XIN GIỮ LẠI MỘT CHÚT XÓT THƯƠNG TRƯỚC NỖI ĐAU CỦA MỘT CON NGƯỜI Lm. Anmai, CSsR

3

XIN GIỮ LẠI MỘT CHÚT XÓT THƯƠNG TRƯỚC NỖI ĐAU CỦA MỘT CON NGƯỜI Lm. Anmai, CSsR

Có những tin buồn khiến người ta đặt chiếc điện thoại xuống, ngồi yên một lúc và thấy lòng mình chùng lại. Chưa hẳn vì quen biết người vừa qua đời. Cũng chưa hẳn vì hiểu hết hoàn cảnh của họ. Chỉ vì ta nhận ra một điều rất gần: người ấy vừa còn sống, vừa còn nói, vừa còn ở giữa những người thân thuộc, vậy mà bây giờ đã đi xa. Sự sống mong manh đến mức một cuộc chia tay có thể xảy đến khi chưa ai kịp nghĩ rằng mình cần nói lời từ biệt. Trước một cái chết như thế, phản ứng đầu tiên của một trái tim còn biết yêu thường rất đơn sơ: thương người đã mất, thương những người ở lại, và lặng đi trước phần đời mà mình không thể hiểu hết.

Ngày 17 tháng 10 năm 2026, cha Patricio Alfredo Sánchez Molinari, một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, qua đời sau khi bị cây thánh giá lớn rơi trúng trong lúc cử hành Thánh lễ tại Guayaquil, Ecuador. Một cộng đoàn đã mất người mục tử của mình trong biến cố đột ngột ấy. Nhưng khi đứng trước nỗi đau này, có lẽ chúng ta cần bắt đầu bằng việc nhớ rằng người vừa qua đời có một tên gọi, một đời sống, những tương quan và một phẩm giá cần được kính trọng. Một người không thể bị thu gọn vào cách người ấy chết. Cũng như một gia đình không thể bị thu gọn vào ngày tang lễ, một ơn gọi không thể bị thu gọn vào giây phút cuối cùng.

Chúng ta thường muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Đó là nhu cầu dễ hiểu. Khi một biến cố quá bất ngờ xuất hiện, trí óc tìm nguyên nhân để bớt hoang mang. Nhưng giữa việc tìm hiểu và việc tò mò có một ranh giới cần được giữ gìn. Tìm hiểu để biết phải cầu nguyện cho ai, phải nâng đỡ ai, phải sửa chữa điều gì, khác với tìm xem cho bằng được khoảnh khắc một người ngã xuống. Một bên đưa ta đến gần trách nhiệm; bên kia có thể khiến ta quen dần với việc nhìn nỗi đau như một cảnh tượng. Có khi ta tưởng mình đang quan tâm, nhưng điều ta tìm kiếm chỉ là một chi tiết gây sửng sốt hơn chi tiết trước đó.

Một con người đã đi qua bao nhiêu năm tháng trước khi xuất hiện trong vài giây hình ảnh mà người khác nhìn thấy? Ta không biết. Ta không biết hết những người đã được họ an ủi, những lần họ âm thầm chịu đựng, những điều họ đã cố gắng sửa trong chính mình. Ta cũng không biết những yếu đuối mà họ phải mang theo trong đời. Vì thế, sự kính trọng dành cho người đã chết không đòi ta phải dựng lên một chân dung hoàn hảo. Nó chỉ đòi ta thừa nhận giới hạn của mình: ta biết quá ít để có quyền nói như thể mình đã hiểu trọn một đời người.

Trong đời sống thường ngày, mỗi người chúng ta đều mong được người khác nhìn nhận rộng hơn một sai lầm, một lời nói vụng, một lần thất bại. Ta muốn người thân nhớ cả những lần mình đã cố gắng. Ta muốn khi mình mệt mỏi, người khác hiểu rằng sự cáu gắt lúc ấy chưa nói hết con người mình. Ta muốn được xét trong cả một cuộc đời, với hoàn cảnh, giới hạn và những điều chưa kịp giải thích. Người đã khuất cũng xứng đáng nhận sự công bằng ấy. Họ không còn khả năng tự trình bày. Chính vì vậy, lương tâm của người còn sống càng phải cẩn trọng hơn.

Có những lời người ta dễ dàng viết ra vì không nhìn thấy người phải chịu chúng. Một câu bình luận có thể được gõ trong lúc uống cà phê, trong một phút chờ xe, hoặc giữa một cuộc chuyện trò vui. Người viết quên ngay sau đó. Nhưng người đọc có thể là người thân của nạn nhân, là một người vừa trải qua mất mát tương tự, là một đứa trẻ đang cố hiểu tại sao người lớn lại cười trước cái chết. Ta không kiểm soát được hết nơi lời nói mình sẽ đến. Bởi vậy, trước khi đòi quyền được nói bất cứ điều gì, có lẽ ta nên học trách nhiệm đối với điều mình sắp nói.

Sự hóm hỉnh có chỗ đứng đẹp trong cuộc sống. Nó giúp con người bớt căng thẳng, nhìn lại những thói quen cứng nhắc và cùng nhau vượt qua ngày khó khăn. Nhưng tiếng cười trở nên tàn nhẫn khi cần một người đang đau làm cái giá cho sự vui vẻ của mình. Có những câu nói nghe có vẻ thông minh, song phía sau chẳng có gì ngoài sự thiếu thương xót. Có những người muốn chứng tỏ mình không dễ xúc động, đến mức tưởng lạnh lùng là dấu hiệu của hiểu biết. Thật ra, hiểu biết càng nhiều về thân phận con người, ta càng có lý do để nói nhỏ lại.

Chỉ cần đã từng ngồi chờ trước cửa phòng cấp cứu, người ta sẽ hiểu một tin nhắn ngắn có thể làm tim mình thắt lại thế nào. Chỉ cần đã từng nghe tiếng chuông điện thoại giữa đêm khi nhà có người bệnh, ta sẽ hiểu sự lo sợ có thể đến trước cả khi cuộc gọi được trả lời. Chỉ cần đã từng trở về một căn nhà thiếu mất tiếng nói quen thuộc, ta sẽ hiểu vì sao người chịu tang đôi khi bật khóc trước một vật rất nhỏ. Nỗi đau thường không nằm ở những gì người ngoài thấy lớn lao. Nó nằm trong thói quen chưa kịp đổi: vẫn định gọi một số điện thoại, vẫn muốn kể một chuyện vừa xảy ra, rồi chợt nhớ người ấy không còn nghe mình nữa.

Khi nghĩ đến người ở lại, chúng ta cần chừa cho họ quyền được đau theo nhịp riêng. Có người khóc nhiều. Có người gần như câm lặng. Có người lo liệu mọi việc rất bình tĩnh rồi chỉ gục xuống sau khi đám đông đã ra về. Đừng vội đo tình thương bằng nước mắt nhìn thấy được. Cũng đừng bắt người ta phải nói những lời đạo đức thật tròn trịa ngay giữa lúc lòng họ tan nát. Một người tin Chúa vẫn có thể bàng hoàng. Một người thường khuyên người khác phó thác vẫn có thể không biết phải cầu nguyện thế nào khi mất người mình yêu.

Đức tin không tước bỏ nước mắt của con người. Người có đức tin vẫn trải qua nỗi trống vắng của một chỗ ngồi không còn ai, một bữa cơm thiếu người, một công việc trước đây luôn có ai đó đảm nhận. Có những buổi sáng họ thức dậy, trong khoảnh khắc còn ngái ngủ, tưởng mọi chuyện vẫn như trước. Rồi ký ức trở lại, và họ phải nhận mất mát ấy thêm một lần nữa. Nếu chưa đi qua điều đó, ta nên dè dặt với những lời khuyên quá nhanh. Một câu nói đúng vẫn có thể được nói vào lúc khiến người khác đau hơn.

Chẳng hạn, khi nghe tin một người qua đời, ta có thể muốn an ủi rằng họ đã hết khổ, rằng mọi chuyện đều có ý nghĩa, rằng người ở lại cần mạnh mẽ. Ý hướng có thể tốt. Nhưng nếu những lời ấy được dùng để ngăn tiếng khóc, để kết thúc một cuộc trò chuyện khó chịu, hoặc để giữ cho chính ta khỏi phải ở lâu bên nỗi đau, thì người chịu tang vẫn cô độc. Họ cần biết mình được phép nhắc tên người đã mất. Họ cần một người đủ kiên nhẫn nghe cùng một kỷ niệm nhiều lần. Đôi khi, điều có ích nhất là nhận làm một việc cụ thể và có mặt đúng giờ đã hẹn.

Chúng ta có thể tưởng tượng một gia đình vừa có tang. Sau những ngày đông người lui tới, căn nhà dần yên. Hoa bắt đầu héo. Những lời chia buồn thưa lại. Người thân trở về công việc, còn người chịu mất mát vẫn phải sống với sự vắng mặt ấy mỗi ngày. Chính lúc đó, một bữa ăn được mang đến, một cuộc gọi chân thành, một lần ghé thăm không vội vã có thể nâng đỡ họ rất nhiều. Thương xót cần đi qua thời điểm người khác đã hết chú ý. Nếu chỉ có mặt khi biến cố còn làm mọi người xúc động, tình thương của ta dễ dừng lại trước đoạn khó nhất của tang chế.

Đối với một cộng đoàn đức tin, sự ra đi của một linh mục cũng đặt ra những khoảng trống như vậy. Lịch phụng vụ rồi sẽ được sắp xếp. Công việc rồi sẽ có người tiếp nhận. Nhưng tương quan giữa người mục tử và cộng đoàn không thể thay thế ngay bằng một quyết định hành chính. Người ta cần thời gian để quen một giọng đọc khác, một cách hiện diện khác, một người khác đứng nơi trước đây vẫn thấy khuôn mặt quen. Điều ấy không có nghĩa cộng đoàn từ chối người đến sau. Nó chỉ cho thấy ký ức và tình cảm có nhịp đi riêng, cần được tôn trọng.

Và với anh em trong đời sống thánh hiến, cái chết của một người còn chạm đến những điều rất bình thường của đời chung. Một căn phòng phải mở ra để thu xếp. Một phần việc cần chia lại. Một cái tên vẫn được nhắc theo thói quen trong lúc bàn chuyện. Những điều nhỏ ấy khiến sự mất mát trở nên thật. Chúng nhắc rằng đời tu được sống giữa những con người bằng xương bằng thịt, cần nhau, đôi khi làm nhau mệt, rồi vẫn cùng trở về bàn ăn và giờ kinh. Khi một người ra đi, ta có thể nhận ra điều mình từng thấy phiền cũng thuộc về một sự hiện diện đáng quý.

Bởi thế, tưởng nhớ người đã khuất cũng là một lời nhắc đối với cách ta sống với người còn ở bên. Có những sự tử tế ta cứ để dành. Ta nghĩ sẽ có lúc nói lời cảm ơn. Sẽ có ngày xin lỗi. Sẽ có dịp ngồi lại với nhau khi công việc bớt đi. Nhưng công việc thường không tự nhiên bớt đi, và những điều chưa giải quyết dễ trở thành một thói quen xa cách. Cái chết làm ta đau vì sự chia lìa; đôi khi nó còn làm ta đau vì những điều mình đã có thể làm mà không làm. Nỗi tiếc ấy không phải lúc nào cũng sửa được.

Tuy nhiên, chúng ta không nên lấy sự mong manh của đời người để dọa nhau sống tốt. Sợ hãi có thể khiến người ta thay đổi một thời gian, rồi lại mệt mỏi hoặc trốn tránh. Điều cần được đánh thức là lòng biết quý. Quý một người đang hiện diện nghĩa là chịu nghe họ trọn câu, chú ý khi họ bất thường im lặng, giữ lời đã hứa, và không dùng sự thân thuộc làm cớ đối xử cẩu thả. Những việc ấy không gây ấn tượng lớn. Nhưng chúng làm nên một mái nhà dễ sống, một cộng đoàn có chỗ cho con người thật, một Giáo Hội mà người đang yếu có thể tìm đến.

Trước một tai nạn đau lòng, người có đức tin còn có thể bị giằng co bởi câu hỏi: tại sao điều này xảy ra với một người đang cầu nguyện, đang phụng sự? Câu hỏi ấy cần được tiếp nhận nghiêm túc. Không nên khiến người đang hỏi cảm thấy mình có tội chỉ vì họ không hiểu. Khi đau quá, con người hỏi bằng cả thân xác mệt mỏi, bằng ký ức và tình yêu của mình. Có khi lời hỏi nghe như phản kháng, nhưng sâu bên trong vẫn là một sự tìm kiếm: nếu Thiên Chúa yêu thương, con phải bám vào đâu trong lúc này?

Chúng ta cần đủ khiêm nhường để nói rằng mình không biết hết. Không biết tại sao một sự sống kết thúc vào thời điểm ấy. Không biết tại sao lời cầu xin rất tha thiết lại không đem đến điều người cầu xin mong mỏi. Sự thiếu hiểu biết ấy làm ta khó chịu, vì ai cũng muốn có một lời giải thích giúp mọi chuyện yên ổn. Nhưng một lời giải thích được dựng lên quá dễ dàng có thể làm tổn thương người đang chịu nạn và làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa. Ta không có quyền nhân danh Người để nói chắc những điều Người không trao cho mình biết.

Đặc biệt, không ai nên lấy một tai nạn làm bằng chứng để kết án đời sống luân lý của nạn nhân. Cách suy nghĩ ấy đẩy người đã chết vào một phiên tòa họ không thể tự bào chữa, đồng thời gieo sợ hãi nơi người sống. Nếu đau khổ tự nó chứng minh một người bị Thiên Chúa ruồng bỏ, thì người bệnh nặng sẽ phải vừa chống chọi bệnh tật vừa gánh sự nghi ngờ về phẩm giá của mình. Người mất con sẽ phải chịu thêm những câu hỏi độc ác về điều họ đã làm sai. Một cộng đoàn đức tin không thể trở thành nơi chất thêm gánh nặng như thế.

Chúng ta có thể mời nhau xét mình trước sự mong manh của đời sống. Nhưng xét mình là quay về nhìn trách nhiệm của chính mình. Nó khác với việc đứng bên ngoài, chỉ vào người gặp nạn và suy đoán những lỗi kín của họ. Khi một cái chết xảy ra, điều ta có thể hỏi là mình đã sống ra sao, đã yêu thương thế nào, còn điều gì cần sửa. Nếu mọi biến cố chỉ trở thành dịp tìm tội của người khác, thì ngay cả điều đau thương nhất cũng không giúp lòng ta hoán cải.

Mầu nhiệm thập giá đòi hỏi chúng ta bước vào với sự kính cẩn ấy. Người Kitô hữu tôn kính thập giá vì tình yêu của Đức Kitô được bày tỏ trong cuộc tự hiến của Người. Chúng ta không tôn thờ sự đau đớn như một điều tự nó đáng ước ao. Cũng không có lý do để biến tai nạn thành một thứ vẻ đẹp khiến nỗi thống khổ cụ thể bị che khuất. Đứng trước thập giá, người tín hữu được học cách yêu trong hoàn cảnh đau thương, học sự trung tín và niềm hy vọng. Điều ấy luôn đi cùng việc chăm sóc sự sống, chữa lành thương tích và chống lại những gì làm con người bị hủy hoại.

Một người đang đau không cần chúng ta giải thích rằng nỗi đau của họ thật đẹp. Họ cần thuốc nếu đang bệnh, cần được bảo vệ nếu đang bị đe dọa, cần người đồng hành nếu đang kiệt sức. Sau đó, trong sự tự do và theo thời gian của mình, họ có thể khám phá những điều sâu xa qua kinh nghiệm ấy. Không ai nên áp đặt ý nghĩa lên vết thương của người khác để mình bớt bối rối. Lòng đạo đức có thể trở nên thiếu nhân hậu khi nó nói nhiều về giá trị của đau khổ nhưng quá ít quan tâm đến người đang chịu khổ.

Tôn kính điều thánh còn phải thể hiện bằng trách nhiệm đối với những gì được trao cho mình chăm sóc. Một nhà thờ là nơi cầu nguyện, đồng thời là nơi có trẻ nhỏ, người già, ca viên, người phục vụ và cộng đoàn lui tới. Việc bảo trì, kiểm tra những vật treo cao, sửa hệ thống điện, giữ lối đi an toàn là những công việc âm thầm nhưng rất cần thiết. Cầu nguyện cho người khác được bình an đi cùng việc làm cho không gian họ bước vào được an toàn hơn. Đức tin trưởng thành giúp ta nhận trách nhiệm ấy cách nghiêm túc.

Nói như thế không có nghĩa vội quy kết nguyên nhân hay trách nhiệm trong một trường hợp cụ thể khi chưa có đủ thông tin. Việc xác minh cần người có chuyên môn, cần chứng cứ và sự công bằng. Nhưng về phần mình, mỗi cộng đoàn đều có thể kiểm tra những gì đang được giao coi sóc. Một việc sửa chữa từng bị hoãn có thể cần được thực hiện. Một nguy cơ đã được nhắc đến có thể cần được lắng nghe. Sự cẩn trọng hôm nay là một cách yêu thương những người sẽ đến ngày mai, trong đó có những người ta chưa từng gặp.

Cũng cần nhận ra rằng người làm công việc phục vụ thường dễ bị nhìn như thể họ luôn có đủ sức. Linh mục phải bình tĩnh. Tu sĩ phải quảng đại. Người phụ trách phải biết giải quyết. Cha mẹ phải gánh được. Nhưng phía sau vai trò là một con người có giới hạn. Họ có thể mệt, có thể cần nghỉ, có thể cần người khác hỏi thăm mà không kèm một yêu cầu mới. Nếu chỉ khi một người ngã bệnh hoặc qua đời ta mới kể rằng họ đã làm việc quá nhiều, thì lời biết ơn của ta đến muộn. Sự quý trọng cần được diễn tả khi họ còn có thể nhận sự nâng đỡ ấy.

Trong một cộng đoàn, có thể bắt đầu bằng việc rất nhỏ: hỏi người đang làm nhiều công việc xem có phần nào mình chia sẻ được; đừng mặc nhiên coi sự sẵn lòng của họ là một nguồn lực vô hạn; để họ được nói rằng hôm nay mình không đủ sức. Một người phục vụ cũng cần được phục vụ. Một người thường nghe chuyện buồn cũng cần có nơi đặt xuống nỗi buồn của mình. Đời sống huynh đệ sẽ nghèo đi nếu ta chỉ quý những gì một người làm được mà ít chú ý đến tình trạng của chính người ấy.

Sự thương xót còn đòi chúng ta thay đổi cách tiếp nhận tin tức. Khi đọc một tin buồn, ta có thể dừng lại đủ lâu để nhận ra mình đang đứng trước một đời sống. Không cần phải bày tỏ công khai về mọi biến cố. Không cần phải có một lời bình luận thật đặc sắc. Có những lúc cầu nguyện thầm, không chuyển tiếp hình ảnh đau đớn, hoặc nhắc người khác giữ sự tôn trọng đã là một lựa chọn có ý nghĩa. Người ta dễ đánh giá thấp những việc không ai nhìn thấy, nhưng chính các lựa chọn kín đáo ấy gìn giữ lương tâm.

Nếu cần chia sẻ thông tin, ta nên nghĩ đến người sẽ nhận. Nội dung ấy giúp họ biết điều cần biết, hay chỉ khiến họ hoảng sợ? Hình ảnh ấy có cần thiết không? Người thân của nạn nhân sẽ cảm thấy thế nào nếu gặp lại nó ngoài ý muốn? Những câu hỏi này không làm việc truyền thông trở nên yếu đi. Chúng buộc người chia sẻ nhớ rằng mình đang giao tiếp với con người. Sự chính xác và lòng trắc ẩn có thể cùng hiện diện trong một bản tin. Việc tôn trọng phẩm giá không ngăn ta nói sự thật; nó giúp ta chọn cách nói xứng đáng với sự thật ấy.

Đối với người thường viết bài suy niệm, giảng dạy hay hướng dẫn cộng đoàn, trách nhiệm còn tế nhị hơn. Một biến cố đau thương rất dễ trở thành chất liệu để tạo cảm xúc. Nhưng người chịu nạn không tồn tại nhằm cung cấp cho ta một bài học thật mạnh. Nếu nhắc đến họ, cần giữ lại sự khiêm tốn của người đứng trước một đời sống mà mình không sở hữu. Đừng thêm những lời cuối cùng chưa được xác minh, những suy nghĩ nội tâm mình không thể biết, hoặc những dấu chỉ được gán ghép cho câu chuyện thêm linh thiêng. Sự thật giản dị đã đủ sức lay động; nó không cần được trang điểm bằng điều không có thật.

Ta cũng nên dè dặt với việc vội biến người vừa qua đời thành một hình ảnh hoàn toàn xa khỏi thân phận con người. Lòng kính trọng không đòi xóa hết giới hạn của họ. Người đã dâng hiến cuộc đời vẫn có thể đã phải chiến đấu với nóng nảy, mỏi mệt, khô khan và nhiều điều chỉ Thiên Chúa biết. Chính vì thế, cộng đoàn cầu nguyện cho họ. Lời cầu nguyện ấy vừa chứa tình yêu, vừa thừa nhận rằng mọi người đều cần lòng thương xót. Ta có thể biết ơn những điều tốt lành họ đã làm mà không tự nhận quyền phán quyết trọn vẹn về đời sống của họ trước mặt Chúa.

Ở chiều ngược lại, cũng đừng dùng sự bất toàn phổ quát để làm nhẹ đi một cuộc đời phục vụ. Có người nghe một lời tưởng nhớ liền muốn nhắc rằng ai cũng có khuyết điểm, như thể lòng biết ơn là điều cần phải sửa ngay. Nhưng nói lời tốt đẹp có căn cứ về người đã khuất là một hành vi công bằng. Một người đã được nâng đỡ có quyền nhớ ơn. Một cộng đoàn có quyền thương người mục tử của mình. Sự tỉnh táo không đòi ta bóp nghẹt tình cảm, cũng như tình cảm không cho phép ta bịa thêm sự thật.

Điều đáng lo trong đời sống hôm nay là chúng ta có thể biết rất nhiều nỗi đau mà lại dành rất ít sự chú ý thật sự cho bất cứ nỗi đau nào. Tin này nối tiếp tin khác. Mỗi chuyện kéo lòng ta đi một đoạn ngắn rồi bị chuyện mới thay thế. Không phải ai cũng đủ sức mang mọi bi kịch vào lòng, và không ai bị đòi hỏi phải làm điều bất khả ấy. Nhưng ta vẫn có thể chọn một cách tiếp nhận có chừng mực. Khi đã thấy mình mệt hoặc chai đi, có lẽ cần đặt thiết bị xuống, trở lại với người đang ở gần, làm một việc tử tế cụ thể.

Lòng thương xót cần được nuôi bằng sự gần gũi với đời thật. Một người già chờ được nghe chuyện. Một bệnh nhân cần ai đưa đi khám. Một gia đình có tang cần người giúp việc giấy tờ. Một người bạn đã lâu không trả lời tin nhắn có thể cần được hỏi thăm bằng một cuộc gọi. Khi gặp những con người cụ thể ấy, ta học lại rằng đau khổ có thời gian, có thân xác, có những nhu cầu rất bình thường. Ta sẽ bớt dễ nói những câu nhẹ tênh về chuyện nặng trĩu trong đời người khác.

Giáo dục trẻ em và người trẻ về sự tôn trọng người đã chết cũng bắt đầu từ cách người lớn cư xử. Nếu trong gia đình, một tai nạn luôn được kể như chuyện gây kích thích, trẻ sẽ học sự tò mò ấy. Nếu người lớn cười cợt người xa lạ rồi lại đòi con cái phải nhân hậu, lời dạy sẽ thiếu sức thuyết phục. Ta có thể chỉ cho trẻ biết rằng khi gặp hình ảnh ai đó bị thương, điều cần làm là tìm sự giúp đỡ phù hợp, giữ sự kín đáo và tránh phát tán. Ta có thể cùng các em cầu nguyện một lời ngắn, rồi nói về phẩm giá của người đang gặp nạn bằng ngôn ngữ các em hiểu được.

Với người trưởng thành, bài học ấy đôi khi khó hơn vì phải từ bỏ một thói quen đã lâu. Có người quen châm biếm mọi chuyện để tránh cảm xúc. Có người sợ nếu để mình thương quá thì sẽ yếu đi. Có người đã chịu đau nhiều nên khép lòng, nghĩ rằng mình không nhận được sự dịu dàng thì cũng không cần dịu dàng với ai. Những vết thương ấy cần được nhìn nhận. Nhưng chúng không buộc ta phải sống mãi theo cách làm mình và người khác thêm cô độc. Ta có thể tập lại, bắt đầu từ một lần không nói câu ác đã định nói.

Sự thay đổi lương tâm thường diễn ra lặng lẽ như thế. Một lời bình luận được xóa trước khi gửi. Một câu chuyện riêng tư được giữ kín. Một người bị đem ra giễu được ta nhắc đến bằng tên và sự tôn trọng. Một cuộc tranh luận được dừng lại vì nhận ra người đối diện đang đau. Những lựa chọn này không khiến ta lập tức thành người hiền lành hoàn toàn. Nhưng chúng mở ra một lối sống khác: sống có ý thức về hậu quả mà sự hiện diện của mình tạo nên cho người khác.

Trong đời sống đức tin, chúng ta có thể cầu xin ơn biết động lòng. Lời xin ấy không nhằm tìm một cảm giác dễ chịu. Có lòng trắc ẩn đôi khi rất mệt, vì ta không thể quay đi nhẹ nhàng như trước. Ta sẽ nhận ra một nhu cầu mình có thể đáp ứng, một sự bất công mình cần lên tiếng, một người mình không nên tiếp tục bỏ quên. Lòng thương xót đưa ta vào công việc. Nó có thể lấy đi một phần tiện nghi, thời gian và sự yên ổn của ta. Nhưng cũng chính nhờ đó, tình yêu trở nên thật.

Thử nghĩ đến một người đang sống cạnh ta mà lâu nay ta chỉ nhìn qua vai trò của họ. Người lo bếp núc trong cộng đoàn. Người dọn nhà thờ. Người giữ xe. Người chăm bệnh nhân. Người vẫn kiên nhẫn nghe chuyện gia đình. Nếu người ấy đột ngột vắng mặt, có thể ta mới nhận ra biết bao việc vẫn được làm mỗi ngày. Sự mất mát của người khác có thể đánh thức ta khỏi cách sống vô tâm này. Hôm nay còn gặp nhau, hãy hỏi thăm. Hôm nay còn nhận sự giúp đỡ, hãy biết ơn. Hôm nay còn có thể chia việc, hãy nhận lấy phần của mình.

Cũng có những người mà ta đang giữ trong lòng bằng một phán xét đã cũ. Họ từng nói một câu làm ta đau, từng làm một việc khiến ta thất vọng. Từ đó, ta kể về họ bằng đúng câu chuyện ấy, như thể họ không còn khả năng sống thêm điều gì khác. Một cái chết bất ngờ nhắc ta rằng con người luôn lớn hơn hồ sơ ta lưu giữ về họ. Điều này không xóa bỏ trách nhiệm đối với sai trái, cũng không bắt người bị tổn thương phải lập tức hòa giải. Nó chỉ mời ta chừa một khoảng cho sự thật chưa biết và cho khả năng hoán cải của nhau.

Khi chưa thể tha thứ hoàn toàn, ta vẫn có thể ngừng làm nhục. Khi chưa thể gặp lại, ta vẫn có thể không gieo thêm lời ác. Khi cần giữ khoảng cách để tự bảo vệ, ta vẫn có thể mong người kia được chữa lành và sống tốt hơn. Đó là những bước nhỏ nhưng có thật. Lòng thương xót không luôn bắt đầu bằng một cảm xúc ấm áp. Đôi khi nó bắt đầu từ một quyết định rất khó: tôi sẽ không dùng nỗi đau của mình làm giấy phép gây thêm đau khổ.

Trước cái chết, mọi tranh hơn thua thường ngày bỗng lộ ra giới hạn. Những điều từng khiến ta mất ngủ có thể vẫn cần giải quyết, nhưng ta thấy rõ hơn rằng con người không sống chỉ để giành phần đúng. Một gia đình có thể thắng một cuộc cãi vã rồi mất sự tin cậy trong nhiều năm. Một cộng đoàn có thể giữ được hình thức trật tự nhưng làm một thành viên không còn dám nói thật. Một người có thể bảo vệ danh tiếng của mình rất giỏi mà không còn ai cảm thấy an toàn khi ở gần. Sự mong manh của đời sống mời ta xem lại mình đang gìn giữ điều gì và đang để mất điều gì.

Đối với người linh mục, điều ấy cũng là một lời nhắc nghiêm túc. Có thể dành nhiều công sức cho bài giảng, chương trình, công trình và những việc cần thiết khác, nhưng người ta còn nhớ cách mình đã đối xử với họ. Một lần được nghe hết câu có thể ở lại trong ký ức lâu hơn một lời khuyên hay. Một cách giải quyết công bằng có thể giúp người yếu thế bớt sợ. Một lời xin lỗi thành thật có thể chữa lành điều mà nhiều bài giảng chưa chạm tới. Ơn gọi được sống trong những điều rất cụ thể ấy, giữa một ngày đầy việc và những con người đôi khi làm mình mệt.

Không ai thực hiện được tất cả điều tốt mình mong muốn. Đời sống nào cũng có phần dang dở. Sẽ còn những người chưa kịp thăm, những việc chưa xong, những lời chưa nói được như ý. Nhận giới hạn ấy giúp ta bớt kiêu căng và cũng bớt tuyệt vọng. Ta không được trao trách nhiệm cứu cả thế giới bằng sức riêng. Nhưng có một phần yêu thương nằm trong tầm tay hôm nay. Phần ấy có thể nhỏ đến mức không ai ghi nhận. Dẫu vậy, nó vẫn đáng làm, bởi người đang nhận nó là một con người thật.

Vì thế, khi nhớ một người đã qua đời trong hoàn cảnh đau thương, ta có thể trao cho họ một điều tốt hơn sự chú ý thoáng qua: một lời cầu nguyện chân thành và một thay đổi cụ thể trong đời mình. Nếu trước đây dễ buông lời cay nghiệt, hãy tập ngừng lại. Nếu lâu nay lơ là việc chăm sóc nơi mình có trách nhiệm, hãy bắt đầu kiểm tra và sửa chữa. Nếu đang trì hoãn một lời cảm ơn, hãy nói. Nếu có người chịu tang quanh mình, hãy hỏi họ cần giúp việc gì và giữ lời. Những việc ấy đưa ký ức về người đã mất vào sự sống đang tiếp tục.

Niềm hy vọng Kitô giáo cho phép ta phó thác người đã khuất vào lòng thương xót của Thiên Chúa mà vẫn nhận hết sự đau đớn của chia lìa. Ta có thể cầu nguyện với lòng tin và vẫn khóc. Có thể mong ngày gặp lại và vẫn thấy hôm nay rất trống. Có thể nói lời phó thác rồi ngày mai lại phải tập phó thác từ đầu. Thiên Chúa biết sự yếu đuối ấy. Chúng ta không cần trình diện trước Người bằng một dáng vẻ mạnh mẽ mà mình không có. Ta có thể đến với cả những lời lộn xộn, cả sự mệt mỏi, cả lúc chỉ còn đủ sức thưa một tiếng gọi.

Và khi cầu nguyện cho người khác, đừng quên xin cho những người đang phải tiếp tục sống sau biến cố. Xin cho họ có người nâng đỡ lâu dài. Xin cho giấc ngủ trở lại, cho bữa ăn không còn là một việc quá khó, cho ký ức dần bớt làm họ nghẹn lại. Xin cho họ được nghe tên người thân trong những câu chuyện tử tế. Xin cho cộng đoàn biết quan tâm sau khi những ngày đầu đã qua. Xin cho người đang sợ hãi tìm được nơi an toàn để kể điều mình đã chứng kiến, không bị thúc ép phải quên cho nhanh.

Chúng ta cũng cần cầu nguyện cho chính mình, vì chẳng ai có thể chắc rằng lòng mình luôn đủ mềm. Có lúc ta thương người ở xa nhưng khó chịu với người ở gần. Có lúc ta viết một lời chia buồn đẹp mà không đủ kiên nhẫn nghe người thân nói chuyện. Có lúc ta lên án sự vô cảm của người khác trong khi bỏ qua một người đang cần mình. Nhận ra những điều ấy không nhằm để tự ghét bỏ. Nó giúp lời suy tư trở về đúng chỗ: bắt đầu từ sự hoán cải của bản thân, rồi mới mong mình góp được điều tốt cho cộng đoàn.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết kính trọng sự sống khi sự sống còn ở bên, biết nói lời tử tế khi người khác còn nghe được, biết giúp đỡ khi sự giúp đỡ vẫn còn cần thiết. Xin đừng để chúng con dành tất cả sự dịu dàng cho những lời tưởng niệm mà lại quá khắt khe trong những ngày chung sống. Xin dạy chúng con chú ý đến người đang mệt, người ít được nhắc tới, người vẫn âm thầm làm phần việc của mình. Xin cho chúng con đủ chân thành để hỏi thăm và đủ kiên nhẫn để chờ một câu trả lời thật.

Lạy Chúa, chúng con xin phó thác linh hồn cha Patricio Alfredo Sánchez Molinari trong lòng thương xót của Chúa. Xin đón nhận những điều tốt lành trong đời dâng hiến của cha, tha thứ những thiếu sót của phận người và ban cho cha được nghỉ yên trong bình an của Chúa. Xin nâng đỡ thân nhân, anh em trong Dòng và cộng đoàn đang thương tiếc. Với những điều chúng con chưa hiểu, xin gìn giữ chúng con trong sự khiêm nhường. Với những việc chúng con có thể làm, xin đừng để chúng con tiếp tục trì hoãn.

Rồi sau lời cầu nguyện, xin giúp chúng con đứng dậy và trở về với người còn đang đợi mình. Có thể là một người trong gia đình, một người anh em cùng nhà, một bệnh nhân, một người đang buồn mà chưa biết nói cùng ai. Xin cho họ gặp nơi chúng con một chút kiên nhẫn hơn hôm qua. Để khi phải đi qua những ngày không có lời giải thích, họ vẫn biết rằng mình được ở bên. Để giữa một cuộc đời nhiều điều mong manh, sự hiện diện của chúng con làm ai đó bớt cô độc, và có thêm sức sống tiếp ngày hôm nay.

Lm. Anmai, CSsR