TU DỮ CHƯA ? (PHẦN 3 : ĐỜI TU DẤU NẶNG HAY DẤU LẶNG ?) – Lm. Anmai, CSsR
Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Sáu tuần XXIX TN – Lm. Anmai, CSsR
BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ SÁU, NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ SÁU, NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
TU DỮ CHƯA ? (PHẦN 3 : ĐỜI TU DẤU NẶNG HAY DẤU LẶNG ?) – Lm. Anmai, CSsR
T Sáu tuần 29 Mùa TN ĐỌC ĐƯỢC THỜI MÌNH ĐANG SỐNG – Lm. Anmai, CSsR
T Sáu tuần 29 Mùa TN ĐỌC ĐƯỢC BẦU TRỜI, SAO KHÔNG ĐỌC ĐƯỢC LÒNG MÌNH – Lm. Anmai, CSsR
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã nói với đám đông một điều họ vẫn làm rất giỏi. Mây kéo lên phía tây, họ bảo mưa đến, và mưa đến. Gió nồm thổi, họ bảo trời oi, và trời oi. Họ đọc được đất. Họ đọc được trời. Họ không đọc được thời đại mình đang đứng trong đó.
Con cũng thuộc hàng người ấy. Con biết nhận xét những gì không đụng đến mình. Con đoán mùa. Con đoán người. Con đoán việc sẽ xảy ra cho kẻ khác. Còn thời này, thời Chúa đang đi ngang qua, thời lời đã nói, thời của phải trả, thời người anh em đang cùng con trên một đoạn đường, thì con lại không xét. Không phải vì con không thấy. Vì thấy thì phải đổi.
Chúa gọi đó là đạo đức giả. Không phải vì miệng con nói sai về mây. Vì con dùng sự khôn về đất trời để khỏi phải khôn về điều phải. Chúa hỏi: sao các ngươi không tự mình xét xem cái gì là phải? Câu ấy không chờ một vị thẩm phán từ xa. Nó đòi con xét, bây giờ, trước khi ra tới cửa quan.
Lạy Chúa, đối phương đang đi cùng con. Có khi là người con nợ. Có khi là người con làm mất. Có khi là chính anh em trong nhà, còn đang ở dọc đường, chưa tới tòa. Chúa không bảo con thắng kiện. Chúa bảo con giải quyết cho xong khi còn kịp. Kẻo người ấy nộp con cho quan tòa, quan tòa nộp cho thừa phát lại, và ngục không mở trước khi đồng kẽm cuối cùng được trả.
Con vẫn hay để việc hòa đến sau. Con nói còn thời giờ. Con nói lỗi chưa đủ lớn. Con nói đối phương phải bước trước. Trong khi đường thì ngắn. Và đồng kẽm cuối cùng, con không trả nổi, nếu con không chịu trả khi còn đang đi.
Xin cho con biết đọc thời đại này như con từng đọc mây. Xin đừng để con khôn về trời đất mà mù về điều phải. Và khi còn dọc đường, xin cho con dừng lại, nói với người đang cùng đi, trả phần con phải trả, trước khi cửa ngục khép trên một đồng con cứ tưởng là nhỏ.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Amen.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, tôi kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời tôi, xin ghé tai về bên tôi, xin nghe rõ tiếng tôi. Lạy Chúa, xin gìn giữ tôi như con ngươi mắt Chúa, xin che chở tôi trong bóng cánh của Ngài.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, tôi kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời tôi, xin ghé tai về bên tôi, xin nghe rõ tiếng tôi. Lạy Chúa, xin gìn giữ tôi như con ngươi mắt Chúa, xin che chở tôi trong bóng cánh của Ngài.
Bài Ðọc Ep 4, 1-6
“Chỉ có một thân thể, một Chúa, một đức tin và một phép rửa”.
Trích thư Thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, tôi là tù nhân trong Chúa, tôi khuyên anh em hãy ăn ở xứng đáng với ơn kêu gọi anh em đã lãnh nhận. Anh em hãy hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái: hãy lo bảo vệ sự hợp nhất tinh thần, lấy bình an hoà thuận làm dây ràng buộc: Chỉ có một thân thể và một tinh thần, cũng như anh em đã được kêu gọi đến cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha hết mọi người, Ðấng vượt trên hết mọi người, hoạt động nơi mọi người, và ở trong mọi người.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 23, 1-2. 3-4ab. 5-6
Ðáp: Lạy Chúa, đó là dòng dõi người tìm kiếm long nhan Chúa (x. c. 6).
Xướng: Chúa là chủ trái đất và mọi vật làm sung mãn nó, chủ địa cầu và muôn loài cư trú ở trong. Vì chính Người xây dựng nó trên biển cả, và Người giữ vững nó trên chỗ nước nguồn.
Xướng: Ai khá trèo lên cao sơn của Chúa, ai được đứng trong nơi thánh của Người? Người tay vô tội và lòng thanh khiết, người không để lòng xu hướng bả phù hoa.
Xướng: Người đó sẽ được Chúa chúc phúc cho, và được Thiên Chúa là Ðấng cứu độ ban ân thưởng. Ðó là dòng dõi người tìm kiếm Chúa, người tìm long nhan Thiên Chúa nhà Giacóp.
Alleluia: Ga 15, 15b
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết”. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 12, 54-59
“Các ngươi biết tìm hiểu diện mạo trời đất? Còn về thời đại này, sao các ngươi không tìm hiểu?”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán bảo dân chúng rằng: “Khi các ngươi xem thấy đám mây nổi lên ở phía tây, lập tức các ngươi nói rằng: Trời sắp mưa; và sự thật xảy ra như thế. Và khi gió nam thổi đến, thì các ngươi nói: Trời sắp nóng nực. Và việc đã xảy ra như thế. Hỡi những kẻ giả hình, các ngươi biết tìm hiểu diện mạo của trời đất, còn về thời đại này, sao các ngươi không tìm hiểu? Tại sao các ngươi không tự mình phê phán điều gì phải lẽ? Thế nên, khi ngươi cùng với kẻ đối phương ra trước mặt quan quyền, thì đang lúc đi dọc đường, ngươi hãy cố lo liệu cho ổn thoả với nó đi, kẻo nó lôi ngươi đến trước quan toà, và quan toà trao ngươi cho lý hình và lý hình tống ngươi vào ngục. Ta bảo cho ngươi hay, ngươi sẽ không thể ra khỏi đó cho đến khi nào trả xong đồng xu cuối cùng”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết phụng thờ Chúa tại bàn thánh này, với tâm hồn tự do của con cái Chúa, để những mầu nhiệm chúng con đang cử hành đem lại cho chúng con nguồn ơn thanh tẩy. Chúng con cầu xin..
Ca hiệp lễ
Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, và nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
Hoặc đọc:
Con Người đến, để ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa gọi chúng con tời bàn tiệc Nước Trời và ban dồi dào sức sống mới, xin Chúa phù trợ chúng con trong cuộc sống hằng ngày và dạy chúng con biết tìm kiếm những hồ
HÃY SÁM HỐI, KẺO HẾT THẢY CŨNG PHẢI CHẾT NHƯ VẬY: KHI TAI ƯƠNG KHÔNG CÒN LÀ LỜI KẾT ÁN MÀ TRỞ THÀNH LỜI MỜI GỌI HOÁN CẢI
Có những tin dữ đến với người ta không theo nhịp của lịch phụng vụ, cũng chẳng chờ đến mùa nào cho phải lẽ, mà cứ bất ngờ đổ xuống giữa một ngày thường, giữa một phiên chợ, giữa một buổi chiều người ta còn đang tính chuyện cơm nước và công việc ngày mai. Có lúc đó là máu đổ vì bàn tay con người, vì quyền lực, vì bạo lực, vì một cuộc trấn áp khiến những người Galilê bị giết giữa đền thờ, máu họ hòa vào máu của lễ vật như một lời nguyền người ta không dám gọi tên. Có lúc đó lại là một tai nạn thuần túy, một tháp ở Silôác đổ sập, mười tám người bị đè chết, không ai kịp chạy, không ai kịp hiểu vì sao mình lại nằm dưới đống gạch vào đúng giờ ấy. Hai biến cố khác nhau đến thế, một bên do người gây ra, một bên do sự việc xảy đến, thế mà trong tâm thức của đám đông chúng lại bị kéo về cùng một lối giải thích rất cũ và rất dễ: những kẻ ấy hẳn đã phạm tội nặng hơn kẻ khác, nên hình phạt mới tìm đến họ. Tai ương, trong cách nghĩ ấy, trở thành bản án. Nạn nhân trở thành bị cáo. Người còn sống thì được một thứ an ủi giả, rằng mình chưa chết vì mình chưa đến mức tội ấy. Chúa Giêsu không chấp nhận lối an ủi đó. Ngài hỏi ngược lại, gần như buộc người nghe phải dừng cái thói quen kết án trong đầu: các ngươi tưởng mấy người Galilê ấy tội lỗi hơn hết mọi người Galilê sao, hay mười tám người bị tháp đè chết tội lỗi hơn hết mọi người ở Giêrusalem sao. Rồi Ngài nói không. Không phải thế. Nhưng nếu các ngươi không sám hối, thì hết thảy các ngươi cũng sẽ chết như vậy. Câu ấy không phải một lời dọa để giữ kỷ luật. Đó là một lời kéo người ta ra khỏi sự xét đoán người khác để đặt họ trước sự thật của chính đời mình.
Sự khôn ngoan mà Tin Mừng mở ra ở đây không nằm ở chỗ giải thích cho xong một tai nạn, cũng không nằm ở chỗ tìm cho ra thủ phạm để lòng người được yên. Sự khôn ngoan ấy bắt đầu từ chỗ dám nhìn sự sống là mong manh. Người ta có thể chết vì gươm của kẻ mạnh, cũng có thể chết vì một bức tường không ai ngờ sẽ đổ. Cả hai đều cho thấy cái nền người ta đang đứng không vững như người ta tưởng. Khi sự chắc chắn bị lung lay, phản ứng thông thường là đổ lỗi, là tìm một lý do để tai ương thành có lý, để vũ trụ vẫn còn công bằng theo kiểu sổ sách. Chúa không đi vào sổ sách ấy. Ngài không bảo nạn nhân vô tội theo nghĩa không còn gì phải xét, Ngài cũng không biến họ thành gương xấu để răn đời. Ngài chỉ lấy đi cái quyền của người còn sống được tự cho mình an toàn vì chưa gặp họa. Hết thảy đều đứng trước cùng một lời mời. Hoán cải không được đưa ra như một khoản luật phải nộp cho xong, mà như câu trả lời duy nhất còn xứng với một cuộc đời đã bị đặt vào khủng hoảng. Sám hối, trong nghĩa ấy, là thôi dùng nỗi đau của người khác để chứng minh mình còn đứng ngoài vòng. Là nhìn vào chính mình và hỏi điều gì trong lòng mình, trong cách mình sống, trong những quan hệ mình đang giữ, đang làm cho sự dữ có chỗ đứng.
Trước những thảm họa, dù do người hay do sự việc, việc đổ lỗi cho nạn nhân chẳng cứu được ai. Nó chỉ làm cho người còn lại cảm thấy mình được miễn trừ. Sự khôn ngoan thật thì khác. Nó để cho sự mong manh của kiếp người chất vấn mình, rồi từ đó mà nhận lấy trách nhiệm. Sửa mình. Làm lại đời sống. Không phải để mua một thứ bảo hiểm khỏi mọi tai ương, vì không có sự sám hối nào biến người ta thành kẻ không còn có thể gặp nạn, mà để khỏi sống như người mù giữa một thế giới đầy vết nứt. Lời gọi ấy chạm tới mọi tầng của sự dữ. Trong tương quan giữa người với người, sự dữ thường bắt đầu từ một lời cứng, một sự khinh miệt nhỏ, một thói quen lấy mình làm chuẩn để kết án kẻ khác. Trong đời sống xã hội, sự dữ lớn lên khi người ta quen nhìn những kẻ bị thiệt thòi như thể họ đáng phải chịu, và từ đó mà thờ ơ với bất công. Trên bình diện rộng hơn, giữa các dân tộc và các quyền lực, sự dữ được nuôi bằng thói đổ hết tội cho phía bên kia, bằng việc không bao giờ tự hỏi phần mình đã góp vào bạo lực, vào nghèo đói, vào những cơ chế làm cho mạng người trở nên rẻ. Câu trả lời hữu hiệu nhất cho sự dữ ở mọi mức ấy không phải là một lời nguyền rủa thêm, mà là một cuộc xét mình nghiêm túc và một quyết định thanh tẩy đời sống. Không có cuộc xét mình ấy, cá nhân cũng như cộng đồng sẽ đi tới chỗ chỉ còn một đích đến là đổ vỡ. Người không bao giờ tự vấn sẽ cứ lặp lại cùng một kiểu sống cho đến khi sự sống ấy không còn chịu nổi chính nó.
Hoán cải không cất khỏi tay người ta mọi vấn đề và mọi bất hạnh. Ai hứa điều đó là đang bán một thứ an ủi không có trong Tin Mừng. Điều hoán cải làm được là đổi cách người ta đứng trước những gì xảy đến. Nó giúp chặn bớt một số mối đe dọa của sự dữ, vì một lòng đã được sửa thì bớt chỗ cho hận thù, cho gian dối, cho thói lợi dụng nỗi đau người khác. Và trong mọi trường hợp, nó cho phép người ta lấy sự lành mà thắng sự dữ. Không phải lúc nào cũng thắng được trên mặt sự kiện, vì có những hậu quả đã xảy ra ngoài tầm tay mình, có những bức tường đã đổ, có những máu đã đổ, không ai kéo lại được giờ ấy. Nhưng trên bình mặt tinh thần, sự thắng ấy là có thật. Người đã sám hối không còn để sự dữ có tiếng nói cuối cùng trong lòng mình. Họ không biến nạn nhân thành bằng chứng cho một thứ công lý máy móc. Họ không biến nỗi sợ của mình thành sự khinh miệt. Họ bắt đầu sống như người biết mình cũng có thể ngã, và chính vì biết thế mà họ trở nên có trách nhiệm hơn với anh em. Nói gọn lại, hoán cải đánh vào gốc của sự dữ, mà gốc ấy là tội, dù nó không luôn xóa được hết những hậu quả mà tội và sự mong manh của thế gian đã gây ra. Đó là lý do vì sao sám hối vừa khiêm tốn vừa can đảm. Khiêm tốn vì không tự nhận mình là kẻ đứng ngoài vòng phán xét. Can đảm vì dám đổi đời mình thay vì chỉ đổi lời bình luận về đời người khác.
Mùa sám hối trong đời sống Kitô hữu chính là thời gian để lời ấy được nghe lại cho đến khi nó không còn là một câu trong sách, mà thành một cách đứng trong thế giới. Đức Maria, người đã đi trọn con đường của lòng tin giữa những biến cố bà không chọn, đồng hành và nâng đỡ bước chân ấy. Mẹ không rút người ta ra khỏi lịch sử. Mẹ dạy người ta ở lại trong lịch sử mà không để lòng mình bị lịch sử làm cho cứng. Nhờ Mẹ, người tín hữu có thể khám phá lại sự cao cả, và còn hơn thế, vẻ đẹp của việc hoán cải. Vẻ đẹp ấy không nằm ở vẻ ngoài của một người cố tỏ ra đạo đức. Nó nằm ở chỗ một đời người bắt đầu thôi đổ lỗi, bắt đầu nhận phần mình, bắt đầu sửa một thói quen, một quan hệ, một cách dùng quyền, một cách nhìn người bị nạn. Làm việc đền tội và sửa cách ăn nết ở, vì thế, không phải là một thứ luân lý figure để người ta tự hào đã giữ luật. Đó là con đường hữu hiệu nhất để đổi chính mình và, từ đó, đổi cả xã hội cho tốt hơn. Một xã hội không sám hối sẽ cứ tìm nạn nhân mới để giải thích sự dữ. Một xã hội biết sám hối sẽ bắt đầu thắp sáng chỗ mình đang đứng. Có một câu người ta vẫn nói, và câu ấy đúng hơn mọi bài diễn văn dài về bóng tối: thắp một ngọn nến còn hơn là nguyền rủa bóng tối. Ngọn nến ấy, trong mùa này, chính là một lòng biết trở lại, một đời dám để cho sự mong manh chất vấn mình, và một quyết định không để sự dữ có lời cuối cùng.
Lm. Anmai, CSsR
CÂY VẢ TRONG VƯỜN NHO VÀ NĂM ÂN HUỆ VẪN CÒN MỞ
Có những tin dữ đến với con người không phải để người ta ngồi lại mà đoán xem ai đáng chết hơn ai, mà để mỗi người được kéo trở về với sự thật rất gần của đời mình: mình đang sống, mình vẫn thở, mình vẫn còn một khoảng thời gian chưa bị cắt đứt, và khoảng thời gian ấy không phải là tài sản mình nắm chắc trong tay. Tin về những người Galilê bị giết khi đang dâng lễ, máu họ hòa lẫn vào máu của lễ vật, là một tin khủng khiếp. Tin về mười tám người bị tháp Silôe đổ xuống đè chết cũng là một tin khủng khiếp. Cả hai đều chạm vào nỗi sợ rất cũ của lòng người: sợ chết bất ngờ, sợ hình phạt, sợ mình đang đứng trong hàng những kẻ bị Trời xét. Thế nhưng phản ứng đầu tiên của lòng người trước đau khổ của kẻ khác thường không phải là sám hối, mà là phân loại. Người ta muốn tin rằng người chết kia hẳn đã phạm một tội kín nào đó nặng hơn mình, rằng tai họa là dấu chỉ của sự công thẳng đã tìm đúng địa chỉ, và rằng mình còn đứng ngoài vòng ấy là vì mình khá hơn. Cách nghĩ ấy yên ổn cho lương tâm, nhưng nó cũng làm cho lương tâm chai lại. Khi đã tự coi mình là người không đến nỗi tệ, người ta không còn nghe thấy lời mời gọi đổi đời. Người ta thương hại từ xa, bàn luận một lúc, rồi trở về với nhịp sống cũ, với những tính toán cũ, với cái tôi vẫn được nuôi dưỡng rất kỹ.
Lời Chúa không cho phép cách nghĩ ấy đứng vững. Những người Galilê bị giết không phải vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilê khác. Những người bị tháp đè không phải vì họ mắc nợ nặng hơn mọi người đang sống ở Giêrusalem. Đau khổ không phải là thước đo để xếp hạng tội lỗi. Có người sống rất tệ mà vẫn khỏe mạnh, giàu có, được tiếng. Có người sống ngay thẳng mà vẫn gặp tai ương. Nếu lấy tai họa làm bằng chứng để kết án, người ta sẽ vừa bất công với kẻ chết vừa mù quáng với chính mình. Điều cần nghe không nằm ở chỗ ai đáng chết hơn. Điều cần nghe nằm ở câu rất thẳng: nếu các ngươi không sám hối, các ngươi cũng sẽ chết như vậy. Chết ở đây không chỉ là cái chết của thân xác, dù cái chết ấy có thể đến bất cứ lúc nào, mà còn là cái chết của một đời không sinh trái, một đời khép lại trong chính nó, một đời đã dùng hết năm tháng mà không để lại hoa quả của lòng yêu thương, của công bình, của sự thật. Tháp có thể đổ. Bàn tay bạo lực có thể vung lên giữa lúc người ta đang cầu nguyện. Bệnh tật có thể cắt ngang một kế hoạch dài. Nhưng điều đáng sợ hơn tháp đổ là một tâm hồn đã quen với sự trì hoãn đến mức không còn nhận ra mình đang đứng trước hạn cuối.
Từ hai tin dữ ấy, dụ ngôn cây vả được kể ra như một lời giải thích dịu hơn mà cũng nghiêm hơn. Có một người trồng cây vả trong vườn nho của mình. Ông không trồng nó ở chỗ hoang, cũng không bỏ mặc nó giữa bụi gai. Ông trồng nó trong vườn, nghĩa là trong chỗ đã được chăm, đã được rào, đã được tưới bằng chính công khó của chủ. Mỗi mùa ông đến tìm trái. Ông đến không phải một lần cho có lệ. Ông đến với niềm trông đợi của người đã bỏ công, đã chọn đất, đã dành cho cây một vị trí giữa vườn. Ba năm liền ông không thấy gì. Ba năm không phải là một buổi thất vọng thoáng qua. Ba năm là thời gian đủ dài để một cây vả phải cho thấy nó có thuộc về vườn hay chỉ chiếm chỗ. Chủ vườn nói với người làm vườn: hãy chặt nó đi, sao để nó còn choán đất. Lời ấy nghe lạnh, nhưng nó cũng là lời của sự thật. Đất trong vườn không vô hạn. Nhựa sống, ánh nắng, nước tưới, công chăm sóc đều có giới hạn. Một cây chỉ hút mà không cho là một sự lãng phí không thể biện minh mãi. Chủ vườn không độc ác khi nói đến chuyện chặt. Ông đã kiên nhẫn ba năm. Ông đã đến tìm trái ba mùa. Ông thất vọng vì ông đã tin.
Người làm vườn xin ông một năm nữa. Chỉ một năm. Không phải xin mãi. Không phải xin một sự miễn trừ vô thời hạn. Người làm vườn không chối rằng cây đang trơ trọi. Người làm vườn không nói với chủ rằng chủ đã xét sai. Người ấy nhận sự thật của cây, rồi xin thêm thời gian để chính mình được đào xung quanh, bón phân, săn sóc cách đặc biệt. Hình ảnh ấy mang cả lòng thương xót lẫn sự khẩn thiết. Thương xót vì cây chưa bị chặt ngay. Khẩn thiết vì năm xin thêm không phải là năm để ngủ tiếp. Năm ấy là năm của cuốc, của phân, của rễ được lay động, của đất bị xới lên. Một cây muốn sống không thể cứ đứng yên trong lớp đất cũ đã chai. Rễ cần được đánh thức. Mùn cần được đổ vào chỗ mà trước nay chỉ có sự khô khan. Và sau năm ấy, nếu cây vẫn không trái, người làm vườn cũng không còn lời nào để xin. Dụ ngôn dừng lại ở cái ngưỡng ấy. Nó không kể tiếp xem năm sau cây có trái hay không. Nó để mỗi người nghe phải tự đặt mình vào vị trí của cây.
Cây vả trong vườn nho là hình ảnh của một đời đã được đặt vào ân huệ mà vẫn không sinh hoa trái. Được trồng không phải là công của cây. Được ở trong vườn không phải là quyền cây tự ban cho mình. Nước, đất, hàng rào, mùa nắng mùa mưa, cả sự kiên nhẫn của chủ, đều là những gì cây đã nhận. Thế mà ba mùa tìm trái vẫn tay không. Có những đời sống cũng giống như vậy. Người ta đã được sinh ra trong một gia đình có tiếng chuông nhà thờ, đã được học giáo lý, đã được rửa tội, đã được nuôi bằng Lời, đã đi qua bao mùa Chay, bao tuần Đại phúc, bao lần xưng tội cho qua chuyện. Người ta có mặt trong vườn. Người ta chiếm một chỗ. Người ta được gọi bằng một cái tên trong cộng đoàn. Nhưng khi tìm trái thì không thấy. Không thấy sự tha thứ thật sau những lần đã nói tha thứ. Không thấy sự công bình trong cách đối xử với người dưới, với người làm, với người nghèo đứng ngoài cổng. Không thấy lòng thương cảm khi nghe tin một nhà bên kia xóm gặp nạn. Không thấy sự hoán cải nào trong thói nói hành, trong sự gian dối nhỏ, trong cơn nóng giận được nuôi từ năm này qua năm khác. Người ta vẫn đi lễ. Người ta vẫn giữ một số thói quen đạo đức vừa đủ để không bị tiếng là bỏ đạo. Nhưng đời ấy không nuôi ai. Đời ấy không làm cho người bên cạnh bớt đói, bớt cô đơn, bớt bị loại trừ. Đời ấy chỉ lo cho chính nó được yên, được đủ, được khen.
Sự son sẻ ấy không luôn luôn ồn ào. Nhiều khi nó rất lịch sự. Nó biết nói những câu đúng. Nó biết tránh những vụ bê bối lớn. Nó biết giữ thể diện. Nó chỉ không biết cho. Nó không biết quay mặt về phía người đang khổ. Nó không biết rút bớt sự dễ chịu của mình để người khác được sống. Một cây vả son sẻ vẫn có lá. Lá làm cho người ta tưởng mùa trái đã đến. Từ xa nhìn vào, tán lá xanh. Đến gần mới thấy không có gì để ăn. Có những đời đạo đức cũng xanh lá như vậy. Xanh vì thói quen. Xanh vì danh xưng. Xanh vì người ta vẫn còn ngồi trong ghế của mình giữa nhà thờ. Nhưng trái của lòng mến thì không có. Trái của công bình thì không có. Trái của sự hiền lành khi bị trái ý thì không có. Và chủ vườn, sau ba năm, có quyền nói đến chuyện chặt, không phải vì Người thích hủy diệt, mà vì đất vườn phải dành cho sự sống có khả năng nuôi sống.
Người làm vườn xin hoãn lại là hình ảnh của lòng thương xót bước vào giữa án lệnh và thân cây. Lòng thương xót ấy không phủ nhận sự son sẻ. Lòng thương xót ấy không nói rằng không trái cũng chẳng sao. Lòng thương xót ấy xin một năm, và trong năm ấy chính người làm vườn sẽ cúi xuống, sẽ đào, sẽ bón. Đây là điều cần dừng lại thật lâu. Thiên Chúa không đứng từ xa mà chúc cho cây khá lên. Người bước vào phần đất của cây. Người nhận lấy công việc nặng. Người không chặt ngay, nhưng Người cũng không để cây tiếp tục ngủ trong lớp đất cũ. Ân huệ thêm một năm là ân huệ có hình dạng của sự chăm sóc, và sự chăm sóc ấy đôi khi làm rễ đau. Cuốc đào xung quanh gốc không phải là một cái vuốt ve. Phân bón không phải là một lời khen. Cây được cứu không phải bằng cách được xác nhận rằng mình vẫn ổn. Cây được cứu bằng cách được lay động tận chỗ đã chai.
Năm xin thêm ấy chính là thời gian mỗi người đang cầm trong tay mà không biết mình còn cầm được bao lâu. Mùa Chay là một cách gọi tên năm ấy cho thật rõ. Bốn mươi ngày không dài nếu so với cả một đời, nhưng bốn mươi ngày đủ để một người dừng lại, xét mình, xưng thú, sửa một thói quen, làm hòa một mối nợ, trả lại một điều đã lấy, mở túi cho người đang thiếu. Vấn đề là người ta có nhận bốn mươi ngày ấy như năm cuối của cây vả, hay nhận nó như một mùa trang trí. Nếu nhận như mùa trang trí, người ta sẽ thêm vài việc đạo đức cho có, rồi chờ qua lễ Phục sinh để trở về nhịp cũ. Nếu nhận như năm người làm vườn đã xin, người ta sẽ để cho cuốc chạm vào những chỗ lâu nay mình không muốn đụng. Chỗ ấy có thể là một mối hận đã được nuôi đủ lâu để trở thành một phần tính cách. Chỗ ấy có thể là một cách kiếm ăn không còn ngay thẳng nhưng đã quen đến mức mình gọi nó là khôn. Chỗ ấy có thể là sự lạnh nhạt với người thân trong nhà, sự khinh miệt người giúp việc, sự dửng dưng trước tin một giáo xứ bên cạnh đang thiếu, sự say mê một thứ làm cho mình không còn giờ để cầu nguyện thật. Cuốc không đào mọi thứ cùng một lúc. Nhưng cuốc phải đào. Một mùa Chay không chạm vào một chỗ cụ thể nào thì chỉ là một mùa lá xanh.
Có người nghe đến sự khẩn thiết liền sợ, và nỗi sợ ấy cũng cần được phân định. Sợ vì biết mình có thể chết bất ngờ mà vẫn chưa hòa giải là một nỗi sợ lành. Sợ đến mức không còn dám tin vào lòng thương xót là một nỗi sợ bệnh. Dụ ngôn không đẩy cây vào tuyệt vọng. Dụ ngôn đặt cây vào một năm còn mở. Năm còn mở nghĩa là vẫn có đường. Vẫn có người làm vườn đang cúi xuống. Vẫn có phân. Vẫn có nước. Vẫn có khả năng ra trái. Nhưng năm còn mở không có nghĩa là năm nào cũng còn mở theo cùng một cách. Lòng thương xót không phải là một giấy phép để trì hoãn vô hạn. Người nào nói rằng mình sẽ sửa vào mùa Chay sau, người ấy đang đánh cược với một điều mình không cầm được: rằng mình sẽ còn sống đến mùa Chay sau, rằng lòng mình đến lúc ấy vẫn còn đủ mềm để nghe, rằng thói quen đến lúc ấy vẫn còn có thể gỡ. Có những sự chai không xảy ra trong một ngày. Nó xảy ra vì mỗi lần được mời, người ta đều nói để năm tới. Ba năm chủ vườn đã đến. Năm thứ tư là năm người làm vườn xin. Không có trong dụ ngôn một năm thứ năm được hứa trước.
Sự son sẻ thường núp dưới những lý do rất giống sự khôn ngoan. Người ta nói mình bận. Người ta nói mình chưa sẵn. Người ta nói hoàn cảnh chưa thuận. Người ta nói sẽ làm khi con cái lớn, khi nợ trả xong, khi sức khỏe khá hơn, khi người kia xin lỗi trước. Những lý do ấy đôi khi có một phần sự thật. Nhưng chúng trở thành lớp đất chai khi chúng được dùng để không bao giờ bắt đầu. Cây vả không cần trở thành một cây khác loài trong một đêm. Nó cần, trong năm được xin, cho thấy nhựa đã chuyển, chồi đã khác, trái đã bắt đầu hình thành. Hoán cải cũng vậy. Không ai đòi một đời cũ biến mất trước buổi sáng hôm sau. Nhưng một đời đang được thương xót phải có dấu chỉ rằng nó đã thôi đứng yên. Dấu chỉ ấy có thể rất nhỏ với người ngoài mà rất thật với Thiên Chúa: một lời xin lỗi đã nuốt từ lâu nay được nói ra, một món nợ âm thầm được trả, một giờ cầu nguyện không còn là giờ đọc cho qua, một túi gạo được mang đến nhà người mình vẫn tránh mặt, một cơn giận được dừng lại trước khi nó thành lời độc. Những trái nhỏ ấy không làm cho cây thành một khu vườn. Chúng cho thấy cây chưa chết.
Chủ vườn và người làm vườn không chống nhau. Một bên nói đến sự thật của đất đai và của mùa màng. Một bên xin thời gian để sự thật ấy có thể đổi khác. Nếu chỉ nghe tiếng chủ vườn, người ta sẽ chỉ thấy án. Nếu chỉ nghe tiếng người làm vườn mà bỏ quên điều kiện của năm ấy, người ta sẽ biến lòng thương xót thành cái gối để ngủ. Cả hai tiếng phải được nghe cùng một lúc. Thiên Chúa không thích chặt. Thiên Chúa cũng không thích một vườn đầy cây chỉ để nhìn. Người tìm trái vì trái là dấu hiệu cây đã nhận sự sống và đã trao sự sống ấy đi. Yêu thương không giữ lại cho riêng mình. Công bình không chỉ đúng trong lời nói. Khoan dung không phải là quên sự thật, mà là cho người khác một con đường để trở về, đúng như mình đã được cho con đường ấy. Một giáo xứ son sẻ là một giáo xứ có đông người mang tên mà ít người mang gánh. Một gia đình son sẻ là một gia đình có bàn ăn mà không có lời thật, có mái nhà mà không có sự thứ tha. Một linh hồn son sẻ là một linh hồn đã nhận rất nhiều mùa mà vẫn chỉ lo cho sự dễ chịu của chính mình.
Khi tháp Silôe đổ, người sống sót không nên hỏi trước tiên xem mười tám người kia đã phạm tội gì. Người sống sót nên hỏi mình đang dùng sự sống còn lại để làm gì. Khi máu người Galilê hòa vào máu lễ vật, người nghe tin không nên dựng một tòa án nhỏ trong đầu để kết luận rằng họ bị phạt vì họ xấu hơn. Người nghe tin nên để tin ấy cắt đứt sự an toàn giả. Mình cũng có thể đang dâng lễ mà lòng vẫn còn một mối hận. Mình cũng có thể đang đứng dưới một công trình mình tưởng vững mà nó đổ. Mình cũng có thể đang ở giữa vườn mà không có trái. Ba điều ấy không được kể để làm người ta kinh hãi đến phát bệnh. Chúng được kể để người ta kịp trở về trong năm còn được xin. Kịp không có nghĩa là hoảng loạn. Kịp có nghĩa là thôi trì hoãn cái điều mình đã biết từ lâu là phải làm.
Người làm vườn hứa sẽ săn sóc cách đặc biệt. Lời hứa ấy đáng để một người mang vào cầu nguyện. Mình không tự cứu mình bằng một chương trình tu đức thật chặt nếu chương trình ấy chỉ là sức riêng. Mình cần để cho mình được đào. Được đào nghĩa là để Lời đi vào chỗ mình vẫn né. Được bón nghĩa là nhận lấy những phương thế rất ordinarily mà Giáo hội đã trao từ lâu: bí tích giao hòa không còn bị biến thành một thủ tục theo mùa, Thánh Thể không còn là một giờ có mặt, kinh nguyện không còn là một thói quen môi miệng, việc bác ái không còn là một khoản dư khi đã xong mọi sự cho mình. Người làm vườn không thiếu phương thế. Cây thiếu sự chịu để cho rễ mình bị đụng. Nhiều lần ơn đã đến mà không vào được vì lớp đất của sự tự biện hộ còn quá dày. Người ta luôn tìm được một lý do để mình chưa phải là cây cần chặt. Lý do ấy có thể đúng một phần. Nó trở thành độc khi nó ngăn không cho cuốc chạm gốc.
Cũng cần nói về những cây đang yếu mà không phải vì chúng cố tình son sẻ. Có người yếu vì bệnh. Có người yếu vì một vết thương cũ chưa lành. Có người yếu vì hoàn cảnh đè lên vai đến mức họ chỉ còn đủ sức để không ngã. Dụ ngôn không lấy những người ấy làm đích của lời đe chặt. Lời đe nhắm vào sự son sẻ của kẻ đã được trồng trong vườn mà vẫn sống như kẻ không thuộc về ai, không mắc nợ ai, không phải cho ai trái nào. Với cây yếu thật, người làm vườn càng không vội cầm rìu. Ngọn lửa còn leo lét thì không bị dập. Cây còn một chồi sống thì còn được tưới. Lòng thương xót biết phân biệt giữa sự lười đã thành thói và sự kiệt sức đang cần được nâng. Bổn phận của cộng đoàn là đừng làm cái việc của chủ vườn nóng giận khi mình chưa làm cái việc của người làm vườn. Đừng vội kết án một đời đang vật lộn. Hãy đào giùm. Hãy bón giùm. Hãy cho một năm bằng sự đồng hành cụ thể, chứ không bằng một lời khuyên tổng quát. Nhưng chính người đang được đồng hành cũng không được biến sự yếu của mình thành lý do để không bao giờ tập bước. Năm được xin là năm của cả hai phía: phía săn sóc và phía chịu cho mình được săn sóc để rồi sinh trái.
Trái mà vườn đang tìm không trừu tượng. Trong một nhà, trái ấy là bữa ăn không còn bị đầu độc bởi sự im lặng giận dữ. Trong một họ đạo, trái ấy là người nghèo có tên và có phần, không chỉ có trong lời nguyện giáo dân. Trong một xứ, trái ấy là sự hòa giải giữa những dòng họ đã tránh mặt nhau qua hơn một mùa cưới. Trong một linh hồn, trái ấy là sự thật được nói với Cha trong bí tích, không còn giữ lại một góc. Ngoài đời, trái ấy là cách làm ăn không nuốt phần của người khác, là lời nói không hủy danh dự kẻ vắng mặt, là sự dừng lại trước một cơ hội kiếm lời mà lương tâm đã thì thầm là không sạch. Người ta có thể biện hộ rằng những trái ấy nhỏ. Vườn không đòi mỗi cây phải nuôi cả thành. Vườn đòi cây phải có trái của chính nó. Một trái thật còn hơn một tán lá được khen.
Ba năm tìm mà không thấy là một khoảng thời gian đủ để hết cớ. Người ta không thể nói mình chưa được cơ hội nếu cơ hội đã đi qua nhà mình nhiều mùa. Mùa Chay năm nay, với rất nhiều người, không phải là lần đầu. Có người đã nghe dụ ngôn này từ thuở nhỏ. Đã thuộc. Đã gật đầu. Đã về nhà. Rồi lá lại xanh thêm một vòng trong khi gốc vẫn chai. Sự thuộc lòng ấy có thể trở thành một hình thức son sẻ mới: son sẻ của người đã biết mọi lời đúng mà không để một lời nào đào vào đất của mình. Vì thế bài học của cây vả không phải là một kiến thức cần thêm. Nó là một quyết định cần xảy ra trong năm đang mở. Quyết định ấy không cần được công bố. Nó cần được thấy ở chỗ cuốc đã chạm. Một người xét mình thật sẽ biết chỗ ấy là chỗ nào. Không ai cần một bài viết để chỉ cho mình cái thói mà mình đã tránh né mười năm. Mình biết. Năm được xin là năm để thôi giả vờ rằng mình chưa biết.
Và nếu năm ấy qua đi mà trái bắt đầu có, thì niềm vui không chỉ thuộc về cây. Niềm vui thuộc về người làm vườn đã xin, thuộc về chủ đã chờ, thuộc về cả vườn vì một chỗ đất đã thôi bị chiếm không. Một đời hoán cải không bao giờ chỉ cứu chính nó. Nó trả lại cho cộng đoàn một nguồn sống mà trước nay chỗ ấy đã nuốt mất. Một người biết xin lỗi làm cho cả nhà thở được. Một người biết cho đi làm cho một bàn ăn khác có thêm bát. Một người biết dừng lời độc làm cho danh dự của kẻ khác còn. Trái của một cây nuôi những miệng mà cây không luôn nhìn thấy. Đó là lý do chủ vườn kiên nhẫn tìm. Đó cũng là lý do người làm vườn không xin một sự hoãn trống rỗng. Người xin một năm để có trái, vì chỉ trái mới biện minh cho việc cây còn đứng trong vườn.
Hôm nay vẫn còn là hôm nay. Tháp chưa đổ trên vai mình. Máu mình chưa hòa vào một bi kịch bất ngờ. Mùa vẫn còn. Người làm vườn vẫn đang cầm cuốc. Điều ấy không phải là một bảo đảm được viết thành hợp đồng. Điều ấy là một ân huệ đang ở trong tay. Ân huệ thì không được dùng để ngủ. Ân huệ được dùng để trả lời. Cây nào để cho đất quanh gốc mình được xới lên trong năm này, cây ấy đã bắt đầu khác với cây của ba mùa trước, dù trái còn nhỏ, dù vị còn chua, dù người ngoài chưa kịp thấy. Và đối với chủ vườn, một trái bắt đầu hình thành sau bao mùa tay không còn quý hơn mọi lời hứa sẽ ra trái vào năm sau.
CÂY VẢ TRONG VƯỜN VÀ NĂM ÂN SỦNG KHÔNG ĐƯỢC PHÍ
Có một cây vả đứng giữa vườn đã ba năm liền. Cành vẫn xanh, lá vẫn dày, bóng vẫn mát, rễ vẫn bám sâu vào đất, thế mà mỗi mùa người chủ đến tìm trái thì chỉ thấy lá. Không một quả. Không một dấu hiệu nào cho thấy sự sống ấy đang trao ban. Người chủ nhìn cây, nhìn đất, nhìn công sức đã đổ vào mảnh vườn, rồi nói với người làm vườn một câu lạnh mà công bằng: chặt nó đi, nó chỉ làm cạn đất. Câu ấy không phải tiếng giận dữ bốc đồng. Đó là tiếng của người biết giá trị của đất, của thời gian, của mùa màng. Đất không phải là kho vô tận để nuôi một sự hiện diện chỉ biết nhận. Thời gian không phải là khoảng trống để một đời cây đứng mãi trong vẻ xanh mà không sinh hoa trái. Và chính lúc ấy, người làm vườn bước tới. Ông không cãi lý rằng cây vô tội. Ông không bảo chủ đừng đòi hỏi. Ông chỉ xin thêm một năm. Một năm để ông cuốc quanh gốc, bón phân, chăm sóc, thức tỉnh rễ, lay động nhựa. Nếu năm sau có trái thì để. Nếu không, chủ cứ chặt. Trong lời xin ấy có cả lòng thương, có cả sự thật, có cả một giới hạn. Lòng thương không xóa bỏ sự thật. Sự thật không dập tắt lòng thương. Và giới hạn ấy chính là cửa mở cho hoán cải, chứ không phải tấm khiên để sự cằn cỗi nấp sau đó mãi.
Cây vả ấy không chỉ là một hình ảnh trong vườn. Nó là dung mạo của một đời người đã có mọi điều kiện để sinh trái mà vẫn chọn sự vô sinh thiêng liêng. Có Lời Chúa. Có bí tích. Có cộng đoàn. Có thời giờ. Có sức khỏe. Có trí khôn. Có những khuôn mặt nghèo đang đứng ngay trước cửa. Thế mà trái yêu thương không thấy. Trái công bình không thấy. Trái tha thứ không thấy. Trái chia sẻ không thấy. Người ấy vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn giữ một vẻ đạo hạnh bên ngoài, vẫn nói những câu rất đúng về lòng thương xót, nhưng đời sống không trao ban. Mắt không mở trước nỗi khổ của người khác. Tai không dừng lại trước tiếng kêu. Tay không đưa ra. Tim không xao xuyến. Sự hiện diện của họ làm cạn đất: chiếm chỗ, nhận ơn, dùng thời gian của cộng đoàn, tiêu hao lòng kiên nhẫn của những người đang chờ một dấu hiệu đổi thay, mà không trả lại cho vườn một quả nào. Sự cằn cỗi này tinh vi hơn tội lộ liễu. Tội lộ liễu còn làm người ta giật mình. Sự cằn cỗi kín đáo thì tự biện minh bằng thói quen, bằng bận rộn, bằng câu “tôi có làm hại ai đâu”. Không làm hại ai chưa phải là sinh trái. Cây không sâu bệnh vẫn có thể là cây vô dụng nếu nó chỉ sống cho mình.
Người chủ vườn là hình bóng của một tình yêu không mù quáng. Thiên Chúa không phải là đấng dễ dãi đến mức coi sự vô sinh là chuyện nhỏ. Ngài đã trồng. Ngài đã tưới. Ngài đã chờ. Ba năm trong dụ ngôn không phải là con số tùy tiện. Đó là thời gian đủ dài để một cây chứng tỏ mình. Lòng kiên nhẫn của Ngài là có thật, nhưng lòng kiên nhẫn ấy không phải là sự đồng lõa với sự lười biếng thiêng liêng. Ngài không vui khi con người lợi dụng sự chậm giận của Ngài để trì hoãn hoán cải. Mỗi lần người ta nói “còn kịp, Chúa thương mà”, trong khi không sửa một thói quen nào, không đổi một cái nhìn nào, không hòa giải một mối tương quan nào, thì người ta đang biến lòng thương xót thành tấm nệm êm cho sự trì trệ. Lòng thương xót không phải cái nệm. Lòng thương xót là cánh tay nâng dậy và là thời hạn để đứng lên. Ai nằm mãi trên cánh tay ấy mà không chịu đặt chân xuống đất thì đang làm thương tổn chính lòng thương đã nâng mình.
Người làm vườn là dung mạo của một tình yêu bước vào khoảng giữa. Ngài không đứng về phía bản án, cũng không đứng về phía sự vô tâm. Ngài xin thời gian, và chính Ngài nhận lấy công việc của thời gian ấy. Cuốc đất quanh gốc là làm xáo trộn lớp vỏ cứng của thói quen. Bón phân là đổ vào đời người những gì mắt thường coi là không đẹp: lời trách móc đúng lúc, thất bại làm người ta tỉnh, bệnh tật làm người ta nhớ mình không phải là chủ của ngày mai, khuôn mặt người nghèo làm người ta không thể tiếp tục sống như thể thế giới chỉ có mình. Sự chăm sóc của người làm vườn không phải là vuốt ve. Đó là một tình yêu chịu khó, chịu bẩn tay, chịu chờ, chịu hy vọng vào một cây mà chủ đã muốn chặt. Trong Mùa Chay, chính khoảng thời gian được xin thêm ấy đang được trao vào tay mỗi người. Không phải để trang trí mùa bằng vài việc đạo đức cho có lệ, mà để để cho đất quanh gốc bị cuốc lên. Ai không để mình bị lay động thì năm được xin thêm cũng sẽ trôi qua như ba năm trước, xanh lá mà không có trái.
Sự vô sinh thiêng liêng thường đội lốt sự an toàn. Người ta chọn một vùng sống vừa đủ: đủ đạo để yên lương tâm, đủ tốt để không bị chê, đủ kín để không phải đụng vào những chỗ đang thối trong tương quan. Vùng ấy thoải mái. Nó không đòi ra khỏi ghế. Nó không đòi nhìn thẳng một người mình đang tránh. Nó không đòi trả lại điều đã lấy. Nó không đòi nói lời xin lỗi khi lời xin lỗi sẽ làm mất thể diện. Nó không đòi mở tủ khi trong xóm còn nhà thiếu ăn. Và vì vùng ấy êm, người ta gọi nó là bình an. Bình an giả ấy chính là đất bị cây cằn làm kiệt. Cộng đoàn bị làm kiệt khi mỗi người chỉ giữ phần mình. Gia đình bị làm kiệt khi mỗi người chờ người kia đổi trước. Giáo xứ bị làm kiệt khi việc bác ái trở thành chuyện của ban này ban kia, còn mình thì đứng ngoài với lý do bận. Xã hội bị làm kiệt khi người có tiếng nói chỉ dùng tiếng nói để bảo vệ sự dễ chịu của mình. Cây không sinh trái không chỉ thiệt cho cây. Nó làm cạn chỗ đáng lẽ một sự sống khác có thể mọc lên và nuôi người.
Hoán cải mà Mùa Chay đòi không phải là một cảm xúc đẹp trong nhà thờ rồi tan khi ra khỏi cửa. Hoán cải là sửa một điều có thật trong cách nghĩ, cách làm, cách ở với nhau. Cách nghĩ phải sửa khi người ta vẫn đo người khác bằng lợi ích của mình, vẫn coi sự khốn khổ của tha nhân là chuyện không liên quan, vẫn biện minh cho sự cứng lòng bằng câu “đời ai nấy lo”. Cách làm phải sửa khi lời cầu nguyện không kéo theo một hành động nào, khi việc lành chỉ xuất hiện lúc có người xem, khi tiền bạc và thời giờ luôn được dành trước cho sự tiện nghi rồi mới đến phần còn lại cho người khác. Cách ở với nhau phải sửa khi trong nhà vẫn còn người không được nói chuyện, khi trong nhóm vẫn còn người bị loại ra khỏi bàn, khi một vết thương cũ được nuôi bằng im lặng để nó tiếp tục đầu độc. Sửa một điều thôi, nếu điều ấy là điều thật, đã là cây bắt đầu có nhựa chạy về phía trái. Sửa cho có hình thức mà không đụng tới chỗ đang cằn thì năm xin thêm cũng vô ích.
Có một cám dỗ rất khéo trong đời sống đức tin: cậy vào lòng thương xót rồi nới lỏng sự đáp trả. Người ta biết Chúa chậm giận. Người ta biết Chúa không muốn kẻ gian ác phải chết mà muốn nó quay đầu. Người ta biết cây được xin thêm một năm. Và từ sự biết ấy, người ta xây một lý luận để ở lại y nguyên. Lý luận ấy nghe rất đạo đức. Nó nói về lòng nhân từ. Nó nói về sự yếu đuối của phận người. Nó nói về việc không nên khắt khe với chính mình. Tất cả những câu ấy có một phần sự thật, và chính phần sự thật ấy làm cho sự lừa dối trở nên khó nhận. Phần bị giấu là đây: lòng nhân từ đang chờ trái, sự yếu đuối không phải giấy phép để không đứng dậy, và việc không khắt khe với mình không có nghĩa là không thành thật với mình. Thành thật là nhìn ra điều mình đang trì hoãn. Thành thật là gọi đúng tên sự thoải mái mà mình không muốn mất. Thành thật là nhận rằng còn kịp không đồng nghĩa với còn mãi. Năm được xin không phải là năm được gia hạn vô hạn. Khi thời gian ấy qua mà gốc vẫn cứng, nhựa vẫn không chạy, mắt vẫn không mở, thì cơ hội không đứng đó chờ người ta mãi.
Sự khẩn trương này không phải để gây sợ. Nó để đánh thức. Một người đang ngủ trên mép vực cần được gọi lớn, không cần được ru. Mùa Chay là tiếng gọi lớn ấy, nhưng tiếng gọi phát ra từ một người làm vườn đang cúi xuống gốc cây chứ không phải từ một người cầm rìu đã vung. Vị ấy tin cây còn có thể ra trái. Niềm tin ấy không rẻ. Nó được trả bằng công cuốc, bằng phân, bằng thời gian, bằng việc không bỏ cuộc trước một thân gỗ tưởng đã chết phần nào. Vì thế, đáp lại niềm tin ấy bằng sự trì hoãn là một cách làm tổn thương rất sâu. Không phải Thiên Chúa bị tổn thương theo kiểu con người mất mặt. Ngài bị tổn thương theo kiểu tình yêu bị để trống tay. Ngài đã xin thời gian cho ta, và ta dùng thời gian ấy để tiếp tục sống như không có lời xin nào đã được thốt ra.
Hoán cải cá nhân không đứng riêng. Cây được cứu để vườn có trái, không phải để cây tự hào rằng mình còn đứng. Trái yêu thương là trái được người khác ăn. Trái công bình là trái làm người bị loại có chỗ. Trái hiền hòa là trái làm một mái nhà bớt khí độc. Trái tín trung là trái làm người ta dám tin lại vào lời hứa. Nếu một đời đạo hạnh không nuôi được ai, không nâng được ai, không trả lại cho cộng đoàn một chút ấm nào, thì đó vẫn là cây lá. Người làm vườn không xin thêm năm để cây đẹp hơn trong mắt khách qua đường. Ngài xin để năm sau có cái mà chủ vườn đến tìm. Chủ vườn đến tìm trái. Những người đói đến tìm bánh. Những người cô độc đến tìm một chỗ được gọi tên. Những người yếu đến tìm một người không dập tắt tim đèn còn khói. Nếu họ đến mà chỉ gặp lá, thì năm ân sủng đã bị dùng sai.
Bắt chước lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa là phần mà nhiều người quên khi nói về hoán cải. Ta dễ đòi người khác phải ra trái ngay, trong khi chính mình đang sống nhờ một năm được xin thêm. Ta dễ muốn chặt những cây mình chán. Ta dễ tắt ngọn lửa vừa nhen vì nó còn yếu, còn khói, còn không đẹp. Lòng kiên nhẫn đích thực không phải là làm ngơ trước sự dữ. Lòng kiên nhẫn đích thực là không loại bỏ người yếu trước khi đã ở lại với họ, đã cuốc đất quanh họ, đã bón vào đời họ bằng sự hiện diện chứ không chỉ bằng lời khuyên. Một cộng đoàn biết chờ người chậm, biết ngồi với người đang tập đứng, biết không biến lỗi lầm thành bản án vĩnh viễn, là một cộng đoàn đang làm công việc của người làm vườn. Ngược lại, một cộng đoàn chỉ giữ những cây đã có trái và đẩy đi những cây đang cần năm được xin, thì cộng đoàn ấy đã đổi vai: từ người làm vườn thành người chỉ biết cầm rìu.
Trong gia đình, năm được xin thêm thường mang khuôn mặt rất cụ thể. Đó là người phối ngẫu vẫn còn ở lại dù đã mệt. Đó là cha mẹ không đóng cửa trước đứa con đang sống xa đức tin. Đó là anh chị em không biến một cuộc cãi vã thành sự đoạn tuyệt. Ở lại chưa đủ nếu ở lại mà không cuốc đất. Ở lại để trách cứ mỗi ngày không phải là bón phân. Ở lại để cùng sửa một thói quen, để nghe một lần cho hết, để trả lại một lời đã nói quá nặng, để chia lại một gánh đang đè một người, đó mới là chăm sóc gốc. Nhiều cây trong nhà không cằn vì thiếu tình. Chúng cằn vì tình ấy không chịu khó. Tình dễ thì vuốt ve hoặc bỏ đi. Tình khó thì cuốc, bón, chờ, và vẫn nói sự thật.
Với người nghèo và người đang đau, cây vả không trái là một lời xét xử thầm lặng. Không cần một tòa nào. Chỉ cần một người no mà không thấy người đói đang ở gần. Chỉ cần một người có tiếng nói mà dùng tiếng nói để giữ đặc quyền. Chỉ cần một người có của mà khóa của trước nhu cầu chính đáng của tha nhân. Sự mù này không luôn đến từ lòng độc ác. Nhiều khi nó đến từ một đời sống đã quá no sự dễ chịu, đến mức mắt không còn chỗ cho hình ảnh khác. Mùa Chay cuốc đúng chỗ ấy. Ăn uống đơn lại không phải để chứng minh ý chí. Ăn uống đơn lại để bụng nhớ sự đói, và từ sự nhớ ấy mà tay biết mở. Cầu nguyện lâu hơn không phải để tích công. Cầu nguyện lâu hơn để tim có giờ nghe những tiếng mà nhịp sống thường ngày đã nhấn chìm. Bố thí không phải để yên lương tâm. Bố thí để của cải thôi là trung tâm và người khác bắt đầu có tên.
Có người sẽ nói mình không biết phải sửa điều gì. Câu ấy đôi khi là sự thật của một lương tâm chưa được hỏi kỹ, đôi khi là cách trì hoãn lịch sự. Hỏi kỹ thì thấy. Thấy trong cách mình nói về người vắng mặt. Thấy trong khoản tiền mình tiêu cho điều không cần trong khi một nhu cầu gần kề thì bị hoãn. Thấy trong người mình đang không thèm chào. Thấy trong việc đạo đức mình giữ rất đều và việc bác ái mình luôn bận. Thấy trong sự nóng giận được nuôi vì nó cho mình cảm giác có lý. Thấy trong nỗi sợ mất thể diện lớn hơn nỗi sợ mất linh hồn. Không cần lập một danh sách dài. Một gốc thôi, nếu được cuốc thật, sẽ kéo nhựa chạy sang các cành khác. Hoán cải bắt đầu tại một điểm cụ thể và trung thành với điểm ấy suốt mùa, rồi suốt năm, rồi suốt đời. Điểm cụ thể ấy chính là phân và cuốc. Không có nó, lời nguyện chỉ là lá.
Sự kiên nhẫn của Thiên Chúa với ta trở thành khuôn cho sự kiên nhẫn của ta với chính mình, nhưng không được hiểu lầm. Kiên nhẫn với mình không phải là hẹn lần thứ mười mà vẫn không bắt đầu. Kiên nhẫn với mình là sau mỗi lần ngã vẫn trở lại gốc, vẫn để đất bị xới, vẫn không tuyên bố rằng cây này hết cách. Có ngày việc lành vừa tập đã gãy. Có ngày lời tha thứ vừa nói đã muốn rút lại. Có ngày mắt vừa mở đã tìm cớ nhắm. Những ngày ấy không phải là dấu cây phải bị chặt. Những ngày ấy là lúc người làm vườn vẫn còn đang làm việc, nếu ta không đuổi Ngài khỏi mảnh đất của mình. Đuổi Ngài bằng cách cố ý trì hoãn. Đuổi Ngài bằng cách biến năm được xin thành năm được ngủ. Đuổi Ngài bằng cách dùng lòng thương xót như một lý do để không đổi.
Vườn không chỉ có một cây. Khi một người chịu để mình được cuốc, cả khoảng đất quanh đó đổi. Con cái nhìn thấy cha mẹ sửa một lời nói cứng. Người hàng xóm nhìn thấy một cửa nhà từng đóng nay mở. Người cùng làm việc nhìn thấy một miệng từng nhọn nay biết dừng. Sự đổi ấy lan không cần diễn thuyết. Trái tự nó là lời giảng. Và vì trái đến chậm, người ta dễ bỏ cuộc giữa chừng, muốn kết quả trong tuần đầu của Mùa Chay, muốn cảm giác mình đã nên thánh trước Chúa Nhật thứ tư. Người làm vườn không hứa trái trong tuần. Ngài xin một năm. Một năm là nhịp của sự trung thành chứ không phải nhịp của cảm xúc. Ai chỉ sống bằng cảm xúc mùa thì hết mùa sẽ lại là cây lá. Ai chịu nhịp một năm sẽ thấy nhựa chạy vào lúc mình tưởng không còn gì để chờ.
Đứng trước dụ ngôn này, mỗi người có thể nghe hai tiếng cùng lúc. Tiếng thứ nhất là tiếng của người chủ: đừng làm cạn đất. Tiếng thứ hai là tiếng của người làm vườn: ta xin cho ngươi thêm thời gian, và ta sẽ ở với ngươi trong thời gian ấy. Nghe một tiếng mà bỏ tiếng kia sẽ làm méo Tin Mừng. Chỉ nghe tiếng chặt thì đức tin thành sợ hãi không có tình. Chỉ nghe tiếng xin thêm năm thì đức tin thành dễ dãi không có sự thật. Cả hai tiếng cùng nói trong một vườn. Tình yêu thì xin thời gian. Sự thật thì không bỏ qua việc đòi trái. Và người được xin cho, tức là mỗi người đang sống trong Mùa Chay này, không còn có thể giả vờ rằng mình không nghe thấy.
Năm ân sủng đang ở dưới gốc. Đất có thể bị xới trong cách ta dùng buổi sáng, trong một mối tương quan ta sẽ không còn né, trong một phần của cải ta sẽ không còn giữ khư khư, trong một lối nhìn ta sẽ không còn biện minh. Không ai cuốc giùm cho đến nơi đến chốn. Người làm vườn dẫn đường, ở lại, đổ sức, nhưng trái phải mọc từ chính cây. Cây không thể nhờ lá của cây bên cạnh mà gọi là mình đã sinh trái. Đến ngày chủ vườn trở lại, câu hỏi không phải là cây đã đứng cạnh những cây tốt hay chưa. Câu hỏi là trên cành của nó có gì để trao. Câu hỏi ấy không chờ một bài giảng khác. Nó đang chờ một đời chịu khó ra khỏi vùng an toàn, mở mắt, mở tim, và không lợi dụng sự kiên nhẫn đã được ban để tiếp tục vô sinh.
Lm. Anmai, CSsR
CÂY VẢ NĂM THỨ TƯ: KHI ĐẤT VẪN CÒN CHỜ VÀ LÒNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC TRÌ HOÃN
Có những buổi sáng người ta mang đến cho nhau một tin dữ như để tìm một lời giải thích cho nỗi sợ. Máu đã đổ. Một nhóm người từ miền Galilê lên đền thờ dâng lễ, rồi bị giết ngay giữa lúc tế tự, máu họ hòa vào máu con vật sát tế. Tin ấy chạy nhanh. Người ta kể lại với giọng vừa kinh hoàng vừa muốn hỏi: họ đã phạm tội gì mà phải chết cách ấy. Không lâu sau lại có tin khác. Tháp Silôác đổ. Mười tám người bị đè chết. Không phải trên chiến trường, không phải vì một bản án, chỉ vì một bức tường, một khối đá, một khoảnh khắc đứng không đúng chỗ. Và câu hỏi lại hiện ra, cũ mà vẫn sắc: những người ấy có tội hơn những người còn sống chăng. Ta thích câu hỏi ấy vì nó đẩy sự dữ ra khỏi mình. Nếu họ chết vì tội nặng hơn, thì ta còn thở là vì ta khá hơn. Nếu tai họa là hình phạt chọn lọc, thì sự bình an của ta là bằng chứng ta được Thiên Chúa ưu ái. Cách nghĩ ấy yên lòng trong chốc lát, rồi làm lòng người cứng lại. Nó biến đau khổ của kẻ khác thành bài học luân lý cho riêng mình, và biến sự sống sót của mình thành công trạng.
Lời đáp lại không chiều theo nỗi sợ ấy. Những người Galilê ấy không tội hơn mọi người Galilê khác. Mười tám người bị tháp đè không tội hơn mọi dân cư thành ấy. Tai họa không phải thước đo để xếp hạng linh hồn. Máu đổ và tường đổ không phải bản cáo trạng công khai để kẻ đứng ngoài được quyền kết án. Điều được nói thẳng, và nói hai lần cho khỏi hiểu lầm, là nếu không sám hối thì tất cả cũng sẽ chết như vậy. Không phải chết cùng một cách, không phải cùng một nhát gươm hay cùng một tảng đá, mà chết trong ý nghĩa sâu hơn: một đời không trở lại, một lòng không chịu mở, một sự hiện diện trên đất mà không sinh hoa trái. Câu ấy cắt đứt thói quen dùng thảm kịch của người khác để tự biện hộ. Nó kéo mắt ta từ xác người nằm dưới tháp về lại căn nhà của chính mình, về lại những năm đã sống, về lại những mùa đã qua mà không có quả.
Rồi câu chuyện chuyển sang một vườn nho. Chủ vườn trồng một cây vả ngay giữa vườn. Không phải trồng ngoài bờ hoang, không phải để làm bóng mát cho khách qua đường rồi quên. Trồng giữa vườn là trồng vào chỗ đất tốt, chỗ được tưới, chỗ nằm trong sự chăm sóc hằng ngày. Cây vả ở đó không phải vật trang trí. Nó được chờ. Mỗi mùa chủ đến tìm quả. Năm thứ nhất không có. Năm thứ hai không có. Năm thứ ba vẫn không có. Ba năm không phải một buổi thất vọng. Ba năm là ba vòng mùa, ba lần lá xanh, ba lần hy vọng được nuôi rồi cụt. Chủ nói với người làm vườn một câu rất thật, không độc ác mà cũng không mơ hồ: đã ba năm ta đến tìm trái trên cây vả này mà không thấy. Vậy chặt nó đi, để làm gì cho hại đất. Câu ấy đáng nghe chậm. Hại đất. Cây không trái không chỉ vô ích cho chủ. Nó chiếm chỗ. Rễ nó hút dưỡng chất. Bóng nó có thể che cây khác. Đất vốn có thể nuôi một cây biết cho quả lại bị giữ bởi một cây chỉ biết giữ lá. Sự hiện diện không tự nó là ơn. Có một cách hiện diện làm cạn đất.
Người làm vườn không cãi rằng cây ấy vẫn đẹp. Không nói lá còn xanh nên hãy khoan. Không xin một ân huệ vô hạn. Người ấy xin một năm. Một năm nữa thôi. Để tôi đào xung quanh, bón phân, rồi sang năm có trái thì tốt, bằng không chủ cứ chặt. Lời xin ấy là cả một nền thần học của lòng thương xót được nói bằng tay người làm vườn. Thương xót ở đây không phải bỏ qua. Không phải đổi tên cây trơ thành cây tốt. Thương xót là xin thêm thời gian, và thời gian ấy được mua bằng công việc. Đào xung quanh là làm đất tơi, là đừng để rễ nằm trong chỗ đã chai. Bón phân là đưa vào những gì không thơm, không sang, nhưng làm cho sự sống có thể đi xuống gốc. Người làm vườn không hứa thay cây ra quả. Người ấy hứa chăm. Quả vẫn phải là việc của cây.
Ta đứng trong dụ ngôn ấy lâu hơn ta tưởng. Cây vả không phải một loài cây xa. Nó là một đời được trồng vào chỗ tốt. Được sinh ra trong một gia đình còn biết cầu nguyện. Được lớn lên giữa tiếng chuông, giữa một lời giảng, giữa một người nào đó đã từng nắm tay dắt vào nhà thờ lúc còn bé. Được cho một ơn gọi, một bí tích, một người bạn, một cuốn sách, một cơn bệnh đã qua, một lần được tha. Đất không nghèo. Nước không thiếu. Ba năm, rồi nhiều năm hơn ba năm, chủ vẫn đến tìm. Tìm không phải một cảm xúc đạo đức. Tìm trái. Trái là điều có thể nuôi người khác. Một lời thật lúc đáng nói. Một sự tha lúc đáng giữ giận. Một phần cơm chia khi nhà mình cũng chưa dư. Một giờ ngồi với người bệnh mà không nhìn đồng hồ. Một quyết định nghề nghiệp không bán rẻ người yếu. Một đời sống gia đình trong đó con cái không lớn lên giữa những cánh cửa đóng im. Một linh mục, một tu sĩ, một giáo dân không chỉ giữ cho mình được yên. Trái không mọc trên cành để cây tự ngắm. Trái rụng vào tay người đói.
Cây không trái thường không xấu theo kiểu ồn ào. Nó không cần là cây độc. Nó có thể rất ngay ngắn. Lá đầy. Cành thẳng. Thân không mối. Người ta đi qua còn khen mát. Nguy hiểm của nó nằm ở chỗ nó dùng hết sức sống để duy trì hình dáng. Nó hút đất cho lá. Nó xanh để được nhìn là còn sống. Có những đời như vậy trong đạo. Dự lễ đều. Giữ vài thói quen tốt. Không gây scandal lớn. Không nói lời nào quá đáng ở chỗ đông người. Rồi khi chủ đến tìm, chỉ thấy lá. Không thấy một người nghèo nào được đỡ nhờ sự hiện diện ấy. Không thấy một mối bất hòa nào được hóa giải vì người ấy chịu mất thể diện. Không thấy một sự thật nào được nói vì người ấy sợ mất ghế. Không thấy một giờ thinh lặng nào thật, chỉ thấy những lời cầu được đọc cho xong. Cây ấy không làm hại ai bằng nhánh gãy. Nó hại đất bằng cách chiếm chỗ mà không cho gì.
Ba năm chờ không phải ba năm Chúa vắng mặt. Mỗi mùa Người vẫn đến. Đến trong một lời Phúc Âm đọc mà ta nghe như chuyện của người khác. Đến trong một người thân nói nhỏ một câu ta không muốn nghe. Đến trong một thất bại làm lộ ra ta đã xây đời trên cái gì. Đến trong một cơn bệnh của chính mình, khi thân xác không còn cho phép ta đóng vai người luôn làm chủ. Đến trong nỗi buồn của một đứa con đã lớn mà không còn muốn nói. Đến trong tin một người quen chết đột ngột, và ta nhận ra lịch của mình đầy những việc sẽ không ai nhớ. Chủ không đến để xem ta có bận không. Người đến tìm trái. Và nhiều lần Người về tay không, không phải vì vườn hoang, mà vì cây được trồng kỹ nhất lại không có gì để đặt vào tay Người.
Lời của chủ vườn có một sự thẳng thắn ta ít dám áp vào đời mình. Chặt đi, để làm gì cho hại đất. Không phải mọi sự hiện diện đều đáng được giữ vô thời hạn. Có những thói quen đạo đức đã thành vỏ. Có những chức vụ được giữ vì sợ mất chứ không vì còn phục vụ. Có những mối quan hệ chỉ còn tên. Có những cộng đoàn họp mặt đều mà không ai được nghe thật. Nếu cứ để vậy, đất bị hại. Đất ở đây là thời gian của một đời, là lòng tin của những người sống cạnh ta, là chỗ đứng lẽ ra một người khác có thể dùng để sinh trái. Một giáo xứ đầy người mà không ai dám visit nhà một bệnh nhân nằm cuối xóm là một mảnh đất bị cây không trái chiếm. Một gia đình có bàn thờ sạch mà bữa ăn đầy tiếng nặng là một mảnh đất bị hút cạn. Một dòng tu giữ nề nếp bên ngoài mà anh em không còn dám nói sự thật với nhau là một vườn trong đó cây vả đã ba năm không quả, và năm thứ tư đang được xin.
Người làm vườn xin một năm. Không xin mãi. Đây là điểm ta hay làm mềm cho đến khi mất nghĩa. Lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa là thật. Người không chặt ngay mùa đầu. Không chặt mùa thứ hai. Không chặt khi cây còn non và đất còn lạ. Người chờ. Chờ không phải vì Người không phân biệt được lá với quả. Chờ vì Người muốn quả, và quả cần thời gian. Nhưng năm được xin thêm không phải năm để ngủ. Người làm vườn nói rõ việc mình sẽ làm: đào xung quanh, bón phân. Đào xung quanh nghĩa là đụng vào chỗ rễ đã quen nằm yên. Nhiều lần ta muốn hoán cải mà không muốn bị đào. Ta muốn một mùa mới trên cùng một mặt đất cũ. Ta muốn tha thứ mà không muốn nhìn lại lời đã nói. Ta muốn bình an mà không muốn đào lên sự thật đang nằm dưới lớp lịch sự. Đào xung quanh làm cây lung lay một thời gian. Đất tơi ra. Rễ lộ. Có cảm giác không an toàn. Chính lúc ấy dưỡng chất mới đi tới được chỗ đã chai.
Bón phân lại càng không giống hình ảnh ta vẫn vẽ cho đời sống thiêng liêng. Phân không thơm. Phân là những gì đã mục, đã qua, đã bị xem là bỏ. Trong đời người, phân có thể là một thất bại không được giấu nữa. Là một lời xin lỗi phải nói trước mặt người đã bị mình làm tổn thương. Là một thói quen phải cắt dù nó đã thành chỗ dựa. Là một giờ kinh không còn cảm thấy gì, vẫn cứ ở lại. Là việc phục vụ âm thầm không ai đăng, không ai khen. Là chấp nhận mình không phải cây đặc biệt của vườn, chỉ là cây được trồng và được chờ. Người làm vườn không rắc hương lên lá cho cây trông đạo đức hơn. Người đưa vào gốc những gì làm sự sống có thể đổi chiều. Nếu năm được thêm mà ta chỉ trang hoàng thêm lá, thì năm ấy không phải năm thương xót. Đó là năm trì hoãn.
Sang năm có trái thì tốt, bằng không chủ cứ chặt. Câu này giữ cho lòng thương xót khỏi bị hiểu thành sự dễ dãi. Không có lời hứa rằng cây sẽ được giữ dù không bao giờ có quả. Không có thần học nào cho phép một đời cứ nhận đất, nhận nước, nhận sự chờ của Thiên Chúa, rồi xem sự chờ ấy là bảo chứng rằng mình chẳng cần đổi. Tin vào lòng thương xót mà không sinh trái là lợi dụng người làm vườn. Người ấy đã xin. Người ấy sẽ đào. Người ấy sẽ bón. Phần còn lại không nằm trong lưỡi rìu. Phần còn lại nằm ở việc cây có chịu để nhựa đi vào quả hay không. Một năm là dài với một cây. Một năm là ngắn với một đời đã quen hẹn sang mùa khác. Ta hay nói sang Mùa Chay tới sẽ nghiêm túc. Sang năm tới sẽ thu xếp để đi thăm. Khi con cái lớn hơn sẽ nói chuyện đức tin. Khi công việc nhẹ sẽ cầu nguyện lại. Khi về hưu sẽ sống chậm. Cây vả không được hứa một Mùa Chay khác. Nó được hứa một năm, và năm ấy đã bắt đầu từ lúc người làm vườn cất tiếng xin.
Có một liên hệ chặt giữa hai phần của câu chuyện, phần máu đổ với phần cây không trái. Người ta hỏi về cái chết của kẻ khác để khỏi hỏi về sự sống của mình. Dụ ngôn trả lời bằng cách đặt một cây vào giữa vườn và bắt ta nhìn ba mùa trống. Sự dữ đột ngột trong đời người khác không cho ta quyền kết án họ. Nó cũng không cho ta quyền yên tâm. Tháp đổ không chứng minh mười tám người ấy xấu hơn. Nó chứng minh đời người không dài theo kế hoạch ta viết. Máu đổ giữa đền thờ không chứng minh nhóm Galilê ấy bị Chúa bỏ. Nó chứng minh cả những nơi ta tưởng an toàn cũng không phải chỗ để trì hoãn việc trở lại. Nếu không sám hối, tất cả sẽ chết như vậy. Chết không chỉ là ngừng thở. Chết là ra trước mặt Đấng đã trồng mình mà tay không có gì để trao, trong khi đất dưới chân đã bị mình giữ suốt bao nhiêu mùa.
Hoán cải ở đây không phải một cảm xúc mạnh trong nhà thờ rồi tan trên đường về. Hoán cải là đổi hướng nhựa. Nhựa vẫn lên. Câu hỏi là nó lên để nuôi lá hay để nuôi quả. Có người sau một lần xét mình quyết định bớt nói về lỗi người khác. Đó là một quả nhỏ, thật. Có người bắt đầu trả lại phần đã giữ không công bằng, dù không ai kiện. Đó là một quả. Có người ngồi xuống với vợ, với chồng, với con, nói một câu đã nút nhiều năm. Đó là một quả. Có người trong cộng đoàn chịu nhận việc thấp, việc không có tên trên bảng, việc phải thức sớm và về muộn. Đó là một quả. Có linh mục chịu sửa một bài giảng đã quen nói cho êm tai, để nói điều giáo dân cần nghe dù mình mất lòng một vài người quen. Đó là một quả. Có tu sĩ chịu để một anh em góp ý mà không trả đũa bằng im lặng lạnh. Đó là một quả. Quả không cần lớn mới được gọi là quả. Nó cần thật, và cần ra ngoài mình.
Cũng phải nói rõ thứ quả không phải quả. Bận rộn không phải quả. Một lịch đầy cuộc họp có thể là lá rất xanh. Tiếng tốt không phải quả. Có cây được cả vườn khen mà chủ vẫn về tay không. Giữ luật bên ngoài không phải quả nếu luật ấy không mở tay ra với người đang cần. Cảm thấy mình đạo đức hơn cây bên cạnh không phải quả. Đó là thứ sâu ăn từ trong cành. So sánh với người bị tháp đè để kết luận mình còn đứng là mình tốt hơn, chính là bệnh đã bị cắt ngay từ đầu câu chuyện. Quả duy nhất chủ tìm là quả làm đất không bị hại, quả cho người khác được sống nhờ, quả làm vườn nho thành vườn chứ không thành chỗ triển lãm những thân cây thẳng.
Người làm vườn trong vườn ấy không đứng xa. Người đứng giữa cây và lưỡi rìu. Người không phủ nhận ba năm trống. Người nhìn thấy. Người vẫn xin. Hình ảnh ấy cho ta một chỗ dựa không phải chỗ dựa của sự lười. Có Đấng đang xin cho ta một năm, và năm ấy không phải lý thuyết. Năm ấy là hôm nay, là mùa này, là những ngày đang đi qua rất đều, rất không kịch tính. Đào xung quanh có khi là một linh hướng thật, một lần xưng tội không kể cho qua, một cuộc trò chuyện trong đó ta không thanh minh. Bón phân có khi là việc ta ghét làm nhất: xin lỗi trước, nhường chỗ, trả nợ âm thầm, ở lại với một người không dễ ở. Nếu ta từ chối để mình bị đào, thì lời xin của người làm vườn thành vô hiệu không phải vì Người hết thương, mà vì cây không cho rễ đụng đất mới.
Còn một điều nữa về đất. Đất không thuộc về cây. Cây được trồng vào đất. Khi cây không trái lâu năm, vấn đề không chỉ là cây thất vọng chủ. Vấn đề là đất bị giữ. Mỗi người trong một gia đình, một giáo xứ, một dòng, một xóm, đang chiếm một khoảng đất của sự chú ý, của thời gian, của lòng tin. Nếu khoảng ấy chỉ nuôi lá của ta, người khác phải sống trên phần đất cằn hơn. Một người cha về nhà chỉ còn sức than phiền là một cây hút hết nước của bữa ăn. Một người mẹ lo cho con mọi thứ trừ việc dạy con nhìn thấy người nghèo là một cây xanh trong nhà và khô ngoài ngõ. Một người có chức trong cộng đoàn dùng chỗ đứng để được kính chứ không để kẻ nhỏ được nghe là một cây bóng mát chỉ mát cho mình. Chặt đi cho khỏi hại đất không phải lời độc. Đó là lời của người yêu vườn hơn yêu một thân cây quen thuộc.
Ta đừng vội tưởng dụ ngôn chỉ nói với kẻ khô khan công khai. Cây được trồng giữa vườn thường là cây được kỳ vọng. Chính vì được kỳ vọng mà ba năm trống mới đau. Người ở xa đạo ít bị hỏi quả bằng người vẫn còn đứng trong vườn. Người vẫn đọc kinh, vẫn dạy giáo lý, vẫn mặc áo dòng, vẫn ngồi ghế hội đồng, vẫn được gọi bằng những danh xưng đẹp, chính người ấy được chủ đến tìm mỗi mùa. Không tìm xem áo còn thẳng không. Tìm xem có ai được nuôi nhờ đời ấy không. Nhiều lần ta chuẩn bị rất kỹ cái nhìn từ ngoài vào. Ta ít chuẩn bị cái nhìn của chủ vườn khi Người tách lá ra và tìm cuống quả. Cuống không có. Chỉ có dấu lá non sẽ lại thành lá già. Và mùa lại qua.
Năm được xin thêm cũng là năm của cộng đoàn, không chỉ của từng cây. Người làm vườn nói tôi sẽ đào, tôi sẽ bón. Có những việc một mình cây không tự làm được. Cần một người dám đến gần gốc. Cần một cộng đoàn không để anh em mình thành cây trưng. Đào xung quanh trong một giáo xứ là dám hỏi nhau vì sao các lớp giáo lý vắng trẻ mà không ai chịu đổi cách dạy. Bón phân trong một dòng là chịu nghe sự thật về nếp sống đã thành thói, dù sự thật ấy không dễ chịu trong phòng họp. Một năm thương xót không phải một năm mọi người khen nhau còn tốt. Một năm thương xót là một năm có người chịu cúi xuống gốc, chịu bẩn tay, chịu bị cây không hiểu. Nếu cộng đoàn chỉ đứng xa mà chờ cây tự ra quả, thì lời xin của người làm vườn bị bỏ giữa sân.
Cũng có cây sợ năm mới. Sợ vì biết nếu sang năm vẫn không trái thì câu của chủ sẽ không còn được người làm vườn xin hoãn. Nỗi sợ ấy có thể thành khởi đầu, miễn là nó không thành hoảng loạn vô ích. Hoảng loạn làm người ta chạy đi mua quả giả để treo lên cành. Quả giả là những việc đạo được làm cho người khác thấy trong mùa xét mình. Là một khoản đóng góp lớn để được nhắc tên. Là một lời hứa công khai không có quyết định nhỏ nào đi theo trong tuần sau. Chủ vườn không đến đếm quả treo. Người tìm quả mọc từ nhựa. Quả giả rụng trước khi Người đưa tay. Nỗi sợ đúng là nỗi sợ làm ta để người làm vườn đào. Nỗi sợ sai là nỗi sợ làm ta trang trí nhanh rồi xin được xem như đã hoán cải.
Đời người không báo trước mùa nào là mùa cuối chủ đến tìm. Người Galilê lên đền thờ không nghĩ buổi tế tự ấy là buổi cuối. Người đứng gần tháp không nghĩ buổi sáng ấy là buổi tường nhớ đến mình. Ta lập kế hoạch cho năm sau bằng một sự tự tin rất lạ, như thể thời gian đã ký hợp đồng với ta. Hợp đồng ấy không có. Điều có là một vườn, một cây, một người làm vườn đang cầm cuốc chứ chưa cầm rìu, và một chủ đã chờ đủ lâu để có quyền nói chặt. Giữa cuốc và rìu là khoảng ta đang sống. Khoảng ấy không dài bằng ta tưởng khi ta còn khỏe, còn bận, còn được người ta cần. Nó dài đủ để ra một mùa quả nếu nhựa chịu đổi hướng. Nó ngắn đủ để một lần hẹn nữa trở thành lần hẹn không còn mùa.
Có người nghe chuyện cây vả rồi chỉ nhớ lưỡi rìu. Người ấy siết đời mình trong sợ, làm nhiều việc, không yêu gì. Đó không phải hoa trái người làm vườn xin. Có người chỉ nhớ năm được hoãn, rồi ngủ tiếp trên lớp đất cũ. Đó cũng không phải. Cả hai đều không nhìn thấy bàn tay đang đào. Lòng thương xót không đứng ở cuối câu chuyện như một lời hứa suông. Nó đứng giữa, trong công việc. Nó có mùi đất. Nó làm gốc lung lay. Nó đòi cây cộng tác bằng cách không cứng rễ lại. Ai để mình được đào sẽ biết năm nay khác ba năm trước không phải vì lá dày hơn, mà vì bắt đầu có một cái cuống nhỏ nơi trước kia chỉ có gỗ.
Và nếu quả đến, nó sẽ đến theo cách rất không kêu. Không có lễ mừng trong vườn. Chủ đến, tìm, thấy, và đất không bị hại. Người nghèo có một bữa. Người bị bỏ có một lần được thăm. Người bị hiểu lầm có một câu sự thật đứng về phía họ. Gia đình có một bữa ăn không còn phải phòng thủ. Cộng đoàn có một người chịu làm việc không cần bảng tên. Linh hồn có một giờ ở với Chúa không phải để xin xong việc. Đó là trái. Trái ấy không cứu cả thế giới. Nó làm đúng việc một cây vả được trồng để làm: cho vườn có gì để ăn, cho đất khỏi bị chiếm bởi sự trống. Nhiều cây như vậy thì vườn thành vườn. Một cây cứ xanh mà không cho gì thì chỗ của nó là một câu hỏi.
Hôm nay vẫn còn là năm người làm vườn đã xin. Không phải năm tượng trưng. Năm của những buổi sáng rất ordinarily, những buổi chiều rất mệt, những quan hệ rất cụ thể, những tội rất quen mà ta đã đặt tên là tính khí. Đào xung quanh bắt đầu từ chỗ rất nhỏ. Một lời không nói khi trước kia ta luôn nói cho bằng được. Một số tiền trả lại. Một giờ tắt những gì đang kéo mắt để còn nhìn được một khuôn mặt trong nhà. Một lần vào tòa giải tội không chuẩn bị bài diễn văn. Một quyết định dừng một việc đang nuôi hình ảnh của ta mà làm khô người khác. Bón phân bắt đầu từ chỗ không được khen. Ở lại. Làm lại. Không giải thích quá nhiều. Để đất mới chạm rễ.
Cây vả không bị hỏi nó cảm thấy thế nào khi ra quả. Nó được hỏi nó có quả không. Đời sống đức tin đến một lúc cũng vậy. Cảm nhận thiêng liêng có thể có, có thể không. Mùa khô của cảm xúc không phải mùa được phép không trái. Có những năm lá ít và quả vẫn có, vì gốc đã chịu để người làm vườn làm việc. Có những năm lá rất nhiều và chủ vẫn về tay không. Ta đừng lấy độ xanh của một giai đoạn để tự chấm điểm. Hãy để câu hỏi của chủ vườn ở lại, đều, không khoan nhượng, cũng không độc: ta đến tìm trái. Nếu câu ấy còn làm ta hơi đau, thì năm được xin chưa phải năm bỏ đi. Đau chỗ ấy là dấu đất đang được đào. Cây nào không còn đau khi nghe câu ấy có thể đã quen với việc chỉ nuôi lá, và sự quen ấy mới là điều đáng sợ hơn lưỡi rìu.
Người làm vườn vẫn đứng đó. Cuốc đã cầm. Phân đã sẵn. Rìu chưa hạ. Khoảng giữa ấy là lòng thương xót dưới hình dạng một hạn kỳ. Hạn kỳ không làm thương xót thành giả. Hạn kỳ làm thương xót thành thật, vì nó tôn trọng cả đất lẫn cây. Đất không thể bị hại mãi. Cây không thể bị xem như không còn khả năng ra quả. Cả hai sự tôn trọng ấy gặp nhau trong một năm. Năm ấy không ở trên lịch phụng vụ như một ý niệm. Nó ở trong ngày đang có, trong người đang sống cạnh ta, trong chỗ rễ đã chai mà nếu chịu tơi ra thì vẫn còn hút được nước. Chặt hay không, mùa sau sẽ rõ. Việc của hôm nay không phải ngồi đoán lưỡi rìu. Việc của hôm nay là đừng để người làm vườn đào một mình.
Lm. Anmai, CSsR
ƠN GỌI XÂY DỰNG THÂN MÌNH ĐỨC KITÔ: KHI MỖI ƠN ĐƯỢC BAN KHÔNG PHẢI ĐỂ TÔN VINH MÌNH MÀ ĐỂ CẢ CỘNG ĐOÀN LỚN LÊN TRONG TÌNH YÊU
Mỗi người trong chúng ta được ban ơn tùy theo mức độ Đức Kitô rộng ban, và câu ấy nghe qua thì nhẹ như một lời an ủi, nhưng khi lắng đủ lâu người ta mới thấy đó là một lời phán quyết rất nghiêm về cách ta sống giữa anh chị em. Ơn ấy không phải phần thưởng cho công trạng, cũng không phải dấu hiệu ta giỏi hơn kẻ khác, càng không phải vốn riêng để ta dùng xây danh tiếng cho bản thân. Ơn là quà tặng hoàn toàn nhưng không, phát xuất từ lòng quảng đại của Đấng đã hạ mình xuống tận cùng rồi được nâng lên trên mọi tầng trời, để từ sự sung mãn ấy Người đổ xuống cho Hội Thánh những khả năng phục vụ khác nhau. Ai nhận ơn mà tưởng đó là sở hữu của mình thì đã hiểu sai từ gốc. Ai nhận ơn mà dùng để phân biệt giai cấp trong cộng đoàn thì đã biến quà tặng thành vũ khí. Ai nhận ơn mà giấu đi vì sợ phiền, vì ngại người ta nhờ, vì muốn sống yên thân thì cũng đã làm cho một phần thân mình bị liệt. Ơn chỉ thành ơn khi nó chảy ra, khi nó được đặt vào chỗ cần, khi nó giúp người khác đứng vững hơn, hiểu rõ hơn, yêu thật hơn, và khi cả cộng đoàn nhờ đó mà không còn là một đám người ngồi cạnh nhau mà trở thành một thân thể đang lớn lên.
Đấng ban ơn không ban từ trên cao theo kiểu một ông chủ ném phần thưởng xuống cho tôi tớ. Người đã đi xuống trước. Người đã vào trong thân phận con người, đã chịu giới hạn của thời gian và không gian, đã chịu đói, chịu mệt, chịu bị hiểu lầm, chịu bị phản bội, chịu cái chết như kẻ bị loại trừ. Sự đi xuống ấy không phải một giai đoạn tạm thời để rồi Người quên mất mặt đất. Sự đi xuống ấy là cách Người chiếm lấy mọi tầng sâu của kiếp người, để khi được tôn vinh, không còn khoảng nào của đời sống loài người nằm ngoài tầm với của Người. Người đầy mọi sự. Người không chỉ là Chúa của những giờ cầu nguyện đẹp, của những buổi lễ long trọng, của những tâm hồn đang sốt sắng. Người còn là Chúa của những ngày chán nản, của những gia đình đang rạn, của những giáo xứ đang mệt, của những người mang ơn mà không biết dùng, của những người có tài mà sợ bị người khác ganh. Chính vì Người đã đi xuống và đã lên, nên ơn Người ban không phải là những món đồ trang trí cho một nhóm ưu tú, mà là mạch sống chạy qua toàn thân.
Trong cộng đoàn, có những người được trao nhiệm vụ đặt nền. Họ không tự phong mình là nền. Họ được sai đi để công bố Đấng đã chết và đã sống lại, để quy tụ những kẻ tin quanh một đức tin không phải do họ bịa ra. Nền không phô trương. Nền nằm dưới. Nền chịu sức nặng. Người đặt nền mà muốn đứng trên đầu mọi người thì đã phản lại chính ơn mình nhận. Bên cạnh họ là những người được ban khả năng nói một lời đúng lúc, một lời không phải để khoe kiến thức mà để cộng đoàn nhận ra điều Thiên Chúa đang đòi hỏi trong hoàn cảnh cụ thể này. Lời ấy đôi khi an ủi, đôi khi cảnh tỉnh, đôi khi mở ra một hướng đi mà mọi người đang mù. Người nói lời ấy mà không yêu cộng đoàn thì lời trở thành roi. Người có khả năng ấy mà im lặng vì sợ mất lòng thì cộng đoàn thiếu một ánh sáng cần thiết. Lại có những người được trao việc loan báo, việc đi ra, việc mời gọi kẻ chưa biết Đức Kitô bước vào đời sống mới. Họ không chỉ làm cho số lượng tăng. Họ làm cho cộng đoàn nhớ rằng mình không được phép khép kín, rằng Tin Mừng không phải tài sản của những người đã ở trong nhà từ lâu. Và có những người chăn dắt, những người dạy dỗ, những người ở lại với đoàn chiên từng ngày, giải thích, sửa, nâng, kiên nhẫn với những tâm hồn chậm, những người hay quên, những người vừa tin vừa nghi. Không ơn nào trong những ơn ấy đủ một mình. Nền mà không có người loan báo thì cộng đoàn co lại. Người loan báo mà không có người chăn dắt thì những kẻ mới đến bị bỏ rơi. Người dạy dỗ mà không có người nói lời đúng lúc thì giáo lý thành kiến thức khô. Người nói lời đúng lúc mà không có nền đức tin thì lời thành ý riêng.
Mục đích của mọi ơn ấy chỉ có một: để các thánh, tức là những người đã được thanh tẩy, cùng nhau làm công việc phục vụ, xây dựng thân mình Đức Kitô. Chữ phục vụ ở đây không phải là khẩu hiệu. Phục vụ là chấp nhận rằng ơn của mình có biên giới, rằng mình cần ơn của người khác, rằng công việc lớn hơn khả năng của bất cứ cá nhân nào. Xây dựng không phải là chồng thêm sinh hoạt cho đông. Xây dựng là làm cho mỗi chi thể ăn khớp với chi thể kia, làm cho điều người này giảng được người kia sống, làm cho điều người kia sống được người khác hiểu và truyền lại. Một cộng đoàn có thể rất bận rộn mà vẫn không được xây dựng, nếu mỗi người chỉ lo phần trình diễn của mình. Một cộng đoàn có thể ít người mà vẫn đang lớn, nếu mỗi người đặt ơn mình vào chỗ cần và vui khi thấy ơn người khác bổ khuyết cho chỗ mình thiếu.
Đích đến của sự xây dựng ấy là sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Thiên Chúa, là sự trưởng thành, là tầm vóc viên mãn của Đức Kitô. Hiệp nhất trong đức tin không phải là mọi người nói cùng một câu cho qua chuyện. Đó là một xác tín chung về Đức Kitô, về những gì Người đã làm, về những gì Người đòi, về con đường Người mở. Sự hiểu biết Con Thiên Chúa không dừng ở việc thuộc vài công thức. Đó là một sự biết bằng đời sống, một sự gần gũi đủ để nhận ra giọng Người giữa nhiều giọng khác, một sự gắn bó đủ để khi phải chọn, người ta chọn theo Người chứ không theo lợi trước mắt. Trưởng thành ở đây trước hết không phải là từng cá nhân trở nên xuất sắc theo tiêu chuẩn riêng. Trưởng thành là cả thân thể lớn lên tới mức có thể nói được rằng cộng đoàn này đang mang dáng của Đức Kitô. Đầu và các chi thể không còn lìa nhau. Điều Đầu muốn, các chi thể thực hiện. Điều các chi thể đau, Đầu không vô cảm. Một người có thể rất giỏi mà cộng đoàn vẫn non, nếu sự giỏi ấy không kéo cả thân thể lên. Một người có thể rất âm thầm mà đang góp phần làm cho thân thể trưởng thành, nếu sự hiện diện của họ làm cho tình yêu trong cộng đoàn thật hơn.
Ơn khác nhau không phải để tranh. Từ rất sớm, người ta đã biết cách biến sự khác biệt thành phe. Tôi thuộc về người này. Tôi thích cách của người kia. Tôi chỉ nghe người nói hợp tai tôi. Sự chia phe ấy chứng tỏ người ta chưa hiểu ơn được ban để làm gì. Sự đa dạng của các ơn, nếu được đón nhận trong tinh thần phục vụ, chính là chất keo của hiệp nhất. Người này thấy điều người kia không thấy. Người kia làm được điều người này không làm được. Khi cả hai đặt những gì mình có vào một công trình chung, cộng đoàn không nghèo đi vì khác biệt mà giàu lên nhờ khác biệt. Chỉ khi mỗi người coi ơn mình là chuẩn duy nhất, và coi ơn người khác là lệch lạc, thì sự khác biệt mới thành vết nứt. Giáo Hội không được dựng nên để mọi chi thể giống hệt nhau. Giáo Hội được dựng nên để mọi chi thể, trong sự khác nhau có thật, cùng hướng về một Đầu và cùng nuôi một thân thể bằng tình yêu.
Có một nguy hiểm rất thực đối với những cộng đoàn chưa vững. Đó là sự non nớt dễ bị cuốn. Người non không phải là người ít tuổi. Người non là người chưa bám vào Đức Kitô đủ chặt, nên gió nào cũng có thể đẩy. Hôm nay một luận điệu mới nghe rất hấp dẫn. Ngày mai một thực hành lạ hứa cho cảm giác mạnh hơn. Ngày kia một người nói năng lưu loát khiến người ta tưởng mình đã gặp chân lý trọn vẹn. Kẻ non bị lắc lư không phải chỉ vì bên ngoài có cám dỗ, mà còn vì bên trong chưa có một xác tín đủ nặng để giữ thăng bằng. Có những lời dạy bị méo vì người nói thật lòng nhưng hiểu sai. Có những lời dạy bị méo vì người nói cố ý dẫn dụ, vì lợi, vì quyền, vì muốn có đồ đệ. Cả hai đều nguy. Cộng đoàn nào thiếu sự đào sâu đức tin, thiếu những người chăn dắt kiên nhẫn, thiếu thói quen đối chiếu mọi điều mình nghe với Đức Kitô, cộng đoàn ấy sẽ sống trong trạng thái chòng chềnh mãi. Người ta đổi thầy dễ dàng. Người ta đổi cách cầu nguyện theo mùa. Người ta nhiệt tình hôm nay và lạnh ngày mai. Sự nhiệt tình ấy không phải trưởng thành. Sự nhiệt tình ấy là dấu của một tâm hồn chưa có rễ.
Con đường ra khỏi sự non nớt ấy được gom trong một cách sống rất khó mà rất rõ: nói sự thật trong tình yêu. Nói sự thật mà không có tình yêu thì sự thật thành gạch ném vào mặt người khác. Yêu mà không nói sự thật thì tình yêu thành chiều chuộng, thành sợ mất lòng, thành để mặc anh em đi vào chỗ hại. Cả hai lệch đều phá thân mình. Nói sự thật trong tình yêu là không nhượng bộ về điều cốt lõi, đồng thời không biến người đang lầm thành kẻ thù cần tiêu diệt. Là sửa mà không hạ nhục. Là giữ điều phải giữ mà vẫn mở cửa cho người đang sai có đường trở về. Là không gọi sự giả dối bằng tên đẹp để được yên, cũng không gọi sự cứng rắn của mình là nhiệt thành khi thực ra mình đang thỏa mãn cái tôi. Nếu cộng đoàn nào cũng sống được câu ấy, biết bao vết rạn đã không thành vực. Biết bao người đáng lẽ còn ở trong nhà đã không bị đẩy ra chỉ vì cách nói của những người tự cho mình là người giữ chân lý. Và biết bao lệch lạc đã không được nuôi lớn chỉ vì không ai dám nói một lời thật, với một lòng thương có thật.
Tiêu chuẩn để biết mình đang nói sự thật trong tình yêu hay đang núp dưới một trong hai chữ ấy để che điều khác, là nhìn xem đời sống của mình có đang lớn lên trong Đức Kitô hay không. Nếu sau mỗi lần tôi bênh vực điều tôi gọi là chân lý, tôi trở nên hẹp hơn, khinh người hơn, vui khi thấy người khác vấp, thì tôi chưa lớn trong Đấng là Đầu. Nếu sau mỗi lần tôi nhân danh yêu thương mà im trước điều sai, cộng đoàn yếu đi, người trẻ rối hơn, và tôi chỉ thấy nhẹ vì tránh được xung đột, thì tôi cũng chưa lớn trong Người. Lớn lên trong Đức Kitô là trở nên người vừa đầy ân sủng vừa đầy sự thật, như chính Người. Là có khả năng ở với người yếu mà không đồng lõa với sự yếu đuối của họ. Là có khả năng giữ giáo huấn mà không biến giáo huấn thành bức tường ngăn cách. Là mỗi năm giống Đầu hơn một chút, không phải ở vẻ bề ngoài của đạo đức, mà ở cách nhìn người, cách chịu đau, cách không bỏ cuộc với anh em.
Hình ảnh cuối cùng của sự lớn lên ấy rất cụ thể. Toàn thân được nối kết và giữ chặt nhờ mọi thứ dây chẳng mà Thiên Chúa đã đặt sẵn. Mỗi phần làm đúng việc của mình thì toàn thân lớn lên và tự xây dựng trong tình yêu. Không có chi thể nào vô dụng. Không có ơn nào thừa. Sợi dây chẳng nhỏ nhất cũng có chỗ của nó. Một người chào hỏi thật lòng có thể là sợi dây giữ một anh em đang muốn bỏ cộng đoàn. Một người dạy giáo lý kiên nhẫn có thể là khớp nối giữa thế hệ già và thế hệ trẻ. Một người âm thầm lo việc nhà thờ sạch sẽ có thể là dấu cho cả cộng đoàn thấy rằng yêu không chỉ ở lời. Một người dám góp ý đúng lúc, với giọng không chua, có thể ngăn một vết nứt thành vết gãy. Khi mỗi phần hoạt động đúng, thân thể không cần ai kéo từ bên ngoài. Thân thể tự xây dựng. Tình yêu là chất liệu của sự xây dựng ấy, không phải tình cảm nhất thời, mà là quyết định ở lại, phục vụ, chịu thiệt, vui khi người khác được lớn.
Tất cả những điều ấy đòi mỗi người nhìn lại ơn mình đang cầm. Tôi được trao điều gì. Tôi đang dùng điều ấy để xây ai. Tôi có đang ganh ơn của người bên cạnh không. Tôi có đang chê ơn người khác nhỏ hơn ơn tôi không. Tôi có đang để mình bị cuốn theo những gió mới chỉ vì chúng hợp với sự bất an trong tôi không. Tôi có dám nói điều thật với người tôi thương, và có dám thương người mà tôi phải nói điều thật không. Cộng đoàn của tôi có đang lớn thành tầm vóc của Đức Kitô, hay chỉ đang đông hơn, ồn hơn, bận hơn. Những câu ấy không để kết án. Những câu ấy để đưa ta trở về đúng chỗ của ơn. Ơn được ban theo mức Đức Kitô muốn ban. Mức ấy đủ cho công việc Người giao. Không ai nhận thiếu để rồi có cớ bỏ cuộc. Không ai nhận thừa để rồi có cớ kiêu. Mỗi người nhận đúng phần để cả thân thể không thiếu phần nào. Và khi mỗi phần chịu làm việc của mình, trong sự thật và trong tình yêu, thì cộng đoàn không còn là một tập hợp những cá nhân mang đạo. Cộng đoàn trở thành thân mình đang sống của Đấng đã đi xuống và đã lên, Đấng đang muốn lấp đầy mọi sự bằng chính sự sống của Người.
Lm. Anmai, CSsR
















