ĐỪNG BIẾN NỖI ĐAU CỦA MỘT CON NGƯỜI THÀNH BẢN ÁN CỦA THIÊN CHÚA Lm. Anmai, CSsR
Có những tin buồn khiến người ta đang làm việc cũng phải dừng tay. Một người vừa mới đây còn hiện diện giữa cộng đoàn, còn cử hành Thánh lễ, còn được mọi người chờ đợi trong những công việc thường ngày, bỗng ra đi trong một tai nạn. Khi nghe tin cha Patricio Alfredo Sánchez Molinari qua đời sau khi một cây thánh giá rơi trúng ngài trong lúc dâng lễ tại Guayaquil, Ecuador, chúng ta có thể hiểu vì sao nhiều người bàng hoàng. Chính nơi người tín hữu tìm đến để được nâng đỡ lại trở thành nơi xảy ra một mất mát quá bất ngờ. gazetadopovo.com.br
Trước một biến cố như thế, lòng người có nhiều phản ứng. Có người lặng đi. Có người thương vị linh mục mà mình chưa từng gặp. Có người nghĩ đến cộng đoàn vừa mất chủ chăn. Cũng có người hoang mang trước hình ảnh cây thánh giá: tại sao một dấu chỉ của tình yêu cứu độ lại có thể liên quan đến cái chết của người đang phục vụ Chúa? Câu hỏi ấy có thể xuất phát từ một đức tin đang đau. Nhưng từ câu hỏi đau đớn đến một lời kết án là một khoảng cách rất lớn. Chúng ta cần hết sức cẩn trọng để không bước qua khoảng cách ấy bằng những suy đoán của mình.
Điều đáng sợ là khi một người vừa nằm xuống, người khác đã vội đứng lên giải thích thay Thiên Chúa. Chưa kịp cầu nguyện cho người quá cố, chưa kịp nghĩ đến những người đang chịu tang, họ đã hỏi người ấy phạm tội gì, đã làm điều gì sai, có phải đang bị trừng phạt hay không. Một tai nạn trở thành cái cớ để người ta dò xét đời sống của người không còn khả năng tự nói về mình. Nỗi đau đang cần được đón nhận lại phải chịu thêm sức nặng của những lời phán đoán.
Không ai trong chúng ta được trao quyền đọc lòng Thiên Chúa bằng cách nhìn vào cách một người chết. Càng không ai có thể lấy sự bất ngờ, dữ dội hay đau thương của một cái chết để đo mức độ tội lỗi của người đã qua đời. Nếu có điều gì cần được nói ngay từ đầu, thì đó là: chúng ta không có căn cứ để gọi tai nạn ấy là một hình phạt của Thiên Chúa dành cho vị linh mục. Và khi không có căn cứ, lòng kính sợ Chúa đòi chúng ta dừng lại.
Sự dừng lại ấy không phải là né tránh câu hỏi về sự dữ. Đó là thái độ của một người biết giới hạn của mình. Có những điều ta có thể tìm hiểu bằng chứng cứ. Có những trách nhiệm cần được làm sáng tỏ. Có những biện pháp cần thực hiện để bảo vệ sự sống. Nhưng ý định sâu kín của Thiên Chúa đối với một con người không nằm trong tầm kiểm soát của những lời bình luận. Càng nói về Chúa, chúng ta càng phải tránh dùng danh Người để làm cho ý riêng của mình có vẻ chắc chắn.
Trong Tin Mừng theo thánh Luca, Đức Giêsu đã nói đến những người chết khi tháp Silôác đổ xuống. Người bác bỏ suy nghĩ cho rằng các nạn nhân ấy mắc tội nặng hơn những người khác ở Giêrusalem. Rồi Người hướng những người đang nghe về trách nhiệm hoán cải của chính họ. Như vậy, trước tai họa của người khác, hướng nhìn mà Tin Mừng mở ra là tự xét mình, thay vì lấy số phận người gặp nạn làm bằng chứng để kết tội họ. USCCB
Điều ấy đụng đến một thói quen rất sâu trong lòng người: chúng ta thường thấy yên tâm hơn khi tìm được một lý do khiến người khác phải chịu đau khổ. Nếu họ gặp nạn vì họ xấu, còn mình sống đàng hoàng, thì có lẽ mình sẽ được an toàn. Nếu bệnh tật là hậu quả trực tiếp của một lỗi lầm nào đó, mình chỉ cần tránh lỗi lầm ấy là có thể tránh bệnh tật. Nếu sự mất mát luôn là một bản án, người đang bình yên có thể tự xem mình là người đã được tuyên vô tội. Cách suy nghĩ ấy tạo ra một cảm giác trật tự, nhưng đó là một sự yên tâm được xây trên nỗi đau của người khác.
Cuộc đời không vận hành đơn giản như thế. Người sống ngay lành vẫn có thể mắc bệnh. Người quảng đại vẫn có thể bị lừa. Một gia đình chăm chỉ vẫn có thể gặp cảnh khốn khó. Người đang làm việc tốt vẫn có thể gặp tai nạn. Nhìn nhận những điều ấy khiến ta thấy mình mong manh hơn, nhưng cũng giúp ta trở nên nhân hậu hơn. Ta không còn đứng bên ngoài nỗi đau với dáng vẻ của người đã hiểu hết. Ta nhận ra người đang chịu mất mát là anh chị em của mình, một người có thể đã cố gắng sống tốt như mình đang cố gắng, đã yêu thương như mình đang yêu thương, đã hy vọng như mình đang hy vọng.
Nếu hôm nay tôi còn được trở về nhà, điều ấy không cho tôi quyền tự hào rằng mình tốt hơn người đã không trở về. Nếu tôi còn được nghe tiếng người thân, tôi không được vì thế mà nghĩ rằng gia đình đang chịu tang đã sống kém đẹp lòng Chúa hơn gia đình tôi. Sự sống còn được tiếp tục là một điều tôi phải đón nhận bằng lòng biết ơn và trách nhiệm. Nó không phải giấy chứng nhận để tôi đứng cao hơn người bất hạnh.
Thật đau khi một người đã phải gánh chịu mất mát lại còn bị buộc phải chứng minh rằng mình không đáng chịu mất mát ấy. Một người mẹ vừa mất con có thể đã kiệt sức vì thương nhớ, vậy mà vẫn phải nghe những câu nói khiến bà tự hỏi mình đã làm gì sai. Một người đang điều trị bệnh có thể đã sợ hãi từng ngày, lại bị gợi ý rằng đức tin của họ chưa đủ mạnh. Một cộng đoàn đang khóc thương mục tử có thể phải đối diện với những lời đồn đoán về đời sống của người vừa ra đi. Những lời ấy đôi khi được nói với vẻ đạo đức, nhưng hậu quả của chúng rất thật: người đau khổ bị đẩy sâu hơn vào cô độc.
Chúng ta cần học cách nói về Thiên Chúa sao cho người bị thương vẫn có thể ngước lên với Người. Một lời giải thích khiến người ta chỉ còn thấy mình bị ghét bỏ, bị truy đuổi, bị kết tội trong mọi biến cố không thể được trao đi một cách nhẹ nhàng. Trước khi nói, hãy tự hỏi: lời này có đúng không? Tôi dựa vào đâu để nói như thế? Nếu người đang chịu tang ngồi trước mặt tôi, liệu tôi có còn đủ can đảm nói bằng giọng điệu ấy không? Và nếu chính tôi là người đang mất đi một người thân yêu, tôi có chịu nổi điều mình sắp nói với người khác không?
Có những lời chỉ cần giữ lại trong lòng một phút là chúng ta đã tránh làm đau một người suốt nhiều năm.
Tuy vậy, chúng ta cũng không nên đi sang một thái cực khác, xem mọi câu hỏi đau đớn là sai trái. Người tin Chúa vẫn có thể hỏi tại sao. Một người đã cầu nguyện nhiều mà vẫn mất người thân có thể thấy lòng mình chao đảo. Một người đã phục vụ lâu năm mà gặp tai họa có thể cảm thấy mọi điều mình từng hiểu bỗng trở nên xa lạ. Có người bước vào nhà thờ mà không còn tìm thấy sự bình an như trước. Có người đọc kinh đến giữa chừng thì nghẹn lại. Không phải cứ có những kinh nghiệm ấy là họ đã hết lòng tin.
Đức tin của con người có lúc được diễn tả bằng một lời tuyên xưng rõ ràng; cũng có lúc chỉ còn là việc người ấy chưa quay lưng bỏ đi. Họ vẫn ngồi đó, dù không nói được gì. Họ vẫn tìm đến Chúa, dù trong lòng có cả sự tủi thân. Họ vẫn muốn cầu nguyện, dù lời cầu nguyện hôm nay chỉ là một câu rất ngắn: “Lạy Chúa, con không hiểu.”
Chúng ta đừng khinh thường câu nói ấy. Có thể nó thật hơn rất nhiều lời đạo đức được nói ra khi lòng người chưa từng bị thử thách. Người thưa “con không hiểu” vẫn đang thưa với Chúa. Họ vẫn đặt sự rối bời của mình trước mặt Người. Điều họ cần là một cộng đoàn đủ kiên nhẫn để cùng họ đi qua thời gian ấy, chứ không phải một người lập tức xuất hiện để sửa giọng nói, sửa nước mắt, sửa cả cách họ đang đau.
Một người đang chịu tang không cần phải nhanh chóng trở thành một tấm gương mạnh mẽ cho mọi người. Họ có quyền mệt. Họ có quyền nhớ. Họ có thể hôm nay bình tĩnh hơn, ngày mai lại khóc nhiều hơn. Có khi một điều rất nhỏ làm nỗi buồn trở về: một chỗ ngồi, một giờ quen thuộc, tiếng chuông điện thoại, một công việc trước đây người đã mất vẫn làm. Người ngoài nhìn vào có thể tưởng họ đang “buồn trở lại”, nhưng thật ra nỗi thương nhớ chưa từng vận hành theo một đường thẳng.
Bởi vậy, lòng bác ái cần có sự bền bỉ. Sau những ngày tang lễ, người chịu mất mát vẫn còn phải sống tiếp trong một thế giới đã đổi khác. Khi khách đã về, khi lời phân ưu thưa dần, khi mọi người trở lại nhịp sinh hoạt, sự vắng mặt của người thân có khi mới hiện rõ nhất. Đó là lúc một cuộc thăm hỏi chân thành, một bữa cơm có người cùng ăn, một sự giúp đỡ cụ thể có thể trở thành điều nâng đỡ lớn lao. Không cần lúc nào cũng tìm được câu nói hay. Có mặt với một người bằng lòng tôn trọng đã là một việc khó và quý.
Đối với một cộng đoàn vừa mất linh mục, nỗi buồn cũng có nhiều chiều. Có người nhớ người đã rửa tội cho con mình. Có người nhớ một lần được lắng nghe trong lúc gia đình bế tắc. Có người gắn với vị mục tử qua những công việc âm thầm mà bên ngoài ít ai biết. Chúng ta không có quyền tự bịa ra những kỷ niệm ấy cho một người cụ thể. Nhưng chúng ta có thể hiểu rằng một linh mục không chỉ hiện diện trong những giờ cử hành phụng vụ. Đời sống mục vụ chạm đến những chặng rất riêng của đời người; vì thế, khi vị mục tử qua đời, sự mất mát có thể đi vào nhiều mái nhà theo những cách khác nhau.
Cũng cần nhớ đến anh em trong cộng đoàn tu trì, những người đã cùng sống, cùng làm việc, cùng chia sẻ những ngày bình thường với người đã mất. Người ngoài thường chỉ nhìn thấy một biến cố lớn. Người ở lại còn nhìn thấy một căn phòng, một chỗ ngồi trong nhà ăn, một công việc đang dở, những thói quen rất nhỏ đã trở thành một phần đời sống chung. Thương một người cụ thể bao giờ cũng có những điều cụ thể như vậy. Chúng ta nên kính trọng nỗi buồn ấy bằng lời cầu nguyện kín đáo và bằng cách tránh làm cho cái chết của họ trở thành một đề tài giật gân.
Một con người không thể bị thu gọn vào giây phút cuối cùng của đời mình. Cách một người chết có thể gây chấn động, nhưng không đủ để kể hết họ là ai. Nếu chỉ nhớ tai nạn, chúng ta có nguy cơ để sự dữ xảy đến trong một khoảnh khắc che khuất cả đời sống đã được trao ban qua nhiều năm. Điều ấy không công bằng với người đã mất và cũng không giúp người ở lại biết yêu thương hơn.
Với bất cứ người quá cố nào, sự tưởng nhớ xứng đáng đều đòi chúng ta kiên nhẫn nhìn lại đời sống của họ trong sự thật. Những điều tốt đẹp cần được gìn giữ. Những giới hạn thuộc về thân phận con người được phó dâng cho lòng thương xót của Chúa. Ta không cần dựng nên một con người hoàn hảo để có thể thương tiếc họ. Ta càng không được lấy một tai nạn làm lý do để xóa đi phẩm giá của họ. Người đã qua đời vẫn là một người cần được tôn trọng, được cầu nguyện cho và được nhắc đến bằng sự ngay lành.
Ở đây, một câu hỏi khác cũng xuất hiện: nếu không được vội gọi tai nạn là hình phạt, vậy chúng ta phải hiểu thế nào về sự quan phòng của Thiên Chúa?
Có lẽ trước hết phải thú nhận rằng vài câu giải thích không thể làm cho vấn đề đau khổ trở nên đơn giản. Đức tin Công giáo nhìn câu hỏi về sự dữ trong toàn bộ mầu nhiệm sáng tạo và cứu độ; không có một câu trả lời ngắn nào đủ sức giải quyết trọn vẹn mọi đau đớn cụ thể của con người. Việc Thiên Chúa có thể làm phát sinh điều lành từ sự dữ cũng không cho phép chúng ta gọi chính sự dữ là điều tốt. vatican.va
Sự phân biệt ấy rất cần thiết trong đời sống mục vụ. Khi một mất mát giúp ai đó biết quý gia đình hơn, điều tốt ấy không có nghĩa là mất mát đã trở nên đáng mong muốn. Khi một tai nạn khiến cộng đoàn quan tâm hơn đến an toàn, việc thức tỉnh ấy không biến cái chết của nạn nhân thành một phương tiện mà chúng ta có thể dễ dàng giải thích. Khi đau khổ dẫn một người đến sự trưởng thành, chúng ta vẫn phải nhìn nhận những gì họ đã chịu là đau đớn. Không được lấy hoa trái về sau để làm nhẹ đi vết thương ban đầu.
Chúng ta có thể hy vọng rằng tình yêu của Chúa vẫn hoạt động giữa hoàn cảnh bị tổn thương. Nhưng hy vọng khác với việc tự nhận mình đã biết tại sao Chúa để một biến cố xảy ra. Người đang chịu tang cần được nâng đỡ bằng niềm hy vọng; họ không cần bị buộc phải chấp nhận một lời giải thích mà người nói cũng không thể chứng minh.
Có những câu như “Chúa cần người ấy hơn chúng ta” được nói ra với ý tốt. Nhưng thử nghĩ đến một đứa trẻ vừa mất cha: nó có thể nghe câu ấy như thể Thiên Chúa đã lấy cha nó đi để đáp ứng một nhu cầu của Người. Một người mẹ có thể hiểu rằng nỗi cô quạnh của mình là cái giá phải trả cho một điều Chúa muốn. Ý định an ủi của chúng ta không bảo đảm rằng câu nói sẽ được đón nhận như một sự an ủi. Vì thế, lòng thương cần đi cùng sự thận trọng. Đôi khi chỉ nên nói: “Chúng ta cùng cầu nguyện. Tôi ở đây với gia đình.”
Sự thật có thể khiêm tốn hơn những câu văn đẹp. Ta không biết hết. Ta thương người đang đau. Ta tin có thể phó thác người đã mất cho Chúa. Chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ để bắt đầu một sự hiện diện tử tế.
Khi nhìn lên thánh giá, người Kitô hữu gặp Đức Giêsu chịu đóng đinh. Chính điều ấy ngăn chúng ta xem sự đau đớn như một bằng chứng hiển nhiên rằng người chịu đau đã bị Thiên Chúa ghét bỏ. Đấng chúng ta tin là Con Thiên Chúa đã đi qua sự loại trừ, bất công và cái chết. Bởi vậy, không thể cứ thấy một người lâm nạn là kết luận rằng tình yêu Thiên Chúa đã rút khỏi đời họ. Sự hiện diện của Chúa nhiều khi được chúng ta tìm kiếm ngay trong nơi mình cảm thấy yếu đuối và trống vắng nhất.
Nhưng cũng phải giữ lòng kính trọng đối với mầu nhiệm thập giá, tránh dùng mầu nhiệm ấy để làm đẹp cho mọi hình thức đau khổ. Một tai nạn vẫn là tai nạn. Một tổn thất vẫn là tổn thất. Chúng ta không cần gọi nó là đẹp để có thể cầu nguyện trong hoàn cảnh ấy. Nước mắt của con người không làm suy giảm giá trị của thập giá. Trái lại, khi dám mang nước mắt đến trước Chúa, ta đang đem đến chính phần đời sống cần được cứu chữa.
Có những lúc người giảng quá vội tìm ý nghĩa nên vô tình đi qua nỗi đau quá nhanh. Vừa nhắc đến một cái chết, người ấy đã nói ngay đến bài học, đến lời mời gọi, đến những điều tích cực. Tất cả có thể chứa đựng một phần đúng, nhưng người đang chịu tang chưa chắc có thể đi nhanh như vậy. Họ còn đang đứng ở chỗ vừa mất người mình thương. Họ cần được phép đứng ở đó một thời gian. Tình yêu mục tử đòi ta bước chậm lại, nhận ra rằng một bài giảng có thể kết thúc sau ít phút, còn nỗi buồn của người nghe vẫn tiếp tục khi họ trở về nhà.
Chúng ta cũng cần phân biệt việc phó thác với thái độ buông xuôi. Phó thác người quá cố cho Chúa không loại bỏ trách nhiệm tìm hiểu nguyên nhân tai nạn. Cầu nguyện không làm cho việc kiểm tra công trình trở nên kém cần thiết. Một nhà thờ là nơi thánh, đồng thời vẫn là một công trình có vật liệu, kết cấu, điện, ánh sáng và những thiết bị chịu tác động của thời gian. Việc bảo trì cần được thực hiện bởi những người có năng lực phù hợp. Sự tôn kính dành cho không gian phụng vụ phải đi cùng sự chăm sóc dành cho những con người hiện diện trong không gian ấy.
Nói điều này không phải để vội quy trách nhiệm cho bất cứ ai trong một vụ việc chưa được làm rõ. Chúng ta phải tránh cả việc kết án nạn nhân lẫn việc tìm một người khác để kết án bằng suy đoán. Trách nhiệm cần được xác định qua sự thật. Chính vì quý sự sống, cộng đoàn cần biết điều gì đã xảy ra, điều gì còn nguy hiểm, điều gì phải sửa chữa. Sự minh bạch có thể gây khó khăn trong một lúc, nhưng sự né tránh để lại những lo âu lâu dài.
Một người được giao chăm sóc cơ sở vật chất có thể phục vụ cộng đoàn rất âm thầm. Công việc của họ hiếm khi xuất hiện trong những lời ca ngợi. Tuy nhiên, một chỗ hư hỏng được phát hiện đúng lúc, một thiết bị được sửa chữa, một khu vực được tạm ngưng sử dụng khi chưa bảo đảm an toàn có thể bảo vệ nhiều người. Sự chu đáo ấy thuộc về cách chúng ta yêu người thân cận. Khi cộng đoàn chi tiền để bảo trì những điều cần thiết, đó cũng là một cách nói rằng mạng sống của người đến đây đáng được quan tâm.
Có khi lòng đạo đức của chúng ta phát triển rất mạnh trong việc trang trí nhưng lại yếu trong việc chăm sóc. Chúng ta dễ thấy xúc động trước một hình ảnh đẹp, trong khi ít chú ý đến công việc đều đặn để giữ cho nơi ấy an toàn. Biến cố đau thương nhắc mỗi cộng đoàn xem lại cách mình sử dụng nguồn lực, cách mình lắng nghe những người có chuyên môn và cách mình tiếp nhận các cảnh báo. Một lời nhắc về nguy cơ không phải là sự phá rối bình an của cộng đoàn. Biết lắng nghe từ sớm có thể là điều bảo vệ bình an cho nhiều gia đình.
Đức tin trưởng thành không sợ sự thật. Nếu có một nguyên nhân tự nhiên, chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân tự nhiên. Nếu có sai sót, chúng ta cần sửa sai. Nếu chưa biết, chúng ta cần nói rằng chưa biết. Chỉ khi chịu sống trong sự thật, lời cầu nguyện của chúng ta mới không trở thành nơi trốn tránh trách nhiệm.
Cùng lúc đó, cũng cần chăm sóc những người đã chứng kiến tai nạn. Có những biến cố qua đi rất nhanh trong thực tế nhưng còn trở lại trong tâm trí người chứng kiến nhiều lần. Một người có thể khó ngủ, sợ bước vào nơi gợi nhớ, hoặc bất chợt xúc động khi nghe một âm thanh tương tự. Chúng ta không nên vội bảo họ yếu đức tin. Việc lắng nghe, tạo điều kiện để họ tìm sự trợ giúp thích hợp và không ép họ kể lại điều chưa muốn kể đều là những cách chăm sóc cần thiết. Một cộng đoàn yêu thương phải có chỗ cho cả những vết thương không nhìn thấy.
Đặc biệt, đừng yêu cầu trẻ em chứng kiến điều đau đớn phải hiểu ngay bằng những lý lẽ của người lớn. Các em cần lời giải thích vừa sức, cần biết mình được bảo vệ và có thể đặt câu hỏi. Nếu một em hỏi tại sao Chúa không ngăn điều ấy, người lớn có thể thành thật nói rằng mình cũng đau và chưa hiểu hết. Sự thành thật không làm Thiên Chúa trở nên nhỏ bé. Nó giúp trẻ không phải lựa chọn giữa kinh nghiệm rất thật của mình và những câu trả lời mà em cảm thấy không phù hợp.
Một đức tin được nuôi dưỡng bằng sự sợ hãi thường khiến con người chỉ nghĩ đến việc tránh tai họa. Họ cầu nguyện với tâm trạng luôn phải đề phòng: nếu quên một kinh, nếu lỡ một việc, nếu không thực hiện đủ một thói quen, điều xấu có thể xảy ra. Trong tình trạng ấy, tương quan với Chúa dễ trở thành một gánh nặng bất an. Bất cứ tin buồn nào cũng bị đưa vào một hệ thống đe dọa. Người ta không còn tự do yêu mến, chỉ cố gắng làm mọi điều để khỏi bị phạt.
Chúng ta phải rất cẩn trọng để không nuôi dưỡng tình trạng ấy bằng cách giảng giải thiếu trách nhiệm. Lời mời gọi hoán cải có sức nặng riêng của nó; không cần được làm cho đáng sợ hơn bằng những suy đoán về người gặp nạn. Tội lỗi cần được gọi đúng tên qua những hành vi thực sự làm tổn thương tương quan với Chúa và tha nhân. Không thể dùng một cái chết bất ngờ để bổ sung cho điều mình chưa đủ sức thuyết phục người khác.
Sám hối bắt đầu gần hơn nhiều so với những lời đồn đoán. Tôi có đang làm một người trong nhà phải sống trong sợ hãi không? Tôi có đang giữ một sự gian dối mà mình biết rõ không? Tôi có đang dùng chức vụ để tránh trách nhiệm không? Tôi có đang thản nhiên trước nhu cầu của người bên cạnh không? Những câu hỏi ấy có thể khó chịu, vì chúng không cho phép ta tiếp tục chỉ nhìn người khác. Nhưng đó là những nơi cụ thể mà việc trở về có thể bắt đầu.
Trước sự mong manh của đời sống, chúng ta cũng nhận ra sự nguy hiểm của việc trì hoãn điều tốt. Có những lời cảm ơn bị giữ lại vì nghĩ rằng sau này nói cũng được. Có một cuộc hòa giải bị hoãn vì cả hai đều chờ người kia bắt đầu. Có một người già muốn được thăm, nhưng lịch trình của con cháu luôn có việc gấp hơn. Có người đã biết mình cần thay đổi một thói quen gây đau cho gia đình, nhưng cứ hứa đến một thời điểm thuận tiện hơn. Cái chết của người khác không cho ta biết ngày giờ của mình; nó giúp ta nhận ra rằng thời gian không hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của ta.
Tuy nhiên, nhớ đến sự chết không nhất thiết phải làm cho cuộc sống chìm trong lo âu. Người biết mình hữu hạn có thể học cách sử dụng ngày hôm nay rõ ràng hơn. Họ bớt phí sức vào những cuộc tranh chấp chỉ để bảo vệ lòng tự ái. Họ biết trân trọng một bữa ăn cùng gia đình. Họ hiểu rằng việc ngồi lắng nghe một người đang buồn đôi khi đáng hơn một công việc có thể lùi lại. Họ bắt đầu phân biệt điều cấp bách với điều thật sự cần thiết.
Một đời sống được chuẩn bị cho giờ chết không thể chỉ gồm những suy nghĩ về phút cuối. Nó được chuẩn bị trong cách ta sống với người khác lúc còn khỏe mạnh, trong sự ngay thẳng khi không ai kiểm tra, trong những quyết định âm thầm chỉ có Chúa và lương tâm biết. Nếu ta muốn khi ra đi có thể phó thác đời mình, thì hôm nay cần tập bớt nắm giữ những điều đang làm lòng mình khép lại. Nếu ta mong được đón nhận trong lòng thương xót, hôm nay hãy học cách để người khác được sống dưới ánh nhìn thương xót của mình.
Đối với linh mục, những mất mát của anh em có thể trở thành một giờ xét mình rất sâu. Không cần so sánh cách chết, cũng không cần tìm một dấu hiệu đặc biệt để nói về phẩm giá đời linh mục. Điều cần thiết hơn là trở lại với con người thật của mình trước Chúa. Tôi có còn cầu nguyện bằng chính lòng mình không? Tôi có cho phép anh em biết khi mình mệt không? Tôi có đang để công việc khiến mình không còn đủ kiên nhẫn với người được trao phó không? Những điều ấy có thể rất kín đáo, nhưng chúng quyết định cách một đời dâng hiến được sống mỗi ngày.
Người linh mục cũng là một con người cần được nâng đỡ. Ngài có thể làm chỗ dựa cho nhiều người mà vẫn có những giờ không biết tựa vào ai. Ngài có thể nói về niềm hy vọng trong tang lễ của người khác, rồi trở về phòng với sự mệt mỏi của riêng mình. Cộng đoàn nên nhớ điều ấy khi nghĩ đến các mục tử đang phục vụ. Một lời hỏi thăm không nhằm xin thêm một việc, một sự cộng tác có trách nhiệm, một thái độ tôn trọng thời gian nghỉ ngơi của linh mục đều có giá trị.
Chúng ta dễ bày tỏ tình thương khi một người đã ra đi. Bấy giờ những lời tốt đẹp trở nên nhiều hơn, những điều đáng quý được nhắc lại rõ hơn. Nhưng người đang sống cần tình thương ấy ngay hôm nay. Người đang phục vụ cần được góp ý bằng sự công bằng ngay hôm nay. Người đang kiệt sức cần được giúp ngay hôm nay. Đừng để đến lúc không còn ai có thể nhận lời cảm ơn, chúng ta mới nhận ra đã có quá nhiều điều mình chưa từng nói.
Tưởng nhớ một linh mục cũng nên giúp cộng đoàn gìn giữ điều tốt bằng việc làm. Nếu quý sự hiện diện của người mục tử, hãy cùng chăm sóc cộng đoàn mà ngài đã phục vụ. Nếu thương sự nhọc nhằn của đời dâng hiến, hãy sống có trách nhiệm hơn trong công việc chung. Nếu muốn cầu nguyện cho các linh mục, hãy dành cho họ một sự nâng đỡ không bị giới hạn vào những giờ lễ trang trọng. Một cộng đoàn biết thương mục tử sẽ không đặt lên vai một người tất cả những điều mà cả cộng đoàn có thể cùng gánh.
Và người mục tử, khi được nâng đỡ như thế, cũng được mời gọi học cách đón nhận. Có khi chúng ta quen giúp người khác đến mức thấy khó thú nhận rằng mình cần giúp. Có khi chúng ta nghĩ phải luôn mạnh mẽ mới xứng đáng với vai trò. Nhưng một đời sống chân thật trước anh em có thể làm cho việc phục vụ bền vững hơn. Người khác không nhất thiết cần một linh mục không bao giờ mệt; họ cần một mục tử biết sống trong sự thật, biết tìm nơi nâng đỡ và biết trở về với nguồn sức mạnh của ơn gọi.
Sau cùng, khi nói về cái chết xảy ra trong lúc cử hành Thánh lễ, chúng ta cần giữ sự thinh lặng của lòng kính trọng. Hoàn cảnh ấy có thể khiến nhiều người xúc động và suy niệm. Nhưng không nên tự động biến nó thành một phán quyết chắc chắn về tình trạng thiêng liêng của người quá cố. Chúng ta cầu nguyện cho ngài với lòng yêu mến và hy vọng. Lời cầu ấy vừa chân thành vừa khiêm tốn: ta phó dâng một con người cho Đấng biết rõ họ hơn bất cứ ai.
Chính việc cầu nguyện cho người đã qua đời giữ chúng ta ở đúng vị trí của mình. Ta không phải thẩm phán của họ. Ta cũng không làm chủ ơn cứu độ. Ta là người anh em đang xin lòng thương xót cho người anh em của mình, và một ngày kia chính ta cũng sẽ cần lời cầu nguyện ấy. Khi hiểu như vậy, lời kinh cho người quá cố trở nên gần gũi: trong đó có tình thương, có niềm hy vọng, có cả sự nhìn nhận rằng mọi người đều cần đến ân sủng.
Có lẽ một trong những điều đau nhất của xã hội hôm nay là chúng ta có thể tiếp xúc với rất nhiều nỗi đau mà không thật sự dừng lại trước một nỗi đau nào. Tin này vừa xuất hiện, tin khác đã đến. Một cái chết trở thành vài dòng bình luận, một đoạn hình ảnh được chuyển tiếp, một đề tài tranh cãi rồi bị bỏ lại. Nhưng phía sau tin ấy là những người chưa thể bước sang một ngày bình thường. Với họ, người đã mất không phải một nội dung trên màn hình. Đó là một khuôn mặt, một giọng nói, một sự hiện diện không thể thay thế.
Bởi vậy, cách sử dụng mạng xã hội của người có đức tin cũng cần được hoán cải. Đừng chuyển tiếp những hình ảnh gây tổn thương chỉ vì chúng khiến người khác chú ý. Đừng dùng sự kinh hoàng của một tai nạn để buộc người đọc phải mở bài viết. Đừng viết những lời khẳng định về ý Chúa khi chính mình chỉ đang đoán. Trước khi nhấn nút chia sẻ, hãy nhớ rằng thân nhân của người quá cố có thể đọc thấy. Lòng kính trọng người chết phải hiện diện trong cả những thao tác rất nhanh của đôi tay.
Một lời cầu nguyện kín đáo có thể không tạo ra nhiều chú ý. Một thông tin được trình bày chừng mực có thể không gây chấn động. Một bài viết từ chối suy đoán có thể không khiến người ta tranh luận sôi nổi. Nhưng người Kitô hữu không được gọi để làm cho mọi mất mát trở nên nổi bật. Chúng ta được mời sống sao cho sự thật và phẩm giá con người được gìn giữ, kể cả khi không ai khen ngợi sự chừng mực ấy.
Khi đối diện với điều mình không hiểu, chúng ta dễ muốn tìm một ai đó phải chịu trách nhiệm cho sự bất an của mình. Có người đổ hết lên nạn nhân. Có người đổ hết lên Thiên Chúa. Có người cười nhạo đức tin của người khác như thể chế giễu có thể giải quyết được câu hỏi về đau khổ. Nhưng sau tất cả những lời lớn tiếng, một gia đình vẫn đang chịu tang, một cộng đoàn vẫn đang mất mát, và lòng người vẫn cần được chữa lành. Chúng ta có thể bắt đầu ở đó: làm điều có ích cho người đang đau, trong phạm vi mình thực sự có thể làm.
Có người có thể cầu nguyện. Có người có thể giúp một việc cụ thể. Có người có chuyên môn để góp phần bảo vệ an toàn. Có người biết lắng nghe. Có người chỉ cần ngừng một lời đồn mà mình sắp kể lại. Những việc ấy không trả lại được người đã mất, nhưng chúng ngăn nỗi đau tiếp tục bị làm cho nặng hơn. Chúng cũng giúp cộng đoàn sống trung thành với điều mình tuyên xưng về tình yêu.
Chúng ta vẫn sẽ còn những câu hỏi không dễ trả lời. Tại sao đúng người ấy? Tại sao đúng giờ ấy? Tại sao một việc tốt đang được thực hiện lại bị gián đoạn như vậy? Không nên giả vờ rằng những câu hỏi ấy nhỏ bé. Chúng có thể đi theo một người rất lâu. Đức tin không đòi chúng ta phải làm như mình đã hiểu hết trước khi có thể tiếp tục cầu nguyện. Có những lời cầu được mang suốt nhiều năm cùng với một câu hỏi chưa khép lại.
Và trong thời gian ấy, người ta có thể học một cách phó thác rất chậm. Hôm nay chỉ đủ sức bước vào nhà thờ. Một ngày khác mới có thể đọc hết một kinh. Rồi đến lúc có thể nhắc tên người đã mất mà không chỉ nhớ giây phút chia lìa. Sự bình an, nếu đến, có thể đến qua những thay đổi nhỏ như thế. Đừng thúc ép người khác phải đến nơi mà lòng họ chưa thể đến. Hãy đi cùng họ.
Hy vọng phục sinh cho phép người Kitô hữu nhìn xa hơn nấm mồ, nhưng không làm cho việc đứng trước nấm mồ trở nên dễ dàng. Chúng ta vẫn đau vì người mình thương không còn hiện diện theo cách quen thuộc. Chúng ta vẫn cần thời gian để sống với sự vắng mặt ấy. Niềm hy vọng được cưu mang ngay trong thân phận đang khóc, chứ không chỉ xuất hiện sau khi nước mắt đã khô. Một người vừa cầu nguyện vừa khóc vẫn có thể đang hy vọng bằng tất cả sức lực mình còn có.
Vì thế, trước tai nạn đã cướp đi một người linh mục, xin đừng làm cho người sống phải sợ Thiên Chúa hơn là tìm về với Người. Xin đừng đặt thêm một bản án lên vai người đã nằm xuống. Xin đừng để một vật thể rơi xuống trong một khoảnh khắc trở thành lý do khiến chúng ta hiểu sai cả tình yêu mà thánh giá diễn tả. Điều cần giữ lại trong lòng là phẩm giá của con người, sự nghiêm túc trước trách nhiệm và lời cầu nguyện được dâng lên với lòng khiêm nhường.
Nếu biến cố ấy có đánh thức điều gì nơi chúng ta, mong rằng đó là một lương tâm biết yêu thương cụ thể hơn. Người đang giận nhau tìm được can đảm mở lời. Người đang hờ hững biết trở về thăm nhà. Người có trách nhiệm chịu kiểm tra điều mình được giao phó. Người quen phán xét biết dừng lại trước khi nói. Người đang phục vụ nhận ra mình cần chăm sóc cả đời sống nội tâm lẫn sức khỏe. Người đang chịu tang biết rằng mình không bị bỏ lại một mình giữa cộng đoàn.
Một ngày nào đó, mỗi chúng ta cũng sẽ được người khác nhắc đến ở thì quá khứ. Những công việc đang khiến mình bận rộn sẽ được giao cho người khác. Những điều mình cố giữ sẽ rời khỏi tay. Khi ấy, có lẽ điều đáng quý nhất không phải là đã có bao nhiêu người chú ý đến mình, nhưng là đã có ai được sống nhẹ hơn nhờ sự hiện diện của mình. Ta đã làm gì với thời gian được trao? Ta đã đối xử thế nào với người yếu hơn? Ta đã để lại bình an hay những vết thương mà người khác còn phải mang?
Những câu hỏi ấy không cần chờ đến cuối đời. Chúng có thể được trả lời từng phần từ hôm nay, bằng một việc ngay lành còn kịp làm.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con đem đến trước Chúa nỗi bàng hoàng của những người vừa mất một mục tử, nỗi thương nhớ của gia đình, của anh em tu sĩ và của những người đã gắn bó với ngài. Chúng con không biết nói gì cho đủ trước một mất mát như thế. Xin đón nhận những lời kinh còn nghẹn, những giọt nước mắt và cả những câu hỏi mà chúng con chưa tìm được lời đáp. Xin thương linh mục đã qua đời, tha thứ những thiếu sót thuộc về thân phận con người và dẫn ngài vào sự sống của Chúa.
Xin ở gần những người đã chứng kiến điều đau đớn. Xin cho họ được gặp những người biết lắng nghe, biết chăm sóc, biết giúp họ đi qua nỗi sợ. Xin nâng đỡ cộng đoàn đang chịu tang trong những ngày sắp tới, khi sự vắng mặt dần hiện rõ giữa các sinh hoạt quen thuộc. Xin đừng để ai phải đau một mình chỉ vì mọi người tưởng rằng thời gian đã đủ lâu.
Xin giữ miệng lưỡi chúng con khỏi những lời xét đoán vội vàng. Khi chưa biết, xin cho chúng con đủ khiêm nhường để nói rằng mình chưa biết. Khi người khác khóc, xin cho chúng con biết ở lại. Khi có trách nhiệm phải làm sáng tỏ sự thật và bảo vệ sự sống, xin cho chúng con đủ can đảm thực hiện đến nơi đến chốn. Xin cho lời cầu nguyện làm chúng con trở nên chu đáo hơn trong những công việc được giao.
Xin thương các linh mục đang âm thầm phục vụ ở những nơi khó khăn, những người mệt mỏi mà chưa biết chia sẻ với ai, những người vẫn cố gắng chu toàn bổn phận giữa nhiều giới hạn. Xin cho các ngài được nâng đỡ bởi tình huynh đệ và bởi sự cộng tác chân thành của cộng đoàn. Xin cho chúng con biết quý người đang sống, biết nói lời cảm ơn khi họ còn nghe được, biết giúp đỡ khi họ còn đang cần.
Và khi chính chúng con phải đi qua những ngày không hiểu được cuộc đời mình, xin giữ chúng con gần Chúa. Chúng con có thể chưa bình an, có thể còn sợ hãi, có thể chỉ thưa được một lời rất nhỏ. Xin đón nhận lời ấy. Xin giúp chúng con sống trọn ngày hôm nay với một trái tim ngay lành, để khi đêm xuống, giữa bao điều còn dang dở, chúng con vẫn có thể trao mình trong tay Chúa.
Lm. Anmai, CSsR












