ĐỪNG MỪNG VÌ QUỶ PHẢI KHUẤT PHỤC, HÃY MỪNG VÌ TÊN ĐÃ ĐƯỢC GHI TRÊN TRỜI
Khi ấy, Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” Người nghe câu ấy mà vội, sẽ tưởng đây chỉ là một trang nhật ký truyền giáo thành công. Người ở lại với câu ấy sẽ thấy một nhịp thở của Tin Mừng Luca, nhịp thở của những người vừa được sai đi, vừa chạm vào một quyền năng không thuộc về mình, và vừa đứng trước nguy cơ lấy chính quyền năng ấy làm niềm vui. Bài Tin Mừng hôm nay không bắt đầu bằng một phép lạ giữa đám đông. Nó bắt đầu bằng cánh cửa nhà mở ra, bởi những đôi chân bụi bặm, bởi những miệng còn nóng vì điều vừa kể được. Họ trở về. Chữ trở về quan trọng không kém chữ ra đi. Ra đi mà không trở về, sứ vụ dễ thành lang thang. Trở về mà không còn gì để kể với Thầy, sứ vụ dễ thành việc mình làm cho mình. Các ông trở về với Thầy, và điều đầu tiên các ông kể không phải là số nhà đã mở, không phải là số làng đã nghe, không phải là tên những người vừa được chữa. Các ông kể về danh Thầy. Nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con. Trong câu kể ấy có một sự thật rất sáng, và cũng có một chỗ rất mỏng. Sự thật sáng là danh Đức Giê-su không phải là âm thanh để gọi cho có lễ phép. Danh ấy tác động. Danh ấy đi trước các ông, ở trong các ông, và làm những gì các ông không tự làm được. Chỗ mỏng là chữ chúng con. Chúng con thấy. Chúng con kể. Chúng con hớn hở. Chỉ cần lệch một chút, danh Thầy trở thành cái cớ để chúng con đứng ra giữa câu chuyện.
Muốn hiểu niềm vui lúc trở về, phải nhớ các ông đã ra đi như thế nào. Luca thuật lại ngay phía trước rằng Đức Giê-su chỉ định bảy mươi hai người khác, sai đi từng hai người một, đến mọi thành mọi nơi mà chính Ngài sẽ tới. Không phải các ông đi thay Ngài để Ngài khỏi phải đi. Các ông đi trước, như người dọn đường, như người mang một lời mà chính Đấng sai mình sẽ đến làm cho đầy. Từng hai người một, vì Tin Mừng không phải là sản phẩm của một cá nhân xuất chúng, và vì giữa đường cần có người làm chứng cho nhau, nhắc nhau, đỡ nhau khi làng đóng cửa. Ngài nói với các ông: lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Câu ấy không phải là lời than phiền cho có vẻ khiêm nhường. Đó là cách nhìn của Chúa trước thế gian. Ngài không thấy một đám đông đáng sợ. Ngài thấy một cánh đồng đáng thương. Người ta đói mà không biết mình đói. Người ta chín mà chưa có ai cúi xuống. Rồi Ngài nói điều các ông không thích nghe nếu các ông đi tìm một sứ vụ an toàn: Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào nhà nào, trước tiên hãy nói bình an cho nhà ấy. Ở lại đó, ăn uống của người ta dọn. Chữa lành kẻ đau yếu, và nói: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông. Nếu không ai đón tiếp, hãy ra quảng trường mà nói: ngay cả bụi đất thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Các ông ra đi với gần như không có gì trong tay, và với một câu trong miệng, một câu không phải các ông nghĩ ra. Bình an. Triều Đại đã đến gần. Danh Thầy ở trong hai câu ấy, dù các ông chưa kịp phân tích.
Vì thế, khi trở về mà hớn hở, các ông không hớn hở như những nhà tổ chức vừa khép lại một chiến dịch. Các ông hớn hở như những người nghèo vừa khám phá ra kho mình được trao không nằm trong bao bị. Các ông đã vào những nhà lạ. Có nhà mở. Có nhà không mở. Có người nghe vì cần được chữa. Có người nghe vì tò mò. Có người không nghe. Và giữa những khác biệt ấy, một điều lặp lại đến mức các ông không giữ nổi trong lòng: nghe đến danh Thầy, cả những thế lực vẫn từng hành hạ người ta cũng phải lui. Ma quỷ, trong cách nói của Tin Mừng, không phải là một đề tài để bàn cho có vẻ huyền bí. Đó là những sức mạnh làm con người mất tên mình, mất nhà mình, mất tiếng nói của mình. Người bị chúng ám không còn tự kể được mình là ai. Khi danh Đức Giê-su được các ông mang tới, người ấy bắt đầu lấy lại được tiếng nói. Các ông thấy. Các ông run vì vui. Ai đã từng làm một việc nhỏ cho người khác và bỗng thấy việc ấy sinh ra một điều mình không dám nhận là của mình, người ấy hiểu được phần nào cái hớn hở này. Không phải vui vì mình tài. Vui vì mình vừa đứng trong một dòng chảy lớn hơn mình, và dòng chảy ấy có tên.
Đức Giê-su không cắt ngang niềm vui. Đây là điều phải nói rõ, kẻo người ta biến bài giảng thành một lời răn đừng vui. Ngài không bảo các ông im. Ngài không bảo các ông khiêm tốn theo kiểu phủ nhận điều mắt đã thấy. Ngài đón câu các ông vừa nói và mở nó ra: Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. Các ông thấy từng cuộc khuất phục ở từng nơi. Thầy thấy nguồn. Các ông thấy ngọn. Thầy thấy gốc. Xa-tan, trong tiếng Hipri, là kẻ tố cáo. Kẻ đứng ra giữa Thiên Chúa và con người để biến lòng tin thành nghi ngờ, biến anh em thành đối thủ, biến lương tâm thành một phiên tòa không bao giờ tuyên xong. Khi Đức Giê-su nói Ngài đã thấy kẻ ấy sa xuống như tia chớp, Ngài không đang kể một thị kiến cho các ông thêm phần ly kỳ. Ngài đang đặt sứ vụ vừa qua của các ông vào trong cuộc chiến của chính Ngài. Tia chớp không thương lượng. Tia chớp không họp để xin gia hạn. Tia chớp sa là sa. Trong cái nhìn của Chúa, quyền lực chia rẽ không còn chỗ đứng trên trời, nghĩa là không còn được phép nhân danh trời mà tố cáo nữa. Điều ấy đã xảy ra nơi sứ vụ của Con Người, và sẽ tỏ ra đến cùng nơi thập giá và phục sinh, dù lúc các ông trở về, thập giá còn ở phía trước.
Người giảng không được biến câu này thành một lời khoe rằng thế gian đã hết sự dữ. Các ông vừa đi về, chân còn nhớ những cánh cửa đóng. Chúa không nói các cửa ấy sẽ không còn đóng. Ngài nói sự dữ không còn là trời của anh em. Nó có thể còn cắn. Nó không còn được ngự. Hình ảnh tia chớp cũng dạy sự mau lẹ của chiến thắng trong mầu nhiệm, chứ không dạy sự mau lẹ của mọi kết quả mục vụ. Có những cấu trúc bất công đứng rất lâu. Có những thói quen tội trong một nhà đứng rất lâu. Có những lời tố cáo trong lòng một người đứng rất lâu, lâu đến mức người ấy tưởng đó là tiếng của chính mình. Tia chớp Chúa thấy không miễn cho ta khỏi phải ở lại với những cái lâu ấy. Nó cho ta biết khi ở lại, ta không ở lại trong một trận đã thua từ đầu. Giáo dân cần nghe điều này cho đỡ kiệt. Nhiều người phục vụ lâu năm mang một nỗi mệt thầm: làm hoài mà sự dữ trong giáo xứ vẫn còn, trong họ hàng vẫn còn, trong chính mình vẫn còn. Nếu không có câu Thầy đã thấy Xa-tan sa xuống, nỗi mệt ấy sẽ thành tuyệt vọng, hoặc thành cay nghiệt. Có câu ấy, nỗi mệt vẫn còn, nhưng nó không được phép kết luận. Kết luận thuộc về Chúa, và Ngài đã thấy hướng của tia chớp.
Rồi Ngài nói tiếp, như người trao lại cho các ông cái các ông vừa nếm mà chưa dám gọi tên: Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Rắn và bọ cạp là những gì nằm thấp, cắn lúc người ta không nhìn, để lại nọc lúc người ta tưởng mình chỉ vô tình bước. Trong sách Đệ nhị luật, đất hứa được mô tả như nơi có thể đặt chân lên rắn rết mà không bị hại, hình ảnh của một cuộc sống được giữ giữa vùng nguy. Thánh vịnh cũng có câu tương tự, đặt dưới bóng Đấng coi sóc. Đức Giê-su lấy lại hình ảnh ấy và gắn vào sứ vụ. Quyền năng không được ban để các ông biểu diễn. Quyền năng được ban để các ông đi mà không bị nuốt. Chẳng có gì làm hại được anh em không có nghĩa là anh em sẽ không bị đuổi, không bị đói, không bị hiểu lầm, không bị mệt đến muốn bỏ cuộc giữa đường. Chính các ông, nếu đọc tiếp Luca, sẽ thấy con đường của Thầy đi vào thành Giêrusalem không phải là con đường được đám đông trải áo đến cùng. Lời ấy có một nghĩa sâu hơn sự an toàn của thân xác. Sự dữ không có quyền định nghĩa anh em. Nó có thể làm anh em đau. Nó không có quyền viết lại tên anh em. Nó có thể làm một việc tông đồ gãy. Nó không có quyền biến anh em thành kẻ thù của chính Đấng đã sai mình.
Với giáo dân, rắn rết và bọ cạp không ở đâu xa. Chúng ở trong một câu nói móc giữa hai hội đoàn, một con số được so sánh để hạ nhau, một tin nhắn chuyển đi lúc nửa đêm với vẻ quan tâm mà thực ra là để chia. Chúng ở trong thói lấy việc đạo làm chỗ đứng, rồi coi người không làm được như mình là người kém mến Chúa. Chúng ở trong nhà, khi người ta dùng sự hy sinh của mình làm nợ để người kia phải trả cả đời. Chúng ở trong lòng người trẻ, khi mọi lời mời gọi đều bảo rằng muốn được kể là mình thì phải vứt cái tên đã được ghi từ ngày rửa tội. Đạp lên không phải là khinh. Đạp lên là không ký với chúng một hòa ước ngầm. Người ta vẫn có thể bị cắn. Người ta không trao chân cho chúng dẫn. Chẳng có gì làm hại được, nếu hiểu cho đúng, là một lời hứa về căn tính, không phải một lời hứa về sự dễ chịu. Nhiều vị tử đạo đã bị hại ở thân xác, và không một ai trong các ngài bị hại ở câu này. Tên các ngài không bị sự dữ lấy mất.
Nhưng nếu bài Tin Mừng dừng ở quyền năng, thì niềm vui của các ông đã đủ, và Chúa đã không cần nói thêm. Ngài nói thêm, và chữ tuy nhiên đứng đó như một cái ngưỡng: Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời. Đây là trái tim của đoạn văn. Mọi câu trước dọn cho câu này. Mọi câu sau giữ cho câu này khỏi bị hiểu thành một lời khuyên đạo đức chung chung. Các ông đang mừng một sự khuất phục. Chúa chuyển niềm vui sang một sự thuộc về. Hai điều không cùng một tầng. Khuất phục thì có qua có lại. Hôm nay lui, ngày mai có thể trở. Một làng nghe, một làng đóng. Một người khỏi, một người không khỏi. Một hội đoàn đông, rồi mùa sau vắng. Một bài hát được khen, rồi người khác hát hay hơn. Niềm vui xây trên khuất phục là niềm vui của người phải liên tục thắng mới còn biết mình là ai. Niềm vui vì tên được ghi trên trời không cần trận nào nữa để đứng. Sổ ấy không phải sổ điểm. Sổ ấy là trí nhớ của Thiên Chúa về từng người. Được ghi tên là được biết, được giữ, được gọi không phải sau khi đã nộp kết quả.
Trong đời sống giáo dân, chỗ trượt nằm đúng ở chữ tuy nhiên ấy, và chỗ trượt rất khó thấy vì nó đội lốt nhiệt thành. Người lo lễ mừng vì buổi cử hành long trọng, rồi buồn như mất một phần mình khi buổi sau ít người. Người dạy giáo lý mừng vì lớp đầy, rồi nhìn lớp thưa như một bản án. Người thăm bệnh mừng vì được cảm ơn, rồi gặp nhà đóng cửa thì tự hỏi mình đi làm gì. Người dâng công quả mừng vì được xướng tên, rồi so với người dâng nhiều hơn. Không việc nào trong các việc ấy là xấu. Chúa không bảo đừng chữa, đừng đi, đừng nói bình an. Ngài bảo đừng lấy kết quả của các việc ấy làm tên mình. Tên đã được ghi trước khi việc thành. Việc thành là hoa. Hoa rụng không làm cây mất gốc. Người nào hiểu được điều này sẽ phục vụ lâu mà không chua. Người nào không hiểu sẽ phục vụ mạnh một mùa, rồi hoặc bỏ, hoặc ở lại như người giữ sân. Ở lại như người giữ sân còn mệt hơn bỏ, vì mỗi ngày phải chứng minh sân ấy là của mình.
Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng. Luca là người duy nhất kể Đức Giê-su vui một cách bộc lộ đến thế, và ông đặt niềm vui ấy dưới tác động của Thánh Thần. Không phải Ngài vui vì được các ông tâng. Không phải Ngài vui vì chiến dịch thành công. Ngài vui cùng một giờ các ông đang đứng đó với niềm vui còn lệch, và Ngài vui về một điều các ông chưa kể. Lời ngợi khen bật ra như một người con đang nhìn cách Cha làm việc mà không cần sửa cách ấy cho hợp ý mình: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Ta phải nghe cả ba nhịp. Nhịp một, Cha là Chúa Tể trời đất, nghĩa là không có một vùng nào, vùng trí thức hay vùng thất học, vùng thành hay vùng quê, vùng người đang giữ đạo đều hay vùng người đang bỏ lễ, nằm ngoài quyền Cha. Nhịp hai, Cha giấu và Cha mở theo một cách không phải cách của hội đồng. Nhịp ba, Con không phản đối. Con gọi cách ấy là đẹp ý Cha. Niềm vui của Đức Giê-su là niềm vui đồng thuận, không phải niềm vui của người vừa thắng một cuộc tranh luận.
Bậc khôn ngoan thông thái trong lời này không phải là những người có học. Chúa không kết án sách vở, không kết án sự suy nghĩ, không kết án những ai mất công tìm hiểu đức tin cho đến nơi đến chốn. Chính Luca là một người viết có thứ tự, có tra cứu, có gửi lời cho một độc giả tên Thêôphilô để ông nhận ra tính vững chắc của những điều đã được dạy. Nếu Chúa chống sự hiểu biết, Luca đã không viết. Điều bị giấu ở đây là một thứ khôn ngoan đã đầy, đầy đến mức không còn chỗ cho Thiên Chúa làm mình ngạc nhiên. Người ấy có thể thuộc luật, thuộc lễ, thuộc cách tổ chức, thuộc cả ngôn ngữ đạo đức, và vẫn không thấy Nước Trời đang đến trong những người đi chân đất. Người bé mọn không phải là người kém. Người bé mọn là người còn nhận. Còn nhận thì còn được cho. Hết nhận thì dù được đặt rất gần kho cũng không lấy ra được gì, vì tay đang cầm quá nhiều thứ của mình. Nhóm Bảy Mươi Hai, nhìn bằng mắt người tuyển, không phải là hàng ngũ để khoe. Chính vì thế các ông thấy. Đức Giê-su vui vì Cha đẹp ý theo cách ấy. Một giáo xứ, một gia đình, một người đã phục vụ lâu, nếu không còn biết vui như Chúa vui, thì mọi sự sẽ dần được sắp lại theo thứ tự của người thông thái tự đủ: ai biết nhiều thì được nói, ai làm lâu thì được quyền, ai mới thì phải chờ, ai bé thì phải giống kẻ lớn trước đã rồi mới được coi là hiểu đạo.
Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho. Giữa đoạn văn của Luca bỗng có một cung giọng khiến người đọc Tin Mừng Gioan phải dừng lại. Mọi sự đã được trao. Không phải một phần việc. Mọi sự. Tương quan Cha và Con không phải là bài học thêm sau khi đã xong phần truyền giáo. Tương quan ấy là nền của phần truyền giáo vừa xảy ra. Các ông nhân danh Thầy mà ma quỷ lui, vì Thầy là Đấng đã nhận mọi sự từ Cha, chứ không phải vì các ông đã tìm được một phương pháp. Và cửa vào tương quan ấy không phải là cửa tự mở bằng công lao. Không ai biết, trừ khi người Con muốn mặc khải. Chữ muốn ở đây không phải là sự tùy tiện. Đó là tự do của tình yêu. Tình yêu chọn, tình yêu mở, tình yêu không để mình bị chiếm bằng cách leo. Giáo dân phục vụ mà quên câu này sẽ sớm biến việc tông đồ thành một thứ sở hữu. Mình biết. Mình chỉ. Mình cho người khác biết. Câu Chúa nói đảo lại: mình được muốn cho. Mình là kẻ Con muốn mặc khải Cha cho. Từ cái được muốn ấy mới có cái để mang đi. Mang đi mà không được muốn cho, thì mang chỉ còn là nhiệt tình, và nhiệt tình hết nhiên liệu rất nhanh.
Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng. Chi tiết quay lại và bảo riêng đáng được ở lại. Ngài không hô câu này ra giữa đám đông đang có thể vừa nghe chuyện ma quỷ khuất phục. Ngài thu các ông lại. Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy. Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe. Mối phúc này không khen tài các ông. Mối phúc này đặt các ông vào một chỗ trong lịch sử mà các ông không tự chọn. Ngôn sứ đã nói về ngày ấy. Vua đã mong một triều đại không xây trên gươm. Abraham đã vui vì thấy ngày của Đức Kitô từ đàng xa. Và bây giờ những người vừa đi truyền giáo về, chưa kịp rửa chân, đang thấy và đang nghe. Thấy không phải là thấy một thiên đàng đã hoàn tất. Thấy là thấy Đức Giê-su, thấy Nước Thiên Chúa đến gần trong lời Ngài, trong quyền năng của danh Ngài, trong cách Cha mặc khải cho kẻ bé mọn. Nghe không phải là nghe một bài giảng hay. Nghe là nghe chính Đấng mà luật và ngôn sứ đã nghiêng về. Các ông phúc vì thời của các ông là thời đã đến, và vì các ông không đứng ngoài thời ấy.
Giáo dân hôm nay đứng trong cùng một mối phúc, dù ít khi cảm thấy long trọng như các ông ngày trở về. Ta có Tin Mừng không phải bằng một thứ tiếng phải chờ người cắt nghĩa từ xa. Ta có thể nghe Lời mỗi ngày. Ta có Thánh Thể, không phải như một phần thưởng cuối năm cho người xuất sắc, mà như bánh của những người được ghi tên. Ta có những khuôn mặt cụ thể, rất không hoàn hảo, để yêu theo cách Chúa đã yêu những khuôn mặt không hoàn hảo. Nhiều thế hệ đã muốn một ngày như ngày ta được ngồi trong nhà thờ, được gọi Thiên Chúa là Cha, được rước lấy Con, mà không được. Nếu ta sống ngày ấy như một giờ phải đóng cho xong, ta đang để mắt phúc bị mờ không phải vì Chúa rút phúc, mà vì ta nhìn chỗ khác. Nhìn sĩ số. Nhìn người ta xếp mình vào hạng nào. Nhìn việc mình làm có được kể không. Chúa bảo riêng các môn đệ, có lẽ cũng vì mối phúc này mà nói to giữa những người đang tìm sự khuất phục thì sẽ bị hiểu sai. Phúc này chỉ mở với người chấp nhận mình đang thấy một điều không do mình tạo ra.
Từ đó, chia sẻ với giáo dân không thể là một danh sách việc nên làm cho thêm phần đứng đắn. Chia sẻ phải đi theo đúng vết chữ tuy nhiên của Chúa, không được vượt qua chữ ấy như thể nó chỉ là một lời dặn thêm. Trong gia đình, người ta mừng rất thật những điều đáng mừng. Con thi được. Nhà yên một mùa. Người bệnh qua cơn. Hai vợ chồng không to tiếng một tuần. Những niềm vui ấy có chỗ của chúng. Nhưng dưới chúng phải có một niềm vui không phụ thuộc chúng, niềm vui tên nhau đã được ghi trên trời. Nếu không có tầng ấy, gia đình sẽ thành một hội đồng nhỏ của những sự khuất phục. Ai khuất phục được ai thì người ấy vui. Ai không khuất phục được thì người ấy buồn, và nỗi buồn ấy đội tên là lo cho nhau. Một người chồng có thể lo cho vợ rất thật, và vẫn đang đòi vợ phải khuất phục hình ảnh người vợ mà mình đã vẽ. Một người mẹ có thể thức vì con rất thật, và vẫn đang coi điểm số của con là tên của mình trên trời. Khi câu Chúa nói được mang vào nhà, phục vụ nhau đổi gốc. Người ta còn sửa, còn nhắc, còn buồn khi người thân đi lệch. Nhưng người ta hết quyền xóa tên nhau. Hết quyền nói, bằng lời hoặc bằng cách im lặng nhiều ngày, rằng ngươi chỉ còn là của ta nếu ngươi trở thành điều ta cần. Tên đã được ghi ở một sổ người kia không giữ. Phục vụ trong nhà, hiểu theo bài Tin Mừng này, là tập gọi nhau bằng cái tên ấy, nhất là vào những ngày cái tên ấy khó gọi.
Ngoài nhà, giáo dân được sai không kém Nhóm Bảy Mươi Hai, dù không phải ai cũng được chỉ định trước cộng đoàn. Được sai ở đây không nhất thiết là được phát thẻ ban truyền giáo. Được sai là được mang danh Đức Giê-su vào những nơi mình đã đứng sẵn. Chỗ làm. Chỗ họp. Bàn ăn họ hàng. Nhóm bạn của con. Một người bệnh ở cuối đường. Cách mang danh ấy thường nghèo phương tiện đúng như lệnh truyền năm xưa. Không cần túi tiền của những lập luận đầy đủ. Không cần bao bị của hình ảnh hoàn hảo. Cần một lời bình an không giả, và một câu Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần được nói bằng đời sống trước khi được nói bằng miệng. Bình an giả là bình an để người kia khuất phục cho mình yên. Bình an thật là bình an muốn người kia được đúng với tên của họ. Vì thế người giáo dân không đi chinh phục xóm giềng. Người ấy đi như chiên, nghĩa là đi với một sự dễ bị tổn thương đã được Chúa biết trước, và với một quyền năng không nằm ở sự dễ bị tổn thương ấy mà nằm ở danh mình mang. Nếu bị từ chối, giũ bụi không phải là nguyền. Giũ bụi là không mang theo sự từ chối ấy về làm tên mình. Việc không thành không được phép viết lại sổ trên trời.
Trong giáo xứ, bài Tin Mừng này sửa một thứ mệt rất quen. Thứ mệt của người thấy mình đã làm nhiều mà việc không khuất phục. Thứ mệt ấy đáng được thương, vì thường nó sinh ra từ một lòng mến thật, chỉ là lòng mến ấy đã dần lấy kết quả làm chỗ dựa. Chúa không bảo những người ấy về nhà cho khỏe. Ngài bảo họ đổi chỗ đứng của niềm vui. Cứ lau nhà thờ. Cứ tập hát. Cứ nấu bếp cho ngày lễ. Cứ ngồi với lớp giáo lý chỉ có vài em. Cứ đến với người nghèo mà không chắc họ sẽ đổi đời sau một lần thăm. Nhưng đừng mừng như thể những việc ấy phải xảy ra theo ý mình thì tên mình mới còn trên trời. Và cũng đừng buồn như thể khi việc gãy thì trời xóa sổ. Có một sự tự do rất lạ mở ra từ câu ấy. Người được tự do ấy sẽ dễ nhường việc hơn, vì việc không phải là nơi mình được ghi tên. Sẽ dễ đón người mới hơn, vì người mới không phải là mối đe dọa cho sổ của mình. Sẽ dễ nhận lỗi hơn, vì lỗi không xóa được điều Cha đã ghi. Sẽ khó trở thành bọ cạp của cộng đoàn hơn, vì bọ cạp nào cũng sống bằng nọc của việc phải khuất phục.
Còn một lớp người bé mọn mà giáo xứ hay bước qua, vì họ không làm thành tích cho bản tin. Người già không còn đi lễ được, nằm một chỗ, chỉ còn tên trong lời xin của con cháu. Người trẻ đang rối, chưa bỏ hẳn mà cũng chưa về hẳn. Người đã ly hôn và không biết mình còn được đứng ở đâu trong nhà thờ. Người có chức ngoài xã hội nhưng vào cửa nhà thờ thì chỉ muốn ngồi hàng cuối. Người mẹ một mình đưa con đi lễ, tay bận túi, miệng không còn sức hát. Bài Tin Mừng hôm nay không cho phép coi những khuôn mặt ấy là phần phụ của cộng đoàn những người đang hớn hở vì việc phải khuất phục. Cha mặc khải cho kẻ bé mọn. Có khi chính sự bé của những người ấy là chỗ Tin Mừng vẫn còn được nhận, trong lúc những người làm được nhiều việc đã bắt đầu giải thích Tin Mừng theo ích của công việc mình. Phục vụ họ không phải là kéo họ vào chương trình cho đủ số. Phục vụ họ là ở lại đủ lâu để Con muốn mặc khải Cha qua chính sự hiện diện nghèo của họ. Nhiều lần người phục vụ ra về mới thấy mình là người được cho, chứ không phải người đã cho xong.
Niềm vui của Đức Giê-su trong Thánh Thần cũng là một đường cho những ai đang chán cách Cha làm việc. Cha giấu điều này với kẻ tự đủ và mở cho kẻ không được tính. Người ta muốn Nước Trời đến theo đường rõ hơn. Muốn con cái trở lại bằng một biến cố mạnh. Muốn giáo xứ hết phe. Muốn sự dữ sa xuống cho mọi người cùng thấy, để khỏi phải tin mà không thấy. Lời vâng của Chúa không phải là lời của người bó tay. Đó là lời của người Con đã nhận mọi sự, nên không cần Cha phải làm theo lịch của mình mới còn thờ Cha. Giáo dân tập được lời vâng ấy sẽ bớt đánh nhau với đời sống. Vẫn xin. Vẫn gõ. Vẫn làm. Nhưng khi ngày không xảy ra như ý, người ấy không kết luận là Cha vắng. Người ấy có thể nói, dù nói còn run: vâng, vì đó là điều đẹp ý Cha, ít là trong phần con chưa thấy. Sự đồng thuận này lớn dần theo năm, không lớn theo một khóa tĩnh tâm. Nó lớn mỗi lần người ta trả lại một kết quả, trả lại một người mình đang muốn sửa bằng được, trả lại cả hình ảnh người phục vụ mẫu mực mà mình đã gắn vào tên mình.
Ca hiệp lễ không nên kéo cộng đoàn trở lại niềm vui của sự khuất phục. Rước lễ mà còn muốn được thắng, được khen, được thấy việc mình phải xảy ra, là rước như người thông thái tự đủ, tay không trống nên không nhận được gì dù bánh đã trao. Trước kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, hoặc trong lúc cộng đoàn tiến lên, có thể đọc chậm những lời này để chỉnh lại lòng: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, chúng con ngợi khen Cha vì Cha đã không để niềm vui của chúng con dừng ở những gì phải khuất phục chúng con. Cha đã ghi tên chúng con trên trời, và hôm nay Cha trao cho chúng con chính người Con, Đấng biết Cha và muốn mặc khải Cha cho kẻ bé mọn. Xin đừng để chúng con rước lấy sự khuất phục. Xin cho chúng con rước lấy sự thuộc về. Phúc thay mắt nào được thấy bánh này mà nhận ra Đức Kitô. Phúc thay tay nào mở ra không phải để nắm, mà để nhận. Khi ra về, xin cho chúng con đạp lên những gì chia rẽ, những gì tố cáo, những gì biến anh em thành phương tiện, mà không để một nọc nào viết lại tên Cha đã ghi. Nếu hát, hãy hát bài nào nói về được gọi tên, về chiên nghe tiếng, về lòng bé nhỏ, về mắt được thấy, hơn là bài nào chỉ kể quyền năng. Quyền năng đã được ban. Chúa đã dặn đừng mừng ở đó.
Anh chị em để ý điều này rồi thì cả đoạn Tin Mừng sẽ đứng khác. Các ông trở về hớn hở là phải. Chúa không tắt. Chúa nâng. Nâng từ chúng con đã thấy ma quỷ khuất phục, lên tới tên anh em đã được ghi. Nâng từ quyền năng được ban, lên tới Cha đã muốn mặc khải. Nâng từ một ngày truyền giáo thành công, lên tới một mối phúc mà nhiều ngôn sứ và nhiều vua đã mong mà không gặp. Người giáo dân ra về hôm nay cũng có thể hớn hở, nếu trong ngày ấy có một việc nhỏ sinh hoa. Cứ hớn hở. Rồi để câu tuy nhiên đi theo về đến nhà. Chớ mừng vì việc đã phải xảy ra theo ý mình. Hãy mừng vì trước khi mình làm được gì, tên mình đã có trong trí nhớ của Thiên Chúa, và trí nhớ ấy hôm nay trở thành bánh. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
