XIN NHỚ ĐẾN MỘT ĐỜI NGƯỜI, TRƯỚC KHI NÓI VỀ MỘT CÁI CHẾT – Lm. Anmai, CSsR
XIN NHỚ ĐẾN MỘT ĐỜI NGƯỜI, TRƯỚC KHI NÓI VỀ MỘT CÁI CHẾT – Lm. Anmai, CSsR
CẦU NGUYỆN – TÌM LẠI SỰ CÂN BẰNG – Lm. Anmai, CSsR
THIÊN CHÚA CÓ CÒN YÊU THƯƠNG KHI ĐIỀU ĐAU THƯƠNG XẢY RA? – Lm. Anmai, CSsR
T 5 t 29 TN SỐNG VỚI CHÚA GIỮA THẾ GIAN, TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM HY VỌNG – Lm. Anmai, CSsR
T 5 t 29 TN THẮT LƯNG CHO GỌN, THẮP ĐÈN CHO SÁNG, VÀ MỞ CỬA KHI CHÚA GÕ – Lm. Anmai, CSsR
BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ NĂM, NGÀY 22 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Năm tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã ước mong lửa ấy bùng lên. Không phải lửa thiêu nhà, cũng không phải lửa cho con sưởi. Là lửa Chúa ném xuống đất, và lòng Chúa khắc khoải cho đến khi phép rửa kia hoàn tất. Phép rửa ấy không phải nước. Là cuộc thương khó. Là giờ Chúa bị dìm vào sự chết, để lửa không còn nằm trong lời, nhưng cháy lên từ thập giá.
Con vẫn muốn Chúa đến để giữ yên bàn ăn. Con gọi hòa bình là nhà không có tiếng trái. Cha không nói với con. Mẹ không đụng đến điều con gái đang chọn. Mẹ chồng và nàng dâu cùng im, và im ấy được kể là đạo hạnh. Chúa bảo: không phải thế. Từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia. Ba chống hai. Hai chống ba. Không phải vì Chúa thích đổ vỡ. Vì khi lửa thật được thắp, người nhận lửa và người từ chối lửa không còn ngồi cùng một phía.
Lạy Chúa, con sợ sự chia rẽ ấy hơn con sợ tội. Con sẵn sàng tắt bớt lửa để bàn còn đủ chỗ. Con nói năng cho vừa lòng, để khỏi chống lại cha, khỏi làm mẹ buồn, khỏi bị nhà gọi là kẻ phá. Trong khi điều Chúa hỏi không phải là con giữ được nhà êm. Là con có để lửa Chúa ném xuống còn cháy trong con, dù nhà vì thế mà nứt.
Xin đừng để con lấy sự hòa của người đời làm hòa bình của Chúa. Hòa bình của Chúa đi qua phép rửa. Nó không né thập giá. Nó không mua sự yên bằng cách im trước điều phải nói. Xin cho con chịu được sự chia nào đến vì con đã theo Chúa, và đừng gây sự chia nào đến vì con cứng, vì con muốn thắng, vì con lấy lửa của mình làm lửa của Chúa.
Lòng Chúa đã khắc khoải cho đến khi việc ấy hoàn tất. Xin cho lòng con cũng khắc khoải, không phải để được yên, nhưng để lửa Chúa đã ném xuống đất này không tắt giữa nhà con.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Amen.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, tôi kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời tôi, xin ghé tai về bên tôi, xin nghe rõ tiếng tôi. Lạy Chúa, xin gìn giữ tôi như con ngươi mắt Chúa, xin che chở tôi trong bóng cánh của Ngài.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm lòng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc Ep 3, 14-21
“Anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa”.
Trích thư Thánh Phalô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, tôi quỳ gối trước mặt Cha Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là nguồn gốc mọi danh phận làm cha trên trời dưới đất. Xin Người chiếu theo sự giàu có vinh quang của Người và nhờ Thánh Thần của Người, thêm sức mạnh cho anh em được nên người thiêng liêng, và nhờ đức tin, anh em được Ðức Kitô ngự trong lòng anh em, làm cho anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được hiệp cùng các thánh mà hiểu biết chiều rộng, dài, cao, sâu, và cũng được biết lòng mến của Ðức Kitô vượt quá trí hiểu loài người, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa.
Nguyện cho Ðấng toàn năng ban cho chúng ta mọi sự, dư đầy quá sự chúng ta cầu xin hay hoài bão, theo như quyền lực Người thi thố trong chúng ta: nguyện cho Người được vinh quang trong Hội Thánh và trong Ðức Giêsu Kitô, qua mọi thế hệ muôn đời. Amen.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 32, 1-2. 4-5. 11-12. 18-19
Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
Xướng: Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa. Ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa.
Xướng: Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa.
Xướng: Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Người còn mãi đời nọ sang đời kia. Phúc thay quốc gia mà Chúa là Chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình.
Xướng: Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
Alleluia: Lc 19, 38
Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 12, 49-53
“Thầy không đến để đem bình an, nhưng đem sự chia rẽ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất. Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết phụng thờ Chúa tại bàn thánh này, với tâm hồn tự do của con cái Chúa, để những mầu nhiệm chúng con đang cử hành đem lại cho chúng con nguồn ơn thanh tẩy. Chúng con cầu xin..
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúa đã tác thành mọi sự trong vũ trụ, đã sắp đặt cho thời gian thay đổi tuần hoàn.
Còn loài người, Chúa đã dựng nên giống hình ảnh Chúa và bắt mọi sự kỳ diệu quy phục loài người để họ thay quyền Chúa thống trị mọi loài Chúa đã sáng tạo và luôn ca tụng Chúa vì muôn việc kỳ diệu Chúa đã làm, nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.
Bởi vậy, trong khi cử hành lễ hân hoan này, cùng với toàn thể các Thiên thần, chúng con ca ngợi tung hô Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, và nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
Hoặc đọc:
Con Người đến, để ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa gọi chúng con tời bàn tiệc Nước Trời và ban dồi dào sức sống mới, xin Chúa phù trợ chúng con trong cuộc sống hằng ngày và dạy chúng con biết tìm kiếm những hồng ân vĩnh cửu. Chúng con cầu xin…
THỨ NĂM TUẦN XXIX THƯỜNG NIÊN: LỬA TÌNH YÊU, PHÉP RỬA THẬP GIÁ VÀ SỰ CHIA CẮT ĐỂ CÓ BÌNH AN THẬT
Có những lời của Đức Giêsu khiến người nghe phải dừng lại rất lâu, không phải vì khó hiểu về mặt chữ nghĩa, mà vì lời ấy chạm vào chỗ sâu nhất của đời sống, chỗ mà người ta vẫn quen che bằng những ước muốn êm đềm. Ngài nói mình đến để ném lửa xuống đất, và ước mong lửa ấy đã cháy bùng. Ngài nói còn một phép rửa mình phải chịu, và lòng Ngài khắc khoải biết bao cho đến khi việc ấy hoàn tất. Rồi Ngài hỏi một câu làm đảo lộn mọi hình dung dễ chịu về Đấng Messia: các ngươi tưởng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho các ngươi biết, không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba; cha chống con trai, con trai chống cha; mẹ chống con gái, con gái chống mẹ; mẹ chồng chống nàng dâu, nàng dâu chống mẹ chồng. Lời ấy không phải lời của một vị thầy muốn gây sốc cho có chuyện. Đó là lời của một Người đang bước vào giờ quyết định của sứ mạng, khi tình yêu không còn được phép ở lại trong vùng an toàn của những câu nói đẹp, mà phải đi đến cùng, đi đến chỗ máu đổ ra và sự sống được trao hết. Lửa, phép rửa và sự chia cắt không phải ba chủ đề rời nhau. Chúng là một dòng chảy duy nhất: lửa tình yêu đẩy Người vào phép rửa của cuộc thương khó, và chính phép rửa ấy làm lộ ra sự chia cắt giữa những ai đón nhận Tin Mừng với những ai vẫn muốn giữ nguyên thế giới cũ.
Lửa, trong kinh nghiệm rất đời của con người, không phải biểu tượng trừu tượng. Lửa sưởi ấm khi đêm lạnh, lửa nấu chín thức ăn để thân xác được nuôi, lửa rèn công cụ để người ta làm ra của nuôi sống, lửa giữ thú dữ ở ngoài vòng ánh sáng, lửa thanh luyện kim loại cho đến khi cặn bã bị đốt sạch. Không có lửa, sự sống loài người thu hẹp lại thành sự sống còn rất mong manh. Vì thế khi Đức Giêsu nói đến lửa, Ngài không nói một hình ảnh thơ cho vui tai. Ngài nói về một sức sống cần thiết đến mức không có nó thì thế giới này vẫn còn là đêm. Trong lịch sử dân Chúa, lửa đã từng là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, không phải sự hiện diện dễ chịu mà người ta có thể điều khiển, nhưng là sự hiện diện vừa thu hút vừa khiến người ta phải cởi dép, phải cúi mặt, phải nhận ra mình đang đứng trên đất thánh. Bụi gai cháy mà không tàn đã gọi một người chăn chiên đang trốn chạy trở thành người được sai đi giải phóng dân. Cột lửa ban đêm đã dẫn một đoàn người vừa được cứu khỏi ách nô lệ băng qua sa mạc, không phải để họ được sống dễ dàng hơn, mà để họ học cách đi theo một Đấng không để mình bị biến thành ngẫu tượng. Lửa trên bàn thờ, lửa trong lời ngôn sứ, lửa thanh tẩy môi miệng kẻ được gọi, tất cả đều nói một điều: Thiên Chúa không đến như một ý tưởng lạnh, Ngài đến như một hiện diện làm thay đổi nhiệt độ của đời người. Đến ngày lễ Ngũ Tuần, lửa ấy không còn ở trên ngọn núi hay trong cột mây, mà đậu trên từng người đang cầu nguyện, và những kẻ trước đó còn đóng cửa vì sợ bỗng trở thành những chứng nhân không thể bị bịt miệng. Lửa Đức Giêsu muốn ném xuống đất chính là lửa ấy, lửa của tình yêu Thiên Chúa đã trở nên xác phàm, lửa không đốt hủy con người nhưng đốt hủy những gì đang giữ con người ở lại trong sự chết.
Hình ảnh Trái Tim cực thánh bừng cháy không phải là một bức tranh để trang trí nhà thờ cho có vẻ sốt sắng. Đó là cách Giáo Hội cố nói cho đủ cái điều mà lời lẽ vẫn luôn thiếu: tình yêu của Đức Giêsu không phải tình cảm vừa phải, không phải lòng tốt xã giao, không phải sự chịu đựng lịch sự đối với tội lỗi loài người. Trái Tim ấy cháy vì thương một nhân loại đang tự hủy, cháy đến mức sẵn sàng để bị đâm thâu, để máu và nước chảy ra, để từ cạnh sườn mở toang ấy phát sinh một dân mới. Khi Ngài truyền một điều răn mới, yêu thương nhau như Ngài đã yêu, Ngài không trao một khẩu hiệu. Ngài trao chính nhịp đập của Trái Tim ấy. Yêu như Ngài đã yêu có nghĩa là yêu đến cùng, yêu cả khi bị phản bội, yêu cả khi tình yêu ấy không được đáp lại bằng sự dễ chịu, yêu đến mức trao ban sự sống. Lửa ấy, một khi đã được đón vào lòng người, không để cho đời sống cứ tiếp tục như cũ. Nó làm cho người ta không còn chịu được sự dửng dưng trước nỗi khổ của anh em, không còn chịu được việc dùng danh Chúa để che cho ích kỷ, không còn chịu được một thứ đạo đức chỉ đẹp vào giờ lễ mà chết ngay khi bước ra khỏi cửa nhà thờ. Lửa biến đổi. Các tông đồ sau biến cố lửa không còn là những người chỉ biết giữ lấy mạng sống của mình. Họ trở thành những kẻ rao giảng một Tin Mừng có thể khiến họ mất tất cả, và họ vẫn rao giảng, vì lửa bên trong đã lớn hơn nỗi sợ bên ngoài.
Phép rửa mà Đức Giêsu nói tới không phải phép rửa Người đã nhận nơi sông Giođan từ tay ông Gioan. Phép rửa ấy đã xảy ra rồi, đã mở ra sứ vụ công khai, đã có tiếng từ trời xác nhận Người là Con yêu dấu. Phép rửa Ngài đang khắc khoải hướng tới là một phép rửa khác, phép rửa bằng cuộc thương khó và cái chết. Chìm xuống, đó là nghĩa gốc của việc chịu phép rửa. Ngài sẽ chìm xuống vực thẳm của sự bỏ rơi, của sự nhục nhã, của cái chết dành cho kẻ bị kết án, và từ vực ấy Ngài sẽ trỗi dậy, kéo theo cả nhân loại được dìm vào sự chết của Người để được sống sự sống của Người. Sự khắc khoải của Ngài không phải sự sợ hãi của kẻ muốn chạy trốn. Đó là nỗi nôn nao của một tình yêu đã thấy trước cái giá và vẫn không muốn trì hoãn. Bao lâu giờ ấy chưa đến, bao lâu lửa chưa đi hết con đường của nó qua thân xác bị trao nộp, bấy lâu sứ mạng còn như bị giữ lại. Người ta đôi khi tưởng tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu không đau. Phúc Âm không cho phép ảo tưởng ấy. Tình yêu cháy bỏng nhất lại là tình yêu chấp nhận đi vào chỗ đau nhất, không phải vì đau có giá trị tự nó, mà vì chỉ có sự trao ban đến cùng mới chọc thủng được bức tường của tội và của sự chết. Vâng phục của Đức Giêsu trong phép rửa ấy không phải vâng phục của kẻ bị ép. Đó là vâng phục của Con, Đấng muốn điều Cha muốn, và điều Cha muốn chính là thế gian được cứu không phải bằng một phép màu xóa sổ đau khổ từ bên ngoài, mà bằng một tình yêu đi vào giữa đau khổ và chiến thắng nó từ bên trong. Thập giá, vì thế, không phải tai nạn trên đường sứ mạng. Thập giá là phép rửa mà lửa tình yêu đòi phải có. Không có phép rửa ấy, lửa chỉ là lời nói. Có phép rửa ấy, lửa trở thành sự sống được trao, và từ sự sống được trao ấy mới có phục sinh, mới có bình an không phải thứ bình an thế gian ban.
Chính ở đây xuất hiện nghịch lý mà nhiều người muốn né. Đức Giêsu là Hoàng tử bình an. Ngài dạy yêu kẻ thù, dạy làm hòa trước khi dâng lễ vật, dạy tha thứ không biết bao nhiêu lần. Trong bữa tối cuối cùng Ngài để lại bình an của Ngài, một bình an không như thế gian ban. Sau phục sinh, lời đầu tiên Ngài nói với những kẻ đang sợ hãi là bình an cho anh em. Vậy tại sao chính Ngài lại nói mình không đến để ban hòa bình cho trái đất, mà để đem sự chia rẽ? Câu trả lời không nằm ở chỗ Ngài mâu thuẫn với chính mình. Câu trả lời nằm ở chỗ có hai thứ bình an. Một thứ bình an là sự yên ổn của mặt hồ khi không có gió, sự đồng thuận đạt được bằng cách né những câu hỏi quyết định, sự hòa khí trong nhà khi không ai dám nói điều gì có thể làm mất lòng, sự ổn định của một xã hội khi người ta đồng ý im lặng trước sự bất công miễn là bữa ăn vẫn còn và danh dự vẫn được giữ. Thứ bình an ấy rất được ưa chuộng, vì nó không đòi ai phải thay đổi. Đức Giêsu không đến để củng cố thứ bình an ấy. Bình an của Ngài là hoa quả của thập giá, là sự giao hòa giữa Thiên Chúa và loài người được trả bằng máu, là sự bình an có khả năng đứng vững cả khi bên ngoài đang có bão, vì nó không được xây trên việc mọi người cùng nghĩ một kiểu, mà được xây trên việc một người đã thuộc về sự thật và đã được sự thật giải phóng. Muốn có bình an ấy, người ta phải để lửa đi vào. Và lửa, một khi đi vào một ngôi nhà, một gia đình, một cộng đoàn, một xã hội, sẽ làm lộ ra những gì không cùng chất với nó. Sự chia rẽ Đức Giêsu nói tới không phải mục tiêu Ngài nhắm. Đó là hệ quả không thể tránh khi ánh sáng xuất hiện trong một căn phòng đã quen bóng tối: có người bước ra phía sáng, có người quay mặt đi vì sáng làm đau mắt.
Sự chia cắt trong nhà, cha chống con, mẹ chống con gái, mẹ chồng chống nàng dâu, không phải một chương trình mục vụ để gây rối gia đình. Đó là lời cảnh báo rất thực về cái giá của việc đi theo. Khi một người trong nhà bắt đầu lấy Tin Mừng làm chuẩn cho những quyết định mà trước đây cả nhà vẫn giải quyết theo lệ làng, theo lợi, theo thể diện, theo sự an toàn, thì sự đồng thuận cũ bị rạn. Người con không còn sẵn sàng làm điều cả nhà bảo là khôn nếu điều ấy đòi phải dối trá. Người vợ không còn chịu được việc dùng tiền bất chính để nuôi con cho sang. Người trẻ không còn coi việc bỏ lễ, bỏ đạo, bỏ lương tâm là chuyện nhỏ để được nhập hội. Ngược lại, cũng có khi chính người lớn trong nhà trung thành với đức tin, còn người trẻ coi đó là gánh nặng lỗi thời, và bữa cơm trở thành chiến trường của những cái nhìn. Đức Giêsu không vui vì cảnh ấy. Ngài chỉ không đánh lừa các môn đệ rằng đi theo Ngài sẽ được mọi người vỗ tay, kể cả những người thân nhất. Tình thân có sức nặng rất lớn. Nhiều người có thể chịu đựng sự chống đối của kẻ xa lạ, nhưng gục ngã trước một câu nói lạnh của cha mẹ, trước nước mắt của vợ chồng, trước sự khinh miệt của anh em. Vì thế lời cảnh báo về sự chia cắt trong nhà là lời thương xót, không phải lời khuyến khích gây gỗ. Ngài muốn người môn đệ biết trước, để khi giờ ấy đến, họ không tưởng mình đã chọn sai chỉ vì hòa khí gia đình bị xáo trộn. Trung thành với Thiên Chúa đôi khi làm đau những mối tương quan, và nỗi đau ấy không phải bằng chứng rằng tình yêu đã thất bại. Đó có thể là dấu rằng tình yêu đã bắt đầu từ chối sự giả dối.
Sự chia cắt này còn đi xa hơn ngưỡng cửa gia đình. Môn đệ sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền, sẽ bị đánh đòn, bị bỏ tù, có khi bị giết, không phải vì họ là kẻ gây rối vô cớ, mà vì lời họ mang theo không chịu nằm yên trong vùng được phép. Một Tin Mừng chỉ ca ngợi những gì xã hội đã ca ngợi thì không cần đến lửa, cũng không gây chia rẽ. Một Tin Mừng dám nói sự thật về phẩm giá của người bé nhỏ, về sự bất khả xâm phạm của sự sống, về việc của cải không phải là chúa, về việc quyền lực phải phục vụ chứ không được nghiền nát, về việc tha thứ mạnh hơn trả thù, về việc thân xác con người không phải hàng hóa, thì Tin Mừng ấy sớm muộn sẽ chạm vào những lợi ích đang được bảo vệ rất kỹ. Lửa không xin phép trước khi cháy. Nó chỉ cháy. Và ở đâu lửa cháy thật, ở đó có người đến sưởi, cũng có người tìm nước để dập, vì ánh sáng ấy làm lộ những việc họ muốn giữ trong tối. Người môn đệ không được quyền biến mình thành kẻ thích gây sự để rồi tự hào rằng mình đang chịu chia cắt vì Chúa. Có một thứ chia cắt đến từ tính khí khó chịu, từ sự cứng nhắc, từ việc lấy sở thích cá nhân làm thành ý Chúa. Sự chia cắt Đức Giêsu nói tới có một tiêu chuẩn rất rõ: nó phát sinh từ việc người ta gắn bó với giá trị Tin Mừng đến mức không đổi các giá trị ấy lấy sự yên ổn. Nếu một người bị cả nhà ghét vì mình kiêu căng, hẹp hòi, hay lên án, thì đó không phải thập giá của môn đệ. Nếu một người bị hiểu lầm, bị cô lập, bị thiệt thòi vì không chịu bán rẻ lương tâm, vì không chịu im lặng trước điều ác, vì không chịu bước qua người anh em để tiến thân, thì sự cô lập ấy đi vào đúng dòng của phép rửa mà Thầy đã chịu.
Ba yếu tố ấy khóa vào nhau chặt đến mức không thể lấy một bỏ hai. Lửa mà không có phép rửa thì chỉ là nhiệt huyết ban đầu, dễ tắt khi gặp giá rét của thực tế. Nhiều người đã từng bừng cháy trong một giờ cầu nguyện, trong một buổi tĩnh tâm, trong một lần được đánh động mạnh, rồi vài tháng sau lửa ấy chỉ còn là kỷ niệm, vì họ không để lửa ấy dẫn họ vào những cuộc từ bỏ cụ thể, những cuộc chết nhỏ mỗi ngày đối với cái tôi. Phép rửa mà không có lửa thì chỉ là cực hình, là sự chịu đựng không có hồn, là thập giá bị biến thành bi kịch cá nhân chứ không còn là trao ban. Có những đau khổ người ta mang không phải vì tình yêu, mà vì không biết buông, vì muốn được thương hại, vì tưởng càng khổ càng thánh. Đức Giêsu không khắc khoải về một đau khổ như thế. Ngài khắc khoải về một phép rửa được lửa tình yêu đòi hỏi. Còn sự chia cắt, nếu không phát sinh từ lửa và từ phép rửa, thì chỉ là phe phái, là ganh ghét, là việc dùng danh nghĩa chân lý để loại trừ những người mình không ưa. Sự chia cắt của Tin Mừng bao giờ cũng đau, và người chịu chia cắt không được phép biến nỗi đau ấy thành vũ khí để khinh dễ kẻ khác. Người đã được lửa đốt phải là người biết thương nhất những kẻ đang sợ lửa, vì chính mình cũng đã từng sợ.
Đời sống thánh thiện, vì thế, không phải con đường dành cho những ai tìm một tôn giáo dễ chịu. Thánh thiện là để cho lửa ấy chiếm hết căn nhà nội tâm, là nhận phép rửa hằng ngày trong những chọn lựa nhỏ mà không ai vỗ tay, là chấp nhận rằng có những mối tương quan sẽ đổi nhiệt độ khi mình không còn sống hai mặt. Thập giá không phải món hàng có thể mặc cả. Người ta không thể vừa muốn thuộc về Đức Giêsu vừa muốn giữ nguyên mọi thoải mái của một đời không bị Tin Mừng quấy rầy. Điều này không có nghĩa là người Kitô hữu phải sống cau có, phải đi tìm đau khổ, phải cắt đứt gia đình như một bằng chứng nhiệt thành. Nghĩa đúng thì ngược lại. Chính vì lửa là tình yêu, nên người bị lửa chiếm sẽ trở nên dịu dàng hơn với kẻ yếu, kiên nhẫn hơn với người chậm hiểu, quảng đại hơn với người đang ở phía bên kia của sự chia cắt. Sự khác biệt không nằm ở giọng điệu gay gắt. Sự khác biệt nằm ở chỗ người ấy không còn bán đứng sự thật để mua sự dễ chịu. Một gia đình có thể vẫn ngồi cùng mâm, vẫn gọi nhau bằng những tiếng thân thương, mà bên trong đã có một lằn ranh âm thầm giữa người muốn sống theo lương tâm đức tin và người muốn đức tin phải biết điều, nghĩa là đừng cản trở những tính toán của họ. Lằn ranh ấy đau. Đức Giêsu đã nói trước để người môn đệ khỏi bất ngờ, và để người môn đệ khỏi dùng sự dễ dãi làm thuốc giảm đau cho lương tâm.
Trong nhịp sống thường ngày, lửa ấy đòi những việc rất cụ thể, không cần chờ đến những cuộc bắt bớ lớn. Lửa ấy đòi người làm ăn không gian dối trong cân đo, dù gian dối một chút sẽ giúp cả nhà sung túc hơn và khỏi bị họ hàng chê nghèo. Lửa ấy đòi người có chức quyền không biến bổn phận thành cơ hội vun vén, dù chung quanh ai cũng làm thế và người không làm thế bị coi là dại. Lửa ấy đòi vợ chồng không dùng sự im lặng chiến thuật để nuôi hận thù, mà dám nói sự thật trong yêu thương cho đến khi sự thật ấy làm lành được vết thương thay vì chỉ giữ mặt hồ cho phẳng. Lửa ấy đòi cha mẹ dạy con điều khó nghe hôm nay để con khỏi mất mình ngày mai, thay vì mua sự ngoan ngoãn giả bằng cách nhượng bộ mọi đòi hỏi. Lửa ấy đòi người trẻ dám khác bạn bè khi bạn bè rủ những điều làm tổn thương nhân phẩm, và dám chịu cái giá của sự khác ấy là bị chọc quê, bị loại khỏi vòng. Lửa ấy đòi linh mục, tu sĩ, người có trách nhiệm trong cộng đoàn không nhân danh sự hòa khí để né việc sửa dạy, cũng không nhân danh nhiệt thành để nghiền nát người anh em bằng lời kết án. Ở mỗi chỗ ấy, phép rửa đều có mặt dưới dạng một cái chết nhỏ: chết đối với tiếng khen, chết đối với lợi, chết đối với nhu cầu được mọi người coi là dễ thương. Và ở mỗi chỗ ấy, sự chia cắt đều có thể xuất hiện, nhẹ thì là một cái nhìn trách, nặng thì là một thời gian dài bị hiểu lầm. Người môn đệ không đi tìm những chia cắt ấy. Người môn đệ chỉ không trốn chúng khi chúng là giá của lòng trung tín.
Bình an thật đến sau, không đến trước. Bình an thế gian muốn có ngay, bằng cách dập lửa và hoãn phép rửa. Bình an Đức Giêsu để lại đến như hoa quả của việc lửa đã cháy và phép rửa đã được nhận. Người đã đi qua sự chia cắt vì sự thật sẽ khám phá ra một sự hiệp nhất sâu hơn sự đồng thuận cũ: hiệp nhất với Thiên Chúa, và rồi hiệp nhất với những ai cũng đã để mình được lửa chiếm. Có những gia đình, sau nhiều năm đau vì một người dám sống khác, lại được chữa lành không phải vì người ấy đã nhượng bộ, mà vì lửa nơi người ấy đã đủ kiên nhẫn và đủ khiêm nhường để những người khác, đến một lúc, nhận ra đó không phải sự cứng đầu mà là một tình yêu đáng tin. Có những cộng đoàn, sau những căng thẳng vì không ai chịu đánh đổi Tin Mừng lấy sự êm ái, lại tìm được một sự bình an không còn mong manh, vì nó đã được thử. Và có những chia cắt không được hàn lại ở đời này. Phúc Âm không hứa rằng mọi nhà sẽ trở lại đồng thuận trước khi mặt trời lặn. Phúc Âm hứa rằng ai mất mạng sống mình vì Đức Giêsu và vì Tin Mừng thì sẽ tìm lại được sự sống, và rằng bình an của Ngài còn vượt qua ngưỡng cửa sự chết. Phép rửa của Thầy kết thúc không phải ở mồ, mà ở buổi sáng phục sinh, khi bình an được trao cho những kẻ từng bỏ chạy. Môn đệ được mời đi vào cùng một nhịp ấy: lửa trước, phép rửa theo sau, chia cắt có thể đến, và bình an thật là quả chứ không phải là điều kiện tiên quyết.
Ước mong của Đức Giêsu vẫn còn nguyên trên mặt đất này: ước gì lửa đã cháy bùng. Lửa ấy không cần những cuộc phô trương. Lửa ấy cần những trái tim không còn giữ một góc riêng cho sự tính toán. Lửa ấy cần những người dám nhận phép rửa của những cuộc từ bỏ âm thầm, không đợi có khán giả. Lửa ấy cần những môn đệ không hoảng sợ khi sự trung tín làm xáo trộn mặt hồ bình an giả, và cũng không biến sự xáo trộn ấy thành cớ để mình trở nên cứng cỏi với người thân. Ở đâu có một người để cho tình yêu Chúa chiếm đến mức các chọn lựa đổi chiều, ở đó lửa đã được ném xuống đất. Ở đâu người ấy đi đến cùng trong vâng phục dù lòng có khắc khoải, ở đó phép rửa đang được hoàn tất. Ở đâu người ấy không bán sự thật để mua sự yên ổn, ở đó sự chia cắt có thể xảy ra, nhưng bình an của Thầy cũng bắt đầu nảy mầm, một bình an không như thế gian ban, một bình an đủ sức đi với người môn đệ qua cả những ngôi nhà đang bị phân rẽ, cho đến ngày lửa ấy cháy hết trên mặt đất và không còn gì để chia cắt nữa, vì mọi sự đã được kéo vào cùng một tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR
LỬA ĐÃ ĐƯỢC NÉM VÀO ĐẤT, VÀ BÌNH AN KHÔNG CÒN LÀ THỎA HIỆP
Có những lời của Chúa Giêsu làm người ta muốn lướt qua cho nhanh, vì chúng đụng vào chỗ mềm nhất của đời sống: mái nhà, bàn ăn, tiếng gọi cha mẹ, mối dây giữa mẹ chồng nàng dâu, và cái yên ổn mà ai cũng thèm giữ cho khỏi đổ vỡ. Ngài nói mình đến để ném lửa vào mặt đất, và ước gì lửa ấy đã bùng lên. Ngài nói có một phép rửa Ngài phải chịu, và lòng Ngài khắc khoải biết bao cho đến khi việc ấy hoàn tất. Rồi Ngài hỏi một câu không ai chờ ở Đấng được gọi là Hoàng Tử Bình An: anh em tưởng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao. Không, Thầy nói cho anh em biết, Thầy đến để gây chia rẽ. Từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba; cha chống con trai, con trai chống cha; mẹ chống con gái, con gái chống mẹ; mẹ chồng chống nàng dâu, nàng dâu chống mẹ chồng. Lời ấy không phải lời của một nhà hùng biện muốn gây sốc. Đó là lời của một người đang đi về phía Giêrusalem, biết rõ thập giá đang chờ, và không chịu đánh tráo Tin Mừng thành một thứ dầu xoa dịu cho lương tâm đang ngủ. Lửa Ngài ném xuống không phải lửa hủy diệt cho vui. Đó là lửa của tình yêu không chịu để thế gian cứ nguội lạnh trong sự dối trá. Phép rửa Ngài phải chịu không phải một nghi thức cho xong, mà là việc Ngài dìm mình vào cái chết để kéo nhân loại ra khỏi sự chết. Và sự chia rẽ Ngài báo trước không phải chương trình của Ngài, mà là hậu quả không tránh được khi sự thật đi vào một thế gian đã quen sống bằng nửa sự thật.
Muốn hiểu lửa ấy, phải nhìn cho rõ cái bình an mà nhiều người đang gọi là bình an. Có một thứ yên ổn rất được ưa chuộng: không ai nói điều khó nghe, không ai đặt câu hỏi về cách sống, không ai nhắc đến sự ăn năn, không ai đụng vào tiền bạc bất chính, không ai nhắc đến sự thủy chung, không ai dám nói rằng có những chọn lựa đưa tới sự sống và có những chọn lựa đưa tới sự chết. Trong nhà ấy, người ta cười với nhau, ăn với nhau, chụp hình với nhau, và gọi đó là hạnh phúc. Nhưng bên dưới nụ cười là những vùng cấm. Có người trong nhà đang sống xa Chúa mà không ai dám nhắc, vì sợ mất mặt. Có người đang bóc lột người nghèo mà cả họ vẫn khen là khéo ăn khéo nói. Có người trẻ đang trôi vào những mối quan hệ hủy hoại mình mà cha mẹ chỉ biết chiều, vì sợ con bỏ nhà. Có người lớn tuổi giữ đạo theo thói quen, còn người trẻ muốn sống thật thì bị gọi là quá khích. Bình an kiểu ấy là bình an của mặt hồ không gió: đẹp để ngắm, nhưng bên dưới là bùn. Chúa Giêsu không đến để giữ mặt hồ ấy yên. Ngài đến để khuấy. Lửa Ngài mang tới làm nóng những gì đã lạnh, soi những gì đang giấu, và buộc mỗi người phải chọn. Chọn không phải giữa hai phe chính trị. Chọn giữa sự sống và sự chết, giữa việc ở lại trong tình yêu và việc khép lòng lại trước tình yêu.
Kinh Thánh từ rất sớm đã đặt con người trước lối rẽ ấy. Môsê, trước khi từ giã dân, không dỗ dành họ bằng một tương lai dễ dãi. Ông đặt trước mặt họ sự sống và sự chết, phúc lành và tai họa, rồi urging họ hãy chọn sự sống, bằng cách yêu mến Đức Chúa, đi theo đường Người, giữ các mệnh lệnh của Người. Chọn giao ước không phải chọn một bộ luật để khoe. Chọn giao ước là chọn thuộc về Thiên Chúa giữa một thế gian đầy thần khác: thần của bụng, thần của danh vọng, thần của bạo lực, thần của sự thuận tiện. Ai chọn sự sống thì được sự sống. Ai quay lưng thì tự đẩy mình vào hậu quả của sự quay lưng. Điều ấy không phải Thiên Chúa hẹp hòi. Đó là cấu trúc của tình yêu: tình yêu không cưỡng bức, nên tình yêu để cho người ta từ chối, và sự từ chối có quả của nó. Khi Đấng Mêsia đến, lối rẽ ấy không bị xóa. Nó được làm cho rõ hơn. Thuận theo vương quyền của Ngài là bước vào bình an thật, bình an không xây trên sự im lặng đồng lõa. Chống lại vương quyền ấy là chấp nhận chia rẽ, chấp nhận dày vò nội tâm, và nếu cứng lòng đến cùng thì chấp nhận cả sự hư mất. Tin vào Con thì không bị luận phạt. Không tin thì đã bị luận phạt rồi, không phải vì Thiên Chúa thích kết án, mà vì người ta đã chọn bóng tối khi ánh sáng đến. Ánh sáng đến thế gian, và người ta đã yêu bóng tối hơn ánh sáng, vì việc họ làm là việc xấu. Câu ấy giải thích tại sao một Tin Mừng của lòng thương xót lại có thể gây chia rẽ đến tận bàn ăn gia đình.
Lửa Chúa Giêsu muốn thấy bùng lên trước hết là lửa của Thánh Thần, lửa đã từng ở trong bụi gai không bị thiêu rụi, lửa đã thanh tẩy môi miệng ngôn sứ, lửa đã xuống trên các tông đồ ngày lễ Ngũ Tuần và biến những người đang sợ thành những người dám nói. Lửa ấy không đốt nhà. Lửa ấy đốt sự nguội lạnh. Người nguội lạnh vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn giữ một số thói quen, nhưng lòng không còn cháy. Họ không còn đau khi thấy anh em bị bỏ rơi. Họ không còn xấu hổ khi nói dối cho xong việc. Họ không còn khao khát Lời Chúa. Họ đến nhà thờ như đến một nơi quen, rồi ra về như chưa được đụng tới. Với người ấy, lửa của Chúa là một ơn cần hơn cơm. Vì một đức tin không cháy sẽ không sưởi được ai, và một đức tin không sưởi được ai thì sớm muộn cũng trở thành trang sức. Chúa ước gì lửa ấy đã bùng lên, vì Ngài biết thời gian của mỗi người thì ngắn, và một đời nguội lạnh là một đời bỏ lỡ điều duy nhất đáng sống: được yêu và biết yêu. Lửa ấy cũng là lửa thanh luyện. Vàng trong lửa mất đi cặn. Lòng người trong lửa của Chúa mất đi những thứ từng được gọi là bản lĩnh: sự tự ái không chịu xin lỗi, thói xét đoán không chịu nhìn mình, sự keo kiệt đội lốt khôn ngoan, sự nóng giận đội lốt chính trực. Thanh luyện thì đau. Không ai thích bị lấy đi cái mình đang bám. Nhưng không có lửa ấy thì không có sự thánh. Và không có sự thánh thì mọi lời hay về hòa bình chỉ là lớp sơn.
Phép rửa mà Chúa nói mình phải chịu chính là thập giá. Ngài không nói về nước sông Giođan. Ngài nói về việc Ngài sẽ bị dìm vào sự chết, vào sự bỏ rơi, vào cái giá của một tình yêu đi đến cùng. Lòng Ngài khắc khoải cho đến khi việc ấy hoàn tất, không phải vì Ngài ham đau, mà vì Ngài biết bao lâu thập giá chưa được ôm lấy thì lửa tình yêu chưa được chứng minh đến tận cùng, và nhân loại chưa có lối đi qua sự chết. Bình an mà thế gian tìm thường là bình an tránh né thập giá: tránh nói sự thật kẻo mất lòng, tránh tha thứ kẻo bị coi là yếu, tránh phục vụ kẻo thiệt, tránh trung tín kẻo bị cười. Bình an của Chúa đi ngang qua thập giá. Ngài hòa giải nhân loại với Chúa Cha không bằng một thỏa hiệp, mà bằng việc trao nộp chính mình. Vì thế ai muốn theo Ngài mà vẫn muốn giữ nguyên mọi vùng an toàn của mình thì sẽ thấy lời Ngài thành gai. Người ấy sẽ nói đạo này khắt khe. Đạo không khắt khe. Tình yêu thì không mặc cả. Một người chồng không thể vừa thề thủy chung vừa nuôi một đời sống thứ hai rồi gọi đó là bình an gia đình. Một người làm ăn không thể vừa đọc kinh vừa cấu vé tiền công người nghèo rồi gọi đó là khôn. Một người trẻ không thể vừa muốn thuộc về Chúa vừa không chịu để Chúa đụng vào bạn bè, vào mạng, vào thân xác, vào tham vọng. Khi Chúa đụng vào những chỗ ấy, nhà bắt đầu có tiếng nói khác nhau. Đó không phải Chúa thích chia rẽ. Đó là sự thật và sự giả bắt đầu không ngồi cùng một ghế được nữa.
Sự chia rẽ trong nhà là điều đau nhất, và cũng là điều Chúa không hề giấu. Ngài biết tin vào Ngài có thể làm một người con khác với cha mình, một người vợ khác với chồng mình, một người trẻ khác với cả dòng họ. Trong nhiều gia đình, đạo được giữ như một di sản: giỗ chạp, lễ lạy, một vài câu kinh, một tấm ảnh. Khi có một người trong nhà muốn sống đạo như một mối tương quan sống, chứ không như một phong tục, thì sự khác biệt hiện ra. Người ấy không còn vui vẻ góp mặt trong những cuộc nói hành. Người ấy không còn coi việc làm ngơ trước điều bất công trong họ là khôn. Người ấy muốn con cái học biết cầu nguyện thật, chứ không chỉ học biết giữ thể diện. Người ấy có thể từ chối một đám cưới, một khoản làm ăn, một thói quen mà cả nhà vẫn gọi là bình thường. Lập tức người ấy bị gọi là khó tính, là đi đạo quá, là làm nhà mất vui. Có khi chính cha mẹ là người tin lại cản con sống thật, vì sợ con thua kém bạn bè, sợ con không leo được chỗ ngồi, sợ họ hàng dị nghị. Có khi người trẻ tin thật lại bị anh chị em chế là sống thời xưa. Chúa đã nói trước cảnh ấy. Ngài không chúc lành cho sự bất hiếu. Ngài không bảo con cái khinh cha mẹ. Ngài chỉ nói rằng khi phải chọn giữa việc làm đẹp lòng người nhà bằng cách chối sự thật, và việc thuộc về Ngài dù người nhà chưa hiểu, thì thuộc về Ngài là chọn sự sống. Chọn ấy phải được làm bằng hiền lành, không bằng gây gỗ. Nhưng chọn ấy không được hoãn mãi vì sợ mất lòng.
Cần phân biệt cho rõ sự chia rẽ do Tin Mừng và sự chia rẽ do tính khí. Không phải mọi xung đột trong nhà đều là thánh. Có người lấy danh Chúa để thắng lý, để không chịu nhận lỗi, để áp đặt ý mình lên vợ chồng con cái, rồi khi bị phản đối thì nói mình đang bị bách hại vì đức tin. Đó không phải lửa của Chúa. Lửa của Chúa làm người ta khiêm nhường hơn, chứ không làm người ta cứng hơn. Người mang lửa ấy sẵn sàng đi bước trước để xin lỗi. Người ấy dịu dàng với kẻ chưa tin. Người ấy không biến bữa cơm thành tòa án. Người ấy cầu nguyện cho người chống đối mình nhiều hơn là nói về người ấy. Sự chia rẽ mà Chúa báo trước là sự chia rẽ xảy ra dù người môn đệ đã hết sức hiền lành, chỉ vì người môn đệ không chịu gọi sự dữ là sự lành. Nếu chưa có sự hiền lành ấy mà đã vội kể mình là nạn nhân của lời Chúa, thì nên xét lại. Nhiều nhà tan không phải vì Tin Mừng, mà vì kiêu ngạo đội lốt Tin Mừng. Và nhiều nhà khác vẫn êm mà đang chết, vì không ai dám để Tin Mừng đụng vào mình.
Thư gửi tín hữu Êphêxô đặt bên cạnh lời lửa ấy một lời cầu nguyện mở ra chiều kích kia của cùng một mầu nhiệm. Thánh Phaolô quỳ gối trước mặt Chúa Cha, là nguồn mọi gia tộc trên trời dưới đất, và xin cho người tin được củng cố trong nội tâm nhờ Thần Khí, xin cho Đức Kitô ngự trong lòng họ qua đức tin, xin cho họ được bén rễ và đặt nền trong tình yêu, để cùng hết mọi người hiểu được chiều rộng, chiều dài, chiều cao, chiều sâu của tình yêu Đức Kitô, một tình yêu vượt quá mọi hiểu biết, và nhờ đó được đổ đầy sự sung mãn của Thiên Chúa. Đây là bình an thật. Bình an không phải là nhà không ai cãi nhau. Bình an là một nội tâm đã có Chúa Kitô ở trong, đã bén rễ trong tình yêu, đã nếm được một tình yêu rộng hơn hiềm khích, dài hơn oán hận, cao hơn tham vọng, sâu hơn nỗi sợ. Người được đổ đầy sự sung mãn ấy không còn cần phải thắng mọi cuộc tranh luận trong nhà. Người ấy có thể chịu hiểu lầm. Người ấy có thể chờ. Người ấy có thể yêu người đang chia rẽ với mình mà không đầu hàng sự giả dối. Gia tộc mà Phaolô nhắc tới không bị xóa bởi lời Chúa Giêsu nói về sự chia rẽ. Gia tộc được đặt lại dưới nguồn của nó: mọi gia tộc đều bởi Chúa Cha. Nên khi một nhà bị rách vì đức tin, người tin không được phép biến người nhà thành kẻ thù. Người tin phải quỳ xuống và xin cho chính mình được đầy tình yêu, rồi xin cho cả nhà được mở lòng. Chiến thắng của Tin Mừng trong một gia đình hầu như không bao giờ là chiến thắng của lý luận. Đó là chiến thắng của một đời sống đã đổi, của một sự kiên nhẫn không chua, của một lời cầu nguyện không bỏ.
Chiều rộng của tình yêu ấy với tới cả người đang chống đối. Chiều dài của nó đi tới tận những năm tháng mình tưởng đã mất, những lỗi cũ, những quan hệ tưởng không thể hàn. Chiều cao của nó kéo lòng người lên khỏi những cuộc cãi vã mặt đất, để nhớ mình đang sống trước mặt Đấng sẽ xét xử không theo lời biện hộ mà theo tình yêu. Chiều sâu của nó xuống tới những gốc rễ mà chính mình cũng không thấy: nỗi sợ không được yêu, thói quen tìm an toàn trong đám đông, vết thương từ thuở nhỏ khiến mình hoặc chiều quá hoặc cứng quá. Được bén rễ trong tình yêu là để những gốc ấy dần dần không còn điều khiển các chọn lựa. Nhiều sự chia rẽ trong nhà xem ra là chuyện đạo, kỳ thực là chuyện vết thương chưa được Chúa chạm. Người cha khắc nghiệt lấy kỷ luật che nỗi bất an. Người mẹ kiểm soát lấy lo lắng che nỗi sợ mất con. Người con phản kháng lấy tự do che nỗi đói được nhìn nhận. Khi lửa của Chúa đến, Ngài không chỉ đòi chọn phe. Ngài muốn chữa gốc. Và sự chữa gốc ấy thường bắt đầu từ người đang muốn mình là người có lý.
Đứng trước lời Chúa, mỗi người còn phải xét mình đang đứng về phía nào của ngọn lửa. Có người sợ lửa vì lửa đòi thay đổi việc làm ăn. Có người sợ lửa vì lửa đòi nhìn lại hôn nhân đang sống nửa vời. Có người sợ lửa vì lửa đòi bỏ một thói giải trí đang ăn mòn đời sống nội tâm, đang làm mình không còn muốn cầu nguyện, không còn nhìn vợ chồng bằng sự trong sạch, không còn có thì giờ cho con. Có người sợ lửa vì lửa đòi tha. Tha là mất lợi thế. Tha là không còn được nhắc lại lỗi của người kia mỗi khi cần thắng. Có người sợ lửa vì lửa đòi nói sự thật với chính mình: mình vẫn đi nhà thờ, nhưng lòng đã thuộc về một thần khác từ lâu. Sự sợ ấy là dấu lửa đang tới gần. Không nên dập. Nên xin ơn ở lại trong sự sợ lành ấy đủ lâu để nó thành ăn năn. Ăn năn không phải cảm giác buồn một buổi. Ăn năn là quay lại, là gọi đúng tên điều mình đang giữ, là trả lại điều không thuộc về mình, là đi xưng thú không biện hộ, là bắt đầu một cách sống mà tuần sau vẫn còn giữ. Lửa không cháy trên cảm xúc. Lửa cháy trên sự trung tín mỗi ngày.
Trong đời sống giáo xứ, lời này cũng chặt không kém trong đời sống gia đình. Một cộng đoàn có thể rất đông mà rất nguội. Người ta giữ lễ cho có, giữ chức cho có, giữ hội đoàn cho có, và gọi sự không ai va chạm là hiệp nhất. Hiệp nhất giả ấy vỡ ngay khi phải chọn giữa sự thật và lợi ích. Khi phải nói về tiền, về bổng lộc, về cách đối xử với người nghèo trong xứ, về việc một số anh chị em bị loại ra bên lề vì nghèo, vì lỗi đời, vì không thuộc phe, thì mặt hồ yên sóng bắt đầu động. Chúa không cần một giáo xứ không ai góp ý. Chúa cần một giáo xứ trong đó lửa đức ái đủ nóng để sự thật được nói mà không có ý hạ nhục, và đủ sáng để sự giả không được nuôi bằng sự im lặng. Người mục tử mà chỉ lo cho khỏi mất lòng thì đang bán rẻ đoàn chiên để mua một thứ bình an không phải của Chúa. Người giáo dân mà chỉ lo bắt lỗi mục tử thì cũng đang nuôi một thứ lửa khác, lửa của phe nhóm. Lửa của Chúa làm cả hai bên khiêm nhường: mục tử dám nói và dám nghe, giáo dân dám góp và dám vâng phục trong những gì thuộc về sự hiệp thông. Chia rẽ vì tự ái là việc của ma. Chia rẽ vì không chịu gọi tối là sáng thì có khi lại là dấu Tin Mừng đang được rao thật.
Với người trẻ, lời Chúa về lửa là một lời giải phóng, nếu được nghe cho đúng. Nhiều bạn trẻ tưởng đạo là một hệ thống cấm để giữ trật tự cho người lớn yên tâm. Chúa không đến để quản lý trật tự ấy. Ngài đến để đốt lên trong họ một tình yêu lớn hơn mọi cuộc vui đang hứa cho họ sự sống mà không đưa họ tới sự sống. Cuộc vui ấy có thật, có hấp dẫn, có đám đông, có hình ảnh. Nó chỉ không có sức giữ họ khi đêm xuống và lòng trống. Lửa của Chúa không cạnh tranh với cuộc vui bằng cách bắt chước cuộc vui. Lửa của Chúa cho họ một lý do để sống mà không cần được mọi người gật đầu: được biết mình là con, được tha, được sai đi yêu những người không ai yêu, được thuộc về một tình yêu không hết hạn khi phong trào qua đi. Bạn trẻ nào để lửa ấy cháy sẽ khác bạn bè. Khác không phải để khoe. Khác vì không còn bán mình cho cái nhìn của đám đông. Sự khác ấy có thể làm họ cô đơn trong nhóm. Cô đơn ấy không phải thất bại. Đó là giá của việc không để linh hồn mình bị thu vào đám đông. Nhưng người lớn phải cẩn thận, kẻo mình đòi các em sống khác mà chính mình không cháy. Một lời giảng về lửa từ một đời sống nguội thì không nhóm được ai.
Với những đôi vợ chồng, lửa này đi vào chỗ rất cụ thể. Hôn nhân Kitô giáo không phải hợp đồng ở chung cho đỡ cô đơn. Đó là một bí tích, nghĩa là một chỗ Chúa Kitô muốn ở và muốn cháy. Khi một bên muốn cầu nguyện, muốn sống trong sạch, muốn nói thật về tiền, muốn tha, muốn sinh con trong tin tưởng chứ không chỉ trong tính toán, còn bên kia muốn giữ nguyên một đời sống không để Thiên Chúa bước vào phòng ngủ và vào sổ sách, thì sự chia rẽ Chúa nói tới có mặt ngay giữa giường. Không được giải quyết sự chia rẽ ấy bằng cách người tin bỏ cuộc và sống theo phía nguội, cũng không được giải quyết bằng cách người tin biến mình thành người xét xử. Con đường hẹp hơn: ở lại, yêu, nói sự thật không độc địa, cầu nguyện, và không đồng lõa. Có những việc không thể cùng làm dù vẫn cùng sống. Có những cuộc vui không thể cùng dự. Có những khoản lợi không thể cùng nhận. Sự từ chối ấy, nếu làm bằng kiêu ngạo, sẽ phá nhà. Nếu làm bằng đau và bằng yêu, nó có thể là cách duy nhất để nhà một ngày kia được chữa. Nhiều cuộc trở lại trong hôn nhân bắt đầu từ một người không bỏ đi và cũng không chịu xuống nước với sự dữ.
Lửa còn có một mặt nữa mà người tin không được quên: lửa của hậu quả. Không phải mọi đau đều là hình phạt, nhưng không phải mọi hậu quả đều là ngẫu nhiên. Một đời quay lưng với tình yêu sẽ gặt sự lạnh. Một xã hội xây trên sự dối trá sẽ gặt sự không còn tin nhau. Một gia đình nuôi sự ngoại tình, sự bất công, sự bạo lực bằng im lặng sẽ gặt sự rạn từ bên trong, dù bên ngoài vẫn còn cỗ bàn. Chúa không vui vì sự gặt ấy. Ngài đã khóc trên thành đã không nhận giờ thăm viếng của mình. Nhưng Ngài không hủy sự thật để làm người ta yên tâm trong sự từ chối. Lòng thương xót không phải là việc tuyên bố rằng chọn nào cũng được. Lòng thương xót là việc mở cửa mãi cho kẻ quay về, và đồng thời không gọi con đường hư mất là con đường an toàn. Người rao giảng mà chỉ nói lửa phán xét thì làm méo Tin Mừng. Người rao giảng mà chỉ nói an ủi, không còn dám nói đến sự chọn và hậu quả của sự chọn, thì cũng làm méo Tin Mừng. Chúa Giêsu cầm cả hai trong cùng một hơi thở: lửa, và ước gì lửa đã cháy; phép rửa của thập giá, và lòng khắc khoải cho đến khi hoàn tất; chia rẽ, và bên trong sự chia rẽ ấy là một tình yêu không chịu để ai chết trong sự giả.
Vậy phải sống thế nào cho lửa ấy cháy mà nhà không thành bãi chiến. Trước hết là để Chúa đốt chính mình trước khi muốn đốt ai. Mỗi ngày dành một khoảng không mặc cả để Lời Chúa đọc mình, chứ không phải để mình đọc Lời Chúa như đọc một tài liệu ủng hộ ý mình. Mỗi tuần có một lần nhìn lại: mình đang mua bình an bằng sự im lặng đồng lõa ở chỗ nào. Mỗi khi bị chống đối, hỏi xem mình đang bị chống vì sự hiền lành của Tin Mừng hay vì cái tôi chưa chết. Với người nhà chưa tin hoặc tin cách khác, bớt bài giảng, thêm hiện diện. Một bữa cơm không độc địa có sức hơn một bài tranh luận. Một lần xin lỗi thật có sức hơn mười lần chứng minh mình đúng. Một đời sống đổi trong việc tiền bạc, việc nói năng, việc thủy chung, việc kiên nhẫn với cha mẹ già, sẽ đặt câu hỏi cho cả nhà mà không cần mở miệng. Đồng thời không được bán sự thật để giữ ghế trong nhà. Có những câu phải nói, một lần, rõ, không lặp lại như một điệp khúc trách móc: con không đi con đường ấy; anh chị không ký vào việc ấy; gia đình mình không sống bằng khoản tiền ấy. Nói rồi thì chịu. Chịu mất mát. Chịu bị gọi là khó. Chịu cầu nguyện lâu. Bình an của Chúa thường đến sau sự chịu ấy, không đến trước.
Lời cầu nguyện của Phaolô có thể trở thành hơi thở của người đang sống giữa nhà có rạn nứt. Quỳ xuống, không phải để xin cho mình thắng, mà để xin được củng cố trong nội tâm. Xin Đức Kitô ngự trong lòng, vì một lòng trống sẽ lấy sự được người nhà công nhận làm chỗ ở. Xin được bén rễ trong tình yêu, vì rễ nông thì cơn phản đối đầu tiên đã lay đổ. Xin hiểu chiều rộng dài cao sâu, vì tình yêu của mình thì ngắn, chỉ dài đến chỗ mình còn được lợi. Xin được đổ đầy sự sung mãn của Thiên Chúa, vì chỉ sự đầy ấy mới làm người ta thôi đi ăn xin bình an từ những nơi không thể ban bình an. Và trong cùng một lời cầu ấy, mang theo tên những người đang chia rẽ với mình. Không mang để kiện. Mang để xin cho họ được đụng tới cùng một tình yêu. Có những nhà không hòa lại trong đời này theo cách mình mong. Người tin vẫn không được phép tắt lửa, cũng không được phép tắt hy vọng. Thiên Chúa làm được điều vượt quá mọi điều ta cầu xin hay nghĩ tới. Đó không phải câu kết của một bài diễn. Đó là chỗ bám của người đang quỳ giữa một gia đình chưa hiểu mình.
Lửa đã được ném vào đất. Việc của mỗi người không phải bàn xem lửa có nên cháy hay không. Việc của mỗi người là thôi lấy tay che những gì mình không muốn bị soi, thôi gọi sự thỏa hiệp là hòa bình, thôi sợ chia rẽ hơn sợ sự giả dối, và để lòng mình thành chỗ lửa ấy được giữ. Một lòng đã cháy sẽ không làm cả thế giới bừng lên trong một ngày. Nó sẽ làm ấm một bữa cơm, một lời tha, một sự từ chối khẽ khàng trước điều bất chính, một đêm không bỏ cầu nguyện, một cách nhìn người nhà không còn bằng mắt của người thắng kiện. Rồi nếu Chúa muốn, từ chỗ ấm ấy, nhà có thể hết rạn. Nếu nhà chưa hết rạn, thì chính người đang cháy vẫn không mất bình an, vì bình an ấy không còn đặt ở sự mọi người đồng ý với mình. Bình an ấy đặt ở chỗ Đức Kitô đã ở trong lòng, và tình yêu của Ngài rộng hơn sự chia rẽ, dài hơn nỗi chờ, cao hơn cái lý của mình, sâu hơn mọi vết thương đang còn đau dưới mái nhà này.
Lm. Anmai, CSsR
LỬA ẤY KHÔNG CHỊU CHÁY ÂM Ỉ, VÀ BÌNH AN ẤY KHÔNG MUA ĐƯỢC BẰNG SỰ IM LẶNG
Có một thứ lửa không nhằm thiêu rụi nhà cửa cho đã nư, cũng không nhằm dọa nạt kẻ yếu cho người ta phải cúi đầu. Lửa ấy được thắp lên từ chính lòng nóng bỏng của một người đã đi giữa chúng ta, đã ăn cùng mâm, đã chạm vào người phong, đã khóc trước mồ bạn, và đã không chịu để thế gian cứ ngủ yên trong một thứ êm ấm giả tạo. Người ấy nói mình đến để ném lửa xuống đất, và lòng Người khắc khoải cho đến khi lửa ấy đã bốc. Khắc khoải ấy không phải nôn nóng của kẻ muốn gây chuyện, cũng không phải giận dữ của kẻ thất thế. Đó là nỗi nóng ruột của tình yêu khi thấy ngôi nhà vẫn còn tối, bếp vẫn còn lạnh, và người trong nhà vẫn còn tưởng rằng cứ khép cửa, cứ nói nhỏ, cứ tránh né những câu hỏi thật, thì bình an sẽ tự giữ được. Lửa Người muốn thắp không phải lửa của phe phái. Đó là lửa thanh luyện, lửa soi, lửa làm cho cái giả không còn chỗ núp, lửa khiến lòng người hoặc mở ra hoặc khép lại, chứ không còn cái vùng lưng chừng dễ chịu mà nhiều người vẫn gọi là đạo hạnh.
Muốn hiểu lửa ấy, phải nhìn lại cách Thiên Chúa vẫn dùng lửa trong lịch sử cứu độ, không như một trò biểu diễn, mà như một cách hiện diện. Bụi gai cháy mà không tàn là nơi danh thánh được thốt ra giữa sa mạc, giữa kiếp nô lệ, giữa một người đang chạy trốn. Cột lửa dẫn đoàn dân giữa đêm, không phải để họ có cảm giác an toàn theo kiểu khỏi phải bước, mà để họ biết đường khi mọi phía đều tối. Lửa trên núi làm cho lời giao ước không còn là chuyện bàn trong lều, mà thành một cái nóng người ta không thể sờ vào bằng tay trần. Các ngôn sứ nói về lửa luyện kim, về cái gì không chịu được sức nóng thì sẽ lộ ra là xỉ. Gioan đứng bên sông và nói đến Đấng sẽ đến, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa, nghĩa là không chỉ rửa cho sạch bụi bên ngoài, mà đốt cho đến tầng sâu nơi người ta vẫn giấu sự thỏa hiệp. Khi Chúa Giêsu nói mình đến để ném lửa, Người đang đứng trong dòng chảy ấy. Người không phát minh một hình ảnh lạ để gây sốc. Người đang nói rằng thời của Người là thời lửa phải cháy, chứ không còn là thời người ta chỉ sưởi cho ấm tay rồi trở vào nhà đóng cửa.
Nhưng lửa ấy không cháy một mình. Người nói còn một phép rửa Người phải chịu, và Người bị dồn ép cho đến khi việc ấy hoàn tất. Phép rửa ở đây không phải nước sông Giođan nữa. Đó là việc Người sẽ bị dìm vào sự chết, vào sự khước từ, vào cái giá của một tình yêu không chịu mặc cả. Lửa và phép rửa đi với nhau, vì không có tình yêu nào thanh luyện mà không trả giá, và không có sự thật nào được thắp lên giữa thế gian mà không bị thế gian thử bằng nước của khổ đau. Người khắc khoải không phải vì sợ đau theo kiểu trốn tránh. Người khắc khoải vì lửa chưa cháy đủ, vì hạt lúa còn nằm trong bao, vì giờ của tình yêu trọn vẹn chưa tới. Ai đã từng mang trong lòng một việc phải làm cho đến cùng, một lời phải nói cho thật, một người phải được yêu cho tới nơi, sẽ hiểu phần nào cái bị dồn ép ấy. Khác chăng là nơi Người, việc phải làm không phải dự án của bản thân, mà là ý của Cha, và cái hoàn tất không phải tiếng vỗ tay, mà là thập giá. Lửa Người ném xuống đất được nhóm từ chính lò ấy. Không có thập giá, lửa chỉ là nhiệt tình. Có thập giá, lửa mới là tình yêu đã đi tới cùng.
Chính vì vậy mà câu nói tiếp theo làm nhiều người sửng sốt. Người hỏi có phải Người đến để ban hòa bình trên mặt đất không, rồi Người nói không, Người đến để gây chia rẽ. Nghe qua, câu ấy như mâu thuẫn với mọi điều Người đã sống. Người chào bình an. Người dạy mối phúc cho kẻ xây dựng hòa bình. Người trách môn đệ muốn gọi lửa trời xuống trên làng không đón tiếp. Người chết mà vẫn cầu cho kẻ đóng đinh. Làm sao một người như thế lại nói mình đến để chia rẽ. Câu trả lời không nằm ở chỗ Người đổi ý, mà nằm ở chỗ bình an Người ban không cùng loại với thứ bình an người ta thường mua. Bình an của thế gian thường là sự vắng mặt của tiếng động. Miễn là không ai nói to, miễn là bữa cơm còn vui, miễn là họ hàng không dị nghị, miễn là trong xứ không ai chất vấn, thì người ta gọi đó là hòa thuận. Bình an ấy rẻ. Nó được giữ bằng cách né sự thật, bằng cách để cái sai nằm yên vì đụng vào thì mệt, bằng cách khen nhau những điều không đáng khen để khỏi mất lòng. Chúa Giêsu không đến để bảo vệ thứ bình an ấy. Tin Mừng của Người là một lời đòi hỏi, và mọi lời đòi hỏi thật đều làm lộ ra sự khác biệt giữa người chịu bước theo và người muốn ở lại chỗ cũ.
Chia rẽ Người nói tới không phải mục đích. Đó là hệ quả. Khi ánh sáng vào một phòng đã quen bóng tối, không phải ánh sáng cố tình gây sự với bóng tối. Bóng tối chỉ không chịu được ánh sáng. Khi một người trong nhà bắt đầu sống thật, bắt đầu tha thứ một cách không tính toán, bắt đầu không còn đồng lõa với sự dối trá quen thuộc của gia đình, bắt đầu để tiền bạc, danh dự, thói hưởng thụ không còn làm chủ, thì nhà ấy không còn yên theo kiểu cũ. Có người mừng. Có người khó chịu. Có người thấy bị tố cáo dù chẳng ai lên án. Chúa Giêsu mô tả sự chia rẽ ấy bằng hình ảnh rất gần, gần đến mức đau: nhà năm người chia ba chống hai và hai chống ba, cha chống con, con chống cha, mẹ chống con gái, con gái chống mẹ, mẹ chồng chống nàng dâu, nàng dâu chống mẹ chồng. Người không chọn hình ảnh chiến trường xa. Người chọn bàn ăn. Người chọn những tương quan máu mủ, những nơi lẽ ra tình thân phải che chở, lại trở thành nơi sự chọn lựa vì Tin Mừng bị thử thách nặng nhất. Vì người ta có thể can đảm trước đám đông, rồi lại mềm lòng trước một câu nói của cha, trước nước mắt của mẹ, trước sự lạnh nhạt của người mình thương.
Trong các gia đình, sự chia rẽ này ít khi nổ ra như một cuộc tranh luận thần học. Nó đến rất đời thường. Một người con không còn muốn sống hai mặt, chiều trong nhà thì một kiểu, ra ngoài thì một kiểu, và cha mẹ thấy con trở nên xa lạ. Một người vợ không còn chịu để chồng giữ những mối quan hệ mập mờ, những khoản tiền không dám nói, và chồng bảo đạo của vợ làm nhà mất vui. Một người trẻ không còn cười theo những câu chuyện hạ nhục người vắng mặt, và bị anh em bảo là đạo đức giả. Một người lớn tuổi trong họ bắt đầu nói sự thật về một bất công lâu năm mà cả họ vẫn im, và bị coi là kẻ phá hoại hòa khí. Không phải lúc nào người chọn Tin Mừng cũng đúng trong cách nói. Có khi người ấy nóng, vụng, thiếu khôn ngoan, biến lửa thành đám cháy vô ích. Nhưng bản chất của xung đột không luôn luôn là tính khí. Nhiều khi đó là sự đụng độ giữa một lòng đã bị Lời chạm và một lòng còn muốn giữ nguyên hiện trạng. Chúa Giêsu không chúc lành cho sự thô bạo trong nhà. Người chỉ không hứa rằng ai theo Người sẽ được cả nhà vỗ tay.
Cũng phải nói rõ điều Người không có ý. Người không cổ vũ con cái bất hiếu. Người không bảo vợ chồng lấy đạo làm cớ để khinh nhau. Người không biến đức tin thành vũ khí để thắng trong các cuộc cãi vặt. Luật yêu thương cha mẹ không bị hủy. Điều bị hủy là thứ hòa thuận xây trên sự im lặng trước điều sai. Một người con vẫn có thể vừa hiếu thảo vừa không đồng lõa. Một người vợ vẫn có thể vừa chung thủy vừa không nuốt sự giả dối. Một người trẻ vẫn có thể vừa kính trên vừa không bán lương tâm để được khen là ngoan. Sự chia rẽ Người báo trước là sự chia rẽ của lòng trung tín, không phải sự chia rẽ của tính kiêu. Ai lấy câu ấy để biện minh cho sự cứng nhắc, cho thói thích gây sự, cho cái tôi được đội lốt chính trực, người ấy đã đọc ngược. Lửa của Người thanh luyện cả người mang lửa. Nếu lửa chỉ đốt người khác mà không đốt sự tự phụ của mình, đó không còn là lửa Người ném.
Có một thứ Kitô giáo nửa dòng điện, vừa đủ sáng để người ta thấy mình còn đèn, lại không đủ nóng để nấu được gì. Người ta giữ một số việc đạo, tránh một số tội nổi, nói những câu đúng vào dịp lễ, rồi để phần còn lại của đời sống chạy theo quy luật của đám đông. Ở nhà thì nhường nhịn cho yên. Ở chỗ làm thì nhập cuộc cho khỏi thiệt. Trên mạng thì hùa theo cho có phe. Trong xứ thì không đụng vào điều gì có thể mất lòng người có thế. Thứ đạo ấy tạo ra một bình an mỏng. Nó không bị ai chống. Nó cũng không biến đổi ai. Chúa Giêsu đến không phải để nuôi thứ đạo ấy. Người muốn lửa cháy, nghĩa là muốn một chọn lựa có thể nhận ra. Hoặc người ta để Người làm chủ các tương quan, các khoản tiền, các lời nói, các ham muốn, hoặc người ta giữ Người ở ngoài cửa như một vị khách được kính mà không được quyền. Vùng giữa, vùng vừa đạo vừa đời theo kiểu không bên nào phật ý, là vùng Người không chịu ở. Không phải vì Người hẹp lượng, mà vì tình yêu không sống được trong sự nửa vời. Một ngọn đèn để nửa sáng nửa tắt không soi đường, chỉ làm người ta vấp.
Sự chia rẽ còn xảy ra trong chính lòng một người, trước khi xảy ra ngoài bàn ăn. Phần muốn theo ánh sáng và phần muốn giữ bóng tối không ở yên với nhau. Người ta có thể vừa ước ao một đời trong sạch vừa không muốn bỏ một thói quen nuôi mình trong kín đáo. Vừa muốn thứ tha vừa muốn giữ một câu chuyện cũ để có ngày dùng lại. Vừa muốn nghèo vì Nước Trời vừa tính toán từng chút danh dự. Cuộc chia rẽ trong nhà thường chỉ là hình bóng của cuộc chia rẽ đã xảy ra trong tim. Khi một người không dám chọn dứt khoát trước mặt Chúa, người ấy sẽ rất dễ đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho cha mẹ, cho vợ chồng, cho xứ đạo. Lửa xuống đất trước hết là lửa xuống lòng. Ai để lửa ấy cháy, sẽ thấy một số gắn bó cũ phải lìa, không phải lìa người, mà lìa cách người ấy từng dùng người khác để trốn Chúa. Đó là chia rẽ đau nhất, vì không có ai để cãi, chỉ có mình và sự thật.
Phép rửa Người phải chịu cho ta hiểu vì sao Người dám nói những lời cứng như vậy. Người không đứng ngoài mà giảng về giá phải trả. Người sẽ trả trước. Sự chia rẽ Người báo không phải lý thuyết. Chính gia đình Người đã từng không hiểu. Chính môn đệ sẽ bỏ chạy. Chính dân Người sẽ phân rẽ. Người bị đặt làm dấu gây chống đối, để lòng nhiều người lộ ra. Thập giá là nơi sự phân rẽ ấy tới đỉnh. Một bên là tình yêu đi đến cùng. Một bên là quyền lực, sợ hãi, ganh tị, thói giữ đền thờ mà mất Thiên Chúa. Không có lập trường trung dung trước thập giá. Người ta hoặc nhận, hoặc từ chối, hoặc đứng nhìn cho đến khi sự trung dung ấy cũng thành một cách từ chối. Bình an Người sẽ ban sau phục sinh không phải sự trở lại của cái êm đềm cũ. Đó là bình an đã đi qua lửa, bình an của thương tích vẫn còn, bình an không cần sự đồng thuận của thế gian để đứng vững.
Vì thế, ai đang gặp chống đối vì đã chọn một đời thật hơn, không nên vội kết luận rằng mình thất bại, cũng không nên vội kết luận rằng mình đang thánh. Phải xét lửa mình đang mang là lửa nào. Nếu người ta chống mình vì mình nói thật mà vẫn hiền, vì mình không còn nhập cuộc với điều khuất tất, vì mình tha thứ khi cả nhà muốn trả đũa, vì mình sống đơn sơ giữa một môi trường khoe khoang, thì sự chống đối ấy nằm trong lời Người đã báo trước. Nếu người ta chống mình vì mình chua, vì mình khinh, vì mình lấy đạo để thắng, thì phải để lửa quay lại đốt chính mình trước. Sự phân định này không làm một lần. Nó là việc mỗi ngày. Gia đình là nơi phân định khó nhất, vì tình cảm làm mờ mắt, và vì người ta dễ thần thánh hóa sự cứng nhắc của mình khi bị người thân phản đối. Khôn ngoan không phải là im cho yên. Khôn ngoan là nói đúng lúc, nói vì yêu, chịu mất lòng mà không mất lòng yêu, và sẵn sàng nhận phần vụng về của mình mà không rút lại sự thật.
Trong một giáo xứ, lửa ấy cũng làm lộ ra những bình an giả. Có những cộng đoàn rất êm, vì không ai dám nói về cách tiền được dùng, về cách người nghèo bị quên, về cách một số thói quen đã thành luật bất thành văn. Sự êm ấy được khen là hiệp nhất. Đôi khi đó chỉ là sự cùng mệt. Tin Mừng không đến để đốt xứ đạo cho tan. Tin Mừng đến để đốt những gì không phải Tin Mừng đang núp dưới danh nghĩa đoàn thể. Một hội đoàn chỉ còn lo kèn trống mà không còn lo người anh em, một ban hành giáo chỉ còn giữ thể diện mà không còn phục vụ, một lớp giáo lý chỉ còn truyền thói quen mà không còn truyền gặp gỡ, đều là chỗ lửa cần tới. Chia rẽ có thể xảy ra giữa người muốn giữ nguyên và người muốn để Lời sửa. Không phải ai muốn đổi cũng đúng đường. Có những cuộc đổi chỉ là thay ngôi. Nhưng sợ mọi xáo trộn đến mức gọi mọi chất vấn là phá rối, thì cộng đoàn ấy đã chọn bình an của ngôi mộ, nơi không còn ai cãi vì không còn ai sống thật.
Giới trẻ thường nghe câu này theo một hướng khác. Họ thấy trong nhà một thứ đạo của lễ nghi, của lời khuyên lặp lại, của nỗi sợ dị nghị, và họ muốn một đức tin có lửa. Ước muốn ấy đúng hướng, miễn là lửa họ tìm không phải lửa của phản kháng cho đã, cũng không phải lửa của một nhóm mới để có chỗ thuộc về. Lửa Chúa Giêsu không thải bỏ cha mẹ. Lửa ấy dạy một cách yêu cha mẹ trưởng thành hơn, một cách ở trong truyền thống mà không tôn truyền thống thành chúa. Nhiều gia đình Việt Nam thương con bằng cách giữ con trong sự vâng lời không được hỏi. Nhiều người trẻ đáp lại bằng cách cắt đứt không được phân biệt. Cả hai đều chưa phải chia rẽ của Tin Mừng. Chia rẽ của Tin Mừng là khi một người trẻ sống thật đến mức nhà không hiểu, nhưng người trẻ ấy vẫn quỳ, vẫn nuôi, vẫn không dùng tự do mới để trả thù những năm bị kiểm soát. Lửa không làm người ta hết hiếu. Lửa làm hiếu thảo bỏ lớp vỏ sợ hãi.
Người sống đời dâng hiến cũng không đứng ngoài lời này. Áo dòng không bảo hiểm khỏi sự nửa vời. Một cộng đoàn tu có thể rất yên vì không ai nói điều đang làm cộng đoàn nguội, vì nể, vì sợ, vì ngại phiên họp dài. Sự yên ấy không phải hoa trái của Thánh Thần. Khi một người bắt đầu sống triệt để hơn điều cả nhà vẫn đọc trong hiến pháp, người ấy có thể thành dấu gây khó chịu. Không phải lúc nào người ấy cũng được sai đi nói. Đôi khi lửa cháy bằng một đời âm thầm không còn mặc cả với Chúa, và chính sự âm thầm ấy làm người bên cạnh không yên, vì nó nhắc rằng còn một cách sống khác. Phép rửa Người nói tới, cái bị dìm cho đến khi hoàn tất, cũng là hình của mọi ơn gọi. Không có bước theo nào chỉ có lửa của nhiệt huyết ban đầu mà không có giờ bị dìm. Giờ bị dìm mới cho biết lửa ấy có phải lửa của Người hay chỉ là lửa của mùa hè.
Lửa còn một mặt nữa, mặt của lòng thương xót. Thanh luyện không đồng nghĩa với loại trừ. Chúa Giêsu nói về chia rẽ không phải để môn đệ học thói cô lập người khác phàm. Người ăn với người thu thuế trong khi bị người đạo đức chia rẽ khỏi mình. Sự chia rẽ Người chấp nhận là sự chia rẽ do người khác không chịu nổi lòng thương xót của Người, không phải sự chia rẽ do Người không chịu nổi kẻ tội lỗi. Đây là điểm dễ lẫn. Nhiều người tưởng mình đang mang lửa vì mình tách khỏi những ai chưa sống đúng. Thật ra họ đang mang tường. Lửa của Người đến gần kẻ bị loại, và chính sự đến gần ấy gây chia rẽ với những ai muốn đạo phải sạch theo kiểu của họ. Trong một họ đạo, người bênh kẻ bị mang tiếng có thể bị chính những người siêng nhà thờ chống lại. Đó cũng là một dạng của lời Người đã nói. Ba chống hai không luôn luôn là người đạo chống người ngoại. Đôi khi là người đang học thương xót chống lại người chỉ muốn giữ biên giới.
Bình an thật, vì thế, không nằm ở cuối một cuộc thương lượng mà mọi bên đều bớt một chút sự thật. Bình an thật là hoa trái của một tương quan đã được đặt lại dưới ánh sáng. Có những gia đình chỉ hòa lại sau nhiều năm, khi người đã dám sống khác không còn cần thắng, và người đã chống không còn cần giữ thể diện. Có những hòa giải không bao giờ xảy ra ở đời này, và người môn đệ phải học mang sự chia rẽ ấy như một phần của thập giá, không đầu độc nó thành hận. Chúa Giêsu không hứa mọi nhà sẽ hiểu nhau trước khi Người trở lại. Người hứa lửa sẽ cháy, hạt lúa sẽ chết, và sự sống sẽ lộ ra từ chính chỗ xem như gãy. Ai đòi một đức tin không làm mất lòng ai, người ấy đang đòi một Tin Mừng khác với Tin Mừng đã được trao. Ai dùng sự mất lòng như bằng chứng mình đang đúng, người ấy cũng đang đi đường khác. Con đường là lửa có hình dạng của tình yêu đã chịu phép rửa.
Ngày thường của đời sống mới là nơi câu này được kiểm chứng, chứ không phải giờ suy niệm. Khi một cuộc điện thoại trong họ đòi mình nhập vào một việc không sạch để giữ hòa khí, lửa và phép rửa đang ở đó. Khi một nhóm bạn chờ mình cười một câu làm tổn thương người vắng mặt, sự chọn lựa đang ở đó. Khi lợi nhỏ có thể giữ nếu mình im một điều mình biết là sai, bàn ăn năm người đang hiện ra. Không cần bi kịch lớn. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh bếp núc, cha con, mẹ con, mẹ chồng nàng dâu, vì Người biết Nước Trời được nhận hay từ chối ngay tại những tương quan không ai viết sử. Lửa không chờ dịp trọng. Lửa chờ một lòng không còn muốn vừa lòng mọi phía.
Và vẫn còn lời khắc khoải của Người, lời ước lửa đã cháy rồi. Lời ấy không để ta xấu hổ vì còn nguội, theo kiểu tự hành hạ. Lời ấy là lời mời bước vào cùng một nỗi nóng ruột thánh. Nóng ruột vì còn bao người sống trong bình an giả mà tưởng đó là phúc. Nóng ruột vì chính mình vẫn còn những góc để dành, chưa chịu để lửa vào. Nóng ruột vì Giáo Hội có khi mải giữ nhịp êm hơn là để Lời làm xáo. Nhưng nóng ruột của Người không hủy diệt. Nó là nóng ruột của người sắp dìm mình để kẻ khác được sống. Ai muốn mang lửa ấy thì cũng phải chấp nhận một phép rửa, một lúc bị dìm, một lúc không được cả nhà hiểu, một lúc sự thật mình sống trở thành dấu gây chia. Rồi từ chỗ bị dìm ấy, không phải sự cay nghiệt được sinh ra. Bình an được sinh ra, thứ bình an không cần sự đồng thanh của thế gian, vì nó đã được trả giá bằng một tình yêu không còn giữ phần cho mình.
LỬA ĐÃ NHÓM VÀ NHÀ BỊ CHIA
Có những lời của Đức Giêsu làm người nghe muốn bỏ đi, không phải vì khó hiểu, mà vì hiểu quá rõ. Người không đến để dọn một bàn tiệc êm ái cho mọi nhà cùng ngồi, cũng không đến để vá lại những mảng vải rách của một nền hòa bình giả. Người nói Người đến để ném lửa xuống đất, và Người ước gì lửa ấy đã bùng lên. Rồi Người nói thêm một câu còn nặng hơn: đừng tưởng Người đến để đem bình an, Người đến để đem sự chia rẽ. Cha chống con, con chống cha, mẹ chống con gái, con dâu chống mẹ chồng, năm người trong một nhà sẽ thành hai phe. Lời ấy không phải lời của một nhà hùng biện thích gây sốc. Đó là lời của một người đang tiến về một phép rửa mà Người phải chịu, một phép rửa bằng máu, và bao lâu phép rửa ấy chưa hoàn tất thì lòng Người còn bị siết lại như lửa bị nhốt trong lò. Ai chỉ muốn Tin Mừng là một lớp sơn bóng phủ lên đời sống cũ sẽ thấy câu này như một tảng đá giữa đường. Ai đã từng phải chọn giữa sự thật và sự yên ổn của gia đình lại thấy câu này như một người bạn đã đi trước mình rất xa.
Lửa mà Người muốn ném xuống không phải lửa đốt nhà đốt cửa cho vui mắt. Trong lịch sử dân Người, lửa từng là dấu của sự hiện diện: bụi gai cháy mà không tàn, cột lửa dẫn đường ban đêm, lửa từ trời đáp xuống lễ vật để chứng thực rằng lời cầu không rơi vào khoảng không. Lửa cũng là thứ thiêu những gì không chịu được sự tinh sạch. Khi Đức Giêsu ước lửa đã được nhen, Người không đang mơ một cuộc bạo loạn. Người đang nói về một ngọn lửa sẽ được thắp bằng chính cái chết của Người, rồi được trao vào lòng các môn đệ như hơi thở, như lưỡi lửa, như sức làm cho người nhát gan mở miệng. Lửa ấy soi chứ không chỉ đốt. Lửa ấy làm ấm người lạnh đức tin, nhưng cũng làm bỏng người muốn giữ đạo như giữ một thói quen xã giao. Ai bước vào lửa ấy sẽ không còn sống được bằng sự nửa vời. Nửa vời là trạng thái tiện nhất của một tâm hồn muốn được cả hai phía khen. Nửa vời giữ lễ ngày Chúa nhật cho có mặt, giữ miệng khi bàn chuyện công bằng, giữ im lặng khi người thân làm điều sai mà mình sợ mất lòng. Nửa vời tưởng rằng mình đang giữ hòa khí. Thật ra nửa vời là thứ lửa không cháy, thứ than nguội mà nếu có ai thổi cũng chỉ bay tro.
Sự chia rẽ Người nói tới không phải mục đích. Không ai có trí khôn lại đi tìm việc làm tan nhà tan cửa. Sự chia rẽ là cái giá hiện ra khi sự thật đi vào một căn nhà đã quen xếp đặt theo một trật tự khác. Trong nhiều gia đình, trật tự ấy là sự ổn định bằng cách không đụng vào những gì đang nuôi sống sự giả dối. Có nhà ổn vì không ai dám nói người cha đang uống đến mức bán cả tương lai con. Có nhà êm vì con cái học cách khen điều mẹ muốn nghe dù trong lòng biết điều ấy lệch. Có họ đạo yên vì không ai hỏi tiền của người nghèo đang đi về đâu. Có nhóm bạn bền vì mọi người cùng đồng ý rằng vài chuyện nhỏ không đáng làm lớn. Khi một người trong nhà bắt đầu sống khác, không phải sống kiêu để chứng tỏ mình đạo đức hơn, mà sống thật đến mức không còn ký vào những thỏa hiệp cũ, thì sự êm ấy vỡ. Người ta gọi người ấy là kẻ làm rối. Người ta nói đạo dạy hiếu thảo, sao lại chống cha chống mẹ. Người ta quên rằng hiếu thảo không phải là tiếp tay cho điều làm hư chính người mình yêu. Đức Giêsu không bảo con cái khinh cha mẹ. Người chỉ không cho phép lấy danh nghĩa gia đình để bắt sự thật phải im.
Cuộc chia cắt ấy thường bắt đầu rất nhỏ. Một bữa cơm. Một câu nói không còn cười theo. Một lần từ chối đi đến nơi mà cả nhà vẫn đi vì sợ bị chê là không biết điều. Một lần đem tiền lẽ ra dùng để giữ thể diện lại đưa cho người đang đói. Một lần nói trong bàn họp rằng việc này không thể làm nếu muốn còn nhìn mặt người nghèo. Những cử chỉ ấy không có cờ xí. Chúng chỉ làm lộ ra rằng trong cùng một mái nhà đang có hai lối nhìn về điều đáng sống. Người chưa bị lửa chạm sẽ thấy người kia cực đoan. Người đã bị lửa chạm sẽ thấy mình không còn đường lui, vì lui là dập tắt chính điều đang giữ mình sống. Và đau nhất không phải là bị người xa lạ chống. Đau nhất là bị người cùng huyết thống nhìn như kẻ phản. Tin Mừng không bọc đường chỗ này. Người đã thấy trước cảnh năm người một nhà thành hai phía, và Người vẫn không rút lời.
Nhưng phải phân biệt lửa của Người với thứ lửa do tính khí. Có người nhân danh sự thật để thỏa cơn giận cũ. Có người dùng câu nói về sự chia rẽ để biện minh cho sự cứng cổ, cho thói không biết nghe, cho cái tôi muốn thắng trong mọi bàn ăn. Lửa ấy không thanh tẩy. Lửa ấy chỉ làm thêm tro. Lửa Đức Giêsu ném xuống đi qua phép rửa của Người, nghĩa là đi qua thập giá, qua việc Người không trả đòn, qua việc Người vẫn gọi những kẻ đóng đinh là những người chưa biết việc mình làm. Ai mang lửa ấy vào nhà sẽ nói sự thật, nhưng không nói để hạ nhục. Sẽ không ký vào điều sai, nhưng không biến bữa cơm thành tòa án. Sẽ chấp nhận bị ghét vì điều lành, nhưng không đi tìm bị ghét để cảm thấy mình là người được chọn. Dấu phân biệt rất giản dị: lửa thật làm người mang nó khiêm hơn, còn lửa giả làm người mang nó khinh người khác hơn.
Trong đời sống đức tin, sự nguội là cám dỗ tinh vi hơn sự dữ công khai. Người làm điều dữ đôi khi còn biết mình đang lệch. Người nguội lại tưởng mình đang ổn, vì vẫn còn tên trong sổ, vẫn còn đến nhà thờ, vẫn còn nói những câu đúng. Sự nguội không cần từ chối Thiên Chúa. Nó chỉ cần không còn ước gì lửa cháy. Nó cầu nguyện cho xong. Nó nghe Lời cho có. Nó thương người đến mức không phiền đến túi tiền và không phiền đến quan hệ. Nó muốn một Giáo hội không bao giờ làm ai khó chịu, một bài giảng không bao giờ chạm vào cách mình đang kiếm ăn, một cộng đoàn nơi mọi người khen nhau và không ai phải sửa ai. Đức Giêsu không có một lời dịu dành cho trạng thái ấy. Người thà thấy lửa đã nhen còn hơn thấy một đống củi xếp rất đẹp mà không bao giờ bắt. Một tâm hồn chưa từng bị Lời làm mất ngủ, chưa từng phải trả giá cho một lựa chọn ngay, chưa từng cảm thấy nhà mình lạnh vì mình không còn hòa theo điệu cũ, rất có thể chưa gặp lửa, dù đã gặp rất nhiều nghi lễ.
Lửa cũng không chỉ là chuyện riêng của từng người. Khi lửa vào một giáo xứ, một dòng, một nhóm nhỏ, nó bắt đầu từ những việc không ai chụp ảnh. Có người thôi không còn ngồi léng phéng khi bàn chuyện đất đai của người yếu. Có người trả lại phần không phải của mình dù không ai phát hiện. Có người dành giờ cho kẻ chẳng đem lại ích gì cho danh tiếng của mình. Có người chịu tiếng là chậm tiến vì không chạy theo một lối sống mà cả vùng đang khen là khôn. Những việc ấy không lập tức làm cả họ đạo nên thánh. Chúng chỉ làm xuất hiện một đường nứt. Đường nứt ấy cần thiết, vì một cộng đoàn không còn chỗ nào nứt có khi không còn chỗ nào thật. Hòa bình của một tập thể mà trong đó không ai dám nói điều bất tiện thường là hòa bình của sự sợ. Hòa bình Tin Mừng khác. Hòa bình ấy đến sau khi sự thật đã được nói, sau khi người ta đã chịu chia tay với những thỏa hiệp, sau khi cây thập giá không còn bị đẩy ra khỏi nhà để khỏi vướng lối đi.
Người ta hay hỏi làm sao giữ được nhà khi lời này đang nói về nhà bị chia. Câu trả lời không nằm ở chỗ làm mềm sự thật cho đến khi nhà hết cãi. Câu trả lời nằm ở chỗ người mang lửa học cách ở lại. Ở lại không có nghĩa là chịu khuất trước điều sai. Ở lại là không bỏ nhà như bỏ một cuộc chiến đã chán. Là vẫn gọi cha là cha khi cha không hiểu. Là vẫn ngồi cùng mâm khi mâm ấy im lặng nặng. Là vẫn cầu cho người đang chống mình, không phải cầu cho họ thua, mà cầu cho mắt họ được mở mà không phải trả một giá quá đắng. Đức Giêsu không rời những kẻ không đón Người theo kiểu bỏ chạy. Người đi tới cùng con đường của phép rửa. Ai muốn lửa của Người cũng phải tập đi tới cùng, nghĩa là chịu được sự cô đơn ở giữa những người thân mà không biến sự cô đơn ấy thành vũ khí.
Có một nỗi sợ khác, thầm hơn, là sợ mình đang quá đáng. Nhiều người tốt thực sự run khi thấy nhà mình bắt đầu lệch vì mình. Họ tự hỏi có phải mình đã đọc Lời theo kiểu hẹp. Họ nhớ những lần mình cũng sai, cũng cứng, cũng nói lời yêu mà giọng lại như luận tội. Nỗi sợ ấy lành khi nó kéo người ta trở về xét mình. Nó trở thành bẫy khi nó dập mọi chọn lựa chỉ vì chọn lựa ấy làm người khác buồn. Không phải mọi buồn phiền đều là dấu của lửa. Nhưng cũng không phải mọi yên ắng đều là dấu của Chúa. Muốn phân biệt, phải nhìn trái. Lửa thật sinh ra sự trong, sự bền, lòng thương người không còn tính toán, và một niềm vui lạ dù hoàn cảnh không dễ. Lửa giả sinh ra phe, sinh ra nhu cầu được khen là người can đảm, sinh ra sự khinh những ai chưa đi nhanh bằng mình. Trái mới là thước. Lời thì cả hai phía đều có thể dẫn.
Trong kinh nghiệm của những nhà đã đi qua đoạn này, sự chia cắt không phải lúc nào cũng là đoạn cuối. Có khi nó là đoạn giữa. Người chống đối hôm nay có thể là người được chính nỗi đau ấy đánh thức ngày sau. Có khi không. Tin Mừng không hứa rằng mọi cha mẹ sẽ hiểu, mọi họ hàng sẽ trở lại bàn ăn cũ với một nụ cười mới. Tin Mừng chỉ hứa rằng ai mất vì Đức Kitô sẽ không mất theo cách thế gian vẫn tính. Có những ngôi nhà bên ngoài vẫn nguyên mái, nhưng bên trong đã hết thật. Có những ngôi nhà từng nứt, rồi nhiều năm sau lại có một thứ bình an không còn được mua bằng sự im lặng. Bình an ấy đắt. Nó được trả bằng những mùa không được hiểu, bằng những lễ mà trong nhà có người không dự, bằng những lời không được đáp. Ai vội đòi bình an ngay trong tuần lễ đầu tiên sau khi mình thôi nói dối sẽ dễ bỏ cuộc. Lửa cần thời gian để thành than hồng, không phải chỉ để thành tia sáng lúc đầu.
Đức Giêsu nói Người ước gì lửa đã được nhen. Ước ấy cho thấy lửa không phải một ý tưởng Người tung ra cho có. Đó là nỗi khát của một trái tim đang bị siết cho đến ngày phép rửa hoàn tất. Phép rửa ấy là thập giá. Không có thập giá thì lời về sự chia rẽ chỉ là một câu cứng. Có thập giá thì câu ấy thành một lối sống: Người đã chịu chia cắt với cả những kẻ Người yêu đến mức họ bỏ Người trong đêm bị nộp, và Người vẫn không đổi sự thật của Cha để mua lại sự ở lại của họ. Ai theo Người sẽ gặp, theo mức của mình, một phiên bản nhỏ của đêm ấy. Không phải ai cũng bị nộp cho chính quyền. Phần đông chỉ bị nộp cho dư luận của bàn nhậu, cho cái nhìn của mẹ, cho sự lạnh của anh em. Phiên bản nhỏ không vì thế mà nhẹ. Với nhiều người, mất lòng mẹ nặng hơn mất chức.
Vậy thì phải làm gì khi lửa đã chạm mà nhà bắt đầu lạnh. Trước hết là không diễn. Đừng kể chuyện mình đang chịu bắt bớ để được an ủi. Hãy xét lại từng lời đã nói, xem có lời nào chỉ nhằm thắng. Hãy giữ những việc nhỏ mà lửa đòi: sự thật trong tiền bạc, sự trong trong tương quan, sự không tham dự vào điều mình biết là hại người. Hãy cầu, không phải chỉ cầu cho mình đủ sức, mà cầu cho người đang giận mình được bình an theo cách của Chúa, dù cách ấy chưa phải là cách mình muốn. Hãy ở lại trong Lời, vì lửa không được nhóm mỗi ngày sẽ thành tro của một kỷ niệm đạo đức. Và hãy chấp nhận rằng một số cánh cửa trong chính ngôi nhà của mình sẽ đóng một mùa dài. Đóng không có nghĩa là hết yêu. Đóng có khi là cách duy nhất để cả hai phía khỏi phải nói những câu không còn lấy lại được.
Giáo hội không sống được bằng một nền hòa bình không có lửa. Một cộng đoàn nơi không ai từng phải trả giá cho Tin Mừng là một cộng đoàn đang kể một câu chuyện khác với câu chuyện của Thầy. Điều này không cổ vũ sự gây sự. Điều này chỉ nhắc rằng sứ vụ làm chứng sẽ chạm vào những cấu trúc đang sống nhờ bóng tối, từ cấu trúc của một thói quen gia đình đến cấu trúc của một lối kiếm ăn, một cách giữ chức, một cách im để được yên. Khi ánh sáng tới, bóng tối không hoan hô. Nó co lại, hoặc nó chống. Người mang ánh sáng mà ngạc nhiên vì bị chống là người chưa đọc đến câu nói về năm người trong một nhà. Người đã đọc rồi mà vẫn run là người bình thường. Run không phải là hết lửa. Run mà vẫn không ký vào điều sai mới là lửa đang cháy trong một thân xác có thật.
Có những buổi sáng người ta thức dậy và thấy nhà mình không còn như trước. Bàn ăn vẫn đó. Chén vẫn đó. Chỉ có điều một câu nói hôm qua đã làm đổi không khí. Trong buổi sáng ấy, đừng vội gọi đó là thất bại của đức ái. Hãy hỏi lửa còn đó không. Nếu còn, thì sự lạnh của nhà chưa phải là lời cuối. Đức Giêsu đã ước lửa được nhen trước khi Người nói đến sự chia rẽ. Thứ tự ấy quan trọng. Không phải chia rẽ để có lửa. Là lửa đến, và nhà nào không muốn cháy theo cách của Người thì nhà ấy sẽ lộ ra những đường nứt vốn đã có từ lâu, chỉ bị sơn kín. Đường nứt lộ ra là đau. Đường nứt bị sơn kín mãi là một thứ chết chậm. Giữa hai điều ấy, lời của Người chọn điều thứ nhất, vì chỉ điều thứ nhất còn đường để một ngày kia cả nhà cùng được sưởi bằng một lửa không còn phải giả.
NGỌN LỬA ĐỨC GIÊSU MUỐN THẤY ĐÃ BÙNG CHÁY
Có những lời của Đức Giêsu mà ta không dám đọc nhanh. Không phải vì lời ấy khó hiểu theo nghĩa chữ, mà vì lời ấy chạm vào chỗ ta vẫn muốn giữ yên. Người không nói một câu an ủi cho buổi chiều mệt. Người không hứa một mái nhà luôn thuận hòa. Người đứng giữa đám đông, giữa những kẻ đang chờ một Đấng Mêsia đem lại thái bình, và thốt ra điều khiến lòng người phải dừng lại: Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã cháy lên. Rồi Người nói tiếp về một phép rửa Người còn phải chịu, về nỗi khắc khoải không nguôi cho đến khi việc ấy hoàn tất. Rồi Người hỏi thẳng, gần như muốn phá cái hình ảnh dịu dàng mà nhiều người đã tự vẽ cho mình: anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao. Không phải thế. Thầy đến để đem sự chia rẽ. Từ nay, trong một nhà năm người sẽ chia nhau, ba chống hai, hai chống ba, cha chống con, con chống cha, mẹ chống con gái, con gái chống mẹ, mẹ chồng chống nàng dâu, nàng dâu chống mẹ chồng.
Lời ấy không phải lời của một người thích gây rối. Lời ấy là lời của một người biết mình đang đi về đâu, và biết cái giá của việc đi về đó. Lửa Người muốn ném không phải lửa đốt nhà, không phải lửa của giận dữ muốn thiêu kẻ khác cho hả. Lửa ấy là lửa của sự thật khi sự thật không còn được phép nằm im. Lửa ấy là lửa của tình yêu khi tình yêu không chịu làm ngơ trước điều đang giết người. Lửa ấy là lửa của Thánh Thần, lửa đã cháy trên các ngôn sứ, lửa sẽ đổ xuống các môn đệ, lửa thanh tẩy chứ không phải lửa hủy diệt cho vui. Nhưng muốn cho lửa ấy cháy trên mặt đất, chính Người phải đi qua một phép rửa. Phép rửa ấy không phải nước sông Giođan. Phép rửa ấy là cuộc thương khó, là chén đắng, là thập giá, là việc Người để mình bị dìm vào cái chết để từ đó sự sống trỗi lên. Nỗi khắc khoải của Người không phải nỗi sợ hão. Đó là nỗi của một trái tim đã thấy rõ con đường, đã yêu đến cùng, và chưa thể nghỉ khi việc yêu ấy chưa hoàn tất.
Ta thường thích một Đức Giêsu chỉ đem hòa bình. Hòa bình theo nghĩa không ai phải đổi, không ai phải mất mặt, không ai phải chọn. Hòa bình của một bàn ăn vẫn cười nói, của một họ đạo vẫn êm, của một gia đình vẫn giữ lệ cũ dù lòng đã lạnh. Đức Giêsu không khinh hòa bình. Chính Người sẽ chào các môn đệ bằng bình an. Chính Người sẽ để lại bình an của Người, thứ bình an thế gian không thể ban. Nhưng Người phân biệt rất rõ giữa bình an thật và sự yên lặng của thỏa hiệp. Sự yên lặng ấy nhiều khi chỉ là tên khác của sự sợ. Sợ mất lòng. Sợ mất chỗ. Sợ bị coi là người làm rối nhà. Sợ cái nhìn của cha mẹ, của vợ chồng, của anh em, của họ hàng khi mình bắt đầu sống khác đi vì đã gặp Người. Đức Giêsu không đến để nuôi cái sợ ấy. Người đến để đốt nó.
Sự chia rẽ Người nói tới không phải mục đích. Đó là hệ quả. Khi ánh sáng vào một căn phòng còn quen bóng tối, bóng tối không ngồi yên. Khi một người trong nhà bắt đầu lấy Tin Mừng làm thước đo đời mình, những thói quen cũ không tự nhiên đầu hàng. Có nhà chia vì đức tin được tuyên xưng cách nghiêm túc. Có nhà chia vì một người con không còn chịu sống hai mặt, ngoài đường một đàng, trong nhà một nẻo, trong nhà thờ một giọng, ngoài đời một giọng. Có nhà chia vì một người vợ không còn đồng lõa với sự dối trá được gọi là khôn. Có nhà chia vì một người chồng không còn lấy tiền bạc làm chúa. Có nhà chia vì một thiếu nữ muốn dâng đời mình, và cả họ coi đó là chuyện phí. Có nhà chia vì một cụ già cuối đời muốn hòa giải, muốn xin lỗi, muốn trở lại bàn tiệc, trong khi con cháu đã quen với sự lạnh và gọi sự lạnh ấy là bình thường. Đức Giêsu không vui khi nhà tan. Người biết nhà tan đau đến mức nào, vì chính Người cũng đã bị người nhà hiểu lầm, bị coi là mất trí, bị kéo về khi Người đang rao giảng. Nhưng Người không chịu mua sự êm bằng cách im tiếng.
Trong nhà năm người mà chia ba hai, đó không phải con số cho vui. Đó là hình ảnh một mái ấm bị đường ranh của sự chọn cắt ngang. Cha chống con không hẳn vì ghét con. Nhiều khi vì thương theo cách của mình, và cách ấy không còn chỗ cho Đấng mà con đã gặp. Con chống cha không hẳn vì bất hiếu. Nhiều khi vì không còn có thể gật đầu trước điều cha coi là phải mà Tin Mừng gọi là không. Mẹ và con gái có thể yêu nhau đến chảy nước mắt mà vẫn không đi cùng một đường, vì một người lấy lệ làng làm luật, một người lấy lời Chúa làm luật. Mẹ chồng và nàng dâu vốn đã mỏng manh, càng dễ nứt khi đức tin không còn là chuyện đi lễ cho có, mà trở thành chuyện sống. Sự chia rẽ ấy đau vì nó xảy ra giữa những người cùng máu, cùng mâm, cùng họ. Nó không xảy ra giữa kẻ xa. Nó xảy ra giữa kẻ gần. Và chính vì gần nên vết thương lâu liền.
Tuy vậy, không phải mọi sự bất hòa trong nhà đều là thập giá của Tin Mừng. Có thứ chia rẽ sinh ra từ tính khí, từ lời nói ác, từ ích kỷ, từ sự cố chấp được khoác áo đạo đức. Đức Giêsu không bảo ta gây sự cho có chuyện. Người không bảo ta dùng Ngài làm cớ để thắng một cuộc cãi vặt, để hạ nhục người thân, để chứng tỏ mình đạo đức hơn. Lửa Người ném không phải lửa của cái tôi. Ai lấy Tin Mừng để làm tổn thương người khác cho đã giận, người ấy chưa gặp lửa của Người. Ai trong nhà nói năng như quan tòa, coi mọi kẻ chưa nghĩ giống mình là kẻ thù của Chúa, người ấy đang thổi một ngọn lửa khác. Lửa của Đức Giêsu thanh tẩy trước hết chính người mang lửa. Lửa ấy đốt lòng kiêu ngạo, đốt thói lên mặt, đốt sự cần được khen, đốt cái miệng thích thắng. Chỉ khi lửa ấy đã cháy trong mình, sự chia rẽ nếu phải đến mới không biến thành hận thù.
Bên cạnh lời về lửa và về nhà bị chia, còn một lời khác cắt không kém. Trước kia ta đã nộp mình làm nô lệ cho sự ô uế và cho sự không công chính, và kết quả là sự chết. Nay ta được mời nộp mình làm nô lệ cho sự công chính, để được nên thánh. Nói về nô lệ nghe chói tai, vì ai cũng muốn mình tự do. Nhưng sự thật phũ là con người không đứng ở khoảng trống. Không phụng sự điều này thì phụng sự điều kia. Không lệ thuộc Lời thì lệ thuộc thói. Không lệ thuộc ân sủng thì lệ thuộc sợ hãi, lệ thuộc cái nhìn của thiên hạ, lệ thuộc tiền, lệ thuộc dục vọng, lệ thuộc thói quen được gọi là không sao. Tiền công của tội là sự chết. Không phải chỉ cái chết cuối đời. Là sự chết ngay trong lúc còn thở: chết lòng tin, chết lòng thương, chết khả năng nói thật, chết niềm vui không cần mua. Còn ân huệ của Thiên Chúa là sự sống đời đời trong Đức Kitô. Sự sống ấy không phải phần thưởng phát sau khi mọi chuyện đã xong. Sự sống ấy bắt đầu khi một người thôi làm nô lệ cho điều đang giết mình.
Hai con đường ấy không trừu tượng. Một đường là cây trồng bên dòng nước, rễ sâu, mùa nào cũng có quả. Một đường là vỏ trấu, gió thoảng là bay, không trụ được khi cơn thử đến. Người gắn đời mình vào luật của Chúa, vào việc ngày ngày nghiền ngẫm lời ấy không như bài phải học mà như bánh phải ăn, người ấy không miễn nhiễm đau khổ, nhưng không bị gió cuốn thành kẻ không còn mình. Kẻ để đời mình trôi theo lời bàn tán, theo cái lợi trước mắt, theo sự vừa lòng đám đông, sẽ thấy mình nhẹ. Nhẹ vì không có rễ. Và cái nhẹ ấy, đến một ngày, chính là điều đáng sợ.
Đem hai lời ấy lại gần nhau, ta thấy một bức tranh không dễ chịu nhưng rất thật. Đức Giêsu ném lửa vì Người không chịu để ta tiếp tục làm nô lệ cho sự chết mà vẫn gọi đó là bình an. Nhà có thể chia vì không phải ai cũng muốn ra khỏi vòng nô lệ ấy cùng một lúc. Người muốn tự do trong sự công chính sẽ va vào người còn thấy sự ô uế là quen, là cần, là không bỏ được. Va chạm ấy không phải thất bại của Tin Mừng. Nhiều khi đó là dấu Tin Mừng đã đi vào một mái nhà thật, chứ không còn nằm trên bàn thờ như vật trang trí.
Hãy nhìn những mái nhà cụ thể, vì lời Chúa không nói với nhà trừu tượng. Có người trẻ bắt đầu đọc Tin Mừng không phải đểbelong vào nhóm, mà vì một đêm nào đó lòng không còn chịu nổi sự giả. Người ấy về nhà, không còn cười theo những câu chuyện chế nhạo người nghèo, không còn coi việc đi lễ là chuyện của bà già, không còn đồng ý rằng tiền nào cũng là tiền. Cha mẹ lo. Lo con bị dụ. Lo con bỏ việc. Lo con thành người kỳ. Sự lo ấy có thật, và nhiều khi sinh ra từ thương. Nhưng nếu sự lo ấy đòi con phải trở lại như cũ, trở lại cái cũ đang làm con chết từ bên trong, thì đường ranh đã hiện. Người trẻ ấy không được phép khinh cha mẹ. Không được phép lấy đức tin mới làm gậy đánh đòn. Người ấy phải hiếu thảo hơn xưa, dịu dàng hơn xưa, chăm chỉ hơn xưa, vì nếu đời mới không sinh hoa trái thì lời nói về lửa chỉ là khói. Đồng thời người ấy không được phép bán Chúa để mua lại sự bằng lòng. Đó là chỗ hẹp. Chỗ hẹp ấy chính là hình dạng của lời Đức Giêsu.
Có người vợ một buổi sáng không còn chịu ký vào tờ giấy không thật, không còn đưa phong bì để việc trái trở thành phải, không còn im khi chồng coi người làm là đồ dùng. Nhà lung lay. Tiền có thể hụt. Quan hệ có thể căng. Bà con sẽ nói bà ấy quá đáng, đạo đức hình thức, không biết liệu cơm gắp mắm. Nhưng nếu bà ấy đã thấy tiền công của sự dối là sự chết, bà không thể tiếp tục lãnh lương ấy. Bà không có quyền biến mình thành quan tòa của chồng. Bà có bổn phận trở thành chứng nhân, và chứng nhân thì nói bằng đời trước khi nói bằng miệng. Sự chia rẽ nếu đến không phải vì bà thích thắng. Sự chia rẽ đến vì sự thật không còn được mời ra khỏi bàn ăn.
Có bậc cha mẹ nhìn con đi vào một đời sống mà Tin Mừng không nhận. Không phải chuyện sở thích nhỏ. Chuyện một cuộc tình đã thành thói, một cách kiếm ăn đã thành lệ, một sự cứng lòng đã thành bản sắc. Cha mẹ ấy có thể bị con gọi là cổ, là ép, là không hiểu thời. Nếu cha mẹ im để giữ cái danh gia đình êm, họ mua sự êm bằng lương tâm. Nếu cha mẹ nói, họ có thể mất bữa cơm. Đức Giêsu không bảo họ la lớn. Người bảo họ đừng gọi bóng tối là sáng để khỏi mất lòng. Tình phụ tử và mẫu tử trong Tin Mừng không phải tình dễ dãi. Đó là tình dám chịu bị ghét một thời gian để còn hy vọng cứu được một đời.
Có người sống đời dâng hiến giữa một họ đạo quen nhìn ơn gọi như chuyện lạ. Có người muốn sống nghèo thật giữa anh em quen sống tạm. Có người muốn tha thứ một món nợ cũ trong khi cả dòng họ còn muốn giữ mối hận làm của gia bảo. Mỗi lần như vậy, lửa lại chạm vào gỗ khô của thói quen. Gỗ khô không thích bị đốt. Gỗ khô có lý của nó: nó đã nằm vậy từ lâu, nó đã được mọi người khen là ổn. Nhưng Đức Giêsu không đến để khen gỗ khô. Người đến để có lửa.
Nỗi khắc khoải của Người chiếu một ánh sáng khác lên sự chia rẽ. Người không đứng ngoài cuộc mà ra lệnh. Người đi vào phép rửa của chính mình. Người để thân mình bị xé trước khi bất cứ mái nhà nào bị xé vì danh Người. Thập giá là nơi sự chia rẽ lên tới đỉnh: trời và đất như tách, môn đệ chạy, một kẻ nộp, đám đông chọn Ba-ra-ba, thân xác Người bị kéo ra hai phía. Và chính ở nơi bị chia đến cùng ấy, Người kéo mọi sự về một mối. Hòa bình Người sẽ ban không đi đường vòng qua thập giá. Ai muốn hòa bình mà né thập giá, người ấy muốn một hòa bình Người không hứa. Ai chấp nhận bị hiểu lầm, bị giảm phần, bị coi là cứng, vì không chịu phản bội điều đã thấy, người ấy đang đi vào phép rửa của Thầy, dù chỉ một giọt.
Lửa và phép rửa ấy cũng ngăn ta khỏi hai thái cực vẫn rình trong đời sống đức tin. Một thái cực là hòa hoãn mọi sự, biến Tin Mừng thành dầu bôi cho trơn các mối quan hệ, không còn muối, không còn men, không còn khả năng nói không. Nhà ấy có vẻ yên. Lòng ấy đang nguội. Thái cực kia là biến mình thành người gây chiến thánh, tìm kẻ thù trong từng bữa cơm, đo đức tin bằng số lần mình đã làm người khác nổi giận. Cả hai đều không phải lửa của Đức Giêsu. Lửa của Người cháy vì yêu, và vì yêu nên chịu đau, chứ không cháy vì muốn chứng tỏ. Người ước mong lửa đã cháy không phải để nhìn mặt đất thành tro. Người ước mong cho sự thật và tình yêu hết còn bị giữ trong bình.
Vậy sống làm sao trong một nhà đang có đường ranh. Trước hết, đừng vội đặt tên thánh cho mọi cuộc cãi. Hãy xét mình trước khi xét nhà. Điều mình đang giữ có phải là Chúa, hay là ý mình về Chúa. Lời mình nói có mang được hình dạng của Đức Giêsu, hay chỉ mang hình dạng của sự bực. Nếu bỏ được một thói mà không mất Chúa, thì hãy bỏ, vì không phải cái gì mình quen giữ cũng là thánh giá. Sau đó, đừng bán Chúa để mua yên. Có những chỗ không nhượng được: sự thật, sự thủy chung, mạng người, phẩm giá kẻ nhỏ, danh Thiên Chúa không bị dùng để che việc gian. Ở những chỗ ấy, chia rẽ nếu đến thì đến, và ta chịu, không kêu oan như kẻ bị đời xử bất công, vì Thầy đã nói trước. Giữa hai đầu ấy là một đời sống rất cụ thể: nói ít hơn, sống thật hơn, phục vụ người đang chống mình, không kể tội họ trong bữa cơm với người ngoài, cầu nguyện cho họ bằng tên thánh chứ không bằng biệt danh của sự giận. Sự chia rẽ theo Tin Mừng không được phép thành sự đoạn tuyệt của lòng. Ngoài mặt có thể không còn đồng ý. Trong lòng vẫn còn chỗ ngồi cho người ấy ở bàn tiệc của Chúa.
Cũng cần nói với những người đang đứng phía bên kia đường ranh, những người thấy người thân mình đột nhiên khó ở, khó chiều, khó bắt chước. Đừng vội kết luận họ bị nhiễm. Hãy nhìn quả. Nếu đời họ đang bớt dối, bớt ác, bớt tham, biết xin lỗi, biết nhường, biết nghĩ tới kẻ không có tiếng, thì lửa đang cháy không phải lửa lạ. Còn nếu đời họ chỉ thêm cứng, thêm khinh người, thêm nói đạo để thắng, thì đó chưa phải lửa Đức Giêsu muốn. Phân định không phải để kết án. Phân định để biết mình đang đối diện với cái gì. Nhiều cuộc trở lại bắt đầu bằng sự khó chịu của cả nhà. Nhiều cuộc lệch lạc cũng bắt đầu bằng sự khó chịu của cả nhà. Quả sẽ chỉ ra cây.
Tiền công và ân huệ đứng sau lưng mọi chọn lựa ấy. Không ai bị ép vào sự sống. Ơn huệ là ơn huệ vì có thể bị từ chối. Người từ chối không luôn là kẻ dữ trên mặt. Có khi là kẻ mệt, kẻ sợ, kẻ đã từng bị người đạo làm tổn thương nên không còn tin bất cứ ngọn lửa nào. Với những người ấy, lửa của Đức Giêsu không được phép thành lửa của phe ta. Lửa ấy phải thành kiên nhẫn, thành hiện diện, thành một đời sống không cần họ công nhận mới đứng vững. Áp lực không sinh đức tin. Chứng từ mới có thể mở một khe. Và khe ấy có khi mở rất muộn, muộn đến mức người đã gieo không còn thấy. Không sao. Đức Giêsu đã chấp nhận phép rửa của mình trước khi thấy lúa chín.
Ngày thường của một Kitô hữu, vì thế, không phải ngày đi tìm chuyện để chia. Là ngày xét xem lửa còn cháy không. Còn cháy khi ta không còn mặc cả với một thói xấu đã rõ. Còn cháy khi ta dám nói một câu thật trong phòng họp, trong quán, trong nhóm bạn, dù câu ấy làm không khí kém vui. Còn cháy khi ta không biến nhà thờ thành nơi trốn nhà, cũng không biến nhà thành nơi trốn Chúa. Còn cháy khi ta chịu một thiệt thòi nhỏ mà không đòi công. Hết cháy khi mọi sự đều ổn vì chẳng còn gì đáng giữ. Hết cháy khi ta gọi sự hèn là khôn, gọi sự im là yêu thương, gọi sự đồng lõa là hòa bình.
Đức Giêsu vẫn khắc khoải cho đến khi việc ấy hoàn tất. Việc ấy đã hoàn tất trên thập giá và trong buổi sáng phục sinh, nhưng còn đang hoàn tất trong từng mái nhà, từng lòng người, từng lần một người thôi làm nô lệ cho sự chết. Lửa Người ném vẫn đang tìm chỗ cháy. Không phải để nhà tan thành tro. Để nhà, nếu phải bị cắt bởi sự thật, vẫn còn thể được kéo về trong một bình an sâu hơn sự đồng ý dễ dãi. Bình an ấy không rẻ. Bình an ấy đi qua phép rửa. Và ai đã một lần thấy Người đáng yêu hơn sự yên giả, người ấy hiểu vì sao Người ước mong lửa ấy đã cháy lên, không phải ngày mai, mà là bây giờ.
Lm. Anmai, CSsR












