Phụng Vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ (Youtube & bản văn) Chúa Nhật XXVI TN – Lm. Anmai, CSsR

4

ĐỨC GIÊSU CHỮA LÀNH Tìm hiểu Tin Mừng theo thánh Mátthêu – Lm. Anmai, CSsR

BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ngày 27 tháng 9 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

CN 26 TN LỜI “VÂNG” BẰNG CẢ CUỘC ĐỜI – Lm. Anmai, CSsR

CN tuần 26 TN – ĐỪNG CHỈ NÓI VÂNG HÃY THỰC SỰ ĐI VÀO VƯỜN NHO – Lm. Anmai, CSsR

Phụng Vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ (Youtube & bản văn) Chúa Nhật XXVI TN – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN – NĂM A
Lạy Chúa Giêsu, Tin Mừng hôm nay đặt chúng con trước câu hỏi rất thật về đời sống đức tin của mình: chúng con đã nói “vâng” với Chúa rất nhiều lần, nhưng liệu cuộc đời chúng con có thật sự bước đi trong thánh ý Chúa hay chưa? Có những lúc môi miệng chúng con thưa với Chúa thật đẹp, lời kinh vẫn đọc, Thánh lễ vẫn tham dự, những điều đạo đức vẫn giữ, nhưng lòng chúng con lại ở xa Chúa; chúng con biết điều phải làm mà không làm, biết điều phải tránh mà vẫn cứ chiều theo ý riêng, biết mình cần thay đổi nhưng cứ khất lần từ ngày này sang ngày khác. Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con chỉ sống đạo bằng lời nói mà thiếu một đời sống thực sự thuộc về Chúa.
Lạy Chúa, người con thứ nhất trong dụ ngôn ban đầu đã từ chối, nhưng sau đó hối hận và đi làm theo lời cha. Xin cho chúng con hiểu rằng Chúa không đóng khung một con người trong những lỗi lầm của quá khứ. Dù hôm qua chúng con đã từng từ chối Chúa, từng sống ích kỷ, nóng giận, vô cảm, thiếu trung thành, từng làm tổn thương người khác và làm Chúa buồn, thì hôm nay chúng con vẫn có thể đứng dậy và trở về. Xin ban cho chúng con một trái tim biết hối hận thật lòng, không chỉ buồn vì hậu quả của tội lỗi nhưng biết đau vì đã làm tổn thương tình yêu Chúa; không chỉ nói “con xin lỗi” nhưng can đảm thay đổi cách sống; không chỉ quyết tâm trong phút xúc động nhưng biết bắt đầu lại bằng những việc nhỏ bé và cụ thể mỗi ngày.
Xin cứu chúng con khỏi thái độ của người con chỉ biết nói “thưa cha, con đây”, nhưng rồi lại không đi. Xin đừng để chúng con trở thành những Kitô hữu có nhiều lời đạo đức nhưng ít lòng bác ái; nói nhiều về tha thứ nhưng lại giữ mãi một mối hận; nói về khiêm nhường nhưng luôn muốn hơn người; nói về phục vụ nhưng chỉ phục vụ khi được nhìn nhận; nói yêu Chúa nhưng lại dửng dưng trước nỗi đau của anh chị em mình. Xin cho lời “vâng” của chúng con được thể hiện bằng một cuộc đời biết yêu thương, nhẫn nại, trung tín, quảng đại và dám hy sinh.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn nhớ rằng điều Chúa mong không phải là một quá khứ hoàn hảo nhưng là một trái tim biết quay về. Xin cho những người đang xa Chúa tìm được đường trở lại; cho những người đang mặc cảm vì tội lỗi tin vào lòng thương xót của Chúa; cho những ai tưởng mình đã tốt lành biết khiêm tốn xét lại đời sống; và cho mỗi người chúng con đừng bao giờ lấy dáng vẻ đạo đức bên ngoài để che lấp một trái tim chưa chịu hoán cải.
Xin cho hôm nay chúng con biết nói với Chúa bằng cả cuộc đời mình: “Lạy Chúa, con xin đi.” Và sau lời thưa ấy, xin cho đôi chân chúng con thật sự bước đi, bàn tay biết phục vụ, miệng biết nói lời xây dựng, trái tim biết tha thứ, và cuộc đời biết chọn điều đẹp lòng Chúa. Xin cho đến cuối đời, lời “xin vâng” của chúng con không chỉ còn là một lời nói, nhưng trở thành câu trả lời được viết bằng từng ngày sống trung thành với Chúa và yêu thương anh chị em mình.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR

Dẫn vào Thánh Lễ
Anh chị em thân mến! Tình yêu Thiên Chúa trong chương trình cứu độ được biểu lộ bằng sự quan phòng nhiệm mầu của Ngài, đó là quyền năng được thể hiện qua việc thương xót và tha thứ, vì nếu Thiên Chúa xử lý với con người theo luật công bằng, thì khó có ai đứng vững trước nhan thánh Ngài, nên Ngài đã xử lý theo lượng từ bi nhân hậu.
Vậy chúng ta hãy chân thành nhìn nhận thân phận tội lỗi yếu hèn của mình trước Thiên Chúa ngàn trùng Chí Thánh cùng với các thành viên trong cộng đoàn, mà dâng lên Chúa tâm tình thống hối ăn năn.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã tác tạo mọi sự cho chúng tôi hưởng dùng, Chúa đã xét xử công bình. Vì chúng tôi đã phạm tội và không tuân giữ các giới răn Chúa; nhưng xin Chúa hãy ban cho danh Chúa được vinh hiển, và xin hãy đối xử với chúng tôi theo lượng từ bi của Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và tha thứ, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả; xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con đang hết lòng theo đuổi, chúng con cầu xin….
Bài Ðọc I: Ed 18, 25-28
“Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, nó sẽ được sống”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ðây Chúa phán: “Các ngươi đã nói rằng: “Ðường lối của Chúa không chính trực”. Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Có phải đường lối của Ta không chính trực ư? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 24, 4bc-5. 6-7. 8-9
Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Chúa
Xướng: Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa; xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, và con luôn luôn cậy trông vào Chúa.
Xướng: Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin đừng nhớ lỗi lầm khi con còn trẻ và tội ác, nhưng hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.
Xướng: Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho con nhận biết đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài.
Bài Ðọc II: Pl 2, 1-5 {hoặc 1-11}
“Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, nếu có sự an ủi nào trong Ðức Kitô, nếu có sự khích lệ nào trong đức mến, nếu có sự hiệp nhất nào trong Thánh Thần, nếu có lòng thương xót nào, thì anh em hãy làm cho tôi được trọn niềm hân hoan, để anh em hưởng cùng một niềm vui, được cùng chung một lòng mến, được đồng tâm nhất trí với nhau, chớ làm điều gì bởi ý cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình, mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác. Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô.
{Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong hoả ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh quang.}
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! – Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 21, 28-32
“Nó hối hận và đi làm. Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!” Nó thưa lại rằng: “Con không đi”. Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: “Thưa cha, vâng, con đi”. Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?” Họ đáp: “Người con thứ nhất”. Chúa Giêsu bảo họ: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
MẪU 1
Chủ tế: Anh chị em thân mến, chúng ta hãy dâng lên Chúa Cha những lời khẩn nguyện thiết tha, xin Người thương ban ơn trợ giúp để chúng ta luôn sống theo mẫu gương Con Chúa đã để lại, đồng thời phó thác mọi sự trong tay Ngài với cả tâm hồn và đời sống.
1. Xin cho các thừa tác viên của Giáo Hội, không bị tinh thần thế tục chi phối nhưng luôn trung thành thi hành thánh ý Chúa khi thi hành sứ mạng Ngài trao.
2. Xin cho các Kitô hữu biết mau mắn đón nhận người khác, với tất cả sự khiêm nhường, và nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất bằng tình yêu và tha thứ.
3. Xin cho các Kitô hữu biết đối xử nhẫn nại với những người không sống phù hợp với Tin Mừng để giúp họ nhận ra rằng Thiên Chúa luôn quan tâm săn sóc họ.
4. Xin cho các quyết định của mỗi người trong cộng đoàn chúng ta luôn hướng tới sự thiện hảo và phù hợp với thánh ý Chúa Cha cũng như kế hoạch Người chuẩn đã bị cho mỗi người.
Chủ tế: Lạy Cha nhân từ và hay thương xót, xin hướng dẫn chúng con mỗi ngày trong suốt cuộc đời, xin giúp chúng con luôn biết can đảm chọn lựa và thi hành thánh ý Cha. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
MẪU 2
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Ngài chậm giận và giàu tình thương. Tin vào tình yêu của Thiên Chúa và quyết tâm biến đổi đời sống, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”.Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị mục tử trong Hội Thánh, luôn biết quảng đại dâng hiến đời mình để phục vụ đoàn chiên Chúa.
2. “Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nhà lãnh đạo quốc gia, biết một lòng thực thi những điều tốt đẹp cho tất cả mọi người.
3. “Con không muốn! Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những người tội lỗi, luôn biết ăn năn hối cải mỗi khi phạm tội, và quyết tâm quay trở về với tình thương của Thiên Chúa.
4. “Thưa ngài, con đây!”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, luôn biết lắng nghe và sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa trong đời sống hằng ngày.
Chủ tế: Lạy Thiên Chúa là Cha rất nhân lành, xin đón nhận những ước nguyện chân thành của chúng con, và giúp chúng con luôn biết vâng nghe và thực thi ý Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con dâng những lễ vật này, xin Chúa vui lòng chấp nhận, và mở cho chúng con nguồn mạch mọi ơn phúc. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, đối với tôi tớ Chúa, xin nhớ lại lời Chúa, vì Chúa đã cho tôi hy vọng vào lời Chúa, đó là điều an ủi tôi trong lúc tôi khốn khổ.
Hoặc đọc:
Do điều này mà chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa, là chính Người đã thí mạng sống mình vì chúng ta, nên chúng ta cũng phải thí mạng sống mình vì anh em.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, trong thánh lễ này, chúng con đã chung phần đau khổ với Ðức Kitô Con Một Chúa; xin Chúa thương đổi mới xác hồn chúng con, để chúng con được hưởng vinh quang với Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

KHI MỌI SỰ QUA ĐI, ĐIỀU GÌ CÒN LẠI?
Có những lúc con người đang vui mà bất chợt chùng lòng chỉ vì nhận ra một sự thật rất đơn giản: mọi sự rồi sẽ qua đi. Một ngày đẹp rồi cũng khép lại. Một mùa hoa rồi cũng tàn. Một tuổi trẻ rực rỡ rồi cũng lùi về phía sau. Một mái tóc từng xanh rồi cũng bạc. Một căn nhà được xây dựng bằng bao công sức rồi một ngày cũng phải để lại cho người khác. Một chức vụ, một danh tiếng, một thành công từng làm người ta tự hào rồi cũng chỉ còn lại trong ký ức. Những người ta yêu thương hôm nay đang ngồi bên cạnh ta, nhưng chẳng ai có thể giữ nhau mãi trong cuộc đời này. Có lẽ vì thế mà con người thường mang trong lòng một nỗi buồn rất kín đáo: càng yêu một điều gì, ta càng sợ mất điều ấy; càng có nhiều, ta càng lo một ngày mình không còn có nữa. Và nếu không có đức tin, ý nghĩ về sự chóng qua của cuộc đời rất dễ làm lòng người trở nên cay đắng.
Sách Giảng Viên đưa chúng ta đối diện với thực tại ấy bằng một giọng rất tỉnh táo. Tuổi trẻ đẹp, niềm vui đẹp, sức khỏe đẹp, những ngày tháng bình an cũng đẹp; nhưng tất cả đều mang dấu ấn của thời gian. Đời người không phải là một đường thẳng kéo dài vô tận trên mặt đất. Có bình minh rồi có hoàng hôn, có mùa xuân rồi có mùa đông, có gặp gỡ rồi có chia ly. Nhìn như thế không phải để chúng ta bi quan, nhưng để chúng ta học cách sống đúng. Bởi điều đáng sợ không phải là cuộc đời chóng qua; điều đáng sợ hơn là cuộc đời chóng qua mà ta lại sống nó một cách vô nghĩa. Điều đáng buồn không phải là tuổi trẻ mất đi; điều đáng buồn là tuổi trẻ đã qua mà ta chưa từng biết yêu thương. Điều đáng tiếc không phải là tiền bạc rồi phải bỏ lại; điều đáng tiếc là khi còn có tiền, ta đã không biết dùng nó để làm điều thiện. Điều đáng sợ không phải là một ngày ta phải rời khỏi thế gian này; điều đáng sợ là đến ngày phải ra đi, ta mới nhận ra mình đã dành cả đời để chạy theo những điều không thể mang theo.
Nhiều người sống như thể mình sẽ ở lại trần gian mãi mãi. Họ tranh giành nhau từng chút lợi ích, giận nhau nhiều năm chỉ vì một lời nói, hơn thua nhau một vị trí, đau khổ vì người khác thành công hơn mình, cố gom góp thật nhiều rồi lại sống trong nỗi lo sợ mất mát. Có người đánh đổi tình nghĩa vì tiền bạc; có người đánh đổi lương tâm vì danh vọng; có người đánh đổi gia đình vì tham vọng; có người đánh đổi bình an nội tâm chỉ để được người đời nhìn nhận. Nhưng rồi đến cuối đường, tất cả chúng ta đều trở nên rất giống nhau: hai bàn tay từng nắm rất nhiều cuối cùng cũng phải mở ra.
Có một câu hỏi đáng để mỗi người tự hỏi: nếu hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, điều gì đang làm tôi bận tâm nhất có còn quan trọng không? Có lẽ nhiều chuyện đang khiến ta mất ngủ bỗng trở nên rất nhỏ. Một lời người khác nói về ta, một chút danh dự bị tổn thương, một cuộc tranh luận ta nhất định muốn thắng, một món đồ ta muốn sở hữu, một người ta đang cố hơn thua… tất cả bỗng nhẹ tênh khi đặt trước sự hữu hạn của đời người. Chính ý thức về cái chết, nếu được nhìn bằng đức tin, không làm con người buồn hơn nhưng lại có thể giúp người ta sống đẹp hơn. Khi biết thời gian có hạn, ta sẽ bớt lãng phí nó. Khi biết người thân không ở mãi bên mình, ta sẽ yêu họ dịu dàng hơn. Khi biết một ngày nào đó mình phải đứng trước mặt Chúa, ta sẽ cân nhắc cẩn thận hơn từng lời nói và hành động của mình.
Tin Mừng hôm nay lại đưa chúng ta đến một chiều sâu khác. Khi mọi người đang thán phục Đức Giêsu vì những việc Người làm, chính lúc ấy Người nói với các môn đệ về cuộc thương khó sắp tới. Giữa tiếng tung hô, Người nói về thập giá. Giữa lúc người ta đang ngưỡng mộ, Người nhắc đến việc Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời. Các môn đệ không hiểu lời ấy. Có lẽ họ không muốn hiểu. Trong đầu họ, Đấng Mêsia phải chiến thắng, phải được tôn vinh, phải làm những việc lớn lao. Họ chưa thể chấp nhận rằng con đường cứu độ lại đi ngang qua thất bại, đau khổ và cái chết.
Chúng ta cũng giống các môn đệ. Ta dễ nhận ra Chúa trong những ngày thuận lợi hơn là trong đau khổ. Khi công việc thành công, gia đình bình an, sức khỏe tốt, lời cầu xin được nhận lời, ta dễ nói: “Chúa thương tôi.” Nhưng khi bệnh tật đến, khi người mình yêu thương ra đi, khi một dự định đổ vỡ, khi bị hiểu lầm, khi cầu nguyện rất lâu mà dường như Chúa vẫn im lặng, ta bắt đầu bối rối: “Chúa ở đâu?”
Thực ra, Chúa không chỉ hiện diện trong ánh sáng. Người còn đứng bên ta trong những đêm tối. Người không chỉ là Chúa của những ngày chúng ta được tung hô; Người còn là Chúa của ngày bị người đời từ chối. Đức Giêsu không cứu thế giới bằng cách tránh né đau khổ nhưng bằng cách đi xuyên qua đau khổ trong tình yêu. Thập giá dạy chúng ta rằng đau khổ không phải là tiếng nói cuối cùng của cuộc đời. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh là buổi sáng Phục Sinh. Sau ngôi mộ đóng kín là tảng đá được lăn ra. Sau nước mắt là niềm vui mà thế gian không thể lấy mất.
Có lẽ một trong những thử thách lớn nhất của đời sống đức tin là học cách giữ được niềm vui giữa một thế giới đầy đau khổ. Niềm vui Kitô giáo không có nghĩa là lúc nào cũng cười, càng không phải là giả vờ rằng cuộc sống chẳng có vấn đề gì. Đức Giêsu đã từng khóc. Người đã khóc trước mộ Ladarô. Người đã khóc trước thành Giêrusalem. Người biết đau buồn, biết xót xa, biết cô đơn, biết sợ hãi trong vườn Cây Dầu. Nhưng đau khổ không biến trái tim Người thành cay đắng. Người vẫn yêu, vẫn tha thứ, vẫn trao ban, vẫn tin tưởng nơi Chúa Cha. Chính ở đó ta hiểu rằng niềm vui Kitô giáo không phải là không có nước mắt; niềm vui Kitô giáo là biết rằng ngay trong nước mắt, Thiên Chúa vẫn ở bên ta.
Có những người đời sống rất khó khăn nhưng ở gần họ ta lại thấy bình an. Họ không có nhiều tiền, không có địa vị cao, sức khỏe cũng chẳng tốt, nhưng họ có một trái tim nhẹ nhàng. Họ biết cảm ơn một bữa cơm, biết vui vì một cuộc gặp gỡ, biết mỉm cười với người khác, biết chia sẻ dù mình chẳng có bao nhiêu. Trái lại, có những người có gần như mọi thứ nhưng lúc nào cũng bất mãn. Họ luôn thấy thiếu một điều gì đó: thêm tiền, thêm quyền, thêm lời khen, thêm sự chú ý. Sự khác biệt không nằm ở những gì người ta sở hữu nhưng nằm ở cách người ta nhìn cuộc đời.
Người có đức tin nhìn mọi sự như quà tặng. Buổi sáng mở mắt ra còn được sống là một quà tặng. Có người để gọi hai tiếng cha mẹ là một quà tặng. Có một người bạn chân thành là một quà tặng. Có sức khỏe để bước đi, có đôi mắt để nhìn trời xanh, có đôi tai để nghe tiếng chim, có bàn tay để làm việc, có trái tim để yêu thương: tất cả đều là quà tặng. Khi nhìn cuộc đời như quà tặng, ta biết ơn. Khi biết ơn, ta vui. Và khi vui trong Chúa, ta không cần phải sở hữu quá nhiều để cảm thấy mình giàu có.
Nhiều nỗi buồn của chúng ta phát sinh từ một ảo tưởng: chúng ta nghĩ rằng điều Chúa ban cho mình phải thuộc về mình mãi mãi. Nhưng thực ra mọi thứ đều được trao vào tay ta một thời gian. Con cái không phải là tài sản của cha mẹ. Người bạn đời không phải là vật sở hữu của nhau. Tài sản không phải là điều ta có thể đem theo vào đời sau. Ngay cả sự sống này cũng là một món quà được trao cho ta rồi một ngày phải hoàn trả cho Đấng đã ban nó. Khi hiểu điều ấy, ta vẫn yêu, nhưng yêu bằng đôi tay mở ra chứ không phải bằng bàn tay nắm chặt. Ta biết trân trọng nhưng không chiếm hữu. Ta biết vui khi được nhận và cũng học cách bình an khi phải trao lại.
Thật đẹp biết bao khi một người có thể nói với Chúa: “Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa vì những người Chúa đã cho đi ngang qua cuộc đời con. Con không biết họ sẽ ở bên con bao lâu, nhưng hôm nay con sẽ yêu họ hết lòng. Con cảm ơn Chúa vì sức khỏe hôm nay. Con không biết ngày mai sẽ thế nào, nhưng hôm nay con sẽ dùng sức khỏe này để phục vụ. Con cảm ơn Chúa vì tiền bạc con đang có. Con không biết ngày mai còn hay mất, nhưng hôm nay con sẽ dùng nó để làm điều tốt. Con cảm ơn Chúa vì cuộc đời này. Con không biết còn bao nhiêu ngày nữa, nhưng ngày hôm nay con muốn sống sao cho đẹp lòng Chúa.”
Có lẽ đó chính là sự khôn ngoan mà con người cần nhất: biết rằng mọi sự chóng qua nhưng không vì thế mà khinh thường cuộc đời; trái lại, chính vì mọi sự chóng qua nên càng phải yêu cuộc đời hơn. Một bông hoa đẹp vì nó không nở mãi. Một buổi hoàng hôn làm người ta xúc động vì chỉ kéo dài trong ít phút. Tuổi thơ quý giá vì không thể quay lại. Cha mẹ đáng trân trọng vì một ngày nào đó ta sẽ không còn được nghe tiếng gọi quen thuộc ấy nữa. Những điều hữu hạn lại trở nên quý giá chính vì chúng hữu hạn.
Nhưng đức tin Kitô giáo còn đi xa hơn. Nếu mọi sự chỉ kết thúc trong cái chết thì cuối cùng niềm vui của chúng ta vẫn rất mong manh. Nhưng Đức Kitô đã phục sinh. Vì thế, cái chết không phải là dấu chấm hết mà là một cánh cửa. Ta không được tạo dựng để biến mất nhưng để sống trong Thiên Chúa. Những điều tốt đẹp trong cuộc đời này không bị hủy diệt nhưng được hoàn tất trong Người. Tình yêu chân thật không mất đi. Một nghĩa cử bác ái không mất đi. Một lần tha thứ không mất đi. Một giọt nước mắt vì yêu thương không mất đi. Những gì được thực hiện trong tình yêu đều bước vào vĩnh cửu.
Thế nên điều quan trọng không phải là ta sống bao lâu nhưng là ta đã sống như thế nào. Một người có thể sống chín mươi năm mà chưa thật sự sống nếu cả đời chỉ khép kín trong ích kỷ. Một người có thể sống một cuộc đời rất ngắn nhưng để lại một dấu ấn lớn lao vì họ đã yêu thật nhiều. Thiên Chúa không hỏi ta đã tích lũy bao nhiêu nhưng hỏi ta đã yêu bao nhiêu. Người không hỏi ta nổi tiếng đến mức nào nhưng hỏi ta đã trung tín thế nào. Người không hỏi có bao nhiêu người biết tên ta nhưng hỏi có bao nhiêu người đã được nâng đỡ bởi sự hiện diện của ta.
Có một thứ chúng ta có thể mang theo khi rời khỏi thế gian này: tình yêu. Không phải những ngôi nhà ta đã xây, nhưng là tình yêu đã diễn ra trong những ngôi nhà ấy. Không phải số tiền trong tài khoản, nhưng là những người đã được giúp đỡ nhờ số tiền ấy. Không phải những bằng cấp treo trên tường, nhưng là điều tốt lành ta đã làm bằng kiến thức của mình. Không phải những lời người đời từng ca tụng ta, nhưng là những lời âm thầm Chúa nói: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín.”
Vì thế, hôm nay nếu còn một người cần ta tha thứ, hãy tha thứ. Nếu còn một lời yêu thương chưa nói, hãy nói. Nếu còn cha mẹ, hãy dành thời gian cho cha mẹ. Nếu còn người bạn đời, đừng để những chuyện nhỏ làm nguội lạnh tình nghĩa. Nếu có con cái, đừng chỉ cho chúng tiền mà hãy cho chúng thời gian. Nếu có một người đang đau khổ bên cạnh, đừng chỉ nói “tôi sẽ cầu nguyện cho anh” rồi bước đi; hãy ngồi lại một chút, lắng nghe một chút, chia sẻ một chút. Bởi rất có thể ngày mai ta muốn làm điều ấy mà không còn cơ hội.
Và nếu hôm nay đang đi qua một thử thách, đừng vội nghĩ rằng Chúa đã bỏ mình. Có những đoạn đường Chúa không giải thích, Người chỉ mời ta bước cùng Người. Các môn đệ không hiểu khi Đức Giêsu nói về cuộc thương khó, nhưng về sau họ mới hiểu thập giá ấy chính là con đường dẫn tới phục sinh. Có những điều trong đời ta hôm nay cũng vậy. Ta chưa hiểu tại sao Chúa cho phép xảy ra. Ta chưa hiểu tại sao một cánh cửa đóng lại, tại sao một người ra đi, tại sao một lời cầu xin chưa được đáp lời. Có thể phải rất lâu sau ta mới nhìn thấy ý nghĩa. Và có những điều có lẽ chỉ khi đứng trước mặt Chúa ta mới hiểu hoàn toàn.
Đức tin không phải là hiểu tất cả. Đức tin là vẫn nắm tay Chúa khi mình chưa hiểu. Đức tin là có thể nói: “Lạy Chúa, con không biết con đường này sẽ đưa con đi đâu, nhưng con biết ai đang đi cùng con.” Chính sự hiện diện của Chúa làm nên bình an. Con thuyền không bình an vì không có sóng; con thuyền bình an vì có Đức Giêsu ở trong thuyền.
Rồi một ngày tất cả chúng ta sẽ phải rời khỏi sân khấu của cuộc đời. Những tiếng vỗ tay sẽ im. Những cuộc tranh luận sẽ dừng. Những điều khiến chúng ta lo lắng hôm nay sẽ không còn quan trọng. Khi ấy chỉ còn lại một câu hỏi rất đơn giản: tôi đã yêu chưa?
Ước gì khi ngày ấy đến, chúng ta không phải tiếc vì đã sống quá ít, yêu quá ít, tha thứ quá ít, cầu nguyện quá ít. Ước gì ta có thể nhìn lại và thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con đã không sống một cuộc đời hoàn hảo. Con đã nhiều lần yếu đuối, vấp ngã và sai lầm. Nhưng con đã cố gắng yêu. Con đã cố đứng dậy mỗi lần ngã xuống. Con đã cố tha thứ dù khó khăn. Con đã cố tìm Chúa trong những ngày vui cũng như trong những ngày đau khổ. Và giờ đây, con trao lại cho Chúa tất cả những gì Chúa đã trao cho con.”
Khi ấy ta sẽ hiểu rằng chẳng có gì thật sự mất nếu được đặt trong tay Thiên Chúa. Tuổi trẻ qua đi nhưng tình yêu không qua đi. Sức khỏe suy giảm nhưng lòng trung tín không mất. Tiền bạc ở lại trần gian nhưng những việc bác ái sẽ đi theo ta. Người thân có thể tạm xa ta trong cái chết, nhưng trong Chúa, tình yêu vẫn chờ một ngày gặp lại.
Vậy hôm nay, hãy sống. Sống thật sâu chứ đừng chỉ tồn tại. Hãy yêu những người đang ở bên cạnh mình. Hãy biết ơn những điều nhỏ bé. Hãy bớt than phiền. Hãy bớt hơn thua. Hãy bớt giữ những giận hờn không đáng giữ. Hãy dành thời gian cho Chúa. Hãy làm điều tốt khi còn có thể. Hãy nói lời tử tế khi còn cơ hội. Hãy để mỗi ngày trôi qua không chỉ làm mình già thêm nhưng làm mình hiền hơn, sâu hơn, nhân hậu hơn và gần Chúa hơn.
Mọi sự rồi sẽ qua. Nhưng nếu hôm nay ta sống trong tình yêu, thì chính giữa những điều chóng qua ấy, ta đang âm thầm xây dựng điều không bao giờ qua đi.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG CHỈ NGƯỠNG MỘ CHÚA – HÃY DÁM ĐI VỚI CHÚA ĐẾN THẬP GIÁ
Có những lúc người ta rất dễ tin vào Thiên Chúa, đó là khi mọi sự đang thuận lợi, khi lời cầu nguyện được đáp lại, khi bệnh tật được chữa lành, khi gia đình bình an, khi công việc hanh thông, khi ta cảm nhận rõ ràng bàn tay Chúa đang nâng đỡ đời mình. Nhưng Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến một bước sâu hơn rất nhiều: đức tin thật không chỉ là ngỡ ngàng trước những điều Chúa làm, mà là vẫn tin vào Chúa khi con đường Người dẫn ta đi ngang qua Thập Giá. Đám đông đang kinh ngạc trước Đức Giêsu. Họ vừa chứng kiến quyền năng của Người và mọi người đều thán phục những việc Người thực hiện. Trong chính khoảnh khắc đầy hào quang ấy, Đức Giêsu lại nói với các môn đệ một điều hoàn toàn trái với những gì họ đang mong đợi: “Con Người sắp bị nộp vào tay người đời.” Người như muốn kéo các môn đệ ra khỏi ánh sáng chói lọi của phép lạ để đưa họ nhìn về bóng tối của đồi Canvê. Người muốn họ hiểu rằng con đường cứu độ không được xây bằng tiếng vỗ tay của đám đông, nhưng bằng tình yêu tự hiến; không phải bằng việc chiếm lấy quyền lực, nhưng bằng việc trao ban chính mình; không phải bằng chiến thắng theo nghĩa thế gian, nhưng bằng một tình yêu chấp nhận bị thương tổn mà vẫn không ngừng yêu.
Các môn đệ không hiểu. Có lẽ chúng ta cũng chẳng khá hơn họ bao nhiêu. Chúng ta thích một Đức Giêsu chữa lành hơn một Đức Giêsu chịu đóng đinh. Chúng ta thích Chúa làm phép lạ hơn là Chúa mời ta vác thập giá. Chúng ta thích nghe rằng Chúa sẽ giải quyết những khó khăn của mình hơn là nghe Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Trong sâu thẳm, nhiều khi ta đến với Chúa vì mong Người làm cho cuộc đời mình dễ hơn. Ta cầu xin để bệnh tật biến mất, khó khăn được tháo gỡ, người làm ta đau khổ thay đổi, những cánh cửa đóng kín được mở ra. Những lời cầu xin ấy hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu đức tin chỉ dừng lại ở đó, ta sẽ rất dễ thất vọng khi Chúa không hành động theo điều mình mong muốn. Đức tin trưởng thành bắt đầu khi ta có thể nói: “Lạy Chúa, con vẫn xin Chúa cất chén đắng này khỏi con, nhưng nếu con phải đi qua nó, xin đừng để con đi một mình.”
Điều đáng suy nghĩ trong Tin Mừng hôm nay là các môn đệ không chỉ không hiểu, mà còn sợ hỏi Đức Giêsu. Có những nỗi sợ làm con người im lặng trước Thiên Chúa. Ta sợ hỏi Chúa vì sợ câu trả lời của Người không giống điều mình muốn nghe. Ta sợ xin Chúa chỉ cho mình con đường phải đi vì biết đâu Người sẽ dẫn đến nơi ta không muốn. Ta sợ cầu nguyện thật lòng vì có thể lời cầu nguyện ấy sẽ buộc ta phải thay đổi. Có người hỏi: “Lạy Chúa, con phải làm gì?” nhưng trong lòng đã quyết sẵn rằng chỉ làm điều nào hợp ý mình. Có người xin Chúa soi sáng, nhưng thực ra chỉ mong Chúa xác nhận quyết định họ đã chọn. Có người cầu xin bình an, nhưng không chịu tha thứ. Có người cầu xin gia đình được hàn gắn, nhưng nhất định không chịu bước xuống khỏi cái tôi. Có người xin Chúa chữa lành những vết thương, nhưng vẫn ngày ngày nuôi dưỡng chúng bằng ký ức cay đắng. Đức tin không phải là kéo Thiên Chúa xuống để Người đứng về phía kế hoạch của ta; đức tin là để cho Thiên Chúa dẫn ta vào kế hoạch của Người.
Vì thế, câu nói của Đức Giêsu: “Các con hãy ghi kỹ vào tai những lời sau đây” nghe thật tha thiết. Người biết các môn đệ thích nghe về phép lạ hơn về Thập Giá nên Người bảo họ phải nghe thật kỹ. Có những lời của Chúa ta thích nghe, nhưng cũng có những lời ta muốn bỏ qua. Ta thích nghe “Hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”; nhưng lại khó nghe “Hãy yêu kẻ thù.” Ta thích nghe “Đức tin của con đã cứu con”; nhưng lại sợ nghe “Hãy bán những gì con có và theo Ta.” Ta thích nghe về lòng thương xót; nhưng khó chấp nhận lời mời gọi hoán cải. Ta thích Chúa tha thứ cho mình nhưng lại do dự khi Người bảo mình tha thứ cho người khác. Thế nhưng Tin Mừng không phải là cuốn sách để ta chọn những câu dễ chịu rồi bỏ đi những câu làm mình khó chịu. Đức Kitô là một toàn thể. Không thể muốn Chúa Phục Sinh mà loại bỏ Chúa chịu đóng đinh. Không thể muốn vinh quang của Chúa mà khước từ con đường Thập Giá. Không thể muốn bình an của Chúa mà không đi qua hành trình chết đi cho cái tôi.
Thập Giá không có nghĩa là Thiên Chúa yêu đau khổ. Kitô giáo không bao giờ tôn thờ đau khổ. Điều Kitô giáo tôn thờ là tình yêu có khả năng đi xuyên qua đau khổ mà không biến thành oán hận. Đức Giêsu không tìm kiếm cái chết, nhưng Người trung thành với tình yêu cho đến cùng, dù sự trung thành ấy đưa Người đến Thập Giá. Đây mới là mầu nhiệm lớn lao. Người bị phản bội mà không phản bội. Người bị xúc phạm mà không xúc phạm lại. Người bị đóng đinh mà vẫn cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người bị tước hết mọi sự nhưng vẫn trao ban chính mình. Thập Giá vì thế không phải là thất bại của tình yêu; Thập Giá là nơi tình yêu cho thấy sức mạnh cuối cùng của nó.
Cuộc đời mỗi người cũng có những “Thập Giá” không ai lựa chọn. Có thể đó là một căn bệnh kéo dài, một người thân ra đi quá sớm, một cuộc hôn nhân đầy thử thách, một đứa con làm cha mẹ đau lòng, một sự phản bội không thể quên, một thất bại khiến ta mất hết tự tin, một tuổi già cô quạnh, một công việc âm thầm không ai biết đến, một đời sống dâng hiến có những ngày khô khan đến mức chẳng còn cảm thấy gì ngoài bổn phận. Khi ấy người ta rất dễ hỏi: “Chúa ở đâu?” Có lẽ Tin Mừng hôm nay không đưa ra một lời giải thích dễ dàng cho mọi nỗi đau. Đức Giêsu cũng không nói với các môn đệ rằng Thập Giá sẽ dễ chịu. Người chỉ cho họ biết rằng Thập Giá không phải là chương cuối cùng. Sau cái chết là Phục Sinh. Sau chiều Thứ Sáu Tuần Thánh là bình minh Chúa Nhật. Sau hạt lúa mục nát trong lòng đất là một mùa gặt mới. Người Kitô hữu không lạc quan vì nghĩ rằng mọi chuyện trên đời đều sẽ diễn ra đúng ý mình; chúng ta hy vọng vì biết rằng ngay cả những gì tưởng như thất bại, Thiên Chúa vẫn có thể biến thành con đường dẫn tới sự sống.
Đây cũng là một lời cảnh tỉnh cho một đời sống đạo chỉ tìm điều “lạ”. Thời nào cũng có người chạy theo dấu lạ, chuyện kỳ diệu, hiện tượng đặc biệt, những lời tiên báo gây tò mò. Nhưng Đức Giêsu hôm nay như nhắc chúng ta rằng điều phi thường nhất của Kitô giáo không phải là những hiện tượng khiến người ta kinh ngạc, mà là một Thiên Chúa yêu con người đến mức trao chính mạng sống mình. Phép lạ lớn nhất đôi khi không phải một bệnh nhân khỏi bệnh, mà là một người bị tổn thương vẫn có thể tha thứ. Phép lạ lớn nhất có khi không phải tiền bạc bất ngờ xuất hiện, mà là một gia đình tưởng đã tan vỡ lại biết ngồi xuống nói chuyện với nhau. Phép lạ lớn nhất không phải lúc nào cũng là thay đổi hoàn cảnh, mà có thể là khi Chúa thay đổi trái tim của ta để ta sống hoàn cảnh ấy bằng một tinh thần mới. Một người đang giận dữ bỗng biết im lặng. Một người nhiều năm không nhìn mặt anh em bỗng dám bước đến trước. Một người đau khổ vẫn giữ được lòng hiền hậu. Một người bệnh nặng vẫn có thể mỉm cười và nói lời cảm ơn. Những điều ấy có khi không ồn ào, nhưng lại là những phép lạ rất lớn của ân sủng.
Và có lẽ câu hỏi quan trọng cho mỗi chúng ta hôm nay là: Tôi đang theo Chúa vì điều gì? Tôi tìm Chúa vì yêu Chúa hay chỉ vì muốn Chúa giải quyết các vấn đề của tôi? Nếu mai này mọi điều tôi cầu xin đều không xảy ra, tôi còn ở lại với Người không? Nếu một ngày tôi không còn cảm thấy ngọt ngào trong cầu nguyện, tôi còn quỳ xuống không? Nếu làm điều tốt mà không được công nhận, tôi có tiếp tục làm không? Nếu sống ngay thẳng mà lại chịu thiệt, tôi có còn chọn sự thật không? Nếu yêu thương mà bị hiểu lầm, tôi có còn yêu không? Đó là lúc đức tin đi ra khỏi cảm xúc để trở thành lựa chọn; đi ra khỏi lời nói để trở thành đời sống; đi ra khỏi sự thán phục để bước vào sự trung thành.
Chúa Giêsu không cần những người chỉ đứng xa ngưỡng mộ Người. Người cần những môn đệ dám bước theo. Ngưỡng mộ Chúa thì dễ, theo Chúa mới khó. Khen một bài Tin Mừng thì dễ, để Tin Mừng sửa lại đời mình mới khó. Đeo Thánh Giá trên cổ thì dễ, mang Thánh Giá trong đời mới khó. Nói về lòng thương xót thì dễ, tha thứ cho người làm mình đau mới khó. Nói rằng “ý Chúa được thể hiện” thì dễ, nhưng khi ý Chúa khác với ý ta, chấp nhận mới khó. Tuy vậy, chính nơi ấy đức tin mới lớn lên. Chúa không đòi ta hiểu hết rồi mới theo Người. Các môn đệ hôm nay không hiểu, nhưng họ vẫn tiếp tục bước đi với Đức Giêsu. Có những giai đoạn trong đời, ta cũng chẳng hiểu gì cả. Ta không hiểu tại sao Chúa để điều này xảy ra. Không hiểu tại sao lời cầu nguyện kéo dài nhiều năm vẫn chưa được đáp lại. Không hiểu tại sao người tốt lại phải chịu đau khổ. Không hiểu tại sao con đường trước mắt mờ mịt như vậy. Khi ấy, có lẽ điều Chúa mong không phải là ta lập tức tìm ra câu trả lời, nhưng là đừng bỏ Người.
Có những câu hỏi chỉ được trả lời sau nhiều năm. Có những đau khổ khi đang ở giữa nó ta không thể hiểu, nhưng nhìn lại ta mới thấy Chúa đã âm thầm làm một điều gì đó sâu xa trong lòng mình. Và cũng có những điều mãi đến đời sau ta mới hiểu. Đức tin không phải là có tất cả câu trả lời. Đức tin là biết mình đang nắm tay Ai giữa những câu hỏi chưa có lời giải. Một đứa trẻ có thể không hiểu con đường cha nó đang đi, nhưng chỉ cần bàn tay nó còn nằm trong tay cha, nó vẫn có thể bước tiếp. Người tín hữu cũng thế. Có những ngày ta chẳng nhìn thấy đường, nhưng nếu còn giữ được lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin nơi Chúa,” thì đức tin ấy quý giá hơn rất nhiều những lúc ta tin vì mọi chuyện đều đang thuận lợi.
Tin Mừng hôm nay vì thế mời ta đi từ kinh ngạc đến đức tin, từ đức tin đến phó thác, từ phó thác đến việc bước theo Chúa trên con đường tự hiến. Đừng chỉ tìm Đức Giêsu của phép lạ; hãy tìm Đức Giêsu của Thập Giá. Đừng chỉ yêu Chúa khi Người làm điều ta muốn; hãy học yêu Người vì Người là Chúa. Đừng chỉ cầu xin Chúa lấy hết thập giá khỏi cuộc đời; đôi khi hãy cầu xin một điều sâu hơn: “Lạy Chúa, nếu thập giá này chưa thể cất đi, xin cho con đủ sức mang nó với Chúa.” Chính khi đó, thập giá không còn chỉ là nơi ta đau khổ, nhưng có thể trở thành nơi ta gặp Chúa sâu nhất. Và rồi, một ngày nào đó, ta sẽ hiểu rằng điều làm nên vẻ đẹp của đời người không phải là đã sống một cuộc đời không có Thập Giá, mà là giữa mọi Thập Giá, ta đã không đánh mất tình yêu, không đánh mất niềm tin, không đánh mất Thiên Chúa. Bởi cuối cùng, người chiến thắng không nhất thiết là người chưa bao giờ bị tổn thương, nhưng là người đã đi qua tổn thương mà trái tim vẫn còn biết yêu; không phải người chưa từng khóc, nhưng là người đã khóc mà vẫn còn biết hy vọng; không phải người chưa từng ngã, nhưng là người mỗi lần ngã đều biết nắm lấy bàn tay Chúa để đứng lên. Từ sự thán phục đến đức tin là một con đường dài; và cây cầu dẫn chúng ta qua con đường ấy chính là Thập Giá của Đức Kitô.
Lm. Anmai, CSsR

ĐIỀU CHÚA CẦN KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TIẾNG “VÂNG” ĐẸP
Có những tiếng “vâng” nghe rất đẹp nhưng chẳng bao giờ trở thành hành động. Cũng có những tiếng “không” làm người khác thất vọng, nhưng sau đó lại được sửa chữa bằng một cuộc trở về chân thành. Dụ ngôn hai người con mà Đức Giêsu kể hôm nay rất ngắn, nhưng nó chạm đến một trong những căn bệnh sâu xa nhất của đời sống đức tin: khoảng cách giữa điều chúng ta nói với Chúa và điều chúng ta thực sự sống. Người cha nói với đứa con thứ nhất: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Nó trả lời rất thẳng: “Con không muốn.” Nhưng sau đó nó hối hận và đi. Người cha cũng nói với đứa con thứ hai như vậy. Nó lập tức đáp: “Thưa ngài, con đây”, nhưng cuối cùng lại không đi. Đức Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Câu trả lời quá rõ ràng: người con thứ nhất. Không phải vì tiếng “không” của anh là điều tốt, nhưng bởi vì anh đã biết biến tiếng “không” thành tiếng “vâng” bằng chính cuộc đời mình.
Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh rằng sự vâng phục không hệ tại ở việc nói “vâng” hay “không”, nhưng cuối cùng nằm ở việc chúng ta có thực sự bước vào vườn nho hay không. Kitô giáo không thể chỉ là một thứ đạo nằm trên môi miệng, nơi nghi thức, trong những câu kinh thuộc lòng hay những lời tuyên xưng rất đẹp nhưng không chạm tới cách chúng ta cư xử với người khác. Đức Giêsu chống lại một thứ tôn giáo chỉ có vẻ bề ngoài, một lối sống đạo quen thuộc đến mức người ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn nói về Chúa nhưng đời sống không còn bị Lời Chúa chất vấn nữa. Điều đáng sợ nhất trong đời sống Kitô hữu có lẽ không phải là có lúc chúng ta nói “không” với Chúa. Ai trong chúng ta mà chưa từng nói “không”? Chúa bảo tha thứ, ta nói: con không thể. Chúa bảo bỏ một thói quen xấu, ta nói: con chưa muốn. Chúa bảo khiêm nhường, ta vẫn muốn hơn thua. Chúa bảo yêu thương một người làm mình tổn thương, ta thấy lòng mình khép lại. Chúa bảo dành thời gian cho Người, ta viện đủ lý do rằng quá bận. Chúng ta đã nói với Chúa biết bao nhiêu tiếng “không”, đôi khi bằng lời nói, nhiều hơn nữa bằng chính cách sống. Nhưng điều đáng sợ hơn tiếng “không” ấy là một tiếng “vâng” giả tạo: miệng nói con thuộc về Chúa nhưng lòng lại thuộc về tiền bạc; miệng nói con yêu Chúa nhưng trong lòng đầy cay đắng; miệng nói con tha thứ nhưng vẫn âm thầm nuôi sự trả đũa; miệng nói xin vâng nhưng khi thánh ý Chúa khác ý mình thì lập tức bất mãn.
Người con thứ nhất cho chúng ta một niềm hy vọng rất lớn: quá khứ không nhất thiết quyết định tương lai của một con người. Anh đã từng nói “không”, nhưng tiếng “không” ấy không phải là câu cuối cùng của cuộc đời anh. Anh suy nghĩ lại, anh hối hận, rồi anh đứng dậy và đi vào vườn nho. Kitô giáo bắt đầu lại từ chính điểm ấy: đứng dậy và đi. Có thể hôm qua ta đã sai. Có thể nhiều năm qua ta đã sống xa Chúa. Có thể ta đã làm những điều mà bây giờ nhớ lại vẫn còn xấu hổ. Có thể đời ta có những trang mà chính mình cũng không muốn đọc lại. Nhưng Thiên Chúa không khóa đời chúng ta trong quá khứ. Người không nói: “Con đã từng từ chối Ta, vậy thôi.” Người vẫn đứng đó, vẫn gọi, vẫn đợi một ngày chúng ta nghĩ lại và bước vào vườn nho.
Đức Thánh Cha Phanxicô nói một điều rất đẹp: Thiên Chúa kiên nhẫn với mỗi người chúng ta. Người không mệt mỏi, không bỏ cuộc sau những tiếng “không” của ta. Người tôn trọng tự do của chúng ta, ngay cả khi chúng ta sử dụng tự do ấy để rời xa Người; nhưng Người vẫn chờ đợi tiếng “vâng” của chúng ta để có thể ôm chúng ta lại trong vòng tay của lòng thương xót. Có lẽ nhiều người đã hiểu sai Thiên Chúa vì tưởng rằng Người giống một người cha khó tính, ghi lại từng lỗi lầm để một ngày đem ra tính sổ. Nhưng Tin Mừng cho thấy một khuôn mặt khác: Thiên Chúa là người Cha chờ đợi. Người đau vì con đi xa, nhưng cánh cửa vẫn mở. Người buồn vì ta từ chối, nhưng lời mời vẫn còn. Người biết ta yếu đuối, biết ta thay đổi thất thường, biết hôm nay ta sốt sắng nhưng ngày mai có thể nguội lạnh; vậy mà Người vẫn kiên trì nói với ta mỗi buổi sáng: “Này con, hôm nay hãy đi làm vườn nho cho Cha.”
“Hôm nay.” Chúa không hỏi quá nhiều về hôm qua. Người cũng không đòi ta phải giải quyết cả cuộc đời ngày mai. Người chỉ nói: hôm nay. Hôm nay con có thể bắt đầu lại không? Hôm nay con có thể cầu nguyện thật lòng hơn không? Hôm nay con có thể thôi nói một lời làm tổn thương người khác không? Hôm nay con có thể gọi điện cho người mà con đã giận quá lâu không? Hôm nay con có thể dành chút thời gian cho một người cô đơn không? Hôm nay con có thể sống trung thực hơn trong công việc không? Hôm nay con có thể bước vào nhà thờ với một trái tim thật chứ không chỉ với một thân xác hiện diện không? Chúng ta thường trì hoãn đời sống thiêng liêng vì tưởng rằng hoán cải phải là một điều gì rất lớn. Nhưng phần lớn các cuộc hoán cải thật bắt đầu bằng một việc rất nhỏ được làm ngay hôm nay.
Tin Mừng cũng đưa ra một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ khi Đức Giêsu nói rằng những người thu thuế và những cô gái điếm đang vào Nước Thiên Chúa trước các thượng tế và kỳ mục. Người không hề ca tụng tội lỗi hay nói rằng sống sai cũng chẳng sao. Đức Thánh Cha giải thích rất rõ: Đức Giêsu không đưa những người tội lỗi ấy ra làm mẫu về cách sống, nhưng cho thấy họ là những người để cho ân sủng chạm tới, lắng nghe lời mời gọi rồi thay đổi cuộc đời. Hoán cải luôn là một ân sủng Thiên Chúa ban cho người biết mở lòng. Điều nguy hiểm của người tự cho mình đạo đức không phải là họ làm quá nhiều điều tốt, nhưng là họ có thể đi tới chỗ nghĩ rằng mình không còn cần hoán cải nữa. Người tội lỗi còn biết khóc vì tội mình thì vẫn có đường trở về; người nghĩ mình không có gì phải thay đổi mới thật sự đang đứng trước một hiểm nguy lớn.
Có một thứ khoảng cách rất đáng sợ: khoảng cách giữa bàn thờ và đời sống. Chúng ta có thể rất gần bàn thờ nhưng rất xa Tin Mừng. Có thể đọc Lời Chúa mỗi ngày nhưng lại không để một câu Lời Chúa nào thay đổi cách mình nói chuyện với người thân. Có thể rước lễ thường xuyên nhưng vẫn giữ một sự thù ghét nhiều năm. Có thể phục vụ rất nhiều trong giáo xứ nhưng lại khiến những người sống gần mình luôn phải đau khổ vì tính nóng nảy, độc đoán hoặc kiêu căng. Có thể nói về lòng thương xót nhưng lại không thương xót một người cụ thể. Có thể nói về bác ái nhưng lại cân đo từng chút khi phải hy sinh lợi ích của mình. Người con thứ hai trong dụ ngôn không thiếu lời đẹp. Anh gọi cha rất kính trọng. Anh trả lời ngay lập tức. Vấn đề duy nhất là anh không đi. Nhưng đôi khi “không đi” mới chính là vấn đề lớn nhất.
Thiên Chúa không tìm những Kitô hữu có câu trả lời thật đẹp. Người tìm những người chịu bước đi. Một người mẹ kiên nhẫn chăm sóc con trong những ngày mệt mỏi có thể đang làm việc trong vườn nho Chúa. Một người cha từ chối một khoản lợi bất chính để giữ lương tâm ngay thẳng đang làm việc trong vườn nho. Một người con nhẫn nại chăm sóc cha mẹ già đang làm việc trong vườn nho. Một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả đũa đang làm việc trong vườn nho. Một người âm thầm chia sẻ với người nghèo mà chẳng ai biết đang làm việc trong vườn nho. Một người sau nhiều năm nguội lạnh bước vào tòa giải tội và nói thật lòng: “Thưa Chúa, con muốn trở về” cũng đang bước vào vườn nho.
Đừng bao giờ coi thường những bước trở về nhỏ bé của một con người. Ta không biết trong lòng họ đã phải chiến đấu bao nhiêu để bước được một bước ấy. Đức Thánh Cha nhắc rằng hoán cải là một tiến trình; đó là hành trình thanh luyện con tim, đôi khi đau đớn, bởi không có con đường nên thánh nào hoàn toàn vắng bóng hy sinh và chiến đấu thiêng liêng. Có những thói quen không thể bỏ trong một ngày. Có những vết thương cần nhiều năm mới được chữa lành. Có những mối hận phải cầu nguyện rất lâu mới buông được. Có những đam mê xấu mà ta đã chống lại hàng trăm lần, ngã xuống hàng trăm lần và vẫn phải đứng lên lần thứ một trăm lẻ một. Đừng vì mình chưa hoàn hảo mà bỏ cuộc. Chúa không yêu cầu ta trở thành thánh trong một buổi chiều; Người yêu cầu ta đừng thôi bước về phía Người.
Có lẽ hôm nay mỗi người nên tự hỏi mình một câu rất thật: tôi giống người con nào? Tôi có đang nói với Chúa rất nhiều tiếng “vâng” mà cuộc đời lại đi theo một hướng khác không? Tôi có những nơi nào vẫn đang nói “không” với Người? Có một người nào tôi nhất quyết không tha thứ? Một thói quen nào tôi biết rõ là không tốt nhưng vẫn nuôi dưỡng? Một sự gian dối nào tôi vẫn tự biện minh? Một cuộc trở về nào tôi cứ trì hoãn hết ngày này sang ngày khác? Một việc tốt nào tôi biết phải làm nhưng vẫn nói: “Mai con làm”? Đừng trả lời câu hỏi ấy cho đẹp. Hãy trả lời cho thật. Vì Chúa không cần nghe một câu trả lời đẹp. Người muốn cứu một con người thật.
Điều an ủi là khi ta nhận ra mình giống người con thứ nhất, câu chuyện vẫn chưa kết thúc. Ta còn có thể “suy nghĩ lại”. Một trong những ân sủng lớn nhất Chúa ban cho con người chính là khả năng suy nghĩ lại. Đời ta có thể đã đi sai hướng mười năm, hai mươi năm, thậm chí lâu hơn nữa, nhưng chỉ cần một ngày ta thật lòng nhận ra và quay lại, một con đường mới bắt đầu. Người con hoang đàng chỉ cần “hồi tâm” là hành trình trở về khởi sự. Phêrô chỉ cần khóc sau khi chối Thầy là một vị tông đồ mới được hình thành. Mátthêu chỉ cần đứng dậy khỏi bàn thu thuế là một cuộc đời mới mở ra. Người trộm lành chỉ cần quay sang Đức Giêsu trong những phút cuối đời là nghe được lời hứa về thiên đàng. Thiên Chúa kỳ diệu ở chỗ Người có thể bắt đầu một trang hoàn toàn mới ngay tại nơi ta tưởng câu chuyện đã hết.
Và có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất hôm nay không cần dài: “Lạy Chúa, xin cho con biết biến lời con nói thành đời con sống.” Xin đừng để chúng con chỉ là những Kitô hữu biết nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” mà chân không chịu bước theo Người. Xin đừng để chúng con bằng lòng với một đạo đức bề ngoài trong khi trái tim vẫn cứng cỏi. Xin cho chúng con biết mỗi ngày chọn điều thiện thay vì điều xấu, chọn sự thật thay vì dối trá, chọn tình yêu thay vì ích kỷ, như Đức Thánh Cha nhắc nhở. Xin cho chúng con đừng tuyệt vọng vì những tiếng “không” của quá khứ, nhưng biết tin vào sự kiên nhẫn vô cùng của Cha. Và nếu hôm qua chúng con đã từ chối, thì hôm nay xin cho chúng con biết đứng dậy. Nếu hôm qua chúng con đã bỏ vườn nho, hôm nay xin cho chúng con quay lại. Nếu nhiều năm qua chúng con chỉ nói mà chưa sống, thì từ hôm nay xin cho lời “vâng” của chúng con bắt đầu có đôi chân.
Cuối cùng, ngày chúng ta đứng trước mặt Chúa, có lẽ Người sẽ không hỏi chúng ta đã nói bao nhiêu lời thật hay về Người, đã biết bao nhiêu giáo lý, đã thuộc bao nhiêu kinh, hay đã được người khác đánh giá đạo đức đến mức nào. Điều quan trọng sẽ là: con có đi vào vườn nho không? Con có yêu người Ta đặt bên cạnh con không? Con có cho kẻ đói ăn, cho người khát uống, nâng đỡ người đau khổ, tha thứ cho kẻ xúc phạm, trung thành trong bổn phận, đứng về phía sự thật và làm điều thiện không? Bởi đức tin cuối cùng phải có hình hài của một đời sống.
Chúa vẫn đang đứng trước cửa lòng mỗi người và nói: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho Cha.” Có thể hôm qua chúng ta đã trả lời “không”. Không sao, nếu hôm nay ta biết suy nghĩ lại. Có thể chúng ta đã mất nhiều năm. Không sao, nếu hôm nay ta chịu bước đi. Thiên Chúa không mệt mỏi vì phải chờ chúng ta. Điều Người mong chỉ là một ngày nào đó, giữa bao lần yếu đuối và chần chừ, chúng ta thật sự đứng lên và nói với Người bằng cả cuộc đời mình: “Lạy Cha, con đi đây.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐIỀU CHÚA CẦN KHÔNG PHẢI LÀ MỘT LỜI “VÂNG” ĐẸP, NHƯNG LÀ MỘT CUỘC ĐỜI BIẾT QUAY VỀ
Có những lời “vâng” nghe rất đẹp nhưng chẳng bao giờ trở thành hành động. Và cũng có những lời “không” làm người ta buồn, nhưng sau đó lại được sửa lại bằng một cuộc đời biết hối hận, biết quay về và biết bắt đầu lại. Tin Mừng hôm nay kể một câu chuyện thật đơn giản: người cha có hai người con. Ông bảo người con thứ nhất: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Người con trả lời rất thẳng: “Con không muốn đâu.” Một câu trả lời chẳng đẹp chút nào. Nhưng rồi anh hối hận và đi. Người cha cũng nói với người con thứ hai như vậy. Anh đáp ngay: “Thưa cha, vâng, con đi.” Nghe thật ngoan, thật dễ thương, thật đúng đạo làm con. Nhưng rồi anh lại không đi. Và Đức Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Câu trả lời quá rõ: người thứ nhất. Câu chuyện ngắn nhưng đụng đến một sự thật rất sâu trong đời sống đức tin: Thiên Chúa không chỉ nghe những điều chúng ta nói với Người; Người nhìn vào cách chúng ta sống sau những lời mình đã nói.
Có lẽ trong đời sống đạo, chúng ta đã nói với Chúa rất nhiều lời “vâng”. Ngày lãnh Bí tích Rửa Tội, qua cha mẹ và người đỡ đầu, chúng ta thuộc về Chúa. Ngày thêm sức, chúng ta tuyên xưng đức tin. Ngày cưới nhau trước bàn thờ, người ta nói với nhau một lời “vâng” rất đẹp. Ngày khấn dòng, ngày chịu chức, người ta cũng thưa “vâng” trước Thiên Chúa và Hội Thánh. Mỗi Thánh lễ, chúng ta lại thưa “Amen”. Khi nghe Lời Chúa, chúng ta đáp: “Tạ ơn Chúa.” Khi linh mục công bố Tin Mừng, chúng ta thưa: “Lạy Chúa, vinh danh Chúa.” Cuộc đời Kitô hữu có rất nhiều lời thưa đẹp. Nhưng Tin Mừng hôm nay đặt trước mặt chúng ta một câu hỏi khó hơn: sau những lời ấy, đời sống của chúng ta có đi vào “vườn nho” của Chúa hay không? Có thể môi miệng nói “vâng” mà trái tim lại nói “không”. Có thể đứng rất gần bàn thờ mà tâm hồn lại rất xa Thiên Chúa. Có thể thuộc rất nhiều kinh nhưng không biết tha thứ. Có thể đi lễ đều đặn nhưng sống bất công. Có thể nói rất nhiều về bác ái nhưng lại lạnh lùng trước nỗi đau của người bên cạnh. Có thể giữ một hình ảnh đạo đức rất đẹp trước mắt người khác nhưng bên trong chất chứa tự ái, ganh ghét, ích kỷ, hơn thua và những toan tính chẳng giống Tin Mừng chút nào.
Đáng sợ nhất trong đời sống thiêng liêng không hẳn là đã từng nói “không” với Chúa. Đáng sợ hơn là tưởng mình vẫn đang nói “vâng” trong khi cả cuộc đời đã âm thầm đi theo một hướng khác. Người con thứ hai không công khai chống cha. Anh rất lễ phép. Anh thưa “vâng”. Vấn đề không nằm ở lời nói, nhưng nằm ở việc anh không đi. Cũng vậy, có những người không bao giờ bỏ đạo, không công khai chống Chúa, không nói điều gì xúc phạm đến đức tin, nhưng từ lâu đời sống đã chẳng còn để Chúa hướng dẫn nữa. Vẫn có Chúa trong lời nói, nhưng tiền bạc mới điều khiển các quyết định. Vẫn đeo thánh giá trên cổ, nhưng danh dự và cái tôi lại là điều quan trọng nhất. Vẫn đọc kinh mỗi tối, nhưng một mối hận vẫn được giữ rất kỹ trong lòng. Vẫn tham dự Thánh lễ, nhưng ngoài cửa nhà thờ lại sống như thể Tin Mừng chưa từng được nghe. Chúng ta rất dễ nghĩ rằng mình thuộc về Thiên Chúa chỉ vì mình quen với những điều thánh thiện. Nhưng quen với nhà thờ chưa chắc đã là quen với Thiên Chúa. Đọc nhiều kinh chưa chắc đã là để cho Lời Chúa biến đổi mình. Làm nhiều việc đạo đức chưa chắc đã đồng nghĩa với việc trái tim đã thực sự thuộc về Chúa.
Người con thứ nhất có một khởi đầu chẳng đẹp: “Con không muốn.” Anh giống rất nhiều người trong chúng ta. Đã có lúc ta không muốn sống theo Chúa. Ta biết phải tha thứ nhưng không muốn tha thứ. Ta biết phải bỏ một thói quen xấu nhưng không muốn bỏ. Ta biết phải khiêm nhường nhưng lại thích hơn thua. Ta biết cần cầu nguyện nhưng lại trì hoãn. Ta biết mình phải sửa đổi nhưng vẫn nói: “Để mai tính.” Ta biết một tương quan cần được hàn gắn nhưng vẫn chờ người kia xuống nước trước. Có những “không” rất rõ trong đời mình. Nhưng điều làm nên vẻ đẹp của người con thứ nhất không phải là anh đã nói “không”, mà là sau đó anh “hối hận và đi”. Hai chữ “hối hận” chính là cánh cửa mở ra một cuộc đời mới. Anh không để câu nói sai cuối cùng trở thành định mệnh của đời mình. Anh không tự nhốt mình trong lỗi lầm. Anh cho phép bản thân đổi ý. Và điều kỳ diệu của Tin Mừng nằm chính ở đó: trước mặt Thiên Chúa, một con người vẫn có thể bắt đầu lại.
Chúng ta thường rất khắt khe với quá khứ của mình. Có người nghĩ: tôi đã sai quá nhiều, Chúa còn cần tôi làm gì nữa? Có người mang một tội lỗi cũ trong lòng suốt nhiều năm rồi tự kết án mình. Có người vì một cuộc hôn nhân đổ vỡ, một lỗi lầm trong tuổi trẻ, một lần phản bội, một quyết định sai, một quãng đời xa Chúa mà nghĩ rằng mình đã mất cơ hội nên thánh. Nhưng Tin Mừng hôm nay nói một điều khác: điều quan trọng không phải chỉ là hôm qua bạn đã nói gì với Chúa; điều quan trọng là hôm nay bạn có đứng dậy để đi vào vườn nho hay không. Thiên Chúa không đóng băng chúng ta trong quá khứ. Người không nói: “Ngày ấy con đã từ chối Ta, vậy từ nay Ta không cần con nữa.” Người vẫn gọi. Người vẫn chờ. Người vẫn mở cửa. Và chỉ cần một ngày nào đó ta đủ khiêm tốn để nói: “Lạy Chúa, con đã sai rồi. Bây giờ con muốn trở về”, thì một con đường mới có thể bắt đầu.
Bởi thế, khi Đức Giêsu nói những người thu thuế và những người tội lỗi đang vào Nước Thiên Chúa trước những người tưởng mình công chính, Người không hề bảo rằng tội lỗi là điều tốt. Tội vẫn là tội. Điều Người ca ngợi là sự hoán cải. Những con người từng sống sai có thể đi trước những người mang vẻ đạo đức bên ngoài bởi vì họ đã để cho lời mời gọi của Thiên Chúa làm mình thay đổi. Trong khi đó, người nghĩ rằng mình đã tốt rồi rất dễ không còn thấy nhu cầu phải hoán cải nữa. Đây chính là một trong những nguy hiểm lớn nhất của người sống đạo lâu năm: không phải là bỏ đạo, nhưng là không còn cảm thấy mình cần trở về. Ta có thể quen với Thánh lễ đến mức không còn kinh ngạc trước Thánh Thể. Quen với Lời Chúa đến mức nghe mà không còn thấy bị chất vấn. Quen với việc xưng tội đến mức chỉ kể lại vài lỗi thường ngày nhưng không chạm tới căn bệnh thật của tâm hồn. Quen với các sinh hoạt của Hội Thánh đến mức tưởng mình đang phục vụ Chúa, trong khi nhiều khi chỉ đang bảo vệ vị trí, danh dự hay ý riêng của mình.
Có một câu rất đáng sợ: “Tôi có làm gì sai đâu?” Khi một người còn thấy mình sai, người ấy còn có hy vọng thay đổi. Khi một người còn đau vì tội mình, người ấy còn có thể trở về. Nhưng khi người ta không còn thấy gì cần sửa nữa, đời sống thiêng liêng rất dễ đóng cửa. Người Pharisiêu trong Tin Mừng thường không thất bại vì họ không biết Lề Luật; trái lại, họ biết rất nhiều. Vấn đề là họ quá chắc rằng mình đang đúng. Chính sự chắc chắn ấy làm họ không còn chỗ cho Thiên Chúa sửa mình. Chúng ta cũng vậy. Có khi người làm ta khó chịu nhất lại chính là người đang cho ta thấy một góc tối trong mình. Có khi một lời góp ý khiến ta bực bội không phải vì nó hoàn toàn sai, nhưng vì nó chạm đúng nơi ta không muốn nhìn vào. Có khi Chúa gửi đến một biến cố làm mọi kế hoạch đảo lộn chỉ để buộc ta nhận ra rằng lâu nay ta đã sống quá dựa vào chính mình.
Hoán cải không phải chỉ là cảm thấy hối hận. Người con thứ nhất không chỉ ngồi đó và buồn vì mình đã nói “không”. Anh đứng dậy và đi. Đây là điểm quan trọng. Có một kiểu hối hận chẳng dẫn đi đâu cả: tiếc nuối, trách mình, mặc cảm, tự kết án. Nhưng hoán cải Kitô giáo luôn có đôi chân. Nó khiến ta làm một điều cụ thể. Nếu đã làm ai tổn thương, hãy xin lỗi. Nếu đã lấy của người khác, hãy trả lại. Nếu đã vu khống, hãy tìm cách sửa lại. Nếu đã bỏ cầu nguyện, hãy trở về với cầu nguyện. Nếu đã sống lạnh nhạt với gia đình, hãy bắt đầu dành thời gian. Nếu đã xa Bí tích Hòa Giải quá lâu, hãy tìm đến tòa giải tội. Nếu đang giữ một mối hận, hãy bắt đầu cầu nguyện cho người ấy, cho dù trái tim chưa thể tha thứ ngay. Nếu đã nói với Chúa hàng trăm lần rằng mình sẽ sửa nhưng vẫn chưa sửa, thì hôm nay đừng hứa thêm quá nhiều; hãy làm một việc nhỏ thật sự.
Thiên Chúa không đòi chúng ta phải thay đổi toàn bộ cuộc đời chỉ trong một buổi sáng. Người chỉ muốn chúng ta đừng dùng sự yếu đuối làm lý do để mãi đứng yên. Một bước nhỏ đi về phía Chúa vẫn quý hơn một ngàn dự định tốt đẹp chưa bao giờ thực hiện. Một lời xin lỗi thật lòng quý hơn rất nhiều bài nói hay về yêu thương. Một lần bớt nóng giận vì nhớ đến Tin Mừng có giá trị hơn việc thuộc lòng hàng trăm câu Kinh Thánh nhưng không để chúng chạm vào tính khí mình. Một nghĩa cử âm thầm với người nghèo có thể đẹp hơn những lời nói hùng hồn về bác ái. Một phút quỳ xuống chân thành trước Chúa có thể quan trọng hơn cả giờ cầu nguyện mà đầu óc chỉ nghĩ đến mình.
Vườn nho của Thiên Chúa không ở đâu xa. Vườn nho ấy chính là gia đình mình. Là người vợ hay người chồng mình đã từng hứa yêu thương nhưng đôi khi lại làm họ đau nhất. Là cha mẹ già đang cần một cuộc điện thoại. Là đứa con đang cần được lắng nghe hơn là bị trách mắng. Là người đồng nghiệp khiến mình khó chịu. Là người nghèo đứng ngoài cửa đời mình. Là cộng đoàn nơi ta được mời gọi phục vụ. Là công việc mỗi ngày, nơi ta có thể sống trung thực hay gian dối, tận tâm hay qua loa. Là những giờ phút rất bình thường mà trong đó Thiên Chúa hỏi: “Con có muốn làm điều này với Ta không?” Chúng ta không cần chờ một sứ mạng lớn. Có thể lời “vâng” đẹp nhất hôm nay chỉ là nhịn một câu cay nghiệt, tha một món nợ nhỏ, dành mười phút cho người đang buồn, tắt điện thoại để thật sự lắng nghe một người trong nhà, hoặc âm thầm làm một việc tốt mà chẳng ai biết.
Đời sống đức tin không được đo bằng khoảng cách từ nhà ta đến nhà thờ, nhưng bằng khoảng cách giữa Tin Mừng và cách ta sống. Có người nhà ở sát nhà thờ nhưng trái tim rất xa Chúa. Có người từng đi rất xa Chúa nhưng một ngày kia quay trở lại bằng tất cả lòng mình. Và có lẽ điều đẹp nhất trong Tin Mừng hôm nay là Thiên Chúa vẫn gọi cả hai người con. Người không từ bỏ đứa con nói “không”. Người cũng không ngừng mời gọi đứa con nói “vâng” nhưng chưa thực hiện. Cả hai đều là con. Cả hai đều được người cha tìm đến. Nghĩa là hôm nay, dù ta đang ở tình trạng nào, lời gọi của Chúa vẫn dành cho ta: “Con hãy đi làm vườn nho của Cha.”
Có thể chúng ta là người con thứ nhất: đã có những giai đoạn chống lại Thiên Chúa, đã bỏ cầu nguyện, đã phạm những lỗi khiến chính mình xấu hổ. Nếu thế, Tin Mừng hôm nay nói: hãy đứng dậy và đi. Quá khứ không có quyền quyết định câu cuối cùng của cuộc đời con. Cũng có thể ta giống người con thứ hai: rất ngoan trong lời nói, rất đầy đủ trong các sinh hoạt đạo đức, nhưng trong một góc nào đó của đời mình vẫn chưa chịu để Chúa bước vào. Nếu thế, Tin Mừng cũng nói: đừng hài lòng với lời “vâng” trên môi. Hãy biến nó thành cuộc sống.
Sau cùng, điều Thiên Chúa mong nơi chúng ta không phải là một hồ sơ hoàn hảo, nhưng là một trái tim biết trở về. Người không tìm những con người chưa từng ngã, nhưng tìm những người sau mỗi lần ngã vẫn để Người nắm tay kéo đứng lên. Người không yêu ta vì ta luôn luôn ngoan ngoãn; Người yêu ta vì ta là con. Và chính tình yêu ấy cho ta sức mạnh để một ngày nào đó, từ những tiếng “không” đầy yếu đuối của đời mình, ta có thể đứng dậy và nói bằng chính cuộc sống: “Lạy Cha, con đi đây.”
Có lẽ tối nay, trước khi ngủ, mỗi người chỉ cần hỏi mình một câu rất đơn giản: Trong đời tôi lúc này, có điều gì tôi vẫn đang thưa “vâng” với Chúa bằng môi miệng nhưng lại âm thầm nói “không” bằng cách sống? Và cũng hãy hỏi thêm: Có một điều nào trước đây tôi đã nói “không” với Chúa, nhưng hôm nay tôi có thể đổi lại bằng một bước chân trở về không? Chúa không cần chúng ta trả lời thật hay. Người chỉ chờ ta đứng dậy.
Xin Chúa cho chúng ta đừng trở thành những Kitô hữu chỉ đẹp trong lời nói, nhưng biết để Tin Mừng đi vào từng lựa chọn nhỏ bé của đời mình. Xin Người cho chúng ta lòng khiêm tốn để nhận ra những lời “vâng” giả tạo, những sự đạo đức bề ngoài, những nơi mà cái tôi đang núp dưới danh nghĩa phục vụ Chúa. Và nhất là xin cho chúng ta đừng bao giờ tuyệt vọng về chính mình hay về bất cứ ai, bởi một người hôm qua còn nói “không” với Thiên Chúa thì hôm nay vẫn có thể hối hận, đứng lên và bước vào vườn nho. Chừng nào con người còn có thể quay về, chừng ấy lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn có thể viết tiếp một câu chuyện mới.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG CHỈ NÓI “VÂNG” VỚI CHÚA
Có những lời “vâng” nghe rất đẹp nhưng chẳng đưa người ta đi đâu cả, và cũng có những lời “không” tưởng như đã đóng lại mọi cánh cửa nhưng cuối cùng lại trở thành khởi đầu của một cuộc trở về. Tin Mừng hôm nay kể một câu chuyện rất đơn giản. Một người cha có hai người con. Ông đến với người con thứ nhất và nói: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Người con trả lời thẳng thừng: “Con không muốn đâu.” Một câu nói khiến người cha đau lòng. Nhưng rồi sau đó anh hối hận và đi. Người cha cũng đến với người con thứ hai và nói cùng một lời. Người này đáp thật đẹp: “Thưa ngài, con đây!” nhưng rồi lại chẳng đi. Đức Giêsu hỏi: ai trong hai người đã làm theo ý người cha? Câu trả lời quá rõ: người thứ nhất. Và chính từ câu chuyện tưởng như đơn giản ấy, Chúa đặt trước mỗi người chúng ta một câu hỏi rất sâu: đời sống đức tin của tôi là một lời “vâng” trên môi hay là một lời “vâng” bằng chính cuộc đời?
Chúng ta thường dễ bị ấn tượng bởi những lời nói. Một người nói hay về Chúa, chúng ta nghĩ người ấy chắc hẳn rất gần Chúa. Một người thuộc nhiều kinh, tham dự nhiều sinh hoạt đạo đức, biết nhiều giáo lý, chúng ta dễ cho rằng người ấy chắc hẳn sống thánh thiện. Nhưng Đức Giêsu hôm nay đưa chúng ta đi sâu hơn bề mặt. Thiên Chúa không chỉ nhìn vào những gì chúng ta nói trước bàn thờ; Người nhìn xem sau khi rời khỏi bàn thờ, chúng ta sống như thế nào. Người không chỉ nghe tiếng chúng ta thưa “Lạy Chúa, lạy Chúa”; Người nhìn xem trong gia đình ta có biết yêu thương nhau không, trong công việc ta có trung thực không, trước người nghèo ta có biết mở lòng không, khi bị xúc phạm ta có biết tha thứ không, khi sai lầm ta có đủ khiêm tốn để nhận lỗi không. Đức tin Kitô giáo không thể chỉ tồn tại trong những lời tuyên xưng rất đẹp mà lại vắng bóng trong từng lựa chọn nhỏ của cuộc đời. Có thể miệng chúng ta nói “vâng” với Chúa mỗi ngày, nhưng đời sống lại âm thầm nói “không”.
Người con thứ hai trong dụ ngôn đáng sợ ở chỗ anh không chống đối cha bằng lời nói. Anh rất ngoan trong cách trả lời. Anh biết nói điều người cha muốn nghe. Có lẽ nếu chỉ đứng bên ngoài, ai cũng nghĩ: đây mới là người con tốt. Nhưng điều quan trọng không nằm ở câu trả lời ban đầu; điều quan trọng nằm ở bước chân sau đó. Anh nói “vâng”, nhưng chân anh không bước về phía vườn nho. Và đây có lẽ cũng là một cám dỗ rất lớn của đời sống đạo: chúng ta có thể quen nói với Chúa những lời rất đẹp đến mức chính mình cũng tưởng rằng mình đã sống những điều ấy rồi. Chúng ta nói: “Xin Chúa cho con biết tha thứ”, nhưng vẫn giữ một người trong lòng nhiều năm. Chúng ta cầu: “Xin cho chúng con biết yêu thương nhau”, nhưng lại không chịu nói một lời làm hòa với người đang sống chung mái nhà. Chúng ta đọc: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, nhưng có những món nợ của người khác chúng ta nhất định không chịu xóa. Chúng ta thưa: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, nhưng khi ý Chúa không giống ý mình, chúng ta buồn bực, trách móc và tìm cách buộc Chúa phải theo ý mình. Một đời sống đạo như thế rất dễ trở thành một chuỗi những lời “vâng” đẹp đẽ mà chẳng có bước chân nào đi vào vườn nho.
Nhưng Tin Mừng hôm nay không chỉ cảnh tỉnh; Tin Mừng còn mở ra một niềm hy vọng rất lớn. Người con thứ nhất đã nói “không”. Anh đã sai. Anh đã làm cha buồn. Nhưng câu chuyện không kết thúc ở chữ “không”. Tin Mừng nói rằng sau đó anh hối hận và đi. Chỉ mấy chữ thôi, nhưng trong đó chứa cả mầu nhiệm của đời sống Kitô hữu. Thiên Chúa không đòi chúng ta phải là những con người chưa bao giờ vấp ngã. Người chỉ mong rằng sau mỗi lần vấp ngã, chúng ta còn biết đứng dậy. Thiên Chúa không đòi chúng ta chưa bao giờ nói “không” với Người; Người chỉ mong chữ “không” ấy không trở thành câu cuối cùng của cuộc đời. Có những người đã từng bỏ Chúa, từng sống xa Giáo Hội, từng phạm những lỗi rất nặng, từng làm tổn thương gia đình, từng để đời mình chìm trong những lựa chọn sai lầm. Nhưng một ngày nào đó họ tỉnh lại, họ quay về, họ khóc, họ xin lỗi, họ bắt đầu lại. Và đối với Chúa, chính bước chân quay về ấy quý giá vô cùng.
Đó là lý do Đức Giêsu nói một câu làm những người đạo đức thời ấy phải choáng váng: những người thu thuế và những cô gái điếm đang đi vào Nước Thiên Chúa trước họ. Chúa không ca ngợi tội lỗi. Chúa không nói rằng làm điều xấu thì tốt hơn làm điều lành. Điều Người muốn nói là: người biết mình có tội và quay về với Thiên Chúa có thể ở gần Thiên Chúa hơn người tưởng mình công chính nhưng không bao giờ thấy cần phải hoán cải. Nguy hiểm lớn nhất của đời sống thiêng liêng không phải lúc nào cũng là phạm một lỗi lầm. Có một điều còn nguy hiểm hơn: đó là mất khả năng nhận ra rằng mình đang sai. Một người tội lỗi còn biết khóc thì vẫn còn con đường về. Một người yếu đuối còn biết cầu xin thì vẫn còn hy vọng. Nhưng một người luôn nghĩ rằng mình đúng, mình tốt, mình đạo đức, mình chẳng cần thay đổi gì nữa, thì Thiên Chúa rất khó đi vào lòng họ.
Chúng ta thường thích chia thế giới thành hai loại người: người tốt và người xấu. Và dĩ nhiên chúng ta luôn âm thầm xếp mình vào phía người tốt. Nhưng Đức Giêsu lại nhìn con người theo một cách khác. Có những người hôm qua đang ở rất xa nhưng hôm nay đang quay về. Có những người hôm qua tưởng như rất gần nhưng hôm nay lòng đã nguội lạnh. Có những người mang một quá khứ đầy thương tích nhưng đang từng bước tiến về phía ánh sáng. Có những người bề ngoài rất đạo đức nhưng bên trong đã lâu không còn thực sự lắng nghe Chúa. Vì thế, ta không được đóng khung bất cứ ai bằng quá khứ của họ. Một người đã từng sai không có nghĩa là người ấy sẽ sai mãi. Một người từng nghiện ngập không có nghĩa họ không thể trở thành một con người mới. Một người từng phản bội không có nghĩa đời họ đã hết đường cứu chữa. Một người từng xa Chúa mấy chục năm vẫn có thể một ngày quỳ xuống và khóc như một đứa trẻ trở về nhà. Bao lâu con người còn sống, cánh cửa trở về vẫn còn mở.
Có lẽ điều đẹp nhất nơi người con thứ nhất không phải là anh đã đi làm vườn nho, nhưng là anh đã biết đổi ý. Trong đời sống, đôi khi chúng ta sợ thay đổi ý kiến vì nghĩ rằng làm như thế là yếu đuối. Nhưng trong đời sống thiêng liêng, có những lúc thay đổi chính là dấu hiệu của ân sủng. Hôm qua tôi đã căm ghét một người, hôm nay tôi quyết định tha thứ: đó là ân sủng. Hôm qua tôi rất ích kỷ, hôm nay tôi bắt đầu biết chia sẻ: đó là ân sủng. Hôm qua tôi sống bê tha, hôm nay tôi quay về với Bí tích Hòa Giải: đó là ân sủng. Hôm qua tôi bỏ cầu nguyện, hôm nay tôi lại quỳ xuống trước Chúa: đó là ân sủng. Hôm qua tôi nói “không”, hôm nay tôi nói “vâng” bằng hành động: đó là một phép lạ âm thầm mà Thiên Chúa vẫn thực hiện mỗi ngày trong lòng con người.
Có một điều rất cảm động trong dụ ngôn này: người cha không bỏ người con đã nói “không”. Ông không đuổi anh ra khỏi nhà. Ông không tuyên bố: “Mày đã từ chối tao thì từ nay không còn là con tao nữa.” Người cha vẫn là cha. Và chính tình yêu bền bỉ ấy có lẽ đã khiến người con suy nghĩ lại. Thiên Chúa cũng thế. Có bao nhiêu lần ta nói “không” với Người? Có lẽ nhiều hơn chúng ta tưởng. Mỗi lần biết điều đúng mà vẫn chọn điều sai, là một chữ “không”. Mỗi lần nghe tiếng lương tâm nhưng cố tình làm ngơ, là một chữ “không”. Mỗi lần có thể giúp một người nhưng quay mặt đi, là một chữ “không”. Mỗi lần tự ái lớn hơn tình yêu, tiền bạc lớn hơn lương tâm, tham vọng lớn hơn bổn phận, là ta lại nói với Chúa: “Con không muốn.” Nhưng Chúa vẫn kiên nhẫn. Sáng hôm sau Người lại gọi. Trong một bài Tin Mừng, Người gọi. Qua lời khuyên của một người thân, Người gọi. Qua một biến cố đau buồn, Người gọi. Qua một thất bại, Người gọi. Qua những đêm ta không ngủ được vì lương tâm cắn rứt, Người vẫn gọi. Thiên Chúa không mệt mỏi vì phải bắt đầu lại với chúng ta.
Và Người nói: “Con hãy đi làm vườn nho hôm nay.” Chữ “hôm nay” rất quan trọng. Chúa không bảo: khi nào con hoàn hảo thì hãy đi. Người cũng không bảo: đợi đến lúc cuộc sống ổn định, công việc bớt bận, con cái lớn lên, sức khỏe tốt hơn, tâm hồn sốt sắng hơn rồi hãy đi. Người nói: hôm nay. Chính ngày hôm nay, với những yếu đuối hiện tại, với những vết thương hiện tại, với hoàn cảnh hiện tại, hãy bắt đầu sống Tin Mừng. Đừng đợi một ngày thuận tiện hơn để yêu thương. Đừng đợi người kia xin lỗi trước để tha thứ. Đừng đợi già rồi mới cầu nguyện. Đừng đợi có thật nhiều tiền rồi mới biết chia sẻ. Đừng đợi đến khi đứng trước cửa tử mới hòa giải với Chúa. Người con thứ nhất được khen không phải vì anh có một quá khứ hoàn hảo, nhưng vì đến một lúc anh đã đứng dậy và đi.
Vườn nho của Chúa cũng không nằm ở đâu xa. Vườn nho có khi chính là gia đình mình. Một người chồng kiên nhẫn với vợ, một người vợ biết cảm thông với chồng, cha mẹ dành thời gian cho con, con cái biết quan tâm đến cha mẹ già: đó là làm việc trong vườn nho. Vườn nho có thể là cộng đoàn, nơi ta bớt một lời phê bình và thêm một lời nâng đỡ. Vườn nho có thể là nơi làm việc, nơi người Kitô hữu chọn trung thực giữa một môi trường mà gian dối có vẻ dễ dàng hơn. Vườn nho có thể là bên giường một người bệnh mà không ai muốn chăm sóc. Vườn nho có thể là một cuộc điện thoại cho người đang cô đơn, một bữa cơm cho người nghèo, một cái ôm dành cho đứa con đang thất bại, một lời xin lỗi mà lòng kiêu hãnh đã trì hoãn quá lâu. Thiên Chúa không nhất thiết gọi ta làm những việc phi thường. Phần lớn thời gian, Người chỉ hỏi ta có trung thành trong những điều rất nhỏ hay không.
Đôi khi chúng ta than rằng mình không biết ý Chúa là gì. Nhưng có nhiều điều ý Chúa đã rất rõ. Khi đứng giữa tha thứ và trả thù, ta biết Chúa muốn gì. Giữa thành thật và gian dối, ta biết Chúa muốn gì. Giữa quảng đại và ích kỷ, ta biết Chúa muốn gì. Giữa trung thành và phản bội, ta biết Chúa muốn gì. Giữa giữ thể diện và chân thành xin lỗi, nhiều khi ta cũng biết Chúa muốn gì. Cái khó không phải luôn luôn là “không biết”; cái khó là biết nhưng không muốn làm. Và khi ấy, người con thứ hai hiện diện trong mỗi chúng ta: “Vâng, thưa Chúa”, nhưng chân vẫn đứng nguyên một chỗ.
Tin Mừng hôm nay vì thế mời chúng ta đừng quá bận tâm xem người khác thuộc loại người con nào. Câu hỏi không phải là: người hàng xóm của tôi có sống đạo không? Người kia có đạo đức không? Linh mục nọ thế nào? Người giáo dân kia ra sao? Câu hỏi phải là: tôi đang là người con nào? Có phải tôi rất nhanh chóng nói “vâng” với Chúa nhưng rất chậm chạp khi phải làm? Có phải tôi thích nghe Lời Chúa miễn là Lời ấy nói về người khác, nhưng khó chịu khi Lời Chúa đụng đến một góc tối trong đời tôi? Có phải tôi đi lễ đều nhưng vẫn nuôi một mối hận? Có phải tôi đọc kinh mỗi ngày nhưng đối xử với người trong nhà bằng những lời cay nghiệt? Có phải tôi bên ngoài phục vụ rất nhiều nhưng bên trong lại đầy nhu cầu được người ta công nhận? Có phải tôi bảo vệ đức tin bằng lời nói nhưng cách sống của tôi lại khiến người khác khó nhận ra gương mặt hiền lành của Đức Kitô?
Sống đạo thật sự không phải là không bao giờ mâu thuẫn với chính mình. Ai trong chúng ta cũng có những lúc yếu đuối. Có những buổi sáng ta muốn yêu thương, chiều đã nổi nóng. Có lúc vừa cầu nguyện xin khiêm nhường, vài giờ sau đã tự ái vì một câu nói. Có lúc quyết tâm rất mạnh, nhưng rồi lại thất bại. Đức Giêsu biết tất cả những điều ấy. Người không kể dụ ngôn này để làm chúng ta tuyệt vọng. Người kể để nói rằng: con vẫn còn có thể đổi hướng. Đừng để một thất bại biến thành căn tính của mình. Đừng nói: “Tôi là người như thế rồi, không thay đổi được đâu.” Khi nói câu ấy, ta đang đánh giá thấp quyền năng của ân sủng. Thánh thiện không có nghĩa là chưa từng sa ngã; thánh thiện nhiều khi chỉ là sau mỗi lần sa ngã vẫn quay mặt về phía Chúa và lại bước đi.
Có những người mang mặc cảm rất lâu vì quá khứ. Họ nghĩ mình đã từng làm những chuyện quá tệ nên không xứng đáng đến gần Chúa. Tin Mừng hôm nay lại nói khác. Chính những người bị xã hội thời Đức Giêsu coi là tội lỗi công khai lại có thể bước vào Nước Trời trước những người tự hào về sự công chính của mình, bởi vì họ đã tin và thay đổi. Điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải một bản lý lịch không tì vết; Người tìm kiếm một trái tim còn có khả năng hoán cải. Chúa không hỏi: “Con đã từng ngã bao nhiêu lần?” Người hỏi: “Bây giờ con có muốn đứng dậy không?” Người không hỏi: “Quá khứ con đẹp đến đâu?” Người hỏi: “Hôm nay con có muốn đi vào vườn nho với Cha không?”
Và đối với những người đang sống khá tốt, Tin Mừng hôm nay lại là một lời cảnh giác. Đừng bao giờ nghĩ rằng vì mình đang ở trong nhà thờ nên chắc chắn mình gần Chúa hơn người đang ở ngoài đường. Đừng nghĩ rằng vì mình có chức vụ trong cộng đoàn, hiểu nhiều giáo lý, đọc nhiều sách đạo đức, cầu nguyện nhiều giờ, nên mình không còn cần hoán cải. Thứ nguy hiểm nhất của người sống đạo lâu năm là quen với những điều thánh đến mức trái tim không còn rung động. Ta có thể đọc Tin Mừng mỗi ngày mà không để một câu nào chất vấn mình. Ta có thể rước lễ nhiều năm mà vẫn giữ nguyên cách sống. Ta có thể nghe hàng trăm bài giảng mà vẫn không chịu tha thứ cho một người. Khi ấy vấn đề không còn là chúng ta chưa nghe tiếng Chúa, nhưng là nghe quá nhiều đến mức tưởng rằng nghe đã đồng nghĩa với thực hành.
Chúa không cần những Kitô hữu chỉ giỏi nói “vâng”. Chúa cần những con người bước vào vườn nho. Chúa cần đôi tay biết phục vụ, đôi chân dám đi đến với người bị bỏ quên, đôi mắt biết nhận ra nước mắt của người khác, đôi tai biết lắng nghe, một trái tim biết xót thương, một lương tâm không bán mình cho lợi ích, và một đời sống trong đó điều ta tin dần dần trở thành điều ta sống. Có thể ta chưa làm được nhiều. Có thể bước chân còn rất chậm. Nhưng điều quan trọng là hướng đi đúng. Một người đang đi chậm về phía Chúa vẫn gần Nước Trời hơn một người đứng yên mà luôn tưởng mình đã đến nơi.
Cuối cùng, dụ ngôn hai người con cũng cho chúng ta thấy một điều thật đẹp về Thiên Chúa: Người vẫn tin rằng con người có thể thay đổi. Khi người con thứ nhất nói “không”, người cha vẫn để cho anh có thời gian suy nghĩ. Cha không tuyệt vọng về con. Thiên Chúa cũng chưa bao giờ tuyệt vọng về ta. Có thể người khác đã chán ta. Có thể chính ta cũng nhiều lần thất vọng về mình. Nhưng Chúa vẫn nhìn ta bằng ánh mắt của một người Cha biết rằng trong nơi sâu nhất của trái tim, đứa con ấy vẫn có thể trở về. Người kiên nhẫn đợi một chữ “không” biến thành một bước chân “vâng”. Người chờ một trái tim chai đá mềm lại. Người chờ một người đã đi xa quay về. Người chờ ta hôm nay.
Vậy hôm nay, thay vì hứa với Chúa thật nhiều, có lẽ chúng ta chỉ cần làm một việc cụ thể. Nếu đang giận ai, hãy bắt đầu cầu nguyện cho người ấy. Nếu đã làm tổn thương ai, hãy xin lỗi. Nếu lâu rồi chưa xưng tội, hãy trở về. Nếu đang sống trong một thói quen sai, hãy can đảm cắt bỏ. Nếu có một người nghèo trước cửa đời mình, hãy chia sẻ. Nếu gia đình đang lạnh nhạt, hãy là người nói lời đầu tiên. Nếu đời sống cầu nguyện nguội lạnh, tối nay hãy dành ít phút ngồi trước Chúa. Đừng đợi cảm xúc. Đừng đợi hoàn hảo. Chỉ cần đứng dậy và đi.
Bởi cuối cùng, trong ngày chúng ta gặp Chúa, có lẽ Người sẽ không hỏi chúng ta đã nói với Người bao nhiêu lời thật đẹp. Người sẽ nhìn những bước chân của chúng ta và hỏi: “Con có đi vào vườn nho của Cha không?” Và phúc cho chúng ta nếu dù đã từng rất nhiều lần trả lời “Con không muốn”, cuối cùng vẫn có thể thưa với Chúa bằng chính cuộc đời mình: “Lạy Cha, con đã chậm trễ rất nhiều, con đã yếu đuối rất nhiều, con đã có những lần quay lưng với Cha; nhưng hôm nay con đứng dậy. Hôm nay con đi. Hôm nay con muốn bắt đầu lại.” Có lẽ đó là một trong những lời “xin vâng” đẹp nhất mà một đời người có thể dâng lên Thiên Chúa.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG CHỈ NÓI ‘VÂNG’ VỚI CHÚA – HÃY SỐNG LỜI ‘VÂNG’ ẤY
Có những lúc trong đời sống đức tin, điều đáng sợ nhất không phải là chúng ta đã từng nói “không” với Chúa, nhưng là chúng ta vẫn luôn miệng nói “vâng” mà cuộc đời lại chẳng bao giờ thực sự bước theo Người. Tin Mừng hôm nay kể một câu chuyện rất đơn sơ: một người cha có hai người con. Ông đến với người con thứ nhất và nói: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Người con ấy đáp ngay: “Con không muốn đâu.” Một câu trả lời thật khó nghe. Không vòng vo, không khách sáo, không che đậy. Nó là một tiếng “không” lạnh lùng trước lời mời của cha. Thế nhưng sau đó, người con ấy hối hận và đi làm. Người cha lại đến với người con thứ hai và cũng nói như thế. Người con này đáp thật đẹp: “Thưa ngài, con đây!” Nghe qua tưởng như đây mới là người con lý tưởng: ngoan ngoãn, lễ phép, mau mắn, chẳng hề phản đối. Nhưng rồi anh ta không đi. Và Đức Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Câu trả lời quá rõ: người con thứ nhất. Câu chuyện ngắn ngủi ấy lại như một tấm gương lớn Đức Giêsu đặt trước mặt mỗi người chúng ta để hỏi một câu rất khó: đức tin của tôi nằm trên môi miệng hay đã đi xuống đôi chân, đôi tay và những lựa chọn cụ thể của cuộc đời?
Có lẽ nhiều người trong chúng ta rất giống người con thứ hai. Chúng ta biết nói những lời rất đẹp với Chúa. Trong nhà thờ, chúng ta thưa “Amen”. Trong kinh nguyện, chúng ta đọc “xin vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời”. Khi nghe Lời Chúa, chúng ta thấy xúc động. Khi tham dự một kỳ tĩnh tâm, chúng ta quyết tâm thay đổi. Khi đứng trước một biến cố đau thương, chúng ta hứa với Chúa đủ điều: “Lạy Chúa, nếu Chúa giúp con vượt qua chuyện này, con sẽ sống khác”; “Lạy Chúa, từ nay con sẽ bỏ thói quen ấy”; “Con sẽ tha thứ”; “Con sẽ cầu nguyện”; “Con sẽ sống tử tế hơn”; “Con sẽ yêu thương gia đình hơn”; “Con sẽ bớt nóng giận”; “Con sẽ dành thời gian cho Chúa.” Có những tiếng “vâng” rất chân thành ở giây phút nó được nói ra. Nhưng vấn đề là sau đó chúng ta có đi vào vườn nho hay không. Vì Tin Mừng không hỏi chúng ta đã nói gì với Chúa hôm qua; Tin Mừng hỏi hôm nay chúng ta đang sống thế nào.
Có một khoảng cách rất xa giữa việc biết điều tốt và làm điều tốt; giữa việc thích nghe Lời Chúa và để Lời Chúa thay đổi đời mình; giữa việc nói về yêu thương và thực sự yêu một người làm mình tổn thương; giữa việc nói về tha thứ và thật sự buông xuống mối hận; giữa việc nói mình tin Chúa và dám trao cuộc đời cho Chúa khi mọi chuyện không diễn ra như mình mong muốn. Đức tin Kitô giáo không phải là một bộ sưu tập những câu nói đẹp. Đức tin là một cuộc đời được biến đổi. Chúa không cần chúng ta chỉ nói: “Lạy Chúa, lạy Chúa.” Chúa muốn chúng ta bước vào vườn nho. Vườn nho ấy có thể chính là gia đình của mình, nơi có một người đang cần mình kiên nhẫn hơn. Vườn nho ấy có thể là công việc, nơi mình phải chọn sống trung thực dù phải chịu thiệt. Vườn nho ấy có thể là cộng đoàn, nơi mình phải học cách phục vụ mà không tìm tiếng khen. Vườn nho ấy cũng có thể là một căn phòng bệnh, một người già cô đơn, một đứa trẻ cần được lắng nghe, một người nghèo đang chờ một bàn tay, hay đơn giản là một người trong nhà mà lâu nay ta đã coi sự hiện diện của họ như điều đương nhiên.
Nhưng Tin Mừng hôm nay không chỉ cảnh tỉnh. Tin Mừng còn mở ra một niềm hy vọng rất lớn. Người con thứ nhất đã nói “không”, nhưng câu chuyện của anh không kết thúc ở chữ “không”. Anh đã thay đổi. Anh đã hối hận. Anh đã đứng lên và đi. Đây có lẽ là một trong những tin vui đẹp nhất của Kitô giáo: quá khứ không có quyền quyết định toàn bộ tương lai của một con người. Một lần từ chối Chúa chưa phải là dấu chấm hết. Một quãng đời lầm lạc chưa phải là bản án chung thân. Một tội lỗi nặng nề chưa phải là lời cuối cùng về chúng ta. Bao lâu còn biết quay về, con đường vẫn còn mở. Bao lâu trái tim còn có thể đau vì điều mình đã làm sai, ân sủng vẫn có thể đi vào. Bao lâu chúng ta còn có thể đứng dậy, Thiên Chúa vẫn có thể viết tiếp câu chuyện cuộc đời mình.
Điều này đặc biệt quan trọng cho những ai đang mang mặc cảm về quá khứ. Có người vẫn âm thầm nghĩ rằng mình đã đi quá xa khỏi Chúa. Có người nhìn lại những năm tháng sai lầm và cảm thấy mình không xứng đáng nữa. Có người đã từng bỏ lễ, bỏ cầu nguyện, sống trong một mối quan hệ sai trái, làm tổn thương người thân, phản bội một lời hứa, thất bại trong đời sống gia đình hoặc đời sống thánh hiến, rồi tự kết luận rằng mọi chuyện đã muộn. Nhưng dụ ngôn hôm nay nói rằng chưa muộn. Người con thứ nhất không thể rút lại câu “con không muốn”. Nó đã được nói. Nhưng anh có thể làm một điều khác: anh có thể đứng lên và đi vào vườn nho. Chúng ta cũng vậy. Không ai có thể quay về quá khứ để xóa sạch những sai lầm mình đã phạm. Nhưng nhờ ân sủng Chúa, chúng ta có thể bắt đầu sống khác từ hôm nay.
Đó chính là ý nghĩa sâu xa của hoán cải. Hoán cải không chỉ là cảm thấy buồn vì mình sai. Hoán cải là đổi hướng. Người con thứ nhất không ngồi trong nhà khóc mãi vì đã hỗn với cha. Anh đứng dậy và đi làm điều người cha muốn. Có những người rất day dứt về tội lỗi nhưng lại không chịu thay đổi. Họ tự trách mình, tự dằn vặt mình, thậm chí tự ghét mình, nhưng rồi cuộc sống vẫn thế. Đó chưa phải là hoán cải theo nghĩa Tin Mừng. Sám hối thật luôn dẫn đến một bước chân cụ thể. Nếu đã làm tổn thương ai, hãy tìm cách xin lỗi. Nếu đang giữ hận thù, hãy bắt đầu tập tha thứ. Nếu đã xa Chúa, hãy trở lại cầu nguyện. Nếu đời sống bí tích đã nguội lạnh, hãy trở về. Nếu đang sống hai mặt, hãy xin Chúa sức mạnh để chọn sự thật. Nếu biết có một người cần sự giúp đỡ của mình, đừng chỉ nghĩ thương họ; hãy làm điều gì đó. Thiên Chúa không đòi ta sửa toàn bộ cuộc đời trong một ngày. Người chỉ cần ta bắt đầu bước theo hướng của Người.
Có một điều rất tinh tế trong dụ ngôn: cả hai người con đều không hoàn hảo. Một người nói không rồi đi; một người nói vâng rồi không đi. Không có người con thứ ba hoàn hảo đến mức vừa nói “vâng” ngay lập tức vừa trung thành thực hiện trọn vẹn mọi điều. Đó cũng là hình ảnh rất thật của chúng ta. Trong mỗi người đều có những mâu thuẫn. Có lúc miệng muốn cầu nguyện nhưng lòng lại phân tán. Có lúc muốn yêu thương nhưng tính ích kỷ nổi lên. Có lúc muốn tha thứ nhưng ký ức đau buồn quay lại. Có lúc muốn sống thánh thiện nhưng những thói quen cũ kéo mình xuống. Chúa biết tất cả những điều ấy. Người không ngạc nhiên trước sự yếu đuối của ta. Điều Người chờ đợi không phải là một sự hoàn hảo tức khắc, nhưng là một trái tim biết quay trở lại.
Và vì thế, điều nguy hiểm nhất trong đời sống thiêng liêng có lẽ không phải là sa ngã, mà là tưởng mình không cần hoán cải nữa. Đức Giêsu kể dụ ngôn này cho những người rất đạo đức: các thượng tế và kỳ mục. Chính những người tưởng mình gần Thiên Chúa nhất lại có nguy cơ không nhận ra Thiên Chúa đang đứng trước mặt họ. Trang LaChiesa ghi lại nhiều bài suy niệm về đoạn Tin Mừng này cũng nhấn mạnh đến sự đối nghịch giữa vẻ bên ngoài và sự hoán cải thực sự, giữa lời nói và hành động, giữa cảm giác mình đúng và khả năng để Thiên Chúa thay đổi mình. Có lẽ đây là lời cảnh tỉnh dành cho người đạo lâu năm hơn cả người ngoài đạo. Vì chúng ta có thể quen với kinh nguyện đến mức đọc mà không còn nghe. Quen với Thánh lễ đến mức tham dự mà trái tim đứng ngoài. Quen với Tin Mừng đến mức có thể giải thích Lời Chúa cho người khác nhưng lại không còn để Lời Chúa chất vấn chính mình.
Có khi người ở rất gần bàn thờ lại có thể ở rất xa trái tim Thiên Chúa. Và cũng có khi một người bị xã hội xem thường, sau một cuộc đời lầm lỗi, lại đang từng bước đi rất gần Người vì họ biết khóc cho tội lỗi mình và biết đứng lên trở về. Vì thế Đức Giêsu mới nói một câu gây sốc cho những người đạo đức thời bấy giờ: những người thu thuế và gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước họ. Không phải vì tội lỗi tự nó là điều tốt. Không bao giờ. Nhưng vì những người ấy đã biết tin và thay đổi, trong khi có những người tưởng mình công chính nên không còn thấy mình cần được cứu.
Đây là điều chúng ta cần suy nghĩ thật lâu: cảm giác mình đạo đức đôi khi nguy hiểm hơn việc nhận biết mình là người tội lỗi. Người biết mình bệnh sẽ tìm thầy thuốc. Người tưởng mình khỏe sẽ chẳng bao giờ đi chữa. Người biết mình đang xa Chúa sẽ còn khát khao quay về. Người tưởng mình đã rất gần Chúa có khi chẳng còn thấy cần phải tiến thêm bước nào. Bởi vậy, người thánh thiện thật không phải là người nhìn quanh rồi thấy mình tốt hơn thiên hạ. Người thánh thiện thật càng đến gần Chúa càng thấy mình cần lòng thương xót của Người.
Tin Mừng hôm nay cũng đặt trước chúng ta một câu hỏi đau nhưng cần thiết: có bao nhiêu lời “xin vâng” trong đời chúng ta đã biến thành “không”? Ngày chịu phép Rửa, đời ta được đặt trong Thiên Chúa. Khi thêm sức, chúng ta được mời gọi sống như chứng nhân Tin Mừng. Trong mỗi Thánh lễ, chúng ta thưa “Amen” khi đón nhận Mình Thánh Chúa. “Amen” nghĩa là tôi tin, tôi đón nhận, tôi thuộc về điều này. Nhưng rồi bước ra khỏi nhà thờ, liệu “Amen” ấy còn sống không? Ta vừa đón nhận Đấng đã tha thứ cho kẻ đóng đinh mình, rồi có tiếp tục nuôi hận một người không? Ta vừa đón nhận Đấng hiến mạng vì người khác, rồi có tiếp tục chỉ sống cho mình không? Ta vừa nghe “phúc cho người xây dựng hòa bình”, rồi về nhà lại gây thêm những cuộc chiến bằng lời nói sắc bén không? Ta vừa nghe “hãy yêu thương nhau”, rồi lại lạnh lùng với người ngay bên cạnh không? Nếu có, đừng vội tuyệt vọng. Hãy nhớ người con thứ nhất. Điều quan trọng là nhận ra và bắt đầu lại.
Có lẽ Chúa không hỏi ta: “Con đã sống hoàn hảo chưa?” Chúa hỏi: “Hôm nay con có muốn trở lại không?” Không phải ngày mai. Không phải khi mọi chuyện thuận lợi hơn. Không phải khi mình hết bận. Không phải khi mình hết yếu đuối. Người cha nói rất rõ: “Hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Thiên Chúa luôn làm việc trong chữ “hôm nay”. Hôm nay hãy gọi cho người mà mình đã lâu không nói chuyện. Hôm nay hãy xin lỗi. Hôm nay hãy bỏ một thói quen xấu. Hôm nay hãy cầu nguyện lại. Hôm nay hãy mở Kinh Thánh. Hôm nay hãy đến với bí tích Hòa Giải nếu đã lâu mình xa cách. Hôm nay hãy làm một việc tử tế mà không ai biết. Hôm nay hãy bớt một lời xét đoán. Hôm nay hãy dành thời gian cho cha mẹ, vợ chồng, con cái. Hôm nay hãy sống tiếng “vâng” mà mình đã nói với Chúa từ rất lâu nhưng chưa thực hiện.
Cuối cùng, Tin Mừng hôm nay cho ta thấy một Thiên Chúa kiên nhẫn lạ lùng. Người cha trong dụ ngôn không đuổi người con thứ nhất ra khỏi nhà khi nghe nó nói “không”. Ông cũng không dùng bạo lực ép con phải đi. Ông nói, rồi để lời ấy ở lại trong lòng con. Và chính lời của cha âm thầm làm việc cho đến khi người con đổi ý. Thiên Chúa cũng kiên nhẫn như thế với chúng ta. Có những lời Chúa ta đã nghe mười năm trước mà hôm nay mới hiểu. Có những lời mời gọi ta đã chống lại rất lâu, rồi một ngày nào đó bất ngờ thấy mình muốn quay về. Có những cánh cửa Chúa gõ suốt nhiều năm mà ta cứ đóng, nhưng Người vẫn đứng đó. Tình yêu của Thiên Chúa không bỏ cuộc dễ dàng như chúng ta tưởng.
Vì thế, nếu hôm nay trong lòng mình đang có một tiếng “không” với Chúa, đừng sợ nhìn thẳng vào nó. Có thể ta đang nói: “Con không muốn tha thứ.” “Con không muốn thay đổi.” “Con không muốn bỏ điều này.” “Con không muốn phục vụ.” “Con không muốn đón nhận thập giá này.” Hãy nói thật với Chúa. Người không sợ sự thật của ta. Nhưng đừng để chữ “không” ấy trở thành lời cuối cùng. Hãy để ân sủng tiếp tục làm việc. Có thể hôm nay ta chưa đủ sức nói một tiếng “vâng” trọn vẹn. Nhưng hãy nói: “Lạy Chúa, con chưa muốn, nhưng xin làm cho con muốn. Con chưa tha thứ được, nhưng xin cho con bắt đầu. Con chưa yêu nổi người ấy, nhưng xin dạy con yêu. Con chưa đủ can đảm bước vào vườn nho, nhưng xin đừng bỏ con.”
Và nếu ta đã từng nói “vâng” với Chúa rất nhiều lần, hôm nay hãy tự hỏi tiếng “vâng” ấy đang ở đâu trong cuộc đời mình. Bởi cuối cùng, Thiên Chúa không đo đời chúng ta bằng số lời đẹp chúng ta từng nói, nhưng bằng tình yêu chúng ta đã thực sự sống. Có thể một ngày nào đó khi đứng trước mặt Chúa, những điều làm ta ngạc nhiên nhất sẽ không phải là những bài kinh mình đã đọc hay những lời đạo đức mình từng nói, mà là những lần ta đã âm thầm bước vào vườn nho: một lần tha thứ dù rất đau, một lần nhường nhịn dù mình có lý, một lần ở bên người bệnh khi mình rất mệt, một lần trung thành với Chúa khi chẳng ai biết, một lần đứng dậy sau một cú ngã tưởng như không thể đứng lên.
Xin Chúa cho chúng ta đừng trở thành những người chỉ có một đức tin trên môi. Xin cho mỗi tiếng “Amen” được tiếp tục bằng một cuộc đời. Xin cho mỗi lời “xin vâng” có đôi chân để bước đi, có đôi tay để phục vụ, có trái tim để yêu thương. Và nếu đã có những lần chúng ta nói “không” với Chúa, xin đừng để mặc cảm giữ chúng ta nằm mãi bên ngoài vườn nho. Hãy đứng dậy. Người Cha vẫn đang chờ. Vườn nho vẫn còn đó. Ngày vẫn chưa hết. Và lời mời của Người vẫn dịu dàng vang lên: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG CHỈ NÓI VÂNG – HÃY THỰC SỰ ĐI VÀO VƯỜN NHO Có những lời “vâng” nghe thật đẹp, thật đạo đức, thật dễ làm người khác cảm động, nhưng rồi chẳng dẫn đến đâu. Cũng có những tiếng “không” nghe thật khó chịu, thật ngang bướng, thậm chí làm người khác thất vọng, nhưng sau đó lại được sửa chữa bằng một bước chân quay về. Tin Mừng hôm nay kể một câu chuyện rất ngắn, nhưng có lẽ đủ để soi cả một đời sống đức tin của chúng ta. Một người cha nói với hai người con: “Con ơi, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Người thứ nhất trả lời thẳng thừng: “Con không muốn.” Nhưng sau đó anh hối hận và đi. Người thứ hai trả lời thật ngoan ngoãn: “Thưa ngài, con đây,” nhưng rồi anh không đi. Đức Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Câu trả lời quá rõ: người con thứ nhất.
Câu chuyện ấy làm chúng ta phải tự hỏi một câu không dễ chịu chút nào: tôi thuộc về người con nào? Có thể từ lâu chúng ta vẫn nghĩ mình là người con ngoan, bởi chúng ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn thuộc nhiều kinh nguyện, vẫn biết nói những lời rất đẹp về Chúa, vẫn có thể khuyên người khác phải yêu thương, phải tha thứ, phải sống khiêm nhường, phải biết hy sinh. Nhưng điều Đức Giêsu muốn nhìn thấy không phải trước hết là những lời chúng ta nói, mà là những bước chân chúng ta đi sau khi đã nói. Người con thứ hai không nói điều gì sai. Trái lại, lời anh rất đẹp. Anh gọi cha mình bằng một thái độ kính trọng và lập tức tỏ vẻ sẵn sàng. Chỉ có một vấn đề: anh không đi. Và đó chính là bi kịch của một đời sống đạo chỉ còn lại lời nói. Miệng rất gần Chúa nhưng cuộc đời lại xa Chúa; môi đọc kinh nhưng lòng chất đầy giận dữ; tay lần chuỗi nhưng lại không chịu mở ra để giúp một người đang cần mình; đứng trước bàn thờ rất lâu nhưng bước ra khỏi nhà thờ vẫn mang theo những hơn thua, ganh ghét, tính toán và cố chấp. Khi ấy, tiếng “vâng” của chúng ta có thể rất đẹp trước mặt người đời nhưng lại trống rỗng trước mặt Thiên Chúa.
Có lẽ trong đời mình, ai cũng từng có lúc giống người con thứ nhất. Chúa mời gọi mà ta không muốn. Chúa bảo tha thứ, ta nói trong lòng: “Con không thể.” Chúa bảo buông một mối hận, ta nói: “Con không muốn.” Chúa bảo bỏ một thói quen xấu, ta lại chần chừ. Chúa bảo trở về với gia đình, dành thời gian cho cha mẹ, cho vợ chồng, cho con cái, ta nói: “Con bận lắm.” Chúa bảo bước đến với một người nghèo, một người đau yếu, một người đang cô đơn, ta có thể quay đi. Chúa bảo khiêm nhường nhận lỗi, ta lại cố bảo vệ cái tôi của mình. Có những lúc đời sống của ta là một chuỗi những tiếng “không” nói với Chúa. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho ta một niềm hy vọng rất lớn: tiếng “không” đầu tiên chưa phải là lời cuối cùng. Người con thứ nhất đã nói không, nhưng rồi anh “hối hận và đi”. Chính hai chữ “và đi” đã thay đổi tất cả.
Thiên Chúa không đóng khung chúng ta trong quá khứ. Ngài không nói: “Ngày hôm qua con đã từ chối Ta, vậy thì hôm nay Ta không cần con nữa.” Ngài vẫn chờ. Ngài vẫn nhìn về phía cánh cửa. Ngài vẫn để vườn nho mở ra. Bao lâu chúng ta còn sống, vẫn còn một con đường để quay lại. Bao lâu trái tim còn biết đau vì điều mình đã làm, vẫn còn khả năng bắt đầu lại. Bao lâu ta còn có thể nói: “Lạy Chúa, con đã sai,” thì chưa có gì là quá muộn. Điều đẹp nhất nơi người con thứ nhất không phải là anh chưa từng sai; anh đã sai ngay từ đầu. Điều đẹp nhất là anh không để cái sai đầu tiên quyết định phần còn lại của cuộc đời mình. Anh thay đổi. Anh đứng lên. Anh đi.
Đó cũng là vẻ đẹp của hoán cải Kitô giáo. Hoán cải không phải là chưa bao giờ ngã. Hoán cải là sau khi ngã, ta không nằm mãi ở đó. Hoán cải không phải là chưa bao giờ chống lại Thiên Chúa. Hoán cải là một ngày nào đó ta nhận ra mình đã chống lại tình yêu của Ngài và quay trở về. Hoán cải không phải là một cảm xúc buồn bã nhất thời, càng không phải chỉ là vài giọt nước mắt. Người con thứ nhất không chỉ hối hận trong lòng rồi ngồi nguyên tại chỗ. Anh hối hận và đi làm vườn nho. Một sự hối hận không đưa đến thay đổi thì vẫn chưa trọn vẹn. Một lời xin lỗi mà sau đó ta vẫn tiếp tục làm tổn thương người khác thì chưa đủ. Một lần xưng tội mà sau đó ta hoàn toàn không muốn thay đổi điều gì trong đời mình thì bí tích vẫn có nguy cơ bị chúng ta đón nhận cách hời hợt. Ơn Chúa luôn muốn dẫn ta đến một bước chân cụ thể.
Có những người sau nhiều năm xa Chúa đã trở về chỉ bằng một quyết định rất nhỏ: bước vào nhà thờ. Có những người sau nhiều năm giận nhau đã bắt đầu hòa giải chỉ bằng một cuộc điện thoại. Có những gia đình tưởng không còn cứu được nữa nhưng bắt đầu được chữa lành khi một người dám nói: “Tôi xin lỗi.” Có những tâm hồn tưởng như đã chai đá nhưng rồi một biến cố, một đau khổ, một lời Tin Mừng, một ánh mắt yêu thương đã làm họ thức tỉnh. Cuộc đời có thể đổi hướng từ một khoảnh khắc rất nhỏ như thế. Điều quan trọng không phải hôm qua tôi đã đi bao xa khỏi Chúa, mà là hôm nay tôi đang quay mặt về hướng nào.
Chính vì thế Đức Giêsu đã nói một câu thật mạnh với những người lãnh đạo tôn giáo thời Người: những người thu thuế và những người phụ nữ tội lỗi đang đi vào Nước Thiên Chúa trước họ, bởi những người bị xem là tội lỗi ấy đã tin và biết hoán cải, trong khi những người tưởng mình công chính đã thấy mà vẫn không chịu thay đổi. Câu nói này không phải để ca ngợi tội lỗi, nhưng để cảnh báo một thứ nguy hiểm hơn tội lỗi: đó là lòng tự mãn thiêng liêng. Người biết mình bệnh còn có thể đi tìm thầy thuốc; người tin rằng mình hoàn toàn khỏe mạnh sẽ chẳng bao giờ chữa trị. Người biết mình là tội nhân còn có thể quỳ xuống xin thương xót; người nghĩ rằng mình chẳng có gì phải sửa có thể đứng trước Chúa mà lòng vẫn đóng kín.
Có khi điều ngăn cản ta đến gần Chúa không phải là vì ta quá tội lỗi, mà vì ta tưởng mình đủ tốt rồi. Ta so sánh mình với người khác rồi tự nhủ: tôi vẫn khá hơn họ; tôi vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện, vẫn không phạm những chuyện ghê gớm như người kia. Nhưng Thiên Chúa không hỏi chúng ta có tốt hơn người bên cạnh hay không. Ngài hỏi: hôm nay con có làm điều Cha muốn không? Ngài không so sánh chúng ta với người hàng xóm, với đồng nghiệp, với người mà ta không thích. Ngài đặt mỗi người trước chính tiếng gọi dành cho mình. “Con ơi, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Chữ đáng chú ý nhất có lẽ là chữ “hôm nay”. Không phải ngày mai. Không phải khi tôi rảnh. Không phải khi hoàn cảnh dễ dàng hơn. Không phải khi người kia thay đổi trước. Không phải khi tôi hết mệt, hết buồn, hết khó chịu. Hôm nay.
Hôm nay Chúa có thể đang mời ta làm một điều rất bình thường: gọi điện cho cha mẹ; ngồi nghe người bạn đời nói hết câu chuyện của họ; bớt một lời cay nghiệt; thôi phán xét một người; trả lại điều không thuộc về mình; làm việc cách trung thực; dành một chút thời gian cầu nguyện; đến thăm một người đau bệnh; giúp một người túng thiếu; đi xưng tội; trở lại Thánh lễ; đọc lại một đoạn Tin Mừng; ngồi yên trước Chúa năm phút. Vườn nho của Chúa nhiều khi không ở nơi xa. Nó ở ngay căn bếp nhà ta, nơi sở làm, trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong gia đình, trong những tương quan mà mỗi ngày ta phải sống. Điều khó nhất không phải tìm xem Chúa muốn mình làm điều gì vĩ đại, nhưng là trung thành với điều nhỏ bé Ngài đang đặt trước mặt mình.
Có một cám dỗ rất tinh vi trong đời sống đức tin: chúng ta thích những dự định lớn hơn những bổn phận nhỏ. Ta có thể mơ làm những chuyện thật lớn cho Chúa nhưng lại thiếu kiên nhẫn với người sống bên cạnh. Ta muốn yêu cả nhân loại nhưng lại không chịu nổi một người trong gia đình. Ta muốn truyền giáo cho thế giới nhưng chưa biết nói một lời tử tế với người giúp việc, người nhân viên, người đồng nghiệp. Ta muốn làm những việc anh hùng nhưng lại không chịu nhường một câu trong cuộc tranh cãi. Vườn nho không bắt đầu bằng những điều phi thường. Nó bắt đầu bằng một bước chân vâng phục rất nhỏ.
Tin Mừng hôm nay cũng nhắc ta rằng Thiên Chúa quan tâm đến sự thật của đời sống hơn là vẻ đẹp của hình thức. Con người thường nhìn lời nói, danh tiếng, dáng vẻ, chức vụ; Thiên Chúa nhìn trái tim và hành động. Có người chẳng nói nhiều về đạo nhưng sống rất có tình người, rất quảng đại, rất biết hy sinh. Có người nói về Chúa rất hay nhưng khiến người khác không cảm nhận được Chúa nơi đời mình. Dĩ nhiên đức tin cần lời tuyên xưng, nhưng lời tuyên xưng ấy phải trở thành cuộc sống. Chúng ta không thể nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” thật nhiều rồi lại từ chối làm điều Ngài muốn. Người Kitô hữu không được nhận diện trước hết bởi số kinh họ thuộc, nhưng bởi cách họ yêu; không phải bởi số lần họ nói về Tin Mừng, nhưng bởi mức độ Tin Mừng đã thay đổi cách họ đối xử với người khác.
Có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất của đời sống đạo là khi người ta quen với Chúa đến mức không còn để Chúa làm mình thay đổi. Ta nghe Tin Mừng quá nhiều, đến mức nghe mà không còn giật mình. Ta nghe về tha thứ nhưng vẫn nuôi hận. Ta nghe về nghèo khó nhưng vẫn chỉ biết gom góp cho mình. Ta nghe về khiêm nhường nhưng vẫn khát khao hơn thua. Ta nghe về thập giá nhưng vẫn chạy trốn mọi hy sinh. Ta nghe Chúa nói mỗi ngày, nhưng lời Chúa không còn chạm đến những góc sâu kín nhất của đời ta. Khi ấy, ta rất dễ trở thành người con thứ hai: trả lời đúng mọi câu, nhưng không bước đi.
Chúa không cần những con người hoàn hảo ngay từ đầu. Nếu Chúa chỉ dùng những người chưa từng yếu đuối, chưa từng sai lầm, có lẽ lịch sử cứu độ đã chẳng có bao nhiêu người. Phêrô đã từng chối Chúa. Phaolô đã từng bách hại Hội Thánh. Augustinô đã từng sống một đời rất xa Chúa. Biết bao vị thánh từng trải qua những chặng đường lạc lối. Điều khiến họ trở thành thánh không phải vì quá khứ không có bóng tối, mà vì một ngày nào đó họ đã để ân sủng đổi hướng cuộc đời mình. Thiên Chúa có thể viết những trang rất đẹp trên những cuộc đời từng bị chúng ta cho rằng đã hỏng. Ngài không sợ quá khứ của ta. Chỉ cần ta trao cho Ngài hiện tại.
Vì thế, nếu hôm nay có ai đang mang mặc cảm về những sai lầm của mình, Tin Mừng này là một lời hy vọng. Đừng nói: “Tôi đã sống như thế quá lâu rồi, không đổi được đâu.” Đừng nói: “Tôi đã xa Chúa quá nhiều năm rồi.” Đừng nói: “Tội của tôi quá lớn.” Người cha trong dụ ngôn vẫn gọi người con bằng một tiếng thật dịu dàng: “Con ơi.” Ngay cả khi đứa con sắp nói “không”, người cha vẫn gọi nó là con. Tội lỗi có thể làm chúng ta xa Cha, nhưng không xóa được tình yêu của Cha dành cho chúng ta. Chính tiếng “Con ơi” ấy có sức kéo chúng ta trở về.
Và nếu ta đang sống khá đạo đức, Tin Mừng hôm nay lại là một lời cảnh tỉnh. Đừng quá yên tâm chỉ vì mình đã ở trong nhà Cha từ lâu. Đừng nghĩ việc quen thuộc với kinh nguyện, phụng vụ hay hoạt động tôn giáo tự động bảo đảm rằng ta đang làm ý Chúa. Mỗi ngày ta vẫn phải hỏi lại: tôi có thực sự sống điều tôi tin không? Tôi có trở nên hiền lành hơn không? Tôi có bớt ích kỷ hơn không? Tôi có biết xin lỗi nhanh hơn, tha thứ dễ hơn, chia sẻ nhiều hơn, phán xét ít hơn không? Nếu càng cầu nguyện mà càng cứng cỏi, càng đi lễ mà càng khinh người, càng làm việc đạo mà càng kiêu ngạo, có lẽ điều gì đó đang sai.
Cuối cùng, Thiên Chúa không chờ chúng ta nói với Ngài những lời thật hay. Ngài chờ chúng ta bước đi. Có thể bước chân ấy còn chậm, còn vụng về, còn nhiều lần ngã, nhưng miễn là đang đi về phía Ngài. Một tiếng “không” hôm qua có thể trở thành một tiếng “vâng” hôm nay. Một cuộc đời từng xa Chúa có thể trở thành một cuộc đời rất gần Chúa. Một trái tim chai đá có thể lại mềm ra. Một gia đình tưởng đã đổ vỡ có thể bắt đầu được hàn gắn. Một người tưởng mình chẳng còn hy vọng có thể bắt đầu lại tất cả. Chúa chỉ cần ta đừng để ngày hôm qua trở thành bản án cho ngày hôm nay.
Hôm nay, người Cha vẫn bước đến bên mỗi người và nói: “Con ơi, hôm nay hãy đi làm vườn nho.” Có lẽ ta không cần hứa quá nhiều. Chỉ cần đứng lên và đi. Đi một bước về phía người cần ta tha thứ. Đi một bước về phía người đang cô đơn. Đi một bước ra khỏi tính ích kỷ. Đi một bước trở về với bí tích Hòa Giải. Đi một bước trở về với bàn tiệc Thánh Thể. Đi một bước trở về với gia đình. Đi một bước trở về với chính mình. Và trên hết, đi một bước trở về với Chúa. Bởi cuối ngày, Chúa không hỏi chúng ta đã nói với Ngài bao nhiêu lần rằng “Con yêu Chúa”, nhưng có lẽ Ngài sẽ hỏi: “Con đã biến tình yêu ấy thành điều gì trong cuộc đời của con?”
Xin Chúa cho mỗi chúng ta đừng trở thành những người chỉ biết nói “vâng” bằng môi miệng. Xin cho lời “vâng” của ta có đôi chân, để biết lên đường; có đôi tay, để biết phục vụ; có trái tim, để biết yêu thương; có nước mắt, để biết sám hối; và có lòng can đảm, để mỗi khi đã đi sai đường, ta vẫn dám quay trở lại. Vì trong Nước Thiên Chúa, điều quyết định không phải là ta đã từng nói “không” bao nhiêu lần, nhưng là cuối cùng ta có để tình yêu của Cha đưa mình vào vườn nho hay không.
Lm. Anmai, CSsR
KHÔNG PHẢI NÓI “VÂNG” MÀ LÀ SỐNG “VÂNG”
Tin Mừng Chúa Nhật XXVI Thường Niên năm A đặt trước chúng ta một dụ ngôn rất ngắn, nhưng lại chạm đến một trong những căn bệnh sâu kín nhất của đời sống đức tin: khoảng cách giữa lời nói và đời sống. Một người cha có hai người con. Ông bảo người con thứ nhất: “Con ơi, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Người con ấy trả lời thẳng thừng: “Con không muốn.” Một câu trả lời nghe thật khó chịu, thiếu ngoan ngoãn, thậm chí làm đau lòng người cha. Nhưng rồi sau đó anh hối hận và đi làm. Người cha cũng nói với người con thứ hai như vậy. Anh trả lời rất đẹp: “Thưa ngài, con đây!” Nhưng cuối cùng anh lại không đi. Đức Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Những người đang nghe Người đáp: “Người thứ nhất.” Chính từ câu chuyện đơn sơ ấy, Chúa mở ra một sự thật rất lớn: trước mặt Thiên Chúa, điều quyết định không phải là ta đã nói những lời đẹp đẽ thế nào, nhưng là cuối cùng ta có thực sự sống theo ý Người hay không.
Có lẽ chúng ta thường thích người con thứ hai hơn. Anh nói lời rất dễ nghe. Anh không làm cha buồn ngay lúc ấy. Anh biết cách thưa gửi, biết cách biểu lộ sự ngoan ngoãn, biết nói một tiếng “vâng” thật nhanh. Nhưng bi kịch nằm ở chỗ tiếng “vâng” ấy chỉ dừng lại trên môi. Nó không đi xuống đôi chân để bước vào vườn nho, không đi vào đôi tay để làm việc, không đi vào cuộc đời để trở thành hành động. Và đó cũng có thể là bi kịch của đời sống Kitô hữu chúng ta. Ta thuộc rất nhiều lời kinh nhưng chưa chắc đã sống tinh thần của lời kinh. Ta đọc “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, nhưng trong lòng vẫn giữ một người suốt nhiều năm không chịu tha. Ta thưa “xin vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời”, nhưng khi cuộc đời xảy ra trái ý mình thì lại cay đắng, than trách và chống đối. Ta hát “xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”, nhưng ra khỏi nhà thờ lại có thể lạnh lùng trước một người nghèo, khó chịu với một người trong gia đình, khắt khe với một người đã từng làm ta tổn thương. Có những tiếng “Amen” được đọc rất lớn trong nhà thờ nhưng lại trở nên rất nhỏ ngoài đời.
Thiên Chúa không cần nơi chúng ta một thứ đạo chỉ đẹp ở lời nói. Người cần một đức tin đi được bằng đôi chân, làm việc bằng đôi tay, biết đau bằng trái tim và biết trả giá bằng chính đời sống. Vườn nho của Chúa không nằm ở một nơi xa xôi nào. Vườn nho ấy chính là gia đình của ta, nơi có một người đang cần được lắng nghe; là cộng đoàn của ta, nơi có một người khiến ta khó chịu nhưng vẫn cần được yêu thương; là công việc thường ngày, nơi ta được mời gọi sống trung thực dù chẳng ai kiểm tra; là một người nghèo ta gặp bên đường; là một người già cô đơn; là một đứa trẻ cần được dạy dỗ; là một người đang thất vọng cần một lời nâng đỡ. Chúa vẫn nói từng ngày: “Con ơi, hôm nay hãy đi làm vườn nho.” Điều đáng suy nghĩ là nhiều khi chúng ta thưa “vâng” với Chúa rất nhanh nhưng đôi chân lại chẳng hề chuyển động.
Nhưng Tin Mừng hôm nay không chỉ là lời cảnh tỉnh. Đó còn là một Tin Mừng đầy hy vọng, bởi người con thứ nhất đã từng nói “không”. Anh không phải là một đứa con hoàn hảo ngay từ đầu. Anh phản ứng, anh từ chối, anh làm cha thất vọng. Nhưng câu chuyện không kết thúc ở tiếng “không” ấy. Tin Mừng nói rằng sau đó anh hối hận và đi. Chính hai chữ “sau đó” làm nên vẻ đẹp của dụ ngôn. “Sau đó” nghĩa là con người vẫn có thể thay đổi. “Sau đó” nghĩa là một quyết định sai hôm qua không nhất thiết phải trở thành định mệnh của cả đời ta. “Sau đó” nghĩa là Thiên Chúa vẫn để cho ta một cánh cửa trở về. Ta đã từng từ chối Chúa, nhưng ta vẫn có thể trở lại. Ta đã từng sống sai, nhưng ta vẫn có thể sống lại từ đầu. Ta đã từng làm đau một người, nhưng hôm nay ta vẫn có thể xin lỗi. Ta đã từng bỏ bê cầu nguyện, nhưng tối nay vẫn có thể quỳ xuống. Ta đã từng xa Bí tích Hòa Giải nhiều năm, nhưng tuần này vẫn có thể trở về. Ta đã từng nói với Chúa: “Con không muốn”, nhưng chẳng có gì ngăn ta hôm nay đứng lên và bước vào vườn nho.
Đây chính là điều làm cho Kitô giáo trở thành tôn giáo của hy vọng. Thiên Chúa không đóng khung con người trong quá khứ. Người không nhìn ta chỉ bằng những lần ta đã vấp ngã. Người nhìn cả khả năng ta có thể đứng lên. Đôi khi chính chúng ta mới là người đóng khung nhau. Một người đã từng phạm lỗi, ta nhớ lỗi ấy suốt đời. Một người từng sống không tốt, ta cứ nhìn họ bằng ánh mắt của quá khứ. Một người đã từng phản bội, thất bại hay sa ngã, ta nghĩ họ sẽ mãi như thế. Nhưng Thiên Chúa thì khác. Người luôn để lại một khoảng trống cho chữ “nhưng rồi”. Anh đã nói không, nhưng rồi anh đi. Người ấy đã từng xa Chúa, nhưng rồi họ trở về. Người ấy đã từng sống tội lỗi, nhưng rồi họ hoán cải. Người ấy đã từng làm sai, nhưng rồi họ đổi đời. Trong ánh mắt của Thiên Chúa, không ai chỉ là quá khứ của mình.
Chính vì thế Đức Giêsu đã nói một câu khiến những người đạo đức thời ấy phải sửng sốt: những người thu thuế và những cô gái điếm đang đi vào Nước Thiên Chúa trước họ. Không phải Chúa ca ngợi tội lỗi. Người không bao giờ gọi điều xấu là tốt. Nhưng Người cho thấy một điều vô cùng quan trọng: một tội nhân biết hối cải đang ở gần Thiên Chúa hơn một người tưởng mình đạo đức mà không còn thấy cần phải thay đổi. Những người thu thuế và gái điếm đã tin lời Gioan Tẩy Giả và thay đổi, trong khi những người lãnh đạo tôn giáo chứng kiến tất cả mà vẫn không chịu hối cải. Có một thứ nguy hiểm hơn cả tội lỗi, đó là không còn nhận ra mình cần hoán cải. Một người bệnh biết mình bệnh còn tìm thầy thuốc; người bệnh mà tưởng mình hoàn toàn khỏe mạnh thì chẳng bao giờ tìm thuốc chữa.
Đời sống thiêng liêng đôi khi sa vào một cám dỗ rất tinh tế: ta lấy những việc đạo đức để tự bảo đảm rằng mình đang ổn. Tôi vẫn đi lễ. Tôi vẫn đọc kinh. Tôi vẫn tham gia hội đoàn. Tôi vẫn làm việc nhà thờ. Tôi vẫn giữ những sinh hoạt quen thuộc. Tất cả những điều ấy đều quý giá, nhưng chúng không tự động bảo đảm rằng trái tim ta thuộc về Chúa. Một người có thể đứng rất gần bàn thờ mà lòng lại rất xa Tin Mừng. Một người có thể nói rất nhiều về Chúa nhưng lại ít để Chúa thay đổi mình. Có thể ta thuộc Kinh Thánh nhưng lại không biết nhường nhịn. Có thể ta phục vụ cộng đoàn nhưng lại đầy tự ái. Có thể ta làm từ thiện nhưng không tha thứ cho người thân. Có thể ta siêng năng cầu nguyện nhưng lại thích xét đoán. Chúa không hỏi ta đã đứng ở đâu trong nhà thờ. Chúa hỏi ta đã để Tin Mừng đi vào đời mình đến đâu.
Người con thứ nhất cho chúng ta một bài học khác: Thiên Chúa không cần một quá khứ hoàn hảo, nhưng Người cần một hiện tại biết quay về. Có những người mang trong lòng một mặc cảm rất nặng: “Đời tôi đã hỏng rồi”, “Tôi đã phạm quá nhiều lỗi”, “Tôi đã sống xa Chúa quá lâu”, “Tôi không còn xứng đáng nữa.” Tin Mừng hôm nay muốn nói với những tâm hồn ấy rằng: hãy nhìn người con thứ nhất. Tiếng “không” của anh không phải là lời cuối cùng. Chúa không hỏi hôm qua con đã nói gì; hôm nay Người lại hỏi: “Con có muốn đi vào vườn nho không?” Và chỉ cần hôm nay ta đứng lên, con đường trở về đã bắt đầu.
Cũng có khi chúng ta giống người con thứ hai không phải vì giả hình có chủ ý, nhưng vì yếu đuối. Ta thật lòng muốn sống tốt. Ta thật lòng muốn cầu nguyện nhiều hơn, hiền lành hơn, bớt nóng giận hơn, bớt nói xấu hơn. Sau một kỳ tĩnh tâm ta quyết tâm rất nhiều. Sau một lần xưng tội ta muốn bắt đầu lại. Nhưng rồi vài ngày trôi qua, mọi thứ trở về như cũ. Những lời “con sẽ” nhiều hơn những việc “con đã làm”. Đó là lúc ta cần hiểu rằng đời sống Kitô hữu không được xây bằng những cảm xúc mạnh trong một vài phút, mà bằng những lựa chọn nhỏ được lập lại mỗi ngày. Một tiếng “xin vâng” thật không nhất thiết phải ồn ào. Có khi đó chỉ là sáng nay thức dậy và cầu nguyện năm phút dù rất mệt. Là nhịn một câu nặng lời. Là gọi điện hỏi thăm cha mẹ. Là bỏ qua một chuyện nhỏ. Là hoàn thành công việc tử tế. Là tắt điện thoại để lắng nghe người trước mặt. Là âm thầm làm điều tốt mà không cần ai biết. Những việc nhỏ ấy chính là những bước chân đi vào vườn nho.
Có một điều rất đẹp trong cách người cha nói với con: “Con ơi…” Ông không nói như một ông chủ ra lệnh cho người làm công. Ông gọi “con”. Trước khi giao việc, ông nhắc người ấy rằng giữa họ có một tương quan. Chúa cũng vậy. Người không sai ta đi làm vườn nho vì Người thiếu nhân công hay vì Người cần lợi dụng sức lao động của ta. Người gọi ta vì ta là con. Mọi lời mời gọi của Thiên Chúa đều bắt đầu từ tình yêu. Người không nói: “Tên đầy tớ kia, đi làm cho Ta.” Người nói: “Con ơi, hôm nay…” Và chính chữ “hôm nay” cũng thật đáng suy nghĩ. Không phải ngày mai. Không phải khi rảnh. Không phải khi mọi chuyện thuận lợi hơn. Không phải khi tôi bớt bận, bớt mệt hay khá hơn. Chúa gọi ta trong chính ngày hôm nay, trong hoàn cảnh hôm nay, với những con người đang ở bên ta hôm nay.
Biết bao người dành cả cuộc đời để chờ một ngày thích hợp mới sống tốt. Khi con cái lớn tôi sẽ cầu nguyện nhiều hơn. Khi nghỉ hưu tôi sẽ phục vụ Chúa. Khi bớt bận tôi sẽ dành thời gian cho gia đình. Khi người kia thay đổi tôi sẽ tha thứ. Khi tâm hồn bình an hơn tôi sẽ trở về với Chúa. Nhưng Tin Mừng luôn nói “hôm nay”. Hôm nay con hãy yêu. Hôm nay con hãy tha thứ. Hôm nay con hãy trở về. Hôm nay con hãy làm một điều tốt. Bởi ta không sở hữu ngày mai. Điều duy nhất Thiên Chúa đặt vào tay ta là ngày hôm nay.
Cuối cùng, dụ ngôn này mời mỗi người đừng quá bận tâm xem mình giống người con nào, nhưng hãy tự hỏi: hôm nay tôi đang đứng ở đâu trước lời mời gọi của Chúa? Có một việc tốt nào tôi biết phải làm nhưng cứ trì hoãn không? Có một người nào tôi cần hòa giải nhưng vẫn cố chấp? Có một thói quen xấu nào Chúa đã nhiều lần nhắc tôi từ bỏ? Có một trách nhiệm nào tôi đã nói “vâng” nhưng chưa thực hiện? Có một tiếng gọi nào Chúa đặt vào lòng tôi từ lâu mà tôi cứ tìm lý do né tránh? Đôi khi đời sống thiêng liêng không cần thêm một bài suy niệm mới, mà chỉ cần ta thực hiện một điều ta đã biết từ rất lâu.
Ngày cuối đời, có lẽ Chúa không hỏi chúng ta đã từng nói về Người hay đến mức nào, đã có bao nhiêu quyết tâm đẹp, đã hứa với Người bao nhiêu lần. Người sẽ nhìn vào những dấu chân chúng ta đã để lại trong vườn nho của đời mình: ta đã yêu ai, nâng ai đứng dậy, tha thứ cho ai, chăm sóc ai, trung thành với ai, và đã để Người biến đổi trái tim mình thế nào. Vì thế, nếu hôm nay ta nhận ra mình đã từng nói rất nhiều tiếng “vâng” nhưng chưa sống, đừng tuyệt vọng. Hãy đứng lên. Nếu ta đã từng nói “không” với Chúa, cũng đừng tuyệt vọng. Hãy đứng lên. Chỉ cần còn hôm nay, vẫn còn cơ hội để bước vào vườn nho.
Lạy Chúa, có biết bao lần môi con nói “xin vâng” nhưng cuộc đời con lại nói “không”. Có biết bao lần con hứa rất đẹp nhưng rồi chẳng thực hiện. Xin đừng để con chỉ là người Kitô hữu của lời nói, của hình thức, của những thói quen đạo đức bên ngoài. Xin cho Lời Chúa đi từ tai xuống lòng, từ lòng xuống đôi tay, rồi từ đôi tay đi vào cuộc sống. Và nếu có lúc con đã từng từ chối Chúa, xin cho con đủ khiêm tốn để hối hận, đủ can đảm để đứng lên và đủ yêu thương để bước vào vườn nho. Bởi điều Chúa chờ nơi con không phải một quá khứ không lỗi lầm, nhưng là một trái tim hôm nay còn biết trở về.
Lm. Anmai, CSsR

KHÔNG PHẢI NÓI “VÂNG”, NHƯNG LÀ SỐNG LỜI “VÂNG”
Có những lời “vâng” rất đẹp trên môi nhưng lại không bao giờ trở thành bước chân. Cũng có những lời “không” rất buồn lúc ban đầu, nhưng sau một cuộc giằng co âm thầm trong lòng, lại biến thành một cuộc trở về thật đẹp. Tin Mừng Chúa Nhật XXVI Thường Niên năm A đặt trước chúng ta hình ảnh hai người con. Người cha nói với người con thứ nhất: “Con ơi, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Anh trả lời thẳng thừng: “Con không muốn.” Nhưng rồi anh hối hận và đi. Người cha cũng nói như thế với người con thứ hai. Anh đáp rất ngoan: “Thưa ngài, con đây.” Nhưng cuối cùng anh lại không đi. Đức Giêsu hỏi một câu tưởng như quá đơn giản: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Câu trả lời ai cũng biết: người con thứ nhất. Nhưng chính câu hỏi tưởng như đơn giản ấy lại chạm đến một trong những căn bệnh sâu nhất của đời sống đức tin: chúng ta có thể nói rất nhiều lời đẹp với Chúa mà vẫn chưa thật sự làm điều Chúa muốn.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta không bao giờ nói với Chúa rằng: “Con không tin Chúa”, “con không cần Chúa”, “con không muốn theo Chúa”. Trái lại, chúng ta vẫn đọc kinh, vẫn dự lễ, vẫn giữ những tập tục đạo đức, vẫn có thể thưa rất nhiều lần: “Lạy Chúa, con đây.” Nhưng câu hỏi của Tin Mừng hôm nay không dừng ở môi miệng. Chúa hỏi: “Con đã đi vào vườn nho chưa?” Vườn nho ấy chính là cuộc đời thật của ta: gia đình của ta, cộng đoàn của ta, bổn phận của ta, những tương quan đang rạn nứt, những người đang cần được tha thứ, những người nghèo đang cần được nhìn thấy, những trách nhiệm ta đang muốn né tránh. Có khi chúng ta quỳ trước Nhà Tạm rất lâu nhưng vẫn không chịu xin lỗi một người. Có khi chúng ta đọc rất nhiều kinh nhưng vẫn giữ trong lòng một mối hận nhiều năm. Có khi chúng ta nói “xin vâng ý Chúa” rất sốt sắng nhưng lại chỉ muốn Chúa làm theo ý mình. Có khi miệng gọi Chúa là “Chúa” nhưng tiền bạc, danh dự, tự ái, quyền lực hay cái tôi mới thực sự là thứ quyết định đời sống của ta. Lúc ấy, chúng ta rất dễ trở thành người con thứ hai: lời thưa thì đẹp, nhưng đời sống lại không đi theo lời thưa ấy.
Điều làm cho người con thứ nhất trở nên đáng quý không phải là lời “không” ban đầu. Lời “không” ấy vẫn là một sự từ chối. Điều quý giá nằm ở chỗ anh đã “hối hận và đi”. Có một khoảng cách rất lớn giữa “biết mình sai” và “quay trở lại”. Nhiều người biết mình nóng tính nhưng không sửa. Biết mình ích kỷ nhưng không đổi. Biết mình làm tổn thương người khác nhưng không xin lỗi. Biết đời sống thiêng liêng đang nguội lạnh nhưng vẫn để mặc. Biết mình đang xa Chúa nhưng cứ tự nhủ: “Mai rồi tính.” Người con thứ nhất dạy ta rằng Thiên Chúa không đòi chúng ta phải có một quá khứ hoàn hảo; Người chỉ mong chúng ta đừng biến những sai lầm của quá khứ thành số phận của tương lai. Cánh cửa trở về vẫn mở chừng nào con người còn biết nhận ra mình đã đi sai và còn đủ khiêm tốn để quay lại.
Đó cũng là lý do lời Đức Giêsu nói với các thượng tế và kỳ mục trở nên vô cùng mạnh mẽ: những người thu thuế và những người phụ nữ tội lỗi đang vào Nước Thiên Chúa trước họ. Không phải vì tội lỗi bỗng trở thành điều tốt, cũng không phải vì Thiên Chúa coi nhẹ luân lý. Trái lại, chính vì những con người ấy đã biết nghe lời mời gọi hoán cải, trong khi những người tưởng mình đã ở rất gần Thiên Chúa lại có thể đóng lòng trước Người. Đức Giêsu nhắc đến Gioan Tẩy Giả: Gioan đến trong đường công chính; những người bị coi là tội lỗi đã tin, còn những người tự cho mình đạo đức thì dù nhìn thấy tất cả vẫn không chịu thay đổi. Đó là một lời cảnh tỉnh đáng sợ cho bất cứ ai đã sống đạo lâu năm. Khoảng cách nguy hiểm nhất với Thiên Chúa đôi khi không phải là một cuộc đời đầy vấp ngã, mà là một trái tim không còn cảm thấy mình cần hoán cải.
Có một thứ đạo đức rất nguy hiểm: đạo đức của sự tự mãn. Ta bắt đầu nhìn người khác từ trên xuống. Ta thấy mình đi lễ nhiều hơn, hiểu giáo lý hơn, phục vụ nhiều hơn, ở trong Hội Thánh lâu hơn, rồi vô thức nghĩ rằng mình chắc chắn gần Chúa hơn người kia. Nhưng Tin Mừng liên tục đảo lộn kiểu suy nghĩ ấy. Người đứng cuối có thể trở thành người đứng đầu. Người tưởng mình xa có thể lại gần. Người từng nói “không” có thể trở thành người thực sự thi hành ý Cha. Và người nói “vâng” rất nhanh có thể cuối cùng chẳng làm gì cả. Trước mặt Thiên Chúa, không ai sống bằng thành tích quá khứ. Mỗi ngày đều có một lời gọi mới: “Hôm nay, con hãy đi làm vườn nho.” Chúa nói “hôm nay”, không phải ngày mai. Đức tin luôn diễn ra trong hiện tại. Tình yêu cũng chỉ có thể được sống trong hiện tại. Ta không thể yêu Chúa bằng những việc tốt mình dự định sẽ làm một ngày nào đó.
“Hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Có thể vườn nho của một người mẹ hôm nay là kiên nhẫn thêm một chút với đứa con đang làm mình mệt mỏi. Vườn nho của một người cha có thể là dành thời gian cho gia đình thay vì chỉ mang tiền về nhà. Vườn nho của một người con có thể là gọi điện hỏi thăm cha mẹ già. Vườn nho của một linh mục có thể là ngồi nghe một người đang đau khổ dù chương trình trong ngày đã quá đầy. Vườn nho của một người trẻ có thể là sống trung thực giữa một môi trường nơi gian dối dường như đem lại lợi thế. Vườn nho của một người đang bị tổn thương có thể là bắt đầu cầu nguyện cho người mình chưa thể tha thứ. Vườn nho của một người đang sa ngã có thể chỉ là bước đầu tiên trở lại tòa giải tội. Không phải lúc nào Thiên Chúa cũng trao cho ta những công việc vĩ đại. Phần lớn ý Chúa nằm trong những bổn phận rất bình thường mà ta vẫn gặp mỗi ngày.
Có những lúc ta cũng giống người con thứ nhất. Chúa gọi, nhưng trong lòng ta không muốn. Ta không muốn tha thứ. Không muốn hy sinh. Không muốn bỏ một thói quen xấu. Không muốn phục vụ một người khó chịu. Không muốn mang thập giá. Không muốn sống điều Tin Mừng đòi hỏi vì thấy quá khó. Điều ấy không khiến Chúa bỏ ta. Thiên Chúa hiểu những cuộc chiến trong lòng con người. Có lẽ điều Người chờ không phải là một phản ứng hoàn hảo ngay lập tức, nhưng là một trái tim vẫn còn biết để cho ân sủng lay động. Người con thứ nhất đã nói “không”, nhưng câu chuyện của anh chưa kết thúc ở chữ “không”. Và cuộc đời của ta cũng vậy. Có những điều ta từng từ chối Chúa. Có những năm tháng ta đã sống xa Người. Có những cơ hội yêu thương ta đã bỏ mất. Nhưng nếu hôm nay ta đứng dậy và đi, câu chuyện vẫn có thể được viết lại.
Bài suy niệm được gợi hứng từ chú giải của don Giampaolo Centofanti cũng nhấn mạnh đến thái độ của một người bé nhỏ: người bé nhỏ có thể sai, nhưng vẫn tín thác vào tình yêu của cha mẹ; con người, tự bản chất, cần Thiên Chúa và cần người khác trong Thiên Chúa, trong khi sự cậy dựa hoàn toàn vào chính mình dễ khiến ta chạy trốn những bất an sâu kín hơn là chữa lành chúng. Có lẽ đây cũng chính là chìa khóa để hiểu sự hoán cải. Chỉ người nào dám nhận mình bé nhỏ mới có thể quay về. Người kiêu ngạo rất khó nói: “Tôi đã sai.” Người tự mãn rất khó thay đổi. Người lúc nào cũng nghĩ mình đúng sẽ không bao giờ cảm thấy cần trở về. Nhưng khi ta nhận mình là một đứa con, mọi sự thay đổi. Đứa con có thể đi xa, có thể bướng bỉnh, có thể sai lầm, nhưng vẫn biết đường về nhà vì biết ở đó có một người Cha.
Đời Kitô hữu không phải là cuộc thi xem ai nói về Chúa hay hơn, ai có vẻ đạo đức hơn, ai giữ được hình ảnh tốt hơn. Cuối cùng chỉ còn một câu hỏi: tôi có thi hành ý Cha không? Có thể chẳng ai biết những hy sinh âm thầm của bạn. Chẳng ai biết bạn đã phải chiến đấu thế nào để không trả đũa một người làm tổn thương mình. Chẳng ai biết bạn đã nhiều lần muốn bỏ cuộc nhưng vẫn trung thành với gia đình. Chẳng ai biết mỗi tối bạn vẫn âm thầm cầu nguyện cho một đứa con đang xa Chúa. Chẳng ai biết bạn đã phải can đảm thế nào để rời bỏ một mối quan hệ sai trái, một nguồn lợi bất chính, một thói quen tội lỗi. Nhưng Cha biết. Và nhiều khi chính những bước chân âm thầm ấy lại là tiếng “xin vâng” đẹp nhất.
Chúng ta cũng đừng vội thất vọng về một người chỉ vì hôm nay họ đang nói “không” với Thiên Chúa. Tin Mừng hôm nay cho ta một lý do rất lớn để hy vọng. Người đang chống đối hôm nay có thể trở thành người phục vụ ngày mai. Người đang sống trong tội hôm nay có thể trở thành một chứng nhân lớn của lòng thương xót. Người đang xa Giáo Hội hôm nay có thể một ngày trở về với nước mắt. Một người con có thể nói “không” nhưng câu chuyện chưa kết thúc. Vì thế, thay vì lên án, hãy cầu nguyện. Thay vì đóng cánh cửa, hãy để một lối trở về. Thiên Chúa vẫn có những con đường mà ta không thấy. Ân sủng vẫn có thể hoạt động trong những nơi ta tưởng đã khô cằn nhất.
Và có lẽ người chúng ta cần ngừng phán xét trước tiên chính là bản thân mình. Có những người mang mặc cảm rất lâu vì những lỗi lầm cũ. Họ nghĩ rằng vì đã từng nói “không” với Chúa quá nhiều nên mình không còn xứng đáng nữa. Nhưng người con thứ nhất của Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta: đừng để một chữ “không” của hôm qua cướp mất chữ “vâng” của hôm nay. Thiên Chúa không bị giam trong quá khứ của chúng ta. Người vẫn đến và gọi: “Con ơi, hôm nay hãy đi.” Chữ “con” đứng trước mệnh lệnh. Trước khi sai ta vào vườn nho, Người gọi ta là con. Ta không làm việc để trở thành con của Chúa; ta đi làm vườn nho vì ta đã là con. Chính tình yêu đi trước bổn phận. Chính tương quan đi trước công việc. Khi hiểu điều đó, việc thi hành ý Chúa không còn chỉ là một gánh nặng nhưng trở thành lời đáp của tình yêu.
Có lẽ tối nay, trước khi ngủ, mỗi người có thể hỏi mình một câu rất đơn sơ: hôm nay tôi đã thưa “vâng” với Chúa bằng điều gì? Không phải bằng lời kinh tôi đã đọc, nhưng bằng lựa chọn tôi đã sống. Không phải bằng điều tôi hứa, nhưng bằng bước chân tôi đã đi. Và nếu câu trả lời khiến ta buồn, cũng đừng tuyệt vọng. Hãy nhớ người con thứ nhất. Chỉ cần quay lại. Chỉ cần bước đi. Chỉ cần bắt đầu. Thiên Chúa không cần ta giải thích quá nhiều về những lần ta đã từ chối Người. Người chỉ chờ nhìn thấy ta đang trở về phía vườn nho.
Lạy Chúa, đã bao lần con thưa “vâng” với Chúa trong nhà thờ nhưng lại thưa “không” bằng đời sống. Con nói yêu Chúa nhưng không yêu người bên cạnh. Con xin Chúa tha thứ nhưng lại không chịu tha thứ. Con xin Chúa thay đổi cuộc đời con nhưng lại giữ rất chặt những điều con không muốn bỏ. Xin cho con đừng hài lòng với một đức tin chỉ nằm trên môi miệng. Xin cho lời “Amen” con thưa mỗi ngày trở thành một đời sống biết vâng phục. Và cả khi con yếu đuối nói “không”, xin đừng để con nằm mãi trong chữ “không” ấy. Xin ban cho con ân sủng để biết hối hận, đứng dậy và bước đi. Bởi sau cùng, điều Chúa tìm kiếm không phải là một con người chưa từng vấp ngã, nhưng là một người con luôn biết đường trở về. Và có lẽ lời “xin vâng” đẹp nhất đời người không phải là lời được nói trong một phút xúc động, mà là lời được viết bằng từng bước chân trung thành cho đến cuối cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR

ĐIỀU THIÊN CHÚA CẦN KHÔNG PHẢI LÀ MỘT LỜI “VÂNG” ĐẸP, NHƯNG LÀ MỘT CUỘC ĐỜI BIẾT QUAY VỀ
Có những lời “vâng” nghe rất đẹp nhưng cuối cùng chẳng dẫn đến đâu, và cũng có những tiếng “không” làm người khác đau lòng nhưng rồi sau đó lại được sửa lại bằng cả một cuộc đời âm thầm trở về. Dụ ngôn hai người con mà Chúa Giêsu kể hôm nay ngắn thôi, nhưng như một tấm gương đặt trước mặt mỗi người chúng ta. Người cha nói với người con thứ nhất: “Con hãy đi làm vườn nho hôm nay.” Anh trả lời thẳng thừng: “Con không muốn.” Nhưng sau đó anh hối hận và đi. Người cha cũng nói như thế với người con thứ hai. Người này đáp rất ngoan ngoãn: “Thưa cha, con đây!” nhưng rồi lại chẳng đi. Chúa Giêsu hỏi: ai trong hai người đã làm theo ý cha? Câu trả lời quá rõ: người thứ nhất. Nhưng điều đáng sợ là câu chuyện ấy không chỉ nói về hai người con của một gia đình xa xưa; câu chuyện ấy đang nói về chính tôi, về chính đời sống đạo của tôi, về khoảng cách có khi rất lớn giữa điều tôi nói với Chúa và điều tôi thực sự sống.
Chúng ta rất dễ trở thành người con thứ hai. Trước mặt Chúa, chúng ta nói rất nhiều lời đẹp. Trong Thánh lễ chúng ta thưa “Amen”. Trong kinh nguyện chúng ta xin “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Khi nghe Lời Chúa, chúng ta có thể xúc động. Khi nghe một bài giảng hay, chúng ta có thể thấy lòng mình nóng lên. Khi đứng trước một biến cố đau buồn, ta có thể hứa với Chúa rằng từ nay con sẽ thay đổi, con sẽ sống tốt hơn, con sẽ bỏ tính nóng nảy, con sẽ thôi nói xấu, con sẽ tha thứ, con sẽ cầu nguyện nhiều hơn, con sẽ dành thời gian cho gia đình, con sẽ sống bác ái hơn. Có khi những lời ấy hoàn toàn chân thành vào giây phút chúng ta nói. Nhưng rồi vài ngày sau, mọi thứ lại trở về như cũ. Lời “vâng” vẫn nằm nguyên trên môi, còn đôi chân thì không bước vào vườn nho. Chúng ta vẫn đọc kinh nhưng không chịu thay đổi. Vẫn đi lễ nhưng không chịu tha thứ. Vẫn rước lễ nhưng trong lòng giữ mãi một mối hận. Vẫn nói về tình yêu nhưng trong nhà lại làm nhau đau. Vẫn nói về lòng thương xót nhưng lại khắt khe với lỗi lầm của người khác. Vẫn nói về khiêm nhường nhưng chỉ cần ai chạm đến tự ái là lập tức nổi giận. Vẫn xin Chúa “cho con biết ý Chúa” nhưng thật ra chỉ mong Chúa chấp nhận ý mình.
Tin Mừng hôm nay làm chúng ta phải tự hỏi một câu rất khó: đời sống Kitô hữu của tôi đang được xây bằng những lời nói về Chúa hay bằng những lựa chọn thực sự vì Chúa? Người ta có thể thuộc rất nhiều kinh mà lòng vẫn xa Chúa. Người ta có thể biết rất nhiều giáo lý mà chưa chắc đã biết yêu thương. Người ta có thể đứng rất gần bàn thờ mà trái tim lại rất xa Tin Mừng. Người ta có thể mang một danh xưng đạo đức, một chức vụ trong giáo xứ, một vai trò trong cộng đoàn, nhưng những điều ấy tự nó không bảo đảm rằng người ấy đang thi hành ý Cha. Chúa không bị chinh phục bởi những hình thức bên ngoài. Chúa nhìn vào sự thật của trái tim và hoa trái của đời sống. Một lời “Amen” chỉ thật sự có ý nghĩa khi sau đó tôi bước ra khỏi nhà thờ và tiếp tục nói “Amen” bằng cách sống của mình: Amen khi phải nhịn một lời cay độc; Amen khi phải xin lỗi trước; Amen khi phải tha thứ cho một người làm mình tổn thương; Amen khi phải hy sinh quyền lợi riêng vì người khác; Amen khi phải trung thực dù có thể chịu thiệt; Amen khi phải từ bỏ một thói quen xấu mà mình đã nuôi dưỡng quá lâu; Amen khi không ai nhìn thấy mà tôi vẫn chọn điều tốt.
Nhưng dụ ngôn hôm nay không chỉ cảnh tỉnh. Nó còn mở ra một niềm hy vọng rất lớn. Người con thứ nhất đã nói “không”. Anh không đẹp ngay từ đầu. Anh chống lại cha. Anh từ chối. Nhưng câu chuyện không kết thúc ở chữ “không” ấy. Có một khoảnh khắc nào đó, anh suy nghĩ lại. Anh hối hận. Và rồi anh đứng dậy đi vào vườn nho. Đó là vẻ đẹp của Tin Mừng: quá khứ của một người không nhất thiết quyết định tương lai của người ấy. Ta đã từng nói “không” với Chúa không có nghĩa là ta phải nói “không” suốt đời. Ta đã từng bỏ Chúa không có nghĩa là Chúa bỏ ta. Ta đã từng phạm những lỗi rất nặng không có nghĩa cánh cửa Nước Trời đã đóng. Ta đã từng sống ích kỷ, nóng nảy, ham mê tiền bạc, buông thả, kiêu ngạo, gian dối, bất trung, nguội lạnh… nhưng hôm nay ta vẫn có thể đứng dậy. Điều quan trọng không phải là tôi đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần ngã tôi có còn muốn quay về với Cha hay không.
Có những người mang một quá khứ rất đẹp nhưng hiện tại lại đang xa Chúa. Và cũng có những người mang một quá khứ đầy vết thương nhưng hiện tại đang từng ngày trở lại. Đừng vội tự hào vì ngày hôm qua mình từng tốt. Cũng đừng tuyệt vọng vì ngày hôm qua mình từng xấu. Thiên Chúa gặp chúng ta trong chữ “hôm nay”. “Con hãy đi làm vườn nho hôm nay.” Không phải hôm qua. Không phải khi nào thuận tiện. Không phải lúc tôi già hơn. Không phải sau khi công việc ổn định. Không phải lúc gia đình hết khó khăn. Không phải khi tâm hồn tôi đã hoàn hảo. Nhưng là hôm nay. Hôm nay tôi có thể bắt đầu lại. Hôm nay tôi có thể gọi cho người mà tôi đã giận quá lâu. Hôm nay tôi có thể trở lại với bí tích Hòa Giải. Hôm nay tôi có thể dành mười phút thật sự cho Chúa thay vì hàng giờ trôi qua trên điện thoại. Hôm nay tôi có thể ngừng một câu chuyện nói xấu. Hôm nay tôi có thể ôm lấy người thân mà lâu nay tôi chỉ biết trách móc. Hôm nay tôi có thể làm một việc tốt mà không cần ai biết. Hôm nay tôi có thể nói với Chúa: “Con đã chống lại Cha đủ lâu rồi. Bây giờ con muốn trở về.”
Điều làm chúng ta phải giật mình hơn nữa là lời Chúa Giêsu nói với những người đạo đức đương thời: những người thu thuế và những người bị xã hội coi là tội lỗi lại đi vào Nước Thiên Chúa trước họ. Đây không phải là lời ca ngợi tội lỗi. Chúa không nói rằng sống sai là tốt. Điều Chúa muốn nói là có những người biết mình sai nên còn có khả năng hoán cải, trong khi có những người quá tin rằng mình đúng nên không còn cảm thấy cần thay đổi nữa. Người bệnh biết mình bệnh thì còn tìm thầy thuốc; người bệnh mà cứ khẳng định mình hoàn toàn khỏe mạnh mới là người nguy hiểm. Tội lỗi đáng sợ, nhưng đôi khi đáng sợ hơn cả tội lỗi là sự tự mãn thiêng liêng: nghĩ rằng mình không cần hoán cải nữa.
Có lẽ một trong những cám dỗ tinh vi nhất của người sống đạo lâu năm là nhìn Lời Chúa như lời dành cho người khác. Nghe bài Tin Mừng về người Pharisiêu, ta lập tức nghĩ đến một người Pharisiêu nào đó ngoài kia. Nghe về người giàu ích kỷ, ta nghĩ đến người giàu. Nghe về kẻ giả hình, ta nhớ ngay một người mình không thích. Nghe về sự tha thứ, ta nghĩ người kia cần phải nghe bài này. Nhưng Chúa không trao Tin Mừng cho tôi để tôi dùng nó như chiếc kính soi lỗi người khác. Chúa trao Tin Mừng như một tấm gương để tôi nhìn chính mình. Trước khi hỏi: “Ai là người con thứ hai quanh tôi?”, hãy hỏi: “Có bao nhiêu phần của người con thứ hai đang sống trong tôi?”
Tôi có thể rất dễ dàng xét đoán một người không đi lễ, nhưng liệu đời sống của tôi sau khi đi lễ có làm người ấy nhìn thấy vẻ đẹp của Chúa không? Tôi có thể trách người trẻ xa nhà thờ, nhưng liệu cách sống của những người trong nhà thờ có khiến họ muốn trở lại không? Tôi có thể đau vì con cháu nguội lạnh, nhưng liệu trong gia đình tôi, chúng đã nhìn thấy một đức tin đem lại bình an, lòng thương xót và niềm vui, hay chỉ nhìn thấy những lời trách móc nhân danh đạo đức? Đôi khi người ta không từ chối Chúa; người ta chỉ chưa nhận ra Chúa qua cách chúng ta sống. Và vì thế, cách loan báo Tin Mừng mạnh nhất vẫn không phải là nói thật nhiều về Chúa, nhưng là để người khác gặp được một chút dịu dàng của Chúa khi họ gặp chúng ta.
Người con thứ nhất làm một điều rất quan trọng: anh đổi ý. Hoán cải trong Kitô giáo chính là dám để Chúa thay đổi hướng đi của đời mình. Không phải chỉ khóc vì lỗi lầm. Không phải chỉ cảm thấy áy náy. Không phải chỉ nói “con xin lỗi Chúa”. Hoán cải thật luôn có một bước chân cụ thể. Dakêu không chỉ xúc động khi gặp Chúa Giêsu; ông thay đổi cách sử dụng tiền bạc. Phêrô không chỉ khóc sau khi chối Thầy; ông trở lại và trao cả đời mình cho sứ mạng. Phaolô không chỉ nhận ra mình sai trên đường Đamát; ông đổi cả hướng đời. Người con trong dụ ngôn không chỉ hối hận; anh đi làm vườn nho. Nước mắt hoán cải rất quý, nhưng nếu sau nước mắt mọi thứ vẫn y nguyên thì cuộc hoán cải chưa hoàn tất.
Vườn nho của mỗi người nằm ngay trong đời thường. Vườn nho của người cha, người mẹ là gia đình của mình. Vườn nho của người trẻ là việc học, công việc, các tương quan và những chọn lựa âm thầm mỗi ngày. Vườn nho của người sống đời thánh hiến là cộng đoàn và sứ mạng được trao. Vườn nho của linh mục là đoàn chiên Chúa đặt bên mình. Vườn nho của một người đau yếu có thể là chính chiếc giường bệnh, nơi họ kết hợp đau khổ với Thập Giá Đức Kitô. Vườn nho không nhất thiết là nơi có ánh đèn sân khấu. Phần lớn vườn nho của Thiên Chúa là những nơi rất bình thường: căn bếp, văn phòng, lớp học, bệnh viện, xưởng máy, cánh đồng, căn phòng nhỏ, bàn ăn gia đình. Chính ở những nơi ấy, Chúa hỏi tôi: “Con có đi làm vườn nho cho Cha hôm nay không?”
Nhiều khi ta muốn làm điều lớn lao cho Chúa nhưng lại bỏ qua những điều rất nhỏ mà Chúa đang mong. Ta muốn đi xa để giúp người nghèo nhưng lại không chịu dịu dàng với người sống cùng nhà. Ta muốn làm việc tông đồ nhưng lại không chịu sửa tính nóng nảy. Ta muốn cứu cả thế giới nhưng lại không chịu rửa một cái chén khi người thân mệt. Ta muốn nói những lời rất hay về bác ái nhưng lại không chịu nghe một người già kể đi kể lại câu chuyện của họ. Ta muốn người khác biết mình tốt nhưng lại quên rằng Thiên Chúa thấy cả những điều chẳng ai thấy. Vườn nho của Cha thường bắt đầu từ những việc rất nhỏ, rất kín đáo, rất âm thầm. Một ly nước. Một cuộc điện thoại. Một lời xin lỗi. Một bữa cơm. Một sự nhường nhịn. Một giờ cầu nguyện. Một lần giữ im lặng thay vì đáp trả. Một đồng tiền chia sẻ. Một bàn tay nắm lấy bàn tay khác. Những điều nhỏ bé ấy, nếu được làm vì yêu, lại có thể trở thành những lời “vâng” đẹp nhất dâng lên Thiên Chúa.
Và Tin Mừng hôm nay cũng dạy ta đừng đóng khung bất cứ ai trong quá khứ của họ. Người hôm qua nói “không” có thể ngày mai trở thành người đi làm vườn nho tích cực nhất. Người đang sống xa Chúa hôm nay có thể một ngày nào đó trở thành người yêu Chúa tha thiết. Người đang làm ta thất vọng chưa phải là chương cuối cùng của câu chuyện. Cha trên trời vẫn đang làm việc trong những vùng sâu kín mà chúng ta không nhìn thấy. Có những cuộc hoán cải cần nhiều năm. Có những hạt giống nằm rất lâu trong lòng đất trước khi nảy mầm. Vì thế, thay vì quá nhanh chóng kết án một người, hãy cầu nguyện cho họ. Thay vì nói “người ấy hết thuốc chữa rồi”, hãy nhớ rằng Chúa chưa bao giờ hết hy vọng về bất kỳ người con nào của Người.
Và rồi cuối cùng, thay vì hỏi “tôi giống người con nào?”, có lẽ ta nên hỏi sâu hơn: hôm nay tôi sẽ trả lời người Cha thế nào? Bởi cuộc đời Kitô hữu không được quyết định chỉ bởi những gì tôi đã làm trong quá khứ, nhưng còn bởi cách tôi đáp lại tiếng Chúa hôm nay. Có thể hôm qua tôi đã từ chối. Có thể tôi đã sống rất xa. Có thể tôi đã khiến Chúa buồn nhiều lần. Nhưng Cha vẫn đứng đó. Người không đến để chì chiết tôi về những chữ “không” của ngày cũ. Người lại nhẹ nhàng nói: “Con ơi, hôm nay hãy vào làm vườn nho cho Cha.” Một lời mời mới. Một cơ hội mới. Một ngày mới.
Xin đừng để cuộc đời chúng ta chỉ đầy những lời hứa đẹp với Chúa mà thiếu những bước chân. Xin đừng để đức tin chỉ nằm trên môi mà chưa chạm đến trái tim, đôi tay, túi tiền, các tương quan và những quyết định mỗi ngày. Và nếu đã từng nói “không” với Chúa, đừng tuyệt vọng. Hãy làm như người con thứ nhất: suy nghĩ lại, đứng dậy và đi. Có thể chúng ta đến muộn, nhưng miễn là còn trở về thì đường về nhà Cha vẫn mở. Có thể đôi chân đã lấm bụi, bàn tay đã đầy vết thương và cuộc đời có nhiều trang chẳng muốn ai đọc lại, nhưng Thiên Chúa không đòi chúng ta phải viết lại ngày hôm qua; Người chỉ mời chúng ta viết khác đi trang của hôm nay.
Lạy Chúa, có quá nhiều lần con đã nói với Chúa những lời rất đẹp mà đời sống con lại chẳng đẹp như lời con nói. Có những lần môi con thưa “xin vâng” nhưng lòng con vẫn giữ lấy ý riêng. Có những lần con xin Chúa tha thứ nhưng lại không chịu tha thứ cho người khác. Có những lần con cầu xin lòng thương xót nhưng lại xét đoán anh chị em mình rất khắt khe. Có những lần con đứng rất gần bàn thờ nhưng trái tim lại xa Chúa. Xin cho con đủ khiêm nhường để nhận ra sự thật ấy. Và nếu con đã từng nói “không” với Chúa, xin đừng để con nằm mãi trong chữ “không” của quá khứ. Xin đánh thức trong con lòng thống hối, cho con đủ can đảm đứng dậy, bước vào vườn nho và bắt đầu lại. Xin cho lời “Amen” con thưa mỗi ngày không chỉ vang lên trong nhà thờ, nhưng tiếp tục vang lên trong cách con yêu thương, tha thứ, phục vụ, hy sinh và sống tử tế với mọi người. Để một ngày kia, khi cuộc đời khép lại, điều còn lại không phải là con đã nói với Chúa bao nhiêu lời đẹp, nhưng là con đã thực sự bước theo Chúa và thi hành ý Cha bằng cả cuộc đời mình.
Lm. Anmai, CSsR