KHẢO LUẬN ĐỨC MARIA RẤT THÁNH LÀ AI? Thiếu nữ Na-da-rét, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội thánh, và hình ảnh cánh chung của những kẻ tin Dựa trên Kinh Thánh, Lumen Gentium, Giáo lý Hội thánh Công giáo và bốn tín điều về Đức Maria Lm. Anmai, CSsR

11

KHẢO LUẬN
ĐỨC MARIA RẤT THÁNH LÀ AI?
Thiếu nữ Na-da-rét, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội thánh,
và hình ảnh cánh chung của những kẻ tin
Dựa trên Kinh Thánh, Lumen Gentium,
Giáo lý Hội thánh Công giáo và bốn tín điều về Đức Maria
Lm. Anmai, CSsR

MỤC LỤC
Lời ngỏ
Chương 1. Câu hỏi không phải là câu hỏi phụ
Chương 2. Một người con của dân Ít-ra-en
Chương 3. Thời giờ đã mãn
Chương 4. Xin vâng, và cuộc lên đường
Chương 5. Thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần
Chương 6. Vô nhiễm nguyên tội
Chương 7. Thánh thiện vẹn toàn
Chương 8. Trọn đời đồng trinh
Chương 9. Mẹ và Con trong một công trình
Chương 10. Bốn tín điều, bốn ánh sáng
Chương 11. Mẹ Thiên Chúa theo nghĩa nào
Chương 12. Hồn xác lên trời
Chương 13. Với Chúa Cha
Chương 14. Với Chúa Thánh Thần
Chương 15. Thuộc về Hội thánh, là Mẹ và là mẫu gương
Chương 16. Cộng tác vào công trình cứu chuộc
Chương 17. Maria và người phụ nữ
Chương 18. Tôn kính, không thờ phượng
Chương 19. Những lệch cần được gọi tên
Chương 20. Na-da-rét, trường học của những ngày thường
Chương 21. Mẹ của các kẻ tin, hôm nay
Kết. Nhìn Con để biết Mẹ
LỜI NGỎ
Hỏi Đức Maria Rất Thánh là ai, không phải hỏi một nhân vật được thêm vào sau khi mầu nhiệm Đức Kitô đã kể xong. Trong đức tin của Hội thánh, hỏi Mẹ là ai chính là hỏi Thiên Chúa đã muốn bước vào lịch sử loài người bằng cách nào, và loài người đã được mời đáp lại lời ấy ra sao. Mẹ không đứng bên cạnh công trình cứu độ như hình ảnh để trang trí lòng đạo đức. Mẹ đứng trong lòng công trình ấy: là người nữ mà Lời đã nhập thể nơi cung lòng, là nữ tỳ đã thưa xin vâng, là người mẹ mà Chúa Giêsu, từ trên thập giá, đã trao cho môn đệ yêu dấu.
Khảo luận này không có tham vọng nói hết về Đức Maria. Không một cuốn sách nào nói hết được, vì Mẹ chỉ được hiểu trong ánh sáng của Con, và Con thì vô cùng. Điều khảo luận muốn làm là đi chậm qua những gì Hội thánh đã tin, đã cử hành và đã định tín: thân phận lịch sử của thiếu nữ Na-da-rét, mầu nhiệm thụ thai đồng trinh, ơn vô nhiễm, sự thánh thiện vẹn toàn, đồng trinh trọn đời, bốn tín điều, tương quan của Mẹ với Chúa Cha, với Chúa Con, với Chúa Thánh Thần, với Hội thánh, với người phụ nữ, và cách các Kitô hữu tôn kính Mẹ mà không lẫn tôn kính với thờ phượng.
Nguồn mạch được giữ sát. Kinh Thánh, nhất là Luca, Mát-thêu, Gioan, Công vụ và các thư thánh Phaolô, là nền. Hiến chế tín lý Lumen Gentium của Công đồng Vaticanô II, chương VIII, là khung. Giáo lý Hội thánh Công giáo, các công đồng Ê-phê-xô, Latêranô, Friuli, tông sắc Ineffabilis Deus và tông hiến Munificentissimus Deus là những chỗ đức tin được nói dứt khoát. Thánh Augustinô, lời kinh của Dante, và văn kiện Puebla được dẫn ở những điểm chúng làm sáng một chân lý đã có, chứ không thay chân lý ấy.
Văn không viết để tranh luận cho có kẻ thắng. Văn viết để người đọc, dù là linh mục, tu sĩ, giáo lý viên hay giáo dân, có thể đứng lại trước một khuôn mặt và hỏi lại chính mình: tôi có để Lời được cưu mang trong đời tôi, như người nữ ấy đã để Lời được cưu mang trong cung lòng người không. Mọi trang về Maria, nếu không dẫn tới Đức Kitô và không mở ra cho Hội thánh, đều là trang lệch.
Có một cám dỗ của thời nay là hoặc nói về Mẹ thật nhiều mà không nói về Con, hoặc nói về Con thật nhiều mà coi Mẹ là phần có thể bỏ. Cả hai đều nghèo. Đức Kitô của các Tin Mừng có một người mẹ. Hội thánh của Công vụ có bà Maria, thân mẫu Đức Giêsu, ở giữa những người cầu nguyện ngày Thánh Thần ngự xuống. Bỏ những chỗ ấy cho gọn thì không được một Đức Kitô tinh khiết hơn. Được một Đức Kitô bị cắt khỏi chính lịch sử Người đã muốn nhận.
Chương 1. Câu hỏi không phải là câu hỏi phụ
Trong đời sống đạo của nhiều người, Đức Maria xuất hiện rất sớm và rất thường. Có nhà nào đó treo ảnh Mẹ. Có giáo xứ nào đó lần hạt trước Thánh lễ. Có người đau bệnh kêu tên Mẹ trước khi kịp kêu một tên nào khác. Sự gần gũi ấy là một ơn. Nhưng chính sự gần gũi ấy đôi khi làm câu hỏi nền bị lu mờ: Mẹ là ai, trong tương quan với Thiên Chúa và với công trình cứu độ, chứ không chỉ là ai trong lòng đạo đức của chúng ta.
Nếu chỉ dừng ở lòng đạo đức, người ta dễ rơi vào hai lệch. Lệch thứ nhất là đẩy Mẹ lên chỗ của Thiên Chúa, biến lời cầu khẩn thành một thứ thờ phượng thứ hai, như thể trung gian duy nhất của Đức Kitô chưa đủ. Lệch thứ hai là gạt Mẹ ra khỏi mầu nhiệm Đức Kitô, coi mọi lời về Mẹ là phần thêm, có cũng được không có cũng không sao. Cả hai lệch đều không phải đức tin của Hội thánh. Hội thánh không thờ Maria. Hội thánh cũng không biết một Đức Kitô trần trụi, bị cắt khỏi người mẹ đã cưu mang Người và khỏi người nữ đã đứng dưới chân thập giá.
Công đồng Vaticanô II, khi soạn hiến chế về Hội thánh, đã không tách chương về Đức Maria thành một văn kiện riêng, dù đã có lần bàn theo hướng ấy. Việc đặt chương VIII của Lumen Gentium trong hiến chế về Hội thánh là một chọn lựa thần học. Mẹ được nhìn trong Hội thánh, và Hội thánh được nhìn trong ánh sáng của Mẹ. Mẹ là phần tử siêu việt, là mẹ, là mẫu gương, là hình ảnh cánh chung. Nói về Mẹ mà không nói về Hội thánh thì nói chưa đủ. Nói về Hội thánh mà không nhìn lên Mẹ thì Hội thánh chưa thấy rõ chính mình sẽ trở thành gì.
Dante, ở cuối Thần khúc, khi đã đi hết hỏa ngục và luyện ngục để tới thiên đàng, không kết bằng một lý luận. Ông để thánh Bênađô hướng mắt ông lên Mẹ, và ông hát về Mẫu Trinh tuyệt vô song trời đất, cực khiêm nhường, cực thánh, cực cao sang, Mẹ cứu sinh, nương tử Chúa thiên đàng, ngai Vương Nữ mà đường đi lại là đường thấp hèn của tôi tớ. Đức Khôn Ngoan tiền định từ muôn thuở để nâng cao phẩm giá của người đời, cho Thánh Linh rợp bóng hiến Ngôi Lời, tình nhập thể đầu thai từ thuở ấy. Hai cực ấy, cực cao sang và cực khiêm nhường, không phải phép tu từ. Đó là cấu trúc của mầu nhiệm Maria. Phẩm giá Mẹ không tự Mẹ tạo ra. Phẩm giá ấy đến vì Mẹ đã nhận mình là nữ tỳ, và vì Thiên Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn.
Vì thế khảo luận này đi từ dưới lên, theo đúng thứ tự của lịch sử cứu độ, chứ không từ các tước hiệu xuống. Trước khi là Theotokos, Mẹ là một thiếu nữ đã đính hôn. Trước khi là Nữ vương thiên đàng, Mẹ là người nữ đứng đó, dưới chân thập giá. Các tước hiệu, nếu không cắm vào lịch sử ấy, sẽ thành những danh xưng treo lơ lửng. Các biến cố, nếu không được Hội thánh đọc trong đức tin, sẽ thành một tiểu sử đẹp mà không cứu độ.
Đức tin được nói chậm
Hội thánh không nói hết về Maria trong một ngày. Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa được tuyên tín năm 431, khi người ta tranh luận về danh xưng, và qua danh xưng ấy là tranh luận về chính Đức Kitô. Đồng trinh trọn đời được khẳng định cách trọng thể tại Công đồng Latêranô năm 649. Vô nhiễm nguyên tội được Đức Piô IX định tín trong tông sắc Ineffabilis Deus ngày 8 tháng 12 năm 1854. Hồn xác lên trời được Đức Piô XII định tín trong tông hiến Munificentissimus Deus ngày 1 tháng 11 năm 1950. Khoảng cách giữa các năm ấy không có nghĩa là các thế kỷ trước không tin. Giáo lý Hội thánh Công giáo nhắc rằng huấn quyền ấn định tín điều khi công bố, dưới hình thức buộc phải tin, những chân lý chứa trong mặc khải, hoặc những chân lý liên hệ tất yếu với mặc khải ấy. Tín điều là ánh sáng trên đường đức tin, soi và giữ cho đường ấy được an toàn. Ngược lại, nếu sống ngay thẳng, trí và lòng sẽ mở để đón ánh sáng ấy.
Đọc các tín điều theo thứ tự năm công bố mà quên thứ tự của mầu nhiệm thì sẽ tưởng Hội thánh mỗi thế kỷ bịa thêm một đặc ân. Đọc đúng thì thấy một chuyển động khác: điều đã được tin, đã được cử hành trong phụng vụ, đã được các giáo phụ suy niệm, dần được nói với một độ chính xác mà các cuộc khủng hoảng đòi hỏi. Ê-phê-xô bảo vệ ngôi vị của Đức Kitô. Latêranô bảo vệ tính toàn vẹn của mầu nhiệm sinh hạ. Ineffabilis Deus bảo vệ tính nhưng không của ân sủng ngay từ gốc đời Mẹ. Munificentissimus Deus bảo vệ vận mệnh của thân xác được ân sủng chiếm hữu. Mỗi lần Hội thánh nói về Mẹ, Hội thánh đang bảo vệ một điều gì đó về Đức Kitô, về ân sủng, về thân xác, về cùng đích của loài người.
Đó cũng là lý do một khảo luận về Maria không thể chỉ là một chuỗi tước hiệu. Phải hỏi từng tước hiệu bảo vệ điều gì. Phải hỏi nếu bỏ tước hiệu ấy thì mầu nhiệm Đức Kitô sẽ bị hiểu lệch chỗ nào. Làm như vậy không phải để biến Mẹ thành một luận cứ. Làm như vậy là trung thành với cách Hội thánh đã nghĩ về Mẹ ngay từ đầu: Mẹ không bao giờ được nhìn một mình.
Hai cách đọc sai cùng một khuôn mặt
Có cách đọc biến Mẹ thành ý tưởng. Maria thành nữ tính vĩnh cửu, thành nguyên lý mẹ, thành biểu tượng của tâm hồn biết đón nhận. Những lời ấy có một phần sự thật, vì Mẹ quả là mẫu của sự đón nhận. Nhưng nếu chỉ còn là ý tưởng, thiếu nữ Na-da-rét biến mất, và cùng với thiếu nữ ấy biến mất tính lịch sử của Nhập Thể. Ngôi Lời không nhập thể vào một biểu tượng. Ngôi Lời nhập thể trong cung lòng một người nữ có tên, có làng, có người đã đính hôn.
Có cách đọc khác biến Mẹ thành một tiểu sử thuần túy. Người ta hỏi Mẹ sống ở đâu, ăn gì, nói tiếng nào, có đi học không, và khi Kinh Thánh im lặng thì bịa cho đầy. Lòng tò mò ấy hiểu được. Nhưng im lặng của Kinh Thánh cũng là một dữ kiện. Các tác giả Tân Ước không viết một cuộc đời Maria. Các ông viết cuộc đời Đức Giêsu, và Maria xuất hiện ở những chỗ cuộc đời ấy cần người mẹ. Đọc đúng là dừng lâu ở những chỗ ấy, chứ không phải lấp mọi khoảng trống bằng tưởng tượng.
Giữa hai cách đọc, Hội thánh đi một con đường thứ ba. Mẹ là một nhân vị thật, trong một lịch sử thật, và nhân vị ấy chỉ được nhận ra hết khi được đặt trong mầu nhiệm của Con. Không có Con, Maria là một thiếu nữ đạo đức trong một dân đông. Có Con, thiếu nữ ấy là Mẹ Thiên Chúa. Câu này không phải lời khoa trương. Câu này là đức tin của Ê-phê-xô, và là đức tin của các thế kỷ trước Ê-phê-xô khi các tín hữu đã gọi Mẹ là người đã sinh Đấng Em-ma-nu-en.
Chương 2. Một người con của dân Ít-ra-en
Thánh Luca, khi mở trình thuật tuổi thơ, không để Mẹ xuất hiện từ mây. Ông đặt Mẹ vào một ngôi làng, một miền, một tương quan gia đình: một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đa-vít, tại Na-da-rét miền Ga-li-lê. Câu ấy ngắn, nhưng nó đóng một cánh cửa. Cánh cửa của những cách nói về Maria như một ý tưởng, một biểu tượng thuần túy, một nguyên lý nữ tính đứng ngoài lịch sử. Mẹ có một chỗ ở. Mẹ có một người đã đính hôn. Mẹ thuộc một dân.
Dân ấy là Ít-ra-en. Điều này không phải chi tiết dân tộc học để rồi bỏ qua khi đã vào phần tín lý. Toàn bộ Cựu Ước là thời gian dài Thiên Chúa nói với một dân, giáo dục một dân, chịu đựng sự bất trung của một dân, và vẫn không rút lời hứa. Đức Maria đứng ở cuối thời gian ấy, không như người ngoại cuộc được tuyển đột ngột cho một vai, nhưng như người con mà lời hứa đã dọn đường. Hiến chế Lumen Gentium nói Mẹ trổi vượt trong số các kẻ khiêm nhu và người nghèo của Chúa, những người tin tưởng, hy vọng và lãnh nhận ơn cứu độ từ nơi Chúa. Với người Thiếu nữ Xi-on tuyệt vời, sau thời gian lâu dài mong đợi lời hứa được thực hiện, thời giờ đã mãn và nhiệm cục mới đã được thiết lập.
Thiếu nữ Xi-on không phải một tước hiệu thơ được gán thêm. Trong các ngôn sứ, Xi-on thường được gọi như một người nữ, một người mẹ, một thành được Thiên Chúa đoái nhìn sau những năm lưu đày. Khi các giáo phụ và Công đồng gọi Maria là Thiếu nữ Xi-on, các ngài đang nói rằng nơi Mẹ, hình ảnh của dân được tuyển đạt tới một sự trong sáng mà chính dân, vì tội, không giữ nổi. Mẹ không thay thế Ít-ra-en. Mẹ là Ít-ra-en ở chỗ Ít-ra-en đã được ân sủng làm cho có khả năng thưa xin vâng. Cắt Mẹ khỏi dân Do Thái là cắt mầu nhiệm Nhập Thể khỏi lịch sử lời hứa, và Đức Kitô sẽ thành một vị thần xuống trần theo kiểu các thần thoại, chứ không phải Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en.
Na-da-rét, chỗ không ai chờ
Na-da-rét không phải Giê-ru-sa-lem. Na-da-rét không phải đền thờ, không phải cung vua, không phải nơi các kinh sư quy tụ. Trong Gioan, có người sẽ hỏi, với một chút khinh: từ Na-da-rét có gì hay đâu. Câu hỏi ấy, đọc lại sau biến cố Truyền Tin, trở thành một phần của Tin Mừng. Thiên Chúa không vào lịch sử bằng cửa mà loài người đã dọn sẵn cho Người. Người vào bằng một ngôi làng miền Ga-li-lê, nơi một thiếu nữ đã đính hôn đang sống đời thường.
Sự thường ấy cần được giữ. Nếu biến tuổi trẻ của Maria thành một chuỗi đặc ân hiển hiện, người ta sẽ không còn hiểu nổi lời xin vâng. Lời xin vâng có trọng lượng vì được thưa trong một đời có thể tiếp tục là đời thường: vẫn đính hôn, vẫn thuộc một gia đình, vẫn phải đối diện với Giuse, vẫn phải sinh con nơi không phải nhà mình, vẫn phải đưa con đi trốn, vẫn phải mất con ba ngày trong đền thờ, vẫn phải nghe một lời như lưỡi gươm. Đặc ân không xóa hoàn cảnh. Đặc ân làm cho hoàn cảnh trở thành chỗ ân sủng đi qua.
Giuse thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Luca ghi điều ấy không phải để trang trí gia phả. Lời hứa với Đa-vít, một người con sẽ ngồi trên ngai, đi qua Giuse tới Giêsu bằng con đường pháp lý và gia đình, trong khi con đường huyết nhục của việc thụ thai lại không đi qua người nam. Cả hai đường đều cần. Nếu chỉ có huyết nhục mà không có nhà Đa-vít, Giêsu không đứng trong lời hứa. Nếu chỉ có nhà Đa-vít mà việc thụ thai do người nam, thì dấu chỉ Con Thiên Chúa bị che. Maria và Giuse, mỗi người một cách, đưa Hài Nhi vào đúng chỗ của lịch sử cứu độ.
Những kẻ nghèo của Chúa
Lumen Gentium đặt Mẹ giữa các kẻ khiêm nhu và người nghèo của Chúa. Đó là hàng những người, suốt Cựu Ước, không cậy vào cung điện và quân đội, mà cậy vào lòng trung tín của Đức Chúa. An-na trong đền thờ, khi dâng Sa-mu-en, đã hát một bài ca mà Magnificat sẽ nhắc lại. Những người công chính còn sót lại sau lưu đày, sống bằng việc chờ, được gọi là những người nghèo của Đức Chúa. Maria không phải một ngoại lệ đứng ngoài hàng ấy. Mẹ là chóp đỉnh của hàng ấy.
Điều này có hệ quả mục vụ. Tôn kính Mẹ mà tách Mẹ khỏi người nghèo là tôn kính một hình ảnh đã bị sửa cho hợp với mình. Mẹ của Tin Mừng là người nói Thiên Chúa hạ bệ những ai quyền thế, nâng cao mọi kẻ khiêm nhường, cho kẻ đói được no đầy, đuổi người giàu về tay trắng. Bài ca ấy không phải một lát chính trị gán vào miệng Mẹ. Bài ca ấy là cách Mẹ đọc lịch sử của dân mình, và là cách Mẹ hiểu điều vừa xảy ra trong cung lòng mình. Người đoái thương nhìn đến phận nữ tỳ hèn mọn. Toàn bộ phẩm giá sau này của Mẹ bắt đầu từ câu ấy.
Vì là con của dân Ít-ra-en, Mẹ cũng là cầu nối chứ không phải bức tường giữa Hội thánh và dân thứ nhất của lời hứa. Mỗi lần Hội thánh quên gốc Do Thái của Mẹ, Hội thánh dễ quên luôn gốc Do Thái của Chúa mình. Và mỗi lần Hội thánh nhớ, việc tôn kính Mẹ trở thành một cách ở lại trong lịch sử thật của ơn cứu độ, chứ không trôi vào một lòng sùng mộ không quê hương.
Luật Mô-sê vẫn là khung của đời Mẹ trong các trình thuật tuổi thơ. Hài Nhi được cắt bì ngày thứ tám và được đặt tên Giêsu, tên sứ thần đã chỉ. Rồi tới ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo Luật Mô-sê, hai ông bà đem con lên Giê-ru-sa-lem để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật, và để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền: một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. Của lễ ấy là của lễ của người nghèo. Luca không cần bình luận. Ông để chi tiết tự nói. Mẹ Thiên Chúa, khi vào đền thờ lần đầu với Con, đi vào bằng cửa của những người không có chiên.
Si-mê-ôn chờ ở đó. Ông được Thánh Thần hứa sẽ không thấy cái chết trước khi thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. Ông ẵm Hài Nhi và hát bài ca của người đã thấy ơn cứu độ, ánh sáng muôn dân và vinh quang của Ít-ra-en. Rồi ông nói với Maria một lời không thuộc bài ca: Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên, và cũng là dấu hiệu bị người đời chống báng. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra. Lời ấy cắm sẵn thập giá vào trình thuật tuổi thơ. Niềm vui Bê-lem không được phép nuốt mất lưỡi gươm. Ai kể Maria chỉ như người mẹ hạnh phúc của máng cỏ thì kể chưa hết Luca.
Chương 3. Thời giờ đã mãn
Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Ga-lát một câu làm khung cho mọi trình thuật tuổi thơ: khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người nữ, sinh dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. Câu ấy không nêu tên Maria. Nhưng người nữ trong câu ấy không phải một chức năng vô danh. Hội thánh đã luôn đọc câu ấy như cửa ngõ của mầu nhiệm Maria. Thời giờ mãn không phải một ngày trên lịch. Thời giờ mãn là lúc lời hứa không còn chỉ được loan, mà được trao cho một thân xác.
Lumen Gentium lấy lại ngôn ngữ ấy. Sau thời gian lâu dài mong đợi, thời giờ đã mãn và nhiệm cục mới đã được thiết lập, nơi người Thiếu nữ Xi-on. Nhiệm cục mới không bắt đầu bằng một sắc lệnh từ trời rơi xuống đám đông. Nhiệm cục mới bắt đầu bằng một lời chào và một lời thưa, trong một ngôi nhà. Tính lịch sử của ơn cứu độ nằm ở đó. Thiên Chúa không cứu bằng cách xóa lịch sử. Người cứu bằng cách đi vào lịch sử qua sự ưng thuận của một tự do thụ tạo.
Sự ưng thuận ấy không biến Maria thành đồng tác giả ngang hàng với Thiên Chúa. Sáng kiến thuộc về Chúa Cha. Quyền năng thuộc về Thánh Thần. Nhưng nếu không có lời thưa, mầu nhiệm sẽ là một mầu nhiệm áp đặt, và tự do của loài người sẽ không có chỗ trong chính biến cố khai mở ơn cứu độ. Thiên Chúa muốn ơn cứu độ được đón nhận, không chỉ được ban. Đó là lý do đức tin của Maria không phải đức tin tư của một cá nhân đạo đức. Đó là đức tin thay mặt, đức tin của Thiếu nữ Xi-on, đức tin mà cả dòng những kẻ nghèo của Chúa đã mang như một lời chờ, và nay được nói thành lời xin vâng.
Lời chào và tên mới
Thiên thần vào nhà và chào: Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn phúc, Đức Chúa ở cùng bà. Lời chào không phải lời xã giao của một sứ giả có giáo dục. Động từ ở đầu là lời mời vào niềm vui cánh chung, thứ niềm vui các ngôn sứ đã hứa cho Xi-on khi Đức Chúa trở lại giữa dân. Gọi một thiếu nữ làng Na-da-rét bằng lời dành cho thành thánh, Luca đang nói một điều lớn: nơi người này, niềm vui đã hứa bắt đầu ứng nghiệm.
Đấng đầy ơn phúc đứng như một tên gọi hơn là một tính từ khen. Không phải Maria có ơn trong số nhiều phẩm chất. Maria được gọi bằng chính hồng ân đã chiếm hữu mình. Hội thánh sẽ lần từ danh xưng này ra cả hai hướng: hướng về quá khứ của đời Mẹ, để nói ơn vô nhiễm, vì một người đầy ơn phúc ngay từ lời chào không thể đã bị tội nguyên tổ chiếm mất gốc đời; và hướng về hiện tại của biến cố, để nói Mẹ được tuyển làm mẹ của Đấng sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Hai hướng không tách nhau. Ơn chuẩn bị và ơn sứ mạng là một ân sủng duy nhất, nhìn từ hai phía của thời gian.
Maria thì bối rối, và tự hỏi lời chào ấy nghĩa là gì. Bối rối là dấu của một tâm hồn chưa quen chiếm đoạt các tước hiệu. Mẹ không đón lời thiên thần như người đã chờ sẵn một vai. Mẹ dừng lại. Sự dừng lại ấy thuộc về đức tin, không thuộc về nghi ngờ phá đức tin. Đức tin thật hỏi, để biết mình đang được mời vào điều gì, rồi mới trao đời. Đức tin giả hoặc vội thưa cho xong, hoặc hỏi để trì hoãn mãi.
Câu hỏi của Mẹ
Khi được báo sẽ thụ thai và sinh một con trai, đặt tên là Giêsu, sẽ nên cao cả và được gọi là Con Đấng Tối Cao, Maria hỏi: Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng. Câu hỏi này khác câu hỏi của Da-ca-ri-a. Da-ca-ri-a hỏi như người đòi một bảo chứng cho điều mình thấy là không còn hợp tuổi. Maria hỏi về cách thức, trong tư thế của người đã hướng đời mình theo một sự thuộc trọn. Bản văn không nói Mẹ đã khấn theo kiểu một dòng tu về sau. Bản văn nói Mẹ đặt việc không biết đến vợ chồng như tình trạng hiện tại của mình, và thiên thần không sửa lại. Hội thánh đọc câu ấy trong ánh sáng của toàn bộ đức tin về đồng trinh trọn đời: lời hỏi không phải lời từ chối sứ mạng, mà là lời đặt sứ mạng vào đúng tương quan với một hướng đi đã có.
Câu trả lời không phải một giải thích sinh học. Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Hai hình ảnh, ngự xuống và rợp bóng, kéo người đọc về sáng thế, về mây trên lều hội ngờ, về vinh quang Đức Chúa phủ trên nơi Người ngự. Cung lòng một người nữ được nói bằng ngôn ngữ của nơi thánh. Đó không phải cách phóng đại của lòng sùng mộ về sau. Đó là ngôn ngữ của chính Luca.
Rồi thiên thần đưa một dấu chỉ gần, không phải để Mẹ phải tin nhờ dấu, mà để Mẹ thấy lời Thiên Chúa không chỉ đến với mình: Ê-li-sa-bét, người bà con, tuy già, cũng đã thụ thai, và nay đã mang thai được sáu tháng, vì không có gì mà Thiên Chúa không làm được. Dấu chỉ ấy kéo Maria ra khỏi một biến cố khép kín. Ơn nơi Mẹ và ơn nơi Ê-li-sa-bét thuộc cùng một hành động. Vì thế bước kế tiếp của Mẹ không phải ngồi lại chiêm niệm một mình. Bước kế tiếp là lên đường.
Chương 4. Xin vâng, và cuộc lên đường
Lời của Maria rất ngắn: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói. Trong tiếng Việt của phụng vụ, câu ấy đã trở thành xin vâng, và hai tiếng ấy gánh một trọng lượng mà bản văn gốc không cần phô trương. Tôi đây là nữ tỳ. Mẹ không nhận một ngai. Mẹ nhận một tương quan. Nữ tỳ là người không sắp đặt chương trình của chủ, mà để chương trình của chủ trở thành việc của mình. Nhưng ở đây chủ không phải một ông chủ trong các dụ ngôn. Chủ là Đức Chúa, và việc Người sắp làm là trao Con Một của Người cho loài người, qua thân xác của chính nữ tỳ.
Cần nghe cho rõ sự tự do trong câu ấy. Một lời bị ép không phải lời xin vâng của Tin Mừng. Thiên thần loan báo, giải thích, đưa dấu chỉ, rồi dừng. Không có câu nào nói Maria không thể từ chối. Toàn bộ cấu trúc của trình thuật giả định một lời đáp có thể không được nói, và vì có thể không được nói nên lời được nói mới là hồng ân thứ hai, hồng ân của tự do thụ tạo đi vào tự do của Thiên Chúa. Các giáo phụ dừng rất lâu ở chỗ này. Các ngài thấy nơi lời thưa của Maria sự đảo ngược của một lời không thưa thuở đầu. Không phải để biến lịch sử cứu độ thành một đối xứng văn chương, mà để nói rằng tự do, một khi đã làm lệch hướng, vẫn được một tự do khác, được ân sủng giữ cho nguyên vẹn, đưa trở lại.
Sau lời thưa, thiên thần từ biệt đi. Luca không mô tả cảm xúc. Ông để trống, và khoảng trống ấy là chỗ đúng. Biến cố quá lớn để được kể bằng tâm lý. Điều ông kể tiếp là một hành động: trong những ngày ấy, Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa, vào nhà Da-ca-ri-a và chào Ê-li-sa-bét.
Thăm viếng, mầu nhiệm được chia sẻ
Cuộc thăm viếng là chú giải đầu tiên của lời xin vâng. Lời xin vâng không giữ Mẹ ở nhà để bảo vệ một đặc ân. Lời xin vâng đẩy Mẹ lên đường, tới với một người đàn bà khác cũng đang mang một ơn ngoài sức mình. Gioan trong lòng Ê-li-sa-bét nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy Thánh Thần và kêu lớn: Bà được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con bà cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi. Rồi câu làm chìa khóa cho cả đức tin của Mẹ: Phúc cho bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng bà sẽ được thực hiện.
Ê-li-sa-bét không chúc phúc Mẹ trước hết vì Mẹ là mẹ, mà vì Mẹ đã tin. Hội thánh sẽ không bao giờ bỏ thứ tự ấy. Thiên chức làm mẹ, cao đến đâu, vẫn được đọc trong đức tin. Và đức tin ấy không phải một cảm giác. Đức tin ấy là sự bám vào một lời, lời của Chúa, với xác tín rằng lời ấy sẽ được thực hiện, dù cách thức vượt quá mọi kinh nghiệm vợ chồng và mọi khả năng của tuổi già. Hai người nữ, một già một trẻ, đứng trong cùng một logic của ân sủng: điều không thể đối với loài người thì không phải giới hạn của Thiên Chúa.
Bài Magnificat nở ra từ cuộc gặp ấy. Không phải một bài hát được soạn trong thanh vắng cho một thiên tài tôn giáo. Một bài ca của dân Ít-ra-en, dệt từ bài ca của An-na, từ các thánh vịnh, từ lời các ngôn sứ, được một thiếu nữ hát lên khi bà con vừa gọi mình là thân mẫu của Chúa. Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa. Thần trí tôi hớn hở trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Người đã đoái thương nhìn đến phận nữ tỳ hèn mọn. Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả. Danh Người là thánh.
Ba đợt của bài ca cần được giữ cùng nhau. Đợt thứ nhất là cá vị: phận nữ tỳ được nhìn. Đợt thứ hai là thần học: danh Đấng Toàn Năng là thánh, lòng thương xót Người trải qua đời nọ đến đời kia. Đợt thứ ba là lịch sử: cánh tay Người biểu dương sức mạnh, hạ bệ những ai quyền thế, nâng cao kẻ khiêm nhường, cho kẻ đói no đầy, đuổi người giàu tay trắng, độ trì Ít-ra-en tôi tớ Người, như đã hứa cùng cha ông. Maria không hát về một ơn tư. Mẹ hát về cách Thiên Chúa vẫn hành động trong lịch sử, và về việc hành động ấy nay đã tới một chóp đỉnh trong cung lòng mình. Ai tách Magnificat khỏi người nghèo thì còn một bài hát đẹp. Ai để Magnificat đứng trong miệng Mẹ thì thấy tôn kính Maria mà không liên đới với kẻ bị hạ nhục là tôn kính lệch.
Maria ở lại với Ê-li-sa-bét khoảng ba tháng rồi trở về. Luca không kể các buổi nói chuyện. Ông kể đủ để ta hiểu mầu nhiệm Nhập Thể, ngay từ những tuần đầu, đã là một mầu nhiệm được mang đến cho người khác. Mẹ của Chúa không giữ Chúa cho riêng mình. Đó sẽ là định luật của cả đời Mẹ, cho đến câu ở Ca-na, các anh cần gì hãy làm theo lời Người, và cho đến câu trên thập giá, khi Mẹ nhận môn đệ làm con.
Khi lời đã thành xác thịt trong thinh lặng
Ba tháng trên miền núi là thời gian Tin Mừng gần như im. Không có diễn từ. Không có phép lạ công khai. Có một người nữ mang Lời trong mình và phục vụ một người nữ khác sắp sinh. Hội thánh sau này sẽ học nơi khoảng im ấy một cách thế truyền giáo không ồn: mang Chúa Kitô đến bằng sự hiện diện, trước khi mang Người đến bằng lời giảng. Ê-li-sa-bét chưa cần một bài giáo lý. Bà cần một tiếng chào, và Gioan trong lòng bà đã nhảy. Có những cuộc thăm viếng, trong giáo xứ cũng như trong gia đình, chỉ là thăm viếng khi người đến nhà mang theo một Đấng mà chính mình không chiếm hữu, chỉ cưu mang.
Sự vội vã của Maria cũng đáng dừng. Vội vã ở đây không phải nóng ruột của người sợ mất một tin. Vội vã là bước của người đã nhận một niềm vui quá lớn để giữ một mình. Niềm vui Kitô giáo, khi thật, đẩy ra đường. Niềm vui giả giữ người ta ở lại với cảm xúc của chính mình. Mẹ lên đường lúc có lẽ là lúc khó đi nhất, những ngày đầu của một thai nghén không thể giải thích với làng. Lòng thương người bà con nặng hơn nỗi sợ tiếng làng. Đó cũng là một nét của sự thánh thiện vẹn toàn: không phải không biết sợ, mà là không để sợ sắp xếp lại thứ tự của đức ái.
Chương 5. Thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần
Giáo lý Hội thánh Công giáo đặt biến cố thụ thai vào đúng tầm của nó. Đức Maria được mời gọi cưu mang Đấng mà nơi Người tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể, như thư Cô-lô-xê đã nói. Lời phúc đáp cho vấn nạn của Mẹ được đưa ra nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Thánh Thần, là Chúa và là Đấng ban sự sống, được sai đến để thánh hóa cung lòng Trinh Nữ và làm cho Mẹ thụ thai cách thần linh, khi tác động để Mẹ cưu mang Con vĩnh cửu của Chúa Cha trong nhân tính được đảm nhận từ nhân tính của Mẹ.
Câu ấy cần được đọc chậm, vì mỗi vế đóng một cửa lạc giáo. Cưu mang Đấng mà nơi Người sự viên mãn thần tính hiện diện cách cụ thể: Hài Nhi không phải một người được Thiên Chúa nhận làm con sau khi sinh, cũng không phải một vị thần mặc xác như mặc áo. Nhân tính được đảm nhận từ nhân tính của Mẹ: Chúa Giêsu không mang một thân xác từ trời mang xuống, không liên hệ gì tới giống loài. Người nhận nhân tính từ Maria. Vì thế Mẹ thật là mẹ, không phải ống dẫn. Con vĩnh cửu của Chúa Cha: Đấng được cưu mang không bắt đầu là Con khi được cưu mang. Người là Con từ đời đời, và trong thời gian Người bắt đầu là con của Maria.
Việc thụ thai đồng trinh cho thấy Chúa Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa. Dấu chỉ ấy không phải một phép lạ được thêm để chứng minh một luận đề đã có sẵn. Dấu chỉ ấy thuộc về nội dung của mầu nhiệm. Nếu việc thụ thai do ý muốn của người nam, thì sáng kiến tuyệt đối của Chúa Cha trong việc sai Con sẽ không còn được viết vào chính cách thức Con vào đời. Hội thánh không nói người nam không thể là cha của một vị thánh. Hội thánh nói người nam không phải cha của Ngôi Lời nhập thể. Sự khác biệt ấy là tất cả.
Không có sự can thiệp của người nam
Công thức cổ, không có sự can thiệp của người nam, dễ bị thời nay nghe như một phán quyết về hôn nhân hay về thân xác. Không phải. Hôn nhân là thánh. Thân xác là tốt. Điều được nói ở đây là biến cố này không nằm trong chuỗi những lần sự sống được truyền lại theo quy luật loài người, dù quy luật ấy là quy luật Thiên Chúa đã muốn. Biến cố này là một sáng tạo mới trong lòng lịch sử, tương tự như cách Thánh Thần bay là trên mặt nước thuở sáng thế, nhưng không lặp lại sáng thế, vì đây không phải dựng một thế giới, mà là cho Con Một vào thế giới đã có.
Giuse, trong Mát-thêu, nhận một sứ mạng riêng. Ông định tâm lìa Maria cách kín đáo khi thấy người đã đính hôn mang thai, và thiên thần cắt ngang giấc mơ của ông: đừng ngại đón Maria về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Thánh Thần. Giuse trở thành người công chính không phải vì ông hiểu ngay, mà vì ông vâng, và vì sự vâng ấy bao gồm việc nhận một Hài Nhi không bởi mình làm cha theo huyết nhục, đồng thời làm cha thật trong trật tự của lời hứa và của gia đình. Đồng trinh của Maria không loại Giuse ra khỏi mầu nhiệm. Đồng trinh ấy xác định chỗ của Giuse: chỗ của người bảo vệ, người đặt tên, người đưa Hài Nhi vào nhà Đa-vít.
Ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu. Trong thế giới ấy, người cha đặt tên là người nhận con. Giuse, bằng việc đặt tên, đưa Hài Nhi vào dòng dõi pháp lý của mình và vào lời hứa Đa-vít. Thiên thần đã nói với ông điều từng nói với Maria: chính con trẻ ấy sẽ cứu dân mình khỏi tội. Tên Giêsu là một sứ mạng, không phải một tên đẹp. Mẹ cưu mang sứ mạng ấy trong thân xác. Giuse nhận sứ mạng ấy trong nhà. Cả hai sự nhận đều là vâng phục, và cả hai đều không thay thế nhau.
Sinh hạ và đồng trinh
Đức tin của Hội thánh không dừng ở thụ thai. Mẹ vẫn đồng trinh khi sinh Con. Thánh Augustinô nói một chuỗi không ngắt: đồng trinh khi thụ thai, đồng trinh khi sinh, đồng trinh khi bồng ẵm, đồng trinh khi cho bú, người mẹ đồng trinh và vĩnh viễn đồng trinh. Chuỗi ấy muốn giữ một điều: biến cố sinh hạ không phải lúc mầu nhiệm trở lại quy luật thường, như thể phần lạ chỉ nằm ở việc thụ thai, còn từ lúc sinh thì mọi sự giống mọi cuộc sinh khác đến mức dấu chỉ biến mất. Hội thánh tin sự sinh hạ ấy là sự sinh hạ thật, Maria thật là mẹ, Hài Nhi thật ra khỏi cung lòng mẹ, và đồng thời tin rằng sự sinh hạ ấy không phá đi dấu chỉ mà Thiên Chúa đã đặt nơi thân xác Mẹ.
Các cách giải thích sinh lý về điểm này, khi bị đẩy quá đà, thường làm hại cả hai phía. Hoặc người ta biến sự sinh hạ thành một cảnh không còn là sự sinh hạ của loài người, và nhân tính của Hài Nhi cùng thiên chức làm mẹ của Maria bị loãng. Hoặc người ta đòi mọi chi tiết phải giống một cuộc sinh thông thường, và quên rằng đây là cuộc sinh của Đấng mà việc thụ thai đã không thông thường. Đức tin giữ cả hai: thật sự sinh, thật sự đồng trinh. Công đồng Latêranô năm 649 nói điều ấy cách trọng thể, không phải để thỏa mãn tò mò, mà để bảo vệ tính toàn vẹn của mầu nhiệm đã được tin từ các thế kỷ đầu.
Đêm Bê-lem, trong Luca, rất cụ thể. Không có chỗ trong phòng trọ. Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Các mục đồng, những người không có địa vị để làm chứng trước tòa, là những người được báo tin trước. Maria thì ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng. Câu ấy là chân dung đời nội tâm của Mẹ. Mẹ không được mô tả như người hiểu hết ngay lúc biến cố xảy ra. Mẹ được mô tả như người giữ các biến cố, đối chiếu chúng với nhau, và để chúng lớn lên trong lòng. Đó là mẫu của Hội thánh khi Hội thánh suy niệm Lời: không nuốt vội, không bỏ rơi điều mình chưa hiểu.
Các đạo sĩ trong Mát-thêu đến sau, theo một ngôi sao, và gặp Hài Nhi với Maria mẹ Người. Thứ tự ấy không tình cờ. Muốn gặp Hài Nhi thì gặp Mẹ đang bế Người. Hội thánh sẽ nhớ hình ảnh này mỗi khi nói rằng đường tới Chúa Kitô không buộc phải đi ngang Maria như một điều kiện tuyệt đối của ơn cứu độ, nhưng trong trật tự Thiên Chúa đã muốn, Mẹ luôn ở đó, cạnh Con. Quỳ trước Hài Nhi mà không thấy người mẹ bế Người là quỳ trước một hình ảnh đã bị cắt.
Trốn sang Ai Cập và trở về
Hê-rô-đê muốn giết. Giuse được báo trong đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và ở đó cho đến khi Hê-rô-đê băng hà. Mát-thêu đọc biến cố này bằng một câu ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai Cập. Câu ấy vốn nói về dân. Nay nó nói về Hài Nhi. Maria đi trong cuộc xuất hành mới ấy, không phải với tư cách thủ lãnh, mà với tư cách người mẹ phải thức dậy giữa đêm, không kịp thu xếp, mang theo Đấng mà cả một vua đang tìm. Sự thánh thiện vẹn toàn không miễn cho Mẹ những cuộc chạy trốn. Sự thánh thiện ấy làm cho cuộc chạy trốn thành chỗ vâng phục.
Các trẻ thơ Bê-lem bị giết. Tin Mừng không để Maria nói một lời về các em. Sự im ấy cũng là một dữ kiện. Ơn cứu độ đi vào thế giới không làm thế giới hết bạo lực ngay trong đêm. Có những người vô tội chết vì một Hài Nhi mà họ không biết. Mẹ của Hài Nhi ấy sẽ đứng, ba mươi năm sau, trước một thứ bạo lực khác, không còn chạy được. Ai muốn một Maria chỉ có vui thì phải xóa cả Hê-rô-đê lẫn thập giá. Tin Mừng không xóa.
Chương 6. Vô nhiễm nguyên tội
Từ muôn thuở và một cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đã chọn Đức Maria làm Mẹ của Con mình. Để chu toàn sứ mạng này, Mẹ đã được ơn vô nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Điều này có nghĩa là, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và nhờ đón nhận trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai. Bản toát yếu Giáo lý Hội thánh Công giáo nói như vậy, và nói rất chặt. Mỗi vế đều cần.
Từ muôn thuở: việc tuyển chọn không phải một quyết định phút chót khi thiên thần đã lên đường. Hoàn toàn nhưng không: Mẹ không đáng được chọn vì một công lênh có trước ân sủng. Nhờ ân sủng và nhờ đón nhận trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô: đặc ân không đứng ngoài thập giá. Maria được cứu bởi Con của Mẹ, theo một cách thế cao cả hơn, là được gìn giữ khỏi vết tội chứ không phải được kéo lên sau khi đã sa. Ngay từ lúc được thụ thai: ơn ấy không phải một ơn thanh tẩy nhận sau khi chào đời, mà là một ơn giữ gìn từ giây phút đầu sự hiện hữu.
Đức Piô IX định tín điều này ngày 8 tháng 12 năm 1854, trong tông sắc Ineffabilis Deus. Ngày ấy không phải ngày Hội thánh bắt đầu tin. Các thế kỷ trước đã tranh luận lâu, và cuộc tranh luận ấy là dấu của sự nghiêm túc, không phải dấu của sự bịa. Vấn nạn chính, từ thời thánh Bênađô và sau đó nơi các thầy học thức lớn, là làm sao giữ được tính phổ quát của ơn cứu độ Đức Kitô nếu có một người không cần được cứu theo cách thông thường. Câu trả lời chín muồi không phải là rút đặc ân, mà là hiểu đặc ân như hoa trái vượt trước của chính ơn cứu độ ấy. Maria được cứu cách cao trọng hơn, không được miễn cứu.
Không phải một ngoại lệ phá luật, mà là chóp của luật ân sủng
Tội nguyên tổ, trong đức tin Công giáo, không phải một vết nhơ sinh học truyền bằng huyết thống theo kiểu một bệnh di truyền. Đó là tình trạng loài người sinh vào một lịch sử đã mất sự hiệp thông nguyên thủy, thiếu ân sủng thánh hóa mà đáng lẽ phải có. Maria, là người thật, thuộc loài người thật, đáng lẽ đứng trong tình trạng ấy. Đặc ân vô nhiễm nói rằng trong trường hợp duy nhất này, vì sứ mạng duy nhất, Thiên Chúa đã không để tình trạng ấy chạm tới Mẹ. Mẹ được tạo thành trong ân sủng. Mẹ là, như Lumen Gentium nói, một tạo vật mới, được chính Chúa Thánh Thần nhào nắn.
Cần tránh hai cách hiểu làm hỏng tín điều. Cách thứ nhất biến vô nhiễm thành một lời khen đạo đức, gần với ý nói Mẹ rất tốt, rất trong sạch, rất dễ thương. Tín điều nói một điều chính xác hơn: Mẹ được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ. Cách thứ hai biến vô nhiễm thành một hàng rào khiến Mẹ không còn chia sẻ thân phận loài người. Mẹ vẫn là thụ tạo. Mẹ vẫn có thể đau, vẫn có thể không hiểu hết, vẫn có thể bị lưỡi gươm đâm thâu. Vô nhiễm không phải vô cảm. Vô nhiễm là tự do không bị tội lệch hướng từ gốc, để lời xin vâng được thưa từ một tự do nguyên vẹn.
Hệ quả thì lớn cho cách ta hiểu ân sủng. Ân sủng không phải phần thưởng trao sau khi người ta đã cố đủ. Ân sủng đi trước. Nơi Maria, sự đi trước ấy được nhìn thấy rõ đến mức không còn chỗ cho công lênh mở đường. Nơi mọi người đã chịu phép rửa, sự đi trước ấy cũng là thật, dù cách khác: không ai tự kéo mình ra khỏi tội nguyên tổ. Người ta được kéo. Mẹ được giữ. Cả hai đều là công trình của cùng một Đấng Cứu Chuộc.
Đầy ơn phúc
Lời thiên thần, Đấng đầy ơn phúc, là cửa Kinh Thánh mà Hội thánh đi vào tín điều. Một người được chào bằng chính hồng ân, ngay trước khi thụ thai Con, thì hồng ân ấy không thể chỉ bắt đầu ở câu chào. Các giáo phụ Đông phương, khi ca ngợi sự toàn thánh của Mẹ, đã đi trên đường này từ rất sớm, dù chưa dùng công thức Latinh của thế kỷ mười chín. Phụng vụ, với lễ Sinh nhật Đức Mẹ và rồi lễ Vô nhiễm, đã cầu trước khi định tín được viết. Đó là một trật tự quen thuộc của Hội thánh: luật cầu nguyện giữ điều mà luật tin sẽ nói rõ.
Lumen Gentium nối vô nhiễm với cả đời Mẹ. Mẹ không vương nhiễm vết nhơ tội lỗi, như được chính Chúa Thánh Thần nhào nặn, và được tác thành như một tạo vật mới. Câu ấy vượt khỏi giây phút thụ thai. Nó nói về một cuộc đời không bị tội làm hư. Hội thánh không dạy rằng Mẹ không cần lớn lên. Luca nói chính Hài Nhi càng lớn càng thêm khôn ngoan, tuổi tác và ân nghĩa. Mẹ cũng đi một hành trình đức tin, từ Na-da-rét tới Can-vê. Sự khác là hành trình ấy không bị tội riêng cắt ngang, không có những lần quay lưng phải được tha rồi mới đi tiếp. Mẹ lớn trong ân sủng, không lớn bằng cách ra khỏi tội.
Chương 7. Thánh thiện vẹn toàn
Đức Maria là Đấng thánh thiện vẹn toàn theo nghĩa Mẹ chưa bao giờ bị tội lỗi làm hư hoại trong suốt cuộc đời mình. Mẹ là Đấng đầy ơn phúc. Công thức ấy cần được giữ cho khỏi hai phía hiểu sai. Không phải Mẹ thánh vì Mẹ là mẹ của Chúa, theo kiểu chức vụ tự nó làm nên sự thánh. Cũng không phải Mẹ được chọn làm mẹ vì đã tự mình đạt một mức thánh thiện khiến Thiên Chúa phải chọn. Thứ tự của ân sủng đảo cả hai câu ấy. Mẹ được chọn. Mẹ được giữ. Mẹ được đầy ơn. Và từ nền ấy, Mẹ đáp, suốt đời, không để một tội riêng phá sự đáp.
Sự thánh thiện này có nội dung cụ thể trong các Tin Mừng, không phải một hào quang vẽ thêm. Mẹ tin lời thiên thần. Mẹ lên đường phục vụ. Mẹ ghi nhớ và suy niệm. Mẹ dâng Con trong đền thờ và nghe lời về lưỡi gươm mà không bỏ cuộc. Mẹ trách Con sau ba ngày lạc với một câu của mẹ thật, sao con lại xử với cha mẹ như vậy, rồi vẫn đi về cùng các ngài và hằng vâng phục. Mẹ ở Ca-na thấy nhu cầu của một nhà đang hết rượu, nói với Con, rồi nói với gia nhân hãy làm theo lời Người. Mẹ đứng gần thập giá. Mẹ ở với Hội thánh đang cầu nguyện. Không cảnh nào là cảnh của một người bị động hoàn toàn. Cũng không cảnh nào là cảnh của một người giành vai của Con.
Lưỡi gươm và sự không hiểu hết
Luca hai lần nói Maria và Giuse không hiểu điều Con vừa nói. Một lần sau biến cố đền thờ, khi cậu bé mười hai tuổi đáp rằng mình phải ở nhà của Cha. Sự không hiểu ấy rất quan trọng cho một nền tu đức về Maria. Vô nhiễm và đầy ơn không có nghĩa là nhìn thấy trước mọi ý nghĩa. Đức tin của Mẹ là đức tin đi trong tối một phần, giữ các lời, suy đi nghĩ lại, và không bỏ tương quan khi chưa hiểu. Đó là tin mẫu cho Hội thánh. Hội thánh cũng thường không hiểu hết điều Chúa đang làm trong một giai đoạn lịch sử, và được mời làm như Mẹ: giữ Lời, ở lại, suy niệm, chứ không bịa cho hết khoảng tối.
Si-mê-ôn nói lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà. Các giáo phụ đọc lưỡi gươm ấy như nỗi đau dưới chân thập giá, và cũng như sự phân định đau đớn khi dân mình chia rẽ vì dấu hiệu bị chống báng. Mẹ không đứng ngoài cuộc chia rẽ ấy. Mẹ đứng trong cuộc, về phía Con, và sự đứng ấy đau. Thánh thiện không phải được che khỏi đau của lịch sử. Thánh thiện là không để đau đổi thành oán, cũng không để đau đổi thành việc bỏ Con để được yên với đám đông.
Mẫu gương các nhân đức đối thần
Lumen Gentium nói trên đường nên thánh, những ai tin vào Chúa Kitô cảm thấy được khích lệ bởi Mẹ, Đấng là mẫu gương các nhân đức. Sự thánh thiện Kitô giáo được thực hành trong đức tin, đức cậy và đức mến. Trong cả ba, Mẹ là mẫu tuyệt hảo, không phải vì các nhân đức ấy nơi Mẹ khác bản chất với các nhân đức nơi người đã chịu phép rửa, mà vì nơi Mẹ chúng không bị tội làm đứt quãng.
Về đức tin: gương của Mẹ khích lệ Dân Thiên Chúa thực hành đức tin, đào sâu và phát triển nội dung đức tin, giữ gìn và suy niệm trong lòng các biến cố cứu độ. Đức tin của Maria không phải đức tin tối thiểu, vừa đủ để được nhận một vai. Đó là đức tin Ê-li-sa-bét đã gọi là phúc. Đó cũng là đức tin phải lớn lên qua những lời không hiểu, qua việc lạc mất Con, qua việc bị Con hỏi tại tiệc cưới khi giờ chưa đến, qua việc đứng dưới thập giá khi mọi lời hứa về ngai Đa-vít có vẻ đã gãy.
Về đức cậy: khi nghe sứ điệp của thiên thần, Đức Trinh Nữ là người đầu tiên hướng niềm hy vọng về Vương quốc vô cùng vô tận mà Chúa Kitô được sai đến để thiết lập. Hy vọng ấy không phải lạc quan của người thấy mọi sự đang thuận. Hy vọng ấy bám vào lời, giữa máng cỏ, giữa đường trốn, giữa một ngôi mộ. Mẹ hy vọng không phải vì cảnh trước mắt xác nhận lời, mà vì Đấng đã nói lời ấy là Đấng thành tín.
Về đức mến: nhờ đức ái rạng ngời của Đức Maria, có thể gìn giữ sự hòa hợp và tình huynh đệ trong Hội thánh qua mọi thời đại. Câu của Công đồng này rất mục vụ. Mẹ không chỉ là gương cá nhân của lòng mến Chúa. Mẹ là sức của sự hiệp thông. Một Hội thánh đang rạn, khi nhìn lên người nữ đã nhận môn đệ làm con ngay lúc Con mình chết, học lại rằng đức ái không chờ cho hoàn cảnh dễ. Đức ái nhận người được trao, kể cả khi người được trao không phải người mình đã chọn.
Chương 8. Trọn đời đồng trinh
Đức tin Kitô giáo khẳng định sự đồng trinh thực sự và vĩnh viễn của Đức Maria, cả trong việc sinh hạ Người Con duy nhất là Chúa Giêsu. Mẹ vẫn còn đồng trinh khi thụ thai Con mình, đồng trinh khi sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng trinh khi cho Người bú mớm, là người mẹ đồng trinh, vĩnh viễn đồng trinh. Đức Maria là trinh nữ trong thân xác và là trinh nữ trong tâm hồn: trong suốt cuộc đời, Mẹ đã luôn luôn và hoàn toàn phó thác mình cho thánh ý Thiên Chúa. Mẹ luôn là nữ tỳ của Chúa. Sự đồng trinh của Đức Maria cũng cho thấy sáng kiến tuyệt đối và nhưng không của Thiên Chúa trong các hành động của Người. Sau khi Chúa Giêsu sinh ra, Đức Maria đã không có người con nào khác, vẫn trọn đời đồng trinh trước, trong và sau khi sinh hạ.
Đồng trinh trong tâm hồn không phải phần thay thế, phòng khi có người khó nhận đồng trinh trong thân xác. Hội thánh khẳng định cả hai. Nhưng đồng trinh trong tâm hồn cho thấy ý nghĩa của đồng trinh thân xác, kẻo dấu chỉ bị hiểu như một kỳ tích không lời. Trọn đời phó thác, trọn đời là nữ tỳ: đó là nội dung. Thân xác Mẹ nói điều lòng Mẹ sống. Và lòng Mẹ sống điều thân xác đã được thánh hiến để nói. Nơi các trinh nữ Kitô giáo về sau, sự đồng trinh cũng mang cấu trúc ấy, dù không lặp lại mầu nhiệm sinh hạ Ngôi Lời. Nơi những người sống bậc hôn nhân, sự phó thác trọn vẫn là cùng một linh đạo, được diễn trong một thân xác đã được trao cho nhau. Mẹ không hạ bậc nào. Mẹ cho cả hai bậc một chóp để nhìn.
Anh chị em của Chúa Giêsu
Tại sao Kinh Thánh nói đến anh chị em của Chúa Giêsu? Câu hỏi này trở đi trở lại mỗi thế hệ, và cần được trả lời không bằng cách né bản văn. Mác, Mát-thêu, Gioan và sách Công vụ có những chỗ nói tới anh em Người, và có lần nêu tên. Trong Cựu Ước cũng như giữa những người đương thời với Chúa Giêsu, người ta thường gọi cả những người bà con gần là anh chị em. Tiếng Híp-ri và tiếng A-ram không luôn có một từ riêng, được dùng nhất quán, để phân biệt em ruột với anh em họ trong cách nói hàng ngày. Ngoài ra, ngay trong thời đại chúng ta, các linh mục cũng gọi giáo dân là anh chị em, để biểu thị mối dây liên kết đặc biệt hiệp nhất mọi người trong Chúa Giêsu Kitô. Cách nói ấy không làm các linh mục thành anh em ruột của cả giáo xứ. Nó cho thấy từ ấy có một biên độ.
Có những chỉ dẫn nội tại của Tân Ước khiến Hội thánh không đọc các chỗ ấy như bằng chứng Maria có những người con khác. Tại Na-da-rét, người ta gọi Giêsu là con bà Maria, một cách nói hợp với người con riêng được biết của một bà mẹ, hơn là với người con cả trong một đàn. Dưới chân thập giá, Chúa Giêsu trao Mẹ cho môn đệ yêu dấu. Nếu Mẹ có những người con khác đang sống, việc trao ấy, trong thế giới Do Thái, sẽ là việc lạ đến mức cần một lời giải thích mà Gioan không đưa. Các anh em Người, trong một số trình thuật, xuất hiện cùng với Mẹ nhưng không được gọi là con của Mẹ. Hội thánh từ các thế kỷ đầu, cả khi chưa có công đồng Latêranô, đã hiểu sự đồng trinh trọn đời như điều mình nhận từ các tông đồ, không phải như một ý mới của đời tu về sau.
Nói vậy không phải để thắng một cuộc cãi bằng tiểu tiết. Điều được bảo vệ là tính duy nhất của việc sinh hạ. Maria là mẹ của một người Con, và người Con ấy là Con Một theo cả hai phía: Con Một của Chúa Cha, người con duy nhất của mẹ. Sự duy nhất ấy thuộc về dấu chỉ. Muôn vàn người con khác của Mẹ, Hội thánh tin, là những người con trong trật tự ân sủng, được sinh ra không phải bằng một cuộc sinh thứ hai của thân xác Mẹ, mà bằng việc Mẹ cộng tác vào sự sinh hạ thiêng liêng của những kẻ tin.
Đồng trinh và sáng kiến của Thiên Chúa
Sự đồng trinh của Maria cũng cho thấy sáng kiến tuyệt đối và nhưng không của Thiên Chúa. Ơn cứu độ không phải sản phẩm của tính toán loài người, không phải kết quả của một hôn nhân khéo, không phải đỉnh của một dòng dõi đã sắp đặt. Thiên Chúa chọn cách vào đời không do máu huyết, không do ý muốn xác thịt, không do ý muốn của người nam, như lời mở của Gioan. Maria là chỗ câu ấy thành xác thịt. Các Kitô hữu, được sinh ra không do ý muốn của người nam mà do Thiên Chúa, nhìn nơi việc thụ thai của Chúa mình hình dạng của chính việc mình được tái sinh. Phép rửa không phải một cử chỉ đẹp của gia đình. Phép rửa là một cuộc sinh mà sáng kiến thuộc về Thiên Chúa. Đồng trinh của Mẹ dạy điều ấy bằng chính thân xác.
Chương 9. Mẹ và Con trong một công trình
Trong suốt cuộc đời trần thế, Đức Maria luôn duy trì mối tương quan đặc biệt với Con của Mẹ là Chúa Giêsu. Cuộc đời trần thế của Mẹ Thiên Chúa thực sự được đánh dấu bởi sự hòa hợp hoàn hảo với nhân tính của Chúa Con và bởi sự tận hiến trọn vẹn cho công trình cứu chuộc của Người. Khi đón nhận ý muốn cứu độ của Thiên Chúa với trọn cả tấm lòng và không bị tội lỗi nào ngăn trở, Mẹ đã muốn nên như người nữ tỳ của Chúa để hoàn toàn hiến mình cho ngôi vị và công trình của Con mình, đồng thời nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng. Lumen Gentium viết như vậy, và hai chữ không bị tội lỗi nào ngăn trở cần được nghe như hệ quả của vô nhiễm, không phải như một lời khen chung.
Sự liên kết giữa người Mẹ và người Con trong công trình cứu độ được tỏ rõ từ khi Đức Kitô được thụ thai cách trinh khiết cho đến lúc chết. Giới hạn từ thụ thai đến lúc chết không có nghĩa sau cái chết thì liên kết hết. Giới hạn ấy nói về cuộc đời trần thế, nơi sự liên kết phải đi qua những hình thức rất người: thai nghén, sinh nở, nuôi dưỡng, lạc mất, bị từ chối một lời xin, đứng dưới án tử. Sau phục sinh, liên kết ấy đổi dạng, không đứt. Nhưng Công đồng cố ý neo sự cộng tác của Mẹ vào lịch sử có máu và có nước, chứ không vào một vinh quang được tưởng tượng sớm.
Lời có vẻ xúc phạm, và lời ca ngợi lớn nhất
Mẹ là môn đệ trung thành của Chúa Kitô. Ngay cả câu trả lời của Chúa Kitô, ai là mẹ tôi, mẹ tôi chính là người thi hành ý muốn của Cha tôi, thoạt nghe có vẻ hơi xúc phạm đến Mẹ Người, nhưng thực ra lại bày tỏ lời ca ngợi lớn lao nhất dành cho Đức Maria. Sự cao cả đích thực của Mẹ nằm ở chỗ Đức Maria, trước và hơn bất cứ thụ tạo nào khác, đã thực thi thánh ý của Chúa Cha.
Cảnh ấy, trong Mác và Mát-thêu, rất sắc. Mẹ và anh em Người đứng ngoài, sai người vào gọi. Chúa Giêsu nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì người ấy là anh em, là chị em, là mẹ. Người không phủ nhận huyết thống. Người đặt huyết thống vào đúng chỗ, dưới thánh ý. Và vì Maria là người đã thi hành thánh ý trước mọi người, câu ấy rơi đúng trên Mẹ như một lời nhận, không như một lời loại. Các giáo phụ đã đọc theo hướng này. Một nền tu đức về Maria mà chỉ dựa vào tình mẹ ruột, không dựa vào đức tin vâng phục, sẽ không chịu nổi chính câu của Chúa Giêsu. Một nền tu đức đặt đức tin vâng phục lên trên, thì gặp trong câu ấy đỉnh của sự ca ngợi.
Điều này cũng giải thích tại sao tôn kính Maria không cạnh tranh với việc nghe Lời. Mẹ được tôn vì Mẹ đã nghe. Mỗi lần Hội thánh đọc câu ấy trong Phụng vụ, Hội thánh được nhắc rằng mình trở thành thân nhân của Chúa bằng cùng một cửa mà Mẹ đã đi: thi hành ý Cha. Cửa huyết thống chỉ một người đi được. Cửa ý Cha mở cho mọi kẻ ngồi chung quanh Người, và Mẹ là người đã ngồi ở cửa ấy từ câu xin vâng.
Ca-na, giờ chưa đến
Tại Ca-na, Mẹ thấy nhà hết rượu và nói với Con: họ hết rượu rồi. Câu đáp của Chúa Giêsu, thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con, giờ của con chưa đến, là một trong những câu khó nhất của Tin Mừng khi người ta muốn một hình ảnh mẹ con êm dịu. Gioan không sửa cho êm. Ông để câu ấy đứng, rồi kể tiếp: Mẹ nói với gia nhân, người bảo gì thì hãy làm theo. Và nước hóa thành rượu, dấu chỉ đầu tiên, khiến các môn đệ tin.
Hai chuyển động cần được giữ cùng nhau. Chuyển động thứ nhất: Chúa Giêsu không để ngay cả mẹ mình định giờ của Người. Giờ, trong Gioan, là giờ thập giá và tôn vinh. Mẹ không sắp đặt giờ ấy. Chuyển động thứ hai: Mẹ không bị câu đáp làm tổn thương đến mức rút lui. Mẹ quay sang gia nhân và hướng họ về Lời của Con. Đó là chân dung của sự chuyển cầu đúng. Chuyển cầu không phải ra lệnh cho Chúa. Chuyển cầu là trình nhu cầu, nhận lấy sự tự do của Chúa, và chuẩn bị lòng người để khi Người nói thì họ làm theo. Mọi kinh nguyện dâng qua Maria, nếu trung thành với Ca-na, đều có hình dạng ấy. Trình bày. Không ép giờ. Đưa người ta về với lệnh của Con.
Dưới chân thập giá
Gioan viết: đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Maria Mác-đa-la. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Chúa Giêsu nói với mẹ: Thưa Bà, đây là con của Bà. Rồi nói với môn đệ: Đây là mẹ của anh. Từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.
Lumen Gentium đọc biến cố này như việc Chúa Giêsu ban Đức Maria làm Mẹ, trong sự tiền dự, cho tất cả những ai sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ. Câu ấy không phải một lời trối xã giao để Mẹ có chỗ nương. Trong kết cấu của Gioan, giờ đã đến, mọi sự đã hoàn tất sắp được nói, và giữa giờ ấy Chúa Giêsu thiết lập một tương quan mới giữa người mẹ và người môn đệ. Môn đệ đại diện cho những kẻ tin. Nhà của môn đệ trở thành chỗ Mẹ ở. Hội thánh, từ đó, không còn hình dung được mình mà không có Mẹ ở giữa, không phải như người chiếm ngôi của Con, mà như người được Con trao.
Sự cộng tác vào hy lễ nằm ở đây, trong im lặng nhiều hơn trong lời. Mẹ không giảng dưới chân thập giá. Mẹ đứng. Đứng, trong một cuộc hành hình, là không bỏ đi khi mọi lý lẽ bảo nên bỏ đi cho đỡ đau. Lumen Gentium nói Mẹ đã cộng tác cách hoàn toàn riêng biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế bằng việc kết hợp với hy lễ của Con, cùng đau khổ với Người khi Người chịu chết. Sự cùng đau khổ ấy không phải một thập giá thứ hai, như thể loài người cần hai đấng cứu chuộc. Đó là sự thông phần độc nhất của người mẹ vào hy lễ duy nhất của người Con. Độc nhất vì chỉ có một người là mẹ. Phụ thuộc vì sức cứu độ không phát sinh từ nỗi đau của Mẹ như từ một nguồn riêng, mà từ việc nỗi đau ấy kết hợp với đau của Đấng Cứu Chuộc.
Chương 10. Bốn tín điều, bốn ánh sáng
Các tín điều về Đức Maria là: thiên chức làm mẹ Thiên Chúa, tước hiệu Mẹ Thiên Chúa, Theotokos, được tuyên tín tại Công đồng Ê-phê-xô năm 431; Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, Đức Piô IX định tín trong tông sắc Ineffabilis Deus ngày 8 tháng 12 năm 1854; Đức Mẹ đồng trinh trọn đời, Công đồng Latêranô năm 649; Đức Mẹ hồn xác lên trời, Đức Piô XII định tín trong tông hiến Munificentissimus Deus ngày 1 tháng 11 năm 1950.
Các tín điều này, dù được công bố sau này trong lịch sử Hội thánh, đều đã được chứa đựng trong Mạc khải thần linh và đã được Hội thánh tin nhận từ thuở khởi đầu. Điều này giúp xác định đức tin ấy một cách chính xác, trọng thể và dứt khoát hơn. Huấn quyền Hội thánh thực thi trọn vẹn quyền bính nhận từ Đức Kitô khi ấn định các tín điều, tức là khi công bố, dưới hình thức buộc dân Kitô giáo phải tin, những chân lý được chứa đựng trong mặc khải của Thiên Chúa, hoặc cả khi công bố một cách dứt khoát những chân lý có liên hệ tất yếu với các chân lý đó. Tín điều là những ánh sáng trên con đường đức tin của chúng ta, soi sáng và làm cho con đường đức tin ấy được an toàn. Ngược lại, nếu chúng ta sống ngay thẳng, trí tuệ và tâm hồn chúng ta sẽ mở rộng đón nhận ánh sáng các tín điều.
Bốn ánh sáng ấy không chiếu bốn hướng khác nhau. Cả bốn chiếu về Đức Kitô, rồi từ Đức Kitô chiếu về vận mệnh của loài người. Theotokos bảo vệ ngôi vị duy nhất của Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người. Đồng trinh trọn đời bảo vệ sáng kiến của Thiên Chúa trong việc vào đời và tính duy nhất của việc sinh hạ. Vô nhiễm bảo vệ tính nhưng không của ân sủng và quyền năng của công nghiệp Đức Kitô ngay từ gốc một đời người. Hồn xác lên trời bảo vệ rằng ân sủng không bỏ thân xác lại, và rằng phục sinh của Chúa Kitô đã bắt đầu thông cho một thụ tạo cách trọn vẹn. Bỏ một ánh sáng, các ánh sáng kia bị hiểu lệch. Giữ cả bốn, khuôn mặt Mẹ hiện ra không phải như một bộ sưu tập đặc ân, mà như một cuộc đời duy nhất được ân sủng chiếm hữu từ gốc tới cùng đích.
Vì sao phải định tín
Người ta đôi khi hỏi, nếu các thế kỷ đầu đã tin, việc định tín về sau có phải là thêm gánh cho đức tin đơn sơ không. Lịch sử các công đồng cho một câu trả lời khác. Hội thánh nói dứt khoát khi một cách nói đang làm mầu nhiệm bị hiểu sai, và khi im lặng sẽ để cách nói ấy thành thói quen. Nét-tô-ri-ô, dù ý ông phức tạp hơn khẩu hiệu người ta gán, đã tạo ra một hoàn cảnh trong đó gọi Maria là Mẹ Thiên Chúa bị coi là nguy hiểm. Nếu Hội thánh im, các tín hữu sẽ dần nói về một Đức Kitô bị tách, Thiên Chúa ở một phía, người được Maria sinh ở phía kia. Ê-phê-xô không mê tước hiệu. Ê-phê-xô bảo vệ sự hiệp nhất của ngôi vị.
Với vô nhiễm và hồn xác lên trời, hoàn cảnh khác: không phải một lạc giáo đang thắng, mà là một đức tin đã được cử hành cần được nói ở mức độ của một định tín, để lòng sùng mộ không trôi thành tùy thích, và để các phản bác không còn đứng như những khả năng còn mở. Định tín đóng một cánh cửa. Cánh cửa đóng không phải để nhốt trí tuệ. Cánh cửa đóng để đường đức tin không bị một ngã rẽ làm lạc. Giáo lý nói đúng: tín điều soi và làm đường được an toàn. Người sống ngay thẳng sẽ thấy ánh sáng ấy không phải gánh, mà là chỗ tựa.
Chương 11. Mẹ Thiên Chúa theo nghĩa nào
Hội thánh tuyên bố Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì Chúa Giêsu, là Người Con đích thực của Mẹ theo huyết nhục, chính là Người Con được Chúa Cha hằng hữu sinh ra trong bản tính thần linh, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi cực thánh, chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô, theo bản tính Thiên Chúa, là Con tự nhiên của Chúa Cha; theo bản tính nhân loại, là con tự nhiên của mẹ Người; nhưng đúng nghĩa là Con của Chúa Cha trong cả hai bản tính. Công đồng Friuli, năm 796, nói như vậy, và câu ấy là chìa khóa để khỏi hiểu Theotokos theo kiểu thần thoại.
Maria không sinh ra thần tính. Thần tính không có khởi đầu, không có mẹ. Maria sinh ra một ngôi vị, và ngôi vị ấy là Ngôi Hai, Đấng đã nhận nhân tính từ Mẹ. Vì ngôi vị được sinh ra theo nhân tính chính là Thiên Chúa Ngôi Con, Mẹ của ngôi vị ấy được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Cách nói ấy song song với cách nói thông thường: một người mẹ không sinh ra linh hồn của con theo kiểu tạo dựng linh hồn, nhưng người ta vẫn nói bà là mẹ của người con, chứ không nói bà chỉ là mẹ của thân xác đứa bé. Ngôi vị là đối tượng của việc sinh thành. Nơi Chúa Giêsu, ngôi vị ấy là ngôi vị thần linh đã đảm nhận nhân tính.
Nếu từ chối tước hiệu, người ta tưởng mình thận trọng, nhưng thực ra đang tách Đức Kitô. Hoặc người được Maria sinh không phải là chính Ngôi Lời, và khi đó ơn cứu độ không chạm tới loài người tận gốc, vì Đấng chết trên thập giá không phải là Thiên Chúa. Hoặc Ngôi Lời không thật sự sinh bởi Maria, và khi đó nhân tính chỉ là vẻ ngoài, thập giá là một vở kịch. Cả hai cửa ấy, Hội thánh đã đóng từ các thế kỷ đầu, và Ê-phê-xô đóng lại một lần nữa bằng một danh xưng dành cho người mẹ. Lịch sử giáo lý có những lúc một tước hiệu về Maria là cách duy nhất để cứu một chân lý về Chúa Kitô. Đây là lúc ấy.
Theotokos trong phụng vụ và trong đời
Từ Công đồng Ê-phê-xô, lòng tôn kính Mẹ gia tăng cách lạ lùng, không phải vì dân chúng thắng một cuộc cãi, mà vì danh xưng trả lại cho họ điều họ đã cầu. Các tín hữu đã gọi Mẹ là người sinh Thiên Chúa từ trước công đồng. Khi giám mục thành phố của công đồng đi ra, dân chúng reo vì điều mình tin được Hội thánh nhận. Phụng vụ sau đó sẽ hát danh xưng ấy không như một chiến lợi phẩm, mà như một lời cầu. Mỗi lần kinh Kính Mừng nói Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con, người đọc kinh đang đứng trong quyết định của Ê-phê-xô, dù không nhớ năm.
Danh xưng cũng giữ một sự khiêm nhường lạ. Mẹ Thiên Chúa vẫn là nữ tỳ. Không có tước hiệu nào cao hơn, và không có tước hiệu nào, trong miệng Mẹ, lại trở thành một lời tự xưng. Mẹ không bao giờ, trong Kinh Thánh, gọi mình là Mẹ Thiên Chúa. Mẹ gọi mình là nữ tỳ. Hội thánh gọi Mẹ bằng tước hiệu. Sự phân công ấy đáng giữ trong lòng sùng mộ: ta xưng hô cho đúng mầu nhiệm, và ta học nơi Mẹ cách không chiếm mầu nhiệm làm vinh của mình.
Chương 12. Hồn xác lên trời
Việc Đức Mẹ hồn xác lên trời có nghĩa là sự nên đồng hình đồng dạng trọn vẹn với Người Con đã chiến thắng sự chết; một sự thông phần đặc biệt của Đức Maria vào sự Phục Sinh của Người Con; một sự tiên báo và biểu tượng độc nhất cho sự sống lại của chúng ta sẽ diễn ra vào ngày cánh chung. Mẹ cho chúng ta thấy ý nghĩa và cùng đích của thân xác được thánh hóa nhờ ân sủng. Trong thân xác vinh hiển của Đức Maria, chính thụ tạo vật chất đã bắt đầu mang trong mình điều gì đó thuộc về thân xác phục sinh của Chúa Kitô.
Đức Piô XII định tín điều này ngày 1 tháng 11 năm 1950. Tông hiến Munificentissimus Deus không kể một biên bản về giờ phút cuối đời Mẹ. Kinh Thánh không mô tả cái chết của Maria, cũng không mô tả việc lên trời. Hội thánh không bịa một trình thuật để lấp chỗ trống. Hội thánh đọc vận mệnh của Mẹ từ vận mệnh của Con, từ sự thánh thiện vẹn toàn, từ việc Mẹ đã được ân sủng chiếm hữu toàn thể, và từ đức tin đã được cử hành từ nhiều thế kỷ trong lễ An giấc, Dormitio, rồi lễ Hồn xác lên trời. Định tín nói điều phụng vụ đã cầu: Mẹ không bị bỏ lại trong mục nát như thể sự hiệp nhất với Đấng Phục Sinh lại dừng trước thân xác của chính người mẹ.
Thân xác không phải phần bỏ được
Tín điều này là một lời về thân xác, không chỉ một lời về Maria. Thời nào cũng có cám dỗ coi phần xác là cái vỏ, phần hồn mới đáng cứu. Đức tin về phục sinh của Chúa Kitô đã đóng cửa ấy. Đức tin về hồn xác lên trời của Mẹ đóng thêm một lần, từ phía thụ tạo. Nếu người môn đệ gần Con nhất, người đã cưu mang thân xác của Con bằng chính thân xác mình, được đưa vào vinh quang cả hồn lẫn xác, thì thân xác loài người không phải chặng tạm bị bỏ ở cửa thiên đàng. Thân xác là phần của ngôi vị, và ngôi vị được cứu thì được cứu cả thân xác, theo cách và theo giờ Thiên Chúa muốn.
Nơi chúng ta, giờ ấy là ngày cánh chung, khi những kẻ chết nghe tiếng Con Người. Nơi Maria, vì tương quan độc nhất với Đấng đã chiến thắng sự chết, sự thông phần ấy được ban trước, như tiên báo và như biểu tượng. Tiên báo nghĩa là điều sẽ xảy ra cho Hội thánh thì đã xảy ra nơi một phần tử. Biểu tượng nghĩa là nhìn Mẹ, Hội thánh thấy chính mình trong điểm tới, không phải trong ước mơ, mà trong một người thật đã tới. Lumen Gentium sẽ nói Mẹ là hình ảnh cánh chung của Hội thánh: Mẹ đã là điều mà Hội thánh, đang lữ hành, một ngày kia sẽ trở thành.
Các truyền thống về việc Mẹ có qua cái chết hay không không bị định tín quyết hết. Điều được định tín là Mẹ, hết hành trình đời này, được đưa lên hưởng vinh quang thiên đàng cả hồn lẫn xác. Lòng đạo đức Đông và Tây kể việc Mẹ an giấc trong sự hiện diện của các tông đồ, và kể việc các tông đồ gặp ngôi mộ không còn thân xác. Những trình thuật ấy không phải nền của tín điều. Chúng là cách các thế hệ cố hình dung một im lặng của Kinh Thánh. Nền của tín điều là sự phù hợp với mầu nhiệm Đức Kitô và với đức tin đã được sống.
Một lời cho người đang khóc người chết
Tín điều này có một giọng mục vụ mà các sách tín lý đôi khi nói quá nhanh. Người Kitô hữu chôn xác người mình yêu, và tin xác ấy sẽ sống lại, nhưng chưa thấy một xác nào trong nghĩa trang đứng dậy. Maria là người môn đệ mà vận mệnh thân xác đã được tỏ, không phải để ta đỡ phải tin vào ngày cánh chung, mà để niềm tin ấy có một khuôn mặt. Khuôn mặt ấy là khuôn mặt một người mẹ. Khi cầu cho các linh hồn, khi đứng bên một quan tài, Hội thánh nhìn lên lễ tháng Tám không như một lễ của riêng Mẹ, mà như bảo chứng rằng thân xác được ân sủng chạm tới sẽ không bị mất. Lời cầu cho kẻ chết và lễ Hồn xác lên trời nói cùng một hướng, với hai mức khác nhau của thời gian.
Chương 13. Với Chúa Cha
Những kỳ công được thực hiện nơi Đức Maria là hoa trái của hành động vĩ đại và nhưng không của Chúa Cha. Trước hồng ân ân sủng và ơn cứu độ nhưng không của Thiên Chúa, Đức Maria đáp lại bằng sự gắn bó đức tin mau mắn và trọn vẹn. Phúc cho bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng bà sẽ được thực hiện. Câu của Ê-li-sa-bét là câu của tương quan giữa Mẹ và Chúa Cha: một bên là lời phán, một bên là sự tin rằng lời ấy thành sự.
Ngay từ thuở ban đầu, Đức Maria đã là dấu chỉ vĩ đại, với ánh mắt hiền mẫu và thương xót, về sự gần gũi của Chúa Cha và của Chúa Kitô, Đấng mà Mẹ mời gọi chúng ta hiệp thông. Văn kiện Puebla nói như vậy. Khi chọn Mẹ làm Mẹ của toàn thể nhân loại, Cha trên trời muốn mặc khải, có thể nói như vậy, chiều kích mẫu tử trong sự dịu dàng thần linh và sự chăm sóc của Người dành cho con người mọi thời đại.
Câu này cần một sự thận trọng. Thiên Chúa không có giới tính. Gọi Người là Cha là ngôn ngữ Người đã muốn, trong miệng Chúa Giêsu, không phải một sự thiếu vắng của người mẹ nơi Thiên Chúa theo kiểu loài người. Khi Puebla nói chiều kích mẫu tử trong sự dịu dàng thần linh, văn kiện không dựng một nữ thần cạnh Chúa Cha. Văn kiện nói rằng qua việc chọn một người mẹ và trao người mẹ ấy cho nhân loại, Chúa Cha cho thấy sự chăm sóc của Người có một khuôn mặt mà kinh nghiệm loài người gọi là hiền mẫu. Khuôn mặt ấy không thay thế danh Cha. Khuôn mặt ấy cho danh Cha khỏi bị hiểu như quyền lực trần trụi.
Mọi đặc ân nơi Maria đều quy về Cha như nguồn. Người chọn. Người sai Con. Người sai Thánh Thần. Người đoái nhìn phận hèn. Magnificat là lời ngợi khen Cha, không phải lời ngợi khen chính mình, dù Mẹ biết hết mọi đời sẽ khen mình diễm phúc. Mẹ biết điều ấy vì Mẹ biết Đấng Toàn Năng đã làm nơi mình những điều cao cả. Vinh của Mẹ là việc của Người. Một lòng sùng kính để Mẹ thành nguồn, và Chúa Cha thành nền xa, là lòng sùng kính đã quên bài ca của chính Mẹ.
Sự gần gũi của Chúa Cha, trong một thời nhiều người thấy Cha như vắng mặt, có nơi Maria một dấu chỉ không lời. Mẹ không giải thích sự dữ. Mẹ đã đứng trong sự dữ lớn nhất, là cái chết của người công chính, và không gọi Cha bằng một tên khác. Trên thập giá, Con kêu Cha. Dưới thập giá, Mẹ đứng. Cả hai sự hiện diện ấy, một kêu và một đứng, là cách gia đình của Thiên Chúa ở lại trong giờ Cha có vẻ im. Tôn kính Mẹ mà không bị đẩy về với Cha thì chưa tôn kính đúng người nữ của Magnificat.
Chương 14. Với Chúa Thánh Thần
Mầu nhiệm Đức Trinh Nữ Maria làm nổi bật hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng đã thực hiện việc thụ thai Hài Nhi trong cung lòng Mẹ và liên tục hướng dẫn đời sống Mẹ. Các tước hiệu Đấng An Ủi, Đấng Bào Chữa, Đấng Phù Trợ được lòng đạo đức của dân Kitô giáo dành cho Đức Maria không làm lu mờ mà còn tôn vinh hành động của Chúa Thánh Thần và giúp các tín hữu hưởng nhờ các ân huệ của Người.
Sự cộng tác của Đức Maria với Chúa Thánh Thần, được biểu lộ trong biến cố Truyền Tin và Thăm Viếng, thể hiện qua thái độ ngoan ngùy liên lỉ trước sự linh hứng của Đấng Bảo Trợ. Ngoan ngùy ở đây không phải thụ động của người không có ý riêng. Ngoan ngùy là sự mềm của một tự do đã được ân sủng chữa từ gốc, để mỗi lần Thánh Thần thúc thì không phải đánh nhau với một ý riêng đang chiếm ngôi. Nơi người đã chịu phép rửa, sự mềm ấy là việc phải xin mỗi ngày. Nơi Mẹ, sự mềm ấy là khí hậu của cả đời.
Là người phụ nữ cầu nguyện đích thực, Đức Trinh Nữ đã kêu cầu Chúa Thánh Thần hoàn thành công trình đã khởi sự trong việc thụ thai, để Hài Nhi được lớn lên trong khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng, trước mặt Thiên Chúa và người ta. Dưới khía cạnh này, Đức Maria được giới thiệu như mẫu gương cho các bậc cha mẹ, cho thấy sự cần thiết phải nhờ cậy Chúa Thánh Thần để tìm ra con đường đúng đắn trong nhiệm vụ giáo dục đầy khó khăn. Giáo dục, đọc theo Na-da-rét, không phải dự án của cha mẹ áp lên con. Giáo dục là ở lại với một mầu nhiệm đang lớn, mà chính mình không làm chủ hết, và cầu cho Đấng đã khởi sự thì hoàn thành.
Ngày Thánh Thần ngự xuống
Chắc chắn Mẹ đã hiện diện khi Chúa Thánh Thần được đổ tràn vào ngày lễ Ngũ Tuần. Thánh Thần, Đấng đã cư ngụ trong Đức Maria sau khi thực hiện những kỳ công ân sủng nơi Mẹ, nay lại ngự xuống trong tâm hồn Mẹ, thông ban các ân huệ và đặc sủng cần thiết cho việc thi hành thiên chức làm Mẹ thiêng liêng. Luca, trong câu mở của Công vụ, liệt kê những người đang tụ họp mà cầu nguyện, và ông nêu tên duy nhất một người nữ: bà Maria, thân mẫu Đức Giêsu, cùng với các anh em của Người. Sự nêu tên ấy, giữa một đám đông không tên, là cách Luca nói Mẹ thuộc về trung tâm của Hội thánh đang được khai sinh, không phải ở rìa lòng sùng mộ.
Ngày Ngũ Tuần không phải lần đầu Thánh Thần đến với Mẹ. Rợp bóng ngày Truyền Tin và đổ xuống ngày Ngũ Tuần là hai cách hiện diện của cùng một Đấng. Lần thứ nhất, Thánh Thần tác sinh Ngôi Lời trong xác phàm. Lần thứ hai, Thánh Thần tác sinh thân thể Hội thánh trong lời chứng. Maria có mặt cả hai lần, không phải vì Hội thánh cần một nghi thức cho đủ, mà vì người đã đón Con thì được mời đón luôn việc Con tiếp tục được sinh ra trong lòng những kẻ tin. Hình ảnh ấy sẽ thành lời của Lumen Gentium: Hội thánh, khi sinh con cái bằng rao giảng và phép rửa, nhìn lên người mẹ đã sinh Đức Kitô bởi phép Thánh Thần.
Ngay cả bây giờ, trong đời sống Hội thánh, Mẹ được cũng chính Thánh Thần ấy mời gọi cộng tác cách hiền mẫu với Người. Người liên tục đánh thức trong ký ức Hội thánh những lời Chúa Giêsu nói với môn đệ yêu dấu: Đây là mẹ con, và Người mời gọi các tín hữu yêu mến Đức Maria như Chúa Kitô đã yêu mến Mẹ. Mỗi khi mối liên kết với Đức Maria được thâm sâu hơn, Chúa Thánh Thần càng hoạt động phong phú hơn cho đời sống Hội thánh. Câu này đảo một sợ hay gặp: sợ kính Mẹ thì hết chỗ cho Thánh Thần. Kinh nghiệm của Hội thánh đi hướng khác. Nơi nào Mẹ được nhận như người mẹ Con đã trao, nơi ấy ký ức về lời Chúa Giêsu sống lại, và ký ức ấy chính là việc của Thánh Thần, Đấng làm cho Hội thánh nhớ những gì Chúa đã nói.
Chương 15. Thuộc về Hội thánh, là Mẹ và là mẫu gương
Đức Maria rất thánh là một thành viên của Hội thánh, là Mẹ của Hội thánh, là mẫu gương của Hội thánh, là Đấng chuyển cầu cho Hội thánh. Bốn tước vị ấy phải đứng cùng nhau. Nếu chỉ là thành viên, người ta sẽ không hiểu Can-vê. Nếu chỉ là mẹ theo một nghĩa lỏng, người ta sẽ quên Mẹ cũng là người được cứu. Nếu chỉ là mẫu gương, người ta sẽ biến Mẹ thành tấm bảng đạo đức, không còn là người đang chuyển cầu. Nếu chỉ là đấng chuyển cầu, người ta sẽ quên Mẹ đã đi con đường mà Hội thánh đang đi, và đã tới nơi Hội thánh chưa tới.
Mẹ thuộc về Giáo hội như người chị của chúng ta, phần tử siêu việt của Giáo hội. Mẹ là người đầu tiên được cứu chuộc, được Chúa Kitô cứu theo cách thức cao cả nhất trong đặc ân Vô nhiễm nguyên tội, và được đổi mới hoàn toàn, tràn đầy ân sủng của Chúa Thánh Thần. Gọi Mẹ là chị không hạ tước hiệu mẹ. Gọi như vậy để giữ Mẹ trong loài thụ tạo được cứu, kẻo lòng sùng mộ kéo Mẹ sang phía bên kia của khác biệt vô cùng giữa Tạo Hóa và thụ tạo. Mẹ ở phía chúng ta. Sự ở ấy là tin mừng. Nếu Mẹ ở phía Thiên Chúa theo kiểu một nữ thần, thì Mẹ không còn là dấu chỉ rằng ân sủng có thể chiếm hữu một đời người đến tận cùng. Vì Mẹ ở phía chúng ta mà đã được đưa tới cùng, niềm hy vọng của Hội thánh có một chứng từ trong chính hàng ngũ mình.
Tại sao là Mẹ của Hội thánh
Bởi vì Mẹ đã sinh hạ Người Con, Đấng được Thiên Chúa đặt làm trưởng tử giữa đàn em đông đảo, chính là các tín hữu, và người Mẹ đã cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục họ với tình hiền mẫu. Trên đồi Can-vê, Chúa Giêsu, với những lời này là con bà, này là mẹ con, đã ban Đức Maria làm Mẹ trong sự tiền dự cho tất cả những ai sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ. Đức Maria cộng tác vào việc sinh ra và phát triển sự sống thần linh trong các chi thể của Chúa Kitô. Mẹ là Mẹ của Hội thánh trong trật tự ân sủng.
Vai trò làm mẹ nhân loại của Đức Maria không hề xóa mờ hay giảm thiểu vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô, nhưng càng tỏ rõ sức mạnh của Người. Thật vậy, ảnh hưởng có sức cứu độ của Đức Trinh Nữ trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết khách quan nào, nhưng từ ý định nhân lành của Thiên Chúa, và bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Đức Kitô. Ảnh hưởng ấy khởi xuất từ vai trò trung gian của Đức Kitô, hoàn toàn tùy thuộc vào đó, và kín múc tất cả sức mạnh cũng từ đó. Đoạn này của Lumen Gentium là đoạn phải thuộc, vì nó giải quyết nút mà nhiều người vấp. Không có một sự cần thiết khách quan, nghĩa là Thiên Chúa không bị buộc phải cho ơn qua Maria như thể Người không thể cho cách khác. Có một ý định nhân lành, nghĩa là Người đã muốn. Sự muốn ấy không làm Con yếu đi. Sự muốn ấy làm sức của Con tỏ ra ngay trong một thụ tạo.
Thánh Phaolô VI, sau Công đồng, tuyên xưng Mẹ là Mẹ Hội thánh, nối một danh xưng mà các giáo phụ đã chuẩn bị và mà chương VIII đã đặt nền. Danh xưng ấy không thêm một tín điều thứ năm cạnh bốn tín điều. Danh xưng ấy kéo bốn tín điều vào tương quan với cộng đoàn đang lữ hành. Mẹ Thiên Chúa, vì Con là đầu Hội thánh. Vô nhiễm, vì là người được cứu trước và cao hơn. Đồng trinh, vì mẫu của Hội thánh trinh nguyên trong đức tin. Hồn xác lên trời, vì hình ảnh của Hội thánh ở điểm tới. Mẹ Hội thánh là cách cả bốn đứng trong một câu người tín hữu có thể cầu.
Mẫu gương trong thiên chức làm mẹ và trong đức trinh khiết
Mẹ là hình ảnh và sự thực hiện hoàn hảo nhất của Giáo hội. Mẹ là mẫu gương của Giáo hội trong thiên chức làm mẹ và trong đức trinh khiết. Trong thiên chức làm mẹ: Hội thánh, nhờ đón nhận Lời Chúa trong đức tin, cũng trở thành mẹ. Qua việc rao giảng, Hội thánh sinh hạ con cái, những người được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và được Thiên Chúa sinh ra cho đời sống mới và bất diệt. Trong đức trinh khiết: Hội thánh cũng là trinh nữ vì đã giữ gìn toàn vẹn và tinh tuyền lòng tin dành cho Đấng Phu Quân, và noi gương người mẹ của Chúa mình, nhờ thần lực của Thánh Thần, Hội thánh cũng gìn giữ thật tinh tuyền đức tin toàn vẹn, đức cậy bền vững và đức mến chân thành.
Hai nét ấy sửa lẫn nhau. Một Hội thánh chỉ muốn là mẹ theo nghĩa sinh thật nhiều, mà không giữ đức tin tinh tuyền, sẽ sinh những con người mang tên Kitô nhưng không mang đời sống mới. Một Hội thánh chỉ muốn là trinh nữ theo nghĩa khép cửa, không chịu đau để sinh con cái bằng rao giảng, sẽ giữ một sự tinh tuyền không còn là tinh tuyền của người mẹ Chúa mình. Maria không cho phép chọn một nét. Mẹ vừa trinh nguyên vừa là mẹ. Hội thánh được gọi vào cùng một nghịch lý, không phải bằng cách lặp lại mầu nhiệm sinh hạ Ngôi Lời, điều không thể lặp, mà bằng cách đón Lời trong đức tin tinh tuyền và trao Lời cho đến khi Lời thành sự sống trong người khác.
Chắc chắn Mẹ là tấm gương cao vời nhất về sự thanh khiết và hiến thân trọn vẹn cho Chúa đối với tất cả mọi người. Tuy nhiên, một cách đặc biệt, Mẹ gợi hứng cho các trinh nữ Kitô giáo và những ai tận hiến cho Chúa một cách triệt để và duy nhất trong các hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến. Mẹ khích lệ mọi Kitô hữu sống đức khiết sạch cách đặc biệt dấn thân theo bậc sống của mình, và phó thác bản thân cho Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Mẹ, Đấng là cung thánh của Chúa Thánh Thần tuyệt hảo, giúp các tín hữu tái khám phá thân xác mình là đền thờ của Thiên Chúa, và tôn trọng phẩm giá cao quý cùng sự thánh thiện của thân xác.
Trong công cuộc tông đồ, thật chí lý khi Giáo hội nhìn lên người đã sinh ra Đức Kitô, Đấng đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và được Đức Trinh Nữ sinh ra, để nhờ Giáo hội, Đức Kitô cũng được sinh ra và lớn lên trong lòng các tín hữu. Trong cuộc sống, Đức Trinh Nữ đã là tấm gương của tình yêu thương mang đậm tính cách hiền mẫu, một tình yêu cần được thể hiện cách sống động nơi tất cả những ai đang cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Giáo hội để tái sinh nhân loại.
Nếu như Giáo hội đã đạt tới sự toàn thiện trong Đức Trinh Nữ diễm phúc, nhờ đó không còn vết nhơ hay nét nhăn, thì các Kitô hữu vẫn còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi để lớn lên trong sự thánh thiện. Câu này giữ một sự khiêm nhường rất cần. Hội thánh không tự nhận mình đã toàn thiện. Hội thánh nhận rằng sự toàn thiện mình tin và mình nhắm đã có một chỗ thành sự, nơi Mẹ, và chính vì vậy các chi thể khác không được phép coi sự toàn thiện là ảo. Nhờ sốt sắng suy niệm và chiêm ngắm Đức Maria trong ánh sáng của Ngôi Lời nhập thể, Giáo hội cung kính hòa nhập cách sâu xa hơn vào mầu nhiệm Nhập Thể cao cả, và ngày càng nên giống Phu Quân mình hơn.
Chương 16. Cộng tác vào công trình cứu chuộc
Thánh Augustinô đã gọi Đức Trinh Nữ Maria là người cộng tác vào công trình cứu chuộc của Đức Kitô, một tước hiệu nhấn mạnh hành động của Đức Maria vừa phụ thuộc vừa kết hợp với hành động của Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc. Hai từ vừa phụ thuộc vừa kết hợp phải đi với nhau. Nếu chỉ phụ thuộc, người ta có thể hình dung một sự vâng lời xa, không chạm vào hy lễ. Nếu chỉ kết hợp, người ta có thể hình dung một sự cộng tác ngang hàng, như thể thập giá cần hai nguồn công nghiệp. Augustinô và, sau ngài, Công đồng không nói như vậy. Mẹ cộng tác cách đặc biệt bằng đức vâng phục, đức tin, đức cậy và đức ái nồng cháy vào công trình của Đấng Cứu Thế. Hoa trái cao cả của sự cộng tác này là thiên chức làm mẹ phổ quát. Chính vì thế, trên bình diện ân sủng, Mẹ thật là mẹ của chúng ta.
Đó là sự cộng tác đặc biệt mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Trong sự kết hợp với Chúa Kitô và dưới quyền Người, Mẹ đã cộng tác cách độc nhất vô nhị vào việc mang lại ân sủng cứu độ cho toàn thể nhân loại. Độc nhất vô nhị không phải một tính từ tôn vinh cho hay. Độc nhất vì không còn một thụ tạo nào khác là mẹ của Đấng Cứu Chuộc. Vô nhị vì sự kết hợp của người mẹ với hy lễ của con không có bản sao. Nhưng độc nhất vô nhị vẫn nằm dưới quyền Người. Giới từ ấy cứu cả câu.
Sự cộng tác ấy đi qua ba cửa, không phải ba công trình riêng. Cửa thứ nhất là thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa đối với Chúa Kitô. Không có cửa này, các cửa sau không mở. Cửa thứ hai là sự kết hợp của Mẹ với hy lễ Chúa Kitô: cùng đau khổ với Người khi Người chịu chết trên thập giá, Mẹ đã cộng tác vào công trình của Đấng Cứu Thế một cách hoàn toàn riêng biệt. Cửa thứ ba là sự đóng góp đặc biệt mà Mẹ cũng thực hiện cho đời sống Giáo hội, mà Mẹ là mẹ, suốt dòng thế kỷ cho đến ngày tận thế, tiếp tục nâng đỡ cộng đoàn Kitô hữu và mọi tín hữu trên hành trình tiến đến sự thánh thiện và trong việc quảng đại hoạt động cho sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Không phải đấng cứu chuộc thứ hai
Cần nói thẳng điều Hội thánh không dạy. Hội thánh không dạy rằng loài người có hai đấng cứu chuộc. Hội thánh không dạy rằng công nghiệp của Maria vá một chỗ còn thiếu trong công nghiệp của Đức Kitô. Công nghiệp của Đức Kitô là dư tràn. Lumen Gentium dùng đúng chữ ấy. Ảnh hưởng của Mẹ kín múc tất cả sức mạnh từ công nghiệp ấy. Nói Mẹ cộng tác mà quên chữ dư tràn thì biến Mẹ thành một sự cần thiết của Thiên Chúa, điều Công đồng đã loại. Nói công nghiệp dư tràn mà kết luận Mẹ không cộng tác gì, thì xóa những câu Kinh Thánh và những câu Công đồng đã viết về sự đứng dưới chân thập giá, về lời xin vâng, về việc sinh hạ và giáo dục những người em của trưởng tử.
Cách nói cổ, có nơi gọi Mẹ là đấng đồng công cứu chuộc, cần được hiểu, nếu được dùng, trong giới hạn vừa nói, và không được phép nghe như một tước hiệu ngang tước hiệu Cứu Chúa. Huấn quyền các thế kỷ gần đây thận trọng với cách nói ấy chính vì nó dễ bị nghe lệch. Điều không thận trọng, và không được rút lại, là chính sự cộng tác. Rút sự cộng tác để tránh một từ dễ lệch, thì mất luôn Ca-na, mất Can-vê, mất câu của Augustinô, mất chương VIII. Giữ sự cộng tác trong sự phụ thuộc: đó là đường hẹp, và là đường đúng.
Chuyển cầu không thay thế
Hoa trái kéo dài của sự cộng tác là chuyển cầu. Mẹ không chuyển cầu như người ngoại cuộc van một vị vua giúp những người vua không quen. Mẹ chuyển cầu như mẹ của những người đã được đặt làm em của Con mình. Lời chuyển cầu của Mẹ, trong đức tin của Hội thánh, không phải một kênh song song với Đức Kitô. Đó là một cách thế mà sự chuyển cầu duy nhất của Đức Kitô, Đấng hằng sống để chuyển cầu cho ta, muốn thông cho người mẹ đã cùng Người đi tới giờ. Các thánh chuyển cầu. Mẹ chuyển cầu cách hiền mẫu và phổ quát, vì tương quan làm mẹ không giới hạn trong một nhóm được Mẹ nhận riêng. Điều này không hạ các thánh. Điều này nói mức độ của một tương quan đã được thiết lập trên thập giá.
Trong đời sống cụ thể, chuyển cầu ấy có hình dạng của những lời cầu rất đơn sơ. Một người bệnh đọc kinh Kính Mừng. Một gia đình lần hạt tối. Một người lỡ một đời quay lại với chuỗi hạt trước khi quay lại với tòa giải tội. Hội thánh không coi những cử chỉ ấy là ma thuật. Hội thánh coi chúng là cách kẻ bé nhỏ bám vào người mẹ để được đưa tới Con. Kinh nghiệm mục vụ nhiều thế kỷ cho thấy con đường ấy thường là đường thật, không phải đường vòng vô ích. Người được Mẹ đưa tới thường không dừng ở Mẹ. Họ tới bí tích. Họ tới Lời. Họ tới việc phải sửa đời. Đó là dấu Ca-na còn hoạt động: người bảo gì thì hãy làm theo.
Chương 17. Maria và người phụ nữ
Mẹ là Đấng được chúc phúc giữa các phụ nữ. Nơi Mẹ, Thiên Chúa đã ban cho người phụ nữ một phẩm giá có chiều kích bất ngờ. Nơi Đức Maria, Tin Mừng đã đi vào nữ tính, cứu chuộc và tôn vinh nữ tính. Điều này có tầm quan trọng hàng đầu cho chân trời văn hóa của chúng ta, trong đó người phụ nữ cần được trân trọng hơn nữa, đồng thời xác định rõ ràng và đầy đủ hơn vai trò mà người phụ nữ đảm nhận trong xã hội. Đức Maria là bảo chứng cho sự cao cả của nữ giới, cho thấy một cách đặc thù thế nào là phụ nữ với ơn gọi làm linh hồn, một hồng ân có khả năng linh hóa thể xác và nhập thể tinh thần. Văn kiện Puebla nói như vậy, trong một lục địa đang phải nhìn lại cách mình đối xử với người nữ.
Đức Maria thực hiện nơi mình một cách mẫu mực và cao vời hai chiều kích, hai ơn gọi của người phụ nữ: trinh khiết và làm mẹ. Đức Maria đã sống, theo cách riêng biệt và duy nhất của người phụ nữ, sự kết hợp giữa mẹ và con. Hai câu này không nhốt người nữ vào hai vai. Chúng nói rằng cả hai vai, vốn thường bị văn hóa bắt phải chọn và rồi khinh vai không được chọn, đều được một người nữ sống đến mức thần linh bước vào. Người trinh nữ không phải người thiếu. Người mẹ không phải người đã đánh mất một sự trong trắng mới đáng kể. Nơi Maria, cả hai là thánh.
Không lấy Mẹ làm cớ để nhốt
Có một cách dùng Maria rất lệch, và phải nói trước khi nói tiếp về phẩm giá. Người ta lấy sự thinh lặng của Mẹ, sự ở nhà của Mẹ, sự vâng lời của Mẹ, để bắt mọi phụ nữ phải thinh lặng, ở nhà, vâng theo một trật tự do người khác đặt. Cách dùng ấy phản chính Tin Mừng. Maria lên đường một mình tới miền núi. Maria nói bài ca hạ bệ quyền thế. Maria hỏi lại Con trong đền thờ. Maria nói với gia nhân một lệnh. Maria đứng ở chỗ đàn ông thường bỏ chạy. Sự khiêm nhường của Mẹ không phải sự biến mất. Sự khiêm nhường của Mẹ là không chiếm chỗ của Thiên Chúa, và chính vì không chiếm chỗ ấy mà Mẹ có một chỗ không ai chiếm nổi.
Phẩm giá Puebla nói tới không phải một phẩm giá trang sức, để ca ngợi cho vui rồi vẫn để người nữ ở ngoài các quyết định của gia đình, của giáo xứ, của xã hội. Phẩm giá ấy, nếu thật, phải sửa cách nhìn. Người nữ không phải phương tiện của dòng dõi, không phải phần phụ của một lịch sử do người khác viết, không phải cám dỗ cũng không phải vật thờ. Trong lịch sử cứu độ, một người nữ đã là chỗ Ngôi Lời vào trần gian. Điều đó không biến mọi người nữ thành Maria. Điều đó cấm mọi nền văn hóa, kể cả nền văn hóa mang tên Kitô giáo, đối xử với người nữ như thể Thiên Chúa không thể ký thác cho họ điều lớn nhất.
Hai ơn gọi trinh khiết và làm mẹ, nơi Mẹ, còn nói với những người nữ không ở trong một ơn gọi nào theo nghĩa hẹp, vì chưa kết hôn hoặc không có con, hoặc đã qua tuổi sinh, hoặc mang những vết thương của một đời không giống mẫu. Mẹ không phải tấm ảnh để so. Mẹ là bảo chứng rằng giá trị của một người nữ không đo bằng việc đã được một người nam chọn hay đã sinh được một con trai. Giá trị ấy đo bằng việc có để Thiên Chúa đoái nhìn phận hèn và làm nơi mình điều Người muốn. Magnificat là bài ca của người được nhìn, trước khi là bài ca của người được khen.
Chương 18. Tôn kính, không thờ phượng
Từ thuở ban đầu, giữa các Kitô hữu luôn có sự tôn kính đặc biệt dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Tuy nhiên, nhất là từ Công đồng Ê-phê-xô, Dân Thiên Chúa đã gia tăng lòng tôn kính Đức Maria cách lạ lùng, với thái độ tôn kính, mến yêu, cầu khẩn và noi gương. Điều này được biểu hiện đặc biệt trong các lễ phụng vụ, trong đó từ đầu thế kỷ V, ngày kính Đức Maria Theotokos đã có tầm quan trọng đặc biệt, được cử hành vào ngày 15 tháng 8 tại Giê-ru-sa-lem và sau đó trở thành lễ An giấc hay lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời.
Việc tôn sùng Đức Maria đã phát triển cho đến thời đại chúng ta với sự liên tục kỳ diệu, xen kẽ giữa những giai đoạn phát triển rực rỡ và những giai đoạn thử thách, mà tuy vậy thường có công thúc đẩy sự canh tân sâu sắc hơn. Những mùa thử thách không phải tai nạn thuần túy. Có mùa lòng sùng mộ bị đẩy quá, thành một thứ song song với phụng vụ, nặng về chuyện lạ, nhẹ về bí tích. Có mùa lòng sùng mộ bị chặt quá, thành một sự ngại gọi tên Mẹ, như thể gọi tên là phạm đến Đức Kitô. Cả hai mùa, khi được vượt, thường để lại một sự trong hơn: tôn kính sâu mà không lẫn, gắn với Lời và với phụng vụ hơn.
Sau Chúa Con nhưng vượt trên toàn thể các thiên thần và loài người, nhờ ân sủng Thiên Chúa, Đức Maria, người đã tham dự vào các mầu nhiệm của Đức Kitô, được tôn vinh là Thánh Mẫu Thiên Chúa, vì thế Mẹ đáng được Giáo hội tôn kính và sùng mộ cách đặc biệt. Sự tôn kính này mang một nét độc đáo không thể lặp lại vì liên quan đến một nhân vị duy nhất xét về sự hoàn thiện cá nhân và sứ mạng của Mẹ. Sự sùng kính rất đặc biệt này khác biệt một cách căn bản với sự thờ phượng dành cho Ngôi Lời nhập thể cũng như cho Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và hết sức thúc đẩy sự thờ phượng ấy. Các lễ phụng vụ dành cho Mẹ Thiên Chúa và kinh nguyện kính Đức Mẹ, chẳng hạn kinh Mân Côi, bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng, diễn tả lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria.
Một mức ở dưới, một hướng đi lên
Sự tôn kính của các tín hữu dành cho Đức Maria, dù vượt trên sự tôn kính dành cho các thánh khác, vẫn thấp hơn sự thờ phượng tôn thờ chỉ dành cho Thiên Chúa. Dẫu vậy, có sự liên tục giữa việc tôn sùng Đức Maria và việc thờ phượng Thiên Chúa. Thực vậy, vinh dự dành cho Đức Maria được quy hướng và dẫn đến việc tôn thờ Ba Ngôi chí thánh. Sự tôn kính của các Kitô hữu dành cho Đức Trinh Nữ thúc đẩy việc thờ phượng Ngôi Lời nhập thể, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
Giáo hội đã chấp nhận nhiều hình thức tôn sùng Mẹ Thiên Chúa trong khuôn khổ giáo lý lành mạnh và chính thống, tùy theo hoàn cảnh thời gian và nơi chốn, hợp với tính cách và trình độ của các tín hữu. Những hình thức ấy, khi tôn vinh Mẹ, cũng làm cho tín hữu nhận biết, yêu mến và làm vinh danh Chúa Con, đồng thời tuân giữ trọn vẹn các giới răn của Người, bởi lẽ vì Người mà muôn tạo vật được tạo thành, và Chúa Cha hằng hữu đã muốn tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người.
Tiêu chuẩn ấy rất thực hành. Một hình thức tôn sùng, dù cảm động, nếu không làm người ta nhận biết Chúa Con hơn, không giúp tuân giữ giới răn, thì chưa phải hình thức Hội thánh nhận. Một hình thức có vẻ khô, nếu đưa người ta vào Tin Mừng và vào việc sửa đời, thì đúng hướng Ca-na. Kinh Mân Côi được Giáo lý gọi là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng không phải vì chuỗi hạt có sức riêng, mà vì từng chục đưa trí nhớ đi qua các mầu nhiệm của Đức Kitô, với Mẹ là người đồng hành của trí nhớ ấy. Lần hạt mà không ngắm thì còn một nhịp. Lần hạt mà ngắm thì đang đọc Tin Mừng bằng một nhịp của người nghèo.
Các lễ, các kinh, các ảnh
Lịch phụng vụ đặt Mẹ trong năm của Con. Lễ Truyền Tin nằm trong Mùa Chay hoặc sát mùa ấy, vì lời xin vâng hướng tới thập giá. Lễ Hồn xác lên trời nằm trong mùa thường niên như một mũi nhọn của hy vọng. Lễ Vô nhiễm mở mùa Vọng, vì người được giữ khỏi tội là cửa của Đấng sẽ đến. Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa đặt ngay ngày đầu năm dương lịch, tám ngày sau Giáng Sinh, như để nói năm mới của người Kitô hữu bắt đầu dưới danh Mẹ của Đấng đã nhận một thân xác. Sự sắp xếp ấy là một bài giáo lý. Mẹ không có một năm riêng. Mẹ có những ngày trong năm của mầu nhiệm Đức Kitô.
Ảnh và tượng, trong truyền thống cả Đông lẫn Tây, không phải vật mang năng lực. Ảnh là một cách nhìn. Ảnh Mẹ bế Con dạy điều sách dạy: muốn gặp Hài Nhi thì gặp người bế. Ảnh Mẹ đứng dưới thập giá dạy điều Gioan dạy: có một người không bỏ đi. Ảnh Mẹ một mình, không có Con, cần được đọc trong toàn bộ đức tin, kẻo mắt quen với một sự tách mà tín lý không cho. Hội thánh không cấm những ảnh ấy, vì Mẹ là một nhân vị thật, nhưng Hội thánh luôn muốn mắt được đưa về Con. Danh xưng dưới ảnh, nếu là Mẹ Thiên Chúa, đã làm việc đưa về ấy.
Các Kitô hữu luôn hướng về Mẹ, Đấng đã trở thành Mẹ Giáo hội và Mẹ nhân loại, với lòng tín thác con thảo, để khẩn cầu sự chuyển cầu hiền mẫu của Mẹ và để xin những điều chúng ta cần trong cuộc sống này hướng về hạnh phúc đời đời. Lòng tín thác con thảo không phải lòng tín thác của người hết đường mới nhớ một tên. Đó là lòng của người biết mình đã được trao một người mẹ, và việc không tới với người mẹ ấy là nghèo đi một quà tặng của chính Chúa Giêsu. Quà tặng ấy không thay bí tích. Quà tặng ấy thường dẫn tới bí tích, nếu lòng sùng mộ còn là lòng sùng mộ của Hội thánh.
Chương 19. Những lệch cần được gọi tên
Một khảo luận trung thành không chỉ kể điều đúng. Còn phải gọi tên những lệch, vì các lệch ấy không ở ngoài Hội thánh, chúng mọc ngay trong lòng sùng mộ và ngay trong những phản ứng chống lòng sùng mộ.
Lệch thứ nhất là biến Mẹ thành nơi trú ẩn thay cho việc hoán cải. Người ta kính Mẹ, dự lễ Mẹ, dâng chuỗi hạt, và tránh bí tích giao hòa, tránh một sự thật phải nói trong gia đình, tránh một bất công mình đang hưởng. Lòng sùng mộ ấy không phải lòng sùng mộ Ca-na. Ở Ca-na, lời cuối của Mẹ là hãy làm theo lời Người. Lời của Người đòi hoán cải. Một kinh nguyện không chịu đi tới vế ấy là kinh nguyện đã dừng giữa đường và gọi sự dừng là tôn kính.
Lệch thứ hai là săn chuyện lạ. Các lần hiện ra, khi được Hội thánh nhận sau một phân định dài, là hồng ân nhắc nhở, không phải một Tin Mừng mới. Các lần hiện ra không được nhận thì không phải đối tượng của đức tin. Làm như thể đời sống thiêng liêng chỉ thật khi có dấu lạ tại một địa điểm, là quên rằng dấu lạ lớn nhất đã được trao trong Lời và trong bí tích, và rằng Mẹ của Tin Mừng sống phần lớn đời mình trong thinh lặng Na-da-rét, không có khách hành hương. Lòng sùng mộ lành mạnh tới các nơi đã được nhận với tinh thần vâng phục Hội thánh, và không xây đức tin trên điều Hội thánh chưa nói.
Lệch thứ ba là dùng Mẹ để chia phe. Phe kính nhiều coi phe kính ít là khô khan, gần như thiếu đức tin. Phe kính ít coi phe kính nhiều là mê tín, gần như chưa gặp Đức Kitô. Cả hai phe quên rằng tiêu chuẩn không phải số kinh, mà là việc kinh ấy có quy về Ba Ngôi và có sinh đức ái không. Một người đọc ít kinh Kính Mừng nhưng sống công bằng và yêu người nghèo của Magnificat có thể đang ở gần Mẹ hơn một người đọc nhiều mà khinh anh em. Một người đọc nhiều kinh, nếu các kinh ấy làm họ dịu lại và trở về với bí tích, thì không việc gì phải xin lỗi vì đã đọc.
Lệch thứ tư là cắt Mẹ khỏi dân Ít-ra-en và khỏi người nghèo, để còn một nữ vương hợp với thị hiếu của người khá giả. Áo xanh, triều thiên, ánh sáng: các biểu tượng ấy có chỗ trong nghệ thuật, miễn là không xóa máng cỏ, của lễ chim gáy, và bài ca hạ bệ quyền thế. Mẹ của Hội thánh là Mẹ của cả những người không có ảnh đẹp trong nhà. Nếu lòng tôn kính không chịu được người nghèo ở cạnh mình trong nhà thờ, thì lòng tôn kính ấy đang kính một ảnh khác, không phải người nữ Na-da-rét.
Lệch thứ năm là im tên Mẹ vì sợ lệch, đến mức rao giảng một Đức Kitô không mẹ, một Hội thánh không chị, một hy vọng không có người đã tới trước. Sự im ấy tưởng là thận trọng. Thực ra là nghèo. Các Tin Mừng không im. Công vụ không im. Phụng vụ không im. Sự thận trọng đúng không phải im, mà là nói cho khớp: nói Theotokos mà không biến Mẹ thành nữ thần, nói chuyển cầu mà không dựng trung gian thứ hai, nói vô nhiễm mà không tách Mẹ khỏi loài người được cứu.
Chương 20. Na-da-rét, trường học của những ngày thường
Nếu gom các tước hiệu lại mà không trở về Na-da-rét, khảo luận sẽ treo. Phần lớn đời Mẹ, theo các Tin Mừng, là những năm không được kể. Từ khi từ Ai Cập về, ở Na-da-rét, cho đến khi Con bắt đầu rao giảng, gần ba mươi năm chỉ còn lại vài câu. Cậu bé thì lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa. Rồi cảnh đền thờ năm mười hai tuổi. Rồi một câu: Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Rồi sự vâng phục của Con đối với cha mẹ. Đó là toàn bộ bản văn về những năm dài nhất.
Những năm ấy là trường học. Thiên Chúa, khi vào đời, đã muốn có một thời gian dài không phép lạ công khai, không đám đông, chỉ có một nhà, một làng, một nghề, những ngày giống nhau. Maria sống thời gian ấy không phải như phòng chờ trước sứ mạng thật. Thời gian ấy là sứ mạng. Cưu mang không chỉ chín tháng. Cưu mang, với Mẹ, còn là để Con lớn trong một nhà có người mẹ suy niệm và một người cha công chính, trong sự vâng phục lẫn nhau mà Luca gọi bằng một chữ rất nhà: Người hằng vâng phục các ngài.
Hội thánh học ở đây điều các sách linh đạo gọi là đời sống ẩn dật, nhưng không cần từ ấy cũng thấy. Phần lớn các Kitô hữu sẽ không có một biến cố Truyền Tin được kể. Họ có những ngày Na-da-rét. Sự thánh thiện Mẹ chiếu vào những ngày ấy không phải bằng cách biến chúng thành phi thường, mà bằng cách cho thấy ngày thường có thể là chỗ Lời lớn lên. Một bàn ăn, một việc nhà, một đứa con không hiểu hết cha mẹ và cha mẹ không hiểu hết con, một sự trung tín không có khán giả: đó là địa lý của phần đời dài nhất của Mẹ Thiên Chúa. Ai chỉ tìm Mẹ ở các đền nổi tiếng thì bỏ qua chính Mẹ của ba mươi năm.
Ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng là phương pháp của những năm ấy. Không phải một kỹ thuật cầu nguyện cho bậc cao. Đó là việc giữ các lời và các việc, không ép chúng phải có nghĩa ngay, không bỏ chúng vì chưa hiểu. Si-mê-ôn đã nói về lưỡi gươm. Con đã nói về nhà của Cha. Các mục đồng đã kể về ca đoàn thiên thần. Mẹ không dựng thành hệ thống. Mẹ giữ. Đến chân thập giá, các lời ấy mới hiện đủ mối. Nhiều người trong Hội thánh được mời sống đúng phương pháp ấy với chính đời mình: giữ những gì Chúa đã làm, dù hiện giờ chúng chưa thành một câu chuyện có hậu, và tin rằng chúng có mối, vì chúng có nơi người đã giữ mọi sự trong lòng.
Chương 21. Mẹ của các kẻ tin, hôm nay
Hỏi Đức Maria là ai mà dừng ở các thế kỷ đầu thì chưa hỏi hết, vì chính Hội thánh nói sự cộng tác của Mẹ kéo dài đến ngày tận thế. Mẹ không phải một nhân vật đã hoàn thành vai và rút vào ký ức. Trong trật tự ân sủng, Mẹ vẫn là mẹ. Điều này không có nghĩa mọi biến cố hôm nay đều phải được giải thích bằng một sự can thiệp riêng có thể kiểm chứng. Điều này có nghĩa tương quan được thiết lập trên thập giá không bị thời gian rút lại. Người môn đệ mọi thế hệ vẫn được nói: Đây là mẹ của anh.
Hôm nay, câu ấy đi qua những hoàn cảnh Mẹ Na-da-rét không sống theo hình thức ngoài mặt, nhưng sống theo hình thức của đức tin. Có những người mẹ mất con vì chiến tranh, vì bệnh, vì một con đường không về. Có những người nữ mang thai trong sợ hãi, không có lời thiên thần nào được nghe bằng tai. Có những người già như Ê-li-sa-bét, tưởng cửa đã đóng. Có những môn đệ đứng dưới những thập giá của thời mình, không biết phải nói gì. Hội thánh không an ủi họ bằng cách nói Maria đã từng dễ sống. Hội thánh đưa họ tới một người nữ đã sợ, đã hỏi, đã trốn, đã lạc con, đã nghe lời từ chối ở tiệc cưới, đã đứng lúc Con chết, và đã không thôi tin.
Lòng sùng mộ, trong thời này, còn một nhiệm vụ riêng: giữ cho đức tin có một khuôn mặt người, giữa những hệ thống có thể nói về Thiên Chúa mà không run. Maria là phần không thể hệ thống hóa hết của mầu nhiệm, không phải vì mầu nhiệm chống lý trí, mà vì mầu nhiệm đã thành một đời người, và đời người thì chỉ có thể được yêu, được kể, được ngắm, chứ không chỉ được định nghĩa. Các tín điều là ánh sáng. Khuôn mặt là chỗ ánh sáng đậu. Bỏ khuôn mặt, ánh sáng còn nhưng không sưởi. Bỏ ánh sáng, khuôn mặt thành một bức ảnh không còn biết mình đang bế ai.
Với Hội thánh tại những nơi đang chịu nghèo, chịu di cư, chịu những vết của lịch sử, Magnificat không phải bài đọc cho qua trong lễ kính. Đó là cách Mẹ đọc thời cuộc. Tôn kính Mẹ hôm nay mà không để bài ca ấy chất vấn cách cộng đoàn đối xử với kẻ đói và người bị hạ, thì việc tôn kính đã thành một mảng nhạc. Mẹ của bài ca ấy không cần thêm một lễ. Mẹ cần những người con để cho lời mình hát được làm trong việc mình sống.
Kết. Nhìn Con để biết Mẹ
Đức Maria Rất Thánh, nói cho cùng, là thiếu nữ Na-da-rét đã tin, là Mẹ của Ngôi Lời làm người, là nữ tỳ của Chúa Cha, là cung thánh của Thánh Thần, là phần tử siêu việt và là Mẹ của Hội thánh, là người cộng tác độc nhất vào công trình cứu chuộc, là hình ảnh của điều Hội thánh sẽ trở thành. Tất cả những danh xưng ấy chỉ đứng vững khi được đọc trong một danh xưng: Mẹ của Đức Giêsu. Ai muốn biết Mẹ là ai, hãy nhìn Con của Mẹ. Ai muốn ở lại với Con, sẽ thấy Mẹ đang đứng đó, không chiếm chỗ, nhưng chỉ đường.
Nhìn Con, ta thấy vì sao Mẹ vô nhiễm: vì Con ấy là Đấng Cứu Chuộc, và công nghiệp của Người đủ sức giữ một đời người khỏi vết tội ngay từ gốc, khi Thiên Chúa muốn dọn một cung lòng. Nhìn Con, ta thấy vì sao Mẹ đồng trinh: vì Con ấy vào đời bởi sáng kiến của Cha và quyền năng của Thánh Thần, không do máu huyết. Nhìn Con, ta thấy vì sao Mẹ được gọi là Mẹ Thiên Chúa: vì Con ấy, người con theo huyết nhục của Mẹ, chính là Ngôi Hai. Nhìn Con, ta thấy vì sao Mẹ được đưa lên cả hồn lẫn xác: vì Con ấy đã phục sinh, và không để người mẹ đã cùng mình đi tới giờ phải nằm lại trong mục nát. Nhìn Con, ta thấy vì sao Mẹ là mẹ ta: vì Con ấy đã nói, từ trên thập giá, đây là con bà, đây là mẹ của anh.
Dante kết thiên đàng bằng việc nhìn Mẹ, rồi từ Mẹ được đưa tới tầm nhìn mà ngôn ngữ không còn theo kịp. Thứ tự của nhà thơ không ngược thứ tự của đức tin. Ông nhìn Mẹ để được nhìn Đấng Mẹ đang nhìn. Mọi kinh nguyện đúng đều có vòng ấy. Ta đến với Mẹ vì ta nhỏ và đường xa. Mẹ đưa ta tới Con. Con đưa ta vào nhà Cha. Thánh Thần, Đấng đã rợp bóng trên Mẹ, làm cho vòng ấy không thành một vòng quanh chính mình, mà thành đường vào sự hiệp thông.
Phần còn lại không nằm ở một khảo luận dài hơn. Phần còn lại nằm ở việc để các lời ấy thành việc giữ trong lòng, như Mẹ đã giữ. Một trang về Maria mà không làm người đọc thinh lặng hơn trước Lời, dịu hơn với người nghèo, trung thành hơn với thập giá của mình, thì trang ấy mới chỉ là trang. Mẹ không cần được mô tả cho đủ. Mẹ cần được nhận như người mẹ Con đã trao, và được để yên trong chỗ của người nữ tỳ, chỗ duy nhất từ đó mọi tước hiệu cao sang mới không thành giả.
Hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Câu ấy đang ứng nghiệm mỗi lần Hội thánh không chiếm lời khen cho mình, mà trả lời khen về Đấng Toàn Năng đã làm những điều cao cả. Đó là cách đúng để kết một khảo luận về Đức Maria Rất Thánh. Không kết bằng tên tác giả. Kết bằng tên Đấng đã đoái thương nhìn đến phận nữ tỳ hèn mọn.
Lm. Anmai, CSsR