao Chúa cho phép xảy ra. Có những lời cầu xin ta tưởng Chúa không nhận, nhưng sau này mới biết nếu Người cho đúng điều ta xin lúc ấy có khi lại gây hại. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta khóc, rồi sau này ta mới thấy nhờ nó mà một con đường khác mở ra. Thiên Chúa không phải lúc nào cũng giải thích kế hoạch của Người cho chúng ta, nhưng Người mời ta tin vào trái tim của Người.
Đó là lý do đức tin không chỉ là tin rằng Thiên Chúa tồn tại; đức tin là dám tin rằng Người tốt ngay cả lúc đời ta không diễn ra như mong muốn. Rất dễ nói “Chúa tốt lành” khi mọi việc thuận lợi. Đức tin trưởng thành bắt đầu khi ta vẫn nói được “Chúa tốt lành” trong một phòng bệnh, trước một ngôi mộ, giữa một thất bại, sau một lời cầu chưa được đáp theo cách ta mong đợi. Người thợ trong vườn nho cần tin ông chủ. Người Kitô hữu cũng vậy. Chúng ta không biết mọi chuyện, nhưng biết Đấng đang dẫn mình là ai.
Dụ ngôn này cũng đặt lại cách chúng ta nhìn công lý và lòng thương xót. Nhiều người tưởng thương xót đối nghịch với công lý. Không phải. Ông chủ đã trả cho người làm từ sáng đúng điều hai bên đã thỏa thuận. Ông không bất công. Nhưng ông quyết định rộng lượng với những người đến sau. Công lý bảo đảm người thứ nhất không bị lấy mất điều thuộc về họ. Lòng quảng đại khiến người cuối cùng nhận nhiều hơn điều họ có thể đòi. Đó chính là cách ân sủng hoạt động. Thiên Chúa không mắc nợ chúng ta, nhưng Người trao ban vượt quá mọi điều chúng ta xứng đáng. Một khi hiểu điều đó, đời sống đạo sẽ thay đổi. Ta không còn đến với Chúa như chủ nợ mà như người nghèo chìa tay đón quà.
Và có lẽ điều khó nhất là học vui với niềm vui của người khác. Đó là một dấu hiệu rất đẹp của sự tự do nội tâm. Khi người khác thành công, tôi có thể vui không? Khi một người từng thua kém tôi nay vượt lên, tôi có vui không? Khi ai đó được khen còn mình bị quên, tôi có giữ được bình an không? Khi một linh mục khác giảng hay hơn, một người khác phục vụ hiệu quả hơn, một gia đình khác thuận lợi hơn, tôi có thể nói: “Tạ ơn Chúa vì điều tốt Chúa làm nơi họ” không? Nếu được, đó là một ân sủng lớn. Người biết vui với ơn của người khác trở nên giàu mà chẳng cần sở hữu ơn ấy. Niềm vui của họ được nhân lên bởi mọi điều tốt chung quanh. Người ganh tị thì ngược lại: càng nhiều người được chúc phúc, họ càng khổ.
Chúng ta thử đi sâu thêm một chút vào hình ảnh những người thợ cuối ngày. Họ bước vào vườn nho có lẽ chẳng kịp làm được bao nhiêu. Nhưng họ đã đáp lời gọi. Đây là điều quan trọng: Thiên Chúa không chỉ nhìn vào số giờ; Người nhìn vào sự đáp trả. Có những người sống lâu nhưng lòng đóng kín. Có người chỉ còn một thời gian ngắn mà trao trọn trái tim. Có những người làm nhiều việc cho Chúa nhưng lại làm với tâm trạng bực bội, tìm danh, tìm vị trí. Có người làm rất ít vì sức yếu nhưng làm với tình yêu rất lớn. Chúng ta không nhìn được trái tim, nên đừng vội đánh giá giá trị của người khác chỉ qua những gì mắt thấy. Một bà cụ chỉ còn đủ sức lần chuỗi trong căn phòng nhỏ có thể đang đóng góp cho Giáo Hội nhiều hơn ta tưởng. Một người bệnh nằm bất động nhưng kết hợp đau khổ với Chúa có thể đang sống một sứ mạng âm thầm. Một người nghèo bỏ vào thùng tiền rất ít nhưng đó là phần lớn những gì họ có. Chúa nhìn khác ta.
Điều ấy phải làm chúng ta khiêm tốn. Chúng ta rất thích xếp hạng. Người tốt, người xấu. Người đạo đức, người khô khan. Người thành công, người thất bại. Người có ích, người vô dụng. Nhưng cuộc phán xét cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Người có thể tìm thấy những viên ngọc trong những nơi ta không ngờ. Người có thể thấy một giọt nước mắt sám hối mà ta không thấy. Người có thể nghe một lời cầu thầm kín mà chẳng ai biết. Người có thể nhìn thấy cuộc chiến nội tâm rất lớn phía sau một bước tiến rất nhỏ. Có khi chúng ta thấy một người chỉ tiến được một centimet và khinh họ, nhưng Chúa biết để tiến được một centimet ấy họ đã phải chiến đấu nhiều hơn chúng ta đi mười cây số.
Vì thế dụ ngôn hôm nay cũng là lời mời gọi đừng xét đoán. Chúng ta không biết người khác đã đi qua những gì. Một người nóng tính có thể đang mang một vết thương sâu. Một người ít nói có thể đang chiến đấu với nỗi cô đơn. Một người bỏ lễ nhiều năm có thể từng bị tổn thương nặng nề. Một người nghiện ngập có thể đã nhiều lần cố gắng thoát ra mà thất bại. Điều đó không biến sai thành đúng, nhưng giúp chúng ta nhìn con người bằng lòng trắc ẩn hơn. Chúa không nói tội lỗi không quan trọng. Chúa nói tội nhân vẫn đáng được tìm kiếm.
Có thể trong cộng đoàn chúng ta có những người giờ đầu, giờ ba, giờ sáu, giờ chín và giờ mười một. Người lớn tuổi và người trẻ. Người đạo gốc và người tân tòng. Người đã phục vụ ba mươi năm và người mới bước vào. Tin Mừng mời chúng ta không biến vườn nho thành nơi cạnh tranh. Vườn nho không phải sân khấu để tranh ánh đèn. Vườn nho có một chủ duy nhất là Thiên Chúa. Chúng ta chỉ là những người được gọi vào làm. Nếu một người đến sau làm được điều tốt hơn ta, hãy tạ ơn Chúa vì vườn nho có thêm người. Nếu thế hệ trẻ có cách phục vụ mới, hãy giúp họ. Nếu một người mới trở lại có lòng nhiệt thành, đừng dội gáo nước lạnh bằng câu: “Rồi vài bữa cũng nguội thôi.” Hãy nâng họ lên. Vườn nho của Chúa lớn lắm; chẳng ai cần đẩy người khác xuống để có chỗ cho mình.
Đặc biệt đối với những ai đã phục vụ lâu năm, Tin Mừng hôm nay có một câu hỏi rất nhẹ nhưng rất sâu: sau từng ấy năm ở trong vườn nho, ta có trở nên giống ông chủ hơn không? Ta có rộng lượng hơn không? Bao dung hơn không? Nhẫn nại hơn không? Hay càng phục vụ lâu ta càng khó tính, càng đòi hỏi, càng dễ xét đoán? Có một kiểu mệt mỏi nguy hiểm của đời sống đạo: ta vẫn làm việc của Chúa nhưng không còn có trái tim của Chúa. Ta vẫn tham dự rất nhiều nhưng niềm vui biến mất. Ta bắt đầu phàn nàn về mọi người, mọi việc. Khi đó có lẽ điều ta cần không phải làm thêm, mà là trở về với tình yêu ban đầu.
Phàn nàn là một chủ đề ẩn rất rõ trong dụ ngôn. Những người làm lâu “cằn nhằn” với ông chủ. Cằn nhằn có thể trở thành một thứ khí hậu trong tâm hồn. Ban đầu chỉ là một chuyện nhỏ. Rồi dần dần ta thấy cái gì cũng không vừa ý. Cha xứ không vừa ý. Ban hành giáo không vừa ý. Ca đoàn không vừa ý. Người bên cạnh không vừa ý. Gia đình không vừa ý. Công việc không vừa ý. Cuộc đời không vừa ý. Cuối cùng cả Thiên Chúa cũng không vừa ý. Khi lòng đã quen phàn nàn, ngay cả ân huệ cũng có thể bị nhìn như thiếu sót. Người khác được một đồng, ta cũng được một đồng, nhưng ta không vui vì cứ nghĩ họ đáng ra phải được ít hơn.
Thuốc chữa cho sự cằn nhằn là lòng biết ơn. Hãy tập mỗi ngày nhớ ba điều để cảm tạ. Rất nhỏ thôi. Một bữa cơm. Một cuộc điện thoại. Một cơn mưa. Một người hỏi thăm. Một ngày không đau nhiều. Một lời kinh đọc được trong bình an. Một người ta đã có thể tha thứ thêm một chút. Lâu dần con mắt sẽ thay đổi. Thực tại không nhất thiết thay đổi, nhưng trái tim thay đổi. Và khi trái tim thay đổi, cả thế giới chung quanh cũng mang một màu khác.
“Bạn không được phép thấy tôi tốt bụng mà sinh ra ghen tức sao?” Câu hỏi ấy của ông chủ cần vang trong chúng ta thật lâu. Có thể một ngày nào đó trên thiên đàng chúng ta sẽ ngạc nhiên vì gặp những người mình từng nghĩ không thể có mặt ở đó. Và có khi họ cũng ngạc nhiên vì thấy ta! Đó mới là vẻ đẹp của lòng thương xót. Nếu thiên đàng chỉ chứa những người hoàn hảo nhờ sức riêng, sẽ chẳng ai bước vào. Thiên đàng đầy những người được cứu bởi ân sủng.
Nhưng đừng hiểu điều này theo kiểu tất cả đều dễ dàng nên muốn sống sao cũng được. Người thợ dù đến giờ thứ mười một vẫn phải đáp lời và bước vào vườn nho. Lòng thương xót không phải giấy phép để tiếp tục ngủ ngoài quảng trường. Ân sủng luôn đòi một câu trả lời. Chúa gọi, nhưng ta phải đứng lên. Chúa tha thứ, nhưng ta phải mở lòng. Chúa trao con đường, nhưng ta phải bước. Không ai cứu chúng ta mà không có sự tự do của chúng ta. Thiên Chúa tôn trọng con người đến mức Người có thể đứng gõ cửa nhưng không phá cửa.
Vậy hôm nay Chúa đang gọi ta vào vườn nho nào? Có thể vườn nho ấy chính là gia đình. Có người rất nhiệt thành việc nhà thờ nhưng lại quên rằng người phối ngẫu, cha mẹ, con cái là vườn nho đầu tiên mình được trao. Có thể Chúa đang nói: hãy dành thời gian cho con mình. Hãy nghe vợ mình. Hãy hỏi thăm cha mẹ già. Hãy làm hòa với anh chị em. Có thể vườn nho là nơi làm việc, nơi ta được gọi sống trung thực giữa một môi trường dễ thỏa hiệp. Có thể vườn nho là cộng đoàn, nơi Chúa cần ta làm một việc chẳng ai thấy. Có thể vườn nho là chính linh hồn ta, nhiều năm bỏ hoang, cần được chăm sóc lại bằng cầu nguyện và bí tích.
Có người hỏi: “Tôi có thể làm gì cho Chúa? Tôi chẳng có tài gì.” Đừng vội nói vậy. Vườn nho không chỉ cần những người nổi bật. Nó cần người cầu nguyện. Người biết lắng nghe. Người đến thăm bệnh. Người âm thầm lau một chiếc ghế. Người dạy một đứa trẻ làm dấu. Người chăm một người già. Người nhắn một câu an ủi đúng lúc. Người không nói xấu khi cả nhóm đang nói xấu. Người dám xin lỗi. Người mang bình an vào chỗ có xung đột. Có những công việc rất nhỏ nhưng Chúa dùng để cứu một linh hồn.
Cũng đừng nghĩ tuổi già đồng nghĩa hết sứ mạng. Nếu Chúa vẫn để ta sống hôm nay, hôm nay vẫn có một lời mời gọi. Người thợ giờ thứ mười một chứng minh điều đó. Có thể khi trẻ ta xây nhà, nuôi con, làm việc; khi già, sứ mạng có thể đổi thành cầu nguyện, trao kinh nghiệm, chúc lành, tha thứ, chuẩn bị một sự ra đi bình an. Một lời cầu của một người cao tuổi có thể là bóng mát cho cả gia đình. Đừng đánh giá giá trị đời người bằng năng suất. Trước mặt Thiên Chúa, một người không còn làm được gì vẫn có giá trị vô hạn vì họ là con của Người.
Thế giới ngày nay rất dễ biến con người thành con số: năng suất bao nhiêu, thu nhập bao nhiêu, có bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu bằng cấp, bao nhiêu thành tích. Tin Mừng vườn nho phá vỡ cái nhìn ấy. Những người giờ thứ mười một gần như chẳng còn đóng góp kinh tế đáng kể trong ngày hôm đó, nhưng ông chủ vẫn nhìn họ như những con người cần được trao cơ hội và phẩm giá. Trong xã hội Palestine thời Chúa Giêsu, một người lao động không được thuê trong ngày ấy có thể đồng nghĩa gia đình họ thiếu tiền mua thức ăn. Khi ông chủ cho họ một đồng, ông không chỉ trả cho một giờ lao động; ông bảo vệ sự sống và phẩm giá của cả một gia đình. Lòng thương xót nhìn xa hơn bảng chấm công.
Nếu đem tinh thần đó vào đời sống hôm nay, chúng ta sẽ biết hỏi không chỉ: “Người này làm được gì cho tôi?” nhưng: “Người này đang cần gì để có thể sống như một con người?” Đó là nền tảng của bác ái Kitô giáo. Người nghèo không phải dự án cho ta thể hiện lòng tốt. Họ là anh chị em. Người yếu thế không phải gánh nặng. Họ là nơi ta gặp Chúa. Một cộng đoàn Kitô hữu chân chính phải là nơi những người giờ thứ mười một vẫn tìm được một chỗ.
Có một vẻ đẹp khác: ông chủ tự mình đi ra. Ông không ngồi trong nhà chờ người làm đến xin. Ông đi tìm. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa đi ra. Trong Đức Kitô, Người đi ra khỏi vinh quang để bước vào nhân loại. Người đi đến làng mạc. Người đến với người phong hủi. Người ngồi ăn với người tội lỗi. Người tìm ông Dakêu trên cây. Người dừng lại bên người mù. Người nói chuyện với người phụ nữ Samari. Người tìm Phêrô sau khi ông chối Thầy. Cả lịch sử cứu độ là lịch sử Thiên Chúa đi tìm con người.
Nếu là môn đệ Chúa, Giáo Hội cũng phải đi ra. Không thể chỉ ngồi trong nhà thờ rồi hỏi tại sao người ta không đến. Có những người không bao giờ bước qua cửa nhà thờ trừ khi trước hết có một Kitô hữu bước qua cửa nhà họ bằng tình bạn, sự tôn trọng và lòng nhân hậu. Truyền giáo không bắt đầu bằng tranh luận nhưng bằng hiện diện. Một ánh mắt không xét đoán. Một sự giúp đỡ không điều kiện. Một cách sống khiến người ta tự hỏi: tại sao người này có bình an như vậy? Đó có thể là lúc ông chủ đang đi qua quảng trường nhờ đôi chân của chúng ta.
Nhưng để đi tìm người khác, ta phải nhớ chính mình đã từng được tìm. Người quên mình từng được thương xót rất dễ trở nên khắc nghiệt. Người nhớ mình đã từng yếu đuối sẽ dễ cảm thông với người yếu. Người nhớ mình đã từng được tha thứ sẽ dễ tha thứ. Người nhớ mình từng là người đứng ngoài quảng trường sẽ không đóng cửa với người đứng ngoài hôm nay.
Trong gia đình cũng vậy. Có những người cha người mẹ đau lòng vì con cái xa Chúa. Họ cầu nguyện nhiều năm mà chưa thấy thay đổi. Dụ ngôn hôm nay là một lời hy vọng: ông chủ vẫn đi ra đến giờ cuối. Đừng tuyệt vọng về bất cứ ai. Ta không kiểm soát được thời điểm một trái tim mở ra. Có lời cầu phải mất hai mươi năm mới thấy hoa trái. Có hạt giống được gieo lúc một đứa trẻ lên tám nhưng đến bốn mươi tuổi mới mọc. Công việc của ta là yêu thương, cầu nguyện, làm chứng, và để Thiên Chúa lo giờ của Người.
Đừng dùng đức tin như cây gậy đánh người đang xa Chúa. Có người càng bị trách càng chạy xa. Hãy để họ biết rằng khi quay về vẫn có một cánh cửa. Chân lý phải được nói, nhưng nói trong tình yêu. Một lời đúng nói sai cách có thể đóng cửa một tâm hồn. Chúa Giêsu không dung túng tội lỗi nhưng Người khiến người tội lỗi muốn đến gần. Đó là nghệ thuật mục vụ mà chúng ta phải học.
Hôm nay mỗi người có thể tự hỏi: tôi đang giống nhân vật nào trong dụ ngôn? Tôi là người vẫn đứng ngoài vì nghĩ chẳng ai cần mình? Hãy nghe Chúa nói: “Anh hãy đi vào vườn nho.” Tôi là người đã làm từ sáng nhưng đang mệt và cằn nhằn? Hãy nhớ được ở với Chúa đã là quà tặng. Tôi là người ganh tị khi thấy người khác được ơn? Hãy xin Chúa chữa ánh mắt mình. Tôi là người tưởng Chúa mắc nợ mình? Hãy nhìn lại tất cả những gì mình đã nhận nhưng chưa từng trả được. Tôi là người đang trì hoãn hoán cải? Hãy nhớ hôm nay có thể là giờ Chúa đi ngang quảng trường đời ta.
Có một câu chúng ta nên mang về sau thánh lễ hôm nay: “Tôi có buồn vì Thiên Chúa quá tốt không?” Câu đó nghe lạ nhưng rất thật. Khi Chúa cứu một người tôi không thích, tôi có buồn không? Khi Chúa cho người khác cơ hội mới, tôi có buồn không? Khi người từng làm sai nay thay đổi và được cộng đoàn đón nhận, tôi có buồn không? Nếu có, hãy xin Chúa cho ta trái tim của Người.
Kitô giáo không chỉ dạy chúng ta chấp nhận lòng thương xót dành cho mình; Kitô giáo dạy chúng ta vui vì lòng thương xót được dành cho mọi người. Khi một tội nhân trở về, cả thiên đàng vui. Nếu thiên đàng vui mà ta buồn, có lẽ lòng ta chưa ở cùng nhịp với thiên đàng.
Cuối cùng, dụ ngôn mời gọi chúng ta thay đổi một câu hỏi. Thay vì hỏi: “Tôi sẽ được gì?”, hãy hỏi: “Hôm nay Chúa muốn tôi làm gì trong vườn nho của Người?” Thay vì hỏi: “Người khác có xứng đáng không?”, hãy hỏi: “Tôi có biết ơn vì mình cũng từng được thương xót không?” Thay vì hỏi: “Tại sao Chúa cho họ nhiều vậy?”, hãy hỏi: “Tôi có thể vui với niềm vui của họ không?” Thay vì hỏi: “Có quá muộn để tôi thay đổi không?”, hãy nghe Chúa nói: “Con hãy đi vào vườn nho.”
Cuộc đời chúng ta rồi cũng sẽ có một buổi chiều. Mặt trời sẽ xuống. Ngày làm việc sẽ kết thúc. Có người đã vào vườn nho từ bình minh, có người giữa trưa, có người lúc bóng chiều đã dài. Nhưng điều quan trọng không phải ta so sánh đồng hồ của mình với người khác; điều quan trọng là khi Chủ vườn gọi, ta có đáp không. Chúng ta không biết mình đang ở giờ thứ mấy của đời. Có thể còn rất nhiều năm. Có thể chỉ còn ít. Nhưng hôm nay vẫn là giờ của ân sủng. Hôm nay vẫn có thể yêu thêm một người. Hôm nay vẫn có thể bỏ một mối hận. Hôm nay vẫn có thể trở về. Hôm nay vẫn có thể sống cho Chúa.
Và nếu chúng ta đã ở trong vườn nho nhiều năm, xin đừng đứng đó với khuôn mặt cau có. Hãy vui. Chúng ta đang ở trong vườn của Cha. Mỗi lời cầu nguyện là một ân huệ. Mỗi lần phục vụ là một ân huệ. Mỗi thánh lễ là một ân huệ. Mỗi cơ hội yêu thương là một ân huệ. Đừng biến ân huệ thành gánh nặng bằng việc so sánh.
Nếu hôm nay có một người giờ thứ mười một bước vào bên cạnh ta, xin hãy dành chỗ cho họ. Đừng hỏi tại sao họ đến muộn. Có thể họ đã phải lang thang ngoài quảng trường rất lâu. Đừng nhắc mãi quá khứ của họ. Chúa đang trao cho họ một hiện tại mới. Đừng khó chịu nếu Chúa rộng lượng với họ. Chính lòng quảng đại ấy cũng là lý do chúng ta còn đứng đây.
Và nếu chính ta là người đến muộn, xin đừng sợ. Hãy bước vào. Đừng đứng ngoài chỉ vì xấu hổ. Đừng nghĩ mình phải trở nên hoàn hảo rồi mới đến với Chúa. Người bệnh đến với thầy thuốc để được chữa; không phải đợi khỏi bệnh rồi mới đến. Hãy mang vào vườn nho tất cả những gì ta có: một cuộc đời chưa trọn vẹn, những vết thương, những thất bại, những tội lỗi đã ăn năn, một chút đức tin còn sót lại, một tia hy vọng nhỏ bé. Chúa biết làm gì với những mảnh vỡ ấy.
Có thể điều làm chúng ta ngạc nhiên nhất khi gặp Chúa không phải là Người nghiêm khắc đến mức nào, mà là Người tốt hơn tất cả những gì ta từng dám hy vọng. Và lúc đó ta sẽ hiểu tại sao ông chủ vườn nho cứ đi ra mãi, từ sáng đến chiều, cứ gọi thêm người, cứ mở thêm cửa, cứ trao thêm cơ hội. Bởi vì Người không muốn một ai bị bỏ lại ngoài quảng trường.
Xin Chúa chữa trong chúng ta căn bệnh so sánh. Xin chữa sự ganh tị khiến ta buồn trước niềm vui của người khác. Xin chữa não trạng công trạng khiến ta tưởng Chúa mắc nợ mình. Xin chữa sự tự mãn của người đã ở lâu trong vườn nho. Xin chữa tuyệt vọng của người nghĩ mình đến quá muộn. Xin cho chúng ta hiểu rằng tất cả đều là ân sủng: được sinh ra là ân sủng, được biết Chúa là ân sủng, được phục vụ là ân sủng, được tha thứ là ân sủng, được bắt đầu lại cũng là ân sủng.
Và nhất là xin cho chúng ta có trái tim của Chủ vườn: một trái tim còn đi ra tìm người lúc chiều đã xuống; một trái tim không khép cửa với người đến muộn; một trái tim nhìn con người không chỉ bằng điều họ đã làm nhưng bằng điều họ có thể trở thành trong ân sủng; một trái tim không sợ cho đi quá nhiều; một trái tim vui khi cứu được một con người.
Bởi cuối cùng, Tin Mừng hôm nay không phải câu chuyện về một ông chủ trả lương kỳ lạ. Đây là câu chuyện về một Thiên Chúa yêu kỳ lạ. Một tình yêu không vừa với chiếc thước của chúng ta. Một lòng thương xót vượt qua phép tính của chúng ta. Một sự quảng đại làm những người quen sống bằng công trạng phải bối rối. Một Thiên Chúa vẫn đi tìm con người cho đến tận giờ cuối.
Và thật may cho chúng ta rằng Thiên Chúa là như thế.
Nếu Người chỉ yêu những người xứng đáng, chúng ta còn hy vọng gì?
Nếu Người chỉ gọi những người đến đúng giờ, bao nhiêu người trong chúng ta đã bị bỏ lại?
Nếu Người chỉ tha thứ một lần, ai còn đứng vững?
Nếu Người chỉ cho ta đúng những gì ta đáng nhận, ai dám ngẩng mặt?
Nhưng Người là Cha.
Và vì là Cha, Người vẫn đi ra.
Vẫn gọi.
Vẫn chờ.
Vẫn tha thứ.
Vẫn mở cửa.
Vẫn trao một ngày mới.
Vẫn nói với người tưởng đời mình đã hết: “Con cũng hãy vào vườn nho của Ta.”
Vậy thì hôm nay, đừng đứng ngoài nữa.
Nếu đã ở trong vườn, đừng cằn nhằn nữa.
Nếu thấy người khác bước vào, đừng ganh tị nữa.
Nếu được Chúa thương, hãy biết ơn.
Nếu thấy người khác được Chúa thương, hãy vui với họ.
Và khi chiều xuống trên đời mình, ước gì ta có thể đứng trước mặt Chủ vườn không với cuốn sổ công trạng trên tay, nhưng với một trái tim biết nói: “Lạy Chúa, tất cả đều là ân sủng. Con chẳng có gì để đòi. Con chỉ có một điều để thưa: con cảm ơn Chúa vì đã đi tìm con, đã gọi con, đã cho con một chỗ trong vườn nho của Chúa, và đã yêu con nhiều hơn điều con xứng đáng.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG GANH TỊ VÌ THIÊN CHÚA NHÂN LÀNH
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN – NĂM A
Có lẽ trong số những dụ ngôn của Đức Giêsu, dụ ngôn những người thợ làm vườn nho mà chúng ta nghe trong Chúa Nhật hôm nay là một trong những dụ ngôn dễ làm con người cảm thấy khó chịu nhất, bởi vì câu chuyện ấy dường như đi ngược lại cách suy nghĩ rất tự nhiên của chúng ta. Một người làm việc từ sáng sớm, chịu nắng nôi, chịu mệt nhọc, chịu sức nóng của cả ngày, cuối cùng nhận được một đồng. Một người khác chỉ đến vào giờ cuối cùng, có lẽ chỉ làm được khoảng một giờ, cũng nhận đúng một đồng. Nếu câu chuyện ấy xảy ra tại một công ty, một nhà máy, một công trường hay một nông trại trong đời sống hôm nay, chắc chắn sẽ có người phản đối. Chúng ta sẽ nói rằng như thế là không công bằng. Chúng ta sẽ đặt vấn đề về thang lương, giờ làm, năng suất, chế độ lao động. Và xét trong phạm vi quan hệ lao động thông thường, những câu hỏi ấy hoàn toàn chính đáng. Nhưng Đức Giêsu không kể dụ ngôn này để dạy chúng ta cách thiết lập bảng lương cho doanh nghiệp. Người không đưa ra một mô hình kinh tế hay một luật lao động. Người đang nói về một thực tại sâu xa hơn vô cùng: Nước Thiên Chúa, ơn cứu độ, lòng thương xót và cách Thiên Chúa yêu con người. Nếu quên điều đó, chúng ta sẽ hiểu sai toàn bộ dụ ngôn. Còn nếu bước được vào bên trong trái tim của Thiên Chúa, chúng ta sẽ nhận ra câu chuyện hôm nay không phải là câu chuyện về một ông chủ bất công, nhưng là câu chuyện về một Thiên Chúa quảng đại đến mức khiến những người quen tính toán phải khó chịu; không phải câu chuyện về việc Thiên Chúa lấy mất phần của người đến trước để cho người đến sau, nhưng là câu chuyện về một Thiên Chúa muốn không một ai trở về nhà tay trắng; không phải câu chuyện làm giảm giá trị của những người đã trung thành từ sớm, nhưng là câu chuyện mặc khải rằng tình yêu Thiên Chúa lớn hơn mọi bảng tính công trạng của chúng ta.
Bài đọc thứ nhất cho chúng ta chiếc chìa khóa để hiểu Tin Mừng: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta.” Đây là một câu Kinh Thánh mà chúng ta rất quen, nhưng đôi khi quen quá lại thành ra không còn cảm được sức mạnh của nó. Chúng ta thường muốn Thiên Chúa suy nghĩ giống mình, hành động giống mình, đánh giá người khác giống mình, thưởng phạt theo tiêu chuẩn của mình. Chúng ta nói rằng mình tin Chúa, nhưng sâu xa trong lòng, nhiều lúc chúng ta chỉ muốn một Thiên Chúa xác nhận những gì mình đã nghĩ sẵn. Khi có người làm điều xấu, chúng ta muốn Chúa phạt ngay. Khi người khác thành công, chúng ta muốn biết họ có thật sự xứng đáng không. Khi một người sống bê bối nhiều năm rồi quay về với Chúa vào cuối đời, chúng ta có thể thầm nghĩ: “Sao dễ vậy? Tôi giữ đạo cả đời, người ấy sống tùy tiện cả đời, cuối cùng chỉ cần ăn năn mà cũng được cứu sao?” Khi một người mới vào đạo mà có lòng nhiệt thành, được cộng đoàn quý mến, được trao trách nhiệm, có khi người đạo gốc lại khó chịu. Khi một người mới bước vào đời sống phục vụ nhưng được Chúa dùng cách đặc biệt, người đã phục vụ lâu năm có thể cảm thấy mình bị quên lãng. Chính ở đó, Tin Mừng hôm nay bắt đầu chạm đến chúng ta. Bởi vì vấn đề không nằm ở đồng bạc. Vấn đề nằm ở trái tim. Người làm từ sáng không mất đồng nào cả. Ông chủ trả cho anh đúng số tiền hai bên đã thỏa thuận. Anh không bị bất công. Điều làm anh đau không phải là mình nhận ít hơn điều đã hứa, mà là người khác nhận nhiều hơn điều anh nghĩ họ xứng đáng nhận. Đây là một khám phá rất quan trọng. Có những lúc chúng ta buồn không phải vì mình thiếu, mà vì người khác có. Có những lúc chúng ta không khổ vì Thiên Chúa không tốt với mình, nhưng vì Thiên Chúa cũng tốt với một người mà chúng ta không muốn Ngài tốt với họ. Có những lúc ta không phản đối công lý; ta phản đối lòng quảng đại của Thiên Chúa dành cho người khác.
Ông chủ hỏi một câu rất đau: “Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” Có thể nói đây là một trong những câu hỏi xuyên thấu tâm hồn nhất của dụ ngôn. Ta có buồn vì Thiên Chúa tốt không? Nghe có vẻ vô lý, nhưng có. Ta vui khi Chúa tốt với ta, nhưng không phải lúc nào ta cũng vui khi Chúa tốt với người khác. Ta thích lòng thương xót khi mình cần được tha thứ; nhưng khi người khác cần được tha thứ, ta lại đòi công lý. Ta muốn Chúa nhớ hoàn cảnh, thương tích, yếu đuối của mình; nhưng khi nhìn người khác, ta dễ quên hoàn cảnh của họ và chỉ nhìn lỗi lầm. Ta muốn Chúa kiên nhẫn với quá trình hoán cải của mình; nhưng ta lại sốt ruột trước sự thay đổi chậm chạp của người bên cạnh. Ta muốn Chúa cho mình thêm cơ hội; nhưng nhiều khi ta không muốn người khác có thêm cơ hội. Một trong những dấu hiệu cho thấy Tin Mừng thật sự đã đi sâu vào lòng ta là ta bắt đầu vui khi thấy người khác được Chúa thương, ngay cả khi người ấy không có quá khứ đẹp bằng ta, không phục vụ lâu bằng ta, không hy sinh nhiều bằng ta, thậm chí đã từng làm ta thất vọng. Đó là một cuộc hoán cải rất sâu.
Hãy nhìn ông chủ vườn nho. Ông ra quảng trường từ sáng sớm. Ông thấy những người đang đứng chờ việc. Ông gọi họ. Khoảng chín giờ ông lại ra. Mười hai giờ ông lại ra. Ba giờ chiều ông lại ra. Thậm chí gần cuối ngày, khi chỉ còn một giờ làm việc, ông vẫn đi ra. Câu hỏi phải đặt ra là: tại sao ông cứ đi ra? Nếu ông chỉ cần nhân công, lẽ ra số thợ buổi sáng có thể đã đủ. Nhưng dường như ông không chỉ quan tâm đến vườn nho. Ông còn quan tâm đến những người đang đứng ngoài quảng trường. Ông không chịu nổi cảnh một con người bị bỏ lại cả ngày mà không có ai gọi. Đến giờ cuối ông vẫn hỏi: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Họ trả lời: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Câu trả lời ấy nghe thật buồn. “Không ai mướn chúng tôi.” Có bao nhiêu con người trong cuộc đời cũng đang sống với cảm giác ấy: không ai cần tôi, không ai gọi tôi, không ai tin tôi, không ai nhìn thấy tôi, không ai cho tôi một cơ hội. Có những đứa trẻ lớn lên trong gia đình nhưng cảm thấy mình không được nhìn nhận. Có người trẻ có khả năng nhưng chẳng ai trao cơ hội. Có người đã từng phạm lỗi nên đi đâu cũng bị nhìn bằng quá khứ. Có người thất bại trong hôn nhân và cảm thấy mình bị cộng đoàn xa lánh. Có người già cảm thấy đời mình đã hết ích lợi. Có người bệnh nằm một chỗ nghĩ rằng mình chẳng còn làm được gì cho ai. Có người sau nhiều năm xa Chúa muốn quay về nhưng lại sợ ánh mắt của những người “đạo đức”. Có người đi lễ nhưng vẫn đứng ngoài vườn nho trong tâm hồn, bởi họ chưa bao giờ cảm nhận được rằng Thiên Chúa đang gọi đích danh mình.
Tin Mừng hôm nay nói rằng Thiên Chúa vẫn đi ra. Sáu giờ sáng Ngài đi ra. Chín giờ Ngài đi ra. Giữa trưa Ngài đi ra. Ba giờ chiều Ngài đi ra. Năm giờ chiều Ngài vẫn đi ra. Nghĩa là trong đời người không có giờ nào Thiên Chúa nói: “Muộn rồi.” Không có tuổi nào Thiên Chúa bảo: “Bây giờ trở lại chẳng còn ý nghĩa gì.” Không có quá khứ nào khiến Ngài nói: “Con đã hết cơ hội.” Không có tội nhân nào đang sống mà Thiên Chúa thôi tìm kiếm. Có người biết Chúa từ nhỏ. Có người gặp Chúa khi trưởng thành. Có người sau khi lập gia đình mới trở lại. Có người đến khi bệnh nặng mới bắt đầu cầu nguyện. Có người chỉ trong những ngày cuối đời mới thực sự mở lòng cho Chúa. Chúng ta đừng lấy đồng hồ của mình để khóa cửa lòng thương xót của Thiên Chúa. Tên trộm lành trên thập giá dường như bước vào vườn nho ở giờ cuối cùng của ngày sống, vậy mà chỉ một lời tín thác đã nhận được lời hứa: hôm nay anh sẽ ở với Thầy trên thiên đàng. Thiên Chúa không ca ngợi cuộc đời tội lỗi trước đó của anh. Thiên Chúa cũng không nói tội lỗi chẳng quan trọng. Nhưng khi con người thật sự mở lòng, không bao giờ là quá trễ đối với ân sủng.
Và điều này vô cùng quan trọng trong mục vụ. Giáo Hội không thể trở thành một cộng đoàn chỉ dành cho những người đã đến từ sáu giờ sáng. Giáo Hội phải luôn có chỗ cho người đến chín giờ, mười hai giờ, ba giờ và năm giờ. Giáo Hội phải là nơi một người mới trở về không bị bắt đứng mãi ở cuối hàng để trả nợ cho quá khứ. Giáo Hội phải là nơi những người từng vấp ngã có thể lại đứng dậy. Giáo Hội phải là nơi một người trẻ xa đạo vẫn có thể bước vào mà không bị nhìn bằng ánh mắt kết án. Giáo Hội phải là nơi một gia đình đang khủng hoảng được chữa lành chứ không bị đóng thêm dấu thất bại. Giáo Hội phải là nơi người nghèo không cảm thấy mình thấp kém, người ít học không cảm thấy mình không đáng được lắng nghe, người yếu đuối không cảm thấy mình là gánh nặng. Nếu Thiên Chúa là Đấng cứ đi ra tìm người bị bỏ lại, thì Hội Thánh của Ngài cũng không thể chỉ ngồi trong nhà chờ những người “đủ tiêu chuẩn” tự tìm đến. Một cộng đoàn Tin Mừng là một cộng đoàn biết đi ra, biết tìm kiếm, biết mời gọi, biết cho con người một cơ hội mới.
Nhưng dụ ngôn còn đưa chúng ta sâu hơn nữa. Những người làm từ sáng sớm tượng trưng cho một cám dỗ có thể xảy đến với những người sống đạo lâu năm: biến tương quan với Thiên Chúa thành hợp đồng. Tôi giữ đạo, vậy Chúa phải thưởng tôi. Tôi đi lễ mỗi ngày, Chúa phải bảo vệ gia đình tôi. Tôi làm việc thiện, Chúa không được để tôi bệnh. Tôi dâng cúng nhiều, Chúa phải cho công việc thuận lợi. Tôi sống đời tận hiến, Chúa phải cho tôi bình an. Tôi phục vụ Giáo Hội lâu năm, mọi người phải công nhận tôi. Một cách rất tinh tế, ta có thể biến mình thành người làm thuê và biến Thiên Chúa thành ông chủ trả lương. Ta giữ đạo nhưng luôn mang trong tay một cuốn sổ tính toán: con đã làm cho Chúa bao nhiêu, Chúa phải trả lại con bao nhiêu. Nhưng Kitô giáo không phải là một cuộc trao đổi giữa hai đối tác ngang hàng. Tất cả bắt đầu bằng ân sủng. Sự sống của ta là quà tặng. Đức tin là quà tặng. Ơn được biết Chúa là quà tặng. Khả năng cầu nguyện là quà tặng. Cơ hội phục vụ là quà tặng. Ơn tha thứ là quà tặng. Sự sống đời đời cũng là quà tặng. Ngay cả những việc tốt ta làm cũng được thực hiện nhờ sức mạnh Chúa ban. Vì thế chẳng ai có thể đứng trước Thiên Chúa và nói: “Con đã tự mình kiếm được thiên đàng.”
Điều này không phủ nhận giá trị của cố gắng, hy sinh hay trung tín. Người làm từ sáng vẫn đáng quý. Một người giữ đạo suốt đời, trung thành với gia đình, âm thầm cầu nguyện, phục vụ người nghèo, sống lương thiện qua nhiều thập niên: đó là một chứng tá đẹp biết bao. Nhưng vấn đề nảy sinh khi sự trung tín trở thành lý do để ta tự coi mình cao hơn người khác. Nếu tôi ở trong vườn nho từ sáng mà cuối ngày tôi lại cay đắng, ganh tị và trách ông chủ, phải chăng tôi chưa hiểu niềm vui thật sự của việc ở trong vườn nho? Nếu ta chỉ thấy những giờ phục vụ Chúa là “gánh nặng và nắng nôi”, ta phải xét lại hình ảnh của mình về đời sống Kitô hữu. Người con trong dụ ngôn người cha nhân hậu cũng rơi vào cám dỗ tương tự. Anh ở nhà với cha bao năm nhưng sống như một người làm thuê. Khi em trở về, anh nổi giận vì cha mở tiệc. Cha phải nhắc: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.” Có thể ta ở rất gần Chúa mà vẫn không sống tâm tình của người con. Có thể ta tham dự Thánh lễ, đọc kinh, làm việc tông đồ suốt nhiều năm nhưng trong lòng vẫn nói: “Tôi đã phục vụ ông bao nhiêu năm.” Chữ “ông” ấy cho thấy một khoảng cách. Đức Giêsu đến để đưa chúng ta từ tâm lý người làm thuê sang tâm tình người con: Abba – Cha ơi.
Một người con không hỏi: “Hôm nay tôi đã làm cho cha bao nhiêu giờ để được cha yêu?” Người con biết mình được yêu trước khi làm bất cứ điều gì. Chính vì được yêu mà người con muốn làm việc trong nhà cha. Đó cũng phải là linh đạo Kitô giáo. Ta không cầu nguyện để mua tình yêu Thiên Chúa. Ta cầu nguyện vì đã được yêu. Ta không đi lễ để kiếm từng điểm công trạng. Ta đến bàn tiệc vì được mời vào tương quan với Chúa Kitô. Ta không phục vụ người nghèo để mua thiên đàng; ta phục vụ vì đã nhận quá nhiều lòng thương xót và muốn trao lòng thương xót ấy đi. Ta không sống thánh thiện để ép Chúa cứu ta; ta sống thánh thiện vì ơn cứu độ đang biến đổi ta.
Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai là một minh họa tuyệt đẹp. Ngài nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi.” Một con người có thể nói được câu ấy khi Đức Kitô không còn là một phần nhỏ trong đời mình nhưng là chính trung tâm của cuộc đời. Phaolô đứng giữa hai ước muốn: được ra đi để ở với Đức Kitô thì tốt hơn, nhưng ở lại thì cần thiết hơn cho cộng đoàn. Điều đáng chú ý là Phaolô không đặt ý muốn riêng lên trên sứ mạng. Ngài để ý Chúa định hướng cuộc đời mình. Đây là khác biệt giữa một Kitô hữu trưởng thành và một người chỉ tìm Chúa vì lợi ích riêng. Người trưởng thành không hỏi mãi: “Chúa sẽ cho con gì?” nhưng hỏi: “Chúa muốn con làm gì?” Không hỏi: “Con được lợi gì khi ở trong vườn nho?” nhưng hỏi: “Hôm nay vườn nho của Chúa cần con ở đâu?” Đó là tự do của người thuộc về Đức Kitô.
Trong đời sống đức tin, rất nhiều đau khổ của ta đến từ sự so sánh. Tôi so gia đình tôi với gia đình người khác. Tôi so con tôi với con người khác. Tôi so ơn gọi của tôi với ơn gọi người khác. Tôi so giáo xứ mình với giáo xứ khác. Tôi so công việc mục vụ của mình với người khác. Tôi so số người theo dõi, số người nghe, số người khen, số thành quả nhìn thấy được. Từ so sánh sinh ra ganh tị; từ ganh tị sinh ra cay đắng; từ cay đắng sinh ra phán xét; từ phán xét sinh ra chia rẽ. Dụ ngôn hôm nay giải thoát ta khỏi căn bệnh ấy bằng một câu hỏi rất đơn giản: Tại sao con cứ nhìn đồng bạc trong tay người khác mà quên đồng bạc Ta đã đặt vào tay con? Mỗi người có một hành trình. Người được gọi lúc sáu giờ không cần trở thành người được gọi lúc năm giờ. Người được gọi lúc năm giờ cũng không cần xấu hổ vì mình đến trễ nếu thực sự đã đáp lại tiếng gọi. Thánh thiện không phải là trở thành bản sao của người khác. Thánh thiện là đáp lại trọn vẹn ân sủng được trao cho mình.
Có lẽ người thợ được gọi lúc năm giờ đã trải qua gần cả ngày trong đau khổ. Từ sáng đến chiều anh đứng ở quảng trường và thấy người ta lần lượt được chọn. Sáu giờ, có người được gọi, anh còn hy vọng. Chín giờ, người khác đi, anh vẫn chờ. Mười hai giờ, anh bắt đầu lo. Ba giờ chiều, anh có thể đã nghĩ hôm nay mình sẽ trở về nhà tay trắng. Năm giờ, chỉ còn một giờ trước khi hết ngày, anh hầu như không còn hy vọng. Anh có thể nghĩ đến người vợ đang chờ ở nhà, những đứa con cần ăn, món nợ phải trả. Ta thường chỉ thấy anh làm một giờ nhưng không thấy mười một giờ anh đứng chờ trong bất an. Ta thường nhìn cuộc đời người khác qua khoảnh khắc hiện tại rồi phán xét mà không biết họ đã đi qua điều gì. Có người hôm nay được Chúa ban cho một niềm vui lớn, nhưng ta không biết họ đã khóc bao nhiêu năm. Có người hôm nay được chữa lành, ta không biết họ đã chiến đấu trong bóng tối lâu đến đâu. Có người hôm nay trở về với Chúa, ta không biết đã bao lần họ muốn trở về nhưng không đủ can đảm. Có người hôm nay được trao một cơ hội, ta không biết họ đã trải qua bao cánh cửa đóng lại. Thiên Chúa biết toàn bộ câu chuyện. Ta chỉ biết một phần. Vì thế, thay vì hỏi: “Tại sao họ được nhiều thế?” ta hãy học nói: “Tạ ơn Chúa vì cuối cùng họ cũng được tìm thấy.”
Đó chính là niềm vui của Tin Mừng. Người mục tử tìm được con chiên lạc thì vui. Người phụ nữ tìm lại đồng bạc thì vui. Người cha đón người con hoang đàng trở về thì mở tiệc. Thiên đàng vui khi một người tội lỗi ăn năn. Chỉ có những người tự cho mình là công chính mới khó chịu trước niềm vui ấy. Vì vậy, một câu hỏi rất quan trọng cho đời sống thiêng liêng là: điều gì làm tôi vui? Nếu thấy người khác được tha thứ mà tôi vui, trái tim tôi đang giống trái tim Chúa. Nếu thấy một gia đình hòa giải mà tôi vui, tôi đang ở trong Tin Mừng. Nếu thấy một người từng lầm lỗi đứng lên mà tôi vui, tôi đang sống lòng thương xót. Nếu thấy một người trẻ trở về nhà thờ và tôi vui, tôi đang vui với Thiên Chúa. Nhưng nếu thành công của người khác làm tôi khó chịu, nếu sự trở lại của người khác khiến tôi nghi ngờ, nếu ân huệ Chúa ban cho người khác khiến tôi bất mãn, tôi cần xin Chúa chữa đôi mắt mình.
“Hay mắt bạn xấu vì tôi tốt?” Cái xấu của đôi mắt trong ngôn ngữ Kinh Thánh liên quan đến sự ghen tị, nhỏ nhen, không chịu nổi sự quảng đại. Một trái tim được chữa lành nhìn ân sủng nơi người khác mà vui. Một trái tim bị thương nhìn cùng một ân sủng mà thấy bị đe dọa. Vì sao? Vì ta nghĩ tình yêu Thiên Chúa là chiếc bánh có giới hạn: Ngài cho người khác nhiều thì phần ta sẽ ít đi. Nhưng tình yêu Chúa không vận hành như thế. Chúa yêu thêm một người không làm Ngài yêu ta ít hơn. Chúa tha thứ cho một tội nhân không làm công lao trung tín của ta trở nên vô nghĩa. Chúa cho một người cơ hội mới không lấy mất cơ hội của ta. Trái tim Thiên Chúa không phải căn phòng nhỏ chỉ đủ chỗ cho vài người. Đó là một đại dương.
Dụ ngôn này cũng là một lời an ủi lớn cho những ai nghĩ mình đã quá trễ. Có người nói: “Tôi già rồi, bây giờ sống đạo nghiêm túc còn ích gì?” Có người nói: “Tôi đã phí mất ba mươi năm.” Có người nói: “Tôi gây quá nhiều lỗi lầm, Chúa chắc không cần tôi.” Có người nghĩ ơn gọi thánh thiện chỉ dành cho những người có quá khứ tốt đẹp. Tin Mừng hôm nay nói: năm giờ chiều ông chủ vẫn đi ra. Chỉ cần bạn còn nghe được tiếng gọi, vẫn còn thời gian để đáp lại. Có thể bạn không thể làm lại quá khứ, nhưng bạn có thể trao cho Chúa phút hiện tại. Thiên Chúa có thể làm điều kỳ diệu với một giờ cuối cùng được trao trọn vẹn hơn là với cả ngày sống trong tính toán.
Nhưng cũng đừng vì thế mà nghĩ: vậy cứ sống tùy tiện rồi cuối đời trở lại cũng được. Đó lại là một cách tính toán khác. Người được gọi lúc sáng có một đặc ân mà người lúc năm giờ không có: anh được ở trong vườn nho suốt cả ngày. Anh được sống trong nhà Chúa, làm việc với Chúa, tham dự công trình của Chúa. Đức Bênêđictô XVI từng nhấn mạnh một điểm rất đẹp: được gọi vào vườn nho đã là phần thưởng. Đây là điều chúng ta cần khám phá lại. Theo Chúa không phải là chịu thiệt để đổi lấy phần thưởng sau khi chết. Sống với Chúa tự nó đã là một ân huệ. Một đời hôn nhân trung tín không phải ba mươi hay năm mươi năm “mất tự do”; đó là năm mươi năm được yêu và học yêu. Một đời linh mục không phải mấy chục năm hy sinh để chờ nhận phần thưởng trên trời; đó là mấy chục năm được chạm vào mầu nhiệm, được cầm Thánh Thể, được nói lời tha tội, được đứng cạnh con người trong lúc sinh tử, được loan báo Tin Mừng. Một người giữ đạo từ nhỏ không nên nhìn người trở lại cuối đời và nghĩ mình bị thiệt; phải tạ ơn vì mình đã được biết Chúa sớm hơn.
Nếu ta thực sự biết Chúa, ta sẽ không hỏi: “Tại sao người kia cũng được thiên đàng như tôi?” Ta sẽ hỏi: “Lạy Chúa, tại sao Chúa đã thương cho con biết Chúa sớm đến thế?” Cùng một thực tại nhưng hai ánh mắt khác nhau. Một ánh mắt tính toán thấy bất công; một ánh mắt biết ơn thấy ân sủng.
Nhiều khủng hoảng trong đời sống thiêng liêng thực ra bắt đầu khi lòng biết ơn chết đi. Khi còn biết ơn, một bữa cơm đơn giản cũng là quà tặng. Khi mất biết ơn, có nhiều vẫn thấy thiếu. Khi còn biết ơn, một công việc nhỏ trong giáo xứ cũng là niềm vui. Khi mất biết ơn, chức vụ lớn vẫn chưa đủ. Khi còn biết ơn, được phục vụ âm thầm là hạnh phúc. Khi mất biết ơn, không được nhắc tên là tổn thương. Những người thợ buổi sáng đã quên rằng chính họ cũng từng đứng ngoài quảng trường. Họ cũng phải được ông chủ đi tìm và gọi. Nếu ông chủ không ra, họ cũng chẳng có việc. Vậy mà sau một ngày ở trong vườn nho, họ bắt đầu hành xử như thể công việc là quyền đương nhiên của mình. Ta cũng vậy. Sau nhiều năm sống trong Giáo Hội, ta có thể quên rằng chính ta cũng là người đã được gọi bởi ân sủng. Không ai tự sinh ra trong vườn nho. Tất cả đều được mời.
Câu cuối của Tin Mừng nói: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết.” Đây không phải là một cuộc đổi hạng máy móc. Đức Giêsu không muốn tạo ra một bảng xếp hạng mới trong đó người đến trễ mặc nhiên tốt hơn người đến sớm. Người muốn phá vỡ chính não trạng xếp hạng của ta. Trong Nước Trời, vấn đề không phải là tôi đứng trên ai. Vấn đề là tôi có để cho ân sủng biến đổi trái tim mình không. Người “đầu” có thể trở thành “cuối” khi sự trung tín biến thành kiêu ngạo. Người “cuối” có thể trở thành “đầu” khi sự nghèo khó khiến họ phó thác hoàn toàn vào lòng thương xót. Nhưng người đến từ sáng mà vẫn giữ được trái tim người con, vẫn vui khi người đến sau được yêu, thì thật đẹp biết bao. Và người đến giờ cuối mà sống trong lòng biết ơn, không kiêu căng vì được nhận một đồng, cũng thật đẹp biết bao. Nước Trời không phải sân khấu cạnh tranh. Nước Trời là bàn tiệc của những người biết mình được yêu nhưng không xứng đáng.
Hôm nay mỗi chúng ta có thể tự hỏi: tôi đang đứng ở đâu trong dụ ngôn? Có lẽ tôi là người được gọi từ sáng sớm. Tôi đã biết Chúa từ nhỏ, được rửa tội, lớn lên trong gia đình Công giáo, được nghe Lời Chúa, lãnh nhận các bí tích, có bao cơ hội phục vụ. Nếu vậy, tôi hãy tạ ơn thay vì kể công. Có lẽ tôi là người giờ thứ ba hay thứ sáu: đã có một thời xa Chúa nhưng rồi được gọi lại. Hãy trân quý thời gian còn lại. Có lẽ tôi là người giờ thứ mười một: cuộc đời đã xế chiều, quá khứ có nhiều điều tiếc nuối. Đừng tuyệt vọng. Chúa vẫn đang đi ngang quảng trường đời bạn. Có lẽ tôi lại là người đứng trong vườn nho nhưng đang nhìn người khác bằng ánh mắt ghen tị. Hãy xin Chúa chữa mắt tôi. Hoặc có thể tôi đang là một người được Chúa sai đi như ông chủ: Chúa muốn tôi ra khỏi sự tiện nghi của mình để tìm một ai đó đang đứng một mình ngoài quảng trường.
Ai là người “không ai mướn” trong đời ta hôm nay? Một người thân đã lâu không nói chuyện? Một đứa con làm ta thất vọng? Một người nghèo ta thường lướt qua? Một người trong cộng đoàn bị bỏ quên? Một người già không ai thăm? Một người trẻ chưa tìm được chỗ đứng? Một người đã phạm sai lầm và bị đóng khung trong sai lầm ấy? Có lẽ Chúa muốn qua ta đi ra lúc năm giờ chiều để nói với họ: “Bạn cũng hãy vào vườn nho.”
Và cuối cùng, Tin Mừng hôm nay mời chúng ta chiêm ngắm một Thiên Chúa không mệt mỏi vì con người. Con người có thể mệt vì nhau, nhưng Chúa không mệt. Ta có thể chán một người sau vài lần họ tái phạm; Chúa vẫn đi tìm. Ta có thể đóng hồ sơ về một con người; Chúa chưa đóng. Ta có thể nghĩ người ấy hết hy vọng; Chúa vẫn nhìn thấy một cánh cửa. Sáng Ngài tìm. Trưa Ngài tìm. Chiều Ngài tìm. Gần hết ngày Ngài vẫn tìm. Thập giá chính là cuộc đi ra xa nhất của Thiên Chúa để tìm con người. Đức Kitô đã bước vào tận bóng tối của tội lỗi và sự chết để không ai còn có thể nói: “Chúa không đến được chỗ tôi.”
Một ngày kia, khi đứng trước Chúa, có lẽ tất cả chúng ta sẽ hiểu rằng không ai được cứu vì bảng thành tích hoàn hảo. Chúng ta được cứu vì Đức Kitô đã chết và sống lại cho chúng ta. Người đến sáu giờ cần thập giá. Người đến chín giờ cần thập giá. Người đến trưa cần thập giá. Người đến ba giờ cần thập giá. Người đến năm giờ cũng cần thập giá. Không ai bước vào Nước Trời bằng chiếc thang công trạng riêng. Chúng ta bước vào qua cánh cửa lòng thương xót.
Vì thế, đừng ghen tị vì Thiên Chúa nhân lành. Hãy vui vì Ngài nhân lành. Nếu Chúa chỉ đối xử với chúng ta theo đúng những gì chúng ta xứng đáng, ai trong chúng ta có thể đứng vững? Nếu Ngài đếm mọi sai lỗi, ai có thể tồn tại? Tin Mừng là tin vui chính vì Thiên Chúa cho nhiều hơn điều ta đáng được nhận. Lòng thương xót không phải là bất công. Lòng thương xót là tình yêu đi xa hơn sự tính toán. Người được tha không nhận được phần của người khác; họ nhận được quà tặng từ trái tim Thiên Chúa.
Vậy hôm nay, thay vì nhìn ngang để so sánh, hãy nhìn lên để tạ ơn. Thay vì hỏi tại sao người khác được nhiều, hãy hỏi mình đã làm gì với ân sủng được trao. Thay vì bực bội vì người đến sau, hãy đi ra đón họ. Thay vì coi việc sống đạo là sức nặng phải mang cả ngày, hãy nhận ra niềm vui được ở trong vườn nho của Chúa. Thay vì mặc cả với Chúa, hãy sống như người con. Thay vì đếm công trạng, hãy đếm những lần ta được thứ tha. Thay vì nhớ những gì mình đã làm cho Chúa, hãy nhớ những gì Chúa đã làm cho mình.
Có thể Chúa đã gọi ta từ sáu giờ sáng. Tạ ơn Chúa. Có thể Ngài gọi ta vào giữa trưa. Tạ ơn Chúa. Có thể mãi năm giờ chiều ta mới nghe thấy tiếng Ngài. Cũng tạ ơn Chúa. Điều quan trọng cuối cùng không phải là ta bước vào vườn nho lúc mấy giờ, nhưng là khi tiếng gọi đến, ta có bước vào hay không, và một khi đã bước vào, ta có để lòng mình trở nên giống trái tim của ông chủ hay không.
Xin Chúa chữa chúng ta khỏi thứ đạo đức tính toán; chữa khỏi thói quen so sánh; chữa khỏi sự ganh tị thiêng liêng; chữa khỏi tâm lý nghĩ rằng vì mình tốt hơn nên mình đáng được Chúa yêu hơn. Xin cho chúng ta hiểu rằng yêu thương của Thiên Chúa không phải phần thưởng dành cho những người hoàn hảo, nhưng là nguồn ân sủng làm nên sự thánh thiện. Xin cho những người đã theo Chúa lâu năm biết vui vì được ở với Chúa lâu năm. Xin cho những người mới trở về không mặc cảm vì mình đến muộn. Xin cho những ai đang đứng ngoài quảng trường đời mình nghe được tiếng Chúa: “Cả bạn nữa, hãy vào vườn nho của Ta.” Xin cho Hội Thánh luôn là cánh tay của ông chủ vườn nho, không ngừng đi ra, tìm kiếm, mời gọi, chữa lành và đưa con người về nhà.
Và khi chiều xuống trên cuộc đời, khi ngày làm việc của mỗi người kết thúc, xin cho chúng ta đừng nhìn đồng bạc trong tay người bên cạnh, nhưng nhìn vào gương mặt Đấng đã gọi ta. Khi ấy ta sẽ hiểu rằng phần thưởng lớn nhất không phải là một đồng bạc. Phần thưởng lớn nhất chính là được ở với Người. Vườn nho là của Người. Công việc là của Người. Ơn gọi là của Người. Sức lực ta có cũng từ Người. Và cuối cùng, chính Người là phần gia nghiệp đời đời của ta.
Lạy Chúa, xin cho con đừng buồn vì Chúa tốt với người khác. Xin cho con đừng biến tình yêu của Chúa thành bảng tính công trạng. Xin cho con vui khi một người tội lỗi trở về, vui khi một người thất vọng tìm lại hy vọng, vui khi một người đến muộn vẫn được đón nhận. Xin cho con biết ơn vì đã được gọi vào vườn nho của Chúa, dù là từ sáng sớm hay tận giờ cuối. Và xin cho con hiểu rằng tất cả đều là ân sủng: được gọi là ân sủng, được phục vụ là ân sủng, được tha thứ là ân sủng, được ở lại với Chúa cũng là ân sủng. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

VƯỢT QUA SỰ CÔNG BẰNG ĐỂ BƯỚC VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT

Tin Mừng: Mt 20,1-16
Có lẽ ít có dụ ngôn nào của Chúa Giêsu khiến người nghe phản ứng mạnh như dụ ngôn những người thợ làm vườn nho hôm nay. Một người đi làm từ sáng sớm, chịu nắng nôi cả ngày, làm đủ mười hai tiếng; một người khác đến lúc chín giờ; người khác nữa đến giữa trưa; người khác đến ba giờ chiều; và thậm chí có những người chỉ được gọi vào làm khi ngày đã gần tàn, nghĩa là lúc năm giờ chiều, chỉ còn một giờ trước khi công việc kết thúc. Thế nhưng đến lúc trả công, ông chủ lại trao cho người đến sau cùng một đồng, rồi người đến trước cũng một đồng. Nghe tới đây, phản ứng tự nhiên trong lòng chúng ta thường là: “Như vậy sao công bằng được?” Người làm mười hai tiếng và người làm một tiếng mà lại nhận bằng nhau thì còn gì là nguyên tắc? Nếu một công ty trả lương như vậy, chắc chắn công nhân sẽ phản đối. Nếu một người chủ áp dụng cách trả công ấy mỗi ngày, rất có thể hôm sau chẳng ai muốn đến từ sáng nữa. Chính ở điểm gây khó chịu ấy, Chúa Giêsu buộc chúng ta phải đi sâu hơn. Ngài không kể dụ ngôn này để dạy kỹ thuật quản trị nhân sự, cũng không trình bày mô hình kinh tế, không cổ võ sự bất công trong lao động, càng không phủ nhận rằng người lao động xứng đáng được trả công tương xứng với công sức. Chúa đang nói về Nước Trời, đang nói về Thiên Chúa, đang nói về tương quan giữa Thiên Chúa với con người, và nhất là đang sửa lại một thứ tôn giáo rất dễ mọc lên trong lòng chúng ta: thứ tôn giáo biến ân sủng thành tiền công, biến việc đạo đức thành thành tích, biến Thiên Chúa thành người mắc nợ chúng ta, và biến đời sống đức tin thành một cuộc so đo xem ai đáng được Chúa yêu nhiều hơn ai.
Điểm đầu tiên cần nhìn thật kỹ không phải là những người thợ, nhưng là ông chủ vườn nho. Ông là người lạ thường. Bình thường một chủ đất lớn không cần tự mình ra chợ tìm từng người lao động. Ông có thể sai quản gia, sai đầy tớ, sai người phụ trách nhân công. Nhưng trong dụ ngôn, chính ông đi ra. Ông ra từ sáng sớm. Rồi khoảng chín giờ ông lại ra. Đến trưa ông lại ra. Ba giờ chiều lại ra. Năm giờ chiều ông vẫn còn ra. Có điều gì đó gần như “không hợp lý” trong việc đi ra liên tục ấy nếu chỉ nhìn bằng bài toán năng suất. Vào năm giờ chiều, ngày lao động gần kết thúc rồi. Thuê thêm người lúc ấy liệu còn được bao nhiêu việc? Một giờ lao động cuối cùng có thể đem lại lợi nhuận gì đáng kể? Nhưng dường như ông chủ quan tâm đến những con người đang đứng ngoài kia nhiều hơn quan tâm đến lợi nhuận mà họ có thể mang về cho ông. Ông nhìn thấy không chỉ những cánh tay lao động; ông nhìn thấy những con người. Ông không chỉ thấy một giờ làm việc còn lại; ông thấy một ngày dài người ta đứng đợi trong thất vọng. Ông không chỉ hỏi: “Các anh còn làm được bao nhiêu?” Ông còn hỏi bằng cả hành động của mình: “Các anh đã phải đứng ở đây bao lâu? Các anh đang cần điều gì? Gia đình các anh tối nay sẽ ăn gì? Các anh có trở về nhà với hai bàn tay trắng không?” Đọc dụ ngôn theo hướng ấy, bỗng nhiên câu chuyện đổi màu. Từ một bài toán tiền lương, nó trở thành mặc khải về một Thiên Chúa không chịu đứng yên trong nhà khi bên ngoài vẫn còn người chưa được gọi vào vườn nho.
Father Hanly nhấn mạnh rất đẹp đến khía cạnh này: người chủ không phải một ông chủ xa cách, nhưng là người đi tìm người lao động, kể cả những người vẫn còn bị bỏ lại cuối ngày. Và đó chính là hình ảnh của Thiên Chúa mà Tin Mừng không ngừng giới thiệu với chúng ta. Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa đi ra. Ngài đi tìm Abraham khi Abraham còn đang ở quê cha đất tổ. Ngài đi tìm Môsê giữa hoang địa. Ngài gọi Samuel trong đêm. Ngài tìm Đavít từ ngoài đồng cỏ. Ngài sai các ngôn sứ đến với một dân nhiều lần quay lưng. Và cuối cùng Ngài sai chính Con Một của mình bước vào lịch sử nhân loại. Đức Giêsu cũng không ngồi chờ người ta trở nên hoàn hảo rồi mới đến với họ. Ngài đi dọc bờ hồ gọi những ngư phủ. Ngài đi ngang bàn thu thuế gọi Mátthêu. Ngài bước vào nhà Dakêu. Ngài dừng chân bên giếng Giacóp để nói chuyện với người phụ nữ Samari. Ngài để người phụ nữ tội lỗi đến gần. Ngài ngồi ăn với người bị xã hội coi thường. Ngài chạm đến người phong hủi. Ngài tìm con chiên lạc. Ngài kể chuyện người cha chạy ra đón đứa con hoang đàng. Tất cả Tin Mừng dường như vang lên cùng một nhịp: Thiên Chúa đi tìm con người trước khi con người biết tìm Thiên Chúa.
Đây là điều rất quan trọng cho đời sống đức tin của chúng ta. Nhiều khi chúng ta nghĩ mình là người đi tìm Chúa: tôi cầu nguyện, tôi đi lễ, tôi đọc kinh, tôi hành hương, tôi làm việc bác ái, tôi giữ đạo, nên tôi đến được với Chúa. Nhưng nhìn sâu hơn, chúng ta sẽ nhận ra rằng trước khi tôi tìm Chúa, Chúa đã tìm tôi. Trước khi tôi gọi tên Ngài, Ngài đã gọi tên tôi. Trước khi tôi biết cầu nguyện, Thánh Thần đã âm thầm lay động lòng tôi. Trước khi tôi bước vào nhà thờ, có biết bao biến cố, con người, ký ức, lời dạy, ân huệ đã chuẩn bị con đường đưa tôi đến đó. Đức tin cuối cùng không phải là thành tích của tôi mà là câu trả lời của tôi trước một lời mời đã đến trước. Người thợ sáng sớm không tự ý vào vườn nho; ông chủ đi gọi họ. Người thợ lúc năm giờ chiều cũng không tự bước vào; ông chủ đi tìm họ. Không ai trong vườn nho có quyền khoe rằng: “Tôi ở đây hoàn toàn do tôi.” Tất cả đều ở đó bởi đã có một người đi ra gọi họ.
Chúng ta hãy thử đứng vào vị trí những người ở lại đến năm giờ chiều. Tin Mừng cho biết khi ông chủ hỏi tại sao họ đứng đó suốt ngày không làm gì, họ trả lời đơn giản: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Câu nói ngắn ấy có thể chứa cả một trời tủi thân. Người ta dễ đọc câu đó rồi nghĩ rằng họ lười biếng, ngủ dậy trễ, không chịu làm việc. Nhưng dụ ngôn không nói như vậy. Họ đã đứng đó. Có thể họ đã có mặt từ sáng nhưng cứ hết nhóm này đến nhóm khác được chọn còn họ bị bỏ lại. Có lẽ người khỏe mạnh được gọi trước, người trẻ được gọi trước, người có tay nghề được gọi trước, người quen biết được gọi trước; còn những người yếu hơn, già hơn, vụng về hơn, kém hấp dẫn hơn trong con mắt chủ thuê thì cứ ở lại. Chín giờ, họ vẫn chờ. Mười hai giờ, họ vẫn chờ. Ba giờ chiều, vẫn chẳng ai cần họ. Năm giờ chiều, hy vọng hầu như đã hết. Họ sắp phải trở về nhà và nói với vợ con: “Hôm nay không kiếm được gì.” Và rồi, đúng vào lúc dường như chẳng còn ai cần họ nữa, một người đến hỏi: “Tại sao các anh đứng đây?” Họ trả lời: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Và ông nói: “Các anh cũng hãy đi vào vườn nho.”
Có biết bao người trong cuộc đời cũng mang câu nói ấy trong tim: “Không ai cần tôi.” Một người lớn tuổi cảm thấy mình đã hết ích lợi. Một người thất nghiệp gửi hồ sơ hết nơi này đến nơi khác không ai nhận. Một người khuyết tật cảm thấy xã hội chỉ nhìn vào giới hạn của mình. Một thanh niên thất bại nhiều lần nên bắt đầu tin rằng mình vô dụng. Một người mang quá khứ nặng nề tự nhủ rằng mình không còn xứng đáng được tin tưởng. Một người đã xa nhà thờ rất lâu đứng ngoài cộng đoàn vì nghĩ rằng mình đến quá muộn. Một người đã sống nhiều năm trong tội lỗi nghĩ rằng bây giờ trở về với Chúa thì còn ý nghĩa gì. Một linh hồn đã đi gần hết đời mình mà chưa thực sự biết cầu nguyện có thể nghĩ rằng cuộc đời thiêng liêng của mình đã “trễ giờ”. Nhưng dụ ngôn hôm nay nói: đối với Thiên Chúa, năm giờ chiều vẫn chưa phải là quá muộn. Khi hơi thở còn đó, cánh cửa hoán cải vẫn còn đó. Khi một trái tim còn có thể nghe tiếng gọi, Thiên Chúa vẫn có thể nói: “Con cũng hãy vào vườn nho của Ta.”
Đó là Tin Mừng tuyệt đẹp cho những ai nghĩ rằng đời mình đã lỡ. Có những người gặp Chúa từ tuổi thơ; có người gặp Ngài khi trưởng thành; có người chỉ sau một biến cố lớn; có người sau nhiều năm chống đối; có người đến cuối đời mới thật sự mở lòng. Chúng ta không có quyền coi thường bất cứ giờ nào Thiên Chúa gọi một người. Một thánh Augustinô đã có một hành trình rất khác với một Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Người trộm lành trên thập giá chỉ còn vài giờ sống nhưng vẫn nghe lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Nếu Thiên Chúa chỉ tiếp nhận những người đến từ “sáng sớm”, thì Tin Mừng sẽ không còn là Tin Mừng cho những kẻ lạc đường. Nhưng Tin Mừng chính là tin rằng Thiên Chúa vẫn đi ra vào giờ cuối.
Điều làm những người thợ đầu tiên bực bội không phải vì họ bị trả thiếu. Ông chủ đã trả đúng điều đã thỏa thuận. Bi kịch bắt đầu khi họ nhìn sang người bên cạnh. Nếu những người đến lúc năm giờ nhận ít hơn, có lẽ những người đầu tiên đã hoàn toàn hài lòng với đồng bạc của mình. Nhưng khi thấy người sau cũng được một đồng, đồng bạc trong tay họ bỗng trở nên nhỏ bé. Đây là một trong những căn bệnh sâu nhất của lòng người: một ân huệ đang đủ đối với tôi có thể lập tức trở thành “không đủ” khi tôi thấy người khác nhận điều tương tự hoặc nhiều hơn. Tôi có thể hạnh phúc với căn nhà của mình cho tới khi nhìn căn nhà lớn hơn của người khác. Tôi có thể biết ơn về công việc của mình cho tới khi nghe người khác được thăng chức. Tôi có thể vui vì con mình học tốt cho tới khi nghe con người khác đứng đầu lớp. Tôi có thể hài lòng với sứ vụ của mình cho tới khi thấy người khác được nhiều người chú ý hơn. Tôi có thể biết ơn Chúa về ơn gọi, sức khỏe, bạn bè, cộng đoàn, khả năng, cơ hội của mình, nhưng chỉ cần bắt đầu so sánh, lòng biết ơn có thể biến thành cay đắng.
So sánh là một trong những con đường nhanh nhất đưa con người từ lòng biết ơn tới sự bất mãn. Điều đáng sợ là chúng ta có thể mang não trạng ấy vào cả đời sống đạo. “Con đã đi lễ cả đời, sao người kia mới trở lại đạo mà xem ra được Chúa ban nhiều ơn thế?” “Con phục vụ giáo xứ bao nhiêu năm, sao cha xứ lại tín nhiệm người mới?” “Con sống đàng hoàng, sao nhà kia không đạo đức bằng con mà lại thuận lợi hơn?” “Con cầu nguyện nhiều như vậy, sao bệnh con vẫn không khỏi, trong khi người kia lại được chữa lành?” Và rồi chúng ta không còn nói chuyện với Chúa như những người con mà bắt đầu nói như người làm công đòi bảng chấm công: “Con đã làm bao nhiêu, Chúa phải trả con bấy nhiêu.”
Đây chính là lúc dụ ngôn đánh động chúng ta mạnh nhất. Thiên Chúa không mắc nợ chúng ta. Mọi điều tốt lành căn bản nhất mà chúng ta có đều đã là ân huệ: sự sống, hơi thở, khả năng yêu thương, ơn cứu độ, phép rửa, Thánh Thể, Lời Chúa, sự tha thứ, cơ hội làm lại từ đầu, niềm hy vọng đời đời. Ngay cả khả năng làm việc trong vườn nho của Chúa cũng đã là ơn. Người đến từ sáng sớm tưởng rằng họ chịu thiệt vì làm lâu hơn; nhưng nếu hiểu sâu hơn, họ có thể nhận ra rằng được ở trong vườn nho từ sáng cũng chính là một đặc ân. Họ có cả ngày được làm việc trong nơi thuộc về ông chủ. Trong đời sống đức tin cũng vậy: một người đã biết Chúa từ nhỏ không nên nói: “Con phải giữ đạo lâu hơn người khác nên con thiệt.” Được biết Chúa sớm là ân huệ. Được sống nhiều năm với Thánh Thể là ân huệ. Được học cầu nguyện từ nhỏ là ân huệ. Được tránh nhiều vết thương vì đã sống theo Tin Mừng là ân huệ. Được phục vụ Chúa nhiều năm là ân huệ. Nếu chúng ta nhìn việc ở trong nhà Cha như một gánh nặng, chúng ta đã quên mất nhà Cha chính là nơi của mình.
Có một điều rất tinh tế trong dụ ngôn: những người đầu tiên không phản đối khi thỏa thuận tiền công buổi sáng. Họ chỉ phản đối sau khi thấy cách ông chủ đối xử với người khác. Nghĩa là điều làm họ khổ không phải sự bất công họ chịu, nhưng là lòng quảng đại người khác được hưởng. Đây là một chiếc gương rất sắc cho đời sống thiêng liêng. Có khi ta không thực sự muốn người tội lỗi bị loại trừ; ta chỉ không thích họ được tha thứ “quá dễ dàng”. Ta không hẳn muốn người khác bất hạnh; ta chỉ khó chịu khi họ hạnh phúc bằng mình. Ta không hẳn muốn Chúa keo kiệt; ta chỉ muốn Chúa quảng đại với ta hơn với người khác. Nhưng nếu chúng ta muốn Thiên Chúa chỉ xử với mọi người theo phép toán lạnh lùng của công trạng, thì chính chúng ta cũng sẽ gặp nguy hiểm, bởi trước mặt sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa, ai trong chúng ta đủ công trạng để đòi hỏi ơn cứu độ như một khoản lương?
Thiên Chúa công bằng, nhưng sự công bằng của Ngài không nghèo nàn như phép tính của chúng ta. Công bằng của Thiên Chúa luôn đi cùng lòng thương xót. Lòng thương xót không phải phủ nhận công lý; lòng thương xót đưa công lý tới chỗ hoàn tất sâu hơn, nơi con người không chỉ nhận điều mình xứng đáng mà còn được chữa lành, được phục hồi, được mở một tương lai. Một người mẹ có nhiều con không yêu mỗi đứa bằng cách chia đồng hồ thành những phần bằng nhau. Đứa đang bệnh có thể được mẹ chăm nhiều hơn. Đứa đang thất vọng cần nhiều lời an ủi hơn. Đứa đi lạc cần mẹ chạy đi tìm. Đứa trở về sau nhiều năm xa nhà có thể được ôm thật lâu. Những đứa còn lại không vì thế mà mất tình yêu. Chỉ khi nhìn tình yêu bằng chiếc cân của ganh tị, ta mới nghĩ rằng người khác được nhiều thì phần mình ít đi. Nhưng tình yêu Thiên Chúa không phải chiếc bánh càng chia càng nhỏ. Ngài yêu một người không làm giảm tình yêu dành cho người khác.
Hãy nhớ dụ ngôn người con hoang đàng. Người con cả giận dữ khi cha mở tiệc cho em. Anh nói gần như cùng một ngôn ngữ với những thợ làm từ sáng: “Bao nhiêu năm con hầu hạ cha…” Anh bắt đầu đếm công. Anh nhớ từng năm phục vụ nhưng quên mình là con. Anh nhìn con bê béo mà không thấy rằng toàn bộ gia tài của cha đã ở bên anh. Người cha nói: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.” Đó cũng là điều ông chủ vườn nho có thể nói với người thợ sáng sớm: “Anh không mất gì cả vì tôi tốt với người kia. Tôi đã không lấy phần của anh để cho anh ấy. Tôi chỉ quảng đại với anh ấy bằng của tôi.” Bi kịch của ghen tị là ta coi ân huệ dành cho người khác như sự mất mát của mình.
Trong đời sống Hội Thánh, điều này đáng để suy nghĩ rất lâu. Hội Thánh phải là nơi vui mừng khi một người trở về lúc năm giờ chiều. Nếu một người sau hai mươi năm xa bí tích bước vào tòa giải tội, cộng đoàn phải vui. Nếu một người có quá khứ lầm lỡ thật lòng hoán cải, cộng đoàn phải mở cửa. Nếu một gia đình từng đổ vỡ bắt đầu tìm lại Chúa, chúng ta đừng nhắc mãi vết thương cũ. Nếu một người trẻ từng chống đối đức tin nay quay lại, đừng bắt họ đứng ngoài cửa để “chứng minh” mình đủ tốt mới được yêu thương. Dĩ nhiên hoán cải thật cần trách nhiệm, cần sửa sai, có khi cần thời gian chữa lành hậu quả. Lòng thương xót không biến sai thành đúng. Nhưng lòng thương xót nói rằng sai lầm không nhất thiết là lời cuối cùng của một đời người.
Vườn nho của Chúa không phải câu lạc bộ của những người hoàn hảo. Đó là nơi của những người được gọi. Người đến sáng sớm được gọi. Người đến giữa trưa được gọi. Người đến năm giờ chiều cũng được gọi. Người mạnh được gọi. Người yếu được gọi. Người có quá khứ đẹp được gọi. Người mang lịch sử rách nát cũng được gọi. Điều căn bản không phải: “Tôi hơn người khác bao nhiêu?” nhưng là: “Tôi có nghe tiếng chủ gọi và bước vào không?”
Bài đọc I Chúa Nhật này từ sách Isaia trao cho chúng ta chiếc chìa khóa rất mạnh: tư tưởng của Thiên Chúa không phải tư tưởng của chúng ta, đường lối của Ngài không phải đường lối của chúng ta. Khoảng cách giữa trời với đất diễn tả khoảng cách giữa cách Thiên Chúa nhìn và cách chúng ta nhìn. Chúng ta nhìn một người và thấy quá khứ. Chúa nhìn và thấy tương lai họ còn có thể trở thành. Chúng ta nhìn tội nhân và đóng khung họ trong lỗi lầm. Chúa nhìn người con có thể quay về. Chúng ta nhìn người đứng lúc năm giờ chiều và nói: “Hết ngày rồi, người này còn làm được gì?” Chúa nói: “Con hãy vào vườn nho.” Chúng ta nhìn một đời người gần tàn và nói: “Muộn rồi.” Chúa có thể nói: “Hôm nay ơn cứu độ đến với nhà này.”
Vì thế, một trong những hoán cải khó nhất của người Kitô hữu là học nhìn người khác bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Chúng ta thường xin Chúa thương xót mình nhưng lại muốn Ngài nghiêm khắc với người khác. Khi mình phạm lỗi, ta xin người khác xét đến hoàn cảnh; khi người khác phạm lỗi, ta chỉ nhìn hành vi. Khi mình chậm thay đổi, ta xin thời gian; khi người khác chậm thay đổi, ta mất kiên nhẫn. Khi mình yếu đuối, ta muốn được thông cảm; khi người khác yếu đuối, ta phê phán. Tin Mừng hôm nay bắt chúng ta đổi chỗ: nếu ta sống được nhờ lòng thương xót, ta cũng phải trở thành người mang lòng thương xót.
Father Hanly đi xa hơn ý niệm “công bằng” để nhấn mạnh rằng thế giới Chúa muốn xây dựng được nuôi bằng sự chăm sóc, tha thứ, bình an, niềm vui và hy vọng. Điều ấy thật sự quan trọng. Chúa Giêsu không đến chỉ để tạo một cộng đoàn tuân luật chính xác. Ngài đến khai mở một nhân loại mới. Trong nhân loại ấy, người mạnh không giẫm người yếu; người thành công không khinh người thất bại; người đạo đức không đứng trên cao nhìn tội nhân; người đến trước không đóng cửa với người đến sau. Đó là vườn nho nơi con người bắt đầu tập sống theo nhịp trái tim của Thiên Chúa.
Vậy làm sao chúng ta sống dụ ngôn này cụ thể? Trước hết, hãy bỏ thói quen so sánh đời mình với đời người khác. So sánh liên tục sẽ giết chết bình an. Mỗi người có giờ được gọi khác nhau, con đường khác nhau, thập giá khác nhau, ân sủng khác nhau, sứ mạng khác nhau. Có người được Chúa dẫn bằng thành công, có người bằng thất bại. Có người gặp Chúa trong niềm vui, có người gặp Ngài giữa bệnh tật. Có người tiến nhanh, có người phải đi rất chậm. Điều quan trọng không phải tôi đang đứng trước hay sau một người khác, mà là tôi có trung thành với tiếng gọi dành cho tôi hôm nay hay không.
Thứ hai, hãy tập vui với điều tốt Chúa làm cho người khác. Đây là một dấu hiệu của trưởng thành thiêng liêng rất sâu. Khi người khác được thành công mà tôi có thể vui thật lòng, khi người khác được khen mà tôi không thấy bị đe dọa, khi người khác được Chúa sử dụng mà tôi không khó chịu, khi một người từng lầm lỗi được phục hồi mà tôi cảm tạ Chúa thay vì nhắc lại quá khứ của họ, lúc ấy lòng tôi bắt đầu tự do. Tự do không phải có nhiều hơn người khác. Tự do là không cần người khác có ít đi để mình được hạnh phúc.
Thứ ba, hãy nhận ra rằng chính ta cũng là người thợ giờ thứ mười một theo nhiều nghĩa. Có thể chúng ta đã theo đạo từ nhỏ, nhưng có những khu vực trong lòng đến hôm nay vẫn chưa thực sự bước vào vườn nho. Ta có thể đi lễ bốn mươi năm mà mới hôm nay bắt đầu học tha thứ. Ta có thể đọc kinh năm mươi năm mà mới hôm nay bắt đầu tin thật vào Chúa. Ta có thể phục vụ Hội Thánh nhiều năm mà mới hôm nay nhận ra mình còn ham tiếng khen. Ta có thể làm linh mục, tu sĩ, giáo lý viên hay hội đoàn lâu năm mà vẫn có những căn phòng trong tâm hồn chưa mở cho Chúa. Vì thế, không ai hoàn toàn là “người đến từ sáng”. Mỗi chúng ta vừa là người đã được gọi từ lâu, vừa là kẻ còn đứng đâu đó ngoài chợ chờ Chúa đến tìm.
Và thật đẹp khi nghĩ rằng Thiên Chúa vẫn đi ra tìm chúng ta. Ngài không mệt. Chín giờ Ngài đi. Mười hai giờ Ngài đi. Ba giờ Ngài đi. Năm giờ Ngài vẫn đi. Bao lần ta từ chối, Ngài vẫn có thể gõ cửa. Bao lần ta chạy xa, Ngài vẫn có thể gọi. Bao lần ta nguội lạnh, Ngài vẫn tìm cách đánh thức. Có những lời Chúa ta đã nghe một trăm lần nhưng lần thứ một trăm lẻ một mới chạm tim. Có những lời khuyên người khác nói mười năm mà ta không hiểu, đến một ngày bỗng hiểu. Có những vết thương ta mang cả đời, đến một thời điểm mới đủ sức trao cho Chúa. Ân sủng có giờ của nó. Thiên Chúa không bỏ cuộc với chúng ta dễ như chúng ta bỏ cuộc với chính mình.
Điều cuối cùng và có lẽ đẹp nhất là ông chủ trao cho mọi người điều đủ để trở về nhà sống ngày hôm đó. Trong bối cảnh người lao động ngày công, một đồng là tiền công cần thiết cho đời sống. Nếu những người bị bỏ lại đến năm giờ chỉ nhận một phần rất nhỏ, gia đình họ có thể thiếu ăn dù lỗi không hoàn toàn do họ. Lòng quảng đại của ông chủ nhìn xa hơn số giờ lao động để nhìn tới nhu cầu của con người. Đây không phải công thức kinh tế, nhưng là một hình ảnh thần học rất mạnh: Thiên Chúa không nhìn chúng ta như những đơn vị sản xuất; Ngài nhìn chúng ta như những người con cần được sống.
Thế giới chúng ta rất dễ đánh giá con người theo năng suất: người này kiếm bao nhiêu tiền, tạo được bao nhiêu giá trị, đạt bao nhiêu bằng cấp, có bao nhiêu người theo dõi, giữ chức vụ gì, nổi tiếng đến đâu, còn có thể đóng góp gì. Theo logic ấy, trẻ chưa làm ra tiền là gánh nặng; người già mất khả năng lao động dễ bị coi như vô ích; người bệnh trở thành chi phí; người khuyết tật bị đo bằng điều họ không làm được; người nghèo bị đánh giá qua tài khoản. Nhưng Tin Mừng nói rằng phẩm giá con người không bắt đầu từ khả năng sản xuất. Một người có giá trị trước khi họ làm được điều gì, bởi họ được Thiên Chúa yêu.
Vườn nho của Thiên Chúa vì thế phải trở thành một cộng đoàn khác với thế giới. Trong thế giới, người ta thường hỏi: “Anh đem lại cho tôi lợi ích gì?” Trong vườn nho, chúng ta học hỏi: “Anh cần tôi yêu anh thế nào?” Trong thế giới, người ta chọn người mạnh nhất trước. Trong Nước Trời, Chúa vẫn đi tìm những người còn đứng lại sau cùng. Trong thế giới, người ta nhớ lỗi của người khác. Trong Nước Trời, có con đường của tha thứ. Trong thế giới, người đến trễ thường hết phần. Trong Nước Trời, năm giờ chiều vẫn còn lời gọi.
Điều này cũng thay đổi cách chúng ta nhìn việc truyền giáo. Nếu ông chủ cứ liên tục đi ra, Hội Thánh cũng không được chỉ ngồi bên trong vườn nho. Một Hội Thánh mang trái tim của Chúa phải biết đi ra. Đi đến người đang cô đơn. Đi đến người nghèo. Đi đến người trẻ hoang mang. Đi đến người bị thương vì chính cộng đoàn. Đi đến người đã rời nhà thờ. Đi đến người cảm thấy mình không xứng đáng. Đi đến người chưa từng nghe Tin Mừng bằng một ngôn ngữ họ có thể hiểu. Đi không phải để tuyển thêm “nhân công” nhằm làm đẹp con số của mình, nhưng bởi bên ngoài vẫn còn những con người đang đứng và có thể thở dài: “Không ai gọi chúng tôi.”
Thật đáng buồn nếu có người đứng ngoài Hội Thánh không phải vì họ ghét Chúa mà vì chưa từng cảm thấy được chúng ta mời vào. Có người đã đến nhà thờ nhưng gặp một ánh mắt lạnh lùng. Có người muốn xưng tội nhưng sợ bị xét đoán. Có người trẻ đặt câu hỏi nhưng chỉ nhận lời quở trách. Có người gia đình rối ren và nghĩ rằng cộng đoàn chỉ biết chỉ trích. Dĩ nhiên Hội Thánh phải nói sự thật. Nhưng sự thật Kitô giáo không bao giờ tách khỏi tình yêu. Đức Giêsu vừa có thể nói “Đừng phạm tội nữa”, vừa có thể bảo đảm trước tiên rằng người phụ nữ không bị Ngài kết án. Người Kitô hữu phải học được cả hai điều: không gọi bóng tối là ánh sáng, nhưng cũng không dập tắt ngọn đèn đang leo lét.
Chúa Nhật XXV Thường Niên mời chúng ta trở lại với một câu hỏi căn bản: Tôi muốn sống bằng công trạng hay bằng ân sủng? Nếu chỉ bằng công trạng, ta sẽ luôn phải chứng minh mình. Ta sẽ mệt mỏi trong cuộc đua hơn thua. Ta sẽ sợ người khác vượt mình. Ta sẽ khó chịu khi Chúa tốt với người khác. Nhưng nếu sống bằng ân sủng, ta có thể làm hết sức mà không cần biến việc mình làm thành cái cớ đòi Chúa mắc nợ. Ta phục vụ không để mua tình yêu của Chúa mà bởi đã được yêu. Ta cầu nguyện không phải để buộc Chúa ban ơn mà để ở với Ngài. Ta làm việc lành không phải để hơn người khác mà vì lòng mình đã được đánh động bởi lòng tốt của Ngài.
Thánh Phaolô trong bài đọc II có thể nói rằng sống là Đức Kitô. Đây là mức tự do rất cao: trung tâm đời ông không còn là “tôi được gì?” mà là “Đức Kitô được tôn vinh thế nào?” Một người sống như thế sẽ không còn quá bận tâm xem người khác nhận được bao nhiêu đồng. Họ chỉ muốn sử dụng ngày sống của mình cho Chúa. Sáng sớm hay năm giờ chiều, miễn là được ở trong vườn nho. Công việc lớn hay nhỏ, miễn làm trong tình yêu. Được người ta biết hay không biết, miễn Chúa biết. Thành công hay thất bại trước mắt người đời, miễn trung thành với điều Chúa giao.
Và rồi chúng ta đến với Thánh Thể. Father Hanly gắn đời sống Kitô hữu với tâm tình tạ ơn, chính là ý nghĩa căn bản của từ Eucharistia. Đây có thể là phương thuốc mạnh nhất chữa bệnh ganh tị: tạ ơn. Người biết tạ ơn nhìn vào điều mình đã nhận thay vì chỉ nhìn điều người khác có. Khi tạ ơn, ta nhớ rằng mình đang thở nhờ ân huệ. Khi tạ ơn, ta nhớ rằng mình vẫn còn cơ hội yêu thương. Khi tạ ơn, ta nhận ra một ngày trong vườn nho cũng là quà tặng. Khi tạ ơn, trái tim rộng ra đủ để vui khi người đến sau cũng được ban ân huệ.
Có lẽ mỗi tối ta nên tự hỏi ba câu: Hôm nay Chúa đã đi tìm tôi ở đâu? Hôm nay tôi đã ganh tị với ân huệ của ai? Hôm nay tôi đã trở thành người đi ra tìm ai chưa? Ba câu ấy có thể biến dụ ngôn thành một lối sống. Chúa đi tìm tôi qua một lời Kinh Thánh, một biến cố, một con người, một sự cắn rứt lương tâm, một lời khuyên. Tôi ganh tị khi nhìn thành công hay hạnh phúc của người khác. Và tôi được mời gọi đi tìm một người đang đứng bên lề, một người cần được nghe rằng họ vẫn có chỗ trong vườn nho.
Anh chị em thân mến, cuối cùng dụ ngôn hôm nay không nói rằng Thiên Chúa bất công. Nó nói rằng Thiên Chúa rộng lượng hơn sự tính toán của chúng ta. Người thợ đầu tiên không bị mất gì. Người thợ cuối cùng nhận nhiều hơn điều anh có thể hy vọng. Đó chính là ân sủng. Ân sủng không cướp phần của ai; ân sủng cứu một người khỏi trở về tay trắng. Ân sủng không hạ người tốt xuống; ân sủng nâng người đã bị bỏ lại lên. Ân sủng không nói rằng thời gian phục vụ trung thành là vô nghĩa; ân sủng nói rằng ngay cả người đến muộn cũng chưa bị loại khỏi tình yêu.
Có thể hôm nay có người trong chúng ta cảm thấy mình là người thợ sáng sớm: đã đi với Chúa lâu, đã mang nhiều gánh nặng, đôi khi mệt mỏi vì cảm thấy người khác không cố gắng bằng mình. Chúa nói với chúng ta: hãy vui vì đã được ở trong vườn nho từ lâu, và đừng để lòng tốt Ta dành cho người khác trở thành nguyên nhân khiến con mất bình an. Có thể có người thấy mình là người thợ năm giờ chiều: đã lỡ nhiều năm, đã sai nhiều điều, đã đứng ngoài quá lâu. Chúa nói: Con cũng hãy vào vườn nho. Đừng tự tuyên án mình khi Ta vẫn đang gọi. Có thể có người được Chúa trao nhiệm vụ giống như ông chủ: hãy đi ra. Đừng chỉ tìm người tài, người mạnh, người thuận lợi cho mình. Hãy nhìn xem còn ai đang đứng đó vì chưa ai mời họ.
Khi ấy, dụ ngôn này sẽ không còn làm chúng ta khó chịu nữa. Nó sẽ trở thành niềm hy vọng. Bởi nếu Thiên Chúa chỉ cho chúng ta đúng điều chúng ta xứng đáng, không ai dám chắc mình đứng vững. Nhưng Thiên Chúa là Cha. Ngài công chính và Ngài nhân hậu. Ngài sửa dạy nhưng cũng tìm kiếm. Ngài đòi ta hoán cải nhưng cũng ban sức để hoán cải. Ngài gọi từ sáng sớm nhưng vẫn gọi lúc chiều tà.
Và biết đâu điều làm nên hạnh phúc thiên đàng không phải là đứng đó và nói: “Con đã làm nhiều hơn người kia”, nhưng là cuối cùng tất cả chúng ta nhìn nhau mà vui vì không ai phải trở về tay trắng. Người đến trước vui vì người đến sau cũng được cứu. Người khỏe vui vì người yếu được nâng lên. Người công chính vui vì tội nhân hoán cải. Thiên Chúa vui vì những người con thất lạc trở về. Và cả vườn nho không còn vang tiếng so bì nhưng vang lời tạ ơn.
Xin Chúa chữa trong chúng ta đôi mắt hay so sánh, trái tim hay ghen tị và tâm trí luôn tính toán. Xin cho chúng ta nhận ra niềm vui lớn lao của việc được Chúa gọi, bất kể vào giờ nào. Xin cho những ai đang cảm thấy đời mình đã quá trễ biết rằng Chúa vẫn đang đi ra tìm họ. Xin cho những ai đã ở trong vườn nho lâu năm biết vui khi cánh cửa được mở cho người mới. Xin cho Hội Thánh luôn là ngôi nhà nơi người đến sáng sớm và người đến lúc chiều tà có thể cùng đứng bên một bàn tiệc, cùng nhận một Tấm Bánh, cùng gọi Thiên Chúa là Cha, và cùng khám phá rằng điều cuối cùng cứu chúng ta không phải là việc chúng ta đã đếm được bao nhiêu giờ lao động, nhưng là tình yêu của Đấng đã đi ra tìm chúng ta.
Vì thế, Chúa Nhật hôm nay xin mỗi người đừng hỏi quá nhiều: “Tại sao người ấy lại được bằng tôi?” nhưng hãy hỏi: “Tại sao Chúa đã quảng đại với tôi đến thế?” Đừng hỏi: “Người kia xứng đáng không?” nhưng hãy hỏi: “Tôi sẽ đáp lại tình yêu Chúa thế nào?” Đừng hỏi: “Tôi đứng thứ mấy?” nhưng hãy hỏi: “Hôm nay tôi có đang ở trong vườn nho của Chúa không?” Và nhất là đừng bao giờ nói về bất cứ một con người nào: “Quá muộn rồi.” Bởi bao lâu ông chủ vẫn còn bước ra khỏi nhà để tìm người lao động, bao lâu tiếng Chúa còn vang lên trong một tâm hồn, bao lâu con người còn có thể quay về, thì năm giờ chiều vẫn là giờ của ân sủng.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG GHEN TỊ VÌ THIÊN CHÚA QUẢNG ĐẠI

Tin Mừng: Mt 20,1-16
Có lẽ ít dụ ngôn nào của Chúa Giêsu khiến người nghe cảm thấy “khó chịu” nhanh như dụ ngôn những người thợ làm vườn nho. Nếu đọc thoáng qua, chúng ta rất dễ đứng ngay về phía những người đi làm từ sáng sớm. Họ có lý chứ! Họ đã thức dậy từ khi trời còn chưa sáng, đã có mặt ngoài chợ lao động, đã nhận lời chủ vườn, đã vào làm việc khi sương còn đọng trên lá, rồi tiếp tục làm giữa nắng trưa, giữa bụi đất, giữa mồ hôi, giữa sức nóng của một ngày lao động. Họ đã làm mười hai tiếng trong khi những người đến sau chỉ làm chín tiếng, sáu tiếng, ba tiếng, và đặc biệt có những người chỉ mới bước vào vườn nho lúc gần hết ngày, làm vỏn vẹn một giờ. Thế mà đến lúc trả công, tất cả đều nhận một đồng. Phản ứng tự nhiên của chúng ta là: “Như vậy sao được? Như thế có công bằng không?” Và chính ở chỗ chúng ta bắt đầu khó chịu, Tin Mừng bắt đầu chạm vào vùng sâu nhất của tâm hồn mình. Chúa Giêsu không kể dụ ngôn này để dạy một nguyên tắc trả lương cho các công ty, cũng không bảo người sử dụng lao động rằng từ nay cứ trả người làm một giờ bằng người làm mười hai giờ. Nếu đọc dụ ngôn như một quy định kinh tế hay luật lao động, chúng ta sẽ hoàn toàn đi lạc khỏi điều Chúa muốn nói. Chúa đang nói về Nước Trời. Chúa đang nói về Thiên Chúa. Chúa đang nói về ân sủng. Và đặc biệt, Chúa đang phơi bày một căn bệnh rất kín đáo trong lòng người: chúng ta thường vui khi được Chúa ban ơn, nhưng niềm vui ấy có thể biến mất ngay khi thấy Chúa cũng ban ơn cho một người mà chúng ta cho rằng họ không xứng đáng bằng mình.
Người chủ vườn đi ra từ sáng sớm tìm thợ. Ông lại đi lúc giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín, rồi đến tận giờ thứ mười một ông vẫn còn đi tìm. Chỉ riêng chi tiết đó thôi đã đủ cho chúng ta dừng lại rất lâu. Thiên Chúa là Đấng không ngừng đi tìm con người. Người không chỉ tìm những người thức dậy thật sớm trong đời sống đức tin. Người còn tìm người đến muộn. Người tìm đứa trẻ được cha mẹ đưa đến nhà thờ từ thuở bé, nhưng Người cũng tìm một người năm mươi tuổi mới biết cầu nguyện. Người tìm một tu sĩ đã dâng mình từ tuổi đôi mươi, nhưng Người cũng tìm một người già trên giường bệnh mới lần đầu thật lòng thưa: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Người gọi những tâm hồn đã phục vụ Giáo Hội bốn mươi năm, nhưng Người cũng mở cửa cho kẻ tội lỗi mới quay về chiều hôm qua. Người gọi người đã giữ đạo cả đời, nhưng Người không đóng cửa với kẻ đã bỏ Chúa hàng chục năm rồi một ngày kia quay lại. Tình yêu của Thiên Chúa không có giờ đóng cửa. Vườn nho của Người không dựng tấm bảng: “Hết giờ tuyển dụng.” Bao lâu một người còn thở, tiếng gọi của ân sủng vẫn có thể vang lên. Bao lâu trái tim còn có khả năng quay về, Thiên Chúa vẫn có thể bước đến quảng trường cuộc đời mà hỏi: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì?” Và con người có thể trả lời bằng một câu thật buồn: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Có những người đứng bên lề cuộc đời không hẳn vì họ lười biếng. Có khi vì chẳng ai cho họ cơ hội. Có những người sống bê bối vì họ chưa bao giờ được yêu đúng nghĩa. Có những người bỏ nhà thờ vì trong quá khứ họ đã bị tổn thương bởi chính những người trong nhà thờ. Có những người sống xa Chúa vì chưa bao giờ có ai giới thiệu cho họ một khuôn mặt Thiên Chúa đáng yêu. Có người nhìn bên ngoài tưởng như bất cần, nhưng bên trong là cả một lịch sử bị bỏ rơi. Có người đứng ngoài quảng trường đến tận giờ thứ mười một không phải vì họ không muốn vào vườn nho, nhưng vì chưa ai gọi tên họ. Thiên Chúa thì khác. Người đi tìm cho đến tận cuối ngày.
Chúng ta thường nhìn người khác từ đoạn cuối cùng mà mình thấy, còn Thiên Chúa nhìn toàn bộ cuộc đời họ. Ta nhìn một người đang thành công và nghĩ họ may mắn; ta đâu biết họ đã khóc bao nhiêu đêm. Ta nhìn một người mới trở lại đạo mà được cộng đoàn quý mến và trong lòng tự hỏi: “Tại sao người này trước đây sống như vậy mà bây giờ được nâng đỡ đến thế?” Ta đâu biết những cuộc chiến họ đã trải qua. Ta nhìn một người phạm lỗi rồi được tha thứ và nghĩ: “Nếu dễ dàng như thế thì những người sống tốt cả đời có ích gì?” Nhưng ta quên rằng ân sủng không được ban để làm nhục người trung thành; ân sủng được ban để cứu người đang chết. Khi một bác sĩ cấp cứu một người hấp hối, bệnh nhân đang khỏe không cần ghen rằng bác sĩ dành quá nhiều thời gian cho người kia. Khi người cha chạy ra ôm đứa con hoang đàng trở về, người con cả không mất tư cách làm con. Khi Thiên Chúa tha thứ cho một người tội lỗi, Người không lấy bớt tình yêu dành cho chúng ta. Tình yêu Thiên Chúa không giống một ổ bánh nhỏ, chia cho người khác một miếng thì phần của ta ít đi. Lòng thương xót của Người là đại dương. Một người được uống không làm đại dương cạn xuống.
Vấn đề của những người thợ làm từ sáng không phải là họ bị đối xử bất công. Người chủ nhắc rất rõ rằng ông đã trả cho họ đúng điều hai bên thỏa thuận. Vấn đề thật nằm ở chỗ họ nhìn sang tay người khác. Bao lâu họ chỉ nhìn đồng tiền trong tay mình, có lẽ họ thấy ổn. Nhưng khi nhìn người đến sau cũng nhận một đồng, đồng tiền trong tay bỗng trở thành quá ít. Điều đã từng làm họ hài lòng vào buổi sáng bây giờ khiến họ cay đắng vào buổi chiều. Không phải vì phần họ giảm đi, mà vì phần người khác tăng lên. Đây chính là bi kịch của sự so sánh. Rất nhiều nỗi khổ của đời người không bắt nguồn từ việc chúng ta có quá ít, nhưng từ việc chúng ta nhìn thấy người khác có nhiều hơn. Một người đang sống bình an trong căn nhà nhỏ, nhưng sau khi tới thăm căn nhà lớn của bạn mình thì về thấy nhà mình chật chội. Một người đang biết ơn vì con cái ngoan, nhưng nghe con nhà người khác đỗ đại học danh tiếng thì bắt đầu buồn. Một linh mục từng vui với sứ vụ âm thầm, nhưng nhìn người anh em được nhiều người biết đến thì bắt đầu thấy công việc của mình bé nhỏ. Một người đã biết ơn Chúa vì sức khỏe, nhưng thấy người khác thành đạt hơn liền cảm thấy Chúa chẳng ưu ái mình. Một giáo dân phục vụ trong giáo xứ nhiều năm, đến lúc thấy người mới tới được cha xứ giao việc quan trọng hơn thì những năm phục vụ bỗng trở thành sổ nợ: “Tôi đã làm từng ấy năm mà…” Từ khoảnh khắc đó, việc phục vụ không còn là tình yêu nữa; nó trở thành giao dịch.
Có một điều rất đáng sợ trong đời sống đạo: chúng ta có thể ở rất gần nhà Chúa nhưng lại sống như người làm thuê. Ta đọc kinh để mong Chúa trả công. Ta đi lễ để mong Chúa bảo vệ. Ta làm việc bác ái để mong Chúa cho gia đình bình an. Ta hy sinh để mong Chúa thưởng. Rồi một ngày biến cố xảy đến không đúng ý mình, ta đưa sổ ra tính với Chúa: “Con đã phục vụ Chúa bao nhiêu năm, tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Con đã đi lễ mỗi ngày, tại sao con vẫn bệnh? Con đã sống tốt, tại sao con tôi lại gặp tai họa? Người kia chẳng đạo đức gì mà sao họ thành công hơn con?” Những câu hỏi ấy rất con người và Thiên Chúa không khinh chúng ta vì những câu hỏi đó. Nhưng Tin Mừng mời chúng ta đi sâu hơn: ta đang yêu Chúa hay đang ký hợp đồng với Chúa? Ta là con hay người làm thuê? Ta coi đời sống đức tin là tương quan tình yêu hay là một hệ thống tích lũy điểm thưởng? Nếu tất cả việc lành chỉ nhằm buộc Thiên Chúa phải trả lại điều gì đó, ta chưa tự do. Người yêu thật không ngồi tính từng hy sinh. Một người mẹ không ghi sổ số đêm thức chăm con để sau này gửi hóa đơn. Một người cha không nuôi con hai mươi năm rồi bảo: “Cha đã cho con từng ấy bữa cơm, bây giờ con phải trả lại.” Tình yêu đích thực có logic khác với thị trường. Và tương quan với Thiên Chúa lại càng như vậy. Người không mắc nợ chúng ta. Mọi sự chúng ta có trước hết đã là quà tặng: sự sống, hơi thở, khả năng yêu thương, đức tin, thời gian, cơ hội, người thân, cả khả năng làm việc cho Người cũng là ân sủng.
Người thợ vào vườn nho từ sáng có một đặc ân mà chính anh không nhận ra: anh đã có việc làm suốt cả ngày. Hãy tưởng tượng tâm trạng của người đứng ngoài chợ từ sáng đến chiều mà chẳng ai thuê. Mỗi lần có chủ đến tuyển thợ, một số người được chọn, còn anh vẫn đứng lại. Giờ thứ ba qua đi. Giờ thứ sáu qua đi. Giờ thứ chín qua đi. Hy vọng nhỏ dần. Về nhà tối nay anh sẽ nói gì với vợ con? Hôm nay không có tiền. Ngày mai ăn gì? Có lẽ vì tuổi anh đã cao. Có lẽ sức khỏe yếu. Có lẽ người ta nhìn thấy dáng vẻ anh và không chọn. Có lẽ anh là người nhập cư, người xa lạ, người chẳng có quan hệ. Có lẽ chỉ đơn giản hôm ấy chẳng ai cần thêm nhân công. Đến giờ thứ mười một, anh gần như tuyệt vọng. Rồi người chủ xuất hiện và nói: “Anh cũng vào vườn nho đi.” Đối với người thợ đầu tiên, công việc có thể đã trở thành gánh nặng. Với người thợ cuối cùng, được bước vào vườn chính là ơn cứu mạng. Chúng ta cũng vậy. Có người than: “Tôi giữ đạo từ nhỏ, cực quá.” Nhưng họ quên rằng được biết Chúa từ nhỏ đã là ân huệ. Có người nghĩ: “Tôi đã sống khiết tịnh bao nhiêu năm, còn người kia ăn chơi rồi cuối đời ăn năn cũng được cứu sao?” Nhưng được sống nhiều năm trong tình nghĩa với Chúa chẳng phải đã là quà tặng lớn sao? Nếu một người được thoát khỏi ma túy ở tuổi năm mươi, ta có thật sự muốn đổi đời mình với họ để được “hưởng” những năm tháng lạc đường rồi mới trở về không? Nếu người trộm lành trên thập giá được Chúa hứa thiên đàng trong giờ cuối, ta có cần ghen với anh không? Anh nhận thiên đàng vào phút cuối, nhưng cả đời trước đó đã sống trong bóng tối. Còn người đã đi với Chúa từ sớm đã nếm trước hương vị Nước Trời ngay trên đường đời.
Đáng buồn là đôi khi những người “đến trước” trong Giáo Hội lại làm cho những người “đến sau” cảm thấy họ không có chỗ. Một người mới trở lại nhà thờ ăn mặc chưa đúng ý chúng ta, ta nhìn. Một người từng ly dị, từng nghiện ngập, từng sống bê bối bước vào cộng đoàn, ta thì thầm. Một người chưa biết cách đọc kinh, chưa thuộc các nghi thức, ta xem họ như người ngoài. Có khi chúng ta vô tình biến Giáo Hội thành câu lạc bộ của những người đã “đạt chuẩn”, trong khi Chúa Giêsu dựng Giáo Hội thành mái nhà cho những người đang được cứu. Nếu chủ vườn cứ đi ra tận giờ thứ mười một để gọi người vào, thì những người đang ở trong vườn lấy quyền gì đóng cổng? Nếu Chúa vẫn còn hy vọng về một con người, ta lấy quyền gì tuyệt vọng về họ? Nếu Chúa còn tha thứ, ta lấy quyền gì tuyên bố quá khứ của họ là bản án chung thân? Nếu Chúa gọi họ là “bạn”, ta lấy quyền gì chỉ gọi họ bằng tên của lỗi lầm?
Một trong những câu đẹp nhất của dụ ngôn là cách chủ vườn nói với người đang phàn nàn: “Này bạn…” Ông không bảo: “Đồ tham lam!” Không nói: “Anh là kẻ xấu.” Không đuổi đi trong giận dữ. Ông gọi anh là bạn. Đó chính là khuôn mặt của Thiên Chúa. Ngay khi chúng ta ghen tị, Người vẫn gọi ta là bạn. Khi ta nhỏ nhen trước lòng quảng đại của Người, Người vẫn kiên nhẫn. Khi ta tính toán, Người không lập tức loại bỏ ta. Chúa sửa dạy mà không làm nhục. Người soi sáng lương tâm nhưng không nghiền nát con người. Có lẽ đây cũng là một bài học rất quan trọng cho đời sống cộng đoàn và gia đình. Khi người khác có những cảm xúc xấu như ghen tị, tự ái, tổn thương, ta thường lập tức phán xét họ. Nhưng đôi khi một người đang ghen chỉ vì họ sợ mình không còn được yêu. Một đứa trẻ ghen với em bé mới sinh không hẳn vì nó xấu; nó sợ cha mẹ không còn yêu nó như trước. Một người cộng tác buồn khi người khác được giao trọng trách không phải lúc nào cũng vì tham quyền; có khi họ sợ những cố gắng của mình chẳng ai nhìn thấy. Một người già tủi thân khi con cháu ít quan tâm có thể trở nên khó chịu vì họ đang sợ bị bỏ quên. Điều người ta cần trước tiên có khi không phải một bài giảng đạo đức, nhưng một tiếng “bạn ơi”, một bảo đảm rằng “anh vẫn có giá trị”, “cha mẹ vẫn yêu con”, “cộng đoàn vẫn cần bạn”, “Thiên Chúa không quên những hy sinh của bạn.”
Chủ vườn nói: “Tôi đâu có bất công với bạn.” Đó là lời chúng ta cần nghe trong nhiều giai đoạn của đời mình. Có những lúc ta tưởng Chúa bất công chỉ vì con đường của mình khác đường người khác. Một gia đình hiếm muộn nhìn gia đình đông con. Một người bệnh nhìn người khỏe. Một người nghèo nhìn người giàu. Một linh mục âm thầm ở một vùng quê nhìn người anh em có sứ vụ nổi bật. Một người độc thân nhìn bạn bè yên bề gia thất. Một người chăm sóc cha mẹ bệnh nhiều năm nhìn anh chị em mình sống nhẹ nhàng hơn. Một người mất người thân quá sớm nhìn gia đình khác còn đầy đủ. Đôi khi những câu hỏi ấy không có một lời giải thích dễ dàng. Kitô giáo không dạy chúng ta giả vờ rằng đau khổ không đau. Đức tin không bảo chúng ta cứ cười trong mọi mất mát. Nhưng Đức Kitô dẫn chúng ta đến một niềm tín thác sâu hơn việc so sánh số phận. Cuộc đời mỗi người là một mầu nhiệm riêng trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta không biết toàn bộ những gì người khác mang trong lòng, và cũng chưa nhìn thấy toàn bộ điều Chúa đang thực hiện trong đời mình. Nếu chỉ lấy một đoạn để so sánh, ta sẽ luôn có lý do để ghen. Người giàu có thể ghen với người nghèo vì họ ngủ ngon. Người nghèo ghen với người giàu vì họ nhiều phương tiện. Người có gia đình ghen với người độc thân vì tự do. Người độc thân ghen với người có gia đình vì có người đồng hành. Người trẻ ghen với người lớn tuổi vì họ ổn định. Người lớn tuổi ghen với người trẻ vì họ còn tương lai. Cuộc so sánh ấy không bao giờ kết thúc.
Có lẽ một trong những ân sủng lớn nhất là ngày ta thôi hỏi: “Tại sao họ có điều đó?” và bắt đầu hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì với điều Chúa đã trao cho con?” Ta không được gọi để sống cuộc đời của người bên cạnh. Ta được gọi sống cuộc đời mình. Chúa sẽ không hỏi Phêrô vì sao ông không giống Gioan. Khi Phêrô tò mò về tương lai của Gioan, Chúa nói đại ý rằng chuyện đó thuộc quyền Chúa; phần Phêrô là đi theo Chúa. Đây là tự do thiêng liêng: thôi theo dõi bảng điểm của người khác để trung thành với ơn gọi mình. Nếu Chúa trao cho người khác năm nén và trao ta hai nén, nhiệm vụ của ta không phải ngồi giận vì sao mình chỉ hai. Ta phải làm cho hai nén sinh hoa trái. Nếu người khác được gọi vào giờ thứ nhất còn ta giờ thứ chín, đừng mất giờ còn lại để than mình đến muộn. Hãy vào vườn. Nếu ta đã ở trong vườn từ sáng, đừng phí buổi chiều nhìn người đến sau. Hãy tiếp tục làm việc với niềm vui.
Câu hỏi gây nhức nhối nhất của ông chủ là: “Hay mắt bạn xấu vì tôi tốt lành?” Đây là một cuộc xét mình khủng khiếp. Có khi điều làm ta khó chịu không phải sự dữ của người khác, mà là điều tốt xảy đến cho họ. Ta có thể đau trước thành công của người khác mà không bao giờ thú nhận. Nghe tin ai đó thất bại, bên ngoài ta tỏ vẻ tiếc nhưng trong lòng hơi nhẹ nhõm. Nghe người mình không thích được khen, lòng ta khó chịu. Thấy người từng có quá khứ không tốt nay sống bình an, ta vẫn muốn nhắc lại chuyện cũ. Thấy một người có ơn nói hay, hát hay, tổ chức giỏi, được yêu mến, ta bắt đầu tìm khuyết điểm để hạ họ xuống. Ghen tị rất hiếm khi tự xưng tên. Nó thường mặc áo của “công bằng”, của “nguyên tắc”, của “phân định”, thậm chí của “đạo đức”. Ta nói: “Tôi chỉ muốn công bằng thôi.” Nhưng thật ra điều làm ta đau là vì người kia nhận được điều tốt. Ta nói: “Tôi chỉ lo họ kiêu ngạo.” Nhưng có khi chính ta đang khó chịu vì họ được nhìn nhận. Ta nói: “Người ấy đâu xứng.” Và đó chính là câu người thợ đầu tiên muốn nói về người thợ cuối cùng.
Tin Mừng hôm nay mời ta tập một nhân đức rất đẹp nhưng rất khó: vui vì điều tốt xảy đến cho người khác. Đó là dấu chỉ một trái tim tự do. Khi người khác thành công, ta có thể chúc mừng mà lòng không đau. Khi người khác được khen, ta không cần thêm câu “nhưng mà…”. Khi một người tội lỗi trở về, ta vui như các thiên thần trên trời thay vì mở hồ sơ quá khứ. Khi ai đó được Chúa ban ơn, ta có thể nói: “Tạ ơn Chúa vì Chúa tốt với họ.” Một trái tim như thế đã bắt đầu mang nhịp tim của Thiên Chúa. Ngược lại, nếu niềm vui của ta phụ thuộc vào việc người khác phải kém hơn mình, ta sẽ không bao giờ bình an. Bởi vì luôn có người giàu hơn, đẹp hơn, giỏi hơn, nổi tiếng hơn, trẻ hơn, khỏe hơn, được chú ý hơn. Chỉ có một con đường ra khỏi nhà tù so sánh: biết mình được Thiên Chúa yêu cách độc nhất và tin rằng tình yêu Người dành cho người khác không hề làm tình yêu dành cho ta nhỏ đi.
Người Kitô hữu đôi khi cũng vô tình đưa não trạng công trạng vào ơn cứu độ. “Tôi đọc kinh nhiều hơn.” “Tôi phục vụ giáo xứ lâu hơn.” “Gia đình tôi ba đời giữ đạo.” “Tôi chưa bao giờ bỏ lễ Chúa Nhật.” Tất cả những điều ấy rất quý và đáng trân trọng. Nhưng chúng là lý do để biết ơn, không phải giấy chứng nhận cho phép ta đứng cao hơn người khác. Nếu chúng ta giữ đạo năm mươi năm, hãy cảm tạ vì năm mươi năm được ở trong vườn nho. Nếu đã sống đời thánh hiến bốn mươi năm, hãy cảm tạ vì bốn mươi năm được Chúa cho cùng bước đi. Nếu đã phục vụ người nghèo cả đời, hãy cảm tạ vì Chúa cho mình cơ hội chạm vào những chi thể đau khổ của Đức Kitô. Khi việc lành được hiểu đúng, nó không làm ta tự cao mà làm ta khiêm nhường. Người càng gần Chúa càng thấy mọi sự là ơn. Thánh nhân không đứng trước Chúa với một hóa đơn dài; thánh nhân đứng với hai bàn tay trống và nói: “Tất cả là hồng ân.”
Chúng ta thử tưởng tượng nếu người thợ làm từ sáng phản ứng khác. Khi thấy người đến lúc năm giờ chiều nhận một đồng, thay vì nghĩ: “Thế chắc mình được nhiều hơn”, anh nhìn người kia và nghĩ: “May quá, gia đình anh ấy tối nay cũng có cơm.” Khi đến lượt mình cũng nhận một đồng, anh không ghen mà nói: “Tạ ơn ông chủ vì ông đã giữ đúng lời với tôi, và tạ ơn vì ông rộng lượng với anh ấy.” Khi đó cả vườn nho sẽ tràn ngập niềm vui. Điều biến thiên đàng thành thiên đàng không chỉ là Thiên Chúa quảng đại, mà còn là chúng ta biết vui vì lòng quảng đại đó dành cho mọi người. Nếu mang lòng ghen vào thiên đàng, ta sẽ vẫn hỏi: “Sao người ấy cũng ở đây?” Có lẽ Chúa phải thanh luyện ta khỏi câu hỏi ấy. Thiên đàng là nơi ta vui vì người khác được cứu. Ta vui vì kẻ từng làm mình đau đã được biến đổi. Ta vui vì người đến phút cuối cũng được ôm vào lòng Chúa. Ta vui vì lòng thương xót chiến thắng. Nếu ta không học niềm vui ấy ngay từ đời này, ta chưa hiểu Nước Trời.
Dụ ngôn cũng mở ra một cái nhìn sâu sắc về phẩm giá con người. Một đồng tiền công ngày không đơn giản là phần thưởng cho lượng công việc; trong bối cảnh dụ ngôn, đó còn là điều một gia đình cần để sống qua ngày. Người chủ dường như nhìn thấy nhu cầu của người lao động cuối ngày. Nếu ông chỉ trả họ một phần mười hai đồng, họ có thể không đủ mang gì về cho gia đình. Lòng quảng đại của ông không xóa bỏ công bằng với người làm từ sáng; nó vượt xa thứ công bằng lạnh lùng chỉ biết cân đo. Có một thứ công bằng hỏi: “Người này làm được bao nhiêu?” Và có lòng thương xót hỏi thêm: “Người này cần gì để sống?” Xã hội cần nguyên tắc, luật pháp, trách nhiệm, nhưng một thế giới chỉ biết tính hiệu suất sẽ dễ dàng vứt bỏ người yếu, người già, người bệnh, người khuyết tật, người thất nghiệp, người không còn “năng suất”. Tin Mừng nhắc rằng giá trị con người không thể chỉ được tính bằng sản lượng. Một người nằm liệt giường vẫn có phẩm giá nguyên vẹn. Một cụ già không còn lao động vẫn đáng được yêu. Một em bé chưa tạo ra một đồng tiền nào vẫn vô giá. Một người thất nghiệp không vì thế mà trở thành người vô dụng. Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không được yêu vì đã sản xuất đủ. Chúng ta được yêu vì là con người do Người tạo dựng.
Điều đó đặc biệt quan trọng trong thời đại mà con người rất dễ đồng nhất giá trị bản thân với thành tích. Học sinh nghĩ mình chỉ có giá trị khi đứng đầu lớp. Người trẻ nghĩ mình thành công khi có mức lương cao. Người lớn nghĩ mình đáng trọng khi sở hữu nhà cửa, chức vụ, danh tiếng. Người làm mục vụ cũng có thể đo sứ vụ bằng lượt xem, số người tham dự, số công trình, số lời khen. Rồi một khi hiệu suất giảm, ta tưởng mình thất bại. Tin Mừng hôm nay phá vỡ hệ thống đo lường ấy. Thiên Chúa không nhìn ta như một chiếc máy phải đạt chỉ tiêu mới đáng được giữ lại. Người nhìn ta là con. Công việc có giá trị, trách nhiệm quan trọng, tài năng phải được phát huy, nhưng căn tính sâu nhất của ta không nằm trong thành tích. Trước khi ta làm được gì cho Chúa, Chúa đã yêu ta. Sau ngày ta không còn làm được gì nữa vì tuổi già hay bệnh tật, Chúa vẫn yêu ta.
Điều này không cổ võ lười biếng. Người thợ giờ thứ mười một vẫn được sai vào vườn. Ân sủng không phải giấy phép để đứng chơi. Chúa gọi ta vào làm việc. Nhưng thứ tự rất quan trọng: ta không làm để mua tình yêu Chúa; vì đã được yêu nên ta làm. Không phục vụ để buộc Chúa ban thưởng; vì đã nhận biết bao hồng ân nên ta muốn trao đi. Không sống thánh thiện để chứng minh mình hơn người; vì đã được Chúa cứu nên ta muốn sống đẹp lòng Người. Khi thứ tự này đúng, đời sống đạo trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Ta vẫn hy sinh, vẫn mệt, vẫn có “nắng nóng cả ngày”, nhưng lòng không cay đắng. Người con có thể làm việc rất nhiều trong nhà cha mà vẫn vui, vì biết căn nhà ấy cũng là nhà mình. Người làm thuê chỉ nhìn đồng hồ mong hết giờ; người con nhìn công việc như điều thuộc về tình yêu gia đình.
Bi kịch của người con cả trong dụ ngôn người con hoang đàng cũng giống người thợ làm từ sáng. Anh ở nhà nhưng sống như người làm công: “Bao nhiêu năm con hầu hạ cha…” Trong lòng anh, tương quan cha-con đã biến thành hệ thống công trạng. Vì thế khi người em được tiếp nhận, anh cảm thấy mình bị lấy mất điều gì. Người cha phải nói: “Con à, con luôn ở với cha, và tất cả những gì của cha đều là của con.” Câu ấy cũng có thể là lời Thiên Chúa nói với những người thợ từ sáng: “Bạn ơi, tôi không lấy gì của bạn cả.” Và cũng là lời Người nói với ta hôm nay: “Con không cần tranh phần tình yêu với ai. Tình yêu của Cha đủ cho tất cả.”
Có những người phục vụ Chúa rất lâu rồi dần trở nên cay đắng. Ban đầu họ làm vì yêu. Sau nhiều năm, vì mệt mỏi, vì tổn thương, vì không được nhìn nhận, trong lòng bắt đầu xuất hiện câu: “Tôi đã làm bao nhiêu mà chẳng ai biết.” Đây là dấu hiệu tâm hồn cần được chữa lành chứ không phải bị kết án. Chúa hiểu nắng nóng của những người làm từ sáng. Tin Mừng không phủ nhận mệt mỏi của họ. Người chủ không nói rằng họ chẳng làm gì. Ông chỉ không chấp nhận việc họ dùng hy sinh của mình để ngăn ông quảng đại với người khác. Chúng ta cũng phải học điều ấy trong đời sống Hội Thánh. Hãy trân trọng những người đã phục vụ hàng chục năm. Hãy biết ơn các ông bà, cha mẹ đã giữ đức tin qua những thời kỳ khó khăn. Hãy trân trọng các giáo lý viên, ca viên, người quét nhà thờ, người âm thầm nấu cơm, chăm người bệnh, giúp người nghèo. Nhưng đồng thời, những người đi trước cũng phải rộng lòng với người đến sau. Đừng biến thâm niên thành quyền sở hữu Giáo Hội. Đừng nghĩ “tôi ở đây lâu nên người mới phải ở dưới tôi”. Trong Nước Chúa, kinh nghiệm là để phục vụ, không phải để dựng ngai.
Một cộng đoàn đẹp là cộng đoàn trong đó người đến trước mở cửa cho người đến sau, người mạnh nâng người yếu, người giỏi dìu người chưa biết, người sống đạo lâu năm vui khi thấy một người mới tìm được Chúa. Một giáo xứ thực sự có tinh thần Tin Mừng không hỏi người mới: “Anh từ đâu tới? Tại sao trước đây không đi lễ?” trước khi nói: “Mừng anh đã đến.” Một gia đình mang tinh thần Tin Mừng không đóng đinh một người vào sai lầm quá khứ. Một linh mục mang trái tim mục tử không chỉ chăm sóc chín mươi chín con ngoan mà còn thao thức vì con đang đứng ngoài quảng trường đến giờ thứ mười một. Và một người môn đệ trưởng thành không ghen khi mục tử dành nhiều thời gian cho người đang lạc, bởi họ hiểu chính đó là trái tim Đức Kitô.
Đôi lúc chính chúng ta là người thợ giờ thứ mười một. Có những phần trong đời ta đến rất muộn. Có người bốn mươi tuổi mới học được cách xin lỗi. Có người sáu mươi tuổi mới biết nói “con yêu cha mẹ”. Có người sau ba mươi năm hôn nhân mới thật sự học cách lắng nghe vợ chồng. Có linh mục nhiều năm thi hành sứ vụ rồi mới khám phá cầu nguyện không phải là công việc phải hoàn thành nhưng là ở lại với Chúa. Có người cả đời sống trong mặc cảm rồi cuối đời mới biết mình được Thiên Chúa yêu. Đừng tuyệt vọng vì mình đến muộn. Nếu Chúa còn gọi, hãy vào vườn. Đừng nói: “Đời tôi chẳng còn bao nhiêu, thay đổi làm gì.” Một giờ với Chúa vẫn có thể biến đổi cả một đời. Một lời xin lỗi thật lòng trước khi chết có thể chữa lành một gia đình. Một lần hòa giải sau ba mươi năm thù hận có thể giải phóng nhiều thế hệ. Một lời “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con” trên thập giá đủ mở ra thiên đàng.
Nhưng nếu chúng ta đang ở trong vườn từ sáng, cũng đừng coi nhẹ ân huệ ấy. Hãy làm việc trong niềm vui. Ngày hôm nay còn sức khỏe, hãy yêu. Còn cha mẹ, hãy thăm. Còn người thân, hãy nói lời tử tế. Còn cơ hội phục vụ, hãy phục vụ. Còn có thể cầu nguyện, hãy cầu nguyện. Còn có thể xin lỗi, đừng trì hoãn. Đừng đứng trong vườn nho mà suốt ngày ngó ra cổng xem người khác đến lúc nào. Đời ngắn lắm. Ta không có thời gian để ghen.
Sự so sánh cũng làm ta mất khả năng thấy phép lạ trong đời mình. Người thợ từ sáng quên mất rằng sáng hôm ấy chính ông chủ đã chọn anh. Có thể nếu không gặp chủ vườn, anh cũng đứng thất nghiệp cả ngày. Anh coi điều từng là ân huệ thành quyền đương nhiên. Đây cũng là chuyện xảy ra với ta. Những gì nhận lâu ngày rất dễ bị coi là chuyện tất nhiên. Sáng thức dậy thở được, bình thường. Đi lại được, bình thường. Có cơm ăn, bình thường. Có người gọi mình là cha, mẹ, chồng, vợ, anh, em, bạn, bình thường. Được dự lễ, được rước Chúa, bình thường. Cho đến ngày mất một điều, ta mới hiểu đó từng là quà. Biết ơn cứu chúng ta khỏi ghen tị bởi biết ơn làm mắt ta quay về phần mình đã nhận. Người ghen luôn đếm phúc lành của người khác; người biết ơn đếm hồng ân của chính mình.
Có một thực hành thiêng liêng rất đơn giản: mỗi tối thay vì hỏi “hôm nay ai được hơn tôi?”, hãy hỏi “hôm nay Chúa đã tốt với tôi ở đâu?” Có thể là một bữa cơm. Một cuộc điện thoại. Một người hỏi thăm. Một công việc hoàn thành. Một cơn đau nhẹ hơn. Một Thánh lễ. Một khoảnh khắc yên tĩnh. Một người đã tha thứ. Một lần mình kiềm được cơn giận. Một nụ cười. Một giấc ngủ. Dần dần trái tim sẽ thay đổi. Khi nhận ra đời mình đầy hồng ân, ta bớt nhu cầu giành phần của người khác.
Lòng quảng đại của Thiên Chúa còn gây khó chịu vì nó làm sụp đổ những hệ thống thứ bậc do con người dựng lên. Ta thích biết ai đứng nhất, ai đứng nhì, ai đạo đức hơn, ai xứng đáng hơn. Thiên Chúa lại làm đảo lộn: “Kẻ cuối sẽ nên đầu và kẻ đầu sẽ nên cuối.” Đây không đơn giản là đổi vị trí để người cuối bây giờ được thống trị người đầu. Chúa đang phá vỡ chính trò chơi xếp hạng. Trong Nước Trời, không ai cần hạ người khác để mình cao lên. Đức Maria càng được nâng cao càng nhận mình là nữ tỳ. Các thánh càng thánh thiện càng ý thức mình sống nhờ lòng thương xót. Người đứng gần ánh sáng càng thấy rõ những hạt bụi trong tâm hồn.
Khi ta hiểu rằng mình cũng là người sống nhờ lòng thương xót, việc tha thứ cho người khác trở nên dễ hơn. Tại sao ta quá khó chịu khi Chúa tha cho người kia? Có phải vì quên Người đã tha cho ta? Ta thường nhớ tội người khác rất rõ và tội mình rất mờ. Ta nhớ lời họ làm mình đau mười năm trước nhưng quên những lần lời mình làm người khác đau. Ta nhớ họ đã thiếu công bằng với mình nhưng không nhớ những lần mình ích kỷ. Ta đòi Chúa dùng công lý với họ và lòng thương xót với mình. Tin Mừng đảo lại tấm gương: nếu đời ta được cân hoàn toàn bằng công trạng, ai đứng nổi? Chúng ta tất cả đều là những người làm giờ thứ mười một ở một khía cạnh nào đó. Có người đến sớm trong đức tin nhưng đến muộn trong lòng thương xót. Có người giữ luật từ nhỏ nhưng đến muộn trong sự khiêm nhường. Có người cầu nguyện nhiều nhưng đến muộn trong việc tha thứ. Có người làm việc bác ái nhưng đến muộn trong việc yêu chính người trong nhà. Không ai có quyền kiêu ngạo.
Thật đẹp khi nghĩ rằng mỗi Thánh lễ là một cuộc tụ họp của những người được mời vào vườn nho ở những giờ khác nhau. Người rất thánh đứng cạnh người đang chiến đấu với tội lỗi. Người giữ đạo sáu mươi năm đứng cạnh người mới trở lại. Người vui đứng cạnh người đau khổ. Người thành đạt đứng cạnh người thất nghiệp. Người không có quá khứ tai tiếng đứng cạnh người vừa ra khỏi một cuộc đời đổ vỡ. Rồi tất cả cùng tiến lên nhận cùng một Đức Kitô. Không có Mình Thánh lớn hơn cho người đạo đức hơn. Không có Đức Kitô hạng nhất và Đức Kitô hạng hai. Tất cả đều chìa đôi tay nghèo khó. Thánh Thể chính là trường học chống lại sự kiêu ngạo. Ta đến không phải để lãnh phần thưởng vì mình tốt; ta đến để nhận Đấng ban chính mình cho ta.
Và rồi sau Thánh lễ, Chúa sai ta trở thành sự quảng đại ấy cho thế giới. Nếu đã lãnh nhận một Thiên Chúa quảng đại mà sống keo kiệt với người khác, ta chưa để Thánh Thể biến đổi mình. Quảng đại không chỉ là tiền bạc. Có người dư tiền nhưng thiếu thời gian cho gia đình. Có người cho quà nhưng không cho sự tha thứ. Có người làm từ thiện nhưng rất keo lời khen. Có người giúp người xa lạ nhưng không chịu nhường nhịn người sống bên cạnh. Quảng đại là cho người khác không gian để thay đổi. Là không nhắc mãi lỗi quá khứ. Là cho một người thêm một cơ hội. Là lắng nghe khi mình có thể bỏ đi. Là nói một lời khích lệ thay vì chỉ trích. Là vui khi thấy người khác được nâng lên. Là dám chia sẻ cơ hội, danh dự, quyền lực. Người có trái tim giống Thiên Chúa không sợ ánh sáng của người khác làm mình tối đi.
Có lẽ câu hỏi sau cùng của Tin Mừng hôm nay không phải “Ông chủ có công bằng không?” nhưng là: “Tôi có chịu để Thiên Chúa quảng đại như Thiên Chúa muốn không?” Chúng ta thường muốn một Thiên Chúa quảng đại với mình nhưng nghiêm khắc với người khác. Ta muốn Người hiểu hoàn cảnh của ta nhưng xét người kia đúng luật. Ta muốn Người cho mình cơ hội thứ hai nhưng người kia thì phải chịu hậu quả. Ta muốn tội của mình được đặt trong bối cảnh còn tội người khác được đọc như bản án. Nhưng Thiên Chúa từ chối làm một vị thần do ta chế tạo. Người vẫn là Thiên Chúa. Người cho mặt trời mọc trên người lành và kẻ dữ. Người đi tìm con chiên lạc. Người chạy ra ôm người con hoang đàng. Người ăn với người tội lỗi. Người tha cho người phụ nữ bị kết án. Người hứa thiên đàng cho tên trộm hấp hối. Người cầu xin tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình. Đó là Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải.
Và nếu có ngày chúng ta cảm thấy mình giống người thợ đầu tiên, đã làm quá lâu, đã chịu quá nhiều nắng, xin đừng bỏ vườn nho trong cay đắng. Hãy nói thật với Chúa. “Lạy Chúa, con đang ghen. Con đang thấy Chúa bất công. Con đang mệt vì đã cố gắng quá lâu. Con đau khi thấy người khác nhận điều con mong muốn.” Chúa không sợ lời cầu nguyện thật. Người chủ trong dụ ngôn không đuổi người thợ đang phàn nàn; ông nói chuyện với anh. Hãy để Chúa nói với ta. Có thể Người sẽ nhắc: “Bạn ơi, Ta đâu quên bạn.” Có thể Người sẽ chỉ cho ta thấy bao điều ta đã nhận. Có thể Người chữa nỗi sợ bị bỏ rơi nằm dưới lòng ghen. Có thể Người mở mắt ta để thấy niềm vui của người thợ đến muộn cũng đáng được mừng.
Nếu hôm nay chúng ta giống người thợ cuối ngày, mang mặc cảm rằng mình đã lãng phí quá nhiều năm, cũng hãy nghe tiếng chủ vườn: “Bạn cũng hãy đi vào vườn nho.” Không cần đứng ngoài thêm vì xấu hổ. Không cần đợi mình trở nên hoàn hảo rồi mới về với Chúa. Chúng ta không chữa lành để rồi mới đến với Chúa; ta đến với Chúa để được chữa lành. Không cần hoàn thiện trước khi bước vào nhà Cha; chính trong nhà Cha ta được tái tạo. Không có một quá khứ nào lớn hơn lòng thương xót. Không có giờ nào quá muộn khi Chúa còn đang gọi.
Nếu hôm nay chúng ta là người đang nhìn những người khác đứng ngoài, xin hãy cùng chủ vườn đi tìm họ. Có thể quanh ta có một người không cần bài giảng nhưng cần một lời mời. Một người nhiều năm không đến nhà thờ cần ai đó nói: “Đi lễ với tôi nhé.” Một người già cô đơn cần một cuộc thăm viếng. Một người trẻ lạc hướng cần có ai tin rằng họ còn tương lai. Một người đã phạm sai lầm cần được nghe: “Đời bạn chưa kết thúc.” Một người thất nghiệp cần cơ hội hơn là lời trách móc. Một người nhập cư hay tị nạn cần được nhìn trước hết như một con người có phẩm giá. Một gia đình đang khủng hoảng cần một cộng đoàn không phán xét. Chủ vườn vẫn đang đi ra quảng trường, nhưng hôm nay Người muốn dùng đôi chân của chúng ta.
Và nếu hỏi bí quyết để sống Tin Mừng hôm nay chỉ trong một câu, có lẽ đó là: hãy học vui vì Thiên Chúa tốt lành với người khác. Khi làm được điều đó, lòng ta sẽ rộng. Ta sẽ không còn phải bảo vệ vị trí. Không cần chứng minh mình hơn. Không cần mang sổ công trạng. Không cần sợ ai lấy mất tình yêu Chúa. Ta sẽ hiểu rằng tất cả đều là quà. Người đến đầu ngày là quà. Người đến cuối ngày cũng là quà. Khả năng làm việc là quà. Phần thưởng là quà. Vườn nho là quà. Chính ông chủ là quà.
Lạy Chúa, có biết bao lần chúng con sống như những người thợ làm từ sáng mà quên mất niềm vui được ở trong vườn nho của Ngài. Chúng con đếm những giờ mình đã lao động, nhưng quên đếm những giờ đã được Ngài yêu. Chúng con nhớ những hy sinh của mình nhưng quên muôn hồng ân đã nhận. Chúng con nhìn phần của người khác rồi thấy phần mình quá nhỏ, mặc dù trước đó chúng con từng rất biết ơn. Xin giải thoát chúng con khỏi căn bệnh so sánh. Xin cứu chúng con khỏi thứ ghen tị khoác áo công bằng. Xin cho chúng con một trái tim đủ tự do để vui khi người khác được chúc phúc, đủ khiêm nhường để nhớ mình cũng sống nhờ lòng thương xót, đủ quảng đại để mở cửa cho người đến sau, đủ kiên nhẫn để tin rằng chẳng có ai là trường hợp tuyệt vọng đối với Ngài. Khi chúng con mệt vì đã làm việc lâu, xin gọi chúng con bằng tiếng “bạn ơi” đầy dịu dàng. Khi chúng con đến muộn, xin vẫn mời chúng con vào. Khi chúng con đứng ngoài vì nghĩ không ai cần mình, xin đến tìm. Khi chúng con muốn đóng cổng vườn nho trước mặt người khác, xin nhắc chúng con rằng chính Ngài là Chủ vườn chứ không phải chúng con.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con thôi mặc cả với Chúa và bắt đầu yêu Chúa; thôi phục vụ như người làm thuê và sống như người con; thôi hỏi mình sẽ được gì và bắt đầu hỏi mình có thể trao gì; thôi nhìn người khác bằng hồ sơ quá khứ và nhìn họ bằng ánh mắt của Ngài; thôi đo con người bằng năng suất và nhận ra phẩm giá nơi từng người. Xin cho Hội Thánh trở thành vườn nho luôn rộng cửa, nơi người đến sớm không kiêu căng, người đến muộn không mặc cảm, người mạnh không khinh người yếu, người thánh thiện không tuyệt vọng về người tội lỗi, người có kinh nghiệm biết dìu người mới, và tất cả cùng biết rằng mình đang sống bằng ân sủng.
Rồi khi chiều đời chúng con đến, khi công việc phải đặt xuống, khi những danh hiệu không còn ý nghĩa, khi bàn tay không còn đủ sức để làm những điều từng làm, xin cho chúng con không đứng trước Ngài với quyển sổ liệt kê công trạng, nhưng với đôi tay mở ra như một người nghèo. Xin cho chúng con có thể nói: “Lạy Chúa, tất cả những gì con đã làm được cũng nhờ ơn Chúa; những gì con làm chưa tốt, xin Chúa thương xót; những người đến sau con, xin Chúa cũng đón họ; những người từng làm con đau, xin Chúa cũng cứu họ; và nếu còn một người đang đứng ngoài quảng trường vào giờ cuối cùng, xin Chúa hãy đi tìm họ nữa.”
Bởi vì cuối cùng, niềm vui của Nước Trời không phải là biết mình nhận nhiều hơn người khác, nhưng là biết rằng không một người nào mà lòng thương xót Thiên Chúa không muốn cứu. Không phải là đứng đầu bảng công trạng, nhưng được ở với Chúa. Không phải là người đến trước hay đến sau, nhưng là đã nghe tiếng gọi và bước vào vườn. Không phải là kiếm được bao nhiêu, nhưng đã để lòng mình được biến đổi bao nhiêu. Và có lẽ đến ngày bước vào cõi đời đời, chúng ta mới hiểu rằng tất cả chúng ta, dù tưởng mình đã làm việc từ sáng, thật ra đều là những người thợ của giờ thứ mười một trước lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa.
“Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?”
Xin cho câu hỏi ấy theo chúng ta suốt tuần này. Mỗi khi thấy người khác được khen, hãy nhớ câu ấy. Mỗi khi một người tội lỗi được trao cơ hội, hãy nhớ câu ấy. Mỗi khi ta thấy Chúa ban cho ai điều mình chưa có, hãy nhớ câu ấy. Mỗi khi lòng mình muốn so đo, hãy nhớ câu ấy. Và hãy tập trả lời bằng một lời cầu nguyện rất đơn sơ:
Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì Chúa tốt lành với con. Và con cũng cảm tạ Chúa vì Chúa tốt lành với họ. Xin làm cho trái tim con rộng lớn như trái tim Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG ĐEM CÁI CÂN CỦA CON NGƯỜI ĐỂ CÂN LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Is 55,6-9; Pl 1,20c-24.27a; Mt 20,1-16a
Có lẽ trong rất nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu, dụ ngôn những người thợ làm vườn nho là một trong những dụ ngôn dễ khiến người nghe cảm thấy “khó chịu” nhất, bởi vì câu chuyện đánh thẳng vào một bản năng rất sâu trong lòng con người: bản năng so sánh. Chúng ta nghe ông chủ vườn nho ra ngoài từ sáng sớm để thuê người làm; rồi khoảng chín giờ ông lại ra; mười hai giờ ông lại ra; ba giờ chiều ông vẫn ra; thậm chí gần cuối ngày, khi giờ lao động gần như đã hết, ông vẫn đi tìm những người đang đứng không ngoài chợ và đưa họ vào vườn nho. Đến chiều tối, điều làm mọi người sửng sốt xảy ra: những người vào làm sau cùng, chỉ làm một giờ, được trả một quan tiền; những người đã làm từ sáng sớm nghĩ rằng chắc chắn mình sẽ được nhiều hơn, nhưng rồi họ cũng nhận đúng một quan tiền. Họ phản ứng. Họ thấy bất công. Họ so sánh. Họ cằn nhằn. Họ không chấp nhận chuyện một người chỉ làm một giờ lại được đặt ngang hàng với mình là những người đã “chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày”. Nếu thành thật, có lẽ phần đông chúng ta cũng sẽ phản ứng giống họ. Ta có thể nói: “Nếu tôi là người làm từ sáu giờ sáng, chắc tôi cũng bực.” Và chính ở chỗ đó, Tin Mừng bắt đầu chạm tới chúng ta. Đức Giêsu không kể dụ ngôn này để dạy các doanh nghiệp cách trả lương. Nếu hiểu dụ ngôn như một bài học về luật lao động thì chúng ta sẽ hiểu sai hoàn toàn. Chúa đang nói về Nước Trời, đang mặc khải dung mạo Chúa Cha, đang cho chúng ta thấy khoảng cách khổng lồ giữa cách Thiên Chúa suy nghĩ với cách con người suy nghĩ. Bài đọc Isaia như chiếc chìa khóa mở cửa dụ ngôn: “Tư tưởng của Ta không phải tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta.” Bao nhiêu khi chúng ta quên câu này. Chúng ta tin Chúa, nhưng lại muốn Chúa suy nghĩ giống mình; cầu nguyện với Chúa, nhưng lại muốn Chúa làm theo lịch trình của mình; gọi Thiên Chúa là Cha, nhưng đôi khi lại đối xử với Người như một chủ doanh nghiệp mà ta đã ký hợp đồng: con đã đi lễ bao nhiêu năm, đọc bao nhiêu kinh, làm bao nhiêu việc đạo đức, đóng góp bao nhiêu công sức, phục vụ giáo xứ bao nhiêu lâu, chịu đựng bao nhiêu hy sinh, vậy thì Chúa phải thưởng cho con tương xứng. Và khi nhìn thấy một người khác dường như sống chưa tốt bằng mình nhưng lại gặp may, một người mới trở lại nhưng được bình an, một người từng đi lạc nhưng được đón nhận, một người từng sai lỗi nhưng được trao lại cơ hội, một người đến sau nhưng được Chúa ban nhiều ơn, lòng ta bắt đầu nổi lên câu hỏi của những người thợ từ sáng: “Tại sao người ấy cũng được như tôi?” Chính câu hỏi ấy cho thấy có thể ta đã ở trong vườn nho từ lâu mà vẫn chưa hiểu trái tim của Chủ vườn.
Điều rất đẹp trong dụ ngôn không phải trước hết là chuyện trả công, mà là chuyện ông chủ liên tục đi ra. Sáng sớm ông ra. Chín giờ ông ra. Trưa ông ra. Ba giờ chiều ông ra. Năm giờ chiều ông vẫn ra. Thiên Chúa không ngồi yên trong nhà đợi con người tìm đến. Người đi tìm con người. Đó gần như là toàn bộ lịch sử cứu độ được kể lại bằng một hình ảnh. Sau khi Ađam trốn trong vườn, chính Thiên Chúa đi tìm: “Ngươi ở đâu?” Khi dân Israel làm nô lệ ở Ai Cập, Thiên Chúa nghe tiếng kêu của họ và đi xuống giải thoát. Khi dân đi lạc, Người sai các ngôn sứ. Khi thời gian tới hồi viên mãn, Người không chỉ sai một ngôn sứ nữa, nhưng sai chính Con Một đến ở giữa chúng ta. Và trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa bước ra trên mọi con đường của kiếp người: đến bên người phong hủi, người mù, người tội lỗi, người thu thuế, người phụ nữ bị kết án, người môn đệ phản bội, kẻ trộm hấp hối trên thập giá. Chúa cứ đi ra. Con người có thể chạy khỏi Chúa, nhưng Chúa không mỏi mệt đi tìm con người. Con người có thể khóa cửa, nhưng Người vẫn đứng ngoài và gõ. Con người có thể lãng phí ba mươi, bốn mươi, năm mươi, bảy mươi năm đời mình, nhưng khi chỉ còn một giờ cuối cùng, Chúa vẫn có thể đi ngang qua chợ đời và hỏi: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì?” Có những người gặp Chúa từ tuổi thơ. Có người gặp Chúa lúc đôi mươi. Có người sau khi lập gia đình. Có người chỉ trở lại sau một biến cố, một đổ vỡ, một lần thất bại, một cơn bệnh, một cái chết của người thân, một đêm tuyệt vọng, một lần thấy cuộc đời trống rỗng. Có người gần cuối đời mới bắt đầu cầu nguyện. Có người cả đời xa Hội Thánh rồi những ngày cuối lại xin một linh mục đến ban bí tích. Chúng ta rất dễ nhìn vào đồng hồ để nói: “Muộn quá rồi.” Nhưng trong Tin Mừng hôm nay, Thiên Chúa nói: “Chưa muộn.” Chừng nào ngày chưa tắt, Chủ vườn vẫn đi tìm người thợ. Chừng nào một trái tim còn đập, lòng thương xót vẫn đang gõ cửa. Chừng nào một con người còn có thể nói một lời “Lạy Chúa, xin thương xót con”, cửa Nước Trời vẫn chưa đóng. Đó là lý do người trộm bên phải thập giá trở thành một hình ảnh gây sửng sốt cho mọi người đạo đức. Anh gần như đến vườn nho vào giờ cuối cùng của ngày đời. Anh không có thời gian lập công lớn. Anh không có thời gian xây nhà thờ, đi truyền giáo, làm việc bác ái, sống hàng chục năm cầu nguyện. Anh chỉ có một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời rằng ngay hôm ấy anh sẽ ở với Người trên thiên đàng. Nếu chúng ta chỉ quen với toán học của công trạng, điều ấy thật khó hiểu. Nhưng nếu hiểu Tin Mừng là Tin Mừng của ân sủng, ta bắt đầu nhận ra: ơn cứu độ không phải mức lương Thiên Chúa nợ chúng ta. Không ai có thể đứng trước Đấng Tạo Hóa và nói: “Con đã làm đủ rồi, xin trả phần của con.” Sự sống đời đời hoàn toàn vượt quá khả năng mua sắm của con người. Nó là quà tặng. Nó là ân sủng. Nó là Thiên Chúa trao chính mình cho chúng ta.
Vấn đề của những người thợ đến sớm không phải là ông chủ trả thiếu cho họ. Ông trả chính xác điều đã thỏa thuận. Bi kịch của họ là họ không còn nhìn phần mình đã nhận; họ chỉ nhìn phần người khác được nhận. Và đây là một căn bệnh thiêng liêng rất phổ biến. Nhiều nỗi bất hạnh trong đời không phát sinh vì chúng ta có quá ít, nhưng vì chúng ta nhìn sang người khác quá nhiều. Tôi có một gia đình, nhưng nhìn gia đình người khác rồi thấy gia đình mình kém. Tôi có khả năng của mình, nhưng nhìn tài năng người khác rồi mặc cảm. Tôi có sứ vụ Chúa trao, nhưng thấy người khác được chú ý hơn thì chạnh lòng. Tôi phục vụ âm thầm nhiều năm, nhưng một người mới đến được khen, lòng tôi khó chịu. Tôi đã trung thành giữ đạo từ nhỏ, thấy một người từng sống bê bối trở lại mà được mọi người yêu thương, tôi nghĩ: “Còn tôi thì sao?” Khi ấy, ân phúc của người khác bỗng trở thành nguyên nhân khiến tôi buồn. Đây là một trong những nghịch lý đáng sợ nhất của lòng ghen tị: điều tốt xảy đến cho người khác không lấy mất gì của tôi, vậy mà tôi vẫn đau vì họ được tốt. Tôi không mất một đồng nào khi người thợ cuối ngày nhận một quan; nhưng tôi vẫn tức chỉ vì họ cũng được như tôi. Ông chủ hỏi một câu có sức xuyên thấu lương tâm: “Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” Đó không còn là câu hỏi dành riêng cho những người thợ trong dụ ngôn. Đó là câu hỏi Chúa hỏi từng người chúng ta: Con có vui khi Cha tốt với người khác không? Con có vui khi một người tội lỗi được tha thứ không? Con có vui khi một người thất bại được làm lại không? Con có vui khi một người đã làm con tổn thương được Chúa ban ơn không? Con có vui khi người khác thành công không? Con có vui khi người đến sau được trân trọng không? Hay con chỉ vui về lòng thương xót khi chính con là người nhận nó?
Điều rất lạ là chúng ta thường muốn lòng thương xót cho mình, nhưng muốn công lý nghiêm khắc cho người khác. Khi mình phạm lỗi, ta nói: “Xin hiểu hoàn cảnh cho tôi.” Khi người khác phạm lỗi, ta nói: “Phải xử cho nghiêm.” Khi mình chậm trễ, ta có lý do. Khi người khác chậm trễ, ta nói họ vô trách nhiệm. Khi mình yếu đuối, ta mong người khác thông cảm. Khi người khác yếu đuối, ta mất kiên nhẫn. Khi mình sa ngã, ta mong Chúa cho cơ hội thứ hai. Nhưng khi người khác sa ngã, đôi khi ta muốn đóng luôn cánh cửa cuối cùng. Tin Mừng hôm nay làm đảo lộn não trạng ấy. Thiên Chúa không bảo rằng tội lỗi chẳng quan trọng hay công lý chẳng cần thiết. Người cho thấy công lý của Thiên Chúa luôn hướng tới cứu độ. Người không chỉ xét: “Ngươi đã làm bao nhiêu?” Người còn hỏi: “Ta có thể cứu ngươi thế nào? Ta có thể kéo ngươi ra khỏi chợ đời vô nghĩa thế nào? Ta có thể đưa ngươi vào vườn nho thế nào?” Thiên Chúa không vui vì người tội lỗi phải chết; Người muốn họ quay về mà được sống. Đó là lý do một số người cảm thấy Tin Mừng khó chấp nhận. Tin Mừng không khó vì quá khắt khe; nhiều lúc Tin Mừng khó vì Thiên Chúa quá rộng lượng. Chúng ta dễ chấp nhận một vị thần trả đúng từng đồng theo bảng công trạng hơn là một Người Cha chạy ra ôm đứa con hoang đàng khi nó vừa trở về. Người anh cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu có cùng tâm trạng với những người thợ làm từ sáng. Người anh nói đại ý: con phục vụ cha bao nhiêu năm, chưa bao giờ trái lệnh, vậy mà cha chưa cho con một con dê con; còn thằng con kia phá hết gia tài, nay về, cha lại giết bê béo. Đó cũng là sự so sánh. Đó cũng là não trạng hợp đồng. Đó cũng là một người ở trong nhà cha nhưng chưa hiểu lòng cha. Ta có thể ở trong Hội Thánh nhiều năm mà chưa hiểu lòng Chúa. Ta có thể đọc kinh mỗi ngày mà trong sâu thẳm vẫn coi Thiên Chúa như người chấm điểm. Ta có thể phục vụ rất nhiều mà âm thầm lập cuốn sổ công trạng, chờ ngày Chúa phải trả lại mình. Đến một lúc, ta mệt mỏi không phải vì việc phục vụ quá nặng mà vì ta đã biến phục vụ thành thương vụ.
Đức Bênêđictô XVI từng gợi ra một điểm đặc biệt đẹp khi suy niệm dụ ngôn này: được gọi vào vườn nho đã là phần thưởng. Đây là một đảo ngược rất lớn. Những người thợ sáng sớm nghĩ: “Tôi làm việc để cuối ngày nhận tiền.” Nhưng người môn đệ đích thực dần hiểu: “Ngay việc được sống cho Chúa hôm nay đã là một ân huệ.” Ta thường nghĩ đi lễ là bổn phận Chúa đòi. Nhưng nếu một ngày ta hiểu Thánh lễ là nơi Con Thiên Chúa hiến mình cho ta, ta sẽ nói: “Con được đi lễ.” Ta nghĩ cầu nguyện là việc mình phải dành giờ cho Chúa. Nhưng thực ra, được trò chuyện với Đấng Tạo Hóa đã là một đặc ân. Ta nghĩ phục vụ người nghèo là công lao của mình. Nhưng có khi chính người nghèo cho ta cơ hội chạm vào Đức Kitô. Ta nghĩ mình hy sinh cho Hội Thánh, nhưng chính Hội Thánh đã cho đời mình một nơi để trao ban. Ta nghĩ mình bỏ thời gian để làm việc tông đồ, nhưng biết bao người dành đời mình cho những chuyện vô nghĩa mà đến cuối mới nhận ra không có gì còn lại. Được đem đời mình đặt vào tay Chúa, được làm một công việc dù nhỏ trong vườn nho của Người, được góp một lời cầu, một giờ phục vụ, một hành động yêu thương, một lần tha thứ, một lần nâng người ngã xuống, đã là một vinh dự. Nếu hiểu điều ấy, chúng ta sẽ không còn đứng trong vườn nho mà càm ràm: “Tôi làm nhiều quá.” Ta sẽ bắt đầu biết ơn: “Lạy Chúa, thật lạ lùng, Chúa lại cho con được cộng tác với Chúa.”
Và cũng từ đây, ta hiểu một điều rất quan trọng cho đời sống linh mục, tu sĩ và những người phục vụ trong Hội Thánh. Có một cám dỗ rất tinh tế: bắt đầu bằng lòng yêu mến nhưng sau đó sống bằng công trạng. Thuở đầu, một người tham gia ca đoàn vì yêu Chúa; vài năm sau, họ buồn vì tên mình không được nhắc. Thuở đầu, một người làm giáo lý viên vì yêu trẻ; rồi một ngày lại chạnh lòng vì người khác được đánh giá cao hơn. Thuở đầu, một người bước vào đời tu vì muốn hiến thân; nhưng qua năm tháng có thể bắt đầu tính xem mình đã hy sinh nhiều hơn ai, chịu đựng hơn ai, đóng góp hơn ai. Thuở đầu, một linh mục đón nhận sứ vụ vì muốn phục vụ đoàn chiên; rồi cám dỗ có thể len vào: giáo xứ của tôi, công trình của tôi, người của tôi, thành quả của tôi. Chỉ cần chữ “Chúa” mờ dần và chữ “tôi” lớn dần, vườn nho của Chúa rất dễ trở thành nơi cạnh tranh. Khi ấy người làm từ sáng nhìn người vào lúc trưa, người lúc trưa nhìn người vào cuối ngày, ai cũng âm thầm đo nhau. Và ngay giữa công việc của Chúa, lòng người lại mất Chúa. Dấu hiệu để nhận biết khá đơn giản: nếu một người khác làm được điều tốt mà tôi thật sự vui, tôi đang phục vụ Nước Chúa. Nếu người khác làm được việc tốt mà tôi thấy bị đe dọa, có thể tôi đang phục vụ cái tôi nhiều hơn tôi tưởng. Nếu điều quan trọng là Nước Chúa lớn lên, thì ai gieo cũng được, ai tưới cũng được; chính Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Nếu mục tiêu là Đức Kitô được biết đến, đâu quan trọng tên tôi có được biết đến hay không. Nếu điều tôi thực sự muốn là đoàn chiên được chăm sóc, đâu quan trọng ai là người được cảm ơn. Nhưng nói được như vậy không dễ. Cái tôi rất khôn. Nó có thể mặc áo đạo đức, cầm chuỗi Mân Côi, đứng trên bục giảng, làm việc bác ái, mà vẫn âm thầm đòi người khác nhìn nhận. Vì thế Tin Mừng không chỉ an ủi chúng ta; Tin Mừng còn thanh luyện chúng ta.
Thánh Phaolô trong bài đọc II đưa ta đến một chiều sâu khác. Ngài nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô.” Đây có lẽ là một trong những câu ngắn nhất nhưng cũng lớn nhất của toàn bộ Tân Ước. Không phải “sống là làm nhiều việc cho Đức Kitô”, mà “sống là Đức Kitô”. Phaolô đã đi đến chỗ không còn tách đời mình khỏi Người. Ngài có thể chết và ở với Đức Kitô, đó là điều ngài khao khát; nhưng nếu việc ở lại còn ích lợi cho anh chị em thì ngài sẵn sàng ở lại. Tức là ngay cả chuyện sống hay chết, Phaolô cũng không còn lấy mình làm trung tâm. Đây chính là người đã thoát khỏi logic “phần của tôi”. Người thợ Tin Mừng hỏi: “Tôi sẽ được bao nhiêu?” Phaolô hỏi: “Điều gì phục vụ ý Chúa?” Người thợ nhìn đồng lương. Phaolô nhìn Đức Kitô. Người thợ cân mình với người bên cạnh. Phaolô để Chúa quyết định đường mình đi. Đó là tự do Kitô giáo. Tự do không phải muốn làm gì thì làm; tự do sâu nhất là khi cái tôi không còn phải giành phần hơn. Một người tự do có thể thấy người khác thành công mà vui. Có thể làm việc không ai thấy mà bình an. Có thể trao vị trí cho người trẻ hơn mà không cay đắng. Có thể ở lại khi Chúa cần, ra đi khi Chúa gọi. Có thể bắt đầu lại dù đã lớn tuổi. Có thể chấp nhận rằng kế hoạch của Chúa khác kế hoạch mình. Có thể nói như Phaolô: điều quan trọng không phải đời tôi diễn ra đúng ý tôi, nhưng Đức Kitô được tôn vinh nơi tôi.
Bài đọc Isaia nói: “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên.” Câu này khi đặt cạnh dụ ngôn vườn nho trở nên thật thấm. Ông chủ đi tìm thợ, nhưng người thợ cũng phải đáp lại. Ân sủng là quà tặng, nhưng quà tặng phải được đón nhận. Ông chủ có thể ra chợ năm lần, nhưng nếu một người cứ nói: “Tôi không đi”, ông không thể làm việc trong vườn nho. Thiên Chúa không ngừng gọi, nhưng Người tôn trọng tự do. Chúng ta đừng biến lòng thương xót thành lý do để trì hoãn hoán cải. Có người nghe dụ ngôn và nghĩ: “Nếu người thợ giờ thứ mười một cũng được trả một quan thì cứ sống thoải mái, cuối đời trở lại cũng được.” Nhưng đó là hiểu ngược Tin Mừng. Người thợ đứng ngoài chợ cả ngày không phải người khôn ngoan đang tận hưởng cuộc đời; đó là người bị bỏ rơi, không ai thuê, không có công việc, không biết ngày mai lấy gì sống. Vào vườn nho không phải bị mất tự do; đó là được cứu khỏi một ngày vô nghĩa. Người đến sớm thực ra không thiệt. Họ đã có cả ngày sống có mục đích. Họ đã biết mình thuộc về một công việc. Họ đã có chỗ trong vườn. Những người đến trễ mới là những người đã mất gần cả ngày đứng chờ. Vì thế đừng nghĩ: “Tôi theo Chúa từ trẻ, còn người kia tận hưởng cuộc đời rồi cuối đời mới trở lại, thế là người kia lời.” Nếu ta thật sự nghĩ như vậy thì có lẽ ta vẫn coi đời sống với Chúa như gánh nặng. Một người yêu vợ mình không nói: “Tiếc quá, tôi cưới cô ấy sớm quá; lẽ ra tôi cứ vui chơi đến bảy mươi tuổi rồi cưới cho đỡ thiệt.” Một linh mục yêu ơn gọi không nói: “Tiếc quá, tôi dâng đời mình cho Chúa sớm quá.” Một người đã gặp Đức Kitô thật sự không nghĩ những năm sống với Người là những năm bị mất. Chính những năm xa Người mới là mất mát. Được gọi từ sáng không phải bất công; đó là một ân phúc lớn. Người đến giờ cuối được thương xót, nhưng người đến từ sáng đã được sống cả ngày trong vườn nho. Mỗi bên đều có ân huệ của mình. Không cần so sánh.
Có một hình ảnh rất đáng suy nghĩ: những người thợ cuối ngày nói rằng họ đứng đó vì “không ai mướn chúng tôi”. Câu trả lời ấy có thể được nghe như tiếng nói của biết bao người hôm nay. “Không ai cần tôi.” “Không ai nhìn thấy tôi.” “Không ai cho tôi cơ hội.” “Không ai tin tôi.” “Không ai nghĩ tôi còn ích lợi.” “Không ai gọi tên tôi.” Có người trẻ đi qua tuổi thanh xuân trong cảm giác thừa thãi. Có người già sau khi nghỉ hưu nghĩ đời mình không còn giá trị. Có người từng phạm sai lầm cảm thấy xã hội chỉ còn nhớ lỗi cũ. Có người hôn nhân tan vỡ nghĩ mình hết chỗ trong cộng đoàn. Có người nghèo nghĩ tiếng nói của mình không ai nghe. Có người bệnh tật nghĩ mình chỉ làm phiền người khác. Có người từng rời xa Giáo Hội sợ ngày trở về người ta sẽ nhìn mình bằng ánh mắt nghi ngờ. Trong chính bối cảnh ấy, Thiên Chúa đi ngang qua và hỏi: “Các anh cũng hãy đi vào vườn nho.” Có nghĩa là: Ta vẫn cần con. Đời con chưa hết ý nghĩa. Con vẫn có một chỗ trong kế hoạch của Ta. Đây là một trong những Tin Mừng đẹp nhất mà Hội Thánh phải đem ra thế giới. Hội Thánh không chỉ mở cửa chờ người ta đến; Hội Thánh phải học giống ông chủ: đi ra. Đi ra gặp người đang đứng bên lề. Đi ra gặp người không còn dám bước vào nhà thờ. Đi ra gặp người tưởng mình đã quá muộn. Đi ra đến những gia đình đổ vỡ, những khu lao động, bệnh viện, nhà dưỡng lão, trường học, môi trường kỹ thuật số, những nơi người trẻ đang sống, những vùng ngoại biên nơi người ta không còn ngôn ngữ tôn giáo. Nếu Thiên Chúa đi tìm người thợ đến tận giờ cuối, Hội Thánh không có quyền mỏi mệt tìm con người.
Nhưng Hội Thánh cũng phải cẩn thận đừng trở thành nhóm “thợ từ sáng” đóng cổng không cho người “đến muộn” vào. Có những cộng đoàn vô tình tạo ra cảm giác rằng muốn thuộc về đây, người ta phải có một quá khứ thật đẹp, gia đình thật chuẩn, kiến thức giáo lý thật tốt, cách ăn nói thật đạo đức. Nhưng vườn nho của Chúa đầy những con người có lịch sử phức tạp. Mátthêu từng là người thu thuế. Phêrô từng chối Thầy. Phaolô từng bắt bớ Kitô hữu. Augustinô đã mất nhiều năm đi tìm trong những con đường sai. Phanxicô Assisi thời trẻ đâu phải đã sống như vị thánh. Charles de Foucauld có cả hành trình dài trước khi trở về. Những con người ấy nhắc chúng ta rằng không ai chỉ được định nghĩa bằng chương tệ nhất trong đời mình. Thiên Chúa nhìn một người tội lỗi và thấy một vị thánh có thể được sinh ra. Chúng ta nhìn quá khứ; Thiên Chúa nhìn khả năng của ân sủng. Chúng ta nhìn đống đổ nát; Chúa có thể nhìn thấy vật liệu để xây lại. Chúng ta nói “quá muộn”; Chúa nói “hãy vào vườn nho”. Chính vì vậy cộng đoàn Kitô hữu phải là nơi người trở về cảm thấy mình được dẫn tới hoán cải nhưng không bị nghiền nát bởi sự kết án. Nói đến lòng thương xót không có nghĩa xóa bỏ sự thật. Người tội lỗi cần hoán cải. Người sai phải sửa. Vết thương cần chữa. Bất công cần được khắc phục. Nhưng tất cả diễn ra trong hy vọng rằng một con người có thể đổi đời.
Tin Mừng hôm nay còn giúp chúng ta chữa một căn bệnh rất kín: tính toán với Thiên Chúa. Có những lúc ta cầu nguyện rất sốt sắng vì muốn Chúa giải quyết một vấn đề. Khi mọi chuyện xong, ta nguội dần. Có khi ta làm việc lành rồi thầm chờ Chúa trả lại bằng thành công. Ta sống tốt và nghĩ vì vậy tai họa không được phép chạm đến mình. Khi bệnh tật xảy ra, ta phản ứng: “Con đã sống tử tế, sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Khi một người xấu dường như vẫn sung túc, ta hỏi: “Công bằng ở đâu?” Những câu hỏi ấy rất người và không có gì phải xấu hổ. Các Thánh vịnh cũng đầy những lời chất vấn như thế. Nhưng Chúa mời ta đi xa hơn. Đức tin trưởng thành không còn là cuộc mặc cả: “Con làm cái này, Chúa cho con cái kia.” Đức tin trưởng thành là mối quan hệ của người con với Cha. Người con ngoan không chăm sóc cha mẹ để một ngày chia gia tài nhiều hơn anh em. Nó chăm sóc vì yêu. Người Kitô hữu không yêu Chúa để mua thiên đàng; họ yêu bởi vì đã được yêu trước. Và thiên đàng cuối cùng không phải một khoản tiền Chúa chuyển vào tài khoản công trạng của ta; thiên đàng là được ở với Người mình yêu. Nếu ta không yêu Chúa, một cõi đời đời có Chúa cũng chẳng hấp dẫn. Nhưng nếu ta yêu Người, chỉ cần được ở bên Người đã là tất cả.
Có một câu hỏi đáng đặt cho đời sống thiêng liêng: Nếu Chúa không cho tôi thêm bất cứ thành công trần thế nào nữa, tôi có còn yêu Chúa không? Nếu tôi cầu nguyện mà bệnh không khỏi, tôi còn cầu nguyện không? Nếu tôi phục vụ mà không ai cảm ơn, tôi còn phục vụ không? Nếu tôi sống ngay thẳng mà người khác vẫn hiểu lầm, tôi còn chọn ngay thẳng không? Nếu tôi làm điều tốt mà người khác nhận công, tôi có bình an không? Những câu hỏi này chạm đến lý do thật sự ta bước vào vườn nho. Ta làm vì Chủ vườn hay vì đồng lương? Tất nhiên Thiên Chúa không coi thường những nhu cầu của chúng ta. Đức Giêsu dạy ta xin bánh hằng ngày. Ta có quyền xin chữa lành, xin công việc, xin bình an, xin vượt qua khó khăn. Nhưng đời sống đức tin sẽ nghèo nàn nếu Chúa chỉ là phương tiện để ta đạt một điều khác. Đỉnh cao của đức tin là ngày ta có thể nói: “Lạy Chúa, con muốn những ơn Chúa ban, nhưng trên tất cả, con muốn chính Chúa.”
Và nếu hiểu được điều đó, ta sẽ bắt đầu thoát khỏi so bì. Người khác có ơn gọi khác tôi. Người khác có con đường khác tôi. Có người Chúa gọi từ sáng. Có người từ trưa. Có người gần chiều. Có người được trao mười nén, người năm nén, người một nén. Có người phục vụ trên bục giảng, có người âm thầm quét nhà thờ. Có người nổi tiếng, có người không ai biết tên. Có người sống lâu, có người ra đi rất trẻ. Có người sau một lời cầu đã thấy phép lạ, có người cầu hàng chục năm vẫn phải mang thập giá. Chúng ta sẽ không hiểu hết các con đường ấy. Isaia đã nhắc: đường của Chúa cao hơn đường chúng ta. Đức tin không có nghĩa ta đã giải thích được mọi chuyện. Đức tin là dù không giải thích hết, ta vẫn tin trái tim của Chủ vườn là tốt. Đứa trẻ không hiểu vì sao bác sĩ phải tiêm, nhưng có thể nắm tay mẹ. Người tín hữu cũng vậy. Có những giai đoạn không hiểu Chúa đang làm gì, nhưng vẫn có thể nói: “Con chưa hiểu đường Chúa, nhưng con tin Chúa không ngừng yêu con.”
Có thể hôm nay có người đang ở “giờ thứ mười một” của đời mình. Có thể ta đã lãng phí nhiều năm. Có thể một tương quan đã hỏng. Có thể ta nhìn lại và tiếc một tuổi trẻ, một ơn gọi, một gia đình, một cơ hội mình đã không trân trọng. Tin Mừng không cho phép chúng ta quay ngược đồng hồ. Nhưng Tin Mừng nói: phần ngày còn lại vẫn có thể thuộc về Chúa. Người thợ được gọi lúc năm giờ chiều không thể làm lại từ sáu giờ sáng. Anh chỉ có thể làm từ năm giờ đến chiều tối. Nhưng một giờ ấy, trao cho Chúa, đã đủ để đời anh không kết thúc ngoài chợ. Có những sai lầm không thể xóa khỏi lịch sử, nhưng có thể được biến thành một nơi của ân sủng. Có những năm mất đi không lấy lại được, nhưng những năm còn lại có thể sống hoàn toàn khác. Có người từng nghiện ngập rồi trở thành người giúp người nghiện khác. Có người từng tan vỡ rồi trở thành người có lòng cảm thông rất sâu. Có người từng xa Chúa nên khi trở về biết quý một Thánh lễ hơn người đã quen đi lễ cả đời. Thiên Chúa không lãng phí cả vết thương của chúng ta nếu chúng ta trao nó cho Người.
Với người đã ở trong vườn nho từ sáng, Tin Mừng hôm nay cũng có một lời nhắn dịu dàng: đừng để sự trung thành lâu năm biến thành quyền đòi hỏi. Nếu cha mẹ đã hy sinh cho con suốt đời, hãy hy sinh vì yêu, đừng biến hy sinh thành món nợ bắt con phải trả theo cách mình muốn. Nếu vợ chồng đã sống với nhau nhiều năm, đừng giữ cuốn sổ ai hy sinh nhiều hơn. Nếu đã phục vụ giáo xứ hàng chục năm, đừng để chữ “lâu năm” trở thành chiếc ghế khiến người mới không có chỗ. Nếu đã làm linh mục nhiều năm, đừng nghĩ kinh nghiệm của mình khiến Chúa không thể nói qua người trẻ. Nếu đã sống đạo lâu, đừng coi thường người đang bắt đầu. Người làm từ sáng có một sứ mạng đặc biệt: giúp người đến sau yêu Chủ vườn, chứ không phải khiến họ cảm thấy mình là công dân hạng hai.
Điều làm nên vẻ đẹp của Nước Trời chính là ở chỗ mọi người cuối cùng không nhìn nhau để tính xem ai hơn ai, nhưng cùng nhìn về Chủ vườn. Khi mắt ta nhìn Chúa, lòng ta rộng ra. Khi mắt ta chỉ nhìn người bên cạnh, lòng ta hẹp lại. Thánh Phêrô từng hỏi Đức Giêsu về Gioan: “Còn người này thì sao?” Chúa trả lời đại ý: điều đó can gì đến anh, phần anh hãy theo Thầy. Có lẽ đó là một trong những lời giải thoát lớn nhất cho đời ta: phần con, hãy theo Thầy. Đừng phí đời để đo lường hành trình người khác. Chúa có lịch sử với họ. Con có lịch sử với Chúa. Có người được dẫn qua con đường thẳng, có người qua đường vòng. Có người phải ngã mới học được khiêm nhường. Có người đau nhiều mới biết thương. Có người thành công sớm rồi phải học buông bỏ. Có người thất bại rất lâu rồi cuối cùng mới hiểu đâu là điều quan trọng. Ta không đủ dữ kiện để kết luận đời người khác. Việc của ta là trung thành với giờ Chúa đang gọi mình.
Và rồi sẽ có buổi chiều. Đó là hình ảnh không ai trong chúng ta có thể tránh. Ngày đời sẽ khép lại. Tiếng Chủ vườn sẽ gọi người quản lý: “Hãy gọi thợ lại mà trả công cho họ.” Lúc đó bao điều chúng ta từng tranh giành sẽ nhỏ lại. Danh tiếng, chức vụ, tiền bạc, hơn thua, ai được khen nhiều hơn, ai được ngồi ghế nào, ai có bao nhiêu người theo dõi, ai được nhắc tên — mọi thứ sẽ ở lại. Trước mặt ta chỉ còn một điều: tôi đã để mình được Thiên Chúa yêu và đã học yêu như Người chưa? Có thể lúc ấy ta ngạc nhiên vì gặp trong Nước Trời những người ta từng không nghĩ sẽ có mặt. Và cũng có thể nhiều người ngạc nhiên thấy chúng ta ở đó. Bởi không ai vào Nước Trời để khoe công trạng. Mỗi người đều bước vào nhờ lòng thương xót. Người vào từ sáng cần lòng thương xót. Người vào buổi trưa cần lòng thương xót. Người vào phút cuối cần lòng thương xót. Linh mục cần lòng thương xót. Giám mục cần lòng thương xót. Người giáo dân đạo đức cần lòng thương xót. Người vừa trở lại cần lòng thương xót. Không một ai đến cửa thiên đàng rồi có thể nói: “Con vào đây vì Chúa mắc nợ con.” Ta chỉ có thể nói: “Lạy Chúa, con ở đây vì Chúa nhân hậu.”
Bởi thế, Chúa Nhật XXV Thường Niên không mời ta tranh luận xem ông chủ có công bằng hay không. Chúa mời ta nhìn vào trái tim mình: tôi đang sống trong tương quan với Chúa như người con hay như người làm thuê? Tôi có coi điều tốt của người khác là niềm vui hay là mối đe dọa? Tôi có vui khi người tội lỗi được trở về? Tôi có còn tin rằng một người đã đi rất xa vẫn có thể được Chúa gọi không? Tôi có đang đứng ngoài vườn nho chỉ vì nghĩ mình đã quá muộn? Tôi có đang ở trong vườn nhưng suốt ngày cằn nhằn? Tôi có coi việc phục vụ Chúa là ân huệ hay gánh nặng? Tôi đang nhìn đồng lương hay nhìn Chủ vườn?
Ước gì hôm nay, dù chúng ta được gọi từ sáng sớm hay chỉ vừa nghe tiếng Chúa vào giờ cuối, mỗi người đều có thể thưa một lời thật đơn sơ: “Lạy Chúa, con đây.” Nếu Chúa gọi con khi tuổi còn trẻ, con xin đi. Nếu Chúa gọi con giữa tuổi trung niên đầy vết thương, con xin đi. Nếu Chúa gọi con khi tóc đã bạc, con vẫn xin đi. Nếu con đã phục vụ nhiều năm, xin đừng để con kiêu căng. Nếu con mới bắt đầu, xin đừng để con mặc cảm. Nếu người khác được nhiều ơn, xin cho con vui với họ. Nếu phần đời con khó hiểu, xin cho con tin đường Chúa cao hơn đường con. Nếu con từng đứng ngoài chợ quá lâu, xin cho con đừng phí thêm một giờ nào nữa.
Lạy Chúa, xin chữa trong chúng con thói quen tính toán. Xin lấy khỏi chúng con chiếc cân luôn muốn cân công của mình với công người khác. Xin lấy khỏi chúng con cuốn sổ âm thầm ghi rằng con đã làm bao nhiêu cho Chúa. Xin cho chúng con hiểu rằng trước khi con làm bất cứ điều gì cho Chúa, chính Chúa đã làm mọi sự cho con; trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con; trước khi con yêu Chúa, Chúa đã yêu con; trước khi con bước vào vườn nho, Chủ vườn đã phải đi ra tận chợ để gọi con. Xin cho chúng con nhớ rằng hơi thở này là ân sủng, đức tin là ân sủng, ơn gọi là ân sủng, cơ hội phục vụ là ân sủng, sự tha thứ là ân sủng, và cuối cùng thiên đàng cũng là ân sủng.
Xin cho Hội Thánh của Chúa luôn là Hội Thánh đi ra tìm những người đang đứng ngoài chợ đời và nói với họ rằng vẫn còn một chỗ trong vườn nho. Xin đừng để chúng con biến cộng đoàn thành câu lạc bộ của những người đến sớm. Xin cho những cánh cửa luôn mở cho người trở về. Xin cho người đau khổ gặp được lòng thương cảm, người tội lỗi gặp được lời mời hoán cải đầy hy vọng, người thất vọng gặp một bàn tay, người già gặp một sứ mạng, người trẻ gặp một lý tưởng, người nghèo gặp anh chị em, người bị bỏ quên được gọi tên.
Và khi chiều đời đến, xin cho chúng con không đứng trước mặt Chúa với hai bàn tay nắm chặt công trạng, nhưng với đôi bàn tay mở ra. Xin cho chúng con không nói: “Lạy Chúa, Chúa còn nợ con”, nhưng thưa: “Lạy Chúa, tất cả là hồng ân.” Xin cho chúng con được nghe tiếng của Chủ vườn, Đấng đã ra đi tìm chúng con hết lần này đến lần khác, từ bình minh đến tận chiều tà của cuộc đời. Và khi Người trao đồng tiền cuối ngày, xin cho chúng con hiểu rằng phần thưởng lớn nhất không phải điều Người đặt vào tay chúng con, mà là chính Người đang đứng trước mặt chúng con.
Khi ấy chúng con sẽ hiểu vì sao đường lối Chúa cao hơn đường lối chúng con. Khi ấy chúng con sẽ hiểu vì sao người cuối có thể thành người đầu. Khi ấy chúng con sẽ hiểu vì sao một tên trộm có thể bước vào thiên đàng trong giờ cuối, vì sao một người thu thuế có thể trở thành Tông đồ, vì sao một kẻ bắt đạo có thể trở thành Phaolô, vì sao một đời tan vỡ vẫn có thể thành một bài ca của ân sủng. Khi ấy chúng con sẽ không còn hỏi: “Tại sao Chúa cho người ấy nhiều như thế?” nhưng chỉ còn kinh ngạc thưa: “Lạy Chúa, sao Chúa tốt lành đến thế!”
Và có lẽ đó chính là lúc Tin Mừng đã thật sự đi từ tai xuống trái tim chúng ta: khi chúng ta không còn buồn vì Chúa thương người khác, nhưng biết vui vì lòng thương xót của Người không bao giờ cạn; không còn sợ rằng khi Chúa cho người khác thì phần mình ít đi, bởi tình yêu Thiên Chúa không phải chiếc bánh càng chia càng nhỏ; không còn giữ chặt vị trí “người đến trước”, bởi trong Nước Trời điều quan trọng không phải tôi đứng thứ mấy nhưng là tôi có thuộc về Chúa hay không. Cuối cùng, người hạnh phúc nhất trong vườn nho không phải người làm nhiều giờ nhất hay ít giờ nhất, mà là người hiểu mình đang ở trong vườn của một Chủ vườn nhân hậu.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG GHEN TỨC VÌ THIÊN CHÚA NHÂN LÀNH
Tin Mừng Chúa Nhật XXV Thường Niên năm A đưa chúng ta vào một dụ ngôn rất quen nhưng càng đọc kỹ càng thấy khó chấp nhận theo lối suy nghĩ tự nhiên của con người: dụ ngôn những người thợ làm vườn nho. Có người được gọi từ sáng sớm, có người được gọi lúc chín giờ, có người lúc mười hai giờ, ba giờ chiều, thậm chí có người chỉ bước vào vườn nho khi ngày lao động gần kết thúc; vậy mà khi chiều xuống, tất cả đều nhận cùng một đồng tiền công. Những người đã chịu nắng nôi cả ngày lập tức phản ứng. Họ không phản đối vì mình bị trả thiếu, bởi chủ vườn đã trả đúng điều hai bên thỏa thuận; điều khiến họ khó chịu là những người đến sau cũng nhận bằng mình. Và chính ở điểm này dụ ngôn chạm rất sâu vào một căn bệnh âm thầm trong lòng người: chúng ta có thể vui khi mình được Thiên Chúa ban ơn, nhưng đôi khi lại khó vui khi thấy người khác được Thiên Chúa ban ơn nhiều hơn điều ta nghĩ họ xứng đáng được hưởng. Người ta có thể chấp nhận một Thiên Chúa công bằng, nhưng lại cảm thấy bất an trước một Thiên Chúa quá quảng đại. Người ta muốn Thiên Chúa tốt với mình, nhưng lại vô thức muốn Người phải dè dặt với người khác. Người ta mong được tha thứ cho những lỗi lầm của mình, nhưng lại muốn Thiên Chúa nhớ thật kỹ lỗi lầm của người làm mình đau. Người ta xin Chúa mở cửa cho mình, nhưng đôi khi lại bực bội khi thấy cánh cửa ấy cũng mở cho những người mình không thích. Và chính vì vậy, câu hỏi của chủ vườn vang lên như một mũi tên đi thẳng vào tâm hồn: tại sao con lại khó chịu chỉ vì Ta nhân lành? Bài Tin Mừng không chỉ nói về tiền công. Nếu chỉ đọc nó như một câu chuyện kinh tế, chúng ta sẽ tranh luận mãi về tiền lương, thời gian lao động, sự công bằng và quyền lợi. Đức Giêsu không tổ chức một lớp học về luật lao động; Người đang mặc khải khuôn mặt của Chúa Cha. Đồng tiền trong dụ ngôn không phải chỉ là tiền; vườn nho không phải chỉ là nơi làm việc; giờ thứ nhất, giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín hay giờ thứ mười một không chỉ là những mốc thời gian. Vườn nho là Nước Thiên Chúa. Lời gọi ra vườn nho là lời mời gọi bước vào sự sống với Người. Đồng tiền cuối ngày là quà tặng của ơn cứu độ, của tình yêu, của sự sống đời đời. Và khi nói rằng người đến muộn cũng được nhận như người đến sớm, Đức Giêsu đang nói một điều làm đảo lộn mọi thước đo thường ngày của chúng ta: tình yêu của Thiên Chúa không phải là đồng lương được tính theo số giờ chúng ta phục vụ Người. Thiên Chúa không yêu chúng ta theo một bảng chấm công. Người không mở thiên đàng bằng một chiếc máy quét thẻ để kiểm tra ai đến sớm, ai về muộn. Người không chia tình yêu thành từng gam rồi cân theo thành tích đạo đức của mỗi người. Người yêu bởi vì Người là Tình Yêu. Người cứu bởi vì Người là Đấng Cứu Độ. Người thương xót bởi vì lòng thương xót thuộc về chính bản tính của Người.
Điều đáng chú ý là chủ vườn cứ ra ngoài mãi. Sáng sớm ông ra. Chín giờ ông lại ra. Giữa trưa ông lại đi. Ba giờ chiều ông vẫn đi. Đến tận giờ thứ mười một, khi ngày gần hết và chẳng chủ vườn bình thường nào còn cần thuê thêm người nữa, ông vẫn ra quảng trường tìm những người còn đứng đó. Điều ấy cho chúng ta thấy một hình ảnh vô cùng đẹp về Thiên Chúa: Người không mệt mỏi đi tìm con người. Người không ngồi trong nhà đợi chúng ta tự tìm đường đến. Người bước ra. Người gọi. Người kiếm. Người trở lại. Người kiên nhẫn. Người không thôi hy vọng về bất cứ ai. Có những người được gọi rất sớm trong cuộc đời. Có người được sinh ra trong gia đình Công giáo, được rửa tội từ nhỏ, được nghe kinh tối sáng, được đi lễ, học giáo lý, lớn lên bên cha mẹ đạo đức. Họ giống những người vào vườn nho từ sáng. Nhưng cũng có những người mãi đến tuổi trưởng thành mới biết Chúa. Có người đã sống hàng chục năm xa Giáo Hội rồi mới trở lại. Có người đã phí gần hết cuộc đời trong những lựa chọn sai lầm, đến khi tóc bạc mới bắt đầu cầu nguyện. Có người chỉ trong cơn bệnh cuối đời mới biết ngước nhìn Thánh Giá. Có người như người trộm lành trên đồi Canvê: gần như ở phút cuối cùng của cuộc sống mới nói với Đức Giêsu một lời nhỏ bé: “Khi nào vào Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa không bảo anh: “Muộn quá rồi.” Người không bắt anh làm bù ba mươi năm khổ chế, không bảo anh xuống khỏi thập giá rồi đi học giáo lý, không yêu cầu một danh sách thành tích. Người trả lời: hôm nay anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng. Chính đó là “người thợ giờ thứ mười một”. Và chính đó là Tin Mừng. Khi người đời có thể nói “quá muộn”, Thiên Chúa vẫn có thể nói “hãy đến”. Khi người đời nói “hết hy vọng”, Thiên Chúa vẫn có thể mở một lối đi. Khi người đời nói “con người này không còn cứu được”, Thiên Chúa vẫn có thể biến một giây phút thành cả một cánh cửa đi vào vĩnh cửu. Vì thế không ai trong chúng ta có quyền đóng hồ sơ cuộc đời của một người khi Thiên Chúa chưa đóng. Không ai được quyền nói về một người khác rằng “người ấy hết thuốc chữa”, bởi chúng ta không phải là Thiên Chúa. Có những người hôm nay đang rất xa Chúa nhưng ngày mai có thể trở thành những chứng nhân mạnh mẽ. Có những người hôm nay gây cho chúng ta thất vọng nhưng một ngày nào đó chính họ có thể làm chúng ta kinh ngạc bởi sự đổi đời. Có những tâm hồn mà ta tưởng là mảnh đất khô cằn nhưng dưới lớp đất tưởng như chết ấy, Thiên Chúa đang âm thầm gieo một hạt giống. Và có thể chỉ cần một cơn mưa ân sủng là hạt giống ấy sẽ nảy mầm.
Nhưng dụ ngôn không chỉ là tin vui cho những người đến muộn; nó cũng là một lời cảnh tỉnh rất mạnh cho những người đến sớm. Những người đến sớm có một đặc ân lớn: họ đã được ở trong vườn nho cả ngày. Họ đã ở gần chủ. Họ có việc để làm. Họ có ý nghĩa cho ngày sống của mình. Họ không phải đứng ngoài quảng trường trong tình trạng vô định. Nhưng thay vì thấy đó là một hồng ân, họ lại bắt đầu tính toán. Và một khi tình yêu bị thay bằng tính toán, niềm vui biến mất. Đó cũng có thể là bi kịch của những người đã sống đạo lâu năm. Ta có thể đi lễ bốn mươi năm mà quên mất niềm vui được gặp Chúa. Ta có thể lần hạt hàng ngàn chuỗi mà trong lòng vẫn đầy so đo. Ta có thể phục vụ giáo xứ nhiều năm rồi một ngày nào đó cay đắng vì không ai nhắc tên mình. Ta có thể giữ đạo rất tốt nhưng lại thầm nghĩ rằng vì thế Thiên Chúa “nợ” mình một cuộc đời thuận lợi. Và khi bệnh tật đến, khó khăn đến, thất bại đến, ta bắt đầu hỏi: “Tại sao Chúa để điều này xảy ra cho con? Con đã đi lễ, đã đọc kinh, đã làm việc thiện, vậy tại sao người sống chẳng ra gì kia lại sung sướng hơn con?” Lúc ấy, rất có thể ta đã biến mối tương quan với Thiên Chúa thành một hợp đồng thương mại. Con làm việc này cho Chúa; Chúa phải trả con điều kia. Con đọc bao nhiêu kinh; Chúa phải ban cho con bấy nhiêu may mắn. Con đi lễ mỗi ngày; Chúa phải giữ gia đình con khỏi đau khổ. Nhưng Tin Mừng không dạy chúng ta mặc cả với Thiên Chúa. Đức tin không phải là một giao dịch. Cầu nguyện không phải máy bán hàng tự động. Ta không bỏ vào một số kinh rồi nhấn nút để nhận ra một phép lạ. Thiên Chúa không phải nhân viên trả lương của đời sống đạo đức. Người là Cha. Và người con yêu cha mình không phải vì cuối tháng sẽ được lĩnh tiền công.
Bài đọc thứ nhất của Chúa Nhật này, trích sách Isaia, nói một lời làm chúng ta phải khiêm tốn: tư tưởng của Thiên Chúa không phải tư tưởng của chúng ta, đường lối của Người không phải đường lối của chúng ta. Trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Thiên Chúa cũng cao hơn đường lối con người bấy nhiêu. Đây không phải là lời bảo rằng Thiên Chúa phi lý. Không. Người không phi lý; Người vượt quá logic nhỏ hẹp của ta. Có một thứ công bằng của con người dựa trên sự cân xứng: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Điều đó rất cần trong xã hội. Nếu một người lao động tám giờ mà được trả bằng người chỉ làm một giờ trong cùng một công việc, chúng ta sẽ đặt câu hỏi chính đáng. Nhưng dụ ngôn của Đức Giêsu đang nói về một bình diện khác. Ân sủng không phải tiền lương. Sự sống đời đời không phải sản phẩm của sức lao động con người. Không ai có thể đứng trước Thiên Chúa rồi nói: “Con đã làm đủ nên Chúa phải cho con thiên đàng.” Nếu thiên đàng là một món hàng có thể mua bằng việc lành thì thập giá Đức Kitô trở thành thừa. Nhưng Kitô giáo tuyên xưng rằng chúng ta được cứu nhờ ân sủng. Việc lành của chúng ta vô cùng quan trọng, nhưng việc lành là hoa trái của ân sủng chứ không phải giá mua ân sủng. Ta yêu vì đã được yêu. Ta tha thứ vì đã được tha thứ. Ta phục vụ vì đã được Chúa phục vụ. Ta bước vào vườn nho vì chủ vườn đã ra quảng trường tìm ta trước. Trước khi ta nói “con muốn theo Chúa”, chính Chúa đã đi tìm ta. Trước khi ta nghĩ đến Người, Người đã nghĩ đến ta. Trước khi ta yêu Người, Người đã yêu ta.
Đọc dụ ngôn này, chúng ta cũng nên dừng lại nơi những người “đứng không suốt ngày”. Chủ vườn hỏi họ tại sao đứng không. Họ trả lời rất đơn sơ: “Vì không ai thuê chúng tôi.” Có một nỗi buồn sâu thẳm trong câu nói ấy. Có những người không hẳn lười biếng; họ chỉ chưa được ai gọi. Họ đứng đó, chờ đợi, có lẽ thấy từng nhóm người được chọn rồi rời quảng trường, còn mình tiếp tục ở lại. Mỗi lần một ông chủ khác đến rồi chọn người khác, lòng họ có thể hụt xuống. Chín giờ: không phải tôi. Mười hai giờ: vẫn không phải tôi. Ba giờ chiều: lại không phải tôi. Đến cuối ngày, chắc họ đã thôi hy vọng. Và rồi có một người chủ đến và hỏi: tại sao các anh đứng đây? Có thể đó là lần đầu tiên trong ngày có người thực sự nhìn vào mắt họ và hỏi về hoàn cảnh của họ. Tin Mừng cho thấy Thiên Chúa là Đấng nhìn thấy những người bị bỏ quên. Người nhận ra những ai xã hội không chú ý. Người thấy người già sống một mình. Người thấy một người trẻ cảm thấy mình chẳng có giá trị. Người thấy người thất nghiệp xấu hổ vì không nuôi nổi gia đình. Người thấy người mang quá khứ đổ vỡ và nghĩ rằng chẳng cộng đoàn nào còn muốn mình. Người thấy người nghiện ngập đang chiến đấu trong thầm lặng. Người thấy một bà mẹ cô đơn. Người thấy một người cha thất bại. Người thấy một người đang ở bệnh viện mà chẳng ai thăm. Người thấy một linh hồn đã đứng “ngoài quảng trường” quá lâu. Và Người nói: “Cả anh nữa, hãy vào vườn nho của tôi.” Trong mắt Thiên Chúa không có cuộc đời nào vô dụng. Không có tuổi nào quá muộn để bắt đầu lại. Không có con người nào chỉ là đồ thừa. Không có người nào sinh ra chỉ để đứng bên lề. Mỗi người đều có một chỗ trong vườn nho của Người.
Thế nhưng một nghịch lý khác xuất hiện: những người vào trước không vui vì những người vào sau cũng được nhận. Đây là một cám dỗ tinh vi trong đời sống đạo: biến ân sủng thành một đặc quyền để tự tôn. Ta có thể tự hào rằng mình đạo gốc, rồi nhìn người tân tòng bằng một ánh mắt khác. Ta có thể làm việc mục vụ lâu năm rồi khó chịu khi một người mới được trao trách nhiệm. Ta có thể đã hy sinh rất nhiều rồi cảm thấy tổn thương khi người khác được ghi nhận. Ta có thể thấy một người tội lỗi trở lại rồi thầm nghĩ: “Chúa dễ dãi quá.” Nhưng hãy tưởng tượng thiên đàng mà vẫn còn kiểu so đo ấy thì thiên đàng chẳng khác gì mặt đất. Nếu trong Nước Trời tôi vẫn hỏi tại sao người kia cũng được vào thì chính tôi chưa hiểu Nước Trời. Niềm vui của thiên đàng không phải là tôi được đứng cao hơn người khác; niềm vui của thiên đàng là mọi người đều được ở với Thiên Chúa. Nếu một người từng mất tích trở về, cả nhà phải vui. Nếu một con chiên lạc được tìm thấy, người mục tử phải vác nó lên vai. Nếu người em hoang đàng trở về, người cha phải mở tiệc. Nhưng người anh cả trong dụ ngôn người con hoang đàng lại có tâm trạng rất giống các thợ làm từ sáng: “Con đã phục vụ cha bao năm…” Ta có thể nghe cùng một giọng nói: con làm nhiều hơn; con xứng đáng hơn; tại sao cha lại tốt với nó như vậy? Và câu trả lời của người cha cũng giống câu trả lời của chủ vườn: con ơi, mọi sự của cha đều là của con, nhưng chúng ta phải vui vì người em đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. Nỗi buồn lớn nhất không phải là người em từng bỏ nhà; nỗi buồn lớn hơn là người anh ở nhà nhưng không hiểu trái tim người cha.
Có lẽ chúng ta cần hỏi chính mình: tôi đang sống trong nhà Chúa với tâm hồn người con hay tâm hồn người làm thuê? Người làm thuê luôn hỏi: tôi sẽ nhận được gì? Người con hỏi: cha muốn con làm gì? Người làm thuê đếm giờ. Người con trân trọng sự hiện diện. Người làm thuê so sánh tiền công. Người con vui vì gia đình được sum họp. Người làm thuê khó chịu khi người khác được ưu ái. Người con vui khi người em trở về. Có thể chúng ta đã sống đạo nhiều năm nhưng vẫn cư xử với Thiên Chúa như người làm thuê. Ta đếm số lần đi lễ, số giờ cầu nguyện, số việc từ thiện, số hy sinh, rồi sâu trong lòng chờ một phần thưởng tương xứng. Nhưng Đức Giêsu muốn biến người làm thuê thành con. Người muốn chúng ta thôi đứng trước Chúa với một cuốn sổ công trạng. Nếu phải tính sổ thật, không ai trong chúng ta đứng vững. Điều cứu chúng ta không phải cuốn sổ thành tích của mình mà là trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô.
Chúng ta cũng cần suy nghĩ về căn bệnh so sánh. Rất nhiều bất hạnh của con người không đến từ việc chúng ta có quá ít, mà từ việc chúng ta nhìn thấy người khác có nhiều hơn. Người thợ nhận một đồng lẽ ra đã vui, bởi đó chính là điều anh đã đồng ý từ sáng. Nhưng khi nhìn người đến sau cũng nhận một đồng, đồng tiền trong tay anh lập tức mất vị ngon. Tiền không thay đổi. Điều thay đổi là cái nhìn. Bao nhiêu người trong chúng ta cũng như vậy. Ta đang bình an với căn nhà của mình cho đến khi thăm căn nhà lớn hơn của người khác. Ta đang hài lòng với chiếc xe của mình cho đến khi người hàng xóm mua xe mới. Ta từng cảm ơn Chúa vì con mình ngoan, nhưng rồi thấy con người khác học giỏi hơn, ta bắt đầu buồn. Ta từng vui với chức vụ nhỏ trong cộng đoàn, nhưng khi một người khác được giao việc nổi bật hơn, ta mất bình an. Ta từng thấy đời mình đầy ơn, nhưng mạng xã hội cho ta xem từng giờ những chuyến đi, thành công, bữa tiệc, thành tích và hạnh phúc được chọn lọc của người khác, rồi đột nhiên đời ta có vẻ nhạt nhẽo. So sánh biến ơn lành thành thiếu thốn. Nó khiến một đồng đủ sống trở thành một đồng gây tức giận. Nó khiến điều ta từng xem là quà tặng trở thành bằng chứng rằng mình “bị thiệt”. Một trong những chìa khóa của đời sống thiêng liêng vì thế là học nhìn ân sủng mà không nhìn sang chiếc đĩa của người bên cạnh.
Nếu muốn chữa bệnh ghen tị, chúng ta phải học tạ ơn. Tạ ơn không phải nói vài câu lịch sự với Chúa; tạ ơn là một cách nhìn đời. Người biết tạ ơn có thể nhận ra rằng sáng nay còn thức dậy đã là một món quà; còn thở là quà; còn có người để yêu là quà; còn có thể dự lễ là quà; còn có thể bắt đầu lại là quà; còn có thời gian để xin lỗi là quà; còn được nghe Lời Chúa là quà. Khi mọi sự được nhìn như quà tặng, ta ít có lý do để đòi hỏi. Còn khi mọi sự bị nhìn như quyền đương nhiên, ta sẽ luôn thất vọng. Người biết ơn nói: “Lạy Chúa, con chẳng xứng đáng với điều con đang có.” Người đòi hỏi nói: “Tại sao con không có thêm?” Hai người có thể sống cùng một hoàn cảnh nhưng một người bình an, người kia cay đắng, chỉ vì họ nhìn cuộc đời bằng hai đôi mắt khác nhau.
Dụ ngôn cũng nói với chúng ta về cách Thiên Chúa nhìn thời gian. Con người thường nghĩ thời gian dài đồng nghĩa với giá trị lớn. Thiên Chúa nhìn vào trái tim. Một người có thể ở trong Giáo Hội tám mươi năm mà chưa bao giờ thực sự trao trái tim cho Chúa. Một người khác có thể chỉ biết Chúa vài tháng nhưng yêu Người với tất cả tâm hồn. Thời gian rất quý, nhưng thời gian tự nó không đảm bảo sự thánh thiện. Giuđa đã ở bên Đức Giêsu nhiều năm; người trộm lành chỉ ở bên Người trong vài giờ cuối cùng. Một người đã nghe hàng trăm bài giảng; người kia có lẽ chỉ nghe vài câu trên thập giá. Nhưng vấn đề không phải ai nghe lâu hơn, mà ai để lời ấy mở trái tim mình. Điều này vừa an ủi vừa cảnh tỉnh. Nó an ủi những ai nghĩ rằng mình đã quá muộn: không, nếu hôm nay bạn thực sự trở về thì hôm nay có thể là ngày đẹp nhất đời bạn. Nhưng nó cảnh tỉnh những người nghĩ rằng vì mình đã “ở trong đạo” lâu nên chẳng cần hoán cải nữa. Không ai được cứu bằng thâm niên.
Vì vậy Chúa Nhật hôm nay đặt chúng ta trước câu hỏi: nếu hôm nay Chủ vườn bước ngang cuộc đời tôi và nói “con cũng hãy vào vườn nho của Ta”, tôi sẽ trả lời thế nào? Có thể “vườn nho” của tôi chính là gia đình mà bấy lâu tôi đang bỏ bê. Có thể đó là người phối ngẫu mà tôi đã thôi lắng nghe. Có thể là đứa con đang cần tôi hiện diện hơn cần tiền của tôi. Có thể là cha mẹ già đang mong một cuộc điện thoại. Có thể là một người nghèo mà Chúa đặt trên đường đời. Có thể là một trách nhiệm trong cộng đoàn. Có thể là một tật xấu tôi phải can đảm bỏ. Có thể là bí tích Hòa Giải mà tôi đã né tránh nhiều năm. Có thể là một lời xin lỗi. Có thể là một cuộc trở về. Có thể là quyết định sống lại đời cầu nguyện. Và điều quan trọng là đừng nói: để mai. Người thợ giờ thứ mười một vẫn còn cơ hội bởi vì khi được gọi anh đã đi ngay. Không ai trong chúng ta biết mình đang ở giờ thứ mấy của ngày sống. Ta tưởng còn buổi sáng nhưng có thể đã xế chiều. Ta tưởng còn nhiều năm nhưng đời người rất mong manh. Vì vậy điều quan trọng không phải đã muộn bao nhiêu; điều quan trọng là khi Chúa gọi hôm nay, ta có bước đi hay không.
Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai nói rằng đối với ngài, sống là Đức Kitô. Đó chính là đỉnh cao của thái độ người làm vườn nho. Khi sống là Đức Kitô, ta không còn tính xem mình được bao nhiêu. Chính được ở với Người đã là phần thưởng. Một người thực sự yêu không hỏi: “Tôi phải yêu đến mấy giờ?” Một người mẹ không hỏi: “Một ngày tôi phải chăm con bao nhiêu phút để hoàn thành nghĩa vụ?” Một người yêu Thánh Thể không hỏi: “Đi lễ này có bắt buộc không?” Người đang yêu không sống bằng mức tối thiểu. Anh muốn ở gần người mình yêu. Đời sống Kitô hữu cũng vậy. Khi ta còn thường hỏi “không làm điều này có tội không?”, “bỏ điều kia có mắc tội trọng không?”, “đi lễ trễ bao nhiêu phút thì còn tính?”, có thể ta đang sống chủ yếu bằng ranh giới pháp luật. Luật cần thiết, nhưng tình yêu còn đi xa hơn. Một người con không hỏi điều tối thiểu phải làm để không bị cha mẹ phạt. Người con yêu cha mẹ sẽ hỏi: hôm nay tôi có thể làm gì để cha mẹ vui? Cũng thế, người yêu Chúa sẽ hỏi: hôm nay tôi có thể sống thế nào để đẹp lòng Người?
Và đây có lẽ là điều sâu xa nhất của dụ ngôn: phần thưởng lớn nhất của người vào vườn nho từ sáng không phải đồng tiền cuối ngày; phần thưởng của họ là đã được ở trong vườn nho từ sáng. Nếu ta chỉ nhìn đồng tiền, ta sẽ nghĩ họ thiệt. Nhưng nếu vườn nho tượng trưng cho đời sống với Thiên Chúa thì họ được hưởng một điều người đến cuối ngày không có: cả một ngày ở gần chủ. Người sống với Chúa từ tuổi thơ không cần ghen với người trở lại phút cuối; phải cảm tạ vì đã được biết Chúa sớm. Người giữ mình khỏi nghiện ngập không cần ghen với người nghiện được tha thứ; phải cảm ơn vì mình không phải trải qua những năm tháng tan nát ấy. Người giữ được hôn nhân trung tín không cần hỏi vì sao Chúa tha cho người ngoại tình; phải tạ ơn vì gia đình mình không phải mang những vết thương đó. Người sống lương thiện không cần than rằng kẻ tội lỗi được thương xót quá dễ; phải vui vì mình đã được sống trong ánh sáng. Ân sủng dành cho người đến sau không lấy mất gì của người đến trước. Mặt trời chiếu lên nhà hàng xóm không làm nhà ta tối đi. Thiên Chúa ban thêm cho người khác không có nghĩa Người lấy bớt của ta.
Do đó, thái độ đúng trước lòng quảng đại của Thiên Chúa là vui mừng. Nếu một người tội lỗi trở về, hãy vui. Nếu một gia đình hàn gắn, hãy vui. Nếu một người mà ta từng nghi ngờ bắt đầu sống tốt, hãy vui. Nếu một linh mục từng yếu đuối đứng lên, hãy cầu nguyện cho ngài và vui vì ân sủng đang hoạt động. Nếu một người trẻ từng xa nhà thờ bắt đầu trở lại, đừng soi xét quá khứ của họ; hãy mở cửa. Giáo Hội phải là vườn nho với cánh cổng rộng cho người trở về, chứ không phải câu lạc bộ của những người tự cho mình hoàn hảo. Đôi lúc người ta sợ trở về nhà thờ không phải vì sợ Chúa, mà vì sợ ánh mắt của chúng ta. Họ biết Chúa có thể tha thứ, nhưng họ không chắc cộng đoàn có để họ bắt đầu lại hay không. Nếu như vậy, chúng ta phải xét mình. Chủ vườn liên tục đi tìm người; còn chúng ta đôi khi lại dựng hàng rào để giữ người ngoài. Chúa gọi họ vào; chúng ta hỏi họ từ đâu tới. Chúa cho họ một đồng; chúng ta hỏi họ đã làm được bao nhiêu giờ. Chúa nhìn tương lai; chúng ta đào quá khứ. Một cộng đoàn Tin Mừng phải phản ánh tấm lòng chủ vườn, không phải thái độ những người thợ ghen tị.
Có một điều nữa: lòng quảng đại của Thiên Chúa không loại bỏ sự công bằng mà hoàn tất nó trong tình yêu. Người chủ nói với người thợ: “Tôi không bất công với anh. Chẳng phải anh đã thỏa thuận với tôi một đồng sao?” Anh đã nhận đủ. Không ai bị lấy mất điều gì. Nhưng chủ vườn còn muốn làm hơn mức tối thiểu đối với người khác. Đây là sự khác biệt giữa công bằng và quảng đại. Công bằng hỏi: tôi nợ anh bao nhiêu? Quảng đại hỏi: tôi có thể cho anh thêm điều gì? Công bằng bảo đảm người khác không bị thiệt; tình yêu đi xa hơn và tìm cách làm họ được sống. Nếu Thiên Chúa chỉ đối xử với chúng ta theo sự công bằng lạnh lùng, ai có thể đứng vững? Thánh vịnh từng hỏi: nếu Chúa chấp tội, nào ai đứng vững được chăng? Nhưng nơi Thiên Chúa có ơn tha thứ. Đó chính là hy vọng của ta.
Thử nhìn lại cả cuộc đời mình, ta sẽ nhận ra rằng rất nhiều điều ta đang có không phải do ta xứng đáng. Ta không tự chọn gia đình mình sinh ra. Ta không tự tạo bộ não, đôi mắt, đôi tay, nhịp tim. Ta không tự làm cho mặt trời mọc sáng nay. Ta không tự ban cho mình khả năng yêu. Ngay cả đức tin cũng là quà. Nếu Chúa gọi ta vào vườn nho từ sớm thì chính việc được gọi đã là ân sủng. Vì vậy không một Kitô hữu nào có quyền kiêu ngạo. Người đứng gần bàn thờ nhất cũng sống nhờ lòng thương xót như người vừa bước vào cuối nhà thờ. Linh mục cũng phải nói: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Giám mục cũng phải nói. Tu sĩ cũng phải nói. Người giáo dân đạo đức cũng phải nói. Người mới trở lại cũng phải nói. Tất cả đứng trên cùng một nền đất dưới chân thập giá.
Và khi nhận ra điều đó, ta sẽ có thể nhìn người khác bằng lòng thương xót hơn. Ta bớt kết án vì biết chính mình cũng sống nhờ tha thứ. Ta bớt ghen vì biết mọi sự là quà. Ta bớt so đo vì biết Thiên Chúa có con đường riêng cho mỗi người. Ta bớt tuyệt vọng về người khác vì biết Chủ vườn vẫn còn đang đi ra quảng trường vào giờ thứ mười một. Có thể hôm nay chính Người đang đi tìm một đứa con của gia đình ta. Có thể ta đã cầu nguyện mười năm cho nó mà chưa thấy gì. Đừng tuyệt vọng. Có thể nó chưa nghe tiếng gọi. Có thể giờ của nó chưa đến. Nhưng chủ vườn vẫn đi. Có người mẹ cầu nguyện hàng chục năm cho đứa con bỏ đạo. Có người vợ cầu nguyện cho chồng. Có linh mục cầu nguyện cho một giáo dân đã rời cộng đoàn. Có người cầu nguyện cho anh chị em mình. Đừng thay Thiên Chúa bằng lịch của mình. Ta nói: “Chúa ơi, lâu quá.” Nhưng đối với Người, giờ thứ mười một vẫn chưa muộn. Một đời người có thể đổi hướng trong vài phút. Một câu Kinh Thánh có thể xuyên qua bức tường dày mấy chục năm. Một biến cố có thể mở mắt. Một người bạn có thể trở thành dụng cụ. Một cơn bệnh có thể làm người ta suy nghĩ. Một Thánh lễ tình cờ có thể đánh thức ký ức. Một lời tha thứ có thể làm tan băng. Ân sủng có những lối đi mà ta không biết.
Nhưng đồng thời, chúng ta đừng lạm dụng lòng thương xót để trì hoãn hoán cải. Đừng nghe nói người giờ thứ mười một cũng nhận đồng tiền rồi nghĩ: vậy tôi cứ sống theo ý mình, cuối đời trở lại cũng được. Người thợ giờ thứ mười một không từ chối chủ vườn từ sáng đến chiều; anh không được ai thuê. Còn nếu tôi nghe tiếng Chúa hôm nay rồi cố tình nói “để già rồi tính”, đó không phải tín thác mà là thử thách Thiên Chúa. Ta không biết mình có giờ thứ mười một hay không. Có người đi ngủ tối nay và không thức dậy sáng mai. Có người ra đường rồi không trở về. Sự sống mong manh không nhằm làm ta sợ hãi nhưng giúp ta sống khôn ngoan. Ngày hôm nay là giờ Chúa gọi. Nếu có điều phải sửa, sửa hôm nay. Nếu có người phải tha thứ, hãy bắt đầu hôm nay. Nếu cần xưng tội, đừng đợi. Nếu đã lâu không cầu nguyện, tối nay hãy quỳ xuống. Nếu cần nói “con yêu cha”, “con yêu mẹ”, “anh xin lỗi”, “em tha thứ”, hãy nói khi còn cơ hội.
Tin Mừng Chúa Nhật này cuối cùng đặt trước mắt chúng ta một Thiên Chúa có trái tim lớn hơn mọi thước đo của con người. Người gần gũi chúng ta nhưng cũng luôn vượt quá chúng ta. Ta có thể nhận ra Người nhưng không thể nhốt Người trong những công thức nhỏ bé. Có khi Người chọn người mà ta không chọn. Có khi Người tha thứ người mà ta tưởng không đáng. Có khi Người mở cửa nơi ta tưởng đã đóng. Có khi Người ban một cơ hội cuối cùng và biến nó thành khởi đầu đời đời. Và vì thế, đức tin cuối cùng là học tín thác. Tín thác khi ta hiểu và cả khi không hiểu. Tín thác khi Chúa hành động giống điều ta mong và cả khi đường lối Người làm ta ngỡ ngàng. Tín thác rằng chủ vườn biết rõ vườn nho của mình. Tín thác rằng lòng quảng đại của Người không làm ai nghèo đi. Tín thác rằng tình yêu của Thiên Chúa dành cho người khác không làm tình yêu dành cho ta ít lại.
Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi một thứ đạo đức chỉ biết tính công. Xin Người chữa đôi mắt luôn nhìn phần của người khác. Xin Người ban cho chúng ta trái tim có thể vui khi thấy người tội lỗi trở về, người thất bại đứng dậy, người đến muộn được đón nhận. Xin Người dạy chúng ta hiểu rằng được ở trong vườn nho của Chúa đã là một ân huệ không gì sánh được. Xin cho những ai đã ở trong vườn nho từ sáng biết tạ ơn; những ai mới đến buổi trưa biết can đảm; những ai đến lúc chiều xuống biết hy vọng; và những ai vẫn đang đứng ngoài quảng trường nghe được tiếng Chủ vườn gọi mình: “Cả con nữa, hãy vào vườn nho của Ta.”
Và nếu một ngày nào đó ta bước qua cánh cửa cuối cùng của đời mình, có lẽ ta sẽ nhận ra rằng điều ta từng gọi là “bất công” nơi lòng thương xót Thiên Chúa thực ra là lý do duy nhất khiến chính ta được cứu. Bởi trước mặt Đấng Thánh, tất cả chúng ta đều là những người đến muộn. Trước tình yêu vô biên của Người, tất cả những gì ta làm đều nhỏ bé. Trước thập giá Đức Kitô, không ai có thể khoe khoang rằng mình đã trả đủ giá. Giá cứu chuộc chúng ta đã được trả bởi một Đấng khác. Bởi thế khi đồng tiền của sự sống đời đời được đặt vào tay, ta sẽ không thể nói: “Đây là tiền công của tôi.” Ta chỉ có thể cúi đầu và nói: “Đây là ân sủng.”
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đừng ghen tức vì Chúa nhân lành. Xin cho chúng con biết vui khi Chúa thương xót người khác như chính Chúa đã thương xót chúng con. Xin cho chúng con đừng biến đời sống đức tin thành một bảng chấm công, nhưng sống từng ngày như một người con biết mình đang được ở trong nhà Cha. Xin cho chúng con luôn nghe được tiếng gọi bước vào vườn nho, và một khi đã bước vào, xin cho chúng con làm việc không phải vì sợ mất phần thưởng, nhưng vì yêu Chủ vườn. Xin cho chúng con hiểu rằng phần thưởng lớn nhất cuối cùng không phải điều Chúa đặt vào tay chúng con, nhưng chính là được ở với Chúa đời đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG BUỒN VÌ THIÊN CHÚA QUẢNG ĐẠI
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ! Lời Chúa trong Chúa nhật XXV Thường niên hôm nay đưa chúng ta bước vào một vườn nho rất lạ: trong vườn nho ấy, có người bắt đầu làm việc từ sáng sớm, có người đến lúc chín giờ, có người vào làm lúc mười hai giờ trưa, có người được gọi lúc ba giờ chiều, và cũng có những người mãi đến năm giờ chiều, khi ngày làm việc gần kết thúc, mới được chủ vườn sai vào làm. Điều khiến người nghe ngạc nhiên hơn nữa là khi chiều xuống, ông chủ lại truyền cho người quản lý trả công cho mọi người, bắt đầu từ những người đến sau hết, và mỗi người đều nhận được một đồng tiền. Những người làm từ sáng sớm tưởng rằng mình sẽ được nhận nhiều hơn, nhưng cuối cùng họ cũng chỉ nhận đúng một đồng như đã thỏa thuận. Chính từ đó, lời phàn nàn bắt đầu nổi lên: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.” Nếu nghe dụ ngôn này bằng lối suy nghĩ thông thường của con người, có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng cảm thấy lời phàn nàn ấy có phần hợp lý. Làm mười hai giờ mà nhận bằng người chỉ làm một giờ, chịu nắng nóng cả ngày mà được trả ngang với người chỉ xuất hiện lúc trời đã dịu, gánh vác công việc từ đầu mà bị đặt ngang hàng với người đến gần cuối, xem ra khó có thể gọi là công bằng. Nhưng Chúa Giêsu không kể dụ ngôn này để dạy chúng ta cách tổ chức một doanh nghiệp, lập bảng lương hay quản trị nhân sự. Người đang mặc khải cho chúng ta biết Nước Trời là gì, Thiên Chúa là ai, con người được cứu độ bằng điều gì, và vì sao một trái tim tưởng mình công chính vẫn có thể ở rất xa lòng thương xót của Thiên Chúa. Dụ ngôn không phủ nhận giá trị của lao động, không cổ võ sự lười biếng và cũng không bảo rằng mọi đóng góp của con người đều như nhau; dụ ngôn muốn phá vỡ trong chúng ta một quan niệm rất nguy hiểm: coi ân sủng như tiền công, coi đời sống đạo như một hợp đồng trao đổi và coi Thiên Chúa như người mắc nợ chúng ta.
Ông chủ đã không làm điều gì bất công đối với những người vào làm từ sáng sớm. Ông trả cho họ đúng số tiền hai bên đã thỏa thuận. Chính ông đã nhẹ nhàng nhắc một người trong họ: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một đồng sao?” Vấn đề không nằm ở số tiền người đến trước nhận được, nhưng nằm ở việc họ không chịu nổi khi nhìn thấy người đến sau cũng được nhận một đồng. Họ không buồn vì mình bị lấy mất điều gì; họ buồn vì người khác được ban cho quá nhiều. Họ không đau vì ông chủ bất công với họ; họ đau vì ông chủ quảng đại với người khác. Đây chính là một căn bệnh sâu kín của lòng người. Có những lúc chúng ta không thực sự đau khổ vì mình thiếu thốn, nhưng đau khổ vì người khác được nhiều hơn điều chúng ta nghĩ họ xứng đáng được hưởng. Chúng ta không mất gì cả, nhưng vẫn cảm thấy khó chịu khi thấy người khác được yêu thương, được nâng đỡ, được tha thứ, được tín nhiệm hay được trao cho một cơ hội mới. Chúng ta có thể vui khi Thiên Chúa thương mình, nhưng lại không vui khi Thiên Chúa cũng thương người mình không thích. Chúng ta muốn lòng thương xót của Chúa dành cho mình phải vô hạn, nhưng khi Chúa thương xót người khác thì lại muốn Chúa xét đoán thật nghiêm minh. Khi nhìn vào tội lỗi của mình, ta van xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con”; nhưng khi nhìn vào lỗi lầm của người khác, ta lại nghĩ: “Lạy Chúa, Người phải công bằng chứ!” Ta muốn Chúa nhớ đến hoàn cảnh, sự yếu đuối, những vết thương và những giới hạn của mình, nhưng lại muốn Chúa bỏ qua tất cả những hoàn cảnh, vết thương và giới hạn của người khác. Ta xin Chúa cho mình thêm một cơ hội, nhưng lại thấy bất bình khi Chúa mở ra một cơ hội cho người từng làm ta tổn thương. Ta muốn được xét xử bằng lòng thương xót, nhưng lại muốn người khác bị xét xử bằng luật lệ lạnh lùng. Dụ ngôn hôm nay vì thế không chỉ nói về những người thợ trong một vườn nho xa xưa; dụ ngôn đang nói về chính trái tim của mỗi người chúng ta.
Câu hỏi của ông chủ: “Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” là câu hỏi đâm thẳng vào vùng sâu nhất của tâm hồn. Theo nghĩa sát của nguyên ngữ, đó là câu hỏi về “con mắt xấu”: phải chăng mắt của anh trở nên xấu vì tôi tốt lành? Lòng quảng đại của Thiên Chúa không làm cho ai nghèo đi, nhưng một ánh mắt ganh tị có thể biến niềm vui của người khác thành nỗi khổ của chính mình. Khi trái tim bị so bì chi phối, ta không còn nhìn thấy những gì mình đã nhận, chỉ nhìn thấy những gì người khác đang có. Ta quên rằng mình đã được ông chủ gọi từ sáng sớm, đã được bước vào vườn nho, đã có một ngày sống có ý nghĩa, đã được bảo đảm công việc và tiền công; ta chỉ chăm chú vào đồng tiền nằm trên tay người đến sau. Người làm từ sáng sớm lẽ ra phải vui vì mình đã không phải đứng ngoài chợ suốt ngày trong tình trạng bị bỏ quên. Họ đã được làm việc, được thuộc về vườn nho và được sống trong tương quan với ông chủ. Thế nhưng vì so bì, họ biến đặc ân của mình thành gánh nặng, biến giờ phút được phục vụ thành một bản thành tích và biến người bạn đồng lao động thành đối thủ cạnh tranh. Trong đời sống đức tin cũng vậy, có người theo Chúa từ thuở nhỏ, tham dự Thánh lễ đều đặn, đọc kinh mỗi ngày, phục vụ giáo xứ nhiều năm, hy sinh cho cộng đoàn rất nhiều; tất cả những điều ấy thật quý giá. Nhưng nếu từ những điều tốt đẹp ấy, ta bắt đầu nghĩ rằng mình có quyền đòi Chúa phải yêu mình hơn người khác, phải ban cho mình nhiều hơn người khác, phải dành cho mình một chỗ cao hơn người khác, thì việc phục vụ không còn là hồng ân mà đã biến thành một món nợ ta buộc Thiên Chúa phải thanh toán. Đó là lúc ta có thể ở trong vườn nho mà tâm hồn lại xa ông chủ; miệng vẫn đọc kinh mà lòng không còn biết ơn; tay vẫn phục vụ mà tâm trí chỉ tính toán; bên ngoài vẫn trung thành nhưng bên trong đầy cay đắng vì không được ghi nhận như mình mong muốn.
Điều quan trọng không phải là ta đã vào vườn nho từ giờ nào, nhưng là khi vào đó, ta có thực sự yêu mến ông chủ và vui với lòng nhân hậu của ông hay không. Có người ở trong Hội Thánh từ nhỏ nhưng chưa bao giờ thật sự để cho Tin Mừng chạm đến trái tim. Có người mới trở về với Chúa sau một cuộc đời đầy vấp ngã nhưng lại đón nhận tình thương của Người bằng tất cả lòng thống hối và biết ơn. Có người đọc rất nhiều kinh nhưng dễ dàng kết án anh chị em. Có người mới chỉ biết thưa lên: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi,” nhưng lời cầu nguyện ấy lại phát xuất từ một tâm hồn tan nát và chân thành. Có người phục vụ lâu năm nhưng luôn kể công, luôn nhắc công trạng của mình, luôn chờ người khác biết ơn; có người chỉ làm được một việc âm thầm nhưng thực hiện bằng tình yêu rất tinh tuyền. Chúng ta không biết hết câu chuyện của người khác. Ta chỉ nhìn thấy giờ họ bước vào vườn nho, nhưng không biết họ đã phải đứng chờ bao lâu ngoài chợ; không biết họ đã trải qua bao lần bị từ chối; không biết trong lòng họ đã mang những mặc cảm, thất vọng và thương tích nào; không biết họ đã từng khát khao được gọi nhưng “không ai thuê”; không biết vì sao đến cuối ngày họ mới gặp được ông chủ. Vì thế, chúng ta không có quyền lấy đoạn đường mình đã đi để khinh thường bước khởi đầu của người khác, cũng không có quyền lấy những công việc mình đã làm để đo lường giá trị của một con người trước mặt Thiên Chúa.
Lời giải thích của những người đứng chờ đến giờ thứ mười một thật ngắn nhưng đầy đau đớn: “Vì không ai thuê chúng tôi.” Có thể họ không phải là những kẻ lười biếng. Họ đã ra chợ và đứng đó suốt ngày, nhưng không ai chọn họ. Có lẽ họ già yếu, sức khỏe kém, vụng về, ít kinh nghiệm hoặc mang một dáng vẻ khiến người thuê không tin tưởng. Những người khỏe mạnh có thể đã được thuê từ sáng; người có kinh nghiệm được chọn vào chín giờ; người còn khả năng lao động được gọi vào buổi trưa; còn họ, vì một lý do nào đó, bị bỏ lại cho đến gần cuối ngày. Chúa Giêsu giúp chúng ta nhận ra những con người đang đứng bên lề cuộc đời và không được ai lựa chọn. Đó có thể là một người già cảm thấy mình không còn hữu ích; một người khuyết tật thường bị nhìn bằng ánh mắt thương hại; một người nghèo không có cơ hội học hành; một người từng phạm lỗi nên bị mọi người đóng khung trong quá khứ; một người hôn nhân đổ vỡ không biết tìm nơi nào để nương tựa; một người trẻ thất nghiệp và cảm thấy mình vô giá trị; một người nghiện ngập đang muốn làm lại nhưng không ai tin; một người trong gia đình không được lắng nghe; một bệnh nhân nằm lâu ngày tưởng mình chỉ còn là gánh nặng; hay một người đã xa nhà thờ nhiều năm, muốn quay về nhưng sợ ánh mắt xét đoán của cộng đoàn. Trước mặt người đời, họ có thể là những người đến quá muộn; nhưng trước mặt Thiên Chúa, không ai bị coi là quá muộn nếu họ còn nghe được lời mời: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho.”
Thiên Chúa không ngừng đi ra để tìm kiếm con người. Ông chủ trong dụ ngôn không chỉ ra chợ một lần vào sáng sớm rồi đóng cổng vườn nho. Ông ra đi nhiều lần: sáng sớm, chín giờ, mười hai giờ, ba giờ và năm giờ chiều. Thiên Chúa cũng bước vào cuộc đời ta bằng nhiều thời điểm và nhiều con đường như vậy. Có người nghe tiếng Chúa gọi từ tuổi thơ trong một gia đình đạo đức. Có người gặp Chúa ở tuổi thanh xuân qua một biến cố, một người bạn, một linh mục, một nữ tu hay một chứng tá phục vụ. Có người đến giữa cuộc đời, sau khi đã trải qua thành công và thất bại, mới bắt đầu tự hỏi mình sống để làm gì. Có người phải qua một cơn bệnh, một mất mát, một lần đổ vỡ hoặc một kinh nghiệm cận kề cái chết mới nhận ra rằng tiền bạc, địa vị và lời khen của thế gian không thể cứu mình. Cũng có người đến cuối đời, khi sức lực không còn bao nhiêu, mới mở lòng đón nhận Thiên Chúa. Đối với lòng thương xót của Chúa, không có tiếng gọi nào là vô nghĩa và cũng không có sự trở về chân thành nào bị khước từ. Người trộm lành chỉ còn một khoảng thời gian rất ngắn trên thập giá, nhưng một lời cầu xin khiêm tốn đã mở ra cho anh cánh cửa thiên đàng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng.” Điều ấy không làm giảm giá trị của những người đã trung thành suốt đời; trái lại, nó cho thấy sự trung thành của họ phải được sống trong niềm vui vì Thiên Chúa có thể cứu một người ngay ở giờ phút cuối cùng.
Ngôn sứ Isaia trong bài đọc thứ nhất cất lên lời mời gọi: “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên. Kẻ gian ác hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa, và Người sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ.” Đây vừa là lời đầy hy vọng vừa là lời mang tính khẩn thiết. Hy vọng, vì Thiên Chúa rộng lòng tha thứ; khẩn thiết, vì con người không nên trì hoãn việc trở về. Lòng thương xót của Chúa vô biên, nhưng thời gian đời người hữu hạn. Chúa không mệt mỏi khi tha thứ, nhưng con người có thể mệt mỏi vì không chịu hoán cải; con người có thể trì hoãn hết ngày này qua ngày khác đến mức trái tim trở nên chai cứng, lương tâm trở nên mờ tối và ý muốn trở về dần dần bị dập tắt. Chúng ta thường tự hứa: khi công việc bớt bận tôi sẽ cầu nguyện; khi gia đình ổn định tôi sẽ trở về với Chúa; khi lớn tuổi tôi sẽ nghĩ đến linh hồn; khi có thời gian tôi sẽ làm hòa; khi người kia xin lỗi trước tôi mới tha thứ; khi thuận lợi hơn tôi sẽ bỏ thói quen xấu. Nhưng hết lần trì hoãn này đến lần trì hoãn khác, ta vẫn đứng ngoài vườn nho của Chúa. Lời Chúa hôm nay nói với ta rằng thời điểm thuận tiện nhất để hoán cải chính là hôm nay. Nếu đang giận ai, hãy bắt đầu bước về phía hòa giải hôm nay. Nếu đang sống trong một tình trạng sai trái, hãy tìm sự trợ giúp hôm nay. Nếu đã bỏ cầu nguyện, hãy trở lại hôm nay. Nếu đã xa bí tích Hòa Giải, hãy can đảm tìm đến lòng thương xót hôm nay. Nếu đã làm tổn thương một người, hãy nhận lỗi hôm nay. Nếu đã để một người thân cô độc quá lâu, hãy gọi cho họ hôm nay. Ta không biết mình đang ở giờ thứ nhất hay giờ thứ mười một của đời mình; chỉ biết rằng ngay lúc này, ông chủ vẫn đang bước đến và nói: “Con hãy vào vườn nho của Ta.”
Thiên Chúa phán qua ngôn sứ Isaia: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.” Con người thường hiểu công bằng theo lối cân đo: ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, người tốt được thưởng và người xấu bị phạt. Cách suy nghĩ ấy không hoàn toàn sai trong trật tự xã hội, nhưng không đủ để diễn tả mầu nhiệm cứu độ. Nếu Thiên Chúa chỉ xử với chúng ta theo một thứ công bằng lạnh lùng, không ai có thể đứng vững trước nhan Người. Tất cả chúng ta đều sống nhờ ân sủng. Không ai tự mình xứng đáng với sự sống, với đức tin, với bí tích, với ơn tha thứ và với thiên đàng. Ngay cả khả năng làm điều lành cũng là một ân huệ Chúa ban. Người thợ vào làm từ sáng sớm không tự mình tạo ra vườn nho, không làm ra ánh sáng ban ngày, không cho cây nho sinh trưởng và cũng không phải là người quyết định mùa gặt. Anh chỉ đáp lại lời mời và làm việc trong một vườn nho đã có sẵn. Người Kitô hữu cũng vậy: ta không tạo ra ơn cứu độ; Đức Kitô đã cứu chuộc ta bằng thập giá và sự phục sinh của Người. Ta không mua được thiên đàng bằng những việc đạo đức; ta đón nhận sự sống đời đời như một hồng ân rồi cộng tác với ân sủng bằng đức tin sống động và tình yêu chân thành. Việc lành của ta rất cần thiết, nhưng không phải là cái giá khiến Thiên Chúa mắc nợ ta. Ta làm điều lành vì đã được yêu, chứ không phải để buộc Chúa phải yêu mình.
Một đồng tiền mà mọi người cùng nhận có thể giúp ta nghĩ đến ơn cứu độ, đến sự sống đời đời và đến chính Thiên Chúa là phần thưởng chung cuộc của con người. Thiên đàng không thể chia thành từng phần như chia tiền bạc. Người đến trước không nhận “nhiều Thiên Chúa hơn” người đến sau; mỗi người được hiệp thông trọn vẹn với Người tùy theo khả năng yêu mến đã được ân sủng biến đổi. Trong gia đình, một người mẹ không bớt yêu đứa con ngoan khi bà chạy đến chăm sóc đứa con đau yếu. Người cha không xúc phạm đứa con đang ở nhà khi mở cửa đón đứa con hoang đàng trở về. Niềm vui của gia đình không phải là chia nhau phần yêu thương theo công trạng, nhưng là không để một người con nào phải mất. Người anh cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu cũng mang tâm trạng rất giống những người thợ làm từ sáng sớm. Anh kể công: “Bao nhiêu năm con hầu hạ cha và chẳng khi nào trái lệnh.” Anh giận dữ vì người em phung phá được cha đón về, mặc áo đẹp, đeo nhẫn và mở tiệc. Người cha đã không lấy điều gì của anh; ông nói: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.” Nỗi bất hạnh của người anh cả là sống trong nhà cha như một người làm thuê, không nhận ra niềm vui được ở với cha. Những người thợ đầu tiên cũng làm trong vườn nho nhưng lại chỉ nhìn ông chủ như người trả lương. Đó cũng có thể là bi kịch của người giữ đạo lâu năm: ở trong nhà Chúa nhưng không vui vì có Chúa; phục vụ Chúa nhưng chỉ chờ phần thưởng; nhìn người khác như đối thủ; âm thầm nghĩ rằng nếu người tội lỗi cũng được cứu thì những hy sinh của mình trở nên vô nghĩa.
Thưa cộng đoàn, trung thành với Chúa không bao giờ là vô nghĩa. Một đời sống ngay lành không mất giá trị chỉ vì một người tội lỗi được tha thứ. Người giữ gìn gia đình thủy chung không bị thiệt thòi vì Hội Thánh mở đường chữa lành cho người có hôn nhân đổ vỡ. Người sống lương thiện không mất phần thưởng vì Chúa tha thứ cho người từng gian dối nhưng thật lòng ăn năn. Người phục vụ từ trẻ không bị xem nhẹ vì một người lớn tuổi mới bắt đầu dấn thân. Người giữ đạo từ nhỏ không bị hạ thấp vì một người tân tòng được cộng đoàn vui mừng đón nhận. Ân sủng dành cho người khác không phải là phần bị lấy khỏi tay chúng ta. Tình yêu của Thiên Chúa không giống chiếc bánh càng chia thì phần của mỗi người càng nhỏ. Tình yêu ấy càng được trao ban càng bày tỏ sự phong phú vô tận. Nếu thật sự yêu Chúa, ta phải vui khi có thêm một người được cứu. Nếu thật sự hiểu Tin Mừng, ta phải hân hoan khi một người lạc đường tìm được lối về. Nếu thật sự sống trong vườn nho, ta phải biết đón người thợ mới như một người anh chị em, chứ không nhìn họ như kẻ cạnh tranh.
Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai đã cho chúng ta thấy tâm hồn của một người thực sự thuộc về vườn nho của Chúa. Ngài nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi.” Phaolô không còn sống để tính toán mình sẽ được gì, được ai ghi nhận hay được phần thưởng lớn hơn người khác. Đức Kitô đã trở thành trung tâm, ý nghĩa và cùng đích của đời ngài. Nếu còn sống, ngài tiếp tục lao nhọc để sinh ích cho cộng đoàn; nếu chết, ngài được ở với Đức Kitô. Dù sống hay chết, ngài vẫn thuộc về Chúa. Đó là tự do sâu xa của một người không còn đặt cái tôi ở trung tâm. Khi sống là Đức Kitô, ta không cần hạ người khác xuống để nâng mình lên; không cần buồn vì người khác thành công; không cần ghen khi người khác được yêu mến; không cần kể công để chứng minh giá trị của mình; không cần biến việc phục vụ thành phương tiện tìm danh dự. Ta làm việc vì yêu Chúa và yêu anh chị em. Ta ở lại trần gian vì người khác đang cần mình. Ta chấp nhận hy sinh vì Tin Mừng cần được loan báo. Ta chịu những hiểu lầm mà không bỏ cuộc, vì điều quan trọng không phải là tên tuổi mình được nhắc đến, nhưng là Đức Kitô được tôn vinh.
Câu nói “Sống là Đức Kitô” cũng giúp chúng ta hiểu rằng phần thưởng lớn nhất của người vào vườn nho từ sáng không phải là một đồng tiền vào cuối ngày, nhưng là được ở với ông chủ suốt ngày. Nếu ta thật sự yêu Chúa, được phục vụ Người lâu hơn đã là một hồng ân, chứ không phải là một thiệt thòi. Người sống thánh thiện từ trẻ không nên nghĩ mình đã mất đi những thú vui mà người tội lỗi từng trải qua; người ấy đã được gìn giữ khỏi biết bao vết thương, khỏi bao hệ lụy, khỏi những đêm dài của ân hận và khỏi nỗi cô độc do tội lỗi gây nên. Người chung thủy trong hôn nhân không phải là kẻ đã bỏ lỡ cơ hội hưởng thụ; họ được sống một tình yêu bền vững và trao cho con cái một mái ấm. Người sống trung thực không phải là người khờ dại vì không kiếm lợi bằng gian dối; họ có một lương tâm bình an. Người phục vụ Chúa từ thuở nhỏ không phải là người chịu nắng nôi vô ích; họ đã có cả một đời được bước đi cùng Chúa, được Lời Chúa soi sáng, được Thánh Thể nuôi dưỡng, được cộng đoàn nâng đỡ và được dùng đời mình để sinh hoa trái. Nếu ta chỉ mong thiên đàng như một đồng lương cuối ngày mà không vui vì được sống với Chúa ngay từ hôm nay, có lẽ ta chưa thực sự hiểu đời sống Kitô hữu.
Dụ ngôn cũng mời gọi Hội Thánh phải trở nên giống ông chủ vườn nho: không ngừng đi ra, tìm kiếm và mời gọi. Một giáo xứ không thể chỉ chăm sóc những người đã ở trong nhà thờ mà quên những người đang đứng ngoài chợ. Một cộng đoàn không thể chỉ hài lòng với những sinh hoạt quen thuộc mà không tự hỏi còn ai chưa được nghe lời mời gọi, còn ai cảm thấy mình bị bỏ lại, còn ai đang đứng bên lề vì nghèo khó, mặc cảm hay quá khứ lỗi lầm. Có khi người ta không trở về nhà thờ không phải vì họ không cần Chúa, nhưng vì họ sợ ánh mắt của chúng ta. Có khi họ muốn tham gia nhưng không ai mở lời mời. Có khi họ đứng đó từ lâu mà chúng ta không nhìn thấy. Có khi cách ứng xử khép kín, phân biệt hoặc nặng tính phe nhóm của cộng đoàn đã vô tình nói với họ rằng: “Ở đây không có chỗ cho anh.” Trong khi đó, tiếng Chúa vẫn nói: “Cả anh nữa, hãy đi vào vườn nho.” Nếu Hội Thánh là bí tích của lòng thương xót, cánh cửa phải được mở ra cho người chân thành tìm kiếm; người trở về phải được nâng đỡ thay vì bị nhắc đi nhắc lại về quá khứ; người yếu đuối cần được đồng hành thay vì bị loại bỏ; người mới đến cần được đón nhận thay vì bị đem so với những người lâu năm.
Trong gia đình, Tin Mừng hôm nay mời cha mẹ tránh so sánh các con với nhau. Mỗi người con có thời điểm trưởng thành khác nhau, khả năng khác nhau, vết thương khác nhau và con đường Chúa dẫn cũng khác nhau. Có đứa con hiểu chuyện từ sớm; có đứa phải qua nhiều vấp ngã mới biết quý gia đình. Có đứa thành công trong học hành; có đứa lại có một trái tim giàu tình cảm và biết chăm sóc người khác. Nếu cha mẹ chỉ dựa vào thành tích để phân chia giá trị, gia đình sẽ trở thành một nơi cạnh tranh và lòng ganh tị sẽ âm thầm lớn lên giữa anh chị em. Tình yêu khôn ngoan không phải là nuông chiều hay xóa bỏ mọi nguyên tắc, nhưng là biết trao cho mỗi người điều họ thực sự cần để có thể trưởng thành. Với người đang mạnh mẽ, cha mẹ có thể trao trách nhiệm; với người đang yếu đuối, cha mẹ phải nâng đỡ nhiều hơn. Việc dành thêm thời gian cho một đứa con đang khủng hoảng không có nghĩa là yêu những đứa khác ít hơn. Cũng vậy, khi Thiên Chúa cúi xuống một người tội lỗi, không phải Người quên những người công chính, nhưng vì người đau yếu đang cần thầy thuốc.
Trong cộng đoàn và trong công việc mục vụ, chúng ta cũng cần cảnh giác với tâm lý công trạng. Có người nghĩ: tôi đã phục vụ bao nhiêu năm, tại sao người mới lại được trao trách nhiệm? Tôi đã đóng góp nhiều, tại sao tên tôi không được nhắc đến? Tôi đã hy sinh, tại sao người khác được cảm ơn? Những cảm xúc ấy rất con người và cần được nhìn nhận chân thành. Nhưng nếu không được thanh luyện, chúng có thể biến việc phục vụ thành nơi tìm kiếm chính mình. Chúng ta hãy tự hỏi: Nếu không ai biết việc tôi làm, tôi còn muốn làm không? Nếu người khác được khen, tôi có vui không? Nếu người đến sau làm tốt hơn tôi, tôi có sẵn sàng nâng đỡ họ không? Nếu một ngày tôi phải lui lại để người khác tiếp nối, tôi có bình an không? Nếu câu trả lời còn khó khăn, có lẽ Chúa đang mời ta bước từ thái độ người làm thuê sang tâm tình người con, từ việc tìm phần thưởng sang niềm vui phục vụ, từ cạnh tranh sang hiệp thông.
“Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.” Lời này không có nghĩa Thiên Chúa tùy tiện đảo lộn mọi trật tự, nhưng cảnh báo rằng vị trí bề ngoài không quyết định tình trạng thật của trái tim. Người đứng đầu có thể trở thành người sau chót nếu tự mãn, khép kín và khinh thường anh chị em. Người bị coi là sau chót có thể được đưa lên trước nếu biết khiêm tốn đón nhận ân sủng. Điều quyết định không phải là ta đã có mặt trong nhà thờ bao lâu, đã mang chức vụ gì, đã được bao nhiêu người kính trọng, nhưng là trái tim ta có giống trái tim Đức Kitô hay không. Một người có thể nói về Chúa rất nhiều nhưng lại thiếu lòng thương xót. Một người có thể giữ nhiều luật lệ nhưng không biết cảm thông. Một người có thể ở vị trí cao trong cộng đoàn nhưng chỉ tìm vinh quang cho mình. Trái lại, một người âm thầm chăm sóc người bệnh, kiên nhẫn nuôi con khuyết tật, trung thành bên người bạn đời đau yếu, chia sẻ bữa cơm với người nghèo hay tha thứ cho người làm mình tổn thương có thể đang ở rất gần Nước Trời.
Chúng ta cũng cần nhớ rằng chính mình có thể là người thợ giờ thứ mười một. Ta thường dễ đặt mình vào hàng những người đến sớm, rồi nhìn người khác như kẻ đến muộn. Nhưng nếu nhìn đời mình dưới ánh sáng sự thánh thiện của Thiên Chúa, ta sẽ nhận ra rằng tất cả chúng ta đều là những người đến muộn. Ta đã được yêu trước khi biết đáp lại. Đức Kitô đã chết cho ta khi ta còn là người tội lỗi. Biết bao lần Chúa gọi mà ta không nghe, Chúa chờ mà ta trì hoãn, Chúa tha thứ mà ta lại sa ngã, Chúa trao cơ hội mà ta bỏ phí. Có thể ta hiện diện trong Hội Thánh từ lâu, nhưng trong một khía cạnh nào đó của đời sống, ta vẫn đang đứng ngoài vườn nho. Có người đi lễ đều nhưng chưa bước vào vườn nho của lòng tha thứ. Có người đọc kinh nhiều nhưng chưa bước vào vườn nho của sự công bằng. Có người hoạt động tích cực nhưng chưa bước vào vườn nho của đức khiêm nhường. Có người nói mình tin Chúa nhưng chưa trao cho Người quyền hướng dẫn tiền bạc, công việc, các mối quan hệ và những lựa chọn kín đáo. Chúa vẫn đang đi tìm ta trong những vùng chưa hoán cải ấy và nói: “Cả con nữa, hãy đi vào vườn nho.”
Khi hiểu rằng mình cũng được cứu nhờ lòng thương xót, ta sẽ bớt khắt khe với người khác. Người từng được tha một món nợ lớn sẽ không dễ bóp cổ anh em chỉ vì một món nợ nhỏ. Người ý thức sự mong manh của mình sẽ không vội kết án sự yếu đuối của người khác. Người nhớ rằng Chúa đã kiên nhẫn với mình sẽ học kiên nhẫn với gia đình. Người biết mình đã được đón về sẽ không khóa cửa trước người đang tìm đường trở lại. Đây không phải là thái độ dung túng cho điều xấu. Lòng thương xót thật không gọi tội lỗi là điều tốt, nhưng tin rằng người phạm tội vẫn có thể được biến đổi. Chúa gọi người đứng ngoài vào vườn nho để họ làm việc, chứ không để họ tiếp tục đứng không. Ân sủng không miễn cho ta khỏi hoán cải; ân sủng làm cho hoán cải trở nên có thể. Sự tha thứ không bảo rằng quá khứ không quan trọng; nó tuyên bố rằng quá khứ không còn quyền quyết định toàn bộ tương lai của một người.
Hôm nay, mỗi người có thể tự hỏi ba câu. Thứ nhất, tôi đang ghen tị với lòng quảng đại của Chúa dành cho ai? Có người nào được Chúa chúc lành mà tôi thấy khó chịu không? Có người nào được cộng đoàn đón nhận khiến tôi nghĩ rằng họ không xứng đáng không? Có ai được tha thứ mà tôi vẫn muốn giữ họ trong bản án của quá khứ không? Thứ hai, tôi đang đứng ngoài vườn nho ở điểm nào? Có tiếng gọi nào của Chúa mà tôi vẫn trì hoãn? Có điều gì cần từ bỏ, có mối quan hệ nào cần chữa lành, có bổn phận nào cần đảm nhận hay có một bước trở về nào cần thực hiện ngay hôm nay không? Thứ ba, quanh tôi đang có ai nói trong thinh lặng rằng: “Không ai thuê tôi”? Ai đang cảm thấy bị quên lãng, vô dụng, không được yêu thương hay không còn cơ hội? Tôi có thể trở thành khí cụ giúp họ nghe được tiếng Chúa gọi vào vườn nho không?
Thánh lễ chúng ta cử hành chính là bữa tiệc của lòng quảng đại. Không ai trong chúng ta có thể nói mình hoàn toàn xứng đáng đến bàn tiệc của Chúa. Trước khi rước lễ, tất cả cùng thưa: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con.” Linh mục, tu sĩ hay giáo dân; người đạo đức lâu năm hay người vừa trở lại; người giàu hay người nghèo; người có học hay ít học, tất cả đều tiến đến nhờ lòng thương xót. Chỉ một mình Đức Kitô là người Con hoàn toàn vâng phục. Người đã mang lấy gánh nặng và sức nóng của ngày dài; Người đã làm việc cho đến giờ cuối cùng; Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Thế nhưng phần thưởng Người trao lại không giữ cho riêng mình. Người chia sự sống của Người cho chúng ta. Người đổ máu để ta được tha thứ, chết để ta được sống và trở nên nghèo để ta được giàu có trong ân sủng. Nếu nhìn lên thập giá, ta không còn có thể cho rằng Thiên Chúa keo kiệt. Nếu nhìn vào Thánh Thể, ta không còn có thể nói mình tự cứu được bản thân. Tất cả đều là hồng ân.
Xin Chúa chữa lành đôi mắt hay so bì của chúng ta, để ta biết nhìn ân huệ của người khác mà tạ ơn thay vì ghen tức. Xin Chúa chữa lành trí nhớ thích kể công, để ta nhận ra rằng ngay cả cơ hội phục vụ cũng là một hồng ân. Xin Chúa chữa lành trái tim khép kín, để ta biết vui mừng khi một người tội lỗi trở về, khi một gia đình được hàn gắn, khi một người từng lạc lối tìm lại được đức tin. Xin Chúa ban cho những ai đang đứng ngoài chợ cuộc đời được nghe tiếng Người gọi. Xin Người cho những ai nghĩ rằng đời mình đã quá muộn hiểu rằng bao lâu còn có thể đáp lời, bấy lâu cánh cửa vườn nho vẫn còn mở. Xin Người cho chúng ta đừng chờ đến ngày mai để yêu thương, tha thứ và hoán cải. Và xin cho từng người có thể nói như thánh Phaolô: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô,” để dù được gọi vào giờ thứ nhất hay giờ thứ mười một, dù phục vụ nơi nổi bật hay âm thầm, dù được người đời ghi nhận hay lãng quên, chúng ta vẫn bình an vì biết mình đang ở trong vườn nho của Chúa, đang làm công việc của Chúa và đang tiến về phần thưởng không phải là tiền bạc hay danh dự, nhưng là chính Chúa.
Cuối cùng, điều Tin Mừng hôm nay muốn đặt vào lòng ta không phải là một phép tính mới, nhưng là một trái tim mới. Thiên Chúa không cứu chúng ta vì chúng ta đã tính toán chính xác, nhưng vì Người tốt lành. Người không yêu chúng ta vì ta đã làm đủ để xứng đáng, nhưng vì bản tính của Người là tình yêu. Người không ngừng bước ra tìm kiếm, không ngừng mở lời mời gọi và không ngừng hy vọng con người sẽ đáp lại. Vì thế, đừng buồn vì Thiên Chúa quảng đại. Đừng khép cửa mà Chúa muốn mở. Đừng giữ người anh em trong quá khứ mà Chúa đã sẵn sàng tha thứ. Đừng biến đời sống đạo thành cuộc mặc cả về phần thưởng. Đừng chỉ hỏi mình đã làm được bao nhiêu, nhưng hãy hỏi mình đã yêu bao nhiêu. Đừng chỉ hỏi người khác đến sớm hay muộn, nhưng hãy vui vì cuối cùng họ cũng đã bước vào. Và khi chiều xuống, khi ngày sống của chúng ta khép lại, ước gì ta không đứng trước mặt Chúa với một cuốn sổ đầy công trạng, nhưng với đôi bàn tay đã biết phục vụ, một trái tim đã học yêu thương và một tâm hồn khiêm tốn thưa rằng: “Lạy Chúa, tất cả là hồng ân. Con không xứng đáng, nhưng con tin vào lòng nhân hậu của Ngài.” Amen.
Lm. Anmai, CSsR

LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA LỚN HƠN MỌI TÍNH TOÁN CỦA CON NGƯỜI
Tin Mừng Chúa Nhật XXV Thường Niên năm A đưa chúng ta đến trước một dụ ngôn vừa quen thuộc vừa gây khó chịu, bởi càng nghe kỹ, ta càng nhận ra rằng câu chuyện của Đức Giêsu đụng đến một nơi rất sâu trong lòng con người: nơi chúng ta thích so sánh, tính toán, cân đo công trạng, và âm thầm muốn Thiên Chúa cũng phải cư xử theo bảng tính của mình. Một ông chủ vườn nho đi ra từ sáng sớm để thuê thợ vào làm vườn. Ông lại đi ra lúc chín giờ, mười hai giờ, ba giờ chiều, rồi đến tận khoảng năm giờ chiều, nghĩa là khi ngày lao động gần như sắp kết thúc, ông vẫn còn tìm những người đứng ngoài chợ và gọi họ vào làm. Đến chiều, ông bảo người quản lý trả công, bắt đầu từ những người đến sau hết. Điều bất ngờ xảy ra: người chỉ làm một giờ cũng nhận được một đồng như người đã chịu nắng nôi cả ngày. Những người đến trước lập tức bất mãn. Họ không nói rằng ông chủ đã trả thiếu cho họ, bởi ông đã trả đúng số tiền hai bên thỏa thuận; điều làm họ khó chịu là ông chủ đã quảng đại với người khác. Đó mới là điểm Đức Giêsu muốn đưa chúng ta đối diện. Nhiều khi điều làm ta đau không phải vì ta thiếu, mà vì người khác được nhiều; không phải vì ta bị đối xử bất công, mà vì người khác được đối xử rộng lượng hơn điều ta nghĩ họ đáng được hưởng. Và ở chính nơi ấy, Tin Mừng soi sáng một thứ bóng tối rất kín đáo nhưng rất thật trong tâm hồn chúng ta: ta có thể vừa nhận được ân huệ của Thiên Chúa, vừa không vui khi thấy người bên cạnh cũng nhận được ân huệ; ta có thể cảm tạ Chúa về điều Chúa ban cho mình, nhưng ngay khi nhìn sang người khác, lòng biết ơn biến thành so đo; ta có thể sung sướng với “một đồng” trong tay mình cho đến lúc thấy người chỉ làm một giờ cũng có “một đồng”. Khi ấy, món quà vẫn nguyên vẹn, nhưng niềm vui của ta đã biến mất. Không phải Thiên Chúa lấy mất niềm vui ấy; chính sự so sánh lấy nó khỏi lòng ta.
Câu chuyện bắt đầu bằng hình ảnh ông chủ không ngừng “đi ra”. Sáng sớm ông đi ra. Chín giờ ông lại đi. Giữa trưa ông lại đi. Ba giờ chiều ông lại đi. Năm giờ chiều ông vẫn còn đi. Đây là một chi tiết vô cùng đẹp nếu ta đọc dụ ngôn không chỉ như câu chuyện lao động nhưng như một mặc khải về trái tim Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng không mệt mỏi đi tìm con người. Người không ngồi yên trong vườn nho chờ người ta tự tìm đến. Người bước ra. Người đi vào những quảng trường của cuộc đời, đi tới những nơi con người đang đứng chờ, đi tới những cuộc đời tưởng đã lỡ chuyến, những tâm hồn tưởng không còn cơ hội, những con người mà chẳng ai thuê, chẳng ai cần, chẳng ai nhìn thấy giá trị. Đến cả giờ thứ mười một, khi ngày gần tàn, Người vẫn đi tìm. Nói cách khác, đối với Thiên Chúa, chưa bao giờ là quá trễ để một người bắt đầu lại. Chúng ta thường đóng cửa rất nhanh trước một con người. Thiên Chúa thì không. Chúng ta nhìn quá khứ của họ rồi kết luận tương lai của họ. Thiên Chúa nhìn họ và thấy điều họ còn có thể trở thành. Chúng ta nói: “Người này hết hy vọng rồi.” Thiên Chúa lại đi ra vào giờ thứ mười một và nói: “Anh hãy vào vườn nho của Ta.” Chúng ta nói: “Ông ấy đã sống sai cả đời.” Thiên Chúa nói: “Phần còn lại của ngày hôm nay vẫn còn thuộc về con.” Chúng ta nói: “Người ấy mới trở lại đạo, biết gì mà nói?” Thiên Chúa nói: “Con cũng là người được Ta gọi.” Chúng ta nói: “Người ấy chỉ vừa bước chân vào cộng đoàn.” Thiên Chúa lại có thể đặt vào tay người ấy cùng một đồng ân sủng mà chúng ta đã đón nhận từ nhiều năm trước. Bởi Nước Trời không phải câu lạc bộ của những người đến trước. Nước Trời là gia đình của những người đã được Thiên Chúa gọi vào.
Những người đứng ngoài đến năm giờ chiều được ông chủ hỏi: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì?” Họ trả lời: “Vì không ai thuê chúng tôi.” Một câu trả lời ngắn mà nghe kỹ thấy xót xa biết bao. “Không ai thuê chúng tôi.” Có lẽ không phải họ không muốn làm. Có thể từ sáng họ đã đứng đợi. Nhưng hết người này đến người kia được chọn, còn họ cứ bị bỏ lại. Người khỏe hơn được lấy. Người trẻ hơn được chọn. Người có kinh nghiệm hơn được nhận. Còn họ đứng đó. Chín giờ chưa ai thuê. Mười hai giờ chưa ai thuê. Ba giờ vẫn chẳng ai thuê. Năm giờ chiều, khi hầu như chẳng còn ích lợi kinh tế gì trong việc thuê thêm người, họ vẫn đứng đó. Có lẽ họ đã nghĩ rằng hôm ấy sẽ trở về nhà tay trắng. Và đằng sau một ngày tay trắng có thể là một căn nhà thiếu bánh, những đứa trẻ đang chờ, một gia đình không biết tối nay ăn gì. Người chủ nhìn thấy điều mà bảng tính kinh tế không nhìn thấy. Ông không chỉ nhìn một giờ lao động còn lại; ông nhìn một con người cần được sống. Đây là chỗ dụ ngôn đưa ta vượt khỏi thứ công bằng chỉ biết đếm giờ để bước vào công bằng được thấm nhuần bởi lòng thương xót. Công bằng của tình yêu không phủ nhận sự thật, nhưng nhìn sự thật rộng hơn. Người làm cả ngày đáng được một đồng và đã nhận một đồng. Người làm một giờ không tạo ra lượng công việc tương đương, nhưng cũng cần một đồng để sống. Và người chủ có đủ lòng quảng đại để nhìn họ không chỉ như “một giờ công” mà như một con người.
Bao nhiêu lần trong cuộc sống chúng ta cũng bắt gặp những người đang đứng ở “giờ thứ mười một”? Có những người đã năm mươi, sáu mươi, bảy mươi tuổi mới quay về với Chúa. Có người cả đời xa nhà thờ, đến khi bệnh nặng mới xin xưng tội. Có người sống nhiều năm trong sai lầm, rồi một ngày được đánh động và muốn thay đổi. Có người chỉ khi tóc bạc mới bắt đầu học cầu nguyện. Có người suốt đời chạy theo tiền bạc, đến cuối đời mới hiểu rằng tiền không thể mua được bình an. Có người từng chống đối đạo, từng cười nhạo những người tin Chúa, rồi một biến cố khiến họ quỳ xuống. Nếu ta là những người đã ở trong vườn nho từ sáng, phản ứng của ta là gì? Ta có vui không khi thấy họ trở về? Hay trong lòng lại nổi lên câu hỏi: “Dễ thế sao? Sống cả đời như vậy rồi phút cuối quay lại là được cứu sao?” Câu hỏi ấy nghe có vẻ bảo vệ công bằng, nhưng nhiều lúc ẩn phía sau là một sự khó chịu vì lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn khung suy nghĩ của ta. Ta muốn Chúa tha thứ cho mình thật nhiều nhưng lại muốn Chúa nghiêm khắc với người khác. Ta muốn khi mình yếu đuối Chúa nhớ đến hoàn cảnh, nhưng khi người khác yếu đuối ta chỉ nhớ đến lỗi lầm. Ta muốn Chúa kiên nhẫn với hành trình của mình nhưng ta lại mất kiên nhẫn trước hành trình của anh chị em. Ta thích một Thiên Chúa quảng đại miễn là sự quảng đại ấy hướng về phía mình; còn khi dòng sông ân sủng chảy sang khu vườn bên cạnh, lòng ta bắt đầu khó chịu.
Người thợ làm từ sáng có một nỗi khổ đặc biệt: anh ta biến chính sự trung thành của mình thành lý do để trách chủ. “Chúng tôi đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, chịu nắng nôi thiêu đốt.” Tất cả điều ấy là thật. Nhưng thử hỏi: vào buổi sáng khi được thuê, họ có vui không? Chắc chắn có. Bởi giữa những người đang chờ việc, họ là những người được chọn đầu tiên. Họ có công việc. Họ biết cuối ngày mình sẽ có tiền mang về. Ngay từ sáng, sự bất an về miếng ăn đã được giải quyết. Trong khi họ đang làm việc trong vườn, những người kia vẫn đứng ngoài quảng trường, chưa biết tối nay có gì đem về cho gia đình. Như vậy, bản thân việc được gọi từ sớm đã là một ân huệ. Nhưng đến cuối ngày, họ quên mất điều ấy. Họ không còn nhớ niềm vui của buổi sáng; họ chỉ nhìn đồng tiền của người đến sau. Đây cũng là bi kịch có thể xảy ra trong đời sống đức tin. Một người được Chúa gọi từ nhỏ, được lớn lên trong gia đình Công giáo, được rửa tội từ bé, được học giáo lý, được biết cầu nguyện, được sống trong cộng đoàn, được lãnh nhận các bí tích, có thể sau nhiều năm không còn thấy đó là ân huệ mà biến tất cả thành “công trạng”. Người ấy bắt đầu nghĩ: “Tôi đã theo Chúa bao nhiêu năm. Tôi đã đi lễ bao nhiêu lần. Tôi đã phục vụ bao nhiêu việc. Tôi đã hy sinh cho giáo xứ thế nào. Tôi đã trung thành từ nhỏ.” Và rồi nếu một người mới trở lại đạo được Chúa chúc lành, được cộng đoàn quý mến, được trao trách nhiệm hay đơn giản được bình an, người lâu năm có thể thấy khó chịu. Lúc ấy, người ta không còn phục vụ như con cái nhưng bắt đầu tính lương như người làm thuê.
Đây là điều rất đáng sợ trong đời sống thiêng liêng: chúng ta có thể ở rất gần vườn nho của Chúa mà trái tim lại xa người chủ. Có thể làm việc cho Thiên Chúa nhưng không hiểu trái tim Thiên Chúa. Có thể ở trong nhà Cha nhưng suy nghĩ giống người anh cả trong dụ ngôn người con hoang đàng. Người anh cả chưa bao giờ bỏ nhà, nhưng khi người em trở về và được cha mở tiệc, anh nổi giận. Anh liệt kê công trạng: “Bao nhiêu năm con hầu hạ cha, chẳng khi nào trái lệnh.” Anh cũng giống những người làm từ sáng: “Chúng tôi đã chịu nắng nôi cả ngày.” Người cha trong dụ ngôn ấy và người chủ vườn nho trong dụ ngôn hôm nay cùng bộc lộ một trái tim: trái tim không chịu để con người bị định nghĩa mãi mãi bởi quá khứ. Cha vui vì đứa con chết nay sống lại. Chủ vui vì những người chẳng ai thuê cuối cùng cũng có một ngày công. Nhưng người con cả không vui; người thợ đến trước cũng không vui. Và đó là điều đáng để mỗi Kitô hữu tự hỏi mình: Tôi có thật sự vui khi một người tội lỗi trở lại không? Tôi có vui khi người khác được Chúa chúc lành không? Tôi có vui khi người từng sai lầm được trao một cơ hội mới không? Tôi có vui khi một người trẻ hơn, mới hơn, ít kinh nghiệm hơn tôi được tín nhiệm không? Hay tôi cảm thấy phần của mình bị thu nhỏ chỉ vì phần của họ được mở rộng?
Một trong những căn bệnh làm con người mất bình an nhiều nhất là so sánh. Khi không so sánh, ta có thể rất hạnh phúc với điều mình đang có. Nhưng chỉ cần nhìn sang người khác, mọi thứ lập tức thay đổi. Ta đang vui với căn nhà của mình cho đến khi thấy nhà người khác lớn hơn. Ta đang hài lòng với chiếc xe của mình cho đến khi thấy người kia đổi xe mới. Ta đang cảm thấy con mình học khá cho đến khi nghe con hàng xóm đứng đầu lớp. Ta đang vui với công việc của mình cho đến khi biết bạn học cũ được thăng chức. Ta đang cảm ơn Chúa vì sức khỏe cho đến khi thấy người khác khỏe hơn. Ta đang bình an với ơn gọi của mình cho đến khi thấy người khác được chú ý hơn. Ta có thể đang vui với “một đồng” Chúa trao trong tay, nhưng khi thấy một đồng trong tay người khác, niềm vui bỗng trở thành cay đắng. Điều thay đổi không phải là món quà; điều thay đổi là ánh mắt. Và khi ánh mắt bị nhiễm bởi so sánh, một đồng đầy ân phúc có thể trở thành một đồng gây bực bội.
Chúa Giêsu đặt vào miệng ông chủ một câu hỏi rất mạnh: tại sao anh lại khó chịu vì tôi tốt lành? Đây là câu hỏi chạm thẳng vào căn nguyên của sự ghen tị. Ghen tị không chỉ muốn mình có điều tốt; ghen tị đau vì người khác có điều tốt. Có khi người khác không lấy gì của ta cả nhưng ta vẫn khó chịu. Người khác thành công, ta không mất gì, nhưng lòng ta nặng nề. Người khác được yêu thương, ta không hề bị bớt yêu, nhưng ta vẫn khó chịu. Người khác được khen, ta không bị chê, nhưng lòng ta vẫn không vui. Người khác được Chúa ban ơn, ân sủng của ta không hề ít đi, nhưng ta lại cảm thấy như mình bị thiệt. Đây là nghịch lý của ghen tị: nó biến hạnh phúc của người khác thành nỗi buồn của mình. Và như vậy, người bị tổn thương nhiều nhất bởi ghen tị không phải người ta ghen, mà chính là người đang ghen.
Nếu nhìn sâu hơn, ta nhận ra ghen tị thường xuất phát từ một hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa. Ta vô thức nghĩ ân sủng giống như chiếc bánh có kích thước cố định: người khác được miếng lớn hơn thì phần mình phải nhỏ đi. Nhưng Thiên Chúa không nghèo như vậy. Tình yêu của Người không phải tài nguyên hữu hạn. Người không cần bớt yêu tôi để yêu anh chị em tôi. Người không cần lấy ơn của tôi để trao cho người khác. Ánh mặt trời chiếu trên khu vườn bên cạnh không làm khu vườn của tôi tối đi. Người mẹ sinh thêm một đứa con không phải chia đôi trái tim; trái tim của bà mở rộng. Nếu tình yêu con người đã có thể như vậy thì tình yêu Thiên Chúa còn vượt xa biết bao. Vì thế, khi ta thấy Thiên Chúa tốt với người khác, phản ứng đúng không phải là sợ mình bị mất phần, mà là vui vì mình đang sống dưới quyền một Thiên Chúa quảng đại đến thế.
Bài đọc thứ nhất trong Chúa Nhật này giúp chúng ta hiểu vì sao dụ ngôn lại gây khó chịu: “Tư tưởng của Ta không phải tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta.” Khoảng cách giữa tư tưởng Thiên Chúa và tư tưởng con người lớn như trời cao hơn đất. Con người tính toán theo công trạng; Thiên Chúa không phủ nhận công trạng nhưng còn nhìn bằng lòng thương xót. Con người nhớ người khác đã làm sai gì; Thiên Chúa nhìn họ có thể trở lại thế nào. Con người đóng sổ; Thiên Chúa mở cửa. Con người nói “quá muộn”; Thiên Chúa vẫn ra quảng trường lúc năm giờ chiều. Con người hỏi “người này có xứng đáng không?”; Thiên Chúa hỏi “người này có cần lòng thương xót không?” Con người thích chia thế giới thành kẻ tốt và người xấu, người xứng đáng và kẻ không xứng đáng, người bên trong và người bên ngoài; còn Thiên Chúa cứ đi ra, đi ra, đi ra mãi để gọi những người đang đứng ngoài vào.
Điều ấy không có nghĩa Thiên Chúa coi nhẹ sự trung thành. Không phải vì người đến sau được một đồng mà việc làm từ sáng trở nên vô nghĩa. Trái lại, hãy thử nhìn theo một hướng khác: ai thực sự được phúc hơn? Người được vào vườn nho từ sáng hay người phải đứng suốt ngày trong lo âu chẳng ai thuê? Nếu vườn nho là Nước Thiên Chúa, người theo Chúa từ nhỏ đâu phải người bất hạnh. Họ đã có cả một ngày ở trong vườn. Họ được sống bên Chủ. Họ có ý nghĩa, có công việc, có nơi thuộc về. Trong khi người khác mất cả ngày đứng ngoài. Nếu ta hiểu đời sống với Chúa là ân huệ thì ta không còn hỏi: “Tại sao tôi phải giữ đạo từ nhỏ trong khi người kia phút cuối mới trở lại cũng được cứu?” Câu hỏi ấy chỉ xuất hiện khi ta nghĩ theo Chúa là gánh nặng. Nếu thật sự tin ở với Chúa là hạnh phúc, ta sẽ nói: “Tạ ơn Chúa vì con được biết Chúa từ sớm. Tội nghiệp người anh em của con đã phải mất quá nhiều năm mới tìm được đường về.” Người yêu không tính rằng mình đã “chịu thiệt” vì được ở bên người mình yêu lâu hơn. Chỉ người làm thuê mới tính giờ.
Trong đời sống đạo cũng có một nguy cơ: ta biến tương quan với Thiên Chúa thành sổ kế toán. Con đi lễ, Chúa phải cho con bình an. Con đọc kinh, Chúa phải giữ gia đình con khỏi bệnh. Con dâng cúng, Chúa phải cho việc làm ăn thuận lợi. Con phục vụ giáo xứ, Chúa phải cho con được người ta quý trọng. Con sống tử tế, Chúa phải cho con ít đau khổ hơn người khác. Và khi đời không diễn ra như thế, ta thất vọng: “Con đã làm cho Chúa bao nhiêu mà sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Nhưng Thiên Chúa không phải ông chủ doanh nghiệp trả thưởng theo bảng KPI thiêng liêng. Người là Cha. Tương quan với Chúa không phải hợp đồng trao đổi mà là giao ước tình yêu. Khi chúng ta cầu nguyện, bác ái, trung thành, hy sinh, chúng ta không mua ân sủng. Chính khả năng cầu nguyện, khả năng yêu thương, khả năng hy sinh đã là ân sủng rồi. Một người có thể phục vụ Chúa ba mươi năm và nghĩ mình đã “cho Chúa” ba mươi năm. Nhưng nếu nhìn bằng đức tin, người ấy phải nói: “Chúa đã cho con ba mươi năm được phục vụ Ngài.”
Có lẽ đây là cuộc hoán cải rất lớn mà dụ ngôn hôm nay mời gọi: từ tâm thức “tôi làm cho Chúa” chuyển thành “Chúa cho tôi được làm với Chúa”; từ “tôi đã hy sinh cho Giáo Hội” thành “Chúa cho tôi được sống trong Giáo Hội”; từ “tôi đã dành thời gian cầu nguyện” thành “Chúa đã cho tôi những giờ được ở bên Người”; từ “tôi đã giúp người nghèo” thành “người nghèo đã cho tôi cơ hội gặp Chúa”; từ “tôi đã giữ đạo suốt đời” thành “Chúa đã giữ con trong lòng Người suốt đời.” Khi cách nhìn thay đổi, sự cay đắng biến thành biết ơn. Và lòng biết ơn là thuốc giải rất mạnh cho ghen tị. Một người thật sự biết ơn về phần mình sẽ bớt thời gian nhìn vào phần người khác. Người ấy có thể vui khi người khác được ơn bởi họ biết mình cũng đang sống hoàn toàn nhờ ân sủng.
Nhưng chúng ta cũng cần thành thật rằng cảm giác “không công bằng” của những người làm từ sáng rất gần với kinh nghiệm đời thường. Nếu một công ty trả lương một người làm một giờ bằng người làm tám giờ, chúng ta sẽ thấy vô lý. Đức Giêsu cố ý chọn một tình huống khiến người nghe phản ứng. Dụ ngôn không phải giáo trình quản trị lao động hay chính sách tiền lương. Nếu biến nó thành mô hình kinh tế, ta sẽ hiểu sai. Đức Giêsu đang nói về Nước Trời và ân sủng. Ơn cứu độ không phải mức lương tính theo giờ. Sự sống đời đời không thể chia người này 100%, người kia 30%. Được thuộc về Thiên Chúa là được thuộc về Thiên Chúa. Người trộm lành bên cạnh Đức Giêsu gần như bước vào “vườn nho” trong giờ cuối cùng của đời mình, nhưng Chúa nói với anh: hôm nay anh sẽ ở với Ta trên thiên đàng. Không có thiên đàng hạng nhất cho các thánh lâu năm và thiên đàng hạng ba cho người trở lại muộn. Thiên Chúa chính là phần thưởng. Và nếu Thiên Chúa trao chính mình cho một người, Người không trao một nửa.
Điều này phải làm ta vui chứ không phải buồn. Bởi nếu Thiên Chúa chỉ cư xử với chúng ta đúng bằng điều chúng ta “xứng đáng”, ai trong chúng ta dám đứng vững? Ta thường đòi công bằng khi nghĩ về người khác nhưng cần lòng thương xót khi nghĩ về chính mình. Ta muốn Chúa xét người khác theo hồ sơ nhưng xét mình theo hoàn cảnh. Ta nhớ rõ lỗi người khác nhưng hy vọng Chúa nhớ sự yếu đuối của mình. Dụ ngôn hôm nay làm sụp đổ sự tự mãn ấy bằng cách nhắc rằng tất cả chúng ta đều là người nhận. Người làm từ sáng cũng nhận. Người làm giờ cuối cũng nhận. Không ai tự tạo ra vườn nho. Không ai tự tạo ra ngày sống. Không ai tự ban cho mình sức khỏe để lao động. Không ai tự sinh ra trên đời. Không ai tự cứu mình. Nếu cuối cùng tất cả đều sống nhờ ân sủng, thì căn bản nhất trong đời Kitô hữu không phải là kiêu hãnh nhưng là biết ơn.
Có một chi tiết khác đáng suy niệm: người chủ gọi người bất mãn là “bạn”. Ông không sỉ nhục anh. Dù anh đang phàn nàn, chủ vẫn nói với anh bằng một từ thân thiện. Thiên Chúa cũng vậy. Khi ta hẹp hòi, Người không thôi yêu ta. Khi ta ghen tị với ân sủng của người khác, chính ta cũng vẫn đang đứng trong ân sủng. Người chủ không lấy lại đồng tiền của người thợ bất mãn. Anh vẫn có phần của mình. Vấn đề là anh không còn thưởng thức phần ấy. Đây là một hình ảnh rất chính xác về nhiều nỗi đau trong cuộc sống: chúng ta đang cầm ân huệ trong tay mà vẫn buồn vì nhìn sang tay người khác. Có người có gia đình nhưng không vui vì so với gia đình người khác. Có người có sức khỏe nhưng không vui vì người kia giàu hơn. Có người có ơn gọi đẹp nhưng không vui vì người khác được nổi bật. Có người đã nhận vô số ơn nhưng chỉ vì một điều mình không có mà quên chín mươi chín điều đang có. Satan không nhất thiết phải lấy hết mọi ân huệ của ta; đôi khi nó chỉ cần khiến ta không còn nhìn thấy chúng.
Vì thế một trong những thực hành thiêng liêng rất đơn giản nhưng sâu sắc là tập đếm ơn thay vì đếm phần của người khác. Mỗi ngày trước khi ngủ, thay vì hỏi “hôm nay người khác được gì?”, hãy hỏi “hôm nay Chúa đã cho tôi điều gì?” Tôi còn thở. Tôi còn người để yêu thương. Tôi còn cơ hội sửa sai. Tôi còn có thể cầu nguyện. Tôi còn được tham dự Thánh lễ. Tôi còn Lời Chúa. Tôi còn có thể nói lời xin lỗi. Tôi còn có thể tha thứ. Tôi còn một ngày sống. Rất nhiều thứ ta gọi là “bình thường” thật ra là những ân huệ khổng lồ mà vì có mỗi ngày nên ta không còn nhận ra. Người biết ơn sẽ thấy thế giới đầy quà tặng; người so sánh sẽ thấy thế giới đầy bất công đối với mình.
Dụ ngôn cũng đặt ra một câu hỏi khó hơn: ta có muốn trở nên giống ông chủ không? Không chỉ nhận lòng quảng đại của Thiên Chúa, nhưng để lòng quảng đại ấy đi xuyên qua mình. Tài liệu phụng vụ gợi ý rất thực tế: hãy tìm những cách cụ thể để quảng đại bằng thời gian, tiền bạc, sự chú ý và thái độ của mình. Đó là một chương trình sống rất đẹp. Quảng đại bằng tiền đôi khi lại dễ hơn quảng đại bằng thời gian. Ta có thể cho người nghèo một số tiền nhưng không muốn ngồi nghe một người cô đơn kể chuyện. Ta có thể dâng cúng nhưng không muốn dành mười phút cho cha mẹ già. Ta có thể giúp một dự án từ thiện nhưng không muốn kiên nhẫn với người trong nhà. Có lúc sự rộng lượng người khác cần nhất từ ta không phải tiền, mà là một ánh mắt không kết án, một cơ hội thứ hai, một cuộc điện thoại, một lời động viên, một thái độ không chấp nhất, một khoảng thời gian thực sự hiện diện.
Quảng đại trong thái độ còn khó hơn nữa. Có những người ta giúp vật chất được nhưng không thể nghĩ tốt về họ. Ta cho nhưng vẫn khinh. Ta giúp nhưng vẫn nhắc lại công ơn. Ta tha thứ bằng môi miệng nhưng trong lòng vẫn mong họ phải trả giá. Lòng quảng đại của Thiên Chúa khác như vậy. Người không chỉ ném một đồng tiền cho người đến muộn rồi quay mặt đi. Người đưa họ vào vườn của Người. Người cho họ một chỗ đứng. Người trả lại phẩm giá cho những kẻ cả ngày không ai thuê. Có lẽ một trong những cách yêu đẹp nhất là giúp người khác cảm thấy họ vẫn có giá trị.
Trong gia đình, Tin Mừng này đặc biệt cần thiết. Anh chị em dễ so sánh nhau: tại sao cha mẹ cho em ấy nhiều hơn? Tại sao anh kia được tin tưởng hơn? Vợ chồng cũng có thể đếm công: tôi đã làm bao nhiêu cho gia đình, còn anh làm gì? Tôi đã hy sinh tuổi trẻ, còn chị có biết gì? Khi yêu thương biến thành sổ nợ, gia đình trở thành nơi thanh toán. Mỗi việc tốt được ghi lại để một ngày đem ra làm bằng chứng. Nhưng tình yêu đích thực không thể sống lâu nếu mỗi người chỉ hỏi “tôi được bao nhiêu?” Người chủ vườn nho dạy một thứ tự do khác: tôi có quyền làm điều tốt nhiều hơn mức bắt buộc. Có người hỏi: “Tại sao lúc nào tôi cũng phải nhường?” Có lẽ câu hỏi có thể đổi thành: “Tôi có thể quảng đại thêm được bao nhiêu mà không làm điều sai trái?” Đây không phải cổ võ để người ta chấp nhận lạm dụng, bất công hay bạo lực. Nhưng trong vô số xung đột nhỏ của đời sống gia đình, điều cứu được mối quan hệ thường không phải công lý toán học mà là một người quyết định cho đi thêm một chút: thêm một chút kiên nhẫn, thêm một lần bỏ qua, thêm một lời tử tế, thêm một cơ hội.
Trong cộng đoàn Giáo Hội, dụ ngôn càng cần được nghe. Một cộng đoàn rất dễ chia thành “người cũ” và “người mới”. Người cũ nghĩ mình có quyền nhiều hơn vì đã phục vụ lâu. Người mới cảm thấy mình mãi mãi là khách. Có những việc “xưa nay vẫn do nhóm chúng tôi làm”, có những chỗ “không đến lượt người mới”. Nhưng nếu Giáo Hội thực sự là vườn nho của Chúa, thì chính Chủ vườn có quyền gọi thêm người vào bất cứ giờ nào. Chúng ta không phải chủ vườn. Chúng ta là thợ. Bi kịch bắt đầu khi thợ tưởng mình là chủ và quyết định ai xứng đáng được vào. Một giáo xứ khỏe mạnh là nơi người đến giờ thứ mười một vẫn được chào đón, nơi người mới trở lại không bị nhắc mãi quá khứ, nơi người trẻ được trao cơ hội, nơi người từng thất bại có thể bắt đầu lại, nơi không ai biến tuổi đạo hay năm phục vụ thành tước hiệu.
Chúng ta cũng cần tự hỏi: có ai đang đứng ngoài “quảng trường” đời mình vì tôi chưa bao giờ mời họ vào? Có người trong gia đình bị loại ra vì một lỗi cũ. Có người trong cộng đoàn bị đóng khung bởi một tai tiếng. Có người đi lễ một thời gian rồi bỏ vì cảm thấy mình không được đón nhận. Có người ly hôn, thất bại, nghiện ngập, từng vào tù, từng sống một đời rối ren và cảm thấy Nhà thờ không còn chỗ cho mình. Có người trẻ nghĩ đạo chỉ dành cho người tốt sẵn. Tin Mừng hôm nay nói với họ rằng vào năm giờ chiều Chủ vẫn ra tìm. Cửa vẫn mở. Chừng nào ngày chưa hết, lời mời của Thiên Chúa vẫn còn vang lên.
Và điều này đặc biệt quan trọng đối với người nghĩ mình đã quá muộn để thay đổi. Có người nói: “Tôi già rồi, sửa sao được.” Có người nói: “Tôi phạm quá nhiều tội.” Có người nói: “Tôi xa Chúa ba mươi năm rồi.” Có người nói: “Gia đình tôi hỏng hết rồi.” Có người nói: “Tôi đã bỏ lỡ tuổi trẻ.” Hãy nhớ người thợ năm giờ chiều. Ông chủ không hỏi: “Tại sao giờ này anh mới xuất hiện?” Ông nói: “Anh hãy đi vào vườn nho.” Thiên Chúa quan tâm đến bước chân ta có thể bước hôm nay hơn là những bước chân ta đã không bước hôm qua. Bao lâu ta còn sống, vẫn còn một giờ để yêu, một giờ để xin lỗi, một giờ để quay về, một giờ để làm điều đúng, một giờ để cầu nguyện, một giờ để bắt đầu lại. Và có những lúc một giờ cuối cùng được sống bằng tình yêu lại có thể soi sáng cả một đời.
Dĩ nhiên, điều ấy không có nghĩa ta nên trì hoãn việc hoán cải. Không ai biết giờ thứ mười một của mình ở đâu. Người khôn ngoan không nói: “Đợi già rồi trở lại cũng được.” Nếu vườn nho là nơi hạnh phúc thì tại sao cố đứng ngoài đến chiều? Nếu Thiên Chúa là nguồn sống thì tại sao đợi gần chết mới đến với Người? Ơn của người thợ sáng sớm là được làm việc trong vườn cả ngày. Vì vậy người trẻ đừng nghĩ rằng theo Chúa sớm là mất tuổi trẻ. Người trẻ theo Chúa không mất tự do; họ học cách dùng tự do đúng. Người sống đức tin từ nhỏ không mất đời; họ tránh được nhiều năm lang thang ngoài quảng trường. Một người quay về lúc cuối đời được cứu là điều đáng mừng; nhưng một người được sống cả đời trong tình thân với Thiên Chúa còn là một quà tặng lớn lao.
Ở đây chúng ta có thể hiểu câu “kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” không chỉ như sự đảo vị trí, mà là lời cảnh tỉnh đối với mọi hệ thống xếp hạng thiêng liêng. Trước mặt Thiên Chúa, không ai được quyền dựa vào vị trí hiện tại để bảo đảm rằng mình hơn người khác. Người đứng đầu có thể mang trái tim của người làm thuê; người đứng cuối có thể bước vào bằng một lòng biết ơn sâu sắc. Người cả đời đi lễ có thể trở nên chai cứng; người mới trở lại có thể khóc vì một câu Lời Chúa. Người học thần học nhiều có thể biết về Chúa mà chưa thực sự để Chúa đổi lòng; một người quê mùa có thể yêu Người bằng cả con tim. Điều quan trọng không phải chúng ta đã đứng ở vị trí nào trong bảng xếp hạng con người, mà trái tim có đang trở nên giống trái tim Chủ vườn hay không.
Chúa Nhật này vì thế mời chúng ta kiểm tra một tiêu chuẩn rất cụ thể về sự trưởng thành thiêng liêng: tôi có khả năng vui vì điều tốt xảy đến cho người khác không? Vui thật, không phải vui lịch sự. Khi một người khác thành công, tôi có thể tạ ơn Chúa với họ? Khi người khác được khen, tôi có thể vui mà không lập tức muốn kể thành tích mình? Khi một người tội lỗi được tha thứ, tôi có thể vui vì một người em đã trở về? Khi một người mới được trao trách nhiệm, tôi có thể nâng đỡ họ thay vì chờ họ thất bại? Khi con cái người khác giỏi hơn con tôi, tôi có thể chúc mừng thật lòng? Khi người khác có cuộc sống sung túc hơn, tôi có thể nhìn phần mình với lòng biết ơn? Nếu chưa, đó không phải lý do để tuyệt vọng, nhưng là nơi Chúa đang mời ta hoán cải.
Một thực hành rất đẹp là cầu nguyện cho người mình đang ghen tị. Điều này khó nhưng có sức chữa lành. Khi thấy lòng khó chịu vì ai đó được thành công, hãy gọi tên họ trước Chúa: “Lạy Chúa, xin chúc lành cho họ nhiều hơn nữa.” Ban đầu lời cầu nguyện có thể rất khô. Nhưng nếu kiên trì, trái tim dần được giải thoát. Bởi ghen tị muốn biến hạnh phúc của người kia thành mối đe dọa; còn cầu nguyện biến họ trở lại thành anh chị em. Khi ta có thể xin Chúa ban điều tốt cho người mình từng ganh tị, đó là dấu hiệu trái tim đang trở nên tự do.
Chúng ta cũng cần xin ơn nhìn cuộc đời mình theo cái nhìn của Thiên Chúa. Có khi ta nghĩ mình thuộc nhóm “làm từ sáng”, nhưng thật ra trong nhiều lãnh vực ta lại chính là người được gọi lúc năm giờ. Ta có thể trung thành trong đời sống đạo nhưng rất muộn mới học tha thứ. Ta có thể đi lễ từ nhỏ nhưng đến năm mươi tuổi mới biết lắng nghe vợ mình. Ta có thể làm linh mục nhiều năm nhưng mãi sau này mới thực sự học lòng thương xót. Ta có thể đọc kinh lâu năm nhưng chỉ sau một biến cố mới hiểu thế nào là phó thác. Ta có thể là người “đến sớm” ở mặt này và “đến muộn” ở mặt khác. Nhận ra điều đó khiến ta bớt kiêu căng. Tất cả chúng ta đều có những góc đời mà ở đó mình là người thợ giờ thứ mười một.
Thật ra toàn bộ lịch sử cứu độ là lịch sử của một Thiên Chúa cứ đi ra tìm con người. Trong vườn Êđen, sau khi con người phạm tội và lẩn trốn, chính Thiên Chúa đi tìm và hỏi: “Ngươi ở đâu?” Trong lịch sử Israel, khi dân phản bội, Người sai các ngôn sứ. Khi con người không thể tự leo lên trời, Con Thiên Chúa xuống thế. Đức Giêsu đi qua các làng mạc, tìm người đau yếu, người tội lỗi, người bị loại trừ. Người đi đến nhà ông Dakêu. Người ngồi bên giếng với phụ nữ Samari. Người để người phụ nữ tội lỗi đến gần. Người gọi Matthêu khỏi bàn thu thuế. Người nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy. Người hứa thiên đàng cho người trộm lành. Tất cả đều là một Thiên Chúa “đi ra”.
Và Giáo Hội, nếu muốn giống Chúa, cũng phải là Giáo Hội đi ra. Không chỉ chờ người ta đến. Đi ra với những người không còn đến nhà thờ. Đi ra với người thất vọng. Đi ra với người đang đứng ngoài vì từng bị tổn thương bởi chính người trong Giáo Hội. Đi ra với người trẻ đặt nhiều câu hỏi. Đi ra với người nghèo. Đi ra với người bị xã hội coi là vô dụng. Đi ra với những gia đình rạn vỡ. Đi ra không phải để phát phần thưởng cho người xứng đáng, nhưng để nói rằng Chủ vườn vẫn đang tìm họ.
Một câu hỏi rất đẹp có thể mang về sau Thánh lễ hôm nay là: “Tôi đang đứng ở đâu trong câu chuyện này?” Có lúc tôi là người đứng ngoài quảng trường, cần nghe Chúa gọi. Có lúc tôi là người làm từ sáng, cần được chữa khỏi sự so sánh. Có lúc tôi là người quản lý, được giao nhiệm vụ trao quà của Chủ cho người khác mà không được quyền giảm bớt. Và đôi khi Chúa mời tôi bắt chước ông chủ: chủ động đi ra, nhìn thấy người bị bỏ quên và cho họ một cơ hội.
Nếu hôm nay ta đang mệt mỏi vì đã trung thành lâu năm, Tin Mừng không phủ nhận nắng nóng ta đã chịu. Thiên Chúa biết. Người thấy từng hy sinh âm thầm, từng giọt nước mắt, từng năm tháng phục vụ chẳng ai nhắc tên. Nhưng Người mời ta đừng để những hy sinh ấy trở thành lý do khiến trái tim cay đắng. Một đời phục vụ đẹp không phải vì cuối cùng ta có thể nói “tôi xứng đáng hơn người khác”, mà vì sau tất cả, ta trở nên giống Chúa hơn. Nếu phục vụ nhiều mà lòng ngày càng hẹp, có gì đó đã lệch. Nếu cầu nguyện nhiều mà ngày càng dễ phán xét, ta cần trở lại với Tin Mừng. Nếu làm việc đạo lâu năm mà không thể vui khi một người tội lỗi trở về, ta cần xin Chúa chữa trái tim mình.
Nếu hôm nay ta đang ở “giờ thứ mười một”, Tin Mừng cũng dành cho ta một câu đầy hy vọng: hãy vào vườn nho. Đừng đứng ngoài vì xấu hổ. Đừng nói mình quá trễ. Đừng nhìn những người đã ở trong đó lâu rồi và nghĩ mình không thuộc về nơi ấy. Chính Chủ gọi bạn. Không phải những người thợ khác gọi. Và vì chính Chủ gọi, không ai có quyền nói bạn không xứng đáng bước vào. Hãy bắt đầu bằng điều nhỏ nhất: một lời cầu nguyện thành thật, một lần xưng tội, một cuộc hòa giải, một quyết định dứt khỏi điều xấu, một Thánh lễ trở lại sau nhiều năm. Chỉ cần bước một bước. Chủ vườn vẫn còn ở ngoài quảng trường.
Nếu hôm nay ta đang ghen tị, hãy đừng chạy trốn cảm xúc ấy nhưng đem nó đến cho Chúa. Nói thật: “Lạy Chúa, con không vui khi thấy người ấy được điều tốt. Con biết điều này không đẹp nhưng đó là sự thật của con.” Thiên Chúa không sợ sự thật. Chính tại nơi ta dám thú nhận, Người có thể chữa lành. Xin Chúa cho ta nhìn ân huệ của người khác không như phần bị lấy khỏi mình mà như bằng chứng rằng Đấng ta tin là một Thiên Chúa rất quảng đại.
Cuối cùng, Tin Mừng hôm nay không phải câu chuyện về tiền lương. Đó là câu chuyện về trái tim Thiên Chúa. Một trái tim đi tìm đến tận giờ cuối. Một trái tim giữ lời với người đến trước và quảng đại với người đến sau. Một trái tim không bị giam trong những bảng tính công trạng của con người. Một trái tim vui khi có thêm một người bước vào vườn. Và lời mời dành cho chúng ta không chỉ là nhận “một đồng”, nhưng còn là học có trái tim giống Chủ vườn.
Lạy Chúa, nhiều lần chúng con tưởng mình tốt chỉ vì chúng con đã ở trong vườn nho lâu hơn người khác. Chúng con quên rằng chính việc được ở trong vườn của Chúa đã là một ân huệ. Chúng con đã nhìn công lao của mình quá nhiều và nhìn lòng quảng đại của Chúa quá ít. Chúng con thường vui khi Chúa thương xót mình nhưng khó chịu khi Chúa thương xót người khác. Chúng con muốn Chúa nhớ sự yếu đuối của mình nhưng lại nhớ rất kỹ lỗi lầm của anh chị em. Xin chữa chúng con khỏi căn bệnh so sánh. Xin cho chúng con biết vui với niềm vui của người khác, biết cảm tạ khi người khác được chúc lành, biết đón nhận người trở về, biết trao cơ hội cho người đã từng sai lỗi. Xin đừng để tuổi đạo, chức vụ, năm tháng phục vụ hay bất cứ thành tích nào biến chúng con thành những người thợ cay đắng.
Lạy Chúa, nếu chúng con là người được gọi từ sáng sớm, xin cho chúng con biết tạ ơn vì đã có cả một ngày được ở bên Chúa. Nếu chúng con là người chỉ vừa nghe tiếng Chúa lúc xế chiều, xin cho chúng con can đảm bước vào mà không mặc cảm. Nếu chúng con còn đang đứng bên ngoài, xin cho chúng con nghe tiếng Chúa hôm nay: “Hãy vào vườn nho của Ta.” Nếu chúng con đã ở trong vườn nhưng lòng vẫn đứng ngoài, xin kéo trái tim chúng con trở về.
Xin dạy chúng con hiểu rằng ân sủng không phải là món tiền chúng con kiếm được nhưng là quà tặng chúng con nhận lãnh. Xin dạy chúng con thôi hỏi “người ấy có xứng đáng không?” để bắt đầu hỏi “con có thể yêu họ thế nào?” Xin cho chúng con biết quảng đại với thời gian, tiền bạc, sự chú ý, lời nói và cả cách nhìn người khác. Xin cho mỗi gia đình trở thành nơi người ta không đếm công nhưng biết trao ban; mỗi cộng đoàn trở thành nơi người mới được chào đón; mỗi giáo xứ trở thành vườn nho có cửa mở; mỗi Kitô hữu trở thành một dấu chỉ rằng không bao giờ là quá trễ để trở về với Chúa.
Và nhất là, lạy Chúa, xin cho chúng con đừng bao giờ buồn vì Chúa tốt lành. Xin cho khi thấy một người tội lỗi trở về, chúng con vui. Khi thấy một người từng thất bại đứng dậy, chúng con vui. Khi thấy một người mới được Chúa dùng, chúng con vui. Khi thấy anh chị em mình được chúc phúc, chúng con vui. Bởi ngày nào chúng con có thể vui với lòng quảng đại của Chúa dành cho người khác, ngày ấy trái tim chúng con đã bắt đầu giống trái tim Chúa.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleGIỮA MUÔN TIẾNG GỌI NGOÀI KIA, CÓ MỘT TIẾNG HỎI TỪ BÊN TRONG – Lm. Anmai, CSsR