XIN GIỮ LẠI MỘT CHÚT KÍNH CẨN TRƯỚC NỖI ĐAU CON NGƯỜI Lm. Anmai, CSsR

2

XIN GIỮ LẠI MỘT CHÚT KÍNH CẨN TRƯỚC NỖI ĐAU CON NGƯỜI Lm. Anmai, CSsR
Có những lúc, điều một người đang đau khổ cần nhất là được yên ổn mà khóc. Họ chưa cần một lời giải thích về ý nghĩa cuộc đời, chưa đủ sức nghe những lý luận về số phận, càng không thể chịu thêm những câu nói vô tình từ những người đứng ngoài. Họ chỉ cần biết rằng người thân của mình được tôn trọng, rằng cái chết vừa xảy đến sẽ không bị đem ra đùa cợt, rằng trong khi gia đình còn chưa tin nổi một người đã ra đi, thiên hạ sẽ không vội vàng biến sự ra đi ấy thành chuyện mua vui. Một xã hội còn biết thương người phải giữ được điều rất căn bản đó: đứng trước mất mát của người khác, hãy biết hạ giọng.

Tin cha Patricio Alfredo Sánchez Molinari, một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, qua đời sau khi cây thánh giá lớn rơi xuống trong lúc ngài đang cử hành Thánh lễ tại Guayaquil, Ecuador, khiến người nghe bàng hoàng. Một cộng đoàn mất đi người mục tử trong hoàn cảnh đột ngột; những người hiện diện phải chứng kiến điều vượt quá sức chuẩn bị của mình. Chỉ riêng những điều ấy đã đủ để chúng ta dành cho người đã khuất và những người ở lại một sự kính cẩn. agensir.it

Nhưng kính cẩn là điều dễ bị bỏ quên khi một biến cố đi vào những cuộc bàn luận đông người. Ai cũng có thể nói, ai cũng có thể phán đoán, ai cũng có thể đặt vào đó sự tức giận, thành kiến hay óc tò mò của mình. Người đã mất thì im lặng. Gia đình và cộng đoàn có khi còn chưa tìm được lời để diễn tả nỗi đau. Sự chênh lệch ấy đòi chúng ta phải tự giữ mình. Không phải cứ có khả năng phát biểu là ta đã có đủ hiểu biết để nói; không phải cứ được quyền bình luận là mọi lời bình luận đều có ích.

Trước một cái chết đau thương, câu hỏi đầu tiên của người có lòng thương không nên là: “Tôi có thể nói gì cho thật sắc?” Câu hỏi nên là: “Lời tôi sắp nói sẽ chạm đến ai?” Có thể nó sẽ đến với một người vừa mất anh em. Có thể một giáo dân đang thương nhớ cha xứ sẽ đọc được. Có thể một người đã từng chịu tang trong hoàn cảnh tương tự sẽ thấy vết thương của mình bị khơi lại. Ta thường hình dung người đọc như một đám đông vô danh, trong khi thực tế, ở phía bên kia mỗi dòng chữ vẫn là những con người có ký ức, có những đêm mất ngủ, có những tên gọi mà chỉ cần nghe đến thôi là nước mắt đã trào ra.

Một câu nói đùa có thể được viết trong vài giây. Người bị nó làm tổn thương có thể nhớ rất lâu. Sự nhanh tay của người viết và sự chậm lành của người chịu đựng không bao giờ cân xứng. Bởi vậy, biết kiềm một lời đôi khi là một hành vi bác ái rất thật. Nó không có vẻ lớn lao, không đem lại lời khen, cũng chẳng ai nhìn thấy để ghi nhận. Nhưng có những nỗi đau đã được giữ khỏi một vết cắt mới chỉ vì một người chịu xóa câu mình vừa định đăng.

Chúng ta cần học lại lòng kính trọng đối với người đã qua đời. Lòng kính trọng ấy không đòi phải đồng ý với mọi điều người đó từng tin, từng nói hay từng làm. Người ngoài Công giáo vẫn có thể kính trọng một linh mục đã mất. Người không tin vào Thiên Chúa vẫn có thể chia sẻ nỗi đau của một gia đình có đạo. Người mang trong lòng những câu hỏi gay gắt về tôn giáo vẫn có thể hiểu rằng một tai nạn không cho phép mình xúc phạm nạn nhân. Có những khác biệt có thể tiếp tục được thảo luận vào lúc thích hợp; bên một mất mát còn mới, điều cần được ưu tiên là phẩm giá con người.

Đối với người Kitô hữu, sự đòi hỏi ấy còn đi xa hơn. Chúng ta nhận mình là môn đệ của Đấng đã chịu đóng đinh. Điều đó có nghĩa là chúng ta không được quen nhìn đau khổ từ chỗ đứng của người buông lời chế giễu. Trong cuộc thương khó của Đức Giêsu, đã có những người nhìn sự bất lực bên ngoài của Người như bằng chứng để phủ nhận Người. Họ thấy một người không tự cứu mình khỏi cái chết và tưởng rằng mình đã hiểu hết về người ấy. Cám dỗ đó vẫn còn: nhìn vào một hoàn cảnh bi thảm rồi cho rằng mình có quyền đưa ra phán quyết cuối cùng về cuộc đời, đức tin và giá trị của người đang chịu nạn.

Thập giá đặt trước chúng ta một cách nhìn khác. Nơi đó, người chịu đau khổ vẫn có phẩm giá ngay cả khi không còn sức tự bảo vệ. Người bị làm nhục vẫn đáng được yêu thương ngay cả khi đám đông không nhìn nhận. Sự yếu đuối của thân xác không xóa đi giá trị của một đời người. Chúng ta quỳ trước thập giá để học điều ấy, rồi mang điều đã học đến với những người đang bị bỏ mặc, bị xúc phạm, bị xét đoán trong cuộc sống hằng ngày. Nếu ra khỏi giờ cầu nguyện mà vẫn dễ dàng vui thú trước sự khốn cùng của người khác, chúng ta cần trở lại và cầu xin Chúa sửa đôi mắt mình.

Một tai nạn xảy ra trong nhà thờ cũng có thể làm đức tin của nhiều người chao đảo. Điều ấy cần được đón nhận bằng sự cảm thông. Người ta đã đến nơi cầu nguyện với lòng tin tưởng; họ không chờ đợi một biến cố đau đớn xảy đến ở đó. Người chứng kiến có thể sợ hãi khi trở lại chính không gian từng thân thuộc. Người chỉ nghe tin cũng có thể tự hỏi tại sao Thiên Chúa không gìn giữ người đang phục vụ Người. Đừng vội trách những người đặt câu hỏi như thế. Có những câu hỏi được sinh ra từ lòng yêu mến bị thương tổn, từ sự bất lực của con người trước mất mát, từ ước muốn tìm một chỗ tựa khi điều mình từng cho là vững chắc bỗng rung chuyển.

Chúng ta không giúp họ bằng cách đưa ra những câu trả lời quá dễ. Nói rằng cứ có đức tin là sẽ tránh được tai nạn sẽ làm người đau khổ thêm hoang mang khi tai nạn vẫn xảy ra. Nói rằng ai gặp điều dữ hẳn đã làm điều gì đáng bị trừng phạt là đặt một gánh nặng bất công lên người không thể tự biện hộ. Cũng không nên nhân danh lòng đạo đức để khẳng định mình biết chắc tại sao Thiên Chúa để một người chết vào thời điểm ấy, trong hoàn cảnh ấy. Có những điều chúng ta chưa biết. Sự thành thật trước giới hạn của mình giúp lời an ủi bớt trở thành một sự áp đặt.

Đức tin cho phép chúng ta đến với Thiên Chúa ngay cả khi chưa hiểu. Người có thể cầu nguyện bằng những lời đứt quãng, bằng một tiếng thở dài, bằng sự im lặng mà chính họ cũng không chịu nổi. Một người đang chịu tang không cần phải nói những lời thật đẹp để chứng tỏ mình tin. Họ có thể vừa tin vừa khóc, vừa phó thác vừa cảm thấy trống vắng. Lòng cậy trông không làm ký ức về người thân bớt quý, cũng không khiến sự chia lìa trở nên nhẹ tênh. Nó giúp người ta tiếp tục sống với niềm mong đợi rằng sự sống của người mình yêu không bị khép lại trong điều mắt mình đang thấy.

Bởi vậy, xin đừng dùng niềm tin vào đời sau để thúc người ở lại ngừng buồn. Câu “người ấy đã về với Chúa” được nói với lòng thương có thể nâng đỡ; nhưng nếu được dùng như một cách kết thúc vội câu chuyện, nó có thể khiến người chịu tang thấy mình không còn chỗ để khóc. Họ vẫn cần thời gian. Một chiếc ghế trống trong nhà, một số điện thoại không còn ai trả lời, một thói quen hằng ngày không còn người cùng chia sẻ — những điều ấy phải được đi qua bằng cả cuộc sống, chứ không chỉ bằng một lời giải thích.

Hãy thử hình dung một giáo dân quen nghe cha xứ giảng mỗi tuần. Người ấy có thể không nhớ hết những bài giảng, nhưng nhớ giọng nói, cách chào, cách vị linh mục đứng đợi bà con sau Thánh lễ. Khi người mục tử qua đời, nhà thờ vẫn còn, giờ lễ vẫn đến, cộng đoàn vẫn quy tụ, nhưng một sự hiện diện quen thuộc đã vắng đi. Nỗi buồn ấy đôi khi hiện ra vào những lúc rất nhỏ: khi nghe một giọng nói khác trên cung thánh, khi nhìn thấy một vật dụng vẫn đặt ở chỗ cũ, khi có chuyện muốn hỏi mà chợt nhớ người mình định tìm đã không còn. Tình thương thường đau ở những nơi bình thường như vậy.

Đời sống của một linh mục cũng không thể được hiểu trọn chỉ qua cách ngài qua đời. Trước giây phút cuối cùng là những năm tháng học tập, cầu nguyện, phục vụ, cố gắng sống điều mình đã khấn hứa. Với mỗi linh mục cụ thể, còn có những điều chỉ Thiên Chúa và những người thân cận biết rõ: những lần mệt mỏi, những lúc được nâng đỡ, những yếu đuối cần được tha thứ, những hy sinh không được kể ra. Chúng ta không cần dựng nên một hình ảnh hoàn hảo để cầu nguyện cho một người. Người đã khuất cần được trao phó cho lòng thương xót Chúa trong sự thật về toàn bộ cuộc đời mình.

Điều đó cũng giúp chúng ta biết yêu thương những linh mục còn đang sống. Đôi khi một cộng đoàn chỉ nhận ra mình quý cha xứ đến mức nào khi nghe tin ngài qua đời. Nhưng người đang sống cần sự nâng đỡ ngay hôm nay. Một lời góp ý có thiện chí, một sự cộng tác có trách nhiệm, một lần hỏi thăm sức khỏe, một cách cư xử bớt khắt khe có thể giúp người mục tử đi tiếp trong bình an hơn. Linh mục có ơn gọi riêng, đồng thời vẫn mang thân phận con người: có giới hạn, có bệnh tật, có những ngày tinh thần xuống thấp. Cầu nguyện cho linh mục bao gồm cả việc cư xử với ngài như một con người cần được thương.

Và chính người linh mục cũng được nhắc nhớ rằng những người đến với mình đều mang một đời sống sâu hơn điều đang hiện ra trước mắt. Người giáo dân nói năng khó chịu có thể đang kiệt sức vì chăm một người bệnh. Người trẻ vắng lễ có thể đang ở giữa một cuộc khủng hoảng mà chưa biết kể cùng ai. Người đàn bà thường khóc trong giờ kinh có thể đã phải giấu nước mắt suốt cả ngày ở nhà. Sự kiện đau thương của một người ở xa có thể giúp chúng ta dịu lại với những người rất gần. Đó là một hoa trái đáng quý: nỗi buồn không dừng ở xúc động, nhưng làm cách chúng ta đối xử với nhau trở nên tử tế hơn.

Có một hình thức thiếu lòng thương rất khó nhận ra, bởi nó thường mang dáng vẻ nhiệt thành. Đó là khi ta lập tức dùng tai họa của người khác làm bài học để trách người đang sống. Một người vừa mất, ta đã vội nói về tội lỗi của thời đại, sự suy đồi của thế giới, án phạt dành cho nơi này nơi khác. Những suy tư về sự chết và việc hoán cải có chỗ đứng của chúng, nhưng phải được nói với lòng khiêm nhường. Nạn nhân không phải một ví dụ có sẵn để người khác sử dụng theo ý mình. Trước khi suy nghĩ xem biến cố ấy dạy ai điều gì, ta hãy tự hỏi mình đã dành cho người đã khuất một lời cầu nguyện chưa.

Việc xét mình sẽ chân thật hơn nếu bắt đầu từ chính mình. Một cái chết bất ngờ nhắc tôi rằng thời gian không hoàn toàn thuộc quyền tôi. Tôi có thể lên kế hoạch, nhưng không thể bảo đảm sẽ thực hiện được tất cả. Tôi có thể trì hoãn một cuộc hòa giải, nhưng không thể chắc người tôi muốn gặp vẫn còn ở đó khi mình sẵn sàng. Tôi có thể định chăm sóc cha mẹ nhiều hơn vào một lúc thuận tiện, nhưng sức khỏe và tuổi già của các ngài không chờ lịch làm việc của tôi. Nhận ra điều ấy không nhằm gieo sợ hãi. Nó giúp ta đặt lại thứ tự những việc đáng làm.

Có những lời xin lỗi đã bị giữ lại chỉ vì lòng tự ái. Có những lời cảm ơn chúng ta nghĩ người kia tự hiểu nên chẳng bao giờ nói. Có những người trong nhà vẫn ngày ngày làm việc cho ta, chăm sóc ta, đợi ta, còn ta thì quen đến mức không nhìn thấy nữa. Khi một người xa lạ qua đời đột ngột, ta xúc động; nhưng người thân đang ngồi cạnh mình lại có thể tiếp tục bị bỏ quên. Sự xúc động chỉ thật sự sinh ích khi đưa ta trở về với trách nhiệm ấy. Hãy gọi cuộc điện thoại cần gọi. Hãy giải quyết điều có thể giải quyết. Hãy dành một buổi tối hiện diện trọn vẹn với gia đình, thay vì để mọi người cùng ngồi bên nhau mà mỗi người ở một thế giới.

Tưởng nhớ người đã khuất cũng có thể bắt đầu từ việc bớt tò mò về những giây phút cuối cùng của họ. Không phải mọi điều có thể xem đều cần được xem. Có những hình ảnh chỉ khiến người ta bị ám ảnh, làm tổn thương người thân, hoặc nuôi một thói quen tìm cảm giác mạnh trước bất hạnh. Chúng ta có thể biết một biến cố đã xảy ra mà không cần chứng kiến mọi chi tiết. Có thể cầu nguyện thành tâm mà không cần nhìn thấy cảnh đau đớn. Có thể chia sẻ một thông tin cần thiết bằng lời lẽ đoan trang, giữ cho người đã mất một khoảng riêng mà cái chết đáng được có.

Sự tò mò thường tự biện hộ rằng mình chỉ muốn biết sự thật. Nhưng sự thật về một con người rộng hơn rất nhiều so với một cảnh quay. Muốn tôn trọng sự thật, ta cần chấp nhận rằng có điều mình không có quyền biết, có điều biết thêm cũng không giúp ai, có điều việc lan truyền sẽ gây hại nhiều hơn lợi ích. Sự kín đáo không làm tình thương yếu đi. Trong nhiều hoàn cảnh, nó chính là cách tình thương tự giữ mình khỏi biến thành sự xâm phạm.

Điều ấy cũng áp dụng khi chúng ta nói về những người đang sống. Một người bị quay lại lúc nổi nóng không chỉ là cơn nóng giận đó. Một người bị đưa lên mạng vì một sai lầm vẫn còn gia đình, công việc, những mối tương quan và khả năng thay đổi. Việc chỉ ra điều sai có thể cần thiết; việc làm nhục người sai là một chuyện khác. Chúng ta cần đủ sáng suốt để không để cơn phẫn nộ dẫn mình đi quá xa, đến chỗ tưởng rằng cứ đứng về phía điều đúng thì có quyền đối xử tàn nhẫn với con người.

Người có đức tin càng phải cẩn thận khi bảo vệ điều mình cho là thánh thiêng. Nếu ai đó xúc phạm tôn giáo, ta có thể lên tiếng bằng lý lẽ rõ ràng, yêu cầu sự tôn trọng, phản đối những hành vi gây tổn thương. Nhưng khi lời đáp trả của mình đầy nguyền rủa và mong người kia gặp tai họa, ta cần dừng lại. Lòng đạo đức không thể được nuôi bằng sự hả hê trước đau khổ của người khác. Một lời bênh vực đức tin chỉ có sức thuyết phục khi cách nói của nó còn giữ được điều đức tin dạy về con người.

Có lẽ chúng ta nên tập một việc nhỏ: trước khi đăng một lời bình luận về một người, hãy thử đọc nó như thể người thân của họ đang ngồi trước mặt. Ta có còn nói nguyên câu ấy không? Ta có cần đổi giọng, bỏ một từ mỉa mai, thêm một sự dè dặt vì chưa biết rõ không? Bài tập đó không giải quyết được mọi vấn đề của đời sống truyền thông, nhưng giúp đưa con người trở lại gần. Khi người khác có khuôn mặt và có người yêu thương họ, ta thường bớt dễ dàng làm họ đau.

Cũng cần tập nhận trách nhiệm khi mình đã lỡ lời. Không phải cứ xóa bài là mọi tổn thương biến mất, nhưng xóa một điều gây hại vẫn tốt hơn cố giữ nó vì sĩ diện. Một lời xin lỗi thẳng thắn có thể bắt đầu rất đơn giản: tôi đã nói thiếu suy nghĩ; lời ấy không tôn trọng người đã mất và những người đang đau buồn. Đừng thêm ngay những lý do để giảm nhẹ mình, đừng trách người bị tổn thương quá nhạy cảm. Có những lúc phẩm giá của ta được giữ lại bằng việc nhận mình đã sai.

Trong cộng đoàn Kitô hữu, chúng ta có thể giúp nhau xây dựng một nếp sống có lòng thương hơn từ những việc rất cụ thể. Khi nghe một tin buồn, hãy kiểm tra trước khi phổ biến. Khi chia sẻ, hãy dùng lời vừa đủ. Khi gia đình xin được riêng tư, hãy tôn trọng. Nếu không có điều gì cần nói, có thể cầu nguyện trong thinh lặng. Khi biết một người đang chịu tang, hãy hỏi xem họ cần được giúp việc gì. Nồi cơm, chuyến xe, một công việc được làm thay, một lần ngồi cùng họ có thể đem lại sự nâng đỡ mà những lời dài không làm được.

Đừng để mọi quan tâm chỉ tập trung vào ngày tang lễ. Sau khi nghi thức đã xong và mọi người trở về, người ở lại mới bắt đầu đối diện với nhịp sống thiếu vắng. Có những cuộc gọi thưa dần, những lời thăm hỏi ngừng lại, trong khi nỗi buồn vẫn còn nguyên. Một cộng đoàn biết thương sẽ nhớ đến họ sau đó: trong ngày giỗ đầu, trong một mùa lễ, vào lúc họ phải tự mình làm công việc trước đây hai người cùng làm. Sự trung thành của tình thương thường được nhận ra ở những lần trở lại âm thầm như thế.

Với những ai đã chứng kiến trực tiếp một tai nạn, chúng ta càng cần kiên nhẫn. Họ có thể kể lại nhiều lần cùng một điều, hoặc hoàn toàn không muốn nhắc đến. Có người trở nên dễ giật mình, có người mất ngủ, có người thấy khó bước vào nơi xảy ra biến cố. Đừng ép họ phải mạnh mẽ theo một khuôn mẫu. Lời cầu nguyện, sự đồng hành của người thân và sự hỗ trợ phù hợp có thể cùng giúp họ đi qua những ngày khó khăn. Đức tin không đòi người bị thương phải phủ nhận điều mình đang trải qua.

Một trách nhiệm khác cũng không thể bỏ qua là chăm sóc sự an toàn trong những nơi cộng đoàn sử dụng. Sau một tai nạn, lòng thương thúc đẩy chúng ta tìm hiểu nguyên nhân bằng sự nghiêm túc, tôn trọng những gì đã được xác minh và không vội quy kết. Đồng thời, mỗi nơi có thể nhìn lại trách nhiệm của chính mình: những vật nặng được treo cao, hệ thống điện, lối thoát, các phần công trình đã xuống cấp, cách chuẩn bị khi có tình huống khẩn cấp. Việc kiểm tra cẩn thận ấy thuộc về bổn phận chăm sóc con người. Một nơi dành cho việc thờ phượng càng cần được gìn giữ bằng tinh thần trách nhiệm.

Đôi khi những công việc ấy có vẻ quá bình thường so với những lời suy niệm. Nhưng bảo vệ sự sống thường bắt đầu từ điều bình thường. Siết lại một chỗ lỏng, sửa một bậc thềm nguy hiểm, báo một dấu hiệu bất thường, dành kinh phí cho việc bảo trì — những việc ấy không tạo xúc động như một bài viết, nhưng có thể ngăn một gia đình phải chịu tang. Lòng tin tưởng nơi Chúa đi cùng sự tận tâm thực hiện điều con người có thể và phải làm. Chúng ta cầu xin được gìn giữ, đồng thời dùng trí khôn và khả năng đã nhận để gìn giữ nhau.

Khi ngước nhìn thập giá, người tín hữu được mời gọi nhớ đến tình yêu của Đức Kitô và sống theo tình yêu ấy. Vì thế, sự tôn kính dành cho biểu tượng thánh phải đi vào cách ta đối xử với thân xác, sự sống và phẩm giá của người khác. Ta không thể chăm chút một vật thánh mà thờ ơ với người đang kiệt sức vì phục vụ; không thể sốt sắng trước bàn thờ mà xem nhẹ những nguy cơ có thể gây hại cho cộng đoàn. Lòng đạo đức trưởng thành làm con người cẩn trọng hơn, biết lắng nghe hơn, sẵn sàng chịu phần trách nhiệm của mình hơn.

Sự chết cũng nhắc chúng ta về tính mong manh của quyền lực và tiếng tăm. Một người có thể được nhiều người biết đến nhưng vẫn hoàn toàn bất lực trước một giây phút cuối cùng. Những tranh cãi từng chiếm hết tâm trí rồi sẽ phải nhường chỗ cho những câu hỏi đơn sơ: tôi đã yêu thương ai, đã làm khổ ai, đã dùng thời gian mình nhận được như thế nào? Có những điều tưởng rất lớn khi ta đang tranh giành, nhưng trở nên nhỏ khi đứng trước một quan tài. Có những việc từng bị coi là vụn vặt — một lần tha thứ, một bữa cơm chung, một buổi thăm bệnh — lại hiện ra với giá trị mà trước đây ta không thấy.

Người biết nghĩ đến sự chết cách lành mạnh có thể sống hiền hơn. Họ hiểu mình không có vô hạn thời gian để sửa mọi vết thương đã gây ra. Họ cũng hiểu người khác không tồn tại chỉ để đáp ứng mong muốn của mình. Người bạn đời đang già đi, cha mẹ đang yếu hơn, con cái đang lớn rất nhanh, những người cùng cộng tác cũng mang những nỗi lo riêng. Nhớ đến giới hạn đời người giúp ta bớt hà khắc với những điều không đáng, để dành sức cho việc yêu thương cần thiết.

Điều đó không có nghĩa là tránh mọi bất đồng hoặc bỏ qua mọi sai trái. Có những sự thật phải được nói, có những hành vi phải được ngăn chặn, có những trách nhiệm phải được làm rõ. Nhưng sự công bằng cần đến một trái tim không thích thú khi người khác bị hạ nhục. Ta có thể yêu cầu trách nhiệm mà vẫn tôn trọng phẩm giá. Có thể phản đối mà không nguyền rủa. Có thể nói điều khó nghe bằng một giọng cho thấy mình mong người kia trở nên tốt hơn, chứ không mong họ bị tiêu diệt. Sự khác biệt ấy nằm sâu trong ý hướng, rồi sẽ bộc lộ qua từng từ ta chọn.

Đối với người đã qua đời, lời cầu nguyện là cách chúng ta tiếp tục yêu thương trong giới hạn của mình. Ta không thể gọi họ trở lại, không thể sửa hoàn cảnh cuối cùng, không thể trả lại cho người thân họ một ngày bình thường đã mất. Nhưng ta có thể trao họ cho Thiên Chúa. Trong lời cầu nguyện ấy, chúng ta thôi đóng vai người phán xét cuộc đời người khác. Ta nhìn nhận rằng chỉ Chúa biết hết, chỉ Chúa thấy trọn những cố gắng và yếu đuối, những điều được nói ra và những điều bị chôn kín trong lòng.

Cầu nguyện cho người đã khuất cũng nhắc ta cần lòng thương xót như họ. Không ai trong chúng ta bước qua cuộc đời với đôi tay hoàn toàn sạch khỏi những thiếu sót. Chúng ta đã có những lần làm đau người mình yêu, những bổn phận bị trì hoãn, những cơ hội làm điều tốt đã bỏ qua. Vì vậy, khi xin Chúa đón nhận một người anh em, ta cũng học bớt cứng lòng với nhau. Một cộng đoàn thường xuyên cầu nguyện cho người qua đời đáng lẽ phải là một cộng đoàn biết tha thứ hơn, biết nói lời hòa giải sớm hơn, biết quý người còn sống hơn.

Có những người sẽ hỏi: trước một biến cố như vậy, chúng ta có thể làm gì ngoài cầu nguyện? Câu trả lời nằm ngay trong đời sống của mỗi người. Hãy chăm sóc người được giao cho mình. Hãy sửa điều thiếu trách nhiệm thuộc phần mình. Hãy ngừng một lời đồn, từ chối một cuộc chế giễu, bảo vệ một người đang bị đối xử bất công. Nếu đang làm công việc truyền thông, hãy nhớ rằng sự chính xác và lòng kính trọng có thể cùng hiện diện. Nếu đang giáo dục người trẻ, hãy dạy các em rằng khả năng làm người khác bật cười không đáng quý bằng khả năng nhận ra lúc nào người khác đang đau.

Trong gia đình, bài học ấy có thể bắt đầu khi cha mẹ không đem sự vụng về của con ra làm trò trước đông người. Ở trường, nó bắt đầu khi một em học sinh không bị cả lớp cười vì một lỗi sai. Trong cộng đoàn, nó bắt đầu khi chuyện riêng của một người được giữ kín thay vì trở thành câu chuyện sau giờ lễ. Chúng ta không thể mong con người bỗng biết kính cẩn trước một cái chết nếu ngày thường đã quen coi sự bẽ bàng của nhau là thú vui. Lòng thương cần được tập từ những chuyện nhỏ, để đến khi gặp đau khổ lớn, ta biết đứng ở đâu và nên làm gì.

Vẫn có nhiều người sống như thế. Họ không làm ồn khi giúp ai, không cần kể lại mọi việc tốt đã làm, không xem nỗi đau của người khác là cơ hội để mình được chú ý. Họ biết mang đến một bữa ăn rồi lặng lẽ về, biết ngồi nghe mà không giành phần nói, biết bảo vệ một người vắng mặt khi câu chuyện đang đi quá xa. Những người ấy gìn giữ cho đời sống chung một sự ấm áp rất cần thiết. Có thể ta không thay đổi được cách cả thế giới nói năng, nhưng có thể góp phần làm cho nơi mình đang sống bớt lạnh lẽo.

Trước sự ra đi của cha Patricio, chúng ta xin được ở trong thái độ ấy. Xin dành cho ngài lời cầu nguyện của Hội Thánh, dành cho người thân và cộng đoàn sự cảm thông, dành cho những điều chưa rõ sự thận trọng. Xin đừng lấy một cái chết để nuôi thêm hận thù giữa những người khác niềm tin. Xin đừng để lòng đạo đức trở thành lời kết án, cũng đừng để sự hoài nghi trở thành quyền xúc phạm. Mỗi người có thể bắt đầu bằng việc giữ lời mình cho tử tế.

Rồi khi khép lại tin tức, chúng ta hãy trở về với người đang sống bên mình. Có lẽ một người thân đang chờ được hỏi han. Có lẽ một người cộng tác đang cần một lời nhìn nhận. Có lẽ một mối bất hòa đã kéo dài đủ lâu. Chúng ta không biết mình còn bao nhiêu thời gian, nhưng biết hôm nay còn có thể làm một điều tốt. Hãy để lời cầu nguyện cho người đã mất dẫn đến một sự thay đổi có thật trong ngày sống này. Như thế, sự tưởng nhớ sẽ có sức nâng đỡ người còn ở lại.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin phó thác cha Patricio trong lòng thương xót Chúa. Xin đón nhận những điều tốt lành ngài đã cố gắng thực hiện, tha thứ những thiếu sót của phận người, và cho ngài được bình an trong Chúa. Xin ở gần những ai đang thương nhớ ngài, những người đã chứng kiến biến cố, những người còn mang trong lòng sự sợ hãi và những câu hỏi chưa có lời đáp. Xin cho họ gặp được người biết lắng nghe, được nâng đỡ qua từng ngày, và đủ sức trở lại với những bổn phận còn chờ phía trước.

Xin Chúa sửa lại cách chúng con nhìn nhau. Khi gặp một người đang đau, xin cho chúng con biết đến gần với sự khiêm nhường. Khi chưa hiểu, xin cho chúng con đủ thành thật để nhận mình chưa hiểu. Khi có thể giúp, xin đừng để chúng con chỉ dừng ở những lời xúc động. Xin gìn giữ miệng lưỡi chúng con khỏi sự tàn nhẫn, bàn tay chúng con khỏi việc lan truyền điều gây tổn thương, và lòng chúng con khỏi thói quen coi bất hạnh của người khác là chuyện không liên quan đến mình.

Đến ngày chính chúng con phải nằm xuống, chúng con cũng chỉ mong được trao vào những bàn tay có lòng thương. Xin cho chúng con biết sống lòng thương ấy ngay từ hôm nay: với người đã khuất bằng lời cầu nguyện, với người chịu tang bằng sự hiện diện, với người còn đang sống bằng một tình yêu có trách nhiệm. Và nếu có lúc không tìm được lời nào xứng đáng trước một mất mát quá lớn, xin dạy chúng con biết đứng yên, cúi đầu, và để người khác được khóc trong sự kính trọng của mình. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

Previous articleXIN NHỚ ĐẾN MỘT ĐỜI NGƯỜI, TRƯỚC KHI NÓI VỀ MỘT CÁI CHẾT Lm. Anmai, CSsR
Next articleXIN GIỮ LẠI MỘT CHÚT XÓT THƯƠNG TRƯỚC NỖI ĐAU CỦA MỘT CON NGƯỜI Lm. Anmai, CSsR