XIN NHỚ MỘT ĐỜI ĐÃ DÂNG, CHỨ ĐỪNG CHỈ NHỚ MỘT NGÀY ĐÃ MẤT Lm. Anmai, CSsR

4

XIN NHỚ MỘT ĐỜI ĐÃ DÂNG, CHỨ ĐỪNG CHỈ NHỚ MỘT NGÀY ĐÃ MẤT Lm. Anmai, CSsR

Có những tin buồn khiến người ta đang làm một việc rất bình thường cũng phải dừng tay. Bữa cơm còn đó, màn hình còn sáng, tiếng người chung quanh vẫn tiếp tục, nhưng lòng mình đã lặng đi. Một người vừa ra khỏi cuộc đời này. Một người mà sáng hôm ấy vẫn còn có mặt giữa anh em, vẫn còn những công việc chưa xong, những cuộc gặp đang chờ, những lời có lẽ chưa kịp nói. Cái chết bất ngờ làm chúng ta đau ở chính chỗ ấy: nó khép lại một đời người trong lúc những người thương họ vẫn nghĩ rằng còn nhiều ngày phía trước. Chúng ta thường chuẩn bị cho ngày mai bằng một sự tin tưởng gần như tự nhiên. Ngày mai sẽ gọi điện. Ngày mai sẽ đến thăm. Ngày mai sẽ hỏi thăm sức khỏe. Ngày mai sẽ ngồi lại nói với nhau cho hết chuyện. Rồi có một buổi chiều, ngày mai vẫn đến với chúng ta, nhưng người ấy không còn ở đó nữa.

Cha Patricio Sánchez Molinari, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, qua đời ngày 17 tháng 10 năm 2026 tại Guayaquil, Ecuador, hưởng dương 52 tuổi. Tai nạn xảy ra khi ngài đang cử hành Thánh lễ tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: một tượng chịu nạn trong cung thánh rơi xuống, gây nên cái chết của ngài. Chỉ hai ngày trước đó là kỷ niệm 21 năm ngài chịu chức linh mục, ngày 15 tháng 10 năm 2005. Những dữ kiện ấy khiến người nghe bàng hoàng, nhất là khi hình dung một cộng đoàn vừa cùng vị mục tử cầu nguyện nay phải đối diện với sự mất mát đột ngột ngay trong nơi mình vẫn đến để tìm bình an. Italiano

Nhưng sau phút bàng hoàng, chúng ta cần ở lại lâu hơn với tên của người đã mất. Patricio. Một con người, một người anh em, một linh mục. Nếu chỉ nhớ tai nạn, chúng ta sẽ để giây phút cuối cùng che khuất tất cả những năm tháng trước đó. Nếu chỉ nhìn vào điều đã xảy ra trong vài giây, chúng ta sẽ không còn đủ kiên nhẫn để nghĩ đến một đời đã được sống qua bao ngày bình thường. Mà phần lớn giá trị của một đời dâng hiến lại nằm trong những ngày bình thường ấy. Những ngày không có máy quay. Những ngày người ta chỉ làm công việc được trao, cầu nguyện khi lòng sốt sắng cũng như khi mệt mỏi, gặp gỡ người dễ thương cũng như người khó chịu, đi tiếp khi được nâng đỡ cũng như khi thấy mình không được hiểu. Đời người được làm nên từ đó. Ơn gọi cũng lớn lên từ đó.

Chúng ta biết rất rõ người ta có thể chia sẻ một tin buồn nhanh đến mức nào. Chỉ cần vài thao tác, một biến cố đã đi từ đất nước này sang đất nước khác. Nhưng tốc độ truyền tin không phải lúc nào cũng đi cùng khả năng cảm thông. Có khi một con người vừa qua đời đã bị biến thành một đoạn hình ảnh khiến người khác kinh hãi, một câu chuyện gây tranh cãi, một cái cớ để người ta chứng minh ý kiến riêng. Trong khi ấy, những người thân vẫn đang cố hiểu điều vừa xảy đến. Một người anh em trong cộng đoàn có thể còn nhìn về chỗ ngồi quen thuộc của người đã mất. Một giáo dân có thể vẫn giữ trong điện thoại số liên lạc mà từ nay gọi đến sẽ không còn nghe tiếng trả lời. Những điều đó không ồn ào. Nhưng đó là nơi nỗi đau thực sự đang ở.

Bởi vậy, sự kính trọng dành cho người đã khuất bắt đầu từ cách chúng ta nhắc đến họ. Hãy nhắc đến một con người với phẩm giá trọn vẹn của người ấy. Hãy để gia đình được khóc mà không phải chống đỡ thêm những suy diễn. Hãy để cộng đoàn được đau buồn mà không bị buộc phải trả lời ngay mọi câu hỏi của người ngoài. Hãy giữ cho ký ức về một linh mục có chỗ dành cho đời sống, cho ơn gọi, cho việc phục vụ, cho sự mong manh của thân phận con người. Người đã chết không thể lên tiếng xin chúng ta kể về mình cho công bằng. Chính vì thế, người còn sống càng có trách nhiệm khi cầm bút, khi nói, khi đăng tải, khi chuyển tiếp một điều gì.

Trước cái chết của một linh mục đang dâng lễ, lòng người dễ xuất hiện những câu hỏi rất đau. Tại sao lại xảy ra vào lúc ấy? Tại sao ở nơi ấy? Tại sao một người đang phục vụ Chúa lại không được gìn giữ khỏi tai nạn? Có người không dám nói thành lời vì sợ mình thiếu đức tin. Nhưng câu hỏi phát sinh từ đau khổ không tự nó là sự phản bội Thiên Chúa. Một người con đang khóc vẫn có thể gọi cha mình. Một người tin đang hoang mang vẫn có thể hướng về Chúa. Có khi lời cầu nguyện chân thật nhất trong một ngày tang tóc chỉ là: “Lạy Chúa, con không hiểu. Xin ở đây với con.” Lời ấy nghèo nàn về câu chữ, nhưng chứa cả một con người đang cố không buông tay.

Chúng ta không có quyền lấy sự chắc chắn của mình để lấp đầy điều mình chưa biết về mầu nhiệm Thiên Chúa. Càng không nên vội gán cho một tai nạn ý nghĩa trừng phạt, tuyển chọn hay một thông điệp bí mật nào đó. Làm như thế có thể khiến người đang đau phải gánh thêm một nỗi sợ: phải chăng người thân của mình đã bị Chúa bỏ rơi? Có những lời nói được thốt ra với ý định bênh vực Chúa, nhưng lại làm hình ảnh Thiên Chúa trở nên xa lạ với lòng thương xót. Có những lời an ủi quá nhanh khiến người nghe cảm thấy nước mắt của mình không có chỗ. Đứng trước đau thương, sự khiêm nhường cần thiết hơn một câu giải thích trọn vẹn. Chúng ta có thể thừa nhận rằng mình không biết, rồi ở lại bên nhau mà cầu nguyện.

Đức tin vào Chúa Kitô giúp chúng ta bước vào nỗi đau với một niềm cậy trông, nhưng niềm cậy trông ấy không buộc chúng ta phải giả vờ bình thản. Người có đức tin vẫn có thể mất ngủ sau một biến cố. Vẫn có thể giật mình khi nhớ lại. Vẫn có thể bước vào nhà thờ mà thấy lòng đau nhói. Tang chế có nhịp đi của nó. Nỗi buồn hôm nay có thể lắng xuống rồi trở lại vào một ngày khác, khi nghe một bài hát quen, nhìn thấy một chiếc áo lễ, hoặc đến ngày giỗ đầu. Đừng dùng lời đạo đức để đòi người khác phải lành lại cho kịp sự sốt ruột của chúng ta. Một cộng đoàn có lòng thương cần biết chờ người đau buồn, như người đi khỏe biết chậm bước vì người bên cạnh đang bị thương.

Trong những giờ đầu sau mất mát, có lẽ điều cần nhất không phải là một bài nói thật dài. Có thể chỉ là một người ngồi bên cạnh mà không liên tục hỏi han. Một bàn tay đưa ly nước. Một người âm thầm lo công việc để gia đình có thời gian chịu tang. Một người nhớ đến những giáo dân đã chứng kiến tai nạn và hiểu rằng họ cũng cần được chăm sóc. Có người sẽ kể đi kể lại cùng một điều; có người hoàn toàn im lặng. Cả hai đều có thể đang đau rất nhiều. Lòng bác ái đòi chúng ta nhìn từng người, thay vì đòi mọi người phải biểu lộ nỗi buồn theo một cách giống nhau. Khi biết tôn trọng nhịp thở của người đang đau, chúng ta đã bắt đầu làm một công việc rất gần với Tin Mừng.

Rồi trong thinh lặng ấy, chúng ta nghĩ đến đời linh mục. Ngày chịu chức thường được nhớ bằng những hình ảnh đẹp: đoàn rước, lời kinh, bàn tay đặt trên đầu, người mẹ khóc, người cha cố giữ vẻ bình tĩnh, những anh em đứng chung quanh. Nhưng ơn gọi không dừng ở ngày lễ ấy. Sau ngày đông người chúc mừng là rất nhiều buổi sáng phải tự mình thức dậy và tiếp tục sống điều đã hứa. Sau những bó hoa là lịch công việc, là bổn phận, là những giới hạn của chính mình. Một linh mục không thể sống mãi bằng cảm xúc của ngày đầu. Ngài cần học cách trung tín khi cảm xúc không còn nâng đỡ, cần để lời cam kết đi vào thời khóa biểu, vào cách dùng tiền, vào cách đối xử với người khác, vào những chọn lựa mà chỉ Thiên Chúa biết.

Điều đó khiến chúng ta hiểu hơn giá trị của một đời đã dâng. Dâng hiến không chỉ diễn ra trong những giây phút long trọng. Có khi nó mang hình dáng của một công việc được làm đến nơi đến chốn dù không ai để ý. Có khi là việc nén lại một lời nóng giận để người trước mặt không bị tổn thương. Có khi là chịu khó nghe một người nói chậm, nói dài, nói chưa rõ, vì hiểu rằng họ đã phải gom hết can đảm mới tìm đến. Có khi là quyết định xin lỗi, sửa một sai lầm, hoặc nhờ người khác giúp mình. Những điều ấy không tạo nên một hình ảnh phi thường. Chúng làm nên độ thật của đời sống. Một người có thể nói rất hay về tình yêu mà vẫn khiến người chung quanh thấy lạnh. Người dâng hiến được gọi để tình yêu có chỗ ở trong cách mình sống.

Chúng ta cũng cần nhớ linh mục là một con người có thân xác biết mệt. Đằng sau giọng nói trên bục giảng là một cổ họng có thể đau, một trái tim có thể lo, một đêm có thể không ngủ được. Đằng sau dáng vẻ quen thuộc trong nhà thờ là một người cũng cần được lắng nghe mà không bị đánh giá ngay, được nghỉ ngơi mà không thấy có lỗi, được chữa bệnh mà không phải trì hoãn mãi. Đôi khi cộng đoàn yêu linh mục bằng rất nhiều lời kính trọng, nhưng lại vô tình quên hỏi ngài có còn đủ sức hay không. Chúng ta quen nhận nơi vị mục tử đến mức không nhận ra người ấy cũng cần được chăm sóc. Một lời hỏi thăm chân thành khi người ta còn sống có giá trị mà những lời tiếc thương sau này không thể thay thế.

Đối với anh em cùng sống trong một cộng đoàn tu trì, điều ấy càng gần gũi. Người anh em ngồi cùng bàn với mình không thể chỉ được biết đến qua chức vụ hoặc phần việc. Anh ấy có thể đang mang một nỗi lo mà mình chưa từng hỏi. Có thể đang thấy lạc lõng giữa chính nơi được gọi là nhà. Có thể vẫn chu toàn mọi việc, vẫn mỉm cười, nhưng trong lòng đã kiệt sức. Sống chung lâu năm đôi khi khiến chúng ta tưởng rằng đã hiểu hết nhau, trong khi thực ra chỉ quen với thói quen của nhau. Biết một người uống cà phê lúc mấy giờ chưa có nghĩa là biết điều gì đang làm người ấy buồn. Nhận ra tiếng bước chân của một người chưa có nghĩa là đã nghe được lòng họ.

Một cái chết bất ngờ có thể làm cả cộng đoàn nhận ra những điều rất nhỏ đã bị bỏ quên. Một cuộc trò chuyện cứ hẹn lại. Một lời cám ơn chưa nói. Một bất hòa được giữ quá lâu vì ai cũng nghĩ còn thời gian. Chúng ta không nên để sự hối tiếc trở thành một cách tự hành hạ mình, bởi không ai có thể sống lại ngày hôm qua. Nhưng chúng ta có thể để nó dạy mình sống ngày hôm nay khác đi. Nếu còn một người anh em đang ở trong nhà, hãy đến với người ấy. Nếu có một hiểu lầm có thể tháo gỡ, hãy bắt đầu. Nếu đã lâu chưa cùng nhau ngồi xuống ngoài những cuộc họp công việc, hãy dành một buổi tối. Tình huynh đệ cần thời gian thực sự, chứ không thể chỉ tồn tại trong các lời chúc lễ.

Nghĩ đến cha Patricio trong tư cách một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, chúng ta được nhắc về một lựa chọn căn bản: trao đời mình cho Đức Kitô và để Người dẫn mình đến với con người. Một ơn gọi truyền giáo đòi đôi chân phải biết đi, nhưng trước hết trái tim phải chịu rời khỏi sự khép kín. Có những khoảng cách không nằm trên bản đồ. Khoảng cách giữa một người đang cần được tha thứ và một người chỉ muốn kết án. Khoảng cách giữa người nghèo đang trình bày nỗi khổ và người nghe đã vội kết luận rằng họ thiếu cố gắng. Khoảng cách giữa người trẻ đang bối rối và người lớn chỉ muốn họ ngoan ngay lập tức. Nhà truyền giáo có thể đến rất xa về địa lý mà vẫn chưa thật sự đến gần ai, nếu không chịu học cách lắng nghe.

Đi đến với người bị bỏ quên thường bắt đầu bằng việc nhận ra họ đang có mặt. Trong một giáo xứ đông người, vẫn có thể có những người đến rồi về suốt nhiều năm mà chẳng ai biết tên. Trong một buổi lễ trang trọng, vẫn có người ngồi phía cuối vì mặc cảm về hoàn cảnh gia đình. Trong một nhóm sinh hoạt vui vẻ, vẫn có người im lặng vì sợ mình nói không hay. Tình yêu mục tử cần có đôi mắt đủ chậm để nhìn thấy những người ấy. Sự bỏ rơi đôi khi không mang hình thức xua đuổi. Nó xảy ra khi một con người cứ ở đó mà không được ai chú ý, khi nỗi buồn của họ quá ít tiếng động nên không lọt vào chương trình làm việc của cộng đoàn.

Chúng ta không biết hết những cuộc gặp đã làm nên đời của một linh mục. Không ai có thể gom đầy đủ những điều được trao đổi trong các lần thăm viếng, những lời cầu nguyện trong thinh lặng, những cố gắng mà chính người thực hiện cũng đã quên. Điều này giúp chúng ta khiêm tốn khi nói về giá trị của một đời người. Thành quả thiêng liêng không phải lúc nào cũng hiện ra ngay. Một lời nói có thể phải nhiều năm mới được người nghe hiểu. Một sự kiên nhẫn có thể chỉ được nhận ra sau khi người đã kiên nhẫn không còn nữa. Có những hạt giống nằm rất lâu dưới đất. Người gieo không được thấy mùa gặt, nhưng việc gieo vẫn có ý nghĩa. Bởi vậy, chúng ta không nên đánh giá đời phục vụ chỉ bằng những gì đếm được.

Một công trình có thể được chụp ảnh. Một buổi lễ có thể thống kê số người tham dự. Nhưng làm sao đo được việc một người sau nhiều năm xa cách đã dám cầu nguyện trở lại? Làm sao tính hết giá trị của một gia đình chịu ngồi lại với nhau? Làm sao ghi vào báo cáo khoảnh khắc một người thôi tin rằng mình bị Thiên Chúa ghét bỏ? Những điều ấy ít gây chú ý, nhưng có thể thay đổi cả hướng đi của một đời người. Khi tưởng nhớ một linh mục, chúng ta nên dành lòng mình cho cả những hoa trái âm thầm mà ta không biết. Không cần bịa thêm những câu chuyện đẹp. Chỉ cần hiểu rằng điều được công bố về một con người bao giờ cũng ít hơn toàn bộ đời sống của họ trước mặt Chúa.

Vì cha Patricio qua đời khi đang cử hành Thánh lễ, nhiều người sẽ nhớ đến bàn thờ. Nhưng xin cho việc nhớ ấy dẫn chúng ta trở lại với ý nghĩa của Thánh Thể bằng một thái độ cầu nguyện. Thánh lễ là nơi Hội Thánh đón nhận tình yêu tự hiến của Chúa Kitô và được mời gọi đem tình yêu ấy vào đời sống. Khi rời nhà thờ, người tín hữu bước về cùng một căn nhà, cùng một công việc, cùng những con người đã làm mình vui hoặc buồn. Chính tại đó, điều đã cử hành cần được tiếp tục trong cách sống. Một người có thể quỳ rất lâu trước Chúa mà vẫn cần học lại cách nghe người thân. Một cộng đoàn có thể tổ chức phụng vụ rất chu đáo mà vẫn cần mở lòng với người yếu thế đang đứng bên ngoài.

Đối với linh mục, bàn thờ cũng là lời nhắc mỗi ngày về điều mình được gọi để trở thành. Được trao tác vụ không có nghĩa là đã hoàn tất việc hoán cải. Mỗi ngày vẫn cần trở về, vẫn cần đặt xuống sự tự ái, tham vọng, nỗi sợ bị coi thường, ham muốn kiểm soát người khác. Một người cử hành mầu nhiệm tình yêu cũng phải để tình yêu ấy xét lại cách mình dùng quyền. Có những điều rất nhỏ bộc lộ việc chúng ta đã để Chúa đi vào đời sống đến đâu: cách nói với người giúp việc, cách trả lời một người nghèo, cách nhận góp ý, cách ứng xử khi công việc không theo ý mình. Bàn thờ và đời thường gặp nhau ở những chỗ ấy. Nếu tách rời chúng, người mục tử sẽ dần kiệt sức vì phải duy trì một hình ảnh mà đời sống bên trong không còn đủ sức nâng đỡ.

Nhưng khi nói về những đòi hỏi ấy, chúng ta cần giữ lòng thương với cả người phục vụ. Không ai được chữa lành bằng việc bị đòi hỏi trở nên hoàn hảo ngay lập tức. Linh mục cũng cần được nâng dậy khi sa sút, được hướng dẫn khi lạc hướng, được giúp đỡ khi không còn nhìn rõ mình. Lòng thương xót trong cộng đoàn phải có đường đi hai chiều. Người mục tử chăm sóc đoàn chiên, và đoàn chiên cũng có thể góp phần giữ cho vị mục tử sống lành mạnh, trung thực, có khả năng tiếp tục phục vụ. Sự cộng tác trưởng thành giúp bớt đi những gánh nặng không cần thiết. Một giáo xứ biết chia sẻ trách nhiệm sẽ có thêm sức cho những điều thực sự cần bàn tay của linh mục.

Cái chết cũng đặt trước chúng ta một sự thật khó chấp nhận: không ai hoàn tất được mọi việc mình dự tính. Sẽ có công việc còn dang dở. Sẽ có người chưa gặp được. Sẽ có một dự án đang tiến hành phải trao lại cho người khác. Khi còn khỏe, chúng ta dễ nghĩ mình phải làm xong tất cả thì mới có thể yên tâm. Nhưng đời sống luôn lớn hơn khả năng của một cá nhân. Người đến trước đã nhận từ người khác; người ra đi cũng để lại cho người khác tiếp tục. Học trao việc, học tin người, học chuẩn bị cho cộng đoàn có thể sống vững vàng khi mình vắng mặt cũng là một phần của sự dâng hiến. Yêu một cộng đoàn không có nghĩa là khiến cộng đoàn ấy mãi cần mình trong mọi sự.

Điều này không làm tình thương giảm đi. Trái lại, nó giúp tình thương bớt chiếm hữu. Một người mục tử có thể vui khi thấy người khác trưởng thành, thấy một cộng sự làm tốt hơn mình ở một lĩnh vực, thấy một người trẻ dám nhận trách nhiệm. Người ấy hiểu rằng phần việc của mình là phục vụ sự sống được lớn lên. Nếu sau nhiều năm hiện diện, cộng đoàn có thêm khả năng yêu thương, phân định và nâng đỡ nhau, thì sự hiện diện ấy đã sinh hoa trái. Đến lúc phải chuyển đi, phải nghỉ vì bệnh, hoặc phải rời đời này, những điều tốt lành vẫn có thể tiếp tục. Trong cái đau của sự vắng mặt, đó là một niềm an ủi có thật.

Tuy nhiên, niềm an ủi ấy không xóa được nỗi nhớ rất cụ thể. Người ta vẫn nhớ giọng nói, nụ cười, một cách chào, một thói quen. Có khi chính những điều từng làm mình thấy quá quen lại trở thành điều mình thèm được gặp thêm một lần. Con người đau vì sự mất mát bằng những chi tiết nhỏ như vậy. Một chiếc ghế trống có thể khiến bữa ăn khác hẳn. Một tên người không còn được gọi trong lúc phân công công việc có thể khiến cả phòng im đi. Chúng ta cần cho phép những ký ức ấy được nói ra. Trong một cộng đoàn chịu tang, kể lại điều mình nhớ có thể là cách người sống trao cho nhau một phần nâng đỡ. Không phải mọi ký ức đều phải được công bố rộng rãi; có những điều chỉ cần được gìn giữ trong tình thân.

Và khi nhớ, xin đừng biến người đã khuất thành một con người không còn thuộc về thân phận nhân loại. Kính trọng một người không đòi chúng ta phải tưởng tượng rằng họ chưa từng yếu đuối. Đời dâng hiến vẫn là đời của một người cần ơn Chúa mỗi ngày. Chính vì tin vào lòng thương xót, chúng ta cầu nguyện cho người đã qua đời. Lời cầu ấy mang cả sự biết ơn lẫn sự phó thác: biết ơn vì điều tốt lành đã được trao, phó thác vì chỉ Thiên Chúa biết trọn vẹn lòng người. Chúng ta không cần đưa ra phán quyết cuối cùng về một linh hồn. Chúng ta có thể yêu mến, tưởng nhớ, cầu xin, và để người anh em của mình trong sự chăm sóc của Đấng đã gọi họ từ thuở ban đầu.

Thói quen cầu nguyện cho người đã khuất cũng cứu chúng ta khỏi việc chỉ sống bằng cảm xúc nhất thời. Hôm nay tin buồn còn mới, lòng người dễ xúc động. Rồi ít ngày nữa, những biến cố khác sẽ đến. Màn hình sẽ hiện những tin khác. Cuộc sống sẽ đòi sự chú ý trở lại. Nhưng gia đình và cộng đoàn của người đã mất vẫn phải sống với khoảng trống ấy. Vì thế, lòng thương cần có trí nhớ. Nhớ đến họ sau tang lễ. Nhớ hỏi thăm vào những thời điểm khó khăn. Nhớ cầu nguyện khi không còn ai nhắc. Có những sự hiện diện đến muộn nhưng rất quý: một cuộc gọi sau vài tuần, một lần ghé thăm vào ngày bình thường, một người không ngại nghe nỗi buồn đã được kể nhiều lần.

Nếu có điều gì cần được thay đổi sau một mất mát như thế, thì trước hết là cách chúng ta sống với người đang còn bên cạnh. Đừng đợi khi người ta không thể nghe nữa mới nói rằng mình biết ơn. Đừng để một người phải sống nhiều năm trong cảm giác không ai cần mình, rồi khi họ mất mới viết những lời rất đẹp. Trong gia đình, hãy nhìn cha mẹ đang già đi. Trong cộng đoàn, hãy nhìn người anh em ít nói. Trong giáo xứ, hãy nhìn người âm thầm mở cửa, dọn dẹp, chuẩn bị, phục vụ hết buổi này đến buổi khác. Họ cũng có những ngày mệt, có những chuyện buồn chưa được hỏi tới. Sự biết ơn được nói đúng lúc có thể giúp một người tiếp tục sống phần việc của mình với niềm vui.

Có một kiểu trì hoãn rất dễ được tha thứ cho đến khi quá muộn: trì hoãn yêu thương. Chúng ta có thể giải thích rằng mình bận, mình ngại, mình không quen biểu lộ tình cảm, mình nghĩ người kia đã hiểu. Những lời giải thích ấy đôi khi đúng, nhưng chúng không thể thay thế mãi một hành động. Người đang cô đơn cần một sự hiện diện cụ thể. Người đang bị hiểu lầm cần một lời bênh vực đúng lúc. Người đang gánh việc cần có người chia sẻ. Tình thương không phải lúc nào cũng cần câu chữ đẹp. Có khi nó chỉ cần được thực hiện trước khi cơ hội đi qua. Cái chết của người khác nhắc chúng ta điều ấy bằng một sự nghiêm khắc mà không bài giảng nào có thể làm nhẹ đi.

Sự mong manh của đời người cũng mời cộng đoàn chăm lo chu đáo hơn cho sự an toàn của nhau. Nhà thờ là nơi cầu nguyện, và cũng là nơi con người hiện diện bằng thân xác thật, với trẻ em, người già, người bệnh, người phục vụ. Giữ gìn nơi thờ phượng bao gồm cả việc quan tâm đến những điều có thể gây nguy hiểm, lắng nghe người có chuyên môn, xử lý điều cần sửa chữa khi đã nhận ra. Nói điều ấy không phải để suy đoán trách nhiệm trong một biến cố khi chưa biết đầy đủ sự việc. Đó là bổn phận bình thường của lòng yêu người. Chúng ta cầu xin Chúa gìn giữ nhau, đồng thời dùng khả năng Chúa ban để chăm sóc nhau bằng những việc có thể làm.

Sự quan tâm ấy cũng cần đi vào môi trường sống tinh thần. Có những nơi rất sạch, rất đẹp, rất ngăn nắp, nhưng một người yếu đuối lại không dám nói mình đang gặp khó khăn. Có những cộng đoàn tổ chức được nhiều việc, nhưng người kiệt sức không tìm được ai để thổ lộ. Nếu muốn bảo vệ sự sống, chúng ta phải chăm sóc cả những phần ít nhìn thấy. Cần có chỗ cho một lời thú nhận rằng “tôi đang mệt”, “tôi cần giúp”, “tôi không thể tiếp tục như thế này”. Khi một người nói được điều ấy mà không bị xem thường, cộng đoàn đã trở nên an toàn hơn cho họ. Lòng huynh đệ được đo phần nào bằng cách chúng ta đón nhận sự yếu đuối của nhau.

Trong ánh sáng đó, tưởng nhớ một người đã dâng đời cho Chúa có thể trở thành việc xét lại chính đời mình. Tôi đang trao thời gian cho điều gì? Tôi có đang làm tổn thương người gần nhất để giữ một hình ảnh tốt trước người xa? Tôi có đang giữ một bất hòa chỉ vì không muốn nhận mình cũng có phần sai? Tôi có còn cầu nguyện bằng sự thật của lòng mình, hay chỉ đọc những lời quen để hoàn tất bổn phận? Những câu hỏi ấy cần được đặt ra trong thinh lặng, với lòng can đảm vừa đủ để nhìn thấy mình và lòng cậy trông vừa đủ để không tuyệt vọng về mình. Chúng ta chưa thể sửa mọi điều trong một ngày. Nhưng có thể bắt đầu một việc thật.

Một người có thể bắt đầu bằng việc gọi về nhà. Một người khác cần xin lỗi người cộng sự. Có người cần đi khám bệnh vì đã trì hoãn quá lâu. Có người cần ngừng một thói quen đang làm tâm hồn mình chai cứng. Có người cần trở lại với bí tích Hòa giải sau nhiều tháng năm tránh né. Cũng có người cần thôi ôm hết công việc để có thể sống tử tế hơn với người chung quanh. Sự hoán cải có khuôn mặt cụ thể nơi mỗi người. Nếu một tin buồn chỉ khiến chúng ta xúc động rồi tiếp tục sống y hệt, thì nỗi xúc động ấy sẽ sớm tan. Nếu nó giúp chúng ta thực hiện một bước trở về, ký ức về người đã mất đã trở thành một lời mời có sức nâng đỡ sự sống.

Đối với người đang phân định ơn gọi, biến cố đau buồn có thể gợi lên nỗi sợ. Dâng mình cho Chúa có được bảo đảm bình an không? Đi theo Chúa có tránh được mất mát không? Không ai nên mời một người bước vào đời tu bằng những lời hứa về một cuộc sống miễn trừ khổ đau. Ơn gọi cần được đón nhận trong sự thật. Người tận hiến vẫn phải học, làm việc, chịu giới hạn, đối diện với bệnh tật, thất vọng và cái chết như mọi người. Điều giúp họ bước đi là mối tương quan với Đấng mình tin yêu và ý nghĩa của việc trao đời mình để phục vụ. Có niềm vui trong sự trao ban ấy, một niềm vui có thể hiện diện cùng với mệt mỏi, chứ không đợi mọi khó khăn biến mất mới có.

Đời dâng hiến vì vậy cần được kể bằng cả sự chân thật và lòng hy vọng. Đừng chỉ đưa ra những hình ảnh huy hoàng khiến người trẻ tưởng rằng người tu luôn mạnh mẽ. Cũng đừng chỉ kể những khó khăn khiến họ không còn nhận ra vẻ đẹp của việc thuộc về Chúa. Hãy để họ gặp những con người thật: biết cầu nguyện, biết làm việc, có thể sai và biết sửa, biết vui với anh em, biết nhận sự giúp đỡ, biết giữ lời đã hứa bằng những chọn lựa hằng ngày. Một ơn gọi như thế có sức thuyết phục vì người ta nhận ra ân sủng đang hoạt động trong một đời sống có thật. Thiên Chúa vẫn có thể làm điều tốt lành qua những con người mong manh.

Nghĩ đến người đã qua đời, có lẽ chúng ta cũng phải học cách chấp nhận rằng tình yêu không cho mình quyền giữ một người mãi mãi. Đây là bài học rất đau. Chúng ta muốn người mình thương còn ở đó, muốn có thêm một cuộc gặp, muốn được sửa lại một câu đã nói, muốn có một lời từ biệt. Nhưng nhiều cuộc chia tay không cho chúng ta sự chuẩn bị ấy. Đức tin giúp chúng ta đem cả điều chưa trọn vẹn đến với Chúa. Những lời chưa nói có thể trở thành lời cầu nguyện. Sự biết ơn chưa kịp bày tỏ có thể trở thành một việc tốt làm vì nhớ người đã mất. Nỗi ân hận có thể trở thành quyết tâm sống dịu dàng hơn. Quá khứ không được viết lại, nhưng tình yêu vẫn có thể tìm được một cách sống tiếp.

Niềm hy vọng phục sinh đưa tình yêu ấy vượt qua giới hạn của điều mắt mình thấy. Chúng ta chôn cất một người trong nước mắt và vẫn hướng lòng về Thiên Chúa, Đấng ban sự sống. Niềm hy vọng này không cho phép chúng ta coi nhẹ thân xác, coi nhẹ tai nạn hay coi nhẹ nỗi đau của người ở lại. Trái lại, vì tin con người được Chúa yêu, chúng ta càng kính trọng thân xác đã từng lao nhọc, càng nâng niu ký ức về người đã sống, càng muốn người đang chịu tang được chăm sóc. Lời cầu cho sự sống đời đời và việc đưa một bữa ăn đến cho gia đình tang quyến có thể cùng phát xuất từ một đức tin. Cầu nguyện và chăm sóc gặp nhau khi lòng thương trở nên thực tế.

Ở lại với thập giá trong những ngày này, chúng ta có thể xin được học lại cách nhìn Chúa Kitô. Người chịu đóng đinh bước vào đau khổ của nhân loại bằng chính thân mình. Vì thế, khi một người đang đau tìm đến Chúa, họ được phép mang theo tất cả sự đổ vỡ, không cần sửa soạn một tâm hồn có vẻ bình an rồi mới cầu nguyện. Có thể chỉ biết ngồi đó. Có thể chỉ biết khóc. Có thể không đọc hết một kinh. Sự nghèo khó ấy vẫn có thể được đặt trong tương quan với Chúa. Đức tin trưởng thành có chỗ cho cả những ngày ta không cảm thấy điều gì nâng đỡ mình, nhưng vẫn ở lại, như một người trong bóng tối còn giữ lấy bàn tay mình đã tin cậy.

Trong lời cầu nguyện ấy, chúng ta nhớ đến những người đang phải sống tiếp với một khoảng trống rất lớn. Xin cho gia đình cha Patricio gặp được sự gần gũi có lòng tế nhị. Xin cho anh em của ngài có thể nâng đỡ nhau bằng tình huynh đệ thật. Xin cho cộng đoàn đã mất vị mục tử được đủ thời gian để đau buồn và đủ người đồng hành để không phải đau buồn một mình. Xin cho những ai mang trong ký ức hình ảnh của tai nạn được chăm sóc và dần tìm lại sự bình an. Có những vết thương không thể thúc ép. Nhưng lòng thương kiên trì có thể giúp người bị thương biết rằng họ vẫn đang được giữ trong vòng tay của cộng đoàn.

Chúng ta cũng cầu nguyện cho những linh mục đang tiếp tục công việc hôm nay. Có người vừa tiễn một anh em rồi ngày mai vẫn phải giảng lễ, thăm bệnh, lo việc giáo xứ. Có người mang nỗi buồn mà không biết nói với ai vì nghĩ rằng mình phải nâng đỡ mọi người. Xin cho họ có được một nơi để chính mình cũng được nâng đỡ. Xin cho những người phục vụ Chúa biết giữ giờ cầu nguyện, giữ tình bạn lành mạnh, giữ sự trung thực với những giới hạn của bản thân. Xin cho họ đừng thấy xấu hổ khi cần được giúp. Một người mục tử được chăm sóc sẽ có thêm khả năng chăm sóc người khác bằng một trái tim bớt khô cạn.

Và xin cho người tín hữu biết yêu mến các linh mục bằng sự cộng tác trưởng thành. Kính trọng không đồng nghĩa với việc đòi một người phải luôn có mặt, luôn khỏe, luôn trả lời ngay, luôn đáp ứng mọi mong muốn của mình. Tình thương biết nhận phần trách nhiệm của mình trong cộng đoàn. Người có chuyên môn có thể góp chuyên môn. Người có thời gian có thể chia sẻ thời gian. Người biết một nhu cầu có thể trình bày rõ ràng và cùng tìm cách giải quyết. Khi mọi việc đều bị đẩy về một người, cộng đoàn sẽ dễ trở thành nơi tiêu hao sức lực. Khi mọi người cùng sống ơn gọi đã lãnh nhận, giáo xứ có thể trở thành nơi người ta được lớn lên trong đức tin và trong khả năng yêu thương.

Rồi sẽ đến lúc sự bàng hoàng ban đầu dịu lại. Người ta sẽ không còn nhắc tin ấy mỗi ngày. Nhưng xin cho tên cha Patricio vẫn được gọi trong lời cầu nguyện với sự trìu mến dành cho một người anh em. Xin cho ký ức về ngài không bị giữ mãi trong khoảnh khắc tai nạn. Chúng ta không thể lấy lại những ngày đã qua, nhưng có thể gìn giữ một cách nhớ xứng đáng: nhớ để biết ơn, nhớ để cầu nguyện, nhớ để chăm sóc người còn sống. Một đời người đáng được đón nhận bằng lòng kính trọng ấy. Nhất là một đời đã chọn trao mình cho Chúa, giữa những giới hạn rất người mà chỉ lòng thương xót mới biết đến tận cùng.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con đặt người anh em Patricio trong tình yêu của Chúa. Chúa biết đời ngài đầy đủ hơn mọi điều chúng con có thể nói. Chúa biết ngày đầu ngài nghe tiếng gọi, biết những quyết định đã đưa ngài đến đời dâng hiến, biết lòng ngài trong những lúc sốt sắng và cả những khi mệt mỏi. Xin đón nhận những điều tốt lành ngài đã cố gắng thực hiện. Xin thanh tẩy những gì còn thiếu sót. Xin tha thứ những yếu đuối của phận người và cho ngài được nghỉ yên trong lòng thương xót. Chúng con không có gì lớn hơn lòng thương xót ấy để cậy dựa, cho người đã khuất cũng như cho chính mình.

Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin ở gần những người đang khóc. Xin giúp chúng con biết hiện diện với nhau cách dịu dàng, biết nghe một nỗi buồn mà không vội cắt ngang bằng lời giải thích. Xin giúp những gia đình đang chịu tang có thể đi qua từng ngày, từng bữa ăn, từng đêm dài. Xin cho người yếu sức có người bên cạnh, người cô đơn có người tìm đến, người đang sợ có một bàn tay để nắm. Và xin dạy chúng con giữ lấy những cơ hội yêu thương còn được ban, vì nhiều điều tưởng có thể làm bất cứ lúc nào lại có thể trở thành điều không còn làm được nữa.

Lạy Chúa, sau khi cầu nguyện cho người đã ra đi, xin đưa chúng con trở về với những người còn đang sống trong nhà mình. Có thể hôm nay một người đang đợi chúng con hỏi thăm. Có thể một người cần nghe rằng họ được tha thứ. Có thể một người đã lâu không nhận được lời cám ơn. Xin cho chúng con đủ chú ý để nhận ra, đủ khiêm nhường để bước tới, đủ thành thật để nói một lời từ lòng mình. Ngày sống còn lại sẽ có ý nghĩa hơn nếu có một người nhờ chúng con mà bớt cô độc, một gánh nặng được chia sẻ, một vết thương được chăm sóc.

Xin cho chúng con nhớ cha Patricio trong lời cầu nguyện bình an. Và khi khép lại những dòng này, xin cho mỗi người có thể gọi tên một người đang còn ở bên mình, rồi thực hiện một việc yêu thương cụ thể ngay hôm nay. Bởi có những cuộc đời chỉ sau khi vắng đi, chúng con mới nhận ra đã nâng đỡ mình nhiều đến thế. Xin đừng để chúng con phải chờ đến một lần mất mát nữa mới biết quý sự hiện diện của nhau.

Lm. Anmai, CSsR